Sầu đưa từ cổ độ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 18 Jan 2024

“mòn con mắt sầu đưa từ cổ độ
bụi thu mờ ai phủi với hai tay”
(Bùi Giáng)

Trăng len lỏi qua mây khuất. Mây lướt thướt ngược hướng độc đạo, con lộ vén mở khi tỏ khi mờ. Ngựa cất lạc, người ngậm tăm, tất thảy đều xuống yên, lỏng giây cương, vỗ về ngựa mà dắt theo sườn đồi uốn lượn. Tịnh không nói, chỉ thở, mà cái sự hô hấp kia dường cũng nén vào lồng ngực, nín khe. Cỏ lau cao ngang cằm, thẩm sương khuya loang loáng sắc bạc tựa ám khí rãi trùng điệp xuống tận khúc đường nhiều sỏi trắng. Trống vắng, tịch lặng, ánh trăng chỉ soi tới cánh cổng gỗ đen đúa đóng chặt, như một chặn giữ, thu gom sau nó bao đen tối hung hiểm chờ chực.

Quan sát động tĩnh, kẻ đầu đàn thì thào: Nếu bất trắc xẩy ra, chúng ta chớ nên tiếp cứu lẫn nhau, mạnh ai tự tìm lấy đường mà thoát thân. Hẹn ba ngày sau ở trấn Đông Cự nhìn xem ai còn ai mất. Sáu bóng đen ngồi thu lu, chẳng một ai vọng động. Gươm đao cầm ở tay cũng đen đủi lặng câm. Chưa đến giờ động thủ nên nó còn thu cất cái loang loáng của hàn khí kim loại, cái múa may quay cuồng giữa cơn thịnh nộ. Mỗi khi nó thoát y, lưỡi trần rút ra khỏi vỏ e buộc phải thấy máu đổ thịt rơi ú ớ mê sảng.

Gió bày trò trốn tìm giữa lau lách, xao xác tiếng vô ngôn nhưng hài hòa cùng trống ngực. Tim đập mệt dù tứ chi chưa phải ra sức thao tác sứ mệnh. Giây lâu sau có kẻ đưa ra nhận xét: Huynh có ngửi ra điều bất thường? Là sao? Là thảy tối đen tựa chẳng có sinh khí, sao chúng không thắp lên một vài ánh đuốc? Dù bóng tối là điều thuận lợi mà bọn ta mong cầu. Người đứng mũi chịu sào quay đầu nhìn mặt những huynh đệ ngồi quây quần, vai kề vai, lỡ thề nguyền anh em như thủ túc bạn bè như y phục, có phúc cùng mang có họa cùng chịu. Nhìn săm soi tia mắt ráo, ngó như muốn thu giữ những nét rắn rỏi ấy vào trí nhớ, hỡi sáu đứa sinh bất phùng thời. Đệ nói cũng có lý, nhưng phương án đã dựng thành hành động, giờ nầy chúng ta duy chỉ có một lối đi, ấy là đột nhập vào vũng tối mê muội kia. Ta lập lại lời rủi may, cố giữ thân hẹn nhìn nhau trong ba bữa nữa. Những bàn tay đổ mồ hôi nhớp nháp rời đốc kiếm, đưa tới, đặt chồng lên nhau xoắn xít như thế một thỏa thuận, một nhắn gửi riêng tư, một ước hẹn, một trở về, thành tựu trong gang tấc lời thề miên viễn. Và viên mãn.

Cả bọn đứng lên, dợm bước. Kẻ đầu đàn đưa cánh tay cản giữ lại một hình nhân nhỏ thó nhất bọn. Đệ không nên theo bọn ta, dù bầy đàn thì gây sức mạnh, thêm một tay vốc nước cũng dễ đầy thau. Đệ hãy yên vị ở đây trông coi ngựa cho mấy huynh, ngoài nhiệm vụ ấy bọn ta còn ký gửi cho đệ thứ trọng trách khác, ấy là mai hậu câu chuyện đêm nay đời sau còn có người hay biết, rằng chánh đạo thì bao giờ cũng thắng ám muội xảo quyệt cường hào trí trá. Đệ hãy chứng giám giùm cho, chúng ta thảnh thơi làm chuyện đại sự, ung dung như vào chỗ không người, thiệt vàng chẳng sợ lửa.

Ngôn xong, hảo hán nọ quay mặt đi, chừng như sợ nói dài sẽ yếu đôi chân. Năm nhân mạng đồng tuốt vũ khí ra, ném vỏ bọc xuống cỏ. Cả bọn đều mặc áo bó thân, gọn nhẹ và tuyền sắc đen. Cắn răng chạy tới cánh cổng gỗ bưng bít dầy nặng, cắn chặt răng vì nếu không họ sẽ hét lên để uất ức trào ra sôi động và trong muôn một, có khi tiếng hờn căm ấy sẽ phản chủ. Câm lặng, họ trèo qua khỏi bờ tường che chắn. Họ nhảy xuống bên kia giới hạn thứ thế giới của bạo quyền và trong đôi mắt lung linh của gã trai trẻ mãi dõi theo, cảnh vật ấy vụt trôi tuồng như một ảo ảnh.

Quán không một ai, đấy là theo ghi nhận của mắt người trẻ tuổi. Thực khách đông, nhưng chẳng nhìn ra người muốn thấy. Họ gây tiếng động, mãi ồn ào phàm tục ghế bàn rậm rật nhưng họ là cõi vắng, gieo riêng vào nỗi hằng mong của y. Đã ba hôm, y rảo cẳng vào chốn nầy và nỗi nóng lòng làm thức ăn nhạt mùi, rượu dồn chất đắng cay khi độc ẩm. Thảng hoặc nghe vó câu lóc cóc tạt ngang, nghe ngựa hí ngay cửa quán đã khiến thắp sáng chút niềm tin nhưng chung cuộc y đành thở dài bởi ngộ nhận. Ba hôm làm khách vãng lai đủ để trưng bày nhân diện, vuông tròn một ngờ vực và kẻ bưng cơm rót nước không dằn được hiếu kỳ. Thảy xuống bàn một câu hỏi là điều ắt phải tới: Dường như huynh là người của phương xa, không phải ngụ ở bản trấn? Y ngó lên, khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang là chữ dùng sai lạc, thị chẳng vẹn toàn nhưng giữa chốn Đông Cự không phồn vinh nở ra một đóa xuân sắc như vậy e phải khiến dạ hoài nghi, rối bời một cảm nhận. Kinh nghiệm giang hồ làm rào chắn, y chỉ ngó mà không biểu tỏ sự xác quyết hoặc phủ nhận. Ngồi làm thinh có khi cũng tránh khỏi những hậu họa. Vô ngôn thì vô úy. Cây tùng, ngọn núi muôn đời cũng lặng câm đấy thôi. Ta sẽ nói hồi nào thấy được mặt năm vị sư huynh.

Ngọc nữ vẫn chưa di hài cước bộ. Hủ mắm treo đầu giàn của lão chủ quán cơm đặc sản dường như đã quen với điệu bộ bất thường của khách tứ chiến nên không lấy đó làm điều, dậm cẳng vùng vằng ra chiều khiển trách. Kiên nhẫn là đức tính của kẻ phục vụ. Kẻ ấy muốn khách phải nhìn thấy xiêm áo lụa là che không kín da thịt mát tươi rung động triền cao lũng thấp. Át mùi đồ ăn thấp hèn là hương trinh nữ chờn vờn vị thanh cao. Chí lớn của đấng mày râu đôi khi phải quỳ mọp dưới hương mùi mê muội ấy. Xưa nay thành quách lâu đài cũng thường nát tan dưới lời xúi dại của trái tim mù lòa, xuôi tay vì nữ sắc. Vì đâu muội đặt dấu hỏi? Vì nếu huynh là kẻ lạ muốn thông hiểu đường đi nước bước chốn này, muội sẽ chỉ bày hoàng đạo mà thưởng lãm cảnh vật thiên nhiên ưu đãi suối này khe nọ. Hoặc không thì dọ tìm người thân kẻ sơ lưu lạc, muội sẽ vui lòng loan ra tin tức nơi trú ngụ. Huynh đừng ngại, muội chẳng mang tà tâm, giúp là thiện ý. Cuối cùng, không dằn lòng, gã trai trẻ thốt: Ta chẳng phải hạng người thích để tâm ngoạn cảnh, ta cũng không thuộc thành phần có gia đình bà con liên hệ ruột rà. Ta muôn đời là đứa tứ cố vô thân. Một kẻ cô đơn thì ắt rước nhiều tâm sự, thứ tâm sự có giải bày cũng chẳng nguôi ngoai. Xin cô hãy tôn trọng cho hoàn cảnh riêng của đứa ấy. Có gì trắc trở hắn sẽ đạp qua lửa mà tìm cô xin đón nhận lời khuyên.

Không dễ chào thua đối tượng nhưng vì quán có thêm khách nên cô nương nọ đành phải phất tay áo mà cầm khăn đến lau mặt bàn trống kề cận cho ba người khách sẽ tới an tọa. Ba trung niên, y phục sang trọng, tóc tai tém gọn, mày râu tươm tất, nhưng diện mạo in tuồng phường giảo hoạt. Cả ba đều nắm hung khí, khi bước qua dường như để lại ở đằng sau chút gai lạnh đầy dọa dẫm. Thứ vỏ bọc vô tình ấy, ám trên thân, thường dây dưa tới những hạng giết người không gớm tay. Họ bước qua chỗ y ngồi, sát khí dàn dụa đến độ nước trong chén trà phải cau mặt, xao động sóng đồng tâm. Rượu!

Một người mang bộ mặt bé choắc, xương xẩu, lưỡi cày vừa đưa tay vỗ bàn. Chỉ hô một chữ, vỏn vẹn ngần ấy, tựa tiếng nổ làm bao xao động trong quán phút chốc yên lắng tức thì. Chẳng phải ai cũng có khả năng để làm gián đoạn thứ sinh khí nọ. Ba đầu sáu tay chăng? Quyền lực khủng chăng? Thực khách đặt mắt tới nơi phát sanh nguồn cơn, ba giây sau phải thu tia nhìn, đổi hướng. Chú mục lâu hơn sẽ bị mang bản án: Nhìn đểu. Và mức khung nhận án tùy thuộc vào nỗi buồn vui của đại gia. Có thể đêm hôm mang vợ tới để thế thân. Có thể quy chụp thành phần phản động. Có thể biệt giam vì tội ăn nói linh tinh. Có thể và có thể. Triều đại nầy không có bộ luật rõ ràng. Anh nói thế này nhưng anh làm thế kia. Và có thể là tớ linh động du di cho đằng ấy giảm nhẹ mức thụ hình tùy vào kích cỡ nằm nơi phong bì đằng ấy trao, đặng có thể cứu chuộc, sửa đổi bốn năm ngồi bốc lịch thành nhất nhật thôi. Và eo ôi, nhất nhật tại tù có thể ví bằng thiên thu tại ngoại.

Y không thích bưng chén cơm lên mà mắt phải xốn xang ngó ra thực tại. Ba kẻ áo gấm ngồi kia luôn là cái gai đọng trong đồng tử đỏ ngầu của y. Khi ta thức trắng ba đêm không chợp mắt bởi lòng bấn loạn dạ hoài nghi thì mắt ta sẽ đỏ màu tựa mắt cá ương. Khi cá không ướp muối thì cũng tựa như ta giam thân chốn ao tù nước đọng. Ngầy ngật, mềm oặt, bần thần, thứ dật dờ bất tận ngôn, sống đây mà xem như thác rồi. Bó tay, chẳng mưu cầu được việc lớn là vấn nạn chung của dân dã xứ này. Phong thủy chăng? Mắc phải lời nguyền tự kiếp trước chăng? Một mệnh đề toán học không hề có phương trình giải quyết. Đau thương vẫn rơi dài từ tung độ sang hoành độ dẫn tiếng than ngút trời đến vô cực hằng hà sa số. Nhỏ như con thỏ, chán như con gián e là một công án! Người ngợm sao mang chó mèo thú vật ra ví von? Quay đầu là bờ, ngờ đâu là biển!

Y chan canh vào tô cơm những mong nuốt trôi hạt ngọc trời cho. Y muốn kết thúc sớm bữa ăn để di dời xuống phố, lang thang giết thêm một ngày vô vị, nhưng y chợt dừng đũa, thôi nhai. Một trong ba gã cất tiếng: Hình như bọn chúng rắp tâm học qua một bài bản khi bị lấy khẩu cung, tại hạ gia công thay đổi cách thức trấn an đe nẹt cũng mang lại kết quả hệt nhau. Chúng trùng khớp, chẳng có khe hở mâu thuẫn. Chúng khai ra sao? Năm đứa đều lập ngôn: Bắt cóc toàn gia quan huyện để sau đó làm cuộc đổi trao. Chúng đòi hỏi những gì, phường gây rối trật tự ấy? Yêu sách là trao tự do cho ba nho sĩ bị giam ngục tối vì bất đồng chính kiến. Mẹ, đồ lấy thúng mà úp voi, lấy trứng mà chọi đá, châu chấu mà đá xe. Có đứa he he phụ họa: đồ đom đóm mà ví mặt trăng, đồ trăng Mỹ mà ví trăng Trung quốc, đồ cu con mà dám chơi Cuba. Ha ha… Thế thì nhóm lính bảo vệ huyện đường bắt được trọn gói? Chúng còn đồng bọn không? Theo mật vụ của quan đầu tỉnh hé lộ, băng đảng chúng có sáu đứa, theo tuổi tác mà xưng chia huynh đệ, huyện chuyển tới ta có năm đứa, suy ra chúng còn một đứa tại ngoại. Bữa đánh chén này do đại ca Bốn ngón thanh thỏa, ổng mong ba đứa ta liên hợp để chóng chụp cổ đứa thứ sáu, để đóng lại vụ lùm xùm. Đại ca Bốn ngón nói, chớ nên để giang hồ ì xèo kháo chuyện, một xã hội êm đẹp là xã hội ấy biết dẹp tan trấn áp những lộn xộn. Giết lầm hơn bỏ sót là phương châm hành động của tập thể chúng ta. Tên có máu he he ha ha lại góp tiếng: Lê-nin đang ở nước Nga, bỗng dưng sang đứng vườn hoa nhà mình. He he, bắt, giết, không cho ý kiến, danh nhân Trung quốc vĩ đại có nói: Thà ta phụ người còn hơn để người phụ ta. Ha ha ha…

Mồ hôi tuôn trong thân, chảy dọc sống lưng. Qua câu chuyện kia y đã hiểu ra cớ sự. Muối xát gừng xoa, lòng y cơ hồ đã mang thương tích trầm trọng, sao cõi ta bà bỗng chốc nghe hoang vu. Thanh kiếm báu đã mang đi cầm thế cho lão chủ quán, đổi ngân lượng mà sống lây lất đón đợi sự trở về anh em ngậm ngùi đoàn viên. Giờ thì trơ mình ên cô thế, sức mọn trí cùn chẳng biết tìm ra một cao kiến xoay trở cho vận sự thôi gay cấn. Than ôi, họ sẽ bị hành hung bầm dập. Ôi thôi, mưu sự tại người hiền mà thành sự lại lọt vào tay kẻ ác. Cơ đồ nầy e còn tối hù tới vạn năm sau.

Lần đầu trong đời, y bỏ thừa thức ăn. Y sẽ chịu mang tội với trời đất, nhưng nếu cố nuốt trôi bữa cơm sung túc nầy thì có khác gì y đã phản bội những sư huynh đang thất thoát từ cơ thể từng giọt máu rơi xuống nền đất lạnh. Phản bội nhau, với y đó là bản án nặng nề nhất, đáng ngại hơn cả tứ mã phanh thây.

Y đi như đứa lỡ uống rượu say, phong ba không trổi nhưng bão tố xô giạt tự tâm nhàu nát, chòng chành râu hùm mày én hòa cùng sắc nước mỹ nhân gây nhiễu loạn thị mục. Vị cô nương đứng sau quầy ngó y, sóng thu ba phủ màu ngờ vực dưới mày lá liễu cong hình dấu hỏi. Rõ ràng kẻ ấy chất chứa nhiều tâm sự bi thương. Sức người có hạn, sao y chẳng thốt ra lời hòng vơi nhẹ một nghiệt ngã vừa phủ chụp xuống? Y mở miệng, quai hàm bạnh ra. Người y hiện hữu toàn cả điều mâu thuẩn, nửa cương nghị và nửa kia là cả một sự yếu đuối. Tả là hỏa nhưng hữu là thủy. Y chỉ có duy sự hài hòa, là vây bọc toàn thân y nỗi cô đơn cùng cực, nhìn ngó, chút thương cảm từ đâu bỗng dưng can dự tới khiến ta phải cau mày trong phút giây, lan tỏa ra niềm thương hại. Một con sói lẻ bầy, có thể tạm chấp nhận với thứ định nghĩa ấy. Y nói, giọng hụt hơi. Hãy làm phép tính cọng trừ nhân chia, hôm nay ta đã nợ cô bao nhiêu nén bạc? Sao huynh tự chuốc lấy sự rắm rối, hãy tìm giản đơn tỉ như hai cọng hai bằng bốn, cả rượu cả trà cả cơm vị chi là năm mươi bảy thiên. Muội có thể không thu vào một cắc nếu huynh gia ơn giúp muội thanh thỏa chuyện này. Hậu tạ là việc đến sau, tùy vào thành bại. Y đứng rùng mình, tựa ngựa quý đã ngàn dặm vừa rong ruỗi qua, thôi hý lộng. Giúp người là điều ta mãi tâm nguyện, nhưng hành động ấy chẳng thể tùy tiện chia đều cho bá tánh. Vấn nạn của cô nương… Huynh có thể dấu tên nhưng xin gọi muội là Thanh Bạch. Thanh chẳng hề là màu xanh dù muội luôn nuôi giữ niềm hy vọng. Bạch không như sắc trắng bởi muội mãi sợ cảnh tang tóc. Ở chốn nhiệt náo nầy không tiện hàn huyên, huynh tá túc chốn nào, đêm nay, muội sẽ tới làm ám hiệu gặp gỡ. Bình sinh, làm việc gì ta cũng truy cứu căn nguyên, nhưng thân phận ta, gốc gác ta, nơi ăn chốn ở ta thì mong cô nương chớ truy tầm. Cô nương cũng thế, hãy rán thu cất niềm bí mật riêng tư. Bất hạnh cho chúng ta, cái xã hội nầy tuồng như muốn bóc trần, cưỡng hiếp đời tư mỗi cá nhân. Họ xía bộ mặt xấu xí vào đời ta khiến đêm về có thể bắt gặp ác mộng. Hãy cho địa điểm, giờ giấc, ta sẽ chủ động mang thân đến diện kiến. Được chăng? Lẽ phải bao giờ cũng thắng, cung kính không bằng phụng mạng, đêm nay, giờ Tý, Bạch này sẽ vận thanh y đứng chờ huynh trước học viện Quốc tử giám. Ta vốn lạ nước lạ cái với xứ trầm mặc nầy. Có phải nó cách cổng Hiển Nhơn một đoạn đường trồng nhiều cây sầu đông? Đúng vậy. Hiển nhơn, rốt cuộc thì chúng ta đã nên người chưa?

Bất giác, y ngó sững vào đôi mắt đen thăm thẳm của Thanh Bạch. Không cứ xuất thân kinh doanh quán ăn nhậu thì chỉ đẻ ra toàn kẻ quen động dao thớt, vị cô nương này xem chừng đứng bên lề của chữ ngoại lệ. Tầm hiểu biết, lời ăn tiếng nói có thể mang đọ với tiểu thư khuê các màn che trướng rủ công dung ngôn hạnh kinh sách thêu thùa thi phú đàn địch. Bắt đứng gần phải đứng kề, cho kể lể mới đôi phần được đả thông.

Tạ từ, y nói nhỏ lời chia tay. Y thay đổi chỗ ngủ hằng đêm và tối nay y sẽ ngã lưng xuống nền đất nồng trong căn miếu nguội lạnh nhang đèn. Chỗ ấy y đã quan sát, chỉ quây quần bọn nhỏ cái bang ôm nhau tìm hơi ấm khi bố mẹ tù tội chốn xa. Tình người là điều hoang tưởng đối với bọn chúng, những mái đầu xanh nọ sẽ cười miệt thị nếu bạn lỡ miệng nói tới chữ tự do hạnh phúc. Một hôm xấu trời nào đấy đời xô bạn té ngã vào cùng cực, bạn khố rách áo ôm và bạn sẽ ngộ mọi đao to búa lớn ám trên chữ nghĩa thảy không giá trị gì sất. Khi cơm no bò cỡi bạn có quyền vung vít lộng ngôn, áo gấm về làng mang tiền phá trinh gái non dại, bạn có ngàn lẻ một cách biện hộ: giúp kẻ khốn cùng hơn xây cả chục cái am. Am miếu bỏ hoang vì thần linh đã khước từ vùng đất nhiều tội ác. Người ta lợi dụng thánh thần tới độ chính họ phải tự vượt biên. Y muốn đến đó quét dọn gạch vữa rác rến, bày hoa quả và thắp vài cây hương cúi đầu mong cầu đấng khuất mặt giúp cho năm vị sư huynh bớt chịu cực hình, nhưng ngẫm lại ý nghĩ đó không ổn tự bản chất. Mỉa mai, khôi hài và thấy yếu đuối, bạc nhược.

Chưa bao giờ y mong thời khắc trôi nhanh như buổi chạng vạng này. Y lầm lì đơn độc đã ba ngày, chốn nầy quạnh quẽ và Thanh Bạch chắc sẽ mang tới cho y chút đền bồi bằng vào cái bước đi sai lệch của trái tim đập không đúng nhịp. Y xếp bằng ngồi thế kiết già nhưng ý nghĩ giao động ưa trồng cây chuối. Hoang mang đã bám đuổi y không rời tựa kẻ thù quyết một phen so tài cao thấp. Tĩnh tâm chẳng đến khiến y sớm bỏ cuộc dọ tìm đường tới Quốc tử giám, sương muối rãi đều trên những ngọn sầu đông, thứ cây ra hoa nụ nhỏ màu tím buồn. Cành lá nó ốm yếu thưa thớt, ngay cả mùa hạ, nó chưa hề một lần là nơi cho loài ve sầu tới ký thác giọng kể dông dài về sự phân lìa tuổi học trò. Những cành phượng đỏ rực luôn là nguyên cớ thúc đẩy giọng ca sầu muộn của loài ve. Sầu đông chỉ đứng bên lề, chứng giám cái tắt tiếng ngắn ngủi kia. Và phượng rơi rụng, và hoa trốn chặt trong những trang lưu bút thật thà của một hờn dỗi vô căn cớ. Y đã đi qua một tuổi thơ bất hạnh, người ta cướp giật sách vở của y bởi y mang lý lịch xấu. Nhà trường ưu việt tuyệt không dung chứa những kẻ có nợ máu. Dưới mắt y, hồn nhiên sớm bị lão hóa, màu hoa phượng khi rơi chẳng khác người ta gồng mình tạt hắt cả một xô máu. Sân trường đầy máu và trang vở trắng trong người y đã bị bạo quyền bôi bẩn, truyền chất độc màu da cam lên tuổi thơ ngây.

Y đi lạc hồn, chỉ lai tỉnh khi cuối đường mờ nhạt lay động một thanh y. Ra khỏi công việc lu bu hàng quán, lại diện tà áo xanh, Thanh Bạch như hóa thân thành kẻ khác. Y nhận ra bởi sương muối không làm tan đi nụ cười độ lượng luôn có trên môi hồng Bạch cô nương. Cô có vẻ là người đến sớm để ra công chờ đợi. Thảnh thơi chẳng có, nôn nóng lộ hình nơi câu hỏi: Tưởng huynh đã gặp bất trắc đón đầu. Cô ôm bên hông một túi vải, lấn cấn. Như mỏi chân, cô ngồi xuống bên bia đá sức mẻ. Tựa nho sinh, cô làm khó y việc đối đáp. Huynh biết hàng quán là nơi thu hoạch được gì nhiều nhất? Tiền bạc, chắc vậy, khách đông thế kia, y đồ vậy nhưng không vội lỡ lời. Bạch cô nương vén tóc. Thị tại môn tiền náo, trước cửa chợ bao giờ cũng rậm rật tiếng động, trong quán ăn thì tai nhét chật những lượng thông tin. Không là thầy bói, muội cũng am tường một chuyện hệ trọng, ấy là huynh đang bị cáo thị tầm nã. Tò mò khi nhìn cha loay hoay thu dấu bảo kiếm huynh cầm thế, muội đã lén nắm thử nó lên, ở chuôi kiếm có khắc chữ Lục, muội suy diễn huynh chính là người em út, thứ sáu.

Y nghe lạnh cẳng, dáng đứng không tự nhiên của y có vẻ lộ liễu quá. Y ngồi bệt xuống thảm cỏ lạnh ướt. Y cố giữ bình tĩnh. Bạch cô nương đã nhập đề, bỏ băng thân bài đi, ta thật nóng lòng muốn nghe phần kết luận. Quán của cha con muội đang lúc thịnh, mấy hôm gần đây có bọn lâu la ưa chơi trò bảo kê, đòi phải nộp tiền hàng tuần, nếu không thì chúng phá cho thành tiêu điều táng gia bại sản. Kẻ cầm đầu tên gọi Mực Ma, huynh có thể giúp cha con muội mà trừ khử chúng một phen, trước giải tỏa chuyện riêng tư, sau giúp xã hội sạch bớt phường cặn bã. Bọc vải này gói thanh bảo kiếm của Lục công tử, xin huynh hãy rút nó khỏi vỏ mà hiển lộng chuyện trừ gian diệt bạo, công ơn đó muội nguyện chí tình đền đáp.

Hương thơm xô động trong đêm sương. Hoa sứ nở trắng nhòe mờ tận thành quách rêu đục chẳng tài nào gửi tới một lân la. Khờ khạo, hương nầy vốn phát sinh từ cơ thể Bạch cô nương khi nghiêng người trao lại bảo kiếm cho ta. Nụ tường vi di động lên tiếng. Châu về hiệp phố, trong tay cha con muội nó chỉ là cục sắt nguội, không hơn không kém. Mất ngựa thì ví như kẻ quen bôn tẩu bị chặt đôi chân, dũng sĩ mà nắm kiếm báu trong tay thì e cường hào ác bá phải đôi phần nể nang, ăn nói ra chiều khiêm cung lễ độ. Muội nói ít mong huynh hiểu nhiều. Làm ơn đưa muội về một khúc đường đầy bóng tối. Muội chỉ cho huynh biết cứ địa của bọn Mực Ma. Chúng lẻ tẻ dăm ba mạng, thành phần ô hợp đầu đường xó chợ, con nít ranh tập tành học thói đại ca tỉnh lẻ. Chắc huynh chẳng tốn một giọt mồ hôi cho thứ công sức nhẹ nhàng nọ.

Những bó nhang thắp cúng các hồn oan mùa xuân tang tóc của quá khứ cắm dọc cổ thành cháy đỏ lập lòe một bên chân bước, mùi nhang xông tỏa, luôn mới một cảm nhận, gây thổn thức. Khói vật vã thứ đau đớn lặng câm rồi nguôi ngoai tàn lụi tựa đã nghe qua lời thỉnh cầu xin thứ tha. Bi kịch ở chỗ, nơi nầy không có đất dành cho ăn năn mọc rễ, mọc sum suê những bạc ác nối tiếp trù dập, thành tựu duy chỉ loài hoa vô cảm nở rộ, hãnh tiến, trân tráo. Một loài hoa nhựa ra lò cùng khuôn mẫu.

Muội có ưa nhìn ta ra tay trừ khử bọn chúng ngay giờ nầy? Việc gì làm được hôm nay chớ nên để qua ngày mai. Chân bước sai nhịp, trì trệ trong phút giây, lưỡng lự. Không, thứ nhất muội ghét bạo lực, thứ hai, ngộ nhỡ có ai nhìn ra muội, họ có ngay đáp án là do muội làm lực đẩy xúi dục. Huynh là kẻ lạ từ phương xa lại, chúng sẽ hoang mang vơi mất nhuệ khí vì chẳng rõ nguồn cơn. Y gật đầu. Cũng phải, ta đưa muội an toàn trở về trong đêm lạnh rồi hẳn trở gót hành sự. Mai ta đến quán, muội muốn ngó ra một phần dị hình của Mực Ma để chứng thực nhiệm vụ ta hoàn tất? Hắn có đeo ở cổ sợi giây chuyền vàng mang theo biểu tượng đơn vị tiền tệ lủng lẳng. Huynh dùng nó để trả tiền rượu cơm cho cha ta an lòng buôn bán. Niềm vui ấy có thể mang đến cùng lúc cho nhiều người, muội xin được tri ân sớm. Thôi, mình chia tay. Đằng sau những cánh cửa đóng chặt kia, muội biết vẫn luôn có những đôi mắt tò mò rỗi việc chúa dựng chuyện. Ngày mai gặp, huynh nhớ cẩn trọng chuyện đi đứng.

Chủ quán là hòn đất biết di động, nôm na ông hiện hữu ở đời chỉ thuần có mỗi việc chí thú mần ăn. Có sao nói vậy, hiền lương, thật thà như đếm. Triết lý, nếu hồ đồ gọi thế, thì ông gom bao ẩn khuất, đầu tư sự suy nghiệm vào gia vị của từng món ăn, giải trình theo độ mặn nhạt, già lửa hay chỉ chụm nhen một hòn than mọn dưới đáy nồi. Người đời xem đó là cả một nghệ thuật, với ông thì cô đọng chỉ còn hai chữ: quen tay. Thêm thắt: phàm đã lỡ nhúng chàm thì nên để bàn tay đi tới tận cùng cái thuần thục. Dâng lên mâm một món sơn hào làm kẻ lạ phải xuýt xoa, đó chẳng hề là niềm hạnh phúc sao? Kỳ lạ cho phận số, vợ ông mất sớm khi sanh nở, ông loay hoay đơn thân nuôi con. Vụng về là điều buộc phải có, nhưng thô lỗ cũng sớm cáo chung bởi ông luôn biết đối đầu đương cự với cảnh khó. Cũng lạ kỳ cho gia cảnh kia, con gái ông trời bù đắp đền bồi chút nhan sắc, khôn khéo, lanh lợi, thông minh. Con mất mẹ thì chóng trưởng thành, điều ấy chớ nên xem là ngoa ngôn. Ông tin con, giao việc đối ngoại mà dấu đi niềm tự hào, rằng tài trí kia có thể khiến ta an lòng đứng bên trong mà trò chuyện thầm lặng cùng kiềng ba chân xum xoe vui vầy với ông Táo. Dao thớt thịt cá xương xóc con chớ đụng vô mà hư bột hư đường, mỗi người có riêng một giang sơn, thế giới con nằm ngoài bức màng nhựa có vẽ hình chùa Một cột giao duyên cùng Thiên Mụ lân cận chợ Bến Thành. Con đứng dựa người vào quầy mà thu tiền hộ ta.

Hôm ấy khách đến bên quầy thay vì trả tiền lại điền thế sợi giây chuyền vàng nặng nề cục mịch. Nó vang tiếng kêu khi chạm vào mặt gỗ và nó đọng trong mắt người thiếu nữ một điểm sáng, long lanh. Cô gái đưa tay, chẳng mó vào vàng mà phủ che lên bàn tay người trai trẻ. Nam nữ có khi cũng nên thọ thọ tương thân để làm giàu cảm xúc. Một mềm mại thuần nhu mân mê cái gân guốc của chí cương, bàn tay này đã vừa thanh thỏa làm tròn một giao hẹn và người ơi, đã có bao giờ tay người biết ôm siết vào lòng một hình nhân run rẩy? Để nghe mặt đất thổn thức dưới đôi chân mãi chao.

Huynh giết nó chăng? Không, nó đổ thân vái lạy xin tha mạng sau khi thanh đao Mực Ma bị gãy đôi dưới bảo kiếm. Ta thu cất lưỡi sắt bén chưa thấm máu bởi nó thề nguyền quyết cúi đầu đi phương xa mưu cầu việc thiện. Nó xin tự tay cắt rời ngón út để thế lời hứa nhưng ta không nỡ nhận. Nó dúi vào tay ta chiếc nhẫn và ta nghĩ thứ trang sức này hợp cho những ngón muội nuột nà. Y nâng năm ngón mãi run kia lên, tròng thử cho đến hồi nhẫn nằm khít khao vào ngón giữa. Thanh Bạch chẳng vội rút tay về, cô muốn thử nghiệm niềm sung sướng từ cánh tay trái sẽ đi xa tới đâu. Trái tim cô đập vội và dường như hạnh phúc có thể khiến người ta tái mặt đi. Mặt cô đang chuyển màu trước tình huống bất ngờ nằm ngoài dự tưởng. Tai cô ù đi phút chốc, dẫu có đoàn kỵ mã rầm rộ quất ngựa binh đao loảng xoảng chạy ngang cô cũng chẳng hay biết. Thanh Bạch hồn lìa khỏi xác trong một sát na. Sát na sau là mắt đắm nhìn quà tặng, chiếc nhẫn đính viên đá quý màu hổ phách. Nghệ nhân nào gia công làm ra như cốt dành cho phụ nữ nâng niu, nó đẹp tùy đối tượng và nó chói sáng giọt lưu ly khi lọt vào tay Thanh Bạch. Ngắm không chán.

Cô ngoái đầu lui ới vào tấm màn nhựa để chẳng lâu cha cô, lão chủ quán nhân hậu lù đù vén những danh lam thắng cảnh ba miền xô động qua bên.

Cha à, người này đã lo xong việc con cậy nhờ, kết quả như ý, con muốn thông báo là từ nay cha chẳng còn quan ngại ong ve ruồi muỗi vào quấy phá.

Lão già ngó y, mà y cũng nhìn tới lão. Việc đã xong, tôi xin hoàn lại thanh kiếm. Sao lại nói thế, kiếm ấy nguyên thủy nó vốn là của anh. Trong tay tôi chỉ toàn sử dụng dao chặt thịt cá. Tùng xẻo chém chặt hình thành ra món ăn có thể sánh ngang với việc động thủ trừ gian diệt bạo không? Tôi thậm dốt việc so sánh. Nhưng vũ khí nọ mang ra để trảm dân vô tội thì những kẻ quyền cao chức trọng kia, so ra, thật không bằng heo bò gà vịt chó mèo rắn rít. Cám ơn anh đã giúp bọn tôi gỡ xong đoạn chỉ rối, hai người hãy trò chuyện cùng nhau, tôi lui sau lao động việc bếp núc.

Muội tuyệt không thích nói lời chia tay, nhưng nghe phong thanh bọn chúng đã đánh hơi ra hình tích của huynh, trấn này nhỏ e chẳng phải là nơi giấu mặt an toàn. Đêm về muội sẽ đốt nhang cúng vái thổ địa, nguyện cho bước chân huynh thong dong khỏi rơi vào hố thẳm. Muội đã chuẩn bị lương khô cho cuộc lữ kia, tiền bạc ngân lượng thì giấu trong ruột tượng này. Yên hàn vô sự ngày nào hay ngày đó. Hầu như chúng ta luôn ý thức rằng cuộc đời này quá mong manh, nỗi an nguy của mỗi chúng sinh chỉ nên tin vào hiện tiền, nguy cơ chờ chực chúng ta sau cánh cửa của ngày mai. Bản án luôn treo sẵn trên số phận và thường, kẻ đi thẳng lưng như huynh luôn bị nó chiếu cố.

Có điều gì xúi dục, y đã dùng cả hai tay ôm lấy hình hài luôn dậy hương mùi kia, mê muội. Suốt cuộc đời luôn bôn ba, những phút giây đáng trân quý như vậy thường hà tiện đối với riêng y. Hiếm muộn tới khắc nghiệt. Hà khắc thường có khả năng đổi thay tư duy một thế hệ. Thế hệ y thì đẫy rẫy chuyện bất công. Bất công đến độ tình người trở thành của lạ vật hiếm. Y ôm cái kho tàng ấy để ước ao được tan biến vào trong. Được hóa thân làm vật trang sức chết tiệt hết những giác quan, trơ như đá vững như đồng, bất hoại cùng người bước sang thế giới khác, hằng cửu.

Bóng nắng hung hãn sớm tuyên bố giờ phân lìa. Y ôm hành trang bước đi chẳng ngoái đầu, y quyết đoạn tuyệt với ủy mị. Gần Thanh Bạch, cô cấy vào người y cái ham muốn tầm thường của kẻ ưa an phận. Muốn an phận, y chẳng còn cơ hội nào nữa. Một con chó bị dồn tới ngõ cụt là y.

Bao ngân lượng cũng như thực phẩm mang trên người, y đều đem ra phân phát cho những kẻ nghèo đói đi vất vưởng trên hương lộ. Y đi mạng không, tay nắm kiếm, nhẹ nhàng như đời vốn bày biện cho y thế, chớ cưỡng chống. Y sải chân vào một trụ sở có nhân viên mặc sắc phục đồng loạt một mẫu hình nhung nhúc tựa nhau, như trăm con cùng rặn ra từ cửa mình một mẹ. Ê, đứng lại. Các hạ tính đi đâu? Tại hạ có hẹn với đại ca Bốn ngón. Thủ trưởng bận công tác chốn xa, đừng đặt điều. Xem chừng ngươi là người hắc bạch… Vậy giờ đây ai làm thủ lãnh đô đốc việc công? Ta đây, ngươi là ai tới công đường gây nhặng xị?

Một gã bụng phệ mặt láng bóng đỏ da thắm thịt đứng chống nạnh đường bệ dưới tấm ảnh vị thần linh mà bọn chúng thờ phượng. Chung quanh cờ lọng phướng thảy đều dùng sắc đỏ. Phượng ra hoa chỉ mùa hè, ở đây tám thời tứ tiết đều chưng bày màu máu. Coi chừng nó có mang hung khí. Một đứa bảo vệ la lên và trùng vây rừng thép nguội loảng xoảng xôn xao khép chặt. Y vất bao vải đi, vất luôn cả vỏ bọc, mân mê xúc giác trên chữ Lục khắc sâu vào đốc kiếm. Ánh sao băng nhảy múa loang loáng tạo tiếng kinh cong tựa chuông xa gióng hồi cảnh tỉnh. Chân lý mãnh hổ nan địch quần hồ e chẳng là ngụy tín. Y chống gươm, quỳ gối ngó máu tự thân mình đổ ra. Này hình hài lành lặn cha mẹ tác thành cho đang rách toạc, này rượu cơm Thanh Bạch dâng mời nuôi bụng đói đang tiêu tan. Phù du. “Chí lớn chưa về bàn tay không… Mẹ già xem là hạt bụi. Em thà như hơi rượu cay”.*

Thằng dở hơi điên loạn kia, tổ chức nào xúi mày tới đây gây án? Âm mưu phản động chúng mày có phải muốn lật đổ chúng tao? Y gượng đứng lên, phun ra búng máu. Ta đến, chỉ mang mong cầu, đấy là muốn nhìn mặt anh em. Ta là kẻ mang ám số 6, hãy trói ta về nhốt chung cùng năm vị sư huynh.

Hắn ngửa mặt: Xin các vị thứ tha, có thể đệ gây nên niềm tuyệt vọng. Có thể đệ mù quáng chẳng hành sự giống kẻ trượng phu, nhưng thâm tâm, đệ vẫn muốn bảo tồn toàn vẹn tám chữ vàng: Có phúc cùng mang có họa cùng gánh. Y tính nói lời tuyệt mệnh sau cùng nhưng có đứa đã nhanh tay chạy tới bịt mồm. Bọn chúng luôn là những đứa sợ đón nghe sự thật.

Trói ké, lôi đi xềnh xệch tựa băng đảng hương đồng quê mang chó ra trấn nước bến sông. Cờ tây ngất lịm, võng mô trêu ngươi thu giữ cảnh sắc chập choạng. Ai như bóng đổ nắng trưa mờ nhòa nhân ảnh Thanh Bạch? Không, tất cả chỉ là giấc mộng. Một trường mộng đè phủ giấc ngủ đau.

Năm ấy, mùa đông tới sớm, nạn đói gia tăng. Cha hiếp con dâu. Trai trưởng thọc dao bụng mẹ moi được hai triệu đồng. Út đi cắt vú bà chủ cơ quan. Con gái sang nước lạ cơm dâng nước rót hầu tăm xỉa răng, giặt giũ tắm rửa hình hài chủ nhân chây lười. Học sinh túm lấy nhau gọt tóc lột áo quần ra gọi là trò tiêu khiển cuộc đời nhàm chán. Năm ấy cá đồng loạt phơi mình trên sóng lăn tăn. Gà luôn quang quác heo đực luôn rậm rật sắp hàng đi leo mông heo nái. Gió cuốn mây bay, bụi trần xao xác nhưng ngôi sao máng trên cột cờ vẫn ủ rủ giấu mặt tuồng hổ ngươi thế sự.

Năm ấy là tiền kiếp của năm nay. Khẩu hiệu mừng xuân ghi rằng: “Năm nay ta cố hơn mười năm xưa”.

Hồ Đình Nghiêm

* thơ Thâm Tâm

Sang sông

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 18 Jan 2024

Trở về – Tranh Đinh Cường

“Đừng gieo giọt mắt xuống sông,
Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm
”-
(Đồng Đức Bốn)

Người con gái rót cho hắn một ly nước. Cô đậy cái nón giấy lên miệng chai rồi mang ly tới gần hắn. Ly đầy nước, những ngón tay cô gái thấm ướt. Chiếc bàn gỗ đen có nhiều vết xước và giữa căn phòng nhỏ luôn đọng một nỗi tịnh yên. Trời tức giông, màu xám đè nặng ở ngoài, len vào cửa sổ và xô đẩy theo một hương mùi ngai ngái của đất nồng.

“Uống tạm đi. Nhà chẳng còn gì cả”.

Hắn ngó xuống mặt bàn. Những vệt mực, những dấu khắc, những con số, những chữ viết. Tất cả như chẳng có gì thay đổi. Hoặc chúng đã bị chìm sâu, mù mờ như đứng bên này sông trông qua thành phố một ngày mưa bão. Hắn nhớ tới những ngõ ngách đầy nước, mấy bụi chè tàu ngoi ngóp trồi đầu lên cùng với rác rến. Mấy mụ đàn bà ngồi thổi cơm ở trên giường, khói củi ẩm bay dật dờ với mùi mắm thính. Mặt nước đục ngầu, bắp chân trần cô bạn trắng muốt. Chiếc quần xắn cao và hàng vải phin đang bị nước xâm thực lần để rồi bày biện ra bên trong hình thể chiếc quần lót bó chặt…

Trời vừa nháng qua một ánh chớp. Hắn đợi một tiếng nổ đì đùng nhưng chẳng có. Rồi mưa sẽ giáng xuống thịnh nộ. Mưa thúi đất, và hôm nay lụt lội có chịu trở về nữa không? Ly nước lọc chẳng được ngọt, mặn lơ lớ. Cái ly có bọt, rãi rác hai ba hột nằm trong lớp thủy tinh. Ở ngoài in sơn đen đỏ bốn lá bài cơ rô chuồn bích. Xì-lát cát-tê xập-xám xì-phé. Hắn đã đặt mạng sống ra để đánh đủ mọi ván bài và kết quả hắn đã trôi giạt đi xa. Thắng hay thua, hắn cũng chẳng rõ. Vui đó rồi buồn đó, như ngày nắng ngày mưa. Những giọt nước cuối trôi xuống trong cổ. Thực ra thì hắn đang khát một điều gì đó mà nước không phải là thứ để cứu hỏa.

“Bao giờ đi?”

“Chẳng biết. Có thể là ngày mai”.

Hắn rụt vai khi trả lời. Hai lỗ tai thoáng nghe như có tiếng ai thì thầm kề cận: “Khuya nay em cắt cổ con gà vàng, để chi mai nó gáy hai đàng biệt ly”. Hắn ngó lên cô gái. Khuôn mặt xanh, thỉnh thoảng cô ta nhăn nhó và thỉnh thoảng cô ta bỏ cái ghế đẩu để bước đi loanh quanh. Mấy tháng rồi? Hắn không biết. Ở bên kia, người ta sẽ cởi truồng ra và chụp ảnh lưu niệm từng tháng một. Họ nhét vào cuốn album, khi buồn tình họ sẽ mang ra khoe, hài lòng như một chuyên viên sửa sắc đẹp: Thấy không? Before and after.

“Trở về và lo chuyện lập gia đình đi. Người ta không thể sống đơn chiếc suốt đời được”.

Hắn nhìn vào bụng người bạn gái. Chẳng rõ ở đây người ta có bán tờ tạp chí Parents không? Hắn đã tẳn mẳn đọc và xem những tấm hình chỉ dẫn cách làm tình chẳng ảnh hưởng tới thai nhi trong lúc bà xã bạn đang mang thai.

Hắn đứng lên. Bức vách đằng kia có treo một loạt ảnh làm lôi cuốn chân đi. Chẳng có tấm nào đồi trụy. Ngay cả bức ảnh chụp đôi vợ chồng đứng trên đồi Vọng Cảnh, hai nhân vật chính tuồng như biết mắc cỡ trước ống kính khiến họ để cho một cây thông lạnh lùng chen vô giữa. Người chồng mặt mày cũng dễ coi mặc dù hơi đen đúa. Ông ta khá lớn tuổi và hiện tại thì bận theo cơ quan đi công tác ngoài Hà nội. Ông sẽ ghé chợ Đồng xuân tranh thủ mua ít áo quần trẻ con. Hai ba hôm sau đón tàu Thống nhất đội mưa trở về, việc đầu tiên ông sẽ tụt quần cô ấy xuống, áp cả khuôn mặt rít rát bụi đường vào cái lỗ rốn đang trồi ra:” Giời ơi! Bố nhớ hai mẹ con mày quá đỗi”. Ông hôn hít ở tư thế quỳ và ông không tài nào biết được trước đó, ở đúng cái vị trí ấy, đã có bàn chân của kẻ lạ dẫm lên trên. Ừ, cũng phải. Người ta không thể sống đơn chiếc suốt đời được!

Ở khóe mắt, hắn thấy cô bạn đang theo dõi những đổi thay có trên gương mặt hắn. Hắn quay đầu thật nhanh khi phát hiện cái dáng đứng gần như xiêu đổ của cô ta.

” Hạnh… Hạnh có sao không?”

Những giọt mồ hôi ứa ra trên vầng trán thoáng cau lại. Một tay vịn mép bàn và tay kia xoa mãi miết ở phần bụng dưới. Hắn ôm cô gái. Mùi dầu tràm váng vất chôn trong kẻ tóc ở một bên mai. Ngực mềm mại khi áp người vào, lưng trôi tuột khi bàn tay ham vuốt ve. Hắn hôn lên đôi môi đang nóng bừng những hơi thở gấp. Không quá một giây, Hạnh xô hắn ra. Không phải đàn bà có bầu thảy đều yếu. Hắn chới với, hụt hẫng. Da mặt cô ấy xanh, hai con mắt nhìn hắn bằng cái ánh mắt ngày xưa lội nước lụt và kêu thét lên khi bất ngờ ngó thấy một con chuột chết trôi. Giờ này Hạnh không hét, Hạnh nhỏ nhẹ, Hạnh dửng dưng:

“Bà cụ sắp về tới nơi. Đã chiều rồi…”

“Hạnh đừng có mọc một ý nghĩ xấu về tôi. Một người bạn, người ấy có thể…”

“Người ấy có thể đứng ở ngoài thôi. Đứng ở lằn ranh của quá khứ. Hôm nay không giống như hôm qua… Cám ơn đã trở về thăm và hãy mừng cho Hạnh đang hạnh phúc”.

Hắn moi trong bọc quần ra một phong bì:

“Ừ, chúc mừng. Ít tiền đô này Hạnh giữ mà sắm sửa đồ đoàn cho đứa bé”.

“Đâu phải Việt kiều ai cũng ăn sang xài lớn, đúng không? Đừng làm vậy. Hạnh chẳng thiếu thứ gì cả”.

Cánh cửa thu mỗi lúc một hẹp lối ra vào. Bàn tay nhiều gân xanh đang dứt khoát làm công việc ấy, như thể ở trong buồng có tiếng người chồng vừa ném xuống đất cái chén cơm để dằn mặt. Tiếng sấm nổ lục bục ở trong mây. Gió cuốn bụi làm cay mắt. Hắn đưa tay dụi cái xốn xang đi. Mưa lộp độp rớt trên mái tôn. Vỡ xuống thềm rêu và như biết rơi vào trong người hắn những giọt lạnh đâm nghiêng. Hắn tạt ngang phố làm ly cà phê đen. Đốt bốn năm điếu thuốc mà mưa cứ dằng dai không dứt hạt. Tách cà phê đắng, sóng sánh những vị chát chua. Đầu hắn thì lợn cợn chẳng có ý nghĩ nào rõ ràng. Leo lên một chiếc xích-lô biểu người đạp chạy loanh quanh dưới mưa? Chui xuống tấm poncho căng bên hông chợ để cho thằng hớt tóc cầm tông-đơ vò đầu bức tóc lấy ráy tai một hồi cho tỉnh táo? Lên trên núi trọc cầm ba cây hương mà khấn vái trước nấm mồ song thân? Lạnh lùng quá những hình ảnh vừa thoáng hiện. Hắn vác mặt ngó mông qua phía bên kia đường, đặt để đôi mắt vào cái khung sáng đèn dựng đứng trước một căn hộ. Ánh đèn xanh mét, chiếu xuống hình hài một thằng đàn ông khẳng khiu đang ngồi vặt lông mũi. Ở sau lưng bày biện la liệt những khuôn mặt ẩn hiện trên mỗi vuông giấy. Thằng đàn ông râu tóc để dài, trông như một đạo sĩ chẳng màng thế sự sau khi đã vẽ xong một loạt bùa trừ ma. Ngoáy lỗ mũi, rờ râu cằm, khạc đờm bay ra ngoài bực thềm và gióng hai con mắt đỏ lên khi thấy hắn bước vô.

“Anh tới lấy hình bà Cúc hả?”

“Không”.

“Ủa. Thiệt là kỳ lạ. Xong đã hai hôm rồi mà răng chẳng có ma mô chịu tới lấy. Tang gia dẫu có bối rối thiệt nhưng tấm hình đặt trên bàn thờ dĩ nhiên phải là thứ quan trọng số một chớ!”

Ông ta thôi nói, khoanh tay nhìn cái ướt át có trên người hắn. Nền xi-măng đen thẩm chỗ hắn đứng.

“Cắc cớ. Khi không mà mưa to gió lớn. Mưa như ri thì mấy thằng cha đào huyệt mừng rơn, khỏi phải hào hển cuốc cày sỏi đá như trời nắng nóng.”

Hắn nhìn những khuôn mặt câm ghim đầy tường. Thằng cha thợ vẽ này táy máy tay chân quá. Tỉa từng sợi lông mi rõ ràng tới độ có thể đếm được. Nhưng mà cũng tốt thôi, đi sát tới trung thực được phần nào quý phần đó.

“Không tới lấy hình rứa thì anh tới có chuyện chi không? Tiệm tui thì có quỷ chi mà tham quan. Đừng nói là xin mượn chỗ trốn tạm cơn mưa”.

Hắn chùi tay vào quần, ở cái chỗ khô ráo nhất:

“Phóng đại một bức ảnh, mất bao lâu thì ông vẽ xong?”

“Nhẫn nha thì nửa ngày mà khẩn trương thì tàn ba cây hương là đâu vô đấy. Nhưng cái cốt yếu tùy thuộc vô một điều…”

Hắn đưa tấm ảnh cho người thợ vẽ. Bức ảnh nhỏ, chụp đã lâu và chẳng hiểu sao khi ăn cắp hắn đã nhanh tay lựa lấy nó. Khi đó Hạnh học lớp 12. Ở lớp cuối bậc trung học, Hạnh chưa hề biết vị ngọt của một nụ hôn. Hạnh giữ mình, Hạnh chờ đợi và hắn lỡ mang lời thề nguyền ra đi cùng với những con sóng bạc đầu luôn vỗ vào cửa biển Thuận an. “Mặt người này chẳng được rõ lắm. Để tui dùng kính lúp xem sao. Anh ưa nhẫn nha hay khẩn trương?”

“Khẩn trương. Bao nhiêu tiền tôi cũng trả”.

Người đàn ông ngồi xuống bàn. Xoa hai tay với nhau như lực sĩ ưa làm trước khi cử tạ.

“Người trong ảnh ngó không được vui. Có nét chi phảng phất giống anh. Mẹ hay chị?”

“Chị”.

“Ở đây tôi chuyên trị vẽ chân dung, điều đó thì ai cũng biết cả rồi. Nhưng mà con người cũng kỳ quái, trăm người như một khi bước chân vô họ đều đưa những tấm ảnh của người quá cố để vẽ xong mà mang về thờ phụng. Nói bỏ lỗi, chị anh còn sống hay đã khuất mặt khuất mày?”.

“Khuất mặt khuất mày”.

“Thấy chưa. Nói ác đức chớ công việc mà tui đang làm đây có sống còn hay không là do vô mấy ông già bà cả, mấy kẻ bệnh tật thập tử nhất sinh. Trời kêu thì họ dạ, mà họ dạ thì tui mừng, tui có bát cơm để ăn. Bấy lâu nay con người đánh thắng ông Trời hay sao mà tui đây phải ngồi ngáp vặt? Hay là họ điếc cả rồi, không nghe tiếng kêu tự cao xanh? Thiên lôi thì vác búa chạy không, sấm sét đì đùng cho vui rứa thôi chớ cóc có ai lãnh búa”.

Hắn đứng hút thuốc khi người đàn ông bắt đầu vờn bóng. Trời bên ngoài nặng đục, thành phố chìm trong sắc xám, hoang đường như có trong chuyện cổ tích. Mọi vật đều cũ kỹ, trung thành đến tội nghiệp. Chỉ có con người, con người đã lỡ đánh rơi nhiều thứ trên đường đi. Và con người bội bạc sao chưa có ai lãnh búa?

“Ngó có đặng không anh? Để tui nhấn thêm một vài chỗ đen nữa là xong. Nghệ thuật chán!”

Hắn nhìn Hạnh. Hạnh nhìn hắn. Thằng cha này vẽ khá thật. Lột được cái lạnh lùng mà giờ này Hạnh có. Lôi được quá khứ về hiện tiền mà thủ phất lên gương mặt non trẻ kia cái vẻ đẹp cứng cáp của một bức tượng thạch cao.

“Ừ. Nghệ thuật. Có bao ny-lông thì gói lại giùm kẻo ướt mất”.

“Bắt buộc rồi. Chưa khi nào tui hài lòng như bữa nay”.

Người đàn ông ngó xuống những đồng tiền lạ trên đôi bàn tay run.

“Tại sao à? Tại vì vẽ đàn bà con gái bao giờ cũng sướng hơn chân dung mấy ông già bà cả”.

Hắn thu tờ giấy cuốn tròn vào trong áo. Hắn sẽ cùng Hạnh giã từ nụ cười của người thợ vẽ đang đứng trên thềm hân hoan. Hắn sẽ mang Hạnh đi tới phương trời mà có khi Hạnh từng mơ tưởng được cất bước đến. Đâu phải Việt kiều là đứa nào cũng ngon lành hết ráo? Phải, tôi đã tằn tiện khổ sở trong bao năm dài để ngàn dặm nóng ruột về thăm em. Đêm hôm đó, người ta nói gì em biết không? “Đù má mày, muốn bể ổ cả đám hay sao mà còn lên bờ từ biệt người yêu?”. Vượt biên mà, em hiểu không? Tụi nó bảo mật còn hơn người ta đi hành quân nữa. Đò chở anh ra cửa biển để đổi sang thuyền đánh cá. Đò ngụy trang với những chùm rong tanh. Ông lái đò chột mắt nói với anh: “Tội nghiệp, đi không đành hay sao? Tui cho anh mượn đứa con gái đó, đừng sợ, ôm nó đi cho đỡ nhớ đỡ lo”. Anh ôm đứa con gái gầy nhom trong vòng tay. Người cô ta hôi mùi khói củi lửa. Cô ta chẳng có phản ứng gì cả. Tóc dài, khuôn mặt đọng vũng tối và anh đã hối hận quên hỏi tên người đã cho anh chút ấm áp phút rời xa quê hương đầy hoang mang.

“Đi không anh?”

Một đứa con gái nép mình sau thân cây bất thần ló đầu ra hỏi.

“Đi… Đi đâu?”

“Anh ni nói hay không? Đi hí?”

Hắn không biết đã mấy giờ. Hắn quên thời gian. Mọi thứ trộn lẫn với nhau. Thực và mộng. Những ngọn đèn đường đã thắp sáng, run trong màn đêm từng vũng mờ. Hắn chẳng rõ đôi chân đang muốn đi đâu. Sự định hướng tuồng như không mọc lên trong đầu hắn. Khách sạn? Hắn đâu ngờ có khi mình phải thuê một chỗ nằm ở chính trên cái thành phố thân thuộc.

“Mà đi mô mới được chứ?”

“Bắt tui nói trắng ra mới chịu hay răng? Anh biết chơi gái không?”

“Chơi gái? Không biết”.

“Đừng giỡn chơi nghe anh. Mấy tuổi đầu rồi? Cái mặt ngó tra khú đế. Tra có hột mà giả bộ thơ ngây!”

Giọng nói và bộ tịch đứa con gái làm hắn có hơi vui.

“Rứa còn em, em được mấy tuổi?”

“Mười lăm. Không phải tui đâu nghe. Tui kêu cho chị tui. Chị tui mười tám tuổi, đẹp và múp hơn tui. Chịu đi chưa?”

Hắn nhìn đứa con gái trong khi con nhỏ thì mãi ngó quanh ngó quất. Chiếc nón lá loáng ướt, hứng ánh đèn trơn sáng, dẫy dụa như một vầng trăng treo đơn độc giữa khuya. Con nhỏ nắm tay hắn lôi đi. Mười bảy bẻ gãy sừng trâu. Còn mười lăm? Nếu ưa, cô ấy có thể mang hắn đi trấn nước dễ như chơi. Hắn yếu đuối chẳng kháng cự vùng vẫy.

“Đò đậu phía dưới kia. Không xa mô mà sợ”.

Tay con nhỏ lạnh, những ngón ướt, móp méo.

“Em có em gái không?”

“Vì răng anh hỏi mấy chuyện cắc cớ nớ. Sao không hỏi chị tui có đẹp không? Có điệu nghệ không?”

“Em mười lăm tuổi. Vài năm nữa em thế chỗ chị em rồi khi đó lấy ai dẫn khách cho em?”

“Anh ni nói chuyện tào lao. Tui có ăn có học đàng hoàng, chí ít thì mai mốt tui sẽ mặc đồ xịn mà đứng bán ở cửa hàng công nghiệp thành phố chớ không phải giỡn à nghe”.

“Chị em nuôi cho ăn học đó hả?”

“Phải. Anh có thương chị em tui thì nhớ đừng hành hạ bả, tội nghiệp”.

Đò chòng chành khi hắn bước xuống. Ngọn đèn dầu đặt giữa khoang hắt lên mặt đứa con gái mai sau sẽ làm công nhân viên nhà nước một đường hằn màu da cam.

“Tui hết nhiệm vụ rồi. Vui vẻ cả làng nghe anh”.

Cô bé nói. Giọng nhão, như khi gửi tới tai hắn đã thấm qua những hạt mưa. Lau sậy xa dần, đò bỏ bến bờ mà lướt ra giữa sông. Có cánh cửa gỗ ngăn chia chiều dài con đò, bàn tay nào ở phía sau đang đẩy giạt nó sang bên. Hắn thấy một vòm cung tối đen, mưa rãi trên sông mù một lớp khói mỏng. Chiếc chiếu vuông ấp ủ mùi hương nồng và nó ấm khi ghé đít ngồi xuống. Một người con gái lom khom xuất hiện án ngữ tầm nhìn. Cánh cửa khép lại như cũ, tim đèn vặn xuống thấp, tù mù gần biến thành một đầu nhang. Khi ra khơi, có ai đó đã đốt cháy cả bó hương để quỳ sụp lạy bốn phía. Có người niệm Phật giữa sóng gào và từ phía doi cát sáng đèn người trong bờ đã thi nhau bắn vãi ra những tràng đạn chát chúa. Những đường tên đỏ vạch nát màn đêm, AK 47 để qua ngấc tự động như tràng pháo dài khạc xuống biển những lời nguyền rủa tệ hại nhất. Một hai người được thủy táng. Những giọt lệ nóng và mặn hơn nước biển trào ra. Tất cả đều chao đảo, chóng mặt và buộc người ta phải nôn mửa.

“Anh đã có hứng để đi liền chừ chưa?”

Hắn bó gối nhìn những hình ảnh vừa lướt thướt chạy vụt ngang. Mọi thứ có vẻ mới mẻ, giống như hắn là đứa sớm bỏ cuộc, bơi ngược vào bờ và được hai cha con chủ đò vớt lên tối hôm qua.

“Sao không vặn đèn cho sáng lên?”

“Con Tâm đã nói giá cả cho anh biết chưa?”

“Chưa?”

“Có nhiều thứ… Ngủ chay khác với ngủ mặn, mà ngủ mặn cũng khác với tiền bao đò suốt đêm. Anh nắm được giá cả rồi thì dễ làm việc hơn”.

Hắn nhìn mái tóc dài. Tóc đen mun, chảy xuống gần đụng mặt chiếu.

“Ai đang chèo đò vậy?”

“Hỏi làm chi? Anh ưa chèo đi đâu?”

“Ba cô có phải là người bị chột một mắt không?”

“Đừng nói tầm bậy. Ba tui ở tuốt trên vùng kinh tế mới lận, ổng có hai mắt đàng hoàng”.

“Cô tên chi?”

“Quan trọng chi mấy cái nớ… Thực ra thì anh muốn chi. Ưa ngủ qua đêm kiểu văn nghệ thôi phải không?”

Người con gái bày gối mền ra trên vuông chiếu. Nhẹ nhàng, chậm rãi. Không háo hức, chẳng bối rối. Không than thở, chẳng vui mừng.

“Anh kêu tên gì mà chẳng được, cũng giống như tui chưa bao giờ nói thật tên mình với khách cả. Khi thì Hoa khi thì Huệ khi thì Lan khi thì Đào… Có hề chi, phải không?”

“Tôi gọi cô là Hạnh thì có bằng lòng không?”

“Anh cho tiền trước thì muốn chi mà lại không được. Ui chao, anh không biết đó thôi, có nhiều ông Việt kiều đã từng vung tiền ra để mặc long bào, ngự thuyền rồng mà bắt cung tần mỹ nữ đờn ca xướng hát suốt đêm trên sông… Ngó tướng anh không khéo là một ông vua đang cải trang? Trời! Đã là vua thì có quyền sinh sát chớ!”

Hắn lôi phong bì ra. Cái bao thư đựng tiền mà Hạnh đã từ chối. Người con gái nhìn những tờ giấy màu xanh. Cô có hiểu hàng chữ “In God we trust” không? Hay là cô thích Độc lập Tự do Hạnh phúc? Ánh đèn thủy chung vẫn đỏ một hột nhỏ. Tại sao chiếc đò này không phải là chiếc đò ngày xưa đã mang tôi thoát khỏi vũng nước tù hãm? Ông chột mắt và người con gái của ông ở đâu? Sao không cho tôi gặp để trao chút tiền hậu tạ?

“Làm chi mà bần thần ra rứa? Ngại bệnh tật thì tui đây đã sẵn có áo mưa”.

Cô cởi áo quần sột soạt. Cô hất mái tóc dài khi nằm xuống chiếu. Chiếu màu mỡ gà, gần như tiệp màu da của cô. Là con thằn lằn bò trên vách nhờ nhợ màu trắng mốc. Một con thằn lằn nhiều thịt, vú bụng mông đều là những đường tròn khoanh vùng định vị. Nó gộp lại trên thân thể người chị và đứa em chỉ dùng một chữ để giải thích: Múp.

“Để Hạnh cởi áo quần cho anh hí?”

Người con gái ngồi dậy.

“Hạnh chưa thấy có ai nhác như anh? Những đứa xuống tới đây là những con cọp háu đói. Tụi nó nghèo mà ham. Tiền bạc eo xèo mà bày đặt kiểu cọ lung tung… Lần đầu tiên hả?”

Hắn làm thinh, đầu cúi xuống nhìn đôi bàn tay đang làm việc thiện nguyện. Bức chân dung Hạnh lăn ra trên chiếu.

“Cái chi ri?”

“Hạnh!”

“Dạ”.

“Anh bắt đầu có hứng rồi”.

“Em biết. Em có đui chột gì đâu mà không thấy”.

“Anh có một đề nghị”.

“Quen nằm nệm êm nên bây chừ sợ đau đầu gối phải không? Để Hạnh nằm trên, có sao đâu?”.

Hắn trải thẳng bức ảnh Hạnh ra. Tờ giấy cứng có những đường gãy gập nên chi nhìn xuống thấy mặt Hạnh như đang khóc, méo mó.

“Khi không lại nổi hứng xé nó đi… Anh làm cái chi rứa?”

Đôi bông tai vẽ trên tờ giấy bị hắn đục thủng. Hai sợi giây thun ở cổ tay cô gái bị hắn tước đoạt. Khẩn trương, cây hương chưa kịp tàn, còn nhanh tay hơn cả người thợ vẽ, hắn đã làm xong chiếc mặt nạ.

“Nằm dưới nằm trên không thành vấn đề, Hạnh chỉ chịu khó đeo cái này vào…”

“Cần tui vặn tim đèn cho sáng lên không? Tui có phải quỷ dạ xoa gì cho cam. Anh chê tui xấu xí đui què mẻ sứt mà không nói đó hỉ?”.

Đứa con gái cầm cái mặt nạ lên ngắm.

“Cô này ngó quen mặt ghê ta. Có phải hôm nọ ở Sài gòn ra diễn tuồng cải lương “Người đẹp và bạo chúa” không?”.

“Ừ. Tối nay anh đóng vai bạo chúa”.

“Vậy thì được. Tui cũng thích diễn tuồng. Biết xuống sáu câu không đó?”

Cô gái vén tóc, loay hoay sửa sợi dây thun cho đúng vị trí sau khi đã đeo lên mặt tờ giấy cứng:

“Kỳ khôi! Sao mặt nạ mà không đục lỗ nơi hai con mắt? Lấy gì nhìn?”

“Khi làm tình người ta mở mắt thao láo ra hay sao?”

“Ủa. Khi nhắm khi mở thì vẫn hơn chứ. Nhưng mà nói vậy thôi, bạo chúa muốn làm gì thì làm miễn đừng có ăn tươi nuốt sống tui, đừng cào cấu chợt vẹt thân tui là được”.

“Hạnh”.

Đứa con gái ngậm câm. Hai chân mở rộng ra. Hắn tự do nhìn ngắm mà không sợ mắc cỡ. Hắn rờ rẫm, xoa bóp, véo ngắt. Hạnh, trước khi mang bầu, chồng em đã làm những gì với em? Em có sung sướng, hạnh phúc không?

“Ôn mệ ơi! Bạo chúa kiểu chi mà lạ rứa?”

Hai tay cô gái sờ soạn và giúp hắn nhập cuộc. Da thịt cô không thơm không hôi, nhạt nhẽo và lạnh tanh. Hắn ngó cái mặt nạ khi gần khi xa, khi tỏ khi mờ. Hạnh nhớ những con cá rô tụi mình bắt được trong mùa lụt năm ấy không? Tôi đã để vuột mất đi ba con, chúng đào thoát trong khi Hạnh trách tôi người gì mà vụng về tay chân. Tôi không cải chính dù bị mắng oan, tôi ngậm câm bởi lẽ tôi không thể nói với Hạnh rằng: Nguyên do cớ sự là lỗi ở Hạnh, khi đó Hạnh chẳng mặc áo lót, Hạnh cúi xuống và vô tình Hạnh cho tôi thấy thế nào là vẻ đẹp của một đôi vú tuổi xuân thì. Nếu trả bầy cá về lại với sông hồ để đánh đổi phút giây quý giá kia thì tôi cũng rộng lòng, sá chi có ba con. Nước lụt dâng lên dâng lên và trào ra lai láng. Hắn thở hắt một tiếng rên trong khi người con gái ném chiếc mặt nạ xuống chiếu.

“Ngột thở bắt chết! Chơi kiểu chi mà kỳ cục… Đã tàn đời bạo chúa chưa hay nửa đêm lại dựng đầu bắt đóng tiếp màn hai?”

Cô ta ngồi dậy, đẩy liếp cửa và lát sau ở trên tay đã có một cái thau nhựa đựng đầy nước. Lom khom ngồi trên thau, mái tóc dài rũ che bàn tay đang khoát nước. Róc rách, lỏm bỏm. Vốc nước lên và nước chảy ngược xuống chỗ chứa luôn xao động. Rửa ráy xong, cô tạt mạnh nó ra mặt sông. Tiếng động gửi trả về nghe như có bàn tay vừa vỗ lên mông nhiều thịt của một người đang đưa đít chịu đòn. Hắn ngó những sợi lông vân vê ướt át, tự dưng nỗi buồn ở đâu tràn về, toang hoác, trống trải. Vô vị vô lai!

“Anh có đói bụng thì để tui biểu đò chèo đi kiếm cái chi ăn qua loa”.

Miệng hắn khô, đắng. Hắn nghĩ tới những thằng tự nhận mình là hoàng thượng, mấy đứa đó có sướng thực sự không?

“Răng không nói? Mệt goắc cần câu rồi hả? Có thuốc thơm thì cho xin một điếu. Ai cũng rứa cả, mần ăn xong liền lăn đùng ra, không hút thuốc thì chỉ có việc há miệng ra ngáy”.

Hắn lấy bao thuốc 555. Cô gái vân vê hồi lâu mới chịu thắp lửa.

“Kể chuyện nước ngoài cho em nghe đi”.

“Có quái gì mà kể. Chuyện cô làm đĩ chắc sẽ hay ho và hấp dẫn hơn”.

“Ưa nghe à? Anh mà làm soạn giả cải lương thì không khéo tui đây được nhờ”.

Đứa con gái phun những hơi khói dài. Giọng khàn đục giữa đêm vắng. Quạnh quẻ, lẻ loi. Hắn thiếp đi ngang đoạn bị hiếp dâm, cô gái mang cái bụng bầu trốn về thành phố. “Khi đó trời mưa như bây giờ, anh biết không, em đứng ở bến xe An cựu một mình, em khóc…”

Cô gái đánh thức hắn dậy lúc đầu ngày. Ngày quang đãng, gió lộng nhưng mưa đã ngừng rơi. Hắn soát lại bọc tiền, còn y nguyên. Nhìn rõ nét tàn phai có trên mặt con điếm hắn thấy nao lòng. Sông bỗng hẹp trong mắt nhìn sớm mai, nước cau có bởi gió hay bởi có cô gái nào vừa tạt xuống đó thêm một thau nước dơ. Hắn quỳ bên sườn đò đái đi một vòi nước nóng. Tiếng nước sôi bọt réo kêu giữa một bình minh còn ngái ngủ. “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Nghĩa bóng thì không biết. Nghĩa đen thì quá bậy bạ, mất vệ sinh.

“Anh lên chỗ mô thì nói cho biết”.

Hắn ngó quanh rồi chỉ tay hướng về hữu ngạn. Nhớ tới hình ảnh một vị tướng quân đưa tay chỉ xuống dòng sông mà thề trước ba quân. Lời thề kíp ghi vào sử xanh.

“Tôi ưa làm bạo chúa một lần cuối”.

Cô gái đưa tay lên bịt miệng cười. Hắn làm mặt nghiêm:

“Lần này khác. Ban ngày thì phải khác ban đêm”.

“Vậy chớ bạo chúa muốn gì bây giờ?”

“Ta muốn biết tin tức thằng chột lái đò hiện tại ở đâu? Cha nhà ngươi có phải là lão chột mắt không?”

“Nữa. Lại tái diễn cái màn đó. Cứ y như là công an đang tra khảo”.

“Nói đi, nói là cha cô bị đui một mắt thì ta cho ít tiền”.

“Đừng có điên. Tui là con đĩ nhưng tui không để cho ai nói xấu ba tui đâu. Tui lỡ mang tội với ba tui nhiều rồi”.

Hắn có hơi thất vọng. Hắn nhớ tới lời Hạnh nói, vẻ miệt thị lộ ra trên mặt cô khi đó.

“Việt kiều có ngon lành không?”

“Ai? Anh hả. Ngon lành chứ. Dịu dàng, không thô lỗ với đàn bà. Không đòi hỏi nhiều mà tiền bạc thì dư dã hậu hỉ”.

“Nói nghe cũng tạm. Đây có ít tiền, cô cầm lấy mà trao cho đứa em cô. Biểu nó ăn học đàng hoàng, ăn uống nhiều cho cơ thể nó múp ra”.

Đứa con gái nhận tiền. Gió thổi làm tóc rối cả khuôn mặt.

“Chị em tui xin cám ơn lòng tốt của anh. Không biết nói chi hơn là cầu mong cho anh luôn được sức khỏe, không vướng bệnh tật ở nơi xứ lạ quê người”.

Đò cập bến, ủi cái mũi vào sâu trong cát như một nụ hôn tham lam trước khi tạm biệt. Hắn nhảy lên bờ, không ngoái lui, cắm đầu đi một mạch. Mặt đường đen đúa, bên hông là đồng cỏ hoang sũng ngập nước, là dãy nhà ở tập thể đang dang dở việc xây cất. Cuối con đường là bến xe đò. “Anh biết không? Em đứng ở bến xe An cựu một mình, và em khóc…” Hắn thở dài. Gió đùa làm những chiếc lá rùng mình gửi xuống người hắn những giọt nước buốt lạnh. Hắn chợt nhớ ra đêm qua, vì Hạnh, mà hắn quên mất chuyện phòng ngừa bao bì, rửa ráy. Hắn mang cái thân thể nhớp nháp ấy tới sắp hàng ở quầy bán vé.

“Sao cùng đến một thành phố mà bà kia lại mua giá rẻ hơn tôi?”

“Nói hay chưa? Anh không phải Việt kiều là gì?”.

Hắn ngó thằng đàn ông ngồi sau hàng lưới sắt:

“Tôi hả? Tôi là đứa Việt gian!”.

Hồ Đình Nghiêm

Răng lạ rứa thê

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 18 Jan 2024

Thương ai mà em đi xuống đường, về nhà dối mẹ khi áo quần tả tơi. Hay tin, tôi chạy đến tìm, lận chai dầu gió trong túi quần phong sương. Con đường tôi đi hơi xa, bởi chăng bao ngả người ta rào kẽm gai. Buổi trưa đứng bóng lọng chừng, mệ em chép miệng chớ chuyện gì mà náo động thiên cung? Mệ nói chi cứ mô tê răng rứa, nực nội chốn ni trần gian luôn ở dưới sâu. Thiên cung trời thẳm xanh mộng mị quá, ngày xưa Giáng Hương tiên nữ bị trời hành. Mệ rồi mạ không kiêng cử dị đoan bao vấn nạn thần thoại, sao tuồng tích chứng minh nhân dân em lại đè tên nớ mà ghi sổ đoạn trường?
Nguyễn Thị Giáng Hương chảy nước mắt khi ngó thấy tôi, gặng hỏi mãi mới nhát gừng cà cặp cà lăm, cực chẳng đã sượng sùng thành tâm khai báo: Một thằng thanh niên bóp đít em một thằng xung phong rờ bụ em. Đi một chặng lại có hai thằng thanh niên xung phong kẹp cổ bóp họng bóp hầu, áo quần xộc xệch sút chỉ đường tà khi qua bao trấn lột. Mụ cô mệ nội bây đồ mất dạy, tổ cha bọn du côn đồng phục áo xanh.

Tôi moi chai dầu khuynh diệp không phải hàng nhái, thiệt ốt dột hổ ngươi cho trai đơn gái chiếc, tôi ưa xức dầu xoa bóp mà sợ em chửi đồ ba de. Vai em chắc bầm mông em chắc tím và rồi thì ngực em, nịt vú sản xuất ở Trung quốc có che chắn được phần nào hai hòn đảo kia? Giáng Hương em đâu biết mai này công thành danh toại bản đồ thân thể em thảy là báu vật của riêng anh. Anh đưa nàng về dinh và cầu mong nàng còn lành lặn, nàng toe tua ngẫm cũng xốn lòng kẻ một dạ thuỷ chung. Kẻ ấy lành lặn chưa bị thượng cẳng tay hạ đẳng chân nhưng hắn hơi bị mù chuyện yêu em. Giáng Hương từng háy nguýt: Yêu thương kiểu chị lạ rứa eng, chí ít anh phải đi bên em để bảo vệ. Lưng dài vai rộng không lẽ cứ ăn no lại nằm? Có cho anh thoa dầu rồi đấm bóp không nè. Chu choa ơi, nghe tới chữ đấm bóp mà em đây những nực gà, em đã bị thương chừ anh cho tới chết luôn hay răng?

Tôi ngó tấm bìa oằn oại em vất dưới nền đất, chữ em viết thư tình nét mềm mại là thế mà cây bút dạ em ghi lên đó ngó cứng cáp phương phi một hàng chữ tự cổ chí kim chưa hề thấy qua: “Biển hoà tan độc tố vào giống nòi tương lai”. Mai hậu Giáng Hương sẽ đẻ cho tôi một hai đứa con và chưa gì mà nàng tiên lạc loài ấy đã cẩn tắc vô ưu sợ chúng bị còi cọc một mực không chịu lớn rồi tâm tính ngu ngơ hành sử những việc đui què mẻ sứt. Đã qua rồi cái thời học tài thi phận, tôi cũng trải xong giai đoạn dùi mài kinh sử, lý lịch cũng ngon cơm nên tôi cày bừa năng nổ, phấn đấu dài lâu được cơ quan đề bạt lên chức phó phòng và tôi mần thinh khi nghe người vợ tương lai mượn khẩu khí của tiền nhân để phán: “Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn, cho nên quân ấy mới làm quan.”

Em nói chi tiếng thâm trầm, đêm nằm nghĩ lại nát bầm lá gan. Tôi tán em, giá như mà được đổi ngược, em làm quan và anh làm thường dân thì e cuộc đời thôi hung hiểm. Để cây nọ khỏi bị thằng mán thằng mường nó leo. Để lỡ áo em có sút chỉ đường tà, chồng em sẽ cưới chàng ngồi khâu cho. Kim đâm vào thịt anh đau, thịt đâm vào thịt có sung màu phu thê? Nam nhi đại trượng phu ham việc cơ quan làm thêm giờ không biết người yêu cả gan xuống đường reo hò chuyện bảo vệ môi sinh cho nên thấy dậy lên chút áy náy. Làm trai cho đáng nên trai, đến phút này rồi trai kíp cầm tô đọi chén bát mà giỏi chân đi mua cho ngọc thể hư hao một chút gì dễ nuốt. Phở, cháo, bún, mì trong mọi tình huống đều đạt phẩm chất để cho người nhác ăn xơi ráo, đền bù bao năng lượng bị tổn hao. Ăn đi em, ngoài anh ra còn có phở thương chớ không ai thương đâu. Ra ngõ không gặp anh hùng, gặp mệ và bị mệ la, chơ chuyện chi rứa, răng cứ ưa cơm hàng cháo chợ! Mi có thương hắn nhớ đừng tha một con cá mô về, đã nhớ chưa?

Giáng Hương chia ra hai phần, em bảo ăn một mình chẳng hết chứ không dính dáng gì tới chuyện thuỳ mị nết na. Em so đũa, nếu ngộ độc thực phẩm thì có đôi, chứ lẻ loi một đứa kẻ kia thêm bấn lòng, ích gì! Khi tôi đi ra chợ, thời gian ấy đủ cho em dội qua miếng nước, mùi xà phòng còn vướng trên thịt da. Em thay xiêm y và hình như bọn thanh niên xung phong lỗ mãng chưa cướp được ở em vẻ mặn mòi, chúng không tài nào lấy bớt chất lửa có trong em, ngồi gần em tôi thấy nóng. Áo cụt tay, ở cùi chỏ có vết trầy máu thôi ứa. Ở nhà em được mọi người thương yêu, nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa, vậy mà đường phố ngoài kia đã hóc hiểm bạc ác khiến em chấn thương coi em như thú vật. Sau lụa là che dấu kia còn khu vực nhu mì nào bị chợt vẹt? Tuần sau anh có hứng thú đi bên em không? Chưa bị dập tắt sao? Em chưa tởn? Chẳng hề gì nếu mệ hoặc mạ rầy la em, nhưng thái độ ngờ vực của anh làm em khó hiểu. Em không muốn ép buộc một ai, việc này hoàn toàn do ý thức, do tự nguyện.

Buổi tối, tôi định chúc em giấc ngủ ngon trước khi ra về thì em giữ tay tôi lại: Không muốn xức dầu thoa bóp cho em sao? Buồn ngủ mà gặp chiếu manh, được lời như cởi tấc lòng. Tôi theo em vào buồng, khoá cửa buông mùng bởi sợ “mẵn cuối khíu chọ”. Biết nói tiếng Trung nữa à? Nghĩa là gì, giữ gìn biển đảo à? Tôi làm thinh, á khẩu vì tấm lưng trắng muốt của Giáng Hương vừa cởi áo mù sa. Hoa sứ ngoài vườn hoa soan bên thềm hoa sen trên bàn liền bị chặn giữ hương mùi khi chai dầu khuynh diệp vừa đổ ướt từng giọt trên sống lưng. Mùi dầu làm tôi đổ mồ hôi và nó kích hoả vào lòng tôi một cơn sóng có thể làm chết cá. Tôi nhớ câu cải lương bị cải đổi: “Anh đã từng biểu em đừng đi tắm sông tắm hồ tắm ao tắm biển, để cho mấy con cá lia thia nó rỉa mấy sợi lông…a… mày!”

Hai vai, hai eo xong tới đường rảnh trên cột sống. Mọi vùng miền đều nóng lên dần. Giáng Hương lim dim và mê man, em nói lắp bắp: Xuống tới hai mông đi anh, hồi trưa bị chúng xô ngã xuống mặt đường, ê đít. Tôi làm thằng thanh niên xung phong dấu mặt trong bóng tối tụt quần em xuống không khoan nhượng. Em không chống cự bởi mặt trận của đêm ắt sẽ dịu dàng hơn khi đưa đầu trần đứng dưới ánh dương quang. Tôi run tay và tôi tự đặt nghi vấn, tại sao khi người ta tắm biển, chung đụng cùng cá và cá chỉ thích rỉa mấy sợi lông mày? Cá bị ngộ độc hay sao mà chúng khờ thế nhỉ? Tôi nói bên tai Giáng Hương, anh ưa làm một con cá sắp phơi bụng trên bờ. Là răng, khó hiểu rứa! Anh cần minh bạch khi thân em đang sạch.

Giáng Hương trở mình, đi biểu tình hồi nào mà rành sáu câu thế? Bây giờ mà viết câu thần chú “Make love not war” đứng trong đám đông chắc lạc hậu em nhỉ? Giọng em cười trong trẻo như tiếng phong linh ngân nga: Người ta đi biểu tình để đòi hỏi giữ vẹn non sông trong khi lặng lẽ nơi này có một người ra yêu sách kia lại là chuyện khác. Anh có ưa biểu tình thì em luôn tôn trọng quyền phát huy dân chủ đó.

Tôi yêu em và tôi xuống đường bên em, tôi chen vai đi cùng những người không ngu như lợn. Lạ lùng thay, đúng vào ngày hôm nay, khi cả ngàn người đi hò reo chuyện đại sự thì báo chí đồng loạt đăng tải một bản tin nghe diễu cợt như “cá rỉa lông mày”: Nhà nước chính thức ban hành cấm chụp và phổ biến ảnh khoả thân của các nghệ sĩ.

Chấm hết. Vỏn vẹn có nhiêu đó. Nghèo, rất chuyên chính vô sản. Những gì đáng nói thì họ đã nói. Những gì cần bưng bít thì họ không ngại tốn kém và đổ công sức, tiền bạc và nhân lực để che đằng này đậy đàng kia. Một thằng đáng tuổi em út tôi chạy vào tính sờ soạn người em, để đạt được thắng lợi hắn gạt chân cho tôi té lăn chiên đổ đèn. Em la lên: Cướp, cướp… Và rồi em ngã người lên thân tôi. Tất thảy đều gặp hoạn nạn, ong vỡ tổ. Một hai người đàn bà hảo tâm đã dìu chúng tôi vào ngồi bên lề đường. Tôi ôm đầu máu, chẳng biết đêm nay ai sẽ buông mùng xuống để xức dầu cho tôi? Em mở túi xách đeo chéo người lấy laptop ra để chuyển tải tin tức và hình ảnh. Dưới bóng dâm của một thân cây chưa bị đốn hạ, màn hình lung linh ẩn hiện bài thơ Tặng Đình Hiệp của Hoàng Xuân Sơn:

Chừ thì nạng chống hai bên
mới thấy thương những trận tiền sơ sinh
đất nước mình đất nước mình
nó như thế ấy mần thinh sao đành.

Hồ Đình Nghiêm

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 18 Jan 2024

Bài 69

Phần 68

Trước mùng 2 tháng 9 năm 1979, Vĩnh bị ban giám thị kêu lên làm việc tại văn phòng giám thị trực liên tiếp bốn ngày!

Cứ mỗi sáng khi 2.000 tù xếp hàng thành từng khối và ngồi trong sân trại đợi giờ xuất trại đi lao động, tên giám thị trực lại ra trước sân cầm loa đọc đủ loại thông cáo, hoặc lệnh bắt giam, hoặc lệnh cho nghỉ ở nhà lên văn phòng “làm việc” với giám thị… Có tên trong danh sách những người ở lại trại với giám thị, sự kiện này không phải là không có anh em “đặt thành vấn đề”!

Quả thế, sống đời tù cộng sản, lâu ngày chầy tháng, không riêng Vĩnh mà rất nhiều anh em khác đều nhận ra được một thủ đoạn rất độc của cai tù, ấy là thủ đoạn chia để trị. Sau khi được ăng ten báo cáo trong tổ đó, trong đội đó hay trong nhà đó có một số người cấu kết chặt chẽ với nhau trong mọi sinh hoạt hàng ngày, bọn giám thị sẽ theo dõi và tìm cách ly giám từ từ. Thí dụ một “bọn cấu kết” gồm ba người. Hôm nay chúng kêu anh A ở nhà lên văn phòng giám thị làm việc. Trên thực tế, nhiều khi anh A chỉ lên văn phòng để trả lời vài câu hỏi vu vơ không đầu không đuôi của tên giám thị trực. Sao, anh có khỏe không? Lúc này lao động học tập ra sao? Có nguyện vọng tâm tư nào cần đề đạt lên trên cứu xét không? Lâu nay Ban Giám Thị có nghe phong thanh anh là người can đảm lắm, dám làm nhiều chuyện mà những người khác không dám làm, chẳng hạn tụ tập chơi nhạc vàng…

Quanh đi quẩn lại những câu hỏi chỉ ỡm ờ như thế, rồi thì anh A được giám thị thân mật cho trở về nhà thoải mái nghỉ ngơi.

Chiều lao động về, ngồi ăn với nhau, sự tế nhị khiến hai người bạn không hỏi thẳng ra là hôm nay mày làm việc gì với giám thị vậy nhưng trong óc họ không thể nào không có một dấu hỏi nho nhỏ. Thế rồi cái dấu hỏi ấy lớn dần ra khi ngày kế, rồi ngày kế nữa anh A vẫn được ở nhà làm việc với giám thị. Đến ngày thứ ba thì anh C không thể cầm lòng được nữa.

– Việc gì mà lắm vậy? Làm việc gì với giám thị đến ba ngày liên tiếp mà chưa hết?

Anh A dĩ nhiên vừa bực vừa khó chịu. Nhưng chỗ bạn bè, anh phải nói thật.

– Nó kêu mình lên thì mình phải lên, làm sao được. Còn chuyện làm việc với tụi nó có mẹ gì đâu! Nó chỉ hỏi tao mấy câu ấm ớ, chẳng hạn, sao hôm nay anh có khỏe không? Lúc này tinh thần đã hồ hởi phấn khởi chưa? Mấy cái răng tuần rồi anh em báo cáo đã hành anh lăn lộn cả đêm giờ hết chưa?… Đấy, nó chỉ hỏi thế thôi!

Câu trả lời thành thật của anh A dĩ nhiên nó có vẻ “thế nào ấy!” đối với hai anh B và C. Làm gì có chuyện kêu lên làm việc liên tiếp mấy ngày chỉ để hỏi những chuyện ấm ớ như vậy!?

Dấu hỏi cứ thế to dần cho đến một hai tuần sau đùng một cái anh B có tên nằm nhà để lên làm việc với cán bộ giám thị.

Tên giám thị trực sẽ không hỏi anh B những câu hỏi giống như đã hỏi anh A. Ngay thái độ cũng có khác. Hắn sẽ giữ một bộ mặt lạnh tanh từ lúc anh B bước vào văn phòng. Hắn ra lệnh ngắn gọn.

– Ngồi xuống ghế kia!

Phải năm bảy phút sau hắn mới từ tốn khép cái xấp giấy trước mặt và trở về với người đối diện. Hắn lừ mắt.

– Anh biết tại sao hôm nay cán bộ gọi anh lên làm việc không?

Anh B hơi ngơ ngác.

– Thưa không!

– Có chắc không biết không?

– Chắc cán bộ!

– Tuần trước anh lấy quyền gì để hạch hỏi anh A, để tìm hiểu việc làm của anh ấy đã làm với cách mạng?

-…..!?

– Tôi được báo cáo rất đầy đủ về anh. Không phải anh A báo cáo anh đâu…

Tên giám thị hơi ỡm ờ, tiếp. Mặc dù anh A cũng có tiết lộ một đôi điều đặc biệt về anh nhưng còn nhiều thiếu xót vào bao che lắm, chẳng hạn anh ấy chỉ nói chung chung rằng mùa nắng vừa rồi mấy anh đã đánh cắp của trại ít ra cũng phải mươi cân lạc giống, thường thu hoạch linh tinh rau xanh của khu canh tác, hay thêu dệt những chuyện phản động bôi nhọ cách mạng… Còn nhiều chuyện khác quan trọng hơn mà anh A đã dấu không nói nhưng cách mạng đã biết hết…

Nói một hơi những khuyết điểm mà chính bản thân anh B tự biết mình chưa hề phạm vào, hoặc có phạm vào thì cũng chỉ hai thằng bạn thân thiết biết tới mà thôi; tên giám thị chìa ra cho người tù một tờ giấy và một cây bút chì. Hắn ra lệnh. Lại bàn góc nhà kia làm tự kiểm đi.

Nói xong tên giám thị bước ra ngoài và đóng cửa lại.

Tối hôm đó ba người bạn ngồi ăn và lạnh lùng với nhau ra mặt. Anh B uất anh A. Anh A đặt nhẹ một cái dấu hỏi vào anh B y hệt như kỳ trước anh B đã đặt cho mình. Còn anh C thì hoàn toàn yên lặng cố nhai cho hết bát ngô.

Đôi ba ngày sau đó, chẳng đợi tới lượt anh C được kêu làm việc, ba anh đã mỗi người một góc ngồi nhai ngô và tai hại hơn, họ khởi sự hồi ức tất cả những gì từng tâm sự với nhau trước đó để có nhiều lý do hơn cho việc sợ hãi lẫn nhau!

Đội 17 ít nhất đã có một nhóm ăn tan rã như vậy. Đó là nhóm ăn của Hòa, Dũng, Danh và Tuyến. Bốn chàng tù nhân trẻ tuổi, độc thân, đàn dịch giỏi và rất thương nhau nhưng dính đòn độc của Ban Giám Thị trại Hàm Tân đã rã ra từng mảnh!

Nhưng dù bị kêu bốn ngày liên tiếp, nhóm ăn của Vĩnh vẫn không bị một tí lấn cấn nội bộ nào. Anh Huy và Ý đều là những tay có sạn trong đầu. Dương, Điểu và Cường cũng không vừa gì. Cứ mỗi chiều đi lao động về, sau khi ăn, cả bọn lại quây quần bên cái điếu để bàn về những việc Vĩnh thuật lại cho nghe. Bữa đầu chúng hỏi Vĩnh có biết gì về mấy ông cha không? Anh Nguyện thế nào? Anh Bộ và anh Tương? Còn anh Thục đã xuất nhưng có lấy vợ không? Anh nghĩ thế nào và anh có ghi nhận được tập thể bàn tán gì về vụ mấy cha ấy được cách mạng chuyển đi chỗ khác không? 1. Anh có biết gì về sự dính líu giữa anh Nguyện với đám thổ phỉ xâm nhật trại ta hồi tháng Sáu không?

Câu trả lời của Vĩnh dĩ nhiên là “không biết”.

Và Vĩnh cũng chẳng gặp một phiền hà nào vì sự không biết của mình.

Ngày thứ hai đề tài được thay đổi. Tên giám thị trực tự dưng hỏi về vụ trốn trại của một người tên Trác, cựu đại úy và theo một vài anh em khác được biết, anh ta từng là người chồng thứ hai của cô ca sỹ Khánh Ly. Vì anh ta nằm khác đội khác nhà nên Vĩnh chưa một lần gặp mặt, nhưng nhốt ở Hàm Tân mà vượt ngục thoát được thì đã xứng đáng nổi danh và xứng đáng để cho mọi người phải biết tới rồi. Nhân sửa soạn ăn mừng lễ 2 tháng 9, bọn giám thị cho một số tù ra sửa sang lại cái sân đá banh nằm bên góc trái của ban chỉ huy trại, chạy dài theo con lộ dẫn ra khu thăm nuôi. Không biết bằng cách nào, Trác và hai người bạn nữa đã lẩn được vào rừng khoai mì bát ngát cạnh đấy và biến mất dạng trước sự canh phòng thật cẩn mật của bọn công an canh gác…

Câu trả lời của Vĩnh dĩ nhiên cũng chỉ có thể là “tôi không biết!”.

Lần này Vĩnh cũng chẳng hề hấn gì và được cho trở về phòng nằm nghỉ.

Sang ngày thứ ba tên giám thị trực là một tên mới, do đó đề tài cũng mới luôn. Đề tài mới của hắn là, hai ngày qua anh ngoan cố, hôm nay là ngày cuối cùng, anh phải thú nhận cách đây bốn đêm anh đã thoát ra ngoài phòng bằng cách nào? Ai tiếp sức? Và tại sao anh lại trở vào mà không trốn luôn?

Vĩnh bàng hoàng như không tin ở lỗ tai mình. Làm gì có chuyện mình bẻ song sắt trốn ra ngoài!? Trước đây ở nhà 5, cả nửa tiểu đội anh em gốc Hòa Hảo hợp lực bẻ song trốn đi còn bị bắt lại toàn bộ và giờ sắp biến thành những bộ xương khô trong dãy cachot; cái thân đang ho lao gần chết này bẻ chấn song làm sao nổi! Hay là mình mắc bệnh mộng du mà mình không hề hay biết?

Sự lúng túng của Vĩnh vẫn không làm cho tên giám thị có vẻ giận dữ. Hắn cà kê dê ngỗng tỏ ý tiếc giùm cho quá trình phấn đấu học tập cải tạo của Vĩnh, nào là quản giáo Phú rất khen ngợi Vĩnh một phạm nhân có tư cách, nào là một người từng cầm bút phản động nhưng dù sao cũng còn nhiều khả năng để phục vụ cách mạng khi được thả về… Rồi để kết luận, hắn vẫn không thoát khỏi mấy câu hỏi đã hỏi. Tại sao trốn? Trốn đi đâu? Gặp ai? Làm gì? Liên hệ gì với bọn thảo khấu từng mò về ăn cắp khoai? Tại sao đổi ý giữa chừng? Đã thoát ra ngoài bằng cách nào? Trổ nóc cầu tiêu? Cưa chấn song? Tại sao cán bộ tìm không ra dấu vết?

Vĩnh cứ như người từ trên trời rơi xuống. Sau cùng, tên giám thị lầm lỳ trao cho Vĩnh một tờ giấy và một cây bút. Trước khi rời phòng, hắn nói.

– Thôi được, nếu khai mà ngượng mồm khai không được thì cứ viết hết ra trên giấy rồi nộp cho tôi.

Suốt ngày thứ ba Vĩnh chỉ viết được một hàng chữ duy nhất để nộp cho tên giám thị: Tôi cam đoan không hiểu và không biết một mảy may nào về những việc cán bộ đã nói với tôi!

Rồi thì ngày thứ tư đến. Tên phó giám thị trại người gốc Quảng Nam lần này làm việc với Vĩnh. Bộ mặt đen đúa nghèo khổ của hắn pha trộn cái lạnh tanh của một kẻ từng giết nhiều người và nhiều người cũng muốn giết hắn, làm Vĩnh hơi chột dạ. Tên phó giám thị sau một lúc tổng kết lại tất cả những câu hỏi, những vấn đề mà mấy thằng giám thị trước đó đã đặt ra cho Vĩnh, hắn kết luận.

– Cách mạng luôn luôn muốn các anh cải tạo tốt để về sớm được đoàn tụ gia đình, đưa tài sức ra mà phục vụ đất nước. Đấy, anh cứ thấy anh Hùng và một số anh em khác đấy 2 cải tạo tốt, khai báo tốt, phấn đấu tốt, lao động tốt, học tập tốt là về thôi! Cái gương trước mặt như vậy tại sao anh cứ tiếp tục ngoan cố làm gì? Tính lấy trứng chọi đá hay sao? Những gì anh làm trong ngày đầu tuần cách mạng đã biết hết. Liên tiếp bốn ngày Ban Giám Thị cho gọi anh lên làm việc là để thử lòng thành khẩn của anh thôi. Không ngờ anh ngoan cố ngoan cường đến thế!

Nói tới đây, tên phó giám thị bỗng cầm lên khỏi mặt bàn và chìa ra trước mặt Vĩnh một tấm ảnh. Tấm ảnh đã bị nước làm phồng lên một góc và rỗ mặt như bị mốc. Dù thế, Vĩnh vẫn nhận ngay ra tấm ảnh chụp vợ anh và ba thằng con nhỏ. Quang cảnh chụp là cái bùng binh nằm ngay trước rạp chiếu bóng Rex.

Nhăn mặt một chút và Vĩnh nhớ ra ngay. Đây chính là một trong những tấm ảnh anh để trong quyển vở bị mất cùng lượt với cái túi thực phẩm khô lúc Vĩnh sửa soạn rời bệnh xá Suối Máu trở về K.5. Thôi rồi! Vĩnh than thầm trong bụng. Thế này là một trong mấy anh chàng ngồi nơi cổng K.4 hồi đó đã đỡ nhẹ cái túi của Vĩnh, và anh chàng đó cũng là một trong những người được đem lên Hàm Tân cùng đợt với Vĩnh hồi tháng 9 năm 78. Chẳng hiểu vì lý do gì đến ngày hôm nay anh ta mới kiểm lại và quăng tấm ảnh ra một chỗ nào đó mà bọn giám thị lượm được. Rồi bằng vào đấy, chúng nghi ngờ Vĩnh đã trốn trại, đã để rơi một tấm ảnh trước khi đổi ý trở về!

Vĩnh liếc nhanh những hàng chữ đã bị nhòe phía sau tấm ảnh. Nét chữ quen thuộc của vợ anh hiện lên trước mặt. “Gửi anh tấm ảnh mẹ con em chụp trước rạp Rex dịp Tết Con Dê. Hà Khoa Nguyên Trung. Gửi Phạm Vĩnh. K.5 trại Suối Máu.”.

Vĩnh hơi nhăn mặt. Chính vì cái lối đề địa chỉ hơi lẩm cẩm của vợ mà bọn giám thị đã truy ra một cách thật dễ dàng anh là chủ tấm ảnh ấy. Thật đúng là họa vô đơn chí! Nghĩ thế những Vĩnh vẫn lấy bình tĩnh và chậm rãi giải thích.

– Báo cáo cán bộ, đây đúng là tấm ảnh chụp vợ con tôi. Tôi đã đánh mất nó từ hồi còn ở trại Tân Hiệp Suối Máu.

Tên phó giám thị chỉ cười. Hắn thu lại tấm ảnh và khoan thai nhét nó vào chồng hồ sơ trước mặt, nghiêm giọng nói.

– Anh Vĩnh! Đã bốn ngày làm việc với anh, đã hết lời hết lẽ nhưng anh vẫn tiếp tục ngoan cố. Thôi được, đừng tưởng chúng tôi sẽ triển khai biện pháp mạnh tay với anh lúc này. Tình hình chưa đến độ căng như thế. Chúng tôi vẫn cho anh về trại sinh hoạt bình thường, nhưng, nhấn mạnh một điều để cho anh nhớ, cách mạng luôn luôn khoan hồng với những kẻ có tội biết thành tâm hối cải. Chúng tôi biết anh có tội nhưng vì một điều kiện khách quan nào đó, chưa thể thú tội ngay bây giờ. Chúng tôi tạm gác và chờ một dịp nào đó anh sẽ tự giác khai hết những điều cách mạng muốn anh khai. Giờ trước khi cho anh trở về trại, tôi nhấn mạnh thêm một điều nữa, việc nghiên cứu hồ sơ thả anh trong dịp tới đây, Tết dân tộc chẳng hạn, sẽ được đình chỉ hoàn toàn. Và nữa, tấm ảnh này sẽ không được hoàn trả cho anh. Nói cách khác, anh chỉ làm chủ lại nó khi nào anh tự giác khai báo những điều cách mạng đã cho anh biết bốn ngày qua…

Vĩnh trở lại phòng vào lúc ba rưỡi chiều. Nhiều lúc nghĩ lại sự việc, Vĩnh không sao nén được câu chửi thề. ĐM. chúng nó! Chỉ có tấm ảnh lượm được mà chúng nó quần mình tới bốn ngày trời! Dù sao sau bốn ngày bị hạch hỏi và được trả về phòng an toàn, Vĩnh không khỏi nghĩ tới chuyện phải kiếm một cái gì ăn khao tạ trời tạ đất. Nhưng có gì để ăn khao bây giờ!?

Thời gian vào những lúc ba bốn giờ chiều thường rất vắng lặng. Ở nhà chỉ có một hai người bệnh nặng và đôi ba người được thăm nuôi trở về. Vĩnh nằm ngó quanh với không một ý nghĩ nào rõ rệt trong đầu. Đây là một thói quen mỗi khi nhàn rỗi của Vĩnh. Tuy nhiên, có một sự kiện chiều nay vừa xảy ra bên chỗ đối diện làm Vĩnh phải chú ý. Người điên Trương Hồng được thăm. Anh ta mới từ hội trường quang gánh về phòng. Trông anh ăn mặc thật tươm tất (có lẽ anh đã diện lên người bộ quần áo xộp nhất!). Như mọi người, Hồng cũng khênh mọi thứ đặt lên sạp chỗ anh nằm (Gần đây do sự chuyển đổi qua lại, Hồng không còn nằm cạnh mà nằm bên sạp đối diện với chỗ của Vĩnh). Hồng ngồi lôi ra khỏi bao khỏi bị mọi thứ anh có. Tất cả được bày trên sạp. Những nắm cơm trắng phau anh bỏ bừa trên sạp dính cát dính đất, những quả cam lăn đến tận cuối phòng anh cũng chẳng quan tâm. Hồng cứ loay hoay lôi mọi thứ ra. Khi những món cuối cùng đã được bày biện trước mắt, Hồng khởi sự bỏ cái này vào lon gô rồi lại đổ ra, nhét cái nọ vào bị rồi nghĩ sao lại đổ ra sạp. Nồi thịt kho san qua xẻ lại rồi rốt cuộc lại cũng đổ hết vào nồi. Cơm dính cát, xôi dính đất… Nằm nhìn, Vĩnh áy náy muốn bò qua giúp anh ta một tay hoặc ít lắm cũng lên tiếng khuyên anh một điều nhưng Vĩnh không dám. Vĩnh biết chắc người điên Trương Hồng thù hận bất cứ ai xía vào chuyện riêng tư của anh ta.

Một lát sau, khi mấy người được thăm nuôi khác đã nhóm xong bếp sau nhà và sửa soạn hâm lại những món ăn của họ, thì Hồng cũng lẳng lặng đứng dậy. Anh cầm nồi thịt kho lên ngửi rồi nhăn mặt. Kế anh thu nhặt những nắm cơm bỏ hết vào cái vung, đi thẳng vào dãy cầu tiêu cuối phòng…

Vĩnh đứng lên lôi cái sắc để trên kệ xuống lục tìm mấy viên thuốc ho. Bây giờ đây Vĩnh mới khám phá ra cái sắc của anh đã bị người khác lục tung. Thuốc men và quần áo xếp rất lộn xộn. Kiểm soát lại, Vĩnh không thấy mất một cái gì. Ai lục sắc mình? Dù thân, bạn bè anh nhất định không bao giờ làm điều này. Còn những kẻ nhám tay muốn kiếm chác thì nhất định hắn phải hỏi thăm những bao bị của đám tư sản mại bản không thiếu trong nhà này. Không ai dại gì đi lục cái túi tí teo thế này! Vĩnh chợt hiểu ra anh đã bị giám thị và trật tự phối hợp khám đồ rất kỹ trong lúc anh vắng mặt mà vì vô tình, Vĩnh không hề hay biết.

Những đội thuộc khu 2 đã lần lượt lao động về. Vĩnh rời chỗ nằm đi kiếm mấy thanh củi nhóm bếp. Ở đây có một thông lệ, hễ ăn cơm chung với nhau, vì một lý do nào được ở nhà, người ở nhà đương nhiên phải lo sào nấu sẵn một nồi mì hoặc nui, hoặc bất cứ cái gì nhóm ăn chung có được để mà nấu; người lao động về chỉ lo mỗi việc ăn khi cánh cửa phòng khóa lại sau giờ điểm danh. Vĩnh vội chạy vào cầu tiêu tìm mấy thanh củi Ý dấu trong đó. Anh vừa hoảng hốt vừa tiếc của nhìn thấy những nắm cơm trắng ngần ném vào một góc cầu tiêu dơ bẩn và hôi hám. Những miếng thịt kho đổ vãi nơi cái thùng tiểu. Vĩnh lắc đầu không hiểu tại sao Hồng lại đem đổ hết những món ăn hiếm hoi và ngon lành ấy vào cái nồi hôi thối này!?

Rồi thì trong lúc loay hoay nấu mì trên dãy bếp con không xa lắm với dãy cầu tiêu đầu phòng, Vĩnh nghe rõ giọng Lê Văn Tầm la lớn từ bên trong.

– Ý mèng ơi! Cơm thịt ai đem liệng uổng dzậy nè!?

Những người lao động về muộn thuờng rất vội vã khi họ muốn tranh thủ thời gian còn lại trước khi điểm danh để nấu nướng một cái gì. Trong số những người về muộn và vừa chạy ra ngồi bắc bếp nấu cạnh Vĩnh, Vĩnh thấy có cả Lê Văn Tầm, cựu đội trưởng đội 17. Tầm ngồi bên một bó củi. Trên bó củi ấy có một cái nồi. Quả thực Vĩnh không có đủ chữ để diễn tả cảm giác của mình lúc ấy ra sao, khi thấy trong cái nồi của Tầm có những nắm cơm, những miếng thịt kho mà Trương Hồng, người điên tịnh khẩu, đã ném vung vãi trong cầu tiêu!

Một góc sân đang ồn ào tiếng người nấu nướng bỗng im bặt. Vĩnh ngước lên nhìn vừa kịp lúc tên phó giám thị, kẻ vừa quần thảo Vĩnh cả buổi trưa, bước đến bên cạnh. Hắn tươi cười nhìn Vĩnh, tuồng như thể giữa Vĩnh và hắn chưa hề có chuyện gì gay go xảy ra. Hắn cất tiếng hỏi vu vơ.

– Nồi mì nui to nhỉ? A! Mà có tới sáu người ăn chung với nhau kia mà!

Vĩnh tảng lờ bằng cách cúi xuống thổi lửa. Tên phó giám thị hình như đã xoay sang hỏi chuyện Lê Văn Tầm ngồi cạnh Vĩnh. Giọng hắn vẫn đều đều. Gớm! Còn anh này cấu kết ăn chung với mấy người?

Tầm vội vàng trả lời.

– Báo cáo cán bộ tôi chỉ ăn một mình!

Tên giám thị cười hục hặc trong cổ.

– Có một mình thôi à? Thế là lại thiếu hữu ái rồi!

Muốn tránh phiền phức, Vĩnh khênh nồi mì vừa sôi tới đứng lên đi vào nhà. Trước khi cất bước, Vĩnh còn nghe thấy tên giám thị nói thêm với Tầm. Một lượt mà ăn đến sáu nắm cơm thịt kho thế này thì gấp ba lần cán bộ rồi đấy!

——————————–

1          Sau vụ phục quốc quân xâm nhập trại Hàm Tân chừng một tháng thì các linh mục gồm cha Nguyện, cha Bộ, cha Tường và một vài cha tuyên úy khác thình lình bị chuyển đi. Tin tức do thân nhân vào thăm tiết lộ là các cha đều bị đem trở lại khám Chí Hòa.

2          Trưởng Ban Trật Tự Nguyễn Quốc Hùng được thả trước 2-9-79 vài ngày.

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 18 Jan 2024

Bài 68

Phần 67 – Vùng này cũng có phục quốc đấy. Cầm đầu là một thiếu tá tên Tân. Ông Tân tài lắm, xuất quỷ nhập thần lắm. Cách mạng cũng biết nhưng đâu có bắt được! Tôi là linh mục, được yêu cầu đi theo làm công tác tuyên úy lo chuyện phần hồn. Thì tôi đi! Tôi có biết gì chiến thuật với chiến lược, địa danh với địa bàn! Ngay cái chỗ tôi đã được đưa đến mà tôi còn chả biết là đâu nữa là! Hồi trên Chí Hòa cách mạng cũng có hỏi. Có một cán bộ lỡ tay làm hư cả cái đầu gối bên trái của tôi. Ấy thế mà tôi có nhớ tôi đã đi đâu và làm gì đâu! Họ hỏi tôi nào là tọa độ, nào là quân số quân xiếc… Thật tôi bị đòn cũng oan uổng lắm. Có biết gì đâu… 
Câu nói lúc vui miệng với anh em của cha Nguyện ngày cha được đưa từ Chí Hòa về đây, đã được xác nhận đúng nhờ một biến cố xảy ra tại ngay trại cải huấn Hàm Tân, một biến cố làm cho bọn tù như chết đi sống lại đồng lúc làm bọn cai tù vỡ mật vì sợ. Biến cố ấy là, vào đầu tháng Năm, một anh chàng bên phân trại B trốn trại và trốn thoát. Theo như tin đồn, anh ta là người từng ở địa phương này trước kia. Một tháng sau, tức quãng đầu tháng Sáu năm 79, trong lúc đội 23 bên phân trại A đang lao động canh tác trên phần đất nông trường của đội nằm về phía đông nam và cách khu công trường nhà tù đang xây cất chừng vài trăm thước, quãng hai giờ rưỡi trưa, dưới cái nắng chang chang, một toán người lạ mặt đã đột nhập khu canh tác. Họ ăn mặc quân phục quân đội VNCH, được trang bị súng Colt 45, súng trường AR.15 và M.16. Toán đột nhập gồm sáu người và người cầm đầu đeo lon trung úy với súng lục bên hông. 
Bọn tù đang lao động, thấy anh em ta thình lình xuất hiện lại nghi là bọn cán bộ công an đóng kịch thử lòng, nên hầu như ai cũng chết đứng tại chỗ. Sáu quân nhân QLVNCH ra lệnh cho anh em tù tập trung lại và ngồi thành hàng hai. Sau đó vị trung úy cho ba người rải ra bố trí giữ an ninh, còn anh có hai người hộ tống đi thẳng vào cái nhà lô cách đó chừng mười thước. Tên công an quản giáo và hai tên vệ binh đang mắc võng nằm nghêu ngao trong nhà lô, lúc chúng nhận ra ba người lạ mặt có súng trên tay thì đã muộn, chúng không còn thì giờ cho bất cứ một phản ứng nào. Chúng hồn phi phách tán và nằm chết dí trên võng. Ba quân nhân phục quốc ra hiệu cho chúng bỏ súng xuống đất và bước ra ngoài nhà lô. Hai người thuộc hạ của vị trung úy tịch thu ngay chiến lợi phẩm gồm một K.54, một CKC và một AK.47 với nhiều băng đạn. 
Ba thằng công an riu ríu vâng lời và bước ra khỏi nhà lô. Vị trung úy ra lệnh cho chúng tiến đến và ngồi cách đội hình đội 23 chừng năm thước. Sau đó, anh ta khởi sự “lên lớp” trong lúc những phục quốc quân còn lại phân tán ra và nằm phục trên những thế đất thuận lợi. 
Vị trung úy dõng dạc nói. 
– Hôm nay chúng tôi thay mặt cho anh em phục quốc quân vùng Phước Tuy ghé thăm các bạn. Mừng thấy các bạn vẫn giữ vững tinh thần dù đang bị giặc kềm tỏa. Vì thời gian chỉ có hạn và chúng tôi chưa thể có điều kiện nói chuyện dài với các bạn, chúng tôi vắn tắt vài điểm then chốt, đề nghị các bạn nắm vững để thông báo lại cho những anh em khác khi trở lại trại giam. 
Thứ nhất, chúng tôi xuất hiện nơi đây để các bạn thấy rằng lực lượng quân dân phục quốc là một thực thể. Yêu cầu các bạn vững tâm và hãy làm những gì có lợi cho đất nước, có lợi cho đại nghĩa quang phục đất nước mà lương tâm các bạn đã, đang và sẽ sai khiến các bạn làm. 
Thứ hai, đối với các thành phần cán binh cộng sản, cụ thể là ba anh công an kia, chúng tôi muốn các anh không việc gì phải quá sợ hãi. Phục quốc xuất hiện ở đây để chứng tỏ cho các anh thấy rằng miền Nam này không có chỗ nào an toàn cho các anh cả. Không giết các anh là vì chúng tôi, những người quốc gia hoàn toàn khác với các anh. Chúng tôi thù hận và quyết tâm phá hủy hoàn toàn cái chủ nghĩa bạo tàn của các anh nhưng không bao giờ muốn phá hủy con người các anh. Các anh sẽ là một trong những đối tượng mà chúng tôi phải cứu ra khỏi cái chủ nghĩa u tối bạo tàn đang phủ trùm trên đất nước này. Mong các anh về nói lại với đồng bọn cho trung thực chuyện đã xảy ra ngày hôm nay. 

Vị trung úy nói xong lại quay sang đám tù, tiếp. Và thứ ba, chúng tôi về đây để đưa các bạn đi nếu như các bạn thấy thuận tiện, thấy cần và thấy muốn đi. Điều này phải nhớ rõ là không bắt buộc, và nếu vì một lý do nào các bạn chưa thể đi theo chúng tôi được, các bạn không có gì phải mặc cảm. Mỗi người có một vị trí và một điều kiện riêng. Nội công hay ngoại kích đều cần thiết. Chính sách của lực lượng có đề cập rõ ràng đến cả những điều này. 
Nói tới đây, vị trung úy nở một nụ cười khuyến khích với những anh em tù đang ngồi trong hàng. Ba tên cai tù sợ đến bạc mặt mày và chỉ cúi gầm xuống đất. Còn bọn tù cho dù không sợ, nhưng rõ ràng trong lòng mỗi người đều đang xảy ra một cuộc giao tranh ghê gớm giữa hai ý nghĩ đi và ở. Sau cùng, bốn người đứng lên và rời khỏi hàng ngũ tù. 
Vị trung úy tỏ ra rất bén nhạy trước tình hình. Anh ta biết rằng việc tới đây coi như đã xong và đã đến lúc phải rời hang hùm tức khắc. Anh vỗ tay hai cái. Hai trong năm chiến hữu của anh rời vị trí canh gác tiến lại phía ba tên cai tù. Một người ra lệnh ngắn gọn. 
– Trở lại lều nằm úp mặt xuống đất. Chúng tôi cần nói chuyện riêng tư với các chiến hữu của chúng tôi! 
Ba tên Việt cộng lại riu ríu đứng lên và cất bước đi về phía nhà lô. Hai phục quốc quân đi theo. Tới căn nhà lô họ không bước vào mà chỉ đứng ngoài quan sát và ra lệnh cho ba tên cai tù nằm úp mặt xuống đất, hai tay vòng lên sau gáy. Xong rồi, như đã có hiệu lệnh với nhau, sáu phục quốc quân và bốn anh bạn tù lặng lẽ rút vào rừng buông mất dạng. 
Bọn tù còn lại phải mười lăm phút sau mới hoàn hồn. Dĩ nhiên họ chỉ ngồi chết dí một chỗ và hạn chế cả những lời xầm xì với nhau. Đội trưởng đội phó mặt anh nào cũng xanh như tàu lá. Không khí căng thẳng này chỉ tan đi khi một vệ binh của một đội khác vô tình bước vào nhà lô. Hắn khám phá ra ba thằng bạn của hắn đều nằm úp mặt dưới đất như những kẻ uống nhằm thuốc ngủ. Rồi thì chuyện gì đến phải đến. Tất cả các đội bên ngoài trại, kể cả đội lâm sản còn lặn lội đốn cây trong rừng đều được triệu hồi về trại trong tình trạng khẩn trương. Toàn bộ công an cơ hữu của hai phân trại A và B Hàm Tân đều được đặt trong tình trạng báo động. Những tiếng súng kế đó nổ sâu trong rừng già vọng ra cho mọi người đoán biết rằng có đụng độ. Tiếng đạn nhiều lúc thưa thớt như bắn sẻ, nhiều lúc thật gần như truy lùng. Tới giờ phát cơm chiều mà tiếng súng nổ nhiều khi vẫn đì đùng sâu trong rừng buông. Bọn tù không biết làm gì khác hơn là chui vào chỗ nằm bàn tán. Bọn Vĩnh cũng xúm lại với nhau bàn chuyện quên cả việc ăn uống. 
Ý thều thào. 
– Tài thật! Thế ra phục quốc có thật chứ không phải tin đồn. 
Dương với máu võ sỹ của hắn, hậm hực chen vào. 
– Sao không đập đầu chết tốt mấy thằng quản giáo vệ binh, hoặc bắt chúng theo làm con tin có phải hay không!? Để chúng sống bị báo động sớm quá! 
Anh Huy ngẫm nghĩ. 
– Khi nãy đi lãnh cơm tôi có gặp mấy tay quen bên đội 23 dưới bếp. Rét lắm chưa dám nói gì nhiều chỉ nói tên mấy tay đi theo phục quốc thôi. Cũng ngon! Tôi hơi ngạc nhiên không hiểu sao họ coi thường việc bị báo động đến thế. Nói tóm từ đầu đến cuối họ không hề động đến thân xác kẻ thù, dù chỉ để trói hoặc nhét giẻ vào mồm chúng! 
Một tiếng súng lẻ loi nổ vọng từ xa khiến Ý cau mày. 

– Không hiểu lực lượng anh em ta có bao nhiêu mà liều quá! Vào hang hùm không giết hùm mà chỉ để dằn mặt hùm thì kể cũng ngon thật! 
Nguyễn Tú Cường cũng góp vài lời. 
– Tụi giám thị kỳ này vỡ mặt cả đám. Bọn chức sắc và bọn ăng ten cũng thế. Từ chiều đến giờ tôi thấy đội trưởng Lễ nhà ta có vẻ ưu tư xuống tinh thần dữ lắm. Trên đường về tôi vừa đi vừa lượm mấy cọng rau muống đội canh tác đánh rơi, đội trưởng chỉ thỏ thẻ rằng anh Cường ơi, đi quàng quàng lên cho kịp anh em! Thật là khác với mọi ngày một trời một vực! Sang ngày kế tiếp, cả trại nghỉ lao động và lên hội trường. Khác với những lần lên hội trường trước đây, kỳ này không khí hội trường “kém vui” hẳn vì những khuôn mặt lầm lỳ của bọn cán bộ bên cạnh những khuôn mặt nặng nề ưu tư của bọn trật tự. 
Bọn tù ngồi dưới cũng ít chuyện trò hẳn. Hình như đây là lần đầu tiên ai cũng muốn được nghe xem tên trại trưởng sẽ nói cái gì, sẽ thông báo ra sao về biến cố chiều hôm qua. 
Sau khi người cầm càn của trại là anh chàng hồi chánh tốt nghiệp tiến sỹ âm nhạc ở Nga bắt nhịp cho anh em hát một bài, tên tổng giám thị mới xuất hiện. Hắn đứng sau bục thuyết trình, sửa lại máy vi âm cho thích hợp rồi khởi sự chuyện trò cùng bọn tù. 
– Hôm nay trại cho các anh nghỉ lao động đột xuất, tập họp lên hội trường để nghe Ban Giám Thị trại thông báo về một vấn đề khá hệ trọng. Yêu cầu trước mắt là các anh phải lắng nghe cho tốt, nắm vững nội dung vấn đề về thảo luận cho đúng trọng tâm của bài. 
Đảo mắt một vòng chung quanh hội trường, khi thấy mọi người đều yên lặng và thứ tự lớp lang ngồi nghe mình nói chuyện, tên tổng giám thị cũng lấy làm yên tâm và khởi sự đi vào vấn đề. Chiều hôm qua, như các anh đã biết, trại ta đã có lệnh cho tất cả mọi đội lao động bên ngoài trở về trại sớm hơn mọi ngày. Sau đó, các anh cũng nghe thấy nhiều tiếng súng nổ từ sâu trong rừng phát ra. Sáng nay, thay mặt Ban Giám Thị trại, tôi thông báo cụ thể để các anh nắm vững vấn đề, tránh mọi thị phi không đúng, tránh bị bọn xấu lợi dụng tuyên truyền phản động có hại cho tinh thần học tập cải tạo tập thể của trại ta, ấy là hôm qua đã có sáu tên thảo khấu ốm đói mò về gỡ trộm một số lượng khoai của ta đem đi. Số khoai thất thoát không là bao nhiêu, chỉ vài chục cân, nhưng điều quan trọng là, chúng đã bắt đi theo bốn anh của đội 23. 
Nói tới đây, tên tổng giám thị bắt đầu lên giọng nhân nghĩa. Ra vẻ đau đớn, hắn tiếp. Chúng ta sống với nhau ở đây như anh em một nhà. Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ, huống chi tự dưng căn nhà Hàm Tân này mất đi bốn người anh em! Vì quyết tâm làm tròn nghĩa vụ bảo quản tốt và giáo dục tốt các anh mà Đảng đã giao phó, chiều qua, các chiến sỹ công an nhân dân trại ta đã phối hợp các đơn vị dân quân du kích địa phương, mở cuộc hành quân lùng diệt bọn thảo khấu ốm đói và cố hết sức giải cứu bốn anh của đội 23 về. Mặc dù các chiến sỹ đã hạ quyết tâm làm tròn nhiệm vụ trên giao phó nhưng cũng chỉ kịp thời bắn hạ được một thằng thảo khấu, xác của nó đã được các đồng chí công an kéo để ngoài vườn mì từ tối qua. 
Bên dưới bọn tù ngồi yên. Hình như mọi người đều đang có cùng một tâm trạng. Thoạt đầu hớn hở vì tin phục quốc quân về thăm Hàm Tân được chính tên tổng giám thị xác nhận, kế tiếp thấy buồn cười cho lời nói giả nhân giả nghĩa của thằng cán bộ cộng sản, và bây giờ thì hầu như ai cũng cảm thấy có một viên đạn nào đó vừa bắn xuyên qua trái tim mình. Ai? Ai trong số sáu phục quốc quân và bốn người tù đi theo họ đã bị bắn chết? Và rồi sự băn khoăn lẫn nỗi đớn đau thầm lặng ấy đưa bọn tù ra khỏi sự chú ý lắng nghe những lời lẽ ba hoa kế tiếp của thằng tổng giám thị. Họ xoay sang bàn tán nho nhỏ với nhau, mãi đến khi mấy tên quản giáo đứng bên dưới đi lùng ghi tên những người tụ đầu vào nhau bàn tán, bọn tù mới ngồi lại ngay ngắn. 
Bên trên sân khấu, nơi bục thuyết trình, tên tổng giám thị đã đi vào đoạn kết. Hắn nói một cách quả quyết. 
– Hiện tượng bọn thảo khấu ốm đói mò vào khu vực trại ta ăn cướp một số khoai lang khoai mì rồi bắt cóc người đem đi thực ra cũng chỉ là một hiện tượng giản đơn. Tuy nhiên, vì trách nhiệm của Ban Giám Thị trại, kể từ nay, trại ta sẽ có biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn những đội đi lao động bên ngoài trại; mục đích không gì khác hơn là nhằm phát huy tinh thân chấp hành việc lao động có kỹ thuật và kỷ luật, phát huy tinh thần làm chủ bản thân và làm chủ tập thể của mỗi người, phát huy việc bảo quản lẫn nhau để trại ta tự hậu không bao giờ xảy ra những hiện tượng xấu như ngày hôm qua nữa. 

Câu kết luận của tên thủ trưởng, dù khéo cách mấy, cũng được bọn tù nhận ra thâm ý. Từ đây, hẳn là kỷ luật được áp dụng ngoài hiện trường lao động phải là nặng nề lắm. Anh em phục quốc làm cú này chẳng khác nào công khai bợp tai lũ giám thị trại Hàm Tân trước mặt bọn tù. Đau ở chỗ là bọn giám thị không thể công khai nói ra sự thật mà vẫn phải muối mặt nói dối trước lũ tù vốn là những kẻ đã biết tất cả sự thật! 
Sau giờ cơm trưa, như chương trình, bọn tù lại từng tổ một quây quần ngồi thảo luận về đề tài mà tên thủ trưởng đã ra cho sau khi kết thúc “bài học” ban sáng. Đề tài thảo luận có hai câu. 
– Nghĩ thế nào về hiện tượng bọn thảo khấu ốm đói ăn cắp khoai của trại ta? 
– Làm sao để củng cố hơn nữa sự tin tưởng tuyệt đối vào chính sách khoan hồng của nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với những thành phần có tội được tập trung lao động cải tạo? 
Hai câu hỏi thật hề đã khiến bọn tù vừa thảo luận vừa cố nuốt tiếng cười vào bụng! Vĩnh ngồi lắng nghe các bạn cùng tổ phát biểu. Có rất nhiều câu phát biểu thật hay, thật độc đáo; nhưng có lẽ câu phát biểu của anh Huy làm anh em lên ruột nhất. 
Để kết thúc phần phát biểu, anh liếc nhanh quản giáo Phú một cái, rồi nói. 
– Đến ngày hôm nay chỉ còn vài bữa nữa là tròn bốn năm kể từ ngày tôi đi theo tiếng gọi tập trung cải tạo mười ngày của nhà nước. Phải nói rằng càng ở lâu tôi càng nhận ra chính nghĩa sáng ngời của Cách mạng. Biến cố ngày hôm qua, cán bộ tổng giám thị đã nói có bốn anh bên đội 23 bị bọn thảo khấu ốm đói bắt cóc đem đi. Thật tội nghiệp cho những anh đó. Tương lai rồi cũng đến ốm đói mà chết thôi! 
Nghe anh Huy cà kê, đội trưởng Mai Văn Lễ rất nhột lỗ tai, nhột hơn nữa là có quản giáo Phú ngồi gần đó, hắn vừa lắng nghe vừa lâu lâu gật gù nhưng không ai hiểu được cái gật gù của hắn mang một ý nghĩa gì. Đội trưởng Lễ vội nhỏ nhẹ lên tiếng. 
– Còn nhiều người phát biểu, yêu cầu anh Huy đi vào trọng tâm giùm cho. 
Quản giáo Phú vội can thiệp. 
– Anh đội trưởng cứ để cho anh Huy phát biểu. Chúng ta phải phát huy cao độ tinh thần dân chủ trong phát biểu mới đạt yêu cầu học tập của cách mạng được. 
Anh Huy nghe tên Phú nói, anh hơi mím môi suy nghĩ. Sau cùng anh nói tiếp với giọng rắn rỏi. 
– Vâng, thưa các anh, tôi tin chắc bốn anh bị bắt cóc thế nào rồi cũng có ngày chết đói! Tôi chỉ thương các anh ấy ở điểm các anh ấy đã không có thái độ tích cực chống trả bọn thảo khấu bằng cách ngồi lỳ như những anh em khác mà thôi, để đến độ mất vĩnh viễn những dịp may đi theo cách mạng và phát huy lòng tin tuyệt đối vào chính sách khoan hồng cải tạo của cách mạng. Còn tôi, nhân biến cố này, tôi xin khẳng định với tập thể rằng, dù gặp hoàn cảnh khó khăn bức bách đến đâu, tôi thề sẽ đeo đuổi cách mạng đến kỳ cùng. Vâng, tôi thề như thế. Sẽ không bao giờ bỏ cách mạng mà đi cả. Sẽ đeo đuổi đến kỳ cùng. 
Câu phát biểu nước đôi của anh Huy, lạ lùng thay, không hề làm quản giáo Phú tỏ lộ một thái độ nghi ngờ hay nóng giận nào dù chỉ bằng một cái nhíu mày. Hắn lặng lẽ đứng lên và đi sang phía đội khác. 

Ý liếc nhìn anh Huy với ánh mắt trách móc. Ông Thuận chỉ tặng kẻ vốn không ưa mình bằng một cái gật gù khó hiểu. Riêng đội trưởng Lễ thì trừng trừng ngó anh Huy như ngó một con thú dữ, đúng hơn, ngó một kẻ vừa thẳng thắn tuyên bố ra trước mọi người rằng anh ta có mầm dịch hạch trong người! 
Dù sao thì câu phát biểu nước đôi của anh Huy quả không khác thứ vi trùng dịch hạch là bao! Nó lan sang những tổ bên cạnh, rồi lan sang những đội cùng nhà. Anh em tù, mỗi người mỗi kiểu, phát huy tối đa việc mỉa mai chế độ. Có người còn dám công khai dựa vào biến cố hôm qua đưa ra đề nghị. 
– Vì việc bảo quản các can phạm cải tạo hiện thiếu hoàn hảo, đến độ có người bị thảo khấu bắt cóc đi giữa ban ngày ban mặt, chúng ta nên có một đề nghị chung gửi lên Ban Giám Thị, xin cứu xét và tạm thời miễn hoàn toàn mọi công tác lao động bên ngoài trại cho đến khi nào biện pháp bảo quản và bảo vệ các can phạm được cải thiện tốt hơn. 
Những lời phát biểu và đề nghị “khôn bằng trời” này đều được hưởng những tràng pháo tay cổ võ nhiệt tình của anh em. 
Trong khi các tổ, các đội các nhà đang tiến hành cuộc phát biểu về biến cố ngày qua, thì Ban Giám Thị cho trật tự đi các nhà gọi lên hội trường một số các chức sắc gồm đội trưởng đội phó, những người từng ở trại Hàm Tân từ đầu đến giờ. 
Một ngày thảo luận qua khá nhanh. Khi những thau ngô từ bếp đã được khênh hết về các nhà, và nơi những dãy bếp con phía sân sau của mỗi dãy đã thưa thớt người nấu nướng, thì những tin tức nóng hổi được một vài người bệnh xuống bệnh xá chích thuốc đem về nhà 4, theo đó các ông chức sắc sống từ thời “tạo thiên lập địa” nơi đây, đã được giám thị trực và trật tự dẫn đi coi xác “tên thảo khấu ốm đói”. Dù người quá cố đã bị bắn nát mặt, nhưng những kẻ được đi nhận diện vẫn nhận ra được đó là một người tù cũ của trại Hàm Tân. Anh ta tên Đảnh, người từng trốn thoát khỏi phân trại B vào tháng Năm trước đây. Người quá cố được nhận ra nhờ hình xâm một con rồng chạy dài theo cánh tay trái! 
Khi những cánh cửa nặng nề được sập lại và khóa chặt phía ngoài nhốt 2.000 tù của trại Hàm Tân vào chuồng, từ khung cửa sổ ở đầu chỗ Vĩnh nằm, Vĩnh và các bạn có thể thấy một tên giám thị đi với hai trật tự đang áp giải cha Nguyện băng qua vuông sân vắng lặng đầy bóng chiều tà về phía văn phòng trại. Dáng đi của vị linh mục khập khễnh vì từng bị đánh đến thương tật trên khám Chí Hòa, không rõ có lưu lại một tí thương xót nào trong lòng Vĩnh không? Vĩnh cũng chẳng còn tự biết nữa!






Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by6 So7n ra6u 18 Jan 2024

Bài 67

Phần 66

Có lẽ chỉ Vĩnh và một vài người khác có đủ dữ kiện đoán biết rằng, lần vượt ngục hồi tháng Nam của Tân Dân và Dũng có hẹn hò trước với nhau. Cuộc vượt ngục ấy đã thất bại thê thảm bằng kết quả Tân Dân bị bắn chết. Dân đã làm đúng như lời anh từng nói với Vĩnh: Sẽ có lần tôi chạy thử xem tôi và đạn AK cái nào nhanh hơn cái nào! Riêng Dũng của đội 17 bị bắt ngay chiều hôm ấy, bắt tại dòng suối! Khi đội trưởng Lễ phát hiện ra Dũng vắng mặt, Dũng đang còn ngậm một cái ống tre và lẩn trốn dưới đáy một vực nước sâu. Việc ngậm ống sậy hay ống tre để nằm trốn dưới nước chỉ xảy ra một cách an toàn và dễ dàng trên phim ảnh, còn thực tế khác hẳn! Chỉ ít phút sau khi đội 17 rời địa điểm trở về trại, bọn an ninh hiện trường đã lùng kiếm và bắt gặp Dũng trồi đầu lên thở…

Dũng bị đánh đập thê thảm và bị nhốt cachot tính đến nay đã non hai tháng trời. Trong non hai tháng vừa qua, trừ những người đang nằm cachot là không có gì thay đổi, còn bên ngoài thì khác; thêm hai cuộc trốn trại khác đã xảy ra, trốn ngay từ trong trại trốn ra vào những giờ khắc tinh sương, khi các cửa phòng vừa được mở cho tù ra ngoài đánh răng xúc miệng. Hai cuộc trốn trại này đều thoát cả, và đó là lý do ban chỉ huy trại mở một chiến dịch lớn nhằm dựng lại tất cả hệ thống hàng rào trong trại, đồng thời hạn chế tối đa việc được thong thả đi lại của bọn tù.

Từ trước, cứ mỗi hai dãy nhà lại được vây quanh bằng những cọc tre khô trồng đan mắt cáo vào nhau. Hiện nay, tất cả những cọc tre khô ấy đều đã được thay thế bằng hàng rào thép gai đan thật dày trên những cọc sắt vững chắc. Việc đi lại ngoài sân trại sau những giờ lao động về đã bị cấm hoàn toàn. Mọi sinh hoạt đi lại chỉ có thể xảy ra trong phạm vi hàng rào nhỏ của mỗi khu. Đặc biệt hơn, riêng khu 1 và khu 2, hàng rào thép gai còn được đan dày hơn và việc di chuyển còn ngặt nghèo hơn. Đối với tất cả các khu khác, dù không còn được đi lại ngoài sân chính của trại, nhưng trước giờ tập họp đi lao động, họ được phép đi xuống bệnh xá khai bệnh tỉ như có bệnh. Còn khu 1 và 2 tuyệt đối không được cái ân huệ đó. Trước khi tập họp đi lao động, buổi sáng và buổi trưa, ban y tế (cũng là tù với nhau và được cầm đầu bởi một anh y tá gốc hồi chánh) sẽ xuống tận từng khu khám bệnh cho người khai bệnh. Thường thì chúng khám lấy lệ và bắt đi lao động hết theo lệnh ngầm của Ban Giám Thị, trừ những trường hợp đau liệt hai năm rõ mười.

Vì đâu có sự gắt gao đặc biệt này? Thật giản dị! Chính khu 1 và khu 2 là những nơi xuất phát ra mọi cuộc trốn trại. Những đội nổi tiếng nhất đương thời là đội 17, 45, 13, 25… Đây là những đội mà Ban Giám Thị thường tuyên bố thẳng thừng chỉ gồm những kẻ phản động nhất… Vì những lý do trên, cho dù trong non hai tháng qua đã có một cuộc chuyển đổi nhân sự giữa các đội với nhau, các đội nói bên trên nhân sự vẫn hầu như không có gì thay đổi; nếu có thay đổi chăng là đổi đội 17 từ nhà 5 sang nhà 4, đội 45 từ nhà 2 sang nhà 3 hoặc đội 25 từ nhà 3 sang nhà 5… Sự thay đổi này dù chẳng có gì lớn lao hay mới lạ, nhưng ít nhất cũng giúp Vĩnh biết được một vài người mà ở ngoài đời chưa chắc gì Vĩnh đã có dịp làm quen.

Chẳng hạn làm sao trước kia Vĩnh biết được ông cụ Hoàng Kim Quy là tay nghiện thuốc phiện nặng? Và mỗi lần hút thuốc lào, ông ấy đã phải sửa soạn đến mười phút đồng hồ? Nhất là, sau một lần được thăm, trong cái tình lối xóm nằm gần nhau, Vĩnh biếu ông cụ một khúc cơm nắm với mấy miếng giò kho; con người từng là một tỉ phú tăm tiếng đã thốt lên một câu nói mà có lẽ suốt đời Vĩnh khó quên.

– Cám ơn ông. Bây giờ tôi mới thấy Vũ Trọng Phụng nói đúng, đúng lắm: Sống trên đời không còn gì sướng hơn là được ăn cơm!

Hoặc giả làm gì Vĩnh có dịp tìm ra được cái định đề cho riêng mình: Sướng và khổ cho một con người hoàn toàn tùy thuộc vào lề lối sống của con người đó! Định đề ấy nẩy sinh khi Vĩnh đã nhìn thấy tận mắt ông dân biểu triệu phú Trần Quý Phong trúng đòn “Thiên Địa Đồng Thọ” của một thằng du đãng, chỉ vì ông không chịu hòa mình với đám đông, nhất là không hiểu ra cái ý nghĩa tuyệt vời của sự chia xẻ. Ông Phong đã từ chối vài thìa muối hay đường gì đó với thằng tù hình sự nằm bên cạnh khi nó xin ông. Thế là, cứ mỗi khi nằm nhìn lên đầu chỗ nằm, thấy những bao quà đồ sộ của ông Phong, thằng du đãng đâm ức và đâm thù ông. Và mối thù của một thằng có máu giang hồ một khi lên tới cao điểm, thì nhất định nó sẽ “chén sành đổi chén kiểu xem thằng nào thiệt cho biết!”. Thằng du đãng đã dàn cảnh một cuộc trốn trại và cố tình để cho giám thị bắt lại. Khi cung khai, nó đã nói rằng nó được ông cựu dân biểu “ngụy” cung cấp phương tiện đồ ăn thức uống và thuốc men tiền bạc để… trốn trại! Số ông Phong đâm ra vất vả và sau đó ông bị đưa đi mất!

Hoặc giả đặc biệt hơn, Vĩnh còn được nằm gần cả một nhân vật mà chỉ ít tháng trước đó hắn ngồi ở một vị trí cao của giai cấp mới, một giai cấp mà cả nước đang thù hận nhưng chưa có cách nào lật đổ xuống được, giai cấp lãnh đạo và cán bộ cộng sản! Vâng, nhờ chuyển đổi qua lại, Vĩnh được nằm gần một người tên Lân. Vài tháng về trước, Lân đã ngồi ghế tương đương với ghế giám đốc thương cảng Đà Nẵng trước kia, một chức vụ tiền không là tiền! Thề rối, không hiểu ăn không đồng chia không đủ ra sao đó, Lân bị gài và bị bắt tại chỗ tội tham ô cửa quyền. Bao nhiêu năm theo đảng, những bằng cấp tốt nghiệp ở Nga, ở Ba Lan, ở Tiệp Khắc về bỗng chốc biến thành mây khói. Lân vô tù và theo hắn nói, vốn liếng duy nhất còn lại là bộ quần áo trên người với cặp kính cận trên mắt. Cả phòng không ai chơi với “thằng chó đẻ” cả. Không đóng đinh vào tai nó thì thôi chứ lại chơi bời với nó à!? Vĩnh đâu phải mình đồng da sắt gì mà dám đi ngược lại cuộc tẩy chay tập thể của cả phòng. Nhưng nhiều lúc anh thấy Lân ngồi một mình trong bóng tối nhai mấy hạt ngô, lòng Vĩnh lại dấy lên mối thương cảm. Hắn cũng là con người thôi. Và hiện nay rõ ràng hắn đang là một con người khổ hơn bọn Vĩnh. Khổ từ tinh thần đến vất chất. Tinh thần thì cô đơn, sợ hãi. Vật chất thì thiếu thốn như một kẻ thiếu thốn nhất trong tù, vì hắn không có vợ con cha mẹ nào thăm nuôi cả. Nỗi thăng trầm của bọn Vĩnh dù sao cũng lâu rồi, vết thương tương đối đóng vẩy rồi; nỗi thăng trầm của tay này còn mới quá, vết thương lòng của hắn còn tung tóe máu… Nghĩ thế, có đôi lần Vĩnh bắt chuyện với ý nghĩ vui vui trong đầu: Ít nhất mình cũng giúp cho hắn một dịp để khỏi quên đi tiếng nói êm ái của loài người! Nhờ vậy, Vĩnh được nghe, tận tai nghe lời tâm sự chân thành nhất của một cán bộ trung kiên cộng sản từ ngày miền Nam rơi vào tay chúng đến nay.

– Anh Vĩnh à! Nói thật với anh, đến nay cá nhân tôi có thể khẳng định rằng từ ngày tiến chiếm miền Nam, điều tôi sợ nhất không còn là đảng, là kỷ luật đảng; mà, điều tôi sợ nhất là Nhân Dân Miền Nam!

Nhưng có lẽ niềm vui lớn nhất của Vĩnh trong tháng Bảy, tháng sinh nhật của anh, là, một lần nữa tái ngộ người bạn thật tốt của anh từ thời Suối Máu là Mai Mạnh Liêu. Cùng một vài người khác, Liêu được lôi khỏi đội 48 và được sáp nhập vào đội 13 ở cùng nhà 4 với Vĩnh. Nơi đây và ở thời điểm này, Liêu đã kể cho Vĩnh nghe một câu chuyện quan trọng xảy ra ở Suối Máu vào dịp lễ Giáng Sinh cuối năm 1978, nghĩa là chỉ sau khi Vĩnh rời Suối Máu lên Hàm Tân được ba tháng.

°

Vụ nổi loạn tại trại tù Suối Máu đã được nhiều anh em tù cải tạo của cả năm K nhen nhúm phối hợp tổ chức từ tháng Mười năm 1978. Vì những điều kiện sinh hoạt khác nhau tại mỗi K, cuộc nổi loạn đã không thể thống nhất hoàn toàn về mặt tổ chức, tuy nhiên về nhiều điểm khác như nguyên nhân, lề lối làm việc… để tiến tới cuộc nổi loạn mà cao điểm của nó là vào dịp lễ Giáng Sinh năm 1978, thì giống nhau.

1. Nguyên nhân:

a. Tháng Mười biến động:

Tháng Mười năm 78 là tháng khởi sự của nhiều biến động về các mặt chính trị, quân sự và xã hội bên ngoài – có thể những biến động này đã có từ nhiều tháng trước, như các vụ lộn xộn vùng biên giới Việt Miên và Hoa-Việt; hoặc những tin đồn có nhiều tác động trực tiếp đến thân phận những tù nhân, chẳng hạn tin đồn quốc tế đang đánh những đòn rất nặng nề về mặt nhân quyền ở Việt Nam đến độ nhiều nước Tây phương đã cúp hoàn toàn viện trợ nhân đạo cho Hà Nội; hoặc vụ đánh tư sản mại bản và Hoa Kiều – nhưng cho dù những biến động ấy đã hay mới xảy ra, điểm nóng của chúng vẫn khởi sự vào tháng Mười năm 78 đối với tù cải tạo Suối Máu. Điểm nóng ấy khiến nhiều anh em tù không còn muốn ngồi yên bó tay…

b. Năm 78 được coi như chấm dứt một hạn kỳ ba năm cải tạo:

Phải nói thực rằng, trong tất cả các thành phần sỹ quan quân đội và viên chức chính quyền ra trình diện các trung tâm tập trung cải tạo của cộng sản vào năm 75, có những người đã biết đặt một dấu hỏi thật lớn về cái chính sách gọi là “khoan hồng tập trung cải tạo mười ngày cho cấp úy và ba mươi ngày cho cấp tá tướng”. Nhưng vì cái thế cá nằm trốc thớt, họ đành “cũng liều nhắm mắt đưa chân, để xem con tạo xoay vần đến đâu”. Nhưng ở mặt khác, cũng phải thú nhận rằng một số đông, đông lắm, đã bị lừa hoàn toàn. Và sau khi vào rọ rồi, người biết đặt dấu hỏi hay người bị lừa đều có cùng một thân phận như nhau và nẩy sinh ra một ý nghĩ như nhau: Thôi lỡ rồi! Giờ ráng nín thở qua sông. Chấp nhận một thời gian lao tù rồi khi về tính sau. Và thời gian ấy, dựa trên những lời nói úp mở của bọn quản giáo, trên những tin đồn triền miên quấy nhiễu, đã tự động biến thành một bản án dài tối đa là ba năm! Hầu như ai cũng nghĩ như thế, đặc biệt ở thành phần sỹ quan trẻ tuổi chưa có nhiều kinh nghiệm lắm về thủ đoạn của cộng sản. Rồi thì ba năm đã qua, ba năm “nín thở qua sông” vẫn chưa thấy bờ bến đâu, tù cải tạo bắt đầu ngộp và ngộp thật. Họ muốn ngóc đầu lên thở một hơi dài cho dù hậu quả muốn đến đâu thì đến.

c. Thay đổi chế độ cai tù:

Nhờ lươn lẹo (và lươn lẹo một cách khá thành công!) chế độ quân nhân đã khiến tù cải tạo lúc nào cũng có ảo tưởng mình chưa hẳn là tù. Chuyện một sớm mai thức dậy bỗng dưng được gọi thả không phải là chuyện không thể xảy ra. Đùng một cái, vào tháng Mười chế độ quân quản chấm dứt. Các “cải tạo viên” được bàn giao cho công an – những cai tù chuyên nghiệp của chế độ – quản lý. Sau khi bàn giao, công an thẳng thừng tuyên bố “từ đây các anh là can phạm, là tù nhân của chế độ. Dưới chế độ quản lý của công an nhân dân, các anh sẽ khởi sự một mốc mới trong phấn đấu học tập lao động. Và mỗi mốc có một lượng thời gian là ba năm!”.

Ba nguyên nhân trên có thể là ba nguyên nhân chính dẫn tới biến cố Suối Máu.

2. Thành phần lãnh đạo và tham dự tích cực trong biến cố Suối Máu:

Hầu hết đều thuộc thành phần sỹ quan trẻ có cấp bậc từ chuẩn úy lên tới trung úy. Đại úy và cấp tá cũng có nhưng rất ít.

° Câu chuyện xảy ra khởi từ một người tên Ngô Phước Việt, một sỹ quan trẻ tuổi, mập mạp, vốn được biệt phái làm nghề sửa quân xa cho ban chỉ huy K.5; Việt bị một ăng ten báo cáo về tội ăn cắp dầu xăng cho anh em dùng bật lửa và bị bắt nhốt connex. Sau khi quân quản bàn giao trại Suối Máu lại cho công an, Việt được thả ra khỏi connex. Về tới K.5, việc đầu tiên Việt cho một số anh em bạn trẻ tuổi biết ai là kẻ đã đi báo cáo anh.

Sự kiện này lại trùng hợp với việc một số anh em lên làm tạp dịch trên ban chỉ huy, đã nhặt được nhiều bản báo cáo của bọn ăng ten nằm trong những đống rác do bọn quân quản xé bỏ lại. Sở dĩ có việc này cũng vì bọn quân quản không ưa gì bọn công an; khi ra đi, chúng đã không bàn giao lại hệ thống ăng ten mà chúng đã thiết lập được từ trước trong các K. Giấy trắng mực đen được đưa về K. Những kẻ phản bội vô phương chối cãi. Tên ăng ten đầu tiên bị hỏi tội là tên đã báo cáo Việt. Rồi như vết dầu loang, anh em K.5 mở luôn chiến dịch đánh ăng ten. Chỉ nội một tuần lễ vào cuối tháng Mười năm 78 đã có đến trên hai mươi ăng ten ở K.5 bị ăn đòn tập thể. Cũng nên biết rằng, hành động đánh ăng ten lúc này chỉ mới là hành động đột phá và chưa hề được chỉ đạo bởi một tổ chức rõ rệt.

Tuy nhiên, việc muốn dọn dẹp sạch đống rác ăng ten đã đòi hỏi nhiều điều kiện, mà điều kiện tiên quyết là phải đoàn kết và có tổ chức. Đoàn kết để thống nhất lề lối làm việc và có tổ chức để hữu hiệu hóa công tác diệt trừ ăng ten cũng như tự kiểm soát hàng ngũ của chính mình. Do động lực này, những nhóm gọi là Nhóm Dù, Nhóm TQLC, nhóm Không Quân, Nhóm Hải Quân… khởi sự ra đời. Tình trạng này kéo dài đến đầu tháng Mười Hai thì những nhân vật vận động sự kết hợp giữa năm K tương đối đi đến thành công. Các hàng rào ngăn cách giữa các K được tù tự động tháo gỡ để các K có thể thông thương qua lại khi cần thiết. Đầu tiên K.5 mở rào qua lại với K.1. Tiếp đó K.4 mở rào liên lạc với K.5. Riêng K.2 và K.3 anh em đa số lớn tuổi và cấp bậc thường từ đại úy trở lên, do đó họ có nhiều trì lực và việc khai mở hàng rào có vẻ tiến rất chậm. Vào trung tuần tháng Mười Hai, K.1, K.3, K.4 và K.5 coi như đã hoàn toàn thông thương với nhau. Riêng K.2 thì chưa, chỉ mới có những lỗ nhỏ đủ cho một số anh em chui qua đi họp hoặc có việc cần gặp những anh em bên các K bạn.

Nhưng dù điều kiện có khác nhau tí chút, một số anh em trẻ vẫn đứng ra nhận sứ mệnh bắt liên lạc và tổ chức một cơ cấu lãnh đạo chung cho cả năm K. Sau nhiều lần gặp gỡ và bàn thảo, những nhân vật hoạt động ấy đồng ý thành lập ở mỗi K một Ban Đại Diện K với cơ cấu tổ chức như sau:

– Trưởng Đại Diện K.

– Phó Đại Diện K.

– Ban An Ninh Trật Tự: Có nhiệm vụ theo dõi tình hình trong ngày, báo động kịp thời đến các nhà, các đội sự xuất hiện đáng nghi ngờ của bọn Bò Vàng (công an giám thị).

– Ban An Ninh Hành Động: Gồm những người có võ nghệ khá. Ban này hoạt động bí mật, có nhiệm vụ theo dõi, phá vỡ tổ chức và trừng trị kịp thời bọn ăng ten lúc chúng tìm cách báo cáo những tin tức trong trại ra ngoài cho bọn cai tù.

– Ban Tuyên Huấn: Thực hiện những buổi “Văn Nghệ Vàng” cho cả trại thưởng thức. Thông tin và truyền đạt những bản tin sinh hoạt hoặc những huấn thị của ban đại diện K đến tận các phòng các đội.

– Ban Y Tế: Phụ trách việc băng bó, an ủi và kêu gọi sự hồi tâm của những ăng ten bị anh em khám phá và trừng trị.

Rồi cũng qua nhiều lần gặp gỡ và hội thảo, đại diện các K đưa ra một quyết định khởi sự “kiếm chuyện” với cai tù. Và việc đầu tiên là các K sẽ đồng loạt công khai tổ chức mừng lễ Giáng Sinh năm 1978.

Các hang đá được thực hiện. Anh em công giáo ở các K đều đổ sang K.3 để được cha Thông và cha Thiên giải tội tập thể.

Vào nửa đêm Giáng Sinh, K.1 khởi sự hành lễ ngay khu lò bánh mì. Đang trong lúc hành lễ thì tên Lưu, giám thị trưởng K.1 chạy vào cùng với một tiểu đội công an trang bị đầy đủ súng ống. Chúng nổ súng vây bắt nhưng chỉ bắt được ba người gồm đại úy Hoàng (KQ), thiếu úy Bé (ANQ Đ) và một trung úy có hỗn danh Luca (TK/BH).

Bắt được ba người chúng giải ngay lên khung, sau đó đem nhốt connex. Vì biến cố này, tất cả các K đồng loạt báo động và người nổi tiếng kẻng báo động đầu tiên là trung úy Phạm Ngọc Đông (HQ) của K.5. Đại diện các K lập tức gặp nhau để tìm biện pháp đối phó với tình hình. Trong giai đoạn này, mặc dù các K đều đã có ban đại diện, nhưng hoạt động mạnh nhất và có tổ chức rõ ràng nhất vẫn chỉ là K.4 và K.5.

Những nhân vật hoạt động tích cực nhất của K.4 gồm: Thiếu úy Lê Hùng (PB), thiếu úy Nguyễn Sỹ Chí (TĐ/ĐPQ/QĐ3), thiếu úy Nguyễn Ngọc Khang (TG), thiếu úy Phạm Văn Thế (TG), thiếu úy Nguyễn Văn Hóa (TK/ ĐT), thiếu úy Đặng Thế Tiến (BLHQS/VL).

Và của K.5 gồm: Trung úy Phạm Ngọc Đông (HQ), thiếu tá Hứa Trịnh Tùng (BK), thiếu úy Lê Hoàng Ân

(Phủ TT), thiếu úy Đỗ Văn Trình (SĐ5), thiếu úy Lê Văn Minh (ĐPQ), đại úy Lê Ngọc Dung (KQ).

Hai K trên với từng đó nhân vật tích cực hoạt động, đã khéo léo lôi được hầu hết mọi người trong K lên hội trường biểu tình ngồi, và đưa ra yêu sách đòi thả những anh em vừa bị bắt giữ. Họ đã lên trước anh em trình bày vấn đề, đại ý.

– Ban chỉ huy trại đã vi hiến khi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng đã được quy định rõ ràng trong hiến pháp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Để tỏ thái độ, yêu cầu tất cả các anh em đoàn kết lại, biểu tình ngồi, chấp nhận tuyệt thực cho đến khi nào khung thả hết các bạn của chúng ta ra khỏi connex.

Hào khí lan nhanh như ánh bình minh. Để đáp ứng lời kêu gọi đưa ra từ các ban đại diện K.4 và K.5, tất cả các K còn lại cũng lần lượt đi vào hàng ngũ và tham dự cuộc biểu tình ngồi. Những tiếng vỗ tay liên tiếp vang dội cả một vùng. Rồi thì tiếp theo đó, hơn 4.000 tù của trại Suối Máu đồng loạt cất tiếng hát theo K.4, khi thiếu úy Nguyễn Văn Hóa bắt nhịp cho anh em hát bài Đêm Đông.

Trong khi ấy, ban đại diện K.1 bắc loa yêu cầu khung phải thả ngay các “cải tạo viên” ra khỏi connex và trả họ về trại trong tình trạng lành lặn an toàn.

Bọn giám thị các K, đặc biệt K.4, có vẻ kinh ngạc trước hiện tượng xảy ra. Chúng phản ứng rất chậm dù có điều động đến sáu chiến xa đến án ngữ tại các vị trí quan trọng của trại. Ba chiếc nằm trước K.4 và ba chiếc nằm ngay góc K.3 chỗ đi thẳng xuống bệnh xá. Ngoài ra, chúng còn điều động thêm ba đại đội công an từ Biên Hòa xuống. Công an cơ hữu dàn đội hình phía ngoài hàng rào các K. Chúng còn bố trí một thượng liên nhắm vào khu hàng rào ngăn giữa K.4 và K.5, đồng thời ở các K khác đều có đại liên từ ngoài chỉa vào. Để cầm chân những anh già luôn luôn muốn đào ngũ khỏi hội trường, và cũng để anh em lên tinh thần, các Ban Tuyên Huấn liên tục bắt nhịp các bài hùng ca do anh em tù từng soạn ra và những bài ca Giáng Sinh để mọi người cùng hát. Họ đang phát huy tối đa câu châm ngôn của chính “cách mạng” đã “giáo dục” họ: Tiếng hát át tiếng… bom!

Rồi thì giờ phản công của bọn cai tù Suối Máu cũng phải đến. Với sáu công an hộ tống, tên giám thị trưởng K.4 Trần Hằng tiến đến sát hàng rào và yêu cầu tù bên trong giải tán, bằng không, hắn sẽ cho lệnh nổ súng. Bên trong tù không đáp ứng lời kêu gọi. Họ vẫn tiếp tục hát. Sau ba lần yêu cầu, Trần Hằng cho lệnh nổ súng thẳng vào hội trường K.4. Ngay loạt đạn đầu đã làm bị thương bốn người, một người được nhận diện là thiếu úy Nguyễn Ngọc Hải (TG).

Dược sỹ Bằng, trưởng ban y tế và Nguyễn Sỹ Chí (có nghề châm cứu) phụ trách băng bó cho các nạn nhân.

Sau những loạt súng đầu K.4 vẫn tiếp tục ngồi hát. Bọn giám thị bên ngoài quay lưng bỏ đi. Đại diện các K tức khắc liên lạc và gặp nhau thảo luận. Có hai trường hợp được đặt ra. Một là, nếu chúng không tiếp tục nổ súng thì tương đối dễ giải quyết. Hai là, nếu chúng tiếp tục nhả đạn vào hội trường thì phải làm sao?

Các ban đại diện đồng ý bằng một giải pháp chung: Vậy thì cùng vượt rào ra ngoài và nếu có chết trên hàng rào sẽ có nghĩa lý hơn.

Quyết định được đưa ra và các nhân vật hoạt động tích cực của các K, đặc biệt K.4 và K.5 sửa soạn ngay những thanh gỗ lớn bắc qua hàng rào và đồ nghề phá rào.

Mặc dù đại diện các K.1 và K.3 rất xuất sắc, chẳng hạn đại úy Trần Đình Ngọc (Dù), đại úy Hoàng (KQ), thiếu úy Nguyễn Văn Thịnh (TQLC) của K.1; trung úy Phạm Đắc Hiện của K.3… đều là những người rất hăng hái tích cực, nhưng vị trí các K này nằm vào chính giữa trại Suối Máu, nên họ không thể điều động anh em làm những công tác sửa soạn vượt rào ra ngoài như anh em bên K.4 và K.5.    

Dù sao các K đều có một điểm giống nhau, là họ có tổ chức những đội xung phong quyết tử gồm toàn những người trẻ để ăn thua đủ nếu bọn giám thị tràn vào với ý đồ tàn sát tập thể.

Trong khi chưa thể biết bọn chỉ huy các K đang tính toán chuyện gì, anh em vẫn tiếp tục ngồi hát trên hội trường và chờ đợi biến cố xảy ra.

Quãng một giờ sáng một chiếc xe Jeep xuất hiện trước K.1. Tù bên trong nhận diện được người ngồi ghế trưởng xa là thượng tá Đào Lưỡng. Đào Lưỡng sau khi quan sát một vòng quanh các K, hắn bỏ đi và không bao lâu sau đó, ba người của K.1 từng bị bắt giam được trả về trại.

K.1 tức thì gửi liên lạc viên đi cám ơn các K đã tiếp tay trong cuộc đấu tranh này. Anh em được giải tán để về nghỉ ngơi. Tinh thần mọi người đều lên rất cao vì họ biết chắc họ là những người tù đầu tiên ở miền Nam đã bắt bọn cai tù cộng sản nhượng bộ trước sự đoàn kết của họ.

Sáng ngày kế tiếp, 26 tháng 12 năm 1978, đại diện các K sang K.1 để họp và thiết lập một ủy ban điều hành chung cho các K. Ủy ban này lấy tên là Ủy Ban Liên K Bảo Vệ Danh Dự Các Sỹ Quan QLVNCH. Theo quyết định của phiên họp, các K vẫn duy trì Ban Đại Diện riêng; và chỉ phối hợp hoạt động dưới danh nghĩa Ủy Ban Liên K khi cần thiết mà thôi. Đại úy y sỹ Lê Văn Lẫm (Dù) được bầu làm chủ tịch Ủy Ban.

Rút ưu khuyết điểm về biến cố đêm Giáng Sinh, các K thấy rằng điều tiên quyết là phải củng cố nội bộ và cải thiện lề lối làm việc, có thế mới mong đạt được nhiều kết quả hơn đối với những bước sơ khởi mà Ủy Ban đã đưa ra.

– Chứng tỏ cho kẻ thù thấy tù cải tạo là một tập thể có trật tự, có chỉ huy.

– Tù cải tạo sẽ không yên lặng hoàn toàn như trước nữa, mà họ sẽ tích cực lên tiếng đòi hỏi những quyền lợi chính đáng khi cần thiết.

Để đạt được bước đầu, Ban Đại Diện các K đặt ra những chức vụ mới. Những chức vụ này sẽ điều hành các tập thể đội trong bóng tối. Thí dụ bên cạnh chức đội trưởng được bọn giám thị chỉ định, có một đội trưởng hoạt động trong bóng tối do Ban Đại Diện chỉ định. Điển hình K.4 có mười sáu nhà và bốn đội thì Ban Đại Diện K cũng có ngay mười sáu chức vụ đại diện nhà và bốn chức vụ đại diện đội.

Những người từ trước đã ra mặt hành động nay được rút vào bóng tối vì vấn đề an ninh cá nhân. Đợt lãnh đạo mới hoàn toàn bí mật và không ai biết mặt. Những nhân vật trong bóng tối này khởi sự làm những việc đầu tiên như:

– Hủy bỏ tất cả các huy hiệu, quốc hiệu, các khẩu hiệu của cộng sản giăng mắc từ trước bên trong các K. Có những K đã lôi cả thủ cấp Hồ Chí Minh, vốn được đặt thờ trên hội trường, ra để ngoài cầu tiêu công cộng và nơi ấy đã có sẵn một bảng kẻ chữ rất trang trọng: Lăng chủ tịch HCM vĩ đại! – Tổ chức chiến dịch Bài Trừ Văn Hóa Đỏ. Tất cả các sách báo của cộng sản đều được Ban An Ninh Hành Động thu lại và đem đốt.

– Thực hiện hàng đêm Giờ Phát Thanh tại các nhà. Ban Tuyên Huấn phụ trách công việc này. Để thực hiện nó, hàng đêm, Ban Tuyên Huấn cử một người bịt mặt đến từng nhà để đọc nhật lệnh và các chỉ thị chung cho ngày mai. Họ cũng thông báo những chuyện đã xảy ra trong ngày như đã phát hiện được bao nhiêu ăng ten, trừng trị ai, phạt treo ai… Những người trong nhà còn được nghe tin tức về những biến động bên ngoài xã hội và cả tin tức thế giới, chẳng hạn cô ca sỹ phản chiến Joan Baez đã hồi tâm như thế nào, thực trạng Việt Nam ngày nay, Trung cộng đã dàn bao nhiêu quân dọc theo biên giới Hoa-Việt, nhà nước cộng sản Hà Nội đã túa đi tứ phương tám hướng ăn mày viện trợ của thế giới tự do… (những tin tức này, thực may, đã được một anh thiếu tá không quân tên Nam – một chuyên viên sửa radio cho ban chỉ huy K.4 – thường xuyên bắt được làn sóng BBC và VOA cung cấp).

Ngoài ra Ban Tuyên Huấn còn nhắc nhở anh em phải cư xử với nhau như những sỹ quan cư xử với sỹ quan. Phải giữ tư cách và đừng bao giờ cư xử với nhau như những tù nhân cư xử với tù nhân.

Thường khi nhà trưởng tắt đèn để đón đại diện Ban Tuyên Huấn đến đọc nhật lệnh mỗi tối, người bịt mặt thường trước tiên đọc lớn câu tâm nguyện: Các bạn hãy luôn luôn nhớ các bạn là những sỹ quan, và các bạn hãy đối xử với nhau như các bạn đang đòi hỏi kẻ thù phải đối xử với các bạn…

– Chiêu hồi ăng ten. Mặc dù những ăng ten nổi tiếng của Suối Máu đều bị trừng trị đến trọng thương vào thủa ban đầu như Nguyễn Ngọc Đảnh (K.5), Huỳnh Văn Bé (K.1), Nguyễn Bắc Hải (K.4)… nhưng trong cái sôi nổi lúc ban đầu ấy, cũng có một số người đã ăn đòn oan. Rút kinh nghiệm, các Ban Đại Diện K khởi sự kêu gọi sự tự giác của các ăng ten trở về với anh em, hơn là để anh em thẳng tay trừng trị. Riêng những người bị đánh đập đều được y tế băng bó và cho thuốc men đầy đủ, sau đó Ban Đại Diện cho mời đến nói chuyện phải trái. Đa số những ăng ten đều tỏ ra hối hận, thí dụ Nguyễn Bắc Hải, kẻ sau khi hồi tâm đã phát biểu rằng: Kể từ lần tôi bị anh em trừng trị cái tội phản bội, tôi thấy bỗng dưng yên tâm lạ thường. Tôi biết chắc anh em không nỡ xuống tay giết tôi, chỉ tìm cách cảnh tỉnh tôi mà thôi…

– Thực hiện những đêm văn nghệ liên trại. Từ đêm Giáng Sinh 78 đến Tết ta năm 79, bằng vào một đề nghị được thông qua bởi một phiên họp giữa K.1, K.4 và K.5, các K này đã lần lượt thực hiện những đêm văn nghệ dưới tên Văn Nghệ Cho Quê Hương, công khai hát những bài Chính Huấn cũ cũng như một số bài do anh em sáng tác trong tù.

Đêm văn nghệ đầu tiên tổ chức ở K.1 có anh em từ K.4 và K.5 sang tham dự. Với số khán giả tham dự lên tới quãng sáu trăm người. Không khí K.1 đã nổ tung với những bài hát “tự biên tự diễn” quen thuộc từ mấy năm trước đó, chẳng hạn bài Ta Sẽ Leo Lên Khỏi Vực Sâu, bài Im Lặng Là Đồng Lõa…

Con chim đầu đàn của văn nghệ liên K vẫn là Nguyễn Văn Hóa, anh chàng mập mạp, từng là ca trưởng một ca đoàn công giáo lớn tại Sài Gòn, cựu thiếu úy phân chi khu trưởng, có giọng hát to và khỏe như bò rống, hiên ngang đơn ca bài Ta Sẽ Leo Lên Khỏi Vực Sâu.

… Ta sẽ leo lên dù chết chết một lần

Ta sẽ leo lên để sống sống muôn năm

Ta sẽ leo lên như hoa mọc trên đá Lúc trái tim chưa ngừng đập giữa ngực ta…

Hoặc giả.

… Khi chúng ta quay lưng im hơi

Khi chúng ta không buông nhiều lời

Bọn cộng nô, bọn gian ác

Khi chúng ta quên thân phận mình

Khi chúng ta không ai thật tình

Là kéo dài cuộc sống trăm ngàn điêu linh …

Sự yên lặng là đồng lõa…

Hết K.1 đến phiên K.4. Và K.4 đã làm một cách long trọng hơn ngay trên hội trường của K. Có chào quốc kỳ đầu năm, có cờ vàng ba sọc đỏ treo đàng hoàng trên sân khấu, có phút tưởng niệm các chiến hữu đã bỏ mình vì tổ quốc và bỏ mình trong các trại giam cộng sản. Sáu mươi cây đàn guitar tự chế đã hòa tấu bài Quốc Ca và bài Chiêu Hồn Tử Sỹ. Mười sáu ông chức sắc nhà trưởng (của Ban Giám Thị trại cắt cử) được Ủy Ban Tổ Chức mời đứng vào vị trí danh dự. Sau giây phút mặc niệm những người đã khuất hầu như không ai mà không rơi lệ…

Nói tóm, những đêm văn nghệ này rõ ràng là những đêm văn nghệ có nội dung chống cộng công khai.

Cho dù ăng ten đã gần như dẹp sạch, nhưng như thế không có nghĩa là bọn giám thị không hề hay biết gì về nội tình các K. Đã nhiều lần chúng phát hiện và dẹp bỏ những tấm bảng đề hàng chữ Lăng Chủ Tịch HCM Vĩ Đại nơi các cầu tiêu. Nói chung là chúng biết hết những diễn tiến “phản động” trong trại, chưa ra tay chỉ vì chưa nắm được những người chủ chốt mà thôi.

Vào đầu tháng Hai năm 79, giờ hành động của bọn giám thị tại Suối Máu đã đến. Chúng khởi sự bằng một cuộc bắt bớ tập thể bên K.5 trước Tết Nguyên Đán vài ngày. Tai biến này xảy ra vì những bản báo cáo lên khung của Hoàng Mai Dõng, một ăng ten bị bỏ sót của K.5 hiện làm việc tại lò bánh mì của trại. Trong cuộc bắt bớ tập thể này, trọn bộ đầu não của K.5 bị bắt hết. Trịnh Tùng, Phạm Ngọc Đông, Đỗ Văn Trình, Lê Hoàng Ân, Lê Văn Minh và Lưu Văn 1.

Bên K.1 cũng bị bắt một số nhưng không rõ tên tuổi. K.2 và K.3 chưa bị đả động tới. K.4 nhờ diệt sạch ăng ten từ đợt trước Giáng Sinh, do đó bọn giám thị vẫn chưa tìm ra “bọn thủ phạm”, chỉ khủng bố tinh thần bằng cách cho công an vào trại, gặp tay nào không chào kính, mặt mũi có vẻ “gân guốc” là tóm nhốt dằn mặt. Ba người ở K.4 bị bắt trong đợt này là Hùng có hỗn danh Hùng Cống, Phạm Văn Lợi à Tạ Văn Hóa 2.

Do vụ bắt bớ tập thể, Tết Con Khỉ ở trại Suối Máu đã đến trong một bầu không khí buồn tênh như có đám ma. Đã thế, vừa sáng mùng 3 Tết bọn giám thị lại tràn vào các K để bắt đi một số nữa. Ca trưởng Nguyễn Văn Hóa cũng bị bắt đi vào dịp này. Những người còn lại, đặc biệt Ban Đại Diện K.4, đã tích cực tìm cách đối phó với tình hình. Công tác trước mắt phải làm là tìm cách yểm trợ vật chất và tinh thần cho anh em, những người mà họ đã biết giờ đây đang nằm trong những kiện sắt connex, nóng và tối như địa ngục rải rác bên ngoài các K.

Cuộc họp các đại diện còn lại của các K đã đưa tới một quyết định quan trọng. Mở cuộc lạc quyên quà cáp từ những anh em được gia đình thăm nuôi. Điều này chính các nhà trưởng phải đích thân thực hiện và trách nhiệm trực tiếp với Ban Đại Diện. Mặc khác, các nhà trưởng còn phải sắp xếp với đội anh nuôi – những người nấu ăn cho tập thể kiêm thêm nhiệm vụ đưa khẩu phần nuôi những người đang nằm trong connex – để tìm cách tiếp tế đều cho những người bạn lâm nạn. Ngay những anh nuôi này còn phải nhận thêm một nhiệm vụ phụ nhưng không kém quan trọng, ấy là làm cái cầu liên lạc giữa những người bị biệt giam và Ban Đại Diện. Mọi lời khai đều được bên ngoài chỉ đạo.

Về phía bọn giám thị, ngoài việc bắt bớ khủng bố, chúng còn mở nhiều buổi học tập đặc biệt dành cho những thành phần có nhiều triển vọng được thả trong tương lai. Mỗi K chúng lọc ra chừng hai mươi tới ba mươi người và đem hết sang K.5 “huấn luyện”. Anh em tù đã mỉa mai gọi khóa học tập đó là “Khóa Điệp Viên Okinawa”. Trong khóa học đặc biệt này, bọn giám thị thẳng thắng lên tiếng kêu gọi.

– Các anh là những thành phần phạm nhân nhẹ tội, có thân nhân là cách mạng, cải tạo có tiến bộ cụ thể và sẽ được nhà nước tha về đoàn tụ gia đình nay mai; nhưng, để hoàn tất thủ tục tha về, các anh phải làm một việc cần thiết sau cùng. Khai tên một người hoặc kể lại một sự kiện cụ thể trong vụ tổ chức bạo loạn đêm Giáng Sinh vừa qua. Các anh cứ viết vào giấy và nộp cho cán bộ quản giáo là đủ. Phải nhớ, thiếu mảnh giấy ấy cách mạng cũng chẳng giam các anh cả đời ở đây đâu, mà ngày về của các anh cùng lắm chỉ chậm lại thêm một mốc phấn đấu nữa mà thôi. Một mốc cũng không lâu gì, có ba năm…

Sau “khóa học tập đặc biệt” đầu tiên, K.1 thua nặng nề! Đợt đầu bị bắt bốn mươi người với toàn bộ ban đại diện. K.5 bị bắt thêm một số không rõ bao nhiêu. K.2 và K.3 cũng bị bắt một số nhưng không nhiều lắm. Chỉ K.4 nhờ tổ chức chặt chẽ, không ai bị bắt trong đợt này. Ban Đại Diện bên K.4 tồn tại là nhờ những người được kêu đi học “khóa đặc biệt” lại hầu hết là anh em ta. Còn những người không nằm trong tổ chức đại diện, được Ban Tuyên Huấn tích cực khuyên giải phải bình tĩnh, đừng mắc mưu cộng sản; mặc khác, Ban An Ninh Hành Động cũng bắn tiếng, kỳ này nếu ai tiết lộ, sẽ không đánh nữa mà sẽ giết thẳng tay.

Sau những đợt bắt bớ tập thể, Đào Lưỡng đã đến trại Suối Máu nói chuyện với tù nhưng cuộc nói chuyện bị tẩy chay và thất bại hoàn toàn. Không hiểu bằng cách nào và do ai, chỉ trước khi Đào Lưỡng đến chừng vài phút, trên mặt bàn chủ tọa trong hội trường K.5 đã nằm chình ình một đống phân người to tướng. Bọn giám thị tức lồng lên và phải thay bàn vào phút cuối.

Nằm nghe Mai Mạnh Liêu kể lại những chuyện đã xảy ra nơi trại Suối Máu, Vĩnh không khỏi ngậm ngùi. Một số đông là những người bạn cũ của Vĩnh, nếu không từng thân mật ăn uống, tâm sự với nhau nhiều tháng ngày như Đặng Thế Tiến, như Nguyễn Văn Hóa, như Tạ Văn Hóa… thì cũng là những người từng uống với nhau một miếng nước giữa nông trường nắng cháy, hoặc hút với nhau một điếu thuốc dưới ruộng sâu lạnh lùng.

Liêu còn cho biết.

– Khi tao được đưa lên đây, không khí dưới ấy còn sôi sục lắm. Thế nào rồi cũng còn nhiều thằng bị tóm nữa. Tao cũng nghe hình như thằng Đào Lưỡng bay mẹ nó mất chức rồi!

Ghi Chú: Khi quyển sách này được viết đến những chương cuối thì tác giả may mắn tái liên lạc được với một người bạn tù ngày cũ, anh Đặng Thế Tiến. Anh Tiến vượt thoát khỏi VN năm 1983 và mới được định cư tại thành phố Aurora, tiểu bang Colorado năm 1984. Qua cuộc tiếp xúc, với tư cách một người trong cuộc và may mắn còn sống thoát được ra ngoài, anh Tiến xác nhận những sự kiện kể bên trên là đúng và đã cung cấp thêm cho tác giả một số sự kiện khác như sau về biến cố Suối Máu.

– Tháng Sáu năm 1979 Ban Đại Diện K.1 bị bắt toàn bộ.

– Giữa tháng Sáu 1979 anh Phạm Đắc Hiện đại diện K.3 cùng một số anh em khác bị bắt và bị tra tấn rất nặng. Vì sự tra tấn này, thêm hai người nữa bị khai ra như là hai liên lạc viên của K, đó là thiếu úy Giang Văn Hai và thiếu úy Nguyễn Quốc Bảo. Hai anh này đều là người của K.4, bị bắt, bị đánh chết đi sống lại nhiều lần.

– Tháng Bảy năm 1979 thêm hai người trong ban Đại Diện K.4 bị bắt đó là thiếu úy Đặng Thế Tiến và thiếu úy Nguyễn Ngọc Khang.

Tổng kết về cuộc nổi loạn Suối Máu dịp Giáng Sinh năm 1978 đến quãng tháng Mười Một năm 1979, bọn giám thị công an Suối Máu đã bắt biệt giam chừng 300 người. Con số bị tra khảo đến chết chưa ai nắm vững được. Sau này, nhờ chuyển trại qua lại, người ta được biết những nhân vật có dính líu xa gần đến biến cố trên đều bị đưa về giam ở các xà lim khám Chí Hòa. Có người chết vì bị tra tấn, có người bị đánh đến tàn tật, có người chết vì chịu không nổi chế độ biệt giam, cũng có nhiều người chịu nổi những cực hình và sau đó được đưa đi khổ sai ở các trại Hàm Tân, Tống Lê Chân, Khe Sanh…

——————————–

1          Lưu Văn sau này bị đánh chết ở khám Chí Hòa.

2          Tạ Văn Hóa, một người bạn cùng khối 10 với Vĩnh từ những ngày đầu ở L4T3. Một hảo thủ bóng chuyền. Anh cũng bị đánh chết ở khám Chí Hòa.

Người đưa tin… độc địa

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 13 Feb 2017 

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Tặng “xếp” cũ của tôi,

trung tá Huỳnh Kiêm Mậu.”

hlh

Đưa ống nghe điện thoại xa ra khỏi tai, hướng mặt về phía trung tá Mậu, Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị, tôi nói, không lớn tiếng, đủ cho mọi người trong phòng nghe:

-“Có khách rồi, không biết có kịp tết không?”

Trung tá Mậu hỏi ngay:

-“Ma chay hả? Từ đâu về?”

-“Thiết Đoàn 16, tử trận ở Kompong Trạch, mẹ ở Gia Định.”

Trung tá Mậu ngữa lưng, dựa vào ghế. Tôi nghe tiếng ông thở ra. Chỉ còn bốn ngày nữa là tết. Ông “mệt” cho ông hay ông “cám cảnh” cho tôi, “năm hết tết đến” còn lo việc an táng cho đồng ngũ.

Tôi lại đặt ống nghe vào tai, tiếp tục với người ở bên kia:

-“Huế còn đó không?

-“Có”. Tiếng thiếu úy Huế trả lời. Tôi hỏi tiếp:

-“Lên đường về đây rồi phải không?”

-“Vâng!” Huế trả lời. “Tui cho một trung sĩ đi theo với tài xế. Làm sao anh?”

Tôi vẫn giữ cái thói hay nói đùa:“Làm sao cũng chẳng làm sao!” Ở đây có người lo tiếp cho tử sĩ. Ông trung sĩ đi theo có điện thoại của tui không? Gần tới nơi thì gọi cho tui. Tui chờ ở Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp.” (Hồi ấy “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa đang chuẩn bị hình thành – tg)

-“Tui dặn rồi. Có phải điện thoại của anh là 30.240?”

-“Đúng! Yên tâm đi nghe. Có chi trở ngại, tui sẽ gọi ông.”

Huế -Trần Huế – bạn cùng khóa Bộ Binh, Thiết Giáp với tôi. Anh ta cũng như Phạm Văn Nga lại là học trò cũ của tôi, khoảng chừng hơn năm năm trước ở Huế. Cả hai thua tôi khoảng 10 tuổi.

Sau tết Mậu Thân ở Huế, buồn tình, tôi tự  động bỏ dạy –“bỏ cục phấn bấm cò súng” – câu tôi thường nói đùa với bạn bè – Hai “ông bạn đồng khóa” thì tới tuổi động viên, thành ra, “cùng nhau đi lính Cộng Hòa”, hết Quang Trung, lên Thủ Đức, vô trường Thiết Giáp. Ra trường, tôi và Nga chọn Thiết Đoàn 17/ Kỵ Binh, đóng ở Phước Tường. Huế về Thiết Đoàn 16 ở Long Xuyên; sau tháng 3/ 1970, Thiết Đoàn thường hành quân vượt biên qua Kamphuchia. Tôi được giữ lại Bộ Chỉ Huy, tiếp nối tờ báo “Kỵ Binh”, “giữ cái nghiệp làm báo tự chọn” do một ông bạn cũ từ thời học tiểu học, đại úy Lương Thúc Trình giao cho vì Trình được biệt phái về “nhiệm sở cũ”, giáo sư ở trường trung học Trần Quí Cáp, Quảng Tín.

Tôi kiêm luôn công việc mà tôi thường gọi đùa là “Người đưa tin… độc địa”, nghĩa là đưa tin “báo tử các chiến hữu” của binh chủng cho thân nhân của họ ở Saigon và Gia Định.

“Tin… độc địa” vì gia đình người ta đang yên ổn, bỗng tôi tới gõ cửa báo tin thân nhân họ… tử trận. Thế là cả nhà, có khi còn cả cha mẹ già, vợ con, chị em… òa nhau lên khóc.

Nghe tiếng họ khóc, tôi đứng như “chết trân” tại chỗ. Nhiều khi muốn trốn khỏi nhà họ nhưng không trốn được; nhiều khi muốn làm “ông Tề độn thổ” cho xong, nhưng lại không có 72 phép thần thông.

&

Về nhận việc ở đơn vị mới được mấy hôm, Trung Tá Mậu gọi tôi tới bàn ông, biểu ngồi xuống ghế. Đứng bên cạnh ông là trung úy Nguyễn Đăng Đức, tay cầm xấp hồ sơ không dày không mỏng. Trung tá Mậu nhìn tôi một lúc, mặt hơi có vẻ nghiêm, nói:

-“Giao việc nầy cho anh tôi yên tâm hơn. Mấy lâu nay, trung úy Đức đảm nhận nó, chưa có gì sai trái nghiêm trọng, nhưng ông Đức có bệnh hay quên; nhiều khi ông ta quên làm tôi đứng tim luôn. Việc ma chay phải hết sức cẩn thận. Gia đình người ta có người “hy sinh vì Tổ Quốc”, mình lo giúp người ta việc an táng là phải chu toàn. Lôi thôi, thân nhân thưa lên tới Tổng Thống chớ không phải tới ông Đại Tướng đâu. Vậy là họ gõ đầu thuộc cấp, từ trên gõ xuống, gõ tới mình là coi như… khăn gói ra Vùng 1, Vùng 2. Ngại lắm! Mình không sợ tác chiến nhưng khăn gói quả mướp kiểu ấy thì mất mặt anh hùng.”

Theo lệnh trung tá Mậu, trung úy Đức trao tập hồ sơ cho tôi. Nhìn hàng chữ ngoài bìa, tôi đâm lo, “hơi lạnh giò” vì tưởng có “âm khí nặng nề” như khi Kiều gặp mộ Đạm Tiên. Đây là một cái tên có lẽ tôi chưa từng nghe bao giờ: “Hồ Sơ Ma Chay”.

Tôi cũng “thấm” lời trung tá Mậu căn dặn: “Gia đình người ta có người hy sinh vì Tổ Quốc”… Chuyện nầy… dễ “thông cảm”, vì chính gia đình tôi, cũng không “ngoại lệ”, cũng đã có người tử trận, còn như thấy, thì thấy không ít lần.

Tôi từng ngạc nhiên vì mấy chữ “Nhà Vĩnh Biệt” treo trước cái nhà nhỏ nằm riêng một góc phía trong Cửa Hậu, ở thành Mang Cá / Huế, cuối quân y viện Nguyễn Tri Phương mà tôi từng thấy khi mới học lớp Nhì. Tôi có bà chị, nhà ở đường Lê Văn Duyệt, con đường song song với sông đào An Hòa / Bao Vinh; bên cạnh con đường nầy, phía ngoài cửa Hậu là “Nghĩa Trang Quân Đội”. Biết bao nhiêu mồ mả ở đó. Cũng có lần tôi đi thăm chị, ngang nghĩa trang, nhằm lúc người ta sắp hạ huyệt, tiếng kèn Tây nổi lên: “Tọ ti tè, tọ ti tè…” bọn trẻ từng nhại theo “Tôi chưa tề. Tôi chưa tề!” Cái nhại nầy có phần nghiêm trang vì người ta không dám đùa với người… chết.

&

Về chỗ, tôi mở tập hồ sơ… nghiên cứu. Ấy là nói cho ra vẻ… chớ “nghiên cứu” gì đâu! Trước hết là coi thử… phải làm gì: Báo tin là một. Thứ hai là hỏi tang gia có yêu cầu gì: phương tiện, xe cộ di chuyển (bao nhiêu xe, bao nhiêu người), nơi an táng (tại nghĩa trang quân đội hay đưa về nhà cũ, những nhà có vườn như ở Lái Thiêu, Bình Chánh, tang gia yêu cầu đưa về nhà của họ, chôn trong vườn nhà hay nghĩa trang gia đình. Cũng ngại đấy vì có vài gia đình ở vùng “mất an ninh”, lỡ khi đang làm lễ thì Việt Cộng tấn công. Đừng nói nhân đạo với “tụi nó”, có lúc nào Việt Cộng không thẳng tay giết người?!)

Có những điều phải về làm tờ trình “xin thượng cấp”, có những cái phải làm “Bưu điệp cầm tay” đem ngay sang cho “Trung Đội Chung Sự” ở Gò Vấp để xin họ giúp đỡ…

Không có gì khó, cái gì cũng dễ.

Quân Đội VNCH có bài bản cả rồi: đơn vị nào, người nào, ai lo việc nấy, ngoại trừ khi yêu cầu của tang gia vượt ra những điều thông thường. Cũng may, phía Quân Đội thì dự trù hoàn hảo, về phía tang gia, không đòi hỏi gì quá đáng, chỉ cần mình: “Thi hành công vụ” với một tấm lòng như thế nào đó để tang gia được chút an ủi.

Khó nhất, chính là việc “báo tin”. Khó mở miệng nói câu “Thưa ông (hay thưa bà, thưa chị), anh (gì đó)… đã tử trận.”

Và kinh hoàng, và sợ hãi, và cũng lắm khi đau xót, tội nghiệp vì những tiếng khóc òa lên, nghe… não lòng.

&

Nửa giờ sau, tôi báo cáo với trung tá Mậu tôi đi “báo tin tử sĩ”, bắt đầu lo ma chay. Tài xế Chính dừng xe chờ tôi ngay cửa trước. Tôi khoái đi với “ông” tài xế nầy. Tuy không phải là dân Saigon, nhưng anh ta rành rẽ đường sá, thông minh, nhạy bén, “tìm nhà” rất nhanh.

Hồi bấy giờ xã Phú Nhuận, xã Bình Hòa, tuy thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, nhưng “Saigon hóa” mất rồi. Từ Saigon, qua khỏi Cầu Bông, Cầu Kiệu, nếu không tò mò, mấy ai để ý bên nầy cầu là Saigon, bên kia cầu là Gia Định: Nhà cửa san sát, cái cao cái thấp, phần nhiều mới xây, nhà cũ mất dấu cũng không ít, hết hẽm nầy, tới hẽm kia, tìm ra địa chỉ gia đình tử sĩ phải chăm chú tìm đường, hỏi thăm, có khi phải tới ngay trụ sở phường…

Bởi vì làm công việc “báo tin dữ”, nên tôi biết nhiều con đường, và cả nhiều con hẽm nữa của “Saigon ngày nay”, và tôi có cái tên mới do các bạn cùng đơn vị đặt cho tôi: “Thổ công phía sau Saigon”. “Phía sau Saigon” là những xóm nhà lộn xộn, đằng sau những con đường lớn.

Saigon khác với Huế.

Huế gọi là “kiệt”. Saigon gọi là “hẽm”.

Huế có từ Kiệt 1 tới Kiệt 5, Kiệt 10 đã là nhiều. Saigon thì hàng trăm “con hẽm”.

Huế gọi là “trên”: Nhà số 5, “trên” 9 chẳng hạn, là đã tới chỗ tận cùng của kiệt.

Saigon khác, bởi vì Saigon là “thành phố quốc tế”: Tiếng Tầu, tiếng Tây, tiếng Anh trộn bậy với nhau khá buồn cười.

Đi xe Lam thì dùng tiếng Anh: “Tốp! tốp”. Là “Xì tốp” đấy. Khách đi xe lam, muốn xuống thì nói tiếng Anh với tài xế: “Tốp” (stop). Muốn ăn thì gọi “hủ tiếu”; muốn uống cà phê thì “Xí nại”, “xây chừng” là tiếng Tầu chớ gì. Tìm nhà trong hẽm thì gọi là “xiệc”: 5 “xiệc” 20, lại “xiệc” 19, v.v… “Xiệc” gốc là tiếng Tây: “sur”: 5 sur 20, sur 19. Mới tới Saigon thấy lạ, lâu ngày thành quen.

Nhà mấy “ông lớn” nằm ngay ngoài đường lớn, khỏi “xiệc”, tìm dễ lắm. Nhà lính tráng là nhà nghèo, dân lao động, thợ  thuyền, “buôn thúng bán mẹt”, phải trố mắt nhìn gần chục cái “xiệc” mới tới nơi. Có khi khóm phường ghi không rõ, người đi tìm phải đi quanh, không phải “năm phút đã về chốn cũ”, mất vài chục phút “lại về chốn cũ” là chuyện thường.

“Trăm hay không bằng tay quen”. Nhờ cái “quen” ấy tìm nhà cũng nhanh, tuy nhiên tôi cũng có lần kiếm hụt hơi.

Một lần tôi với tài xế Đãnh tìm một ông già, địa chỉ ghi rất gọn: “Phi trường Tân Sơn Nhất”.

Tử sĩ con ông già chắc không quan tâm lắm về nơi cư trú của thân phụ mình, nên anh ta, trong hồ sơ nhập ngũ, ghi đại khái như vậy. Đến phiên tôi đi tìm nhà, đâu có thể “đại khái” mà phải tìm cho được, để báo tin rằng “Con trai bác đã tử trận”. Rồi chờ…

Ông già góa vợ khi còn trẻ, “một cha một con” sống với nhau, cho đến khi người con trai, thấy mình cần đăng lính, sau khi bị thôi thúc vì câu hát của Lam Phương: “Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên”… Và “anh hãy nói khoác chiến y rồi.”

Tôi đi bộ gần như “đứt hơi” từ đầu tới cuối phi trường Tân Sơn Nhất, để hỏi thăm ông thân sinh tử sĩ; tôi mới biết thêm ông là nhân viên “Sở Quản Lý Phi Trường”. Đến ngay “Sở Quản Lý Phi Trường” cũng chẳng ai biết ông là ai vì “ở đây đông người lắm”. Phải tìm đến “ban phát lương”, bởi vì nếu ông ta có đi làm thì phải có lương.

Bấy giờ “bà Thủ Quỹ” mới cho hay rằng, người cha của anh lính tử trận của binh chủng tôi là một ông Tô Vũ của phi trường, thời kỳ đã có nhiều Boeng 727 lên xuống phi đạo.

Chắc chắc ông không phải là nhạc sĩ Tô Vũ của “Em đến thăm anh một chiều mưa”, “phục vụ đảng và bác ở ngoài Bắc”, đang ở ngay Hà Nội hay “sơ tán” máy bay Mỹ lên miền Trung du Bắc bộ; ông ta lại càng không phải là ông Tô Vũ bị rợ Hung Nô bắt làm con tin đời Hán Vũ Đế bên Tầu, mà chính là một ông già chăn dê cho phi trường. Chắc là mấy ông lớn “quản lý phi trường” khoái ăn thịt dê, đất phi trường thì rộng, tại sao họ không nuôi một bầy dê để có thịt dê mỗi khi tiệc tùng.

Hỏi “bà Thủ Quỹ” chăn dê ở đâu? Bà lắc đầu: “Thiếu úy tìm quanh phi trường thì gặp ổng. Ổng không cho dê ra khỏi phi trường đâu!” Vậy là tôi lại phải “một chiều lang thang” trong phi trường” không phải để xem “người đi, người tiễn”, hay “người chia tay nơi cuối đường” (băng) mà để đi tìm ông già chăn dê.

Hơn một giờ sau, “lội bộ rã giò”, mới gặp “ông Tô Vũ thời đại” gần Cổng Số 6 (?), chỗ gần Tổng Y Viện Cộng Hòa. Ông đang “thả dê” ăn ở đó; “thả dê” là tôi nói theo đúng nghĩa đen của hai tiếng nầy.

Báo tin cho ông già xong, tôi phải ngồi chờ ông khóc tỉ tê.

Ông không khóc òa như các mẹ, các chị. Ông khóc không thành tiếng, ông khóc thầm; không “thê thảm” như người đàn bà khóc con bị cọp vồ trong “Cổ Học Tinh Hoa”. Ngày trước, khi khóc vợ qua đời, ông cũng khóc thầm như thế chăng? Rồi bao nhiêu năm “gà trống nuôi con”, nếu có khi nào ông thấy thương cho người vợ chết sớm, “đầu gói tay ấp”, bên cạnh đứa con trai độc nhất, ông cũng khóc thầm như thế chăng?

Ngày trước ông khóc vợ, nay ông lại khóc con, cũng âm thầm như hồi ông khóc vợ. Có ai biết cho ông? Có ai thông cảm cho ông, một người cha vừa mới nghe tin con “mất ngoài chiến trường”. Ông ngồi dựa lưng vào cây bã đậu mà khóc! Ông không thấy đau khi những cái gai nhọn ở thân cây đâm vào lưng ông. Nỗi đau quá lớn trong lòng ông làm ông quên đi cái đau nơi thân thể ông rồi chăng?

Đứng chờ lâu mỏi chân, vả đi bộ nãy giờ, chân tôi cũng đã chồn, tôi cũng ngồi xuống dựa lưng vào một cây bã đậu bên cạnh.

Một lúc thật lâu, ông đứng dậy lùa bầy dê về chuồng, cách đó cũng khá xa.

Tôn trọng nỗi đau của người cha mất con, tôi lặng lẽ đi theo. Cho dê vô chuồng, khóa cửa lại, “việc công” xong rồi ông mới mời tôi về một cái chòi lợp tôn gần đó, để lo “việc tư”, để hỏi thăm về việc người con trai ông đã hy sinh, và hỏi thăm về việc chôn cất.

Dĩ nhiên, đó là một “kỷ niệm đời lính” khó quên cho tôi!

&

Công việc của tôi như thế. Bây giờ là lúc tìm nhà người mẹ tử sĩ.

Con hẽm bên cạnh trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt trên đường Đinh Tiên Hoàng, Gia Định, gần như đối diện với Lăng Ông Bà Chiểu là một con hẽm xa hun hút. Tôi có cảm tưởng như nó rẽ phải, rẽ trái rất nhiều lần, cuối cùng sẽ “đụng” với “đường Hàng Keo”, là một con đường nhỏ, chưa tráng nhựa, đối diện với Ty Canh Sát Gia Định trên đường Võ Tánh. Có phải xưa là “bót Hàng Keo” như người ta thường gọi?

“Kinh nghiệm” không sai. Theo địa chỉ, tôi phải đi qua bao nhiêu cái “xiệc”. “Tin tức đầu tiên” khi hỏi người trong hẽm, mới hay rằng đó là một “bà già Tầu” trên năm mươi tuổi, “một mẹ một con”, con đăng lính, mẹ ở một mình. Đây không hẳn là một bà “mẹ Việt Nam” như kiểu cục Tâm Lý Chiến tuyên truyền, mà chính là một “bà mẹ Tầu” có con đi lính Việt Nam, chống “tay sai Tầu Cộng”. Nói vậy cho đúng bài bản.

“Tin tức thứ hai”, bà vốn dĩ gốc Tàu Chợ Lớn, “yêu” một người Việt Nam, bị gia đình cấm cản. Đó cũng là “chuyện thường tình”, như dân chúng từng nghe. Đến khi có bầu, bà theo người chồng Việt Nam về ở xóm nầy; chưa được bao lâu, người chồng tử nạn xe lửa; “sinh nghề tử nghiệp”, người chồng là công nhân hỏa xa.

Bà cũng đành ở vậy, nuôi con, không tìm về Chợ Lớn, nhà cũ, cha mẹ ruột, vì cha mẹ đã từ con. Người con trai lớn lên, giống như thanh niên cùng xóm, mười tám tuổi, anh đăng lính mũ đen. Lính mũ đen là lính Thiết Giáp. Hơn nửa năm sau, anh “hy sinh trên chiến trường Kamphuchia”. Anh ta đúng là một con người “quốc tế”: Cha Việt, mẹ Tầu, chết ở Kam-pu-chia. May mà chưa có vợ Tây hay vợ Mỹ.

Tôi giả bộ đi chầm chậm qua căn nhà tôn nhỏ, nơi bà sinh sống một mình, tự hỏi lòng: “Làm sao mà báo tin cho bà đây?” vì chắc chắn bà thương con lắm. Nghe tin con tử trận, chết giả hay bất tĩnh là việc dễ xảy ra.

Và bà già Tầu ngất xỉu thật, sau khi bà hỏi lại tôi một lần nữa về tin người con trai bà: “Nó “chiếc” dzồi a?”

Nhưng rồi bà tỉnh lại ngay, chụp ngay con dao để bên cạnh, giáng lên cao và… chém tôi, kèm theo một câu chưởi: “Cha cái “xằng Xiệu” giết con… ngộ.”

Tôi không kịp hay cố nghe cho rõ tiếng cuối “ngô” hay “ngộ” hay gì đó. Tôi bước lui vài bước thật nhanh, có tạo một khoảng, tin chắc con dao bà cầm chém không tới… tôi.

Rồi bà già Tầu khóc, khóc to, bà la to lên, chưởi mắng ai đó tôi không nghe rõ; rồi bà té xuống đất, lại ngồi lên, lại tiếp tục chưởi “xằng Xiệu”. Bà chưởi tổng thống đấy…

Nhìn cảnh ấy, tôi nói với tài xế Chính, đứng bên tôi, mặt cũng tái xanh đi, không phải vì sợ, mà có lẽ vì ngạc nhiên, vì thấy lạ, một cảnh anh ta chưa từng gặp. Tôi nói: “Bà điên rồi mầy ơi! Bà điên rồi.”

Nghe tiếng tôi, Chính hơi bình tĩnh trở lại, hỏi tôi:

-“Làm sao thiếu úy, bây giờ làm sao?”

Trí tôi cũng chưa ổn định hẳn, tôi trả lời:

-“Cũng không biết làm sao?”

Binh thư của trường Bộ Binh chỉ dạy tôi nhiệm vụ của một trung đội trưởng. Binh thư trường Thiết Giáp dạy tôi về “Thiết Quân Vận” M-113, xe tăng M-41, và đội hình hành quân, tấn công; binh thư cục Tâm Lý Chiến không có mục nầy. Tôi phải tự mình xoay xở lấy, không phải để “đối đầu với địch” mà ứng xử tốt đẹp với… đồng bào tôi như lời trung tá Mậu dặn dò.

&

Mấy người hàng xóm chạy lại. Có người vỗ vỗ nhẹ vào má bà già Tầu, có lẽ muốn cho bà tỉnh lạị, có người la to: “Lấy chai dầu…” Có lẽ họ muốn xức dầu cho bà. Rồi họ làm gì đó, tôi không thấy rõ. Đúng là “tình Chòm Xóm”. Tình nầy không có ở… Mỹ.

Có vẽ như việc bà bị ngất đi, bà bị điên, không có gì nghiêm trọng. Chưa ai biết bà vừa nhận tin con trai bà tử trận. Hồi nãy, trên con đường đi hỏi nhà để vào đây, tôi “giữ kín miệng”. Kinh nghiệm dạy tôi như thế, “không nói với ai về tin người tử trận, trước khi báo cho gia đình.”

Yên tâm như thế, tôi quay lui, đi ra đầu ngõ. Chính đi kế bên tôi, hỏi liên tiếp:

-“Làm sao thiếu úy? Làm sao bây giờ?”

Tôi không trả lời, lầm lũi đi. Đến kề bên cổng trường, tôi ngồi xuống cái ghế nhỏ của một quán “càphê cóc”. Chính cũng ngồi xuống. Tôi và anh ta không ai gọi gì. Cô gái bán quán đứng chờ bên cạnh. Tôi đưa tay ra dấu biểu chờ, cô ta bỏ đi vào trong.

Một lúc sau, tôi nói với Chính:

-“Chờ một chút, tìm cách nào gặp bà!”

Chính nói:

-“Hồi nãy có mấy bà hàng xóm, thiếu úy không nói luôn đi.”

-“Đâu được! Thấy mặt mình, bà xỉu nữa là mệt chết đó.”

Nói với Chính câu đó là tôi nhớ một chuyện cũ. Hồi tôi còn đi học, anh Trương, hàng xóm, thường qua chơi với tôi. Anh kể, nhà quen có nuôi một con khỉ. Anh ấy hay chọc ghẹo và cho khỉ ăn vặt. Một hôm, anh đập chết một con rắn. Tinh nghịch, anh gói con rắn trong tờ giấy báo, đem cho khỉ. Con khỉ tưởng là đồ ăn, kêu cheng chéc, cầm chắc trong tay, rồi mở tờ giấy báo ra. Thấy con rắn, con khỉ nắm tay lại, chết giấc. Đến khi con khỉ tỉnh lại, mở mắt ra, lại thấy con rắn trong tay, lại chết giấc lần nữa. Tôi không biết chuyện anh ấy kể thật hay đùa, nhưng tôi thấy vui và nhớ mãi.

Bây giờ cũng vậy. Nghe tin tôi nói, “bà mẹ Tầu” chết giấc. Nếu tỉnh lại, lại thấy tôi, chắc gì bà ấy không chết giấc lần nữa. Chuyện thiệt hay giả, tôi tránh mặt “bà mẹ Tầu” là hay nhất, suy nghĩ một chút rồi tính sau.

Một lúc sau, tôi hỏi Chính:

-“Khu vực nầy chắc thuộc xã Bình Hòa?”

-“Đúng rồi, hôm trước, em tới trụ sở xã một lần.”

-“Xe để đâu?” Tôi lại hỏi.

-“Em gởi tại Cảnh Sát.” Chính trả lời.

-“Cứ để đó đi. Mình tới trụ sở xã, phải nhờ địa phương.”

Tôi đứng dậy, Chính đi theo, đến trụ sở xã phía chợ Bà Chiểu.

Ông phó xã trưởng nói, sau khi nghe tôi bày tỏ ý kiến nhờ báo tin cho “bà già Tầu”: “Phải xuống khóm. Xã nầy dân đông lắm, chỉ thua Phú Nhuận. Khóm họ gần dân hơn.”

Rồi ông ta hăng hái đi trước, đến trụ sở khóm. Phải chờ hơn nửa tiếng đồng hồ, anh trung sĩ khóm trưởng mới về tới nơi. Tôi đoán chừng trường hợp của anh ta. Anh trung sĩ, có một cái dù ông lớn nào đó, được biệt phái về làm khóm trưởng ở đây, mỗi ngày tà tà lui tới với khóm, xa súng đạn, giữ được chữ “thọ” cho bản thân. Không rõ vì bản tính hay vì muốn lập công, anh ta hết lòng giúp tôi.

Anh đến gặp “bà mẹ Tầu”, lúc chòm xóm còn ngồi đứng quanh bà, báo tin và an ủi; xong anh cho người gọi tôi vào, để tôi “chia buồn”, hỏi bà có yêu cầu gì cho đám ma người con trai.

Tôi nghiệp “bà mẹ Tầu”, bà chẳng xin xỏ, đòi hỏi gì hết, bà chẳng biết gì về việc lo chôn cất con trai bà, chỉ sớm mai, đón bà lên nghĩa trang, cho bà “bịt khăn cho con”, và chứng kiến cảnh hạ huyệt. “Năm hết tết đến”, bà mẹ Tầu cũng như các ông bà hàng xóm, theo phong tục của người Việt, “không để đám ra ngoài năm.”

Tôi hẹn với “bà mẹ Tầu”, sáng mai, tôi đến để đón bà lên nghĩa trang. Các bà hàng xóm cũng muốn đi đám, tôi hứa sẽ có một xe Dodge đưa các bà đi và về.

Trước khi ra về, tôi gặp riêng ông trung sĩ khóm trưởng, hỏi:

-“Tình hình an ninh ở đây có yên không?”

-“Tình hình an ninh” là cái gì?” Ông trung sĩ hỏi lại.

-“Bây giờ người ta hay biểu tình “đả đảo”, “hoan hô”, nhất là đám “phản chiến”, “thành phần thứ ba”, bọn chúng có lợi dụng hoàn cảnh “bà mẹ Tầu” để làm gì không?”

-“Không! Ở đây không ai theo họ!” Ông trung sĩ nói chắc.

-“Hồi nãy tôi quên hỏi, “bà Tầu” có mời sư sãi nào không? Cần thì ở nghĩa trang có mấy ông tuyên úy. Đạo nào cũng có.”

-“Không đâu!” Nói xong, ông trung sĩ đổi ý. “Hay thiếu úy mời một ông “tuyên úy Phật giáo”. Khóm nầy cũng có nhiều bà hay đi chùa!”

-“Được! Có thôi. Cũng nên có một thầy cho lễ an táng, kinh kệ thêm nghiêm trang, “đủ lệ bộ”. Tôi trả lời.

Một lúc, tôi lại hỏi:

-“Vậy Nguyễn Thị Trừ thì sao?”

-“Nguyễn thị Trừ nào?” Ông trung sĩ hỏi, vẻ ngạc nhiên.

-“Ni sư Huỳnh Liên đó! Bả “nằm vạ” hoài, mấy lần tôi bị kẹt xe. Chùa bả gần đây nè! Bả tới mấy hồi.”

-“Ở đây không ai hoan hô bả đâu. Láng cháng dân người ta đuổi bà đi, không cần cảnh sát của đại tá Đệ.”

-“Bà nhà quê đó, bị tụi nó lợi dụng. Tôi nghĩ bả không có trình độ hiểu biết gì đâu, ngoài mấy cuốn kinh Phật. Tôn giáo mà cũng xông ra làm chính trị. Khỉ thật.”

Chính hỏi tôi:

-“Thiếu úy gọi Nguyễn thị Trừ nên khóm trưởng không hiểu.”

-“Tôi gọi xách mé chơi, “không ưa được”. Người ta đang đánh giặc ngoài mặt trận, chết sống từng giây, đám phản chiến ở nhà quậy cho đã, thiệt không có lương tâm gì cả.”

&

Nói xong, tôi đi qua hướng Cuộc Cảnh Sát Bình Hòa để lấy xe. Vừa ngồi lên ghế xong, tôi nói với tài xế Chính:

-“Trễ rồi, xe của Thiết Đoàn 16 chắc về tới nghĩa trang, mình lên đó ngay.

-“Kiếm ổ bánh mì thiếu úy. Em đói rồi.” Tài xế Chính nói.

-“Coi chỗ nào có xe bánh mì thì tấp vô.” Tôi trả lời.

&

Sáng hôm sau, sau khi đến “Trung Đội Chung Sự” làm việc với toán an táng, xem huyệt và kim tỉnh xong, tôi về lại đơn vị tôi, rồi cùng mấy người nữa đi đến nhà “bà mẹ Tầu”.

Sáng sớm, tôi nói với đại úy Trang, trưởng phòng xã hội: “Cô gọi Phòng Tư cấp xe cho cô. Xe của phòng tôi phải xử dụng một mình.” Thường chúng tôi dùng chung một xe mỗi khi đi công tác chung.

Nói như vậy là tôi có chủ ý. Tôi không muốn “bà mẹ Tầu” đi chung xe Dodge với những người khác. Ít ra, cũng phải trân trọng bà một chút. Một đời nuôi con gian khổ, nay con tử trận, đem xe Jeep đến đón bà an táng cho con là một “đãi ngộ” quá ít ỏi đối với công ơn của người mẹ. Còn như “trợ cấp tổ phụ” có Phòng Xã Hội lo, không phải việc của tôi.

Khi tôi tới nhà “bà mẹ Tầu” mọi người tụ họp đã đông. Tôi vào nhà, chào bà và mọi người xong thì mời họ lên xe. Các bà cùng xóm đã lo xong một mâm lễ gồm hoa trái, nhang đèn… Tài xế Chính vội bưng lên để trên xe Dodge, và mời mọi người lên xe Dodge cùng với khóm trưởng.

Thấy “bà mẹ Tầu” loay hoay tính lên xe Dodge, tôi nói với bà ấy: “Tôi đưa bà đi”, rồi chỉ tay về phía chiếc xe Jeep. Bà hơi ngạc nhiên, rồi vội vã đi tới phía xe. Tôi lại nghĩ thầm: “Một lần rồi thôi”. Sau nầy, chẳng còn ai đưa đón bà như thế nầy đâu. Cuộc đời nầy bạc bẽo thật, trong cả tình người, không chỉ trong việc trai gái yêu nhau bỏ nhau mà thôi.

Hôm ấy, tôi để ý thấy có một cô gái còn trẻ, người hôm qua tôi không thấy. Cô đứng sát bên “bà mẹ Tầu”, mặt còn dấu đẫm nước mắt. Hình như cô ta vừa hết khóc khi thấy chúng tôi tới nơi. Không ai giới thiệu với tôi cô ấy là ai. Chắc không phải là vợ vì “hồ sơ quân bạ” của tử sĩ tôi xin ở “Phòng Một” ghi anh ấy còn độc thân. Vậy thì ai? Một người bà con, một người bạn học, một “cô láng giềng” hay một “em gái hậu phương”. Rồi loay hoay công việc, tôi bỏ qua cái thắc mắc ấy. Khi lên xe, tôi thấy cô theo sát “bà mẹ Tầu”, tôi bèn mời cô lên ngồi ghế sau cùng tài xế Chính. Bữa đó, tôi đích thân lái xe đưa “bà mẹ Tầu” lên nghĩa trang.

Trong nhà quàn, một dãy dài hơn mười cái quan tài phủ cờ nằm song song với nhau, trong cái không khí ảm đảm của nơi làm đám ma. Có mấy người đang ngồi khóc quanh một cái quan tài ở phía xa. Nhờ buổi sáng tôi đã lên đây trước, tôi biết “chỗ” của người con trai “bà mẹ Tầu”. Tôi dừng lại trước quan tài anh ta. “Bà mẹ Tầu” hiểu là con bà trong nằm trong đó, bà khóc nức nở: “Con ôi! Con bỏ má mà đi…”  Cô gái cũng ngồi sụp xuống bên cạnh “bà mẹ Tầu” khóc theo.

Tôi đưa hàm răng trên cắn nhẹ vào môi dưới để nước mắt tôi khỏi chảy xuống theo tiếng khóc của hai người đàn bà. Thấy ông trung sĩ khóm trưởng cùng vài ông già lo đặt lễ và bịt khăn cho “bà mẹ Tầu”, tôi lặng lẽ đi ra sân. Vốn dĩ biết mình dễ xúc động, tôi tránh cái khung cảnh đau đớn nầy.

Sau khi mọi lễ lược xong, đạo tì đưa quan tài ra huyệt. “Bà mẹ Tầu” vẫn khóc nức nở, nhưng may mắn, bà không bị ngất xỉu như ngày hôm qua. Cô gái ấy đi theo, tay nắm vào cánh tay “bà mẹ Tầu”, đỡ bà đi theo quan tài.

Cô ấy khóc và mọi người cùng khóc.

Tôi đi sau cùng, bâng khuâng nghĩ tới mấy câu thơ của Huy Cận: “Kẻo thân đau chưa quen nệm giường đời. Ai đi đưa xin đưa đến tận nơi. Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi. Người đã chết một vài ba đầu cúi.”

Không phải “một vài ba đầu cúi”. Ai cũng cúi đầu và ngậm ngùi, kẻ khóc nho nhỏ, người khóc to.

&

Ba ngày sau, là ngày “ba mươi tết”, cũng là ngày cúng “mở cửa mả” cho người chết, theo phong tục người Việt Nam.

Hôm qua, tôi báo cáo với trung tá Mậu: “Tôi đem xe đưa bà lên nghĩa trang một lần nữa, kẻo tội nghiệp “bà mẹ Tầu”; con chết rồi, một thân một mình, không ai giúp đỡ.”

Khoảng mười giờ sáng, tôi đưa “bà mẹ Tầu” tới nghĩa trang. Cô gái hôm trước, hôm nay cũng đi theo. Cô gọi “bà mẹ Tầu” bằng “má”, khiến tôi hơi ngạc nhiên.

Sau khi cúng xong, cô gái mời mấy người lính ở nghĩa trang “dùng cơm”, tức là dùng các “đồ cúng” họ mang lên hôm đó. Trong khi mấy anh lính “ăn nhậu” vui vẻ, “bà mẹ Tầu” ngồi nhìn họ có vẻ trìu mến. Vì thương con nên bà thương những người lính trẻ nầy bằng tuổi con bà, tôi nghĩ vậy. Tôi không ngồi chung với mấy người ấy; vẫn với thói quen, tôi ngồi ngoài sân. Trung úy trung đội trưởng “Trung Đội Chung Sự” ngồi bên cạnh tôi nói chuyện bâng quơ. Thấy cô gái đi ngang, tôi gọi lại, dặn vài điều. Tôi nói:

-“Bữa nay tết rồi, các nơi đều nghỉ hết. Cỡ sau tết ít hôm, đơn vị của anh Nghĩa – tên của tử sĩ – họ sẽ gởi giấy tờ về để lập hồ sơ “trợ cấp tổ phụ” cho bà cụ. Cô có rảnh, giúp bà cụ điền các thứ giấy tờ được không?”

-“Được chớ.” Cô ấy trả lời.

Tôi nói tiếp:

-“Giấy tờ đôi khi có chỗ khó hiểu. Cô có thể vô đơn vị tôi, hỏi cô đại úy Trang, hay cô Thanh Nhàn, các cô giúp đỡ cho.”

-“Được. Tôi biết chỗ thiếu úy làm việc.”

-“Cám ơn”. Rồi tôi nói tiếp. “Đúng ra thì cô có “trợ cấp quả phụ”, nhưng bởi anh ấy khai còn độc thân nên chỉ có “trợ cấp tổ phụ” thôi.

Câu trả lời làm tôi chưng hửng:

-“Tôi có phải là vợ anh ấy đâu!”

Tôi vội nói:

-“Xin lỗi. Thấy cô gọi bà ấy bằng “má” nên tôi hiểu lầm.

-“Không có gì đâu. Từ nhỏ, tôi coi bà như má tôi.”

-“Vậy cô là hàng xóm anh ấy hay, xin lỗi, hơi tò mò một chút, “hai người có yêu nhau?” Tôi nói.

-“Chòm xóm thì có, nhưng người yêu thì không, bởi vì anh ấy đâu có yêu tôi hay yêu ai!” Cô gái trả lời.

-“Yêu ai cũng không, yêu cô cũng không. Vậy chắc cô là “em gái hậu phương” của anh ấy.” Tôi lại tò mò.

-“Cái đó cũng không luôn.” Cô gái trả lời, hơi mĩm cười.

-“Anh ấy không yêu cô nên cô không làm vợ anh ấy?” Tôi lại hỏi.

-“Cũng không thiếu úy à. Lấy chồng nghèo cực lắm. Nhà anh ấy chỉ một mẹ một con, làm sao mà giàu?” Cô gái trả lời, vẻ ngậm ngùi.

-“Lại tò mò một chút nghe! Chắc cô lấy chồng giàu?” Tôi hỏi.

-“Thiếu úy biết tôi sợ nghèo! Chồng tôi là một “chú ba Tầu giàu” trong Chợ Lớn.” Một lúc sau, cô ta lại nói: “Nói cho đúng, anh Nghĩa mới là người tôi yêu!” Cô ta nói, mắt nhìn ra xa ngoài đường lộ, hơi có vẻ đăm chiêu.

-“Cô có vẻ rắc rối đó. Tôi xin lỗi.” Trung úy trung đội trưởng ngồi bên tôi, góp ý vô.

-“Có gì đâu! Chồng tôi là “lính kiểng”. Anh có cái giấy phép 15 ngày đổi một lần. Một hôm, đang đi với tôi, gặp Quân Cảnh hỏi giấy, mặt anh tái mét, sợ líu lưỡi, nói không ra hơi. Anh Nghĩa thì khác, mặc đồ lính vô, tướng anh ấy ngon lành ghê! Các anh nghĩ, con gái như bọn chúng tôi, “thần tượng” ai chớ. Đời không như mình nghĩ.”

Khi ấy có tiếng gọi của “bà mẹ Tầu”, cô ta “dạ” rồi quay quả đi vô phía trong.

Một lúc sau, cô gái đi ra, nói với tôi:

-“Mẹ anh Nghĩa xin gặp “ông tổng thống.”

Chết cha! Tôi nhớ câu trung tá Mậu dặn dò hôm bắt đầu giao việc cho tôi. “Thân nhân người ta thưa lên tới tổng thống.” Tôi có làm gì sai để “bà mẹ Tầu” đòi thưa lên tới tổng thống đây. Tôi vội hỏi lại:

-“Có chi quan trọng không?”

Cô gái cười:

-“Hình như bữa hổm bà chưởi tổng thống. Bà hối hận. Chắc bà muốn xin lỗi.”

Tôi hoàn hồn. May! Tôi không có lỗi chi. Tôi nói:

-“Cô nói giúp với bà. Ông tổng thống không chấp nhất gì đâu. Ông cũng thương lính, thương các bà mẹ lính vậy mà.”

Bỗng “bà mẹ Tầu” từ phía trong đi ra, tới chỗ tôi, bà ngồi thụp xuống, chấp tay lạy tôi, khóc, nói: “Tui có tội, tui có tội.”

Tôi vội vàng đứng dậy, cùng cô gái nâng bà đứng lên. Tôi nói với cô gái:

-“Cô nói giúp với bà ấy đi. Không có gì đâu. Tổng thống là người cao thượng mà, ông có trách chi.”

Cô gái nói lại với bà ta. Có vẻ như bà yên tâm hơn.

Tôi nói với trung úy trung đội trưởng và cô gái: “Bữa đó tui nghe, chớ tổng thống đâu có ở đó mà nghe. Ông không biết đâu!”

Bà di vô phía trong, chắc để chuẩn bị về.

Đang ngồi chờ, ông trung úy trung đội trưởng nhìn tôi, nói, giọng không vui: “Thiếu úy nhớ câu cô ta nói không. “Đời không như mình nghĩ.” Cô ta yêu một người hùng, nhưng lại sợ cho người đi giữa súng đạn, đành phải lấy một “thùng nước lèo”. Tội nghiệp cô ta nhỉ!

hoànglonghải

Như vậy cũng nên mừng!

Đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Mới đây trên báo mạng, tui thấy nhà độc tài đương đại của nước Nga là Vladimir Putin, trong khi chờ họp với Tập Cận Bình của Trung quốc, nổi hứng bất tử, ngồi xuống trước chiếc dương cầm, chơi một bản nhạc du dương để chứng tỏ mình cũng là một con người tình cảm, yêu văn nghệ, văn gừng.

Các nhà độc tài khát máu đều diễn kịch y hịt như nhau đó thôi! Stalin hồi xưa cũng y chang như vậy!

Một hôm, Stalin đến dự đến dự liên hoan phim hài toàn Liên Xô. Stalin xem phim khoái chí quá, cười toe toét, tuyên bố: “À! Ta thích vở hài kịch nầy lắm nhưng có tên hề để ria mép giống hệt như ria mép của ta. Hãy xử bắn hắn!”

Tất cả đều sững sờ đến không nói nổi nên lời!

Cuối cùng có một diễn viên, với lòng nhân hậu, lấy hết can đảm, rụt rè đưa ý kiến: “Đồng chí Stalin! Hay là để anh ấy cạo sạch hàng ria mép đó?”

Stalin đáp “Đúng là một ý kiến hay! Hãy cạo ria mép nó trước; rồi bắn nó sau!”

Với thường dân, Stalin cư xử tàn ác, coi mạng người như rơm, như rác nên ngay những đồng chí cấp cao trong đảng dù có quyền lực không thua kém nhà độc tài thép nầy bao nhiêu, dẫu bực bội, cũng chỉ dám nói lén sau lưng mà thôi!

Chuyện rằng: Một nữ thư ký đang đứng chờ ngoài cửa. Thống chế Zhukov sau khi họp với Stalin bước ra.

Cô nghe hắn ta lẩm bẩm: “Thằng ria mép giết người!” bèn hào hển chạy vào báo cáo với Stalin rằng: “Tôi vừa nghe Zhukov nói: “Thằng ria mép giết người”.”

Zhukoz được gọi trở vào. Stalin cật vấn: “Đồng chí Zhukov nghĩ tới ai khi nói “Thằng ria mép giết người vậy?” Zhukov trả lời: “Dĩ nhiên là tôi nghĩ tới Hitler.”

Stalin cho Zhukov lui ra; rồi gọi viên nữ thư ký vào cật vấn:

“Như vậy theo đồng chí “Thằng ria mép giết người” là ai vậy?”

Zhukov nhạy bén nên thoát chết trong đường tơ kẽ tóc nhưng tay Bí thơ thành ủy Leningrad thì phần số hẩm hiu hơn nhiều!

Sergei Mironovich Kostrikov sinh ngày 27, tháng Ba, năm 1886, trong một gia đình nghèo, có tới 7 anh em. Bốn đứa chết khi hãy còn niên thiếu.

Miron, cha của Kostrikov, là một tên nghiện rượu bê tha đã bỏ gia đình từ năm 1890. (Tương tự như cha của Stalin cũng nghiện rượu! Sao cha của mấy lãnh tụ đảng CS Liên Xô ai cũng nhậu hết ráo vậy hở Trời?”)

Yekaterina, mẹ của Kostrikov chết vì bịnh lao năm 1893. Kostrikov bị gởi vô Trại Mồ côi.

Năm 1901, nhờ học bổng của các nhà hảo tâm, Kostrikov tốt nghiệp kỹ sư ở Kazan. Năm 1904, Kostrikov thù đời thời thơ ấu nên theo CS, tham gia cuộc Cách mạng năm 1905.

Năm 1906, Kostrikov đổi tên thành Kirov cho đồng đảng dễ nhớ, dễ hoan hô giống như Stalin vậy!

Sau cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Kirov tham gia vào cuộc nội chiến tới năm 1920, tàn ác cũng không thua gì Stalin, đã xử bắn một nhà tư sản Nga về tội tẩu tán tài sản. Tổng cộng hơn 4000 dân Nga phản động đã bị Kirov ra lịnh giết.

Kirov vẫn ủng hộ Stalin một cách mạnh mẽ cho dù chánh sách Nông trường tập thể của Stalin đề ra bị thất bại thảm hại khiến hơn 7 triệu người chết đói!

Kirov được Stalin tưởng thưởng cho lòng trung thành bằng chức Bí thơ Thành ủy Leningrad.

Kirov thích sống xa hoa và một tay mạnh rượu; uống như hũ chìm, ăn nói bổ bả; ngay cả chửi thề trước công chúng nên được các đồng chí đại biểu đảng ta ưa thích hơn là phải sống hầm hè, sống khắc khổ kiểu Stalin.

Năm 1934, uy tín trong đảng ngày một tăng, Kirov được bầu vào Trung ương đảng với một số phiếu rất cao. Cao hơn cả Stalin. Điều nầy làm Stalin không hài lòng.

Chuyện gì tới là phải tới! Stalin ra lịnh cho Trùm Mật vụ Yagoda tiến hành việc mưu sát Kirov để diệt trừ hậu hoạ.

Leonid Nikolayev, một đảng viên CS bị khai trừ, hậu quả là thất nghiệp, làm vợ con phải nheo nhóc!

Có lần Nikolayev nói với người bạn thân là y muốn giết tên cầm đầu đảng bộ đã tước đảng tịch, làm y phải thân tàn ma dại đến nông nỗi nầy.

Tên bạn quý nầy đi mật báo và bọn Mật vụ đã chọn Nikolayev làm sát thủ.

Nikolayev được trả tiền, được cấp cho một khẩu súng lục 7.62 mm.

Chiều ngày 1, tháng 12, năm 1934, Nikolayev ung dung lận súng lên lầu ba, văn phòng Thành ủy, mà không bị nhân viên an ninh nào ngăn lại!

Kirov bước vào hành lang vượt qua Nikolayev để quẹo vào lối khác; Nikolayev liền rút khẩu súng lục giấu trong người ra, bắn vào phía sau ót của Kirov.

Ra Tòa, Nikolayev nhận là sát thủ theo lệnh của bọn Phát xít phản động nước ngoài, ám chỉ Đức quốc xã của Hitler.

Nikolayev bị xử bắn đêm 29, tháng 12, năm 1934. Mẹ, anh, chị, em, bà con nội ngoại đều bị xử tử hay phải đi đày. Giống như ‘tru di tam tộc’ thời phong kiến bên Tàu.

Tất cả mọi người liên quan dù ít hay nhiều đến cuộc ám sát nầy đều bị Stalin ra lịnh xử bắn để hầu xóa tan hết mọi dấu vết! Sát nhân diệt khẩu!

Kirov được chôn tại Nghĩa trang tường Điện Kremlin trong một lễ quốc tang. Đích thân Stalin là một trong những người khiêng quan tài.

Vụ án Kirov đã được Stalin lợi dụng làm cái cớ để thanh trừng toàn bộ hệ thống đảng CS Liên Xô.

Hồng quân Liên Xô có 103 vị tướng thì 81 bị xử tử. Có 93 trên tổng số 139 Ủy viên Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô bị xử bắn. Chừng một phần ba trong số 3 triệu đảng viên ở Liên Xô bị giết trong giai đoạn 1934-1938.

Tuy vậy, người dân Nga bình thường nhứt là mấy cụ già đã quá chán ngán sống trong cái thiên đường XHCN khủng bố, đầy chết chóc nầy, cũng tìm cách khuây khỏa bằng những chuyện đùa! Dẫu biết chọc quê lãnh tụ là giỡn mặt tử thần; là chơi dại, kéo đuôi một con cọp!

Chuyện rằng: Một cụ bà phải đợi tới 2 tiếng đồng hồ mới được lên xe bus. Xe bus đầy nhóc hành khách; mãi lúc lâu bà cụ mới chen được vào, bèn cảm thán: “Xin tạ ơn Thượng Đế!”

Viên tài xế xe bus nghe vậy, bèn sửa lưng: “Má ơi! Không nên nói thế! Má phải nói là: Xin tạ ơn đồng chí Stalin!”

Bà cụ bèn đáp lại: “Xin đồng chí lái xe tha lỗi cho tôi! Già nầy từ rày về sau sẽ nói y như đồng chí đã dạy bảo! “

Nhưng lỡ có ngày nào đó đồng chí Stalin từ trần thì Già phải nói làm sao?”

“À! Lúc đó thì Má nói: Xin tạ ơn Thượng đế!”

***

Thế đấy cuộc thanh trừng trong đảng CS Liên Xô đàn anh đầy sắt máu; còn cuộc thanh trừng trong đảng CS VN mới đây chỉ là chuyện nhỏ. Chuyện ném chuột mà không bị vỡ cái bình mà thôi!

Sài Gòn bây giờ trời mưa hay nắng? Sài Gòn bây giờ ai khóc thương ai?

Hỏi vậy chơi thôi chớ khi Đinh La Thăng đi rồi, không người dân ngu khu đen Sài Gòn nào khóc thương gì hết ráo mà còn kháo nhau cho đáng đời… Tội của chú em mầy vô cái đất nầy đây… dân thường ăn ngay nói thật, mà chú em mầy lại ưa nổ… sảng!

Đi vớt lục bình cũng lên báo, phán vài lời ba xạo về cái vụ đập vỉa hè cũng lên báo! Đám bồi bút  cứ chực chờ mỗi lần Thăng phun ra cái gì đó, hỏng biết đúng hay sai; hay hay dỡ cũng cũngđồng loạt ‘ca’: “Sướng quá!” (?!)

Giờ thì người ta không còn nhận ra được Bí thư Thăng, vì cái mặt như cái bánh bao chiều! Hình ảnh chém gió, nói văng bọt mép mới đây thôi; giờ chìm lỉm trong mù khơi dĩ vãng!

Nói nào ngay Đinh La Thăng cũng chịu chơi và chịu chi và chi rất sộp (tiền của dân đóng thuế) để cho đám đệ tử nầy tung hô, nịnh bợ. Hỏng lì xì, hỏng ăn cơm chúa bảo múa tối ngày, ai mà chịu hè?

Dân Sài Gòn tò mò có, hả hê có, cũng muốn biết Đinh La Thăng bị thanh trừng tới mức nào. Có vô hộp hay không?

Sau khi bị đuổi ra khỏi Bộ Chính trị, cách chức Bí thư thành ủy, Thăng bước đầu chỉ bị hạ tầng công tác, về làm Phó ban Kinh tế Trung ương, ngồi chơi xơi nước.

Đám đệ tử, nói nào ngay, cũng còn chút tình nghĩa từng ăn nhậu với nhau, mừng dùm: “Anh Thăng hạ cánh an toàn”. Anh Thăng thoát tội rồi! “

(Tội đây là khi làm xếp của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam! Lúc giá dầu lên ào ào hơn cả 100 đô Mỹ một thùng; Thăng tưởng chính mình trúng số nên xài tá lả chỉ chừng 9 tỷ đô Mỹ mà thôi?)

Chuyện đó ắt vậy rồi! Vì đảng thả một bầy chuột, mà con chuột cống là Đinh La Thăng vô hũ nếp rồi kêu nó hỏng ăn cạn khạp luôn sao được hè?

Margaret Thatcher, Bà đầm thép, Cố Thủ tướng của nước Anh, đã từng nói: “Vấn đề của chủ nghĩa xã hội là đến một lúc nào đó một số ít người sẽ tiêu hết tiền của số đông còn lại!”

“The problem with socialism is that you eventually run out of other people’s money.”

Dân Hà Nội xót của, đồng tiền liền khúc ruột, nên cự nự: “9 tỷ đô Mỹ! Đâu phải giấy tiền vàng bạc mà xử chìm xuồng, nhẹ nhàng như vậy chớ?”

Thì Chúa đảng Tàu Ô trả lời rằng: “Hạ tầng công tác Đinh La Thăng mới chỉ về mặt đảng, còn hình sự ta đang làm”.

Muốn vậy là phải khai trừ đảng, phải bãi miễn chức Đại biểu Quốc hội, tước ‘quyền bất khả xâm phạm’ thì mới phải ra vành móng ngựa, làm bị cáo!

Bà con kháo nhau rằng: Đinh La Thăng có thể là Bạc Hy Lai, Bí thư Trùng Khánh, bị Tập Cận Bình, năm 2012, nhốt đến chung thân.

Dẫu Thăng đã ngoan ngoãn chịu nằm xuống cho mấy anh mình đét đít. Xong đứng dậy, còn khoanh tay xin lỗi đảng ta, xin lỗi đồng chí rồi mới xin lỗi đồng bào?! Có người cho vậy là ‘láo’. Phải xin lỗi ‘đồng tiền’, rồi xin lỗi ‘đồng bào’ mới phải; vì “Dân vi quý! Xã tắc thứ chi” mà!

Thôi bắt khoan bắt nhặt mà chi! Hồi nào hét ra lửa mữa ra khói giờ bị đét đít, còn bị làm quê ‘xệ’ trước toàn thể bá quan văn võ như vậy là nhục quá xá… rồi còn gì?

Có thể Đinh La Thăng đã buồn nào hơn đêm nay khi gió loạn ngoài Trời, khi bị bứng đi khỏi cái đất Sài Gòn như bị đuổi tà! Thậm chí không có được một bữa nhậu chia tay ‘đồng bào, đồng chí miền Nam’ Hu hu!

Tui lại cho rằng Thăng bị ‘đét đít’ sơ sơ như vậy cũng nên mừng! Chớ như bên Liên Xô, thời Stalin, là chết chắc, chết ngắc như Sergei Kirov chớ hỏng phải chuyện giỡn chơi!

Đoàn xuân thu

Melbourne

Nhớ Nguyễn Phương!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Biên khảo cần chánh xác như cách viết của nhà văn Sơn Nam.

Ông không trích dẫn lòng vòng lẩn quẩn, không có lối ra như con kiến bò quanh miệng chén. Và do đó “nguồn” là cái quan trọng nhất, nghĩa là từ người đầu tiên được trích dẫn.

Tôi đọc được những bài biên khảo về cải lương của miền Nam, nhưng trích dẫn lại từ tài liệu của người Bắc 75 viết.

Muốn trích dẫn tài liệu về nghệ sĩ cải lương, thiết nghĩ mình nên tìm đến người rành rẽ nhứt, nhiều chuyện nhứt, có học nhứt trong giới cải lương. Ðó là soạn giả, là ông thầy tuồng.

Tui thấy ông thầy tuồng Nguyễn Phương, gần suốt cả đời ăn cơm tổ nên rành sáu câu vọng cổ chuyện hậu trường sân khấu.

Rất tự trọng, ổng viết lách đàng hoàng nên tin được chớ không dám tán hươu, tán vượn, tán phét.

Hoặc đối đế thì tìm đến tham vấn các ký giả phê bình kịch trường mới hy vọng là mình viết ít sai sót.

o O o

Soạn giả Nguyễn Phương là ai? Ông tên thật là Nguyễn Văn Hòa sinh ngày 1-7-1922, tại làng Ðiều Hòa, tổng Thuận Trị, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, thời VNCH là tỉnh lỵ của Ðịnh Tường.

Mỹ Tho một thời tưng bừng với ghe hát Huỳnh Kỳ do Lê Công Phước (1901-1950) tức Phước George, tức Bạch Công Tử, lập ra cho vợ mình là Trương Phụng Hảo tức nghệ sĩ Phùng Há, nơi chôn nhau cắt rún ở làng Ðiều Hòa, làm đào chánh.

Mỹ Tho trên đường Lý Công Uẩn cũng có rạp hát Vĩnh Lợi của Thầy Năm Tú, Châu Văn Tú.  Nói không ngoa, Mỹ Tho là cái nôi của cải lương.

Ông Nguyễn Văn Hòa, tức soạn giả Nguyễn Phương sau nầy, học Trường Collège de Mỹ Tho. (Viết tắt là “CM”, mà học trò liến khỉ hồi xưa hay diễn dịch bậy bạ)

Nơi soạn giả Nguyễn Thành Châu tức kép Năm Châu, quái kiệt Trần Văn Trạch rồi thân phụ và anh em và kể cả người viết từng theo học.

Tốt nghiệp Trường Pratique d’industrie Saigon (Bách Nghệ Sài Gòn năm 1940). Ông ra Hà Nội học Trường Technique spécial Hà Nội (Trường Kỹ thuật chuyên nghiệp) và tốt nghiệp năm 1943. Ông về làm việc tại Sở Bưu Ðiện Saigon, Bureau Technique từ năm 1943 – 1948.

Nhưng sau đó, ông bỏ nghề Bưu Ðiện để theo Ðoàn cải lương Tiếng Chuông năm 1948 và bắt đầu soạn tuồng với bút hiệu Nguyễn Phương.

Ông đã cộng tác với các đoàn hát như: Tiếng Chuông (Bầu Căn), Ánh Sáng (Bầu Tập). Diễn Kịch Năm Châu, Kim Thoa, Thanh Minh (Bầu Lư Hòa Nghĩa tức kép Năm Nghĩa xuống vọng cổ muồi rệu với giọng ngân ‘ơ ơ’) Thanh Minh – Thanh Nga (Bầu Thơ), Dạ Lý Hương (Bầu Xuân).

Ông Nguyễn Phương còn là Trưởng ban Cải lương và ban Kịch “Phương Nam” trên Ðài Phát thanh, đài truyền hình Sài Gòn.

Soạn giả Nguyễn Phương còn là tác giả của các bộ phim nổi tiếng như: “Triệu phú bất đắc dĩ” (hãng phim Mỹ Vân), “Sống đời tôi”, “Lệnh bà xã” (hãng phim Mỹ Ảnh), “Chàng ngốc gặp hên” (hãng phim Trùng Dương), “Con ma nhà họ Hứa” (hãng phim Dạ Lý Hương).

Ông đã sáng tác hơn 100 tuồng cải lương và kịch nói như: ‘Người mặt cháy’, ‘Chiếc lá giữa dòng’, ‘Ðôi mắt người xưa’, ‘Ngã rẽ tâm tình’ (phỏng theo tiểu thuyết của Ngọc Linh), ‘Bọt biển’, ‘Tình xuân muôn tuổi’…

Soạn giả Nguyễn Phương là người có thập bát ban võ nghệ, nội công rất thâm hậu, mười tám thành công lực.

Soạn giả Nguyễn Phương theo gánh hát hơn 40 năm, từ năm 1948. Mãi tới năm 1989, soạn giả Nguyễn Phương bỏ nước ra đi đến định cư ở Canada rồi trở thành ký giả kịch trường. Ông có các bài viết rất đặc sắc về các nghệ sĩ cải lương giá trị và nhiều giai thoại đáng tin, rất lý thú phát trên báo chí và các Ðài phát thanh ở Hải ngoại.

Năm 2000, soạn giả Nguyễn Phương xuất bản “Ngũ đại gia của sân khấu cải lương”. Năm 2005, Hồi ký “Buồn vui đời nghệ sĩ” gồm 24 bài viết liên quan đến các nghệ sĩ Hùng Cường, hề Thanh Việt, Bà Năm Sa Ðéc, kép độc Trường Xuân, kép mùi Thanh Cao, hề Tám Củi, quái kiệt Ba Vân, hề Lập, Diệu Hiền, Hồng Nga, Phượng Mai… với giọng văn dí dỏm rất Miền Tây, lục tỉnh quê mình.

Soạn giả Nguyễn Phương nói:  “Viết hồi ký ‘Buồn vui đời nghệ sĩ’, tôi ghi lại những kỷ niệm của một thời mà tôi lang thang trên bước đường nghệ thuật sân khấu…Chuyện của các bạn nghệ sĩ đồng nghiệp của tôi chiếm một số trang quan trọng, tôi là người chứng kiến và cũng là người cùng chung số phận, cùng chia sẻ với các bạn đó những nỗi vinh, nhục của nghề hát cải lương”

Soạn giả Nguyễn Phương là cuốn biên niên sử sống thời hoàng kim của sân khấu cải lương Miền Nam suốt nửa thế kỷ.

Nguyễn Phương khép lại một đời nghệ sĩ gạo chợ nước sông qua mấy câu thơ: “Phường hát đêm nay qua chợ nhỏ. Một đêm mưa gió, rất thưa giàn. Vé không bán được, cho vào hết. ‘Thả cửa’ thêm đông dễ kéo màn!”

Soạn giả Nguyễn Phương đã qua đời vào ngày mùng 1 tháng Bảy, năm 2020 (ông từ trần đúng ngay ngày Sinh nhựt của mình) tại Canada, hưởng thọ 98 tuổi.

Dẫu hưởng ‘thượng thượng thọ’ mất ông vẫn là một mất mát lớn. Nó đóng một trong những chiếc đinh cuối cùng vào cái áo quan của nền sân khấu cải lương, vốn một thời huy hoàng giờ đang giãy chết.

Mỗi khi đọc bài của nhà văn nào viết về nghệ sĩ và sân khấu cải lương còn lơ mơ, tôi lại nhớ tới ông!

Nhạc mẫu và hiền tế?!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Trong tuyển tập Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, có kể câu chuyện “Cô Út về rừng”.

Cô Út xứ Long Tuyền, Cần Thơ xuất giá tòng phu, theo chồng về tận Cà Mau, xứ Cạnh Ðền, muỗi kêu như sáo thổi… nên mới chạng vạng tối là vợ chồng son rút vô mùng… nói chuyện. Vậy là con, đứa dứt thôi nôi đứa thôi đầy tháng. Con cái đầm đìa nên khỏi có ‘dìa’ thăm cho tới khi má mình đi bán muối…

“Một mai ai đứng bên kinh/ Ai phò giá triệu, ai rinh quan tài?

Bên kinh đã có con trai/ Giá triệu con gái, quan tài nàng dâu

Hỏi nào chàng rể ở đâu?/ Chàng rể uống rượu đi sau nói xàm”

(Bà già vợ chết, thằng rể vui mừng vui hết biết, nhậu lết bánh luôn đó thấy chưa? Ðâu phải má của nó đâu, mà nó buồn nó khóc chớ!)

Ðọc xong “Cô Út về rừng” nầy, anh bạn nhà văn của tui cảm cái thân phận bị bắt rể của mình, chép miệng, ta thán rằng: “Ông chồng tên Quỳnh trong câu chuyện nầy là một người may mắn vì cha mẹ dù ở trong rừng nhưng có đất có vườn, có ruộng, có rẫy nên cưới vợ là rước dâu chớ không chịu làm thân trâu ngựa như tui đã từng đi ở rể. Ôi bầm giập, cay đắng lắm anh ơi!

Bên vợ chỉ sợ tui là thằng rể ham đất, ham cát sẽ đốc xúi con vợ tui đòi chia.

Ðất điền không phải của tui là tui hổng có ham mà cho dù có ham cũng hổng có được… Vì đám anh, em vợ… đông như quân Nguyên vậy! Có mấy công vườn hè, chia mỗi đứa một khoảnh, chó nằm còn ló đuôi, thì nhận làm chi cho chúng nó khi!

Tui rù rì rủ rỉ: vợ chồng mình ra riêng đi để anh khỏi phải gánh nước đêm trăng hay chẻ củi thước gì ráo… để giếng đâu thì dắt anh ra kẻo anh chết khát vì cả nhà em.

“Rồi làm sao mà sống?”  “Thì anh đặt cái bàn ngoài lề đường, làm đơn mướn, kêu oan cho bà con mình bị CA nhốt ẩu. Nhiều lắm, chắc sống được mà! Em đừng lo!”

“Tội nghiệp con vợ tui nhe! Thương chồng phải lụy cùng chồng, Ðắng cay phải chịu, mặn nồng phải theo. Ai ở lại cứ tự nhiên mà giành đất hương hỏa đi nhe!”

Cuối cùng, hai vợ chồng tui dắt được hai thằng ‘cu’ vượt biên qua được tới đây.

Tự do đã đành rồi. Mà cái quan trọng không kém là đi xa gia đình bên vợ tui thêm được ‘mile’ nào là tui vui thêm ‘mile’ ấy.

***

Thưa ‘MIL’ là viết tắt chữ ‘Mother-in-law’, nghĩa là bà già vợ hay bà già chồng. Mà có hai bà nầy chen vô là vợ chồng trước sau gì cũng gấu ó, có thể đưa đến chuyện anh đường anh, em đường em, tình nghĩa đôi ta có thế thôi.

Lôi nhau ra Tòa ly dị, chia của, chia con làm sắp nhỏ khóc mò.

Nên Adam và Eve là cặp vợ chồng may mắn và hạnh phúc nhứt nhân loại. Vì Adam không có bà già vợ và Eve cũng không có bà già chồng.

Nhac mau va hien te 03Rồi mấy bữa nay đọc báo tui thấy có kể chuyện thằng Tây ‘ba xạo’ cưới được con vợ Việt, nhờ cái chiêu: đi qua nhà má cái tay con xá, cái cẳng con quỳ, lòng thương con má sá gì cái thân con, được bà già vợ nó khen quá xá?!

Hồi đó thằng rể Tây nầy dê con bả: “Có muốn làm vợ anh không?” “Quê em chưa có ai lấy chồng Tây. Em sẽ không phải là người đầu tiên.”

Nhưng ba em là người nhìn xa trông rộng. Cái cột đèn có chưn nó cũng đi nên khuyên em nên lấy cho rồi để nhờ thằng Tây, mập lù như con heo nầy, bắc cầu qua biển cho em vọt khỏi chế độ độc tài toàn trị.

Cá cắn câu, lậm bùa mê thuốc lú nên rể Tây phải làm đám cưới đàng hoàng: Rước dâu đâu chừng chục chiếc xe bò.

Cưới nhau về, vợ nấu món gì cũng khen ngon, dẫu ăn cơm trắng với nước mắm kho quẹt mà vẫn vui vẻ khen ngon. (Ðúng là cái thằng lẻo lự!)

Còn lớn họng tuyên bố là: “Vợ con là tất cả đối với tui. Tài sản quý nhứt của đời tui.”

Rể Tây thương vợ thương con thiệt… cũng giống rể Ta thôi. Cái khác là khi vợ nó không còn thương nó nữa, muốn bỏ đi để xây tổ uyên ương với đứa khác… là nó vác súng rượt hai đứa bây chạy xịt khói. Báo đăng hoài.

Nhưng cái văn hóa cả ngàn năm của Tây khác với ta là: cưới được vợ rồi thì Tía, Má vợ hổng có ra ‘cà ram’ nào hết ráo.

Tệ hơn nữa là: Chàng rể với má vợ là kẻ thù không đội trời chung, như chó với mèo, như nước với lửa vậy.

Nên Tây mới có chuyện rằng: Vua Solomon, một vì vua thông thái, nên thần dân ai có xung đột chuyện gì cũng đến nhờ người phân xử.

Một hôm có hai bà lôi một chàng trai trẻ đến trước mặt đức vua.

Bà thứ nhứt nói: “Thằng nầy là rể của tui!” Bà thứ nhì: “Không phải! Nó mới là rể của tui!”

Cãi qua cãi lại, làm rùm quá khiến vua Solomon kêu: “Nín đi!”  Hai bà mới chịu khép cái mồm lại.

Vua Solomon: “Trẫm sẽ cho lính bổ dọc thằng nầy ra làm hai. Mỗi bà vác về một nửa.”

Bà thứ nhứt: “Xin đồng ý ngay lập tức! Vậy mới thực là công bằng.”

Bà thứ nhì lại không chịu cách giải quyết đó: “Tại sao bệ hạ lại giết người vô tội?”

Vua Solomon bèn tuyên xử: “Chàng thanh niên nầy phải là con rể của bà thứ nhứt!”
Quần thần bất mãn, nhao nhao lên phản đối: “Xử vậy đâu có được hè. Bà ta muốn bổ dọc thằng nhỏ ra làm hai đó!”

Nhà vua vuốt râu cười khè khè: “Chính thế! Vì cư xử tàn nhẫn với con rể như vậy đã chứng tỏ 100% rằng bà ấy đúng là bà mẹ vợ.”

***

Thằng John, bạn nhậu người Úc của tui, nghe vậy cũng gật đầu xác quyết:

“Tao cũng vậy hè! Cưới vợ xong là đèn nhà ai nấy sáng; cơm ai nấy ăn; nhà ai nấy ở. Rể là người dưng, rể là khách mà… Bên vợ, có ai thương tưởng gì mình đâu?!

Mấy thằng Úc khác nó cũng nghĩ như tao nên đặt chuyện là: “Bà già vợ của ông bị nhồi máu cơ tim!” “Làm gì có chuyện đó? Bà già vợ của tui làm gì có tim mà bị nhồi máu chớ?”

Rồi điều tệ hại nhứt mà một bác sĩ phòng cấp cứu nói với mình là: “Chúng tôi có thể cứu được bà già vợ của ông!”

Vậy là để trù cho bà ấy ngoẻo, năm ngoái, John bỏ ra tới gần một chục ngàn đô mua sẵn một cái huyệt trong nghĩa trang để tặng cho bà già vợ làm quà sinh nhựt.

Sinh nhựt bà già vợ năm nay, John đi tay không! Con vợ cự nự: “Sao anh không mua quà gì cho má em hết ráo vậy?”

“Món quà năm ngoái anh tặng, má em chưa có xài thì mua chi nữa cho tốn tiền?”

***

Chắc bà con mình ai cũng đã từng nghe bài hát: “Những chuyến xe trong đời” do ca sĩ Giáng Thu trình bày vào cuối những năm 60 ở quê mình.

“…Vòng tay cũng xuôi theo… Xe đơn lạnh tiễn ai trong này?”

Một chiếc xe tang có tới hai cái quan tài đang tiến về nghĩa trang. Nhạc ò e í e.

Theo sau là một ông dắt theo một con ‘bulldog’. Sau đó là một hàng dài có tới khoảng hai trăm người đàn ông nối bước theo sau.

Nhà báo chuyên săn tin xe cán chó, không ngăn được tính tò mò, cho rằng đây có thể là một cái tin hay lạ, sẽ làm ông chủ nhiệm rất hài lòng vì báo bán đắt, bèn chen vào sau xe tang để phỏng vấn tang chủ: “Chuyện gì đã xảy ra? Xảy ra như thế nào?”

“Quan tài đầu tiên là của vợ tui. Bả bị con ‘bulldog’, nuôi trong nhà cắn chết khi bả vác chổi chà rượt đánh tui, vì tối hôm kia tui đi nhậu suốt đêm không chịu về nhà rửa chén.

Còn quan tài thứ hai là của bà già vợ tui. Bả nhào vô cứu con gái mình nên cũng bị con chó cắn chết luôn.”

“Thiệt là tội nghiệp!” Nhà báo hỏi: “Chắc gia đình bên vợ ông tu nhân tích đức khi còn sinh tiền nên mới được tới cả hai trăm ông đưa tiễn!”

“Ðâu có! Hai trăm ông nầy đang sắp hàng để tính mượn con chó của tui đấy mà! Phần ông nhà báo nếu muốn, xin chịu khó sắp hàng nhe!”

***

Ðể kết luận bà già vợ Việt Nam nào có rể Tây cũng đừng nên nổ sảng.

Rể Tây, rể Ta gì cũng có đứa tốt đứa xấu; dâu Tây, dâu Ta cũng có đứa ngọt, đứa chua lè.

Rể thảo, dâu hiền là mừng rồi. Vợ chồng nó, khác chủng tộc màu da, mà biết tha thiết yêu nhau là mừng rồi. Còn mong rể Tây nó cho tiền đô để xài cho đã thì còn lâu nhe Má!

đoàn xuân thu

mellbourne