This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Chuyến bay qua Marid, thủ đô Tây Ban Nha lúc bảy giờ sáng, mà chỗ ở của tôi xa phi trường quá, đi xe nhà, xe lửa thì không kịp. Hơn nữa phi trường Schiphol – Amsterdam dạo này thiếu nhân viên làm việc nên hành khách chen chúc, chờ đợi cũng khá lâu, sợ trễ chuyến bay nên công ty đặt khách sạn cho tôi ngủ gần phi trường cho tiện. Tôi đi xe lửa tới phi trường lúc năm giờ chiều. Theo điện thư của công ty cho tôi biết, họ có đặt cho tôi phần ăn chiều và sáng, nếu sáng không ăn tại khách sạn thì có thể nói nhân viên phục vụ gói cho tôi mang theo. Thiệt ra thì từ trước tới giờ phần ăn do công ty đặt ít khi tôi quan tâm. Những lúc bình thường, lỡ đường qua đêm trong thành phố lạ, tôi hay xuống phố đi dạo đã rồi thì tìm ăn chút ít đặc sản miền đó và uống ly rượu hoặc ly bia địa của nơi đó cho thoả mãn tánh hiếu kỳ. Hôm nào không ra phố được mà đói bụng, tôi mới xuống búp phê ăn bánh mì, uống vài ly bia hay ly nước gì đó cho hết đói rồi đi ngủ. Dạo nầy trong phi trường Schiphol người ta đông như kiến cỏ, xe bus chở người ra vô khách sạn chuyến nào người cũng chật cứng như nêm. Năm nay Hoà Lan mới mùa xuân mà trời nắng chang chang, nóng nực đổ mồ hôi ướt áo mà phải đứng chờ cả hơn hai giờ đồng mới lên được xe. Khi ra tới khách sạn thì đã hơn bảy giờ chiều rồi, sau khi làm thủ tục nhận phòng xong, tôi kéo vali và mang túi xách lên phòng ở từng hai để đó. Tôi trở xuống từng đưới đi một vòng búp phê coi có gì ăn không? Quả thiệt như tôi nghĩ, chỉ có bánh mì và vài thứ xúc xít, thịt nguội cũng bình thường thôi, không có món nào trông bắt mắt hết. Tôi đi ra quày chào và hỏi anh nhân viên khách sạn:
– Ở gần đây có nhà hàng nào không?
Anh ta chỉ ngón tay trỏ ra trước cửa, bên kia đường, nơi có toà nhà cao, nói:
– Ở bên đó kìa.
Tôi đi theo ngón tay chỉ đường của anh ta. Vô tới phía từng trệt của toà nhà là một cửa tiệm treo lủng lẳng những món đồ kỷ niệm và bên hong góc là một sneckbar. Tôi tới chào và hỏi cô gái đứng trong quày bar:
– Xin lỗi, nhà hàng ở đâu?
Cô gái chỉ tay qua chiếc thang máy cuốn và nói:
– Ông lên từng ba.
Theo lời cô gái, tôi đi tới chiếc thang đang chạy, có vài người đứng ở mấy bậc thang trên, tôi cũng bước lên đứng cho thang cuốn lên. Đi hết hai cầu thang cuốn mới tới nơi, nhà hàng thuộc loại búp phê, không sang trọng lắm. Tôi hỏi cô gái đứng trước quày về giá cả. Cô ta cho biết, trả tiền vô cửa ba chục euro được ăn, uống cà phê, trà, nước lạnh; bia, rượu thì phải trả tiền riêng. Tôi trả tiền xong, vô đứng nối đuôi theo hàng người lấy dĩa, dao, nĩa. Thức ăn trong búp phê trưng bày rất sạch sẽ, sang trọng nhưng vì thực đơn của Hoà Lan nên trông không hấp dẫn lắm. Mấy chục năm qua tôi làm đầu bếp cho tàu buôn của Hoà Lan, chế biến những món ăn của nước này rất thành thạo và biết mùi vị ngon hoặc dở, nhưng ăn cho đỡ đói thì được chớ nhìn thì hổng thấy thèm cho lắm. Theo tôi những món ăn càng về các nước Bắc Âu thì nó càng nhạt nhẽo, thua xa thức ăn của vùng Địa Trung Hải. Thức ăn ở Địa Trung Hải rất phong phú, đa dạng, nhiều rau, củ và hương vị đậm đà, trưng bày trông bắt mắt. Suy nghĩ vu vơ đi tới cuối cùng búp phê hồi nào không hay, nhìn xuống cái dĩa cầm trên tay còn trống trơn, chưa có món nào ăn được hết. Tôi lưỡng lự một chút, bèn quay trở lại chỗ để đồ nguội, gắp mấy miếng phó mát, vài lát cá hồi hun khói và dưa chua bỏ vô dĩa rồi đi qua quày rượu mua một ly bia đem ra chiếc bàn lớn. Tới nơi tôi thấy chỉ có một cô gái vừa bưng đồ ăn để trên bàn và ngồi xuống chiếc ghế đầu bàn. Thấy vậy tôi đi lại đầu bàn kia, để bia và dĩa đồ ăn lên bàn rồi ngồi xuống chiếc ghế đầu bàn này, vậy là tôi với cô gái ngồi đối diện xéo mặt nhau, tôi nhâm nhi bia và nhìn người ta ăn uống.
Uống được mấy hớp bia thì có hai người Tàu, người con trai bận áo quần màu đen, người con gái bận áo đầm bông màu đỏ, hai người còn đeo khẩu trang, trông có vẻ khác người. Hồi chiều ngoài bến xe bus ở phi trường tôi thấy hai người này tay xách, vai mang và còn đẩy hai cái vali bự tổ chảng, không biết hai người làm gì mà đem đồ nhiều quá, làm tôi có cảm tưởng như hai người dọn nhà sang nước nào đó. Tôi đoán hai người hổng phải là hai vợ chồng thì cũng là cặp tình nhân. Bây giờ vô nhà hàng mỗi người bưng một dĩa lớn đầy nhóc khoai tây chiên, xà lách và croquettes đi lại đứng trước chỗ tôi ngồi. Cô gái cất tiếng hỏi tôi bằng tiếng Tàu, tuy hổng hiểu gì ráo, nhưng cũng đoán được cô ta hỏi chỗ ngồi. Tôi chỉ tay xuống chiếc ghế và nói bằng tiếng Anh:
– Tự nhiên.
Hai người lại ngồi đối diện với tôi rồi kéo khẩu trang xệ xuống càm và bắt đầu ăn. Tôi day lại uống cạn phần bia của mình và đứng lên lấy nĩa ghim miếng phó mát đút vô miệng rồi bưng ly đi lại quày bar mua thêm bia. Mua bia xong, tôi bưng ly bia trở lại vừa để ly bia xuống bàn thì người con trai day qua nói gì đó với người con gái, người con gái bèn day qua chỉ ly bia hỏi tôi bằng tiếng Anh:
– Cái này lấy ở đâu vậy?
Tôi chỉ tay qua quày bar:
– Ở chỗ kia kìa.
Người con gái dợm đứng lên. Thấy vậy tôi liền hỏi:
– Muốn uống bia hả?
– Yes yes.
Tôi đưa tay ra dấu cho cô gái ngồi xuống và nói:
– Ngồi ăn đi, tui đi lấy cho.
Tôi trở lại quày ba thấy có năm sáu người tới trước đứng sắp hàng, tôi cũng bước vô đứng sắp hàng chờ mua bia. Khi mua được hai ly bia, đem trở lại bàn thì thấy hai người đã đớp sạch hai dĩa thức ăn. Hai tay bưng hai ly bia chìa ra trước mặt cho mỗi người một ly, hai người bưng bia lên, sẵn trớn chìa qua mời tôi cụng. Tôi bưng ly bia của mình lên cụng, hớp xong hớp bia tôi để bia lên bàn và ngồi xuống. Cô gái đứng dậy đi lại chỗ để tô, dĩa lấy một cái dĩa lớn nhứt, rồi mới đi tới chỗ để đồ ăn. Trong lòng tôi có hơi thắc mắc, tướng tá cô nhỏ thó mà thân hình thì không được mập lắm, phải nói là ốm tong teo vậy mà mới vừa đớp sạch dĩa thức ăn tổ chảng, giờ lại lấy thêm đồ ăn nữa?! Nhìn chiếc bàn dài và rộng có thể ngồi thoải mái cho mười mấy con người ta. Tôi chợt nhớ ra, hồi nãy có cô gái người da trắng ngồi nơi đầu bàn kia, còn tôi thì ngồi đầu bàn bên này, nhưng cô gái đã đi qua bàn bên góc ngồi chung với mấy người khác rồi. Trong khi các bàn khác người da trắng ngồi chen chúc nhau, còn bàn này chỉ có tôi và cặp người Tàu ngồi, cho nên trông chiếc bàn trống trơn và thấy nó dài ra. Tuy cả Âu Châu đã gỡ bỏ luật phòng chống dịch corona và mọi người đi lại trong những quốc gia Âu Châu không cần phải xét nghiệm cô vít và điền giấy tờ khai báo y tế rườm rà như trước kia nữa. Ngoại trừ khi lên xe lửa và máy bay thì vẫn phải đeo khẩu trang, còn những nơi công cộng thì không bắt buộc đeo khẩu trang, nhưng ai muốn đeo thì đeo hổng đeo cũng không sao. Đã vậy mà con người ta vẫn còn chia cách, nhứt là những người dân da trắng họ còn ngại gần gũi với những người Tàu và người Châu Á. Trước kia, gặp trường hợp như vầy, tôi cảm thấy mình bị phân biệt đối xử, trong lòng có hơi khó chịu, nhưng sau thời gian đại dịch, những chuyện như vầy hổng khiến cho tôi bực tức nữa. Thật ra thì sự kỳ thị chủng tộc là bản tánh của loài người, bình thường thì không sao, bất kể người nước nào, hể có biến cố về sắc tộc thì sự kỳ thị nó lộ liễu rõ ràng hơn. Tôi day qua hỏi gã thanh niên bằng tiếng Anh:
– Hai người đi đâu vậy?
Gã lắc đầu đưa tay khoát khoát, miệng nói tiếng Tàu, có ý nói với tôi là gã không biết tiếng Anh. Lúc đó người con gái bưng một dĩa thức ăn đầy nhóc với những món y chang trong dĩa của tôi, chỉ khác chút là cô ta lấy thêm mấy trái ô liu, múc thêm chén nhỏ nước tương và một muỗng nhỏ wasabi. Nhìn bộ dạng hai người tôi đoán họ là người Trung Hoa lục địa, chớ hổng phải là người Hồng Kông hay Đài Loan. Cô gái chìa dĩa đồ ăn trước mặt tôi nói:
– Ăn đi.
Giờ tôi mới hiểu cô ta lấy mấy món nhậu để làm mồi uống bia chớ hổng phải để ăn cho no. Tôi cảm ơn và lấy nĩa ghim miếng phó mát và trái ô liu đưa lên ăn. Cô gái đưa qua cho gã thanh niên, gã ghim một miếng cá hồi hun khói, xong cô gái mới chịu để dĩa đồ ăn xuống bàn. Gã thanh niên day qua nói nhỏ với người con gái gì đó. Cô ta day lại tôi hỏi:
– Hồi nãy ông hỏi gì?
– Oh, tui hỏi hai người đi đâu?
– Ngày mai chúng tôi qua Anh, rồi sang máy bay qua Mỹ. Còn ông, ông đi đâu?
– Tôi đi Las Palmas.
– Las Palmas là nước nào?
– Tây Ban Nha, sáng mai tôi qua Madrid, thủ đô của Tây Ban Nha, từ đó sang máy bay ra Las Palmas ở trong quần đảo Canary nằm cạnh Châu Phi.
– Oh, vậy hả?
Nói vậy rồi cô gái bưng bia lên mời. Giọng nói tiếng Anh của cô gái chậm nhưng rất rõ ràng. Trông bộ dạng nhỏ thó, quê mùa của cô gái, nhưng sự hoạt bát của cô ta làm cho tôi suy đoán; có lẽ cô là người thường đi đây, đi đó ra nước ngoài nên cô ta lanh lợi hơn gã thanh niên. Nhìn sự nhút nhát rụt rè của gã thanh niên, chuyện gì cũng day qua hỏi của cô gái, tôi đoán anh ta mới ra xuất ngoại lần đầu. Có điều tôi thấy hơi thắc mắc là Trung Quốc trai thừa gái thiếu mà sao cô gái nầy lại cặp bồ với một anh chàng coi bộ ngu ngơ như vậy, nhưng ý nghĩ nầy chỉ thoáng qua trong đầu thôi. Cô gái rất tự tin không dè dặt gì hết và ăn, uống cũng rất tự nhiên, gặp tôi chưa đầy một giờ đồng hồ mà làm như quen thân từ lâu lắm, cô cứ vồn vã đưa bia lên cụng, bưng thức ăn chìa qua mời, uống hết bia cô đứng dậy đi mua bia. Cô ta hay thắc mắc và trò chuyện hơi nhiều. Cô ta hỏi tôi sao không đeo khẩu trang. Tôi nói:
– Âu Châu giờ không bắt buộc nữa.
Cô ta moi trong túi xách ra một cái khẩu trang đưa cho tôi và chỉ qua đám đông nói:
– Người da trắng dễ bị nhiễm virus hơn người Tàu, họ nguy hiểm lắm, một lát đi ra ngoài ông nhớ đeo khẩu trang đó.
Tôi làm bộ ra vẻ hổng biết gì, cầm chiếc khẩu trang đưa lên hỏi:
– Ở nước Tàu còn có cô vít nhiều không?
– Còn nhưng không nhiều. Bên Mỹ và Âu Châu mới nhiều, vì corona có từ bên Mỹ mà.
Không còn nghi ngờ gì nữa, hai người này chắc chắn tới từ Trung Cộng rồi. Chánh quyền Trung Cộng hay thiệt, họ tuyên truyền làm sao mà được dân của họ tin tưởng và sẵn sàng làm “ dư luận viên” có tầm dốc quốc tế, bất kể gặp người quen hay lạ, họ cũng tuyên truyền được hết. Vừa qua tôi và các bạn có vô ăn một nhà hàng của Trung Cộng, chủ nhà hàng cũng nói với chúng tôi y chang như vậy đó. Ông ta nói qua đây làm kiếm được mớ tiền làm vốn rồi trở về nước mần ăn sanh sống, chớ ở Âu-Mỹ không an toàn, người da trắng rất dễ nhiễm cô vít. Tôi có thói quen trên đường đi, gặp gỡ chốc lát, hỏi nhau vừa đủ để chuyện trò vui vẻ, chớ không nên tra hỏi nhiều quá làm tốn thời gian vô ích.
Đã từ lâu rồi tôi tránh những cuộc tranh cãi về chánh trị, nhưng qua hồi trò chuyện với cô gái, cô làm cho tôi suy nghĩ. Không biết những người Trung Hoa họ hổng hiểu về đất nước, con người bên Âu Châu hay vì sợ hãi mà nói sai sự thật một cách trơn tru như vầy. Tôi không biết cô gái có biết cô ta đang góp phần lên tiếng cho sự dối trá của chánh quyền ở nước cô không? Làm sao con người ta được mở mang trí óc và đừng sợ hãi để cất lên tiếng nói trung thực và vì lòng trắc ẩn mà vạch ra những sự bất công, dối trá, tham lam, dã man và tàn bạo của một nhóm người được gọi là lãnh tụ! Nếu mọi người trên một đất nước, nói riêng và toàn thế giới, nói chung biết suy nghĩ kỷ càng và biết nói thói thiệt, làm được điều này thì cả trái đất sẽ thay đổi theo chiều hướng tốt và đẹp đẽ biết bao.
Nhân vật Sinh trong chuyện ngắn “Đói” Thạch Lam đã có suy nghĩ: “Trước kia, khi nghe chuyện người ta tranh giành nhau vì miếng ăn, chàng vẫn mim cười khinh bỉ. Chàng cho rằng miếng ăn là một sự không đáng kể, chỉ có cái thanh cao trong sạch của linh hồn mới là cần. Nhưng bây giờ, trong cái phút đói này, chàng mới thấy rõ cái cần mạnh mẽ của miếng ăn là thế nào.”
Khi chúng ta chưa xuống đến tận cùng của cái đói, xin đừng vội phê phán những người hạ mình và trở thành hèn hạ vì miếng ăn. Một người bình thường không thể nào tưởng tượng ra một “con người” – để phân biệt với một con bọ hung – đã ăn những hạt bắp trong bãi phân bò, vì quá đói. Đó là trường hợp của Shin Dong-hyuk, một người Bắc Hàn, được sinh ra trong trại tù số 14, vượt ngục năm 23 tuổi, đến được đất tự do, kể lại ngoài việc phải ăn tất cả động vật bắt được, vỏ cây, Shin đã từng lượm những hạt bắp trong một đống phân bò để ăn.
Câu chuyện này tuy có phần khắc nghiệt hơn, nhưng không khác các câu chuyện kể của những người tù trong các trại tập trung của Cộng Sản sau tháng 4 năm 1975, vì quá đói đã bắt ăn tất cả các con gì “nhúc nhích!”
Chính vì miếng ăn có mãnh lực sai khiến hay đè bẹp ý chí của con người, nên những nhà “chính trị bá đạo” dùng nghệ thuật bỏ đói để hành hạ, khống chế và sai khiến con người. Trong các trại tù tập trung của chế độ cộng sản trên trái đất này, miếng ăn cũng công dụng như roi điện, chó săn hay dùi cui, nhưng vô tình, mềm mại và êm ái hơn, làm cho con người phải khuất phục.
Lợi dụng yếu điểm này, đối với tù nhân, nghệ thuật bỏ đói để đè bẹp ý chí và sức đề kháng của con người được áp dụng triệt để. Trừ một số nhỏ con người kiên cường và tinh thần thắng được sự đòi hỏi của thể xác, còn lại phần lớn phải chịu khuất phục. Cộng sản không phải bỏ đói tù nhân một bữa, một ngày mà bỏ đói liên tục. Bỏ đói đây không có nghĩa là không cho ăn, mà chỉ cho ăn đủ cho khỏi chết, nên cảm giác đói và thèm ăn theo con người từng lúc vào tận tiềm thức, ám ảnh cả những giấc mơ. Chúng tôi đã qua trải nghiệm thèm
thuồng những món ăn ngày xưa, trong giấc mơ, thấy mình đang ăn một một tô phở, tỉnh giấc, thẹn thùng khi thấy miệng mình vẫn còn nhai nhóp nhép. Bây giờ đang no đủ, chúng ta khó tưởng tượng ra sự việc này, cũng như những ai ở ngoài cuộc, xin đừng vội lên án một chuyện mà quý vị chưa từng có kinh nghiệm trải qua.
Buổi tối thứ Bảy hôm ấy, cả trại tù được loan báo, ngày mai, Chủ Nhật, tù sẽ được phát mỗi người một chén chè. Thức ăn không đủ, đường và mỡ là hai món cần cho cơ thể, nghe đến hai thứ này, ai mà không thèm.
Theo thường lệ, vào mỗi buổi sáng, tiếng kẻng tù chỉ gióng lên vào lúc 7 giờ sáng để thức tù trở dậy, nếu chúng ta thức giấc vào trước giờ ấy, thì thường cố gắng để dỗ giấc ngủ trở lại, vì không có ăn, người tù chỉ nhờ vào giấc ngủ đề bồi dưỡng cho sức khỏe. Nhưng buổi sáng Chủ Nhật hôm ấy, mọi người trong trại tù có thể đã thức giấc vào lúc 5 hay 6 giờ sáng. Thức giấc rồi thì không thể ngủ trở lại được vì tất cả trí óc đang vấn vương vụ chén chè. Không ai nói với ai, nhưng cả đội tù hình như không hẹn mà đều đã thức giấc trong sự im lặng, chỉ nghe tiếng sột soạt của chăn gối hay vật dụng cá nhân, tiếng ho, tiếng dép lẹp xẹp đi về hướng nhà cầu ở cuối “lán.” Một vài giờ nữa, trại sẽ phát cho mỗi người một chén chè! Một “biến cố lớn lao như vậy, sắp xẩy ra trong một vài giờ nữa thôi, ai mà vô tâm, thờ ơ đến đỗi có thể nằm ngủ tiếp. Vào lúc ấy, dễ chừng cái tin Trung Cộng đang đánh vào biên giới cũng không quan trọng bằng. Trong trại tù, những ai yếu đuối vì miếng ăn, giấu một củ khoai, bốc một miếng cơm cháy, nếu bị phát giác, đều bị những người nhân danh đạo đức lên án, chửi rủa không tiếc lời. Một tù nhân được cử đi làm thịt trâu ở Đoàn (đơn vị coi tù,) trong lúc xẻ thịt vì đói quá đã bốc một miếng thịt sống bỏ vào miệng, vội nuốt nhưng vì miếng thịt khá lớn, nằm tắc nghẹn trong cuống họng làm cho anh nghẹt thở, mặt đã tím bầm. Nếu không có những bạn tù tìm cách cấp cứu, người tù này chắc chắn không có ngày trở về miền Nam. Bọn Cộng Sản coi tù đã thành công trong chính sách khống chế con người bằng miếng ăn. Vì đói người ta đã bỏ quên nhân cách và dĩ vãng trở thành một thằng ăn cắp, tố cáo bạn bè để lấy ân sũng, thêm vài cân thực phẩm hay được thưởng một hai cái phiếu quà.
Không phải chỉ đối với tù nhân mà đối với dân chúng, trong các nước Cộng Sản, “chính sách bao tử” được áp dụng triệt để. Trong những chế độ này không có việc trốn lính, vì trốn lính là chết đói. Thanh niên đến tuổi thi hành “nghĩa vụ quân sự” phải cắt hộ khẩu, không có hộ khẩu thì không có phần gạo, phần khoai. Con đường duy nhất là đi lính đề có miếng ăn. Tuy vậy đi lính chưa chắc đã được ăn no. Lee Bo, một nữ quân nhân Bắc Hàn nhập ngũ vì hy vọng được ăn đủ, ăn ngon hơn ở nhà, nhưng suốt trong 6 năm tại ngũ, cô chỉ được ăn cơm, kimchi, mì, mà cũng chăng bao giờ được no.
Lúc bụng đói cồn cào, người ta chỉ nghĩ đến miếng ăn: bát cơm, cái bánh, cục đường, miếng thịt … luôn luôn ám ảnh. Lúc trà dư, tửu hậu, ăn uống chán chê, bên ly rượu hay tách cà phê, thì việc nước, việc nhà, chuyện chính trị bên Đông bên Tây, người ta mới hào hứng đem ra thảo luận. Giờ đây, chế độ XHCN Việt Nam có lẽ tiếc nhớ thời đại bao cấp đã qua, dân Việt Nam ngày nay phần lớn không còn đói hơn nữa, nên đầu óc mới có thể nghĩ đến chuyện đòi tự do, nhân quyền …
Cái đầu quả là quan trọng, con tim cũng có lý lẽ của nó, nhưng cũng đừng xem thường cái dạ dày, nó có thể biến một anh hùng thành một kẻ ti tiện, một người thương yêu thành kẻ thù, nó có mãnh lực chi phối và thay đổi cả bộ mặt thế giới!
#1/Xin khẩn thiết nhờ bất kỳ ai ở VN liên lạc với ông Phạm Tiến Dũng là Người Lính VNCH tại 0868 381 471 hoặc 0903 123 563 để liên lạc với gia đình nầy nhằm giúp họ tiền xe, lộ phí về Cà Mâu.
#2/Nhờ PTDũng KHẨN liên lạc với gia đình nầy, giúp liền cho họ $200. Nam Xương sẽ bù lại liền cho GĐ9ND. Cám ơn Dũng
Nam Xương/KBC 4804.
Đây là một tấm hình được cắt ra từ video của một người dân tại Đà Nẵng. Khi hỏi thăm những này thì anh được biết, họ là một gia đình từ Cà Mau lên Đà Nẵng mưu sinh, bà ngoại và mẹ của 2 bé đã làm giúp việc cả mấy tháng trời nhưng cuối cùng bị chủ quỵt lương.
Bước đường cùng, gia đình họ quyết định dẫn 2 bé về lại quê nhà Cà Mau để có thể tiếp tục sống. Không tiền nên không mua vé xe, họ đã dắt 2 bé vô bến xe để xin đi nhờ nhưng bị từ chối. Cuối cùng, họ chỉ còn cách là đưa hai đứa nhỏ đi bộ về quê giữa mùa nắng nóng, phó mặc số phận cho lòng tốt của người qua đường. Tôi nhớ không lầm thì từ Đà Nẵng về Cà Mau khoảng 1300 cây số, nếu mà không có sự giúp đỡ tôi chẳng biết họ sẽ đi tới bao lâu để về được tới quê nhà.
Ngẫm ra mới thấy đau lòng. Chủ nhân của người quay clip cũng chỉ là phận dân đen bình thường, vì nghĩa tình đồng bào nên anh cũng vét vài trăm ngàn tiền công lao động của anh để trao gởi cho Gia đình họ. Những lúc thế này tôi tự hỏi, cơ quan bảo vệ người lao động ở đâu? Tại sao không phải là một tổ chức an sinh xã hội mà là một anh dân thường trao vội số tiền ít ỏi rồi lại tiếp tục lên đường kiếm cơm. Số phận của một gia đình lại đặt cược lên sự tử tế của những người xa lạ là sao đây?
Dẫu rằng, ngươid Việt chúng ta không thiếu sự tử tế và lòng trắc ẩn với quê hương. Bằng chứng là bao nhiêu mtq đã dang tay ôm lấy đồng bào mùa Bão Lũ thiên tai, để rồi nhà nước đã rất “tài tình” khi xã hội hóa phúc lợi xã hội. Có nghĩa là họ sẽ đẩy phần an sinh xã hội cho những người có lòng tốt. Tôi thấy cũng không có gì để bàn cãi khi đất nước còn nghèo, nhưng họ ra rả về sự phát triển rực rỡ để làm gì khi những trường hợp như gia đình này chính là chỉ dấu thất bại của một cơ chế nhà nước đã không thể bảo vệ những con người yếu thế nhất. Ai ở SG cứ ra ngã tư, buổi tối lấy xe máy chạy một vòng thì sẽ rõ. Con nít người già chồng chéo lên nhau mà ngủ, tự hào gì khi trẻ em phải đi lao động chớ?
Anh em người đỏ luôn tự hào vì những công trình đồ sộ mà chính phủ đang xây dựng hàng ngàn tỉ như Sân Vận Động Trống Đồng, nhà hát ngàn tỉ, tượng đài cổng chào,.. nhưng có bao giờ anh em chạnh lòng khi thấy những đứa trẻ phải đi bộ hàng trăm cây số vì cha mẹ bị quỵt lương không? Chúng ta không thể nói tới sự phồn vinh khi người lao động bị bóc lột tới nỗi không đủ tiền mua một tấm vé xe về quê. Tôi nhớ trong lịch sử đã chép rằng đất nước sẽ làm cách mạng để xóa bỏ giai cấp, công – nông dân là chủ thể của đất nước và bây giờ hàng triệu con người Việt phải qua Tư Bản làm thuê. Nước nhà thì công nhân vùi đầu ngày 12 tiếng trên công ty của FDI và bao nhiêu phận người nghiệt ngã chẳng ai ngó ngàng.
Có thực sự vinh quang không khi người dân của nước mình chỉ biết dựa vào nhau trong những đại án oan nghiệt? Họ cầu xin cộng đồng mạng bà con cô bác giúp đỡ để bác này bác kia thấy. Những thảm họa từ thiên tai tới nhân tai liên tục xảy ra mà người dân luôn là người gánh hậu quả trước tiên. Có thật là phải biết ơn đảng và nhà nước không khi mà người dân chỉ biết cầu mong gặp được người tốt trên hành trình hoạn nạn của mình.
Đôi lúc tôi thực sự xót xa khi người Dân VN của mình thực sự dễ tính, họ chưa bao giờ ý thức và đòi hỏi quyền lợi của mình. Là công dân đóng thuế đầy đủ, chí ít chúng ta phải tự biết những cái thứ cơ bản vốn thuộc về mình như đòi hỏi một con đường không ngập nước, một sự bảo vệ pháp lý từ công quyền khi lâm cảnh khốn cùng chớ? Nhưng không, ai cũng nghĩ rằng mình chỉ có nghĩa vụ chớ không có quyền lợi. Giáo dục, cơ chế tuyên truyền và an ninh trị đã làm hủy hoại phẩm giá cơ bản của người Việt rồi.
Sẽ chẳng ai mong muốn dân tộc này vô cảm trước nỗi khổ của đồng bào, nhưng thực tế cho thấy người Việt hôm nay đang bị chia ra để trị. Hôm nay là gia đình này, ngày mai là gia đình khác. Hôm nay Thủ Thiêm Sài Gòn đau không ai quan tâm thì ngày mai là dân cư Sông Hồng Hà Nội, ngày mốt sẽ là Gia Bình Bắc Ninh,.. tất thảy sẽ từ từ gặm nhấm nỗi đau đó trong câm lặng và bất lực tột cùng. Và khi họ cất tiếng lên thì lại có những sự chà đạp không thương tiếc từ đội ngũ dư luận viên của chính quyền. Lúc này có chua chát, đau khổ cũng đã muộn màng.
Nếu không tự ý thức được những thứ quyền lợi chính trị cơ bản thì biết đâu mai này, có thể là bất kỳ ai trong chúng ta bị rơi vào hoàn cảnh cùng quẫn cũng trở nên bạc nhược như vậy thì sao?
Việt Nam sẽ không thể phồn thịnh chỉ bằng những lời tuyên truyền sáo rỗng, mà nó chỉ thực sự phát triển khi nó biết cách đối xử với những con người ở tận cùng xã hội. Chỉ khi nào không còn cảnh người già, phụ nữ và trẻ em phải lê từng bước trên quốc lộ để tìm đường về quê vì bị quỵt công, bị bỏ mặc, thì khi đó chúng ta mới có tư cách để nói tới 4 chữ “rực rỡ vinh quang”.
Đèo Mang Yang trên QL 19, con đường nối liền Qui Nhơn với Pleiku
Ngày mai kéo súng đi trực xạ,
Hồn lính mơ thành An Dương Vương.
Nỏ thần trăm phát bay trăm ngả,
Quét sạch quân thù cứu nước non.”
-Donry Nguyễn-
Quốc lộ 19 đoạn từ đèo Mang Yang đến quận lỵ Lệ Trung dài khoảng 50 cây số, quanh co uốn khúc qua các vùng rừng núi hoang sơ, những nương rẫy của đồng bào thiểu số sống rải rác trong các buôn làng khuất sâu sau tầm mắt. Chỉ có hai khu vực dân cư nằm sát quốc lộ là thấy xuất hiện trên bản đồ quân sự. Ấp Phú Yên gần căn cứ 94, và buôn Suối Đôi gần căn cứ 93. Hai căn cứ này cùng nhiều căn cứ khác từ đèo Mang Yang trở xuống, nằm trong chuỗi liên hoàn các lực lượng bảo vệ an ninh cho lộ tuyến huyết mạch dài 167km nối liền Duyên hải và Cao nguyên Trung phần, xuất phát từ Cầu Bà Gi ở quốc lộ một và kết thúc ở thị xã Pleiku.
Góc cua Tử thần mà tôi muốn nói đến trong câu chuyện này nằm ở quãng giữa chặng đường từ đèo Mang Yang đến Lệ Trung . Quốc lộ 19 khi qua đây thì gặp một dãy núi đá chắn ngang, nó bèn bẻ sang trái một góc cua mềm mại trước khi trườn mình chạy tiếp về hướng Tây.
Núi non vùng Cao nguyên Gia Lai vốn được hình thành từ thời kỳ địa chất tiền Cambri nên hầu hết đều là núi già, độ cao thấp so với mặt bằng, sườn đồi thoai thoải. Riêng những ngọn đồi vùng này thì lại vun nhọn, trên đỉnh có nhiều đá tảng chồng chất, tạo thành những hang hóc kín đáo, ăn luồn sâu tận bên trong.
Chính địa hình này đã tạo điều kiện cho “các đồng chí của bác” ẩn núp, đặt súng máy bắn xuống những chuyến xe qua lại. Tấn công các đoàn công-voa thì các chú không dám, nên chỉ ăn hiếp các chuyến GMC đơn độc hoặc xe dân sự.
Đã có nhiều vụ bắn cháy xe đò làm chết hoặc bị thương không ít người dân vô tội. Cho nên tọa độ này đã được ghim dấu đỏ trên bản đồ của các đơn vị chung quanh và được đặt tên là Cua Tử Thần.
Cuối năm 1973, Pháo đội tôi được lệnh hành quân lên đèo Mang Yang bắn yểm trợ cho các đơn vị bạn trong khu vực.
Ban ngày chúng tôi kéo súng ra các vùng lân cận, ban đêm kéo về đỉnh đồi nằm trong căn cứ do một đại đội Địa Phương Quân trấn giữ. Đi về bất tiện, mất thời gian gióng súng, điều chỉnh phương giác xác định tọa độ, nên sau đó Trung đội tôi được tách ra đưa vào đóng luôn trong căn cứ 95, nằm dưới chân đèo. Căn cứ khá kiên cố nằm giữa bốn bề rừng không mông quạnh.
Ban ngày nắng đổ chói chang, còn ban đêm sương lam mờ mờ phủ xuống mang theo cái lạnh tê người.
Ở đây cách biệt xóm làng, muốn mua một gói thuốc cũng phải lội bộ rất xa nên hầu như chúng tôi không bước chân ra khỏi căn cứ lần nào. May mắn tôi gặp lại một người quen cùng quê, chuẩn úy Nguyễn Tỵ, anh cũng bị động viên mùa hè đỏ lửa 1972, ra trường về Tiểu khu Pleiku, phiên chế vào tiểu đoàn Địa Phương Quân đóng ở đây, hai anh em chuyện trò cũng vơi đi niềm tâm sự của đời lính xa nhà.
Hai tuần lễ sau, lại có lệnh rút lên căn cứ 93, cũng nằm sát quốc lộ 19, cách buôn Suối Đôi khoảng một cây số. Pháo đội trừ thì lại đóng tận Chi khu Lệ Trung, cách Trung đội 2 của tôi khoảng 10 km, ở xa mặt trời thì thoải mái hơn.
Trung đội tôi nằm giữa vòng đai của một tiểu đoàn Địa Phương Quân mà quân số gần một nửa là người Thượng. Những anh lính Thượng này cũng ngộ lắm, có anh chiến đấu rất ngon, nhưng có anh thì đi lính theo mùa. Mùa nắng lên nương rẫy, qua mùa mưa gió lạnh lẽo, chán uống rượu cần chua loét ở nhà, anh ta đăng lính địa phương. Vào quân trường được lãnh áo quần giày vớ đầy đủ, ăn uống no nê không phải lo lắng gì cả. Ra đơn vị được vài tháng vợ nhắn tin về làm rẫy, thế là đào ngũ, hết mùa lại đăng lính tiếp. Phần lớn mấy ảnh không có giấy khai sinh, mỗi lần xung phong đi lính thì khai đại cái tên Y bờ lăn … Y bờ lốc gì đó … đố cha ai mà biết.
Những ngày rảnh rỗi chúng tôi thường thả bộ ra buôn làng mua vài thứ lặt vặt hay ghé thăm các già làng để thắt chặt tình quân dân cá nước. Có cụ già làng vui lắm, hay mời chúng tôi leo lên căn nhà sàn rộng rãi của ông uống rượu cần, loại rượu lên men bằng cách ủ sắn bắp và một loại hạt gì đó có mùi vị ngọt ngọt chua chua. Đủ thời gian rượu tới, cắm 2,3 chiếc cần bằng trúc vào sát đáy ghè, uống tới đâu đổ nước lã vào tới đó, uống no cành bụng. Thứ rượu này tưởng là nhẹ, nhưng ực nhiều cũng say cắm đầu. Một lần ông mời chúng tôi hôm sau đến ăn đám, ông khoe sẽ cúng Dàng 18 con gà, mấy ông lính nếu không thích rượu cần thì có thể mang theo vài lít rượu trắng đến chung vui với gia đình ông.
Khi chúng tôi đến, trên sàn đã bày ra một con gà mẹ với 17 con gà con nướng cháy đen, mùi lông khét lẹt. Thấy chúng tôi ngó nhau cười, ông phân bua:
-Thì gà lớn gà nhỏ cũng là một con mà, đủ 18 con đó, tui nói có sai đâu … sao mấy ông lính cười?
– Người Kinh không ăn gà con, thấy lạ nên cười thôi.
Ông bèn sai vợ nướng cá khô cho tụi tôi nhắm mồi. Đồng bào Thượng thời đó thật thà đến ngây thơ như vậy, nên rất dễ bị việt cộng dụ dỗ nghe theo, che giấu hoặc tiếp tế cho chúng.
Những ngày cuối năm âm lịch Quý Sửu 1973 chuẩn bị đón Tết Giáp Dần 1974, trong lúc chúng tôi đang chuẩn bị “Cây Mùa Xuân” thì những tin tức rất xấu ập đến từ góc cua tử thần. Một đơn vị cộng quân chiếm lĩnh ngọn đồi, liên tục bắn xuống bất cứ chuyến xe nào qua lại. Âm mưu của bọn chúng là chặn đường tiếp tế để quân đội VNCH và đồng bào không hưởng được một mùa Xuân trọn vẹn.
Hai đại đội Địa Phương Quân dàn quân xung trận, quyết tâm triệt phá ổ phục kích, vãn hồi an ninh khu vực. Họ đánh bật được các mục tiêu chung quanh một cách dễ dàng; nhưng liên tiếp ba ngày vẫn chưa xóa sổ được ổ kháng cự cuối cùng nằm trên mỏm đá đầu ngọn núi. Địa hình trống trải, trong khi dốc núi gần như thẳng đứng khiến quân ta ở vào thế bất lợi mỗi lúc mở đợt xung phong tiến lên. Địch ẩn núp kín đáo trong hang đá chờ ngớt hỏa lực thì thò họng súng đại liên 12 ly 7 do Liên Xô sản xuất bắn xối xả như vãi đạn xuống chân đồi, khiến thương vong của bộ binh rất lớn. Lệnh từ chi khu Lệ Trung yêu cầu Pháo binh nhập cuộc. Trung đội 2 của tôi ở gần nên được điều động lên đường ngay.
Một khẩu đội ở nhà giữ nhiệm vụ phản pháo, khẩu còn lại mang theo đầy đủ cơ số đạn delay, đạn chống biển người, đạn nổ cao nổ chụp … lên xe trực chỉ chiến trường tham gia trận đánh.
Chúng tôi đến trận địa vào khoảng giữa trưa, nhìn các anh lính Địa Phương Quân đang dìu thương binh ra đường với khuôn mặt tức tối, đỏ bừng dưới cái nắng gay gắt mà thương.
Viên đại úy Địa Phương Quân, tay vịn nón sắt, tay kẹp bản đồ chạy tới trao đổi chớp nhoáng, đề nghị Pháo binh làm thế nào câu lọt một quả vào trong hang đá là xong, vòng ngoài coi như các anh đã dọn sạch rồi.
Trung đội trưởng lập tức cho banh càng súng, tất cả Pháo thủ đi theo đều mặc áo giáp, nón sắt vào vị trí sẵn sàng. Từ mặt đường nhựa nơi chúng tôi đứng cách mục tiêu một khoảng cách an toàn, không sợ Đại liên của chúng quét tới; trong khi Đại bác 105 ly có tầm bắn xa hiệu quả khoảng 11 đến 11,5 km, thì trong chừng mực này tin chắc chắn sẽ dư sức thổi bay ổ kháng cự của địch.
Nòng súng được hạ xuống nhắm thẳng vào miệng hang, khẩu lệnh vang lên sắc gọn:
-Đạn thường, nạp 5, một tràng!
-Nhận rõ!
-Chuẩn bị, bắn!
Tôi đứng ở vị trí giật cò, kéo mạnh giây cơ bẩm, tiếng nổ chát chúa vang lên, khói súng mù mịt, viên đạn 105 ly xé gió lao đi, vút một phát, chúng tôi không ai bảo ai cùng ngước mắt nhìn theo đường đạn bay. Chỉ nghe một tiếng bụp khô khốc cùng tia lửa lóe lên cách miệng hang vài mét kèm bụm khói đen …
Ai đó la lớn:
– Trật rồi!
Trung sĩ Lưỡng, người xạ bảng viên dày dạn kinh nghiệm đẩy tôi ra lao vào, kéo khối cơ bẩm ra sau, ghé sát mặt ngắm nhìn mục tiêu từ cuối nòng đại bác, ước lượng khoảng cách, miệng ra lệnh cho khẩu đội trưởng điều chỉnh độ giạt, tay anh nhúc nhích góc thăng bằng. Ngắm qua ngắm lại xong anh ra lệnh nạp đạn.
-Bắn!
-Ầm!
Phát thứ hai nổ sát mép miệng hang, bên trong đáp trả bằng một tràng đạn tức khắc như chọc giận pháo binh. Trung sĩ Lưỡng cười gằn:
-Đợi đó con ơi!
Anh ngắm nghía điều chỉnh nòng súng một lần nữa, hết sức thận trọng rồi mới cho nạp đạn:
-Bắn!
Phát thứ ba bay đi, cắm phập vào miệng hang với đường kính trên dưới một mét, tiếng nổ bục từ bên trong dội lại một âm thanh rền rĩ, đá vụn bay ra ngoài tá lả. Tiếng reo hò của những người lính Địa phương vang lên:
-Trúng rồi, Pháo binh giỏi quá!
Địa Phương Quân lập tức hô xung phong lao lên chiếm lĩnh mục tiêu, tiếng súng M16, tiếng nổ M79 bay rào rào lên núi. Từ miệng hang không còn tiếng đại liên đáp trả như trước.
Khuôn mặt mọi người giãn ra như vừa trút được gánh nặng trên vai. Trung sĩ Lưỡng cười toe toét, bắt tay mọi người trong niềm vui khó tả. Vậy là chúng tôi đã góp phần khai thông con đường huyết mạch, những chuyến xe sẽ tiếp nối cuộc hành trình mang theo nhu yếu phẩm, thuốc men … cho toàn thể đồng bào trong khu vực cao nguyên.
Chiến trường coi như giải quyết xong, mọi người chúc nhau về ăn Tết vui vẻ, chúng tôi lặng lẽ chất đạn lên xe, xếp càng súng, thu dọn vỏ đạn và thuốc bồi vương vãi. Trước khi rời vị trí trở về căn cứ, chúng tôi còn kịp nghe ông Đại úy Địa Phương Quân trao đổi nhanh với ông Trung úy Trung đội trưởng của chúng tôi:
-Dọn sạch mục tiêu rồi anh, tụi nó rút lui tự hồi nào không biết, bỏ lại hai thằng mặt mũi non choẹt, chân bị xích chặt vào cây Đại liên, chỉ có bắn hết đạn rồi chết chớ không chạy đâu được nữa, đ.m. cái bọn tàn ác ngoài sức tưởng tượng luôn!
Nghe nói, chúng tôi bàng hoàng không tin đó là sự thật, ông Trung đội trưởng của tôi chắc cũng vậy nên hỏi lại:
-Thật vậy sao Đại uý?
-Còn không thật à, mấy đứa con tôi lên lục soát, vừa báo cáo xong đây.
Chúng tôi nhìn nhau lắc đầu ngao ngán, nỗi ám ảnh theo mãi trên đường về.
Buổi chiều, khi chiếc xe GMC kéo khẩu đại bác trên đường trở về căn cứ 93, ngang buôn làng Suối Đôi, đã thấy trước sân các căn nhà người Việt đặt bàn hương án cúng tất niên.
Tôi nhìn chăm chú hình ảnh một cụ già mặc áo the đen đội khăn đóng đang đứng lâm râm khấn vái trước lư hương nghi ngút khói, bên cạnh bình bông vạn thọ và khay bánh tét, mấy đứa cháu chắp tay bên cạnh, lòng tôi tràn ngập niềm vui thanh bình, tuy tạm bợ, đã về trên buôn làng thân yêu khi bóng dáng kẻ thù đã bị đánh bật ra khỏi khúc Cua Tử Thần, chận đứng mưu đồ chia cắt Quốc lộ 19 hòng cô lập thành phố Pleiku của chúng.
Maitre Imprimeur là tờ báo in trên giấy láng offset 4 màu xuất bản hàng tháng phát hành ở Montréal. Số tháng 11 năm 1991 giới thiệu những cơ sở in ấn già tuổi nhất trong thành phố, một sáng giá lạnh phóng viên cùng phó nhòm xô cửa vào thương hiệu Lovell Litho khởi nghiệp từ năm 1835 lưu truyền tới 3 đời hăm hở làm bài tường thuật. Và như vậy, bất ngờ có hai anh chàng công nhân Việt Nam được đưa lên mặt báo chu du khắp tỉnh bang Québec, tờ magazine ấy ghi giá chỉ 2$ dành cho bọn tây tà trong nghề xem. Không một ai hay biết về hai chàng gốc người Huế đang cực chẳng đã lao động không vinh quang kia vốn là nhà thơ nhà văn lạc thần hồn đến bến bờ mộng lệ. Lệ đẹp hay nước mắt tràn? Diễm tuyệt chẳng thấy đôi hàng khoé cay. Khi bất bình bọn chủ gốc Ái Nhĩ Lan, giận lẫy cuộc đời lưu vong cả hai đã từng to tiếng cùng đám thợ thuyền: Một ngày đẹp trời nào đó chúng mày phải cặm cụi in sách cho bọn tớ đấy! Giựt le cho vui rứa thôi bởi hỏi giá thành một cuốn sách dày chừng 200 trang chúng cho hay tiêu tốn khoảng 15 đồng, vì là công nhân trong hãng nên khấu trừ đi 15%, vị chi là… Rõ là thiên lôi ưa hét giá trên trời, chúng ông từng in sách, giá vốn mỗi cuốn chỉ mất gần 3 đô chứ mấy!
Chúng ông ngoài tay làm hàm nhai còn kiêm luôn chức năng lao động trí óc, nên chi đối với chúng mầy thì rõ là “thoại bất đồng tâm bán cú đa”. Nước đổ đầu vịt, đàn khảy tai trâu, nửa lời cũng là nhiều, vì rứa chỉ có Huế này thủ thỉ rù rì cho Huế kia nghe. Hai con cá nước ngọt sông Hương khi không mà chịu bơi trong bể muối, mặn chát và lạnh cóng thân, không trầy vi tróc vảy cũng uổng! Muốn qua cơn hạn phải tự học lấy bí pháp phân thân. Anh để cái xác chôn chân bên máy cho bọn chúng an tâm, kỳ dư anh vác đầu óc đi ngao du tới một cõi miền êm ả khác. Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn tâm sự: Ngó thì có vẻ tối mắt tắt mũi nhưng thực ra mình làm được nhiều thơ trong lúc lao động. Tin không? Tin quá đi chứ. Nào ai xa lạ tui từng là chứng nhân sống đây nì. Có thể viết thành truyện ngắn lấy tựa là “Chuyện bây giờ mới kể”. Chẳng biết nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng “đi trên mây” ra sao chứ anh thì mãi quen đằng vân giá vũ do cái tội quyến luyến nàng thơ, xớn xác đun xe vô nơi xét thấy thuận tiện gần chỗ làm nên khi tan ca thì y như rằng mười lần hết chục đều bị dính giấy phạt. Chơi chi lạ rứa bây? Dòm trước trông sau rõ kỹ, mụ cô cái bụi cỏ um tùm che choáng cái con cu đỏ phòng cháy chữa cháy. Thà mà hắn rình sau bụi môn cho cam, chán mới gớm! Trần Quốc Toản bóp nát trái cam, riêng ôn không nỡ bóp tan giấy nhàu. Hãng xưởng nằm trong phố cổ, khúc ni kiếm nơi đậu xe thiệt khó hung! Than thì than vậy chớ hai bài thơ làm trong buổi nhiễu nhương thế sự kia đã chễm chệ dàn trang trên tạp chí Văn Học. Đã không hưởng được một xu nhuận bút mà nghiệt phải chi cả nạm tiền mãi lộ cho thành phố Mộng Lệ. Chúng có giàu sụ thì phải nên biết ơn tới những chàng thi sĩ mãi lạc thần hồn. Suy ra muốn giỡn trăng ghẹo hoa thì quả có tốn kém vậy!
“thưa em chiều đã mỏi nhừ bàn tay khái niệm tu mi chán chường bây giờ mình biểu tình suông thì ma vẫn quỷ thì buồn vẫn dưng”
Anh vẫn cho mình đi nhờ xe, thồ một đứa chẳng rành xem bảng cấm thành ra chiếc Toyota màu xám cứ bị lọt mắt xanh, cái gạt nước vẫn thỉnh thoảng kẹp vào một lời hẹn hò xài toàn chữ Đan Mạch. Tuy là nạn nhân, nhưng thứ ngôn ngữ khó nhai ấy tuyệt không ẩn hiện trong thơ anh mặc dù theo trào lưu “đương đại” có lắm kẻ rinh cả cức đái cu dái cửa mình lủng lẳng “vô tư” gọi là làm mới thi ca. Chẳng có ai quyền thế ghi giấy phạt, tại ba cái trò “bức xúc” nớ không hợp tạng anh, mà hình như người Huế nói chung vẫn biết đến chữ thể diện hay sao á? Không ba de, chẳng ba lơn, không ba trợn, chẳng đếm lộn số như Bùi Giáng: “Một hôm đếm một ra ba, một lần đếm hột mà ra bốn lù”.
Bốn lù bù lốn bốn lu? Bày vẽ chi cho mệt rứa không biết. Chị cho tụi này hai tô bún bò giò heo, lựa cái nghéo nhiều thịt chút hí, càng cay càng tốt. Thôi việc chiều đã rêm mình, tấp vô quán nhỏ mà rình bụng to. Ba vạn cũng bỏ, lâu lâu hai anh em cũng giả bộ nhớ Huế giống thiên hạ chút đỉnh. Kéo ghế rậm rật, nghe loa góc quán thở than: “Chiều nay mưa trên xứ Huế”. Về nhà có bị vợ gạn hỏi thì cứ danh chính ngôn thuận: Ai đi ăn phở hồi mô mà vu oan giá hoạ rứa hè. Có ngửi ra mùi ruốc không?
Cái hay trong thơ anh Hoàng Xuân Sơn, theo cảm nhận riêng mình, là dù cho anh dùng từ chuẩn mực gốc Bắc khéo léo tới đâu đi nữa, mình vẫn thấy thấp thoáng trong đó một diện mạo trầm mặc của chốn xưa, chút u ẩn của vùng đất chịu nhiều tai ương trầm uất. Những cảnh sắc mà phải từng sống qua cố thổ mới đâm chồi nở nụ trong chữ viết. Nhiều người đã từng có chung một nhận định, Trịnh Công Sơn phải là người Huế lời nhạc mới được rứa.
Không nhớ chính xác là bao niên “lá đổ muôn chiều” có lúc nhà thơ đã bỏ mình ở lại quay như vụ với trăm dâu đổ đầu tằm nơi nhà in xưa hơn một điệu hò Nam Ai. Từ nay lẻ bóng, thôi còn Toyota, trâu ra đồng ban sớm đành dùng phương tiện giao thông: Bus, Métro, Walk. Ưa giựt le thì bảo tớ đang chạy xe BMW mà suốt tháng năm dài chả dính một cái giấy phạt. “Thà ngồi khóc trong xe hàng hiệu còn hơn tươi cười với mỏi gối chồn chân”. Ai đã thốt nên lời dễ bắt viết kiểm điểm quá. Khóc vì nhớ một người mới là chính đáng, cười do bởi đón nhận một tin vui thì nghe êm tai hơn. Tác giả thi tập “Huế Buồn Chi” giờ đây lại sáng tác mạnh hơn khi anh đổi cảnh quang môi trường lao động: Làm việc trong cửa hàng Duty Free ở phi trường độc nhất Montréal. Vét-tông cà-vạt đường bệ sạch sẽ, thôi nói tiếng nước Huệ để chuyển tông sang Anh-Pháp ngữ. Vu-lê-vu-ăn-bún-bò-a-vếch-moả? Nông, mẹt-xì, bị ở đây ví như đầu sông Tương ngươi cuối sông, mềnh đành gặp nhau trên những trang báo giấy gói không đầy những kỷ niệm lỡ úa màu.
“hồng hoang rộ chín ân cần nghe trong phủ dụ điều lân tưởng còn mưa mù. hệ trắng đầu non niềm vui hội tụ cỏn con xin về”
Đi làm, mình bới theo mấy số tạp chí để đọc trên tàu điện ngầm. Tới hãng, tình cờ báo bổ nọ lọt vào mắt chủ. Ngoài bìa in tên lứa đôi không “sắc cầm hoà hợp”. Wow! Báo gì đây? Sao có tên của hai nhân công hãng ta nhỉ? Dạ thưa, nói xa nói gần chẳng bằng nói thiệt, ảnh và tui là người dầm thân trong hạnh của văn chương. Thật sao? Vinh hạnh cho bọn này quá, có ai mà dè ở sơn cùng thuỷ tận lại chứa được những hai vì sao! Từ dạo em sang ngang thì có người trông trăng trăng lặn ngó sao sao mờ, nhưng từ độ chủ táy máy để phát hiện “nhân tài tỉnh lẻ” thì chủ đổi thái độ, chủ tự động tăng lương và chủ bỏ tật làm đày làm láo. Ôi, văn chương hạ giới quả không rẻ như bèo đâu nhỉ? Dù Tây tà không đọc được chữ lạ nhưng chí ít “thực dân” cũng biểu tỏ đôi phần lễ độ. Thế ảnh giờ này mần chi? Họ hỏi nhà thơ giũ tà huy bay. Mình phách tấu, ảnh sắp viết xong cuốn hồi ký dày ngàn trang. Có nhắc nhớ chi về địa danh chốn này? Yên tâm, lòng bọn tớ hải hà như sông St-Laurent, bao dung độ lượng thứ tha tất thảy những lỗi lầm chúng sinh từng tạo nghiệp. Cuốn sách của ảnh mang tên “Cũng Cần Có Nhau” là một ví dụ. Mình muốn đọc lên vài bài thơ nhưng lại nghĩ tới chuyện nước đổ lá môn nên đành câm như thóc. Bọn chúng không cách gì thẩm thấu, chỉ mình ên ngất ngây:
“hình như em sống trong tôi hình như em vẫn nói cười như nhiên xui tôi viết một chương buồn một câu độc thoại 1 tuồng hoa bay một lần thương nhớ lắt lay một đời lủi thủi bóng mây dương cầm một cung đàn. giọt lệ tranh đường muôn thu gọi khúc quành lăng nghiêm”
Báo giấy ngoi ngóp một thời gian lây lất rồi cáo chung. Mình cũng lao động trật vuột chỗ nọ đôi ba tháng thì guốc bay. Chia tay, bọn chúng trao gửi đôi ba số báo có in hình hai nhân công tha phương lao động để giữ làm kỷ niệm, xú-vơ-nia, chúng ngôn thế. Lật ra xem, lòng luống những ngậm ngùi mê-mô-ri: Miệng đắng khi ngó ra tấm giấy phạt, miệng phỏng khi húp bát bún bò cay. Mình chẳng rõ nhà thơ Hoàng Xuân Sơn có vui không khi nhìn lại “chúng ta đã có một thời chung lưng đấu cật như thế”. Chỉ là kỷ niệm cũ thôi, anh nhé. Bá tánh lỡ xem có nói gì thì mặc họ. Mình chỉ nhớ riêng với nhau, về tháng ngày trần ai khoai củ, về một thủ phạm duy nhất đã rút đi của ta biết bao nhựa sống, đồng thời chúng ta đã toát mồ hôi khi đóng góp cho văn học hải ngoại những sáng tác thành hình trong mê muội. Đó là thứ bước tới đèo Ngang bóng xế tà. Không hoa chen lá cũng là cuộc chơi. Ngang trái rồi cũng qua đi, qua như một nửa đêm im bệnh tình.
Hồ Đình Nghiêm Những dòng chữ xiêu là thơ của Hoàng Xuân Sơn
Hải đứng lặng nhìn ra giữa dòng sông. Nước lờ lửng chảy, vài chiếc đò dọc thiếu khách chạy tà tà và trên bến sông thì vắng bóng người. Gió chướng hiu hiu không hãm được cơn nắng át của tháng ba. Hải nhớ hồi tháng ba năm ấy. Trên chiếc xuồng tam bản mui trần, mũi cột vô hàng đáy giữa dòng sông trong đêm trời đầy sao và con nước ròng chảy xiết. Cũng tại khúc sông nầy, anh với Lệ ôm nhau khóc, nước mắt tuông theo con nước róc rách dưới dạ xuồng. Lệ nghẹn ngào hứa chờ ngày anh trở về bến đáy. “Anh sẽ dìa với em.” Đó là lời hẹn với Lệ trước ngày anh vượt biển.
Thoát một cái đã mười bốn năm dư và anh đã trở về. Những hàng đáy giữa dòng sông vẫn còn trơ trơ, đầu cột đáy có một con nhàn đứng ủ rũ như đợi chờ một tăm cá, nhưng chủ nhân của hàng đáy bây giờ là ai? Anh hỏi thăm không ai biết bến đáy nào của Lệ. Thiên nhiên đã thu hẹp, rừng cây cối lưa thưa, đứng trên bờ chẳng nhìn ra đâu là bến, chỉ thấy một dãy nhà sàn san sát dọc bờ sông. Hải phải hỏi thăm nhiều lần mới tìm được nhà anh Tài, anh của Lệ, bây giờ đã dời ra vàm sông Ông Đốc. Anh Tài đã đổi qua nghề câu mực, nhưng vẫn còn giữ nghề đóng đáy trên sông.
Trước kia nhằm mùa nước sổ mỗi khi xuồng đáy về, tôm cá đựng bằng cần xé, người ngồi lựa cá, người nấu nước luộc tôm. Ban đêm ánh đèn măng xông soi sáng một vùng, ban ngày tôm phơi ngập sân đỏ ối. Anh Tài nói:
– Bây giờ khổ lắm mày ơi, cá tôm mò đỏ con mắt mới được vài con.
Thiệt vậy, đêm hôm đổ đục về, chị Liên, vợ anh Tài bưng rổ cá tôm lộn xộn lên xốc xốc, lựa ra đếm được hơn chục con cá bống và cân được vài kí lô tôm. Thường ngày vợ chồng sai con bưng cá bưng tôm ra chợ bán, nhưng hôm nay có Hải, anh dành lại ăn.
Hải với anh Tài ngồi nhậu bia ăn tôm luộc. Anh Tài vắn tắt câu chuyện. Sau khi Hải đi, Thành Đất hỏi cưới Lệ rồi hai vợ chồng dắt nhau xuống Cái Đôi làm nghề đáy hàng khơi. Hải lặng thinh và trong lòng mênh mang niềm nhớ… Hồi sau anh Tài hỏi Hải:
– Mầy có muốn tao nhắn cô ấy về chơi hông?
Hải hớp một hớp bia, bóc con tôm lột vỏ bỏ vô miệng, nhìn ra giữa dòng sông.
– Về còn gặp lại anh cho tá túc là may lắm rồi, làm phiền cô ấy nữa không nên.
– Nhưng mà… mầy… mầy còn ở đây được bao lâu?
– Khi nào sơn, sửa xong mả của ba má tui thì tui đi.
– Mày còn về đây nữa hông?
– Tui cũng hổng biết nữa.
– Nhưng mà…
Hình như anh Tài muốn nói thêm điều gì nhưng ngại không nói, anh ngập ngừng rồi bưng ly lên cụng.
– Uống đi mầy.
– Đêm nay anh cho tui theo đóng đáy với.
– Đêm nay con Dung đóng đáy, mầy muốn thì đi theo nó.
– Ừa cũng được.
Dung là đứa con gái đầu lòng của Tài, con nhỏ hồi anh đi nó đâu hơn mười tuổi gì đó, bây giở đã thành thiếu nữ. Trong lúc cột xuồng chờ con nước ròng anh hỏi Dung:
– Cháu có bồ chưa?
Dung trả lời tỉnh bơ:
– Cháu đen thui thùi lùi như vầy ai mà thèm chú.
Hải day lại nhìn Dung, trong ánh đèn bão đủ sáng cho anh ngắm nghía thân thể đầy đặn, khoẻ mạnh, cặp ngực vun tròn nhô ra như muốn bứt tung hàng nút áo bà ba, nước da bóng màu xô-cô-la nguyên chất, mặt tròn không một vết mụn, trên môi lúc nào cũng tươi cười, cái nhan sắc ấy chỉ có ở những cô gái miền sông nước Amazon. Ngặt ở đây, cái xứ tận cùng đất nước Việt Nam, trong thì đồng, rẫy, ngoài thì biển xanh. Người ta chỉ chuộng những cô gái nước da trắng trẻo, ốm yếu chớ không biết chiêm ngưỡng một thân thể mặn mà, đầy đặn và tràn đầy sức sống.
– Mấy thằng con trai miệt nầy đui hết rồi mới hổng thấy cháu đẹp.
Nghe Hải khen cô nhỏ cúi đầu mỉm cười, ngẫm nghĩ một lát Dung ngước lên:
– Ở trong xóm mấy anh con trai kêu con là Dung đen.
– Mai mốt thằng nào kêu con như vậy, thì con cứ nói lại, các anh có mù mắt hông, tui màu xô cô la chớ hổng phải màu đen, đồ ngoại chánh hiệu đó.
– Ai nói dzậy, kì thấy mồ à.
Nước bắt đầu chảy, hai chú cháu cài đáy. Chui đáy xong, buộc xuồng vô cột đáy ở giữa dòng. Trong khi chờ đổ đục, mở cát sét lên nghe nhạc. Cô lấy bánh dừa ra lột vỏ đưa cho Hải, hai người vừa ăn vừa nói chuyện. Dung hỏi:
– Hồi đó chú với cô Tư sắp cưới nhau rồi chú đi phải hông?
Thấp thoáng dưới ánh sao trời, Hải trông gương mặt Dung giông giống Lệ. Hải nhớ cái đêm sắp xếp cho chuyến đi, cũng giữa dòng sông nầy, Lệ đã tặng cho anh của quí nhứt đời người con gái, khóc nức nở, hứa đợi chờ, vậy mà anh ra đi chưa đầy một năm thì cô ấy đã lấy chồng.
– Con biết rồi sao còn hỏi chú.
– Con muốn biết chú còn thương cô Tư con hông?
– Ngồi đây chú lại nhớ hồi chia tay với cô con.
– Cô con nhớ chú lắm, trước đây thấy Việt kiều dìa, cô cứ ngong ngóng, hỏi tại sao không thấy chú dìa, bây giờ chú dìa sao hổng đi thăm cô.
– Cô con đã có gia đình rồi, chộn rộn làm gì.
– Còn thằng Đợi chú hổng muốn gặp nó sao?
– Thằng Đợi nào?
– Ủa! Con của chú bộ chú hổng biết hả?
– Con chú!
Hải điếng hồn không nói thêm được lời nào. Nhìn lên bầu trời sao dầy đặc, cúi xuống nước ròng đương chảy xiết, anh vói tay khoát nước rửa mặt, lắc lắc cái đầu cho tỉnh. Nhớ lại những ngày sắp chia tay, ban ngày anh với Lệ ôm ấp với nhau trên chòi, tối xuống xuồng đóng đáy giữa dòng sông, làm chuyện xui xẻo trên xuồng, bất chấp phong tục cấm kỵ… Anh day qua nói với Dung:
– Chuyện trước kia chú với cô Tư cháu thương nhau chú biết, còn những chuyện xảy ra sau nầy chú hổng biết gì hết cháu à.
– Ba con sợ chú biết nhưng chú hổng muốn nhìn, ổng dặn cả nhà nếu chú hổng hỏi thì không ai được nói.
– Hồi chú đi ra tới ngoải, chú có gởi thơ dìa cho cô Tư con cả mấy chục lá, nhưng thư đi mà hổng thấy thư dìa, chú buồn hết sức vậy đó, chú tưởng ở nhà thất tán đâu đó. Sau nầy chú nghe bà chị của chú ở Úc nói cô Tư con đã có chồng rồi nên chú hổng viết thư nữa, thời gian đó chú như người khùng. Chú chỉ biết tới đó, sau nầy chuyện xảy ra cho cô con chú có biết gì đâu. Đầu đuôi ra sao con kể hết cho chú nghe đi.
– Hồi chú đi cô Tư bịnh liên miên, ói mửa, cô nằm vùi, mấy tuần sau cô mới biết mình mang bầu. Lúc đó cô như điên như dại, khóc hoài có khi ngồi một mình nói lảm nhảm như mắc nàng dưới. Ba con sợ chuyện xấu đổ ra ngoài nên sẵn dượng Thành, à chú còn nhớ dượng Thành lúc đó phụ mần đáy với ba con hông?
– Nhớ chớ, thằng Thành Đất chớ ai.
– Đúng rồi, lúc đó dưỡng cũng thương cô, ba con mới khuyên cô ưng dưỡng, cuối cùng cô Tư con đâu cách nào khác cổ đành nhắm mắt đưa tay, nhưng cổ nói thẳng cho dượng Thành biết cổ đã mang bầu với chú, chịu thì cưới không chịu thì thôi. Lúc đó dượng mê cô như điếu đổ cái gì cũng chịu, dưỡng còn nói chú với dưỡng là anh em kết nghĩa, con của chú cũng như con của dưỡng.
– Bây giờ hai người ra sao?
– Mần ăn cũng khá, cô còn sanh thêm cho dượng Thành hai đứa nữa vậy mà dưỡng vẫn thương thằng Đợi như con ruột của mình.
Thiệt vậy ngày xưa Hải và Thành là anh em kết nghĩa, tánh tình nó rất thật thà, từ ngày kết nghĩa anh em với nó cho tới ngày Hải bỏ đi, anh chưa bao giờ nghe thấy nó giận ai và chưa hề gây gổ với bất cứ người nào, nhà nghèo chăm chỉ làm ăn và hiền như cục đất, vì vậy nó mới có tên Thành Đất.
– Bây giờ chú tính làm sao?
– Theo con chú phải làm sao đây?
– Chú gặp cô Tư con đi.
– Gia đình cô ấy đương cơm lành canh ngọt con à.
– Con nghĩ dượng Thành cũng không tệ lắm đâu.
Hải chưa biết tính sao thì Dung đề nghị:
– Hổng ấy chú để con nhắn qua cô, nói chú đã về coi cổ tính sao.
– Ừ con tính sao thì tính miễn đừng làm xào xáo gia đình cô ấy là được.
Những ngày sau đó Hải để hết tâm trí cùng với anh em thằng Bình và An sửa sang, sơn phết lại hai ngôi mả của ba má anh, chuyện của Lệ anh phó mặc cho Dung và gia đình. Tuy vậy lòng anh cũng nôn nóng như lửa đốt, hổng biết sắp tới đây chuyện lành hay chuyện dữ? Đến ngày thứ ba thì hai ngôi mộ của ba má sửa sang lại coi như đã xong. Anh và hai đứa thợ đương đứng ngắm nghía hai nấm mồ nước sơn còn ướt. Chợt Dung đi ra mặt hớn hở hỏi:
– Xong chưa chú?
– Xong hết rồi, con coi coi có được hông?
– Đẹp lắm chú.
Thấy cô nhỏ hấp tấp trả lời anh bèn hỏi:
– Có chuyện gì mà trông con hớt hải dậy?
– Cô Tư mới vừa dìa.
Tuy biết trước chuyện sẽ đến nhưng trong lòng anh lo lắng bất an. Nhìn hai đứa nhỏ lom khom dọn dẹp đồ đạc định đi về, anh mượn cớ trì hoãn bằng cách mời hai đứa thợ đi ra tiệm ăn cơm. Day qua Dung Hải hỏi:
– Con đi ăn với chú hông?
– Chú hổng về liền được sao?
– Nhưng cho thợ thầy người ta ăn cơm cái đã.
Dung miễn cưỡng gật đầu:
– Vậy cũng được, nhưng mau mau nghe chú, cả nhà đương chờ chú đó.
Dung quày quả bước đi, Hải day qua hỏi:
– Hai đứa bây thấy con Dung ra sao?
Bình ngước lên nói:
– Con nhỏ đen như cột nhà cháy.
An cãi:
– Nâu chớ đen đâu mà đen, ông nói cho cố.
Hải vỗ vai An:
– Mày chấm nó chỗ nào.
– Ngực, mông hết xẩy chú.
– Chỉ có hai chỗ đó thôi hả?
Nghe anh hỏi ngặt thằng nhỏ đứng gãi đầu. Thấy thằng nhỏ bí lối, anh câu vai nó nói:
– Nhưng mầy chịu cặp ngực và cặp mông của nó hông? Tao làm mai cho.
– Con nghèo quá chú.
– Bộ nghèo rồi hổng có vợ sao? Nhưng thôi, dẹp cặp ngực và cặp mông qua một bên, mình đi ăn cái đã.
Hải kêu chủ quán dọn một bữa cơm thiệt ngon và bia lon ướp lạnh cho hai anh em Bình, An ăn, còn anh thì uống bia khan. Đầu óc cứ nghĩ đến chuyện gặp gỡ lát nữa đây, người ta nói chia ly là khổ, còn xum vầy là vui. Còn anh thì đương khổ sở cho cuộc xum vầy. Thằng Bình thấy anh cứ trầm ngâm và ngước cổ nốc bia, nó nhắc chừng:
– Theo con bữa nay chú uống ít thôi.
Hải nốc một ngụm bia, nhìn qua hỏi:
– Mầy biết chuyện gì hông?
– Chuyện của chú nổi như cồn, cả xóm mình ai hổng biết.
– Nổi như cồn à, sao tao hổng biết gì ráo.
An nói vô:
– Thôi chú dìa giải quyết chuyện gia đình đi, con nghĩ mọi chuyện trơn tru thôi, chú khỏi phải lo nghĩ nhiều quá.
– Hai đứa nghĩ dậy sao?
– Con nghĩ ai biết hoàn cảnh của chú đều nghĩ vậy hết.
– Bình, An chú phải tin dị đoan thôi, gặp hai đứa chắc chuyện gì thì cũng… bình an hết trọi.
Ba người cùng cười và đưa ly lên cụng:
– Thôi chú dìa đây, chừng nào xong chuyện chú làm mâm cơm cúng ông bà, chú sẽ mời hai đứa tới nhậu một bữa chết bỏ.
Khi Hải vừa bước tới cửa thì Thành từ trong nhà phóng ra ôm anh vừa mếu máo vừa nói:
– Anh dìa, em mừng quá.
Nổi lo âu của Hải được thay bằng niềm xúc động mênh mang, anh trấn tỉnh lại:
– Vô nhà cái đã, từ từ rồi anh em mình tâm sự sau.
Hải câu vai Thành đi vô nhà, thì Lệ cũng từ nhà dưới đi lên.
– Sao mà ai cũng khóc hết vậy nè?
Hải muốn trấn an mọi người nhưng chính ngực anh cũng đã nghẹn khi thấy một đứa con trai nép bên Tư Lệ giống anh như đúc. Anh tới ngồi xuống cạnh bên nó, vuốt tóc hỏi nhỏ:
– Con là Đợi phải không?
Nó gật đầu. Hải ôm nó vào lòng, nó mắc cỡ xô anh ra và lao nhanh xuống nhà dưới. Anh đứng lên hỏi Lệ:
– Đi đường xa em có mệt lắm hông?
Cô lắc lắc đầu mặc cho nước mắt tuông chảy lên hai gò má. Nghe tiếng ồn ào bên ngoài Hải ngó ra anh thấy trước cửa hàng xóm bu đầy nghẹt, anh lúng túng không nói được gì. Thành như hiểu ý anh nên bỏ đi xuống nhà dưới. Anh Tài từ dưới nhà đưới đi lên nói:
– Thôi mình ra nhà sau ngồi lai rai nói chuyện.
Day ra anh nói với đám người tò mò còn lấp ló phía trước:
– Hôm nay, gia đình tôi đoàn tụ và có chút chuyện riêng xin bà con thông cảm cho nhé.
Bà con từ từ giải tán. Mọi người kéo nhau đi xuống nhà dưới. Đồ ăn đồ nhậu đã được ba người đàn bà dọn đầy bộ ván. Thành kêu Lệ:
-Em với thằng Đợi qua ngồi với anh Ba, cho cha con quen nhau cái đã.
Nhờ Lệ ngồi cạnh bên nên thằng Đợi mới dám lên ngồi gần, hai đứa em nó thấy vậy cũng chen vô ngồi sau lưng má nó. Cả nhà ngồi quây quần trên bộ ván rộng. Anh Tài bưng rượu lên:
– Hôm nay mỗi người phải uống để mừng gia đình mình xum hợp. Chú Ba tui mời chú trước.
Hải bưng ly nốc cạn dằn cái cảm giác gờn gợn rùn người. Gia đình xum hợp! Vui quá xá chớ! Kể từ khi hay tin ba má anh qua đời, anh chị em tứ tán, Hải chưa bao giờ nghĩ mình còn có một gia đình trên quê hương xứ sở. Nếu ngày xưa không có chuyện chia lìa thì giờ đây bên anh là vợ, con, kia là anh chị vợ và thằng em kết nghĩa. Bây giờ mọi chuyện đã đảo ngược đâu vô đó hết rồi. Hải vuốt tóc thằng Đợi, hỏi:
– Ai đặt tên cho con?
Nó bẽn lẽn cúi đầu:
– Hổng biết.
Thành chen vào.
– Bả đặt đó chớ ai, Đợi có nghĩa là đợi anh dìa đó.
Lệ mắc cỡ mắng chồng:
– Cái thằng cha mắc dịch.
Té ra Hải cũng còn có những người chờ đợi anh nơi bến sông nầy, vậy mà từ lâu nay anh nào hay nào biết.
Anh Tài rót rượu vừa đưa từng người vừa nói:
– Bây giờ dùng món đặc sản của dượng Tư đem từ dưới Cái Đôi về cái đã.
Lệ đập vỏ càng cua, lấy thịt bỏ vô chén cho Hải. Hải bắt chuyện hỏi Thành:
– Bộ ở đây hổng có cua, vọp sao mà phải đem từ bển qua?
– Ở đây làm gì còn anh, cua em nuôi, vọp phải đặt dưới miệt Năm Căn mới có.
– Hồi đó mấy thứ nầy anh em mình xách bao xách mốc ra rừng một lát đem dìa cả đống, nhậu hổng hết chia cho bà con mặc sức mà ăn.
Anh Tài chen vô:
– Ôi người càng đông của càng hiếm con người tham lam càng nhiều, tranh dành với nhau từ rừng rú tới dòng sông, người nầy xâm phạm của người kia một chút thì chửi bới ỏm tỏi lên, đôi khi chỉ vì con cua, con vọp mà quánh lộn với nhau dập đầu chảy máu.
Họ nói chuyện đời sống một lát, cũng trở lại chuyện riêng tư của Hải. Anh nói với Lệ:
– Hổng biết thì thôi, biết rồi thì tôi phải có bổn phận.
Anh hỏi việc học hành của thằng Đợi, Lệ cho anh biết nó học hết lớp năm rồi nghỉ.
Anh day qua hỏi thằng nhỏ:
– Con muốn đi học nữa hông?
Nó lắc đầu.
– Hông, lớn rồi, đi học người ta chọc quê.
Hải thấy mình không nên xen vô chuyện gia đình của Lệ nhiều quá. Anh mới nói:
– Tùy chú Thành với Lệ tính sao cho nó cũng được, số tôi phong trần thì đành phải phong trần vậy, ở nhà có khó khăn gì thì cứ cho tui hay, khả năng của tui tới đâu tui phụ tới đó.
– Anh dìa nhìn nhận con để sau nầy nó khỏi tủi thân là được rồi. Tư Lệ vừa nói vừa lau nước mắt.
Thành chen vô:
– Ngày mai tui phải dìa bển sớm, để bả với thằng Đợi ở lợi chơi với anh vài ngày. Chừng nào anh đi thì tui qua tiễn anh.
Sáng hôm sau, trong lúc Thành sửa soạn trở về Cái Đôi vàm, trên chiếc ghe đóng đáy hàng khơi, cái máy Yanmar đầu xanh thời ông Thiệu chưa làm tổng thống đã đổi ra màu đen, Thành quây cà ì cà ạch hồi lâu mới nổ bành bành, khói đen phun ra mù mịt. Hải nói:
– Máy Yanmar đầu đen chớ đầu xanh khỉ mốc gì. Sao chú hổng thay máy khác?
Thành than:
– Chưa đủ tiền anh.
– Chừng bao nhiêu mới đủ?
– Nếu có hai cây nữa thì em đổi máy mới.
– Được rồi anh sẽ cho chú hai cây.
– Ý chết cha, em đâu có hỏi.
– Anh tự nguyện mà.
– Anh có lòng tốt giúp em, em cám ơn nhiều lắm, nhưng thong thả đi cái đã.
Thành chỉ vô cái máy nói:
– Coi cà tàng vậy đó mà chưa bao giờ nằm đường hết anh.
– Thôi chú đi đi, chúc chú mầy con nước nầy tôm cá đầy ghe.
Hải nhảy lên bờ tháo dây mũi liệng qua cho Thành. Hải vịn mũi nghe, chờ Thành khoanh dây lại rồi ra sau cầm lái, anh mới đẩy mũi ghe vạt ra lấy trớn để Thành vô số, rồ ga cho ghe chạy.
Khi cơn xúc động đã lắng xuống, mọi chuyện trở lại bình thường, Hải nghĩ, đối với Lệ và thằng Đợi anh thương lắm và tội nghiệp cho Thành Đất đã gánh gánh nặng cho anh, chắc hẳn anh phải có trách nhiệm với những người nầy. Anh định trước khi rời khỏi thị trấn ven biển anh đưa cho gia đình Thành Đất số tiền anh đã hứa, phần còn lại anh ngao du một chuyến ra Bắc.
Nào ngờ hôm sau, trời mới hừng đông, Hải đương ngủ ngon, chợt Lệ vô buồng đánh thức anh dậy:
– Anh Ba, gia đình có chút chuyện muốn bàn với anh.
Hải ngồi dậy dụi dụi mí mắt cho tỉnh ngủ rồi đứng dậy đi theo Lệ. Ở nhà dưới đèn thắp sáng chưng, vợ chồng anh Tài ngồi trên bộ ván. Giữa bộ ván một mâm trà bánh còn nguyên, hai người như có ý chờ Hải. Lệ lấy khăn và bàn chải đưa cho anh. Hải ra sàn lảng sau nhà đánh răng rửa mặt. Xong. Anh trở vô ngồi cạnh bên Lệ. Nhìn ai cũng ra vẻ khẩn trương làm anh nhột nhạt. Lệ rót nước trà cho Hải, anh hớp một hớp nước, để xuống. Anh Tài hớp một hớp trà rồi cất tiếng phá tan bầu không khí yên lặng:
– Thiệt ra thì tui mời chú xuống đây là muốn nhờ chú một chuyện.
– Chuyện gì anh? Hải hỏi.
– Ý tui là muốn nhờ chú bảo lãnh con Dung ra ngoải, chú thấy có được hông?
Nghe hỏi bất ngờ làm Hải lúng túng hồi sau anh mới tìm ra câu nói:
– Dìa đây tui hổng có ý định gì hết, bổng nhiên lòi ra thằng Đợi, bây giờ anh tính thêm chuyện nầy nữa.
Hải ngó qua Lệ:
– Theo em, em thấy sao?
Lệ không nhìn thẳng Hải mà cúi xuống ly trà, nói:
– Anh coi coi, giúp được cháu thì giúp.
– Hổng phải vậy đâu, tui thấy những cô gái ở niền quê ít học ra phố nếu không đi ở mướn thì cũng trở thành gái làm tiền. Ra nước ngoài cũng vậy thôi, nếu không có nơi nương tựa thì các cô cũng lang thang trôi nổi trong cái thế giới xô bồ xô bộn của tây phương. Còn tui thì cuộc sống bấp bênh, rày đây mai đó, không bà con thân quyến, nơi xứ lạ quê người, đem cháu sang rồi bỏ cháu bơ vơ một mình đâu có được.
Anh Tài nằng nặc:
– Hổng lẽ chú cứ lông bông hoài sao?
– Chuyện đột ngột quá anh chị cho tui thời gian suy nghĩ cái đã.
– Ừ cũng được, quan trọng là chú mầy chịu nó hay không.
Chịu nó! Hải nghĩ bụng, ông anh định chơi cha chắc.
– Thôi được, chuyện nầy tui sẽ trả lời sau.
Câu chuyện tạm ngưng lúc trời sáng bửng. Dung với thằng Đợi đi đổ đáy vừa về tới. Hải kêu thằng Đợi thay đồ và rủ má con nó ra quán ăn sáng, tiện dịp anh bàn chút chuyện. Thằng Đợi xin tiền đi chơi chớ không theo. Hải để ý, từ ngày gặp con cho tới nay, không bao giờ thằng nhỏ theo anh, ngoại trừ những lúc cần tiền mới tới hỏi xin. Mới chừng đó tuổi mà đi hết bàn bi da này qua tới quán Karaoke nọ, có bữa anh thấy nó uống bia nữa.
Trong quán phở, ăn xong Hải hỏi Lệ:
– Hình như em nuông chiều thằng Đợi có hơi quá mức.
– Anh Thành đó, mỗi khi em rầy nó là ảnh binh.
– Con cưng là con hư, nhưng nói là nói vậy chớ anh làm sao có quyền chen vào chuyện gia đình em.
Lệ cầm muỗng quậy quậy ly trà đá, mắt nhìn nước trà đương sóng sánh trong ly, cô nói:
– Anh có trách em cũng hổng sao, ngặt vì thương anh nên ai cũng chiều thằng Đợi.
– Cám ơn em và chú Thành đã lo lắng cho nó.
– Anh khách sáo làm gì, anh Thành cũng thương anh, cho tới nay ảnh còn mặc cảm có lỗi với anh đó.
– Chú ấy đã săn sóc mẹ con em trong những ngày em khổ sở, hết kiếp nầy hổng biết anh có đền ơn nổi cho chú hông đây.
Hải móc sổ địa chỉ ra đưa cho Lệ:
– Em ghi địa chỉ ở Cái Đôi cho tui.
– Bộ anh tính đi hả?
– Chưa, tui nán lợi chơi với em và thằng Đợi vài ngày.
Lệ đổi giọng:
– Còn chuyện con Dung anh tính sao?
– Theo em tui phải tính sao đây?
– Thì anh coi giúp được cho cháu thì giúp đi.
– Đơn giản như vậy sao?
– Em thấy nhiều Việt kiều dìa cưới vợ cũng đơn giản dậy thôi. Anh lớn tuổi rồi cần phải có gia đình chớ. Hơn nữa trong họ hàng ai cũng thương anh, muốn gả nó cho anh anh còn đi đi dìa dìa, chớ hông thôi anh đi biệt xứ.
Biệt xứ! Hải nhìn ra ngoài, ánh nắng đã lên cao. Người đi chợ cũng thưa dần. Đây là quê hương xứ sở của anh, kia là người thân thân thuộc, chơn tình biết mấy.
– Thôi được, để thong thả rồi tính.
Bắt đầu từ hôm đó gia đình Tài coi Hải như người nhà. Ngày Dung lo miếng ăn, tối lo giũ chiếu giăng mùng, soi muỗi cho anh. Ban đêm Hải theo Dung đóng đáy. Từ ngày có Hải đi theo, cô nhỏ vui sướng vô cùng, Dung có cảm tưởng đi đóng đáy là cuộc phiêu lưu, thám hiểm hơn là chuyện mầm ăn, cho nên cô cứ nôn nao trong lòng mỗi khi con nước lớn vừa chựng lại. Khi nước bắt đầu ròng họ chui đáy xong đâu đó. Dung mở máy cát sét rồi cô đi lại ngồi cạnh Hải. Những năm luân lạc xứ người, không khi nào Hải mơ tới đàn bà Việt Nam. Các bà ngoài ấy cao xa quá, còn anh trước mắt họ bất quá chỉ là một tên vô gia cư. Mười mấy năm qua, anh không bao giờ dám ước mơ có một mái ấm gia đình. Hôm nay về đây tuy cảnh vật và người thương đã thay đổi nhưng anh không thấy mất mát điều gì. Trước một người con gái mơn mởn như hoa mùa xuân và dòng sông bon bon nước chảy, làm anh sống lại thời mới lớn. Tim anh đập, tay anh run run ôm cô gái trẻ, lòng thầm cám ơn bà cậu của miền sông nước… Anh ngất ngây theo tiếng hát du dương truyền cảm tỏa trên mặt sông: “ … Anh ơi chim kia bay về tổ ấm, nước cũng xuôi về nguồn …”
Vậy là thời gian Hải dành cho chuyến du ngoạn ra Bắc coi như đi đứt. Chuyện đám tiệc theo Tài thì không khỏi phải rườm rà, chỉ nấu một mâm cơm làm lễ ra mắt ông bà đủ rồi. Hải kêu Dung nghỉ đóng đáy đi với anh ra thị xã mua sắm áo quần và bông đeo tai. Bữa tiệc thay cho đám cưới ngoài người trong gia đình ra, Hải chỉ mời anh em thằng Bình và thằng An tới. Hai đứa ngồi nhậu mà cứ nhìn anh cười cười như có ý chọc quê.
Sau bữa tiệc, Thành Đất chở vợ con về Cái Đôi vàm. Còn Hải lên thành phố đổi vé máy bay trở về Âu châu để lo thủ tục bảo lãnh.
Mọi chuyện xong xuôi trong vòng sáu tháng. Dung là vợ chánh thức của Hải từ khi cô nhỏ tới đất Âu châu nầy. Chờ Dung học xong khóa ngoại ngữ lấy xong bằng lái xe, hai người mới quyết định có con. Nhờ khoẻ mạnh Dung sanh rất dễ dàng, hai năm Dung sanh liên tiếp hai đứa con trai, thấy vợ cực khổ với hai đứa nhỏ Hải kêu ngưng nhưng Dung muốn có thêm đứa con gái, vậy là cô mang bầu sau đó đẻ thêm thằng con trai nữa. Anh biểu nghỉ nhưng Dung ham con gái quá, nằng nặc đòi mang bầu, nhờ trời thương đứa thứ tư cho ra con gái, có như vậy cô nhỏ mới chịu treo buồng trứng.
Từ ngày có Dung Hải xin việc làm dây chuyền trong một xưởng sửa xe. Dung may thuê vá mướn, dư ra đồng nào gởi về đồng nấy, một bên gia đình ba má Dung, một bên là cho vợ chồng Thành Đất. Bây giờ dân số trong gia đình anh tăng thì chi phí cũng tăng theo. Dung ôm bốn đứa con đâu có đi làm gì thêm. Còn lương tháng của anh trang trải nhà cửa, mua sữa và tã lót cho mấy nhỏ, ăn uống cũng phải dè sẻn mới đủ. Ấy vậy bên nhà hổng biết mần ăn ra sao mà tiền gởi về y như gió luồng nhà trống. Thư cứ gởi qua hỏi tiền lúc đầu còn nói năng tử tế, dạo sau nầy hỏi thẳng kê những món cần xài ra hàng lô hàng lốc, những con số đọc lên thấy phát chóng mặt, tối thiểu một ngàn đô, khi thì cả chục cây vàng. Có lần ở nhà nói ba Dung bịnh gần chết, kêu gởi tiền về thang thuốc, làm Dung hoảng lên. Hải phải xin ngày nghỉ ở nhà giữ con cho Dung bay về bển. Nhưng Dung về vừa tới phi trường, cô tức muốn ói máu khi thấy ông già đứng đón tỉnh bơ trước cửa phi trường. Dung ở lại một tuần, dốc túi đưa hết số tiền đem theo lo cho ba bịnh, rồi bay trở về vừa khóc vừa kể cho Hải nghe.
Đó là gia đình ông Tài chớ thật ra thì với vợ chồng Thành Đất anh có cho thì gởi thư cám ơn, không thì thôi chớ chưa bao giờ biên thư hỏi tiền. Mới đây Lệ có gởi thư qua nói, thằng Đợi xách dao rượt chém Thành Đất rồi bỏ nhà đi. Đọc thư xong Hải cảm thấy buồn buồn cũng như lần đầu nhận con mình, anh đã cảm thấy cái hạnh thằng nhỏ không được tốt rồi. Vì vậy chuyện nó đánh ba nuôi nó là do bản tánh mất dạy của nó chớ hổng phải lỗi tại Thành Đất . Anh thấy càng liên lạc bên nhà bao nhiêu càng thêm rắc rối bấy nhiêu, vì vậy anh giao hết tiền bạc cho Dung. Anh dặn:
Em làm sao thì làm miễn đừng để mấy đứa con thiếu thốn là được rồi.
Từ đó hễ ở nhà hỏi tiền thì ít nhiều gì Dung cũng gởi, gởi xong tối nằm thao thức, nén tiếng thở dài. Dung sanh ra chứng mất ngủ và kinh nguyệt cũng theo đó không đúng chu kỳ, thân thể vạm vỡ của Dung mỗi ngày một sa sút, da dùn, mặt mày rũ rượi trán có vết nhăn. Mới đây nhận thêm thư nhà Dung đem cho anh xem. Trong thư nói thằng Đợi về ở với cậu Hai, tức là ông già vợ của Hải, nó hỏi xin tiền mua chiếc Dream II và ở nhà xây thêm cầu tiêu và bồn tắm tổng cộng năm ngàn đô, xem thư xong Hải trao lại cho Dung:
– Em tính sao cũng được.
Đêm khuya Dung đánh thức Hải dậy, cô nói trong tiếng khóc:
– Anh ơi anh.
Gì vậy em?
Mình tính sao đây?
Từ lúc Dung sanh chứng mất ngủ cho tới giờ, tuy Hải không nói ra nhưng lúc nào anh cũng chú ý đời sống tinh thần của vợ. Đến nước nầy anh cần phải lên tiếng thôi.
– Em nín khóc đi.
Hải ngồi dậy lấy bình nước rót một ly đưa cho Dung.
– Em uống đi, rồi nằm xuống hít thở một lát rồi ngủ, chuyện bên nhà để bên nhà lo khi nào vợ chồng mình giàu có rồi tính. Anh sẽ viết thư nói cho ba biết hoàng cảnh của gia đình mình.
– Ba má em thì được rồi nhưng còn thằng Đợi?
– Năm nay nó đã ngoài hai mươi rồi, nó biết cầm dao rượt chém ba nuôi nó, thì nó phải đủ bản lãnh ra đời kiếm sống, em nên dồn hết tâm trí lo cho bốn đứa con của em kìa. Xe trước lật rồi, xe sau tránh, hy vọng còn vớt vát lại mấy đứa nhỏ.
Thấy vợ bớt căng thẳng anh chỉ tay lên trán Dung pha trò:
– Đẻ cho cố rồi lo.
Dung bấu mạnh vai chồng lấy đà nằm xuống phủng phịu:
– Em muốn đẻ nữa.
Hải kê gối gối đầu và kéo mền đắp cho vợ xong, anh nằm xuống cạnh bên và luồn tay xuống dưới dạ bụng mân mê:
– Muốn vậy thì em phải đi bác sĩ nối buồng trứng lại.
Đợi Dung ngủ say, Hải qua phòng sách lấy giấy viết ra viết thư cho ông Tài. Anh nói thẳng cho ông biết, cũng vì u mê mà anh và ông mắc phải một sai lầm, làm cho tôn ti trật tự trong gia đình đã đảo lộn hết, bao nhiêu đó cũng đủ cho lương tâm ray rứt suốt đời rồi. Anh khuyên ông nên dừng lại, đừng quá tham lam mà gieo khổ cho con, cho cháu sau nầy…
Hôm sau Hải đưa thư cho Dung đọc và hỏi:
– Em thấy thế nào.
Cũng được.
Dung trao thư lại cho anh đem đi gởi. Cũng từ hôm đó, tánh tình của Dung mỗi ngày một thay đổi, trong gia đình Dung lo cho chồng cho con rất là chu đáo, duy có một điều cô nhỏ càng ngày càng lạnh nhạt với anh, nhứt là chuyện chăn gối không còn mặng nồng như trước nữa. Có lần Hải thắc mắc hỏi thì Dung gượng gạo biểu, hổng có gì, rồi ôm anh thật chặt và gục đầu lên vai anh mặc cho hai dòng nước mắt tuôn chảy…
Bảy năm qua rồi ở bên nhà không thư qua nữa. Và cuộc sống tẻ nhạt của gia đình Hải vẫn tiếp tục điều trôi không biết tới bao giờ… Nhiều đêm ngồi một mình nhớ lại những chuyện đã xảy ra, anh tự hỏi: Hổng biết bên bển có còn ai đợi chờ anh như lần đầu anh rời xa bến đáy.
Quán cà phê Nghệ Sĩ là nơi quy tụ nhiều đấng thiên tài của bộ môn nghệ thuật. Quán nổi tiếng vì pha chế cầu kỳ, và cà phê hảo hạn thơm lừng. Đặc tính của khách, đóng trụ bền và chắc. Sau đây, mẫu chuyện nhỏ, ghi từ quán cà phê Nghệ Sĩ.
Nhân vật A, ăn mặc chải chuốt, quần áo thẳng nếp, có thắt cà vạt đàng hoàng. Nhân vật B, mặt hốc hác, tóc tai bù xù (nhân dáng nghệ sĩ thời thượng). Cả hai đều hút thuốc, phun khói mù mịt như ống bô xe hơi mùa lạnh.
A: Lâu quá không gặp. Sao? Dạo này còn ở chỗ cũ?
B: Đi lâu rồi. Nhà ấy nhiều con nít ồn ào quá, chịu không nổí.
A: Tôi cũng ớn lũ con nít. Bởi thế, nhiều người biết tôi là nhà văn, muốn gã con gái, nhưng tôi không dám nhận.
B: Ớn lũ con nít thì phải rồi, nhưng con gái thơm quá đi chứ. Làm nhà văn cần con gái để gợi hứng sáng tác. Sao không nhận?
A: Thơm thì có thơm, nhưng sợ xáp vô vài năm, đổ con cái ra đấy. Bận bịu thê nhi thì hứng thú gì mà sáng tác. Cứ ở tình trạng độc thân, tạo điều kiện phất phơ la cà tán tỉnh. Tròng chiếc nhẫn cưới vô ngón tay, coi như chết đi một nửa cuộc đời. Sao? Bạn vẫn làm hãng cũ?
B: Nghỉ lâu rồi. Thằng superviser cà chớn, không khám phá được tài năng tôi. Nó đề nghị sa thải. Thằng chủ hãng gà mờ, nghe theo lời nó. Cũng may, nó cho tôi nghỉ sớm. Nếu không, tôi cũng bỏ việc. Toàn một lũ kỳ thị!
A: Kỳ thị là một hội chứng kinh niên bất trị. Thế bạn đang thất nghiệp?
B: Không! Tôi xin được việc làm khác, trong Sở Thú. Công việc cũng nhàn.
A: Được đấy. Làm gì trong Sở Thú?
B: Chả là có một con dã nhân già chết đi, chưa tìm được con khác thay thế. Người ta lột da nó, và tôi đội lốt dã nhân, nhảy nhót trong chuồng, đánh lừa thiên hạ. Bọn du khách khả ố cứ tưởng thật, xúm nhau xem và cười thích thú. Thế thôi. À này, đám nhân viên Sở Thú tinh đời lắm, mà còn phải khen tôi đội lốt dã nhân linh động hơn cả dã nhân thật.
A: Trên đời này, có nhiều người không cần đội lốt dã nhân nhưng họ cũng biểu lộ bản chất giống y như loài dã nhân. Bạn đừng tưởng chỉ mình bạn có tài.
B: Ồ, nói thế là bạn chưa tận mắt nhìn thấy lúc tôi ở trong chuồng.
A: Có gì đặc biệt?
B: Vào những lúc con dã nhân cái động đực, chính tôi phải làm tình với nó trước mắt bọn du khách. Các bà các cô ngượng đỏ mặt, che mắt. Nhưng tôi biết, qua kẻ ngón tay, họ không bỏ sót một hành động nhỏ nào của tôi.
A: Thế thì bạn chỉ có tài diễn xuất trước đám đông thôi. Chứ trong khuất lấp, không thiếu những trường hợp người làm tình với thú. Không nghe ai nói chuyện này, không có nghĩa rằng điều đó không xảy ra.
B: Bạn vẫn chứng nào tật ấy, chỉ nhìn bề trái của cuộc đời. Suy cho cùng, bên cạnh bộ mặt sần sùi của xã hội, còn có những điều tốt đẹp làm cho con người thăng hoa.
A: Xin cho một thí dụ?
B: Nghệ thuật. Chính nghệ thuật nuôi sống tâm hồn. Bạn có nghĩ rằng tôi đang làm nghệ thuật không?
A: Nếu đội lốt dã nhân là một nghệ thuật, thì bạn chính là diễn viên nghệ thuật đấy.
B: Không! Nghệ thuật đâu rẻ rúng thế. Tôi coi đấy chỉ là một nghề cơm áo như trăm nghìn nghề khác. Tôi làm thơ. Thơ là một trong những bộ môn nghệ thuật.
A: Trời đất! Thần kinh ngạc nhiên của tôi bị tê liệt từ lâu rồi. Bạn làm cho nó cảm ứng trở lại.
B: Đừng diễu dở. Không sợ người anh em chạm tự ái sao? Này nhé, trong mục nhắn tin, các ông chủ báo đều trân trọng gọi tôi là nhà thơ, hoặc thi sĩ.
A: Xin lỗi. Tôi thật không ngờ bạn làm thơ. Có thể kể cho nghe nguyên nhân nào đưa bạn vào nghệ thuật làm thơ?
B: Cũng ngẫu nhiên thôi. Nghề sinh nghiệp. Làm nghề đội lốt dã nhân, khi có bọn du khách, thì mình lượn qua lượn lại trong chuồng, chổng mông cho họ coi khu coi đít, hoặc ngồi gãi háng bắt rận. Du khách đi qua rồi, thì mình ngắm trời ngắm mây. Thế là tức cảnh sinh tình, nổi hứng làm thơ. Làm thơ cũng dễ thôi. Đếm chữ. Chấm câu. Xuống hàng. Gieo vần theo đúng luật bằng trắc là thành thơ. Nếu không muốn gò bó trong khuôn khổ chật hẹp, thì làm thơ tự do. Bây giờ, người ta còn sáng chế ra loại thơ tân kỳ lắm: thơ trình diễn. Nhiều người làm thơ loại này mà trở thành thi sĩ nổi danh, và chiếm được chỗ ngồi rất chắc trên thi đàn. Bạn nghĩ xem, nghề làm dã nhân của tôi, có thể được liệt vào trường phái loại thơ trình diễn không?
A: Tôi không nghiên cứu kỹ về loại thơ này, nên không dám khẳng định. Nhưng, nếu lấy bốn sợi lông, cắm bốn góc, được coi là một bài thơ trình diễn, thì làm dã nhân “ngồi rù gãi háng dái lăn tăn” là một bài thơ trình diễn sinh động hơn nhiều. Ngày xưa, thơ chỉ dành cho giới tao nhân mặc khách. Ngày nay, thơ bành trướng mạnh trong mọi tầng lớp quần chúng. Thơ soi rọi khắp hang cùng ngõ ngách. Thơ lột trần những mặt dọc mặt ngang. Thậm chí, người ta còn tìm thấy thơ trong sự ỉa đái. Hiện thực là ở chỗ ấy.
B: Nhà văn lý giải về thơ, nghe sướng cả người. Thế, nhà văn có nhận định gì về văn?
A: Thơ với văn như cặp song sinh. Thơ hiện đại đi vào quần chúng. Văn hiện đại từ quần chúng đi ra.
B: So sánh quái gỡ thế, bố ai hiểu được?
A: Này nhé. Thơ có khuynh hướng xúc cảm. Văn nghiêng về mô tả. Ban đầu văn ở trong quần chúng để quan sát, nhận xét. Sau đó, đi ra đứng ở vị trí khách quan, tả chân những gì đã thấy. Làm văn sĩ là pha trộn hiện thực và hư cấu. Người đọc chỉ nhìn thấy một khối đồng nhất, không phân biệt. Hiện nay, con người đã đạt đến tốc độ siêu thanh. Không còn ai muốn nhai lại một số triết lý viển vông. Có những vấn đề, ngày xưa úp mở, e dè không dám nói, thì ngày nay phơi bày toác toạc ra đấy. Làm văn sĩ phải chìu theo thị hiếu độc giả, và luôn luôn đặt câu hỏi: viết gì, viết thế nào, viết cho ai? Trả lời đúng những câu hỏi ấy là thành công. Đề tài đang được ăn khách là chuyện phòng the, tả sự việc trên giường. Một vấn đề xưa như trái đất, nhưng nóng hổi như bánh mới ra lò.
B: Bạn biết phân tích, chắc văn của bạn đang ăn khách?
A: Không đâu. Còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác. Thí dụ như phải biết gây sự chú ý của độc giả.
B: Viết văn chứ đâu phải quảng cáo?
A: Muốn làm tổng thống cũng phải quảng cáo. Này nhé, một tác phẩm ra đời, nếu chẳng ma nào thèm liếc mắt, sẽ đi vào quên lãng, mất hút luôn. Đó là nỗi buồn lớn của tác giả. Vì thế, phải có người viết bài bốc thơm, để gợi sự chú ý. Đôi khi, còn phải mướn thằng viết bài chưởi bới nữa, để lôi kéo sự tò mò. Xin nhắc bạn, một hiện tượng quảng cáo rất độc đáo đang xảy ra ở Việt Nam. Cứ y như rằng, tác phẩm nào bị nhà cầm quyền cấm phổ biệ, thì tác phẩm ấy được nhiều người tìm đọc hơn hết. Hoặc, tác giả nào bị công an văn hóa mời tới mời lui vài lần, thì thế nào tác phẩm của họ cũng bán rất chạy. Tôi nghĩ được một cách quảng cáo, hơi táo bạo nhưng chắc chắn thành công.
B: Nói nghe thử?
A: Tôi sẽ về Việt Nam, đứng giữa chợ Bến Thành, tuyên bố chống đối vung vít. Công an sẽ nắm đầu tôi, nhốt tức khắc. Thế là trúng kế. Báo chí hải ngoại bắt đầu loan tin rùm beng, la làng tranh đấu đòi thả tôi ra.
B: Rồi sao nữa?
A: Còn phải hỏi. Mọi người sẽ chú ý và tò mò đọc tác phẩm của tôi.
B: Quảng cáo kiểu ấy có phần ma giáo, nhưng đây là chuyện tương lai. Còn hiện tại, bạn viết văn có đủ kiếm sống không?
A: (thở dài) Thời kỳ văn học cực thịnh, văn thi sĩ xuất hiện nhiều như sao trên trời. Thơ văn trở thành lạm phát. Bài gởi cho báo, chỉ đăng chùa. Đăng không hết, mấy ông chủ báo vứt vào sọt rác là chuyện thường. Người ta bỏ tiền mua cuộn giấy đi cầu, nhưng công trình tim óc của mình lại vứt đi. Lắm khi muốn ứa nước mắt.
B: Thấy bạn ăn mặc bảnh bao, tưởng đời đang lên. Ai ngờ…
A: Bạn bè chẳng giấu. Đói rã ruột, nhưng phải làm ra vẻ phồn vinh giả tạo ngoại hình. Mục đích để dễ mượn tiền. Nhiều người muốn gã con gái cho tôi cũng vì lầm cái mã bề ngoài.
B: Thì cứ nhào vô. Vừa được vợ, vừa có miếng ăn hàng ngày.
A: Trên đời làm gì có của cho không. Khi họ khám phá ra mình là loài ký sinh tầm gửi, họ tống mình ra khỏi cửa ngay. Thà cứ hư hư thực thực, che thân bằng nhãn hiệu nhà văn. Thế mà còn mượn được tiền.
B: Nhà văn nói nghe thảm quá. Dù sao, tôi cũng có nghề có việc được đồng lương, lại mang thêm cái nghiệp làm thơ, lại nghệ sĩ dễ thông cảm nhau. Thôi thì chầu cà phê này, tôi trả. Sắp đến giờ Sở Thú mở cửa. Tôi phải vào.
Nhân vật B (nhà thơ) rời quán Nghệ Sĩ. Nhân vật A (nhà văn) ngồi lại, không biết để tìm hứng sáng tác, hay chờ đợi người quen, kế tiếp.
– “Nếu một người đồng giới có thiện ý tìm đến Chúa trời, tôi lấy tư cách gì để phán xét?”
Đức Giáo Hoàng Phanxico-(29/07/2013)
Bản tin của Nhật Báo Người Việt ngày 4/2/13 loan báo: “Sau nhiều ngày chờ đợi trong lo lắng, cuối cùng, sau buổi họp kéo dài gần hai giờ đồng hồ với ban tổ chức Diễn Hành Tết hôm Thứ Hai, Liên Hội Những Tổ Chức Người Đồng Tính Luyến Ái, Song Tính và Chuyển Giới Tính (LGBT) Mỹ gốc Việt, đối diện với thực tại là họ sẽ không được phép tham dự cuộc Diễn Hành Tết 2013, một sinh hoạt họ đã liên tục tham gia từ ba năm nay. Tổ chức Đồng Tính (LGBT) vào, thì Hội Đồng Liên Tôn sẽ rút ra!”
Trong ba năm 2010, 2011, 2012, khi cuộc Diễn Hành Tết do thành phố Westminster tổ chức, Hội đồng Liên Tôn lớn tiếng phản đối không cho phép nhóm đồng tính được tham gia và khi không thuyết phục được thành phố Westminster trục xuất nhóm đồng tính, Hội Đồng Liên Tôn đã rút ra khỏi cuộc diễn hành.
Năm ngoái (2013) Diễn Hành Tết do Cộng Đồng Người Việt Nam Cali tổ chức, nhóm LGBT (Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender Organizations) không được tham dự đã gây nhiều cuộc tranh cãi trong cộng đồng và một số tổ chức, cá nhân, dân cử và các nhà bảo trợ đã rút ra không tham dự.
Năm nay (2014) theo bà Diane Craey, nghị viên Westminster, cũng vì ngân sách thành phố thiếu hụt không thể đứng ra tổ chức Diễn Hành Tết, nên Ban Tổ Chức Diễn Hành cũng có một quyết định tương tự như năm ngoái. Bà cũng cho rằng việc những thành viên LGBT không được tham dự diễn hành đã tạo ra một nhận thức không đẹp tí nào cho thành phố. Năm nay khi trong một buổi họp của Cộng Đồng, nhiều ý kiến đã lên tiếng bênh vực Hội Đồng Tính, trong khi ông Lê Quang Dật, một “thành viên” của Hội Đồng Liên Tôn (?) thì mạnh mẽ khẳng định: “Tết là một văn hóa truyền thống, thiêng liêng của cộng đồng Việt Nam. Văn hóa đồng tính không phù hợp với văn hóa Tết.”
Trong buổi họp của Cộng Đồng ngày Chủ Nhật 10 tháng 11-2013, với tổng cộng 76 phiếu bầu, số 47 phiếu chống đã áp đảo 21 phiếu thuận, và 7 phiếu không ý kiến, loại nhóm LGBT ra khỏi cuộc diễn hành. Ở đây chúng tôi thấy chưa cần nêu ra tính cách pháp nhân của Hội Đồng Liên Tôn (đại diện cho ai, ai bầu, trên cơ sở pháp lý nào, nhất là vai trò của Ông Lê Quang Dật, tự đại diện với danh xưng “Huynh Trưởng Phật Tử” trong khi đã có một đại diện của Phật giáo trong tổ chức này.) Người ta lại chống nhóm đồng tính diễn hành trong dịp Tết vì cho đồng tính là không phù hợp với văn hóa Việt Nam, sợ người bản xứ sẽ hiểu lầm văn hóa của chúng ta khi thấy sự hiện diện của nhóm đồng tính trong cuộc diễn hành. Phải chăng não trạng “sợ hiểu lầm” này là di sản từ thời thực dân? Câu nói “Văn hóa đồng tính không phù hợp với văn hóa Tết” dùng để biện minh cho việc xua đuổi hội LGBT ra khỏi sinh hoạt của cộng đồng và đã được nhiều người bỏ phiếu đồng ý, thật ra người phát biểu không hiểu gì về văn hoá. Văn hóa liên tục thay đổi và quá trình này diễn ra rất nhanh chóng do các nguyên nhân như là việc phát minh, khám phá, nghiên cứu, phổ biến và thu nhận, trao đổi từ nền văn hóa này sang văn hóa khác. Cũng vì vậy, nên ngày nay trên phố Bolsa người Việt diễn hành không đóng khố, xâm mình, búi tóc, nhuộm răng đen đi chân đất hay mang cung tên như người Bách Việt của những thiên niên kỷ trước. Người phụ nữ Việt Nam kín đáo ngày xưa trong gia đình “kín cổng cao trường” có phải là hình ảnh người nữ tham gia công việc xã hội, chính trị ngày nay hay như những thiếu nữ thi hoa hậu, mặc đồ tắm trình diễn, hay ca hát lăn lộn trên sân khấu ngày hôm nay không? Văn hóa Việt Nam có chấp nhận cho người phụ nữ ngày nay có thể sinh con nhờ trứng của một phụ nữ khác thụ tinh trong ống nghiệm không, và bây giờ giá trị của tình mẫu tử, tình phụ tử sẽ thay đổi ra sao?
Văn hóa không thể là xác ướp nhưng là một đời sống năng động qua nhiều giai đoạn phát triển và thụt lùi.
Về phía tôn giáo, có phải những nhà truyền giáo đã đi đến tận hang cùng ngõ hẻm ở khắp nơi chưa có ánh sáng văn minh, đưa đức tin của họ đến đó và làm thay đổi hắn nền văn hóá của họ không? Dân bán khai được khuyến khích mặc quần áo, dùng xà phòng, bỏ bớt các tập tục man rợ, mà không ai nói: “Văn hóa tôi là văn hóa ở truồng!” Về chuyện đồng tính, sáng ngày 29/07/2013, Giáo Hoàng Phanxicô trên chuyến bay từ Đại hội giới trẻ Công Giáo toàn thế giới trở lại Ý, trong cuộc phỏng vấn của báo chí về chủ đề đồng tính, Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh đến lòng bác ái đối với những người có quan hệ đồng giới và đã đưa ra một nhận định mạnh mẽ và trực tiếp: – “Nếu một người đồng giới có thiện ý tìm đến Chúa trời, tôi lấy tư cách gì để phán xét ?” (Antoine-Marie Izoard -Vatican.)
Trong khi đó, các cộng đồng Phật tử phương Tây nổi tiếng vì đức khoan dung của họ và chính đức Dalai Lama cũng có các đệ tử đồng tính một cách công khai. Hiếm khi người ta nghe ai đó gõ trống khua chiêng đuổi một cộng đồng Phật tử vì họ là những người đồng tính và trong hầu hết các truyền thống đã thực hành ở phương Tây – trong đó có cộng đồng Tây Tạng, tình dục là vấn đề hiếm khi được bàn đến nếu không muốn nói rằng đó chưa phải là một vấn đề. (Theo Thích Minh Trí – Gay Marriage: What Would Buddha Do- James Shaheen, The Huffington Post.)
Hiện nay, cho đến tháng 8 năm 2013, 15 nước: Argentina, Bi, Brazil, Canada, Đan Mạch, Pháp, Iceland, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nam Phi, Thụy Điến, Uruguay và nhiều nền luật pháp cấp dưới quốc gia (những khu vực ở Mexico và Hoa Kỳ) đã cho phép hai người cùng giới lấy nhau. Một điều luật đã được Vương quốc Anh thông qua, có hiệu lực ở Anh và xứ Wales, sẽ có hiệu lực hoàn toàn vào năm 2014. Thăm dò ở nhiều quốc gia khác nhau cho thấy sự ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở các chủng tộc, dân tộc, độ tuổi, tôn giáo, tổ chức chính trị và điều kiện kinh tế đều tăng lên. (Wikipedia)
Tại Hoa Kỳ ngày 26 tháng 6- 2013, Tối Cao Pháp Viện đã đưa ra phán quyết bác bỏ Đạo Luật DOMA (Defense of Marriage Act) năm 1996 xác định hôn nhân chỉ là giữa hai người khác phái. Có nghĩa là từ nay các cặp hôn nhân đồng tính được thụ hưởng mọi quyền lợi của liên bang như những cặp vợ chồng bình thường. Trong khi đó “ghetto” cộng đồng Bolsa vẫn cuộn mình trong cái vỏ bọc lạc hậu.
Chúng ta đã nói nhiều về sự kỳ thị bất công giữ con người và con người, sự coi mình là tác phẩm hoàn mỹ của Thượng Đế và người khác thì không, đưa đến tình trạng này. Còn nói về sự cản trở nhóm đồng tính tham gia Diễn Hành trên phố Bolsa, đến từ Hội Đồng Liên Tôn Bolsa, để kết luận chúng tôi xin trích lời góp ý của Franklin Dac Nguyen đã viết trên Blog Người Việt ngày 6 tháng 2-2013:
-“Điều đáng trách ở đây là Hội Đồng Liên Tôn. Không rõ mục đích thành lập Hội Đồng Liên Tôn để làm gì? Để xây dựng cộng đồng, để mang tình yêu thương, lòng vị tha, công bằng bác ái đến với mọi người. Hay ngược lại, để chèn ép, để trấn áp, để quay lưng lại những người cô thế. Để khai tử những người đồng tính không còn đất sống trong cộng đồng. Lẽ ra Hội Đồng Liên Tôn nên có nhiều thiện chí để nâng đỡ những người đồng tính về mặt tinh thần một cách tích cực hơn. Để cho họ luôn nghĩ rằng cộng đồng lúc nào cũng gắn bó, đoàn kết, đùm bọc tương thân tương ái lẫn nhau. Họ là những người đáng thương nhất đối với xã hội và cộng đồng. Xin đừng gieo vào lòng họ những mặc cảm tội lỗi vì đã bị Hội Đồng Liên Tôn bỏ rơi họ một cách không thương tiếc.”
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.