This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Email chuyển tiếp quanh một vòng, cả nhóm đếm ra chỉ có sáu mạng là “chơi được”, vậy chớ muốn thống nhất giờ nọ ngày kia để gặp mặt nhau xem chừng cũng “mệt dữ à nghen”. Sáu mạng thảy đều trên sáu bó, thảy về vườn, thảy chây lười ngồi không, rất bất thiện ở cái khoản nhàn cư, thế mà kết quả của hồi âm rằng thì là: A bận ra phi trường đón anh chị sui từ bển qua du lịch, B mắc đến nhà con ăn thôi nôi đứa cháu nội, C ăn cái giống gì mà tự nhiên đau bụng, bắt tay thằng Tào Tháo đã hai hôm, D kêu sao không tổ chức ban ngày mắt tôi lóng rày đêm hôm chẳng phân biệt được đâu là nhà ngói đâu là nhà tranh. E bảo tìm hàng quán khác thì ô-kê chứ thực đơn chỗ ấy dầu mỡ bỏ mẹ…
Người gửi điện thư đưa lời mời mọc không vì thế mà thấy nản, ổng biết tỏng khi đã về già tính khí quý vị cao niên ai nấy thường chướng, ưa dỗi hờn, thích nghe đối tượng xuống nước van lơn. Vì vậy lỡ bắn mũi tên ra khỏi dây cung vẫn trì chí ngó tên cắm vào đích. Ổng lại mó tay tới bàn phím, bỏ dấu tiếng Việt hẳn hoi: Vậy thì mấy ông sắp xếp sao cho thuận tiện hoặc có cao kiến gì nhớ cho tôi hay, bị giờ này hoàn cảnh hết giới nghiêm, tôi thôi cắm trại 100% rồi. Cắm trại hoặc trại cấm cũng một nghĩa như nhau. He he he.
Sau một tuần thư đi tin lại, mỏi mòn con nhạn bơ phờ bay về đưa ra “nghị quyết” tối hậu: Buổi trưa ngày thứ sáu sắp tới, bằng hữu ai nấy thôi lu bu, chẳng còn lý do gì để cột chân lại và sẽ quây quần ở một hàng quán khác, giá hơi đắc chút đỉnh nhưng được cái thông thoáng tha hồ cho tiên ông ngồi tán dóc, búa xua tâm sự lâu ngày chầy tháng khỏi nhìn đời hiu quạnh. Lục vị nhi nhĩ thuận này nếu không đồng hương thì cũng đồng chí, không ưa chữ đó thì còn chữ khác: Đồng bệnh. Bệnh ưa đặt điều thêm mắm dặm muối, ưa mơ mộng về cảnh giới không thực, ưa vẽ rắn thêm chân, ưa tự hành xác, ưa đứng núi này trông núi nọ cách biệt đời thường; nôm na là thích làm bạn với chữ nghĩa bù đầu sáng tác thơ văn. Phàm những kẻ mắc chứng bệnh ấy, trong máu thường bị nhiễm vi-rút “Văn mình vợ người”. Con vi trùng rất mực hiền lành chẳng mắc mớ chi tới chuyện sống chết phải vào nhà thương bắt tay mấy ông bác sĩ. Văn thơ ta tự hí hoáy, nhất cô nhạn. Vợ thằng kia thì rõ là nhị cô tiên, đẹp hết biết. Ta tuy người trần mắt thịt nhưng có khiếu mỹ thuật, hơn hẳn thằng kia có mắt mà nào khác đứa mù, uổng lắm thay!
Trong sinh hoạt chè cháo của nhúm bạn già, có một điều lệ không cần ghi ra văn bản, trăm khi như một, đó là lúc đã bóng ngã về chiều chén bát lăn chiêng đổ đèn, lục vị đề cử một người cầm hoá đơn vào thanh toán cơm hàng cháo chợ, xong cái thì làm phép toán chia trẻ lên ba cũng tường đáp số. Ví như vừa ăn vừa uống vừa phá mồi cả thảy là 300 thì tiện việc sổ sách, mỗi thành viên họp quanh bàn tròn sẽ móc ví ra 50 đô để chồng đủ số cho Lê Lai chẳng liều mình cứu bồ. Hoạt cảnh sẽ diễn tiếp, rằng đông đúc là thế, đủ mặt đủ mày là thế, vậy mà dường như con bé mặt hoa da phấn đứng sau quầy thu ngân chỉ gửi riêng tới “Lê Lai” chưa từng khoác long bào một nụ cười xem chừng nghiêng thùng đổ nước. Sao quần hùng tranh nhau rượu vào lời ra bán trời không văn tự nhá tới 300 lạng bạc mà riêng “ảnh”, kẻ oai phong đứng mũi chịu sào mặt tỉnh như ruồi khi đặt đống ngân lượng rõ to lên quầy, bộ dạng ra vẻ khinh khoái rất mực lại được mỹ nhân mày ngài mắt phượng gửi sóng thu ba cùng một nhếch môi màu son chưa phai nhạt: Cháu cám ơn bác nhiều ạ! Bác xơi có mặn miệng không ạ! Xưng hô phải phép đúng là con nhà gia giáo, bởi nếu ta mà hoang sớm, sang sông trước thiên hạ thì cháu ta giờ nầy cũng trạc tuổi “em”. Nhưng mà tình ngay, bạn ta (không phải hiền hữu) nổi hứng về thăm lại xứ cũ đã vừa mang sang một cô vợ coi mòi son trẻ hơn “cưng” nhiều lắm lận. Tròn trăng hay đôi tám cũng một nghĩa như nhau, cứ thế mà ỏng ẹo anh em một dạ không đổi, chẳng ngượng mồm. Đâu có thằng chồng nào dở hơi đi gọi vợ bằng cháu, nhỉ? Bất quá chỉ hạ mình tự ví ta là trâu già mà nường đúng là cỏ non vậy!
Thứ nội quy góp gió thành bão, chơi theo kiểu Mỹ kia, vô tư nghĩ là đúng quy trình, nhưng có lúc, như hôm nay đã bị người gửi email cực đoan bác bỏ, ưa mần kách mệnh để tui bao từ A tới Z lần này, năm thực khách được mời nghe thế rất lấy làm tâm tư với thứ lời hay ý đẹp kia, ngôn ngữ đời thường kêu bằng “bảnh” chớ hổng phải chơi ngông. Chuyện gì thế? Trúng lô tô chăng? Tập truyện ngắn vừa xuất bản đã bán đắc như tôm tươi, được tới “một chục mười tám” cuốn chăng? Chủ tịch nước xứ lá phong vẫn còn sống hùng sống mạnh, nào đã thác để xây lăng mộ hoành tráng đâu mà bày đặc lấy cớ mở cờ trong bụng để nâng ly? Dù là lý do gì thì cũng nên lây lan sự hả hê ba chân bốn cẳng chạy u đến nhà hàng mừng ngày vui đại thắng. Khi “khổ chủ” chưa xuất hiện, mấy bạn già đã vào kéo ghế ngồi rung đùi đoán hươu đoán vượn về sự cố đột xuất nọ. Một ông luôn bị ám ảnh về cái chết đã nói, kiểu đinh đóng cột: Các bạn không biết chứ tôi thì rành sáu câu, lạ lùng gì, ảnh mới từ bệnh viện trở lui sau khi đánh bại thằng thần chết, nốc ao chỉ ở hiệp ba, rất oanh oanh liệt liệt khiến thằng diêm vương phải xếp giáp quy hàng tháo chạy. Họ tên ảnh, kể cả bút hiệu vẫn còn rành rành giấy trắng mực đen trong sổ đoạn trường mà diêm vương chẳng đủ sức để bôi xoá, gôm tẩy. Tóm tắc rằng thì là ảnh điếc không sợ súng, rất mực ngon cơm đề huề phong độ, bỏ ngoài tai lời triệu tập đi trình diện cải tạo của quản giáo địa ngục môn. Làm trai cho đáng nên trai là chuyện xưa tích cũ, ảnh làm ông già gân cho đáng gừng càng già càng cay. Chỉ chừng đó thôi, không đủ để mần nên buổi nhóm họp chia vui đáng nhớ này sao?
Và “ảnh” tới, độc cô cầu bại xô cửa đi vô, phát ngôn rào đầu rất lịch sự: Các bạn chờ có lâu không? Lỗi tại tôi mọi đàng, xe buýt chạy lố một trạm dừng mới bừng con mắt dòm ra. Vậy đó, người ta thì tranh nhau lấn tới bước nữa mà tui thì cứ luôn đi lộn lui. Một bạn quan sát anh chủ xị, không phải nhìn đểu: Giả như tôi ngồi chung chuyến buýt cùng anh thì chắc là tôi không nhận ra anh, hôm nay trông chải chuốt quá, tươm tất quá, đẹp lão quá. Cho hay là khi gặp chuyện vui, điều đó làm người ta trẻ hẳn ra, mặt mày hồng hào tươi nhuận có thể phổng phao. Nào, chuyện vui của anh là gì? Kíp khai ra mau. Các đồng chí rót rượu ra đi chứ. Ông luôn mang ảo giác có thằng cầm lưỡi hái đứng sát bên hông rót nước lạnh vào ly, nâng lên, may mà ông không nói: Chăm phần chăm nhé, không say không về.
Cô phục vụ chạy bàn như biết môn kung-fu Lăng ba vi bộ, bóng hồng thoắt cái đã dựa thân vào một chiếc ghế trống: Các bác đã lựa xong thức ăn chưa ạ? Trong khi chờ đợi các bác nên thử dùng qua món gỏi trộn, bảo đảm không dở đâu ạ. Ông già “bữa nay tự dưng trẻ lại” vỗ vai “cháu ngoan”: Ừ, cứ việc mang ra cho mấy bác trắc nghiệm xem tài nghệ của các cháu đến ngang đâu. Tiếng là xưng bác như ai kia nhưng lục vị hổng có trự nào chịu nuôi râu dài thậm thượt cả, và dứt khoát các bác nể nang tới công đạo lệ luật chốn đây nên chả ai dại ôm cháu vào lòng xoa đầu bẹo má gỡ gạc cả. Làm bác cho ra bác kẻo mẹ mấy cháu khinh cho.
Trong khi chờ món gỏi trộn mang ra, mỗi người tranh thủ tự chọn món ăn mình hợp khẩu, bởi người ưa ăn gà kẻ thích ăn cá, người nem công kẻ chả phụng, chưa tính tới điều kiện thật giả nằm nơi hai hàm răng có cho phép nhai rau ráu không. Cua ghẹ nghêu sò ốc hến có bốc mùi thơm tới cỡ nào thì cũng đành niệm tình tha thứ cho. Ngó lơ, hổng màng tới, y như kiểu món gái gú dâng tận miệng thì giờ đây coi mòi xơi không êm. Ai bảo tuổi già hạt lệ như sương? Cái đáng bàn tới nhất là già cả đâm bất tiện, loay hoay chẳng giải quyết được cả trăm vấn nạn lận, bực cả mình khi ngồi ngay trên miệng giếng mà khát nước tới khô rát cổ họng, kiếm chẳng ra sợi dây dài nhằm nối thêm vào cái gàu múc nước.
A: Trước khi đụng đũa thì yêu cầu anh bỏ ra ít phút để tuyên bố lý do.
B: Phải a, ứng khẩu thôi chớ đâu cần phải ghi soạn ra trên giấy như diễn văn cho nề hà lôi thôi.
C: “Đạo diễn” quá thì thực phẩm đâm nguội lạnh, ăn mất ngon.
Chủ xị nắm cổ chai bia lên, tợp một phát, đằng hắng: Bữa nay tui mời mấy bạn tới đánh chén là nhằm kỷ niệm ngày vui tràn bờ của thằng già hạnh phúc này.
D: Còn biết tới chữ hạnh phúc là đã giỏi!
Chủ xị: Ấy là mụ vợ vừa chính thức ra thông cáo: Anh đường anh tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi. Danh chính ngôn thuận thì tui vừa được vợ bỏ.
E: Chết mẹ! Hơn sáu mươi năm cuộc đời, lần đầu tiên tui mới nghe ra câu sấm “hạnh phúc khi được vợ bỏ”. Có ngược đời thì cũng chừng mực nào thôi chứ!
Chủ xị: Bị ông mãi an tâm đi dưới tấm bảng chỉ đường, học tập cải tạo tốt nên không được trông xa thấy rộng.
A: Có lửa mới sinh ra khói. Do đâu mà xẹt ra lửa?
Chủ xị: Ông quen chơi chữ văn hoa trừu tượng quá. Ở nhà ông bà có hay cãi nhau không?
A: Có chứ, thường khi, nhưng vợ tui bảo thương nhau lắm cắn nhau đau. Vợ mà không nói không rằng cái ấy mới đáng sợ!
B: Tui hổng đồng ý với thứ lập luận đó đâu nghen. Anh phải khéo tu ba đời mới lấy được người vợ mãi câm như thóc. Nhà cửa êm ấm cách gì!
C: Mềnh ngồi đây cốt là để nghe tâm tư của nhân vật chính chứ mô phải học lấy luận thuyết của anh A anh B.
D: Đúng vậy, hạnh phúc của người được vợ bỏ là thứ đáng nghe hơn cả.
Chủ xị: Bà ấy nói, ông lớn hơn tôi cả chục niên dĩ nhiên ông sẽ thác trước tôi, sức người có hạn, tôi nhắm lo không nổi việc chôn cất ông nên giờ này còn đủ hai mặt hai lòng, để tránh ngỡ ngàng, tôi liệu đường rút sớm.
A, B, C, D, E ngồi làm thinh chẳng vọng động. Trong quán có con ruồi, ắt hẳn là ruồi cái, vừa bay ngang rồi đậu xuống bên đĩa gỏi cuốn. Chủ xị đưa tay xua đuổi.
C: Tui hỏi điều không phải thì xin anh bỏ qua, bà ấy có ai nguyện nâng khăn sửa túi mà hăm hở bỏ đi?
A: Nói tầm bậy. Đàn ông ai lại đi nâng khăn sửa túi cho đàn bà? Nói chúng chuyên lột truồng đàn bà ra thì đúng hơn.
B: Trong lúc “tang gia bối rối” ông còn nhớ đến thơ cụ Bùi Giáng? “Bây giờ tôi đối diện tôi, còn hai con mắt khóc người một con”.
Chủ xị: Trong người tui đâu còn giọt nào mà biểu khóc, cái đáng giận là tui muốn cười mà cười chẳng được thôi.
E: Phải a. Cười được thì nên cười, bởi muôn đời cười là thang thuốc bổ. Tui mới xem được câu chuyện vui dành cho người già, xem quý bạn có cười nổi không? “Thằng cháu 13 tuổi hỏi ông nội nó: Ông còn làm chuyện đó với bà không? Thường khi cháu yêu ạ, vẫn ngon lành, như cơm bữa. Đứa cháu trố mắt: Cái gì? Ờ, ông quên nói là giờ đây chỉ biết làm bằng miệng thôi. Cái gì? Ờ, mỗi khi ông nói Fuck you thì bà cháu đáp trả Fuck you too”.
C: Fuck! Thế anh biết vợ dọn đi đâu không?
Chủ xị: Tại sao tui phải quan tâm tới việc đó? Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội, còn vợ bỏ đi đâu thì đó là điều mà ta không tài nào biết được.
D: Thế chuyện chia chác tài sản?
Chủ xị: Dùng chữ tài sản thì quá lớn lao. Hồn ai nấy giữ, duy chiếc xe của tôi thì bà ấy lái đi, dùng phương tiện hòng làm nhẹ gánh hành trang. Ấp đang mướn xét thấy lớn quá, e tôi dọn thuê chỗ hẹp té đặng trú thân qua ngày đoạn tháng.
B: Tui mà như ông thì về Việt Nam ở mẹ cho xong chuyện!
A: Hạ sách, đừng tập hư, chớ xúi dại. Nhỡ ốm đau, tiền đâu mà vào nhà thương?
C: Hiện tại ông tính cách gì làm nguôi ngoai?
Chủ xị: Tui đang vui mà, nguôi ngoai nỗi gì? Tui sẽ bê nguyên niềm vui ấy vào cuốn tiểu thuyết dự tính sẽ dày ngàn lẻ một trang.
Cô hầu bàn sau khi thu dọn chén bát đã liền tay bê ra 6 dĩa nhỏ.
D: Ngộ hén. Hình như mấy bác đây chẳng có ai gọi thức này cả.
A: Món gì thế?
Cô phục vụ: Dạ món chuối chiên ạ, dùng để tráng miệng ạ. Các bác xơi đi ạ.
Ngay ngắn trước mặt sáu bác là 6 cái đĩa nhỏ đựng một vật thể co quắp như khúc dồi chịu già lửa nằm bên trên, có rưới nước đường làm ướt đẫm cái món bèo nhèo ấy. Trái chuối cho dù đã bóc lấy vỏ đi thì hình thể bên trong nó trông đường bệ phương phi lắm kìa, có đâu như thứ bị kêu là chuối chiên này, nhìn mà bủn rủn tứ chi. Mẹ già như chuối chín cây thì cha già tựa khúc chuối chiên vậy!
Cô cháu ngoan mang thêm cho mỗi bác một cái nĩa, cô sửa giọng:
Bọn cháu chiêu đãi riêng thức này, không tính tiền vì hôm nay rơi vào ngày Phụ Nữ ạ.
Chủ xị nắm lấy tay cô con gái: Cháu đã thành phụ nữ chưa? Đừng dại khờ vội đánh mất tuổi xuân cháu nhé. Cháu cho bác xin một cái hoá đơn để thanh toán bữa nay.
Khi sang đây, thời gian đầu tôi xin được việc làm với đồng lương khá cao: Chùi rửa, thay bao rác, quét dọn vệ sinh trong một cao ốc có bốn tầng lầu. Từ chín giờ tối tới hai giờ sáng. Địa điểm khá xa, nằm giáp ranh với ngoại ô không đèn, hơi bất tiện. Cho dù người ta có thiết lập ra tuyến đường xe buýt chạy về khu tân lập kia thì tan tầm vào lúc hai giờ sáng, chẳng có ma nào còn láng cháng đi lại trên vùng đất vắng tẻ kia. Muốn cày bừa, tiên quyết bạn phải có xe để tự lái đi.
Mới chân ướt chân ráo đến nhập cư, tôi làm gì tậu được xe. Người bạn giới thiệu việc vì ở nơi trái đường đã dọ hỏi giúp tôi, may thay một ông người Miên gốc Việt làm chung chỗ hứa sẽ nai lưng đóng vai tài xế giùm, chỉ chi cho ổng một khoản tiền nhỏ dùng để đổ xăng và đừng quên đãi cà phê bánh ngọt. Như thế, vạn sự không hẳn đều khởi đầu nan. Với tôi, có mòi thuận lợi. Chỉ duy một chuyện hơi lấn cấn trong khi lao động, đêm nào cũng vậy, khoảng một giờ sáng, đang hút bụi ở hành lang có trải tấm tapis màu đỏ bầm, máy đang êm tự nhiên gầm rú lên đồng thời tôi đón nhận hơi lạnh kỳ lạ như kiểu có cơn gió vừa vụt qua. Mọi cánh cửa đều đóng kín sau khi đã kỳ cọ lau sạch. Hàn khí chợt gây ớn xương sống nổi da gà nọ thật khó giải thích.
Cả bọn có mười lăm phút để nghỉ giải lao, thường khi thì co cụm lại từng nhóm riêng lẻ khác biệt ngôn ngữ vùng miền cho tiện việc hàn huyên. Tôi, người bạn và ông “tài xế” bày bánh trái trà nước ra, ngồi xuống ở chỗ xét thuận tiện nhất, không xa nơi mình đang dở dang công việc. Có lúc, khi một ngọn đèn tự dưng tắt đi, không dằn được lòng, tôi đã hỏi: Trong đời, quý vị đã từng có lần gặp ma chưa? Người bạn nhăn mặt như kiểu hớp nhằm ngụm nước nóng vừa chế từ bình thuỷ ra: Chưa, bộ đời hết cái để thấy rồi sao? Cho em nhờ tí! Bạn rùn vai: Ừ, nhưng mà muốn thấy cũng không dễ đâu nha, phải tuỳ duyên. Ông “tài xế” người Miên gốc Việt, hình như trước ở Châu Đốc hay Hà Tiên gì đó bắt bẻ: Tui chưa nghe ai áp đặt chữ duyên kỳ lạ như vậy cả. Khi cưới được cô gái đẹp, người ta bảo phải khéo tu mới nên duyên vợ chồng thì hợp lý. Còn nếu chẳng bị ma nhát thì xem như có phúc, nói vậy nghe thuận tai hơn. Tôi hỏi: Anh từng vô phúc chưa? Ai? Tui hả? Phúc phần gì. Tui chưa gặp ma, có thể do bởi hồi nhỏ má tui thỉnh thầy cho tui lá bùa, rồi vô lính, tui đi xăm trổ hình lá bùa đó vào bắp tay. Tránh hòn tên mũi đạn và ngăn được tà khí. Bạn tôi nói: Vậy lát nữa nhờ anh bắc thang thay giúp cái bóng đèn ấy nha, bọn tôi chẳng có bùa, hơi bị yếu bóng vía.
Về tới nhà đã ba giờ sáng, hôm nào nóng nực thì siêng vào phòng tắm bằng không thì vệ sinh qua loa rồi lăn đùng ra giường hú ba hồn bảy vía trở lui, trưa mai hẵng tính. Vì công việc nên tay chân nghe nhừ mỏi, nằm lơ mơ có cảm giác như có cái gì đè nặng xuống người. Đầu óc mụ mị chẳng biết nhăng cuội, mình đang tỉnh hay đang chìm sâu vào mộng mị? Sáng, tối. Hư, thực. Bần thần, hay nghĩ vẩn vơ về những điều không tượng hình, vô căn cớ. Cảm giác bất an sau cùng đã có đáp số, ông người Miên gốc Việt đóng vai tài xế đã không tới đón tôi đi làm, điện thoại hỏi thăm người bạn, hắn cho hay ông ấy tối qua trúng gió, cảm nặng, già đầu rồi mà cứ kêu than má ơi má hỡi. Ê kíp chỉ còn mình tao phải xin lão sếp sắp đặt tăng viện nhân lực. Bùa chú đầy người có khi cũng phải nhác chơi!
Như vậy, tôi làm nhân viên vệ sinh công sở chỉ đúng một tháng. Mười ngày sau, trên tờ giấy èo uột dán trước cửa chợ Á châu, tôi đọc thấy hàng chữ cần người. Không nhanh tay lẹ mắt ắt sẽ vuột mất cơ hội. Thời cơ lại đến, khỏi sợ đói người, lần này thì làm đứa đội nắng mưa đi thu hoạch hoa màu ở một nông trại nằm chốn đồng không mông quạnh. Trái cây, rau rác, bầu bí, hành ngò, xà-lách, cà chua, cà-rốt… có gì chơi nấy. Họ chỉ định một địa điểm thuận lợi nhất để tập trung nhân công, điểm danh xong chất có thứ lớp lên chiếc xe trước đây dùng để đưa đón học sinh, hoặc na ná như xe thùng sáu bánh chuyên thồ bọn phạm nhân từ trại giam ra pháp đình luận tội. Gầm rú, dằn xóc cả tiếng đồng hồ thì thả người xuống một bình nguyên xanh mơn mởn, xanh tận chân trời. Phút đầu ai cũng lộ vẻ hân hoan vì được dầm thân trong môi trường thoáng đãng khí trời lồng lộng, chỉ có quý vị phụ nữ là mặt ủ mày chau và sĩ số họ đông gấp ba lần phái nam. Chi cũng được nhưng nắng kiểu đó thì tui ngán lắm, rồi sẽ đen như con mọi. Họ phát biểu cảm tưởng. Đã rất lâu, giờ đây tôi mới nhìn lại hình thể một chiếc nón lá hình chóp đặc thù của quê cũ. Chẳng biết có ai ép trong đó một bài thơ? Anh về xin nhớ mua quà, mang qua một vật che loà nắng mưa.
Vì là lính mới, tôi được một chị tên Sương kèm sát bày đường chỉ lối. “Lom khom dưới núi tiều vài chú”. Ừ, tiều phu thì chỉ một vài, chớ bọn tui đây e tới cả trăm không chừng, lúc nhúc, chổng mông, còng lưng, tay khoan tay nhặt, mồ hôi mồ kê ràn rụa chảy. Chẳng nói chẳng rằng, hôm sau chị Sương trao cho tôi một chiếc nón vải rộng vành. Không sao đâu mà, đội đi, tui mua ở chợ trời giá rẻ như cho, chớ ngại. Giờ giải lao, chị mời ăn củ khoai mì hấp chín với nước dừa. Ở đây không có đâu, chỉ riêng chợ Mễ mới bán nó. Chị cho hay khi đưa thêm gói mè rang. Tôi nghe họ nói ăn củ này trong lúc bụng đói sẽ dễ bị say. Bụng tôi no cũng muốn chóng mặt, dung mạo chị Sương tầm tầm nằm giữa mức xấu đẹp nhưng lòng dạ ấy thì quá mỹ lệ, ưa giúp đỡ kẻ khác. Chị ở một mình nuôi con ăn học. Chị tâm sự: Cháu nó được tám tuổi rồi, sợ nó quên tiếng mẹ đẻ nên cuối tuần tui chịu khó dắt nó tới chùa, những người tốt bụng thành tâm có ngăn ra một gian sau hậu liêu để dạy tiếng Việt cho bọn nhỏ. Khi chúng ê a thì ngoài sân tui phụ giúp nấu các món ăn chay để thiện nam tín nữ lót lòng. Chủ nhật mà, người vào ra đông vô số kể. Anh có từng lên chùa thắp nhang?
Nếu có thể xem là nghề thứ ba, thì do chị Sương giới thiệu, tôi được làm “ông thầy” thiện nguyện dạy các em nhỏ tập viết tập đọc chữ quốc ngữ ở sau ngôi chùa to ngất độc tôn trong vùng. Trước chỉ có lớp học vào ngày thứ bảy, sau này do đông học viên nên sinh thêm một lớp tụ bầy vào hôm chủ nhật. Và tôi làm đứa “gõ đầu trẻ” vào ngày thảnh thơi ấy.
Việc đó là hậu sự, tiên khởi chị Sương kể là tui từng chứng kiến có đôi ba cặp đã nên duyên vợ chồng nhờ gặp nhau ở ngôi chùa đó, sao anh không thử một phen, biết đâu lòng thành được chốn khói nhang chứng giám, kinh kệ độ trì. Tôi nghe, bụng thấy chút khó chịu. Đã vác thân tới chốn trang nghiêm mà sao còn mang theo một đống bụi trần thất tình lục dục chất chứa trong lòng? Đã không buông bỏ lại còn muốn trói buộc thêm vô. Việc tôi tự nguyện dạy dỗ các em tuổi hồn nhiên rạng ngời kia có phải là một trong muôn ngàn cách buông?
Chị Sương làm “tài xế”, ông thầy ngồi bên cạnh và cô học trò tám tuổi khép nép lễ phép ngồi băng sau, chẳng mè nheo, chẳng sinh sự, không có ý kiến. Dễ thương hết biết. Má của con lòng tốt bao la như vậy thì mai này con sẽ hưởng lấy phúc lộc, hổng thèm tới chùa cũng gặp được kẻ xứng đôi, vinh hiển ấm đời.
Bức tường vôi vàng ngăn hai gian nhà, bên kia lớp học là nơi đặt di ảnh, hũ tro của các người vắn số được thân nhân mang gửi vào, những mong vui vầy phần nào khi lìa xa nhân thế. Ngoài lời kinh tiếng mõ, tôi mong là tiếng đọc bài ê a “Công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” của các em nhỏ sẽ làm “họ” vui tai, mỉm nụ cười độ lượng.
Chị Sương có tài nấu nướng, chị mua rau quả ngoài nông trường với giá rẻ và thường mang đến chùa từng túi lớn chất đầy các loại xanh tươi. Chị mặc chiếc áo lam, mặt đỏ hồng khi gia công với củi lửa, có vẻ vui thú khi nghĩ thành quả mình làm ra sẽ giúp mọi người có bữa ăn no nê trong thanh đạm. Nhìn chị, tôi luôn mọc ra ý nghĩ về người chồng khiếm diện, anh ấy đang ở đâu? Có được một người vợ tựa thế phải dày công tu mới nên duyên chứ? Chị chưa một lần tâm sự và tôi luôn tôn trọng cái im lặng của chị. Hẳn đó là vết thương lòng, khi đã biết thế mình không nên khơi mở nó ra. Cách chị siêng năng đến chùa mỗi cuối tuần hầu như là phương thức nhằm cố vơi bớt nghiệp chướng?
Thời gian này tôi đã quen lại với giấc ngủ bình thường giống mọi người, đã đoạn tuyệt với thời khoá biểu lấy đêm làm ngày như trước đây. Có khi soi gương, đọng trong ấy phản chiếu một khuôn mặt lạ lẫm, đen đúa vì mãi một sương hai nắng. Hai bàn tay thì biến dạng thấy rõ dù có mang găng bảo vệ khi lao động. Và lao động thì mãi chẳng vinh quang. Làm việc chỉ đủ sống. Sống chỉ để ăn, ngủ rồi vận hành theo một lập trình cũ, không biết cách hoán đổi. Miếng ăn tôi không lo toan, vì chị Sương bao giờ cũng nấu thừa ra, bới xách cho tôi, chu đáo đến cả thức uống hoặc món tráng miệng. Ăn cho có sức mà làm việc. Chớ so đo, đồng tiền mình làm ra đều lương thiện, không có gì đáng để tủi thân. Chị thường uỷ lạo, an ủi tôi.
Ở nông trường bắt đầu phát tiếng nhỏ to ong ve xì xầm. Cộng đồng người Việt, dù chỉ một nhóm người, họ cũng có khối chuyện để bàn tán, dị nghị, cả tin, nghi ngờ và ưa làm tài khôn. Đại để như: Bà Sương nên đi bước nữa, cũng lớn tuổi rồi đâu thể ở không. Mình chẳng nói gì nhưng nghĩ tới đứa con còn nhỏ dại, hơn ai cả nó cần một người cha… Ngay chính miệng người mẹ cũng có lần nói với tôi, con bé nó đặc biệt có cảm tình với anh, việc học tiếng Việt xem chừng nó tiến bộ làu thông, đôi lúc hỏi nhiều câu bất ngờ, không biết đường mà trả lời, cứ ấp a ấp úng!
Tôi tập thói quen đi ngủ vào lúc mười giờ, để đồng hồ báo thức vào sáu giờ sáng. Thời gian đầu không sao, gần đây thỉnh thoảng tôi bị đánh thức bằng thứ tiếng động lạ như kiểu ngoài tôi đã có ai khác cùng trú trong cái ấp hai phòng rưỡi nhỏ nhắn này. Tôi ngồi dậy, cảm nhận rõ có luồng gió lạnh vừa vụt qua, y như đêm hôm nào làm việc quét dọn trong cao ốc vắng lặng. Cái địa điểm mà sau cùng người bạn tôi cũng đã bỏ việc, hắn chỉ nói mơ hồ bằng mấy chữ “Chịu đời không thấu”. Tôi mở sáng đèn đi thăm dò cửa nẻo vốn đã khoá chặt cài then. Heo may ngoài trời như biết thẩm thấu qua vách ngăn, lạnh trong người lạnh ra.
Chứng mất ngủ bắt đầu hiện tới, trùm chăn nằm đếm số, cố nhớ ra những đoạn văn thật thơ mộng thật giản dị của tiền nhân để truyền lại cho bọn trẻ luôn háo hức, luôn thân tình với người thầy bất đắc dĩ. Một con nước trôi dịu dàng ra cửa biển? Một đám mây bay nhẹ nhàng sang bên kia núi? Một cánh chim cô quạnh vụt qua trời chiều nhá nhem? Một tình yêu cao cả có thể chuyển hoá sự xấu xa?…
Tôi mê thiếp một hồi thì nghe tiếng réo liên tu bất tận ở đồng hồ báo thức. Chồm người dậy tắt, con số 3:00 xanh lè ở đó cháy tỏ. Kỳ khôi chưa? Phải là số 6:00 mới đúng chứ! Một lần không nói, đêm sau cũng giở chứng y hệt. Đã có bàn tay thần bí nào nhúng vào?
Tôi bắt xe buýt đi tới chùa. Không nhằm cuối tuần, chùa vắng. Một chú sãi hay chú tiểu đang quét lá ngoài sân bị tôi nắm chéo áo cậy nhờ, làm ơn dắt tôi vào chỗ thờ phụng người khuất mặt. Tôi nào lạ gì khi chỗ ấy nằm sát vách nơi tôi đạo mạo làm giáo viên hàng tuần. Tôi muốn chú ấy đi theo bởi bóng chiều tà vừa bao phủ khiến tôi ngán khi đơn thân phải vào nơi thâm u.
Tôi muốn tự mình xác tín một chuyện. Trước đây, trong giờ tập viết, tôi đã ra đầu đề, các em hãy nắn nót tên người cha của mình trên trang giấy xem có được không, có sai lỗi chính tả thầy sẽ sửa giúp. Đứa con của chị Sương viết, chẳng sai một mảy may: Trần Văn Như Gia. Chú tiểu nhắc: Thầy nên thắp cho các vị ấy ba cây nhang. Tôi nghe lời cùng lần với dãy bóng đèn néon đồng loạt cháy sáng. Tôi cúi đầu, chẳng biết khấn nguyện điều gì. Tôi vái và tôi cắm run rẩy vào bát tro.
Bức tường trước mặt tôi, nằm sau lưng bàn thờ đầy hoa trái treo đầy những tấm ảnh vàng vọt của kẻ gửi thân về cát bụi. Mất chừng năm phút, tôi đọc thấy bốn chữ Trần Văn Như Gia nằm dưới một gương mặt có vẻ nghiêm khắc, có vẻ khó tính, có vẻ cộc cằn, có vẻ không hoà thuận với cuộc sống, hoặc ít ra anh ta chẳng ưa chụp ảnh, bộc lộ cái bất bình, gấu ó.
Tôi xin chú tiểu một cuốn kinh, bất kể là loại gì, in một vài câu cũng được, nhằm khấn đọc thầm, tụng chú trong canh khuya. Rồi chia tay. Rồi gửi lui lời hẹn gặp vào chủ nhật. Tôi bước tới trạm đợi chuyến buýt. Thay vì về nơi cư ngụ, tôi đứng bên kia đường để ngược hướng, tới nhà chị Sương. Tôi sẽ nói cùng chị những hoạn nạn mà tôi đang gặp phải. Và rất khó khăn, tôi buộc lòng thưa thật, rằng tôi sẽ kiếm việc làm khác, tôi sẽ vắng mặt một thời gian. Và rồi tôi sẽ ngồi yên, chờ nghe từ chị một cao kiến, một kế sách vẹn toàn.
Bóng tối chan đầy lòng đường, chỉ có vũng sáng từ cổng chùa tạt hắt ra vuông màu vàng nhạt. Chuyến buýt sật sừ đi tới, thắng đứng lại, cửa mở.
Tôi bước vào lòng xe, băng ghế cuối có bóng đen vừa ngẩng đầu lên. Ông ta mang bộ mặt lãnh cảm, giống hệt người chồng chị Sương. Cuốn kinh trong tay tôi đẫm ướt.
Để tránh lôi thôi, Thục My quyết định mang tôi đi trình diện Clementine. Cô giáo trẻ gọi thêm bà Beatric đến, ba bốn mặt một lòng ngầm thoả thuận rằng, đừng hô hoán mông-xừ Tran là l’étranger, kẻ lạ ngác ngơ bất chính đột nhập vào sân trường với mục đích xấu. Ông Tran này nếu không bố, thì bác, chẳng bác thì chú, tóm lại là người thân thích của cháu Annie, đại diện mẹ bận lu bu công chuyện mần ăn, Tran sẵn lòng dang tay đón Annie về nhà trong an toàn, cho dẫu bé ngoan có làm bộ làm tịch phụng phịu mặt mày.
Thục My đã đi mài dũa một chiếc chìa khoá nhà, ân cần trao phó bản vào tay tôi. Tôi móc cái chìa vàng ấy nằm chung đụng với ba cái của riêng tôi, kiếm sợi dây tròng vào cổ, đong đưa trước ngực cùng thẻ nhựa đi xe buýt mua hằng tháng. Tay My bao giờ cũng ấm khi chạm phải. Mười ngón, hai mươi ngón khác biệt chỉ giống nhau ở chỗ, cả đôi lứa đều không đeo nhẫn, trống vắng. Thục My bảo: Đã nhớ chưa, đúng ba giờ rưỡi, chịu khó đừng để con bé mầm non mẫu giáo lạc loài hoang mang khi đứng đợi, tội nghiệp.
Như vậy, tự dưng tôi có job mới, chủ không trả lương, không cả quan hoài trao bonus hai chữ “tội nghiệp” cho ông Tran xứng đáng đón nhận một chia sẻ thân thương, cả tin, đong đầy uy tín.
My xong việc lúc 5 PM. Về tới nhà nếu hanh thông đường sá cũng bóng đổ tà dương lu mờ cảnh sắc. Tôi làm quen với Annie mới non tháng, con bé 5 tuổi “chảnh” như một thiếu nữ dậy thì vui buồn bất chợt. Trời giông, trước khi đổ nước cũng biết làm khúc dạo đầu bằng mây đen kéo về bưng bít. Annie khác, tính khí trời sợ, không quỡn để đưa lời cảnh báo trước. Xem chừng nó biết kẻ lạ là mông-xừ Tran này sẽ “từ ngoài sân sau lần vô bếp”, là bad guy muốn soán đoạt bớt cảm tình mà má nó dành riêng cho cục cưng. Nhưng nói nào ngay tôi biết học bài nhẫn nhục, Tran là đệ tử ruột của thằng cha nội Hàn Tín xem việc lòn trôn thiên hạ chỉ là chiện nhỏ, chẳng hề lấy đó làm điều. Căn tu thâm hậu do vậy hôm giới thiệu với mấy cô giáo coi trẻ, Annie đã nắm lấy tay tôi biểu hiện tình hữu hảo môi hở răng lạnh.
Về ngón đòn tâm lý chiến thì dễ như ăn ớt, ba rưỡi đến hẹn lại lên, tôi xẵng xái đặt chân vào vùng cấm địa, toét miệng cười, chào hỏi thắm thiết tới quý vị phụ nữ xong, liền dắt con bé đi thơ thẩn tới cửa hàng Mách Đô. Tôi có xem tờ báo chợ, thống kê cho rằng 90% các đấng nhi đồng thảy mặn khoai tây chiên đi cùng cái hamburger hoặc cục thịt gà bọc bột chiên, tu một hơi gần cạn ly coke. Mặt tươi như hoa được phun nước, tiếng cười trong trẻo vi vút hơn lệ thường. Bận ngồm ngoàm cứng miệng, nếu không đã ghé tai tỏ tình: Je t’aime.
Thục My luôn khuyến khích tôi trao đổi tiếng mẹ đẻ cùng Annie. Mới 5 tuổi khả năng đàm thoại của con bé y như tôi khi sử dụng tiếng Pháp với người bản xứ, có nghĩa là còn giới hạn lắm. Nó đã vất bỏ chữ ông Tran, nó gọi tôi lúc bác lúc chú. Không riêng nó, ngay cả già đầu như tôi cũng chẳng biết cha nó, papa, ba, bố còn sống hay đã chết. Ổng giang hồ vất vưởng phương nao. May cho Annie, nó chưa một lần thắc mắc, gióng hỏi. Nó biết cái đáng biết, Tran, bác, chú nọ không thể là người khiến má nó mang bầu rồi hạ sinh ra một con bồ câu bé nhỏ. Bồ câu là tên ở nhà của Annie. Tôi từng ra sức vẽ nên một con bồ câu giống thật vào giấy rồi biểu nó tô màu tuỳ thích, xanh xanh đỏ đỏ trẻ nhỏ cũng ưa. Đó là kế điệu hổ ly sơn, để bác và má có cơ hội đứng trong bếp cùng sát vai thổi lửa nấu ăn chung. Thục My nói: Bồ Câu biết hôn, ngoài tài vẽ đẹp, bác còn biết nấu nhiều món ngon lắm. Và như thế, lắm khi tôi nai lưng thêm chức sếp bếp, hoặc ngửa tay nhận tiền cậy nhờ đi chợ mua sắm nguyên vật liệu ở nhà đang thiếu thốn. Ghi ra giấy kẻo quên, lần trước xớn xác dặn một đường tha đồ về một nẻo, trật chìa, lộn tùng phèo. Người gì mà cứ dật dờ, để tâm trí rơi tận đâu đâu á!
Tôi mần thinh, chưa phải lúc để thưa thốt: Dạ thưa em, lòng dạ Trần này bận tơ tưởng tới hình dáng em. Đứng gần em thì băn khoăn không rõ sau áo xống lụa là che đậy kia là thức gì ẩn dấu? Trần khờ khạo lắm, mong được em chỉ giáo một lần để sớm mở mắt, có vậy con bồ câu mới đâm quyến luyến với con chim cu này.
Có bữa mát trời ông địa, đón Annie về, nó đòi vào công viên coi ông già vô gia cư ngồi yên trên băng ghế đá mặc tình cho đàn chim mổ thức ăn rơi bám thân ông. Phải hiền từ đôn hậu lắm chim mới thân tình ríu rít vây quanh xem nhau như bạn được. Chân tay tôi có biến thành bốn ổ bánh mì e chim chóc cũng nhác ăn, cạy mặt cái đứa đến từ nơi chốn “con gì nhúc nhích đều xơi ráo”. Tôi không phải “tự nhiên như người Hà Nội” ghiền món thịt cầy, chưa hề thử “ngon nhức răng” vậy mà đi ngoài đường có nhiều con chó gầm gừ, mắt long lên kỳ thị thấy rõ. Chuyện nhỏ! Chuyện nhớn là Annie càng lúc càng “mặn nồng” với bác, Bồ Câu xem tôi là người bạn đồng minh có thể chơi được, có thể gặp cảnh bất bình rút đao tương trợ, đừng hòng có đứa nào lén phén tới ăn hiếp tao, nhớ. Mông-xư Tran biết kung-fu đấy.
Coi cảnh ngoạn mục chim ăn chim ỉa trên đầu ông già rách rưới có thể là xem phim quảng cáo phút đầu, anh thanh niên đạp xe ba bánh chứa thùng kem nhiều màu tựa bên thân cây rậm lá mới là bộ phim chính lâm ly bi đát hơn hẳn. Chưa coi mà đã chảy nước miếng. Bác, con thích ăn kem. Ơn trời, may mà trong túi có chêm chút bổi, làm đứa khố rách áo ôm thì chẳng biết mần răng giải quyết. Ô kê, kem thì kem, sợ gì. Kem múc hai cục rõ to ém vào cái ly làm bằng loại bánh xốp. Của cháu là chó-có-lát của ông là va-ni, vị chi là tám đô chín mươi chín xu. Va-ni dắt chocolat tìm bãi cỏ mượt nhẹ nhàng buông thân nửa nằm nửa ngồi mút lấy mút để hai cục đường mát ngọt cần cổ. Tôi nhìn vẻ say sưa của con bé, thè lưỡi liếm cho mòn, cho triệt tiêu cục kem trơn láng: Bồ Câu thích có em không? Là sao? Con thấy mấy con chim đậu sát bên người ông ấy không? Lúc nào chúng cũng có bạn, chúng chẳng đi một mình. Em là bébé, là đứa bé sẽ được chị Bồ Câu bồng bế ẵm ru. Môi con bé ướt ngọt: Nếu con thích em bé thì phải xin má, hay xin bác? Ai cho con?
Đàm thoại cho có, cho khỏi quên tiếng mẹ đẻ, tưởng sẽ chìm vào dĩ vãng, ai có ngờ đâu chữ “em bé” đã ghim vào trí nhớ nhỏ nhoi kia. Hồi nào con lớn bộn bề, ắt con “về nhà dối mẹ”, hiện tại con tẻo teo như cây kẹo, con thật thà như đếm: Má, con muốn có em bé. Có lửa mới sinh ra khói, má rùng mình đón nghe lời trần tình quá sức cực đoan, má nhìn bác bằng đôi mắt biết nói: Ô là la, mông-xừ Tran đã đầu độc trẻ thơ, còn ai trồng khoai đất này? Gieo rắc tai hoạ là hậu quả của việc giao lưu tình cảm chùng lén giữa song phương bấy chầy, ưa bắt đương sự viết bản kiểm điểm quá. Em bé đâu phải từ trên trời rớt xuống dưới đất chui lên. Muốn tựu thành ra em bé thì biết bao cơ man là gay cấn buộc phải nhắm mắt liều mạng bước qua cầu tre lắc lẻo. Có rớt xuống sông làm ướt cái quần ny-lông thì tai kíp nghe lời ai hát hỏng: Dô đây em đợi quần khô anh sẽ đưa em dìa. Cởi quần phơi cho ráo nước, trong khi chờ đợi thời khắc từ ướt tới khô, em nào biết mần chi, há lẽ anh biểu em ngồi không? Hoàn cảnh ấy rất mực căng thẳng, thót tim trong e ấp. Búi xờm xờm chớ hổng giỡn chơi đâu nhen. Hèn chi người xưa dạy: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Chốn cô quạnh khiến tim mềm, ta dễ nghe lọt tai lời rù quến.
Tôi vụng tu. Tôi vụng về. Tôi không biết cách xử thế. Tôi chẳng thông hiểu mức nông sâu của lòng người. Tôi thất nghiệp. Người ta đã từ chối bao công sức tôi trao chẳng toan tính. Người ta đã gài số de, lùi một lèo, không thèm nháy đèn chẳng cần đạp thắng. Lỗi tại tôi mọi đàng. Tiên trách kỷ hậu trách nhân.
Điện thoại im re. Bước lên bậc thềm cửa đóng then cài bấm chuông chẳng ai mở, đút chiếc chìa khoá vàng mãi tòn teng trước ngực vào ổ, đút hoài chẳng vô. Ai kia nhẫn tâm đã thay ổ mới, nhìn qua cửa kính, thấy đen thui một sự từ khước lạnh tanh. Thất bại, đứng dáo dác nghe gối mỏi chân mòn, chẳng biết làm chi tôi rảo chân đến ngôi trường với lấn cấn dấu hỏi: Chuyện gì? Tại sao? Sao quay lưng mà chẳng bảo gì nhau?
Chào cô Clementine, cô khoẻ không? Ah, chào ông Tran. Cảm ơn, tôi tốt. Ông đến có việc gì không ạ? Mẹ của Annie đã thốt lời chào tạm biệt chúng tôi, dọn tới chốn khác thuận tiện hơn, có lẽ vậy. Ơ, đợi tôi một chốc nhé, chừng hai phút thôi, tôi có cái này trao ông.
Tôi đứng nhìn vào cánh cửa vừa mở rộng, một hành lang sạch bong thắp sáng những đốm điện vàng, thế giới êm ả đó vừa gửi trao một hương mùi đặc thù nó riêng thu cất. Mùi bàn ghế hao mòn của bao thế hệ từng mài đít, mùi giấy ẩm của sách vở, bục gỗ, bảng đen, phấn trắng chừng cũng biết phát hương. Hít phải, nghe lòng bồi hồi trong hoài niệm tự ùa đến. Đã là ngôi trường thì buộc chúng phải có linh hồn, thứ linh hồn luôn tỉnh thức. Nó không đời nào chợp mắt, dẫu nó thoi thóp nằm yên trong ba tháng hè. Nó tựa chứng nhân, bao dung, sẵn lòng hàn huyên cho bạn nhớ về một thời vụng dại tuổi học trò. Thời gian đã lạnh lùng soán đoạt cái kho báu giá trị ấy. Bạn nghe ra một nỗi đau dịu dàng, buồn tủi. Cắm cúi học vạn điều hay lẽ phải để về già vẫn thấy mình chưa thật sự khôn lanh.
Đây, ông xem. Annie vẽ nhiều bức nhưng tôi vẫn thích bức tranh này nhất. Cô Clementine đã trở lại, tay nắm tờ giấy vung vẫy khi bước ra. Trong các lớp, chúng tôi vẫn trang hoàng chật vách bằng chính thành quả các em say sưa vọc màu. Trẻ con bao giờ cũng đáng yêu, hồn nhiên thể hiện rõ qua màu sắc, đường nét. Clementine trao cho tôi bức tranh vẽ bằng màu nước có ghi tên Annie bên dưới. Tranh vẽ một gã đàn ông tay chân lòng khòng ngồi trên ghế đá, trên đầu có đậu con chim rõ to. Màu chim xanh, xanh nhỏ giọt chảy tràn trên bãi cỏ, lốm đốm. Con bé giải thích, mông-xừ Tran là người còn con chim mang tên Annie. Mình thương ai thì mình để trên đầu, con bé khẳng định thế. Trên đầu chứ không trong tim. Ông giữ làm kỷ niệm.
Cảm ơn nhiều. Tôi nói, cẩn trọng gói tròn tờ giấy nhăn nhúm vì màu nước tấp dày. Tôi bắt tay Clementine, chào tạm biệt. Tôi đón xe buýt về chỗ trọ. Có lẽ tôi sẽ kiếm tìm một công việc nào đó để cứu vớt phần nào, không ai an lòng sống với những ngày vô tích sự. Trước, tôi có chiếc xe hơi mua trả góp, làm chân cẳng vì hãng xưởng nằm tuốt ngoài xa lộ. Một ngày băng giá tự dưng có chiếc xe tải lảo đảo lạc tay lái đâm thốc một bên thân. Tôi nằm viện hơn tuần lễ, không biết cách viết đơn kiện tụng. Theo giám định hiện trường nơi xẩy ra tai nạn, hãng bảo hiểm đã bồi thường cho tôi một số tiền khá lớn. Tôi thong dong quên việc cày bừa đã được hai năm, tôi sợ ngồi vào tay lái do vậy tôi quyết định dùng phương tiện vận chuyển công cộng. Tôi trình bày rõ mọi chuyện cho Thục My nghe, cô nói nhàn cư vi bất thiện, chi bằng tới giúp cô những việc cô không kham nổi. Nhỏ nhặt như bóng điện bị hỏng bất chợt cũng chẳng biết cách thay cái mới.
Tôi ghé ngang một cửa hiệu chuyên bán khung ảnh. Người bán hàng muốn giúp tôi việc lồng bức tranh vào trong. Ông ta bảo, bức vẽ này quá dễ thương, hãy cho tôi xén bớt khoảng trống, như vậy bố cục sẽ hoàn chỉnh hơn. Tôi gật đầu. Cháu được mấy tuổi rồi? Picasso từng nói: Mỗi một đứa bé đều là nghệ sĩ…
Tôi trả tiền. Tôi cầm lên “tác phẩm” của Bồ Câu vừa được gói giấy cẩn thận. Tôi bước ra, tôi băng qua đường vì chợt thấy một quán nước lộ thiên có trương dù che nắng gió.
Ông dùng cà phê loại gì ạ? Không, hãy bán cho tôi một cốc kem, loại chocolat, xin vui lòng.
Tôi nghe như có tiếng cười trong trẻo của Bồ Câu vừa vọng vào đôi tai. Tôi đồ rằng Thục My chê tôi nghèo khó. Tôi mút cục kem, ngậm bồ hòn làm ngọt. Tôi là ông già rách rưới ngồi trong công viên mà chim chóc ái ngại chẳng dám đáp xuống ríu rít hót ca quanh thân. Chẳng có con chim nào đậu ngay đỉnh đầu tôi cả. Yêu ai nên để trên đầu. Ai đã dạy con chuyện ấy? Trên đầu là nơi chỉ dành riêng cho bố mẹ thôi, con ạ. Tôi cầu mong cho Bồ Câu ở được trong một cái chuồng vững chắc, che kín nắng mưa, tránh tai ương vụt đến tước đoạt đi hạnh phúc má vừa ra công gầy dựng. Annie, toa có thương moa không? Moa treo bức tranh này bên chỗ nằm cho tới mãn kiếp.
Người viết có thằng bạn Turkey. (Turkey không phải là con gà Tây đâu; xin bà con đừng có hiểu lầm nhe! Nó là nước Thổ Nhĩ Kỳ đó ạ) làm chung sở kể cái chuyện vui như vầy:
Có hai người cãi lộn không phân thắng bại! Ai cũng cho là mình đúng, hỏng có đứa nào chịu mình sai. Cuối cùng cả hai đồng ý đến một bô lão trong làng có uy tín, vì là người học cao hiểu rộng để nhờ phân xử.
Theo người Việt mình hay nói ông cụ nầy làm: “Thầy đời!”
Ông cụ bèn mời từng đứa lần lượt vào thư phòng của mình để nghe ý kiến.
Bà cụ lui cui châm trà đãi khách, vừa nghe lóm.
Không biết ông cụ phân xử ra làm sao mà ra về hai đứa đều vui vẻ.
Nhưng bà cụ thì hỏng có vui; bèn lên mặt “thầy đời” với ông cụ (Cái nầy giống con vợ tui nhe):
“Sao ông nói gì kỳ quá hè? Nghe hỏng lọt lỗ tai! Ông quả là thằng cha ba phải! Thằng A, ông cũng cho là đúng. Thằng B, ông cũng cho là đúng.”
Ông cụ nghe vợ mình dạy đời xong, bèn vuốt râu, phán: “Bà cũng đúng luôn!”
Thưa nói nào ngay tui cũng khoái làm “Thầy đời” lắm nhe. Khoái hóng chuyện của người khác cãi nhau.
Nhưng ngặt hỏng có đủ đầy uy tín là một, không học cao hiểu rộng là hai hoặc già háp, già khú đế là ba để người ta đến nhà nhờ tui phân xử khi cãi nhau bất phân thắng bại!
Dù ế không có khách; nhưng cái tính tui lại thày lay, chuyện trong nhà không tỏ chuyện ngoài ngõ đã hay (Như con vợ tui hay rầy tui vậy).
Lần nầy, dù hỏng có ai nhờ phân xử tui cũng tình nguyện nhào vô phân phải trái cho chúng chửi tui chơi!
Chẳng qua có một hiền hữu gởi cho tui nội dung một cuộc tranh luận sanh tử lửa như vầy:
Một nhà báo sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, rồi tạm cư nhiều năm ở Đông Âu, đến khi đã quá tuổi trung niên thì mới sang Mỹ, định cư được chỉ một thời gian ngắn, nói tiếng Anh chưa rành, mà đã tuyên bố rằng “Mỹ là tổ quốc của tôi”, và “tôi đã chọn nước Mỹ là tổ quốc của mình”, thì còn gì lố bịch hơn?
Nực cười hơn nữa, anh ta tuyên bố: “Tôi quan tâm đến nước Mỹ nhiều hơn VN. Tôi mong muốn nước Mỹ giàu có và hùng mạnh, vì tôi là công dân của đất nước này. Còn Việt Nam chỉ là sự trăn trở thôi vì đã lỡ sinh ra ở đó. Kể cả Việt Nam có dân chủ, thì tôi cũng chẳng về. Tôi đã chọn nước Mỹ là tổ quốc của mình.”
Hỡi ôi, sao anh ta lại nhận vơ “tổ quốc” của những người khác, và chối bỏ Tổ quốc đích thực của chính mình một cách dễ dàng như thế nhỉ?
Hỏi xong? Bậc thức giả nầy bèn tự trả lời luôn cho nó tiện sổ sách là:
“Tổ quốc là gì? Tổ quốc là đất nước mà Tổ tiên đã xây dựng, tô bồi, gìn giữ từ bao đời trước và để lại cho con cháu.
Chúng ta là người Việt Nam. Tổ quốc của chúng ta là đất nước Việt Nam. Tổ quốc của chúng ta là một đất nước đã tồn tại nhiều ngàn năm trước khi chúng ta được sinh ra trên chính đất nước ấy.
Chúng ta được sinh ra và thừa hưởng đất nước mà Tổ tiên của chúng ta để lại.
Rất nhiều người tỵ nạn hay di dân, vì nhiều lý do khác nhau (?), đã phải rời xa tổ quốc của họ để đi đến một đất nước khác và định cư ở đó.
Đó là “quốc gia định cư” của họ, chứ đó không phải là Tổ quốc của họ.
Sau nhiều năm sống trên “quốc gia định cư”, họ hội nhập vào cộng đồng xã hội của “quốc gia định cư”; họ trở thành công dân của “quốc gia định cư”; họ có công ăn việc làm ổn định, lập nghiệp, xây nhà, sinh con đẻ cái trên “quốc gia định cư”; thì tất nhiên họ có tình cảm gắn bó với “quốc gia định cư”, và họ có thể gọi đó là “quê hương thứ hai”, chứ họ vẫn không thể nào gọi đó là Tổ quốc, vì đất nước đó không phải là đất nước do Tổ tiên của chính họ để lại cho họ!
Nên nhớ rằng chỉ những dân tộc có đất nước với lịch sử rất dài lâu thì mới có ý niệm Tổ quốc. Ở những quốc gia trẻ (có lịch sử chỉ vài trăm năm) như Australia, New Zealand, USA, Canada,… thì ý niệm tổ quốc (ancestral country) chỉ dành riêng cho thổ dân (Australian Aborigines, New Zealand Maori, American Indians, Aboriginal Canadians), vì thổ dân là những dân tộc đã hiện hữu và làm chủ đất nước của họ đã vài chục ngàn năm trước khi người da trắng đến định cư!
Đừng chối bỏ tổ quốc của mình, và đừng nhận vơ tổ quốc của những người khác.”
Nghĩa là ông nhà báo nầy bị chửi; mà cái bọn đế quốc Mỹ, Úc, New Zealand, Canada là những nước tiếp nhận rất nhiều người Việt mình tỵ nạn CS cũng bị chửi luôn.
Cả bọn hòa lời ca, dưới một tay lĩnh xướng như vầy: “Những kẻ như thế không hiểu rõ tiếng Việt và có bản chất của một con thú vật (?!), ai cho ăn thì mang ơn và không biết cội nguồn và tự hào dân tộc.
(Tranh luận thì cứ nhẹ nhàng mà đổi trao… mới là người có ăn, có học chớ. Mạt sát những người không đồng chánh kiến với mình kiểu “đầu gấu” như vầy làm tui lại nhớ đến thầy tui, Giáo sư Lâm Văn Bé có viết như vầy:
“Khi vào cưỡng chiếm đất miền Nam, cưỡng đoạt tài sản dân miền Nam, Cộng sản đã gọi tất cả dân miền Nam là bọn Mỹ Ngụy.
Đối với người dân có cơ may vượt thoát được bằng những cuộc vượt biển, vượt biên để xin tị nạn ở các xứ tự do, Cộng sản dùng nhiều danh từ thô tục để điểm mặt người tị nạn.
Trước tiên, trong một hội nghị với các cán bộ tại Hà Nội năm 1975, Trần Phương, Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học Xã hội đã ví von một cách tục tĩu dân miền Nam là những con điếm cho Mỹ làm tình để đổi lấy viện trợ. Cùng trong tư tưởng dâm ô ấy, Lê Duẩn mạt sát những người di tản là một bọn ma-cô, đĩ điếm, Phạm văn Đồng chửi người ra đi là bọn phản quốc, và các nhà báo nhà văn cộng sản, kể cả bọn Cộng sản 30 cũng chửi hùa theo là những đồ rác rưởi trôi dạt khắp năm châu bốn bể. cặn bã xã hội, trây lười lao động, chạy theo bơ thừa sữa cặn” .
Rồi lại có một giọng nam (làm) cao, hát bản “Việt kiều yêu nước” (khúc ruột xa ngàn dặm): “Tôi rời Việt Nam từ 1971, biết vài ngoại ngữ, nhưng luôn hãnh diện là người Việt Nam. Khi đi du lịch, nếu ai hỏi tôi từ đâu đến, tôi nói như phản xạ, không do dự: “Tôi là người Việt, đang sống ở Mỹ.” “Xin được mãi mãi là người Việt Nam!””
(Chu choa nghe sao giống hô khẩu hiệu trong mấy cuộc biểu tình chống Mỹ năm xưa quá ta?!)
Nhưng một bực thức giả khác có vẻ khoan hòa, không hung hăng con bọ xít phát biểu rằng: “Việt cộng chỉ là một chế độ tạm thời. Nó không đồng nghĩa với Việt Nam. Tình thương là việc không thể gò ép được, cũng không thể mua bán được. Mỗi người có sự chọn lựa cá nhân dựa trên những điều kiện, hoàn cảnh của họ!
Tôi có thể không đồng ý với họ, nhưng tôi sẽ không chỉ trích họ chỉ vì họ không suy nghĩ giống với tôi!”
Thưa bà con sau khi trình bày câu nói gây tranh cãi mà tui e rằng có cha nào đó ở không đặt ra cái đề tài nầy để cho cả bọn (vốn chung xuồng ba lá) nhào vô chửi bới một nhóm người mà thằng chả không có thích.
Cái chiêu thức nầy gọi là bôi tro trét trấu lên mặt người ta. Có ít xít ra nhiều, ném đá giấu tay để những người ngây thơ nghe theo lời mình đốc xúi… dại.
Úc nó thường nói: “I wasn’t born yesterday” tức là “Tao đâu có mới đẻ hôm qua” mà ngu ngơ nghe lời chú em mầy đặt chuyện chớ?!
Cái sách nầy VC xài lâu lắm rồi nhe! Chẳng qua vì bà con mình vì tình thân gia đình buộc phải gởi tiền kiều hối về giúp đỡ người con kẹt lại để qua cơn thắt ngặt. Tụi nó nắm được “con tin”, khoái quá, lấy đô la xanh của Mỹ, đưa lại bằng giấy tiền vàng bạc để dung dưỡng một chế độ toàn trị sắp tới ngày rã gánh vì hết tiền do bọn chúng ăn quá xá, ăn không chừa một thứ gì?
Kiều hối hằng năm hơn chục tỉ đô Mỹ, giờ bà con mình cứ lần lượt qua Mỹ ở, bớt gởi tiền về nên tụi nó đau lòng, bèn đặt chuyện ra chửi bới cho đỡ tức đó mà!
Câu phát biểu của ông nhà báo nào đó (?) (mà tui nghi tới 72 phần dầu là do đặt chuyện) là chiêu thức của mấy đứa chuyên đá gà, ôm con gà nhứ nhứ; để mấy con gà khác nóng máu do không tường suy cạn nghĩ mà tự nguyện nhào vô đá để làm âm binh cho bọn chúng?
(Chu choa! Ở cái xã hội tôn trọng quyền tự do ngôn luận mà bất cứ ai mở miệng ra nói một cái ý không đúng theo ý mình muốn là “à lát sô” vô, tẩn tơi bời, tẩn nặng lời, tẩn đã đời… cho sướng cái miệng mình như vậy hình như hơi bị xưa rồi đó Diễm!)
Mà cho dù nhà báo nầy có nói chăng đi nữa thì đã sao nè?
Có thể là ổng bị dị ứng, nổi mề đay với chữ “tổ quốc” hay bị lạm dụng nầy hay chăng?
Tui cũng đã từng bị ngứa ngáy như vậy khi nghe réo gọi trong mấy cuộc Sinh viên biểu tình trước Đại học Khoa học trên đại lộ Cộng Hòa, Sài Gòn hồi năm 1971.
“Ôi tổ quốc ta đã nghe lời réo gọi/ Trong tiếng hờn trong máu lửa ngập trời
Ôi tổ quốc bao tiếng ca giờ lên đường… Đường ta đi hôm nay bao xác thù gục ngã tan thây…” (Sao giống bọn khủng bố quá vậy thằng ông nội con nít?!)
Cứ “Tổ quốc ơi ta đã nghe lời réo gọi” Réo hoài hè?! Người ta biết cái tỏng không ai chịu nghe nữa, không ai chịu tin vào cái chiêu bài quê hương là chùm khế ngọt để gởi kiều hối về… thì tức lắm phải không?
Rồi “Tổ quốc ơi! Ta yêu người mãi mãi/ Từ trận thắng hôm nay, ta xây lại bằng mười.”
Nhưng bà con miền Nam mình thông minh, nhanh nhạy lắm nghe, bèn phóng tác lại là: “Tổ quốc ơi, ăn khoai mì ngán quá/ Từ giải phóng vô đây ta ăn độn dài dài!…” “Cả quê hương miền Nam ăn khoai bí/ Có ngày dân mình mắt hí (ớ ớ) như heo!”
Cái “tổ quốc” bị tụi nó lợi dụng, lập lờ chế độ toàn trị với quê hương, với đất nước để đày đọa, bóp nặn dân mình như thế… làm cả triệu người dân Việt liều mạng, xuống những chiếc thuyền ọp ẹp vượt biển Đông nên ông nhà báo nghe tới “tổ quốc” là ông chán, ông ngán tới tận cần cổ…thì cũng có cái lý của nó phải không, thưa bà con?
Thưa, hồi xưa, bà con mình chắc ai cũng biết (em) Mai Lệ Huyền hay hát bản: ‘Thiên duyên Tiền định’: Nhờ anh tiên đoán năm nay duyên nợ thế nào?… Người ấy quê quán nơi nào giàu nghèo? Tuổi tác bao lớn sang hèn thế nào? …Quen lắm nhìn xem em biết ngay/ chẳng ai xa lạ chàng ấy chính là anh, là anh đây! Chẳng qua (em) Mai Lệ Huyền, vốn mê tín dị đoan, đầu năm đi coi bói chuyện tình duyên, ”cầu gia đạo” coi có gặp thằng chồng cà chớn nào, nó ”cạo da đầu” mình hay không? Xui cho em là gặp tay thầy bói dê, là (anh) Hùng Cường, phán thiên duyên tiền định: Trời định trước rồi lấy ai cũng vậy lấy anh cho rồi… Thưa cái vụ thiên duyên tiền định nầy vốn do chú Ba, hoặc Thiếm Ba Tàu ở không, đặt chuyện cả thôi.
Hồi xưa bên Tàu, đời nhà Đường, Chú Ba Vi Cố cũng tin dị đoan hết biết! Một hôm thấy ông già ngồi dưới trăng, gọi là Nguyệt lão, có mang theo cái túi đựng dây xích thằng, tức là những sợi chỉ hồng, để cột hai người trai và gái phải lấy nhau; không sao gỡ ra được. Vi Cố xáp lại gần, hỏi Nguyệt lão coi vợ tương lai của tui ra làm sao? Người ấy quê quán nơi nào giàu nghèo? Tuổi tác bao lớn sang hèn thế nào? Nguyệt Lão lôi cái túi ra: thấy Vi Cố cột với một đứa. ”À vợ của chú em là con bà ăn mày ở ngoài chợ Đông Đô!” Dĩ nhiên Vi Cố đời nào chịu kêu bà lão ăn mày ngoài chợ Đông Đô là Má bao giờ… nên khẩn khoản xin Nguyệt lão cởi sợi chỉ ra! Hãy cột mình vô với con gái ‘Tể tướng nước Vệ’ cũng được… Muốn hậu tạ bi nhiêu thì bi! Nguyệt lão trả lời: “Con gái Tể tướng nước Vệ đã có chồng rồi! Muộn rồi các hạ! Không gỡ sợi chỉ nầy ra được đâu… Chỉ trừ trường hợp là có cây kéo cắt. Nhưng xui thay, ta lại bỏ quên cây kéo ở nhà. Chạy về lấy chạy ra thì đã hết giờ linh, cây kéo lụt nhách, có cắt cũng không đứt. Đành vậy! I’m sorry!” Nhưng Vi Cố tin rằng xưa nay ‘nhân định thắng thiên’ cũng nhiều… bèn bỏ một đống tiền đô la, mướn một tay đầu gấu, sát thủ giết mướn, ra chợ Đông Đô tìm con gái bà ăn mày chọi đá cho nó lỗ đầu! Chết đâu; chết phức cho rồi! 15 năm sau, Vi Cố đi hỏi vợ, con của đại gia nhà giàu. Đêm động phòng hoa chúc, em sexy, trần truồng như nhộng, Vi Cố thấy có cái sẹo to tổ bố trên đầu mà nhờ em đội tóc giả nên bấy lâu không thấy! Hỏi nguyên cớ ra làm sao mà thân ngà ngọc của em lại có sẹo? Thì ra hồi nhỏ ở chợ Đông Đô, em bị một thằng mất dạy nào đó, tự nhiên không thù vơ oán chạ gì hết ráo mà nó vác cục đá chọi em lỗ đầu vậy hè! Nghe vậy! Vi Cố nín khe! Bởi kể ra sợ em kêu lính bắt về tội mưu sát; vì bỏ tiền ra mướn sát thủ để giết em yêu mới vừa lên 3 tuổi. Vả lại, bây giờ, lớn lên trổ mã, chân dài tới nách, 3 vòng hịt như của hoa hậu phu nhân; nhờ lọt vào nhà đại gia, làm con nuôi nhưng được ăn uống tẩm bổ tôm hùm, bào ngư, đông trùng hạ thảo như con ruột… nên em trắng da dày tóc, che mất vết sẹo trên đầu… thì đã quá rồi… Vi Cố móc tiền trong túi ra một nắm, sai vợ đi chợ, mua con gà trống thiến về, cúng Nguyệt lão để ‘thank you!. Rượu vô lời ra, Vi Cố khai hết ráo… nên mới có chuyện thiên duyên tiền định nầy truyền tới đời sau! Tới đời Hùng Cường và Mai Lệ Huyền đó bà con ơi! Thưa rồi sau nầy thời cuộc đổi thay, làm thân ly khách, lưu lạc quê người, tui nghe mấy thằng Úc ở đây vốn tự do luyến ái, yêu ai là lấy chớ hỏng có ông tơ bà nguyệt se mối chỉ hồng gì hết ráo! Rồi cũng nghe mấy chị em mình khen mấy thằng Úc ở đây có cái truyền thống nịnh đầm! Ôi thương, nâng niu con vợ nó thôi hết biết! Như thằng Úc hàng xóm của tui, trước khi vác hộp mì Spaghetti đi làm là hun con vợ nó một cái rồi mới ‘bái bai’. Tui cũng muốn bắt chước làm như vậy nhưng tiếc một cái là tui với con vợ nó có quen biết gì đâu! Nhưng mấy em ơi! Thấy vậy mà không phải vậy! Kết luận quá sớm là lầm! Lầm to đó! Có đắp chăn mới biết chăn Úc nó cũng có rận đầy như cái mền của mình thôi! Thì ra tình em cũng như món hàng chưng trong siêu thị! Thấy hào nhoáng. Mua về mới biết là đồ dỏm. Đồ dỏm còn giữ biên lai, chịu khó đi trả lại. Còn tình em quàng vô cổ mình rồi muốn trả lại cũng khổ trần thân đi! Có thằng Úc, ngồi buồn tình lấy tờ giấy hôn thú của vợ chồng nó ra xăm soi suốt buổi! Hỏi kiếm cái gì vậy chú em? Nó nói: Kiếm cái ngày hết hạn ghi trên tờ hôn thú mà sao tìm hoài hỏng có thấy vậy ta? Ở Hà Nội mới đây thôi cũng vây! Có cụ ông năm nay đã 60 tuổi rồi mà cứ khăng khăng nhứt định đưa em yêu ra Tòa để ly hôn năm lần bảy lượt. Tòa hỏi: “Con cá làm ra con mắm! Vợ chồng già thương lắm mình ơi! Mà sao hai ông bà đã gần đất xa trời, con cháu đầy đàn lũ khủ mà cứ đòi: Em đường em; tui đường tui hoài… Hỏng sợ thiên hạ họ cười sao?” Thì ông chồng khốn khổ trả lời rằng: “Xưa đi làm, em yêu có tò tí với cái thằng chung Chi bộ đảng. Tui khuyên bảo để em rút kinh nghiệm mà em không chịu rút… Rút cái gì thì rút, rút kinh nghiệm nhứt định không! Thế nên tui ly thân em tới nay cũng đã 10 năm rồi đó nhe ông Tòa!” Nói xong, ông lấy một bịch kẹo dừa “Bến Tre, quê hương Đồng khởi”, quăng cái độp lên bàn ông Chánh án: Hỏi: “Tòa nghĩ coi! Tui bị bịnh tiểu đường loại 2, mà em yêu gởi tặng cho tui bịch kẹo. Chơi nhau như thế bằng mười phụ nhau!” Lần nầy ông Tòa vẫn không cho ly dị… Mà em yêu lại muốn chọc quê cái bịnh tình tiểu đường loại 2 của tui bằng cách gởi tặng thêm vài bịch kẹo dừa Bến Tre quê hương Đồng khởi nữa thì tui phải làm sao cho bớt được cơn tức bây giờ? Thưa! Ông cứ bắt chước chú Ba Tàu tên He nầy bên thành phố Phật Sơn là xong ngay. Chú He và thiếm He cãi nhau một trận tơi bời! Giận quá, chú He lấy chiếc xe đạp, đạp một hơi đi Bắc Kinh, chỉ cách đó chỉ có 2200 cây số thôi! Hết giận, chú He đạp trở về, rồi tuyên bố rằng: “Nếu nị còn làm cho ngộ bốc hỏa nữa… Thì lần nầy, ngộ sẽ đạp xe qua tới… Châu Phi!” Thưa giải quyết như vậy cũng được quá đi chớ! Vừa hết giận vợ! Vừa thể dục thể thao! Xin đừng xuống tay tàn độc như một thằng Canada ở thành phố Wilno, tỉnh bang Ontario nhe! Mới đây nó không những giận một con vợ, mà đời nó có tới ba con, đứa nào cũng làm cho nó giận hết ráo! Một bữa nó vác súng “xử” hết ba em. Thiệt là cái thằng chồng Kha Trấn Ác! Hết yêu thì thôi! Làm lại cuộc đời chớ ăn thua đủ chi vậy cha nội! Thưa trở về nước Úc nầy, cái vụ bạo hành gia đình, chồng đánh đập, giết vợ, giết con… Chu choa coi bộ hỏng có thua gì bên Canada và bên Mỹ đâu. Chỉ trong vòng 9 tháng năm nay thôi… mà 62 người phụ nữ Úc đã bị chồng mình giết chết rồi đó! Thiệt là kinh hoàng!
Nên quý bà Bộ trưởng mới của chánh phủ Malcolm Turnbull tung ra một chiến dịch toàn quốc, chống lại vụ bạo hành nầy! Một là cấp cho mấy cái dịch vụ chống bạo hành gia đình 100 triệu đô xài chơi! Hai là đòi ông Bộ trưởng Giáo dục phải đưa vô chương trình cái môn ‘Tôn trọng người phụ nữ’ cho sắp nhỏ nó học… Để tương lai nó biết cách cư xử phải đạo với vợ con mình. Và việc cần làm ngay là cấm chú em ca sĩ Mỹ, Chris Brown, tháng Chạp qua đây hát kiếm tiền! Cấm cửa… vì nó đã đánh con bạn tình của nó là ca sĩ Rihanna năm 2009 một cách dã man. Đánh hai con mắt em bầm tím, dập đôi môi, đỏ lòm đầy những máu! Em yêu phải lết, đi nằm nhà thương hết mấy bữa! Ông Tòa Mỹ phạt chú Brown nầy hơi nhẹ… Chỉ có 5 năm tù treo, 180 ngày lao động công ích và xách tập đi học về bạo lực trong gia đình. Thưa Canada cũng cấm cửa chú Chris Brown nầy vào tháng Hai; thì Úc mình cấm cửa vào tháng Chạp! Cho nó thất nghiệp chơi! Để nó bỏ cái thói du côn với ghệ. Thiệt là cái thằng quá tệ! Chê thằng Canada, thằng Mỹ, thằng Úc giỏi cái đánh vợ hè! Thì tự hỏi Việt Nam mình có cái vụ bạo hành bậy bạ đó hay không? Phải đành thú thiệt là có! Bằng cớ nằm chình ình trong ca dao, thì làm sao tui dám binh quý ông anh cho được chớ! “Không đánh thì bậu luông tuồng/ Giơ tay đánh bậu để buồn lòng qua” Như vậy là giơ tay là chuyện cực chẳng đã! Tại nó luông tuồng quá mà… (Giận quá chỉ giơ tay; chớ hỏng phải cung tay, thọi vô mặt em yêu một cái nháng lửa đâu nha) Giơ tay như phủi bụi thôi… mà lòng ‘qua’ cũng đau hết biết. Thấy thì có vẻ bạo hành thiệt… nhưng suy đi nghĩ kỹ… lại là tình yêu! Bậu dẫu luông tuồng… Qua vẫn còn tha thiết đến hết biết… yêu em đó nha! Chừng nào mọc trên đầu cái sừng… Chừng ấy hẵng hay! Thưa còn tui, nếu có độc giả nào cắc cớ hỏi: “Ê còn ông! Có đánh vợ hông?” ”Sao khỏi! Dà! Tui đánh bằng hai cái lỗ mũi! He he!” Chẳng qua, tui không có tin thiên duyên tiền định như Hùng Cường Mai Lê Huyền hay Vi Cố, Nguyệt lão se duyên gì hết ráo mà tui theo cái thuyết tự do luyến ái: Yêu là cưới! Cưới về là tự nhiên sợ vậy thôi! Nhớ có lần, Má tui mang một thanh chocolate đến nhà, thăm hai đứa cháu nội. Má nói: “Thanh chocolate nầy, Nội sẽ cho đứa nào ngoan! Biết nghe lời Mẹ! Không bao giờ dám cãi lại Mẹ! Và luôn luôn biết nhận lỗi với Mẹ!” Hai đứa nhỏ nhìn nhau, rồi nói: “Thôi! Nội cho Ba con đi!” Thưa! Dẫu không sanh đẻ ra ta! Nhưng công nuôi dưỡng thiệt là lớn lao! Thì làm sao tui dám hỗn hào với em yêu cho được chớ! Phần hồi xưa mới yêu em, tui vốn đã là thằng dại gái rồi mấy anh ơi! Hồi mới bén duyên, chưa cháy lắm, có lần em hẹn tui ra bờ biển để tâm sự loài chim biển nhưng bữa đó em cho tui leo cây. Vậy mà ngơ ngẩn về nhà, cơm nuốt có trôi khỏi cần cổ đâu. Chu choa! Nhớ ơi là nhớ…“”Anh ăn cơm cũng thấy nghẹn/ Uống nước cũng thấy nghẹn/ Nghe lời em, bậu hẹn/ Ra bãi đứng trông/ Biển xanh bát ngát, mà không thấy người… Hu hu!” Rồi khi rước em yêu về… em nắm được trái tim tui, em nắm được túi tiền của tui, em nắm hết đời tui. Đời tui coi như đã hết, đã chết. Tui tính: “Bắc thang lên hỏi ông trời/ Vợ con dữ quá, con xin bỏ nàng/ Ông Trời ngó xuống trả lời/ Mày bỏ được nó thì tao con mày!” Thôi làm tới ông Trời mà còn đành vậy! Thì phần tui ra cái ‘thá’ gì đâu! Nên xin mấy em đừng thương tiếc tui nữa mà chi! Kiếp nầy thôi đã lỡ! Xin hẹn lại kiếp lai sinh!
Bà con mình nếu ở gần chùa Tịnh Độ chắc biết rau răm là một vị thuốc Nam. Rau răm cay nồng, tính ấm nên ăn với các món có tính hàn như: vịt, hến xào rau răm; sách bò xào dứa rau răm; gà hấp, kho rau răm. Và có 3 món dứt khoát không thể thiếu rau răm cho được là cá kèo kho lạt; gà xé phay và hột vịt lộn.
Nhớ cách đây 50 năm, ngày 27, tháng Giêng, năm 1973, trung đội 242 khóa 4/72/SQTBTĐ đi chiến dịch Hiệp định Paris. Tui về xã Tân Phú Trung, quận Bình Đại của Trung tá Nguyễn Văn Bạc, tỉnh Kiến Hoà của Đại tá Phạm Chí Kim. Tư Bốn, xã trưởng, điều một tay nghĩa quân qua làm ‘tà lọt’. Nhưng sự thực là để theo dõi, kềm kẹp, báo cáo 3 thằng tui. Xã Bốn sợ tụi tui trẻ người non dạ hứng ẩu tối ra khỏi đồn đi bậy bạ, VC bắt được nó cắt lưỡi thì ông Quận quạu lên cho Xã Bốn bà nội cũng đội chuối khô.
Bình Đại gần biển, nước lợ; trồng lúa Thần nông không được. Năm chỉ một vụ lúa mùa, không trúng lắm, chừng chục giạ một công. Bù lại lúa một bụi ngon cơm. Được thêm cái vụ cá kèo lội đặc đồng.
Một hôm, tay nghĩa quân kho cá kèo với rau răm bằng nồi đất thơm phức. Tui hỏi sao cá không cắt đầu? Nó nói: “Cá kèo mà cắt đầu bỏ mật ăn đâu có ngon? Để mật ăn nhân nhẩn mới đã.” “Bỏ rau răm vô chi vậy?” “Cho cá bớt tanh, ớt sừng trâu không đủ.”
Tui quanh quẩn coi nó có mời tui ăn cơm hay không? Nhưng nó ba xạo, nói xỏ tui: “Cá kèo kho rau răm, món quê nghèo, chắc Thiếu úy chê”. Tui chỉ là SVSQ đeo con cá mà nó kêu tưng tui lên Thiếu uý? Chắc trong bụng nó muốn tui được truy thăng lên bàn thờ ngồi ngắm gà khỏa thân. Nó trù tui chết vì mấy em mơn mởn đào tơ ở chợ xã chỉ đá lông nheo với tui mà phớt lờ nó.
Nhưng người hại không chết. Trời hại mới chết. Không lẽ đứng đó dòm miệng nó ăn cơm? Tui bỏ ra trước sân thơ thẩn đăm đăm trông nhạn về. Thì em Quế Thanh, nhà bán bánh thuẫn đám cưới sát bên đồn ngoắc tui. “Lợi nói cho nghe nè! Qua ăn cháo gà!” Ngu sao mà từ chối? Giữa cái bàn tròn có hai cái ghế đẩu, là một dĩa thịt gà xé phay rau răm đầy ú với hai tô cháo gà có rắc tiêu còn bốc khói. Còn má em đã ăn rồi đang lui cui dưới bếp. Má em điệu đời ghê đi.
Bà con mình ai cũng biết phay là xé nhỏ thịt con gà luộc, hoặc con gà nấu cháo ra từng miếng. Xong trộn bắp chuối hột, bắp cải làm gỏi. Cho một nửa rau răm vào dĩa gỏi, trộn đều lên. Phần rau răm còn lại rắc trên mặt dĩa. Chua ngọt nước giấm; cay đắng rau răm. Gắp một đũa nhai rau ráu. Nhấp một chung rượu nếp. Nó ngon bá chấy, bù chét … Bữa cháo gà đó nửa thế kỷ, tui vẫn còn nhớ tới bây giờ.
Bà con mình ai cũng biết ăn gì bổ nấy. Hột vịt lộn chấm muối tiêu, cường dương nên phải ăn với rau răm để giảm bớt ham muốn tình dục. Hồi xưa, thất tình Điệp, Lan đi tu. Lan hay ăn hột vịt lộn với rau răm để diệt lục dục thất tình. Sao đi tu mà Lan còn ăn hột vịt lộn? Thưa Lan và Điệp là một tiểu thuyết tào lao báng bổ Phật giáo của Nguyễn Công Hoan. Lan đi tu là vì thất tình chớ không phải vì hiểu được triết lý thâm sâu của Phật giáo. Phật giáo là dấn thân chớ không phải là một phương tiện để trốn nợ tình? Nên tui cho Lan ăn hột vịt lộn với rau răm. Ý tui muốn nói lòng trần còn nặng; còn yêu đương nhăng nhít, yêu đương ra rít, thì đi tu cái con khỉ mốc gì?! Viết Tắt lửa lòng như vậy chứng tỏ Nguyễn Công Hoan không hiểu gì về Phật giáo. Giống như Cù Huy Cận đặt câu hỏi tào lao: “Há chẳng phải đây là xứ Phật? Mà sao ai nấy mặt đau thương?” trong “Các vị La Hán chùa Tây Phương”
Rau răm hột vịt lộn
(Là CS nòi, Nguyễn Công Hoan có em ruột là Lê Văn Lương (tên thật là Nguyễn Công Miều), ủy viên bộ chính trị, bí thư thành uỷ Hà Nội. Con của Nguyễn Công Hoan xâm nhập vào Nam về Bến Tre làm điệp báo. Giờ Hà Nội theo Bắc Kinh. Sài Gòn theo giờ GMT. CS vặn trước giờ Sài Gòn một tiếng. Nên đồng hồ của y chỉ 5 giờ mà giờ Sài Gòn mới 4 giờ. Vi phạm giờ giới nghiêm, y bị bắt. Tiểu khu Kiến Hoà biết con của Nguyễn Công Hoan là một ‘con cá lớn’ nên giải về Cục An Ninh Quân đội ở Sài Gòn khai thác. Thả về ‘bu’ mầy nhìn cũng không ra?!)
Chưa có loại rau nào mọc được từ đất ca dao nhiều như rau răm. Nghe nói ông cố nội tui hồi năm nẳm chấm bà hàng xóm vì: “Những người con mắt lá răm. Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.” Nên “Rau răm ngắt ngọn còn tươi. Rượu ngon chuốc chén đợi người tri âm”. Nhưng bà hàng xóm lại khoái nghe tiếng kèn ‘tò loe tí loe’ của thằng cha thiến heo. Cùng lúc, bà cố tui lại thầm yêu trộm nhớ ông cố tui. Mối tình tam giác; mối tình 2 trái bầu, 1 con cua mỗi độ Xuân về.
“Rau răm ngắt ngọn héo rầu. Những lời anh nói mà đau đớn lòng. Bấy lâu xe sợi chỉ hồng. Nghĩ em lấy được con tông nhà nòi. Bây giờ em đã hai mươi. Sao anh không nhớ những lời ngày xưa?”
Nghe đờn kêu tích tịch tình tang ai đem công chúa lên thang mà về, ông cố tui tiễn mối tình thơ dại nhà em cách giậu mồng tơi xanh dờn bằng cách chơi chữ “cải trời” “Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.” Hôm nay ngày cưới anh, ông cố tui mời bà hàng xóm đến chung vui cho bỏ ghét. Hôm rước dâu, bà hàng xóm thấy ông cố tui đóng bộ «ăn-ta-ni” (en tenue), đầu một khúc cá kho. Trông ông cố tui cũng bảnh tỏn, đẹp trai ra phết. Bà hàng xóm tặc lưỡi như thằn lằn đứt đuôi; tiếc hùi hụi 2 ‘củ khoai từ’. Nhưng trễ rồi bậu ơi! “Rau răm đất cứng, dễ bứng khó trồng. Dù thương cho lắm, cũng chồng người ta”
Chiến tranh xảy ra ở Việt Nam nhưng khi nói chuyện hòa đàm lại kéo nhau qua Paris. Lúc hiệp định ngưng chiến được ký kết, cũng là lúc Mỹ bắt đầu giảm quân viện cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với lý do rất là rõ ràng: hết đánh nhau rồi, vũ khí đạn dược hư hao, thất thoát, một đổi một. Tôi không biết những đơn vị tác chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị ảnh hưởng như thế nào, nhưng riêng Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt khó khăn thấy rõ, khi thiếu tá trưởng phòng nói với tôi:
-Kể từ tuần tới, chuyện đi họp an ninh, lấy mật khẩu bên Quân Trấn, trung úy dùng xe hai bánh của mình mà đi.
Tôi hỏi ông:
-Thưa thiếu tá, xe jeep của Phòng hành quân bị hư hay sao?
-Xe vẫn còn tốt nhưng cấp số xăng cho xe bị cắt giảm, chỉ còn lại một phần tư so với trước đây.
Vừa dứt lời, Thiếu tá trưởng Phòng hành quân dẫn tôi tới góc phòng, chỉ vào cái thùng sắt đựng đạn.
Tôi không hiểu ý của ông nên nói:
-Thưa thiếu tá, mấy năm rồi tôi chưa một lần chạm tay đến cây súng M16 treo ở góc phòng, cấp số đạn mà tôi lãnh bốn năm trước vẫn còn nguyên, không hao hụt. Tôi không cần đạn, chỉ cần xăng.
Thiếu tá trưởng phòng nhìn tôi cười vui vẻ:
-Trong thùng đạn đó có ba lít xăng. Từ nay về sau đó là số xăng mà trung úy sẽ được lãnh hàng tuần, đổ vào xe Honda hai bánh dùng để đi họp bên Quân Trấn.
Tôi nói:
-Thiếu tá, mình ở quân trường thiếu xăng tôi đi họp bằng xe Honda, chuyện không có gì phải nói nhưng ở đơn vị tác chiến mà thiếu đạn coi bộ không ổn. Khi đụng trận tụi Việt Cộng cứ AK rồi B40 bắn thoải mái, hết đạn Tàu cộng với Liên Xô lại tiếp viện, còn lính mình gắn lưỡi lê vô súng M16 mà đâm Việt Cộng, tôi sợ mình đánh không lại họ.
Tôi tưởng rằng thiếu tá trưởng phòng cũng đồng ý với tôi, nào ngờ ông nói:
-Đương nhiên là thua nhưng còn được như vậy là quý rồi. Miền Nam mình giống như người bịnh ung thư, mang căn bịnh trầm kha không có thuốc chữa, kéo dài cuộc sống được ngày nào hay ngày nấy.Tao sợ mai mốt Mỹ cúp hẳn viện trợ, mình làm gì được họ. Viện trợ hay không là quyền của họ mà.
Tôi bắt đầu đi làm bằng xe Honda hai bánh. Buổi sáng Đà Lạt sương mù dày đặc, tôi mặc bộ đồ lính đeo găng tay, thêm chiếc áo Jacket dày cộm mà vẫn không cảm thấy đủ ấm. Ngồi trên chiếc Honda chạy băng băng trong gió lạnh mà tôi cứ tiếc mãi chuyện ngày xưa, tiếc hoài thời tôi đi làm bằng xe bus của trường. Tôi tiếc bầu không khí ấm áp trong xe, tiếc luôn chuyện được ngắm miễn phí các cô thư ký dân sự làm việc trong trường, cô nào cô nấy áo măng tô khăn quàng cổ, đẹp như mơ, đẹp hết biết mà dạn dĩ cũng khỏi chê. Tôi còn nhớ, hồi tôi mới lên thiếu úy, có cô hỏi tôi:
-Thiếu úy khóa mấy của Trường Võ Bị?
Hầu hết mọi người đều lầm lẫn giữa một thiếu úy tốt nghiệp Trường Võ Bị Đà Lạt, và một thiếu úy đang phục vụ tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi tốt nghiệp Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, mấy năm rồi phục vụ tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Nếu ai đó tưởng lầm tôi tốt nghiệp Võ Bị, tôi cũng nhận luôn, cải chính làm chi cho mệt. Tôi trả lời mấy cô bằng câu đố.
-Đố mấy cô, tôi khóa mấy, ai nói đúng sẽ được một chầu cà phê Thủy Tạ.
-Thiếu úy khôn thấy mồ, ông có mời đi cà phê chưa chắc tụi này đã chịu.
Hình minh họa
Tuy vậy, cũng có vài tiếng trả lời:
-Khóa 24.
Tôi nói:
-Trật lất.
-Khóa 23.
Tôi cười đắc chí.
-Cũng trật luôn, không có cô nào được mời đi uống cà phê Thủy Tạ. Tôi tốt nghiệp Sĩ quan trừ bị Thủ Đức.
Một ông thiếu tá ngồi cuối xe, nghe vậy bèn lên tiếng:
-Các cô cứ lo chuyện không đâu, hỏi thử xem ông ấy có vợ hay chưa rồi hẳn chuyện trò tiếp.
Đang nói chuyện bình thường, đột nhiên ông thiếu tá đổi giọng cằn nhằn, trách móc:
-Các cô có thân phải liệu mà giữ gìn, lúc nào cũng lờ mờ nhân ảnh như người đi đêm, lờ quờ, lạng quạng trao duyên lầm tướng cướp như không.
Tôi muốn tạo không khí ấm cúng trong xe nên tiếp lời ông thiếu tá:
-Quý vị có thấy tôi giống tướng cướp không?
Nhiều tiếng cười khúc khích vang lên xen lẫn một giọng nói nhỏ.
-Cũng khá giống.
Thời vàng son một thủa của tôi, mới đó đã chìm vào quá khứ.
Ngày xưa, ông Thế Lữ tiếc cái thời xa xưa cũ đã làm bài thơ Nhớ Rừng kể lại chuyện chúa sơn lâm nhớ thời oanh liệt, nghe ra còn có lý. Đằng này, tôi có gì mà phải tiếc với nuối. Có chứ, tôi giống như anh nông dân đứng giữa cánh đồng khô hạn mà tiếc vụ lúa được mùa năm trước, như ông ngư phủ nhìn mấy con cá trong ghe mà tiếc mẻ lưới đầy cá. Tôi tiếc cái không khí ấm cúng trong xe bus của trường, tiếc cái thủa lái chiếc xe jeep thắng cái két trước quán cà phê Hạnh Tâm, liếc nhìn cái lon trung úy trên cầu vai áo rồi khuỳnh tay, dạng chân khệnh khạng đi vào quán trước cặp mắt hình như là đầy khâm phục của cô thu ngân. Đó là thời vinh quang tột đỉnh của tôi, không tiếc sao được, đâu cần phải là chúa sơn lâm mới có quyền nhớ rừng.
Đến trường, khi ký sổ bàn giao phiên trực hai tay của tôi vẫn còn run lẩy bẩy vì lạnh. Trung úy Hàn sĩ quan hạ phiên, đưa cho tôi tờ giấy có mấy chữ: Trung úy Nguyễn Trọng Quân trình diện Đại tá Tham mưu trưởng lúc mười giờ sáng.
Tôi cầm tờ giấy, phần run vì lạnh phần run vì sợ, trình diện sếp lớn, chuyện rủi nhiều hơn may. Tôi nghĩ trong đầu, không biết mình bị lỗi lầm gì, có khi nào sếp tống cổ mình ra tác chiến hay không? Hỏi xong, tôi tự trả lời: Chắc không đến nổi nào đâu, dù gì Đại tá Tham mưu trưởng cũng là chỗ quen biết với bác Bảy. Tôi dặn người hạ sĩ quan trực chung ca với tôi:
-Có việc gì cần, trung sĩ gọi điện thoại qua Câu lạc bộ sĩ quan, tôi ngồi bên đó.
Tôi trình diện Đại tá Tham mưu trưởng, sau khi uống cạn hai ly cà phê phin đặc quánh ở câu lạc bộ, cà phê ngon thiệt, nhung có điều nó làm cho tim tôi đập nhanh hơn bình thường gấp mấy lần.
Đại tá Tham mưu trưởng ngồi sau bàn làm việc, ông chỉ vào chiếc ghế trước bàn làm việc của ông
-Mời trung úy ngồi.
Tôi rón rén ngồi xuống, lưng thẳng như thời còn là sinh viên ngồi ăn ở nhà bàn, không dám dựa lưng vào ghế. Đại tá Tham mưu trưởng hỏi tôi:
-Trung úy làm việc ở Phòng hành quân, thấy thế nào?
-Trình đại tá, mọi chuyện đều tốt đẹp.
-Tốt, nếu muốn thuyên chuyển đi phòng khác, trung úy cứ nói với tôi.
Tôi trả lời:
-Thưa đại tá, tôi rất thích làm việc tại Trung tâm hành quân.
-Tốt.
Nhìn tôi với cặp mắt thân thiện, Đại tá Tham mưu trưởng hỏi:
-Đám cưới của trung úy sẽ được tổ chức vào ngày nào?
Tuy Đại tá Tham mưu trưởng nói tiếng Việt, rõ ràng từng chữ nhưng tôi không hiểu ông ta nói gì.
Hình minh họa
-Thưa, đại tá tôi…tôi…
-Làm rể anh Bảy Ân khác nào chuột sa hũ nếp. Từ nay, ở cái trường này có ai giàu bằng trung úy!
Tôi nghĩ, Đại tá Tham mưu trưởng lầm lẫn giữa tôi với ai đó trong trường nên lẹ lẹ đính chính:
-Thưa đại tá, tôi đâu có biết ông Bảy Ân là ai.
Đại tá Tham mưu trưởng mỉm cười:
-Cha vợ của mình mà trung úy cũng không biết. Anh Bảy có cô vợ lai Ấn Độ, chủ nhân của mấy chục cái building ở Sài Gòn, ảnh có cái biệt thự to như cái dinh Tỉnh trưởng ở đường Công Lý, Sài Gòn.
Chuyện tới đây, tôi biết là Đại tá Tham mưu trưởng không lầm. Tôi mới là người không biết gì.
-Thưa, đại tá muốn nói tới bác Bảy, có cô con gái tên Cúc?
-Chứ còn ai vào đây nữa!
Tôi biết bác Bảy đã chọn tôi làm rể, nhưng tại sao ông không nói chuyện đám cưới với tôi, mà lại nói với sếp lớn của tôi. Đúng là chuyện trong nhà chưa rõ, ngoài ngõ đã thông.
Tôi nói với Đại tá Tham mưu trưởng:
-Thưa đại tá, chuyện đám cưới tôi không dám có ý kiến, mọi chuyện đều do bác Bảy và ba tôi quyết định.
-Vậy hả? Anh Bảy Ân với tôi vốn là bạn thâm giao, tôi coi trung úy như con cháu trong nhà. Hình như trung úy đang theo học ở Viện đại học Đà Lạt, phải không?
-Dạ phải.
-Tháng tới khi nghỉ hè ở Viện đại học, tôi sẽ gởi trung úy về Sài Gòn học khóa đại đội trưởng, trung úy có biết tại sao không?
-Thưa đại tá, tôi không biết.
-Có cái bằng đại đội trưởng sẽ được thêm điểm khi chạy cấp bậc đại úy. Trung úy cần hỏi thêm gì nữa không?
-Thưa không.
-Trung úy có thể trở về làm việc.
Tôi đứng nghiêm, hai gót giày chạm vào nhau kêu cái cốp, đưa tay chào Đại tá Tham mưu trưởng đúng như lễ nghi quân cách mà tôi đã học ở quân trường, rồi quay người bước đi.
Lời của sếp lớn nói, chắc như đinh đóng cột. Vừa nghỉ hè ở Viện đại học, tôi nhận được sự vụ lệnh về Sài Gòn để theo học khóa Đại đội trưởng. Tôi trở lại Trường Bộ Binh Thủ Đức, đường xưa cảnh cũ hiện ra trước mắt tôi, cái cổng trường vốn đã xấu nay trông lại càng xấu hơn sau bao mùa mưa nắng dãi dầu. Vũ Đình Trường với Trung Nghĩa Đài im lìm trong nắng sớm, những viên đá vụn trải trên sân lấp lánh dưới ánh mặt trời tuy có đẹp đó, nhưng khi quỳ xuống để gắn lon chắc chắn là không đẹp chút nào, chỉ tội cho cái đầu gối. Căn nhà tiền chế khổng lồ có cái tên là Đại Giảng Đường, bị tụi tôi gọi để chế giễu là “Đại Hỏa Lò” vẫn nóng như lò nướng bánh mì. Ngày xưa khi cả khóa phải vào đây để học, chúng tôi thường nói đùa với nhau rằng: Hôm nay nguyên khóa được đi tắm hơi miễn phí.
Cho đến khi tôi nhìn thấy những căn nhà gạch của đại đội tôi ngày xưa, lòng bỗng nhiên bồi hồi xúc động, nào là Biên, nào là Long công tử rồi bạn bè cùng khóa, tất cả lần lượt hiện ra trước mắt tôi như một cuốn phim chiếu chậm. Tôi nhớ nhiều đến Biên rồi tự nhủ lòng cuối tuần này sẽ đến thăm ba má Biên, nhân tiện hỏi thăm địa chỉ của Biên. Tôi muốn viết cho hắn một lá thư. Nghĩ lại, tôi vẫn thấy mình quá hời hợt với bạn bè, mang nặng mặc cảm bao năm trường xa cách mà không viết được một lá thư để thăm hỏi bạn, tôi cho đó là một thiếu sót không thể tha thứ. Riêng về Dung, người con gái mà tôi yêu không biết giờ này ra sao. Tôi vẫn nghĩ ràng nàng đã là vợ của Long công tử, có thế là họ đã có với nhau một hay hai đứa con rồi cũng nên. Cho dù Dung đã có chồng hay không, tình yêu của tôi dành cho Dung, dành cho người yêu đầu đời của tôi muôn đời vẫn còn đó không phai.
Hình minh họa
Tôi đứng ngẩn ngơ trước cổng nhà Biên, mà cứ tưởng như mình lạc đường vào quá khứ, năm năm trường, khoảng thời gian xa cách đủ dài khiến cho lòng người chùng xuống. Nhìn chiếc bàn đá dưới tàn cây vú sữa, nơi mà ngày xưa tôi ngồi ăn sáng bên Dung, giọng nói của nàng vẫn còn vang vọng bên tai: “Để em thêm cho anh chút tiêu”. Tôi liếc nhìn chiếc ghế xích đu mà Dung vẫn thường ngồi, rồi nhắm mắt lại mà cứ nghĩ như mình đang đong đưa trong gió.
Đã hai, ba lần tôi đưa tay lên toan bấm chuông nhưng rồi ngừng lại, linh tính như báo cho tôi biết có một chuyện gì đó không ổn đã xảy ra ở đây. Căn nhà hình như mang nặng nét u buồn, mất đi sinh khí và không được tươm tất như ngày xưa. Màu sơn trắng của cửa nhiều chỗ đã đổi sang màu vàng úa, vài mảnh tường loang lổ, có nơi tróc hẳn lớp xi măng bên ngoài để lộ ra những viên gạch màu nâu đỏ. Nơi góc vườn, ngày xưa khóm hoa cúc vàng xinh tươi đẹp đẽ biết bao, nay đã bị cỏ dại phủ kín, đầy sân lá vàng ngập cả lối đi. Cảnh hoang phế, tàn tạ, tiêu điều của căn nhà chúng tỏ chủ nhân không thường xuyên chăm sóc. Tôi chợt nghĩ, hay là ba má Biên đã dọn nhà đi nơi khác rồi?
Tôi quay người toan trở về, nhưng nghĩ lại đã cất công lặn lội đến đây rồi, ít ra cũng nên dò hỏi cho tường tận nguồn cơn, để sau này khỏi phải băn khoăn thắc mắc, biết đâu người chủ mới lại cho mình vài tin tức quý giá về gia đình Biên. Sau một lúc đắn đo suy nghĩ, tôi mạnh dạn đưa tay bấm chuông.
Thoạt thấy dáng người ra mở cổng, tôi giật mình, tim đập mạnh. Dung chứ còn ai nữa, nàng ốm hơn xưa nhiều với nét buồn hiện rõ trên gương mặt. Thấy tôi, Dung chạy nhanh ra mở cổng rồi ôm chặt lấy tôi khóc nức nở:
-Anh Quân phải không?
Tôi còn biết nói gì hơn là im lặng gật đầu. Dung ngẩng mặt lên nhìn tôi với đôi mắt đẫm lệ, nàng thổn thức:
-Anh Biên… anh Biên…
Linh cảm có chuyện không hay, tôi nắm chặt hai vai của Dung lắc mạnh:
-Anh Biên sao? Anh Biên sao rồi?
-Ảnh chết rồi.
Hai bàn tay tôi từ từ lơi ra
-Chết rồi? Chết ở đâu? Chết như thế nào?
Đột nhiên tôi cảm thấy như nghẹt thở, khi hai cánh tay Dung ôm chặt lấy tôi từ từ siết mạnh hơn, nàng nói qua làn nước mắt:
-Anh Quân, em yêu anh.
Tôi nghe rất rõ ràng, nhưng phải mất mấy giây sau tôi mới hiểu Dung muốn nói gì với tôi, câu nói hoàn toàn không liên quan gì đến chuyện mà Dung đang nói về cái chết của Biên. Tôi nghĩ, khi mà xúc động lên đến tột đỉnh, lúc đó tâm trí con người có thể rơi vào trạng thái hỗn loạn, lời nói của họ không còn đúng với những gì họ muốn nói. Tôi ôm lấy Dung, vỗ nhẹ vào lưng nàng an ủi:
-Anh biết, em rất thương anh Biên.
-Không. Anh Quân, em yêu anh.
Tôi chưa kịp có phản ứng gì, đôi môi của nàng đã gắn chặt môi tôi. Dung hôn tôi say sưa đắm đuối, cái hôn tràn đầy nước mắt của mấy năm xa cách, có phải như vậy hay không? Hai mươi bốn tuổi, cái hôn đầu tiên trong đời bất ngờ đến với một thằng con trai, nhất là đến từ người mình thương nhớ, đôi chân của tôi hình như run lẩy bẩy trong khi toàn thân tôi như tê dại. Tôi để mặc cho cảm giác ngất ngây, sung sướng, đê mê, trôi nổi bềnh bồng đưa đẩy.
Hai chuyện trọng đại xảy ra cùng một lúc. Biên người bạn cùng khóa với tôi đã chết. Dung người tôi yêu tha thiết bấy lâu nay, mối tình đầu của tôi cũng là mối tình tuyệt vọng đang hôn tôi và nói yêu tôi. Tôi đứng yên như một pho tượng, một thế kỷ vừa mới trôi qua trong yên lặng. Hai tay tôi hãy còn ôm lấy Dung, môi của tôi vẫn chưa rời khỏi đôi môi của nàng. Tôi uống nước mắt của Dung, mằn mặn xen lẫn chút ngọt ngào như nuốt trọn lấy tình yêu mà nàng đã dành cho tôi. Mãi cho đến khi trái đất bắt đầu quay trở lại, chầm chậm rồi bình thường cũng là lúc trái tim của tôi từ từ đập trở lại. Lúc bấy giờ tôi mới bình tĩnh, nhẹ nhàng nâng gương mặt của Dung. Tuy vậy, tôi phải cố gắng hết sức mới nói được câu.
Hình minh họa
-Nín đi em, mình vô nhà được không?
Dung khẽ gật đầu, nắm chặt lấy tay của tôi như sợ tôi biến mất. Nàng kéo tôi vào nhà.
Tôi nâng ly cà phê, nhấp một hơi.
-Em biết không, năm năm xa cách, mùi cà phê vẫn còn thơm như ngày nào khi anh ngồi uống với em dưới tàn cây vú sữa. Năm năm thương nhớ có biết bao nhiêu là chuyện anh cần phải hỏi em, nhưng thôi bây giờ anh muốn thắp cho Biên một nén nhang, mọi chuyện hãy tính sau.
Qua làn khói hương nghi ngút quyện trong không khí, trên bàn thờ, Biên nhìn tôi như mỉm cười. Tôi khấn thầm:
-Hôm nay, tao trở về lại chốn cũ, những tưởng sẽ biết được tin tức của mày, nào ngờ âm dương cách trở, mỗi thằng một thế giới. Tha lỗi cho tao đã không về lại đây sớm hơn.
Tôi đi đến ngồi bên Dung.
-Bây giờ, anh có chuyện quan trọng muốn hỏi em.
-Chuyện gì vậy anh?
-Anh muốn biết Long công tử đâu rồi.
Dung ngơ ngác nhìn tôi.
-Anh nói cái gì? Tại sao lại hỏi em? Em làm sao biết được anh Long ở đâu.
Tôi ngạc nhiên đến sửng người khiến cho giọng nói của mình hơi ngập ngừng, ngượng ngập.
-Không phải em và Long đã lấy nhau rồi hay sao?
Đôi mắt của Dung tròn xoe nhìn tôi đầy vẻ sửng sốt, nàng nói mà như muốn khóc.
-Từ cái ngày anh đưa gói quà của anh Long cho em, sau đó anh và anh Long biến mất khiến em không hiểu chuyện gì đã xảy ra.
Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.
-Như vậy, em không có thương gì anh Long?
-Ai nói với anh là em thương anh Long?
-Anh nhớ khi đưa quà của anh Long cho em, em vui mừng nhận quà nhưng sau đó giận anh, không nói với anh một lời rồi đuổi anh về, khiến anh nghĩ là mình là kẻ thứ ba trong cuộc nên rút lui là hơn.
Dung nắm lấy tay tôi siết mạnh.
-Anh hiểu lầm rồi, ngày ấy em chỉ giả bộ giận anh thôi. Anh có biết, con gái làm nũng là gì không?
-Làm sao anh biết được.
-Sinh nhật của em, anh Long tặng quà cho em, còn quà của anh đâu? Em đợi hoài chẳng thấy anh nói năng gì khiến em giận anh quá chừng. Em chỉ cần quà của anh chứ không cần quà của anh Long.
Tôi vội vã giải thích.
-Tuần lễ trước khi anh đi phép, Long xuống khu sinh hoạt mua cho em cuốn album rồi nhờ anh đem đến cho em. Em biết cuốn album đó giá bao nhiêu không?
Dung lắc đầu.
-Em không biết.
-Gần hai ngàn. Suốt thời gian thụ huấn ở Quân trường Thủ Đức, chưa bao giờ trong túi của anh có được ngàn bạc. Anh đâu có nhiều tiền như Long công tử để mua quà cho em.
Hình minh họa
-Em hiểu rồi, anh muốn mua cho em món quà đáng giá hơn quà của anh Long phải không? Em không đòi hỏi gì nơi anh hết. Em chỉ cần một món quà nho nhỏ. Anh có thể mua cho em cái lược để khi chải đầu em nhớ tới anh. Anh cũng có thể tặng em cây viết để khi viết thư cho anh, em cảm thấy gần anh hơn. Anh không có được năm, mười đồng hay sao?
Tôi lặng câm thương nàng vô hạn. Tôi phải trả một giá quá đắt, bằng mấy năm cách xa thương nhớ, chỉ vì cái tội ngu ngốc của mình.
-Tha lỗi cho anh, ngày ấy, anh cứ nghĩ rằng trong một cuộc tranh đua, mình phải hơn đối thủ của mình mới mong thắng cuộc.
Dung nhìn tôi với đôi mắt đầy thương yêu.
-Có hai lý do khiến em có thể nói anh Long không phải là địch thủ của anh. Lý do thứ nhất là anh Long không hề có tình ý gì với em hết, con gái rất nhạy cảm về vấn đề này. Hơn nữa, anh Long có nói với em là ảnh có vợ rồi, vợ anh ấy và đứa con trai một tuổi kháu khỉnh đang sống ở Ban Mê Thuột trông coi cái đồn điền của ba anh ấy. Ảnh còn hứa với em khi nào có dịp ảnh sẽ dẫn em lên Ban Mê Thuột chơi, thăm đồn điền, thăm vợ con ảnh luôn. Còn chuyện hộp quà mà anh Long nhờ anh mang đến cho em, anh có biết trong đó có những gì hay không?
Tôi chắc giọng quả quyết:
-Anh biết chứ.
-Có những gì?
-Một cuốn album.
Dung cười, nụ cười tươi như đóa hoa phù dung.
-Chỉ đúng có một nửa, trong đó còn có thêm mấy xấp lụa để may áo dài và một bức thư.
Dung chồm người về phía tôi, nàng nũng nịu nói mà như muốn hôn tôi.
-Bức thư em vẫn còn giữ, thư anh Long viết còn hay hơn những bức thư tình hay nhất thế giới. Để em lấy cho anh coi.
Tôi ngả người ra ghế sofa.
-Thư tình của Long viết cho em, tại sao em lại đưa cho anh đọc, em không sợ anh ghen hay sao?
-Không, nhờ bức thư này mà mấy năm nay em vẫn còn đủ can đảm để nhớ anh. Anh đợi đó một chút.
Tôi cầm bức thư, giấy đã bắt đầu đổi sang màu vàng úa, nhàu nhò chứng tỏ Dung đã đọc nó nhiều lần.
Nét chữ của Long hiện ra trước mắt tôi.
Dung,
Anh gởi mừng sinh nhật của em cuốn album để em gắn mấy tấm hình bốn đứa chụp chung trước vòi phun nước. Nhớ để tấm hình của em và thằng bắp cải ở trang đầu, vì anh biết thằng Quân nó thương em với tất cả tấm lòng chân thật của nó. Còn mấy xấp lụa để em may áo dài, mặc khi đi chơi với Quân. Con gái mà mặc jean với áo thun coi ngố ngáo lắm, em phải mặc áo dài mới thấy ngoan hiền. Em có biết câu thơ “Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu ” nghĩa là gì không? Chữ quân trong câu thơ này phải viết hoa. Nghĩa là người con gái phải yểu điệu, dịu dàng thì thằng Quân nó mới thương..
Đùa với em chút xíu cho vui, anh và Biên đều lớn hơn thẳng Quân bốn năm tuổi, thằng nào cũng có dăm ba mối tình dang dở vắt vai, trong khi em là mối tình đầu của Quân bắp cải, cả hai đứa đều ngây thơ, trong sáng dễ thương. Em phải luôn nhớ rằng, thẳng Quân nó thương em nhất trên đời.
Thư đã dài, anh ngừng bút, chúc em và Quân bắp cải luôn luôn vui vẻ bên nhau.
Anh. Long.
Hình minh họa
Đọc xong bức thư, tôi thầm nghĩ, trên đời này không có ai hào hoa, lịch sự bằng Long công tử mà cũng không có ai nói láo hay hơn nó. Tôi nhớ mãi, trong một lần khi gặp má của Long công tử tại khu tiếp tân của trường, bà nói riêng với tôi:
-Vợ chồng tôi chỉ có một mình thằng Long, cháu có biết cô nào ngoan hiền giới thiệu cho nó với. Ai đời đã hai mươi bốn tuổi rồi mà cứ long nhong, rong chơi suốt ngày không chịu lấy vợ khiến tôi và ông nhà tôi cứ lo là lo. Chỉ mong mau có cháu nội để bồng bế mà không có.
Tôi nói với bà:
-Bác đừng lo, Long có nhiều bạn gái quá nên chưa biết chọn cô nào.
Tôi định nói cho Dung biết là Long công tử nói láo, nhưng chưa kịp mở miệng thì Dung đã hỏi tôi:
-Anh làm gì mà ngồi thừ người ra đó.
Tôi nâng ly cà phê, nhấp một ngụm rồi nói:
-Cái thằng dễ thương quá sức, vậy mà hồi đó lúc nào anh cũng lo ngay ngáy, lúc nào cũng sợ.
-Anh sợ gì?
-Sợ em thương Long công tử chớ còn sợ gì nữa. Đẹp trai, hào hoa, lịch lãm như nó mà em không thương cũng uổng.
-Anh nói như vậy mà nghe cho được. Anh có muốn nghe lý do thứ hai hay không?
-Tại sao không?
Dung nhích sát người tôi, hôn lên má tôi rồi khẽ nói:
-Đây là lý do chính cũng là lý do quan trọng nhất, em yêu anh, yêu từ cái buổi đầu gặp gỡ, anh đừng hỏi em tại sao? Em không trả lời được đâu. Trái tim của em nói là yêu anh, em biết là em yêu anh, đơn giản như vậy thôi. Còn như anh muốn biết nhiều hơn nữa, chuyện như thế này. Anh còn nhớ ngày đi phép đầu tiên của mấy anh, khi mình đi taxi từ nhà đến rạp Rex, anh Biên hích anh một cái cùi chỏ, cố ý xếp anh ngồi bên em, hành động này khiến em suy nghĩ và đoán rằng anh Biên cũng đồng ý nếu hai đứa mình yêu nhau, có phải như vậy không anh?
-Đúng vậy.
Trời ạ, nếu trong một ngày mà trái đất ngừng quay hai lần làm sao người ta sống cho nổi. Trái tim tôi đã bị sốc hai lần trong một ngày vì những chuyện xảy ra trước mắt tôi. Nguyên ngày hôm đó, tôi say sưa kể cho Dung nghe chuyện tôi cũng bị tiếng sét ái tình đánh trúng khi gặp Dung lần đầu, rồi đến thảm cảnh khi bị Dung đuổi về ngồi một mình trong rạp ciné không máy lạnh, cũng như mối tình tuyệt vọng của tôi dành cho nàng suốt mấy năm qua. Mãi mê giãi bày tâm sự, tôi quên bẳng chuyện tại sao căn nhà hoang vắng như vậy. Khi nhớ ra, tôi hỏi Dung:
-Em à, hai bác đâu rồi? Sao anh không thấy.
Dung mỉm cười, nụ cười như ngầm nói bây giờ anh mới nhớ tới ba má.
-Từ ngày anh Biên mất, má buồn quá nên dọn về Bạc Liêu sống, rất ít khi lên đây. Hiện tại, trong nhà chỉ còn em và chị Lành. Ba thường ngày đi làm, nhiều khi ở lại luôn trong sở, cuối tuần lại về Bạc Liêu với má.
Tôi buột miệng:
-Hai bác là người Tiều Châu phải không?
-Ba em người Việt, má người Tiều, sao anh biết?
-Người ta thường nói ở xứ Bạc Liêu “Dưới sông cá Chốt, trên bờ Tiều Châu” anh đoán đại như vậy không ngờ lại đúng.
-Má nghe được anh nói như dzậy, bà không gả con gái cho anh đâu.
-Nếu vậy, anh sẽ sửa lại là “Dưới sông cá Chốt, trên bờ Dạ cổ Hoài Lang”được chưa?
Dung nhăn mặt:
-Được gì mà được, nghe lấn cấn, lọng cọng cứ như “Lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”.
Hai tháng học đại đội trưởng ở Thủ Đức, đây là một khóa học nhàn nhã nhất trong quân đội, hai tháng thần tiên trong đời của tôi. Đi học mà tôi cứ tưởng mình đang sống ở thiên đường hạ giới. Ngày chủ nhật, tôi về nhà Dung cùng nàng lang thang khắp đó đây, trên chiếc Honda dame của nàng.
Ngày đầu đi chơi, Dung mặc chiếc áo dài màu vàng mỡ gà may bằng lụa của Long công tử tặng. Tôi đứng ngẩn ngơ như kẻ mất hồn, nhìn hai tà áo như hai dải lụa nhè nhẹ tung bay phất phơ trong gió, khiến tôi cảm được cái mịn màng của lụa quấn quýt lấy cái mát dịu của làn da, khi âu yếm, lúc lả lơi. Phải mất năm năm, tôi mới thấm được ý câu thơ “Nắng Sài Gòn …” của nhà thơ Nguyên Sa. Tôi nói với Dung.
Hình minh họa
-Sài Gòn hôm nay mát quá.
Vì không hiểu ý của tôi, Dung nói:
-Em cứ tưởng không bao giờ có dịp mặc cái áo dài này.
Tôi hỏi:
-Tại sao vậy? Nếu thích, em cứ mặc đâu có ai cấm.
Dung nói mà như nhắc tôi:
-Anh không nhớ sao? Trong bức thư anh Long dặn em, chỉ bận áo này khi đi chơi với anh. Không có anh, em bận để đi với ai? Anh có biết không, khi may xong mấy cái áo dài mà không được bận em khóc quá chừng. Em đợi hoài đợi mãi, đợi cho đến ngày hôm nay.
Tôi nói:
-Anh không nghĩ rằng mình là người có diễm phúc đến như vậy. Nếu anh không trở lại đây, chẳng lẽ em đợi anh suốt đời hay sao?
Gương mặt Dung thoáng đượm nét buồn:
-Có chuyện này, em phải nói với anh. Anh nói đúng, mấy tháng đầu xa cách, em nhớ anh nhiều lắm, nhớ da diếc, nhớ điên cuồng. Mùa hè năm sáu mươi chín, em lên Đà Lạt nghỉ mát với ba má. Suốt ngày, em chỉ lang thang ở khu phố Hòa Bình, mỗi khi đi ngang qua một căn nhà, em lại nhìn vào với chút hy vọng nho nhỏ là anh đang ở bên trong. Em cứ tiếc hoài, tại sao ngày xưa em không lấy địa chỉ của anh để giờ đây phải lặn lội khắp thành phố này tìm anh. Chuyện tìm anh mà không biết địa chỉ, khác nào như thể tìm chim, chim bay biển Bắc, em tìm biển Đông. Mùa hè năm ấy trôi qua trong lặng lẽ, u buồn. Cho đến khi em bước chân vào đại học, bỡ ngỡ trước nếp sống mới, lu bu với bài vở, bạn bè, em quên anh được phần nào. Cũng vào lúc ấy ba má muốn em lấy chồng. Anh ấy là thiếu úy Nhảy Dù, con người bạn thân của ba em.
Dung ngưng nói, nhìn tôi với đôi mắt như hờn trách.
-Em đúng phân vân giữa ngã ba đường, phải chi ngày xưa anh hứa với em một tiếng là anh sẽ trở lại chắc em sẽ chờ anh, đằng này anh bỏ đi biệt tăm biệt tích. Em chần chừ, lần lựa thêm được hơn một năm nữa, cuối cùng em bằng lòng lấy chồng theo ý của ba má em.
Tôi giật mình, không hiểu chuyện gì đã xảy ra nên lật đật hỏi Dung:
-Em đã có chồng, sao còn…còn nói yêu anh? Chồng em đâu rồi?
Dung nắm tay tôi bóp mạnh.
-Anh làm gì mà hoảng hốt lên vậy, chuyện đâu còn có đó, từ từ em kể cho anh nghe. Tụi em làm đám hỏi được ba tháng, đang chuẩn bị đám cưới, em nhận được tin anh ấy mất ở Hạ Lào trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Em khóc hết nước mắt suốt mấy ngày liền, rồi quyết định sẽ không bao giờ lấy chồng. Tháng kế đó lại được tin anh Biên tử trận tại chiến trường Quảng Trị, từ đó về sau em sống như là chết rồi. Em, ngày ngày đi học như là một người máy, thỉnh thoảng nhớ anh Biên em lại lấy bức thư của anh Long ra đọc, càng đọc càng nhớ anh, nhớ cho đến khi gặp lại anh.
Tôi đưa tay bịt miệng của Dung, rồi nổ máy chiếc xe Honda.
-Mình đi đâu đây em?
-Tùy anh.
Chúng tôi đến Thanh Bạch ăn điểm tâm với bò kho bánh mì, tôi mở nắp chai sữa tươi, bóc giấy dán miệng chai, rót vào ly rồi trịnh trọng đưa cho nàng sành điệu y hệt như Long công tử. Tôi hỏi Dung:
-Em nhớ gì không?
-Nhớ chớ, chỉ thiếu càng cua ram muối.
Tôi cười.
-Anh chịu thua, nếu bây giờ anh gọi món cua ram muối cho em, có thể chú Sáu nói anh là thằng khùng bởi vì anh không phải là Long công tử.
Hình minh họa
Ăn sáng xong, chúng tôi thả bộ quanh Sài Gòn, nhìn mấy ông Sinh viên sĩ quan Thủ Đức đi phép, đang dạo phố với bồ. Tôi nói với Dung:
-Em nhớ hồi xưa mình đi chợ Bến Thành không?
-Làm sao em quên được. Anh có nhớ mấy bà bán hàng nói gì với tụi mình không?
-Có, mấy bà ấy nói, em chỉ giỏi ăn hiếp anh.
Dung nhéo tôi một cái đau điếng.
Buổi trưa, chúng tôi chạy vô Chợ lớn ăn mì vịt tiềm rồi chui vô rạp ciné máy lạnh, coi Lý Tiểu Long múa võ hành hiệp giang hồ, thêm vào đó là mối tình đầy thơ mộng với giai nhân Miêu Khả Tú. Hết ciné, Dung dẫn tôi vô quán Cái Chùa, uống cà phê đen nhìn thiên hạ dẫn nhau dạo phố.
Dung nói với tôi:
-Anh đừng có lo, gọi là quán Cái Chùa nhưng nó chắng dính dáng gì đến Tăng ni hay Phật tử, mà đó là nơi tụ họp của mấy ông nhà văn, nhà báo của Sài Gòn.
Tôi hỏi Dung:
-Tại sao em biết, ở đây chỉ dành riêng cho mấy ông nhà văn và báo chí.
-Anh Biên nói với em như vậy.
Tôi nói:
-Đúng, anh Biên nói không bao giờ sai.
Khi chiều đến, hai đứa kéo nhau qua Thủ Đức mỗi đứa một chai bia 33 nhậu với nem chua, nem nướng. Nem Thủ Đức vốn nổi tiếng khắp miền Nam, có điều lá dùng để gói nem hơi nhiều. Một xâu nem độ chừng chục cái đựng trong một cái rổ nhỏ, hai đứa ăn cho đến khi đống lá gói nem cao hơn chai bia mới ngừng. Sờ lại bụng vẫn còn thấy đói.
Hai tháng học đại đội trưởng trôi qua cái vù, nhanh như chớp mắt. Ngày mãn khóa học, trước khi trở về Đà Lạt tôi nắm chặt tay của Dung.
-Anh sẽ nói với ba má anh xuống đây gặp ba má em. Mình phải tính chuyện làm đám cưới.
Nói xong tôi mới giật mình tỉnh mộng, tôi nói cho có chuyện để mà nói. Tôi biết mình đang ở trong thế kẹt, ba má tôi và bác Bảy đã định liệu hôn nhân của tôi và Cúc, người lớn nói chuyện với nhau rồi tuy tôi không có ý kiến nhưng cũng đã ngầm đồng ý. Giờ đây một bên là mối tình đầu đầy thơ mộng, một bên là tiền tài và danh vọng, tôi phải chọn bên nào?
Mỏ khoáng sản Beta Hunt của Công ty RNC Minerals, Canada, nằm ở thị trấn Kambalda. thuộc Goldfield, Tây Úc. Tại mỏ vàng nầy, trung bình đào mỗi tấn đất đá lên, sàng lọc chỉ được 1gram vàng. Xưa giờ công ty nói trên đã đào được tổng cộng 680kg vàng. Nhưng mới đây xúc chỉ có một gàu, cách mặt đất 500 mét, công ty vô mánh được hai khối vàng nặng 95kg và 63kg trị giá khoảng11.5 triệu đô Mỹ. Sau khi tinh luyện còn lại vàng ròng, khối đầu khoảng 2,300 lượng Tây (ounce), giá khoảng 3.8 triệu đô. Khối thứ hai khoảng 1,600 lượng, giá khoảng 2.6 triệu đô la. Quá đã!
RNC la rùm lên tin đào được vàng khủng, thế là giá cổ phiếu của công ty tăng gấp đôi. Ai nắm cổ phiếu nầy hổng cần phải trần ai lai khổ như những người thợ mỏ, chỉ ngủ một đêm sáng dậy là tài sản của mình tăng gấp đôi, một lời một. Nghe ham quá hè. Chánh phủ Úc đang nợ ngập đầu, nợ như chúa Chổm, cũng bớt rầu chút chút vì được chia 2.5% bất cứ khoáng sản nào mà RNC Minerals đào lên được.
Rồi cũng vài bữa gần đây nhựt trình lại chạy một cái tin rất giựt gân giựt thịt là: một ông già Úc, đã về hưu, bỏ 8,000 đô mua cái máy dò kim loại hiệu Minelab GPZ 7000, ở độ sâu chỉ 80cm, nghĩa là chưa tới một thước, đào được cục vàng hình na ná như cái bàn chân vịt, nặng 3.23kg, lẫn trong đất sét. Ðem về tinh luyện lại thành vàng ròng được 2.11 kg, giá lên tới 110,000 đô Mỹ.
Nước Úc cũng dễ kiếm tiền quá chớ! Nghe phát ham hè. Tui tính hỏi thằng chả đào ở đâu để tui đi đào vàng với. Biết đâu đất cũ đãi người mới, cho tui kiếm được một cục vàng. Xin ông Trời đừng cho tui quá nhiều, chừng một tấn là tui vui, tui khoái rồi hè, không dám đòi hỏi gì hơn. Nhưng thằng cha nội nầy làm hiểm, giấu biệt chỗ nầy. ‘Giả’ nói: “Ðó là bí mật kinh tế! Ngu sao chỉ?”
Tuy nhiên, theo thiển ý thì vàng mình còn có thể hên mà đào được, chớ cái tình bạn với Úc ít có lắm, còn quý hiếm hơn nhiều. Kiếm được một thằng bạn Úc chơi được cũng khó như là đào đất trúng được cục vàng sa khoáng vậy! May mắn sao tui đã tìm được một đứa tri kỷ tri âm, tánh giống hịt tui hè, dẫu khác màu da và tiếng nói.
Xưa bên Tàu, Tử Kỳ lúc đàn mà nghĩ đến sông thì Bá Nha nghe tiếng nước chảy. Tử Kỳ đàn nghĩ đến núi cao thì Bá Nha nghe có tiếng cây rừng xào xạc gió. Còn bây giờ thì tui tri âm tri kỷ với thằng Jack Daniel nầy (cái tên dễ nhớ vì cùng tên với rượu whiskey) vì khi nó nói ra là tui biết ngay là nó nói dóc. Ngược lại, khi tui nói ra là nó cũng biết ngay là tui xạo. Nhưng Jack Daniel là một người bạn rất thành thật. Thành thật ở chỗ luôn thú nhận là mình đang nói dóc đó nhe bồ!
Tình bạn cao quý đó là ân sủng của ông Trời ban tặng suốt hơn ba mươi mấy năm kể từ ngày tui lon ton có cái quần xà lỏn đặt chưn lên cái đất Melbourne nầy đây.
Tình láng giềng bên Úc nầy nó nhạt như nước ốc, nhưng cái tình chòm xóm của tui với Jack Daniel là ngoại lệ, vì nó đậm đà như hương cà phê Cappuccino pha theo kiểu Ý vậy.
Ngày mới dọn tới, em yêu của tui bồng thằng cu mới đẻ được vài tháng trên tay, đêm lạ nhà, nó khóc quá chừng. Cá tánh dân Úc là rất khoái càm ràm, than phiền thiên hạ lắm. Vợ thằng Jack Daniel cũng không là ngoại lệ, hổng dám cằn nhằn ngay trước mặt tui mà kêu thằng chồng nó ‘còm len’ (complain) mới được. Bị vợ kêu nên cực chẳng đã nó phải làm. Sáng ra nó hỏi: “Vợ chồng bồ có ngắt véo gì thằng nhỏ không mà sao nó khóc suốt cả đêm thế?”
Tui cũng thông cảm, chắc tối qua thằng nhỏ tui khóc quá nên vợ chồng nó không ngủ được, lục đục suốt đêm, mệt chết, nên tôi giả lả: “Bồ làm ơn thông cảm giùm cho nó. Hãy thử đặt vào hoàn cảnh bi thảm của nó thì bồ cũng cư xử giống hệt vậy thôi hè! Mồm không có một cái răng, đầu không có một sợi tóc, chân yếu đến đứng không vững thì làm sao mà không khóc cho được chớ?”
Rồi một hôm, vợ tui sai đi siêu thị mua đồ. Về, tui kéo hai túi nặng chình chịch nào tã, nào sữa cho con. Jack Daniel ló đầu qua hàng rào hỏi: “Chào bồ tèo! Làm gì mà vác hai cái túi bự xộn vậy?” (Cái thằng Úc nầy tò mò dữ nhe!)
Tui bèn ‘nhát’ nó: “Ờ tớ mới đi gặp chủ gánh xiếc xin phỏng vấn để tìm việc làm. Trong cái túi nầy chứa toàn là đá. Khi biểu diễn, tớ ném cục đá lên trời; khi cục đá rơi xuống, thay vì bắt bằng tay tớ đưa cái đầu ra hứng!”
“Hay quá! Chắc bồ có nội công thâm hậu cỡ Bruce Lee?” “Lý Tiểu Long so với tớ chẳng ra cái thớ gì hết!”
“À còn cái túi thứ hai?” “Ờ! Cái túi nầy, tớ dùng để đựng thuốc giảm đau đó chú em!”
o O o
Nói nào ngay, xa hàng xóm người Việt trên St Albans cũng tiếc. Dọn xuống đây lối xóm đa phần là Úc nên em yêu của tui cũng hài lòng và hy vọng là tui sẽ ít tụ bè tụ đảng để nhậu (vì nhớ quê hương). Ai dè tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa– thằng Jack Daniel nầy nó nhậu còn quá cha tui nữa đó.
Hồi tối qua nghe vợ chồng nhà nó dằn mâm xáng chén dữ lắm, thiếu điều quánh lộn nữa đó. Hỏi chuyện gì? “À con vợ nó đang ngủ nằm mơ cái gì đó buồn lắm cứ khóc rấm rứt hoài hè! Em ác mộng nằm mơ thấy một tay tỉ phú giàu nứt đố đổ vách, đi xe Ferrari, Made in Italy, đến bắt cóc, giựt em ra khỏi vòng tay của anh yêu.” Nghe rất cảm động… đậy, Jack bảo: “Honey đừng buồn nữa! Ðó chỉ là giấc mơ thôi mà!” “Ðúng vậy! Vì đó chỉ là giấc mơ nên em mới buồn, mới khóc!”
Nghe câu nói thiệt phũ phàng duyên kiếp ba sinh từ miệng của con vợ mình, Jack sầu đời, tự ái vặt, nên bỏ đi nhậu suốt cả đêm. Tới gần sáng mới ló đầu về thì gặp tui đang bắt chước Tây, dắt chó đi tập thể dục.
“Ê Jack! Bỏ nhà đi nhậu suốt đêm không sợ con vợ mầy nó ‘bụp’ hay sao?”“Làm gì nó dám! Cạn một chai Jack Daniel thì tớ là ông Trời! Bồ hổng tin hả dám cá thêm một chai Jack Daniel nữa hay không? Tui sẽ chứng minh cho bồ thấy!”
Jack bèn dẫn tui quay lại quán rượu. Em phục vụ quầy rượu mới thấy mặt nó là kêu lên: “Ối Trời ơi! Ông lại đến nữa hả?”
Sau nầy tui mới phát hiện Jack Daniel rượu chè be bét vì giận vợ nó thì ít mà vì sợ chết là nhiều. Vì thằng Bill là bạn thân của nó hồi tóc còn để chỏm, cùng chơi banh cà na luật Úc, vừa mới lên cơn nhồi máu cơ tim ngỏm củ từ khi tuổi chưa quá 70.
Hình ảnh bạn hiền từ tấm bé bây giờ đột ngột bỏ ra đi làm Jack sa vào trầm cảm nặng. Ðêm ngủ ác mộng cứ lũ lượt kéo nhau về làm nó xanh xao hẳn.
Jack tâm sự: “Tối qua tao lại thấy thằng Bill hiện về. Tao hỏi nó trên thiên đàng có vui hông, nó nói:‘Thiên đàng thì cũng vui như nước Úc mình thôi. Muốn beer có beer; muốn whiskey cũng có whiskey. Muốn gì có nấy’”“Rồi trên thiên đường có bóng cà na luật Úc hay không?” “Sao không? Mà nè Jack ơi! Trong danh sách cầu thủ được ra sân ngày mai, từ đầu trận có tên bồ nữa đó.”
Thôi xin ông Trời đừng cho tui đào trúng cục vàng nào hết, chỉ xin đừng bắt thằng Jack Daniel đi mất thì tui biết nhậu với ai đây?!
Quốc khánh là một ngày đặc biệt! Người lớn khỏi phải đi làm; con nít khỏi phải đi học! Cả nhà sẽ rảnh rang mà ăn mừng đất nước mình hằng năm vào đúng ngày nầy.
Nhiều xứ là thuộc địa của thực dân, đế quốc giành được độc lập từ tay ngoại bang, vui mừng vui quá vui nên tuyên bố cái ngày đất nước được tự do, thoát khỏi gông cùm nô lệ là ngày Quốc khánh.
Nhưng nước Úc là khác nhe! Ngày Quốc khánh của Úc, 26 tháng Giêng đánh dấu ngày Hạm đội thứ nhứt, chở đầy nhóc tội phạm vào Vịnh Sydney vào năm 1788.
Chỉ có Úc là hỏng giống ai, chọn ngày dân da trắng Âu Châu đặt chân lên hòn đảo khổng lồ nầy làm ngày Quốc khánh.
Hoa Kỳ nào có chọn ngày Christopher Columbus đến để làm ngày Quốc khánh đâu nè?!
Người Úc thường khoe khoang lòng ái quốc bằng cách: già xệ tới rún, không có gì để khoe thì quấn cờ Úc, gái đang xuân thì mặc áo ‘sú’ hay quần ‘xì’ cũng bằng cờ Úc, trai đang sung thì xăm trên cần cổ đầy lông ben chùm sao Nam Tào! (Ở các nước độc tài CS chơi vậy là nó nhốt đầu hết ráo!)
Đi coi đại giải quần vợt có đấu thủ Úc tranh tài là trên khán đài la rùm beng “Aussie Aussie Aussie, Oi Oi Oi”, giơ cao mấy con kangaroo màu vàng gục gặc tới lui như vừa nốc cạn hết cả một thùng beer VB của Úc.
Chính vì ái quốc như vậy nên Úc ăn mừng ngày Quốc khánh rất lớn.
Nhà thì trang hoàng trước cửa cờ Úc với hai con kangaroo! Mở nhạc đồng quê Úc um sùm lên! (Vì nghe nhạc hay hơn là nghe con vợ biểu làm cái nầy cái nọ!)
Nếu đang ở hải ngoại, bên Hoa Kỳ hay Canada gì đó, thì rống bản “I Still Call Australia Home” (Anh vẫn gọi nước Úc là quê nhà).
Hát xong, nhỏ vài giọt nước mắt cá sấu để làm ‘gia vị’ cho ngày Quốc khánh Úc.
Gọi là ăn mừng Quốc khánh thì ăn là điều trước tiên. Nướng xúc xích, nướng thịt trừu, thịt kangaroo, ăn với món rau trộn ớt, xoài trộn với bột cà ri.
Đó cũng là dịp mấy em Úc ú nu trổ tài nội trợ; mỗi người mang đến tiệc vui một món ăn chánh hay món tráng miệng.
Ăn xong, bỏ phiếu coi em nào nấu ăn bá chấy? Với điều kiện là ông chồng không được quyền bỏ phiếu cho con vợ mình nhe… cho nó công bằng!
Em thắng giải ‘Chef cook’ “Bếp trưởng”, thì anh chồng cực kỳ may mắn cưới được con vợ Úc biết nấu ăn nầy sẽ được thưởng một thùng beer Úc; còn con vợ sẽ được một cái ‘tạp dề’ có in cờ Úc để em yêu đeo vào lúc xuống bếp.
Tui thấy cuộc thi nầy quá xá là hay để mấy em Úc vì miếng đỉnh chung mà học nấu ăn với người ta; chớ bấy lâu tui nghe mấy tay ‘Mít’ xấu miệng, xầm xì là:
Vợ Úc chỉ biết ăn chớ không biết nấu!” “Thua vợ Việt mình xa lắc nên tui bỏ nó rồi!” “Thiệt vậy không huynh?”
Ăn đã rồi nhậu! Uống beer Coopers, Boag’s, VB hoặc Little Creatures Pale Ale, tới 76 đô Úc một thùng.
Nếu nhiều khách thì gia chủ (kiêm khổ chủ) phải mua tới vài thùng (đủ mạt) và chừng 20 kí nước đá ở cây xăng đem về đổ vô bồn tắm rồi bỏ beer vào ướp lạnh, uống mới đã khát.
Úc đang mùa hè mà. Có bữa nhiệt độ trên 40 độ C, nóng rát trong gió sa mạc thổi về làm chảy mở luôn. Khui một lon beer, quất nghe ót ót! Ối giời đất ơi nó đã làm sao đâu!
Tuy nhiên mấy hãng beer Úc chơi đểu, lợi dụng lòng ái quốc một cách ngây thơ của tui, dụ khị: ‘người Úc uống beer Úc’ để bán mắc hơn thiên hạ không hè! Chơi vậy là chơi không có đẹp với đồng hương đó nhe ‘mate’ (bồ)!
Tuy nhiên có đứa không khoái ở nhà mà thích ra ngoài bãi biển vì sóng biến sẽ làm dịu đi cái nắng nung người của mùa hè xứ Úc.
Mang theo vài món ăn vặt, vài chai beer trong thùng lạnh, chở vợ và con, vẫn không quên con chó, trên xe gắn cái cờ Úc bên hông, chạy khí thế, bóp kèn tin tin mà hỏng sợ bị thiên hạ nói mình khùng!
Tới bãi biển St Kilda rồi, thì trải chăn ra trên cát, ngồi lai rai vài chai beer chờ xem bắn pháo bông xong; dọn dẹp bỏ rác vô thùng, rồi chở bầu đoàn thê tử về nhà ngủ.
Năm nay lễ Quốc Khánh Úc, 26 tháng Giêng rơi vào Thứ sáu, ‘long week’, cuối tuần dài tới 3 ngày mặc sức mà chơi.
Người Việt mình thì gia đình, bạn bè chí cốt là trọng. Có gì vui là cùng vui với nhau trong nhà nhưng người Úc thì khoái đổ ra đường, tham dự các cuộc tranh tài thể thao như đua thuyền ở Sydney; lễ hội hòa nhạc, hay đi cả bầy diễu hành (vừa đi vừa diễu) ở Melbourne chẳng hạn.
Dân vốn là người thọ thuế, (đóng thuế cho tới chết vẫn còn đóng) thì chánh phủ phải có bổn phận bày trò để dân (là chủ) nó chơi!
Tổ chức đua trượt nước trên sóng biễn; trên đó có con chó của mình làm đồng đội. Bắt mấy con gián cho đua như ở Brisbane, tiểu bang Queensland.
Sydney, tiểu bang NSW và Melbourne, tiểu bang Victoria đề xuất trò đua ăn dưa hấu, đua ném dép, đua vừa cõng vợ vừa chạy.
Đua ăn dưa hấu, tham dự viên ít nhứt là 10 tuổi, dưới 18 tuổi phải có cha mẹ đi cùng. Ăn mắc nghẹn, sặc hột dưa mắt trợn trắng, trợn dọc là rán chịu nhe!
Đấu thủ phải chắp hai tay sau lưng lúc ‘cạp’ dưa. Phun hột về phía trước thì được; phun vô mặt của đối thủ là hỗn, bị loại.
Đua ném dép là dép cầm trên tay, được quyền chờ gió thuận, tối đa tới 30 giây, rồi phải vẫy cho dép bay về phía trước! (Như mình lượm miếng đá mỏng ném lia thia trên mặt nước vậy mà).
Ai vẫy dép bay xa nhứt là thắng. Kỷ lục trên toàn thế giới là 42.8 m của một trự người Queensland.
Riêng cái trò cõng vợ chạy đua nầy đúng ra phải dấu kín nhứt; thì lại đem khoe với bàn dân thiên hạ! Úc đúng là dân ruột để ngoài da.
(Tui nè. cõng em yêu oằn nặng cả hai vai, mà có dám hé môi ra khoe với ai một lời nào đâu chỉ âm thầm vác nặng đời trai!)
Nói cõng không phải như kiểu Việt Nam mình; mà nó giắt hai cái giò của con vợ lên vai rồi chạy.
Chơi kiểu nầy, nếu em vừa thi ăn dưa hấu xong là ộc ra hết ráo báo hại thiên hạ tưởng em giận chồng mèo chó nên hộc cả máu mồm!
Còn chưa vợ thì đi thi được hông? Được chớ! Không có vợ thì cõng ‘con mèo hai chưn’ của mình. Chưa có mèo thì cõng em, chị gái, bà con chú bác cậu dì hay bạn bè cùng lớp cùng trường cùng sở cũng được…
Nếu mấy em gan cùng mình không sợ bất thình lình, nặng quá, mệt quá nó vụt cái thân bồ tượng xuống đất nghe cái đụi!
Dĩ nhiên là có tiêu chuẩn kí lô đàng hoàng. Chớ con vợ mình như cái hột mít mà con vợ nó như cái hột dưa thì chưa đua mình thua là cái chắc.
Tuy nhiên Thổ dân Úc coi ngày Quốc khánh, 26 tháng Giêng là ký ức buồn đau do những người lính Anh, và tù hình sự cũng của Anh, cách hơn 10 ngàn dặm, không mời mà đến, đã gây ra nhiều đau khổ cho dân bản địa đã có mặt trên lục địa nầy ít nhứt là 50,000 tới 65,000 năm.
Thổ dân đã bị người lính Anh hay những tù nhân da trắng tàn sát để chiếm đất canh tác. Nhiều thổ dân khác bị chết bởi bịnh đậu mùa hay những bịnh hoạn khác do người da trắng mang ‘virus’ tới.
Mất nước nên Thổ dân gọi đó là ngày ‘Quốc hận’ để tưởng niệm, phản kháng từ năm 1938 kéo dài cho tới ngày nay; hỏng biết bao giờ mới chấm dứt!
Ngày nầy là ngày đau đớn của thổ dân nhưng lại là ngày vui của những tù nhân bị đi đày biệt xứ. Nó chứng mình là: đất quan trọng hơn hạt giống rất nhiều.
Những người cùng khổ sống bên lề xã hội, một đời tăm tối bên mẫu quốc Anh; nhưng chỉ cần có một chút ánh sáng của buổi bình minh đất Úc là như những cánh hoa xòe ra rực rỡ, hiến dâng cho đời bao nhiêu là hương sắc, đẹp như nước Úc ngày nay!
Trong đó có sự chung tay góp sức của Cộng đồng người Việt tỵ nạn CS mình đó nhe!
Kẻ vui người buồn thì vấn đề đặt ra là: Chúng ta có bị bắt buộc phải chọn ngày 26, tháng Giêng hàng năm, thổ dân gọi là ngày ‘Xâm lược’ để làm ngày Quốc khánh cho toàn dân Úc?
Úc trắng nhậu nhẹt, ăn thịt nướng, uống beer quá đã trong cái nắng mùa Hè xứ Úc lên tới 3,4 chục độ C; xem pháo bông đủ sắc màu rực rỡ nở bung ra trong bầu trời đang sẩm tối; trong khi tay hàng xóm thổ dân, Úc đen lại buồn bã khóc thương khi nhớ lại ông cha mình đã bị người da trắng đến từ nước Anh truy sát?
Dĩ nhiên dân Úc ngày nay đâu có trách nhiệm gì về chuyện diệt chủng tàn sát thổ dân cách đây 230 năm?
Tui là người Việt tỵ nạn CS, tới đây làm người Úc ngang hông. Là người Úc ngang hông nên cũng không biết nhiều về lịch sử Úc. Thấy có dịp ăn nhậu vui là tui tham gia hè.
Tui đâu có biết ngày Quốc Khánh Úc để ghi nhớ cái gì đâu? Mà không phải chỉ mình tui dốt vì trong một cuộc khảo sát cho thấy chỉ có 38% dân Úc chánh tông biết đó là ngày Hạm đội thứ Nhứt của hải quân Hoàng gia Anh đổ bộ ở Vịnh Sydney.
Cũng như hầu hết gia đình người Úc khác, tui chẳng quan tâm đến cái việc chuyển Quốc khánh qua ngày khác; vì tiền điện, tiền ga, tiền chợ cho vợ, tiền trường cho con cái đã chiếm hết cả cái đầu rồi.
Tuy nhiên năm nay tui thấy nhiều ‘cáo sồ’ (council), chánh quyền địa phương, không tổ chức lễ Quốc khánh vào ngày 26 tháng Giêng nữa; vì sợ xúc phạm đến Thổ dân Úc. ( Ngày nầy ông cha mình đã mần thịt ông cha nó hồi xưa!)
Tui bèn sực tỉnh! À! Mình ăn nhậu tưng bừng trong khi đứa hàng xóm là Thổ dân lại khóc! Coi bộ nhẫn tâm quá!
(Như CS Bắc Việt cưỡng chiếm được miền Nam tự do thì tụi nó mừng; chớ dân VNCH bị hành hạ, bị tù rạc mà kêu tui ăn mừng à? Không bao giờ có cái chuyện đó đâu nhe!)
Năm tới 365 ngày lận mà, ngày đứa nầy vui, cười; đứa kia buồn, khóc… thì thôi mình chọn ngày khác đi!
Chọn ngày nước Úc tách rời khỏi Vương quốc Anh, để thành lập một nước Cộng Hòa (sẽ xảy ra trong tương lai gần), làm ngày Quốc khánh thì sẽ vui vẻ cả làng!
Cầm bằng ‘cao kiến’ của thằng tui mà mấy chánh trị gia tai to mặt lớn xem thường, coi như pha, bỏ qua… thì ngày Quốc khánh Úc, 26 tháng Giêng, sẽ còn cãi như điên, cãi dài dài cho tới Tết Congo!
Cách đây hơn 300 năm, người Minh Hương, vốn là bộ tướng của Dương Ngạn Ðịch phản Thanh phục Minh thất bại phải sang xin tá túc ở nước ta thời chúa Nguyễn Phúc Tần hợp lực cùng ông bà mình từ miền Trung vào, đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, kể cả máu mới gầy dựng nên một Mỹ Tho đại phố phồn vinh.
Ðất đai Ðịnh Tường trù phú tất nhiên phải phòng chống Thủy quân Chân Lạp xâm phạm vào vùng biên cảnh nên Chúa Nguyễn cho đắp một chiến lũy dài từ xóm Thị Cai đến Bến Tranh (chỗ bán tranh lợp nhà).
Bên ngoài lũy, một hào sâu rộng nối liền rạch Vũng Gù thuộc Tân An chạy dài tới sông Mỹ Tho. Từ hào sâu nạo vét rộng hơn, sâu hơn nó thành một cái kinh. Sau một thời gian dài, nhiều khúc quanh co nhỏ hẹp, lâu dần bị bùn cỏ, lục bình gây cạn lấp, làm thuyền đến đây phải đợi nước lớn lên đầy mới đi được, nhất là đoạn giáp nước tại chợ Thang Trông (nơi có cái thang cao để trông chừng địch quân).
Nhà Nguyễn lại cho nạo vét con kinh nó thành con sông nhỏ, vừa dẫn nước, vừa tiện việc cho tàu bè qua lại. Vua Gia Long đặt tên là sông Bảo Ðịnh, là một chi lưu của sông Vàm Cỏ Tây thuộc tỉnh Long An. Từ chợ Thang Trông hay Hốc Ðùn đến bến Mỹ Tho, chiều dài của con sông nầy khoảng 14km, bề ngang độ 6m và sâu khoảng 3.50m. Nhờ con sông Bảo Ðịnh nầy từ xóm Thị Cai đến Bến Tranh thuộc thôn Lương Phú, đất đai màu mỡ, ruộng vườn liên tiếp.
Năm 1861, quân Pháp đưa tàu chiến từ Sài Gòn theo sông Soài Rạp đến sông Vàm Cỏ rồi xuôi theo con sông Bảo Ðịnh nầy để đánh chiếm tỉnh Ðịnh Tường.
Ðến năm 1866, thực dân Pháp, lần đầu tiên ở Lục tỉnh Nam Kỳ, đã cho xáng múc để lòng sông được sâu hơn.
o O o
Quê Nội của tui là làng Phú Kiết, nằm dọc sông Bảo Ðịnh thuộc quận Bến Tranh, tỉnh Ðịnh Tường.
Muốn về quê Nội bằng đường bộ thì từ Mỹ Tho theo quốc lộ 4 (tên gọi thời trước 75) lên Sài Gòn tới ngã ba Lương Phú quẹo trái chạy dọc dòng sông Bảo Ðịnh sẽ tới làng Phú Kiết. Còn chạy quá lên, tới ngã ba Hòa Tịnh quẹo phải vô cũng đặng. Xong tới Tịnh Hà (thuộc xã Mỹ Tịnh An) rẽ phải chạy theo đường đất trải đá xanh cặp theo sông Bảo Ðịnh cũng về tới được.
Vật đổi sao dời đá mòn sông cạn nhưng ngã ba Hòa Tịnh nầy vẫn còn đó dãy hàng dương, làm tui hồ dễ gì quên kỷ niệm thuở thiếu thời cho tới tận ngày tui bỏ nước ra đi.
Về quê Nội ăn Tết, đâu có xa xôi gì, chỉ khoảng 25 cây số mà ngày xưa đó đi mất cả buổi trời! Sáng 7 giờ lên xe đò Tân Mỹ ở Mỹ Tho, 9 giờ rưỡi mới tới ngã ba Hòa Tịnh. Ðói bụng rồi nhe; vậy là Ba Má dắt cả nhà tấp vô cái quán của một gia đình người Tàu ăn hủ tiếu, uống xá xị con cọp.
Dưới hàng dương ngã ba nầy, chiếc xe lôi chờ cho đủ 10 người bác tài mới chịu nổ máy kêu bình bịch, lôi cả nhà tui băng qua những cánh đồng đã gặt xong chỉ còn trơ gốc rạ. Nhiêu khê vậy mà vui quá xá! Về quê Nội ăn Tết có hết đâu mà gấp? Muốn tới nhà Nội bên sông là phải qua một chiếc cầu khỉ, tay vịn cheo leo, thằng nhỏ với tay không tới. Má bồng đứa nhỏ nhứt, Ba cõng đứa nầy qua rồi quay trở lại cõng đứa kế.
Nhà của Nội tui cất trên một miếng vườn chừng một chục công. Ðào mương dẫn nước, vét phù sa lên liếp trồng quýt đường, cam, bưởi, mận…trái oằn sai.
Cuộc sống rất đơn giản, chẳng đua tranh gì ráo, chỉ tự cung tự cấp! Làm ruộng để có lúa xay ăn, làm vườn để có tiền đi chợ. Họa hoằn lắm, cả tháng mới đi chợ Phú Kiết một lần để mua giấy quyến, thuốc rê, đường, muối và dầu lửa về để thắp đèn.
Cái nền đất nhà nầy u lên u xuống làm tui đi cứ vấp hoài hè. Ðêm chỉ có một cây đèn cóc khói mù mịt, tối hù nên chừng 7 giờ tối là phải chui vô mùng ngủ vì muỗi nó bay vo ve như trấu ở bên ngoài. Lúc tụi cháu về, ông Nội tui mới chơi sang đốt cái đèn măng xông cho sáng. Sáng đèn, bù mắt, thiêu thân nó bu vào gặp nóng rụng cánh chết queo.
Cái khoảng vườn từ mé sông đâm vô chừng 5 trăm thước là tới ruộng. Hằng năm, cuối tháng Năm âm lịch, nước lũ trên thượng nguồn sông Vàm Cỏ đổ về đến tháng Bảy, nước nhảy tràn bờ sông, bờ rạch, leo lên đồng mang theo tôm cá còn non, nhỏ chút éc! Nào cá lóc, cá trê, cá chạch, cá chèn, cá rô, cá he, cá mè vinh, cá éc, cá mề hôi, cá linh, cua, ốc… đôi khi hên vớ được con tôm càng… bự chỉ bằng một trái me.
Tháng Chạp nước trên đồng rút xuống sông. Ðêm sáng trăng, nửa khuya nước bắt đầu ròng, tui theo ông Nội ra cái chòi nhỏ che tạm dưới hàng dừa nước để xem kéo vó. Vó có cái lưới hình chữ nhựt khá rộng. Cần vó theo nguyên tắc đòn bẩy. Ðẩy nó bung lên cao là mặt vó chìm xuống mặt nước. Non tiếng đồng hồ, lại nắm sợi dây thừng kéo xuống, vó đầu kia chỏng lên khỏi mặt nước.
Cá linh, cá trạch, cá rô, tép nhẩy xoi xói… đôi khi có những con rắn trùn nhỏ bằng cọng đũa uốn éo trông thấy ghê, Chỉ cần lấy cái gàu bằng thau, cán bằng một thanh tre đánh vào mặt lưới là cá tôm nó ‘bờ lông rông’ vô gàu hết ráo, không sót một con. Một đêm kéo vó như vậy cũng chẳng có gì nhiều. Cá tép đựng đầy chắc năm ba cái chén ăn cơm. Tuy vậy cũng đủ kho quẹt để cả nhà ăn với cơm nấu bằng gạo lúa mùa, đổ mồ hôi mẹ, mồ hôi con.
Vào ngày tảo mộ cuối năm, để ăn Tết, ông Nội tui cùng lối xóm vần công dỡ chà, tát mương bắt tôm, cá, tui cũng lội xuống bắt hôi.
o O o
Mấy năm sau, Tết về, lúc 13, 14 tuổi, tui quen với chú Bảy Cu, bà con xa, đại bác bắn nhiều lần mới tới, chừng 16, 17 tuổi. ‘Già’ khoái tui lắm! Chèo xuồng đi chợ là rủ tui theo cho có thằng để nghe ‘già’ tán dóc.
“Khi tao bỏ mái dầm xuống sông, cá giật mình phóng lên trên mặt nước rớt vào xuồng. Xui lắm mầy ơi. Chim sa cá lụy mà. Nên tao bắt nó bỏ xuống nước trở lại!”
“Cá nhảy vô xuồng là nó muốn nhảy vô nồi. Ðem về nấu canh chua với bông súng, ăn hết xẩy mà sao chú Bảy khờ quá lại thả nó đi he?”
Chú Bảy ‘Cu’ (tên xấu háy cho không bị ông bà bắt đi đó mà) dụ khị: “Mai tao dắt mầy ra ruộng để đặt lọp theo đường nước, cá thiếu gì, mặc sức mà ăn cho lòi bản họng? Còn chuột đồng đào bờ mẫu, bắt về lột da nấu canh chua hoặc khìa chấm muối tiêu quá đã. Mầy ghê hả thì để tao ăn!”
Nhỏ lớn ở thành nên nhà quê là một thế giới khác vừa gần gũi thân thương, nhưng vừa xa lạ vì mình cũng hổng biết gì nhiều nên nghe rủ là tui khoái chí tử.
Mùa hè năm 1965, tui rủ thằng anh bạn dì từ Mỹ Tho thay nhau đạp xe về thăm quê Nội. Qua khỏi cầu sắt Lương Hòa Lạc, chạy thêm một đỗi nữa, đụng cái mô, cây lá bùm sùm chặn ngang đường như người ta chất chà dưới sông vậy.
Hai đứa tính vác chiếc xe đạp trèo qua đi tiếp. Bất ngờ trong lùm có một thằng cha mặt nám da nhăn, đầu bù xù, lù lù bước ra hỏi: “Ê hai thằng bây tính về đâu vậy? Ðừng bường ẩu vô mô coi chừng lựu đạn!” “Tụi tui về thăm ông Sáu Hợi là ông Nội của tui. Với chú Bảy Cu…” “À ông Sáu Hợi với thằng Bảy Cu hả? Ông Nội với chú Bảy Cu của mầy giờ tản cư lên giồng Tân Hiệp rồi… Bữa nào êm êm mới về. Vùng nầy giờ là vùng oanh kích tự do, tui bây còn nhỏ ở xa, không biết coi chừng có ngày mà tán mạng nhe. Thôi về nhà đi chừng nào ‘giải phóng’ rồi về chơi nhe!”
Nghe vậy, hai đứa tui mới lờ mờ hiểu ra là quê nội tui bây giờ là vùng xôi đậu không còn an bình như ngày cũ nên hai đứa tui ‘buồm’ cho thiệt lẹ. Cái niềm vui tuổi thơ của tui đành chôn theo quê Nội thời thơ ấu, dở dang từ độ ấy!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.