This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Cách đây hơn 300 năm, người Minh Hương, vốn là bộ tướng của Dương Ngạn Ðịch phản Thanh phục Minh thất bại phải sang xin tá túc ở nước ta thời chúa Nguyễn Phúc Tần hợp lực cùng ông bà mình từ miền Trung vào, đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, kể cả máu mới gầy dựng nên một Mỹ Tho đại phố phồn vinh.
Ðất đai Ðịnh Tường trù phú tất nhiên phải phòng chống Thủy quân Chân Lạp xâm phạm vào vùng biên cảnh nên Chúa Nguyễn cho đắp một chiến lũy dài từ xóm Thị Cai đến Bến Tranh (chỗ bán tranh lợp nhà).
Bên ngoài lũy, một hào sâu rộng nối liền rạch Vũng Gù thuộc Tân An chạy dài tới sông Mỹ Tho. Từ hào sâu nạo vét rộng hơn, sâu hơn nó thành một cái kinh. Sau một thời gian dài, nhiều khúc quanh co nhỏ hẹp, lâu dần bị bùn cỏ, lục bình gây cạn lấp, làm thuyền đến đây phải đợi nước lớn lên đầy mới đi được, nhất là đoạn giáp nước tại chợ Thang Trông (nơi có cái thang cao để trông chừng địch quân).
Nhà Nguyễn lại cho nạo vét con kinh nó thành con sông nhỏ, vừa dẫn nước, vừa tiện việc cho tàu bè qua lại. Vua Gia Long đặt tên là sông Bảo Ðịnh, là một chi lưu của sông Vàm Cỏ Tây thuộc tỉnh Long An. Từ chợ Thang Trông hay Hốc Ðùn đến bến Mỹ Tho, chiều dài của con sông nầy khoảng 14km, bề ngang độ 6m và sâu khoảng 3.50m. Nhờ con sông Bảo Ðịnh nầy từ xóm Thị Cai đến Bến Tranh thuộc thôn Lương Phú, đất đai màu mỡ, ruộng vườn liên tiếp.
Năm 1861, quân Pháp đưa tàu chiến từ Sài Gòn theo sông Soài Rạp đến sông Vàm Cỏ rồi xuôi theo con sông Bảo Ðịnh nầy để đánh chiếm tỉnh Ðịnh Tường.
Ðến năm 1866, thực dân Pháp, lần đầu tiên ở Lục tỉnh Nam Kỳ, đã cho xáng múc để lòng sông được sâu hơn.
o O o
Quê Nội của tui là làng Phú Kiết, nằm dọc sông Bảo Ðịnh thuộc quận Bến Tranh, tỉnh Ðịnh Tường.
Muốn về quê Nội bằng đường bộ thì từ Mỹ Tho theo quốc lộ 4 (tên gọi thời trước 75) lên Sài Gòn tới ngã ba Lương Phú quẹo trái chạy dọc dòng sông Bảo Ðịnh sẽ tới làng Phú Kiết. Còn chạy quá lên, tới ngã ba Hòa Tịnh quẹo phải vô cũng đặng. Xong tới Tịnh Hà (thuộc xã Mỹ Tịnh An) rẽ phải chạy theo đường đất trải đá xanh cặp theo sông Bảo Ðịnh cũng về tới được.
Vật đổi sao dời đá mòn sông cạn nhưng ngã ba Hòa Tịnh nầy vẫn còn đó dãy hàng dương, làm tui hồ dễ gì quên kỷ niệm thuở thiếu thời cho tới tận ngày tui bỏ nước ra đi.
Về quê Nội ăn Tết, đâu có xa xôi gì, chỉ khoảng 25 cây số mà ngày xưa đó đi mất cả buổi trời! Sáng 7 giờ lên xe đò Tân Mỹ ở Mỹ Tho, 9 giờ rưỡi mới tới ngã ba Hòa Tịnh. Ðói bụng rồi nhe; vậy là Ba Má dắt cả nhà tấp vô cái quán của một gia đình người Tàu ăn hủ tiếu, uống xá xị con cọp.
Dưới hàng dương ngã ba nầy, chiếc xe lôi chờ cho đủ 10 người bác tài mới chịu nổ máy kêu bình bịch, lôi cả nhà tui băng qua những cánh đồng đã gặt xong chỉ còn trơ gốc rạ. Nhiêu khê vậy mà vui quá xá! Về quê Nội ăn Tết có hết đâu mà gấp? Muốn tới nhà Nội bên sông là phải qua một chiếc cầu khỉ, tay vịn cheo leo, thằng nhỏ với tay không tới. Má bồng đứa nhỏ nhứt, Ba cõng đứa nầy qua rồi quay trở lại cõng đứa kế.
Nhà của Nội tui cất trên một miếng vườn chừng một chục công. Ðào mương dẫn nước, vét phù sa lên liếp trồng quýt đường, cam, bưởi, mận…trái oằn sai.
Cuộc sống rất đơn giản, chẳng đua tranh gì ráo, chỉ tự cung tự cấp! Làm ruộng để có lúa xay ăn, làm vườn để có tiền đi chợ. Họa hoằn lắm, cả tháng mới đi chợ Phú Kiết một lần để mua giấy quyến, thuốc rê, đường, muối và dầu lửa về để thắp đèn.
Cái nền đất nhà nầy u lên u xuống làm tui đi cứ vấp hoài hè. Ðêm chỉ có một cây đèn cóc khói mù mịt, tối hù nên chừng 7 giờ tối là phải chui vô mùng ngủ vì muỗi nó bay vo ve như trấu ở bên ngoài. Lúc tụi cháu về, ông Nội tui mới chơi sang đốt cái đèn măng xông cho sáng. Sáng đèn, bù mắt, thiêu thân nó bu vào gặp nóng rụng cánh chết queo.
Cái khoảng vườn từ mé sông đâm vô chừng 5 trăm thước là tới ruộng. Hằng năm, cuối tháng Năm âm lịch, nước lũ trên thượng nguồn sông Vàm Cỏ đổ về đến tháng Bảy, nước nhảy tràn bờ sông, bờ rạch, leo lên đồng mang theo tôm cá còn non, nhỏ chút éc! Nào cá lóc, cá trê, cá chạch, cá chèn, cá rô, cá he, cá mè vinh, cá éc, cá mề hôi, cá linh, cua, ốc… đôi khi hên vớ được con tôm càng… bự chỉ bằng một trái me.
Tháng Chạp nước trên đồng rút xuống sông. Ðêm sáng trăng, nửa khuya nước bắt đầu ròng, tui theo ông Nội ra cái chòi nhỏ che tạm dưới hàng dừa nước để xem kéo vó. Vó có cái lưới hình chữ nhựt khá rộng. Cần vó theo nguyên tắc đòn bẩy. Ðẩy nó bung lên cao là mặt vó chìm xuống mặt nước. Non tiếng đồng hồ, lại nắm sợi dây thừng kéo xuống, vó đầu kia chỏng lên khỏi mặt nước.
Cá linh, cá trạch, cá rô, tép nhẩy xoi xói… đôi khi có những con rắn trùn nhỏ bằng cọng đũa uốn éo trông thấy ghê, Chỉ cần lấy cái gàu bằng thau, cán bằng một thanh tre đánh vào mặt lưới là cá tôm nó ‘bờ lông rông’ vô gàu hết ráo, không sót một con. Một đêm kéo vó như vậy cũng chẳng có gì nhiều. Cá tép đựng đầy chắc năm ba cái chén ăn cơm. Tuy vậy cũng đủ kho quẹt để cả nhà ăn với cơm nấu bằng gạo lúa mùa, đổ mồ hôi mẹ, mồ hôi con.
Vào ngày tảo mộ cuối năm, để ăn Tết, ông Nội tui cùng lối xóm vần công dỡ chà, tát mương bắt tôm, cá, tui cũng lội xuống bắt hôi.
o O o
Mấy năm sau, Tết về, lúc 13, 14 tuổi, tui quen với chú Bảy Cu, bà con xa, đại bác bắn nhiều lần mới tới, chừng 16, 17 tuổi. ‘Già’ khoái tui lắm! Chèo xuồng đi chợ là rủ tui theo cho có thằng để nghe ‘già’ tán dóc.
“Khi tao bỏ mái dầm xuống sông, cá giật mình phóng lên trên mặt nước rớt vào xuồng. Xui lắm mầy ơi. Chim sa cá lụy mà. Nên tao bắt nó bỏ xuống nước trở lại!”
“Cá nhảy vô xuồng là nó muốn nhảy vô nồi. Ðem về nấu canh chua với bông súng, ăn hết xẩy mà sao chú Bảy khờ quá lại thả nó đi he?”
Chú Bảy ‘Cu’ (tên xấu háy cho không bị ông bà bắt đi đó mà) dụ khị: “Mai tao dắt mầy ra ruộng để đặt lọp theo đường nước, cá thiếu gì, mặc sức mà ăn cho lòi bản họng? Còn chuột đồng đào bờ mẫu, bắt về lột da nấu canh chua hoặc khìa chấm muối tiêu quá đã. Mầy ghê hả thì để tao ăn!”
Nhỏ lớn ở thành nên nhà quê là một thế giới khác vừa gần gũi thân thương, nhưng vừa xa lạ vì mình cũng hổng biết gì nhiều nên nghe rủ là tui khoái chí tử.
Mùa hè năm 1965, tui rủ thằng anh bạn dì từ Mỹ Tho thay nhau đạp xe về thăm quê Nội. Qua khỏi cầu sắt Lương Hòa Lạc, chạy thêm một đỗi nữa, đụng cái mô, cây lá bùm sùm chặn ngang đường như người ta chất chà dưới sông vậy.
Hai đứa tính vác chiếc xe đạp trèo qua đi tiếp. Bất ngờ trong lùm có một thằng cha mặt nám da nhăn, đầu bù xù, lù lù bước ra hỏi: “Ê hai thằng bây tính về đâu vậy? Ðừng bường ẩu vô mô coi chừng lựu đạn!” “Tụi tui về thăm ông Sáu Hợi là ông Nội của tui. Với chú Bảy Cu…” “À ông Sáu Hợi với thằng Bảy Cu hả? Ông Nội với chú Bảy Cu của mầy giờ tản cư lên giồng Tân Hiệp rồi… Bữa nào êm êm mới về. Vùng nầy giờ là vùng oanh kích tự do, tui bây còn nhỏ ở xa, không biết coi chừng có ngày mà tán mạng nhe. Thôi về nhà đi chừng nào ‘giải phóng’ rồi về chơi nhe!”
Nghe vậy, hai đứa tui mới lờ mờ hiểu ra là quê nội tui bây giờ là vùng xôi đậu không còn an bình như ngày cũ nên hai đứa tui ‘buồm’ cho thiệt lẹ. Cái niềm vui tuổi thơ của tui đành chôn theo quê Nội thời thơ ấu, dở dang từ độ ấy!
Từ Tòa Đại Biểu về, ông Tôn Thất Huân quẳng chiếc xe đạp vào góc hè, bước vào nhà với những bước đi giận dữ,và ông đã thoáng thấy con gái ông, Quỳnh Diên đang ngồi trước chiếc bàn học nhỏ ở gian nhà dưới. Ông lên nhà, ngồi vào chiếc ghế tràng kỷ đặt ở gian giữa, trước bàn thờ tổ tiên. Lòng ông đã dịu lại được phần nào trong khung cảnh yên tĩnh, trang nghiêm của gian nhà dùng làm nơi thờ phượng, tuy vậy ông cũng còn quát:
-Quỳnh Diên đâu, lên cha biểu!
Nghe giọng nói hơi nặng nề của cha, Quỳnh Diên lật đật lên nhà, đến đứng bên cha, và sau khi thấy vẻ mặt nghiêm trọng của ông Huân, nàng thoáng thấy chút lo lắng trong lòng.
-Con có biết thằng Thời làm cho Ba xấu hổ biết bao nhiêu không, mà không phải làm xấu hổ cho ba, mà con làm xấu hổ cho giòng họ này nữa- ông gằn giọng- nếu Ba có một thằng rễ như thằng Thời.
-Anh Thời làm chi rứa Ba? Quỳnh Diên hỏi lại cha với giọng hoảng hốt.
-Làm chi à! Con ra phố mà coi, thằng Thời đã bôi tro trát trấu lên cái mặt của Ba, bây giờ Ba dám ra đường mà nhìn ai nữa. Nếu thằng Thời là con nhà cha căng chú kiết nào thì Ba cũng cóc cần, mà khổ thay nó lại là một thằng rễ tương lai của nhà này – ông bất giác nhìn về phía bàn thờ ông bà – nghĩa là chồng của con.
Quỳnh Diên bắt dần thấy run rẩy toàn thân, mặc dầu cho đến phút này nàng cũng chưa hiểu câu chuyện gì đã xảy ra giữa cha và Thời. Ông đập mạnh bàn tay phải xuống chiếc bàn rồi đi đến kết luận:
-Từ rày về sau tao không muốn thấy mặt thằng Thời lui tới cái nhà này nữa!
Nghe tiếng ồn ào ở nhà trên, bà Huân vội vã từ dưới bếp chạy lên:
-Việc chi mà ông quát tháo ầm ĩ như thế, việc gì thì cũng từ từ nói cho tôi nghe đã.
Trong khi Quỳnh Diên đứng tựa vào thành ghế khóc rấm rứt, thì ông Huân bắt đầu kể lại câu chuyện. Thời, người chồng sắp cưới của Diên là người họa sĩ làm ở Ty Thông Tin thị xã, anh là người rất có hoa tay nên được Ty giao cho nhiệm vụ vẽ các bức chân dung lãnh tụ cùng những bức hí họa qua các chiến dịch do chính phủ đề ra. Thời được xem như con người tài hoa lại là một công chức đứng đắn, hiền lành đã chiếm được trái tim của Quỳnh Diên và đã được gia đình ông Huân chấp nhận một lễ sơ vấn, trên căn bản, đã xem Thời như một người con trong gia đình.
Đột nhiên, chiến dịch truất phế Bảo Đại được tung ra vào thời điểm ấy và Ty Thông Tin huy động nhân lực để vẽ cho kịp những bích chương cổ động, phần lớn là mô tả cảnh ăn chơi trụy lạc của vua Bảo Đại ở Pháp. Thời là họa sĩ chính và tác giả của nhiều tác phẩm dựng ở chân cầu, góc vườn hoa, trước chợ là những nơi có đông người qua lại. Nét vẽ tài hoa của Thời đã làm cho những tranh hí họa trở nên sống động khiến cho đàn bà, con gái đi ngang nhìn những bức tranh “truất phế”đều phải đỏ mặt. Cái tài của Thời không ngờ lại là lưỡi dao cắt đứt mối tình của Thời và Quỳnh Diên.
Ông Huân là một người bảo hoàng hơn hết trong giòng họ Tôn Thất. Tổ tiên nhà ông mấy đời đều hưởng ơn vua lộc nước, đến đời ông nội là ông Tôn Thất Khoan còn giữ tới chức Tổng Đốc Nam Ngãi, cha ông Huân là nhánh sau, tức là con bà thứ, công danh không rạng rỡ bằng các anh của ông nhưng cũng đã từng giữ chức tri huyện Duy Xuyên.
Đến đời ông Huân, ông là con của bà thứ ba, văn dốt vũ dát, công danh thụt lùi, ra đời ông chỉ được lãnh cái ngạch thư ký tòa sứ, rồi cuối cùng là một trưởng phòng của Tòa Đại Biểu Chính Phủ. Tuy không giữ được quyền cao chức trọng gì, nhưng ông cũng đã từng lui tới các gia đình tôn vương quí phái, ông cũng đã có lần tháp tùng với vị tỉnh trưởng sở tại vào Cung An Định hầu tứ sắc với đấng Từ Cung. Thời tản cư về, sau khi toàn bộ cơ ngơi dã bị thiêu rụi vì chiến tranh, cảnh nhà sa sút, gia đình ông đã được về trú ngụ tạm trong Tôn Nhơn Phủ. Ông Huân luôn luôn hãnh diện về gia thế, và trong lòng luôn luôn canh cánh nỗi niềm khi nghĩ đến nhà vua.
Thế mà giờ đây, một thằng bần dân, đã có được cái diễm phúc sắp làm chồng cô gái xinh đẹp, nết na của ông, sắp được gia nhập vào gia đình quí phái của ông, lại giở trò bôi bác, dám động chạm tới nhà Vua. Với ai khác, ông có thể vì thời thế mà tha thứ, chứ với thằng rể đã từng lui tới trong nhà ông, ông không thể nào tha thứ được, nghĩa là cuộc hôn nhân này phải được hủy bỏ.
Sau khi kể tội Thời, ông bình tĩnh, buồn bã đứng lên. Ông cắm nén hương trước bàn thờ tổ tiên, – nơi có để hình ảnh của ông nội ông, ngồi trên chiếc ghế cẩn xa cừ, trong phẩm phục triều đình với mũ cánh chuồn, tay cầm hốt – suýt soa khấn khứa làm như bao nhiêu tội lỗi bây giờ là do đứa con gái bất hiếu của ông gây nên.
Trong buổi cơm tối, bà Huân và Quỳnh Diên chỉ ngồi nhìn nhau thở dài còn ông Huân bỏ ra trước hiên nhà, nơi nhìn ra bờ sông. Sau đó khi trăng bắt đầu lên, ông trầm ngâm ngồi uống rượu một mình, trong khi Quỳnh Diên khóc mùi mẫn trên tay mẹ.
Trong gia đình , ông Huân quyết định mọi chuyện và vợ ông chỉ là cái bóng mờ đi bên cạnh ông. Bà thương con cháy cả ruột gan nhưng kinh nghiệm trong suốt cả cuộc đời làm vợ, bà biết bà không hy vọng gì xoay chuyển được những quyết định đôi khi quá đáng của ông.
Thời, người họa sĩ kém may mắn ấy là con út của ông nội tôi, chú ra đời muộn khi ông tôi đã hơn sáu mươi. Góa vợ năm ông năm mươi tuổi, ông già sống đơn độc được gần mười năm, sau đó lại giở chứng kiếm một cô gái già mới bốn mươi, lấy cớ là để trông nom nhà cửa ruộng vườn, đi thâu tiền nợ và lo sổ sách lúa gạo cho ông. Lão bạng sinh châu, ở ngoài tuổi sáu mươi ông còn làm cha được một chú nhóc khôi ngô, láu lỉnh.
Đúng là cảnh cha già con muộn, khi chú Thời lên mười thì ông nội tôi qua đời, và chú cũng đã dến tuổi vào trung học nên bà nội kế tôi phải đem chú lên thành phố ở với cha tôi.
Chú Thời nhỏ hơn tôi vài tháng tuổi, và học chung một lớp với tôi. Về mặt học hành chú không khá lắm, nhưng chú vẽ rất đẹp, làm văn hay và viết thư tình cũng bay bướm. Chú chạy nhảy, leo trèo nhanh như một con sóc, ăn nói khôn ngoan, lanh lợi lúc nào cũng được lòng thầy, bạn. Chính vì điểm sau này, tôi thấy ngay cha tôi cũng dành nhiều tình cảm cho chú hơn là tôi, khiến cho tôi đôi khi phải đem lòng ganh tị.
Cha tôi là một người gia trưởng nghiêm khắc, lại luôn luôn cho mình là người anh có bổn phận nuôi nấng, dạy dỗ cho đứa em nhỏ khác mẹ sau khi cha đã mất. Tuy vẫn cho mình mang trọng trách như vậy, nhưng mỗi buổi trưa thứ bảy, sau một tuần làm việc cha tôi lại đến nhà bạn bè trong những canh tổ tôm hoặc tài bàn, để mặc hai đứa chúng tôi lang thang rong chơi cho hết hai ngày cuối tuần.
Chưa bao giờ cha tôi cho tôi được xếp ngang hàng với chú Thời. Trong bữa cơm Thời ngồi kế cha tôi, rồi đến anh tôi, còn tôi ngồi trên một chiếc ghế đẩu thấp hơn chiếc phản ngựa, nghĩa là ở thứ hạng chót. Lúc ấy là thời gian mới hồi cư, vật giá đắt đỏ, gia đình cha tôi là gia đình công chức, đông con, đã bắt đầu khó khăn, nhiều bữa ăn không được no. Chú Thời là người ăn chậm, còn tôi là đứa háu đói; lúc Thời chưa ăn xong chén cơm đầu tiên thì tôi đã xong chén thứ hai…Cha tôi vẫn thường lo cho chú Thời, và khi thấy tôi đưa chén về phía nồi cơm để tiếp tục chén thứ ba thì ông đưa đôi mắt nghiêm nghị nhìn tôi, thế là tôi rụt tay lại. Lúc ấy , chỉ là một đứa trẻ mới lớn, tôi cảm thấy rất buồn lòng, nhưng sau này tôi khi lớn lên tôi thấy thương xót cha tôi biết là chừng nào. Vã lại, hồi ấy tôi không để ý cho lắm, nhưng tháng nào, khoảng ngày rằm, bà nội kế tôi vẫn thường mang gạo, nếp, sắn khoai, đôi khi một cặp gà và dúi vào tay mẹ tôi mấy chục bạc gọi là tiền ăn cho chú.
Vì là con nhà nghèo, tôi luôn luôn đến trường với cái túi rỗng, nhưng chú Thời luôn luôn có tiền ăn quà vặt ở nhà bác cai trường và chú không quên chia xẻ với tôi. Ngoài tình máu mũ ruột thịt, tôi và chú Thời còn là bạn thân chung lớp. Ở nhà, trước mặt mọi người trong gia đình thì chúng tôi gọi nhau là chú cháu, nhưng khi ra đường thì chúng tôi vẫn gọi nhau là mầy tao như đôi bạn thân tình.
Khi bà nội kế của tôi qua đời, chú không còn thiết tha gì đến việc học, khi tòa hành chánh tuyển người, chú đã thi vào làm thư ký và sau đó nhờ tài vẽ tranh chú được chuyển qua ty thông tin. Trong thời gian này, chú vẫn còn ở với gia đình tôi, còn tôi thì đã xa Huế. Những ngày hè, khi về lại gặp chúù tôi đã gặp luôn Quỳnh Diên, người yêu của chú. Sau khi hai người quen nhau, chú đã không mấy khó khăn để được vào với gia đình Ông Huân, vì ông và cha tôi thỉnh thoảng cũng có gặp nhau tại nhà một người bạn chung trong canh “tài bàn”, “tổ tôm”.
Sau khi câu chuyện ngang trái giữa Thời và Quỳnh Diên xảy ra, ông Huân đã tìm cách lánh mặt cha tôi và về phần chú Thời và người yêu của chú, cảû hai đều đã thúc thủ không phấn đấu nỗi với quyết định cay nghiệt của ông Huân. Dù yêu Thời đến mức nào, Quỳnh Diên cũng không thể bỏ nhà ra đi và Thời cũng không thể nào chống trả được với định mệnh đã an bài.
Ít lâu sau, tôi được cha tôi báo tin là chú đã bỏ việc đi Saigòn, nhưng tôi đã nghĩ cha tôi đang che dấu một điều gì, vì nếu vào Saigòn, chú Thời không thể nào không báo tin cho tôi biết. Đúng như điều tôi nghĩ, sau đó, qua một người bạn, tôi được biết chú được người đưa về miệt Vân Dương và sau đó ra Bắc.
Năm sau, tôi không biết thực lòng Quỳnh Diên đã quên được Thời chưa, nhưng tin bà thím hụt của tôi đi lấy chồng cũng đã làm tôi buồn suốt mấy ngày Saigòn bão rớt. Sau đó, chạy theo cuộc sống, tôi gần như quên cả chú Thời và nàng tôn nữ của chú.
Trong những ngày đầu tháng năm, một nghìn chín trăm bảy mươi lăm ở Saigòn, trong lúc tôi đang hoang mang cùng cực vì thời cuộc diễn ra một cách quá mau lẹ, không ngờ, thì một buổi sáng, một người đứng tuổi, áo chàm, dép râu, nón cối, xắc cột bên hông, gõ cửa nhà tôi. Sau một vài giây ngỡ ngàng, và dù đã bao năm xa cách, tôi cũng nhận ra người đó là chú Thời của tôi. Tôi đã vội vã ôm chầm lấy chú, và hỏi đi hỏi lại một câu hỏi:
-Chú Thời phải không? Chú Thời phải không? Vào đây, vào đây!
Thời ngần ngại, rụt rè bước vào nhà và việc đầu tiên của chú là đưa mắt quan sát gian phòng khách trống trải của tôi, sau đó mới ngồi xuống chiếc ghế gỗ kê sát tường.Tất cả đồ đạc trang bị ở phòng khách của tôi đã được người ta đến dạm mua, dọn đi từ mấy hôm trước. Vợ con tôi, sau khi được tôi giới thiệu về chú Thời đã tự động rút ra nhà sau.
Những năm tháng dài quá nhiều thay đổi có lẽ đã gây ra nhiều khoảng trống cách xa giữa Thời và tôi, nên sau những lời chào hỏi, nhìn lại hiện tại, tôi không biết phải mở lời nói chuyện với Thời như thế nào. Chú Thời của tôi, so với những ngày trước có gầy đi nhiều, khuôn mặt Thời xanh xao và có vẻ trầm ngâm chứ không còn vẻ lanh lợi, tươi tắn như hồi nào.
Sau khi tôi từ chối điếu thuốc từ tay Thời, chú chậm rãi bật lửa, từ từ nhả khói. Gặp tôi, hình như chú muốn nói hết những điều chú ấp ủ bấy lâu nay mà chú không biết nói với ai. Thời cho biết, trên đường vào nam, Thời đã ghé Huế thăm lại bà con và nhất là cha mẹ tôi, và theo chú, mọi sự đều thay đổi, không còn gì như trong trí tưởng tượng mà bao nhiêu năm qua chú vẫn thường nghe qua tin tức.
Bỗng tôi buột miệng hỏi Thời:
-Chú còn nhớ Quỳnh Diên, cố nhân không?
-Quỳnh Diên! Thời lặp lại tên người con gái, có vẻ trầm ngâm một vài giây..Mười bảy năm, từ lúc tôi ra đi, trong lòng tôi vẫn ôm một mối hận, hận người thì ít mà hận đời thì nhiều và trong suốt thời gian ấy tôi chưa lúc nào quên được Diên. Nàng có sung sướng không, cuộc đời trôi giạt về đâu. Những ngày công tác gian khổ, bom đạn, sơ tán…tôi luôn luôn mang hình ảnh Diên theo bên mình và tôi vẫn nghĩ rằng Diên cũng còn yêu tôi như thế. Có lúc tôi nghĩ quẩn việc mình ra đi là một điều thất sách, vì bất mãn chứ không phải vì lý tưởng, do đó với trong những quan hệ và va chạm hàng ngày lòng tôi không bao giờ cảm thấy yên ổn. Trước ngày ra đi, có đêm tôi đã đến đứng thơ thẩn trước ngõ nhà ông Huân,dưới cây đào mà tôi và Diên vẫn thường hay leo lên đó, trước cái hàng rào bông cẩn dài dằng dặc để nhìn vào nhà mong nhìn nàng một lần cuối qua khung cửa sổ có ánh đèn vàng như một thằng con trai lần đầu biết yêu. Nhưng đối với tôi, sau khi mẹ qua đời và sau khi mất Quỳnh Diên, tôi thấy không còn tha thiết gì trên cõi đời này nữa, tôi muốn đi thật xa, muốn chết rấp ở một chốn rừng thiêng nước độc nào cho xong.Thế mà qua bao nhiêu bom đạn, ốm đau tôi vẫn còn sống mà bò về đây, kể cũng lạ.
-Chú đã lập gia đình?
-Một lần. Tôi nghĩ, lấy vợ, có con, sống một cuộc đời tầm thường ở một cái xó xỉnh nào đó, rồi mình cũng sẽ quên tất.Nhưng vợ thì do cơ quan xếp đặët, vì thương hại hơn là yêu, con thì không có. Tôi làm nghề phóng viên chiến trường, đi từ Lào Cai tới Gio Linh, nhưng tuyệt đối không ai cho vào B, vì có lẽ họ cũng phong thanh biết động lực tham gia cách mạng của tôi cũng không có lý do gì xác đáng. Thôi mà như thế cũng xong!
Trở về nam, tôi không ngờ cuộc đời lại có nhiều oái oăm, oan nghiệt như thế.Trong lòng tôi vẫn nghĩ lại chút tình cũ nghĩa xưa và dù thế nào đi nữa, tôi cũng phải ghé lại thăm gia đình Diên, không phải trong tư cách một người chiến thắng, mà là một kẻ chiến bại – Thời mỉa mai -Bà Huân tiếp tôi lạnh nhạt, một thưa hai bẩm như với một cán bộ cấp cao với giọng đầy oán hận, vì như anh đã biết ông Huân đã chết trong trận tổng công kích Mậu Thân, xác còn chôn trong vườn mà bà không muốn cải táng đi nơi khác, chồng của Quỳnh Diên thì tử trận tại Nam Lào, để lại cho nàng hai đứa con dại.Thơ thẩn trên thềm nhà cũ, tôi vô tình buột miệng hỏi đến cây đào trước ngõ nay chỉ còn lại cái gốc phủ đầy cỏ dại thì bà Huân cay đắng “ người cũng chẳng còn nữa, hỏi chi tới cây!”. Cơ sự như vậy mà tôi lại muốn tìm về cảnh cũ người xưa thì anh nghĩ có điên không ?.
Về Huế, như kẻ hành hương về nguồn cội của mình, tôi điên cuồng mất trí muốn đi tìm cho được người xưa. Tôi vẫn biết rằng bây giờ mọi sự đã thay đổi nhưng sao trong lòng tôi có một điều gì thôi thúc, tôi hành động như kẻ mù quáng thiếu suy nghĩ. Sau khi gặp lại bà Huân và biết được hoàn cảnh của gia đình Diên, lòng tôi không khỏi ngậm ngùi chua xót, và hơn nữa đây là một sự phũ phàng của định mệnh khiến cái vị thế của tôi lúc bấy giờ trở nên lố bịch.
Vào Saigòn, tôi bươn bả đi tìm Quỳnh Diên theo cái địa chỉ trên mảnh giấy mà em gái Diên đã ái ngại trao cho tôi. Manh giấy ấy tôi đã cất kỹ trong túi áo như một thứ giấy tùy thân. Tôi cũng không biết rằng tôi đi tìm nàng để làm gì, và ví như gặp Diên thì tôi sẽ nói những gì, than thở khóc lóc như một đứa trẻ thơ cho bõ những ngày nhung nhớ với hình ảnh nàng luôn luôn ở trong tôi, hay ngậm ngùi nhìn nhau mà ứa lệ cho một mối tình xa xưa khi hai người qua một thời gian dài mới gặp lạ trong một hoàn cảnh quá éo le.
Tôi đã đứng ở xa xa bên kia đường để ước tính chừng một số nhà và cố hình dung ra những người có mặt trong ngôi nhà đó, nhưng khi tôi bước qua bên kia đường và đi thẳng đến ngôi nhà mang biển số tôi đã thuộc lòng thì đó lại là một ngôi nhà khác mà cánh cửa ra vào đã được khóa lại bằng một ổ khóa lớn..
Tôi bỗng dưng nhổm người dậy và nói:
– A! Thế là Quỳnh Diên đi Mỹ rồi!
-Phải, tôi đã tìm đến ban quân quản Quận thì họ cho tôi biết chủ ngôi nhà ấy đã bỏ trốn đi nước ngoài, căn nhà đã được tiếp quản, nhưng chủ nhà đi nước nào thì họ không rõ. Để khỏi bị hỏi han lôi thôi, tôi chỉ nói cho họ biết đó là nhà một bà cô họ xa.
Tôi đã đi qua lại ngôi nhà ấy nhiều lần, đôi lúc muốn dừng chân hỏi thăm một người hàng xóm đôi điều về người thiếu phụ chủ căn nhà khóa kín nhưng cuối cùng tôi đành bỏ cuộc.Đôi lúc tôi cũng không hiểu tôi đang làm gì nữa, và tôi hành dộng theo một bản năng rất khó hiểu.
-Không, điều đó cũng dễ hiểu thôi ! Tôi chen vào đểû an ủi Thời.
Hút hết gần năm sáu điếu thuốc và cạn bình trà, tôi chưa kịp mời chú ở lại dùng cơm trưa thì Thời đã đứng dậy cáo từ.
-Thế bây giờ chú đi đâu?
-Họ đã sắp xếp chỗ ăn ở cho tôi ở Hội Nhà Văn ở đường Nguyễn Du. Tuần sau, tôi xuống Cần Thơ, rồi chú cháu mình thế nào cũng gặp nhau lại.
Bắt tay tôi lần cuối khi còn đứng ở ngoài cổng nhà, lần nay Thời thực sự xúc động. Chú nhìn tôi khá lâu và đột nhiên chú nói, giọng có vẻ bùi ngùi:
-Có lẽ phải lâu lắm chú cháu mình mới gặp nhau lại.
Nhìn dáng đi của Thời có vẻ hấp tấp như trốn chạy một điều gì. Chú tránh tôi, một thằng cháu, một đứa bạn thân tình mà bây giờ số phận của kẻ thất trận như cá nằm trên thớt, hay chú tránh một đoạn đời đã để lại nhiều kỷ niệm khó quên.
Sau này khi tôi bị tập trung ra bắc, có lần mẹ tôi ra thăm tôi tận Bắc Thái, bà cho biết tin Thời được điều động đi Kampuchia, bị mất một chân vì mìn cá nhân. Cuối cùng Thời an phận trở lại Thanh Hóa sống với người vợ chú đã kết hôn trong thời gian ở Bắc.Từ đó tôi không còn nghe gì về tin tức của Thời nữa.
Kể lại chuyện này, tôi chỉ lo ngại có một điều là câu chuyện này có một lúc nào đó sẽ xuất hiện dưới mắt của Quỳnh Diên. Bốn mươi năm rồi, hai người đã có hai cuộc sống riêng quá cách biệt, công bình mà nói, nếu có, nỗi đau của cô Diên ngày xưa chắc đã qua, nhưng vết thương của Thời, tôi nghĩ hãy còn đau đớn lắm mỗi khi trời trở nắng, chuyển mưa…
Xin cám ơn tình cảm của ông muốn đọc một bài của chúng tôi viết về sự ra đi của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo. Mặc dầu có hân hạnh quen biết Thiếu Tướng qua cả hai thời kỳ trước và sau biến cố 1975, tôi cũng chưa dám “cái quan luận định” về nhân vật đáng kính này. Thay vào đó, cũng như nhân ngày 30 Tháng Tư sắp đến, chúng tôi xin gửi đến ông và độc giả bài viết “Chết dễ hơn là sống?” để chúng ta hiểu thêm phần nào cái khó khăn của người trong cuộc khi phải chọn giữa cái chết và cái sống trong bước đường cùng! (HP)
***
Nói một cách đơn giản “chết dễ hơn là sống,” cũng có thể hiểu rằng chọn cái sống muôn vàn khó khăn hơn là chọn cái chết. Cũng xin nói thêm rằng, xưa nay không ai gọi những người sống là anh hùng.
Trần Bình Trọng thách thức kẻ thù trước khi bị giết. Nguyễn Biểu thản nhiên dự bữa tiệc đầu người, bị Trương Phụ cột vào chân cầu, cho nước thủy triều dâng lên mà chết. Rồi Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Phan Thanh Giản cũng chọn cái chết mà trở thành anh hùng. Tháng Tư năm 1975, miền Nam chúng ta cũng có những tướng lãnh anh hùng không chấp nhận sự sống trong nỗi nhục mất nước.
Nói về những anh hùng của nước Nhật, sau khi Okinawa lọt vào tay quân đội Mỹ, Tướng Ushijima và Tướng Cho quỳ gối và tiến hành lễ tự sát. Tướng Cho đưa cổ cho Đại Úy Sakaguchi chém đầu, và Tướng Ushijima lấy gươm tự mổ bụng tự sát cùng với bảy sĩ quan tham mưu trong binh đoàn.
Năm 1945, sau khi Mỹ đã thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki, đưa đến việc Nhật Hoàng phải đầu hàng, nhiều tướng lĩnh và sĩ quan đã tự sát vì danh dự và không chịu nổi điều ô nhục, trong đó có Bộ Trưởng Lục Quân Anami, Đại Tướng Cựu Tổng Tham Mưu Trưởng Sugiyama, Đại Tướng Tư Lệnh miền Đông Tanaka…
Người đời vẫn xem thường những ai chọn cái sống và không xem họ là những anh hùng. Chúng ta còn nhớ Tổng Thống Donald Trump trong một cuộc vận động tranh cử đã phát biểu Thượng Nghị Sĩ John McCain không phải là một anh hùng trong chiến tranh, vì đã bị cầm tù bởi đối phương.
Hai trong bảy quy tắc đạo đức mà các võ sĩ samurai Nhật Bản phải tuân theo, phản ánh tinh thần võ sĩ đạo rất sắc nét, mạnh mẽ, là can đảm và danh dự. Đối với một quân nhân VNCH là trách nhiệm và danh dự, những điều tâm niệm cho binh nghiệp của mình và đã chọn cái chết vì nhận ra mình không tròn “trách nhiệm,” cũng như “danh dự” bị tổn thương. Trong những phút bức bách cuối cùng này, một người chọn cái chết cho mình, là một điều dễ dàng hay khó khăn?
Tượng chiến sĩ VNCH tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt – Mỹ, thành phố Westminster, California. (Hình: David McNew/Getty Images)
Những vị tướng lãnh tự sát vì quốc nhục giờ đầu hàng, là những vị có bản chất anh hùng, trọng danh dự, khí khái, không biết quỵ lụy, khó có thể sống qua những ngày tù tội, đói khát và nhất là luôn luôn bị lăng nhục bởi những kẻ thắng trận từ các hang động trở về. Ai cũng có một mạng sống đáng quý, một gia đình để yêu thương và một đất nước để phụng sự, trong hoàn cảnh này, điều gì được cho là đáng quý hơn hết? Chọn giữa chết hay sống phải là một điều rất khó khăn?
Liệu trước một tương lai, đau đớn, mù mịt, với mười bảy, mười tám năm tù, gia đình ly tán, tấm thân sẽ phải chịu bao nhiêu nỗi nhọc nhằn đau đớn và tủi nhục, liệu chúng ta có can đảm nhận lấy sự sống hay không? Tôi nghĩ chúng ta có thể quyết định về cái chết của chúng ta trong vài mươi giây hay có thể lâu hơn chút nữa, nhưng chọn cái sống, chúng ta phải dằn vặt bao nhiêu ngày và can đảm sống từng giờ, từng phút, đôi khi chưa biết điều gì có thể xẩy ra cho chúng ta trong những ngày đang tới.
Vì vậy khi đặt câu hỏi với nhiều người về những ngày cuối Tháng Tư, 1975, về cái chết và sự sống, phần lớn câu trả lời là: “Có lẽ chết dễ hơn là sống!”
Phật Giáo quan niệm cái chết chỉ là một sự chuyển tiếp, một hiện tượng hay biến cố trên dòng tiếp nối liên tục của sự sống. Thiên Chúa Giáo, chủ trương rằng, dựa vào niềm tin của một người vào Chúa Giê-su (Jesus) như là Chúa cứu thế của loài người, người ta sẽ được lên thiên đường hay xuống địa ngục.
Mặc dù có những miêu tả về những vấn đề thưởng hay phạt, thiên đường hay địa ngục ở trong nhiều tôn giáo, không ai có thể xác minh một cách rõ ràng sự hiện hữu của chúng. Nhiều người đi tìm cái chết vì chán sự sống hay sợ hãi sự sống. Ở đây chúng ta không đi tìm một chứng minh cho hai cõi chết và sống, cũng không lên án những người đã chọn cái chết cho mình là đúng hay chấp nhận sự sống lúc bấy giờ là đúng. Điều khó khăn của người trong cuộc là khi phải chọn giữa cái chết và sự sống trong bước đường cùng.
Thì những điều cụ thể đã đặt ra trước mắt chúng ta, sống là phải chấp nhận, chịu đựng trong một thời gian dài, và sống không phải là quỳ gối hay bò lết, mà sống được đứng thẳng, có nhân cách.
Chúng ta nghiêng mình trước những tấm gương uy dũng của những người đã không chấp nhận số phận an bài, tự tìm đến cái chết; nhưng chúng ta cũng không khỏi khâm phục, những người đã chọn cái sống, chấp nhận phần khó khăn, chịu trách nhiệm về những hành động của mình.
Chúng ta kính trọng những cái chết nhưng cũng phải cúi đầu trước những cái sống, vì chúng tôi biết rằng, sống cho ra con người, có lẽ cũng phải chịu muôn vàn khó khăn hơn là chọn cái chết. Chết chỉ là khoảnh khắc, nhưng chọn cái sống là chịu đựng triền miên suốt cả một cuộc đời! Chúng tôi xin trích dẫn một câu nói của nhà giáo Phạm Toàn, ông là người đồng sáng lập trang Bauxite Việt Nam: “Chết đẹp đã là rất khó. Nhưng chết đẹp là quyết định của một khoảnh khắc. Còn để sống đẹp, là cả một đời, là dằng dặc những chuỗi lựa chọn và từ bỏ cám dỗ, thật ít ai làm được.”
Miền Nam bị Cộng Sản cai trị đã 43 năm. Người cựu tù nhân chính trị được cứu vớt theo diện nhân đạo của chính phủ Hoa Kỳ đến Mỹ, người đến sớm nhất tính cũng đã hai mươi tám năm. Hai mươi tám năm là một đoạn đường dài đủ cho một đứa trẻ sinh ra, lớn lên, học hành thành đạt, lập gia đình và có những đứa con. Hai mươi tám năm để cho những đứa con và cháu có mũ áo xênh xang ngày ra trường, có một gia đình hạnh phúc, có những ngôi nhà khang trang lưng đồi, mé biển, cha mẹ chúng phải trải qua bao nhiêu nỗi khó khăn, nhọc nhằn của một người di dân tị nạn, sau một thời gian trong trại tù tập trung của Cộng Sản đến định cư trên một vùng đất xa lạ.
Hai gia đình H.O. mới đặt chân đến phi trường John Wayne, California năm 1992. (Hình: Huy Phương trích trong Chân Dung H.O.)
Trừ những gia đình có con vượt biển qua trước đã thành đạt, giàu có trên đất Mỹ, còn thì sau một thời gian nhận trợ cấp xã hội, gia đình nào cũng phải lo kiếm tiền, trả tiền ăn, tiền ở để sống còn. Tuy được tự do, nhưng ngày tháng trước mắt còn dài, tương lai dường như vô định, cứ nhìn khuôn mặt của hai gia đình trong bức hình trong bài này, chẳng thấy ai có được một nụ cười, dù là những đứa trẻ vô tư. Điều ám ảnh của mọi người là làm nghề gì? Sức vóc không đủ làm nghề xây dựng, tiếng Anh cũng quờ quạng chưa đủ đi làm sở Mỹ, tài năng riêng không có để kiếm việc. Sau khi các anh em cựu quân nhân ra tù, bần cùng phải kiếm nghề để đủ rau cháo qua ngày, đặt chân đến Mỹ lại phải một lần nữa đổi đời, cũng cần miếng ăn, cái mặc. Nếu quý bạn sau vài tháng hay một năm kiếm được một chân công nhân làm assembler hay khuân vác trong nhà kho của một công ty có đồng lương cố định, có bảo hiểm sức khỏe, ngày nghỉ bệnh, thì nghề của bạn không được chúng tôi nêu lên trong bài báo này.
Cũng như đối với nhũng người vượt biên, vượt biển hay được bảo lãnh sang đây chúng tôi cũng không đủ dữ kiện để viết một bài phóng sự. Ở chỗ “đồng hội, đồng thuyền,” cùng hoàn cảnh, bài tạp ghi hôm nay chỉ gói gọn trong chỗ anh em, từ những viên chức của chính thể VNCH, bị cộng sản tập trung vào nhà tù không bản án từ năm 1975, cuối cùng được chính phủ Mỹ thương thảo với kẻ thù cũ, cho chúng ta có cơ hội đến đây, đợt đầu tiên là từ Tháng Giêng,1990. Trước hết, phổ thông nhất là nghề may. Gia đình nào cũng có một hai phụ nữ, là may vá là sở trường của đàn bà, và kể cả đàn ông, ai cũng làm được. Nghề này được gọi đùa là nghề “ngồi rung đùi ăn tiền,” tuy vậy cũng không phải dễ dàng kiếm được đô la. Thời đó, đã có những shop may, những nhà thầu may mặc, họ phân phối sản phẩm lại cho người có nhu cầu, có khi qua một hai trung gian. Cô con gái đầu của tôi may suốt một tuần, quên cả bữa ăn, nhưng chỉ kiếm được bốn chục bạc. Nhiều gia đình, vợ chồng, mẹ con phụ nhau cật lực cùng may, bất kể giờ giấc, có khi ngủ gục trên bàn máy may.
Nói đến nghề may, chúng tôi không làm sao quên được chuyện đổi đời của một vị bác sĩ quân y trước kia phục vụ tại TYV Nguyễn Tri Phương, Huế. Thời gian trận Hạ Lào xảy ra năm 1972, ông đứng trong phòng giải phẫu có khi một ngày hơn 15 tiếng để giải phẫu cho thương binh (chắc chắn là có một khâu gọi là may lại vết thương). Sang Mỹ chậm, học lại nghề khó, ông đành vào shop may, giao nghề may lại cho vợ, nguyên là cô giáo, còn ông thì hành nghề “cắt chỉ,” vì thứ chỉ này không phải là loại chỉ “tự tiêu!” Làm ở shop may, mỗi người mỗi việc: may, cắt chỉ, đóng khuy hay ủi. Nhiều anh em khởi nghiệp ở xứ “thiên đàng” này bằng nghề bỏ báo Mỹ, một nghề tuy dễ mà khó ăn. Người vào nghề phải có một cái xe hơi tàng tàng và có bảo hiểm, nói tàng tàng là vì làm nghề giao báo rất dễ hao xe, mà dân mới đến Mỹ cũng không ai có xe mới. Xe chạy tốc độ chậm, chở không dưới 500 pound, “tam bộ nhất bái,” “bước đi một bước, lâu lâu lại dừng,”chạy một đoạn ngắn, lại phải dừng xe. Cửa xe phía phải mở, tay phải mạnh và quẳng báo đi xa, ít nhất là vào trước cửa nhà. Đây là một nghề “đi đêm,” vì làm nghề này phải chịu khó dậy sớm lúc 2, 3 giờ sáng để đến nhà in nhận và cột báo, vì tất cả “round” báo 300 tờ phải “liệng” trước nhà người mua trước 6 giờ sáng. Tay lái phải vững, trời còn tối, có khi sương mù, mà xe thiên hạ phần lớn lại đậu ngoài đường, rất dễ gây tai nạn. Trời có nơi lạnh buốt, nhất là vào lúc đêm khuya nhưng phải xuống kính xe để vứt báo. Có người lại chở con trai hay vợ theo, hai người ăn một đồng lương, ăn ít nhưng chắc, cha lái, con hay vợ ngồi bên liệng báo. Phần đông chỉ làm một thời gian ngắn rồi đổi nghề, vì quá vất vả, nhưng đây cũng là một trong những nghề của những người mới sang, người sau kẻ trước. Mỹ đâu phải là nơi người ta có thể lượm đô la ngoài đường.
Gia đình người bạn tôi văn hay chữ tốt thì làm nghề viết thư. Đây là công việc của các công ty quảng cáo. Mỗi lá thư chỉ viết vài dòng bằng tay. Theo tâm lý người tiêu dùng, nhận được một lá thư quảng cáo bằng mực in hàng loạt không tin cậy bằng vài chữ viết tay. Mỗi lá thư khoảng năm 1995 được trả khoảng 50 cent, không phải lao động vất vả, lại được ngồi nhà lo cơm nước, trông cháu, mỗi tháng hai vợ chồng kiếm được hơn $600, cũng tạm ổn. Ngày nọ, tôi gặp một người bạn đang hành nghề hướng dẫn các em chậm phát triển, để các em có thể đi ra ngoài sinh hoạt như người bình thường. Buổi sáng phải đón các em từ gia đình hay chỗ ở của quận hạt, chở các em vào công viên, vào các siêu thị hay ghé quán ăn trưa. Nghề này không vất vả, nhưng đầu óc căng thẳng vì phải có tinh thần trách nhiệm cao, mắt không bao giờ rời các em. Có lần, một em trong toán đang lúc ăn trưa, không để ý, bị hóc, ngạt thở, phải chở đi cấp cứu, bạn tôi về sợ quá xin nghỉ việc luôn. Ở miền Đông với khí hậu giá buốt, dân H.O. làm những nghề như hái trái cây rất vất vả vì phải còng lưng suốt này, tay chân thì lạnh buốt. Ở những vùng như Philadelphia, thường có những nhà thầu Việt Nam, tuyển người cho các công ty dịch vụ, hái trái cây, hãng giấy, xưởng gỗ, sáng chở nhân công đi, chiều chở về, không bảo hiểm, không có ngày nghỉ ăn lương.
Ở Chợ Cá thủ đô Washington DC, tôi đã có dịp tiếp xúc với hai “chiến hữu” mới sang sau những năm tháng tù đày. Hai anh làm nghề “security” cho Chợ Cá, với đồng lương tối thiểu, không nặng nhọc gì, nhưng suốt ngày phải đứng giữa trời, mùa Hè không nói, nhưng vào mùa Đông, có hôm nhiệt độ xuống mức đông đá hay tuyết rơi dày đặc, áo quần hai ba lớp cũng rét run. Có điều an ủi, các anh cho biết là mấy năm nay, nhà khỏi tốn tiền mua cá. Không biết các anh chịu đựng được bao lâu mới bỏ nghề, nay về già có bị bệnh phong thấp hay không? Có lẽ tôi cũng xin phép kể vài dòng về cái tôi đáng ghét trong những ngày đầu đến Mỹ. Vừa hết trợ cấp, một người bạn giới thiệu cho một chân tài xế riêng cho một ông cụ. Ông này gốc tỷ phú ở Sài Gòn, vẫn thường tổ chức ăn uống, bài bạc với quý vị Tướng Lãnh, nên tài xế riêng là một cựu đại úy thì cũng là điều phải chăng. Tôi chỉ hơi trách một người giàu có như ông, sao không thuê một tài xế kinh nghiệm lâu năm dù đắt giá, lại giao sinh mạng cho một anh H.O. mới có bằng lái xe ở Mỹ ba tháng, để chỉ trả có $6.25 một giờ. Tôi chỉ mới lái xe ra freeway một hai lần, nhưng ngày đầu tiên, ông chủ cần đi khám bệnh ở UCLA, tôi cũng đành tuân chỉ lên đường. Công việc hàng ngày của tôi ngoài việc đưa ông đi bệnh viện, đi thăm ngôi nhà đang xây cất ngoài biển, còn đưa ông đi thuê hay đổi phim “For Adults Only.” Những lúc không đi đâu, nhiệm vụ tôi là lau, rửa xe, xăng nhớt sẵn sàng. Thỉnh thoảng bà chủ nhờ ra chợ mua miếng thịt, mớ rau, hay được tin cậy hơn là đem tiền đi gửi ngân hàng. Những lúc bà chủ cần đi đâu ra phố, bà rất tế nhị xin phép ngồi ở ghế sau kẻo người ta dị nghị, khác với ông chủ rất uy quyền, trịch thượng. Nếu ngày đó anh em thấy tôi đang lái một cái xe Cadillac bóng lộn, chở một mệnh phụ phu nhân ngồi ở ghế sau, thì tất anh em cũng thông cảm, hiểu cho nghề nghiệp của tôi. Một hôm thấy bác tài quá rảnh rỗi, bà chủ gọi tôi: “Chú vào chùi cái ‘sing’ trong bếp giúp tôi!” Thì cũng phải thôi, ăn cơm Chúa thì múa cho hết giờ! Cực nhọc tôi chịu nhưng chớ làm nhục tôi. Một ngày nọ, lái xe đưa ông chủ lên bệnh viện UCLA, ông bảo tôi đỗ xe ở chỗ cấm, trong khu vực nơi có đường đi bộ để nhân viên bệnh viện ra vào. Không nghe lời ông, tôi đỗ xe trước đó vài thước. Trước mặt cô y tá vừa đẩy cái xe lăn ra đón ông, ông hầm hầm vung vẩy cái “can” chỉ vào mặt tôi và chửi: “Stupid!” Trên đường về tôi chẳng nói mà cũng chẳng than phiền. Về đến nhà, tôi giao chìa khóa xe cho bà chủ và nói: “Thưa bà, bắt đầu ngày mai tôi nghỉ làm, để ông chọn một người tài xế khác vừa ý ông hơn!”
Sau đó, nghề nào cũng được ba tháng vì xuất thân là lính văn phòng không có sức khỏe, không kham nỗi cực nhọc. Tôi bắt đầu thực sự trở lại nghiệp báo với chức vụ Phụ Tá Chủ Bút cho một tuần báo ở Little Saigon, nhưng cũng không bền. Năm 1994, nghe lời dụ dỗ của bạn bè tôi mang cả gia đình bay sang Philadelphia vì nghe nói việc nhiều, đi hái trái cây cũng đủ sống. Mặc dầu đã ở bước đường cùng, nhưng không chịu nổi thời tiết giá lạnh, và công việc vất vả, tôi lại chuyển sang Virginia, đi làm nghề chùi rửa, hút bụi cho Hotel Marriott ở DC. Nhiệm vụ của tôi là mang một cái bình hút bụi nặng 15 kg trên lưng, như anh chàng “rocketeer,” bay đi khắp mấy tầng lầu. Sau đó tình cờ gặp một người bạn cũ ở Cục Tâm Lý Chiến đang làm Lab Manager cho công ty One Hour Ritz Camera. Thấy tôi vất vả, anh giới thiệu tôi vào nghề ảnh với anh, nhưng thương bạn, sợ người ta không nhận, anh chỉ xin lương của tôi bắt đầu với $5.00 một giờ. Tuy lương thấp nhưng từ nay tôi an tâm về cái mục bảo hiểm sức khỏe, và những ngày nghỉ phép có lương. Năm 1999, ở miền Đông lạnh và buồn, tôi quyết định trở về Nam Cali, được tiếp tục làm việc ở công ty cũ, có tiệm ảnh ở thành phố Santa Ana. Tiếc là 10 năm sau, đủ 40 quarter, “lên chức” Lab Manager, nhưng đồng lương lúc về hưu chỉ có $9.50 mạt hạng! Cuối cùng cái “nghiệp” truyền thông lại đeo đuổi, ở tuổi xế chiều, tôi viết báo, in sách, làm talk show trên đài phát thanh và truyền hình. Nhớ lại quãng đời 28 năm trên đất Mỹ, vui buồn lẫn lộn, nhưng suốt 28 năm nay, vẫn chịu cảnh nhà thuê. Những em bé trong bức ảnh trên bài này nay đã trưởng thành, có gia đình, địa vị trong xã hội, nhưng không biết các em có còn nhớ những ngày đầu “chân ướt chân ráo” đến Mỹ, được cắp sách dến trường, trong khi cha mẹ các em đã vất vả biết là dường nào để làm lại cuộc đời không? Cha mẹ các em sang đây, làm lụng vất vả để nuôi con, nhưng cũng có người trở lại trường, tốt nghiệp những văn bằng cao, sinh hoạt trong dòng chính và nhất là hãnh diện có được một thế hệ tiếp nối thành công, không bõ công những năm tháng tù đày và những ngày đầu gian khổ ở Mỹ.
Tôi đang chăm chú ôn bài cho kỳ thi sắp tới, nên không biết Thiếu tá Hưng trưởng Phòng hành quân bước vào.
-Trung úy làm gì đó?
Khi nghe tiếng nói của ông, tôi mới giật mình.
-Thưa thiếu tá, tôi đang học bài.
Thiếu tá Hưng kéo ghế ngồi đổi diện với tôi, rồi nói:
-Gốc của trung úy cũng bự dữ.
-Thưa thiếu tá, tôi không hiểu ông nói gì.
-Về trường Võ Bị, làm ở khối tham mưu không có gốc, không chạy chọt làm sao về được.
-Thưa thiếu tá, ngày còn học ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, với bài trắc nghiệm định hướng không biết tôi làm như thế nào mà khi ra trường được đưa về Trường Võ Bị Đà Lạt. Chuyện đó, tôi hoàn toàn không biết được.
-Gia đình trung úy ở đâu.
-Dạ Đà Lạt.
-Ba trung úy ở trong quân đội?
-Thưa không, ba tôi là thợ mộc.
-Chắc trung úy có bà con làm lớn trong quân đội?
-Thưa không.
-Như vậy, gia đình trung úy quen biết thế nào với Đại tá Tham mưu trưởng.
-Ba tôi là thợ mộc, làm sao quen với Đại tá Tham mưu trưởng được.
-Có chuyện hơi lạ, tao không hiểu được.
-Chuyện gì vậy, thiếu tá?
Thiếu tá Hưng lắc đầu, đưa hai tay lên trời rồi ông móc trong túi ra tấm giấy.
-Đây là tờ giấy phép bảy ngày, cấp cho Trung úy Nguyễn Trọng Quân với chữ ký của Đại tá Tham mưu trưởng.
Tôi như từ trên trời rót xuống.
-Thưa thiếu tá, nếu tôi muốn xin nghỉ phép phải làm đơn chuyển theo hệ thống quân giai, đơn của tôi phải qua ý kiến của thiếu tá. Tôi đâu có làm đơn xin nghỉ phép.
-Tao cũng nghĩ như vậy, nhưng tại sao lại có tờ giấy phép này?
Tôi góp ý với ông:
-Hay là phòng nhân viên làm lộn. Thiếu tá trình với Đại tá Tham mưu trưởng coi lại đi, lộn là cái chắc.
Thiếu tá Hưng cười hớn hở.
-Chú mày có lý, để tao đi hỏi lại.
Tôi để ý, hình như ở trong trường chỉ có một mình Thiếu tá Hưng thường xưng hô mày tao với tôi. Tôi vừa tiếp tục ôn bài vừa lẩm bẩm, lâu lâu cũng phải có lầm lẫn, điều chỉnh mấy hồi.
Chừng mười lăm phút sau, Thiếu tá Hưng bước vào phòng với gương mặt không được vui cho lắm.
-Tao vừa gặp Đại tá Tham mưu trưởng, ổng nhìn tờ giấp phép rồi gằn giọng khiến tao muốn chết đứng “Đúng rồi, tôi ký tờ giấy phép đó”.
Thiếu tá Hưng nói mà như là năn nỉ tôi:
-Chú mày làm ơn đi phép giùm tao, đừng có lôi thôi hỏi tới, hỏi lui. Mày càng hỏi nhiều, tao càng dễ có cơ hội ôm ba lô ra Quảng Trị phòng thủ Cổ thành. Quân đội mà mày, thi hành trước, khiếu nại sau.
Tôi cầm tờ giấy phép rồi nói:
-Thưa thiếu tá, đang làm việc mà bỏ ngang, ai trực hành quân thay tôi?
Hình minh họa
-Chuyện đó tao lo, chuyện chú mày bây giờ là đi phép.
Đang làm việc bị đi phép, không biết làm gì tôi bèn về cư xá để thay đồ rồi lên Viện đại học. Gần bảy giờ tối tôi mới trở lại cư xá sĩ quan, ba tôi đã đợi ở đó từ lúc nào, gương mặt ông có vẻ giận dữ.
-Con đi đâu mà bây giờ mới về?
-Con đi học.
Khi nghe tôi nói đến hai chữ đi học gương mặt ông liền đổi sắc.
-Vậy hả, ba đâu có biết.
Tôi vừa mở cửa phòng vừa hỏi ba tôi.
-Ba tìm con làm gì?
-Ba có chuyện quan trọng muốn nói với con.
-Ba ăn cơm chưa?
-Chưa.
-Vậy ba với con ra quán bánh xèo, vừa ăn vừa nói chuyện được không?
Sau khi cất sách vở, tôi cùng ba tôi đi bộ ra khu Hòa Bình, quẹo xuống ngã ba đường Minh Mạng và Tăng Bạt Hổ, nơi có quán bánh xèo bình dân, nằm bên hông của một tiệm bán đồ sắt. Đây là quán bánh xèo ngon nổi tiếng của Đà Lạt.
Ông chủ quán bánh xèo tên Năm, vui vẻ hỏi tôi:
-Trung úy mạnh giỏi.
Tôi trả lời:
-Quá mạnh giỏi, còn chú Năm khỏe không?
-Không khỏe làm sao đổ bánh xèo cho trung úy ăn.
Quay sang nhìn ba tôi, chú Năm hỏi:
-Bác đây là gì của trung úy?
-Ba tôi đó chú Năm.
-Hèn gì trông giống trung úy quá sức. Bác với trung úy ăn bánh lớn hay nhỏ.
Tôi nói:
-Bánh lớn.
Chú Năm nói với ba tôi:
-Ông bác thật là có phúc, trung úy đây trẻ tuổi, lại làm ở Trường Võ Bị. Suốt đời, tôi chỉ ao ước được vô thăm trường một lần cho thỏa chí mà không được.
Tôi vỗ vai chú Năm.
-Hôm nào Võ Bị có lễ mãn khóa, tôi sẽ mời chú vô trường.
Chú Năm cười khoái chí.
-Trung úy nhớ đó nghe.
-Tôi nhớ mà, chú yên chí đi.
Chú Năm, đưa hai dĩa rau sống đầy vun tới trước mặt ba tôi và tôi. Ông nói nhỏ với tôi:
-Mỗi dĩa bánh của trung úy, tôi bỏ vô ba con tôm thứ bự, ngon khỏi chê.
Ba tôi chỉ ăn một cái bánh xèo rồi buông đũa, ông vừa uống nước trà vừa kể:
-Cái năm Nhật đảo chánh, ba với bác Bảy bỏ xứ vô Nam. Con không biết bác Bảy đâu, ổng với ba là bạn từ thủa hai đứa còn mặc quần lủng đáy, đi chăn trâu ở ngoài xứ. Khi xe lửa tới ga Tháp Chàm, thay vì lên Đà Lạt với ba, bác Bảy lại đổi ý đi vô Sài Gòn. Dễ chừng hai mươi bảy hay hai mươi tám năm rồi ba không có tin tức gì của bác ấy. Tuần rồi, ba tình cờ gặp lại bác Bảy ở chợ hoa Đà Lạt. Bác Bảy bây giờ có khác lúc xưa, nhưng ba vẫn nhận ra bác ấy nhờ bước đi hơi khập khểnh vì bị con trâu của ông Hương Bộ Hoạch húc hồi nhỏ. Vợ chồng bác Bảy lên Đà Lạt chơi, nhân tiện thăm cô con gái tên là Cúc đang học ở Viện đại học Đà Lạt. Cô ấy đang ở nội trú trong trường. Con có biết cô Cúc không?
Hình minh họa
-Ba à, trên Viện đại học có cả chục ngàn sinh viên, làm sao con biết ai là ai, cô nào là cô Cúc.
Ba tôi không buồn nghe tôi nói, ông kể tiếp:
-Khi biết con là trung úy trong Trường Võ Bị, lại đang tiếp tục học đại học bác ấy mừng lắm, khen con là người học giỏi, có chí.
Chuyện gì chứ khoe tôi học giỏi, không ai bằng ba tôi.
-Làm sao bác ấy biết con học giỏi.
-Ba nói cho bác ấy biết.
-Bác có tin không?
-Không tin mà ngày hôm sau bác Bảy và vợ xuống Trại Hầm thăm ba, ổng nhờ con đưa giùm cô Cúc, con của bác ấy về Sài Gòn.
Ba tôi lần trong túi quần lấy ra hai tấm giấy.
-Đây là hai cái vé máy bay, ngày mai con đưa cô Cúc về Sài Gòn, ở nhà bác ấy chơi vài ngày. Bác Bảy muốn coi mặt con, hỏi con vài chuyện.
Tôi cứ nghĩ là ba tôi đùa, mặc dầu từ trước đến giờ, tôi chưa bao giờ thấy ông nói đùa. Tôi cằn nhằn:
-Ba à, con còn phải đi học. Hơn nữa con đang ở trong quân đội, làm gì mà có thì giờ để hộ tống cái cô Cúc gì đó về Sài Gòn.
Ba tôi nói tỉnh queo.
-Con vừa có cái phép bảy ngày mà.
Tôi giật thót người, chỉ có thiếu tá trưởng phòng biết tôi đi phép, làm sao mà ba tôi cũng biết được chuyện này.
-Ai nói cho ba biết là con có cái phép bảy ngày?
-Bác Bảy chớ ai, bác nói với ba là đã xin cho con cái phép bảy ngày.
Ngạc nhiên quá sức, tôi vội hỏi ba tôi:
-Bác Bảy ở trong quân đội hả ba? Ổng mang cấp bậc gì?
-Bác Bảy không có dính dáng gì với lính, ổng chỉ lo kinh doanh buôn bán thôi. Nghe đâu ông ấy là ông trùm nhà cửa ở Sài gòn.
Tôi nghĩ, kinh doanh buôn bán gì mà cái phép của một thằng sĩ quan trong quân đội, muốn xin là được ngay, quả thật ông bác Bảy này không đơn giản tí nào. Tôi biết mình đang ở vào thế kẹt, đành phải thi hành lệnh thôi.
-Con chỉ đưa cô Cúc về Sài Gòn thôi, phải không ba?
-Ừ, con sẽ ở nhà bác Bảy vài ngày, bác ấy chỉ muốn chuyện trò với con, sau đó con đưa cô Cúc về lại trường.
-Hiện giờ cổ đang ở đâu?
-Nghe nói, nó ở nội trú trong trường.
-Được rồi, con sẽ làm đúng những gì ba dặn.
Ba tôi cười vui vẻ, ông uống thêm một hớp nước trà rồi nói:
-Ba tin con, bây giờ ba phải đi về.
Thực sự, nếu muốn từ chối không đưa cô Cúc về Sài Gòn cũng được nhưng tôi không nở. Phần vì thương ba tôi, một phần tôi cũng có đôi chút tò mò về cô Cúc. Bấy lâu nay tôi sống với mối tình đầu của mình, lúc nào tôi cũng nhớ Dung. Ba năm, rồi lại bốn năm, thời gian trôi qua vùn vụt, riêng tôi si tình rồi để tang cho mối tình đầu chừng đó năm cũng đủ rồi. Tôi vẫn nghĩ, đến một lúc nào đó tôi phải quên Dung, có lẽ đây là cơ hội giúp tôi xóa bỏ bóng hình Dung trong tim tôi. Chuyện có được hay không? Chưa biết, tôi phải tìm hiểu thêm về Cúc.
Tôi đón Cúc ở ký túc xá của nữ sinh viên Đà Lạt. Nhận xét đầu tiên của tôi về Cúc là nàng không đẹp, bốn điểm trên mười không thể gọi là đẹp được, nhưng nhờ vào cách ăn mặc với bộ quần áo đắt tiền, đôi giày cao gót da cá sấu, sợi dây chuyền bạch kim với trái tim nửa vàng nửa trắng nơi cổ, chiếc vòng ngọc nơi tay, khiến cho sắc đẹp của người con gái tăng thêm vài phần. Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân. Tôi nhủ thầm, coi cũng tạm được.
Hình minh họa
-Thưa cô, tôi là Quân. Xin hỏi cô có phải là Cúc không?
-Dạ phải.
-Bác Bảy dặn tôi, đến đưa cô về Sài Gòn.
-Dạ, em có nghe ba em nói hồi hôm qua.
Tôi hơi ngạc nhiên:
-Bác Bảy còn ở Đà Lạt à?
-Dạ không, ba em ở Sài Gòn, ổng gọi điện thoại cho em tối hôm qua.
Khi biết chắc, người con gái đứng trước mặt mình là Cúc, tôi đổi cách xưng hô.
-Em đã sẵn sàng chưa?
-Dạ chưa.
-Anh đợi em hai chục phút thôi, lẹ lẹ lên.
Hai chục phút sau, tôi xách va li của Cúc rồi cùng nàng đi bộ ra bến xe lam ở ngã năm Đa Thiện. Vừa đi tôi vừa nói:
-Bốn giờ chiều, phi cơ sẽ cất cánh ở phi trường Liên Khương, mình còn dư nhiều thời giờ. Em đói bụng không?
-Dạ, cũng hơi đói.
Tôi đưa Cúc tới quán cà phê bình dân của chị Huệ ở đường Phan Bội Châu. Cúc nói với tôi:
-Mình lại nhà hàng Shanghai đi anh.
Tôi chợt nhớ ra là mình đang đi với một cô gái con nhà giàu. Tự ái của thằng con trai, mặc cảm con nhà nghèo khiến tôi nói với Cúc, giọng nói cộc cằn, không một chút lịch sự:
-Anh hai mươi bốn tuổi, khi anh mới sanh ra nhà hàng Shanghai đã có ở đó rồi, có từ thời mấy ông Tây thuộc địa cỡi ngựa tới Chic Shanghai ăn uống. Chừng đó năm, anh đã đi qua nhà hàng này cả hàng triệu lần, chỉ một lần duy nhất anh bước chân vào đó, không dám ngồi ở phòng ăn, chỉ ngồi phòng ngoài uống ly cà phê, ăn một dĩa khoai tây chiên. Ăn khoai tây chiên rồi uống cà phê, đúng là nhà quê lên tỉnh nhưng trong thực đơn, đó là hai món rẻ nhất. Hôm nay, anh đưa em vào đó ăn trưa. Nếu em ăn một bữa ăn đúng nghĩa, một phần tư tháng lương của anh sẽ bay cái vèo. Anh sẽ đưa em tới đó, đứng ngoài đợi em ăn, được không?
Cúc lúng túng ra mặt, giọng nói của nàng không được bình tĩnh cho lắm:
-Em đâu có biết, lần nào lên thăm em, ba cũng đưa cả gia đình vào đó ăn tối. Em thấy nơi đó thức ăn ngon, tiếp đãi lịch sự.
Tôi nói với giọng châm biếm:
-Phải rồi, tiền cũng lịch sự không kém, nơi đó là cái máy chém chứ không phải là nhà hàng. Chỉ có những người như ba em mới đủ tư cách vào đó, còn anh phải đợi đến khi nào trúng số anh mới vào. Bây giờ em có muốn vô đây với anh, ăn khúc bánh mì, uống ly cà phê bình dân hay không?
-Dạ muốn.
-Vậy em còn đợi gì mà không vô quán?
Tôi nói với chị Huệ:
-Cho em hai khúc bánh mì chả, hai ly cà phê.
Chị Huệ nhìn tôi cười, nụ cười như ngầm nói, tôi méc cho mà coi:
-Cô Vân đâu rồi.
-Dạ, đi học.
Trường hợp này kêu bằng oan ơi ông Địa, biết vậy lúc nãy vô Shanghai ăn mà hay hơn. Tôi cầm khúc bánh mì chả gặm ngon lành, nhìn sang Cúc, khúc bánh mì vẫn còn nằm nguyên trong dĩa, tôi giục:
-Ăn đi em.
Hình minh họa
-Anh nhìn chăm chăm như vậy, làm sao em ăn được.
-Được rồi, ăn xong anh về cư xá lấy quần áo. Khi anh đi rồi không ai nhìn, lúc đó em tha hồ mà ăn.
-Anh để em ngồi một mình ở đây à?
-Phải rồi.
-Em đi theo anh được không?
-Không.
-Tại sao vậy?
-Nơi anh ở là cư xá sĩ quan độc thân, về phòng anh người ta dị nghị chứ sao. Hỏi hoài.
Tôi trở về cư xá, thay bộ đồ dân sự, mặc bộ đồ tiểu lễ mùa đông. Tôi đứng trước gương ngắm nghía, sửa lại cái mũ nồi đen trên đầu cho chỉnh tề, kiểm soát lại quần áo trong va ly, khi biết chắc là đã có thêm bộ đồ tiểu lễ mùa hè, lúc bấy giờ tôi mới xách va ly quần áo trở lại quán chị Huệ. Thấy tôi với bộ quân phục, Cúc trầm trồ:
-Bộ đồ này đẹp quá trời, giống như mấy ông sinh viên Võ Bị phải không anh?
-Bộ đồ đẹp, còn anh, em thấy thế nào?
-Anh dữ thấy mồ.
Tôi không nói gì thêm, ra dấu cho Cúc cùng đi. Từ đường Phan Bội Châu, hai đứa thả bộ xuống bến xe taxi nằm trước nhà hàng Chic Shanghai.
Có thể, Đà Lạt là một thành phố duy nhất trên thế giới, nếu muốn đi máy bay phải tới ga xe lửa. Đâu khoảng năm 1961 khi mà Cộng Sản Bắc Việt đẻ ra cái Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Dân miền Nam đang sống trong tự do thanh bình, no ấm đâu có cần mấy ông Bắc Việt vào đây để giải phóng. Chỉ có những người ngoại quốc ngây thơ mới tin rằng Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là do dân miền Nam lập ra. Từ khi có Mặt Trận, mấy ông giải phóng đi đến đâu ở đó có chiến tranh, khổ đau chết chóc kéo theo đến đó. Việt Cộng bằng mọi cách khủng bố dân chúng, phá hủy nhũng công trình lợi ích công cộng của Việt Nam Cộng Hòa, hôm nay họ đào đường đắp mô đường bộ, ngày mai đặt mìn giựt sập cầu phá hủy đường xe lửa, tuần tới phục kích bắn phá dân chúng đi trên tàu lửa. Đến năm 1968 đoạn đường xe lửa từ Sông Pha lên Đà Lạt phải ngưng hoạt động. Tôi biết người Pháp đã bỏ ra hàng chục năm, tốn không biết bao nhiêu công sức, tiền của để xây dựng nên đoạn đường xe lửa đặc biệt này. Gọi là đặc biệt, vì ngoài hai đường ray thường, còn có thêm đường ray răng cưa thứ ba ở chính giữa. Khi bắt đầu leo dốc, đầu máy xe lửa đặc biệt sẽ móc vào đường ray răng cưa. Xe lửa leo dốc sẽ không bị tuột. Người ta gọi đường xe lửa này là Cog railroad, do hãng Fuca Thụy Sĩ sản xuất, loại đầu máy xe lửa này trên thế giới chỉ có ở Thụy Sĩ và sau đó là Đà Lạt. Mấy năm rồi, xe lửa không chạy được nhưng nhà ga vẫn còn đó, người ta dùng ga xe lửa làm trạm hàng không.
Ba giờ chiều, tôi và Cúc ngồi trong tòa nhà kính ở phi trường Liên Khương chờ máy bay. Hai tách cà phê còn nóng hổi, tỏa mùi thơm ngào ngạt được mang lên. Qua khung cửa kính, bên ngoài sương mù xuống thật thấp bao phủ cả núi đồi. Trước mắt tôi, phi đạo mù mờ trong sương chiều. Thấy cảnh, chạnh lòng nhớ đến bài thơ cũ, tôi khẽ đọc:
Mù sương phi cảng não nề Thôi anh ở lại buồn về em mang. Tiễn anh một chén rượu tàn Một bàn tay nắm, một hàng lệ mau.
Cúc hỏi tôi:
-Thơ của anh phải không?
Hình minh họa
Tôi đùa với Cúc:
-Anh mà làm thơ hay như vậy đâu có đi lính làm gì cho mệt, ở nhà làm thơ gánh ra bán chợ trời, khỏe ru.
-Bài thơ buồn quá, của ai vậy anh?
-Đó là bài Khúc Ly Đình của Cao Thị Vạn Giả. Không biết anh nhớ có đúng hay không, đừng có tin anh.
o O o
Vẫn là những chiếc taxi nhỏ xíu sơn hai màu xanh trắng của Sài Gòn hơn bốn năm về trước, đưa tôi và Cúc ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhứt. Sài Gòn vẫn vậy, ồn ào náo nhiệt xe cộ dập dìu như mắc cửi, xe chạy trên đường Công Lý, qua chùa Vĩnh Nghiêm, qua ngã tư Yên Đổ được chừng non cây số, Cúc nói với tài xế ngừng lại trước một ngôi nhà kín cổng cao tường.
Mỗi tay một cái va ly, tôi theo Cúc đi vào nhà. Vừa bước chân qua khỏi cánh cửa cổng cao quá tầm mắt, tôi khựng người lại. Trước mắt tôi, một ngôi biệt thự nguy nga, đồ sộ kiến trúc theo kiểu Pháp, giống như những ngôi biệt thự mà tôi thấy ở Đà Lạt, cũng sân cỏ rộng mênh mông, cũng một con đường nhỏ lát đá dăm hình chữ C để xe hơi chạy vào tận hàng hiên của ngôi biệt thự.
Một người đàn ông cao lớn, mặt mũi phương phi trong bộ vest đúng thời trang đang đi tới, đi lui trước thềm nhà, nhìn ông ta tôi có cảm tưởng ông sắp đi họp nội các chính phủ hay họp Quốc Hội. Ông nhìn tôi thật lâu. Tôi không biết ông muốn gì đành đứng yên, lúng ta lúng túng, tay chân hình như thừa thãi. Cuối cùng, ông ta cũng lên tiếng:
-Con là Quân?
-Dạ phải.
Ông ta tự giới thiệu:
-Bác là Bảy, bạn của ba con.
Quay sang Cúc, ông nói:
-Con đi đường có mệt hãy vô phòng mà nghỉ, ba có chuyện riêng muốn nói với Quân.
Tôi hơi ngạc nhiên, tại sao cha con họ gặp nhau mà không một chút gì vui mừng, hớn hở. Đợi cho Cúc khuất hẳn sau cánh cửa cuối phòng, bác Bảy mới nói với tôi:
-Con nói như thế nào mà Cúc chịu theo con về đây.
Không biết bác Bảy có lẩm cẩm hay không? Chính ông là người muốn tôi đưa Cúc về đây, rồi bây giờ lại hỏi. Tôi trả lời:
-Dạ, bác muốn con đưa Cúc về đây, con đã làm đúng lời bác dặn.
-Đúng là bác muốn như vậy, nhưng mà có chuyện này bác chưa nói với con. Từ ngày má của Cúc mất, sau đó bác lấy bà sau, con Cúc đâm ra ghét bác, không bao giờ chịu nghe lời bác. Ngày hôm qua nó còn nói với bác là, cho dù bác có đưa mười người tới cạy chân nó cũng không về Sài Gòn đâu. Bác nhờ con, nhưng không tin là con sẽ đưa Cúc về đây được. Mà thôi, mọi chuyện sẽ tính sau, con nghỉ cho khỏe, ở chơi vài ngày rồi đưa nó về lại Đà Lạt. Phòng riêng của con ở trên lầu, phòng thứ hai bên trái, lát nữa, chị người làm sẽ hướng dẫn con mọi việc trong căn nhà này.
Ách giữa đàng lại mang vào cổ, chuyện xung đột, bất hòa giữa hai cha con họ, đang không tròng vào cổ mình.
Tôi theo chân chị người làm, đi lên căn phòng dành riêng cho mình. Thang lầu làm bằng gồ quý, hai lan can với những hàng cột chạm trổ cầu kỳ, tỉ mỉ được đánh vẹc ni bóng loáng, không một hạt bụi, chứng tỏ nó được lau chùi hàng ngày. Căn phòng tôi ở khá rộng, đầy đủ tiện nghi, điều mà tôi thích nhất là cái cửa sổ nhìn xuống sân sau của căn nhà. Tôi gieo mình xuống giường, đưa mắt nhìn những đường hoa văn chạy quanh trần nhà rồi chìm vào giấc ngủ lúc nào không biết. Đang mơ mơ màng màng, tôi chợt giật mình vì có ai đó lay nhẹ nơi vai. Tôi mở mắt ra nhìn rồi nói, giọng nói đầy bực tức:
Hình minh họa
-Ai cho em vào đây?
Cúc trả lời:
-Em vào để thức anh dậy.
Câu trả lời của Cúc khiến tôi nổi giận đùng đùng. Mặc cảm nghèo hèn, khiến tôi có thành kiến với lũ con gái nhà giàu, họ dựa vào đồng tiền nên muốn làm gì thì làm. Tôi lên giọng cay cú với Cúc:
-Vẫn biết đây là nhà của em, nhưng em phải biết chút lịch sự tối thiểu, ỷ là nhà của mình rồi muốn làm gì cũng được hay sao?
-Em gõ cửa đến mấy lần mà không nghe anh trả lời. Cuối cùng, em đành phải mở cửa đi vào để đánh thức anh dậy. Ba đang đợi anh xuống ăn cơm tối. Anh biết mấy giờ rồi không?
– Không.
– Đã chín giờ tối rồi.
Người quá đáng là tôi chứ không phải là Cúc, tôi nói nhỏ:
-Xin lỗi em.
Tôi theo Cúc đi xuống nhà. Bác Bảy ngồi nơi bàn ăn, trước mặt ông là chai rượu Martell, khi thấy tôi, bác lên tiếng:
-Uống với bác một ly cho ấm bụng, trước khi ăn cơm.
-Thưa bác, con không biết uống rượu.
Bác Bảy lắc đầu, nhìn tôi như tiếc rẻ.
-Con đi lính được bao lâu rồi?
-Dạ, gần năm năm.
-Lính mà không biết uống rượu coi bộ hơi yếu, người ta thường nói nam vô tửu như kỳ vô phong. Ở miền Nam này không biết uống rượu kể như mất vợ. Con có biết không, đâu ba chục năm trước lần đầu tiên bác gặp ông ngoại của con Cúc, bác không biết uống rượu. Dân miền Trung của mình mấy ai biết uống rượu, tiền mua gạo không có lấy tiền đâu mà uống rượu, tuy vậy bác vẫn cố hầu rượu với ông ấy. Một mình bác uống hết một lít rượu đế, sau đó bác bị say lúy túy, nằm bò càng nơi góc nhà đến chiều hôm sau mới tỉnh lại, nhờ vậy mới lấy được má con Cúc.
Bác Bảy chỉ chiếc ghế đối diện.
-Con ngồi đó, không cần uống một lít rượu đế như bác ngày xưa. Mấy chục năm rồi, bây giờ thời thế đã khác, con uống một ly nhỏ Martell là được rồi.
Nghĩ tới Dung giờ này đã yên phận với mối tình của nàng, tôi nhìn Cúc đang ngồi đó, bên cạnh bác Bảy rồi quyết định, phải uống một lít rượu đế thôi. Tôi nâng ly Martell.
-Mời bác.
Suốt bữa ăn, bác Bảy và Cúc không hề nói chuyện với nhau, chỉ có mình tôi tả xung hữu đột khi nói với Cúc, lúc phải trả lời bác Bảy. Bữa ăn tối trôi qua trong không khí tẻ nhạt, Cúc đứng lên:
-Con mệt quá phải về phòng nghỉ, ba và anh Quân ăn cơm vui vẻ.
Khi bóng Cúc đã khuất sau cầu thang, bác Bảy hỏi tôi:
-Con buồn ngủ chưa?
-Dạ chưa.
-Vậy, bác cháu mình ra sân sau chuyện trò.
Hình minh họa
Vừa bước ra khỏi nhà, tôi ngạc nhiên đến sửng người khi nhìn thấy nguyên một tiểu cảnh ở góc vườn. Dưới ánh sáng lung linh mờ ảo của những ngọn đèn đặc biệt, một hòn non bộ với thác nước cao chừng hai mét, nước đổ ào ào, xen vào đó là những cây bonsai với đủ mọi hình dáng, từ rừng thông xanh chen chúc nhau bên bờ đá, cho đến những cây tùng mọc lác đác trên sườn núi, mà thân của nó đổ dài theo khe suối, rễ của nó bám chặt vào vách đá cheo leo. Dưới chân thác nước, tôi đếm được 5 hòn đá có hình dáng giống như những hòn núi đá ở vịnh Hạ Long mà tôi đã từng thấy qua hình ảnh. Tôi buột miệng:
-Đẹp quá chìmg.
Bác Bảy đến bên tôi.
-Con có thấy gì không?
-Dạ năm hòn đá.
-Đúng, bác cho xây hòn non bộ này vì nghĩ đến quê hương xứ sở của mình. Mỗi khi gặp khó khăn, phiền phức, bác thường ra đây ngồi nghe nước chảy rôi thả hồn về quê, bao lo âu phiền muộn sẽ từ từ tan biến. Con có thấy nó giống như Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng của mình không?
-Dạ con chưa được về xứ mình, nên không biết núi Ngũ Hành như thế nào.
Bác Bảy chỉ tôi ngồi xuống một cái ghế đá.
-Bác có chuyện nhờ con, chỉ là chuyện gia đình.
-Dạ, con sẽ cố gắng hết sức.
-Chuyện như vầy, bác là người kinh doanh về nhà cửa ở Sài Gòn. Từ ngôi biệt thự này chạy về phía phi trường Tân Sơn Nhứt, bác có khoảng chục cái building cao tầng cho Mỹ mướn.
Tôi nghe bác Bảy nói mà lạnh cả người, chỉ cần một tòa nhà cho Mỹ mướn, con cháu sống sung sướng suốt một đời, đàng này ông có những chục tòa nhà cao tầng, đó là chuyện tôi không bao giờ ngờ tới. Có điều, tôi không hiểu được tại sao một người như bác Bảy, học hành không được bao nhiêu vào Sài Gòn với hai bàn tay trắng, chưa đầy ba chục năm sau lại xây dựng nên một sản nghiệp khổng lồ như vầy. Ông ta phải là một con người đặc biệt khác thường.
Bác Bảy kéo tôi ra khỏi dòng suy nghĩ.
-Công việc làm ăn của bác mỗi ngày một phát triển tốt đẹp, đạt đến giai đoạn cực thịnh cách đây vài năm, khi mà con số lính Mỹ viễn chinh đổ vào Việt Nam lên đến hơn nửa triệu người. Trong lúc bác đang bận bịu với công việc làm ăn, bất ngờ má con Cúc lại đột ngột qua đời vì bệnh tim bẩm sinh. Phải mất cả mấy tháng trời, nỗi buồn của bác mới nguôi ngoai được phần nào.
Đang nói chuyện, bác Bảy thân mật vỗ vai tôi:
-Có chuyện này bác muốn nói với con, đàn ông bọn mình coi vậy chứ đoản lắm, nói là buồn, nhưng vợ mất chưa được bao lâu bác đã lật đật cưới bà khác. Bà sau này có với bác đứa con trai, vừa thôi nôi cách đây độ nửa năm. Trước đây khi má con Cúc còn sống, nhưng sau khi sanh con Cúc đã không sanh đẻ được nữa, bác nghĩ rằng ông trời cũng lạ, cho mình tiền bạc thừa mứa nhung con cái để nối dòng lại quá khắt khe. Nào ngờ, khi lấy bà sau chưa được bao lâu lại có liền đứa con trai. Ông bà mình có nói “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” được đứa con trai bác mừng muốn chết, cho nên bác lẹ lẹ làm tờ di chúc, tài sản của bác sẽ chia làm hai phần bằng nhau. Con Cúc một phần, thằng con trai của bác với bà sau một phần. Chuyện bất hòa giữa bác và Cúc bắt nguồn từ đó. Con Cúc giận bác cho đến giờ.
Bác Bảy ngưng nói, ông nhìn tôi thật lâu rồi chầm chậm lên tiếng:
-Con và Cúc học chung trường, cùng là người có ăn học, dễ thông cảm nhau. Bác nhờ con giải thích cho Cúc hiểu tâm tình của bác, để cha con không còn giận hờn nhau nữa.
Bây giờ tôi đã hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện, hiểu rõ mục đích chuyến đi phép bảy ngày của mình. Sau một lúc suy nghĩ, tôi mạnh dạn trả lời bác Bảy:
-Con nghĩ rằng bác làm đúng tất cả mọi chuyện, em Cúc hơi quá đáng nếu không muốn nói là quá ích kỷ, chỉ biết lo cho mình thôi. Con sẽ tìm cách nói với Cúc.
Hình minh họa
Một nụ cười thoáng trên môi bác Bảy, ông nói:
-Cảm ơn con nhiều, bác biết con sẽ làm được.
Tôi nhìn đồng hồ đeo tay.
-Bác còn gì sai bảo con nữa không?
-Không.
Tôi nói:
-Xin phép bác cho con về phòng nghỉ.
Khi tôi đi được vài bước, bác Bảy chạy theo đặt vào tay của tôi một cái phong bì dày cộm.
-Con cầm chút tiền này, mai đưa Cúc đi chơi.
-Thưa bác con có tiền.
Bác Bảy nói với tôi, giọng nói đầy uy quyền của một nhà đại tư bản.
-Tiền lương của lính Mỹ tính bằng đô la bác coi còn không ra gì huống chi lương của lính Việt Nam. Tin bác đi, lương tháng của con không đủ cho con Cúc nó sắm một bộ đồ. Cứ cầm lấy, mai mốt không xài trả lại cho bác sau. Nếu con muốn.
Tôi biết có chối từ cũng không được, đành phải cầm lấy cái phong bì. Bác Bảy dặn thêm:
-Nhà có nhiều xe, con muốn đi đâu cứ biểu tài xế chở đi.
Tôi ngủ một giấc cho đến chín giờ sáng mới thức dậy. Hôm nay tôi dự định sẽ tìm cơ hội để nói với Cúc về chuyện phân chia tài sản của bác Bảy. Tôi phải thanh toán chiến trường cho lẹ lẹ, như lính Nhảy Dù tấn công mục tiêu, sau đó còn trở về Đà Lạt.
Khi tôi đi ngang qua nhà bếp, Cúc đang ngồi nơi bàn ăn với tờ báo trên tay. Thấy tôi nàng cất tiếng:
-Anh ngủ ngon không?
Tôi trả lời:
-Lạ nhà, nhưng vẫn ngủ ngon như thường.
-Anh muốn ăn sáng ở nhà, hay muốn xuống Sài Gòn đi dạo một vòng rồi ăn sáng luôn?
Tôi chợt nhớ đến tựa đề của một bài hát khá thịnh hành, bèn đùa với Cúc:
-“Lính mà em” ăn ở đâu cũng được.
Giọng nói của Cúc hơi gắt:
-Anh ăn nói kiểu huề vốn như vậy, làm sao em biết anh muốn gì.
-Xin lỗi em, thực lòng mà nói anh có biết gì về Sài Gòn đâu. Bốn tháng ở Quân trường Thủ Đức, cuối tuần nghỉ phép anh chỉ loanh quanh từ tòa nhà Quốc Hội đến chợ Bến Thành, rồi từ Dinh Độc Lập với con đường Công Lý chạy qua khỏi cầu cho đến đường Nguyễn Minh Chiếu, chỉ chừng đó thôi. Anh về Sài Gòn cũng giống như Mán về thành.
-Em có chuyện này muốn nói với anh, nhưng anh phải hứa là không được tự ái,
-Đồng ý.
-Em muốn mời anh xuống Sài Gòn ăn trưa, em sẽ trả tiền.
-Đi liền, nhung anh phải là người trả tiền.
Tôi kể cho Cúc nghe đầu đuôi câu chuyện giữa tôi và bác Bảy tối hôm qua, kể luôn cả chuyện bác đã đưa tiền cho tôi. Tôi nói với Cúc:
-Anh đoán số tiền ba em đưa cho anh nhiều, nhưng anh không ngờ nó nhiều đến như vậy. Lương trung úy độc thân của anh chỉ có hai mươi lăm ngàn một tháng, số tiền trong bì thơ bằng hai tháng lương của anh. Mà thôi, dẹp chuyện tiền bạc qua một bên, anh chỉ muốn nói với em hãy thương ba em, đừng giận ông ấy nữa. Chuyện ba em chia đôi gia tài cũng phải thôi, con bà trước hay bà sau cũng là con của ông ấy, hơn nữa đứa bé lại là con trai. Nỡ lòng nào em dành hết phần của em mình, cho dù là em cùng cha khác mẹ.
Hình minh họa
Cúc chăm chú nhìn tôi nhăn mặt, tỏ vẻ khó chịu, được một lúc nàng mới nói:
-Câu chuyện hơi dài, mình ra nhà sau ngồi em sẽ kể cho anh nghe. Được không?
-Anh, lúc nào cũng sẵn sàng.
-Để em dặn chị Hai làm thức ăn sáng, anh muốn ăn gì?
-Gì cũng được.
Tôi và Cúc ra ngồi ở bãi cỏ bên hòn non bộ. Cúc mở đầu câu chuyện:
-Trước đây, em dặn lòng là sẽ không bao giờ về lại Sài Gòn gặp ba em, nhưng hôm qua lúc gặp anh em lại đổi ý. Em muốn kéo anh về phe em để chống lại ba em. Em nghĩ, tại sao không nương vào sự tin tưởng của ba em đối với anh để thuyết phục ông đừng chia gia tài cho má ghẻ của em. Tất cả những gì ba em nói với anh đều là sự thật, nhưng đó chỉ là một phần của sự thật thôi, mà một phần thì chẳng khác gì chuyện anh mù sờ voi. Ôm cái chân voi, rồi la lên là con voi giống cái cột nhà.
Cúc nhìn tôi như chờ đợi, khi thấy tôi yên lặng, nàng nói tiếp.
-Ông ngoại của em là người Ấn, sang Việt Nam từ thời Pháp thuộc. Thời bấy giờ, đa số người Ấn ở Việt Nam sinh sống bằng nghề cho vay lấy lãi hoặc là mở cửa hàng buôn bán mỹ phẩm, tơ lụa chở từ Bombay sang. Riêng ông ngoại em lại lấy vợ Việt, nuôi một đàn dê bán thịt, lấy sữa. Chuyện cũng dễ hiểu, vì ông không có nhiều vốn như những người Ấn khác. Ngày xưa, từ cầu Mạc Má Hồng chạy dài đến phi trường Tân Sơn Nhứt là một vùng đất hoang, cây cối xanh tươi, cỏ dại mọc đầy đồng, lác đác chỗ này vài chục căn nhà tranh vách đất, chỗ kia dọc theo mặt lộ mươi căn nhà gạch, gom hết lại độ vài trăm căn nhà. Ông ngoại em cho đàn dê ăn cỏ trên vùng đất đó.
Tôi ngắt lời Cúc.
-Khoan đã, em nói cái cầu tên gì?
-Cây cầu tên là Mac Mahon, người Việt mình đọc thành Mạc Má Hồng. Sau này đổi tên là cầu Công Lý.
-Em chỉ thua anh có vài tuổi sao em rành chuyện xưa của Sài Gòn như vậy?
-Ông ngoại em kể lại, vì đây là vùng đất của ông ngoại em mà. Chuyện như thế này, sở thuế của Sài Gòn muốn thâu thuế trên đàn dê của ông ngoại, vì đàn dê ăn cỏ trên đất của thành phố nhưng không thâu thuế được, phần ông ngoại lại cho rằng đất ở đây không phải của ông, đàn dê chỉ ăn cỏ trên đó thôi. Cuối cùng một giải pháp ổn thỏa cho cả hai bên là, sở đất Sài Gòn ký giấy cho ông ngoại phần đất từ cầu Mạc Má Hồng đến Tân Sơn Nhứt để ông chăn dê, với điều kiện phải đóng thuế thổ trạch. Từ một di dân bỗng dưng trở thành địa chủ, ông ngoại phải đi thu thuế của những gia đình có nhà trên vùng đất này, rồi nộp lại cho sở thuế của Pháp ở Sài Gòn. Chuyện được sở hữu miếng đất ông ngoại không phàn nàn, nhưng khi thu thuế đất thường gặp khó khăn, trở ngại, vì người dân ở đây lý luận rằng: họ là dân Việt Nam, sống trên đất Việt Nam tại sao lại phải nộp thuế đất cho một anh Ấn Độ. Chuyện tranh cãi về thuế đất dùng dằng, kéo dài cho đến cái năm Nhật đảo chánh, ba của em từ Quảng Nam lưu lạc đến vùng này. Ông ngoại thuê ba để chăn đàn dê và thu thuế đất cho ông. Ba em lúc bấy giờ là một thanh niên trẻ tuổi lanh lẹ, làm việc giỏi giang, nhất là khi đi thu thuế đất, không biết ba nói những gì mà việc thu thuế êm xuôi, trót lọt.
Ông ngoại thường nói với em “Tao gả má mày cho ba mày, vì tao muốn cột cẳng ba mày ở đây. Thiếu ba mày, một mình tao làm sao lo nổi mọi chuyện”. Em nói với ông “Vậy là ông ngoại lợi dụng ba con”. Ông cười rồi nói “Lúc đầu tao có ý đó thiệt, nhưng sau này tao thương ba mày còn hơn con ruột”
Chị người làm bưng ra hai phần ăn sáng. Không khách sáo, tôi kéo khay thức ăn lại trước mặt mình, vừa ăn vừa hỏi Cúc:
-Ông ngoại em có bao nhiêu người con?
-Chỉ có một mình má em.
Hình minh họa
Tôi đùa với Cúc:
-Ba em cũng sướng thiệt, ông ngoại em tạo dựng nên cơ nghiệp. Ba em vào thừa hưởng.
-Không đúng đâu anh ơi! Nói như vậy tội nghiệp cho ba em. Trước thập niên năm mươi, vùng đất từ Tân Son Nhứt về đến cầu Mạc Má Hồng, ai muốn lấy bao nhiêu đất để xây nhà cũng được, họ chỉ tốn một ít tiền gọi là lệ phí giấy tờ sau đó phải đóng thuế thổ trạch cho ông ngoại của em. Ông ngoại sẽ nộp tiền thuế này lại cho sở thuế ở Sài Gòn. Gần hai chục năm sau, khi lính Mỹ đổ vào Việt Nam, vùng đất này trở thành vùng đất vàng. Lúc bấy giờ ba em bán bớt đất, xây building cho Mỹ mướn rồi giàu lên từ dạo ấy đến giờ.
Tôi chấm dứt bữa ăn sáng bằng một ngụm cà phê, rồi nói với Cúc:
-Tất cả gia tài sản nghiệp do một tay ông tạo dựng nên, đúng không?
-Đúng, em đâu có phủ nhận công của ba em đâu.
Tôi mừng quá sức, vì câu chuyện diễn tiến tốt đẹp theo chiều hướng mà tôi muốn.
-Nếu vậy, ba em có quyền phân chia tài sản của ông theo ý ông muốn, tại sao em lại giận ba em?
Gương mặt của Cúc bỗng nhiên đối sắc. Cúc trả lời tôi, với giọng nói đầy tức giận:
-Cũng tại nơi hòn non bộ này, năm ngoái khi ba em đi Đà Nẵng lo công việc, má ghẻ của em dẫn thằng bồ của nó về đây. Con nhỏ không biết em vừa từ Đà Lạt về lại nhà vào tối hôm trước, đang ở trên lầu. Từ phòng anh ở nhìn xuống đây, anh sẽ không thấy gì, nhưng bên phòng ngủ của em sẽ thấy rất rõ.
-Em ăn nói hơi lỗ mãng, tại sao lại kêu má ghẻ của mình là con nhỏ.
-Nó bằng tuổi em lại lăng loàn, anh muốn em kêu nó bằng gì?
Rõ ràng là tôi đang rơi vào tình huống bất ngờ, nhưng tôi vẫn cố gắng vớt vát.
-Tại sao em biết họ là bồ của nhau?
-Ba em vắng nhà cả tuần, hai đứa mất nết ngồi đây hôn nhau, không phải là bồ thì gọi là gì?
Cúc nhìn tôi với đôi mắt buồn hiu.
-Anh có biết, tại sao em không muốn ba em chia gia tài cho thằng bé không?
-Không, tại sao vậy?
-Bởi vì, thằng bé là con của má ghẻ em với thằng bồ của bả, nó giống thằng bồ của má ghẻ em như hai giọt nước. Nó đâu phải là con của ba em. Ba em là cái mỏ vàng mà người đào mỏ là má ghẻ của em và thằng bồ của bả.
Tôi ngồi thừ người ra đó, tiếng thác nước từ hòn non bộ đổ xuống hồ nghe rào rào như tiếng mưa rơi. Âm thanh của nó khiến tôi chợt nhớ đến một cuốn phim đen trắng của Nhật, mà tôi đã được xem cách đây vài năm. Ba người núp mưa dưới cái cổng tên là Rashomon cổ xưa, dẫn vào miền nam cố đô Kyoto. Một nửa mái cổng đổ nát, tàn tạ tiêu điều chìm trong làn nước mưa xám đục, một ông sư, một bác tiều phu, một gã thường dân…. đâu là sự thật?
Bác Bảy và Cúc, tôi phải tin ai?
Cho dù câu chuyện Cúc kể không có một bằng chứng cụ thể nào về gốc gác của thằng bé, nhưng qua trực giác tôi tin rằng Cúc nói đúng. Còn nếu muốn suy luận lại càng rõ ràng hơn, một cô gái mới hai mươi tuổi chịu lấy bác Bảy, một ông già đáng tuổi cha mình, nếu không vì tình thì chỉ vì tiền mà thôi.
Mục đích của tôi là thuyết phục Cúc, bây giờ tôi lại bị Cúc thuyết phục.
-Anh đang nghĩ gì vậy?
Giọng nói của Cúc kéo tôi trở về với thực tại, mặc dù nghe Cúc nói rõ ràng nhưng tôi vẫn hỏi lại:
-Em nói gì?
-Anh làm gì mà ngồi ngẩn người ra như vậy?
Hình minh họa
Thay vì trả lời câu hỏi của Cúc, tôi hỏi lại nàng:
-Tại sao, em không nói chuyện bê bối của bà má ghẻ và thằng bé cho ba em nghe?
-Liệu ba em có tin lời nói của em hay không? Hay là ông lại cho rằng em đặt chuyện để vu khống cho người ta. Em muốn nhờ anh nói giùm, đó là lý do tại sao em đồng ý theo anh từ Đà Lạt về đây.
Tôi lắc đầu:
-Chuyện quan trọng lại quá sức tế nhị, anh không đủ khả năng. Hơn nữa, nếu ăn nói không khéo léo, bác Bảy có thể nổi giận cho anh vài cái bạt tai rồi tống cổ anh ra khỏi nhà với câu nói “Cái trứng đòi khôn hơn con gà”
Hai đứa im lặng nhìn nhau, cuối cùng tôi nói với Cúc:
-Anh không giúp được gì cho em đâu. Ngày mai anh sẽ về Đà Lạt, em có muốn đi cùng với anh hay không, tùy ý em.
Cũng đúng lúc ấy, tôi nói với Cúc một câu nói mà tôi không hề muốn nói:
-Ba em chia cho em một nửa gia tài như vậy là quá rồi, nếu ổng để hết gia tài lại cho thằng bé, em cũng chẳng làm gì được, luật pháp đâu có cấm cản.
Tôi không ngờ câu nói trong lúc cùng đường lại có kết quả, Cúc ngồi im lặng một lúc rồi nói với tôi:
-Anh nói đúng, em sẽ suy nghĩ lại, cảm ơn anh đã giúp em. Giờ này cũng đã hơn mười một giờ rồi, em mời anh xuống Sài Gòn ăn trưa.
-Chuyện đó không có gì trở ngại, anh cũng muốn dạo một vòng Sài Gòn.
Tôi mặc bộ đồ tiểu lễ mùa hè của Trường Võ Bị Đà Lạt, gắn thêm cặp lon trung úy nơi cầu vai áo rồi thong thả đi xuống nhà. Cúc cũng đã chưng diện xong xuôi, hai đứa lên chiếc Peugeot 404. Anh tài xế với giọng kính cẩn.
-Thưa cô muốn đi đâu?
Cúc trả lời cộc lốc:
-Sài Gòn.
Quay sang tôi, Cúc nói:
-Hình như anh thích mặc đồ lính hơn đồ dân sự.
-Đúng.
-Khi đi phép, anh có quyền mặc thường phục mà.
-Con người anh yếu đuối, thiếu tự tin, lúc nhỏ khi đi học bị bạn bè trong lớp hiếp đáp, đứa bóp mũi, đứa cú đầu, đứa đá đít, có cục kẹo giấu trong túi cũng bị tụi nó lục lấy mất. Bị ăn hiếp riết thành quen, anh coi đó là chuyện bình thường. Lớn lên khi vào trung học, anh học hành không được giỏi giang gì cho lắm, năm nào cũng chỉ hơn được mươi đứa ở cuối lớp. Lúc thi đậu Tú tài, thấy tên mình trên bảng anh vẫn chưa tin. Khi đi lính, anh không dám thi vào Hải Quân hay Võ Bị Đà Lạt vì sợ mình không đủ sức.
Cúc nói:
-Đó là chuyện xưa, còn bây giờ phải khác chớ.
-Không có gì khác, một đôi khi em thấy anh ăn nói cộc cằn, thô lỗ rồi nghĩ rằng anh có cá tính mạnh hoặc dữ nhưng thật ra đó chỉ là phản ứng của một người nhút nhát, mang đầy mặc cảm. Tự tin sao được khi anh mặc đồ dân sự đi ngoài phố, là bị cảnh sát gác đường chận lại xét giấy tờ vì nghi là anh trốn quân dịch. Hơn nữa đen đúa, xấu xí như anh lại mặc bộ đồ dân sự rẻ tiền không hợp thời trang, đi với một cô gái ăn mặc sang trọng lịch sự như em dám bị người ta nói “Tiếc thay cây quế giữa rừng” hoặc tệ hơn nữa có thể bị du đảng Sài Gòn đánh cho gãy tay, què cẳng như không. Thôi thì cẩn tắc vô áy náy, biết phòng xa vẫn tốt, mặc bộ đồ tiểu lễ của Trường Võ Bị Đà Lạt, thêm cặp lon trung úy nơi cầu vai áo, giúp anh tự tin hơn.
Xe chạy vòng theo bùng binh chợ Bến Thành, khi đi ngang qua nhà hàng Thanh Bạch tôi nói với anh tài xế.
-Ngừng xe ở đây.
Hình minh họa
Cúc quay qua nhìn tôi:
-Anh muốn ăn trưa ở Thanh Bạch?
-Không, mấy năm trước lúc còn là Sinh viên sĩ quan Thủ Đức anh cùng hai người bạn có ăn tối ở đây, anh chỉ muốn nhìn lại chốn cũ chút xíu.
Khi nói xong, tôi mới giật minh nghĩ lại, mình chỉ nói có một phần sự thật. Tôi giấu biệt chuyện có Dung trong bữa ăn đó, giấu chuyện tôi yêu Dung say đắm như thế nào.
Tối hôm đó, không biết Cúc nói gì với bác Bảy, ngày hôm sau khi gặp tôi bác Bảy vồn vã, săn đón, niềm nở chuyện trò với tôi như là thượng khách trong nhà. Ông dẫn tôi và Cúc đi ăn uống ở những nhà hàng sang trọng của Sài Gòn và Chợ Lớn, sắm cho tôi những bộ quần áo đắt tiền. Cúc đã hết giận bác Bảy. Nhìn cha con họ vui vẻ bên nhau, cười nói huyên thuyên tôi thấy hết sức áy náy trong lòng. Lạy trời, xin bác Bảy đừng nghe lời nói bậy của tôi trong lúc cùng đường, đem hết gia tài sản nghiệp của bác để lại cho mẹ con thằng bé.
Liên tiếp mấy ngày sau đó, Cúc dẫn tôi rong chơi khắp Sài Gòn trên chiếc xe Peugeot 404. Tôi ăn diện như một tay chơi thứ thiệt của Sài Gòn, áo quần đắt tiền, lịch sự hợp thời trang, thêm đôi giày da của Ý bóng láng, khiến cho tôi quên mất mình là con của một gia đình nghèo, quên luôn mình là lính trong một đất nước mà bom đạn của chiến tranh đã tàn phá, hủy hoại đến tận cùng của khổ đau.
Gần ngày cuối cùng của bảy ngày phép, Cúc cho tài xế lái xe ra Vũng Tàu. Tôi ngồi dựa ngửa trên chiếc ghế dựa nơi bãi biển, bên cạnh là chai bia 33 lạnh ngắt, từng giọt mồ hôi lạnh của chai bia chảy dọc theo thân chai, mới nhìn thấy chưa kịp uống đã phát thèm. Cúc từ dưới biển đi lên, thân hình cân đối đầy đặn với làn da trắng mịn màng, gói gọn trong bộ bikini xanh lợt. Tôi thấy rõ cái hấp lực mãnh liệt trong một tấm thân căng đầy nhựa sống. Những giọt nước biển trong veo chảy dài theo thân thể của nàng, long lanh, lấp lánh dưới ánh mặt trời khiến tôi ngẩn ngơ cả người. Để xóa bỏ ý nghĩ xấu trong đầu, tôi quơ tay nâng chai bia uống một hơi. Cúc lại gần chiếc ghế bên cạnh tôi nhẹ giọng:
-Anh ngồi nhớ ai mà như mất hồn vậy? Xuống tắm biển với em.
-Hình như thẻ bài là vật bất ly thân của lính, phải không anh?
Tôi trả lời Cúc:
-Đúng, nhưng chỉ đúng với người lính tác chiến ở ngoài trận địa, nơi mà bom đạn vô tình, có thể đốt cháy hoặc xé nát thân xác người lính thành nhiều mảnh nhỏ, công dụng của tấm thẻ bài là để xác nhận tính danh của người quá cố. Thêm một công dụng nữa cũng không kém phần quan trọng, là trên tấm thẻ bài còn ghi rõ loại máu của người lính mang nó, phòng khi bị thương cần được tiếp máu. Anh là lính văn phòng, tấm thẻ bài không quan trọng lắm đâu. Mai mốt, anh làm lại tấm thẻ mới.
Hình minh họa
Dưới ánh nắng ấm của bầu trời Vũng Tàu, hai thân thể đứng gần như chạm nhau, tôi quay mặt đi không dám nhìn thân hình quá sức hấp dẫn của Cúc trong bộ áo tắm rồi nói:
-Mấy hôm rày, anh có chuyện muốn hỏi em nhưng thấy không thuận tiện.
-Chuyện gì vậy anh?
Tôi hơi ngập ngừng khi hỏi Cúc
-Em..em có bạn trai chưa?
Cúc cười:
-Em có nhiều bạn trai nhưng chưa có bồ. Anh biết rồi, bạn trai và bồ hoàn toàn khác nhau. Ở vào hoàn cảnh của em, tìm được một người tình quả thực khó hơn chuyện bắt con lạc đà chui qua cái lỗ kim.
-Em giải thích rõ hơn được không? Con nhà giàu, học giỏi như em thiếu gì bồ.
-Câu nói đó, chỉ áp dụng cho con trai chứ không phải cho con gái.
Cúc nói với gương mặt buồn hiu.
-Con gái xấu như em không nên học nhiều, học càng cao càng khó kiếm chồng, hơn nữa nhà em lại quá giàu. Đám bạn trai của em trên Viện đại học, sau một thời gian quen biết, họ từ từ rút lui nhẹ nhàng không kèn không trống.
-Tại em kênh kiệu quá chứ gì?
-Không phải, chỉ tại không ai muốn ra trường với mảnh bằng kỹ sư đào mỏ.
Câu nói vô tình của Cúc như một nhát búa đập lên đầu tôi. Đó là vấn nạn đeo đẳng tôi suốt cả tuần qua.
Ngày xưa, khi thuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt, lương lính chẳng được bao nhiêu, tôi ký cóp dành dụm từng xu, chắt chiu góp nhặt từng đồng hy vọng sau vài năm sẽ có đủ tiền mua chiếc xe Honda hai bánh mới để đi làm, và cũng để gọi là có chút gì với mọi người. Thời tôi mới ra trường, chiếc xe Honda trị giá năm mươi ngàn đồng. Bốn năm sau, khi tôi để dành được năm mươi ngàn đồng giá chiếc xe tăng lên gần gấp đôi. Tôi không biết gì về Kinh tế học nhưng cứ cái đà lạm phát như thế này bốn năm nữa, khi tôi để dành được một trăm ngàn, không chừng giá của chiếc xe Honda sẽ tăng vọt lên khoảng hai trăm ngàn đồng hay có thể hơn nữa. Như vậy, nếu tôi tiếp tục để dành tiền, cuối đời cũng chỉ mua được cái bóng chứ không bao giờ mua được chiếc xe.
Chuyện dành dụm mua chiếc xe Honda hai bánh, bao nhiêu năm rồi tôi làm không được, thử hỏi chuyện lớn hơn như ông bà mình thường nói “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà”. Làm sao tôi có thể thực hiện được, suốt đời chỉ là mơ thôi mà.
Tuần trước bác Bảy cho tôi năm chục ngàn, tất cả hãy còn nguyên, chưa mẻ lấy một xu. Nguyên một tuần lễ đi chơi với Cúc, bao nhiêu chi phí Cúc lo hết. Với số tiền bác Bảy cho, cọng thêm tiền tôi để dành, giờ đây tôi có thể đi mua một chiếc xe Honda mới tinh. Lẽ ra tôi phải dừng lại là tốt nhứt, thế nhưng tôi lại nghĩ đến chiếc xe hơi hiệu Peugeot sang trọng, êm như nhung mà tôi đang đi, căn biệt thự to lớn đầy đủ tiện nghi trên đường Công Lý tôi đang ở, thêm hàng chục building cao tầng cho Mỹ mướn. Tôi muốn tiến xa hơn một bước nữa. Nếu lấy Cúc tôi sẽ có tất cả, chỉ kẹt có một điều, tôi học Văn khoa nhưng sẽ tốt nghiệp Kỹ sư đào mỏ. Đó là vấn nạn của tôi.
Sau một lúc suy nghĩ, tôi giải quyết vấn nạn của mình bằng câu nói tỏ tình với Cúc.
-Em có nghĩ rằng anh là thằng đào mỏ không?
Gương mặt Cúc thoáng chút ngạc nhiên, sau đó nàng cúi đầu nhìn xuống bộ bikini mà nàng đang mặc rồi nói với giọng chắc nịch
-Không.
Hình minh họa
Ngày hôm sau, tôi hộ tống Cúc về Đà Lạt. Tuần trước, khi đi Sài Gòn với Cúc tôi có năm chục ngàn gởi tiết kiệm ở Nam Đô ngân hàng. Ngày về, tôi đủ tiền mua chiếc xe Honda mới với giá hàng trăm ngàn, không chừng tôi còn có nhiều hơn nữa, chưa biết được.
Trở về Đà Lạt, chuyện đầu tiên tôi làm là đi mua chiếc Honda mới. Ước mơ trở thành sự thật, rút ngắn thời gian ít ra cũng được năm năm, tôi vui vẻ lái xe lang thang cùng khắp Đà Lạt. Tôi nhớ đến câu nói: “Người con trai có ba chuyện khó khăn phải làm, thứ nhất tậu trâu, thứ nhì cưới vợ, thứ ba làm nhà.” Mua được chiếc xe giống như chuyện tôi tậu được con trâu, còn chuyện cưới vợ, làm nhà đã có ba má tôi lo liệu.
Những lúc sau này, bác Bảy thường xuyên lên Đà Lạt thăm ba má tôi. Chuyện người lớn nói với nhau tôi không biết được, chỉ biết là năm sau ba tôi bán căn nhà gỗ ọp ẹp với miếng vườn nhỏ ở Trại Hầm rồi mua một căn nhà ba tầng khá khang trang ở đường Phan Đình Phùng, gần rạp ciné Ngọc Hiệp. Tôi biết rằng, tiền bán căn nhà ở Trại Hầm chỉ đủ để ba tôi mua một căn nhà bếp ở phố. Số tiền khổng lồ cần có để bù vào giá cả chênh lệch giữa hai căn nhà, phải có bàn tay của bác Bảy nhúng vào.
Tôi trả lại căn phòng cư xá độc thân của tôi cho trường rồi dọn về ở chung với ba má của tôi. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, cuộc sống vật chất của tôi đã thay đổi hoàn toàn. Lương tháng của tôi không cần phải trích ra vài ngàn phụ giúp mấy đứa em, không cần phải để dành tiền mua xe. Tôi tiêu xài rộng rãi, thoải mái hơn xưa. Mỗi thứ Bảy, Chủ Nhật tùy theo có trực hành quân hay không tôi thường chở Cúc dạo phố Đà Lạt, khi thì cà phê Tùng, cà phê Thủy Tạ, lúc ăn sáng ở phở Bắc Huỳnh gần ga xe lửa, ăn trưa ở nhà hàng Mê Kông, thậm chí có nhiều lần chúng tôi vào ăn tối ở nhà hàng Chic Shanghai. Đi chơi với Cúc, năm thì mười họa, tôi mới được trả tiền cà phê một lần, nói gì đến chuyện trả tiền ăn nhà hàng. Đà Lạt là một tỉnh nhỏ, chuyện nhỏ chút xíu như cái móng tay cũng có thể đồn ầm lên. Tình cờ một vài lần, tôi nghe được những lời thiên hạ xì xầm, đàm tiếu về tôi.
-Vợ chưa cưới của ông ấy là con nhà tỉ phú ở Sài Gòn.
-Căn nhà ông ấy ở đường Phan Đình Phùng là do bên vợ mua cho, trước đây nghe nói nghèo kiết xác ở đâu tận Trại Hầm.
Những lời bàn ra tán vào về tôi tuy hoàn toàn đúng, nhưng tôi vẫn cảm thấy khó chịu mặc dầu đã chuẩn bị tinh thần từ trước.
Hạ Tri Chương (659 – 744) người Quảng Ðông, đời Ðường bên Tàu, giống như các nhà thơ khác, ông thích uống rượu. (Ông giống tui! Dà xin lỗi, tui giống ông!)
(Tôi e rằng Hạ Tri Chương là người văn nghệ, tất khoái nhậu, tánh tình hào phóng rộng rãi, chắc ghé vào kỹ viện chơi ‘hoa’ vẫn thường ‘boa’ đẹp mấy em kỹ nữ! (Giống như Thúc Sinh ‘boa” Thúy Kiều đấy thôi!)
Vì nhà thơ ắt trọng chữ nghĩa, coi tiền bạc là đồ bỏ, hết tiền xài thì ‘chà đồ nhôm’ tức ‘chôm đồ nhà’ riết hết… thì đi mượn thiên hạ để xài cho đã chừng nào mạt hẳn hay!) Giống như Ðỗ Phủ: “Áo bông gán nợ qua ngày. Quán ven sông, rượu khướt say mới rời. Vẫn thường uống chịu đấy thôi. Xưa nay bảy chục tuổi đời hiếm hoi!”
Hạ Tri Chương mất năm 86 tuổi để lại một số bài thơ hay phải kể đến là bài ‘Hồi Hương Ngẫu Thư’, viết khi từ quan về quê thăm nhà sau hơn năm mươi năm xa cách. “Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi, Hương âm vô cải, mấn mao tồi. Nhi đồng tương kiến, bất tương thức/ Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai?”
(Khi đi trẻ, lúc về già/ Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác sao. Trẻ con nhìn lạ không chào/ Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?)
Hạ Tri Chương xa quê tới 50 năm mới về thăm; bùi ngùi trước cảnh cũ người xưa đà chết ráo là chuyện có thể hiểu được. Còn nhà thơ Jingak Hyesim trong bài ‘Quá cố hương’ chỉ mới 15 năm, (thua tui xa) nhưng cũng bùi ngùi không kém. “Nhất biệt gia hương thập ngũ niên/ Thử lai hoài cổ nhất san nhiên. Phùng nhân bán thị bất tương thức/ Mặc tứ du du thán thệ xuyên.” (Quê nhà cách biệt mười lăm năm. Về lại thương hoài lệ đẫm khăn. Gặp gỡ nửa phần không biết mặt. Ngậm ngùi xa xót nỗi thời gian.)
Người Việt mình cũng đau đớn lúc lìa bỏ quê nhà. Ði xứ lạ mà tình cờ may mắn gặp được người cùng quê, cùng xóm, cùng làng là mừng hết biết! Phải dắt về nhà kêu em yêu làm một món nhắm để hai người đồng hương bù khú, nhắc chuyện khi xưa ta bé ta ngu…
Bây giờ gần 50 năm, tức nửa thế kỷ, người chưa đi vẫn tiếp tục đi; người đã đi lại lần mò tìm về quê cũ nhưng hỡi ơi “Quê hương khuất bóng hoàng hôn, trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?”
Cái tình hoài hương nó sâu đậm biết chừng nào. Ta yêu thương quê hương như ta yêu thương cha mẹ, anh em và yêu luôn con nhỏ bên hàng xóm. Tuy nhiên xin nhắc nhẹ bà con coi chừng tụi nó lạm dụng chữ quê hương, chữ đồng hương mà mài cái dao cho thật bén chờ mình ló đầu tới là nó cạo lông sạch bóc, kể cả lông mày! Nghe ai đàn địch ca sang là: “Xin phục vụ đồng hương hết lòng. Mình phải cẩn tắc vô áy náy, nhớ khảo giá trước cho chắc ăn nhe bà con!
***
Úc đây nó gọi quê hương là ‘fatherland’ quê cha đất tổ, chỗ mình được sinh ra.
Nhưng Peter Allen có sáng tác bài hát. ‘I Still Call Australia home” Thì chữ ‘home’ nầy không đơn giản là nhà, mà là Tía, là Má, là em yêu cùng bầu bạn. Nói rộng ra hơn nữa chữ ‘home’ nầy là quê hương tui nữa đó! Peter Allen hát rằng: “I’ve been to cities that never close down. From New York to Rio and old London town. But no matter how far or how wide I roam /I still call Australia home.
I’m always travelling, I love being free. And so I keep leaving the sun and the sea. But my heart lies waiting over the foam. I still call Australia home.
All the sons and daughters spinning ‘round the world. Away from their family and friends. But as the world gets older and colder. It’s good to know where your journey ends.
But someday we’ll all be together once more. When all of the ships come back to the shore. Then I realise something I’ve always knownI still call Australia home. But no matter how far or wide I roam I still call Australia home!”
“Tôi đã đến những thành phố không bao giờ chịu ngủ. Từ New York tới Rio và Phố cổ London. Dù đã lang thang cuối đất cùng trời như thế/ Tôi vẫn gọi Australia là quê nhà.
Tôi vẫn đi vì tôi thích tự do Thế là tôi bỏ lại ánh mặt trời và sóng biển, Nhưng tim tôi vẫn còn nằm chờ trên ngọn sóng. Tôi vẫn gọi Australia là quê nhà.
Những chàng trai và những cô con gái. Đi khắp tận cùng thế giới. Xa gia đình, xa bè bạn thân yêu. Nhưng khi thế giới đã già đi; tình nguội lạnh. Thì mình biết rằng chuyến đi đã đến lúc vãn tuồng rồi.
Rồi ngày nào đó chúng ta, một lần nữa, đoàn viên. Tất cả những con tàu trở về bến cũ. Tôi vẫn nhận ra điều mình từng đã biết. Tôi vẫn gọi Australia là quê nhà.
Dẫu đi cuối đất cùng trời. Úc Châu vẫn suốt một đời quê hương.”
Bài hát cảm động tình quê hương tha thiết nầy đã được hãng hàng không Qantas của Úc, làm một cái ‘video clip’ quảng cáo với các thiếu niên, (nam và nữ hòa ca trên nền là hình ảnh nước Úc bạt ngàn rừng biển, với ‘logo’ là con Kangaroo vươn mình phóng tới để cho mấy chàng trai, mấy cô gái Úc vốn sinh ra đời có hai cái cẳng hơi bị ngứa, ‘itchy feet’, (Dịch cẳng bị ngứa là dịch rất sát; nên tui e bà con mình cho rằng Úc chưn có ghẻ nên ngứa; nên tui xin dịch đại là chưn ngọ nguậy, ngồi yên không được, cứ bắt đi hoài). Mục đích cuối cùng của Qantas nhắn gởi khéo là: “Bay ra hải ngoại hay bay về nhà làm ơn nhớ mua vé của hãng hàng không Qantas nhe mấy đứa ‘Aussie’! Gút lại Qantas lợi dụng cái tình yêu quê hương của mình để mà cái túi của nó được đầy hơn. Lợi dụng như thế là khéo, nghệ thuật quảng cáo đã đến trình độ cực kỳ xảo diệu.
Ðể kết bài quê hương nầy, tui xin nhắc cái cuốn sách giáo khoa (thời Tía tui đi học) “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” của 3 lớp Sơ Ðẳng, Ðồng Ấu và Dự Bị do quý thầy Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Ðặng Ðình Phúc và Ðỗ Thận cùng biên soạn.
Chẳng hạn như bài: “Chỗ quê hương đẹp hơn cả!” Câu văn ngắn, chữ gợi hình, dễ hiểu, gần với tuổi thơ nên học trò thích học. Tới bây giờ khó có cuốn sách nào soạn hay hơn thế. “Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen người thuộc, làng xóm láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi: “Ông đi du sơn du thuỷ, thế tất đã trông thấy nhiều cảnh đẹp. Vậy ông cho ở đâu là thú hơn cả?” Người du lịch đáp rằng: “Cảnh đẹp mắt tôi trông thấy đã nhiều, nhưng không đâu làm cho tôi cảm động, vui thú bằng lúc trở về chốn quê hương, trông thấy cái hàng rào, cái tường đất cũ kỹ của nhà cha mẹ tôi. Từ cái bụi tre ở xó vườn, cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi ra cho tôi những mối cảm tình chứa chan, kể không sao xiết được.”
Quê hương mỗi người chỉ một… Sau 75, chuyện đó không còn đúng nữa rồi vì bây giờ bà con hải ngoại mình còn có quê hương thứ hai. Một hay hai cũng đều là quê hương hết ráo. Mình đều yêu hết! Đối với tui nước Úc nầy chẳng qua là một người vợ bé, do phần số đưa đẩy bèo giạt hoa trôi mới gặp được em. Nói nào ngay em cũng tốt.
Mấy ông anh mình thường hay nói: “Trong trầu thì phải khai mương. Làm trai hai vợ tui thương con vợ nhì. Tui thì khác bà con ơi! Vì tui học sách của Thúc Sinh. Giữa Kiều và Hoạn Thư tui chọn Hoạn Thư, kêu Kiều trốn đi vì hai lẽ: Một là Hoạn Thư nó dữ quá. Nhưng quan trọng hơn là nó giàu quá, bỏ uống. Hổng có tiền làm áo vũ cơ hàn, đêm lạnh chùa hoang thì trước sau Kiều cũng bỏ. Nên yêu bằng trái tim nhe mấy anh mình; còn cưới là bằng cái đầu, kẻo một túp liều tranh hai quả tim vàng thì trước sau em cũng đem đi cầm, đi bán mình sẽ thành ‘homeless’; là em cũng bỏ mình thôi.
Riêng với nước Úc, tui cật lực làm ‘trâu mọi’ cho em ban ngày, đóng thuế không thiếu một xu, để đền cái ơn phiếu mẫu; chớ lòng tui, đêm đêm tui leo lên giường, trùm chăn ngáy ò ó ò là trở lại chốn xưa!.
Xin em ‘Kangaroo’ đừng trách tui là người một mặt hai lòng, tui ở với em vì tiền (quả có vậy); còn tim tui lỡ đã gởi lại quê nhà rồi. Quê nhà tui vẫn còn là Việt Nam!
Theo dõi chính trường Úc, tui tội nghiệp cho quý ‘đầy tớ nhân dân’ nầy quá xá! Mới hôm qua, còn cười cười nói nói với nhau, tay bắt mặt mừng mà bữa nay đã lật nhau rồi!
Chính trường, bạn thực ra không phải là bạn! Họ cư xử như những người tốt, lịch sự nhưng sau lưng sẵn sàng rút dao ra, đâm sau lưng nhau, nhẫn tâm, tàn bạo, đầy thú tính là ‘chó ăn thịt chó’ (Dog- eat- dog)!
So với cái ông bà tai to mặt bự nầy thiệt tui may mắn hơn nhiều lắm nhe vì tui còn có bạn! Lỡ hôm nào em yêu nổi cơn tam bành lục tặc đuổi ta ra khỏi nhà. Tay cầm bịch đựng rác, có vài bộ đồ cũ rách, thất thểu lang thang, xiêu vẹo như Vua hề Sạc Lô trên con đường vô định, biết đêm nay sẽ ngã lưng chốn nào đây nữa?
Đừng lo! Nếu anh có một người bạn thiết! Hãy gọi ngay cho nó, tui tin rằng dù đang ngủ say, mơ toàn mộng đẹp, ke ướt cả mồm, nghe tin sét đánh nầy nó sẽ vùng dậy ngay lập tức, vội vàng phóng xe đến rước để tránh cơn thịnh nộ của bà La Sát. “Chờ bể yên sóng lặng rồi mình sẽ tính sau! Tạm thời mầy cứ ở nhà tao!” Vì vậy nên em yêu ‘bá quyền’ thường chụp mũ: “Bạn rồi bè của anh, một lũ, cùng băng đảng hư đốn, bao che lẫn nhau đó mà thôi!”
Tình bạn sản sinh ra khi đứa nầy nói với đứa kia: “Sao? Cái gì? Mầy cũng bị vợ mầy rầy hoài hả? Vậy mà tao tưởng chỉ có mình tao thôi chớ!”
Mỗi khi tui cãi lộn với em yêu, buồn bực, trốn đi nhậu, càm ràm con vợ mình cho thằng bạn thân nghe! Bao giờ nó cũng phán như đinh đóng cột là: “Mầy đúng trăm phần trăm! Con vợ mầy trật lất!”
Nên muốn chữa cái bịnh thờ bà tức là sợ vợ là nên có ngay một thằng bạn biết hết tất cả thói hư tật xấu của mình nhưng vẫn thích ‘bù khú’ với mình.
Nó binh tui vô điều kiện, cóc cần biết tui đúng hay sai; giống hịt như Má tui binh tui hồi tui còn nhỏ dại, quánh lộn không lại con hàng xóm vậy.
Khờ hết biết, hãy kết bạn với một đứa còn khờ hơn mình nữa để tự an ủi, huyển hoặc mình là một thiên tài, anh hùng cái thế! Nhưng đừng theo đuôi tao. Tao không có khiếu làm lãnh đạo. Đừng đi trước, vì có thể tao có thể sẽ không chịu đi theo. Hãy thư thả sánh nhau đi; vì mình là bạn ní!”
Tui không cần bạn chỉ là cái bóng của chính tui. Tui gật nó gật, tui lắc nó lắc! Tui cần một người bạn dám nói như tát nước vào mặt tui mà không sợ tui ‘vả’ rớt hết hàm răng ăn cháo trắng! Chỉ cần thằng bạn khi mình được thời cỡi ngựa bắn cung, nó lượm tên cho mình bắn tiếp. Hết thời nó lượm thun cho mình bắn ruồi!
Một người bạn thiết sẵn sàng một ổ bánh mì chia hai, nó phần lớn; mình gặm phần nhỏ chăng đi nữa nó cũng chia vì sợ mình đói. Thì vợ mình dẫu có ghen bóng ghen gió, giận dỗi không chịu lo cơm nước gì ráo thì mình vẫn phẻ ra như con bò kéo xe.
Bạn thân là người không hề chê bai lẫn nhau mà xúm lại cùng nhau chê bai người khác.Bạn thân không cần nói. Chỉ cần nhìn mặt nó đói bụng mình biết, nó thèm rượu; mình cũng biết. Nó bị vợ chữi, cái mặt như cái bánh bao chiều, không cần nói ra… mình cũng biết!
Đừng để bạn mình cảm thấy cô đơn. Hãy chọc cho nó tức điên lên, gọi cho nó bên Mỹ, lúc nó đang ngủ say sưa cùng con vợ bé chỉ để thổ lộ chuyện quan trọng nhứt trong đời mà ngay cả con vợ bạn cũng mù tịt luôn.
Tháng rồi thằng bạn học cũ từ Cali bay qua chơi một tháng. Tui bèn dắt ra nó ra mấy cái nhà hàng ở Footscray mà ‘dàn chào’ người bạn cố tri, phải bay suốt gần cả ngày, ngồi ê luôn cái ‘mông đít’để gặp lại cố nhân.
Năm 1963, vào Petrus Ký, lớp Đệ thất tới nay đã là 56 năm! Một quảng thời gian quá dài trong cuộc đời con người vốn ngắn ngủi thì chuyện gặp lại bạn học ngày ta bé ta ngu lại là chuyện lớn. Bởi thơ có câu rằng: “Cửu hạn phùng cam vũ. Tha hương ngộ cố tri!” (Đất hạn hán khô queo mà gặp trận mưa rào. Tha hương cả ngần ấy năm lại may mắn gặp được người quen biết cũ).
Rồi mười năm nữa nếu may còn sống trên cuộc đời ô trọc (lóc) nầy, nếu còn gặp lại nhau e chỉ khóc; vì bịnh già lú lẫn, chẳng còn nhận được ra nhau?
Nhà thơ Hạ Tri Chương, bên Tàu, “Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi. Hương âm vô cải tấn mao thôi! Bé đi, già mới về nhà, Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa!”
Thằng bạn tui gốc Huế (nhằm nhò gì ngay cả gốc cây tui cũng chơi luôn nếu chơi được), năm 1970, đậu Tú tài hai là du học Mỹ. Nó cười hí hí, nhắc lại thời đi học Petrus Ký! Những đứa nói giọng Nam hay ngạo nó: “Nói răng, nói rứa gì hả ‘Cu’?”
Cạn ly nghe cái chóc, nói hỏi: bên Úc mầy làm gì sống? “Tao làm báo (đời) và báo con vợ tao!”
Nó móc I phone ra ‘search’, đọc xong một bài của tui rồi rơm rớm nước mắt làm tui tưởng tui là một nhà văn tài ba xứ Thượng, tức ở cõi trên không hè!
Đời mà! Không gì làm mình vui hơn khi thấy bạn đồng song của mình thất bại. Nhưng mấy thằng bạn tui đa số lại thành công. Mừng cho tụi nó và cũng mừng cho tui! Vì lâu lâu kẹt tiền mượn nó vài trăm đô xài đở qua cơn túng ngặt để chờ kỳ lương tới!
***
Dà! Tui sợ sống cô đơn; sợ không đứa nào chịu chơi với tui hết ráo vì cái tánh ‘cà chớn’ của mình. Nên tui cũng có vài người bạn thân đếm trên đầu ngón tay. Mà cái gì ít là quý hè, là quà tặng của ông Trời vì thằng bạn sẽ làm cuộc đời mình nhiều màu sắc như kính vạn hoa tuyệt đẹp.
Tình bạn như tiền bạc. Kiếm thì dễ nhưng giữ rất khó! Tình bạn như rượu quý. Càng lâu càng ngon!
“Rượu ngon, không có bạn hiền! Không mua, không phải không tiền không mua!” “Ê! Cạn ly đi mậy!”
Năm 1862, từ Sài Gòn, thủy quân viễn chinh Pháp tràn xuống chiếm đóng rồi thiết lập đồn lũy tại Mỹ Tho. Để phòng chống nghĩa quân từ bưng biền Đồng Tháp tấn công về hướng Tây, thực dân Pháp làm hai con đường vành đai chiến thuật.
Tính từ trong ra ngoài là Lộ Vòng Nhỏ.
Ngoài xa hơn là Lộ Vòng Lớn, còn gọi là Lộ Dừa, cách Chợ Mỹ chỉ hơn 5 cây số.
Lộ Dừa là con đường dắt về quê Ngoại, nơi má đã sanh ra tuổi thơ tôi!
Melbourne trời đã cuối Xuân. Năm tận tháng cùng ngày sắp hết! Tui nhớ quê mình gió mùa Ðông Bắc, gió chướng, trời se se lạnh. Mấy ông già, bà lão ơn ớn xương sống, nhức mình nhức mẩy. Còn em yêu, trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân, Mỹ Tho điệu đà khoác lên mình hạc xương mai một chiếc áo ấm màu sặc sỡ là biết chỉ còn vài bữa nữa là tới Tết.
Mùa nước nổi tràn đồng đã hết. Nước biển mặn theo thủy triều lên lẻn sâu vào các nhánh sông. Pha cà phê uống là phải xài nước mưa. Nước sông lờ lợ mặn, pha cà phê nó dở òm hè!
Quê Ngoại, ruộng đất ngày càng bị tế phân (chia nhỏ ra cho con cái). Thời đó chưa có lúa Thần nông ngắn ngày, ông bà mình làm lúa mùa, dài tới 6 tháng. Không có phân u-rê, thuốc trừ sâu. Cày bừa phải nhờ sức trâu, sức người vần đổi công. Ðược mùa lắm chỉ lối 8 giạ một công.
Vườn nhà Ngoại trồng tạp: cây mù u, cây trâm, mận, chanh, chuối, xoài… Khế chua với chuối chát khi ăn thịt luộc, khô nướng, mắm chưng. Xoài xanh ăn với nước mắm đường cay ớt sừng trâu. Lá lụa là lá xoài, lá điều non, chấm nước cá kho hoặc cuốn bánh xèo.
Trong xóm, chỉ có vài nhà ngói vách ván; đa phần là nhà lá, vách lá. Cổng bằng tre gai, hàng rào bằng cây keo hay bông bụp. Sân rộng dư chỗ trải đệm phơi lúa. Có bàn thờ ông Thiên, sập tối nào cũng thắp nhang. Có cây rơm để dành cho trâu ăn.
Nhà nền đất chỗ lồi, chỗ lõm, cột kê tảng đá xanh. Vách bằng những thanh tre, đêm tư bề lộng gió làm chao những cây đèn cóc. Nhà trên, nơi tiếp bà con lối xóm là vài ba cái ghế đẩu vây quanh một chiếc bàn tròn. Trên bàn có một bình trà đặt trong vỏ trái dừa để giữ ấm dành cho mấy ông. Bình vôi, ống ngoáy dành cho mấy bà già trầu. Giữa nhà là một cái tủ thờ với một bộ lư và một bát nhang. Phía sau bàn thờ, cách một bức vách bằng ván bổ kho là một cái buồng. Trong cái buồng đó có một bồ lúa chừng vài chục giạ, xay từ từ ăn chờ cho đến mùa gặt mới. Cái buồng đó cũng được làm phòng hoa chúc cho mấy người cậu của tôi, cưới vợ về hạ màn cửa xuống để chú rể khám điền thổ cô dâu.
Nhà dưới cũng nền đất, cũng chỗ lõm, chỗ lồi. Vốn là dân chợ, lâu lâu theo má về thăm Ngoại, bước không quen, tui bị vấp hoài hè. Giàn bếp có ba cái cà ràng, ông táo cao tới rún. Dưới chân bếp, lá dừa khô cột lại thành bó, dùng để nhúm lửa hoặc làm đuốc quơ quơ trong màn đêm khi đi ăn đám về trời đã nửa khuya. Củi là tàu dừa phơi khô chẻ hai, xếp ngay ngắn dưới chân bếp cho dễ lấy đút vô lò.
Nhà dưới cũng có cối xay lúa, cối giã gạo, cối xay bột và mấy cái lờ, cái nôm dùng để bắt cá. Gần bếp có bộ ván đủ cho đám cháu chắt một bầy ngồi xếp bằng ăn đám giỗ. Chén đá, đũa tre khua lóc cóc (bị quở hoài hè) lúc sắp nhỏ dà (và) cơm. Tiếng chan canh húp nghe rồn rột.
Cách nhà không bao xa, ở ngoài sân là một cái chuồng trâu. Ðêm về Ngoại, lạ nhà khó ngủ, thao thức nghe tiếng trâu nhai rơm sột soạt lúc canh khuya. Lỡ trong chiều mưa rớt, tiếng ếch nhái, ễnh ương cứ ễnh a, cứ quềnh quang kêu bất tận ở ngoài đồng; nghe thật não lòng!
Phía bên kia sân nhà là một cái chuồng heo. Heo và trâu xưa giờ không thể nào là lối xóm biết điều với nhau. Bọn gà vịt cũng vậy. Ngày thì vịt xuống rạch lội vòng vòng, gục đầu xuống nước kiếm cá lòng tong, tép nhỏ mà ăn. Bọn gà mái thì dắt đàn con đi bươi, đi móc mấy con trùn lên mà đánh chén. Bọn gà trống, giống như tui thuở xuân thì, chỉ ở không, theo ve vãn bọn gà mái. Cuồng cẳng, cuồng chân thì rượt mấy con vịt xiêm chạy có cờ. Coi chuyện bức hiếp người khác để làm vui.
Gần bờ rạch là cái sàn nước. Cây cầu dừa có vạch khấc cho khỏi trượt ngã, đâm xuống nước để mình rửa cẳng hoặc tắm sông. Gần sàn nước có một cái lu. Múc nước sông lên lóng phèn để rửa chén bát. Còn nấu ăn, pha trà là phải xài nước mưa, hứng theo máng xối dọc hông nhà.
Tui thương má tôi mười. Thương bà Ngoại năm. Thương ông Ngoại chỉ một. Ông Ngoại tui là người hơi thủ cựu. Con gái không cho đi học vì sợ nó viết thư tình. Má tui sở dĩ biết đọc biết viết là vì phải theo giữ cậu Năm lúc đi học trường làng vì ông Ngoại sợ cậu Năm bị chúng ăn hiếp.
Mãi những năm 60 mà ông Ngoại vẫn còn để đầu tóc, búi thành một cái củ tỏi. Lúc má theo ba về Bưu điện Rạch Giá nhậm chức, má vẫn còn bới tóc. Ba muốn má uốn tóc cho nó văn minh thì má phải viết thơ về xin phép ông Ngoại nữa chớ!
Về quê, tui thấy ông Ngoại tui lăng xăng tối ngày hè. Huỡn thì ông ngồi tréo ngoảy ở nhà trên uống trà. Trà gởi mua tận chợ Cầu Lộ. Ðem về phơi phong thật kỹ rồi cho vào ve chai đậy nút, lâu lâu lại phơi nắng cho trà khỏi mốc. Vừa uống trà, ông phì phèo hút thuốc giồng, vấn giấy quyến để sẵn trong “hồ bao”.
Lâu lâu dẫn tui về thăm, má mang cho nhà Ngoại vài hộp sữa Kim Cương, một ký đường cát trắng với nửa ký cà phê bột. Ông Ngoại quý lắm đem cất vô tủ thờ khóa lại. Má cũng mua chừng hai ký thịt ba rọi từ chợ Mỹ. Bà Ngoại đem kho một mớ. Chừa một miếng đem luộc. Ông Ngoại rót rượu từ trong cái nhạo ra ly hột mít khà một cái nghe chừng khoai khoái lắm. Ðúng là có con mà gả chồng gần; có bát canh cần nó cũng đem cho.
Nghe má tui nói hồi xưa ông Ngoại cũng có nhậu lai rai. Nhưng toàn là uống rượu lậu cất ngoài các đám đế rậm rạp (nên mới gọi là rượu đế). Vì nấu rượu lậu mà bị Tây Tào Cáo hoặc lính thương chính (Douane Régie) bắt được là phải bị ở tù.
Tây nó buộc dân mình phải uống rượu Fontaine (phông-tên) Rượu Ty nấu từ bọt đường, chứa quá nhiều chất độc nên dân nó hổng có ham!
Tranh Bảo Huân
Quê người, dẫu món ngon vật lạ nhưng tui vẫn nhớ về quê Ngoại, quê nghèo; vì tui nhớ má. Má mất rồi! Nhớ mắm sặc mà má thường nấu mắm kho bông súng cho con ăn mỗi khi con đi học ở Sài Gòn về.
Con cá sặc, con cá quê nghèo đã theo con suốt thời thơ ấu. Nhưng quê người, sông dài cá lội bặt tăm / Phải duyên chồng vợ ngàn năm em cũng chờ. Xa con cá sặc, xa luôn người em năm cũ! Chẳng qua vì thời cuộc, đôi ta lỡ làng duyên kiếp ba sinh hết ráo rồi em ôi!
Cá sặc, vào tháng Bảy âm lịch, mới nở, cá sặc non, nổi trên mặt nước từng bầy. Muốn bắt cá sặc bằng cách đặt lờ dọc theo các mương phèn.
Tháng Chạp, tháng Giêng, nước giựt khô đồng, cá sặc xuống đìa hết rồi. Những ngày giáp Tết là mùa tát đìa. “Cạn đìa mới biết lóc, trê, Còn ụp móng biết đâu rô, sặc”. Bắt được cá lóc, cá trê, cá linh, cá chốt, cá trèn và nhiều nhất vẫn là cá rô, cá sặc!
Cá lóc, cá trê rộng trong lu để đó để dành ăn từ từ. Còn cá sặc nhỏ lên khỏi mặt nước là chết hết ráo. Kho khô ăn không hết thì đành làm mắm, làm khô!
“Nước sông trong sao chảy lộn sông ngoài. / Thương người xa xứ lạc loài tới đây”. Sau ngần ấy năm tha hương, đêm nay đốt lò hương cũ, sao nhớ vô cùng cái món gỏi khô cá sặc vốn của nhà nghèo, của vùng quê xa ngai ngái, của ngày xưa ấy! Khô cá sặc rằn nướng chín, thịt xé ra từng miếng nhỏ trộn với xoài thanh ca bằm mỏng thêm tỏi, ớt chan nước mắm đường. Dẫu đốt đuốc mà tìm cũng không thấy trong nhà hàng nào trên toàn nước Úc.
Chiều cuối năm nhớ về quê Ngoại. Nhớ má của con! Vì biến loạn, phải bỏ xứ đi nhưng cũng như bà con mình, trên cái lưỡi vẫn mang theo cái vị quê nhà; và cái tâm cứ vấn vương hoài cái hồn cố thổ.
Ngày xưa thân ái. Bốn chữ này thường được sử dụng nhiều trong các cuốn lưu bút, bạn cùng lớp bịn rịn trao tay khi hè về chấm hết một niên học. Trong ca từ một bản nhạc cũng có gợi nhắc, hình như là (thể điệu boléro?): “Những ngày xưa thân ái, xin trả lại cho nhau…”
Tôi có nhiều bạn, tên bắt đầu bằng N. Trong cuốn sổ điểm danh kích cỡ to một cách lạ thường nằm trên bàn thầy cô, đứng trên những đường kẽ chữ xanh nhạt đều đặn thẳng tắp, đè đầu cỡi cổ chen chúc vây quanh tôi có lắm đứa thân thích: Nam, Nhã, Như, Nhân, Ngọc, Ngôn, Ngữ, Nghĩa, Nguyện… Và họ Nguyễn bao giờ cũng lấn át những họ khác. Tôi lạc mất tin về Nguyễn Thanh Ngọc từ năm 1968. Nguyễn Văn Ngữ thì mất vào mùa hè 1972. Nguyễn Duy Nguyện thì bị động viên, vào lính năm 1974 chả biết sống chết ra sao. Lớn lên theo thời gian, bạn bè cứ thế mà lần hồi chìm tăm biệt tích. Những ngày xưa thân ái có hiện ra cũng nhạt nhoà dần bao trang vở khắc ghi tới thời vàng son thuở nọ. Một nhà văn thành danh từng nói với tôi: Giai đoạn mà cậu sống với, quả có bất hạnh. Rồi vượt biển, rồi nghìn trùng xa cách, rồi đất lành (lạnh) chim đậu; quanh tôi đã chẳng còn lấy ai. Tôi không có bạn. Thầy bói cầm tay lên nói: Số anh chẳng có cung bằng hữu. Nếu là bạn, bạn có buồn không? Riêng phận tôi, tôi chẳng lấy đó làm điều. Có buồn, tôi tìm cách quên bằng cách tập viết chữ. Và khi viết văn gửi đăng báo tôi phát hiện ra mình buồn lung tung beng, buồn tứ tung bát giác, buồn ngất ngư con tàu đi… chứ không hẳn buồn nhỏ giọt vì thiếu vắng bạn. Người yếm thế, kẻ làm biếng nghĩ suy vẫn có chung một tiếng thở dài: Số trời đã định! Tôi khác, tôi tin vào câu “lỗi tại ta mọi đàng” và tôi tập “tiên trách kỷ hậu trách nhân”. Tôi chê trách người ta (chẳng đặng đừng) vì họ để lộ ra những lỗi lầm khó dung thứ. Có đọc giả ở xa gửi email: “Sao anh chống Cộng quá xá quà xa vậy?” Dù biết “thoại bất đồng tâm bán cú đa” tôi vẫn có thư hồi âm dài hơn cả nửa chữ: Tôi viết lại những gì mình từng trải, từng chứng kiến, chẳng hư cấu khi sự việc diễn ra tự nó đã vượt lên trên sức tưởng tượng của con người. Nếu bảo rằng tôi chống cộng, thay vì cải chính thì tôi cảm ơn.
Một quán ăn có ông đầu bếp không khéo tay, xào xẹt nấu nướng vụng, quán ăn đó vẫn có thực khách, dù chẳng xảy ra cảnh sắp hàng như cái quán phở mọc ở nơi đã từng cất công tra cứu về mặt phong thuỷ. Làm thơ viết văn cũng nào có khác gì chuyện nêm nếm mặn nhạt tựa kinh doanh hàng quán. Thơ cô ấy hay vì cô ta sở hữu một ngoại hình rất bắt mắt, bá tánh xuýt xoa khen lấy khen để. Văn thằng kia chả có gì mà sao người ta in cho nó những ba cuốn trong một năm? Vậy đó, siết bao tiếng chì tiếng bấc, thì đã đành, bao giờ người khôn cũng tìm tới chốn lao xao, tỉ như “dân ngoại đạo”một mực tìm cách góp mặt vào trong một tuyển tập “hải ngoại”. Chữ hải ngoại nằm trong ngoặc kép là có lý do chính đáng của nó, bị nó thôi được hiểu là biển ngoài nữa rồi. Người ở trong nước in được tác phẩm của mình ngoài khúc ruột ngàn dặm, ở cõi ta bà nào đó chứ không cứ là thủ đô tị nạn, thì cũng nên xem đó là văn học hải ngoại vậy, hơi đâu đi truy nguyên lí lịch tác giả: Bây giờ em ở nơi đâu, cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao (B.G). Cũng ô kê thôi. Cũng mướt rượt thôi. Cũng tóc đen sợi nhỏ thôi. Một sự nhịn chín sự lành, chỉ sợ sau này con cháu lớn lên có muốn học tiếng mẹ đẻ, ông bà cha mẹ khi ấy phải đánh trống lãng nhiều thứ, mệt mày lắm cứ bắt goại giải thích goài, có ưa ún rịu hông con? Tới bến nhen, ún gượu mà không say, nào hay. Ta say là bởi ta say, cầm tay mi hỏi thày lay quá chời!
Tha phương ngộ cố tri. Ngay cả tôi, lắm lúc tôi cũng hiểu sai ý chữ này chuyên chở. Hôm qua tình cờ tôi ngộ cố tri. Một cái nhan truyện lạ có họ tên tôi nằm dưới được hiển thị trên trang Sáng Tạo. Dò tới tận cùng chữ cuối mới hay ra “nguồn: VĂN số 117, tháng 3. 1992. Đọc giả N. Nguyen gửi. Cố tri có thể là “Mùa Hoa Tuyết” mà cố tri dùng cho N. Nguyen thì hẳn không vấp sai lạc, vì hơn một lần người mang tên N. Nguyen đã vị tình gửi tới Sáng Tạo một truyện ngắn khác, của tôi.
Tôi không rõ vị độc giả thầm lặng này là ai. Chỉ biết “anh, chị” ấy trước đây có đặt mua tạp chí VĂN dài hạn, còn giữ lại những số cũ năm nảo năm nao để bỏ công làm một nghĩa cử đẹp: sao chép lại, gửi về, gợi nhắc những bước chân thấp, cao tôi đang dò dẫm lần lượt đi trên những trang báo bổ xuất bản ở biển ngoài buồn nhiều hơn vui này. N. Nguyen là người thông thạo việc sử dụng máy điện toán? Chắc là vậy, bởi thời giờ quý báu ở ngoài biển không cho phép người ta có dũng lược để ngồi đánh máy lại, hàng lại hàng. (Lệ chảy buồn dâng đôi mi).
Ngày xưa thân ái tôi may mắn có lắm bạn mang tên với mẫu tự N. Ra biển, vốc một nắm cát, chẳng cần phải Nha Trang ngày về cũng nhìn nhận cát lần hồi rời khỏi lòng bàn tay. Thầy bói kêu bằng không có cung bằng hữu “tôi về một mình tôi”. Chẳng ai sống được với lẻ loi, ngày nay cũng thân ái trao cho tôi một người mang tên khó đoán N. Nguyen. Một người thích đứng im trong bóng mờ, thích tìm nhặt những trái thông khô rơi lăn lóc trên cánh đồng đầy cỏ dại, nhiều gió chướng. Thích đuổi những con dã tràng chạy trốn trên bãi vắng để cúi nhặt những vỏ sò, ốc bị sóng đánh giạt vào bờ. Hiểu ở một mặt nào đó, tôi là quả thông khô, là vỏ loài ốc mượn hồn và do vậy tôi mang ơn công việc thiện nguyện mà N. Nguyen đã bỏ công ra, lang thang tìm nhặt. Một đứa viết văn đôi khi chỉ nên mong cầu là hắn có riêng một người đọc thôi, là đã mãn nguyện, gây động lực mỗi đêm thắp sáng ngọn đèn ở bàn viết, tỉ tê tâm sự, tượng hình một nhân dáng mơ hồ giữa khoảng không.
Tôi hy vọng những dòng chữ này sẽ lọt được vào mắt N. Nguyen, chỉ để kèm theo lời thưa, tôi thành thật cảm ơn anh, chị. Xin cho tôi chúc (lời sáo mòn, chẳng có chút sáng tạo) N. Nguyen cùng gia đình (yêu văn học biển ngoài) mãi an vui, sức khoẻ. Dịp lễ đang gần kề, tháng ngày cuối năm sẽ mang lại cho N. Nguyen những ấm lòng bên bè bạn chung vui. Những gì bạn bày tỏ trong câm nín, điều đó giúp tôi tự sửa mình, hòng có lúc được hoàn chỉnh hơn trong khi gõ những mẫu tự hiện lên trên màn hình. Tôi yêu cái tên mà Ba Mạ tôi đã lựa đặt và tôi yêu tất cả những tên ai khởi đầu bằng N. Ngày nay thân ái nhé N. Nguyen.
Tôi phân vân trước khi đặt tựa. Những chữ đồng loạt dồn tới trong một lúc: Đại Gia. Ngũ Ngôn. Ông, Tôi. Nặng Tay Cầm…
Cuối tuần, không dưng ở đây trời làm mưa. Nhà thơ Luân Hoán dừng xe bên lề, chiếc quạt nước không làm rõ nhân diện, chỉ nhìn ra cái nón quen thuộc và cánh tay vừa dong lên vẫy. Phu nhân thi sĩ đã đứng ngay cửa, co ro để trao tặng “Tâm Chân Dung” được bảo bọc trong bao ny-lông khô ráo, ấm áp một lây lan đón nhận.
Thời tiết một phần, phần khác do bởi tôi đang cảm động. Tôi nhớ có ai đó nói, ví von: “Mưa ngoài trời và mưa cả trong lòng”. Nghịch lý ở chỗ: Đội mưa mà thân không ướt, thân bị dột đâu đó nên bất ngờ úng thuỷ, giọt ngắn giọt dài nằm đọng vũng, khó bề bốc hơi!
Vì sao Đại Gia? Vì đâu ai giàu có tác phẩm bằng người? Giàu có luôn cả bạn văn chương, không thể đếm được vẹn toàn trong nhất thời.
Vì sao Ngũ Ngôn? Vì Tâm Chân Dung sử dụng thể thơ năm chữ khi khắc hoạ mặt mày bằng hữu. (Chỉ dăm bài cá biệt dùng tới lục bát).
Cớ sao Ông, Tôi? Cớ là dù già trẻ lớn bé, hạng tuổi chênh lệch thấp cao, đã là bạn, là đối tượng được nhắc đến, tôi đều thống nhất gọi bằng ông cả, chẳng phân biệt. (Tôi là tác giả).
Tại làm răng Nặng Tay Cầm? Dạ xin thưa vì Tâm Chân Dung có bề dày tới những 450 trang. Nhẹ răng được? Mỏi tay trước, nặng lòng sau.
“riêng tại Montréal tuy rằng không lập nhóm cũng chỉ chơi loanh quanh sáu, bảy tên liều mạng”.
Chữ liều mạng này rất hay, không cứ phải ở chung phường, khóm với nhà thơ mới ngộ ra. Khác địa phương, bạn có từng liều mạng vọc hoa, liều mạng không đi làm, ở không ngồi rung đùi làm thơ, xăm mình ra mắt sách, uống thuốc liều đủ loại. Khi bạn điếc bạn có sợ súng không?
Vậy thì thoát ra khỏi chốn nọ, đông đúc những ai có chút tên tuổi, nhà thơ Luân Hoán đều quen biết cả. Ấu thời đến hiện tại, trong nước tới biển ngoài, cắc cớ (không làm tính nhẫm được đâu) dùng máy điện toán có thể hiện ra kết quả: 2018. Năm tháng mà nói làm gì, người thân sơ kẻ chung đụng quen hơi, vẫy tay ở góc phố cho tới khề khà an toạ chung một mặt chiếu hoa dễ chừng cũng lên tới con số ngất ngưỡng ấy, chẳng hàm hồ đâu. Thành thử “sáu, bảy tên liều mạng” như thưa thốt khiêm nhượng kia… nói dzậy chớ hổng phải dzậy đâu!
Lương Sơn Bạc: Đất chứa dách lệnh pạt (108) vị anh hùng, theo truyền thuyết giả tưởng.
Tâm Chân Dung: Sách chứa nhiều hơn trăm linh tám, đếm ra sương sương con số 113 đại trượng phu, đã mất hoặc còn tại thế giữa đời thực này.
Nhắc Lương Sơn Bạc, danh xưng làm nghĩ tới một thứ gì rất gió bụi, rất giang hồ, rất san cơm sẻ áo. Trong khi nghe đến Tâm Chân Dung, lại mường tượng ra hình ảnh một am tự, cõi miền mong được trú thân, giũ bỏ đao to búa lớn mà thuần chỉ chân chất xưng tụng đề cao tâm lành.
Để làm rõ nghĩa hơn, xin đọc khổ cuối trong bài thơ mà tác giả tự vẽ lấy mình:
“nhớ, nhắc tôi nên gọi ơi thằng Châu đủ rồi hạn chế gọi bút hiệu cha mẹ tôi nghỉ ngơi”.
Một thứ tự trào vừa dí dỏm, vừa nhạy cảm, vừa ký gửi chút lòng thành. Tác giả tên thật là Lê Ngọc Châu, ông mượn tên Cha, Mẹ dùng làm bút danh. Và so với tên cúng cơm đầy cả châu ngọc giàu có, chữ Luân Hoán đã lỡ đi vào lòng người đọc kèm theo một hương mùi, thơm hơn cả sự trả hiếu. Một nhân vật trong tuyện Tàu (chắc không nằm ở Lương Sơn Bạc) từng lập ngôn: Sinh ra ta là cha mẹ ta mà đứng vững trên giang hồ này cũng do công của song thân ta tác thành vậy! Nhận vật giả tưởng kia so với nhà thơ Luân Hoán cũng bên tám lạng người nửa cân, hồ dễ đã hơn nhau.
Nhưng khổ nỗi, buồn miệng “ơi thằng Châu” thì chốn hồng trần này sẽ có 108 (?) vị cùng ngoái đầu dỏng tai lên: Đứa nào vừa gióng gọi ta thế? Bánh mì Ba Lẹ, phở Hoà, phở Bắc, phở 75 thì vô số tiệm mọc lan tràn trên từng cây số, rất dễ đụng hàng thật giả khó phân minh cãi chày cãi cối ưa làm chủ thương hiệu chính gốc. Dĩ thực vi tiên, ăn no bò cỡi, có thực mới vực được đạo. Đạo ấy cô đọng vào duy bốn chữ “Độc cô cầu bại”. Bạn suy nghiệm xong chưa? Bạn làm ơn chỉ giúp tôi ở cuộc đời ba chìm bảy nổi này có người làm thơ thứ hai nào mang danh Luân Hoán? Không riêng mỹ danh người vừa cho chào đời “Tâm Chân Dung”, cuốn sách này cũng thuộc dạng xưa nay hiếm “cổ lai hy”. Anh Nguyễn Thành, hiện ở Sài Gòn, người được nhà thơ Luân Hoán giao layout cuốn Thơ Việt Đầu Thế Kỷ 21 (đã phát hành hai tuần trước) cũng sẵn trớn lo giúp dàn trang cuốn Tâm Chân Dung đã đưa nhận xét: “Đây là tập thơ độc nhất vô nhị”. Dài dòng thêm đôi chút: “một tâm hồn lớn đối với văn thi hữu và chỉ từ trái tim yêu thương vô bờ bến mới có thể làm được như vậy” (ngưng trích).
Tôi mang đồng cảm với “người tốt bụng” kia. Tâm Chân Dung là một cuốn sưu tập “tiểu sử, cuộc đời và sự nghiệp” lạ thường, dùng thi ca để khắc hoạ, vẽ nên khuôn mặt của các bạn đồng hành chung lối trong cuộc lữ khát khao đi tìm cái đẹp vĩnh hằng núp bóng văn chương, xem thi ca là chiếc chìa khoá duy nhất nhằm vào việc mở, giới thiệu, trình bày, gạn lọc bớt ảo ảnh.
Đặc biệt trong Tâm Chân Dung chỉ vẽ dung mạo có 113 “anh hùng” quy tụ mà không có bóng mỹ nhân chen vào. Xưa nay, mỗi khi luận tới anh hùng người đời ắt không quên bàn tới mỹ nhân. Cớ sự “lôi thôi” xưa ba đời vương nọ còn dây dưa tới “triều đại” hôm nay. Một nhà thơ nữ đưa ra lời bình:
“Phát hờn khi không thấy bất kỳ một bóng hồng nào…”
Một “bóng hồng” khác thỏ thẻ, sau khi uống ly nước chanh:
“một đống mày râu!”.
Một nữ lưu chơi chữ, súc tích, thâm thuý, nhiều ẩn ý:
“Thế giới của đàn ông thật an bình giống như trên một hoang đảo…”
Chữ hoang đảo mà nhà thơ nữ dùng đúng là gợi hình theo kiểu thiên hình vạn trạng, thậm hàm dưỡng.. (3 ý kiến trên, có thể thiếu sót, trích từ nguồn facebook). Muốn đừng giạt vào hoang đảo, nhằm tương quan lực lượng cương nhu thì phải nên có anh có em sánh vai đồng lòng tát biển Đông cũng cạn. Cho tôi mượn thơ của Lê Vĩnh Thọ (cũng 5 chữ cho khớp với thơ Luân Hoán) để thêm mắm dặm muối về bí quyết đừng ra hoang đảo:
“tôi không tin rằng có cái gọi là tình nhân nhưng chắc chắn em có cái gì đó trong quần”.
Một tình tự khác, cũng dễ thương của Lê Vĩnh Thọ:
“vào mật khu là dại vẫn liều lĩnh dấn thân tôi sa cơ thảm bại rút quân và mặc quần”.
Đối cực với hoang đảo chính là mật khu trong khi gò bồng đảo là bạn đồng minh của mật khu vậy! Thơ của Luân Hoán nhiều xiết cơ man nào là (đặc khu) “đắc địa những lời ve gái” tựa hai lá bùa trên. Nhưng trong Tâm Chân Dung, phần Bạt in ở trang 443, nhà thơ thổ lộ về điều thiếu sót không may (và không hay) nọ. Thày lay, ưa ăn chay, chẳng vén tay, xin tình ngay:
“phải chăng là đồng tính sao đực rựa hết trơn? đời vốn giàu mỹ nữ ta thiếu hẳn mỹ nhơn!
chán phèo một cõi sống an bình bọn đờn ông sao không thử mơ mộng vài ngọn lá thơm nồng
đờn bà khó có thể phác hoạ nét dông dông nói giỡn hay nói thật đều có thể phật lòng
vẽ chơi một nhúm bạn luôn có mình bên trong ngỡ như thêm nhiều mạng giàu thêm nhiều tâm hồn.”
Nhà thơ Luân Hoán giàu có hơn kẻ hèn này nhiều mặt. Mặt súng ống, mặt va chạm, mặt lăn lóc, mặt gió sương, mặt vọc chữ, mặt thất tình, mặt nuôi chim, mặt ve gái- nói theo Bùi Giáng là “quen vui với chị thuộc phiền cùng em”. Tôi nhớ lại ngày xưa, anh tôi mang lon Trung tá làm Tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 2 Bộ binh đóng quân ở Quảng Ngãi có đứa “đệ tử” nói lời chân chất cảm động: Trong gia đình thì có cha mẹ, ngoài mặt trận thì có “ông thầy”, thầy bảo ban thì em xin nghe chớ em biết nghe ai bây chừ? Tôi nào khác gì thằng lính trơn ấy, vậy thì tôi xin học ngay câu chú “nói giỡn hay nói thật, đều có thể phật lòng” cho dù có bị đày ra hoang đảo. Phu nhân nhà thơ, chị Lý hẳn sẽ khen tôi “mi đã tu thân”, thiện tai, lành thay, thậm chí lý thay! Mặt trận miền Montréal do vậy sẽ yên tĩnh suốt.
Rứa thì sinh hoạt của nhúm mày râu “chán phèo một cõi sống, sao đực rựa hết trơn” ấy nó tội nghiệp tới mức nào? Tôi xin kê ra đây đôi ba hoàn cảnh tượng trưng. Bức chân dung dụng công quẹt nhiều nét đường ngang nét dọc, tôi làm trái ý ông thầy tự tiện giản lược chỉ trong bốn câu nhằm “dem thèm” quý mỹ nhơn, đại khái:
“khởi từ một ánh mắt của cô bé mê thơ ông thả chữ tán gái làm báo lớn, bất ngờ” (Lâm Chương)
“ngay trong khi ông động vẫn cứ tĩnh như thường không chi phối, tận hưởng phút chao đảo chiếu giường” (Ngu Yên)
“ông vừa cõi tiên về chúng tôi chờ ông hú khoe em luôn một thể chúng tôi vỗ tay mừng” (Lưu Nguyễn)
“ông cũng rất hào sảng nghe tôi cần có em làm đối tượng vớ vẩn ông làm chim xanh liền” (Hồ Trường An)
“thằng nào không thế nhỉ nhưng ông trội rất nhiều đúng tim đen tất cả khi mới lạng quạng yêu” (Đỗ Trung Quân)
“đám hậu sinh khả ái có mặt khắp năm châu rủi để ông gặp mặt nhốt vào thơ làm hầu” (Hoàng Lộc)
“nhiều người giàu đạo đức đánh giá: thơ ruồi bu có thể rất chí lý cu mu đều ba xu” (Đỗ Kh.)
“gặp ông là chắc chắn được đãi bữa tiệc cười chỉ chuyện đứt dây sướng rầu thúi ruột cũng vui”. (Hồ Thành Đức)
Bây chừ thì dài tới 6 câu, hòng gom đủ chút phận đờn ông, một tiểu sử không thể ngắn gọn hơn, nhờ động từ “Đi” dẫn lối:
“đi tu rồi đi học đến tuổi, ừ đi lính ông bị bức đi tù xuất trại liền đi Mỹ rồi đi làm đến chừ may chưa mất con cu” (Nguyễn Ý Thuần)
Để tránh việc trích dẫn dài dòng, lòng thòng, mơ mòng, đừng hòng, rớt tròng. Tôi xin chốt lại ở phần nói về nhân vật Nguyễn Lệ Uyên, chỉ đưa ra bốn câu như chính tâm sự của tác giả. Nhà thơ Luân Hoán trải lòng:
“tôi cũng thường tọc mạch khen người thật dài hơi miễn là gắng khen đúng không làm buồn cuộc chơi”.
Cuộc chơi này chỉ buồn duy một chỗ, xưa nay vẫn thế, ấy là càng ngày chúng sinh càng vơi bớt việc chí thú ham bầu bạn cùng thơ văn (trong học đường thì có thầy cô mà ngoài cuộc sống đời thường nếu không nghe theo sách vở bày lối thì em biết học hỏi ở nơi mô?). Nhà thơ Luân Hoán vốn xem in thơ là một trò chơi lãng mạn tuyệt vời, vui thú nhưng ông cũng chao lòng bày tỏ, là Tâm Chân Dung nằm trong hạng mục thuộc loại khó bán. Và tôi đã từng thưa rằng, những ai còn để tâm muốn tìm hiểu dòm ngó chân dung, lý lịch trích ngang dị thường của các tác giả từng sinh hoạt trong lãnh vực nghệ thuật xứ mình, ắt họ sẽ nóng lòng tìm kiếm, đọc lấy, “ngâm cứu”. Nó chẳng khô khan như nhờ vào Google đưa ra thông tin, nó ướt át hơn, nó sinh động hơn và trên hết, nó trình bày bằng một góc độ đầy thi vị hoá được phân tích qua ngòi bút dí dỏm, tinh tế của tâm vô lượng.
Tôi cũng giống như nhà thơ Luân Hoán, sợ mang “chứng bệnh” áo thụng vái nhau. Thú thật là khi viết văn làm thơ chúng tôi vẫn luôn cởi trần, trong lần trả lời cuộc phỏng vấn nhà thơ Luân Hoán cho hay là thích làm thơ trên giường. (Các bóng hồng có ai mắc cỡ chăng? Đực rựa vẫn có thứ đáng yêu của đực rựa, dễ gì lạc trôi ra ngoài hoang đảo). Trần trùng trục, xẻ ruột moi tim thì có đúng với quy trình vái nhau? Tuy vậy, sách dạy làm người vẫn khuyên “cẩn tắc vô ưu”. Tôi rất ưu tư nếu không biết cách tán tụng người thơ Lê Ngọc Châu (tên như một bóng hồng không có râu ria) nhưng đành để dành vào dịp khác, bởi tôi tin chắc rằng “Ơi thằng Châu” đang rục rịch tuyệt vời lãng mạn để in thêm một Tâm Chân Dung nữa, chỉ gộp toàn các giai nhân tuyệt sắc, hoa nhường nguyệt thẹn, công dung ngôn hạnh, thi phú diễm lệ, điện nước đầy đủ và… ba đảm đang. Anh hùng đã nằm ở cuốn thượng vậy thì mỹ nhân ắt sẽ nằm trong cuốn hạ. Đời luôn bày ra thế, anh trên em dưới. Thượng đã minh thì hạ tất an lòng thôi phụng phịu dỗi hờn trên bảo mà dưới không nghe.
Tâm Chân Dung với bìa của Khánh Trường, bức tranh mang tên Trăng Đỏ. Trình bày: Nguyễn Thành. Đọc bản thảo: Trần Thị Nguyệt Mai. Kỹ thuật: Tạ Quốc Quang. Nhân Ảnh xuất bản 2018. Bìa sau ghi giá US $20. Liên lạc với nhà xuất bản Nhân Ảnh, bạn email cho: han.le3359@gmail.com hoặc (408) 722-5626. Sách cũng có bán trên Amazon. Nhược bằng muốn mua sách có chữ ký của nhà thơ Luân Hoán, xin vui lòng dùng địa chỉ điện thư: lebao_hoang@yahoo.com.
Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc yêu thơ, yêu công trình biên soạn đặc biệt mà nhà thơ Luân Hoán vừa trang trọng bày ra giữa “đời là bể khổ”. Xin được hẹn gặp lại ở một lần được vái nhau, mai hậu (đời vắng vái nhau, vui với ai?) Thưa thốt thêm: Nếu quý vị có tác phẩm nào ưng ý muốn gửi mùi hương đi xa, tôi xin sẵn lòng được một phen “thắp tạ” (chữ của nhà thơ Tô Thuỳ Yên). Với tôi, văn chương chẳng bao giờ rẻ như bèo cả. Đừng hòng. Nó mắc cho phỏng tay. Tạm biệt bà con cô bác “năm châu bốn bể thảy đều nổi trôi”, chỉ còn chữ viết là chung tình trụ lại. Mong lắm thay!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.