Xem Lại Những Hí Họa Của Chóe

tienglongta.com

Nguyễn Ngọc Chính

Post February 16, 2023

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Viết về hội họa có lẽ không ai có đủ “thẩm quyền” hơn các họa sĩ. Họ là những người trong nghề nên có những nhận xét chuyên môn mà những người “ngoại đạo” như tôi không thể nào có được. Muốn làm nhà phê bình hội họa lại càng khó hơn vì chưa chắc một họa sĩ tài hoa đã là một nhà phê bình xuất sắc.

Thế cho nên, bài viết này chỉ là một cái nhìn của người thưởng ngoạn những bức hí họa của họa sĩ Nguyễn Hải Chí (*) mà lâu nay ta biết đến qua cái tên Chóe trên báo chí.

Sự nghiệp hí họa của Chóe kéo dài qua hai thời kỳ, từ năm 1969 dưới thời VNCH và chấm dứt vào năm 2003 trong thời CHXHCN. 2003 là năm ông qua đời vì biến chứng của bệnh tiểu đường sau một thời gian bị lòa con mắt, đành phải “bó tay” xếp cọ. Họa sĩ mà mắt bị lòa thì cũng chẳng khác nào ca sĩ bị mất giọng.

Họa sĩ Chóe

(Ảnh Nguyễn Phong Quang)

Bước đường dẫn đến nghệ thuật của Nguyễn Hải Chí quả là… đặc biệt. Người thanh niên sinh trưởng tại An Giang bước vào nghệ thuật qua lãnh vực văn chương chứ không phải bằng con đường hội họa. Ông tâm sự:

“Tôi đến với nghệ thuật vì… mê gái. Năm 20 tuổi, tôi thầm yêu trộm nhớ một cô gái Sài Gòn. Cô ấy có cả một tá sĩ quan chế độ cũ săn đón, còn tôi chỉ là một anh chàng thất học, không mong gì lọt vào mắt xanh người đẹp… Tôi biết nàng là độc giả của một tờ báo, vậy là tôi liều mạng sáng tác truyện ngắn với hy vọng sẽ được đăng…”

Chàng trai si tình làm liều thế nhưng lại có kết quả mỹ mãn: người con gái tên Nguyễn Thị Kim Loan đã trở thành vợ của ông cho đến ngày ông lìa đời. Và cũng nhờ si tình nên ông bước thẳng vào nghề viết lách, lại còn đoạt giải nhất về truyện ngắn của báo Tiền Tuyến năm 1969.

Cũng vào cuối năm đó, ông đã quen biết với nhiều nhân vật của làng báo Sài Gòn trong đó có nhà văn Viên Linh, chủ bút tờ Diễn Đàn. Khi họa sĩ chính của Diễn Đàn ra đi, bí quá, Viên Linh mới bảo: “Ông thử vẽ đi!”

Nguyễn Hải Chí kể tiếp, “Trước đây tôi chỉ mày mò học của một thầy giáo làng, nhưng nể bạn cứ vẽ liều. Vẽ xong, chẳng biết ký bút danh gì, Viên Linh lại bảo: “Ông tên Chí, vậy thì ký là Choé!”. Tôi nghe cái tên này thấy cũng kêu, vậy là thành bút danh…”

Từ tờ Diễn Đàn, ông còn vẽ cho tờ Báo Đen năm 1970, nhưng sự nghiệp vẽ tranh của Chóe vẫn chưa được độc giả lưu ý lắm. Thời đó, báo chí Sài Gòn đã có hai cây bút biếm nổi tiếng là Ngọc Dũng ký Tuýt và Đinh Hiển ký Hĩm. Phải đợi đến khi  chuyển qua cộng tác với báo Sóng Thần của Chu Tử ông mới bắt đầu được biết tới qua những bức hí họa.

Hí họa vẽ trong những năm 1972-1973 là những bức tranh lột tả tình hình xã hội tại miền Nam thời bấy giờ. Dĩ nhiên trong loại tranh biếm người họa sĩ chỉ vẽ ra những cảnh đáng phê phán, khác hẳn với loại tranh cổ động, tuyên truyền cho cái hay, cái đẹp của xã hội hoặc chế độ. Chính yếu tố này đã đi sâu vào suy nghĩ của người xem tranh, vì trông thì vui mắt thật nhưng vẫn có một cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ… Dưới đây là những hình ảnh trong tranh của Chóe: từ chiếc cyclo thường thấy nơi thành thị xa hoa, đến hình ảnh người nông dân gầy giơ xương ở thôn quê và cuối cùng là một con gấu mang tên Prices (giá cả) to béo, ục ịch đang leo trên những bậc thang được kết bằng hình người…   

(Vẽ tháng 8/1972)

(Vẽ tháng 3/1973)

(Vẽ tháng 5/1973)

Năm 1973 cũng là năm diễn ra Hiệp định Paris về Việt Nam nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình giữa 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa ký kết tại Paris ngày 27/1/1973.

Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, hai nhân vật chủ yếu trong cuộc đàm phán, cả hai ông đã được trao giải Nobel Hòa Bình năm 1973. Đây là đề tài thời sự nóng bỏng để báo chí khai thác và dĩ nhiên cũng là đề tài cho những bức hí họa của Chóe. Chân dung các nhân vật được lần lượt xuất hiện trên báo chí Sài Gòn.

Đầu tiên là Lê Đức Thọ của phía VNDCCH, người đã từ chối không nhận giải Nobel Hòa bình. Qua nét bút của Chóe, ông Thọ có hai chiếc răng cửa thật dài để chống đỡ cho bảnh Hiệp định (Agreement). Anh du kích thuộc Mặt trận Giải phóng miền Nam nhỏ bé đang lăm lăm khẩu súng nép mình dưới bản Hiệp Định…   

(Vẽ tháng 4/1973)

Phía Mỹ có ngoại trưởng Henry Kissinger được Chóe vẽ với một cái miệng có hình lỗ khóa. Trong cặp mắt kính của Kissinger mang hình ảnh một bên là tháp Eiffel và bên kia là hình ngôi sao cũng có hình lỗ khóa. Chiếc mũi của Kissinger lại chính là chìa khóa, chắc là để mở miệng và mở mắt cho vị ngoại trưởng Mỹ gốc Do Thái này.

(Vẽ tháng 6/1973)

Cả hai nhân vận Lê Đức Thọ và Kissinger còn xuất hiện trong một bức tranh vẽ vào tháng 6/1973. Chóe vẽ hai người đang ngồi trên một con ngựa gỗ, một loại đồ chơi của trẻ em thời xưa để tạo cảm giác ngựa đang phi nhưng chỉ lắc lư tại chỗ chứ không hề chuyển động. Giữa hai nhân vật được che phủ bằng một tấm chăn có dòng chữ “Negotiations”, hay còn gọi là Đàm phán:

(Vẽ tháng 5/1973)

Bối cảnh chính trị thế giới vào thời điểm 1973 là cuộc “đi đêm” giữa Nixon và Mao Trạch Đông. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến Hiệp định Paris năn 1973. Cái “bắt tay hữu nghị” Hoa Kỳ – Trung Cộng được Chóe vẽ trên “chiếc cầu dựng bằng người”, tượng trưng cho hai miền Nam – Bắc Việt Nam. Chiếc cầu còn được đóng đinh vào chân của hai người dân để gia cố cho sự bền vững của tình hữu nghị Tư bản – Cộng sản:

Chóe còn tiên đoán hòa bình cho Việt Nam bằng bức tranh một người Việt gầy giơ xương đón nhận hòa bình với chiếc nón lá. Khi “trái bom” hòa bình rơi xuống, chiếc nón lá bị rách toạc. Nhân vật trong tranh khiến có người liên tưởng đến một đệ tử của “cái bang” với chiếc nón lá xin tiền. Tác giả chỉ vẽ có vậy, ai muốn hiểu sao thì hiểu!

  Lúc sinh thời, họa sĩ Chóe cho rằng nghề của ông là vẽ “hí họa”, chứ không phải “biếm họa”. Ông nói: “Xin bạn hãy cùng tôi gọi con đường này là hí họa, vì hí họa là con đường rộng và lòng ta rộng theo… Trong hí họa cần cả nội dung lẫn hình thức. Không tạo được hình thức sẽ làm hỏng nội dung. Hình thức càng tốt, càng giảm được số chữ phải ghi trong tranh. Hí họa cần nhất là dễ nhìn, dễ phân biệt, tập trung làm nổi bật ý chính, tạo cho người xem chú ý ngay về sự khập khễnh của hình thức rồi mới dẫn dắt họ đến cái phi lý, cái lố bịch của nội dung”.

Chân dung tự họa của Chóe (1992)

Hí họa của Chóe được các báo danh tiếng thế giới như The New York Times, Newsweek… chọn đăng. Cũng trong năm 1973, cuốn The World of Choé (Thế giới của Choé) được nhà xuất bản Glade Publications ấn hành tại Mỹ do công trình thu thập của nhà báo Barry Hilton. Một trong những bức tranh trong cuốn sách này, tuy là hí họa nhưng lại mang nét buồn của đất nước chiến tranh khi thế giới bước vào mùa Giáng sinh vui vẻ trong năm 1972.

Ông già Noel Việt Nam áo quần tả tơi, đầu đội nón lá và trên vai là chiếc đòn gánh với hai cái thúng thủng đáy, trống không, không quà Giáng sinh mà cũng chẳng nụ cười. Nếu quan sát kỹ hơn người xem sẽ thấy hai ngón chân cái của ông giao nhau vì ông vốn là người… Giao Chỉ.   

Năm 2004, Chóe mang 29 bức tranh chân dung sơn dầu về những người phụ nữ đoạt giải Nobel sang Stockholm nhân Ngày Việt Nam tại Thụy Điển. Giới thưởng ngoạn nghệ thuật ở Bắc Âu có dịp nhìn lại những khuôn mặt nữ nổi tiếng thế giới như Berthan Von Suttner (Nobel Hòa bình, 1905), Grazzia Deledda (Nobel Văn chương, 1926), Sigrid Undset (Nobel Văn chương, 1928), Emily Greene Balch (Nobel Hòa bình, 1946), Rosalyn Yalow (Nobel Sinh lý học & Y học 1977), Rigoberta Menchu (Nobel Hòa bình, 1992) và cả chân dung Afred Nobel, người sáng lập giải thưởng.

Chân dung Afred Nobel

Nhà báo Lê Minh Quốc nói về Chóe: “Tôi ấn tượng nhất Choé ở bức hí họa vẽ một người phụ nữ gánh trên vai cả trái đất mang tên Phụ nữ nước tôi. Đó là bức tranh đầy ý nghĩa về vai trò của người phụ nữ Việt Nam. Việc bức tranh ấy được chọn triển lãm hội hoạ quốc tế chứng tỏ tài năng của họa sỹ. Rất lâu nữa Việt Nam mới có được một họa sỹ biếm tài năng như Choé”.

Chóe đem bộ tranh Phụ nữ nước tôi đi dự triển lãm tranh quốc tế tại các thành phố lớn bên Nhật theo lời mời của lãnh sự Nhật Bản năm 1995. Theo tôi, bức tranh Chồng Con trong số tranh triển lãm mới “ấn tượng” nhất.

Tranh vẽ một người đàn bà mặc áo dài nhưng lại đi chân đất. Trên vai có đòn gánh nặng chĩu, một đầu là người chồng với chai rượu trong tay và điếu thuốc trên miệng. Đầu bên kia là 5 đứa con ngồi lọt thỏm trong một cái thúng. Tranh chỉ vỏn vẹn có hai chữ Children và Husband nhưng lại nói rất nhiều về sự tảo tần và chịu đựng của người phụ nữ Việt Nam. 

“Chồng con” (1995)

Bà Kim Loan nói về người chồng quá cố: “Có thể nói là cuộc đời của chồng tôi rất nhiều thăng trầm. Trước 1975 ông là quân nhân, sau được chuyển về làm ở Bộ Tổng tham mưu của chế độ cũ nhưng thời đó có luật cấm quân nhân làm báo. Tuy nhiên vì mê nghề báo nên ông vẫn lén lút viết và đến năm 1974 bị lộ, bị bắt, ở tù được mấy tháng thì miền Nam mất thì ông được tự do. Sau năm 1975, ông làm cho báo Lao Động gần một năm thì bị đưa đi học tập cải tạo cùng một số văn nghệ sĩ miền Nam. Nhưng thời gian cải tạo quá dài, đến 9 năm, từ 1976 – 1985 mới trở về”.

Bà Kim Loan trong buổi lễ tưởng niệm 10 năm ngày mất của họa sĩ Chóe

Những ngày cuối đời khi không còn nhìn rõ để vẽ, Chóe quay qua làm thơ. Những câu thơ dưới đây tuy không vần điệu nhưng đã nói lên nỗi lòng của người họa sĩ tài hoa:

Trót làm người vui tính.

Khi gặp chuyện đau lòng.

Ta không dám khóc.

Bằng nước mắt…

Cuối năm 2002, Nguyễn Hải Chí được đưa sang Mỹ với hy vọng những tiến bộ y khoa có thể giúp ông kéo dài tuổi thọ. Ngày 18/1/2003, bác sĩ ở Virginia đã chích thuốc phục hồi thị lực cho ông. Khi được nhìn bằng mắt của mình, chỉ trong khoảng nửa giờ, ông vẽ cấp tốc một mạch 6 bức tranh. Một trong số 6 tác phẩm đó, ông đã vẽ những khuôn mặt cười, tràn đầy lạc quan, lúc nào cũng… chí chóe:

Chú thích:

(*) Nguyễn Hải Chí (1943 – 2003) là một họa sĩ vẽ tranh biếm nổi tiếng với bút danh Choé, ngoài ra ông còn có bút danh Trần Ai, Cap, Kit. Ông được coi là “họa sĩ biếm số một của Việt Nam” với những tranh biếm đặc sắc phê phán những thói hư tật xấu của xã hội qua nhiều thời kỳ. Ông vẽ chủ yếu là tranh sơn dầu, giấy dó và tranh lụa. Ngoài vẽ, Chóe còn được biết đến như một nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ.

Nguyễn Hải Chí sinh ngày 11/11/1943 tại Cái Tàu Thượng, Hội An, Chợ Mới, An Giang. Sau đó gia đình ông chuyển về xã Vĩnh Tế dưới chân núi Sam, Châu Đốc. Do hoàn cảnh gia đình rất nghèo, ông phải nghỉ học từ năm lớp 2, đi làm kiếm sống từ năm 9 tuổi. Ông làm đủ nghề: đập đá, đốn củi, chăn bò mướn…

Năm 1960, bị cán bộ Cộng sản ép lên núi hoạt động du kích nên ông bỏ trốn về Mỹ Tho, xin làm việc tại một phòng vẽ quảng cáo và học vẽ tại đây. Năm 1964, ông đi quân dịch, năm sau được chuyển về làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Lúc này ông bắt đầu làm thơ, viết truyện gửi đăng báo. Từ đó ông đã thâm nhập vào làng báo Sài Gòn.

Cuối năm 1969, ông chuyển qua vẽ hí họa cho tờ Diễn Đàn, ký tên Choé, nghệ danh do nhà văn Viên Linh đặt, lúc đó là chủ bút báo Diễn Đàn. Một số tranh của ông đã đụng đến vấn đề “nhạy cảm” do đó ông bị chính quyền VNCH bắt giam từ tháng 2 đến tháng 4/1975. Sự kiện 30/4/1975 diễn ra, Nguyễn Hải Chí thoát khỏi trại giam của An ninh Quân đội tại số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn.

Mấy tháng sau ông được nhận vào làm báo Lao Động Mới với nhiệm vụ trình bày tờ báo. Tháng 4/1976, ông bị bắt đi học tập cải tạo cùng với các văn nghệ sĩ miền Nam cho đến cuối năm 1985 tại các nhà giam Chí Hòa rồi trại cải tạo Gia Trung, Pleiku. Sau đó ông vượt biên nhưng bị bắt và phải trở lại tù thêm lần nữa.

Từ năm 1990, do không xác định được thời hạn tù, ông bị từ chối đơn xuất cảnh theo diện H.O. Ông ở lại Việt Nam hành nghề vẽ tranh bán cho khách nước ngoài. Ông cộng tác với phòng tranh Tự Do tại Thành phố Hồ Chí Minh, để trưng bày và bán tranh lụa, giấy dó và tranh sơn dầu, ký tên Vân Bích. Ít lâu sau, ông được nhiều tờ báo trong nước đề nghị cộng tác trở lại. Tranh của ông tiếp tục xuất hiện trên nhiều tờ báo và tạo được phong cách riêng trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những tiêu cực của xã hội.

Năm 1997, Choé bị đột quỵ, dẫn đến bại liệt một thời gian. Trước đó ông cũng đã mắc phải bệnh tiểu đường. Từ năm 1998 tới 2001, ông có 2 lần sang Pháp điều trị nhưng không thuyên giảm. Từ năm 2001, ông bắt đầu đi đứng khó khăn, mù mắt trái, mờ mắt phải, từ đó không vẽ nữa mà chuyển qua làm thơ, viết nhạc.

Cuối năm 2002, ông được bạn bè giúp đỡ đưa sang Virginia, Hoa Kỳ chữa bệnh. Ngày 22/2/2003, ông đột ngột bị ngộp thớ, 10 ngày sau đột quỵ và đứt mạch máu não. 3 giờ 50 phút sáng ngày 12/3/2003, ông qua đời tại bệnh viện Fairfax, Virginia. Lễ tang được cử hành tại nhà thờ các thánh tử đạo Arlington, sau đó được đưa về Việt Nam an táng tại nghĩa trang nhà thờ Thánh Mẫu, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Ngoài rất nhiều tranh biếm đã được đăng trên các báo, còn những tuyển tập thu thập các tác phẩm của Chóe:

Sách

·         The World of Choé (Thế giới của Choé), do nhà báo Mỹ Barry Hilton đã thu thập một số tranh biếm họa của ông, do nhà xuất bản Glade Publications ấn hành tại Mỹ năm 1973.

·         Lai rai vẽ viết – bút ký (nxb Lao Động, 1992)

·         Tử tội – tuyển tập tranh hí họa, thơ, văn, nhạc (nxb Tiếng quê hương, Hoa Kỳ, 2001)

·         Nghề cười, tuyển tập tranh, thơ, văn, nhạc (nxb Văn hóa Văn nghệ, 2013)

Một số ca khúc:

·         Gió  – (Hồng Nhung hát), nghe tại:

http://cothommagazine.com/nhac/Gio-NHC-HN.mp3

·         Mưa  – (Cẩn Vân hát), nghe tại:

http://cothommagazine.com/nhac/Mua-NHC-CV.mp3

·         Bên vườn nhà em – (Nguyễn Chánh Tín hát), nghe tại:

http://cothommagazine.com/nhac/BenVuonNhaEm-NHC-NCT.mp3

·         Khi đến cuối đời

·         Vinh dự

·         Khi dứt cơn mưa

·         Dù ta xa nhau

·         Ngả lưng trên đồi

(Nguồn: Wikipedia)

Dâu bể trùng phùng

Huy Van Truong

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Hình minh họa

Tập 2

Phần 7
Mười ngày

Tôi trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt. Một ông cán bộ Việt Cộng ngồi sau cái bàn, giống như bàn ăn ở trong tiệm ăn bình dân của Tàu. Nhìn quanh căn phòng, không thấy ai, tôi bước đến trước mặt ông ta.

-Thưa ông, tôi là sĩ quan Ngụy đi trình diện theo lịnh gọi của Chính phủ Cách mạng.

Người cán bộ hất hàm.

-Giấy chứng minh đâu?

Tôi lục trong ví, đưa cho ông ta thẻ căn cước quân nhân và giấy chứng chỉ tại ngũ của tôi.

Người cán bộ tuổi chừng ba mươi, áo quần chỉnh tề, gương mặt sáng sủa, đưa tay cầm lấy giấy tờ tùy thân của tôi, trong khi đôi mắt của ông ta chăm chú nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi sau đó thản nhiên vất tất cả giấy tờ của tôi vào cái bị để dưới đất. Trên bàn, trước mặt ông cán bộ Việt Cộng là một xấp giấy và cây viết Bic, với giọng nói từ tốn, cái từ tốn đầy uy quyền của phe thắng trận.

-Tên?

Tôi đáp.

-Nguyễn Trọng Quân.

Ông ta cúi đầu ghi chép rồi hỏi tiếp.

-Cấp bậc?

-Trung úy.

Ngẩn nhìn tôi với đôi mắt khó chịu.

-Anh phải nói là trung úy Ngụy, ở đây không có chuyện lẩn lộn “lập lờ đánh lận con đen” giữa một trung úy hàng binh Ngụy và một trung úy của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng.

Tôi nghĩ thầm, tay Việt Cộng này coi bộ cũng có ăn học đàng hoàng cho nên mở miệng ra là nói Kiều. Tôi định nói với ông ta, hôm nay tuy mang thân phận “Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu”, nhưng tôi biết chắc một điều là tất cả binh sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không một ai đầu hàng Cộng Sản, họ buông súng chỉ vì tuân lệnh thượng cấp. Và tôi có thể khẳng định với ông, cho đến chết họ vẫn tự hào là sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, dứt khoát không bao giờ lẩn lộn với sĩ quan Cộng Sản. Nghĩ như vậy, nhưng tôi kịp ngừng lại vì biết miệng người thắng trận có gang có thép, bất cứ những gì họ nói ra đều là mẫu mực, là chân lý cho mọi người noi theo.

Hình minh họa

Người cán bộ nói xong, lại cặm cụi ghi ghi chép chép. Sau đó, ông ta trao cho tôi tấm giấy to bằng một phần tư cuốn vở học trò.

-Đây là giấy chứng nhận đã trình diện Ủy ban quân quản, anh về nhà đợi lịnh mới, không được đi xa, muốn đi đâu phải có giấy phép.

Tôi quay người đi ra cửa, mắt liếc nhìn tờ giấy, tên của tôi và cấp bậc được điền vào chỗ trống bằng bút nguyên tử màu xanh. Đây là mẫu giấy đã được in sẵn, chữ ký cũng đã được ký trước rồi. Tờ giấy không ghi ngày tháng, chỉ vỏn vẹn có mấy hàng chữ.

Giấy chứng nhận.

Tên : Nguyễn Trọng Quân.

Cấp bậc: Trung úy Ngụy.

Đã trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt.

Ký tên.

Trần Chiến.

Kể từ hôm nay, cuộc đời của tôi hoàn toàn lệ thuộc vào tờ giấy này, đi đâu, làm gì, ở đâu, đều phải xin phép cái ông Trần Chiến lạ hoắc này.

Tôi gấp tờ giấy lại, nhét vào ví rồi thong thả ra về.

Gần một tháng trường trôi qua, tôi sống mà như bị giam lỏng, hoang mang, lo sợ không biết số phận của mình rồi sẽ về đâu. Khi sống trong tận cùng của tuyệt vọng, người ta chỉ còn biết dựa vào những tin đồn. Hôm nay, có tin là tất cả quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị bắt bỏ tù, ngày mai, lại có tin sẽ phải lên tàu đi ra Phú Quốc, nơi mà ngày xưa Việt Nam Cộng Hòa đã giam giữ tù binh Cộng Sản. Những tin đồn xấu như vậy tôi nghe qua rồi quên mất, nhất định không thèm nhớ. Rồi vài ngày sau nữa lại có tin đồn, chúng tôi sẽ được đưa đi học tập về chính sách của Chính phủ Cách mạng Lâm thời trong một thời gian ngắn. Sau đó được trả về quê cũ, ai ở đâu sẽ về lại nơi đó, sống và làm ăn lương thiện như một người dân thường. Đó là cái tin đồn mà tôi thích nghe nhất. Một cái tin đồn đầy lạc quan như vậy tôi phải giữ lại trong đầu, rồi hy vọng mọi chuyện sẽ diễn ra đúng như thế.

Cuộc sống của tôi trong những ngày bị giam lỏng, nếu không có những lo âu phiền muộn vô cớ, quả thật là tràn đầy hạnh phúc. Buổi sáng, tôi thức dậy khi mặt trời bắt đầu chiếu những tia nắng vàng ấm áp xuyên qua khung cửa sổ. Cúc đã nấu xong bữa ăn sáng cho tất cả mọi người trong gia đình, khi thì nồi xôi đậu đen ăn với muối mè đậu phụng, khi thì chén cháo đậu xanh ăn với đường cát trắng.

Tôi nói với Cúc.

-Em có vẻ thích món cháo lắm phải không?

Cúc cười.

-Ba em rất thích món này, ngày xưa khi ăn cháo trắng với trứng vịt muối, ba thường gật gù đắc ý nói với em “Ở ngoài xứ của mình, đây là món ăn sáng của nhà giàu”.

Hình minh họa

Tôi múc một muỗng đường cát trắng, rải lên chén cháo đậu xanh còn nóng hổi.

-Ba của anh và ba của em, hai ông già lúc nhỏ ở ngoài xứ đi chăn trâu để kiếm sống, buổi sáng có được củ khoai, lát mì lót bụng là quá rồi, cháo đâu mà ăn. Chắc ba em thấy mấy người Tàu ở Hội An ăn cháo nên mới nói vậy. Để hôm nào rảnh anh sẽ hỏi lại ba của anh, chuyện có đúng như vậy hay không? Anh với em cùng là dân Quảng Nam, nhưng là Quảng Nam mất gốc, cho nên phong tục tập quán của người xứ Quảng, tụi mình hoàn toàn mù tịt. Hay là vậy đi, mai mốt anh và em về xứ làm ruộng sinh sống “chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”, em sinh cho anh một bầy con cỡ chừng một chục đứa. Được không?

Cúc múc một muỗng cháo thổi nhè nhẹ.

-Anh muốn về đâu cũng được chỉ sợ Việt Cộng không cho. Với em, Đà Lạt, Sài Gòn hay Quảng Nam cũng như nhau thôi, sống ở đâu cũng vậy vì đều là đất nước Việt Nam mà. Có điều này em muốn nói là anh bớt mơ mộng một chút đi, sống dưới chế độ Cộng Sản mà anh nghĩ đến chuyện làm ruộng để nuôi một bầy con, đó là chuyện hiện thực huyền ảo.

Cúc nhìn qua khung cửa sổ.

-Hôm nay nắng đẹp quá, mình lên sân thượng ngắm cảnh, uống cà phê đi anh.

Sân thượng nhà tôi khá rộng, trước mặt là rạp ciné Ngọc Hiệp, nhích qua bên tay phải là quán cơm Kim Linh, Như Ý của người Tàu, gồm bốn cái kiosk nối liền nhau rồi đến con hẻm có quán mì quảng nổi tiếng của Đà Lạt.

Tôi và Cúc ngồi trên bộ ghế loại đặc biệt chỉ dùng ở ngoài trời. Tất cả trang thiết bị ở trong nhà, đều do bác Bảy mua sắm nên không thể nào chê được, đẹp, tốt và bền. Nhìn Cúc thong thả nhấp một hớp cà phê, đôi mắt lơ đễnh ngắm đám mây trắng trôi dật dờ ở cuối chân trời, trong lòng đầy sung sướng, tôi cầm tay Cúc rồi chỉ cho nàng hai ngọn núi mờ xa lẩn trong sương mù.

-Ước gì tụi mình được mãi mãi sống bên nhau như thế này, giống như hai ngọn núi Bà, ngàn năm đứng bên nhau cho dù vật đổi sao dời.

Cúc nhìn theo hướng tay của tôi chỉ.

-Vậy mà hồi nào tới giờ, em cứ tưởng đó là đỉnh Lâm Viên.

Tôi gật đầu.

-Đúng, đó là đỉnh Lâm Viên nhưng người dân Đà Lạt gọi là núi Bà.

Cúc thắc mắc.

-Có tới hai đỉnh núi, một ngọn là Bà, ngọn còn lại phải là Ông thì mới đúng chứ.

Tôi cười thích thú.

-Em nói đúng, ngọn bên trái là núi Bà, ngọn bên phải là núi Ông. Núi Bà cao hơn núi Ông chừng bốn chục thước. Em có biết tại sao không?

Cúc lắc đầu.

-Không.

Tôi giải thích.

-Anh chỉ đoán thôi, vì người Lạch theo chế độ mẫu hệ cho nên bà phải cao hơn ông mới hợp lý. Anh sanh đẻ ở Đà Lạt nhưng chưa bao giờ nghe người dân Đà Lạt gọi là “Núi Bà, Núi Ông”, mà anh chỉ nghe họ gọi chung cho cả hai ngọn núi là “Núi Bà”. Còn nếu muốn hiểu rõ tường tận về núi Bà, phải đi xa hơn nữa với câu chuyện cổ tích của người Lạch, kể về mối tình lâm ly bi đát, đầy nước mắt của chàng Lang và nàng Biang. Người dân Lạch lấy tên hai người đặt tên cho hai ngọn núi là LangBiang mà sau này đổi thành Lâm Viên. Chỗ này lại phát sinh thêm mâu thuẫn, nếu theo chế độ mẫu hệ thì bà phải trước ông, ngọn núi phải được đặt tên là BiangLang mới đúng.

Hình minh họa

Cúc chần chừ giây lát, rồi nói với tôi.

-Cao hay thấp, trước hay sau em không quan tâm, chỉ muốn biết anh đã lên đỉnh Lâm Viên rồi. Phải không?

Tôi hơi ngạc nhiên.

-Ai nói với em như vậy?

-Em nghe mấy đứa bạn của em nói, theo truyền thống của Trường Võ Bị Đà Lạt, tất cả Sinh viên sĩ quan trước ngày lễ gắn Alpha đều phải chinh phục đỉnh Lâm Viên mà.

Tôi than thở với Cúc.

-Khổ quá em à, sao ai cũng lầm hết trơn vậy, anh tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức trên đồi Tăng Nhơn Phú, không dính dáng gì đến đỉnh núi Lâm Viên của Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt. Một đàng là sĩ quan trừ bị, một đàng là sĩ quan hiện dịch, khác nhau hoàn toàn.

Cúc lắc đầu.

-Anh nói gì mà khó hiểu quá, anh là trung úy của Trường Võ Bị Đà Lạt mà, sao anh lại không nhận.

Tôi đành chịu thua Cúc, nhưng cố nói thêm.

-Quan cũng có năm, bảy đường quan, như sĩ quan Không quân, sĩ quan Hải quân, sĩ quan của Binh chủng. Chưa kể những ông quan có chuyên môn đặc biệt như: sĩ quan giáo sư, sĩ quan kỹ sư, sĩ quan nha sĩ, sĩ quan bác sĩ…và nhiều nữa. Mỗi ông quan có một nhiệm vụ khác nhau, không có ông quan nào giống ông nào.

Tôi đang khổ công giải thích cho Cúc hiểu, cái rắc rối của mấy ông quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bất ngờ con Quyên tung cửa chạy tới, ôm lấy Cúc.

-Chị Hai nè, em có tin vui cho chị.

Cúc bẹo má con Quyên.

-Tin vui gì? Em muốn ăn canh chua cá phải không? Hay là em muốn ăn xôi gà? Mấy món đó không phải là tin vui.

Con Quyên nũng nịu.

-Em nói tin vui thiệt mà, hôm qua có thông báo của Ủy ban quân quản, nói về chuyện hoc tập của lính Ngụy. Tất cả hạ sĩ quan, binh sĩ phải đi học tập ba ngày, sáng đi chiều về, mang theo cơm trưa.

Con Quyên lần mấy đốt ngón tay.

-Tính ra chỉ còn hai ngày nữa là bắt đầu học rồi.

Ngừng một chút, con Quyên nói tiếp.

Hình minh họa

-Còn phần sĩ quan cấp úy, mang theo mùng mền vật dụng cá nhân, tiền ăn cho mười ngày. Sĩ quan cấp tá và tướng em không muốn nhớ. Em chỉ cần nhớ, thời gian mười ngày cho anh Hai là đủ rồi. Đó không phải là tin vui hay sao?

Cả tôi và Cúc đều mừng rỡ ra mặt, Cúc nắm chặt hai vai con Quyên, lắc mạnh.

-Em nghe có đúng không?

Con Quyên gật đầu, đưa ra tờ giấy.

-Đúng mà chị Hai, em còn ghi xuống giấy nữa nè.

Cúc khen con Quyên.

-Em giỏi thiệt, tối nay chị sẽ nấu xôi gà để thưởng công cho em. Tin vui như vậy, mà sao hôm qua em không nói cho anh chị biết.

Con Quyên liếc nhìn tôi.

-Hôm qua khi em về đến nhà, anh chị đã ngủ khò mất rồi.

Tôi dang hai tay ôm lấy Cúc, hôn khắp mặt mũi của nàng, với giọng vui mừng.

-Từ nhỏ cho đến giờ, chưa khi nào anh có được những giây phút sung sướng, hạnh phúc như hôm nay. Mình phải xuống nhà, nói cho ba má biết để ông bà bớt lo. Anh để ý mấy hôm nay, ba má và em ai cũng buồn xo.

Cúc quay nhìn con Quyên.

-Chị em mình đi chợ mua con gà bự thiệt bự, nấu xôi ăn mừng. Em biết chỗ nào bán gà chợ đen không?

-Chị khỏi lo, cứ theo em thứ gì cũng có.

Sau đúng ba ngày học tập, tất cả hạ sĩ quan, binh sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không phân biệt binh chủng, đều được cấp giấy chứng nhận là đã học tập xong và trở thành công dân trong chế độ mới. Chuyện này khiến cho tôi phải trằn trọc suy nghĩ suốt mấy ngày, tôi hồi tưởng lại, năm 1968, Việt Cộng lợi dụng hưu chiến đã tấn công khắp các tỉnh thành Miền Nam, gây nên cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, giết hại hơn sáu ngàn thường dân vô tội ở Huế. Mùa hè đỏ lửa 1972, Việt Cộng đem bốn mươi ngàn quân vây hãm An Lộc, xua xe tăng, đại pháo vượt sông Thạch Hãn, chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Năm 1973 Việt Cộng ký hiệp định Paris, mực chưa kịp khô trên giấy, họ đã xé bỏ.

Tất cả những việc dã man, gian dối, bội ước mà Việt Cộng đã làm trong quá khứ, với tôi đó là những chuyện đã qua. Trong chiến tranh, họ phải làm như vậy nếu muốn thắng đối phương. Hôm nay, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, đã bị tiêu diệt, mối lo không còn nữa, Việt Cộng giờ đây đã hoàn toàn đổi khác rồi, không giống như xưa. Bằng chứng hùng hồn, rõ ràng nhất trong đường lối và chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời là cho hạ sĩ quan, binh sĩ của Việt Nam Cộng Hòa học tập ba ngày, theo thông báo đã đưa ra. Họ đã giữ đúng lời hứa, nói như thế nào, thi hành như thế ấy.

Chuyện học tập của hạ sĩ quan, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã diễn ra suôn sẻ tốt đẹp, khiến tôi hoàn toàn tin tưởng vào chuyện sĩ quan cấp úy chúng tôi, cũng sẽ êm đẹp mau mắn như vậy. Khi thấy được chân lý, tôi thở phào nhẹ nhõm, bao nhiêu lo âu phiền muộn chất chứa trong lòng từ hơn một tháng qua, vụt biến mất. Tôi vui mừng, sung sướng lo chuẩn bị sẵn sàng để đi học tập, mười ngày có là bao, chỉ là một cái chớp mắt thôi mà, đi học cho xong còn trở về với gia đình.

Hình minh họa

Sáng hôm nay, tôi chuẩn bị mọi thứ để hai giờ chiều sẽ đến ngôi nhà kính gần cầu ông Đạo , trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt đi học tập. Ngoài bộ đồ đang mặc trên người, tôi đem thêm hai bộ quần áo, một cái mùng ni lông, một cái mền poncho dù, kem và bàn chải đánh răng cùng vài thứ đồ dùng lặt vặt. Nhìn cái hộp kem đánh răng quá lớn nên tôi để lại ở nhà, lấy hộp kem mà tôi và Cúc đã dùng hơn phân nửa đem theo. Tôi nghĩ có mười ngày, đem làm gì cho lắm. Mấy ngày trước đó, Cúc mua cho tôi một cái xách tay loại tốt, gọn gàng mà người đi máy bay thường dùng. Sau đó, Cúc bỏ ra một buổi chiều làm cho tôi một hũ ruốc thịt heo kho sả ớt. Cúc nói với tôi.

-Món này để anh ăn với cơm, đông người quá em sợ không đủ thức ăn.

Tôi nhìn cái hũ thủy tinh đựng thịt ruốc to quá khổ, lắc đầu ngao ngán.

-Nhà không có cái hũ nhỏ hơn sao em?

Cúc đặt cái hũ vào trong xách tay.

-Cái này là nhỏ rồi.

Quay người lục trong va ly, Cúc đưa cho tôi một xấp tiền.

-Đây là tiền ăn mười ngày của anh.

Tôi hỏi.

-Bao nhiêu vậy em?

-Mười ngàn.

Tôi càu nhàu.

-Em à, anh đi học tập chứ đâu phải đi du lịch, mỗi ngày anh ăn cơm hay mì gói tốn chừng một trăm, mười ngày khoảng một ngàn.

Tôi rút trong xấp tiền, lấy ra bốn tờ giấy bạc Việt Nam Cộng Hòa có in hình con cọp màu vàng cam, nhét vào ví của mình. Số tiền còn dư, tôi đưa trả lại Cúc.

-Anh chỉ cần hai ngàn thôi, chừng này là quá đủ rồi.

Cúc với giọng nói đầy âu yếm.

-Nghe lời em đi cưng, thà dư còn hơn thiếu.

Tôi nhắc với Cúc.

-Em có nhớ không, khi gặp lại em ở Sài Gòn, trong túi của anh không có lấy một xu, cái áo cũng không có mà mặc. Nếu không có em, hơn một tháng qua liệu anh có cơm mà ăn hay không, nói gì đến tiền bạc khi đi học tập.

Cúc cầm tay tôi, đẩy nhẹ.

-Anh cứ đem theo để mà phòng thân, nếu tiêu xài không hết thì đem về.

Biết là không cãi được Cúc, tôi ầm ừ cho qua chuyện. Đợi đến lúc Cúc bận rộn sắp xếp hành lý vô cái xách tay, tôi lẹ làng nhét mớ tiền xuống dưới gối của Cúc.

Mười hai giờ trưa, tôi chào ba má tôi để lên đường đi học tập. Cúc ngỏ ý muốn tiễn đưa tôi một đoạn. Hai đứa thả bộ ra phố, men theo con dốc Minh Mạng lên khu phố Hòa Bình. Khi cả hai đã đi khá xa nhà, tôi đưa tay vuốt mớ tóc lòa xòa trên trán của Cúc.

Hình minh họa

-Về đi, em không nghe người ta nói “Có tiễn nhau ngàn dặm, cuối cùng cũng phải chia tay” hay sao.

Cúc cúi mặt, cố giấu đi đôi mắt ươn ướt đỏ.

-Để em đưa anh thêm một đoạn nữa.

Tôi và Cúc im lặng đi bên nhau, tôi cúi nhìn hai cái bóng ngắn ngủn, di chuyển nhẹ nhàng theo những bước chân của hai đứa dọc theo vỉa hè, một niềm thương cảm chợt đến với tôi khiến lòng mình chùng xuống. Tôi đưa tay tìm bàn tay mềm mại của Cúc, trong lòng muốn nói với nàng bằng thứ ngôn ngữ tình yêu được truyền qua hơi ấm của bàn tay.

Khi tới con dốc Lê Đại Hành Cúc không chịu buông tay ra, lật đật nói với tôi.

-Em đưa anh đến bên kia cầu ông Đạo , tới Ủy ban quân quản luôn.

Tôi nhìn Cúc rồi nói nhỏ.

-Anh đâu có muốn xa em, chỉ sợ chút nữa một mình trên đường về em buồn. Em à chỉ có mười ngày, một cái chớp mắt thôi mà.

Tôi đâu ế chồng!

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

September 8th, 2022

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Tôi tên Chi, Trần Thị Chi. Nếu ai đọc “Chí Phèo” của Nam Cao ngày xưa, họ sẽ liếc vô tui, nói nhỏ với nhau:

– Xấu hơn Thị Nở!

Nhưng bây giờ trên đất Mỹ, hiếm người biết về “Thị Nở” nên tôi chỉ nghe xầm xì ở các chợ VN:

– Nó làm cho mấy cô xấu bỗng đẹp ra.

– Vậy thì vợ tao quá đẹp.

Tôi tự biết, mình là người con gái xấu, răng hô, mắt hí.

Nhưng khi lớn lên trổ mã, tôi cũng biết rằng, mình có bộ ngực đẹp, đốm son trên núm, mông tròn, người cân đối. Ðúng là quý tướng, có chồng giàu sang, hưởng đời sung túc, như tôi đã đọc ở quyển sách tử vi, năm 12 tuổi.

Vậy là tôi không quan tâm sự xấu của mình mà chỉ thấp thỏm chờ “Ðúng là quý tướng, có chồng giàu sang, hưởng đời sung túc”.

Tôi định cư với gia đình ở Boston năm 14 tuổi. Tuổi lỡ cỡ, muốn kiếm tiền nên tôi chỉ học xong trung học và tìm việc làm.

– Chi, dọn bàn 12, rảnh thì rửa giùm đống chén!

Tôi làm cho tiệm phở VN, bồi bàn kiêm rửa chén khi ế khách, bà chủ keo kiệt chỉ trả lương bồi bàn, được 6 tháng, tiệm bị đóng cửa vì phạm vệ sinh, tôi nhảy qua nhà hàng Tàu.

– Hầy, nị làm pể chén nhiều quá! Pửa nay lau nhà bù lại.

– Rảnh thì cắt hành giùm ngộ! Tối ngộ chở dzề.

– Không rảnh!

– Lấy đồ ăn, khỏi nấu.

– Không thích đồ Tàu.

Hai tháng sau.

– Cho nị hộp bánh trung thu của Trung Quốc.

– Không ăn bánh Tàu.

Thằng chủ Tàu Trung Quốc răng hô hơn tôi, nói chuyện nước miếng văng phèo phèo.

Bữa kia nhà hàng đóng cửa sớm, ăn Tết Trung Thu, ai cũng uống rượu, tôi làm chai bia, hừng hừng.

Mọi người lãnh lương ra về, nhà hàng vắng tanh, tôi đợi chủ trả tiền. Nó từ phòng rửa mặt, bước ra:

– Hầy, nị có cái mông ngon quá. Cho ngộ mần một phát!

Tôi hỏi:

– Mần cái gì?

Thằng Tàu già hẩy hẩy, tôi giận, tán một cái hết ga.

– Ái da, xẩy ngộ dồi!

Xẩy là đúng! Tướng chả như con heo mọi, nên chả ở lại còn hàm răng bay mất.

Xong.

Cha chủ vô bệnh viện, tôi ra khỏi tiệm.

Lúc đó tự dưng tôi thấy buồn.

Mấy năm cuối trung học ai cũng có bạn, có bồ, tôi thì tới 19 tuổi vẫn chưa có người con trai nào chào “Hello”.

Vậy là con Chi này nổi chứng, tình nguyện đi lính 3 năm vì nghĩ rằng đi lính là “gái khôn tìm chồng ở chốn ba quân” (hồi đó mẹ tôi hay đọc câu này) sẽ gặp nhiều đàn ông, làm giảm bớt tỉ lệ ế chồng.

Tôi vô đơn vị Ranger, làm việc cho toán Cấp cứu Tác chiến, có nghĩa là tôi tác chiến và làm các công việc cấp cứu tạm cho quân nhân bị thương tại chiến trường trong lúc đợi trực thăng tải thương. 8 tháng sau, tôi được chuyển tới Afghanistan.

Ban đầu tôi chỉ làm việc như một y tá hạng nhẹ tại căn cứ Pratt, ở thị trấn Baghlan thuộc vùng quân sự phía Bắc Afghanistan.

– Hey, Chin (tên riêng của tôi trong quân đội) bạn được nhập vô toán Ranger tối nay, chuẩn bị mọi thứ.

– Ok!

Vậy là tôi tham dự vô chuyện tác chiến thật sự, tôi có dịp đụng thẳng, bắn thẳng tụi khủng bố. Ha, đó là điều tôi mong muốn.

Vùng núi đá, bắc Mazar-e-Sharif, 7 giờ tối lạnh ngắt với những hang động, nhóm Taliban của Mazuk cà thọt trùm khăn ngồi im trong động đá, dưới đám râu tóc lờm xờm đám tròng mắt đỏ ngầu như những con sơn cẩu rình mồi.

– Mẹ, tụi nó đang hớn hở nướng gà tây cho lễ Phục Sinh sắp tới.

Mazuk văng câu chửi thề.

Trung đội Ranger áp sát mục tiêu.

Ðại úy “Clark già”, trung đội trưởng:

-Tụi chuột Taliban hay chơi mìn cóc cá nhân, nhào ra đánh phủ đầu với B40, rút lẹ vô hang đá độn thổ. Tụi bây dàn 2 hàng ngang, buộc dây vô giày, thằng sau nắm dây thằng trước, bò chậm, lấy dao rà mìn, nếu gặp, tránh qua, áp sát vách đá, tao đi đầu, mình sẽ làm BBQ bọn rệp tối nay. Ok?

Ông gọi căn cứ:

– Mẹ, tối quá, đèn!

Mấy phút sau, hỏa châu nổ đều, khu tác chiến sáng trưng, trung đội Ranger tiến tới, “Clark già” nằm xuống lấy dao rà mìn, tôi bò phía sau.

5 phút đèn tắt, đúng lúc trung đội chạm hang núi.

– Tụi con xơi bãi mìn.

Khẩu M60 chơi những tràng đạn tung bãi mìn, và bọn chuột nhào ra bắn xối xả…

Cái bẫy của trung đội Ranger sập xuống.

“Clark già” la:

– Ðốt đèn!

Những cây soi sáng được ném vô lòng hang, tụi Taliban lố nhố phía xa.

Bao nhiêu súng, bao nhiêu đạn đổ hết vô hang đá cùng một lúc.

Tiếng M-16, AK-47, M60, B40, cộng với tiếng Ả Rập la hét như ngày tận thế.

Bỗng, yên lặng!

Chưa tới 10 giây, “Clark già” nhìn thấy sự việc:

– Rút ra khỏi hang, mở đường chạy.

Ông phóng nhanh tới cửa hang, đúng lúc mấy trái B40 nổ.

– Ầm! Ầm! Ầm!

Những người lính Ranger can trường bật ngã.

Bọn Taliban túa ra như bầy chuột núi từ một hang đá bên trái, tấn công mạnh, bọn trong hang cũng quay ra tấn công sau lưng, trung đội nằm giữa 2 mặt đối địch, tụi nó chơi 2 gọng kềm hốt sổ trung đội Ranger.

“Clark già”:

– Rút hết ra ngoài tựa lưng vách núi, đánh thẳng, mở đường máu, liên lạc!

Trái B-40 nổ, người lính liên lạc vừa gục xuống, tôi chạy tới, chụp lấy máy.

“Clark già” hét lên:

– Chin, Chin! gọi ngay pháo cối! Trực thăng tải thương.

Tôi lúng túng với máy liên lạc siêu tầng trên lưng người liên lạc.

– Clark, mật hiệu?

– “Chuột chiên”.

Chừng 2 phút, 2 phát cối nổ tung trên vách núi.

Tôi la:

– Clark! Dạt ra 2 bên, cối sẽ làm cỏ, trực thăng tải thương tới ngay.

Tôi bỏ máy, nâng đầu người lính truyền tin, mặt đầy máu, mắt dại lại, thở từng đọan ngắn, anh ưỡn ngực, la lên:

– Cứu!…

Giật mạnh, đầu quẹo qua, ngất đi.

Tôi đâm liền 2 mũi cấp cứu ngay cổ, siết chặt băng cầm máu trên đầu và mặt, người lính liên lạc co giật, há to miệng, triệu chứng của hụt hơi, sắp bất tỉnh hoặc sắp đi luôn.

Như một cái máy, tôi tống thêm mũi cấp cứu, áp môi vô miệng anh, tiếp hơi.

Người lính bắt đầu thở mạnh, đã hết co giật, đôi môi ấm lại dưới môi tôi. Trực thăng tải thương tới.

“Clark già”:

– Chin! Cô đưa anh ta đi luôn, xong tuồng, rảnh rồi.

Cuối tháng.

Clark già gọi vô phòng:

– Chin, tháng này bị tụi nó phục kích, chơi màn độn thổ nhiều, bị thương khá đông, cô được chuyển qua bệnh viện dã chiến ở thành phố Mazar-e-Sharif.

Ông đẩy tờ giấy trên bàn:

– Công lệnh đây! Rất cám ơn một chiến sĩ xuất sắc như cô.

3 ngày sau, tôi nhận nhiệm vụ tại phòng chỉnh hình, nơi theo dõi và tiếp tục điều trị cho các bệnh nhân bị thương tứ chi, và các bộ phận bên ngoài, như mắt, tai mũi họng, hàm, mặt.

Tôi coi một phòng có 4 thương binh.

Kent, TQLC, bay xương quai hàm, đã được nối bằng hàm của lính tử trận, đang bình phục. Roberto, Ranger, mất một chân, đang bình phục. Mandes, chuyên chất nổ, mìn bẫy, mất 2 cánh tay, tới cùi chỏ, mới tới dưỡng thương tuần trước. James, da đen, trung sĩ Ranger, bị chấn thương mắt, đang điều trị.

Việc của tôi là phát thuốc, cho uống thuốc, theo dõi tình trạng vết thương, ghi chú và gởi phúc trình cho bác sĩ. Tôi dành thêm thì giờ để thăm hỏi, nói chuyện với các thương binh.

Kent:

– Tôi gọi cô là…?

– Chin.

– Rin?

Giọng anh ngọng, vì quai hàm chưa lành hẳn.

– Hôi có hể nói hình hường? (Tôi có thể nói bình thường)

– Chắc chắn! Anh có thể hát và thành ca sĩ luôn, nếu muốn, nhưng không phải bây giờ.

– Hao hâu nữa? (Bao lâu nữa)

– Sắp rồi! 3 tháng nữa thôi.

– Hâu hóa! (Lâu quá).

Tôi cười:

– Thì tập hát bây giờ, khi chờ đợi.

– Ừa!

Kent uống thuốc, bắt đầu hát i ỉ bài “Take me home country road”.

Tôi vỗ tay:

– Không kém John Denver!

Bước tới Roberto.

– Hi! Roberto, anh uống thuốc giùm.

Tôi đưa thuốc. Roberto cúi đầu, im lặng.

Tôi hỏi:

– Có chuyện gì vậy?

– Cô nghĩ tôi sẽ làm gì khi về nhà dự sinh nhật cô bạn gái?

– Thì tặng quà và hôn cô ta.

– …!

– Mời đi ăn! Mời vô bar…

Roberto mở to mắt nhìn tôi:

– Mẹ, rồi nó sẽ mời bạn say sưa, nhảy đầm.

Tôi nhún vai:

– Tất nhiên, vui mà!

– Nhưng…

Robert đứng phắt dậy với cái chân còn lại, la lên:

– Tôi sẽ ôm cô ta nhảy với cái chân lủng lẳng này? Hả, mọi người?

Anh ôm lấy tôi, khóc.

– Không sao, rồi anh sẽ có loại chân giả loại mới, chơi thể thao, chạy và nhảy đầm dễ dàng.

Hết khóc.

– Chắc không cô?

– Bao nhiêu người đã xài rồi. Anh sẽ có trong vài ngày tới.

Tôi quay qua:

– Chào Mandes.

– Chào.

Anh chống 2 tay chỉ còn tới cùi chỏ:

– Cô sẽ nói: Anh sẽ có đôi tay điều khiển bằng hệ thống điện tử…

Tôi cười:

– Giống như hôm qua…

– … Có thể đi tự làm vệ sinh, nấu ăn…

Tôi tiếp:

– Hút bụi, lau nhà như người bình thường.

Mandes tần ngần:

– Những chuyện đó vợ tôi làm hết rồi… Tôi muốn hỏi về chuyện khác.

– Chuyện gì? Nhảy đầm như Roberto, hoặc bắn súng?

– Không.

Mandes, nhỏ giọng:

– Có còn ôm vợ, vuốt ve rờ rẫm tình tứ được như xưa?

Máu con gái bùng lên nóng đầu, đỏ mặt, tôi nhớ những đoạn phim sex đã lén lút coi:

– Tôi không biết chuyện này … nhưng chắc làm được, nếu anh cố gắng.

Tôi quay đi, tránh đôi mắt đam mê của Mandes.

Cuối phòng là giường của James, người lính liên lạc, trúng B-40, chấn động thị giác, đã giải phẫu, đang bình phục.

– Hi, James.

– Chào cô gái xinh đẹp Chin!

– Chào anh! Anh đã thấy được tôi xinh đẹp à?

– Không! Còn tối thui, nhưng tôi biết cô Chin xinh đẹp.

Chin ngồi xuống bên giường.

James ngồi dậy:

– Chin! Tôi có thể hỏi.

– Ừ!

– Giọng nói của Chin có âm hưởng của Châu Á. Cô từ đâu: Phi, Nhật, Ðại Hàn, Tàu?

– Việt Nam.

James sờ soạng, nắm lấy tay tôi, người lính Mỹ da đen, đen hơn những người da đen khác bật cười:

– Ha ha ha, Chúa ơi! Tôi lai Việt Nam. Chào Kô Chìn. Ha, chào Kô.

James tuôn một tràng.

– Pa tui là thiu úy, sĩ kwan trong 3.500 TQLC đổ bộ vô bãi Shu Lai (Chu Lai) năm 1965, đóng tại Ðà Nẵng…

Tôi nhìn người Mỹ đen, không một vết tích gì của Việt Nam trên khuôn mặt đang vui vẻ kể lể của anh ta.

– …Pa tui cỡi má tôi tại Ðà Nẵng, cùng về Mỹ năm 1972, ở Boston, sinh tôi năm 1998, tôi là con út trong 3 người.

Tôi nói tiếng Việt:

– Rất vui khi biết anh là VN.

– Ðà Nẵng, miền Nam.

Tôi đứng dậy, lòng nao nao khi quen James.

Mỗi cuối tuần, bệnh viện thường dọn bữa ăn sáng “tươi” cho các thương binh. Sau khi giúp những người khác, tôi trở lại, lấy phần ăn cho tôi và James.

Dắt anh ra ngoài thềm. Nắng ấm, trời xanh, không gợn mây.

– Tôi đã thấy màu trắng hồng của ánh sáng.

James khoe.

Tôi đẩy ly cà phê sữa qua bên phải, để khay đồ ăn xuống bàn, lấy miếng thịt ham nướng, đưa cho anh ta.

– Trước mặt anh là ớt ngâm chua, xà lách.

– Cám ơn Chin.

Hai người ăn buổi sáng ngon như ở nhà.

-Sau khi pa tôi qua đời, mẹ tôi vô nhà già, tôi về pên ông nội ở Washington, học hành, lớn lên, đi lính ở đó sau khi xong đại học kiến chúc.

Lúc này, James đã nói tiếng Việt rất nhiều.

Tôi ngồi nhìn anh.

– Cô Chin nói về mình đi, tôi muốn biết.

– Chin!

– Tôi sợ làm anh không vui và mất đi buổi sáng thật đẹp …

James nắm tay tôi, tự nhiên tôi run, cố nói:

– Tôi sinh ra nơi ba anh đổ bộ, nhưng tuốt dưới một làng nhỏ nghèo xơ xác ven biển Chu Lai.

“… Nắng thiêu đốt, làm cong đám lá rong lớn phơi trên bờ cát, chị Hậu, hốt từng bó dồn vô chiếc bao tải, chị mệt mỏi đứng dậy. Nắng bỗng lung linh như ngàn vì sao, chị Hậu ngước mặt, há miệng hớp liên tục, trời tối một màu tím, ngả sang đen… Tiếng khóc la của con Chi giữa trưa nắng, khiến mấy người hàng xóm chạy ra bãi…”.

– Mẹ tôi qua đời vì kiệt sức, ba tôi cõng tôi theo ghe biển vượt biên.

James thở dài:

– Lại một thảm cảnh.

– Vậy là anh mất đi buổi sáng đẹp.

– Nhưng tôi lại có những phút yên lành với Chin.

Tháng sau.

Tôi nói:

– Bác sĩ cho biết sẽ mở băng mắt anh tối mai.

– Buổi tối?

James hỏi.

– Ánh sáng bớt gắt, đỡ làm mắt anh dị ứng.

– Cô Chin sẽ ở đây với tôi?

– Tôi sẽ.

– Tôi muốn nhìn thấy ánh sáng và Chin cùng một lúc.

Chin thấy điều gì đó nhói lên trong lòng.

“Nếu chẳng may James nhìn thấy khuôn mặt xấu xí của mình”, “Nếu chẳng may James không thích mình”

– Ok, James.

Chin nói thật nhỏ, lẳng lặng ra khỏi phòng.

“Ckark già” đến thăm James từ buổi chiều.

– Hello con trai!

James nắm tay Clark, người chỉ huy chịu chơi.

– Rồi mầy lại thấy cái bản mặt chán ngắt của tao như mọi khi.

– Ðó là điều may mắn của con, tạ ơn Chúa.

– Và tạ ơn người đã cứu mầy, con trai.

Clark cúi xuống nói nhỏ với James điều gì đó.

Bác sĩ và cô y tá tới.

– Hello bạn James! Chỉ vài giây ngắn ngủi nữa bạn sẽ nhìn thấy căn phòng dưỡng bệnh, nơi bạn vượt qua cơn thương tật, buổi chiều vàng rực ngoài cửa sổ và cuộc sống quen thuộc của các đồng đội trại Ranger…

Cô y tá mở từng lớp băng trên mặt James…

Mọi người chung quanh chờ đợi

“Clark già” chép miệng:

– Mẹ, hồi hộp như gỡ mìn.

Chỉ còn một vòng băng, James đưa tay, anh sụt sùi:

– Khoan! Tôi mong muốn được thấy người đồng đội đã cứu tôi, người đã mang lại cho tôi hy vọng và can đảm trong những ngày bệnh hoạn…

Anh yên lặng, cúi mặt.

– Clark! Tôi mong muốn được thấy Chin ngay phút đầu tiên tôi mở mắt.

Anh bác sĩ định gọi phone.

– Tôi đây.

Chin từ cửa bước vô.

Cô y tá tháo vòng băng cuối cùng.

James chớp chớp đôi mắt, anh ngước mặt, đưa 2 tay lên theo truyền thống của Ranger:

– Huraaahhhh!

Anh nhìn mọi người.

Một giây yên lặng…

James bước tới, anh quỳ xuống trước Chin, tay cầm cuộn băng vừa gỡ.

– Em có chịu lấy anh hông?

Chin cầm tay James, bật khóc.

Như vậy là tôi đâu có ế chồng!

Chin cười.

Còn quý tướng, có chồng giàu sang, hưởng đời sung túc… Ðợi coi!

HĐV

Về nơi gió cát!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Qantas, viết tắt chữ “Queensland and Northern Territory Aerial Services” thành lập năm 1920. Thoạt kỳ thủy Qantas chỉ chuyên dùng để đưa thơ, là một anh bưu tá biết bay. 100 năm sau, Qantas lên bảng phong thần là hãng hàng không thương mại sống dai thứ hai trên toàn thế giới!

Chính vì vậy mấy thằng Úc xưng tụng em Qantas là: ‘Queen of the Skies (Nữ hoàng của những bầu trời) hoặc “The Flying Kangaroo” (Kangaroo màu trắng cách điệu bay trên nền trời đỏ)

Qantas có tới 65 chiếc Boeing 747-400, ‘Made in USA’. Năm thập kỷ trôi qua, một thời gian quá xá là dài thì biết bao nhiêu là kỷ niệm với dân Úc vốn ngứa chưn, ngồi yên một chỗ không được, nên bay tùm lum, tùm la ra thế giới bằng Qantas!

Dân giàu đi chơi thì ngồi ‘First Class’. Thương gia đi mần ăn thì ngồi ‘Business Class’. Cu li, dân ngu khu đen như tui thì ngồi ‘Economy Class’.

Nói thiệt nhe! Ðược cỡi máy bay Qantas của Úc, dù ngồi hạng cá kèo đi chăng nữa, lòng tui đã mãn nguyện, hãnh diện lắm rồi. Vì xưa giờ,  tui chỉ biết đi tới đi lui bằng xe bò không hè. Giờ tung mây lướt gió thì hài lòng quá đi chớ! Ðừng như thiên  hạ, đứng núi nầy trông núi nọ; được voi đòi Hai Bà Trưng mà chi!

(Dám đua với đế quốc Mỹ về chế tạo máy bay chỉ có thằng ‘Airbus’ của Liên Âu. Chớ cái thằng ‘Tupolev’ của CS Liên Xô là không có cửa. CS Nga chỉ giỏi có một chuyện là sản xuất vũ khí giết người hàng loạt như súng AK 47. Còn cái gì để phục vụ nhân sinh như máy bay chở khách chẳng hạn thì nó dở như hạch. Bằng chứng là chuyến bay 831 bằng Tu-134 hãng Vietnam Airlines của CS, từ Hà Nội tới Bangkok bị trời đánh rớt cái ạch xuống ruộng vào năm 1988).

o O o Ðời mà! Ðá mòn sông cạn! Thời gian sẽ hủy hoại đi tất cả; huống gì một chiếc máy bay. Vì máy móc chạy suốt tới 50 năm giờ đã ‘rơ’ hết ráo, nên bảo trì rất tốn kém. Rồi uống xăng như uống nước lã, xịt khói mù trời làm tổn hại môi trường. Phải dẹp nó đi thôi.

Tranh Bảo Huân

Vì vậy nên hãng United Airlines và Delta Airlines của Mỹ đã cho phi đội Boeing 747 của mình về nơi gió cát. Qantas cũng bắt chước theo đàn anh Mỹ cho những chiếc Boeing 747 lần lượt xếp hàng tính tới cuối năm 2020 là xong hết! Nhưng vì đại dịch COVID-19, hổng ai bay; ế quá nên Qantas cho cả bọn Boeing 747-400 nghỉ cái rụp vào tháng Bảy. Gần 6,000 phi công, tiếp viên phi hành, nhân viên bảo trì cam đành mất việc. Cũng tại con ‘coronavirus Wuhan’ của thằng Tàu Cộng không hè!

o O o

Bấm đốt tay, Boeing 747 kéo dài tình ta tới 50 năm. Hổng lẽ em ra đi về nơi gió cát mà mình nín thinh, không nói một lời từ biệt thì coi sao phải? Nên Qantas có làm 3 chuyến bay, dài một tiếng đồng hồ, để dân Úc bay vòng vòng trên Boeing 747, trước khi nó mãi mãi đi xa!

Vào ngày 22, tháng 7, năm 2020. chiếc Boeing 747 cuối cùng mang số hiệu VH-OEJ sẽ ‘say good bye’ trên bầu trời Sydney. Nó hôn gió với bà con Úc vốn đã lỡ mất chuyến bay tạm biệt trước đó. “Thôi bà con ở lại mạnh giỏi! Vĩnh biệt! Tôi đi đây, tôi đi về nơi gió cát!”

Nơi gió cát đó là một nghĩa địa máy bay trên sa mạc Mojave thuộc tiểu bang California, Hoa Kỳ. Ở đó, nàng sẽ gặp lại các bằng hữu trong phi đội Boeing 747 của hãng Qantas. Rồi cả bọn sẽ bị xẻ thịt từ từ. Cái ‘logo’ ‘Kangaroo bay’ sẽ không còn bay, bay nữa. Cái gì còn tái chế lại được thì gỡ ra bán ve chai lông vịt.

Không phải là dân Úc rặt, nhưng kỷ niệm tình anh Ba Bốp, bạn nhậu của tui, với em Boeing 747 nầy còn sâu đậm hơn so với bất cứ thằng Úc nào.

Chẳng qua là năm 1995, cách đây ¼ thế kỷ, lần đầu tiên trong đời, anh Ba Bốp được cỡi chiếc Boeing 747 của hãng Qantas đó bà con ơi.

Theo lời ảnh thuật lại thì: “Ngày 20, tháng Chín, năm 1995, tui ra khỏi một nhà tù bao la, là đất nước Việt Nam bị bọn CS Bắc Việt cai trị cực kỳ khắc nghiệt. Theo chương trình ODP (Orderly Departure Program) của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commissioner for Refugees (UNHCR), tui dắt vợ và hai thằng cu con vĩnh biệt cái đất Sài Gòn.

Ra phi trường Tân Sơn Nhứt còn bị một thằng Hải quan CS, ‘BK 75’ làm khó dễ, hạch sách nầy nọ chỉ nhằm mục đích là lột sạch bách 200 ngàn bạc của tui còn dằn túi. Cống nạp nó xong, cả nhà tui mới được chiếc ‘mini bus’ chở ra tới tận cầu thang của một chiếc máy bay đang đợi sẵn.

Khoảng 1 giờ rưỡi chiều, chiếc Boeing 737 của hãng Hàng không Philippines cất cánh hướng ra biển. Nhìn xuống cánh bay là những dòng sông quanh co uốn khúc. Quê hương tui đó mà tui đành đoạn bỏ ra đi vì mình đã làm thân mất nước! Chịu đựng sự hành hạ của CS suốt 20 năm, từ 1975 tới nay thì cũng đủ trả nợ tiền kiếp rồi. Giờ tới lúc tui phải được trả tự do chớ!

Máy bay bình phi, dưới kia là biển. Nhà thơ Cao Tần trong bài thơ ‘Biển chiều’ đã từng:“Có bạn nào đang rắp tâm vượt thoát. Nhớ rằng ta luôn cầu nguyện cho người. Láng đời chót đã tan trên chiếu bạc. Thì sá gì thêm một chuyến ra khơi!”

Và biển đó đã chôn vùi hàng trăm ngàn xác đồng bào ruột thịt của tui (đa phần còn rất trẻ) nên: “Này biển chiều sóng xô ào lớp lớp. Những tiếng đời phiêu bạt khóc thương nhau!”

Chưa tới 3 tiếng đồng hồ, chiếc Boeing 737 từ trên mây sà xuống, lượn vòng vòng phi trường quốc tế Ninoy Aquino của thủ đô Manila. Dưới kia là những mái nhà lúp xúp như bát úp. Xuống phi trường, trời nhiệt đới đổ trận mưa to. Nước tuôn lã chã như khóc cho người đứt từng đoạn ruột bỏ xứ ra đi. Biết bao giờ trở lại?

Một thằng nhóc có mẹ là người Việt, cha là lính Philippines từng tham chiến tại Việt Nam, làm cho IOM  (International Organization for Migration, Tổ chức về định cư thế giới) nên nó nói tiếng Việt cũng khá sõi ra đón. Chú ‘IOM’ nầy đưa cả nhà tui vô một nhà hàng nho nhỏ trong sảnh ở phi trường để ăn tối.

Ngồi đối diện tui trong bàn là thằng bạn của nó. Coi như tụi tui không có, hai đứa khề khà hai ly rượu, bận rộn bàn chuyện mần ăn buôn bán bằng máy bay gì đó.

Tui gọi một cái đùi gà chiên bơ với ‘sa-lad’ và ‘cà-tô-mách’. Tưởng ăn thịt gà chiên bơ là sang, là nhứt hạng rồi; sau nầy mới biết nó rẻ rề hè. KFC bán đầy ra đó! Ăn tôm hùm mới gọi là sang!

Tính kêu thêm một ly rượu đỏ để uống mừng ngày vượt thoát thì nó giơ tay ngăn lại. Chỉ được uống nước ngọt, kêu rượu là phải trả thêm tiền (mà tiền đô mình đâu có); làm tui cụt hứng.

Sau nầy tui mới biết tiền ăn bữa đó là của thằng em tui, người bảo lãnh tui, chi trả. Té ra hai thằng ‘khỉ mắc phong’ nầy nó thản nhiên ăn chực đồ ăn của mình, uống chực rượu của mình mà không cho mình uống chớ! Thiệt là quạu nhe!

o O o

9 giờ 30 đêm, vợ chồng con cái anh Ba Bốp lại lục tục từ phòng đợi của phi trường qua lối đi bước thẳng vào chiếc Boeing 747 của hãng Qantas từ Osaka Nhựt Bản về. Nó ghé qua Manila trả khách rồi rước thêm một mớ trước khi bay luôn suốt cả đêm về nước Úc.

6 giờ sáng hôm sau, chiếc Boeing 747 của Qantas đáp xuống phi trường quốc tế Tullamarine của Melbourne. Ðèn sáng trưng như mở hội Hoa đăng chào tui vậy!

Ba và mấy em tui ra đón. Tháng Chín mùa Xuân nước Úc, Ba tui choàng vào vai con mình chiếc áo khoác vì sợ tui bị lạnh. Thằng em, công khó bấy lâu lo giấy tờ bảo lãnh cả nhà tui, cười hí hí nói: ‘Welcome to Australia! Ha ha!’

Tui khoái thiệt chớ! Sau mấy lần vượt biển bất thành, có lúc phải đi ở tù; giờ thì tui đã đáp xuống một vùng đất tự do rồi. Ðêm ngủ với vợ không còn sợ bọn Công an phường lôi đầu mình về nhốt vì tội không có tên trong tờ hộ khẩu.”

Nói xong, anh Ba Bốp khóc hu hu. Vượt biên bằng máy bay sướng thấy mồ mà thằng chả lại khóc; vì mãi mãi xa rồi em Boeing 747 ơi! Thiệt anh Ba Bốp đúng là một con người đa cảm, đa sầu, mau nước mắt như tui vậy!

Đoàn Xuân Thu

Tèo con!

baotreonline.com

January 13th, 2024

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Thú thiệt với bà con; tui sanh bất phùng thời, đời buồn quá nên tui thích đọc chuyện cười cho cuộc sống nó cân bằng, kẻo té.

Rồi luân lạc quê người, buộc phải học tiếng Anh hầu đi làm ‘cu li’ kiếm tiền nuôi vợ, nuôi con cho giống người ta. Học tiếng Anh ở trường theo kiểu xưa chán lắm. Trong lớp, tui ngủ gục hoài. Chán nhưng phải học. Không học, không kiếm được việc làm, bị thất nghiệp; buồn ở nhà nhậu hoài con vợ nó chửi cho mà tắt bếp.

May nhờ anh Ba Tèo cho tui một cái bí kíp. “Chán thì chú mầy kiếm cái gì không chán mà học. Ảnh kêu tui lên mạng nghe mấy cái chuyện cười của Mỹ của Úc, có phụ đề tiếng Anh mà học!”

Hiệu nghiệm thiệt! Học theo bí kíp của ảnh chỉ mới một năm mà tiếng Úc của tui tiến bộ thấy rõ. Tui bớt dùng động từ to “quơ” (tay) khi phải nói chuyện với thằng ‘boss’.

Xin mấy anh mình đừng có tưởng Mỹ, Úc nó không biết cười. Ngược lại, nó biết cười và cười rất thâm thúy.  Vin vô mấy cái ‘jokes’, nó chọc quê mình để dạy đời. Nghe, mình cười he he nhưng nghĩ kỹ thì rất thấm.

Như cái chuyện nầy nè: Tại Texas, Miền Tây hoang dã của Hoa Kỳ, một bà già buộc con lừa của mình vào cái cột trước quán rượu. Bà phủi bụi trên mặt và trên quần áo. Ngay lúc đó, một tên cao bồi tay cầm súng và tay kia cầm chai rượu whisky bước ra. Hắn nhìn bà lão rồi cười khẩy: “Này bà già, bà đã bao giờ khiêu vũ chưa?” Bà nhìn lên rồi trả lời: “Không! Tôi chưa bao giờ khiêu vũ. Và chưa bao giờ tôi muốn cả”

Một đám đông bu lại xem, tên cao bồi hừng chí cười toe toét: “Đúng là bà già cổ lỗ sĩ, bây giờ bà sẽ biết nhảy!” Hắn bắn vào chân bà già. Bà già không muốn bị bắn cụt ngón chân nên đành phải nhảy nhót. Những tên cao bồi khác nhăn răng cười khèn khẹt như khỉ. Khi bắn tới viên đạn cuối cùng, tên cao bồi cũng ôm bụng cười rũ rượi. Hắn nhét súng vào bao rồi quay trở vô quán rượu.

Tranh Bảo Huân

Bà lão quay sang con lừa của mình, rút ra một khẩu súng hai nòng rồi lên đạn. Tiếng lên cò rốp rốp vang mồn một trong trời sa mạc. Đám đông ngừng tiếng cười ngay lập tức. Tên cao bồi cũng nghe tiếng lên đạn bèn quay trở ra. Im lặng nghe cả tiếng ruồi bay vo ve. Vẻ mặt ai cũng căng thẳng. Tên cao bồi nhìn chằm chằm vào tay bà lão. Nòng súng không dao động, bà nói khẽ: “Nè con trai, con đã bao giờ hôn ‘đít’ của một con lừa chưa?” Tên cao bồi nuốt khan, trái cổ chạy lên chạy xuống, hắn nói: “Không, thưa bà, nhưng giờ thì tui muốn”

Mấy bạn ơi! Cái “joke” ngắn nhưng nó chứa tới 5 bài học: Đừng bao giờ phách lối. Đừng lãng phí đạn dược. Bạn phải biết quyền lực từ nòng súng. Rượu whisky làm bạn bốc đồng nên nghĩ mình khôn hơn thực tế.  Đừng chòng ghẹo người già. Họ già, từng trải; nên họ không ngu như bạn nghĩ”. Câu chuyện như đùa nhưng thật là thâm thúy.

Thằng Tèo con cuối tuần, thứ Bảy, đi học thêm tiếng Việt, có lần nó hỏi: “Cô con, người Bắc nói: Ví dầu cầu ván đóng đinh. Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi” Sao con nghe ông Thanh Sang hát cải lương: “Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi” Ai đúng ai sai? Tui nói: “Cô con sai”. Đây là ca dao Miền Tây, thơ lục bát phải vần. Nếu cô con nói ‘gập ghềnh’ thì ‘Ví dầu cầu ván đóng đinh” cô con phải nói ‘Ví dầu cầu ván đóng đênh mới vần”

Chiều cuối năm, anh Ba Tèo hỏi tui có quỡn hay không? Tui hỏi chi vậy?”Anh nói: “Lại nhà tui nhậu!”. Tui trả lời: “Ai rủ nhậu, không tốn tiền, tui lúc nào cũng quỡn”.

Chiều, tui ló mặt tới, anh Ba Tèo đang lui cui chiên ức gà, đùi gà trong bếp. Thằng Tèo con đang ngồi gặm cái đùi. Nó nói: “Bác biết hông? Tuần rồi trước khi nghỉ lễ Giáng Sinh và Tết Tây, cô giáo hỏi con thích con vật nào nhất? Con trả lời: “Gà rán”

Tui làm tài khôn sửa lưng nó: “Bắc Kỳ hai nút mới gọi là gà rán; còn Nam Kỳ thì gọi là gà chiên. Gọi gà rán không đúng đâu! Rán là xài ít mỡ, ít dầu. Gọi chiên vì đùi, ức gà nó ngập trong dầu mỡ. Như ba con chiên chuối chiên; như chú Ba chiên bánh tiêu, hay chiên dầu cháo quảy.

Thằng Tèo con chống chế: “Tiếng mẹ đẻ của con là tiếng Bắc. Mẹ con là Bắc Kỳ chín nút kêu là gà rán. Bố con người Mỹ Tho. Đúng ra con phải kêu bằng Ba. Nhưng lần nào Mẹ cũng hỏi: “Bố mầy đâu? Lên lầu kêu Bố mầy xuống rửa chén; Ăn xong bỏ đó; cứ chui vô phòng chít chát Nẹ nên (Lẹ lên) bà ứa gan Nắm rồi (lắm).”

Tranh Bảo Huân

Sợ làm thằng nhỏ cụt hứng; tui châm dầu thêm: “Rồi sao nữa con?”, “Cô ấy nói con đừng giễu dở”. Nhưng cô ấy không đúng; vì học trò cả lớp, bạn con, chúng đều cười hô hố.

Bố Mẹ con bảo phải luôn nói sự thật. Con đã làm y như lời Bố dạy: “Gà chiên là động vật em yêu thích nhứt” Đi học về, con kể cho Bố chuyện đã xảy ra và Bố nói có lẽ cô giáo của con là thành viên của ‘People for the Ethical Treatment of Animals – Người đối xử có đạo đức với động vật’. Con cũng yêu động vật, nhất là thịt gà, thịt bò và thịt lợn. Con nói thật nhưng cô lại gửi con đến văn phòng hiệu trưởng. Con kể cho thầy ấy nghe chuyện đã xảy ra và thẩy cũng cười he he. Sau đó, thầy bảo con đừng nói như vậy nữa.

Ngày hôm sau, cô giáo lại hỏi: “Con vật nào còn sống mà con yêu thích nhất?” Con trả lời: “Con gà!” Cô hỏi tại sao?” “Em thích gà vì Mẹ em có thể biến chúng thành món gà rán”. Cô ấy lại đưa con trở lại phòng hiệu trưởng. Thầy ấy cười he he và bảo con đừng nói như vậy nữa.

Hôm sau nữa, cô kêu con kể cho cô nghe người nổi tiếng nào mà con ngưỡng mộ nhất? Con trả lời: “Colonel Sanders” (Người sáng lập KFC, Kentucky Fried Chicken). Bác hãy đoán xem sau đó con sẽ đi đâu?

Bố Mẹ dạy con: Quý nhất của con người là sự chân thật. Con nói thật nhưng cô con không chịu mới chết!

ĐXT

Rồng bị gãy đầu

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 16th, 2024

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Bà con mình có tánh dị đoan hay tin vào điềm báo. Điềm báo là hiện tượng báo trước chuyện tương lai, thường là một thay đổi lớn. Điềm có hai loại tốt và xấu. Điềm tốt là điềm lành. Điềm gở là điềm dữ.

Sách Đại Việt Sử ký chép: “Bà họ Phạm, đi chơi chùa Tiên Sơn, Bắc Ninh, có thai với thần nhân, sinh ra Lý Công Uẩn, vào ngày 12 tháng 2 năm 974.

Điềm lành là: Chùa Ứng Thiên Tâm (Châu Cổ Pháp) có con chó con mới sinh, lông trắng có đốm đen, kết thành hình hai chữ thiên tử. Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất, sau lên làm thiên tử, quả là ứng nghiệm.

Còn điềm gở, điềm dữ? Sách Đại Việt Sử lược chép: Đỗ Thích đêm nằm trên cầu, bỗng thấy sao sa rơi vào miệng. Mùa Đông, tháng Mười Một, năm Kỷ Mão 979, Đỗ Thích giết Đinh Tiên Hoàng, giết luôn cả Nam Việt vương Đinh Liễn đang ngự tiệc.

Thiên hạ cho rằng: Đỗ Thích chỉ là một hoạn quan, không có vây cánh, không thể tự ý giết vua. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn đang nắm quyền bính trong tay mới là kẻ thí vua. Giả thuyết nầy rất hợp lý. Lịch sử tranh giành quyền bính chỉ là những điều lặp đi, lặp lại hoài.

Ngày mùng 2, tháng 11, năm 1963, Nguyễn Văn Nhung, một sĩ quan cấp thấp không thể tự ý bắn chết Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu cho được. Kẻ thí vua ngày xưa là Thập đạo tướng quân Lê Hoàn; sau nầy là Tướng phản loạn Dương Văn Minh. Tướng có quân trong tay mới dám giết vua. Chớ xưa cỡ hoạn quan, nay cỡ lon đại úy thì sức mấy?

Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị giết, cuộc tranh giành quyền bính bắt đầu khốc liệt, một mất một còn. Các đại thần Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp, Lưu Cơ … đều bị giết. Cuối cùng, với sự ủng hộ của Phạm Cự Lượng và Thái hậu Dương Vân Nga, Lê Hoàn giành được chiếc ‘long ngai’

Rồng Tiền Giang – nguồn báo phụ nhữ 

Và bây giờ lịch sử Việt Nam cũng đang lặp lại. Dưới chế độ độc đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là vua từ năm 2011. Vào ngày 14 tháng 4 năm 2019, ông  Nguyễn Phú Trọng – khi đó là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bị đột quỵ trong chuyến công tác tại Kiên Giang. Cho dù căn cứ tại khoản 11 Điều 7 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước 2018, tình trạng sức khỏe lãnh đạo đảng CS là tuyệt mật; sợ sùy ra sẽ gây nguy hại đến lợi ích quốc gia. Nhưng đằng sau hậu trường, nội bộ CSVN đấm đá, thanh trừng lẫn nhau diễn ra ngày càng khốc liệt. Ủy viên Bộ Chính trị Đinh La Thăng bị nhốt không biết ngày ra. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc năm ngoái về vườn đuổi gà cho vợ. Mới đây Trần Tuấn Anh, con cựu Chủ tịch nước Trần Đức Lương, bị cho về vườn. Trần Tuấn Anh có hạ cánh an toàn hay không tùy theo số tiền tham nhũng nhả ra bao nhiêu? Nên không ai biết hắn ta có bị nhốt hay không?

Đó là đám kỳ nhông. Còn cắc ké, cỡ Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Phạm Bình Minh hoặc cỡ Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa, Bến Tre, Lâm Đồng … bị kỷ luật hoặc phải đi tù thì vô số kể.

Hồi năm ngoái, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đón Tổng thống Joe Biden của Mỹ đến thăm Việt Nam. Rồi tự nhiên ông ta biến mất tiêu. Thấy chữ mà không thấy hình. Vậy là tin đồn thất thiệt, tin vỉa hè ‘Catinat’nở rộ như nấm mối gặp mưa, tràn lan trên mạng xã hội. Bà con mình hồi hộp phấn khích coi cái cuộc tranh giành quyền lực nầy như coi một trận đánh võ đài. Chớ dân ngu khu đen không biết vua có bị bịnh nặng lắm không? Vua băng hà tức đã chết rồi hay chưa chết? Nếu vua đã chết thì phải công bố quốc tang để cả nước khui bia uống mừng. Cứ úp úp mở mở như lắc bầu cua con gì ra đây nên dân chỉ hóng tin đồn. Tin vào điềm gở; tin vào điềm dữ: ‘chim sa cá lụy.’ Đi bộ thấy chim sà xuống chết ngay trước mắt mình; hoặc đi sông mà có con cá nhảy vô ghe là điềm không may. Nhất định là nhà có người chết!’

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tiền giang, đường hoa Mừng Xuân Giáp Thìn 2024 làm linh vật rồng lấy ý tưởng “Cửu Long Hội tụ – Tiền giang hóa Rồng.” từ truyền thuyết “trăm trứng nở trăm con” như một niềm tự hào về nòi giống Tiên Rồng và truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam, với khát vọng vươn lên của đất nước và quê hương. Con rồng tào lao, bá láp nầy nuốt hết tiền thuế của dân tới 6 tỷ đồng (khoảng 245,790 đô la).

Rồng Tiền Giang – nguồn người Việt

Con rồng nầy không có bay được. Nó phải ngự long xa đến quảng trường Hùng Vương, thành phố Mỹ Tho, để trưng bày. Khi chạy đến xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, thì mô hình rồng bị nghiêng xuống đường. Phần đầu rồng bị rơi ra và nứt gãy một số bộ phận.

Bà con mình hay tin dị đoan nên bàn tán xôn xao: đầu Rồng bị long ra như răng long; là “điềm gở” trong năm Giáp Thìn.

Bà con mình ai cũng biết Dinh Độc Lập trước năm 1975 là Phủ Đầu Rồng. Vì báo chí coi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là vua.

Rồng, long là vua. Long nhan, mặt vua. Long bào, áo vua mặc. Long xa, xe vua đi. Longines đồng hồ vua mang. Vua đi nhảy đầm, Long mắc (lắc mông). Vua đi nhậu về bị hoàng hậu nhốt ngoài đường thì gọi là Long kẻo (leo cổng). Giờ long nhong, ổ gà dằn xóc nên long đong gãy mẹ cái đầu rồng.

Bà con mình ai cũng biết ở nước VN mình từ tháng Tư năm 1975 tới nay tên Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc do dân làm chủ. Khẩu hiệu in cho tốn mực, tốn giấy. Đọc chơi rồi bỏ; chớ chẳng ai tin. Bà con mình ai cũng biết Tổng bí thư đảng CS là rồng, là vua. Bà con không thấy hình Tổng bí thư đảng CSVN Nông Đức Mạnh ngồi trên một chiếc ghế lớn, chạm trổ đầu rồng màu vàng tại tư dinh của ông ta đó sao?

Ở cõi thiếu, vắng

vandoanviet.blogspot.com

Hồ Đình Nghiêm

Thứ Ba, 17 tháng 10, 2017

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Trên đường đi, đôi lúc bạn phải tạm dừng lại, nghỉ chân. Bạn nhìn quanh, phát hiện cái thưa thớt, rơi rụng dần của bầu đoàn lữ thứ, hao hụt.

Có những cuộc sum vầy tình cờ, đưa đẩy bạn ngồi kề một nhân dáng, hai ba bóng người đối diện. Những khuôn mặt, giọng cười đùa vô thưởng vô phạt, nhạt; làm bạn nhớ tới câu “Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu. Thoại bất đầu cơ, bán cú đa”.

Đám đông nào mà chẳng vậy? Kia là rậm rật ánh sáng, nọ là bóng tối với so vai, trầm mặc tự chọn. Tôi luôn yêu mến một người anh già tuổi, ốm yếu. Ốm vì trong tay luôn nắm cốc rượu, chẳng thiết việc ăn. Yếu vì môi kia luôn ngậm điếu Winston, chẳng màng tâm sự. Hai hàm răng, chỉ còn trụ chừng năm bảy chiếc, nói giọng Hà Nội 9 nút, trầm, đục; nhưng nghe thanh tao mỗi bận anh dùng chữ Đếch. Làm cái đếch gì mà ồn thế! Chẳng phải ai cũng thốt được chữ đếch nghe vui tai bằng anh. Một người thầy vừa khó tính lại rất mực dễ chịu. Nửa xa cách nửa thân cận. Nửa khinh mạn nửa khuyên can. Có lần anh bảo: Cậu nên nhớ điều này, là nhà văn cậu nên ngồi trong bóng tối, sân khấu đèn màu là nơi dành cho Hùng Cường Mai Lệ Huyền.

Tạp chí Văn số 89, phát hành tháng 11 năm 1989 có đăng bài thơ của anh, đa số không dài, thường chỉ bốn câu, bài “Sáng Sớm”:

mắt nhắm mắt mở bước lật đật

đi một thôi đường còn gà gật

con lật con đật hai con đi

cũng sống rất an nhàn kiểu Mỹ.

Thời gian ấy tôi chăm viết. Anh gửi thư hối bài, cũng chỉ đôi dòng, chữ viết đẹp trên một vuông giấy nhỏ. Có khi hỏi: Cậu đâu biết làm thơ, nhỉ? Có khi phân trần khi nghe tôi hăm sẽ gửi sang một cái truyện dài: Tôi rất tránh chuyện phải để cho người đọc chờ cả tháng. Một ngắt rời từng đoạn là điều không nên.

Nếu anh thuận lòng, biết đâu tôi đã phóng lao, rồi phải cực lòng theo lao. Tôi đâu biết làm thơ, thơ nằm ngoài tay với. Văn Magazine như tấm gương soi, qua đó tôi thấy mặt mình rất xấu chai. Cần siêng tắm gội, chải tóc, ăn ở hợp vệ sinh mới dám bước vào vườn thơm hoa lạ (nhỡ gặp ai trong mơ, mình cũng đã chuẩn bị chút đỉnh sự tử tế). Nói đâu xa, chính anh là một rào cản. Tôi không đủ lực để tạo dựng sức mạnh, bước qua. Bài “Lẻ Một” của anh là một trong muôn ngàn lực cản:

sách một dẫy nằm trơ trên giá

cạnh người thân thế cũng trơ trơ

sách, người hai cõi cùng hư hoại

nơi một ngàn chương thiếu một tờ.

Không những nhìn thấy trước cơn hấp hối của chữ nghĩa, tháng 10 năm 1989, vào thời điểm ấy đã sớm tựu thành ở anh nỗi ám ảnh về một màu đêm tận tuyệt, nơi dừng chân thực sự của những lên đường trước, sau. Đời bày ra thức mà anh gọi là “Món Đất”:

đất tưởng còn xa trời vẫn gần

giờ đất đã gần trời xa dần

khăn bàn trải sẵn cùng thân thế

đợi chiếc khay trời món đất ăn.

Sang tới tháng 11 năm 1992, tạp chí Văn số 125 đăng một thứ gần với “Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời” (nhan tập truyện ngắn của anh), bài thơ mang tên “Nói Với Mộ Chí”:

đá kia tuổi đá đã nghìn năm

dựng trên kẻ đã về trong đất

nó sống hư huyền như nó mất

đánh dấu làm chi chỗ nó nằm.

Càng về sau anh càng thích thu bé lại, làm thơ nhiều, trong quán rượu, ngồi xe đò, trên máy bay. Thôi viết dài, đêm khuya cúi bóng trên trang giấy, đèn thắp nhìn thấy mực dầu đang xuống dần, đốm sáng lung lay. Tạm gọi là dài khi mỗi tháng chỉ viết được Sổ Tay lay out chừng bốn năm trang, kể chuyện nắng Cali mà mưa Seattle, ai vừa di dân đến ai vừa bỏ lại hành trang. Trang văn rất lành, không bình phẩm chẳng khen chê một ai (mặc xác chúng nó). Trước sau chỉ là một kẻ đưa tin, càng trung thực càng tốt. Nhưng, cốt lõi của thơ lắng đọng lời tự thán, chút yếm thế, vẽ ra viễn cảnh chừng thảng thốt, “ai tri âm đó mặn mà với ai?” Và chữ dùng, ám chút hằn học, bất ưng: “Thằng Viết Mướn”.

những trang đời viết còn dang dở

sẽ có bàn tay ấy viết giùm

ngón cái sang trang và ngón út

viết giòng vuốt mắt phút lâm chung.

Nhà văn Mai Thảo (1927-1998) hàng tháng viết tên cùng địa chỉ tôi trên bì thư vàng, ra bưu điện mua tem, con mộc Westminster đóng lên và tờ Văn chưa một lần lỗi hẹn tới vùng băng giá.

Lý ra tôi chỉ nên nói riêng về anh, nhưng khi tìm đọc lại những số báo Văn cũ, úa màu, tôi đụng phải một bài thơ “thần sầu” của Cao Đồng Khánh (Văn số 131, tháng 5.1993). Một tiếng thơ lạ, (đôi khi chữ lót của anh lại thiếu dấu huyền) người không có tên trong tuyển tập 40 năm thơ hải ngoại và cũng đã vắng mặt dài lâu tựa Mai Thảo. Cao Đồng Khánh, tác giả của thi tập nổi tiếng “Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn” sinh năm 1941 và mất năm 2000. Sau đây là bài vừa chạm trán, “Địa Chỉ Tình Yêu”, cầm lòng không đậu buộc phải chép lại, thay tưởng nhớ người bạc mệnh:

đời tứ xứ! em ơi. thành phố tôi tróc nóc

mưa bão nào. hơn nữa. cũng không sao

có người thuỷ tận đi tìm sắc nước

con mắt màu lý lục không yên.

con mắt có đuôi vẫy gọi trí nhớ

chiếc lá cuối cùng thắm thiết ra giêng

như vết môi son thoa trên đông chí

bay ngập vào trong tiểu sử phiêu lưu.

tháng chạp bạch kim. tháng giêng tóc bạc

mùa đông lạ kỳ khuya sớm tuyết trân sa

tháng chạp gió lúc. tháng giêng nước nổi

những tháng trời gầm em ở thật xa.

mưa bát ngát phía bên trời đánh lớn

trên đường sét sáng trưng ai đó quẩn quanh

sầu cố xứ nặng nề hơn thế sự

chuyến xe đò lên xuống máy long lay.

mặt trăng sắc sảo trong sơn cùng ký ức

địa chỉ tình yêu, em. hãy nhớ tận tường

con đường máu nóng đưa vô hương lộ

có một ngôi nhà trong góc giác quan.

ở ngoài bão táp. trong lòng dông tố

hãy ghé vào đây, em. bàn ghế tận tình

em sẽ gặp em, như, một người mất tích trở lại

chải gỡ đời tư bằng gương lược liêu trai.

những tàn tích hệ luỵ trồng ngoài sân, phong cảnh

về sau thành thế núi hình mây

ngôi nhà cảm động nồng nàn sự thật

yểu điệu vô cùng thân thể trăm hương.

tháng giêng, trên ấy tuyết rơi, dưới nầy mưa lũ

ở giữa, cuộc đời, lạnh lẽo long đong

mặt trời quốc sắc trong tư phần phú quý

có một ngôi nhà trong khoé mắt em.

Trong ý nghĩ cạn xợt của tôi, bài thơ trên có thể là một biểu tượng cho hai từ: Hải Ngoại. Giạt trôi. Dông bão. Hoạn nạn. Tấp bồi. Lưu lạc. Sống thở bằng trí nhớ đã thôi còn nguyên trạng. Không thể hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười. Một bài kệ dài chất không thứ lớp những rạn vỡ từ con chữ khác thường, lạ lẫm. Mà tôi yêu quý.

Có người nhiễu sự đặt dấu hỏi: “Thơ đến từ đâu?” Tôi câm lặng. Có người dùng từ thậm sáo: “Tôi là con chim đến từ núi lạ ngứa cổ hót chơi”. Tôi tủi thân. Tôi vụng về. Tôi chỉ biết thổn thức khi nhớ đến hai tài năng đã về “núi lạ”. Cảm ơn anh Mai Thảo. Cảm ơn anh Cao Đồng Khánh. Mộ chừng nghe cỏ mọc xanh!

Nơi có lắm cổ tích

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 27/05/2019 

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Bạn còn nhớ Truyện Kiều của Nguyễn Du không? 3254 câu lục bát khởi đi khúc đoạn trường bằng vào cuộc dạo chơi của ba chị em trong tiết tháng ba, Thanh Minh là dịp lễ tảo mộ, xúi gặp phải nấm mồ lạnh tanh của Đạm Tiên không nhang khói, thế một điềm báo trước về kiếp hồng nhan, vận vào nhân vật chính: Thuý Kiều.

Sè sè nắm đất bên đường
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Cỏ là cỏ. Nguyên trạng, mọc thấp lè tè, ngứa ngáy, tràn lan (xanh tận chân trời), không mắc mớ gì tới đám cỏ mịn màng kín đáo nằm trong hai câu của Bùi Giáng (1926-1988):

Bây giờ em đứng nơi đâu
Cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao?


Thi sĩ Bùi Giáng dùng chữ đứng, nếu cho “em” nằm thì ta hiểu em ấy nào khác gì Đạm Tiên, nghĩa là thác dưới ba tấc đất có cỏ nửa vàng nửa xanh phủ lặng một cuộc đất không thân bằng quyến thuộc vãng lai. Đứng khác nằm, do vậy cũng nên nhìn nhận cái khác biệt của mỗi loại cỏ. Có loài cỏ không nhờ đất bón nuôi. Và sau hết, dàu dàu ngọn cỏ nọ cũng cạy mặt với “trồng cỏ”, thuật ngữ của bọn chuyên lao động mờ ám nhằm cung cấp cần sa cho những kẻ thích sống thử với mộng ảo, nghiện đi mây về gió.

Đã lâu (nói kiểu giật gân là vào thế kỷ trước) tôi có viết một truyện ngắn “Bữa Ăn Trên Cỏ” đăng ở trang mạng Tiền Vệ, tựa vay mượn từ “Le déjeuner sur l’herbe”, bức tranh sơn dầu nổi tiếng của nhà danh hoạ Édouard Manet (1832-1883) mà thời còn học trường Mỹ Thuật ở Huế đã bị nó quyến rũ khá lâu (một phần vì tai tiếng?).

Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng (1940-2014) cũng sáng tác ra tập tuỳ bút mang tựa “Ý Nghĩ Trên Cỏ” xuất bản ở Sài Gòn, năm 1971. Chạy ra biển ngoài, vì nghiệp viết lách đưa đẩy, dần dà tựu thành một tình thân ái. “Bữa Ăn Trên Cỏ” hằng tháng vẫn có thư đi tin lại với “Ý Nghĩ Trên Cỏ”, từ thư tay bỏ phong bì ra bưu điện mua con tem chừng năm bảy ngày là tới San Jose, cho đến hồi cách mạng bùng nổ bèn ngồi vọc mấy ngón trên bảng mẫu tự của máy điện toán, vi tính, MacBook Air, computer. Nội dung thường nhăng cuội hỏi thăm tới sức khoẻ, thèm được ngồi uống cà phê kề cận bên nhau, nhớ lại những thành phố từng đặt chân, nhắc về khung cảnh nơi ngồi sáng tác truyện ngắn. Và chân đi của thời gian luôn là một dấu chấm đầy nghi hoặc. Tôi khen bức ảnh đẹp đóng khung bốn nhân vật ngời sáng: Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Nguyễn Xuân Hoàng chụp vào năm 1973 trước toà soạn báo Văn, 38 Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn. Để hai hôm sau, trong email gửi vào ngày thứ Bảy, 5 tháng 8, 2006 lúc 6 AM, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng hồi đáp (chép lại nguyên văn):

“Hình cũ, scan đi scan lại hao mòn, mờ mịt, nhìn không rõ nét. Người chụp là một thợ ảnh sát bên toà soạn- ông này sau 75 là 1 cán bộ VC- ai mà ngờ. Chắc ngày ra đi của nxh không xa”.

“Ai mà ngờ”. Đó là câu ta thán nhuốm chút hoang đường thường chứa đựng trong truyện cổ tích và được thuật lại ngay cả sau tháng Tư, 1975. Một cổ tích luôn mới thế cho Chuyện Ngàn Lẻ Một Đêm mà khi kể ra (nhằm vỗ về) không ai có thể chợp mắt yên ngủ suốt năm canh, trằn trọc là đằng khác. Cổ tích cũng nằm lắng đọng trong thơ Tô Thuỳ Yên (1938-2019), hãy nghe thi sĩ kể lể, trích một đoạn trong bài “Nỗi Mình Lần Giở”:

Ở chốn mệnh danh là chốn cũ
Dân gian thay mới những truyền kỳ
Đất trời ủ lứa chiêm bao khác
Dâu biển làm mưa nắng lạ đi
Bụi rác mỗi thời, một dạng loại
Chồng sâu thêm những địa tầng quên
Người về không biết có đúng chỗ
Lịch sử qua đường đã cải trang.

Ai mà ngờ. Nhức nhối. “Ai mà ngờ”, nghe nhẹ nhàng hơn “đùng một cái”. Chú Sáu khù khờ ngày trước chuyên hạ heo bò trong lò sát sanh cung cấp và phân phối thịt cho mấy chợ, đùng một cái giờ này chú ở trong uỷ ban nhân dân tỉnh ăn to nói lớn miệng mồm có gang có thép. Đùng một cái thế cho tiếng súng bất ngờ nổ, hoặc “tin đâu sét đánh ngang tai, Sáu kia coi bộ lắm tài trị dân”?

Bạn còn nhớ bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan (1916-2010)?

…
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
Đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh…
…
Khi gió thu về
Cỏ vàng chân mộ chí
…

“Tôi” đi lính, đi dưới hòn tên mũi đạn thì không sao; vậy mà “nàng”, vợ mới cưới của tôi ở hậu phương an lành, đùng một cái, đang sống chuyển sang từ trần. Thế mới sinh chuyện. Chuyện cổ tích. Ai mà ngờ. Ngờ sao đặng. Mấy ai học được chữ ngờ. Ngờ khác ngộ. “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” Ngộ nghĩnh lại khác với giác ngộ, hiểu ra vấn nạn. Nghĩ mà nhức đầu không kể xiết !

Cỏ mọc, giống này tăng trưởng rất nhanh, rậm rạp, lan tràn, xốn mắt; do lẽ đó, nó bày ra một thứ nghề và nuôi sống “tập đoàn” chuyên đẩy xe cắt cỏ. Cỏ cũng hăm hở đi vào lãnh vực thơ văn, đại loại như Ý Nghĩ Trên Cỏ và Bữa Ăn Trên Cỏ có nói ở trên, rồi thì là “đàn bà đái không qua đầu ngọn cỏ”. Vân vân. Nhưng hình như, người ta thích dùng cỏ để minh hoạ, làm rõ hình ảnh một nấm mồ. Biết chủ ngôi mộ mới vừa thác đi vì cỏ chưa kịp mọc. Hiểu ra người nằm dưới kia chết đã lâu rồi, bộ không thấy cỏ vàng héo hắt sao?

Ngày xa xưa, thời Pháp thuộc, ba tôi làm boss, chủ một cơ sở sản xuất gạch ngói ở Điện Bàn Quảng Nam, thường liên hệ với dân mắt xanh mũi lõ nên tiếng Tây tiếng u pạt-lê búa sua có chết thằng thực dân nào mà sợ. Nhưng ai ngờ, lúc đó người ta đang ra sức “giết Tây chết càng nhiều càng mừng vui”. Đùng một cái, khéo trách con tạo xoay mòng, ba tôi bị xếp vào dạng thế lực thù nghịch đối với giai cấp vô sản, hòng mưu cầu tai qua nạn khỏi ba mươi sáu kế tẩu vi thượng sách, ôm vợ con bỏ của chạy lấy người trở ra Huế (nơi phồn thịnh màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt). Những chú Ba, anh Tư, con Năm, thằng Bảy tổng nổi dậy, chất củi tưới xăng dầu đốt sạch cơ ngơi gia tài điền sản của ba tôi. Ai mà ngờ, từ rường cột hoành tráng chuyển đổi qua đống tro tàn chỉ chưa đầy 24 giờ, lửa táp rần rần cả một góc trời, đứng ở Cẩm Lệ Hoà Vang không cần bặp điếu thuốc cũng ngửi ra mùi khét, ngồi ăn cao lầu ở Hội An sơ ý mặt cũng bị dính bồ hóng từ chốn hung hiểm nọ thổi tàn tro về.

Trong những tấm ảnh đen trắng ghi lại thời hoàng kim mà ba tôi còn cất giữ (kỷ niệm thương đau), con cái ông đều nhìn nhận rõ có bốn (4) loại gạch ngói khác biệt nhau được sản xuất (đúng quy trình và đạt chất lượng) đều có ghi tên ba tôi nằm bên góc, thế một cái triện, một logo khằn lên cầu chứng, khi lõm khi lồi, trông rất uy tín. Ba tôi mất đã lâu, không đợi gió thu về quanh năm cỏ vẫn vàng chân mộ chí. Xa xứ triền miên từ độ tóc xanh nay đã úa màu, tôi quyết định tự mình đi Việt Nam một chuyến, chết bỏ bể bỏ. Trước thăm mộ song thân (mà chẳng đợi dịp tiết Thanh Minh tháng ba bởi sợ gặp lắm oan hồn) sau thử mò kim đáy bể cốt lùng sục cho ra một cục gạnh có khắc tên ba tôi mang về giữ làm vật gia bảo. Tôi nghĩ, một viên gạch cạy ra từ bức tường ô nhục Bá Linh, giá trị chả là bao so với viên gạch mà ba tôi từng đổ mồ hôi sôi nước mắt để nung nấu thành hình dạng. Sẽ đi hang cùng ngõ hẹp quanh khu vực Điện Bàn cạy cục, đào bới. Hoặc khù khờ ông trời độ tình cờ nhìn thấy nó lòi ra bên một bức tường sụp đổ do một đề án thi công nâng cấp cơ sở nào đấy đang đập phá. Xin không xong thì mua, hét giá bao nhiêu kẻ hèn này cũng xin hầu, ba vạn cũng bỏ. Tôi sẽ la trong bụng: Ba ơi, con tìm thấy nó rồi! “Tôi” về đã gặp “nàng”, vuông vắn nằm yên bên mương rạch đầy bóng tối, bần cố nông ghẻ lạnh vây quanh.

– Mục đích của ông khi về đây? Có quen ai ở chốn này không?

– Tôi về tìm nhặt chút di tích mà hồi xưa gia đình tôi khổ công làm ra.

– Di tích gì? Cớ sao lại bỏ quên?

– Thú thật là tôi mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua những mong tìm ra một hai cục gạch.

– Đang công tác ở viện bảo tàng hử? Hay dụng tâm muốn nói cạnh nói khoé?

– Là sao ạ? Tôi chẳng nắm bắt được ý bác.

– Báo vừa đăng chuyện xưa tích cũ đấy. Một phái đoàn ta được trung ương đề cử đi sang Pa-di để tìm cho ra hai cục gạch mà năm nào Bác đã vận dụng chất xám cạy cục mang gửi vào lò nướng bánh mì, hối hả đem về thế cái lồng ấp để đánh đuổi rét lạnh trong thời kỳ chông chênh lịch sử đảng hòng mở ra một lối đi cho dân tộc ngay trên đất thằng thực dân Pháp.

– Chuyện lạ nhỉ? Gay cấn thật! Thế họ có tìm ra không ạ?

– Có đấy. Thành công vang dội. Chúng ta đã không mần thì thôi, khi rớ tay vào thì nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

– Hay nhỉ! Từ hồi đó tới giờ mà gạch đá cũng giữ lòng chung thuỷ một nắng hai sương đợi chờ. Rồi có đưa gạch đi xét nghiệm năm tháng ra lò không ạ? Nó mang dấu vết dị hình gì để dễ nhận dạng không ạ?

– Lo bò trắng răng! Chạy trời sao khỏi nắng, giờ này nó nằm êm ấm, bảo quản chặt chẽ trong viện bảo tàng. Ta trân quý bảo vệ nó, nó đã giúp người sống qua bao đêm trường đói rét, cơm không có mà ăn áo không có mà mặc.

Cái bác người Quảng Nôm này mô có làm ở ban tuyên huấn mà răng mãi “nhồi sọ” tôi, trong khi miệng phun khói thuốc thơm của đế quốc mà tôi vừa “bôi trơn”, hối lộ cả bao để khỏi “gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. Bác ấy chà đạp mẩu thuốc cụt: Thôi khoắn ngay đi nhé, không nên thậm thụt dò la bất chính quanh đây cho rách việc. Hừ, hoá ra gia đình chú ba đời là thành phận địa chủ, giờ này còn mang âm mưu về bòn rút thành quả của nhân dân.

Tôi lấm lét chẳng đưa lời giã biệt, đành theo kế sách của ba tôi ngày cũ: Tẩu vi thượng sách. Rút lui, nhất bộ nhất bái. Tôi về không gặp nàng, tôi ngồi bên mộ ba mẹ mình đầy bóng tối. Cỏ không mọc được ở đất cày lên sỏi đá. Tôi chảy nước mắt. Ba tôi khởi nghiệp thành công với nghề sản xuất ra gạch ngói, đến khi mất, chôn xuống đất lạnh đã không có lấy một viên gạch cắm quanh chỗ an nghỉ sau cùng. Tôi bỏ ra năm trăm đô la nhờ một ông già thợ nề sống trong căn nhà tranh hở hang dưới chân đồi đầy gió, nhờ xây đắp xi măng và dựng một tấm bia cho ra hình dáng một nấm mồ. Nếu tôi là Thuý Kiều, nói tội trời e tôi bán trôn để “nâng cấp” căn nhà ba mẹ tôi ngó cho được tử tế, nhìn vào là biết ông bà khuất mặt này ắt có con cháu Việt kiều làm phận bèo giạt hoa trôi.

Gần chỗ tôi ngồi trông coi bác thợ nề đang ra sức thi công có đôi vợ chồng, áng chừng vậy, chậm rãi bày hoa quả và cúi đầu thắp nhang bên một ụ đất cao. Tôi rảo bước tới với ý nghĩ, dù gì thì thân nhân họ cũng là bạn láng giềng với song thân mình. Chết không biết có nói năng “bắt sóng” trao đổi những gì, nhưng đương sống thở thì nên biểu lộ chút tình cảm. Bất ngờ là giữa chốn hoang vắng gần trùng cảnh sơn cùng thuỷ tận này tôi đón nhận được một chuyện cổ tích theo lời thuật của anh thanh niên:

– Đống xương cốt lấp vùi dưới đó là ông nội tui. Ông chết bữa Mậu Thân dầu sôi lửa bỏng, hưởng dương 39 tuổi. Ông nội tui có một xưởng gỗ, nơi tạm coi như là một cơ sở an toàn cho việc giao liên thu nhận tin tức cũng như ông từng bỏ tiền mua thực phẩm thuốc men chuyển lên cho bạn bè nhảy núi. Ông có người bạn thân, xem nhau hơn anh em ruột thịt và ông bị chính người bạn này rút súng bắn ba phát vì ngang bướng không chịu theo họ rút lên Trường Sơn khi bị đánh đuổi. Xét cho đúng thì ông nội tui có công với cách mạng, nhưng theo chủ trương giết lầm hơn bỏ sót của họ thì ông nội là thành phần nguy hiểm, lỡ cơ sở bị lộ ông sẽ khai ra danh sách những ai đi theo kách mệnh. Sau 75, người bạn cũ, đứa giết ông về làm lớn ở bộ môn văn hoá, hoàn toàn chẳng gợn chút ăn năn về việc xuống tay “xử” tên đồng chí ngày nào, gieo cho ba mạ tui nỗi sợ triền miên khi trốn chạy. Máu mình nóng, thôi thì xa lánh kẻ máu lạnh cho yên ngày nào hay ngày đó. Đã mấy mươi năm mà mồ vẫn không xanh cỏ! Tức tối mới gớm!

Tôi nhìn đôi vợ chồng, thế hệ kế thừa thứ ba siêng năng thắp nhang cho ông nội họ, thành kính tưởng nhớ về trường hợp đột tử bất nhân. Cả ba đời đều nhẫn nhục câm tiếng kêu ca. Tự dưng tôi nhớ một đôi câu trong bài Quê Hương của ông Giang Nam bên thắng cuộc: “Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm… Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất có một phần xương thịt của…”

Yêu, ghét. Thương, hận thực sự giữa hai đối cực nọ chỉ cách nhau không đầy một gang tay. Đo thêm gang nữa sẽ đụng tới duy một đối đầu: Niềm phẫn uất. Giờ đây tôi chẳng có quê hương nên tôi không sôi máu. Tôi đứng trên mảnh đất còi cọc lạ lẫm này, đợi hoàn tất việc chỉnh trang ngôi mộ rồi tôi lại ra đi, thẳng cò o ngón chẳng quay đầu. Tôi chán ngán, tôi bơ phờ, tôi kiệt sức, tôi ngu dại. Sức người có hạn, ai đâu kể hết được những cổ tích liên tu bất tận xẩy ra trên xứ sở có 4000 năm văn hiến? Làm gì có cảnh đớn đau bỏ ra vườn ngồi bưng mặt khóc liền có một bà tiên hiện ra dỗ dành: Nín đi, con xin gì ta sẽ giúp hoàn thành ước nguyện. Hoang đường! Một cục gạch của cha, con thắp đuốc cũng tìm không ra hòng mang về xứ tuyết, sưởi ấm lòng trong tứ thời bát tiết.

Thôi. Ba Mạ chịu khó nằm lại với cô quạnh. Xin gạt lệ bái biệt, con bay.

Truyện Kiều dở ở hai câu kết thúc:

Lời quê chắp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh.

Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Ba hồn chín vía bước được xuống cầu sao lại bảo là mua vui? Vui này có giống như “ngày vui đại thắng”? Cái ngày cổ tích mà có ngàn người cười thì có triệu người khóc. Ba chục cái đám cưới thì ba chục vạn cái đám ma diễn ra, song hành. Nức nở dông dài mặc cho trống canh liên hồi điểm nhịp, hình như ngày mai trời lại tối.

Hồ Đình Nghiêm

Nói chuyện cùng nhà văn Phan Tấn Hải

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 02/05/2019 

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Nhà văn Phan Tấn Hải

Không cứ là chuyện cổ tích bao giờ cũng khởi đầu giọng kể bằng “Ngày xửa ngày xưa…” Mỗi chúng ta hôm nay vẫn quen dùng tới nó khi nhớ lại một kỷ niệm đã trôi trong quá khứ. Ngày xưa, tôi từng gặp anh. Anh ở bên Mỹ sang đây, tay bắt mặt mừng những hai lần. Một lần có diễn ra Đại Hội Văn Bút tổ chức ở Montréal (1989). Lần khác anh lặn lội về chung vui cùng nhà văn hoạ sĩ Võ Đình để rồi chung buồn trong vấn nạn khôi hài có tên gọi “động đất ở Mộng Lệ An” (1992). Ngày xửa, anh có tặng tôi tập truyện ngắn “Cậu Bé Và Hoa Mai”. Ngày xưa, dù tổn thất do trận động đất gây ra có lớn tới mức nào đi chăng nữa, xấu xa rồi cũng chóng vuột trôi; nhưng tôi vẫn nhớ, tôi không quên một người: Anh Phan Tấn Hải. Nhớ nụ cười hiền, nhớ mái tóc thưa, nhớ giọng nói chậm rãi thường chứa những ẩn dụ bên trong, dẫu ngập ngừng như kiểu đắn đo trước khi bày tỏ. Nhớ ngày xưa, thấy trán anh bị sưng một nốt bằng ngón tay cái, không dằn lòng tôi buột miệng hỏi để có ngay câu trả lời: Đêm qua Phật chỉ trăng, tôi thưa ồ trăng sáng quá. Phật cười khẽ búng ngón tay vào trán tôi.

Sau này, có lúc tên anh đi kèm với “pháp danh” Nguyên Giác. Tôi tin là mỹ danh nọ hẳn đã khoác vào thân anh từ lâu lắm. Ngày xưa, hoạ sĩ Đinh Cường vẫn mến chuộng anh, có thuật lại cho tôi nghe về cái tâm lành anh luôn nuôi dưỡng: Muốn đi đâu, muốn nhờ giúp đỡ việc gì Hải đều sốt sắng đứng ra lo liệu, chẳng đắn đo, không ngại tốn thời gian… Những phác hoạ sơ khởi trên không làm rõ về một người tôi mang đầy cảm tình. Muốn “nhìn ngắm” anh, tôi mạo muội bước vào “hậu liêu” để quấy phá, lôi anh ra khỏi thế giới riêng anh đang tĩnh tâm.

Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Thưa anh Phan Tấn Hải, trước tiên xin anh xí xoá giùm tôi cái tật ưa kể lể dài dòng như trên. Ngày xưa anh rất phong độ, bây giờ anh có nghe ra chút hao hụt nào không?

Phan Tấn Hải (PTH): Kính thưa nhà văn Hồ Đình Nghiêm và tất cả độc giả, tôi rất hân hạnh được trả lời phỏng vấn hôm nay — đây là một may mắn, vì tự lòng mình chỉ thấy mình chẳng là gì, may ra chỉ là một hạt bụi rất nhỏ trên trí nhớ của một số độc giả. Lòng tôi rất mực là vui, trước giờ vẫn luôn luôn hướng về Canada với nhiều hình ảnh đẹp. Các nhà văn, nhà thơ ở Canada mình từng gặp, như Hoàng Xuân Sơn, Hồ Đình Nghiêm, Bắc Phong, Lưu Nguyễn, Trân Sa, Trang Châu, Võ Kỳ Điền… vẫn là các ký ức đẹp, rất đẹp và thơ mộng. Bạn cũng vừa mới nhắc tới họa sĩ Đinh Cường, người tôi rất mực quý trọng — tài hoa, thơ mộng, độ lượng. Mình tự thấy rất mực may mắn có giao tình với những người như thế. Bây giờ bạn hỏi gì, nếu mình biết gì, sẽ xin nói ra. Còn hao hụt, thì sức khỏe yếu dần với thời gian. Ngày xưa, sức khỏe mình khá, lái xe từ Virginia sang Canada là chuyện bình thường. Chở họa sĩ Đinh Cường từ Virginia lên New York xem tranh cũng là chuyện dễ dàng. Bây giờ sức yếu, lái xe đi xa không nổi nữa.

HĐN: Trước 1975, anh là sinh viên ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn hay Đại Học Vạn Hạnh, thưa anh? Và tới ngang đâu thì quyết định giũ áo lên đường?

PTH: Kính thưa, mình học ở Văn Khoa Sài Gòn. Nhà thơ Lưu Nguyễn, một người hàng xóm của Hồ Đình Nghiêm, là bạn cùng học Ban Triết ở Đại Học Văn Khoa SG với mình, cùng làm Tập San Nghiên Cứu Triết Học ở trường với mình. Chuyện lên đường là vì đất nước qua mấy kỳ tổng động viên, thì đi thôi; lúc đó, mình học năm thứ 3, chưa xong Cử Nhân, sau này là tự đọc sách là chính. Tự mình thấy bất toàn trong việc nghiên cứu, vì tiếng Hán thì lôm chôm, còn tiếng Phạn, dù Pali hay Sanskrit, thì đều chẳng biết.

HĐN: Duyên do nào anh theo học Phật Pháp và theo đuổi tu tập Thiền?

PTH: Đó là khi đất nước ngổn ngang, tự nhiên lòng người hướng về Đạo Phật. Thiệt sự, từ hồi bậc trung học, mình đã tự mua sách về tập Thiền, tập Hatha Yoga, rồi Raja Yoga, rồi có anh bạn dạy cho mình chú thuật Katha chi đó, rồi sau gặp vị sư dạy bài Đại Bi, rồi lên học Mật Tông nhà Phật với Hòa Thượng Thích Thiền Tâm ở Lâm Đồng… rồi tự học Thiền Chỉ Quán theo một cuốn sách mỏng gặp ở một ngôi chùa. Nhưng tuyệt vời là Thiền Tông. Ban đầu do các bạn trong Nhóm Nghiên Cứu Triết dẫn lên gặp Hòa Thượng Thích Tịch Chiếu ở Chùa Tây Tạng Bình Dương. Thầy nói rằng chưa thấy tánh thì tu gì cũng là sai. Thầy biết bản thân mình (và Nhóm Triết) ưa đọc sách, nên cũng nói rằng phải rời bỏ chữ thì mới xong. Tôi nghe là tự nhiên tin liền, nhưng phải mất nhiều năm mới dần dần mà vào. Cần phải nói rằng, bản thân mình chẳng là gì cả, vẫn tự xem như người dựa cột, ngoài cửa. Thí dụ, hàng sư huynh của tôi nổi bật có nhà văn Nguyễn Thế Đăng (nhà sư, nhưng vẫn ký tên đời khi cầm bút), hay dịch giả Thị Giới Trần Đức Phi Bằng thì hơn mình xa lắm, và một số vị khác. Bản thân mình được chú ý phần lớn vì mình viết truyện, làm thơ, viết báo, nghĩa là có tiếng vang hơn, chớ tự thân không có gì là đáng nể.

HĐN: Nếu như tôi than thở cùng anh “đời là bể khổ”, trong nhất thời anh sẽ dùng lời gì để khuyên tôi? Tôi sẵn sàng để cho trán u lên như ngày xưa anh hứng chịu.

PTH: Bạn ơi, mình thử đưa ra nhiều câu trả lời – làm kiểu như bàn tiệc, để bạn lựa chọn tùy ý. Kinh Phật dạy nhiều pháp, không phải một. Mình không dám nói ý riêng, chỉ đưa ra Kinh Phật thôi.

Điều quan trọng là toàn lực, nên y hệt như võ sĩ ra trận, bốn bề cung tên, chỉ có cách: đầu mình tay chân đều trở thành áo giáp. Do vậy, phải thanh tịnh cả ba nghiệp thân, khẩu và ý. Pháp Cú Kệ 183 tóm tắt Phật Pháp: “Đây là lời Phật dạy: Chớ làm ác, hãy làm lành, giữ tâm trong sạch.” Giữ tâm cho trong sạch thì cần thấy tâm, và từ đó các phương pháp có thể khác nhau.

Cần ghi nhận rằng hiện nay nhiều phương pháp Thiền tập tại Hoa Kỳ và Canada chú trọng vào Chánh Niệm (Mindfulness) và xem đó như là thuốc chữa bá bệnh. Thậm chí, nhiều huấn luyện viên không nói gì về Giới khi dạy Mindfulness cho chiến binh, doanh nhân, vận động viên thể thao… Trong khi đó, Đức Phật luôn luôn xem giới là quan trọng nhất.

Đặc biệt, Đức Phật cũng nhấn mạnh về Từ Bi. Kinh SN 10.4 nói rằng Chánh Niệm không đủ để giải thoát, mà cần có Từ Bi nữa (Bản dịch Bhikkhu Sujato: Each new day is better for the mindful, but they’re not freed from enmity).

Nhiều pháp khác được kể trong Kinh Pháp Cú, qua các bài kệ từ 368 tới 376, ghi rằng Đức Phật dùng thần lực hiện ra trước 900 tỳ khưu, và khi ngài đọc một bài kệ về một cửa giải thoát, thì có 100 tỳ khưu đắc quả A La Hán. Tới 9 lần như thế, là toàn bộ 900 tỳ khưu giải thoát. Trong đó, bài kệ 368 nói về Từ Bi. Kệ 369 nói giữ tâm vô niệm. Kệ 371 nói về Chánh niệm trong mọi thời. Kệ 372 nói giữ tâm trong Chỉ Quán (lặng lặng, tỉnh tỉnh)… Nghĩa là, 900 vị, theo 9 cách khác nhau.

Mình tu chưa tới đâu, cho nên chưa biết nên khuyên Hồ Đình Nghiêm thế nào. Nhưng có lẽ tiện nhất là dùng Bát Nhã Tâm Kinh: hễ thấy được Tánh Rỗng Rang Vô Tướng của các pháp là hết khổ. Đó là nhận ra thực tướng cái được thấy (sắc) là vô tướng, là Không (bật màn hình TV là thấy hình ảnh vèo vèo hiện rồi biến, dù đẹp cỡ nào, rồi cũng vào cõi tịch lặng), nhận ra thực tướng cái được nghe (thanh) là vô tướng, là Không (ca khúc nào hay cỡ nào cũng trôi vào tịch lặng) thì cái khổ cũng thế: bạn mở mắt ra nhìn xem, cái khổ đó ở đâu trong tâm, tới một lúc sẽ thấy nó là rỗng rang, là không ở đâu cả.

Chúng ta là nhà văn, từng có nhiều cơ duyên để gặp những người đẹp nhất và nghe những giọng hát hay nhất. Nếu để động tâm, thì chỉ gây nghiệp thôi. Tốt nhất là theo bài Bát Nhã Tâm Kinh mà tu. Thí dụ, tự nhủ lòng rằng cô hoa hậu này chỉ là cái được thấy, rằng giọng ca tuyệt vời kia chỉ là cái được nghe, thì tự nhiên thấy các pháp tịch lặng dễ dàng. Trong kinh đó, chữ “hành thâm” có nghĩa là chỉ, là định, là giữ tâm cho vắng lặng; chữ “chiếu kiến” là quán, là nhìn vào thực tướng; chỉ quán được như thế, sẽ thấy cái được thấy là không, cái được nghe là không… thì khổ còn bám vào đâu, từ từ sẽ hết.

HĐN: Anh giải thích thế nào về chữ Nghiệp? Hình như từ khi qua Mỹ đến giờ, công việc của anh đều bị bù đầu vào lãnh vực báo chí? Điều đó có thể gọi là Nghiệp không?

PTH: Mình tin đây là nghiệp. Tự nhiên mê đọc, mê viết từ thời thiếu niên. Rồi xã hội sắp xếp cho những cơ duyên để rồi gặp môi trường thích nghi cho công việc cầm bút.

HĐN: Tôi theo dõi những buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật bên vùng anh cư ngụ, hầu như anh đều góp mặt để sau đó viết nên những cảm nhận thật chân tình, thật ấm áp, thật sâu sắc dành cho các văn nghệ sĩ ấy. Từ sinh nhật Gió-O đến buổi ra mắt sách của nhà thơ nữ Nguyễn Thị Khánh Minh, đến đêm nhạc của nữ ca sĩ Thu Vàng… Tôi vẫn nghĩ, trong một cộng đồng luôn cần có một người đứng trong bóng tối như anh. Ở xa, nhờ vào anh, tôi mới được tham dự “nguội”, chia sẻ những thành tựu mà cộng đồng đó vừa gặt hái ra. Tôi nói cảm ơn anh thì hình như vẫn còn thiếu?

PTH: Bạn Hồ Đình Nghiêm ơi, mình học viết theo tiêu chuẩn Đức Phật dạy trong Kinh MN 58, chỉ viết và nói khi thấy lợi mình, lợi người và trong tâm từ. Còn chuyện tu học thì, tự thân vẫn thấy chưa tới đâu cả.

HĐN: Anh vừa xuất bản tuyển tập “Viết Từ Phương Xa”. Thưa anh, tôi nghĩ theo đà này anh sẽ viết thêm cuốn thứ 2, 3… Bởi vì tấm lòng nhân ái của anh dành cho bạn bè không chỉ gom đủ trong một cuốn. Anh đặt nhan Viết Từ Phương Xa có phải muốn chia sẻ cho bạn đọc trong nước chút tâm tình của kẻ tha phương?

PTH: Cuốn “Viết Từ Phương Xa” chưa phát hành, chỉ mới có 1 bản duy nhất do nhà xuất bản gửi tới để xem cần sửa gì không. Mình gửi bản duy nhất này tặng cho họa sĩ Đinh Trường Chinh rồi, vì trong đó có một bài về họa sĩ Đinh Cường, thân phụ của ĐTC. Có thể vài tuần nữa, sách đó mới lưu hành ra thị trường. Còn nói “phương xa” là vì luôn luôn có ý nghĩ rằng mình đang ở xa quê nhà. Còn cuốn 2 hay 3 thì sợ không viết được, vì chuyện văn nghệ bây giờ là thứ yếu, phải ưu tiên tập trung đọc và dịch Kinh Phật.

HĐN: Vì công việc, mỗi ngày anh đọc phải biết bao tin tức diễn ra khắp nơi, những “sự cố” xẩy ra ở Việt Nam có quấy rầy, có tác động vào tâm cảm anh? Anh có từng buồn cho vùng đất chịu nhiều đổ vỡ đau thương ấy?

PTH: Có nhiều lúc mình mất ăn, mất ngủ vì quê nhà. Như năm 2014, khi giàn khoan Trung Quốc 981 vào Biển Đông, mình theo dõi tin suốt ngày đêm; có khi nửa khuya thức dậy, mở máy để vào Internet xem tin tức. Đọc tin quê nhà ngày nào cũng có chuyện không vui, nhưng làm sao bây giờ; cõi này nhiều chuyện không vui như thế.

HĐN: Anh vừa làm thơ, vừa sáng tác truyện ngắn, vừa viết ra bao nhiêu là cuốn sách về Thiền, vừa làm báo, vừa dịch bản tin, vừa viết cảm nhận về một cuốn sách mới trình làng… Tôi ngờ anh là người đeo vào tay cái đồng hồ đặc biệt mà mỗi ngày hai cây kim ở đó quây tới 48 giờ mới giáp vòng. Cho tôi nghịch chút xíu, rằng chị Dung có than vắn thở dài không anh? (Kinh nghiệm cá nhân tôi).

PTH: Khi viết nhiều, nghĩa là giấc ngủ phải ngắn lại. Mà không thể không viết, vì các đề tài Phật học cứ hiện ra trước mắt hoài. Do vậy mình phải giữ sức khỏe kỹ, phải tập thể dục, ăn kiêng, tập thiền… Còn chuyện bị than vắn thở dài là bình thường. Hễ bị cằn nhằn nhiều quá, thì mình tự nhắc tới Kinh SN 35.242 (Kinh Đàn Tỳ Bà), rằng những âm thanh nghe được chỉ là do duyên mà sinh và diệt, vốn thực là không, là tịch lặng; chẳng nên vì cái không mà phản ứng cho thành cái có.

HĐN: Ở thể loại truyện ngắn, tôi thường sa đà vào những cảnh đời bất hạnh, dung tục và có hơi “ngã mặn” bởi có nhiều điều tôi chẳng muốn hư cấu nó. Với một người đang tìm cách từ bỏ những phiền não như anh, anh có phê phán tôi không? Về chuyện thanh, tục ấy?

PTH: Mình cùng trong cõi này thì phê phán làm chi. Từ từ rồi mọi chuyện sẽ tự lắng xuống. Thêm nữa, cách viết mỗi nhà văn thay đổi theo thời gian. Đọc nhiều, viết nhiều, rồi tự nhiên sẽ thay đổi theo hướng tốt nhất. Các nhà văn nổi tiếng thế giới cũng tự thay đổi. Thực ra, truyện của Hồ Đình Nghiêm vẫn thuộc loại hiền lành.

HĐN: Khi tôi muốn tập tĩnh tâm, làm chủ bản thân, theo kinh nghiệm anh từng trải, anh có thể ban cho tôi một lá bùa nhằm độ trì? Vỡ lòng thôi, nhập môn thôi, vì đốn ngộ thì phải trì chí dài lâu, đúng không anh? Nói không phải thì anh bỏ quá cho, tôi vốn là đứa “quay đầu là bờ, ngờ đâu là biển”.

PTH: Xin nói rõ, rằng bản thân mình chẳng là cái gì. Do vậy, mình sẽ nhắc những gì có thể Hồ Đình Nghiêm đã đọc, nhưng chưa chú ý, và có thể chưa thử tập. Rất nhiều pháp trong nhà Phật linh diệu vô cùng tận. Chỗ này, mình nói dài dòng, nói về nhiều pháp, rồi bạn tập, với thời gian sẽ thấy một pháp nào thích hợp thì tập hoài cho tiện dụng. Mình nói cô đọng, rồi bạn tìm đọc thêm. Tập một phút, là an lạc một phút; tập một giờ, là an lạc một giờ.

Có một lời khuyên của Đức Phật trong Kinh AN 9.36 là nên vào sơ thiền, rồi từ đó quán vô thường. Mà vào sơ thiền, là an lạc vô cùng tận. Kinh AN 5.28 gọi lúc đó là cảm thọ hỷ lạc nhờ ly dục. Đó là khi tâm lắng xuống, lặng lẽ, cảm nhận làn da trên toàn thân vui sướng vô cùng, hệt như bột tắm xoa toàn thân. Có nhiều cách vào sơ thiền. Bạn nếu còn chưa rõ, có thể vào Google để tìm bài “Các Pháp Vào Định” trong đó mình đã dịch nhiều bản văn liên hệ.

Có thể vào sơ thiền nhờ tập qua hơi thở. Bạn theo dõi hơi thở dịu dàng. Không cần đếm hơi thở, vì Đức Phật không dạy đếm, chỉ các luận sư đời sau mới dạy đếm hơi thở. Không cần ngồi xếp bằng; ngồi bình thường trên ghế thì hai chân áp sát mặt đất để không bị nghiêng. Chỉ thở tự nhiên, dịu dàng, tỉnh thức theo dõi hơi thở, cảm thọ hơi thở. Rồi đi đứng nằm ngồi đều theo dõi hơi thở, cảm thọ hơi thở.

Cách thứ nhì, qua Tâm Từ: Kinh MN 52, nói rằng tu Từ vô lượng, rồi suy tư, nhận biết, vững trú trong cái thấy vô thường, từ đây đoạn trừ lậu hoặc.

Cách thứ ba, qua buông xả. Kinh SN 48.10, bản dịch Sujato viết, buông xả là vào định: “It’s when a noble disciple, relying on letting go, gains immersion, gains unification of mind. Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption…” (Đó là khi một vị Thánh đệ tử, nhờ buông xả, được định tâm, được nhất tâm. Vị ấy xa rời dục, xa rời bất thiện pháp, vào và an trú trong sơ thiền…”

Thiền Tông, bên Tào Động, nói một câu y hệt: thân tâm phóng hạ. Tức là: buông bỏ cả thân và tâm. Kinh Kim Cang còn gọi là “vô sở trụ”…

Còn pháp Thấy Tánh thường dạy qua thấy và nghe. Tức là nhận ra thế giới này, chung quanh mình, và tất cả đều là những gì hiện ra trong gương tâm của mình. Nghĩa là, nói về “cái được thấy” và “cái được nghe” hiển lộ trong gương tâm. Thầy Tịch Chiếu thỉnh thoảng vẫn hỏi: có nghe gì không, có thấy gì không… Trong khi Kinh Lăng Nghiêm chỉ rõ lắm: tâm không ở đâu hết, nhưng khi có tiếng chim kêu, thì đó là tâm, là tiếng hiển lộ qua tâm. Tiếng kêu có sinh, có diệt; nhưng gương tâm vẫn trong trẻo, không sinh và không diệt. Do vậy, mình có cảm giác sự tích Đức Phật cầm bông hoa đưa lên, Ngài Maha Ca Diếp mỉm cười… lẽ ra, là ngài Maha Ca Chiên Diên mới đúng. Vì trong Trưởng Lão Kệ Thag 8.1 của ngài Mahākaccāyana viết, trích bản Sujato như sau:

All is heard with the ear; all is seen with the eye; the wise ought not forsake all that is seen and heard. Though you have eyes, be as if blind; though you have ears, be as if deaf; though you have wisdom, be as if stupid; though you have strength, be as if feeble.

Xin dịch (có đối chiếu với bản dịch Bodhi):

Tất cả được nghe với tai, tất cả được thấy với mắt; người trí không nên xua đuổi, kình chống tất cả những gì được thấy và nghe. Dù người có mắt, hãy làm như mù; dù có tai, hãy làm như điếc; dù ngươi có trí tuệ, hãy làm như khờ dại; dù ngươi có sức mạnh, hãy làm như mong manh.

Đó là Thiền Trúc Lâm, là Thiền Nhà Trần, không thể khác được. Trần Thái Tông gọi đó là “Thế Tôn chưa ra khỏi thai mẹ, độ người đã xong.” Tức là nghe tiếng chim kêu là nhận ra tâm, và gương tâm trong thực tướng chính là không, là vô tướng, là vô tác. Tức là, giải thoát đã hiển lộ sẵn trong thấy nghe; hễ xua đuổi, bóp méo gì với thấy nghe đều là trên đầu lại chắp thêm đầu. Đó là, các pháp như thế, thì cứ như thế. Cái nhìn và nghe như thế cũng là là kinh vô tự, là cái nhìn vô ngôn, là ngôn ngữ dứt bặt, là không đọc sách, là không dính vào khái niệm. Do vậy, mình tin Đức Phật truyền dạy Thiền Tông cho ngài Maha Ca Chiên Diên, chớ không phải cho ngài Maha Ca Diếp.

HĐN: Sợ anh mất thời giờ, tôi xin có câu hỏi cuối: Anh thường làm thơ vào lúc nào? Anh có thích thơ Haiku của Nhật Bản không? Việt Nam thì tôi yêu quý tất cả những bài thơ của Tuệ Sĩ, vừa thông tuệ vừa thơ mộng vừa ảo diệu.

PTH: Buồn hay vui, có khi thấy muốn làm thơ thì làm. Thường khi do bạn hữu yêu cầu. Mình vẫn thích đọc thơ, đủ thể thơ, kể cả haiku. Thơ Thầy Tuệ Sĩ là tuyệt vời rồi. Hy hữu trong cõi này đó. Tôi vẫn tự xem mình là học trò của Thầy Tuệ Sĩ, dù chưa trực tiếp diện kiến.

HĐN: Xin thành thật cảm ơn anh Nguyên Giác Phan Tấn Hải. Qua anh, tôi học hỏi được nhiều điều. Bể học vốn vô đáy, mong có duyên lành được ngồi bên anh “đàm đạo” dài lâu hơn. Mến chúc anh, chị Dung luôn an lành, tìm gặp những điều tốt đẹp ở “phương trời viễn mộng”.

PTH: Cảm ơn nhà văn Hồ Đình Nghiêm về cuộc phỏng vấn này. Cảm ơn tất cả các độc giả đã đọc những lời trình bày này.

Hồ Đình Nghiêm
Thực hiện bằng điện thư cuối tháng Tư, 2019

Triển lãm tranh của họa sĩ Chóe

petrotimes.vn

Post 04/05/2013

Thanh Thanh

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

(Petrotimes) – Từ ngày 4/5 đến ngày 31/5 tại Phòng tranh Tự Do ở Sài Gòn diễn ra cuộc triển lãm hai bộ sưu tập tranh “Phụ nữ nước tôi- 1995” và “Cảnh quan mùa hạ 1998” cùng một số bức tranh màu trên lụa, trên giấy dó của cây hí họa nổi tiếng thế giới- Chóe.

Trước và sau năm 1975, họa sĩ Chóe (tên thật là Nguyễn Hải Chí (1944 – 2003) là một cây hí họa danh tiếng quốc tế. Không những thế, ông còn là một họa sĩ sáng tác và bán được nhiều tác phẩm tranh sơn dầu, tranh lụa, tranh giấy dó. Ngoài ra, ông còn viết văn, làm thơ và sáng tác nhạc.

Chủ nhiệm Phòng tranh Tự Do Đặng Hải Sơn kể rằng: “Khoảng cuối năm 1970, tôi gặp Chóe lần đầu ở tòa soạn nhật báo Báo Đen ở đường Cống Quỳnh Sài Gòn. Lúc đó Chóe vẽ hí họa cho vài tờ báo ở Sài Gòn. Mấy  năm sau, Chóe trở thành cây bút hí họa lừng lẫy thế giới. Phòng tranh Tự Do khai trương ngày 24/6/1989 thì đến tháng 7/1989, lần đầu chúng tôi mua 20 bức tranh lụa của Chóe. Đó là những bức tranh đầu tiên của họa sĩ Chóe trong bộ sưu tập của Phòng tranh Tự Do”.

Cuộc đời ông cũng rất nhiều thăng trầm. Ngoài hí họa thì ông cũng thành công trong thể loại sơn dầu mà bức tranh sơn dầu đầu tiên của Chóe là “Phong cảnh Cao Nguyên” sáng tác năm 1965. Bức tranh này ông tặng người yêu, sau này trở thành người vợ chung thủy của ông. Năm 1985, trở về từ trại cải tạo, ông vẽ bức chân dung vợ.

Bà Kim Loan – người vợ chung thủy của họa sĩ Chóe tại cuộc triển lãm 

Cuộc triển lãm “Tranh của Chóe” của Phòng tranh Tự Do lần này giới thiệu hai bộ tranh “Phụ nữ nước tôi” (gồm 10 bức hí họa đã tham gia triển lãm “Hí họa châu Á” tại Tokyo Nhật Bản vào năm 1995) và “Vision d’Été 1998” (Cảnh quan mùa hạ 1998 – đây là 20 tranh sơn dầu trên bố, sáng tác năm 1998, khi ông sang Pháp trị bệnh và triển lãm tại Tòa thị chính thành phố Savigny Le Temple, Pháp).

Cả hai đều thuộc bộ sưu tập của gia đình họa sĩ, tuy đã triển lãm ở nước ngoài, nhưng chưa triển lãm trong nước lần nào. Ngoài ra, triển lãm lần này cũng có các bức tranh sơn dầu, tranh màu nước trên lụa, trên giấy dó của họa sĩ Chóe trong bộ sưu tập của Phòng tranh Tự Do.

Một số tác phẩm trong triển lãm lần này

Chồng con – hí họa – 1995

Môi trường – hí họa – 1995

Giã từ ve chai – hí họa – 1995

Mặt nạ – sơn dầu – 1998

Một phương pháp giáo dục – hí họa – 1995

Nhà văn Vũ Trọng Phụng – Sơn dầu – 2000

Nghệ sĩ Trà Giang – sơn dầu – 1999

Xích lô – hí họa – 1995

Che chắn – hí họa – 1995