This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Khi sang đây, thời gian đầu tôi xin được việc làm với đồng lương khá cao: Chùi rửa, thay bao rác, quét dọn vệ sinh trong một cao ốc có bốn tầng lầu. Từ chín giờ tối tới hai giờ sáng. Địa điểm khá xa, nằm giáp ranh với ngoại ô không đèn, hơi bất tiện. Cho dù người ta có thiết lập ra tuyến đường xe buýt chạy về khu tân lập kia thì tan tầm vào lúc hai giờ sáng, chẳng có ma nào còn láng cháng đi lại trên vùng đất vắng tẻ kia. Muốn cày bừa, tiên quyết bạn phải có xe để tự lái đi.
Mới chân ướt chân ráo đến nhập cư, tôi làm gì tậu được xe. Người bạn giới thiệu việc vì ở nơi trái đường đã dọ hỏi giúp tôi, may thay một ông người Miên gốc Việt làm chung chỗ hứa sẽ nai lưng đóng vai tài xế giùm, chỉ chi cho ổng một khoản tiền nhỏ dùng để đổ xăng và đừng quên đãi cà phê bánh ngọt. Như thế, vạn sự không hẳn đều khởi đầu nan. Với tôi, có mòi thuận lợi. Chỉ duy một chuyện hơi lấn cấn trong khi lao động, đêm nào cũng vậy, khoảng một giờ sáng, đang hút bụi ở hành lang có trải tấm tapis màu đỏ bầm, máy đang êm tự nhiên gầm rú lên đồng thời tôi đón nhận hơi lạnh kỳ lạ như kiểu có cơn gió vừa vụt qua. Mọi cánh cửa đều đóng kín sau khi đã kỳ cọ lau sạch. Hàn khí chợt gây ớn xương sống nổi da gà nọ thật khó giải thích.
Cả bọn có mười lăm phút để nghỉ giải lao, thường khi thì co cụm lại từng nhóm riêng lẻ khác biệt ngôn ngữ vùng miền cho tiện việc hàn huyên. Tôi, người bạn và ông “tài xế” bày bánh trái trà nước ra, ngồi xuống ở chỗ xét thuận tiện nhất, không xa nơi mình đang dở dang công việc. Có lúc, khi một ngọn đèn tự dưng tắt đi, không dằn được lòng, tôi đã hỏi: Trong đời, quý vị đã từng có lần gặp ma chưa? Người bạn nhăn mặt như kiểu hớp nhằm ngụm nước nóng vừa chế từ bình thuỷ ra: Chưa, bộ đời hết cái để thấy rồi sao? Cho em nhờ tí! Bạn rùn vai: Ừ, nhưng mà muốn thấy cũng không dễ đâu nha, phải tuỳ duyên. Ông “tài xế” người Miên gốc Việt, hình như trước ở Châu Đốc hay Hà Tiên gì đó bắt bẻ: Tui chưa nghe ai áp đặt chữ duyên kỳ lạ như vậy cả. Khi cưới được cô gái đẹp, người ta bảo phải khéo tu mới nên duyên vợ chồng thì hợp lý. Còn nếu chẳng bị ma nhát thì xem như có phúc, nói vậy nghe thuận tai hơn. Tôi hỏi: Anh từng vô phúc chưa? Ai? Tui hả? Phúc phần gì. Tui chưa gặp ma, có thể do bởi hồi nhỏ má tui thỉnh thầy cho tui lá bùa, rồi vô lính, tui đi xăm trổ hình lá bùa đó vào bắp tay. Tránh hòn tên mũi đạn và ngăn được tà khí. Bạn tôi nói: Vậy lát nữa nhờ anh bắc thang thay giúp cái bóng đèn ấy nha, bọn tôi chẳng có bùa, hơi bị yếu bóng vía.
Về tới nhà đã ba giờ sáng, hôm nào nóng nực thì siêng vào phòng tắm bằng không thì vệ sinh qua loa rồi lăn đùng ra giường hú ba hồn bảy vía trở lui, trưa mai hẵng tính. Vì công việc nên tay chân nghe nhừ mỏi, nằm lơ mơ có cảm giác như có cái gì đè nặng xuống người. Đầu óc mụ mị chẳng biết nhăng cuội, mình đang tỉnh hay đang chìm sâu vào mộng mị? Sáng, tối. Hư, thực. Bần thần, hay nghĩ vẩn vơ về những điều không tượng hình, vô căn cớ. Cảm giác bất an sau cùng đã có đáp số, ông người Miên gốc Việt đóng vai tài xế đã không tới đón tôi đi làm, điện thoại hỏi thăm người bạn, hắn cho hay ông ấy tối qua trúng gió, cảm nặng, già đầu rồi mà cứ kêu than má ơi má hỡi. Ê kíp chỉ còn mình tao phải xin lão sếp sắp đặt tăng viện nhân lực. Bùa chú đầy người có khi cũng phải nhác chơi!
Như vậy, tôi làm nhân viên vệ sinh công sở chỉ đúng một tháng. Mười ngày sau, trên tờ giấy èo uột dán trước cửa chợ Á châu, tôi đọc thấy hàng chữ cần người. Không nhanh tay lẹ mắt ắt sẽ vuột mất cơ hội. Thời cơ lại đến, khỏi sợ đói người, lần này thì làm đứa đội nắng mưa đi thu hoạch hoa màu ở một nông trại nằm chốn đồng không mông quạnh. Trái cây, rau rác, bầu bí, hành ngò, xà-lách, cà chua, cà-rốt… có gì chơi nấy. Họ chỉ định một địa điểm thuận lợi nhất để tập trung nhân công, điểm danh xong chất có thứ lớp lên chiếc xe trước đây dùng để đưa đón học sinh, hoặc na ná như xe thùng sáu bánh chuyên thồ bọn phạm nhân từ trại giam ra pháp đình luận tội. Gầm rú, dằn xóc cả tiếng đồng hồ thì thả người xuống một bình nguyên xanh mơn mởn, xanh tận chân trời. Phút đầu ai cũng lộ vẻ hân hoan vì được dầm thân trong môi trường thoáng đãng khí trời lồng lộng, chỉ có quý vị phụ nữ là mặt ủ mày chau và sĩ số họ đông gấp ba lần phái nam. Chi cũng được nhưng nắng kiểu đó thì tui ngán lắm, rồi sẽ đen như con mọi. Họ phát biểu cảm tưởng. Đã rất lâu, giờ đây tôi mới nhìn lại hình thể một chiếc nón lá hình chóp đặc thù của quê cũ. Chẳng biết có ai ép trong đó một bài thơ? Anh về xin nhớ mua quà, mang qua một vật che loà nắng mưa.
Vì là lính mới, tôi được một chị tên Sương kèm sát bày đường chỉ lối. “Lom khom dưới núi tiều vài chú”. Ừ, tiều phu thì chỉ một vài, chớ bọn tui đây e tới cả trăm không chừng, lúc nhúc, chổng mông, còng lưng, tay khoan tay nhặt, mồ hôi mồ kê ràn rụa chảy. Chẳng nói chẳng rằng, hôm sau chị Sương trao cho tôi một chiếc nón vải rộng vành. Không sao đâu mà, đội đi, tui mua ở chợ trời giá rẻ như cho, chớ ngại. Giờ giải lao, chị mời ăn củ khoai mì hấp chín với nước dừa. Ở đây không có đâu, chỉ riêng chợ Mễ mới bán nó. Chị cho hay khi đưa thêm gói mè rang. Tôi nghe họ nói ăn củ này trong lúc bụng đói sẽ dễ bị say. Bụng tôi no cũng muốn chóng mặt, dung mạo chị Sương tầm tầm nằm giữa mức xấu đẹp nhưng lòng dạ ấy thì quá mỹ lệ, ưa giúp đỡ kẻ khác. Chị ở một mình nuôi con ăn học. Chị tâm sự: Cháu nó được tám tuổi rồi, sợ nó quên tiếng mẹ đẻ nên cuối tuần tui chịu khó dắt nó tới chùa, những người tốt bụng thành tâm có ngăn ra một gian sau hậu liêu để dạy tiếng Việt cho bọn nhỏ. Khi chúng ê a thì ngoài sân tui phụ giúp nấu các món ăn chay để thiện nam tín nữ lót lòng. Chủ nhật mà, người vào ra đông vô số kể. Anh có từng lên chùa thắp nhang?
Nếu có thể xem là nghề thứ ba, thì do chị Sương giới thiệu, tôi được làm “ông thầy” thiện nguyện dạy các em nhỏ tập viết tập đọc chữ quốc ngữ ở sau ngôi chùa to ngất độc tôn trong vùng. Trước chỉ có lớp học vào ngày thứ bảy, sau này do đông học viên nên sinh thêm một lớp tụ bầy vào hôm chủ nhật. Và tôi làm đứa “gõ đầu trẻ” vào ngày thảnh thơi ấy.
Việc đó là hậu sự, tiên khởi chị Sương kể là tui từng chứng kiến có đôi ba cặp đã nên duyên vợ chồng nhờ gặp nhau ở ngôi chùa đó, sao anh không thử một phen, biết đâu lòng thành được chốn khói nhang chứng giám, kinh kệ độ trì. Tôi nghe, bụng thấy chút khó chịu. Đã vác thân tới chốn trang nghiêm mà sao còn mang theo một đống bụi trần thất tình lục dục chất chứa trong lòng? Đã không buông bỏ lại còn muốn trói buộc thêm vô. Việc tôi tự nguyện dạy dỗ các em tuổi hồn nhiên rạng ngời kia có phải là một trong muôn ngàn cách buông?
Chị Sương làm “tài xế”, ông thầy ngồi bên cạnh và cô học trò tám tuổi khép nép lễ phép ngồi băng sau, chẳng mè nheo, chẳng sinh sự, không có ý kiến. Dễ thương hết biết. Má của con lòng tốt bao la như vậy thì mai này con sẽ hưởng lấy phúc lộc, hổng thèm tới chùa cũng gặp được kẻ xứng đôi, vinh hiển ấm đời.
Bức tường vôi vàng ngăn hai gian nhà, bên kia lớp học là nơi đặt di ảnh, hũ tro của các người vắn số được thân nhân mang gửi vào, những mong vui vầy phần nào khi lìa xa nhân thế. Ngoài lời kinh tiếng mõ, tôi mong là tiếng đọc bài ê a “Công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” của các em nhỏ sẽ làm “họ” vui tai, mỉm nụ cười độ lượng.
Chị Sương có tài nấu nướng, chị mua rau quả ngoài nông trường với giá rẻ và thường mang đến chùa từng túi lớn chất đầy các loại xanh tươi. Chị mặc chiếc áo lam, mặt đỏ hồng khi gia công với củi lửa, có vẻ vui thú khi nghĩ thành quả mình làm ra sẽ giúp mọi người có bữa ăn no nê trong thanh đạm. Nhìn chị, tôi luôn mọc ra ý nghĩ về người chồng khiếm diện, anh ấy đang ở đâu? Có được một người vợ tựa thế phải dày công tu mới nên duyên chứ? Chị chưa một lần tâm sự và tôi luôn tôn trọng cái im lặng của chị. Hẳn đó là vết thương lòng, khi đã biết thế mình không nên khơi mở nó ra. Cách chị siêng năng đến chùa mỗi cuối tuần hầu như là phương thức nhằm cố vơi bớt nghiệp chướng?
Thời gian này tôi đã quen lại với giấc ngủ bình thường giống mọi người, đã đoạn tuyệt với thời khoá biểu lấy đêm làm ngày như trước đây. Có khi soi gương, đọng trong ấy phản chiếu một khuôn mặt lạ lẫm, đen đúa vì mãi một sương hai nắng. Hai bàn tay thì biến dạng thấy rõ dù có mang găng bảo vệ khi lao động. Và lao động thì mãi chẳng vinh quang. Làm việc chỉ đủ sống. Sống chỉ để ăn, ngủ rồi vận hành theo một lập trình cũ, không biết cách hoán đổi. Miếng ăn tôi không lo toan, vì chị Sương bao giờ cũng nấu thừa ra, bới xách cho tôi, chu đáo đến cả thức uống hoặc món tráng miệng. Ăn cho có sức mà làm việc. Chớ so đo, đồng tiền mình làm ra đều lương thiện, không có gì đáng để tủi thân. Chị thường uỷ lạo, an ủi tôi.
Ở nông trường bắt đầu phát tiếng nhỏ to ong ve xì xầm. Cộng đồng người Việt, dù chỉ một nhóm người, họ cũng có khối chuyện để bàn tán, dị nghị, cả tin, nghi ngờ và ưa làm tài khôn. Đại để như: Bà Sương nên đi bước nữa, cũng lớn tuổi rồi đâu thể ở không. Mình chẳng nói gì nhưng nghĩ tới đứa con còn nhỏ dại, hơn ai cả nó cần một người cha… Ngay chính miệng người mẹ cũng có lần nói với tôi, con bé nó đặc biệt có cảm tình với anh, việc học tiếng Việt xem chừng nó tiến bộ làu thông, đôi lúc hỏi nhiều câu bất ngờ, không biết đường mà trả lời, cứ ấp a ấp úng!
Tôi tập thói quen đi ngủ vào lúc mười giờ, để đồng hồ báo thức vào sáu giờ sáng. Thời gian đầu không sao, gần đây thỉnh thoảng tôi bị đánh thức bằng thứ tiếng động lạ như kiểu ngoài tôi đã có ai khác cùng trú trong cái ấp hai phòng rưỡi nhỏ nhắn này. Tôi ngồi dậy, cảm nhận rõ có luồng gió lạnh vừa vụt qua, y như đêm hôm nào làm việc quét dọn trong cao ốc vắng lặng. Cái địa điểm mà sau cùng người bạn tôi cũng đã bỏ việc, hắn chỉ nói mơ hồ bằng mấy chữ “Chịu đời không thấu”. Tôi mở sáng đèn đi thăm dò cửa nẻo vốn đã khoá chặt cài then. Heo may ngoài trời như biết thẩm thấu qua vách ngăn, lạnh trong người lạnh ra.
Chứng mất ngủ bắt đầu hiện tới, trùm chăn nằm đếm số, cố nhớ ra những đoạn văn thật thơ mộng thật giản dị của tiền nhân để truyền lại cho bọn trẻ luôn háo hức, luôn thân tình với người thầy bất đắc dĩ. Một con nước trôi dịu dàng ra cửa biển? Một đám mây bay nhẹ nhàng sang bên kia núi? Một cánh chim cô quạnh vụt qua trời chiều nhá nhem? Một tình yêu cao cả có thể chuyển hoá sự xấu xa?…
Tôi mê thiếp một hồi thì nghe tiếng réo liên tu bất tận ở đồng hồ báo thức. Chồm người dậy tắt, con số 3:00 xanh lè ở đó cháy tỏ. Kỳ khôi chưa? Phải là số 6:00 mới đúng chứ! Một lần không nói, đêm sau cũng giở chứng y hệt. Đã có bàn tay thần bí nào nhúng vào?
Tôi bắt xe buýt đi tới chùa. Không nhằm cuối tuần, chùa vắng. Một chú sãi hay chú tiểu đang quét lá ngoài sân bị tôi nắm chéo áo cậy nhờ, làm ơn dắt tôi vào chỗ thờ phụng người khuất mặt. Tôi nào lạ gì khi chỗ ấy nằm sát vách nơi tôi đạo mạo làm giáo viên hàng tuần. Tôi muốn chú ấy đi theo bởi bóng chiều tà vừa bao phủ khiến tôi ngán khi đơn thân phải vào nơi thâm u.
Tôi muốn tự mình xác tín một chuyện. Trước đây, trong giờ tập viết, tôi đã ra đầu đề, các em hãy nắn nót tên người cha của mình trên trang giấy xem có được không, có sai lỗi chính tả thầy sẽ sửa giúp. Đứa con của chị Sương viết, chẳng sai một mảy may: Trần Văn Như Gia. Chú tiểu nhắc: Thầy nên thắp cho các vị ấy ba cây nhang. Tôi nghe lời cùng lần với dãy bóng đèn néon đồng loạt cháy sáng. Tôi cúi đầu, chẳng biết khấn nguyện điều gì. Tôi vái và tôi cắm run rẩy vào bát tro.
Bức tường trước mặt tôi, nằm sau lưng bàn thờ đầy hoa trái treo đầy những tấm ảnh vàng vọt của kẻ gửi thân về cát bụi. Mất chừng năm phút, tôi đọc thấy bốn chữ Trần Văn Như Gia nằm dưới một gương mặt có vẻ nghiêm khắc, có vẻ khó tính, có vẻ cộc cằn, có vẻ không hoà thuận với cuộc sống, hoặc ít ra anh ta chẳng ưa chụp ảnh, bộc lộ cái bất bình, gấu ó.
Tôi xin chú tiểu một cuốn kinh, bất kể là loại gì, in một vài câu cũng được, nhằm khấn đọc thầm, tụng chú trong canh khuya. Rồi chia tay. Rồi gửi lui lời hẹn gặp vào chủ nhật. Tôi bước tới trạm đợi chuyến buýt. Thay vì về nơi cư ngụ, tôi đứng bên kia đường để ngược hướng, tới nhà chị Sương. Tôi sẽ nói cùng chị những hoạn nạn mà tôi đang gặp phải. Và rất khó khăn, tôi buộc lòng thưa thật, rằng tôi sẽ kiếm việc làm khác, tôi sẽ vắng mặt một thời gian. Và rồi tôi sẽ ngồi yên, chờ nghe từ chị một cao kiến, một kế sách vẹn toàn.
Bóng tối chan đầy lòng đường, chỉ có vũng sáng từ cổng chùa tạt hắt ra vuông màu vàng nhạt. Chuyến buýt sật sừ đi tới, thắng đứng lại, cửa mở.
Tôi bước vào lòng xe, băng ghế cuối có bóng đen vừa ngẩng đầu lên. Ông ta mang bộ mặt lãnh cảm, giống hệt người chồng chị Sương. Cuốn kinh trong tay tôi đẫm ướt.
Tôi mời em ra quán phở, lâu rồi mình không kéo ghế ngồi ngó vào mặt nhau. Chuông điện thoại đổ dồn nức nở, hồi lâu vọng tới giọng em cùng tiếng thở: Răng chọn bữa ni? Nhằm ngày Phật đản cả nhà em ăn chay. Anh đơn thân một mình mà đi. Rứa nghe! Trời đang mưa tự cầm dù mà che. Chẳng dông dài. Em cắt sóng. Thôi trông ngóng. Tôi đã mất ô, ai như Tú Xương: “Lấy gì đi sớm về trưa với tình!”
Đã lạ lùng chưa hôm qua nắng gắt bây chừ lại mưa. Ướt nghe ngói từ sớm tới trưa, khóc bưa thôi chẳng biết khi mô tạnh. Vũ vô kiềm toả năng lưu khách, đường tới chùa Quan Âm hàng lại hàng xe cộ đi vô. Mô Phật! Có cả mấy ông tây bà đầm chen chân cùng thiện nam tín nữ cố xa dần bến mê, cố chặt đứt những tham sân si đời là bể khổ.
Tôi biết ngôi chùa to đùng này vì có lần theo em đi đón con. Con em chín tuổi chăm trau giồi tiếng mẹ đẻ. Chùa dành một phòng “tàng kinh các” sau hậu liêu có cô giáo mặc áo lam thành tâm làm giáo viên thiện nguyện. Nghe mấy sấp nhỏ ê a đọc theo lời cô lên bổng xuống trầm mà sướng cái lỗ tai.
Tan buổi học mẹ ngồi tựa cửa mắt trông con đứa đứa dần về xa xa con đã tới gần các con về đủ quây quần bữa ăn cơm dưa muối khó khăn mới có của không ngon nhà khó cũng ngon khi vui câu chuyện thêm giòn…
Tôi có cảm tình với cô giáo mặt không nghiêm nhưng buồn, lòng dậy sóng những mong gửi gắm tới tay cô đôi ba bài thơ ca tụng công cha nghĩa mẹ để bắt con trẻ học thuộc lòng mà tâm dùng dằng chưa quyết. Hỏi ý em xem thì bị nạt nộ phủ đầu: Người ta chỉ mặn rau rác sao anh bê tới những ruột những lòng? Ngay em đây một tháng hai lần cũng xơi đồ chay cho tâm tịnh bớt. Tập tu từ từ đi anh. Đặt pháp danh nhé: Thích Từ Tu. Đã mở cờ trong bụng chưa?
Đứa con em cũng chẳng mấy thích tôi. Ba nó mất rồi và nó chỉ biết trần gian thì có mỗi một tía thôi. Mấy mùa Phật đản trôi qua con bé vẫn khoá cửa cài then chối từ một linh hồn lạc lối. Chín tuổi mà sớm nói chi lời muối xát gừng thoa: Má có đến chùa đón con thì nhớ đừng dắt ổng theo kẻo chúng sanh dị nghị. Thà mà cháu nói tiếng Anh cho cam, đàng này tiếng Việt vừa chuẩn lại vừa chỉnh mới chết một cửa tử! Lời phát ngôn kia làm tôi hết dám rón rén đứng bên ngoài thư phòng học lóm ê a vần điệu chữ quốc ngữ ngân nga. Bài thơ “chay” tôi định viết riêng cho cô giáo cũng tắt thở trong trứng nước. Tôi than cùng em: Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói láo. Và sau đó đã xẩy ra cuộc chiến tranh lạnh giữa song phương. Ai láo hồi mô? Răng ưa đổ hô! Nói lời vẽ tô. Tai không lọt vô. Số gì canh cô! Gặp người thiển thô…
Hôm nay, xứ phiêu bồng này, mây bay tán loạn vô chừng vô đỗi, mùa Phật đản thất thường trời đổ mưa như khóc cho những số phần không may. Tôi đưa đầu trần xô cửa ướt át vào một quán phở buổi trưa. Ủa, sao kỳ khôi chưa! Quán chật người đông chúng sinh tuồng một dạ ưa ngã mặn. Tái nạm gầu vè gân sách tứ tung bát giác trôi trong bể mỡ béo ngậy, cứ thế mà gục đầu vào vui cho trọn đường trần. Lên niết bàn xuống âm ti không biết có được năng nổ xì xụp như rứa không?
“Em về có hỏi răng ri rứa, nhắm mắt đưa chân có bận liều!”
Bùi Giáng đắc đạo vì ông đã giấn liều lách thân qua bao cánh cửa hẹp. Thi nhân liều lắm thứ, sá gì chuyện mặn chay.
“Nửa vời trăng rộng mông lung đường hoa nghi hoặc tháp tùng ni cô”.
Cô giáo gõ đầu trẻ môn tiếng Việt cho mấy em xa xứ ắt không là ni cô, giả như tôi lò dò đi theo cô để trao đổi cái đạo ở đời chắc là gây căng thẳng hiện trường. Cô ơi, thử mơ cùng tôi một giấc điệp: Mấy em đầu xanh trong lớp cô đồng loạt cất tiếng sang sảng đọc thơ tôi thì hạnh phúc khác gì tôi lọt người vô toà sen rộng mở. Có làm ơn làm phước chăng? Sao khi không mắt phượng mày ngài lại nhăn nhó, mặt ủ mày ê?
Mấy người? Nhân viên chạy bàn trong quán gióng tiếng, chất giọng của một đứa chưa bao giờ biết đọc thơ. Tuy vậy tôi cũng đưa ngón tay ra làm dấu, kiểu khen number one! Hắn dắt tôi tới bàn số một, nơi duy nhất còn một ghế trống. Bàn được đánh số từ trong ra ngoài, vì thế tôi ngồi sát quầy tính tiền, gần bàn thờ Thổ địa có đặt nải chuối vàng lườm bằng nhựa quanh năm tốt tươi. Ba cây nhang không toả khói nhiệm mầu cháy đỏ bóng điện nhỏ bằng hột đậu. Ông địa thì khỏi chê, chàng rất mực sexy, phong phanh hơn các chân dài, rất phản cảm với vòng số 2 lộ hàng hoành tráng.Trên vách đối diện treo cái ti vi màn ảnh rộng cực mỏng, bình thường là nơi cho các ca sĩ bẹo hình bẹo dạng nhảy múa gào thét hoặc trực tiếp các trận đá banh giải ngoại hạng Anh. Hôm nay bớt sôi động vì có cô làm cho đài truyền hình nào đó đang đọc tin tức từ trong nước ra tới hải ngoại túi bụi lùng bùng. Tượng Trần Hưng Đạo và con đường mang tên ngài ở phố Bolsa… Bà con ở Huế chộn rộn bởi trông lên bầu trời sáng loà ánh mặt trời lung linh ngàn năm một thuở. Dẫn nguồn báo Thanh Niên thì dương quang chiếu sáng đến hai giờ đồng hồ, từ 9 giờ 30 đến 11 giờ rưỡi mới thôi rạng ngời. Rơi đúng vào ngày Phật đản nên Phật tử cố đô thành tâm tin rằng đó là “hào quang đức Phật ban phước lành cho chúng sanh”…
Tin tức đọc chưa xong bàn số 2 với bốn thực khách bắt đầu bình loạn ăn mặn nói ngay. Ông số một lên giọng: Cái này khoa học gọi là hiện tượng khúc xạ ánh sáng thôi mà, có chi mà phải náo động thiên cung! Ông số hai nạt: Ba trăm sáu mươi lăm ngày im re, tự nhiên sáng loà đúng vào ngày Phật đản thì phải có cớ sự gì đó chứ, khoa học đôi lúc chẳng giải thích được hiện tượng siêu nhiên đâu. Ông thứ ba gác đũa: Ấy dà chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên thôi, cứ ưa tô vẽ làm rối thêm sự việc! Ông thứ tư ngồi xỉa răng: Còn sớm quá để kết luận, dân tình đang đói chuyện đổi thay, họ vin vô vụ này để ấp ủ thêm niềm tin. Đừng trách họ tô vẽ, sống mà chẳng hy vọng thì đâu còn nước nôi gì để thở, để chờ mong. Đến phiên ông một: Giờ này người cộng sản họ chúa tin vào chuyện mê tín nhỉ, thôi còn duy vật biện chứng tào lao như hồi xưa. Ông hai hăm hở: Nè, mỗi đứa đóng năm đồng, bốn đứa vị chi là hai chục. Cầm hai mươi đô đi quất vé số hổng chừng mà quận hạt này mới nổi lên bốn chàng triệu phú. Có tiếng bình phẩm: Thằng cha này dị đoan quá mạng, phải mà bốn đứa đang ngồi trên đất thần kinh thì hoạ may. Đi xe máy lên chùa Thiên Mụ mà lạy, bắt xe ôm vào ngã tư Âm Hồn mà cúng, về hố chôn tập thể vụ Mậu Thân mà nhang khói lòng thành thì có thể hoàng thiên hữu nhãn ngó xuống độ trì.
Tôi ăn không hết tô phở, ngang miệng, tính rời bỏ hiện trường thì chuông điện thoại di động nằm trong túi áo réo liên hồi kỳ trận. A-lô… Anh đang ở mô đó? Thì ở quán phở như đã thưa từ ban sáng. Đi một mình à? Ủa, dòm quanh ai cũng ăn chay thì còn biết nói năng chi! Có cái ni nói ra nghe hơi khó xử, hơi phiền, hơi chướng… Kệ đi mà, đang nhằm Phật đản xin em cứ thành tâm thiện ý thử… Đứa con gái em đó, nó phụng phịu dỗi hờn quyết tuyệt thực chiều ni, đương sự một hai cứng đầu không chịu ăn chay… A-lô. A-lô… À, em mới hỏi thì nó kêu thích ăn phở, tự nhiên mà chướng trời sợ! Còn em thì sao? Thử chướng một lần coi có khớp với câu “mẹ nào con đó” không. Người chi mô ưa móc họng kẻ khác! Đâu có, chỉ thích thấy em chướng thôi, hai mẹ con thay đổi xiêm y rồi anh lại đón đi ăn mặn. Anh xem tin tức thấy ở Huế quê em có hiện tượng lạ xảy ra… Biết rồi, mặt trời với hào quang chứ gì? Đừng dụ em vào con đường khổ nạn, lý ra anh phải khuyên em siêng ăn chay mới đúng. Sẵn đang còn đó anh chỉ việc mua thêm một bát phở mang về thì có phải nhẹ nhàng đơn giản hơn không? Người chi mà sân si quá! Tôi cười hề hề: Phải a, em là mặt trời chân lý chói qua tim. Mua ngay mua ngay, tới liền tới liền!
Chạy ba chừng bảy đỗi thì thắng xe kêu cái rột. Tôi cầm bao ny-lông cột hai tô giấy đựng xác đựng nước riêng bước vô sân nhà em. Tôi sửa giọng cho thông: Nghe lời dặn bác về tận cửa, mắt dõi trông dáng bé bên song. Khoan thai bác bước chậm rì, một tô vừa đủ cho người chán chay. Cơm dưa muối không ngon bằng phở, xe lửa có to bé cũng xơi xong. Khi vui câu chuyện thêm giòn, đã lâu rồi chừ mới thấy bác dễ thương.
Tôi ê a bài tập đọc đó cho đứa con em nghe. Chiều nay cô bé thần sắc rạng ngời, đẹp hơn cả mẹ nó. Vừa giữ cửa cho tôi dễ dàng bước vào nó vừa nói thứ tiếng Huế pha tạp giọng Nam: Ai dạy bác bài học tầm bậy quá, bác cần phải siêng đến chùa Quan Âm mà học lén cho nên người. Tôi cười: Bây giờ mình đổi thức ăn, con ăn phở còn bác ăn phần cơm chay của con, có chịu không? OK, công bằng quá, như vậy không ai mắc nợ của ai. Em bước tới gần: Nãy giờ hai bác cháu to nhỏ chuyện chi? Tôi thưa: Huế chỉ có một vầng quang mà đã mơ màng, bên này sáng tỏ hai mặt trời một nhỏ một to không sớn sác mới là chuyện lạ. Cám ơn mùa Phật đản đất khách quê người. Thiện tai, cho xin một chén cơm chay ăn lấy thảo hỡi người từ tâm!
Vừa đọc xong bài viết hay: “Huế, tôi và Mậu Thân”. Quá cảm động. Quá đau thương. Quá chân tình. Tác giả là cựu Trung Tá Nguyễn Văn Phán, Tiểu đoàn trưởng TĐ 8 “Ó Biển” Thuỷ Quân Lục Chiến, thuật lại trận giải toả thành phố Huế mùa Xuân Mậu Thân tang thương nghiệt ngã. Vào thời điểm đó, người con anh hùng của Huế chỉ mang cấp bậc Đại Uý ở Tiểu Đoàn 1 “Quái Điểu”. Và Phu Nhân là tên nguỵ trang, ám hiệu được dùng trong tần số liên lạc của truyền tin. Bài viết làm tôi nhớ lại cả tháng trời sống chui rúc giữa nội thành ngập mùi tử khí, quẫn trí trong căn nhà cách ba ngả tư có Phán Phu Nhân cùng binh lính đang khó nhọc di chuyển từng thước một, đổ mồ hôi sôi nước mắt khi thấy “con cái” rơi rụng, hao hụt dần. Những hàng chữ đầy tình nghĩa đã mang tôi về một kỷ niệm khác, vui hơn, phải mấy mươi năm sau, ngày đầu tiên tôi tình cờ được gặp mặt anh trong căn nhà nằm trên đồi gió.
Đồi gió là tên gọi một khu vực đắt địa ở Virginia, có thể “ăn” sang vùng phụ cận. Chủ nhà là bác sĩ Phó Ngọc Văn, năm 1990 anh có gửi dăm ba bài thơ (giọng hào sảng khinh khoái) cho báo Văn Học và mùa hè năm đó, tôi được quen anh, được bước chân vào một địa chỉ luôn hào phóng rộng cửa cho bằng hữu văn nghệ bốn phương về nghỉ chân. Trên đồi gió, láng giềng vây quanh Dr Van là dân bản xứ, họ hiểu sự hiếu khách của ông gia chủ lạ thường kia nên tế nhị đun xe vào garage, nhường con đường trống “cho quý vị được thong dong”, tha hồ đậu ngang dọc. Tế nhị một phần, phần khác coi mòi có hơi “tâm phục” do họ từng chứng kiến cách chào đón khách của “anh bạn người Việt không bao giờ tháo chạy”: Thuê bọn sinh viên học sinh Mỹ (muốn có chút tiền tươi) áo xống chỉnh tề đứng tiếp rượu, một thiếu nữ tóc vàng mặc đầm trắng ngồi đánh đàn piano tiếng du dương những cung bậc cổ điển. Chúng hiện diện chỉ hai tiếng thôi, như thể công binh đi dò mìn vậy mà, hết phận sự thì để cho chủ lực quân nhập trận chứ. Gia chủ Phó Ngọc Văn đùa thế, anh từng là bác sĩ quân y một đơn vị thiện chiến ngày cũ, giọng Bắc trầm ấm, hơi khàn đục. Tôi có cảm tình ngay với anh, chỉ xét riêng một cảm nhận: Đang hành nghề bác sĩ nhưng ăn chơi nào sợ mưa rơi, rượu uống mềm môi, thuốc Salem đốt khói liên tục. Hai ba giờ sáng: Còn sớm mà, ngủ ngáy gì giờ nầy!
Ở căn nhà ấm áp ấy, tôi gặp nhà thơ Tô Thuỳ Yên, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Cao Đồng Khánh, nhà văn nữ Dương Như Nguyện…để rồi chạy về một quán ăn nằm dưới phố được ngồi chung bàn với những khuôn mặt từng vào sinh ra tử, tưởng chỉ nhìn ra họ trên những trang ký sự thuật lại các trận chiến đẫm máu dành từng thước đất mà ngày xưa, thuở học trò tôi từng mê mệt họ: Phạm Như Đà Lạt. Phan Nhật Nam. Trung Tá Nguyễn Lô, Tiểu đoàn trưởng TĐ 7 ND. Trung Tá Nguyễn Văn Phán, Tiểu đoàn trưởng TĐ 8 TQLC. Bốn vị anh hùng này đều là “người mềnh”, con của Quảng Trị và Huế cả. Ngồi sát cánh bên họ, ngó Phan Nhật Nam vừa từ địa ngục sang tới, tôi ý thức rõ: Văn chương đã bất lực, đã không vẽ ra hình ảnh chân thực về những người sĩ quan từng xem cái chết nhẹ tựa lông hồng.
Tôi xúc động khi nghe anh Nguyễn Văn Phán kể về những ngày vừa ký kết hiệp định ngưng bắn, con cái anh bị rụng khi lội qua sông Thạch Hãn và vì thương xót những cái chết vô nghĩa, lãng phí kia, anh đã làm một cuộc trả thù cho đàn em thuộc cấp để suýt phải bị ra toà án quân sự đối mặt với bản án vi phạm hiệp định. Giọng Huế khàn đục, nhìn tôi, anh cười chấm câu: Coi kìa, chưa chi mà mi đã nổi da gà ra rứa! Ở Mỹ lâu chưa mà da mặt anh vẫn ngăm đen, râu thép đầy cả sợi bạc? Và anh có hay hát không mà lại hát quá hay? Một ông Tiểu đoàn trường “lính thuỷ đánh bộ”, đơn vị kiêu hùng là thế mà sao có máu văn nghệ văn gừng dồi dào đến vậy? Ngồi bên anh biết ngay đó là một người lính năm xưa quen đụng trận trên khắp bốn vùng chiến thuật nhưng điều gây bất ngờ là anh từng làm thơ, viết tản văn rồi bây giờ ôm guitar hát giọng truyền cảm xưng tụng vẻ đẹp một tà áo vàng bay bên hàng giậu. Điều này hiếm, khác với Trung Tá Nguyễn Lô của Nhảy Dù, thân còn dấu tích của đạn AK 47 găm nát sẹo đã liền da, dáng người nhỏ thó hiền lành như học trò nhưng dầu sôi lửa bỏng cỡ nào cũng cầm cự được, đánh hết rác rồi chiếm lĩnh mặt trận. Tôi tự nhủ, đời mình không gặp mặt những vị này thì thật uổng phí, tôi lân la muốn nghe anh Nguyễn Lô kể về tháng ngày cầm súng nhưng hình như anh muốn quên, chỉ lầm lì tợp rượu.
Mà nói tình ngay, chưa chắc nhà văn đã thuật lại được mọi diễn tiến đầy sống động tựa trang viết “Huế, tôi và Mậu Thân” của anh Nguyễn Văn Phán:
“… thằng em luống cuống chạy quanh bị Mạ tôi nạt: Mi chạy mau vô nhà lấy khúc cá kho khô và đòn bánh tét gói lại đem ra đây bới cho anh mi. Mạ tôi dúi vào tay tôi chai dầu Nhị Thiên Đường: Con xức cho khỏi gió. Lính đi ngang hỏi nhau: Mạ Đại Uý sao đầu trọc lóc vậy bây? Bà ấy đi tu để phước cho con, tụi mình cũng được hưởng ké đấy! … Mạ tôi khóc oà, tôi thật não lòng… Tiếng gọi, nước mắt, những cánh tay chào vẫy, phải chăng nhắc nhở trách nhiệm của tôi. Bây giờ là lúc đền đáp ơn sâu nghĩa nặng. Vinh dự này thật khổ. Máu nóng sôi trong người…”
Thời gặp gỡ anh Nguyễn Văn Phán ở Virginia, nghe đâu anh lao động việc gì đó trong toà nhà trương bảng hiệu The Washington Post, một tờ báo lẫy lừng đầy uy tín. Sau này lại có tin anh đã dọn về sống ở bang Texas, nghỉ hưu nhưng tiếc uổng là anh đã thôi viết văn, làm thơ. Cá nhân tôi, một đứa sinh đẻ ở Huế, dù muốn hay không, đã mang nợ anh, ông Đại uý Tiểu đoàn 1 Thuỷ Quân Lục Chiến đã từ Sài Gòn mang quân ra đánh chiếm, dành lại từng tấc đất mà bọn thù địch đã lợi dụng dịp Tết linh thiêng để tràn về tàn sát những cư dân vô tội của một Huế nổi tiếng hiền hoà.
Tổn thất sơ khởi, chưa được bổ sung thêm, bắt đầu từ rạng sáng 31 tháng 1 năm 1968 kéo dài cho tới ngày 22 tháng 2,1968 có hơn 7.600 thường dân bị chết hoặc bị thủ tiêu. Con số này (hoặc nhiều hơn) sẽ vĩnh viễn gắn liền với ba nhận vật: Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân và Nguyễn Thị Đoan Trinh. Hoặc nói khác đi, nhớ về Tết Mậu Thân, những người Huế còn sống sót vẫn bị ám ảnh bởi Phan, Xuân, Trinh. Đã năm mươi năm, những kẻ liên luỵ vẫn chối quanh, vẫn tìm cách che đậy, vẫn phân bua chạy tội. Và trong chừng mực nào đó, khi hoài niệm chúng ta vẫn dấy lên chút hối tiếc về sự ngã xuống của vô vàn cái chết vô danh mà bài viết của quân nhân Nguyễn Văn Phán chỉ là một nhắc nhở hiếm hoi. Đó chỉ là chai Nhị Thiên Đường xức cho khỏi gió mà vô phước cho chúng ta đã từng sống qua một trận cuồng phong vô phương cứu chữa.
Cảm ơn anh Phan Nhật Nam, cảm ơn anh Nguyễn Văn Phán. Tôi nghĩ không riêng Huế, cả miền Nam yêu chuộng tự do sẽ còn nhắc nhớ tới các anh, từng đổ máu trên chiến trường đổ mồ hôi trên các trang viết chỉ nhằm nói lên một sự thật: Chúng ta thua đối phương một phần vì chúng ta không tàn ác bằng Bắc quân, bằng những tên nằm vùng. “Vì răng Mạ Đại uý đầu trọc lóc rứa bây?” Hỏi cũng là một cách trả lời. Quân nhân miền Nam ra trận mang theo con tim ngự đầy Chúa Phật như ý thơ của sĩ quan Thám báo Trần Hoài Thư.
Căn nhà trên đồi gió sang nhượng chủ quyền đã lâu, tôi bặt tin anh Phó Ngọc Văn cũng hơn hai mươi năm mà chưa có cơ hội nói lời cảm ơn sự hào sảng anh dành cho. Ôi, những người muôn năm cũ, những anh đã trao cho tôi một kỷ niệm khó quên. Nghe mơ hồ tiếng vọng của ai đó: Lính mà em!
Những người lính đầy khí khái dẫu thời cuộc đã khiến họ đầu hàng cuộc chơi. Đọc “Huế, tôi và Mậu Thân” để xúc động thấy rõ khuôn mặt của người lính hôm qua, thân cận, bất biến. Gợi nhớ lời thơ của anh Tô Thuỳ Yên:
“… Lúc tàn khuya Nhà hương hoả tối mốc Còn ai không, có gọi chỉ thêm buồn Thôi, chẳng tiếc túi vàng đã phung phá Mà mừng mẩu nến chợt tìm ra”.
(Đọc qua tựa đề của bài viết bạn hẳn đã hiểu đề tài. Lý do râu tôi đưa bài này lên vì trong tay tôi hiện đang có quyển sách Tử Tội của Chóe mua từ bên Mỹ do người bạn mang về. Với ý định sẽ đưa lên trang blog này với bài vỡ và hình ảnh trong quyển sách đó, nhưng trước khi có đủ thì giờ để sửa soạn cho loạt bài đó, xin tạm đưa lên các bài viết về Chóe từ các trang mạng khác viết về Ông)
Trên tờ báo Chicago Daily 1973, Larry Green viết về Chóe: The Vietnam’s Most Potent Pen, khi nhà xuất bản Glade PUBLICATIONS và nhà báo Barry Hilton thu thập khoảng 200 tác phẩm hí họa của Chóe đăng rải rác tại Sài Gòn, in lại tại Mỹ dưới tựa The World of Choe(VietNam’s Numberone Editiorial Cartoonist) và giới thiệu rộng rãi trên toàn thế giới.
Một trong những bức tranh trong cuốn sách này, tuy là hí họa nhưng lại mang nét buồn của đất nước chiến tranh khi thế giới bước vào mùa Giáng sinh vui vẻ trong năm 1972. Nếu quan sát kỹ hơn người xem sẽ thấy hai ngón chân cái của ông giao nhau vì ông vốn là người… Giao Chỉ.
Chiến tranh Việt Nam đã đến hồi bi thống, đã khiến anh em văn nghệ sĩ có nhiều chính kiến, cật lực bày tỏ tư hướng của bản thân với hậu quả diệt vong của dân tộc. Chóe cũng vậy, là một nghệ sĩ đã mang trong hồn nhiều sự sáng hóa và tình cảm sâu rộng, nên trước tai họa cùng cực đang đổ dập xuống quê hương, thái độ của một người làm văn nghệ được bộc phát bằng tài hoa sẵn có của mình. Giống như các bằng hữu văn nghệ ở khắp các tỉnh thành miền Nam, thơ văn hay âm nhạc… là vũ khí của thất phu hữu trách trước mọi hoàn cảnh bi thương của đất nước. Nguyễn Hải Chí (Chóe), từ làng quê bên góc nhỏ khu giáo phận Núi Sam (Đầu Bờ), ven sườn Bạch Vân Hộc Lãnh Sơn Châu Đốc, bước vội lên Sài Gòn năm 1965. Chuyện hòa nhập vào cuộc sống trước một Sài thành hoa lệ, đã là một can đảm thật bi hùng của một chàng trai 21 tuổi. Tôi hiểu cái nhìn dịu vợi của chàng trai làng khi đặt chân hòa đồng vào nếp sống mới, năm 1964 tôi cũng như Chóe bước vào một xã hội phồn hoa đang đầy rẫy xáo trộn và tiếng bom đạn thường xuyên âm vọng về thành phố.
Vừa bước chân lên Sài Gòn, Chóe đã giành được một giải thưởng truyện ngắn, mà đến nay bản thảo của bài văn này có lẽ đã không còn lưu lại. Hôm chị Kim LOAN (Chóe phu nhân) hỏi tôi có lưu trữ được không? Tôi thành thật tiếc rẻ những kỷ niệm đặc sắc như truyện ngắn này của Chóe bị thất lạc, nhưng bù lại bản thảo truyện ngắn Tu Hú mà Chóe giao tôi năm 1969, may mắn vẫn còn. Lúc này Chóe vẫn còn ký tên thật Nguyễn Hải Chí, kể cả những phụ bản hội họa mà Khai Phá được giới thiệu trên tạp chí trong giai đoạn 1970 – 1972.
Tôi với Chóe là đồng hương cùng một lứa tuổi, nên sự quý trọng và gần gũi thân nhau như một chuyện tình cảm quê xa. Trên bước đường lập thân, tất cả anh em từ đồng nội cất cánh bay về phồn hoa đô thị, tìm một trang trải cho công danh sự nghiệp lâu dài, thì hầu hết đều ngưỡng mắt trông chờ những hội tụ vinh quang. Trước mặt, là những nối kết bằng hữu cùng quê nếu tình cờ bắt gặp ở xứ lạ quê người trên quãng đường bất chợt, là một hạnh phúc không thể nào diễn tả được. Tình cảm quê nhà bao giờ cũng sâu đậm, khiến những người đồng hương thường xuyên liên lạc, dù chỉ một lần ngồi tâm sự đôi câu, uống từng ngụm trà vọng quê. Chóe về Sài Gòn sau tôi một năm, nhưng hầu hết vì lẽ sống và sáng tác, anh dồn hết tâm trí vào những công việc hằng ngày vừa trả nợ áo cơm, vừa tạo dịp để viết lách. Thời gian này, Chóe trong bút danh Nguyễn Hải Chí, vẫn sáng tác thơ văn và vẽ phụ bản cho nhiều tờ báo đương thời, giống như các văn nghệ sĩ trẻ đồng song khác.
Trên bước đường lập nghiệp, tài năng Chóe bộc lộ rõ rệt, có phần không thua kém bạn bè cùng lứa. Chuyện đoạt giải truyện ngắn trên một tờ báo ngày thời đó, quả là một món quà quý giá, giúp tay bút của anh đầy tự tin hơn khi bước vào lối đi không còn nghi ngờ chọn lựa gì. Từ năm 1967 – 1969, tôi và anh em gom hết thực lực để cho ra mắt tờ nguyệt san Trình Diện Tuổi Đất, là tiền thân của tạp chí xuất bản Khai Phá sau này, với những ước mong sẽ hội tụ được những tài hoa của những bạn hữu văn nghệ gốc vùng sông nước Cửu Long, đang sống tại quê nhà hay đang lưu lạc tứ xứ như những cánh chim trời phiêu bạt. Việc làm được bàn luận cẩn thận, với nhiều bàn tròn tham dự đồng ý kiến và bài vở góp mặt của anh em. Kể cả dự tính hết xuất bản hàng chục tập thơ văn, mà cốt yếu của sự thành hình do đóng góp của bằng hữu cho chính tác phẩm mình.
Qua năm 1968, mọi biến cố tang thương càng xảy ra trầm trọng hơn cho đất nước, nên bao nhiêu dự tính đang thực hiện, đành dừng lại chờ một ngày mới xán lạn hơn. Tuy nhiên, bạn bè đều hoạt động trên mọi tạp chí văn học nghệ thuật tại Sài Gòn, nên tên tuổi vẫn được nhắc nhở và ghi nhớ cùng nhau trong thời khắc bi hùng của dân tộc. Mỗi người một hướng với quan điểm sống của tự thân, nên văn nghệ cũng chia ra từng nhóm nhỏ với những tờ báo trải dài khắp nẻo đường đất nước. Từ Quảng Trị xuyên dài vào miền Đông, miền Tây Nam bộ, đầy rẫy các tạp chí mang đậm màu sắc của con tim. Tôi bàn bạc với bạn bè nên xốc dậy làm mới hơn với tờ Khai Phá.
Năm 1969 là một định mệnh an bày. Tôi gặp Nguyễn Hải Chí tình cờ tại tờ Diễn Đàn của nhà văn Viên Linh. Anh đến tham gia bài vở như những bạn hữu khác, nhưng đặc biệt với nét nhìn của nhà văn lão luyện Viên Linh, hầu như anh đã hóa thân một cách tuyệt diệu. Từ đó bút hiệu Chóe như một tinh quang đã chói ngời với thời gian… Khi Viên Linh bận bịu thu xếp công việc tòa soạn, Chóe và tôi cùng trò chuyện và đặt nặng vai trò như của những cuộc viếng thăm quê nhà hơn là câu chuyện văn nghệ. Nói thêm, tạp chí Khai Phá 1 đang nằm trên dạng bản thảo, đã đầy đủ bài vở đang chờ xin giấy phép để ấn hành, với chủ đề Văn nghệ trong tình thế hiện tại. Chóe trầm lặng ngồi đọc xong bản thảo, và nói với tôi rằng, tạp chí có vẻ nặng vì nhiều chữ nghĩa quá. Anh xoay qua đưa tôi một phụ bản còn ký tên Nguyễn Hải Chí và hẹn vài hôm nữa sẽ gởi thêm một số phụ bản và sáng tác văn mới. Khai Phá số 2 đăng trong trang truyện ngắn Tu Hú của Nguyễn Hải Chí, từ đó khám phá ra anh có một bút pháp thật tuyệt chiêu.
Chóe thật hiền dịu trong cung cách một người làm văn nghệ hết lòng vì nghệ thuật và bằng hữu. Bản chất trầm lắng, từ tốn trên ngôn từ khi phát biểu, và trải tất cả tấm lòng đầy chân thật với tha nhân. Tôi thật xúc động trước nhiệt tình của một người bạn quê xưa, mà cả hai chúng tôi cũng cùng đang trôi dạt tại một phương trời xa, với một ý hướng quang quả trong nghệ thuật. Khi tờ báo ra mắt tháng 4/1970, thêm nhiều đóng góp chân tình của anh em khắp nơi, như họa sĩ Lưu Huỳnh Truyền, nhiếp ảnh gia Châu Thành Thơ, họa sĩ Rừng (nhà văn Kinh Dương Vương), họa sĩ Nguyễn Bá Khanh… từ khắp nơi dành hẳn một cảm tình tuyệt diệu cho tờ báo với những ý kiến thật sâu sắc và sáng tác đa dạng trên mọi phương diện nghệ thuật.
Kissinger
Chóe sáng rực rỡ trên những hí họa đăng rải rác trên báo chí tại miền Nam, đặc biệt những bức hí họa xuất hiện trong thời chiến tranh, vẽ các nhân vật như: Kissinger, Nixon, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm… đã là đề tài khiến anh gặp nhiều tai họa trong thời đó.
Đằng đẵng gần 10 năm sau, một buổi chiều gần cuối năm 1985, có hai sự tương ngộ thật kỳ diệu khiến tôi có một ấn tượng sâu sắc về tình nghĩa bạn bè, sao mà thâm sâu và trân trọng quá. Khoảng 16 giờ chiều, tôi về tư gia sau một cuộc họp ngành y tế vừa xong, nghe tin báo có một bạn trung niên ghé thăm và từ giã đạp xe trên cầu chữ Y. Tôi vội vã vòng xe chạy đuổi theo, qua bên kia cầu, đường Nguyễn Biểu quận 5, thấp thoáng bóng nhà văn Kinh Dương Vương đạp xe nhẹ lướt đi vội vàng. Tôi chặn lại mừng rỡ và cùng Kinh Dương Vương bước vào một quán cà phê tâm sự. Chuyện bạn bè bao nhiêu ngày tháng nói làm sao tận lời được, nên sự khuynh khoái kéo dài hơn 2 giờ trôi qua, và hẹn gặp anh trên Trương Quốc Dung, Phú Nhuận.
Bước vội vào nhà trong trời đêm chập choạng, Chóe ngồi chờ tôi ở một ghế salon có lẽ cũng hơn một tiếng đồng hồ, anh kiên trì gặp lại bạn xưa đã hơn 10 năm không liên lạc! Chuyện thăm hỏi trên trời dưới đất, chuyện quê nhà, chuyện sáng tác… đều được vun vẩy cho thỏa lòng tri ngộ. Bắt đầu ngày đó, có dịp tôi thường xuyên ghé chợ Hạnh Thông Tây, Gò Vấp thăm anh chị và gia đình. Phong thái Chóe đường hoàng trở lại ngôi vị như xưa, nét bút sắt vẫn hí ngạo tung hoành trên hầu hết các tờ báo của xã hội mới. Sự nhập cuộc và hóa thân của một nghệ sĩ đầy tự trọng và nhân cách đã thể hiện đường nét sáng hóa cho nghệ thuật muôn hình muôn vẻ.
Trước những ngày tháng còn cùng cực của bao cấp, Chóe phát huy một hướng vẽ mới, ngoài các “hàng chợ” trên lụa hay sơn dầu nhưng không bao giờ có chữ ký của Chóe, như một đảm bảo hằng ngày cho cuộc sống gia đình. Anh nghiêng hẳn về những hình tượng nghệ thuật và nắm chặt hơn trong chủ để bài bản sáng tác. Từ năm 1992 – 2003, Chóe thực hiện nhiều cuộc triển lãm bề thế mà hầu như tranh hí họa của Chóe đều được giới thưởng ngoạn đưa vào bộ sưu tập của người yêu tranh như:
– Năm 1992, triển lãm 35 tranh sơn dầu khổ 70 x 90cm, nằm trong bộ sưu tập của Công ty sơn mài Lam Sơn;
– Năm 1993, khoảng 41 tranh sơn dầu khổ 110 x 140cm được bà Nancy Phạm ở Mỹ đưa vào bộ sưu tập riêng;
– Năm 1995, có 57 tranh sơn dầu 50 x 65cm được ông Hàn Đức Minh ở TP. Hồ Chí Minh sưu tập – và năm 1996, Chóe triển lãm 2 bộ tranh về Họa Thơ Hồ Xuân Hương (40 bức sơn dầu 77 x 77cm) và Những Phụ Nữ Đoạt Giải Nobel (27 tranh sơn dầu 70 x 85cm) tại 218A Pasteur quận 3, giới thiệu trân trọng trình diện phục vụ giới thưởng ngoạn mà không bán tranh. Nhưng sau đó, toàn bộ Những Phụ Nữ Đoạt Giải Nobel cũng nằm trong bộ sưu tập của Công Ty Sotraco của bà Phan Thị Thu Mai (Sau đó, công ty Sotraco cũng sưu tập bộ tranh họa thơ Hồ Xuân Hương).
Mặt Nạ
Tác phẩm “Mặt nạ” – sơn dầu trên canvas. Những bức sơn dầu đầu tiên mà họa sĩ Choé vẽ là những tác phẩm về gia đình, vợ con, tự tay ông làm bố, căng khung, vẽ không theo một thủ pháp, kỹ thuật hay nguyên tắc chuẩn mực nào, tất cả đều là sự tung hứng, phá cách.
Trên bước đường sáng hóa nghệ thuật, Chóe còn hoài bão thực hiện nhiều công trình lớn khác như: Bộ tranh mang tên Từ Truyền Thuyết Đến Lịch Sử với chân dung các nhân vật truyền thuyết như Lạc Long Quân – Âu Cơ – Phù Đổng Thiên Vương và trong lịch sử như Hai Bà Trưng – Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn – Nguyễn Trãi của Bình Ngô Đại Cáo… Sau những lần thực hiện các cuộc triển lãm tại Nhật Bản, như 1995, triển lãm hí họa tại Tokyo với hiện diện của 10 nước Châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Philippine, Malaysia, Indonesia, Singapor và Ấn Độ. Ông Kosei Ono là nhà phê bình nổi tiếng của Nhật Bản đã đánh giá tranh của Chóe độc đáo, từ ý tưởng, đến nét vẽ và bố cục. 10 bức tranh Chóe là 10 số phận của giới phụ nữ Việt Nam, mà theo Lưu Trọng Văn: Xem tranh Chóe, tiếng cười và tiếng nấc bật cùng một lúc, nhưng tiếng cười thoát ra ngoài, còn tiếng nấc tọt vào trong.
Trong giai đoạn cực kỳ sung mãn, chuyện sinh lão bệnh tử vẫn là một diễn biến của thành trụ hoại không, khó tránh khỏi trong một kiếp người trên cõi tạm này. Nhưng điều để lại cho nhân thế, bằng sự đóng góp cả sức lực, thần trí và sáng hóa của người nghệ sĩ, đã an nhiên tự tại cho người ra đi và tiếc thương vô tận của người ở lại. Giai đoạn bịnh tình anh càng lúc càng nặng thêm, Chóe có mời tôi lên chia sớt cùng anh chút kỷ niệm quê xa, khi anh vừa chu du vừa trị bệnh tại phương trời Tây, và quy cố hương. Chóe nhìn tôi, trầm lặng hướng dẫn tôi chiêm ngưỡng chân dung của Đức Giáo Hoàng, mà có dịp anh tương kiến tại Vatican. Chóe thốt lời tâm huyết, gặp Đức Thánh Cha là điều mãn nguyện sau cùng của tôi. Tôi như nghẹn lại trước một tâm linh rực rỡ của người bạn cùng tuổi, cùng bay khỏi quê nhà từ thời tuổi trẻ và cùng ngồi lắng động trong những giây phút tâm giao.
Cơn bịnh nghiệt ngã, đã dìu dắt Chóe về nước Chúa vào lúc 4 giờ sáng ngày 12/03/2003, lúc anh đang điều trị tại Bệnh Viện Virginia, Hoa Kỳ (nhằm 16 giờ Việt Nam, 12/03/2003). Linh cữu đưa về quê nhà Việt Nam, an táng tại đất Thánh Mẫu (Định Quán, Đồng Nai).
Vĩnh biệt Chóe, một tài hoa trăm năm có một, một cây bút sắt hí họa độc đáo của hội họa Việt Nam chân thành và đầy tình người…
Từ xa, tôi đã thấy Cúc đang đứng nói chuyện với anh tài xế xe vận tải. Một tay của Cúc đưa lên trời, tay kia chỉ về phía chiếc xe như muốn phân bua điều gì đó. Khi nhìn thấy tôi, Cúc bỏ mặc anh tài xế, vội vàng chạy về phía tôi. Dang tay nắm lấy tay tôi với đôi mắt đầy ngạc nhiên, Cúc hỏi.
-Anh đi đâu từ sáng tới giờ, làm em lo quá sức. Em phải năn nỉ mãi anh tài xế mới chịu đợi anh trở về. Mà nè, áo của anh đâu rồi? Tại sao lại ra nông nổi này?
Thay vì trả lời, tôi kéo Cúc ngồi xuống bậc thềm phía trước, dưới mái hiên của căn nhà mà chúng tôi ngủ tối hôm qua, rồi từ tốn kể cho Cúc nghe chuyện của viên chuẩn úy Nhảy Dù và năm người lính của ông ta. Cuối cùng tôi nói.
-Cái áo em mua cho anh ngày hôm qua ở chợ Bến Thành, anh đã dùng nó, đắp lên mặt của viên chuẩn úy Nhảy Dù rồi.
Cúc nói.
-Em thấy anh không mặc áo nên mới hỏi vậy thôi. Anh không nhớ sao? Hôm qua em đã mua cho anh ba bộ quần áo, để em lấy cho anh cái khác.
Tôi gật đầu, mắt liếc nhìn anh tài xế vừa hút thuốc vừa đi về phía chiếc xe. Khi ngang qua chỗ tôi và Cúc ngồi, anh ta vẫy tay.
-Cô với cậu lẹ lẹ lên. Mình đi cho rồi.
Tôi chụp cái áo tròng vào người không kịp gài nút, tay trái xách cái va-ly, tay phải nắm tay Cúc kéo vội lên băng ghế trước của chiếc xe tải. Cúc ngồi giữa, tôi ngồi ngoài, lòng cabin xe rộng rãi, nệm ghế dày và êm vì được thiết kế cho tài xế lái đường xa khiến tôi hài lòng, không muốn đòi hỏi gì thêm nữa.
Khi xe chạy đến cầu xa lộ Biên Hòa, Cúc đưa cho tôi gói xôi đậu đen được gói trong miếng lá chuối.
-Anh ăn đi kẻo đói.
Nói xong Cúc nhìn sang anh tài xế.
-Bác tài ơi, bác có ăn xôi không? Tôi mua tới sáu, bảy gói lận, đủ cho mình ăn tới Đà Lạt.
Anh tài xế miệng nói nhưng mắt vẫn dán vào kính xe phía trước.
-Cảm ơn cô, tôi không đói. Khi nào cần tôi sẽ xin cô.
Tôi vừa ăn xôi vừa đưa mắt nhìn quanh, khúc đường này quá quen thuộc với tôi. Tôi biết, chừng mươi phút nữa xe sẽ chạy ngang qua nhà máy xi măng Hà Tiên, rồi Trường Bộ Binh Thủ Đức. Nếu mọi chuyện suôn sẻ, chiều nay chúng tôi sẽ tới cầu Đại Ninh. Tại đây, tôi và Cúc xuống xe, tìm tàu bè hay bất cứ phương tiện gì để qua sông Đa Nhim, sau đó đón xe khác đi về Đà Lạt. Phần anh tài xế, anh ta phải bỏ xe lại bên này sông. Nếu muốn đem xe về Đà Lạt, cách duy nhất là anh tài xế phải chạy ngược trở lại ngã ba Dầu Giây, đi vòng qua Phan Thiết, Phan Rang rồi theo đèo Ngoạn Mục lên Đà Lạt.
Hình minh họa
Lương tâm của tôi không cho phép mình lừa gạt anh tài xế, về chuyện cầu Đại Ninh đã nằm dưới đáy sông rồi. Tôi nói với anh ta.
-Anh có biết là cây cầu Đại Ninh đã bị sập rồi hay không?
Anh tài xế trợn mắt nhìn tôi.
-Sập hồi nào? Mà tại sao lại sập?
Tôi trả lời.
-Cầu đã bị công binh của Trường Võ Bị Đà Lạt đặt mìn, giựt sập hơn một tháng rồi. Anh không biết hay sao?
-Ê…đó chỉ là tin đồn. Hôm qua, một ông bạn của tôi đã lái chiếc Desoto chở đầy rau từ Đà Lạt xuống Sài Gòn. Chính ông ấy nói với tôi, tất cả cầu cống trên quốc lộ 20 đều nguyên vẹn tốt đẹp, còn đường xá thì êm ru phẳng lì.
Tôi nghe anh tài xế nói mà tưởng như mình nằm mơ, làm sao có thể có được một chuyện thần thoại hoang đường như vậy. Tháng trước chính mắt tôi thấy Đại úy Thi, công binh của Trường Võ Bị Đà Lạt, trình với Thiếu tướng Chỉ huy trưởng là ông đã cho nổ sập cầu Đại Ninh rồi. Tại sao, hôm nay cây cầu vẫn còn nguyên? Không lẽ Đại úy Thi đã báo cáo không đúng sự thật. Không biết phải tin vào ai, tôi nghĩ thầm phải chi mình có đôi cánh, bay cái vèo tới cầu Đại Ninh để biết rõ hư thực như thế nào. Nghĩ như vậy nhưng tôi vẫn tin rằng cầu Đại Ninh đã bị sập, đúng như lời Đại úy Thi đã báo cáo.
Tôi thở dài rồi nói.
-Không thể nào có chuyện như vậy được. Chính tai tôi nghe báo cáo, cầu Đại Ninh đã bị giật sập.
Anh tài xế nhìn tôi, rồi ngập ngừng nói.
-Cậu dám đoan chắc như vậy, nếu tôi đoán không lầm, cậu phải là lính mà cũng có thể là sĩ quan của Trường Võ Bị Đà Lạt.
Tôi định nói dối rằng mình không phải là lính, vì không biết rõ anh tài xế là người có thân Cộng hay không. Bài học kinh nghiệm lúc sáng còn đó, trong lúc tranh tối tranh sáng như thế này, không biết giữ gìn lời ăn tiếng nói có thể mất mạng như chơi, nhưng không biết vì sao, tôi lại dõng dạc nói với anh ta.
-Đúng, tôi là trung úy thuộc Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt.
Gương mặt của anh tài xế chợt sáng lên, đang lái xe anh ta vội vàng đưa tay phải lên cuối chân mày.
-Chào trung úy, trước đây tôi là hạ sĩ nhất Nhảy Dù. Năm một ngàn chín trăm bảy mươi, tôi được giải ngũ….
Tôi nhìn bàn tay phải của anh tài xế chỉ còn ba ngón tay, ngón trỏ và ngón giữa của anh ta bị cụt mất. Tôi hiểu ngay tại sao anh ta được giải ngũ. Tôi nói mà như là nhắc nhở.
-Việt Nam Cộng Hòa đã mất rồi, xin anh đừng có gọi tôi là trung úy nữa. Tôi tên là Quân, còn đây là Cúc, vợ của tôi.
Anh tài xế cười.
Hình minh họa
-Cậu Quân nhắc tôi mới nhớ, mấy chục năm nay quen thói rồi, tôi sẽ thay đổi cách xưng hô cho hợp thời thế. Tôi tên là Minh.
Bầu không khí trong xe bỗng trở nên thân mật ấm cúng hơn, khi Minh lấy một lon nước ngọt đưa cho Cúc.
-Mời cô và cậu Quân.
Tôi nói.
-Cảm ơn anh Minh, bây giờ tôi có thể nói chuyện thật lòng với anh mà không sợ gì cả. Mấy phút trước đây tôi vẫn còn lo sợ, lỡ anh là người có cảm tình với Việt Cộng thì kẹt cho tôi.
-Cậu Quân khỏi lo, gia đình tôi là Ngụy thứ thiệt, Ngụy một trăm phần trăm.
Như để chứng minh cho lời nói của mình, Minh nói thêm.
-Tôi còn có hai thằng em đều là sĩ quan Nhảy Dù, một thằng chết trong trận tái chiếm Cổ Thành, thằng còn lại, tháng Ba vừa rồi bị thất lạc ở mặt trận Khánh Dương. Cho đến giờ này, tôi vẫn không có tin tức gì của nó.
Tôi hỏi Minh.
-Em của anh thất lạc ở Khánh Dương mang cấp bậc gì?
-Nó là chuẩn úy, ra trường năm ngoái rồi tình nguyện về Nhảy Dù.
Tôi giật mình và cảm thấy trái tim của mình đập mạnh hơn, hình ảnh của chuẩn úy Ngo quay về trong đầu. Tôi vội vàng hỏi Minh.
-Anh ấy tên gì?
-Nó tên Hoàng.
Tôi lắc đầu rồi nói.
-Không phải.
Minh nói với tôi.
-Phải mà, nó tên là Lê Văn Hoàng.
Tôi phân trần với Minh.
-Xin lỗi, tôi đang nói về một người khác.
Sau một hồi đắn đo suy nghĩ, tôi mới từ tốn kể cho Minh nghe về chuyện của ông chuẩn úy Nhảy Dù tên là Ngo, vừa bị bắn chết sáng nay. Gương mặt của Minh biến đổi theo từng chi tiết của câu chuyện, từ cái vẻ thờ ơ lúc ban đầu, chuyển dần sang căng thẳng. Khi tôi kể xong xuôi mọi diễn biến đã xảy ra lúc sáng nay, riêng cái đoạn tôi không dám nhận mình là lính Ngụy, tôi giấu biệt, lúc ấy cũng là lúc xe sắp đến Biên Hòa.
Minh quay nhìn tôi.
-Tôi có chuyện muốn bàn với cậu.
-Chuyện gì vậy anh?
Giọng nói của Minh lộ vẻ như trách móc.
-Tại sao cậu không phụ giúp mọi người một tay, lo chôn cất mấy người lính Nhảy Dù?
Hình minh họa
Tôi giải thích.
-Anh Minh à, trước khi đi, tên cán bộ chỉ huy của Cộng Sản có viết mấy chữ đặt dưới chiếc giày, với nội dung là cấm đem xác đi chôn.
Minh nói.
-Cậu không biết gì về Cộng Sản, tin bọn nó chỉ có nước bán lúa giống, đánh trống bỏ dùi là nghề của họ. Tên Việt Cộng viết tấm giấy đó, giờ này nó đã dông mất tiêu rồi, không bao giờ trở lại chốn cũ. Cậu có đốt đuốc tìm mười năm, cũng chẳng bao giờ gặp nó.
-Sao anh biết?
-Việt Cộng là bọn đa nghi xảo quyệt giống như bầy Cáo, chúng không bao giờ dám trở lại chỗ chúng đã đi qua hoặc đã trú ngụ vì sợ gài bẫy. Tôi còn lạ gì họ, suốt thời niên thiếu ở vùng xôi đậu, thêm gần ba năm lái xe chở hành khách, hai năm lái xe vận tải trên tuyến đường Sài Gòn – Đà Lạt, bị Việt cộng đào đường đắp mô, chận xe đóng thuế. Tiếp xúc thường xuyên với Việt cộng, cho nên tôi rành bọn họ quá. Hù dọa, khủng bố thiên hạ, là chính sách và đường lối của mấy ổng mà.
Minh ngừng nói, anh ta lần trong túi áo lấy ra bao thuốc Bastos xanh, chìa về phía tôi.
-Mời cậu Quân hút thuốc.
-Cảm ơn anh, để khi khác.
Minh quay cửa kính xe xuống, với cái bật lửa Zippo bóng loáng trên tay trái, Minh mồi thuốc, trong khi tay phải chỉ với ba ngón tay vẫn điều khiển tay lái một cách thuần thục.
Minh nói với tôi, mà khói thuốc vẫn còn đầy trong miệng.
-Cậu Quân à, tôi có chuyện cần cậu giúp một tay. Không biết cậu có đồng ý không?
-Chuyện gì? Nếu không phải chuyện hái sao trên trời, tôi sẽ làm ngay.
Minh nghiêm giọng.
-Tôi muốn cậu với tôi, tụi mình đi chôn sáu người lính Nhảy Dù. Một mình tôi không đủ sức, nhất là vấn đề tài chánh. Hai ngàn mà cậu và cô trả tiền xe cho tôi ngày hôm qua, tôi tiêu xài đã hụt đi mất gần một trăm rồi.
Tự nãy đến giờ, Cúc ngồi yên nghe Minh nói chuyện với tôi. Bất ngờ Cúc lên tiếng.
-Anh Minh là dân Sài Gòn phải không?
Minh đáp.
-Tôi chỉ có một phần là dân Sài Gòn thôi.
Cúc nói.
-Vậy còn mấy phần khác, là dân xứ nào?
Minh hỏi lại Cúc.
-Cô muốn biết gốc gác tôi ở đâu, là dân xứ nào phải không? Ba anh em tôi gốc ở Bến Tre.
Hình minh họa
Cúc hỏi.
-Tại sao anh không ở Bến Tre mà lại lên Sài Gòn? Chắc ở dưới đó mất an ninh chứ gì?
Minh nói.
-Việt Cộng gọi đó là vùng đất bất khả xâm phạm của họ, cho nên ở Bến Tre tình hình an ninh không được yên ổn như Sài Gòn, nhất là làng của chúng tôi ở cách tỉnh khá xa, khi mặt trời mọc phe Quốc Gia mình kiểm soát, lúc mặt trời lặn lại thuộc về đám âm binh Việt Cộng. Sống ở vùng quê, chúng tôi thấy rõ cái dã man tàn ác của Việt Cộng mà những người sống ở thành phố như cô và cậu Quân, không bao giờ biết được.
Minh hít một hơi thuốc dài rồi mới thong thả nói tiếp.
-Nói có sách mách có chứng, tôi phải kể lại chuyện sau đây, để cậu Quân và cô Cúc thấy rõ cái man rợ của Việt Cộng. Đâu khoảng đầu năm một ngàn chín trăm sáu mươi bốn, khi mà Đệ Nhất Cộng Hòa vừa mới sụp đổ được vài tháng, sau đó hàng rào ấp chiến lược bị tháo bỏ, tình hình an ninh trong các xã, ấp bắt đầu trở nên tồi tệ. Những viên chức hành chánh của xã, ban ngày họ làm việc tại văn phòng xã, đêm đến họ phải ôm mùng mền vô trong Quận để ngủ, hầu tránh sự truy lùng của du kích quân Cộng Sản. Một buổi chiều nọ, ông xã trưởng Lâm Châu sau giờ làm việc, cao hứng làm vài ba xị đế, khi đã ngà ngà say, ông quên mất cái nguy hiểm nên ngủ luôn tại nhà. Nhà tôi ở cách nhà ông xã trưởng Lâm Châu khoảng chừng mươi mét, giữa hai căn nhà là một hàng dừa lão. Khoảng chín giờ tối, bốn ông Việt Cộng súng ống đầy người, kéo đến nhà ông xã trưởng. Sau khi đọc bản án tử hình được viết trên một tờ giấy xé ra từ một cuốn vở học trò, với nội dung là ông xã trưởng đã làm tay sai cho Mỹ Ngụy, bức hại dân lành. Chuyện mới nghe qua tưởng như là giỡn chơi, thế nhưng khi thi hành án lệnh, là cắt cổ thiệt, thời bấy giờ khi giết người để răn đe, Việt Cộng chỉ dùng một cách duy nhất là cắt cổ. Đối với Việt Cộng chuyện cắt cổ Ngụy quyền cũng đơn giản giống như mấy bà nội trợ cắt cổ con gà, con vịt. Tay Việt Cộng thi hành bản án, đúng là một sát thủ chuyên nghiệp, hắn tính toán một cách chính xác, cắt cổ như thế nào mà ông xã trưởng không chết ngay. Ông xã trưởng Lâm Châu, tuy bị thương nặng nhưng vẫn cố bò đến cái gốc dừa gần nhà tôi, suốt đêm ông rên la thảm thiết, rồi kêu cầu cứu, nhiều lúc lại rú lên như chó tru. Nhìn thấy người bị thương nằm đó, tôi nói với ba tôi hãy cứu ông ta. Ba tôi ra dấu cho mấy anh em tôi yên lặng, ông chỉ vào căn nhà bếp của ông xã trưởng, nơi mà ngọn đèn dầu hãy còn tỏa chút ánh sáng mờ mờ, rồi nói “Bọn Việt Cộng vẫn còn ở trong nhà ông xã trưởng. Nếu ba cứu ông ta, cả gia đình mình sẽ bị tụi Việt Cộng xử tội, cái tội tiếp tay bao che cho bọn phản quốc chạy theo Mỹ Ngụy. Mấy đứa bây có muốn bị cắt cổ hay không? Nếu không, hãy im lặng”. Mãi cho đến khi trời mờ sáng, tiếng kêu của ông xã trưởng mới yếu dần rồi tắt hẳn. Khi biết chắc rằng mấy ông Việt Cộng đã rút đi rồi, ba tôi và tôi vội chạy ra gốc cây dừa nơi mà ông xã trưởng Lâm Châu đang nằm, với chút hy vọng là sẽ cứu được ông ta. Đến nơi, tôi lặng người đi vì sợ, xác ông xã trưởng nằm bên vũng máu hãy còn tươi, một vết cắt tím bầm nơi cổ, hình như máu hãy còn tiếp tục rỉ xuống đất. Gương mặt ông xã trưởng trắng nhợt, đôi mắt trợn trừng, cái miệng há hốc như con cá Ngảo cần không khí để thở. Tôi đoán rằng, ông xã trưởng phải chết trong đau đớn cùng cực.
Minh ngừng nói, đưa điếu thuốc đến gần khe cửa, chút tro tàn nơi điếu thuốc bị gió cuốn hút ra ngoài.
-Ngay ngày hôm đó, ba tôi dẫn anh em tôi ra bến xe, cho ba đứa cùng “Đồng Khởi” lên Sài Gòn, tạm trú nơi nhà ông chú của tôi ở khu Bàn Cờ. Trước khi chia tay, ba tôi căn dặn tôi phải lo cho hai đứa em, đừng có bận tâm gì về ông.
Minh quay nhìn tôi, gương mặt của anh hiện rõ nét đau khổ.
-Cậu Quân có biết số phận của ba tôi ra sao không?
Tôi ngập ngừng.
-Coi bộ hơi phiền à nghe.
Minh vội nói.
Hình minh họa
-Chỉ phiền thôi sao? Chưa kịp nhớ về ba tôi thì một người bạn của chú tôi từ dưới quê lên, báo cho chú tôi biết là ba tôi đã mất rồi. Cái chết của ba tôi, giống hệt cái chết của ông xã trưởng Lâm Châu. Ba tôi chết, một cái chết thê thảm, oan ức, tức tưởi, chỉ vì có ba thằng con lên Sài Gòn học, chạy theo Mỹ Ngụy. Chúng tôi không một đứa nào dám về quê, dự tang lễ của ba tôi, không được nhìn mặt ông lần cuối cùng, năm đó tôi vừa mười tám tuổi, chiến tranh đã bắt đầu lan rộng khắp Miền Nam. Tôi biết rằng trước sau gì mình cũng phải đi quân dịch, sau nhiều ngày suy nghĩ, tính toán thiệt hơn, tôi tình nguyện vào Nhảy Dù. Chuyện tôi quyết định vào Nhảy Dù, không biết đúng hay sai nhưng hai đứa em của tôi, khi nhìn thấy ông anh của chúng oai hùng trong bộ đồ bông nên sau khi đậu tú tài, chúng vô Thủ Đức rồi cũng tình nguyện vào Nhảy Dù luôn.
Tay trái cầm điếu thuốc, cánh tay tì lên tay lái, Minh dùng tay phải nâng lon nước, hớp một ngụm.
-Chúng tôi chỉ là dân tạm trú ở Sài Gòn.
Cúc nói.
-Ở Sài Gòn, anh có biết ông Nguyễn Văn Bảy không?
-Không, mà cha nội đó là ai vậy? Tài xế xe đò hả?
Cúc cười vui vẻ.
-Đương nhiên là anh không biết, nhưng ông trùm nhà cửa ở Sài Gòn chắc anh biết. Đúng không?
-Ông trùm nhà cửa ở Sài Gòn thì ai lại không biết, có phải là ông Bảy Ấn không?
-Đúng, Nguyễn Văn Bảy tự là Bảy Ấn. Ông ấy là ba của tôi.
Minh vội vàng quăng tàn thuốc qua khe cửa, anh ta há hốc miệng, tròn xoe đôi mắt nhìn Cúc.
-Nè cô Hai, đừng giỡn với tôi, cô nói thì tôi nghe. Còn tôi nói có gì không phải, xin cô bỏ qua cho. Con gái của một đại tư bản, trùm nhà cửa ở Sài Gòn mà ngủ vỉa hè, làm sao tôi tin cho được.
Cúc vẫn cười vui vẻ.
-Tôi có bắt anh tin đâu. Tôi chỉ muốn nói với anh, ở trên đời này chuyện gì cũng có thể xảy ra được.
Cúc chỉ tôi rồi nói tiếp.
-Hai ngày trước, vợ chồng tôi còn sống trong một ngôi biệt thự nguy nga ở đường Công Lý. Sáng hôm qua, hàng chục chiếc xe tăng với hàng trăm lính Việt Cộng chạy vào sân nhà tôi, họ đuổi vợ chồng tôi ra khỏi nhà. Đó là hành động của bọn côn đồ, bọn ăn cướp giữa ban ngày chứ đâu phải là quân Giải Phóng. Chuyện như vậy anh tin được không?
Minh suy nghĩ một chút rồi trả lời.
-Tôi tuy học hành không ra gì, có cái bằng Trung học đệ nhất cấp mà thi cũng không đậu. Nhưng nhờ sớm lăn lóc với đời, học hỏi, bươn chải, đọc thêm sách vở, nên tôi hiểu được chút ít gian manh của Việt Cộng. Dinh Độc Lập là biểu tượng cho cơ quan công quyền tối cao của Miền Nam đã bị nghiền nát dưới xích sắt xe tăng của Việt Cộng. Cướp được chính quyền rồi, nước Việt Nam là tài sản riêng của đảng Cộng Sản, họ muốn đem cho ai cũng được, bán cho ai cũng xong.
Minh ngừng nói quay sang Cúc.
-Cô với cậu thử nghĩ coi, có một bọn ăn cướp, sau khi cướp được tài vật, thì chúng nó làm gì?
Không đợi cho Cúc và tôi trả lời, Minh nói tiếp.
Hình minh họa
-Ở đây tôi không muốn nói đến lũ ăn cắp, ăn trộm, bởi vì những hạng người này họ chỉ khoét vách đào ngạch, lén lút vô nhà cạy tủ lấy trộm của người, còn cái bọn ăn cướp là dùng vũ lực để cướp của người ta. Những gì dùng được chúng nó giữ lại để dùng, không dùng được, chúng đem đi bán sạch bách, lấy tiền chia nhau tiêu xài hoang phí. Đúng không? Cộng Sản cũng vậy mà thôi, mấy chục năm kiên trì, rình rập, lừa đảo, hôm nay họ đã dùng hàng chục sư đoàn lính chính quy cọng với xe tăng và trọng pháo, đã cướp xong hoàn toàn nước Việt Nam, ngày mai họ sẽ đem bán cái đất nước này lấy tiền chia chác cho các đảng viên của họ. Ngày nào, đảng Cộng Sản còn nắm quyền, trước sau gì nước Việt Nam cũng bị đem đi bán, bán cho đến sạch sành sanh mới thôi.
Tôi nghĩ thầm, anh chàng Minh này nếu được học hành tới nơi tới chốn, cuộc đời của anh ta sẽ khác đi nhiều, chứ không phải chỉ là một anh tài xế tầm thường chuyên lái xe vận tải. Tôi hỏi vặn Minh, với mục đích dò xét thêm về khả năng lý luận của anh ta.
-Dựa vào đâu mà anh nói như vậy?
Minh cao giọng.
-Dựa vào đâu hả? Thì cô Cúc mới nói với tôi đó. Hàng chục chiếc xe tăng, hàng trăm tên bộ đội với súng đạn đầy người, tràn vô sân nhà của cô, họ chỉa súng vô đầu, đuổi cô và cậu ra khỏi nhà. Đó có phải là chuyện họ mua căn nhà của cô và cậu, với cái giá thuận mua vừa bán hay không? Nếu cô Cúc nói rằng, cô đồng ý bán căn nhà cô đang ở cho Việt Cộng thì tôi sẽ im miệng, không có gì cần bàn cãi. Còn nếu cô nói rằng, đó là hành động của bọn ăn cướp thì chắc chắn là tôi nói đúng. Như vậy chuyện tương lai lũ Việt Cộng bán nước, sẽ bán sạch cái đất nước Việt Nam này, lấy tiền chia chác với nhau, là chuyện sẽ phải xảy ra.
Tôi nhắc Minh.
-Anh đang dùng “tam đoạn luận” để chứng minh là Việt Cộng sẽ bán nước, thế nhưng anh quên mất, tiền đề của anh đưa ra không đứng vững, bởi vì Việt Cộng nói rằng, họ đánh Mỹ là để giải phóng cho dân tộc.
Minh cười ranh mãnh.
-Tôi không cần biết “tam đoạn luận” hay “tứ đoạn luận” gì hết. Chuyện đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, giải phóng Miền Nam, đem lại độc lập tự do cho đất nước chỉ là chiêu bài để mị dân mà thôi. Từ thủa thành lập cho đến ngày hôm nay, đảng Cộng Sản Việt Nam núp dưới cái chiêu bài này để ăn cướp. Và đó là bản chất của họ, chuyện chỉ có vậy.
Cúc nhìn Minh như ngầm đồng ý, rồi xen vô.
-Anh Minh nè, tạm gác chuyện tranh cãi qua một bên, lúc nãy anh muốn cùng với chồng tôi, lo việc chôn cất mấy người lính Nhảy Dù. Phải không?
-Đúng, nhưng tôi không có đủ tiền.
Cúc với giọng nói đầy tự tin.
-Chuyện tiền bạc tôi có thể lo được, tuy nhiên vẫn còn có nhiều việc quan trọng hơn, mà mình cần phải làm trong việc chôn cất mấy người lính Nhảy Dù. Chẳng hạn: Phải chôn họ ở đâu? Ai sẽ là người đi mua áo quan?
Hình minh họa
Minh nói.
-Tôi báo trước cho cô và cậu biết, mình không thể nào chôn họ ở Nghĩa trang quân đội Biên Hòa.
Tôi chen vào hỏi Minh.
-Tại sao vậy?
Minh với giọng nói chắc nịch.
-Việt Cộng đóng quân ở đó đông như kiến. Mình mà đem xác mấy ông lính nhảy dù này vô đó chôn, chẳng khác gì chạm vào cái tổ ong vò vẻ. Chọc vào mấy ông đang say men chiến thắng, họ bắn bỏ mình như không.
Vừa dứt lời, Minh vặn người sửa lại thế ngồi trong khi hai tay vẫn cầm chắc tay lái.
-Ngày hôm qua, tôi lái xe đến Nghĩa trang quân đội Biên hòa, với mục đích là thăm mộ thằng em tôi một lần cuối. Thời thế đã đổi thay, gió đã đổi chiều, biết đâu sau này người ta sẽ cày xới, san bằng cái nghĩa trang này để xóa bỏ vĩnh viễn hình ảnh của những người lính Miền Nam. Em tôi tên là Lê Văn Huy, chuẩn úy Nhảy Dù chết trong trận tái chiếm Cổ Thành, thân xác của nó được đem về chôn ở Nghĩa trang quân đội Biên hòa. Khi tôi đậu xe gần bức tượng “Thương Tiếc” đang gặm bánh mì, uống ly nước mía. Tôi bỗng giật mình vì một ông lính Việt Cộng tay cầm cái ống nói, với giọng oang oang qua máy truyền tin “Bọn tớ đang ở ngay chân đồi mả lính Ngụy. Mẹ kiếp cái bọn Ngụy, chúng nó dùng nguyên một quả đồi để chôn xác hàng vạn thằng lính Ngụy, cảnh quang trông hoành tráng ra phết”.
Minh lại loay hoay mồi thêm một điếu thuốc, rít một hơi dài, thở khói ra mũi coi thoải mái hết sức.
-Tôi nghe tên Việt Cộng nói rõ ràng, nhưng phải suy nghĩ một lúc mới hiểu. Cô cậu biết nó nói gì không?
Cúc lắc đầu.
-Không, mà cảnh quang hoành tráng là cái gì?
Minh trả lời Cúc.
-Theo tôi hiểu, nó muốn nói Nghĩa trang quân đội Biên Hòa to lớn và đẹp đẽ.
Tôi hỏi Minh.
-Không chôn người ở Nghĩa trang quân đội Biên Hòa, vậy thì mình phải chôn họ ở đâu?
Cúc nói.
-Em biết, chỗ xử bắn ông chuẩn úy Nhảy Dù đến Nghĩa địa Chí Hòa, khoảng mười phút lái xe. Chôn ở đó là tiện nhất.
Chuyện nói ra thì dễ nhưng khi thi hành mới khó. Chôn cất xong năm người lính Nhảy Dù và viên chuẩn úy, đồng hồ đeo tay của tôi chỉ một giờ sáng ngày 3 tháng 5 năm 1975.
Đợi cho đến khi Cúc thanh toán xong xuôi tiền công cho những người lo việc chôn cất, Minh giục tôi và Cúc.
-Chúng ta lên xe, trễ lắm rồi.
Đêm Sài Gòn phủ một màu đen, nhà cửa hai bên đường chỉ còn là những cái bóng chạy giật lùi mỗi lúc một mau. Chút ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn đường khi mờ khi tỏ của một thời xa xưa, không làm cho mặt đường sáng thêm chút nào. Đường phố vắng tanh không một bóng người, không một tiếng động ngoại trừ tiếng nổ đều đều bên tai của động cơ xe vận tải do Minh lái. Xe chạy băng băng trên xa lộ Đại Hàn, xuyên qua màn đêm dày đặc, lao đầu về phía trước.
Hình minh họa
Tôi nhìn Minh đang chăm chú lái xe, với vẻ mặt đầy mệt mỏi rồi nói với Cúc.
-Em đổi chỗ cho anh, anh muốn ngồi giữa để nói chuyện với anh Minh. Lái xe trong đêm vắng, có người chuyện trò hy vọng anh Minh sẽ đỡ buồn ngủ.
Cúc nhoài người ra ngoài, ngồi tựa vào cửa xe rồi nói với tôi.
-Phải đó, em cũng mệt quá rồi, cần nhắm mắt một chút. Hai người nói chuyện mà em ngồi ở giữa, em sẽ không ngủ được.
Tôi nói với Cúc.
-Em dựa vào vai của anh mà ngủ.
Cúc không nói gì, ngoan ngoãn tựa đầu vào vai của tôi.
Quay nhìn Minh, tôi hỏi nhỏ.
-Tôi biết anh là lính Nhảy Dù, nhưng yếu tố đó không đủ mạnh, khiến anh phải lo chôn cất sáu người lính Nhảy dù. Phải còn lý do nào đó chìm ẩn bên trong, anh có thể nói cho tôi biết được không?
Không vội trả lời tôi, Minh quay cửa kính xe xuống thành một kẽ hở nhỏ, mồi một điếu thuốc, rít một hơi dài, đốm lửa nơi đầu điếu thuốc rực sáng trong đêm. Chỉ một giây bừng cháy sáng, tôi thấy đôi mắt Minh như mờ đi. Minh nói với tôi, giọng nói trầm đều.
-Tôi làm như vậy vì tôi là lính Nhảy Dù, và tôi vẫn còn mang một món nợ với ông thầy của tôi, Chuẩn úy Bùi Anh.
Giọng nói của Minh trở nên xa vắng.
-Đâu hơn chục năm trước, mãn khóa Nhảy Dù, tôi cùng bốn chục tân binh được một ông thiếu úy lãnh về Tiểu đoàn I Nhảy Dù. Mang cái phù hiệu của Tiểu đoàn I nơi túi áo, tôi tham dự nhiều trận đánh lớn có, nhỏ có. Từ đồng bằng đánh lên cao nguyên, từ Sài Gòn bay ra vùng hỏa tuyến.
Đang kể chuyện say sưa, Minh đột ngột ngưng nói quay qua hỏi tôi.
-Cậu Quân có biết bản nhạc “Kỷ vật cho em” không?
Tôi trả lời Minh.
-Biết, đây là bản nhạc mà tôi thích. Đã là lính Việt Nam Cộng Hòa ai mà không biết bản này.
-Tại sao cậu Quân lại thích nó?
-Tôi là khách thường trực của quán cà phê Hạnh Tâm, bản nhạc này được mấy cô thu ngân cho khách nghe hoài. Mặc dù lời của bản nhạc nghe chán chường, đầy bi quan, mỗi lần nghe là một lần muốn tự tử nhưng nó lại có sức thu hút mãnh liệt. Tôi nghe riết rồi đâm ra thích.
Minh nói với tôi.
-Tôi thì khác. Sở dĩ tôi thích bản nhạc này vì nó nói đúng y bon chuyện năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm, Tiểu đoàn I Nhảy Dù của tôi, nhảy trực thăng vận vào mặt trận Bình Giã. Tôi mê bản nhạc này, vì có tôi hiện diện trong đó. Sau này tôi còn tham dự nhiều trận đánh nữa, như ở Sơn Tịnh Quảng Ngãi rồi quay về giải tỏa áp lực của địch quanh thủ đô, bảo vệ đài phát thanh Sài Gòn trong trận Tết Mậu Thân.
Thấy Minh sắp sửa lạc đề, tôi nhắc khéo.
-Anh Minh à, anh kể tiếp cho tôi nghe chuyện Chuẩn úy Bùi Anh đi.
Hình minh họa
Minh vỗ trán.
-Chút xíu nữa là tôi quên mất tiêu, nếu cậu không nhắc, chuyện như thế này: trong cuộc hành quân vùng Mõ Vẹt Cam-Bu-Chia, một biến cố trọng đại đã xảy ra khiến tôi nhớ mãi suốt đời. Chuẩn úy Bùi Anh và tôi bị thất lạc đơn vị, không địa bàn, không bản đồ, mỗi người chỉ còn khẩu M16 trên tay với vài băng đạn. Riêng tôi chỉ bị thương nhẹ ở chân, vết thương do miểng đạn pháo 82 ly không có gì nguy hiểm. Lúc bấy giờ, sau gần năm năm trong quân ngũ, tôi đã mang lon hạ sĩ nhất, là một chiến binh dày dạn chiến trường, quen xông pha nơi trận mạc. Tôi rất hãnh diện vì mình là một trong ba người còn sót lại, trong số bốn mươi tân binh được bổ sung cho tiểu đoàn vào cuối năm một ngàn chín trăm sáu mươi bốn. Trong khi đó, ông thầy của tôi là Chuẩn úy Anh mới ra trường được vài tháng, kinh nghiệm chiến trường chưa có bao nhiêu, ông ấy chỉ hơn tôi cái lon chuẩn úy gắn nơi cổ áo, chuyện mưu sinh thoát hiểm, di chuyển trong rừng, làm sao bằng tôi được. Tận cùng trong thâm tâm, tôi không phục Chuẩn úy Anh, nếu không muốn nói là coi thường. Chuyện trốn chạy Việt Cộng, hai người hai ý kiến trái ngược nhau, tôi chỉ muốn chạy thật mau, bất kể phương hướng, miễn làm sao thoát khỏi vùng ảnh hưởng của Việt Cộng càng sớm càng tốt. Với tôi, thì giờ là vàng bạc, chạy chậm đồng nghĩa với chết. Chuẩn úy Anh ngược lại, ông ta chạy nhưng vẫn cẩn thận xác định phương hướng. Giữa rừng già, không có địa bàn làm thế nào mà Chuẩn úy Anh có thể tìm được phương hướng. Vì nghĩ như vậy, nên tôi xẳng giọng với Chuẩn úy Anh “Chuẩn úy có biết đơn vị mình nằm ở chỗ nào không mà ông dò tìm phương hướng?” Chuẩn úy Anh trả lời “Tôi cũng như anh, không biết đơn vị ở đâu, nhưng tôi biết chắc một điều, nếu mình đi về hướng Đông sẽ là phía Việt Nam Cộng Hòa, hy vọng sống sót rất cao. Còn nếu đi về hướng Tây sẽ là Cam-Bu-Chia, là hậu cần của Việt Cộng, đó là tử địa. Anh có muốn đi theo tôi hay không, tùy anh lựa chọn”. Tôi đi theo Chuẩn úy Anh mà trong lòng đầy bực tức, hơn hai ngày trong rừng rậm, lầm lũi băng rừng vượt suối, hai thầy trò dẫn nhau tìm đường trở về lại đơn vị. Qua ngày thứ ba, vết thương nơi chân của tôi bắt đầu làm độc vì bị nhiễm trùng, cùng lúc ấy một cơn mưa nhỏ kéo đến đã làm cho toàn thân của tôi lạnh ngắt, tai ù đi như bị điếc, đầu thì nóng sốt trong khi chân tay lại run lập cập khiến tôi không thể nào di chuyển được. Tội nghiệp Chuẩn úy Anh, mặt mày hốc hác vì đói và mệt, vậy mà ông ấy một mặt vẫn cố gắng cõng tôi trên lưng, mặt khác vừa lo dò tìm phương hướng. Gục đầu trên vai của Chuẩn úy Anh, hai tay của tôi choàng qua cổ của ông ta, mắt tôi thấy rõ ràng, Chuẩn úy Anh cố lê từng bước chân nặng nề, đi xuyên qua những rừng cây âm u đầy muỗi mòng rắn rết. Tôi thầm nghĩ, nếu tình trạng bi đát như thế này kéo dài, cuối cùng cả hai sẽ cùng chết. Trong lúc tuyệt vọng, tôi nói với Chuẩn úy Anh “Ông thầy bỏ tôi lại đây, một mình ông đi nhanh hơn, may ra còn thoát được.” Chuẩn úy Anh nói với tôi, giọng nói chứa đầy tình nghĩa “Trong binh chủng của mình, những người lính Nhảy Dù coi nhau như anh em trong một đại gia đình. Một ngàn trái đạn pháo của Việt Cộng nổ chụp lên đầu, lính Nhảy Dù cùng nhau chung sức gánh chịu, bởi vì, họ từng chia xẻ với nhau từng ngụm nước trên đỉnh Trường Sơn, từng nắm cơm nơi địa đầu giới tuyến. Và điều quan trọng nhất là lính Nhảy Dù không bỏ anh em, không bỏ bạn bè. Một người lính Nhảy Dù nằm xuống nơi chiến địa, xác của họ phải được đem về hậu phương chôn cất.” Cuối cùng, Chuẩn úy Anh nói với tôi, câu nói mà suốt đời tôi không bao giờ quên “Trừ khi tôi chết đi, nếu còn một hơi thở, tôi còn cõng anh trên lưng”.
Minh ngừng nói, chừng như quá xúc động khi nhắc lại chuyện xưa, anh đưa tay quẹt ngang mắt của mình rồi nói tiếp.
Hình minh họa
-Mỗi một chữ của Chuẩn úy Anh nói ra, là một giọt nước mắt của tôi lại rơi xuống, trộn lẫn với những giọt mưa rừng lạnh ngắt. Đột nhiên Chuẩn úy Anh hỏi tôi “Tại sao anh lại khóc”. Ngạc nhiên quá sức, tôi không hiểu tại sao Chuẩn úy Anh biết tôi khóc. Tôi nói “Sao ông thầy biết?” Chuẩn úy Anh nói “Có mấy giọt nước mưa âm ấm, rớt vào cổ tôi”. Trong lòng đầy thương cảm, hối hận vì suy nghĩ nông cạn, sai lầm của mình, tôi buột miệng nói “Xin ông thầy tha lỗi”. Không biết Chuẩn úy Anh có nghe tôi nói lời xin lỗi hay không, nhưng ông vẫn cúi đầu lê bước. Một chuyện hết sức là may mắn, chiều ngày hôm ấy, khi chúng tôi vượt qua một cái trảng trống, được trực thăng phát hiện và bốc về. Những lời nói của Chuẩn úy Anh trong chiến trường ngày nào đã thấm vào từng mạch máu, từng tế bào của tôi. Đó là lý do khiến cho tôi ngày hôm nay, phải lo chôn cất sáu người lính Nhảy Dù.
Tôi nói với Minh.
-Bây giờ, tôi đã hiểu tại sao, nhưng trong lòng vẫn còn chút lấn cấn.
Minh lập lại.
-Lấn cấn?
Tôi gật đầu.
-Đúng vậy, nếu không có cái ơn cứu tử của Chuẩn úy Bùi Anh, liệu anh có lo chôn cất sáu người lính Nhảy Dù không?
Minh chần chừ một chút rồi mới trả lời.
-Câu hỏi của cậu quả thật là khó, tôi đành phải nói thật, câu trả lời có thể là không.
Quay nhìn tôi, Minh nói tiếp.
-Tôi biết làm như vậy là không phải. Nhưng mà xét cho cùng, tôi cũng chỉ là một con người bình thường như muôn vạn người khác mà thôi.
Tôi ngồi đó trên chuyến xe đêm đang lao đầu về Đà Lạt, chạy trở về quá khứ. Đèn xe chỉ đủ soi sáng chừng vài chục thước trước mặt. Đôi mắt của Minh đăm đăm dõi theo ánh sáng đèn xe, hai tay nắm chặt tay lái. Bầu không khí trong xe êm ả lạ thường, chỉ còn nghe chút hơi thở nhẹ nhàng đều đặn của Cúc bên tai, tôi nhắm mắt, miệng hỏi Minh:
-Anh có buồn ngủ không?
-Không. Tôi lái xe đường xa quen rồi. Khi buồn ngủ quá sức, tôi biết liền. Lúc ấy, tôi tấp xe vào bên lề đường ngủ một giấc độ chừng mươi phút, cơn buồn ngủ sẽ tan biến ngay.
Tôi đang trò chuyện với Minh nhưng mí mắt của mình cứ nhíu lại, kéo tôi vào giấc ngủ. Tuy là ngủ gà ngủ gật, thế nhưng đó lại là một trong những giấc ngủ phải nói là ngon nhất mà tôi có được, kể từ khi rời bỏ Trường Võ Bị Đà Lạt.
Thưa! Văn hào William Shakespeare của nước Anh đã từng phán: “Nên tới sớm 3 tiếng đồng hồ hơn là đến trễ một phút!”
Vì ổng là nhà soạn kịch! Kéo màn, đèn tắt mà còn lục tục đi vô rạp, dẫm phải chân người khác, đau la oai oái! Giận là phải!
Tuy nhiên không phải ai cũng chịu khó lắng nghe lời khuyên chí lý nầy để không bao giờ đi trễ.
Tại sao vậy?! Thưa vì người đi trễ luôn vui vẻ hơn nhiều so với những người đang chờ đợi.
(Đời mà! Cái gì làm mình vui là được. Còn làm thiên hạ bực mình… thì cũng được…Vậy thôi!)
Mà nhân vật thích và cố ý làm người khác phải bực cả mình về cái thói cà chớn, chuyên đi trễ là Tổng Thống Nga, Vladimir Putin.
Nên có chuyện vầy: Sáng chuông reo tới giờ làm việc, Diêm Vương bệ vệ đăng đường, dỡ sổ khai tử ra, rồi hỏi: “Sao tới giờ nầy vẫn chưa thấy Vladimir Putin tới?”
Quỷ Sứ trả lời: “Ông Tổng Thống Nga nầy chuyên môn tới trễ xưa giờ lận! Tâu Bệ Hạ!”
Ngay cả đám ma của chính thằng chả, thần tin chắc là ‘giả’ vẫn tới trễ; trong khi thiên hạ đang nôn nóng chờ, để đem ‘giả’ đi chôn.
Nói có sách mách có chứng, Quỷ Sứ bèn đem hồ sơ đi trễ (dầy cui như cuốn từ điển Bách Khoa Toàn Thư) của Vladimir Putin trình lên để Diêm vương có chứng cớ mà thi hành kỷ luật; như bắt ‘giả’ phải ngồi bàn chông hay cưa hai nấu dầu; vì trên trần thế; Putin không hề ngán ai hết ráo.
Người vợ cũ của Putin là Lyudmila Putina đã từng tố cáo: “Em không bao giờ trễ hẹn nhưng Vladimir Vladimirovich luôn luôn trễ.
Một tiếng rưởi đồng hồ là thường. Em phải đứng quanh quẩn ở ga xe điện ngầm mùa Đông Moscow. Chờ 15 phút cũng được đi, kể cả nửa tiếng. Nhưng chờ suốt một tiếng là em khóc hu hu!”
Rồi phụ huynh của những trẻ con bị thiệt mạng trong vụ rớt máy bay cũng tố cáo là phải chờ suốt 2 tiếng đồng hồ tại nghĩa trang Bashkortostan năm 2002; vì Putin mãi bàn chuyện Syria với Ngoại Trưởng Mỹ, John Kerry, hơn kế hoạch dự trù tới 3 tiếng đồng hồ.
Năm 2003, Nữ Hoàng Anh tố: Putin bắt bà cụ ngồi chờ tới 14 phút; thiếu điều ngủ gục.
Năm 2012, Ngoại Trưởng Mỹ, John Kerry, cũng tố là: tui phải chờ tới 3 tiếng đồng hồ; phải thẩn thơ đi dạo ở Quảng trường đỏ Moscow trước khi được mời vào Điện Kremlin.
Ngóng cổ chờ hoài nên sau cái lần gặp đó cái cần cổ của quý lãnh đạo nầy ai nấy cũng dài thêm ít nhứt vài phân như cái cổ cò.
Diêm Vương giận quá vỗ bàn: “Thôi thôi đủ rồi!”
Nhưng Quỷ Sứ chắc cũng không thích gì Tổng Thống Nga, nên cố gắng bồi thêm cú chót.
“Tâu Bệ Hạ! Cái nầy mới quá quắc nè. Vladimir Putin còn dám để Đức Giáo Hoàng Francis chờ suốt cả tiếng đồng hồ tại Vatican thì y mới vác cái bản mặt của mình tới”
Putin trễ hẹn với ai khoảng nửa tiếng là… kính trọng người đó ghê lắm đó.
Putin là vậy nên Bệ Hạ đừng hòng mong là y sẽ thay đổi.
Diêm Vương bèn chất vấn Quỷ Sứ rằng: “Tại sao Vladimir Putin luôn luôn trễ hẹn?’
Thì Quỷ Sứ quỳ xuống tâu: “Putin đi trễ vì trong sâu thẳm, nghĩ mình đã thay thế ngôi vị của Sa Hoàng trong thời cực thịnh của đế chế Nga! Nhân vật quan trọng bao giờ cũng tới trễ hơn thiên hạ”
“Đâu có được nè! Chỉ ta là Diêm Vương, là Vua cái địa ngục nầy! Còn Putin chẳng qua chỉ là một tay Trung tá tình báo KGB cò con, gặp thời, hên; được Boris Yeltsin nâng đở, mới được làm Tổng Thống nước Nga. Giờ nghĩ mình là Sa Hoàng ngang đẳng cấp Vua như ta sao được?!”
“Trẫm nghĩ rằng: Putin chuyên môn đi trễ vì là dân KGB, dân tình báo. Tình báo kỵ nhứt là đúng giờ vì sợ kẻ thù, căng theo thời biểu, nó đang rình theo kế hoạch là mình hộc gạch!
Quỷ Sứ còn tâu thêm là: “Ngạc nhiên thay! Chưa thấy có nhà lãnh đạo nào hủy bỏ cuộc họp nào với Putin cả; mà vẫn kiên nhẩn chờ?!”
Diêm Vương gật gù: “Ờ thì ta cũng vậy thôi! Cũng đang chờ! Được rồi, khi gặp mặt hắn, ta sẽ tính chuyện phải quấy sau! Giờ bãi chầu! Ta đi ngủ! Chừng nào y tới, vô kêu ta dậy, ta sẽ cho hắn một bài học để biết thế nào là lễ độ, để bỏ cái tật đi trễ thâm căn cố đế nầy đi!”
Thưa bà con! Đúng vậy! Đi trễ rất có hại. Hại to nữa là khác! Chắc bà con có nghe, biết chuyện đi trễ mà mất vợ rồi chớ.
Chuyện rằng: Hùng Vương thứ 18 có con gái tên gọi Mỵ Nương, duyên dáng, xinh đẹp. Vua Hùng kén rể. Sơn Tinh, Thần núi Tản Viên, còn Thủy Tinh, Chúa Thủy Tề, thập bát ban võ nghệ, tài năng cân lượng ‘sêm sêm’.
Chọn ai bây giờ? Vua Hùng đành tuyên bố: “Ai đem đầy đủ sính lễ tới trước sẽ là phò mã!”
Sơn Tinh tới trước. Thủy Tinh đến trễ đành mất vợ, đùng đùng nổi giận, bèn sai binh tôm tướng cá đi cướp Mỵ Nương về.
Thủy Tinh dâng nước ngập mênh mông. Còn Sơn Tinh ném đất đá xuống mép các vùng ngập nước, ngăn nước lại! Bây giờ mình gọi là đắp đê ngăn lũ.
Đi trễ thì mất vợ, rán chịu đi, chớ quạu quọ, lũ lụt mà chi cả mấy ngàn năm cho dân tình ta thán?!
Thưa cái vụ cưới vợ của tui thì lại khác.
Nôn lắm! Ngày rước dâu, tui đã thúc Tía Má đi sơm sớm cho kịp con nước.
Từ Cạnh Đền, Cà Mau phải đi vỏ lãi lên tới tận Giai Xuân, Bình Thủy, Cần Thơ rước dâu; mất tới gần 3 ngày độ đường sông. Nhờ lo xa nên đến trước trăng treo thềm cổng vu quy sớm được nửa ngày trời. Nhưng ông Trưởng tộc bên đàng gái không cho làm lễ tơ hồng gì hết ráo; viện lẽ chưa tới giờ Hoàng đạo.
Cả đám đàng trai lủ khủ đứng xếp hàng, mâm xửng phủ nhiễu đỏ, mà chịu trận một cơn mưa nặng hột, làm quần áo chiến đi đám cưới ướt nhem như con chuột lột. Lạnh run mà giận cũng run. Tía tui nói: “Thôi dìa!”
Làm tui sợ mất vợ, năn nỉ thiếu điều gãy lưởi. “Tía à! Nhịn chút đi. Quân tử trả thù mười năm chưa muộn mà!”
Từ đó tui rắp tâm cho em yêu (và cả dòng họ nhà em) biết thế nào là nỗi lòng căm phẫn của người chờ đợi!
Về với nhau, như chim liền cánh như cây liền cành, tui thường nói với em rằng:
“Nửa tiếng nữa anh về” thì có nghĩa là hai tiếng nữa, tui mới về.
“Anh đang trên đường về” có nghĩa là tui đã quên đường về.
“Anh sẽ về tới trong vòng 5 phút nữa. Đừng có cái mửng cứ nửa tiếng lại gọi, coi anh đang ở đâu nhé!”
Em ngây thơ đâu biết rằng chồng em, tức là tui, đang rắp tâm trả mối hận lòng năm cũ.
Một lần hiếm hoi duy nhứt trong đời, tui lại về đúng giờ; thì em ngạc nhiên nói: Em có cảm tưởng là anh muốn về thình lình để bắt quả tang em đang làm gì phải không?
Thì tui cự lại: “Em muốn cái gì? Anh về đúng giờ cũng la mà về trễ cũng la là làm sao?”
Rồi nghe em yêu ca cẩm với bạn em trên điện thoại là: ” Chị biết hông? Rút kinh nghiệm, người sao mười hẹn chín thường đơn sai? Em tính giờ dây thun của ảnh, là có trừ hao, nếu nói 15 phút nữa về thì em cứ nhởn nhơ không làm đồ ăn gì hết; vì biết chắc ảnh 2 tiếng đồng hồ nữa mới về!”
Hôm cuối tuần, em muốn hai vợ chồng ra ngoài ăn để kỷ niệm 40 năm tình lận đận, em cẩn thận dặn trước: “Chiều mai 6 giờ mình đi ăn nha anh, nhớ đúng giờ dùm một cái được hông?”Ảnh gục gặc cái đầu rồi nói: “OK Salem!”
Em chờ hơn một tiếng rưởi đồng hồ, gần 8 giờ, trời mùa đông Melbourne sập tối hù. Mà bóng người vẫn khuất mấy ngàn dâu xanh! Đói run, lạnh run và giận cũng run luôn, em bèn quyết định thay đồ ngủ, ngồi xem ti vi.
Thì ảnh hiện hình ra! “Trời ơi! Anh về trễ có hai tiếng vậy mà em cũng chưa có sửa soạn gì hết ráo vậy hả?” “Hỏi có tức chết đi không ?”
Thưa bà con! Cái thói đi trễ với vợ để trả mối thù xưa, năm dài chày tháng nó ngấm vào máu trở thành một thói quen (xấu) khó bỏ.
Bởi có câu rằng: “Không ăn đậu không phải Mễ, không đi trễ không phải là Việt Nam”.
Tui đi trễ hoài hè nhứt là lúc đi ăn đám cưới! Vì đám cưới của mình mà mình, (như Thủy Tinh), đi trễ mất vợ thì rán chịu. Nhưng đám cưới của người ta, vợ của người ta, mình có đi trễ thì đâu có mệnh hệ gì phải không?
Đi ăn đám cưới, là đi đóng tiền hụi chết, thì việc gì phải gấp chớ?!
Gia chủ ít có cằn nhằn vì ngày vui họ cữ, sợ xui! Còn gia chủ không nói năng gì mà bạn bè ngồi chung bàn cằn nhằn dùm; thì tui cứ cười hè hè cầu tài!
“Tới trễ hả? Tui cứ nghĩ đám cưới nầy sẽ kéo dài tới nửa đêm mà!”
Hoặc chống chế rằng: “Tui tới đúng giờ tại những người khác đến sớm đó thôi! Phần tui đã nói rồi, nếu tui chưa đến thì cứ tiến hành không có tui cũng được mà. Tui đâu phải là chú rể đâu! Hi hi!”
Lè phè là bản tánh của tui. Bởi đi đâu mà vội mà vàng. Mà vấp phải đá mà quàng phải dây. Té cho lọi họng thì đừng có trách!
Thưa bà con! Dẫu vậy có những thứ, tui không bao giờ đi trễ.
Nhứt là đi ăn đám giỗ. Ăn đám giỗ khác với ăn đám cưới; vì mình ăn miễn phí không có đi hồng bao gì ráo; nên tui khoái đi ăn đám giỗ hơn ăn đám cưới gấp ngàn lần.
Phần ông bà mình có dạy một câu rất là chí lý: “Ăn cỗ đi trước! Lội nước đi sau!”
Ăn cỗ đi trước là đồ ăn còn thơm phức chưa ai đụng đũa vào; đi trễ, đi sau coi chừng phải ăn ‘xà bần’…
Còn lội nước mình đi sau là đề phòng đứa đi trước có sụp lỗ chân trâu thì mình biết mà né chớ. Phần đi ăn giỗ không bao giờ đi trễ nếu không muốn rửa chén.
Nhì là được mời nhậu, không bao giờ nên đi trễ! Vì khi chiến hữu đã ngà ngà, nói thánh nói tướng, nói sùi bọt mép, tay chém gió lung tung phèn, mà mình mới ló mặt vô, còn tỉnh như sáo, nghe mấy ‘giả’ nói chuyện trên trời dưới đất, nổ bốp Trời thiên, nổ mát trời ông Địa; mình nghe không lọt cái lỗ tai thì dễ sinh ra cự cãi mất vui.
Thưa bà con! Tóm lại chuyện sớm trễ đối với tui là tùy theo tình hình cụ thể hè!
Đời mà cứ răng rắc chạy theo cái đồng hồ công nghiệp… thiệt thấy căng thẳng lắm.
Vốn trẻ trâu, đồng hồ của tui là đồng hồ nông nghiệp, là mặt trời với mặt trăng, là tiếng gà gáy ó ò o.
Giờ khắc của tui là áng chừng; là khoảng đó. Chớ không giờ phút, giây chính xác như cái đồng hồ thạch anh của phi thuyền NASA mà chi chớ?
Tuy nhiên “Tui trễ là OK! Nhưng khi em (con bồ nhí ngoài luồng của tui) trễ! Là tui ngã lăn ra chết giấc!
Năm rồi, cuối năm, ngày áp lễ Giáng Sinh, hai thằng ‘cu’ con của tui nghỉ cày, cao hứng lấy xe chở tui và em yêu cùng 4 đứa cháu nội của tui quánh một vòng từ phía Tây, Queenscliff trên bán đảo Bellarine xuống phà qua Sorrento trên bán đảo Mornington về phía Ðông của thủ phủ Melbourne.
Hải trình của chiếc phà ngoài cửa Vịnh Port Phillip, tiểu bang Victoria, Úc Châu nầy dài 10 cây số, mất 40 phút. Từ 7 giờ sáng, hai chiếc phà biển nầy luân phiên chạy qua chạy lại tới 6 giờ chiều thì nghỉ. Một chiếc xe tốn 62 đô. Người lớn 12 đô, thẻ giảm giá 10 đô. Con nít từ 4 đến 15 tuổi 8 đô; nhỏ hơn nữa thì được miễn.
Xe xuống phà đậu, hành khách phải rời xe, leo lên lầu thượng ngắm cảnh trời mây nước. Từng đàn cá heo (dolphins) hụp lặn bơi theo phà như biểu diễn tài bơi lội. Mấy đứa cháu nội của tui chỉ chỏ, cười ‘hi hi’ vì khoái quá trời hè!
(Ở nước Úc tư bản nầy đây kinh tế thị trường thứ thiệt, khi ngân sách của chính phủ Liên bang và Tiểu bang không kham nổi thì để công ty tư nhân nó làm.
Qua phà là trả tiền, không qua thì phải chịu khó chạy xa hơn, mất thời giờ hơn, tốn xăng hơn. Quyền chọn lựa là của mình chớ không có thằng cha căng chú kiết nào dám nhào vô nắm đầu mình trấn lột; không đi cũng phải trả như có đi!
Ðêm nay, đêm tháng Chạp cuối năm, tui nhớ chuyến phà xứ người năm ngoái; lòng tui lại nhớ những chuyến phà của quê mình năm cũ! Ôi! Tháng của những ngày ly biệt, rồi ra đi biền biệt, dẫu quê lòng tha thiết nhớ… nhưng làm sao biết tới ngày nào mà về quê cũ?
Ðúng là Lục tỉnh Nam Kỳ mình sông rạch chằng chịt! Nào là đò dọc, đò ngang, xuôi dòng hay băng ngang qua bến khác, rồi lại quay về bến cũ. Thủ đô Sài Gòn muốn qua bên Thủ Thiêm thuở ấy là mình phải đi đò. “Bắp non mà nướng lửa lò. Ðố ai ve được con đò Thủ Thiêm.”
Như vậy chiếc ghe trọng trọng một chút để đưa hành khách từ bên nầy sông qua bên kia sông gọi là đò, đò ngang. Ðể chở được nhiều người, xe đạp, xe gắn máy, tàu có tài công, thì gọi là phà. Còn bự kinh hơn nữa, chở cả chục chiếc xe hơi mỗi lần, trọng tải tới 100, 200 tấn thì mình gọi là bắc. Như vậy theo ‘ngu’ ý của tui, là xếp từ nhỏ tới lớn, từ thô sơ chèo tay đến chạy máy diesel hiện đại. Mình có đò ngang, rồi phà và ‘number one’ là chiếc bắc (âm tiếng Tây là Bac).
Nhưng sau 75, thì gọi búa xua bắc là phà. Sao vậy cà? Vì các nhà thơ, nhà nhạc ưa chữ phà hơn, vì vần điệu dễ hát; dẫu đã làm mất dần sự trong sáng của tiếng Việt đi! Hi hi!
(Chẳng hạn như xưa giờ, tui chỉ nghe trai cưới vợ; gái lấy chồng. Vậy mà báo chí dám viết là: em người mẫu chân dài đầu ngắn nầy ‘cưới’ chồng (?!)
Ðọc xong, tui cũng tự mình vò đầu bứt tai tự hỏi: “Ủa nước mình theo chế độ mẫu hệ hồi nào vậy cà?” Té ra không phải mà là dùng chữ tầm bậy tầm bạ, đụng đâu xắn đấy mà thôi!)
Tiếng Việt mình dĩ nhiên không ai hoàn hảo cả, nhưng làm cái nghề bán chữ thì cũng nên kỹ kỹ chút đi kẻo chúng nó khi! Trước 75 mà dùng chữ phà thay cho chữ bắc là trật lất rồi! Bằng cớ là soạn giả Viễn Châu trong bài vọng cổ: ‘Người Ðánh Ðàn Trên Sông Mỹ Thuận’, toàn là chữ bắc Mỹ Thuận không hè, tui tìm đỏ con mắt mà hổng thấy chữ phà Mỹ Thuận nó nằm ở đâu?
o O o
Ôi nhớ xưa! Xe đò đi miền Tây như: Ðức Hiệp chạy Cần Thơ, rồi Thuận Thành, Lộc Thành, Nhan Nhựt, Quang Minh, Ðại Hưng, Thuận Hiệp, Vĩnh Phát, Thuận Lợi, Liên Hiệp, Nhơn Hòa, Phi Long, Hiệp Hưng, Kim Long, Nam Thành, Hữu Phước, Quang Minh, Hiệp Thành, Tam Hữu chạy tới Bạc Liêu, Cà Mau. Tất cả các hãng xe nầy phải chờ qua cầu Bến Lức và cầu Tân An (chỉ cho chạy một chiều) rồi xuống tới Bắc Mỹ Thuận quẹo về tay phải đi Sa Ðéc qua Bắc Vàm Cống để về Long Xuyên và Rạch Giá.
Qua Bắc Mỹ Thuận, quẹo tay trái trước khi vô chợ Vĩnh Long là bà con mình phải qua cái quận Long Hồ. Nằm ép bên chân cầu là một cái chợ nhỏ tên là Trường An thuộc làng Tân Ngãi. Trường An và Long Hồ là tên hai nhân vật trong tuồng cải lương ‘Tuyệt Tình Ca’ mà bà con mộ điệu cải lương đặt tên tuồng lại là ‘Ông Cò Quận Chín’ (do Út Trà Ôn đóng) của soạn giả Hoa Phượng và Ngọc Ðiệp. Trường An, vai chị, do Bạch Tuyết; Long Hồ, vai em, do Thanh Sang đóng!
Ðó là thời hoàng kim của sân khấu cải lương, của đoàn Dạ Lý Hương của bầu Xuân. Sau nầy sân khấu cải lương cũng bị lụi tàn, leo lét như đèn treo trước gió!
o O o
Tui vốn là dân “vưỡn”, dân miệt vườn, lớn lên một chút đã lội nát nước Nam Kỳ Lục Tỉnh! Ðã qua biết bao lần Bắc Mỹ Thuận, Bắc Cần Thơ và Bắc Vàm Cống.
Cái bắc cuối cùng tui qua là Bắc Rạch Miễu (nối Mỹ Tho với Bến Tre) và Bắc Hàm Luông về Mỏ Cày để đêm vừa xuống, leo lên thuyền xuôi Ba Ðông vượt biên cuối năm 1988; vì tháng Tư năm 1989 các trại tỵ nạn khắp vùng Ðông Nam Á sẽ bị đóng cửa. Tui đi nhưng trong lòng vẫn thương nhớ những chiếc bắc ngày xưa cũ!
Nhớ Bắc Mỹ Thuận, ngang sông Tiền mênh mông, vàng quạch phù sa, mà Tây đặt tên là “les bacs de My Thuan”.
Nhớ Bắc Cần Thơ, ngang sông Hậu dài 1,840m! Phía Cần Thơ, cầu Bắc tại Cái Khế! Phía Vĩnh Long, cầu Bắc tại Cái Vồn, quận Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
Chiếc Bắc cặp vào gờ ponton (phao nổi), một chú em kéo một cái dây cáp móc vào cái trụ trên ‘ponton’ để ngăn không cho chiếc Bắc tuột ra, để xe đang ‘đề pa’ không bị rớt tuốt xuống sông!
Ðêm quê người, trong cơn mơ về quê cũ, trong tiếng mưa rơi lộp độp ở hiên nhà tui vẫn nghe văng vẳng tiếng: “Tới Bắc Cần Thơ rồi, bà con xuống xe đi bộ, qua Bắc”. Tui tuột xuống giường cái rột làm em yêu giựt mình hỏi tui đi đâu đó: “Lẹ lẹ lên em ơi! Trễ Bắc, làm sao mình về lại Úc cho được! Hu hu!” Em yêu đợi tui hơi tỉnh ngủ, bình tâm lại, bèn vỗ về an ủi: “Mai anh phải đi khám bác sĩ tâm thần mới được!” “Bắc Mỹ Thuận, nay đã nghỉ chạy; vì Úc đã giúp xây xong cầu Mỹ Thuận.
Bắc Cần Thơ, nay đã nghỉ chạy; vì Nhựt đã giúp xây xong cầu Cần Thơ.Thì còn chiếc Bắc nào đâu mà anh sợ trễ chớ?” “Phần hai vợ chồng mình chưa có về quê cũ thì việc gì phải sợ trễ Bắc, trễ máy bay, kẹt lại ở Việt Nam đó anh yêu?”
o O o
Từ Cần Thơ đi Sài Gòn chỉ có 171 cây số bây giờ xe chỉ chạy mất 3 giờ 24 phút. Chớ hồi xưa cũng cung đường ấy qua sông nên phải lụy đò, phải qua hai lần bắc! Mình rời Cần Thơ lúc tuổi thanh xuân vô tới cầu An Lạc ở Sài Gòn đầu muốn bạc.
Mất 8, 9 tiếng đồng hồ là thường. Cùng khoảng thời gian đó, bây giờ bằng mình leo lên máy bay ở phi trường Tullamarine, Melbourne đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt để đi uống bia ôm như thằng bạn nhậu (mất nết) của tui hay làm vào những ngày cuối năm giáp Tết. Nó rủ tui về hoài hè; nhưng tui lắc đầu quầy quậy, nói tui hổng dám ỷ có chút đỉnh rủng rỉnh tiền đô, về để du hí thì thiệt là tệ hơn con khỉ.
Tỉnh cơn mộng du, trời chưa sáng (như quê mình vậy). Tui lui cui rót ra ly rượu đỏ làm một hơi để nhớ về người chiến hữu thương binh ngày cũ trên Bến Bắc Cần Thơ: “Chiều qua phà Hậu Giang tiếng ai hát dạo buồn thay. Tiếng ca sầu mênh mang như khơi niềm đau năm tháng xưa. Chân nạng gỗ thấp cao kéo lề đời theo dòng nhạc đưa. Mảnh chiến y phai màu khúc ca nào gợi sầu khôn nguôi!”
Ðêm cuối năm về sáng quê người sao buồn quá Má ơi?!
Cưới vợ một lần là sợ tới già nên tui không dám làm tới lần thứ hai. Nhiêu khê lắm mấy anh ơi.
Nè trước khi cưới là Tía Má mình phải làm Ðám hỏi, mà Tây gọi là Ðính hôn!
Người Việt mình ở Úc nầy đây dù gả cho Tây hay cho Mít ít nhiều cũng còn giữ gìn phong tục của ông bà mình. Nhưng không khe khắt lắm. Cái nào của Tây hay hay, mình cũng học chớ không bo bo thủ cựu như các cụ ngày xưa!
Ðối với Tây thường chỉ có một đám Tân hôn thôi. Người Việt có tới hai lễ: Vu quy và Tân hôn.
Vu quy, tổ chức bên nhà gái, sính lễ: gồm trầu, cau, (vì miếng trầu là đầu câu chuyện), dù bây giờ đâu còn ông, bà nào ăn trầu xỉa thuốc rê nữa. Rồi rượu, chè tức trà, nhẫn, hột xoàn, dây chuyền, đồ trang sức cho cô dâu; cộng thêm tiền chợ tức tiền làm tiệc để quan viên hai họ cùng vui.
Tiệc tan, đoàn rước dâu sẽ rời nhà gái về nhà trai để làm lễ Tân Hôn. Theo cô dâu về nhà chồng cũng có mấy em phù dâu, tức dâu phụ, chưa chồng. Mấy em trang điểm lộng lẫy như Thẩm Thúy Hằng hay Thanh Nga để quảng cáo chào hàng. Ðám cưới nầy mới đẻ ra đám cưới kia chớ!
Rước dâu về, tân lang và tân giai nhân cũng đến bàn thờ gia tiên, nam tả nữ hữu, lạy, báo với ông bà tiên tổ nhà mình có thêm một người nhập vào ‘hộ khẩu’.
Rồi lạy, lạy hoài hè! Lạy cha mẹ chồng, chú, bác, cô, dì bên chồng để nhận phong bì tiền mừng cưới. Ðược miễn lạy mừng muốn chết! Chớ cuốc lên cuốc xuống hoài đêm động phòng hoa chúc, còn xí quách nữa đâu mà cuốc. Hổng lẽ đuốc hoa còn đó mặc nàng nằm trơ?
Chú rể nhận phong bì mừng cưới nhưng đừng bỏ túi mà đưa cho cô dâu giữ để thiên hạ đừng có xầm xì là thằng chồng gì mà rít quá, kẹo kéo quá.
Ðêm hợp cẩn giao bôi động phòng hoa chúc, tân lang nói với tân giai nhân là: “Thôi hai đứa mình bắt đầu đi!” Em e lệ, mặt đỏ bừng, lí nhí trong cổ họng: “Anh tắt đèn đi đã!”
“Tắt đèn thì làm sao thấy đường mà đếm tiền hè? Bà chủ nợ cho anh mượn tiền làm đám cưới em còn ngồi ngoài bàn chờ kia kìa!”
Thì ra mới về với nhau, em nghĩ chuyện khác, tiền bạc không quan trọng bằng yêu. Sau nầy thì ngược lại 180 độ.
Còn anh, đầu tiên phải là tiền đâu trước? Còn cái vụ kia có mất đi đâu mà sợ chớ, nên từ từ cũng được.
***
Úc đây ít thấy đám cưới làm tại nhà như quê mình mà đến những dịch vụ chuyên tổ chức đám cưới.
Bỏ tiền ra là guồng máy chuyên nghiệp phục vụ cho ngày vui của đôi trẻ khởi động liền.
Dĩ nhiên, tùy túi tiền nặng hay nhẹ thì đám cưới lớn hay nhỏ. Coi vậy chớ tốn cũng khẳm lắm nhe!
Hãy nghe một em du học sinh lấy chồng Úc, trải nỗi lòng … thòng trong tiệc cưới của mình như sau: Ðám cưới ở Australia, tốn kém hơn ở Việt Nam nhưng không khí thoải mái, vui vẻ hơn và không câu nệ hình thức.
Tiệc cưới theo kiểu Tây, gồm món khai vị, món chính và tráng miệng, được người phục vụ thường là những sinh viên làm thêm cuối tuần dọn các món ra dần dần, mỗi người một phần ăn rất lớn, bảo đảm ăn là no luôn.
Cuối cùng là trà, hoặc cà phê. Bia rượu các nhân viên sẽ phục vụ tại bàn, có quầy bar nhỏ để ai thích có thể ra đó uống rồi tự mình móc xỉa.
Khách gồm gia đình, bạn bè và đồng nghiệp tới 150 người. Mỗi đầu người dự chi khoảng 150 đô. Vợ chồng em tốn hết khoảng 30 ngàn đô Úc.
Khách Úc không đi phong bì như ở Việt Nam mà mang hoa, chai rượu hay những món quà nhỏ! Sau tiệc, mỗi người có một hộp kẹo xinh xinh mang về.
Ðám cưới theo kiểu Úc là có tiền thì làm, không thì chờ; chớ hổng hy vọng gì có phong bì để mà gỡ vốn, là ngày vui của mình thì mình ráng chi, ráng chịu; chớ hổng có ai nhào vô gánh tiếp cho mình.
Có một ông khen là: “Ðám cưới bạn hay quá. Ðể mình rút kinh nghiệm cho lần sau!” (He he! Con vợ mầy nghe được thì mầy chết!)
Truyền thống người Việt mình thì hay hơn nhiều. Hai vợ chồng tui đi đám cưới ít nhứt cũng 400 đô. Ối tiếp sắp nhỏ mà! Mình ăn mình trả tiền chớ tụi nó có lời lóm gì đâu?
Nhưng cầu mong một năm xin mời vợ chồng tui đi đám cưới một lần thôi nhe! Thân lắm hãy mời. Còn quen sơ sơ xin quên dùm một cái được hông?
Người Việt mình mới định cư không lâu mà đám cưới người Việt ở Úc nầy tới 5, 6 trăm khách là thường. Úc thấy còn hết hồn. Ðông đến nỗi Úc nó tưởng là mình đi biểu tình chống Trung quốc chớ không phải là đi ăn đám cưới.
Do đó mấy chú Việt Nam bên nầy dù cưới vợ Tây hay vợ Việt nên mời khách Việt hơn là khách Tây, vì Tây nó đi đám cưới đã không cho tiền mà còn ôm con vợ mình hun nữa chứ!
***
Melbourne nầy, mùa cưới là mùa Xuân, hoa chen sắc thắm, tháng Mười hoặc mùa Thu, tháng Ba chuẩn bị lạnh, nên quý anh mình sắm cái lò sưởi 37 độ rưỡi nầy về ôm cho nó ấm.
Tiệc cưới thường tổ chức vào những ngày cuối tuần: Thứ Bảy hạng nhứt, Thứ Sáu hạng nhì và Chủ Nhựt hạng ba.
Ngày Thứ Bảy, sau Lễ Tình nhân (Valentine’s Day) rơi vào mùa Thu là ngày được ưa chuộng nhứt. Nhưng phải đặt cọc trước 2, 3 năm mới có chỗ đó!
Ðàn ông Úc trong gia đình, ngày thường đóng một vai trò rất mờ nhạt!
Cho đến ngày bàn giao con gái mình vào tay một thằng khác, mới được quyền chiếm đài phát thanh mà dạy đời và tán dóc.
Nói với con gái: “Tía đã làm cha suốt một khoảng thời gian dài, Tía đã lo lắng khi con gái mình bị ốm (dĩ nhiên không phải là ốm nghén), đã tắm cho con, đã ru con ngủ. Tía không bao giờ nghĩ ngày con sẽ theo chồng. Nhưng cuối cùng thì Tía rất vui vì từ nay cái bồn tắm duy nhứt trong nhà sẽ trở lại tay Tía.”
Rồi quay sang con rể tương lai: “Tía xin tự giới thiệu Tía là thân phụ của cô dâu! Khi lớn lên nó đã kêu Tía bằng cái tên thân thương, bữa nào nó làm biếng thì gọi cụt ngủn là ‘Dad’, bữa nào siêng nó gọi dài hơn một vần là ‘Daddy’.
Tuy nhiên đôi khi nó cũng gọi Tía là: ‘Visa, Mastercard hay American Express’.
Giờ Tía giao con gái cưng của Tía cho con và hãy nhớ là: Hàng mua rồi không được quyền trả lại.
Từ giờ phút nầy: Con là rể của Tía, là người trong nhà. Con đường tình ta đi, Tía đã trải qua, hôm nay Tía xin trải lòng mình cho con một trời tâm sự!
Nhớ rằng khi phải tranh luận với vợ về vấn đề gì thì hãy để cho nó nói lời cuối cùng. Còn nếu con muốn nói lời cuối cùng, thì câu đó phải là: ‘Em nói đúng!’ Cầm bằng nói câu khác hơn con sẽ khơi mào cho một cuộc cãi lộn mới.
Khi con sai hãy mở miệng ra mà nhận lỗi nhé! Khi con đúng nhớ đừng có mở miệng ra.
Cưới vợ rồi tốt hơn mua một cuồn băng keo dính về dán miệng trước khi đi ngủ vì: Có ông nầy đến nhà thờ lúng búng vài câu rồi thấy rằng mình đã kết hôn.
Một năm sau, trong giấc ngủ, ông cũng lúng búng trong miệng vài câu và thấy rằng mình ly dị.
Cũng như Tía, chắc con chưa hề biết hạnh phúc là gì cho đến khi con cưới vợ. Tiếc thay lúc đó đã quá trễ, chim đã vào lồng cá đã cắn câu.
Tía tin rằng con không cưới vợ vì tiền. Vì mình đi mượn tiền ở ngân hàng sẽ chịu tiền lãi ít hơn.
Bởi một cuộc sống vợ chồng hạnh phúc chỉ gom lại hai chữ cho và nhận. Chồng cho và vợ nhận.
Người ta nói tình yêu là mù quáng. Tin Tía đi! Hôn nhân sẽ làm con sáng mắt ra!
Tía không nghi ngờ gì về chuyện con có đủ phẩm chất để làm chồng. Nhưng đủ phẩm chất làm con rể thì hãy chờ xem. Coi mỗi Chủ Nhựt, con còn đến nhà hay là cứ để Tía cắt cỏ một mình.
Tía chúc con rể của Tía được nhiều may mắn.”
Sau lời khuyên chí lý của thằng bạn Úc nầy với con rể nó, thì chỉ một ngày sau nó bị vợ bỏ vì tội tuyên truyền bôi xấu lãnh đạo nhà ta.
Ai chơi chữ cờ tây, chắc dân nhậu? Ác đức cầy tơ có ngon không mấy cậu? Bất nhơn gà chết chó hiện về bên hàng giậu.
Mình thật hậu đậu, không hiểu vì sao bà con gọi khỉ là Thân, gà là Dậu, mà Tuất là chó. Cũng mù tịt chẳng biết vì răng con người khi bất hoà lại trút phẫn nộ vào đối tượng bằng ba chữ: “đồ chó má”, hoặc nặng hơn: “đồ chó đẻ”? Ngược lại, cũng có nhiều bà mẹ âu yếm nựng con mình, hôn hít rồi nũng nịu cất tiếng: “chó con của mẹ”. Bốn chữ này nặng ký hơn “cục vàng của tui” và giá trị ngang với ba chữ “thương hết biết” !
Danh sĩ Phan Bội Châu (1867-1940) cuối đời được dân chúng gọi tên thân yêu “Ông già Bến Ngự”, có nuôi một con chó, đặt tên là Vá. Khi Vá mất vào năm 1934, Phan Bội Châu tự tay làm mộ chôn và dựng đặt bia đá, khắc ghi:
“Vì có dũng nên liều chết phấn đấu. Vì có nghĩa nên trung thành với chủ. Nói thời dễ, làm thiệt khó. Người còn vậy, huống gì chó. Ôi con Vá này đủ hai đức đó. Há như ai kia mặt người lòng thú. Nghĩ thế mà đau dựng bia mộ nó”.
Cả mộ lẫn bia vẫn còn ở Huế. Vẫn ngàn năm bia đá cứ thế trơ trơ.
Trong báo Ngày Nay số 210, ngày 1/6/1940, Tú Mỡ (tên thật Hồ Trọng Hiếu 1900-1976) có đăng bài thơ Con Chó (mượn tư liệu của Nguyen Ngoc NY):
“Nội tất cả các loài gia súc Người ta khen chó là nhất mực tinh khôn Chó đối với người có nghĩa tựa tôi con Người đối với chó vẫn gọi tôn là bạn tốt Chó rất sở trường về môn nịnh nọt Khéo chui luồn vẫy vuốt cái đuôi Để tỏ tình quyến luyến chủ nuôi Cũng lắm lúc quá lả lơi thân mật Mới thành câu: “Chơi chó, chó liếm mặt!” Cho hay quá nịnh xằng vị tất đã ai ưa? Tuy rằng có công săn sóc sớm trưa Song kiếp chó vẫn tiếng là kiếp khổ…” (ngưng trích).
Lại nhớ tới Nguyễn Vỹ (1912-1971), người chủ trương bán nguyệt san Phổ Thông có từ năm 1958, tác giả câu: “Nhà văn An Nam khổ như chó!” Chỉ than vậy thôi, nghe mơ hồ vì chưa có ai trình bày rõ vì sao chó khổ, nó khổ ra sao? Người ta mặc nhiên công nhận điều đó mà chẳng buồn giải thích cớ sự do đâu! Có bài hát bọn trẻ con ưa ngêu ngao: “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ, ngồi mình trâu…” Vậy mà không ai đoái hoài tới chó để thử ê a: “Ai bảo đã là chó thì phải khổ? Ở ngoại quốc xem báo thấy chó sướng lắm cơ”.
Những tờ nhật báo phát hành trước 1975, có tờ dùng một góc ở trang nhất đăng tải chuyện lặt vặt vừa xẩy ra dưới tiêu đề “Từ Thành Đến Tỉnh”. Cũng mang nội dung ba điều bốn chuyện vớ vẩn như thế nhưng có tờ lại dùng chữ “Xe Cán Chó, Chó Cán Xe”. Như vậy, nội tất cả các loài gia súc, e rằng chỉ có chó là con vật được (bị) con người nhắc, lôi đầu ra để nói quàng nói xiên. Cũng chó, đồ rằng nó có nhiều tên gọi nhất: Vá, Cún, Mực, Vàng, Cầy, Khuyển, Cẩu… Vậy thì chó được biệt đãi hơn mèo, gà, chim, cá… mà con người thích nuôi? Và không rõ từ bao giờ, động vật hai chân tên gọi là người đâm ghiền thịt chó, một mực già mồm: Chưa thấy có thịt con nào ngon hơn! Ngon nhức răng, xong tới ngon nhức nách! Thơm điếc mũi chỉ là chuyện nhỏ!
Người Việt từng trải qua giai đoạn sống với bí kíp “con gì nhúc nhích là ăn”. Cực khổ qua rồi, có của dành của để rồi, bèn nổi máu tìm món ngon vật lạ khác. Chúng ăn không từ một thứ gì! Vậy là sinh ra “sự cố”, bày giữa đời một thứ nghề mới, không “đụng hàng”: Khuyển tặc. Bọn này làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm hòng cân bằng cán cân giữa cung và cầu. Quán nhậu “treo đầu chó bán thịt cầy” mọc tràn đìa trên từng cây số, phô trương thương hiệu không khoan nhượng và khách đi đường nhìn vào, ngầm đồng tình: Thật là khổ như chó! Khuyển tặc có nhiều đứa làm ăn sơ suất bị “lộ hàng” nên chúng khó bề đương cự khi người dân vây lại đánh. Đòn roi giáng xuống kèm tiếng chửi: Đồ chó đẻ! Người dân kể: Phàm đứa nào từng xơi thịt cầy, đi tới đâu chó sủa theo tới đó. Con Vện nhà tui nổi tiếng hiền từ, vậy mà trưa nay nó ra ngoài sân sủa vang rân. Mũi nó ngửi ra đứa từng ăn thịt đồng loại nó. Có tin không? Chẳng mấy thuyết phục nhưng nghe qua lời giải thích dạ có băn khoăn. Chúng ta ghét ai mới tìm cách hại kẻ đó. Vậy thì giết chó để ăn thịt nó thì động lực chưa chắc là do sinh lòng thù hận. Cũng có thể vì thương chó? Thiếu mặt nó đâm tương tư đến quay quắt. Đời mà vắng thịt chó, đời ấy ắt quạnh hiu, nhạt mồm vậy!
Khác với Bắc Hàn, khác Trung Quốc, khác Việt Nam là đi đâu cũng nhìn thấy nhung nhúc những tượng đài lãnh tụ, lạc chân sang xứ hoa anh đào đem thắc mắc hỏi người dân Nhật Bản ngụ ở Tokyo: Hình như xứ sở của quý vị không có anh hùng để tôn thờ? Nụ cười hiền lành nở trên môi (Honda, Yamaha, Suzuki), có chứ sao không. Theo tôi đến gần nhà ga Shibuya tôi chỉ cho xem một bức tượng đồng khá khiêm tốn dựng đặt trong một không gian nhỏ bé. Chỉ tay vào hình tượng một con chó, giới thiệu với vẻ tự hào: Đó, vị anh hùng dân tộc của chúng tôi. Chú chó mang tên Hachiko, mỗi ngày ra sân ga đợi chủ suốt trong 9 năm mỏi mòn để chết trong niềm tuyệt vọng bên đường rầy vắng lạnh. Sự trung thành, niềm chung thuỷ một dạ sắt son, do vậy chúng tôi xem Hachiko là anh hùng, có xứng đáng không? Đâu cần phải đạp đổ mọi thứ luân lý đạo đức để đi làm cách mạng cốt mong nhìn ra cảnh máu đổ thịt rơi, nhỉ?
Hachiko, tựa như một trang “huyền thoại” xẩy ra ở Nhật Bản, một lần nữa, góp chung với các huyền thoại khác đã gây tiếng vang đến khắp cùng thế giới (ở các nước văn minh tiến bộ dân chủ thôi nhé). Mọi người đã nghiêng mình, đã cúi đầu, đã nhỏ lệ trước giống vật thân thương có tên Cún, Cầy, Vá, Vện, Mực…
Dạo đó, hồi mình còn nhỏ, gia đình có nuôi một con chó được đặt tên Lu. Lông màu vàng toàn thân, dưới bụng có đốm trắng. Thông minh, hiền lành, biết nghe lời. Xuân Mậu Thân, cả nhà hớt hãi lo chạy giặc mà chẳng ngó ngàng gì tới Lu, cứ ngỡ là Lu cũng sẽ nối đuôi đi men theo những vách tường, những bờ cây bụi cỏ để lần về tìm nơi trú ẩn gần đồn Mang Cá. Gần cả tháng trời tản cư, mọi người thay phiên đi lộn trở lại địa chỉ cũ. Xác mấy ôn ôm AK 47 nằm la liệt bên vệ đường, dưới hố mương hoặc vắt thân qua bụi chè tàu. Trời lạnh, ảm đạm một màu xám. Vách nhà loang lỗ những dấu đạn cày xới, một cái dù trắng (có thể từng mang theo trái sáng hoả châu) phủ một góc mái bếp. Cây vú sữa đổ thân bên nhánh sầu đông gầy và bất ngờ thay, từ một vũng tối thâm u bóng màu vàng của Lu chồm ra, quấn quýt sủa thiếu đường chảy nước mắt. Bốn phần tủi sáu phần mừng rơn. Ốm nhom, xác xơ vì cả tháng cầm cự với sự trống vắng người thân, với tên bay đạn lạc mù trời. Nhờ vào dịp Tết, sẵn có bánh chưng bánh tét, xôi chè mứt món mà đông đảo con cháu dâng lên bàn thờ cúng ông bà cha mẹ. Thực phẩm ê hề, phải nói là cao lương mỹ vị được bày sẵn của một thành phố bỏ hoang cho nên Nguyễn Đắc Xuân cùng một bộ phận không nhỏ các đồng chí từng đấu tranh đô thị, từng nằm vùng tha hồ tiếp thu ăn cho bõ những ngày cơ cực. Nếu bọn người từ núi rừng tràn về tổng tấn công không nhằm vào dịp tết, e số phận của Lu cùng giống nòi chúng ắt đang sống chuyển sang từ trần. Lu còn sống, gần cả tháng trong địa ngục có thật là một điều nhiệm mầu. Có thể vì chó không mang nợ máu với “nhân dân”. Và những kẻ hôm qua từ Huế lên xanh hôm nay trở về chỉ lo thanh toán nhân dân mà tha cho phận súc vật đớn hèn. Lu sống sót có phải là nhờ ơn cách mạng không?
Mậu Thân. Thất bại. Đồ con khỉ! Nhưng có ngày rồi những kẻ vô thần đã thành “bên thắng cuộc”. Đa phần, người bên thắng cuộc đều yêu chuộng món thịt chó. Chó lỡ sinh trưởng ở Việt Nam có muốn noi gương Hachiko bên Nhật e cũng chẳng có cơ hội, điều kiện, nhân bản, giáo dục, môi trường… các thứ. Năm 2018, âm lịch kêu bằng Mậu Tuất. Trở lại giai thoại khi nghe Nguyễn Vỹ than: Nhà văn An Nam khổ như chó! Bạn bè ông đã lên tiếng: Nói thế có khác gì bạn xúc phạm tới những nhà văn? Nguyễn Vỹ đáp: Biết đâu chó mà nghe được nó lại đâm ra tủi thân…
Xin lưu ý, chuyện xẩy ra đã quá lâu, không dính dáng gì tới hội nhà văn đương đại giờ nầy đâu, nhớ? Chẳng biết nhân năm con chó, báo bổ bên ấy có ai mủi lòng đề cao con vật trung thành mang tên cầy không nhỉ? Dù sao nhân năm Mậu Tuất đang về, mình xin thành tâm cầu mong cho người trong nước bớt nói “đồ chó đẻ”. Khi đã hết chó đẻ thì chỉ còn lại một loại người ngó có vẻ tử tế. Có đúng không ạ? Đừng mừng đảng, chỉ mừng Xuân thôi. Nghe thế có dân chủ không nào? Ôi dào, phải mà U-23 nhà ta vô địch môn bóng đá nhỉ, xuân này ắt hẳn khác xuân xưa! Thưởng nóng nhé. Vui xuân tạm quên nhiệm vụ nghe mấy chú.
Để tránh lôi thôi, Thục My quyết định mang tôi đi trình diện Clementine. Cô giáo trẻ gọi thêm bà Beatric đến, ba bốn mặt một lòng ngầm thoả thuận rằng, đừng hô hoán mông-xừ Tran là l’étranger, kẻ lạ ngác ngơ bất chính đột nhập vào sân trường với mục đích xấu. Ông Tran này nếu không bố, thì bác, chẳng bác thì chú, tóm lại là người thân thích của cháu Annie, đại diện mẹ bận lu bu công chuyện mần ăn, Tran sẵn lòng dang tay đón Annie về nhà trong an toàn, cho dẫu bé ngoan có làm bộ làm tịch phụng phịu mặt mày.
Thục My đã đi mài dũa một chiếc chìa khoá nhà, ân cần trao phó bản vào tay tôi. Tôi móc cái chìa vàng ấy nằm chung đụng với ba cái của riêng tôi, kiếm sợi dây tròng vào cổ, đong đưa trước ngực cùng thẻ nhựa đi xe buýt mua hằng tháng. Tay My bao giờ cũng ấm khi chạm phải. Mười ngón, hai mươi ngón khác biệt chỉ giống nhau ở chỗ, cả đôi lứa đều không đeo nhẫn, trống vắng. Thục My bảo: Đã nhớ chưa, đúng ba giờ rưỡi, chịu khó đừng để con bé mầm non mẫu giáo lạc loài hoang mang khi đứng đợi, tội nghiệp.
Như vậy, tự dưng tôi có job mới, chủ không trả lương, không cả quan hoài trao bonus hai chữ “tội nghiệp” cho ông Tran xứng đáng đón nhận một chia sẻ thân thương, cả tin, đong đầy uy tín.
My xong việc lúc 5 PM. Về tới nhà nếu hanh thông đường sá cũng bóng đổ tà dương lu mờ cảnh sắc. Tôi làm quen với Annie mới non tháng, con bé 5 tuổi “chảnh” như một thiếu nữ dậy thì vui buồn bất chợt. Trời giông, trước khi đổ nước cũng biết làm khúc dạo đầu bằng mây đen kéo về bưng bít. Annie khác, tính khí trời sợ, không quỡn để đưa lời cảnh báo trước. Xem chừng nó biết kẻ lạ là mông-xừ Tran này sẽ “từ ngoài sân sau lần vô bếp”, là bad guy muốn soán đoạt bớt cảm tình mà má nó dành riêng cho cục cưng. Nhưng nói nào ngay tôi biết học bài nhẫn nhục, Tran là đệ tử ruột của thằng cha nội Hàn Tín xem việc lòn trôn thiên hạ chỉ là chiện nhỏ, chẳng hề lấy đó làm điều. Căn tu thâm hậu do vậy hôm giới thiệu với mấy cô giáo coi trẻ, Annie đã nắm lấy tay tôi biểu hiện tình hữu hảo môi hở răng lạnh.
Về ngón đòn tâm lý chiến thì dễ như ăn ớt, ba rưỡi đến hẹn lại lên, tôi xẵng xái đặt chân vào vùng cấm địa, toét miệng cười, chào hỏi thắm thiết tới quý vị phụ nữ xong, liền dắt con bé đi thơ thẩn tới cửa hàng Mách Đô. Tôi có xem tờ báo chợ, thống kê cho rằng 90% các đấng nhi đồng thảy mặn khoai tây chiên đi cùng cái hamburger hoặc cục thịt gà bọc bột chiên, tu một hơi gần cạn ly coke. Mặt tươi như hoa được phun nước, tiếng cười trong trẻo vi vút hơn lệ thường. Bận ngồm ngoàm cứng miệng, nếu không đã ghé tai tỏ tình: Je t’aime.
Thục My luôn khuyến khích tôi trao đổi tiếng mẹ đẻ cùng Annie. Mới 5 tuổi khả năng đàm thoại của con bé y như tôi khi sử dụng tiếng Pháp với người bản xứ, có nghĩa là còn giới hạn lắm. Nó đã vất bỏ chữ ông Tran, nó gọi tôi lúc bác lúc chú. Không riêng nó, ngay cả già đầu như tôi cũng chẳng biết cha nó, papa, ba, bố còn sống hay đã chết. Ổng giang hồ vất vưởng phương nao. May cho Annie, nó chưa một lần thắc mắc, gióng hỏi. Nó biết cái đáng biết, Tran, bác, chú nọ không thể là người khiến má nó mang bầu rồi hạ sinh ra một con bồ câu bé nhỏ. Bồ câu là tên ở nhà của Annie. Tôi từng ra sức vẽ nên một con bồ câu giống thật vào giấy rồi biểu nó tô màu tuỳ thích, xanh xanh đỏ đỏ trẻ nhỏ cũng ưa. Đó là kế điệu hổ ly sơn, để bác và má có cơ hội đứng trong bếp cùng sát vai thổi lửa nấu ăn chung. Thục My nói: Bồ Câu biết hôn, ngoài tài vẽ đẹp, bác còn biết nấu nhiều món ngon lắm. Và như thế, lắm khi tôi nai lưng thêm chức sếp bếp, hoặc ngửa tay nhận tiền cậy nhờ đi chợ mua sắm nguyên vật liệu ở nhà đang thiếu thốn. Ghi ra giấy kẻo quên, lần trước xớn xác dặn một đường tha đồ về một nẻo, trật chìa, lộn tùng phèo. Người gì mà cứ dật dờ, để tâm trí rơi tận đâu đâu á!
Tôi mần thinh, chưa phải lúc để thưa thốt: Dạ thưa em, lòng dạ Trần này bận tơ tưởng tới hình dáng em. Đứng gần em thì băn khoăn không rõ sau áo xống lụa là che đậy kia là thức gì ẩn dấu? Trần khờ khạo lắm, mong được em chỉ giáo một lần để sớm mở mắt, có vậy con bồ câu mới đâm quyến luyến với con chim cu này.
Có bữa mát trời ông địa, đón Annie về, nó đòi vào công viên coi ông già vô gia cư ngồi yên trên băng ghế đá mặc tình cho đàn chim mổ thức ăn rơi bám thân ông. Phải hiền từ đôn hậu lắm chim mới thân tình ríu rít vây quanh xem nhau như bạn được. Chân tay tôi có biến thành bốn ổ bánh mì e chim chóc cũng nhác ăn, cạy mặt cái đứa đến từ nơi chốn “con gì nhúc nhích đều xơi ráo”. Tôi không phải “tự nhiên như người Hà Nội” ghiền món thịt cầy, chưa hề thử “ngon nhức răng” vậy mà đi ngoài đường có nhiều con chó gầm gừ, mắt long lên kỳ thị thấy rõ. Chuyện nhỏ! Chuyện nhớn là Annie càng lúc càng “mặn nồng” với bác, Bồ Câu xem tôi là người bạn đồng minh có thể chơi được, có thể gặp cảnh bất bình rút đao tương trợ, đừng hòng có đứa nào lén phén tới ăn hiếp tao, nhớ. Mông-xư Tran biết kung-fu đấy.
Coi cảnh ngoạn mục chim ăn chim ỉa trên đầu ông già rách rưới có thể là xem phim quảng cáo phút đầu, anh thanh niên đạp xe ba bánh chứa thùng kem nhiều màu tựa bên thân cây rậm lá mới là bộ phim chính lâm ly bi đát hơn hẳn. Chưa coi mà đã chảy nước miếng. Bác, con thích ăn kem. Ơn trời, may mà trong túi có chêm chút bổi, làm đứa khố rách áo ôm thì chẳng biết mần răng giải quyết. Ô kê, kem thì kem, sợ gì. Kem múc hai cục rõ to ém vào cái ly làm bằng loại bánh xốp. Của cháu là chó-có-lát của ông là va-ni, vị chi là tám đô chín mươi chín xu. Va-ni dắt chocolat tìm bãi cỏ mượt nhẹ nhàng buông thân nửa nằm nửa ngồi mút lấy mút để hai cục đường mát ngọt cần cổ. Tôi nhìn vẻ say sưa của con bé, thè lưỡi liếm cho mòn, cho triệt tiêu cục kem trơn láng: Bồ Câu thích có em không? Là sao? Con thấy mấy con chim đậu sát bên người ông ấy không? Lúc nào chúng cũng có bạn, chúng chẳng đi một mình. Em là bébé, là đứa bé sẽ được chị Bồ Câu bồng bế ẵm ru. Môi con bé ướt ngọt: Nếu con thích em bé thì phải xin má, hay xin bác? Ai cho con?
Đàm thoại cho có, cho khỏi quên tiếng mẹ đẻ, tưởng sẽ chìm vào dĩ vãng, ai có ngờ đâu chữ “em bé” đã ghim vào trí nhớ nhỏ nhoi kia. Hồi nào con lớn bộn bề, ắt con “về nhà dối mẹ”, hiện tại con tẻo teo như cây kẹo, con thật thà như đếm: Má, con muốn có em bé. Có lửa mới sinh ra khói, má rùng mình đón nghe lời trần tình quá sức cực đoan, má nhìn bác bằng đôi mắt biết nói: Ô là la, mông-xừ Tran đã đầu độc trẻ thơ, còn ai trồng khoai đất này? Gieo rắc tai hoạ là hậu quả của việc giao lưu tình cảm chùng lén giữa song phương bấy chầy, ưa bắt đương sự viết bản kiểm điểm quá. Em bé đâu phải từ trên trời rớt xuống dưới đất chui lên. Muốn tựu thành ra em bé thì biết bao cơ man là gay cấn buộc phải nhắm mắt liều mạng bước qua cầu tre lắc lẻo. Có rớt xuống sông làm ướt cái quần ny-lông thì tai kíp nghe lời ai hát hỏng: Dô đây em đợi quần khô anh sẽ đưa em dìa. Cởi quần phơi cho ráo nước, trong khi chờ đợi thời khắc từ ướt tới khô, em nào biết mần chi, há lẽ anh biểu em ngồi không? Hoàn cảnh ấy rất mực căng thẳng, thót tim trong e ấp. Búi xờm xờm chớ hổng giỡn chơi đâu nhen. Hèn chi người xưa dạy: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Chốn cô quạnh khiến tim mềm, ta dễ nghe lọt tai lời rù quến.
Tôi vụng tu. Tôi vụng về. Tôi không biết cách xử thế. Tôi chẳng thông hiểu mức nông sâu của lòng người. Tôi thất nghiệp. Người ta đã từ chối bao công sức tôi trao chẳng toan tính. Người ta đã gài số de, lùi một lèo, không thèm nháy đèn chẳng cần đạp thắng. Lỗi tại tôi mọi đàng. Tiên trách kỷ hậu trách nhân.
Điện thoại im re. Bước lên bậc thềm cửa đóng then cài bấm chuông chẳng ai mở, đút chiếc chìa khoá vàng mãi tòn teng trước ngực vào ổ, đút hoài chẳng vô. Ai kia nhẫn tâm đã thay ổ mới, nhìn qua cửa kính, thấy đen thui một sự từ khước lạnh tanh. Thất bại, đứng dáo dác nghe gối mỏi chân mòn, chẳng biết làm chi tôi rảo chân đến ngôi trường với lấn cấn dấu hỏi: Chuyện gì? Tại sao? Sao quay lưng mà chẳng bảo gì nhau?
Chào cô Clementine, cô khoẻ không? Ah, chào ông Tran. Cảm ơn, tôi tốt. Ông đến có việc gì không ạ? Mẹ của Annie đã thốt lời chào tạm biệt chúng tôi, dọn tới chốn khác thuận tiện hơn, có lẽ vậy. Ơ, đợi tôi một chốc nhé, chừng hai phút thôi, tôi có cái này trao ông.
Tôi đứng nhìn vào cánh cửa vừa mở rộng, một hành lang sạch bong thắp sáng những đốm điện vàng, thế giới êm ả đó vừa gửi trao một hương mùi đặc thù nó riêng thu cất. Mùi bàn ghế hao mòn của bao thế hệ từng mài đít, mùi giấy ẩm của sách vở, bục gỗ, bảng đen, phấn trắng chừng cũng biết phát hương. Hít phải, nghe lòng bồi hồi trong hoài niệm tự ùa đến. Đã là ngôi trường thì buộc chúng phải có linh hồn, thứ linh hồn luôn tỉnh thức. Nó không đời nào chợp mắt, dẫu nó thoi thóp nằm yên trong ba tháng hè. Nó tựa chứng nhân, bao dung, sẵn lòng hàn huyên cho bạn nhớ về một thời vụng dại tuổi học trò. Thời gian đã lạnh lùng soán đoạt cái kho báu giá trị ấy. Bạn nghe ra một nỗi đau dịu dàng, buồn tủi. Cắm cúi học vạn điều hay lẽ phải để về già vẫn thấy mình chưa thật sự khôn lanh.
Đây, ông xem. Annie vẽ nhiều bức nhưng tôi vẫn thích bức tranh này nhất. Cô Clementine đã trở lại, tay nắm tờ giấy vung vẫy khi bước ra. Trong các lớp, chúng tôi vẫn trang hoàng chật vách bằng chính thành quả các em say sưa vọc màu. Trẻ con bao giờ cũng đáng yêu, hồn nhiên thể hiện rõ qua màu sắc, đường nét. Clementine trao cho tôi bức tranh vẽ bằng màu nước có ghi tên Annie bên dưới. Tranh vẽ một gã đàn ông tay chân lòng khòng ngồi trên ghế đá, trên đầu có đậu con chim rõ to. Màu chim xanh, xanh nhỏ giọt chảy tràn trên bãi cỏ, lốm đốm. Con bé giải thích, mông-xừ Tran là người còn con chim mang tên Annie. Mình thương ai thì mình để trên đầu, con bé khẳng định thế. Trên đầu chứ không trong tim. Ông giữ làm kỷ niệm.
Cảm ơn nhiều. Tôi nói, cẩn trọng gói tròn tờ giấy nhăn nhúm vì màu nước tấp dày. Tôi bắt tay Clementine, chào tạm biệt. Tôi đón xe buýt về chỗ trọ. Có lẽ tôi sẽ kiếm tìm một công việc nào đó để cứu vớt phần nào, không ai an lòng sống với những ngày vô tích sự. Trước, tôi có chiếc xe hơi mua trả góp, làm chân cẳng vì hãng xưởng nằm tuốt ngoài xa lộ. Một ngày băng giá tự dưng có chiếc xe tải lảo đảo lạc tay lái đâm thốc một bên thân. Tôi nằm viện hơn tuần lễ, không biết cách viết đơn kiện tụng. Theo giám định hiện trường nơi xẩy ra tai nạn, hãng bảo hiểm đã bồi thường cho tôi một số tiền khá lớn. Tôi thong dong quên việc cày bừa đã được hai năm, tôi sợ ngồi vào tay lái do vậy tôi quyết định dùng phương tiện vận chuyển công cộng. Tôi trình bày rõ mọi chuyện cho Thục My nghe, cô nói nhàn cư vi bất thiện, chi bằng tới giúp cô những việc cô không kham nổi. Nhỏ nhặt như bóng điện bị hỏng bất chợt cũng chẳng biết cách thay cái mới.
Tôi ghé ngang một cửa hiệu chuyên bán khung ảnh. Người bán hàng muốn giúp tôi việc lồng bức tranh vào trong. Ông ta bảo, bức vẽ này quá dễ thương, hãy cho tôi xén bớt khoảng trống, như vậy bố cục sẽ hoàn chỉnh hơn. Tôi gật đầu. Cháu được mấy tuổi rồi? Picasso từng nói: Mỗi một đứa bé đều là nghệ sĩ…
Tôi trả tiền. Tôi cầm lên “tác phẩm” của Bồ Câu vừa được gói giấy cẩn thận. Tôi bước ra, tôi băng qua đường vì chợt thấy một quán nước lộ thiên có trương dù che nắng gió.
Ông dùng cà phê loại gì ạ? Không, hãy bán cho tôi một cốc kem, loại chocolat, xin vui lòng.
Tôi nghe như có tiếng cười trong trẻo của Bồ Câu vừa vọng vào đôi tai. Tôi đồ rằng Thục My chê tôi nghèo khó. Tôi mút cục kem, ngậm bồ hòn làm ngọt. Tôi là ông già rách rưới ngồi trong công viên mà chim chóc ái ngại chẳng dám đáp xuống ríu rít hót ca quanh thân. Chẳng có con chim nào đậu ngay đỉnh đầu tôi cả. Yêu ai nên để trên đầu. Ai đã dạy con chuyện ấy? Trên đầu là nơi chỉ dành riêng cho bố mẹ thôi, con ạ. Tôi cầu mong cho Bồ Câu ở được trong một cái chuồng vững chắc, che kín nắng mưa, tránh tai ương vụt đến tước đoạt đi hạnh phúc má vừa ra công gầy dựng. Annie, toa có thương moa không? Moa treo bức tranh này bên chỗ nằm cho tới mãn kiếp.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.