This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thưa bà con! Lễ Phục Sinh vừa rồi, người viết rất vui mừng vui quá vui khi được thằng bạn học cũ cách đây 53 năm, từ Wellington, Tân Tây Lan bay qua thăm.
Nó đi du học theo chương trình học bổng Colombo năm 1970. Học xong, tính về, nhưng năm 75, miền Nam mình ‘sập tiệm’ nên nó dông luôn tới tận bây giờ.
Trước khi qua, cố nhân đã cẩn thận gởi cho người viết một tấm ảnh để tui xem dung nhan đó bây giờ ra sao? “Kẻo gặp nhau ngoài đường không nhìn ra, không nhận ra nhau, mầy dám ‘đục’ tao như hồi xưa mình đi học lắm đa!” Bạn hiền nói đùa như vậy!
Thưa gặp bạn học cũ là vui hết biết, mầy tao rôm rả lên; dù đứa nào cũng cháu nội, cháu ngoại một bầy.
Petrus Ký niên khóa 1963-70
Nó có nhắc tới các thầy cô trường Petrus Ký niên khóa 1963; như chiếu lại cái cuồn phim cũ, đã rất lâu, mình cất vào ngăn kỷ niệm vì không có bạn coi cùng; giờ tưởng bụi thời gian đã phủ mờ năm tháng; dè đâu nhắc lại cứ tưởng mới hôm qua.
Bạn đồng song nhắc tới một Giáo sư Sử Địa, (nghe nói giờ bên Mỹ), khá nghiêm khắc (phải vậy chớ!) làm tui nhớ, tui cũng hơi rét, nên lâu lâu mới chịu học bài, nhờ vậy mới biết Úc Châu là một cái đảo đó chớ!
Sử Địa tuần có hai giờ thôi mà đám học trò tụi tui lúc đó coi nó dài như hai thế kỷ vì cô thường coi đứa nào mặt mày lấm lét, xanh chành như trái chanh… để kêu lên trả bài rồi cho nó hai cái trứng vịt!
Có lần cô kêu một đứa lên trả bài. Thằng nhỏ khớp quá nên cà lăm. Sử dạy rằng: “Lý Thường Kiệt đánh Tống” mà nó dám đọc là: “Lý Thường Kiệt đánh trống”. Làm cả lớp ôm bụng cười: Ha ha! Hi hi! và He he!
Thưa cái trường Nam, toàn học trò trai chỉ có nữ Giáo sư là gái nên dưới mắt tụi tui, cô nào cũng đẹp một cách thần sầu.
Vậy mà chuyện vui, bữa nhậu đoàn viên đó, bạn hiền lại kể cho tui nghe là:
“Lớn lên em sẽ làm nghề gì?” Thì em gái học trò trả lời: “Thưa cô! Lớn lên nếu em chân dài, đẹp, em sẽ đi làm người mẫu, làm diễn viên điện ảnh hay đi hát cải lương! Còn nếu lỡ em là con gái trời bắt xấu thì em sẽ đi làm… Cô giáo!”
Thưa hồi xưa đi học, Tía tui cũng như Tía của mấy thằng khác đều muốn con mình học giỏi hơn con của người ta. Nên Tía nói: “Tèo nè! Tía rất kỳ vọng ở con. Nếu năm nay nếu con được lãnh phần thưởng… hạng ba cũng được! Tía sẽ thưởng cho con một chiếc xe đạp Peugeot mới cáu cạnh.”
“Thưa Tía! Con rất thông cảm nỗi kỳ vọng của Tía đặt vào con. Nhưng con e rằng nỗi kỳ vọng đó rất viển vông!” Xong tui dọt mất.
Thưa học Petrus Ký được ba năm thì Tía tui được đổi về Mỹ Tho, quê cũ; nên tui buộc lòng phải đi theo; dù xa mấy thằng bạn quỷ phá nhà chay suốt ba năm học nầy cũng buồn biết bao trong tấc dạ.
Về trường mới đi ban C, học chung với vài đứa con gái bên trường Nữ Lê Ngọc Hân gởi qua. Vì ban C ít đứa quá; nên không đủ túc số mà mở cho một lớp nên mấy em phải học… lưu vong.
Mấy em ra vẻ thiếu nữ con nhà đài các, mặc áo dài, điệu đà tay raglan, đội nón lá bài thơ của Huế, đi yểu điệu trước sân trường… làm mấy đứa học ban A, ban B nhìn theo mút con mắt.
Không có thì ước; chớ có rồi thì phiền toái lắm. Học chung với con gái là ngày phải tắm một lần chớ không phải tuần một lần như trước nữa.
Mặc quần áo đi học là phải xem xét đàng hoàng coi có quên kéo ‘fermeture’ đóng cái cửa sổ hay không? Kẻo mấy em kết tội mình khiêu dâm thì lại khốn.
Hết ba năm lên đại học, đường ai nấy đi nhưng khổ nỗi vắng mấy cái nón lá nầy là nhớ!
Tuy nhiên có người nữ đi qua đời ta như cơn lốc rồi không để lại xót xa gì ráo trọi. Tại sao vậy?
Vì: “Nè anh có nhớ em không? Hồi xưa hai đứa mình học chung lớp, ngồi chung bàn đó!”
“Dà! Già rồi nên xin lỗi tui không nhìn ra được bạn cũ?”
“Ờ để em nhắc cái kỷ niệm đắng cay nầy cho anh nhớ nhé! Anh thường gọi em là hột mít đó, nhớ chưa?”
“Nhớ rồi nhưng quả anh nhìn không ra vì em bây giờ không còn là hột mít nữa… Mà thời gian đã biến em thành… một trái mít!”
Chọc quê người em cùng lớp mình năm nẩm thôi cho vui! Ai dè giống hịt khi xưa ta bé ta chơi, em giận thiệt!
Em hứ cái cốc rồi bỏ đi bàn khác sau khi phán một câu mình nghe cũng đau lòng hết sức: “Đừng có làm tàng nhe! Hồi xưa xấu trai thấy thương luôn. Đi học bữa nào gặp cái bản mặt của anh tối về ngủ, tui cũng đều bị ác mộng! Gần năm chục năm rồi, bữa nay gặp lại anh nữa, tui e ác mộng ngày xưa lại trở về trong giấc ngủ của tui!”
Thưa bà con! Sau nầy mình ra hải ngoại rồi. Mấy năm đầu thì mạnh ai nấy cày! Cày tối tăm mặt mũi để lạc nghiệp, an cư. An cư rồi thì nhớ nhau sao không tìm nhau? Vậy là hội đoàn lập ra như nấm gặp mưa vậy. Trường nào cũng có hội ái hữu hết để bạn bè cùng trường gặp lại, ôn lại thời đi học, cái thời ai cũng cho là đẹp nhứt đời người.
“Hôm nay tôi trở về thăm trường cũ/ Nhiều nét đổi thay tường mái rêu mờ/” “…Thầy đó trường đây bạn hữu đâu rồi?/ Bao nhiêu kỷ niệm hoa bướm ngày thơ/ Vang trong nỗi niềm nhung nhớ/ Có ai đi thương về trường xưa?”
Giờ thì mình không về trường xưa được thì mình gặp lại bạn xưa cho đỡ ghiền vậy mà.
Hằng năm, trường nào cũng có tổ chức luân phiên Đại hội toàn thế giới mà học sinh cũ về đôi khi phải bay cả hàng chục ngàn cây số, đi Mỹ, đi Úc, đi Canada gặp nhau dù chỉ vài bữa cuối tuần cho thỏa cái lòng mong nhớ.
Đó là cái truyền thống hay đấy chớ nên khi có trường nào mời dự đại hội là tui, dù không phải là học trò trường đó cũng chịu khó đi cho nó vui.
Người ta nói trẻ sống cho tương lai; già sống về quá khứ! Tui già rồi chỉ còn cái thời quá khứ là vui thì tại sao không?
Tui đi dự đại hội trường xưa để tìm vui mà lại gặp chuyện buồn mới chết.
Chẳng qua mấy tuần trước đi dự hội Cựu Học sinh Phan Thanh Giản Cần Thơ, nghe chuyện nầy tui cũng buồn lây theo anh bạn cựu học sinh trường nầy.
Ảnh nói rằng: “Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ quê mình là thuộc địa của Tây; trong khi Trung Kỳ và Bắc Kỳ là xứ bảo hộ suốt 61 năm, từ năm 1884 mãi tới năm 1945 mình mới giành được độc lập đó anh!”
“Tây thì có thương tưởng gì dân mình! Chỉ muốn bóc lột tài nguyên của xứ mình chở về xứ nó. Sau khi bình định được đất Nam Kỳ để củng cố guồng máy cai trị, Tây cần người bản xứ đi học chút đỉnh để làm việc cho nó.
Chớ Tây với chánh sách chia để trị, chánh sách ngu dân nên tới năm 1945 dân Việt mình tới 95% phần trăm là mù chữ đó anh!”
“Đau đớn thay – phận An Nam/ Để cho Đại Pháp – nó làm thịt dân!
Cả cái Nam Kỳ mênh mông, cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi nầy chỉ có được 3 cái trường Trung học. Hai cái chỉ dạy tới “Đút rơm trâu ăn mê” tức là Diplôme, tức cái bằng Thành Chung ở Collège Le Myre de Vilers (sau nầy là Nguyễn Đình Chiểu) và Collège de Cantho (sau nầy là Phan Thanh Giản.)
Nhà giàu muốn con mình học lên nữa tới Baccalauréat Local (Tú tài Bản xứ) là phải lên thi vào Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký ở tận Sài Gòn.
Dẫu trường do Tây cất để phục vụ yêu cầu của thực dân nhưng (dù chúng không muốn) những ngôi trường nầy đã sản sinh ra biết bao người yêu nước như trường Phan Thanh Giản của tui đây!
Võ cũng như văn! Võ có ông làm tới Tướng! Còn văn như ông Sơn Nam, nhà biên khảo nổi tiếng xưa giờ về Văn minh Miệt vườn đã từng theo học đó anh!”
Trường Phan Thanh Giản (tiền thân là College de Cần Thơ) Tây cất năm 1917! Tới 2017 là đúng một trăm năm! Một thế kỷ! Hiếm và quý!
Vậy mà mấy quan lớn CS ở Cần Thơ (hỏng biết có đứa nào là học trò cũ hay không lại nỡ đang tâm ra lịnh tử hình trường Phan Thanh Giản) ra lịnh kéo sập xuống, cất lại mới toanh! Chỉ còn giữ cái mặt tiền để làm kiểng.
Nghe thiệt là buồn nhe. Có những công trình kiến trúc còn xưa hơn trường Phan Thanh Giản như: Nhà Thờ Đức Bà, Bưu Điện Sài Gòn mà còn giữ lại được! Thì trường Phan Thanh Giản tại sao không?
Ngay cả tuốt ngoài Bắc, trường Ngô Quyền mà tiền thân là trường Bonnal đã 96 tuổi, cất năm 1920, tức ‘ít già’ hơn trường Phan Thanh Giản có 3 tuổi thôi… Xưa học trò 45 đứa hiện giờ tới hơn 1600 đứa vẫn đi học đều đều phẻ re ngày hai buổi đó thôi.
Tại sao những công trình đó người ta còn giữ được mà Trường Phan Thanh Giản tụi bây lại đập tan tành cho đành chớ?
Thưa bà con! Anh bạn nầy vốn là một cựu học sinh rất nặng lòng với trường cũ, (Thiệt là đáng ngưỡng mộ nhe!), vài năm trước, mấy ảnh lên tiếng đòi lại cái tên Phan Thanh Giản cho trường mà sau 75 tụi nó tự động đổi thành Châu Văn Liêm.
Rốt cuộc, chạy tới chạy lui, chạy vô chạy ra, chỉ toàn nghe hứa cuội và trớt quớt. Lý do là mấy ảnh thiếu cái thủ tục đầu tiên tức tiền đâu!
“Tiến sĩ Phan Thanh Giản là một nhà yêu nước xuất chúng của Lục Tỉnh Nam Kỳ mình, cái đó giờ đã rõ không bàn cãi gì ráo thì phải trả tên trường Phan Thanh Giản lại cho dân chớ!”
“Sau 75, có ba điều đáng phê phán mà tui tin rằng những đứa đầu têu ở Thành phố Cần Thơ, chắc cũng có đứa là học trò cũ của trường nầy chớ hỏng lẽ xưa giờ tụi nó hỏng có ai đi học?
Một là dùng búa đập nát tượng cụ Phan Thanh Giản vừa mới dựng trong khuôn viên nhà trường năm 1974. Hai là bỏ tên trường. Rồi bây giờ cũng vì tiền, chúng đập luôn cả ngôi trường…
Dân Cần Thơ đâu có ai chịu… Mà tụi nó vẫn đập. Thiệt đau lòng tụi tui quá!
Trường đâu chỉ là cái vật chất thôi đâu… mà còn là cái hồn, cái tinh thần, là tình cảm, là kỷ niệm của biết bao lứa học trò năm cũ.
Tụi nhỏ, nhứt là đám con gái, nghe trường sắp bị đập bỏ, bèn mếu máo rủ nhau trở về, chụp hình kỷ niệm trường xưa! Kẻo mai kia mốt nọ biết đâu mà tìm?”
“Té ra mấy đứa nhỏ con cháu mình nó thông minh hơn tụi tui nhiều. Tụi mình lại ngây thơ hơn vì vẫn còn nắm níu, hy vọng trường Phan Thanh Giản sẽ được trùng tu chớ!”
Thưa hỏng biết an ủi anh gì hơn, nên tui nói xụi lơ là: “Mình có nước mà mình không biết giữ cho đến nông nỗi nầy thì cái trường của anh cũng chịu chung phần số tang thương theo vận nước đó anh!”
Nghe vậy ảnh chép miệng thở dài, cay đắng: “Biết bao kỷ niệm êm đềm thời đi học của Ba tui, Má tui, con cháu tui cũng sẽ tiêu vong.
Cái trường Phan Thanh Giản của tụi tui 100 tuổi; giờ tụi nó ‘hô biến’ thành một tuổi!
Tụi mình giờ chỉ còn biết:“Minh tinh chín chữ lòng son tạc/ Trời đất từ rày mặc gió thu!”
Phòng tranh mang tên “Giao Mùa” mở cửa hơn hai ngày thì bị đóng. Mưa đang về, bay nghiêng hạt xuống một địa phận sẵn lòng đón nhận sự dầm thân trong rét mướt. Tấm bích chương mềm nhũn, hoen màu, chịu thử thách ban đầu cái tác hại của nước ngấm. Hàng chữ “từ ngày 7 đến ngày 14” đã bị mưa cào đến thủng giấy, hết còn đọc ra. Đây là cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên của Nguyễn Văn Xê, 30 bức tranh sơn dầu hiện hữu sau 10 năm mài miệt vẽ. Xin được giấy phép đúng một tuần, chỉ bán được một bức “Thiếu Nữ Cởi Áo Lụa Bên Hồ” thì… giông bão tới.
Đột ngột. Khách muốn thưởng ngoạn ngác ngơ trước cánh cửa có bắt cái khoá rõ to. Những kẻ muốn lợi dụng một không gian nồng ấm để trú mưa cũng bị dội ra. Nghệ thuật mà làm gì mấy cha! Nghe đâu bão lớn ngoài biển Đông đang đe nẹt đòi thổi vào. Hai ba người đứng luận chuyện trước cửa đóng then cài. Thì ít ra phải có mặt tay hoạ sĩ đứng đó phân bua giải thích. Đóng bất ngờ kiểu này coi bộ không êm. Ừ, quả có đột xuất thật! Tay ấy bị xe điên đụng phải chăng?
Nguyễn Văn Xê, 32 tuổi. Chẳng được đào tạo từ trường ốc chính quy. Do khéo tay cộng với niềm đam mê chẳng ngơi nghỉ nên trì chí tự mày mò để bước vào con đường nghệ thuật tạo hình. Quá trình đã từng góp tranh trong những cuộc triển lãm “12 khuôn mặt trẻ”, hoặc “Sức sống và cuộc đột phá của những cây cọ miền Trung”. Nguyễn Văn Xê, chưa vợ con. Tóc để dài, trang phục bụi bặm, quần jean thủng rách lấm lem màu dầu, và như đa số bọn “tác nghiệp” thứ nghề tự do vô bổ ấy, hắn nghèo rớt mồng tơi. Nhưng chớ nên áp đặt Xê là dân vô sản chuyên chính, hắn giàu có ở mặt khác, hắn sở hữu những thứ vô giá.
Nguyễn Văn Xê ngồi một mình trong căn phòng nhỏ, đóng kín. Một ngọn đèn vàng, một chiếc bàn gỗ và hai cái ghế. Phòng có trổ một ô cửa sổ, tấm kính mờ đục ở đó không bưng bít được vuông màu xám nát nhừ những giọt mưa mãi cào cấu bên ngoài. Một cốc cà phê, một điếu thuốc. Yêu cầu của Xê chẳng được đáp ứng, người ta chỉ vứt xuống mặt bàn tờ giấy vở học trò cùng cây viết từng bị những dấu răng gặm nhắm qua. Thật thà khai báo, có thể đó là đầu đề mà Xê phải trả bài, không nhất thiết phải đúng niêm luật vần điệu câu cú. Khi anh tự nhận mình vô tội thì chữ thật thà kia đã nhảy sang dối gạt. Tìm cách tạo dựng ra tình huống. Bằng không thì anh bó tay, để sự trinh nguyên cho trang giấy vở khỏi lấm màu. Anh sẽ bị bợp tai? Anh sẽ bị mắng chửi? Bị lên lớp? Bị nguyền rủa? Nguyễn Văn Xê cúi mặt xuống. Bài làm bao giờ cũng khởi đi bằng khúc dạo đầu: Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc…
Cửa mở, một “anh” cán bộ bước vào. Anh này không giống anh ban trưa dù áo quần của hai anh tựa hai giọt nước. Anh đứng ngọ dữ dằn, anh chiều tà bớt dằn dữ. Coi bộ tử tế vì ảnh có cầm theo ly cà phê, đặt xuống bàn, trước mặt Xê. Quen vẽ vời chứ không quen viết lách à? Anh ta vừa hỏi vừa kéo chiếc ghế trống, bốn chân gỗ lê thứ âm thanh nghe bất an. Uống đi, cho tỉnh trí. Nguyễn Văn Xê nghe lời, dù mãi hoang mang, hắn cố kềm giữ, không muốn để gã kia nhìn thấy năm ngón tay run. Có lần Ngọc ngồi làm mẫu đã gióng câu hỏi: Điều gì khiến anh sợ nhất? Hắn nheo mắt ngắm bầu ngực trần của cô gái tuổi 17: Anh sợ bị thương tật ở đôi bàn tay.
Cà phê rất tệ dù được uống trong hoàn cảnh này. Chẳng biết khi pha chế, người ta có hoà thêm “một thứ gì đó” vào trong chất nước đen đã mất mùi. Cán bộ sửa giọng, nhập đề buổi lấy cung: Bức tranh “Xuân Thì” là vẽ theo ngẫu hứng hay có chủ đích? Nguyễn Văn Xê khảy đất bám dưới móng tay: Xin lỗi, tôi không hiểu hết ý của anh… Người trong tranh rất giống một nhân vật ngoài đời… Ồ, cô ấy đồng ý làm người mẫu. Làm không công hay sao? Theo hợp đồng thì số tiền tôi phải chi trả là một triệu. Trả hết chưa? Cũng theo thoả thuận tôi đưa trước một nửa, số còn lại sẽ thanh toán sau khi đóng cửa phòng tranh. Chỉ mới hai hôm, tôi chẳng hiểu vì sao… Được, có hai chuyện vướng mắc nên đả thông: Thứ nhất, trên đánh giá là số tranh trưng bày đa phần đều mang tư tưởng ám tối gợi dục. Thứ hai, do đơn thưa kiện của bà Trần Thị Hoàn cáo buộc hoạ sĩ đã cưỡng bức và xâm phạm xác thân gái vị thành niên tên Phan Thị Ngọc, con bà đồng thời cũng là người mẫu trong bức “Xuân Thì”.
Sao ngồi nín khe vậy? Có phản biện không? Hay câm lặng là thú nhận lỗi lầm? Xê ngó xuống mặt gỗ trầy trụa trên mặt bàn, hắn từng vẽ chi ly, gọt tỉa sống động một cái bàn học thời niên thiếu hoen ố đầy vết mực đổ, ghim đầy nét khắc các mẫu tự cặp đôi nằm trong trái tim nham nhở. Và bức tranh tĩnh vật sống động ấy đã lọt vào mắt xanh một Việt kiều rinh về Mỹ quốc. Một ngàn đô la, hắn đã mời hai mẹ con đi vào nhà hàng cao cấp ăn mừng, đã mua quà theo sự vòi vĩnh của Ngọc. Hắn đã sống với những ngày êm đẹp ngắn ngủi gần như hoang tưởng, tận hưởng và phung phí…
Phóng lớn một tấm ảnh, chuyển qua tranh thì mất bao lâu? Nguyễn Văn Xê nhìn vào đôi mắt người quyền lực. Thú thật là tôi không hành nghề như thợ vẽ truyền thần, thứ công việc chuyên sao chép cho thật giống so với bản chánh. Đâu ai ra điều kiện khó khăn thế? Chỉ cần nhìn thoáng thôi là đủ phát hiện… kiểu như ngắm bức “Xuân Thì” thì biết ngay đấy là dung mạo cô Phan Thị Ngọc. Cũng tuỳ anh ạ, việc vẽ vời tôi chưa bao giờ tự ép mình vào một khung thời gian nhất định. Kẻ kia nhún vai: Ba hôm, giả dụ thế, là hoàn tất chứ gì?
Trước mặt Xê, vừa nằm trên vuông giấy vở là tấm ảnh cỡ 5×7 thu giữ một khuôn mặt đầy đặn của người thiếu nữ. Cứ gật đầu chu toàn cái hợp đồng nầy thì tự khắc cánh cửa kia sẽ mở rộng, tha hồ mà dầm mưa trở về nhà thu vén dọn dẹp phòng tranh. Nghe êm không? Có nghĩa là ngoài việc vẽ lại chân dung từ tấm ảnh này ra tôi không phải làm thêm thứ gì khác? Có đấy cậu ạ. Theo thủ tục cậu cứ viết cho xong tờ khai kia, những rắc rối tình cảm liên quan tới hai mẹ con ấy thì phải chính cậu tự giải quyết lấy, bồi thường tiền bạc gì đấy, chuyện đâu có gì phải náo loạn kiện tụng tới chốn pháp đình. An tâm đi, nhớ tập trung đầu óc vào việc được trao gửi. Người trong ảnh là vợ mới cưới của sếp cơ quan đấy chứ không đùa đâu nhé.
Qua trung gian một người bạn tôi gặp được Nguyễn Văn Xê, thực ra giờ này hắn đã đổi chữ ký, dưới góc tấm tranh thôi còn chữ X màu đỏ như trước đây, điền thế bằng chữ Dịch màu vàng. Hắn trú trong xóm nhỏ, cuối đường, tiếp cận với một nghĩa địa trồng lắm mộ bia và chân nhang và hoa héo. Hỏi Xê không ai biết, Dịch thì may ra có đôi ba người chỉ lối giúp. Dịch tóc húi cua, ngắn thật ngắn. Ngắn như tóc vừa mọc dài trên đầu kẻ vừa hoàn tục. Khi biết tôi có ý định in một tập truyện, hắn hứa sẽ minh hoạ giúp tôi cái bìa. Hắn hỏi viết thể loại gì? Ờ, mình viết chuyên tình. Vậy thì thay tranh tĩnh vật hoặc phong cảnh bằng môi hôn, bằng vòng tay ôm giữ, bằng thiếu nữ khoả thân, bằng cuống quýt xác thân nam nữ…
Tôi mời Xê hay Dịch đi ra đầu đường uống cà phê. Hắn mang theo xấp giấy nằm trong bìa cứng. Khi bày cả ba bức tranh màu nước cho tôi chọn, chúng làm khó tôi bởi cả ba đều đẹp hết chỗ chê, phải băn khoăn nhờ tác giả cho ý kiến. Tôi nghe lời hắn: Bức này có nhiều khoảng trống, sẽ dễ sắp xếp những con chữ nằm vào mà chẳng phá hỏng bố cục. Nhan truyện nên dùng màu nâu, những chữ khác màu cam, nét thật mảnh kiểu chân phương, như vậy nó “ăn” với màu sắc đường nét của bức tranh. Không nén được, tôi hỏi: Vì sao chữ ký lại là Dịch mà thôi còn Xê? Đơn giản vì hôm nay không còn như hôm qua. Hắn cười với tay xoa đầu. Mình xuống tóc cũng là cách cố quên đi ngày cũ.
… Khi bước vào phòng, sau khi đóng lại cánh cửa bằng lưng, N. đưa tay gạt xuống công-tắc đèn. Loay hoay một đỗi, N. xua đuổi bóng tối bằng những ngọn nến cô vừa đốt sáng lên. N. quay mặt với hai tay đang mang lại chiếc bánh kem, những đốm lửa nhảy múa, một gương mặt nửa sáng nửa tối và đôi mắt sâu, thu giữ một hân hoan long lanh. Luôn luôn, bầu khí quyển trong căn phòng này phải bị hoán đổi khi N. xuất hiện. Mãi hoài N. vẫn là người muốn xáo trộn cái trật tự mà tôi chẳng biết cách sắp xếp chúng. Nếu đó là sự bừa bộn thì một khi đã bị giăng bủa chẳng ai phải khó chịu cả. Và tôi, tôi vui vẻ thuận lòng đón nhận lấy dù đôi lúc N. tới, bắt tôi phải ngưng ngay công việc. Những mảng màu thôi tấp vào mặt bố, những đường viền phải chịu đứt ngang. Chúc mừng sinh nhật. N. nói. N. nhắc về một con số, một ngày tháng mà lý ra tôi buộc phải nhớ hơn ai cả. Tôi chùi đôi bàn tay vào cái khăn lau mặt cũ. Tôi ôm lấy N. khi cô vừa đặt bánh xuống mặt bàn. Có thể khi mua bánh cô đã nhón lấy một thỏi chocolat. Môi N. còn vị ngọt đắng, như thể nó vừa tan trên lưỡi nóng, như thể nó còn vướng víu ở kẽ răng chờ tôi dọn sạch. Bao giờ thì đến ngày sinh nhật của em? Tôi hỏi khi mũi mình đang đánh cắp hơi thở N. rối loạn. Hôm nay, em nghĩ vậy. Chính xác là ngày nào thì chẳng một ai còn nhớ, nhà bị cơn hoả hoạn đốt sạch, khi làm lại giấy khai sinh, ba em lấy ngày thành hôn cùng má để điền thế, bảo cho dễ nhớ, cho dù mai sau có bị thêm khổ nạn thì thứ tháng ngày kia sẽ không phản bội, mãi lưu vào đầu óc. Trong đống tranh nằm úp mặt kia, có bức nào anh đặt tên là “Vết Sẹo”? Hoặc “Thương Tích”? Vụ cháy nhà đã làm em phỏng nặng, khi nhìn thấy dấu tích nhăn nhúm đó, liệu anh còn thương em?
Không một ai bỏ công thổi đi những đốm lửa run rẩy trên đầu các cây nến nhỏ cắm xiêu vẹo trên mặt bánh. Chúng sẽ thầm lặng đi tới hết đường để rồi tắt ngúm, nhưng khi chúng hấp hối, chúng còn đủ lực để soi cho tôi thấy vết bỏng cháy đã thành sẹo sau mông N. Nó làm da thịt ở đó co rúm lại để phá bớt một hình thế vốn tròn trịa. Trước, tôi chỉ vẽ bán thân N. trong động tác đang cởi áo. Giờ đây thì N. thôi ngượng ngùng dấu che. Hãy cùng nhau ăn mừng sinh nhật, nghe anh. Chúng tôi nằm xuống giường và chính tay N. đã thiện nguyện mặc chiếc áo mưa cho xác thân tôi đợi cơn giông lũ đổ về…
Tôi xoá bỏ truyện ngắn này, không nằm trong mục lục cuốn sách sẽ mang đi in. Người bạn hỏi thăm rằng tôi đã gặp tay hoạ sĩ ấy để xin cái mẫu bìa chưa? Rồi, anh ta dễ chịu hơn tôi tưởng, chỉ cho mà không nhận một đền đáp nào cả. Ừ, tay ấy chơi được. Hắn từng nếm trải hương vị dịu mát cũng như sóng gió bức bối ở cuộc sống này. Hắn là nạn nhân giữa một cuộc tình tay ba. Hai mẹ con cùng yêu mù quáng riêng hắn. Một tình duyên đầy thương tật. Mình còn giữ một bức tranh thuở đầu đời của hắn, dùng toàn gam màu lạnh, vẽ một con mèo co thân dưới chân giường trông lên con chim bất động ở trong lồng. Bức tranh thần sầu ở chỗ, là khi nhìn ngắm bạn sẽ bắt gặp ở đó nguyên vẹn nỗi bất an, ngầm thông báo một tai ương sẽ xẩy tới. Đó là thời gian mà hắn ký tên X. Toàn bộ bức tranh chỉ duy có mẫu tự ấy là màu đỏ.
Tôi còn một ít tiền, tôi nghĩ nên mời Xê hoặc Dịch tới một quán ăn, thế lời cảm ơn về những gì hắn trao cho. Cuối đường vẫn là nghĩa trang cô quạnh thiếu kẻ viếng thăm vọng tưởng khấn nguyện. Cửa đóng, gõ không nghe hồi đáp. Tiếc công, tôi chưa muốn về vội, linh cảm là hắn quanh quất đâu đó, không xa. Tôi thả bộ đi men ngoài hàng rào phân định ra vuông lãnh địa, bóng chiều bắt đầu bôi xoá những hình thể, chỉ có những tấm bia mộ màu trắng là biết phát quang. Và rồi tôi trông thấy hắn. Đối mặt là tảng xi-măng khắc ghi tên tuổi tháng ngày sinh tử của kẻ bất hạnh. Là ai đã bỏ cuộc chơi? Là người tình 17 bé nhỏ, hay phần mộ má người yêu? Những cây nhang được thắp, được cắm trước bia có gió thổi qua làm chớp đỏ từng hồi, yếu mệt. Tôi nhớ có lần nói với hắn, khi tập truyện hoàn thành, bản đầu tiên tôi dùng để mồi lửa nguyên hai trăm trang chữ. Tôi muốn người ở cõi âm chứng giám trước. Lần đó hắn nhìn tôi không nháy mắt, có tin không, hắn nói, hiện tại mình chẳng còn giữ được một bức tranh nào cả. Mình khánh kiệt trước cuộc đời này. Xê rồi Dịch, cứ loay hoay mà làm gì nhỉ?
có loài hoa nở về đêm nên mặt trời đỏ thẹn thêm bóng tà trăng đâu phải sáng ánh ngà mà tròn đến khuyết hỏi hà cớ chi? dáng xa về gần đôi khi bình minh người đợi khả thi hôn hoàng hoa ăn sương nghe bất toàn gái tiếp thị đứng mặt xâm mày xoàng nở làm chi nguyệt quế quàng vai và bá cổ nặng đoàn đảng viên ai xui bia bọt uống liền nút đơm hai hột lộ miền đồi non nước dâng giải hạn một lon bàn tay năm ngón đã mòn lũng khe người thua cuộc áo sờn che giải phóng tiếp mụt măng tre tàn đời hoa hướng dương hát sai lời bởi chăng bóng tối phủ mời quỷ ma
tội em pháp nạn chửa tha hồng nhan tiền kiếp khó ra ngục tù nhập kho vì chẳng ô dù an ninh một bọn lù đù ngó vô.
Thiệt tội trời
mềnh quen một nhà thơ nữ mới nổi tiếng bài đi đái trong bồn cầu làm mấy ông lầu bầu nhăn nhó đàn bà rằng mần răng qua ngọn cỏ xanh phê rồi bình đỏ con mắt ngó như chộ mặt nàng nguýt với háy cam làm. quýt đâu chịu chảnh vậy. mần gì nhau? buồn vui mềnh lo ngang dọc lưới mạng xã hội đen có khi hoá trắng lỡ nàng dính án oan ôi ông địa. thị kính lão đắc thọ khai mau thật thà vành móng ngựa nước kiệu nhân thân xấu tiểu tiện vào chế độ mi fa sắc vàng khè sủi bọt khô nước miếng toà khoan hồng phát bông vệ sinh khi vào tù nhỡ trăng sáng kinh nguyệt mắc võng trường sơn xưa mới chưa qua sử dụng
đụng độ chất xám tuôn trào ra bài tân cổ tui từng dòm mặt ảnh đẹp giai hơn anh mao lông lờ đâu chai mặt háng nào biết lăn tăn chớ lo bò trắng răng ri rứa thêm rách việc màng trinh nghĩa như nhau
nay ở trong thơ nên mặc sức rặn ỉa đái thép xung phong xuống biển minh bạch cá chết thôi nước thải chất dơ bẩn đỏ như. đỏ như màu… khẩu nghiệp tui đã tường vách mọc loạn lỗ tai.
Tôi ngủ một giấc ngon lành thoải mái cho đến sáng ngày hôm sau.
Hôm nay, ngày 1 tháng 5 năm 1975, tôi dự định lát nữa sẽ xuống chợ Bến Thành, bán cái đồng hồ đeo tay, sau đó đến bến xe về Đà Lạt, về với cha mẹ và mấy đứa em của tôi.
Từ lúc thức dậy, tôi đã thấy mót tiểu nhưng làm biếng không muốn đi đến nhà tắm. Tôi biết, chỉ có một mình tôi ở trong nhà, đi đâu cho xa. Tôi đứng trên giường đái đại xuống sàn nhà cho xong việc, tiếng nước tiểu rơi lên những mớ giấy rác dưới sàn nhà kêu lộp bộp, âm thanh vang dội trong căn nhà vắng, nghe như tiếng của những giọt mưa đầu mùa rơi trên đống lá khô. Sau khi trút xong bầu tâm sự, trong người sảng khoái, nhẹ nhàng, tôi đi xuống nhà bếp, mở vòi nước dùng cả hai tay bụm lấy một vốc nước úp vô mặt, miệng ngậm một búng nước, ngửa cổ súc miệng sau đó phun nước xuống chậu rửa chén. Chuyện vệ sinh buối sáng coi như xong.
Ngoài sân im lặng như tờ không một bóng người, tôi lửng thửng đi ra phòng khách rồi khựng người lại, trước mắt tôi, Cúc đang từ trên lầu tay vịn lan can đi xuống. Cho dù có gặp ma cũng không làm tôi hoảng sợ bằng chuyện nhìn thấy Cúc. Tôi nghĩ rằng mình bị hoa mắt nên trông gà hóa cuốc, nhìn cô nào đó lại tưởng lầm là Cúc. Tôi dụi mắt để biết chắc rằng mình đã tỉnh ngủ, rồi nhìn lại một lần nữa. Cô gái trước mặt tôi rõ ràng là Cúc, lúc này Cúc đã đi xuống hểt cầu thang. Khi thấy tôi, Cúc lặng yên nhìn, đôi mắt của nàng mở lớn với hai hàng nước mắt chảy dài. Thời gian như ngừng lại, cuối cùng, Cúc khóc òa chạy lại ôm lấy tôi, với giọng nói đứt đoạn:
-Anh cũng chạy về Sài Gòn sao? Vậy mà em định vài ngày nữa sẽ lên Đà Lạt tìm anh.
Cúc ngưng nói, nhìn khắp người tôi, hai tay của nàng bóp mạnh vào hai vai của tôi.
-Sao anh ăn mặc kỳ cục như vầy? Áo quần của anh ở đâu?
Tôi ôm Cúc.
-Anh tưởng rằng em đã đi Mỹ với ba em từ tháng trước, tại sao giờ này em còn ở đây?
-Em phải chờ anh, em không thể bỏ anh được. Em nói với ba là em chỉ đi Mỹ khi nào có anh. Hơn nữa, tháng trước khi em về tới Sài Gòn ba em đã lo tất cả giấy tờ cho mọi người đi Mỹ, trong đó có bà má ghẻ của em với thằng bé con của bà ấy, thêm cha, mẹ, anh, em của bả. Điều tệ nhất là có luôn thằng bồ của bả núp dưới danh nghĩa là anh bà con. Anh đã biết mối bất hòa giữa em và ba em từ trước, đứng trước tình cảnh tệ hại như vậy em chán nản thật sự, không còn muốn đi đâu nữa.
Tôi ngắt lời Cúc.
-Chính ba của em điện thoại cho anh nói rằng, ông và em đang đợi lên máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhất.
Hình minh họa
Cúc nói với tôi:
-Đúng, tất cả đang ngồi chờ máy bay ở phi trường, nhân lúc ba em đi gọi điện thoại cho ai đó, em trốn về lại đây cho đến giờ. Anh biết không, mấy tuần trước vì có những trận đánh lớn xảy ra ở Long Khánh giữa Sư đoàn 18 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Việt Cộng. Nếu không, em đã đi lên Đà Lạt tìm anh rồi.
Tôi kéo Cúc ngồi xuống cái bậc thềm bằng gỗ của cầu thang, rồi chuyển đề tài.
-Em ở nhà tại sao không đóng cửa lại để cho người ta vào đây hôi của, dọn sạch hết tất cả đồ đạc trong nhà.
-Em cần anh chứ đâu cần của cải vật chất. Ngày hôm qua, khi nghe Tổng Thống kêu gọi quân nhân buông súng, chờ bàn giao trên đài phát thanh, em mở cổng kêu người đi đường vào, ai muốn gì thì cứ tha hồ mà lấy.
Tôi nghe Cúc nói mà không tin nổi, chỉ sợ mình nghe lầm.
-Em kêu người vô lấy hết đồ đạc, đập phá nhà cửa của mình?
Cúc nói:
-Ba em là nhà đại tư bản địa ốc ở Sài Gòn, tất cả nhà cửa kể luôn căn nhà này trước sau gì Việt Cộng cũng lấy. Em thà để cho những người dân nghèo lấy hết của cải về dùng, còn hơn là để cho Việt Cộng.
Câu nói của Cúc khiến tôi tỉnh mộng. Bấy lâu nay tôi chạy trốn Cộng Sản mà không biết rằng nước đã mất thì tự do không còn, ngay cả mạng sống của mình có giữ được hay không cũng chưa biết được, vậy mà tôi vẫn còn ngoan cố chỉ lo ôm giữ vài cái bàn, dăm ba cái ghế. Cái lo nghĩ thiển cận giống như chuyện tôi đi tìm tình yêu ở tận mãi đâu đâu, trong khi mối tình sâu đậm của Cúc sờ sờ trước mắt mà tôi không thấy. Tôi tự hỏi mình, chuyện gì sẽ xảy ra nếu không có hai người lính Quân Cảnh chận tôi lại ở đuôi chiếc phi cơ C130.
Tôi nắm tay Cúc, kéo xích lại gần mình.
-Hôm qua, khoảng năm giờ chiều anh đến đây, lúc đó em ở đâu?
-Em đang ở trong phòng của em, còn anh ở đâu?
-Anh đang ở dưới nhà bếp, đói bụng quá may nhờ tìm thấy hộp đậu trong góc tủ giúp anh giải quyết được cái đói. Tối đến anh ngủ trong căn phòng mà ngày xưa khi về đây anh đã ở.
Ham nói chuyện, tôi quên mất là mình chưa ăn sáng. Tôi nói với Cúc:
-Anh lại đói quá sức rồi, mình phải ra phố tìm cái gì ăn sáng.
Cúc vuốt tóc tôi.
-Tội nghiệp cho anh, trên phòng em còn thức ăn dự trữ rất nhiều.
Tôi đứng lên, định kéo Cúc đứng dậy, bỗng nhiên tôi nghe nhiều tiếng nổ ầm ầm vang trời của tiếng máy xe từ ngoài sân đưa vào, mấy khung cửa kính trong phòng rung động mạnh tựa như bị chấn động bởi bom nổ. Tôi nhìn ra ngoài, năm, sáu chiếc xe tăng nối đuôi nhau chạy vào nhà, chiếc chạy đầu với lá cờ hai màu xanh đỏ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam cắm gần pháo tháp.
Hình minh họa
Tôi nắm tay Cúc chạy ra ngoài sân. Trước mặt tôi, một gã bận thường phục, dẫn theo hàng chục tên cán binh Việt Cộng với súng đạn đầy người, hắn chỉ vào tôi và Cúc:
-Các người là ai?
Cúc lên tiếng.
-Tôi là chủ nhà.
Gã bận thường phục lên giọng hùng hổ như muốn ăn tươi, nuốt sống người đối diện.
-Đừng có láo, tên Nguyễn Văn Bảy đâu rồi?
Cúc trả lời hắn:
-Ông ấy không có ở đây.
Gã bận thường phục quay đầu nói với mấy tên cán binh Việt Cộng.
-Các đồng chí cứ thoải mái tìm chỗ bố trí cho xe tăng, mọi việc khác để tôi lo.
Vừa dứt lời, hắn quay lại nói với Cúc:
-Chúng tôi được lệnh tiếp thu căn nhà này, các người phải ra khỏi nơi đây lập tức, bằng không, chúng tôi không chịu trách nhiệm.
Cúc hỏi lại hắn:
-Tôi là chủ nhà, tại sao ông lại đuổi chúng tôi ra?
-Nói láo, tôi sống ở vùng này mấy chục năm rồi, đây là nhà của tên phản động Nguyễn Văn Bảy, hắn cấu kết với đế quốc Mỹ, cướp đoạt đất đai, tài sản, nhà cửa, làm giàu trên xương máu của nhân dân. Giờ này, chắc hắn đã chạy theo bọn đế quốc Mỹ rồi. Cô là gì của hắn?
-Tôi là con.
-Còn cái anh này.
-Ảnh là chồng của tôi.
Với giọng miệt thị, gã nói:
-Con cái của bọn tư sản ôm chân đế quốc Mỹ như hai người đây, Cách Mạng tha tội chết cho là may lắm rồi, ở đó mà đòi nhà cao cửa rộng.
Đang nói chuyện, bỗng nhiên giọng nói của hắn trở nên quyết liệt. Hắn nói như ra lịnh:
-Được rồi, tôi cho hai người mười phút để thu dọn đồ đạc và đi ra khỏi căn nhà này. Sau đó, tôi không bảo đảm tính mạng của các người.
Hình minh họa
Chúng tôi, những người bị bắt buộc phải đầu hàng vô điều kiện, còn biết làm gì hơn dưới áp lực của kẻ thắng trận, họ nói bằng sức mạnh của xe tăng T54, của họng súng B40 và AK47. Hai đứa tôi bước chân ra khỏi nhà với một va ly quần áo, và cái túi xách tay của Cúc.
Tôi và Cúc, mò đến bến xe Đà Lạt nằm trên đường Petrus Ký, khi trời đã về chiều. Sau một hồi loanh quanh dò hỏi, cuối cùng chúng tôi tìm được một chiếc xe vận tải hiệu Desoto, loại trọng tải sáu tấn thường chở rau cải từ Đà Lạt xuống Sài Gòn, sau đó chở thực phẩm khô lên Đà Lạt.
Người tài xế nói với chúng tôi:
-Năm giờ sáng mai, xe sẽ khởi hành đi Đà Lạt, cô và cậu đây nếu muốn đi phải đưa tiền trước, mỗi người một ngàn.
Sau khi giải quyết xong chuyện xe cộ, tôi và Cúc ghé vào quán cơm gần bến xe, mồi đứa một dĩa cơm tôm, sườn nướng. Tôi nhìn con tôm to bằng hai ngón tay trong dĩa cơm, rồi nói đùa với Cúc.
-Em à, hôm nay ngày một tháng năm, cứ coi như là ngày cưới của tụi mình và bữa cơm này là tiệc cưới, em thấy được không?
Cúc ăn cơm mà nước mắt lưng tròng. Tôi vuốt nhẹ lên lưng của Cúc:
-Lẽ ra anh không nên nói đùa như vậy.
Cúc nhìn tôi.
-Anh nói đúng, hôm nay là ngày cưới của tụi mình, nhưng em không ngờ đám cưới lại thê thảm quá sức như vậy.
Tôi kêu thêm một chai bia 33.
-Mình cần có chút rượu mừng.
Cúc gật đầu, im lặng.
Khi hai đứa ăn xong bữa cơm chiều, màn đêm bắt đầu buông xuống, phố đã lên đèn. Sài Gòn hôm nay hình như tối hơn mọi đêm khác. Tôi thuê một chiếc chiếu trải xuống vỉa hè của một căn nhà gần ngay bến xe rồi đặt cái va ly sát tường. Cúc nằm gối đầu lên chiếc xách tay, tôi ngồi bên cạnh với cái quạt xếp, vừa quạt vừa đuổi muỗi cho Cúc. Cho đến khi Cúc trở mình, tôi chợt nghe được tiếng của hai tấm thẻ bài chạm nhau kêu lẻng kẻng, âm thanh của nó nghe như cả một trời quá khứ xa xôi vọng lại, khiến lòng mình chùng xuống.
Tôi hỏi Cúc:
-Em đeo hai tấm thẻ bài của anh?
-Anh không nhớ sao? Em đeo nó từ ngày đi Vũng Tàu với anh. Ở Viện đại học Đà Lạt, tụi bạn em rất thích cái món trang sức này, coi đó như là một cái mode mới.
Đêm tân hôn của chúng tôi, trên trời trăng sao chen lẫn với đèn đường. Tôi ngồi bên Cúc, chìm vào giấc ngủ trong cảnh màn trời chiếu đất, tay mân mê tấm thẻ bài, tay quạt muỗi, bên tai giọng hát đầy sắt máu, căm thù, từ cái radio của xe bánh mì khuya vọng lại:
Tiến về Sài Gòn đánh tan tành giặc Mỹ, Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù, Tiến về đồng bằng giải phóng thành đô.
(Từ trái qua phải) Phúc Lư – Sơn râu – Quỳnh Trần (người em tinh thần đã chia sẽ cùng một thời gian dài làm việc chung nhau gần 20 năm trong hãng sản xuất linh kiện phụ tùng cho vài hãng xe tại Úc).
Quỳnh Trần – Sơn râu trước cổng vào Hội chợ Tết Footscray
Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt di tản về Long Thành, tạm trú chung với Sinh viên sĩ quan Thủ Đức sau đó co cụm lại, rút lui về Trường Bộ BinhThủ Đức cũ.
Mười giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi đang ở tại tuyến phòng thủ của Trường Bộ Binh Thủ Đức với chiếc ống dòm nhà binh, quan sát một chiếc xe tăng T54 của Việt Cộng vừa bị một trái đạn chống chiến xa M72 bắn đứt xích. Chiếc tăng nằm ì một chỗ, tuy không chạy được nữa nhưng cây súng đại liên trên chiếc tăng vẫn còn hoạt động, nó liên tục khạc đạn như mưa. Cùng lúc đó, nhiều loạt đạn M16 do sinh viên sĩ quan bắn vào chiếc xe tăng, đem súng M16 mà bắn xe tăng đúng là chuyện bù mắt cắn sừng trâu.
Theo tài liệu mà tôi đã được học bổ túc tại Trường Võ Bị Đà Lạt, hỏa lực của chiếc xe tăng T54 gồm có một đại bác 100 ly, một đại liên phòng không 12 ly 7 và một đại liên 7 ly 62, riêng sức công phá của khẩu đại liên phòng không 12 ly 7 này nó mạnh gấp chục lần cây đại liên M60 mà tôi đang giữ trong tay.
Tôi đang suy nghĩ làm thế nào để tiêu diệt chiếc xe tăng. Sĩ quan không có kinh nghiệm tác chiến như tôi cùng với vài ngàn sinh viên sĩ quan ở quân trường đang cầm súng bắn nhau với Việt Cộng, gặp phải trường hợp khó xử nên chưa biết phải làm gì. Trong lúc hai bên còn đang giằng co như vậy bất ngờ một sinh viên sĩ quan lao mình về chiếc tăng, vừa đến nơi anh ta nhanh nhẹn leo lên mở nắp pháo tháp, tọt vào đó một trái lựu đạn. Tôi biết, tất cả cán binh Cộng Sản trong chiếc tăng đã chết. Chiếc xe tăng T54 đã bị hủy diệt hoàn toàn. Chuyện đơn giản như vậy mà tôi không nghĩ ra. Hình ảnh vừa xảy ra trông khá quen thuộc, giống hệt như trong phim chiến tranh thời Đệ nhị thế chiến giữa quân Đức Quốc Xã và phe đồng minh Mỹ. Dĩ nhiên chiếc tăng bị bắn hạ là của quân xâm lược Đức Quốc Xã.
Tôi tiếp tục nhìn theo anh sinh viên sĩ quan, đang lom khom chạy về tuyến phòng thủ của anh ta với tất cả lòng ngưỡng mộ, thán phục. Ngay lúc ấy một anh lính mang phù hiệu “Cư An Tư Nguy”, tay ôm cái radio, vừa chạy dưới giao thông hào vừa la ơi ới.
-Buông súng đầu hàng. Buông súng đầu hàng. Lệnh của Tổng Thống.
Tôi giật mình tưởng mình nghe lộn, mới bắt đâu đánh nhau đã đầu hàng rồi sao? Tôi lật đật nhảy qua khẩu đại liên M60, chạy theo giựt cái radio trên tay anh lính rồi áp sát vào tai của mình. Tôi nghe rõ mồn một giọng nói của Tổng Thống, càng nghe tôi càng chán nản, rụng rời tay chân. Mấy hôm nay vòng vây của Cộng Sản quanh Sài Gòn từ từ siết chặt, tôi ngờ rằng, trước sau gì rồi cũng phải buông súng thế nhưng khi nghe lệnh đầu hàng lại bàng hoàng, ngỡ ngàng không muốn tin.
Tin làm sao được mùa hè năm 1972, bốn mươi ngàn quân Cộng Sản Bắc Việt được tăng phái hai trung đoàn thiết giáp thêm hàng trăm khẩu đại pháo từ 130 ly, cho đến hỏa tiễn 122 ly, bao vây tám ngàn quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ở An Lộc. Với quân số gấp năm lần, Việt Cộng những tưởng một sớm, một chiều sẽ nuốt gọn An Lộc. Nào ngờ sau hơn sáu mươi ngày giao tranh đẫm máu, con số thương vong của hai bên đã lên đến hàng chục ngàn người. Cuối cùng, quân Cộng Sản đành phải rút lui, chấp nhận thảm bại nhục nhã trong âm mưu đánh chiếm An Lộc. An Lộc hiên ngang, oai hùng trong máu lửa, đứng vững nhờ vào sức chống trả mãnh liệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Hình minh họa
Cuối tháng Năm 1972, Quảng Trị mất vào tay Cộng Sản. Việt Cộng đã dùng đến bốn sư đoàn để chiếm đóng Quảng Trị. Cuối tháng Sáu năm 1972, Sư đoàn Nhảy Dù và sau đó là Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sau tám mươi mốt ngày đêm đánh nhau với địch, giành giựt lại từng tấc đất với Cộng Sản. Hàng ngàn chiến sĩ Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến đã hy sinh, máu của họ thấm sâu vào lòng đất, nhuộm đỏ Cổ Thành. Ngày 16 tháng 9 năm 1972, quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa tung bay phất phới trên Cổ Thành Đinh Công Tráng ở Quảng Trị.
Quá khứ đã chứng minh, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từng làm nên những kỳ tích chống lại quân Cộng Sản Bắc Việt. Như vậy, không có lý do gì mà tháng Ba năm 1975 Quân Đoàn II phải tháo chạy, Quân Đoàn I bỏ ngõ để cho Việt Cộng chiếm đoạt. Đó là những chuyện bất bình thường đưa đến sự sụp đổ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Phải có một lý do bí mật nào đó, chìm ẩn bên trong mà một thằng trung úy quèn, một sĩ quan hạng chót như tôi không thể nào biết được. Buông súng đầu hàng, với tôi đó là một bí mật của lịch sử.
Buông súng rồi mình sẽ làm gì đây? Vô tù là cái chắc. Nghĩ đến cảnh tù tội trong chế độ Cộng Sản khiến tôi nhớ lại khúc phim thời sự trắng đen mà tôi đã được coi. Ngày xưa, khi Điện Biên Phủ thất thủ, hàng chục ngàn binh sĩ Pháp từ binh nhì cho đến sĩ quan cấp tướng bị bắt làm tù binh. Đám tù nhân xếp thành mười hàng ngang, dài lê thê bất tận, lủi thủi đi vào tù, phải mấy tháng sau mới được trao trả tù binh. Cái lối trao trả tù binh nhỏ giọt của Cộng Sản , từng đợt rồi từng đợt, vừa trao trả vừa đem tù binh đặt lên bàn thương thuyết để mặc cả. Pháp thua trận Điện Biên Phủ ở Việt Nam nhưng chính phủ Pháp ở bên trời Âu vẫn còn đó, họ thương thuyết để đem tù binh của họ về. Chúng tôi là lính Việt Nam Cộng Hòa, trên một triệu quân chứ ít ỏi gì, nếu xếp hàng mười cũng phải dài hơn vài chục cây số, nhà tù nào mà chứa cho hết. Sau đó trao trả tù binh, nhưng trao trả cho ai? Việt Nam Cộng Hòa đâu còn nữa mà trao với trả, hay là sẽ bị đem đi xử bắn? Trong một giây phút ngắn ngủi, tôi chợt nhớ tới trại Đầm Đùn mà phát rùng mình ớn lạnh.
Lính Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa với hàng trăm, hàng ngàn tàu bè đủ loại, họ có quyền lên tàu ra khơi, cho dù không biết đi đâu nhưng cứ tuôn ra biển cũng tạm thoát được tay Cộng Sản trong nhất thời, chuyện gì xảy ra sẽ tính sau.
Lính Không Quân cũng vậy, với đủ loại phi cơ từ chiếc trực thăng UH1 chở được mười người, bay ra Phú Quốc rồi Thái Lan, cho đến vận tải cơ C130 có thể chở được vài trăm người, bay sang Phi Luật Tân để xin tỵ nạn chính trị, sổng kiếp lưu vong.
Lính Bộ Binh như tôi thật là nan giải, buông súng rồi chỉ còn một con đường duy nhất là chạy bộ, chạy đi đâu bây giờ hỡi trời? Một con kiến bò trong chảo lửa.
Ngày xưa, Tiêu Đẩu trong lúc đào vong vì quốc sự, ông mượn chén rượu để giải sầu. Khi nâng bầu rượu, cảm khái trước cảnh nhà tan, nước mất đã hát bài “Nam Phương Ca Khúc” lời ca nghe thật bi tráng, hào hùng đầy dũng khí. Trong lúc hào khí dâng cao ngút trời, ông một mình rót rượu, vung tay hắt đi khắp bốn phương trời. Cái thằng tôi, giờ đây chỉ mong chạy trốn khỏi đất nước này, chạy trốn gông cùm Cộng Sản đang sắp tròng vào cổ mình, chạy trốn cho dù phải sống tạm kiếp tại đào vong quốc như Tiêu Đẩu.
Hình minh họa
Chạy về hướng Đông, mù khơi biển động, Đệ thất hạm đội của Mỹ đã làm ngơ cho Hải Quân Trung Cộng chiếm lấy Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa từ năm ngoái. Mỹ đã cắt viện trợ vũ khí cho miền Nam Việt Nam, họ không có lý do gì lại dang tay cứu vớt quân đội này vào cái giờ thứ 25.
Chạy về hướng Tây, lửa cháy ngút trời, quân Khờ Me đỏ tàn bạo khát máu đã nuốt trọn Cam Bu Chia từ hơn nửa tháng trước, ở đó máu chảy thành sông, xương phơi thành núi. Tôi nghĩ rằng “Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu”. Dân Cam Bốt cùng màu da, cùng huyết thống còn bị quân Khờ Me đỏ chém giết, chôn sống một cách man rợ huống gì với dân Việt Nam vốn có sẵn mối thù truyền kiếp từ ngàn xưa với họ.
Chạy về phương Bắc, mịt mù khói súng, mới tháng trước đây chứ xa xôi gì cho lắm hình ảnh của những người dân miền Trung quần áo xơ xác, mặt mày thất sắc, vợ chồng bồng con, gánh cháu, dắt díu nhau chạy về phương Nam để lánh nạn Cộng Sản. Vùng Một và vùng Hai chiến thuật đã bỏ ngõ, để lọt vào tay Việt Cộng. Hàng chục sư đoàn Cộng Sản với đầy đủ chiến xa, trọng pháo, vũ khí, đạn dược, bọn chúng như cơn lũ dữ đang cuồn cuộn điên cuồng chảy tràn về niềm Nam, cuốn theo bất cứ những gì ngăn cản chúng.
Chạy về hướng Nam, chút hy vọng mong manh, mỏng mảnh như sợi tơ trời phất phơ trước gió. Quân Đoàn IV của tướng Nguyễn Khoa Nam không biết có còn hay không, hay là cũng đã buông súng chờ bàn giao.
Tôi biết hiện tại quân Cộng Sản đang tiến về Sài Gòn. Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Đài Phát Thanh là những nơi mà họ cần phải đến trước tiên để tiếp thu. Khoảng cách chỉ trong tầm tay, thời gian được tính từng giờ, từng phút. Sài Gòn trong cơn hấp hối.
Tôi chỉ có vài tiếng đồng hồ để thoát thân, chạy đua với số mạng, chạy đua với sự sống còn. Bộ óc rối mù của tôi làm việc một cách chậm chạp, nói cho tôi biết rằng: Từ Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi chạy bộ về Sài Gòn còn không kịp, nói gì chuyện chạy ra ngoại quốc. Giờ phút này làm gì còn máy bay hoặc tàu bè để mà di tản. Tôi tiếc hoài vì chuyện khoảng mấy ngày trước đây, nếu không bị hai người lính Quân Cảnh giữ lại, tôi đã lên được chiếc C130 cùng với gia đình Dung di tản khỏi Việt Nam.
Định mệnh đã an bài, đã dành cho những người lính bộ binh như chúng tôi một số phận nghiệt ngã đắng cay. Kể từ giờ phút này cho đến cuối cuộc đời, tôi sẽ phải sống, kiếp sống của một kẻ thuộc giai cấp bùn đen trong xã hội mới đầy man rợ. Không riêng gì một mình tôi, người dân Việt Nam bị kẹt lại trên quê hương của mình, sẽ ăn nhờ ở đậu trên đất đai của mình. Những gì của tổ tiên, ông bà để lại, từ nay thuộc về Đảng Cộng Sản, thuộc về kẻ chiến thẳng. Một ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ đã qua rồi, Pháp thuộc tám mươi năm rồi cũng chấm dứt. Chiến tranh Nam Bắc dai dẳng hơn hai mươi năm rồi cũng đến hồi kết thúc. Hôm nay Việt Nam đã thống nhất, từ Bắc chí Nam non sông liền một dải, đất nước đỏ một màu. Giờ đây, một trang sử mới vừa được mở ra. Người dân Việt Nam bắt đầu cuộc sống mới, trong một xã hội bị cai trị bởi một lũ Hầu tinh, xã hội mà trong đó bọn Cộng Sản đội lốt người Việt đô hộ người Việt, không biết sẽ kéo dài đến bao giờ.
Việc đầu tiên, khi buông súng là tôi cởi chiếc áo trận ra vắt ngang họng súng M60, hai cái bông mai nơi cổ áo vẫn còn đó, nằm im dưới ánh mặt trời, nhìn tên của mình thêu trên túi áo, trong lòng bỗng xót xa như có ai đó xát muối vào lòng. Tôi ngồi thừ người ra đó được mươi phút, đợi cho cơn đau của kẻ thua trận nguôi ngoai được chút ít rồi mới lo tìm bộ đồ dân sự mặc vào. Tôi nhìn quanh, ở Vũ Đình Trường của Trường Bộ Binh Thủ Đức này làm sao mà tìm cho ra bộ đồ dân sự. Sau một hồi suy nghĩ, tôi cởi cái quần lính mà tôi đang mặc ra, dùng lưỡi lê cắt cụt hai ống quần, tiện tay vứt luôn miếng vải thừa xuống hố. Còn đôi giày bốt đờ sô, phải giải quyết như thế nào? Hay là cắt cụt luôn làm thành giày, giống như đôi giày của dân sự. Tôi xỏ chân vào đôi giày, nhìn tới nhìn lui, coi bộ không ổn. Tôi cắt thêm phần sau nơi đôi giày biến nó thành dép. Ở Sài Gòn không có ai mặc quần cụt mà lại mang giày bao giờ, tôi đã trở thành thường dân, giã từ đời binh ngũ. Tôi không hiểu tại sao trong giờ phút lịch sử trọng đại như vậy mà tôi chỉ lo để ý đến những tiểu tiết vụn vặt, mang bốt đờ sô, mang dép, hay đi chân đất thì đã sao? Thì ra tận cùng trong tâm thức, với tôi Cộng Sản đồng nghĩa với dã man, tàn bạo. Và tôi sợ bị bắt nếu mình ngụy trang không khéo.
Hình minh họa
Tôi nhìn cây súng đại liên M60, rồi lầm bầm trong miệng: “Điểu tận cung tàn, hết chiến tranh rồi, súng ống chỉ là khúc gỗ. Kể từ giờ phút này, tao chào vĩnh biệt mày”. Dứt lời tôi co chân đạp mạnh vào cây súng. Bao nhiêu uất hận dồn hết vào cái đạp, cây súng rớt xuống giao thông hào, lăn thêm mấy vòng rồi nằm yên, dây đạn một nơi, súng một nẻo và chiếc áo lính vẫn còn quấn quýt ôm lấy cây đại liên. Tôi biết cây súng còn sử dụng được, lẽ ra tôi phải tháo vụn cây đại liên ra nhiều mảnh nhỏ đem vứt xuống sông mới hả dạ. Đó là hành động uất ức của kẻ thua trận, tuy nó hèn hạ, ti tiện nhưng tôi vẫn thích làm như vậy hơn nếu có điều kiện.
Bảy năm trước, tôi bắt đầu cuộc đời binh nghiệp của mình tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Ngày ra trường, mang cặp lon chuẩn úy trên vai, với lời thề bảo vệ Tổ quốc ở Vũ Đình Trường hãy còn vang vọng bên tai. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên, hôm nay cũng tại Vũ Đình Trường này, tôi là kẻ bại trận phải lột bỏ quân phục, lột bỏ cái lon trung úy. Phe thắng trận là Cộng Sản chỉ có thể ép tôi làm được như vậy. Riêng lời thề bảo vệ Tổ Quốc, tôi giữ mãi trong lòng, lời thề đó ở trong đầu của tôi không ai có thể gột bỏ được.
Tôi đưa tay chào giã biệt sếp của tôi, rồi đi ra cổng chính của trường. Chân đi mà lòng còn bịn rịn khiến tôi phải quay đầu nhìn lại Trường Bộ Binh Thủ Đức lần cuối rồi mới chịu theo đám tàn quân, một đoàn người ô hợp, thất tha thất thểu đi ra xa lộ để về Sài Gòn. Tôi cúi đầu, lầm lủi đi như kẻ mất hồn, chân đi nhưng trong lòng ngổn ngang trăm mối u sầu.
Hai giờ chiều, tôi mò về tới Sài Gòn với đôi chân rỉ máu vì đôi dép tôi cắt lúc sáng, xét cho cùng nhiều khi khôn quá cũng không tốt. Giờ này ông chủ của miền Nam đã ngồi chễm chệ trong Dinh Độc Lập. Lá cờ hai màu xanh đỏ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam đang tung bay phất phới trên nóc dinh.
Hình minh họa
Vừa đói, vừa khát, tôi ngồi bệt xuống bãi cỏ ở công trường Kennedy để nghỉ chân, rồi đưa mắt nhìn một rừng người bao quanh những chiếc xe tăng T54 và xe tăng PT76. Dân Sài Gòn đón phe thắng trận với gương mặt thờ ơ, không biểu lộ chút thiện cảm nào. Người ta tụ họp ở đây chỉ vì tính hiếu kỳ, chuyện gì chứ chuyện hiếu kỳ trên thế giới có dân tộc nào mà tránh khỏi. Hai chiếc xe đụng nhau cũng khiến cho người qua lại phải liếc mắt nhìn xem, huống gì một biến cố trọng đại như vầy, ngàn năm mới có một lần, không hiếu kỳ cũng uổng. Dân Sài Gòn muốn tận mắt nhìn người lính Cộng Sản, muốn tận tay sờ vào chiếc xe tăng mà trước đây họ chỉ được nhìn thấy trên TV. Họ nói chuyện với cán binh Cộng Sản, hỏi thăm về đời sống miền Bắc, tất cả chỉ vì tò mò muốn biết người dân miền Bắc sống như thế nào dưới chế độ Cộng Sản, để rồi suy đoán mức độ cực khổ mà người dân miền Nam sẽ phải gánh chịu. Hỏi về người để biết tương lai của mình, tôi cũng vậy thôi, bảy năm lính nhưng là lính văn phòng, đây là lần đầu tiên tôi đứng sát bên chiếc T54 để hóng chuyện miền Bắc.
Trước mặt tôi là đường Công Lý, chạy ngang qua Dinh Độc Lập kéo dài xuống tận phi trường Tân Sơn Nhứt, men theo con đường này sẽ ngang qua nhà Cúc vợ chưa cưới của tôi, rồi đến nhà của Dung ở đường Nguyễn Minh Chiếu, cả hai căn nhà giờ đây chắc trống không. Tôi đang suy nghĩ vẩn vơ, chợt một người đàn bà chừng năm mươi tuổi bước lại gần tôi.
-Lính phải không?
-Dạ, sao bà biết.
-Cái quần ông đang bận, bên cao bên thấp, mới cắt đi. Nhìn qua là biết liền.
Thấy tôi ngồi im, bà ta nói luôn một hơi, giọng nói nghe như than thở, trách móc:
-Mấy ông đánh đấm cái kiểu gì kỳ vậy. Cứ chạy hoài, từ Ban Mê Thuột chạy xuống tới Khánh Dương, rồi từ Quảng Trị chạy vào tới Tuy Hòa. Người ta đồn là quân mình sẽ lập tuyến phòng thủ ở vĩ tuyến 13 . Đâu ngờ mấy ông rút lui về Nha Trang, rồi Phan Thiết, rồi về Sài Gòn, cứ chạy mãi để cho cái lũ Việt Cộng nó chiếm hết miền Nam.
Tôi chạy trốn Việt Cộng, vừa từ cao nguyên về tới đây chưa kịp hoàn hồn, hôm nay lại bị dân giũa thêm cho một trận te tua, vuốt mặt không kịp. Tôi ngồi đó còn biết nói sao với nỗi oan ức của mình. Người đàn bà nói xong đưa cho tôi ly nước đá chanh. Hành động của bà khiến tôi nhớ đến mẹ tôi. Ngày xưa, mẹ tôi thường la mắng khi tôi làm điều gì sai quấy, nhưng sau đó bà cho tôi củ khoai hay cục kẹo. Trời nóng như đổ lửa, nhìn mấy miếng chanh mong mỏng, tròn tròn nổi trên mấy cục đá lạnh, trông hấp dẫn làm sao, chỉ muốn cầm ly nước mà uống nhưng trong lòng vẫn còn chút giận hờn vô cớ, tôi nói với giọng không được bình thường cho lắm:
-Tôi không gọi mua nước.
Người đàn bà nhoẻn miệng cười, bà thân mật nói với tôi như mẹ nói với con:
-Uống ly nước cuối cùng đi, mất nước rồi, mai mốt đâu còn nữa mà uống.
Hình minh họa
Tôi cầm ly nước, ngẩng nhìn mấy tên Việt Cộng đang ngồi ngất ngưởng trên chiếc T54 rồi vội vàng nói với bà ta:
-Nói nho nhỏ một chút, bà không sợ họ sao?
-Tôi sợ đến vãi đái trong quần ấy chứ lị, mả cha tụi nó.
Bà ta nói một câu mà nửa câu đầu là lối nói chuyện của người Bắc, nửa sau lại là lối nói của người Nam.
Người đàn bà nhìn tôi như phân trần:
-Cậu lính à, cái năm năm tư tôi bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ đất đai với mồ mả ông cha ở ngoài Bắc, ôm theo có mỗi một bộ đồ lên chiếc tàu há mồm vào Nam. Tôi chạy trốn cái đảng cướp ngày, trốn cái quân cướp cạn này đã hơn hai chục năm rồi, những tưởng được an thân, yên ổn làm ăn, nào ngờ tới hôm nay lại bị cái bọn oan gia này đuổi theo tới tận đây. Mẹ bố nó, cái lũ khốn nạn này dai như đỉa đói.
Người đàn bà đảo mắt nhìn quanh rồi hỏi:
-Cậu là lính gì?
-Dạ tôi ở Trường Võ Bị Đà Lạt.
-Sinh viên sĩ quan Võ Bị như cậu, mai mốt bọn Cộng Sản sẽ đem các cậu ra xử tùng xẻo về cái tội chống phá cách mạng cho mà xem. Sao cậu không chạy trốn đi? Còn ngồi đây làm gì?
-Tôi biết chạy đi đâu?
Người đàn bà thở dài rồi nói:
-Tôi cũng vậy. Mấy hôm nay thấy người ta ùn ùn chạy trốn Cộng Sản , tôi cũng muốn chạy mà chả biết chạy đi đâu, cái năm năm tư ở Hà Nội tin tức gọi đi vào Nam rất rõ ràng, lần này không thấy ai gọi. Vô tuyến truyền hình, radio chẳng có nơi nào nói về việc trốn chạy. Tôi tìm hoài ở bến Bạch Đằng chả thấy tăm dạng cái tàu há mồm nào hết? thế cậu có thấy cái tàu nào không?
-Nếu thấy, tôi đã đi mất đất rồi đâu còn ngồi ở đây để nói chuyện với bà. Cảm ơn bà đã cho ly nước.
-Ơn với nghĩa, cậu uống xong đưa cái ly lại chiếc xe sinh tố đàng kia, tôi trả tiền ly nước rồi.
Tôi nhẫn nha uống ly nước chanh mà tưởng như mình đang uống nước mắt của mình, mất nước rồi còn đâu mà uống.
Hiện giờ, tôi đâu có việc gì phải làm ở cái đất Sài Gòn này. Tôi mới được giải ngũ lúc sáng, hết tập họp, hết điểm danh, hết lau chùi súng ống, tạm thời muốn đi đâu không cần phải xin phép. Đi đâu bây giờ? Một kẻ không nhà không cửa, không cha mẹ, không thân nhân ở Sài Gòn thậm chí đến bộ quần áo lành lặn cũng không có để mà mặc. Mới đó mà tôi đã trở thành một kẻ vô sản thứ thiệt, vô sản còn hơn mấy tên Cộng Sản vô sản đang ngồi trên chiếc xe tăng trước mặt tôi. Tôi đi mà không biết đi đâu, cứ dọc theo đường Công Lý mà đi.
Lúc đi đã khá xa Dinh Độc Lập, tôi nhìn thấy những bộ quần áo rằn ri, giày bốt đờ sô, súng M16 vất bừa bãi hai bên đường. Khi mà quân nhân đã cởi bỏ quân phục, cảnh sát rời nhiệm sở không còn ai giữ gìn an ninh trật tự, thành phố bỗng trở nên hỗn loạn. Đường Công Lý là đường một chiều thế nhưng hàng ngàn chiếc Honda hai bánh chiếc chạy xuôi, chiếc chạy ngược, mạnh người nào người ấy chạy. Một số người đi hôi của, leo vào những căn nhà trước đây cho Mỹ thuê hoặc những căn nhà mà chủ nhân đã di tản đi Mỹ, họ khiêng ra khỏi nhà bất cứ những vật dụng gì có thể dùng được, từ cái chén, đôi đũa, nồi nấu cơm cho đến TV, tủ lạnh.
Trước mặt tôi độ chục thước, hai thằng bé khoảng mười ba, mười bốn tuổi còng lưng khiêng một cái TV hiệu Denon, loại có bốn chân to như một cái rương, đi được một đoạn, cả hai đặt cái TV xuống nghỉ mệt rồi lại khiêng tiếp. Tôi tới gần hai đứa nhỏ.
Hình minh họa
-Muốn chú phụ không?
Thằng bé với gương mặt lanh lợi trả lời tôi:
-Không cần đâu chú, tụi con khiêng được.
Đi được vài bước, tôi chợt nghe giọng nói của thằng bé, hình như nó muốn nói cho tôi nghe.
-Tao đâu có dại, để ổng khiêng giùm rồi ổng khiêng đi luôn, mình làm gì được.
Tôi cười thầm trong bụng, tôi cũng đâu có dại. Thân tôi đây lo còn chưa xong, ôm theo cái của nợ đó mà làm gì.
Tôi lầm lủi đi về hướng chùa Vĩnh Nghiêm, với chủ đích là muốn xin chùa chén cơm chiều, và tìm chỗ ngủ cho tối nay. Tôi đi hoài, đi mãi, cho đến khi chợt thấy cánh cổng của nhà bác Bảy. Tôi không ngạc nhiên khi thấy hai cánh cổng mở toang hoác. Một đứa bé đang dùng hai tay lăn cái bánh xe hơi ra khỏi cổng, nó nhìn quanh như dò xét rồi tiếp tục lăn cái bánh xe.
Tôi nhìn vào trong sân, một cảnh tượng đau lòng đập vào mắt tôi. Khắp cái sân cỏ rộng mênh mông ngập tràn giấy và rác, đầu này dăm ba cái bàn xiêu vẹo gãy chân, cụt cẳng, đằng kia vài cái ghế ngã chổng gọng, cuối sân bên góc trái ba, bốn cái xe hơi bể kính, móp méo nằm mọp một đống. Tôi đi đến gần một anh thanh niên, quần cụt áo cộc đang hì hục tháo mấy cái bánh xe, mồ hôi tuôn nhể nhãi trên trán.
Tôi góp ý với anh ta.
-Tại sao anh không đẩy cái xe Peugeot 404 này về nhà luôn, rồi từ từ tháo gỡ những gì mà anh muốn.
Người thanh niên nhìn tôi, im lặng một lúc rồi nói:
-Tôi chỉ cần mấy cái bánh xe thôi.
-Tôi biết rồi, xe hơi của anh bị mòn vỏ phải không?
Người thanh niên cười.
-Tôi làm gì có xe hơi, mấy cái bánh xe này đem về quê gắn vô xe bò, dùng để chở phân chở lúa tốt khỏi chê, xài cả chục năm cũng chưa hư.
Tôi nói với anh thanh niên:
-Lúc nãy, tôi thấy một thằng bé lăn cái bánh xe ra cổng.
-Nó là em tôi, ở dưới Long Xuyên nhưng nhà tôi thì ở gần đây, anh biết bến Tắm Ngựa không?
-Không.
Hình minh họa
-Ở gần ngã tư Công Lý và Yên Đổ.
-Chỗ đó thì tôi biết.
Người thanh niên hỏi mà như muốn đuổi tôi.
-Còn anh, ở đây làm gì? Đi vô nhà, coi có gì dùng được lấy đem về xài.
Tôi nói với anh ta:
-Anh nói phải, tôi đi đây. Mà nè, nếu anh có cần người giúp một tay, kêu tôi.
Tôi đi vào nhà, cảnh tượng còn thê thảm hơn ở ngoài sân, tất cả đèn đuốc ở phòng khách từ cái đèn trần cho đến đèn treo tường bị tháo gỡ không còn một cái, bao nhiêu là màn cửa biến đâu mất. Cửa sổ, cửa lớn mở tung ra, trong nhà không sa lông, không bàn ăn, không tủ rượu, một căn nhà trống không, đầy nhà chỉ toàn là giấy rác, loại giấy mà tôi đoán là hồ sơ hợp đồng cho thuê nhà của bác Bảy.
Tôi đi lần xuống nhà bếp, cảnh tượng cũng như ở phòng khách, chén bát bể vương vãi khắp sàn nhà, trong chậu rửa chén một cái tô chưa rửa với vài cọng mì còn dính nơi đáy. Khi nhìn thấy mấy cọng mì khiến tôi cảm thấy xót trong ruột, rồi nhớ ra từ sáng đến giờ chưa có một hột cơm vào bụng. Cơn đói ập đến khiến tôi run tay run chân, hoa cả mắt. Sau một hồi lục lọi khăp các ngăn kệ đựng thức ăn gắn trên tường, cuối cùng tôi tìm được một hộp thịt nấu với đậu nằm kẹt trong góc tủ. Bọn lính chúng tôi, mỗi người thường có một cái khui đồ hộp dã chiến lúc nào cũng đem theo bên mình, nó nhỏ bằng nửa ngón tay cái, mỏng như con dao, tôi lấy nó ra mở hộp đậu. Mùi thơm của thịt và đậu tỏa khắp căn phòng, tôi đưa hộp đậu tới gần miệng phồng mũi hít một hơi dài, đợi cho mùi thơm lan xuống con tì con vị lúc bấy giờ tôi mới từ từ bốc một ít đậu trộn lẫn với thịt cho vào miệng. Không có đi đâu mà vội, tôi nhai chậm rãi vừa nhai vừa thưởng thức chút beo béo của thịt heo, bùi bùi của đậu, mằn mặn của nước thịt. Tôi ăn ngon lành, cho đến hết lon đậu. Nhìn mấy hột đậu còn sót ở đáy lon, tiếc của trời, tôi mở vòi nước hứng nửa lon nước lạnh, lắc nhẹ rồi ực một hơi. Bụng hãy còn đói vì lon đậu quá nhỏ chỉ bằng lon sữa Ông Thọ, tôi lục soát khắp nhà bếp một lần nữa với hy vọng sẽ tìm được thức ăn, chỉ hoài công thôi, không còn thứ gì có thể ăn được.
Tôi nhìn ra bên ngoài, chút nắng chiều còn sót lại bên khung cửa, mắt tôi như nhíu lại. Tôi đi lên lầu, phòng thứ hai bên trái là căn phòng ngày xưa tôi ở, bao nhiêu đồ đạc trong phòng đều biến mất chỉ còn lại cái giường và tấm nệm có thể vì quá lớn người ta khiêng không được nên còn đó. Tôi ngả mình xuống giường chợp mắt được một lúc. Không biết được bao lâu, cho đến khi tôi mở mắt nhìn, con trăng mười chín đã đứng bên cửa sổ tự lúc nào, tỏa ánh sáng mờ mờ lành lạnh lên khắp căn phòng.
Đúng một tháng trước, cũng ánh trăng mười chín này đã dẫn đường cho tôi trên chiếc xe jeep rời bỏ Trường Võ Bị Đà Lạt. Chỉ mới có một tháng mà không biết bao nhiêu là chuyện đổi thay dâu bể, chuyện tôi phải xa cha mẹ, phải chia tay vĩnh viễn với người yêu của mình, rồi chuyện Sài Gòn bị bức tử, khiến tôi tưởng chừng như đã mấy thể kỷ vừa mới trôi qua.
Hồi thời Tía Má tui và xưa xưa nữa, trước khi cưới nhau, đâu có ai dám có hẹn hò đi ăn đậu đỏ bánh lọt, chuối nướng, chuối xào dừa gì đâu. Ðâu có trốn nhà, trốn Tía, trốn Má chui vào rạp hát Long Phụng hoặc Thành Chung ở Ngã Bảy Vườn Lài, coi phim Ấn Ðộ. Vô rạp, đèn tắt tối hù… hổng chịu coi mà cứ lo hun và hít hè.
Rồi cũng đâu có cái vụ dụ em ra góc đường Lê Lợi và Pasteur để ăn phá lấu gan, lòng heo. Cầm cây tăm găm miếng thịt; đưa lên miệng nhai rào rạo… Rồi đôi ta sánh vai nhau, thuở nầy chưa dám nắm tay, nắm chưn gì ráo, đi uống nước mía Viễn Ðông đâu nè!
Xưa muốn cưới vợ là phải có cái đầu heo bự xộn, tốn bộn tiền để bà mai đi đi lại lại giữa hai đàng trai gái như phi thuyền con thoi, loi choi giới thiệu cho hai gia đình quen biết nhau, đốc thúc hai bên gặp gỡ, xúi… vô đi, vô đi!
Tuy nhiên đàng gái chào hàng bên đàng trai và đàng trai quảng cáo láo cho đàng gái không phải ai làm cũng được. Phải có kinh nghiệm, nghệ thuật dẻo miệng phải cao kỳ.
Tìm bạn bốn phương trên báo cũng là một hình thức mai mối đấy thôi.
“Một thanh niên có nghề ngỗng đàng hoàng! Không rượu chè chích choác, không trai gái lăng nhăng, trai cũng không, (nghĩa là anh không phải thuộc thành phần thứ ba); gái cũng không (nghĩa là chỉ biết cơm nhà quà vợ). (Thằng nào mèo mả gà đồng là trời đánh nó!) Muốn tìm một người con gái trong tương lai để làm vợ. Yêu cầu là phải ở gần biển Williamstown và có tàu câu cá. Xin gởi kèm hình chiếc tàu!”
“Em là người dân xứ Mũi, nhưng chưa hề sửa mũi. Nhà có 20 cái vuông tôm, chưa hề mích lòng hàng xóm nên không sợ nó bỏ thuốc diệt cỏ làm tôm giống chết hết ráo. Tía em hứa của hồi môn là một chục vuông tôm đang mùa thu hoạch. Muốn làm quen với mấy anh bên Úc, không phân biệt tuổi tác.
Thư đầu xin gởi hình nguyên bản, chưa ‘photoshop’ về Rạch Vọp, Sông Ông Ðốc, Cà Mau. Hứa sẽ hồi âm tất cả dù thơ đến trễ.”
Thấy hông? Sợi chỉ hồng se tơ xưa giờ cũng vậy nhưng đã từng cột chặt đôi ta tới răng long đầu bạc. Mà cũng nhờ mai mối mới có mặt thằng tui trên cõi đời ô trọc nầy đó nhe bà con.
Rồi mấy thằng Tây thời buổi điện toán tân kỳ, lập ra mấy cái trang mạng xã hội như Facebook, Twitter, Instagram app. Nhờ đó mà mấy em kiếm được một đấng trượng phu và mấy anh mình kiếm được một người thục nữ.
Tui e rằng Melania Trump, từ nước Tiệp Khắc, Ðông Âu xa mút chỉ cà tha mà được làm The First Lady (Ðệ nhứt Phu nhân) của nước Mỹ cũng nằm trong trường hợp đó.
Và tui cũng cho rằng: Melania trúng số độc… độc đắc; còn khó hơn cả chục ngàn lần trúng xổ số Powerball bên Mỹ. Vì xác suất của Powerball là 1 trên 292 triệu, còn xác suất của Melania là 1 trên 3 tỉ rưỡi đàn bà con gái trên hành tinh nầy.
***
Do vậy! Cưới vợ lấy chồng theo tui là một trò chơi hên xui may rủi mà hình như rủi nhiều hơn may.
Thế nên Trời cho cái gì mình nhận cái nấy đừng có càm ràm: “Phải phải chi hồi đó ta đừng biết nhau!” Nói vậy là ác… Là làm em yêu buồn lắm đó! Lỡ rồi anh biết làm sao? Nói vậy là tiêu cực hè; phải tích cực lên chớ mấy anh mình! Phải xây dựng hạnh phúc trên một đống hoang tàn!
Ðừng lo đã có Thầy đời dạy mình miễn phí đây nè! Chuyện rằng: Một anh nhậu xỉn về chui vào phòng ngủ, lục đục một hồi rồi nằm lăn quay ra ngáy như trâu rống. Sáng hôm sau, gặp mặt vợ gục gặc đầu cám ơn “Chai rượu của em để trên đầu giường, tợp một cái là cạn queo nhưng thơm hết biết!” “Ối giời ơi! Anh nốc hết sạch chai dầu thơm em mới mua về rồi phải không?”
Em nầy tệ thiệt thua vợ thằng Ðậu xa lắc xa lơ hè! Chớ vợ thằng Ðậu lái xe từ Bắc Arizona về nhà sau một chuyến đi thương thảo chuyện mần ăn.
Em thấy một bà già đang đi bên vệ đường, bèn dừng lại hỏi: “Má có muốn quá giang không?” Bà cụ không nói gì, chỉ lẳng lặng gật đầu.
Lên xe, bà chẳng nói chẳng rằng chỉ nhìn quanh quất; bỗng đôi mắt dừng lại cái túi giấy màu nâu, em đặt kế bên bèn hỏi: “Ðựng cái gì vậy?” “À chai rượu! Con mua nó cho chồng con!” Bà cụ gặc đầu: “Con biết mua quà lắm đó!”
Thế nên yêu chàng, muốn chàng yêu lại, yêu nồng nàn, yêu tha thiết là phải biết chồng thích cái gì nhứt trên đời. Ðáp ứng ngay chóc tim đen thì tình ta bền muôn thuở.
***
Nói nào ngay khi mấy em đi lấy chồng, nghĩa là từ giã tuổi thần tiên để theo một thằng ‘điên điên’, xuống thuyền để đôi ta dông vào giông bão của cuộc đời.
Ngày xuất giá, lạy Mẹ con đi vì nước non nhà Việt Nam. Ủa? Có chồng hổng phải vì mình mà vì nước non nhà Việt Nam là tại làm sao?
Chẳng qua lấy chồng rồi em sẽ có con; sẽ duy trì nòi giống đó mà. Ðây là một nghĩa vụ thiêng liêng chớ hổng phải chuyện giỡn chơi. Không vì cái tiền đồ của đất nước em sẽ ở nhà với Mẹ phẻ hơn.
Vì về với chàng rồi là phải cơm bưng nước rót, hầu hạ người dưng hè. Mà hổng biết làm bao nhiêu mới vừa lòng thằng chả?
Tối ngày cứ ‘cook! cook’ nghe như tiếng gà kêu (nấu ăn, nấu ăn hoài hè).
Tui hỏi em yêu: “Em muốn đi đâu vào dịp kỷ niệm ngày cưới của đôi ta?”
“À em muốn đến một nơi mà đã lâu rồi em chưa đặt chưn tới.” Tui bèn đề nghị: “Nhà bếp được không?”
Rồi một hôm em thỏ thẻ với chàng rằng: “Hãy chở em đến một nơi nào mắc nhứt. Thì thằng chả lại chở em đến ngay cây xăng. Hỏi có tức không hè?”
Thì thằng chả mặt nhăn mày nhó: giá dầu thô lên tới 70 đô một thùng nên giá xăng mắc quá!
Dĩ nhiên người phụ nữ nào cũng tam tòng tứ đức, công dung ngôn hạnh theo lời dạy của tiền nhân. Tiền nhân là người thuở xa xưa đã chết hết ráo rồi sao bắt em vẫn phải nghe theo?
Chớ tiền nhân nghĩa là người có tiền, có tiền mua tiên cũng được. Nói cái gì em cũng ‘Yes’ hết trơn chỉ trừ cái chuyện nấu ăn ra. Vì em biết nấu món gì đâu mà cứ bắt ‘Cook! Cook!’
***
Rồi phần cãi nhau cũng vì em yêu của tui hay có cái tánh hay xúi ẩu lắm. Như hôm rồi nè! Chở em đi chợ. Chạy lên chạy xuống tìm chỗ đậu xe. Thấy chỗ còn trống, em khèo, anh tấp lẹ vô đi kẻo thiên hạ họ giành.
Tấp xe vô đậu, dắt em dung dăng dung dẻ một hồi trở lại thì thấy trên kiếng trước, chình ình cái giấy phạt của mấy thằng ‘cáo sồ’, kẹp trên cọng quạt nước.
Lấy xuống coi! Hết 159 đô, một ngày lương sau thuế chớ ít ỏi gì đâu. Lòng đau như cắt.
Anh vẫn thừa biết mấy thằng ‘cáo sồ’ chỉ xách cái ‘đít’ không dạo lên dạo xuống kiếm chiếc xe nào tài xế ba chớp ba nháng là ‘táng’ cho một cái giấy phạt.
Lỗi là vì bãi đậu chỉ dành cho thằng chủ nhà phía trong từ 3 giờ chiều trở đi.
Từ đó anh cạch mặt! Em xúi điều gì anh phải dòm trước xem sau… Riết rồi bỏ luôn cái tánh là vợ mình nói cái gì cũng đúng.
Vậy mà hôm qua em lại xúi anh nữa. Mà lời xúi nầy nghiêm trọng hơn nhiều, tốn nhiều tiền hơn nếu anh khờ dại nghe theo.
Em hỏi: “Sao anh không bắt chước thằng hàng xóm! Mỗi ngày trước khi đi làm nó ôm con vợ hun đúng ba cái?” “Anh làm vậy sao được hè? Vì anh đâu có quen biết gì con vợ nó đâu?”
Nghe lời em xúi là dám bay hết cả hai hàm răng chỉ còn vài ba cái; lại tốn tiền làm hàm giả tới 1000 đô một cái lận đó!
Thế nên anh mình an phận đi! Ðừng được Như Quỳnh mà đòi phải Mạnh Quỳnh mới chịu nhe! Ðừng được voi đòi Hai Bà Trưng!
Còn phần mấy em! Tui khuyên thật lòng rằng: “Trăm năm may rủi một chồng. Dù ai thêu phượng vẽ rồng mặc ai!”
Chồng người áo gấm xông hương! (Ðừng có) Chồng em áo rách em thương chồng người là được hè!
Đò trôi êm mái chèo đều lực đẩy. Ban đêm giòng nước ấm ngửa mình đón hạt mưa rơi. Không lớn chẳng nhỏ chỉ đủ cho tầm nhìn thu ngắn, nhoè trên bờ thẳm những ngọn đèn vàng run thân trong vũng tối lần lượt khuất chìm.
Con đò cũng tầm trung theo lượng định, dưới vòm che hình bán nguyệt úp vung có gắn cửa tạm bợ ở mỗi đầu, một trước một sau, mong manh tựa tấm màn bằng giấy cứng cốt ngăn gió lùa cùng tia nhìn thọc mạch kẻ bàng quang. Sau, có giăng tấm bạt nhỏ bằng chất liệu ny-lông chùng, thấp ngang đầu người ngồi chèo đò và nhằm che chắn mưa tạt khỏi làm ướt lò củi ẩm còn âm u hòn than hồng vương khói mỏng. Trước là đằng đầu gỗ tháp gia công tạo dáng cong lên, đâm vào bóng tối nhiều sương quyện trông hư thực chẳng thiết nhìn rõ một bến bờ ghé lại, mặc tình đẩy đưa giữa đoạn sông vắng.
Đi trên cầu, giọt mưa đâm thấy lạnh nhột vỡ vào da rợn cảm nhưng chẳng ngờ được là mưa rơi xuống sông làm rỗ mặt, sự tiếp nhận đó có điều diệu kỳ nào can dự khiến cho thân dẫu trần truồng không manh áo vẫn chẳng thấy lạnh một mảy may. Ấm, nóng là đằng khác. Ngủ chay hay ngủ mặn, mò sâu tới chốn bồng bềnh này việc tiên quyết phải nên thực thi là xin hãy trút bỏ y phục để chứng minh nguyên cớ. Điều lệ ấy giúp người ta làm quen với mắc cỡ ban đầu rồi dần dà sự hổ ngươi sẽ bị rơi tỏm ngoài sông, lóp ngóp sặc nước, chết chìm. Triết lý tượng hình: Đẹp trai không bằng chai mặt. Đối tượng bổ sung thêm: Thẹn thùng chi nữa anh ơi, đã là cọp thì nào biết tới lần khân ngại ngần!
Cái ngủ khác với cái ăn, bởi rằm hoặc mồng một người ta có quyền vô tư chấm mút việc ngủ mặn. Trở ngại chút xíu nếu kẻ bán hoa vốn là Phật tử thuần thành: Anh ngẵng nghịch cũng vừa phải thôi, cho em nhờ tí, bữa ni kiêng cử nhác chơi. Trời sinh con gái có nhiều thứ bất tiện, ngoài chay với mặn hằng tháng họ còn bị dính chấu vấn nạn kinh nguyệt hành. Họ leo lên bờ so vai nhìn đời hiu quạnh. Có đi không? Đi mô được bữa ni, người em chẳng được sạch sẽ, khi khác anh hỉ!
Mưa giăng chập chùng ngoài đò, ngoại vật ướt át. Nhưng trên tấm chiếu khô hạn bốc mùi lạ thường này đàn ông con trai thảy nên mặc áo mưa. Bài công dân giáo dục sơ cấp từng truyền dạy: Cẩn tắc vô áy náy xa hối hận. Và nói tình ngay, sao mầm bệnh nhỡ vô phúc bị nhiễm phải kia lại mang được tên gọi quá gợi cảm: Em Giang Mai tới chị Hoa Liễu. Người thích môn đạo đức thì rộng lòng chỉ mặt xỉa xói không khoan nhượng: Chết mày chưa, thích đi đêm có ngày cũng gặp thằng lậu mủ đón đường. Nhức nhối không con?
Áo mưa chưa bao giờ bị liệt vào hàng đắt đỏ, gộp chung vào chuyện mần ăn, tính luôn tiền đò, em lấy anh giá văn nghệ. Ủa, văn nghệ văn gừng luôn nằm trên sân khấu, sao có khi lại mò xuống tận chốn phong ba này? Tiểu liên bán tự động có hai ngấc, liên thanh hay nhát gừng bắn phát một. Ngó sức vóc kiểu tân binh như anh e nên vác súng trường thô lậu, nổ cắc bụp phát thì lo hào hển rút quân. Phương án này một phần tuỳ thuộc vào lương lậu để nhắm liệu cơm gắp mắm. Dư tiền chút đỉnh thì em cho vật mình sang bên đợi bình minh nhú sẽ tính kế lên bờ, xem như năm canh vùi thân vào manh chiếu ấm chứ nỡ lòng nào đưa đầu trần người đi trong mưa gió sảng hồn lìa xa cơn mơ về sáng.
Người con gái tóc dài che nửa khuôn mặt như số đông quý chị em thích làm vậy. Bày ra nửa dung mạo khó bề tìm đoán một số tuổi thích hợp. Cứ du di chín bỏ làm mười để hàm hồ là hai chục trăng thôi tròn. Sạch nước cản thì trông mong gì khi chân bước xuống đò khoắn bùn đục nước ba mươi sáu kế thảy đều hạ sách. Cha có tù tội đâu mà bán mình trả hiếu? Chữ trinh làm gì mà hét tới ngàn vàng, nghe lùng bùng lỗ tai. Không dám đâu!
Mèo ăn vụng thường chẳng có quyền lựa chọn cục mỡ, thêm căng thẳng hiện trường cấp bách. Vui buồn tuỳ thuộc vào diễn biến tâm sinh lý bữa nọ. Đôi lúc cháy hàng, dòm trước ngó sau còn mỗi chị tuổi hơn ba chục cũng đành gát chân lên nhau nằm luận chuyện đời, những thứ éo le luôn cắc cớ bày ra rồi bàn giao vào mỗi phận số con người. Và gần bốn chục tuổi đầu vẫn xưng em với thằng con trai mới có nhị thập niên, chẳng lấy đó làm điều vui miệng gọi con chim cu mới ra ràng bằng hai tiếng anh ơi! Xem nào, đã đủ lông đủ cánh chưa đây. Ui, thương hết biết. Phàm bọn đàn ông khác đều một hạng lỗ mãng cục súc ưa hành hạ kẻ thất thế chịu nằm dưới. Đâu ai thư sinh dịu dàng như anh. Nói tội trời chớ anh mô phải người ruồi gieo máu lửa, khi nớ cánh hoa thời loạn ắt khó rụng tàn!
Người con gái với tay vặn nhỏ tim bấc ngọn đèn dầu cho bớt sáng trước khi cởi hết áo quần đạp ún thành đống dưới chân. Lòng đò chật, do vậy ánh sáng có yếu bằng cây diêm sinh cũng dư sức táp thứ màu vàng đục lên đôi vú nhỏ, trắng nhợt nhạt. Như loài bò sát, cô chuồi thân mềm mại nằm thẳng đuột đợi chờ. Lần đầu hay răng? Cô hỏi, mắt long lanh trao gửi chút ngờ vực. Ở hạ thể cô thu cất một vũng tối, có dốt môn hình học đứa người trần mắt thịt cũng nhìn ra tụ điểm cân phân một tam giác đều có ba cạnh bằng nhau. Nếu tính sai thì đổ thừa là vì lông đen mọc rối bời che bớt phần nào cái sắc sảo dễ đánh sập thành quách. Hề, đã gọi là mỹ nhân trong thiên hạ, tự cổ chí kim đều thủ đắc thứ vũ khí chết người kia, hảo hán đi mười phương hành hiệp cũng phải e ngại chừa riêng phương ấy, cổ thi từng gọi: Chốn ấy hang hùm chớ mó tay!
Năm hạt nút áo tự nhiên làm khó tay lần, quýnh quáng. Cái nịt dùng thắt lưng buộc bụng cũng chướng, gây trở ngại không nhỏ. Đi chơi đĩ, mấy chữ này thật khó êm tai. Rồi ra sẽ đến hạn kỳ tam thập nhi lập, phải tự kiếm cách lo làm nháp trước cho khỏi vướng mắc cuộc tình, đường đi ong bướm đã tường một khi.
Thầy cô giở sách ra dạy: Thân thể người ta chia ra làm ba phần: Đầu, mình và tứ chi. Giáo khoa quả đoán: Chỉ nhiêu đó thôi. Giải thích chút đỉnh: Tứ chi là gộp hai tay với hai chân lại mà thành. Hết. Đâu mà đơn giản vậy cà! Con người chúa rắc rối lắm mà. Kiêng khem tằn tiện quá đáng. Phì nhiêu trù phú trốn đi đâu? Chí ít cũng nên phân định là “người ta” gồm có giống cái và giống đực. Cớ làm sao một bên thì chẳng ra cơm cháo gì trong khi khác giống lại “sẵn đúc một toà thiên nhiên”? Một bên bình nguyên còi cọc bằng phẳng xuôi xị, bên kia lại phồn vinh không giả tạo những hòn non bộ, đèo cao lũng thấp, suối khe cùng rừng lá thấp mê muội đích thị là báu vật của trời ban… Răng đó? Cần giúp một tay không? Dưới tấm chiếu là những thanh gỗ ghép lại thành chỗ ngã lưng. Độ cứng của nó có thể làm mỏi gối chồn chân, nhưng hạng tuổi cỡ lục thập nhi nhĩ thuận mới quan ngại chớ thanh niên trai tráng hồi nào giờ đều dạng ngựa non háu đá. Ngựa cũng có nhiều giống, Xích thố của Quan Vân Trường hay bạch mã của Triệu Tử Long thuộc vào khoa học viễn tưởng, kỳ dư tất thảy đều lệ thuộc vào câu chú: Chạy xa mới hay đường dài. Hối thúc như bị Tào Tháo rượt đuổi thì chóng bở hơi tai, phì phò khịu chân xếp vó.
Người con gái chẳng biểu lộ buồn vui, giọng ráo hoảnh: Biết cớ sự này thì đã nhờ o Thảo bán cho ly rượu thuốc, anh uống để dìu em tới chốn xa. Quanh đi quẩn lại nhịp trống chưa báo sang canh. Thôi đành chờ lần sau, so ra còn khá hơn là phải chịu khóc đầm đìa ngoài biên ải. Cô ngồi dậy, chỉ tròng chiếc áo bà ba đậy điệm nhũ hoa cho khỏi trúng gió rồi vớ lấy cái thau nhựa, kéo nhẹ liếp cửa ở đằng đầu. Mưa vẫn rơi, làm màu đêm vấy trên sông ánh lên sắc xanh huyền hoặc. Lần ra sát mạn đò, cô gái vục thau xuống để múc lên một dung tích đầy vun, động tác thành thục chẳng sóng sánh trào đổ. Ngồi xích lại gần cửa tránh mưa, khum bàn tay hứng nước và khoan nhặt đưa lên đặt xuống kỳ cọ rửa ráy vệ sinh cửa mình. Nếu có hà bá hoặc con cháu thuỷ thần đi hoang bên dưới con đò e chúng cũng kiêng dè cạy mặt người sở hữu lắm hương mùi bụi trần vây khổn. Thau nước qua sử dụng được hoàn trả xuống con sông nổi tiếng Hương thơm. Tiếng nước táp vào bề phẳng trầm mặc của nó bật lên thứ cung bậc nghe sướng cái lỗ tai, cơ hồ vỗ bàn tay vào mông đít lắm thịt. Tuy mênh mông nhưng gây vang ra điệp trùng hồi đáp vọng dội. Bây giờ thì hình tam giác cân đã biến đổi thành thứ hình học không gian có nhiều phương thức chứng minh “ngó vậy mà hổng phải vậy”. Đôi giọt nước còn ngập ngừng ở thềm rêu chưa vội nhỏ xuống, rời đi từ cụm tóc xoắn, rối, bời bời một nguồn cơn khó ráp lại nên câu cú. Chủ nhân lách người qua khe hẹp rồi ngồi xuống chiếu tròng đôi chân vào chiếc quần đen chịu nhiều nếp gấp, bèo nhèo. Mái tóc bị ướt ít nhiều, cô để vậy không buồn lau khô; như bên dưới mãi chịu sự ẩm thấp, tuồng quan niệm “để vậy cho mát em”. Việc trước mắt cần giải quyết là thử ném viên đá dò đường, thăm dò nhằm đuổi khách. Ong đã hút nhuỵ hoa, dù chưa vơi hương mật thì liệu đường mà chờn vờn chốn khác. Bắt chấm mút phải bu vô, đến hồi hết sức chớ tô vẽ trò.
Người ta gầy sòng cờ bạc thử đỏ đen luôn theo tiêu chí thua keo này bày keo khác. Xóc xáo lại bộ bài, chia ván mới.
Cô gái nghe thế liền cười nửa miệng: Mô có ai cản ngăn? Cớ sự là anh còn tiền để chung cho nhà cái không?
Tên em là chi, anh quên hỏi?
Kêu em là Xì-lát cũng được, hay xập xám, hay thùng pha sảnh, tuỳ ở anh cả, em đâu quan hoài, chuyện nhỏ.
Răng không nói em tên Thoa cho anh an tâm.
Đánh bài mà bắt phải khai tên, có ngược đời không? Ừ, em là Thoa đây, có chuyện chi không?
Có chớ, đại sự là đàng khác. Nếu đúng là Thoa thì em chắc nhớ ra một thằng tên là Ngô Văn Đồng. Ba ngày trước hắn thiếu tiền được Thoa cho mắc chịu, chỉ thu giữ thẻ căn cước của hắn làm vật thế chân…
Rồi răng nữa?
Tối nay anh xuống đây có mang theo tiền chuộc.
Đứa con gái cười rộng miệng, cười rung cả vai, rối cả tóc. Đánh bài thì anh có cơ may gỡ lại vốn, nhưng anh chơi em thì khác, một ra đi không trở lại, tiền trao cháo múc. Nghe mắc cười quá, vừa húp cháo vừa đòi lấy lui vật thế chân, tham lam vừa vừa thôi ông thầy. Cái anh chàng tên Đồng nớ đã lạ đời lại quen thêm người bạn thật kỳ khôi. May mà em không phải tên Thoa, em chưa khi mô cho người ta mắc chịu cả. Chịu chơi cũng ở chừng mực mô thôi, chơi kiểu nghịch tặc thì ai mà chịu đời cho thấu!
Có nghĩa là anh ưa gầy cuộc vui lần nữa coi bộ không xong?
Đêm mai hẵng hay, em sẽ dọ hỏi giúp để anh gặp đúng người mà lấy lại thẻ căn cước. Thiệt cả gan! Ra đường không bọc theo giấy tờ tuỳ thân chẳng sợ họ bắt đi lính sao?
oOo
Khi đất nước hà khắc, độc đoán, mê muội, kỳ thị, đày ải, bần cùng hoá nhân dân. Cuối chân tường người ta đào được một lỗ đen, đặt tên: Vượt biên. Rỉ tai nhau: Đánh đổi bằng mọi giá để thoát ra được địa ngục trầm luân này. Hai chữ “vượt biên” mới toanh luôn đeo nặng trong giấc ngủ đầy ác mộng, lắm tính toan. Nó trở thành một ước ao chẳng có gì so sánh được, vô đối. Bao trùm và vĩ đại tới độ phát sinh ra câu thoại cười ra nước mắt: Nếu cột đèn có chân nó cũng bỏ trốn!
Hơn cả vết dầu loang, hơn cả cơn bệnh dịch, người ta đồng loạt đổ xô đi tìm sinh lộ bất chấp tử lộ chực chờ. Nếu vượt biển, động vật hai chân nương nhờ vô ghe tàu, hoặc một vật nổi được trên mặt nước có gắn động cơ sau đuôi bất biết tới sông dài bể rộng. Có kẻ trần tình lời nghe quặn lòng thắt gan: Hãy cho tôi thấy mặt trùng khơi một bận rồi có chết cũng cam tâm!
Muốn ra ngoài cửa biển có ghe chực sẵn để bốc người đi, những đứa “phản bội tổ quốc” phải chung tiền thuê “taxi”- lại một thuật ngữ mới ám chỉ mấy con đò nguỵ trang kín kẽ “đưa người ta không đưa sang sông” mà chạy xớn xác ra gặp sóng biển bạc đầu. “Bóng chiều không thắm không vàng vọt” như Thâm Tâm tả mà phải tối trời không trăng sao, đen như mực tối như hũ nút mới đắt địa. “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thật!” Dầu sôi lửa bỏng ai còn lòng dạ mà đùa dai giỡn thật với giả. Tất cả giá trị hiện vật đều bỏ lại, chỉ vác mạng không đóng vai thi nhân làm bài hành về tứ phương vô định. Hành phương Nam của Nguyễn Bính e chẳng thấm thía bằng bài hành của Thuyền nhân: Một là con nuôi má, hai là con nuôi cá, ba là má nuôi con. 1: Tự do. 2: Chết. 3: Ngục tù. Chẳng lôi thôi gì cả.
Ngày xưa, cổ nhân đi hành quân sát bên doanh trại địch đóng, muốn bảo mật phải tuân thủ “ngựa thì cất lạc, người thì ngậm tăm”. Giờ đây nằm chất lớp chư cá ương trên lòng đò ướt lưng áo lạnh, con trẻ thì uống thuốc ngủ để khỏi cất tiếng khóc nhè làm bể ổ, người lớn có khấn nguyện thì Nam mô A di đà Phật cứu khổ cứu nạn chỉ lâm râm tụng thầm cho mỗi mình nghe thấy. Đò có gắn máy đuôi tôm vì thồ người khẩm nặng, tiếng lạch bạch vang giữa đôi bờ kéo theo bao nỗi niềm mà dạ chẳng yên để phân định buồn vui đang ngập sóng trong lòng. Chắc rằng mặt sông có xao động cũng chẳng tài nào sánh với tâm thức kẻ cùng khổ đang lặng lẽ trốn chạy. Ba đào dâng lên trong người, say với thứ mà sóng và rượu không đủ độ mạnh làm chao đảo. Người cầm tay lái là một ông già gầy ốm ngồi sau đò, cô gái phụ đỡ ông thì ngồi bên một đống rong rêu cao ngất vớt được tự lòng sông. Tuy có bóng tối can dự nhưng cô ta cũng nhìn nhận ra được đứa “hành khách” nửa nằm nửa ngồi sát bên đôi chân. Một ván bài vừa chia phần mà nhà cái mang tên định mệnh. Vật đổi sao dời, biến thiên dâu bể tới cỡ nào cô vẫn không quên bộ phong tróc ảnh ám nơi thằng con trai đã từng nhờ cô giúp trở thành đàn ông một đêm mưa sụt sùi ngày cũ. Một chút dại khờ đi kèm với lòng thuỷ chung, hắn một mực tìm tới cô để ngủ qua đêm, chẳng ai khác. Không Thoa chẳng Lài, không Xuân chẳng Gái cho dù bốn chị em ấy nhan sắc có đứa mặn mà hơn, thể hình có đứa văm hơn, tuổi tác có đứa son trẻ hơn.
Bắt chước người bạn rắn mắt, hắn từng nhăn nhó gãi đầu đòi để căn cước bọc nhựa ở lại thế chân. Hắn biết cách san bằng hố sâu dị nghị bằng lối đùa nghịch hồn nhiên. Cách hắn tiếp cận, lối xử thế không như hành động một con đực muốn trấn lột, chiếm đoạt con cái. Hắn dịu dàng mơn trớn, như người nữ nằm dưới thân hắn chẳng phải là một ả điếm, thứ vật thể hắn dùng để trút bỏ bao hằn học trong khi hành lạc. Trong đầu hắn tuồng không mọc ra ý tưởng chơi cho xứng đồng tiền bát gạo. Hắn chẳng biết chữ dày vò, dập liễu vùi hoa. Và tới phút yếu lòng cô đã thú thật tên cô cho hắn nghe.
Diệu. Hắn thầm thì. Hắn cũng có bộ nhớ tinh nhạy, nhìn là nhận ra ngay. Hắn kê đầu vào đùi cô, từ tốn rướn thân lên. Chừng như hắn đang mó bàn tay tinh nghịch vào chỗ đó. Chỗ thôi còn là vùng oanh kích tự do, chỗ đã ký kết hiệp định ngưng bắn có hiệu lực đã ba năm. Nôm na là cô ngủ chay chừng đó tháng ngày. Cô theo ông già dùng đò mưu sinh một nắng hai sương, chở cát từ thượng nguồn về, chở rong từ hạ lưu lên, chở gạch từ xí nghiệp sản xuất mang ra chợ… Tóm tắc là lu bu làm thợ đụng chứ không nằm ngửa trên chiếu để mặc cho cuộc đời vấy bẩn tàn phá kiếp hồng nhan. Hắn thăm dò, bàn tay chăm đi hoang. Hắn nói hắn từng trông lui, tưởng nhớ cô, những ngày êm đẹp cũ. Hắn ngỡ cô đã bị dồn đẩy bắt đi khai hoang lập ấp trên vùng kinh tế mới đèo heo hút gió nào đó. Cô nín thinh, ngồi yên chẳng kháng cự. Cô biết hắn sắp liều lĩnh đi xa với cuộc lữ chịu nhiều hoạn nạn.
Lâu rồi đôi vú cô chẳng có tay ai sờ nắn. Bộn bề tháng ngày cửa mình cô, cái hình tam giác lạ thường như cách ví von của hắn, chưa có ai đo đạc mân mê vò rối. Cô hớt tóc trên đầu lắm lần nhưng bên dưới chừng như nó vẫn vậy, vẫn cong xoắn vẫn không mấy dài. Và năm ngón tay hắn đang khiến người cô chao đi, co rút lại. Chưa khi nào cô thèm làm tình với hắn đến vậy. Nếu bị đổ bể, taxi không gặp ghe đợi, tôi sẽ tìm cách đi vào ngục thất thăm anh. Cô nói nhỏ, đủ cho hắn nghe. Dù vẽ ra điềm gở, hắn đón nhận chút cảm động vì lời cô mang đủ chất thành thật.
Hắn moi trong lưng quần ra cái khâu hai chỉ, dự trù bán đi khi tới đảo để đánh về nhà cái điện tín báo tin. Nhưng phần số đã bày ra cuộc gặp gỡ này… Diệu. Diệu cất giữ nó đi, khi mô lấy chồng thì có sẵn, chẳng bợn lòng mà đeo vào ngón tay chứng thực là mình yên bề gia thất. Chỉ xin đánh đổi, hãy thầm nguyện cho anh đến được bến bờ tự do. Áo Diệu có hai miếng vải vá khác màu, ở vai và ở khuỷ tay. Người Diệu nồng mùi nắng dù đò trôi trong đêm mà cửa biển gần kề đang dồn thổi vào một lượng gió mặn muối. Mặn đến chạnh lòng.
Mọi người hối hả bồng bế nhau dồn lên ghe lớn, cao ngất, chòng chành, sóng nhồi, mênh mông con nước rộng doạ dẫm. Cầu trời khẩn Phật cho anh được tai qua nạn khỏi. Diệu nói với một đầu tóc đang bị rối bung. Đó là thời điểm thích hợp nhất để Diệu nhắm mắt liều lĩnh hôn vào môi hắn. Vị mặn ứa từ cửa sổ tâm hồn bò chậm rãi xuống bờ môi khô hụt nhịp thở. Hắn liếm quanh.
Phút cuối rời xa đất mẹ hắn đã thu cất vào buồng phổi lượng dưỡng khí mà Diệu vừa hà hơi tiếp sức. Và đầu mấy ngón tay hắn hình như vẫn nhờn rít chất sữa ngọt thất thoát từ mật khu, từ cửa mình ấm áp Diệu thầm lặng gửi trao. Còn gì nữa mà keo sơn gắn bó!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.