This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Sáng nay trời ửng chút nắng. Nhiệt độ leo lên được con số 3, độ C. Nàng Bạch Tuyết mới làm tình làm tội phủ ngập người mà giờ này lại cựa mình, bắt đầu tan chảy, tựa niềm vui hiếm thấy, chẳng mấy khi gặp. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ? Câu này đúng mấy phần, sai bao dặm? Chớ thắc mắc. Chỉ nên tin vào thống kê người ta cất công nghiên cứu: Ngoại cảnh u sầu ám nặng trong mùa đông đã ảnh hưởng tới tâm lý và sức khoẻ con người, dẫn tới số tử vong cao nhất so với ba mùa Xuân Hạ Thu còn lại trong năm. Nôm na, qua khỏi mùa Đông thì trên các mặt báo sẽ thưa bớt những ô phân ưu chia buồn bao kẻ bạc mệnh nhác chơi với cuộc lữ. Và mùa đông chốn này, eo ơi nó lê thê kéo dài, giết người không gươm đao bằng cái miên man nọ. Đứng tuổi mới dạ cảm hoài kiểu ấy, chứ thanh niên trai tráng lại phán: Chỉ teo bu-gi chút đỉnh. Chuyện nhỏ! Già cả đâm bất tiện các thứ. Nó teo lại là chết chắc đấy con ạ!
Trời ấm, phải tận dụng màu vàng eo xèo của nắng yếu, tôi cầm đùi lẻ chống cây ba-toong đi bộ ra đầu đường gió nhẹ mơn man. Chim bồ câu tụ bầy trên mái giáo đường đứng gật gù rỉa lông thì thầm bao cung bậc đầy trắc ẩn. Điều này đồng nghĩa là chưa đúng ngọ, tháp chuông gắn phía sau nhà thờ sẽ đổ nhịp lúc 12 giờ trưa. Chim chóc cũng biết hưởng thụ giây phút thanh nhàn trong yên ả. Chúng sẽ bay đến nơi khác trước khi hồi chuông đổ tràn ra điệp trùng tiếng kinh cong. Tôi chưa từng xét nghiệm lòng mình về phản ứng khi nghe chuông giáo đường mãi tạo sóng. Tôi chỉ nghe bất an khi cúi đầu hứng chịu tiếng mõ cùng những đoạn kinh khó hiểu rót vào tai. Và hương hoa, và nhang đèn, và hương khói… Một thứ buồn vào hồn không tên!
Quán cà phê quen thuộc bữa nay có thay đổi cách trưng bày làm như mùa xuân đang ngấp nghé bên ngoài hàng hiên. Chỉ chút nắng tạo ra vệt vàng tấp vào cửa kính cũng đủ đóng khung bức tranh trông sinh động. Tấm bảng gỗ thường viết phấn màu quảng cáo món đặc biệt trong ngày cũng như kê khai một loạt thức uống đã được thay bằng hàng chữ huê dạng: “BOOK, the only thing you can buy that makes you RICHER”. Ủa, giờ này mới biết là sách chứ không phải vé số. Vậy mà bấy lâu cứ đè vé số cá cược may rủi với thần tài đỏ đen, mấy tiền cũng hết răng chưa mua được tiên? Giàu và nghèo, hoá ra không nằm riêng ở khoảng số tiền anh đang sở hữu được. Một ông homeless râu ria ra rậm rạp ngồi trụ ở góc đường đang hí hoáy làm thơ bỏ quên thế sự sầu não thì không hẳn đích thực là kẻ vô sản nghèo rớt mồng tơi đâu nhé, bởi đơn giản đứa tiền rừng bạc biển chưa chắc đã rung động con tim để tạo ra vẻ đẹp, dẫu phù du.
Khi tôi gọi xong ly cà phê và chọn được cái bàn có hai ghế trống thì bạn tới. Bạn tôi nằm trong danh sách những người thôi lao động ở trường đời, ăn tiền già, ăn hưu non hoặc hưởng một thứ trợ cấp nào đó từ chính phủ quan tâm đoái hoài chi viện. Tiền bạc rủng rỉnh tuy chẳng dư thừa nhưng thời gian thì giàu sụ chẳng biết cách tiêu cho hết. Rất đại gia. Đó là những ca sĩ nghiệp dư chỉ biết hát có đôi bài tủ, đại loại: Ôi, ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu… Hoặc: Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa… Rất thân bại danh liệt.
Ông có thấy tấm bảng dựng ở cạnh cửa không? Bạn hỏi. Tôi khuấy ly cà phê đen, chậm rãi: Do đâu mà chúng đổi menu lạ thường vậy không biết! Những cuốn sách long bìa tróc gáy bám bụi dựng sát vách kia thuần chỉ là món dùng để trang trí. Người bạn cởi bớt áo xống móc ở lưng ghế: Chừng nào ông tính in một cuốn sách? Tôi ngó vào mặt kính cận mờ đục hơi ẩm nơi gương mặt người đặt câu hỏi để nhớ lại những dự tính chẳng mấy thiết tha. Hình như đêm tụ họp ăn tất niên cùng nhau, tôi lỡ vung vít: Sang năm mới tôi sẽ thực hiện hai điều có hơi lạc hậu, một là tự mở cho mình trang facebook, hai là in một tập truyện ngắn. Thầm thà thậm thụt kiểu nói trước bước không rời. Ngó trước trông sau, nghiệm thấy chẳng mấy vui. Bất ổn và bất khả. Chắc phải về cố quận để hỏi cho ra lẽ: Hồ hởi phấn khởi nghĩa là gì? Rất hoang mang!
Người bạn tháo hai con mắt xuống để lau cho trong trẻo, hai mắt còn lại tuồng như chưa hề ngủ tròn giấc. Khi lấy cặp kính cận ra, gương mặt bạn lộ rõ những tàn phai ghi dấu, tựa một trang lưu bút đã chịu qua nhiều giở lật. Ngày xưa bố mình tuy nghèo nhưng ông luôn hào sảng chuyện mua sách cho con cái. Bố mình bảo, sách là người bạn chung tình không hề phản bội. Anh mình thì ví von: Đàn bà giống như một cuốn sách mà chúng ta khó đọc xong. Bạn thôi nói khi mang lại vật bảo vệ cửa sổ tâm hồn. Tôi bắt gặp một dung mạo quen thuộc cũ. Tôi kể cho người bạn nghe một mẩu chuyện hài với tựa đề “Sách, đôi khi không tốt”, có anh chàng nọ rất yêu hoa, bỏ tiền mua bao kỳ hoa dị thảo mang về trồng vun xới làm khu vườn trông lung linh huyền ảo. Ngày kia, đi làm về mặt anh biến sắc khi nhìn ra sự trơ trụi xác xơ của khu vườn trong khi vợ anh thì đang nghiền ngẫm cuốn sách Nghệ Thuật Cắm Hoa. Người bạn cười thành tiếng: Vậy thì đã có thêm người đồng ý rằng đàn bà là một cuốn bí kíp hóc hiểm.
Tôi nói e là vậy, vì những cuốn truyện nhiều tình tiết mãi lôi cuốn đều chứa đựng đôi ba hình ảnh của quý vị nữ lưu. Thi ca cũng thế, riêng khoảng diện mạo và thể hình của “nàng” cũng khiến anh hồn xiêu phách lạc, ca ngợi đủ mọi ngôn từ. Món phở nổi đình nổi đám hơn cơm là có nguyên cớ bên trong. Người bạn cho hay mấy năm qua để dành được một ít tiền đặng về thăm nhà trong nay mai. Xa quê hương thì lúc nào cũng nhớ mẹ hiền, bạn bổ túc thêm, và nếu về êm xuôi mình sẽ quyết dùng văn hoá phong bì để được đi vào tù thăm thú phạm nhân Nguyễn Hoàng Tâm. Rất ấn tượng tay này, chỉ mới có 30, tuổi trẻ tài cao mình ên đi xe máy vào Thành nội Huế, cướp ngân hàng BIDV gần cửa Đông Ba lấy đi 800 triệu đồng chỉ trong vòng 12 giây. Ung dung ra nổ máy xe chạy thoát trong lúc nhân viên bảo vệ chưa kịp phản ứng. Tuyệt! Đạo diễn phim hình sự cũng chả dám viết ra được một kịch bản thần sầu như rứa. Ôi chao, con cái nhà ai mà giỏi dang rứa bây! Rất đáng ngưỡng mộ.
Cà phê chỗ này uống được quá đi chứ? Nhâm nhi gần hết ly mà sao giọng người bạn nghẹn như chưa thông cần cổ: Sáng nay mình xem tin tức phát sóng trên đài VTV: Ở Việt Nam vừa phát hiện ra đường dây buôn người. Người được mua đứt với giá từ 300 đến 500 triệu. Mua xong mang về phân loại: Bắt mắt thì thời gian đầu cho làm gái mại dâm, thời gian sau đem bán cho bọn đang cần vợ. Xấu xí thì chuyển đến trại chuyên mổ lấy nội tạng. Mua nhanh bán chạy đắt như tôm tươi là các trẻ sơ sinh…
Có hoang đường không? Những cuốn sách fiction cũ mốc dựng chật một góc kia có tác giả nào viết được một tình huống ấy? Mạng người sao rẻ rúng, sao túng quẫn, sao nằm mơ cũng chẳng ngờ tới nhường kia? Vậy thì khi anh cướp ngân hàng được tới những 800 triệu, buồn tình anh có thể mua luôn hai bà vợ một lúc nhỉ? Biết xài sao cho hết! Vào lúc 30 tuổi, thời đó chúng mình có làm được gì đâu. Sao đẳng cấp bằng! “Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi, van nợ lắm khi tràn nước mắt” như cụ Tú Xương mà thấm béo gì. Tình huống căng hơn nhiều. Kể làm răng cho hết. Cháu con nó hoàn cảnh lắm cụ ạ! Nhưng an ủi một điều, chúng nó chưa đánh mất nhân tính, chúng bổn thiện, chúng biết hổ ngươi khác xa thời buổi đương đại này.
Tôi hỏi: Vậy thì bạn còn giữ nguyên tính bổn thiện không. Mang thứ hành trang ấy về không chừng mà thua thiệt đấy. Sách xưa có dạy “Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Trước đây bạn mắng những thằng Việt kiều sao giờ này lại giở thói sáng nắng chiều mưa tiền hậu bất nhất. Người bạn ngồi rụt cổ: Thôi mà, chớ gắp lửa bỏ tay người, cho em nhờ tí! Hãy xem như mình đang âm mưu viết nên một cuốn tiểu thuyết và về lại chốn cũ là cách đi thực tế. Va chạm, chung đụng, thu gom tư liệu làm giàu vốn sống. Mình tin là sẽ hấp dẫn hơn chuyện Liêu Trai Chí Dị.
Tôi ngó người vừa đơm mộng ước để tự nhủ lòng, cho hắn bon bon chạy mà chớ thọc gậy bánh xe. Ừ, chúc ông thuận buồm xuôi gió. Ông nên tự tạo ra niềm tin, chớ sờn lòng. Kiểu như cách tuyên bố của ông phó chủ tịch quận 1 Sài Gòn: “Không lấy lại được vỉa hè tôi sẽ cởi áo từ quan”. Nghĩa là sao? Nghĩa là không viết được cuốn tiểu thuyết hiện thực huyền ảo kia tớ sẽ thôi làm nhà văn. Tôi gợi ý cho bạn một cái nhan truyện nhé: Đi Xe Có Còi Hụ.
Chuyện nhạt dần, cà phê cũng đã cạn. Một cuốn sách mỏng đã đọc hết chữ cuối. Ngồi trong quán lâu cũng đâm áy náy, nên giã từ trả chỗ trống cho người ta tiếp khách mần ăn. Khi mặc lại áo ấm, người bạn cho hay sẽ ghé thăm các chùa chiền khắp ba miền cho mãn nhãn, ở Hà Nội họ vừa mở khoá bồi dưỡng cho sư sãi và ni cô biết cách tránh thai, cách tính chu kỳ kinh nguyệt và cách sử dụng condom. Muốn ghi danh học lên tiến sĩ về đạo pháp bạn phải thi đỗ môn lý luận triết thuyết Mác-Lê. Mình sẽ đi thăm thượng toạ Thích Chân Quang, người vừa tạo sóng: “Theo lịch sử không chối cãi được, Trung Quốc là anh, Việt Nam là em… mà Lý Thường Kiệt mang quân đánh là hỗn”. Lạ thật, sao những tin tức rậm rật kiểu đó mà tôi lại chẳng hay biết cà? Tại vì ông cứ bình chân như vại chốn đây, còn mình sắp lên đường nên cần phải bỏ công tìm hiểu đôi chút. Ta không vào địa ngục thì ai vào? Phải chăng chính Phật là người nói ra câu đó?
Xô cửa bước ra đường, tôi nói cùng bạn: Tôi cũng hồ nghi chẳng nhớ ai viết ra câu: Khi bọn học trò lớn dần, viết chì được thay bằng viết mực, chỉ để giải thích là bây giờ khó mà tẩy xoá những lỗi lầm. Hơi lạnh còn ẩn chứa trong gió, dù heo may rợn cảm. Về Việt Nam, chẳng biết mình có mắc phải lầm lỗi? Điều ấy chỉ có lương tâm ông hay biết, nhưng viết được một cuốn sách sau chuyến đi là cả một điều đáng xiển dương. Chừng nào chính thức khởi hành? Cuối tuần, chủ nhật tới. Bà vợ cũ vẫn còn ở Nha Trang? Không, nhà dưới đó đã bán vì giá quá hời, bả hiện ở Đà Lạt và trùng hợp làm sao bả có chân trong hội văn nghệ Lâm Đồng. Có nghĩa là khi ông xuống tới phi trường Liên Khương sẽ gặp lại người xưa đứng đợi? Mình không rõ, bà ấy từng gửi email: “Nếu bạn yêu ai mà kẻ đó không yêu lại bạn, nó giống như bạn ra phi trường để chờ một chiếc tàu thuỷ”.
Hai đứa đi ngược hướng nhau. Thôi, bai nhé. Thượng lộ bình an. Còn sớm tôi rảo tới gian hàng bán đồ cũ. Việt Nam gọi là đồ hàng bành, hoặc Sida. Đã xi-đa mà còn xông pha hiến máu. Bên đó bị nhiễm vi-rút chơi chữ, hăng làm thơ đến nỗi bị vợ bỏ mà cũng không nhụt khí. Buồn đến khó chuồn, chán hơn sứt trán. Quá ngao ngán, không cách chi ta thán.
Siêng tay lục soạn một hồi, tôi mua được cuốn “Một Chút Mặt Trời Trong Nước Lạnh” của nhà văn nữ Francoise Sagan với giá 50 xu. “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide”. Một chút mặt trời vừa bỏ đi, trời xám, ẩm lạnh, nhức xương ở chân bước về nhà, gồng mình đợi trận tuyết khác kéo về. Không một chút mặt trời trong băng giá.
Khi tôi thức dậy, bầu trời đã ưng ửng sáng, những ngọn đèn đường bao quanh khu bến xe đã tắt tự lúc nào. Tôi liếc nhìn đồng hồ, hơn 5 giờ rồi mà người tài xế xe vận tải đi Đà Lạt vẫn chưa đến đón chúng tôi, như anh đã hứa. Một chút nghi ngờ thoáng qua trong đầu, có khi nào anh tài xế lấy tiền của chúng tôi rồi trốn mất tiêu hay không? Có thể lắm chứ. Chuyện Miền Nam mất vào tay Cộng Sản, giống như chuyện trời sập, chuyện không tưởng, vẫn có thể xảy ra thì chuyện anh tài xế xe tải lừa chúng tôi để lấy hai ngàn đồng, có gì là lạ đâu.
Tôi quay đầu nhìn sang bên cạnh, Cúc hãy còn ngủ say. Là con nhà giàu, suốt đời sống trong nhung lụa, trong nhà kẻ hầu người hạ, khi ra đường một bước lên xe, hai bước xuống ngựa, hôm nay phải ngủ lang ở đầu đường xó chợ, tôi tưởng rằng Cúc sẽ cau có, bực dọc, hoặc ít ra cũng trăn qua trở lại vì đàn muỗi đói lẩn quẩn bên tai, vì nền xi măng ẩm lạnh, vì chiếc chiếu cũ đầy mùi hôi hám. Trái lại, Cúc ngủ ngon lành từ tối đến giờ.
Tôi nhẹ nhàng đặt cái quạt giấy xuống bên cạnh Cúc, rồi lượm hai tấm thẻ bài rớt dưới đất đeo vào cổ của mình. Hai tấm thẻ bài này đã theo Cúc mấy năm rồi, hôm qua Cúc mới trả lại cho tôi. Trong cái ánh sáng đùng đục tựa như pha màu sữa của bầu trời chưa sáng tỏ, tôi đọc được hàng chữ Nguyễn thị Cúc, khắc thêm vào khoảng trống bên trên tên của tôi trong tấm thẻ bài.
Năm xưa, ngày đầu tiên bước chân vào lính, tại Trung Tâm II Tuyển Mộ Nhập Ngũ, tôi được nhận quân trang quân dụng, cùng với tấm thẻ bài làm bằng một loại sắt không rỉ sét, trên đó tên của tôi với số quân và loại máu được in bằng máy dập, ép. Cúc đưa tấm thẻ bài của tôi cho thợ khắc chữ ở Sài Gòn thêm tên của Cúc vào. Hai cái tên quyện vào nhau, được làm từ hai loại máy khác nhau khiến tấm thẻ bài có nét là lạ, trông đẹp hơn và cũng tình tứ hơn. Có thể nhờ vậy mà những cô bạn gái của Cúc, coi việc đeo tấm thẻ bài của lính như một món đồ trang sức. Với tôi, đó là những cô gái lãng mạn đáng yêu vào bậc nhất trên cõi đời này.
Tôi vươn vai, duỗi chân để xua đuổi cái mệt mỏi của đêm dài rồi đảo mắt nhìn quanh. Sài Gòn, thành phố của hơn hai triệu dân, với sức sống tràn đầy mãnh liệt vẫn còn chìm sâu trong giấc ngủ mê mệt. Hình như, cái thành phố cứng đầu này không muốn trở lại với những sinh hoạt bình thường của nó. Trong lúc giao thời, chưa biết phải làm gì, nhà nào cũng đóng cửa chờ đợi.
Theo tôi biết, bất cứ thành phố nào của Việt Nam, chợ và bến xe là nơi có sức sống nhộn nhịp nhất vào buổi sáng. Hôm nay, mọi sinh hoạt ồn ào náo nhiệt của bến xe Pétrus Ký không còn nữa, đường phố khá im vắng, một vài ngôi nhà mở hé cửa để lọt chút ánh sáng vàng nhạt qua khe hở. Tôi đoán có thể cả tháng rồi, bến xe đi Đà Lạt chỉ còn những cửa hàng ăn hoạt động cầm chừng, vì Thành phố Đà Lạt đã bị Cộng Sản chiếm đóng từ tháng trước.
Hình minh họa
Trong cái yên vắng tưởng chừng sẽ còn kéo dài không biết đến khi nào, bất chợt tôi thấy một nhóm người đi dọc theo lề đường. Khi đi ngang qua chỗ tôi ngồi, tôi nghe được họ nói chuyện với nhau.
-Đi lẹ lên mấy bà, nghe nói trời sáng là bắt đầu.
Tôi nghe để mà nghe, nghe xong rồi bỏ ngoài tai, chuyện buôn bán của mấy bà để ý làm gì cho mệt. Được vài phút lại có một bầy con nít, vừa đi vừa chuyện trò líu lo.
-Mày chắc không?
-Chắc.
-Ai nói với mày?
-Chị tao nói, lát nữa họ sẽ xử tội mấy ông lính Nhảy Dù.
Câu nói của thằng bé khiến tôi giật mình, không kịp suy nghĩ tôi bung người bật dậy như một cái lò xo, lật đật đuổi theo mấy đứa nhỏ. Tôi vừa chạy vừa la.
-Ê, mấy đứa.
Một thằng nhỏ quay đầu nhìn tôi.
-Chú kêu tụi con có chuyện gì?
Tôi vội vàng hỏi.
-Mày nói xử tội ai?
Thằng nhỏ trả lời tôi.
-Xử tội lính Nhảy Dù.
-Ai xử
-Việt cộng xử chớ còn ai nữa.
Tôi kéo tay thằng bé.
-Xử ở đâu?
-Chú theo đường Pétrus Ký này, chỉ một chút thôi, tới đường Trần Quốc Toản quẹo phải. Mà thôi, chú muốn coi thì theo tụi con, khỏi mất công con chỉ dẫn lôi thôi, tốn thì giờ vô ích.
Không một chút chần chừ, tôi rảo bước theo lũ nhỏ. Khi qua đường Trần Quốc Toản được một khúc, tôi nhìn thấy bên tay trái của tôi là một ngôi tháp nguy nga đồ sộ, cao ba, bốn tầng đang được xây cất dang dở, với những trụ sắt đen sì tua tủa đâm lên trời. Giữa sân là những đống gạch ngói, gỗ đá ngổn ngang, xa hơn chút xíu là cái cổng khá lớn với bốn chữ Việt Nam Quốc Tự.
Tôi nhìn sửng ngôi chùa không chớp mắt, thì ra tối hôm qua tôi thức suốt đêm, có ngủ đâu. Tiếng chuông tôi nghe được là tiếng chuông chùa Việt Nam Quốc Tự, chứ không phải là tiếng chuông chùa Sư Nữ Linh Phong ở Đà Lạt mà tôi nghe được trong giấc mơ. Ôi! Trong cuộc sống đổi thay bất thường này, mộng và thực xét cho cùng khó mà phân biệt được.
Khi đi ngang qua ngôi chùa, một thằng bé giật mạnh cái chéo áo của tôi, tay chỉ về phía xa xa.
-Đó.. đó.. chú thấy chưa! Chỗ đám đông bu quanh thành cái vòng tròn. Mình chạy lẹ lên đi chú.
Vì quá nóng lòng, tôi chạy thật nhanh vượt qua mấy đứa nhỏ, tiến về phía trước.
Hình minh họa
Khi tôi chen chân vào bên trong vòng tròn người, một cảnh tượng hãi hùng khiến tôi như muốn chết đứng, tay run theo tay, chân run theo chân, lạnh cứng cả người. Bốn, năm cái xác lính Nhảy Dù nằm la liệt trên mặt đất, những xác chết bê bết máu với thương tích đầy người, một điều lạ là cả hai đầu gối của mấy xác chết đều bị thấm đầy máu, trong đó có một xác không còn nguyên vẹn hình hài với cái đầu mất đi một nửa, máu khô trộn lẫn với óc phủ đầy ngực của xác chết. Bên cạnh đó, trên một cái ghế dựa cũ kỹ bạc màu sơn, một ông chuẩn úy Nhảy Dù, hai tay bị trói ngược ra phía sau, hai chân bị cột vào hai chân ghế, đôi giày bốt đờ sô cởi vất bên cạnh. Con mắt trái của ông chuẩn úy tím bầm, sưng to như một trái quít, hình như đã mù do bị một vật cứng đập vào chứ không phải do trúng đạn, máu khô còn đọng lại một bên má. Mắt bên phải của ông chuẩn úy còn lành lặn nhưng nhắm nghiền lại, đầu nghiêng về phía trái. Tôi đọc được chữ Ngo nơi túi áo phải của ông chuẩn úy. Tên ông ta là Ngô, Ngộ hay Ngọ, tôi không biết được.
Trước mặt ông chuẩn úy, cả chục tên cán binh Cộng Sản với bộ đồ trận kaki Nam Định, chân mang dép râu, vai mang súng AK, đầu đội nón cối. Gương mặt của họ đầy vẻ tự tin của kẻ thắng trận với những cặp mắt sáng ngời nhìn thẳng về phía trước, chỉ có nước da nhờn nhợt, tai tái xanh màu cây cỏ của núi rừng Trường Sơn. Tất cả đều còn quá trẻ, tôi đoán họ chưa qua được tuổi hai mươi. Riêng người chỉ huy toán cán binh Cộng Sản, sở dĩ tôi biết ông ta là cấp chỉ huy bởi vì bộ đồ kaki mà ông đang mặc trên người trông rất sạch sẽ, thẳng thớm, vai đeo cái xách cốt bằng da màu vàng đậm, bên hông kè kè cây súng ngắn K59. Chân ông ta không mang dép râu mà mang đôi giày xăng đan. Đó là điều tôi thấy khá khôi hài, mới từ trong dãy Trường Sơn ra mà mang xăng đan da còn mới tinh, khác nào George Orwell đã viết “Trong Trại Súc Vật, mọi con vật đều bình đẳng, nhưng có một số con vật bình đẳng hơn những con vật khác”.
Người cán bộ Cộng Sản chỉ huy có gương mặt hiền lành, mang đậm nét quê mùa của một anh nông dân thật thà chất phát, quanh năm chân lấm tay bùn, ông ta nhìn viên chuẩn úy Nhảy Dù với đôi mắt hiền khô rồi cất giọng.
-Đồng bào Miền Nam ruột thịt, hãy nghe tôi nói. Đây là xác những tên lính Nhảy Dù Ngụy ngoan cố. Hai ngày trước, khi mà thằng Tổng Thống Ngụy Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên Đài phát thanh Sài Gòn, vào khoảng mười giờ sáng ngày ba mươi tháng tư, những tên lính Nhảy Dù Ngụy này vẫn không chịu buông súng, chúng điên cuồng, tiếp tục đánh phá cách mạng với mục đích là cản bước tiến của dân quân ta trên đường giải phóng Sài Gòn. Năm cái xác lính Nhảy Dù Ngụy mà đồng bào thấy nằm lung tung, lang tang dưới đất là do bị các chiến sĩ cách mạng trừng trị. Đổi lại, cả chục chiến sĩ của ta đã hy sinh một cách oan uổng dưới tay của đám lính Nhảy Dù Ngụy này. Tất cả chỉ vì lơ đễnh, cả tin vào lời kêu gọi lính Ngụy buông súng đầu hàng của thằng Dương Văn Minh.
Đây là lần đầu tiên, tôi được nghe tận tai, thấy tận mắt một cán bộ cấp chỉ huy Cộng Sản nói chuyện với dân chúng. Tôi không biết ông ta được huấn luyện ra sao, học hành tới đâu, cấp bậc là gì. Thế nhưng, khi một người cán bộ chỉ huy Việt Cộng, gọi Tổng Thống Dương Văn Minh là phe thù nghịch với mình bằng thằng, đó là ngôn ngữ của những người thiếu giáo dục, những kẻ không có học. Văn hóa của Miền Nam từ bao năm rồi không chấp nhận lối nói chuyện như vậy. Bởi vì dân cũng như lính Miền Nam, tuy không gọi Hồ Chí Minh của Miền Bắc là Chủ Tịch nhưng họ gọi ông ta là “ông Hồ Chí Minh” không có chữ thằng đi kèm.
Người cán bộ chỉ huy ngưng nói, ông ta đi tới rồi đi lui, nhìn những người dân đang đứng vây quanh với đôi mắt hiền hòa, nụ cười tươi tắn trên môi rồi thong thả đến trước mặt viên chuẩn úy Nhảy Dù, thân mật vỗ vai viên chuẩn úy.
Hình minh họa
-Chúng tôi hy sinh thân mình đi làm cách mạng với mục đích là đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, giải phóng Miền Nam thoát khỏi gông cùm kềm kẹp của Mỹ Ngụy, đem lại Độc lập Tự do cho đất nước, đem thanh bình no ấm cho toàn dân. Chuẩn úy biết ăn năn hối lỗi, cứ an tâm ông sẽ được hưởng chính sách khoan hồng nhân đạo của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Chúng tôi những người cách mạng chân chính, đánh kẻ chạy đi, không bao giờ đánh người chạy lại.
Người cán bộ chỉ huy ngừng nói, quay nhìn đám đông như đợi cho mọi người hiểu rõ những gì mình vừa diễn đạt, sau đó ông ta mới từ tốn nói tiếp.
-Riêng tên chuẩn úy Nhảy Dù bị cột trên chiếc ghế mà đồng bào thấy đây, sở dĩ hắn còn sống cho đến giờ phút này bởi vì hắn đã quỳ lạy, van xin cách mạng tha tội.
Từ nãy đến giờ, viên chuẩn úy Nhảy Dù vẫn lặng im như đang nghe, đột nhiên ông ta ngẩng đầu lên, cố nhướng con mắt còn lại nhìn theo người cán bộ chỉ huy, rồi cất giọng thều thào:
-Nước…Nước.
Người cán bộ chỉ huy nhìn mấy tên cán binh Cộng Sản, hất hàm.
-Mở trói, đem nước cho hắn.
Viên chuẩn úy Nhảy Dù đưa tay đón cái bi đông nước bằng nhựa được sản xuất tại Trung Cộng, nhưng hình như ông ta không nhìn thấy rõ, cho nên hai tay cứ quơ quào trong không khí.
Một tên cán binh Việt Cộng nắm lấy cổ tay của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đặt cái bi đông nước vào tay của ông ta. Với hai bàn tay tím bầm, máu khô còn đọng lại nhiều chỗ, viên chuẩn úy Nhảy Dù dùng cả hai tay ôm cái bi đông nước sát vào lòng như sợ người khác giật mất. Tôi đợi hoài, đợi mãi vẫn không thấy viên chuẩn úy Nhảy Dù uống nước. Xin nước mà không chịu uống chỉ để ôm vào người, hành động kỳ lạ như vậy, cho tôi thấy ông ta đang lo nghĩ đến chuyện gì đó quan trọng hơn là việc uống nước. Hai phút, rồi ba phút trôi qua trong im lặng, cuối cùng viên chuẩn úy mới từ từ nâng cái bi đông lên cao quá đầu, sau đó ông ta ngửa cổ há miệng, úp ngược cái bi đông lại. Nước từ trong bi-đông òng ọc chảy xuống mắt, mũi, miệng của viên chuẩn úy. Một phần nước chảy tràn qua bên má, hòa với máu khô thành một màu vàng lờn lợt lan xuống chiếc áo rằn ri, làm ướt dầm cái lon chuẩn úy màu đen thêu nơi cổ áo, ướt luôn cái tên Ngo nơi túi áo. Mặc kệ, viên chuẩn úy vẫn tiếp tục uống từng hớp nước một cách ngon lành. Cục xương trái khế nơi cổ của ông ta chạy lên, chạy xuống theo tiếng nước trôi ừng ực qua cổ họng, trong khi hai tay vẫn giữ chặt cái bi đông. Có chứng kiến tận mắt cảnh một người lính của bên thua trận, mang thương tích trầm trọng đầy người, ung dung bình thản uống nước như vậy, mới thấy được cái phong thái hào hùng đầy bi thảm của ông ta.
Như muốn kéo dài thời gian, viên chuẩn úy nhẫn nha uống cho đến giọt nước cuối cùng từ cái bi đông rơi xuống, lúc bấy giờ ông ta mới từ tốn đưa tay vuốt mặt, dụi mắt, quay nhìn người cán bộ chỉ huy. Con mắt còn lại của viên chuẩn úy chợt nhíu lại, rồi bất ngờ, ông ta ném mạnh cái bi đông về phía người cán bộ chỉ huy. Cái bi đông lăn long lóc trên nền xi măng, phát ra những tiếng kêu khô khan, cộc lốc. Với giọng khàn khàn, đầy tự tin, viên chuẩn úy Nhảy Dù gằn từng tiếng một.
-Tao là lính Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không bao giờ quỳ lạy hay van xin những thằng vừa đánh trống, vừa ăn cướp như mày. Nếu tụi tao còn đạn, bọn Việt Cộng man rợ như chúng mày làm gì có cơ hội đứng đây mà nói láo, mà huênh hoang khoác lác với dân chúng.
Hình minh họa
Bất ngờ bị vạch mặt, chỉ ra chuyện nói láo của mình, bẽ mặt trước đám đông, gương mặt của người cán bộ chỉ huy đang dương dương tự đắc, đột nhiên đổi sang màu xanh, xanh như tàu lá, đôi mắt của ông ta long lên sòng sọc biểu hiệu cho sự giận dữ tột cùng. Hai tay run run, ông ta rút khẩu K59 đeo bên hông, lên đạn rồi hướng nòng súng về viên chuẩn úy Nhảy Dù. No mất ngon, giận mất khôn, người cán bộ chỉ huy không còn giữ gìn phong cách của người thắng trận, không còn để ý đến lời ăn tiếng nói trước công chúng, ông ta nghiến răng, rít lên.
-Địt mẹ, mày nói gì? Nói lại cho bố mày nghe coi, cái thằng lính Ngụy ngoan cố.
Như chưa vừa lòng với những gì mình mới nói, gương mặt của người cán bộ chỉ huy chuyển sang màu đỏ, như màu đỏ của cái đầu con gà chọi. Ông ta hét to, nước bọt từ trong miệng văng đầy trong không khí.
-Đồ khốn kiếp, ông thì bắn bỏ mẹ mày bây giờ.
Vừa dứt lời, người cán bộ chỉ huy đá vào cái bi đông nhựa Trung Cộng, cú đá mạnh đến nỗi cái bi đông bay qua khỏi vòng tròn người đang đứng bao quanh.
Trước sự giận dữ của kẻ địch, thay vì giữ im lặng, chấp nhận nín thở để sang sông, viên chuẩn úy Nhảy Dù chậm rãi đưa tay chỉ vào vết thương nơi mắt trái của mình rồi nói.
-Mày là một thằng Việt Cộng bỉ ổi, đã bắn chết mấy người lính của tao, khi họ đã bị thương nặng không còn khả năng kháng cự, đánh bể một con mắt của tao, hành hạ bắt tao nhịn đói, nhịn khát, cột tao ở đây hơn một ngày rồi.
Nói đến đây, gương mặt của viên chuẩn úy chợt nhăn lại biểu lộ sự uất hận tột cùng.
-Tao hối hận…, thật sự hối hận vì ngày xưa trong lúc đánh nhau, tụi tao, hay nói rõ hơn là lính Miền Nam Việt Nam đã đối xử quá sức nhân đạo với tù binh Cộng Sản. Hôm nay, tụi mày là những người thắng trận, đã xử sự với lính Miền Nam Việt Nam còn tệ hơn là đối xử với một con vật. Sau này trong chính sử sẽ ghi lại, Việt Nam trong suốt bốn ngàn năm dựng nước giữ nước, ngày ba mươi tháng tư năm bảy lăm, là ngày khởi đầu cho một giai đoạn đen tối, thời kỳ mà Tàu Cộng sử dụng những người mặt Việt mà lòng dạ Tàu, cai trị Việt Nam.
Tôi sợ đến nỗi xuýt tè ra quần vì những câu nói đầy tính khiêu khích của viên chuẩn úy Nhảy Dù. Lẽ ra, ông ta nên im lặng giả dại qua ải, đàng này ông ta lại nói lên sự thật, sự thật ấy như một nhát dao đâm ngay vào cổ họng của kẻ thắng trận. Tôi chỉ muốn chạy lại đưa tay bịt miệng của viên chuẩn úy Nhảy Dù, nhưng…mọi chuyện đã trễ rồi. Hai tiếng nổ chát chúa vang lên, phá tan bầu không khí im vắng của buổi sáng, tiếp theo đó là nhiều tiếng rú đầy sợ hãi của đám đông dân chúng đứng chung quanh. Hai lỗ tai của tôi lùng bùng như muốn nổ, mắt của tôi hoa lên, đất trời chừng như đảo lộn khi thấy thân hình của viên chuẩn úy Nhảy Dù cùng với chiếc ghế đổ ập xuống đất. Người cán bộ chỉ huy đã bắn hai phát súng vào đầu gối của viên chuẩn úy Nhảy Dù. Như một tia chớp xé toạc màn đêm, tôi rùng mình chợt hiểu, tại sao hai đầu gối nơi xác những người lính Nhảy Dù đều bê bết máu. Người cán bộ chỉ huy với đôi mắt trợn trừng trắng dã, nhìn viên chuẩn úy Nhảy Dù đang lăn lộn dưới đất, đôi mắt của ông ta lúc này giống hệt như mắt một con dã nhân đang nhe nanh, gầm gừ đe dọa địch thủ. Không biết, khi xương bánh chè nơi đầu gối bị bắn bể, mức độ đau đớn mà người ta phải chịu nó như thế nào, nhưng nhìn gương mặt của viên chuẩn úy Nhảy Dù tái nhợt, nhăn rúm, với cái miệng méo xệch, hai tay cố bóp lấy đôi chân mà máu tươi đã thấm ướt hai cái ống quần, tôi biết, ông ta đang gánh chịu một sự đau đớn tột cùng. Người cán bộ chỉ huy đi chầm chậm theo vòng tròn, nhìn mặt từng người đang đứng vây quanh như muốn ăn tươi, nuốt sống họ. Cuối cùng, ông ta quay lại bên viên chuẩn úy Nhảy Dù, kê họng súng vào ngay màng tang của viên chuẩn úy, rồi thản nhiên bóp cò. Chỉ một giây đồng hồ ngắn ngủi, linh hồn của viên chuẩn úy Nhảy Dù đã theo tiếng súng, bước chân qua bên kia thế giới. Ông ta đã anh dũng đi vào lịch sử, một trang sử oai hùng đầy bi thương uất hận của phe thất trận. Máu ở đâu mà nhiều quá, chảy tràn lan trên mặt đất, thấm ướt cái phù hiệu hình vuông may nơi tay áo trái của viên chuẩn úy Nhảy Dù, cái phù hiệu với con chim ưng màu đen bay ngang cánh hoa dù bọc gió, nổi bật trên nền trời màu đỏ thắm. Những dòng máu oan khiên, những giọt máu uất ức chảy hoài, chảy mãi không muốn ngừng, trong khi thân thể của viên chuẩn úy Nhảy Dù đã nằm yên, ngàn đời an nghỉ bên cạnh xác đồng đội của ông ta.
Hình minh họa
Cảm thương cho người vừa nằm xuống, xót xa khi nhìn về tương lai đen tối của mình trong suốt quãng đời còn lại. “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”, nước mắt của tôi được dịp tuôn tràn. Tôi khóc thành tiếng lúc nào không biết, khóc cho mình rồi khóc thương cho mấy chục triệu dân Việt Nam, không biết họ phải chịu kiếp sống đọa đày trong cái địa ngục Xã Hội Chủ Nghĩa này bao nhiêu lâu nữa đây.
Tiếng khóc của tôi vang lên khiến cho nhiều người xì xào, bàn tán. Với vẻ mặt đầy tức giận, khi thấy tôi khóc thương cho viên chuẩn úy Nhảy Dù vừa bị xử bắn, người cán bộ chỉ huy như đang say máu, say mùi thuốc súng, ông ta đi đến trước mặt tôi, gí cái nòng súng còn đang bốc khói vào ngay giữa trán tôi. Với giọng đầy ngạc nhiên, ông ta nói.
-Địt mẹ cái lũ Ngụy ngoan cố này, tao chỉ bắn có một thằng lính Ngụy chống phá Cách mạng. Cho dù, có một triệu thằng phản động như thằng lính Nhảy Dù này tao cũng bắn tuốt. Tại sao mày lại khóc? Mày là lính Ngụy phải không?
Hồn vía lên mây, tôi sợ đến nỗi im ngay tiếng khóc. Đầu óc của tôi làm việc nhanh như một cái máy, tôi phải trả lời người cán bộ chỉ huy liền lập tức, trước khi ngón tay trỏ của ông kịp bóp vào cò súng. Bằng một giọng nói run rẩy vì quá sợ hãi, tôi lắp ba, lắp bắp.
-Thưa… cách mạng tôi không phải là lính Ngụy.
Chỉ là một câu nói tuy đơn giản, nhưng nó cho tôi biết rõ về con người của mình như thế nào rồi.
Một giây chần chừ, chỉ một giây thôi nhưng tôi thấy nó dài như một thế kỷ. Người cán bộ chỉ huy nhích nòng súng lên trời. Tôi nghe được một tiếng nổ vang lên bên tai như muốn rách màng nhĩ, cùng lúc ấy tôi biết là mình vẫn còn sống. Như chưa hả giận, người cán bộ chỉ huy hướng mũi súng vào xác của mấy người lính Nhảy Dù liên tục bóp cò, cho đến khi một tiếng “cắc” lạnh lùng vang lên, ông ta mới chịu ngừng tay. Từ lúc viên chuẩn úy Nhảy Dù bị bắn, cho đến khi những viên đạn điên cuồng ghim vào thân xác của những người lính Nhảy Dù, tất cả mọi việc chỉ diễn ra trong vòng vài phút, tôi hành động theo phản xạ tự nhiên, hoàn toàn theo bản năng sinh tồn của một con người đứng trước cái chết.
Người cán bộ chỉ huy nhét khẩu súng K59 vào bao.
-Mẹ bố cái lũ Ngụy ngoan cố, chỉ có bỏ tù bỏ đói, lưu đày biệt xứ nơi trại Cổng Trời mới trị được bọn chúng mày.
Vừa dứt lời, ông ta bước đến bên cạnh xác của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đưa tay lật cái ghế lên trong khi chân đá mạnh vào cái xác chết.
-Địt mẹ cái đồ bán nước, ôm chân đế quốc.
Nói xong, người cán bộ chỉ huy ngồi chồm hỗm bên cạnh chiếc ghế, lục trong cái xách cốt, lấy ra một tờ giấy đặt lên mặt ghế và bắt đầu viết.
Tôi không biết ông ta viết gì trong tờ giấy nhưng nhìn nét mặt đầy căng thẳng của ông ta, tôi biết chắc đó phải là những điều quan trọng. Chừng độ hơn mười phút sau, người cán bộ chỉ huy ngừng viết, ông ta đặt tấm giấy ngay ngắn trên mặt ghế, rồi cúi đầu lượm một chiếc giày bốt đờ sô của viên chuẩn úy Nhảy dù dằn lên.
Người cán bộ chỉ huy chống tay vào ghế đứng lên, quay nhìn đám cán binh Cộng Sản, ông ta nói:
-Chúng ta về thôi.
Hình minh họa
Cùng một sự việc, tôi và viên chuẩn úy bị kẻ thù uy hiếp bằng súng, viên chuẩn úy Nhảy Dù nói với mọi người là ông đã chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng chứ không van lạy, xin tha mạng như lời nói điêu ngoa của kẻ thù. Ông thà chết để bảo vệ danh dự, quyết không để kẻ thù vu khống, sỉ nhục. Tôi là Trung úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cấp bực của tôi cao hơn ông chuẩn úy Nhảy Dù hai bậc. Chúng tôi cùng xuất thân từ Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi là siêu huynh trưởng của ông ta nhưng không dám nhận mình là lính. Tôi là một thằng hèn đã nói láo để sống còn. Chuyện rõ như ban ngày, người đáng sống là viên chuẩn úy Nhảy Dù chứ không phải là tôi.
Tôi có thể im lặng, giấu kín chuyện xấu hổ hèn hạ, tham sống sợ chết của mình bởi vì không một ai ở đây biết tôi là trung úy, chỉ trừ một người. Người đó là tôi. Biến cố xảy ra ngày hôm nay, đã làm thay đổi hẳn con người của tôi. Cái chết của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đã khiến tôi có cái nhìn khác hơn của một người bên thua trận. Viên chuẩn úy Nhảy Dù chết nhưng ông đã làm cho kẻ thù khiếp sợ. Đó là một cái chết đầy bi thảm oai hùng, cái chết còn sống mãi muôn đời với lịch sử, với Tổ Quốc Việt Nam.
Đợi cho đến khi đám cán binh Cộng Sản đã đi xa, tôi ngồi xuống bên cạnh xác chết của viên chuẩn úy Nhảy Dù với máu tươi bám đầy trên tóc, chảy dài xuống mặt. Con mắt còn lại của ông ta trợn trừng nhìn lên bầu trời cao xanh thẳm. Ở đó, người chết đã chết rồi nhưng oan khiên, uất hận ngàn đời vẫn còn chất chứa không tan. Tôi đưa tay vuốt mắt cho viên chuẩn úy Nhảy Dù, rồi cởi cái áo sơ mi đang mặc trên người. Với tất cả tấm lòng thành kính, tôi cẩn trọng đắp chiếc áo lên mặt người chết, mà tưởng là mình đang làm lễ phủ cờ cho một chiến sĩ vị quốc vong thân.
Khi tôi ngước mặt nhìn lên, đám đông đã tản mác đi gần hết, chỉ còn lại xác của sáu người lính Nhảy Dù, họ nằm yên đó không đi đâu hết, chết rồi làm sao mà đi. Một chuyện lạ lùng hy hữu, đã xảy ra giữa Sài Gòn ngày hôm ấy, trên trời cao, lẫn trong đám mây xám ngập ngừng trôi, một con chim lạc bầy, cất tiếng kêu ai oán bi thương, tiếng kêu vang vọng giữa thinh không như muốn xé nát lòng người, như tiếng gọi hồn tử sĩ trong đêm truy điệu trước ngày lễ mãn khóa, tại Trường Bộ Binh Thủ Đức mà tôi đã tham dự.
Một thằng bé mặt mày sáng sủa, trên người chỉ mặc độc có một cái quần cụt, nhè nhẹ bước đến bên tôi, nó nói nhỏ vào tai của tôi.
-Chú đợi đây, con chạy về nhà lấy cái áo của ba con cho chú bận. Đợi con nghe.
Lòng tôi chùng xuống khi nghe giọng nói êm dịu đầy ắp tình người, vì thằng bé chỉ lo tìm áo cho tôi, trong khi nó thì mình trần trùi trụi. Tôi gật đầu rồi đưa tay nhấc tờ giấy dằn dưới chiếc giày trên mặt ghế. Trên tờ giấy chỉ có một hàng chữ “Ngim cấm kông được kéo sác đi chôn kí tên ba út”. Phải mất hơn mười phút để người cán bộ chỉ huy viết được mười hai chữ, loại chữ như gà bươi mà ngày xưa khi mới bước chân vào học lớp vỡ lòng ở bậc tiểu học, tôi thường tập viết. Tôi nhớ đến sếp của tôi, thiếu tá trưởng phòng hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt. Thiếu tá Hưng là mẫu người rộng rãi, xuề xòa, không bao giờ phê phán, chê trách một ai. Với ông thì chín bỏ làm mười, vậy mà khi nói đến cái man rợ, độc ác của Việt Cộng, ông nói “Có một cái luật bất thành văn là những người chỉ huy, những kẻ lãnh đạo của Cộng Sản Việt Nam, cấp bậc càng cao, chức vụ càng lớn, trong đầu của họ càng chứa nhiều bã đậu, nhưng mức độ gian manh, dã man tàn ác, trong những cái đầu bã đậu ấy, không một ai trên trái đất này sánh bằng”.
Hình minh họa
Tôi đứng lên, nhìn xác thân của những người lính Nhảy Dù bị vứt bỏ bên đường mà lòng đầy thương cảm. Đã đến lúc phải đi, tôi đứng nghiêm như đang làm lễ chào Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa vào mỗi sáng thứ Hai tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Sau vài giây chần chờ, tôi đưa tay chào kính xác của mấy người lính Nhảy Dù lần cuối cùng rồi hít một hơi dài để lấy sức, nhắm mắt cắm đầu chạy thục mạng trở về bến xe.
Hai ngày, sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh, một ông chuẩn úy Nhảy Dù và năm người lính của ông ta vẫn còn chiến đấu. Tuy bị thương nặng nhưng họ đã cố gắng cho đến hơi thở cuối cùng, cố gắng bảo vệ màu cờ sắc áo, cố gắng bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa. Bởi vì, bốn chữ “Nhảy Dù Cố Gắng” thì bất cứ người lính Nhảy Dù nào từ quan cho tới lính cũng đều thuộc nằm lòng.
Không phải tự nhiên mà sau hai mươi năm dâu bể đọa đày, Tô Thùy Yên đã phải ngậm ngùi thương tiếc với bài thơ “Anh Hùng Tận”
Tới đây toàn những tay hào sĩ. Tiêu xác thân, để lại oan hồn.
Lời thơ nghe sao mà xót xa, đau đớn đến tận cùng xương tủy.
Bà con độc giả thương thiệt là thương của tui ơi! Giờ nầy 2:15 am, khuya thứ Sáu ngày 30, tháng Tám, năm 2019, tại Melbourne, tiểu bang Victoria, nước Australia. Chỉ còn ngày mai, 31, tháng Tám là mùa Đông nó dông rồi. Nhưng trước khi nó dông, nó còn lạnh trối, để lại cho anh chút lạnh quéo râu (luôn nếu có râu); còn không có râu, khộng lạnh trên cằm thì nó lạnh chỗ khác! Hút thuốc trong nhà em yêu cự nự lắm: “Hút thuốc vừa tốn tiền, vừa bị bịnh ung thư; nên có phì phà anh ra trước sân nhà mà hút. Em chưa muốn chết đâu nhe!” Thương vợ mà, vợ kêu gì làm nấy; nên tui bèn ra trước sân đốt thuốc phì phà. Khói thuốc bay hay vì trời lạnh mà mồm tui phun ra toàn những khói. Nhiệt độ bên ngoài giờ xuống tới chỉ 3 độ C thôi. Làm xong một điếu đã cơn ghiền, tui vô ngồi trước bàn phiếm, gỏ cóc cóc viết về mùa Giáng Sinh. Chắc bà con nghĩ cái thằng tui bị khùng hay sao mà mới cuối mùa Đông Úc Châu tháng Chín lại viết về Mùa Giáng Sinh? Hổng ‘dám’ khùng đâu! Người ta nói mùa Giáng Sinh tức là mùa, tức là căn theo thời tiết, hết mùa Đông ắt tới mùa Giáng Sinh. Thiên Chúa chào đời! Ngày Sinh của Chúa mang lại cho con chiên (lạc bầy) như tui biết bao niềm hy vọng trong cuộc sống vốn dĩ đã quá khổ đau nầy. Ý nghĩa Mùa Giáng Sinh là vậy đó!
Nhớ hồi xưa, quê mình tựu trường vào tháng Chín, học riết tới tháng Sáu mới bãi trường, nghỉ “hè” (tức ra hè mà nghỉ). Còn Úc tựu trường vào cuối tháng Giêng; bãi trường vào cuối tháng Chạp, cũng là nghỉ “hè”, ra biển chọc cá mập cho nó “phập”. Niên học chia ra làm 4 học kỳ; cứ học 9, 10 hoặc 11 tuần là nghỉ xả hơi hai tuần, ở nhà “quậy”. Cuối học kỳ 4, nghỉ lâu nhứt tới 5 tuần cả thảy, để học trò ăn lễ Giáng Sinh, Merry Chrisstmas và mừng Năm mới, Happy New Year! Mùa lễ hội của Mỹ bắt đầu từ lễ Tạ Ơn (Thanksgiving Day) tới giao thừa Tây. Còn ở Úc là từ Melbourne Cup (Đua ngựa), thứ Ba đầu tiên, tháng Mười Một tới giao thừa Tây. So lại, Úc ăn rồi chơi nhiều hơn Mỹ. Hổng có gì lạ đâu, thưa bà con, vì Úc nổi tiếng làm biếng nhứt thế giới mà. Riêng người Việt tỵ nạn mình ở Úc, hổng cần đợi tới cuối năm mới nhậu, cứ cuối tuần là có ‘độ’, tuần nào y như tuần nấy. Mùa lễ hội, Mít mình thì khoái ăn thịt gà ta; còn Úc khoái ăn thịt gà Tây. Nên đám gà ta cà nanh với đám gà tây “Tụi bây chỉ bị “xử đẹp” vào ngày lễ Tạ Ơn và lễ Giáng Sinh thôi hả? Thiệt là may mắn! Bọn tớ, Chúa nhựt nào cũng đi chầu ông bà ông vải hết trơn hè!” (Có anh mình hơi bị tự ti mặc cảm nên cảm thán rằng Tây bao giờ cũng hơn ta. Ngay gà ta cũng thua gà Tây nữa! Nghĩ vậy không hoàn toàn đúng! Đâu phải ta lúc nào cũng thua. Tùy lúc chớ! Như tui nè hồi mới chân ướt chân ráo, bị Úc nó chơi gác, ăn hiếp dài dài từ trong sở ra tới ngoài đời. Nhưng ở đây lâu, mình mọc nanh, đâu có ngán đứa nào. Biết điều, nhậu nhẹt bù khú với nhau; cầm bằng ra vẻ ta đây là “Úc rặt”, ngon hơn; thì xin lỗi… nhà ai nấy ở, rượu ai nấy uống; vợ ai nấy “cự” vậy thôi. Làm gì nhau hè?)
Nhớ mùa Giáng Sinh năm ngoái, dắt em yêu đi mua sắm ở “High Point Shopping Centre” (thằng Mỹ viết là Center) trong tiếng nhạc rộn ràng Jingle Bells của mùa Giáng Sinh. Trong siêu thị, có Santa Claus ngồi để bà con mình chụp hình kỷ niệm (có trả tiền, dĩ nhiên). Santa Claus gọi tui bằng “bro” tức “brother” (anh); trong lúc gọi em yêu của tui bằng “cháu”. Em yêu khoái quá Trời vì nghĩ mình vẫn còn thuở thanh xuân; chẳng qua em mới vừa nhuộm tóc. Còn tui, giận xanh râu luôn! “Ê! Santa kỳ thị tuổi tác phải không?” “Boss” của chú mầy là ai? Kêu nó ra đây để tao chính thức “còm len” (complain than phiền) một chút coi!” Santa nghe tui hăm như vậy, mặt xanh chành như đít nhái, vì sợ mất “job” nên giả lả là: “Take it easy mate!” (Thôi! Bỏ qua đi Tám!) Tối về, khi em yêu của tui đã ngáy “ò ó o”, tui vẫn còn ấm ức, tức, nên sau vài ly rượu đỏ; lên Facebook, tui gọi cho thằng bạn học cũ bên Little Saigon USA để trút bầu tâm sự. Ai dè nó cũng va vào hoàn cảnh đau đớn như tui. “Để ăn mừng lễ Giáng Sinh, kiểu Mỹ, bắt chước thần tượng Sở Khanh, mày râu nhẵn nhụi; áo quần bảnh bao, tao bèn đi hớt tóc đầu đinh, xong còn nhuộm đen kịt, không quên xức nước hoa “Xà neo” ba số 5. Mặc cái quần jeans mới nè, có xé te tua ở đầu gối, hết 150 đô, cái áo chim cò mới có chữ “Free hugs” (ôm miễn phí) nè hết 100 đô; đôi giày thể thao Adidas gần 200 đô. Xong dung dăng dung dẻ, dắt trẻ đi chơi, đưa em xuống phố trưa nay đang còn nhức mỏi hai vai. Sở dĩ đóng bộ đàng hoàng như vậy vì tao muốn ‘xứng đôi vừa lứa’ với em yêu, mái tóc người vợ trẻ, từ ‘Hốc Bà Tó’ Việt Nam tao khều ra, rồi lãnh qua đây. Hai đứa ‘tính tình tang’ lang thang vô siêu thị. Em đòi chụp hình Giáng Sinh ở Mỹ để gởi về Tía Má em bên ấy an tâm là em đang sống trong một cuộc đời nhung lụa ở cái xứ tư bản giãy chết nầy. Ôi muốn là chiều! Dù chụp chỉ mấy tấm hình mà bay hết một ông “Benjamin Franklin”. Trong lúc móc chi tới 100 đô, đau quá; thì em yêu lại khoái quá chừng vì được Santa gọi là cháu; còn hỏi em có muốn ngồi lên đùi nó để chụp hình kỷ niệm hay không? Tao trừng mắt nhìn, em cụp xuống, hổng dám ho he gì ráo; xong tao chuyển đôi mắt hình viên đạn qua Santa thì bất ngờ thay, “giả” phân bua bằng tiếng Việt: “Con giỡn chút chơi mà ghen tuông gì ông Ngoại?” Tao ngạc nhiên đến ‘đứng hình’ luôn. Người Việt mình ốm yếu nhỏ con, thì làm sao kiếm được cái ‘job’ mập, làm Santa Claus, cho được chớ?
Santa Claus ‘dê xồm’ nầy sợ tao ghen, nóng mặt lên là nó mũi ăn trầu cái đầu xỉa thuốc; bèn tìm cách làm tao bớt giận bằng câu chuyện làm quà là: “Từ hôm Lễ Tạ Ơn là con Mỹ đen, vợ cháu đã tẩm bổ bằng gà lôi đút lò rồi. Ngày nào cũng gà lôi và gà lôi, bụng lồi lên nhưng trái khinh khí cầu. Mà nó cứ dụ: ‘Honey! Honey!’ Ráng ăn đi, cho mập cho có da, có thịt hai đứa mình giống hịt…mới được! Chớ đứng gần nhau cứ số 1 và số 0 hoài, kỳ quá. Hai nhờ cái thể hình ‘ú nu’ như vậy mới kiếm được ‘job’ mập, làm Santa Claus, thêm chút đỉnh tiền để bánh mì bơ cho bầy con lủ khủ, ăn như xáng xúc! Vợ chồng dẫu cày sâu cuốc bẫm suốt năm chỉ đủ cái bỏ vào mồm. Phép thường niên 4 tuần, năm, ‘honey’ cứ tụ bè tụ đảng ăn nhậu hoài thì trước sau gì nhà nầy cũng thành ‘homeless’!” Nhưng công bằng mà nói: tay Santa Claus gốc Mít nầy nhận xét cũng hổng có trật! Hai đứa mình giờ cũng già rồi. Giống như những trái nho nhỏ của cây thông Giáng Sinh, chủ yếu để trưng bày, trang trí coi chơi; chớ đâu còn làm ăn gì được nữa?
***
Do đó, thưa bà con, tui sẽ ăn Giáng Sinh theo Mùa. Cuối mùa Đông nước Úc chuyển qua Mùa Xuân, tháng Chín tui ăn và nhậu. Sau đó tui sẽ ăn Giáng Sinh theo ngày, ngày 25, tháng Chạp, cho giống với người ta. Vụ kia chỉ để trang trí; đời chỉ còn ăn với nhậu mà thôi! Ăn càng nhiều nhâu càng nhiều càng khoái thì ngu sao mình cữ hé bà con!
Tôi không biết làm thơ. Có viết được một đôi bài đăng báo, chị tôi đọc thấy và bảo “cái này mà gọi là thơ ư?”. Ai chỉ trích thì bụng tôi không vui nhưng khi nghe chị tôi nói, tôi buộc phải đưa tay ra sờ sau ót. Chị tôi đọc nhiều sách, yêu thơ rất mực và có một trí nhớ đáng nể. (Chị từng phê bình là văn viết của tôi có nhiều điển tích bị trích dẫn sai, liền mang sách ra đọc rõ ngọn ngành; nói có sách, mách có chứng, hết đường chối cãi). Thời nữ sinh, chị chép tay nhiều bài thơ tiền chiến trong một tập giấy xanh, lên tới hai ba cuốn, nâng niu. Chị gieo cho trí óc dại khờ tôi dạo nọ một hoài nghi: Có phải thơ là món cần thiết?
Người ta sống thở có cần tới thơ không? Cần Thơ cũng là tên gọi một thành phố mà ngày đó tôi chưa có cơ may ghé thăm qua. Khi bị đẩy ra khỏi nước, đôi khi an lành ngồi trên cuộc đất này đâm nhớ quàng xiên về chốn xưa. Ai đâu ngờ được sự vận hành của cuộc bể dâu, giá mà ngày cũ được rộng cẳng xuôi Nam, thăm thú, nhìn ngó cho thoả biết bao thành phố “gấm vóc” thì khi đã già đầu, tiếc nuối đi kèm với hối hận có vơi bớt phân nao?
Sau 1975, nhà thơ Bùi Giáng có làm ra bốn câu (viết theo trí nhớ):
“Tôi gọi Cần Thơ là cần thở Cần Thơ ơi cần thở đến bao giờ? Tôi gọi Bình Dương là bình dưỡng Dượng dì ơi có thương nhớ con không?”
Vào năm 1965 an lành, tại một ngôi trường Trung học ở Cần Thơ, có một nữ sinh học lớp đệ Nhị, mang tên Lý Thị Kim Xương đã viết nên một bài thơ. Từ một cô gái (17, 18 tuổi) ẩn mặt, bài thơ “Thư Cho Anh” đã mang chị Lý Thị Kim Xương thoát khỏi Cần Thơ, vang danh ra chốn xa, kể cả hải ngoại giờ này. Tôi xin mượn nguồn từ nhà văn Trần Hoài Thư để chép lại bài thơ ấy, ra đây, chỉ thế tấm gương tự soi vào mặt mình: Học lớp đệ Nhị (lớp 11, sẽ thi Tú tài Một) tôi vẫn còn là thằng học sinh ngây thơ, nhút nhát, yêu chùng thương vụng chẳng dám biểu lộ, hổ ngươi chịu kém anh thua chị cả đoạn đường dài. Theo cảm nhận riêng tôi, bài thơ này quá tuyệt, có muốn nói khác cũng thừa bởi tự thân bài thơ mang thứ giá trị mà qua thời gian, mãi còn đó là nụ tường vi chưa phai nhạt hương mùi:
THƯ CHO ANH
anh nghĩ gì khi người ta nói yêu em? khi trời mưa người ta đưa em đến trường người ta bảo người ta thường hay khóc vì em nhìn người ta quá dửng dưng
chủ nhật người ta đi xem lễ anh nghĩ gì khi người ta ngồi gần em? người ta đọc kinh khe khẽ em nghe người ta đọc tên em
mai nhớ về thăm em nghe anh! cho người ta hiểu em không sống một mình nếu người ta yêu thì phải yêu hai đứa (yêu em và yêu anh)
người ta yêu em anh có buồn không? nhỡ một mai em gọi người ta bằng chồng anh có còn yêu em không nhỉ? (chết! người ta đang nhìn em ngoài song).
LÝ THỊ KIM XƯƠNG
Bài thơ ra đời năm 1965. Nếu vậy thì tác giả giờ này đã là tuổi hạc, tóc bạc phôi pha. Giáng Sinh vừa rồi tôi không đọc-kinh-khe-khẽ nhưng tôi có đọc tên Lý Thị Kim Xương. Tôi nghĩ, bạn làm thơ, nếu hay một vài, hậu thế sẽ có người mang ra đọc thầm. Tôi không rõ Lý Thị Kim Xương là tên thật, hay đó chỉ là bút hiệu của tác giả, dẫu sao tôi có cảm tình với danh xưng khác lạ kia.
Kim Xương sáng tác có nhiều không? Chị ra sao giờ này? Chị vẫn ngụ ở Cần Thơ? “Nếu người ta đọc tên Xương khe khẽ chị có buồn không?”.
Cần thơ? Thế kỷ trước, khi báo giấy còn sống hùng sống mạnh, người ta rất cần đến thơ. Một bài thơ là thứ xét thấy “hợp lý” nhất dùng để “điền vào khoảng trống” một trang báo. Người ta tính toán độ dài có ở câu chữ hòng “ăn” với chỗ trống kia mà chẳng thiết tới nội dung thơ ấy muốn diễn đạt về điều gì. Rẻ rúng. Tuỳ tiện. Coi thường, vô tội vạ.
Thế kỷ này, hôm nay, khi nhà nhà đều hứng thú với thế giới ảo, ai ai cũng có facebook, người ta có còn cần thơ hay chúng sinh cần thở? Ai đó đã chụp lại một vuông giấy mà bề mặt ghi ra thứ nội dung “đáng sợ” rồi post lên (nguyên văn): “Thằng Nguyễn Văn Mít. Nếu mày không trả nợ. Tụi tao sẽ tag thơ vô phây búc của mày”. Trong cõi hỗn mang đó, rõ ràng thơ đã trở thành một thứ vũ khí lợi hại mang ra để đe nẹt, cảnh báo, dằn mặt con nợ. Hơn cả thư rơi, thư nặc danh, black mail, thơ nào khác gì đao, kiếm, a-xít, kim tiêm có nhiễm bệnh sida? Không phải vô tình, Bùi Chí Vinh từng viết nên:
“Mới đầu ta định làm thơ Sau cùng nghĩ lại giặt đồ hay hơn”.
Lao động tay chân có khi mà thiết thực, “hay hơn” ngồi động não dệt nên vần điệu. Để thu hút số đông, giờ này người làm thơ “chịu khó” lùng sục trên mạng cố tìm lấy được một tấm ảnh “mát mẻ”, chụp hình một cô bé phơi bày da thịt hở hang xem đó là thứ phụ kiện cần thiết, minh hoạ, cộng hưởng với tấc lòng của thi nhơn.
Một quan chức có quyền thế ở Việt Nam phán: “Thơ trên phây búc toàn cả thơ rác”. Lời ông ta đã gây ra sự phẫn nộ lây lan trong cộng đồng nhiễu nhương ấy mặc dù ở Việt Nam người ta vẫn truyền khẩu câu:
Gặp nhau tay bắt mặt mừng Rượu chè thì được nhớ đừng tặng thơ.
Chao ôi, nghe luống những ngậm ngùi! Giá mà có ai rộng lượng tặng tôi một bài thơ tựa như “Thư Cho Anh” của Lý Thị Kim Xương thì thằng tôi sẽ bỏ thói rượu chè, sẽ trân quý thơ, xem món quà nọ là vô giá, sống bỏ bụng chết mang theo. Ở phương Tây nói chung, tất cả những người sinh hoạt trong lãnh vực sáng tác nghệ thuật đều có chung một nhận định, rằng nên sắp hạng thi ca là thứ đứng hàng đầu. Ví dụ như lời tâm sự của nhà văn William Faulkner: “Tôi là một thi sĩ thất bại. Có thể là các tiểu thuyết gia đầu tiên đều muốn làm thơ, thấy rằng mình không làm được rồi mới thử viết truyện ngắn, là món khó khăn đứng sau thơ. Viết truyện ngắn cũng hỏng luôn, rốt cuộc họ mới quay ra viết tiểu thuyết”.
Tuổi học trò đã vuột trôi, đến tuổi nhi nhĩ thuận tôi cũng chẳng làm được một bài thơ cho ra hồn. Tôi nghĩ đến chị tôi, về lời cảnh báo không sai trật mà chị từng nhận xét, ngầm khuyên nhủ tôi đừng làm thơ nữa. Tôi cũng nhớ tới ông Mao Trạch Đông: Các đồng chí cứ ca ngợi chế độ cho nhiều vào, thế nào trong hằng hà ức triệu các sáng tác kia cũng nhặt ra được một bài thơ hay, chí ít.
Năm mới, nhà nước phía bên kia biển sẽ ban hành luật an ninh mạng. Nó thành lập để thế cho một cái còng, một gọng kìm hầu siết chặt, ngăn ngừa những lời lẽ phản động, bêu rếu nói xấu chế độ. Nếu nó hoá thân là một cái chổi thì nó không tài nào quét sạch “thơ rác”. Biết đâu, khi bà con chí thú tạo ra rác, bà con quên đi phần nào thứ hiện thực trái ngang đang diễn ra thường nhật chứa lắm thương đau. Xã hội nhờ “rác” mà làm nguội, tạm lắng bớt những oan ức, thôi diễn ra cảnh xuống đường biểu tình ra yêu sách dân chủ này nọ. Hãy để bà con vùi đầu sống trong thế giới ảo, nơi họ được làm vua không ngai.
Người ta yêu thơ anh có buồn không? Nhỡ một mai người ta xem Thơ là thứ cần thở Bình Dương thiếu dưỡng khí thơ bỏ trốn Em thôi làm thơ anh mừng vui chăng? Chủ nhật người ta đi xem lễ Nghe tiếng nguyện cầu đất nước bình yên.
Thức trên gọi là tức cảnh sinh tình, mang thơ Lý Thị Kim Xương ra nhào nặn lại. Điều này chẳng hay ho gì, bạn chớ nên làm loài ốc mượn hồn. Bạn nên tự tạo ra được một cái vỏ bọc, chữ dùng trong nước kêu bằng “gây được thương hiệu riêng”. Tôi yêu hai câu của Hồ Dzếnh, bởi trước sau, nó luôn hợp với tâm cảm tôi mang:
Mộng tàn nước chảy mây trôi Tôi lui hồn lại nhưng đời đã xa.
Chỉ mới lơi tay quạt, chợp mắt được chút xíu, tôi giật mình thức giấc vì tiếng kêu của một đàn muỗi đói đang rình rập gần đâu đó. Những con muỗi tinh ranh quỷ quái, chỉ chờ tôi ngừng tay là chúng lẹ như chớp, hè nhau đáp xuống hút máu của tôi và Cúc rồi bay mất tiêu, để lại những mụn đỏ ngứa ngáy trên tay trên cổ. Không muốn bị muỗi đốt, tôi chỉ còn một cách duy nhất là thức để quạt muỗi chờ trời sáng. Càng chờ, thời gian như càng dài ra, một giờ trôi qua mà tôi tưởng như một năm. Để giết thời giờ, tôi nhìn cây kim dài bò chầm chậm quanh mặt kính nơi cái đồng hồ đeo tay của mình, rồi đếm theo từng tiếng tích tắc âm vang trong đêm khuya vắng lặng. Cuối cùng vì mệt mỏi quá sức, tôi thiếp đi lúc nào không biết, mặc cho lũ muỗi đói tha hồ hút máu.
Chập chờn trong giấc ngủ nửa mê nửa tỉnh, tôi mơ hồ nghe tiếng chuông chùa nương theo cơn gió thoảng, vang đến bên tai.
Bong.. Bòng ..Bong
Tiếng chuông êm đềm, khoan thai ngân dài trong đêm vắng rồi quyện vào bầu không khí tĩnh mịch, bao trùm lấy khoảng không gian chật hẹp quanh tôi. Hình như, tiếng chuông mà tôi nghe được là từ trong tiềm thức xa xăm vọng lại thì đúng hơn.
Boong.. Boòng ..Boong
Đúng rồi, đúng là tiếng chuông chùa Sư Nữ Linh Phong ở xóm Trại Hầm của tôi. Nhà tôi ở đầu xóm, chùa Sư Nữ ở cuối xóm.
Ngày xửa, ngày xưa… xưa lắm rồi, lúc mà thuở trời đất còn mang mang trong trí nhớ, khi tôi học lớp nhì, lớp nhất ở bậc tiểu học, cứ vào những ngày rằm hoặc mồng một, má tôi thường dẫn tôi đi lễ ở chùa Sư Nữ. Đó là ngôi chùa nằm trơ trọi trên đỉnh một ngọn đồi giữa rừng thông xanh, quanh năm chim kêu gió hú, nghe đến buồn hiu hắt. Chùa vốn đã nhỏ lại được làm bằng gỗ, trải bao năm tháng dãi dầu mưa nắng, màu gỗ đã xuống sắc khiến cho ngôi chùa trông cũ kỹ, nghèo nàn đến tội nghiệp. Nếu không nhờ mái chùa uốn cong, được lợp ngói âm dương với hai con rồng bằng gỗ chạm trổ rất tinh vi gắn ở hai đầu nóc chùa, người ta có thể tưởng lầm đó là một căn nhà của cư dân trong xóm.
Lần đầu tiên nhìn thấy ngôi chùa ẩn mình trong một khu rừng quạnh hiu thanh vắng, hình ảnh ấy, đã ăn sâu vào tâm khảm của một đứa bé mười tuổi như tôi. Vì chùa ở quá xa thành phố, cho nên chỉ vào những ngày lễ lớn hoặc Tết Nguyên Đán, mới thấy khách thập phương từ Đà Lạt hoặc những nơi khác đến viếng chùa. Những ngày còn lại, hầu hết thiện nam tín nữ, đi dâng hương lễ Phật tại chùa Sư Nữ đều là người dân ở trong xóm Trại Hầm của tôi. Lễ vật của dân trong xóm dâng lên chùa có gì đâu ngoài vài nải chuối sứ hãy còn xanh, dăm ba trái mận vừa chín tới, mấy củ khoai đào ở sau vườn cọng thêm tấm lòng thành kính của họ. Tất cả chỉ có vậy, không còn gì khác.
Chùa Yên Tử-Quảng Ninh– Hình minh họa
Má tôi là một phật tử thuần thành, đi lễ chùa và niềm tin vào Đức Phật, với bà đó là hai chuyện không thể tách rời. Lần nào cũng vậy, trước khi đi lễ, má tôi thường ra mảnh vườn sau nhà đào một ít khoai lang, bà cẩn thận lựa những củ to lớn tốt đẹp, sắp riêng vào một cái rổ nhỏ đem lên cúng chùa, những củ còn lại còi cọc xấu xí, bà để ở nhà luộc cho tôi ăn sáng. Má tôi cũng không quên cắt một ít bông Vạn Thọ giao cho tôi ôm, theo bà lên chùa.
Tôi theo má dâng hương lễ Phật, rồi ngồi im lặng nơi chánh điện nghe tiếng tụng kinh gõ mõ, đều đều bên tai. Một đứa trẻ năng động, ham chạy nhảy chơi đùa như tôi, phải ngồi im một chỗ để nghe kinh, đúng là một cực hình. Tai nghe nhưng đầu óc của tôi lại lang thang đâu mãi tận đầu làng cuối xóm với mấy đứa bạn, khi thì chơi bịt mắt bắt dê, lúc thì đá banh hoặc kéo nhau xuống cái trũng sâu bên kia đồi bắt dế. Người một nơi mà hồn một nẻo, đó là tâm trạng của tôi khi ngồi trong chùa. Tuy vậy, chuyện nghe kinh cũng không khiến tôi đau khổ bằng phải ăn cơm trưa tại chùa, đó là những bữa ăn đáng nhớ trong đời. Nhà tôi vốn đã nghèo, nhưng trong bữa cơm cũng có được vài con cá hấp kho mặn to bằng hai ngón tay, cái trứng vịt luộc dằm trong chén nước mắm ớt dùng để chấm rau luộc. Và một nồi cơm trắng với những hột gạo chín đều, nở bung khi xới ra chén. Trong chảo cơm của chùa, cơm có màu vàng lại thoang thoảng mùi ẩm mốc, một thau nhôm đựng rau lang luộc mà trong đó nước nhiều hơn rau. Tôi gắp cọng rau luộc, chấm vào tô nước muối, ăn với những miếng cơm bở rệt lạt nhách. Chê cơm của chùa nhưng tôi phải cố ăn cho được hai chén cơm đầy, vì cái bụng đói của mình. Lẽ dĩ nhiên tôi nhai và nuốt cơm một cách khó khăn, khổ sở. Không biết gương mặt của tôi nhăn nhó, xấu xí như thế nào nhưng sau bữa ăn, thừa lúc mọi người lo dọn dẹp, lau bàn rửa chén, Sư bà trụ trì giúi vào tay của tôi khi thì trái chuối sứ chín rục ngọt lịm, lúc thì trái quít nho nhỏ chua chua. Tuy còn nhỏ nhưng tôi cũng biết chùa quá nghèo, có phải Sư bà đã nhịn phần ăn của mình cho tôi hay không? Điều ấy tôi không thể xác quyết được. Tôi chỉ biết là với đôi mắt đầy lòng nhân từ độ lượng của Sư bà lúc cho tôi trái chuối, khiến tôi thấy hương vị của trái chuối thơm tho, ngon ngọt hơn bội phần.
Sau này khi lớn lên rồi vào lính, tôi đã đi nhiều nơi, ăn nhiều món ngon vật lạ, tham dự những bữa tiệc mâm cao cỗ đầy với xôi thịt ê hề, bia rượu rót tràn ly thế nhưng hương vị trái chuối của Sư bà cho tôi ngày nào, vẫn là món quà ngon nhất, món quà mà tôi nhớ mãi suốt đời.
Thời gian âm thầm lặng lẽ trôi mau, chưa kịp ngoảnh mặt nhìn lại, tôi đã bước chân vào trung học. Cũng trong khoảng thời gian này, chùa Sư Nữ đang bắt đầu xây lại bằng gạch, to lớn hơn, nguy nga bề thế hơn xưa rất nhiều. Mái chùa được lợp ngói đỏ mới tinh, hai con rồng gỗ cũ kỹ trên nóc chùa được thay thế bằng hai con rồng to lớn, đúc bằng xi măng khảm sành sứ, với nước men bóng loáng đủ màu. Cổng Tam Quan trước chùa, tuy không lớn lắm nhưng với lối kiến trúc hài hòa độc đáo, làm tăng thêm vẻ uy nghi trang nghiêm của chùa. Phật lịch 2505 là năm mà ngôi chùa mới đã xây cất xong hoàn toàn, năm đó tôi đang học lớp đệ lục trường nam trung học công lập Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Vì trường ở cách xa xóm nhỏ Trại Hầm của tôi hơn chục cây số, cho nên tôi phải dùng xe đạp để đi học.
Một ngày của tôi thường bắt đầu từ lúc 5 giờ sáng, khi tiếng chuông công phu của chùa Sư Nữ từ cuối xóm len lỏi qua rừng thông xanh vọng đến đầu xóm. Tiếng chuông như một cái đồng hồ báo thức, đã đánh thức tôi dậy. Buổi sáng trời Đà Lạt lạnh tê tái, tôi quấn mình trong cái mền cũ, đi ra sau hè múc một gàu nước từ trong cái lu bằng sành, đổ vào cái thau nhôm để rửa mặt, đánh răng. Xóm Trại Hầm của tôi chỉ có ba vòi nước máy công cộng được đặt ở đầu xóm, giữa xóm và cuối xóm, cho nên nhà nào cũng gánh nước về chứa trong lu để dành dùng cho cả ngày. Nước trong lu để qua đêm ở ngoài trời trở nên lạnh cóng, lạnh đến độ khi chạm tay vào nước, tôi có cảm tưởng máu trong tay của mình muốn ngưng chảy.
Chùa Hương– Hình minh họa
Sau khi làm vệ sinh cá nhân, tôi ngồi vào bàn ăn. Ba tôi là thợ mộc, thế nhưng cái bàn ăn của nhà tôi với dăm bảy miếng gỗ thông ghép vào nhau, long đinh, xộc xà xộc xệch, trông thật tội nghiệp. Có một lần, tôi tình cờ thấy má tôi nhìn cái bàn rồi bà lẩm bẩm một mình “Thợ rèn xài dao cùn”. Tôi nghe má tôi nói nhưng không hiểu bà muốn nói gì, bởi vì một cái bàn cũ mèm, xấu xí, có liên quan gì đến ông thợ rèn đâu mà má tôi lại nói như là than thở. Tôi nhìn trên bàn, mấy củ khoai luộc èo uột quặt quẹo, nhỏ bằng ngón chân cái đựng trong một cái tô sành cũ rích, sứt mẻ nhiều chỗ. Đó là phần ăn sáng mà má tôi đã dọn sẵn cho tôi. Tôi quấn chặt cái mền quanh người mong tìm chút hơi ấm, rồi thong thả thưởng thức bữa ăn sáng. Tôi phải nhét cho đầy cái bao tử của mình để chút nữa lấy sức đạp xe hàng chục cây số đến trường, có bao nhiêu khoai lang tôi ăn sạch sẽ. Một hôm, khi đã ăn hết khoai mà tôi vẫn còn thấy đói. Nhìn đống vỏ khoai trong tô, khiến tôi nhớ đến những củ khoai tốt đẹp mà má tôi đã đem đi cúng chùa, điều đó cho thấy, má tôi quý mến ngôi chùa đến mức nào. Sau một hồi suy nghĩ, tôi bốc một ít vỏ khoai ăn thử. Vỏ khoai tuy dai dai nhưng cũng có chút ngòn ngọt, tôi từ từ ăn sạch luôn mớ vỏ khoai trong tô nhờ vậy mà tôi biết được một điều, khi đói ăn vỏ khoai cũng không tệ lắm đâu. Từ đó về sau, khi ăn khoai tôi có thói quen ăn luôn cả vỏ và coi đó là chuyện bình thường. Nếu nhà hết khoai, má tôi làm cho tôi chén cơm chiên hoặc bà nấu cho tôi vài chén cháo. Với tôi, thứ gì cũng được, tôi ăn tuốt, miễn sao đầy bụng là tốt rồi. Sau bữa ăn sáng đầy khiêm nhường, tôi thay quần áo, đi lấy cặp vở cột vào cái yên sau của xe, thêm một lon gô lưng lửng cơm nguội trong đó có vài con cá cơm to bằng ngón tay út kho mặn. Đó là phần ăn trưa của tôi tại trường. Riêng về nước uống, tôi không cần phải mang theo, vì đã có vòi nước máy công cộng ngay bên hông nhà của thầy Tổng giám thị.
Khi đã chuẩn bị mọi thứ xong xuôi, tôi dẫn chiếc xe đạp ra khỏi nhà, đẩy xe men theo lề đường của con dốc cao ngất trời, dài lê thê lên đến khúc đường Lê Thái Tổ bằng phẳng, sau đó mới bắt đầu đạp xe đi học. Buổi sáng khi sương mù còn giăng mờ khắp nẻo, tôi mặc hai cái áo ấm, cái còn lành lặn ở trong, cái rách ở bên ngoài. Sở dĩ tôi mặc như vậy vì lúc đến trường, tôi chỉ có việc cởi cái áo rách ra, cất vào cặp rồi vào lớp học.
Một mình trên chiếc xe đạp lao đi trong sương mù lạnh ngắt, giữa không gian bao la một màu trắng sữa, tôi nhớ đến thầy giáo dạy anh văn của tôi vừa du học bên Anh trở về. Thầy Hạnh, với bộ vest nỉ xám, đôi giầy da bóng loáng, cặp kính trắng trên gương mặt thông thái nghiêm nghị. Trong giờ học, thầy thường đi tới đi lui trên bục gỗ, miệng giảng bài nhưng trên tay lúc nào cũng là cái tẩu, thỉnh thoảng thầy lại đưa lên miệng bập bập vài hơi, lúc ấy trông thầy giống như là một nhà quý tộc Ăng Lê, chứ không phải là một ông thầy giáo dạy Anh văn ở một tỉnh lẻ. Thường thì sau giờ học, còn dư độ mươi phút, với giọng nói khoan thai từ tốn, thầy kể cho chúng tôi nghe những điều mới lạ về cuộc sống đầy lý thú nơi xứ người. Và, điều đáng nhớ nhất vẫn là sương mù Luân Đôn, sương mù ở đó dày đặc đến độ đứng cách xa chừng vài mét, chỉ thấy một cái bóng mờ. Thầy nói “Các em có biết không, rất nhiều lần, thầy đi trong sương mù Đà Lạt mà cứ ngỡ là đang còn sống ở Luân Đôn”. Rồi, lần nào cũng vậy câu nói cuối cùng của thầy vẫn là “Sương mù Luân Đôn chỉ được cái làm nguy hiểm cho giao thông, chứ chẳng được cái tích sự gì, so với sương mù Đà Lạt lãng đãng giữa rừng thông, Đà Lạt quả thật là đẹp tuyệt vời.”
Riêng tôi, sương mù Đà Lạt tuy có đẹp thật nhưng lại mang theo cái lạnh buốt đến cóng tay, và khi tôi đạp xe được vài cây số tới nhà Thủy Tạ, chiếc áo ngoài của tôi đã ướt dầm sương mai.
Nhà Thủy Tạ sơn toàn một màu trắng, nằm trên mặt hồ Xuân Hương, tên cũ của nó là La Grenouillère, đó là nơi gặp gỡ, tụ họp của những người Pháp trong câu lạc bộ thể thao. Bên hông trái của La Grenouillère, là bến đậu của hàng chục chiếc thuyền buồm giống hệt nhau, được phân biệt bằng cách đánh số thứ tự, bắt đầu từ số một. Thuyền trắng, buồm cũng trắng soi bóng nước trong xanh. Mỗi khi chiều đến, với chút gió nhẹ làm gợn sóng lăn tăn trên mặt hồ, là lúc mấy ông Tây hãy còn luyến tiếc Đà Lạt không chịu trở về Pháp, giăng buồm, thả thuyền trôi theo gió. Hồ Xuân Hương lúc bấy giờ, trông thơ mộng như một cảnh trong ciné với nét đặc thù của người Pháp.
Chùa Bái Đính – Ninh Bình – Hình minh họa
Đi thêm chút nữa, tôi đến cái đập ngăn nước của hồ Xuân Hương mà người dân Đà Lạt gọi là cầu ông Đạo . Tôi hoàn toàn không hiểu vì sao người ta lại gọi như vậy, cho đến khi được một người lớn tuổi chỉ cho tôi căn nhà của ông Đạo gần ngay đó. Tuy vậy, phải đợi cả chục năm sau, khi học về tổ chức hành chánh của triều Nguyễn dưới thời Pháp thuộc ở Viện đại học Đà Lạt, tôi mới biết rằng ông Đạo không phải là tên riêng của một người, mà đó là chức Quản Đạo của vị quan trông coi một Đạo ở miền núi, tương đương với chức tỉnh trưởng ở vùng đồng bằng hay miền duyên hải.
Qua khỏi cầu ông Đạo là con dốc Lê Đại Hành, dẫn đến chợ Đà Lạt. Đây là một ngôi chợ khá đặc biệt, tôi không biết nó được xây dựng vào năm nào, khi tôi lớn lên, ngôi chợ đã có ở đó tự bao giờ rồi. Nơi mặt tiền của chợ, một cái huy hiệu hình tròn đường kính ước chừng hai mét, gắn nơi nóc chợ, trong đó có hình một đôi nam nữ. Người thiếu nữ để ngực trần, với một mảnh vải nhỏ quấn ngang hông, trái tai căng bằng hai cái khuyên to, cổ, tay, chân đeo đầy những vòng trang sức. Người thanh niên đóng khố, tay cầm cây lao dài và nhọn. Dưới chân họ là hàng chữ “DAT ALIIS LAETITIAM, ALIIS TEMPERIEM”. Tôi nhìn cái huy hiệu với đôi mắt của một người khách du lịch nhàn nhã, ung dung cưỡi ngựa xem hoa, nhìn đó rồi quên luôn. Mãi cho đến vài tháng sau, bỗng một lần nọ, óc tò mò khiến tôi chép lại hàng chữ trên, rồi đạp xe đến thư viện. Đà Lạt là một tỉnh nhỏ, nhưng thư viện của nó lại to lớn, bề thế vô cùng. Tôi tìm ông quản thủ thư viện, với mục đích là hỏi ông về ý nghĩa của hàng chữ trên. Chỉ vừa mới liếc qua tờ giấy, ông ta nói với tôi, giọng nói của người Miền Bắc.
-Cậu chép câu này ở trên nóc chợ phải không?
Tôi hơi ngạc nhiên, hỏi lại ông.
-Tại sao bác biết?
Ông quản thủ thư viện cười.
-Không hiểu nghĩa câu này, thì không phải là dân Đà Lạt. Cậu ở đâu mới tới, đúng không?
Tôi mắc cỡ quá sức nhưng cũng đành thú thực với ông.
-Thưa bác, con sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt.
Ông quản thủ thư viện chắt lưỡi, rồi nói.
-Hỏng, hỏng hết, tôi là dân Bắc kỳ di cư, thế mà xem ra tôi còn biết về lịch sử và sự hình thành của Thành phố Đà Lạt hơn cậu đấy. Cậu có biết không, năm một ngàn tám trăm chín mươi ba, khi bác sĩ Yersin khám phá ra Đà Lạt, thì tại đây đã có bộ tộc người “Lạch” sống từ lâu rồi, cho nên người Pháp mới lấy hình ảnh của đôi trai gái người Lạch, với hàng chữ La Tinh mà cậu mới đưa cho tôi coi, làm biểu tượng cho Thành phố Đà Lạt. Ý nghĩa của những chữ La Tinh đó dịch ra tiếng Việt như sau “Cho người này niềm vui, cho người khác sức khỏe”. Tôi tạm dịch như vậy không biết có sát nghĩa hay không, khả năng của tôi chỉ có chừng đó. Theo tôi nghĩ, cậu nên đến nhà thờ Con Gà, hỏi mấy vị linh mục ở trong đó, cậu sẽ được nghe giải thích rõ ràng hơn về mấy chữ trên, bởi vì còn ai mà giỏi tiếng La Tinh hơn những vị linh mục.
Ông quản thủ thư viện trả lại tờ giấy cho tôi.
-Mà nè, cậu có biết nhà thờ Con Gà ở đâu không?
Không trả lời câu hỏi của ông quản thủ thư viện, tôi cười đùa với ông ấy, rồi lập lại câu nói mà tôi đã nói với ông trước đây.
-Thưa bác, con sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt.
Tôi cảm ơn ông quản thủ thư viện rồi ra về, vừa đi tôi vừa nghĩ đến những gia đình người Lạch ở đâu tận chân núi Lâm Viên, vẫn thường mang những gùi củi sau lưng, hay những giò Lan rừng ra chợ Đà Lạt để đổi lấy cá khô hoặc muối hột. Tôi không biết những người Lạch này, họ nghĩ gì khi thấy hình của mình trên nóc chợ.
Chùa Bảo Lâm Phú Yên – Hình minh họa
Thêm một điểm đặc biệt nữa là cái tháp hình khối của chợ, nếu đứng trước chợ nhìn vào thì nó nằm bên tay phải, gần trên đỉnh tháp có gắn một cái đồng hồ, mỗi ngày đúng vào lúc mười hai giờ trưa, khi hai cây kim nơi tháp đồng hồ chập lại làm một, là còi trong chợ bắt đầu hú lên báo hiệu đến giờ nghỉ. Khi nghe còi hụ, hầu như tất cả mọi tiệm buôn, hàng quán quanh chợ đều đóng cửa để ăn cơm và nghỉ trưa, mãi cho đến gần hai giờ mọi sinh hoạt mới trở lại bình thường. Cái lối sống chịu ảnh hưởng của Pháp sâu đậm như vậy, hình như chỉ có ở Đà Lạt.
Tôi đang đứng nơi chân con dốc Lê Đại Hành, trước mắt tôi cao hơn con dốc chút xíu là đường Thành Thái nằm bên trái, cả hai con đường với hai hàng hoa Anh Đào già cỗi. Hàng năm khi mùa xuân đến với tiết trời ấm áp, là lúc hoa Anh Đào nở rộ, tô thắm cả hai con đường. Đà Lạt lúc bấy giờ trông giống như thành phố đầy hoa Đào ở Nhật Bản, nhưng cái khác biệt là cả khu chợ Đà Lạt nổi lên trên đám sương mù, khiến tôi tưởng rằng Đà Lạt như được treo lơ lửng giữa trời. Chẳng trách, người ta gọi Đà Lạt là thành phố mộng mơ. Tôi đẩy xe đạp lên hết con dốc đường Lê Đại Hành, lúc này tôi đang đứng tại chợ Đà Lạt. Đến đây, coi như tôi đã đi được già nửa đoạn đường. Cái đồng hồ trên đỉnh tháp hình khối vuông chỉ bảy giờ, sáng rồi mà phố xá vắng tanh, trong chợ chỉ toàn là những người bán hàng đang lục đục sắp xếp, bày hàng lên sạp. Cả Thành phố Đà Lạt hình như còn yên ngủ, ngay trung tâm thành phố mà chỉ có vài ba người quấn mình trong những bộ đồ ấm, đứng mua bánh mì dưới mái hiên của tiệm Vĩnh Chấn. Tôi chạy xe xuống hết con dốc Minh Mạng, tên cũ của nó là đường Cầu Quẹo, sau đó rỉ rả đạp xe đến cuối đường Phan Đình Phùng, leo thêm một con dốc lài lài khoảng một cây số, ôm theo nghĩa địa thành phố. Bảy giờ rưỡi, Trường Trần Hưng Đạo đã hiện ra trước mắt tôi.
Một đứa nhỏ mười hai tuổi như tôi, mỗi ngày đạp xe hơn hai chục cây số đi và về, đường xa vời vợi, ngang qua đường Lê Thái Tổ với sương mù của thành phố Luân Đôn, qua La Grenouillère và chợ Đà Lạt mang nét đặc thù của văn hóa Pháp, rồi qua những hàng hoa Anh Đào của xứ Phù Tang thơ mộng. Chỉ một đoạn đường có vài cây số, tôi đã đi qua ba nước giàu có, văn minh vào hạng nhất nhì thế giới, hỏi sao tôi không mê Đà Lạt cho được. Ngày nào cũng đạp xe, hết lên đèo rồi lại xuống dốc, hết sáng lại đến chiều, hết tuần này qua tháng nọ, năm này qua năm khác, tôi mãi mê đạp xe đi học. Thêm phần cũng quan trọng không kém, vì bài vở ở bậc trung học quá nhiều so với khi còn ở bậc tiểu học, khiến tôi không còn thì giờ ôm những bó hoa Vạn Thọ theo má đến chùa.
Bước qua những năm trung học đệ nhị cấp, từ lớp đệ tam cho đến khi lên đệ nhất, tôi tự cho là mình đã lớn nên suốt mấy năm trường, tôi đi học mà cứ tà tà như đi chơi, tới đâu hay tới đó.
Một lần nọ, vì muốn chứng tỏ mình không phải là thằng cù lần. Ở cái tuổi của tôi vào thời bấy giờ, nếu bị gọi là cù lần, đó là một lời chê trách nặng nề, cho nên tôi nghe theo lời rủ rê của Nhân đầu bạc trốn học, để rồi suốt một buổi chỉ biết đi lang thang vòng quanh chợ Đà Lạt, lúc đó đã được sửa chữa lại với cái tên mới là Khu phố Hòa Bình. Chúng tôi, vừa đi vừa nhẩm đếm xem có bao nhiêu cây cột xi măng chống quanh rạp hát. Sau đó, hai đứa đến ngồi nơi những bậc cấp trước nhà thờ Tin Lành ở đường Hàm Nghi, nhìn những cô gái má phơn phớt hồng như hoa Đào, học ở trường nữ trung học Bùi Thị Xuân trong bộ đồng phục quần trắng, áo dài trắng, chân đi guốc, tung tăng đùa giỡn, chuyện trò trên đường đi đến trường. Hai đứa tôi tha hồ ngồi ngắm những người đẹp, rồi mặc sức khen chê bình phẩm. Cho đến khi không còn bóng dáng chiếc áo dài trắng nào trên đường phố, lúc bấy giờ tôi mới nhìn Nhân như ngầm hỏi “ Phải làm gì nữa đây để tiêu pha cho hết một ngày trốn học?”
Chùa Lá Sen Đồng Tháp – Hình minh họa
Nhân đầu bạc là một người không bao giờ chịu thúc thủ trước mọi hoàn cảnh, bất cứ lúc nào nó cũng có thể đưa ra sáng kiến mới để giải quyết vấn đề. Hắn nói với tôi.
-Mày có biết quán mì quảng ở hẻm ciné Ngọc Hiệp không? Tụi mình đến đó ăn mì, tao sẽ trả tiền, nhưng sau đó mày phải làm cho tao một chuyện.
Tôi nghĩ đến quán mì quảng ngon nhất của Thành phố Đà Lạt. Lần đầu tiên, tôi biết được quán mì này là do ba tôi dẫn tôi đến. Điểm đặc biệt của quán là bán mì quảng, nhưng lại do hai vợ chồng người Bắc đứng nấu. Người chồng hiền khô như ông bụt với con mắt hiêng hiếng, lo việc múc mì ra tô cho khách kiêm luôn việc thu tiền, vợ dọn dẹp. Lần đó, ba tôi thưởng cho tôi một tô mì to bự, khi biết tôi đã đậu vào lớp đệ thất Trường trung học công lập Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Bốn năm sau khi đậu bằng Trung học, tôi lại được ông thưởng cho một tô mì y như xưa, nhưng giá tô mì lúc này là năm đồng chứ không còn là ba đồng như ngày xưa. Đặc biệt, lần này ba tôi kêu thêm cho tôi một ly cà phê túi vải, uống với sữa đặc có đường. Với tôi, tô mì quảng ở hẻm ciné Ngọc Hiệp quả thật là danh bất hư truyền. Những sợi mì gièm giẹp vàng ươm bóng lưởng vì thấm dầu phụng, được xếp gọn trong một cái tô to bên dưới là rau sống, ông chủ quán mì chan nước xốt xăm xắp ngang những cọng mì. Nước xốt ở đây quả thật là đặc biệt, được nấu với thịt heo bằm và tôm khô, nó sền sệt tựa như có pha thêm tí da heo xắt hột lựu, thêm chút vàng óng ánh của mỡ, chút đỏ tươi của ớt bột. Trên cùng là mấy lát thịt heo ba chỉ mong mỏng, nằm cạnh hai con tôm tươi không đầu đã được lột vỏ. Khi ăn khách dùng đũa, mạnh tay trộn đều lên sẽ thấy những cọng rau thơm xanh ngắt như húng lủi, tím bầm như tía tô, lẫn với rau xà lách, bắp chuối xắt nhỏ và mùi thơm nức mũi của nước xốt. Cuối cùng, thực khách chỉ cần thêm vào tô một ít đậu phụng rang giã nhỏ, dăm miếng bánh tráng bẻ vụn, một tí nước mắm ớt để làm dậy mùi thơm, là đã có được một tô mì nóng hổi, thơm ngon. Một điểm đặc biệt không nơi nào có, là cái gáo múc nước mắm làm bằng nửa hột mù u to cỡ trái chanh, với cái cán bằng tre. Chỉ mới nghĩ tới thôi, nước bọt đã ứa ra đầu lưỡi, tôi hăng hái hỏi Nhân.
-Mày cần tao làm việc gì?
-Dễ thôi, không có gì là nặng nhọc, mày lấy cái kéo hớt tóc cho tao.
Nghe Nhân đầu bạc nói mà tôi cứ tưởng nó nói đùa.
-Tại sao mày không vô tiệm hớt tóc, mà lại biểu tao cắt tóc cho mày.
Gương mặt Nhân lộ vẻ đau khổ thấy rõ.
-Tao không ngờ, mày lại chậm hiểu quá sức như vậy. Mười đồng má tao cho để hớt tóc, tao với mày sẽ lấy đi ăn mì, còn tiền đâu nữa mà trả cho tiệm hớt tóc.
Nghe nó nói, tôi chợt tỉnh mộng. Tô mì quảng thơm lừng, mới đó đã biến mất tiêu.
-Mày làm tao mừng hụt, tao thà chịu nhịn đói chứ nhứt định không dám xởn cái đầu của mày. Tao mà cắt tóc cho mày xong, đầu tóc của mày lúc bấy giờ loang lổ, vằn vện chẳng khác gì tấm da beo.
Nhân đầu bạc nhìn tôi
-Mày nói cũng có lý, vậy thì mình phải tính chuyện khác, mà dầu có làm chuyện gì đi nữa, mày cũng phải đóng vai chính. Chương trình của tao như thế này: Tao với mày sẽ vô cà phê Tùng vừa rỉ rả uống cà phê, vừa nghe những bản nhạc đã một thời vang bóng. Mày nghe bản nhạc “Chiều vàng” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh do bạn Tôn Thất Niệm trình bày trên Đài phát thanh Đà Lạt chưa? Giọng hát của ông ấy, phải nói là tuyệt vời.
Tôi chỉnh Nhân đầu bạc.
-Ca sĩ chứ bạn sao được, ông ấy đã là bác sĩ, lại còn hơn mình có tới hai chục tuổi như không. Mày ăn nói hồ đồ, không chịu để ý kính trọng người trên.
Chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử – Hình minh họa
Nhân đầu bạc lên giọng với tôi.
-Cách đây hơn chục năm, trên Đài phát thanh Đà Lạt người ta dùng chữ “bạn” để chỉ người trình bày bản nhạc, chứ không dùng chữ ca sĩ như bây giờ.
Tôi đá nhẹ Nhân đầu bạc.
-Thời đó mày cũng như tao, bảy tám tuổi thì biết cái gì về Đài phát thanh Đà Lạt mà bày đặt nói.
Bị bắt bí, Nhân đầu bạc cười bẽn lẽn.
-Thì tao nghe chú tao nói ấy mà.
Tuy bắt bí được Nhân đầu bạc nhưng tôi vẫn thầm phục hắn quá trời, vì chuyện hắn muốn vào cà phê Tùng, đó quả là một ý tưởng hết sức mới mẻ và đầy táo bạo. Tôi là dân Đà Lạt đúng bảy mươi hai phần dầu, đã từng đi ngang qua cà phê Tùng cả ngàn lần nhưng chưa một lần bước chân vào, bởi vì tôi nghĩ rằng nơi đó chỉ dành cho người lớn. Bọn nhóc tì dở dở ương ương, nhỏ không ra nhỏ, lớn không ra lớn như chúng tôi, chỉ có việc đứng ngoài cà phê Tùng mà nhìn vào. Thêm nữa, điều quan trọng nhất vẫn là chuyện tôi không có tiền. Tôi nói với Nhân:
-Tiền đâu mà uống cà phê?
Nhân đầu bạc tươi cười, hắn xoa hai bàn tay vào nhau.
-Nếu muốn uống cà phê, mày phải làm theo lời tao dặn, chuyện này cũng dễ thôi. Mày chạy đến sạp vải Hưng Long của má tao ở trên lầu hai chợ mới, nói với bà là tao bị té xe đạp. Chiếc xe bị hư hại nặng, tao cần tiền để sửa xe.
Tôi nói với Nhân.
-Ăn gian, nói dối là chuyện tao không thể làm được. Ba tao mà biết được chuyện lường gạt, gian dối, ổng tống cổ tao ra khỏi nhà ngay lập tức. Hơn nữa, liệu má mày có tin tưởng tao để mà đưa tiền hay không?
Thấy tôi lừng khừng, Nhân đầu bạc trấn an tôi:
-Tao sẽ viết vài chữ với nội dung là tao đang ngồi ở tiệm sửa xe đạp, nhờ mày về nhà lấy tiền. Má tao biết mày mà, bà thường gọi mày là thằng “Cục Bột”, mỗi khi nhắc đến mày. Giao tiền cho một thằng khờ như cục bột thì có gì mà phải lo. Còn nữa, mày cứ yên chí, má tao rất cưng tao, bà chỉ quan tâm tới sự an nguy của tao thôi. Chuyện tiền bạc, má tao không coi nặng bằng thằng con yêu quý của bà.
Sau một chút suy nghĩ, Nhân đầu bạc nói thêm.
-Tiền hai ly cà phê hết hai chục, tụi mình cần thêm bốn đồng để mua năm điếu thuốc Ruby. Uống cà phê mà không có thuốc lá, coi không được chút nào. Đã lỡ làm dân chơi, dù là dân chơi tỉnh lẻ cũng phải chơi cho tới bến. Tao sẽ viết xuống giấy, xin má tao hai mươi bốn đồng.
Tôi nghĩ thầm, người ta thường nói “được voi đòi tiên”, còn ông bạn quý của tôi, không cần biết có voi hay chưa, đòi luôn một lần cả voi lẫn tiên cho tiện việc sổ sách. Vì nghĩ như vậy nên tôi nói với Nhân.
-Xin hai chục đồng là đủ uống cà phê rồi. À… mà sao mày biết giá một ly cà phê là mười đồng? Mày có lộn không? Tao muốn nhắc cho mày biết, một tô mì quảng to hết cỡ, ngon hết biết ở hẻm Ngọc Hiệp, chỉ có năm đồng.
Nhân đầu bạc với giọng nói đầy quả quyết.
-Một trăm phần trăm là đúng vì chú tao mới nói với tao tuần trước, khi ông ấy dẫn bà vợ sắp cưới của ổng đi uống cà phê ở Tùng. Chú tao còn nói thêm rằng, nội cái chuyện nghe nhạc ở cà phê Tùng cũng đáng giá mười đồng rồi, ly cà phê coi như cho không.
Chùa Linh Ứng – Bãi Bụt Đà Nẵng – Hình minh họa
Khi đã có tiền trong tay, tôi và Nhân đẩy cánh cửa của cà phê Tùng, hiên ngang ưỡn ngực bước vào. Với khoảng không gian không lấy gì làm rộng rãi cho lắm, chừng bốn mét bề ngang, chiều sâu đâu khoảng bảy tám mét, gần cuối phòng, bên tay phải là một cái cầu thang nhỏ dẫn lên lầu hai. Diện tích của cà phê Tùng chỉ có ngần ấy. Chọn một cái bàn nhỏ ở góc phòng gần quầy tính tiền, Nhân đầu bạc dõng dạc gọi hai ly cà phê đen. Lần đầu tiên được ngồi trong một tiệm cà phê nổi tiếng của Đà Lạt, tôi tò mò nhìn quanh, trên tường bên tay trái của tôi treo một bức tranh lập thể, vẽ hình một người đàn ông tay ôm cây đàn guitar, cần đàn chúi xuống đất. Tôi chăm chú nhìn bức tranh, nhìn hoài mà vẫn không thấy cái đẹp, cũng không hiểu ông họa sĩ muốn nói gì trong bức tranh đó. Cuối cùng, tôi đành phải chấp nhận, mình là người phàm mắt tục, không có chút kiến thức gì về hội họa, thôi thì đừng có thắc mắc gì về tranh với ảnh cho được việc. Khác với tôi, Nhân thong thả mồi một điếu thuốc, nhả khói bay mù mịt y hệt như một người sành điệu. Chỉ có điều, ngay lúc đó nó ho sặc sụa vì khói thuốc. Hai tay ôm lấy ngực, Nhân đầu bạc nói mà như là phân bua để chữa thẹn.
-Thuốc Ruby Queen tưởng nhẹ, ai ngờ nó lại gắt hơn thuốc Bastos.
Đợi cho những giọt cà phê đen cuối cùng từ cái phin xinh xắn làm bằng một loại sắt không rỉ sét, nhỏ xuống tách cà phê, tôi cho một muỗng đường khuấy đều rồi hớp một ngụm. Cà phê phin ở Tùng quả thật là thơm ngon, nhưng lại quá sức đậm đặc so với ly cà phê túi vải nhạt phèo mà tôi đã được uống. Đem so sánh ly cà phê Tùng với ly cà phê túi vải là một chuyện làm khấp khểnh, nhưng biết làm sao bây giờ. Bởi vì, ly cà phê túi vải nơi hẻm ciné Ngọc Hiệp là ly cà phê duy nhất mà tôi đã từng được uống. Tôi xin một ly nước sôi, thêm hai muỗng đường, lúc bấy giờ tôi mới có được một ly cà phê vừa theo ý mình.
Hai đứa tôi ngồi im lặng thưởng thức ly cà phê đen, lắng tai nghe nhạc trong bầu không khí lù mù khói thuốc lá. Bất chợt, Nhân đầu bạc hỏi tôi.
-Má tao có nói gì khi đưa tiền cho mày không?
Tôi phải giải thích vòng vo Tam Quốc với Nhân.
-Từ nhỏ tới lớn, chưa bao giờ tao biết ăn gian nói dối, nhưng vì cái hấp lực quá mạnh của ly cà phê Tùng nên tao đành liều mạng, nhắm mắt đưa chân. Có tật giật mình, mày biết không khi gặp má của mày, tao run còn hơn là leo rào trốn học, bị thầy Tổng giám thị bắt gặp tại trận. Cũng may má mày hiền quá sức, khi biết mày cần tiền để sửa xe, bà vội vàng đưa tiền cho tao mà không một chút nghi ngờ.
Nghe tôi nói, gương mặt của Nhân đầu bạc sáng rỡ, hắn nói, câu nói không liên quan gì đến chuyện gian dối của hai đứa.
-Mày có biết tao bao nhiêu tuổi không?
Tôi hơi ngạc nhiên vì câu hỏi không đâu vào đâu của hắn, cũng không hiểu vì sao hắn hỏi tôi như vậy. Tôi nhìn lên mái tóc muối tiêu của Nhân đầu bạc rồi giả vờ nói.
-Trông mày giống một ông già bốn mươi.
-Đừng có giỡn, nói thiệt đi.
Tôi nói.
-Mày giỏi lắm cũng chỉ hơn tao một tuổi là cùng. Mười chín.
Nhân nói với tôi mà như là thổ lộ tâm tình, hắn dốc cạn bầu tâm sự.
-Vậy mà má tao cứ tưởng là tao chỉ có bảy, tám tuổi. Từ sau ngày ba tao mất đi, má tao sống đó mà cứ như người chết rồi, có bao nhiêu tình thương bà dồn hết cho tao, bà thương tao quá sức, chiều chuộng tao còn hơn là chiều vong. Suốt ngày, má tao bám theo tao không rời nửa bước, cơm ăn áo mặc, bà lo từng chút một, thậm chí đến chuyện buổi tối trước khi đi ngủ, bà nặn sẵn kem vào bàn chải đánh răng cho tao, giục tao đánh răng sau đó mới cho tao đi ngủ. Mày nghĩ coi, một thằng con trai lớn tồng ngồng còn bị má giám sát từng chút một như vậy, không giận sao được. Tao chỉ mong sao đậu xong cái Tú tài là tao đăng lính ngay, mà phải là lính Nhảy Dù hay là Thủy Quân Lục Chiến mới được. Mày biết tại sao không?
Tôi trả lời mà trong lòng đầy thắc mắc.
-Không.
Nhân đầu bạc nói một cách rành rẽ.
Chùa Vĩnh Nghiêm Sài Gòn – Hình minh họa
-Bởi vì Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến là lực lượng tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được điều động đi khắp bốn vùng chiến thuật. Hôm nay họ đang thanh toán chiến trường ở Kontum, ngày mai có thể bay ra địa đầu giới tuyến để giải tỏa áp lực của Việt Cộng. Nơi nào mà chiến trường sôi động, sặc mùi thuốc súng, nơi đó sẽ có sự hiện diện của Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Nếu tao được vào một trong hai binh chủng này, cho dù má tao có cánh bà cũng không theo kịp để mà giám sát tao.
Đang rù rì tâm sự, đột nhiên Nhân đầu bạc nghiêng đầu như lắng tai nghe rồi nói.
-Mày có nghe gì không? Hình như cả tiếng đồng hồ ngồi đây, tao không nghe bản nhạc Việt Nam nào hết trơn. Nhạc ở đây nghe không khá chút nào, không lý ông chú của tao du học ở bên Tây về mà lại không biết nghe nhạc.
Nhân ngừng nói nhìn tôi, gương mặt của hắn lộ vẻ giận.
-Tao phải hỏi ông chủ quán mới được.
Vừa dứt lời, hắn hùng hổ đứng lên đi về phía quầy thâu ngân, cách bàn của chúng tôi độ dăm bước, nơi ông chủ cà phê Tùng đang ngồi.
Tôi nhìn theo Nhân đầu bạc mà trong lòng đầy lo âu, chỉ sợ hắn ăn nói lỗ mãng với người lớn. Trái với thái độ hung hăng con bọ xít, khi đến trước mặt ông chủ cà phê Tùng, Nhân đầu bạc với giọng nói nhỏ nhẹ:
-Thưa bác, cho tụi con nghe bản nhạc “Hai lối mộng” của nhạc sĩ Trúc Phương được không?
Ông chủ quán cà phê Tùng trong bộ vest màu nâu đậm đúng thời trang, với cái tẩu đang cầm trên tay, ngẩn nhìn Nhân đầu bạc. Ông không trả lời mà hỏi hắn.
-Cậu là học sinh trường nào?
-Dạ thưa bác, con học Trường Trần Hưng Đạo.
-Lớp mấy?
-Thưa bác, đệ nhị.
-Cuối năm nay, cậu thi Tú tài Một phải không?
– Dạ phải.
Ông chủ cà phê Tùng, với giọng nói như là cha dạy con.
-Học hành không lo, đi uống cà phê hoài coi chừng thi rớt đó.
Dứt lời ông nhẫn nha nhồi một ít thuốc vào cái tẩu, rồi chỉ vào thời khóa biểu gắn trên tường.
-Chương trình hôm nay là nhạc hòa tấu cổ điển tây phương, ngày mai là nhạc tiền chiến, bản nhạc thời trang mà cậu muốn nghe, ở đây không có.
Lâu nay, tôi cứ đinh ninh rằng thầy Hạnh dạy Anh văn của tôi, là người duy nhất ở Đà Lạt hút thuốc bằng cái tẩu. Hôm nay, tôi lại thấy thêm một người nữa cũng hút thuốc bằng tẩu. Đó là ông chủ cà phê Tùng. Hai người, hai công việc khác nhau nhưng cái điểm chung mà tôi thấy được nơi họ, là cả hai đều có bề ngoài lịch sự, trang nghiêm, và nhất là lời ăn tiếng nói khoan thai từ tốn.
Nhân đầu bạc đứng tần ngần như suy nghĩ, một lúc sau hắn nói.
-Thưa bác, tính tiền giùm con.
-Mười đồng.
-Tụi con uống hai ly cà phê lận, nghe nói phải hai mươi đồng.
Chùa Bà Thiên Hậu – Sài Gòn – Hình minh họa
Ông chủ cà phê Tùng mỉm cười rồi nói, giọng nói của một người đầy hào phóng.
-Học sinh tính nửa giá. Từ rày về sau, tôi cấm hai cậu tới đây uống cà phê, cho đến khi nào đậu xong cái bằng Tú tài Một mới được vô tiệm của tôi.
Chúng tôi đi ra cửa, vẫn còn nghe ông chủ cà phê Tùng dặn vói theo.
-Nếu muốn uống cà phê Tùng, phải gắng tập nghe nhạc hòa tấu cổ điển.
Tôi nghe nhưng thầm nghĩ, ông chủ cà phê Tùng không ở trong hoàn cảnh của tôi, cho nên ông mới khuyên chúng tôi như vậy. Ông đâu có biết, nếu tôi muốn nghe một bản nhạc mà tôi thích, đó là chuyện không dễ chút nào. Trước tiên, tôi phải viết một lá thư gởi cho đài phát thanh Đà Lạt, với nội dung xin yêu cầu được nghe bản nhạc mình muốn. Sau đó, phải đợi từ hai tới ba tuần lễ, một đôi khi sự chờ đợi có thể kéo dài đến bốn, năm tuần là chuyện thường tình. Tuy vậy sự chờ đợi không phải là chuyện đáng nói, mà là chuyện nhà tôi không có radio. Với tôi radio là một vật xa xí, chỉ có trong ước mơ. Nội cái việc Thứ tư hàng tuần, vào giờ có nhạc yêu cầu của đài phát thanh Đà Lạt, nếu muốn nghe, tôi phải chạy qua tiệm tạp hóa Đông Á ở gần nhà, ngồi bên hè để nghe ké. Tuy là nghe lén nhưng vẫn không ổn, bởi vì trong tiệm tạp hóa Đông Á có mấy cô gái, cũng trạc tuổi của tôi, cô nào cô nấy xinh như mơ. Nếu cha mẹ của họ thấy tôi ngồi bên hông nhà, làm sao tôi có thể giải thích được chuyện tình ngay lý gian của mình. Vậy thì nếu muốn nghe nhạc hòa tấu cổ điển, tôi phải đến đâu để nghe.
Sau này lớn lên rồi vào lính, khi có chút tiền rủng rỉnh trong túi, nếu muốn vừa uống cà phê, vừa ngắm cảnh, tôi chọn cà phê Thủy Tạ. Nếu muốn ngắm người đẹp, nghe nhạc thời trang tôi ghé cà phê Hạnh Tâm. Năm thì mười họa, tôi mới bước chân vào cà phê Tùng một lần. Bởi vì, với tôi nghe nhạc hòa tấu cổ điển cần phải có thời gian học hỏi, làm quen và sau đó mới là thưởng thức. Bắt tôi nghe nhạc hòa tấu với những cái tên lạ hoắc như Mozart, Schubert, Beethoven, Chopin khác nào chuyện đàn gảy tai trâu.
Vừa bước chân ra khỏi cà phê Tùng, với mười đồng trên tay, Nhân đầu bạc cười với tôi, nụ cười thật là rạng rỡ.
-Tao đói lắm rồi, tụi mình đi tới hẻm ciné Ngọc Hiệp, ở đó, mày có quyền tì tì thưởng thức tô mì quảng danh tiếng của Đà Lạt, mà không phải lo sợ cầm kéo hớt tóc cho tao.
Cho đến khi niên học chấm dứt, chỉ còn hai tháng nữa là đến ngày thi, tôi mới ôm một chồng sách đến chùa Sư Nữ để ôn lại bài vở. Với cái cầu thang bằng gỗ ở cổng Tam Quan, tôi leo lên căn gác đúc nơi cổng, đưa tay đẩy nhẹ cánh cửa gỗ nho nhỏ hình vuông lên, chun vào rồi sập cánh cửa xuống. Trên đầu tôi là một bầu trời xanh lơ với vài cụm mây trắng đã bao bọc, cô lập tôi với thế giới bên ngoài. Tôi đang ở trong căn gác chỉ độ vài mét chiều dài, một mét rưỡi bề ngang, một mình tôi một cõi tịnh không, bao nhiêu phiền nhiễu phức tạp biến đi đâu mất. Tôi học bài thi mà cứ như là đi tu. Sở dĩ tôi được đặc ân lên căn gác đúc ở cổng Tam Quan của chùa Sư Nữ để học bài, bởi vì ba tôi đã góp nhiều công sức lo về phần đóng bàn ghế trong chùa. Tôi cố nhồi nhét vào cái đầu chậm chạp u mê của mình, cuốn sách vạn vật dày cộm, cuốn lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, mà trong đó đầy đặc những năm tháng cấm không được quên. Thêm nữa, cái khó nhất vẫn là giải những bài toán vật lý, hóa học, tuy hiện thực nhưng lại quá sức trừu tượng hoặc những bài toán hình học với ba chiều không gian khô khan, mà trong đó tôi tìm hoài không thấy chiều không gian thứ ba nằm ở đâu. Gặp những bài toán khó như vậy, tôi lại thấy như mình đi lạc trong sa mạc hoang vu nắng cháy, mò hoài không thấy đường ra, thậm chí một cái ốc đảo nho nhỏ cũng bặt tăm biệt tích. Biết mình không được thông minh cho lắm, cho nên tôi cố gắng học thuộc lòng bài vở, học quên trời quên đất, mãi cho đến khi chút nắng vàng yếu ớt còn sót lại của một ngày vừa khuất sau dãy núi phía xa, sương mù kéo về bao trùm lên cái xóm nhỏ, cùng với tiếng chuông thu không của chùa Sư Nữ ngân vang trong sương mù ẩm đục.
Boong… Boòng… Boong…….. Boong… Boòng… Boong…
Từng tiếng chuông thong thả nối tiếp nhau, tạo thành một hồi chuông ngân dài trong chiều vắng, lúc bấy giờ tôi mới ôm chồng sách vở trở về nhà. Hai tháng trường tu luyện trên cái gác đúc nơi cổng Tam Quan của chùa Sư Nữ, tiếng chuông thu không thanh thoát gióng lên vào mỗi buổi chiều, trở nên gần gũi thân thiết với tôi hơn bao giờ hết. Tôi đậu hai cái Tú Tài rồi bùi ngùi luyến tiếc, giã từ tiếng chuông chùa, lên đường nhập ngũ. Năm tháng dần trôi, dòng đời đưa đẩy, cuốn hút con người theo cơn lốc của chiến tranh, quay cuồng trong chiến cuộc. Mới đó mà đã gần bảy năm trời trong quân ngũ, tôi quên bẵng đi tiếng chuông chùa của thời niên thiếu.
Chùa Bái Đính Ninh Bình – Hình minh họa
Đêm nay trong cảnh nước mất nhà tan, bơ vơ lạc lõng giữa Sàigòn, tôi gối đầu lên bậc cấp nơi vỉa hè của một căn nhà ở bến xe, nhìn thấy tương lai là hai cánh cửa của địa ngục Xã Hội Chủ Nghĩa đang mở rộng đón chào, nghe lại được tiếng chuông chùa năm xưa khi tôi còn bé vang vọng đến bên tai. Tôi ngờ rằng tiếng chuông hình như không có thực, bởi vì có khi nó lẩn quẩn bên tai như là tiếng chuông của một ngôi chùa nào đó gần đâu đây, lại có lúc xa thật xa như từ trong quá khứ vọng về. Tiếng chuông trầm trầm, lắng xuống, nhỏ dần, nhỏ dần rồi tan vào cõi hư không, kéo theo cái bóng một thằng bé mười tuổi của những năm tháng xa xưa, ngồi nơi chánh điện chùa Sư Nữ, tai nghe má đọc câu kinh “Sắc bất dị không, không bất dị sắc”. Mà trong đầu chỉ mơ ước có được một con dế.
Bạn có bao giờ nếm một món ăn ngon mà không có đường cho ngọt, tiêu cho thơm hay ớt cho cay cháy lưỡi không?
Món ăn ngon là có tiêu hành tỏi ớt, phải cay, đắng, ngọt, bùi đầu lưỡi tê, đê mê cái lỗ… mũi, cắn sừng sực; mới đã cái hàm răng!
Tình nghĩa vợ chồng cũng vậy! Cũng như món ăn ngon thôi! Làm gì cũng phải tê, phải đê mê; phải ngọt bùi… rồi đắng cay mới đặng.
Dĩ nhiên không phải là bỏ đường, bỏ tiêu, bỏ ớt, bỏ hành vào tình ta mà bỏ vào đó: hòn đất và hòn chì! Để hòn đất ném đi, hòn chì ném lại; pháo kích lẫn nhau!
Nói tách bạch ra là sống với nhau, tình nghĩa vợ chồng… là phải cãi. Cãi tới bến! Tình ta mới bền lâu.
Sao tréo cẳng ngỗng vậy cà? Vì cãi là phải có hai người, là em chưa có bỏ ta đi vào nơi gió cát! Để đêm về chàng tắm ‘mát’ (xa) nơi mô?
Chính vì vậy, xưa giờ, tui chưa thấy vợ chồng nào mà không hề cãi nhau hết ráo.
(Ông anh nào nói chưa bao giờ… Là tui tin anh mình xạo! Nè xạo vừa vừa chừa chỗ cho tui với chớ!)
Như con vợ tui nè, người Quảng Nam đó; mà bà con mình đều nghe câu Quảng Nam hay cãi. Cãi thì cãi chớ tui đâu có ngán.
Tuy nhiên hơn bốn chục năm cưới vợ, tui chỉ cãi với em yêu vỏn vẹn có một lần; ngay sau đêm tân hôn, đuốc hoa còn đó mặc nàng rên!
Không có trận cãi nhau lần thứ hai đâu! Vì trận cãi nhau từ hôm nó tới giờ chưa có dứt; thì làm sao có được trận cãi nhau lần thứ hai? He he!
***
Dù cãi nhau với em yêu có một lần nhưng vô số đề tài để cãi.
Em yêu của tui có đầu óc so sánh! Chẳng hạn như em thường nói: “Chồng người ta thì cày sâu cuốc bẫm còn chồng mình vẫn ‘lẫm đẫm’ tập đi!”
(Đi còn chưa xong; ngã tới ngã lui vì xỉn… thì kể xá chi tới chuyện đi cày?). Nghe vậy là tự ái rồi.
“Em so sánh rất là khập khiễng. Ai cũng có những điểm mạnh, điểm yếu. Ai cũng chứa trong người mình một thiên tài. Chẳng qua thiên tài của thiên hạ thức sớm còn của anh vẫn còn mãi ngủ quên.
Kiên nhẫn chút đi, khi nó thức dậy, em sẽ thấy toàn là chuyện kinh thiên động địa, đội đá vá Trời cho mà coi! Chớ đừng có khi dễ thằng nầy!”
Em yêu của tui quả là người dễ dụ. Nghe tui bốc phét, nổ rùm trời, em tin lời, tưởng thiệt. Nhưng chờ hoài chờ hủy; chờ cho mãn kiếp còn chờ, chờ cho rau muống lên bờ trổ bông. Rau muống lên bờ trổ bông, bao nhiêu đợt nước ròng, nước lớn mà tui hỏng chịu vươn vai Phù Đổng chút nào nên lòng em tràn thất vọng, than rằng: “Tui đã hối hận vì đã lấy anh! Lấy anh là lỗi lầm lớn nhứt của đời tui!”Thôi anh là một giải thoát đời em. Hu hu! Má ơi!”
Hỏi mấy anh mình nè! Bị con vợ coi mình hỏng ra ‘cà ram’ nào mấy anh tự ái hông?
Tự ái chớ! Mình là một đấng anh hùng; dẫu em là một trang thuyền quyên, thục nữ, dữ như con sư tử, cũng không được quyền bỉ thử, nói sống với anh hỏng có hạnh phúc gì ráo.
Vậy là để chứng tỏ tui không phải là đồ bỏ vô thùng rác, một hôm vợ tui với tui đi dự buổi họp mặt trường cũ. Khi ngồi với em yêu, tui cứ nhìn chằm chằm vào một em bàn kế bên, có vẻ đã quá say.
Vợ tui hỏi: “Bộ anh quen con nhỏ đó hả?” Tui thì thầm: “Ờ! Con nhỏ đó là người yêu cũ của anh! ‘Ẻm’ ấy bắt đầu say sưa, chè chén bét nhè khi anh bỏ ‘ẻm’ đã nhiều năm về trước.”
Em yêu của tui kêu: “Trời! Làm sao ‘chị ấy’ có thể ăn mừng lâu đến thế kia chớ!” Vậy là trận cãi nhau bắt đầu như thế đấy.
Rồi nghe thiên hạ dạy đời là đàn ông phải xuống bếp, tiếp con vợ mình, rửa chén, lặt rau, nấu ăn mới được.
Ngu! Nên nghe lời xúi dại, tui bèn sớ rớ chui vô bếp. Em nạt ngang hè: “Anh biết gì mà chui xuống đây! Đàn ông vô bếp hỏng biết mắc cỡ hè. Bạn bè nó cười cho thúi đầu; rồi nó rủa xả tới em, phận làm vợ không biết lo cho chồng mình ăn uống. Lên phòng khách coi ti vi đi… Để đó cho em!”
Em đuổi thì tui đi! Mười lăm phút sau, em dọn lên hai món để trên bàn kêu tui qua ăn kẻo nguội.
Ăn xong, em hỏi tui thích món nào để lần sau em nấu nữa. Tui chỉ vô cái tô còn phân nửa nói: “Món nầy nè! Nhưng anh không biết phải gọi nó là miến hay là cháo!” Vậy là trận cãi nhau bắt đầu như thế đấy!
***
Có nhiều người võ đoán, hùa theo dư luận quần chúng để vội vàng kết án mấy anh mình là quen cái thói phong kiến thời cổ lỗ xỉ, chồng chúa vợ tôi, chuyên môn ăn hiếp vợ.
Ai tui hỏng biết; chớ tui làm sao dám! Tui cũng chết nhát như ‘Máu Cằm’ (Malcolm), thằng bạn Úc của tui.
‘Máu Cằm’ đã từng bị vợ quánh chảy máu môi, dạy tui rằng: “Theo thống kê, dân số, đàn bà Úc ít hơn đàn ông Úc tới cả triệu. Bị vợ bỏ là khó kiếm vợ khác lắm. Nó kiếm chồng cái một hè; nên một câu nhịn bằng chín câu cự! Nhớ nhe! Đừng làm nó giận, nó cấm vận… là tối nằm chèo queo, lạnh chết!”
Từ đấy, tui bái ‘Máu cằm’ (Malcolm) làm thầy! Dặn trò, trò nhớ; nhưng Thầy lại quên mới chết!
‘Máu Cằm’ kể rằng: “Sau khi về hưu, tui ra văn phòng sở An sinh Xã hội nộp đơn xin trợ cấp. Em nhân viên đòi xem bằng lái xe để biết tuổi của tui.
Tui lục túi nhưng xui cái là tui đã bỏ quên cái bằng lái ở nhà. Sorry nhe, để tui về nhà và sẽ trở lại sau.
Em bèn kêu tui cởi nút áo sơ mi ra. Tui nghe lời và khi tui cởi nút, lông ngực của tui đã bạc trắng phong trần.
“Lông trên ngực anh đã làm bằng chứng đủ rồi!” Vậy là đơn xin tiền già của tui được em ‘OK Salem’ cái rụp!
Khi về nhà, tui hào hứng kể lại chuyện ấy cho vợ tui nghe! Em yêu phán: “Phải chi cô ấy kêu anh cởi nốt cái quần thì có thể anh đã hưởng được thêm tiền tàn phế!”
Trên đời cánh đàn ông mình cực kỳ căm ghét chuyện vợ mình chê mình hết xí quách cho dù đó là một sự thực phủ phàng duyên kiếp ba sinh đi chăng nữa.
‘Máu Cằm’ cũng vậy thôi! Bị vợ vạch trần ra như thế nó bèn tìm cách vạch trần lại.
Hôm mùng Một tháng Tư rồi, ‘Máu Cằm’ gọi điện cho con vợ đang đi chợ về nhà gấp, có chuyện không thể nào chờ lâu được nữa. Trong tiếng vọng của cái mobile phone là bản nhạc. “Một trăm em ơi! Chiều nay một trăm phần trăm!”
Em nghe vậy, mừng húm, ba chân bốn cẳng về nhà, từ nhà tắm một trăm phần trăm bước lên phòng ngủ của đôi ta.
Bổng đèn bật sáng, ‘Máu Cằm’ mặc áo vest, có thắt cà vạt đàng hoàng đưa ra một đóa hoa hồng và “Xin chúc mừng em yêu! Ngày Cá Tháng Tư! Vậy là trận cãi nhau bắt đầu như thế đấy!
‘Máu Cằm’ đã từng tâm sự rằng: trước để lập kỷ lục ghi vào Guiness, nên chưa bao giờ dám cãi nhau với vợ! Giờ lỡ cãi một lần thì cử chi nữa hở Trời? Tới luôn bác tài!
“Máu Cằm” đưa vợ đi ăn. Người hầu bạn không hiểu tại sao không nịnh đầm gì ráo trọi hỏi tui muốn ăn gì? “Thịt bò ‘bít tết’ chín vừa vừa thôi!”
Anh bồi bàn lại hỏi: “Ông không lo gì đến con bò điên sao?” “Không! Bà ấy biết tự mình đặt món ăn mà?” Và trận cãi nhau bắt đầu như thế đấy.
“Chú mầy biết hông? Tuần rồi nè! Tui kêu vợ tui đi mua 6 chai beer, tốn 14.95 xu. Em không mua beer mà mua kem lạnh tốn 7 đô 95 xu.
Tui nói với em rằng: Beer sẽ làm anh thấy em về đêm đẹp hơn là kem lạnh nhiều.
Và trận cãi nhau bắt đầu như thế đấy.
Nè! Nghe nói trong nền văn hóa Việt Nam của chú mầy, người ta thường đồn là có người ăn nói có duyên, mở miệng ra là ăn tiền thiên hạ. Rồi cũng có đứa vô duyên mở miệng ra là ăn… bạt tai.
Mà có hay vô duyên là do ‘Midwife’ tức Bà Mụ móc miếng phải không?
Tui trả lời: “Ờ có nghe nói vậy! Chắc hồi sư phụ đẻ ra, chắc ‘Midwife’ quên móc miếng nên ‘sư phụ’ nói ra cái gì cũng bị chúng chửi hết trơn hè.”
“Ờ! Tui cũng nghi tui quá! Chiều qua, tui dắt em yêu đi ăn nhẩm xà. Em yêu hỏi tui xem cái áo nầy mặc vào có làm bụng em trông bự lắm không? Tui trả lời chiếc áo bữa nay em mặc đỡ hơn chiếc áo ngày hôm qua!” Và trận cãi nhau đã bắt đầu như thế đấy.
Thế nên ngày nào đi làm thời thôi, về tới nhà là cãi liên tu bất tận hè. Nên cuối tuần nào, ‘Máu Cằm’ cũng tìm cách trốn con vợ Sư tử Hà Đông, dông đi câu cá.
Sáng thứ Bảy dậy sớm, lẳng lặng mặc quần áo, làm bữa ăn trưa mang theo, dắt theo con chó vào nhà để xe, tui móc chiếc thuyền câu vào chiếc ‘Four Wheel’.
Ra khỏi nhà, trời mưa như trút nước, gió giật liên hồi, mở ‘I phone’ xem dự báo thời tiết, mới hay rằng: Trời sẽ mưa bão suốt bữa nay vì áp thấp nhiệt đới từ đảo Tasmania tràn lên Victoria.
“Máu Cằm” de xe lại vô ‘ga ra’. Lặng lặng vào nhà, cởi quần áo ra chui lên giường. Ôm lấy lưng em cưng, thì thầm trong bóng tối: “Thời tiết bên ngoài thiệt là kinh hoàng!”
Con vợ yêu đã mười năm hương lửa, nhừa nhựa: “Vậy mà anh có tin được rằng thằng chồng ngu ngốc của em lại đi câu cá hay không?”
Vậy là trận cãi nhau bắt đầu như thế đấy.
“Rồi sau trận cãi nhau đó hai đứa tụi bây có thôi nhau hay không?”
“Ngu sao mà thôi! Như tui đã cảnh báo với bạn hiền là trai thừa gái thiếu không phải xẩy ra ở Hoa Lục của Tập Cận Bình không đâu mà nó xảy ra ngay tại cái nước Úc nầy nè. Có con vợ dẫu cà chớn chút đỉnh… thì cũng đỡ hơn… hỏng có con nào! Đòi hỏi chính chuyên; làm gì có?
Phần con vợ mình là một tờ báo cũ mình đọc rồi. Nhưng đối với mấy thằng khác vợ mình là tờ báo mới, tụi nó chưa đọc nên rất muốn đọc thì mình làm hiểm, ích kỷ cũng kỳ!”
“Ở đời muôn sự của chung. Hơn nhau một tiếng ‘gian hùng’ mà thôi!”
Phần nói thiệt nhe! ‘Máu Cằm’ nầy đây cũng đã từng đọc báo của thằng Sam, thằng ‘Mái cồ’ bên hàng xóm hết trơn, hết trọi rồi hè! He he!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.