Dâu bể trùng phùng

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Hình minh họa

Tập 2

Chương 6
Lý Ngựa Ô

Vì muốn dành một sự ngạc nhiên, bất ngờ cho ba má của tôi, cho nên tôi dùng chìa khóa riêng của mình mở cửa, rồi dẫn Cúc vào nhà. Không thấy ai trong phòng khách, tôi kéo Cúc đi ra sau bếp, hai đứa đứng núp sau một cánh cửa. Đưa mắt nhìn qua ô kính nhỏ, tôi thấy má tôi đang rửa chén, ba tôi ngồi nơi bàn ăn, mắt nhìn mông lung qua khung cửa sổ nhỏ và hẹp.

-Bà nghĩ coi, giờ này thằng Quân đang ở đâu?

Vừa nói xong, không để má tôi trả lời, ba tôi thở dài.

-Không biết nó sống chết ra sao rồi !

Má tôi nói mà như muốn khóc.

-Cầu xin Trời Phật giúp nó trốn thoát được ra nước ngoài, tìm gặp vợ nó. Tội nghiệp, con nhỏ hiền lành lại dễ thương quá sức.

Ba tôi than thở.

-Cũng tại phúc phần nhà mình không có, cho nên đã làm đám hỏi rồi mà thằng Quân phải chịu cảnh chia lìa với vợ nó như vậy. Nếu biết được tình thế đổi thay như thế này, tui cho tụi nó làm đám hỏi và đám cưới một lần luôn cho rồi.

Tôi bấm nhẹ vào tay Cúc, nói nhỏ vào tai nàng.

-Em đợi anh một chút.

Nói xong tôi bước vô nhà bếp, hai tay chụm lại làm cái loa.

-Con đây nè.

Má tôi giật mình buông tay, cái chén sành bà đang cầm rớt xuống sàn nhà vỡ tan tành.

Tôi chạy đến, ôm lấy má tôi.

-Má ơi, con về rồi nè má.

Hai tay run run ôm chồm lấy tôi, má tôi nói, giọng nói nghẹn ngào đứt khúc.

-Có..có phải là con không Quân? Má có..mơ không?

Tôi nói thật rõ và chậm.

-Má không có mơ đâu, con về thiệt mà.

Hình minh họa

Ba tôi đến bên cạnh tôi, ông đưa bàn tay sần sùi, thô nhám nắm lấy tay tôi lắc mạnh, với giọng nói đầy thắc mắc.

-Tại sao con không trốn ra ngoại quốc, mà còn trở về đây làm gì?

Tôi quay người lại ôm lấy ba tôi, miệng nói với ông nhưng trong đầu lại nghĩ đến hai người lính Quân Cảnh đã chận tôi nơi đuôi chiếc phi cơ C130, ở phi trường Tân Sơn Nhất đêm nào.

-Con có trốn đi đó chớ, mà không được.

Tôi quay nhìn Cúc rồi đưa tay ra dấu. Cúc nhẹ nhàng đẩy cửa bước ra với cái va ly trên tay.

Bất ngờ thấy Cúc xuất hiện, ba tôi thảng thốt kêu lên.

-Trời đất ! Hai tháng trước, ba nghe thằng Quân nói con đã đi Mỹ với anh Bảy rồi mà. Sao bây giờ con còn ở đây?

Cúc đặt cái va ly xuống đất, lí nhí trong miệng.

-Thưa ba, con không có đi Mỹ.

Đưa hai tay ôm lấy đầu, ba tôi nói như là than thở, trách móc.

-Trời ơi là trời, con làm ba tức muốn chết được. Con và thằng Quân, cho dù có chết cũng phải liều mình mà trốn đi, tại sao giờ này cả hai đứa đều kẹt lại ở Việt Nam.

Cúc nhìn ba tôi, khi thấy đôi mắt của ông lộ vẻ giận dữ, Cúc ôm ông khóc ngon lành. Má tôi nhìn Cúc, rồi như mủi lòng bà cũng khóc theo. Đưa tay ngăn những giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo, bà thổn thức.

-Tội nghiệp cho hai đứa con.

Tôi lặng người đứng nhìn mấy người thân của mình, cố gắng đè nén cảm xúc, không để bật thành tiếng khóc rồi vỗ nhẹ vào lưng Cúc.

-Nín đi em, mới gặp lại ba má, mình phải vui vẻ lên chứ.

Nghe tôi nói nhưng phải một lúc sau Cúc mới lau nước mắt rồi hỏi má tôi, giọng nói vẫn còn đầy xúc động.

-Thằng Tý với con Quyên đâu rồi má?

Má tôi cúi người nhặt một miếng miểng sành vỡ dưới đất, miệng nói.

-Tụi nó đi sinh hoạt đoàn thể Thanh thiếu niên tiền phong cứu quốc hay xung phong gì đó rồi, ở nhà chỉ còn ba với má thôi.

Cúc mở va ly lấy ra mấy xấp vải, đưa cho má tôi.

-Con mua xấp vải này để má may quần áo, màu và bông của nó rất trang nhã hợp với tuổi của má, xấp này dày và đậm màu để ba may quần tây, còn mớ này cho thằng Tý với con Quyên.

Vừa nói xong Cúc cúi đầu lục trong xách tay, lấy ra một cái hộp nho nhỏ cỡ bằng gói thuốc lá.

-Còn đây là chai dầu nóng Nhật Bản, con mua riêng cho má. Má để dành khi nào chân tay có nhức mỏi, dùng nó để xoa bóp.

Hình minh họa

Hai ngày trước tại chợ Bến Thành, khi thấy Cúc mua quần áo cho tôi rồi mua thêm mấy xấp vải cùng vài món đồ lẩm cẩm, tôi cứ nghĩ rằng Cúc mua cho nàng. Hôm nay, khi thấy Cúc chia quà cho mọi người, tôi mới biết Cúc đã tính toán sẵn mọi thứ trong đầu. Với tôi, trước đây Cúc là con gái nhà giàu chỉ biết tiêu xài phung phí. Bằng cớ là một tháng lương trung úy của tôi, chưa chắc mua được cái áo choàng hoặc đôi giày của Cúc, nói gì đến cái xách tay được làm tại Pháp mà Cúc đang dùng. Mọi việc trong nhà, Cúc chỉ cần sai bảo người làm, một lời của Cúc nói ra là một mệnh lệnh, kẻ ăn người ở phải tuân theo. Cúc dư biết, căn nhà mà ba má tôi đang ở là do bác Bảy bỏ tiền ra mua, chiếc xe Honda tôi đang đi, có một nửa là tiền của bác Bảy. Ba má tôi là những người quê mùa dốt nát, thuộc giai cấp nghèo khó trong xã hội, gia đình tôi được sự giúp đỡ, chịu ơn của bác Bảy quá nhiều, nếu phải đền ơn thì không biết đến kiếp nào mới xong. Cúc không cần phải mua quà cáp, để lấy lòng ba má và mấy đứa em của tôi. Dựa vào lối suy luận như trên, tôi có thể kết luận rằng: Những việc làm của Cúc cho ba má tôi ngày hôm nay, tất cả đều xuất phát từ cái tâm của nàng.

Tôi đã từng đi chơi với Cúc nhiều lần, nhưng ít khi để ý đến cử chỉ, hành động cũng như lời ăn tiếng nói của Cúc, cô vợ sắp cưới của mình, bởi vì thiên kiến về cuộc sống con gái nhà giàu như thế nào vốn đã có sẵn trong đầu của tôi. Những thành kiến trước đây của tôi về Cúc, hôm nay đã bị đánh đổ. Bấy lâu nay tôi có mắt mà như mù, đã nhìn lầm về cô vợ mới cưới của mình.

Khi đã hiểu rõ thêm chút tính tình của Cúc, tôi không ngạc nhiên cho lắm khi thấy Cúc nhanh tay lo phụ má tôi quét nhà, nấu cơm.

Phần tôi, chỉ có việc ngồi nơi bàn uống ly nước trà, chờ cơm chín. Hơn cả tháng rồi, hôm nay tôi mới có dịp ngồi chuyện trò với ba tôi. Thôi thì đủ thứ chuyện được nói tới, bắt đầu từ cái chuyện học hành, vô đoàn thể của hai đứa em tôi, tới chuyện sau khi tất cả dân chúng, quân nhân cũng như cảnh sát và Trường Võ Bị Đà Lạt di tản, Thành phố Đà Lạt bỏ ngõ, phải ba bốn ngày sau mới có vài ông du kích tiến vào tiếp thu. Đang nói chuyện, bỗng nhiên ba tôi hỏi.

-Con còn nhớ ông Năm bán bánh xèo bên hông tiệm sắt, ở ngã ba đường Minh Mạng và Tăng Bạt Hổ không?

Tôi trả lời mà không cần suy nghĩ.

-Nhớ chớ, con với ba đã có lần ăn bánh xèo ở đó rồi mà.

-Ba cũng nhớ chớ sao không, bởi vậy ba mới hỏi, ngày trước con có ỷ mình là trung úy rồi hống hách hay hiếp đáp gì ông ta hay không?

Tôi cười vì câu hỏi quá sức thật thà của ba tôi.

-Ba à, trung úy không là cái gì hết, chỉ cần phạm một lỗi nho nhỏ về quân phong quân kỷ thôi, như mặc quần mà không gom ống cho gọn hay để tóc dài chưa kịp hớt, cũng đủ để Quân Cảnh còng đầu, bỏ tù ngay lập tức, huống gì mang cái tội về hình sự, hiếp đáp dân lành. Ba có biết không, một trong sáu điều tâm niệm của người lính Việt Nam Cộng Hòa là không được làm mất lòng dân, con là trung úy nên phải triệt để thi hành, lấy câu nói đó làm phương châm khi giao tiếp với mọi người. Có bao giờ con làm mất lòng ai đâu. Còn quán bánh xèo ông Năm thì quá quen đối với con, tuần nào con lại không ghé đến đó một hai lần. Vì quen biết như vậy, nên khi đổ bánh xèo cho con, ông Năm thường ưu ái thêm vào cái bánh một hai con tôm gọi là tặng cho khách quen đặc biệt. Mối giao tình giữa con và ông ấy rất tốt.

Ba tôi với giọng nói dè chừng.

-Theo ba nghĩ, lúc còn Việt Nam Cộng Hòa, với bất cứ ai ông Năm cũng đối xử vui vẻ niềm nở, thậm chí còn khúm núm thưa bẩm nữa là khác.

Hình minh họa

-Con không có binh ông Năm, nhưng ba nói hơi quá, ai làm ăn buôn bán cũng phải nể trọng, chiều chuộng khách hàng, ông ta hành xử như vậy có gì là lạ đâu.

Ba tôi hứ trong cổ họng.

-Lạ chớ sao không, con có biết ông ta là ai không, gốc gác như thế nào?

-Con làm sao mà biết được.

-Sở dĩ, ông Năm nhún nhường như vậy, bởi vì ông ta đóng kịch để che giấu cái gốc Việt Cộng nằm vùng của ông ấy. Nhờ đóng kịch khéo léo cho nên một cán bộ gộc, sống ngay trước mắt các cơ quan tình báo của Việt Nam Cộng Hòa mấy chục năm rồi, mà không bị phát giác. Hiện tại ông Năm là chủ tịch hay là phó chủ tịch tỉnh của mình, mỗi khi ông ta đi đâu đều có hai ông lính Việt Cộng, súng đạn đầy người theo sát bên hông để bảo vệ ông ta. Mới hôm qua, ba gặp ông Năm trước trụ sở khu phố, thoáng thấy ba, ông ngoắt ba lại rồi hỏi “Cậu Quân, con của ông về chưa?”. Ba chỉ ăn ở quán bánh xèo ông Năm có một lần duy nhất, đó là lần đi với con, vậy mà gặp ba là ông ấy nhớ liền.

Nghe ba tôi nói mà tôi giật mình, ngồi trong nhà mát lạnh mà trán của tôi rươm rướm mồ hôi. Bao nhiêu năm rồi, tôi tiếp xúc với một cán bộ gộc của Việt Cộng, lúc nào cũng đùa giỡn với ông ta, đùa với lửa mà hoàn toàn không biết. Tôi nhấp một ngụm trà, cố nuốt trôi cái đăng đắng nơi cổ họng, rồi nói.

-Hôm nay, ba nói con mới biết.

Ba tôi với giọng nói chậm rãi.

-Đổi đời rồi, ba chỉ muốn nhắc nhở để con chuẩn bị tinh thần.

-Dạ con nhớ rồi.

Tôi nhìn qua bếp, má tôi múc thức ăn ra dĩa rồi lên tiếng.

-Hai cha con chuẩn bị ăn cơm.

Cúc bưng lên hai chén nước mắm ớt, mỗi chén có một cái trứng luộc và một dĩa bắp sú xào mỡ, tôi là dân Đà Lạt nên gọi bắp cải là bắp sú. Thức ăn bữa trưa của bốn người, chỉ có vậy. Tôi nhìn dĩa bắp sú xào trên bàn, rồi nói đùa với má tôi.

-Tụi con mới về, bữa cơm đoàn tụ mà má cho tụi con ăn chỉ có một món bắp sú thôi sao? Mà má à, tại sao bắp sú lại xắt nhỏ và có màu nâu như vậy?

Má tôi giải thích.

-Đây là bắp sú phơi khô, chuyện như thế này, lúc dân Đà Lạt di tản hết rồi, người không nhà trống tuy nhiên rau cải đã đến kỳ hạn mà không có người thu hoạch, để mặc ngoài vườn cho hư thối. Một vài người dân nghèo tiếc của, họ chặt rồi gánh bắp sú ra phố đi bán dạo. Của đổ mà hốt, được đồng nào hay đồng nấy.

Má tôi xới cơm ra chén.

-Con có biết không, một gánh bắp sú nặng năm, sáu chục kí-lô, bán chỉ được một trăm đồng. Nội cái chuyện gánh mấy cây số từ vườn ra tới phố, tiền công gánh, cũng phải gấp năm lần tiền bán sú. Với một trăm đồng, họ mua chưa được một kí gạo, cho nên người ta không bán sú để lấy tiền, mà chỉ đổi lấy gạo. Thấy hoàn cảnh khổ cực của mấy người bán bắp sú, ba của con đổi cho họ, hai kí lô gạo lấy một gánh sú. Hình như, những người bán bắp sú thấy chuyện trao đổi với ba của con là có lợi nhiều nhất cho họ, cho nên vài ngày sau đó, người ta lại gánh đến trước nhà thêm vài gánh nữa. Ba con đồng ý đổi cho họ, nhưng dặn thêm lần tới sẽ không đổi nữa, vì hết gạo và nhà mình đã thành cái vựa bắp sú rồi. Với mấy trăm kí lô bắp sú, ba con xắt nhỏ, phơi khô rồi đóng vô bao bố. Cả tháng rồi nhà mình ăn cơm với bắp sú khô xào, rồi bắp sú khô luộc, đến nỗi thằng Tý với con Quyên nói, thấy bắp sú khô là tụi con ớn lên tận cổ.

Hình minh họa

Tôi hỏi má tôi.

-Trong nhà còn gạo nhiều lắm phải không má?

Má tôi lắc đầu nguây nguẩy.

-Làm gì có, trước khi Đà Lạt di tản, có bao nhiêu tiền má gom góp lại đem hết đi mua gạo, được đâu một trăm kí. Nhà mình có bốn người, ăn dè sẻn cho đến hôm nay, cũng hết quá phân nửa rồi.

Cúc đang ăn cơm ngẩn nhìn má tôi.

-Ngoài chợ có bán gạo không má?

-Có đó nhưng mà mắc lắm, mua không nổi đâu.

Cúc thắc mắc.

-Nếu như vậy, khi hết gạo, thì lấy gì để ăn?

Má tôi với giọng nói bình thản.

-Trời sinh voi sinh cỏ con à, mình đã lo rồi mà không được, phải đành chịu thôi.

Nghe Cúc và má tôi nói chuyện, tôi nghĩ đến người Lạch ở trong buôn làng mấy chục năm trước, chặt được một gùi củi đem ra chợ Đà Lạt, đổi lấy vài kí lô muối hột. Hôm nay chuyện trao đổi lại tái xuất hiện, chỉ khác biệt là người dân làm vườn trồng rau cải, suốt ba, bốn tháng trường, chăm lo tưới nước, bón phân, xịt thuốc sâu. Đến khi thu hoạch gặp lúc tai trời ách nước, gánh một gánh bắp sú nặng oằn vai ra phố Đà Lạt, đổi lấy hai kí lô gạo.

Bữa cơm gia đình chấm dứt trong bầu không khí đầy lo âu, tôi đưa Cúc về phòng riêng của chúng tôi ở tầng ba. Hai tay vịn lấy lan can nơi cầu thang, vừa đi Cúc vừa nói.

-Anh chở em ra phố chút xíu thôi, được không?

-Đi liền hả?

-Dạ, đi liền.

Tôi lái chiếc Honda hai bánh của mình, chở Cúc chạy chầm chậm vòng quanh khu phố Hòa Bình. Chung quanh tôi, không bóng dáng một chiếc xe hơi, chỉ có cờ đỏ với sao vàng ủ rủ trong nắng chiều, lác đác vài khách bộ hành áo quần lem luốc đi trên hè phố. Cà phê Tùng rồi nhà hàng Mê Kông, tiệm thuốc bắc Đức Xương Long, bánh mì Vĩnh Chấn cùng tất cả mọi cửa hàng đều đóng kín. Cúc đập nhẹ vào vai của tôi, rồi nói nhỏ.

-Mình chạy xuống chợ đi anh, em muốn mua ít đồ. Tôi cho xe đổ dốc Lê Đại Hành, đi vòng quanh vòi phun nước gần cà phê Hạnh Tâm rồi quẹo vô chợ Đà Lạt. Giống như Khu phố Hòa Bình, những tiệm tạp hóa quanh chợ đều đóng cửa im ỉm. Trong chợ, chỉ một số ít sạp hàng là có người buôn bán, trong đó có vài gian hàng thực phẩm khô, còn lại, hầu hết là những sạp bán rau cải tươi của Đà Lạt.

Hình minh họa

Cúc mua một mớ tôm khô, cá khô, rau củ tươi, thêm mấy bao gạo, mỗi bao chỉ có mười kí lô. Người bán kéo bao gạo giấu ở dưới chân đưa cho Cúc, đôi mắt của bà ta lén lén lút lút nhìn ngang, liếc dọc như sợ có người trông thấy.

Cúc hỏi bà bán hàng.

-Tại sao mỗi bao chỉ có mười kí, có bao một trăm kí không bà?

Bà bán hàng nói.

-Cô di tản xuống Sài Gòn, mới trở về Đà Lạt phải không?

-Sao bà biết?

-Gạo là món hàng thuộc quyền quản lý của nhà nước, bao gạo chỉ xanh một trăm kí làm gì có nữa, cô có thấy mấy tiệm gạo bên hông chợ không, nhà nước đã tịch thu hết gạo rồi, còn đâu nữa mà bán. Số gạo mà tôi giấu ở đây là gạo chợ đen, gạo lúa rẫy trồng ở Tùng Nghĩa, phải bán chui, bán lén, trốn tránh sự kiểm soát của nhà nước.

Đang nói chuyện với Cúc, bà bán hàng quay qua nhìn tôi phân bua.

-Cậu nghĩ coi tôi nói có đúng không, ở vào thời buổi gạo châu củi quế, kiếm được đồng tiền không phải dễ, làm việc đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được, tiền đâu mà mua bao gạo chỉ xanh một trăm kí lô. Cho nên, tôi đóng mỗi bao mười kí cho dễ mua bán và chuyên chở.

Nhìn mớ hàng quá nhiều mà Cúc vừa mua, tôi phải dặn Cúc ngồi trong chợ, đợi tôi chở gạo và mấy món đồ khô về nhà, sau đó sẽ chạy ra đón Cúc về.

Khi tôi trở lại chợ, Cúc đang đứng bên mấy bị gạo mới mua thêm với đủ mọi thứ thực phẩm đựng trong hai cái giỏ xách to. Tôi đùa với Cúc.

-Em định dọn hết cái chợ Đà Lạt về nhà mình phải không? Có muốn dọn cũng phải kin kín một chút, coi chừng đám cách mạng ba mươi.

Tôi lái xe mà đầu óc cứ suy nghĩ vẩn vơ, mấy hôm nay tôi thấy Cúc tiêu xài khá nhiều, suốt mấy ngày qua một câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu của tôi “Cúc còn bao nhiêu tiền?” Nghĩ như vậy nhưng tôi không dám hỏi thẳng Cúc, bởi vì từ trước cho đến giờ, lúc nào tôi cũng bị ám ảnh bởi chuyện mình là kỹ sư đào mỏ.

Cúc đã nấu xong cơm chiều, mãi đến lúc trời tối mịt hai đứa em của tôi mới về đến nhà. Khi thấy vợ chồng tôi, cả hai đứa đều vui mừng chạy lại ôm lấy Cúc, tụi nó coi như không có tôi, không có ông anh đứng bên cạnh. Chuyện cũng phải thôi, trước đây mỗi khi tới nhà tôi, Cúc đều mua quà cho cả hai đứa, khi thì bánh kẹo, lúc thì đồ chơi thậm chí một đôi lần còn cho tiền, con nít gặp bà chị dâu như vậy, không thương cũng uổng.

Hai đứa em của tôi, mặt mày tươi rói khi ngồi vô bàn ăn, thằng Tý nói.

-Ăn cơm tối mà giống như nhà có tiệc, Chị Hai nấu phải không?

Má tôi cười, nụ cười đầy sung sướng.

-Chị Hai tụi bây chứ còn ai vô đây.

Con Quyên láu táu.

-Mấy tháng rồi, con mới thấy miếng thịt heo ba chỉ, con ăn được không?

Cúc mời ba má tôi ăn cơm, rồi nói với hai đứa em.

Hình minh họa

-Hôm nay, nhà mình ăn thịt heo luộc cuốn bánh tráng, chấm mắm nêm, sau đó mới ăn cơm với thịt heo kho tàu. Mấy đứa ăn bao nhiêu cũng được, chị mua nhiều nhưng cũng đừng ăn mỡ nhiều quá, coi chừng đau bụng.

Bầu không khí trong nhà vui vẻ, ấm cúng lạ thường, bao nhiêu chuyện xưa tích cũ cũng như những gì đã xảy ra trong tháng vừa qua, đều được đem ra kể lại.

Ba tôi vừa ăn vừa nói với Cúc.

-Cúc à, nhân dịp cả nhà đầy đủ, ba muốn nói với con chuyện này, căn nhà này là nhà của con, tối nay con muốn ở phòng nào, con cứ chọn.

Cúc nói với ba tôi.

-Tụi con ở căn phòng trên lầu là được rồi, mà tại sao ba nói như vậy.

Ba tôi từ tốn giải thích cho Cúc hiểu.

-Mấy năm trước, anh Bảy có nói với ba hãy bán căn nhà ở Trại Hầm, mua căn nhà nơi phố mà ở. Ba với má không chịu nhưng anh Bảy nói với ba “Anh chị phải mua nhà ở phố, khi thằng Quân cưới con Cúc, tụi nó mới ở chung với anh chị, lo phụng dưỡng anh chị lúc tuổi già. Nếu anh ở Trại Hầm, căn nhà gỗ nhỏ như vậy làm sao đủ phòng cho sáu, bảy người”. Nghe anh Bảy nói, ba đã ngầm đồng ý vì ảnh nói đúng ngay ước mơ của ba, nhưng mà ba không có tiền, nội cái chuyện ăn uống trong nhà đã thiếu trước hụt sau, đào đâu ra tiền để mua nhà ở phố. Thấy ba im lặng không nói gì anh Bảy mới nói thêm “Tôi mua căn nhà ở phố nhờ anh đứng tên, mai mốt thằng Quân với con Cúc làm đám cưới xong, tụi nó dọn về ở với anh chị. Nếu anh chị chê không thèm ở đó, thì sang tên lại cho con Cúc.”

Ba tôi cúi đầu, trầm ngâm một chút.

-Cúc à, con có biết không, anh Bảy mua căn nhà này là mua cho con, vậy mà tháng trước ba nghe thằng Quân nói con đã đi Mỹ với anh Bảy rồi, khiến ba như bị hụt chân không biết xử trí ra sao với căn nhà, bây giờ có con về đây, ba thấy nhẹ nhõm cả người.

Cúc cười, nụ cười đầy vẻ tinh nghịch rồi nói với ba tôi.

-Ba với má bị ba con lừa rồi, ổng nói với ba như vậy vì ổng muốn ba dọn về ở đây cho tươm tất hơn thôi. Thật ra, ba con đã xây cho con một cái biệt thự to lớn với đầy đủ tiện nghi ở đường Nguyễn Tri Phương, cái biệt thự xây gần xong, đang chuẩn bị mua sắm bàn ghế, con đã phải bỏ chạy, chắc giờ này cũng bị Việt Cộng lấy mất rồi.

Cúc ngưng nói, nhìn về phía phòng khách.

-Cũng may là còn cái nhà này của ba má, mà hôm nay tụi con mới có chỗ để trú ngụ. Con với anh Quân ở căn phòng trên lầu ba đã quá sức rộng rãi, quá tiện lợi. Ba má đừng có suy nghĩ nhiều cho mệt sức.

Con Quyên cắn miếng thịt heo kho tàu, vừa nhai ngồm ngoàm trong miệng vừa nói:

-Chị Hai nè, chị là số một, em thương chị nhất nhà, thương hơn ba má em luôn, tối nay em ngủ với chị nghe.

Má tôi nhìn con bé . -Có phải chị Hai cho con ăn thịt heo kho, nên con mê Chị Hai phải không? Chị Hai là của anh Hai, con không được giành.

Hình minh họa

Bữa cơm đoàn tụ gia đình đã đem đến thoải mái, vui vẻ cho mọi người. Cơm nước vừa xong, tôi đưa Cúc về phòng. Khi đã đi qua khỏi phòng khách, tôi cười rồi nói đùa với Cúc.

-Để anh cõng em lên lầu.

Hai gò má ửng hồng vì mắc cỡ, Cúc đập nhẹ lên vai của tôi.

-Đừng có giỡn, ba má thấy kỳ chết.

Tôi nói với Cúc giọng chắc nịch, đầy tin tưởng.

-Em không nghe má nói sao, Chị Hai là của anh Hai mà. Nghe theo lời dạy của má, bây giờ anh Hai phải cõng chị Hai lên lầu.

Nói xong, không đợi Cúc có đồng ý hay không, tôi nghiêng vai cúi người xuống.

Cúc cười khúc khích choàng hai tay qua cổ, thì thầm vào tai của tôi.

-Chỉ sợ em nặng quá, anh cõng không nổi.

Máu anh hùng rơm chợt nổi lên, tôi hỏi Cúc.

-Em bao nhiêu kí?

-Bốn mươi tám.

Tôi bĩu môi.

-Nhẹ hều, em có biết không, ngày xưa khi còn học ở quân trường Thủ Đức, mỗi lần đi bãi chiến thuật xa hàng chục cây số, lưng anh mang ba lô, vai vác cây súng đại liên M60, tay xách một thùng sắt đựng hai trăm viên đạn, anh coi như không có.

Sở dĩ tôi nói như vậy, vì biết Cúc hoàn toàn mù tịt về quân trang cũng như quân dụng của lính, cho nên tôi tha hồ nói hươu nói vượn mà không sợ bị lộ tẩy, thậm chí nếu lỡ có sơ suất nói với Cúc là cây súng đại liên M60 nặng bốn mươi tám kí lô, Cúc cũng sẽ tin ngay. Thực ra, cái ba lô tôi mang lép kẹp chỉ có vài cuốn vở ở bên trong, còn cây súng đại liên M60 nặng khoảng mười kí, chỉ chừng đó thôi mà tôi đã đổ mồ hôi cục, thở muốn hụt hơi khi tới được bãi học. Sức đâu mà xách thêm thùng đạn, Sinh viên sĩ quan chứ đâu phải con lạc đà mà mang vác nặng như vậy.

Lên được mươi bậc thang, tôi giả vờ như mình mệt lắm đi chậm lại miệng thở hổn hển.

-Em có nhớ, ngày xưa khi mình đi tắm biển ở Vũng Tàu không?

Cúc nói qua hơi thở.

-Em nhớ suốt đời, khổ đau mới mau quên, còn hạnh phúc thì làm sao quên được.

Tôi góp ý.

-Cũng tùy thôi, với anh bỏ lỡ cơ hội sẽ làm mình nhớ suốt đời.

Hình minh họa

Lợi dụng lúc đang cõng Cúc, tôi bấm nhẹ vào đùi của nàng.

-Hồi đó, khi thấy em từ dưới bãi biển vắng người đi lên, một mình em giữa trời đất bao la, vây quanh bởi nước xanh, mây trắng, cát vàng. Em có biết không, khi nhìn thấy thân hình của em lồ lộ, đẹp tuyệt mỹ với làn da trắng mịn màng trong bộ bikini xanh lợt, lúc ấy anh chỉ muốn ôm lấy em, nhưng…

Tôi chắt lưỡi như là tiếc rẻ.

-Hồi đó anh không dám, phải chi được như bây giờ.

Cúc hỏi.

-Như bây giờ, thì anh làm gì?

Tôi mỉm cười đắc ý.

-Ôm hôn em liền chứ còn chờ đợi gì nữa mà hỏi.

Không nghe Cúc nói gì, tôi quay đầu nhìn lại.

-Em có biết bài dân ca “Lý Ngựa Ô” không?

Cúc gật đầu.

-Biết.

Tôi hát nho nhỏ, chỉ vừa đủ cho Cúc nghe.

“Là đưa í a, anh đưa nàng.
Anh cõng nàng về dinh”.

Vàng ít thau nhiều!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

August 5th, 2022

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Nhà văn Sơn Nam

Hồi xưa nền báo chí ở Miền Nam rất sung, rất phát triển. Phát triển là do người dân, là do bà con mình rất thích đọc nhựt trình. Có cung ắt có cầu. Những người cung cấp cho cái nhu cầu đọc nhựt trình đó là những người bán chữ.

Báo chí tạo ra một cái nghề bán chữ sống được, dù không giàu có gì, đủ nuôi được vợ con đó cũng là may. Nghề đó gọi chung là nghề văn.

Ða phần các nhà văn nầy xuất thân từ những gia đình ở quê, có ruộng, có vườn, không giàu nhưng tương đối đủ ăn.

Tháng Tám, năm 1945, Mỹ thả hai trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Nhựt Bổn đầu hàng quân Ðồng Minh. Thế chiến thứ hai chấm dứt. Phong trào các nước thuộc địa đòi độc lập dâng cao.

Sau 9 năm kháng Pháp, cuộc chiến tranh đẫm máu chấm dứt. Ðất nước chia đôi. Những thanh niên tham gia kháng chiến có hai lựa chọn. Một tập kết ra Bắc. Hai là về thành.

Ông Sơn Nam chọn về thành. Vốn là người có khiếu văn chương, khoái chữ nghĩa, ông gia nhập làng báo Sài Gòn.

Mẫu thân của ông lo sốt vó, lặn lội từ làng Ðông Thái, An Biên, U Minh Thượng lên coi thằng Tám chết sống ra sao?

Cái giai thoại ‘thằng tư con tám’ trên phố xa hoa, tui nghi ông nhà báo đặt dóc. Tui bèn hỏi người con gái lớn của nhà văn Sơn Nam là Ðào Thúy Hằng (theo họ Mẹ) cho rõ ngô khoai.

Té ra ông thần nầy đặt dóc thiệt! Vì Ðào Thúy Hằng trả lời tui như vầy: “Thu! Ông bà nội tui có ba người con: Bác Hai tui tên Phạm Minh Trí. Ba tui Phạm Minh Tài mà hộ tịch ghi thành Tày. Cô Út là Phạm thị Xuân. Cô Tư cũng học hết tiểu học. Bác Hai học giỏi, cũng có bằng Thành Chung nhưng không được học bổng như ba tui. Nhà ở miệt rừng, gói ghém đủ ăn, sống thong dong, không lam lũ”

Như vậy thằng Tám trong bài chỉ là cách gọi chung chung một người dân miền Lục tỉnh với một tầng lớp xã hội nào đó như Thầy Hai, Chú Ba, Anh Bảy v.v. Chớ ông Sơn Nam thứ ba.

Cùng thời với Bình Nguyên Lộc, Lê Xuyên, Ngọc Linh, Dương Hà…Sơn Nam đi từng bước vào nghề văn. Một làm thơ. Kế đó viết truyện ngắn, viết tiểu thuyết. Viết mỗi ngày từng đoạn cho hai ba truyện của vài tờ báo gọi là viết “phơi-dơ-tông” (Feuilleton).

Còn nhà văn nào mê đào hát thì chịu khó đi học bài bản cổ nhạc, vọng cổ, xàng xê v.v. để soạn tuồng cải lương như: Kiên Giang Hà Huy Hà, Hà Triều, Hoa Phượng…

Cuối cùng, nhờ rất cứng tiếng Pháp, Thư viện quốc gia là nơi ông Sơn Nam thường vô lục lọi. Ổng lục cái gì ở trỏng? Ổng kiếm tài liệu cho dồi dào để viết dài dài mà kiếm cơm. Nên con đường nhà văn Sơn Nam trở thành nhà biên khảo là chuyện tất nhiên.

o O o

Sơn Nam là một người rất nổi tiếng nên có nhiều người quen. Quen thiệt có, quen giả có, có hết ráo. Có nhiều giai thoại về ông. Ðồ thiệt thì ít mà đồ giả thì nhiều. Vàng thau lẫn lộn!

Giai thoại nầy, tui tin là thiệt nè: “Quê ông Nguyễn Quang Sáng có nhiều câu chuyện rất ly kỳ, ông muốn kể cho ông Sơn Nam nghe để viết. Nhưng ông Sơn Nam từ chối: “Vùng đó tao không biết. Tao thấy rặng cây từ xa thôi. Mày cũng có chữ nghĩa, viết đi!”

Quan niệm mần văn của ông Sơn Nam, theo tui nghĩ, là: ngũ quan cộng với cái đầu. Ngũ quan là lưỡi (vị giác) để ăn mắm kho. Mắt (thị giác) để thấy hai lúm đồng tiền của em. Tai (thính giác) để nghe em rủ rỉ, rù rì. Mũi (khứu giác) để ngửi mùi bồ kết em gội đầu? Và tay, (xúc giác), tê tê giựt giựt như lần đầu nắm tay em Chín bờ đò trên bến nước. Rồi quan trọng nhứt là cái đầu để biết chọn lựa vàng trong đám thau lẫn lộn.

Ông Sơn Nam kể là: “Hồi nhỏ, tôi nhớ quê tôi có rất nhiều chim, thú. Ðặc biệt là cọp, khỉ, heo rừng, nai, thỏ. Hơn 5 cây số bờ rạch toàn đất úng, um tùm rừng tràm, cỏ lác, cỏ năn. Chẳng một ai thèm để mắt đến đất, chớ nói chi tới tranh chấp.

Dân quê lại thường đồn đãi chuyện ma quỷ. Những lúc rảnh rang là họ tụm năm tụm ba rượu trà, đờn ca, thổi sáo và kể đủ chuyện. Tôi nghe, gom lại viết thành một truyện ngắn, cốt cho hấp dẫn. Tôi liên tục khai thác nền văn minh miệt vườn cho các trang viết của mình”.

Lúc ông viết biên khảo, tui tin là vì khi đọc những bài về Sử, về Ðịa, biên khảo về Văn minh Miệt vườn, Sơn Nam tra cứu tài liệu đa phần bằng tiếng Pháp rồi dùng đầu óc để loại rác rưởi ra, chỉ giữ lại cái tinh ròng. Ông Sơn Nam viết lách đàng hoàng chớ không viết ẩu tả.

Nhưng có hai chuyện nầy, thiệt tình tui hổng dám tin. Ông nhà báo viết là: “Nhưng rồi khi chuyển sang viết văn xuôi, ông tự phát hiện mình làm thơ dở hơn viết truyện nên dứt khoát ‘ly dị’ nàng thơ”.

Tui không tin là ông Sơn Nam vì làm thơ dở hơn viết văn nên ông nghỉ làm thơ. Mà vì làm thơ là đói; là ‘húp nước mắm’ (chữ của ông).

Chuyện thứ hai tui cho ông nhà báo nầy đặt dóc: “Cuối thời chống Pháp, Sơn Nam là nhà văn duy nhất gốc Nam Bộ được Trung ương mời ra Bắc để sống và viết, nhằm bảo vệ một tài năng văn chương trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh”.

Cuối thời chống Pháp là năm 1954, hoà bình lập lại, hết chiến tranh thì Trung ương nào mà mời ông Sơn Nam ra Bắc vì sợ tên bay đạn lạc.

Hiệp định Geneve ký xong, ông Sơn Nam không đi tập kết vì ông đã có vợ con đùm đề. Ông về thành viết văn để nuôi vợ, nuôi con! Viết vậy nghe còn có lý. Ðặt dóc, bợ đỡ, nịnh hót Trung ương để làm gì?

Tranh Bảo Huân

Miền Nam có những nhà văn hay lắm như: Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Lê Xuyên, Bình Nguyên Lộc… Hồ Biểu Chánh rất am hiểu về đời sống nông dân. Từng làm ‘chủ quận’ Càng Long, tỉnh Trà Vinh thời Pháp thuộc, Ông có tài quan sát tinh tế. Ông ưa giao du với hương chức, hội tề. Ông lặn lội tận thôn ấp làng mạc, viết rất dài hơi.

Còn Phi Vân trong Phóng sự Ðồng quê, xuất bản năm 1940, trong đó có truyện ‘Trao thân con khỉ mốc’ nó hay như một kịch bản phim.

Với 60 năm cầm bút, Sơn Nam đã để lại một gia tài rất đáng kể và đáng nể. Gia tài đó cho đám hậu sinh là vàng thiệt chớ không phải thau như: Hương rừng Cà Mau, Chim quyên xuống đất,  Gia Ðịnh xưa, Bến Nghé xưa, Hai cõi U Minh, Lịch sử khẩn hoang miền Nam,  Phong trào Duy Tân Bắc Trung Nam, Vạch một chân trời, Văn minh miệt vườn…

Nếu một mai, dưới ách cai trị của CS, Miền Nam chúng ta từ từ chắc sẽ không còn nhà văn nào làm ăn đàng hoàng, viết văn chân thật nữa. Chỉ toàn là bọn bố lếu, bố láo cầm bút viết ra để bán rẻ cái lương tâm thì chao ôi cuộc đời nầy nó chán hơn cơm nếp nát!

ĐXT

Vạch lá tìm sâu!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

August 24th, 2023

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Miền Tây có nơi ruộng chỉ dùng cù nèo gom cỏ lại, dùng phảng phát cho sạch rồi cấy mạ, khỏi cày bừa mất công.

Anh bạn văn bút hiệu Cù Nèo là nhà phê bình không bằng cấp gì ráo, tự ên gom cỏ trong báo chí truyền thông CS. Anh Cù Nèo may mắn có duy nhứt một độc giả là tui trên bàn nhậu. Tui uống bia ảnh mua; gắp mồi của vợ ảnh. Bù lại tui cho anh Cù Nèo gom cỏ dại nhét đầy hai lỗ tai tui toàn là những chuyện tào lao.

Ðầu tuần, anh Cù Nèo email cho tui đọc trước; rồi cuối tuần, ảnh kêu tui tới nhậu để nghe ảnh bình luận một bài báo quốc doanh có cái tựa dài như cọng rau muống: “Buổi ra mắt sách ‘Ði và ghi nhớ’ và ‘Nhà văn Sơn Nam – Những góc đời riêng lạ’ vừa ra mắt ở TP.HCM nhằm tưởng nhớ 15 năm ngày mất của ông.”

Nhà biên khảo Nguyễn Hiến Lê cho biết: “Tục lệ của mình không coi trọng sinh nhựt (theo dương lịch). Coi trọng ngày đám giỗ (theo âm lịch)”. Như vậy Ông Sơn Nam từ trần vào hồi 13 giờ, ngày 13 tháng 8 năm 2008. Âm lịch là 13 tháng 7 năm 2008 thì ngày giỗ năm nay của ông Sơn Nam là Thứ Hai, ngày 28 tháng 8 năm 2023 chưa tới. Nhưng bọn bồi bút quốc doanh áo thụng vái nhau, thấy sang bắt quàng làm họ, xưng là bạn bè thân hữu với ông Sơn Nam để sớm chường cái mặt mẹt của mình ra để quảng cáo bán sách!

Nói nào ngay xưng bạn văn (không kể tuổi) thì còn chấp nhận được? Chớ so với ông Sơn Nam, bọn chúng chỉ là ‘con nít ke’; thì bạn bè thân hữu cái gì? (Ðã bạn bè mà còn thân hữu nữa chớ? Dư chữ, ý cà lăm!)

Tay nầy nói: “Với tôi, Sơn Nam không chỉ là nhà văn, ông còn là nhà văn hóa…” (?!) “Bộ nhà văn không phải là nhà văn hóa hay sao?

Tay kia lại nói: “Nhà văn Sơn Nam có khả năng quan sát tinh tế và tích lũy kiến thức tốt.”

“Cái quái gì cũng ‘tốt’ hết? Sao không nói là uyên bác?”

Phàm là ký giả, bán chữ mà ăn, thì phải tối thiểu có tay nghề, có kiến thức vững vàng về văn phạm. Viết câu đơn hay câu phức? Một câu phức có bao nhiêu mệnh đề? Mỗi mệnh đề ai làm chủ từ, động từ, túc từ? Rồi liên từ nào để kết nối các mệnh đề ra sao?

Chủ từ là: Sách ‘Ði và ghi nhớ’ và ‘Nhà văn Sơn Nam – Những góc đời riêng lạ’.  Ðộng từ là: “ra mắt” thể thụ động. Trạng từ chỉ nơi chốn ở TP.HCM. Trạng từ chỉ nguyên do “15 năm ngày mất của ông” Câu cú rối rắm dài ngoằng như dây rút quần, thiết nghĩ ông nên viết lại là: “Hai cuốn sách ‘Ði và ghi nhớ’ và ‘Nhà văn Sơn Nam – Những góc đời riêng lạ’ vừa được ra mắt ở TP.HCM nhân 15 năm ngày mất của Sơn Nam” thì dễ cho tui hiểu hơn không? Vì tui vốn ngu lắm đó! Rồi dân Miền Tây nói: ‘ăn cơm chực’ hoặc ‘ăn chực cơm’. Không ai nói ‘ăn cơm ké’ bao giờ? Ké là phải hùn phần của mình vô. Như ké tiền của mình vào một tụ bài nào đó đang hên.

Rồi “chuyến công tác điền dã” là cái giống gì?

Là nhà báo tự do, Úc gọi là ‘a freelance journalist’, ông Sơn Nam không làm việc cho một tổ chức thông tin nào. Ông viết bút ký, biên khảo về văn hóa phong tục thuở khẩn hoang Miền Nam rồi gửi cho giới truyền thông hoặc bạn bè xuất bản. Ổng đâu có phải làm ‘công chức’ đâu mà đi ‘công tác’?

Rồi ‘điền dã’? Theo từ điển, điền dã là đồng nội, nông thôn. Như: từ quan về sống nơi điền dã, vùng xa phố thị. Về quê, về ruộng, về vườn sao không xài mà xài chữ ‘điền dã’; từ Hán Việt xưa chi cho nó rối rắm? Quen cái thói khoe chữ trật lất hoài hè?

Rồi trong bài báo có đoạn: “Nổi bật là kỷ niệm thơ ấu của bà Hằng khi được cha cõng đi xay lúa, giã gạo và cùng ông ăn cơm ké trong xóm ?!). Những kỷ niệm của bà Ðào Thúy Hằng với ba mình là chuyện thiệt, bà kể cho độc giả nghe thì bả đâu có sáng tác ra mà gọi là “truyện ngắn”?

Bà Ðào Thúy Hằng gọi ông Sơn Nam là ba; ông ký giả nầy không thể thay “ba” bằng “cha” (theo tiếng Bắc) cho được?!

Phàm chuyên nghiệp, nhà báo Úc đi làm phóng sự là phải ghi âm. Về sắp xếp, có trích thì phải ngay chóc lời của người trả lời phỏng vấn. Ðâu viết ‘lung tung xèng’ theo ý mình như ông nội ký giả CS nầy được nè!

Bên Houston, Texas, Hoa Kỳ, nghe tui thuật lại lời bình luận của anh Cù Nèo, nhà văn Trần Bang Thạch có vẻ tán đồng và nhân tiện hỏi tui: “Lạ một cái con gái ông Sơn Nam sao lại họ Ðào?”

Họ Ðào là họ của Má. Tui rành chỗ nầy vì là bạn văn với ba tui, năm 1957, ông Sơn Nam dắt vợ và hai con về ở sát cạnh nhà tui. Tui với Ðào Thúy Hằng (tên ở nhà là Mỹ Linh) bằng tuổi và biết nhau từ thời thơ ấu cho tới bây giờ. Coi như tui rành ba câu trong sáu câu vọng cổ đi.

Nhà của bà Ðào Thị Phán, vợ ông Sơn Nam, xưa thuộc Ngã ba Ðạo Ngạn (một ấp) làng Ðạo Thạnh, ngang Chủng viện Chân Phước Liêm. Rồi mấy ‘ông cha’ cho Mỹ mướn nên bà con mình gọi nó là: “Thành Mỹ”. Lúc CS vào, cái Thành Mỹ nầy bị sung công làm Trường Văn Hóa 2 thuộc Bộ Công An. số 55, đường Ấp Bắc, Phường 5, thành phố Mỹ Tho dạy bổ túc văn hóa cho công an từ cấp thiếu uý trở lên nhưng học chưa hết tiểu học.

Ðường Nguyễn Tri Phương, sau VC kêu ông Nguyễn Tri Phương đi chỗ khác chơi; để chúng đặt lại tên đường là Ấp Bắc.

Năm 1970, tại địa điểm nầy, chánh quyền VNCH cho dựng cái Cổng Thị Xã trước khi vào nội ô Mỹ Tho?

Kết luận: Một bài báo không nhiều thông tin, chữ dùng lôm côm, câu nào cũng nổ ‘ì đùng’ như VC pháo kích chứng tỏ ông Ba Ke hai nút nầy đúng là dân tuyên huấn CS chuyên nghề khoác lác.

Thủ tướng CS Phạm Văn Ðồng của bọn chúng từng la làng chói lói là: “Hãy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Hành văn ẩu xị như ký giả CS nầy thì trong sáng cái giống gì hè?

ĐXT

Tướng Trưởng!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on September 9th, 2022

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Trung tướng Ngô Quang Trưởng

Có một số người sẽ nói những vị tướng giỏi nhất trong chiến tranh Việt Nam là những vị tướng của Bắc Việt. Một số người sẽ nói rằng vài vị tướng Mỹ cũng rất vĩ đại.

Ðể đưa ra một góc nhìn mới về một vị Tướng ít được biết đến của QLVNCH, Tướng Ngô Quang Trưởng.

(Mỹ gọi tên Trưởng trống không, không có nghĩa là họ vô phép)

Vài tướng lĩnh và sĩ quan của Nam Việt Nam thường bị cách chức vì bất tài và tham nhũng. Có một số sự thật cho điều này nhưng cũng có một số ‘quả táo tốt’. Tướng Trưởng là một ví dụ.

Trung tá James H. Willbanks, người từng phục vụ tại Việt Nam và là giáo sư lịch sử quân sự tại Ðại học Chỉ huy và Tham mưu Quân đội Hoa Kỳ, cho biết về Tướng Trưởng: Là một người khiêm tốn, Trưởng là một người không vị kỷ. Ông đối xử công bằng với tất cả mọi người. Ông coi mọi người như nhau.

Ông cống hiến tất cả cho nghiệp lính của mình. Ông nổi tiếng là người chăm sóc binh lính. Ông thường bay qua hỏa lực nặng nề để sát cánh cùng họ trong mưa và bùn để chống lại các cuộc tấn công của kẻ thù.

Không giống như một số tướng lĩnh miền Nam Việt Nam đã giàu lên khi thăng cấp, Trưởng được coi là người hoàn toàn liêm khiết và sống một cuộc đời “tu hành và khổ hạnh”.

Theo Trung tướng Cushman, Trưởng không có một bộ quần áo nào ngon lành vào thời điểm được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn IV. Vợ của ông đã nuôi heo. Heo được nhốt sau khu sinh hoạt của ông trong Bộ chỉ huy tại Cần Thơ.

Cushman nói thêm rằng Trưởng luôn kiếm các biện pháp để nâng cao cuộc sống gia đình của binh lính. Trưởng không dung thứ cho chủ nghĩa con ông cháu cha. Ông từng được yêu cầu chuyển cháu trai của mình từ tuyến đầu sang công việc bàn giấy nhưng ông từ chối và người cháu trai sau đó đã bị tử trận.

Tướng Bruce Palmer Jr., nói: “Trưởng xứng đáng có một số phận tốt hơn so với tài điều động binh lính của ông giữa lúc Thiệu đang bối rối ra mệnh lệnh và sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam.”

Một trong những thành tích lớn lao của ông là khi được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 1. Trước ông, Sư đoàn không được nổi danh lắm! Ông về nắm Sư đoàn và trở thành một trong những người giỏi nhất của QLVNCH, Trưởng đã chọn lựa các sĩ quan cấp dưới hàng đầu của mình và đặt các Tiểu đoàn của mình vào tay những người có nhiều năm kinh nghiệm chiến trường.

Không giống như hầu hết những tướng lãnh khác, ông tránh chính trị trong việc lựa chọn các sĩ quan của mình. Ông đã cải thiện việc huấn luyện của Sư đoàn và nâng cao tinh thần của cấp dưới.

Có thể cho rằng thành tích tốt nhất của ông là lật ngược tình thế chiến trường trong cuộc tấn công Phục Sinh năm 1972.

QLVNCH do Hoàng Xuân Lãm bất tài lãnh đạo, gần như gục ngã trước sức tấn công mãnh liệt của QÐNDVN, khi ông ta thay thế Lãm. Sau đó ông phát động Chiến dịch Lam Sơn 72 mà ban đầu bị Tổng thống Thiệu và MACV của VNCH phản đối. Cuộc tấn công nhanh chóng thành công và giành lại được phần đất bị mất vào tay CSBV.

Nhưng ông cũng có một điểm yếu. Ðôi khi ông không thể chủ động độc lập và hành động khi cần thiết. Có lẽ ông đã quá trung thành với Thiệu.

Và khi QLVNCH bị CSBV tấn công vào cuối năm 1974. Thiệu ra lệnh, trước tiên hãy rời khỏi Tây Nguyên và giữ các bờ biển trên quốc lộ 1 để QLVNCH có ít lãnh thổ để dễ phòng thủ hơn. Cũng như từ bỏ Huế để bảo vệ thành phố Ðà Nẵng lớn hơn.

Ðây có vẻ là một quyết định đúng đắn, nhưng vào thời điểm CSBV đã tấn công và nếu QLVNCH rút lui, họ sẽ buộc mình phải rút lui dưới hỏa lực. Ðó là một hành động nguy hiểm ngay cả đối với những quân đội tân tiến nhất.

Kế hoạch di tản chiến thuật này hóa ra là một thảm họa. Vì cuộc rút lui của QLVNCH không chỉ bị hỏa lực mà còn bị chậm lại do lượng lớn người tị nạn làm tắc nghẽn các quốc lộ. Chỉ có Sư đoàn 22 trong Quân đoàn II cố gắng đến được các bờ biển với số lượng đáng kể, mà thôi.

Tư lệnh Quân khu 1, Trung tướng Ngô Quang Trưởng thăm Bộ chỉ huy Thủy Quân Lục Chiến – Ảnh AP / Jacques Tonnaire

Ông Trưởng không đồng ý và ông nói rằng nếu chúng ta có thể giữ được Tây Nguyên vào năm 1972, chúng ta có thể giữ được chúng bây giờ và nó sẽ cứu VNCH khỏi bị cắt làm đôi. Kế hoạch này lẽ ra đã cứu được miền Nam Việt Nam. Nhưng ông đã làm theo lệnh của Thiệu.

Tuy nhiên, Thiệu lại đưa ra nhiều mệnh lệnh khó hiểu và mâu thuẫn. Ví dụ ban đầu dự định bỏ Huế để bảo vệ thành phố Ðà Nẵng quan trọng hơn. Tuy nhiên Thiệu đã thay đổi kế hoạch và làm Trưởng sửng sốt trong cuộc họp giao ban ngày 13 tháng 3, nói rằng Huế sẽ được bảo vệ bằng mọi giá. Trưởng phải rút lui khỏi Quảng Trị, lập phòng thủ trên sông Mỹ Chánh và Huế.

Tình trạng hỗn loạn khiến dân thường hoảng sợ và bỏ chạy vào Huế hoặc Ðà Nẵng. Trưởng tự tin rằng mình có thể giữ được Huế. Sau đó, Thiệu lại ra lệnh chỉ bảo vệ Ðà Nẵng.

Sự lộn xộn và hỗn loạn khiến Sư đoàn 1 sụp đổ khi CSBV đang tiến đến Ðà Nẵng và hỗn loạn bao trùm thành phố.

Vào những thời điểm quan trọng này, nếu ông đã lờ đi những mệnh lệnh khó hiểu của Thiệu và bảo vệ vị trí của Quân đoàn I bằng sáng kiến của riêng mình thì tình hình có thể đã khác.

Ông đã làm điều này vào năm 1972 với Lam sơn 72. Ban đầu của Thiệu và MACV phản đối. Nhưng sau đó Trưởng đã làm tốt. Tất nhiên đây là một quyết định mạo hiểm vì ông có thể bị đưa ra Tòa án Quân sự mặt trận. Nhưng nếu thành công trong việc bảo vệ thì ông đã cứu được quốc gia khỏi cuộc tấn công dữ dội của CSBV.

Tuy nhiên, vì bất cứ lý do gì, ông lại chờ đợi những mệnh lệnh khó hiểu của Sài Gòn thay vì tự mình chủ động. Ðiều này khiến ông phải trả giá bằng cả quốc gia của mình và ông đã phải di tản sang Mỹ.

Ông ấy có là vị tướng giỏi nhất của cuộc chiến không? Nó phụ thuộc vào nhận thức của bạn. Ông ấy tất nhiên là một con người và có những sai sót của riêng mình.

Nhưng với tư cách là một vị Tướng, ông ấy đã làm rất tốt công việc của mình. Tuy nhiên, sự thành công của ông ấy khiến ông trở thành một trong những vị tướng giỏi nhất nếu không muốn nói là giỏi nhất của Chiến tranh Việt Nam và chắc chắn là người giỏi nhất của QLVNCH.

ĐXT lược dịch

Nỗi buồn tuyết trắng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 18/01/2018  

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Nhà văn Hàn Song Tường (1950-2018)

Không một ai cho hay. Người ấy đã lặng lẽ đi xa. Từ khi trang Gió O bị tin tặc tấn công, tôi buồn nhác ghé thăm bởi chẳng muốn nhìn ra những xáo trộn, nhưng sáng nay có điều gì khiến bàn tay táy máy tìm về địa chỉ ấy. Oh, my God. Lòng thầm than. Oh, mon Dieu! Sao hoang đường vậy trời!

Tôi gặp mặt chị ấy vỏn vẹn có một lần. Mấy mươi năm rồi? Lỡ khuấy quên. Khác người ta luôn tìm cớ để trốn lạnh, chị (lặng lẽ) đến thành phố này vào cao điểm của mùa đông. Tối hôm ấy, tuyết xuống đầy. Chuông điện thoại đổ dồn, có vẻ thất thường. Đường truyền nằm cách 15 cây số gửi vào tai giọng Bắc trầm ấm của anh Đỗ Quý Toàn: Đến nhà tôi uống trà nhé, có một vị khách ở phương xa vừa ghé thăm, muốn gặp mặt chú. Một người nữ.

Gia chủ nói có nhiêu đó. Không bảo vị khách ấy tên gì. Và mặc nhiên xem tôi sẽ tới dù… “cho mưa giăng, có tuyết bùn lầy, có gió lạnh đầy…” Vì tiện đường, anh Bắc Phong sẽ ghé ngang chở tôi đi. Tuyết ngập tới 20 cm, nhưng chẳng vì vậy nó làm khó con ngựa thồ nhỏ nhắn mang tên Renault 5 (đã tuyệt tích từ lâu, thôi sản xuất). Xe quàng xiên giữa con lộ vắng, khinh khoái dẫm lằn mức cuối. Gõ, cửa sẽ mở. Những mái đầu ngưng trò chuyện, nhìn ra. Đây rồi. Gia chủ nói. Và giới thiệu. Khoảng 8 giờ tối, đêm ấy, một đêm giá lạnh, lần đầu tiên (và đâu ngờ chỉ duy nhất) tôi đứng đối diện một khuôn mặt đẹp, bắt tay vị khách phương xa mang mỹ danh Hàn Song Tường.

Thủ bút của nhà văn Hàn Song Tường

Giữa đám đông, chúng tôi không trao đổi gì nhiều. Hơn nữa, chị ấy chừng như ít nói. Tôi ngồi yên, thử nhớ lại những bài thơ, những đoạn văn chị ấy viết. Bấy giờ chị đã ra được cuốn “Một Dặm Tương Thân” và cũng ký tặng, gửi qua bưu điện. Ngay cả một lá thư, chị cũng viết ngắn, ít tâm sự. Bởi chị cho hay, chúng ta đã hiểu nhau qua mặt văn chương. Cuộc họp mặt tàn, nhà thơ Bắc Phong và tôi có nhiệm vụ phải đưa chị bình an về chỗ trọ.

Chúng tôi quyết định nên hò hẹn nhau, vào ngày mai, ăn trưa ở đâu đó để tha hồ hỏi han nhau, cũng thuần là chuyện nắng mưa hoặc thơ văn. Đời sống chị như thế nào, bên ấy, là điều mà chúng tôi tôn trọng chẳng dám vọng động. Và rồi chia tay. Và rồi mất dấu. Và tuyết trắng vẫn lạnh lùng chôn hết những hoang mang. Chị đến rồi đi, êm thắm. Mang chút hương nồng mùi nắng của Houston, chưa cảm được độ ấm rồi thì loãng bay.

Tôi mãi bị dằn vặt bởi không ngờ chị rộng lòng với tôi quá, trong kín tiếng. Đó là vào năm 2005, chị biết tôi có tập truyện bị “giam” ở nhà xuất bản Văn Mới. Không nhúc nhích chẳng tiến thoái gần nửa năm vì chuyện chí tử: Tài chánh. Chẳng đủ sở hụi, tôi quyết định bỏ cuộc chơi xét thấy vô bổ, bằng cách thưa thật với nhà xuất bản bên California. Nhưng lời trần tình đã đến muộn, sách đang sắp trang, đang đóng gáy, đang cắt xén, đang chuẩn bị đóng thùng. Lần ra căn nguyên mới hay cô mụ đỡ đầu: Hàn Song Tường. Mọi việc diễn ra trong câm lặng, chị giúp đỡ mà không cần một đáp trả, kể cả một lời cảm ơn đến từ một đứa mãi sống hồn nhiên chẳng biết toan tính như tôi. Nguyễn Thị Thanh Bình hay chuyện, đã viết thư: Bạn có được một bà chị tuyệt vời! Mình đang ganh tị với bạn đây.

Tôi tự lên chương trình, một mộng mị cần thanh thoả: Cố gắng thu xếp mọi thứ để đi Houston. Sẽ ngồi đối mặt với chị Hàn Song Tường ở trong một hàng quán nào đó, nếu được thì xin nắm lấy tay chị ấy, đôi bàn tay “Ngàn dặm tương thân” đã làm việc thiện nguyện trong thầm lặng. Giấc mộng tiêu tan khi cơ thể làm tình làm tội phải vào nằm nhà thương. Lại nuôi một dự tính khác, hồi nào xuất viện sẽ cố bình tâm viết xuống một tản văn thế lá thư dài xin nhận chịu mọi vụng dại lỡ lầm, nếu có, để xin chị ấy hiểu thêm một lần nữa. Sẽ gửi đăng ở tạp chí Gió Văn, là tờ báo do chị chủ trương cùng với ba người nữ lừng lẫy khác chăm sóc: Trân Sa, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Ngọc Nhung.

Thỉnh thoảng nghe thấp thoáng tin vọng từ chốn nắng nôi kia: Sức khoẻ chị dạo này đang xuống, ăn chay, cũng lắm bận vào ra nhà thương xét nghiệm. Tạp chí Gió Văn thọ cũng không được lâu, có thể do bốn vị chưởng môn nhân ở khác địa bàn lãnh thổ. Do bốn vị mở lòng với văn chương, thuần khiết, vô vụ lợi. Và có thể do sức khoẻ, do đời sống bên ngoài tác hại. Tất cả chừng như hiện hữu ra chỉ để thu gặt lấy một kỷ niệm. Có thế thôi. Để ngồi nhớ về kỷ niệm, nỗi nhớ cũng phù vân. Còn rồi mất. Nguyên vẹn bỗng hư hao.

Chị Hàn Song Tường ơi, mãi mãi tôi vẫn còn mang đôi ba món nợ không cách gì thanh thoả với chị được, để sáng hôm nay cực lòng đón nhận tin buồn khó dung: Chị vừa đi xa. Điều này có nghĩa là chuyến sang thăm Houston của tôi hoài huỷ là cả một bội bạc. Trong niềm đau, tôi vụng về ghi lại những gì còn có thể nhớ. Nhớ một dấu hỏi: Sao chúng ta chỉ gặp nhau duy có một lần? Cầu mong cho chị quên hết những vướng mắc giữa đời sống tự nó vốn không dài. Tôi đi thắp cho chị một cây nhang đây. Ngoài trời tuyết lại rơi. Trong trí nhớ hao gầy, tự dưng bài thơ Haiku của Matsuo Basho (?) chợt ẩn hiện:

tuyết mà chúng ta cùng ngắm
năm xưa
bây giờ đã rơi chưa?
ngàn trùng.

Vĩnh biệt chị.

Nhà thơ, nhà văn Hàn Song Tường, sinh năm 1950, mất ngày 15 tháng 1 năm 2018 tại Houston, Texas. Tác phẩm đã xuất bản:

– Viên Sỏi Quê Hương. Thơ (1986).
– Một Dặm Tương Thân. Viết chung với Đặng Phùng Quân. Truyện (1988).
– Phía Bên Kia Mặt Trời. Truyện (1995).
– Ở Một Chỗ Khác. Truyện (2002).
– Trong Nỗi Nhớ Một Ngày. Thơ (2012).

Hồ Đình Nghiêm

Những người biết yêu

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 25/12/2018 

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Nếu bạn từng ghé thăm qua Đà Nẵng một lần, trước Một Chín Bảy Lăm, chắc bạn có nghe tới tên gọi một bãi biển: Thanh Bình.

Không lớn như Tiên Sa, chẳng choáng ngợp như Mỹ Khê, nhưng độ mặn mà sóng luôn xô bờ ở ba con nước xanh ấy, lượng muối đều tựa nhau, thuỷ chung chẳng nhạt một phân ly. Mặn đến quýu lưỡi, đến… lột da.

Thanh Bình vì len lỏi vào sát nách thành phố, nên như tên gọi, biển Thanh Bình hiền hoà hiếm khi nhìn ra sự cuồng nộ. Sóng có gào đâu đó, chỉ tựa một lời thì thầm xa xôi, để khi con nước thay phiên tấp vào bãi cát trắng, nó mất vẻ thị uy thường hằng. Thanh Bình chừng như muốn hoá thân thành lưu lượng êm ả của một giòng sông mênh mông dịu hiền.

Có lắm người, không cứ là ở Đà Nẵng, sinh đẻ trên từng cây số ra Bắc vào Nam, vẫn chuộng hai chữ Thanh Bình để ghi vào giấy thế vì khai sinh. Nếu 50 đứa theo mẹ mang tên Thanh Bình thì 50 đứa còn lại theo cha ắt cũng một dạ Bình Thanh cho có phúc cùng mang có hoạ cùng gánh. Nôm na: Thanh Bình là danh xưng khiến ta khó quyết đoán về giới tính. Tôi có đứa bạn thân Sinh viên Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức: Trần Văn Thanh Bình. Lưu lạc ra biển ngoài tôi quen một người nữ: Nguyễn Thị Thanh Bình. Khác số 1 là Trần Văn dân võ biền chọn binh chủng Thuỷ quân Lục chiến, Thanh Bình số 2 là Nguyễn Thị nhà văn, nhà thơ. Tôi giao thiệp không rộng, vẫn đồ rằng đâu đó có vô số Thanh Bình là thương gia, lắm Thanh Bình làm chính trị gia… vân vân.

Trong thơ Quang Dũng có hai câu:

“Bao giờ ta gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa”.

Cho đến tận giờ này, vùng đất bên kia biển vẫn chưa thực sự bình yên, thành ra “thanh bình nở hoa” e phải nương nhờ tới cuộc đất này. Một đoá hoa mới tinh khôi tôi vừa nhận được, ngắt từ Virginia sang, mang cái tên lạ “Thần Thánh Không Biết Yêu” với giòng chữ đề tặng ở trang đầu rất mực bay bướm của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình. Những con sóng thay phiên xô đẩy nhảy múa, thu cất, thâu tóm trong tập truyện có độ dày là 240 trang. Biển Thanh Bình hiền hoà nhưng chữ viết của nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình chuyên chở những con sóng quặn thắt bạc đầu, tôi tin vậy. Trước sau, Thanh Bình dường chẳng muốn làm một nhánh sông trôi êm qua bao khúc quành mà đời bày ra. Không phẫn nộ, không gào thét nhưng vẫn đe doạ những ai muốn qua tới bờ. Chỉ đọc 5 chữ của tựa đề đã mường tượng ra được sự khẳng định, chối bỏ, đả phá, chê bai những lề thói cũ. Thần thánh vốn vô tri? Hay thánh thần lãnh cảm trước những van nài của người trần thế?

Mỗi khi sang Virginia tôi đều gặp mặt một Thanh-Bình-ngó-dzậy-mà-hổng-phải-dzậy. Đằng sau, phía trong con người chị, ở chỗ khuất lấp vẫn thu cất một vùng nước xoáy chực trào dâng, không ngại bày cho đời thấy một biểu tỏ khác thường. Lãng mạn là tràn bờ. Trên cả lãng mạn thì nước dâng làm ngập lụt một niềm tin, hoài nghi hầu hết những giá trị trông có vẻ tạm bợ, thường không vĩnh cửu. Bị cuốn chìm như từng diễn ra “Ở Đời Sống Này” hoặc “Giọt Lệ Xé Hai”. Bạn phải để ý đến chữ “Xé” này nhé. Giọt lệ có khi đã là trang giấy trắng, nhoè mực, hoen ố. Lau, chặm là việc giản dị trong khi xé, nghe luống những cực lòng. Vầng trăng bất quá cũng chỉ xẻ làm đôi. Xé đi một giọt lệ? Thanh Bình tự thân đã chẳng còn thanh thản hoà bình nữa. Tôi mang câu nói phổ thông của người Nam để ví von là do thế. Ngó vậy mà không phải vậy.

Tôi nhớ lại một dự tính ngày cũ rất mực mộng mị từng xẩy ra, có giữa hai phía: Hơi bị bốc đồng là chúng tôi nguyện cùng chung lưng, góp tay, hợp sức để viết nên một cuốn tiểu thuyết đầy chật tình huống liêu trai. Lại tưởng tượng ra một cái tên tác giả, lạ hoắc lạ huơ chơi khó độc giả: Bình Nghiêm (chảnh hơn Bình Nguyên, nhỉ?). Nguyễn Thị Thanh Bình lo việc Hoả, tôi đảm trách tới Mộc. Nếu Thanh Bình viết núi cao thì tôi viết về sông dài. Thanh Bình cáng đáng vai linh mục thì tôi sẽ hoá thân thành ác quỉ. Đại loại thế, thử tạo ra xung khắc xem cuối đường có được hoà thuận chăng. Âm, dương lưỡng cực là logo cầu chứng của môn phái Võ Đang, chúng tôi tin rằng sẽ tác hợp, tựu thành được thứ Song Kiếm Hợp Bích. Nhưng… dự tưởng phác thảo nghe xôm tụ là thế, cuối cùng cũng chẳng đi tới đâu. Nhớ thơ Bùi Giáng: “Áo cơm bỏ lại bên đời, bỏ tan lìa mộng bên lời tử sinh”. Na ná tựa thế. Áo cơm tử, cày bừa sinh. Công việc lao động tay chân đã làm tan lìa mộng.

“Em ơi nếu mộng không thành thì sao, mua Tiêu ban lộ uống vô lành liền”. Con nít ưa hát hỏng bậy bạ nhưng chẳng sai trật, đúng ở chỗ là giờ đây có thắp đuốc tìm cũng nào chộ mặt chai Tiêu ban lộ. Hơn cả qua sông luỵ đò. Quá nhiêu khê.

Kể chuyện này ra chỉ nhằm làm rõ, Thanh Bình và tôi đã chia sẻ với nhau những giây phút hồn nhiên vô ngại. Trong 19 truyện ngắn của “Thần Thánh Không Biết Yêu”, ở trang 9 nằm đầu sách là bài “Cảm Tưởng Về Ngày 30/4”, đây là khúc dạo đầu mà tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình dùng mở tiếp “cuộc phỏng vấn các trí thức văn nghệ sĩ trong và ngoài nước”. Nhận câu hỏi, tôi có ngay bài trả lời, đăng trên trang Tiền Vệ. Cũng ở Tiền Vệ do anh Hoàng Ngọc-Tuấn chăm sóc, tôi cũng góp một bài ngắn, thể theo lời yêu cầu của Nguyễn Thị Thanh Bình bày lối về cuộc chơi có dính dáng tới máu đổ (gửi bài buộc phải kèm ảnh chụp minh hoạ). Nhớ lại, xem ra chúng tôi đã từng sánh bước cùng nhau giữa một giai đoạn khá “nhiễu nhương” dạo đó.

Sinh tại Huế, tiểu sử in ở bìa sau chỉ nhiêu đó, không năm tháng chào đời, nhưng tôi hằng tin là Nguyễn Thị Thanh Bình cùng tuổi tôi. Theo kinh nghiệm bản thân, nếu cả hai cùng cất tiếng khóc một lượt khi vừa thoát khỏi cửa mình mẹ rặn, tôi nghĩ rằng gái bao giờ cũng khôn ngoan già dặn hơn trai. Sự chênh lệch có thể đo bằng hai (2) năm. Nguyễn Thị Thanh Bình vượt trội hơn tôi e cũng chừng đó tháng ngày, chẳng ngoa ngôn. Do đâu, do ở cõi viết của Nguyễn Thị Thanh Bình, cách chị tạo dựng ra những tình huống rối rắm và rồi tự mình tìm cách tháo gỡ từng nút thắt. Rất thờ ơ, mặt khác có vẻ buông xuôi, thủ phận. Ít biểu lộ giọng kêu gào, bẳn gắt. Trong văn xuôi có nhiều lúc tải đi một chút khí hậu của thi ca, như một nhịp ngắt rời hòng làm nhẹ đi cái tình huống rất mực ê chề của lòng bội phản, của những số kiếp lầm than giữa xã hội đảo điên.

Hãy thử đọc những hàng chữ mở đầu từng truyện ngắn, như ở “Một Nỗi Nhớ Bình Thường”: Đáng ra tôi cũng chẳng nên tâm sự với bạn điều gì. Tôi đã tập sống như thế, như một cái máy vô hồn vô cảm suốt hơn hai mươi lăm năm ở Mỹ rồi còn chi. Thời gian tưởng soi mòn được những đường dây của trí nhớ, của kỷ niệm nhưng kỳ thực chỉ có bây giờ, lúc trở về Việt Nam như một hồn ma tìm về mộ địa, tôi mới càng đau đớn nhận ra rằng chỉ có nơi đây (và không bao giờ là một nơi nào trên trái đất) tôi mới có thể đã sống hoặc đã chết mà thôi.

Như ở “Bản Tự Thú Của Mây”: Giờ thì tôi xin quả quyết tình yêu có thật ở trần gian. Dĩ nhiên bạn có thể nhăn mặt. Tôi cũng từng nhăn mặt như vậy. Tôi không tin. Tôi vờ như không tin. Nếu tim có đập loạn xà ngầu, tôi đổ hết cho bệnh cao máu là xong. Tôi cứ tưởng mình sẽ không tin hoài điều này. Tôi công nhận: Sự hoài nghi làm giết chết những cám dỗ ảo diệu của tình yêu. Tôi cố tình hạ giá những rung cảm tuyệt vời ấy. Tôi tự cho mình là kẻ tầm thường nên không thể mặc khải được tình yêu.

Như lối vào truyện “Chàng Ngẫu Nhiên”: Họ gặp lại sau mười bảy năm phân ly. Cả hai chợt tìm ra đáp số cho thứ tình yêu “vô lượng hải hà”. Nhất là khi chàng vẫn còn độc thân như thuở còn tắm xà bông Cô Ba. Và nàng xem chừng “yên phận tù đày” với người chồng máy móc, sáng xách cặp da đi, chiều xách cặp da về. Tối ngồi vào bàn, dí mũi vào một tờ nhật báo Mỹ hoặc dán mắt lên Tivi. Và đêm (đều đặn là đêm cuối tuần) khi phần cơ thể dưới của người đàn ông vụt trở chứng, tức thì người nàng cũng được lật ngửa ra (nàng vốn có thói quen nằm xấp ngủ). Dĩ nhiên ở trong tư thế ấy, nàng dễ dàng đón nhận mọi nồng nàn của chồng nàng. Cho đến lúc miệng người đàn ông ú ớ hoặc kêu lên xúc động, thì nàng biết ngay đêm cũng bắt đầu khó chịu với tiếng nhạc đệm khò khè.

Như bắt đầu “Quà Sinh Nhật”: Trong đoạn đời năm tháng, ít là một lần người đàn ông nào cũng muốn giải thoát mình ra khỏi vòng vây cũ mòn vợ chồng. Bằng cách này cách khác. Hoặc đơn thuần họ chỉ muốn nhắm mắt lại, lao đầu vào những phút giây mong manh tạm bợ nào đó. Họ muốn tìm kiếm một rung động mới nhưng đồng thời họ không muốn đánh mất những gì họ đang có. Một cách đáng tiếc là không một người đàn bà nào có thể chấp nhận được sự tham lam, tìm tòi của lạ và ăn gian cảm giác của họ.

Và ở “Ngoài Khung Đời”: Dạo này cứ trưa trưa, da thịt đứa con gái bỗng bừng bừng như những ngọn gió chở lửa ở bên ngoài. Trời đất hì hục quất vào nhau những cơn gió giao hoan khiến Mỹ thấy mình cũng hừng hực lây. Người Mỹ nóng ran, cảm tưởng chính ngọn lửa ấy vồ chụp lấy mình thiêu đốt đến tận cùng và điên rồ.

Và ở “Thần Thánh Không Biết Yêu” bắt đầu bằng bốn câu thơ của chính tác giả:

“Đừng hối cải tình yêu quỉ sứ
Vì chắc gì thần thánh biết yêu
Cứ sống thật cảm xúc quỉ dữ
Thiên đàng kia giả dối rất nhiều”

Cô vẫn có thói quen ôm chiếc gối có chiều dài cỡ một tên đàn ông và cong người lại như con tôm bị mắc cạn trên bến bờ cô độc nào đó. Hình như đã khá lâu cô không được ai ôm và cô cũng chẳng buồn ôm ai. Trái tim cô cơ hồ bị liệt kháng trước những bày tỏ (chân thật lẫn giả dối) của mấy con đực. Điều ngộ nghĩnh và cũng khá dễ hiểu là cô càng chạy trốn, họ càng man dại rượt theo như bầy chó đến kỳ động cỡn. “Đàn ông mà. Họ chỉ giỏi vờ vịt tuồng như đau khổ lắm- cô nói với lũ bạn- khi họ chưa dí được mình nằm xuống và nuốt chửng con mồi”. Cô nói như thể mình đã đi qua trăm ngàn những tan tành đổ vỡ.

Và ở “Nóc Nhà Ba Thế Hệ”: Đêm, vẫn như mọi đêm, người cô bấn loạn nhìn căn phòng ngủ chỉ nổi bật nhất là tấm “ri-đô” trắng bệch như giải khăn tang dần dà quấn trọn đầu, mình, và tứ chi của cô. Cô đang ở đâu đây, tầng cuối địa ngục với diêm vương mắt hí và hai con ngươi luôn bóc trần thân thể cô ra từng mảnh, săm soi đỏ ngầu dâm dục? Hay nơi đây mới chỉ là tầng đầu luyện ngục để mặc định hai con mắt của hắn, vẫn còn là nỗi thèm khát cháy bỏng muốn được vuốt ve, quỳ gối chống tay ăn tươi nuốt sống cô từng đêm.

Tất cả những trích đoạn trên gần trùng với một tâm sự, một cảnh báo rằng chốc nữa, không mấy xa, sẽ phải qua khúc quành gắt gao lắm bất trắc, tình yêu đích thực đã trôi tuột ở đằng sau, trôi bên hông hoặc mù mờ trước mặt là địa phận của xót xa, đổ vỡ, thôi vẹn toàn. Nguyễn Thị Thanh Bình rất sở trường về cách trình bày những mối tình đầy thương tật. Chị luôn hoài nghi về hai chữ hạnh phúc. Hoài nghi đi kèm với bỡn cợt. Bỡn cợt sánh đôi với dửng dưng. Văn phong rất mực thong dong, buông thả dù đang kể về những việc đắng lòng, khó tiêu hoá. Bạn thấy đó, thiên đàng luôn giả dối trong khi quỉ sứ vẫn có lắm đứa “chơi được”. Khi xác tín điều này, người đưa ra thông điệp kia phải từng trải “đi qua trăm ngàn những tan tành”. Đi tới cuối đường vẫn gượng đứng lên được. Đó là một lữ thứ biết tự sơ cứu lấy vết thương. Can trường mà cầm máu.

Những tan tành xẩy ra trong bối cảnh khởi đi từ Huế dần vào Đà Nẵng, Nha Trang, Sài Gòn rồi lưu lạc sang tới nước Mỹ. Không phút giây nào người đọc tìm nhặt chút bình yên mà chữ viết của Nguyễn Thị Thanh Bình đã dàn dựng nên. Thanh Bình chỉ là tên gọi về một bề mặt lặng sóng, phía dưới lòng sâu, biển vẫn thu cất lắm hiểm hoạ không cùng.

Tập truyện “Thần Thánh Không Biết Yêu” bao gồm: 1/ Một Nỗi Nhớ Bình Thường. 2/ Cuộc Hẹn Cuối. 3/ Bản Tự Thú Của Mây. 4/ Lạc Bóng. 5/ Tỷ Như Chim Đừng Bay. 6/ Khung Cửa Xuân. 7/ Người Đi Tìm Đoạn Kết. 8/ Chàng Ngẫu Nhiên. 9/ Quà Sinh Nhật. 10/ Bất Chợt Giữa Mùa Xuân. 11/ Rồi Mưa Cũng Trở Về. 12/ Ngoài Khung Đời. 13/ Đằng Sau Những Xuân Thì. 14/ Thần Thánh Không Biết Yêu. 15/ Không Chỉ Có Một Mùa Hè. 16/ Tháng Tư Vữa Nát. 17/ Độc Tố. 18/ Mùi Của Lửa. 19/ Nóc Nhà Ba Thế Hệ.

Người Việt Books xuất bản lần thứ nhất năm 2018. Tranh bìa của hoạ sĩ Nguyễn Trọng Khôi và đây là một trong những bìa sách đẹp nhất của năm qua. Ghi giá 15 Mỹ kim. Tôi nhận sách tặng qua trung gian nhà thơ Luân Hoán chuyển giao thành thử (dù là bạn văn) tôi vẫn không thể ghi ra ở đây địa chỉ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình, để nhỡ như có bạn cần liên lạc mua sách (có chữ ký của nữ nhân ở bên trời Virginia xa cách). Tôi đồ chừng hình như sách cũng có bán qua hệ thống Amazon (?)

Cần chú thích ở đây điểm hệ trọng, tác giả Nguyễn thị Thanh Bình từng phụ tá nhà văn chủ bút Xuân Vũ của Nguyệt san Non Nước. Cùng với nhà thơ nhà văn Hàn Song Tường (đã mất) và Giáo sư Đặng Phùng Quân chủ trương tạp chí Văn học Gió Văn. Cộng tác với hầu hết các tạp chí văn học ở hải ngoại. Góp mặt trong Tuyển Tập 23 Người Viết sau 75 (Văn Nghệ, 1988). 20 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (Đại Nam, 1995). Tuyển Tập Thơ Văn Hải Ngoại (Văn Mới, 2000). Đối Thoại 13 Văn Thi Sĩ Nói Về Mình và Văn Học (Bùi Vĩnh Phúc thực hiện, Văn Nghệ, 2001). Truyện Ngắn Hải Ngoại (in chui trong nước do nhà thơ Trần Tiến Dũng phát hành, 2003). Tuổi Trẻ, Tập Truyện Ngắn in chung với Hàn Song Tường, Đặng Phùng Quân (Gió Văn, 2018).

Riêng tác phẩm của Nguyễn Thị Thanh Bình, đã xuất bản: Ở Đời Sống Này (tập truyện, Đại Nam, 1989). Giọt Lệ Xé Hai (tiểu thuyết, Văn Khoa, 1991). Cuối Đêm Dài (tập truyện, An Tiêm, 1993). Trốn Vào Giấc Mơ Em (tập thơ, Thanh Văn 1997). Dấu Ấn (tập truyện, Văn Mới, 2004). Thần Thánh Không Biết Yêu (tập truyện, Người Việt Books, 2018). Nhật Ký Của Những Mảnh Vỡ (thơ, Người Việt Books, 2018).

Tôi cảm ơn bạn văn Nguyễn Thị Thanh Bình vừa trao gửi món quà cuối năm. Tôi không mở riêng cho mình một thứ gọi là Facebook vì ngại nó soán đoạt nhiều thời gian, nghĩ mình chẳng có thứ gì để khoe; tuy vậy thỉnh thoảng tôi cũng có ghé mắt xem ké đó đây. Tìm thấy “Thanh Bình Thân Mến” và rồi lại nẩy sinh cảm tình khi đọc ra những chia sẻ mà bạn post lên, sự trăn trở của một người xa xứ vẫn nóng ruột tới bao hiểm hoạ đang diễn ra ở cố quận thường trực bất an.

Bạn có tin tới “ngày ấy thanh bình chắc nở hoa”? Tôi xa Đà Nẵng từ 1975, không rõ biển Thanh Bình còn đó hay nó bị chìm trôi, mất dấu theo bể dâu? Thần thánh không biết yêu chỉ là một giả định mà bạn tự đặt, đúng không? Nhưng rõ là có thứ chân lý: Cộng Sản vô thần thì muôn đời chúng đâu hiểu chữ yêu. Yêu rất đỗi bình thường như bạn, như tôi. Như những gì chúng ta từng mê mệt ăn nằm với chữ viết ròng rã hơn 40 năm qua. Tôi mong bạn vẫn luôn giữ một đốm lửa nhỏ trong tâm hoặc một lượng sóng ngầm mãi vồ vập dưới con nước phẳng lặng. Qua đó, hy vọng tôi còn nhìn thấy bạn mãi nồng nàn với cõi văn thơ lạ, một giọng kể đặc trưng riêng cõi mà bạn bày tỏ giữa “đời sống này” đang thực sự ghẻ lạnh, phôi pha.

Hồ Đình Nghiêm
Giáng Sinh 2018.

Nhị khoái

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 04/03/2019 

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Người đi, người không vác mạng qua sông. Sân ga, xe lửa nghiến đường tàu. Bao nhiêu nước mắt dâng thành sóng. Thượng lộ bình an nghẹn, chẳng nói nên lời. Lúc trước ở vào đời tám hoánh, Cuba Vietnam thay phiên chuyện thức, ngủ. Canh giữ hoà bình cho nhân loại, nguyện đặt sông núi lên đôi vai. Nay người đi lo chuyện đàm phán, đất nước này mất ăn mất ngủ đã ba hôm.

Xứ sở nào, đời thuở mô chừ dân cũng cần tứ khoái. Người vẫy tay chào, tàu chuyển bánh, mang đi mất nhị khoái của nhân dân. Về mau nghen cho chúng con được ăn, ngủ, ỉa, đái. Mà nhỡ như người thăng thiên, nói tội trời, e ỉa đái cũng cáo chung theo. Người ơi, khi gặp quả báo ăn cháo cũng gãy răng.
Người tên Un mà người nước lạ kêu thành Ủn. Mẹ nó chứ, năm con heo mà đón ủn thì hợp nhẽ quá, còn đòi gì. Kiểu tóc người vẫn được bọn bần cùng noi gương cắt giống, bầy lợn eng éc ở sân ga mừng vui ủn ỉn đường bệ dẫm chân. Hoá ra đôi ta trời sinh cùng chủng loại, cha mẹ chúng chết vẫn tỉnh như ruồi, nhưng ta có mệnh hệ gì chúng khóc vang rân. Nấm mồ song thân cỏ dại lan tràn cùng phân trâu không quỡn việc nhìn ngó, dành thời gian đứng sắp hàng trước lăng kính cẩn vào thăm người (đẹp giai) say giấc điệp. Khà khà, những điều ta dặn có lời nào thương cha nhớ mẹ đâu. Người đi, áo mỏng buông hờn tủi, giòng lệ cứ thế mãi đổ tràn. Nước mắt cạn thì còn nước tiểu, một bộ phận không nhỏ cùng trạc quần thì chẳng chừng mà cuốn trôi sông núi đặt trên vai gầy. Chưa nghe sao? Trận mưa cực đoan đã nhấn chìm 9 cung đường ở thành phố HCM, hôm bữa. Thế mới nổi lên ba chữ Hồ Chứa Mưa (sai quy trình).

Thơ đưa người đi, chừng như trước sau nam, nữ vẫn làm riêng trao gửi cho tình nhân. Đưa người ta không đưa qua sông, sao nghe tiếng sóng ở trong lòng? (Thâm Tâm). Chưa khuất đầu non đã cố nhân, Người ôi! Cho núi chuyển theo gần, Vầng trăng mười bẩy rưng rưng nhớ, Con nước đầy vơi lệ thuỷ ngân. (Đinh Hùng). Bọn tiểu tư sản ấy quả vị kỷ, chỉ lo chăm chút sự an toàn cho lứa đôi. Yêu ba lăng nhăng mà cũng bày đặt, người thế thiên hành đạo bàn chuyện nghiêng trời lệch đất như “ảnh” lỡ làm ta mất ăn mất ngủ thì thấm béo gì. Đêm nay chú không ăn không ngủ, thì đêm mai chú ăn ngủ bù, có sao đâu? Chiện nhỏ! Bác Ủn ta đó chính là bác Mao. Con bà nó, Mao mà nhằm nhò gì. Mao chết, xứ hắn có lắm đứa cười sướng sung, nhớ không? Người dân Tung cọt toàn bọn tiểu nhân, nghe tin Nhật bản bị động đất, trà đình tửu điếm ở Bắc Kinh liền giảm 50% giá để ăn mừng “chúng bị trời phạt”. Bọn trang bị thứ mặc cảm bệnh hoạn đó đang ngắm nghé, đang canh thức với giấc mộng bành trướng dòm ngó phương Nam. Chúng từng mang quân sang “dạy cho Việt Nam một bài học” vào năm 1979. Chúng sẽ dạy tiếp và dạy tiếp, chẳng rõ khi đó “sông núi đặt trên vai” có bị sứt mẻ chút nào không? Chẳng biết thành phần “còn đảng, còn mình” sẽ binh xập xám chướng theo kiểu nào? Thùng thì thủ, cù lũ thì dương?

Hú hồn, chộn rộn năm bảy bữa rồi cũng yên. Ủn đi rồi Ủn lại về, ăn bờ ngủ bụi lời thề trôi sông. Quên đi một bọn kỳ nhông, màu da thay đổi cùng tông đỏ lừ. Tiễn người chẳng thốt tạ từ, bên trời Bình Nhưỡng đã nhừ cơn giông.

Người Việt ta nên “dạy cho Ủn một bài học” bằng lời ca dao:

Còn ăn còn ngủ là tiên
Mất ăn mất ngủ tốn tiền thêm lo.

Nhưng nói nào ngay, người Việt thường mang bệnh hoài nghi đố kị: Ui, chúng quen làm bộ làm tịch để an thân chớ tình nghĩa gì. Đứa nào không khóc bù lu bù loa, chẳng mất ăn mất ngủ thì công an sẽ đến đập cửa còng về đồn hỏi cho ra nhẽ. Hổng nhớ sao, lãnh tụ (bố thằng Ủn) chết hồi nẫm, đài truyền hình tường thuật chiếu cảnh rừng hoa tự động héo úa buồn đau, chim không bay chim quên hót, nhường khoảng lặng cho con dân đứng có thứ lớp đấm ngực kêu than cùng mây xanh (nói cho đúng là mây xám) trì nặng trôi dật dờ.

Người Việt ngon cơm hơn xứ kim chi vì con rồng cháu tiên vẫn luôn đề cao tứ khoái, giờ này có thể là ngũ khoái lục khoái. Ngon cơm ở chỗ, là hồi nào tập đoàn lãnh tụ thay phiên rơi rụng đi gặp mặt người, e rằng tất cả các hàng quán vin vô cơ hội nghìn năm một thuở ấy mà đồng loạt hạ giá tới 75% ăn mừng, tiễn đưa bọn “trời không dung, đất không thu” nọ. Cơm chửi, Bún mắng, Phở quát tự dưng đâm tử tế với thực khách. Mời bác vào xơi ạ. Gớm, mấy khi mà chúng em được vui đến thế nầy, hở giời! Cơ mà…

Hồ Đình Nghiêm

Chiêm ngưỡng danh nhân Việt Nam qua nét vẽ họa sĩ Chóe

07/08/2015

tuoitre.vn

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

TTO – 30/60 bức tranh thuộc bộ sưu tập tranh vẽ chân dung các danh nhân Việt Nam chưa từng công bố của họa sĩ Chóe đã lần đầu được giới thiệu tại triển lãm “Danh nhân Việt Nam qua nét cọ của Chóe” sáng 7-8.

Chóe- Chân dung tự họa

Giáo sư Trần Văn Khê

Họa sĩ Bùi Xuân Phái

Họa sĩ Nguyễn Gia Trí

Họa sĩ Tô Ngọc Văn

Học giả Đào Duy Anh

Nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị

Nhà sưu tập đồ cổ Vương Hồng Sễnh

Nhà thơ Bùi Giáng

Nhà thơ Chế Lan Viên

Nhà thơ Hàn Mạc Tử

Nhà thơ Huy Cận

Nhà thơ Lưu Trọng Lư

Nhà thơ Nguyễn Bính

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp

Nhà thơ Tản Đà

Nhà thơ Thế Lữ

Nhà thơ Xuân Diệu

Nhà văn Nam Cao

Nhà văn Ngô Tất Tố

Nhà văn Nguyễn Tuân

Nhà văn Sơn Nam

Nhà văn Tô Hoài

Nhà văn Vũ Trọng Phụng

Nhạc sĩ Lê Thương

Nhạc sĩ Phạm Duy

Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Nhạc sĩ Văn Cao

Dâu bể trùng phùng

Huy Văn Trương

Posted on April 21, 2019 by Lê Thy

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Hình minh họa

Tập 2

Chương 5
Cây cầu trên sông Đa Nhim

Xe chạy được hơn nửa giờ trên Quốc lộ 20, khúc đường này cong queo, ngoằn ngoèo như một con rắn, tôi quay đầu nhìn sang bên phải, cây cối thi nhau chạy giật lùi trong cánh rừng thưa đầy lau sậy với những bụi tre gai mọc chen chúc. Thỉnh thoảng xen vào giữa vùng đất hoang dọc theo quốc lộ, là mươi ngôi nhà tranh vách đất xiêu vẹo ngả nghiêng, xóm không ra xóm, làng không ra làng. Cho đến khi xe qua khỏi đèo Ông Cố một đoạn khá xa, tôi nhìn thấy cầu Đại Ninh sơn toàn một màu trắng, hiện ra sừng sững trước mắt. Cây cầu này, tôi đã đi qua, đi lại nhiều lần vào những năm Quốc lộ 20 còn an ninh, chưa bị Việt Cộng đắp mô, chận đường xe đò để thu thuế. Cầu Đại Ninh được đúc bằng bê tông cốt sắt rất kiên cố, ánh nắng ban mai của mặt trời chiếu sáng cả một vùng quanh cầu, khiến tôi có cảm tưởng như mình đang sống trong mơ.

Tôi vẫn còn nhớ như in, dưới ánh sáng dìu dịu của hàng chục ngọn đèn néon trong phòng hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, Đại úy Thi công binh của trường, đứng nghiêm trước mặt Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng “Trình Thiếu tướng, tôi đã giật sập cầu Đại Ninh rồi”. Đang làm việc nhưng tôi vẫn lén nhìn, gương mặt của Đại úy Thi trông bơ phờ, mệt mỏi sau một chuyến công tác đầy khó khăn nguy hiểm. Với gương mặt đó, giọng nói đó, tôi biết Đại úy Thi nói thật, có nghĩa là ông ấy có cho nổ mìn cầu Đại Ninh. Như vậy, tại sao cho đến hôm nay, cây cầu vẫn còn đó, vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Chuyện về cây cầu Đại Ninh không bị vùi sâu dưới lòng sông Đa Nhim, chỉ có Đại úy Thi mới có câu trả lời chính xác, rõ ràng mà thôi.

Minh giảm bớt tốc độ, cho xe chạy từ từ qua cầu. Khi xe đến giữa cầu, đột nhiên Minh rà thắng, chiếc xe chạy chậm hẳn lại. Tôi nhìn về phía trước, trên mặt cầu chỗ mí nối, nơi mà hai tấm bê tông khổng lồ với bề dày hơn cả một thước tây, tiếp giáp nhau. Mặt đường ở đây bị sụp xuống tạo ra độ chênh lệch, một bên thấp, một bên cao khoảng năm, sáu tấc. Vết sụp chạy dọc theo bề ngang từ trái qua phải của cầu. Một thân cây thông khá lớn, đường kính cũng vào khoảng sáu tấc được thả xuống dọc theo vết nứt, nhờ vậy mà xe cộ vẫn có thể lưu thông được, tuy có hơi khó khăn chút đỉnh. Bất chợt một tia sáng lóe lên trong đầu, tôi hấp tấp nói với Minh:

-Anh ngừng xe lại cho tôi xuống đây.

Minh nói nhanh.

-Luật không cho phép ngừng xe ở giữa cầu.

Tôi cằn nhằn.

-Anh là một người quyền biến lanh lẹ, tại sao anh lại có thể nói một câu ngớ ngẩn như vậy. Từ tối hôm qua tới giờ, tôi đếm được ba chiếc xe chạy ngược chiều với mình, đường sá vắng tanh, không một đồn bót, không một trạm kiểm soát. Lính Việt Cộng còn đang lo ăn mừng chiến thắng, Quốc lộ 20 này, ngày hôm nay coi như là của riêng anh. Anh ngừng xe lại cho tôi xuống thì đã sao, có chết thằng Tây nào không? Hay là anh sợ lính Việt Cộng tịch thu bằng lái xe của anh.

Minh hỏi tôi.

Hình minh họa

-Tại sao cậu muốn xuống ở đây?

-Tôi cần tìm hiểu chút việc riêng.

Khi xe đã dừng hẳn lại, tôi phóng cái ào ra khỏi xe, miệng nói to với Cúc mà mục đích là muốn cho Minh nghe luôn.

-Em với anh Minh, qua khỏi cầu rồi đợi anh ở đó.

Tôi đứng trên thân cây thông, ngay mí nối giữa cầu, đưa mắt nhìn quanh. Mặt đường chỉ bị hư hại nhẹ tại một điểm. Thiệt hại nặng nhất của cây cầu, là độ chênh lệch cao thấp khoảng sáu tấc giữa hai tấm bê tông khổng lồ.

Từ giữa cầu, tôi thong thả vừa đi vừa đếm cho đến khi qua hết cầu, tất cả được một trăm hai mươi bước. Tôi biết, khoảng cách trung bình giữa hai bước chân của tôi là bảy mươi phân, như vậy một nửa cây cầu, sẽ có chiều dài khoảng tám mươi lăm mét.

Tôi bước lên xe, câu đầu tiên tôi hỏi Minh.

-Bên Nhảy Dù, anh Minh có biết gì về việc sử dụng mìn và chất nổ hay không?

Minh nổ máy xe, gài số rồi nói với tôi.

-Lính như tôi thì mù tịt về chuyên môn, tôi hoàn toàn không biết gì về chất nổ, còn về mìn claymore, thì bất cứ người lính Nhảy Dù nào cũng đều sử dụng thuần thục. Trước khi gài một trái mìn claymore, tôi chỉ cần nhớ mấy động tác sau đây: ôm cái mặt lõm của trái mìn áp vào bụng, hướng mặt lồi về phía địch, đặt trái mìn xuống đất, gắn ngòi nổ, kéo dây điện, kích hỏa bằng cách bấm vào con cóc. Tất cả sự hiểu biết của tôi về mìn claymore chỉ có vậy. Ngoài ra, tôi không biết gì hơn nữa.

Tôi cười với Minh.

-Tôi cũng như anh thôi, sau gần bảy năm làm việc ở Trường Võ Bị, bao nhiêu bài học về mìn cũng như chất nổ ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi gởi trả lại cho huấn luyện viên hết rồi. Có điều này, tôi muốn hỏi anh. Tết Mậu Thân, khi anh tung trái lựu đạn để diệt mấy tên Việt Cộng đóng chốt, anh có nhìn theo cho đến khi nó nổ hay không?

Minh cười trong cổ họng.

-Trước khi quăng lựu đạn, tôi đã liếc mắt tìm sẵn nơi an toàn. Khi trái lựu đạn rời khỏi tay, tôi núp ngay lập tức, ở đó mà coi với ngó. Tuy vậy do kinh nghiệm nơi chiến trường, tôi cũng biết được một điều, thông thường lựu đạn chạm đất rồi mới nổ, miểng lựu đạn sẽ bung mạnh lên trời theo hình chữ V, hình cái nón lá lật ngửa.

Tôi nói.

-Anh Minh nhớ giùm tôi cái điểm này.

Minh hỏi.

-Tại sao tôi phải nhớ.

-Chút nữa tôi sẽ giải thích cho anh biết.

Tôi nhắc Minh.

Hình minh họa

-Anh còn nhớ không, lúc ở Sài Gòn tôi có nói với anh là cầu Đại Ninh đã bị giật sập. Vậy mà, trong thực tế cây cầu vẫn còn nguyên vẹn như anh thấy đó. Để giải thích tại sao có chuyện như vậy, cách suy luận của tôi như thế này, anh Minh nghe thử coi có hợp lý không? Khoảng tám giờ tối của hơn một tháng về trước, Đại úy Thi công binh Trường Võ Bị, nhận được khẩu lệnh trực tiếp từ Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, đi phá cầu Đại Ninh. Đại úy Thi dùng một chiếc xe dodge chở đầy hợp chất C4, cùng với bốn người lính công binh của ông ta đi phá cầu. Mười một giờ đêm, năm người đến nơi, họ dừng xe trên cầu Đại Ninh rồi quan sát hiện trường. Dưới sông, ở độ sâu ước chừng mười lăm thước, từng làn hơi nước lạnh lẽo từ mặt sông Đa Nhim bốc lên cộng với những cơn gió rét lùa qua vách núi, lòn dưới chân cầu. Cái lạnh thấu xương của núi rừng cao nguyên vào lúc nửa đêm về sáng, khiến cho mọi người run cầm cập. Tối hôm đó, nếu tôi nhớ không lầm thì hình như là đêm rằm hay mười sáu gì đó. Cho dù là có ánh trăng, cũng không đủ soi sáng khắp dưới gầm cầu, để lính công binh thực hiện công tác đặt chất nổ. Thường thì khi muốn phá sập một cây cầu, người ta phải cột chất nổ vào chân cầu, vì đó là điểm trọng yếu của nó. Chân cầu gãy, cầu sẽ sập. Những người lính công binh của Đại úy Thi, không phải là biệt kích, làm sao họ có thể treo mình dưới những sợi dây dài hàng chục mét, đánh đu bên hông hoặc dưới gầm cầu tối đen, để cột chất nổ vào chân cầu. Nội cái chuyện đong đưa trong gió như là làm xiếc, cũng đủ cho mấy anh lính công binh mất hồn, sơ ý sẩy tay là rơi tòm xuống sông, kể như toi mạng. Chuyện mỗi anh Công binh phải ôm theo vài chục kí chất nổ để cột vào chân cầu, gài ngòi nổ, chạy dây dẫn điện, đó là chuyện làm không tưởng, ngoài khả năng của họ.

Minh chận ngang.

-Cậu Quân nói là cậu không biết gì về chất nổ, sao cậu lại có thể diễn tả một cách rành rọt như vậy.

Tôi cười.

-Tất cả từ ciné, tôi coi nhiều phim chiến tranh với những toán Biệt kích quân được huấn luyện thuần thục, công tác của họ là xâm nhập vào đất địch, dùng chất nổ phá hoại cầu cống, đường xá của đối phương. Kiến thức về phá cầu, là do tôi học được trong những phim chiến tranh.

Tôi ngưng nói, quay tìm lon nước bên chỗ Cúc ngồi, ực một hơi rồi mới nói tiếp.

-Không thể làm gì khác vì những khó khăn, trở ngại như trên, Đại úy Thi sau khi quan sát hiện trường kỹ càng ông de xe đến giữa cầu, ra lịnh cho lính của ông ta đem tất cả chất nổ từ chiếc xe dodge xuống, sắp thành đống ngay mí nối giữa cầu Đại Ninh, chỗ cây thông mà anh vừa cho xe chạy qua, gắn ngòi nổ. Khi mọi việc xong xuôi, Đại úy Thi cùng toán lính của ông ta lăn cuộn dây điện về phía bên này cầu, thuộc địa phận Đà Lạt. Khoảng cách từ khối chất nổ, cho đến nơi an toàn mà Đại úy Thi cùng lính của ông ta ẩn nấp, ít ra cũng phải hơn tám mươi lăm mét. Để cho chắc ăn, tôi đoán nơi họ ẩn núp phải cách xa nơi đặt chất nổ, tối thiểu là trên một trăm mét. Cuối cùng Đại úy Thi chính tay bấm nút để kích hỏa, nhiều tia chớp xé toạc màn đêm tiếp theo là tiếng nổ tưởng chừng như rung chuyển cả đất trời, một cột lửa khổng lồ cao vài chục mét bùng lên soi sáng cả một vùng. Cầu Đại Ninh hoàn toàn chìm trong biển lửa, có nghĩa là cầu đã bị chôn vùi dưới sông Đa Nhim. Đại úy Thi cùng toán lính của ông ta leo lên chiếc xe dodge đã quay đầu sẵn, chạy về Đà Lạt. Đại úy Thi tin chắc rằng công tác hoàn tất tốt đẹp, mà không kiểm soát lại hiện trường, cho nên ông ta mới báo cáo với Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng là cây cầu đã sập rồi. Có một điều khá quan trọng mà Đại úy Thi quên nghĩ đến là, khối chất nổ mà ông ấy đặt trên mặt cầu, khi nổ sẽ tỏa ra như hình cái nón lá lật ngửa. Tất cả sức công phá của nó bung mạnh lên trời cao, giống như trái lựu đạn mà anh Minh cho nổ, khi diệt mấy tên Việt Cộng đóng chốt. Đỉnh cái nón lá chỉ là một điểm nhỏ nằm trên mặt đường của cây cầu, nơi đó, sức phá hủy của chất nổ gần như là con số không. Cho dù Đại úy Thi có đặt thêm hàng tấn chất nổ vào đó, cũng không làm cho cây cầu sập được.

Tôi nhìn Minh rồi kết luận.

Hình minh họa

-Tôi đã tự đặt mình vào vị trí của Đại úy Thi, và tôi biết bất cứ ai ở vào hoàn cảnh đó, cũng sẽ hành sử giống như ông ấy mà thôi. Anh Minh nghĩ coi tôi suy luận như vậy có đúng không?

Minh nhìn tôi rồi gật đầu.

-Có thể là đúng, dấu vết sụp ở giữa cầu chứng tỏ là Đại úy Thi có cho nổ mìn tại đó.

Cúc đang chăm chú lắng nghe tôi nói chuyện với Minh, bỗng nàng đột ngột hỏi tôi.

-Anh à, tại sao anh quan tâm nhiều đến chuyện cây cầu như vậy, em chỉ muốn mau mau về Đà Lạt để gặp ba má.

Minh hỏi Cúc với giọng đầy ngạc nhiên.

-Ủa, bộ ba má cô còn kẹt ở Đà Lạt sao? Chuyện này mệt cầm canh à nghen, Việt Cộng mà bắt được ba cô, khác nào họ trúng số độc đắc. Tài xế xe tải như tôi mà cũng biết rằng, cứ nhắm mắt mà khảo ba của cô, thế nào cũng lòi ra của, lòi ra đô la.

Cúc cười thích thú.

-Anh nói đúng, nhưng ba tôi kẹt ở bên Mỹ rồi, ở Đà Lạt là ba má chồng của tôi. Gần hai tháng rồi, tôi chưa được gặp ông bà, cho nên tôi mới nóng lòng như vậy.

Nghe Cúc nói, tôi vội hỏi Minh.

-Anh Minh à, mấy giờ mình tới Đà Lạt?

Liếc mắt nhìn đồng hồ đeo tay, Minh nói.

-Chậm lắm là mười giờ.

Khi xe chạy ngang qua khu phố Hòa Bình, tôi nhìn quanh, người đâu không thấy, chỉ thấy cờ đỏ sao vàng treo khắp phố phường. Nếu đem so sánh cờ của nước Việt Nam Cộng Sản với cờ của Trung Cộng, nó giống nhau đến chín mươi phần trăm. Cái khác biệt duy nhất là trên lá cờ của Tàu Cộng ngoài một cái ngôi sao vàng ở giữa, họ thêm vào lá cờ bốn cái ngôi sao vàng nhỏ, Mãn, Tạng, Hồi, Mông. Chừng đó chi tiết cho tôi thấy, Việt Nam Cộng Sản đã thần phục Thiên Triều, đã tự đặt nước Việt Nam vào vị trí là chư hầu của Tàu Cộng, tất cả được thể hiện qua lá cờ đỏ sao vàng, một lá cờ nô lệ lai căn như vậy không thể nào được coi là cờ của người Việt Nam. Cả Thành phố Đà Lạt nhuộm bởi một màu đỏ rực, xen lẫn vào đó lác đác dăm ba lá cờ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Đà Lạt vốn là thành phố du lịch của Việt Nam, có nhịp sống trầm lặng yên tĩnh, với nét đẹp của hoa Đào và sương mù, đến hôm nay sau hơn một tháng giải phóng, trông nó cứ như là một góc phố nào đó của Tàu Cộng, một góc phố chết trong nô lệ, chết trong rừng cờ đỏ, sao vàng.

Theo sự hướng dẫn của tôi, Minh ngừng xe trước nhà ba tôi. Nhìn căn nhà, Minh rối rít khen:

-Nhà đẹp quá mạng, của cậu hả?

Tôi cười với Minh.

-Anh nghĩ sao mà hỏi như vậy, tôi chỉ có cái mạng cùi, đây là nhà của ba tôi.

Tôi bắt tay Minh với chút ngập ngừng, không hiểu sao, tôi lại lừng khừng nửa muốn xuống xe, nửa muốn nấn ná thêm chút nữa. Có phải vì chút tình giữa hai người lính Việt Nam Cộng Hòa hay không? Hay là tôi thích tính tình bộc trực, thẳng như ruột ngựa của Minh, của người Miền Nam. Chắc là cả hai.

Tuồng thăm Thầy cũ!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on June 16th, 2022

Post by Sơn râu 24 Feb 2024

Tranh Bảo Huân

Chuyện rằng: Năm Tự Ðức thứ mười lăm (1862), ông Phan Thanh Giản vâng mạng triều đình vào Nam nhậm chức Kinh Lược ba tỉnh Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Khi đến Gia Ðịnh, ông ghé Gò Vấp để viếng tôn sư Võ Trường Toản. Lúc gần đến nhà tranh của thầy thì ông truyền xếp võng điều và lọng lại. Ông xuống đi bộ vào bái thăm thầy.

Thầy trò gặp gỡ nhau khôn xiết vui mừng, vì cách nhau đã nhiều năm! Hỏi thăm việc, hàn huyên xong rồi, ông Phan Thanh Giản bái tạ thầy mà đi Vĩnh Long.

Ông dâng lên cho tôn sư hai nén bạc để uống trà. Tôn sư Võ Trường Toản đáp lại, cho học trò cũ của mình một chục trái bắp! Ông Phan thọ lãnh bắp của tôn sư cho, bèn bổn thân xách lấy, chẳng để cho quân lính nó cầm. Ði một đỗi xa ông mới truyền sửa võng lọng mà lên lại.

Thiệt là tình thầy trò giữa những con người có học và có hạnh! “Gặp vận vinh vang thêm toại chí, nhớ thương sư phụ phận con em!”

o O o

Ðó là tình nghĩa thầy trò hồi xưa. Năm 1975, CS Bắc Việt xích hóa được Miền Nam. Ngạc nhiên thay, thầy cô ‘bị’ chúng xưng tụng, thổi phình lên như bong bóng bay lên tới tận mây xanh.

Nào là kỹ sư tâm hồn, nhà giáo nhân dân (chớ không phải nhăn răng).  Rồi mười năm trồng cây; trăm năm trồng người.

Và bà con mình mới biết ngày 20 tháng Mười Một hằng năm là “Ngày nhà giáo”. Ðói chết cha mà ngày nầy học trò chỉ tặng hoa thay vì cho thầy cô vài lít gạo.

Chắc thấy mấy cô đói quá xá, đói lòi cả hai cái lỗ tai, nên mấy năm trước, bọn quan lớn thị xã Hồng Lĩnh tỉnh Hà Tĩnh rủ rê một đám cô giáo đi ‘tiếp khách’. Cả đám mất nết nầy nhậu, hát hò để ôm vai, bá cổ để ‘an’ rồi ‘ủi’ mấy cô.

Quan lèng èng cỡ cấp thị xã, bọn bồi bút báo quốc doanh nó đâu có ngán. Nó la rùm lên là: “Sao tụi bây lại dám điều mấy cô giáo đi ‘tiếp khách’?”

Hồi xưa trong Nam, động từ phụ nữ ‘tiếp khách’ nghĩa là đi làm gái, đi ‘tiếp khách’ làng chơi. Tui e mấy nhà báo nầy dám ám chỉ cái vụ mấy quan khoái nhậu thịt sống nhưng sạch lắm đó đa. Vì đất Hà Tĩnh có núi Hồng Lĩnh, có dòng sông Lam, chính là quê hương của thi hào Nguyễn Du tác giả truyện Kiều. Thúy Kiều từng ‘tiếp khách’ Thúc Sinh: “Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng. Ðêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng?”

Thì thử hỏi mấy con heo nọc Hồng Lĩnh nầy lúc ăn nhậu ngà ngà rồi cọ quẹt, bốc hốt tùm lum. Nếu cô giáo đã có chồng hay có người yêu rồi thì họ nghĩ ra sao? Mấy ổng có đành nhắm mắt làm ngơ?  Ðành nuốt nhục mà chấp nhận cho người vợ trẻ hay người yêu của mình đi ‘tiếp khách’ hay không?

o O o

Cái xã hội thời CS, đạo đức tôn sư trọng đạo đã suy đồi đến thế thì không phải chỉ quý cô bị làm nhục mà ngay cả mấy ông giáo già nó cũng không tha.

Ninh Bình, mấy năm trước, có Trùm CSVN rùm beng về thăm trường cũ. Báo chí quốc doanh Miền Bắc đua nhau liếm gót Trần Ðại Quang. Tụi nó ca là: “Với thầy và trò Trường THPT Kim Sơn B (Ninh Bình), Chủ tịch nước Trần Ðại Quang không chỉ là người trò giỏi, người con ưu tú của quê hương, người từng bắt đom đóm làm đèn để học. Ðó là tấm gương sáng về nghị lực vượt khó để bao thế hệ học sinh noi theo.”

Rồi quan chức sở tại bắt Vũ Xuân Sinh, Hiệu trưởng trường nầy phải ‘bợ đít’ Trần Ðại Quang. “Lần về dự khánh thành trường năm 2016, Chủ tịch nước đã căn dặn thầy trò cố gắng dạy và học để xứng đáng với những thế hệ đi trước.

Nghĩa là Trần Ðại Quang về trường với tư cách là học trò cũ nhưng dạy lại cả thầy trường nầy. Vậy là thầy bèn hô khẩu hiệu hạ quyết tâm: “Dạy tốt! Học tốt!” Cái gì cũng tốt hết ráo! Kể cả chuyện tào lao Bắc đế cũng tốt. “Giờ hay tin bác mất, thầy trò nhà trường rất đau buồn nhưng hứa sẽ cố gắng hơn nữa trong dạy và học để xứng đáng với lời căn dặn của bác”

(Xin độc giả chú ý cách tên bồi bút nầy dùng chữ ‘bác’ để nịnh. Nhưng nó cũng chơi đểu, nó không viết hoa chữ bác. Viết hoa là ‘Bác’ khác. Không viết hoa, chữ bác có nghĩa là anh. Tay nầy hỗn, hắn dám kêu Chủ tịch nước VNCS là anh).

Không những thế, chúng còn bắt ông Phạm Thạnh (81 tuổi) là Hiệu trưởng năm xưa đã từng dạy dỗ Chủ tịch nước Trần Ðại Quang phải nịnh.

Hơn 80 tuổi, mái đầu đã bạc trắng, nặng tai; nên mỗi khi nói chuyện với khách, thầy Thạnh luôn phải có vợ túc trực bên để…phiên dịch. Dẫu nghễnh ngãng như vậy nhưng thầy của Chủ tịch nước Trần Ðại Quang tự hào kể chuyện trò cũ: “Có lần xem báo thấy học trò của mình tiếp xúc gần gũi với đồng bào dân tộc trong Tây Nguyên, thầy đã nghĩ: “Anh ấy rồi sẽ là Ðinh Bộ Lĩnh thứ 2 của Ninh Bình”. Ha ha!

o O o

Báo chí quốc doanh trong Nam thấy đồng nghiệp ngoài Bắc nịnh dơ như vậy, dẫu lòng ấm ức nhưng vẫn phải ráng chờ Trần Ðại Quang đi bán muối rồi mới dám lôi Francois Sadi Carnot, Tổng thống nước Pháp về thăm thầy cũ trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư của mấy thầy Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Ðặng Ðình Phúc và Ðỗ Thận soạn do Nha Học chính Ðông Pháp xuất bản ra mà chửi một bài là: “Nhân một lần về thăm quê nhà, khi đi ngang qua trường làng, trông thấy người thầy dạy mình lúc bé, bây giờ đã rất già nhưng vẫn còn đi dạy, ông Carnot ghé vào, đến ngay trước mặt người thầy cũ, lễ phép: “Chào thầy, con là Carnot, thầy còn nhớ con không?”.

Ông Carnot, Tổng thống Pháp, không yêu cầu chính quyền địa phương ‘tiền hô hậu ủng’ đón mình, cũng không cần dọn dẹp trường lớp, trang hoàng lộng lẫy, với hàng rào danh dự học trò để chào mừng.

Ðối với người thầy giáo già, cũng chẳng cần biết có ‘ông lớn’ nào tới, chẳng cần chạy vội ra cổng trường xum xoe đón tiếp rồi hộ tống vào lớp xem xét, huấn thị này nọ. Thầy vẫn dạy học bình thường như mọi ngày. Tổng thống Carnot quyền uy hôm nay vẫn là cậu học trò nhỏ tinh nghịch của ngày xưa đã từng bị thầy véo tai, bắt phạt quỳ gối.

o O o

Bây giờ là chuyện tình thầy trò mới vừa xảy ra bên Úc! Một trong những vỡ diễn coi bộ rất ăn khách suốt 5 tuần vận động tranh cử vừa qua là tuồng: “Tui nghèo nhưng tui hổng có ngu!”

Ðảng Lao Ðộng Liên bang Úc sau 9 năm làm đối lập vừa thắng cử, chiếm được chánh quyền. Tân Thủ tướng Anthony Albanese hay khoe: “Tui không có Tía. Má tui làm nhân viên vệ sinh, chuyên nghề quét dọn, lau chùi. Tui ở ‘housing’, (nhà chánh phủ cho dân nghèo mướn). Giờ tui là Thủ tướng thứ 31 của nước Úc Kangaroo.

Thấy tuồng ăn khách quá xá, quà xa nên giờ kép Jason Clare ra hát bài ‘Trường cũ tình xưa’! “Hôm nay tôi trở về thăm trường cũ. Cây dương đầu trường còn khắc hàng tên. Thầy đó trường đây bạn hữu đâu rồi?”

Thông thường, những người làm quan lớn ở Úc xuất thân từ những trường tư rất xịn. Trường xịn chặt phụ huynh mỗi năm hàng chục ngàn đô tiền học phí cho con. Ðầu tư như vậy không bao giờ lỗ cho dù cậu ấm, cô chiêu học dở ẹc. Sao kỳ vậy? Dễ hiểu mà bạn học đứa nào cũng giàu, lớn lên, là bạn học cũ dựa vào nhau thành băng đảng rất dễ kiếm lợi danh.

Tuy nhiên cũng có quan lớn học trường công ở khu vực nghèo vì nhà nghèo.

Cabramatta thủ đô của người Việt Nam tị nạn ở Úc có trường công lập Cabramatta Public School. Dân biểu Jason Clare, có vợ Việt Nam, là tân Bộ trưởng Giáo dục Liên bang Úc mới trở về thăm trường cũ. Jason Clare ôm người thầy cũ là cô Fry rồi tấm tức khóc. Cô Fry xoa lưng trò cũ để ông Bộ trưởng Giáo dục Liên bang dằn cơn xúc động.

(Sau bao nhiêu năm, Jason Clare giờ là sếp của nhiều sếp của cô Fry; nghĩa là nó là sếp bự nhứt, nhưng nó không ăn chuối)

Kết luận tuồng về thăm thầy cũ của Úc có nước mắt. Tuồng của CSBV thì diễn hài. Jason Clare diễn giỏi. Còn Trần Ðại Quang giễu dở.

ĐXT