Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 16 Feb 2024

Người Mới Sang
Huy Phương

Nhân một buổi họp mặt tại nhà người bạn sống ở Mỹ đã lâu, một vài người chưa quen biết, sau khi biết tôi chỉ vừa qua Mỹ vài tháng, đã tỏ vẻ ngạc nhiên: “Thế mà hồi nẫy tới giờ tôi cứ tưởng anh qua Mỹ đã lâu!” Lẽ cố nhiên những người này chỉ mới quan sát mình qua bề ngoài và câu nói đó có tính cách khẳng định: những người mới qua Mỹ chỉ có thể là những người “thân thể thì ốm đói, mặt mày xanh xao, áo quần xơ xác,” một người khác thường không thể nhầm lẫn được. Sống với Việt Cộng, cả tù trong lẫn tù ngoài 15 năm mà chưa xương bọc da, người chưa hóa ngợm kể cũng lạ!

Mới qua Mỹ vài hôm, người đang dật dờ giữa ngày và đêm, tâm hồn đang còn hoang mang giữa đi và ở, thực và mộng thì một người bạn điện thoại đến hỏi thăm:

“Sao thấy thế nào, trong người ra sao?”.

Mình cứ thật thà kể lể là người cứ chao đảo, ăn không ngon, cứ như nửa tình, nửa mê. Người bạn này bèn quạt cho một hồi: 

“Người ta vượt biển chịu đói khát, đầy đọa, gặp bao nhiêu hiểm nghèo, chết sông chết biển… mới qua được đây. Còn anh, đi máy bay, có tây đầm túc trực hầu hạ, cơm tây bưng, nước Coca rót còn than vãn nỗi gì!”

Trong vòng bà con cũng có lúc có người phỏng vấn: 

“Sang đến đây, anh thấy thế nào!”

Mình than: 

“Qua bây giờ là quá chậm. Con cái 25, 30 cả rồi quá tuổi vào high school, khó vào đại học! Kinh tế down khó kiếm việc làm! Làm cu li thì quá già, làm thầy thì quá đốt! Chưa biết sao đây, nhưng thôi cũng rán!”

Ông cậu thân mật giảng giải:

“Anh biết ở Việt Nam hiện có bao nhiêu người đang chờ để có được cái diễm phúc như anh là đặt chân lên đất Mỹ không? Gần một triệu người đã nộp đơn xin đi… nhưng đủ điều kiện hay gần đủ điều kiện thì may ra chỉ có 20%. Chương trình ODP ta cứ tạm gọi chương trình bảo lãnh thân nhân danh sách đã đến F, G… mà chờ phỏng vấn cứ dài cổ ra, có người ở danh sách C, D mà giờ này chưa ai hỏi han đến. Còn H.O. mới phỏng vấn đến H.O. 8 mà danh sách Việt Nam gởi cho phái đoàn Mỹ ở Bangkok đã lên đến H25, 26. Mỗi danh sách 8 đến 10,000, đi cho đến bao giờ mới hết. Sống trong tuyệt vọng ai lại không hy vọng. Chỉ béo bở cho công an ngoại vụ, dịch vụ. Ra xuất cảnh là tiền, lên danh sách gởi phái đoàn Mỹ lại tiền. Từ danh sách thấp lên danh sách cao lại tiền. Từ ODP qua H.O. lại tiền. Nếu bây giờ anh còn ở Việt Nam thì anh sẽ thấy điều anh qua được đây là quá hạnh phúc rồi, còn những vấn đề khác, ồ no big deal.”

Tôi cũng như những anh chàng lạc quan khác cứ cho rằng mình đi H.O là bảnh lắm. Có anh làm như ta đây là công thần, không chiến sĩ cũng anh hùng, Yên Báy, Bắc Thái, Hàm Tân có khác chi khách sạn Hilton qua đến nơi thì từ trên máy bay thảm đỏ trải dài đến tận xe bus, có quân nhạc, có cờ vẫy. Tôi cũng chế ra nào H.O. là viết tắt chữ humanitarian operation, có anh lại cãi: “H.O. là viết tắt hai chữ High Officer, bạn mình toàn là sĩ quan cao cấp cả ở tù trên 3 năm, cũng phải thôi!’ Có anh lại mỉa mai: “Bọn mình là Homeless Object (H.O.) một lũ không nhà, tướng tá chạy cả rồi, Cộng Sản không dung nạp, kỳ thị, bây giờ già rồi cũng ráng đi cho con cái được nhờ thôi.”

H.O. viết tắt của hai chữ gì thì cũng chẳng có văn thư nào xác nhận, toàn là do các bạn tôi suy đoán. Mà danh sách này là do phía Việt Nam đưa cho Mỹ ở Bangkok chứ không phải do Mỹ đặt ra. Mới đây khi Nam Trân phỏng vấn ông Fleming giám đốc thì mới vỡ lẽ ra là danh sách H.10 trở đi thì gọi là H.11, H.12, H.13.. Tôi như trên trời rơi xuống vì điều dễ hiểu nhất: chữ O là con số 0 mà thôi. Cũng như người ta gọi C.09, C.08 hay D.01, D.02 vậy thôi. Thôi đành quên cái officer của tôi đi mà đi điền đơn xin việc.

Có lúc quên bẵng chuyện mình, gặp anh em bạn bè cứ tâm sự: nào lo nghĩ, nào sợ không việc làm. Có người nói như mắng vào mặt:

“Các anh qua lúc này mà khó nỗi gì, mâm cổ người ta dọn sẵn cứ việc ngồi vào mà ăn. Hồi 1975, bọn tôi qua cái gì cũng phải mò mẫm, sponsor là người Mỹ, mở miệng không ra, đâu có dám hỏi dám nói như các anh bây giờ. Bọn tôi đi bộ mà tìm việc làm dưới trời lạnh. Vợ chồng con cái bảy tám người nhét vào một phòng. Xin welfare thì sợ mất sĩ diện. Hai năm sau mới mua được cái xe hơi 500 bạc. Ở trại định cư thèm trái cam không có ăn. Các anh đừng thấy chúng tôi bây giờ nào nhà, nào xe, con cái kỹ sư, bác sĩ… mà thấy dễ. Chúng tôi trầy vi tróc vảy mới được như vậy. Bây giờ các anh có Mỹ nuôi một năm, có bạn bè anh em giúp đỡ hướng dẫn, có cộng đồng Việt Nam để sinh sống. Các anh qua bây giờ nghề nghiệp còn chọn lựa, trước kia chúng tôi làm mửa mật ra, có ngày cắt cả nghìn cái cổ gà, có ngày rửa chén bát suốt 10 tiếng đồng hồ không lê chân nổi về nhà.”

Tôi chỉ có việc nhìn chăm chú vào đôi mắt người thuyết giảng và cám ơn rối rít.

Mới sang, ai cũng có đôi lúc phân vân nhất là những người tuổi còn dưới bốn mươi: “Tiếp tục đi học hay kiếm việc làm?” 

Có người con cái đều đạt hạng khoa bảng khuyên: “Anh nên cho các con anh tiếp tục học và ngay chính anh cũng phải đi học tiếp. Ở Mỹ không có bằng cấp làm việc cực suốt đời. Chịu cực vài ba năm rồi sau đó tha hồ mà sung sướng!”

Có người lại bảo: “Các anh qua bây giờ là quá chậm, tiếng Anh chẳng bằng ai, sức khỏe không bằng Mễ, Mỹ đen… thôi thì kiếm việc làm gì một giờ năm ba đồng cho qua ngày chờ… lãnh lương hưu là quý lắm rồi.”

Cô cháu hỏi: “Chú già rồi, chọn nghề Real Estate hay làm Loans Officer là hợp nhất!”.

Ông bác khuyên: “Rải giấy đi cắt cỏ là tự do nhất!”.

Người hàng xóm bảo: “Tôi có nghề này hay lắm, ông mua một cái truck cu cũ, vào các shopping, thùng rác nhặt thùng carton, ve chai đi cân ký lô mỗi ngày cũng kiếm được 50 đồng.” (Ôi, năm chục đồng một ngày, tháng 30 ngày nghe hấp dẫn quá!).

Gặp cậu học trò cũ: “Thầy già rồi, có lẽ thầy nên kiếm một chân gác dan, về đêm càng nhiều tiền. Già rồi, ngủ ngáy chẳng bao nhiêu làm nghề này là nhất”. Tôi liên tưởng đến mấy ông gác-dan Ấn Độ, hàm răng và đôi mắt trắng dã ở đường Hàm Nghi, Tôn Thất Thiệp, Chợ Cũ… chắc suốt đời không biết nhắm mắt. Tôi đang bị bệnh mất ngủ, giá kiếm được một chân gác-dan thì chắc tốt, nhưng không biết bên Mỹ này ma có nhiều hơn ở bên nhà không? Mà gặp ma Mỹ, không biết nói tiếng Mỹ có gì trở ngại không?

Tôi có một người em họ, nhỏ tuổi hơn tôi nhiều. Trước kia khi chỉ thấy tên tôi nằm trên hộp thư tòa soạn của một tờ tuần báo đã khâm phục tôi lắm, nay khuyên tôi:

“Anh qua đây, đã lớn tuổi rồi, lại viết lách quen, đi làm báo là sướng nhất. Anh làm cả chủ nhiệm, chủ bút, thư ký đánh máy, quản lý, long tong một mình một chợ. Anh muốn viết gì thì viết, vẽ rồng vẽ rắn bao nhiêu cũng được, kể cả đăng ảnh gia đình anh lên báo và viết bài khen vợ con anh. Anh muốn chửi ai cũng được, nhưng chửi vừa vừa kẻo chửi quá lời, chúng uất quá pằng cho một phát là đi đong. Anh chết rồi là hết, chẳng ai cần tìm ra thủ phạm làm gì. Muốn báo quảng cáo nhiều thì anh phải khen tuốt luốt, mà phải khen thằng có tiền.”

Cậu em họ tôi mới nêu sáng kiến cho tôi hy vọng làm chủ báo, lại dọa tôi, rồi khuyến khích tôi. Sau cùng anh kết luận:

“Nhưng chị ở nhà còn trẻ đẹp không? nói tiếng Anh giỏi một tí càng tốt. Đi xin quảng cáo mà già cọp, cóp róp như anh lại là đàn ông nữa thì còn lâu mới có được một phần tư trang trong chứ đừng nói trang bìa 4 màu. Ở đây tôi biết có khi quảng cáo tiệm phở thì phải lấy tiền quảng cáo bằng phở trừ cơm, quảng cáo hớt tóc thì phải hớt hàng tháng thay vì lấy tiền.”

Vợ tôi đã quá già, hom hem, nhan sắc chỉ có chim sa cá lặn dưới mắt người đối diện là tôi. Nêu thuê một cô thư ký trẻ đẹp để ngoại giao quảng cáo thì chỉ có nước chết đói và chết… đuối. Thế là mộng làm báo coi như dẹp qua một bên.

Tôi mon men hỏi một anh bạn làm báo:

“Nếu tôi không làm chủ báofull-time mà part-time viết dăm ba bài kiếm bạc trả tiền điện, tiền nước, điện thoại có được không?”

Anh bạn tôi ra vẻ thương hại, nói thẳng với tôi:

“Báo ở đây chỉ nuôi sống may ra là ông bà chủ nhiệm, chủ bút kiêm tùy phái, tiền đâu mà trả nhuận bút cho ông. Mà dù bài ông có hay mấy đăng có tiền thì cũng chẳng đăng làm gì. Người ta đọc là đọc quảng cáo, ai thèm đọc bài ông. Người ta đây là các doanh gia đã bỏ tiền quảng cáo, đọc xem có đúng số nhà, số điện thoại của người ta không, xem ảnh người ta có rõ ràng, sắc nét không? Hiện nay báo tôi đang bỏ chợ, lúc nào bán được sẽ mời ông cộng tác thường xuyên. Ông cứ để số điện thoại lại cho tôi.”

Lại một hôm có dịp tôi hỏi một ông bạn già: 

“Ở Việt Nam, tôi đánh máy giỏi lại có kinh nghiệm làm văn phòng, nếu như tôi xin đi làm thư ký văn phòng thương mãi hay phòng mạch bác sĩ có được chăng?”

Ông bạn già tôi cười ngất: 

“Anh có nói tiếng Anh giỏi như mấy em tốt nghiệp high school ở Mỹ không? Anh có nhan sắc mơn mởn, giò dài không, có trẻ không? mà tôi quên anh là đàn ông mà! Ai lại đi thuê anh làm thư ký? Tôi hỏi thật anh: nếu như anh làm bác sĩ, luật sư hay giám đốc anh có chọn tôi, thằng bạn già trứng cá đầy mặt này, làm thư ký không, hay anh tuyển toàn các em trẻ đẹp phây phây, õng ẹo cho mát mắt anh mà cũng mát mặt khách hàng lúc tắt gió! Anh tự suy nghĩ đi rồi tìm câu trả lời, vì sao anh không thể làm nghề thư ký được.”

Ở Sài Gòn, sau 1975, tôi có anh bạn làm ba nghề. Lúc hàn vi làm nghề vá xe đạp ở lề đường. Khi đã bảnh bao, anh làm nghề viết thư mướn ở bưu điện và cố vấn cho bà con làm sao rút gọn vài chữ trong bức điện tín, để đỡ đi vài nghìn đồng, phần anh chỉ xin năm trăm. Lúc lỏi đời anh làm nghề chẻ tiền nhanh như chớp, đưa cho người ta năm chục nghìn đồng, về đến nhà họ đếm lại chỉ còn hai nghìn rưỡi. Qua Mỹ anh như con cá nằm trên cạn, bao nhiêu sở trường sở đoản của anh coi như vứt bỏ. Nghề vá xe đạp, bà con cũng hiểu là đây không có đất dụng võ. Nghề viết đơn mướn ở Việt Nam còn bịp được thiên hạ với mớ tiếng Anh ăn đong của anh. Qua đây, xứ của tiếng Anh, là đất của Lỗ Ban, anh đâu dám múa búa. Còn nghề chẻ tiền thì ở đây mua một cái quần jean có mấy chục, xoè ra có mấy tấm, không như ở thành phố “bác Hồ” phải khuân cả bó bạc, lấy gì mà chẻ. Anh ta than vãn:”Cuộc sống ở đây khó thực!”

Lại nói về nghề nghiệp, một chiến hữu nay là bác sĩ đã thân mật khuyên tôi:

“Anh em qua đây khá đông, tuổi phần lớn đã già, lại học hành dở dang, tôi biết anh em khó nghĩ. Những người đi trước, nhất là số làm social worker, đều khuyên anh em đi học E.S.L. rồi học nghề. Không có E.S.L. không có nghề thì những tổ chức hướng nghiệp, xã hội coi như bỏ, thất nghiệp. Tôi biết các anh đã đổi đời hai lượt, tất phải khó khăn. Nhưng tôi khuyên các anh, dù ít dù nhiều cũng phải ráng mà vào đại học. Vào đại học, gặp thầy gặp bạn tức là đã học Anh ngữ rồi. Có nghề hai năm có thể làm technician, lương khá cao. Học được khá hơn thì nghề nghiệp càng thăng tiến hơn. Không lẽ suốt đời anh đi làm những việc tay chân mãi sao. Tuổi về hưu ở Mỹ bây giờ là 67 chứ không phải là 65 như anh tưởng. Anh phải sống 12 năm nữa mới được lương già. Vậy anh phải vào đại học ít lắm là hai năm hay dài hơn, cao hơn nữa. Rồi còn phải làm gì cho đất nước nữa chứ!”

Tôi biết ông thương người, mong mỏi anh em mới qua thành đạt cũng như ông, đã từng cực khổ đi học lại tương đương với high school, rồi vào đại học, ra bác sĩ. Nhưng phần tôi, tôi thấy quả là khó khăn trước một mớ vợ con đùm đề, bill tiền nhà, tiền điện, tiền bảo hiểm… Chắc khó có thể yên tâm mà dùi mài kinh sử được nữa. Tôi chỉ mong mỏi sao có được một nghề lương tháng 5, 6 đồng một giờ cộng thêm tí benefit nữa là mãn nguyện rồi.

Trước những ý kiến, lời khuyên, dạy bảo… của bà con, bạn bè, chiến hữu, đồng hương… quả là đôi khi tôi thấy lùng bùng lỗ tai. Những ý kiến này, tất cả đều vì thương tôi là “người mới sang” mà góp ý, có khi những ý kiến này chỏi lại nhau mà tôi không đủ sức đo lường, phán đoán. Tuy nhiên, trên đời này còn hai chữ tuy nhiên.

☆

Tôi đã ở tù trong cái mà người ta gọi là trại-tập-trung-cải-tạo 7 năm, thời gian trung bình so với người không ở tù ngày nào và với những người ở tù 12 năm hay đang còn ở tù. Tôi đã có lúc cân chỉ còn 38 kg với mớ da bọc xương. Tôi đã có lúc đói meo thấy củ sắn mà chảy nước miếng. Tôi đã có lúc “lao động” mửa mật ra suốt ngày mà tối về chỉ được ba củ khoai, trong đó có một củ hà. Tôi đã có lúc xuống hầm cầu tiêu hốt phân bắc, nôm na là hốt cứt của bọn cai tù. Tôi đã có lúc đi qua nhà dân thấy bếp lửa nhà ai mà thèm không khí gia đình ấm cúng. Tôi đã có lúc quằn quại trên chõng tre vì bệnh nặng mà chỉ có mấy ngọn lá rừng vò nát làm thuốc. Tôi đã có lúc muốn đâm thằng đội trưởng tàn ác với chiến hữu, mà hèn nhát không dám đâm. Tôi đã có lúc muốn treo cổ tự tử vì nhục nhưng xót vợ con, không làm. Tôi đã có lúc muốn hóa thành con chó, con mèo, con chim cho đỡ khổ.

Xưa kia ở trong trại tù tôi chỉ dám mơ ước ra tù, cuốc đất trồng khoai, được ăn ngày ba bữa khoai, không tính đến mấy củ khoai hà. Xưa kia, ở trong trại tù cuốc bộ mười hai cây số với một gánh ngô trên vai tôi thấy thèm địa vị của thằng bộ đội cỡi xe đạp. Xưa kia, ra gần đường lộ tôi thấy hạnh phúc thay những người dân miền Bắc, lem luốc chen nhau lên cái xe hàng chạy than. Xưa kia, thấy cái máy bay trên trời tôi cho đó là niềm vô vọng mà cả nghìn kiếp sau chưa chắc tôi đã được ngồi trên đó.

Tôi chỉ cầu được tự do, rồi sau đó ra sao thì ra!

Rồi tôi được ra tù. Rồi tôi được sum họp với vợ con, có bếp lửa ấm cúng trong căn nhà cũ. Rồi tôi được cỡi lên chiếc xe đạp chạy phom phom trên thành phố Sài gòn thân yêu của tôi. Rồi tôi được đi xe hơi. Rồi tôi được phục hồi danh dự – có xuất cảnh, được phía Mỹ cho nhập cư, được phía Việt Nam gởi danh sách qua phái đoàn Mỹ.

Bao nhiêu thằng cán bộ chảy nước miếng thèm lại địa vị của tôi. Rồi tôi được leo lên máy bay phản lực, các cô em chiêu đãi Hà Nội mặt nặng như chì vì ghét tôi và bạn bè tôi, cũng phải cơm bưng nước rót. Rồi đổi máy bay, tây đầm phục vụ chu đáo một tiếng sir, hai tiếng sir.

Cuối cùng tôi đặt chân xuống đất Mỹ, nơi mà con tôi vì mong muốn đến, đã bỏ mình trên Thái Bình Dương. Các em tôi ra đón, ôm tôi mà khóc.

Hiện nay tôi đã là người cũ. Hơn nửa năm thì không còn gọi là người mới nữa. Là người cũ tôi cũng có nhà ở, có xe đi, có cơm ăn áo mặc và nhất là tôi cảm thấy tự do, tôi muốn viết gì thì viết theo lương tâm tôi. Ở “thành phố Hồ Chí Minh,” buổi sáng vào quán ăn phở ngồi chung với một anh nón cối bi bô chuyện “ngoài ta”, là tôi ăn đã mất ngon. Qua đây tôi cho là thoát. Thế thì tôi mơ ước, đòi hỏi gì hơn.

Tôi cũng như các bạn bè chiến hữu đau khổ của tôi, không chết ở trong tù, lẽ nào ta lại chịu chết ở đây! Chúng ta đã khổ quá nhiều rồi, sẽ không còn đau khổ nào lớn hơn, cao hơn. Hai lần đổi đời, ta sẽ làm lại cuộc đời. Và nếu tôi nói không quá, dù có chết được chôn cũng không sợ đào mồ cuốc mả nữa.

Chúng ta thường là những người vô tâm, hay quên, nhưng quên ở đây cũng đồng nghĩa với phản bội các bạn bè anh em ta đã nằm xuống…lẽ cố nhiên không phải nằm xuống ở đây.

Huy Phương

Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 16 Feb 2024

Hình minh họa

Bài 9

Đào thoát

Khóa 28 và 29 của Trường Võ Bị Đà Lạt vừa làm lễ mãn khóa được vài ngày, trong trường chỉ còn lại hai khóa 30 và 31. Nhàn cư vi bất thiện, tôi và Trung úy Trí rảnh rỗi ngồi uống cà phê ở Long Thành với mấy người bạn cùng khóa. Khóa của tôi có khoảng một trung đội đi du học Fort Benning ở Georgia Hoa Kỳ, sau khi tốt nghiệp hầu như tất cả được đưa về làm huấn luyện viên tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Tụi tôi gặp lại nhau, thôi thì không biết bao nhiêu là chuyện ngày xưa được đem ra nhắc lại. Đang say sưa tán gẫu, tôi bỗng giật mình khi nghe loa phát thanh gọi tên mình.

-Trung úy Nguyễn Trọng Quân, Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, đến Khu tiếp tân có thân nhân cần gặp.

Cả Sài Gòn này, tôi chỉ quen có hai người con gái là Cúc và Dung. Cúc là vợ chưa cưới của tôi, đã đi Mỹ với bác Bảy từ mấy tuần lễ trước rồi, không lẽ người tìm tôi lại là Dung.

Tôi nói với Trung úy Trí và mấy người bạn cùng khóa, hiện đang là huấn luyện viên của Trường Bộ Binh Thủ Đức.

-Xin lỗi quý vị, tôi phải ra khu tiếp tân có chút chuyện.

Khi hai đứa còn cách xa nhau cả chục thước, Dung chạy đến ôm chầm lấy tôi hôn lên khắp mặt mũi, vừa hôn vừa nói:

-Cảm ơn trời Phật.

Tôi nghe rõ nhưng vẫn hỏi lại Dung:

-Em nói cái gì vậy?

-Em nói cảm ơn trời Phật đã cho em gặp anh, em chỉ sợ anh không có ở trường sẽ hư hết mọi chuyện.

-Chuyện gì? Mà tại sao em biết anh ở đây?

-Em đọc báo nên biết được Trường Võ Bị Đà Lạt di tản về đây.

Giọng nói của Dung đột nhiên trở nên như hờn giận.

-Anh về đây đã mấy tuần rồi, sao không báo cho em biết?

Tôi nói với Dung:

-Vừa đặt chân xuống Long Thành, việc đầu tiên mà anh nghĩ đến là phải tìm gặp em ngay lập tức, vì anh có chuyện quan trọng muốn nói với em. Vậy mà cũng phải cả tuần sau, anh mới có được cái phép hai ngày để về Sài Gòn. Trái với những gì anh nghĩ trong đầu, khi đứng trước nhà em, anh hoàn toàn không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Nhìn ngôi nhà im lìm trong nắng sớm, cửa đóng then cài thêm hai sợi dây xích to khóa chặt cánh cổng, trong nhà không một bóng người. Anh đoán rằng có thể cả nhà em đã đi Mỹ rồi. Sau một hồi đắn đo suy nghĩ, anh trở về Long Thành mà lòng buồn vô hạn.

Hình minh họa

Tôi nắm tay Dung rồi hỏi nàng:

-Bấy lâu nay gia đình em ở đâu?

Thay vì trả lời, Dung lại hỏi tôi:

-Anh đến nhà em ngày nào?

-Để anh nhớ lại coi, hôm đó là…là thứ Năm ngày mười tháng Tư.

Dung nói to:

-Đúng rồi, đâu khoảng hai ngày trước đó, khi cái ông trung úy không quân phản bội lái phi cơ F5 ném bom Dinh Độc Lập, ba thấy tình hình Sài Gòn không yên ổn nên đưa cả nhà về Bạc Liêu, một tuần sau gia đình em mới trở về lại Sài Gòn. Tội nghiệp cho anh, anh đến đúng lúc cả nhà đang ở Bạc Liêu.

Đang nói chuyện Dung choàng hai tay qua vai tôi, kéo đầu tôi xuống, nàng nói nhỏ vào tai tôi:

-Có chuyện quan trọng, anh phải trốn về Sài Gòn với em ngay bây giờ.

-Em à, anh là lính chứ đâu phải thường dân, muốn đi đâu thì đi.

-Bởi vậy em mới nói là trốn, anh tính toán như thế nào tùy anh, chiều nay mình phải có mặt tại nhà, ba đã dặn em như vậy.

-Nhưng mà có chuyện gì? Quan trọng hay không? Nếu không, anh sẽ không về đâu. Đừng có nói với anh là tụi mình về Sài Gòn để làm đám cưới.

Dung cười tươi như cô dâu.

-Chuyện đám cưới tính sau, ba nói cả nhà sẽ đi Mỹ.

Tôi nói với Dung:

-Đúng rồi, ba em làm ở USAID nên cả nhà sẽ đi Mỹ, anh có liên hệ gì với Mỹ đâu mà đi với đứng.

-Anh phải về nhà, ba em sẽ giải thích rõ ràng hơn cho anh nghe. Ba nói với em, Sài Gòn sẽ mất trong nay mai. Riêng em, chỉ nghe lỏm được là khi lập danh sách của gia đình em để đi Mỹ, tên anh Biên vẫn còn trong sổ gia đình, anh Biên mất rồi, anh thể chỗ của anh Biên.

Nghe tin Sài Gòn sẽ mất trong vài ngày nữa, từ một viên chức của cơ quan USAID, tôi chợt rùng mình chỉ muốn chạy trốn, sẵn dịp được trốn đi Mỹ với người mà mình yêu thì còn gì bằng, tôi nói với Dung:

-Em nói nghe cũng có lý, chờ chút, để anh vô xin phép thiếu tá trưởng phòng rồi mình về Sài Gòn.

-Đợi anh xin được cái giấy phép mọi chuyện đã trễ rồi, tối nay mình phải đi.

-Không sao chỉ cần sếp gật đầu, không cần ký giấy phép, anh sẽ dù về Sài Gòn nếu đi Mỹ được cũng tốt, đi không được cũng chẳng có mất mát gì.

Tôi chở Dung trên chiếc Honda Dame của nàng, nắng đã bắt đầu dịu lại, tôi nhìn đồng hồ rồi nói với Dung:

-Anh đoán chừng mình sẽ về đến Sài Gòn trước khi trời tối, có kịp không em?

Hình minh họa

-Ba nói, khuya nay sẽ đi.

-Như vậy không có gì phải lo.

Tôi cho xe chạy với tốc độ vừa phải, không chậm cũng không mau, gió chiều nhè nhẹ thổi, vài sợi tóc của Dung bay bay trong gió quấn lấy mặt tôi. Dung ôm tôi chặt cứng, ngực của nàng áp vào lưng của tôi, mặt của nàng tựa vào vai của tôi, một cảm giác êm đềm thoải mái như mơ chạy khắp người. Tôi nói với Dung:

-Anh yêu em.

-Em biết, anh đã nói với em từ hồi anh còn là Sinh viên sĩ quan ở Thủ Đức. Ngày đó, khi nghe anh nói như vậy khiến em sung sướng quá chừng, cả tuần lễ sau đó lúc nào cũng nghĩ tới anh, ngủ không được.

Nghe Dung nói, tôi cứ tưởng rằng minh đang sống lại thời còn là sinh viên sĩ quan ở Thủ Đức. Tôi cho xe chạy chậm lại, nói to hơn:

-Có chuyện này anh muốn hỏi em. Ngày xưa em nói: “Nếu là anh, em sẽ chọn cái tên Quân sữa”. Sau đó, em hứa với anh là hôm nào rảnh, em sẽ nói cho anh nghe là tại sao anh nên chọn cái tên đó. Hôm nay, anh muốn em nói cho anh biết.

Dung cười ngặt nghẽo, tiếng cười tràn đầy hạnh phúc.

-Như vậy thì anh phải đợi. Khi nào tụi mình đến Mỹ, làm đám cưới xong, em sẽ nói cho anh nghe.

Tôi không nói gì thêm, im lặng lái xe.

Khi hai đứa đến ngã ba Biên Hòa, chúng tôi bị chận lại ở một trạm gác dã chiến của Thủy Quân Lục Chiến. Người lính chào tôi rồi nói:

-Trung úy cho coi giấy tờ.

Tôi đưa cho anh ta cái căn cước quân nhân cùng với giấy Chứng chỉ tại ngũ. Người lính chăm chú đọc một cách cẩn thận, rồi anh ta nhìn thẳng vào mặt tôi, cái nhìn như để nhận diện, coi tôi có phải là người mang giấy tờ mà anh ta đang nắm trên tay không? Cuối cùng, người lính nói với tôi:

-Đơn vị của trung úy đang ở đâu?

-Tôi là sĩ quan hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt, mới di tản về Long Thành.

-Trung úy có giấy phép về Sài Gòn hay không?

-Không có.

-Như vậy, trung úy không được về Sài Gòn.

Tôi nói, giọng nói như là ra vẻ hằn học.

Hình minh họa

-Tôi đưa vợ tôi về Sài Gòn, sau đó trở lại trường cũng không được hay sao?

Dứt câu nói, tôi nhìn Dung rồi nháy mắt một cái.

Người lính vẫn điềm đạm.

-Thưa không, chúng tôi nhận được lệnh, không để bất cứ quân nhân nào vào Sài Gòn mà không có giấy phép.

Tôi nhìn Dung, lắc đầu tuyệt vọng.

-Chắc em phải về Sài Gòn một mình, cả nhà đang đợi em, anh sẽ trở lại Long Thành xin giấy phép rồi về sau.

Dung nhìn tôi bối rối ra mặt.

-Như vậy trễ mất rồi.

Tôi nói:

-Biết làm sao bây giờ.

Vừa nói tôi vừa bước tới cạnh chiếc Honda định lấy chìa khóa xe đưa cho Dung. Cùng lúc ấy, tôi nhìn thấy một nhóm lính Thủy Quân Lục Chiến đang trò chuyện. Trong đó, một người lính đứng quay lưng lại phía tôi với mái tóc muối tiêu, dáng người trông rất quen. Tôi hỏi người lính Thủy Quân Lục Chiến.

-Trung úy Nhân đầu bạc phải không?

Người lính nói:

-Đúng, ông ấy là thầy của tôi, mà sao trung úy biết?

Tôi mừng quá la to lên:

-Ê Nhân, Nhân.

Người lính quay đầu lại, khi nhìn thấy tôi hắn vừa chạy vừa nói:

-Mày làm gì ở đây?

-Tao từ Đà Lạt di tản về, còn mày sao lại ở đây?

-Tụi tao, tạm thời đóng quân ở Biên Hòa giữ an ninh, không cho quân nhân di tản vô Sài Gòn.

-Tao biết rồi, ông lính của mày chận tao lại từ nãy đến giờ.

Nhân đầu bạc hỏi tôi:

-Mày có tin tức gì của Vân không?

-Không, hai tuần lễ trước khi di tản, tao không có thì giờ ra Đà Lạt nên không biết gia đình Vân như thế nào, có di tản hay không.

Nét thất vọng hiện rõ trên gương mặt của Nhân, hắn nói:

-Cả hai tháng rồi tao không nhận được tin gì của Vân. Gặp mày, tao mừng muốn chết, tưởng biết được chút tin tức về Vân, hóa ra gặp cũng như không.

Hình minh họa

Tôi vỗ tay lên trán rồi nói với Nhân đầu bạc:

-Tao nhớ ra rồi, Vân có một bà dì tên là Hoàng Yến bán hàng vải trong chợ Bến Thành, nếu gia đình Vân di tản về Sài Gòn, chắc chắn họ sẽ ở nhà bà dì của Vân. Mày thử đến đó tìm đi.

Vừa dứt lời, tôi nhìn Dung rồi nói tiếp:

-Quên giới thiệu với mày, đây là Dung, người yêu của tao.

Khi nói xong, tôi cười với Dung.

-Không đúng, phải nói là vợ sắp cưới mới đúng.

Nhân đầu bạc nhìn Dung rồi nói:

-Chúc mừng chị.

Dung nói với Nhân:

-Cảm ơn anh, tình hình lộn xộn như vậy không biết có làm đám cưới được không để mời anh, mà anh Nhân nè, tụi này có việc cần về Sài Gòn gấp.

Nhân nhìn tôi.

-Từ đây về Sài Gòn còn mấy trạm gác nữa, mày về không được đâu. Cách hay nhất, tao khuyên mày vô nhà ga Biên Hòa, đi xe lửa về Sài Gòn sẽ không bị xét giấy tờ.

Tôi bắt tay Nhân đầu bạc mà trong đầu nghĩ đến chuyện trốn đi Mỹ. Tôi nói:

-Không biết tụi mình còn có dịp gặp nhau nữa hay không? Tao ngờ rằng, đây là lần cuối cùng gặp gỡ. Gắng giữ gìn sức khỏe nghe mày.

Tôi chở Dung chạy vô nhà ga xe lửa Biên Hòa.

Bảy giờ tối, chúng tôi về đến nhà. Ba má của Dung chạy ra mở cổng, cả hai ông bà mừng rỡ ra mặt, ba Dung nói:

-Con lên lầu, lấy bộ đồ dân sự của anh Biên đưa cho anh Quân bận.

Quay qua tôi, ba Dung nói:

-Con phải bỏ bộ đồ lính, thay đồ dân sự, bận đồ lính sẽ không vào phi trường được.

Bốn người chúng tôi chất lên chiếc xe taxi nhỏ tí xíu, chạy đến nơi có một tòa nhà to lớn, tôi không biết nó nằm trên đường nào, chỉ đoán đó là cơ quan của Mỹ. Một người Mỹ đen, đứng ngay cổng kiểm soát người rồi cho vào trong sân để lên xe bus. Bên trong sân, một người Mỹ khác nhìn vào sổ gia đình, đếm người rồi so với tờ danh sách ông ta đang cầm trên tay, khi đã đầy đủ người ông ta mới ra lệnh cho xe chạy. Phải mất khoảng nửa giờ, xe bus mới đến cổng sân bay Tân Sơn Nhất, người Mỹ lo chuyện di tản ôm hồ sơ xuống xe, trình giấy tờ. Hình như, những người lính gác cổng chỉ lo coi giấy tờ chứ không nhìn số lượng người trên xe. Khi thanh gỗ chắn ngang cổng được nâng lên, chiếc xe từ từ đi vào sân bay tim của tôi mới đập bình thường trở lại. Xe vừa chạy được một đoạn lại thêm một trạm kiểm soát thứ hai, rồi thứ ba, mỗi lần qua một trạm kiểm soát, tay của tôi lại nắm tay của Dung bóp mạnh. Dung nói nhỏ vào tai tôi:

Hình minh họa

-Không sao đâu anh, mình có giấy tờ hợp lệ mà.

Tôi nói với Dung, giọng nói không được bình tĩnh cho lắm:

-Không biết còn bao nhiêu trạm kiểm soát nữa đây? Mỗi lần qua một trạm kiểm soát là một lần trái tim của anh lại đập trật đi vài nhịp.

Cuối cùng, xe bus ngừng lại cách đuôi của một chiếc phi cơ C130 khoảng hai mươi mét, cánh cửa khổng lồ sau đuôi của phi cơ đã hạ xuống chạm mặt phi đạo làm thành một chiếc cầu, mọi người xuống xe theo thứ tự rồi cứ hàng một đi vào phi cơ. Theo chân đoàn người, tôi vừa đi vừa nhìn quanh rồi giật mình khi thấy hai người lính Quân Cảnh đứng gác nơi đuôi chiếc phi cơ, họ để cho mọi người đi vào mà không nói gì. Có thể, nhiệm vụ của họ là giữ gìn an ninh trật tự chứ không phải là kiểm soát.

Thấy tôi chỉ lo chăm chú nhìn hai người Quân Cảnh, Dung kéo tay tôi.

-Lẹ lên anh.

Khi chỉ còn vài bước nữa là tôi đặt chân lên cửa sau của chiếc phi cơ, bỗng dưng người lính Quân Cảnh dang tay cắt đứt tôi và Dung ra, anh ta làm dấu cho Dung tiếp tục đi đồng thời nói với tôi:

-Mời ông đứng qua bên này, để cho mọi người có đường đi.

Tôi bước tránh qua một bên, người Quân Cảnh thứ hai bước đến bên tôi:

-Ông cho coi giấy tờ.

Tôi như kẻ mất hồn, tay móc túi lấy giấy tờ đưa cho người lính Quân Cảnh, mắt nhìn theo Dung vừa đi vừa ngoái cổ nhìn tôi. Đôi mắt của Dung đầy vẻ lo âu. Đó là hình ảnh cuối cùng về Dung mà tôi còn nhớ được.

Người lính Quân Cảnh nói với tôi:

-Chúng tôi phải giữ trung úy lại.

Tôi nói, giọng nói như là cằn nhằn:

-Ba má tôi, vợ tôi trên máy bay, tôi có tên trong danh sách được đi, tại sao mấy ông giữ tôi lại.

Người Quân Cảnh trả lời tôi:

-Mỹ cho trung úy đi, nhưng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không có lệnh cho quân nhân xuất ngoại, chúng tôi chỉ thi hành nhiệm vụ, trung úy thông cảm.

Khi mà tất cả mọi người đã lên phi cơ, cánh cửa sắt khổng lồ từ từ nâng lên rồi đóng chặt lại, lòng tôi bỗng dưng chết lặng, cơ hồ như cả vũ trụ này đã sụp đổ.

Hình minh họa

Người lính Quân Cảnh nói:

-Mời trung úy lên xe.

-Mấy anh đưa tôi đi đâu?

-Chúng tôi đưa trung úy ra khỏi phi trường, sau đó trung úy tự mình về lại đơn vị.

Mấy tuần trước khi nghe tin Cúc đi Mỹ với bác Bảy, tôi chỉ hơi tiêng tiếc rồi quên Cúc dễ dàng. Hôm nay khi bị cắt đứt, chia tay đột ngột với Dung, tôi cảm thấy đau đớn, xót xa như ruột gan bị cắt chia làm nhiều đoạn. Khi biết mình đã đi đến bước đường cùng, không nhà, không người thân ở Sài Gòn, không còn gì phải giữ gìn, tôi nói với hai người Quân Cảnh:

-Tôi có chuyện muốn nhờ mấy anh giúp đỡ.

-Chuyện gì? Nếu được chúng tôi sẽ làm.

-Nhờ hai anh, bắt tôi bỏ tù luôn được không?

-Xin lỗi, chuyện này chúng tôi không giúp được.

Tôi trở về nhà của Dung, chị Lành ra mở cổng hỏi tôi với giọng nói đầy vẻ ngạc nhiên:

-Cậu không đi sao?

-Không.

Tôi thay bộ đồ dân sự, tròng vào người bộ đồ lính, chào từ giã chị Lành rồi đi ra cửa.

Một mình tôi lang thang giữa đêm khuya ở Sài Gòn, Cúc và Dung giờ đây đã nghìn trùng xa cách.

Hai mươi sáu tuổi đời, chưa có bao giờ tôi cảm thấy cô đơn, lạc lõng, tuyệt vọng đến như vậy. Dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn đường, tôi nói với anh xe ôm đang đậu xe chờ khách ở một ngã tư:

-Cho tôi về Long Thành.

Anh xe ôm nói với tôi:

-Giờ này, gần giới nghiêm rồi, trung úy có cho bạc triệu tôi cũng không dám chạy về Long Thành.

Viết Từ MIền Đất Hồi Sinh

baovecovang2012.wordpress.com/

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 15 Feb 2024

Phần 3

Lối cũ… chẳng sao quên
Bích Huyền

Đường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tinh trần khôn hàn gắn thương lòng…

(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay
– Đoàn Chuẩn – Từ Linh)

Vĩnh Phú, địa danh tôi muốn quên mà không thể nào quên. Trong suốt hơn mười năm qua và trong cả cuộc đời. K1, K2, K3. K4…những chữ số ký hiệu kinh hoàng. Của tôi. Của những người tù và gia đình họ. Ở rồi, đến rồi, đi rồi…mấy ai muốn quay trở lại? Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải trở về đây. cảnh vật không khác xưa là bao nhiêu dù thời gian trôi qua bốn năm rồi…

Những khẩu hiệu: “Chào mừng thành công Đại hội Đảng 5,” “Đảng Cộng sản Việt Nam, Người lãnh đạo Tài Tình”, “Đảng Cộng Sản Việt Nam muôn năm…” lem luốc màu đỏ vì nước mưa, chảy dài xuống như những dòng nước mắt pha máu ngoằn ngoèo trên từng bờ tường loang lổ, cũ kỹ. Ngay phía dưới lại có hàng chữ mang tính “Pháp lệnh” bằng những lời thô tục “Cấm ỉa đái.” Có cả những nét chữ nguệch ngoạc chửi thề. Hình như không một ai để ý.

Ở cái ga xép èo uột gần tận cùng của đất nước này, những con người lam lũ, ngác ngơ, còn đang loay hoay với ký trà, bao gạo, rổ rá nhựa, nồi niêu xoong chảo, xấp vải hoa Chợ Lớn hoa xanh, hoa đỏ…Che che, giấu giấu, tránh con mắt dòm ngó của bọn Công an kinh tế. Chính sách của Đảng đổi mới rồi, tự do buôn bán nhưng người dân lại khổ vì sưu cao thuế nặng.

Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi không đến trại Tân Lập bằng đường sông nữa. Đạp xe trên bờ đê. Dắt xe đi bộ qua bãi cát lổn nhổn những vỏ sò, vỏ ốc. Băng ngang những thửa ruộng khô cằn của vùng đất miền trung du. Cái hình ảnh “quê em miền trung du, đồng chiêm lúa xanh rì” của một thời hoàng kim nào xa lắm, nay ở đâu? Giặc tràn về đốt phá thôn làng. Gia đình ly tán. “Vườn không nhà trống tàn hoang” còn trong trí óc non nớt của tuổi thơ tôi. Giờ đây, giặc nào đã làm cho miền Bắc điêu tàn?

Đảng Cộng sản Việt Nam, đỉnh cao của trí tuệ loài người! Ôi! mỉa mai thay những khẩu hiệu kêu to như những chiếc thùng rỗng! Đảng lãnh đạo tài tình làm sao để bao nhiêu năm đời ta có Đảng, bấy nhiêu năm Đảng phá nát tan? Để những người dân quê hiền hòa cởi mở trở nên ngu ngơ câm lặng đến thế kia sao?

Dân cư ở đây rất thưa thớt. Họ sống trong những mái nhà lụp xụp, vách đất, mái tranh. Mảnh vườn. Rào thưa. Khoảng sân đất. Giếng nước. Chiếc gầu…tất cả đều quá nhỏ bé, trơ trụi, xa lạ. Trẻ con gầy còm, ốm yếu. Quần đùi vá víu miếng nọ miếng kia. Cởi trần, ngồi nghịch đất. Không tiếng nô đùa. Không tiếng hát. Không tiếng nhạc của máy thu thanh. Không cả tiếng chim hót. Như một vùng đất chết.

Ba người anh cùng đi với tôi chuyến này đều là những thanh niên đầy nhiệt huyết của hơn ba mươi năm về trước. Thoát ly gia đình, mang tuổi trẻ của mình cống hiến cho đất nước. Để rồi khi biết mình bị lừa thì đã muộn. Cũng dòng sông Lô nắng vàng lấp lánh nhưng còn đâu tiếng hát rộn ràng? Cũng con đê này của những buổi chiều vai đeo ba lô từ chiến khu về, rầm rập bước chân.

Trong thời gian, “Hồi chuông ngân nga trong chiều thu ngập gió…Hồn ta chìm đắm tiếng chuông xa vời.” Ba người anh tôi ôn lại một vài kỷ niệm xưa. Tiếc nuối. Tôi làm các anh tỉnh giấc mơ: “Phải chi ngày ấy các anh không đi theo phong trào Thanh niên Cứu quốc thì ngày nay em đâu phải đi bốc mộ chồng ở một nơi đèo heo hút gió này!” Ba người anh im lặng. Họ như muốn quên đi những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng. Yêu tự do. Yêu tổ quốc. Đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước. Chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày trở về giải phóng thủ đô Hà Nội. Những người bộ đội với tuổi hai mươi. Trẻ trung. Học thức. Hà Nội đã bừng lên một sức sống mới.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Hà Nội tưng bừng tiếng hát. Không bao lâu, những cuộc đấu tố dã man diễn ra khắp nơi. Ông bác tôi bị đấu tố, dù có năm người con đi kháng chiến. Nghe tin dữ, các anh về quê xin Đảng khoan hồng. Không những không tha, họ còn xúi giục các anh tôi: phải giác ngộ cách mạng, phải đứng vào hàng ngũ nhân dân, cùng vạch tội, chỉ tên địa chủ, cường hào, ác bá. Ông bác tôi bị tù. Khổ sai lao động, Thất vọng, đớn đau nhìn bố vác cây, đào đất, khiêng đá, trộn hồ…Những người tù già này làm việc suốt ngày đêm để đạt chỉ tiêu biến khu đất hoang quanh hồ Bảy Mẫu, Hà Nội, thành một công viên mang tên Thống Nhất. Đến thập niên 1980 đổi thành công viên Lê Nin.

Cũng vì sự khổ nhục của người bác thân yêu mà bao lần ra Hà Nội là bấy nhiêu lần tôi không đặt chân vào công viên này. Cũng như tôi đã không đến vui chơi ở khu K4 Long Khánh, một địa điểm du lịch mới lạ của miền Nam. Vì nơi đây được tạo nên bởi những bàn tay của cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị Cộng sản tù đầy, hành hạ.

Các anh tôi, vài năm đầu “Sài Gòn giải phóng,” vì đường lối của Đảng, hay vì muốn các em của mình ở miền Nam sớm “giác ngộ” để hòa nhập ngay với cuộc sống mới, đã có những lần tranh luận. Bao giờ cũng trở thành lớn tiếng cãi nhau. Tôi đã làm các anh nhức đầu không ít. Lần cuối cùng, tôi không cãi lại các anh nữa. “Đảng đã cho các anh tôi sáng mắt sáng lòng.” Đó là lần một anh nói với tôi: “Người em không yêu làm em khổ, em đâu có đau bằng anh? Anh đã yêu, anh đã dâng hiến cả cuộc đời, mà ngày nay anh bị phụ bạc, anh bị lừa dối…” Một anh khác: “Viên gạch đã trót để vào xây tường, giờ có rút ra cũng bị vỡ tan. Thôi em ạ, không còn con đường nào khác!”

Trên con đê này, giữa khung cảnh hoang vắng của buổi chiều trung du, bốn anh em đi bên nhau. Thương cho thân mình. Thương cho các anh. Lý tưởng sụp đổ tan tành. Ngày mai đen tối.

Trời chạng vạng. Tôi đã bắt đầu đi những bước thấp bước cao. Quãng đường này làm tôi nhớ lại những lần vượt biên. Xuống ghe tại Nhà Bè khi thành phố còn chìm trong màn đêm. Lên bờ đi bộ băng qua bao nhiêu là thửa ruộng, vấp ngã bao lần mà không cảm thấy đau đớn vì thần kinh đang trong tình trạng căng thẳng: hồi hộp, lo sợ.

Lần này trên cánh đồng: mệt mỏi, chán chường. Cũng phải vài giờ nữa mới tới trụ sở Ban chỉ huy. Tiếng dế nỉ non. Xa xa ánh đèn leo lét. cố lê bước tới đó để xin ngủ nhờ qua đêm. Nhìn một căn nhà tương đối khang trang, chúng tôi vào gặp chủ nhà xin ngủ đỡ ngoài mái hiên. Nhưng cũng bị từ chối. Đang lo lắng không biết tôi có đủ sức đi tiếp hay không, thì như có phép lạ, một người đàn bà gánh lúa từ xa đi tới. Bà ta dừng lại: “Các bác tìm nhà ai thế?” Khi biết ý, bà ta mời chúng tôi về nhà. Bốn anh em mừng rỡ như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Dù gánh lúa nặng trĩu trên vai, bà ta vẫn bước đi thoăn thoắt. Trong khi tôi lẽo đẽo theo sau.

Khi bà đẩy cánh cổng tre, bóng tối làm tôi không thể nhìn rõ một người đàn ông đang xếp lúa ngay đầu nhà. Ông ta không quay lại và cũng không lên tiếng đáp lại lời chào của các anh tôi. Trước thái độ lạnh nhạt đó, chúng tôi hơi e ngại. Trong lòng vẫn mừng thầm không bị đuổi ra.

Một gian nhà ba gian bằng tre sơ sài nhưng gọn ghẽ. Nhìn cách trang trí nhà cửa, nhìn bức tượng Chúa nho nhỏ trên bàn thờ cao, tôi có thể đoán chủ nhân không phải là người quê mùa. Tôi ôm bộ quần áo ra giếng. Những giọt nước mát lạnh làm tôi tỉnh táo lại. Trăng bắt đầu lên. Tôi đã nhìn rõ khung cảnh chung quanh. Mảnh sân hình chữ nhật. Khu vườn nhỏ. Chái bếp cuối sân. Ánh lửa bập bùng. Hàng cây cau vươn cao đón ánh trăng. Tôi liên tưởng tới hàng cau của khu vườn trước nhà tôi ở quê hương. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường trèo lên nhanh như một chú mèo con để hái quả cau cho mẹ tôi têm trầu đãi khách. Trong không gian thoang thoảng mùi hương hoa thiên lý. Âm thanh tiếng đàn mandoline bản Valse Favorite vui tươi, tiếng hát chan chứa tình quê “Làng tôi xanh bóng tre. Hồn lắng tiếng chuông ngân. Tiếng chuông nhà thờ rung…” chợt khua động trong tôi ngày tháng êm đềm thời thơ ấu.

Tôi thở thật sâu để nén xúc cảm. Đêm yên lặng. Đêm mờ ảo. Tất cả đều rất mong manh. Một tiếng động nhỏ cũng đủ làm tan vỡ giấc mơ xưa thoáng đến với tôi, đưa tôi về thực tại. Tôi phải vào nhà để bàn chuyện ngày mai.

Tiếng cười nói làm tôi ngạc nhiên. Ông chủ nhà cùng ba anh tôi đang vui vẻ quây quần bên khay trà bốc khói. Thấy tôi vào, ông kéo ghế trịnh trọng mời ngồi. Tôi còn đang ngơ ngác trước thái độ thay đổi nhanh chóng thì một anh đã giải thích: “Ban đầu ông Tuyển tưởng anh em mình đi thăm nuôi tù. Bây giờ ở đây có tù hình sự (những thanh thiếu niên can tội cướp của giết người). Tù chính trị chuyển đi từ lâu rồi. Một số về trại Hà Nam Ninh. Đa số vào Nam.”

Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước mặt tôi: “Được biết cô về đây bốc mộ cho chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi xin hết sức giúp đỡ cô và các ông anh đây.”

Vầng trán cao. Khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từ tôn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông Tuyển là một người có một số vốn kiến thức về học vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh.

Ông Tuyển đã sắp xếp chỗ ngủ cho chúng tôi. Để khách được tự do, ông Tuyển dặn dò vợ con và đi vào thôn tìm người quen chuyên việc cải táng.

Gian phòng khách rộng, sơ sài nhưng ngăn nắp. Giường tre, bàn gỗ mộc mạc, thô kệch, được hình thành có lẽ do bàn tay của chủ nhà. Tượng Chúa và tượng Đức Mẹ trên cao là một hình ảnh cảm động hiếm có trong những ngôi nhà tại miền Bắc. Theo như lời ông Tuyển, đời sống gia đình ông bắt đầu khá hơn kể từ khi hợp tác xã nhà nước tan vỡ. Lối làm ăn tập thể nhường lại cho lối khoán sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn phải nộp đủ cho nhà nước, cả nhà xúm nhau cầy cấy mới có gạo ăn.

Dưới nhà ngang, các con ông bà Tuyển đang đập lúa, giã gạo, sàng sẩy… Mọi người chăm chú làm việc, không tò mò để ý khách phương xa. Tôi mệt mỏi nằm thiếp đi trong chốc lát.

Khi tôi tỉnh dậy, trăng đã lên cao. Ông Tuyển vừa về tới. Tay cầm hai chai rượu và một bó hoa tươi. Ông cho biết đã tìm được một người rất thành thạo trong việc bốc mộ. Chai rượu này để rửa hài cốt. Tìm mua được rượu ở miền núi không phải là chuyện dễ dàng.

Bà Tuyển bưng mâm cơm từ nhà bếp lên. Chúng tôi trải chiếu ngoài hiên, ngồi ăn cơm dưới ánh trăng. Đĩa thịt gà luộc thơm mùi lá chanh thái chỉ rắc lên trên. Tô canh rau “tập tàng” – đủ mọi loại rau hái ngoài vườn – mát ngọt. Tôi không thể ngờ anh em chúng tôi được đối xử như một thượng khách ở nơi đây. Thế mới biết ở một nơi tưởng chừng như không có, ta vẫn tìm thấy một tấm lòng.

Qua một đêm ngủ với nhiều mộng mị, sáng sớm hôm sau, tôi và các anh đến Bộ Chỉ Huy. Có quãng đường đi được bằng xe đạp. Có quãng đường đá lởm chởm phải dắt bộ. Chỉ huy trại là người mới. Không phải Thiếu Tá Nguyễn Thùy tôi gặp lần trước. Hắn vồn vã thái quá, khiến tôi chỉ im lặng ngồi nghe. Hắn kể chuyện, có một người ở nước ngoài, cách đây không lâu, về đây bốc mộ bố. cầm bình hài cốt lên xe, xe không nổ máy. Gọi xe ngựa đến kéo, con ngựa nhảy quớ lên không chịu chạy.

Nhìn hắn ba hoa, ngồi bỏ cả hai chân lên ghế, tôi hơi khó chịu. Nhất là cặp mắt hắn thỉnh thoảng lại nhìn vào mấy bao thuốc lá “555” anh tôi mang đến làm quà. “Ba con năm vừa nằm vừa ký”, cho nên bọn tôi mới được chấp thuận một cách dễ dàng.

Những chuyện hắn nói có thể xảy ra ở đâu, hắn nghe được. Hắn muốn nói đến đời sống tâm linh. Anh em tôi thì có rất ít thời gian. Cũng có thể sau một thời gian quá dài bị đè nén, những con người triệt để chống chủ nghĩa duy tâm ngày nay bắt đầu duy tâm hơn ai hết.

Xe Volga cọc cạch chở chúng tôi đi lên ngọn đồi, nơi an nghỉ của những quân nhân chế độ cũ. Ít ra từ ngày Việt Cộng muốn bang giao với Mỹ, đã có lúc họ bỏ được từ ngữ “ngụy quân ngụy quyền.” Nhưng tiếc thay những tên gọi này vẫn là vết hằn trong lòng người Việt.

Tôi ngồi đợi trong một căn nhà nhỏ dựng sơ sài bằng tre, nứa. Nền đất lồi lõm. Trên vách nhỏ treo đủ thứ khẩu hiệu, kế hoạch công tác hàng tháng, tuần…

Hình ảnh các lãnh tụ Cộng Sản thế giới và trong nước quá khổ so với bức vách, treo xộc xệch như sắp rơi. Đây là nơi làm việc của toán công an canh gác.

Cách đây bốn năm, khi tôi đến nơi đây nhận mộ chồng, cảnh vật chung quanh gọn ghẽ hơn. Hàng ngày còn có bàn tay bạn tù săn sóc. Giờ đây cỏ cây, dây leo chằng chịt, không nhìn thấy lối đi. Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, tên công an cầm bản đồ nghĩa trang và các anh tôi trở lại trụ sở với gương mặt thất vọng. Không tìm thấy mộ vì cỏ cây che lấp cả một vùng rộng lớn. Tim tôi như muốn ngừng lại. Chẳng lẽ lại về không?

Tôi xin mọi người hãy cho tôi đến tìm. Tôi thầm cầu nguyện cũng như ở Sài Gòn, mẹ tôi và các em tôi đã cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được tốt đẹp.

Kỳ lạ thay! Tôi chỉ vạch lá chui vào đúng một quãng ngắn là tìm ra mộ. Tôi reo to lên. Các anh tôi đứng ngoài không tin. Ngôi mộ có hai bia đá. Tôi lầm thế nào được. Một tấm bia tôi mang từ Hà Nội lên. Một tấm bia nữa của anh em bạn tù đẽo gọt bằng tay. Nét chữ khắc vào đá mờ đi vì rêu phủ.

Trong khi người thợ cải táng chặt cây cối chung quanh, tôi thắp nhang lui cui cắm trên từng ngôi mộ. Đêm mưa, cỏ ướt, ngửi thấy có hơi người, những con vắt nhảy ra, bám lấy chúng tôi. Máu chảy ròng ròng. Tôi muốn ngất người đi vì sợ. Cây cối quang dần. Dầu nóng tôi bôi đầy mặt, mũi, chân, tay, khiến những chú dế bé tí xíu cũng không dám nhảy ra đột kích nữa.

Một ít trái cây mua vội dọc đường, bó hoa ông Tuyển mua giùm, chúng tôi chỉ có những tấm lòng thành trước linh hồn người đã khuất. Người anh lớn nhất của tôi khấn thật lâu. Những cây nhang cháy rất nhanh, tàn cong vòng…khói nhang thơm tỏa ngát. Nhát cuốc đầu tiên bổ xuống đất, lòng tôi đau buốt. Tiếng cuốc, xẻng đều đều vang vọng giữa miền rừng núi hoang vu. Từng tảng đất bật lên, tâm hồn tôi như vỡ vụn. Cho tới lúc lưỡi cuốc đụng vào quan tài. Tôi hồi hộp. Các anh tôi nôn nóng.

Khi tôi ra đến Hà Nội, các bậc lão thành có trấn an: “Đất miền núi khô ráo, xương cốt lâu ngày sẽ tan đi. Phải chuẩn bị sẵn tinh thần: có thể đứng trước một cái hòm chỉ có đầy cát bụi!”

Thế cho nên khi những nhát búa đầu tiên bổ xuống để nạy nắp quan tài, tôi cứ giật thót mình. Một cảm giác đớn đau như lần đầu tiên nghe thấy tiếng đóng đinh vào quan tài bố tôi lúc liệm quan…

Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ! Suốt đêm qua, người anh lớn của tôi cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt các anh tôi xúc động. Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bạn bè đã dồn tất cả cho người chết mang đi. Nước mắt tôi ràn rụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm ký lô quà đầu tiên ra Bắc. Chiếc sơ-mi trắng ngà có từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt, mang về Sài Gòn sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta…, tất cả tôi đã tự tay xếp vào ba lô trước ngày anh đi trình diện “học tập cải tạo”.

Không còn lầm được. Không còn ảo tưởng: “Đã trốn trại, còn đang ẩn trốn tại một nơi nào.” Tôi mất anh thật rồi! Thế là hết. Tôi khóc nức lên. Trời như nổi gió. Cỏ cây chao đảo. Đồi núi quay cuồng. Quanh tôi cảnh vật mờ đi…

Lâu lắm, khi tôi tỉnh lại, đống tro tàn của áo quần vừa đốt còn âm ỉ cháy. Trong một cái xanh to bằng gang dùng thổi cơm cho trại tù đã gẫy tay cầm, các anh tôi đã đổ bột nhang thơm trộn với rượu trắng để ngâm xương cốt. Người thợ cải táng cùng các anh tôi quấn giấy bao từng lóng xương, đặt từng mảnh vào trong nhiều túi ni-lông…

Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi bước nhanh cho kịp chuyến đò cuối cùng…

Bích Huyền
Tháng 8-1991

Viết Từ Miền Đất Hồi Sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 15 Feb 2024

Phần 2

Hãy Tưởng Tượng

Nguyên Sa

Cầu không vận được thiết lập ngày mười chín, những ngày đầu đi thong thả, vô sáng chiều đi ngay, chỉ từ hai mươi hai, hai mươi ba mới phải chờ đợi, nhưng cũng chỉ trong vòng hai mươi bốn tiếng. Phi cơ C-132 cất cánh lúc đầu mỗi giờ, sau mỗi nửa giờ, có lúc thời gian còn thu lại ngắn hơn. Mỗi chuyến chở cả mấy trăm người, phi cơ bay thẳng từ Tân Sơn Nhất tới Guam. Khi máy bay cất cánh cũng lo vì không biết đi tới đâu, nhưng khi máy bay đáp xuống Guam, những bà Hồng Thập Tự chờ ở phi trường, sự tiếp đón cởi mở, những món ăn nóng được mang lại, thủ tục có phần đơn giản mang lại cho những người tị nạn rời khỏi Sài gòn thời điểm cuối tháng Tư đó sự vững tâm lớn hơn. Họ được chở tới trại Asan, những đoàn người đến trong những ngày đầu còn được tiếp đón bởi một ông Đại tá Hải quân và dàn kèn chào. Cầu không vận khởi đi từ cơ quan Mỹ D.A.O sang Guam kéo dài từ 19 tháng 4 đến cuối tháng. Ngày cuối tháng, khi cầu không vận này không còn hoạt động được nữa thì hàng loạt tàu thuyền ồ ạt từ Khánh Hội đi theo sông Sài gòn túa ra biển Nam Hải. Ngày chót có cả những chiếc sà-lan chở nhiều trăm người, còn nhiều hơn cả tàu Việt Nam Thương tín. Đoàn người tị nạn đường biển được Đệ Thất Hạm Đội Huê Kỳ chờ sẵn ngoài khơi bốc đi an toàn. Người được chở sang Subic Bay, người được đưa tới Guam. Người đến Phi trước thì sau cũng sang Guam. Người đến Guam hay một nơi khác sau chót cũng được đưa về một trại tị nạn trong nội địa của Mỹ. Như Pendleton. Như Arkansas. Như Philadelphia. Tại miền Nam Cali hay miền Đông nước Mỹ, đời sống an toàn, tiếp đón có tổ chức, đời sống của những người tị nạn đầu tiên chỗ nào cũng tương tự. Tuần tự thủ tục processing, một người bảo trợ Mỹ nhận lãnh. Gia nhập xã hội Mỹ với tương đối nhiều thuận lợi. Sự săn sóc của người hay cơ quan thiện nguyện sponsor, trợ cấp các loại không hạn định thời gian, tình trạng kinh tế Mỹ thời đó đang lên nên vấn đề công ăn việc làm không quá khó.

Hãy tưởng tượng bạn hụt đi những chuyến đó. Bạn vô D.A.O thì cầu không vận không còn hoạt động được nữa. Pháo kích phi trường đã khai diễn như những chiếc chầy khô cứng đã gõ trên sàn sân khấu báo hiệu vở kịch đã tới lúc hạ màn.Bạn dắt vợ con ra Khánh Hội, không chen lên sà-lan được, vả chăng chiếc cuối cùng đã ra đi. Lúc trở ra chiếc xe gắn máy của bạn đã bị lấy cắp. Bạn lạc lõng trên đường về của một chuyến đi hụt hay bạn đang ở nguyên vị trí và chờ lệnh. Những chiếc chiến xa T54 đã tiến vào thành phố. Cán bộ ba mươi đã lởn vởn trước cửa nhà bạn. Một tháng sau bạn đi trình diện học tập ba ngày. Lương thực mang đi đủ cho ba ngày. Ba ngày dài tới mười mấy năm.

2

Khoảng thời gian cuối thập niên bảy mươi, bạn hoàn tất học trình kỹ sư, hay bác sĩ, hay kế toán gia, công việc hội nhập diễn tiến xuôi chảy. Chiếc xe hơi nhà thờ cho bạn đã bán từ lâu và đã tậu chiếc xe thứ ba, chiếc thứ nhì cũng used car, nhưng chiếc này mới tinh. Các cháu vào Đại Học. Bạn thầm cảm ơn Thượng đế đã giúp cho bạn đến quê hương thứ nhì này không quá trễ vào lúc mới gần bốn chục, với nhiều cơ may và còn nhiều khả năng để tìm và tìm được một chỗ đứng tốt dưới mặt trời.

Hãy tưởng tượng bạn ở Long Giao một thời gian thì được đưa lên Pleiku. Một thời gian Pleiku sau đó là Thanh Hóa, rồi Bắc Kạn cho tới lúc bang giao giữa Việt Nam Cộng sản và Trung Cộng đứt gẫy bạn được đưa về Hà Nam Ninh. Xe chuyên chở di chuyển đêm, tù được cột vào nhau, cơm trộn bo bo, quản giáo thù nghịch và tàn ác, bản tự khai bạn phải viết nhiều chục lần. Khi còn ở Long Giao, người vợ có tới thăm. Khi bạn lên Pleiku bà ấy có tới, mặt xanh mướt gầy ốm, ba ngày đường không biết bao nhiêu ngày nhịn ăn nhịn mặc để có tiền xe có tiền mua quà tiếp tế cho chồng. Một năm, rồi hai năm một lần. Tới khi bạn bị chuyển ra Bắc Việt, thăm nuôi hoàn toàn gián đoạn. Có đến cả gần mười năm không nhìn thấy mặt vợ mặt con.

Hãy tưởng tượng sau chót bạn tới Mỹ, do chương trình có tên là H.O. Hãy tưởng tượng bạn đã gần tới tuổi sáu mươi, nhưng mái tóc đã bạc phơ, sức khỏe đã suy yếu như người vượt xa sáu chục. Bạn chưa đủ tuổi lãnh lương già 65, trợ cấp cho H.O. lúc trước 18 tháng, lúc này 8 tháng. Bạn ở chung với gia đình người em hai tháng thì ra riêng. Tiền trợ cấp trả tiền nhà xong thấy nhẹ nhõm quá.

Hãy tưởng tượng các cháu không đi làm nghề nghiệp chuyên môn như bạn bè cùng trang lứa, cũng không cần học xong mà chỉ bắt đầu lớp sinh ngữ cho người ngoại quốc E.S.L.

Hãy tưởng tượng sáng nay bạn không di chuyển bằng chiếc xe mới tinh có air bag mà bạn mua tháng trước để đi làm giấy tờ cho ngôi nhà mới mua, nhà này mua để đầu tư, nhà ở có rồi, mà bạn chỉ di chuyển chậm rãi bằng chiếc xe đạp dọc theo đường Bolsa. Bạn đạp từ khúc gần đường First cho đến góc đường Magnolia, đứng nhìn xe chạy chút chút rồi lại đạp xe về.

Bạn sẽ điện thoại chào mừng. Sẽ đến tận nơi thăm hỏi. Bạn sẽ đưa ra một bàn tay. Bạn sẽ cầu nguyện, sẽ khuyến khích, sẽ an ủi, sẽ cám ơn hay sẽ xin lỗi. Không biết, tùy bạn. Nhưng trước hết, bạn hãy tưởng tượng.

Nguyên Sa

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 15 Feb 2024

Phần 1

Về tuyển tập thơ văn H.O.Viết Thư Miền Đất Hồi Sinh
Kiêm Thêm

Trong những năm gần lại đây, bất luận những nơi nào có người Việt định cư hay có sinh họat báo chí Việt Nam hải ngoại, thì những sáng tác phẩm của các cựu tù nhân chính trị đều xuất hiện. Xuất hiện với những giá trị độc đáo; xuất hiện gây tác động lớn cho người đọc, và cũng là khí giới sắc bén nhất để chống lại những tuyên truyền xuyên tạc của kẻ thù.

Với tính chất nầy, chúng ta thấy rõ trong những hoạt động văn học nghệ thuật Việt Nam hải ngoại, thơ văn của những cựu tù nhân chính trị Việt Nam đã đóng góp một phần vững chắc, giá trị nổi bật, nội dung phong phú, ảnh hưởng sâu rộng và có giá trị vĩnh cửu, miên trường.

Như một biến chuyển đặc thù, khuynh hướng văn học nầy tại hải ngoại đã gây được một sức mạnh tinh thần vững chắc, để động viên cho những người mang hoài bão xây dựng lại thể chế mới cho đất nước trong tương lai càng thêm hăng hái, tin tưởng, say sưa trong sự nghiệp tranh đấu chính trị của mình, xây dựng một Việt Nam tự do, dân chủ, không bóng dáng những kẻ tham vọng chuyên quyền điên rồ của nền chuyên chính vô sản.

Nói như một nhà bình luận Pháp, ông André Keith, “Những giá trị nầy quả là những thứ vũ khí lợi hại, để chống lại những lối tuyên truyền độc hại của Cộng Sản với những kẻ nhẹ dạ” (Critiques Littéraires). Trên một khía cạnh nào đó, nhận xét nầy đã thích hợp với tinh thần tranh đấu của người Việt hải ngoại trong bối cảnh hiện nay của thế giới và của đất nước.

Trong những năm tháng dài của những nhà tù cải tạo Cộng sản Việt Nam, những chiến sĩ từng chiến đấu cho nền tự do của miền Nam, những người con yêu của tổ quốc, đã chịu đựng, can trường và nhẫn nại, chờ đợi thời cơ và hoàn cảnh, để tiếp tục công trình tranh đấu của mình, trên bình diện mới và hoàn cảnh mới.

Nội dung chứng liệu trong những tác phẩm của cựu tù nhân chính trị VN trở thành những bản cáo trạng bản chất và hiện tượng của chế độ một cách trung thực nhất, sâu sắc nhất và ảnh hưởng đậm đà nhất..

Chỉ trong một khoảng thời gian năm sáu năm lại đây, nhiều tác phẩm trong khuynh hướng nầy, với những góc độ khác nhau, hoàn cảnh khác nhau cũng như thân phận khác nhau đã lần lượt xuất hiện: Đáy Đia Ngục của Tạ Tỵ, Vùng Đất Ngục Tù của Nguyễn Vạn Hùng, Trại Đầm Đùn của Trần Văn Thái, Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Tù Binh và Hòa Bình của Phan Nhật Nam, Vượt Thoát của Phạm Quang Giai, Sau Ngày Giặc Đến của Nguyễn Mậu Qúy, Bản Chúc Thư của một người Việt Nam của Nguyễn Chí Thiện, Chín Năm Tù Ngục của Nguyễn Đình Trị, Tổ Ấm Cuối Cùng của Đào văn Bình, Phía bên kia Thiên Đường của Phạm Trọng Phúc. Hàng trăm bài báo, hồi ký, thi ca, tùy bút thuộc khuynh hướng văn chương nầy được đăng khắp báo chí Việt Nam hải ngoại; dĩ nhiên còn rất nhiều tài liệu giá trị khác được sáng tác của những chứng nhân nầy, nhưng chưa hội đủ những điều kiện cần thiết để ra mắt. Tất cả những chứng liệu trên là những bản cáo trạng hào hùng, những tài liệu vô cùng phong phú, những niềm đau nỗi xót của những người cựu tù nhân. Với thời gian, những tác phẩm cùng loại sẽ dồi dào hơn về nội dung và phong phú hơn về hình thức.

Ảnh hưởng lâu dài của những tác phẩm nầy khiến cho những người Mỹ phản chiến, thân Cộng cũng như những kẻ nào còn có lương tâm nhân bản trên thế giới sẽ phản tỉnh trước những xuyên tạc tuyên truyền của chế độ.

Hình ảnh sống động của những trại tù được thể hiện khá đầy đủ, duới nhận thức và nhãn quan khác nhau, nhưng nội dung thì vẫn là một: một phần tố cáo những chính sách, chế độ, đường lối tàn bạo nhất của Cộng sản; nhưng phần khác, sinh động hơn và quan trọng hơn thì thể hiện tinh thần bất khuất, chí dũng cảm, tình nghĩa đồng bào, đồng đội của những người cùng chung cảnh ngộ, qua những năm tháng dài hoạn nạn.

Chế độ quản tù ghê gớm tại Long Giao, những tấn trò hình phạt tù nhân tại Hóc Môn, những cuộc ruồng bố rợn người tại Trảng Lớn, những tiếng kêu thống thiết tại Phước Long, đời sống dưới đáy địa ngục tại Ka Tum, chế độ quản chế tàn nhẫn tại trại tù Xuyên Mộc, những chiến sị gãy đổ tại trại tù Hàm Tân, những đêm dài rét cóng người tại trại tù Gia Lai, những hình ảnh phẫn nộ tại trại tù Nghi Trưng, những gương chiến đấu anh hùng bất khuất tại trại tù Khâm Đức, những đêm dài khắc khoải nhất và kinh hoàng nhất tại tại trại tù Tiên Lãnh, cảnh ma thiêng, nước độc tại trại tù Ba Lạch, những cảnh tẩy não khủng khiếp tại trại tù Bình Điền, những đau xót, hãi hùng tại trại tù Thanh Hoá, cảnh địa ngục trần gian tại trại tù Hoàng Liên Sơn, quang cảnh “chém tre đẵn gỗ trên ngàn” tại trại tù Hà Sơn Bình, những trò chơi đầy dã thú tại trại tù Hà Tây, những bài thơ hùng tráng viết lên từ tại trại tù Nghệ Tĩnh, những thủ đoạn quản tù dã man của những tên quản tù tại trại tù Vĩnh Phú, những cảnh vượt thoát không thành tại trại tù Phúc Sơn, những bức chúc thư bi đát tại trại tù Yên Báy, những tấm gương chiến đấu kiên cường bất khuất tại trại tù Bắc Thái… Tất cả những hình ảnh đó đã ghi rõ nét trong những công trình sáng tác trên.

Nhờ những tác phẩm nầy, chúng ta biết được một cách tường tận những thủ đoạn của công sản với những tù nhân cải tạo: hình phạt tra tấn, tẩy não dã man, hành hạ thể xác lẫn tinh thần, gây tị hiềm, đố kỵ lẫn nhau, nhất là thái độ hãnh tiến của những tay cuồng sát trên danh phận là kẻ chiến thắng. Chúng ta cũng biết được nhiều tâm sự, tình cảm, hoài bão, nhiều tấm gương anh hùng, những con người chịu đựng không bến bờ, để chống lại với cảnh chết ngày đêm rình rập. Và trong bối cảnh đó, chúng ta cũng thấy được hình ảnh tuyệt vời của những chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà, về chính trị cũng như về quân sự, những chuyên gia cũng như những vị lãnh đạo tinh thần, đảng phái, những con người đáng kính, đáng yêu.

Nhà văn hào Nga Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn tác giả The Gulag Archipelago (1918-1956) đã viết: “Những áng văn của những người từng sống trong chế độ lao tù thú vật của Cộng Sản thông thường là những bản cáo trạng, những tiếng thét nhân bản và cũng là những chứng nhân hùng hồn nhất của thời đại chúng ta hiện nay”. Viết lên, một phần để trút được những uất hận của mình, để ghi nhớ lại những ngày đau thương nhất trong đời mình, phần khác, để tưởng nhớ những người cùng chung cảnh ngộ, cũng như hoài niệm những người đã hy sinh trong lao tù. Thành thử, nội dung và ý niệm của người viết không còn là những tác phẩm bình thường, mà với nỗi thiết tha khi cầm bút, thậm chí e ngại chữ nghĩa đã không thể hình dung hết những gì mình đã sống, mình muốn nói và uất ức khó cực tả cho hết được.

Ngục tù đối với những người chiến sĩ can trường, như là trạm dừng chân tạm thời, như lời thơ của nhà chí sĩ Sào Nam Phan Bội Châu,khi ngồi tù ở ngục Quảng Châu: “Cũng là hào kiệt, cũng phong lưu; Chạy mỏi chân thì phải ở tù”, vì cho rằng “Thân nọ hãy còn, còn sự nghiệp; Bao nhiêu nguy hiểm ngại gì đâu”. Hay nhận định của Tây Hồ Phan Châu Trinh trong thời gian ngồi tù tại ngục Côn Lôn: “Những kẻ vá trời khi lỡ bước; Nam nhi hà sá chuyện cỏn con”. Họ đã lưu lại danh thơm cho muôn đời.

Văn chương, trong trường hợp không còn là chuyện khi trà dư tửu hậu, mà trở thành thứ vũ khí sắc bén chống lại những hành động bạo tàn, nung nấu tinh thần bất khuất và rèn luyện tinh thần chiến đấu dày dạn của mình và của đồng đội nữa.

Nhà chính trị phản tỉnh Djilas của Nam Tư trong cuốn The New Class đã có lý khi viết: “Phải là những người từng sống trong những hoàn cảnh hãi hùng do chế độ và chính sách của Cộng Sản gây nên mới thấm thía được những ý nghĩa của nó và khả năng đối kháng của bản thân mình”.

Nhận xét nầy càng làm sáng tỏ những dụng công của người viết và thái độ của người đọc, nâng cao những giá trị sâu sắc của khuynh hướng văn học nầy.

Giá trị của những tác phẩm còn trường tồn với thời gian, tỏa rộng khắp không gian và gây ảnh hưởng lâu dài cho những thế hệ mai sau nữa.

☆

Văn chương phản kháng của những cựu tù nhân chính trị mang nhiều màu sắc sinh động, sắc bén, mà nội dung thường lấn át cả hình thức, hay nói một cách khác là cuộc sống của họ quá phong phú, đến nổi bất cứ một tù nhân nào cũng có thể kể được tâm trạng và hoàn cảnh của mình, gây chấn động tình cảm và tinh thần kẻ khác.

– Trước hết là tính chất hiện thực. Đã không biết bao nhiêu nhà văn Tây Phương muốn nghiên cứu đề tài nầy với những kinh nghiệm viết lách của mình; nhưng đây lại không phải là chuyện kinh nghiệm hay khả năng, mà chính là cuộc sống, cuộc sống trong từng giờ từng phút phải thở bầu không khí ngột ngạt, chịu đựng, bất mãn ròng rã trên dưới mười năm trời. Họ từng là nạn nhân cũng là chứng nhân rõ nét nhất của bản thân mình và đồng đội mình, để có thể viết lên những bản cáo trạng một cách hoàn chỉnh, vững chắc và giá trị nội dung cực kỳ phong phú.

– Tinh thần kiên cường bất khuất là một khía cạnh khác của những tác giả từng thể hiện. Mặt đối mặt với kẻ thù, với thân phận là người thua cuộc, nhưng vẫn hiên ngang, can đảm, dũng mãnh chịu đựng và xem chuyện lao tù, dù cơ cực đến đâu, chẳng qua là nạn kiếp trong một thời gian, sau đó, đến ngày được trả tự do, sẽ làm lại cuộc đời với tư tưởng và hoài bão nung nấu trong bao nhiêu ngày tháng qua. Niềm kiêu hãnh của tinh thần nầy chính là ngọn đèn chiếu sáng cho những người sống cơ cực trong lao tù Cộng Sản, để chờ đợi tin tưởng hy vọng vào con đường tương lai của mình.

– Sự đùm bọc, thương yêu, tinh thần đồng đội, huynh đệ chi binh hầu như thể hiện trọn vẹn trong những tác phẩm vừa nói trên, tình cảm xây dựng trong bao nhiêu năm trời qua vẫn còn nguyên vẹn.

– Những uất hận, tủi hờn, bất mãn, chống đối được thể hiện qua những ánh mắt, nụ cười ngạo nghễ, chẳng những tạo nên niềm tin tưởng và tự hào cho bản thân của mình, mà trở thành động lực thúc đẩy mọi người cùng chung cảnh ngộ, tìm lẽ sống tinh thần, để chờ đợi ngày mai, dù ròng rã bao nhiêu chăng đi nữa.

– Trong những tác phẩm nầy, rải rác trong thái độ, tư tưởng, tình cảm đã nói lên niềm hy vọng của những người từng sống trong những chuỗi ngày hoàn toàn như vô vọng. Lời kết luận chung của những tác giả là: Nếu không tự tạo cho mình một niềm tin và một lý tưởng sống, thì sẽ ngã gục trong chế độ lao tù nầy một cách nhanh chóng, dựa lưng nỗi chết trong từng ngày từng đêm.

– Sau cùng là niềm tin son sắt của những người cựu tù bao giờ cũng trở thành giá trị tinh thần bất biến. Niềm tin trở thành động cơ vững chắc nhất để bảo toàn lý tưởng cao đẹp, sống còn của mình; lòng tin có thể động viên được đồng đội cần nhẫn nhục, sắt đá, “trơ gan cùng tuế nguyệt” để có thể hy vọng được một ngày mai reo vui.

Chúng ta không lấy làm lạ khi thấy những cựu tù nhân chính trị Việt Nam khi sang đến bến bờ đất nước tự do đã hăng say tiếp tục lý tưởng tranh đấu của mình, vạch trần tội ác của chế độ, đồng thời tham gia tích cực đóng góp cho nền chính trị của cộng đồng người Việt, mong chờ ngày mai đây lật ngược lại thế cờ, xây dựng lại đất nước tự do, dân chủ.

Văn chương trở thành những tiếng phẫn nộ sôi động dồn nén trong một chục năm qua.

Nhà văn hào Victor Hugo thường bảo: “Trong nhà tù, con tim của mỗi người có thể cứng lại và cũng có thể vỡ ra”. Cứng lại, để rèn luyện cho bản thân mình chống đỡ trước những tai ương, kiềm chế, quản thúc của bạo lực; và vỡ ra, một khi có cơ hội thuận lợi để trút hết mọi nỗi niềm. Đọc những tác phẩm trên, một người dù bình dị đến đâu, khách quan đến đâu, cũng không thể nén được những xúc động sâu sắc như thế.

Với hoàn cảnh khó khăn khi vừa mới định cư tại xứ người, phải đương đầu với trăm ngàn vấn đề trong cuộc hội nhập, nhưng những cựu tù nhân chính trị đã đóng góp phong phú những công trình sáng tác của mình, với tâm nguyện được nung nấu từ lâu, hoài bão sâu xa và niềm thao thức lưu lại những gì cho cuộc sống mới của mình.

Chức năng của những cựu tù nhân chính trị trong tập thể sinh họat cộng đồng người Việt hải ngoại đã đóng một vai trò quan trọng, không ai có thể chối bỏ được. Sự hiện diện của họ trong những tổ chức chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục, truyền thông, báo chí trong những năm tháng gần đây đã gây nên những sinh khí đồi dào, hăng say, phát triển chiều rộng lẫn chiều sâu, cho những người đến trước thấy được những gì đang xẩy ra trên đất nước Việt nam thân yêu trên mười lăm năm trời nay.

Tập hợp tất cả những chất liệu qua những sáng tác phẩm mang nội dung trên, những nhà phân tách xã hội học và tâm lý học sẽ có đầy đủ những dữ kiện và chứng liệu cần thiết, để nhìn thấu đáo bản chất của chế độ.

Viết để tường thuật lại những cảnh huống hiếm có trên mặt đất nầy, viết cho những người đồng đội, viết gửi gắm cho những người còn ở lại quê nhà, viết cho những linh hồn đã khuất, sự kiện viết lách nầy đã vượt ra khỏi tánh chất thông thường, để trở thành những chứng liệu vô cùng quý báu, một thời đã qua và một thời đã khuất.

Trên một góc độ khác, những nhà văn, nhà thơ, nhà báo Việt Nam hải ngoại cũng đã dựng lên những nội dung cực kỳ phong phú chung quanh đề tài trên, góp phần không nhỏ, với những bút pháp cực kỳ tinh vi, sắc bén và sinh động của họ.

Văn học sử Việt nam trong giai đoạn hiện nay đã tạo dựng được những giá trị lớn lao, trong đó, những công trình văn học nghệ thuật của những cựu tù nhân chính trị chắc chắn giữ một vị thế không nhỏ.

Có nhận thức được những ý nghĩa trên, chúng ta mới cảm thấy những công trình sáng tạo đó mới đúng chân giá trị của nó và mục đích sáng tác mang tính chất cao cả vô cùng.

Những sáng tác phẩm điển hình đã nói lên những khía cạnh sâu sắc, bén nhọn, chứa đựng cả một nhân sinh quan và nhận thức quan phong phú. Bích Huyền với những kỷ niệm ngàn năm không phai; Huy Phương trong những năm tháng tủi hờn nhưng vẫn giữ được những hình ảnh vàng son của vùng trời xứ Huế oanh liệt và đài trang “Với Huế thương yêu dấu muôn đời”, Nguyễn Hữu với lối nhìn lạc quan hơn hướng về tương lai, trong niềm kiêu hãnh hiếm có, Lữ Tuấn với nhận định sắc bén và suy luận toàn diện, viễn kiến, hoài niệm của Chu Tất Tiến nghe như cả một trời thương yêu, hoài cảm xót xa. Những sáng tác của những cây bút H.O, như: Phạm Tất Thắng, Nguyễn Chí Thiệp, Quế Chi, Nguyễn Tiến Đức… đã chứng minh những hình ảnh vô cùng sâu sắc, vô cùng sắc bén của một thời tù ngục.

Những đóng góp của những nhà văn, nhà thơ, nhà bình luận: Nguyên Sa, Du Tử Lê, Thái Tú Hạp, Phạm Trọng Phúc, Võ Văn Hà, Đỗ Quý Sáng, Phùng Ngọc Ấn, Duy Lam, Hồ Đăng Định đã ra sức xiển dương và hình thành cấu trúc của một nền văn học đặc thù trong văn học phản kháng.

Tập hợp và ấn hành một số văn thơ tiêu biểu trong Tuyển tập nầy, không gì khác hơn là chúng tôi muốn trình bày một số góc độ của những giá trị trên. Những người cựu tù nhân chính trị được định cư đông đảo chừng nào, thì những tài liệu và tác phẩm cùng khuynh hướng trên lại càng phong phú bấy nhiêu.

Trong tuyển tập nầy, những tác giả tham dự có thể nhà văn, nhà thơ, là những chiến sĩ can trường, là những chứng nhân của thời đại; nhưng dù trong góc độ nào đi chăng nữa, ý nghĩa vẫn chung nhất: nói lên cho mọi người Việt Nam, bất luận trong địa bàn nào, chiến tuyến nào, đều thấy được những gì đã xẩy ra, những gì nổi bật nhất của chế độ bạo tàn, đồng thời, ca ngợi ý chí bất khuất của người dân tranh đấu sống còn, bảo vệ khí phách và quyết tâm của những người chịu cảnh lao tù.

Trong trường hợp có đủ phương tiện và những sự hợp tác quý báu của những tác giả, chúng tôi sẽ cho ấn hành những tác phẩm cùng loại kế tiếp.

Trung Tâm Sinh hoạt Cựu Tù Nhân Chính Trị VN thuộc Liên Hiệp Cộng Đồng Việt Nam tại Los Angeles khởi đầu những chương trình Tuyển Tập “Viết từ Miền Đất Hôi Sinh” nầy bằng những tác phẩm điển hình cho từng bộ môn và khuynh hướng sáng tác, để từ đó, hoạch định những Tuyển Tập trong những tháng tới. Kế hoạch mang tính chất lâu dài, tuy nhiên, việc tiến hành ra sao, cũng tùy sự hưởng ứng của những cây bút trong tập thể cựu tù nhân chính trị, những nhà văn, nhà báo tâm đắc và cùng hướng vào mục đích chung.

Như đã nói, chúng tôi tuyển tập trong mục đích trình bày những khía cạnh đặc thù, những giá trị điển hình. Nhưng vì mọi giá trị tác phẩm đều có những sở đắc và sự phong phú của nó, cho nên đây chỉ là bước khởi đầu của những chương trình tập hợp trong hiện tại và tương lai.

Los Angeles, tháng 11 năm 1991
KIÊM THÊM

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 15 Feb 2024

Chiếc Kẹo Nhỏ Trong Bàn Tay Người Chết

Duy Lam

Tặng Nguyễn Khoa Dánh: người bạn chết tại trại Đầm Đùn năm 1981 với lòng tiếc thương vô hạn.

Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Nắm không buông như níu kéo cuộc đời
Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Người bạn tôi vừa rời bỏ cuộc đời

Chỉ vừa đây trong tiếng rên hấp hối
Anh đã xin hãy tìm hộ anh
Một chiếc kẹo vì đã thèm của ngọt
Nhiều tháng năm chỉ chờ đợi lúc này.

Ý nguyện ấy anh chỉ còn dám nói
Khi thịt da cái lạnh đã ngập tràn
Khi chúng tôi bạn anh cùng chạy loạn
Trong trại tù miệng rối rít van xin:
Một cái kẹo nhanh nhanh cho người bạn
Sắp ra đi “Mau mau kẻo muộn rồi!”

Trong tuyệt vọng vẫn thoáng niềm hy vọng
Sẽ mang về kịp lúc anh lâm chung
Và hoan hỉ tôi nhìn anh ngắm nghía
Trong bàn tay rộng mở kẹo vô tri
Nụ cười nhẹ trên đôi môi nhợt nhạt
Anh thầm thì: “Ồ thú quá sẽ ăn
Chiếc kẹo này thì khỏe vui chi lạ!”
Sao nỗi vui chỉ nhỏ bé thế thôi.

Rồi anh chết không kịp ăn chiếc kẹo.
Nằm lặng yên trong những ngón tay xanh
Chúng tôi liệm anh trong im lặng nặng nề
Lần vải thô lớp quần áo thuở nào
Khi tôi cạy tay anh bàn tay mở
Chiếc kẹo rơi nằm nhẹ trên ngực anh
Đầy cẩn trọng trong niềm kinh hãi:
Tôi nhặt lên để cạnh bát cơm
Cạnh quả trứng: món quà cho người chết
Chẳng bao giờ anh sẽ nếm vị hương

Rồi tất cả chúng tôi đều nức nở
Nước mắt tuôn cứ mãi mãi chẳng ngừng
Khóc cho anh, cho chúng tôi tất cả
Biết khi nào sẽ đến lượt khi nào?
Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Chẳng kịp ăn khi từ giã cuộc đời!

Duy Lam
(Trích từ tập thơ Duy Lam – nhà xuất bản Sông Thu sắp phát hành)

Cô Gái Nhỏ Hấp Hối
Tặng cô gái nhỏ cả làng bỏ rơi
tại Thanh Hóa trong nạn đói 1988

Cô gái nhỏ trơ trọi
Trong căn nhà vắng tanh
Gia đình đã đi hết
Bỏ cô nằm một mình
Trong làng không chó sủa
Chim chóc cũng chẳng về
Dưới ao không tăm cá
Im lặng thật thảm thê
Làng cô đã vắng ngắt
Người người kéo nhau đi
Để tìm ăn tìm sống
Quê hương bỏ sau lưng

Trong cơn mê hoảng loạn
Cô rên rỉ van xin
Ông Táo trong bếp lạnh
Cho cô một bát cơm!
Trời hỡi trời hãy thương
Cô bé đang hấp hối
Hãy cho cô được thấy
Một khuôn mặt dịu dàng
Để cô bé khỏi chết
Làm ma đói lang thang

Lawndale 3/10/1991

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 15 Feb 2024

Có Một Ngày
Chu Tất Tiến

Có một ngày, tôi sẽ về
Thăm lại Cà Tum, Suối Máu
Thăm những con đường chúng tôi đã đắp năm xưa
Tôi muốn nâng niu
Những dấu chân đất sét hoang sơ
Sau cơn mưa rừng, tưởng rút lên không nổi

Tôi muốn xem lại
Những hố bom lầy lội
Nước đục ngầu như sữa, rong rêu
Đã là nơi anh em ngụp lặn mỗi chiều
Lao động vinh quang về, hú nhau xuống tắm .

Và những bụi măng
ta cám ơn ngươi nhiều lắm!
Đã cùng rau dền, quả bứa, trái cơm
Rau tầu bay, hay lá dang thơm
Cưu mang anh em ta, chờ ngày phục hận

Tôi sẽ đi thăm những gốc le đầy rận
Vắt tung bay, tanh tách, bám hơi người
Chỗ năm xưa, trải lá ngồi chơi
Ôm đầu gối tưởng như ôm em quằn quại
Mặc bên tai, bọn chăn trâu lải nhải
Hồn vẫn quay về một chốn xa xôi
Nơi em và con đang đổ mồ hôi
Những cặp mông mũm mĩm
những tiếng cười như ngọc.

Lá trên rừng – có đôi lần
Nhìn tôi bật khóc
Nước mắt căm hờn,lã chã
Rơi
Rơi

Tôi sẽ về thăm một chốn – rất vắng người
Chỗ gò mả – những Anh Hùng yên nghỉ
Những miếng ván, những tấm bia kỳ dị
Khắc bằng dao, chỉ mỗi một tên người
Họ nằm đây, thân lổ chổ tơi bời
Đầy vết đạn, vết xương rời gãy .

Tôi sẽ không cắm hoa
Bởi không vinh quang nào, họ thèm lấy
Tôi cũng không thắp nhang
Bởi khí phách đã huy hoàng
Tôi cũng chẳng cầu trời
Bởi họ là Thần lẫm liệt
Đất mẹ đón họ về, ngời ngời khí tiết

Và một điều, cần làm hơn hết
Là thăm quê hương tôi
Dãi chữ S nghèo nàn
Bốn ngàn năm từng vùng vẫy, ngang tàng
Sẽ còn trăm, ngàn, triệu năm
vùng vẫy, ngang tàng…

Chu Tất Tiến

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 15 Feb 2024

Những Con Mắt Bạc
Thơ Phùng Ngọc Ẩn

Từ xứ mù, người đi tìm lý tưởng
Đến với bạn bè như vọng ngưỡng thiên đường
Thiên đường? Ố! nó đã chết tan xương
Chỉ tồn căn một mùi hôi vất vưởng

Mùi của mười sáu năm đánh mất quê hương
Xú danh nào đó đeo đẳng người
trên nẻo đường lữ thứ
Gặp chiến hữu, nở nụ cười viễn xứ
Đường ai nấy đi, như mấy mụ đứng đường

Phẩy tay vờ như thể hiện tình thương
Đồng đô la là duy nhất thiên đường bất tử
Bạn ơi! “huynh đệ chi binh” thành sáo ngữ?
Học bao năm mà chẳng thử một lần

Cuộc đời này còn lắm bậc “cù lần”
Lật trang sử mới, tưởng mình “thần thời đại”
Làm sao biết ai khôn ai dại?
Lấy gì đo sức mạnh tương lai?

Sau lưng người, chiến hữu bỗng thở dài
Tù ngục vẫn đeo đẳng tháng ngày chưa dứt?
Hỏi bao kẻ tự vấn lương tâm bứt rứt
Không bỏ anh em, lại cắt đứt tình người.

Gẫm sự đời, nghĩ cũng nực cười
Những con mắt bạc, rẻ khinh người tị nạn
Tâm tư này trang trọng gởi về cho bạn
Bằng hữu ơi! đừng vội bỏ anh em!

Florida, tháng 11, 1991
Phùng Ngọc Ẩn

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 15 Feb 2024

Hình minh họa

Bài 8

Vĩnh biệt đồi 1515

Hôm nay ngày 10 tháng 3 năm 1975, một ngày như mọi ngày, tôi đang ngồi trong Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt ôn bài vở. Chỉ còn ba tháng nữa là tôi xong cái bằng cử nhân, chuyện học bài khiến tôi bù đầu tóc rối. Mười một giờ, tôi xếp sách vở đứng lên định đi qua Câu lạc bộ sĩ quan ăn cơm, bất ngờ Thiếu tướng Chỉ huy trưởng bước vào, tôi chưa kịp đứng lên chào kính đã nghe thiếu tướng nói:

-Trung úy gọi Tiểu khu Darlac cho tôi.

Tôi bốc điện thoại quay số, chuông điện thoại mới reo được một tiếng đã có người trả lời với giọng hốt hoảng.

-Trung úy Hòa, Trung tâm hành quân Tiểu khu Darlac. Nghe.

Tôi nghiêm giọng.

-Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, muốn nói chuyện với Đại tá Tỉnh trưởng.

-Thiếu tướng cần gì? Mà thôi, không kịp nữa đâu, xe tăng của Việt Cộng đã tràn vào tiểu khu rồi, tôi phải chạy.

Tôi nghe tiếng ống liên hợp rớt mạnh trên bàn, có thể Tiểu khu Darlac đã bị Việt Cộng tràn ngập rồi cho nên Trung úy Hòa phải bỏ chạy mà không kịp gác điện thoại.

Tôi cúp máy, quay người đứng nghiêm, giọng nói của tôi như lạc hắn đi.

-Trình thiếu tướng, xe tăng của Việt Cộng đã lọt vào trong Tiểu khu Darlac.

-Ai nói?

-Thưa thiếu tướng, Trung úy Hòa, Trung tâm hành quân Tiểu khu Darlac nói.

-Ông ta đâu rồi?

-Trình thiếu tướng, ông ấy vứt điện thoại chạy mất rồi.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nhìn vào đồng hồ đeo tay, tôi thấy rõ gương mặt của ông bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Ông lẩm bẩm:

-Mười một giờ mười.

Khi Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đã đi ra khỏi phòng, tôi ngồi bệt xuống ghế, suy nghĩ về chuyện Trung úy Hòa bỏ chạy khỏi Trung tâm hành quân Tiểu khu Darlac. Nếu ông ấy chạy ra công sự phòng thủ để chiến đấu có thể Ban Mê Thuột vẫn còn, nhưng nếu ông chạy trốn vì sợ bị bắt làm tù binh, chắc chắn Ban Mê Thuột đã lọt vào tay Cộng Sản mất rồi. Bất chợt một tia sáng lóe lên trong đầu tôi, Sư đoàn 23 Bộ binh, sư đoàn chủ lực của cao nguyên đâu rồi? Tôi bốc điện thoại quay số Bộ tư lịnh Sư đoàn 23 ở Ban Mê Thuột. Đường dây điện thoại chỉ còn nghe tiếng u..u…vọng lại. Sau khi ghi chú cẩn thận vào nhật ký hành quân, tôi trình Thiếu tá trưởng Phòng hành quân diễn tiến tình hình của Ban Mê Thuột. Tôi đảo một vòng qua các phòng ban, mọi sinh hoạt của Trường Võ Bị Đà Lạt vẫn diễn ra bình thường, hình như chưa ai biết gì về tình huống xấu đang xảy ra ở Ban Mê Thuột. Tình huống xấu nhưng mà xấu thế nào? Còn hay mất không ai biết. Người duy nhất biết là Thiếu tướng Chỉ huy trưởng, bởi vì, ông thường xuyên liên lạc với phòng Ba của Bộ Tổng Tham Mưu bằng đường dây nóng.

Tôi quên luôn ăn trưa, vội vã đi họp bên Quân Trấn với cái bụng đói meo. Mấy ông sĩ quan bên Quân Trấn hỏi tôi:

-Ban Mê Thuột ra sao rồi trung úy?

-Tất cả mọi liên lạc với Ban Mê Thuột đều bị cắt đứt, tôi chỉ biết có một điều, lúc mười một giờ mười phút sáng nay, xe tăng của Việt Cộng đã vào bên trong Tiểu khu Darlac.

-Sao trung úy biết? Nguồn tin có đáng tin cậy không?

Hình minh họa

-Một phút trước đó, tôi nói chuyện với Trung úy Hòa ở Trung tâm hành quân Tiểu khu Darlac, chính ông ấy đã xác nhận xe tăng Việt Cộng đang tràn vào tiểu khu, sau đó ông ta quăng điện thoại bỏ chạy.

Một ông trung úy trong bàn họp nói:

-Chắc Ban Mê Thuột mất rồi.

Ông đại úy ngồi cuối bàn lên tiếng:

-Không biết khi nào quân mình mới tái chiếm Ban Mê Thuột.

Dứt lời ông ta thở dài rồi nói tiếp:

-Coi bộ đánh lớn tới nơi rồi.

Tôi lấy bì thơ đựng mật khẩu và mật hiệu trong đêm nhét vào túi áo, rời phòng họp.

Tôi nói, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt biết rõ tình hình Ban Mê Thuột và Quân Đoàn II bởi vì một tuần sau đó, Trung tâm hành quân của trường đang ở lầu hai của tòa nhà chỉ huy, phải dời xuống tầng hầm đối diện với thư viện.

Trung tâm hành quân mới rộng gấp hai lần Trung tâm hành quân cũ, điều quan trọng là nó được thiết kế rất kiên cố, chìm sâu dưới mặt đất chừng bốn mét, trần đúc bê tông dày khoảng một mét. Nhìn Trung tâm hành quân mới tôi nghĩ thầm: “Hy vọng nó sẽ chịu được đạn pháo 130 ly hoặc hỏa tiễn 122 ly của Việt Cộng”. Ngay cửa ra vào Trung tâm hành quân, một binh sĩ Quân Cảnh, quân phục chỉnh tề, nón nhựa, súng colt đeo ngang hông đứng gác. Bên trong, hàng chục cái điện thoại, máy móc truyền tin sẵn sàng hoạt động, một bản đồ một phần năm mươi ngàn của miền trung và cao nguyên trung phần gắn trên tường, một tấm vải xanh với chữ “Mật” được kéo lại phủ kín tấm bản đồ. Giữa phòng có một cái bàn dài hình chữ nhật với hơn chục cái ghế, đây là chỗ dùng để hội họp, thuyết trình.

Tôi đang lu bu cùng với hai người hạ sĩ quan trực máy truyền tin dọn dẹp, sắp đặt bàn ghế sao cho thích hợp để làm việc, bất chợt, người Quân cảnh gác cửa Phòng hành quân đi đến bên tôi:

-Trung úy, có hai sĩ quan bên Tiểu khu muốn gặp ông.

Tôi bước ra khỏi phòng, trước mặt tôi một ông trung úy và một ông đại úy đang đứng trò chuyện với nhau, mỗi ông một điếu thuốc lá phun khói đầy trời. Tôi đưa tay chào kính vị đại úy rồi tự giới thiệu:

-Tôi, Trung úy Nguyễn Trọng Quân, Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, chào đại úy.

Vị đại úy lật đật vất điếu thuốc xuống đất, lấy mũi giày giậm lên, ông ta đưa tay chào lại tôi rồi nói với giọng nói của người miền Trung.

-Chúng tôi, Đại úy Luân và Trung úy Trí thuộc Trung tâm hành quân Tiểu khu Tuyên Đức, đến đây tăng phái cho Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt. Chúng tôi đã trình diện Đại tá Tham mưu trưởng của trường, và được hướng dẫn đến đây gặp trung úy.

Tôi đưa hai ông quan vào Trung tâm hành quân. Ngoài hai cái ba lô đeo trên vai, mỗi ông còn xách theo một máy truyền tin PRC 25, tôi biết như vậy họ sẽ làm việc trực tiếp trên máy, không qua âm thoại viên. Tin tức từ chiến trường cao nguyên đưa về mỗi ngày một xấu hơn. Khi Quân Đoàn II rút về Tuy Hòa theo ngã liên tỉnh lộ 7, Pleiku mất, Kontum coi như mất luôn. Theo huấn thị điều hành căn bản của bộ Tổng Tham Mưu, ba tỉnh còn lại của cao nguyên là Quảng Đức, Lâm Đồng và Tuyên Đức sẽ đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, bởi vì ông là người có cấp bậc cao nhất trong ba tỉnh này. Riêng cá nhân tôi, gần bảy năm rồi chỉ biết lo chuyện phòng thủ Trường Võ Bị Đà Lạt, nhiệm vụ của tôi là theo dõi tất cả nhũng đơn vị bảo vệ trường đóng ở đâu, phân bố như thế nào để sẵn sàng yểm trợ hỏa lực khi cần thiết, chỉ chừng đó thôi. Ngoài ra, những đơn vị Địa Phương Quân của Tiểu khu Tuyên Đức, tôi hoàn toàn mù tịt. Ngay cả tên của những tiểu đoàn trực thuộc tiểu khu, tôi cũng chỉ biết một cách mù mờ, nói gì đến chuyện họ đóng ở đâu, di chuyển như thế nào. Đó là lý do khi lãnh nhiệm vụ trông coi ba tỉnh còn lại, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đã điều hai sĩ quan thuộc Trung tâm hành quân của Tiểu khu Tuyên Đức về tăng phái cho Trường Võ Bị Đà Lạt. Thiếu tướng Chỉ huy trưởng muốn nắm chắc trong tay những Tiểu đoàn tác chiến của Tiểu khu Tuyên Đức, khi ông trực tiếp điều động. Tưởng cũng nên biết, trước khi về Trường Võ Bị Đà Lạt, ông đã là Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ Binh ở Long Khánh.

Hình minh họa

Vừa đặt máy truyền tin xuống đất, hai ông sĩ quan hành quân của tiểu khu đã lục ba lô lấy ra nào là đặt lệnh truyền tin, khóa đối chứng, phóng đồ hành quân, nhật ký hành quân rồi mở máy PRC 25. Sau ba giờ lên máy, phối hợp làm việc, cặm cụi khoanh vùng, ghi chú, chúng tôi đã có điểm đóng quân của tất cả những tiểu đoàn Địa Phương Quân thuộc tiểu khu Tuyên Đức cũng như những điểm kích, đóng quân, của Trường Võ Bị Đà Lạt. Nhìn tấm bản đồ gắn trên tường dày đặc chi tiết, tôi biết mọi việc đã tạm xong. Đại úy Luân quay sang hỏi tôi:

-Ở đây, trung úy có nước sôi không?

-Bên Câu lạc bộ thiếu giống gì. Mà đại úy cần nước sôi để làm gì?

-Từ sáng đến giờ, bọn này chưa ăn uống gì hết, đói quá chừng. Tôi cần nước sôi để đổ vô gạo sấy.

-Nè đại úy, tụi mình kéo nhau qua Câu lạc bộ làm một dĩa cơm, sẵn đó thêm ly cà phê cho sáng suốt tinh thần.

Đại úy Luân phân trần:

-Tụi này đi một lần hai đứa không được, phải có một thằng trực máy. Hay là trung úy và Trung úy Trí đi ăn trước đi, khi quý vị về tôi sẽ đi sau.

Tôi dẫn Trung úy Trí qua câu lạc bộ, vừa đi vừa chuyện trò. Không hiểu tại sao, bỗng dưng tôi hỏi Trung úy Trí:

-Trung úy khóa mấy?

-À., khóa 6/68 Thủ Đức.

Tôi cười khoái chí, đổi cách xưng hô:

-Mẹ nó, mày với tao cùng khóa. Tao ở đại đội 62 gần ban quân nhạc, còn mày?

-Tao đại đội 65. Vậy mà từ sáng đến giờ, tao cứ tưởng mày là dân Võ Bị Đà Lạt.

-Hầu hết mọi người đều nhầm lẫn như mày. Gặp trường hợp đó, tao nhận luôn không đính chánh. Trung bình, mỗi năm Trường Võ Bị Đà Lạt có khoảng hai trăm năm chục sĩ quan tốt nghiệp. Năm sáu mươi tám là năm bọn mình đi lính, Trường Bộ binh Thủ Đức có chín khóa, mỗi khóa chẵn có khoảng hai ngàn sĩ quan, khóa lẻ có khoảng một ngàn, tính ra khoảng mười hai ngàn ông quan.

Tôi nhắc lại với Trung úy Trí:

-Đào tạo mười hai ngàn sĩ quan trong một năm, so với hai trăm năm chục, coi bộ sĩ quan tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt có giá hơn sĩ quan Thủ Đức của bọn mình nhiều.

Trung úy Trí với giọng đầy chán nản.

-Còn phải nói, sĩ quan Võ Bị Đà Lạt hơn hẵn sĩ quan Thủ Đức về mọi phương diện, ngoại trừ một điểm.

Tôi nói:

-Tao chẳng thấy ưu điểm nào hết.

-Tại mày không để ý đó thôi, sĩ quan Thủ Đức khi ra trường chết như rạ, chết nhiều đến nỗi đếm không kịp. Nếu không tin tao mày coi lại đi, mười hai ngàn sĩ quan năm sáu tám của bọn mình, giờ này còn được bao nhiêu? Được ba phần tư hay không? Nếu đúng, có nghĩa là hơn ba ngàn đã hy sinh, đã đền nợ nước. Như vậy, sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức được trui rèn ngoài chiến trường, trưởng thành trong khói lửa, đem cái chết, đem mạng sống của mình đổi lấy kinh nghiệm, đó không phải là ưu điểm hay sao? Nếu không có sĩ quan Thủ Đức, ai sẽ chỉ huy một triệu lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi và trung úy Trí ăn một bữa cơm không được vui vẻ cho lắm. Trung úy Trí ngửa cổ nốc một hơi bia.

-Ngày nào mày cũng ăn cơm ở đây?

-Không thường lắm đâu, chỉ vài lần trong một tuần.

Hình minh họa

Trung úy Trí nói:

-Ngày xưa, trước khi về Trung tâm hành quân Tiểu khu Tuyên Đức, tao ở Sư đoàn 22 Bộ Binh. Tiểu đoàn của tao đóng tại Tuy Hòa, mẹ nó, cả mấy tháng mới có thì giờ ăn một bữa cơm ra hồn như ở đây. Nói đến Tuy Hòa tao mới nhớ, mày có biết Quân Đoàn II đang trên đường Liên tỉnh lộ 7 di tản về Tuy Hòa hay không?

Tôi gật đầu, nói với Trung úy Trí:

-Biết chớ, đó là lý do tại sao mày và Đại úy Luân tăng phái cho Trường Võ Bị.

Trung úy Trí chấm dứt bữa ăn bằng một hơi bia.

-Tụi mình về cho Đại úy Luân đi ăn, chắc ông ấy đói lắm rồi.

Về đến Trung tâm hành quân chừng mươi phút, tôi nhận được điện thoại của bác Bảy (hai cái điện thoại class A của Trung tâm hành quân Trường Võ Bị, là điện thoại dùng để liên lạc khắp cả miền Nam Việt Nam, quân sự lẫn dân sự đều gọi được). Bác Bảy với giọng nói đầy lo lắng:

-Con và Cúc phải về Sài Gòn gấp, bác có chuyện quan trọng muốn nói với con.

-Chuyện gì vậy bác?

-Mình phải bỏ nước ra đi, không thể chờ đợi được nữa rồi.

Tôi nói với bác Bảy:

-Đi đâu? Đi sao được, con rời bỏ đơn vị sẽ bị coi như đào ngũ.

Giọng bác Bảy như lạc hẳn đi.

-Con Cúc đang ở đâu?

-Thưa bác, ở ký túc xá.

-Nếu con không đi được, bằng mọi giá con phải tìm phương tiện đưa Cúc về Sài Gòn.

Tôi hứa đại cho bác Bảy yên lòng.

-Bác yên tâm, con làm được.

Giọng của bác Bảy như nhẹ hơn.

-Bác tin ở con. Cho bác gởi lời thăm ba má con, thôi bác cúp điện thoại đây.

Tôi gác điện thoại. Như một cái máy, tôi quay số ban vận chuyển của phi trường quân sự Cam Ly. Đầu dây bên kia, một giọng nói khá quen thuộc.

-Alô, trung sĩ Trang nghe.

Mừng quá sức, tôi nhẹ giọng:

-Trung úy Quân, Trường Võ Bị Đà Lạt nè bạn, có việc cần nhờ bạn giúp đỡ.

-Chuyện gì vậy trung úy?

-Có chuyến bay nào về Sài Gòn không?

-Ông hỏi sao mà đúng lúc quá. Bốn giờ chiều nay có một chuyến C130, chỗ quen biết tôi mới nói với ông. Đừng tiết lộ cho ai biết.

-Cảm ơn ông bạn nhiều.

Tôi cúp điện thoại, ba chân bốn cẳng phóng Honda lên Ký túc xá, lôi Cúc ra xe. Cúc vừa chạy vừa nói:

-Để em lấy theo vài bộ quần áo.

Tôi nói như hét:

-Không kịp nữa rồi, bỏ hết, bỏ hết đi.

Khi tôi và Cúc đến phi trường Cam Ly đã thấy chiếc C130 đậu ở phi đạo. Một ông trung úy Không Quân đang đi vòng quanh chiếc C130 tựa như đang kiểm soát trước khi cho phi cơ cất cánh. Bốn cánh quạt của phi cơ vẫn chưa khởi động, tôi biết mình còn dư thời giờ để lo liệu. Tôi nhìn ông trung úy một lần nữa cho chắc ăn, mặt mày của hắn sáng sủa, đẹp trai, thân hình cao lớn trong bộ quân phục áo liền quần của Không Quân.

Tôi la to:

-Nguyễn Văn Ly phải không?

Hình minh họa

Gã trung úy Không Quân nhìn tôi với gương mặt khinh khỉnh, cứ như là cả nước Việt Nam này chỉ có một mình hắn biết lái máy bay. Hắn trả lời cộc lốc:

-Không, trung úy nhìn lầm người rồi.

Tôi là người có trí nhớ rất tốt, chuyện này tôi mới biết khoảng mấy năm gần đây khi học đại học. Những bài vở từ chương trong lớp tôi học dễ dàng, thuộc vanh vách nhưng khi bước qua lãnh vực khoa học, phát minh, tôi lại u mê. Gã trung úy đứng trước mặt tôi đúng là Nguyễn Văn Ly, học chung lớp với tôi từ đệ thất ở trung học Trần Hưng Đạo Đà Lạt, đến năm đệ tam, hắn chuyển qua học bên Trường trung học Adran. Ngày xưa, khi tôi bị lũ bạn trong lớp hiếp đáp, hắn là người đứng ra bênh vực cho tôi.

Giống như chuyện mình bị tạt một gáo nước lạnh, tôi ngượng chín người vì có Cúc đứng bên cạnh. Giận thằng bạn đãng trí mau quên, tôi buông tiếng chửi thề:

-Mẹ nó, làm lơ máy bay chớ được cái mẹ gì mà bày đặt.

Gã trung úy Không Quân cười híp mắt, ôm lấy tôi.

-Tình cờ gặp lại mày, tao mừng muốn chết, mới đùa chút xíu mà đã giận rồi. Mày đưa cô bé này về Sài Gòn phải không?

-Sao mày biết?

Ly hỏi vặn tôi:

-Không lý mày với cô bé này đến phi trường để ngắm cảnh, hay là mày lại nói đến đây để thăm tao? Mà nè, mày vừa nói cái chữ gì? Mày nói tao là lơ máy bay phải không?

Tôi cười như chế giễu hắn.

-Lái vận tải cơ C130, cấp bậc phải là thiếu tá hoặc nếu là đại úy, phải có nhiều giờ bay. Cở trung úy như mày, đi theo máy bay chỉ có việc bưng cà phê cho sếp, hoặc để mấy sếp sai vặt chớ làm được gì.

-Nói cho mày biết, tao là hoa tiêu phụ ngồi ghế bên phải trong phòng lái, thiếu tá trưởng phi cơ ngồi bên trái. Không có tao, phi cơ muốn cất cánh coi bộ cũng hơi khó.

-Như vậy, mày là tài xế máy bay rồi.

Ly cười khoái chí.

-Đúng, tài xế chớ không phải là lơ.

Tôi hỏi nhỏ Ly:

-Công tác gì mà phải đem C130 lên đây?

Ly nhìn vào trong máy bay.

-Sáng nay, mười hai chiếc C130 chở một Liên Đoàn Nhảy Dù ra Đà Nẵng, khi trở về, chiếc của tao được lệnh ghé Đà Lạt để đem gia đình binh sĩ Không Quân về Sài Gòn. Để tao đưa bạn gái mày lên máy bay.

Tôi cải chính.

-Cúc là vợ chưa cưới của tao.

-Mày chậm tiến quá sức, bên Không Quân bọn tao chẳng có ai dại gì dùng chữ vợ hay vợ chưa cưới, mấy chữ này phải bỏ trong tủ sắt, khóa kỹ lại.

Tôi ôm Cúc, hôn nhẹ lên má của nàng:

-Em giữ gìn sức khỏe, đừng lo lắng, bận tâm gì về anh.

Khi Cúc đã bước qua khỏi cánh cửa khổng lồ sau đuôi máy bay, Ly nhìn tôi:

-Mày leo lên luôn, còn chờ gì nữa?

-Mày muốn tao đào ngũ? Đừng có bày đặt xúi dại.

-Tao không có xúi dại đâu, mày nghĩ lại đi cả cái Quân Đoàn II, binh hùng tướng mạnh như vậy còn phải di tản chiến thuật. Trường Võ Bị Đà Lạt bé tí tẹo của mày làm được cái gì, liệu có còn đứng vững một mình ở cao nguyên khi mà Phan Rang rơi vào tay Việt Cộng hay không? Nhiệm vụ của tao lên đây là để di tản gia đình binh sĩ Không Quân về Sài Gòn. Đà Lạt coi như đã mất rồi, mày cứ về Sài Gòn đi, mọi chuyện hãy tính sau.

Tôi nói:

-Cảm ơn lòng tốt của mày, tao phải ở lại trường thôi.

Ly siết chặt tay tôi.

Hình minh họa

-Ở lại mạnh giỏi, tới giờ tao phải bay rồi.

Trước khi bước đi, hắn nói nhỏ vào tai tôi:

-Tao xa Đà Lạt mới có sáu năm, hôm nay trở về đây hình như người đẹp của Đà Lạt biến đâu mất hết rồi.

-Tại sao mày nói vậy?

Ly lắc đầu ra vẻ khổ sở.

-Mày coi bộ chậm chạp vậy mà khôn, vợ xấu mới là vợ của mình.

Tôi chỉ muốn đạp cho hắn một đạp nhưng ngẫm nghĩ lại, nó chỉ nói lên sự thật mà thôi. Câu nói của Ly khiến tôi phải suy nghĩ. Tại sao tôi phải lấy một người vợ tuy là giàu có nhưng xấu, trong lúc mình có người yêu đẹp như mơ, lại yêu mình hết mực. Bỗng dưng, tôi nhớ đến cái cân tiểu ly dùng để cân vàng, khi hai bên dĩa cân đã bằng nhau, chỉ cần thêm một cọng tóc vào bên nào, dĩa cân sẽ nghiêng về bên đó. Lời nói của Ly nhẹ như sợi tóc nhưng nó giúp tôi giải đáp được câu hỏi, giải quyết được vấn nạn mà tôi phải cưu mang bấy lâu nay. Đột nhiên, ý tưởng phản bội Cúc để trở về với Dung thoáng qua trong đầu, tôi nói với Ly:

-Có chuyện quan trọng, tao phải nhờ mày. Lát nữa, mày nhớ nói với Cúc là tao sẽ ở lại luôn tại Đà Lạt với ba má tao. Tao sẽ không đi đâu hết, cho dù Đà Lạt có di tản. Nhớ nói giúp tao.

Gánh nặng ngàn cân đặt trên vai của tôi giờ đây đã được cất xuống. Trên đường về trường, tôi phóng Honda mà người cứ nhẹ như bay.

o O o

Sau khi Quân Đoàn II rút khỏi cao nguyên, tình hình chiến sự biến chuyển một cách mau lẹ, mau hơn sự suy nghĩ của mọi người.

Trung úy Trí với cây viết chì mỡ trên tay, vừa cập nhật tin tức mới nhất vào bản đồ gắn trên tường vừa nói với tôi:

-Quảng Đức mất rồi, Liên đoàn 24 Biệt Động Quân triệt thoái khỏi Quảng Đức đã đến được một khu rừng gần Bảo Lộc, họ xin Trường Võ Bị bốn chục chiếc trực thăng để bốc họ về Đà Lạt.

Tôi nói với Trung úy Trí:

-Mày yên chí, chuyện này tao đã trình với Thiếu tướng Chỉ huy trưởng rồi.

Trung úy Trí thắc mắc.

-Tao đâu có thấy chiếc trực thăng nào trong Trường Võ Bị, một chiếc cũng không có lấy đâu tới bốn chục chiếc để mà chở quân.

Tôi giải thích:

-Mày biệt phái nên không biết đó thôi, hơn chục cái điện thoại trên bàn, trong đó có hai cái điện thoại nóng. Một cái dùng để liên lạc trực tiếp với Phòng Ba của Bộ Tổng Tham Mưu, cái còn lại, trực tiếp với Sư đoàn 6 Không Quân vừa mới di tản từ Pleiku về đóng ở phi trường Phan Rang. Mấy chục chiếc trực thăng cùng với chiến đấu cơ của sư đoàn này, được đặt dưới quyền sử dụng của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt.

-Như vậy thì, khi nào mình bốc Liên đoàn 24 Biệt Động Quân về trường?

Tôi chưa kịp trả lời, Trung úy Trí vừa nói vừa xoa hai tay với nhau.

-Đang không có thêm một Liên đoàn Biệt Động Quân phòng thủ Trường Võ Bị Đà Lạt, chắc ăn như bắp.

Hình minh họa

Tôi nói nhỏ với Trung úy Trí:

-Khi nào bốc hả? Mày qua hỏi Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đi?

Trung úy Trí cười, tiếng cười đầy sảng khoái vang vọng khắp căn phòng.

-Mày định xúi con nít ăn cứt gà phải không? Tao đâu có dại đi vuốt râu hùm.

Tôi nói:

-Tao ở đây hơn sáu năm, chưa bao giờ thấy ông tướng cười, cả năm mới nghe được ông ấy nói vài tiếng. Mình muốn biết chuyện gì phải nghe lén rồi suy đoán thôi. Chuyện bốc Liên đoàn 24 Biệt Động Quân, tao đoán như thế này: Cả ngày hôm nay không có lệnh của thiếu tướng điều động trực thăng, có nghĩa là ông ấy không muốn bốc Liên đoàn 24 Biệt Động Quân về Trường Võ Bị Đà Lạt. Còn nói đến lý do tại sao không bốc Liên đoàn 24, nó thuộc về lãnh vực điều quân, làm sao mình biết được.

Đại úy Luân đang ngồi ở cuối phòng làm việc với hai người hạ sĩ quan truyền tin, ông ta vươn vai đứng lên đi về phía tôi và Trung úy Trí.

-Sư đoàn 7 của Việt Cộng phối hợp với xe tăng, đã chiếm xong Bảo Lộc, đang tràn vào Di Linh, cứ cái đà này vài ngày nữa sẽ tới Đà Lạt. Bảy tỉnh của cao nguyên mất hết sáu, chỉ còn có mỗi một mình Đà Lạt.

Đang nói chuyện, bất ngờ Đại úy Luân hô lớn:

-Nghiêm.

Tất cả mọi người trong Trung tâm hành quân đều bật dậy, đứng nghiêm như tượng đá.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng vừa bước vào phòng, theo sau ông ta là Đại tá Tỉnh trưởng rồi Đại tá Chỉ huy trưởng trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị. Ba người ngồi vào bàn họp hành quân ở giữa phòng. Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nhìn vào tấm bản đồ trên tường rồi hỏi Đại úy Luân.

-Tình hình đến đâu rồi?

Tôi biết thiếu tướng hỏi để mà hỏi, thực ra ông đã biết hết mọi chuyện nhờ vào Phòng hành quân tại tư dinh.

Đại úy Luân với giọng nói chắc và rõ ràng.

-Trình thiếu tướng, Di Linh đã bị Việt Cộng chiếm rồi.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng hỏi tiếp:

-Tiểu đoàn 204 Trinh sát đang ở đâu?

Đại úy Luân nhanh chóng trả lời:

-Trình thiếu tướng, Tiểu đoàn 204 đang đóng quân gần Chùa Sư Nữ ở Trại Hầm.

Chần chừ giây lát như đang suy nghĩ chuyện gì, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng quay sang nói với Đại tá Tỉnh trưởng:

-Bằng mọi giá, đại tá cho Tiểu đoàn 204 chiếm lại Di Linh.

Bầu không khí trong Trung tâm hành quân bỗng trở nên nặng nề, khi Đại tá Tỉnh trưởng cùng với Đại úy Luân đi về phía hệ thống truyền tin đặt ở cuối phòng.

Hình minh họa

Đưa tay chỉ trung úy Trí, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng hỏi:

-Mấy ngày qua, trung úy và Đại úy Luân biệt phái cho Trường Võ Bị, ăn uống ở đâu?

-Trình thiếu tướng, chúng tôi có mang theo lương khô.

-Tạm thời như vậy đi, tháng này trung úy và Đại úy Luân sẽ lãnh lương của Võ Bị.

Vừa dứt lời Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đứng lên đi ra cửa, thân hình của ông tuy to lớn nhưng với huyền đai đệ nhị đẳng Aikido khiến ông có tướng đi nhẹ nhàng lanh lẹ. Khi ngang qua mặt tôi, ông nói:

-Trung úy nhắc Phòng tài chánh, ứng lương cho hai sĩ quan biệt phái.

Khi Thiếu tướng Chỉ huy trưởng và hai vị đại tá đã rời khỏi phòng, mọi người đều thở ra nhẹ nhõm.

Nhân lúc rảnh rỗi, Trung úy Trí giảng cho tôi biết về sự hình thành của Tiểu đoàn 204 mà tiền thân của nó là Đại đội 302 Trinh sát. Đây là tiểu đoàn thiện chiến nhất của Tiểu khu Tuyên Đức, và cũng là tiểu đoàn chủ lực của Quân Khu II. Huyền thoại về Tiểu đoàn 204, tôi và mọi người dân Đà Lạt cũng đều biết rõ.

Khi Thiếu tướng Chỉ huy trưởng quyết định đem Tiểu đoàn 204 tái chiếm Di Linh, tuy sẽ chận được bước tiến quân của Cộng Sản trên Quốc lộ 20 nhưng Đà Lạt không còn quân trừ bị.

Đại úy Luân và Trung úy Trí cả hai cùng nhìn tôi, Đại úy Luân nói:

-Trước sau gì Đà Lạt cũng mất, tại sao mình không đưa hàng chục Tiểu đoàn Địa Phương Quân của Tiểu khu Tuyên Đức với quân số và đạn dược còn đầy đủ, tinh thần chiến đấu còn cao, đi giữ an ninh cho đoạn đường từ Đơn Dương băng qua đèo Ngoạn Mục xuống Sông Pha. Bảo vệ được đoạn đường chiến lược này, Sinh viên sĩ quan Võ Bị, Sinh viên sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị, cũng như dân chúng Đà Lạt sẽ an toàn rút về Sài Gòn.

Tôi không có ý kiến, chuyện di tản do Thiếu tướng Chỉ huy trưởng quyết định, đúng hay sai và khi nào bắt đầu không phải là việc khiến tôi suy nghĩ.

Ngày hôm sau, thêm một ngày ba đứa tôi làm việc tối tăm mặt mày nhưng tất cả đều vui vẻ, vì chiều hôm đó, có tin tức báo về Trung tâm hành quân cho biết binh sĩ của Tiểu đoàn 204, kéo về Đà Lạt một chiếc xe Molotova của Việt Cộng do Liên Xô cung cấp, chiếc xe được để ngay nơi vòi phun nước gần cà phê Hạnh Tâm. Điều này chứng tỏ rằng, Tiểu đoàn 204 đang giao tranh với Việt Cộng ở Di Linh, và đã chận đứng được bước tiến quân của Việt Cộng trên Quốc lộ 20.

Khi mà ngoài trời đã tối mịt, ba đứa chúng tôi mới rảnh rỗi có chút thì giờ đổ nước lạnh vào mấy bao gạo sấy, ăn với thịt hộp, thêm chút mì gói bẻ vụn vì không có nước sôi. Câu lạc bộ sĩ quan đã đóng cửa từ sáng, không còn bán nữa. Ba thằng vừa ăn cơm vừa tán gẫu, đại úy Luân hỏi tôi:

-Mấy hôm rồi tôi thấy chỉ có trung úy trực Trung tâm hành quân của trường, một mình ông lo hết mọi chuyện, còn thì giờ đâu để nghỉ ngơi.

Tôi giải thích cho Đại úy Luân biết. -Trường Võ Bị Đà Lạt có hai Trung tâm hành quân, một ở trong trường và một ở ngoài tư dinh của thiếu tướng. Trung tâm hành quân ngoài tư dinh của thiếu tướng do hai vị đại úy và hai hạ sĩ quan thay phiên nhau trực. Trung tâm hành quân trong Trường Võ Bị Đà Lạt do hai trung úy và hai hạ sĩ quan điều hành, tất cả được đặt dưới quyền chỉ huy của thiếu tá trưởng Phòng hành quân. Mấy hôm trước đây vì tình hình biến chuyển ở Liên tỉnh lộ 7, Phòng hành quân từ tòa nhà chỉ huy dời xuống đây, Trung úy Hàn thuộc Trung tâm hành quân của trường, phải vác máy PRC 25 đi theo thiếu tá trưởng Phòng hành quân. Một mình tôi phải cáng đáng tất cả mọi việc ở đây, không biết cho đến khi nào mới có thêm sĩ quan trợ giúp.

Hình minh họa

Đang thoải mái ngồi nghe tôi nói chuyện, bất chợt Đại úy Luân buông đũa đứng lên rồi hô to:

-Nghiêm.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng xuất hiện nơi cửa ra vào, ông nhìn quanh khi thấy tôi, ông ra lệnh:

-Trung úy, gọi Đại úy Đại đội trưởng Công Binh đến Trung tâm hành quân nhận lệnh, gọi ngay lập tức.

Tôi bốc cái điện thoại nội bộ nối trực tiếp với Đại đội Công Binh. Từ đầu dây bên kia, giọng nói của một người gốc Huế.

-Đại úy Thi, Đại đội Công Binh Trường Võ Bị Đà Lạt, tôi nghe.

Tôi nhỏ giọng:

-Tôi, Trung úy Quân Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, đại úy trình diện Thiếu tướng Chỉ huy trưởng gấp. Thiếu tướng đang ở Trung tâm hành quân của trường.

Tôi gác điện thoại rồi đứng nghiêm.

-Trình thiếu tướng, đã cho lệnh gọi Đại úy Thi rồi.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng gật đầu, quay người đi đến bục thuyết trình. Ông đứng nhìn tấm bản đồ gắn trên tường rồi hỏi trống không:

-Từ đây xuống cầu Đại Ninh, đường sá có an ninh không?

Đại úy Luân trả lời, giọng hơi rụt rè:

-Trình thiếu tướng, ban ngày an ninh hoàn toàn nhưng đêm đến khi binh sĩ của mình rút quân về căn cứ, du kích quân của Việt Cộng có thể xuất hiện hoạt động quấy phá.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nói:

-Đại úy lệnh cho tất cả các đơn vị đóng dọc theo Quốc lộ 20, từ đầu đèo Prenn đến cầu Đại Ninh lo phần an ninh quốc lộ, binh sĩ đặt trong tình trạng báo động, sẽ có quân xa của mình di chuyển.

Đại úy Luân nói:

-Tuân lệnh.

Tôi hơi thắc mắc, quân xa nào của mình mà di chuyển vào giờ này.

Ngay lúc ấy, cửa phòng Trung tâm hành quân sịch mở mang theo con gió lạnh từ bên ngoài lùa vào, Đại úy Thi bước đi như là chạy đến trước mặt Thiếu tướng Chỉ huy trưởng, ông đưa tay chào kính.

-Đại úy Trần văn Thi, trình diện thiếu tướng.

Thiếu tướng nhìn Đại úy Thi từ đầu đến chân rồi hỏi:

-Đại úy có biết cầu Đại Ninh ở đâu không?

Đại úy Thi đưa tay xuống nhưng vẫn đứng nghiêm.

-Thưa thiếu tướng biết, cầu nằm ở Quốc lộ 20 trên đường về Sài Gòn, cách Đà Lạt khoảng năm mươi cây số.

-Đại úy đã thấy cây cầu ấy chưa?

-Thưa thiếu tướng, mấy năm trước tôi đã đi qua cây cầu ấy nhiều lần khi đi phép về Sài Gòn.

-Nó như thế nào?

-Trình thiếu tướng, cầu khá lớn, chiều dài của cầu có thể đến hai trăm thước, được đúc bằng bê tông cốt sắt khá kiên cố bắc ngang sông… hình như sông Đa Nhim thì phải.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đi đến bàn họp hành quân, ông ngồi xuống rồi tiếp tục hỏi Đại úy Thi.

-Đại úy biết khá rõ về cây cầu, vậy phải cần bao nhiêu ký thuốc nổ để phá sụp cây cầu đó.

Đại úy Thi luống cuống ra mặt.

-Trình thiếu tướng, tôi cần có thì giờ đo đạc chân cầu, tính toán cẩn thận mới biết rõ cần bao nhiêu ký chất nổ.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nhíu mày, chừng như suy nghĩ.

-Đại úy cho một con số phỏng chừng cũng được.

Sau một chút chần chờ, Đại úy Thi trả lời:

-Trình thiếu tướng, phải cần trên một tấn hợp chất C4, chuyên viên chất nổ của Công Binh mới giựt sập cầu được.

Hình minh họa

Giọng nói của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đột nhiên nghiêm lại, nghe như là một mệnh lệnh chứ không phải giọng lúc nói chuyện.

-Tôi muốn, đại úy đích thân dẫn lính Công Binh, đi phá cầu Đại Ninh cho tôi.

-Trình thiếu tướng, khi nào?

-Ngay bây giờ, đại úy thấy có gì trở ngại không?

-Trình thiếu tướng, không.

Tôi biết rõ, nếu Thiếu tướng Chỉ huy trưởng bảo Đại úy Thi nhảy vô lửa, ông ấy cũng nhảy ngay lập tức, sá gì chuyện đi đặt mìn phá hủy cây cầu.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nhìn vào đồng hồ đeo tay.

-Bây giờ là tám giờ tối, đại úy có một giờ để chuẩn bị chất nổ và chuyên viên, chín giờ khởi hành. Từ đây đến cầu Đại Ninh khoảng năm mươi cây số, mười giờ ba mươi đại úy sẽ có mặt tại cầu. Sau khi giựt sập cầu Đại Ninh, đại úy báo cáo kết quả về Trung tâm hành quân của trường.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nhìn thẳng vào mắt của Đại úy Thi:

-Đại úy có gì hỏi không?

-Thưa thiếu tướng, chở một xe chất nổ di chuyển ban đêm không có hộ tống, rất dễ bị Việt Cộng bắn B40.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng chỉ tay về phía đại úy Luân.

-Đã có đại úy Luân, phòng hành quân của Tiểu khu lo phần an ninh lộ trình.

Như chợt nhớ ra điều gì, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nói với Đại úy Luân:

-Tiểu đoàn 277 của Tiểu khu Tuyên Đức, đã qua cầu Đại Ninh vào vùng hành quân chưa?

-Trình thiếu tướng tiểu đoàn trên đã qua cầu, đang tiến vào quận Di Linh.

-Tốt.

Vừa dứt lời, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng quay sang nói với đại úy Thi:

-Đại úy về Đại đội Công Binh chuẩn bị, một giờ nữa sẽ khởi hành.

Khi Đại úy Thi rời khỏi Trung tâm hành quân, tất cả chúng tôi bắt đầu làm việc, theo dõi từng bước đi của ông ta rồi trình lên Thiếu tướng Chỉ huy trưởng.

Mãi đến 1 giờ sáng, tôi mới nhận được tin của Đại úy Thi nói qua máy truyền tin:

-Trung úy trình cho thiếu tướng biết, tôi đã giựt sập cầu Đại Ninh rồi.

-Tôi sẽ trình ngay lập tức nhưng đại úy phải về Trung tâm hành quân trình diện thiếu tướng, ông ấy đang chờ đại úy ở đây.

Ba giờ sáng, Đại úy Thi về đến Trung tâm hành quân. Sau khi nghe rõ Đại úy Thi tường trình đầy đủ về việc giựt sập cầu Đại Ninh, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng mới chịu ra về. Tốn hơn bảy, tám tiếng đồng hồ, lại đích thân lo mọi việc chứng tỏ chuyện phá sập cầu Đại Ninh là một điều quan trọng trong kế hoạch di tản khỏi Đà Lạt của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng.

Sau một ngày làm việc liên tục, chúng tôi tạm thời được nghỉ ngơi. Tôi đang mơ màng trong giấc ngủ chập chờn, bất chợt tiếng chuông điện thoại reo vang. Tôi nhìn đồng hồ, mới bốn giờ sáng mà điện thoại reo là có chuyện không ổn rồi. Tôi chụp cái ống liên hợp.

-Trung úy Nguyễn Trọng Quân, Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, nghe.

Giọng của bác Bảy ở đầu dây bên kia, nghe không được rõ cho lắm.

-Bác có chuyện quan trọng cần nói với con.

-Dạ, con nghe đây bác.

-Độ mươi ngày trước đây, khi con Cúc về Sài Gòn, nó có nói với bác là chiếc máy bay C130 chở Cúc rộng thênh thang, trung úy lái máy bay lại là bạn của con nhưng con không chịu về, đúng không?

Hình minh họa

Tôi trả lời:

-Dạ phải.

Giọng của bác Bảy nói mà như là phiền trách:

-Bác đã nói với con là mình phải bỏ nước ra đi, vậy mà con không chịu nghe lời bác. Con có biết không, cái đám cố vấn Mỹ bạn của bác, tụi nó ngày nào cũng thúc giục bác phải ra đi càng sớm càng tốt. Hiện tại, bác đang ngồi ở phòng đợi của hãng hàng không Air France, tại phi trường Tân Sơn Nhất. Hai giờ nữa máy bay sẽ cất cánh, với bác mọi chuyện đều suôn sẻ, chỉ tội cho Cúc nó buồn vì không có con nhưng mà bác làm gì được bây giờ. Con với Cúc đã làm đám hỏi, hai đứa bây có duyên mà không có phận, khi bác và Cúc đi rồi, con được tự do hoàn toàn định liệu lấy đời mình.

Nghe bác Bảy nói, tôi mừng thầm trong bụng. Tôi nghĩ, sau này về được Sài Gòn, tôi có thế cưới Dung mà không một chút mặc cảm là đã phụ rãy Cúc. Tôi nói:

-Con cảm ơn bác.

-Còn điều này nữa, cho bác gởi lời thăm ba má con và mấy em của con. Tới giờ bác phải lên máy bay rồi, con ở lại mạnh giỏi.

Tôi nói thêm:

-Con chúc bác và Cúc lên đường bình an.

Cùng lúc ấy, tôi nghe được đường dây điện thoại bị cắt, chỉ còn tiếng u..u.. vọng lại.

Tôi gác điện thoại, nhắm mắt cố dỗ giấc ngủ để mai còn sức mà làm việc. Suốt ngày hôm ấy, chúng tôi lên máy chỉ theo dõi mọi biến chuyển về chuyện điều quân của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng.

o O o

Chiều hôm nay 31 tháng 3 năm 1975, tôi đang đứng tại tòa nhà chỉ huy. Sau khi nhìn quanh một vòng không thấy gì, tôi đi lần theo cầu thang xoắn ốc lên đến tầng hai của bộ chỉ huy. Sau lưng tôi là phòng làm việc của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng, trước mặt tôi là Trung tâm hành quân cũ, hành lang phía trái và hành lang bên phải sâu hun hút, lờ mờ trong bóng tối, cửa nẻo đóng im ỉm không một bóng người. Những tia nắng vàng vọt, yếu ớt còn sót lại của buổi chiều mùa xuân lọt qua những ô cửa kính của bộ chỉ huy, màu vàng của nắng yếu đuối, nhợt nhạt không một chút sinh khí, tất cả chìm trong ánh sáng mờ mờ khiến cả tòa nhà như đã bị bỏ hoang lâu ngày.

Tôi bước tới gần khung cửa kính, bên ngoài là Vũ Đình Trường Lê Lợi xanh màu cỏ, ngay trước khán đài danh dự là cột cờ với cờ Quốc Gia vẫn còn tung bay phất phới. Hình ảnh của những sinh viên sĩ quan quỳ dưới bóng cờ này trong ngày lễ mãn khóa, với lời thề quyết tâm bảo vệ tổ quốc hãy còn vang vang đâu đó. Giờ đây, những sinh hoạt thường ngày của hàng ngàn sinh viên sĩ quan đã hoàn toàn biến mất. Từ hôm qua, sinh viên sĩ quan được trang bị như một người lính tác chiến với súng cá nhân M16, súng cộng đồng M60, thậm chí cả súng chống chiến xa M72, họ được đưa đi giữ an ninh lộ trình trải dài từ cầu Đất cho đến Đơn Dương. Khi sinh viên ra đi, họ bỏ lại ngôi trường trơ trọi một mình, không có sinh viên ngôi trường chỉ là cái xác không hồn, đứng im lìm trong nắng chiều hiu hắt.

Tôi nhìn ngôi trường, nơi mà tôi đã phục vụ hơn sáu năm trong đời quân ngũ của mình. Sáu năm, một khoảng thời gian không nhiều cho lắm, so với chiều dài của cuộc sống con người, thế nhưng khoảng thời gian ấy đủ để chiếm lấy một phần trong ký ức, đủ để khắc sâu vào tâm khảm của mình. Lòng tôi bỗng dưng chùng xuống, bùi ngùi thương cảm. Một chút luyến thương, khi biết mình sắp phải rời xa vĩnh viễn ngôi trường khiến tôi cảm thấy cay cay nơi mắt. Đêm nay hoặc chậm lắm là ngày mai, chúng tôi sẽ di tản. Ra đi là bỏ lại Đồi Bắc, bỏ lại cổng Nam Quan, bỏ luôn cả tòa nhà chỉ huy với Trung tâm hành quân, tất cả chỉ còn lại trong quá khứ vàng son một thuở. Tôi đi mà hành trang mang theo, chỉ là những ngày dài nhớ thương về ngôi trường trên đỉnh cao nguyên Lâm Viên.

Hình minh họa

Tôi bước dọc theo hành lang phía trái của bộ chỉ huy, để trở về Trung tâm hành quân mới. Khi gần đến nơi, đột nhiên tôi đổi ý rẽ vào thư viện. Cũng lại hoàn toàn im vắng, cho dù có đốt đuốc cũng không tìm ra một người. Mặc dù đã biết trước như vậy, tôi vẫn cảm thấy xốn xang trong lòng. Cái cảm giác như là đang xem một cuốn phim đen trắng, chiếu về cảnh ngày tận thế, mà trong đó kẻ sống sót duy nhất thẫn thờ đi lang thang hết dãy phố này qua dãy phố khác, với mục đích tìm cho được mầm sống, còn sót lại đâu đó. Một mình tôi đang đứng giữa hằng hà sa số sách và sách, chung quanh đó là bàn ghế sạch sẽ được săp xếp ngăn nắp gọn gàng. Tôi chọn một chỗ rộng rãi thoáng mát, thoải mái ngồi dựa ngửa, gác nguyên đôi bốt đờ sô lên bàn rồi đốt một điếu thuốc, khói thuốc chầm chậm, lơ lửng, là đà bay trong không khí. Giữa không gian tĩnh lặng không một tiếng động, giá như có một hạt bụi rơi, tôi tưởng rằng mình có thể nghe được. Tôi ngồi đó tận tình thưởng thức hương thơm của khói thuốc, thuận tay, tôi vớ lấy cuốn sách mà ai đó đang đọc nửa chừng còn để úp ngược trên bàn. Tôi bắt đầu đọc, đọc để quên đi chuyện di tản đang sôi động ở bên ngoài.
Được một đoạn ngắn, sức hấp dẫn lôi cuốn mãnh liệt của cuốn truyện khiến tôi quên hết mọi chuyện ở quanh mình. Tôi lạc vào thế giới của “Trại Đầm Đùn” lúc nào cũng không biết.

-Trung úy, trung úy.

Tiếng gọi của người hạ sĩ quan trực hành quân vang vang khắp căn phòng, kéo tôi về với thực tại.

-Tôi đây.

-Tôi tìm trung úy muốn hụt hơi. Trời đất, trong giờ phút dầu sôi lửa bỏng, phải bỏ của chạy lấy người đến nơi mà trung úy còn bình tĩnh ngồi đây đọc sách. Ông hay thiệt, mà nè sách gì vậy, có hay không?

Tôi không trả lời người hạ sĩ quan mà hỏi ông ta:

-Có chuyện gì?

-Trung úy Lợi, bên Công Binh của trường cần gặp trung úy.

-Mấy giờ rồi?

-Bảy giờ.

-Hai vị đại úy và trung úy thuộc Trung tâm hành quân của Tiểu khu, biệt phái cho trường ở đâu rồi?

-Họ đang theo dõi, cập nhật, bố trí của mấy tiểu đoàn Địa Phương Quân.

Tôi lẹ làng nhét cuốn truyện Trại Đầm Đùn vô túi áo jacket, rồi vội vàng phóng một mạch về Trung tâm hành quân. Cuốn sách trong túi áo của tôi, là cuốn sách duy nhất trong thư viện của trường Võ Bị được tôi đem theo, tất cả sách còn lại sẽ bị thiêu hủy dưới sức công phá của hàng ngàn ký chất nổ C4.

Trung úy Lợi đang đứng bên hông chiếc xe Dodge 4×4, ông ta nói với tôi:

-Tôi muốn kiểm chứng lại lần chót với Trung tâm hành quân.

-Chuyện gì?

-Bốn điểm trọng yếu trong trường mà tôi phải đặt mìn để phá hủy là tòa nhà bộ chỉ huy, nhà thí nghiệm nặng, thư viện và phạn xá, đúng không?

-Đúng.

-Coi như xong, với mấy xe Dodge đầy nhóc chất nổ C4, đủ sức cho tôi hoàn thành nhiệm vụ.

Giọng nói của Trung úy Lợi đột nhiên nhỏ lại chỉ vừa đủ nghe.

-Khi nào bọn mình dọt?

-Tôi mà biết được, giờ này tôi đã là chỉ huy trưởng rồi.

Nhìn nét thất vọng hiện rõ trên gương mặt của Trung úy Lợi, tôi an ủi.

-Phá sập xong Trường Võ Bị thì trung úy dọt, lúc đó cho dù ông có muốn ở lại cũng không được.

Trung úy Lợi nói với tôi:

-Phải chi giờ này Câu lạc bộ sĩ quan còn, bọn mình qua đó làm một ly cà phê trước khi chia tay với Trường Võ Bị.

Hình minh họa

-Tôi có cà phê nhưng không có nước sôi.

Trung úy Lợi hăng hái nói:

-Dễ ợt, giựt sập Trường Võ Bị tôi còn làm được, sá gì chuyện mấy cái ly nước sôi, để đó tôi lo.

Vừa nói Trung úy Lợi vừa đi vòng ra phía sau xe Dodge, ông ta lôi ra một bánh C4, thoáng chốc ngọn lửa xanh biếc bùng lên. Khi nước trong chiếc ca nhôm bắt đầu sôi, Trung úy Lợi đổ thẳng cà phê bột vào ca nước.

Chúng tôi uống cà phê mà như uống thuốc độc.
Nó đắng nghét, lợn cợn những hột cà phê nhỏ như những hột cát mịn bám đầy lưỡi. Đó là ly cà phê cuối cùng, mà tôi và Trung úy Lợi uống ở Trường Võ Bị Đà Lạt.

Gần chín giờ tối, hai Đại đội sinh viên sĩ quan cuối cùng rời khỏi trường theo cổng Tôn Thất Lễ. Cho tới giờ này, tôi biết rằng trong trường chỉ còn lại năm người vẫn còn đang làm việc tại Trung tâm hành quân, đó là hai hạ sĩ quan trực máy, hai sĩ quan hành quân của Tiểu khu Tuyên Đức biệt phái cho trường và tôi. Điều đặc biệt là bên ngoài vòng đai của trường, gồm có Tiểu đoàn An Ninh cũng như những đơn vị bảo vệ vẫn còn đóng quân tại chỗ, giữ an ninh cho trường, nói đúng hơn là giữ an ninh cho một cái xác không hồn.

Sáng nay, đoàn quân xa của trường đã chở tất cả gia đình binh sĩ trong trại gia binh của trường xuống Sông Pha, sau đó, quay về trường sẵn sàng đón thêm binh sĩ cũng như sinh viên sĩ quan của trường, chưa di tản lúc sáng.

Đang chăm chú theo dõi mọi diễn tiến của cuộc rút quân, tôi chợt nghe giọng nói của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng vang lên đàng sau lưng tôi.

-Trung úy đi hỏi coi, trực thăng có đáp xuống Pr’line được không?

Tôi giật mình, lật đật đứng nghiêm chào thiếu tướng. Khi đã hiểu rõ câu hỏi của ông, tôi chạy đến sân cỏ trung đoàn sinh viên nơi có chiếc trực thăng của thiếu tướng đậu sẵn ở đó. Tôi hỏi vị đại úy lái chiếc trực thăng:

-Thiếu tướng muốn biết, trực thăng có đáp xuống Pr’line được không?

Vị đại úy lái trực thăng nói với tôi:

-Tối hôm nay trời nhiều sương mù, đáp được nhưng không an toàn.

Tôi đi trở lại Trung tâm hành quân.

-Trình thiếu tướng, vị đại úy lái trực thăng nói đáp được nhưng không an toàn.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng ra lệnh cho tôi:

-Cho trực thăng đến Pr’line, ở đó chờ lệnh mới.

Tôi biết, Pr’line là tên của ngọn núi cao nhất gần Cầu Đất, cách Đà Lạt khoảng hai mươi lăm cây số trên đường đi xuống Sông Pha. Ngày xưa, đây là trung tâm phát tuyến lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam, trung tâm này do Mỹ thành lập, sau năm 1973 họ bàn giao lại cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hiện tại, Sinh viên sĩ quan Võ Bị đã đóng quân tại căn cứ này từ hôm qua.

Một lần nữa, tôi lại phải chạy ra sân cỏ trung đoàn sinh viên, truyền lệnh cho vị đại úy lái trực thăng.

Khi tôi trở lại Trung tâm hành quân, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đang đi tới đi lui trong phòng, đầu cúi xuống như đang nhìn vào mũi giày của ông, bất ngờ ông đưa tay nhìn đồng hồ rồi nói:

-Xé và đốt tất cả bản đồ hành quân trên tường, phá hủy đường dây điện thoại.

Hình minh họa

Dứt lời, thiếu tướng ngồi xuống ghế nhìn chúng tôi làm công việc tiêu hủy tài liệu. Khi thấy mọi việc đã xong xuôi, ông nói:

-Đi.

Chúng tôi vai ba lô, súng M16, tay xách máy PRC25, đặc lệnh truyền tin, rời khỏi Trung tâm hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt, tôi nhìn đồng hồ đeo tay của mình: chín giờ rưỡi.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng bước lên chiếc xe jeep của ông, trên xe chỉ có tài xế và ông. Vị Đại úy Tùy viên, người vẫn thường theo ông như bóng với hình, hôm nay ông ấy ở đâu tôi không thấy. Có thể ông ấy đang ở ngoài tư dinh.

Chiếc xe jeep của phòng hành quân đậu cách xe của thiếu tướng chừng mươi thước, tôi bước tới nhìn vào xe rồi giật mình hỏi tài xế:

-Hai đứa nhỏ nào đây?

Người tài xế trả lời:

-Con của tôi đó trung úy.

Tôi nhìn hai đứa nhỏ khoảng mười ba, mười bốn tuối đang ngồi trong xe rồi tính nhẩm trong đầu, năm người của Trung tâm hành quân, tài xế nữa là sáu thêm hai đứa nhỏ vị chi là tám người, trong đó sáu người với đầy đủ ba lô súng đạn, thêm bốn máy truyền tin PRC25, chỗ đâu mà chứa cho hết. Tôi bấm đèn pin, rọi xuống sàn xe rồi hỏi tài xế:

-Còn cái bao gạo năm chục ký với mấy cái nồi này của ai? Phải bỏ lại thôi.

Người tài xế nói, giọng nói như là năn nỉ.

-Trung úy độc thân nên không biết, tôi bỏ bao gạo lại đây, ngày mai con tôi lấy cái gì ăn.

Tôi nhìn hai đứa nhỏ, rồi nghĩ tới mấy đứa em của mình đang ở nhà với ba má tôi. Ba má tôi, sống trong một căn nhà gỗ tồi tàn gần ba chục năm ở ngoại ô, vừa mới dọn về căn nhà khang trang ở phố chưa được bao lâu, ông bà tiếc của nên đi không đành. Tôi nói:

-Tất cả lên xe.

Chiếc xe jeep của Trung tâm hành quân, tôi là trưởng xa, ghế trước bên phải là ghế của tôi.

Đại úy Luân là người biết chuyện, ông chui vào xe ngồi phía sau tránh cho tôi tình trạng khó xử. Không còn thì giờ tìm hiểu để biết mọi người chen chúc như thế nào ở phía sau, có đủ chỗ hay không? Tôi nói với tài xế:

-Chạy theo xe của thiếu tướng.

Trên trời, con trăng mười tám hay mười chín tôi không rõ lắm treo lửng lơ, mặt trăng đã bắt đầu meo méo tỏa chút ánh sáng mờ mờ xuống khu đồi 1515. Trường Võ Bị Đà Lạt nằm trên ngọn đồi này. Xe jeep của tôi và của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng không mở đèn, chạy chầm chậm đến cổng Nam Quan rồi quay đầu lại tòa nhà chỉ huy. Khi xe jeep chạy ngang qua Vũ Đình Trường Lê Lợi, tôi quay nhìn về phía tay phải, Đài Tử Sĩ chìm trong ánh trăng mờ vàng úa, tiếng kèn truy điệu gọi hồn tử sĩ vị quốc vong thân chừng như còn văng vẳng đâu đây. Tôi nhắm mắt, bịt tai cho đến khi xe băng qua hai ngôi nhà tiền chế của Tiểu Đoàn An Ninh, qua Liên Đoàn yểm Trợ rồi ra khỏi trường theo cổng Lý Thường Kiệt. Tôi nghĩ trong đầu, lát nữa đây hàng ngàn ký chất nổ C4 của Trung úy Lợi, sẽ giựt sập bốn điểm trọng yếu của Trường Võ Bị.

Khi chiếc xe jeep của tôi đến cổng tư dinh của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng, ở gần ngã tư Phan Chu Trinh, tôi cho tài xế quay đầu xe lại đợi ở bên ngoài. Bên trong sân tư dinh đèn đuốc sáng choang, tôi thấy Đại tá Chỉ huy trưởng Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị cùng với Đại tá Tỉnh Trưởng đang đứng trước hàng hiên. Chờ cho đến khi đoàn xe trong tư dinh bắt đầu chuyển bánh, tôi cho xe jeep của tôi chạy trước dẫn đầu. Điều tôi không ngờ được là dân chúng Đà Lạt đã di tản từ lúc nào, có thể là từ chiều. Người dân bỏ Đà Lạt ra đi bằng tất cả mọi phương tiện mà người ta có được, từ chiếc xe truck, xe du lịch, xe Lam, xe Honda, cho đến xe đạp thậm chí kể cả chuyện phải bồng bế, gánh gồng, tất cả chen chúc nhau trên đoạn đường từ Đà Lạt xuống Đơn Dương. Đoàn người di tản đông đến độ xe cộ chỉ chạy được với vận tốc không quá mười cây số một giờ. Với một đoạn đường khoảng ba chục cây số, phải mất gần ba giờ chiếc xe jeep của tôi mới tới được Eo Gió, chuẩn bị để đổ đèo Ngoạn Mục. Đường đèo dài khoảng hai chục cây số, quanh co khúc khuỷu ôm theo triền núi, nhiều đoạn sườn núi thắng như vách đá dựng, người dân Đà Lạt di tản nếu vượt qua được đoạn đường này, xuống đến Sông Pha kể như đã vào vùng an toàn, không còn gì phải lo lắng. Một giờ sáng ngày 1 tháng 4, cả đoàn xe bị kẹt trên đèo Ngoạn Mục hơn hai tiếng đồng hồ. Qua máy truyền tin, tôi biết được Việt Cộng bắn B40 vào một chiếc xe chạy đầu ở Sông Pha.

Hình minh họa

Tôi đứng ở đỉnh đèo Ngoạn Mục nhìn xuống chân núi, đoàn người di tản đi bộ dọc theo hai bên đoàn xe, đèn xe sáng rực cả một góc trời trông giống như là một con rắn lửa khổng lồ đang bò theo triền núi, để trườn mình xuống đồng bằng. Cái đầu của con rắn đã qua khỏi Sông Pha, trong khi thân của nó hãy còn ở đỉnh đèo Ngoạn Mục, và cái đuôi con rắn có thể còn ở đâu tận Đà Lạt.

Khi xe jeep của tôi đến một khúc cua gắt như cái cùi chỏ, lúc này xe chạy còn chậm hơn người đi bộ. Dưới ánh sáng của hàng ngàn ngọn đèn đủ mọi loại xe, tôi thấy một anh Sinh viên sĩ quan Võ Bị đứng trên một mô đất bên vệ đường, hai chân của anh xoạc ra theo thể thao diễn nghỉ, tay trái buông xuôi, tay phải ôm khẩu M16, báng súng chống vào bên hông, nòng súng hướng lên trời. Tôi xuống xe, đi bộ đến bên anh sinh viên, định hỏi tại sao anh ta không di chuyển theo đoàn quân mà lại đứng một mình ở đây.

Khi đến trước mặt anh sinh viên, tôi giật mình vì thấy đôi dòng lệ chảy dài theo khóe mắt của anh ta. Anh sinh viên với nét mặt u buồn, đôi môi mím chặt, đứng bất động nhìn theo đoàn người di tản đang từ từ trôi xuống đồng bằng. Nếu không có những giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt buồn bã của anh sinh viên, tôi tưởng rằng mình đang đứng đối diện với một pho tượng được tạc bằng đá. Tôi không biết pho tượng đá đó khóc vì phải đời đời rời xa ngôi trường thân yêu, hay khóc vì cảnh sinh linh đồ thán.

Tôi nghĩ rằng, chẳng thà anh sinh viên khóc thành tiếng, có thể tiếng khóc sẽ làm vơi đi những uất hận, đớn đau chất chứa trong lòng. Đàng này, anh lại yên lặng nuốt cái uất ức vào lòng, nỗi đau tự nó sẽ nhân lên gấp bội.

Tôi tốt nghiệp Thủ Đức, chỉ làm việc ở Trường Võ Bị, vậy mà khi rời xa ngôi trường lòng tôi đau đớn như bị dao cắt huống gì Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt, bốn năm gắn bó với ngôi trường trên đỉnh ngọn đồi 1515. Tôi hiểu và cảm được cái đau của pho tượng đá trước mặt tôi.

Hơn một ngàn Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt ba lô trên vai, súng M16 cầm tay vừa di chuyển vừa bảo vệ dân chúng, chân đi nhưng lòng của họ còn để lại ở Trường Võ Bị, bởi vì tôi nghe một anh sinh viên với giọng nói như gào thét, đầy phẫn uất.

-Tại sao chưa đánh mà chạy.

Một anh sinh viên khác, nói mà như khóc:

-Phải ở lại bảo vệ Đà Lạt, bảo vệ Trường cho dù có chết. Không thể hèn như vậy được.

Hơn một ngàn trái tim với tinh thần kỷ luật cao độ, đó là một khối thép đồng nhất, một khối sức mạnh vô địch mà Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt đã đem xuống bảo vệ đèo Ngoạn Mục, vì đây là đoạn đường đèo trọng yếu, là con đường huyết mạch trong cuộc di tản của dân Đà Lạt. Một ngàn Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt, họ thà chết, hy sinh cho đến người cuối cùng, để dân chúng Đà Lạt an toàn di tản về Sài Gòn. Bởi vì, Bảo Quốc An Dân là bổn phận và trách nhiệm của họ.

Thêm một chi tiết khá quan trọng mà ít người biết đến, là khi người dân Đà Lạt đã đi quá Sông Pha vào được vùng an toàn thì Tiểu đoàn 204 trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức, đang còn giao tranh với Cộng quân tại Di Linh. Và Tiểu đoàn 277 của Tiểu khu Tuyên Đức đang trên đường tiến vào Di Linh. Hai Tiểu đoàn 204 và 277, với quân số chưa tới một ngàn người phải chiến đấu chống lại Trung Đoàn 812 là chủ lực quân của Khu 6 và Sư Đoàn 7 của Việt Cộng. Tôi tin rằng họ sẽ cầm chân Việt Cộng ở Di Linh ít ra cũng được vài ngày, đủ thời giờ cho dân chúng Đà Lạt di tản. Có một điều khiến tôi phải thắc mắc, nếu sĩ quan cũng như binh sĩ của hai Tiểu đoàn 204 và 277 biết được là họ đi vào mặt trận mà không có lực lượng trừ bị, không có yểm trợ của pháo binh, không quân, ngay cả việc tiếp tế đạn dược và lương thực cũng không có, liệu họ có đủ can đảm chiến đấu hay không khi biết mình là những cảm tử quân, chỉ có đi mà không có về. Cuối cùng là chuyện, nếu Cộng Sản tiêu diệt được hai tiểu đoàn thiện chiến nói trên, xe tăng của Việt Cộng cũng không làm sao vượt qua được sông Đa Nhim, vì cầu Đại Ninh đã bị giựt sập.

Hình minh họa

Trong suốt cuộc đời của tôi, đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến một cuộc di tản vĩ đại, đầy đau khổ của người dân khi chạy trốn Cộng Sản. Dân Đà Lạt bỏ tất cả nhà cửa ruộng vườn, đất đai, chỉ với vài bộ quần áo và nắm cơm trên tay chạy về vùng Quốc Gia kiểm soát, chạy về những nơi chưa lọt vào tay Cộng Sản.

Khi tôi đến Sông Pha trời đã sáng hẳn, xe của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng hãy còn xa tít ở phía sau, ông là người nằm trong toán quân đi bọc hậu ở chót cùng. Tất cả sinh viên sĩ quan cũng như binh sĩ của Trường Võ Bị Đà Lạt tập trung tại một bãi đất trống bên đường để nghỉ ngơi sau một đêm thức trắng. Riêng dân chúng Đà Lạt vẫn tiếp tục chạy về Phan Rang. Tôi quay đầu, ngước nhìn lại đỉnh đèo Ngoạn Mục, hai đường ống dẫn nước khổng lồ từ đập Đa Nhim đổ xuống Sông Pha lấp lánh dưới ánh mặt trời, những tia nắng đầu tiên trong ngày làm rõ thêm đoàn người đông như một đàn kiến, vẫn còn tiếp tục đổ xuống đèo.

Đà Lạt di tản gần như là hoàn hảo, không một tiếng súng nổ, không có cảnh chết chóc như Đại Lộ Kinh Hoàng ở Quảng Trị năm 1972, không chen lấn hoảng loạn như Quân đoàn II, khi triệt thoái về Tuy Hòa theo Liên Tỉnh Lộ 7 khoảng hai tuần lễ trước đây.

Từ Sông Pha về Sài Gòn, đi theo ngã Phan Thiết, rồi Bình Tuy, không còn khó khăn nguy hiểm. Ngày 4 tháng 4, Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt cùng quân nhân cơ hữu của trường được vận tải cơ C130, và trực thăng Chinook bốc từ Bình Tuy về Long Thành.

Nắm trong tay bốn chục chiếc trực thăng UH1, thêm vận tải cơ C130, trực thăng Chinook, được điều động từ Sài Gòn, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt có thể bốc tất cả Sinh viên sĩ quan Võ Bị đem về Sài Gòn trong vòng vài tiếng đồng hồ. Tại sao ông không dùng máy bay vừa an toàn vừa nhanh chóng, mà lại dùng đường bộ. Lý do đơn giản và dễ hiểu nhất bởi vì ông không thể bỏ rơi dân Đà Lạt. Một trong nhiều lý do khiến Việt Nam Cộng Hòa thua Cộng Sản đó là tinh thần Nhân Bản, đã ăn sâu vào tâm khảm của người dân miền Nam, trong đó có Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt.

Những dòng sông không trở lại

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 26 Jun 2015

Post by Sơn râu 14 Feb 2024

Gởi Hoàng Thị Đính, cháu tôi

Con sông Bồ trước khi tới địa phận làng tôi, phải chảy qua hai cây cầu. Một cầu xe lửa gọi là cầu sông Bồ, hoặc cầu Hiền Sĩ. Phía hữu ngạn là ga sông Bồ, một ga xép, phía tả ngạn là ga Hiền Sĩ, ga đầu nguồn để chở gỗ từ rừng Hòa Mỹ về.

Trong chiến tranh Việt – Pháp cả hai ga nầy đều bỏ hoang, tiêu điều. Nhưng với tôi, nó có những kỷ niệm thời thơ ấu khó phai, tôi sẽ kể cho độc giả nghe về sau. Cầu thứ hai là cầu An-Lỗ (1), cầu xe hơi, dài và hẹp. Phía hữu ngạn có một cái chợ nhỏ miền quê, không bao giờ thấy khách mua bán tấp nập, ngoại trừ khi cầu hư, xe đò kẹt lại. Cái chợ nhỏ bé gần chân cầu ấy, bao giờ cũng đìu hiu, dù sáng dù trưa, nó muôn đời mang cái cảnh “chợ chiều”. Cảnh “chợ chiều” làm tôi nhớ  câu ca dao:

                        Thân em như gánh hàng hoa

                  Sớm qua chợ sớm, chiều qua “chợ chiều”.

            Qua khỏi cầu An-Lỗ, sông Bồ không còn chảy hướng Tây -Đông, từ hướng Trường Sơn ra biển. Nó quay ngoắt một cách lạnh lùng chảy theo hướng Bắc – Nam, cặp theo Quốc lộ 1, tới “Đồn Cây Số 17”, một đồn binh quân sự, nó quay theo hướng cũ, lại lạnh lùng để cái đồn binh ngơ ngác trông theo, như những người lính miền Nam mới đổi ra miền Trung xa xôi, lạ lẫm. Chỗ khúc quẹo đó, phía tả ngạn là địa phận làng tôi, làng Hạ Lang, phía hữu ngạn là làng Văn Xá. Nỗi bi thảm xẩy ra cho mấy đời gia đình tôi chính là chỗ khúc quanh nầy của dòng sông Bồ, như một định mệnh, không phải cho một đời người mà cả mấy đời của dòng họ Hoàng tôi vậy.

            Tôi không có nhà. Ngôi nhà nơi tôi sinh ra và lớn lên chính là nhà từ đường họ nhà tôi. Từ khi biết khôn, khoảng giữa thập niên 1950, khung cảnh tôi thấy thường là một gian nhà tranh dài 5 gian hai chái, cửa bàng khoa chắc chắn. Sát cửa là những bộ bàn ăn cũ kỹ, mốc trắng, để người trong họ đến ngồi ăn giỗ những ngày cúng kị, phía trong, suốt cả 5 gian giữa là những bàn thờ có bát nhang sành, chân đèn bằng gỗ, các bài vị. Hồi xưa lắm, các chân đèn bằng đồng. Sau nhiều năm tao loạn, nhà tôi càng ngày càng nghèo nên các chân đèn bằng đồng lặng lẽ ra đi, thay vào đó là những chân đèn làm bằng thứ gỗ mít khá cứng. Tôi là con gái, không khi nào phải lau chùi quét dọn các đồ tự khí nầy. Việc đó, có bà nội tôi và ông Lại già chăm sóc.

            Ông Lại không phải là tên thật của ông. Đó là một phẩm trật nào đó của triều đình xa xưa. Trước năm 1945, khi còn triều đình nhà Nguyễn, ông nhận một chức trách nào đó. Khi nhà Nguyễn dứt nghiệp, ông trở về làng cũ, sống nhờ vườn cây ăn trái và mấy thửa ruộng nghèo. Sinh nhai và việc học của các con ông đều nhờ vào vườn cây và mấy thửa ruộng ấy. Dĩ nhiên, trong cảnh nghèo khó ấy, phần đông các con ông phải bỏ học sớm, sau khi qua khỏi bậc tiểu học.

            Cái dư âm của một dòng họ làm quan triều đình cũ còn vướng vất đôi nét trên con người ông Lại. Có thể đó là chiếc áo dài đen, cái khăn đóng, quần cháo lòng và đôi giày hạ ông chỉ dùng trong những ngày giỗ kỵ. Cũng còn nữa chứ, trong dáng dấp nhẹ nhàng, cung cách chậm rãi, trịnh trọng khi ông đứng trước bàn thờ, cầm mấy nén hương trong tay khấn nguyện ông bà về hưởng huơng hoa quả phẩm cũng như các món đồ cúng đơn sơ đạm bạc của một dòng họ càng ngày càng hàn vi, đặt trên bàn thờ tỏ lòng thành với tiên tổ, cùng với lời cầu nguyện phù hộ con cháu đổ đạt vinh hoa.

            Khi khôn lớn, nghe những lời cầu nguyện của ông Lại, bao giờ tôi cũng thấy buồn cười một cách chua xót cho dòng họ nhà tôi. Ngay trước khi triều đình Huế đổ nát, dòng họ bên nội tôi đã thất tán nhiều rồi, lắm người tha phương cầu thực, còn những ai chưa đi xa được thì đành ôm lấy mảnh đất nghèo sống bằng bữa cơm bữa khoai, khó ai có thể thấy một chút tương lai sáng lạn nào chờ đón ở cuối chân trời, nói chi tới đổ đạt vinh hoa, ông nghè ông cống như lời cầu xin của ông Lại. Một trong những người có thể có được một chút tương lai nào chăng, thì người ấy là nội tổ tôi. Nhưng ông bỏ xứ ra đi khi cha tôi còn niên thiếu, còn cha tôi thì đã chết từ khi tôi chưa chào đời.

            Đúng ra, ngôi nhà từ đường nầy phải giao lại cho ông Lại trông coi gìn giữ. Nhưng ông Lại từ chối công việc ấy, vì nội tổ tôi chỉ đi biệt tích, chưa qua đời thì việc nắm lấy chức vụ trưởng nhánh, trên nguyên tắc, ông nội tôi là người vai vế lớn nhứt và cũng là người lớn tuổi nhất, vẫn giữ lấy công việc phụng thờ nhang khói tổ tiên. Nếu nội tổ tôi không có nhà thì bà nội tôi phải đảm đương công việc ấy, có ông Lại giúp đỡ. Vã lại, ngôi nhà từ đường nầy chỉ là cái xác không. Ba bốn năm một lần, khi mái tranh bắt đầu có chỗ dột, bà nội tôi phải ngưng trồng khoai lang ở sân trước một mùa, để dành đất trồng tranh, lấy tranh lợp lại nhà từ đường. Ngoài ra, ngay ngõ vào là một cây hải đường đã già, mỗi năm bông lại càng nhỏ đi và vài cây bưởi, cây chanh, cây măng cụt cũng thuộc một thời niên thiếu với cây hải đường, nay cũng đang ở tuổi “xế chiều nghiêng bóng”. Những cây trái chúng cố gắng sản sinh ra được càng năm càng quắt queo đến độ những người buôn trái cây đi mua mảo hàng năm cũng ít khi buồn tình ghé vào.

            Thế nhưng, ông nội tôi là con quan. Quan như thế nào tôi đâu biết. Tôi chỉ biết sự quan quyền ấy còn lại trong cái tên gọi ông của người trong làng. Người ta gọi bà nội tôi là mụ ấm, hay  thím ấm hay bác ấm tùy theo sự quan hệ thân tộc gần xa hoặc có khi không có quan hệ máu mũ gì cả. Sự “quan quyền” đó bên bà nội tôi thì rõ hơn, nhưng mỗi năm tôi chỉ được thấy một hai lần. Đó là những bộ quần áo may theo kiểu xưa, có nhiều màu, giống như những thứ áo quần người ta thường thấy trong tranh vẽ các cô gái hồi cuối thế kỷ 19, cùng với những đôi dép của bà tôi và của em gái bà do bà tôi cất giữ được. Đó là những đồ kỷ niệm khi các bà còn trẻ, mỗi năm mặc một lần để cố ngoại tôi dẫn vào “đại nội” chúc thọ các thái hậu, hoàng tử, công chúa… Có lẽ các triều đại đó kéo dài không bao lâu, việc mặc áo quần mới như thế không được nhiều lần nên trông không đến nỗi quá cũ. Bà nội tôi cất những thứ “gia bảo” ấy trong chiếc rương xe có khóa và cũng là chỗ nằm của tôi và bà tôi. Mỗi năm, khi mùa đông qua rồi, trời bắt đầu có nhiều nắng mới, bà tôi lấy những thứ “gia bảo” đó ra, phủi một cách nhẹ nhàng những chút bụi tưởng tượng bám vào đấy rồi nhẹ nhàng phơi lên cây sào tre phía bếp. Chỗ đó vừa có nắng nhiều vừa tránh được mặt tiền nhà từ đường. Bà tôi không bao giờ phơi quần áo ở sân trước, phía trước các bàn thờ. Đến chiều, khi sắp hết nắng, bà tôi lấy vào trải ra trên cái rương xe, cho hơi nóng bay bớt, vải ỉu đi rồi mới cẩn thận xếp lại, rất nhẹ nhàng, tưởng như bàn tay gầy, da nhăn nhúm của bà làm cho chúng đau được. Một cách từ tốn, bà tôi bỏ vào một cái rương nhỏ, để ở trong góc rương xe mà tôi biết chắc phải 365 ngày nữa, chúng mới được lấy ra để hưởng chút nắng mùa xuân năm tới.

            Một năm, khi tôi đã lớn, học trung học, chủ nhựt từ Huế về thăm bà, thấy bà đang xếp những chiếc áo ngày xưa ấy cẩn thận như năm trước, tôi nói đùa:

– “Mệ!(2) Mai mốt trên trường có biểu con đóng vai hai bà Trưng, mệ cho con mượn bộ áo quần ni.”

Thật thà, bà tôi hỏi:

– “Thiệt à con? Đừng làm hư của mệ!”

Thấy tôi cười ha hả, bà tôi mắng nhẹ:

            – “Cha mi lên! Giỡn hoài. Cười chi mà to rứa. Con gái con

lứa “khôông” có ý tứ chi hết!”

Tôi biết bà nội tôi “lạc hậu” mất rồi. Bất cứ việc gì bà cũng muốn đem cái khuôn phép của thế kỷ thứ 19 mà rập khuôn lên đầu tôi. Tôi không thể tranh luận hay giải thích cho bà tôi những điều mới, những đổi thay của xã hội mà bà không thể hiểu hay chấp nhận được. Nhưng tôi lại đùa một lần nữa:

            – “Mai mốt mệ có lên thăm con trên Huế, mệ nhớ đừng mặc đồ ni, người ta cười con chết!”

Nói xong, tôi cố nín cười. Bà nội tôi thật thà nói:

            – “Đồ ni xưa rồi. Ai mà mược (mặc). Mệ cất là để dớ (nhớ) “ôông” cố con”.

Thấy bà thật thà, tôi ôm ngang hông bà, nói:

– “Mệ rứa hèn chi mất “dôông” (chồng)!”

Bà tôi vẫn cứ thật thà:

– “ÔÔng” đi làm ăn xa thì để “ôông” đi!

Thật ra, cuộc tình duyên giữa ông bà nội tôi là một sự gượng ép. Tôi nói là gượng ép, chưa đến độ ép buộc. Như tôi nói, người làng gọi bà tôi là bà ấm, mụ ấm vì ông nội tôi con quan. Với tôi, tiếng “ấm” bao giờ cũng gợi lên trong trí tôi cái ấm nấu nước sôi, có khi là cái ấm đất đã bị sứt vòi hay cái ấm đồng bà tôi cất kỹ trong rương xe, mỗi năm lấy ra vài lần để nấu nước sôi pha trà cúng ông bà. Xong, buổi chiều, bà nội tôi dùng lá khế chua kỳ cọ thật kỹ, đến khi không còn một vết khói đen nào bám vào ấm thì phơi khô, lại đem cất vào rương xe. Những thứ đồ đồng quí đó, không bao giờ bà tôi để qua đêm mà không cất vào rương xe, sợ ăn trộm. Đồ ấy quí lắm, nhưng với tôi quí không phải ở chỗ nó là ấm đồng, không phải là cái ấm đất mà chính là một thứ đồ cổ có số tuổi còn lớn hơn cả tuổi bà tôi.

Bởi vì cùng là con nhà quan nên cố nội tôi xin làm đám hỏi cho con trai khi bà tôi mới mười lăm tuổi. Tuy nhiên, cố ngoại tôi không chịu cho cưới vì bà tôi tính tình chất phát hiền lành, sợ không biết làm dâu. Bà tôi kể:

– “Khi cố ngoại sắp qua đời bèn mời bên nội tới cho cưới gấp. Làm đám cưới hôm 11 âm lịch thì tối 14, cố ngoại tắm rửa sạch sẽ, lên giường nằm, biểu bà cố thắp 7 ngọn đèn sáp (đèn cầy) trên đầu giường. Xong, “ôông” uống chén nước trà, nằm ngủ, tới sáng thì đi luôn.”

Tôi hỏi:

– “Cố đau bệnh chi?”

– “Mã đao!” Bà tôi trả lời.

            Khi biết bệnh mã đao bây giờ gọi là ung thư cổ, tôi vẫn cứ thắc mắc về cách chết điềm tỉnh của cố ngoại tôi. Ông là thầy thuốc, biết bệnh của mình nan y, ông linh cảm được cái chết đó, ông uống một chén độc dược để chết cho được nhẹ nhàng, tránh được đau đớn, vật vã? Ông là thầy thuốc mà! Tuy nhiên, tôi chẳng bao giờ nói với ai điều thắc mắc ấy và cũng chưa có dịp nói ra với chồng.

            Những năm Thế giới Chiến tranh thứ 2 đói kém, ông nội tôi, cậu ấm con quan bỏ nghiên bút xin làm công nhân xe lửa. Ông lưu lạc vào Bình Định khi cha tôi mới hơn mười tuổi. Khi chiến tranh Việt Pháp xảy ra, ông không về. Có lẽ một cô gái Bình Định nào đó, biết “múa roi đi quyền” (3) giữ riệt không cho ông về, hay một người đàn bà nào đó đã “hớp hồn” ông. Ông đã “bội bạc” bà tôi rồi. Nhưng tôi cũng chẳng bao giờ nói ra với bà tôi ý nghĩ đó vì tôi biết chắc sẽ bị mắng là hỗn. Với bà tôi, bao giờ ông nội tôi cũng chỉ là người “đi làm ăn xa”, dù ông đã có nhà cửa, vợ con đùm đề ở chỗ “làm ăn xa” ấy. Bà tôi ở nhà chăm chỉ nuôi ba tôi nên người, tròn nhiệm vụ của một người mẹ và lo cúng kỵ ông bà, tròn nhiệm vụ của một người con dâu, dù khi bà còn trẻ hay khi tôi khôn lớn, bà cũng đã già.

Dù trong cảnh gần như góa bụa, bà tôi nuôi cha tôi học hành. Ông là một trong số ít người làng được đi học đến nơi đến chốn. Năm 1945, khi cuộc khởi nghĩa xảy ra, cha tôi đang học ở Huế, rồi về làng.

            Là một trong số ít người có học, cha tôi tham gia “công tác cách mạng” trong làng: Tổ chức và dạy các lớp Bình dân Học vụ,  các công tác Thông tin Văn hóa, họp hành liên miên. Nhà không giàu, bà tôi vẫn cần cù làm lụng để cha tôi tham gia “công tác cách mạng”, không một lời than phiền. Do tham gia việc làng như thế, cha tôi gặp mâu thuẫn với người trong làng, những người cha tôi cho là dốt nhưng ưa nắm quyền lãnh đạo. Khi chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, quân Pháp đến dựng một cái đồn bên kia sông, ngang nhà từ đường tôi, gọi là “Đồn Cây Số 17”. Quân Pháp bắt đầu các cuộc lùng sục, bắt Việt Minh và đốt nhà dân. Ban đầu, khi Pháp đi lùng, cha tôi chạy trốn như mọi thanh niên trong làng. Khi Pháp đốt vài nhà trong làng, bà tôi rất sợ họ đốt nhà từ đường. Một lần, bà tôi phải quì lạy một sĩ quan Pháp, họ mới chịu rút đi. Nghe bà tôi kể, lần kế, khi quân Pháp bên kia sông qua làng, cha tôi không chạy nữa. Quân Pháp vào làng, cha tôi xin gặp viên trung úy chỉ huy. Vì đang học để thi tú tài thì bỏ học, cha tôi nói tiếng Pháp lưu loát. Thấy vậy, những người Pháp tỏ ra tử tế. Viên trung úy Pháp còn cấp cho cha tôi một tờ giấy, dặn khi nào có quân Pháp đi lùng, cứ đưa giấy nầy ra, nhà từ đường sẽ khỏi bị đốt.

            Năm đó, cha tôi cưới mẹ tôi. Việc cha tôi cưới mẹ tôi không phải vì tình yêu. Hai người không biết nhau, chỉ qua người làng môi giới cho bà tôi, khen mẹ tôi hiền và đảm đang, tuy mẹ tôi dốt chữ, nên bà tôi chọn lấy. Cha tôi thì rất thương mẹ, thấy mẹ chọn, cha tôi không nói gì. Làm thinh tức là chịu.

            Những mâu thuẫn giữa cha tôi và các người lãnh đạo Việt Minh càng ngày càng sâu sắc. Một phần cha tôi tự cao, cho rằng họ dốt nát, không thể lãnh đạo được những công tác thông tin văn hóa mà cha tôi đang phụ trách, một phần những người lãnh đạo nầy là bà con chú bác bên mẹ tôi, mặc cảm vì sự không cân xứng giữa hai gia đình. Lại một lần, người Pháp đi lùng đốt gần hết các nhà trong làng chỉ chừa một số nhỏ, trong đó có nhà một ông đội từng đi lính cho Tây, nhà từ đường dòng họ tôi. Việt Minh cũng khám phá ra việc viên trung úy Pháp cấp cho cha tôi một giấy chứng nhận để khỏi bị đốt nhà. Ban đầu, Việt Minh ghét cha tôi nhiều điều: Có học, phê bình, chê bai họ, rồi tình nghi, vu cáo cha tôi làm tay sai cho Pháp. Họ tung ra dư luận trong làng rằng cha tôi làm “Việt gian”.

            Thế rồi một đêm Việt Minh đến nhà gọi cửa. Cha tôi trèo qua cửa sổ nhà bếp, chạy ra đồng, thay vì chạy ra sông, bơi qua bên kia bờ để cầu cứu người Pháp. Ông có mặc cảm sợ người làng cho rằng ông theo Tây. Việt Minh cầm giáo mác đuổi theo cha tôi ra đến đồng, vừa chạy vừa la “bắt Việt gian”. Họ đâm cha tôi. Ông cố chạy thêm một quãng, khi đến đám ruộng gần mộ cố ngoại tôi thì cha tôi gục xuống đó. Việt Minh đâm thêm mấy nhát nữa, đến khi cha tôi chết hẳn họ mới đi.

            Sáng hôm sau, trời chưa sáng, trong khi bà tôi và mẹ tôi thấy cha tôi suốt đêm không về, sửa soạn đi tìm thì người làng đến báo cho biết cha tôi nằm chết ngoài bờ ruộng. Dĩ nhiên bà tôi và mẹ tôi khóc, đi tìm xác. Vì tục ở làng không cho đem xác người chết bất đắc kỳ tử về nhà nên bà tôi nhờ người dựng một cái chòi tranh bên cạnh mộ bà cố ngoại; cùng ngày hôm ấy, chôn bên cạnh mộ cố ngoại, nơi bà tôi dự tính sẽ an táng bà ở đó, để hai mẹ con nằm bên cạnh nhau, khi bà tôi qua đời.

            Cha tôi chết khi mẹ tôi mang thai tôi bảy tháng. Hai tháng sau, tôi sinh ra ở làng quê ấy, không có cha, trong cảnh khó nghèo, chiến tranh loạn lạc.

            Trong ngôi nhà từ đường mênh mông ấy, ba người đàn bà thuộc ba thế hệ: Bà tôi, mẹ tôi và tôi âm thầm sống với nhau trong cảnh hiu quạnh, buồn bã. Mẹ tôi lúc đó còn trẻ lắm, 18 tuổi, chịu cực chịu khổ nuôi tôi bên cạnh hình ảnh già nua của bà tôi.

            Năm tôi sáu tuổi, vừa mới đi học lớp năm ở trường làng, mẹ tôi đi lấy chồng. Bà tôi nói:

– “Con còn trẻ, bước thêm bước nữa, mạ không trách chi con. Có điều, làm mâm cơm cáo cho thằng Tường (tên cha tôi) trước khi con đi.”

Mẹ tôi nghe lời, bắt một con gà làm thịt, dọn một mâm cơm trên bà thờ, nói với bà tôi:

– “Mạ lên khấn cho con đi.”

Bà tôi mặc áo dài, thắp hương đứng trước bàn thờ, khấn lầm thầm. Rồi bà tôi khóc. Từ khi khôn lớn, đó là lần đầu tiên tôi thấy bà tôi khóc. Những dịp tôi nghĩ bà tôi có thể khóc như ngày giỗ bà cố tôi, tôi lại chẳng thấy bà khóc bao giờ.

Trong khi ông Lại đang rót rượu vào những cái ly nhỏ đặt bên mâm cơm, bà tôi kéo tôi vào lòng, vuốt tóc. Tôi biết có những gịot nước mắt của bà rơi trên tóc tôi. Mẹ tôi cũng khóc. Tôi lại chẳng biết gì để khóc!

Bữa cúng đó thật đạm bạc nên bà tôi chẳng mời ai. Trong bữa ăn chỉ có bà tôi và ông Lại. Tôi được ngồi chung mâm với ông Lại, đó là lần thứ nhứt. Trước kia, mỗi khi có giỗ, tôi thường được cho bánh và đuổi ra sân chơi, không được làm phiền người lớn. Mẹ tôi đi tới đi lui từ bếp ra bàn ăn để lo cho bữa cỗ được tươm tất. Nửa tiệc, mẹ tôi nói với bà tôi và ông Lại:

            – “Thưa mạ, thưa “ôông”, thường thì chồng chết để tang ba năm là được phép đi lấy chồng. Con vì thương con mà ở rứa là sáu năm. Con mong mạ và “ôông” thông cảm mà tha tội cho con.”

            Ông Lại trầm ngâm nhìn ra sân. Một lúc sau, ông mới nói:

– “Rứa cũng là quí rồi!”

Bà tôi nói:

– “Người ta bỏ vợ bỏ “dôông” thì được, không ai bỏ được con. Mạ cũng già, lâu lâu con về chăm sóc cháu giùm mạ.”

Mẹ tôi nói:

            – “Con biết mạ thương con hơn cả mạ con nữa. Con còn muốn về thăm mạ nữa, huống chi con của con. Con chọn người trong làng để gần gũi lui tới.”

Một lúc, bà tôi nói với ông Lại:

-“Phải chi thằng Tường “khôông” chết con dâu tui khỏi góa bụa mà con Đính (tên của tôi) cũng có cha.”

Ông Lại vẫn cứ nhìn ra sân, nói bâng quơ:

– “Ác chi mà ác dữ rứa “khôông” biết!”

Bà tôi hiểu ý, nói như than:

– “Anh em giết “dau” (nhau), trời ơi là trời!”

Ý bà tôi muốn nói những người Việt Minh giết cha tôi là anh em chú bác bên mẹ tôi. Giết cha tôi là làm cho mẹ tôi góa bụa, họ không biết vậy hay sao, hay biết mà họ cứ làm.

            Chiều hôm đó, mẹ tôi ra đi, vỏn vẹn chỉ có mấy cái áo quần gói trong cái khăn trùm đầu bà tôi cho. Cặp gói áo quần bên nách, mẹ tôi chào bà tôi, rồi bồng tôi đi ra cổng, vừa đi vừa khóc. Bà tôi đi theo. Ra tới cổng, mẹ tôi bỏ tôi xuống, hôn vào má tôi. Tôi thấy má tôi nóng ướt vì những giọt nước mắt của mẹ. Xong, mẹ tôi quay lại hôn bà tôi. Đó là lần độc nhứt tôi thấy mẹ tôi hôn bà. Xong, mẹ tôi xóc lại gói quần áo, nói:

            – “Con đi nghe mạ.”

            Rồi quay qua nói với tôi:

– Con ở “già” (nhà) với mệ, ráng học giỏi cho mệ vui!”

            Xong mẹ tôi lặng lẽ đi theo con đường đất chạy dọc theo bờ sông xuống xóm dưới. Bà tôi nhìn theo rất lâu, hình như bà khóc! Tôi đứng im lặng bên cạnh bà, không khóc mà cũng chẳng nói gì.

            Một chốc, mẹ tôi đi khuất sau rặng tre, bà tôi dắt tay tôi vào nhà, vừa đi bà tôi vừa nói:

– “Túi ni con ngủ với mệ.”

            Bà tôi có hai người em trai, một người chết khi còn trẻ, không có con cái gì, chôn ở làng Văn Xá, quê vợ ông ta. Người vợ ấy đi lấy chồng khác nên mỗi năm đến ngày chạp giỗ, bà tôi đi đò ngang qua Văn Xá thắp hương, giẫy cỏ, thuê người đắp mộ cho em. Còn một người nữa, con út, bỏ làng ra đi khi ông còn trẻ. Có hai lý do để ông cậu ấy bỏ làng mà đi. Thứ nhứt là tại cố ngoại tôi quá thật thà. Khi ông cố còn sống, nhờ làm thầy thuốc Bắc có tiền, nhứt là thời gian làm ngự y ở trong triều, được hưởng ơn mưa móc của vua và các bà thái hậu, ông mua mấy khu vườn mà lại mua của những người bà con bên vợ. Khi ông cố tôi qua đời, ông cậu tôi mới 9 tuổi, bà con bên ngoại bà tôi lợi dụng bà cố ngoại thật thà, tìm cách lấy lại các văn tự, xong họ lấy lại hết đất đai vườn tược, làm cho cố ngoại tôi nghèo đi. Khi ông cậu tôi lớn lên, thưa lên huyện để đòi lại ruộng vườn, vì nghèo không có tiền đút lót cho quan trên nên thất kiện. Đó là nỗi buồn thứ nhứt. Ông cũng thật thà, khi mới 18 tuổi, cố ngoại tôi cưới cho ông một người vợ đã có một đời chồng. Cả làng người ta chê cười ông. Ai đời “trai tơ lấy gái nạ dòng”. Ông mắc cỡ, đó là động lực cuối cùng thúc đẩy ông làm kẻ tha phương. Ông ra Quảng Trị, làm trợ giáo, lấy vợ ngoài ấy, sinh 8 người con. Việc ông lấy vợ xa xứ lại nẩy sinh những mâu thuẫn giữa bà tôi, em gái của bà với bà vợ ông cậu ấy. Một, ông không lấy vợ người làng như tục lệ làng tôi. Thứ hai, vợ ông là người thành phố, mảnh mai, không biết làm ruộng. Quan trọng nhứt là bà tôi và em bà cho rằng bà mợ người ngợm thành phố, chân yếu tay mềm như thế, không sinh được nhiều con, trong khi các bà cần một cô em dâu tốt giống, sinh con nhiều vì ông cậu tôi là con trai độc nhứt, rất mong có kẻ nối dõi tông đường. Đến khi bà mợ tôi sinh ra một bầy con, việc mâu thuẫn giữa các bà mới êm. Đến đó, bà mợ tôi bắt đầu phản công. Không bao giờ bà mợ tôi về thăm quê chồng, dù là ngày chạp giỗ. Chỉ có những người con trai của bà, sau khi hòa bình lập lại năm 1954, họ làm việc hay học hành ở Huế, cuối tuần về làng thăm và về chơi. Mỗi lần họ về như thế, bà tôi và em gái bà rất vui, họ nghĩ rằng “lá rụng về cội”. Khi khôn lớn, tôi nói một cách văn vẻ hơn. Tôi gọi họ là “Những dòng sông trở lại.”  Thậm chí, bà tôi còn khuyến khích họ lấy vợ ở làng để giống dòng khỏi lưu linh lạc địa.

            Bà mợ ấy có bốn người con trai. Tôi kêu bằng chú, anh em cô cậu với cha tôi. Ông con lớn, tôi chưa thấy mặt, khoảng thời gian cha tôi bị Việt Minh giết ở làng thì ông con lớn ấy làm báo ủng hộ Việt Minh ở Huế và bị Tây bắt thủ tiêu cùng năm cha tôi bị giết. Dòng họ tôi, như thế, có người bị giết khi họ còn trẻ, một người chết vì phe bên nầy, một người chết vì phe bên kia.

            Khi tôi sáu bảy tuổi là những năm hòa bình. Mỗi lần các chú tôi về chơi, tôi vui lắm. Sau khi mẹ tôi đi lấy chồng, cuộc sống của tôi và bà tôi rất hiu quạnh. Ngôi nhà từ đường dài 5 gian chỉ có hai bà cháu. Ngoài việc học, tôi chẳng có gì để làm. Vả lại, ngoài việc khuyến khích tôi học bài, bà tôi chẳng cho tôi làm việc gì, ngay cả việc vo gạo để bà nấu cơm hay lặt rau.

Nhà không có đồng hồ. Không chắc bà tôi biết xem đồng hồ, và chính cuộc sống hằng ngày của bà cũng như một cái đồng hồ. Mùa hè, bà nhìn bóng nắng trong sân nhà, hoặc mùa đông khi trời đầy mây, bà nhìn trời để đoán giờ, không mấy khi sai. Tuy nhiên, phía sau lưng nhà tôi, sát bờ sông là chùa làng. Bất cứ mùa nào, hễ nghe chuông chùa công phu ban chiều là bà tôi gọi: “Vô học bài con”. Tôi thắp ngọn đèn dầu hôi leo lét lên và ngồi e a một chốc. Khi thấy tôi xấp cuốn vở lại là bà tôi biết tôi đã thuộc bài rồi, không cần hỏi. Tôi chưa bao giờ nói dối với bà tôi. Buổi sáng cũng thế, dù khi mùa đông lạnh giá, nghe chuông chùa đổ, bà tôi lại gọi tôi dậy ôn bài trước khi đi học. Trong khi tôi ngồi ôn bài, bà tôi xuống bếp nấu một nồi xôi nhỏ để tôi ăn sáng, luộc một vài củ khoai, lấy giấy gói lại để tôi bỏ túi đem đến trường ăn vào giờ ra chơi. Dù nghèo khó như thế nào, bà tôi không để tôi đói bao giờ.

            Cuối tuần, khi các chú tôi về, tôi đi theo họ chơi, bà tôi không bao giờ rầy la gì.

            Về làng, ba ông chú tôi có ba cách vui chơi khác nhau. Chú Thế, người lớn tuổi nhứt, làm công chức, mỗi lần về là đi xe Vespa. Đang ngồi trong bếp, nghe tiếng xe bành bạch, biết ông về, tôi chạy ra sân đón, miệng tôi cười toe toét.

            Chú tôi vào nhà một chốc, gặp bà tôi xong, lại lên xe đi, cho tôi đứng phía trước, giữa hai chân ông. Nhiệm vụ của tôi đi theo là để trả lời ông về các cô gái trong làng. Những câu ông thường hỏi là “Con ni có chồng chưa?”, “Chồng nó làm chi ở mô?” hoặc làm chim xanh, vào trạm y tế xã kêu cô y tá ra cho ông ta gặp. Khi quen cô y tá rồi, ông ta không cho tôi đi theo nữa. Thế rồi “Thanh niên Cộng hòa” xã đòi bắt ông về tội hủ hóa, tứ đổ tường là những việc chính phủ đang bài trừ triệt để, bởi hai người hẹn nhau ở trong vườn sắn. Bà tôi cũng còn “phong kiến” nói: “Cha con nớ hồi trước kéo xe tay, “khôông” làm sui gia được mô.” Ông chú ấy bỏ đi mất, cả mấy năm không về. Tôi biết tính ông chú ưa du hí, không du hí đuợc nữa thì ông về làng làm gì!

            Người chú thứ hai còn đang đi học. Mỗi lần về, sau xe đạp của ông thường có cái cặp da, đựng vài ba cuốn sách học. Ông treo võng dưới mái hiên hay ngoài vườn, nằm ở đó suốt ngày, ngủ trưa cũng trên võng, bà tôi lo việc ăn uống cho ông nhưng ông dễ tính, thế nào cũng được. Năm ông chuẩn bị thi vào đại học, chị Tiết, chị Thuyên xóm tôi để ý đến ông. Các chị ấy cũng học trường Đồng Khánh, cuối tuần từ Huế về thăm nhà.

            Một hôm chú ấy đang nằm đưa võng ngoài sân, tôi ra đầu ngõ thì chị Tiết và chị Thuyên đi giặt áo quần ở bến sông về, gọi tôi hỏi:

– “Này, chú Hoàng tuần nầy có về chơi không?”

Tôi nói có. Chị Tiết hỏi:

– “Chú Hoàng học giỏi phải không?”

Tôi nói không biết.

Chị lại hỏi:

– “Chú Hoàng là nhà văn phải không?”

Tôi phải hỏi lại nhà văn là gì. Chị giải thích. Tôi trả lời không biết.

            Chị ấy nói như giận dỗi:

– “Răng cái chi mi cũng không biết. Vào hỏi lại coi. Nói là tao hỏi đó.”

Tôi vào đứng bên võng, hỏi chú Hoàng các câu hỏi của chị Tiết. Chú cười trả lời:

– “Năm kia tao học băng thi đậu nên người ta tưởng tao học giỏi. Học băng mất căn bản, làm sao giỏi được?”

Hỏi về chuyện viết văn, chú ấy cười:

– “Răng gọi là nhà văn. Mới bắt đầu viết, gọi là “mầm non văn nghệ”.

Hôm sau, lại gặp hai chị ấy xuống bến, tôi nói lại những gì chú Hoàng nói. Chị Thuyên nói đùa:

– “Con Tiết nó nói nó ưng chú Hoàng mi, hỏi chú mi có chịu cưới không?”

Tôi kể lại với chú. Ông ta cười:

            – “Ưng thì ưng nhưng đang còn đi học, mười năm nữa mới cưới.”

            Tôi kể chuyện với hai chị ấy, họ cười thiệt to và nói:

– “Hỏi chú mi có điên không. Chờ mười năm, con Tiết nó “hâm” những mấy lần, ai thèm nó nữa. Nói với chú mi cưới lẹ lên kẻo người ta cưới mất, uổng lắm.”

            Nói xong, hai người bỏ đi, vừa đi vừa cười.

            Người ta gọi ông là con mọt sách. Chỉ học và đọc sách, chẳng làm được gì. Bà tôi muốn nấu cháo gà cho ông ăn, sai ông bắt gà, ông không bắt được, cứ đuổi con gà chạy quanh sân. Bà tôi nói: “Học trò trói gà không chặt” và phải kêu người hàng xóm sang bắt giùm. Về sau, ông đi dạy. Có bà thím nói: “Bỏ cục phấn ra không biết lấy chi mà ăn.” Anh ông thì nói: “Thằng ấy như sống trên mây, chết đói sớm!” Quả thật ông là con mọt sách. Không bao giờ trên tay không có một cuốn sách gì đó nhưng tôi chẳng muốn xem qua những sách đó là gì. Tôi chỉ mới học những năm đầu tiểu học, chưa biết gì.

            Một lần, ông tò mò vào phía sau bàn thờ lục ra một cái hộp nhỏ. Lúc đó tôi mới biết đó là những thứ cha tôi cất giữ lại. Một ít thư từ, một cuốn sổ tay, vài ba tấm hình đã ố vàng, trong đó có tấm hình một cô gái đẹp, phía sau ghi: “Tố Quyên – 1944”.

            Chú Hoàng lấy tấm hình, đem ra sân xem cho rõ. Chú nói:

– “Chị Quyên nầy, tao biết, chắc là bồ của ba mi hồi xưa. Khi ổng học ở Huế.”

            Về sau, khi tôi đã vào Đồng Khánh, một hôm, tôi đến thăm

chú Hoàng. Ông nhắc chuyện cũ:

            – “Đính có nhớ tấm hình chị Tố Quyên không? Bồ cũ ông già mày đấy, chưa có chồng. Bữa nào mình lên chơi.”

Nhà cô ở trên đường Phan Đình Phùng, con đường chạy dọc theo bờ sông An Cựu, giữa đoạn cầu Bến Ngự và cầu Nam Giao. Khi chú Hoàng giới thiệu tôi là “con anh Tường” cô ấy nhìn tôi hơi lâu nhưng không nói gì. Trong khi ngồi nói chuyện, lâu lâu cô ấy nhìn lén tôi.

Ra về, chú Hoàng nói:

– “Hồi trước nhà chị ấy ở trên giốc Bến Ngự, làm địch vận cho Việt Minh, mỗi ngày xuống Huế xem tình hình lính tráng về báo cáo lại cho Việt Minh. Bị Tây bắt bỏ tù mấy năm, được tha về chị đi học lại, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm. Đã già, còn đi học với bọn trẻ, bọn chú gọi lén là “chị Quyên già.”

Rồi chú Hoàng đọc hai câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm:

                        Nay oanh đã giục “quyên già”,

                        Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.

Tôi biết chú Hoàng đổi chữ oanh ra chữ quyên. “Oanh già” mới đúng, ông chú tôi cố đọc như vậy để chọc cô Quyên.

Tôi nói đùa:

– “Lo học nên không lấy chồng.”

Chú Hoàng nói: – “Đâu có. Không lấy chồng được. Hễ có người đi hỏi là chị ấy lên cơn điên, đập phá lung tung. Người ta nói là ông Tường nhập hồn về phá, không cho lấy chồng. Ba mày ích kỷ, lấy vợ rồi để cho người ta lấy chồng chớ!”

Tôi nói:

– “Phải chi khi mẹ cháu lấy chồng, ông cũng phá thì bà khỏi lấy, cháu còn mẹ.”

Chú Hoàng nói:

– “Có lẽ không yêu. Yêu mới phá vậy.” Cho mãi đến già, cô ấy vẫn chưa có chồng.

            Khi ông chú thứ ba bắt đầu về làng chơi thì tôi đã hơi lớn. Ông ấy cao lớn, thích đá banh, đi xe đạp đua, và không mấy khi ở yên một chỗ như ông chú đọc sách nằm võng.

            Mới về tới nhà, ông hỏi ngay bà tôi:

– “Có chi ăn không o (cô). Con đói bụng!

            Thế là bà tôi phải nấu một cái gì đó cho nhanh. Nồi xôi nhỏ, mấy củ sắn. Ông thường mang bên lưng một cái “bị-rết” của lính, để trong đó lẫn lộn sách vở và mì gói. Có khi bà tôi chỉ nấu nước sôi để ông ăn mì gói. Ăn xong, ông lấy cái mền nhỏ, buộc vào chỗ giàng xe đạp đua để tôi ngồi cho khỏi đau đít. Xong, ông bồng tôi bỏ lên ngồi trên đó, đưa tôi đi chơi xa. Nhiều khi ông chở tôi lên ga Hiền Sĩ để nhìn đường xe lửa mà tôi từng nghe tiếng còi tàu nhưng chưa từng thấy bao giờ.

            Về khuya, trước khi tôi ngủ, nhiều đêm nghe tiếng còi tàu buồn lắm. Nó kéo dài lê thê như tiếng ai rên rĩ, đau đớn, mệt nhọc, như tiếng khóc thê thảm của người đàn bà, kích thích trí tò mò của tôi.

            Lên ga Hiền Sĩ chơi, tôi bỗng thấy thương những chiếc tàu đen. Con tàu chạy qua cầu sắt kêu rầm rầm như xoáy động tâm hồn tôi. Không lý tôi là con gái mà cũng có dòng máu phiêu bạt như hai họ nội ngoại bên bà tôi. Những con tàu đi ra phía Bắc, Quảng Trị nơi quê ngoại của mấy ông chú trẻ, mỗi lần họ về làng là đem tới cho tôi những niềm vui lớn hay con tàu xuôi về Nam, nơi nội tổ tôi lưu lạc về phương ấy. Trong khi tôi ngồi trên đầu cầu suy nghĩ vẩn vơ về những con tàu đưa người thân đi xa, đi rất xa, có người không trở lại, thì chú Ngọc đi lần theo vài cầu gãy, nửa còn vướng trên bờ, nửa chìm xuống nước để phóng ra giữa sông. Chú bơi qua bờ bên kia, rồi bơi qua bơi lại nhiều lần.

            Trên đường về, bao giờ chú cũng ghé lại cái “chợ chiều” bên đầu cầu An-Lỗ. Ở đó, lần đầu tiên trong đời, tôi biết uống nước ngọt, xá xị hay limonade, biết ăn cà-rem cây, những thứ tôi chưa từng thấy ở làng tôi bao giờ. Có lần chú nói đùa:

– “Mua một cây cà-rem lấy lá gói lại mà cầm về cho mệ.” (bà tôi).

Tưởng thật, tôi làm y như chú ấy nói. Nhìn tôi, chú ấy cười:

– “Ngu chi ngu dữ không biết!”

Chú Ngọc cầm cây cà-rem ăn hết, xong đưa cái que tre cho tôi, nói:

– “Này, cầm về cho mệ, bà chưởi cho mà nghe!”

Sau nầy, khôn ra, nhớ câu chuyện cũ, tôi vẫn cười cái tính tinh nghịch của ông chú ấy.

Khi chú Ngọc vào đại học, chú có cô bồ nhỏ tên là Thạch Thảo. Hè năm đó, cứ mỗi tháng một lần, đúng vào giữa mùa trăng, hai người về làng chơi và ở lại. Họ vui đùa suốt đêm, không ngủ. Tôi tò mò hỏi chú Ngọc:

– “Khi hôm chú với chị Thảo ngủ ở mô?”

Chú ấy nói:

– “Cần chi ngủ, ngồi chơi trước hiên nhà, ra vườn tìm có trái cây gì ăn chơi, khuya đói bụng, vô bếp nấu mì gói, mỗi người một tô.”

Chị Thảo nói với tôi:

-“Trời có trăng, ở nhà quê vui ghê, đi chơi mãi không chán. Ở thành phố ít khi thấy trăng đẹp.”

Rồi hai người rủ nhau đạp xe lên ga sông Bồ, tôi lại được đi theo. Chú Ngọc lấy xe chị Thảo để chở tôi ngồi sau póc-ba-ga, còn chị ấy đi xe đạp đua của chú Ngọc, trông rất buồn cười. Lên ga xe lửa, trong khi tôi và chị Thảo ngồi trên bờ chơi thì chú Ngọc nhảy xuống sông, bơi qua bơi lại giữa hai bờ. Xong, trên đường về, chúng tôi lại ghé “chợ chiều”, lại ăn nhiều thứ: bánh ú, bún không ăn với nước mắm ớt, chuối, khoai lang… Chị Thảo không quên mua vài cái bánh ú cho bà tôi, treo tòn ten nơi ghi-đông xe đạp. Bà tôi thường khen:

– “Con nớ thiệt có tình, ăn chi cũng không quên mệ.”

Được ba mùa trăng thi hai người tan vỡ. Sau nầy, khi có người yêu rồi có chồng, tôi vẫn thường nghĩ tới hai người ấy. Sao tình yêu của họ trong sáng và thánh thiện đến thế! Tôi chưa từng thấy họ hôn nhau bao giờ chứ đừng nói chuyện gì khác. Thế mà cũng tan vỡ, nguyên do thật đáng thương.

Ba chị Thảo, thiếu tá, nhờ thời thế, được bổ làm quận trưởng một quận gần quận tôi. Qua cái chức đó, ông có vợ bé, khá trẻ. Mẹ chị Thảo khóc, chị Thảo thương mẹ cũng khóc. Chú Ngọc bèn dẫn chị Thảo đến gặp ngay cô vợ bé ấy, yêu cầu cắt đứt quan hệ với ba cô. Ông thiếu tá cho rằng làm như thế là thiếu tôn trọng ông, cho rằng chú Ngọc là người chủ động việc nầy. Ông gặp chú Ngọc rồi một cuộc xung đột xảy ra giữa hai người. Dĩ nhiên chị Thảo chỉ còn cách khóc cho hết nước mắt mà xa chú Ngọc. Chú ấy đau khổ, dĩ nhiên, bỏ học, lang thang mấy năm rồi nhập ngũ. Ra trường chú xin về một đơn vị nhảy dù, gần năm năm sau, khi chỉ huy đơn vị về tái chiếm cổ thành Quảng Trị mà chú thường gọi là “thành phố quê hương”, chú Ngọc tử trận ngay ga xe lửa Quảng Trị, cửa ngõ thành phố. Tôi cũng khóc như bao nhiêu người thân trong gia đình.

Ôi! người chú đáng yêu ấy, người chú thánh thiện tôi đã tôn sùng như một thần tượng ngay khi tôi còn thơ ấu, người chú đem lại niềm vui lớn cho một đứa bé ở chốn quê mùa hiu quạnh như tôi, chú đã ra người thiên cổ.

Và tất cả ba ông chú ấy không còn ai về làng nữa. Chiến tranh lại lan tràn; kẻ chết, người đi xa. Tôi lại gọi họ một cách bóng bảy nhưng ý nghĩa đã khác xưa, với niềm đau tận đáy lòng tôi: “Những dòng sông không trở lại.”

            Hai năm trước khi chú Ngọc tử trận tôi lấy chồng, sau khi tôi tốt nghiệp trường Sư Phạm và dạy học được một năm. Tôi chọn nhiệm sở ngay trường tiểu học xã tôi, cho gần nhà và gần bà tôi. Ngôi trường nhà quê ấy, chẳng ai tranh giành thành ra việc về quê của tôi không có gì khó khăn. Người chồng tôi, quê ở Văn Xá, bên kia sông, cách làng tôi một chuyến đò ngang. Hôm rước dâu qua sông, phải đi bộ, trẻ con và bà con ra đứng xem hai bên đường thật đông, vui. Con đường làng dài và hẹp, chỉ vừa rộng đủ cho cô dâu chú rể đi bộ bên nhau, làm gì có “lên xe hoa”. Nhưng tôi không quan tâm việc ấy đâu, ngay cả khi qua sông, bỗng gãy một mái chèo. Bà tôi rất lo. Tôi cũng chỉ cười, an ủi bà đừng tin dị đoan. Chuyện tan vỡ về sau đâu phải tại vì mái chèo gãy ấy. Anh ấy học trước tôi hai lớp, ngay cả khi đang yêu nhau, trước khi quyết định làm đám cưới, tôi đã thấy mầm mống sự chia lìa rồi. Tôi đã cố gắng để sống, để vượt qua những mầm mống chia ly ấy nhưng định mệnh đã an bài.

Người Huế, và cả người làng tôi cũng vậy, có một định kiến rất “khó chịu” về hôn nhân, có nghĩa là bao giờ người chồng cũng phải hơn người vợ, người chồng luôn luôn phải là lá chắn, là cái khiên che chở cho vợ, đã đành, nhưng tại sao phải hơn cả về mặt học vấn. Người ta cho rằng nếu người vợ đậu tú tài, người chồng phải cử nhân, người vợ cử nhân, người chồng phải tiến sĩ. Và nếu có cô nào đậu tiến sĩ, bác sĩ, chắc chắn phải… ế chồng. Học cao quá, không ai vói tới. Các cô gái nghĩ và chọn lựa như thế đã đành. Các ông con trai cũng đành chấp nhận như thế. Chồng tôi dù học trước tôi hai năm, không qua được tú tài phần hai, không vào được trường Sư Phạm trong khi tôi được người làng và bà con khen là học giỏi từ khi tôi còn nhỏ. Học ở trường làng, bao giờ tôi cũng đứng đầu lớp. Lên Huế học, chưa bao giờ tôi thi hỏng, lại đậu cao. Tôi vào trường sư phạm chẳng qua vì con nhà nghèo, không cha mẹ, ở với bà nội. Lo cho tôi ăn học tới cấp ba là một sự cố gắng tột cùng của bà tôi. Hết nuôi ba tôi rồi lại nuôi tôi được cắp sách, bà tôi đã đổ ra biết bao nhiêu công sức.

Chồng tôi có cái mặc cảm thua kém ấy, dù tôi có muốn xóa nó đi, nhưng chồng tôi vẫn cứ khư khư giữ lấy nó, như một bức rào chắn giữa hai người. Không có sự phụ lực của anh ấy, tôi làm gì được, biết làm sao được!

Học quân sự xong ra trường, dù chồng tôi xin về đơn vị đóng bên kia sông, chúng tôi cũng không mấy khi gần nhau, nói chi tới sống chung. Tình hình làng tôi và làng anh ấy đều không

được yên, đêm đêm du kích về hoạt động, khiến anh ấy ban ngày cũng không dám về thăm gia đình hoặc thăm tôi. Tôi lại chẳng có thể bỏ bà tôi đi đâu được. Nếu có qua sông thăm chồng, tôi cũng chẳng thể ở lại với chồng nhiều đêm, nhà cửa không thuận tiện, không có trại gia binh và vì hành quân, anh ấy rất nhiều khi phải đi xa.

Một buổi chiều, trước giờ học trò ra về, vợ ông cai trường gọi riêng tôi nói nhỏ:

– “Cô nói với thầy (tức chồng tôi) rán đề phòng, “khôông” chừng “cách mạng” họ sẽ tấn công hay pháo kích vào đồn của thầy. Chắc họ đánh dữ chớ “khôông” mô!”

Tôi lo lắng hỏi:

– “Chắc không thím, làm răng thím biết?”

Bà ấy nói:

– “Dấu lính chớ “khôông” dấu dân được mô. Cả chục chiếc ghe chở đạn về dấu sau bàu, diều dà (nhiều nhà) tuốt cuối “xóm doi” bên mạ cô lo nấu bánh tày, bánh chưng, chắc là để tiếp tế cho bộ đội.”

Tôi nói:

– “Cám ơn thím nhiều lắm, tôi sẽ tìm cách báo cho anh ấy biết, nhưng tôi nói thiệt với thím, những chuyện nầy nguy hiểm lắm, thím nên cẩn thận; lỡ khi bên kia họ biết, nguy hiểm cho thím.”

Bà ấy trả lời:

– “Tui cũng biết rứa chớ cô, dưng (nhưng) thương cô, tui tội nghiệp cho thầy. Làng ni mấy chục năm ni (nay) người ta ở với dau (nhau) ác lắm, “khôông” còn thương dau dư (như) tục làng hồi xưa nữa. Cô mồ côi cha sớm cũng vì cái ác nớ (ấy). Ở với dau (nhau) dư (như) rứa làm chi mà còn làng!

Người Việt Nam ở quê có những nhận xét sâu sắc về tình làng nước. Thím cai trường tuy ít học nhưng nói đúng đấy. Làng là đơn vị căn bản của đất nước, mỗi làng có những phong tục, lề thói, tinh thần của làng nên nó mới đứng vững được trước bao nhiêu cuộc biển dâu. Làng tồn tại được là nhờ ở tinh thần của nó và cũng nhờ vào tình thương yêu đùm bọc, giúp đỡ nhau qua bao nhiêu đời, bao nhiêu thế hệ. Bỗng nay, người trong làng đâm ra ghét bỏ, thù hận nhau thì sự tan rã của làng, của đất nước tất phải đến mà thôi. Trên đường đi dạy về, nghĩ tới sự phân ly tan rã ấy, tôi bỗng thấy lạnh mình và buồn ghê gớm. Bao đời nay, làng tôi, dòng họ tôi có biết bao nhiêu người bỏ làng ra đi vì sinh kế. Vì sinh kế, nhưng lòng yêu làng, yêu bà con thân tộc thì cũng vẫn vậy. Có dịp, có cơ hội, người ta lại tìm cách về làng như các ông chú của tôi. Nếu tình thương ấy không còn, tình làng nước không còn, nếu trong làng chỉ còn những ghét bỏ, thù hận thì những người đi sẽ đi mãi. Con đường trở về không còn, như những dòng sông trôi đi, không còn quay trở lại.

Chồng tôi cũng thế, 1975, anh ấy đã đi, qua bên kia nửa vòng địa cầu. Với tất cả những mặc cảm dồn nén trong tâm hồn anh đối với cá nhân tôi, và với tình làng nước bạc bẽo, anh không còn nhớ tới nơi anh từng được chôn nhau cắt rún, nhớ tới tôi là nguời đàn bà đã đi qua đời anh, nhớ tới đứa con là một kỷ vật quí báu anh đã cho tôi. Dòng sông quay ngoắt qua một khúc rẽ khác, rồi xa khuất hẵn.

Mùa đông năm 1977, bà tôi qua đời, không phải trong cảnh nghèo đói mà phải nói là túng cực. Đất nước thống nhứt đã được hai năm nhưng chưa bao giờ dân tình thiếu thốn như lúc đó. Tôi nghĩ cái đói làm tăng cái lạnh đã làm cho bà tôi ra đi sớm. Đất chôn thì đã có sẵn bên cạnh mộ ba tôi, nhưng tìm mua cho ra một cái quan tài không phải là chuyện dễ như ngày xưa, mà tiền bạc thì tôi không có. Lương giáo viên sau 1975 là đồng lương chết đói hạng nhứt, thầy cô ai cũng thiếu thốn, rách rưới, còn ai nhờ cậy được ai, nên tôi lại càng vất vã trong việc chạy mua quan tài. Trước kia, bà tôi có mua dành sẵn cho bà một cái để ở đầu hiên nhà, nhưng hồi tôi học năm thứ hai sư phạm ở Qui Nhơn, tết muốn về thăm nhà nhưng không dám đi xe hơi vì quốc lộ 1 thường bị cắt và đặt mìn, nên bà tôi phải bán cái quan tài đó đi để tôi có tiền mua vé máy bay cho tôi. Suốt một cuộc đời bà tôi hết lo cho ba tôi rồi lo cho tôi ăn học, thậm chí bán cả quan tài để tôi có tiền mua vé máy bay, lẽ nào tôi lại có thể mua cho bà tôi một cái quan tài loại gỗ tạp. Chạy được tiền rồi, tôi phải lên tận rừng Hòa Mỹ để mua cho được một cái quan tài vừa tốt vừa rẻ. Trong khi tôi chạy ngược chạy xuôi lo tiền và mua quan tài thì con gái tôi ở nhà với bà con. Cũng may, trong làng vẫn còn nhiều người bà con xóm làng cố cựu tới lui thăm viếng, lo lắng, giúp đỡ nên việc chôn cất bà tôi được êm đẹp. Sự giúp đỡ đó là niềm an ủi lớn của tôi sau “cuộc đổi đời”.

Gần hai mươi năm sau ngày đã có hòa bình nhưng bình an thì không bao giờ có, đứa con gái của tôi lấy chồng, cũng để lại cho tôi một đứa con nhỏ, rồi nó lại đi thật xa, như nội tổ tôi ngày xưa vậy, tìm một miền đất hứa khác, ở cuối miền Nam khi cuộc sống chúng tôi quá nhiều khó khăn. Ngôi nhà từ đường bị tịch thu để làm kho hợp tác xã. Các bàn thờ và tự khí cũng bị tiêu hủy. Tôi chỉ được cho lại có gian nhà bếp.

Đêm đêm, ôm đứa cháu ngoại vào lòng, tôi sống lại cuộc đời bà tôi nửa thế kỷ trước, cũng trên chiếc rương xe ấy nhưng nay đã rỗng tuếch. Tôi chẳng cất giữ được những gì do bà tôi để lại, kể cả những thứ “gia bảo” của bà khi bà còn trẻ. Hai bà cháu tôi đắp cái chăn sờn rách nhiều chỗ mà số tuổi của nó kém tuổi tôi không xa. Tôi cố ép sát mình tôi vào đứa cháu ngoại cho nó được ấm như ngày xưa bà tôi đã ấp ủ tôi trong những đêm lạnh giá. Tôi miên man nghĩ tới những thế hệ đã qua, bao nhiêu người nằm xuống, bao nhiêu người đã đi xa mà tôi không thể hy vọng họ quay về, dù chỉ một lần thăm hỏi.

Tiếng bà lão ru cháu bên hàng xóm làm tôi nhớ những tiếng “ạ ời” của bà tôi ngày xưa, không bao giờ tôi có thể quên được. Ngày thơ bé ấy, tôi chưa hiểu lời ru, nhưng cái âm thanh đều đặn, trầm buồn phát ra từ cổ họng bà tôi, đã ru tôi vào giấc ngủ hiền hòa. Ngày sau lớn lên, ý nghĩa câu ca dao bà ru làm cho lòng tôi thêm đau đớn, buồn rầu. Đất nước nầy, dân tộc nầy có đầy những bài ca, những lời ru quyện lấy những điều chia lìa, ly biệt:

“Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội,

            Người xa người tội lắm người ơi!”

Thế ai làm nên những điều chia xa, giết cha tôi bên bờ ruộng, làm cho mẹ tôi góa bụa khi còn trẻ mà không thấy tội cho người?

“Con chim phượng hoàng bay qua hòn núi bạc

Con cá ngư ông móng nước ngoài khơi

Gặp nhau đây cạn tỏ một đôi lời

Kẻo mai kia con cá về sông vịnh,

con chim phượng hoàng dời non cao!”

Vâng, có bao nhiêu người thân yêu may mắn gặp gỡ nhưng chưa nói hết những điều muốn nói thì lại đã chia tay, như một dòng sông chia ra nhiều ngã, như những nhánh sông chảy qua miền đất phì nhiêu ruộng đồng xanh tốt và cũng có những nhánh sông băng qua nhiều thác, nhiều ghềnh. Những nhánh sông đó không bao giờ gặp nhau lại nữa!

Vậy là bên dòng sông Bồ nầy, ba thế hệ của dòng dõi nhà tôi đã trôi qua, với bao nhiêu khổ đau vì chiến tranh, chết chóc, chia ly và nghèo khó, của sự suy tàn triều đại nhà Nguyễn, kéo theo sự suy tàn của dòng họ Hoàng của tôi.

Mai đây, con tôi lớn lên, lại tiếp nối một thế hệ thứ tư, có gì làm chắc, có gì hy vọng ở thế hệ thứ tư đó, không riêng gì con tôi mà toàn thể thế hệ chúng nó, tránh dược những khổ đau và ly biệt mà cha ông nó đã từng gánh chịu?!

Lắm khi tôi bỗng giật mình vì những tiếng còi tàu thời thơ ấu từ ga sông Bồ, ga Hiền Sĩ vẳng lại. Trong đêm khuya tĩnh lặng, tiếng còi tàu thê lương rền rĩ vang lên thật rõ, như tiếng khóc một người đàn bà cô quạnh, như tiếng ạ ời giữa đêm khuya của người đàn bà nào đó ru con bên hàng xóm. Người đàn bà đó là ai? Là người đàn bà góa chồng như tôi ở bên cạnh nhà, là hòn núi đá Vọng Phu trong dãy Trường Sơn đứng ngó ra biển Đông, mòn mỏi đợi chồng, là bà tôi trong cuộc sống cô quạnh của bà hồi nửa thế kỷ trước ở một làng quê nghèo khó, hay chính tôi đang tiếp nối cuộc hành trình của bà trong cuộc đời vô định như những dòng sông trôi đi không bao giờ trở lại,

hoànglonghải

(1) Cầu bắt ngang làng An-Lỗ, quận Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.

(2) Mệ: Bà (nội hay ngoại), tiếng miền Trung.

            (3) “Ai về Bình Định mà coi,

           Con gái Bình Định múa roi, đi quyền.”  (Ca dao)