Ta bà nắc

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 12/02/2019 

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Đó là nói trại từ tiếng chửi thề chẳng đâu có được. Tabarnak. Hoàn toàn do địa phương này sáng chế ra. Phúc vẫn thích âm vực nặng nề ấy khi nghe Monisa phát âm, thường để chấm câu, quyết liệt, dứt khoát. Đôi khi kháu ó, đôi lúc phiền muộn; mặt khác chữ đó sử dụng tựa một quen miệng, vô thưởng vô phạt, chẳng nhằm bày rõ tâm trạng Monisa đang mang. Đi ngang qua tiệm bán áo quần ngoài phố, thấy treo chiếc váy đỏ kiêu sa nằm đằng sau tấm kính. Monisa trì hoãn cước bộ, nhìn vào và phát tiếng: Tabarnak! Cô đọng chỉ có thế, thay vì trầm trồ: Mẹ rượt, nó bắt con mắt quá. Nó đẹp quá mạng, bà con ơi!
Có chữ (xấu xa) khác là Calisse, nhưng Monisa ít dùng, có lẽ vì phát âm ra nghe không sướng miệng sướng tai bằng? Dân Tây từ Paris qua thăm thú Québec thường đực mặt chẳng hiểu mô tê gì về thứ Pháp văn trời ơi đất hỡi đó. Ngày đầu tới đây sinh sống, Phúc cũng từng ngậm bồ hòn, nhưng đó là thứ bồ hòn biết tiết ra vị ngọt, chẳng chói tai. Sướng hơn hứng lấy fuck mà bọn người nói tiếng Anh vẫn ưa làm đày làm láo. Phúc nhạy cảm, không thích do lẽ khi phát âm gần trùng với tên mình mang đầy phúc phận.

Monisa làm chung chỗ với Phúc, nơi mà người ta chẳng quan hoài tới điều lệ căn bản là bạn có bao nhiêu năm kinh nghiệm, và do vậy nhân viên cứ thoải mái với mức lương căn bản. Điều khiến cho Monisa công khai chửi tabarnak là đã hơn hai năm, thằng chủ quán ăn rậm rật nọ vẫn giả điếc việc lên lương, leo dốc ạch đụi là việc của chúng mày, kham không nổi thì cuốn gói mà đi. Calisse!

Eo hẹp chẳng khiến Monisa tằn tiện việc tiêu pha, cô đã xăm xăm đi tậu chiếc váy đỏ kia. Chưa tính thuế vào, giá trị nó cân xứng với 32 giờ bù đầu tóc rối việc chạy bàn. Tabarnak, Phúc phát biểu khi thấy Monisa từ phòng thử kéo màn bước ra, một bông hoa dâm bụt hay mồng gà mãn khai biết di chuyển, vặn vẹo, săm soi. Nhờ kéo cái zip đằng sau lưng tí, coi đặng không? Rõ là phải tốt nước sơn, người ta mới bỏ công đào bới đằng sau sơn nọ thớ gỗ thơm thịt có tốt không. Lắm khi hình thức cũng nắm phần quyết định nội dung, bởi chẳng ai can đảm mang thân gỗ ra dầm ngoài nắng mưa mà quên đi sự sơn phết che đậy. Khi mảng lưng để hở chưa khép đóng đường khe, Phúc thấy những sợi lông măng đồng loạt dựng đứng lên. Lông Monisa vàng tựa phấn hoa bám víu, rơi vãi. Dựng đứng có lẽ là do phản ứng khi da để hở cho hơi lạnh vuốt ve, cứ trần thân thêm năm bảy phút thì tự khắc da sẽ nổi hột, kêu bằng nổi da gà. Tuy đứng trong góc khuất, hàn khí mùa này có thể thâm nhập vào, xem thường sự hiện diện của máy sưởi để làm người ta phải rùng mình bất chợt. Nhưng muốn đón nhận cái ấm lòng thì lắm khi người ta cũng chẳng quan hoài tới máy nhiệt điện. Một cái váy màu đỏ cắt may khá hở hang tự nó cũng biết toả lan nỗi ấm cúng. Chẳng phải vô cớ khi có đứa thốt lên câu: Oh, so hot baby!

Đi làm thì áo xống xuề xoà, chỉ yêu cầu y phục nên sạch sẽ chớ bốc mùi khiến làm nhột lỗ mũi thực khách, chịu khó bôi thuốc khử mùi vào nách. Vậy thì chiếc váy mà Monisa sắm sửa hẳn chỉ dành cho cô nàng diện vào những dịp hệ trọng lễ lạc các thứ. Và tuyệt đối nó chẳng diễn ra ở trong cái quán ăn luôn nồng mùi tỏi hoặc sốt cà chua, nơi có hàng chữ Pháp ngữ diễn nôm thành “Nếu bạn muốn có bữa điểm tâm trên giường, tốt nhất bạn nên ngủ ở nhà bếp”, nơi có cô hầu bàn được kêu tên thân mật bằng Mô.

Phúc yêu Mô, một thứ tình cảm không cần biết mô tê răng ri rứa. Có thể do phút ban đầu, Monisa khác biệt hẳn so với bọn người làm việc trong quán ăn luôn quen mồm áp đặt Phúc là “thằng ba tàu không biết kung-fu”. Ông cố nội tao có hai cái đồn điền trồng cao su và trồng cà phê, ổng bỏ của chạy lấy người vì ông cố nội mày cầm mã tấu đòi chặt đầu thằng địa chủ thực dân. Ông cố nội tao nói: Merde! Bọn an nam mít thiệt khó nhai. Ba bốn đời sau, con cháu bần cố nông gặp lại dòng máu di truyền bọn thực dân mới, tình bạn xảy đến và hơn một lần Phúc giao mạng cho Monisa nhai, dễ như ăn ớt. Ông cố nội Phúc từng mô tả về con cọp lén vào đồn điền cho ông cố nội Monisa nghe: Bớp mais pas bớp, luỹ gầm luỹ gừ, luỹ măng-rê moi luỹ măng-rê toi, luỹ măng-rê tout. Bớp là con bò, mang ra ví với cọp, một trời một vực vậy mà “thằng” thực dân sáng dạ hiểu ra. Phúc nói, trong chợ có bán phô mai “la vát ki ri”. Mô chận ngang, hôm kia tao đi vào tiệm phở có vẽ cái đầu bò nhăn răng cười, khá thơm ngon, giá dễ chịu, có điều xơi xong thì bắt uống nước cả ngày. Phúc hát nhạc Tây: Vu lê vu cút-sê a véc moa xơ xoa. Đằng ấy có thích ngủ với tớ đêm nay không. Nàng Mô thông minh lanh lợi ứng khẩu: Có sao đâu, chuyện nhỏ, xem thử sức lực thằng nhược tiểu mạnh bao dường mà xẳng xái đòi tẩm quất em đế quốc.

Rồi tới lúc Phúc cũng nhìn thấy Monisa diện chiếc váy màu đỏ mới cáu chỉ. Ngồi trong quán cà phê, Mô mang theo cái bọc ny-lông khi lách thân vào nhà vệ sinh, không tiểu trung đại tiện gì cả, mượn chỗ nồng mùi khai chỉ để thay đổi xiêm y. Vào bình thường, ra khác thường. Vào tăm tối, ra sáng choang. Phúc không rõ vì sao người Việt gọi đó là áo đầm? Áo dành riêng cho dân đầm (ma-đàm)? Áo do dân đầm sáng chế? Monisa bảo, có thích làm một vòng quanh hội chợ Tết không? Phúc ngạc nhiên, đầm cũng biết món này sao cà? Năm mới, đừng mang bộ mặt nhà quê ấy, trông khó coi lắm. Tao có thấy qua một tấm poster quảng cáo. Ủa tết đến rồi sao? Phúc la thầm. Tết mais pas tết, không hoa mai, pháo chẳng gầm chẳng gừ, nhưng ở hội chợ thì bày nhiều món cho toi măng-rê, moi măng-rê, hai đứa xơi tout.

Tao muốn khám phá. Monisa nói thêm, tao có tâm hồn ăn uống, thích thử của lạ. Phúc cảm động ra mặt, ít ra thì hậu duệ bọn thực dân cũng biết tới Tết để mặc một chiếc áo đẹp nhất mà xẳng xái đến tham dự hổng ke tới thứ thời tiết lạnh đến teo bu-gi. Hai đứa man khai cảm cúm, xin nghỉ ngày chủ nhật, dùng métro đến tụ điểm có lắm tà áo dài vờn bay. Ăn gỏi khô bò, bớp giao duyên cùng đu đủ bào thành sợi. Ăn bánh cuốn nhân thịt cô-son bằm với nấm mèo. Ăn chả giò chiên hải sản fuy-đờ-me. Húp đọi bánh canh tự xưng là Nam Phổ (không thấy o bán hàng ở lỗ trèo cau). Súc miệng bằng chè ba màu. Phúc hỏi: Muốn thời chi khác? Thôi, nhiêu đó đã cành hông. Chưa có khi nào tao ăn ngon miệng như hôm nay. Calisse, làm chỗ đó thét phát sợ với thực đơn Ý, Pháp.

Hội chợ đông người, sợ lạc nhau Monisa chẳng rời tay nắm. Phúc, Phúc. Có thằng la giật giọng. Làm bộ lơ nhau nữa sao? Phúc quay mặt lại. Ồ, chỉ là đứa học chung khoá Pháp văn ngày nào, chừng đã lâu lắm. Năm mới phát tài. Hắn nói. Đù mẹ, bữa này chơi với Tây rồi bày đặt làm le làm gió. Phúc rủa thầm tabarnak. Đầu năm phải kiêng cử lời ăn tiếng nói nghe cha nội, nhỡ con Tây này là vợ moả thì dễ sứt mẻ cảm tình với nhau quá. Vợ con gì chưa? Sắp, qua tết thì dìa bển làm đám cưới. Sao không lại đứng gần sân khấu, lát nữa đến tiết mục của Hương Thuỷ lên hát rồi đó. Ừa, ông đi xí chỗ giùm cái, tui dắt con Tây này đi tìm chỗ đái, nhẹ bụng mới hạ hồi phân giải. Monisa hỏi: A-mi à? Bằng hữu á? Luỹ nói gì thế? Ờ, nó khen bồ tèo quá rô-li, cách cả cây số cũng nhìn ra cái váy đỏ kiêu sa. Có thật không đó? Chừng như dài dòng văn tự hơn cơ mà. Ờ, nó bảo nếu cái váy đó mà có đính một ngôi sao vàng ở bụng thì moa sẽ chóng gặp các mác lê nin. Là sao? Xề-qua-xá? Là toa lạc hồn ở dương thế mà moa thì hồn du địa phủ. Nó thương tình thì chỉ đánh moa sặc gạch thôi. Rơ-xe. Lá cờ máu chơ chi. Moa đâu phải trẻ lên ba, ông cố nội moa cũng từng tởn tới già, một ra đi không trở lại.

Sau thằng Michel làm phụ bếp, đến phiên Phúc được mời vô. Làm ơn đóng cánh cửa sau lưng bạn. Ngồi xuống đi, chỉ vài phút thôi. Tôi tên Jacques, người được cấp trên giao cho cái “job” này. Bạn có thể cho biết tên bạn mang? Tôi tên Phúc. Fuck, tôi có nghe lầm không? Không, đúng là như thế, có điều viết khác. P. H. U. C. Cảm ơn. Tiếng Pháp bạn có trôi chảy không? Ý tôi muốn hỏi là bạn hiểu hết những gì tôi nói, đâu cần tới thông dịch viên, nhỉ? Thông thường là thế, căn bản là thế. Điều gì nghe lạ tai thì tôi bí. Tốt. Bon. Vào tối thứ bảy, ngày 2 tháng 2 bạn làm gì? Tôi đi xem Hockey, Canadiens gặp Canucks. Đi với ai? Đi một mình. Đầu năm trong quán ăn có tổ chức trò bốc thăm, tôi trúng chỉ được cái vé lẻ, nguyên uỷ là vậy. Bạn làm ở quán “Con Mèo Ướt Mưa” đã bao năm? Tháng 6 tới là đúng 4 năm. Giao tình với những bạn đồng nghiệp như thế nào? Bạn chơi thân ai nhất? Tôi chỉ thân với cô Monisa, mấy người kia chỉ là trao đổi xã giao, chẳng mấy thân thiết.

Trên bàn không thấy có đặt máy thu âm, trước mặt Jacques là cuốn sổ nhỏ, thỉnh thoảng ông ghi xuống một vài chữ. Ông lật lui trang trước: Michel cho hay Mô có vẻ dễ dãi trong chuyện ấy, bạn hiểu ý tôi không? Và bạn nghĩ nhận xét của Michel có sai quấy? Tôi chẳng rõ lắm, nhưng với ý nghĩ của người Á đông như tôi, có thể Michel không nói sai. Tốt, quan hệ giữa bạn và Mô vẫn tốt đẹp? Lần cuối hai người ở bên nhau là vào thời điểm nào? Chừng hai tuần trước, chúng tôi đi dự hội chợ Tết… Ông hiểu không? Hiểu, đó là dịp mà hằng năm cộng đồng bạn gặp gỡ nhau, thậm chí đón nghe vị Thủ tướng nói lời chúc bằng tiếng Việt “Chuc Mung Nam Moi”. Làm việc trong quán ăn đó, có bao giờ bạn đi về nhà bằng cửa sau? Chưa bao giờ. Có nghĩa là bạn chưa từng đi ra ngoài bằng lối đó? Nhiều lần chứ, họ nhờ tôi đi quăng bịch rác hoặc Michel rủ tôi lẻn ra sau hút vội điếu thuốc. Tốt lắm, cảm ơn sự hợp tác của bạn. Jacques đứng lên bắt tay Phúc. Bạn muốn hỏi điều gì không? Tôi nghe toàn những tin có vẻ thêu dệt, sẵn đây xin ông cho tôi biết về tình trạng của Monisa.

Jacques ghé mông trên góc bàn, ông đóng kín cuốn sổ nhỏ bằng một sợi dây thun, thứ mà Mô vẫn dùng để buộc tóc. Cái đêm mà bạn đi xem Hockey, Monisa ở trong nhà bếp quán ăn cùng ông Puzzo sếp bếp. Puzzo bị ba nhát dao đâm vào bụng, cánh cửa lấm lem máu có dấu tay Monisa. 7 giờ 30 sáng, Jimmy là người đầu tiên nhìn thấy Puzzo nằm với một vũng máu. 6 giờ chiều ngày hôm sau chúng tôi nhìn thấy Monisa ở bến xe đò. Theo như phỏng đoán, quán ăn đó sẽ trở lại sinh hoạt bình thường sau ba ngày, có nghĩa là bạn được dịp nghỉ xả hơi một thời gian ngắn.

Phúc mua tờ nhật báo, ảnh Monisa in ở trang đầu. Cô cho hay, bị lão Puzzo ép uống rượu, bị xâm hại tình dục và với con dao nằm gần tầm tay, cô đã dùng nó để tự vệ. Điện thoại của chủ quán ăn réo gọi Phúc trở lại làm việc nhưng Phúc thoái thác. Phúc nhớ tới tấm giấy có in số điện thoại của Jacques trao. Liệu vị cảnh sát ấy có thể nói cho Phúc biết nơi giam giữ Monisa? Nhân danh một bạn đồng nghiệp cũ, tôi có thể đến thăm hỏi cô ta? Vu-lê-vu-cút-sê-a-véc-moa-xơ-xoa? Trường hợp này làm sao mà Oui được? Có là tài thánh mới lọt vào, ôm lấy một kẻ sát nhân thì thầm bên tai bản nhạc cũ: Nếu tình yêu thực sự không hiện hữu, chúng ta sống với hoài niệm, rằng đã có một Tết xa xăm em mặc chiếc váy đỏ, lòng vui như mở hội và em trao cho tôi, không toan tính, bao ân sũng, giúp hồi sinh, vực dậy đứa tị nạn đang xơ xác một mảnh đời. Tabarnak! Bao lâu nữa thì chúng ta lại tay trong tay?

Phúc nộp đơn xin việc, lương hậu. Được thu nhận, làm ca đêm trong một nhà quàn. Lạnh vắng, chỉ nghe tiếng chân tự mình dấy lên trên mặt thảm nâu đỏ và tiếng nhịp tim riêng mình vọng dội, quanh quất tịnh đều ngơi nghỉ. Đó là một cái hotel tạm bợ, khách đến ghi tên to trên tấm bảng, nằm đôi ba hôm rồi dong duổi đi chuyến dài lâu về phương trời vô định, chẳng một ai có quyền được biết. Sở dĩ Phúc làm cuộc “đổi đời” vì giản dị rằng, nhà quàn đó mang tên Monisa.

Hồ Đình Nghiêm

Chân dung người chiến sĩ thiết giáp kỵ binh và biệt động quân trong hai năm cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam (1974-1975) – Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi

Posted on February 26, 2024 by dongsongcu

Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi Tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Huy hiệu Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh

Huy hiệu Biệt Động Quân

Lời Mở Đầu:

Thưa quý vị,

Sau khi Mỹ đơn phương ký kết Hiệp Định Paris với CSVN, đầu năm 1973 rút quân bỏ rơi chúng ta, báo chí truyền thông Mỹ mở chiến dịch rầm rộ bôi nhọ quân lực chúng ta. Quân CSBV nắm lấy thời cơ không ngừng vi phạm Hiệp Định Paris, tấn công chúng ta liên tục ở MNVN. Đồng thời Quốc Hội Hoa Kỳ cắt đứt viện trợ quân sư. Quân Lực VNCH buộc phải chiến đấu tự vệ trong thiếu thốn kinh khủng về trang bị quân dụng, đạn dược, xăng dầu.

Lúc bấy giờ ở Vùng 1 Chiến Thuật trên tuyến đầu của Tổ Quốc ở các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, các đơn vị tổng trừ bị thiện chiến Dù, TQLC, BĐQ cùng với SĐ1, SĐ2, SD3BB và các đơn vị NQ-ĐPQ của quân lực chúng ta phải chiến đấu ngày đêm vô cùng gian khổ giành nhau từng thước đất với quân thù CSBV.

Dân chúng MNVN bị tuyên truyền xảo quyệt của báo chí truyền thông Mỹ và CSBV, nên đa số hiểu sai khả năng thật sự của quân lực chúng ta. Có biết bao anh hùng tử sĩ đã hi sinh để bảo vệ MNVN thân yêu của chúng ta.

Những năm tháng cuối của cuộc chiến, mặc dù gặp muôn ngàn khó khăn về yểm trợ và tiếp vận, quân lực chúng ta vẫnn chiến đấu bền bĩ kiên cường làm cho Bộ trưởng Ngoại giao Kissinger có lúc mất bình tĩnh phải thốt ra: “Sao bọn chúng chưa chết phứt đi cho rồi”. Chẳng những quân lực chúng ta không chết đi, mà còn đánh trả quân xâm lược những đòn chí tử cho đến phút chót.

Nhân Xuân Tha Hương nhớ người chiến sĩ VNCH, nhớ anh thương phế binh sống tủi nhục đau đớn ở quê nhà, tôi xin đăng lại một chiến tích xuất sắc đáng được hãnh diện về quân lực của chúng ta.

Ảnh minh hoạ

Trần Quang Khôi

TB: Bài CHÂN DUNG NGƯỜI CHIẾN SĨ cũng đã được dịch ra Anh ngữ sẽ đăng trên trang nhà của TGB và sẽ được phổ biến rộng rãi trong dân chúng Mỹ. Đã gởi các copy đi:

– TS Sorley

– Nhà văn Jay Veith

– Giáo sư TS Louis Leresche

– Đại tá Raymond Battreall

– Một số người Mỹ bạn của VNCH

1. Tình hình chung ở Vùng 3 Chiến Thuật

Sau khi ký kết Hiệp Định Paris, đầu năm 1973, Quân đội Mỹ ở Miền Nam Việt Nam (MNVN) bắt đầu rút quân về nước. Các đơn vị chủ lực của CSVN ở Vùng 3 Chiến Thuật gồm có 3 Sư Đoàn Bộ binh: 5, 7, 9 và các đơn vị đặc công ém quân bên kia biên giới Việt Miên thường xuyên xâm nhập vào lãnh thổ nước ta quấy nhiễu hoặc bao vây tấn công các đồn biên phòng của chúng ta dọc theo biên giới ở các tỉnh Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bình Long và Phước Long. Chủ lực của Quân Đoàn III gồm có 3 Sư Đoàn Bộ Binh 5, 18, 25 và Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh được sự yểm trợ trực tiếp của Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh 155 ly, Tiểu Đoàn 61 PB 105 ly và Liên Đoàn 30 Công Binh dưới quyền chỉ huy của Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, một mặt phải lo dàn mỏng quân ra thay thế Lực lượng II Dã chiến Hoa Kỳ để bảo vệ lãnh thổ chống lại chủ trương “dành dân lấn đất” của Cộng Sản sau khi Hiệp Định Paris ra đời; mặt khác, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Quân Đoàn III phạm sai lầm rất lớn về tổ chức và sử dụng lực lượng là giải tán Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III và phân tán nát Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh ra từng mảnh nhỏ sau khi tôi rời Lữ Đoàn đi du học ở Hoa Kỳ năm 1972. Hai sự kiện đó làm cho Quân Đoàn III bị suy yếu trầm trọng và hoàn toàn bị mất đi tính di động. Vì thế mà Lộc Ninh bị địch chiếm và các đồn biên phòng ở Tây Ninh lần lượt bị lọt vào tay địch. Tháng 7 năm 1973 tôi từ Mỹ trở về nước. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần cũng vừa thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn Minh đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân Đoàn III. Ông nghe tiếng tôi đã từng chỉ huy Chiến Đoàn 318 và Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh đánh thắng nhiều trận lớn trên chiến trường Campuchia từ thời Đại Tướng Đỗ Cao Trí trong 2 năm 1970-1971, nên vận động xin tôi về trở lại Quân Đoàn III với ông. Ngày 7 tháng 11 năm 1973, tôi nhận quyền chỉ huy Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh ở Biên Hòa.

Ảnh minh hoạ

Việc đầu tiên là tôi gom các đơn vị Thiết Giáp bị phân tán về lại Lữ Đoàn và trình Trung Tướng Thuần gấp rút tổ chức lại Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III (LLXKQĐIII) theo mô hình tổ chức của Đại Tướng Đỗ Cao Trí. Ông cho tôi toàn quyền hành động.

Tình hình quân sự ngày càng nặng sau khi quân Mỹ rút đi. Trong “Mùa Hè Đỏ Lửa” 1972, nhiều chiến xa T-54 địch xuất hiện lần đầu tiên ở miền Nam trên chiến trường ở An Lộc, nên tôi tiên đoán chiến trường tương lai chiến xa địch có thể xuất hiện ở Biên Hòa; tôi xin Quân Đoàn trang bị cho tất cả các đơn vị Địa Phương Quân ở Biên Hòa súng phóng hỏa tiễn M72 chống chiến xa, được phép huấn luyện họ sử dụng loại vũ khí này và huấn luyện họ phối hợp tác chiến với Thiết Giáp, đồng thời tích cực tổ chức địa thế chống chiến xa địch chung quanh thành phố Biên Hòa. Các đường xâm nhập vào thành phố đều được thiết kế đặt mìn chống chiến xa và hầm hào chống chiến xa địch. Chính nhờ nỗ lực này của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh mà sau này trong “Chiến Dịch Hồ Chí Minh” năm 1975 của Cộng Sản Bắc Việt, Quân Đoàn 4 CS đã thất bại trong kế hoạch đánh chiếm tỉnh Biên Hòa và Sư Đoàn 341 CS bị quân ta đánh bại ở Biên Hòa trong ngày 30-4-1975.

Tôi ra sức cải tổ lại Lữ Đoàn 3 KB cho phù hợp với địa thế Việt Nam. Mỗi chi đội chiến xa có 3 chiến xa M48 thay vì 5 chiếc. Tôi cơ động hóa Pháo Binh bằng cách dùng xe xích M548 biến cải chở pháo 105 ly. Tôi tổ chức LLXKQĐIII thành một đại đơn vị liên binh Thiết Giáp – Biệt Động Quân – Pháo Binh – Công Binh hoàn toàn cơ động gồm 3 Chiến Đoàn : 315, 318 và 322. Tôi gấp rút huấn luyện tác chiến liên binh thuần thục và thường xuyên làm công tác tư tưởng để mọi quân nhân hiểu rõ địch, hiểu rõ nhiệm vụ và mục tiêu chiến đấu của chúng ta, nhất là để mọi chiến sĩ dưới quyền có niềm tin ở sự chỉ huy của tôi. Đến hạ tuần tháng ba, 1974, LLXKQĐIII đã trở thành một đại đơn vị cơ động tinh nhuệ sẵn sàng lên đường chiến đấu.

2. Tình hình đặc biệt :

Cuộc chiến đấu anh hùng của Tiểu Đoàn 83 Biệt Động Quân Căn Cứ Đức Huệ nằm khoảng 56 km hướng Tây Bắc Sài Gòn gần biên giới Việt Miên thuộc quận Đức Hòa, tỉnh Hậu Nghĩa do Tiểu Đoàn 83 BĐQ Biên phòng trấn giữ với quân số trên dưới 420 người cùng với gia đình vợ con binh sĩ vào khoảng 80 người sống trong căn cứ nguyên là một trại Lực lượng Đặc biệt của Mỹ để lại (xem hình 1) . Tiểu Đoàn trưởng là Thiếu Tá Hoa Văn Hạnh. Khi xảy ra trận chiến thì Thiếu Tá Hạnh đi nghỉ phép vắng mặt. Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo, Tiểu Đoàn phó thay thế chỉ huy.

Tiểu Đoàn 83 BĐQ có 4 Đại Đội tác chiến và 1 Đại Đội Chỉ huy và Công vụ:

– Trung Úy Thạch Thông chỉ huy Đại Đội 1,

– Trung Úy Hiền chỉ huy Đại Đội 2,

– Trung Úy Thất chỉ huy Đại Đội 3,

– Trung Úy Tuội chỉ huy Đại Đội 4 và

– Thiếu Úy Vạng chỉ huy Đại Đội Chỉ huy và Công vụ.

Được tin tình báo VC sẽ đến đánh căn cứ, Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo cho 3 Đại Đội tác chiến ra ngoài căn cứ: 1 Đại Đội bố trí các tiền đồn an ninh xa và 2 Đại Đội hành quân tìm và diệt địch ngoài xa căn cứ. Còn lại một Đại Đội tác chiến trừ bị bố phòng trong căn cứ.

(1) Đêm 27- 3 -1974, một đaị đội Đặc Công CS xâm nhập được vào bên trong Căn Cứ Đức Huệ; vào lúc 02:00 giờ sáng ngày 28-3-1974, chúng chiếm được một góc trong căn cứ. Ngay từ những phát súng nổ đầu tiên, Thiếu Tá Bảo bị thương ở chân, gọi được 3 Đại Đội tác chiến bên ngoài gấp rút trở về. Tiểu Đoàn tập trung lại phản công quyết liệt. Bên ngoài căn cứ, Sư Đoàn 5 CS (Công Trường 5) bao vây chặt; pháo binh địch tập trung hỏa lực pháo kích vào căn cứ rất dữ dội. Bên trong căn cứ Biệt Động Quân và Đặc Công CS cận chiến giành nhau từng vị trí một, đánh nhau bằng lưỡi lê và lựu đạn. Đến sáng thì đại đội Đặc công CS bị quân ta tiêu diệt hết.

Tiểu Đoàn 83 BĐQ làm chủ tình hình bên trong căn cứ, tổ chức lại phòng thủ chặt chẽ và sử dụng Pháo Binh của Tiểu Khu Hậu Nghĩa bắn yểm trợ hỏa lực chung quanh căn cứ. Trong khi đó, các Đại Đội tác chiến BĐQ bố phòng bên trong chặn đứng các đợt xung phong bên ngoài của các đơn vị bộ bnh Sư Đoàn 5 CS. Hai bên giao chiến ác liệt ngày đêm không ngừng nghỉ.
Tiểu Đoàn 36 BĐQ do Thiếu Tá Lê Quang Giai chỉ huy, tăng phái cho Tiểu Khu Hậu Nghĩa, vượt sông Vàm Cỏ Đông ở Đức Hòa tiến về hướng Căn Cứ Đức Huệ bị phục binh của các đơn vị thuộc Sư Đoàn 5 CS ở Giồng Thổ Địa thuộc xã Đức Huệ tấn công buộc Tiểu Đoàn phải thối lui lại gần bờ sông Vàm Cỏ.

(2) Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III liền điều động Bộ Chỉ huy Liên Đoàn 33 BĐQ do Trung Tá Lê Tất Biên phụ trách sang Đức Hòa cùng với Tiểu Đoàn 64 BĐQ do Thiếu Tá Nguyễn Chiêu Minh chỉ huy. Ngày 31-3-1974, Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ (khoảng 50 người) do Trung Úy Anh chỉ huy được trực thăng vận xuống Căn Cứ Đức Huệ tăng cường cho Tiểu Đoàn 83 BĐQ, đồng thời Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-) vượt sông Vàm Cỏ Đông ở gần nhà máy đường Hiệp Hòa, nhập với Tiểu Đoàn 36 BĐQ làm 2 cánh quân tiến song song về hướng Căn Cứ Đức Huệ ở cách đó chừng 10 cây số đường chim bay về hướng Tây. Tiến được chừng 2 cây số, khoảng hơn 1 trung đoàn Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 5 CS từ những vị trí hầm hào đào sẵn, xông lên tấn công mạnh, đồng thời pháo binh địch tập trung hỏa lực bắn xối xả vào đội hình của hai cánh quân này gây tổn thất nặng. Cuối cùng Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-) và Tiểu Đoàn 36 BĐQ buộc phải gom quân rút lui về lại bên này bờ sông Vàm Cỏ (xem hình 1).

Ảnh minh hoạ

(3) Sư Đoàn 25 BB hành quân giải tỏa. Tiếp theo, Bộ Tư lệnh QĐIII giao nhiệm vụ cho Sư Đoàn 25 BB do Đại Tá Nguyễn Hữu Toán chỉ huy, tổ chức hành quân giải tỏa Căn Cứ Đức Huệ. Đại Tá Toán liền điều động các đơn vị thuộc Sư Đoàn đang hành quân trong vùng lân cận biên giới từ phía Bắc đến giải tỏa (xem hình 1). Một căn cứ hỏa lực được thành lập tại làng Phước Chỉ thuộc tỉnh Tây Ninh. Căn cứ này nằm cách biên giới khoảng 2 Km về phía Nam đồn biên giới An Hòa và cách Căn Cứ Đức Huệ khoảng 13 Km về phía Bắc. Ngoài Tiểu Đoàn Pháo Binh 105 ly cơ hữu Sư Đoàn phối trí trong căn cứ Phước Chỉ, còn có Trung đoàn 46/SĐ25 BB được tăng cường Chi đoàn 3/10 Thiết kỵ. Chi đoàn trưởng Chi đoàn này là Đại Úy Trần Văn Hiền. Tất cả lực lượng liên binh này được đặt dưới quyền điều động của Trung Tá Cao Xuân Nhuận, trung đoàn trưởng Trung đoàn 46 BB và được giám sát chỉ huy bởi Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 25 BB ở Củ Chi.

Để đối phó với đoàn quân giải tỏa của Sư Đoàn 25 BB, quân địch đã chủ động tổ chức địa thế, bố trí quân kín đáo chờ đánh quân tiếp viện. Chúng đặt các chốt chặn trên trục tiến quân của ta không vượt qua được, đồng thời Pháo Binh tầm xa của chúng nằm sâu bên kia biên giới mở những trận địa pháo chính xác, liên tục và ác liệt gây nhiều thương vong cho Trung đoàn 46 BB, làm tê liệt các cánh quân không điều động được, nên kế hoạch giải tỏa của Sư Đoàn 25 BB thất bại. Một phi cơ quan sát L19 bị phòng không địch bắn rơi gần đó, Trung đoàn cũng không tiếp cứu nổi phi hành đoàn. Sau đó quân địch pháo kích tập trung hỏa lực thẳng vào căn cứ Phước Chỉ bằng hỏa tiễn 107 ly và 122 ly khiến Trung Tá Cao Xuân Nhuận, trung đoàn trưởng Trung đoàn 46/SĐ25 BB bị tử thương. Trong suốt thời gian gần một tháng trời, quân bạn không đem lại một kết quả khả quan nào, hàng ngày vẫn bị pháo kích dồn dập, trực thăng tản thương và tiếp tế bị bắn rớt ngay trong căn cứ, 1 khu trục cơ Skyraider yểm trợ hành quân và 1 phi cơ DC3 thả dù tiếp tế bị hỏa tiễn SA 7 bắn rớt; những cánh dù mang lương thực và đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ thường bay ra ngoài vòng rào và lọt vào tay quân địch. Như vậy là cả hai nỗ lực từ phía sông Vàm Cỏ Đông của BĐQ qua và từ phía Bắc của Sư Đoàn 25 BB xuống đều bị thất bại trong việc tiếp cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ (xem hình 1).

(4) Những “Anh hùng Alamo Việt Nam”. Bên trong căn cứ, trong lúc đó, các chiến sĩ Tiểu Đoàn 83 BĐQ và Đại Đội 3 của Trung Úy Anh thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo chiến đấu vô cùng dũng mãnh, càng đánh càng hăng từ lúc đầu cận chiến với đặc công địch bằng lưỡi lê và lựu đạn bên trong căn cứ cho đến về sau này phải chiến đấu đẩy lui các đợt xung phong của địch ngày đêm không ngừng nghỉ. Cuối cùng lương thực và đạn dược bắt đầu cạn, căn cứ bị cô lập không được tiếp tế, không tản thương được, nhưng không vì thế mà tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ BĐQ bị suy giảm. Họ thề quyết tử chiến với quân thù. Gia đình vợ con của các chiến sĩ BĐQ trong căn cứ cũng tích cực tham gia chiến đấu bên cạnh chồng cha họ. Họ cổ võ, họ giúp tản thương, cứu thương, tiếp tế đạn dược và lo cơm nước. Có người còn cầm súng chiến đấu vô cùng dũng cảm. Mặc dù tỷ lệ quân số giữa ta và địch quá chênh lệch, quân địch không sao dứt điểm được. Xác địch chồng chất ngổn ngang bên trong và bên ngoài Căn Cứ Đức Huệ.

So sánh sự tử thủ nổi tiếng của quân đội Mỹ ở đồn binh “Alamo” năm 1836 do Trung Tá William Barret Travis chỉ huy với quân số 189 người chống lại sự bao vây và tấn công của hơn 2,000 quân Mễ với tỷ lệ quân số hai bên là 1/11. Sau 13 ngày đêm tử chiến, đồn binh bị quân địch tràn ngập ngày 6-3-1836. Tất cả 189 chiến sĩ trong đồn binh đều tử trận, chỉ còn sống sót 14 người là đàn bà và trẻ con. Khoảng 1,600 quân Mễ bị giết.

Hoặc so sánh sự tử thủ nổi tiếng của quân Lê-Dương Pháp ở làng “Camerone” ngày 30-4-1863 với 65 chiến sĩ do Đại Úy Danjou chỉ huy chống lại sự bao vây và tấn công của 2,000 quân Mễ với tỷ lệ quân số hai bên là 1/34. Sau 11 giờ tử chiến, quân Lê-Dương Pháp giết hơn 300 quân Mễ, vị trí phòng thủ bị tràn ngập, 62 quân Lê-Dương Pháp bị giết, chỉ còn sống sót 3 người bị trọng thương.

Tiểu Đoàn 83 BĐQ phòng thủ trong Căn Cứ Đức Huệ với quân số khoảng 420 người được tăng cường 50 người của Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ. Tổng cộng quân số là 470 người chống lại sự bao vây và tấn công của hơn 6,500 quân của Sư Đoàn 5 CS với tỷ lệ quân số đôi bên là 1/13. Sau hơn 1 tháng chiến đấu quyết liệt từ ngày 27-3-1974 đến ngày 28-4-1974, giữ vững vị trí phòng thủ, giết hơn 200 quân địch và gây thương tích cho khoảng 500 tên khác. Tổn thất bên BĐQ là 24 chết và hơn 100 người bị thương.

Mặc dù thời đại có khác nhau, mẫu số chung của những anh hùng ở Alamo, Camerone và Đức Huệ là sự quyết tâm tử thủ bằng mọi giá. Với tỷ lệ quân số đôi bên chênh lệch như thế, họ vẫn hiên ngang chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến hơi thở cuối cùng. Có thể nói không quá đáng là những chiến sĩ Biệt Động Quân chiến đấu ở Căn Cứ Đức Huệ đích thật là những “Anh hùng Alamo Việt Nam”.

Sự chiến đấu kiên cường và dũng cảm của BĐQ ở Căn Cứ Đức Huệ còn chứng minh hùng hồn cho thế giới thấy rằng tinh thần và khả năng chiến đấu của quân lực chúng ta không thua bất cứ quân đội tân tiến nào trên thế giới. Một số người thiển cận và một số dư luận báo chí kỳ thị của Mỹ cho rằng khi Quân đội Mỹ rút đi khỏi Miền Nam Việt Nam thì Quân Lực VNCH thiếu tinh thần chiến đấu đưa đến việc mất Miền Nam Việt Nam. Nhận định này là vô lý và hoàn toàn sai sự thật. Mất Miền Nam Việt Nam rõ ràng là vì quân ta thiếu phương tiện chiến đấu chứ không phải thiếu tinh thần chiến đấu.

3. Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh – Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III Xuất Trận:

Vấn đề vô cùng khẩn trương lúc đó là việc tản thương, cứu thương và tiếp tế lương thực, nước uống, đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ trong lúc mọi đường giao thông liên lạc vào căn cứ đều bị Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn cắt đứt nhiều ngày. Căn cứ bị cô lập và bị bao vây chặt. Tình hình bên trong căn cứ rất căng thẳng.

(1) Ngày 17-4-1974, Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lệnh Quân Đoàn III, cho gọi tôi. Lúc bấy giờ tôi đang chỉ huy Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh hành quân thám sát “Khu Tam Giác Sắt” và “Vùng Hố Bò”, sau khi Chiến Đoàn 315 của Trung Tá Dư Ngọc Thanh đập tan Tiểu Đoàn Tây Sơn thuộc Trung đoàn 101 Địa phương Việt Cộng giải tỏa áp lực địch chung quanh đồn Bò Cạp và đồn Chà Rày thuộc Chi Khu Trảng Bàng của tỉnh Tây Ninh.

Tôi lên trực thăng chỉ huy bay về Biên Hòa trình diện Trung Tướng Tư lệnh Quân Đoàn. Ông tiếp tôi và cho tôi biết qua tình hình địch và bạn và tình trạng hiện nay bên trong Căn Cứ Đức Huệ. Sau đó Trung Tướng ra lệnh cho tôi lấy trực thăng bay qua Đức Hòa xem xét tình hình chiến sự bên đó rồi về trình cho ông biết ý kiến.

Tôi liền lên trực thăng bay qua Đức Hòa. Trên đường bay, tôi mải mê lo nghĩ phải làm gì để đối phó với Sư Đoàn 5 CS đây? Linh tính cho tôi biết có thể tôi sẽ được Bộ Tư lệnh Quân Đoàn chỉ định giải quyết tình trạng nguy kịch ở Căn Cứ Đức Huệ. Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn. Cách đánh của quân địch từ trước tới nay vẫn là “Công Đồn Đả Viện”. Địch chủ động tổ chức chiến trường nhiều ngày chờ ta đến. Pháo binh tầm xa của chúng bố trí an toàn bên kia biên giới và sẵn sàng mở những trận địa pháo chính xác và ác liệt khó lọt qua được. Địch lại nắm ưu thế về quân số và địa thế. Ta có lực lượng Thiết Giáp hùng hậu, ta làm chủ không phận và có không lực yểm trợ mạnh mẽ. Nhưng gần đây, quân địch được trang bị nhiều vũ khí tối tân của Liên Sô như hỏa tiễn phòng không tầm nhiệt SA7 đã gây cho Không Lực ta nhiều tổn thất đáng kể, và hỏa tiễn chống chiến xa AT3, một loại hỏa tiễn lợi hại có bộ phận điều khiển giống hỏa tiễn TOW chống xe tăng của Mỹ. Tôi đã từng gặp hỏa tiễn AT3 này một lần trên chiến trường Campuchia. Mải mê suy nghĩ, trực thăng đáp xuống sân bay Đức Hòa lúc nào không biết khi một loạt đạn pháo kích của địch nổ chát chúa chung quanh trực thăng làm tôi giật mình bừng tỉnh. Tôi cầm bản đồ phóng nhanh xuống đất và ra dấu cho trực thăng bay đi. Tôi vội lên xe Jeep đang chờ và cho tài xế chạy nhanh đến nhà máy đường Hiệp Hòa là nơi Bộ Chỉ huy Liên Đoàn 33 BĐQ đang tạm đóng. Tôi leo lên tầng cao nhất của nhà máy. Ở đây nhìn ra ngoài, ta thấy con sông Vàm Cỏ Đông uốn khúc bên dưới. Bên kia sông là một dãy đất trải dài xa tắp đến tận biên giới Việt Miên. Trung Tá Lê Tất Biên, Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 33 BĐQ, tiếp tôi và thuyết trình cho tôi rõ tình hình của cánh quân BĐQ ở phía Đông Căn Cứ Đức Huệ. Sau khi vượt sông Vàm Cỏ Đông thất bại, Tiểu Đoàn 36 BĐQ và Tiểu Đoàn 64 BĐQ đang tổ chức lại hàng ngũ, bổ sung quân số và chờ lệnh mới của Bộ Tư lệnh Quân Đoàn (xem hình 1).

(2) Kế hoạch hành quân của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh.

Rời Bộ Chỉ huy của Liên Đoàn 33 BĐQ, tôi lên trực thăng bay về hướng biên giới. Tôi cho trực thăng bay thật cao để có cái nhìn tổng quát bên dưới và cũng để đề phòng phòng không của địch bố trí dày đặc ở bên dưới. Bay qua khỏi sông Vàm Cỏ Đông là đến vùng biên giới Việt Miên. Bên này biên giới là một dãy đất bằng phẳng sình lầy, chi chít những kinh lạch gần giống như vùng Đồng Tháp Mười ở Miền Tây. Xa xa trên đất Miên là những làng mạc rải rác vắng vẻ. Nằm xa tít về hướng Nam là Căn Cứ Đức Huệ lẻ loi, cô độc. Tôi cho trực thăng bay sâu vào đất Miên. Thị trấn ChiPu của Campuchia xuất hiện ở phía trước. Về phía Nam một chút, có một khu rừng chừng 10 mẫu Tây gây sự chú ý của tôi. Tôi chợt nhớ lại cách đó 4 năm, trong cuộc hành quân “Toàn Thắng 42” cuối tháng 4-1970, tôi có đi qua khu rừng này và tôi có biết rất rõ địa thế phía Nam của Thị trấn ChiPu.

Trong chớp mắt, tôi thấy ngay là phải hành động như thế nào để đánh bại Sư Đoàn 5 CS, cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ ở Căn Cứ Đức Huệ. Quả thật giản dị đúng như Napoléon nói: “La guerre est un art simple et tout d’exécution” (Chiến tranh là một nghệ thuật giản dị và tất cả là cách thực hiện trên chiến trường). Trong đầu tôi hiện ra cách thực hiện một kế hoạch hành quân giản dị trong đó hành động táo bạo, nhanh chóng và hoàn toàn bất ngờ là chìa khóa của thắng lợi. Lòng tôi cảm thấy nhẹ nhỏm.

Trở về hậu cứ của Lữ Đoàn ở Biên Hòa, tôi liền tự tay phác họa ra kế hoạch phản công trong vòng 20 phút. Đặc điểm của kế hoạch này là sự giản dị tối đa và bất ngờ hoàn toàn: Toàn bộ LLXKQĐIII sẽ cùng tôi vượt biên đêm và bí mật tiến sâu vô lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Nỗ lực chính là đột kích đêm vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS từ hướng Nam ChiPu. Phải hết sức giữ bí mật và hành động thật nhanh, tập trung toàn bộ sức mạnh của Thiết Giáp, khai thác tối đa tốc độ và “Shock Action” trên trận địa, không cho địch trở tay kịp (xem hình 2).

Tôi cầm kế hoạch trong tay đi lên Bộ Tư lệnh Quân Đoàn gặp Trung Tướng Phạm Quốc Thuần. Ông tiếp tôi và tôi xin được trình bày. Tôi trải tấm bản đồ 1/50,000 ra bàn. Ông chăm chú lắng nghe tôi nói: “Sáng nay, theo lệnh Trung Tướng, tôi đã bay đi thám sát mặt trận ở Đức Hòa Đức Huệ. Tình hình rất xấu, chúng ta phải hành động ngay, sợ không kịp vì Căn Cứ Đức Huệ bị vây hãm từ 27-3 đến nay hơn 20 ngày. Tiếp tế và tản thương cho Căn Cứ Đức Huệ bị địch cắt đứt hoàn toàn. Tôi xin đề nghị lên Trung Tướng: Sử dụng LLXKQĐIII phản công ở Căn Cứ Đức Huệ. Kế hoạch phản công của tôi có 2 giai đoạn.

– Giai đoạn 1: Hành quân lừa địch: Từ ngày N-6 đến ngày N: Rút LLXKQĐIII đang hành quân thám sát trong tỉnh Tây Ninh về khu Comi ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một). Tôi sẽ tung tin là LLXKQĐIII sẽ di chuyển lên Xuân Lộc (Long Khánh). Mục đích của cuộc điều quân này là làm cho quân địch tưởng là lực lượng Thiết Giáp sẽ rút đi đến một nơi khác.

– Giai đoạn 2: Hành quân phản công: Từ ngày N: Xuất quân đêm, trở lên Gò Dầu Hạ, vượt biên giới tiến sâu vào lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Sau đó chuyển sang hướng Nam ChiPu, dựa vào đêm tối tấn công toàn lực vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS bố trí ở phía Tây Căn Cứ Đức Huệ ” (xem hình 2).

Sau khi tôi trình bày xong, Trung Tướng có vẻ băn khoăn lo lắng. Ông suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Tôi lo kế hoạch này của anh sẽ đưa đến những hậu quả nghiêm trọng về chính trị. Vì như thế là chúng ta xâm phạm vào lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền. Chính phủ Campuchia sẽ có phản ứng và Liên Hiệp Quốc chắc chắn sẽ lên tiếng phản đối. Tôi sẽ gặp khó khăn.

– Nhưng thưa Trung Tướng, CSBV đâu có tôn trọng chủ quyền của Campuchia. Chúng đang sử dụng lãnh thổ của Campuchia để tấn công chúng ta. Tôi đáp lại.

– Đúng vậy, nhưng đây là một vấn đề rất tế nhị. Anh có thể làm một kế hoạch khác được không? Ông hỏi tôi.

Tôi liền đáp:

– Thưa Trung Tướng, tôi đã xem xét kỹ tình hình và địa thế, tôi nghĩ chỉ có kế hoạch này chúng ta mới đánh bại Sư Đoàn 5 CS, cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ ở Căn Cứ Đức Huệ.

– Ông trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Thôi được, tôi sẽ trình kế hoạch này của anh lên Tổng Thống để ông quyết định .Nếu được chấp thuận, anh sẽ chỉ huy cuộc hành quân này. Hãy về chuẩn bị lực lượng.

Tôi nhận lệnh, đứng nghiêm chào rồi lui ra. Trên đường về Lữ Đoàn, tôi nghĩ chắc rồi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sẽ chấp thuận vì chúng ta không thể vì lo ngại Liên Hiệp Quốc mà hy sinh sinh mạng của hơn 500 chiến sĩ BĐQ và gia đình họ ở Căn Cứ Đức Huệ.

Trong lòng tôi rất vui mừng và biết ơn được vị tư lệnh Quân Đoàn tín nhiệm. Đây là lần đầu tiên tôi có trong tay sự tập trung một lực lượng Thiết Giáp lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam và cũng là lần đầu tiên tôi được cho toàn quyền hành động để đương đầu trực diện với một Sư Đoàn CS kể từ khi Hiệp Định Paris ra đời.

Tôi vừa được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thăng cấp tướng một sao cùng với các anh Nguyễn Văn Điềm Sư Đoàn 1 BB, Phạm Ngọc Sang Không quân, Hoàng Cơ Minh Hải quân. . . Đây là dịp tôi muốn chứng tỏ khả năng chỉ huy của mình và muốn chứng tỏ một đại đơn vị Thiết Giáp biết sử dụng tập trung là một vũ khí lợi hại có thể đánh bại các đại đơn vị CS trong thế công cũng như trong thế thủ.

Ngày 20-4-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chấp thuận Kế hoạch Hành quân của tôi, đồng thời ra lệnh cho Không lực VNCH trực tiếp yểm trợ tác chiến cho Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh 120 phi xuất (Tactical Air Support) từ ngày N đến ngày N+3 theo yêu cầu của tôi.

Tôi chọn ngày N là ngày 28-4-1974.

(3) Công tác chuẩn bị

Ngày 21-4-1974, Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III triệu tập buổi họp hành quân ở Biên Hòa do Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lệnh Quân Đoàn III chủ tọa. Có mặt Bộ Tham Mưu Quân Đoàn, Bộ Chỉ huy 3 Tiếp Vận và 3 tư lệnh Sư Đoàn 5, 18, 25: Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo và Đại Tá Nguyễn Hữu Toán. Sau khi Bộ Tham Mưu trình bày tình hình chung ở Vùng 3 Chiến thuật và tình hình đặc biệt ở Căn Cứ Đức Huệ, Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn tuyên bố chỉ định tôi thay thế tư lệnh Sư Đoàn 25 Bộ binh chỉ huy mặt trận Đức Hòa – Đức Huệ và sử dụng LLXKQĐIII phản công, giải vây Căn Cứ Đức Huệ. Tôi đứng lên trình bày ngắn gọn trước hội nghị Kế hoạch Hành quân vượt biên đêm của LLXKQĐIII ở Gò Dầu Hạ và Hành quân Phản công của LLXKQĐIII trên lãnh thổ Campuchia (Hình 2).

Ảnh minh hoạ

Theo nhu cầu hành quân của tôi, các đơn vị sau đây được Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn III chỉ định tăng phái cho Lữ Đoàn 3 KB đễ nằm trong tổ chức của LLXKQĐIII:

– Tiểu Đoàn 64 BĐQ đi với Thiết Đoàn 15 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 315 do Trung Tá Dư Ngọc Thanh chỉ huy; – Tiểu Đoàn 36 BĐQ đi với Thiết Đoàn 18 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 318 do Trung Tá Phan Văn Sĩ chỉ huy;

– 1 Đại Đội Bộ binh thuộc Tiểu Đoàn 1/43 (Sư Đoàn 18 BB) đi với Thiết Đoàn 22 Chiến xa, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 322 do Trung Tá Nguyễn Văn Liên chỉ huy;
– Thiết Đoàn 10 KB (Sư Đoàn 25 BB) + Tiểu Đoàn 1/43 BB (-) (Sư Đoàn 18 BB) + 1 Chi đội Chiến xa M48 thuộc Thiết Đoàn 22 Chiến xa do Trung Tá Trần Văn Nhuận chỉ huy;

– Tiểu Đoàn 61 Pháo Binh 105 ly + 1 Pháo đội 155 ly thuộc Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh do Thiếu Tá Hoa Vạn Thọ chỉ huy;

– Tiểu Đoàn 302 thuộc Liên Đoàn 30 Công binh do Thiếu Tá L?m Hồng Sơn chỉ huy; một Trung đội Điện tử (Quân Đoàn) do Thiếu Tá Hiển, Trưởng phòng 2 Lữ Đoàn kiểm soát;

– 1 Trung đội Truyền Tin Siêu tần số (Quân Đoàn) do Trung Úy Bùi Đình Lộ Trưởng phòng Truyền tin Lữ Đoàn giám sát;

– 1 Đại Đội yểm trợ Tiếp Vận thuộc Bộ chỉ huy 3 Tiếp vận do thượng sĩ Nhất Phan Thanh Nhàn (Quân cụ) chỉ huy.

Ngoài ra Trung Tướng còn ra lệnh cho 3 tư lệnh Sư Đoàn Bộ Bbinh cho tôi mượn 6 giàn hỏa tiễn chống xe tăng TOW để phân phối cho mỗi Chiến Đoàn Thiết Giáp vượt biên 2 giàn hỏa tiễn TOW gắn trên xe Thiết vận xa M113 đề phòng trường hợp có chiến xa T 54 của địch xuất hiện trên chiến trường Campuchia.

Trước khi kết thúc buổi họp, Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn chúc tôi thành công trong nhiệm vụ giao phó. Tôi đứng lên đáp lời cám ơn Trung Tướng. Lúc đó trong lòng tôi có một sự tin tưởng mãnh liệt vào chiến thắng của cuộc hành quân này, nên tự nhiên tôi buột miệng thốt ra:

– Thưa Trung Tướng, chúng tôi sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 Cộng Sản!

Trên đường về Lữ Đoàn, tôi giật mình khi nghĩ lại những lời mình vừa nói. Tại sao tôi dám liều lĩnh khẳng định trước hội nghị là sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 Cộng Sản? Mặc dù tôi có trong tay LLXKQĐIII là một lực lượng chiến đấu tinh nhuệ chưa từng bị thất trận và mặc dù tôi đã nắm chặt trong tay những yếu tố có tính cách quyết định thắng lợi, nhưng vẫn còn 2 yếu tố khác ngoài tầm tay của tôi có thể làm tôi bị thất bại trong cuộc hành quân này. Đó là thời tiết và kế hoạch hành quân bị bại lộ. Thật vậy, nếu đến ngày N là ngày xuất quân trời đổ mưa trong vùng hành quân, địa thế trở nên lầy lội, tôi sẽ không thể điều động lực lượng Thiết Giáp như ý muốn được, hoặc kế hoạch hành quân của tôi được trình lên phủ Tổng Thống để xin quyết định, nếu bị tiết lộ ra ngoài, chắc chắn sẽ đưa tôi đến thảm bại. Cứ nghĩ đến 2 yếu tố này là tôi không ăn ngủ được. Tôi thấy hối tiếc đã thốt ra những lời khẳng định trước là sẽ đánh thắng quân địch. Lời khẳng định này cứ ám ảnh tôi ngày đêm. Cuối cùng tôi tự nhủ: phải giữ đúng lời hứa; bằng mọi cách, mọi giá, phải đánh thắng Sư Đoàn 5 Cộng Sản.

Ảnh minh hoạ

Ngày 22-4-1974, tôi ra lệnh cho toàn bộ LLXKQĐIII đang hành quân thám sát trong Chi Khu Khiêm Hanh thuộc tỉnh Tây Ninh rút quân về đóng ở Khu Còmi thuộc quận Lái Thiêu tỉnh Bình Dương (Thủ Đầu Một). Tôi cho phao tin là LLXKQĐIII sẽ di chuyển qua Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh. Mục đích của cuộc rút quân này là để đánh lừa địch, làm cho chúng tưởng là quân Thiết Giáp sẽ rút đi luôn không trở lại. Tôi cho trung đội điện tử thường xuyên nghe lén và theo dõi địch trao đổi tin tức với nhau. Khi LLXKQĐIII vừa rút đi khỏi Gò Dầu Hạ về Lái Thiêu thì đài tình báo của địch ở An Hòa Gò Dầu lên tiếng báo cáo:

“Quân Thiết Giáp đã rút đi”. Tôi biết chắc là chúng đã bị mắc lừa.

Từ ngày 22-4-74 đến ngày 28-4-74, trong 6 ngày này đóng quân ở Khu Còmi quận Lái Thiêu, các Chiến Đoàn 315, 318 và 322 theo lệnh tôi ra sức ôn tập hợp đồng tác chiến giữa Thiết Giáp – Biệt Động Quân – Pháo Binh từ cấp Trung đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn, Chiến Đoàn thật nhuần nhuyễn. Riêng tôi trong 6 ngày đó, tôi tích cực không ngừng làm công tác tư tưởng. Karl Max nói: “Nếu tư tưởng được đả thông, mọi người đều giác ngộ thì sức mạnh vật chất sẽ tăng lên gấp đôi.” Kinh nghiệm chiến trường cho tôi thấy tinh thần hăng say làm tăng sức mạnh của đơn vị lên gấp bội. Khơi dậy được sự chiến đấu của toàn quân là yếu tố số một của thắng lợi. Tôi lần lượt đi xuống họp với các cấp chỉ huy Trung đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn của các binh chủng và với các Chiến Đoàn trưởng, nói rõ tình hình của ta và địch, nói rõ nhiệm vụ và cách đánh của LLXKQĐIII để mọi người đều thông suốt và tin tưởng sự tất thắng của chúng ta. Tôi thuyết phục họ tin ở sự chỉ huy của tôi và nói rõ sự quyết tâm của tôi là phải chiến thắng bằng mọi giá. Tôi thúc đẩy họ, tôi nói đến tình đồng đội: Chúng ta không thể bỏ rơi đồng đội của mình đang bị địch bao vây và mong chờ chúng ta đến cứu họ. Tôi nhắc đến những chiến thắng vẻ vang năm xưa thời Đại Tướng Đỗ Cao Trí:

– Chúng ta đã từng gặp nhiều trận khó khăn gây cấn hơn trận này, chúng ta đều chiến thắng, đều vượt qua.

Mỗi lần nói chuyện với các sĩ quan thuộc cấp tôi đều kết luận:

– Kỳ này nhất định phải chiến thắng, tôi sẽ cùng đi với các anh, kỳ này nếu thất bại thì tất cả chúng ta kể cả tôi, sẽ không một ai trở về Việt Nam.

Ý của tôi, quyết tâm của tôi đã rõ ràng: một là chiến thắng trở về, hai là chết trên đất Miên. Không có con đường nào khác.

4. Veni, Vidi, Vici

(1) Ngày N đã đến. Đó là ngày 28-4-1974. Chiều ngày 28-4-1974, Công Binh đã sẵn sàng; Thiếu Tá Lâm Hồng Sơn, Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 302 CB, theo lệnh tôi đã kín đáo cho bố trí từ chiều tối ngày hôm trước ở hai bên bờ sông Gò Dầu Hạ, gần cầu, các phà cao su để đưa chiến xa M48 qua sông. Lúc 20:00 giờ, tôi cải trang đích thân đến tận 2 bờ sông Gò Dầu Hạ kiểm tra Công Bbinh làm công tác chuẩn bị cho chiến xa vượt sông.

Đúng 22:00 giờ đêm, toàn bộ LLXKQĐIII gồm 3 Chiến Đoàn 315, 318 và 322 cùng Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu rời vùng tập trung ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một) di chuyển bằng đèn mắt mèo và im lặng truyền tin trực chỉ Gò Dầu Hạ.

(2) Ngày 29-4-1974, lúc 00:00 giờ, các chiến xa M48 bắt đầu xuống phà qua sông Gò Dầu Hạ. Các loại xe xích khác và xe chạy bánh qua cầu Gò Dầu Hạ theo Quốc lộ 1 trực chỉ ra hướng biên giới Việt Miên.

Từ 01:00 giờ sáng đếnn 03:00 giờ sáng, các Chiến Đoàn, Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn lần lượt vượt biên sang lãnh thổ Campuchia và vào vùng tập trung nằm sâu trong đất Miên về hướng Đông Nam thị trấn Chipu (Xem hình 2 và 3).

Đến 03:15 giờ, tất cả các đơn vị đã bố trí xong, trong vùng tập trung, sẵn sàng chờ lệnh xuất phát. Trung đội điện tử theo dõi nghe địch, không thấy chỉ dấu gì chúng nghi ngờ.

Đúng 03:30 giờ, tôi ra lệnh cho hai Chiến Đoàn 315 và 318 vượt tuyến xuất phát, tấn công song song tiến xuống phía Nam, Chiến Đoàn 315 bên phải, Chiến Đoàn 318 bên trái, Bộ Chỉ huy của tôi theo sau Chiến Đoàn 315; Chiến Đoàn 322 trừ bị, bố trí phía Nam Quốc lộ 1 chờ lệnh (Xem hình 3).

Đúng 04:30 giờ, Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu khai hỏa, tác xạ đồng loạt tập trung vào các mục tiêu của địch nằm phía Tây Căn Cứ Đức Huệ, đồng thời Thiết Đoàn 10 Kỵ Binh và Tiểu Đoàn 1/43 BB(-) vượt tuyến xuất phát mở đường từ căn cứ Phước Chỉ xuống Căn Cứ Đức Huệ. (Xem hình 3).

Đến 05:00 giờ sáng ngày 29-4-74, các cánh quân của Chiến Đoàn 315 và 318 báo cáo chạm địch. Quân ta liền điều động bao vây, chia cắt, tấn công liên tục. Quân địch bị đánh bất ngờ tháo chạy, quân ta truy đuổi chặn bắt. Các Bộ Chỉ huy Trung đoàn, Sư Đoàn, Bộ Chỉ huy Hậu cần và các căn cứ Pháo Binh của quân địch bị quân ta tràn ngập và lần lượt bị quyét sạch. Nhiều dàn pháo các loại 4 ống, 8 ống và 12 ống, và hàng ngàn hỏa tiễn 107 ly và 122 ly bị quân ta tịch thu và tiêu hủy tại chỗ . Đặc biệt hơn cả có hơn 30 hỏa tiễn chống xe tăng AT 3 của Liên Xô nằm trên giàn phóng, chưa kịp khai hỏa bị quân ta chiếm đoạt.

Đến 08:00 giờ sáng, Không Quân Chiến Thuật lên vùng; Đại Tá Trần Văn Thoàn, tư lệnh phó Lữ Đoàn bay trực thăng chỉ huy, điều khiển Không Lực liên tục oanh kích và oanh tạc địch từ sáng đến chiều tối. Đến 19:00 giờ ngày 29 4 74, đại quân của Sư Đoàn 5 CS bị đánh tan rã rút chạy về hướng Mộc Hóa thuộc Vùng 4 Chiến Thuật. Tôi liền tung cả ba Chiến Đoàn đồng loạt truy đuổi địch và cho Không Quân Chiến Thuật tập trung truy kích chúng sâu trong lãnh thổ Vùng 4 Chiến Thuật. Hàng ngàn quân địch bị giết và bị thương và hàng trăm tên bị quân ta bắt sống.

(3) Sáng ngày 30-4-74, các đơn vị địch còn kẹt lại chung quanh Căn Cứ Đức Huệ chống trả yếu ớt, lần lượt bị quân ta tiêu diệt gần hết. Đến trưa, một cánh quân của Thiết Đoàn 10 đã bắt tay được với Biệt Động Quân trong Căn Cứ Đức Huệ và đến chiều toàn bộ Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn bị quân ta quét sạch.

Bộ Chỉ huy của tôi nằm sâu trong lãnh thổ Campuchia về phía Đông Nam Chipu trong một làng nhỏ hoang vắng. Tin chiến thắng làm nức lòng mọi người. Màn đêm xuống, tiếng súng im bặt. Đêm hôm đó thật êm ả, trời trong vắt, đầy sao, lòng tôi tràn ngập một niềm sung sướng khó tả. Có lẽ đây là một đêm đẹp nhất trong đời tôi. Tôi đã khẳng định trước với Quân Đoàn là chúng tôi sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 CS và bây giờ chúng tôi đã đánh bại chúng. Tôi đã nói trước khi xuất quân với thuộc cấp là nếu thất bại thì sẽ không một ai được trở về Việt Nam và bây giờ chúng tôi đã chiến thắng có thể trở về. Đối với tôi cũng giống như một canh bạc mà tôi đã lấy mạng sống của tôi ra đánh và bây giờ tôi đã thắng. Cho tới ngày hôm đó trong đời tôi, thật không có một niềm hạnh phúc nào lớn hơn được.

Chưa bao giờ trong lịch sử của hai cuộc chiến tranh Việt Nam có một trận vận động chiến nào mà quân ta hoặc quân Đồng Minh đã chiến thắng một đại đơn vị CS nhanh chóng như thế, triệt để như thế. Tôi chợt nhớ đến cung cách và những lời của Julius Ceasar trong chiến dịch thần tốc ở Zela vùng Tiểu Á báo cáo chiến thắng về La Mã “Veni, Vidi, Vici : “Tôi đến, Tôi thấy, Tôi chiến thắng”, tôi liền lấy một mẫu giấy nhỏ, tự tay thảo ngay bức công điện ngắn báo cáo chiến thắng về Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III.

Trân trọng báo cáo:

– Ngày 28-4-74: Xuất quân

– Ngày 29-4-74: Phản công

– Ngày 30-4-74: Tiêu diệt địch

– Ngày 1-5-74: Hoàn thành nhiệm vụ.

(4) Ngày 2-5-1974, tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Lữ Đoàn ở Gò Dầu Hạ, phóng viên đài VOA phỏng vấn hỏi tôi:

– Có phải Thiếu Tướng đã đưa quân sang lãnh thổ Campuchia không?

Tôi liền đáp ngay:

– Không, tôi hành quân dọc theo biên giới trong lãnh thổ của Việt Nam. Chính Cộng Sản Việt Nam mới có quân trên lãnh thổ Campuchia.

Tối đến, đài VOA và đài BBC loan tin chiến thắng của Quân Lc ta ở Căn Cứ Đức Huệ. Riêng đài BBC nói thêm:

– Tướng Trần Quang Khôi nói không có đưa quân sang lãnh thổ Campuchia, nhưng theo tin tức của chúng tôi nhận được thì Quân lực VNCH có truy đuổi quân Cộng Sản Bắc Việt trên lãnh thổ Campuchia.

(5) Ngày 3-5-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đi trực thăng đến Gò Dầu Hạ thị sát chiến trường. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và tôi tiếp đón Tổng Thống. Ông vui vẻ bắt tay chúng tôi rồi đi đến xem chiến lợi phẩm tịch thu của quân địch: Rất nhiều vũ khí cộng đồng các loại. Nổi bật là các giàn phóng hỏa tiễn 4 ống, 8 ống và 12 ống cùng hàng trăm hỏa tiễn 107 và 122 ly. Đặc biệt hơn cả là hơn 30 hỏa tiễn AT-3, loại mới nhất của Liên Sô có hệ thống điều khiển chống tăng, lần đầu tiên bị quân ta tịch thu trên chiến trường miền Nam. Các tùy viên quân sự Tây phương mỗi người xin một quả nói để đem về nước nghiên cứu. Nhìn số vũ khí khổng lồ của địch bị quân ta tịch thu mới hiểu được sự tàn phá khủng khiếp trong Căn Cứ Đức Huệ và sự chiến đấu anh hùng của Tiểu Đoàn 83 BĐQ. Tiếp đến, Tổng Thống đi thăm Bộ Tham Mưu Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và các đơn vị trưởng của các binh chủng trong tổ chức LLXKQĐIII, ông bắt tay khen ngợi từng người và gắn cấp bậc Đại Tá cho Trung Tá Thiết Giáp Dư Ngọc Thanh, Chiến Đoàn trưởng Chiến Đoàn 315. Sau đó Tổng Thống lên trực thăng chỉ huy của tôi cùng tôi bay đến Đức Huệ. Các trực thăng của Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và phái đoàn Phủ Tổng Thống bay theo sau.

Trên đường bay, Tổng Thống bắt chuyện với tôi:

– Tôi rất thích tính táo bạo liều lĩnh trong kế hoạch hành quân của anh.

– Thưa Tổng Thống, đây là sự liều lĩnh có tính toán. Tôi đáp lại.

Thấy Tổng Thống vui vẻ, sự hân hoan hiện trên nét mặt, tôi nói đùa một câu tiếng Pháp với Tổng Thống: La chance sourit toujours aux audacieux. (Sự may mắn luôn luôn “cười” với những kẻ liều lĩnh).

Ông gật gù cười có vẻ đắc ý lắm.

Trực thăng đáp xuống Căn Cứ Đức Huệ. Các chiến sĩ Tiểu Đoàn 83 BĐQ và Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ hân hoan tiếp đón Tổng Thống. Ông đi bộ một vòng viếng thăm, ủy lạo và ban thưởng. Doanh trại trong căn cứ bị Pháo Binh địch tàn phá đổ sập gần hết, nhưng sự hãnh diện giữ vững được đồn hiện ra trong đôi mắt của mỗi chiến sĩ BĐQ.

Một chuẩn úy BĐQ còn rất trẻ đi đến tôi, đứng nghiêm chào, rồi thình lình anh bước tới gần tôi, hai tay nắm chặt lấy tay tôi bật khóc và nói:

– Cám ơn Thiếu tướng đã cứu mạng chúng em.

Tôi cảm động ôn tồn đáp lại: – Chính anh phải cám ơn các em mới đúng. Sự chiến đấu vô cùng dũng cảm của các em là một tấm gương sáng chói, là niềm hãnh diện chung của Quân lực chúng ta. Chúng em mới thật sự là những anh hùng của Quân đội mà mọi người Việt Nam Tự do phải mang ơn các em.

(6) Một tuần sau tôi nhận được một thư của DAO (Defense Attaché Office) trong đó tướng Homer Smith chuyển lời khen ngợi của đại sứ Graham Martin đến tôi: Đây là lần đầu tiên kể từ khi ký kết Hòa Đàm Paris, một kế hoạch hành quân được thiết kế tuyệt hảo và được thực hiện tuyệt hảo(1).

Hai tuần sau, tôi nhận được một thư của Đại Tá Raymond Battreall nguyên Cố Vấn Trưởng của Bộ Chỉ huy Thiết Giáp Binh QLVNCH. Battreall cho rằng đây là một chiến thắng ngoạn mục và xuất sắc nhất trong Chiến tranh Việt Nam. Cuối thư ông viết bằng chữ Việt Nam: Kỵ Binh Việt Nam Muôn Năm.

5. Kết luận :
Đúng một năm sau, ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Đoàn 4 CSBV do Thượng tướng Hoàng Cầm chỉ huy đã thất bại trong kế hoạch đánh chiếm tỉnh Biên Hòa, và Sư Đoàn 341 CSBV bị LLXKQĐIII đánh bại ở Biên Hòa buộc phải rút đi sau khi chịu nhiều tổn thất to lớn (2).

Ngay sau đó, LLXKQĐIII kéo quân về tiếp cứu Thủ Đô Sài Gòn thì được lệnh buông vũ khí đầu hàng lúc 10:25 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Ai là người chịu trách nhiệm làm mất MNVN? Ai là thủ phạm đưa QLVNCH đến chỗ thua trận?

Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh kể từ ngày thành lập 7-11-1970 đến ngày 30-4-1975 do tôi chỉ huy, luôn luôn chiến thắng hết trận này đến trận khác cho đến phút chót. Không một ai trong chúng tôi lùi bước trước quân thù. Không một ai trong chúng tôi bỏ trốn ra nước ngoài. Tất cả ở tại hàng và chấp nhận định mệnh không than van kêu khóc.

Trong tác phẩm Servitude et Grandeur Militaires, thi sĩ Pháp Alfred De Vigny (1810 1857) nói “Danh Dự và Trách Nhiệm đôi khi kết thúc một cách bi thảm. Cho nên, đứng trước một định mệnh tàn khốc, con người phải biết thân phận của mình mà chấp nhận nó một cách can đảm”.

Tháng Giêng 2009

Trần Quang Khôi

Ghi chú

(1) GEN Homer Smith wrote: “On behalf of the Honorable Graham Martin, the Ambassador of the United States and myself, I wish to express our felicitations upon the brilliant success of your recent operation. This was the first time since the Paris Peace Agreement, a plan of operation has been so well planned and so well executed…”

(2) Xin đọc:

– “Danh Dự và Tổ Quốc”, 1995, CT Trần Quang Khôi “Fighting to the Finish”, BG Tran Quang Khoi, p.19 25, ARMOR, March April 1996.

– Hồi Ký “Chặng Đường Mười Nghìn Ngày”, Thượng Tướng Hoàng Cầm.

Lời giới thiệu tác giả :

TRẦN QUANG KHÔI xuất thân từ khóa 6 TVBQG Đà Lạt 1952 .

* Tốt nghiệp:

– Trường KỵBinh SAUMUR, Pháp 1955.

– Trường Thiết Giáp Lục Quân Hoa Kỳ FORT KNOX, Kentucky 1959.

– Trường Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ FORT

LEAVENWORTH, Kansas 1973.

* Cấp bậc và chức vụ sau cùng: Chuẩn Tướng, tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh thuộc Quân Đoàn III/QLVNCH.

* Sau chiến tranh Việt Nam, tướng Khôi bị bắt và bị tù Cộng Sản 17 năm.

* Định cư tại tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ năm 1993.

*Tốt nghiệp Trường Đại Học George Mason University, Hoa Kỳ với cấp bằng MA Văn Chương Pháp 1998.

Lễ Thượng Kỳ VNCH đầu năm Giáp Thìn 2024 tại Braybrook Hub, thành phố Maribyrnong, tiểu bang Victoria, Australia

Posted on February 18, 2024, by dongsongcu

PT ghi lại hình ảnh.

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà, Quốc Kỳ Úc và Hiệu Kỳ Thổ Dân phấp phới tung bay trong bầu trời tư do.

Vào lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật, ngày 11 tháng 2 năm 2024. Cộng Đồng Người Việt Tự Do, tiểu bang Victoria đã tổ chức Lễ Thượng Kỳ Việt Nam Cộng Hòa tại Braybrook Hub, thành phố Maribyrnong. Ngày Lễ thượng Kỳ năm nay nhằm ngày mùng hai Tết Âm Lịch, là một ngày Xuân nắng đẹp, gió nhẹ làm Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà, Quốc Kỳ Úc và Hiệu Kỳ Thổ Dân phấp phới tung bay trong bầu trời tư do của nước Úc hiền hoà xinh đẹp.

Buổi Lễ Thượng Kỳ diễn ra vô cùng long trọng và trang nghiêm với sự tham dự của Ông Nguyễn Quang Duy Chủ Tịch Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do, tiểu bang Victoria; Ông Đặng Văn Đạt Chủ Tịch Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực VNCH, tiểu bang Victoria; Ông Peter Nguyễn, Chủ Tịch Hội Thương Gia Footcray; Quý Đồng Hương; Bà Cúc Lâm, Thị Trưởng Hội Đồng thành phố Maribyrnong; Mr. Micheal Clarke, Phó Thị Trưởng Hội Đồng thành phố Maribyrnong và Mrs. Moira Deeming, Nghị Viên Hội Đồng thành phố Maribyrnong.

Cờ VNCH là biểu tượng của Người Việt Tự Do Tỵ Nạn.

Cờ VNCH là biểu tượng của Người Việt Tự Do Tỵ Nạn, đã được các Hội đồng thành phố Brimbank; Maribyrnong; Yarra và Dandenong tại tiểu bang Victoria công nhận. Ngoài tiểu bang Victoria, một số hội đồng thành phố khác tại các tiểu bang New South Wales và South Australia cũng đã công nhân cờ VNCH của Người Việt Tự Do.

Ngày hôm qua mùng một Tết, Cộng Đồng Người Việt Tự Do cũng đã làm Lễ Thượng Kỳ Tết Giáp Thìn 2024 tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng – Đền Thờ Quốc Tổ số 90 Knight Ave, Sunshine North.

Lễ chào Quốc Kỳ và thượng Kỳ VNCH.

Buổi Lễ Thượng Kỳ diễn ra vô cùng long trọng và trang nghiêm.

Việt Nam Cộng Hoà và đồng minh Úc Đại Lợi đã từng chiến đấu bên nhau. Hôm nay Lễ thượng Kỳ VNCH, Cờ VNCH và Úc lại phấp phới bên nhau trên nước Úc.

Quý ông cựu quân nhân Quân Lực VNCH chào Quốc Kỳ.

Quý ông cựu quân nhân Quân Lực VNCH chào Quốc Kỳ.

Ông Nguyễn Quang Duy Chủ Tịch Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do, tiểu bang Victoria phát biểu.

Ông Đặng Văn Đạt Chủ Tịch Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực VNCH, tiểu bang Victoria phát biểu.

Quý ông Cựu Quân Nhân Không Quân, Nhảy Dù, Bộ Binh và Sĩ Quan trường bộ binh Thủ Đức.

Bà Cúc Lâm (áo dài xanh), Mr. Micheal Clarke, Mrs. Moira Deeming, Ông Nguyễn Quang Duy và quý đồng hương chụp hình kỷ niệm.

Quan khách và đồng bào chụp hình kỷ niệm.

Nguồn: PT chuyển.

Chóe – Nhà Hí Họa Bút Sắt Số Một Việt Nam (4.2)

Chóe-Nguyễn Hải Chí

Uyên Thao

Tử tội-Tuyển tập

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

(Vài lời của Sơn râu/Người đăng bài/ Đây là loạt bài trong quyển Tử tội của Họa sĩ Chóe. Râu tôi chỉ có được 4 bài của nhà báo Uyên Thao viết, phần chủ yếu tôi đưa lên là hình ảnh vẽ bởi Chóe. Tôi không có thì giờ đủ để ngồi đánh máy lại các bài trong quyển sách này, chỉ có thể dành thì giờ để gom các hình ảnh lại rồi đưa lên trang blog này, mong bạn đọc thông cảm!)

Phần 4: Người làm vườn độc thoại – cuộc đời của Chóe (Kỳ 1)

Cuối tháng 02-2003, từ California, tôi được tin Chóe bất ngờ bị nghẹt thở phải đưa đi bệnh viện. Linh tính như báo trước sẽ có chuyện không lành. Tôi không giấu nổi mối lo này trong buổi tối ngồi với Ðỗ Ngọc Yến và Trần Phong Vũ. Yến bảo tôi lo xa quá và quả quyết Chóe sẽ qua khỏi. Yến nêu bằng cớ là bản thân Yến đã gặp nhiều lúc hiểm nghèo nhưng lúc này Yến vẫn có thể ngồi vời tôi. Yến nhắc tôi khi trở về Virginia cố giúp Chóe tự tin hơn để tạo sức tự đề kháng. Nhưng khi trở về, tôi chỉ có thể tìm lên lầu 10 bệnh viện Fairfax, nhìn Chóe nằm mê man trên giường bệnh với bình dưỡng khí chụp trên miệng và đủ thứ dây nhợ trên người. Mỗi ngày tôi thu xếp để có mặt tại bệnh viện, ngồi kề bên Chóe, lên tiếng với hy vọng sẽ có lúc Chóe nghe được lời nói của tôi. Hơn một lần vợ Chóe nhắc tôi nhìn tay Chóe khẽ nhúc nhích và các cơ bắp trên má Chóe hơi co giật. Rồi những giòng nước mắt lăn dài trên má Chóe trong khi anh vẫn nằm bất động.

Vào tuần lễ cuối tháng 2, tình trạng sức khoẻ của Chóe không bình thường khiến anh đã tới bác sĩ hai lần rồi tới bệnh viện. Ngày 04 tháng 03, Chóe đột ngột bị bất tỉnh phải đưa đi cấp cứu. Vợ Chóe được các bác sĩ cho biết Chóe bị đứt mạch máu não, không còn phương cứu vãn nữa.

Chúng tôi chỉ còn cách duy nhất là ngày ngày ngồi bên Chóe chờ phút giây anh trút hơi cuối cùng. Phút giây đó là 3 giờ 50 phút – giờ ET – sáng 12 tháng 3 năm 2003, gần tròn 3 tháng sau khi Chóe đặt chân lên đất Mỹ.

Tôi không còn nhớ lần đầu gặp Chóe như thế nào và do ai giới thiệu, ngoài các chi tiết là anh đến tòa soạn tuần báo Ðời vào lúc tôi vừa từ giã bộ quân phục rời quân trường trở về với những công việc đang dở dang khoảng mùa hè năm 1971 giữa thành phố Sài Gòn chưa hết xôn xao về dư âm cuộc hành quân Lam Sơn 719 vào Hạ Lào. Dường như Chóe nói là Lê Tất Ðiều bảo anh đến tìm tôi rồi Chóe tự giới thiệu có thể vẽ hí hoạ và đã thử công việc này trong năm 1970 bằng cách thỉnh thoảng vẽ cho một tờ báo. Tờ báo mà Chóe cộng tác gần như không có độc giả nên chúng tôi chưa thấy bức họa nào của Chóe, chưa ai biết cái tên Chóe. Do đó, tôi và bạn bè chưa rõ Chóe sẽ đóng góp đưọc gì. Tuần báo Ðời không có trang hí họa, nhưng lúc này tôi đang chuẩn bị cho nhật báo Sóng Thần ra mắt nên chợt nghĩ dành việc vẽ hí họa cho Chóe, nếu anh làm được.

Trong dự tính của mọi người và của riêng tôi, phần việc này đã được kể là phần việc của Tuýt tức Ngọc Dũng, không chỉ vì tương quan bạn bè sẵn có mà vì cho tới lúc đó không một họa sĩ hí họa nào của làng báo Việt Nam vượt nổi Tuýt. Tuy nhiên tôi chưa gặp Tuýt để hỏi xem anh có thể cộng tác thêm với một tờ báo hàng ngày khác không, vì anh đang là nhân viên thường trực của nhật báo Chính Luận. Sự xuất hiện của Chóe khiến tôi thấy tránh được chuyện gây phiền hà cho tờ báo bạn đồng thời còn có triển vọng giới thiệu một gương mặt mới. Dù vậy, do chưa biết khả năng của Chóe ra sao nên tôi chỉ nhắc anh mang lại cho tôi coi vài bức vẽ vào mấy ngày sau.

Chóe trở lại gặp tôi đúng buổi chiều tuần báo Ðời tổ chức hội thảo giữa nhóm Hà Thúc Nhơn cùng các đại diện Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn về tác hại của tệ nạn tham nhũng đối với vận mạng đất nước. Trước giờ khai diễn hội thảo, lực lượng an ninh gồm cảnh sát đặc biệt và cảnh sát dã chiến lập chốt chận hai đầu đường Cống Quỳnh ngăn cản người đến tham dự, đồng thời trưởng ty cảnh sát quận Nhì cùng một số nhân viên kéo lên tòa soạn tuần báo Ðời buộc hủy bỏ cuộc hội thảo.

Giữa không khí rối tung đó, tôi thấy Chóe xuất hiện. Rất nhanh, tôi nghĩ đến cơ hội tìm hiểu khả năng của anh. Tôi từ chối đòi hỏi của người sĩ quan cảnh sát, quay sang nhắc Chóe theo dõi ghi lại quang cảnh buổi hội thảo sẽ khai diễn dù chỉ với không tới mười người đang có mặt. Diễn biến sau đó thực ra chỉ là cuộc cãi vã giữa các viên chức Cảnh Sát với tôi nhưng cũng kéo dài gần hai tiếng đồng hồ cho Chóe vẽ.

Sau khi người tới dự hội thảo và nhân viên Cảnh Sát rời tòa soạn, Chóe đưa cho tôi xấp giấy phác họa các cảnh ghi nhận. Tôi không tìm được điều gì đặc biệt qua các bức vẽ phác, nhưng bị thuyết phục ngay bởi nét vẽ của anh. Tôi không thể diễn tả nét vẽ của Chóe nhưng cảm thấy Chóe khác hẳn mọi họa sĩ hí họa lúc đó với nét vẽ rất mới so với nhiều người, ngay cả với Tuýt. Rồi Chóe đưa tiếp cho tôi mấy bức vẽ về các nhân vật mà anh đã vẽ theo yêu cầu của tôi mấy ngày trước. Chỉ vừa nhìn thấy bức vẽ thủ tướng Trần Văn Hương, tôi đã nghĩ Chóe dứt khoát là họa sĩ hí họa của nhật báo Sóng Thần sẽ ra mắt vào mấy tháng sau đó.

Quyết định của tôi không được bạn bè trong nhóm chủ trương chia sẻ vì hết thẩy đều cho rằng Chóe đang ở bước đầu học nghề trong khi theo dự trù, tòa soạn Sóng Thần có mặt không ít họa sĩ đã thành danh như Vị Ý, Huy Tường, Ðằng Giao hoặc nếu cần có Tuýt tức Ngọc Dũng, Hĩm tức Ðinh Hiển cũng không phải chuyện khó khăn. Anh Chu Tử là người đồng ý ghi tên chung trong ban chủ biên nhật báo Sóng Thần với điều kiện chỉ viết mỗi ngày một bài phiếm chứ không tham gia bất kỳ công việc nào của tờ báo, nhất là việc chọn nhân sự cộng tác, cũng nhắc tôi nên nghĩ lại, vì theo anh, “Chóe còn non quá”.

Quả tình Chóe không chỉ non về tuổi nghề mà non cả về tuổi đời nữa. Năm đó Chóe hai mươi bảy tuổi và bề ngoài hiền lành cùng cách nói năng từ tốn chậm rãi không giành được tin tưởng sẽ đáp ứng nổi yêu cầu của tờ báo. Bộ quân phục với chiếc lon Hạ Sĩ cộng thêm ánh mắt, nụ cười luôn có vẻ dụt dè còn khiến nẩy sinh ý nghĩ chưa chắc Chóe thích hợp với công việc của một cây cọ châm biếm vẫn được hình dung qua tính giễu cợt với cái nhìn tinh quái hoặc lời lẽ hóm hỉnh. Chóe hoàn toàn trái ngược với hình dung quen thuộc đó của mọi người, lúc nào cũng như chiếc bóng lặng lẽ hiện ra rồi lặng lẽ biến mất.

Nhật báo Sóng Thần ra mắt ngày 26-09-1971.

Chỉ một tuần sau, không còn ai đặt vấn đề về việc chọn Chóe làm hoạ sĩ hí họa nữa. Không phải mọi người ngại đối đầu với sự dứt khoát của tôi mà vì Chóe đã tự chứng tỏ hoàn toàn thích hợp với công việc được giao. Những bức họa của Chóe không chỉ lôi cuốn bằng nét vẽ mới lạ mà bằng chính nội dung phản ảnh một cảm quan chính trị sắc bén khởi từ cái nhìn tinh tế trước các vấn đề thời sự vượt xa hẳn trình độ hiểu biết của Chóe. Chóe còn có lối làm việc đem lại thoải mái cho tòa soạn là không cần chờ hội ý để tìm đề tài. Mỗi ngày, anh đều đặn xuất hiện vào buổi trưa hoặc buổi chiều mang theo không chỉ một bức họa mà có khi ba, bốn bức cho tòa soạn chọn lựa. Ðang là nỗi e ngại có thể làm hư việc của tờ báo, Chóe vụt trở thành sự ngạc nhiên thích thú đối với mọi người.

Chóe không giấu chuyện anh mới học tới lớp Nhì bậc tiểu học và chỉ được học vẽ tại một phòng vẽ quảng cáo ở Mỹ Tho, sau khi bị cán bộ cộng sản hoạt động bí mật lùa lên núi ép buộc trở thành du kích cùng một số thanh thiếu niên khác ở vùng quê anh tại Long Xuyên năm 1960. Thuở đó Chóe chưa tới tuổi mười tám, chẳng biết gì về chính trị. Anh không thích chui lủi trốn tránh, nhất là khó chịu vì bị cưỡng bức phải sống như thế, nên sau vài tháng đã tìm cách lén trở về nhà. Sự việc này khiến anh lâm cảnh bị đe dọa, phải rời Long Xuyên lên Mỹ Tho lánh nạn. Tại đây, anh xin được việc làm tại một phòng vẽ quảng cáo và bắt đầu học vẽ là thứ anh say mê từ nhỏ.

Năm 1964, Chóe thi hành quân dịch trở thành lính thì khả năng vẽ giúp anh được chuyển về phục vụ tại Bộ Tổng Tham Mưu vào năm 1965 với nhiệm vụ vẽ bản đồ. Công việc và môi trường mới giúp Chóe có điều kiện gần gũi sanh hoạt văn nghệ báo chí Sài Gòn.

Việc viết và vẽ đến với Chóe như một trò chơi bắt đầu từ năm 1965 và những năm sau đó vẫn tiếp tục là trò chơi kể cả khi theo thời gian đưa anh tới tương quan mật thiết hơn với sinh hoạt văn nghệ báo chí do đã có một số thơ, truyện được chọn đăng và một truyện ngắn đoạt giải thưởng của một tờ báo.

Cuối năm 1969, tuần báo Diễn Ðàn lâm cảnh bối rối vì bộ biên tập quyết định ngưng cộng tác do bất đồng quan điểm với chủ nhiệm Trần Như Thuần vốn là công chức xa lạ với hoạt động báo chí khiến trang hí họa do hoạ sĩ Tuýt phụ trách bị bỏ trống. Chóe tình cờ tương quan với người mới đến nhận làm tờ báo nên được đề nghị vẽ thử. Bút danh Chóe bắt đầu xuất hiện nhưng chìm khuất ngay vì tờ báo chỉ phát hành thêm ít số rồi đình bản do không thu hút nổi độc giả. Tuy nhiên, hí họa đã lôi cuốn Chóe khiến anh tìm đến với nhất báo Báo Ðen. Ảnh hưởng hạn chế của tờ báo và sự xuất hiện chập chờn với tính cách tài tử khiến cái tên Chóe vẫn không được ai lưu ý.

Rồi Chóe được một người quen nhắc nên tìm đến tuần báo Ðời. Tuần báo Ðời không có việc gì dành cho anh nên Chóe phải chờ tới khi nhật báo Sóng Thần ra mắt.

Chỉ hơn 100 ngày sau khi xuất hiện trên nhật báo Sóng Thần, một số hí họa của Chóe đã được những tờ báo ngoại quốc nổi tiếng trích lại giới thiệu với độc giả ở Ðức, Pháp và Mỹ. Chóe vẫn như chiếc bóng, kể cả lúc cùng vài anh em trong toà soạn mở tờ New York Times ngắm trang báo giới thiệu Chóe với bức vẽ Tổng Thống Nixon trong triều phục đại quan Trung Hoa quỳ gối để diễn tả chuyến viếng thăm Hoa Lục của người lãnh đạo Nhà Trắng. Trong cơn sôi động chiến trường mùa hè 1972, nhật báo Sóng Thần vượt lên với mức phát hành kỷ lục trung bình 120 ngàn số mỗi ngày, Chóe trở thành họa sĩ hí họa thèm muốn đối với nhiều tờ báo.

Nhưng thay đổi duy nhất của Chóe chỉ là chiếc lon Hạ Sĩ trên cánh tay biến thành chiếc lon Trung Sĩ. Vẫn với nụ cười hiền hòa đượm vẻ e dè, anh hỏi ý tôi về việc có thể làm thêm cho các báo khác được không. Tôi không thay có gì trở ngại, nhưng nhắc anh không ký tên Chóe ở nơi nào khác. Do đó trên các báo Hòa Bình, Ðại Dân Tộc đã xuất hiện hai họa sĩ hí họa Kít, Cap.

Các nhân vật chủ yếu trong vấn đề Việt Nam

Viết Báo Xuân!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Hồi thời VNCH mình, lúc tui mới vừa 14, 15 tuổi, tuổi đọc thông và viết thạo, khoảng chừng năm đệ ngũ là tui đã viết báo rồi đó nhe bà con.

Bài viết cũng được đăng trong các trang thiếu nhi (dĩ nhiên vì tui còn là con nít), tờ Thần Chung của ông Nam Đình, tờ Đuốc Nhà Nam của ông Trần Tấn Quốc, tờ Chánh Đạo của Đại đức Thích Hộ Giác, tờ Xây Dựng của Linh mục Nguyễn Quang Lãm hay tờ Công Luận của Thượng nghị sĩ, gốc nhà binh, Tôn Thất Đính. (Thực ra ông tướng nầy chỉ ra tiền làm báo để có tiếng tăm về chánh trị; chớ mọi chuyện là do nhà văn Duyên Anh ‘thầu’ hết ráo).

Đăng đâu có cắc nào nhưng cũng khoái chí tử; vì hồi nhỏ đứa nào hổng ngu như vậy chớ?

Thân phụ tôi có thói quen đọc báo; nên xế trưa nào, khoảng 3 giờ chiều, một chú giao báo tháng chạy chiếc xe đạp, có cái bọc vải chứa báo cuốn tròn, vắt ngang cái đòn dông, xẹt ngang qua nhà, giao một tờ cho tui đang đứng chực chờ.

Tui đọc hết ráo từ tin xe cán chó đến Tiếu Ngạo Giang Hồ của Chú Ba Kim Dung bên Hong Kong, Lịnh xé xác (tiểu thuyết kiếm hiệp của Hàn Giang Nhạn), Song Ngoại của Quỳnh Dao do Liêu Quốc Nhĩ dịch hay những chuyện nhảm nhí như Con ma vú dài chẳng hạn.

Đọc hết, rồi đọc luôn tới Tìm bạn bốn phương, Gởi giòng lá thắm, Gỡ rối tơ lòng…thòng!

Không bao giờ bỏ sót mục tử vi của Chiêm tinh gia Huỳnh Liên. (Dẫu thừa biết bói ra ma quét nhà ra rác). Sau cùng là đọc luôn mục tìm trẻ lạc, quảng cáo linh tinh.

(Nói tới quảng cáo là phải nói tới nhật báo Chính Luận của ông Đặng văn Sung.

Nghe nói ông chủ báo nầy giàu thôi hết biết. Tuy nhiên cũng có người tự xuất vốn ra làm báo, cầm cự được chừng vài tháng thấy không êm, thì tưng bừng khai trương và âm thầm dẹp tiệm…)

Phải nói làm báo không phải là cái nghề để làm giàu mà cái nghiệp vì đam mê nên mang cái chuyện buồn hơn vui nầy vào cái cần cổ.

Bây giờ trên web cũng vậy thôi, người người làm báo, nhà nhà làm báo (như ở không lắm vậy). Đâu kiếm được cắc nào; mà cũng đâu có trả tiền nhuận bút cho ai. Bài đi ‘chôm’ của thiên hạ không hè. Vậy mà lâu lâu, vì một bài viết, cũng mắng nhiếc nhau như bạn hàng tôm, hàng cá chợ Cầu Ông Lãnh vậy.

(Tuy nhiên cũng mở ngoặc đây để cám ơn hội Petrus Ký Úc Châu ở Sydney. Mặc dầu đăng mấy cái bài cũ mèm của tui hồi năm nẩm, cũng thơm thảo nghĩ tình, xuất tiền quỹ của Hội gởi cho tui một cái ‘gift card’ của tiệm rượu Dan Murphy tới 100 đô Úc.

Rượu của mấy anh, tui uống hết cả mấy tháng nay… mà vẫn còn say cái tình văn nghệ cho tới tận bây giờ. Call again! He he!)

***

Việt Nam Cộng Hòa mình là một đất nước tự do, nên nền báo chí cũng phát triển khá rầm rộ. Chủ báo thường là người làm chánh trị, có thế, có lực, có tiền, xuất vốn ra, mướn thư ký tòa soạn điều hành hết ráo từ bài vở tới in ấn.

Quản lý trị sự thì trả tiền cho nhà in và các nhà văn, nhà báo, cộng tác viên. Nghe xôm tụ vậy chớ toàn thể ban biên tập chỉ loe ngoe vài mống.

Nhật báo ngày ấy cũng phân định đẳng cấp, đại ca hay tiểu đệ, báo 4 trang hay 8 trang, căn vào lượng độc giả mua báo (số bà con đọc báo mướn cũng nhiều không kém làm mấy ông chủ báo la trời như bộng).

Ngoài nhựt báo còn có tuần san, bán nguyệt san rồi nguyệt san chuyên về lãnh vực giải trí. Trăm hoa đua nở như vầy thì theo nền kinh tế thị trường là phải đua, cạnh tranh nhau rất dữ dội. Tin thời sự phải nóng hổi, bình luận chánh trị phải sắc bén.

Còn những bài “nằm”, tức bài dài kỳ, tiểu thuyết tâm lý xã hội, dịch thuật từ tiểu thuyết kiếm hiệp ‘Long Hình Quái Khách’ tới cao trào hấp dẫn là thòng thêm câu: “Xin quý độc giả theo dõi kỳ sau sẽ rõ”.  Cái nghệ thuật làm báo nầy gọi là câu nhấp tới câu rê…

***

Làm báo mỗi ngày là vậy nhưng cuối năm, mỗi độ Xuân về, Tết đến là còn tranh đua quyết liệt hơn nhiều. Số Xuân còn gọi là báo Tết phải công phu chuẩn bị bị trước đôi ba tháng. Mới tháng Chín là mấy ông Chủ bút đã la làng chói lói đòi bài inh ỏi rồi hè!

Báo Xuân hải ngoại phát hành hơi sớm, trước Tết Tây. Còn hồi xưa trong nước, báo Xuân phát hành từ 20 tháng Chạp âm lịch cho tới 23, ngày đưa ông Táo về trời, lúc bà con đi chợ Tết, nhưng vẫn còn nhiều báo phát hành vào ngày 25, 26, thậm chí tới 28 Tết.

Tờ báo Xuân khổ lớn, bìa in 4 màu, hình ảnh nghệ sĩ nổi tiếng, (mà toàn con gái không hè), trình bày rực rỡ, tăng trang lên gấp nhiều lần, bài vở phong phú đặc sắc của những nhà văn tiếng tăm lừng lẫy, được treo trang trọng ở các quầy sách báo ven đường, các ngã ba, ngã tư luôn đập vào mắt mọi người.

Độc giả háo hức chờ đợi, chực sẵn ở các quầy sách báo ven đường để mua tờ báo xuân mình yêu thích, chọn thêm 2,3 tờ báo xuân mà mình thấy đẹp, thấy hay, có nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo tên tuổi cộng tác để tặng bạn bè. Thiệt là một truyền thống đáng yêu hết sức.

***

Bà con mình ai cũng biết khi Tây tới, nước Việt Nam mình mới có nghề báo.

Nhưng có lẽ chỉ duy nhất Việt Nam là quốc gia có báo Xuân ra đời đã gần một thế kỷ.

Chính tờ Nam Phong Phạm Quỳnh sáng lập cho ra số Tết đầu tiên năm Mậu Ngọ, 1918. Ngay trang đầu, nêu lý do làm số Tết, ông chủ bút Phạm Quỳnh kính báo: “Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung của mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân, trong thế giới dễ không đâu có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui…”

“Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai nhịp với khúc cảm chung của xã hội trong buổi đầu Xuân mới, giời ấm, khí hoà, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại muốn không trái chủ nghĩa bình thường, bèn định in ra tập ngày Tết này, ngoài những số báo thường, trước là để cùng quốc dân góp một phần vào cuộc vui chung, sau là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gởi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới…”

Mà muốn độc giả đọc báo Xuân để vui mừng vui quá vui thì bổn báo phải lựa đề tài vui. Mấy cái vụ ghen vác súng rượt chồng chạy có cờ hay chồng ghen quánh vợ văng mất cái đầu tóc mượn (kiếm hoài hổng có ra) thì dẹp qua một bên sợ có huông.

Thay vào đó là lời chúc Xuân của ông chủ nhiệm, kiêm chủ bút, kiêm luôn ông xã của cô thư ký tòa soạn.

Ông chúc thân chủ quảng cáo trước; rồi tới thân hào nhân sĩ, chức sắc, độc giả mua báo năm rồi cuối cùng mới tới quý văn hữu (đứng hạng bét)

Sau đó là Sớ Táo quân. Bài điểm lại nhưng sự kiện quan trọng năm qua… như Donald Trump ‘quánh” Tập Cận Bình vì ‘khoái’ dân Việt Nam mình chẳng hạn.

Đề tài chánh trị ít thôi; đọc cả năm nhức đầu quá, uống gần hết cả trăm viên asprin rồi hè.

Sau đó là bài năm Hợi nói chuyện Heo theo truyền thống. Tại sao phim bậy bạ dành cho người lớn, con nít không được quyền xem, lại được gọi là phim con Heo?

Truyện ngắn như tình Lan Điệp phải có hậu, dẫu trái ngang nhưng Lan không có đi tu vì nhờ Điệp thuyết phục con vợ nhà, là con quan phủ, cho Lan về làm vợ bé chẳng hạn.

Hay những chuyện mua vé số bỏ quên trong túi, còn một ngày nữa quá hạn, tình cờ móc ra dò thấy trúng một triệu đô la Mỹ. (Dóc thấy ớn luôn!)

Rồi các mục giải trí văn nghệ, kịch trường, phỏng vấn các ‘ngôi sao’ cải lương, ca nhạc, truyện ngắn, thơ tình, thơ châm biếm, hí họa, chuyện Đông Tây kim cổ loại độc, lạ.

Tiếp theo là mục “Gia chánh” dạy làm các món ngon ngày Tết: Mứt bí, mứt dừa, bánh tét, bánh chưng.

Chuyện vui tiếu lâm nhưng nhớ đừng mặn quá kẻo bị rầy. Chuyện “Thầy thuốc bắt mạch”. Tết ăn nhiều thịt mỡ nhưng kèm theo dưa hành để mỡ máu đừng lên cao. Ngày xuân nhậu quá xá thì làm sao ‘giã’ rượu…

Cuối cùng là đố vui Tết! Ai trả lời ngay chóc được thưởng một hai trăm đô do Mít tờ ‘Hăng rết’, chủ hàng trăm tiệm làm răng trên toàn nước Úc tài trợ.

Làm báo Xuân sướng hay cực? Cực là cái chắc rồi. Nhưng phải làm vì đây là dịp may, năm chỉ có một lần vì các thương vụ đăng quảng cáo rần rần… Mà nhiều chừng nào là tiền vô nhiều chừng nấy. Có ông chủ báo nhậu nói với người viết rằng phải chi tháng nào cũng là Tết; phẻ cho cái túi tiền của bà xã mình lắm nhe.

Chủ báo cháo bào ngư thì bọn viết mướn tụi tui cháo trắng ăn với hột vịt muối. Bèn làm reo, đòi nhuận bút cao gấp mấy lần ngày thường. Ông chủ báo đành bấm bụng ứng trước một mớ, cũng hơi khẳm, để nhà văn có chút rượu nhâm nhi, chút mồi đưa cay, vài gói thuốc lá phì phèo mà sáng tác.

Vậy mà tới hạn chót với nhà in, lửa táp vô đít, mà bài của thằng chả chưa thấy đâu? Bèn gọi điện thoại nhắc: “Làm ơn viết gấp gấp!” Thì thằng chả lại bắt chước Tản Đà phán rằng: “Viết văn đâu phải là bửa củi. Nghe mà ứa gan hè!”

(Sơn Nam là nhà văn chuyên nghiệp, sống bằng nghề viết báo nên làm ăn đàng hoàng cẩn trọng, đề tài độc lạ như Ăn Tết ở rừng U Minh, chuyện người Hoa ở Chợ Lớn ăn Tết ra sao?

Nên nhà văn Sơn Nam thường được các chủ báo giành độc quyền cầm, ứng trước tiền nhuận bút cao gấp mấy lần các tác giả khác. Báo tỉnh lẻ hứa: báo Sài Gòn trả bao nhiêu là tụi tui xin kính ông bấy nhiêu. Ông cười, dơ ngón tay lên, khen: “Ngon a!”

Phát hành báo Xuân xong, ra giêng, còn nghỉ, tui thấy ông mặt mày tươi rói, tay mang, tay xách bánh mứt, thèo lèo cứt chuột và một chồng báo Xuân, đi xe đò về Mỹ Tho thăm vợ, thăm con.)

***

Xuân về, Tết đến, người Việt ở hải ngoại mình cũng hay đến các shop Tàu, mua cho mình tờ báo Xuân ‘ruột’, mang về nhà đọc dần những ngày Tết. Còn mua thêm chừng hai, ba chục tờ ‘sơ cua’, gởi tặng bàn bè; ngầm ý khoe có bài Tết của tui, được đang trang trọng trong ‘Mục Bạn đọc viết’ đó nhe!

Trước thềm năm mới, năm Kỷ Hợi, người viết xin kính chúc bà con mình: “Tân Xuân Vạn Hạnh”.

Xin giữ gìn truyền thông tốt đẹp, mua báo Xuân của ông bà mình để cho anh em báo (đời) chúng tôi, năm chỉ một lần được ăn cháo bào ngư!

đoàn xuân thu.

melbourne

Bậu bỏ qua sao đành!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Sương khuya ướt đẫm giàn bầu,

bậu về Miệt Thứ bỏ sầu cho qua.

Ca dao

Ngày mai bậu vu qui

bữa nay nhà nhóm họ

bà con nhậu như điên!

rượu rót tràn như suối!

Qua gánh bao đôi nước!

phồng rộp một bên vai;

củi chẻ bao nhiêu thước!

dằm sướt, rướm máu tay. 

Tình ta: qua với bậu

sông nước Mỹ Tho rầu,

chảy vòng vo tam quốc,

rốt cuộc chẳng tới đâu!

Bậu như chim vào lồng;

qua -Tề Thiên- mắc nạn:

bùa nghèo, ai dán trán?

vùng vẫy cũng vô phương!

Bậu hót tiếng buồn thương

qua đành trơ mắt ngó;

mai xuất giá theo người

bay đi trời Miệt Dưới!*

Rượu giao bôi, hợp cẩn

bậu với người trong tay

dìu nhau phòng hoa chúc

còn qua? rượu đắng cay!

Thời gian trôi lần lữa,

bậu tay bế, tay bồng

bên chồng, tay bậu gối

lòng qua sao bão dông?!

Quê nhà một mình qua

gặp ba bậu, qua chào

gặp má bậu, qua xá

(qua nhớ bậu nhiều quá!)

ba má bậu tham giàu

mừng: gả bậu đi xa

công dưỡng dục, sanh thành

chín chữ, nghĩa cù lao,

chữ hiếu bậu vâng lời

làm sao qua dám trách?!

Rót ly rượu đắng cay,

uống tràn đêm nỗi nhớ

tình bậu, qua một thuở

thôi! hẹn bậu kiếp sau!

Qua đã thức trắng đêm

chào bình minh rồi ngủ

trong mơ qua thấy bậu

bồng bềnh…xa, xa thêm!

*Miệt Dưới: Down Under, Australia.

đoàn xuân thu.

Bài thuộc lòng năm cũ!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

melbourne

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Bạn thơ thân mến.
Tháng chín bên ấy tựu trường.
Xin chia sẽ cùng các bạn thơ một thời là học trò và có bạn (như Giáo Nghĩa) một thời phấn bảng … bài thơ “Bài thuộc lòng năm cũ”
Tình thân

Em đọc bài thuộc lòng yêu dấu?
của em, của ta, thời thơ ấu,
của hạ tàn, phượng nở về đâu
mà buổi dạy đầu tiên ta nhớ.

Bài thuộc lòng giọng đọc thiết tha,
qua cánh đồng đang thì con gái,
quanh quẩn mãi, vườn dừa xanh trái,
chảy xuôi về trăm nhánh sông xa.

Bài thuộc lòng là tiếng chị ru,
tiếng bìm bịp kêu nước lớn, ròng,
là tiếng thơ ta chiều lá rụng,
em đọc bài trong khói mù u.

Bài thuộc lòng là lời nhắn nhũ:
yêu má em, suốt đời lam lũ,
yêu ba em, dãi nắng dầm sương,
yêu nhà em, vườn sau, sân trước,
yêu con đò, bến nước, quê hương,
em vào đời, chan chứa yêu thương!

Thơ giặc tháp tùng tăng, pháo giặc
chiếm trường ta, đốt sách của ta
tiếng em đọc rơi vào tĩnh lặng
trường em, ta đằng đẵng xót xa.

Bài thuộc lòng theo ta vượt biển,
từ trường xưa, biền biệt tha hương.

Quê người chiều, xám đông ủ rũ
dịu dàng nghe, thương tiếng em thương,
dạy con: bài thuộc lòng năm cũ,
vầng vặc buồn thương, khóc quê hương

đoàn xuân thu

Ráp ráp…

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 29/11/2018 

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

 thơ việt dã tiếp sức của Cao Vị Khanh, Hồ Đình Nghiêm, Hoàng Xuân Sơn, Vũ Hoàng Thư.
Từ trái: Cao Vị Khanh, Hoàng Xuân Sơn và Hồ Đình Nghiêm

Ly cầm chưa ấm ngón tay
Bồ đào đã đỏ như say tiếng cười
Rượu mời không ngọt cũng bùi
Xẻ nhau chút xíu nụ đời gần… phai.

Ước gì đủ mặt chiều nay
Cụng ly bốn góc, không say không về!

Tuyết vây rót sợi trắng. hề
Bóng ai vụt thoảng tứ bề ảnh hư
Nghe chừng thiếu mặt phần thư
Thơ mon, men đến cho nhừ lòng không.

Lòng không đổ rượu cho đầy
Đốt thêm sợi nhớ khói vầy mắt nhau
Nhìn ra lưng tuyết trắng phau
Bồi hồi chợt nhớ khúc đầu khúc đuôi
Khúc tr(g)iữa xuôi ngược đâu rồi?
Rối “đêm cỏ tuyết” khóc hồi ải biên.

Nước chia đoạn, người xa trôi
Ba ly chụm, chiều lậm bồi sầu riêng
Trốn vào giấy bút linh thiêng
Gói. Ôm cho trọn mấy miền lưu linh.

Hồ Đình Nghiêm
Gửi bạn phương xa chút tình
Hồ Gươm quán chiều 26/11/2018

Mười năm 2001 – 2011 

nhà văn hàng đầu của Văn Chương Hải Ngoại

phỏng vấn Hồ Đình Nghiêm

thực hiện: Lê Thị Huệ

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Lê Thị Huệ: Viết hình như là thúc hối thứ hai. Vẽ là thúc hối thứ nhất, vì ngày mới lớn Hồ Đình Nghiêm bắt đầu là học trường Mỹ Thuật Huế. Một người bị nghệ thuật xà quầng không dứt được, bây giờ là nhà văn “ngon” của Văn Chương Hải Ngoại. Nhà văn cảm thấy còn thiếu thốn điều gì và điều gì làm cho nhà văn thỏa mãn vì có thể phát biểu điều mình muốn phát biểu, khi được sống ở ngòai Việt Nam.

Hồ Đình Nghiêm: Mình học Mỹ thuật chưa xong, ngang năm thứ hai thì bỏ trốn vì biến cố Bảy Nhăm. Xấc bất chạy tuốt vào được Sài-gòn, chưa kịp định thần chốn ấy cũng lại bị Phỏng Giái. Đành xang bang lộn ngược lui Huế. (Hì hì, đi với về cũng một nghĩa như nhau! Từ chết tới bị thương e cũng na ná nhau thôi). Giữa đường đứt gánh, ghi danh học tiếp cho biết sự tình chứ bấy chầy lòng đã ơ hờ với hội họa. Ra trường, với tờ quyết định bổ đi làm cán bộ Thông tin văn hóa ngoài Quảng Trị, lương 52 đồng một tháng, (năm 78). Bộ tính cạp đất à? Thôi, vất cây khế lại, tìm đường dông. Hoàng thiên hữu nhãn độ trì gắn mác Thuyền nhân. Viết truyện từ dạo ấy, sau hàng rào lưới sắt, giấy bút đều có in logo Hội Hồng thập tự Quốc tế. Viết, do bởi lòng thù hận của người “Diệt”. Viết, do bởi lòng bác ái của tha nhân luôn mở rộng vòng tay. Viết, muốn nói đôi điều cho vơi đi, mà hội họa không đủ sức để can dự tới, phương tiện ấy chẳng thể giải bày, làm nguôi ngoai. Mình dông dài thế chỉ nhằm trả lời: Hai món ấy đến với mình có vẻ như một thỏa thuận miễn cưỡng, như ai kia chia cho mình 13 lá bài với duy chỉ một đường binh. Một ván bài xấu, xóc xáo mãi vẫn không thỏa mãn. Đôi lúc mình để trí óc chạy rông: Nếu không xảy ra biến cố 1975, mình có là một thằng người tơ lơ mơ như giờ này? Hắn có bị nghệ thuật xà quầng “phá rối”? Hắn sẽ làm gì “cho hết nửa đời sau”? Không. Chắc chắn hắn sẽ chìm ngập vào một cảnh sống khác, mình tin thế. Giờ này, ngay tình mà nói, hình như mình cũng chả phát biểu được chuyện gì cho ra hồn! Có một điều nên tri ân: Nhờ chữ nghĩa, mình đã quen được một số tên tuổi trên văn đàn mà mình luôn mến chuộng. Những đàn anh, những đàn chị. Những bạn văn 5 châu 4 bể. Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình. Xin mạn phép hô to: Tình đồng chí bất diệt! 

Lê Thị Huệ: Nhà văn đào chữ từ đâu? Đào cốt truyện từ đâu? Để mà viết vậy. Vì hình như nhà văn ít đi rời khỏi Montreal? Hỏi câu này không có nghĩa là hàm chứa một kết luận rằng người ít đi là không viết hay đâu đấy. 

Hồ Đình Nghiêm: Mình là con kiến bò quanh miệng chén và nhìn… cơn bão trong tách trà. Cái gì sẽ là giọt nước cuối làm tràn ly? Gay cấn hén? Một trận gió đi băng qua công viên và làm những cái xích đu đong đưa cùng xác lá xoắn tít. Một tiếng cười trong trẻo vẳng lại từ cuối đường của đứa bé khi nhặt được quả bóng. Một giọng khản kêu người mẹ đang bước xa dần và cô con gái mặc quần yếm sẽ khóc nếu chân đi kia không đứng lại. Cơn mưa đổ tình cờ làm xua đuổi mọi thứ, nó buông rèm, sắc tối từ tốn xâm chiếm công viên ngập cỏ tợ một nghĩa trang… Có thể đó là thứ hình ảnh diễn ra quanh ta mỗi ngày, nó tích tụ vào đầu mỗi khi một ít, hồi nào hết chỗ chứa nó sẽ tìm cách thoát ra. Chưa ra, đành phải cất công mà đào. Tự bới móc, đã đành. Xét thấy chưa đủ, lại phải lén phén đi dòm lén. Vừa rồi, trên diễn đàn này có hiển thị loạt ảnh “Mẹ điên con điên (đi vào vùng gió cát điên)”. Xem xong, có thể viết được cái chuyện ngắn chứ không đùa. Tin không? 

Lê Thị Huệ: Chuyện ngắn của Hồ Đình Nghiêm với những câu như:

Người đàn bà mở nắp nhựa và khởi sự uống.

– Cái nhân vật Trúc ngày xưa bán cà phê bây giờ ra sao?

– Không biết. Anh đã vắng mặt quá lâu với cuộc đời này. (Mất Đất)

Những câu văn nặng ký nâng Hồ Đình Nghiêm lên nhà văn hàng quốc tế, theo nhận xét của tôi. Chỉ vì các ông các bà độc giả, dịch giả, lẫn phê bình gia Việt Nam thiếu bản lĩnh và không sắc sảo đủ để nhìn ra những nhà văn Việt Nam đại tài mà chỉ ra. Một mình Lê Thị Huệ thì nhằm nhò gì. Nhà văn thỉnh thỏang nên uống một ngụm rượu, vui với lời chúc mừng của Lê Thị Huệ đi, là được rồi. Phải không. 

Hồ Đình Nghiêm: Mình thuộc “diện” ốm o xo bại. Thông thường, kẻ nhẹ kí mới dễ nhấc bổng. Nặng kí? Không dám đâu. Nhưng mà “Chỉ một mình Lê Thị Huệ thì (nhằm nhò) quá xá đi chứ lị. Thỉnh thoảng mình vẫn uống một ngụm rượu đào, rồi rung đùi nhại đọc một câu dễ thương trong Tam Quốc diễn nghĩa: “Sinh ra ta là cha mẹ ta mà người hiểu ta chính là HUỆ vậy!” 

Lê Thị Huệ: Và nói đến văn chương của Hồ Đình Nghiêm không thể không nói đến tính nghịch ngợm. Nghịch ngợm trong nhận xét, nghịch ngợm trong cách xử dụng từ, nghịch ngợm một cách yêu đời và hồn nhiên …. như một nhà văn đại tài. Tôi hơi cường điệu khi xử dụng cụm từ “nhà văn đại tài”. Vì cả hai chúng ta đều cầm bút, có lẽ Hồ Đình Nghiêm cũng biết, nhà văn tài ba thì làm sao thiếu tính nghịch ngợm. Tài năng càng cao, khả năng nghịch ngợm càng thông mình. Càng tài năng, cách nghịch càng khéo, khéo viết đến độ nhiều khi những nhà phê bình mắt ếch cóc nhìn ra được khía cạnh ấy của họ. Nhà văn có nhận xét gì về điểm này 

Hồ Đình Nghiêm: Nhận xét của mình là đằng ấy nói không sai vào đâu được. Vấn đề là cách nói của đằng ấy dễ làm người khác ngộ nhận. Gây ngộ nhận có khi làm mình vui, đôi khi gieo phiền muộn. Và theo như sự hiểu “thô thiển” của mình, đằng ấy chẳng ke những ngộ nhận. Chả có ông kẹ nào làm đằng ấy chùn bước, ăn nói hơi bị “vô tư”. Mình thích nghịch ngợm, thuở nhỏ ưa sờ vú mẹ, ưa bú tí. Luôn bị nạt nộ, luôn bị bợp tai, luôn bị đá đít… liền cai sữa. Xin chừa. Già đầu như ri đây mà còn nghịch thì e là “châu về hợp phố” mất rồi. Bản tính chăng, có căn tu chăng? Hề hề. Mình thích đọc văn chương Nhật bản vô hậu, bởi đa số các tác giả xứ phù tang đều có lối hành văn rất hợp tạng mình, dí dỏm, thông minh, tinh tế, nhẹ nhõm, ấn tượng… khi viết những trang văn chương ẩm ướt, rốt ráo về dục tính. Nó mang mình tiếp cận một vẻ đẹp ngời sáng, đánh rơi hoàn toàn cái nhầy nhụa xấu xí do bởi những kẻ non tay nghề viết ra. Sau tài ba của Haruki Murakami, giờ đây mình đang “mặn” một Amy Yamada.   

 Lê Thị Huệ: Nói đùa thế, chứ tôi tin là nhà văn cũng đã được những lời khen thưởng của nhiều người khác. Nhà văn nghĩ thế nào về vai trò của các nhà phê bình Việt Nam đối với các tác phẩm của nhà văn 

Hồ Đình Nghiêm: Mình chưa được (bị) một ai phê bình. Nói theo ngôn ngữ đời thường là chưa được lọt vào mắt xanh. Và chả có kẻ nào đá lông nheo cả. Thế có buồn không cơ chứ, hở giời!

 Tình thật mà nói mình không mấy ưa người làm phần việc phê bình, họ chủ quan quá, sự chủ quan đôi khi làm cái nhìn lệch xa dụng tâm của tác giả- kẻ bị phê bình. Tác giả viết: Tôi ăn bát phở ấy rất ngon… Nhà phê bình phán: Lếu láo, cậu đang húp xì xụp tô bún rõ ràng là thế mà đánh lừa người đọc. Và đã là nhà phê bình, vũ khí họ trang bị: ưa khoe vốn kiến thức. Họ ưa viện dẫn ông này ông nọ, bên Tiệp bên Nga bên Hung bên Tây Ban Nha bên Ý bên Đức bên Pháp bên Mỹ… Trường phái này triết thuyết nọ, vô vàn chuyện trọng đại chỉ để phủ chụp vào một tác giả Việt đang chập chững bước vào văn đàn nhược tiểu. Khi đọc những bài phê bình, cảm giác của mình thường bị ngộp thở, không dưng họ dẫn mình vào mê lộ và tới tận cùng dấu chấm mình vẫn chưa lai tỉnh. Thực ra thì họ đã bỏ bộn thời gian để truy cứu tài liệu. Tốn công sức như vậy nhằm đánh đổi được điều gì? Thuyết phục người có học thức hơn mình chăng? Ôi, thương cho người bị phẩu thuật mà cũng sợ cho dao kéo nọ biết bao!

 Lê Thị Huệ: Nhà văn thường viết được nhất trong bối cảnh nào? Đánh răng thơm tho xong, ăn mặc sạch và láng, uống một tách cà phê thơm, rồi mới ngồi viết vào bàn viết. Hay thường là sau khi ngủ với bồ tèo xong thì viết được sung mãn hơn bên gối mộng. Hoặc ngồi quán cà phê ồn ào vẫn viết được như thường. Nhà văn kể nghe chơi 

Hồ Đình Nghiêm: Kể nghe chơi thì mình không kể, phải thiệt cơ mình mới nói. Ngủ với bồ tèo xong hả? Điên sao ngồi dzậy dziết dzăn? Thần khí đâu nữa? Sức lực nhà ngươi đâu tá? Và, mình đọc trong báo Tây, kinh nghiệm họ truyền đạt cho khối đứa vô tình: Trả bài xong là lỉnh sao? Hết nhiệm vụ rồi sao? Sai lầm! Người bạn tình vẫn đang nằm chờ một cánh tay bạn quàng ôm. Hãy hôn vào người ấy, nếu có thể. Hãy nói một điều gì đấy, êm ả, nếu có thể.

 Rồi, đi đong! Ngồi quán cà phê ồn ào? Chịu thôi, phải tịch lặng, phải đơn côi. Ngồi ở xó bếp, một hai giờ sáng. Và giờ ấy thì nhớ là chưa thể đánh răng, áo quần lôi thôi người hôi như cú. Vậy đó, nói láo thì còm piu tờ nó cháy ổ cứng. Viết văn, xem ra nản quá hí? Chưa kể, gửi báo mạng “lề phải” họ hổng chịu đăng. Chưa kể, hổng có sỡ hụi để mua cà phê thuốc lá trợ lực. Chưa kể bớt bạn thêm thù. Chưa kể họ hàng thân sơ khi khổng khi không làm “đồng minh tháo chạy”. Lại phải nói thiệt: Oải quá!  

 Lê Thị Huệ: Với tình hình cấu trúc của Internet và với tình trạng người tiêu thụ càng ngày càng tham gia vào các sinh hoạt phát biểu nhiều hơn, những hình thức sáng tác của nghệ thuật như ca nhạc, văn chương, vẽ vời, càng lúc càng bị số đông núm lốc lôi đi, bạn nghĩ thế nào về khả năng của các tác phẩm nghệ thuật và sự viên mãn của nó trong tình hình “nhà nhà ca hát, người người viết như hiện nay” 

Hồ Đình Nghiêm: Mình có xem một hai cuốn phim, quên mất tựa đề, bị ám ảnh bởi duy một hình ảnh: Một anh chàng đeo kính cận, to bản, gọng đen, tóc rối, râu lún phún, môi ngậm điếu thuốc mà tàn cong chưa chịu rơi xuống. Trên bàn: Một ly nước lọc đã vơi cạn. Một chai rượu rỗng không. Một xấp giấy. Cái gạt tàn thuốc chứa chật chội những đầu lọc cong queo nhăn nhúm. Một bàn máy đánh chữ đen đúa, hình như hiệu Olivetti. Một ngọn đèn vàng treo đong đưa trên đầu. Và dưới sàn nhà có vô vàn những tờ giấy đã bị vò lại. Tiếng kêu của cái rouleaux đang cuốn nạp tờ giấy mới vào. Những mặt mẫu tự đúc chì thay phiên gõ lên đó bằng mười ngón tay đặt để chuẩn xác trên mỗi ô nhựa lõm… Lóc cóc lóc cóc suốt canh khuya. Tiếng chuông báo hiệu đã đi cuối đường, đưa tay gạt cần để sang dòng. Lóc cóc lóc cóc. Mình xem, mê tơi. Thằng nhà văn, khi đó, tự thân nó, toát ra một hấp lực kỳ lạ. Nó như một con dã tràng đơn côi và ngoài kia, biển khuya đang có sóng lừng lững đi vào bờ. Mình yêu cái hình ảnh đó quá. Đừng nói mình quê mùa hủ lậu. Cái đứa ngồi trước màn hình máy vi tính chả ra làm sao cả so với cái thằng người dị dạng kia. Nó tiện lợi gấp vạn lần, đồng ý. Nó hiện đại và siêu khủng. Chẳng ai chối cãi. Nhưng nó không chỉ phục vụ cho riêng cá nhân nhà văn. Nó phổ cập, nó đại chúng, nó hang cùng ngõ hẻm, nó Pop quá. Bàn máy đánh chữ thô kệch nặng nề vô tình bị đẩy về cương vị Rock, một thứ Heavy Metal kén cá chọn canh. Và thú thật, mình mết Rock and Roll, chịu đèn Hard rock cách chi. Pop là karaoke, ai chơi cũng vậy, chả có gì ghê gớm. Mình không thích internet lắm, nó xô bồ quá, nó hỗ lốn quá, tạp nhạp quá, là một thứ “Thị tại môn tiền náo”. Nó xúi người ta giấn liều, văn chương dần dà chuyển tải thứ gì đấy gần như một bản báo cáo lê thê. Chả có gì sàng lọc qua, nó đã an nhiên tự tại nhảy lên lưới lên mạng. Người ta quen đọc thứ thơ văn phi kiểm soát đó, và người ta hoài nghi về dòng văn học @ kia. So ra, nếu được ấp ủ một cuốn sách trong tay, chúng ta hẳn bắt gặp một nỗi an tâm thầm lặng. Thứ thầm lặng cần thiết, chỉ còn Em với ta. Hãy tạm bằng lòng với câu thơ của tiền nhân: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ! 

 Lê Thị Huệ: Tôi thích gọi tôi là “Nhà Văn Hải Ngoại”. Vì sự ra đời của nó gắn liền với tư thế từ chối chủ nghĩa Cọng Sản của những người ty nạn chính trị ra khỏi Việt Nam năm 1975, từ đó mới có cụm từ “Văn Chương Hải Ngoai. Tôi yêu kỷ niệm về sự chào đời này, nên thích nhận mình là “Nhà Văn Hải Ngoại”. Hơn là “Nhà Văn Lưu Vong” (người ta có thể Lưu Vong ở ngay chính trên Quê Hương của họ).  Hoặc là “Nhà Văn Di Dân”, từ nhà văn “Di Dân” nghe nhà quê quá, đối với tôi. “Di Dân” nghe không hách xì xằng, không mang một thái độ chính trị mãnh liệt, gấu, như “Hải Ngoại”. Trong cái mớ bùng xùng tôi vừa kể, anh gọi tên anh là gì? 

Hồ Đình Nghiêm: A, B, C. Không có D. Không có “Những câu trên đều sai”. Vậy thì làm ơn đừng che tay lại, cho mình cọp dê với. Dứt khoát khoanh tròn chữ Nhà Văn Hải Ngoại. Tình thật, mình yêu chữ Thuyền Nhân vô bờ. Boat People. Nghe đứt ruột, nghe da diết, nghe tủi hổ, nghe đớn đau. Nhưng tiếc uổng là nó chỉ khoanh vùng một đám người, chẳng đại diện cho tập thể tị nạn. Ngang đây mình cũng xin tâm sự, là có khi mình thực sự bị choáng khi nghe có người nói: Thôi bỏ đi, giờ này mà còn viết chuyện cải tạo, chuyện vượt biển, nghe ớn thấy mồ! Mình suy nghĩ, mình thở dài. Đó là hai thảm họa, hai bất hạnh lớn của người Việt. Anh xúi dục tôi quên đi, điều đó cũng đồng nghĩa là anh trách bọn nhà văn toàn một lũ bất tài? Chúng nó cặm cụi viết và chúng nó chẳng xô được vào lòng anh một con sóng bạc đầu, một niềm đau, một tủi hờn nào cả. Ừ, tôi xin cúi đầu nhận tội. Tôi thực sự bất lực trước niềm đau vô bờ của đồng loại. Nhà văn Hải Ngoại, dù nằm dưới một danh xưng khác, có ai đứng cùng tôi ở hàng ngũ: Xuội lơ? Nói không cùng, chẳng cạn kiệt. Bất hạnh lớn lao của nhà văn là anh bó tay trước nghịch cảnh. Anh cảm nhận cái yếu kém của chữ viết, và đôi khi anh chợt nhìn ra việc anh đang làm nó nhằm phục vụ riêng cho anh, rất vị kỷ! 

 Lê Thị Huệ: Câu cuối cùng. Gió O chủ biên là người đàn bà Lê Thị Huệ, nhà văn có nhận xét gì về điều này ?

Hồ Đình Nghiêm: Như trên có thưa, mình rất ngẳng nghịch. Thưa kiệm lời, chưa đủ, xin bổ túc. Cái đứa hoang đàng ấy mắc phải một yếu điểm (?): Nó rất yêu chuộng qúy vị phụ nữ, bất kể hồng quần không biết cầm roi đi quyền, bất luận hồng nhan có làm thơ hay viết văn. Có chữ Thị dính vô là “lòng trong như đã mặt ngoài còn e”. Chỉ rứa thôi! Giang hồ (hiểm ác) đồn đãi chưởng môn nhân Gió-o là một vị nữ lưu khó tính “độc cô cầu bại” nên tại hạ lân la tới làm quen bằng cách thi triển những tuyệt học của mình, và mọi thứ đều ô-kê. Cả hai tuy Nga Mi tuy Không Động nhưng đi lại trên giang hồ thì nên tôn trọng sở trường sở đoản của nhau, chẳng làm khó nhau. Lê Thị Huệ đối với tớ giống như chủ nhân một cơ sở bảo tiêu, và tớ có ngân lượng nào cũng kíp trao tay nhờ áp tải, thời nay gọi là chọn mặt gửi vàng. Gửi vàng xong, lại kèm theo chút tình: Xin vì bảng hiệu Gió-o mà hạn chế dây dưa đôi co với hắc bạch giang hồ. Tâm mình trong sáng thì hoàng đạo e chẳng có thảo khấu chận đường. Một chút hương vị Phật pháp, có nên chăng? Cái này mình “lụm” trên lưới của nhà thơ nổi tiếng Ko-un, người Hàn Quốc (thứ lỗi quên tên vị chuyển ngữ):

 MỘT NGƯỜI BẠN

Này!

Với đất sét anh đã đào

Tôi đã nặn một tượng Phật

Trời mưa.

Tượng Phật trở thành đất sét

Không một vết như trời sạch sau mưa. 

Cám ơn bạn đã đặt câu hỏi. Viết bài gửi Gió-o là một chuyện, mà đối thoại lại là một chuyện khác, đúng không? Viết bài là cục đất sét. Hỏi đáp, ngộ thành một tượng Phật(?)

 Cầu mong trời đừng mưa. Mãi mong bạn Huệ chưa tìm ra phương án hạ môn bài, dẹp tiệm. Nói một câu dở nhất thiên hạ: Xin cứ chân cứng đá mềm. Bảo trọng!

 Lê Thị Huệ: Cám ơn nhà văn Hồ Đình Nghiêm. 

TB: Đấy đã bày fim bộ Kung Fu: Bảo trọng! Thì đây cũng bắt chước, vai Thị Nở tân tòng Công Giáo hối lỗi: Giê Su Ma Lạy Chúa Tôi!

Ông già (đêm) Noel

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 21/12/2018 

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

tối hai mươi bốn chẳng biết ăn chi
mình người huế chỉ mặn món bún bò
thức này nên thời vào chiều tà hoặc ngày rạng
chơi rề-vơi-dông e nặng bụng năm canh

kinh cong chuông giáo đường cùng tuyết đổ
không bóng người đường lạnh vắng chùa bà đanh
nhờ nồi bún sưởi ấm vuông bếp chật
đèn chớp đỏ đeo cây thông mùi sả dật dờ

món ăn ba miền chỉ lạ riêng anh huế
ai đời mà bò bắp đi giao duyên chị giò heo
cứ đổ hô bò giống đực heo nái giống cái
âm dương hoà hợp nêm chút ruốc mặn mòi

thuở đầu xanh vô tội vạ ưa hát hỏng:
“bà già vuốt râu ông già
chiều chiều dắt ra bờ sông
hai người đang nói tâm tình
tự nhiên ông…” giờ nhớ sực
mới hay ai kia sớm đổi lời
chế ca từ trật lất từ bài jingle bells

và đăm chiêu đưa tay tự vò râu
má sấp nhỏ bữa ni đang vô lại sài gòn
ăn giáng sinh ngoài mình hồi nước rút
răng bao nhiêu tiền ngó không đủ ông ơi

ai cũng hỏi thăm việc chi mà đi lẻ bóng
đành đoạn để ông già cô đơn cho tuyết vùi
chuyện tình lan và điệp nên viết lại lời thoại
bị tiểu đường rồi cao huyết áp cản trở lưu thông

rứa đó, già rồi ai lại để bà vuốt râu
tra có hột thiếu chi việc để mần
bà có đòi nhổ lông mày mềnh cũng oải
bu như sam có nước mà nhồi máu cơ tim

ông già ngồi thu lu trong đêm nô-en
ba đứa con hồi chiều đã tới trao quà
thằng út giỡn già như ba thiệt vô tư lự
khỏi để tâm mấy cái vụ chui ống khói tặng đồ
tối nay tụi con đi ăn cùng anh em hãng xưởng
anyway
ba nấu bún bò cay thấy mồ
no thank-you

ông già đang nhớ bà già
chiều chiều đâu mặt nhai cơm
hai người đang tính viễn du
tự nhiên bà đi một mình

múc tô bún ngậm mà nghe
từ khi chúa chịu đóng đinh trên thánh giá
đầu tiên tui ăn lẻ bóng bữa chúa sinh ra đời
mụ vợ tui thày lay đi xa làm từ thiện
tui côi cút cũng góp phần an ủi chúng sinh

quà sấp nhỏ cho má cái máy xay sinh tố
tặng ba máy philips năm lưỡi cạo râu
kỉnh chung hai ông bà già bộ dao thớt
hôm nào con vợ chuyển bụng
má nhớ chạy lại giúp một tay nghen

giờ này buổi trưa em tới sài gòn chưa đó
vương cung thánh đường ngày nớ mình thì thầm
chúa quyền năng đã cho em vượt cạn
đứa con đầu mình đặt tên bình an
an bữa mô cho má leo lên chức bà
chăm nom cháu đôi ngày nửa tháng
để ba một mình xoay trở thì cũng “no star where”

sớm về nghe, không có râu thì để anh vuốt má
bún chồng nấu coi mòi rất trình độ mát tay
nhưng thiếu vợ, mặt ông già nô-en cũng chảy dài
ăn, không ăn, thì tắt đèn đi ngủ, một hai giờ sáng
nằm một mình máng cỏ lạnh ngứa gối chăn
về già có nhiều điều thật bất tiện
nhưng ngủ hai mình, an ủi ta có đôi
như chim liền cánh như cây liền cành
dù chim nhác chơi xuội lơ thu mỏ
dù cây thưa lá mãi sợ cành rung

nói dông nói dài không bằng nói thiệt
chúc mừng giáng sinh. ông già đi ngơi đây
bình an dưới thế cho những ai mình ên
lạy chúa con là người có tội
Nô-En và No Em.

Hồ Đình Nghiêm