Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc dịch

Mike Marito

(Chuyên Viên Quay Phim)

“Ngập cứt?”

Tôi là chuyên viên thu hình của chuyến bay cuối cùng ra Đà Nẵng hôm ấy. Bruce Dunning, Mai văn Đức và tôi đã xin được phép đi với Ed Daly. Khi chúng tôi hỏi để xin theo, ông ta bảo “Tất nhiên là được, càng đông càng vui.”

Khi chúng tôi sắp hạ xuống Đà Nẵng, hai hàng phi đạo dưới ấy hoàn toàn trống trải, không một bóng người. Không có gì trên đường bay hay đường vào bến cả. Hình như, cũng không có ai lai vãng ở các khoang chứa máy bay. Mọi sự có vẻ trái hẳn với các nguồn tin chúng tôi nghe nói là Đà Nẵng sắp sụp đổ.

Chúng tôi dự liệu gặp cảnh hỗn loạn và một đám động giận dữ, nhưng từ trên máy bay chúng tôi nhìn thấy Đà Nẵng và các con đường trong phố đều êm. Nên chúng tôi hạ cánh. Khi tàu bay từ phi đạo vưa quẹo vào đường bến thì đột nhiên người ta ùa ra từ các nhà chứa máy bay. Phi trường Đà Nẵng bấy giờ là một căn cứ không quân khổng lồ trong thời chiến, từ các nhà chứa máy bay của căn cứ khổng lồ ấy, chắc phải đến 20,000 con người chợt hiện ra và ùa tới máy bay chúng tôi. Họ ngồi trên xe jeep, xe gắn máy, thiết vận xa, họ dùng mọi thứ xe tư nhân – mọi phương tiện xe cộ mà loài người đang sử dụng – họ chạy đến chúng tôi. Chúng tôi dừng lại một lúc giữa hai phi đạo – Tôi cho máy thu hình chạy. Trước khi thấy đám người này, chúng tôi định ra khỏi phi cơ. Nhưng chợt tôi có cảm giác ruột gan quặn thắt – cái cảm giác của những người làm tin chiến trường. Tôi tự bảo “Đừng, đừng ra khỏi tàu bay.” Những người này đang hoảng hốt. Bất cứ người nào nhỏ con đến đâu nhưng khi hoảng hốt, họ mạnh hơn mình nhiều. Tôi đem máy quay phim ra phía cầu thang sau, đứng đấy thu hình. Trong lúc phi cơ còn di chuyển, người đã chạy ùa lên thang. Chắc có người đã leo qua bên hông cầu, bẻ cong lại, nên cầu thang không rút lên được nữa. Trong khi tôi đang quay, họ bắt đầu bắn lẫn nhau. Họ nổ súng loạn xạ từ phía sau để chen lại gần máy bay. Lúc đó, tôi ngoảnh lại bảo Bruce “Mẹ kiếp, bọn mình ngập cứt rồil”

Chúng tôi chạy rà quanh phi trường. Cuối cùng Daly quyết định ông ta nói: “’Bay mẹ nó khỏi đây đi.” Lúc ấy chúng tôi bắt đầu cất cánh từ ngay cuối đường bến. Chúng tôi đụng một cái xe khi bắt đầu bốc lên. Mấy bánh xe bên trái tông phải một cái xe jeep. Lúc đầu tôi tưởng là chiếc máy bay vẫn còn chạy rà rà vì tôi còn đứng trên thang tàu bay. Chợt nghe máy rú tôi mới nghĩ “Mẹ kiếp, mình hãy còn đứng trên thang.” Tôi không muốn bay khỏi mấy bực thang chút nào. Lúc ấy có năm người Việt Nam đứng ở những bực dưới. Khi mũi tàu chống lên, lực bay và vận tốc bắt đầu bung mấy người ra. Một người cố bám được một lát, nhưng khi tàu bay lên khoảng cao độ 600 feet, anh ta buông tay bay như lính dù. Tôi chứng kiến anh ta bắn vụt ra không trung. Không thể tin được!

Lúc ấy ý nghĩ chạy qua đầu tôi là: “Phải sống sót trong vụ này, phải thu tất cả hình ảnh vào phim. Đây là giây phút khởi đầu của sự sụp đổ một quốc gia. Quốc gia này đã cáo chung. Đây là lịch sử, ngay đây, bây giờ. Phải ghi lấy lịch sử này bất kể cá nhân tôi đang cảm thấy như thế nào.” Tôi rời cầu thang, thu hình qua cửa sổ máy bay. Suốt lúc bay về, tôi mang nỗi hoài nghi – một nỗi hoài nghi hết sức mạnh mẽ, tôi muốn nói: Không cách gì chúng tôi có thể hạ cánh được. Phi công của chúng tôi, Ken Healy không điều động được mấy cái bánh xe để hạ, họ bảo có một cái xác người vướng trên ổ bánh xe. Cánh máy bay và mấy cái vành xếp đã hỏng, xăng của chúng tôi tiếp tục cạn.

Tôi ngồi trong khu dọn ăn phía sau. Tôi không có ghế ngồi. Lính tráng trên phi cơ đều có súng M16, và súng lục 45. Tôi tính: dẫu máy bay không bị rơi, vẫn có thể xảy ra chuyện những người lính này cướp máy bay đòi sang nước khác. Chúng tôi thực lo ngại chuyện ấy suốt buổi. Nên sau, chúng tôi tìm cách nói với họ: “Này quý bạn, mấy thứ này có thể bất ngờ gây tai nạn – Quý bạn có thể giao cho chúng tôi chăng?” Đức và tôi đi quạnh nhặt nhạnh các vũ khí và những quả lựu đạn. Chúng tôi dùng băng keo quấn lựu đạn để giữ chặt kíp Iại, rồi bỏ ra phía sau phi cơ.

Chúng tôi hạ cánh xuống Sàigòn an toàn. Mỗi khi có trục trặc, cảnh sát luôn luôn tìm tụi quay phim – Nên chúng tôi một lần nữa, dự liệu trước việc này. Chúng tôi trao hết phim cho Bruce Dunning để ạnh ta giấu dưới áo khi chúng tôi ra khỏi phi cơ. Họ không biết là có một thông tín viên mạng phim thoát ra. Tụi tôi làm kiểu này hoài. Chúng tôi sẽ gây chú ý cho cảnh sát bằng những dàn máy móc quay phim để họ bu đến, rồi người thông tín viên chuồn đi. Quả nhiên cảnh sát Sàigòn giữ Đức và tôi một lúc – Nhưng Bruce đã lặng lẽ bước, như không biết gì đến chúng tôi. Anh ta mạng được mấy cuốn phim đi thoát.

Chúng tôi được hai giải thưởng với bộ phim ấy. Câu lạc bộ báo chí nước ngoài một giải, Hiệp hội nhiếp ảnh viên báo chí quốc gia một giải nữa. Đến bây giờ – Tôi vẫn không thực sự tưởng tượng nổi những chuyện ấy là một cơn ác mộng – nhưng cho đến bây giờ, mỗi khi nhìn thấy bất cứ cái gì nhắc nhở tới Việt Nam, lập tức tôi thấy hiện ra các hình ảnh trong hồi tưởng như một làn chớp. Bất cứ lúc nào thấy cái gì dính dáng đến Việt Nam tôi lại thấy làn chớp ấy. Nó trong suốt như pha lê trong trí tôi. Suốt đời, tôi sẽ không bao giờ có thể quên.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc dịch

Bài 2

Joe Hrezo (Trưởng Trạm Hàng không)

“Chỉ sung sướng vì còn sống sót.”

…

Tôi là quản lý trạm World Airways ở căn cứ không quân Clark, Phi Luật Tân vào năm 1975. Tôi thi hành bất cứ công tác đặc biệt nào mà xếp Ed Daly muốn. Vì vậy khi một chiếc 727 của chúng tôi ở Việt Nam bị đạn, tôi nhận cú điện thoại bảo phải liên lạc với chủ tịch Philippines Airlines, cố thuê chiếc phản lực cơ Sydney Hawker 125. Tôi đoán hẳn Ed Daly có quen biết lớn với ông chủ tịch. Daly muốn thuê cái phản lực nhỏ này để chở một bộ phận thay thế cho phi cơ 727 ở Sàigòn. Tôi điện thoại nói chuyện với mấy người bên sở điều hành.

Họ đồng ý chuyến bay. Tôi gặp người trong căn cứ Clark, lấy được phép cho chiếc phản lực 125 hạ cánh. Chiếc máy bay đến Clark lúc 11 giờ đêm. Rồi tôi và cái bộ phận nặng 25 cân Anh kia bay đi Sàigòn trên chiếc máy bay này, đến Sàigòn khoảng 2 giờ sáng.

Khi đến nơi, tôi đoán có lẽ họ đã bắt đầu xài mấy chiếc phi cơ 727 để tải người từ Đà Nẵng vào rồi. Vụ này cũng ổn thôi. Vì vậy có hôm tôi đã leo lên làm một chuyến. Không lộn xộn gì. Ngày kế, tôi lại đi, có cả hộ tống bên toà Đại sứ đi cùng. Lúc hạ xuống Đà Nẵng vừa đến trạm Air America thì đám người ngợm khốn khổ tràn đến. Chúng tôi cho tàu bay vòng Iại, thả cầu, hai gã hộ tống bự con bước xuống, bắt đầu cho người lên. Người ta xô đẩy chen lấn, khi tàu đã đầy ứ họ còn cứ cố chui vào. Lính hộ tống có lựu đạn cay, đem ra xài. Chỉ báo hại bọn tôi hơn là cho đám dân: gió thổi ngược. Nhưng rồi cũng xong, bốc được người là chúng tôi về.

Nhưng hôm ấy khi toà đại sứ nghe Daly nói ông ta sẽ đi nữa thì họ bắt đầu nạo ông ta.

Daly đã đòi gặp Đại sứ Graham Martin từ 10 hôm rồi. Cuối cùng Martin mới chịu tiếp, có tôi đi cùng với Daly. Râu ria 3 ngày không cạo, Daly đội một cái mũ cao bồi tổ bố. Bước vào một cái, câu đầu tiên ông ta nói: “Bây giờ ông có thể tắt mấy cái máy ghi âm khốn nạn của ông đi!” ông Đại sứ bảo “Ô kê! Không có cái máy nào bật lên cả.” Daly nói: “Tôi chỉ cần thông báo trong vòng một, hai ngày là có thể gặp các giáo hoàng, quốc trưởng, tướng tá, vậy mà sao ông bắt tôi phải đợi đến mười bữa mới được gặp?” Daly sùng lắm. Ông ta bảo Đại sứ là Sàigòn sẽ sụp đổ trong vòng hai tuần lễ, còn Đại sứ thì cứ bảo “không, không đúng”. Daly hỏi thế ông định làm cái trò gì đây, bởi vì ông nên nói thẳng cho mọi người rõ tình hình đang xảy ra làm sao, hơn là cứ quanh co che đậy. Daly nói – tôi giật mình khi nghe ông ta nói – với ông Đại sứ khốn khổ: “Thứ người như ông chỉ là thứ đứng bán xe phế thải! Không hơn không kém!” Tôi bị lâm vào tình trạng như vậy. Hai ông này kiểm soát mọi thứ, Daly nắm được tiền, còn tôi cứ ngồi đực mặt mà nghe.

Ông Đại sứ không hẳn là người thô lỗ. Ông là tay ngoại giao. Nhưng Daly la lối lung tung. Tôi phải nói ông Đại sứ khá lịch thiệp, nhưng ông ấy cũng chẳng có thể nói gì được nữa? Tôi chắc ông ta đã cố làm những gì tốt nhất mà ông ấy tin rằng ông phải làm. Nhưng tôi cũng chẳng rõ thế nào. Mặc dầu vậy, chúng tôi vẫn không lấy được phép bay ra Đà Nẵng.

Daly bảo: “Đi như thường. Cho chúng biết bọn mình làm việc như thế nào.” Chúng tôi sẽ lấy cả ba cái máy bay rồi đi. Ông ta bảo “Rồi, cậu với tớ biến. Mình sẽ tổ chức vụ này.” Nhưng tôi nghĩ là toà Đại sứ đã nói ông đừng đi, vì không an toàn!”.

Khi làm việc cho Daly, người ta không ngủ được nhiều. Ông ta thích thức khuya dậy sớm. Vì vậy hôm sau mới tinh mơ đã có người đánh thức tôi dậy. Không nhớ ai. Họ nói Daly đang chờ. Phải sẵn sàng tất cả mấy phi hành đoàn trong vòng năm phút. Khi gặp Daly ông ta cộc lốc nói “Đi!” Thế là đi.

Tôi ngồi phía sau với Daly, Bruce Dunning và Mike Marriott. Daly ngồi trên cái ghế bên cạnh cửa, nói chuyện với họ. Daly nói “Tốt – Bọn mình sẽ ra ngoài ấy. Đến bến của Air America, Joe, cậu và tớ sẽ nhảy ra tổ chức công việc.” Tôi từ chối thế quái nào được?

Chúng tôi ra ngoài ấy, hạ cánh, phi trường rất yên. Nhưng ngay khi máy bay vừa chậm Iại, người ta đổ ra từ khắp phía. Bỗng nghe Daly bảo “Ô kê! Tớ lên nói Ken hạ cầu, mình sẽ ra.” Mẹ kiếp. Tàu bay dừng. Cầu hạ. Nghĩ là đã đến lúc rồi đây nên tôi nhảy ra. Nhưng ngay sau đó tôi thấy cái cầu rút lên, tàu bay tiếp tục lăn bánh. Khi rút cầu, Ken Healy quay tàu ra phi đạo, đánh một vòng rồi trở đầu Iại. Nhưng đó chính là lúc người ta bắt đầu ào đến. Một thằng cha đứng bắn vào máy bay. Tôi thấy Ken lệch tay lái sang một bên, làm như sắp cán lên hắn. Không biết tại sao mà cha này không bị đụng. Tôi có nhét một khẩu 38 ngắn nòng trong người. Nhưng tôi tính thầm: Nếu tôi nổ cha này thì tôi sẽ bị chơi lại văng cứt. Nên tôi giữ êm khẩu súng dưới áo.

Có một xe tải chở đầy ắp người chạy rượt bên cạnh máy bay. Đứng dưới đất một mình, tôi chứng kiến mọi sự, sợ vãi đái. Cả đám người ào ào chạy bên tôi, vài trăm mạng. Một xe jeep nữa đầy người chạy tới, một cha cầm khẩu M16 lăm lăm ria tưới vào. Cái xe jeep lật lộn vòng, người văng túa ra hết. Vậy là tôi cố thu mình tìm cách đi thoát về phía đài kiểm soát không lưu, vì chẳng cách nào lọt vào lại tàu bay được nữa. Nếu tôi là Ken Healy tôi đã cất cánh vọt rồi. Nhưng anh ta cũng không vọt nổi. Trên phi đạo, xe cộ ngổn ngang. Không lối chạy. Do đó anh ta mới cho tàu xuống cuối phi đạo, từ đó quay một vòng 180 độ phía xa tuốt dưới đường bay. Lúc ấy tôi lọt vào đài không lưu rồi, mấy người Việt Nam ở đấy cho tôi vào. Vào thì ô kê thôi! Liên lạc được với Ken trên điện đài, tôi bảo “Ê, Ken, tui sẽ chui ra chỗ bến Air America. Nhắm nổi không?” Anh ta nói “Ô kê! Canh chừng? Khi đến lưng cầu tôi sẽ xoay một vòng. Vừa dứt, phải lọt vào tàu bay ngay!”

May phúc, tôi vào lọt. Anh ta không dừng, cho phi cơ chạy taxi rề rề. Tôi thấy rõ Daly đang quật vào đầu người ta với khẩu súng và đá bọn đó. Lúc này phần tôi có ai bám lấy tôi cũng không cảm thấy gì. Chi có mỗi một chuyện là phải chui vào lại cái tàu bay. Nghĩ có mỗi một chuyện ấy thôi! Cuối cùng tôi lọt. Vừa khi tôi lên được, Ken rú máy. Máy bay bốc lên với cây cầu thang còn thả tòn ten. Tôi hãy còn đeo ở bực thứ hai. Daly đứng trên tôi một bực khi máy bay cất cánh. Tôi biết khi tàu rú máy có vài người đeo lấy tôi. Tôi biết tôi đá một người văng ra, nhưng lúc ấy máy bay chưa cất lên. Phải chi lúc ấy máy bay đã cất cánh!

Nhìn lên tôi thấy Mike Marriott đang quay phim trên đầu cầu thang. Nhìn xuống tôi thấy mấy cái tàu thủy ở cảng Đà Nẵng bấy giờ bé tí, giống như đồ chơi. Phải nói suốt lúc ấy tôi sợ vãi cứt. Có một cha mắc kẹt vào cầu thang. Cầu này có một trục rút, không biết sao cha này lọt vào, nửa người trong tàu bay, cẳng thòi ra. Chúng tôi cố tìm cách lôi hắn, không nhớ cuối cùng khi kéo hắn ra được thì tàu bay đã lên đến cao độ nào. Chúng tôi cố rút cầu lên nhưng vô phương. Tôi rút thắt lưng, Daly cũng vậy, chúng tôi lấy thắt lưng buộc cái thành cầu vào nắm cửa. Vào đến trong tàu thì cảnh tượng hết tin nổi. Mỗi hàng ghế nhồi nhét bốn, năm, sáu người. La liệt, đa số đàn ông cả.

Thiệt khoan khoái hết sức là tôi trở vào được trong tàu bay. Mấy bà tiếp viên làm việc hết xẩy. Nhiều người trên đầu bị quật nặng, được mấy bà săn sóc chu đáo. Tôi đi vào phòng máy bảo Ken “Cảm ơn nhiều.” Anh ta nói “’Tất nhiên tôi sung sướng được thấy lại ông!” Lúc ấy Daly ở đó. Daly không tin nổi số người trên tàu. Phần lớn là binh sĩ. Ông ta nói “Nhìn bọn lính khốn kiếp. Nhìn đống súng kìa. Mong không có quả lựu đạn nào bung ra nhé?” Bấy giờ lựu đạn lăn long lóc trên sàn. Daly gọi người thu mang vào phòng lái. Chỉ một chốc, phòng lái đầy súng đạn.

Ken lo sốt vó vì tàu bay mất xăng. Vì thế tôi biết anh ta cố vào Phan Rang. Nhưng khi bắt đầu đổi cao độ xuống Phan Rang thì họ gọi cho biết là không “an toàn.” Nhưng ai bảo đảm được chuyện đổ xăng. Bạn biết mấy cái chữ “thân thiện, bất thân thiện,’” “’an toàn, bất an toàn”” chứ? Nói cách khác, có thể xăng nhớt ở Phan Rang đã vào tay địch quân rồi. Họ không dám chắc. Vì thế Ken bảo “vô Sàigòn.” Tụi tôi bèn bay vào Sàigòn.

Tụi tôi bàn nhau về mấy cái bánh xe để hạ cánh. Chẳng ai biết rõ là chịu nổi hay không vì khi lui tàu bay, bánh bị lọt hố. Điều động bánh xe cũng không được vì có một cha đã lọt trong gầm bánh xe rồi.

Nhưng rồi cũng hạ cánh xong. Chưa bao giờ tôi thấy lính đông như thế. Đông hơn cả mặt trận. Họ vây lấy cái tàu bay.

Tôi ra phía sau lấy lại cái thắt lưng. Nó đã tự tuột ra từ hồi nào. Tôi khiêng một người mắc kẹt trong thang với cái cẳng nát. Giao cha này cho lính rồi cùng mọi người về khách sạn nơi Daly ở.

Đêm ấy trong phòng ăn khách sạn, lúc Daly đang nói chuyện với các phóng viên thì ở đằng sau, người ta cứ nói chuyện ồn ào. Vì vậy Daly đứng đậy nói “Xin quý vị lưu ý.” Ông ta rút khẩu súng đập lên mặt bàn, bảo “Tôi muốn quý vị lưu ý cho – hoặc là có kẻ ăn đạn ở đây – ngay bây giờ!” Mọi người im phắc. Vài phóng viên bỏ ra ngoài. Tôi muốn nói với bạn thế này: Ed Daly là một người đầy cá tính. Nhiều người không ưa ông, nhưng ông vẫn làm bất cứ cái gì ông muốn. Bất cứ khi nào ông thích. Và ông ta làm được việc. Ông không sợ nói thẳng những gì ông nghĩ. Ông có thể làm tổn thương nhiều người, nhưng ông ta không hại ai cả. Nếu bạn có lập trường tốt, bạn giữ vững lập trường, ông ta kính trọng bạn. Tôi đã đối xử với ông ta như vậy, phải, tôi làm như vậy.

Nhưng mà thôi, đêm hôm ấy tôi sung sướng là hãy còn sống sót. Chỉ sung sướng vì hãy còn sống sót. Vì vậy lát sau tôi băng qua bên kia đường vào một quán nhậu, kiếm một cô bạn gái để vui chơi chút đỉnh.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Chuyến bay cuối cùng từ Đà Nẵng

JAN WOLLETT

(Nữ Tiếp Viên Trưởng Hàng Không)

 “Tại sao họ bắn? Chúng tôi là những người bạn tốt”

Ngày 29/3/1975 đáng lẽ nhân viên khách sạn Sài Gòn phải đánh thức tôi dậy lúc 5 giờ sáng . Tôi là tiếp viên trưởng của một chuyến bay khứ hồi ra Đà Nẵng . Nhưng 5 giờ sáng hôm ấy không có ai đánh thức tôi dậy. Khoảng 6 giờ sáng mới có điện thoại của Val Witherspool, một nữ tiếp viên khác. Cô ấy bảo: “Chị xuống ngay phòng đợi khách sạn trong vòng 5 phút.” Khoác bộ đồng phục, tôi lập tức chạy xuống cầu thang. Ông Ed Daly và Val đang chờ tôi ở dưới nhà. Bruce Dunning, làm việc cho hãng tin CBS cũng đã có mặt. Tôi bảo Bruce: “Bọn này phải ra Đà Nẵng”. Anh ta nói: ’’Có tin thành phố này rơi vào tay Bắc Việt rồi” Tôi nói: “Nếu thành phố này đã mất thì chúng tôi đâu có đi” Bruce yêu cầu được đi theo chuyến bay. Ông Daly bảo: “Muốn đi thì đi. Có mặt ở phi trường Tân Sơn Nhất trong vòng một giờ đồng hồ nữa.”

Bruce tập họp Mike Marriotte, chuyên viên quay phim và Mai Văn Đức, chuyên viên âm thanh, rồi chở họ ra phi trường. Chúng tôi bước lên chiếc World Airway Boeing 727. Là tiếp viên trưởng, tôi được thông báo là sẽ có một hay hai tiếp viên người Việt đi thông dịch, sẽ có binh sĩ bảo vệ để đương đầu với đám đông. Hôm trước, chúng tôi đã gặp khó khăn ở Đà Nẵng, và chúng tôi cũng sẽ phải mang theo nước ngọt, nước cam, bánh mì săng-uých cho hành khách.

Vừa vào phi cơ, tôi nói với Val và Atsako Okuka, một nữ tiếp viên khác: “Các bạn hãy xem xét ngay mọi thứ.” Chúng tôi thấy không có đồ ăn thức uống. Đó là dấu hiệu đầu tiên cho biết một cái gì bất thường đang xẩy ra…Không nước ngọt, không nước cam, không bánh mì, không đồ ăn thức uống trên phi cơ. Cũng không có tiếp viên người Việt, cũng chẳng có binh sĩ bảo vệ nào hết.

Chúng tôi thảo luận xem có nên bay ra hay không. Lúc ấy Daly và phi hành đoàn đã lên phi cơ rồi. Dunning và toán làm tin CBS cũng vậy. Hai nhân viên cơ quan USAID leo lên. Họ trấn an chúng tôi là mọi việc ở Đà Nẵng cũng tốt thôi, không cần gì đến binh sĩ bảo vệ.

Lúc đó 8 giờ sáng, quá muộn so với giờ ấn định máy bay cất cánh. Ông Daly quyết định cứ đi Đà Nẵng để đón một số người tỵ nạn gồm đàn bà và trẻ em mà khỏi cần đến binh lính hộ tống hay thông dịch viên.

Chuyến bay ra khá êm. Chúng tôi mang theo một nhà báo người Anh và một người nữa của hãng tin UPI. Trong chuyến bay chúng tôi chuyện trò thân mật với nhau.

Phi cơ bắt đầu đổi cao độ để hạ xuống Đà Nẵng. Theo kế hoạch, sau chúng tôi 20 phút sẽ có một chuyến World Airway 727 khác do Don McDaniel lái. Sau anh ta, lại một chuyến 727 nữa do Dave Wanio điều khiển. Chúng tôi dự tính sẽ đậu từ 10 đến 15 phút để lấy khách rồi cất cánh, để chuyến thứ hai, rồi thứ ba đáp xuống. Với cách ấy chúng tôi có thể đem đi được 3 chuyến trong vòng dưới một tiếng đồng hồ.

Nhưng khi hạ cánh có một cái gì rất lạ lùng. Không hề thấy một bóng người.

Không một ai, cả phi trường hoàn toàn hoang vắng. Đột nhiên trong lúc phi cơ đang “chạy taxi” trên đường vào bến, đoàn người chợt xuất hiện. Họ chạy ào ra từ những nhà chứa máy bay, Hàng ngàn con người-tôi nói đúng nghĩa là hàng ngàn con người đua nhau chạy đến chúng tôi- Họ chạy bộ, chạy xe gắn máy, chạy xe thùng, xe Jeep, xe hơi, xe đạp…Họ chạy đến phía chúng tôi bằng bất cứ phương tiện nào họ kiếm được.

Chúng tôi đã có một kế hoạch là ông Daly và Joe Hrezo, trưởng trạm của hãng World Airways sẽ ra khỏi phi cơ. Họ sẽ lo việc sắp hàng hành khách ở lối vào cầu thang phía sau. Tôi sẽ đứng ở phía trước phi cơ, Atsaco ở giữa còn Val đứng ở khoảng sau.

Chúng tôi cho phi cơ chậm lại. Lúc ấy tôi đang đứng trong phòng lái nhìn ra cửa sổ trước, chợt thấy có điều kỳ lạ. Một nhóm người lái chiếc xe vận tải nhỏ đuổi bên cạnh chiếc tàu bay. Một người đàn ông nhảy khỏi xe, chạy đến trước chúng tôi. Tôi nhìn về phía anh ta, lúc ấy chúng tôi đang đi chậm, anh ta rút một khẩu súng lục, bắn vào chúng tôi.

Đột nhiên tôi có cái cảm giác kinh dị y như đang đứng giữa khung cảnh của một phim cao bồi. Tôi đã nghĩ rằng: “Tại sao họ bắn chúng tôi? Chúng tôi là những người bạn tốt!”

Chúng tôi cho tàu chạy khỏi người đàn ông có súng và đi chậm lại ở phía xa. Bây giờ tôi bắt đầu chờ người khách đầu tiên lên phi cơ. Chúng tôi dự tính sẽ cho họ ngồi vào ghế, bắt đầu từ những hàng trước, lần lượt đến phía sau, sẽ sắp đặt họ trong vòng trật tự.

Rồi những người lính bắt đầu lên.

Họ chạy xồng xộc với cặp mắt man dại. Chừng chín người lính đã lên, tôi xếp họ ngồi vào ghế. Rồi người thứ mười lên, nhưng hắn không chịu ngồi. Hắn bị kích động, cứ chạy lên chạy xuống la lớn bằng tiếng Anh: “Bay đi! Bay đi! Bay đi! Chúng nó sắp pháo kích vào phi trường kìa!” Hắn cứ la hét như thế mãi. Tôi nắm lấy hắn, tôi cũng hét lên: “Im mồm, tôi bảo ông ngồi đâu thì ông ngồi xuống đó.” Tôi đẩy hắn xuống ghế.

Nhưng có điều lạ: rất ít người lên phi cơ. Vì vậy tôi nghĩ cần phải ra sau xem có chuyện gì…Tôi thấy Daly dưới chân cầu thang đang bị dằn xé. Áo ông rách vụn. Joe Hrezo biến đâu mất. Val đang cố giúp Daly lôi người lên cầu thang trong lúc tàu bay cứ tiếp tục chạy trên phi đạo. Còn dưới chân thang, hàng tram người tuyệt vọng, điên cuồng, la hét cố bấu víu lấy Val và Daly. Đoàn người tiến đến không ngừng. Họ từ khắp phía, chạy đến cầu thang không ngớt. Tôi leo xuống. Daly ở dưới thang, ông cố lập trật tự bằng khẩu súng lục vung lên trời. Val cố giúp những người đang leo qua cạnh cầu thang. Một gia đình 5 người chạy đến phía tôi cầu cứu. Đó là bà mẹ, ông bố, hai đứa con nhỏ, một trẻ sơ sinh còn ẵm trên tay mẹ. Tôi có thể nhìn rõ nét sợ hãi trên khuôn mặt khi họ cố chạy đến phía tôi. Tôi quay lại định nắm tay người mẹ kéo lên. Trước khi tôi kịp nắm tay bà, một người đàn ông đứng sau đã nổ súng vào 5 người này. Họ ngã gục cả xuống, đám đông đạp ngay lên xác họ. Cái hình ảnh cuối mà tôi thấy là họ biến mất dưới chân đám đông. Chỉ vài tiếng nổ lớn, họ biến mất, tất cả những người ấy. Còn gã đàn ông vừa bắn xong đã đạp ngay lên thân họ để leo tới cầu thang. Hắn đè lên mọi người, chạy vào lòng phi cơ. Tất cả mọi thứ quá sức hỗn loạn điên cuồng. Tôi còn nhớ vào giây phút điên dại ấy, tôi nghĩ: “Chốc nữa sẽ tính chuyện này”, tôi tiếp tục kéo người lên phi cơ. Chợt cảm thấy một người đàn bà đang níu tôi từ phía hông cầu thang, bà nắm cánh tay tôi, cố lọt lên bực thang. Tôi muốn giúp bà ta nhưng cũng sợ bị rơi tuột khỏi thành cầu. Tôi bèn quay lại nắm cánh tay người đàn bà, kéo qua thành cầu. Nhưng một người đàn ông ở phía sau đã níu lấy, giựt bà khỏi tay tôi. Khi bà rơi xuống, người đàn ông kia đạp ngay lên lưng, lên đầu người đàn bà để leo lên thang. Hắn dùng người đàn bà như một hòn đá kê. Daly nhìn thấy chuyện xảy ra. Liền khi gã đàn ông tung được  chân qua thành cầu, Daly nắm khẩu súng đập một cú vào đầu gã. Tôi nhớ lúc ấy đột nhiên tôi thấy vòi máu vọt ra, gã đàn ông rơi xuống, người ta đạp lên hắn. Tôi nhớ tôi đã nghĩ: “Đáng kiếp”. Gã đàn ông này biến mất dưới bàn chân dày xéo của đám đông.

Lúc ấy người đổ ùn ùn vào phi cơ, tôi chạy trở vào xem Atsatko có xếp nổi chỗ ngồi không. Cô nắm lấy tay tôi, bảo: “Đại úy Ken Healy đang cần chị”. Tôi đến phòng lái gõ cửa. Cửa mở, Đại úy Healy bảo: “Joe Hrezo đã lạc khỏi phi cơ. Khi nào hắn trở lại được cho biết .” Tôi đáp: “OK.” Chuyện xảy ra là Joe và thông tín viên người Anh đã bị đám đông kéo tuột khỏi tàu, không trở vào được nữa. Chúng tôi lạc mất cả hai người. Joe tự chạy tới đài kiểm soát không lưu, người kiểm soát viên cho anh ta vào. Sau đó Joe liên lạc được với máy bay. Ken Healy cho biết chúng tôi sẽ “chạy taxi” đi rà trên đường vào bãi và yêu cầu Joe phóng ra khi máy bay tới gần . Chúng tôi sẽ không dừng một giây nào. Liền khi Joe lọt vào phi cơ, chúng tôi sẽ cất cánh. Đại úy Ken Healy bảo: “Khi thấy chắc chắn Joe vào phi cơ rồi, gõ lên cánh cửa cho tôi hay”. Tôi đi sau, bảo Val: “Val, canh chừng cầu thang, thấy Joe vào thì giơ tay, tôi sẽ ra hiệu cho Ken biết”

Trong khi đợi phi cơ chạy qua đài kiểm soát, người ta tiếp tục ào tới. Chúng tôi ấn họ xuống, 5, 6 người một ghế. Trong lúc làm việc, tôi nhớ là đã tự hỏi: “Thế còn đàn bà, trẻ con đâu hết?” Hóa ra, mọi hành khách đều là binh sĩ. Sau đó, tôi đếm chỉ có 11 người đàn bà và trẻ con. Tất cả chỉ có thế! Còn lại đều là binh sĩ…

Mọi người ngồi trên ghế với những bộ mặt căng thẳng. Gã khùng vẫn tiếp tục la lối: “Bay đi! Bay đi! Bay đi!”

Khi tàu đến gần đài kiểm soát. Daly vẫn còn đâu đó dưới cầu thang để kéo người vào. Tàu chạy rà qua đài kiểm soát được một lát, Val quay người lại, giơ tay lên. Tôi gõ vào cửa phòng lái. Phi cơ bắt đầu rồ máy. Chúng tôi gia tăng vận tốc. Gã khùng lúc trước la lối đòi bay, bây giờ sợ hãi thét lên: “Ối! Ối! tàu bay đang cất cánh trên cỏ.”

Thật ra, chúng tôi chạy để cất cánh từ phi đạo, lối vào bãi đậu, và Ken đã rồ máy để cảnh cáo người ta tránh ra, nếu không chúng tôi sẽ cán qua mà chạy.

Phi cơ leo lên cỏ vì đã vào cuối đường bến, không còn cách nào trở lại được. Chúng  tôi cứ tăng tốc lực bay vượt lên, do đó đã đụng phải một chiếc xe và một cọc hàng rào gây hư hỏng cho  cánh phi cơ. Nhưng hư hỏng  trầm trọng nhất là do đạn và lựu đạn ném vào một bên cánh. Ở trong phi cơ, chúng tôi không thấy được hư hại, không rõ tình trạng thế nào. Nhưng đại úy Ken Healy biết rất rõ.

Dầu thế, chúng tôi vẫn phải bay lên. Phải thoát khỏi Đà Nẵng. Chưa một giây phút nào tôi nghĩ là không thể thoát. Không ai có thì giờ để nghĩ những điều như vậy giữa cơn rối loạn. Sau  này tôi khám phá được suýt chút nữa chúng tôi đã không thoát. Đáng lẽ chúng tôi đã mất mạng vì các hư hỏng của phi cơ. Với 358 con người ở lòng tàu, còn lại 60 người khác trong khoang chở hàng, có cả người mắc trên bánh xe. Chiếc máy bay này thật sự chỉ dùng để chở có 133 hành khách thôi.

Sau này Ken Healy gởi cho hãng Boeing những con số thống kê liên hệ đến chuyến bay. Người ta cho chạy điện toán rồi bảo chúng tôi: Theo cách tính của họ, phi cơ chẳng thể nào cất cánh. Vậy mà chúng tôi đã cất cánh được. Sau Ken cũng gởi cho Boeing một điện tín khác, nói: “Quý ông quả đã chế được một cái tàu bay tốt hết xảy.”

Sau khi cất cánh, tôi bắt đầu đếm hành khách. Tôi chú ý một người ngồi ghế trước, mặt tái xanh, bị thương nặng, ruột đổ lòng thòng. Tôi dùng tay nhét đại ruột vào, giật cái khăn trên cổ một người nào đó quấn quanh bụng ông ta lại. Tôi kéo thùng cứu thương xuống. Thuốc men mất đâu cả từ Sài Gòn. Chúng tôi không có bất cứ một vật dụng y khoa nào trên tàu. Trống trơn. Không thuốc men bông băng gì. Sau khi tạm ổn thỏa với người đàn ông ghế trước, tôi nhìn ra lối đi, thấy một người khác đang bò lết đến bên tôi. Tôi nhận ra gã, đầu bê bết máu. Máu vấy đầy mặt. Chính là gã đàn ông đã kéo người đàn bà ra khỏi tay tôi. Đó là gã đàn ông bị Daly nện với khẩu súng lục. Lần sau chót tôi thấy hình ảnh người đàn bà bị nghiến trên mặt đất. Cũng lần sau chót tôi thấy gã đàn ông này bị đám đông đạp lên. Vậy mà sao gã cũng lết được vào phi cơ? Bây giờ gã đang bò. Tôi nhớ đó là lần duy nhất trong ngày tôi đã cầu nguyện, tôi cầu: “Lạy chúa. Xin đừng để cho gã này tiến lại gần con”. Gã cứ lồm cồm lết đến. Gã nắm lấy ống quần tôi. Gã nhìn lên tôi. Gã chỉ nói: “Xin cứu tôi”

Thế là tôi nắm đại một người, kéo khỏi ghế, tôi giúp gã ngồi vào ghế. Đầu gã nứt, tôi có thể nhìn thấy bên trong máu lầy nhầy. Không có gì để cầm máu cả. Tôi biết nếu tôi không giúp cho máu cầm lại, gã sẽ chết ngay trên tay tôi. Một người lính ngồi bên cạnh mặc cái áo tác xạ. Tôi xé toạc cái áo, bốc một nắm mạt cưa  nhét vào vết thương. Tôi cứ nhồi mãi mạt cưa vào để chận vòi máu. Chắc chắn giới Y khoa Mỹ sẽ giật mình với phương pháp này, nhưng nó đã tỏ ra hữu hiệu. Tôi giật lấy cái sơ mi của một người khác, buộc quanh đầu gã để giữ mạt cưa lại…Gã được bình yên suốt chuyến bay. Gã thật mạnh, không bị bất tỉnh lần nào. Tôi đi về phía sau lần nữa, thấy Val, Daly và Joe Hrezo đang cố kéo một người đàn ông mắc kẹt trong cầu thang sau. Cửa máy bay sau không đóng được. Người ấy bị kẹt trong thang, gẫy chân. Sau cùng họ lôi được người này ra, mang vào trong phi cơ. Val và tôi cố bó cái chân gẫy với một miếng gỗ – Lúc ấy Joe bảo tôi rằng thông tín viên người Anh không trở lại được. Anh ta bước ra phi đạo Đà Nẵng để thu hình đám đông, rồi vô phương trở vào phi cơ trong lúc rối loạn. Anh ta còn ở trong đài kiểm soát. Ken Healy hứa sẽ có một chiếc trực thăng Air America đến đón. Về sau, anh ta cũng đã trở vào được Cam Ranh. Val, Atsako và tôi tiếp tục cấp cứu cho mọi người trên tàu. Việc này chiếm hết thì giờ và tôi đoán là khi đã bay được một giờ đồng hồ thì chúng tôi mới bắt đầu nhìn đến các hành khách khác không bị thương. Tôi thấy vẻ kinh sợ trên mặt họ. Cuối cùng, họ nhận thức được họ đã làm những gì. Họ bắt đầu hỏi “Còn những chuyến bay khác nữa không?”

Chúng tôi trấn an bằng cách nói thác: “Còn chứ, còn nhiều chuyến nữa.” Những người này bây giờ đã hiểu ý nghĩa việc bắn giết đồng bào để leo vào chuyến bay. Bây giờ họ ân hận. Đành nói dối thôi, chứ chúng tôi cũng biết sẽ không còn chuyến nào ra Đà Nẵng nữa. Đây là chuyến chót. Những người đi sau không ra nữa. Ken Healy đã liên lạc với Don McDaniel của chuyến 727 kế, bảo anh ta đợi chúng tôi ở Phan Rang, và bảo anh ta điện cho Dave Wanio quay lại Sàigòn để sửa soạn việc hạ cánh khẩn cấp. Tàu chúng tôi hư hỏng nặng, Ken không dám chắc bánh xe buông xuống được khi chúng tôi xuống Sàigòn. Tôi hiểu điều đó có nghĩa gì.

Trong lúc ấy, phi cơ nóng kinh khủng mặc dù thang máy bay phía sau vẫn hạ xuống, cửa sau vẫn mở trống hốc. Người ta không thể thở nổi trong máy bay với chừng ấy con người – chúng tôi nhờ Đức, chuyên viên âm thanh của CBS luôn luôn nhắc nhở bằng tiếng Việt trên máy phát thanh là “Yêu cầu đừng hút thuốc.” Hành khách tuyệt đối cấm hút thuốc, và nếu có người hút thuốc là hỏa hoạn sẽ xảy ra lập tức.

Sau công tác cứu thương cho hành khách, tôi nhận ra trên máy bay không có gì cho họ uống. Nhưng có một ngăn nước đá đã chảy, bây giờ đầy nước lạnh. Tôi bảo Bruce Dunning xé tấm màn ra từng miếng vải vuông nhỏ, nhúng nước. Tôi lấy những mảnh vải ướt, đi lên đi xuống chuyển cho hành khách tạm thời lau mặt. Người nào cũng nhễ nhại mồ hôi. Tôi bảo Val và Atsako làm một cái gì để nâng tinh thần những người này. Sau những gì họ đã làm với chính các bè bạn, chiến hữu họ, sự xúc động đang chậm chạp kéo đến dày vò họ. Họ đã bỏ gia đình. Họ đã giành giật, bắn giết nhau để lấn vào tàu. Bây giờ cơn náo loạn biến mất, nhận thức về cái ghê tởm đã xảy ra đang ngấm dần.

Vì thế, chúng tôi đi quanh, nói chuyện, vỗ vai, chùi mặt mày, lau tay, cố làm một vài điều giúp họ thoải mái đôi chút.

Lúc ấy, tôi cũng chết khát. Daly đến bên, mở áo sơ mi ló ra cho thấy một chai coca. Ông bảo “ra phòng lái.” Tôi đi ra phòng lái, ngồi xuống ghế quan sát viên, Daly tiến đến với một chai coca. Ông mở nút đưa tôi. Tôi nhớ tôi đưa chai coca lên miệng, nhưng nước cứ trào khỏi cằm, chảy xuống bộ đồng phục. Tôi không nuốt nổi. Chúng tôi chuyền cái chai coca độc nhất quanh phòng lái. Một lần nữa, Ken Healy nói với tôi về các hư hỏng của chiếc tàu bay. Ông bảo không dám chắc cái bánh xe mũi có thể buông xuống được, nếu nó xuống được, chưa chắc sẽ chịu đựng được thân tàu. Ông báo động: phải sẵn sàng đối phó bất cứ điều gì khi hạ cánh xuống Sàigòn.

Tôi trở lại khoang hành khách, phục vụ loanh quanh. Chợt mọi người đều xúc động nhìn qua phía trái. Chúng tôi đã bay đến Phan Rang. Don McDaniel và phi hành đoàn đang bay ở cao độ 35,000 bộ, họ đang chờ chúng tôi. Cuối cùng họ thấy một chấm đen ở phía dưới, họ nhận ra chúng tôi và đang bay xuống phía chúng tôi. Chúng tôi nhìn ra cửa sổ. Ngoài kia, tương phản với bầu trời xanh tuyệt vời, trên đám mây trắng nõn là chiếc tàu bay World 727 xinh đẹp màu đỏ và trắng. Một cảm giác sảng khoái đột nhiên chạy qua khắp chiếc tàu, và lúc ấy tôi biết cái cảm giác này cũng đi suốt qua tôi. Chúng tôi biết một chiếc phi cơ chị em đã tìm ra chúng tôi. Chúng tôi sẽ an toàn vì cô chị chúng tôi nay đang hộ tống chúng tôi trở về bình an.

Thế là anh chàng Don McDaniel lái chiếc tàu bay của anh ta lượn quanh chiếc tàu bay chúng tôi để lượng giá những hư hỏng. Anh ta gọi Ken Healy, bảo “’Hình như có một xác chết lủng lẳng trên bánh xe của bạn.” Ken đã hỏi anh ta về việc đó. Một người bị cán khi bánh xe lùi lại. Nhưng cái chết của người này đã cứu mạng sống của tám người khác dưới guồng bánh xe vì xác chết đã cản cần máy lại, không làm cho bánh xe lùi thêm nữa.

Như vậy lúc đó chúng tôi biết sẽ phải đương đầu với nhiều vấn đề gây ra bởi bánh xe. Các cửa khoang chở đồ mở toang, cầu thang sau còn treo thòng xuống, cửa sau cũng mở trống, vành xếp của cánh máy bay bị đạn bắn sẽ không hoạt động khi hạ cánh. Chúng tôi đang ở tình trạng khó khăn nghiêm trọng.

Phi cơ tiếp tục bay về Sàigòn.

Tôi nói với Val “vào phòng rửa mặt,” ở đây tôi nói cho Val biết những cái trục trặc của tàu bay. Lúc hạ cánh, tôi sẽ ngồi hàng ghế trên, Val sẽ ngồi sau khoang phi cơ. Tôi bảo không biết chúng tôi thoát được không. Tôi dặn dò vài điều nhắn cho gia đình tôi trong trường hợp Val sống sót và nếu tôi không thoát được. Tôi bảo “Hãy cho gia đình tôi biết mọi sự cũng ổn thôi. Tôi đã không hề sợ hãi gì. “Tôi không khóc. Cô cũng vậy. Người ta không có thì giờ dành cho xúc cảm, mà hiển nhiên đây là lúc đầy cảm xúc, nhưng người ta đành phải giấu đi thôi.

Thế rồi phút cuối cùng của chuyến bay phải đến. Từ sau thân tàu, tôi bắt đầu đi lên, và đây là lúc một hành động tự phát xuất hiện. Một người đàn ông trao vào tay tôi khẩu M.16. Anh không nói tiếng Anh, tôi không nói được tiếng Việt, tôi không rõ anh ta muốn gì. Nhưng rồi tôi hiểu: anh muốn tôi hãy nhận lấy khẩu súng của anh. Vì thế tôi khoác cái khẩu súng khốn nạn lên vai, trong lúc bước đi, người ta bắt đầu trao thêm cho tôi mọi thứ khác. Khi đến phòng lái, trên vai tôi đã có vài khẩu M.16 lủng lẳng, một băng đầy đạn, một nắm đạn rời. Một vài người đã trao một hay hai viên, vài người khác trao cho tôi nhiều hơn, tôi còn có hai khẩu súng lục treo trên ngón tay. Chính lúc ấy – khi tôi đang nắm những viên đạn nhỏ và những thứ vũ khí trong tay – đột nhiên một cảm giác rõ rệt bừng ra – cuộc chiến của những người này đã chấm dứt. Họ không muốn súng đạn hay bất cứ gì nữa. Điều ấy thực chua chát: chính họ cũng đã ở cuối đường.

Khi tôi gần đến phòng lái, một gã khùng đặt một quả lựu đạn lên trên các thứ trong tay tôi. Tôi nhìn xuống, tự nghĩ “Trời ơi – một quả lựu đạn!” Phản ứng bản năng tôi là định xoay người, ném xuống phía sau máy bay. Nhưng tôi sợ nó đụng cầu thang phát nổ, tôi nghĩ “Chúa-ơi-tôi-sẽ-làm-gì-với-những-thứ-này?” Tôi đi về phòng lái, đá cửa. Charlie Stewart, kỹ sư chuyến bay mở ra. Tôi nói với anh: “Charlie, cầm lấy mấy cái này!” Tôi chưa bao giờ từng chạm tay đến một quả lựu đạn. Charlie cầm lấy. Anh ta và Mike Marriott vội tìm băng keo quấn lại. Họ quấn băng keo quanh quả lựu đạn, và mọi thứ tôi mang vào. Nếu lỡ có gì phát nổ, họ muốn bọc bớt lại càng nhiều càng tốt.

Đã đến lúc hạ xuống Sàigòn. Tôi gọi Mike Marriott tới bên cửa hông, chỉ cho anh cách mở cửa khẩn cấp và cách bung cầu tuột. Thông thường, đó là việc của Atsako, nhưng cô là tiếp viên mới, tiếng Anh không thạo, không chắc cô sẽ đối phó được trường họp khẩn cấp. Cho nên tôi muốn có một người đàn ông ngồi đấy.

Lúc tôi đang ngồi ở ghế trên với Bruce Dunning thì Daly từ phòng lái bước ra, ông yêu cầu Bruce xuống phía sau tàu. Ông muốn Bruce mang các phim ảnh quay được ở Đà Nẵng ra phía sau, nếu không ai sống sót thì các phim ảnh vẫn phải được bảo toàn. Tất cả đều cảm thấy mãnh liệt: Nếu chúng tôi không thoát, thế giới vẫn cần phải biết những gì xảy ra hôm ấy.

Daly đến, ngồi xuống cạnh tôi. Ông hỏi tôi có biết gì tình trạng chiếc máy bay không. Tôi nói biết. Ông hỏi tôi có sợ không. Tôi nói “Không, tôi không sợ chết.” Ông choàng cánh tay ôm tôi, nói “Cô bảnh lắm. Tôi sẽ đãi cô nhậu một chầu nếu mình thoát ở Sàigòn.” Tôi nói “Ông Daly, nếu sống sót, xin ông mua cho tôi một két bia.” Ông ta cười.

Rồi Daly lại bảo tôi “Những người này không hề biết súng của tôi trống rỗng.” Ông đã bắn hết đạn trong lúc cố duy trì trật tự ở cầu thang máy bay tại Đà Nẵng. Ông bảo “Tôi sẽ giữ khẩu súng để kiểm soát họ khi hạ cánh, như thế cô sẽ có thì giờ mở cửa và bung cầu tuột.” Tôi đáp “Tốt lắm.”

Chúng tôi bắt đầu một cuộc hạ cánh khá dài để xuống Sàigòn. Phi cơ bay hơi nhanh, tất nhiên không nên bay nhanh như vậy để hạ cánh, nhưng chúng tôi không điều chỉnh được vành xếp ở cánh. Và tôi ngồi ở cái ghế đặt ngay vị trí bánh xe mũi, ngồi đấy, tôi có thể cảm thấy bánh mũi có hạ xuống không? Có chống được thân tàu hay không? Rồi tôi cảm thấy bánh xe chính chạm phi đạo, tôi thấy phi trường bay vượt qua. Tôi cố chờ để cảm thấy cái bánh xe mũi hạ xuống mặt đường. Nhưng Ken đã giữ cho mũi máy bay cách khoảng mặt đất thật lâu. Tôi không hiểu làm thế nào anh đã giữ được như thế. Bỗng tôi thấy các toà nhà vút qua. Tàu chúng tôi đang chạy ngay trên phi đạo. Tôi hiểu bánh mũi đã hạ và chịu đựng được. Thế mà tôi không cảm thấy nó hạ xuống lúc nào. Ken đã khéo léo điều khiển chiếc 727 đáp xuống Sàigòn một cách nhẹ nhàng như thế. Rồi phi cơ cứ vùn vụt chạy trên phi đạo, vì chúng tôi không thể ngừng. Cảm ơn Thượng Đế, Sàigòn có được cái phi đạo dài 14,000 bộ! Bốn chiếc xe cứu hỏa chạy nhanh, kèm bên chúng tôi. Cuối cùng, chúng tôi quẹo qua đường vào bến. Phi cơ ngừng, không tỏ dấu hiệu rõ rệt nào là có sự nguy khốn cả. Tôi nhảy ra, mở cửa, nhưng không bung cầu cấp cứu. Joe Hrezo đã đứng trên mặt đất, hẳn anh ta đã chạy xuống bằng thang sau. Cùng một lúc, Joe và tôi la lên: “Xe tải thương, cáng cứu thương! Chúng tôi cần xe tải thương, cáng cứu thương.”

Người ta mang cầu thang đến cửa trước. Mọi người bên trong ngồi im lặng. Qua máy phóng thanh, Đức nhắc đi nhắc lại: “Ngồi yên, đừng di chuyển.” Không ai nhúc nhích. Sau đó chúng tôi bắt đầu chuyển người ra. Tôi nhớ có một người đàn ông châm một điếu thuốc. Ngay khi anh ta tới cửa trước, tôi yêu cầu anh không được hút thuốc vì có xăng. Anh ta ném điếu thuốc, dí chân lên điếu thuốc cháy đỏ. Tôi thấy anh ta đi chân không. Tôi nghĩ “Chúa ơi, thế thì đau lắm.” Nhưng anh không cảm thấy. Không ai trên tàu còn cảm thấy gì nữa.

Hầu hết hành khách được lùa sang một bên. Cáng tải thương mang vào tàu, họ khiêng người đàn ông với vết thương nặng trên đầu, rồi khiêng người đàn ông bị đổ ruột. Khi mọi người ra hết, chúng tôi bắt đầu kiểm điểm. Val và tôi bước qua lối đi, nhặt nhạnh súng, đạn, những quả lựu đạn bỏ lại trên ghế. Tôi nhận ra chúng nặng quá sức. Tôi bảo Val “Thôi kệ – Bỏ lại – sẽ có người khác đến lo chuyện ấy.”

Tôi và Val rời tàu. Chúng tôi là hai người cuối cùng rời tàu. Nhìn những chỗ hư hỏng của chiếc máy bay, chúng tôi sợ hãi khi thấy những mảng kim khí đã toác ra. Chúng tôi cũng sợ hãi nhìn những lỗ đạn trên cánh. Lúc ấy tôi nói với Val “Thật đáng ngạc nhiên là chiếc phi cơ này đã có thể bay được.”

Val và tôi được đón đến ban phi vụ, rồi đến khách sạn Caravelle. Người ta đưa chúng tôi tới văn phòng ông Daly, nơi đây thông tín viên NBC đang phỏng vấn tất cả mọi người. Tôi ngồi trên chiếc ghế dài uống bia trong lúc họ quay phim.

Trong phòng bên, vài chục phóng viên khác đang chờ. Họ đều muốn phỏng vấn chúng tôi. Tôi hỏi Daly “Chúng ta nên nói gì?” Ông ấy bảo: “Cứ nói sự thật.”

Daly đưa tất cả chúng tôi đi ăn tối hôm ấy. Khi về lại khách sạn, tôi tắm rất lâu. Tôi nằm xuống giường, nhưng không ngủ được. Tôi cứ nhìn thấy mãi hình ảnh những người buổi sáng hôm ấy ở Đà Nẵng. Tôi thấy người đàn bà bị đẩy đạp đến chết. Tôi có thể thấy cả quần áo của bà ta và cái xác máu me nát bấy. Tôi thấy gia đình năm mạng người bị bắn từ sau lưng ngã gục xuống. Rồi người đàn ông bò lồm cồm ở lối đi trên máy bay, lết đến bên tôi. Tôi nhận ra suốt đêm tôi sẽ không thể ngủ được. Tôi nhỏm dậy, ra ngồi ở bàn viết. Tôi nghĩ có lẽ tôi có thể viết lại. Tôi đã cố. Tôi viết được đôi chút. Nhưng thật khổ, chuyện ấy quá lớn đối với chữ nghĩa. Tôi không biết viết thế nào về câu chuyện đã xảy ra.

Thời gian trôi. Tôi mất ý niệm về thời gian. Chợt chuông điện thoại reo. Tôi bốc máy trả lời. Điện thoại viên bảo có một cú điện thoại viễn liên quốc tế. Tôi nhìn đồng hồ, nhận ra đã 7 giờ sáng. Rồi giọng một người đàn bà, nói trong điện thoại từ một đài phát thanh ở Los Angeles. Bà ta muốn phỏng vấn tôi. Bà đã xem cuốn phim CBS về chuyến bay Đà Nẵng trong mục tin tức. Thế là tôi kể cho bà nghe tất cả những gì đã xảy ra. Cuối cuộc phỏng vấn, bà ta nói một câu ngu ngốc nhất. Chưa bao giờ trong suốt đời tôi nghe ai có thể nói một câu ngu ngốc thế. Bà ta bảo: “Cô Wollett, nghe chừng cô còn buồn bực lắm!” Tôi không thể tin được sự ngây ngô như thế trong nhận xét của bà ta. Lúc ấy, biết bao ý nghĩ diễn ra trong trí. Nhưng tôi chỉ còn có thể nói: “Thưa bà, hãy đặt vấn đề như thế này: Đây không phải là câu chuyện mà người ta có thể chứng kiến mỗi ngày.”

Bà ta nói “Thôi, cảm ơn, cô Wollett. Nhân tiện, xin chúc cô một lễ Phục sinh vui vẻ.” Đến lúc ấy, tôi mới nhận ra: đó là ngày chủ nhật mùa lễ Phục sinh.

“…Đây không phải là câu chuyện mà người ta có thể chứng kiến mỗi ngày…”

Nước mắt trước cơn mưa

Larry Engelmann

Người dịch: Nguyễn Bá Trạc

Lời Mở Đầu Của Người Dịch

Nguyễn Bá Trạc

Cuốn sách này được mệnh danh là một “sử liệu khẩu vấn về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam.” Nguyên tác Anh ngữ, xuất bản bởi nhà Oxford University Press, gồm ba phần:

-Phần thứ nhất: Phỏng vấn người Mỹ

-Phần thứ hai: Phỏng vấn người Việt

-Phần thứ ba: Những câu chuyện sau cuộc chiến

Trước khi đi vào các phần chính, sẽ có lời mở đầu của tác giả. Bài này trình bày tổng quát bối cảnh nhằm dẫn vào những câu chuyện phát biểu trong cuốn sách. Sau cuốn sách là lời cảm tạ của tác giả. Bài này cho biết ít nhiều về điều kiện, phương pháp làm việc, đồng thời cũng cung cấp một danh sách những người tác giả đã phỏng vấn.

Ngoài ra, cũng lưu ý vấn đề thời gian:

-Các cuộc phỏng vấn bắt đầu từ mùa Xuân 1985, mười năm sau biến cố miền Nam sụp đổ.

-Nguyên tác xuất bản năm 1990.

-Bản dịch Việt ngữ khởi từ tháng 2/1993, hoàn tất tháng 8/1993.

Khi bản dịch được sửa chữa trong tháng hai và tháng ba 1995, dự định xuất bản vào tháng tư 1995: Ấy là vừa đúng hai mươi năm sau biến cố.

Trong hai mươi năm qua, với nhiều sự kiện quan trọng đã xảy ra, do đó chúng tôi có ghi thêm vài trang Hậu Từ và cung cấp trong sách một số tài liệu phụ đính nhằm cập nhật và bổ túc tư liệu cho độc giả.

Về phương pháp dịch thuật: Nói chung, là dịch toàn bộ và cố theo sát nguyên tác.

Cuốn sách tổng cộng hai mươi chương. Có chương chỉ một chuyện, một người kể. Có chương tám chuyện, tám người kể. Trong nguyên bản, chuyện dài nhất 21 trang, ngắn nhất 11 dòng. Với 71 chuyện do 65 người kể, 6 người lập lại hai lần: Các câu chuyện thường liên hệ nhau, hoặc lập lại một số tình tiết giống nhau, qua những cái nhìn đôi khi khác nhau.

-Những người phát biểu được phân loại theo chủng tộc Việt hay Mỹ, theo nghề nghiệp, vai trò, công tác phụ trách, quân đội hay thường dân, kẻ thắng người bại, người lớn hay trẻ con. Mỗi người có một cách sử dụng ngôn ngữ, cách diễn tả. Cách dùng ngôn ngữ trong nguyên bản tiếng Anh giúp độc giả hiểu cá tính, trình độ văn hóa, có nhiều yếu tố hơn trong việc lượng giá về người phát biểu, lời phát biểu. Trong bản dịch Việt ngữ, người dịch có quan tâm đến điều này, nhưng mặc dù cố gắng, vẫn e tính đặc thù mất bớt.

Mặt khác, về những người Việt: Đa số được hỏi và trả lời bằng tiếng Việt, rồi chuyển sang Anh ngữ. Nay, một lần nữa lại được chuyển về Việt ngữ. Với hai lần chuyển dịch, lần này lại phải tôn trọng nguyên tác tiếng Anh, nên cũng e bài viết không được suông sẻ theo tinh thần Việt ngữ. Nhưng nếu phải chọn việc phóng tác để đọc theo tinh thần Việt ngữ hoặc giữ cách diễn tả trong nguyên tác là cách diễn tả ý tưởng của người Mỹ, người dịch nghiêng về cách thứ hai.

Dẫu vậy, cũng có một vài thay đổi nhỏ:

Theo nguyên bản, hầu hết chỉ để tên người được phỏng vấn. Trong bản Việt ngữ, có mở ngoặc, ghi thêm chức vụ, nếu nội dung bài viết nói đến. Theo nguyên bản, những địa danh Việt Nam, tên người Việt không đánh dấu. Trong bản Việt ngữ, chúng tôi có bỏ dấu tiếng Việt nếu biết chắc chắn. Những gì không biết, người dịch để trống theo bản Anh văn.

Mặc dù không đặt trọng tâm vào việc tìm tài liệu ghi chú, tuy nhiên bất cứ lúc nào có thể, người dịch ghi chú thêm để làm rõ nghĩa. Một vài ghi chú có lẽ không cần thiết đối với một số độc giả, nhưng có thể cần thiết cho một số độc giả khác.

Vào năm 1993, lúc bản dịch này được đăng tải từng kỳ trên một số tạp chí và nhật báo ở Hoa Kỳ và Gia Nã Đại, người dịch đã nhận được nhiều lời phê bình, thảo luận, góp ý. Người dịch nhân đây xin được cảm tạ quý vị: Nhờ thế đã có thể sửa chữa thêm trước khi xuất bản quyển sách này.

Khả năng Anh ngữ của người dịch vẫn còn có nhiều giới hạn, ngoài ra, việc chọn chữ tương đồng trong Việt ngữ cũng vụng về.

Chúng tôi mong mỏi và thâm tạ mọi lời chỉ giáo để nếu có dịp tái bản, quyển sách dịch này sẽ được hoàn hảo hơn.

Nguyễn Bá Trạc

Lời Mở Đầu Của Tác Giả

_______________________________

PHẦN THỨ NHẤT: NGƯỜI MỸ

_______________________________

Chương 1: Chuyến Bay Cuối Cùng Từ Đà Nẵng

Chương 2: Cô Nhi

Chương 3: Phái Đoàn Quốc Hội

Chương 4: Toà Đại Sứ Hoa Kỳ

Chương 5: Trung Ương Tình Báo

Chương 6: Văn Phòng Tuỳ Viên Quân Sự Hoa Kỳ

Chương 7: Uỷ Ban Liên Hợp Quân Sự Hoa Kỳ

Chương 8: Bộ Chỉ Huy Hải Vận

Chương 9: Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ

Chương 10: Tù Binh Chiến Tranh

Chương 11: Hoa Thịnh Đốn

Chương 12: Giới Truyền Thông Hoa Kỳ

Chương 13: Dân Sự Hoa Kỳ

Chương 14: Về Phía Nixon

_____________________________

PHẦN THỨ HAI: NGƯỜI VIỆT

_____________________________

Chương 15: Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà

Chương 16: Dân Sự Việt Nam

Chương 17: Trẻ Em

Chương 18: Những Người Chiến Thắng

_______________________________

PHẦN THỨ BA: SAU CUỘC CHIẾN

_______________________________

Chương 19: Bụi Đời

Chương 20: Người Việt

__________________________________

Phụ Lục: 

______________________

Ghi chú:

  1. Trần Thị Mỹ Ngọc, “Họ như đàn kiến vây quanh chúng ta”, Trần Thị Mỹ Ngọc dịch.
  2. Trần Thị Mỹ Ngọc, “Hãy để tôi chết trong ánh mặt trời”, Trần Thị Mỹ Ngọc dịch.
  3. Lê Thị Ngọc Hà, “Theo tôi người Việt rất là hư. Chúng tôi không biết quí trọng những gì đã có cho đến khi mất tất cả”, Nguyệt Thu Hồ dịch. (Bài viết của Larry Engelmann không có trong nguyên tác)

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 19 Jan 2024

Bài 71

Chương kết

Bọn giám thị trại Hàm Tân dù không thẳng thắn tuyên bố ra, nhưng hơn ai hết, đội 17 biết thật rõ và thật chắc chắn quản giáo Phú đã đào ngũ, đào ngũ trước Tết Nguyên Đán 1980 đúng mười ngày. Một quản giáo mới được thay thế vừa đúng ba ngày, tức trước Tết còn đúng một tuần lễ, thì trại Hàm Tân, 2.000 tù, vào một buổi trưa trước giờ xuất quân đi lao động, có 14 thằng tù loại sắp chết được cách mạng xướng tên cho phép “lê bước chân tìm về tổ ấm”. 
Lúc ấy, Vĩnh vừa ký tên vào sổ xin ở nhà khai bệnh và dĩ nhiên, nhận được một cái nhìn đầy ác cảm của đội trưởng Mai Văn Lễ. Một thằng khai bệnh là một cái điểm đen trong bảng chấm công hàng ngày, hàng tháng và hàng năm của cả đội. Vì lẽ đó, ngay đội trưởng, cũng thân phận tù như nhau, đã vì “chức năng”, luôn luôn làm khó dễ anh em trong những lúc đau ốm buộc lòng phải khai bệnh. Dù gì gần đây đội trưởng Lễ nhăn nhó với Vĩnh cũng phải. Nội tuần vừa qua Vĩnh đã khai bệnh đến ba lần. Mà không khai bệnh cũng không được! Hiện tại Vĩnh đã biết mình lao nặng trở lại. Lao thực chứ không còn kịch cỡm gì nữa. Ở đây không như Suối Máu. Ở đây lao động rất trâu bò. Lại gió núi mưa bưng. Bệnh phổi của Vĩnh đã tái phát và lúc này coi mòi đang trên đà phát triển dữ dội. Cứ tưởng tượng phải lặn lội đào bùn dưới đường hào với cái bụng đói meo, trong khi những cơn gió lạnh thổi từ rừng buông ra, Vĩnh đã thấy ớn sợ. Thế nên đội trưởng Lễ có nhăn nhó một, chứ nhăn nhó mười Vĩnh nhất quyết cũng khai bệnh nằm nhà vào cái chiều thứ Bảy cuối tuần này. Hơn thế, mấy ngày nay Vĩnh viết được một bài nhạc mới thật ưng ý, bài Nếu Tôi Còn Sống Mà Trở Về; Vĩnh muốn có thì giờ nằm nhà suy nghĩ và gọt dũa thêm… 
Ngoài sân của khu và cả ngoài sân trại, các đội hình đã ngồi đầy dẫy để chờ giám thị trực đọc các thông cáo trước giờ cho xuất quân đi lao động. Vĩnh ngồi trong phòng, choàng cái chăn rách lên người cho thêm vẻ đau ốm và nhìn ra ngoài cửa sổ. Hôm nay có gì mà trang trọng thế? Vĩnh tự hỏi. Thông thường chỉ ngày đầu tuần, khi có những thông cáo quan trọng thì bọn trật tự mới khênh cái bục thuyết trình ra sân cho giám thị trực dùng. Những ngày cuối tuần thế này, có đọc thông cáo hay lệnh phạt đi nữa, thường chỉ được thực hiện giản dị mà thôi. Nhưng trưa nay lại có cả bục thuyết trình đàng hoàng. 
Tên giám thị trực đã xuất hiện. Một lúc sau tiếng loa ồm ồm đọc lên một cái gì đó Vĩnh không nghe rõ. Anh em ngồi tập họp ngoài sân chợt thầm thì bàn tán. 
– Có list thả! 
– Đúng rồi! Thả nữa! Vậy là từ tháng 9 năm rồi đến nay đã hai đợt thả! 
Một giọng buồn buồn. 
– Mỗi kỳ thả năm bảy thằng chắc kiếp sau mới tới lượt những thằng phản động chuyên nghiệp như mình! 
Vĩnh cảm thấy thật ơ hờ với cái không khí đọc thông cáo thả tù ngoài sân. Anh nằm xuống kéo chăn chùm kín đầu khi thấy bác sỹ Anh dẫn theo mấy anh y tá vào tận nhà 4 khám bệnh cho những người khai bệnh. Vĩnh đang nghĩ cách làm sao nói khéo để ông Anh cho nghỉ chiều nay. 

Trong lúc bác sỹ Anh đang khám mấy người nằm ở đầu dãy phòng thì có một người bỏ hàng ngoài sân chạy tốc vào nhà 4. Vĩnh ngó ra thấy ông Thuận tức Châu Sơn. Ông Thuận chạy phóng đến chỗ Vĩnh nằm, giật mạnh chân Vĩnh, nói như người nghẹn thở. 
– Họ thả ông rồi! 
Nằm chùm chăn kín đầu, Vĩnh không nghe rõ ông Thuận nói gì. Thấy Vĩnh vẫn nằm yên, ông kéo thốc cái chăn của Vĩnh lên, la lớn một lần nữa. Vĩnh! Họ thả ông rồi kìa! Ngồi lên! 
Bây giờ thì Vĩnh đã nghe thấy và nhìn nét mặt hớt hải vì mừng của ông Thuận, Vĩnh đã tin lời ông nói. Vĩnh ngồi dậy và cố lấy vẻ thật thản nhiên, anh hỏi lại. 
– Còn anh sao? 
Ông Thuận giơ cả hai tay tỏ vẻ chán nản. Ông đứng nhìn Vĩnh một thoáng, hơi hạ giọng và nói nhanh một cách thật cảm động. 
– Chút nữa thế nào họ cũng đưa ông đi khỏi đây. Thế là hết, khi tụi này đi lao động về thì chỗ này đã khuyết đi một người nằm… Chả biết bao giờ gặp lại ông… 
Ông Thuận có vẻ thật buồn. Rồi ông quay lưng đi ra phía cửa. Trông cái dáng cao nghệu và khòm khòm của ông, Vĩnh thấy nơi ông tất cả sự chịu đựng mệt mỏi. Ra gần tới cửa, có bác sỹ Anh đang khám bệnh, ông Thuận nói nhỏ gì đó với ông Anh. Ông Anh bỗng ngẩng đầu lên, ngó dáo dác về phía Vĩnh, hỏi vu vơ. 
– Đâu? Anh nào? Anh nào may mắn vậy? 
Trước khi rời khỏi cửa phòng, ông Thuận ngoái lại một lần nữa. Ông nói lớn với nụ cười héo hắt. 
– Thôi, mừng ông và tạm biệt ông nhé. Có những điều tôi từng nói với ông, nhớ lấy! Nếu có dịp gặp anh em văn nghệ, đặc biệt bà Nguyễn Thị Hoàng, cho tôi gửi lời thăm hỏi… 
Tiếp theo đó là anh Huy, Ý, Dương, Điểu, Cường và cả anh chàng phó quận Vũ Duy Báu, người từng giúp đỡ Vĩnh thật nhiều về thuốc men, đều chạy vào phòng chia mừng với Vĩnh. 
Khi đạo quân lao động khổ sai đã lần lượt rời hết cổng trại, trật tự xuống từng nhà và ra lệnh ngắn gọn cho những người có tên thả. 
– Mấy ông thu vén đồ đạc thật nhanh để lên hội trường làm việc với cán bộ. Nhớ là mang theo hết đồ đạc vì sẽ không trở về đây nữa. 
Vĩnh ngồi thu vén lon cóng, mùng mền, quần áo, chai lọ vào bao bị. Cái kinh nghiệm về một Bùi Duy Hạ ở trại An Dưỡng năm nào khiến Vĩnh muốn đem theo hết những vật dụng tùy thân này. Nhưng rồi nghĩ ngợi sao, Vĩnh lại bỏ tất cả những cái mình có ra. Anh để lại đầu giường của những người bạn thân thiết những thứ đồ dùng của anh, người cái quần, kẻ cái áo, người cái ca nhôm, kẻ cái kem đánh răng đã dùng dở dang… 
Khi tụ tập trên hội trường vào lúc ba giờ chiều có lẽ Vĩnh là một trong những người nhẹ gánh nhất. Anh chỉ đem theo mình vỏn vẹn một bộ quần áo rách nhất đề phòng ban đêm lạnh sẽ mặc thêm lên người. 
Trên hội trường, tên cán bộ trực đọc lệnh thả của Bộ Nội Vụ, rồi đọc nội quy quy định cho những người được thả. Đọc xong, hắn nói. 
– Thay mặt Ban Giám Thị trại, tôi chúc mừng các anh được nhà nước tạm tha để về chữa bệnh. Ban Giám Thị mong rằng trong thời gian tạm tha, các anh sẽ phấn đấu tốt để trở thành người công dân lương thiện tại địa phương, để được nhân dân và chính quyền địa phương công nhận cho thường trú… 
Các anh được về đoàn tụ gia đình đúng dịp Tết Dân Tộc, vậy trước khi rời trại này sang khu tập trung mới đợi làm thủ tục, thay mặt Ban Giám Thị trại, tôi chúc các anh một cái Tết tự do, ấm no và hạnh phúc với gia đình. Đồng thời… 
Tên giám thị trực còn nói nhiều nữa nhưng Vĩnh không chú ý nghe. Sau đó, 14 thằng tù bệnh hoạn được trật tự hướng dẫn đi lối tắt phía sau bếp len qua hàng rào tre, băng qua khu đan tre của mấy ông tù già và bước vào lãnh thổ của khu Thiên Đường Mới. 
Một gian phòng xây đúc đã hoàn tất được chọn cho bọn Vĩnh làm nơi tạm nghỉ qua đêm chờ ngày mai làm thủ tục hành chánh. 
Tay trật tự với vẻ mặt vui vẻ khác hẳn ngày thường, cho bọn tù được thả biết vài điều trước khi hắn rút lui. 
– Trên nguyên tắc, như cán bộ đã nói, các anh tự do từ giây phút này. Các anh có thể ra suối tắm bất cứ lúc nào muốn. Cơm nước đội anh nuôi sẽ đem từ trại cũ ra cho các anh đầy đủ. Tuy nhiên, vì chưa có giấy tờ, với lại để tránh bị các cán bộ an ninh vòng đai ngộ nhận bọn xấu trốn trại nổ súng lầm, yêu cầu các anh đừng đi đâu ra khỏi phạm vi khu xây cất này với bờ suối kia. 

Rồi khi tên trật tự đã quay đi, bỏ lại 14 thằng tù may mắn muốn làm gì thì làm. 
Một số anh siêng năng vội vàng ra sân kiếm mấy hòn gạch bắc bếp nấu nước sôi. Vĩnh nằm quan sát chung quanh căn phòng của khu Thiên Đường Mới. Tất cả đều được đúc bằng xi măng cốt sắt trộn đá xanh. Những chấn song sắt to bằng cườm tay. Những nền đá lạnh ngắt dùng làm chỗ nằm… Quang cảnh nơi đây không khỏi gây cho người tù, dù đã bầm dập vì tù, một cảm giác mới thật ớn lạnh. Một ngày không xa, những người còn lại sẽ được chuyển sang ở nơi khu Thiên Đường Mới này. Đời họ sẽ ra sao? Rồi Vĩnh quan sát tới những người chung quanh. Trong 14 người được thả đợt này có hai người bị cùi, tám người lao phổi nặng, một người cụt chân vì bị mìn trước đây, một cụ già sáu mươi lăm tuổi, một bị bại xụi và người sau cùng bị cụp cột sống do cây đè. 
Dù cái cân hậu cần dưới bếp không đúng lắm, nhưng có nhiều dịp lao động gần đấy, Vĩnh đã leo lên cân và ghi nhận được sức nặng của anh những ngày gần đây chỉ còn độ 35 tới 36 kgs. Thế nhưng, Vĩnh cảm thấy anh là người tương đối khỏe mạnh hơn hết trong đám người đang nằm ngồi với đầy nét bồi hồi trên mặt chung quanh anh. Một anh bạn trẻ tuổi bị cùi, ghé đến cạnh Vĩnh làm quen. Anh ta nói anh có nếp và lạc xưởng đem theo. Hai người đứng lên và bước ra khỏi phòng. Một lúc sau, như những người khác, Vĩnh và anh bạn mới đã ngồi bên cạnh một cái lò bên trên có một cái lon guigoz cơm nếp. 
Anh bạn nhìn quanh, nói. 
– Tụi nó cô lập khu này. Anh em ta lao động gần đây có lẽ không được phép liên hệ với tụi mình. 
Vĩnh khều khều cho cái bếp cháy to hơn, trả lời. 
– Dĩ nhiên là phải vậy. 
Người bạn trẻ lại tiếp. 
– Nơi đây gọi là nhà đá thì thật đúng. Bước vào trong lạnh như có ướp đá vậy! Mà chả hiểu tại sao họ lại cho mình sang ở khu này trước khi làm thủ tục về nhỉ? 
Vĩnh cười cười trả lời cho người bạn mới vui lòng. 
– Thì cách mạng đã nói rồi. Chủ yếu các anh làm các anh hưởng. Những dãy nhà đá này thành hình một phần cũng có công sức của tụi mình góp vào. Trước khi ra đi, chả lẽ cách mạng lại không tạo điều kiện cho tụi mình được ngủ trong đó một đêm gọi là cho biết mùi hay sao? 
Một người khác ngồi nấu cách Vĩnh không xa, cất cái giọng khàn khàn như người hết hơi, len vào câu chuyện của Vĩnh và người bạn trẻ. 
– Một hình thức dằn mặt mình đó mấy ông ơi! Ý nói đừng trở lại đây nữa. Trở lại là rục xương… 
Vĩnh không nói thêm một lời nào. Giờ này đã chấm dứt giờ lao động chiều. Ngoài bờ suối ầm ầm những tiếng động, tiếng nói cười của lũ tù thay phiên nhau từng đợt xuống tắm. Và rồi khi mấy anh nuôi đem cơm ra – chứ không phải ngô như mọi bữa – cho bọn tù được thả, thì những tiếng động ngoài bờ suối đã lắng xuống và từ từ dứt hẳn. Có lẽ đợt sau cùng đã lên bờ và trở về địa điểm tập trung chờ điểm danh nhập trại. Bọn Vĩnh chả mấy người ăn được. Chẳng ai mà không nôn nao nghĩ đến ngày mai được ra khỏi cái “Đại Học Tổng Hợp” này. Để cho tâm hồn được yên tĩnh, Vĩnh rủ anh bạn trẻ ra suối tắm trước khi ngồi vào bữa ăn cho nó… sang, cho nó trở lại với phong thái văn minh văn hóa của loài người. 

Từ ngày về đây, lần đầu tiên được ra suối trong tình trạng vắng lặng như thế này, Vĩnh mới thấy rõ được sự nhỏ bé của con người trước cảnh âm u bao phủ của rừng già. Người bạn đã nhanh chóng trườn xuống nước. Vĩnh bị phổi nên bỗng nhiên sợ nước lạ lùng. Anh đổi ý không tắm và ngồi yên trên bờ nhìn cảnh vật chung quanh. Một ý nghĩ chợt nổi lên trong đầu Vĩnh. Căn phòng Vĩnh ngủ không xa khu cachot là bao, chỉ cách một hàng rào đơn và một dãy nhà. Vĩnh tự hỏi tại sao đêm nay mình không qua đó quan sát một lần cho biết cái “trái tim” của khu Thiên Đường Mới này nó ra sao? Và rồi Vĩnh nghĩ ngay đến miếng cơm nếp lạc xưởng. Ta nên để dành nó. Biết đâu lại gặp được thằng Dũng? Lúc này mà nó được ăn một miếng cơm nếp lạc xưởng hẳn phải sướng hơn mình được thả mười lần! 
Bên kia bờ suối bỗng xuất hiện hai tên công an có súng trên vai. Một tên chợt thấy bọn Vĩnh dưới suối, hắn dừng chân sừng cồ hét lớn. 
– Này! Mấy thằng tù kia. Đội nào nhà nào mà giờ này còn tắm ở đây? 
Nghe tên an ninh vòng đai hét, người bạn dưới suối nhanh nhẩu. 
– Báo cáo cán bộ tụi tôi được thả rồi! Được tự do rồi! 
Tên công an thứ hai nghe vậy vôi chen vào. 
– Này! Ăn nói với cán bộ mà vô phép thế đấy phỏng? Mày tưởng thế là mày tự do đấy phỏng? 

11-80 Bidong, Malaysia 
12-84 San Diego, USA.

Lời cuối của Sơn râu:

Chương cuối kết thúc quyển truyện Đại Học Máu của nhà văn Hà Thúc Sinh, bạn đọc đã cùng tôi đi suốt quãng đường tù tội của ông kéo dài bao nhiêu năm trời trong rừng sâu núi thẳm dưới họng súng luôn đe dọa và sự cai trị, nhục hình của bọn quản giáo. Tuy nhiên phải nói ông vẫn còn may mắn vì ông còn sống sót để trở về và lao vào đại dương làm thuyền nhân đánh cược với mạng sống của mình như lời trong một bài hát ông đã viết trong tập nhạc Tủi nhục ca

“Nếu tôi còn sống mà trở về
Thực lòng muốn sống nơi đây
Cũng không còn chỗ cho một người
Một người còn giống như tôi
Tự do thơm tho trong dòng máu
Hồn tôi không yêu ai lừa dối
Làm sao gai đâm trong thịt tôi
Mà không cất tiếng nói
Nếu tôi còn sống mà trở về
Hẳn là tôi sẽ ra đi
Dẫu cho què đui cũng xin làm
Một đời thằng mõ không công
Vợ con xin cam như bụi tan
Hành trang tôi không mang nhiều hơn
Quả tim tôi nung đã thành than
Và câu hát rất buồn…”

Xin cám ơn ông đã viết lại quyển sách này kể lại một phần đời thật của mình nhờ đó người Việt khắp mọi nơi trên thế giới càng biết rõ hơn về bộ mặt thật Cộng sản và chế độ. Xin cám ơn nhà văn Hà Thúc Sinh và các đàn anh, huynh trưởng, các bậc trưởng thượng đã hy sinh xương máu, gia đình, hạnh phúc cá nhân cho một đất nước Việt Nam và cho thế hệ đàn em, con cháu có được ngày hôm nay.

Sơn râu

19 Jan 2024



Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 19 Jan 2024

Bài 70

Phần 69

Những cơn mưa tầm tã của tháng Mười đánh dấu cao điểm của việc xây cất công trường “Thiên Đường Mới”, một danh từ tù Hàm Tân mới đặt ra để gọi khu ngục thất đang được kiến tạo. Song song với công tác chính đó, một công tác thu hút quãng một phần ba nhân lực của phân trại A với tổng số 2.000 tù, một công tác khổ sai mà với ngôn ngữ ba que xỏ lá của thằng tổng giám thị đã nói trước mọi người trong dịp 2 tháng 9 vừa qua là: “Hơn bao giờ hết, các anh phải hạ quyết tâm thi đua hoàn tất chỉ tiêu trong công tác xây cất công trình được trên tin tưởng giao phó. Các anh phải làm sao sang năm tới ta sẽ có nhà mới để ở. Đời sống của các anh sẽ thoải mái hơn. Nơi ăn chốn ở sẽ vững vàng an ninh và có văn minh văn hóa hơn. Trong lúc thi công thực hiện công trình, trại nhắc nhở các anh phải luôn luôn tâm niệm một điều là, chủ yếu các anh làm các anh hưởng!”.

Vâng, song song với việc thi công xây nhà tù mà ở, một công tác mới nữa cũng ra đời để hoàn chỉnh cho công tác xây nhà tù đang tiến triển mạnh, đó là công tác đào hào chung quanh khu vực “Thiên Đường Mới”.

Mười đội được đưa vào công tác nặng nhọc này, và đội 17 là một.

Cũng như ở An Dưỡng, đường hào sẽ có chiều sâu ba thước, bề rộng bên trên mặt đất bốn thước rưỡi, đáy rộng ba thước, đất lấy từ hào lên sẽ đắp một con đê chạy theo đường hào có chiều cao tới hai thước rưỡi, mặt đê đủ rộng cho hai người lái xe đạp đi sánh đôi nhau.

Vì là mùa mưa, công tác đào hào mang đầy đủ cái cực khổ của đói lạnh. Mấy trăm tù trải dài trên những phần đất quy định và khởi sự với những nhát cuốc, nhát cuốc chim trên nền đất lổn ngổn đá tảng, di tích của những phún thạch chẳng rõ từ kỷ nguyên nào.

Đội 17 nhận phần trách nhiệm từ những dãy nhà của các tổ đan tre đến chỗ giáp với hàng rào tre cuối khu trại đang ở. Phía mặt là suối. Phía trái là dãy hàng rào tre gai bên hông trại cũ. Đội 17 vừa đào vừa rình rập bẻ trộm những cái măng mới nhú nơi hàng rào. Đây là điều cấm kỵ của nội quy. Có măng thì mới có tre. Có tre thì hàng rào mới dần dần bền vững. Bẻ măng là phá hoại hệ thống phòng thủ của trại. Ban Giám Thị đã nhiều lần nhắc nhở và phạt kỷ luật nặng nề những người bẻ măng ngoài hàng rào trại, tuy nhiên cái đói lạnh khiến bọn tù có dịp là bẻ, bất kể nội quy hay hình phạt. Những cái măng bẻ xong được nhúng ngay xuống bùn. Nó sẽ được chủ nhân hẹn hò với một người bạn làm việc nơi khu canh tác, khi đi qua sẽ nhặt lên bỏ thùng phân khuân về trại. Ngày tháng qua, đường hào mỗi ngày mỗi sâu mỗi rộng và mỗi dài. Những tảng đá nhiều khi lớn bằng nửa cái xe Jeep chìm sâu dưới đất không thể ngờ lại có ngày được đưa lên nằm trên mặt đất không chỉ bằng sức lực và hai bàn tay không của lũ tù binh khốn khổ và bị quên lãng nhất trần gian.

Việc nặng chết người có khả năng lôi con người tới sự đoàn kết chặt chẽ hơn! Vì công việc đào hào ở đây đòi hỏi tới cả việc đào xới, trục lên và di chuyển đi những tảng đá nghìn cân, một việc làm mà nếu xẩy tay không chỉ chết một người mà có thể chết cả vài chục người; do đó, bọn tù thốt nhiên chăm chỉ và ngoan ngoãn như những bầy ong kiến trên đường kiến tạo tổ. Bọn quản giáo vệ binh thấy nhàn nhã ra mặt. Quản giáo Phú nhiều khi cả buổi không thấy mặt. Buổi sáng dẫn tù ra địa điểm lao động xong là quay đi quay lại hắn đã biến mất. Còn hai thằng vệ binh cũng thế. Cả buổi lao động chỉ thấy chúng xuất hiện một hai lần trên đầu con đê mới đắp, đứng nhìn trời nhìn đất một một lúc rồi chuồn đâu mất, để mặc bọn tù, vì sức nặng của những tảng đá, vì chỉ tiêu của những thước khối đất đã được ấn định, vì sự thúc hối của các đội trưởng đội phó, đã ra công làm những công việc mà kết quả của nó đưa lại đúng như lời lẽ vàng ngọc của tên tổng giám thị từng đưa ra: Các anh làm các anh hưởng! Vào những ngày cuối cùng của tháng 12 năm 79, đội 17 đã tiến tới gần những dãy cachot của khu Thiên Đường Mới. Hai tháng cật lực với công việc khổ sai đào hào, bọn tù hốc hác trông thấy. Những cơn mưa rừng lạnh cóng, gió rừng buông thổi về nhiều khi tưởng như có thể thổi bay một tên tù gầy còm đang đứng nện đất trên mặt đê cao. Có thể cuối năm là thời gian của thanh tra và tổng kết những báo cáo thành quả, do đó bọn giám thị xuất hiện kiểm soát rất thường xuyên. Vì sự kiểm soát ấy, quản giáo và vệ binh không còn dám lơi là và đương nhiên bọn tù lại bị thúc hối thi công dữ dội hơn, bơ phờ hơn. Những kiện tướng lao động của đội 17 là đội trưởng Lễ, lực sỹ Lê Văn Tầm, ông lang băm Võ Văn Bảy… những người mà anh em đã phải mỉa mai gọi là “Paven” 1, cũng khởi sự vàng vọt xanh xao.

Hiện nay cứ sau một giờ lao động cật lực, đội 17 được quản giáo Phú cho nghỉ mười phút giải lao. Dù đã bị cấm tuyệt đối không được bén mảng đến gần, nhưng sau cùng anh em đội 17 cũng đã nhiều người được nhìn tận mắt quả tim của khu Thiên Đường Mới: Khu Biệt Giam!

Khu biệt giam này gồm một dãy phòng đúc bê tông cốt sắt. Mỗi phòng có chiều cao hai thước, chiều sâu hai thước và chiều ngang một thước rưỡi. Trong phòng có một bục nằm cũng đúc bằng xi măng, bề ngang chừng sáu tấc, bề cao chừng nửa thước và dài chừng thước tám. Vách bên trong, chỗ tiếp giáp với bục nằm có dính nhiều khoen sắt lớn. Cửa phòng làm bằng sắt ống to hơn nửa cổ tay. Một vài phòng để trống phía trước trong khi một vài phòng khác có cửa sắt lá sách che kín bịt bùng.

Lâu nay Vĩnh và các bạn biết rằng bọn giám thị đã đem một số biệt giam từ trại cũ sang giam ở đây. Dũng và đám anh em Hòa Hảo trốn trại trước đây hiện đều bị giam nơi khu biệt giam này. Đứng vẩn vơ phía trước hàng rào khu biệt giam ngó vào, người ta chỉ có thể nhìn thấy bên trong của những gian phòng trống, còn những phòng có nhốt người được kéo cửa lá sách không trông thấy gì. Từ khi con đường hào được đào tới ngang khu vực này; ngày hai buổi Vĩnh và các bạn còn được thấy cảnh trật tự đem thức ăn nuôi tù biệt giam. Ngày hai buổi, cứ khoảng mười một giờ trưa và bốn giờ chiều, một anh trật tự dẫn theo một anh nuôi xuất hiện trước khu biệt giam. Đứng từ xa, nhìn mớ lon cóng được đựng chung trong một cái giỏ do anh tù nhà bếp xách và lẽo đẽo đi theo anh trật tự, Vĩnh đoán biết khẩu phần của mỗi người không nhiều hơn một bát ngô già và nửa cóng sữa bò nước lạnh. Đã nhiều lần mạo hiểm đi sâu vào khu biệt giam mới xem những người bị giam ra sao, nhưng lần nào Vĩnh cũng dội ngược vì tiếng hét ngăn cản của tên vệ binh ngồi trên lô cốt phía đầu dãy biệt giam.

Vào ngày lễ Giáng Sinh thì đội 17 đã vượt qua khu biệt giam mới khá xa. Đường hào đã gặp gỡ với đoạn đường hào do đội 45 trách nhiệm. Thêm người thêm chuyện. Đội 17 đã chẳng vừa gì, gặp đội 45 thật xứng đôi vừa lứa. Những câu chuyện vung vít chẳng coi ai ra gì. Gặp rau xanh họ nhổ rau xanh. Gặp đậu bắp họ hái đậu bắp. Gặp khoai lang phơi trên sân của cán bộ họ ăn cắp khoai khô. Xuống xe gạo họ tìm chỗ dấu luôn cả bao gạo… Trên phương diện này đội 17 gặp đội 45 thì thua mọi bề. Nhưng đấu láo thì cũng không thua bao nhiêu!

Mặc cho bọn vệ binh đứng gác trên đê chửi bới, thỉnh thoảng lại có người rú lên.

– Đói!

– Lạnh!

Có kẻ lại văn nghệ hơn, đem một câu trong một bài hát cách mạng ra hát diễu.

-… Gió trên núi rừng lạnh quá không có gì mà che é e è…

Hết những câu nói, câu hát nhằm trêu ngươi bọn vệ binh, anh em đội 45 lại đưa ấn đề đào hào ra mổ xẻ. Thậm chí có người táo bạo lên tiếng bàn công khai.

– Tao e mình đào cái này là đào mồ đào mả cho chính mình mất. Mẹ kiếp! Có biến xảy ra, tụi mày cứ tính xem, cái đường hào này đủ chỗ chôn tập thể 2.000 thằng tù không?

Vĩnh co ro đứng dưới hào sâu ngập nước quẳng từng xẻng đất lên bờ đê, tai lắng nghe anh em bên đội 45 nói chuyện, lòng trĩu nặng một nỗi buồn. Chỉ còn mấy ngày nữa giỗ Mẹ. Mẹ Vĩnh mất vào ngày mùng 3 tháng Chạp. Năm nay, mùng 3 tháng Chạp sẽ trùng vào đúng ngày mùng 1 Tết Dương Lịch. Mấy ngày nay Vĩnh có ý nóng lòng đợi gia đình lên thăm. Anh muốn có một cái gì đặc biệt để làm Giỗ cho Mẹ. Hơi buồn là các linh mục đã bị đưa đi hết, bằng không chắc chắn Vĩnh đã có thể xin một cha làm một “lễ đi” để cầu nguyện cho linh hồn Mẹ anh. Vĩnh cũng có nói qua chuyện này với anh Huy. Anh Huy đã hứa sẽ mời một số đông anh em đọc kinh góp lời cầu nguyện cho cụ.

°

Anh Huy tiếp tay Vĩnh bày hết những món ăn ra sạp gồm khẩu phần đặc biệt của ngày Tết Dương Lịch của bạn bè gom lại, cộng với một nồi nui lớn khá đặc biệt; nồi nui này đã được Vĩnh nấu toàn bằng những thứ bạn bè mỗi người cho một tí (vì anh và những người bạn cùng nhóm ăn chưa ai được thăm vào dịp Tết Dương Lịch), nó có tí tôm khô, tí mỡ, tí hành, tí bột ngọt… Khi tất cả đã đâu vào đấy, Vĩnh bắt đầu chạy sang nhà 5 gọi thêm mấy người bạn thân thiết sang ăn giỗ. Chỉ một nồi nui với khẩu phần đặc biệt được phát vào ngày đầu năm của mỗi người góp vào, bữa giỗ trông cũng rềnh ràng ra phết. Những miếng thịt kho lều bều nước, tí bắp cải cà rốt xào, tí cơm trắng… cũng gây được một không khí thật trang trọng và đầy đủ cho một bữa giỗ. Bất kể những người ngồi quây quần với nhau thuộc tôn giáo nào, với tư cách một người lớn tuổi nhất, anh Huy nói khẽ nhưng rất nghiêm trang.

– Hôm nay là ngày mùng 3 tháng Chạp, giỗ thân mẫu của anh Vĩnh. Tụi này mời các anh qua ăn chung với nhau một bữa cơm và xin các anh góp lời cầu nguyện cho linh hồn Anna sớm được về hưởng phúc thiên đàng đời đời… Bây giờ xin mạn phép làm dấu xướng kinh.

Anh Huy vừa xướng kinh xong thì mọi người đã rất vui vẻ bát đũa lên tay. Vĩnh cảm động và thấy bồi hồi tấc dạ. Anh biết chắc ở một nơi nào đó, cũng trong hoàn cảnh thê thảm này, có một người thân yêu của anh cũng đang xoay sở để làm giỗ cho Mẹ như anh. Vĩnh vừa và được một miếng cơm thì giật mình buông đũa xuống. Đội trưởng Lễ xuất hiện ngó mâm cơm với một nét dò xét khó chịu. Kế anh nhìn Vĩnh, nói.

– Cán bộ gọi anh phía ngoài.

Vĩnh hơi sửng sốt. Sao tụi ăng ten chúng làm việc nhanh thế? Vừa tụ tập ăn uống một chút mà bọn giám thị đã biết ngay rồi. Dù nghĩ thế, Vĩnh vẫn nói nhanh để các bạn yên tâm.

– Các ông cứ tự nhiên ăn. Tôi sẽ có cách nói…

Thế rồi Vĩnh đứng lên đi theo đội trưởng Lễ ra ngoài sân. Một tên cán bộ trực còn rất trẻ tuổi đứng đợi Vĩnh với một mảnh giấy trên tay phía ngoài hàng rào. Thấy Vĩnh, hắn hỏi.

– Anh Vĩnh?

– Vâng, tôi đây.

– Đi theo tôi lên bệnh xá!

Dù không hiểu tại sao lại lên bệnh xá nhưng Vĩnh cũng bướcqua cổng và đi theo tên cán bộ. Một lát sau Vĩnh đã có mặt giữa một lô những người mặc áo trắng, loại áo choàng trắng may bằng kaki Nam Định thường thấy ở bọn y sinh và y tá Việt cộng mặc. Trong đám ấy có cả bác sỹ Anh (gần đây, tên y tá Việt cộng có gốc chiêu hồi từng được bọn giám thị cho làm trưởng bệnh xá, đã chích chết một lúc hai ba người, do đó hắn mất chức và bọn giám thị lại phải đưa bác sỹ Anh, một cựu thiếu tá y sỹ của quân đội VNCH vào chức vụ này). Thấy Vĩnh đến, bác sỹ Anh chỉ vào một cái giường đã có nhiều người đui, mù, què, chột, gầy như que tăm, xanh như tàu lá ngồi sẵn tự bao giờ. Rồi thì một tên mặc áo trắng khởi sự nói với mọi người.

– Báo cáo các anh cải tạo thế này nhá. Nhận chỉ thị của trên, chúng tôi là các y sỹ của Bộ Nội Vụ xuống nghiên cứu và kiểm tra tại chỗ bệnh tật của các anh. Các anh cứ yên tâm nhá. Lương y như từ mẫu. Chúng tôi sẽ báo cáo lên trên những gì qua kiểm tra chúng tôi ghi nhận được. Rồi thì tốt cả thôi. Nhá!

Sau khi giới thiệu vài câu đầu không ra đầu, đuôi không ra đuôi; hắn quay sang giới thiệu mấy tên đồng nghiệp của hắn về phương diện chuyên môn. Mươi phút sau đó, Vĩnh được bước ra trình diện một bác sỹ Việt cộng có chuyên khoa về lao phổi.

Dù rằng Vĩnh vẫn nhớ đến lời dặn dò thân ái của bác sỹ Châu, cựu cục phó Cục Quân Y, là trước khi “người ta” khám, anh nhớ kím chỗ nào kín đáo nhảy dây cho tôi năm mươi cái; nhưng hiện tại vô phương, Vĩnh biết không cách nào làm đúng như lời chỉ dẫn của ông thầy Châu được. Hiện Vĩnh không có chỗ và cũng không có cả thì giờ!

Dù sao Vĩnh cũng yên tâm nhận ra cái nháy mắt trấn an và có vẻ như chia vui của bác sỹ Anh đang ngồi gần đấy. Chìa bộ ngực Omega ra cho tay bác sỹ Việt cộng nghe ngóng, Vĩnh vẫn chú ý theo dõi một diễn tiến chung quanh.

Tay y sỹ đang khám cho Vĩnh chợt ngoái cổ hỏi bác sỹ Anh.

– Sao, anh này học tập lao động có tốt không?

Bác sỹ Anh nói không cần suy nghĩ.

– Báo cáo cán bộ lao động rất tốt! Nhưng đủ thứ bệnh trong người!

Vĩnh cười thầm. Ông nội này nói dóc cũng có bằng cấp! Từ ngày Vĩnh về Hàm Tân, chưa bao giờ ở chung đội với ông Anh và cũng chưa bao giờ có dịp lao động gần nhau. Chỉ có một thời gian ngắn ở chung một nhà.

Tên y sỹ Việt cộng lại hỏi.

– Anh có kiểm tra thường xuyên phổi anh này đấy chứ? Có cho cách ly không?

– Báo cáo cán bộ phổi anh này thì bết lắm. Thủng một lỗ bên đỉnh trái và đã ho ra máu nhiều lần. Rất tiếc là ở đây không có phương tiện chữa trị và cũng không có khu cách ly.

Tên y sỹ Việt cộng bỗng nhăn mặt.

– Biết thế mà vẫn bắt người ta đi lao động à?

Bác sỹ Anh hơi ngẩn người trước cái nhân đạo bất thình lình của tên y sỹ Việt cộng, và càng ngẩn người hơn lúc thấy rằng hình như tên này quả không hề biết tí gì về những chuyện đã và đang xảy ra trong hệ thống trại tù của cái chế độ mà chính y đã được đào tạo và đang phục vụ một cách tích cực.

Nhưng rồi bác sỹ Anh cũng trả lời được một câu.

– Báo cáo cán bộ tôi chỉ là một phạm nhân được Ban Giám Thị cho hành nghề khám bệnh giúp đỡ anh em thôi. Còn việc lao động hay không là quyền của các cán bộ giám thị.

Tên y sỹ Việt cộng hơi nhăn mặt rồi quay lại với một chồng hồ sơ nằm trên mặt bàn cạnh đấy. Vĩnh và bác sỹ Anh đều không biết hắn đang viết cái gì. Sau màn kiểm tra sức khỏe đột xuất và cũng là lần đầu tiên trong suốt bốn năm rưỡi trời tù tội, Vĩnh được cho phép trở về phòng. Sự vắng mặt của Vĩnh làm anh em ai cũng lo, nhưng như vậy không có nghĩa là bữa giỗ bị ế ẩm.

Hầu như trên mâm mọi cái đều sạch sẽ, ngoại trừ phần ăn bếp phát cùng với một tô nui bạn bè múc riêng ra để dành cho Vĩnh. Anh ngồi xuống ăn tiếp tục với đủ thứ ý nghĩ trong đầu. Những câu hỏi tới tấp của bạn bè đều được trả lời một cách rất thiếu chính xác. Câu chuyện được nghe kể từ hồi Suối Máu, khi một số anh em tù được đưa từ trại Bùi Gia Mập về Vĩnh còn nhớ như in. Họ cho biết hồi mới tập trung, bọn Việt cộng đã lập một khu cách ly giữa rừng sâu đành cho những người bị tứ chứng nan y tự do sinh sống với nhau để chờ ngày… chết. Thực phẩm nước uống chúng cấp đủ cho hai tháng, sau đó sống chết mặc bay…

Rồi bữa giỗ cũng qua đi. Ngày nghỉ của mọi người là ngày ngủ. Nhưng riêng Vĩnh không cách gì ngủ được. Anh ra ngoài sân nắng ngồi cho ấm, nhìn những người không ngủ trưa khuân những gói mì khô, nhất là những gói nui ống do gia đình cung cấp ra phơi. Nui xã hội chủ nghĩa ở đâu cũng thế. Một nui có tới hai mọt và ba mốc. Những con mọt hôi hám đen trắng lẫn lộn bị phơi nắng bò ra ngoài lổn ngổn. Nơi phía bếp đầu hồi gần chỗ cầu tiêu, trưa nào cũng thế, người duy nhất còn sót lại đi gom góp những mớ than hồng còn sót để gom vào một bếp, loay hoay với cái nồi to tướng nấu một món ăn hổ lốn vẫn chỉ là Lê Văn Tầm. Nhu cầu của một thân xác lực sỹ hình như hành hạ hắn suốt ngày, và bất cứ lúc nào rảnh rỗi Tầm cũng ôm lấy cái nồi và cái bếp. Hắn nấu bất cứ gì hắn kiếm được, kể cả cơm và thịt anh chàng Trương Hồng điên loạn đã ném vào cầu tiêu và đã dính cả những chất cặn bã dơ dáy của con người! Đời tù tội, Vĩnh đã gặp nhiều tay bị cái đói hành hạ đâm ra ăn uống thô tục, nhưng Tầm, người có thân hình lực sỹ tuyệt đẹp và cũng từng chiếm giải bơi lội của Hải quân, có lẽ là người số một!

Ngồi lơ mơ ngoài sân nắng với những ý nghĩ ngổn ngang trong đầu, có lúc hình như Vĩnh đã đọc kinh, đã cầu nguyện một cái gì đó với người Mẹ quá vãng của anh; cũng có lúc Vĩnh thấy mình lạc vào một vùng mịt mù rừng rậm với những người bạn lao phung cùi hủi. Nhưng Vĩnh đã nhất định không chết, đã tìm đường ra với rất nhiều hình ảnh lạ thường.

– Này anh Vĩnh, làm gì đấy?

Tên phó giám thị, một lần nữa như một thứ bóng ma, đã xuất hiện ngay bên ngoài hàng rào. Vĩnh muốn đứng lên đi thẳng vào phòng nhưng nghĩ sao anh tảng lờ và tiếp tục ngồi nhìn ra ngoài sân nắng. Tên giám thị chẳng buồn hỏi tiếp, hắn bỏ đi về phía dãy bếp sau nhà.

——————————–

1          Paven: Nhân vật chính trong một tác phẩm “gối đầu giường” cho thanh niên Nga, một thứ anh hùng lao động trong thời kỳ cách mạng 1917.

Lịch sử máy Akai

nguồn.museumofmagneticsoundrecording   

 Hồ Đắc Vũ

Post on April 7th, 2022

Post by Sơn râu 18 Jan 2024

Máy nghe nhạc Akai từng có một thời hoàng kim tại Sài Gòn và các thành phố miền Nam trước năm 1975. Sau nửa thế kỷ, tưởng Akai biến mất và nhường chỗ cho các loại máy nghe nhạc hi-end hiện đại nhưng hiện nay, ở trong nước, giá của một chiếc Akai “đồ cổ” lên đến cả vài ngàn đô.

Akai 636, băng lớn.

Năm 1963, mẹ tôi thu băng cuộc nói chuyện với bà cố 99 tuổi, đang nằm liệt giường. Sau đó, gia đình ngồi lại nghe nhiều lần trên chiếc máy thu băng Philips stereo, với loại băng nhỏ, thuộc loại hàng hiếm bấy giờ. Tối, me tôi thường nghe nhạc VN do người bạn của bà thu từ Ðài Phát Thanh Huế.

Chiến tranh Việt Nam mở rộng, quân đội Mỹ đổ bộ vào Chu Lai, trực tiếp cùng miền Nam chống Cộng. Ngoài những vũ khí súng đạn, nước ngọt Cô ca, kẹo cao su quần Jeans Levi’s họ còn mang tới máy thu băng loại trung (cỡ băng 7 ½), đầu tiên là hiệu Akai, sau đó có thêm các hiệu nổi tiếng khác như Teac, Sansui, Pioneer bán tại PX (cửa hàng bán miễn thuế cho quân đội Mỹ).

Masukichi Akai, người sáng lập. nguồn. museumofmagneticsoundrecording.org

Năm 1967, chợ trời đồ Mỹ ngay hông Tòa án Sài Gòn bắt đầu xuất hiện máy thu băng Akai, Teac, Sansui, Pioneer. Me tôi mua của người hàng xóm, thiếu tá không quân Mỹ về nước, bộ Amply Sansui 3000A, loa Sansui SP 2500 và Akai 200D.

Chiếc Akai 200D nghe quá hay. Từ nhạc Trịnh Công Sơn, Khánh Ly, Lệ Thu cho tới The Monkees, Bee Gees, Papa&Mama Frank Sinatra, Adamo, Christophe, Sylvie… Tôi nghe rỉ rả suốt ngày.

Roberts191, tiền thân của Akai. nguồn. museumofmagneticsoundrecording

Máy Akai bắt đầu nổi tiếng tại Sài Gòn, nhiều người thích và đáng nhớ: Akai đã phổ biến trong suốt chiến tranh Việt Nam cho đến 1975.

Sau năm 1975, tôi sưu tầm được nhiều máy, từ Teac 4010SL cho đến Teac 6010SL, Akai 365D, Pioneer SX 949 4 ch (ngon nhất hồi đó). Tới bây giờ tôi vẫn còn cái Pioneer SX 949 tại phòng nghe nhạc ở nhà.

Akai M8 thời 66 tại VN (hình phải). nguồn.museumofmagneticsoundrecording

oOo

Công ty Akai được Masukichi thành lập tại Tokyo vào tháng 7-1929 là một hãng cung cấp phụ tùng radio, ổ cắm điện và các phụ tùng điện khác. Sau đó, áp dụng những kiến thức mới về kỹ thuật điện của Saburo – con trai lớn của Masukichi, Akai mở rộng sản xuất động cơ điện. Chính động cơ điện này đã khiến một công ty sản xuất máy chiếu phim 16 ly chú ý. Ðây là lúc máy chiếu phim 16 ly lần đầu tiên làm tại Nhật. Công việc kinh doanh mới với sản phẩm động cơ điện đã phát triển mạnh nên hai cha con dời nhà máy từ vườn sau nhà tới hãng lớn ở Kamata năm 1933.

Khoảng đầu Ðệ nhị Thế chiến, Saburo nhập ngũ nên Masukichi đã bán hết máy móc dụng cụ cho công ty Sawafuji Electric Co. Sau khi giải ngũ, Saburo về làm việc tại đây. Ðến năm 1947, Saburo mua lại công ty Kamata của Sawafuji và đổi tên thành Akai Electric Co.

Quảng cáo của Akai trên báo Mỹ. nguồn. museumofmagneticsoundrecording

Ðến năm 1948, Akai bắt đầu sản xuất và bán sản phẩm động cơ máy quay dĩa. Thời điểm này, kỹ thuật thu âm thay đổi rất nhanh và cần phải có các máy thu, phát âm thanh thật chính xác. Akai đáp ứng nhu cầu bằng cách nâng cao phẩm chất động cơ máy quay đĩa. Năm 1951, họ sản xuất động cơ C-5 ít tiếng ồn và độ rung, được những người say mê kỹ thuật âm thanh vào thời đó yêu thích và thị trường Mỹ bắt đầu chú ý đến sản phẩm này. Vì vậy, năm 1953, Saburo quảng cáo trên tạp chí kỹ thuật Mỹ “Electronics” với tiêu đề “Tại sao không mua công nghệ Akai?” và được 5 công ty quan tâm. Một trong các công ty này là công ty Roberts Electronics do Robert Metzner thành lập, chuyên cung cấp dụng cụ nghe, nhìn cho ngành giáo dục. Công ty đã giới thiệu tất cả sản phẩm của Akai và từ đó, việc kinh doanh tăng lên nhanh chóng.

Tiếp tục đà phát triển, năm 1954, Akai nhảy vô thị trường máy thu băng bằng sản phẩm AT-1. Tiếp theo, đến năm 1960, họ sản xuất máy Akai 900 được nhiều người đặt mua.

Akai X200D. nguồn. Catawiki

Chưa dừng lại, Saburo quyết định đi Mỹ để thăm dò thị trường. Anh hoàn toàn sửng sốt vì thị trường quá lớn của Mỹ và nhận định rằng, nếu có sản phẩm tốt, chắc chắn sẽ bán được nhiều ở Mỹ.

Năm 1957, Saburo làm giám đốc tập đoàn và bắt tay vào phát triển sản xuất. Ðây là bước ngoặt của Akai, khi tập trung sản xuất máy thu băng giá rẻ, số lượng lớn và trở thành nhà sản xuất hàng đầu về máy thu băng. Akai cũng là công ty có số lượng sản phẩm bán nhiều nhất tại Mỹ.

Akai X300c băng lớn (76-79). nguồn. museumofmagneticsoundrecording

Sau khi đạt được thành công tại thị trường Mỹ, Akai quyết định mở rộng mạng lưới thương mãi tới các quốc gia khác, đầu tiên là Ðông Nam Châu Á, tới Trung Ðông và Châu Âu. Song song với việc phát triển thị trường, Akai tiếp tục tung ra những sản phẩm mới trong thập niên 1960 như máy thu băng M-7, M-8. Và đến năm 1972, Akai sản xuất máy cát-sét và video.

Cũng trong thời gian này, Akai thành lập công ty Akai America, Ltd tại California, Hoa Kỳ để giới thiệu và trực tiếp bán sản phẩm đến người tiêu thụ Mỹ. Nhờ đó, Akai nổi tiếng và phát triển mạnh tại đây.

Akai GX365D. Nguồn. Catawiki

Akai hiện có trụ sở chính tại Singapore và là công ty con của Grand Holding, một tập đoàn lớn có trụ sở tại Hong Kong.

Ðược biết, người sáng lập Akai, Saburo Akai, qua đời năm 1973.

Akai GX747 (1985) sản phẩm cuối cùng nguồn. museumofmagneticsoundrecording

Làm Sao Thắng Casino?

Hồ Đắc Vũ

February 19th, 2021

Post by Sơn râu 18 Jan 2024

Khu máy kéo đặc biệt, trúng lớn. Photo. HĐV

Ăn xong, tôi xuất hành đầu năm con trâu, 2021.

-Ði đâu?

Hôm trước coi online, tử vi Việt Nam cho biết nên nên xuất hành hướng Bắc. Hướng mà tôi ghét bỏ bụng khi mới lớn tới giờ.

– Anh đi một vòng hướng Tây.

– Hướng nào cũng được! Ðừng tới chỗ đấm bóp của mấy con Thái là được rồi, bịnh nhe cha!

Cô vợ lầm bầm.

Hướng Tây của tôi là cái casino mở cửa được 2 năm ở Boston.

Cách đây một tuần, đọc bài của wikiHow Staff “Làm sao thắng Casino?”, tôi hiểu được các lời khuyên để có cơ hội ăn tiền nơi cờ bạc chuyên nghiệp này. Tự biết mình sẽ thắng, nên bữa nay, đầu năm mới, tôi vô đó hái lộc phát tài.

“Trước khi ngồi vô bàn, bạn nên làm vài vòng casino cho quen mắt, không bị chói, không bị kém thị lực và nhận biết nơi chúng ta vui chơi với sự ổn định về tâm lý, vì casino được thiết kế với kiểu mất phương hướng giờ giấc, ánh sáng ngày và đêm không thay đổi, màu sắc lung tung, ở đó không có đồng hồ, không cửa sổ, không “thấy” bên ngoài, khiến tâm lý khó ổn định, dễ hoang mang. Nên tới casino vào ban ngày, để tránh không khí hối hả, nặng nề ban đêm, xấu cho sự phán đoán trò chơi của mình”.

Tôi đậu xe, lên tầng 1, làm một vòng các nhà hàng, cửa tiệm nổi tiếng, các khu trò chơi, theo lời khuyên.

Ðèn màu nhấp nháy, tiếng nhạc từ máy kéo, bên các sòng bài mặt xanh, mặt đỏ, đầu năm mặt mày ai cũng tươi rói tới đây lấy tiền lì xì… Vô casino ai cũng muốn thắng, thua là tiêu!

wikiHow Staff khuyên: “Nên đặt một số vốn hạn chế để chơi, khi hết, không cố chơi thêm, khi đã ăn, bỏ chạy tức thì, hãy lựa trò chơi một cách cẩn thận là những điều có thể giúp bạn thắng ở casino”.

Cổng vô Casino. Photo. HĐV

Tôi đã có $500 tiền mặt bỏ sẵn trong túi áo khi bước tới dãy bàn chơi bài xì dách và Baccarat. Bữa nay vắng tanh vì Covid cắn!

Ngồi xuống bàn xì dách.

– Chào ông! Chúc mừng năm mới. Cô chia bài có đôi mắt đen nói.

– Cám ơn! Cô sẽ giúp tôi thắng trong năm mới?

– Chắc chắn!

Tôi đổi $200 theo đúng kế hoạch đã định: $200 chơi xì dách, $200 chơi Baccarat, và 100 cho kéo máy.

“Trước khi tới casino, hãy tự hạn chế mình bằng số tiền cố định để đánh bài và coi như sẽ không thắng đồng nào, bỏ tất cả thẻ Tín dụng ở nhà. Hãy nghĩ rằng số tiền mang theo sẽ thua hết trong ngày và mình ra về”.

Cách này giúp bạn hạn chế không thua nhiều tiền, tuyệt đối đừng bao giờ dùng thẻ Tín dụng lấy tiền mặt sau khi thua, vì chỉ có chừng đó tiền mặt trong túi, bạn sẽ đắn đo lựa chọn trò chơi, và suy nghĩ chín chắn khi đặt tiền”

Khu kéo máy và các bàn xì dách. Photo. HĐV

Vợ tôi hay hơn wikiHow Staff:

– Ông vô casino chứ gì? Làm ơn đưa mấy cái thẻ đây!

Tôi đưa cái Visa.

– Ông còn cái Master, Amex.

Tôi thở dài, đưa tiếp.

– Ðầu năm thở dài, xui! Vậy là cả năm thở dài hoài.

– Chị ơi! Anh thở dài đã 20 năm nay lận!

“Bia rượu miễn phí của casino là cái bẫy. Khi uống bia rượu lúc đang chơi bài, bạn thường muốn đánh lớn và mất tập trung vô ván bài nên bạn sẽ bị “tiêu tùng” sau vài ly”.

Tôi ăn liên tục 3 bàn xì dách, tổng cộng được $200, trong 40 phút.

Những bàn đánh xì dách. Photo. HĐV

– Mời ông dùng cà phê, soda, bia, rượu!

Cô phục vụ xinh đẹp thỏ thẻ.

– Không, cám ơn. Ông Thần không cho uống bia rượu.

– Thần? Thần nào?

– Thần Bài!

– …?!

Cô Mỹ trắng như trứng gà, bỗng đờ như vịt.

– Ủa! Có Thần Bài ở đây?

– Dĩ nhiên!

Cô tới gần, thì thào:

– Em cũng đi casino khác đánh mỗi tuần, thua cháy túi. Chỉ giùm Thần Bài.

– Số phone.

Mê hồn trận “Kéo máy”. Photo. HĐV

Tôi nói nhỏ.

Em Mỹ non đưa tôi số phone, nháy mắt.

Tôi đứng dậy, qua bàn Baccarat. Ngồi xuống, đổi $200, coi đồng hồ tay, đã ở đây 1 tiếng, vậy còn 2 tiếng là về.

“Hãy kiểm tra giờ giấc bằng cách mang đồng hồ hoặc coi phone. Càng ở lâu trong casino, càng dễ thua, cho nên phải tự ấn định thời gian vui chơi của mình trong vài giờ. Nếu ăn thì tốt, thua thì về nghỉ ngơi, đợi dịp khác. Cố gỡ, sẽ bị căng thẳng thần kinh, mất phán đoán, đó là những điều làm bạn tiêu tùng trong 3 nốt nhạc”.

“Nếu bạn ăn lớn, nên đổi tiền và biến khỏi casino, hoặc cất tiền vô túi, lấy một phần nhỏ (thí dụ ăn $2,000, cất đi $1,600, lấy ra $400) đánh một cây lớn, ăn hay thua, cũng dzọt lẹ”.

“Hãy đánh cửa cái (Banker) nếu bạn chơi Baccarat. Chỉ có 2 cửa trong bài Baccarat: cửa cái và cửa con (Player). Cửa cái có tỉ số thắng cao hơn cửa con, việc này thường xảy ra trên 50%, nếu bạn đặt cửa cái và thấy thắng, hãy tiếp tục như vậy cho đến khi cửa này thua, thì ngưng, đợi đến khi ăn”.

Ông Thần Bài dạy sao, tôi làm đúng vậy. Ðặt vô cửa cái $50…

Người chơi “Kéo máy”. Photo. HĐV

“Với trò kéo máy, bạn nên đánh cao nhất, vì như vậy bạn có khả năng được 86% tới 98% tiền trúng. Thay vì chơi máy 10 cent, bạn nên chọn máy $2, 5$, 10$. Nếu máy chơi cao nhất $1 thì bạn nên đánh $1 để trúng lớn. Dân kéo máy nhà nghề thường chơi một lúc 2, 3 máy. Ðiều này dựa trên nguồn tin máy dễ trúng nằm sát máy khó trúng, nếu chơi 2 máy sát bên nhau có khả năng trúng cao hơn”.

“Không bao giờ chơi máy progressive jackpot. Máy này dành dụm tiền đánh của người chơi và cho hiện ra số tiền trúng độc đắc. Khi chơi, biết đâu bạn sẽ trúng $1,000,000, nhưng tỉ lệ trúng rất thấp. Máy cho thấy lô độc đắc hàng triệu đồng để dụ người đánh và sẽ không bao giờ trúng. Ðại khái, kéo máy là thất bại! Vì ít cơ hội trúng và khó trúng lớn”.

Ðúng là theo lời Thần Bài nên có lộc ngày Tết, tôi ăn 3 cây liền, thua lại 2 cây, tính ra còn ăn $100. Nhìn đồng hồ, tôi còn cả 90 phút cho cuộc hành hương casino đầu năm.

Tôi đặt $50 vô cửa cái. Trúng, thành $100!

Tôi đặt $100 vô cửa cái. Trúng!

Một máy kéo loại mới. Photo. HĐV

Cũng cô phục vụ cũ:

– Mời ông dùng cà phê, soda, bia, rượu.

– Cô cho 1 cái Scotch đá.

Cô thì thầm.

– Thần Bài không cấm nữa à?

– Ổng chỉ cho 1 ly, sau khi đánh.

Cô nhún vai, bỏ đi.

Tôi đặt $100 vô cửa cái.

Trúng!

Máy kéo có giải lớn. Photo. HĐV

Tôi đứng dậy với $400 tiền chip của Baccarat và $200 chip ăn xì dách.

– Dạ! Rượu của ông.

Tôi lấy ly Scotch, cho $5 tiền típ, bước ra khỏi bàn, tới quầy đổi tiền, làm một hơi cạn ly rượu ngon, khà một tiếng dài.

Nhìn đồng hồ, còn 20 phút tôi phải ra khỏi nơi đây như ông Thần Bài dạy. Xuống lầu, đi ngang Oyster Bar, tôi quẹo vô:

– Vui lòng cho 12 con sò Crassostrea Gigas, cái Vodka đá.

Tôi ngồi nhấm nháp sò ngon và Vodka ấm với $600 mới thắng casino…

Cám ơn ông Thần Bài! Tôi đã thắng casino. Bạn cũng vậy, nếu theo đúng hướng dẫn …

HĐV

(Nguồn: Co-authored by wikiHow Staff)

Niệm khúc một vùng quê

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 18 Jan 2024

Ngày 31 tháng 5 năm 2021, ngày thứ Hai cuối cùng của tháng, bắt đầu mùa Hè ở Hoa Kỳ, là ngày tưởng niệm Chiến sĩ Trận vong.

Bức tường Chiến tranh Việt Nam (The Vietnam War Wall) nằm khiêm nhường bên Tháp hình bút chì cao vút xa xa tại trung tâm thủ đô Washington D.C, Hoa Kỳ.

Yên bình trong vườn cây xanh, bức tường làm bằng đá hoa cương đen, hình chữ V, mỗi cạnh dài khoảng 75 mét, được ghép lại từ 72 tấm đá quý từ thành phố Bangalore, Ấn Ðộ.

Trên bức tường đá đen bóng láng đó có khắc tên của hơn 58,000 người lính Mỹ theo thứ tự ngày báo tử hoặc thất tung.

Hằng năm có khoảng 4 triệu lượt người tới thăm Ðài Tưởng Niệm. Ðến đây, ai cũng thấy bóng của chính mình soi trên mặt của bức tường. Khách đến thăm nhẹ nhàng bước chậm lại, lặng lẽ hơn. Có người trầm tư tìm dòng chữ ghi tên người thân của mình để đặt hoa phía dưới. Có người gục đầu vào bức tường, tay sờ nhẹ vào những cái tên. Có phụ nữ âm thầm lau nước mắt.

Ngày Chiến sĩ Trận vong, nghĩ về những người lính Mỹ đã hy sinh vì tổ quốc, tui lại nhớ đến những người lính VNCH. Tui nhớ đến cuộc chiến cực kỳ khốc liệt để bảo vệ nền tự do còn non trẻ của chúng ta. Tui căm ghét cái họa độc tài do CS miền Bắc tuân lịnh theo quan thầy Nga- Hoa quyết tâm xích hóa Miền Nam tự do.

Ðã có biết bao chiến sĩ VNCH “Tôi thường đi đó đây, bùn đen in dấu giày, lửa thù no đôi mắt, chân nghe lạ từng khu chiến thuật, áo đường xa không ấm gió phương xa, nghìn đêm vắng nhà” rồi ngã xuống!

Nhưng đau đớn thay, vận mệnh của Miền Nam tự do đã bị Richard Nixon, Henry Kissinger cùng với Mao Trạch Ðông, Chu Ân Lai định đoạt bên lề Thông cáo chung Mỹ Trung, ký ngày 27, tháng Hai, năm 1972 tại Thượng Hải bên Tàu.

o O o

Cho dù chiến tranh vệ quốc chống lại bọn CS miền Bắc xâm lược xảy ra rất ác liệt nhưng chánh phủ VNCH mình nghĩ rằng cuộc chiến trước sau rồi cũng phải chấm dứt. Muốn xây dựng lại đất nước thì việc giáo dục phải được đặt ưu tiên lên hàng đầu.

Sau khi tốt nghiệp khóa 4/72 SQTBTÐ, tui được trả về đi dạy ở trường Trung học tỉnh hạt Kế Sách, một quận lỵ đìu hiu thuộc tỉnh Ba Xuyên. Chưa tàn một niên học, tình hình chiến cuộc chuyển biến một cách nhanh chóng. Tin dữ hằng ngày từ Quân khu 1, Quân khu 2 chiếm đầy trên mặt báo. Trận quần thảo cuối cùng giữa Sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Ðảo và 3 Sư đoàn chánh quy của CS Bắc Việt gây điêu tàn đổ nát cho toàn tỉnh lỵ Long Khánh. Chiến sự theo xa lộ Biên Hòa tràn về sát Sài Gòn.

Ngày 22, tháng Tư, năm 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu rời Sài Gòn đi Ðài Bắc. Phi trường Tân Sơn Nhứt cấp tập những chuyến bay di tản. Ngày 28 tháng Tư, năm 1975, phi công phản loạn Nguyễn Thành Trung lái F-5 hướng dẫn, chỉ điểm cho phi công Bắc Việt ném bom phi đạo làm nhiều người thiệt mạng. Thầy Nguyễn Bá Trứ của Viện Ðại học Cần Thơ là một trong những người bị giết. Cuộc di tản bằng cầu không vận ra khỏi Sài Gòn đang cơn hấp hối bị đình trệ.

Ngày 29, tháng Tư, bà con Sài Gòn, nhứt là đồng bào Bắc di cư năm 1954, thừa biết CS tàn ác như thế nào nên đổ xô xuống thương cảng Sài Gòn. Những con tàu theo Sông Lòng Tàu hướng ra khơi.

Những đám đông chen lấn xô đẩy trước cổng Tòa Ðại Sứ Mỹ trên đại lộ Thống Nhứt. Họ thất sắc, cố chen qua cổng, hy vọng được trực thăng Mỹ đậu trên nóc Tòa Ðại sứ bốc ra Hạm đội 7 đang ở ngoài khơi.

Sau 20 năm tham chiến, người Mỹ “I’m dreaming of a White Christmas” quy cố hương và chúng tôi ở lại.

11giờ 30 sáng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, trên đài Phát thanh Sài Gòn, Tổng thống (2 ngày) Dương Văn Minh, dưới họng súng AK-47, bị buộc phải tuyên bố đầu hàng.

Tranh Bảo Huân

Vùng quê Kế Sách, lúc đó cũng như toàn Quân khu 4, vẫn hoàn toàn yên tĩnh, không một tiếng súng. Phố chợ Kế Sách chìm trong bóng tối. Ánh đèn dầu leo lét, cửa đóng then gài.

Hai tuần lễ đầu của tháng Năm, quyền lực đã hoàn toàn rơi vào tay của những tên mặc quần ni lông dầu, chưn cẳng phèn không, vai mang AR-15, súng Mỹ.

Hai Tịch từ căn cứ xã Kế An làm Bí thơ và hung thần Năm Quạ từ cuối ngọn rạch mịt mùng xã Song Phụng về làm Công an với sự tiếp tay của hai anh em sanh đôi là Sáu Lục và Bảy Sách vào tiếp quản (muốn phân biệt đứa nào là Sáu Lục, đứa nào là Bảy Sách thì Bảy Sách cụt một tay vì bị bắn).

Trưởng Công an thị trấn Kế Sách (tương đương với cấp xã) là Bảy Chiến bị thương ngón tay áp út bàn tay phải. Về sau, hắn bị đuổi ra khỏi CA vì cho con vợ làm thầu số đề. Vô đảng là phải có phe đảng để đè đầu bóp cổ dân ngu, khu đen. Nhưng vợ chồng Bảy Chiến lẳng lặng lủm hết ráo, hổng chịu nhả ra, chia chác cho đứa nào thì bị đuổi là chuyện đương nhiên.

Trưởng phòng Giáo dục là Sáu Phòng, khoảng 50 nhưng già trước tuổi. Hồi còn chiến tranh, lúc nào y rét quá thì nhảy ra chiêu hồi; rồi lại nhảy vô bưng như cóc nhảy. Tự ti mặc cảm vì trình độ học vấn chưa hết lớp 5 (biết đọc, biết viết cao nhứt trong cả đám huyện ủy) nên trên cái túi của ông ta bao giờ cũng giắt tới ba cây viết Bic.

o O o

Những ngày tháng Năm, người dân phố chợ Kế Sách ngay ngáy sống trong phập phồng sợ bị khủng bố. Thượng sĩ Chư, thuộc Chi khu đã bỏ nhà trốn đi nơi khác vì sợ bị trả thù. Còn tui, đất lạ quê người, nên không biết phải trốn đi đâu?

Lương tháng Tư chưa kịp lãnh, tụi nó đã cướp mất rồi, đói meo râu, tui phải ăn cháo với hột vịt muối để cầm hơi.

Chiều mùng 3, tháng Năm, Giáo Tổng, dân cố cựu địa phương, mua chịu ở tiệm của phụ huynh nào đó được một két lave 12 chai khiêng về. Năm đó, tui còn trẻ quá, có biết nhậu nhẹt gì đâu, beer đắng nghét. Giáo Tổng cứ rót, uống tì tì, cạn ly lại đầy ly cạn. Nó kêu tui: “Uống đi mậy! Lần chót, mai mốt hổng có đâu mà uống!”. Thằng bạn tui làm thầy giáo chớ hổng phải làm… thầy bói mà nó đoán như thần, trúng ngay phóc hè! Chắc tại nó sanh đẻ và lớn lên ở vùng xôi đậu (ngày Quốc gia; đêm VC); nên nó rành sáu câu vọng cổ; chớ đâu có ngu ngơ, khờ dại như tui vốn là dân ở chợ. Vài năm sau ngày mất nước đó, khá lắm là được uống bia hơi. Còn đa phần là uống rượu bọt đường ngâm ô môi cho dễ ực. Mồi không có thịt thà gì ráo trọi mà là trái cóc, miếng ổi. Nhậu cháy cả ruột gan!

Gần nửa đêm, cái loa phóng thanh đặt trên nóc nhà lồng chợ oang oang kêu ngụy quân, ngụy quyền ra trình diện ngay lập tức. Hai đứa, trong ánh đèn leo lét của phố chợ đìu hiu, líu ríu đến nạp mình cho quỷ dữ.

Ngồi trước cái bàn ghi tên là một con “quỷ cái”, vốn dạy trường Tiểu học Kế Sách, ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản, là cách mạng 30 tháng Tư. Trong phòng, đèn tối tù mù nhưng em vẫn đội nón tai bèo, tay đeo băng đỏ cho nó oai. Thiệt khùng hết biết!

Nghe ông đang đứng trước hai đứa tui khai: “Từ Minh Chánh, Phó Quận Hành chánh”; em gật đầu! Hai tên mặt vằn vện, đằng đằng sát khí thấy “ám hiệu” bèn áp giải ông Phó đi luôn! Thấy vậy, mặt mày của hai đứa tui xanh chành như đít nhái.

– Còn hai ông làm gì? Một tên hỏi.

– Thầy giáo!

Nó khoát tay:

– Ði dạy thì tới đây làm cái giống gì?

Hai đứa tui mừng húm, bườm lẹ lẹ về nhà. Giáo Tổng lọ mọ mò dưới mép sông lượm mấy chai beer mà nó bỏ xuống hồi đầu hôm lên uống tiếp để quên cái sầu mất nước.

Ðã 46 năm rồi, một thời gian quá dài trong đời người. Cứ tưởng bụi thời gian sẽ phủ mờ theo năm tháng. Nhưng mỗi độ tháng Năm về, ngày Chiến sĩ Trận vong ở Hoa Kỳ, sao lòng tui cứ vấn vương hoài về cố thổ?

Những cái chết gây nhiều thương tiếc!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 18 Jan 2024

Alexander Hamilton (1757-1804) là một sĩ quan, luật sư, chính trị gia, chuyên gia tài chính. Mới 32 tuổi, ông đã là Bộ trưởng Ngân khố, thời Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ George Washington.

Alexander Hamilton là người đã thiết lập hệ thống tài chính – ngân hàng, đặt nền móng cho nền kinh tế Mỹ. Ông là một trong những luật sư lãnh đạo Hội nghị Lập hiến Hoa Kỳ năm 1787. Ông là nhà lập quốc Hoa Kỳ rất có ảnh hưởng đến sự phát triển của nước Mỹ.

Alexander Hamilton là một con người tài ba như thế nhưng cái chết của ông khi còn rất trẻ vì một nguyên do không đâu.

Là đối thủ chính trị, Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Alexander Hamilton đã miệt thị Phó Tổng thống Aaron Burr trong một bữa ăn tối.

Phó Tổng thống Aaron Burr (Phó tổng thống thứ ba thời Thomas Jefferson) đã bắn chết Alexander Hamilton trong một cuộc đấu súng vì danh dự vào ngày 12, tháng 7, năm 1804. Một cái chết lãng xẹt.

o O o

Một cái chết để bảo vệ danh dự cũng không kém phần lãng xẹt nữa là của Aleksandr Sergeyevich Pushkin.

Pushkin (1799- 1837) là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng nhứt của nước Nga vào thế kỷ 19. Các tác phẩm của Pushkin dù là thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết hay kịch bản đều đậm chất thơ nên thường được giới yêu thơ gọi ông là Ðại thi hào, Mặt trời thi ca Nga

Năm 1831, Pushkin kết hôn với Natalia Goncharova. Nàng Natalia Goncharova xinh đẹp đem lại cho nhà thơ nguồn cảm hứng thi ca, nhưng cũng mang đến cho Pushkin những muộn phiền vì tin đồn vợ ngoại tình.

Thời ấy có thông lệ, giới quý tộc bảo vệ danh dự bằng cách đấu súng tự nguyện. Ðối thủ của Pushkin là sĩ quan kỵ binh trong quân đội Sa hoàng tên Georges D’Anthès – là anh rể của Pushkin.

Cuộc đọ súng ngày mùng 8 tháng 2-1837 kết thúc bằng kết quả cả 2 đều bị trọng thương. Pushkin đã không qua khỏi 2 ngày sau đó ở tuổi 38..

Cuộc đấu súng của Alexander Hamilton – nguồn history.com

o O o

Nhưng cái chết lãng xẹt vô lý nhứt là của cựu Thủ tướng Shinzo Abe, mới xảy ra vào Thứ Sáu, mùng 8, tháng 7, năm 2022 tại thành phố Nara, Nhật Bản .

Shinzo Abe xuất thân từ một gia đình chính trị gia theo chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản. Shinzo Abe có một người ông bị Hoa Kỳ cáo buộc phạm tội ác chiến tranh trong Thế chiến thứ hai.

Bản thân Shinzo Abe đã hạ thấp những hành động tàn bạo của quân phiệt Nhật Bản gây ra trong thời chiến và thay vào đó là nhấn mạnh về tầm quan trọng của lòng yêu nước và các giá trị truyền thống của người Nhật.

Sau Thế chiến thứ hai, Hoa Kỳ là Cảnh sát của thế giới. Nhưng gần đây, nhiều cử tri và chính trị gia Mỹ cảm thấy mệt mỏi với vai trò này. Nó tốn kém và nền kinh tế Hoa Kỳ không còn thống trị như trước đây.

Người Mỹ trong cả hai đảng chính trị Dân Chủ lẫn Cộng Hòa cũng đã đặt câu hỏi tại sao con em của họ lại phải mạo hiểm sinh mạng mình ở những đất nước xa xôi?

Một Hoa Kỳ ít quyết đoán hơn đã làm các nhà độc tài khác cảm thấy được khuyến khích để trở nên hung hăng hơn.

Nhìn Hoa Kỳ rút khỏi Afghanistan, Putin đã hăm hở xâm lược Ukraine vì Putin nghĩ Hoa Kỳ sẽ không can thiệp. Và Tập Cận Bình đã báo hiệu rằng ông ta có thể dùng võ lực để thống nhất Ðài Loan.

Tất nhiên Shinzo Abe lo ngại về sức mạnh đang trỗi dậy của Trung Quốc. “Không có quốc gia nào chiến đấu bên cạnh một quốc gia không tự bảo vệ mình”.

“Ông tin rằng nhiệm vụ của một chính trị gia, trước hết là bảo đảm an ninh và thịnh vượng cho người dân của mình”.

Ông đã chiến đấu trong nhiều năm để cố thay đổi Hiến pháp vốn theo chủ nghĩa hòa bình mà Hoa Kỳ áp đặt lên Nhật Bản sau Thế chiến thứ hai.

Ông Shinzo Abe từng nói: “Kể từ chính quyền Obama, quân đội Mỹ không còn đóng vai trò là cảnh sát của thế giới”. Ông nhận ra rằng sự thống trị của quân đội Hoa Kỳ trong thế kỷ 20 là không bền vững. Nhưng ông vẫn tin rằng Mỹ phải dẫn đầu.

Ông Shinzo Abe tin rằng thế giới sẽ tốt đẹp hơn nếu Nhật Bản – dân chủ và thịnh vượng –

Abe nói: “Một mình Nhật Bản không thể cân bằng sức mạnh quân sự của Trung Quốc, vì vậy Nhật Bản và Mỹ phải hợp tác.

Shinzo Abe giây phút trước khi bị ám sát – nguồn reuters

o O o

Nhưng những dự định của ông Shinzo Abe chưa được hoàn thành vì một lý do rất lãng xẹt. Hung thủ Tetsuya Yamagami, 41 tuổi, mang lòng thù hận với ông ngoại của Shinzo Abe là Nobusuke Kishi, Thủ tướng từ năm 1957 đến năm 1960, người từng bị đâm 6 nhát nhưng vẫn còn sống sót.

Hung thủ Tetsuya Yamagami sau khi bắn chết Shinzo Abe đã khai: “Vì mẹ tôi đã hiến tặng rất nhiều cho The Unification Church (Nhà thờ Thống nhất) nên làm gia đình tôi bị khánh kiệt.”

Tetsuya Yamagami nghĩ rằng cựu Thủ tướng Nobusuke Kishi đã góp phần vào việc truyền bá để mở rộng “The Unification Church” (Nhà thờ Thống nhất) và hắn ta đã nghĩ đến việc giết cháu trai của ông ấy, cựu Thủ tướng Shino Abe để trả thù.

The Unification Church (Nhà thờ Thống nhất), ban đầu do Moon Sun-myung thành lập vào năm 1954. “Father Moon”, qua đời ở Hàn Quốc vào năm 2012 ở tuổi 92.

The Unification Church (Nhà thờ Thống nhất) phát triển mạnh vào đầu những năm 1960, một thời kỳ đầy biến động ở Hàn Quốc, lúc thời gian đang chuyển đổi từ một quốc gia nghèo đói bị chia cắt bởi nội chiến thành một trong những nền kinh tế hiện đại nhất thế giới.

Ðến những năm 1980, The Unification Church (Nhà thờ Thống nhất) đã vươn ra toàn cầu và ngày nay nó vẫn nổi bật ở nhiều vùng của Châu Á.

Nhà thờ có nhận được thông điệp ủng hộ của ông Shinzo Abe tại một sự kiện mà họ tổ chức, nhưng vị cựu Thủ tướng nầy không phải là một tín đồ.

(Chuyện làm như vậy để kiếm phiếu chánh trị gia nào cũng làm).

Nếu những lời khai của thủ ác Yamagami là thành thật nhưng nó nghe lãng xẹt. Hung thủ chắc có bệnh tâm thần. Hoặc chí ít cũng là suy nghĩ lệch lạc: Ðem cái thất bại của đời mình ra để quy lỗi cho kẻ khác.

Rồi bắt người cháu phải chịu trách nhiệm về hành động của ông ngoại mình (mà chưa chắc ông ngoại của ông Shinzo Abe có làm hay không?)