Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 21 Jan 2024

ĐẠI SỨ GRAHAM MARTIN
“Bước luẩn quẩn với cái rọ trên đầu.”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Cho đến 1975 Việt Nam không đáng để Hoa Kỳ tốn thêm sinh mạng nữa. Lẽ ra, Hoa Kỳ đừng nên gửi quân tham chiến. Tôi đã chống giải pháp này. Khi làm Đại sứ ở Thái Lan, tôi cũng chống lại việc gửi cố vấn sang Thái, và tôi đã phải đương đầu bốn năm trời ròng rã với Robert Mc Namara (*) để giữ chiến tranh khỏi lan tràn vào đất Thái.

Miền Tây Bắc Thái Lan lúc ấy cũng giống như giai đoạn đầu ở Đông Dương đã có những cuộc nổi dậy nhưng tôi nhất định chủ trương: Chúng ta chỉ cần yểm trợ cho chính phủ, không gửi quân chiến đấu, cố vấn cũng không-vì lẽ bên hàng ngũ đối phương không có một bộ mặt da trắng nào, chắc chắn chúng ta không nên gửi nhân viên quân sự xuống đến cấp dưới tiểu đoàn.

Một ký giả ở nơi nào đó tại vùng Trung Tây nước Mỹ tên Paul Harvey từng mỉa mai: “Có một Đại sứ ở Thái Lan trình độ chỉ đáng đưa đi làm đại sứ ở hòn đảo Johnson, nghĩa là một hòn đảo 1000 bộ chiều dài, 50 bộ chiều ngang, không thể lớn hơn cỡ ấy” chỉ vì tôi đã không cho phép người Mỹ mang súng, ngay ở trong căn cứ cũng vậy.

Đúng. Tôi giữ quan điểm và chấp nhận rủi ro vì lẽ chỉ cần một vụ phục kích xảy ra là công luận sẽ đưa tôi ra mà cắt họng. Nhưng tôi đã bẻ gẫy các vụ nổi dậy. Cũng không để xảy ra một vụ tàn sát Mỹ Lai nào. Tôi đã thành công.

Nhưng ở Việt Nam, Mc Namara và nhóm quân nhân đã áp dụng đường lối của họ. Và một khi quân đội chúng ta đã được gửi sang bên ấy, chúng ta không muốn thấy quân đội thất bại và rồi cho đến 1975, còn một vấn đề quan hệ nữa vẫn phải đặt ra, đấy là lời hứa của chúng ta. Liệu chúng ta có giữ lời hứa và giữ lời cam kết của chúng ta hay không?

Vụ tấn công Ban Mê Thuột và quyết định rút quân ở Cao Nguyên của Thiệu làm tôi hoàn toàn kinh ngạc. Vào giai đoạn này Tổng thống Thiệu yên trí rằng một vài người Mỹ thường hở cho báo chí biết tin, rồi tin tức lọt sang các nhóm chủ hoà, cuối cùng lọt sang đối phương. Không rõ ai đã thuyết phục ông như thế, nhưng suốt thời gian này ông không cho chúng tôi biết gì nữa. Chúng tôi chỉ còn dựa vào tin tình báo để theo dõi hành động Bắc quân, nhưng các tin tức này không phải lúc nào cũng chính xác.

Thời gian này tôi về Hoa Thịnh Đốn để cố xin viện trợ cho Nam Việt Nam. Trong chuyến về Mỹ tháng Ba cùng với phái đoàn quốc hội, tôi đã yêu cầu những người có thẩm quyền quyết định chính sách riêng: Cần phải chuẩn bị vấn đề tỵ nạn, xin hãy sắp xếp mọi thứ liên hệ cho người tỵ nạn ngay. Nhưng rồi, chẳng ai lo liệu gì.

Trong buổi họp cuối tại Bộ Ngoại giao ở Hoa Thịnh Đốn vào tháng 3/1975, Kissinger bảo: “Ông phải trở lại đấy vì dân Mỹ cần có một người để trút hết các trách cứ lên đầu.”

Hình minh họa

Thực vậy, người Mỹ chúng ta vẫn có cái thói ấy và luôn luôn như thế, cho nên tôi bảo:

“Ông hãy nhớ hộ một điều: Đối với mọi chuyện ở Việt Nam, tôi là người duy nhất liên hệ đến toàn thể nội vụ, mà tuyệt đối chẳng có áp lực để làm bất cứ một quyết định nào hầu tránh khỏi các phê bình chỉ trích. Tuyệt đối chẳng có cách gì tôi thoát việc nhận lãnh trách nhiệm sụp đổ Sàigòn. Cái gì cũng đổ cho tôi, từ đầu đến đuôi. Vậy tôi sẽ không thích dính dáng bất cứ chuyện gì khác ngoài một chuyện duy nhất hợp lý vào lúc này, đó là: Mang người Mỹ sống sót ra đi an toàn, mang những người bạn Việt Nam liên hệ với chúng ta đi khỏi càng nhiều càng tốt. Tôi sẽ làm như vậy, và tôi sẽ không để cho ai thúc bách gì, ngoại trừ trường hợp ông giải nhiệm tôi.” Rồi tôi quay lại Việt Nam.

Đối với người Việt, tôi không có mối liên hệ riêng tư, bất kể người Bắc hay ngưòi Nam. Tôi chẳng đặc biệt thích một người Việt nào. Tôi yêu mến người Thái, tôi nghĩ họ là một giống dân kỳ diệu nhất thế giới. Tôi thích một số đông người Tàu, nhưng tôi đặc biệt không thích người Khờ Me, tôi không thích người Lào, tôi không thích người Mã Lai. Tôi thích người Nam Dương.

Tôi có một đứa cháu trai chết ở Việt Nam từ đầu cuộc chiến. Nhưng việc này tôi chỉ oán trách Thủy quân Lục chiến Mỹ đã không chịu gắn lá chắn thép dưới gầm trực thăng trước khi tung nó ra một chiến trường mà bên dưới đầy súng đại liên 50.

Nói như thế là để hiểu rằng: Sự cam kết của tôi đối vói người Việt không quan hệ gì đến cái chết của cháu tôi, cũng chẳng dính dáng gì đến cảm tình riêng tư nào của tôi đối với người Việt Nam. Đối với tôi, vấn đề thuần túy phải đặt ra là: Chúng ta đã tuyên bố một lời hứa. Khi đã hứa mà lại bội hứa thì chúng ta sẽ có ngày phải trả một cái giá đắt khôn lường ở khắp mọi nơi trên cái thế giới máu me tàn khốc này.

Khi trở lại Việt Nam, một người đã đến gặp tôi là Ed Daly bên hàng không World Airways. Anh ta đeo súng lủng lẳng bước vào phòng, tôi yêu cầu bỏ súng ra, để bên ngoài. Thấy anh ta ngần ngừ, tôi kêu Thủy quân Lục chiến đưa ra ngoài tước súng. Hắn trở vào lại, ngồi xuống nói với tôi: “Ông có biết không, mấy người Việt Nam họ bảo nếu tôi cất cánh ra Đà Nẵng, họ sẽ bắn hạ tôi. Ông sẽ làm gì?” Tôi đáp “Vỗ tay hoan hô chứ sao! Ông cho ông là cái thá gì? Ông chúi trong cái lỗ đục dưới đất, đến cái đít của ông, ông cũng cóc dòm ra. Ông không biết một cái đếch gì ở đây cả.” Sau đó, tôi với anh ta không bao giờ nói chuyện gì thêm, anh ta cũng không bao giờ trở lại toà Đại sứ nữa.

Tôi gửi Harry Summers ra Hà Nội trong tháng Tư (1). Chúng tôi vẫn có chuyến bay ra Hà Nội là để chuyên chở người thuộc ủy ban liên hợp quân sự ở căn cứ Davis. Đề đốc Geyler phản đối, nhưng tôi nhất định gửi người đi. Tại sao? Tại vì bấy giờ ở đấy có một việc không một ai biết ngoại trừ tôi và Wolf Lehmann, phụ tá của tôi. Việc ấy là chuyện đi lại của Brezhnev và Kissinger với Hà Nội. Và theo Leonid Brezhnev, Hà Nội đã đồng ý ấn định thời hạn cho chúng tôi rút. Hạn chót là ngày 3 tháng 5. Đó là một thỏa thuận.

Tôi có nói với Kissinger: tôi cần hai tuần lễ. Kissinger cho biết ông đã thông báo cho Hà Nội và Hà Nội đã chấp nhận. Bắt buộc phải chấp nhận luật chơi thôi, lỡ cái xảy nảy ra cái ung thì tôi cũng đành phải chịu (2). Người ta bảo máy bay có thể bị hạ, nhưng tôi nhất định cho đi. Vì thế chúng tôi bốc người từ căn cứ Davis, và Summers đã đưa họ ra Hà Nội, ngồi xuống mà thảo luận với người Việt Nam. Chúng tôi muốn nói chuyện (thẳng) với người Việt Nam là chúng tôi chấp nhận thi hành phần chúng tôi trong cuộc mà cả của Kissinger-Brezhnev. Họ sẽ để chúng tôi yên. Tôi tính là chỉ cần đến ngày 1 tháng 5, không cần đến 3
tháng 5. Tôi không muốn quá ngày ấy.

Hình minh họa

Đâu chừng một tuần trước ngày sụp đổ, tôi gửi một điện văn, lúc ấy Hoa Thịnh Đốn bất đầu tỏ ra bực bội. Tôi nói “Điều duy nhất ở đây chúng tôi có là sự điềm tĩnh của tôi, là khả năng phán đoán tình hình của tôi. Thực sự chúng tôi không còn gì khác. Bây giờ chẳng có gì để mất, vì tôi đang bước đi luẩn quẩn với cái rọ úp trên đầu rồi.”

Ngày 21 tháng 4, Tổng thống Thiệu từ chức. Tôi không thuyết phục ông rời xứ. Chính người kế vị của ông (3) đã gọi tôi, bảo Thiệu vẫn ở trong dinh Tổng thống làm ông khó cựa quậy, đó là cách lịch sự để bảo tôi rằng Thiệu vẫn tiếp tục gặp gỡ các tướng lãnh. Ông hỏi tôi có thể giúp đưa Thiệu đi không? Tôi trả lời tôi sẽ giúp nếu ông Thiệu yêu cầu. Sau đó chừng 15 phút, Thiệu điện thoại nhờ tôi đưa ông ra khỏi xứ. Bây giờ tôi lại phải đương đầu một vấn đề khác. Nên sử dụng quân đội Mỹ để lo việc này hay không? Như thế là gây rắc rối cho Bộ Tham Mưu Liên Quân (Mỹ), gây rắc rối với người Bắc Việt và máy bay có thể bị hạ. Tôi đã yêu cầu quân đội đưa đến Sàigòn một máy bay bốn động cơ bấy giờ cất ở Nakhon Phanom (Thái), và tôi giao việc này cho Polgar (4) thay vì cho quân đội lo. Bên quân đội biết máy bay đến, nhưng họ không rõ sử dụng vào việc gì. Tôi hy vọng bên quân đội sẽ không biết việc chở Thiệu ra khỏi xứ cho đến khi đưa ông ta vào được tàu bay. Đây là tôi muốn nói Quân đội Mỹ, đặt quân đội Việt Nam sang một bên. Vì thế tôi bảo Polgar cho Frank Snepp (5) lái xe vào căn cứ quân sự, lên phía trên chỗ máy bay đậu một chút, rồi tôi đưa họ vào máy bay. Trước đấy, Charlie Timmes (6) và tôi đã đi gặp Nguyễn Cao Kỳ. Timmes có hẹn với Kỳ, nên tôi bảo Timmes: “Rồi, để tôi đi cùng với ông.” Hai chúng tôi lái chiếc xe Volkswagen nhỏ của Timmes, chuyến đi hơi rợn tóc vì thành phố đã bắt đầu hỗn loạn. Tất cả chủ đích chuyến đi là để bảo cho họ biết rằng một cú đảo chánh máu me sẽ không phục vụ bất cứ một cái gì cho cõi trần gian xanh tốt này ngoại trừ một việc: Phục vụ cho cái tôi của Kỳ. Có thể ông ta đã suy đoán được để hiểu rằng thời điểm của ông ta không đúng lúc, và mục đích của tôi là chỉ muốn ông ta bỏ cái ý định ấy đi. Tôi để cho các người khác làm việc với ông ta. Tôi dặn họ: đừng để ý gì nhiều đến ông ta cả.

Nếu có một nhân vật biết được ngọn ngành mọi việc mọi trò của những người ở đấy thì chính là tôi. Nhưng vào giờ phút cuối, có những người khác nữa làm gì, thì chịu, tôi không biết đích xác cho nổi. Một ông đã gây rối cho tôi như thế lại chính là một bạn tốt, mà đến nay tôi vẫn thích, đó là Erich Von Marbod. Erich Von Marbod đến từ bộ Quốc phòng. Ông ta cho không quân Việt Nam bay đi vài chiếc F-5 của họ sang Thái. Chuyện này trái lệnh tôi. Một mặt, chả quan hệ gì. Nhưng mặt khác, lại vô cùng hệ trọng. Bởi vì tôi đã yêu cầu Kissinger một thời hạn, tôi nói là hai tuần. Chúng tôi cố mang đi tất cả các nhà thầu công tác quốc phòng mà chúng tôi không thể rõ hết là những người ấy ở những nơi nào. Không thể bỏ họ lại mà đi. Đó là lúc cần đòi hỏi sự chậm rãi, sự thận trọng, cho nên việc Erich Von Marbod thuyết phục tướng Trần Văn Minh cho mấy cái phi cơ bay sang Thái là một lỗi lầm rất lớn. Nó làm người Thái e ngại. Rồi những người đưa phi cơ sang bên ấy lại bị giấu diếm, họ không được bảo trước rằng sau đó họ sẽ không được phép trở về với gia đình. Để làm họ dịu xuống, người ta phải phục thuốc họ. Và chính những người này đã gây rối khi đến Guam. Lỗi của tôi. Đáng lẽ tôi phải tống cổ Von Marbod từ hai ngày trước. Đáng lẽ tôi cũng phải tống cổ cả Polgar đi: Hắn không biết trời đất gì. Hắn không xứng đáng điều khiển cơ quan tình báo ở đấy. Hắn muốn chơi trội cùng với gã Malcolm Browne bên tờ Times và các ông bạn Hung Gia Lợi của hắn bên ủy hội Quốc tế kiểm soát đình chiến, rồi cả William Colby (7) lẫn Kissinger đều nói lại với tôi việc ấy (8) Và tôi đã nói với Polgar rằng nếu anh cứ tiếp tục làm những chuyện như thế, tôi sẽ cắt hai hòn dái nhét vào mỗi lỗ tai của anh một hòn. Jim Kean đã nghe tôi nói với hắn như thế trong cầu thang máy.

Tôi không có gì để ân hận nhiều ngoài việc ân hận đã không tống cổ cả Polgar lẫn Von Marbod từ sớm. Họ đi hay ở cũng chẳng có gì khác biệt. Chỉ có một khác biệt trầm trọng mà sau đó tôi khám phá ra khi đọc tấm điện văn của các tướng Bắc Việt: Họ nghĩ việc đưa mấy chiếc phi cơ sang Thái là chúng ta nuốt lời hứa với họ. Chúng ta đã nói chúng ta sẽ không mang các chiến cụ đi. Chúng ta chỉ muốn họ để chúng ta yên ổn ra đi trong trật tự. Vì họ nghĩ chúng ta nuốt lời, hôm sau họ pháo kích phi trường, giết mất vài Thủy quân Lục chiến của chúng ta. Vì vậy, đến lúc tôi phải hạ lệnh trực thăng vận. Đây là lúc mọi sự bắt đầu bung ra.

Hình minh họa

Tôi vào Tân Sơn Nhất xem xét sau khi xảy ra vụ pháo kích. Hơn ba mươi năm trước, tôi đã là Đại tá không quân, bổ nhiệm từ 1936, nên những chuyện phi cơ, cái gì bay được cái gì không, tôi nắm trong bàn tay. Tôi đã là Tư lệnh phó sư đoàn Thái Bình Dương thời đệ nhị thế chiến, kiêm chỉ huy quân báo. Việc gì tôi làm, tôi làm cật lực, tôi nắm vững, tôi biết rõ. Buổi sáng 29/4 hôm ấy ở phi trường Tân Sơn Nhất, họ bảo tôi máy bay không đáp xuống được. Chuyện này vô lý. Ra tận đấy quan sát, tôi vẫn thấy chuyện họ nói chả nghĩa lý gì, người ta chỉ cần vác một cái xe Jeep quần ra phi đạo ba mươi phút là dọn sạch mọi thứ vụn vặt. Nhưng lúc ấy, quả là bên quân đội Việt Nam bắt đầu rối loạn. Chỉ huy cao cấp đã chạy, Tân Sơn Nhứt không còn chỉ huy nữa. Trong tình trạng này nếu máy bay đáp xuống là bị tràn ngập bởi đám đông vô kiểm soát. Chúng tôi cần dựa vào quân đội Việt Nam để di tản trong vòng trật tự, và chúng tôi cũng đã hứa với họ phút cuối sẽ bốc họ đi. Nhưng đến giây phút ấy, không còn có sự bảo vệ của họ nữa.
Vì Tân Sơn Nhứt hết bảo đảm được an ninh cho máy bay có cánh đáp xuống, nhưng khu vực văn phòng tùy viên Quân sự hãy còn hệ thống phòng thủ tốt, chúng tôi bèn cho trực thăng đáp xuống khu này thay vì Tân Sơn Nhứt.

Tôi liên lạc với hạm đội, và với sự khẳng định của Hoa Thịnh Đốn, tôi nói với mọi người-tôi nói với rất nhiều người Việt là: “Chúng tôi không thể bảo đảm di tản tất cả quý vị. Nhưng nếu quý vị có thể dùng thuyền ra khơi, chúng tôi vớt.” Chúng tôi đã cho tàu đậu ngoài khơi ba ngày ròng rã để vớt người đến khi tàu chật ních. Khi sĩ quan chỉ huy quân y cho biết nếu cứ tiếp tục, có thể bị bịnh dịch đe dọa, lúc ấy chúng tôi mới cho tàu đi. Tôi cũng ra lệnh cho hai máy bay tại căn cứ Clark đáp xuống Vũng Tàu để bốc gia đình lính Thủy quân Lục chiến Việt Nam. Đề đốc Geyler phản đối, nhưng tôi gạt đi. Hai chiếc máy bay đáp xuống, hoàn tất việc bốc người trong vòng mười lăm phút rồi thẳng cánh bay qua Clark. Từ giờ phút ấy, Thủy quân Lục chiến thuộc quyền điều động của tôi. Họ phụ trách bảo vệ trong trường hợp chúng tôi cần di tản ra từ bãi biển. Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương không có nhiệm vụ di tản người từ bãi biển ra. Từ nhiều tuần trước ngay việc đáp phi cơ trinh sát xuống, họ cũng không chịu, nhưng chúng tôi vẫn cứ làm. Đấy, tôi đã phải đối phó công việc với những cách thức như vậy.

Còn về câu chuyện cây me, thật là một câu chuyện vô nghĩa (9) Hạ cái cây xuống cũng là chuyện hoàn toàn vô nghĩa. Cây me này chả mang một biểu tượng gì. Về chuyện này, mục đích là tôi cố giữ cho Sàigòn một bộ mặt yên tĩnh, phải tránh mấy chuyện rối loạn đã từng xảy ra ở Đà Nẵng, Nha Trang. Ngoài ra, quỷ thần ạ, cần gì phải chặt cái cây ấy để lấy chỗ cho trực thăng? Nên tôi bảo “Để cái cây ấy yên đi!” Đơn giản thế thôi. Khi cần phải chặt, chỉ mười phút là xong. Cuối cùng mọi sự cũng đã xảy ra y như vậy. Chúng tôi không muốn có một hành vi bộc lộ rằng chúng tôi đang thua chạy, để Sàigòn phải nháo nhào lên.

Cái cây này tuyệt nhiên không biểu trưng gì cho sự có mặt của người Mỹ. Nhưng về một phương diện, Jim Kean cũng có lý khi nói vậy. (10) Bởi vì nó là cái dấu hiệu vật chất cho thấy chúng ta sắp rời đi, nên tôi phải che đậy. Việc tôi giữ cái cây chẳng có cái ý nghĩa thâm thúy gì như đó là biểu tượng cam kết của chúng ta cả. Vào những giây phút chót, có nhiều việc không thể làm ngơ. Về những việc này Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger đáng phải lãnh điểm xấu. Ông tỏ ra ngu xuẩn, nhiều phần trong con người ông luôn luôn như vậy.

Hình minh họa

Chúng tôi có một gã tên Stuart Herrington làm dưới quyền Đại tá Madison (11) Gã này đang giúp việc xếp người vào trực thăng trong sân toà Đại sứ. Gã có biết cái gì hơn là xếp người? Nhưng khổ nỗi, gã là thứ mồm loa mép giải, đáng lẽ biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe. Đàng này ai hỏi gì gã cũng trả lời láo lếu. Vì thế khi các phi công bay vào, họ muốn hỏi tôi còn phải chở bao nhiêu người nữa, gã Herrington mau mồm nói “Hai ngàn hoặc hai ngàn rưỡi nữa.” Ông Đề đốc Noel Gayler ở ngoài hạm đội dãy nảy như gái ngồi phải cọc. Chở nhiều quá lỡ xảy tai nạn, ai gánh đây? Ông ấy là người phụ trách công tác, ông bèn áp lực khủng khiếp mà thúc chúng tôi “Di tản người Mỹ! Di tản người Mỹ! Di tản người Mỹ xong là đi quách đi, bỏ những người khác lại.” Chuyện này không được. Đây là chuyện mà tôi từ chối. Brent Scowcroft (12) đã hứa với tôi rằng tôi sẽ có năm mươi chuyến trực thăng người Việt và Đại Hàn mà chúng tôi cam kết. Chúng tôi đã đếm kỹ lưỡng số người khi kéo họ qua bức tường lọt vào toà Đại sứ. Nhiều người là những nhân vật trọng yếu, có người là bộ trưởng chính phủ. Tất nhiên chúng tôi không có ý định mang họ vào rồi bỏ họ mà đi! Khốn thay, lời nói của gã Herrington với viên phi công được chuyển tới ông Đề đốc, rồi chuyển tới Tư lệnh Thái Bình Dương, lời nói ấy chuyển vòng đến Bộ trưởng Quốc phòng Schlesinger ở Ngũ Giác Đài. Các tướng Tham mưu thúc hối Schlesinger rằng: “Hễ cứ hỏi là lúc nào Martin cũng bảo còn 2000 nữa, bất kể đã chở được bao nhiêu. Cứ cái đà này đến phút chót vẫn là 2000!” Trong công tác bê bết máu lửa này dựa trên lời hứa của Scowcroft, chúng tôi đã phải thực sự tính toán cẩn thận: cứ mỗi chuyến chín mươi người. Ông ấy là Cố vấn An ninh của tổng thống, không tin ở ông thì tin vào trời đất quỷ thần nào? Thế rồi đột ngột họ gửi điện văn bảo: Chấm dứt. “Chuyến trực thăng kế tiếp đến, xin ông đi cho!” Tất cả chỉ vì gã Herrington này, và sau đó anh ta lại viết sách rồi trở nên một đại anh hùng !(13)

Tôi cũng lấy làm phiền về viên chỉ huy an ninh toà Đại sứ, người lãnh trách nhiệm di tản cảnh sát Việt Nam. Tôi đã giữ riêng cho họ hai cái tàu trên sông, nhưng ông ta cứ lằng nhằng muốn đưa họ ra đi sớm. Phía tướng tá Việt Nam báo cho tôi biết: không cách gì có thể duy trì trật tự trong thành phố nếu tôi rút cảnh sát Sàigòn đi. Vì thế tôi bảo ông ta khoan lại, đợi đến ba giờ trưa hãy đi. Ông ta bực bội chỉ muốn làm theo ý riêng mình. Nhưng ông ta cũng đợi được đến ba giờ trưa rồi cho cảnh sát lên tàu di tản cùng với gia đình họ. Tôi không có gì để than phiền nhiều về chiến dịch di tản này vì tổng thống và Kissinger đều đứng bên tôi, hỗ trợ tôi cho đến tận giây phút cuối cùng.

Tôi không bảo chiến dịch ấy hoàn hảo, nhưng khi duyệt xét lại, tôi có quyền hỏi: “Ai có thể làm khác hơn trong những hoàn cảnh đặc biệt ấy?”

Khi rời toà Đại sứ tôi biết đấy là giây phút lịch sử. Chắc chắn như vậy. nhưng trước đây tôi từng hỏi Hoa Thịnh Đốn: “Chúng ta có sự lựa chọn. Trong sự lựa chọn đó cần phải hỏi: Sau tôi, còn những việc gì sẽ xảy ra? Đối phương sẽ lấn chúng ta hơn nữa, ở khắp nơi trên thế giới. Chúng ta cần phải giữ những lời cam kết của chúng ta!”

Trong lúc trực thãng bay, tôi nghĩ chúng tôi đã rũ bỏ xong. Chúng tôi đã kinh qua biết bao việc, chúng tôi đã mang hết được người Mỹ đi. Và mang hết người Mỹ ra đi, đó là trách nhiệm chủ yếu của chúng tôi. Chúng tôi cũng mang được một số lớn người Việt trong khả năng chúng tôi. Đáng lẽ chúng tôi nên mang đi nhiều hơn nữa, chúng tôi đáng lẽ phải mang 400 con người cuối cùng ấy ra đi, nhưng rất tiếc chỉ vì sự lôi thôi đã xảy ra trong lúc rối loạn như thế thôi.

Tôi nghĩ người Mỹ có quyền hãnh diện về chiến dịch di tản. Phần tôi tuyệt đối chẳng có gì dính líu đến những chuyện phải xin lỗi cả. Tôi đã nhận lãnh nhiều trách cứ về vụ Việt Nam. Chính vì thế mà rất lâu sau, đợi cho mọi thứ lắng xuống, tôi mới ra trước Quốc hội để mọi người đứng lên lãnh trách nhiệm và nhận lỗi của mình, và họ đã làm như thế.

Hình minh họa

Dẫu sao tôi cũng có nhiều điều thích thú. Tôi không bao giờ lo rằng mình có thể bị giải nhiệm. Tôi đã tính nếu bị sa thải, thì sẽ về ngồi với cái máy chữ mà viết.

Áp lực của nhóm chủ hoà đã áp đặt trên hệ thống giáo dục, và sự mù quáng của cái chủ trương “đừng-làm-một-cái-gì-có-thể-gây-tranh-luận- hoặc-bị-tấn-công” đã có khuynh hướng chế ngự hệ thống giáo dục chúng ta, do đó các nhà xuất bản sách giáo khoa hoặc giả lơ chuyện Việt Nam, hoặc chỉ mô tả sơ sài nhạt nhẽo chẳng giúp cho ai có thể hiểu sự thực thế nào. Điều này đáng tức cười, bởi vì về một phương diện khác, nó lại là điều tốt. Thỉnh thoảng nói chuyện với sinh viên, tôi nhận ra đa số chẳng những không hiểu biết gì, mà còn cực kỳ ngây thơ về chuyện Việt Nam. Nhưng chính vì thế, họ lại có thể tìm hiểu vấn đề với một quan điểm hoàn toàn khách quan. Chính vì thế, họ trở thành nhóm người duy nhất tại nước Mỹ có thể nhìn mọi sự với quan điểm khách quan ấy. Nhưng vì vậy, khi thấy được những sự kiện phô bày đầy đủ rõ rệt trước mắt, họ bực tức vì họ đã bị bưng bít, do đã bị từ chối trong việc tìm hiểu và đã chỉ được đọc một phần của cả vấn đề.

Hiển nhiên, sau này các sử gia sẽ đào sâu mở rộng hơn. Có lẽ họ sẽ đối xử rất tử tế với tôi, có lẽ còn tử tế hơn cả sự xứng đáng của tôi. Dầu vậy, chúng ta hãy còn biết bao nhiêu chuyện trời đất mà những chuyện ấy vẫn chưa từng được kể hết ra!
…
____________________________

(*) Mc Namara Bộ trưởng quốc phòng Mỹ.
(1)Harry Summers là Đại tá văn phòng tùy viên quân sự, DAO.
(2) Người Mỹ gọi là luật Murphy-” Murphy’s Law”-Khi cái gì hư hỏng xảy ra, là nó xảy ra, thế thôi!
(3)Tổng thống Trần Văn Hương.
(4) Trưởng nhiệm Sở Trung Ương Tình Báo Mỹ.
(5)Thuộc Trung ương Tinh Báo Mỹ.
(6) Trung tướng Mỹ văn phòng Tùy viên Quân sự.
(7)Giám đốc Trung Ương Tinh Báo Mỹ.
(8) Đây là việc Polgar tự động liên hệ với nhân viên Hung Gia lợi sắp đặt việc thương thảo với Bắc Việt. Chuyện này sẽ do Polgar tự kể trong chương kế-Polgar không biết những người làm chính sách Mỹ chỉ muốn rút, không thương thảo gì, không có ý định lập chính phủ liên hiệp. Việc này phụ tá Đại sứ Lehmann đã nói ở phần đầu của chương 4. Ghi chú của người dịch.
(9) Xem phần phỏng vấn Phụ tá Đại sứ Wolf Lehmann và phần phỏng vấn Thiếu tá Jim Kean chương 9. (10) Jim Kean, Thiếu tá Thủy quân Lục chiến, sẽ có bài ở Chương 9.
(11) John Madison, Đại tá Bộ binh, thành viên ủy ban Liên Hợp Quân Sự.
(12) Cố vấn an ninh quốc gia.
(13) Xem phần phỏng vấn Stuart Herrington ở Chương 7. Ghi chú của người dịch.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

 Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 21 Jan 2024

Đôi lời của người post bài (Sơn râu):

Xin thưa cùng bạn đọc: về phần hình ảnh trong loạt bài này hầu hết đều do tôi lấy trên Net hoặc trong kho hình ảnh lưu trữ của tôi, hình nguyên thủy trong sách có rất ít không đáng kể. Vì vậy phần hình ảnh chỉ có tính cách minh họa cho quyển sách chứ không phải là hình đi kèm trong sách nguyên tác, xin bạn đọc hiểu dùm.

LACY WRIGHT
(Nhân viên ngoại giao. Trưởng phòng chính trị)
“Hy vọng luôn bừng nở”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Tôi sinh trưởng ở Springfield, Illinois thuộc miền Trung Tây nước Mỹ. Xong đại học, sang La Mã thụ giáo linh mục hai năm rưỡi. Rồi bỏ dở. Về lại Mỹ dạy trung học tại Chicago một năm. Thời gian ấy tôi dự một kỳ thi tuyển nhân viên ngoại giao và theo học chương trình cử nhân Bang giao quốc tế tại đại học Chicago một năm. Tôi cũng không theo hết chương trình, vì đã được nhận làm nhân viên ngoại giao từ đầu năm 1968. Lúc ấy, ai vào ngoại giao mà chân còn cất bước và mồm còn bỏm bẻm nhai kẹo cao su được là được gửi đi Việt Nam.

Có thể nói lúc ấy đối với đa số người làm ngoại giao, bị đưa sang Việt Nam là một điều cay đắng. Ngành ngoại giao thời ấy, ít hay nhiều, đều có khuynh hướng chống chiến tranh. Chưa kể người ta sợ, chẳng ai muốn mất mạng giữa thời son trẻ. Nhưng phần lớn chúng tôi đều đã được đưa sang Việt Nam.

Sang bên ấy, có điều kỳ lạ làm chúng tôi thay đổi: đa số đâm ra thích Việt Nam. Nhiều người, kể cả tôi, sau khi về, lại tình nguyện xin trở lại.

Trước khi đi, chúng tôi được học mười tháng tiếng Việt tại học viện ngoại giao ở Hoa Thịnh Đốn. Dù không giỏi bằng nhiều người khác, nhưng khả năng Việt ngữ của tôi cũng không đến nỗi nào. Trái với điều người ta thường bảo người Mỹ không hiểu biết gì về xứ sở này, kể ra cũng có phần đúng, nhưng phần lớn nhân viên ngoại giao và nhân viên các ngành đều nói được tiếng Việt, nói rất giỏi. Tất nhiên không sánh được với người Pháp và vài nhóm người ngoại quốc khác tại Việt Nam.

Học viện ngoại giao không phải chỉ gồm có nhân viên ngoại giao. Dù nhân viên ngoại giao chiếm đa số, nhưng còn có cả các sĩ quan quân đội, thường là cấp thiếu tá, trung tá, và nhiều người thuộc các cơ quan khác. Nói chung, sĩ quan quân đội hơi lớn tuổi đối với việc học Việt ngữ, vốn là một ngôn ngữ khó. Trung bình họ ngoài bốn mươi, và cũng không có ai cố theo học. Còn nhân viên ngoại giao đa số đều học tiếng Việt, nhiều người sau khi sang Việt Nam ra ngoài sinh hoạt, làm việc ở các tỉnh, đã trau dồi thêm và nói tiếng Việt rất giỏi.

Sau một năm học Việt ngữ rồi tham dự những lớp thuyết trình chuẩn bị, tôi đã đến Việt Nam vào tháng 3, 1969.

Có vài điều tôi muốn nói. Điều thứ nhất: Dân Việt không phải ai cũng như ai, có người thế này người thế khác, có người khá có người không. Những nhân viên sang bên ấy trước vẫn không có cảm tình với chính phủ Nam Việt Nam, nhưng sau khi tiếp xúc với người Việt, làm việc với người Việt, sinh hoạt với các viên chức địa phương, dần dà nảy sinh nhiều tình cảm. Những người này bắt đầu đứng bên họ, mong cho họ những điều tốt đẹp, hy vọng họ sẽ thắng. Và mặc dầu tất cả chúng tôi đều thấy chế độ Nam Việt Nam có nhiều thiếu sót, nhưng sau khi quen thuộc với chiến thuật đối phương, thấy rõ sự khác biệt của phía Cộng sản và phía bên này, chúng tôi đều nảy sinh nhiều tình cảm đối với Nam Việt Nam. Điều thứ hai: Ở Việt Nam người ta có thể sống một cuộc đời phiêu lưu, với một giá sinh hoạt rẻ. Phần lớn nhân viên dân sự chúng tôi sống tiện nghi thoải mái, tương đối an toàn. Tất nhiên nhiều người phải về những vùng nguy hiểm, nhất là những người đi các tỉnh lẻ. Nhưng với đa số chúng tôi, những hiểm nguy đó chỉ vừa đủ cho cuộc đời thêm thích thú. Nó là cảm giác sôi nổi của cuộc sống thú vị giữa những hoạt động đầy tranh cãi của thời đại chúng ta. Và đàn bà thì vô số! Người ta ở vào một thời gian và không gian mà mọi kiềm chế bình thường được tung hê tháo bỏ, chẳng phải giữ gìn gì. Tất nhiên, đó là một hấp dẫn không ngừng.

Hình minh họa

Thế đấy. Nơi ấy đã có những cái tốt, những cái xấu, có những điều cao quí và cũng có nhiều thứ kém cao quí như vậy.

Một trong những chuyện tôi thích kể là vào năm 1973 sau khi đã ký hiệp định Paris, Bộ Ngoại giao quyết định gửi nhiều nhân viên về lại
Việt Nam. Đưa người sang Việt Nam là bật rễ họ khỏi cuộc sống, gây nhiều trở ngại và thay đổi. Để thu hút chúng tôi, họ tìm cách tạo khích lệ: Trước hết, chỉ cần đi trong vòng sáu tháng để theo dõi việc thi hành hiệp định. Lương được tăng đến 25 phần trăm. Trong thời hạn có sáu tháng, lại được về thăm nhà một chuyến, hoặc tùy ý du lịch bất cứ chỗ nào vói phí tổn tương đương. Và Mỹ ở tận bên kia địa cầu, như thế nghĩa là có thể đi du lịch bất cứ chỗ nào trên thế giới tùy thích.

Sau khi đặt ra đủ thứ khích lệ hấp dẫn như thế, Bộ Ngoại giao lại cho biết nếu được chỉ định là phải đi, không có quyền lựa chọn. Tuy nhiên sau khi công bố, ai cũng muốn đi. Có người gọi cả điện thoại đến sở nhân viên hỏi: “Này, sao không thấy tên tôi trong danh sách trở lại Việt Nam.”

Chuyến đầu tiên tôi sang Việt Nam một năm rưỡi. Vào thời gian ấy chương trình Bình định đạt nhiều kết quả. Chương trình này có hai diện: một là loại bỏ Cộng sản, hai là cải thiện đời sống dân chúng. Nhiều tiến bộ đạt được trong cả hai lãnh vực. Nói chung những tiến bộ ấy bắt đầu kể từ sau vụ tổng công kích Mậu Thân thất bại và tiếp tục được vài năm. Những kết quả này làm cho phần lớn vùng đồng bằng Cửu Long trở nên yên ổn.

Vùng đồng bằng gồm 16 tỉnh, tôi đã làm việc tại một trong 16 tỉnh ấy. Không hề có hoạt động của đối phương. Phần lớn vùng đồng bằng đều như vậy, an ninh rất tiến triển. Vì thế khi trở lại, tôi có một thái độ lạc quan khá ngây thơ. Mọi người đều phấn khởi là chiến tranh đã chấm dứt, hoặc ít nhất, có một triển vọng mới cho hoà bình: Bất kể sự kiện hiển nhiên là hiệp định hoà bình này không thực hoàn hảo gì. Có lẽ vì hy vọng luôn bừng nở? Chúng tôi đã hy vọng: dẫu có thế nào, biết chừng đâu hiệp định này sẽ mang nhiều kết quả!

Vào thời điểm ấy, vẫn còn nhiều người Mỹ ở tại Việt Nam, nhờ đó đời sống vẫn thịnh vượng. Nhưng đến khi chúng ta rút đi một con số lớn người Mỹ, xứ sở này bắt đầu xuống dốc. Họ bắt đầu đối mặt với những khó khăn kinh tế trầm trọng, thiếu tiếp vận cho quân đội, và họ mất tinh thần.

Đầu năm 73 tôi được gửi đi Chương Thiện khoảng một, hai tháng. Rồi tôi lên Cần Thơ, thủ phủ vùng đồng bằng, cũng là thủ phủ quân khu 4. Lúc ấy chúng tôi thiết lập tại đây một lãnh sự quán cũng như các lãnh sự ở các quân khu khác. Tôi trở thành một trong 16 nhân viên ngoại giao làm việc dưới quyền lãnh sự Mỹ ở Cần Thơ.

Tình hình đồng bằng Cửu Long thực ra mỗi lúc một xấu. Đầu năm 74, lãnh sự quán làm một bản phân tích chiến sự rất dài, rất bi quan. Chúng tôi nắm rõ những dữ kiện xảy ra: lính đào ngũ gia tăng, quân vận thiếu hụt, tinh thần xuống thấp. Những dấu hiệu cho thấy sau một thời gian khả quan ở vùng đồng bằng vào năm 73, tình hình tuột dốc kể từ mùa Xuân 74. Vào lúc này, Cam Bốt sắp bị Khmer Đỏ nuốt trọn. Chúng tôi đang đứng ở lằn ranh của diễn trình này. Một sự hiện đáng kể – ít ai biết – là bấy giờ có một số dân tỵ nạn chiến tranh chạy trốn Khmer Đỏ, sang Việt Nam, đến tỉnh Kiên Giang. Một nhân viên lãnh sự quán của chúng tôi đã thẩm vấn họ, đúc kết nhiều bản báo cáo dài. Sau này Khmer Đỏ chiếm đóng toàn bộ Cam Bốt, tạo ra những cuộc tắm máu, thảm sát hàng triệu con người, nhưng thật ra các hành động tàn bạo nổi tiếng ấy đã xẩy từ trước. Các cuộc thẩm vấn cho thấy Khmer Đỏ đã giết chóc dã man tại những vùng họ chiếm trước rồi, chúng tôi đã ghi nhận những sự kiện ấy vào tài liệu rất sớm, ngay từ 1974.

Hình minh họa

Nhưng việc ấy không được công bố rộng rãi. Thật ra, chúng tôi có công bố các tài liệu này tại Hoa Thịnh đốn trên một vài mức độ, tôi nhớ những người như Sidney Schanberg của tờ New York Time hồi ấy đã gạt đi, coi các báo cáo này chỉ là tài liệu tuyên truyền của Mỹ. Nhưng tôi nghĩ, nói chung, dân Mỹ không hoàn toàn xem những vụ chiếm đóng ấy bằng nhãn quan được gọi là tuyên truyền Mỹ, hay Mỹ bóp méo sự thật.

Tôi rời đồng bằng vào tháng 9,1974, nhận nhiệm vụ phụ tá đơn vị Nội chính trong ngành chính trị tại toà đại sứ. Công việc chúng tôi là theo dõi nội tình chính trị Việt Nam.

Khi phái đoàn quốc hội đến vào đầu 1975, tôi đã thuyết trình cho phái đoàn này trong lãnh vực chuyên biệt của tôi. Họ không hề đặt với tôi những câu hỏi như ông Thiệu thế nào, có nên duy trì quyền lực cho ông Thiệu hay không, hay bất kỳ câu hỏi nào khác như vậy. Họ chỉ thích nói về vai trò các đảng phái chính trị, vai trò các nhân vật chính trị khác, ví dụ về ông linh mục nổi tiếng, ông cha Thanh lãnh đạo phong trào chống tham nhũng.

Vấn đề đàn áp đối lập và vấn đề tù nhân chính trị không phải là một vấn đề mới. Nó hiện hữu và đã được quan tâm. Song le điều tôi muốn nói là vào lúc này chẳng nên xoáy vào vấn đề tù chính trị mà trọng điểm của vấn đề phải là sự sống còn của quốc gia này. Đó mới là vấn đề chính đáng. Trong mấy chuyện nhân quyền, vấn đề này cũng quan trọng thiệt, đặc biệt là quan trọng đối với mấy cha ngồi tù. Nhưng trong chuyện chính trị thì trọng điểm lúc ấy của phái đoàn quốc hội là phải đến để thực hiện một phán đoán khó khăn về chế độ Thiệu, phải cân nhắc xem Hoa Kỳ có nên tiếp tục hỗ trợ chế độ này nữa hay là thôi.

Người như Don Fraser là loại người có cái tình cảm của phái Tự Do, họ cố tìm kiếm các dấu hiệu cho thấy chính phủ Thiệu tham nhũng hay không tham nhũng. Tôi nghĩ những người như thế đã vấp phải cùng một cái lầm lẫn của dân Mỹ nói chung thường có khuynh hướng mắc phải, đó là cứ xoáy chặt vào những tội lỗi của chế độ Thiệu. Chế độ này quả có những tội lỗi. Nhưng nếu không cân nhắc xác đáng để thấy tội lỗi của đối phương còn ghê tởm gấp bội, và nếu không suy nghĩ rốt ráo để hiểu việc gì có thể xảy ra nếu đối phương chiến thắng – thì chuyện ấy không thể tha thứ hay bào chữa được.

Trong thời gian đại sứ Martin ở Mỹ, việc tan rã cao nguyên đã xảy ra lúc ông đang vắng mặt. Theo sự hiểu biết của tôi, ông đã lạc quan một cách thiếu bảo đảm lúc về lại Hoa Thịnh Đốn có thể vì ông không ở tại trung ương, ông không nắm vững những gì xảy ra. Vai trò của đại sứ Martin và phương cách làm việc của ông tất nhiên cũng là một đề tài đáng lưu ý.

Khỏi cần nói, nếu quý bạn ở địa vị ông, quý bạn cũng sẽ phải cực kỳ thận trọng mỗi khi tuyên bố, hay mỗi khi mở lời nói một điều gì. Đại sứ Martin cũng vậy. Ông được xem là con cừu đầu đàn. Những gì ông làm đều có giá trị tượng trưng. Khi phân tích phê bình ông, người ta phải nhìn các hoạt động của ông trong bối cảnh ấy, với ánh sáng ấy. Nhìn như thế, người ta sẽ thấy ông bắt buộc phải lạc quan. Một khi đại sứ Martin bắt đầu biểu lộ bi quan, ấy là mọi sự đổ vỡ hết.

Người ta cũng nói đến đại sứ Martin và những lý luận của ông trình bày về sự can dự của chúng ta vào Việt Nam. Ông giải thích tại sao chúng ta ở đây, để làm gì, tại sao cần tiếp tục. Những luận giải của ông hay hơn, vững chắc hơn rất nhiều người khác. Tôi nghe ông nói vài lần và ông đã gây nhiều ấn tượng sâu sắc với tôi.

Nhưng có một điều tôi nghĩ ông đại sứ có thể làm, và nên làm – mà ông đã không chịu làm là đối với giới truyền thông, báo chí. Tôi không bảo rằng truyền thông, báo chí không bao giờ lầm lẫn, thật ra họ lầm lẫn khá nhiều, nhưng đại sứ Martin đã gây ra nhiều đối kháng nơi họ. Ông làm cho những người vốn đối kháng cá nhân ông, đối kháng sự can dự của chúng ta ở Việt Nam trở nên đối kháng mạnh mẽ hơn. Tôi nghĩ việc này có thể đối phó cách khác. Nhưng tôi không hiểu nếu như thế liệu có ảnh hưởng gì đến cái kết quả cuối cùng không? Có lẽ không, chắc chắn cũng chẳng có gì tốt hơn. Thường người ta khó biết bên trong con người Martin, ông thực sự nghĩ gì, tin tưởng gì khi nói chuyện với công chúng và ông phải phủ trên những chuyện ấy một bộ mặt đẹp đẽ.

Hình minh họa

Tôi không dám chắc có ai biết. Nhưng bây giờ, chúng ta đã biết được một điều. Đó là trong trí ông, ông có cái hy vọng sẽ thương thảo như một giải pháp cứu vãn danh dự. Mặc dù giải pháp này chẳng hơn gì một cuộc thất trận được che đậy, nhưng như thế ít nhất còn có thể cho phép thực hiện di tản, giúp những người cần ra khỏi nước có thể đi thoát. Chúng ta cũng biết cái hy vọng ấy chỉ là hy vọng hão huyền, nhưng chính hy vọng ấy đã từng ở trong trí ông lúc ông nỗ lực đối phó tình hình.

Đầu tháng Tư, nhiều chiến dịch nhỏ được thiết trí để đưa một số người ra khỏi xứ một cách lặng lẽ, không bị lưu ý. Đại sứ Martin giao cho tôi việc giúp đỡ những người Việt thân thích của người Mỹ ra đi. Có một số nhân viên ngoại giao kết hôn với người Việt, gia đình ở tại Sàigòn và khắp nơi trong xứ. Các nhân viên này đến ăn vạ ở Bộ Ngoại giao, nằng nặc yêu cầu giúp đỡ gia đình họ. Khỏi nói chúng ta đều biết gia đình họ quả sẽ là những người phải chịu nhiều nguy hiểm.

Chúng tôi thực hiện tác vụ này qua các căn nhà an toàn ở những địa điểm khác nhau. Trong mười ngày cuối cùng chúng tôi bận rộn bù đầu, ngày nào cũng nửa đêm mới về đến nhà như cái xác chết. Sau này tôi tiếc lúc ấy tôi đã không viết được gì để ghi lại, nhưng thật ra cũng không thể làm gì, vì sau mỗi ngày làm việc là kiệt sức, cứ thế cho đến ngày cuối.

Sáng 29 tháng Tư tôi choàng dậy từ sớm vì bom nổ ở phi trường. Lúc ấy tôi ở cách toà đại sứ có nửa khu nhà, tôi thức giấc đi ngay đến toà đại sứ mà không biết ngày hôm nay chính là ngày cuối cùng. Nhưng khi đến, tôi hiểu rõ và chúng tôi cố rút người từ tất cả các trạm ra đi.

Sáng hôm ấy chúng tôi liên lạc gọi tất cả những người Việt thuộc đường dây chúng tôi trách nhiệm đến toà đại sứ hoặc đến một trong các căn nhà an toàn được thiết lập làm trạm di tản. Mọi thứ trên đường phố đều tuyệt đối im lìm vì có giới nghiêm 24/24, không một bóng người lai vãng. Tôi rời toà đại sứ bằng xe hơi đến một căn nhà an toàn mà hôm trước tôi đã bỏ lại một danh sách gồm các tên người – vì tôi tưởng hôm sau tôi sẽ trở lại. Tôi cần phải lấy lại danh sách ấy, tôi không muốn nó rơi vào tay đối phương. Tôi đã đi về an toàn, không trở ngại gì.

Sau đấy tại văn phòng đại sứ, Alan Carter cứ lo lắng suy nghĩ: có vài người Mỹ và một số người Việt vẫn còn đang ở tại trụ sở phòng thông tin Hoa Kỳ. Ông không biết cách nào mang họ đi, ít nhất là mang hai người Mỹ đi. Tôi bảo ông ta để tôi lo, tôi lái xe đến đấy, bốc họ về. Vẫn không có trở ngại. Đường phố vắng tanh. Chúng tôi cứ loay hoay, suốt buổi như thế. Chừng tám giờ sáng, có một Mục sư Tin Lành người Anh lò dò bước đến cổng toà đại sứ, dòm vào. Ông ta hỏi: “Thưa quý ông, chẳng hay tình hình hiện nay như thế nào?” Tôi nói: “Tình hình xấu lắm, mục sư nên vào trong này. Sắp sửa phải di tản. Nơi này sắp rối beng đến nơi.” Ông mục sư bảo: “Ô, chúng tôi nào dám làm phiền quý ông! ” Tôi nói lại lần nữa: “Tốt hơn hết, Mục sư nên vào trong này.” Lúc ấy ông mục sư mới chịu bước vào, sau đó đã được trực thăng bốc đi. Có những người khiêm tốn đến thế! Giữa cơn phong ba bão tố, họ vẫn cứ một mực cung kính mà thưa rằng: “Chúng tôi nào dám làm phiền quý ông!”

Hình minh họa

Chừng buổi trưa, chúng tôi bắt đầu đi đón người. Vào lúc đó, chúng tôi tiến đến một ý tưởng tuyệt vời. Phải nói ý tưởng ấy là quà của Chúa gửi cho chiến dịch di tản: Đó là sử dụng xà lan để đưa người Việt đi bằng đường sông. Thật ra đây là đề nghị của vài người, trong ấy có Mel Chatman đã đưa ra một hai tuần trước nhưng lúc ấy ai cũng cho ý kiến này là “óc thỏ,” nghĩa là: nông nỗi và liều lĩnh. Nay trong tình trạng khẩn cấp, cần đến các hành động quyết đoán, họ đã mang ý tưởng ấy ra sử dụng và cho xà lan chuẩn bị, chờ dưới bến.

Do đó từ trưa cho đến 3 giờ 30 là lúc tôi ngừng, tôi cùng với một người bạn là Joe Mc Bride liên tục chở người ra xà lan bằng chiếc xe thùng. Không bao giờ tôi quên chuyến đầu tiên, nó chật ních hơn cá mòi đóng hộp. Lại thêm không kiếm ra xà lan đậu ở chỗ nào. Mọi thứ không dễ dàng đến thế! Chúng tôi phải qua một cây cầu, lúc ấy dân chúng bắt đầu tràn ra, cả thành phố đã trở nên điên cuồng. Tôi lo không cách gì qua cầu nổi vì đường đã bắt đầu kẹt xe. Tôi tính nếu có đi thoát được thì đây chắc phải là chuyến cuối cùng.

Trời ngó lại! Phép lạ xảy ra là có một người ở toà đại sứ mang theo một nắm tiền. Anh ta biếu hết cho cảnh sát, yêu cầu cứ đứng đấy chỉ chỏ cho xe chạy. Nhờ thế chẳng mấy chốc chúng tôi tiếp tục di chuyển, rồi còn trở đi trở lại căn nhà bốc thêm mấy chuyến nữa.

Hôm ấy tại căn nhà này người ta đến rất đông. Cảnh tượng ấy thực não lòng: Ai nấy đều tuyệt vọng mong đi, ai nấy đều biết thế là hết. Thế là xong. Trên đầu chúng tôi trực thăng bay sành sạch, rõ ràng số người quá đông, Joe và tôi không thể nào mang đi xuể. Tôi sẽ không bao giờ quên chuyến xe chót. Mọi người tuyệt vọng chen lấn lọt vào, tôi đã gần như phải dùng đến vũ lực để giữ trật tự. Tôi sẽ không bao giờ quên một người đàn ông, một ông già đã tự động đứng sang một bên giúp tôi sắp xếp mọi người. Ông không tìm cách len vào xe. Ông bảo mọi người “Đừng lo, anh ta sẽ trở lại.” Lúc ấy tôi biết rất rõ là tôi sẽ không bao giờ trở lại nữa. Toà đại sứ đã bảo tôi: đấy là chuyến cuối.

Sau đó, buổi tối ở toà đại sứ tôi nhận cú điện thoại của một ông đang ở đâu đó trên đường phố. Ông này nói với tôi rằng người ta đã dặn ông đến chỗ này chỗ kia ở một địa điểm nào đó, nhưng chẳng ai đến cả. Ông ta đang ở trên đường, không ở trong trạm an toàn. Điều duy nhất tôi có thể làm là bảo ông tự kiếm cách đi xuống xà lan. Nhưng lúc đó mọi người đều sợ phải đi ra ngoài. Đây cũng là câu chuyện rũ rích: hễ cứ đi với người Mỹ thì người ta mới thấy an toàn, và cảm thấy là có thể đi lọt. Còn tự đi một mình thì người ta sợ! Biết chuyện gì sẽ xảy ra đây? Nhưng tôi đã cố thuyết phục ông này rằng ông phải tự đi lấy, hãy tự bắt lấy cơ hội, và đó là một cơ hội nhiều triển vọng!

Tôi rời Việt Nam từ toà đại sứ Hoa Kỳ vào lúc chín, mười giờ tối ngày 29 tháng Tư. Nếu muốn, tôi có thể đi sớm hơn vì hễ trực thăng đến mà người nào muốn đi và đã sẵn sàng đi là cứ lên sân thượng mà đi. Vì vậy lúc 9 giờ tôi thầm nghĩ: tại sao không đi lúc này? Tôi không còn lý do gì để ở lại lâu hơn nữa. Khi ra đi, có một việc tôi sẽ không bao giờ quên, đó là lúc trực thăng quần một vòng trên thành phố, người ta nhìn thấy ở hướng tây, căn cứ Long Bình đang bốc cháy. Một đám cháy vĩ đại. Long Bình là một trong những căn cứ lớn nhất của chúng ta ở Việt Nam. Nhìn ngọn lửa, tôi nghĩ nó đang thiêu đốt tất cả. Mọi công trình của chúng ta ở đấy đang thiêu đốt ra tro. Và tất nhiên cũng phải nghĩ đến những con người chúng ta đã bỏ lại, một con số to lớn những người chúng ta đã rời bỏ mà đi.

Hình minh họa

Hôm nay tôi lại nhớ đến những người ấy. Tôi cũng nghĩ đến các oán thù bên phía đối phương. Họ đã không tạo ra các cuộc tắm máu như ở Cam Bốt, vâng, có vẻ như thế. Nhưng họ cũng đã giết biết bao người, và đến nay sau bao năm tháng trôi qua, vẫn còn những người bị giam giữ mỏi mòn trong các trại cải tạo. Suốt thời chiến tranh Việt Nam không một người nào dùng thuyền rời nước. Ngay cả vào những năm khi chiến cuộc đến mức khủng khiếp nhất, vẫn không hề có một người Việt nào bỏ nước ra đi. Nhưng từ 1975, một triệu rưỡi con người đã đi, bây giờ vẫn ra đi. Hai mươi lăm ngàn con người mỗi năm tiếp tục rời nước bằng thuyền, chưa kể ba ngàn người mỗi năm vượt thoát bằng đường bộ băng qua ngả Cao Miên.

Từ khi chiến tranh chấm dứt, nhìn những gì Cộng sản đã làm ở Việt Nam và ở Cam Bốt, nhiều người mới hiểu: Khi chính phủ chúng ta nói rằng Hoa Kỳ đang chiến đấu chống lại một bọn người hung ác, thì đây là trường hợp lời nói đã được xác nhận đúng như thế…

Nụ cười Kangaroo!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 20 Jan 2024

Thưa quý độc giả thân mến!

Cuộc đời của chúng ta thường ít ai biết được ngày mai sẽ ra sao. Cách đây vài chục năm người viết không thể nào tưởng tượng được… rồi có một ngày chinh chiến tàn mình lại lang thang tới đây, tới nước Úc nầy, để xin nhận nơi nầy là quê hương vì chỗ nào có bánh mì và bia là người viết âu yếm (hết biết) gọi là quê hương vì xin thú thiệt với bà con cô bác là với người viết trên đời ‘không có gì quý hơn… là… ăn với nhậu!’

Cái tình duyên do ông Trời đưa đẩy giống như cưới con vợ mà mãi tới đêm hợp cẩn giao bôi, nàng mới e thẹn mở cái khăn che mặt ra… thì mình phải buột miệng la là ‘đẹp quá chời!’ Cũng đẹp như ngày đầu tiên tới Úc, rạng hưng hửng sáng, máy bay đánh vài vòng trên bầu trời Melbourne, dưới cánh bay là thành phố, đèn đuốc sáng choang như hội hoa đăng ‘chào đón người tị nạn’ vậy!

Sống hơi (bị) lâu với con vợ do Trời run rủi nầy mới đầu thì thấy ghét sau thì thấy nó cũng dễ thương đó chớ nhứt là con gái Úc. Đừng rặt ri như thổ dân nha, nước nầy một chút, nước kia một chút thì em xuất sắc nghiêng thùng đổ nước như chơi!

Giáp Tết, người viết theo ‘em yêu’ đi chợ Tây sắm vài món về vui ba bữa. ‘Em yêu’ thích đi shop lắm (nếu không nói là ghiền!). Tới cửa là biến mất tiêu. Người viết chờ hoài, chờ hủy mà không thấy em đâu vội vàng đi kiếm… Gần Giao thừa rồi mà đôi lứa tình ta còn lang thang trong siêu thị thì thiệt hổng có giống ai!

Dớn dác nhìn quanh nhìn quất tìm… sợ ông Ba Bị nào đó bắt mất ‘em yêu’ của mình đi thì khổ… Vì từ nay không còn ai rầy rà: “Tối ngày chỉ ăn nhậu rồi nói dóc không hà!” Người viết xớn xác, đâm sầm vô một thằng Úc  “Ê! Xin lỗi nha bồ! Tui bận kiếm ‘em yêu’ của tui nên không thấy!”

Nó nói: “Hổng có chi! Tui cũng đang bận kiếm ‘em yêu’ của tui đây. Thôi hai đứa mình cùng đi kiếm cho vui đi! Mà em yêu của bồ hình dáng ra làm sao?”

“À! Em da vàng, mũi tẹt, cao 1 thước rưỡi, mập như cái hột mít biết lăn và có đeo kiếng lão. Còn em yêu của bồ?” “À! Em chân dài tới nách, da trắng, mắt xanh, mỏ đỏ, mũi lõ, mặc áo hai dây có trưng hai trái bưởi Biên Hòa trước ngực!”

Vậy thì mình bắt đầu kiếm con vợ Việt Nam của ông bạn trước. Người viết trả lời: “Thôi quên con vợ tui đi… kiếm con vợ Úc của ông trước đã!” He he!

Con gái Úc hấp dẫn như vậy đó bà con cô bác ơi; nhưng có ai biết đâu rằng 200 năm về trước, ông sở, bà sơ của em lại là dân chôm chỉa bên Anh bị mẫu quốc đày tới cái xứ nầy rồi… đẻ ra em… để hữu duyên thiên lý năng tương ngộ… gặp được anh yêu… gốc đồng bằng Nam Bộ… khoái đi bộ hơn đi xe! (Chuyện nầy giấu; xin đừng mét vợ tui giùm cái được hông?)

Ngày 26 Tháng Giêng hằng năm là ngày Quốc Khánh của Úc, kỷ niệm ngày những chiếc tàu chở đầy tội phạm đến Sydney đó. Nói là tù nhân bị đi đày nghe thiệt là đầu gấu nhưng thực ra đa số hiền khô… chẳng qua nghèo đói quá… tiện tay chôm vài ổ bánh mì, vài cân đường hay thò tay móc túi người ta vài xu, vài cắc là đủ để bị đi đày. Chứ cướp của giết người thì bị mẫu quốc treo cổ bên đó rồi đâu có đày qua đây chi cho nó lâu lắc. Luật pháp nước Anh hồi xưa nó khó như vậy đó.

Cũng do cái chuyện tội phạm đi đày nầy nên mới có cái chuyện hai thủ phủ Melbourne và Sydney gây lộn với nhau! Sydney thành phố đầu tiên và rộng nhứt của nước Úc còn có tên là ‘Sin City’ (thành phố của tội ác?!); muốn trở thành thủ đô của nước Úc nhưng không được vì Sydney do những tù nhân bị đày biệt xứ lập nên (tay Melbourne nói vậy!)

Melbourne muốn trở thành thủ đô của nước Úc vì được thành lập bởi John Batman, người đứng đắn, đàng hoàng, lý lịch trong sáng, không phải là tội phạm (mà là con của tội phạm mà thôi!) Hí hí! (tay Melbourne nầy cũng nói vậy). Nhưng Sydney lại nói: “Anh trước, chú sau! Nhà mầy lớn nhà mầy cao sao bằng nhà tao?!” Hai đứa gây nhau năm nầy qua tháng nọ! Cuối cùng Canberra được xây dựng giữa đường đi Sydney và Melbourne, làm thủ đô nước Úc, để cho hai ‘cha’ Sydney và Melbourne không giành giựt nhau nữa. Huề!

Một dặm vuông, mật độ dân số trung bình trên thế giới là 117 người!

Nhưng Macao tới 69 ngàn người… Mỹ 76 người; còn Úc chỉ có 6 người mà thôi.  70% dân Úc gom về ở thành thị, sống trong mười thành phố lớn. Ở thành phố, dân Úc phục vụ ăn chơi là chính, chiếm đến 80% sức nhân công! Chỉ có 14% sản xuất chút đỉnh ở nhà máy. Còn làm ruộng chỉ có 5% tạo được 2.3% tổng thu nhập quốc dân. Hầm mỏ Úc chiếm diện tích khoảng 0.02% kiếm được tới 15% GDP đó. Đất dành để xây quán nhậu nhiều hơn là đất dành cho hầm mỏ!

Đó là về kinh tế, là cái phần vật chất còn cái bên trong là tinh thần, là văn hóa… phải mất khá lâu người viết mới hiểu… mà chưa chắc đã hiểu hết?!

Khi tới nước Úc nầy, người viết nghe hoài cái bản ‘Waltzing Matilda’, bài hát nổi tiếng nhứt của Úc nhưng lại là tiếng Đức, nghĩa là mang cái ba lô lên vai. Vậy xin mời bà con cô bác cùng ‘Waltzing Matilda’ nước Úc chút chút cho vui ba bữa xuân về nhe! Tên Australia theo tiếng Latin là: ‘Terra Australis Incognito’ nghĩa là vùng đất phương Nam chưa ai biết, the ‘Unkown Southern Land’.  Rồi đến đây, thấy con quái thú, không giống ai, nhảy tưng tưng cũng hổng biết là con gì? Mấy người da trắng lần đầu tới đây cũng ‘dốt’ như vậy thôi; bèn mon men hỏi Thổ dân. Thổ dân trả lời ‘Kanguru’ nghĩa là: ‘Tao không biết!” Từ đó con quái thú (có người gọi là đại thử, chuột túi)… tên là Kangaroo.

Kangaroo cần rất ít nước, nhiều tháng trời không uống gì hết. Tại sao vậy? Vì hơn 90% diện tích đất đai Úc khô cằn, thiếu nước. Ba phần tư đất đai không trồng trọt được gì ráo nên Kangaroo ở bầu thì tròn ở ống thì dài là phải uống ít thôi! Uống nhiều! Nước ở đâu mà có! Khi cần nước nó tự đào giếng, sâu từ 3 đến 4 feet là nguồn nước cho những sinh vật khác ‘ké’. (Bà con mình có người ước… phải chi rinh được dòng sông Cửu Long qua đây… thì nước Úc nầy sẽ trù phú; sẽ là một quốc gia ‘độc cô cầu bại’!) Chớ dòng sông Maribyrnong trước cửa nhà người viết, (vậy cũng gọi là sông?!), nó nhỏ xíu như kinh Bà Bèo của xứ quê nghèo mình đó bà con ơi!)

Kangaroo là một con thú hiền hòa và dễ thương như dân Úc. Nhưng xin đừng chọc nó. Nó quạu lên, đá một cái, là không còn cái răng mà ăn cháo. Chuyện nầy đã xảy ra rồi chớ tui không có dóc, hổng có ‘ba tăng’, đâu nha!

Một con chó rượt con Kangaroo, nó thường nhảy xuống đập ngăn nước! Nếu con chó ngoan cố rượt theo thì con Kangaroo chơi luôn… bằng cách dùng móng vuốt của mình nhấn đầu con chó xuống cho mầy chết tía mầy. Ông chạy mà mầy cứ rượt nha!

Chuyện Kangaroo xong, tụi mình nói tới chuyện Cá Sấu!

Stephen Moreen, 20 tuổi, đi săn ngỗng cùng gia đình ở một vùng quê hoang vắng xứ Úc tên là Peppimennarti, cách thủ phủ Darwin của lãnh thổ Bắc Úc khoảng 320 cây số về hướng Tây Nam. Khi bắn rớt vài con ngỗng, chúng rơi xuống sông, chàng ta lội ra để vớt… ai ngờ có con Cá Sấu cũng muốn xí phần… gặp đứa phá đám không cho, quạu quá, ngoạm một cái vô cánh tay, lôi xuống nước; tưởng phen nầy đi đứt. Ráng sức bình sinh, Stephen dùng cánh tay còn lại đấm vô mắt mầy một phát.
Con Cá Sấu dài 2 mét rưỡi nầy nổ đom đóm mắt bèn nhả cánh tay ra, chàng lẹ lẹ lội lên bờ, kẻo chết! Trong khi chờ xe cứu thương tới chàng Úc nầy bèn khui vài lon bia Carlton Dry để sát trùng vết thương rồi nhân tiện quất luôn vài lon nữa cho đỡ đau. Nhân viên cứu cấp tới nơi thì chú đã ‘sần sần’. Hồi nãy nhém chết… còn giờ vui hơn Tết! Ha ha! Vậy mới là Úc chớ!

Còn chuyện sau đây cũng là Úc với Cá Sấu nhưng mà Úc gốc Việt nhe bà con!

Nhân ngày sinh thứ 60, một triệu phú người Việt Nam mình tổ chức một tiệc sinh nhựt, ăn đáo tuế, quá cỡ thợ mộc, quá đã ở một lâu đài vùng Toorak, giàu hạng nhứt thủ phủ Melbourne, bang Victoria.

Khách mời toàn là những người giàu có tiếng tăm trong xã hội thượng lưu như: chủ hãng may, chủ shop thịt, chủ tiệm phở, bầu ‘show’; rồi bác sĩ, kỹ sư, luật sư và kế toán khai thuế… Còn nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà giáo là nhà nghèo… tiền… nhưng giàu… chữ cũng được ‘chiếu cố’ mời ăn theo… cho xôm tụ!

Nhậu cửng cửng rồi; anh bạn triệu phú người Việt tuyên bố rằng: “Trong hồ bơi nhà tui có hai con Cá Sấu, vị nào dám bơi ngang qua hồ; muốn cái gì tui cũng móc túi ra cho hết trơn nhe!”

Tuyên bố xong, tiệc nhậu tiếp tục! Nhạc xập xình! Mấy em chân dài tới nách, trang điểm lộng lẫy như nữ hoàng Cleopatra của Ai Cập đi tới đi lui làm ai nấy nhìn cũng đều nhểu nước miếng; phải len lén đưa khăn mù-soa ra chùi; kẻo con vợ nhà nó thấy… tàn tiệc, bò về tệ xá là có chuyện lớn chớ chẳng phải giỡn chơi!

Bỗng mọi người nghe ùm một cái rõ to! Ai nấy vội chạy ra hồ bơi để chiêm ngưỡng hành động dũng cảm và chân dung ‘đen đúa’ của một anh hùng cái thế coi cái chết tựa lông hồng…

Lội qua hồ, leo lên bờ… Té ra lại là anh bạn văn kiêm bạn nhậu, ốm nhom ốm nhách của người viết. Ảnh vẫn an toàn trên xa lộ; thanh lịch trong thành phố. Người viết gãi đầu tự hỏi: “Hay là thằng chả viết văn, viết báo nghèo quá, thiếu ăn nên suy dinh dưỡng, chỉ còn da bọc xương nên hai con Cá Sấu nầy nó chê ‘dai’!”

Tiếng vỗ tay ào ào như sấm, anh bạn triệu phú cầm micro tuyên bố: “Quân tử nói mà giữ lời… là quân tử dại! Quân tử nói đi nói lại mới là quân tử khôn!”

Thưa quý quan khách! Hôm nay tui chọn làm quân tử dại đi! Tui sẽ giữ lời: “Nầy người bạn anh hùng cái thế xem cái chết tựa lông hồng của tui! Anh muốn gì? Một chiếc Ferrari, một căn biệt thự hay một tuần trăng mật bên Tây với con bồ nhí của tui vốn là đương kim Hoa hậu Chợ Cầu Muối. Nói đi! Anh sẽ được hoàn toàn như sở nguyện!”

Lại tiếng vỗ tay hoan hô rào rào như mưa Tháng Chạp quê mình! Anh bạn nhà văn ốm o gầy mòn của người viết đứng lên, run lẩy bẩy cầm cái micro và nói: “Trước tiên tui muốn biết: Tổ cha thằng nào hồi nãy đã đẩy tui văng xuống hồ nước?”

Người viết giờ mới hiểu… Té ra anh run lên vì giận… Chớ không phải vì lạnh. Người viết bèn lẳng lặng lẻn ra cửa sau mà chuồn mất! Vì ngày mai là Giao Thừa rồi; sống mà ăn Tết chớ phải không thưa quý độc giả thân mến.

Chúc mừng năm mới! Happy New Year!

đoàn xuân thu.

melbourne.

Nói mà chú mầy hổng chịu nghe!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 20 Jan 2024

Cách đây 3 năm, tui có viết rằng, thì, là: “Báo chí lề phải trong nước, được lịnh ngầm ở trên, kẻ tung người hứng, bèn chơi cái tựa “Tiền Ở Ðâu Ðể Cung Phụng ‘Bồ Nhí’?” trong loạt bài về ‘quan’ Thanh Hóa.

Rằng ‘quan’ đã bỏ ra hàng chục tỉ đồng chạy chức, để leo lên ngồi trên đầu trên cổ dân ngu khu đen. Như các tỉnh và thành phố khác, ‘quan’ Thanh Hóa hành xử như một lãnh chúa cát cứ, thời Thập nhị Sứ quân.

Mang danh là Tiến sĩ về dâu tằm, nhưng ‘quan’ cũng thừa biết, trồng dâu nuôi tằm là húp nước mắm! Muốn gỡ lại vốn, rồi làm giàu nhanh chóng thì chỉ có đất đai, mỏ… để bán lại cho một số doanh nghiệp thân hữu với giá như bèo rồi được “thối lại” hàng ngàn tỉ đồng.

Dĩ nhiên, ‘quan’ chối bai bải, ngúng nguẩy như đỉa phải vôi! ‘Quan’ đòi đi thưa mấy anh trên Bộ Công An, để ‘nhát’ lại kẻ đã chơi mình.

Nhưng chạy thuốc thì tốn tiền lắm lắm! Công vơ vét bấy lâu, nay nó hù mình, rồi nó hốt hết ráo công sức của mình bấy lâu. Cốc mò cò xơi! Sao được?

“Thôi, tom góp vàng bạc, đô la rồi cuốn nóp dông luôn đi, cha nội!”

o O o

Tui khuyên thằng chả như thầy bói Huỳnh Liên khuyên; vậy mà thằng chả ngu hổng chịu nghe chứ? Cứ ráng ngồi lì hoài! Ngồi mà ăn không được nữa vì bị chúng rình thì ngồi làm chi cho mất thời xuân sắc? Già xồng xộc tới nơi rồi. Có tiền không chơi, chừng ba năm nữa ngồi đuổi ruồi không bay; thì tiền muôn bạc vạn ngẫm có ích chi đâu?

Quả nhiên! Y như kinh, y như lời tui tiên tri hè: Báo chí quốc doanh trong nước vừa cho biết rằng thì là: Bí thư Thanh Hóa vụ ‘nâng đỡ không trong sáng’ chính thức ‘về vườn’. “Ông Trịnh Văn Chiến, bí thư tỉnh ủy nhiệm kỳ 2015-2020 không tham gia Ban Chấp Hành khóa mới.”

Chú (em) Chiến năm nay 60 tuổi, không thấy nói bệnh tật gì, khả năng làm việc còn nhưng mất ghế bí thư tỉnh ủy lại không thấy được điều động về trung ương ngồi ở bộ nào hay cơ quan nào của đảng, coi như bị đẩy về vườn.

Ba năm trước, dư luận tại Việt Nam thật ồn ào chuyện một bà nhan sắc không nhiều lắm nhưng được nâng đỡ “không trong sáng” từ vị trí một người làm công nhật lên chức phó giám đốc Sở Xây Dựng tỉnh Thanh Hóa trong thời gian kỷ lục. Thiên hạ gọi bà là “hot girl xứ Thanh.”

Các lời tố cáo, gièm pha, về tài sản kếch sù với xe sang Cadillac, nhà trị giá triệu đô ở cả địa phương và Hà Nội của bà tên “Trần Vũ Quỳnh Anh” và những chuyện liên quan đến cái “không trong sáng” được khai thác rất giật gân trên báo chí tại Việt Nam. Bà ta có con không biết con của ai, nhưng có người đồn tác giả là ông bí thư tỉnh ủy. Bà được cho là “phòng nhì” của bí thư Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến.

Khi vụ việc còn đang ồn ào thì bà Trần Vũ Quỳnh Anh biến mất khỏi địa phương, biến luôn khỏi Việt Nam và một vài tin trên báo chí Việt Nam hồi năm 2017 nói bà ta chạy qua trốn tại New Zealand. Bà bị “khai trừ đảng” khi vắng mặt.

Sau nhiều cuộc điều tra, ông Trịnh Văn Chiến vẫn giữ vững được cái ghế bí thư tỉnh ủy. Chỉ có ông Ngô Văn Tuấn, tỉnh ủy viên, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh, cựu bí thư Ðảng Ủy, cựu giám đốc Sở Xây Dựng tỉnh Thanh Hóa, là bị cách chức tất cả các chức vụ trong đảng.

Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương của đảng CSVN công bố những sai phạm của ông Ngô Văn Tuấn về việc “nâng đỡ không trong sáng” đối với bà Trần Vũ Quỳnh Anh trong khi ông Chiến được lờ đi.

Một chức sắc cao trong đảng CSVN, ông Vũ Quốc Hùng, cựu phó chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương đảng CSVN, nói trên báo Giáo Dục Việt Nam, rằng ông Ngô Văn Tuấn không thể tự ý “nâng đỡ không trong sáng” cho bà Trần Vũ Quỳnh Anh mà phải có sếp cao hơn đỡ đầu.

Tranh Bảo Huân

Chuyện gái gú của đảng viên CS VN thì thằng nào mà không có. Chỉ có các đồng chí chưa bị lộ thế thôi. Tui thấy ‘đục’ một đứa văng xuống đất bằng thủ đoạn bắt quả tang ‘sợi chỉ xỏ lỗ kim’ nầy không quân tử chút nào.

Chơi nó một cách quân tử là phải lật cái mặt nạ của nó ra là: Ăn cắp bao nhiêu tiền của dân đóng thuế rồi đem đi cung phụng cho gái? Cái đó mới là hay nhe!

Tiền của dân cày sâu cuốc bẫm bị ăn cắp thì dân xót, dân đòi làm cho tới nơi tới chốn mà mấy cha không làm. Lo đi làm chuyện ruồi bu.

Nó chơi đứa nào nếu bằng tiền lương thiện của nó làm ra thì kệ cha nó chớ! Who cares? Còn nó ăn cắp tiền dân để chơi gái là phải cho nó ăn cơm có người gác mới đặng!

Đoàn Xuân Thu.

Tả ngạn

 Hồ Đình Nghiêm 

Post by Sơn râu 20 Jan 2024

Tôi đến thăm người chiều cuối năm. Người không vui người nói điều chao lòng. Tôi cũng mang bao nỗi phiền muộn nhưng hứa thầm hãy nén chặt chút riêng tây. Trời chóng tối người chẳng thiết thắp đèn, lửa trong tôi sáng không đủ cuộc tình xa. Tôi ngước nhìn cảnh sắc bất minh, nhớ ngày cũ lung linh những ngọn nến. Tóc ai phai hay chân tôi lạc bước, đi ngày đàng vẫn học lấy dại khờ. Hương quá vãng đã trôi cùng gió. Và gió ngoài kia, người ạ thổi vô phương. Ngồi xuống ghế với mặt bàn nhiều vết xước, ly nước trà chẳng thấm ướt bờ môi. Đáy năm, cuốn sách đời lật vội. Những tờ rời tôi cúi nhặt số trang. 

Tôi theo người đạp xe lên hướng núi, sương xuống nhiều xoa dịu bớt lao lung. Xin mãi được ngắm nhìn trong mờ tỏ, để tin rằng có cơn mộng trốn quanh đây. Hãy che dấu bao đổi thay lộ liễu và quên đi gã Từ Thức năm nào. Cỏ cây ướt không ai đi hái lộc, đường lặng lẽ với tóc người mãi bay. Hương bồ kết đóng đinh một kỷ niệm, ai tước đoạt ai nhổ rời ai trao tay giấy thế vì khai sinh lần thứ hai? Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông. Tôi lên đồi đột qụy một tai biến, mộ bia ung thư lấm lem hàng chữ lạ lùng. Người thợ hồ nào đã quên chính tả, đồng nhập “ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”: Nguyển thị Liểu… hưỡng dương 54 tuỗi… con cháu đồng phụng lắp… 

Người đứng yên bên mồ không nói, tôi đốt hương và tôi nhổ cỏ loanh quanh. Nằm dưới đất là người tôi bất hạnh, đã chẳng thể gọi một lần: Má vợ ơi! Má ơi con dìa đây má ơi! Nghe gì không thông bên đồi đứng hú, gió cau có mây nhăn nhó và lệ người tuôn. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” là câu tầm bậy. Cớ sự nằm ở chỗ nguyên ủy gì cảnh ngó tang thương? Cảnh ủ dột vì người đan tâm bức hại, người lột truồng người chơi tập thể người bề hội đồng nông trường thủy lợi lao động sắn khoai. Mộ phần người cũng mang ra đào xới, người quy hoạch làm tụ điểm ăn chơi. Người khoe hàng người chân dài siêu mẫu, dài miên man cho tới tận Đài loan hoặc xứ Hàn. Cảnh tang thương cảnh không thốt nên lời, và từ điển có tên gọi ấy là bể dâu. 

Người dắt tôi đi trong thành phố quen thân, đất máu thịt giờ phải có thổ địa. Hãy nói tôi là đứa phản bội, mếu máo đi cúi mặt bước bởi danh xưng Việt kiều. Đường Lê Lợi có ngôi trường người từng học, nay dửng dưng tên gọi chẳng nức lòng. Nói tới Huế phải nhớ ngay Đồng Khánh, sao giết đi một danh xưng chẳng tầm thường? Sài Gòn còn thay tên sá gì Đồng Khánh là “thằng” vua phản động? Ai từng học ở ngôi trường cũ có dậy chút cảm hoài? Ngôi trường ấy chỉ thu nhận toàn con gái, những phận Thuý Kiều sau cuộc đổi đời nghĩ không ra.“Tấm lòng trinh bạch từ nay xin chừa”. Tôi mất trinh từ năm bẩy nhăm và người bảo tôi cớ sao lại đâm ăn quàng nói xiên. Cầm tay người nhỏ nhẹ tôi thưa rằng cuộc đời có bạc ác với chúng ta? Giá nên duyên vợ chồng, không chừng em mang năm chục đứa trấn dưới biển, sớt nửa gia tài anh đầy ải chúng học tập rừng sâu. Ôi tiền nhân, điều gì ám muội khiến ôn mệ sớm học thói bội bạc chia lìa ngăn sông cách núi? Từ ly dị thì người ta mới sáng tạo ra, chia của cải gia tài trách nhiệm thì phải đứng trước quan tòa nghe phán giấy trắng mực đen rạch ròi. Ôn mệ chơi kiểu đó là coi thường luật pháp mà đời thường gọi là luật rừng. Tôi xa người hay người bỏ tôi, nhớ giùm cho mình đã theo vết lăn bánh xe lịch sử! 

Người đến thăm tôi ngày mồng Ba. Tết năm nay tôi ngó hoa mai trên một bức hình, tấm ảnh xấu in ở trang đầu cuốn lịch, lịch chết cứng ghim không cục cựa vào tường vôi. Vách nhà thương có nhiều vệt máu, bệnh nhân đông chật khiến phải huy động thêm giường nằm. Làm Việt kiều đôi khi tìm được điều an ủi, chỗ tôi dưỡng thương ngó bảnh hơn dân bần cùng. Người ái ngại ghé mông xuống tấm chiếu, nhìn thằng bồ cũ như trông con cá ươn có ở chợ chiều. Tôi đã gửi tin nhắn trên cái di động chưa đui què mẻ sứt, iphone 4 nằm túi quần cày đường sâu dưới mặt lộ chẳng có hố tử thần. Người từng dặn như lời Mẹ dọa con thơ: Ra đường ngó trước trông sau chớ bất cẩn. Tôi thành kính vâng lời đi tuốt trong bờ lề nhàn tản làm kẻ bách bộ ham tham quan. Vậy thì chuyện gì đã xẩy tới? Người hỏi chẳng giấu chút nóng ruột. Tôi ngó tay chân bó bột cứng tựa khúc củi treo tòn teng, khi khổng khi không có một cha nội đi xe máy leo lề rồ ga và đâm thốc vào người tôi. Chạy trời không khỏi nắng. Hắn tông, hắn đạp rồi hắn chạy một lèo, hơn cả quất ngựa truy phong! Rứa đó, nghĩ không ra! Gì mà phải lấn cấn. Ai biểu làm kẻ lạ quây lưng với cố hương, ai biểu viết lách linh tinh, ai biểu… nói mãi mà chẳng chịu nghe! Đáng đời! Ừ, thiệt là đích đáng. Ai đó nói “mong chết trên quê nhà” là điều xằng bậy, chết vật vạ chết tủi hổ chết không nhắm mắt chết vô căn cớ, đang sống chuyển qua từ trần vì không có tiền bôi trơn… Người ơi cái chết nhẹ tợ lông hồng là nằm ở tình huống khác, và nói nào ngay đôi khi nó chỉ là sản phẩm của tưởng tượng! Tưởng tượng chốn này không có mặt người thì tôi có là điên mới chảnh tới độ mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua. 

Đầu năm tôi dự trù lì xì mừng tuổi người 500 đô cùng một nụ hôn nhưng giờ bất khả. Nửa thân cứng đơ hay nửa hồn thương đau thì cũng tợ nghĩa nhau, đá nát ngọc tan vàng phai lửa tắt. Bệnh viện moi của tôi gần sạch đồng bạc cuối. Ai biểu làm Việt kiều người mãi trách cứ. Nếu tôi không dông, ở lại bên người thì người thực thi được cảnh sống “một túp lều tranh hai quả tim vàng”? Chỉ cần nhìn nhau cho dù mãi uống nước lạnh, câu cải lương ấy giờ này chỉ dành cho ai từng té giếng.. Tôi chưa mát dây, chỉ bị xe điên đụng thôi mà. Tình cảnh khiến chẳng khóc chẳng cười, nhưng buộc tôi nhăn nhó, bác sĩ chỉnh hình dọa, đầu năm không chịu kiêng cử dị đoan: Coi bộ cậu sẽ phải chống nạng một thời gian. Nhưng tin tôi đi, về lại chốn vật chất bơ sữa cơm thừa canh cặn ấy, chúng nó sẽ chữa lành cho cậu bằng máy móc hiện đại siêu khủng hơn nước nhà. 

Người lì xì cho tôi một hàng chữ viết vào cánh tay bó bột lên đồi xuống dốc, nhớ không lầm đấy là thơ Haiku của Matsuo Basho: 

Trên con đường này

giữa chiều thu ấy

đi về không ai. 

Biết tác giả nhưng hiểu hậu ý của người vừa viết xong thì bù trất. Người nhắn gửi điều gì: Không trông mong một lần gặp gỡ khác? Quạnh hiu. Hắn hành hương và đi lạc vào vùng gió cát tơi bời giữa sa mạc. Nóng, khát. Rét run những ngộ nhận, để cuối đường dứt khoát phải mang thương tật. Thương trong tim và tật ngoài thịt da. Nhớ Quốc văn giáo khoa thư ngày còn bé tí mũi giải lòng thòng mà giật cả mình: “Không có nơi nào đẹp cho bằng quê ta!”

Tết nhất, người chẳng dư thời gian ngồi nán cùng tôi. Người vất tôi nằm cùng với những thân phận, những ngôi sao xấu đứng ngồi thẫn thờ như những linh hồn lạc lối. Người ra về bỏ lại quanh tôi những tiếng thở dài, những vai run thổn thức chẳng còn nước mắt đào thoát khỏi bờ mi. Đồng bệnh tương lân tôi ngó những “đồng chí” mặt cắt không ra giọt máu ăn cái Tết trong nhà thương cạn kiệt tương thân nhân ái. Họ nguyền rủa trời cao họ ca cẩm số mạng và thảy những triết gia bó gối kia tự đặt công án: Đời là gì? Đời có nên cô lại bằng hai mẫu tự: ĐM. 

Vì tai nạn tự tôi khuynh đảo chương trình dự liệu. Không cứ là cảnh vật ngay cả người cũng chẳng biểu lộ một ân cần. Người làm cho đường đi của tôi mãi dài ra, dài hơn cả năm châu bốn bể muôn đời khắc nghiệt chữ anh em. Người đã vô sản và tôi đang sảng. Chưa bình phục tôi vẫn muốn lê thân rời bỏ chốn cắt rốn chôn nhau. Cật ruột thân thích là thứ tôi trắng tay, một khung thành bỏ trống. Banh không lăn, cỏ rậm, người trọng tài đánh mất một tiếng còi. Sân chơi vắng lặng bóng cầu thủ, hậu vệ là người đã cởi áo phơi khô. Rũ bỏ, giải nghệ, cởi giày. Dường như nghe oải đường chuyền bóng lăn. Việt vị tôi đã đặt chân, tỉ số không mở quay lưng thua buồn! 

Nghĩ tình xưa người tiễn đưa, phi trường bữa nọ chia tay diễn tuồng. Tôi xa xứ biết bao lần, mà ngày hôm ấy mưa dầm xót xa. Đối đáp đi đường bình an. Cho mình địa chỉ email. Không có, người nói, máy cháy ổ cứng hay vi trùng thâm nhập, mang đi sửa nghe lời mỉa mai: Cô quẳng nó đi đừng tiếc thương, sắm một cái mới cho le lói kẻo chúng bạn cười. Tôi cực lòng quá đỗi khi biết mình muôn đời chẳng phải khúc ruột ngàn dặm. Việt kiều kiểu gì kỳ khôi vậy cha nội! Đi đường dài mà chẳng có xu nhớt lận lưng. “Tôi xin người cứ gian dối, cho tôi tưởng người cũng yêu tôi…”. Không, nghe thề này, nói láo cho bà vật, mình sẽ về thăm lại hồi nào đi đứng thật bình thường, sẽ giắt một cục tiền sau đít, tha hồ cho bạn đi lựa chọn mua sắm những máy vi tính hàng hiệu. Và rồi mình lên sửa sang ngôi mộ mẹ hiền, thay tấm bia viết đúng chính tả cho khỏi mất mặt bốn ngàn năm văn hiến. 

Tôi về thăm người như dự định qua nhiều thăng trầm toan tính, chuyện nhỏ. Lạ, sao lần này trong bụng mãi đánh lô tô. Sài Gòn chưa đòi lại tên nằm chòng chành chao đảo dưới chân thấy ngứa. Khét rẹt bánh xe cao su cắn đường băng phi đạo bàng hoàng. Người từ Huế vào Sài Gòn hôm qua để rộng lòng tở mở đón đứa hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Tui mặc áo màu xanh hệt như phong thư tình ngày cũ, người dặn, cho bồ dễ thấy. 

Chưa thấy màu áo em thì ngó ra màu vàng ám nơi thân xác hai trự an ninh cửa khẩu. Họ dòm ảnh chụp trong passport, họ đánh vần tên họ, đối chiếu vào tờ giấy cầm tay xong rà trong màn hình điện toán. Cuối mọi công đoạn, hắng giọng trầm: Đất nước nầy không hoan nghênh anh đặt chân ghé thăm. Gia hạn cho anh trong vòng 24 giờ, xem như một ngày quá cảnh, anh nên tìm đường thiên di quy gốc đến. Nửa tiếng nữa có chuyến bay sang Sing đấy, chốn đó đất sạch người đẹp nhưng không văn minh như ta. 

Tôi về không thấy mặt người, mình là dân Việt đâm lười nghĩ suy. Vĩnh biệt người đang kề tuy, nhiên cách biệt hơn biên thuỳ khốn nạn. 

Hồ Đình Nghiêm 

Ta bà là đây

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post 3 May 2023

Post by Sơn râu 20 Jan 2024

1.
Hẹn ở quán cà phê đèn mờ, người đàn ông trao cho hắn một vài thông tin: Thói quen, giờ giấc, lộ trình, đặc điểm, nhân dạng.

Chỗ ngồi khuất, gió ngoài đường nhỏ lâu lắm mới mon men vào, mát chút đỉnh nhưng có mùi hôi khai. Bức tường lem luốt bóng tối không bôi xóa được hai chữ “Cấm đái” viết sơn trắng cẩu thả. Quán này giá mềm nhất trong khu vực, tăm tối và hôi hám thường trực, khách chẳng mấy khi đông, lèo tèo. Người đàn ông nói, như thế chúng ta dễ bàn chuyện. Ông lấy từ túi áo ra một tấm ảnh: Nó tên Bảy. Hắn ngó bức hình chụp khá rõ khuôn mặt, tóc hớt ngắn, râu lún phún, có vẻ khỏe mạnh, mặt chữ điền. Trạc gần bốn chục tuổi. Giữ lấy đi, cho chắc ăn. Ông có vẻ là người cẩn tắc, chẳng muốn gây sai lầm, kẻ nào gây gió thì chính nó sẽ gặt bão.

Cậu có gì thắc mắc không? Người đàn ông hỏi. Ngó hắn qua ly cà phê đá vừa đưa lên môi.

Anh muốn sao? Hắn vọc cái bật lửa trong tay. Mở, đóng, lách cách.

Ờ, chỉ muốn uýnh dằn mặt, thế thôi. Mặt sưng, trầy trụa, gãy đôi ba cái răng là đẹp nhất, như thể bị cọ quẹt, té xe.

Ông lắc ly cà phê liền tay. Những cục nước đá gần như tan chảy hết. Ông liếm môi:

Cậu cho tôi hay một con số.

Triệu rưỡi. Hắn nhún vai.

Được, tôi đưa trước năm trăm, xong việc tôi chồng đủ số còn lại. Bao giờ thì cậu xử?

Bây giờ thứ bảy, tối thứ ba chúng ta gặp lại nhau ở đây.

Tốt quá.

Người đàn ông dốc ngược ly cà phê vào họng. Cậu dùng thêm gì không? Mẹ, lóng rày cà phê xuống cấp quá. Tôi đi trước nhé.

Hắn ngó gói giấy người đàn ông đặt xuống bàn, hắn thắp thuốc hút và thở khói khi kẻ giao dịch đang khởi động máy nổ chiếc xe tay ga. Hắn nhìn bảng số xe, như muốn thấy một lai lịch tiềm ẩn. Xe chạy ra con hẽm, để không mấy lâu từ ngoài đường lớn có gã thanh niên chạy vào, đun xe lấp chỗ người đàn ông vừa từ bỏ. Gầy ốm, áo trạc ngực, dơ xương. Xét thể hình, e có lẽ vi phạm vào điều luật, là thiếu cân thì không thể lèo lái xe máy. Nhẹ, gió thổi bay? Rất nhiều luật lệ vớ vẩn được ban hành và đứa thiếu ăn kia sẽ vui vẻ vi phạm xé rào hết ráo. Tướng tá nó rất bụi bặm, thành phần điếc không sợ súng. Tay trái xăm hàng chữ “hận đời đen bạc”. Tay phải đối xứng “chết không nhắm mắt”. Nhìn trộm thôi, đừng dại tra hỏi.

Suông sẻ chứ?

Đứa rọm rơ ngồi xuống ghế, chiếc ghế mà người đàn ông vừa nhón đít từ bỏ.

Ừ, hơi lạ là chỉ cho đối tượng trầy vi tróc vảy chút đỉnh, kiểu răn đe.

Hắn báo cáo và đưa ra tấm ảnh thằng người sẽ là nạn nhân.

Giá mềm?

Đấy, gói trong đó là nửa triệu, ông cất đi.

Giờ này tối lửa tắt đèn rồi, mai tôi mới mần chứ.

Ừ, không gấp. Tôi hẹn với lão đôi ba hôm sau. Đây là râu ria: Con mồi bị dòm ngó tên Bảy, ngụ trên đường Đồng Khởi, lao động ở công ty trách nhiệm hữu hạn Thắng Lợi, chạy chiếc Vespa màu trắng, nón bảo hiểm đỏ, thường ngồi nhậu ở quán Tới Luôn.

Được quá, tôi rất quen thuộc địa hình ấy, xe cộ thường ùn tắc lúc tan tầm. Và thằng bảo vệ chỗ Tới Luôn là thành phần cắc ké, ho một tiếng là nó đái trong quần.

Lão đề xuất, chỉ nên làm gãy đôi ba cái răng thôi, nghe êm không? Mẹ! Như thể cốt ngăn thằng chả khỏi đứng trước phiên họp ăn nói linh tinh hoặc là cấm thằng chả chớ quen thói phá mồi. Miệng vêu ra, máu rỉ rả thì cũng khó làm bà xã hài lòng. Ông uống gì không?

Khỏi, chỗ này xập xệ quá. Đang có bổi mà, kiếm cái gì cay cay cho hợp tạng, cho bỏ những ngày cơ cực!

Khuôn mặt gầy gò, gãy góc, co giãn khi mở miệng cười. Đen đúa, sần sùi tựa một tác phẩm điêu khắc nguyên liệu đồng. Nhân thân e xấu bộn. Thằng này mà bắt nó viết bảng tự khai thì đồn công an sẽ thiếu hụt giấy bút với nó. Hoặc không chừng nó bảo, tao chả biết viết biết đọc, đừng hoài công. Nói hả? Đù má, đời là bể khổ. Tin không?

2.
Khoảng chừng sáu giờ, nắng tắt, Lan và Mai vẫn thường ngồi ở ngạch cửa. Cả hai mặc váy ngắn. Lan thích màu đen còn Mai ưa chưng diện những sắc chói lọi. Có lần Mai nói: Tui nghe con Hồng kể bọn ca sĩ lên sân khấu thường chọn mặc áo quần trắng để dễ bắt ánh sáng. Sao bà cứ đè màu đen mà chơi hoài vậy? Lan đốt thắp một điếu thuốc: Dễ hiểu, màu càng sáng càng dễ phát hiện vết nhơ, cái váy tui mặc đúng tuần mới giặt mà hổng thấy nhớp. Đen cũng có cái lợi của đen. Mình ngồi góc kẹt thôi mà, bắt ánh sáng làm gì để công an nó có cơ hội sờ gáy.

Hồng, Cúc, Trúc, Huệ, Thược Dược, Cẩm Chướng vẫn luân phiên ngồi trên hai chiếc ghế ấy, nhưng hoàng hôn về dịu mát thì chúng bạn tự động nhường chỗ. Quen lệ, khỏi tranh cãi, mất hoà khí. Thương yêu khắn khít đùm bọc là chuyện bất khả, chớ gây gỗ với nhau, giữ lành việc ấy đã là điều đáng mừng rồi.

Sáu giờ, mặt nhựa đường còn phả hơi nóng. Đêm chưa tới, con người còn mồ hôi mồ kê mà gió chưa kịp vắt ráo. Mai mở một cúc áo, ngó qua bên kia con lộ. Tấm bảng hiệu Tới Luôn vẫn chưa nháy sáng những bóng điện. Hôm qua, tầm chín giờ đêm, bà ở đâu? Lan xoè năm ngón tay trước mắt, săm soi những móng tô sơn đỏ. Thằng già dịch dắt tui vào nhà nghỉ tuốt bên quận 5. Vậy là chưa hay tin? Tin gì? Thằng bảo vệ bên kia bị người ta chém. Náo loạn um sùm trời đất cả con đường.

Lan nhìn sang quán nhậu, hèn gì mà giờ này chưa chịu đỏ đèn. Vậy là chỉ có ba tháng mà nơi đó huyết lệ đã rơi những hai lần. Lại phải phong bì, lại phải tuyển một chàng bảo vệ mới. Mai đưa thêm thông tin: Tại thằng bảo vệ chí thú mần ăn quá, nó ngó lơ thì đã không tìm tới cửa tử. Lan hỏi: Có ai chết nữa à? Con Trúc nói nó từng qua đêm với nạn nhân, không chừng bà biết cái anh chàng chạy chiếc Vespa điệu đàng. Ủa, anh Bảy cũng bị dính chấu hả?

Bảy về nhà sau đúng một ngày nằm viện. Thực ra thì chẳng cần phải nán lâu đến vậy. Bác sĩ bảo sao thì Bảy câm lặng nghe theo, ông bảo để chụp hình xét nghiệm thử xem xương quai hàm có chỗ nào bị rạn nứt không. Bảy đóng bộn tiền và ngủ chẳng tròn giấc với cơn choáng váng. Đau một cách vô lối, kể cả tiền bạc, tự dưng bị sức mẻ chẳng lường trước.

Bảy không nói, cầm cái điện thoại thông minh chỉ để gửi đi tin nhắn. Đôi tay run, mắt trái sưng húp, màn hình nhòe những con chữ không bỏ dấu. Đến đón Bảy ở nhà thương là Hạ. Lý do, hắn có xe hơi, lại nữa hắn có nghề mọn dắt thân, tám năm dùi mài Việt võ đạo. Cái uy lực của kẻ biết kung-fu chẳng ám vào hình hài Hạ, có nghĩa là dáng dấp thư sinh ấy có vẻ như trói gà không chặt và chính điều này tạo riêng cho Hạ một thứ bí kíp võ công. Đối thủ thường ôm đầu máu do bởi tật khinh suất, xem thường, chủ quan. Đi với Hạ, nỗi an tâm chẳng hề từ bỏ Bảy. Lại nữa, giờ đây Bảy muốn “phô trương” cái nhân diện chẳng lành lặn cho Hạ thấy. Để được gì? Cũng không rõ. Một đám bạn cài đặt sẵn trong máy tự nhiên sáng hẳn cái tên Hạ. Cách nó đến khá nhậm lẹ cũng khiến những vết thương chưa khép miệng trên mặt Bảy nghe nguôi ngoai.

Ăn không xong mà uống cũng mất sướng nên Bảy yêu cầu Hạ chở về nhà thay vì ngồi hàng quán như thông lệ. Yên vị trong xe, Bảy chấp nhận một cuộc hỏi cung chẳng thể lẫn trốn. Trầy vi tróc vảy là tang chứng thưa ông tôi ở bụi này.

Hồi nào?

Chiều hôm qua.

Do đâu?

Chẳng biết. Suốt đêm tôi tự tra vấn mà không thông.

Bạn đồng nghiệp ở cơ quan? Tranh chấp một thương vụ? À này, con bé tên Mười Hai trên facebook thì sao?

Sao là sao?

Tình cảm giữa hai người. Chắc nó giao thiệp rộng và có đứa ganh ghét ông?

Bảy soi mặt vào kính chiếu hậu.

Sao ông chạy lối này?

Để khỏi bị ùn tắc. Phía trước, bọn nó đang huy động để chữa cái hố tử thần.
Gần cả tuần vẫn lấp chưa xong.

Ông thấy mặt tôi ra sao?

Giống như lọt hố tử thần. Bầm dập, thê thảm. Mấy đứa? Vũ khí mà chúng dùng để tẩn ông?

Chỉ một thằng thôi ông ạ, nó ép xe tôi vào lề đường và hình như là dân chuyên chơi quyền Anh.

Không tuyên bố lý do?

Không. Điệu bộ nó thong thả lắm kìa. Và tôi ngạc nhiên vì nó như chẳng có ác ý. Xe cộ, đồng hồ, tiền bạc giấy tờ của tôi vẫn cứ nguyên trạng.

Lạ thường! Hẳn là đã có một hợp đồng, giao hẹn gây ra thương tích cho ông chỉ ngần ấy thôi. Không lấn sâu thêm.

Tôi đâu có ân oán với ai…

Nếu có thì hẳn chúng trả thù bằng cách tàn độc hơn. Ông nhìn ra thằng đánh ông không?

Làm sao nhận diện được? Tối tăm mặt mũi, túi bụi lùng bùng. Chỉ ngó thấy hàng chữ xăm vào cánh tay: Chết không nhắm mắt.

3.
Thứ ba đến hẹn lại lên. Người đàn ông đưa nốt số tiền như giao kèo quy định. Vẫn chỗ ngồi hôm trước, vẫn cà phê đá, vẫn quán vắng mặc dù người chủ có phân bua rằng đã huy động ô-xin dội nước tẩy rửa giữ gìn vệ sinh chung. Bớt hôi khai rồi phải không? Vì sao vắng? Vì ngoài đường chúng chơi toàn cà phê ôm trên từng cây số, thư giãn đồi trụy rờ rịt các thứ. Chúng tớ chủ trương lành mạnh an toàn thực phẩm có thế mới đi đường dài được. Đúng không nào? Người đàn ông phán: Nhiều chuyện! Dĩ nhiên là nói sau lưng, chỉ mình hắn nghe. Hắn cũng đồng ý. Hắn rất không mấy cảm tình với bọn bép xép mồm miệng. Kinh nghiệm cho hay, nghề nào cũng vậy, càng kiệm lời càng tốt. Anh nói cho cố xá mà anh chẳng thực thi giữ lời thì chúng sẽ ghét anh, xem thường anh. Anh câm lặng làm, và đạt hiệu quả, thì chúng an tâm lại tìm tới anh giao dịch, ký hợp đồng.

Các cậu làm rất tốt. Thằng ấy xin nghỉ việc đúng nửa tháng, chẳng thấy nói năng gì, chỉ biết húp cháo. Người đàn ông rút trong túi áo ra tấm ảnh. Hắn cũng muốn ngắm xem thành quả thương tật, nhưng chưng hững. Tấm hình màu đóng khung một nhân vật nữ. Đẹp, ăn mặc thông thoáng. Chân dài này nếu bước xuống cuộc đời lấm lem chắc sẽ hét giá khủng. Năm trăm đô, chí ít. Người đàn ông ho khan: Nhỏ này tên Mười Hai, nhà ở đường Cách mạng tháng Tám, làm ở văn phòng xuất nhập khẩu linh kiện điện tử Trí Tuệ, thường ăn trưa ở nhà hàng Bản Sắc. Có lẽ chỉ đánh gãy tay gãy chân nó thôi, dựng hiện trường giả như thể bị tai nạn giao thông. Hay là một vụ cướp giật? Ừa, tôi muốn sở hữu sợi giây chuyền mà nó đeo…

Chắc không ổn.

Vì sao không ổn? Tôi đưa cậu hai triệu.

Trình bày rõ với anh là chúng tôi có dựng bàn thờ tổ, lập thệ không xuống tay đối với chị em phụ nữ với bất cứ lý do nào. Tâm nguyện rằng thành phần chân yếu tay mềm nọ tuyệt chẳng phải là đối tượng của mình. Phi vụ này tiếc là không thể giúp anh được.

Người đàn ông nhìn ra hẽm tối, thừ người.

Cậu có quen ai đó không, bọn người mà chuyện gì chúng cũng không từ nan?

Hắn uống nước chậm rãi. Hắn thắp thuốc thong thả. Hắn bận tìm lời.

Phải hỏi anh lại, là chỉ đánh người không thôi? Nếu cái đứa đâm thuê chém mướn kia cầm lòng không đậu trước nhan sắc em này? Nó bắt cóc, nó thay phiên hãm hiếp, anh có bằng lòng không?

Người đàn ông thoáng bối rối. Chết chửa, vậy thì quá nghiêm trọng, tình hình lái sang một hướng khác mất rồi!

Anh phải lường thêm là sau khi chúng thỏa mãn, chúng lôi điện thoại thông minh ra ghi hình rồi chúng dọa đăng tải trên các trang mạng nếu không đáp ứng yêu sách chúng đề ra. Nghiêm trọng quá đi chứ.

Người đàn ông ngó tấm ảnh, ông thì thầm điều gì nghe không rõ, như thể một lời nguyền rủa.

4.
Quán ăn Bản Sắc có mặt bằng thuận lợi. Sống được nhờ buổi trưa công nhân viên quanh khu vực, khác ngành nghề, đều tấp vào kiếm cái dằn bụng. Có bề dài sâu hun hút nên đông thực khách, đều được an bài nhanh, quán bớt chộn rộn. Hắn bước vào, chẳng mấy khó khăn khi ngó ra mục tiêu. Hắn sà xuống vuông bàn nhỏ, ngồi đối diện với một nhan sắc kiều diễm.

Cô Mười Hai phải không? Hắn mở lời, nhìn sâu vào đôi mắt đang thấp thoáng nỗi ngờ vực.

Cô yên tâm, tôi chỉ nói đôi ba câu thôi, rồi thăng. Khung cảnh này là thứ tôi không mấy ưa đặt chân vào.

Anh là ai? Tôi chỉ có một giờ ăn trưa thôi, công việc giấy tờ ở cơ quan cao ngập mặt.

Hắn cầm ở tay hai tấm ảnh, đưa một tấm ra trước. Tuy cũ, nhưng chẳng đổi so với Mười Hai ở ngoài đời. Chỉ nhìn qua một lần thôi, cũng đủ mệt, cũng ấn tượng, khó quên.

Anh là ai? Ảnh này do đâu anh có được?

Như đang chơi bài bạc, hắn chia cho cô gái “lá bài” khác.

Người đàn ông này đưa ảnh cô cho tôi, với thông điệp đi kèm, nếu gây thương tật cho cô tôi sẽ được hai triệu đút túi. Đừng hoảng, tôi đã từ chối cái áp-phe kia. Tôi gặp cô chỉ để hỏi, sao cô gây thù oán với ông ấy?

Sắc diện Mười Hai liên tục thay đổi. Một hộp màu nước luôn chứa đủ 12 tuýp, da mặt Mười Hai dường đã thử nghiệm qua sự pha trộn của những ống màu đó. Màu đen, thường chỉ dùng sơn phết lên số phận, mặt Mười Hai thì tái xanh. Hộp cơm cô gọi chưa đụng đũa, nhưng ly nước mía thì cô đã uống tận giọt cuối. Có những nguồn cơn mà khi ta đón nghe, bụng co thắt chẳng thiết ăn; khô quắt một nỗi buồn buộc phải chữa cháy bằng nước, nước càng ngọt càng tốt bởi miệng lưỡi đắng chát.

Chắc chiều nay tôi phải xin nghỉ việc cơ quan. Mười Hai nói, giọng nghe rối hụt. Thù oán? Không dám đâu. Anh có lời khuyên nào cho tôi không?

Tôi khuyên cô nên cẩn thận. Bởi khi chúng tôi từ chối, ông ấy sẽ tìm ra bọn người khác, trả tiền công sức để chúng hành hung cô.

Chúng ta có nên làm dịch vụ trao đổi?

Là sao?

Trong lúc này tôi cần sự an toàn. Tôi mua cái đảm bảo từ phía anh. Giá cả thì do anh định liệu, xem tôi có đủ khả năng để chi trả không. Bất quá tôi sẽ đi vay mượn thêm.

Cô vẫn chưa trả lời câu tôi hỏi: Quan hệ giữa cô với ông ấy?

Anh tin không, nếu biết chúng tôi là vợ chồng hờ. Tôi sẽ cặp tay với ông ấy đi tới dự những cuộc khao đãi hoặc liên hoan. Hợp đồng trong sáu tháng và tôi vừa hủy lời đề nghị tái gia hạn.

Vậy thì cô biết một người mang tên Bảy?

Ai cơ ạ?

Đừng dấu tôi. Bảy vừa là nạn nhân của ông ấy. Như một mắt xích vậy, cô phải biết vì cô nằm trong xâu chuỗi nọ.

Khổ ghê vậy đó. Sao anh không trực tiếp hỏi thẳng mặt ông ta. Bảy với tám chín… Lòng dạ tôi đang rối bời đây này… Con Trinh làm ở ngân hàng vừa bị tạt cả ca a-xít. Trời ạ!… Anh biết con Trinh không?

Không.

Đó, thấy chưa. Thành phố này có mấy triệu người? Cả vạn thằng đàn ông mang tên Bảy, cả vạn con mang tên Trinh. Tôi van anh, xin hãy gặp ông ấy hỏi cho ra lẽ, cớ gì ông sanh lòng thù oán lắm người thế? Người như tôi có thể gây phương hại cho một ai? Sao lại nhẫn tâm đối đãi với nhau như thế!

Cách hay nhất là cô đừng khóc lóc trong lúc này. Hãy kềm giữ sự bức xúc. Động thái của cô sẽ khiến người ta có cái nhìn không hay về tôi. Tôi đã có thiện ý khi gặp mặt cô, đúng không?

Khoan, trước khi bỏ đi anh có thể cho tôi số máy để liên lạc, ngộ nhỡ tôi bị vây khổn?

Mười Hai đưa cái iPhone 5 ra khi nói.

5.
Trong cuộc sống, điều cơ bản và giản dị nhất mà mọi người thường lú lấp quên đi, đó là sức khoẻ. Nó vô giá, nó quý báu, chẳng có gì để mang ra so sánh cùng nó. Em đồng ý không?

Mười Hai đón lấy ly cà phê sữa đá. Cô nhìn dáng dấp đường bệ của người đàn ông, nhìn cái bụng nhiều mỡ rồi nhìn lên cái đầu hói tóc. Cô chẳng lắm kinh nghiệm, nhưng vẫn tự cá cược thầm vụng riêng cô: Những tay giàu có, tiền bạc đếm không xuể, nhiều như quân Nguyên, thường có bộ dạng khoan thai đủng đỉnh như lão cả. Hai bàn tay đều có mang nhẫn vàng, kiểu dáng cầu kỳ nhận hột sa-phia, nhìn thôi cũng minh định được đôi điều: Hàng độc, thắp đuốc tìm không ra cái thứ hai.

Đơn cử một ví dụ, có đứa ghen ghét em, đêm hôm nó chận em, nó buồn tay cầm gậy gộc quất cho em gãy giò nằm quằn quại ra đó cả đống. Lại có đứa động lòng gọi xe cứu thương mang em vào viện. Nhiêu khê và linh tinh những công đoạn xảy tới sau đó. Em thức giấc trên chỗ nằm lạ chẳng mấy thơm tho, đau rêm toàn thân với kết quả xét nghiệm 37 phần trăm thương tật em mang. Nhìn xuống một chân bó bột cứng ngắt, nói bỏ lỗi em đi ỉa đi đái khi ấy cũng khó khăn mất sướng. Em điện vào công ty xin nghỉ việc mất khoảng 2 tuần không ăn lương. Em nhăn nhó tập đi đứng trên đôi nạng. Em chi trả không dưới hai triệu đồng cho nhà thương. Và em khóc. Và em tủi thân. Và em vẫn chưa ngộ ra điều ấu trĩ: Sức khoẻ là một báu vật.

Người đàn ông ngưng nói sau khi đi giáp vòng quanh chỗ Mười Hai ngồi. Ông ta cúi xuống hôn vào cái đường khe ẩn bóng tối khi chia lìa đôi vú căng. Đó là nơi mà Mười Hai đã rắc xuống lớp bụi J’adore, tinh dầu đắc tiền của thương hiệu Dior lừng lẫy. Thơm ngát. Dĩ nhiên. Hương mùi ấy còn gợi mở cho người ta sự khát khao về một cuộc khám phá. Về cách mân mê lùng sục những địa hình khuất tất đầy cám dỗ thu vén sau thịt da.

Mười Hai uống không hết ly cà phê sữa đá mua từ cửa hiệu Starbucks. Trung Nguyên chả là cái gì cả bởi nó chứa nhiều hương liệu khi rang hạt, làm hỏng cái tinh chất cà phê đi. Nó đánh lừa miệng lưỡi và kẻ sành điệu sẽ phát hiện ra. Người đàn ông là kẻ sành điệu, không cứ ở riêng lãnh vực nhấm nháp hôn hít.

Vấn nạn của em có hai cách giải quyết. Em muốn hăm doạ lại gã đàn ông từng hăm doạ em, hay em muốn nó sẽ tái mặt máu khi nghe nhắc tới mỹ nhân có tên gọi ấn tượng Mười Hai? Tuỳ anh định liệu, phương cách nào cũng được. Mười Hai nói. Em chỉ muốn ra đường mà lòng thảnh thơi an nhàn, không nhìn trước ngó sau thắt thỏm đón đợi một tai nạn. Cứ phải ám ảnh về một điều không may sẵn sàng phủ chụp lên số phận, một cuộc đời khốn nạn thế có đáng để người ta sống với!

Mười Hai run lên, đôi vai co giật và cô thực sự khóc, oà vỡ không dấu diếm những thổn thức làm mắt hoen mờ bao ngấn lệ. Mỹ phẩm dùng vẽ đường viền quanh mí mắt bắt đầu loang màu, trông như Mười Hai vừa mới ăn đòn từ một nắm đấm thô bạo chẳng biết nhẹ tay trân trọng một cánh hoa, bầm dập hai cửa sổ của tâm hồn.

Người đàn ông vẫn đứng yên, ngó xuống. Không vỗ về, chẳng can dự nỗi chạnh lòng vừa tới vây khổn Mười Hai. Khi khóc, người ta thường yếu đuối đánh rơi sự sáng suốt. Và người đàn ông thích đón nhận sự mê muội của cô ta. Ông đợi cái dâng hiến do Mười Hai chủ động bởi có những sự việc người ta cần phải rút về thế thụ động, khi ấy hạnh phúc như có phần tăng lên, người ta hưởng thụ nó với thứ cảm giác mình được nuông chiều.

Mười Hai bắt đầu trút bỏ lụa là xiêm y. Cô phải tự mình ngồi xuống chiếu bạc để đánh trả những đòi hỏi của cuộc chơi. Khi đến tìm người đàn ông cô đã hiểu ra lề luật của ván bài, cô đã tắm rửa, cô đã mang sẵn một cái condom bỏ vào xách tay kèm theo ảnh kẻ quyết mang thương tật tới cho cô. Có nghĩa là cô đã hoàn tất những chuẩn bị xét thấy an toàn nhất. Mười Hai đi lại bên chiếc giường lớn, mặt nệm sao trống trải mênh mông, cô nhẹ đặt mông xuống, duỗi người, mắt nhắm lại.

6.
Chiếc xe mang kẻ gây án chạy hơn mười cây số, qua bao chướng ngại, về tới quận tư thì bị ùn tắc. Hiệp sĩ săn bắt cướp phối hợp với lực lượng công an cùng sự trợ giúp của bà con địa phương đã bắt sống đối tượng. Hắn không hung hăng, hắn chẳng nói năng, hắn tuyệt không để lộ hành vi chống đối. Hắn nằm yên dưới mặt nhựa đường. Ai đó đã đạp hắn té, chiếc xe gắn máy động cơ vẫn nổ, bánh sau vẫn còn quay, xăng từ bình chứa đổ ra, loáng ướt bên cây đao vấy máu.

Hơn chín mạng người lố nhố vây quanh hắn, tỏ ngờ vực kẻ vừa yên lặng đút tay vào còng. Hắn ốm yếu quá, hắn nhỏ thó quá. Một sát thủ, nó kiếm đâu ra nguồn năng lực để hoàn tất cái hợp đồng máu me? Chín kẻ tự nhận trừ gian diệt bạo đánh rơi nghi vấn khi vực hắn đứng thẳng người lên. Như sắt thép nguội, cơ thể hắn đồn trú thứ hàn khí khó cắt nghĩa. Có thể dùng thuật ngữ sát khí để giải thích. Ràn rụa. Một đứa giết người không gớm tay thường chờn vờn quanh thân thứ gai lạnh tựa thế. Kề cận, phát ớn.

Một cánh tay hắn bị trầy trụa bởi té xe, ở đó người ta đọc thấy những con chữ kỳ quái ăn sâu vào da thịt: “Chết Không Nhắm Mắt”. Trong đám người hiếu kỳ vây bủa hiện trường chợt bắn ra tiếng nói: Nhìn ông nội này biết ngay là dân có số má, nhập kho là vừa đó tía. Như phát súng lệnh, sau đó là râm ran vô tư những bình loạn, nói cho sướng miệng:

Bóc lịch chí ít cũng trên mười niên, nhỉ?

Lạ, bây giờ người ta ăn cái gì vào để sinh ra thú tính nhường ấy?

Xã hội này toàn cả lũ chẳng nương tình bạ đâu chém đó! Tình hình như vậy thì chết làm sao mà nhắm mắt cho yên!

Đấy là cụ chưa hề thấy qua. Dưới miệt tôi ở, mới hôm kia, lâu lắc gì, họ vây kẻ trộm chó để bức tử nó. Hả hê đánh chết nó. Nói bà con không tin chứ thằng ấy hộc máu chết, hồn du địa phủ rồi mà một con mắt nhắm một con mắt mở. Ngộ không?

Chẳng đành lòng đi. Còn tiếc của giời, nhỉ?

Hồ Đình Nghiêm

Sứ giả

 Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 20 Jan 2024

Chiếc quạt máy được tắt đi khi người đàn ông xuất hiện. Hơi nóng dồn tới từ căn bếp ám khói. Họ vừa ăn xong, những bức vách như còn lưu trú mùi chiên xào.

 – Chúng ta lên sân thượng cho thoáng mát.

  Người đàn ông nói. Ông ta khoảng năm mươi, hơi mập, giọng khan. Và chắc chắn ông là gia chủ. “Chúng ta” gồm có ba người, vợ chồng ông đi trước và tôi nối gót theo sau họ. Những bậc cấp giam giữ bóng tối, hai ba cái tách va vào nhau trên khay mà người đàn bà cầm. Tôi nghe và tôi nhìn đôi dép nhựa màu xanh tươi của người đàn bà phát tiếng đằng trước để giữ cho bước đi mình khỏi vấp té. Tôi hơi mỏi chân. Hôm nay tôi đi ngơ ngáo suốt ngày, và chỉ uống mà chưa được ăn. Nếu đến sớm, gặp bữa, không chừng họ đã mời tôi vài chén cơm? Tôi tự hỏi, họ có rộng lòng để chia sớt khẩu phần? Và tôi không tìm ra câu trả lời: Mình sẽ cắm cúi ngồi ăn hay làm bộ từ chối? “Đói cho sạch rách cho thơm”. Ai nói lời kỳ cục ấy? Đã lâu rồi tôi chưa hề thấy qua một người sạch sẽ, một kẻ thơm tho. Ở mấy quán bia ôm, những tụ điểm mát-xa, lý ra những con bé hành nghề nơi chốn ấy phải có chút thịt da, y phục phải lụa là, thân thể phải bốc mùi như mít Tố nữ. Không, hoàn toàn ngược lại. Chúng nó đói rách, chúng nó dơ bẩn, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

  Sân thượng là khoảng xi-măng lộ thiên vuông vắn. Bốn bờ tường thấp che chắn bao bọc lấy cái mặt phẳng có hơi lồi lõm. Không phải là độ cao ngút ngàn, nhưng nhìn xuống đường phố chộn rộn người ngợm bên dưới cũng đủ bắt gặp chút xây xẩm chóng mặt nằm đâu đó. Nếu vô phúc sẩy tay sẩy chân té xuống, có thể bể đầu dập mặt dễ như chơi. Điểm đứng này không thể là nơi mà người ta mưu toan một cuộc tự tử. Họ sẽ sống tàn tật và thần chết đứng khoanh tay cười trên sự xuẩn ngốc của kẻ buồn chán cuộc đời.

  Vài chiếc ghế xếp bằng gỗ dựng ở một góc, người đàn ông khom lưng lui cui bày biện ra giữa khoảng sân. Ba ghế cho người, một chiếc dành cho bình trà, ly tách. Buổi chiều đang thoi thóp ánh tà dương. Trời tím thẩm một chân mây, chỗ tôi ngồi ngó tới. Yên ả. Những thứ tiếng động ở dưới đường vọng lên nghe không đoán ra xuất xứ. Gió nhẹ mơn man, chẳng đủ sức làm rung động ít áo quần phơi trên một sợi giây thép căng ngang tầm mắt tôi. Tôi nhìn thấy chiếc quần lót co quắp, thứ hàng ny-lông trơn láng và chất liệu ấy có vẻ như dễ bắt ánh sáng. Nó không thể vừa kích cho người đàn bà đang rót nước kia. Nó nhỏ nhắn và tự thân nó như biết nói lên: Chủ nhân tôi là một thiếu nữ.

 – Mời anh.

  Người đàn bà trao cho tôi tách nước trà. Tôi đón lấy, nhìn làn khói mỏng váng vất và mũi ngửi ra mùi thơm mà nó xông lên. Những thứ họ có như ngầm khoanh vùng cái vị trí mà họ đứng. Cơ hàn, đói khổ tuồng như chưa từng lảng vảng tới gần họ, xâm thực lấy họ. Tách men trắng bóng lộn chưa sứt mẻ, mùi vị thanh ngọt của trà, áo quần che thân… đã thầm nói về điều đó, khá rõ ràng.

 – Chắc anh đã hay biết ít nhiều về buổi sơ ngộ ngày hôm nay?

  Người đàn ông nhập đề. Ông vừa uống trà, tách vơi phân nửa nhưng giọng nói vẫn khan. Cuống họng ông như có vật gì nằm vướng mắc bên trong. Nếu tôi là bác sĩ, tôi sẽ trả lời, mục đích buổi gặp gỡ này là ông sẽ tốn bộn tiền để nhờ tôi giải phẩu cái thanh quản bất bình thường kia.

  Người đàn bà quan sát tôi, soi mói. Đó là ánh mắt của một người ngồi nhặt sỏi, thóc, sâu, mọt nằm lẫn trong gạo trước khi đổ nước vào, nấu chín những hạt ngọc trời cho. Tiêu đã từng làm công việc tẳn mẳn đó và tôi đã từng chứng minh sự bất cẩn của vợ khi nhổ nắm cơm xuống lòng bàn tay kèm theo một chiếc răng bị gãy dính máu lợn cợn. Tôi bị sún răng, thưa dần. Sau này tôi sinh ra thói quen ngậm kín miệng lại.

 – Anh có thể nói đôi điều về anh cho chúng tôi nghe không?

  Tôi ngó lên người đàn bà. Hoàng hôn đã rút lui, những bóng điện phiá bên kia sông vừa thắp sáng con đường chạy hun hút về cửa biển đầy bóng tối. Những ánh đèn cháy không đồng đều, nhấp nháy, có vẻ tọc mạch.

 – Ông bà muốn biết tới giai đoạn nào? Sông nước vẫn có đoạn đục đoạn trong.

 – Tôi nghe anh đang sống độc thân. Chuyện gì đã xẩy tới vậy?

  Không ai lấy đống áo quần phơi trên giây xuống cất. Khi mẹ tôi còn sống bà vẫn luôn nhanh tay thu vén lấy chúng trước khi màn đêm buông xuống. Sơ ý lỡ chậm tay, bà có cách giải quyết bằng cách trở ngược sống dao mà bằm chặt lên mớ áo xống kia. Như vậy, hồn ma bóng quế chẳng thể trú ẩn vào trong đó. Tôi không tin dị đoan như mẹ tôi, nhưng tôi tin đã có ma quỉ tới ám trong chuyện vợ chồng, giữa Tiêu và tôi.

 – Tôi cũng chẳng biết nữa.

  Tôi nói. Tôi thành tâm khai báo, giọng tỉnh táo. Tôi nghĩ tại sao tôi không bị khản tiếng như người đàn ông đang ngồi khoanh tay kia? Đi ra biển, gào kêu tên Tiêu đến khô cháy cổ họng.

 – Anh không thắc mắc, bỏ công đi điều tra, tìm cho rõ ngọn ngành?

 – Chuyện xẩy ra, người nọ nói thế này, người kia nói thế khác. Người nào cũng có lý. Tôi nghe xong và tôi chỉ có một kết luận duy nhất: Tôi là kẻ chẳng được may mắn.

  Tôi gải đầu. Thầm nguyền rủa đứa nào sáng tác ra chữ bị cắm sừng. Thêu dệt, nhiều tưởng tượng. Con người chứ phải trâu bò gì cho cam!

 – Nếu anh đã từng buồn lòng thì xin anh hiểu cho chúng tôi cũng đau khổ chẳng kém.

  Người đàn bà nói, trong khi ông chồng moi túi áo để đốt lên một điếu thuốc thơm. Có con muỗi vừa đâm vòi ở chân, tôi tự đánh cuộc là mình sẽ chẳng được mời hút thuốc. Sai, ông ta ngon lành hơn tôi tưởng. Tôi hít một hơi khói, ém sâu đến độ choáng váng. Tôi ngồi rụt cổ, cố hiểu hết lời nói vừa rồi. Hai ông bà có lối dẫn dắt câu chuyện thật kỳ lạ. Tôi thực không biết ý họ.

 – Trong thời gian còn ở bên nhau, vợ anh chẳng để lộ một triệu chứng nào cả?

  Bóng tối có thể che khuất niềm bực bội mà tôi để lộ ra ngoài mặt. Tôi khôi hài:

 – Vợ chẳng để lộ, kín bưng, trong khi tôi luôn chu toàn việc ấy đến nơi đến chốn. Đàn bà mang thai thì dễ biết, đúng không? Triệu chứng là nôn mửa, thèm đồ chua…

 – Anh biết chị ấy bây giờ ở đâu không?

 – Không, việc gì tôi phải cất công tìm hiểu chuyện ấy? Nếu ai đưa tin cô ấy vừa chết ở Đà-nẵng thì tôi sẽ xoay xở vào lo chuyện chôn cất.

 – Đừng nhảm. Cô ấy đang ở Nha-trang, điều đáng nói là cô sống nhởn nhơ hạnh phúc với một người con gái.

  Tôi xoay đổi mặt mày, hết ngó người này lại nhìn qua người khác. Và trùng hợp thay hai vợ chồng họ là nam tả nữ hữu tính theo vị trí chỗ tôi ngồi. Chóng mặt, tả dừng thì hữu cất tiếng.

 – Anh biết không, người đang ở chung với vợ anh chính là con gái tôi. Nó bỏ nhà ra đi đã ba tháng nay. Bọn tôi mất nhiều công sức mới truy lùng được tung tích.

 – Và hôm nay chúng tôi mời anh lại đây cũng chỉ một dụng ý là nhờ anh đi Nha-trang để làm cách nào phân chia hai kẻ đó ra. Chúng tôi xin trả công anh ba triệu, đưa trước một nửa cho anh có mà tiêu xài dọc đường, số còn lại sẽ chồng nốt khi mọi việc êm xuôi.

 – Chúng tôi biết chỉ có anh mới giúp được thôi. Trên mặt pháp lý anh vẫn là chồng cô ấy, và con gái tôi, nó cần phải trở về nhà nội trong tháng sau. Anh nó ở bên Mỹ đã hoàn tất mọi giấy tờ bảo lãnh. Thiếu mặt đứa con gái hư hỏng kia thì lôi thôi lắm.

 – Đây là triệu rưỡi, xin anh vui lòng cầm lấy. Qua Mỹ rồi, tôi sẽ nhớ đến anh để quà cáp hậu tạ thêm.

  Người đàn ông lôi sau túi quần ra gói giấy báo. Nó có vẻ nặng trên tay run của người cầm. Tôi chưa bao giờ được nắm trong đôi bàn tay một số tiền to tát ngần ấy. Nặng là phải. Tôi đón lấy, đầu óc tự động vẽ ra một bữa ăn thịnh soạn. Bia ngoại, thuốc lá ngoại, và sau đó là một đêm bở hơi tai với gái nội địa. Lựa đứa nào càng non tuổi càng tốt. “Xin chú hãy giết cháu một cách thật dịu dàng… Trời ơi! Đừng vội vàng, chuyện gì cũng còn có đó…”

  Người đàn ông vỗ vào lưng tôi:

 – Tôi nghĩ là anh sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Ngó tướng anh có vẻ thâm trầm, đa mưu túc kế… Chia lià chưa đủ, làm sao để nó chỉ còn một con đường là phải trở về mái nhà xưa. Vô phương lựa chọn. Anh hiểu không?

 – Tôi hứa làm hết sức mình.

  Tôi nói trong khi tôi biết đầu óc tôi chưa bao giờ được minh mẫn cả. Miếng cơm manh áo là gì, nếu như không muốn nói chính nó là thủ phạm làm cho đầu óc con người mụ mị đi. Thấp kém và hèn nhát. Nếu đa mưu túc kế thì Tiêu đã chẳng rời bỏ tôi. Hay nói khác đi, tôi biết cách cột trói Tiêu lại, dù là cách của đứa tiểu nhân. Quân tử thì bao giờ cũng chịu thiệt thòi. Tôi biết rõ điều đó, và vì thế một triệu rưỡi nằm trong túi người đàn ông chuyển qua túi tôi một cách êm ả, ấm đít. Khoẻ re! Tôi chào mừng thành quả bất ngờ bằng cách tự rót trà ra tách, chiêu một ngụm và vươn vai đứng lên. Tự dưng tôi thấy nhớ Tiêu, khát khao được nhìn cảnh sống của Tiêu để hiểu thêm về chữ hạnh phúc mà người đàn ông vừa nhận xét.

 – Tôi đã chuẩn bị trước, đây là hình đứa con tôi. Địa chỉ thì tôi viết ở đằng sau.

  Tôi ngó mặt đứa con gái chụp thẳng giữa tấm ảnh màu 5×7. Nhan sắc con bé thật kháu, xinh đáo để, dù ngắm trong màu trời chạng vạng; Tiêu đem lòng yêu nó cũng đúng thôi. Hồng nhan tri kỷ! Tôi nhét tấm hình trơn láng vào túi áo, có cảm giác như mình đang đóng vai một thám tử tư trong mấy phim hình sự sôi động.

 – Nó tên Đoan, trên giấy khai sanh. Ở nhà thì chúng tôi gọi là Lọ lem. Những chi tiết nhỏ nhặt ấy có thể giúp anh phần nào chăng?

 – Tôi phải làm một việc gì bây giờ để cho ông bà tin tưởng?

 – Đừng nói thế. Giang hồ tráo trở hiểm ác là ở đâu kia. Còn anh, anh chẳng phải là hạng người khiến kẻ khác phải đem lòng đố kỵ ngờ vực. Chúng tôi đặt hết kỳ vọng ở anh. Xin hãy giúp cho gia đình chúng tôi được đoàn tụ, công sức ấy không phải là nhỏ.

  Tôi bước xuống lầu. Người đàn bà tiễn đưa đến tận giới hạn cuối.

 – Tôi hỏi thật điều này, tại sao đàn bà con gái ở chung với nhau lại gọi là nhởn nhơ hạnh phúc?

 – Khổ thân anh! Anh quả không biết chuyện thật sao? Cái đó gọi là đồng tính luyến ái. Chúng tôi suy luận, không khéo mà vợ anh đóng vai chồng của con tôi. Mô Phật!

  Cánh cửa sắt được kéo mở, rít róng.

 – Bao giờ thì chúng tôi được đón tiếp lại anh?

 – Đêm nay tôi ra bến xe. Tôi nghĩ chậm lắm là tuần sau tôi sẽ trở về.

 – Có điều này cũng xin thưa rốt ráo cùng anh, là ông chồng tôi mong được qua Mỹ để chữa trị cái cuống họng. Sống đây ngày nào là ổng chết ngày đó… Thôi, vạn sự nhờ anh, lên đường bình yên, mọi chuyện hanh thông.

  Cánh cửa đóng lại, phiá sau lưng tôi. Đầu tôi lởn vởn chữ trách nhiệm và bổn phận. “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Mẹ rượt! Điêu ngoa cũng vừa phải thôi. Tôi băng qua đường, tay thọc túi quần, miệng cười vu vơ. Tôi tìm chỗ kín đáo đứng đái. Tôi moi và xé cẩn thận tờ giấy báo gói ngoài. Tôi muốn rút ra trước vài tờ giấy bạc để xài, cho chắc ăn. Cái gì cũng thế, phơi bày lộ liễu là điều cần tránh; huống hồ tiền bạc, thứ làm chết người. Tôi nhớ tới một quán nhậu, cái chỗ mà hơn tháng nay tôi chưa hề ghé lại. Chiếc nhẫn cưới đã bán hôm đó, giá trị của nó chẳng ra gì, không đủ sức đánh gục mình xuống một cơn say. Eo xèo. Đầu óc vẫn tỉnh rụi một nỗi buồn chất ngất. Và bàn tay thừa thải, những ngón đâm trống vắng.

  Đang đói bụng, tôi dừng chân bên quán lộ thiên gần hẽm hôi khai nước đái làm một chầu cơm bụi. Miếng sườn nướng và một cục chả trứng chưng cách thủy với nấm mèo. Chỗ này chúng tôi đã từng ăn qua. Đó là những ngày đã thuộc về quá vãng, có Tiêu sát vai ngồi và dĩa cơm khi ấy trông có vẻ phồn thịnh hơn giờ này. Tiêu cho tôi biết, gia đình chủ tiệm cơm là Phật tử thuần thành, có nghĩa là họ sẽ không nở lòng mà chiên xào nấu nướng ba thứ thịt cóc nhái rắn chuột bậy bạ như hằng hà những chỗ khác. Điều đó làm mình cảm thấy ngon miệng khi cắn miếng thịt nhỏ như một ngón tay, trông hơi lạ lẫm.

  Tôi nhai ngấu nghiến với những chiếc răng ngày một thưa đi. Móm mém. Tôi đã lần hồi ném mấy cái răng gãy lên máng xối, dưới gậm giường theo lối chỉ bảo đầy dị đoan của mẹ tôi. Tôi tuân thủ hầu hết những răn đe, cảnh tỉnh của bà nhưng hoàn cảnh xấu vẫn chẳng cải thiện một mảy may. Không nên cúi đầu đi lòn dưới giây phơi đồ lót của phụ nữ chẳng hạn. Cắm sừng. Địt mẹ thằng nào bày đặt ra hai chữ ấy! Tiêu ơi, ăn nằm với một thiếu nữ con nhà lành em có sướng như hồi còn chung đụng với anh không?

  Tôi súc miệng bằng ly nước chè nguội ngắt, đắng chát, rồi vẫy gọi một chiếc xe ôm. Thật là tiện lợi, quán nhậu ấy nằm bên hông bến xe đò chạy suốt. Đi tìm vợ trong một cơn xỉn có lẽ nó làm vơi bớt niềm tủi hổ, không ít thì nhiều. Và rượu, trước tiên nó giúp mình chai lì ra, cho dù biết rằng mình đã lú lấp lòn cúi qua biết bao sợi giây phơi quần áo, trước đó. “Mấy sông anh cũng lội, mấy đèo anh cũng qua”. Trời, ba triệu đồng tiền Việt-nam dân chủ cộng hòa. Nhằm nhò gì ba cái sông núi lẻ tẻ!

  Một cục tiền sau đít làm bước chân hơi nặng nề khi tôi xuống xe ôm để đường bệ bước vào quán rượu.

 – Ủa, Quốc! Ngọn gió nào thổi mày tới đây?

  Có ai đó vừa gọi tên tôi. Và thằng lẻo mép ấy coi bộ ưa chơi chữ.

 – Ngọn gió Lào chứ gió nào nữa? Thật là nóng nảy bực bội.

  Tôi nói, đồng thời ngồi xuống bàn, sát nách một thằng đàn ông chẳng có mấy thịt da. Hắn rọm rơ nhưng sự còm cỏi ấy có riêng một dáng vẻ dọa dẫm, chớ nên coi thường.

 – Vợ bỏ mà trông vẫn phong độ, cái mới lạ!

 – Thế nào là phong độ?

 – Là có da có thịt hơn tao. Bao nhiêu ký? Được năm mươi không?

 – Cỡ đó.

 – Mẹ kiếp! Vậy là ngon cơm rồi.

  Hắn uống đã khá nhiều, hơi thở dễ làm kẻ khác say khi hít phải. Trước mặt là cái dĩa, lỏng chỏng một hai cây xương nằm trân tráo. Có lẽ hắn gặm, mút món thịt gà bóp rau răm với tiêu muối. Tôi không nhớ là quen thằng chả trong dịp nào. Hắn chẳng phải là kẻ thân thích. Mà cho dẫu là bạn tâm giao, tôi sẽ không đời nào thổ lộ chuyện bạc phước kia ra. Cớ sao hắn biết? Tôi gọi một ly rượu, thứ màu hổ phách giống như hắn đang uống. Rượu thuốc hay rượu hòa với máu rắn, tôi chẳng bận tâm. Tôi không phải là tửu đồ. Thật là buồn cười. Có lẽ đời tôi chỉ có hai dịp để uống rượu: Ngày cưới Tiêu làm vợ, và sau khi vợ bỏ đi mất tiêu.

 – Danh tử giả: Bất dĩ Quân Quốc, bất dĩ Nhật Nguyệt, bất dĩ Sơn Xuyên… Mày biết câu đó không?

  Hắn hỏi. Tôi ngó qua và nhìn thấy những vết xâm xanh tím trên cánh tay để trần của hắn. Những đường nét chẳng tượng hình một vật thể nào cả. Hình như có dạo hắn đã từng qua sống bên Campuchia một thời gian. Và có thể đó là sự khắc ghi những dấu vết của kỷ niệm. Nhàu nát.

 – Không biết. Tôi trả lời sau khi tợp một hơi rượu cay. Tôi chờ đợi sự chuyển biến khởi động từ tốn trong cơ thể. Máu sẽ đón lấy rượu và nó sẽ phản đối chất men bằng nhiều phương cách. Nó diù anh đi lâng lâng, nó trao vào người anh sự can đảm. Hoặc không, nó kéo đầu anh xuống, tròng vào cổ một tảng đá và bắt anh nằm đo chiều dài của quán. Đo dọc, đo ngang, tệ hơn một con chó.

 – Nó có nghĩa như thế này: Đặt tên con, chớ dùng những chữ Quân, Quốc, Nhật, Nguyệt, Sơn, Xuyên… Cớ sao mày lại là Quốc?

 – Có trở ngại gì không?

 – Người ta sợ sau này, rủi con mình lớn lên không xứng đáng với danh xưng thì mang tội với trời đất.

 – Thế nào là xứng đáng? Thế nào là không mang tội với đất trời? Anh vui lòng chỉ mặt một đứa ngon lành cho tôi làm gương. Hán với nôm. Lạc hậu cũng vừa phải thôi!

 – Vô hết cái này đi. Ừ, thì lạc hậu. Có khi lạc hậu nó giúp cho lòng mình được thanh thản.

  Tôi vẫn ngó vết xâm trên tay của hắn. Tôi muốn đoán thử, đó có phải là một lá bùa không? Cớ sao một người như thế lại luôn có tiền bạc rủng rỉnh để nhậu nhẹt tối ngày? Đào đâu ra?

 – Tao kể một chuyện tiếu lâm cho mày nghe nhé. Hắn rung đùi. Giá của câu chuyện chỉ đổi lấy một cốc rượu thôi.

  Tôi đưa tay ra hiệu cho chủ quán. Ông ta mang rượu đến và nhìn xuống kẻ ngồi bên tôi với tia mắt của một ông bố có đứa con gây nhiều lầm lỗi. Một ông thầy ngó thằng học trò có hạnh kiểm xấu, không hồng mà chẳng chuyên!

 – Đêm nào cũng tiếu lâm, ngày nào cũng khôi hài. Thật là lắm chuyện! Nói gì thì nói, chớ có xách mé phản động mà thiu nồi cơm của tao nghe ông thánh. Chừa đường cho người ta làm ăn với cha!

  Hắn không nhìn ông già mà ngó vào ly rượu nhỏ đang xoay bởi hai ngón tay. Trán hắn nhăn nhíu, như thể đang vận dụng để lôi ra một câu chuyện chưa từng kể qua.

 – “Có một thủy thủ yêu nghề, tốn nhiều tiền nhờ người xâm hình bản đồ thế giới trên lưng. Một hôm vì trái gió trở trời, anh ta phải gõ cửa một phòng mạch. Bác sĩ nói:

 – Cởi áo ra. Sao, anh thấy khó chịu ở đâu?

 – Ở Việt-nam.”

  Không một ai cười thành tiếng. Hắn phá sự lặng yên bằng câu hỏi:

 – Mày thì khó chịu ở đâu? Có vả không khi bấy lâu phòng the lạnh ngắt như nước đá?

  Tôi làm thinh. Danh tử giả bất dĩ Quân Quốc… Có thể hắn học mót câu nói ấy từ một cuốn sách in sai. Có thể ba má tôi không am hiểu lời thánh hiền. Dù gì thì tôi vẫn thấy sự có mặt của mình giữa đời sống này là điều không nên. Thật chẳng xứng đáng với công sức mẹ tôi đã rách da xẻ thịt rặn được hòn máu ra khỏi cửa mình.

 – Có con bé này ngó đặng lắm, giá lại bèo. Nếu mày ngứa ngáy máu nóng dồn mặt, tao sẽ cho địa chỉ. Em xâm hình con chim bồ câu trên chỗ con bướm. Hài hòa ngó mê tơi.

  Hắn tả cảnh. Và tôi tự hỏi có phải hắn là một thằng ma cô? Những ly rượu trôi xuống cổ hắn được đánh đổi bằng những rên siết vật vã của mấy đứa con gái lỡ sa chân. Một thằng ma cô. Đó là điều mà tôi cần trong lúc này. Tôi đã hứa với người ta. Tôi đã xài tiền của người ta. Ở đó mà bướm với chim. Không rảnh! Tôi xua đuổi hình ảnh một thằng đàn ông lặn lội đi đánh ghen ra khỏi cái đầu nặng nề. Tôi vác mặt dòm qua bến xe đò, nhìn sự hỗn độn quen thuộc luôn diễn ra ở đó.

 – Anh ưa đi giang hồ với tôi không? Đi Nha-trang.

  Tôi hỏi. Và để làm sáng tỏ, tôi thêm thắt: Mọi thứ thằng Quốc này bao tuốt. Vé xe, chuyện ăn uống, tiền thuê ghế bố để ngủ đêm.

 – Lời đường mật này thật dễ chết ruồi. Để xem… Đến Nha-trang, việc tao phải làm là xách dao rượt thằng tình địch của mày, có đúng không?

 – Không. Việc gì anh phải vất vả như thế?

 – Tạt a-xít hay cầm ống kim mà la toáng lên là đã nhiễm vi trùng xi-đa, bệnh ết?

 – Mọi phương cách ấy có cổ điển không?

 – Vậy sao? Tìm kiểu mới à? Chẳng lẽ đột nhập vào nhà xong tao muối mặt đi hiếp dâm con vợ cũ của mày?

 – Nếu anh muốn. Nếu đối tượng gây cho anh niềm hứng thú cầm lòng không đậu.

  Tôi nói. Máu chạy nhộn nhạo trong cơ thể. Máu dồn về tim và tim co thắt. Tôi chóng mặt, hai bên thái dương lạnh toát. Hắn sẽ hăm hở đè Tiêu xuống giường. Tôi sẽ lặng lẽ bịt mồm nắm tay con bé Lọ lem dẫn độ ra bến xe. Tôi sẽ thêu dệt đủ thứ chuyện để nói xấu người vợ cũ. Tôi sẽ chứng minh cho đứa con gái ấy biết tôi là phe đồng minh và cách tốt hơn hết là cô nên trở về nhà. Tương lai của cô được khởi đi từ đó. Một mái ấm gia đình có bố mẹ trông ngóng cô về để xuất ngoại, đấy là hình ảnh ánh sáng ở cuối đường hầm. Chung sống với một mụ đàn bà thì suốt đời chỉ bắt gặp có một lỗ đen.

 – Thay đổi sự nhàm chán là điều ai cũng trông mong. Đi ngay đêm nay hay bao giờ đi?

  Hắn hỏi. Tôi an lòng khi ngó vết xâm trên tay hắn. Có chút gì cô hồn các đảng toát ra từ người hắn. Sự cầu chứng nọ như nói thầm, hắn sẽ làm được việc. Tôi trả tiền rượu, mua một gói thuốc lá hiệu xịn sản xuất ở England và bước ra ngoài sân. Gió không có nhưng không gian thoáng rộng làm người mình nhẹ hẫng như diều đứt giây. Tôi thắp thuốc, ngửa mặt thở khói. Những vì sao trên cao vẫn cũ kỹ từng đốm sáng, chẳng hao mòn. Chúng chuyên cần hiện hữu để chẳng làm nên trò trống gì. Lãng phí.

  Tôi ném điếu thuốc xuống đất. Gục đầu ói dĩa cơm sườn còn nguyên hình dáng xuống nền xi-măng bầy nhầy tỏa nhiệt. Danh tử giả bất dĩ Quân Quốc… Tiêu ơi, hẹn gặp em ở đêm mai. Anh thật là kẻ không xứng đáng.

  Hồ Đình Nghiêm

Nước Mắt Trước Cơn Mưa 

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc dịch

Post by Sơn râu 20 Jan 2024

WOLF LEHMANN (68-82)
(Phó Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam)
“Đây điện văn cuối cùng của toà Đại Sứ Mỹ ở Sàigòn”

Cuối năm 1974 sau vụ thất thủ Phước Long, toà Đại sứ Mỹ mỗi lúc một thêm lo ngại: Có những dấu hiệu và tin tình báo cho thấy Bắc Việt sẽ mở cuộc tấn công lớn vào đầu năm 1975. Quả nhiên chuyện đó xảy ra.

Một trong những dấu hiệu báo trước là việc phái bộ quân sự Liên Sô viếng thăm Hà Nội. Phái bộ đông đảo này cầm đầu bởi tướng Victor Kulikov, phụ tá Tổng trưởng quốc phòng (sau là Tư lệnh lực lượng Sô Viết ở Âu Châu thuộc khối thoả ước phòng thủ Warsaw). Họ đến Hà Nội khoảng mười ngày trước Lễ Giáng Sinh 1974, ở lại một tuần lễ, lý do bề ngoài là để tham dự ngày Quân Đội Việt Nam. Dù các tin tình báo không đồng nhất, người ta vẫn có thể thấy rõ mục đích chính của phái bộ này đến để hoàn tất những sắp đặt giữa Hà Nội và Mạc Tư Khoa về việc tăng cường súng, đạn và chiến xa. Lúc ấy Trung Hoa đã co lại, nhưng chưa đến mức trầm trọng như sau này.

Cuộc tấn công Ban Mê Thuột vào tháng Ba xảy ra rất bất ngờ. Chiến dịch ấy được che đậy khá chu đáo. Đại khái chúng ta biết, phiá người Việt (miền Nam) cũng biết và cũng đã theo dõi việc Bắc Việt đưa thêm quân vào đường mòn Hồ Chí Minh. Nhưng địa điểm tấn công ở Ban Mê Thuột, thời điểm và sức mãnh liệt của cuộc tấn công này là một ngạc nhiên lớn. Người ta vẫn tin các cuộc tấn công sẽ xảy ra ở Pleiku hay Kontum, chứ không phải ở Ban Mê Thuột.

Đầu năm ấy, việc phái đoàn quốc hội tới viếng Sàigòn cũng mang đến thêm những phản ứng nhiều mầu sắc. Phil Habib tháp tùng phái đoàn . Hai thành viên đến trước vào ngày thứ hai 29 tháng Hai là dân biểu Mc Closkey và thượng nghị sĩ Barlett. Các trò múa rối xảy ra ngay khi họ bước chân tới phi trường. Các phóng viên vây lấy họ, rồi cự nự tôi ngăn chận không cho báo chí tiếp xúc phái đoàn. Điều ấy không đúng. Chính phủ Nam Việt Nam chỉ không muốn báo chí ùa ra thềm máy bay. Họ muốn báo chí đợi ở phòng khách danh dự rồi sẽ mời phái đoàn quốc hội đến đấy.

Một số thành viên tới sau. Họ tới lúc 10 giờ sáng ngày 27 tháng Hai, gồm những tên tuổi lẫy lừng như Bella Abzug, Millicent Fenwick, dân biểu Don Fraser ở Minnesota. Trưởng phái đoàn là John Flynt, dân biểu Georgia. Họ đến thăm Việt Nam, thực hiện một chuyến thăm viếng phụ ở Cam Bốt rồi tất cả trở về Mỹ chiều chủ nhật mùng 2 tháng Ba. Đại sứ Martin cùng về Mỹ với phái đoàn vào ngày hôm ấy. Tôi biết Mc Closkey. Cũng như vài người nữa trong phái đoàn, ông ta thích quan trọng hoá các vấn đề. Còn mấy người kia, điển hình là Fraser và Abzug, chuyến viếng thăm này đối với họ giản dị chỉ là cơ hội để thổi phồng phong trào chống Việt Nam tại Hoa kỳ. Người ta thấy các phụ tá của họ xuất hiện rất sớm để lo liệu những buổi hội họp có sắp đặt với những người được gọi là “chống đối”. Còn bà Abzug thì chụp bất cứ cơ hội nào để làm mất mặt chính phủ Nam Việt Nam và toà Đại Sứ chúng tôi. Theo chương trình ấn định, buổi tối trước hôm phái đoàn về Mỹ, chúng tôi thu xếp cho phái đoàn tiếp xúc với các người Mỹ không thuộc toà Đại Sứ: Nhân viên cơ quan thiện nguyện, các thương gia v.v… Tôi mời tại nhà riêng. Tối ấy nổ ra vụ to tiếng giữa tôi và Mc Closkey vì ông ta và những người khác trong phái đoàn không ngớt nói chuyện Nam Việt Nam vi phạm Nhân Quyền.

Nam Việt Nam vi phạm nhân quyền vì đã bỏ tù những tên khủng bố đặt bom, thế là vi phạm nhân quyền. Ông ta và tôi cãi cọ gay go. Ông ta doạ sẽ gọi tôi ra trước ủy ban của ông ta. Tôi bảo: “Được lắm, cứ việc”. Nhưng sau đó không bao giờ thấy ông ta nhắc chuyện ấy nữa. Ông ta là loại người đồng bóng, nóng lạnh thất thường.

Gửi phái đoàn quốc hội sang Việt Nam nguyên là hảo ý của Hoa Thịnh Đốn trong cố gắng cuối cùng nhằm tìm kiếm những hỗ trợ của quốc hội cho Việt Nam. Kết quả đi ngược. Với một phái đoàn gồm những người chỉ muốn triệt hạ Nam Việt Nam như Fraser và Abzug, làm sao có cơ hội nữa.

Từ trước tôi chưa bao giờ từng gặp Abzug, sau này tôi cũng hy vọng chẳng bao giờ phải gặp lại bà ta. Bà này không phải tay thường. Bà là tín đồ tả phái. Đối với bà ấy phe tả chẳng bao giờ có thể sai lầm, cộng sản thì phải khá hơn mọi giải pháp khác. Tôi không thế nào hiểu được loại người như vậy. Bà ta là loại người như thế.

Một việc lớn chuyện đối với họ là việc đi thăm tù, đi thăm những tù nhân chính trị bị giam giữ bởi chế độ đàn áp Nguyễn Văn Thiệu. Trong lúc Bắc Việt tăng cường nỗ lực tiến chiếm cả nước, không ai đếm xỉa, họ lại đòi đi thăm cái gọi là tù nhân chính trị.

Chúng tôi đã thuyết phục phía Việt Nam cho họ làm chuyện ấy. Tôi khá bối rối, nhưng vẫn yêu cầu phía Việt Nam vui lòng cho họ đi. Đương nhiên, những kẻ gọi là tù nhân chính trị đều là các cán bộ cộng sản. Nhưng chúng tôi vẫn thuyết phục phía Việt Nam cho những người này được gặp gỡ nói chuyện riêng với phái đoàn. Xin thưa: tôi không hề nói người Việt Nam không đánh đập tù nhân – ở Nữu Ước, cảnh sát cũng vậy thôi. Tôi không nói thế. Nhưng bảo rằng họ hành hạ tù nhân, tra tấn dã man thì điều ấy thực vô nghĩa lý.

Khi đại sứ Martin cùng về Hoa Thịnh Đốn với phái đoàn, tôi xử lý công việc toà Đại Sứ cho đến hết tháng. Lại một lần nữa người Bắc Việt biết rõ mọi chuyện xảy ra. Họ biết chúng ta làm gì. Ngay trước khi phái đoàn quốc hội đến, họ ngưng các chiến dịch nặng. Đến khoảng mùng 7, mùng 8 tháng ba họ tiếp tục. Họ đã giữ im lìm suốt trong thời gian phái đoàn quốc hội đến đây.

Ngày thứ sáu 14 tháng Ba, Tổng thống Thiệu ra Cam Ranh họp với tướng Phú. Lúc đó ông đã quyết định bỏ cao nguyên rồi.

Ngày thứ bảy 15 tháng Ba, chín giờ sáng, tôi có hẹn với ông Thiệu để chuyển cho ông một bức điện văn mà tôi không nhớ rõ của Đại Sứ Martin hay của Tổng thống Hoa Kỳ. Trong lúc thảo luận tình hình, ông Thiệu không trực tiếp nói đến quyết định của ông, nhưng chỉ úp mở đề cập. Ông nói bóng gió rằng ông nghĩ cao nguyên trung phần không còn giữ nổi. Nghe thế tôi hoảng sợ vội về lại văn phòng. Liền đấy Tổng lãnh sự Moncrieff Spear ở Nha Trang điện thoại xác nhận quyết định bỏ Pleiku và Kontum. Lát sau, trưởng nhiệm sở Trung Ương tình báo Tom Polgar bước vào cũng cho biết quyết định đã được thực hiện rồi.

Trước tình thế ấy, nhiều chuyện dồn dập phải đối phó. Tôi chỉ thị cho Tổng lãnh sự Spear xúc tiến ngay việc di tản người Mỹ và các nhân viên Việt Nam ở Pleiku và Kontum. Tôi chỉ thị George Jacobson tiến hành các phương tiện hàng không thiết yếu, dành ưu tiên việc xử dụng các máy bay Air America. Sau đó, tôi gửi điện báo cáo bộ ngoại giao về các chỉ thị đã ban hành và tất cả phải được hoàn tất vào tối hôm ấy.

Cuộc triệt thoái cao nguyên trở thành thảm hoạ vì một vài lý do. Lý do thứ nhất: không có kế hoạch, mệnh lệnh đưa ra quá nhanh, quy định hôm thứ sáu rồi thực hiện ngay lập tức. Lý do thứ hai: con đường 7B tình trạng quá xấu. Và ưu thế quân sự đã đặt ở bên đối phương: Quân đội Bắc Việt được tổ chức và điều động cực kỳ hữu hiệu. Chúng ta không nói du kích chiến, chúng ta đang nói chiến tranh với lực lượng chính quy. Di động tính của họ cao. Khả năng truyền thông của họ tuyệt vời. Họ khám phá được rất nhanh những gì đang xảy ra. Họ có thể phản ứng mau và làm cho các nỗ lực rút quân từ Pleiku và Kontum trở nên lúng túng. Trưa ngày thứ năm kế đấy nhằm 20 tháng Ba, lúc 4 giờ 50, tôi có thảo luận chi tiết hơn với ông Thiệu về các quyết định. Lúc ấy ông giải thích với tôi các lý do. Rồi bất ngờ và rất minh bạch, ông ta báo cho tôi biết thêm các quyết định kế tiếp về quân khu I. Ông tỏ ra lo buồn vì cuộc triệt thoái Kontum và Pleiku quá xấu. Ông rất bực bội. Không trách được, trong hoạt động quân sự, triệt thoái luôn luôn là một công tác khó khăn.

Chúng tôi đều thấy trước sự sụp đổ. Đến lúc bấy giờ hiển nhiên không một ai có thể tin quốc gia này sống sót được nữa.

Ông Thiệu không hề tham khảo ý kiến chúng tôi về các quyết định chiến lược ấy, nguyên do là thấy bị bỏ rơi. Chúng ta đã dứt điểm mọi trợ giúp, chúng ta đã cắt viện trợ kinh tế. Chúng ta sỉ nhục ông với những trò khốn kiếp của phái đoàn quốc hội. Ông còn sự lựa chọn nào nữa ngoài việc trở lại một giải pháp cũ: Giải pháp cắt đất. Giải pháp này trước kia đã được đề ra bởi một cố vấn người Úc là Ted Serong.

Trong lúc tình thế tiếp tục mỗi lúc một xấu, tôi đều đặn liên lạc Hoa Thịnh Đốn qua các phương tiện truyền thông bình thường. Chúng tôi chuyển các nhân viên ở Huế vào Đà Nẵng, không để họ ngủ đêm ngoài ấy, nhưng ban ngày chúng tôi vẫn đưa họ ra Huế làm việc. Chừng nào người Việt còn ở ngoài ấy, chúng tôi còn muốn duy trì sự hiện diện nhân viên chúng tôi. Ban ngày từ Đà Nẵng chúng tôi cho trực thăng đưa họ ra các nhiệm sở ở Huế. Cứ như thế cho tới khi Huế thất thủ.

Chiều 27 tháng Ba, chúng tôi biết phi trường Đà Nẵng đã mất kiểm soát. Tôi đến ngay Bộ Chỉ Huy liên quân tìm gặp Thủ tướng chính phủ, nhờ ông liên lạc tướng Ngô Quang Trưởng xem ông Trưởng có thể điều động quân đội kiểm soát lại phi trường không. Trong lúc ở đấy, Thủ tướng dùng điện đài nói chuyện với ông Trưởng bằng tiếng Việt, tôi không hiểu hết nội dung, nhưng chủ yếu Thủ tướng nói với tôi rằng ông Trưởng sẽ cố gắng. Đó là chiều thứ năm, 27 tháng 3 năm 1975.

Tôi trở về toà đại sứ làm việc đến khuya. Ngủ được vài giờ. Đến 3 giờ sáng, tướng Weyand và Đại sứ Martin đến, tôi ra phi trường đón. Suốt hôm thứ sáu 28, chúng tôi phải lo những vụ di tản cuối cùng ở Đà Nẵng.

Hôm ấy, có lúc đã mất liên lạc với AI Francis, tổng lãnh sự Đà Nẵng. Một số nhân viên của ông ta ra được một chiếc tầu, nhưng họ không biết ông lãnh sự ở đâu. Sau chúng tôi tìm ra ông ở trên một chiếc tầu chiến Việt Nam, tôi dùng điện đài gọi các nhân viên của ông báo cho họ biết là cứ đi, đừng lo lắng gì về Francis nữa.

Vậy là chúng tôi đã đưa người ở Đà Nẵng di tản. Còn Ed Daly lúc đầu cũng đưa người ở Đà Nẵng đi nhưng ông ta tạo nhiều phiền phức quá. Sự thực, nhiều lúc ông ta thiếu điềm tĩnh. Tôi nghĩ ai cũng biết điều đó. Ông ta hay vung vẩy súng ống lung tung. Vài ngày đầu không sao, ông ta làm việc trong khuôn khổ với người khác thì mọi sự tốt đẹp thôi. Nhưng tình hình Đà Nẵng mỗi lúc một xấu, thường xuyên liên lạc với AI Francis tôi biết phi trường không còn kiểm soát được nữa, người tràn ngập, không còn có thể đem máy bay ra, thì đó là lúc Ed Daly gây tai hoạ. Họ tự ý cất cánh bay đi Đà Nẵng không phép tắc. Họ đáp xuống ổn thoả. Họ đưa được người vào tầu, họ mang được người ra, nhưng họ đã giết chết khối người trên phi đạo.

Phía Việt Nam gọi điện thoại cho tôi từ phi trường rất giận dữ. Họ bảo tôi là Daly cất cánh không có phép. Tôi liên lạc với Francis, lúc ấy hãy còn liên lạc được với ông ta ở Đà Nẵng. Tôi nói Daly cho ba chiếc máy bay cất cánh rồi. Tôi nhớ Francis đã than: “Cứt thiệt”. Ông ta biết phi trường không sử dụng được nữa. Lúc đó ông ta đang cố gắng tuyệt vọng để sử dụng bất cứ phương tiện nào khác còn lại ở hải cảng như tầu bè, các thứ xà lan.

Đối với Daly bên hàng không World Airways, chừng nào họ làm việc theo đúng khuôn khổ, tôi nghĩ sẽ không có vấn đề gì với họ. Nếu họ đã cung cấp cho máy bay, việc này cũng tốt thôi. Còn hành động tuyệt đối vô trách nhiệm như thế, đáng lẽ không nên để xảy ra.

Vụ chuyển vận trẻ con lại là một chuyện khác. Đây là một công tác có tổ chức – trước chúng tôi không nhìn nhận, nhưng nay có thể nói thực ra là: Trên vài mức độ, chúng tôi đã dùng công tác này để bắt đầu di tản các phụ nữ Mỹ kiều. Xảy ra vụ chiếc máy bay C-5A bị rớt là giây phút đen tối đáng buồn nhất đời tôi.

Việc ấy xảy ra ngày 4 tháng Tư, có người của chúng tôi trong ấy. Chúng tôi cho người di tản đi với lý do trông coi trẻ con – mặc dù không cần đông như vậy, nhưng chúng tôi phải sử dụng biện pháp này để tránh nói đến chuyện di tản. Chiếc máy bay C-5A cất cánh, gặp tai nạn khủng khiếp, tự nó cũng là một câu chuyện. Tôi nhận được điện thoại báo tin tai nạn xảy ra, và họ báo rằng tất cả trực thăng của Air America còn sử dụng được đều mang đi tiếp cứu. Lập tức, chúng tôi phải đối phó nhiều việc. Không phải chỉ là việc tiếp cứu nạn nhân, còn là việc đương đầu với các hậu quả chính trị nữa. Với loại tai nạn này, chúng tôi không muốn các tướng lãnh Không Quân ở Hoa Thịnh Đốn kêu ầm lên rằng đây là do khủng bố của đối phương phá hoại. Chính họ đã kêu lên như thế. Luận điệu này chỉ gây rối loạn, cho nên lời công bố đầu tiên của chúng tôi là bác bỏ luận điệu ấy, sau đó sự thực cũng chứng tỏ đúng như vậy thôi.

Tai nạn xảy ra chỉ do khuyết điểm máy móc trục trặc, hoặc lỗi nhân viên phi hành, tôi không rõ đích xác cái nào. Một trong những cánh cửa sau đã không gài cẩn thận, bị bay tung ra làm phi cơ mất thăng bằng, phi công không điều khiển được nữa. Anh ta đã cố gắng rất khá để đáp bằng bụng xuống mặt ruộng, nhưng kết quả những người ngồi tầng dưới thiệt mạng, những người ngồi tầng trên sống sót. Chúng tôi không thể xem vụ này là hành động phá hoại hay khủng bố của đối phương. Không phải thế.

Vì vậy tôi đã điện thoại cho toà Bạch ốc để dẹp luận điệu vô nghĩa này. Phía không quân xem chiếc máy bay C-5A là một món đồ chơi yêu thích, họ không thể chấp nhận được rằng có thể có trục trặc do máy móc, hoặc do lỗi phi hành đoàn.

Nhưng sau cùng chúng tôi đã lo được vụ này khá nhanh chóng. Chúng tôi đã khép miệng họ. Chúng tôi bảo sẽ có cuộc điều tra, nhưng không có dấu hiệu nào về hành động phá hoại cả. Không có chuyện ấy. Vậy là kiểm soát xong nội vụ.

Ngày 26 tháng Ba, tôi gửi điện văn yêu cầu Hoa Thịnh Đốn chấp nhận cho chúng tôi được sử dụng quyền khẩn cấp tại Sàigòn để chở các gia đình, quyến thuộc, của cải vật dụng của họ. Hoa Thịnh Đốn không trả lời điện văn này. Họ không muốn ủy cho viên chức địa phương thẩm quyền này, vì liên hệ đến sự sử dụng ngân khoản. Nhiều câu hỏi về các thủ tục hành chánh đã được nêu ra, nhưng không bao giờ được giải quyết. Dẫu sao, tôi đã đưa những thỉnh cầu rất sớm, ngay từ lúc ấy.

Tôi có thể xác định thời điểm di tản bất đầu từ vụ chuyển vận trẻ em, vì lẽ vụ ấy được sử dụng cho mục đích di tản. Như thế, trái với điều nhiều người thường cho rằng mãi đến đầu tháng Tư chúng tôi mới bắt đầu chương trình di tản, thật ra chúng tôi bắt đầu ngay từ cuối tháng Ba.

Việc này quý vị thấy cũng nêu lên nhiều vấn đề: Chúng ta không thể đưa người ngoại quốc nhập nội Hoa Kỳ bằng cách cứ cho họ vào phi cơ rồi bay vào Mỹ. Trong thực tế, mãi đến ngày 25 tháng Tư chúng tôi mới thực sự nhận được thẩm quyền chính thức để đưa người Việt vào Hoa Kỳ.

Rút cuộc chúng tôi vẫn đã tìm cách đưa được họ vào Guam và vào vịnh Subic. Vào Subic là cả một vấn đề. Đây không phải lãnh thổ Hoa Kỳ. Đây là đất Phi Luật Tân. Người Phi không muốn người khác cứ chở người ngoại quốc vào đất nước họ. Vậy mà chúng tôi đã làm được chuyện ấy. Chúng tôi cũng đã đưa người sang Guam, dù không biết sau đó phải xoay sở thế nào, vì lẽ mãi đến 25 tháng Tư chúng tôi mới có quyền chính thức, và quyền ấy là được chở bằng tầu trong giới hạn 35,000 người Việt nhập nội Hoa Kỳ. Nhưng chúng tôi đã đem vào đến 135,000 người. Ngày 4 tháng Tư chúng tôi bắt đầu cố gắng cắt giảm con số người Mỹ. Chúng tôi có thể kiểm soát được những nhân viên sứ quán, nhân viên chính phủ Mỹ và thân nhân của họ. Chúng tôi có thể bảo họ rời đi. Nhưng còn biết bao nhiêu người Mỹ khác nữa? Sau những năm tháng ở xứ ấy, có hàng ngàn người không phải là nhân viên chính phủ, họ là các nhà thầu, những người buôn bán tư, những ông già hồi hưu .. Nhiều người, gồm cả các nhà thầu, những người hồi hưu đã lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái, lập gia đình không hôn thú với người Việt. Nên người ta có đủ thứ: vợ chồng con cái, cha mẹ, anh em ruột, anh em họ, chị em ruột… Cứ trung bình con số một gia đình Việt Nam là bảy người, quý vị sẽ thấy vấn đề của chúng tôi như thế nào? Khủng khiếp. Chúng tôi không có quyền chở hết những người này đi, nhưng nếu không chở toàn bộ gia đình họ, họ không chịu đi. Vì vậy chúng tôi phải uyển chuyển tìm ra các cách thức và phương tiện, thành thực mà nói, đôi khi bất hợp pháp, để giải quyết vấn đề. Nếu phân loại con số những người Việt có thể bị hiểm nguy đe doạ thì con số ấy vô tận. Trước hết, chỉ nói về những nhân viên trực tiếp, thì đã phải phân loại ra nhiều ưu tiên – chúng tôi phải lo ngay cho các người làm việc ở DAO (văn phòng tùy viên quân sự) và trong thực tế chúng tôi đã đưa một số người ấy đi rất sớm.

Rồi đến các viên chức chính quyền, những quân nhân đặc biệt liên hệ chặt chẽ với chúng ta. Rồi đến các thân nhân người Mỹ. Rồi lại có những người – ví dụ các thủ lãnh nghiệp đoàn. Vì vậy chúng tôi đã phải phân chia trách nhiệm ra nhiều phần trong chương trình di tản. Văn phòng tùy viên quân sự phụ trách việc đưa các quân nhân – văn phòng tùy viên lao động lo cho người trong lãnh vực lao động. Chúng tôi phân công như thế. Nếu nói chúng tôi không có kế hoạch thì không đúng. Còn nếu nói chúng tôi đã bỏ sót người thì vâng, hoàn toàn đúng. Chúng tôi có kế hoạch và có một hệ thống làm việc, nhưng một lần nữa xin nhắc lại lúc ấy chúng tôi vẫn chưa có thẩm quyền chuyển người đi.

Ngoài ra, còn một vấn đề khác nữa: Chúng tôi không được đưa các công dân Việt Nam ra khỏi nước mà không có sự cho phép của chính phủ Việt Nam. Chúng tôi đang thực hiện nhiều tác vụ. Ý thức được là giờ kết thúc sắp đến chúng tôi lại phải cố giữ cho chính quyền Việt Nam tiếp tục hoạt động. Phải giữ được trật tự. Phải phòng ngừa tình trạng hỗn loạn xảy ra. Vì thế trong lúc cho người di tản chúng tôi vẫn cứ phải tiếp tục nói rằng không có chuyện di tản. Đại sứ Martin và tất cả chúng tôi phải giữ mọi thứ nguyên trạng, các hình ảnh vẫn treo ngay ngắn trên tường, nếu chúng tôi động đậy gì thì người ta sẽ kêu ầm lên “Trời đất, ông Phó Đại Sứ đã sửa soạn hành lý rồi”, tin tức sẽ bắn ra như lửa cháy. Đó, lý do tại sao chúng tôi đã bỏ lại hết mọi tư trang vật dụng. Có trời mới biết sau đó ai đã hưởng các của cải ấy, hy vọng là những người làm của chúng tôi được hưởng. Lúc ấy chúng tôi đưa người ra bằng những chuyến bay C-130 và các chuyến bay thương mại, nhưng cứ mỗi lần có người ở Hoa Thịnh Đốn nói gì đến chữ “di tản” là tôi lại phải bốc điện thoại kêu lên: xin ngưng lại, đừng nói gì chuyện ấy cả. Các đường giây liên lạc với Hoa Thịnh Đốn xấu tốt bất thường, nhưng mỗi lần có việc khẩn cấp cần thực hiện ngay, tôi lại phải chụp điện thoại gọi nhân viên Bạch ốc. Ví dụ một lần bỗng cơ quan hàng không Liên Bang ở Honolulu không hề tham khảo ý kiến ai, họ tự tiện công bố là phi trường Tân Sơn Nhứt không còn an toàn cho máy bay thương mại đáp xuống. Lúc ấy tôi đang cố giữ chân hãng PAN AM tiếp tục bay để chúng tôi có thể sử dụng các máy bay thương mại. Như vậy phải lật ngược quyết định ấy, mà gọi Bộ Ngoại Giao không xong, vì phải chờ đến cuộc họp ngày hôm sau. Trường hợp ấy, tôi đã bốc điện thoại gọi toà Bạch ốc bảo là “Xin quý vị ra lệnh cho mấy tên khốn hủy ngay chuyện ấy đi.” Tôi thực hiện việc ấy chỉ trong vòng bốn tiếng đồng hồ. Trong loại công việc này người ta phải vận chuyển nhanh chóng. Có khi đường giây điện thoại rất tốt, nhưng gặp những trường hợp thật eo hẹp, lại phải giả lờ đi không gọi!

Chúng tôi không có thời biểu. Chương trình tổng quát của cuộc di tản cần vận dụng tất cả: Ưu tiên một, sử dụng máy bay thương mại càng lâu càng tốt; Ưu tiên hai: sử dụng phi cơ quân đội càng lâu càng tốt; cuối cùng mới tới kế hoạch bốn của chương trình là chiến dịch “Gió Cuốn” (Frequent Wind), sử dụng trực thăng vận. Trên căn bản, chúng tôi đã áp dụng đúng chương trình ấy, và đã cho máy bay C-130 liên tiếp bay tới bay lui đến Guam và vịnh Subic.

Các máy bay C-130 luôn luôn đầy ắp. Nhưng máy bay thương mại thì khác. Danh sách giữ chỗ nhiều hơn, nhưng khi bay, hành khách không đến đầy đủ: phần lớn họ là người Việt không lấy được giấy phép xuất cảnh, hoặc tự đổi ý không đi. Dù vậy khi cộng lại, chúng tôi cũng đã di tản được 135,000 người. Về con số đó, một nửa chúng tôi đã mang ra bằng máy bay thương mại, phi cơ quân đội, trực thăng và một số xà lan trên sông Sàigòn. Đa số nửa còn lại đưa ra được bằng tầu, nhưng chúng tôi không trực tiếp đưa đi, chúng tôi vớt họ bằng hạm đội ở bên ngoài.

Chúng tôi đã di tản không sót một người Mỹ nào trong xứ, nhân tiện cũng đưa ra rất nhiều người ngoại quốc khác, thêm vào số người Việt chúng tôi mang ra. Một số đã rời từ sớm, số còn lại chúng tôi đưa đi vào ngày cuối cùng. Chúng tôi đã mang ra không sót một người Mỹ nào, ngoại trừ những người tự ý không muốn đi.

Về việc này cũng có khối chuyện để kể. Trong số những người Mỹ chúng tôi mang ra, có bảy tù nhân bị giam trong các nhà tù Việt Nam với những tội phạm khác nhau, kể cả hiếp dâm, giết người. Phía người Việt đã trao họ cho chúng tôi qua các lãnh sự vào vài ngày trước. Sáu người trong bọn họ được báo cáo trình diện ở các địa điểm di tản, và chúng tôi đã mang họ ra. Tôi đoán là giờ này qúy ông ấy đang đi phá làng phá xóm đâu đây ở xứ Mỹ này. Một người quyết định ở lại và đã biến mất. Người này không phải là người duy nhất. Còn một người nữa tự nguyện ở lại, đi ra Bắc. Người này thuộc Ủy Ban hữu nghị Mỹ Việt, họ là những người bạn trung thành với Bắc Việt. Vào lúc sắp di tản ông ta nhảy qua tường, biến mất với các bạn bè của ông ta. Một năm rưỡi sau, ông ta xuất hiện. Tôi nhớ có một bài báo trên tờ Newsweek viết là ông ta đã “kinh ngạc ghê gớm” khi khám phá rằng ông ta đã giao dịch với cộng sản! Tôi nghĩ câu chuyện này thực đáng buồn cười.

Có một việc chúng tôi phải quan tâm và luôn luôn cân nhắc, đó là việc quân đội miền Nam có thể quay ra chống lại chúng tôi. Sau này chúng tôi đã bị chỉ trích nặng nề về việc đã cố giữ cho guồng máy cầm quyền của Việt Nam tiếp tục hoạt động. Nhưng chúng tôi không có quân lực trong xứ. Chúng tôi không có phương tiện thực hiện ý định. Chúng tôi cần phải giữ guồng máy cầm quyền Việt Nam cộng tác với chúng tôi. Chúng tôi phải ngăn ngừa tình trạng các thường dân hốt hoảng có thể gây rối loạn cho cuộc di tản. Sau nữa, chúng tôi đã khá lo ngại khi nghe một số chỉ huy quân đội bảo rằng: “Nếu chúng tôi sụp đổ thì các ông cũng sụp đổ với chúng tôi. Chúng tôi sẽ chặn các ông lại.”

Đúng thế. Tin tình báo cho biết ít nhất có một viên chỉ huy các đơn vị quan hệ đã có ý định ấy. Chúng tôi đối diện khá gần gũi với cái viễn tượng là toàn bộ kế hoạch có thể tiêu tan nếu xảy ra hiểm nguy này. Phải suy nghĩ đến chuyện ấy thực là một điều kinh khủng. Chính điều này đã tác động và ảnh hưởng lên tất cả những hoạt động của chúng tôi. Nó làm cho mọi thứ trở nên có vẻ như vô trật tự, nhưng sự thực nó không đến nỗi vô trật tự như thế, hoặc như người ta đã chỉ trích.

Vào những ngày 25 và 26 nhằm thứ sáu và thứ bẩy, mặt trận đột nhiên lắng dịu. Quân đội Bắc Việt có vẻ đã ngưng các chiến dịch tiến công. Tôi cố tìm hiểu. Có hai lý do có thể xảy ra. Một là, phải chăng đây chỉ hoàn toàn có tính cách quân sự: Họ đang tập trung quân và tái phối trí? Sau này tôi nghĩ đúng như vậy. Hai là, tuy nhiên vẫn có thể họ đã dừng lại sau khi đã tiến sát đến thành phố – Rồi đưa ra một chính phủ liên hiệp như họ vẫn tuyên bố, mặc dù đây chỉ là một mánh lới thuần túy tuyên truyền.

Trái hẳn điều người ta nói, tôi chưa từng bao giờ mong mỏi một chính phủ liên hiệp. Trong thực tế, tôi ao ước điều ấy đừng bao giờ xảy ra. Nếu Hà Nội thực hiện điều ấy, sau này chắc chắn sẽ có những kêu gọi rầm rĩ đòi yêu cầu yểm trợ chính phủ liên hiệp mới, mà giản dị chính phủ này chẳng có giá trị gì hơn một bộ mặt ngoài.

Cho nên thành thật mà nói, tôi mong Bắc quân cứ dẫm nát Sàigòn với xe tăng, đại pháo, với quân lực cơ giới như họ đã làm, để ít nhất mọi sự được rõ ràng, việc gì đã xảy ra. Vài người phê bình toà Đại Sứ tự đánh lừa mình về việc tin sẽ có chính phủ liên hiệp. Chúng tôi quả đã chuẩn bị kế hoạch là nếu trong trường hợp có chính phủ liên hiệp, có lẽ chúng tôi sẽ để lại một số ít nhân viên. Chính tôi có thể sẽ ở lại giữ nhiệm vụ cùng với chừng nửa tá nhân viên nữa. Nhưng những người này dẫu sao vẫn là những người ra đi cuối cùng – việc này chẳng liên hệ gì tới kế hoạch di tản của chúng tôi cả.

Tôi nghĩ chúng ta sẽ không bao giờ được biết rõ Hà Nội có quả thật dự tính chuyện chính phủ Liên Hiệp hay không, trừ phi chúng ta có thể vào văn khố Hà Nội. Nhưng khi chúng ta có thể làm được việc ấy, chắc tôi và qúy vị cũng không còn nữa. (1)

Nhìn lại chuyện cũ, tôi nghĩ đó chỉ là quyết định quân sự khi họ giữ êm hai ngày thứ sáu và thứ bảy. Ngày chủ nhật, tương đối cũng êm. Suốt cuối tuần ấy chúng tôi tiếp tục vận chuyển người đi bằng C-130. Đến chiều chủ nhật lúc 6 giờ, vụ oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất bắt đầu xảy ra. Vào giờ ấy tôi đang ở trong phòng làm việc. Có người vào báo mấy chuyến xe buýt chở người Việt ra phi trường đang bị ngưng trệ vì lính gác kêu mệt, đòi đi ăn. Người ta yêu cầu tôi ra giải quyết.

Tôi rời văn phòng băng qua khu hồ tắm, nơi tiến hành những vụ chuyển vận, để xem việc gì xảy ra. Đúng lúc tôi đến, Tân Sơn Nhất bị oanh tạc. Tôi thấy rõ những chiếc máy bay thả bom bay qua mái nhà. Súng phòng không bắn lên, các xạ thủ trong sân toà đại sứ cũng nhả đạn. Trời biết họ bắn cái gì, mấy chiếc máy bay đâu có gần đến thế. Mọi người khiếp đảm, lính thủy quân lục chiến có hơi bị kích động, họ quá quan tâm về sự an toàn của mọi người nên đã dồn tất cả mọi người vào khu nhà ăn, kể cả tôi. Họ rất quan tâm về sự an toàn của tôi, với tư cách Phó Đại Sứ, điều ấy thực đáng cảm động, nhưng có hơi quá đáng một chút. Đừng quên tôi là cựu chiến binh. Tôi đã từng lãnh đạn của các tay đại chuyên viên trong nghề binh lửa vào thời đệ nhị thế chiến. Tôi biết có biến cố đang xảy ra, phải tạm hoãn việc đưa người cho đến khi nắm vững tình hình. Vì vậy tôi quay lại văn phòng, trong lúc tôi đang đi – thì đây là câu chuyện nổi tiếng về cái cây mà chắc quý vị đã từng nghe nói – tôi đi ngang qua cái cây me to lớn, một cây me rất đẹp mọc ở trong sân, tôi thấy một cậu ong biển (2) đang dùng rìu chặt cái cây này. Bấy giờ chúng tôi đều biết khi nào tiến hành trực thăng vận ở sân toà đại sứ, chúng tôi phải hạ cái cây, nhưng cái cây này ai đi ở ngoài đường cũng thấy. Vì vậy tôi vào sảnh đường, bảo nhân viên an ninh ra nói người lính dừng tay. Tôi bảo: “Mang cưa máy và dụng cụ chặt cây cho anh ta. Nhưng bảo đừng làm gì vội cho đến khi có lệnh. Chúng ta không muốn xảy ra tình trạng rối loạn.” Cái cây này không phải là một biểu tượng gì của Đại sứ Graham Martin, tôi nghĩ ông không hay biết gì chuyện này cả. Tôi trở về văn phòng, quên bẵng chuyện cái cây, nhưng tôi biết sẽ phải hạ cái cây khi tiến hành công tác. Tôi biết sẽ phải bắt đầu xử dụng trực thăng vận. Tôi biết rõ tình hình đang xảy ra như thế nào. Sau đó tôi nghe nói có người tiếp tục ra sức chặt nữa, nhưng tôi không quan tâm. Sáng hôm sau, cái cây ấy vẫn còn đứng sừng sững ở đấy. Khi bắt đầu quyết định sử dụng trực thăng vận, một trong những câu đầu tiên tôi nói với các nhân viên hành chánh là: “nào, bây giờ ra bảo họ hạ cái cây xuống.” Cái cây được hạ vài tiếng đồng hồ trước khi trực thăng tới.

Chiến dịch trực thăng vận từ sân toà đại sứ là một công tác khó khăn vì lẽ xung quanh đều có tường. Các phi công gặp nhiều khó khăn vì phải tránh né bức tường ấy.

Nhưng dù sao chúng tôi đã phải lập tức xúc tiến mọi việc, tìm hiểu xem việc gì xảy ra ở phi trường Tân Sơn Nhất. Chúng tôi được văn phòng tùy viên quân sự ở tại hiện trường cho biết có oanh tạc. Đường bay bị nhiều hư hại, chúng tôi không thể tiếp tục chuyển vận bằng máy bay C-130 được nữa.

Đại sứ Martin và tôi ở lại làm việc cho đến nửa đêm mới quyết định về nhà chợp mắt vài giờ. Nhân viên ở lại làm việc suốt đêm. Họ phải hoàn tất các lộ trình xe buýt để bốc người vào ngày hôm sau trong trường hợp sử dụng trực thăng vận. Các xe buýt thuộc về cơ quan Hoa Kỳ phát triển quốc tế (USAID) – còn tài xế là nhân viên toà Đại sứ. Họ không rành lái xe buýt, đúng vậy, nhưng họ đã làm phận sự một cách tốt đẹp.

Vì biết hôm sau phải làm nhiều quyết định quan hệ sống chết, chúng tôi về ngủ trong khi các nhân viên ở lại lo liệu nốt các vấn đề chi tiết. Về được đến nhà tôi nghĩ đã hai giờ sáng. Không ngủ được nhiều. Chỉ lơ mơ một chặp thì nghe tiếng nổ dữ dội ở phía Tân Sơn Nhất lúc bốn giờ sáng, hoặc sau đó một chút. Mười lăm phút sau, điện thoại cho biết trụ sở văn phòng tùy viên quân sự bị pháo, hai lính thủy quân lục chiến thiệt mạng. Vì vậy lúc sau, có lẽ khoảng năm giờ rưỡi tôi trở lại sảnh đường toà Đại sứ. Ánh sáng ban ngày vừa ửng, mọi người đã tề tựu, ông đại sứ dùng xe đi ra Tân Sơn Nhất nói chuyện với tướng Homer Smith thuộc văn phòng tùy viên quân sự, và để xem xét tại chỗ: có nên tiếp tục sử dụng máy bay C-130, hay phải bắt đầu sử dụng kế hoạch số Bốn. Đại sứ Graham Martin muốn đích thân lượng giá trước khi ban hành cái quyết định tối hậu. Khi trở lại, ông điện thoại cho Hoa Thịnh Đốn. Đấy là lúc quyết định được ban ra.

Tôi nghe nói ông đại sứ đang điện thoại cho Hoa Thịnh Đốn. Có một nhân viên nữa cùng với ông, ở một máy điện thoại khác. Người này bước ra khỏi phòng đại sứ, vào phòng tôi, nói “Đến lúc rồi.”

Tôi vào phòng Martin, bảo: “Tôi được báo cáo là đã đến lúc. Chúng ta sẽ sang kế hoạch số bốn “Frequent wind”, di tản bằng trực thăng”. Ông đại sứ nói: “Phải”. Tôi lập tức đi ra ngay. Các nhân viên cao cấp đã tề tựu trong phòng hội. Tôi nói: “Xong rồi, đã đến lúc rồi”. Họ đều tản ra để lo liệu công việc mình.

Dự định đầu tiên của kế hoạch số bốn là các trực thăng từ hạm đội sẽ mang thêm Thủy quân lục chiến vào tăng cường tại hai địa điểm di tản: Văn phòng Tùy viên Quân Sự ở Tân Sơn Nhất, và ở toà Đại sứ. Theo dự định, một giờ sau khi khẩu lệnh “Tiến hành” ban ra vào giờ 4+1, là họ sẽ vào: Nhưng việc ấy không xảy ra. Bất hạnh thay, họ đã chậm mất ba tiếng đồng hồ, lý do có sự trục trặc ở ngoài hạm đội. Các thủy quân lục chiến được chỉ định bay vào thì ở trên một số tầu, mà trực thăng lại ở trên những tầu khác. Việc qua lại và chuẩn bị đã tốn mất một số thì giờ. Ba giờ đồng hồ chậm trễ đã gây ra vấn đề. Trong vụ di tản chót này, ưu tiên một dành cho người chờ ở văn phòng Tùy viên quân sự. Ưu tiên hai ở sảnh đường toà Đại Sứ, tại toà nhà chính, một số toà nhà khác và khu hồ tắm.

Buổi tối, tướng Richard Carey điện thoại cho tôi, đề nghị có lẽ nên ngưng trực thăng vận rồi tiếp tục lúc trời sáng. Tôi từ chối. Chúng tôi không thể ngưng, cần phải tiếp tục vận chuyển. Do đó quyết định ban ra là trực thăng vận cứ tiếp tục.

Bấy giờ tất nhiên tình hình chung quanh toà Đại sứ trở nên mỗi lúc một căng thẳng. Cả một đám đông người vây kín toà đại sứ suốt đêm. Cuối cùng chúng tôi đưa thêm một trung đội thủy quân lục chiến phòng vệ toà đại sứ ngõ hầu bảo đảm an ninh khu vực, vì người ta cứ tiếp tục cố trèo qua tường mà vào. Cảnh tượng thực hết sức thương tâm.

Cuộc di tản ở DAO chấm dứt sau khi tất cả mọi người đã được bốc đi, từ đó chỉ còn lại công tác bốc số người còn lại ở toà Đại sứ. Đến nửa đêm hay sau đấy một lúc, chúng tôi nhận tin từ hạm đội xác quyết về giới hạn số chuyến bay. Chúng tôi được báo chúng tôi sẽ chỉ còn bốc được mười ba chuyến nữa thôi, không kể các chuyến bay dành để rút số Thủy quân Lục chiến ra. Số chuyến bay ấy không đủ so với số người còn lại bấy giờ đang ở trong vòng rào toà Đại sứ, đa số là người Việt, một số là người Đại Hàn – người Mỹ còn lại chẳng bao nhiêu. Chúng tôi có điện thoại trao đổi ý kiến việc ấy, nhưng chỉ được trả lời vỏn vẹn rằng: thế thôi, chỉ mười ba chuyến nữa, không hơn, ngoại trừ số chuyến sử dụng để bốc lính thủy quân lục chiến. Vì vậy chúng tôi gửi cái điện văn cuối cùng. Bản điện văn viết: “DỰ TRÙ KẾT THÚC NHIỆM VỤ LÚC 4 GIỜ 30 SÁNG 30 THÁNG TƯ GIỜ ĐỊA PHƯƠNG, VÌ NHU CẦU HỦY BỎ DỤNG CỤ TRUYỀN TIN, ĐÂY LÀ ĐIỆN VĂN CUỐI CÙNG CỦA TOÀ ĐẠI SỨ Ở SÀIGÒN.” Chúng tôi đánh điện văn này bằng tay xong là người nhân viên truyền tin dùng một cái búa tạ phá bỏ hệ thống máy móc. Anh ta được bốc đi, nhưng chúng tôi vẫn còn phương tiện truyền thông khác. Lính thủy quân lục chiến phụ trách trực thăng vận có mang theo điện đài đeo lưng để liên lạc với hạm đội. Chính qua hệ thống điện đài này mà lúc bốn giờ sáng chúng tôi nhận được lệnh cưỡng bách của Toà Bạch ốc yêu cầu Đại Sứ và các nhân viên còn lại phải rời bằng chuyến trực thăng kế tiếp. Chúng tôi không hoàn toàn thi hành đúng y như vậy, nhưng khoảng trước năm giờ sáng một chút là thời điểm tất cả mọi người phải ra đi.

Tôi đi quanh sân, nhìn một lần cuối, nói chuyện với viên Thiếu tá thủy quân lục chiến ở dưới ấy. Chúng tôi hãy còn chừng 250 Việt và một số người Đại Hàn. Viên Thiếu tá và tôi đồng ý sẽ có ba chuyến trực thăng lớn nữa để bốc hết số người này đi. Nhưng đã không có những chuyến bay ấy, lý do bắt nguồn từ sự chậm trễ ngay lúc đầu chiến dịch. Đó là lý do tại sao số người này bị bỏ lại. Con số vào khoảng 250 người không phải là 400 hay 500 như nhiều người đã bảo.

Số người Đại Hàn, con số đáng kể trong nhóm này đã được đùm bọc và giúp đỡ hồi hương qua sự thu xếp của người Nhật – họ đã duy trì một văn phòng ở Sàigòn, và đã ở lại đấy. Cho nên việc này tôi không áy náy nhiều. Tôi áy náy về việc đã bỏ người lại, nhưng đó là vì, như tôi đã nói, do sự chậm trễ mà ra. Người ta đã làm ồn ào việc này và một vài chuyện khác nữa. Những lời ong tiếng ve này đã che lấp đi một sự kiện là: Chúng ta đã bỏ lại ở Việt Nam mười chín triệu con người. Đấy mới là câu chuyện thực đáng nói. Hoa Kỳ đã bỏ lại mười chín triệu con người.

Vào khoảng năm giờ sáng, chúng tôi đi lên nóc thượng, gồm Đại sứ, tôi và số nhân viên cao cấp còn lại. Một chiếc trực thăng đã đậu trên nóc. Chiếc trực thăng nhẹ đậu trên nóc, chiếc nặng hơn đậu dưới sân. Vừa khi trực thăng hạ xuống, đại sứ Martin, tháp tùng bởi Tom Polgar và George Jacobson bắt đầu tiến ra trực thăng, tất cả số còn lại chúng tôi đi theo. Trưởng phi hành đoàn đưa người vào trực thăng, sau khi nhận biết đã có đủ những người cần phải bốc, anh ta vẫy tay ra hiệu cho số còn lại chúng tôi đứng lui ra. Chiếc trực thăng cất cánh. Có một chiếc nữa đang lởn vởn, sắp đáp xuống. Ngồi với chừng sáu nhân viên còn lại ở đầu cầu thang, tôi tự nhủ: “Bây giờ Đại sứ đi rồi, mình xử lý nhiệm vụ, có thể mình thay đổi ý định chăng” thử khôi hài chơi một lần cuối! Đã bốn ngày rồi tôi không được ngủ. Chiếc trực thăng kia hạ xuống. Viên thiếu tá trẻ tuổi đầy khả năng, người chỉ huy chiến dịch trực thăng vận sử dụng máy truyền tin để liên lạc với hạm đội, phối hợp kế hoạch rút lui nhóm thủy quân lục chiến. Đấy là tác vụ cuối cùng. Vì thế chúng tôi ngồi đấy khoảng hai mươi phút, rồi cất cánh vào lúc chừng 5 giờ 20 phút sáng, chấm dứt sự hiện diện chính thức của Mỹ ở Việt Nam. Điều cuối cùng mà toán lính Thủy Quân lục chiến đã làm sau đó là tự rút lui. Họ hoàn tất việc ấy vài tiếng đồng hồ sau đó.

Trên đường ra, chúng tôi nhìn thời tiết, nhìn trời đất thấy có sấm chớp đang tiến lại gần. Chúng tôi có thể thấy ánh đèn các đoàn xe Bắc quân đang tiến vào thành phố. Vài chiếc phi cơ chiến đấu của hạm đội có thể nhìn thấy từ xa vẫn đang tiếp tục che chở cho số người còn lại chúng tôi.

Chiếc trực thăng nhồi nhét tất cả số nhân viên, số người hộ vệ. Tất cả im lặng tuyệt đối ngoại trừ tiếng nổ của động cơ. Trên đường ra, tôi không nghĩ tôi đã nói một lời nào, tôi không nghĩ có ai nói một điều gì. Cái cảm giác dâng lên là một nỗi buồn khủng khiếp.

_____________________________

(1) Vào tháng 2/1993: Hà Nội đã cho Mỹ vào xem văn khố.
(2) Lính thủy quân lục chiến thuộc Đội Công Binh Tạo Tác. Ghi chú của người dịch.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc dịch

Post by Sơn râu 20 Jan 2024

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
PETE Mc CLOSKEY
(Dân Biểu Hoa Kỳ)
“Này, ông bạn, tôi sẽ kể ông nghe cho hết đầu đuôi công việc.”

Chuyến đi Đông dương của phái đoàn quốc hội vào tháng 3/75 là nhằm cứu xét tình hình Việt Nam và Cam Bốt, vì lẽ Tổng thống Gerald Ford bấy giờ đang yêu cầu Quốc hội chi 222 triệu Mỹ kim cho Cam Bốt, 300 triệu cho Việt Nam. Tổng thống Ford khuyến khích chuyến đi. Ông nói: “Chúng tôi biết rõ công việc ở đấy, nhưng quốc hội không biết gì.” Tôi bèn đi trước với Thượng nghị sĩ Dewey Barlett. Vài ngày sau, sáu dân biểu khác đến nhập chung. Đó là Bill Chappell thuộc ủy ban quân vụ, rồi Bella Abzug, và John Flynt, Don Fraser, John Murtha, Millicent Fenwick. Phil Habib cũng đến với tư cách phụ tá ngoại trưởng đặc trách Á Đông, Thái Bình Dương sự vụ. Như vậy, chuyến đi gồm tám người thuộc quốc hội, và tôi nhớ trong chuyến về, khi tổng kết các ấn tượng và quan điểm, chúng tôi đã chia ra bốn với bốn, bốn diều hâu bốn bồ câu. Có một vài điều tôi muốn làm trong chuyến đi. Điều thứ nhất, tôi muốn so sánh tình trạng năm 75 với tình trạng tôi đã chứng kiến vào năm 1970 tại quân đoàn IV, vùng châu thổ, quân đoàn III, vùng ngoại vi Sàigòn, quân đoàn II ở Pleiku, Kontum, quân đoàn I ở Đà Nẵng. Tôi muốn biết vị thế chiến trường, so sánh giữa hàng ngũ phía chúng ta và đối phương, giữa miền Nam và miền Bắc. Tôi cũng muốn kiểm điểm tinh thần của người miền Nam, lượng giá ý chí chiến đấu của người miền Bắc.

Ngân khoản mà tổng thống yêu cầu bấy giờ là một ngân khoản viện trợ quân sự phụ thêm cho Việt Nam. Quân đội miền Nam Việt Nam, theo tôi nhớ, vượt trội hẳn quân số Bắc Việt. Miền Nam có chừng 740,000 binh sĩ. Miền Bắc không bao giờ có hơn 450,000 quân. Miền Nam phải phòng thủ một diện tích khá dài, nhưng họ có những tuyến truyền thông nội bộ. Tôi nhớ, mặc dầu vậy, thống kê cho thấy miền Nam đã sử dụng pháo binh gấp mười ba lần miền Bắc, điều ấy có nghĩa phần lớn số tiền này sẽ đổ vào vỏ đạn pháo binh.Tôi từng là Trung úy Thủy quân lục chiến tại mặt trận Triều Tiên. Sau đó ở lại lực lượng Thủy quân lục chiến trừ bị, đặc trách phản du kích. Tôi là dân biểu quốc hội duy nhất đã bốn lần đến Việt nam. Năm 1967, tôi là dân biểu Cộng Hoà đầu tiên đắc cử với lập trường chống chiến tranh Việt Nam.

Khi tranh cử lần đầu, người ta hỏi quan điểm của tôi về Việt Nam. Tôi đáp: Chúng ta không nên có mặt ở đấy. Chiến đấu ở chỗ ấy là sai lầm, sai địa thế, sai kẻ thù. Chúng ta đã phung phí tài nguyên nước Mỹ khi cố đánh một trận chiến như vậy.

Tôi nghĩ đương nhiên Nam Việt Nam sẽ sụp đổ sau khi Hoa Kỳ triệt thoái. Cái ý tưởng của tôi chủ yếu thế này: Sự chia cắt Việt Nam vào năm 1954 là một sự chia cắt giả tạo. Tất cả mọi người đều nghĩ Việt Nam phải thống nhất. Khi đến Việt Nam lần đầu, vào năm 1967, một điều đập ngay vào ấn tượng của tôi là: Khắp nơi, từ những làng mạc thôn ấp nhỏ bé, đến các trụ sở quận, trụ sở vùng, nơi nào cũng treo những bản đồ của một nước Việt Nam duy nhất. Ngay người miền Nam cũng không bao giờ thừa nhận là chỉ có miền Nam Việt Nam. Bất cứ lúc nào nhìn tấm bản đồ Việt Nam, ngay tại miền Nam Việt Nam cũng vậy, quý vị luôn luôn thấy đó là tấm bản đồ cả nước, không phải là tấm bản đồ dựa trên sự chia cắt giả tạo này.

Hiển nhiên, mỗi người Việt Nam đều nghĩ đất nước của họ là một đất nước thống nhất, vậy câu hỏi được đặt ra là liệu Hoa Kỳ có thể hỗ trợ cho sự chia cắt giả tạo ấy chăng? Và dựng nên một xứ sở mới hay chăng? Chúng ta đã làm như thế. Chúng ta gọi đó là “Xây dựng quốc gia.”

Khi sang đấy, tôi vẫn sẵn sàng chấp nhận cái sự kiện là chúng ta có thể tạo ra một quốc gia mới ở Nam Việt Nam như vậy, nếu họ có ý chí chiến đấu. Họ đông quân hơn lực lượng miền Bắc. Họ có phòng tuyến nội bộ. Nhìn chiến trường người ta thấy miền Bắc có 13 sư đoàn, miền Nam có 16 sư đoàn. Miền Nam có đủ thủy, lục, không quân. Miền Bắc thì không. Chúng ta đã cho họ tiền bạc, viện trợ, giúp đỡ. Chúng ta đã huấn luyện họ sử dụng vũ khí và phương pháp chúng ta. Vậy toàn thể câu hỏi cần được đặt ra là: Liệu ý chí chiến đấu của người miền Nam Việt Nam có thắng ý chí chiến đấu của người miền Bắc Việt Nam hay không?

Chúng ta gặp các phản ảnh trái ngược. Nói về phẩm chất quân đội miền Nam – các tướng lãnh nói một khác, các sĩ quan cấp úy và các cố vấn làm việc tại địa phương lại nói với chúng ta những chuyện hoàn toàn khác hẳn.

Đúng, quả miền Nam có những đơn vị chiến đấu tinh nhuệ: Thủy quân lục chiến, nhảy dù rất dũng mãnh, đầy khả năng. Nhưng quân đội thông thường là Bộ binh thì không. Họ không muốn đánh. Không có động lực đánh. Lực lượng thông thường này gồm đa số những người bị bó buộc nhập ngũ, thực sự, họ không có gì căm ghét Việt Cộng nhiều.

Và rất rõ ràng ngay từ lâu người ta đã biết có kẽ hở trong khắp các cơ cấu. Việt Cộng lọt vào các lực lượng chính phủ. Không một Tư lệnh Thủy quân lục chiến nào tôi biết – kể từ lần đầu tôi sang bên ấy cho đến lần cuối – lại thông báo các kế hoạch hành quân cho phía đồng minh Việt Nam, họ đều biết làm như thế là sẽ lọt ra ngoài.

Tôi xin trình bày với quý vị thật ra Kissinger và tất cả mọi người khác đều đã biết từ năm 1971 là sớm hay muộn Nam Việt Nam cũng sẽ sụp đổ.

Nhưng bây giờ không phải vô căn cứ khi nghe các người lãnh đạo Nam Việt Nam tuyên bố: “Nếu bọn Mỹ khốn nạn các ông đánh trận này như các ông đã đánh ở Âu Châu thì chúng tôi đã thắng. Phải chi các ông đánh miền Bắc, phải chi các ông chiếm một số thành thị, phải chi các ông đuổi chúng vào bụi rậm.” Lập luận của tôi về điều này là: Đúng, chúng ta đã có thể làm như thế. Chúng ta có thể phá hủy đê điều trên đồng bằng sông Hồng. Chúng ta có thể triệt hạ Hà Nội. Chúng ta có thể trải thảm bom, quét sạch từng thị xã nào có từ 100 dân trở lên. Nhưng một khi hành động như vậy rồi chiến thắng, và một khi chúng ta rời khỏi đất nước này, điều gì sẽ xảy ra? Những lực lượng cai trị đất nước này sẽ có lòng tin của dân chúng, hay sẽ chỉ có các phương tiện để bắt dân chúng hỗ trợ mà thôi? Kỳ, Thiệu và cả đám ấy kể từ Diệm trở đi chỉ dấy lên được nhờ sự giúp đỡ của Mỹ. Ở miền Nam, không có một khuôn mặt quần chúng nào như Hồ Chí Minh ở miền Bắc cả.

Trước khi đi chuyến này, tôi nhận được tin có một số tù nhân chính trị, một số nhà báo bị bắt giữ, bị tra tấn. Tôi muốn tới nhà giam gặp để nói chuyện với họ. Vì thế, khi đến Việt Nam tôi nghĩ đại sứ Graham Martin đã cảm thấy cá nhân tôi là một sự thách thức. Cho nên ông đã có những bài thuyết trình soạn sẵn cho tôi.

Một trong những bài thuyết trình ấy phụ trách bởi Trưởng cơ sở Trung ương Tình báo Tom Polgar. Về bài thuyết trình này thì, trời đất! Điều mà người ta trông đợi ở một sĩ quan tình báo bất cứ ngành nào là sự lượng giá vô tư về năng lực kẻ thù – Không thấy – chỉ thấy nói về các ý định của kẻ thù. Chúng ta cần biết khả năng của họ thế nào. Họ có thể làm được gì. Ta có thể đoán được các ý định của họ, nhưng còn năng lực họ thế nào? Đó mới là vấn đề then chốt. Nhưng Tom Polgar toàn thuyết trình cho chúng tôi những thứ rác rưởi vớ vẩn: Nào kẻ thù chẳng có gì, nào là người của chúng ta mạnh mẽ xiết bao!

Vì vậy tôi rời buổi thuyết trình đi ra Quân đoàn I. Tôi gặp Tư lệnh ở đấy là tướng Ngô Quang Trưởng. Chính buổi nói chuyện của ông ta đã đưa tôi trở về mà nói lại với cả Ford lẫn Kissinger rằng: “Quí ông không cách gì thắng nổi. Địch có thể phá thủng bất cứ chỗ nào.” Chuyện này có thể ông Trưởng còn nhớ. Tôi đã đi thăm ông Trưởng với tư cách cá nhân vì một người bạn có nói với tôi rằng ông ấy là vị tướng khá nhất của quân đội Việt Nam và đúng như thế.

Ông Trưởng trấn thủ Vùng I. Xin nhớ vùng I gồm năm tỉnh dọc duyên hải, bao gồm khu Phi quân sự. Trước, có lúc chúng ta phải dùng đến cả năm sư đoàn Mỹ để chiến đấu ở trong và chung quanh vùng này. Nào đệ nhất sư đoàn không kỵ… và Trời biết còn gì nữa. Hồi tưởng lại, tôi nhớ tổng cộng miền Nam có 13 sư đoàn thì tướng Trưởng có ba sư đoàn để đương đầu với chừng ba sư đoàn Bắc Việt, và trấn ngay tại địa đầu biên giới. Ông Trưởng đã mất bộ quân phục thiện chiến của ông chỉ vì Thiệu đã hoảng hốt rút quân về Nam để phòng thủ Sàigòn.

Là một Đại tá thủy quân lục chiến, biết khá rõ về trận địa, nói chuyện với một tướng lãnh Việt Nam, tôi nghe Tướng Trưởng bảo “Không có cách gì.” Ông ta chỉ tấm bản đồ mà nói: “Nếu họ muốn đưa một sư đoàn vào chỗ này, hay chỗ này thì chịu, không thể phòng vệ được. Tôi phải có một sư đoàn đặt dưới này, tại Quảng Ngãi. Phải có một sư đoàn nữa trên này, ở Đà Nẵng. Phải có một sư đoàn khác tại vùng Phi quân sự – Họ có đủ khả năng: nếu họ muốn chuyển quân, họ có thể phá thủng bất cứ điểm nào trong vùng.”

Phải, đối phương đã chọn ưu tiên chọc thủng Vùng II. Nhưng như ông ta đã nói, đối phương có thể phá thủng bất cứ điểm nào trong vùng của ông mà không có cách gì ông phòng vệ được. Bởi vì, đối phương có thể chọn lựa. Mà đây là một trong những nguyên tắc của chiến tranh: Tập trung toàn thể sức mạnh vào chỗ nào địch quân yếu kém.

Điều khác nữa, nếu quan sát các đơn vị của Nam Việt Nam quý vị sẽ thấy: Sĩ quan luôn luôn ở đàng sau. Quý vị sẽ thấy sự lệ thuộc vào pháo binh. Thấy họ từ chối không tỏ ra hăng hái trong các cuộc tuần tiễu năng nổ. Tất cả những điều ấy chúng ta đã cố dạy họ. Nhưng khi người của chúng ta vừa rời đi, họ quay lưng lại đục lỗ mà ẩn núp và thương lượng với nhau. Tôi nghĩ đã có nhiều cuộc ngưng bắn riêng tư như thế xảy ra giữa các đơn vị Việt Nam cả đôi bên.

Còn một ông nữa gây chú ý cho tôi là ông chỉ huy Vùng III, tướng Toàn. Tôi đã xem con số thương vong, nhìn tỷ lệ đạn dược pháo binh ông ta sử dụng so với số đạn pháo binh địch sử dụng. Graham Martin bảo tôi không có pháo binh, chúng ta không thể thắng được. Và ông Tướng này cho tôi thấy ông đã bắn 9,600 trận pháo. Quý vị đã rõ các trận pháo kích của đối phương bắn đến cũng đều được đếm. So hai con số chênh lệch, hiển nhiên người ta thấy miền Nam không còn hăng hái đánh bộ binh nữa.

Với những gì ông Vùng III đã nói, với những gì ông Vùng I đã nói: Không có cách gì cả. Nhìn vị thế trận địa Vùng III: họ không phòng thủ được nữa. Cảm tưởng của tôi là nếu thêm 300 triệu Mỹ kim cũng không thay đổi gì, không còn chạy chữa được những gì đã xảy ra trên trận địa.

Martin có nhiều cố gắng với tôi. Ông đưa tôi đi khắp nơi, kể cả dẫn tôi vào phòng riêng của ông mà nói “Này, ông bạn. Tôi sẽ kể ông nghe cho hết đầu đuôi công việc.” Ông ta là một đại tá bộ binh về hưu đang hồi xuân. Nếu Polgar đã cho chúng tôi nghe những chuyện rác rưởi lăng nhăng, thì Graham Martin lại là một người mất trí. Tôi thực tình nghĩ ông ta đã mất trí.

Tôi không rõ có ai tiên đoán sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam ra sao, nhưng người ta có thể đoán được dựa trên sự biện giải tâm lý các sự việc. Sự việc làm tôi ngạc nhiên là người miền Bắc đã đổ vào các sư đoàn trừ bị của họ. Thông thường, họ không bao giờ tấn công cho đến khi đã thực tập nhuần nhuyễn trên sa bàn. Họ hết sức – hết sức là thận trọng. Nhưng hiển nhiên, họ biết họ đã có đủ sức mạnh che giấu ở miền Nam, họ có đủ kỷ luật, bởi vậy vào năm 1975 họ đã đổ vào tất cả những gì họ có.

Sau, tôi yêu cầu gặp mặt một số nhà báo bị bắt ở Sàigòn. Tổng thống Thiệu rất ưu ái đã ban cho tôi cái đặc ân vào lao xá gặp gỡ những người Việt Nam trẻ tuổi này.

Lao xá gồm những xà lim nhỏ bé chật hẹp mà chúng ta đã xây cho họ. Có hai mươi nhà báo bị bắt, tôi nghĩ là gồm có một người đàn bà, tất cả bị nhốt trong dãy xà lim liên tiếp kế cận nhau. Tôi nói “Này nhé, chúng tôi được nghe nhiều dư luận rồi, tôi muốn đánh tan các dư luận đấy nhé.” Nhưng trong mọi trường hợp, mỗi khi chúng tôi nói chuyện với tù nhân, các lính gác người Việt cứ lăm lăm súng ống đứng đấy lắng nghe.

Tôi nói chuyện với một cô gái. Có hai hay ba người trong phái đoàn chúng tôi vào phòng giam cô này. Khi rời phòng giam, anh Việt Nam ra trước, một người nào đó đi giữa tôi và anh ta, vì vậy có một khoảng thời gian ngắn anh ta không nhìn thấy tôi và cuộc phỏng vấn đã xong. Cô gái nắm cơ hội, nói thầm với tôi. Cô ta bảo: “Sự thực không đúng thế. Họ đánh đập chúng tôi mỗi ngày. Họ đánh tôi rất nhiều.” Cô ta kể một câu chuyện hoàn toàn khác hẳn câu chuyện kể qua người thông dịch khi họ ở đấy.

Cảm giác của tôi vì vậy là: Tất cả mọi sự đều bị rình rập, tất cả những người tù khác mà chúng tôi phỏng vấn chắc đều đã được dặn dò tương tự: “Khi các dân biểu tới thì phải nói với họ như thế này, như thế kia.”

Cô gái mệt mỏi, khóc lóc nhưng không thấy có một dấu hiệu bên ngoài nào để tôi có thể bảo cô ta đã bị đánh đập. Nhưng như tôi đã nói, cô ta thầm thì mà bảo “Họ đánh đập chúng tôi.”

Tôi nhớ phái đoàn chúng tôi đã chia ra năm chống ba, hoặc bốn chống bốn nếu chúng tôi bỏ phiếu về việc cấp thêm viện trợ. Quan điểm của tôi là không cho miền Nam Việt Nam gì nữa hết vì họ sẽ sụp đổ. Còn về Cam Bốt, phải cho họ một chút gì, lý do là nếu Cam Bốt sụp đổ tất sẽ có tàn sát.

Chúng tôi đi Cam Bốt, ở đấy một ngày. Tôi hoảng kinh. Những gì xảy ra ở đây hoàn toàn khác hẳn Việt Nam.

Phil Habib tháp tùng chúng tôi. Hạ cánh xuống phi trường Nam Vang, chúng tôi biết thỉnh thoảng phi trường vẫn bị pháo. Không nhớ bao nhiêu quả đã rơi khi chúng tôi đến, nhưng có vài quả nổ trước đó và vài quả sau đó. Ngay Bella Abzug cũng chấn động khi hạ cánh ở phi trường với những xác máy bay cháy nằm ngổn ngang ven biên. Họ đưa chúng tôi ra, ấn vào xe, chạy vội qua các đường phố Nam Vang đến toà Đại sứ, ở đấy sẽ có buổi thuyết trình đầu tiên. Chúng tôi biết chúng tôi sẽ phải rời ngay đêm ấy. Trừ một số ít, tất cả nhân viên sứ quán đều đã di tản rồi.

Có hai bài thuyết trình chính thức dành cho chúng tôi. Một bài do Lon Nol phụ trách. Nhân vật hí họa nhỏ thó buồn cười này bước vào phòng, ngồi xuống. Ông ta kêu gọi chúng tôi giúp đỡ. Nhưng họ bảo họ có 40,000 binh sĩ Cam Bốt đóng ở phạm vi chung quanh Nam Vang. Họ ước lượng sức mạnh Khờ Me Đỏ ngoài phạm vi này là 60,000. Đây là một quốc gia có dân số 6 triệu. Quý vị tự hỏi nếu chỉ có bấy nhiêu và họ đã có tất cả những binh sĩ Cam Bốt được huấn luyện siêu việt, trang bị đủ thứ khí cụ, thì tại sao chúng ta đã không thể giữ đừng cho đối phương đến gần?

Nên tôi nói với ông Đại sứ: tôi được thuyết trình đủ rồi, tôi hỏi tôi có thể ra ngoài làm một vòng quan sát tiền tuyến chăng. Tôi có một Đại úy là tùy viên quân sự và một xe jeep, chúng tôi rồ máy ra tiền phương. Chúng tôi đến tư lệnh sư đoàn trước, rồi đến bộ chỉ huy Trung đoàn, tôi đòi nói chuyện với các tiểu đoàn trưởng hoặc vài ngưòi trong đại đội. Tại trụ sở bộ tư lệnh, tôi yêu cầu: “Tôi muốn nói chuyện với một vài tù binh Khờ Me Đỏ của quý vị,” thì họ đều bảo: “Chúng tôi không có tù binh nào.”

Sau xuống tiểu đoàn, ở đây gặp các ông mặc quân phục ngụy trang mầu đen trong một ngôi chùa nhỏ. Họ là một đại đội đang chuyển về hậu cứ, sau khi lãnh lương, họ sẽ quay lại đơn vị. Tôi hỏi một thiếu tá về tù binh, ông ta nói: “Chúng tôi không giữ tù binh. Bắt được là ăn.”

Viên Đại úy giải thích cho tôi rõ khi giết một người lính, mọi người mang dao ra xẻo một miếng thịt rồi ăn, họ tin rằng họ tăng sức mạnh khi ăn thịt địch quân. Tôi nghĩ: “Lạy Chúa! Việc gì sẽ xảy ra khi vùng này thất thủ? Có cả hai triệu con người đang ở nơi đây!”

Trở về tôi nói: “Nhân danh Chúa, hãy cấp cho những người này đủ ngân khoản đến mùa mưa để họ có thể phân tán mà ra khỏi Nam Vang,” bởi lẽ khi Nam Vang thất thủ, sau những vụ tù binh Khờ Me Đỏ bị ăn thịt, tôi nghĩ địch quân sẽ tàn sát thẳng tay tất cả mọi người trong thành phố.

Đó là lý do tại sao khi về tôi đã diễn thuyết, nói chuyện ở các Đại học Stanford, San Francisco. Tại sao tôi chống chiến tranh mà lại muốn cấp tiền cho Cam Bốt? “Vì nếu chúng ta không chịu cấp ngân khoản cho Cam Bốt là chắc chắn sẽ có một cuộc tàn sát tập thể.” Tôi đã tiên đoán thế. Lúc ấy tháng Ba. Cam Bốt thất thủ giữa tháng Tư, theo tôi nhớ. Và nơi đó đã xảy ra cuộc tàn sát.

Trở về Mỹ tôi cùng với Phil Habib mở họp báo nói phải cho Cam Bốt tiền để sống sót qua mùa mưa. Nhưng Việt Nam, tôi không thể chấp thuận việc cho tiền. Habib tranh luận với tôi, một ông bên bộ Quốc phòng thì nài nỉ yêu cầu hỗ trợ việc cấp tiền, tuy nhiên tôi không thể làm việc ấy. Đối với Việt Nam, đây chỉ là vấn đề thời gian. Đây là một lý do đã mất.

Nhưng khi trở về tôi có viết một báo cáo trao cho Gerald Ford. Báo cáo này được ít nhất ba hay bốn thành viên của phái đoàn tán thành. Trong báo cáo, chúng tôi kết luận chúng ta cần phải có tình báo chính xác. Tôi tin rằng bộ máy tình báo ở Việt Nam đã trở nên thiên vị và đã trở thành một kẻ biện hộ. Sĩ quan tình báo đáng ra phải cung cấp các tin xấu, không phải các tin tốt. Với ông Polgar, thứ gì cũng là tin tốt: “Chúng ta đang thắng, chúng ta sẽ thắng.”

Sau tôi gặp riêng Kissinger và Ford tại phòng Bầu Dục. Tôi nhớ Ford quay sang hỏi Kissinger là không biết chừng tôi đã nói đúng. Kissinger bảo: “Không cách gì. Việt Nam còn có thể đứng vững hàng năm.” Ông ta nói họ có tinh thần cao, họ có khả năng chiến đấu tốt, họ được huấn luyện kỹ, tất cả những gì họ cần chỉ là tiền mua tiếp liệu, mua khí cụ, mua các bộ phận thay thế mà thôi vân vân.

Cảm tưởng của tôi bấy giờ là Tổng thống Ford tin ông ta và không chấp nhận những gì tôi nói.

Tôi trao báo cáo của tôi cho tổng thống vào đầu tháng Ba. Bắc Việt tấn công cao nguyên Trung phần trong vòng tuần lễ sau. Rồi miền Nam tan rã. Tôi đã nói những điều như thế sẽ xảy đến và chỉ là vấn đề thời gian. Rồi họ tấn công. Rồi báo chí suốt sáu tuần lễ kế tiếp đã tràn ngập tin tức về Cam Bốt và Việt Nam.

Tôi không có gì để cãi cọ với những người miền Nam Việt Nam cả. Nếu đặt tôi vào địa vị họ, tôi cũng sẽ cảm thấy chua chát với tất cả mọi người, nhất là đối với những người đã đến đấy để phán đoán xem họ có đáng được nhận thêm hai mưoi, hay năm mươi triệu đô la nữa hay không. Nhưng câu hỏi đặt cho họ là: Làm thế nào có thể tự lừa dối mình mãi về phẩm chất chiến đấu của những người của họ? Làm thế nào có thể để sụp đổ ngoại vi Sàigòn!

Tôi nghĩ những gì chúng ta đã làm ở Việt Nam là một tai họa và một thảm kịch. Và tôi nghĩ khi chúng ta đã đi tới cái điểm rút quân ra, chúng ta không còn muốn chết ở đất nước ấy nữa, nhưng chúng ta cứ tiếp tục dội bom xuống – thì điều ấy thực quá đáng. Nếu người miền Nam Việt Nam có khả năng tự lo liệu, hãy tăng sức mạnh cho họ. Còn thực tế họ đã không thể tự lo liệu được thì điều ấy không nhất thiết là lỗi của ai khác hơn là của chính các tướng tá của họ.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc dịch

Post by Sơn râu 20 Jan 2024

SUSAN McDONALD

Susan McDonald

(Nữ Y Tá Cô Nhi Viện)

“Chỉ là những tấm hình của lũ trẻ con.”

Tôi là nữ y tá, tốt nghiệp đại học Coretto Heights ở Denver năm 1970, sau đó làm việc ở Kentucky khoảng ba năm. Bấy giờ mỗi đêm truyền hình đều chiếu về chiến tranh Việt Nam. Tôi theo dõi thường thấy cảnh trẻ con bị bắn. Vì quan tâm đến việc săn sóc trẻ, tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện xin sang Việt Nam làm việc.

Tôi viết thư cho một số địa chỉ để tìm tin tức việc làm tại Việt Nam. Bấy giờ một trong những người tôi viết thư hỏi là Rosemary Taylor, một phụ nữ người Úc làm việc tại Việt Nam từ 1968. Rosemary chú ý đến việc săn sóc trẻ vô thừa nhận và tìm các gia đình nhận nuôi những đứa trẻ này. Bà đã phục vụ tại một viện nuôi trẻ vô gia cư ở Phù Mỹ. Sau bà tự lập nên những trung tâm riêng để săn sóc trẻ mồ côi và trẻ vô thừa nhận. Bà hoạt động qua các cơ quan Việt Nam, qua Toà Đại sứ các nước để tìm các gia đình nhận nuôi những đứa trẻ này. Rosemary trả lời thư, nói rằng có lẽ tôi sẽ hữu ích trong việc làm với trẻ mồ côi. Hãng Air France cấp cho tôi một vé máy bay đi Việt Nam, đổi lại tôi thỏa thuận là ngày trở về sẽ đi kèm với năm đứa trẻ rời Việt Nam. Ngày trở về được để trống.

Tôi chưa đến Á châu bao giờ. Thật ra, tôi chưa rời Hoa Kỳ bao giờ. Lần này đi New York, rồi bay sang Paris. Tôi ở lại Paris vài ngày với mấy người bạn, rồi sang Sài Gòn.

Tôi không được chuấn bị trước về cuộc sống ở đấy. Tôi lớn lên ở Hoa Kỳ, một xứ sở sung túc, phương tiện độc nhất để làm quen với những gì khác hơn Hoa Kỳ chỉ là vô tuyến truyền hình. Nhưng truyền hình không chuyển đạt được cái sự thực nào khác ngoài khuôn khổ kinh nghiệm của tôi tại Hoa Kỳ. Nhớ lại lúc mới đến Việt Nam tôi đã bị tràn ngập bởi những ấn tượng đầu tiên về sự nghèo khó. Nhìn những căn nhà lụp xụp dọc bờ sông Sài Gòn, tôi cứ hỏi có thật con người ta sống trong những căn nhà như thế hay không. Sau này tôi nhìn mọi vật với một ánh sáng khác. Tuy nhiên cái ấn tượng đầu như thế. Nó chỉ đặt trên mỗi một ý tưởng: Đây đúng là một xứ sở hết sức nghèo nàn, ở xứ này người ta sống dọc bờ sông, dòng sông này cũng được dùng làm cống thoát rác.

Tôi ở ngay Sài Gòn, làm cho một viện cô nhi tên gọi “Thiên Đường Mới.” Trước là một biệt thự của người Pháp, nay trở thành nhà trẻ. Khi tôi đến, hãy còn hai y tá người Pháp làm việc ở đấy. Họ muốn đổi đi làm với những nhóm ty nạn khác nên tôi đến thay thế. Họ chỉ ở lại có hai tuần sau khi tôi đến. Trong nhà có chừng năm mươi trẻ vào tuổi biết đi chập chững. Đây là nhà trẻ thứ hai hoặc thứ ba cùng loại do Rosemary lập ra. Một nhà nữa dành cho trẻ lớn hơn. Một nhà khác cho trẻ sơ sinh. Sau này chúng tôi cũng săn sóc cả những trẻ sơ sinh trong nhà trẻ của chúng tôi.

Tôi yêu thích công việc của tôi. Không lúc nào tôi cảm thấy nhớ nhà vì trẻ con luôn luôn luẩn quẩn quanh tôi như trong một đại gia đình. Tôi không bị trở ngại ngôn ngữ, vì với lứa tuổi chập chững, các trẻ này cũng chỉ như mọi trẻ khác cùng tuổi ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Một trong những công việc tôi phụ trách là mua sắm đồ ăn. Tôi mua các thứ ngoài chợ, bỏ vào máy xay, nghiền ra thành đồ ãn trẻ, chúng tôi không được tiếp viện đồ ăn trẻ thứ của Mỹ, nên cứ mua cà rốt, các thứ rau trái khác và thịt để bỏ vào máy xay. Lúc đầu tôi mua thịt gà, tôi quen ở Mỹ thịt gà là rẻ nhất, tôi tưởng ở Việt Nam cũng vậy, sau mới biết thịt gà rất đắt, cá và tôm hùm lại rẻ hơn. Tôi phải học mới biết mua thứ gì rẻ để tiết kiệm. Người ta cũng cho đồ ăn, có hôm họ cho vài thùng mận, suốt mấy ngày ấy chúng tôi dùng mận, có hôm họ cho vài thùng mứt, suốt mấy ngày ấy chúng tôi dùng mứt.

Tôi làm quen với tất cả những chuyện này, không có trở ngại nào đáng kể. Dưới miệt Hậu Giang, có mấy cô nhi viện khác, chúng tôi cũng hay lái xe xuống chở đồ tiếp tế và thuốc men cho họ. Ở các cô nhi viện này, nhiều trẻ chỉ mất cha hoặc mẹ, con cái được gửi vào đấy nhờ nuôi hộ. Đối với những trẻ này chúng tôi không làm gì nhiều ngoại trừ chích ngừa, cung cấp áo quần hoặc cho bất cứ đồ tiếp tế nào khác chúng tôi có. Khi săn sóc đám trẻ này, chúng tôi dự liệu sẽ có ngày cha hoặc mẹ chúng lãnh con về lại, nên tất nhiên chúng tôi không lo việc tìm các gia đình nhận làm con nuôi. Thực tế ra, trẻ em nào còn bất cứ một người bà con – như anh em họ, cô dì, chú bác – đều không được cho làm con nuôi – Chúng tôi giữ hồ sơ trẻ chu đáo, không tạo vấn đề cho các gia đình nhận con nuôi, các đứa trẻ được cho làm con nuôi đều là trẻ bị bỏ rơi, trẻ vô thừa nhận, các dữ kiện về trẻ vô thừa nhận đều được đăng tải cẩn thận trên báo để xem có thân nhân tìm kiếm không.

Vào thời gian này, quân đội Mỹ đã rút ở hầu hết các nơi, nhưng chiến tranh vẫn tiếp diễn. Lính tráng, quân xa vẫn là cảnh tượng hàng ngày trên đường phố. Mười một giờ tối giới nghiêm, không ai được ra ngoài. Đêm đêm có pháo kích, chúng tôi đều nghe tiếng nổ. Nhưng vào năm 1973, không có dấu hiệu gì cho thấy chung cuộc xứ này đã đến, thời gian đã dứt, hay bất cứ cái gì như vậy. Tôi ở đấy, thực tế là sống với thời gian vô hạn định, chưa bao giờ nghĩ một ngày nào trong tương lai sẽ rời đi. Tôi yêu thích việc tôi làm, tôi được người Việt đối xử tử tế, chúng tôi mướn người Việt làm nhân viên trông coi cô nhi, họ là các phụ nữ trẻ gọi là “y tá dưỡng mẫu.” Cứ một y tá dưỡng mẫu phụ trách năm trẻ, trừ khi trẻ đau yếu hoặc cần có sự săn sóc đặc biệt, thì một y tá dưỡng mẫu coi một trẻ.

Có nhiều trẻ bị sứt hàm ếch, sứt môi, sứt vòm miệng bị bỏ vô thừa nhận. Tôi không biết tại sao, có thể vì cha mẹ chúng cảm thấy bất lực trong việc đương đầu với sự tật nguyền, hoặc vì tin dị đoan gì, không rõ, nhưng chúng tôi có rất nhiều trẻ như thế, chúng dễ bị nhiễm bệnh hô hấp, trừ khi được cho ăn, cho bú chậm rãi. Vì chúng nuốt đồ ăn khó khăn, chúng tôi muốn chắc chắn chúng không bị nghẽn đồ ăn trong phổi, nên chúng tôi cắt đặt: cứ một y tá dưỡng mẫu phụ trách một em loại này.

Những trẻ này khi được nhận làm con nuôi ở ngoại quốc, sẽ được giải phẫu chỉnh hình. Một trong những lý do khiến tôi muốn trở thành bác sĩ – hiện tôi đang theo học y khoa – là vì tôi muốn giúp các trẻ em bị sứt vòm miệng. Tôi hy vọng kỹ thuật giải phẫu chỉnh hình sẽ dễ dàng hơn và sẽ giúp thay đổi cuộc đời những em bé ấy.

Chúng tôi gửi các em được nhận làm con nuôi đi ngoại quốc khá thường xuyên. Việc này tạo ra những khó khăn tình cảm. Tôi rất buồn khi trẻ ra đi, nhưng chúng tôi biết một mái gia đình thương yêu các em sẽ là điều tốt nhất cho các em. Tôi đã đưa nhiều trẻ ra máy bay. Việc này cũng tạo khó khăn cho cả các nhân viên coi trẻ, vì có sự gắn bó giữa họ và những đứa bé, nhất là đối với các em đã ở lâu với chúng tôi.

Những gia đình muốn nhận nuôi cô nhi phải làm thủ tục qua một cơ quan, cơ quan này sẽ nghiên cứu gia đình ấy, cơ quan chúng tôi đặt tại Boulder, Colorado. Họ cần bảo đảm rằng những gia đình nhận nuôi cô nhi phải có khả năng săn sóc trẻ, cũng phải được bảo đảm rằng cộng đồng địa phương sẽ chấp nhận đứa trẻ, các nước Mỹ, Úc, Thụy Điển, Đức, Phần Lan, Pháp, Bỉ, Gia Nã Đại, Anh, Ý, Thụy Sĩ, Lục Xâm Bảo đều đã nhận cô nhi Việt Nam.

Khoảng cuối 1974, nhiều thay đổi bi đát bắt đầu xảy ra. Thoạt tiên, việc tiếp liệu mỗi lúc một khó. Rồi giờ giới nghiêm càng lúc càng sớm hơn. Nhưng không một ai báo cho chúng tôi biết chiến tranh sắp chấm dứt. Không một ai bảo chúng tôi đóng cửa cô nhi viện.

Việc gửi trẻ ra khỏi xứ bắt đầu lôi thôi, các bộ trưởng chính phủ làm việc với chúng tôi hình như thay đổi mỗi ngày, các bộ trưởng mới không biết gì những thủ tục thông thường, cứ thế, chúng tôi luôn luôn phải làm việc với những người mới, còn những người trước đã cũng làm việc, bây giờ đều rời xứ cả. Chúng tôi gặp nhiều khó khăn về việc gửi trẻ em đi bằng máy bay phản lực của World Airways. Rồi sau đó, cũng gặp nhiều phiền phức giấy tờ về việc cho trẻ rời xứ bằng không vận cô nhi của không quân Mỹ, chiếc C-5A. Nhưng cuối cùng chúng tôi cũng thu xếp được giấy phép cho các em có thông hành lên chuyến bay. Tôi nhớ chúng tôi đã gửi 230 cô nhi của chúng tôi lên chuyến C-5A ấy.

Mười lăm phút trước chuyến C-5A này, có vài em đã được gửi đi Úc. Tôi ở tại nhà để trông coi việc sắp xếp cho các em được đi đúng chuyến. Tôi không ra phi trường Tân Sơn Nhất, Rosemary phụ trách việc ấy. Khi bà ở phi trường về, tôi nhớ bà ấy bảo C-5A là một cái máy bay thật lớn. Đáng Iẽ trẻ được gửi đi bằng máy bay Nightingale, loại máy bay tiếp vận y tế quân đội, loại này có giường cũi cho trẻ, nhưng rồi chúng được gửi đi bằng chiếc C-5A là loại máy bay vận tải khổng lồ, việc này làm Rosemary 10 ngại. Thế là chỉ vài phút sau khi bà ấy về, tôi nhận được cú điện thoại từ bệnh viện Cơ Đốc. Người đàn bà bên kia đầu giây nói “Cô có thể gọi các nhân viên coi trẻ lại đây không? Trẻ em của cô bị thương, sắp mang vào.”

Chúng tôi nhảy vội lên taxi, chiếc Renault hai màu vàng và xanh, chạy vào bệnh viện. Trên đường không ai nói một lời, chúng tôi không biết chuyện gì xảy ra. Suốt buổi, tôi nghĩ ngợi: “Tàu bay đụng? Tàu bay rơi? Trục trặc lúc cất cánh? Chuyện gì xảy ra vậy?”’

Khi chúng tôi đến bịnh viện, họ bắt đầu chở trẻ vào, đứa sống, đứa chết. Đủ thứ phương tiện chuyên chở được đem ra sử dụng: vận tải, xe cứu thương, xe Jeep, xe tư nhân, còi hụ inh ỏi khắp nơi.

Có lẽ cái xúc động này là xúc động mãnh liệt nhất của suốt đời tôi, chiếc máy bay rơi nát, có những người bạn tôi bỏ mình. Những người lớn, những trẻ con mà tôi đã săn sóc để gửi lên chuyến bay, cũng chết. Tôi nhìn những thân thể nhỏ bé đầy thương tích như nhìn thấy một cơn ác mộng.

Tôi không định danh được nhiều trẻ. Nhiều đứa không nhận ra được nữa. Tôi có mở một hai bao đựng xác, nhưng cảnh tượng không chịu nổi. Nên tôi ngừng. Trên chuyến bay cũng có một số thư ký bên văn phòng tùy viên quân sự, vài người chết. Tôi bèn đi dọc các phòng trong bịnh viện tìm xem ai còn sống, còn nhận được ai không.

Trong khung cảnh Việt Nam bấy giờ, việc máy bay rớt không phải là việc bất thường. Những nhân viên làm trong nhà trẻ có thể nhận một cú điện thoại rồi người ta báo cho biết chồng bà ấy chết, hay con bà ấy chết, chúng tôi đã nhìn thấy quá nhiều quan tài, chúng tôi thấy xe tải chở áo quan đi qua mỗi ngày, cho nên việc máy bay rớt gần như phù hợp vào tất cả các chuyện khác xảy ra trong khung cảnh chung quanh chúng tôi. Nếu chuyện này xảy ra trong một xứ sở hoà bình, có lẽ nó sẽ khác. Vài em trong nhà trẻ chúng tôi hãy còn sống. Một bé gái mà tôi săn sóc từ lâu bị nứt sọ, gãy xương hông. Tôi tìm thấy bé gái này trong nhà thương ngày hôm sau, con bé không biết tí gì về tình trạng thương tích của nó. Tôi sung sướng tràn trề khi tìm ra con bé, nỗi sung sướng trộn lẫn với những xúc động của sự chết chóc. Những ngày sau nữa, tôi cũng tìm thấy thêm vài em khác thuộc nhà trẻ chúng tôi còn sống sót sau vụ máy bay rớt này.

Rất nhiều người có mặt ở nhà thương sau khi xảy ra vụ rớt máy bay. Nhiều nhân viên bên toà đại sứ và bên USAID đề nghị cho chúng tôi dùng xe chở trẻ em về lại nhà trẻ, chúng tôi ở nhà thương cho đến khuya để kiểm điểm đám trẻ đồng thời giúp những em tiếp tục chuyến bay xuất ngoại.

Tôi không rõ lúc ấy tâm thần tôi có đủ bình tĩnh để quyết định tình trạng sức khỏe của đám trẻ không. Khi tìm thấy những em còn thở là tôi đã đủ sung sướng lắm. Tôi chú ý đến những thương tích bên ngoài, những vết cắt… nhưng không đủ sức xem kỹ những trẻ còn sống sót.

Nhiều em phải đi ngay hôm sau trên chuyến bay thuê của hãng Pan Am. Những em còn thương tích khá nặng cũng vẫn được gửi đi vì người ta đã tìm được cho các em một mái gia đình.

Vào cuối tuần lễ thứ nhất của tháng tư, chúng tôi biết giờ cuối cùng đã điểm. Toà đại sứ đã lưu ý đến việc di tản công dân Mỹ ra khỏi nước. Nhưng tôi không thể rời bọn trẻ mà đi. Không ai thay thế việc điều hành nhà trẻ. Không ai nắm vững việc ăn uống và các thứ tiếp liệu mà bọn trẻ cần, còn nhân viên nhà trẻ thì không ở vào địa vị có thể chu toàn tất cả những trách nhiệm này.

Vì vậy tôi ở lại cho đến khi biết chắc chắn mọi phương tiện di tản lũ trẻ thu xếp xong. Tôi ra đi ngày 26 tháng tư. Hai ngày trước, nhân viên bên toà Đại sứ đến bảo một chuyến bay đã sẵn sàng. Khi chúng tôi sửa soạn đi, họ quay lại bảo chuyến bay đã đình chỉ, cùng một chuyện như vậy lại xảy ra ngày 25. Nhưng rồi đến 26, chúng tôi thực mới rời đi được với Iũ trẻ. Đó cũng là ngày cuối cùng của các cô nhi viện.

Chúng tôi đi bằng vận tải cơ C-141. Ra phi trường bằng xe buýt do toà Đại sứ cấp. Tôi nhớ hôm ấy rất nóng, chúng tôi phải cố giữ để lũ trẻ không bị ráo nước. Tôi mang theo một số chai nước cho trẻ uống. Tôi bị xúc động mạnh vào giây phút chia tay với những người Việt Nam mà tôi quen biết và đã mến yêu. Khi tôi rời viện cô nhi, các nhân viên giữ trẻ vẫn ở đấy, họ phải ở lại đấy cho đến khi tất cả các trẻ ra đi – có người đi với chúng tôi một quãng đường dài nhất mà họ có thể đi được: họ giúp chúng tôi lên máy bay, rồi họ ở lại. Họ rất bình tĩnh về những gì có thể xảy ra cho họ sau này. Họ không có vẻ gì rối loạn lúc ấy cả.

Chừng 250 trẻ em đã đi với chúng tôi, các em ấy là các trẻ ở trong ba ngôi nhà của chúng tôi, cũng có mười bốn người lớn trên chuyến bay. Tôi ngồi trên sàn phía sau máy bay với các em bé sơ sinh.

Những cánh cửa của chiếc máy bay C-141 giống như một cái vỏ sò vĩ đại. Tôi không cảm thấy sợ hãi khi những cánh cửa bắt đầu đóng lại. Chúng tôi có một số thùng trong máy bay, cứ hai em đặt trong một thùng. Bọn trẻ cần được chú ý nên lúc ấy chúng chiếm hết ý nghĩ của tôi. Nhưng khi cánh cửa đóng lại, tôi nhớ đến vài người bạn đã rời máy bay. Doreen Beckett, người Úc, đã trở về nhà cô nhi, cô ấy ở lại với Rosemary và với Ilse Ewald, người Đức, cả ba ở lại để xem xét chuyện nhà cửa, chuyện trả lương cho nhân viên, họ cũng cần vài lá thư giới thiệu mà họ có thể dùng đến trong tương lai. \/ì vậy họ không đi chuyến bay chúng tôi. Tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho họ. Tôi nghĩ đến họ khi các cánh cửa đóng xuống. Nhiều cảm giác trộn lẫn trong tôi giây phút ấy. Rosemary, Doreen và Ilse cuối cùng đã rời được trong ngày chót của tháng tư, từ sân thượng toà đại sứ bằng máy bay trực thăng.

Tôi thực tình yêu mến Việt Nam. Tôi yêu mến những người bạn mà tôi đã làm việc chung tại các nước. Ra đi như thế thực bất ngờ – thực là một sự chấm dứt đột ngột do những quyết định từ bên ngoài. Tôi bỗng nhiên nhận ra rằng: thế là hết, thế là chấm dứt tất cả những công việc mà tôi đã làm. Và sẽ còn lâu lắm, rất lâu nữa tôi mới được gặp lại các bạn của tôi, nếu còn có thể được gặp lại họ. Sẽ lâu lắm, tôi không còn nhìn thấy Việt Nam nữa.

Chúng tôi bay đến căn cứ không quân Clark ở Phi Luật tân. Thật nhẹ người khi hạ cánh xuống. Những cánh cửa vỏ sò mở ra, tôi thấy một hàng dài người, một hàng người kéo dài vô tận, họ đứng đón đấy để săn sóc lũ trẻ con, cứ một người lo một đứa. Một bác sĩ đến bên tôi, hỏi: “Em nào đau yếu nhất ở đây?” Ông ta yêu cầu các báo cáo y khoa về bọn trẻ – Đã lâu lắm mới thấy có những việc như vậy. Tôi hầu như quên những chuyện như thế. Tôi đã ở tại một xứ sở, nơi những đứa trẻ trong các cô nhi viện xa xôi hẻo lánh chết dần mòn mỗi ngày, không lạ lùng gì khi các loại bệnh dịch xảy ra, triệt hạ cả cô nhi viện – và ông bác sĩ này lại nói rằng “Đêm qua, suýt nữa chúng tôi mất đi một đứa trẻ.” Tôi nhớ tôi đã lặng người vì sự quan tâm ấy. Đây, họ có những người săn sóc trẻ, có những chiếc xe cứu thương để chở những đứa đau ốm vào bịnh viện. Những em trong điều kiện sức khoẻ khả quan được đưa đến các phòng tập thể dục, có nệm trải trên sàn. Ở đấy có hàng dãy kệ đầy ắp đồ ăn trẻ con đặt trong cao ốc.

Đêm đầu, chúng tôi ngủ trong phòng tập thể dục. Mọi thứ tổ chức chu đáo. Mỗi ngày quân đội sắp xếp cho sáu mươi em đi Mỹ bằng máy bay C-141 có ghế ngồi, cứ hai em có một người coi sóc đi kèm. Tôi ở Phi Luật Tân chừng bảy ngày. Khi nhóm cuối cùng ra đi, tôi đi cùng với chúng.

Trở lại Mỹ, một thế giới khác hẳn, có một vụ kiện gì đó ở California về chuyện trẻ mồ côi bị bắt khỏi tay các bà mẹ trong cơn hoang mang hoảng sợ. Tôi cảm thấy tức giận về chuyện này, vì lẽ nó không đúng sự thật. Vài người bảo những đứa trẻ chúng tôi mang đi là những đứa trẻ bị bắt cóc! Khó có những chuyện như thế! Tôi biết rõ còn bao nhiêu trẻ mồ côi bị bỏ lại Việt Nam (hơn 24,000 em trong các cô nhi viện, hơn 150,000 em đang được các gia đình Việt Nam trông coi). Trong thực tế, quả có những người đàn bà, vào những ngày cuối cùng, đã đến tận cổng cô nhi viện đem con đi cho. Nhưng các nhân viên hành chánh của chúng tôi, là người Việt, đã ra nói chuyện với họ, trấn an họ rằng Cộng sản sẽ không giết hại trẻ con, chúng tôi đã yêu cầu họ mang con về.

Phải một thời gian rất lâu tôi mới phục hồi lại được sự nhạy cảm khi trở về Mỹ. Tôi nhớ lúc nhìn mặt trời lặn, lúc nhìn các phong cảnh đẹp đẽ hoặc bất cứ cái gì đẹp đẽ, tôi nghĩ “Chà, thật là đẹp.” Nhưng tôi không cảm thấy sung sướng, tôi cũng chẳng cảm thấy buồn rầu. Tôi chỉ cảm thấy một thứ tẻ nhạt tái tê.

Cuộc sống của tôi thay đổi thảm hại từ khi rời Việt Nam. Tôi đưa vài đứa bé đi Âu châu. Tôi ở lại với một gia đình tại Anh trong thời gian ngắn. Rồi tôi đi Pháp, ở nhà một người đã mất vợ và 2 đứa con trong chuyến bay C-5A bị rơi. Sau đó tôi đi thăm Ilse ở Đức, rồi đi thăm những đứa bé được nhận làm con nuôi ở đây và ở Phần Lan.

Tôi nhớ có một lúc trên tàu lửa, tại một nơi nào đó ở Âu châu, nhìn thấy một nông dân đang cày ruộng, tôi nghĩ “Không phải xứ nào cũng lâm vào chiến cuộc.” Tôi cứ phải luôn luôn nhắc nhở mình rằng hoàn cảnh Việt Nam không phải là hoàn cảnh ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Nhưng tôi vẫn còn mơ những giấc mơ về chuyến C-5A bị rớt. Trong cơn mơ, một người bạn đến bên tôi nói: “Chuyến bay bị rớt và bọn trẻ con ở trong ấy”. Rồi tôi thấy tôi ở nơi máy bay rớt. Trong giấc mơ tôi chạy lại cái máy bay. Không gian chung quanh máy bay phủ đầy những miếng giấy nhỏ bé như bông tuyết. Trước khi bước vào máy bay, tôi chụp lấy một miếng giấy nhỏ bay lượn trong không trung. Trên miếng giấy là hình ảnh một đứa bé. Rồi trong giấc mơ, tôi đã quay sang những người khác ở chỗ máy bay rớt, tôi reo lớn: “Không sao cả. Không đứa bé nào ở trong máy bay cả, chỉ có những tấm hình, chỉ là những tấm hình của lũ trẻ con.”