Truông Nhà Hồ! Phá Tam Giang!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu.

Post by Sơn râu 24 Feb 2024

Mùa hè đỏ lửa năm 1972, CS Bắc Việt điên cuồng vét hết thanh, thiếu niên miền Bắc ném liên hồi vào chảo lửa chiến tranh.
Nhà thơ CS Lê Bá Dương viết:

“Ðò lên Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ.
Ðáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng nước.
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm!”

“Có tuổi hai mươi thành sóng nước” chưa hoàn toàn chính xác lắm đâu; vì trong nghĩa trang Trường Sơn, cổ thành Quảng Trị bây giờ, có nhiều bia mộ của những người lính CS Bắc Việt, ghi năm sinh là 1953 hoặc 1954.
(Nghĩa là lúc đó những người lính sinh Bắc tử Nam nầy vẫn còn tuổi thiếu niên chỉ vừa 18, 19 tuổi).

***

Tháng Tư, năm 1972, hai sư đoàn CS Bắc Việt tràn qua sông Bến Hải cộng thêm một sư đoàn từ Lào về tấn công Cam Lộ, La Vang, Hải Lăng chiếm được thị xã Quảng Trị. Quân ta buộc phải đoạn chiến, lui binh về bờ Nam sông Mỹ Chánh.
Ðến tháng Sáu, năm 1972, quân ta chuẩn bị phản công để chiếm lại cổ thành Quảng Trị. Một chiều tháng Sáu, năm 1972 tháp tùng Tướng Bùi Thế Lân, Tư lịnh Sư đoàn TQLC, nhà thơ Tô Thùy Yên bay trên phá Tam Giang, gió lộng, mênh mông nước trời phía dưới.
Nhớ câu ca dao sầu vạn cổ:

“Nhớ em anh cũng muốn vô.
Sợ Truông nhà Hồ sợ Phá Tam Giang”

Nhà thơ Tô Thùy Yên cảm tác thành bài: “Chiều qua Phá Tam Giang”, là một trong những tuyệt tác về thân phận nhỏ bé của người lính cả đôi bên, trong chiến tranh, trong vùng đất điêu tàn bị tử thần của cuộc chiến khốc liệt bủa vây.

Ngày xưa, muốn đi vào hai châu Ô, châu Rí (Lý) của nhà Hồ tức Chiêm Thành thì chỉ có đường bộ và đường thủy. Ðường bộ thì phải qua Truông nhà Hồ và đường thủy thì phải vào Phá Tam Giang.

“Anh đi Rạch Giá qua truông.
Gió rung ngọn sậy ngồi buồn nhớ em!”.

Truông là vùng đất hoang, rộng bạt ngàn, có nhiều cây cối um tùm, lau sậy, có đường mòn nhưng hai bên và phía trên đầu người đi đều có thân cây và cành lá bao phủ.
Nên ngày xưa bọn cướp tàn ác chọn Truông nhà Hồ làm sào huyệt để cướp bóc lương dân. Ngày nay, Truông nhà Hồ trải dài hai bên Quốc lộ I, thuộc 2 xã Vĩnh Long và Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Còn Phá Tam Giang diện tích khoảng 52km², trải dài khoảng 24km, chỉ sâu từ 2m đến 4m. Mùa nước đổ tràn về mới có nơi sâu tới 7m. Mặt nước rộng mênh mông do ba con sông: sông Ô Lâu (Phong Ðiền), sông Bồ (Hương Trà) và sông Hương (chạy qua Cố đô Huế) đổ về thông ra biển bằng Cửa Thuận An quá hẹp nên hiểm trở, sóng gió trên cửa Phá Tam Giang thường rất dữ dội. Sóng to đến mức làm cho thuyền bè ra vào cửa thường bị chìm.

***

Nhà văn Sơn Nam từng nói: “Muốn viết văn, muốn hiểu văn là phải biết Sử Ðịa!” quả không sai!
Khi biết chút đỉnh về Truông về Phá, chúng ta đọc “Chiều qua Phá Tam Giang của nhà thơ Tô Thùy Yên!
Nhà thơ Tô Thùy Yên là nhà thơ tài hoa duy nhứt gốc Nam Bộ trong nhóm Sáng Tạo. Chữ ông dùng tưởng chừng như đã cũ nhưng lại mang cái nghĩa mới toanh.
Như trong bài Trường Sa Hành, Tô Thùy Yên viết:

“Mùa Ðông Bắc gió miên man thổi.
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa”.

Chữ ‘tưa’ ở đây chưa hẳn là ‘tả tơi’ hoặc như một nhà văn gốc Bắc đoán là chữ đã xưa, dùng cuối thế kỷ 19 trong từ điển Ðại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình – Tịnh Paulus được nhà thơ Tô Thùy Yên làm mới lại!
Không hẳn vậy đâu! Người Miền Nam, nhất là miệt Lục tỉnh Nam Kỳ, vẫn còn dùng ‘tưa’ đó chứ. Như khi ăn trái khóm, trái thơm nhiều quá lưỡi bị ‘tưa’ đi. Hay gió thổi mạnh làm tàu lá chuối bị ‘tưa’ đi, tức là bị rách nhiều khoảng cách nhau chừng một gang tay.
Thơ của Tô Thùy Yên chứng tỏ được hai điều: Một là: bất cứ một phương ngữ Bắc, Trung, Nam nếu được nhà thơ dùng một cách xảo diệu cũng hay như thường hè!
Cái thứ hai là nhà thơ Tô Thùy Yên làm tan biến đi cái định kiến thơ hay dở theo vùng miền. Miền nào cũng có nhà thơ hay hết ráo. Thơ không có ‘chủ nghĩa lý lịch’ chen vô nhe!

Nhà thơ Tô Thùy Yên cũng từng nói: Ðộc giả được quyền hiểu thơ theo cách nhìn của chính mình! Thế nên khi nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ nhạc từ đoạn 2 viết về tình yêu của một bài thơ ‘Chiều Trên Phá Tam Giang’ dù âm nhạc có tánh lan tỏa rộng, làm nhiều người biết đến bài thơ hơn nhưng Tô Thùy Yên bảo đó không phải tứ thơ ông hài lòng nhất trong bài nhưng vẫn tôn trọng quyền của độc giả phổ thơ ông!
Riêng thiển ý, người viết lại thích đoạn 1 của bài thơ nơi Tô Thùy Yên cắt nghĩa thân phận của những người lính miền Bắc phải sinh Bắc tử Nam vì tham vọng của một lũ điên!

Chiếc trực thăng bay là mặt nước
Như cơn mộng nhanh
Phá Tam Giang, phá Tam Giang
Bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát
Cát hôn mê, nước miệt mài trôi
Ngó xuống cảm thương người lỡ bước
Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi

Phá Tam Giang, phá Tam Giang
Nhớ câu ca dao sầu vạn cổ…

…Ta ngó thấy ghe thuyền quần tụ
Từng đoàn như trẻ nhỏ ghê ma
Ta ngó thấy thùy dương gãy rủ
Từng cây như nỗi bất an già

Ta ngó thấy rào chà cản nước
Từng hàng như nỗ lực lao đao
Ta ngó thấy nhà cửa trốc nóc
Từng ngôi như mặt đất đang gào

Vì sao ngươi tới đây?
Hỡi gã cộng quân sốt rét, đói
Xích lời nguyền sinh Bắc, tử Nam

Vì sao ta tới đây?
Lòng xót xa, thân xác mỏi mòn
Dưới mắt người làm tên lính nguỵ

Ví dầu ngươi bắn rụng ta
Như tiếng hét
Xé hư không bặt im
Chuyện cũng thành vô ích

Ví dầu ngươi gục
Vì bom đạn bất dung
Thi thể chẳng ai thâu
Nào có chi đáng kể

Nghĩ cho cùng, nghĩ cho cùng
Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm
Có cùng gom góp lại
Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu?

Ngươi há chẳng thấy sao
Phá Tam Giang, phá Tam Giang ngày rày đâu đã cạn?
Ta phá lên cười, ta phá lên cười

Khi tưởng tượng ngươi cùng ta gặp gỡ
Ở cõi âm nào ngươi vốn không tin
Hỏi nhau chơi thoả chút tính bông đùa:

Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh
Cho tổ quốc Việt Nam – một tổ quốc…?
Các việc ngươi làm
Ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm

Các việc ta làm
Ta xét thấy chẳng ra chi
Nên ngươi hăng điên, còn ta ảm đạm
Khi cùng làm những việc như nhau

Ta tự hỏi vì sao
(Còn ngươi, có bao giờ ngươi tự hỏi?)
Và ta tự trả lời
(Có bao giờ ngươi tự trả lời?)

Chúng ta khác nào cánh quạt phi cơ
Phải quạt, phải quạt
Chỉ vì nó phải quạt

Ta thương ta yếu hèn
Ta thương ngươi khờ khạo
Nên cả hai cùng cam phận quay cuồng
Nên cả hai cùng mắc đường Lịch Sử
Cùng mê sa một con đĩ thập thành

Chiều trên phá Tam Giang rộn ràng tiếng chiến trận
Chiều trên phá Tam Giang im lìm âm cảm thông.

***

Nhà thơ Tô Thùy Yên đã từ trần lúc 9 giờ 15 phút tối Thứ Ba, ngày 21, tháng Năm, 2019, nhằm ngày 17, tháng Tư, năm Kỷ Hợi, tại Houston Texas, hưởng thọ 82 tuổi.
Ông mất đi nhưng vẫn còn để lại rất nhiều bài thơ hay. Trong số đó có bài: “Chiều Trên Phá Tam Giang” viết về chiến tranh, tình yêu và thân phận con người.
Phải công nhận đó là một trong những bài thơ hay nhất của nền văn học miền Nam viết về cuộc chiến Việt Nam.
Tôi xin cảm ơn ông!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Trở về từ cõi chết!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 24 Feb 2024

Theo tác giả người Mỹ, Guenter Lewy, chỉ trong vòng 9 năm, từ 1965 tới 1974, thì cuộc chiến tranh xâm lược của CS Bắc Việt vào Miền Nam Việt Nam đã làm:

Quân đội VNCH và Ðồng minh chết: 282,000.

CS Bắc Việt và VC chết: 444,000.

Thường dân Bắc và Nam Việt Nam chết: 627,000.

Tổng cộng: 1,353,000.

Ngoài những người bị thiệt mạng, còn nhà cửa, tài sản của lương dân vô tội bị phá hủy và hội chứng sau chiến tranh làm vô số quân nhân và thường dân còn chịu nhiều đau khổ cho tới tận ngày hôm nay.

Một trong những người tưởng đã chết nhưng cuối cùng may mắn được trở về là: Binh nhứt Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ: Ronald L. Ridgeway.

Là con của một công nhân đường sắt Southern Pacific, Ridgeway xuất thân từ một vùng ngoại ô thuộc tầng lớp lao động tại Houston, Texas, USA.

Ông thôi học và gia nhập Thủy quân Lục chiến bởi vì muốn trốn chạy cái bi kịch của một gia đình tan vỡ vì cha mẹ ông ly dị.

17 tuổi khi đăng lính Thủy quân Lục chiến vào năm 1967; 18 tuổi bị bắt cầm tù; 19 tuổi bị làm đám tang và 23 tuổi được phóng thích ra khỏi nhà tù Hỏa Lò Hà Nội, sau Hiệp định Paris năm 1973.

Mới đầu tại quê nhà Texas, trường cũ của ông: loan báo trên loa phóng thanh là ông bị mất tích khi chiến đấu (missing in action).

Nhưng thân mẫu của ông nhận được thư của cấp chỉ huy ông cho biết rằng vẫn còn một chút hy vọng! Tuy nhiên vào tháng Tám, bà nhận được một thư chia buồn từ Lực lượng Thủy quân Lục chiến là ông đã tử trận.

Trong lúc đồng đội và gia đình thương tiếc người chiến sĩ đã bỏ mình thì Ronald L. Ridgeway đang bị quân CS Bắc Việt cầm tù một cách khắc nghiệt trong suốt 5 năm trời.

Ronald L. Ridgeway thường bị biệt giam, bị cô lập, bị hành hạ về tinh thần cũng như thể xác bởi địch quân, cho dù đối với ông, vốn đã là một tù binh, thì cuộc chiến tranh đã chấm dứt…

***

Gần 50 năm sau khi bị cho rằng mình đã tử trận, Ridgeway, giờ đã 68 tuổi, đang ngồi suy tư ở nhà, hồi tưởng lại cuộc chiến tranhViệt Nam.

Có từ 20 đến 40 ngàn quân CS Bắc Việt bao vây khoảng 6 ngàn Thủy Quân Lục Chiến ở căn cứ Khe Sanh! Chúng pháo kích cấp tập và có súng phòng không làm hạn chế các cuộc không yểm, nên các cuộc tuần tra ngoài căn cứ để tìm kiếm vị trí đóng quân của địch là cực kỳ nguy hiểm.

Vào buổi sáng đầy sương mù, ngày 25, tháng Hai, năm 1968, trung đội tuần tra do Thiếu úy Donald Jacques, 20 tuổi, chỉ huy lọt vào cuộc phục kích của địch quân.

Binh nhứt Ronald L. Ridgeway trong nhóm 4 người dẫn đầu trung đội, đang lục soát một giao thông hào hình chữ chi trống rỗng.

“Thình lình quân địch ném lựu đạn xuống. Chúng tôi cũng ném trả lại vài quả lựu đạn ! Ðột nhiên chúng tôi nhận ra tiếng súng của Thủy Quân Lục Chiến phía sau ngừng bặt.

Khi nhóng lên nhìn quanh quất, chúng tôi thấy lính CS Bắc Việt từ những bụi cây thấp tiến về phía họ. Tôi đoán chắc chúng cho rằng các người lính đó đã chết hết. Chúng tôi phải làm gì bây giờ? Chúng tôi phải rút lui.”

Charles G. Geller rút trước, theo sau Ronald L. Ridgeway chạy ngược về trảng cỏ nơi họ xuất phát. Khi chạy đến bờ rìa, họ gặp Willie J. Ruff, 20, quê Columbia, tiểu bang South Carolina, đang nằm vật ngửa ra vì bị trúng đạn vào tay. Geller quỳ xuống cạnh Ruff, một viên đạn trúng vào mặt Geller, gây một vết thương kinh hoàng. Khi Geller đang trong trạng thái bấn loạn vì bị thương nặng cố quỳ lên thì địch quân ném một quả lựu đạn và giết chết anh ấy.

Ruff  khẩn cầu Ridgeway đừng bỏ anh lại. Ridgeway nói: “Không! Tao không bỏ mầy lại đâu!” Ðêm đó Ruff chết!

Rồi Ridgeway bị một viên đạn xuyên qua bả vai.“Chúng tôi nằm trên trảng trống. Tất cả điều có thể làm là nằm đó và giả chết.”

Ridgeway vừa tỉnh vừa mê. “Chúng đã bắn trúng tôi và bỏ mặc cho chết, rồi tiếp tục xung phong tràn qua xác của tôi!”  Trời sụp tối, pháo binh từ căn cứ Khe Sanh cày nát khu vực nầy.

After his disappearance, Ridgeway’s name was etched onto a tombstone in a St. Louis cemetery, along with those of eight fellow Marines who went missing in the 1968 ambush. (Fred Waters/Associated Press)

Ridgeway sực tỉnh vào sáng hôm sau, khi ai đó kéo cổ tay mình. Mới đầu ông nghĩ là đồng đội Thủy Quân Lục Chiến nhưng sau lại là một tên lính Bắc Việt, mặt non choẹt, đang cố rứt cái đồng hồ ra khỏi cổ tay của ông.

Cuộc hành quân cứu viện để thu hồi xác tử sĩ đã không xảy ra vì cấp chỉ huy sợ sẽ bị chịu thêm nhiều thương vong. Thế nên các tử sĩ phải nằm ngoài đó ròng rã suốt 6 tuần.

Cuối cùng, vào ngày mùng 6, tháng Tư, năm 1968, Thủy Quân Lục Chiến mới có thể trở lại chiến địa. Chỉ còn lại xương cốt của những người đã chết, giày trận và thẻ bài…

Tất cả được mang về nhà xác dã chiến tại căn cứ Khe Sanh nhưng nhận dạng chính xác chỉ được 9 người trong 26 người được liệt kê mất tích.

Những phần di thể không thể nhận dạng, được liệm chung trong hai chiếc quan tài, chôn dưới hai ngôi mộ tập thể.

Vào ngày mùng 10, tháng Chín, 1968, đám tang theo lễ nghi quân cách rất trang trọng được cử hành tại nhà quàn Jefferson Barracks, Nghĩa trang Quốc gia St Louis, thân mẫu của  Ronald L. Ridgeway đến dự và mang về một lá quốc kỳ nước Mỹ được gấp lại.

***

Xa bên ấy, mùa mưa Bắc Việt Nam đang đến và Ronald L. Ridgeway đang là tù binh chiến tranh đã được 7 tháng.

Tàn trận đánh, chúng băng bó và cáng ông xuyên rừng bên Lào rồi trở vào Bắc Việt Nam. Trải qua nhiều trại tù trong rừng, bị nhốt trong chuồng cọp bằng gỗ làm vết thương trở nặng hơn.

Ông mặc bộ đồ tù binh chiến tranh, POW, màu hồng và xám, mang dép râu!

(Tất cả những thứ đó ông mang theo về làm kỷ niệm khi được phóng thích)

Ông bị chấy rận, bị sốt rét rừng, bị kiết lỵ hành hạ. Hậu quả là sụt mất gần 50 pounds.

Một điều tra viên được ông đặt cho cái biệt danh là ‘phô mai’ (cheese). Vì hắn trông giống một miếng phô mai bự chảng. Mặt hắn như một con chuột chù, tánh tình lại cực kỳ hung ác.

Hắn nói tiếng Anh và ngồi trên một cái ghế cao khi hỏi cung, và khi hắn ra dấu bằng cách gật đầu, tên lính dưới quyền dùng gậy tre đánh đập, tra khảo tù nhân đang bị trói nằm dưới sàn nhà.

Dẫu bị tra tấn tàn bạo như vậy nhưng ông không bao giờ cộng tác với kẻ thù, ông nói dối với bọn điều tra và khai ra những tin tức quân sự không có thật!

Những cai tù quân CS Bắc Việt cho rằng ông là một kẻ cứng đầu ngoan cố, và tất cả bọn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là đồ súc vật!

Ông nói: “Bạn phải tính từng ngày một. Trong đầu, phải ráng nghĩ rằng mình sẽ sống sót. Phải tin rằng chúng sẽ không đánh bại được mình, tin rằng cuối cùng thì mình sẽ chiến thắng!”

Ông  ngồi cô độc trong xà lim không cửa sổ, cạnh một chiếc giường gỗ! Không có ai để chuyện vãn, cố giữ vững tinh thần bằng cách tưởng tượng rằng mình đang ở một nơi nào khác, một ngày nào đó trong tương lai ông sẽ mua được một chiếc xe ‘pick up’ để chở vợ và con đi câu cá.

Tháng Giêng, năm 1973, đang bị nhốt trong nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội, mà tù binh Mỹ gọi châm biếm là ‘Hanoi Hilton’ (Khách sạn Hilton Hanoi), thì những kẻ giam cầm ông loan báo rằng: Các tù nhân chiến tranh sẽ được phóng thích theo thỏa thuận hòa bình trước khi Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam.

Khi danh sách tù binh Mỹ được công bố, tên Ronald L. Ridgeway nằm trong số đó. Ở Houston, mẹ ông đập cửa nhà hàng xóm, reo mừng: “Ronnie’s alive!” (Ronnie còn sống!)

Nhiều tháng sau khi trở về,  Ronald L. Ridgeway tới doanh trại Jefferson Barracks, Nghĩa trang Quốc gia St. Louis để nhìn tận mắt tấm bia mộ của chính mình. “Ambushed Patrol Died in Vietnam Feb. 25, 1968.” (Toán tuần tiễu bị phục kích, đã chết tại Việt Nam  ngày 25-2-1968).

Retired Marine Ronald L. Ridgeway, photographed at his Texas home, was 18 years old in 1968 when his patrol was attacked in Vietnam. He was captured and held prisoner for five years before being released, a time during which he was believed dead. (Matthew Busch for The Washington Post)

Năm nay, 2017, khi Hoa Kỳ đang đánh dấu nửa thế kỷ kể từ cao điểm chiến tranh Việt Nam ác liệt nhứt vào năm 1967-1968 thì chiến công của một thanh niên dũng cảm trong chiến đấu, bền gan trong ngục tù, dù bị hành hạ tra tấn một cách dã man, vẫn sống sót để trở về từ cõi chết lại xuất hiện trên truyền thông Mỹ.

Dẫu cuộc chiến Việt Nam (theo cách gọi của người Mỹ) vẫn còn chia rẽ người Mỹ một cách sâu sắc, nhưng họ cũng có cùng một điểm chung là: “Chúng ta, những người may mắn còn sống sót sau cuộc chiến, không bao giờ được phép quên lãng những người đã nằm xuống!”

đoàn xuân thu.

melbourne

Nhân ngãi

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 02/08/2019 

Post by Sơn râu 24 Feb 2024

1.
– Nếu mày có vợ, người ta câm lặng. Nếu mày ở chung với một người con gái, người ta xí xọn rêu rao: Thằng ấy có mèo.

Quân nâng ly cà phê đen đá lên, tợp một hớp. Xong nói tiếp: Khi đã có vợ mà còn vụng chùng, còn đèo bồng thêm một nhan sắc, đối tượng kia được mang hỗn danh bồ nhí.

Sĩ thắp một điếu thuốc, thở khói:

– Mày chúa lý sự lôi thôi, luôn áp đặt những từ không chính xác. Mèo với bồ nhí là cái thá gì? Cơm với phở cũng thuộc dạng hồ đồ. Bà kia là vợ chính thức, bà nọ là người tình, đơn giản là thế, minh bạch là thế. Mày có mèo rồi à? Hay mày đang thậm thụt cùng bồ nhí?
Quân đổi thế ngồi:

– Cà phê chỗ này uống được quá đi chớ.

Sĩ nhìn ra bóng nắng đang nới rộng dần, bắt đầu ăn vào dãy xe gắn máy dựng sát trên hè phố:

– Vì tiện đường thôi chứ thực chất tao chẳng mấy thích quán này. Làm cái méo gì mà trương bảng hiệu “Thơm Như Tình Nhân Cũ”?

– Chê bai là quyền của mày, nghĩ ra tên gọi khác lạ là quyền của họ. Thực chất thì đổi mới cũng cần thiết.

– Nhằm đổi mới hoàn cảnh sống, kiếm một con mèo có cần thiết không?

– Tao chẳng rõ. Cũng tuỳ. Mèo tao nói đằng ấy to gan thật, thế nào cũng có lúc phải ra chuồng heo mà nằm… Sao mày cười?

– Tại tao nhớ lại một chuyện tiếu lâm, có anh chàng nọ khai bệnh với bác sĩ: Đêm qua tôi ho như gà, nằm co quắp như tôm, run như thằn lằn đứt đuôi, lệ tuôn như nước mắt cá sấu… Vị bác sĩ xua tay: Anh sang phòng bên kia, nơi ấy mới có bác sĩ thú y.

– Ờ, thì con người đôi khi phải nương nhờ vô thú vật vậy. Hàng xóm tao có con bé luôn kêu tao là đồ dê chúa. Có sao đâu? Dễ thương hơn đồ rắn mắt với lại đồ chằn ăn trăn quấn.

Sĩ hỏi:

– Có gọi thằng Long không? Sao chưa thấy rồng đất tới?

Quân cười:

– Thì phải chờ nó dàn xếp ổn thoả chuyện vợ con đã chứ. Đâu phải thong dong muốn đi là đi ngay.

– Nghĩa là sao? Nó tử tế? Nó đạo đức? Nó gương mẫu? Nó không thích dây vào chuyện mèo mả gà đồng?

– Nghĩa là được chúng bạn phong cho danh hiệu hội viên hội sợ vợ. Chưa nghe nó phân bua à? Tuy mang tên Long nhưng tao tuổi Tý lấy nhằm bà vợ tuổi Mẹo. Cái số nó vậy, cọp hay mèo thì chuột phải ngán, lẽ thường tình. Ông bà vẫn nói một sự nhịn chín sự lành. Long này tuyệt không biết sợ vợ. Chiến hữu gật gù, nói cũng đúng, vậy từ nay mày đổi qua làm hội trưởng hội thích hoà bình. Long gật đầu: Phải đa, súng ống ích gì cho buổi ấy?

Dưng không, Sĩ lớn tiếng:

– Linh như cái miễu, vừa nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo lộ hình!

Long đi vào:

– Trên đường đi tao nhảy mũi liên hồi kỳ trận. Chúng mày nói xấu gì ông đấy?

– Thưa ông, chúng cháu chỉ thắc mắc, chẳng rõ ông có biết thơm như người tình cũ là gì không ạ?

– Vợ tao từng đặt đít ở đây rồi, nàng khen quán này được a, chẳng thấy bóng dáng mấy em phục vụ viên ăn vận ít vải bẹo hình bẹo dạng ở đâu cả. Nom lành mạnh ra phết.

– Vậy là ngon cơm rồi. Trời phán không bằng vợ phán. Lính tráng cũng có hai mươi bốn giờ phép vậy. Nhưng cớ sao đến trễ thế, cha nội?

– Bị tao mang bộ đồ vía đi giặt khô. Coi tóc tai thằng Quân kìa, không tính hớt tém cao ráo sạch sẽ gọn gàng sao?

– Con ghệ tao bảo trông tướng tá anh rất mực nghệ sĩ, anh mà xuống tóc thì cái mặt ngó cộc cằn dữ tợn như dân anh chị vậy đó. Ẻm nhận xét thì mình phải nghe thôi. Cái đáng quan tâm là tao chưa tậu được một bộ đồ ăn nói nào cả.

– Đi ra chợ hàng bành, đồ xi-đa mà bới tìm, giá đã bèo lại còn thơm ngát cả mùi Mỹ. Đi ăn đám cưới mà trần thân nghĩ cũng kỳ, lâu lâu mới có một lần chứ nào như mỗi tháng trăng lại rằm. Thằng Huỳnh tâm sự bằng mọi giá chúng mày phải đến chung vui, biểu dương lực lượng chớ phía đàng gái quân số đông cấp đại đội. Mẹ, phút đầu mà thấy cán cân chênh lệch thì còn thế giá gì cánh mày râu nữa!

– Lỗi ở thằng Huỳnh cả. Hay là do trời sắp đặt? Khi không lại làm tài khôn đi chọn vợ chợ đông. Rước một nàng ở tiệm hớt tóc không dao kéo về dinh. Đứa nào thích xơi phở thì lo quan hệ thắm thiết với vợ thằng Huỳnh là vừa.

– Đừng vẽ đường cho hươu chạy chớ. Thân này lẽ nào ví xẻ làm tư!

Đang chuyện trò rôm rả thì có tiếng chuông điện thoại đổ dồn trong túi quần của ai đó. Nhìn qua ngó lại thăm dò, sau cùng Sĩ moi cái iPhone ra: A lô… Hắn đứng lên, áp sát tai vào cái vật khởi sự lôi thôi rồi đi tìm chỗ vắng tiếng động.

Long nhìn theo:

– Tao chúa ghét điện thoại thông minh, mình trốn trong góc kẹt ở hóc bò tó nó cũng định vị được. Nôm na là chạy trời không khỏi nắng. Rồi mưa giông, rồi sấm sét; báo đăng tin có anh chạy xe ôm đứng núp bên mái đình móc di động báo cáo cùng vợ hiền liền bị thiên lôi vác búa đánh xuống một tia chớp gọi là bắt sóng, người nám đen như khúc củi ẩm còn hun khói. Vợ vào bệnh viện thăm hỏi nghe chồng thều thào, tại em đó, cứ bắt đi thưa về trình cho cố xá. Câm lặng đã là vàng, bẩm thưa đành chịu đen đúa thôi!

Sĩ trở lại, đón nhận mấy con mắt săm soi ngầm tra vấn. Sĩ nhún vai: Đám cưới thằng Huỳnh xong, e tao cũng nên dẫm vào vết xe đổ của hắn. Đã mang lịch ra tính ngày, đã mang bao cao su cẩn tắc vô áy náy vậy mà cũng tắt kinh. Tao về nha. Bực cả mình.

Quân nói, cứ y như quân sư: Trước mắt chỉ có ba phương án, một là chở em đi phá, đi trục của nợ ra. Hai là ăn cơm trước kẻng, vợ chồng e thẹn ra mắt bà con cô bác. Ba là tam thập lục kế tẩu vi thượng sách.

Long đưa lời bình: Trong ba điều, mục thứ hai là nghe ổn nhất, hợp công đạo nhất. Tao vui vẻ đóng vai phụ rể. Đã là bạn bè của nhau, nỡ lòng nào bày chuyện tào lao làm thắt họng hiền hữu.

2.
Cha ăn mặn con khát nước. Người ta nói sao thì mình nghe vậy, chẳng phản bác. Tôi không dám phạm tội bất hiếu, chỉ trích, lậm bàn. Ba tôi có một bà lớn, một bà bé và một cô non tuổi lúc nào cũng nũng nịu chú với cháu. Tôi rất nể phục, tim ông đã lớn mà xem chừng đầu óc ông cũng cực kỳ lanh lợi chuyện dương Đông kích Tây, đâu ra đó chẳng gây ra thảm cảnh nhà tan cửa nát. Nay ông an giấc điệp ở giường này, mốt ông ngơi mộng thắm trên giường khác. Một kẻ cô đơn hẳn sẽ không ngủ thẳng cẳng một giấc an lành suốt năm canh như ông.

Ba tôi có lắm con, chuyện dễ hiểu, mặc dù ông chẳng đoái hoài gì tới phương thuốc “Lục giao sinh ngũ tử” của vua Minh Mạng. Một hoàng hậu thì nói làm gì, đằng này có thêm thứ phi rồi lai rai cung tần mỹ nữ vào ra những hôm trái gió trở trời. Cảnh buồn người có buồn đâu bao giờ. Xem ra ba tôi vui suốt hai mùa mưa nắng. Tôi là con bà hai, trên tôi có ba anh chị của con bà một. Má ruột tôi chép miệng: Mấy ông có thói trăng hoa thích đèo bồng những lê với lựu thì họ cũng có sẵn vạn lý do để cả vú lấp miệng em. Ba mày đã có được thằng con trai làm vốn, vậy mà còn hối tao đẻ thêm ra mày, ổng lập luận “để dành đặng phòng hờ, ba cây chụm lại nên hòn núi cao, hai ba bốn hợp quần thì phải hơn mình ên đơn độc”.

Thằng con trai làm vốn kia lớn hơn tôi năm tuổi, là trai trưởng nên toàn gia một mực nể nang kính mến. Một dọc em út đều là gái nên ảnh không mặn với “ngũ long công chúa” kia, coi bộ thằng chả gần gũi với tôi hơn. Đàn ông con trai với nhau, có ẩn ức gì cũng dễ thổ lộ cho nhau nghe.

– Mày tính đi tu hả? Sao cứ nghe êm ru bà rù miết.

– Êm chuyện gì?

– Chuyện gái gú chớ còn chuyện gì nữa? Có con nào chưa?

– Chưa.

– Còn trinh hả?

– Còn.

– Nghe thảm. Thua cả mấy người đi tu. Sư cũng có khi phá giới.

– Muốn phá giới thì phải làm sao?

– Hổ phụ sanh hổ tử. Ông già nghe được ổng thêm rầu mày. Tướng mạo mày đâu đến nỗi nào. Mấy đứa em, như con Mận con Đào nhà mình cũng rậm rật đi đốn cây si trước cổng đến mỏi cả tay. Không ấy mày thử xuống nước nhờ hai chị em nó mai mối cho một con bò lạc.

Tuần sau, Mận cho tôi tấm ảnh: Nhỏ này tên Ninh Kiều. Chịu đèn không? Kiều này chẳng ân oán gì với Thuý Kiều đâu nhen. Anh hai biểu em ra tay tế độ chớ thực bụng con Mận này chẳng dại làm mai lãnh nợ gác cu cầm chầu.

Anh hai đi vô, bộ dạng rất quyền huynh thế phụ:

– Bằng mọi cách mày phải chứng minh cho tao thấy, rằng mày là em tao, mày không định đi tu, mày vui thú đâm đầu vào đường tình muôn vạn nẻo.

Mận góp lời:

– Quan trọng là đừng để bị nghi ngờ mình đích thị dân bóng, mình pê-đê chính hiệu con nai vàng.

Và như vậy, phải có mợ chợ mới đông. Hết mợ tới dượng thôi bàn ra tán vào, thôi dị nghị. “Hắn đã chịu xuống núi”. Họ thở phào. Hắn kè được con bò lạc. Tôi ê a, ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ… Bồ tôi mang tên Ninh Kiều, mỹ miều thế chứ chẳng sinh quán ở Cần Thơ đâu nghen. Tơ lơ mơ cầm tay nghe em nói, ờ có khi màu nắng không chói bằng sắc áo em mang. Em ghét tên Kiều bị hồng nhan bạc phận vận vào người từng qua một lần dang dở, xin anh thật lòng đừng gây thêm trắc trở buồn đau. Thì mình đang có nhau chung tay lựa nhặt vàng thau. Kiều nhắm mắt chìa môi cho tôi hôn mau, ngực nàng thở gấp đôi vú cau. Có hơi trai nựng nịu rồi hôm nào nó sẽ lớn bộn, tôi nghe đồn bưởi Biên Hoà ngọt nước sờ mềm mềm bóp êm êm, nào còn biết gì thêm.

Lâu lâu anh hai liếc mắt vô giường làm bài sát hạch: – Đến đâu rồi? Vẫn còn ăn chay à? Chưa ngã mặn sao mầy? – Hết Mận thì tui đổi sang hỏi con Đào, em cho hay rằng dục tốc bất đạt, con gái mà dễ chuyện đó thì thiệt thòi mình chịu chớ trách móc ai, phàm đã chơi dao thì ai cũng biết tránh cầm đằng lưỡi. – Vậy thì mày đã bú mồm nhỏ Kiều chưa? – Đã. – Ờ, có vậy chứ. Hôm nào đẹp trời mày dắt Kiều qua cầu để nhỏ về nhà dối mẹ qua cầu gió bay. Ngoài áo quần, thân thể con gái cũng có lắm thứ để bay biến trốn biệt. Khi mất đi nó sẽ đâm quyến luyến mày, bu như sam. Nhỏ Kiều qua tuổi vị thành niên chưa, sao ngực em bé thua cả ngực tao vậy? Bụng tao có sáu múi đây nè, bụng nó thì sao? – Thì thấy có lỗ rốn và hai nốt ruồi.- Chỉ nhiêu thôi hả? Mày bắt chước con chuồn chuồn thử cắn rốn nó xem nó có biết bơi không?- Thử mà hổng đặng, em kêu đời là bể khổ anh đừng quẳng em xuống, em chìm mất tiêu.

Để bổ túc làm rõ vì sao tôi lâm vào cảnh khát nước, nói cách khác tôi đành thuật lại ở đây một chuyện tình không đoạn kết. Hôm đó mặt Kiều xanh lè, em kêu nhác chơi ăn gì vào liền nôn ra chẳng khoan nhượng. Tưởng ngộ độc thực phẩm tôi hối em vô bệnh viện súc ruột. Kết quả giám định, chắc như đinh đóng cột, em đã cấn thai, bầu bì gần ba tháng. Sao nỡ lòng nào đối đãi với nhau như thế? Anh hai biết chuyện, lầu bầu:- Tao tin mày và tao biết trên đầu mày vừa mọc sừng. Xong cái ảnh hát: Đừng buồn nghe em, cố nén đau thương ngóng chờ… Thua keo này bày keo khác. Bò đi lạc thì tìm heo nái, tìm gà mái, tìm nai ngơ ngác. Thiếu chi. Hà rầm.

Mận trách: -Anh cù lần quá, nó ngủ với đứa khác mà anh hổng hay biết sao cà! Đào đi chợ về, thu nhập tin tức nóng sốt: – Kiều lặng lẽ phá thai, nó xù luôn em, nó kín tiếng đi thuê phòng trọ ở đâu đó, Kiều qua cầu rút ván.

Ba ăn mặn con khát nước. Tôi không tin điều đó. Tôi cũng chẳng trách cứ oán hận gì Kiều, lỗi tại tôi mọi đàng. Tiên trách kỷ hậu trách nhân.Tôi chỉ lao đao hụt hẫng một thời gian ngắn, tháng ngày đó nhằm khuây khoả tôi viết được truyện này. Ba tôi giao tiếp rộng, nhà bà nội tôi dưới quê từng là nơi chứa chấp mấy ông du kích đặc công nằm vùng. Có ông giờ này làm lớn ở bộ Thông tin văn hoá, coi ngó một tạp chí văn chương đình đám trong tỉnh, tôi gửi truyện tới ông những mong chúng bạn khỏi khinh khi dè bỉu khi đọc thấy tên tôi in trang trọng lên mặt báo. Người chịu trách nhiệm tạp chí văn nghệ gọi tôi, thẳng thắng từ chối, dập tắt bao mưu toan tôi ấp ủ: Cậu bày ra một đội ngũ trai tráng chỉ biết đàn đúm ăn chơi bàn toàn chuyện trai gái, chây lười lao động, lánh xa thành ngữ “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”. Chí ít, văn chương phải tải đi một thông điệp cao cả nào đấy. Hỏng! Nhà văn phải được đào tạo từ trường ốc hẳn hòi chứ nào thuộc hạng thiếu đẳng cấp như cậu, chúng phải đại diện cho đám đông để ngợi ca những gì tốt đẹp mà nhà nước ta bỏ công xây đắp. Lý lịch gia đình từng có công với cách mạng chứ không thì lôi thôi to.

3.
Vẫn hẹn nhau ở quán cà phê “Thơm Như Tình Nhân Cũ”. Vẫn chơi theo kiểu Mỹ là tự lực cánh sinh, tiền ai nấy trả tránh mang nợ nần nhau. Một ly cà phê thôi mà, làm gì chẳng có mang theo 45 K trong túi quần? Chừng nào ngồi vòng tay tịnh khẩu như bình thì bạn bè sẽ quan hoài tới, hỏi han, chiêu đãi. Và có khi khác biệt, như hôm nay bạn bè dành mua cho Mẫn thức uống, lý do giản dị: Không ngờ thằng Mẫn lụt lịt mà địt ra khói, kết giao đã lâu, ai có ngờ đâu hắn mà bày đặt làm nhà văn tỉnh lẻ ngoại ô đèn mờ. Bài hắn sẽ đăng lên trang trọng một mai, nếu hắn hư cấu chuyện tình một o bộ đội hy sinh hạnh phúc lứa đôi để ra án tuyến đầu cầm tiểu liên AK-47 ngăn chận giặc bành trướng xâm lược.

Sĩ thắc mắc: Bây giờ em Kiều em ở phương nao?

Quân nói: Tao biết có dạo Kiều làm việc trong quán Cô Chủ Mồ Côi.

Long vỗ vai Mẫn: – Tao không tin là mày chả bỏ công sức ra để đi điều tra. Vết thương đó khó lành miệng quá mà! Không nhớ em chết cha thì cũng phải chết mẹ!

Mẫn cười: – Rõ là biết đi guốc trong bụng nhau. Kiều làm bà chủ tiệm hớt tóc thư giãn không dao kéo, chẳng tông-đơ. Kiều phất lên như diều gặp gió, sung túc, giàu có, đồng vào đồng ra. Nàng ta sắp thành hôn và con chuột đực vừa sa hũ nếp kia chính là thằng Huỳnh.

– Cái gì? Vợ thằng Huỳnh là Kiều vú nhỏ sao ta? Mới hay ra thế giới này vốn không lớn.

– Hai bữa nữa thôi. Huỳnh nó cần phe ta đến đông đủ phô trương thanh thế, vậy mày có tính đi dự không Mẫn?

– Đi chứ. Tao muốn nhìn sâu vào mặt cô dâu. Tao sẽ cảm ơn Kiều, cảm ơn em quẳng anh xuống bể trầm luân. Anh bơi và anh thấu hiểu, những đứa nuôi mộng nhà văn thường là kẻ bị sặc nước, bị hà bá xơi, bị rong cuốn, bị vọp bẻ trước thiên hạ. Tao sẽ mượn bờ vai đứa em gái tao để sánh đôi cho có cặp. Sẽ mua một cọc vé số nhét phong bì làm quà cưới. Có trúng lô độc đắc thì đừng quên anh nha.

Có tiếng chuông điện thoại kêu nhát gừng. Quân moi ra, cau mặt mó tay vào vật thông minh biểu nó thôi réo gọi. Mặt hắn đổi sắc: – Con mèo tao chạy xe tay ga đang đợi ở ngã tư đèn đỏ, không dưng có chiếc ô tô điên vượt lên cán em, lôi ẻm đi cả chục thước, giờ sứt mẻ toàn tập, thở ốc-xy ở bệnh viện, toe tua một đời hoa thầm kín.

Sĩ khuấy ly cà phê đá đến sủi bọt: – Vậy là có một người vui một người buồn. Bà xã mày khỏi mất công đánh ghen. Không phải đùa chứ chuyện đời của băng đảng mấy đứa mình mà mang từng chương hồi ra kể hết cho thằng Mẫn thì có ngày sách hắn in ra sẽ bán chạy như tôm tươi.

Mẫn cười hê hê. Kể đi, tao tôn trọng chúng mày, giữ nguyên tình tiết. Chẳng
thêm mắm dặm muối, tuyệt không thèm hư cấu cho nhọc sức. Tiểu thuyết hiện thực đời thường.

Có thằng nào đó vừa thở dài: Vậy thì in chui à? Tính in lậu không có giấy phép sao? Toàn bộ các trang giấy chả có chữ nào thèm mang ơn cách mạng, chả ca ngợi cái lu đậm đà bản sắc dân tộc lấy một tiếng. Từ đầu chí cuối chỉ bàn tới chuyện cái lon. Lon to lon nhỏ, lon chưa khui và lon đã qua sử dụng. Quá nguy hiểm nếu thêm dấu vào chữ lon. Mẫn, mày nghĩ ra bút hiệu nào chưa đặng kéo dài thêm tuổi thọ. Không ấy thì xài tên Cu Đỏ, thử thời vận một phen!

Hồ Đình Nghiêm
31.07.2019

Ngưu Sơn Nhãn Tuyệt

http://www.art2all.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 24 Feb 2024


          Thoạt đầu núi có dáng một con trâu nằm, sau biến dạng chẳng còn tì vết bởi một đám đông hành nghề đục đá hăm hở khoan cắt. Không dưng những tấm bia mộ khắc tên tuổi người chết lại trở nên “cháy hàng”. Bụi mờ cùng búa tạ nện không nghỉ, trâu chuyển sang nghé rồi ngày một ngày hai dòm lên chỉ còn luyến lưu một cục đá nham nhở hình thù đọng trong con ngươi. Núi có chết không? Chẳng biết, nhưng tên Ngưu Sơn thì vẫn còn người nhớ. Quen miệng rồi, chẳng lẽ bây giờ kêu là Hòn Non Bộ? Hay Trăm Năm Bia Đá Cũng Mòn?
Ngưu Sơn như tấm bình phong ngăn bão tố gió độc từ hướng Tây thổi qua, người xưa khi khai hoang lập ấp định cư đã điều nghiên việc phong thuỷ tuy vậy dù nó có độn thổ, huyện lỵ dưới chân nó mỗi ngày một đông dân tứ xứ mỏi chân giang hồ tìm về. Nói sầm uất thì quả ngoa ngôn nhưng dân tình tranh sống rậm rật với vạn ngành nghề mánh mung thì xét chẳng sai trật. Dầu núi mất mặc núi, Ngưu Sơn nào khác gì đất lành chim đậu. Chim thì cả ngàn giống, muốn trụ lại chốn này e chỉ còn loài mỏ nhọn với móng sắc mới đương cự cùng sóng gió giang hồ mà chẳng rụng lông. Và chim bây giờ chỉ còn một chủng loại, hót một cung bậc tiếng chì tiếng bấc thảy giống nhau.
Khác chim, huyện Ngưu Sơn có riêng một gã còn hát lời du dương trầm bổng. Gã ngồi cuối chợ, đóng đô chỗ ấy bằng vuông chiếu, mù loà ngồi với cây lục huyền cầm và cái nón vải bạc sờn hứng tiền của bá tánh qua về rộng lòng chia sớt. Hai mắt có mở lớn thì đồng tử phủ màn trắng đục lộ ra, ngó cũng như chộ, bất biết bao hoạt cảnh luân phiên bày trò. Mở rồi nhắm, chỉ nhằm biểu tỏ theo lời ca tiếng hát, theo guitar bấm phím độ rề mi la fa sol. Boléro thì chừng như luôn trì kéo cước bộ dùng dằng trì hoãn, rớt vô thính giác ông đi qua bà đi lại, sảng hồn rồi chạnh lòng nhớ về “chúng ta đã có một thời như thế”, thời mà thiên nhiên khắc hoạ dáng con trâu còn nằm an lành trên núi cao chưa suy suyển. Thiên nhiên thì luôn chung tình chỉ có con người mới hung hiểm lộ hàng soán đoạt cưỡng bức. May cho đứa hành nghề hát dạo, tự thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ gã nào nhìn thấy núi đứng mây bay. Trời đãi kẻ tật nguyền khiếm thị, trao cho gã một chất giọng mà theo như lời bình phẩm của mấy chị bán buôn trong chợ: Nghe anh mù hát, con dế trốn trong hang cũng ngoi đầu vễnh râu chạnh lòng bò ra. Người trao chén cơm, kẻ gắp cho cục chả, đứa chan cho chút mắm. Ăn đi anh, không ăn lấy gì sống. Người đưa tới ly nước đá, kẻ cạo cho ít cơm dừa, đứa đổ vào chút xi-rô hột é. Uống đi anh, uống cho mát cổ họng mà vui kiếp cầm ca!

Anh mù không lo chuyện ẩm thực, ai cho gì thì ăn nấy. Anh chẳng gây oán thù với tha nhân thành ra chén cơm nghĩa tình nọ hẳn là không trộn thuốc trừ sâu diệt chuột. Vô tư đi anh, đa nghi bợn lòng mà chi, cuộc đời này mà vắng tiếng ca của anh thì đến lúc hoa phượng thôi nở bông trên cây cũng vừa. Hè về mà chẳng phượng đỏ ve sầu cất tiếng than van thì ôi thôi, ngó sao đặng! Anh sướng quá, anh hổng ngó thấy vạn vật đổi thay, anh chả quan hoài chi tới nhan sắc chị em phụ nữ chúng tôi đang tàn tạ. Đứng bên anh thì nhà ngói cũng như nhà tranh hoặc vô gia cư hoặc đầu đường xó chợ hoặc đui què mẻ sứt anh nào có chứng giám hư thực, đúng hôn? Thảy an tâm không sợ bị nhìn đểu.
Tối trời, chợ tan nhóm họp, âm thanh vơi dần gã mù mới đeo cây đàn sau lưng, nhét nón đựng tiền trong bị lát, cuốn manh chiếu, mò ra cây gậy mới lần khân thủng thẳng về trụ sở ngã lưng. Nói trụ sở cho oai phong chứ bốn bức vách có lợp mái ngói ấy trước đây dùng nơi chứa lúa, huyện đường tu sửa qua loa cho người treo lên tấm bảng gỗ: Hội Khiếm Thị. Vì mười hai hội viên chẳng thấy đường nên bóng điện cũng không việc gì mà thòng sợi dây vào hòng toả sáng một vũng màu. Vừa qua chẳng biết từ đâu có cha nội chỉ đui một mắt dẫn xác tới được ở trên tín nhiệm bầu bán giữ chức hội trưởng, vì thế đáp ứng với nếp sống văn minh, đi đúng với tư duy thời đại lão hội trưởng đấu tranh mới có được cặp bóng đèn điện ngọn tỏ ngọn lu. Đã là trụ sở thì chí ít phải có gì le lói để giữ thể diện, khỏi mang tiếng bất công người bóc lột người. Hội trưởng độc nhãn mỗi bận đi họp trên huyện đường, trăm khi như một ngang qua hội phụ nữ tự động đầu lão phải cúi gầm xuống đất. Chị em ta làm cái giống gì mà giàu sụ, phô trương hết mực những cờ xí, lọng phướng, khẩu hiệu, pa-nô ra ngoài và bên trong sảnh đường sáng loà những đèn đóm tuồng như họ không mỏi mệt việc liên hoan làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm. Nôm na hội phụ nữ rất chi là hoành tráng! Coi mòi âm thịnh mà dương suy!
Chuyện ấy không nên lạm bàn, đào sâu. Trời sinh mình mù thì mình phải chịu thủ phận, lấy tư cách gì mù mà được phép sờ vòng một vòng ba. Bản thân hội viên cũng bù trất chẳng giàu chất xám để hiểu cụm chữ “mù sờ voi”. Đừng khi dễ nghe, anh Tư hội viên có biệt tài xâu chỉ lòn kim bách phát bách trúng mà kẻ sáng mắt phải đâm tị hiềm. Chưa kể là bác Năm có tiền gửi ngân hàng vì nức tiếng chuyện coi bói chẳng hở tay. Bọn đầy đủ năm giác quan sắp hàng dài cứ luôn muốn đả thông chuyện tình duyên gia đạo, chuyện thăng quan tiến chức phú quý đại gia? Lạ, mù mà sao thấy trước chuyện tương lai, hơn cả giác quan thứ sáu. Bác Năm chỉ có một câu trả lời: Thiên cơ bất khả lậu! Tính thêm giọng ca trời phú của gã ngồi hát trong chợ thì số phận những hội viên còn lại thảy lu câm. Một phần tật nguyền do bẩm sinh, phần khác thui chột vì từng kinh qua khói lửa chiến tranh, có số má được giấy chứng thực là thương binh liệt sĩ. Ngày lễ ăn mừng “quê hương sạch bóng quân xâm lược” vừa qua được tổ chức đình đám, lãnh đạo mọi ban ngành ở trên cử người xuống huyện hồ hởi cất tiếng ngợi khen, họ vui chân ghé hội khiếm thị uỷ lạo tinh thần và thắm thiết trao tặng món quà lưu niệm: Bức ảnh đã lộng kiếng ngài chủ tịch Un lãnh đạo xứ Triều Tiên đi thăm thú nơi sản xuất ra tên lửa đạn đạo tầm xa, quanh ngài có vô số thuộc hạ tay cầm giấy bút mà mắt sáng miệng cười ghi ghi chép chép. Chỉ có hội trưởng thấy ra quà tặng và với tư cách sếp sòng bọn mù, ông vua chột mắt đưa tay chùi ghèn đọng trong con mắt hư, sửa giọng: Dạ chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh tấm lòng ưu ái của trung ương. Nghe râm ran tiếng vỗ tay đầy sinh khí. Anh Tư có biệt tài xâu chỉ luồn kim đứng dựa cột, nói chùng vụng: Thiệt là sáng mắt sáng lòng, mang tranh ảnh tới tặng kẻ đui mù. Đù mẹ, chơi khăm cũng chừng mực nào thôi chớ! Cơm không có ăn, áo không có mặc, những thứ cấp bách cần được chia sẻ thì chúng bất biết! Thằng Sáu chuyên trị nghề bán vé số đứng gần đưa lời lạm bàn: Kệ đi mà, hôm nào trở trời mưa cuồng gió loạn, mang nó xuống đốt thành ngọn lửa sưởi ấm lòng nhau cũng đỡ vả một phen.
“Con đường xưa em đi, vàng lên mái tóc thề, ngõ hồn dâng tái tê, anh làm thơ vu quy, khách qua đường lắng nghe chuyện tình ta đã ghi…” Sinh hoạt một góc chợ thôi chộn rộn khi tiếng hát gã mù cất lên, biết luồn lách và biết đi vào lòng người. Lòng người như vùng đất hạn hán khô cằn mà tiếng hát kia tựa một cơn mưa đằm thắm chợt rơi. Giải hạn, tươi mát, đâm chồi nẩy lộc… hoặc tất cả những thứ diệu kỳ khác được cựa mình thức giấc dưới giọt ngắn giọt dài, lê thê, ngọt lừ, cần kíp. Nếu cây đàn của gã còn lành lặn, không bị rạn sau thùng ắt nó sẽ chuyển tải một cách vẹn toàn tới tai bá tánh đang liêu xiêu ngác ngơ.
Dứt hơi, kết thúc bài hát, gã xây mặt qua: Tôi tuy bị đui mù nhưng mũi tôi còn hoạt động tốt, tuy chợ búa tạp nhạp những hương mùi nhưng tôi vẫn đánh hơi ra một làn gió lạ, xin lỗi chị có điều chi muốn chỉ giáo? Khán thính giả duy nhất ngồi gần gã có hơi giật mình: Chằng dấu chi anh tôi ngồi đây đã khá lâu, nghe anh hát tôi có thể bỏ bê công chuyện. Ở dưới quê nghe tiếng anh đã lâu, nay lân la tới mới chứng thực là lời đồn quả không ngoa. Đường xa vạn dặm chỉ mang một thỉnh cầu, xin anh rộng lòng ca cho tôi nghe bản “Chiều nay mưa trên xứ Huế” thì chẳng có chi sung sướng bằng. Qua tiếng nói, với thanh âm của nữ giới, gã mù phỏng đoán người ngồi gần tuổi không quá bốn chục. Chỉ rơi vào hạng tuổi đó hoặc lớn hơn người ta mới biết tới được “cổ nhạc” và tình ngay có ai bắt gã hát tân nhạc, đã mù gã đành chịu thêm tật câm. Ngoài việc độ nhật bằng đờn ca hát hỏng, gã xem phương cách biểu tỏ ấy nhằm làm nguôi ngoai một tình cảnh thế cô luôn bị bạc đãi. Muốn hay không thì tâm sự gã chừng hoà trộn vào, đắm say một lòng thành, nức nở. Gã từng nghe ai kể chuyện về nhân vật Trương Chi và gã tin mối tình đứa chèo đò cùng khổ kia là có thật giữa đời này. Gã vui vẻ hát theo yêu cầu, điều gã bận lòng là chẳng rõ hương mùi bất ngờ toả ra kề cận có còn dậy một thuỷ chung quen thuộc. Sáng nắng chiều mưa, đời sống mãi bày trò dối gạt, nay thế này mai đã đổi khác. Một người từ dưới quê vượt qua, thu xếp bao chướng ngại để chỉ nghe ra một giọng hát, chừng đó đủ khiến gã cảm động, ấm lòng.
Chung tình, không phải hai ba lần, tuần này qua tháng nọ người ấy vẫn thầm lặng đến ngồi bên gã. Người ấy dạy cho gã biết hai chữ “sắt son”, thứ mà đại gia chẳng thể vung tiền ra mua được. Ngưu Sơn chỉ có hai mùa mưa nắng và như thế mây đen đúng hạn kỳ bắt đầu mang heo may về giăng bủa. Huyện lỵ sẽ co cụm, sẽ rét mướt, sẽ đìu hiu. Mưa gió sẽ xua đuổi bớt những đứa ưa chạy rong ngoài lộ, chợ sẽ căng từng tấm bạt hòng hứng đỡ vũ lượng chuyên cần chia đều xuống từng cảnh ngộ. Người ấy đến trước cơn mưa, chẳng yêu cầu gã ca, chỉ nhỏ nhẹ: Trong lượng mưa xối xả trút xuống, nó sẽ đánh cắp tiếng hát anh, chìm trôi và do để tâm đối phó với căn bệnh của đất trời sẽ không một ai quan hoài tới anh. Bản thân anh cũng đâu tìm được nơi khô ráo… Người ấy mua cho gã cốc cà phê nóng trao tận tay, người ấy chừng muốn nhìn xem kẻ mù khi khóc, giọt lệ nó lăn đổ có giống đứa sáng mắt?
Người ấy xưng em: Em ở dưới quê gánh rau lên chợ bán, có khi một hai con gà vịt hoặc chục trứng. Má em vừa mất nên giờ sống đơn thân trong mái tranh bên ruộng đồng. Yên ổn vì tự bằng lòng với thứ mình có, nếu anh cần người chăm lo thì cứ ôm đàn mà theo em về nơi tá túc mới. Tránh qua mùa mưa, nếu thấy tù túng ưa rộng cẳng thì cứ bỏ mặc em lại, em chẳng hờn trách. Gã đặt cốc cà phê xuống đất, đưa hai tay ra trước mày mò sờ soạn rồi cầm lấy mười ngón mát lạnh run rẩy của “em”. Em có tin điều huyền nhiệm của cao xanh? Em có thấy là ông trời có mắt? Lưỡng mục của ông đã nhìn xuống số phận anh, đã huyền nhiệm xúi em tới tìm anh. Sao ở đời còn sót lại một người mang từ tâm giống em vậy? Có phải em mang tên Giáng Hương? Một tiên nữ bị trời đày xuống nhân gian như ca từ nằm trong một bài hát? Hãy mang anh lên non xuống biển vào rừng, bất kỳ chốn nào anh cũng không từ nan. Hãy cho anh một lần được hát “tạ ơn đời, tạ ơn em”.
Huyện Ngưu Sơn từng biến mất dấu vết dị hình núi có dáng trâu nằm chây lười lao động và giờ đây khu chợ sầm uất cũng biệt tăm tiếng hát của một gã mù từng khản giọng than van làm chao lòng người. Không ai biết gã đi đâu, hỏi ông chột mắt hội trưởng khiếm thị tật nguyền lão cũng bất biết. Mà tình ngay một thằng mù suốt đời chẳng lập nên công trạng gì lỡ có chết dấm chết dúi ở góc xó nào quần chúng đâu ai quan hoài thắc mắc để tâm cho rách việc. “Chừng nào đá nổi rong chìm, muối chua chanh mặn em tìm được anh”. Câu ca dao nọ khớp với trường hợp gã mù. Mai danh ẩn tích, giũ bỏ tấm thân ám bụi lấm lem bạc màu gió chướng giang hồ, có hát ca cũng chỉ nhỏ tiếng riêng cho em nghe và gạt bỏ dần những bài trái ngang oán khóc tình hận. Nếu là nhạc sĩ anh sẽ viết riêng cho em một trường ca hạnh phúc.
Đêm ấy mưa to cuồng nộ, cả hai dắt nhau ra sân trần truồng tắm mưa. Họ ôm lấy nhau chan hoà ngộp thở niềm say đắm vỡ bờ ràn rụa. Họ dìu nhau lên giường tre. Anh sờ khắp châu thân người tình chung, một nửa của anh. Những ngón lần khân đầy ngần ngại. Em hỏi: Anh có yêu em không? Anh nhướng đôi mắt đục câm tinh thể, chờ nghe một phân trần. Bốn năm trước em bị một tên có quyền hành cưỡng đoạt, để dằn mặt nó sai thuộc hạ tạt cả ca a-xít cường toan vào mặt… Nước mắt có giọt mặn rơi xuống mặt gã mù. Khóc? Hãy khóc đi em! Nhan sắc mà kể gì, quan trọng là trái tim mình chưa hề hấn, còn vẹn toàn cho nhau. Tấm tức, rung động, nhưng dây dưa do bởi đón nhận sự cảm thông. Anh yêu em. Gã nói. Và lần này, chính gã lại đổ lệ. Họ ôm cứng lấy nhau, cuồng si, hối hả. Dốc lòng đền bù cho nhau mãi tới hồi kiệt sức.
Em có hồi nào coi phim ảnh của Nhật? Em có biết trên giang hồ có một gã mù tên Zatoichi? Có phải anh muốn nói tới hiệp sĩ mù nghe gió kiếm? Ừ, kiếm rất bình thường dấu trong cây gậy dò đường. Vạn bất đắc dĩ mới sử dụng nhưng mỗi khi nó tuốt ra khỏi vỏ, kẻ gian chết đi mà không rõ chiêu thức hư thực, kiếm quang nhoáng lên cái là gây tử vong. Người nữ rờ rịt đầu mình và tứ chi của nam, mơn trớn: Anh là hiệp sĩ dùng đàn và anh từng giết em bằng giọng hát. Sao anh lại mang Zatoichi tới để làm gì? Nam rời những ngón tay trên gương mặt lồi lõm biến dạng của nữ: Giá mà anh đẳng cấp cỡ phân nửa ông hiệp sĩ mù huyền thoại kia, anh sẽ tới đúng cơ sở thằng từng hãm hại em, anh sẽ cho hắn nghe gió kiếm, không giết, chỉ rạch nát mặt nó thôi. Nữ hôn khuôn mặt đanh lại của người tình mù: Thời đại mà Zatoichi lê thân đi hành hiệp nó an lành hơn thời này anh ạ. Kiếm anh sẽ chóng gãy bởi cường hào ác bá thì quá đông, chúng thuê bọn xã hội đen vây khổn thì coi như mãnh hổ nan địch quần hồ. Rồi chừng đó em biết tính cách chi? Không lẽ bán hết ruộng vườn nhà đất đi thuê bọn đầu gấu Trung quốc trả thù giúp.
Mưa gió tơi bời ngoài trời. Sấm chớp xé toạc màn đêm nhưng cả hai chẳng để tâm. Khi họ ôm lấy nhau thì dường như họ không còn gì đáng quan ngại. Da thịt họ chia sẻ hơi ấm cho nhau và dần thiếp vào giấc ngủ cơ hàn, thanh bần và mạt hạng. Huyện Ngưu Sơn có không dưới hai ngàn hộ mãi chịu đời lầm than. Hy vọng kế hoạch cải thiện, phấn đấu lên xã hội chủ nghĩa mười năm tới sẽ làm thay đổi diện mạo, mang Ngưu Sơn lên tầm vóc xứng tầm thời đại tựa Thăng Long. Ngưu tầm ngưu mã tầm mã!
Một thứ trâu ngựa đậm đà bản sắc dân tộc! Đêm khuya, sấm động đì đùng, mưa không ngừng khóc than tuồng phẫn nộ một điều gì…
Hồ Đình Nghiêm
Victoria Day (Fête de la Reine) 2017.

Mậu là không

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 13/02/2018 

Post by Sơn râu 24 Feb 2024

Tiếng Quảng Đông, phát âm chữ “mụ”, có nghĩa là không. Hình như người Việt đổi lại mụ thành mậu? Trò cờ bạc xập xám chướng (13 lá bài): Mậu binh là không cần binh vì bài quá tốt, tự động được chung tiền. Mậu hào là không còn đồng nào. Mậu đối nghịch với dậu. Dậu là có. “Dách cô dành dậu” nghĩa là có một người. Nghĩa ngữ này không dính tới ba cái niên lịch, thiên can đứng trước 12 địa chi rắc rối kia đâu, như Dậu là gà, mà Mậu Thân với Mậu Tuất thì chớ nghĩ là không khỉ không chó. Mậu này mậu nọ cách biệt những 50 năm. Mới đồ con khỉ đó, loay hoay lại gặp đồ con chó! Can chi của Mậu gồm: Mậu tý, mậu dần, mậu thìn, mậu ngọ, Mậu Thân, mậu tuất. (Hổng có mậu binh).
Lỡ ăn mắm ăn muối dụng tới tiếng Tàu chữ Hán nghĩa Nôm, xúi nhớ đại ngôn của Khổng Tử khi ăn to nói lớn kiểu “ngũ thập tri thiên mệnh”. Năm mươi tuổi thôi mà, đâu ai hiền triết để ngộ rõ mệnh trời. Phim ảnh Đài Loan Hồng Kông Trung Quốc kịch bản lời thoại thường nhét vô miệng đạo sĩ như này: “Thiên cơ bất khả lậu!”. Đánh mất lập trường để bật mí chút xíu e thác dưới tay Ngọc Hoàng? Lưới trời lồng lộng tuy thưa nhưng khó thoát? Kíp ngậm bồ hòn làm ngọt đi nghen cưng.

Những em ra đời mùa xuân tang tóc Mậu Thân giờ này đã tròn năm mươi, vẫn dại khờ vẫn hoang mang khi nghe ba mạ kể về kỷ niệm “máu lửa” hôm con chính thức làm người. Ngày con khóc oe oe giữa một thành phố tang hoang, cũng là lúc có vạn tiếng khóc thầm khi chịu đối mặt với lòng hận thù say máu được dịp tàn sát thoả thuê. Ba ngày Tết của người Việt có linh thiêng không? Dậu hay mụ? Huế có chùa Thiên Mụ dựng đặt ở tả ngạn sông Hương, làm cảnh cho vui rứa thôi chứ mụ linh thiêng đối với bọn người cộng sản, đội ngũ ma quỉ có thể ngán chùa chiền chẳng dám lai vãng, nhưng bó tay (1968 chưa có chấm còm) đối với mấy ôn từ núi rừng tràn về.

Những em được chào đời năm Mậu Thân ở Huế, giờ đây nhiều em chẳng dám tổ chức sinh nhật mình ngũ thập niên. Bởi các em hiểu khi mình sinh ra, cùng thời điểm có hơn 7.000 hồn oan suốt đời chẳng được siêu thoát. Năm mươi tuổi không hiểu mệnh trời nhưng nhờ được giáo dục (Huế trước 1975 được đánh giá là thành phố có nhiều trường học cũng như đông học sinh nhất miền Nam) các em ý thức về niềm đau vô bờ mà bà con không dưng phải hứng chịu. Thay vì thắp nến cắm trên mặt bánh kem, một bộ phận không nhỏ người tử tế đã thắp nhang cúi đầu trong bóng tối mặc niệm những kẻ đang sống chuyển sang từ trần. Nhớ đến một câu nói “chướng tai”: Chỉ có thú vật mới săm soi bộ lông của mình! Và mấy em đã chướng mắt khi thấy nhà nước tổ chức kỷ niệm ăn mừng 50 năm Mậu Thân. Giết một con chó để làm xôm tụ buổi nhậu cùng các chiến hữu đã thấy gớm tay. Dùng cuốc, búa, dao, mã tấu để phang, nện, chặt, chém vào những người đang bị trói bắt quỳ gối bên hố nông. Cha mạ ơi! Hét được tiếng cuối trước khi bị đạp xuống mộ huyệt. Phim trường Hồ Ly Vọng thực hiện một thước phim về bọn khủng bố chắc sẽ e dè thảo luận để thôi “action”. Dã man quá! Thú tính quá! Ăn lông ở lỗ quá! Khốn nạn quá! Cut… Cut… Các diễn viên thủ vai vi-xi, hoá trang bọn người từng nhảy núi cũng hú hồn thở phào nhẹ nhõm: Cho em nhờ tí, nếu lộ hàng, sợ về nhà mẹ con nó ngầy ngà đồ ác đức bất nhơn! Chịu đời chi thấu mấy eng!

Ngoài đời, những tay sát thủ năm xưa đã vào hạng tuổi 80 nếu chúng còn thọ. Và giống y như trong phim ảnh, những đứa ác ôn thường sống lâu. Lực lượng hét ra lửa ngày nào bây chừ có kẻ tàn phế thân bại danh liệt lại có kẻ không dưng trở thành nhà Huế học, tự hào từng đọc thiên kinh vạn quyển. Già đầu là vậy nhưng một mực chủ trương sống để bụng chết mang theo. Mậu hối cải. Mụ thành tâm. Đảng ta dùng chữ kiên cường, dành cho đồng chí; nhưng ngoan cố thì áp đặt cho bọn phản động. Số đông cảm tình viên khác cũng ngoan cố một mực lá lành đùm lá rách tìm lời biện minh. Oan cho tớ quá, nói vậy mà không phải vậy đâu. Mồm năm miệng mười mà làm gì? Gân cổ làm chi cho nhọc sức! Đơn giản và ấu trĩ nhất, anh khẳng định đồng chí A, B, C không nỡ lòng nào xuống tay thì anh phải chỉ ra chính thằng X, con Y, ông Z mới khát máu dường ấy. Đã lấp liếm mà còn tổ chức ăn mừng tội ác. Ui, ông trời thật không có mắt! Thiên cơ là con khỉ chi mà không chịu hé lộ? Nhạc vàng có bài: Tôi xin người hãy gian dối, cho tôi tưởng… Tác giả chắc sáng tác nó sau thời điểm Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy?

Quang minh chính đại chẳng hề có trên lãnh thổ hình chữ S. Câu chuyện mãi không đi tới đường là do vậy. Cũng vì lẽ đó, đã 50 năm Chó nhìn lui Khỉ vẫn thấy mới những vết thương, chưa thể liền da tựa mới xẩy ra vào năm Gà vừa bóc lịch xong. Có người duy tâm hồ nghi đặt dấu hỏi: Ở Huế có nhiều ma không? Dạ thưa, tui không duy vật nhưng mạnh miệng đáp: Mậu. Không đâu. Mần chi có. Vì răng? Anh ni chủ quan dễ sợ! Vì nếu có ma, em thấy đó, mấy ôn nớ mô có bình an mà sống thọ hung rứa. Ma hiện hồn lên vặn cổ chỉ là sản phẩm của tượng tượng. Dạ thưa xứ Huế bây giờ vẫn còn núi ngự bên bờ sông hương, nhưng Huế mộng Huế mơ thì… nói vậy mà hổng phải vậy đâu, xưa rồi diễm. Khuya ni có tới nhà anh không? Hai đứa mềnh thắp đèn sáp ngồi tưởng niệm cố đô Mậu Thân. Lại mượn lời ông Bùi Giáng nữa nghe: Không có ma đâu mà sợ. Có tôi? Nhưng tôi đâu phải là con ma!

Hồ Đình Nghiêm

Tranh của Chóe – họa sĩ tranh biếm số một Việt Nam

dantri.com.vn

Thứ sáu, 03/05/2013

Post by Sơn râu 24 Feb 2024

(Dân trí) – Nguyễn Hải Chí (1943 – 2003), nổi tiếng với bút danh Chóe, là một họa sĩ chuyên vẽ tranh biếm họa. Ông được coi là “họa sĩ biếm số một của Việt Nam” với những tranh biếm đặc sắc phê phán các thói hư tật xấu.

Người họa sĩ này còn có nhiều tài lẻ khác như viết văn, làm thơ và cả sáng tác nhạc. Ông vẽ chủ yếu là tranh sơn dầu, giấy dó và tranh lụa.

Nói đến tranh lụa của ông, có nhiều nhận xét cho rằng chúng rất khác với tranh lụa của đa số các họa sĩ miền Nam khác. Bởi các họa sĩ miền Nam vốn xuất thân từ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định, trung thành với phong cách Lê Văn Đệ: trong trẻo, thơ mộng… Còn Nguyễn Hải Chí vốn là một họa sĩ tự học, lại học rất nhanh. Ông quen với bút pháp phóng khoáng của hí họa, nên ông vẽ tranh lụa cũng nhanh như khi vẽ hí họa với những nét bút mạnh mẽ, dứt khoát, sử dụng các mảng màu một cách rất phóng khoáng.

Cũng có nhiều người cho rằng tranh lụa của ông không đúng với tranh lụa truyền thống Việt Nam. Ông cũng đồng ý với nhận xét trên và cho rằng đây là cách vẽ riêng của ông. Về sau, ông còn vẽ thêm tranh giấy dó Việt Nam và giấy “sín chỉ” của Trung Quốc, theo phong cách tranh màu nước riêng của ông.

Một trong những bức tranh sơn dầu đầu tiên của ông là bức Phong cảnh cao nguyên được sáng tác năm 1965. Bức tranh này ông tặng người yêu, và sau này trở thành người vợ chung thủy của ông. Cuộc đời của ông gặp khá nhiều thăng trầm, biến cố về chính trị, tuy nhiên, những gì ông đóng góp cho nghệ thuật vẫn được công nhận.

Trong suốt quãng đời nghệ thuật của mình, họa sĩ Nguyễn Hải Chí đã tổ chức được nhiều triển lãm trong nước và ở quốc tế. Trong lần triển lãm những bức tranh của ông tại phòng tranh Tự do (Sài gòn) lần này, hai bộ tranh Phụ nữ nước tôi và Vision d’Été 1998 (Quang cảnh mùa hạ 1998) thuộc bộ sưu tập của gia đình họa sĩ sẽ được giới thiệu lần đầu tiên tại Việt Nam (trước đó đã được giới thiệu tại Pháp và Nhật Bản cùng một số nước Châu Á). 

Cuộc triển lãm Tranh của Chóe mở cửa từ ngày 4/5 đến ngày 31/5 tại phòng tranh Tự do, Quận 1, Sài Gòn.

Dâu bể trùng phùng

Trương Huy Văn

Posted on April 21, 2019 by Lê Thy
post by Sơn râu 24 Feb 2024

Hình minh họa

Tập 2

Chương 4

The Gray Tiger

Không biết là mình đã ngủ được bao lâu, đang lơ mơ trong cõi hồng trần, tôi giật mình choàng tỉnh vì thân hình của mình bị nhấc lên khỏi mặt ghế rồi quăng mạnh xuống. Chưa kịp tìm hiểu nguyên nhân, tôi đã nghe Cúc hỏi.

-Chuyện gì vậy anh?

Minh vội vàng trả lời thay tôi.

-Một cái ổ gà quá lớn, hình như đó là một cái hố đạn pháo mới có độ một vài tuần trở lại đây, khiến tôi không tránh kịp. Mọi chuyện đều tốt đẹp, cô cậu cứ ngủ đi.

Tôi quay qua Minh.

-Mình đi tới đâu rồi anh Minh?

-Vừa lên hết đèo Bảo Lộc, chừng một giờ nữa, khoảng sáu giờ sáng mình sẽ đến Di Linh.

Tôi nhắc lại hai chữ Di Linh, rồi nhớ đến cái quận lỵ buồn hiu, còn in đậm dấu ấn của những ngày người dân Đà lạt chuẩn bị di tản.

Tôi hỏi Minh.

-Vào khoảng ngày này tháng trước, anh ở đâu?

-À…tôi đang ở Sài Gòn.

-Như vậy, anh có biết gì về trận đánh tái chiếm Di Linh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hay không?

-Đánh nhau ở Di Linh? Tôi không biết.

-Để khỏi buồn ngủ, tôi sẽ kể cho anh nghe vài chi tiết trong trận đánh ấy. Anh là tài xế đường Sài Gòn – Đà Lạt nên anh biết rõ, Di Linh là một quận lỵ nhỏ nằm trên Quốc lộ 20, cách Đà Lạt đúng tám mươi cây số. Để tôi nhớ lại coi, vào khoảng hai mươi bảy tháng Ba trong cuộc tấn công tiến chiếm Đà Lạt. Lực lượng của Việt Cộng gồm có Trung đoàn 165 và Trung đoàn 209 của Sư đoàn 7, phối hợp với xe tăng và đại pháo 130 ly, thế mạnh như chẻ tre, chúng di chuyển như chỗ không người. Bắt đầu từ Đại Quay ở gần đèo Chuối chỉ trong vòng một ngày họ đã chiếm xong Bảo Lộc, sau đó đánh thốc vào chi khu Di Linh, làm chủ luôn quận lỵ này. Ở Đà Lạt, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, đưa Tiểu đoàn 204 Trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức do Thiếu tá Lê Xuân Phương làm Tiểu đoàn trưởng tái chiếm Di Linh. Ông Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng này, tôi đã nghe danh từ lâu, từ lúc ông ấy còn mang cấp bậc trung úy làm đại đội trưởng Đại đội 302 Trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức. Nghe danh, nhưng tôi chưa bao giờ được gặp mặt. Anh Minh có biết không, với tôi chuyện gặp mặt Thiếu tá Phương, còn khó hơn là gặp Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Minh cười ra vẻ thích thú.

-Ông thiếu tá ấy, có gì mà ghê vậy?

Hình minh họa

-Có chứ, có nhiều điểm đặc biệt về ông ấy mà tôi cần phải nói, điểm thứ nhất là về chiến công. Tôi muốn hỏi anh Minh là sáu năm trong lính Nhảy dù, anh tham dự bao nhiêu trận đánh? Có được bao nhiêu huy chương?

Đang chăm chú lái xe, gương mặt của Minh vụt sáng rực lên.

-Tôi đụng địch cả vài chục trận, thắng có thua có, chiến thắng thì đầy oai hùng mà khi thua cũng te tua tàn mạt không khác gì con gà chết. Trong gần sáu năm ở Nhảy Dù, tôi có được hai Anh Dũng Bội Tinh, một cái đồng, một cái bạc. Ngầu nhất là cái huy chương bạc, khi giấy tờ hình như từ trên Bộ tư lịnh Sư đoàn Nhảy Dù về, trong một buổi lễ thật là long trọng được tổ chức trước Bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Tôi diện bộ đồ bông mới cáu chỉ, đôi giày bốt đờ sô láng cóng, cái mũ nồi đỏ tươi trên đầu, thêm sợi dây biểu chương ba màu trên vai, cùng với hơn ba chục sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ, đứng trước hàng quân để thiếu tá Tiểu đoàn trưởng gắn huy chương.

Vì muốn chứng tỏ sự hiểu biết của mình về dây biểu chương, tôi nói với Minh, mục đích là khoe khoang kiến thức của mình, mặc dù, sự hiểu biết này là do tôi nghe lóm khi thiếu tá trưởng phòng của tôi nói chuyện với bạn của ông ấy.

-Anh Minh nè, dây biểu chương ba màu, anh dùng chữ không được đúng cho lắm. Đại khái, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có bốn loại dây biểu chương: thứ nhất, dây biểu chương màu vàng Anh Dũng Bội Tinh, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội hai lần. Thứ hai, dây biểu chương màu xanh Quân Công Bội Tinh, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội bốn lần. Thứ ba, dây biểu chương màu đỏ Bảo Quốc Huân Chương, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội sáu lần. Thứ tư, cao nhất là dây biểu chương màu Tam Hợp, tổng hợp ba màu nói trên, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội tám lần. Hồi còn ở quân trường, Sinh viên sĩ quan Thủ Đức bọn tôi được mang dây biểu chương màu vàng Anh Dũng Bội Tinh, có nghĩa là Trường Bộ Binh Thủ Đức được tuyên dương trước quân đội hai lần. Riêng dây biểu chương màu Tam Hợp của anh, tôi không chắc cho lắm, nhưng hình như trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chỉ có Tiểu đoàn I Nhảy Dù, một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến là được mang dây biểu chương màu Tam hợp mà thôi.

Nghe tôi nói xong, Minh gật gù.

-Vậy mà tôi cứ tưởng lính đeo dây biểu chương trên vai, cũng giống như đồ trang sức của mấy cô đeo nơi tay nơi cổ, khi đi dạo phố. Cậu Quân biết không, sau lễ gắn huy chương, suốt ngày hôm ấy tôi cứ như là đi trên mây, bay trong gió, cái cảm giác thoải mái ấy kéo dài cả ngày.

Tôi thúc cùi chỏ vào hông của Minh.

-Anh không nói cho tôi biết, tại sao anh có được cái huy chương Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao bạc.

Minh nhíu mày rồi nói.

-À… chuyện như thế này, Tết Mậu Thân, Việt Cộng đồng loạt đánh phá Thủ đô Sài Gòn và mấy chục tỉnh thành của Miền Nam Việt Nam. Tiểu đoàn I Nhảy Dù cùng những đơn vị bạn của các binh chủng khác, có nhiệm vụ giải tỏa áp lực của Việt Cộng tại Sài Gòn. Trung đội của tôi đụng với một đơn vị chính quy của Việt Cộng, đang cố cầm chân lính Nhảy Dù để cho phe họ rút lui. Ba thằng Việt Cộng đóng chốt, chúng đặt cây đại liên dưới một gốc cây me to lớn, cành lá um tùm, rậm ri, thân cây như là một lá chắn thiên nhiên tuyệt vời, che chở cho việc phòng thủ. Bọn Việt Cộng bám chặt lấy gốc cây, khi thấy lính Nhảy Dù ló đầu ra là cây đại liên quạt xối xả như mưa, tụi tôi mà di chuyển lạng quạng là bể gáo ngay lập tức. Ông Trung sĩ tiểu đội trưởng của tôi, với cây súng phóng lựu M79 trên tay, đang loay hoay tìm cách khóa họng cây đại liên của Việt Cộng, chỉ vì một sơ xuất nhỏ khi di chuyển, ông ấy đã lãnh một viên đạn đại liên ngay ngực.

Hình minh họa

Vừa nói, Minh vừa lấy tay chỉ vào ngực phải của mình.

-Ngay đây nè, ông trung sĩ té ngửa, giãy đành đạch như con cá lóc bị đập đầu bằng cái chày vồ. Hai thằng bạn của tôi vì nóng lòng nhào lên cứu bạn của mình, cũng bị đốn ngã luôn. Mọi việc xảy ra khá bất ngờ khiến tôi đâm hoảng. Đang lúng túng, chưa biết phải làm gì trong tình huống nguy nan như vậy, tôi đưa mắt nhìn quanh, chợt phát hiện được một con hẻm ở gần đó. Tôi sống ở khu Vườn Chuối, Bàn Cờ nên khá rành về ngóc ngách của những con hẻm ở Sài Gòn. Không một chút chần chờ, tôi phóng ngay vô con hẻm. Đánh trước mặt không được thì phải đánh bọc hậu, với tình thế không lấy gì làm sáng sủa như thế này, một phút trôi qua sẽ có thêm nhiều đồng đội của tôi bị mất mạng. Tôi biết rằng, mình cần phải chạy đua với thời gian, chạy càng mau càng tốt, mau như một lực sĩ chạy tranh tài ở Thế vận hội. Vì suy nghĩ như vậy, cho nên tôi chạy như bay thiếu điều muốn đứt hơi. Sau một hồi chạy vòng vo tam quốc trong mấy con hẻm, cuối cùng tôi cũng đến nơi. Không kịp nghỉ xả hơi, tôi nhẹ nhàng rút chốt một trái lựu đạn M26 tặng cho tụi nó. Sau một tiếng nổ vang trời, rung rinh cả mặt đất, tôi bồi thêm một băng M16 cho chắc ăn. Hai thằng Việt Cộng nằm thẳng cẳng, im ru bà rù, thằng thứ ba còn ngáp ngáp được vài cái rồi cũng đi luôn, tôi tà tà vác cây đại liên đem về trung đội.

Giọng nói của Minh trở nên sôi nổi hơn.

-Cậu Quân biết không, cả trung đội nhìn tôi với những ánh mắt đầy thán phục. Riêng ông thầy của tôi, vỗ vai tôi rồi khen “Lẽ ra sếp lớn phải mượn cái quai chảo của tao, gắn vào cổ áo của mày mới đúng”. Đó là câu khen thưởng khiến tôi nhớ đời, bởi vì suốt mấy năm trong lính, chưa có một ông sĩ quan nào khen lính hay bằng ông thầy của tôi. Chuẩn úy trung đội trưởng của tôi, tuy mang lon nhỏ nhưng lại dám ăn to nói lớn, coi bộ ông ta nói còn ngon hơn ông tướng Tư Lệnh Sư Đoàn.

Minh quay đầu nhìn tôi.

-Cậu Quân có biết tại sao tôi nói như vậy không?

Tôi lắc đầu.

-Không.

Minh cười khoái chí.

-Vì ông thầy của tôi, thăng cho tôi một lần năm, sáu cấp luôn, từ lính lên thẳng quan, bỏ qua giai đoạn hạ sĩ quan. Kể từ đó, tôi có cái biệt danh là “Minh chuẩn úy”. Lợi dụng cái biệt danh này, mỗi lần được phép về Sài Gòn, tôi diện bộ đồ bông bạc màu sương gió với cái mũ nồi màu đỏ thắm, khi gặp gỡ và chuyện trò với các em gái hậu phương, tôi tự giới thiệu với mấy cô, câu nói mà tôi đã thuộc lòng, nguyên văn như sau “Thưa cô, bạn bè ở đơn vị gọi tôi là Minh chuẩn úy”. Tôi nói sự thật, nhưng đó là một sự thật đầy gian dối kiểu mập mờ đánh lận con đen. Xin cậu Quân nhớ cho, tôi nói tôi là “Minh chuẩn úy” chứ không phải Chuẩn úy Minh. Tiếng Việt của mình nó hơi lắc léo ở chỗ đó, cậu Quân ở trong quân đội còn lầm lẫn, huống gì các em gái hậu phương. Đúng không?

Tôi nói với Minh.

-Anh nói đúng, thoáng nghe qua lầm chết đi được. Mà thôi, trở lại chuyện ba thằng Việt Cộng và một cây đại liên đổi lấy cái ngôi sao bạc, cũng xứng đáng quá đi chớ. Chỉ có một cái huy chương mà anh vui vẻ cả ngày. Thiếu tá Lê Xuân Phương, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 204 Trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức, có hơn bốn chục cái huy chương. Từ cái thấp nhất là Anh Dũng Bội Tinh ngôi sao đồng, cho đến cái cao nhất là Bảo Quốc Huân Chương, Thiếu tá Phương có đủ. Chưa kể những huy chương của Mỹ trao tặng cho ông ta.

Hình minh họa

Hình minh họa

Minh quay nhìn tôi, đôi mắt của anh mở lớn.

-Hơn bốn chục cái huy chương?

Tôi đáp.

-Đúng.

Minh lắc đầu ra vẻ không tin.

-Huy chương chứ đâu phải lá vàng rơi rụng đầy đường, muốn lượm bao nhiêu cũng được. Tôi nghĩ đó chỉ là tin đồn, người ta vẽ rắn thêm chân để ca tụng ông ấy mà thôi. Cậu Quân nè, tôi có hơi thắc mắc cộng thêm chút nghi ngờ, cậu chưa bao giờ gặp ông Thiếu tá Phương, làm sao mà cậu biết được ông ấy có bao nhiêu cái huy chương. Cậu nghe người ta kể lại phải không? Chắc cậu biết câu chuyện con rắn vuông rồi chứ gì?

Tôi gật đầu, rồi nói với Minh.

-Tôi có biết chuyện con rắn vuông.

Miệng trả lời nhưng tôi nghĩ thầm, anh chàng này lăn lóc, va chạm với đời quá nhiều, nói chuyện với anh ta chỉ cần một điểm không rõ ràng, sẽ bị anh ta quay tới bến. Thiệt vàng đâu có sợ lửa, tôi từ tốn giải thích cho Minh.

-Anh đọc sách nhiều cũng biết rồi, đâu cần phải giáp mặt trực tiếp, nói chuyện với ai đó mới biết về họ. Tôi đọc báo Chiến Sĩ Cộng Hòa, tất cả những chi tiết về cuộc đời và binh nghiệp của Thiếu tá Phương đều có đăng đầy đủ trên đó.

Thấy Minh im lặng không phản đối, tôi mới nói tiếp.

-Đối với một quân nhân, chiến công rất quan trọng nhưng tư cách của họ mới là chuyện đáng nói hơn. Cũng trong số báo Chiến Sĩ Cộng Hòa nói trên, có thêm một bài viết dài gần ba trang của Đại úy William, ông này là cố vấn của Tiểu đoàn 204 Trinh sát, bài viết bằng tiếng Anh, được dịch ra tiếng Việt. Đại úy William là người từng sống chết với binh sĩ của Tiểu đoàn 204 trong suốt hai năm, ông ta đưa ra hai nhận xét về Thiếu tá Phương như sau “Thứ nhất về phương diện vật chất, Thiếu tá Phương là cấp chỉ huy trong sạch, không bao giờ lợi dụng cấp bậc và chức vụ của mình, làm thiệt hại đến quyền lợi của binh sĩ. Một hộp thịt, một gói thuốc lá, một kí đường, một lon dầu ăn của Quân tiếp vụ, phải được đưa đến tận tay của binh sĩ thụ hưởng, không một chút suy suyển. Hơn thế nữa, trong nhiều trường hợp ông ta bớt chút tiền lương đầy khiêm nhường của mình để giúp đỡ cho binh sĩ dưới quyền, khi họ lâm cảnh ngặt nghèo. Thứ hai về phương diện chiến đấu, bọn cố vấn chúng tôi, khi hành quân nhảy toán với ông ấy vào mật khu Núi Voi của Việt Cộng, nơi đó với những dãy núi đá hoa cương chập chùng, chớn chở, cao ngút trời xanh, quanh năm mây xám giăng đầy, Thiếu tá Phương cùng với lính của ông ta trong những bộ bà ba đen hay ka ki Nam Định tùy theo vùng xâm nhập, súng AK trên tay, chân mang dép râu. Họ xuất hiện như những bóng ma, di chuyển nhẹ nhàng như lướt đi trong không khí, khi ẩn khi hiện, đó là hình ảnh của con cọp sống trong rừng già. Cảm phục một con người trong sạch, một chiến sĩ can trường, cho nên chúng tôi tặng Thiếu tá Phương danh hiệu The Gray Tiger”. Từ đó về sau, bắt chước cố vấn Mỹ, tất cả binh sĩ cũng như sĩ quan của Tiểu khu Tuyên Đức, đều gọi Thiếu tá Phương là Gray Tiger.

Tôi ngưng kể chuyện, định hỏi ý kiến Minh có đồng ý với Đại úy William, cố vấn Mỹ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát về chữ Gray Tiger hay không. Chưa kịp hỏi, tôi đã nghe Minh nói với tôi, giọng nói đầy tự tin của một cựu chiến binh Nhảy Dù.

Hình minh họa

-Theo như tôi biết mặc áo quần, trang bị vũ khí của Việt Cộng, rồi nhảy vào mật khu của họ bên Lào hoặc trong dãy Trường Sơn với mục đích do thám, lấy tin tức của những đại đơn vị của Việt Cộng di chuyển như thế nào, rồi gọi máy bay đến tiêu diệt, đó là nhiệm vụ của Lực Lượng Đặc Biệt, Lôi Hổ Nha Kỹ Thuật. Tiểu đoàn 204 Trinh Sát của Tiểu khu Tuyên Đức là Địa Phương Quân, họ chỉ có bổn phận giữ gìn an ninh diện địa trong phạm vi của Tiểu khu Tuyên Đức mà thôi. Nói rộng ra, Địa Phương Quân của tỉnh nào sẽ lo phần bảo vệ an ninh lãnh thổ của tỉnh ấy.

Minh quay nhìn tôi, rồi hạ một câu chắc nịch như một cộng với một là hai.

-Nhảy toán vào mật khu của Việt Cộng, không phải là nhiệm vụ của Địa Phương Quân.

Minh đã dồn tôi vào góc tường, không chừa cho tôi một lối thoát nhỏ. Tôi nói với Minh.

-Quả thật, những hoạt động nhảy toán của Lực Lượng Đặc Biệt và Lôi Hổ Nha Kỷ Thuật tôi hoàn toàn mù tịt, chuyện mình không biết, tôi không dám bàn đến. Thế nhưng chuyện Đại úy William mãn nhiệm kỳ phục vụ ở Việt Nam, trước khi lên đường về nước, ông ta viết một bài đề cao Thiếu tá Phương thì ông ấy được lợi lộc gì? Tôi tin rằng, Đại úy William chỉ muốn nói lên một sự thật mà ông ta đã chứng kiến tận mắt, trong suốt thời gian ông ấy làm cố vấn cho Tiểu đoàn 204 Trinh sát mà thôi. Hơn nữa, anh Minh à, anh nhìn người lính Địa Phương Quân qua con mắt chủ quan của một người lính Nhảy Dù, đó là cách nhìn của mười năm về trước, ngày đó tôi cũng nghĩ như anh, nhưng sau này tôi mới hiểu rõ hơn: Sư đoàn Nhảy Dù và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, năm bảy mươi hai phải lo tái chiếm Cổ Thành, mấy năm sau đó lại phải giữ vùng địa đầu giới tuyến, nơi mà cả năm, sáu sư đoàn lính chính quy Bắc Việt với xe tăng, đại pháo, lúc nào cũng sẵn sàng lấp sông Bến Hải, tiến chiếm Miền Nam. Lợi dụng chuyện hai sư đoàn tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị trói chân, cột tay tại Quảng Trị, vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm, quân Cộng Sản đang hoạt động tại Miền Nam tha hồ tác yêu tác quái, mà không một chút lo sợ phải đối đầu với Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến.

Tôi nhìn Minh thật lẹ, rồi nói tiếp.

-Trong tình huống khó khăn như vậy, bốn Quân khu của Việt Nam Cộng Hòa, phải tự lo liệu lấy thân mình. Địa Phương Quân không còn hoạt động trong phạm vi tỉnh của mình nữa, đến đầu năm bảy mươi lăm, Địa Phương Quân đã được nâng lên cấp Liên Đoàn và họ được điều động đi khắp mọi nơi. Anh Minh cũng đừng có ngạc nhiên khi thấy vài tiểu đoàn Địa Phương Quân của Tiểu khu An Giang, ở mãi tận Quân khu III sình lầy nước đọng, lại bay lên núi đánh nhau với Việt Cộng tại Khánh Dương, là một quận lỵ nhỏ của Tiểu khu Khánh Hòa thuộc Quân khu II. Tiểu đoàn 204 Trinh Sát là đơn vị trừ bị vùng của Quân khu II, bất cứ tiểu khu nào của Quân khu II cần, Tiểu đoàn 204 Trinh Sát sẽ nhảy vào tăng viện. Họ đã từng tăng phái cho Tiểu khu Ninh Thuận, từng Nhảy trực thăng vận vào mật khu An Lão của Việt Cộng, nằm trong lãnh thổ trách nhiệm của Tiểu khu Bình Định, với nhiệm vụ là tiêu diệt những đơn vị của Việt Cộng, lẩn trốn trong mật khu này. Binh sĩ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát, ngụy trang và trang bị vũ khí của Việt Cộng nhưng nhiệm vụ của họ là tấn công để tiêu diệt và phá hủy hậu cần của Việt Cộng, chứ không phải do thám lấy tin tức.

Liếc mắt nhìn Minh, khi thấy anh ta vẫn đang chăm chú lái xe mà không một lời phản đối, tôi bèn quay trở lại câu chuyện The Gray Tiger.

-Cái biệt danh mà cố vấn Mỹ tặng cho Thiếu tá Phương tuy đúng nhưng không được chính xác cho lắm.

Minh vẫn dán mắt vào kính xe, miệng nói.

-Ở trong rừng, còn có ai hơn chúa sơn lâm, tụi cố vấn Mỹ gọi Thiếu tá Phương là Gray Tiger, tôi cho rằng khó tìm được chữ nào đầy đủ ý nghĩa hơn.

Tôi nhỏ giọng với Minh.

Hình minh họa

-Có chớ sao không, theo tôi nghĩ nếu cố vấn Mỹ có đọc bài thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác, họ sẽ không ngần ngại tặng ngay cho Thiếu tá Phương mấy chữ “Đại trượng phu”.

Minh hơi nhăn mặt.

-Thật lòng mà nói, tôi chưa bao giờ nghe hay đọc bài thơ Hồ Trường. Bài thơ đó ra sao? Nói về cái gì vậy?

Tôi nói.

-Câu đầu của bài thơ, mở ra hình ảnh của một người hùng như thế này:

Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường.

Bài thơ khá dài, mai mốt rảnh rỗi tôi sẽ chép bài thơ này tặng anh. Còn bây giờ, tôi muốn nhắc lại: chữ Gray Tiger trong tiếng Anh chỉ nói lên được cái vẻ hiên ngang, oai hùng bên ngoài của một người, họa hổ họa bì nan họa cốt. Chữ “Đại trượng phu” của Việt Nam trong bài thơ Hồ Trường mới diễn tả đầy đủ được một con người toàn diện, cả trong lẫn ngoài, cả Tài lẫn Đức. Trong khi tôi đi lính gần bảy năm, leo lên đến cấp Trung úy mà chưa một lần thấy chiến trận là gì, thậm chí, tôi có cây súng M16 treo ở góc phòng Trung tâm Hành quân mà chưa hề chạm tay đến. Hai người lính, hai thái cực, Thiếu tá Lê Xuân Phương ở cực Bắc, tôi ở cực Nam. Ông ấy ngày đêm dầm mưa dãi nắng đánh nhau với Việt Cộng ngoài chiến trường, với hơn bốn mươi cái huy chương đủ loại, tôi làm việc ở văn phòng với nệm ấm chăn êm, chưa bao giờ thấy cái huy chương vuông hay tròn như thế nào. Cho nên tôi mới nói, không bao giờ tôi gặp được Thiếu tá Phương. Thế nhưng, Tổng Thống Thiệu thì tôi đã thấy mặt ông ấy.

Minh cười thoải mái.

-Tôi biết rồi, cậu Quân thấy Tổng Thống Thiệu khi ông ấy chủ tọa lễ mãn khóa ở Trường Võ Bị Đà Lạt phải không? Cả vài ngàn người thấy chứ đâu phải một mình cậu.

Tôi chần chừ giây lát rồi nói.

-Chỉ một mình tôi đối diện với Tổng Thống Thiệu, chuyện có hơi dài dòng chút đỉnh.

Đang nói chuyện với Minh, tôi bỗng giật mình khi thoáng thấy cái tháp chuông nhà thờ của quận Di Linh, lờ mờ trong sương sớm. Tôi vội vàng hỏi.

-Anh Minh thấy cái tháp chuông đó không?

-Thấy chớ, mình đang đi ngang qua Di Linh. Sẵn đây, tôi cũng nói với cậu là mình sẽ ghé lại tiệm ăn của anh Tư, là anh kết nghĩa của tôi. Trước đây chúng tôi là tài xế xe khách, cách đây ba năm anh ấy giải nghệ rồi mở quán ăn, tụi mình ghé chỗ đó để rửa mặt tiện thể trút luôn cái bầu tâm sự cho nhẹ người, sau một đêm thức trắng.

Tôi khều nhẹ vào vai Cúc.

-Em à, thức dậy đi.

Cúc giật mình, đưa tay giụi mắt rồi nhìn quanh.

-Mình đang ở đâu vậy anh?

Tôi nói nhỏ với Cúc.

-Di Linh.

Minh cho xe tấp vô bãi đậu xe của một cái quán ăn mà cửa nẻo hãy còn đóng kín, với tấm bảng to choán hết cái bao lơn ở lầu hai “Tiệm cơm Tư Chơi”.

Hình minh họa

Theo tôi ước đoán, có tám mươi đến chín mươi phần trăm người dân Di Linh chạy trốn Cộng Sản, họ di tản đến Đơn Dương rồi theo dân Đà Lạt về Sài Gòn. Cho đến hôm nay những người dân di tản khỏi Di Linh vẫn còn kẹt ở Sài Gòn, chưa kịp trở về, quận Di Linh giống như một cái thành phố chết.

Tôi đảo mắt nhìn quanh, bên kia đường chợ Di Linh vắng hoe như chùa Bà Đanh, trước chợ lèo tèo vài ba người đàn bà ngồi bệt dưới đất, bên cạnh mớ quang gánh, thúng mủng, với dăm ba trái bầu xanh, mươi trái bí đỏ bỏ nằm lăn lóc dưới đất.

Minh vừa đập cửa vừa gọi to.

-Anh Tư, mở cửa đi, Minh chuẩn úy nè. Mở cửa đi.

Tôi nhắc Minh.

-Nhỏ nhỏ thôi anh, giờ này mà còn chuẩn úy với thiếu úy gì nữa.

Một người đàn ông với gương mặt khá bảnh bao, tuổi trạc 40 trong bộ đồ bà ba đen đã bạc màu, chân mang đôi dép râu, chầm chậm đẩy cánh cửa sắt. Khi nhìn thấy Minh, ông ta mừng rỡ ra mặt.

-Minh hả, cả tháng hơn rồi mới gặp lại em, vô tiệm đi.

Vừa bước chân qua khỏi ngưỡng cửa, Minh la to.

-Trời đất ơi, bàn ghế đâu hết trơn rồi anh Tư? Bộ dẹp tiệm rồi hả?

Người đàn ông trả lời với giọng nói xụi lơ.

-Mấy ổng không cho buôn bán, hơn nữa, đâu có gạo để nấu cơm mà bán. Còn bàn ghế, đồ đạc của tiệm thì chở về cái ủy ban nhân dân hay quân đội gì đó quản lý rồi. Không muốn dẹp tiệm, cũng phải dẹp thôi.

Người đàn ông tên Tư nhìn tôi và Cúc rồi nói tiếp.

-Mời cô với cậu ngồi, đây là bộ bàn ghế duy nhất còn sót lại trong tiệm. Đó là đồ của Cách Mạng lại quả cho tôi, sau khi dọn sạch sẽ tất cả mọi thứ trong tiệm.

Tôi và Cúc chưa kịp ngồi xuống ghế, Minh đã nói với anh Tư.

-Lái xe cả đêm mệt quá, tụi em cần ra bể nước phía sau rửa mặt. Trong tiệm có gì ăn uống không anh Tư?

Với giọng nói tỉnh bơ của một người bất cần đời.

-Sạch sẽ, không có cơm mà cũng chẳng có cháo, trong nhà còn vài gói mì ăn liền, nếu mấy em muốn anh sẽ nấu cho.

Minh tươi cười.

-Gì cũng được mà anh Tư.

Nói xong, Minh ngoắc tay, kêu tôi và Cúc đi ra phía sau nhà.

Khi chúng tôi trở vào trong tiệm, anh Tư đang ngồi nơi bàn ăn, trên bàn đã dọn sẵn ba tô mì còn nóng hổi, khói bốc lên nghi ngút. Tôi nhìn quanh tiệm, một bầu không khí lạnh lẽo bao trùm khắp mọi nơi, rồi cúi đầu nhìn cái trứng gà trong tô mì mà cảm thương cho ông chủ tiệm hết sức. Mới có hơn một tháng giải phóng mà Di Linh đã tiến mau quá chừng, cứ cái đà này, vài tháng nữa không biết sẽ tiến tới đâu. Tôi, Cúc và Minh vì đói quá nên chúi đầu vô tô mì. Anh Tư đi xuống bếp, đem lên ba ly cà phê đen, đựng trong một cái khay.

-Uống chút cà phê cho tỉnh người đi mấy em.

Hình minh họa

Tôi vừa ăn mì, vừa gợi chuyện với anh Tư mà mục đích là muốn tìm hiểu, muốn biết rõ hơn về trận đánh tái chiếm Di Linh của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát.

-Tháng trước, đánh nhau tơi bời ở chợ Di Linh này, phải không anh Tư?

Với vẻ mặt đầy ngạc nhiên, anh Tư hỏi tôi.

-Sao cậu biết?

Minh lật đật trả lời anh Tư.

-Cậu Quân, là sĩ quan của Phòng hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt đó anh Tư.

Anh Tư nhìn tôi như dò xét rồi nói.

-Đúng vậy, khoảng hơn một tháng trước, buổi sáng tôi nghe được tin Việt Cộng đã chiếm xong Di Linh mà không nổ một tiếng súng, bởi vì dân chúng và lính Việt Nam Cộng Hòa ở Di Linh đã di tản về Đà Lạt, về Đơn Dương hết rồi. Lính đi đến đâu, dân chạy theo đến đó, bỏ lại Di Linh vắng hoe như cái thành phố ma. Vậy mà, khi chiều đến tiếng súng nổ như bắp rang khắp mọi nơi, tôi nhìn qua khe hở của cánh cửa sắt và lấy làm lạ đến độ không tin vào đôi mắt của mình, không hiểu tại sao Việt Cộng lại bắn nhau với Việt Cộng, cả vài chục cái xác chết nằm lăn lóc trước chợ. Khi tiếng súng ngừng hẳn, chiến trường đã được kiểm soát, một ông Việt Cộng gõ cửa nhà tôi xin nước uống và trấn an tôi.

-Bà con yên tâm, chúng tôi là lính Trinh sát thuộc Tiểu đoàn 204 của Tiểu khu Tuyên Đức, ngụy trang làm lính Việt Cộng, tái chiếm Di Linh.

Nghe tới đây, Minh gật gù như thấm ý rồi nói.

-Bây giờ, tôi mới thật sự tin lời cậu Quân nói đêm qua, về Thiếu tá Lê Xuân Phương và Tiểu đoàn 204 Trinh Sát của ông ta.

Anh Tư nhìn Minh hỏi.

-Tối qua, cậu Quân nói chuyện gì vậy?

Minh nói.

-Không có gì đâu, anh Tư kể tiếp đi.

Anh Tư chậm rãi mồi một điếu thuốc, đôi mắt lơ đễnh nhìn lên trần nhà.

-Ngày hôm sau, Tiểu đoàn 204 Trinh Sát bắt sống được ba cán binh và một ông Thượng úy Việt Cộng, tịch thu một xe Molotova do Liên Xô sản xuất với nhiều súng ống, đạn dược. Đến chiều, họ kéo chiếc xe và bốn tù binh về Đà Lạt. Hôm sau nữa, lại đánh nhau gần tháp chuông nhà thờ, Việt Cộng đã bị đẩy lui về hướng Bảo Lộc. Chiến tranh đã lùi ra ngoài bìa rừng, không còn ở trong thành phố nữa.

Anh Tư đẩy ly cà phê về phía tôi và Minh rồi nói.

-Hình như, hai bên đã đánh nhau một trận long trời lở đất ở ngoài rừng, tôi nghe tiếng gầm rú liên hồi của xe tăng, tiếng súng lớn, súng nhỏ, rồi đạn pháo nổ suốt đêm, mãi cho đến sáng chiến trường mới im tiếng súng. Sau này, khi đã hoàn toàn chiếm được Di Linh, rồi kéo quân lên giải phóng Đà Lạt. Trong buổi mít tinh mừng ngày Di Linh hoàn toàn giải phóng, một ông cán bộ Việt Cộng thứ thiệt nói với dân chúng rằng, họ đã tiêu diệt hơn một trăm năm mươi tên lính Ngụy thuộc Tiểu đoàn 204 Trinh Sát, bắt sống gần một trăm tên, số còn lại băng rừng chạy trốn về Phan Thiết. Cuối cùng ông cán bộ Việt Cộng nói “Kết thúc chiến dịch giải phóng Di Linh, các chiến sĩ của ta đã xóa tên cái Tiểu đoàn 204 Trinh Sát Ngụy phản động, góp phần giải phóng hoàn toàn Miền Nam Việt Nam”.

Hình minh họa

Anh Tư cười với cặp môi trề ra.

-Đó là cán bộ Việt Cộng nói, tôi nghe sao thì nói lại như vậy, cậu Quân tin hay không là quyền của cậu.

Tôi nghĩ, với chừng đó chiến sĩ phải hy sinh mới chận đứng được sức tiến quân như vũ bão của Việt Cộng, đủ thời giờ cho người dân Đà Lạt di tản về Sài Gòn. Cho dù những con số mà anh Tư nói, có thể không chính xác nhưng cũng làm cho tôi quặn đau trong lòng.

Minh hớp một ngụm cà phê, mắt nhìn ra cửa rồi nói.

-Anh Tư, có khách.

Anh Tư quay nhìn người đàn bà đang xăm xăm đi vào.

-Chào bà tổ trưởng, mời bà vào chơi.

Đưa tay chỉ chúng tôi, anh Tư nói với bà tổ trưởng.

-Đây là mấy đứa em, vừa từ Sài Gòn lên.

Liếc mắt nhìn chúng tôi, cái liếc mắt đầy xoi mói, bà tổ trưởng nói với anh Tư, giọng nói nghe như là một mệnh lệnh.

-Mười giờ sáng nay họp tổ, nhớ mang theo cơm trưa với cây cuốc.

Dứt lời, bà quay lưng đi ra cửa, đưa cái mông bánh đúc ngúc nga ngúc ngắt, dáng đi lẹt đẹt y hệt như con vịt bầu.

Anh Tư nói.

-Bà tổ trưởng, trước đây là người làm công rửa chén cho tiệm của tôi. Cũng may, tôi đối xử rất tử tế với bà, cho nên bây giờ làm tổ trưởng, bà vẫn nể trọng tôi chút đỉnh, nếu không thì thế nào bà ta cũng hạch hỏi mấy người vài câu, để chứng tỏ uy quyền của mình. Cách Mạng ba mươi mà, ngọn lửa đấu tranh giai cấp đang ngùn ngụt cháy trong tim họ, nhìn đâu cũng thấy rặt một bọn phản động do CIA của Mỹ gài lại.

Minh nói với anh Tư.

-Tụi em phải đi, vì có nhiều việc cần giải quyết ở Đà Lạt.

Cúc lục trong bóp lấy ra tờ giấy 500 đồng, đưa cho anh Tư.

-Chừng này, có đủ cho tiền ăn sáng và cà phê không anh Tư?

Cầm tiền trong tay, anh Tư nói.

-Dư rồi, cảm ơn mấy em.

Chúng tôi chào ông chủ tiệm cơm thời Cộng Sản Chủ Nghĩa, rồi ra xe.

Khi xe đã đi khỏi Di Linh một đoạn khá xa, tôi vẫn còn nhớ về những người lính Địa Phương Quân của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát đã hy sinh thân mình trong trận đánh tái chiếm Di Linh, họ đi vào chỗ chết để người dân Đà Lạt có con đường sống, con đường di tản về Sài Gòn. Những chiến sĩ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát, đã một thời chiến đấu vì dân vì nước, bảo vệ quê hương, hình bóng của họ sẽ không bao giờ mờ phai theo năm tháng, mà sẽ mãi mãi sống trong lòng người dân Đà Lạt, trong lòng dân tộc. Tôi quay đầu nhìn lại, quận Di Linh đã khuất sau cánh rừng thưa. Một niềm tin mãnh liệt chợt đến với tôi, Thiếu tá Lê Xuân Phương và hàng trăm binh sĩ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát vẫn còn sống sót, họ đang ở đâu đó trong núi rừng trùng trùng điệp điệp của dãy Trường Sơn.

Tôi nhắm mắt lại “The Gray Tiger, Đại trượng phu, ngàn thu vĩnh biệt.”

Tro Than Vùi Quê Cũ.

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu.

Post by Sơn râu 22 Feb 2024

Đã hơn 45 mươi năm rồi đó nhưng ta cứ tưởng như mới hôm qua ngày định mệnh. Ta soi gương. Hình ta đã già hơn năm trước. Tóc bạc thêm. Vầng trán nhăn nheo, những vết nhăn, buồn theo nỗi buồn năm tháng.

Rót ly rượu đắng cay, ngồi một mình, nhắm nháp nỗi buồn của một người thất trận và nghĩ suy. ‘Rồi có một ngày chinh chiến tàn’. Câu hát cũ gợi đầy nỗi nhớ. Nhưng chinh chiến vẫn chưa tàn trong ta dù hơn bốn mươi năm đã trôi qua.

Đêm qua trời đổ trận mưa to. Mưa như người đi xa trở về quê cũ. Những giọt mưa ồn ả gõ vào khung cửa kính như nói người rằng: Mưa đã trở về. Nước đã trở về.

Ta nửa tỉnh, nửa mơ trong tiếng mưa rơi. Và trong cơn mơ, ta trở về quê cũ. Ta thấy quê ta mênh mông trong buổi chiều thơm rơm đốt đồng khói toả. Ta thấy cánh cò xoải bay về đâu trong buổi chiều ráng đỏ. ‘Chim bay về núi tối rồi. Chị em sắm sửa lấy nồi nấu cơm.’

Hòa bình!

Ta thấy nhà ta buổi tối quây quần bên ngọn đèn Huê kỳ vặn tỏ. Ba ta ngồi đọc báo; má ta ngồi may vá; anh, em ta đang ngồi tập đọc cuốn vần con gà nó gáy ó o.

Rồi ai làm bom, đạn nổ? Chiến tranh! Chiến tranh là do tham vọng của một lũ điên từ phương Bắc!

Ta thấy lại những người không còn ai thấy nữa. Những người đã chết.

Người chết là em thơ, chết ngơ ngác, chết bàng hoàng như thể chưa nhận ra được kết cuộc bi thảm của một chuyến đi đầu năm từ một vùng quê nào đó lần đầu đặt chân vào thành phố mà em cứ tưởng là một chuyến rong chơi.

Người chết là bé thơ còn ngậm bầu vú mẹ. Xác mẹ và con, cả hai, đều lạnh giá trong ngày mồng một Tết Mậu Thân tám nẻo đường thành.

Người chết là thiếu nữ, mới chớm tuổi xuân thì, mà buổi chiều còn trò chuyện với ta về tương lai, về hạnh phúc để nửa đêm về sáng, một mảnh đạn pháo xuyên vào tim em, chấm dứt ngày em mơ mộng cũ.Ta vẫn còn thấy em nằm sóng soài trên chiếc ghế bố, ai dùng thay thế chiếc băng ca để ta tiếp khiêng em vào bệnh viện. Nhưng không còn kịp nữa rồi! Em chết mà không biết vì tội gì mình phải chết.

Người chết là người lính trẻ, tử trận chiều qua mà ta đã gặp trong nhà quàn liên đội chung sự nghĩa trang quân đội Biên Hoà khi ta lên để nhận lại xác của anh ta bỏ mình trong trận Ba Hô, Quảng Trị.

***

Ta vẫn còn nghe tiếng ông Chín Đờn Cò và bà Năm Trầu nói chuyện. Ta yêu cái giọng miền Tây Nam Bộ chơn chất ấy. Ta nghe tiếng gà vịt trong chuồng đòi ăn, tiếng nghé ngọ của bầy trâu rời chuồng trong chương trình phát thanh Hương Quê mỗi bình minh năm cũ. Ta vẫn còn nghe tiếng ai đó hò vòng vọng, lan tỏa trên đồng bằng sông Cữu Long mùa nước nổi.

Ta vẫn còn nghe tiếng hò reo xung trận, tiếng súng nổ, đạn bay, tiếng rên la của người bị thương, tiếng than khóc của những người ở lại, đau đớn tiễn người đi.

Ta vẫn còn nghe lời nói của một người lính, trích từ kinh thánh:

“We, the soldiers who have returned from battles stained with blood, say to you with a loud and clear voice: Enough of blood and tear. Enough.”

“Ta, những người lính từ mặt trận trở về, mình còn đẫm đầy những máu, dõng dạc nói với các ngươi rằng: Đã đủ rồi máu và nước mắt. Đã đủ rồi.”

Chúng ta đã buông súng vì nghĩ rằng máu và nước mắt đã đủ rồi. “Enough of blood and tear. Enough.”

Ta, những người lính trẻ năm ấy, không hề nghĩ rằng: “Mẹ ơi! Nuôi con lớn để con làm tù binh!”

Ta còn trẻ, mắt còn sáng, tóc còn xanh, nhìn đời vẫn còn nhiều cao vọng pha lẫn chút ngây thơ. Tuổi trẻ nào không thế! Ta đã từng ngây thơ tin rằng: hết chiến tranh rồi mọi sự đâu sẽ vào đấy.

Sẽ hòa giải. Sẽ hàn gắn. Sẽ không còn bắn nhau, không còn đặt mìn, phục kích, pháo kích, bỏ bom. Người Việt Nam sẽ không còn giết nhau bằng súng Nga, bom Mỹ nữa. Người Việt Nam sẽ không còn chết nữa.

“Rồi có một ngày chinh chiến tàn. Ta trở về quê.” “Không! Ta không còn quê nữa để trở về. Ta lưu lạc, ta tha hương!”.

***

Melbourne sắp sửa vào Xuân, vào mùa hoa ‘blossom’, (nở). Quê người ôi đẹp biết bao! Nhưng quê người dẫu đẹp vẫn không phải quê ta. Quê ta là con đò, bến nước, là mái lá có lu nước nước mưa trước hiên nhà dành cho khách bộ hành đở khát bước đường xa.

Đêm ta mơ về thành phố cũ. Cần Thơ. Chiếc phà Hậu Giang. Người nghệ sĩ mù và câu hát: ‘Dẫu sao đi nữa thì chị cũng về với em’.

Có thể là quá trễ để “Dẫu sao đi nữa thì chị cũng về với em.” Ta đã già rồi, sức tàn lực kiệt, đèn khô dầu lụi bấc. Ta sẽ không còn dịp gặp lại ông Chín Đờn Cò và bà Năm Trầu nữa đâu.

Hỡi ơi! những người nghệ sĩ thân thương ngày đó còn sống hay đã chết? Nếu sống thì phiêu bạt ở phương nào? Có đêm mơ về quê cũ như ta?

Ngày ta nằm xuống ở đất lạ quê người hãy đưa ta vào lò thiêu. Thân xác ta! Cát bụi sẽ trở về cát bụi. Hãy giữ dùm ta những tro than để mang ta về quê cũ, vùi những tro than đó xuống lòng đất quê hương.

Ta sẽ thực hiện được lời ước nguyện của người nghệ sĩ mù trên bến bắc Cần Thơ với câu hát tiên tri: “Dẫu sao đi nữa thì chị cũng về với em.” Lúc đó cuộc chiến mới thực sự tàn hẳn trong ta. Hãy để bụi thời gian năm tháng phủ mờ bia mộ đường quên!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Bắc Cần Thơ!

petruskyaus.net

Thơ Đoàn Xuân Thu.

Post by Sơn râu 22 Feb 2024

Cần Thơ cất cầu nhưng rầu cho chiếc Bắc!

Một tiếng kêu than hai hàng nước mắt!

“Thân đui mù! Thơ tôi nói ai nghe?”

Bắc Cần Thơ! Ơi Bắc Cần Thơ!

Không còn ponton! Không còn mỏ bàn đò!

Không còn chiếc đèn pha mù mù soi đêm tối!

Không còn người lính cụt chân; giọng hát sầu năm cũ;

Cây đàn ghi ta phím lõm và cái nhịp song lang!

Một khúc tình ca vỡ tan thời dâu biển!

Tống biệt hành em tiễn biệt người đi!

Chiếc Bắc xưa chìm sâu vào miên viễn!

Xa xứ về, người yêu cũ biệt mù tăm!

Đoàn Xuân Thu.

Áo tương tư!

petruskyaus.net

thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 22 Feb 2024

Áo xưa, em giặt, còn đây;

mà người giặt áo chân mây cuối trời!

 ***

Đò dọc, xuôi về quê em, ven biển,

xóm, làng em nghèo, nghèo trớt mồng tơi!

học trò anh, da mốc thích, mốc cời;

chân đất, đầu trần, chai sần ruộng rẫy!

Chập chùng sóng, biển, chiều buồn sóng bủa,

nhớ nhà, anh, chiều thui thủi… bến sông,

bến sông chiều, chiều tím, tím mặt sông

anh ngó, anh mong, trông về thành phố!

May mà có em! Ra sông giặt áo!

“giặt áo anh, được không? Thưa thầy giáo!

không giặt một lần, giặt suốt trăm năm.”

câu nói giỡn? Thâm trầm như ẩn dụ?

***

Ba mươi tháng tư, giặc chiếm Sài Gòn,

hấp hối tự do, gông cùm nô lệ!

đời tang tóc, khóc thiên đường cộng sản!

ăn độn sắn khoai, nói chuyện trên trời!

Đò dọc xuôi về ven biển; đào vong,

giã biệt bến sông, nơi em giặt áo,

anh tìm em, người giặt áo không công,

em đã đi khi đồng chung… yên bão!

***

Áo xưa em giặt, giờ anh vẫn mặc,

không mặc một lần, mặc suốt trăm năm!

áo rách rồi! Ai khâu vá cho anh?

tình ta tan vỡ ai hàn? Ai gắn?

***

Nhìn đau đáu, cửa biển mờ bóng khói,

dõi đăm đăm, sóng đang bủa, đang dồi…

áo bà ba, hoa cà, hòa biển tím

tình còn đây trời đày ta mất nhau!

đoàn xuân thu.

melbourne