Thơ không dễ cởi

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 26/10/2018 

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Cởi là lột bỏ, tháo ra. Khác với cỡi, là leo lên. Một ví dụ rõ như ban ngày: Đợi em cởi áo quần, xong rồi anh sẽ cỡi em. (Đằng ấy là bác sĩ thú y hở? Sao nỡ xem tớ là bò? Ăn no bò cỡi?)

Chốt lại, thơ nào phải y phục mà hăm he lột truồng? Tôi xin thú nhận, rất vụng về, loay hoay giữa hỏi, ngã. Chưa từng đưa tay cởi áo mỹ nhân cũng như mù mờ việc cỡi ngựa xem hoa.

Nhà thơ từng phân trần:

“Cởi đồ thì dễ nhưng thơ
thì không dễ cởi như đồ đâu em”.

Em dễ chịu thì không nói làm gì, gặp em khó tánh sẽ bắt bẻ: Ai biểu cởi đồ ra dễ, anh mà lạng quạng tui khẻ tay anh. Khẻ là lấy thước gỗ mà đánh, (chẳng biết dấu hỏi hay dấu ngã? Đánh nhẹ gọi bằng đánh khẽ?) Thế thì cũng tuỳ thuộc vào đối tượng mà phân trần, để tránh lôi thôi. Đối tượng của nhà thơ chừng như thuộc loại dễ bảo cả? (Bị lời thơ mê hoặc?). Nhưng lắm khi cũng:

“Sượng sùng không biết hỏi ai
Về nhà cũ đứng cổng ngoài chờ cơm”.

Nhà cũ ắt sẽ có vợ (cũ) ở bên trong. Dậm cẳng khi chờ cơm chín, nhớ ca dao có bàn qua “hoàn cảnh”:

… bây giờ lửa đã cháy lên,
lợn no con nín, tòm tem thì tòm.

Tòm tem súc tích, giàu có hơn chữ làm tình, nhỉ? Nhưng hình như nó mang chút vụng trộm, có vẻ “đi tàu nhanh”, có vẻ “mì ăn liền”, bạ đâu xâu đó. Nhà thơ có khi đã phân biệt rạch ròi ra hai vấn nạn giữa làm tình và làm thơ:

“Thơ tình khác với làm tình
khác nhau xa chẳng phải hình như đâu
thơ tình mê hoặc rất lâu
làm tình mê muội rất mau lẹ mà!”

Tác giả, nhà thơ ấy, thời gian gần đây “mê hoặc rất lâu” trên hầu hết các diễn đàn văn chương hải ngoại. “Chẳng phải hình như đâu”, người đọc đã quen thuộc tên tuổi Nguyễn Hàn Chung, vị sứ giả mang duy một nhiệm vụ: Phóng khoáng trao gửi ra giữa đời vỏn vẹn một chữ Tình, sau khi nhìn ngắm Tình qua nhiều góc cạnh kèm với chút thật thà, chút bông lơn, chút trào phúng mà đa phần là rút ruột răn đe, kế đến chúi mũi chúi lái vào như kiểu ngày mai đã tận thế. Trong nước kêu bằng “chơi không khoan nhượng” hoặc “ăn chơi không sợ mưa rơi”. Chữ Tình dường như muôn đời thích “chăn gối” với thể thơ lục bát. Và nhà thơ Nguyễn Hàn Chung đã vừa đích thân đứng ra se duyên cho anh Sáu Tản chung đôi với chị Tám Thần. Trang 29 có bài Chèn:

“Em từ
chèn
khít
lên tôi

Hai thiêu thân
múa
cặp đôi lạc bầy

Vẫn còn
hở
dấu vân tay

Cho nhau
chèn
thế gian này
vào trong”.

Chèn thường đi với ép. Ngày xưa, mấy cô gái thích nói: Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép em! Đó cũng là lời phân bua của các cậu con trai, không đổi nội dung. Cả giống cái lẫn giống đực đều xài chung được, chẳng sai văn phạm. Nó có tản thần không? Khi người ta sợ hãi cùng cực, tột độ, ví như vừa nhát thấy ma, mặt tái nhợt, nói ú ớ, vấp váp. Thời khắc trôi (chừng tàn một nén nhang?) lúc đó kẻ vô phúc kia mới lại thần hồn, tìm được sự tỉnh trí. Để giải thích về cái thót tim chợt va vấp trong sát na kia, người ta thường dùng tới chữ: Tản thần.

Nguyên trạng là thế, nhưng tản thần chẳng chịu dậm chân một chỗ. “Nó” hăm hở đi xa để trên đường tình cờ đối mặt với một dung nhan cực kỳ diễm lệ, người ta cũng chỉ biết ú ớ bình phẩm: Đẹp tản thần!

Khi người nữ đã đẹp tới mức tản thần thì á hậu hoặc hoa khôi cũng đành gạt lệ thua buồn. Đẹp tản thần đứng mút đầu này trong khi ở mút chỉ cà tha kia là xấu đến ma chê quỷ hờn. Trong tác phẩm Cung Oán dài tới 356 câu của Nguyễn Gia Thiều có câu bàn tới vẻ đẹp từa tựa tản thần, chỉ bóng gió thôi: “Tây Thi mất vía Hằng Nga giật mình”. Cổ thi thường ỡm ờ thế, tả cảnh mây mưa chỉ ngắn gọn có đôi hàng: “Thôi, chuyện vợ chồng thì ai nấy cũng đã tường, kể ra làm gì cho tốn giấy”. Tả người đẹp vén xiêm y ngồi đái sau vườn đêm: “Chị hằng trông thấy liền đỏ mặt mà trốn sau đám mây đen!”

Tản thần theo cách luận chuyện của nhà thơ Nguyễn Hàn Chung thì khó có ai “dễ cởi đâu nghe”. Bạn hãy tạm quên cái nhan có vẻ “tản thần” đầy đe doạ nọ, thử đọc một bài có dính tới “lục bát tản thần” hoạ may ngộ ra, bài Tự Ngôn Thơ:

“Chuyên tâm lục bát tản thần
Không ham cày xới mấy tầng thanh cao

Trữ tình bờ bụi ca dao
Rong chơi tự sự tầm phào lâng lâng
Đôi khi gieo thả rần rần
Cũng là hơi hám cách tân bộn bề

Những gì cấm kị u mê
Tung ra xả láng chẳng hề sợ nhau
Thuốc nào vơi bớt niềm đau
Là ta chích choác cần đâu e dè

Chuyên tâm lục bát vỉa hè
không cam bóng sáo mòn đè lên thơ”.

Có thể đây là một tuyên ngôn, nhằm xác định chủ đích của tác giả. Quan niệm của nhà thơ, tự mình khoanh vùng và rõ là ông chưa từng phụ bạc ca dao. Một đôi bài khiến tôi nhớ qua Bùi Giáng (phân trần), dăm ba bài khác lại tưởng tới Nguyễn Đức Sơn (bông đùa). Ngay cả người luôn tìm cách làm mới thơ, Thanh Tâm Tuyền cũng có khi (1963) tự nhận:

“hồn nhiên tôi trở thành thi sĩ ca dao
đêm hôm qua mưa luồn mái dạ
mưa ngủ cùng những kẻ cô đơn
bao nhiêu xa cách không bằng giận hờn
đừng giận anh em hỡi mưa trời còn thương anh

mưa bên kia sông mưa nửa dòng nước
ta thương cô mình như bước nhớ chân”.

Cái khác biệt là nhà thơ Thanh Tâm Tuyền “làm ca dao”, mượn điển tích trong ca dao mà khi thuật lại, không dụng tới thể lục bát như thường hằng. Và lục bát của Nguyễn Hàn Chung hôm nay đang đứng về phía Luân Hoán, Hoàng Lộc, những bậc tài hoa vẫn muốn tránh xa sự nhàm chán mà lục bát thường gặp phải khi lỡ rơi vào tay những kẻ vừa nhập môn. Chợt nhớ ra, ba người vừa nhắc tới đều được sinh đẻ ở đất Quảng Nam. Nơi có lẫy lừng Bùi Giáng:

“Ta đi gởi lại đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù”.

Sương mù có phải là cõi thơ? Sương mù sẽ vây khốn một đứa như tôi nếu hắn rục rịch “chích choác cần đâu e dè”:

Sáu tám tưởng có bấy nhiêu
Ai ngờ buổi nọ thơ kêu tản thần.

Tôi nhìn ra chút tản thần ở bài Rặn Thơ, in ở trang 183:

“Anh ngồi rặn
méo
tàn nhang

Em ngồi rặn
nhíu
hai làn môi cong

Chúng mình
rặn
quá long đong

Nhưng còn
rặn
nghĩa là lòng còn đau”.

Tản thần khiến tôi chẳng ngán, tôi yêu thích giọng điệu đặc trưng của riêng Nguyễn Hàn Chung qua bài Thời Tiết:

“Gió đâu có biết buồn vui
có khi thành bão giết người
như chơi

Mưa đâu có phải của trời
có khi trần trụi buông lời
phù vân

Sấm đâu có phải là thần
có khi đánh xuống mộ phần
hồn ma

Sét đâu có phải đàn bà
có khi cũng phóng tia ra
phũ phàng

Gió mưa sấm sét ngỡ ngàng
từ nghe chúm chím điệu đàng

Em yêu…”

Mượn thời tiết để luận tới “Em yêu”. Hết nắng mưa xong thì Để Trả Lời Một Câu Hỏi:

“Yêu chay là
kiếp nạn
tôi

Mắc chi
em
trả treo lời
thị phi

Tôi yêu gái đẹp
làm gì

Chỉ yêu
gái hết
dậy thì

Như em”.

Cõi thơ Nguyễn Hàn Chung bộn bề cảnh giới khó lường giữa thực hư, ma quỉ chận đường hoặc ong bướm vờn quanh, tựu trung đều dắt người đọc tới cuối đường “Tình”. Nhiệt tình dắt, vui thú dắt, hướng đạo sinh ấy còn biết đùa cho lữ hành vơi bớt nhọc nhằn. Chặt trái dừa tươi: Ngọt tản thần chưa? Ngậm hột ô mai: Chua tản thần chưa? Lên núi cao dòm xuống triền vực: Đã chóng mặt tản thần chưa? Cứ đi đi về về những lời hỏi han mà đa số là nhắm tới hỏi riêng cho cô em, bà chị, vợ người vợ ta, không thể gom toàn vẹn, chập chùng biết mấy là đủ bóng hường nhan? Bài Tôi Đi Tôi Về là một bài hay, hay khó bề phân giải:

“Tôi đi họ đổi thành tên
tôi về ăn lá rau dền vẫn ngon
tôi đi xe, dép ít mòn
tôi về cái lớp da non phản thùng

Tôi đi từ tạ ngủ mùng
tôi về muỗi vẫn tình chung truy tầm
tôi đi bùn hết níu chân
tôi về xế hạ cởi trần tắm mưa

Tôi đi ra chỗ cây dừa
khắc con tim với câu thơ khật khùng
tôi đi râu tóc rối tung
tôi về bộ dạng yên hùng xuống trai

Tôi đi như bất kỳ ai
Tôi về chẳng giống ai ngoài giống tôi”.

“Lục bát tản thần” gom đúng hai trăm (200) bài thơ chất trong bề dày 242 trang. Layout đẹp, rõ ràng, mát mắt. Bản Sắc Việt in lần đầu, tháng 9, 2018. Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung từng dạy học tại Quế Sơn (1971-2006). Trước đây nhà thơ từng mang các bút hiệu: Nguyễn Phong Hàn, Nguyễn Đức Mù Sương. Hiện định cư tại Houston, Texas. Tác phẩm đã xuất bản:

Tìm Tôi Trong Bóng (1999)
Nói Hộ Phù Du (2002)
Nghịch Lưu Của Tuổi (2011)
Dự Cảm Rời (2016)
Lục Bát Tản Thần (2018)

Góp mặt trong “40 năm thơ hải ngoại” (2017) và “Hư Ảo Tôi” (2018).

Cộng tác với hầu hết các tạp chí (báo giấy) cũng như đăng thơ thường trực ở tất cả các trang báo mạng. Là một nhà thơ không mỏi mệt ăn nằm với thi ca, đặc biệt chung tình cùng lục bát. Có bài mang tên Dục Tánh, tâm sự như sau: “Mê vui
thưởng thú tinh thần

Có quên
cái sợi rần rần
thịt da

Tới giáo đường hỏi
đức cha

Vô ni viện hỏi
sư bà
chân tu

Chắp tay
lòng vẫn
tối hù

Khuya về nghe
tiếng con cu
gáy cườm”.

Như thế, tôi e là nhà thơ vẫn chướng, vẫn chấp nê, vẫn lầm đường lạc lối, vẫn chưa ngộ, vẫn lầm lủi đi giữa đường trần, giông bão thì nhiều mà an lạc vốn ít ỏi. Chừng nào nhà thơ tự nhận “lòng vẫn tối hù” thì chừng đó người yêu thơ còn đón đọc thêm những sự tình căng thẳng khác, mà qua tài nghệ bông lơn của ông Nguyễn Hàn Chung ta nghe nhận một sự vỗ về, đơn sơ nhưng chân tình. Ở đời chẳng việc gì phải rao giảng triết lý cả, bởi những thứ quanh mình vốn trần trụi đến tản thần. Nhớ có khi nhà thơ tự thú:

“còn tâm sự được còn phiêu
không tâm sự được cũng liều mạng thơ”.

Cá nhân tôi vẫn luôn mong mỏi sự giấn liều của nhà thơ. Mai này sẽ có một trường thi dài hơn 2018 câu hiện hữu mà tác giả Nguyễn Hàn Chung sẽ viết nên, một thứ ca dao rất mới của thế kỷ 21 không thể đành đoạn những vần ca dao súc tích của cha ông để lại. Hãy đặt lòng tin vào viễn ảnh ấy. Hãy cùng tôi phiêu bồng vào cõi ngỗn ngang tâm sự ấy, nơi cất giữ tiếng nói của một nhà thơ 67 tuổi đời mà tấm lòng thì mãi ăn đời ở kiếp, cởi ra, lộ hàng với phơi phới thanh xuân.

Hồ Đình Nghiêm

Thắp tạ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 24/05/2019 

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Từ trái: Tô Thùy yên, Hồ Đình Nghiêm và Đinh Cường

Thắp Tạ là tập thơ thứ hai của thi sĩ Tô Thuỳ Yên phát hành vào năm 2004.

mây bay bay như những vẫy biệt…
nàng đứng cho tàn như một nén nhang.

Với tôi, người đại diện cho hội hoạ: Hoạ sĩ Đinh Cường. Đại diện cho thi ca: Thi sĩ Tô Thuỳ Yên. May mắn là có khi tôi được ngồi chen vai thích cánh với nhị vị. Và còn buồn đau nào hơn khi, hai người tôi ngưỡng mộ đã lần lượt kẻ trước người sau bỏ tôi ở lại với bóng tối. Mới hưởng lấy hơi ấm từ thân nhiệt toả lan, giờ lạnh ngắt như “Lúc tàn khuya. Nhà hương hoả tối mốc. Còn ai không, có gọi chỉ thêm buồn…”

Tranh Đinh Cường nhốt chặt sự thơ mộng, thì thơ Tô Thuỳ Yên mở rộng một cảnh quang hiu quạnh, rờn rợn đến thắt lòng: Đánh mất trong đành đoạn, tang thương trong bể dâu, vắng bặt nụ cười khi nhìn lại. Sau cùng là một lìa xa.

Cái chết tru rân giờ nguyệt tận…
Máu bung từ mỗi lỗ chân lông,
Mọi người nghe chính mình kêu rú…
Liệu sáng mai còn ai nữa không?


Trong thơ Tô Thuỳ Yên chất chứa ngập đầy những dấu hỏi, bao gợn lòng chẳng thể giải đáp nguôi ngoai. Một kẻ hạnh phúc là kẻ đó không hề đơm đặt, thổ lộ ra đôi điều ẩn khuất? Dấu hỏi nào mà chẳng gây cảnh bi thương?

Ở bài “Mòn Gót Chân Sương Nắng Tháng Năm”:

Chẳng hẹn mà sao vẫn đợi nhau?
…
Bắt gặp lòng ta bay đảo điên?
…
Tên đoá hoa này, ngươi nhớ chăng?

Ở bài “Tưởng Tượng Ta Về Nơi Bản Trạch”:

Ai thở dài chi cho não nuột?

Ở bài “Bất Tận Nỗi Đời Hung Hãn Đó”:

Ồ, sao tất cả lặng trang?

Ở bài “Chim Bay Biển Bắc”:

Ngọn cỏ cần chăng danh phận cỏ?
…
Nói khác đi điều đã quá xưa?
…
Kiếm hoài công cái có nơi ta?

Ở bài “Goá Phụ”:

Em khóc hoài chi lẽ diệt sinh?

Ở bài “Mùa Hạn”:

Bao giờ mây sẽ chuyển về đây?
…
Hạnh phúc chan hoà lên cỏ cây?
…
Áo chưa người giữ để xin buông?
…
Người khách xa nào sẽ đến đây?
…
Nhà ta biết có còn nguyên vẹn?
Tái hợp nào không nhuốm ngậm ngùi?

Ở bài “Tàu Đêm”:

Thành tàu sao chẳng vỗ mà ca?
Mai này xô giạt về đâu nữa?
…
Đất lạ, người ta sống thế nào?
…
Có xót thương người qua biển dâu?
…
Nhớ thương nào giấu thấm vành khăn?

Ở bài “Ta Về”:

Một đời được mấy điều mong ước?
…
Mười năm, cổ lục đã ai ghi?
…
Phải, ôi vàng đá nhắn quan san?
…
Mười năm, cây có nhớ người xa?
…
Thân thích những ai giờ đã khuất?
…
Đêm buồn, ai nữa đứng bờ ao?
…
Ai đó trong hồn ta thổn thức?

Ở bài “Đi Về”:

Đi về suốt bãi sông Hằng, gặp ai?
Lạnh trời, đâu lửa hơ tay?
…
Sang đêm, ai nữa đi về, gặp ai?

Ở bài “Người Ở Lại”:

Có phải người buồn hay ngó xuống?
…
Chỉ có bóng mình sao?
…
Đời còn chỗ nào vui?
…
Để đến nỗi ngồi hoài bên giếng cạn?
…
Tàn đời mạt kiếp liệu còn gặp?

Ở bài “Nỗi Đợi”:

Vương tử, sao đời đến nỗi vậy?
…
Quân rã, còn ai điểm trống canh?
…
Hỏi ai, ai có là tri kỷ?
Ai có buồn chớp bể mưa nguồn?
…
Lệ nào, ôi chẳng của tiền nhân?

Ở bài “Thức Giấc Trong Biệt Giam”:

Những sớm hôm mưa nắng thể nào?
…
Có nhớ trong này chờ cháy ruột gan?

Ở bài “Giấc Hoành Môn”:

Đất bạc phước rồi chăng?
…
Đạp vô thường đổ nát mà đi?
…
Chọn lấy cho mình một cách chết?

Ở bài “Ánh Tàn Dư”:

Ôi điều ước cùng thiên thu hoạ hoằn người sực nhớ ra chưa?
…
Ôi có hừng đông nào chẳng làm ta muốn khóc?

Những dấu hỏi. Hỏi là cốt hỏi vậy thôi vì biết chắc chẳng có lời đồng vọng, hay nói khác đi, bạn đã ngộ phần nào ở nỗi im thin thít kia.

Khi còn ngồi bên nhau trong gang tấc, tôi có lần e dè đưa ra một ước muốn với hai anh: Xin cho hỏi thăm mười câu về công việc tạo hình, ý nghĩa đích thực khi làm ra cái đẹp mà hai anh đã từng và vẫn còn theo đuổi. Hoạ sĩ Đinh Cường cười hiền: Anh em trong nhà e khó ăn khó nói. Thi sĩ Tô Thuỳ Yên vỗ vai: Giờ mình nên “nghe im lặng mà sống, nhìn trời đất mà vui”, xin Nghiêm bỏ quá đừng làm khó anh nha.

Ai trong chúng ta cũng có khi từng lỡ một chuyến tàu, xe đò, máy bay. Ngày ấy, nếu tôi một tâm một dạ sắt son đòi hỏi cho kỳ được thì Đinh Cường cũng như Tô Thuỳ Yên đã vị tình đáp trả sự nhiều chuyện của chú em. Một lần thôi nhé, rồi mãi mãi chia xa. Câu đó vĩnh viễn đã không thốt ra.

Giờ đây, tôi xin chép lại một đoạn đầu trong bài “Giã Biệt” để nhớ anh:

Khuya đó, anh lên đường,
Từ bỏ căn nhà,
Từ bỏ quê hương…
Tất cả không còn của anh nữa.

Anh lên đường, cúi mặt lên đường
Giả tảng không nhìn nỗi sỉ nhục.
Phi trường bị đánh thức
Rộn vội cho xong
Để còn ngủ gỡ lại.
Anh ngậm nghẹn lời từ biệt,
Liên tưởng việc xe chôn kẻ tội đồ
Dấp dúi về khuya
Ở một nơi nào không phải là thánh địa.
Bạn bè anh còn sót lại kể chẳng mấy người
Không tiễn đưa anh,
Ý chừng ngại nhắc nhở…

Ôi những trang gia phả phiền hà,
Người ta đã xé bỏ,
Hòng đoạt trọn gia tài,
Vứt lông lốc ra ngoài cho gió cuốn.

Thi sĩ Tô Thuỳ Yên ơi, tôi thật tình “ngại nhắc nhở”. Nhưng khi anh thực sự vắng mặt, cầm lòng không đậu tôi buộc phải lèm bèm (chữ của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền) đôi câu. Tôi vẫn nhớ khuôn mặt rám nắng của anh hôm đó, nhớ nụ cười rộng miệng của anh khi nghe tôi giới thiệu vợ mình. Và anh có ngay một bộc lộ thân tình: “Ủa, dzậy đây là Bích nhỏ, Bích lớn ngồi kia kìa”.

Xin thành thật chia buồn cùng chị Bích (lớn). Lời ấy nghe thật khuôn sáo, bởi tôi nhớ lời anh Võ Đình dạo nào: “Không ai chia được (cùng mình) nỗi mất mác lớn lao ấy!”

Lại nhớ bài thơ “Anh Hùng Tận” có bốn câu:

Ta gạn dăm lời thơ tặng bạn
Dẫu từ lâu bỏ việc văn chương.
Thiệt tình, tên bạn ta không nhớ
Nhưng mà trông mặt thấy quen quen.

Tên tôi, anh từng không nhớ. Bây chừ cũng thôi trông thấy quen quen.

Cánh cửa lớn lao nào
Mở ra và đóng lại
Kín như bưng,
Tưởng chừng không có cửa.

Cánh cửa này, ta cũng sẽ đi qua.

Thi sĩ Tô Thuỳ Yên vừa khuất bóng sau cánh cửa vội đóng. Anh mất, văn chương viết tiếng Việt từ nay cũng khép lại một con đường. Lộ trình riêng anh khai mở, những con đường khác chưa định hình ra một danh xưng lớn lao như anh. Vĩnh biệt nhà thơ, với tôi, độc cô cầu bại.

Hồ Đình Nghiêm

Tha hương ngộ cố tri

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm 

Posted 15/01/2018 

Post by Sơn râu 28 Feb 2028

Hồ Đình Nghiêm thưa chuyện cùng nhà văn Võ Kỳ Điền
Nhà văn Võ Kỳ Điền

Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Mến chào anh Võ Kỳ Điền. Đầu tiên xin được chia vui, niềm vui khi nhà văn vừa in xong tác phẩm mới. Bấy chầy sức khỏe anh ra sao? Có sung như khi trải lòng bằng chữ viết?

Võ Kỳ Điền (VKĐ): Cám ơn Nghiêm đã hỏi thăm. Tới tuổi nầy hình như anh đã già. Anh chỉ nói là hình như thôi nghe, tuy vậy trong bụng cứ nghĩ mình còn trẻ măng. Anh em mình có một cái sướng là khi nào muốn già thì già mà muốn trẻ thì cứ tha hồ cho trái tim đập nhịp phơi phới như lúc mười tám vậy đó. Thời gian của anh bây giờ hết để dành cho nhà thuốc đến nhà thương, rồi sẽ có một ngày không xa đến nhà dưỡng lão… Nhưng càng không đi ra ngoài nhiều như xưa thì lại gần gũi tới bàn viết, hết đọc cái nầy thì viết cái kia, không viết được chữ nào thì giấy nó trách mực nó buồn, nhờ vậy mà có lại niềm vui của mấy chục năm về trước. Đã lỡ vướng vào cái nghiệp văn chương bút mực dù ít dù nhiều rồi, làm sao mà đành lòng không liếc ngang liếc dọc trở lại cho được, phải không Nghiêm?

HĐN: Có khi nghe anh nói “thiệt là mang nặng đẻ đau”. Anh có thể ta thán thêm về nỗi khổ ấy cho những người (ví dụ như tôi) đang chuẩn bị sanh con? Để hắn liệu thần hồn mà xoay trở, dù biết mỗi người đau riêng một kiểu. Cảm ơn kinh nghiệm của anh. Anh xuất thân là một nhà giáo. Anh là người thích đọc cổ văn, giỏi chữ Hán chữ Nôm. Những vòng “cương tỏa” ấy có làm khó anh khi bày giấy bút ra để gửi tấc lòng? Hình như anh tự khắc nghiệt với chính mình khi viết?

VKĐ: Mỗi bà bầu, mỗi người đau một kiểu. Không phải tới bây giờ anh mới rên đâu, ngay cả ba mươi năm về trước anh đã từng than thở rên rỉ rồi. Anh thấy các bạn viết sao mà dễ dàng, cứ vài ba tháng có một hay cuốn thơ hoặc truyện ngắn, truyện dài ra mắt. Nghe thấy mà sốt ruột. Còn anh thì có nhiều khi chỉ một cái tựa hay một câu, anh viết cả tuần, suy nghĩ đắn đo, lựa chữ nầy, chọn chữ kia, đổi tới đổi lui từng ý, từng tứ… Thành ra thời gian sáng tác của anh phải tính bằng năm hoặc phải cả chục năm, rồi tới cuốn “Câu Hỏi Kiếp Người” nầy tính ra là hai mươi lăm năm. Hình như là anh đi lạc vô khu vườn văn chương của các bạn rồi. Anh có ông anh bên Mỹ thương thằng em nầy lắm và bài nào anh viết, ảnh cũng tìm đọc say mê. Hình như đối với ảnh, nhà văn Võ Kỳ Điền là tài hoa số một. Tuy vậy nhiều lần ảnh điện thoại qua hỏi – Mầy làm cái gì mà chậm lụt quá vậy, tao đợi mấy tháng rồi mà không thấy được bài mới nào?

Trời đất, ông anh cứ tưởng em của ổng giỏi như hàng xóm. Không được vậy đâu anh ơi, anh cho em phân trần một chút, một là em thuộc mẫu người chậm rề, không lanh lẹ bằng người. Hai là em bị ông Lưu Hiệp đời Tấn cản trở. Ông nầy đã viết trong cuốn Văn Tâm Điêu Long, quyển phê bình văn học đầu tiên của Trung Hoa, hồi thế kỷ thứ 6, trong đó có chỉ tám cái bịnh của văn chương (Văn Chương Bát Bịnh). Thành ra khi viết em cứ sợ hết bịnh nầy tới bịnh kia, nên không dám viết lẹ, phạm lỗi… Nào ngờ vì sợ bịnh nên mắc thêm một bịnh mới là bịnh sợ sai sót, rồi bịnh làm biếng, đó là một vài lý do riêng tư, không viết được nhiều. Nghiêm và bạn đọc thông cảm cho anh nghen.

HĐN: Anh có từng đơm ý nghĩ: Tại sao bạn văn của mình hồi đó đông vui nhiệt náo mà giờ này lạnh ngắt vậy nè? Thưa anh, điều gì khiến xảy ra tình cảnh ấy? Anh vắng mặt quá lâu mới trở lại sinh hoạt “ở chốn nhân gian không thể hiểu” (Du Tử Lê?). Thưa anh, sông có khúc người có lúc. Lúc anh giấu mặt đi ắt là khi anh phải đương cự với phong ba. Sóng gió chừng nghe êm, phải không thưa anh?

VKĐ: Nghiêm ơi, mỗi người có một thời, dài ngắn khác nhau, không thời nào giống thời nào, không chuyện nào giống chuyện nào. Đừng bao giờ trách người mà phải coi lại mình. Mình sống khép kín, xa lánh bạn bè, gậm nhấm nỗi đau, ngay cả chuyện mình mình còn không hiểu rõ thì bạn làm sao mà hiểu được, làm sao mà giúp đỡ mình. Ngày xưa Đức Phật cầm một hột muối đưa cho một đệ tử và nói – Con coi nè, đây là hột muối mặn lắm. Cậu đệ tử ngây thơ hỏi lại – Dạ thưa đức Phật, mặn là sao, con không hiểu? Đức Phật tìm mọi cách để giải nghĩa. Cậu đệ tử vẫn không biết, cuối cùng Đức Phật nói – Con liếm đi thì biết liền. Như vậy phải sống trong nỗi đau thì mới biết đau là thế nào. Kết luận với Nghiêm là lỗi của anh chớ không phải của bạn hay lỗi của cuộc đời. Ý niệm tác thành định mệnh, mình muốn nó như vậy thì tương lai mình sẽ như vậy.

HĐN: Không chừng mà gần hai chục năm đã trôi qua, nhớ về ngày cũ nọ tôi có làm cuộc phỏng vấn anh khi người ta nhiễu sự đẻ ra cụm chữ “văn chương miệt vườn”. Tôi nhớ là anh đã phản bác việc phân biệt đầy cắc cớ đó. Lâu quá rồi, anh còn nhớ những quan điểm của anh? Quên nó đi, hay nên nhắc lại chút xíu?

VKĐ: Cái vụ “Văn Chương Miệt Vườn” đó rầm rộ một thời gian, trong giai đoạn trước đây và bây giờ hình như đã lụi tàn. Thực sự thì anh không thích khi gọi một nhà văn hay một nhà thơ kèm theo chữ nầy hay chữ kia. Ví như nhà thơ hải quân, không quân, bác sĩ, dược sĩ, miệt vườn, tình yêu, rừng núi, hầm bà lằng gì đó… Tại sao phải thêm nghề nghiệp riêng tư vô chỗ nầy. Trong nghệ thuật chỉ có hay hoặc dở. Chấm hết. Thời gian sẽ làm nên giá trị của mỗi người. Tác phẩm viết ra, năm năm, mười năm, ba bốn chục năm sau người ta còn nhắc tới, tên tuổi còn nghe người ta nói tới thì người đó thành công được. Còn mới tháng trước qua tháng sau không ai nhắc tới nữa thì dầu có quảng cáo rầm rộ, đặt tên miệt nầy miệt kia… thì cũng đâu có giá trị gì… Cục đá quăng xuống nước phải có tiếng vang, lớn hay nhỏ là tùy tài năng cao hay thấp. Chỉ có bấy nhiêu thôi. Không phải ở cái quảng cáo, cũng không phải ở cái danh xưng. Ngọc thì cứ là ngọc và đá thì dù đặt tên nó là gì đi nữa thì trước sau gì cũng là đá thôi.

HĐN: Dạo đó, đôi ba người trong giới phê bình văn chương hải ngoại đã xếp anh vào nhóm “những nhà văn chống Cộng”. Thưa tác giả tập truyện “Kẻ Đưa Đường”, nhà văn nghe vậy và nhà văn có ý nghĩ gì không?

VKĐ: Có lẽ điểm nầy đúng và anh cũng thích như vậy. Từ nhỏ anh không có ý nghĩ mình sẽ viết văn và mơ mộng sẽ trở thành nhà văn, điều nầy quá khó đối với anh. Nhưng cuộc biến động sau 30-4-1975 làm đất nước tan tành và cuộc sống toàn dân bị xáo trộn nặng nề khiến anh trăn trở nghĩ suy, cảm thấy mình phải có bổn phận góp lên tiếng nói chống sự áp bức độc tài, tàn bạo của chủ nghĩa Cộng Sản. Cho nên trong lời tựa cuốn “Kẻ Đưa Đường” anh đã viết: “Tôi nghĩ rằng văn chương có nhiều loại nhưng theo tôi thứ văn chương đích thực phải là tiếng nói của kẻ yếu chống độc tài, áp bức, bạo lực, bất công bất cứ từ đâu đến. Nó phải chống bất cứ hình thức nô lệ nào, chống sự ngu xuẩn, hầu đưa CON NGƯỜI vươn lên từ tối tăm đổ vỡ.”

Anh cũng đồng ý văn chương là một bộ môn nghệ thuật. Nhưng nếu nghệ thuật nào phản ánh được thời thế có lẽ nó làm cho cuộc sống thăng hoa hơn. Anh không dám phê bình hay so sánh với các quan niệm khác về việc nầy. Có bạn chê anh viết dở vì kém khía cạnh nghệ thuật. Anh cám ơn lời nhận định thẳng thắn nầy và cũng biết rõ ràng như vậy nhưng không thể nào viết khác được. Tài năng anh chỉ có chừng đó, không thể nào bắt chước bạn khác được…

HĐN: “Pulau Bidong. Miền Đất Lạ” là cách thu xếp những chương đời đầy lôi cuốn, những nhân vật thật sống động lui tới thoải mái trong các trang sách do bởi cách dựng chuyện thật cao tay nghề của tác giả. Tôi chưa thể là người phê bình, tôi chỉ là một độc giả tầm thường, nhưng tôi khóc cười theo lối dẫn đắt của anh. Cho phép tôi được tò mò, cuốn sách đó hình như phải chứa tới 90 phần trăm của sự thật?

VKĐ: Bạn nè, cuốn “Pulau Bidong Miền Đất Lạ” nầy mới nhìn cái nhan đề thì bạn đọc cứ tưởng là một quyển hồi ký vượt biên, nếu tinh ý bạn sẽ thấy có cái gì không phải. Rõ ràng nó là cuốn kể chuyện vượt biên từ Việt Nam đến Mã Lai nhưng khi đọc sẽ thấy mỗi chương là một truyện ngắn, viết không phải theo loại bút ký, phóng sự mà viết theo bút pháp của một nhà văn. Khi viết anh đắn đo, phân nửa dành riêng cho chuyện vượt biên, một biến cố lớn của đất nước mà những thuyền nhân là nhân chứng sống của lịch sử đương đại, còn lại nửa kia dành cho văn chương tâm tình, để cho cõi lòng mình xô dạt theo sóng nước đảo xa, lẫn trình bày quan niệm sống sao cho đời mình đẹp đẽ, sống có ý nghĩa. Bao nhiêu là sự thật, bao nhiêu là hư cấu, xin thành khẩn khai báo, các sự kiện đều là thật, còn cái gì có thể thêm tại sao mình lại không thêm, nêm thêm một chút tiêu, một chút muối, một chút đường, bỏ thêm vài cọng hành, cọng ngò thái nhỏ, nồi canh văn chương chẳng cũng thơm ngọt hơn sao?

HĐN: Tôi cũng là một thuyền nhân nhưng thú thật là tôi bất lực khi muốn chia sẻ niềm đau với những số phần không may. Do vậy tôi xin cảm ơn anh, ít ra thì mai này người sau sẽ hay biết dân tộc mình đã có lúc phải chịu qua một thảm trạng như vậy. Giả như tôi nói “sinh bất phùng thời” thì anh có góp thêm cho tôi một ý tưởng nào khác chăng?

VKĐ: Nghiêm đừng nghĩ như vậy, anh em mình may mắn biết viết chút đỉnh, người viết được chuyện nầy, kẻ viết được chuyện kia, làm sao mà nói ai nhiều ai ít được. Ngay cả bạn đọc không viết nhưng ủng hộ việc làm của anh em mình mấy chục năm nay cũng là đáng quý rồi. Trong một khu vườn không phải chỉ có một thứ cây, cũng không phải chỉ có thuần một loài hoa cỏ. Nếu giống hệt nhau thì buồn lắm, phải có hoa nầy hoa kia, trái nầy trái nọ thì mới đúng nghĩa một khu vườn đẹp muôn hồng ngàn tía. Còn nếu chỉ toàn một loài vạn thọ… thì chán chết, ai mà mê.

Anh đôi khi cũng có nghĩ đến câu “Sinh bất phùng thời” có lẽ đúng một lối nhìn nào đó. Anh, Nghiêm và bao nhiêu đồng bào cùng thế hệ mình hầu như không có tuổi trẻ. Ba mươi năm chiến tranh tàn khốc, đổ vỡ, tang thương, chết chóc suốt ngày rình rập, tuổi hoa niên vụt qua hồi nào không hay… rồi xứ lạ quê người. “Vui là vui gượng kẻo là. Ai tri âm đó mặn mà với ai…”

Nhưng trời đất công bình lắm Nghiêm ơi, mất cái nầy được cái kia. Anh em mình, đồng bào mình mất rất nhiều và được cũng rất nhiều. Thanh niên mình ở hải ngoại nè, đã có biết bao nhiêu là nhân tài. Mấy triệu người thuyền nhân học hỏi được bao nhiêu là cái hay cái lạ của thế giới. Văn minh như vết dầu loang, nó đã loang về tận quê hương và anh để ý thấy đồng bào trong nước có nhiều suy nghĩ mới đáng khích lệ… Lúc nào anh cũng hy vọng một ngày tươi sáng của đất nước, của dân tộc.

HĐN: Bây giờ tuổi anh đã cao, về già vui thú cùng văn chương là giải pháp thỏa đáng nhất. Nhưng… nhưng thưa anh, một nhân vật trong Tam Quốc Diễn Nghĩa từng than: “Ta không phụ người sao người nỡ phụ ta”. Cuộc chơi này xem chừng đang phụ mình, anh có thấy vậy không? Hay anh nghe theo Nguyễn Du: “Rằng: Trăm năm cũng từ đây, của tin gọi một chút này làm ghi”.

VKĐ: Anh hoàn toàn không nghĩ tới khía cạnh bị cuộc đời hay văn chương phụ và không hề trách cứ ai một điều gì. Anh đạo Phật nhưng rất thích câu của Thiên Chúa. Bất cứ trường hợp nào khi bị thất bại, suy nghĩ tới nghĩ lui, nghiền ngẫm cho thấu đáo thì té ra – “lỗi tại ta mọi đàng”. Quả đúng vậy.

HĐN: Mang nặng đẻ đau. Sinh xong thì buộc phải có thời gian hậu sản. Thưa nhà văn Võ Kỳ Điền, trong lúc dưỡng sức anh có dự tính, có mơ mòng về một giấc mộng nào không? Về văn chương cũng như về thời cuộc? Tôi có dọ hỏi nhà thơ Bắc Phong, anh ấy lạc quan tin rằng rồi quê hương sẽ đổi thay. “Kẻ Đưa Đường” nghĩ sao?

VKĐ: Anh cũng hy vọng như bạn Bắc Phong, chuyện đất nước khi lên thì phải xuống, khi xuống thì phải lên. Từ bên Tây tới bên Tàu có triều đại nào bền vững muôn đời đâu. Theo Dịch lý thì “vật cùng tắc biến, khí mãn tắc khuynh”. Chuyện đời phải thay đổi, không có bất cứ cái gì đứng yên hoài được. Chỉ có một ước mong anh đã viết trong câu kết bài “Cây Sầu Riêng Vườn Cũ” là sau khi đất nước thay đổi thì “… cầu trời cho nó đừng quá đổ nát tang thương”. Nhưng mà Nghiêm ơi, mỗi ngày anh đọc báo bên nhà, thấy nhiều chuyện hằng ngày xảy ra trên quê hương… mà muốn khóc. Làm sao bây giờ, đành phải chờ thôi…

HĐN: “Dùng dằng chưa nỡ rời tay, vầng đông trông đã đứng ngay góc nhà”. Thốt lời tạm biệt cùng anh đây. Nếu tâm sự chưa đã, thì xin anh chia sẻ một lời sau cùng.

VKĐ: Anh em mình gặp nhau phương trời nầy, được độc giả thương mến bao nhiêu năm, được bạn bè sẻ chia ngọt bùi, tất cả là do nghiệp duyên của bao kiếp trước, không phải tự nhiên mà có được. Để kết thúc cuộc đối thoại thân tình nầy anh xin mượn hai câu thơ của Hồ Dzếnh:

“Đã trót tương phùng trong một quán,
Dẫu trà ôi rượu nhạt cũng là duyên”

HĐN: Thành thật cảm ơn phút bộc bạch đáng trân trọng anh dành cho. Xin được thay mặt số đông bạn đọc, mến gửi lời chúc sức khỏe đến nhà văn Võ Kỳ Điền. Xin bảo trọng.

VKĐ: Anh cám ơn Nghiêm, cám ơn quý độc giả theo dõi bài nói chuyện nầy. Nhà văn chúng tôi không có gì hết ngoài một tấm lòng biết ơn. Trân trọng.

Hồ Đình Nghiêm thực hiện bằng điện thư.
Montréal, ngày 11 tháng 1 năm 2018.



Chóe – Nhà Hí Họa Bút Sắt Số Một Việt Nam

Uyên Thao

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Phần 4: Người làm vườn độc thoại – cuộc đời của Chóe (Kỳ 2)

Uyên Thao

Nói về cách vẽ, Chóe cho biết anh thường hình dung các nhân vật qua đặc trưng của một số loài vật chẳng hạn anh thấy nhân vật Nguyễn Cao Kỳ có cặp mắt lộ cùng vóc dáng gợi nhắc con gà chọi, còn nhân vật Nguyễn Văn Thiệu có cái cằm nhẵn khiến anh nghĩ tới chiếc hàm ếch… và anh vẽ theo lối hình dung đó. Nhưng hí họa của Chóe không chỉ cuốn hút bời nét vẽ sắc sảo sống động mà chủ yếu bời ý nghĩa hàm ẩn nơi hình tượng. Ý nghĩa này tùy thuộc cảm nhận của người coi nhưng rất ít khi cách biệt với hướng diễn tả của anh, dù Chóe chuyên vẽ tranh không lời.

Trước bức họa con bò mang tên Ðông Dương đứng xoạc chân cho hai nhân vật Mao Trạch Ðông và Nixon bú sữa, không ai có thể nghĩ khác về cuộc chiến Việt Nam trong vòng khai thác của các thế lực quốc tế. Cũng không ai nghĩ khác về thực chất Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam qua hình tượng nhân vật Nguyễn Thị Bình ngồi chàng hảng mở một ngõ vào cho hai lãnh tụ Nga Sô – Trung Cộng vác hỏa tiễn lom khom đi tới. Vào lúc dư luận thế giới mừng đón hòa bình trở lại với Việt Nam, viện hàn lâm Thụy Ðiển quyết định tặng giải Nobel Hòa Bình cho Lê Ðức Thọ và Kissinger, Chóe diễn tả nền hòa bình Việt Nam qua hình ảnh con bồ câu non chưa ra khỏi vỏ trứng bị cả một chùm rắn độc lúc nhúc bao quanh.

Hí họa của Chóe trong thời điểm này gần như lời gào thét cảnh báo về một hiểm họa đang ập đến qua hình ảnh Tổng Thống Mỹ Nixon với chiếc áo túi rộng giấu kín hai cán binh Cộng Sản Bắc Việt vênh váo ngậm xì-gà hoặc hình ảnh một cán binh Cộng Sản Bắc Việt đội nón cối trang bị toàn đồ Mỹ với đôi ủng cao bồi, ngậm dọc tẩu mang hình Kissinger, tay xách cặp Mỹ, nách kẹp rượu Mỹ… khệnh khạng bước tới và hình ảnh Lực Lượng Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến chỉ là một thứ robot trống rỗng vô hồn…

Cuối năm 1972, tôi cần thêm không khí mới cho tờ báo nên hỏi Chóe có bao giờ thấy mục hí họa trên tờ JEO – Journal d’Extrême Orient – xuất bản những năm trước tại Sài Gòn không. Chóe nhìn tôi rồi lắc đầu nói anh chẳng biết tờ JEO là cái gì. Sau khi nghe tôi tả lại và cho biết muốn có một mục như thế trên trang nhất tờ Sóng Thần để chuyển mục hí họa hiện có của Chóe vào trang ba, Chóe nói sẽ cố thử. Chiều hôm sau, anh tới tòa soạn đưa cho tôi ba bức họa với tựa đề Hí Ðộc Diễn. Anh vẽ tranh không lời và giải thích tên anh là Chí nên bỏ bớt chữ C để tạo tên cho nhân vật đồng thời cũng tạo một bút danh khác. Nhân vật Hí được anh vẽ nhấn mạnh về chiếc cằm và hai tiếng độc diễn gợi liên tưởng ngay tới Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Mục Hí Ðộc Diễn lôi cuốn độc giả từ ngày đầu cũng là mục đem lại không ít tai họa cho tờ báo. Trong một kỳ báo, Chóe vẽ nhân vật Hí dắt chó đi chơi trong bức họa có ba cảnh liên tục. Cảnh thứ nhất là Hí thảnh thơi đi dạo với một con chó bên cạnh. Cảnh thứ hai là Hí đi giữa ba, bốn con chó. Cảnh thứ ba là cả một rừng chó chen chúc bao kín Hí tới mức chỉ còn hở chỏm đầu. Giữa không khí chống tham nhũng, bức tranh khiến tờ báo bị tịch thu với tội trạng mạ lỵ Tổng Thống.

Kiểu buộc tội của Bộ Thông Tin thuở đó thường nặng tính gán ép ngoài mức tưởng tượng. Số báo loan tin Cộng Sản pháo kích vào thị xã Cam Ranh sát hại 8 thường dân bị tịch thu với tội danh gây hoang mang dư luận. Số báo khác loan tin một buôn Thượng tại Pleiku bị Cộng Sản tàn sát không còn ai sống sót bị tịch thu với tội danh cố tình hạ thấp uy tín quân đội vì không bảo vệ dân chúng. Số báo khác nữa loan tin bộ đội Cộng Sản Bắc Việt thuộc Sư Ðoàn Sao Vàng họp thành từng nhóm về hàng tập thể tại Quảng Ngãi bị tịch thu vì loan tin thất thiệt. Theo Bộ Thông Tin, danh từ tập thể chỉ dùng được khi toàn bộ Sư Ðoàn trên về hàng một lượt chứ không thể dùng khi chỉ có những nhóm năm, mười người về hàng…

Cung cách buộc tội như thế để tịch thu báo khến tôi không dập nổi ý nghĩ Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa đang cố bảo vệ chế độ Cộng Sản miền Bắc bằng cách trắng trợn ngăn chặn báo chí đóng góp vào nỗ lực chiến đấu chung của miền Nam. Ý nghĩ này đến với tôi từ tháng 5-1972 khi chỉ trong một tháng, báo Sóng Thần bị tịch thu liên tục 30 số do phản ảnh tức khắc mọi tin tức chiến sự.

Tôi không giữ riêng ý nghĩ trong đầu mà viết bài đặt vấn đề công khai với Quốc Hội và nói thẳng với Tổng Trưởng Thông Tin Trương Bửu Ðiện, khi ông ra lệnh cho Giám Ðốc Nha Báo Chí Trần Văn Lưu mời tôi tới trực tiếp thảo luận với ông về cách làm việc của Bộ này.

Bộ Thông Tin chẳng những không thay đổi cách làm việc mà tiếp tục với mức cao hơn gấp bội vào thời Tổng Trưởng Hoàng Ðức Nhã. Cung cách đó khiến bất kỳ bức hí họa nào của Chóe cũng có thể mang lại tai họa tức khắc. Hàng loạt bức họa về đề tài thời sự và chính trị như bức họa về Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam qua hình ảnh Nguyễn Thị Bình ngồi chàng hảng cho hai lãnh tụ Mao Trạch Ðông – Brejnev chui vào, bức họa về những cuộc đi đêm tại hội nghị Paris qua hình ảnh Kissinger – Lê Ðức Thọ nằm phủ chung một tấm mền hay bức họa diễn tả tình trạng ngưng bắn theo hiệp định Paris bằng cặp đùi trần khép chéo với vòng tay ôm hờ… đều bị buộc là khiêu dâm, vi phạm điều 35 luật Báo Chí.

Tờ Sóng Thần với mức in trung bình trên một trăm ngàn số mỗi ngày nên mỗi lần bị tịch thu đều như lãnh một đòn chí mạng vì tổn hại vốn liếng quá lớn. Nhưng tòa soạn không thấy cần nhắc nhở Chóe điều gì, ngoài sự tán trợ anh bước tới theo hướng đi đã chọn.

Qua nhiều bức họa của Chóe, nụ cười bị chìm hẳn giữa những đợt trào cảm xúc chua xót, tủi hờn, phẫn nộ. Anh đến với mỗi đề tài như bị cuốn vùi trong cơn lốc xoáy dữ dằn và cảnh ngộ quay cuồng cùng cực đã khiến phải lộ toàn diện tác động tàn khốc cùng tính chất ghê hãi của từng sự kiện thực tế trước thân phận nhỏ nhoi của con người.

Các bức họa về đề tài chiến tranh và hòa bình đã diễn tả tận cùng cảnh ngộ trớ trêu bi thảm của người dân Việt Nam qua hình hài chỉ còn như nhánh cây khô của đứa trẻ đang cố nút một bình sữa rỗng do phần đáy đã bị đập vỡ hoặc qua tấm thân trơ xương của một kẻ giơ chiếc nón mê xin bố thí mà đồng xu Hòa Bình bố thí lại xé toạc chiếc nón mê đó.

Gần như Chóe không cầm bút diễn tả ý nghĩ mà sống trọn vẹn với nỗi đau của kiếp nạn nhân cùng sự trực cảm về những cảnh đoạn trường mà thời thế dồn dập trút xuống đầu mọi con người đang có mặt trên mảnh đất Việt Nam. Hí họa của Chóe chỉ còn đem lại nụ cười cay đắng và thúc đẩy những dòng nước mắt qua hình ảnh người dân miền Bắc thân tàn ma dại với thương tích đầy mình ngửa tay cầu xin ơn huệ tái thiết nơi từ tâm của tha nhân trong khi lãnh tụ được diễn tả bằng hình ảnh ngất ngưởng hả hê trên bàn tiệc với đôi đũa là những lóng xương người.

Khi linh mục Ðinh Xuân Hải cùng một vài linh mục xuất hiện trên màn ảnh Truyền Hình Sài Gòn bênh vực Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đả kích những người chống tham nhũng, Chóe ghi lại sự việc bằng bức họa một linh mục từ trong máy truyền hình vươn tay nắm cây dáo nhọn thọc vào tim một người đang phơi thây trên thập tự giá. Sau khi tờ báo in bức họa, linh mục Thiên Hổ xuất hiện tại tòa soạn với ánh mắt buồn thảm tôi chưa bao giờ thấy. Ông tới trước bàn nhìn tôi, lắc đầu nói thật chậm:

– Mày làm tao mất ngủ suốt đêm qua. Tao khóc vì bức tranh của thằng Chóe.

Trưởng ban trị sự Sáu Cao với thói quen cáu kỉnh từ thuở sống tại chiến khu Bà Ðen hai mươi năm trước gần như thường xuyên cau có gắt gỏng, cũng cho biết không ngăn nổi nước mắt trước bức họa đó và bức họa về tình trạng báo chí bị bóp nghẹt qua vụ án Sóng Thần 31-10-1974 với hình ảnh cô gái chít khăn tang, thân xác gầy guộc, quần áo tả tơi bị trói chặt chân tay, cột vào một cây gai dưới trời nắng lửa.

Riêng tôi, mỗi lần nhận những bức họa từ tay Chóe, tôi luôn có cảm tưởng anh không vẽ mà vừa hòa nhập và nhận chung gánh nặng oan khiên để cất lên tiếng gào xé ruột củanhững con người yếu đuối đang quặn mình dưới đủ loại roi vọt.

Chóe gần như luôn cố tránh đề cập tới việc vẽ cũng như ý nghĩa những bức họa của mình. Khi có ai đặt câu hỏi, Chóe thường đáp lại bằng nụ cười hiền hòa và một câu nói vắn gọn:

– Tôi vẽ để chọc cười thôi, ai hiểu sao cũng được.

Lúc này Chóe đã trở thành quen thuộc với người đọc báo tại Việt Nam và cả với một số người ngoại quốc, Khoảng cuối năm 1973, Chóe cho tôi biết có một người Mỹ liên lạc qua Trần Dạ Từ muốn gom những bức họa đã in báo của anh thành sách để xuất bản ở Mỹ. Anh chờ quyết định của tôi, vì hầu hết những bức họa đó đều in trên báo Sóng Thần. Tôi thấy đây là chuyện đáng mừng không chỉ cho riêng Chóe nên nhắc anh thúc Trần Dạ Từ cứ tiến hành và không cần thắc mắc gì về mọi vấn đề khác chẳng hạn như vấn đề bản quyền.

Mấy tháng sau, đầu năm 1974, Chóe tới tòa soạn trao cho tôi tập sách mang tựa đề The World of Chóe với dòng chữ phụ ở dưới: Vietnam’s Number-one Editorial Cartoonist. Sách do Glade Publications ở North Carolina ấn hành mở đầu bằng những trang viết về Chóe của Barry Hilton. Theo Barry Hilton, lịch sử luôn bị áp chế của Việt Nam đã hình thành truyền thống đối kháng quyết liệt coi rẻ mọi kẻ nắm quyền uy với lối nhạo báng đặc thù khởi từ quan điểm của lớp người bị dày xéo. Và, có thể coi những kiểu điên loạn đầy sáng tạo của Chóe là cách biểu hiện truyền thống đó cao nhất trong thế kỷ hai mươi (1).

Barry Hilton cho rằng cuộc sống giữa vòng cuốn hút của mọi loại công việc khiến nhiều người Mỹ vẫn mơ hồ về Việt Nam. Do đó, vấn đề đặt ra, theo Barry Hilton, gần như một chương trình trao đổi văn hóa toàn diện để nói cho người dân xứ sở này biết những thứ mà người dân xứ sở kia ưa thích – họ sống như thế nào, suy nghĩ về điều gì, cười vui vì điều gì? Tác phẩm của Chóe là bức thư ngỏ bán chính thức tuyệt vời của dân tộc Việt Nam gửi cho toàn thế giới, khởi sự giải đáp thắc mắc thứ ba vừa nêu. Tác phẩm này là Chóe với trọn vẹn sự kỳ quái, cũng là phần đóng góp của Việt Nam vào sự hiểu biết và hòa bình quốc tế (2).

Chóe trao tập sách và cho tôi biết đây là ấn bản hạn chế để tham khảo ý kiến chứ chưa phải ấn bản phát hành. Chóe chỉ nhận được ít bản để gửi tới những người cần thiết. Ít lâu sau đó, tôi được biết Barry Hilton không thể ấn hành tập sách do Bộ Ngoại Giao Mỹ không muốn thấy tập sách phổ biến vì nội dung đả kích nặng nề Ngoại Trưởng Kissinger và Tổng Thống Nixon về đường lối giải quyết cuộc chiến Việt Nam lúc đó. Barry Hilton là viên chức của Bộ này nên đành bỏ ý định và tập sách mãi mãi chỉ có 1000 bản in thử trao tay cho một số người.

Chóe không nói lời nào về sự việc kém vui này và cũng không tỏ ra thất vọng hay bực bội. Anh luôn giữ nguyên vẻ bình thản cố hữu với nụ cười hiền hòa thoải mái. Anh vẫn bình thản như thế, khi nhật báo Sóng Thần đặt vấn đề hủy bỏ các luật báo chí trái với nội dung Hiến Pháp VNCH khiến tòa soạn thường xuyên căng thẳng vào cuối năm 1974. Mỗi ngày Chóe lặng lẽ xuất hiện đưa những bức họa cho số báo hôm sau rồi lặng lẽ biến đi như chiếc bóng. Kể cả khi tòa soạn quyết định đốt báo để phản đối lệnh tịch thu, Chóe cũng không bày tỏ ý kiến nào, ngoài việc im lìm tiếp tục vẽ.

Cuộc chiến Việt Nam 1954-1973 (Dưới đây là phần hình ảnh tranh vẽ của Họa Sĩ Choé trong quyển Tử Tội)

Dâu bể trùng phùng

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Hình minh họa

Tập 2

Phần 8
Sáu năm, dâu bể trùng phùng.

Chúng tôi gồm có vài trăm sĩ quan cấp úy của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đi trình diện học tập cải tạo theo lệnh gọi của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, tất cả tụ tập trong sân căn nhà kính của Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt.

Tôi đứng một mình trong góc sân, lặng lẽ quan sát cảnh mọi người gặp nhau tay bắt mặt mừng, chuyện trò nổ như bắp rang, họ thản nhiên vui vẻ nói chuyện cứ như là đang tham dự một buổi họp mặt, mừng ngày hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Trước khi đến đây, tôi tưởng chỉ có một mình tôi là sung sướng hạnh phúc, khi được đi học tập cải tạo mười ngày. Nào ngờ lúc nhìn thấy bầu không khí tưng bừng náo nhiệt của các vị sĩ quan cấp úy khi gặp nhau, tôi mới biết được là, mọi người đều có chung một tâm trạng giống như tôi.

Nhìn thoáng qua một vòng, tôi không thấy ai quen thân với mình, nhưng tôi lại biết mặt hầu hết các sĩ quan trình diện ngày hôm nay, bởi vì họ là những người dân của Đà Lạt. Trước khi vào lính những ông sĩ quan này phải là học sinh của Trường trung học Trần Hưng Đạo, trung học Việt Anh, trung học Trí Đức, trung học Bồ Đề, Lycée Yersin, hoặc là sinh viên của Viện đại học Đà Lạt. Nếu không là bạn học cùng trường với tôi, họ với tôi cũng đã từng gặp mặt nhau nhiều lần khi đi bát phố Hòa Bình.

Tôi đi vòng quanh sân với mục đích là tìm gặp những thằng bạn chung trường, chung lớp với tôi ngày xưa ở Trường trung học Trần Hưng Đạo, như là Nhân đầu bạc chẳng hạn. Tôi cần có một vài người bạn thân để chia xẻ ngọt bùi, để tối đến sau giờ học sẽ treo mùng gần nhau chuyện trò tâm sự, uống ly trà hút điếu thuốc.

Đúng hai giờ chiều, một anh cán bộ Việt Cộng mở cửa nhà, với giọng oang oang anh ta nói:

-Các anh tuần tự vào văn phòng nộp lại “Giấy chứng nhận”. Sau đó ra ngoài sân, sắp hàng đợi lệnh mới.

Mọi người ngoan ngoãn thi hành lệnh trong im lặng, trật tự. Khi vừa bước chân qua khỏi ngưỡng cửa của căn nhà, tôi choáng váng cả người như là bị điện giật, trước mặt tôi, ông Năm bánh xèo ngồi chễm chệ sau cái bàn làm việc, ông ta đưa mắt quan sát từng vị sĩ quan một, khi họ nộp lại tờ giấy chứng nhận. Đến lượt tôi, ông Năm bánh xèo cầm tờ giấy lật qua lật lại rồi đọc:“Nguyễn Trọng Quân”. Sau đó ông ta ngẩn nhìn tôi.

-Trung úy mạnh giỏi?

Tôi ngớ người, khi nghe câu hỏi phát ra từ miệng của ông Năm bánh xèo, đây là câu nói xã giao vui đùa, mà ngày xưa khi gặp tôi ông Năm thường hỏi.

Hình minh họa

Tôi ngập ngừng, nếu là ngày xưa câu trả lời của tôi sẽ là “Quá mạnh giỏi, còn chú Năm có khỏe không?”. Hôm nay thời thế đã xoay chiều, không còn là chuyện vui đùa của một ông bán bánh xèo và một trung úy nữa, mà là chuyện sống chết giữa một ông cán bộ của phe thắng trận và một trung úy hàng binh. Tôi lấy giọng, cố nói cho rõ ràng từng chữ.

-Thưa ông, tôi khỏe.

Ông Năm bánh xèo với gương mặt nghiêm nghị, nhưng giọng nói lại giống như đùa.

-Mỗi dĩa bánh của trung úy tôi bỏ vô ba con tôm.

Tôi đứng chết lặng không dám nói một tiếng, không biết ông Năm bánh xèo đang đùa hay nói móc mình đây. Ngày xưa, khi ăn bánh xèo nơi quán của ông Năm, tôi luôn luôn giữ gìn tư cách của một người sĩ quan, không bao giờ phách lối hay làm bất cứ việc gì có thể làm mất lòng ông. Hơn nữa, tôi đâu có dại dột phá phách lôi thôi, để bị quân cảnh còng đầu. Khi xét thấy mình hoàn toàn không có làm điều gì sai trái với ông ta, tôi mạnh dạn nói.

-Cảm ơn ông.

Ông Năm bánh xèo chỉ vào góc phòng, nói mà như ra lệnh.

-Trung úy đợi tôi ở đó.

Quay sang người sĩ quan đang đợi nộp lại giấy tờ, ông Năm bánh xèo lên giọng.

-Người kế tiếp.

Tôi đứng một mình trong góc phòng, nhìn các vị sĩ quan nộp lại giấy tờ mà trong lòng đầy phập phồng lo sợ, không biết chuyện gì sẽ xảy đến cho mình.

Hơn nửa giờ trôi qua, chờ cho đến khi người sĩ quan cuối cùng bước ra khỏi phòng, ông Năm nói với tôi.

-Trung úy tới đây, tôi có cái này cho trung úy.

Tôi ngạc nhiên quá sức, một ông Việt Cộng nằm vùng thì có cái gì mà cho mình.

Cúi đầu lục trong cái xắc cốt một hồi lâu, ông Năm lấy ra một tấm hình.

-Tặng trung úy để làm kỷ niệm.

Tôi nhìn tấm hình màu khổ 6 x 9, rồi chợt nhớ ra đâu khoảng vài năm về trước, trong lúc tôi đang ngồi ăn bánh xèo, ông Năm đã nhờ một người khách, bấm cho tôi và ông một tấm hình. Chụp hình với ông bán bánh xèo chớ đâu phải với đào thì cần gì phải nhớ cho mệt óc, chụp xong tôi quên mất tiêu. Chuyện chụp hình hoàn toàn biến mất trong trí nhớ của tôi. Hôm nay lần đầu tiên tôi được thấy bức hình, trong hình tôi mặc bộ đồ tiểu lễ mùa hè, trên vai cặp lon trung úy màu vàng nổi bật trên nền nhung đen, thêm cái huy hiệu Trường Võ Bị Đà Lạt may nơi tay áo trái gần vai. Với chừng đó thứ cho dù người mặc bộ đồ trên, mặt mũi có xấu xí đến đâu, thoáng nhìn qua cũng thấy oai phong lẫm liệt. Ông Năm mặc áo sơ mi màu xám ngồi bên cạnh tôi, tay trái thân mật quàng qua vai, trông cứ như là bà con thân thích. Người lạ nhìn vào tấm hình, sẽ nghĩ đó là hai bác cháu, hoặc nếu không bác thì cũng phải là chú.

Đang miên man suy nghĩ, bất chợt tôi nghe giọng nói của ông Năm bánh xèo vang lên.

-Trung úy có biết tại sao Ngụy quân Ngụy quyền, bỏ của chạy thoát thân như một bầy vịt chạy đồng hay không?

Hình minh họa

-Thưa ông tôi không biết.

Ông Năm bánh xèo với giọng đắc chí.

-Cảm ơn trung úy nhiều, ngày xưa khi còn Việt Nam Cộng Hòa, tấm hình này là cái bùa hộ mạng của tôi, một đôi lần bị cảnh sát xét giấy tờ, dồn vào ngõ cụt hết phương vùng vẫy, tôi nhờ nó mà vượt qua nhiều cửa ải bố ráp của cảnh sát. Trên giấy tờ tùy thân, tuổi của tôi đã quá hạn phải đi quân dịch thế nhưng có tật giật mình, tôi sợ rằng nếu để mấy ông cảnh sát bắt về đồn để tiếp tục xét hỏi thanh lọc, sưu tra lý lịch có thể tôi sẽ gặp rắc rối. Với cái nghề “Vạch lá tìm sâu” biết đâu mấy tay mật vụ hay cảnh sát chìm sẽ mò ra cái gốc cán bộ nằm vùng của tôi, cho nên tôi chìa tấm hình ra rồi nói “Cháu của tôi là Trung úy An Ninh Quân Đội của Trường Võ Bị Đà Lạt, tôi là cậu của nó, là người Quốc Gia chân chính. Mấy ông có thể quay điện thoại vô Trường để kiểm chứng”. Tuy nói cứng như vậy nhưng biết mình là người xài tiền giả, tôi xuống giọng “Thưa mấy anh, cùng là anh em một nhà với nhau hết mà, tứ hải giai huynh đệ, mời quý anh khi nào rảnh ghé quán bánh xèo của tôi ở đường Tăng Bạt Hổ, tôi sẽ đãi quý anh một bữa no nê”. Khi nghe tôi nói như vậy lại có thêm tấm hình làm bằng chứng, ông nào cũng mềm lòng xét qua loa rồi cho tôi đi.

Ông Năm bánh xèo ngưng nói một lúc, rồi hỏi tôi.

-Ngày xưa, trung úy làm gì trong Trường Võ Bị?

-Thưa ông, tôi làm ở Phòng hành quân.

Ông Năm bánh xèo cúi đầu nhìn xuống, kéo hộc bàn lấy ra gói thuốc và cái hộp quẹt.

-Như vậy trung úy không thuộc diện ác ôn. Ngày hôm nay tấm hình này đối với tôi không còn giá trị nữa, tôi tặng lại cho trung úy, chúc trung úy học tập tốt, mau trở về với gia đình.

Tôi đang đờ người nghĩ, tại sao ông Năm giữ kỹ tấm hình như vậy, rồi bây giờ lại cho tôi. Mục đích của ông là gì? Vì suy nghĩ như vậy nên tôi lấy hết can đảm, liều mạng hỏi ông Năm.

-Thưa ông Cách mạng đã thành công, ông không sợ tôi dùng tấm hình này để lừa dối Cách mạng, như ông đã làm với các cơ quan an ninh của Ngụy hay sao?

Với nụ cười bí hiểm, ông Năm nói với tôi, giọng nói huênh hoang đầy tự đắc.

-Trung úy chỉ được cái lo bò trắng răng, địch vận là nghề của tôi mà.

Tôi cảm ơn ông Năm bánh xèo rồi đi ra cửa, trước khi cất tấm hình vào ví, tôi liếc nhìn phía sau. Cái tên Trần Chiến với chữ ký bằng bút nguyên tử nằm ngay góc trái đập vào mắt, khiến tôi lạnh cả gáy.

Bốn giờ chiều, chúng tôi được chất lên hàng chục chiếc GMC, bốn chục sĩ quan được nhét vô một chiếc xe, đứng sát nhau như cá đóng hộp. Không cần phải giải thích, mọi người đều hiểu rằng đây là những chiếc GMC của Việt Nam Cộng Hòa bỏ lại. Xe lăn bánh chạy dọc theo hồ Xuân Hương, qua cà phê Thủy Tạ, qua sân vận động rồi nhà ga xe lửa, một anh đứng phía trước sát với cabin xe, nhìn qua khe hở nhỏ tí xíu của tấm bạt.

-Chắc họ sẽ đưa tụi mình đến Trường đại học Chiến Tranh Chính Trị hay Trường Võ Bị Đà Lạt để học tập.

Được vài phút sau, một giọng nói khác vang lên.

-Xe đến ngã tư Phan Chu Trinh rồi các bạn, ủa mà sao lại quẹo phải. Đi đâu vậy?

Hình minh họa

Một vài tiếng xì xào bàn tán.

-Không lẽ xuống Phan Rang, dân Đà Lạt mà đem xuống Phan Rang để học tập, đi chi cho xa vậy?

Vì xe bị phủ bạt kín mít nên trong xe tối hù, không thấy rõ mặt nhau, nhưng tôi đoán chắc rằng gương mặt mọi người phải lo lắng băn khoăn ghê lắm. Khoảng mười phút sau, một giọng nói đầy mừng rỡ.

-Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến quý vị ơi, phải như vậy mới được chớ, đi đâu cho xa.

Chúng tôi xuống xe, được đưa vào những dãy nhà ngủ của khóa sinh Cảnh Sát Dã Chiến, phòng ốc ở đây rộng mênh mông, hai người một giường hai tầng. Sau khi ổn định chỗ ở đến phần phát cơm tối, mỗi người được lãnh một nắm cơm vắt to bằng trái cam. Đang sống sung sướng ở nhà, bữa cơm chiều đầy đủ cơm sốt canh nóng, chén bát đũa muỗng sạch sẽ, giờ đây đột nhiên mỗi ông quan tay bốc một cục cơm vắt lạnh ngắt, lòng dạ nào mà ăn cho được. Nhiều ông quan chê cơm nắm, cho rằng “Người quân tử chiếc chiếu trải không ngay, không ngồi” huống gì bốc cơm mà ăn như vậy coi sao được, bèn nhịn đói luôn cho được việc, họ đi ngủ với cái bụng trống rỗng. Ngày đầu tiên trong mười ngày học tập của sĩ quan cấp úy, trôi qua nhẹ nhàng êm đẹp. Chỉ còn chín ngày nữa là sĩ quan cấp úy chúng tôi sẽ trả xong nợ đời, món nợ không mượn mà phải trả.

Sáng ngày thứ hai của mười ngày học tập, nhiều người thức giấc khi trời còn mờ tối, lo làm vệ sinh cá nhân rồi chuẩn bị giấy bút sẵn sàng cho buổi học tập đầu tiên. Cũng vẫn là những gương mặt vui tươi hớn hở của ngày hôm qua, họ tụ tập trò chuyện với hy vọng tràn đầy. Mọi người chờ hoài chờ mãi, chờ cho đến trưa vẫn không được cho đi học, mà lại được hướng dẫn đi ăn cơm. Lệnh của cán bộ Việt Cộng, tất cả sĩ quan Ngụy đội hình di chuyển hàng một, mỗi người cách nhau một mét. Cứ khoảng vài chục mét lại có một anh bộ đội, súng AK mang trên vai đi ngoài hàng kiểm soát. Lội bộ chừng hơn vài trăm mét, chúng tôi đến nhà ăn, mỗi bàn một thau cơm, chút rau luộc, vài con cá khô. Mấy ông quan nhìn nhau lắc đầu ngao ngán, cố nuốt cho trôi hết chén cơm vì bụng đói. Sau bữa ăn, mọi người phải tự rửa chén đũa của mình, giữ lại để dùng cho lần tới.

Đang lui cui rửa chén và đôi đũa nơi bể nước gần phòng ngủ, tôi giật mình vì có ai đó vỗ nhẹ vào vai của tôi.

-Cũng biết rửa chén nữa hả trung úy?

Tôi quay đầu nhìn lên, Trung úy Lợi Công binh Trường Võ Bị Đà Lạt đang tươi cười nhìn tôi, nụ cười như là chế giễu.

Tôi nói với Trung úy Lợi.

-Gọi mày với tao cho quen, cứ trung úy với đại úy, Việt Cộng nó đì cho xói trán bây giờ.

Trung úy Lợi hỏi tôi.

-Mày ở phòng nào?

Tôi chỉ cho hắn căn phòng tôi đang ở.

Trung úy Lợi nhìn theo hướng ngón tay trỏ của tôi.

-Chỗ mày còn giường trống không? Tao dọn qua ở với mày cho vui.

Tôi reo lên.

-Tao đang buồn vì không có bạn, gặp lại mày cứ như là “Tha hương ngộ cố tri”. Mày dọn qua lẹ lẹ lên, còn mấy cái giường bỏ không đó.

Trung úy Lợi sửa lưng tôi.

Hình minh họa

-Đừng có ăn nói tào lao, tao với mày đang ở tại Đà Lạt, trên đất nước của mình, tha hương cái nỗi gì. Mày phải nói là “Buồn ngủ gặp chiếu manh” mới được.

Tôi gật đầu.

-Mày nói phải, chiếu manh, chiếu cói, chiếu cạp điều hay chiếu gì cũng được, giờ thì mày làm ơn về phòng lấy hành lý đi, tao đợi mày tại phòng của tao.

Phải hơn một giờ đồng hồ sau, Trung úy Lợi mới đến, hắn đặt cái ba lô xuống đầu giường kế giường của tôi, cất giọng kể lể.

-Mày biết không, mọi người đều nói mặt mũi của tao coi cũng sáng sủa không đến nỗi nào, vậy mà tao làm chuyện gì cũng chậm lụt, khi di tản khỏi Trường Võ Bị Đà Lạt tao cũng chậm, rồi chuyện chạy trốn ra ngoại quốc tao còn chậm hơn, cho nên giờ phút này mới còn ở đây để gặp mày.

Tôi an ủi Trung úy Lợi.

-Mày tưởng tao ngon lắm chắc, tao còn đần hơn mày nhiều. Mà chuyện mày rời khỏi Trường Võ Bị Đà Lạt sau cùng là phải rồi, còn trách cứ gì ai, bởi vì nhiệm vụ của mày là đặt chất nổ phá hủy trường mà.

Tôi nhìn quanh, khi thấy không có ai tôi mới nói nhỏ vào tai của Trung úy Lợi.

-Tan tành hết phải không? Giống như cả chục phi tuần F 5 của mình dội bom chứ gì.

Trung úy Lợi với gương mặt thảm não.

– Trường Võ Bị Đà Lạt còn nguyên xi như mới, không chết một con kiến, cũng không hư một cục gạch.

Tôi ngồi đờ người ra.

-Mày nói láo cũng vừa thôi, chừng đó kí lô hợp chất C4 mà còn nguyên sao được. Công binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chứ đâu phải du kích Việt Cộng chỉ biết đặt mìn, đắp mô, phá hủy vài khúc đường rầy xe lửa.

Trung úy Lợi mồi một điếu thuốc.

-Mày có cà phê không? Tao thèm quá.

Tôi đùa với Trung úy Lợi.

-Có, mà tao để ở Trường Võ Bị Đà Lạt rồi, mày làm ơn nhớ giùm là tụi mình đang đi học tập chứ không phải ngồi ở cà phê Tùng hay cà phê Thủy Tạ. Nói cho tao biết, tại sao mày không cho nổ Trường Võ Bị Đà Lạt.

Trung úy Lợi rít một hơi thuốc, chậm rãi kể.

-Tối hôm đó, sau khi uống cà phê với mày tại Trung tâm Hành quân, tao cùng bốn ông lính công binh, là chuyên viên chất nổ, chạy xe dodge qua Nhà thí nghiệm nặng. Tại đây, vì còn dư quá nhiều thì giờ, tụi tao ngủ một giấc ngon lành chờ đến giờ hành động. Đúng chín giờ tối, tao bắt đầu cho đệ tử tháo dỡ hợp chất C4 xuống xe, lúc bấy giờ tao mới phát giác ra trong xe không có ngòi nổ với mấy cuộn dây dẫn điện.

Trung úy Lợi nhìn tôi.

Hình minh họa

-Mày biết không lúc đó tao tức điên người, giận đến nỗi run tay mờ mắt, chửi thề nhặng cả lên “Đù má, cuộn dây điện to như cái cối đá mà mấy ông nở lòng nào quên cho được, trước khi đi tôi đã kiểm soát lần cuối cùng, dặn tới dặn lui, ông nào cũng báo cáo đủ. Tại sao đến đây lại không có dây dẫn điện”. Một ông lính rụt rè nói với tao “Tại hấp tấp quá nên em quên”. Tao chụp cái ống liên hợp máy PRC 25 gọi về Đại đội Công Binh của trường. Gọi khan cả cổ mà không một tiếng trả lời, tao gọi máy về đại đội mà cứ như là gọi xuống âm ti, tức mình tao quăng mẹ nó cái ống liên hợp xuống ghế trưởng xa, chỉ vào hai người lính “Hai ông làm ơn lái xe dodge về đại đội lấy ngòi nổ và dây dẫn điện qua đây cho tôi, hai ông còn lại cứ tiếp tục công việc”.

Trung úy Lợi vứt cái tàn thuốc xuống đất, lấy chân giậm lên rồi nói với tôi.

-Mày biết rồi, từ Nhà thí nghiệm nặng đến Đại đội Công Binh khoảng chừng mười phút lái xe, vậy mà tao đợi hơn một tiếng đồng hồ vẫn không thấy tăm hơi của hai ông đệ tử. Tao cùng hai người đệ tử còn lại, ôm đống hợp chất C4 mà khóc ròng. Không máy PRC 25, không đặc lệnh truyền tin, không súng đạn, tụi tao như những thằng mù, điếc, câm. Đã hơn mười giờ rưỡi rồi mà tụi tao vẫn còn ở trong trường. Tao đoán rằng hai ông đệ tử của tao khi đến Đại đội Công Binh thấy cảnh vườn không nhà trống, mọi người đã chạy mất tiêu hết rồi, quá sức hoảng sợ cả hai bèn dọt luôn cho êm chuyện. Tao chỉ hơi buồn chút xíu là tại sao họ chạy mà đành đoạn bỏ thầy, bỏ bạn của họ ở lại. Mười một giờ đêm, khi biết chắc rằng hai ông lính của tao đã dông mất đất rồi, tao mới dẫn hai người lính còn lại chạy bộ ra khỏi trường. Ba thầy trò như những cái bóng ma vừa chạy vừa run, khi chạy ngang qua Vũ đình trường Lê Lợi, tao chỉ sợ lính của Tiểu đoàn An ninh chưa rút đi, còn đóng ở điểm kích 1511 phía sau lưng Đài Tử Sĩ tưởng mình là Việt Cộng thì bỏ mẹ, họ làm thịt ba đứa tao là cái chắc. Mày nhớ giùm tao, ban đêm di chuyển trong trường mà không biết mật khẩu, mật hiệu, kể như là chết chắc, chết chắc luôn. Cuối cùng sau mấy chục phút chạy muốn hụt hơi, mồ hôi đổ như tắm, tụi tao cũng thoát được ra khỏi cổng Lý Thường Kiệt, khu Chi Lăng vắng ngắt không một bóng người, dân chúng ở đây đã di tản tự lúc nào.

Trung úy Lợi nhìn tôi rồi nhắc lại.

-Trường Võ Bị Đà Lạt còn nguyên xi, không hư một cục gạch.

Tôi nói đùa với Trung úy Lợi.

-Như vậy là mày đã lập được công lớn với Cách mạng rồi.

Trung úy Lợi nghiêm sắc mặt.

-Đừng có nói giỡn, ở tù mọt gông đó mày, chuyện đặt chất nổ chỉ có tao với mày biết, tao là thủ phạm, mày là tòng phạm vì phối hợp kế hoạch với tao. Từ đây về sau, hai đứa mình cứ câm như hến là được, mày biết câu nói “Tai vách mạch rừng” rồi chớ gì.

Nhìn nét mặt đầy lo sợ của Trung úy Lợi, tôi nói.

-Biết quá đi chớ, nhưng tại sao đêm đó mày không gọi máy cho Trung tâm Hành quân?

Trung úy Lợi nhăn mặt.

-Trên đời này chưa có ai mà ngu như tao, máy PRC 25 cùng với đặc lệnh truyền tin tao đều để trên xe dodge, chuyện chết người là ở chỗ đó.

Hình minh họa

Những gì muốn biết, tôi đã biết rõ ràng tường tận. Tôi không muốn nghe Trung úy Lợi kể thêm về chuyện đặt chất nổ phá hủy Trường Võ Bị Đà Lạt trước khi di tản, nên chuyển đề tài.

-Dẹp mẹ chuyện đó qua một bên, mày đem thức ăn gì cho mười ngày.

Trung úy Lợi hỏi tôi.

-Mày hỏi làm gì?

-Tao đề nghị hai đứa mình góp thức ăn lại, ăn chung cho vui.

-Mày nói nghe được, tao có năm lon thịt hộp với mấy gói mì. Còn mày có gì?

Tôi mở cái xách tay lôi ra hũ ruốc kho sả.

-Tao chỉ có chừng này.

Trung úy Lợi thắc mắc.

-Cái thứ gì trong đó?

Tôi cười với Trung úy Lợi.

-Ruốc thịt heo kho sả.

Trung úy Lợi dùng cả hai tay bưng cái hũ ruốc lên, miệng cười toe toét.

-Mẹ nó, làm gì mà mày đem theo cái hũ ruốc to quá mạng như vậy.

-Món này vợ tao làm, tao chê là nhiều quá nhưng vợ tao cứ nhét vào cái xách tay của tao.

Trung úy Lợi gật gù cái đầu.

-Mày lấy vợ được bao lâu rồi.

-Mới hơn một tháng.

-Chắc vợ của mày ghét mày lắm, muốn mày học tập ba, bốn tháng thay vì là mười ngày, cho nên mới làm cái hũ ruốc to như vậy. Nhưng mà không sao đâu, yên chí đi tao sẽ ăn phụ với mày.

Tôi và Lợi thân với nhau kể từ đó.

Một ngày ở Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến trôi qua lẹ như cái chớp mắt, ăn trưa xong chưa kịp làm gì đã đến cơm chiều, ngày hôm sau lại cũng cơm trưa, rồi cơm chiều. Mười ngày trôi qua cái vù, mọi chuyện vẫn giậm chân tại chỗ, không nghe nói gì đến chuyện học tập.

Gần như là tất cả mọi người đều bắt đầu thắc mắc bàn ra tán vào. Nhiều câu nói đầy ngờ vực được đưa ra.

-Nếu mai hay mốt bắt đầu học, như vậy chắc phải hai tuần nữa sẽ được về.

Một giọng nói hơi bi quan cất lên.

-Tao nghi phải một tháng quá.

Một anh có máu tếu trong người, vọt miệng.

-Chắc phải ba năm.

Nhiều tiếng ồn ào phản đối.

Hình minh họa

-Thằng nào nói ba năm đó, miệng mồm ăn mắm ăn muối, chỉ được cái nói bậy là giỏi.

Chuyện học tập mười ngày coi như không có, mọi người tuy không nói ra nhưng đa số đều tin rằng chắc cũng phải học tập vài tháng. Khi đã có được niềm tin, mọi hy vọng sẽ đến, nhờ vậy mà sinh khí trong trại vẫn còn.

Qua buổi sáng của cuối tuần lễ thứ ba, hàng chục chiếc GMC bít bùng chở chúng tôi đến chỗ mới, theo lời của cán bộ Cộng Sản là tạo điều kiện cho chúng tôi học tập tốt hơn. Mọi người lại hy vọng, lần này sẽ là Trường Võ Bị Đà Lạt, vì chỉ có nơi đó mới đầy đủ phòng ốc cho hàng ngàn sĩ quan chúng tôi học tập. Khi xe ra khỏi cổng Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến sẽ quẹo trái để về Trường Võ Bị Đà Lạt như mọi người dự đoán, thì đoàn xe lại rẽ phải. Một bầu không khí yên lặng chụp xuống, tất cả ngơ ngác nhìn nhau “Đi đâu đây hở Trời”.

Sĩ quan cấp úy chúng tôi, trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt, được đưa đến tập trung tại Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, ở đây khoảng hai chục ngày. Suốt thời gian nói trên, chúng tôi chỉ học được một bài học duy nhất là viết bản lý lịch trích ngang hay trích dọc gì đó, dài hàng chục trang giấy, trong đó khai rõ lý lịch ba đời của dòng họ nhà mình và cả ba đời dòng họ bên vợ, viết đi rồi viết lại, viết cho đến khi nào đạt yêu cầu mới thôi. Cái khó cho chúng tôi là không một ai biết Việt Cộng yêu cầu cái gì, cho nên đã hai chục ngày qua, chưa có ông quan nào viết được bản khai lý lịch đạt yêu cầu như Việt Cộng mong muốn. Cho dù đó là quan kỹ sư, quan bác sĩ, quan dược sĩ, quan tiến sĩ…cũng bó tay luôn.

Giã từ Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, đoàn xe GMC chở chúng tôi nối đuôi nhau giong ruổi trên con đường thiên lý, mãi cho đến chiều tối mới đến thị trấn Sông Mao thuộc tỉnh Phan Thiết, rồi ngừng lại tại trại gia binh của Trung đoàn 44, Sư đoàn 23 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa.

Đến đây tôi biết được một điều, chuyện học tập mười ngày đã trở thành chuyện cổ tích.

Theo lời của cán bộ quản giáo nói với tất cả sĩ quan cấp úy, để cho việc học tập được dễ dàng, đạt kết quả tốt, trại học tập phải được tổ chức theo lệnh trên.

Về nhân sự cũng như nơi ăn chốn ở, Trại học tập cải tạo Sông Mao, Phan Thiết, được chia ra làm ba Trại phân biệt rõ ràng: Trại A giam giữ sĩ quan Ngụy có cấp bậc đại úy, Trại B trung úy và Trại C thiếu úy.

Tôi ở Trại B trung úy, nên không biết rõ tổ chức của Trại A đại úy và Trại C thiếu úy như thế nào. Tôi chỉ biết rằng Trại B trung úy của tôi, được chia làm năm khối: Khối 1 Lâm Đồng, Khối 2 Bình Tuy, Khối 3 Ninh Thuận, Khối 4 Bình Thuận và Khối 5 Đà Lạt. Trước năm 1975, sĩ quan cư ngụ ở tỉnh nào sẽ về khối đó. Khối Đà Lạt của tôi có sáu tổ, mỗi tổ có mười sáu người, bắt đầu từ tổ 37 cho đến tổ 42. Như vậy toàn Khối 5 Đà Lạt có tổng cộng khoảng chín mươi sáu sĩ quan cấp trung úy. Khối sẽ có khối trưởng và khối phó, tổ sẽ có tổ trưởng và tổ phó điều hành, những vị sĩ quan này đều có thân nhân đi theo cách mạng khi khai lý lịch. Họ được cách mạng chỉ định giữ những chức vụ trên.

Khối trung úy Đà Lạt của tôi ở trong hai dãy trại gia binh nằm đối diện, cách nhau bởi một cái sân rộng, một dãy nhà gồm có nhiều căn. Cứ tám người ở trong một căn nhà bề ngang khoảng bốn mét, chiều dài chừng mười mét được chia làm ba phần: nhà trước, nhà bếp, phía sau là nhà vệ sinh và phòng tắm. Tường xây gạch, loại gạch đúc bằng xi măng có lỗ hổng ở bên trong, mặt tường không có tô hồ, mái nhà lợp tôn. Nhà có phòng tắm nhưng không có nước, sông Mao là vùng đất bán sa mạc, về mùa nắng giếng khô cạn cho nên mỗi tuần một lần, tù cải tạo được dẫn lên đập nước cách trại chừng vài cây số để tắm rửa và giặt quần áo.

Sau vài ngày xáo trộn lúc ban đầu, cuộc sống của tù nhân dần dần ổn định, 6 giờ sáng khi tiếng kẻng báo thức đánh lên, mọi người phải ra sân tập thể dục tập thể đúng mười lăm phút, sau đó vệ sinh cá nhân, lãnh phần ăn sáng để chuẩn bị 7 giờ đi làm lao động.

Hình minh họa

Sáng hôm nay, Tổ 37 của tôi đang sửa chữa hàng rào kẽm gai, ngay nơi cổng ra vào của Trại trung úy. Đám tù nhân chúng tôi phải làm lại hàng rào cho kiên cố hơn để giam giữ mình. Một ông cán bộ Cộng Sản nói với chúng tôi “Các anh đòi kềm, búa, kéo cắt sắt, bao tay để làm việc phải không? Trước đây chiến sĩ cách mạng tay không còn đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào. Hôm nay sĩ quan Ngụy các anh chỉ có làm cái hàng rào kẽm gai sơ sài như thế này mà đòi hỏi lung tung. Cách mạng còn nghèo không có những thứ ấy, các anh phải khắc phục khó khăn để hoàn thành công tác.”

Chúng tôi với tay không, cố gắng làm cho xong lớp hàng rào thứ nhất, sau đó đến lớp hàng rào thứ hai, rồi lớp thứ ba. Mặt trời lên khá cao chiếu ánh nắng chói lòa xuống đầu lũ tù, tôi đưa tay áo lên quẹt bớt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán.

Trung úy Lợi đưa bình nước cho tôi.

-Nhắp một chút cho đỡ khát đi mày.

Tôi cầm cái bi đông nước, mà mắt không rời một đám người đang tiến về trại. Hàng trăm người chứ ít ỏi gì, tất cả đều mặc bà ba đen, chậm rãi di chuyển, trông họ giống như là đang cố lê bước chứ không phải là đi. Khi đoàn người đã đến gần, có thể trông rõ mặt, tôi chợt rùng mình nhìn lại mình, hơn hai tháng rồi bọn tù chúng tôi tuy có ốm đi nhưng vẫn còn mạnh khỏe, vẫn còn đầy đủ hình hài vóc dáng của một con người. Đám người mới tới trông như là những bộ xương biết đi, những gương mặt tái mét vàng ủng, chỉ còn da bọc xương, đôi mắt lờ đờ lạc thần như những cái xác chết.

Một người trong Tổ 37 của chúng tôi lên giọng hỏi.

-Ở đâu tới vậy?

-Cà Tót.

Ba, bốn thằng Đà Lạt ngơ ngác nhìn nhau.

-Có thằng nào biết Cà Tót ở đâu không?

-Hình như là ở trong mật khu Lê Hồng Phong.

Một giọng cằn nhằn.

-Phải không đó, đừng có đoán mò nghe cha nội.

Cà Tót, cái địa danh lạ hoắc mà từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờ nghe đến. Tôi nhìn đám tù mới với đôi mắt thờ ơ, vì biết rằng mình không có quen ai trong nhóm. Tôi định quay người tiếp tục làm việc, bất ngờ một người hai tay chống gậy, chầm chậm đi đến bên tôi.

-Quân bắp cải phải không?

Tôi ngớ người ra, cái biệt danh Quân bắp cải của tôi khi còn ở Quân trường Thủ Đức, chỉ có Biên, Long công tử và một số ít bạn bè trong đại đội cùng khóa với tôi biết mà thôi. Biên đã chết rồi, người trước mặt tôi có thân hình giống như là cái xác chết, nhất định không phải là Long công tử. Tôi nhìn kỹ người gọi tôi một lần nữa, trước mặt tôi là một bộ xương khô dơ dáy bẩn thỉu, người không ra người, ngợm không ra ngợm, hai con mắt của hắn thụt sâu vào như hốc mắt của cái đầu lâu, tóc tai rụng gần hết chỉ còn lưa thưa vài cọng, hai bàn tay gầy trơ xương nắm chặt lấy cây gậy đang chống xuống đất, hai bàn chân không giày không dép, dính đầy đất bùn, cả thân hình của hắn được che bởi bộ đồ bà ba đen rộng thùng thình. Tôi hoàn toàn không biết được gã tù đứng trước mặt mình là ai. Tại sao hắn lại biết cái tên Quân bắp cải.

Hình minh họa

Tôi hỏi hắn.

-Mày là ai? Sao biết tên tao?

Bộ xương không trả lời, vất cây gậy xuống đất rồi đưa cả hai tay ôm lấy mặt tôi, nước mắt từ trong cái hốc mắt vô hồn của hắn chảy tràn qua làn da đen sạm nhăn nheo, lăn dài trên đôi gò má hóp.

-Bắp cải à, mày không nhìn ra tao sao?

Tôi lắc đầu, hỏi lại hắn một lần nữa.

-Mày là ai? Cùng chung Đại đội sáu mươi hai với tao ở Thủ Đức phải không?

Cái thây ma trước mặt tôi thều thào.

-Tao là Long công tử đây.

Cái tên Long công tử lúc bấy giờ mới thực sự trở về trong đầu của tôi, kéo theo cả một dĩ vãng vàng son một thuở, đánh thức luôn thính giác của tôi. Thêm vài câu trò chuyện trao đổi, tôi nhận ra giọng nói ngọt ngào đầy tình cảm của Long công tử, đúng là giọng nói của hắn vào những ngày xa xưa khi tụi tôi còn ở quân trường Thủ Đức. Trong trường hợp này, tôi có mắt cũng như mù, thị giác của tôi có cũng như không, vì gương mặt và hình dáng bề ngoài của Long công tử đã thay đổi, khác biệt hoàn toàn với ngày xưa. Dang rộng hai cánh tay, tôi ôm lấy bộ xương mà nước mắt của mình chỉ chực tuôn tràn. Mắt của tôi mờ đi như bị bao phủ bởi một màng sương mỏng, tôi nói với giọng nói nghẹn ngào trong cổ họng, nhiều lúc tưởng như bị hụt hơi.

-Long công tử, mày làm gì để đến nỗi thân tàn ma dại như thế này, sáu năm hơn rồi phải không, kể từ ngày tao với mày rời xa đồi Tăng Nhơn Phú, sáu năm dâu bể đổi thay, đâu ngờ hôm nay tụi mình lại gặp nhau trong cảnh đọa đày đau xót, trùng phùng trong tù ngục thê lương bi thảm như vầy.

Long công tử đưa tay rờ tai, mắt, mũi của tôi, nó dùng mấy ngón tay chỉ còn da bọc xương với móng tay đầy cáu ghét, bẩn thỉu, lau mấy giọt nước mắt trên má của tôi.

-Mày chỉ thay đổi chút ít, không còn sữa nữa rồi.

Thương thằng bạn ốm đói, lòng đầy hoang mang, không biết Long công tử có được ở chung trại B trung úy với mình hay không, tôi vỗ nhẹ vào lưng của nó.

-Nói cho tao biết ngày ba mươi tháng tư, mày là đại úy hay trung úy.

Long công tử hỏi lại tôi.

-Mày hỏi cấp bậc của tao để làm gì?

Tôi từ tốn giải thích.

-Nếu mày còn là trung úy thì tụi mình sẽ được ở chung một trại, còn nếu là đại úy, mày phải qua trại khác.

Long công tử dịu giọng.

-Tao là trung úy.

Tôi mừng rỡ ôm chặt lấy hắn.

-Vậy là tụi mình được nhốt chung một trại rồi.

Viết từ Úc Châu: Hồi mã thương!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Thưa bà con! Hồi mã thương là một chiêu thức chiến đấu tay đôi bằng thương thời cổ.

Hồi mã thương nguyên thủy phải gồm vũ khí (thương), phương tiện (ngựa – mã) và chiến thuật (hồi – đột ngột tập kích trở lại).

Trong chiêu này, người ta giả vờ thua chạy, nhử cho đối thủ đuổi theo thật sát sau lưng rồi bất ngờ quay ngựa phóng thương (hoặc đâm ngược) để phản kích bất ngờ, khiến đối phương trở tay không kịp.

Trong Tam Quốc diễn nghĩa, Quan Vân Trường sử dụng chiêu hồi mã thương khi đánh nhau với Hoàng Trung, lúc cả hai không phân thắng bại!

Quan Vân Trường quay ngựa bỏ chạy chờ Hoàng Trung đuổi theo, để bất ngờ xoay thanh đại đao chém ngược lại. Nhưng ngựa của Hoàng Trung bị gãy chân, Hoàng Trung té cái bịch xuống đất nên nên chiêu này không triển khai được vì chém hụt…!

 Trong Anh hùng xạ điêu của Kim Dung thì Dương Khang giả bộ thua, bỏ chạy, Quách Tỉnh rượt theo ‘quánh’, bị dính Hồi mã thương thiếu điều tiêu tán đường.

Từ đó “Hồi mã thương” không đơn thuần về một thế võ, đòn đánh mà nó đã được thành một thành ngữ để chỉ sự phản kích, phản công bất ngờ khi đối thủ đang có ưu thế hơn mình!

Và cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ mới rồi cuộc đấu tay đôi giữa Hillary Clinton và Donald Trump! Dù Donald Trump đang chiếm ưu thế khiến Hillary Clinton phải gọi điện chúc mừng! Nhưng phe ta vẫn còn tức quá nên chưa có chịu thua! Bàn mưu tính kế tính chơi cú hồi mã thương nầy; coi có lật ngược thế cờ hình như đã an bài theo phần số!

Những ủng hộ viên của Hillary Clinton tức hộc gạch, tức cành hông vì mình hơn đối thủ tới 2 triệu phiếu và có thể lên tới 4 triệu khi kết thúc hoàn toàn cuộc kiểm phiếu mà vẫn thua… Nên tức tối và bức bối tìm cách chơi cái chiêu hồi mã thương nầy.

Thấy ta thua tưởng chạy; ai dè ta sẽ quay lại cho nhà ngươi một cú hồi mã thương cho biết tay.

 Tui ơi đừng tuyệt vọng khi nghe một giáo sư trường đại học đàng hoàng nêu lên cái nghi vấn: Tại ba tiểu bang tranh chấp quyết liệt giữ đôi bên Pennsylvania (20 phiếu cử tri đoàn), Michigan (16 phiếu ) và Wincosin (10 phiếu) thì thấy rằng những quận hạt bầu bằng tay thì thua kém giữa hai bên không bao nhiêu; mà những quận hạt cử tri bỏ phiếu bằng vi tính thì Hillary Clinton thua Donald Trump tới 7%.

Sao có sự chênh lệch với nhau quá xa như vậy? Tui nghi nó ăn gian quá hà!

Ông giáo sư nầy còn chỉ rõ là: “Dẫu không nối với internet, nên không thể bị tin tặc (Nga) tấn công; nhưng người lập trình, gài vô máy bỏ phiếu trước ngày bầu cử, vài cái malware, là có thể chỉnh sửa kết quả theo ý mình! Dễ ăn hơn cơm sườn nữa đó!”

“Rồi cái đáng nghi nhứt là phiếu bầu khiếm diện! Tin tặc nó mà chôm được cái danh sách cử tri là nó bầu dùm mình… theo ý nó muốn!”

Tại Wisconsin, Hillary Clinton thua Donald Trump 22,525 votes tức khoảng 0.8 phần trăm. Hillary Clinton có thể bị ăn gian tới 30.000 phiếu. Tức thắng thành thua!

Tại Michigan, Hillary Clinton thua Donald Trump 10,704 phiếu, tức khoảng 0.2 phần trăm.

Còn Pennsylvania, Hillary Clinton mới đầu thua khoảng 70 ngàn phiếu! Giờ thu hẹp lại còn 60 ngàn thôi! Tức khoảng 1.2 phần trăm. Tóm lại là hỏng bao nhiêu!

Nhưng Hillary Clinton đã chánh thức chịu thua rồi; hỏng lẽ lại nuốt lời?!

Mình là người lớn; nói một là một; nói hai là hai chớ không phải là hai rưỡi… nên thay vì đích thân đi thưa thì cho ủng hộ viên (ngầm) của phe ta đi khiếu nại.

Ứng cử viên Tổng thống đảng Xanh, Jill Stein, bèn nộp đơn xin kiểm phiếu lại ở ba tiểu bang quanh vùng Ngũ đại hồ là: Michigan, Pennsylvania và Wincosin.

Muốn kiểm phiếu lại là phải móc tiền túi ra chi chớ không được xài vào tiền thuế của nhân dân.

Và Stein đã quyên góp được tới 4.5 triệu đô la (chỉ vòng 24 tiếng đồng hồ); chỉ cần 3 triệu đô nữa, tổng cộng là 7.5 triệu đô là đã đủ mướn người đếm phiếu lại cả ba tiểu bang chiến trường vẫn còn bên tám lạng đằng nửa cân nầy.

“Tui làm vậy vì nhiều người Mỹ đang hoài nghi, liệu kết quả bầu cử có đáng tin cậy hay không? Tại sao kết quả bầu cử bất ngờ như thế và những nghi vấn cần được điều tra trước khi kết quả được công nhận chớ?!”

Giấc mộng đêm xuân của Hillary Clinton là, nếu đếm lại phiếu, mà thắng cả ba thì ta sẽ là Nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử nước Cờ hoa. Chớ hỏng phải là thằng cha chuyên đi bán nhà đất Donald Trump.

Hiện tại Hillary Clinton được 232 phiếu cử tri đoàn nếu thêm (20+16+10=46), nghĩa là đạt 278 phiếu, còn dư 8 phiếu cử tri đoàn để xưng ‘Đại đế’.

Cầm bằng thắng hai trong ba tiểu bang là chưa đủ; thì đi dụ khị mấy cử tri đoàn của đảng Cộng Hòa, mà ghét Donald Trump, phản thùng, ‘chiêu hồi’ qua bên ta là ta cũng thắng.

Nhờ cú hồi mã thương ngoạn mục nầy biết đâu chừng thấy thua nhưng thắng. Thấy bại chưa chắc đã xụi… lơ đâu nhe!

Không giống như nước Úc ‘Kan lu lu’, Hoa Kỳ không theo thể chế Ðại nghị (parliamentary system), sáp nhập Hành pháp và Lập pháp làm một!

Ai chiếm đa số ghế ở Hạ viện, tức Lập pháp, là lập nội các, cầm quyền Hành pháp.

Nước Mỹ ngày nay có 50 tiểu bang và một khu vực hành chánh tự trị là thủ đô Washington D.C, đều có chính quyền, chính phủ và Quốc hội, với thống đốc lãnh đạo Hành pháp.

Ngày bầu cử, cử tri không trực tiếp bầu ra Tổng thống mà bầu ra những Cử tri đoàn (Electoral College).

Hiện thời Trump đang được 290 phiếu cử tri đoàn còn Hillary được 232 phiếu.

Dẫu vậy, hơn 4.5 triệu cử tri Mỹ khắp nước ký vào đơn thỉnh nguyện trên mạng để kêu gọi các cử tri đoàn quay sang ủng hộ Hillary Clinton.

Ông Trump sẽ không trở thành Tổng thống Mỹ nếu nhiều cử tri đoàn đảng Cộng hòa không bỏ phiếu chọn Trump ngày 19 tháng 12 tới đây.

Tuy nhiên điều nầy hầu như không xảy ra trừ trường hợp chính chóp bu của đảng Cộng Hòa muốn thế!

(Sáu cử tri đoàn của phe Cộng Hòa đã tuyên bố sẽ không bỏ phiếu cho Donald Trump và hy vọng có ít nhất 37 đồng đảng Cộng hòa cũng làm như vậy!)

Nếu vây, Donald Trump chỉ còn 269 phiếu, không đủ mức tối thiểu 270 để trở thành Tổng thống Mỹ.

Nếu cả Hillary Clinton lẫn DonaldTrump đều không giành được 270 phiếu cử tri đoàn, thì Hạ viện Mỹ sẽ quyết định một trong hai sẽ là tổng thống.

Hạ viện Mỹ, do đảng Cộng hòa kiểm soát, nên không giờ trao ghế nầy cho ứng cử viên Dân Chủ bao giờ.

Không giao cho Hillary Clinton mà cũng không muốn ông thần Donald Trump làm tổng thống vì phập phồng quá… thì chỉ còn cách đá lên cho Thượng Viện quyết định.

Lúc đó Thượng Viện (cũng do phe Cộng Hòa chiếm đa số) có thể chọn người khác… như Phó Tổng thống tân cử Mike Pence chẳng hạn…

Nếu trường họp cực kỳ hi hữu nầy xảy ra thì quả ông Mike Pence nầy có số chánh vì vương!

Làm gợi nhớ Gerald Ford, là tổng thống Mỹ thứ 38, mà không đâu có ai bầu! Đời mà! Hay đôi khi hỏng bằng hên! Và chuyện gì cũng có thể xảy ra ở nước Mỹ hết ráo… Nên xin bà con cô bác cứ bình tĩnh, đừng ngạc nhiên (tới té ghế như tui khi nghe tin Donald Trump thắng vào đêm thứ Ba, ngày mùng 8, tháng Mười Một vừa qua) khi cớ sự xảy ra!

Tuy nhiên một số thuộc phe Dân Chủ không tin vào cú hồi mã thương nầy khuyên các đảng viên Dân Chủ khác là mình ‘move on đi’.

Bốn năm nữa, đâu có lâu, mình đưa con gà khác ra đá. Thua keo nầy ta bày keo khác!

Trước mắt là phải bỏ quách cái lối bầu gián tiếp thông qua cử tri đoàn rối rắm nầy đi cho nó dễ hiểu hè!

Cứ đầu phiếu phổ thông trực tiếp cho nó công bằng! Phiếu nào như phiếu nấy!

Chứ hơn 3.5 triệu phiếu ở California mà lại không bằng vài chục ngàn phiếu ở các tiểu bang dân ít hơn một Los Ageles hay San Francisco thì ‘ô hô’ bất công hết sức!

Cứ ai nhiều phiếu hơn là làm Tổng thống! Cho nó gọn! (Mà khó ăn gian nữa)

Chớ trong vòng có 16 năm trở lại đây, mà tới hai lần thua tức tưởi như vầy ai mà ‘hửi’ cho được chớ?

Năm 2000, Al Gore thua George W. Bush chỉ vài trăm phiếu ở tiểu bang Floria nên mất đứt 26 phiếu cử tri đoàn! Bush được 271; Gore được 269 phiếu!

Trong khi phiếu phổ thông bầu cho Al Gore hơn Bush cả 500 ngàn; vậy mà Gore lại thua Bush!

Tức cành hông từ đó tới giờ! Mà giờ còn tức hơn nữa!

Hillary Clinton hơn Donald Trump có thể lên tới 2.5 triệu phiếu phổ thông… Mà vẫn thua là thua làm sao?

Cách bầu cử nầy không công bằng! Dẹp!

Thưa tui cũng khoái cái ý kiến nầy! Và tui cũng khoái nhân dân Mỹ ở cách suy nghĩ của họ: Sai là sửa… Thấy bất công là nói hông! Cho dù nó tồn tại 200 năm, từ hồi lập quốc tới giờ cũng vậy! Nước Mỹ! Mỹ là mới thì phải mới, mới là Mỹ chớ!

Theo thiển ý tui là: Trump đã thắng 35 tiểu bang, Hillary thắng 15.

Trump chiếm nhiều phiếu cử tri đoàn hơn nhiều quá; nên cú hồi mã thương ‘trối’ nầy của phe Dân Chủ sẽ không làm Donald Trump xanh mặt mà ngã ngựa đâu?!

Trump giờ chỉ hơi ‘tè’ mấy anh chóp bu trong đảng Cộng Hòa, sợ sẽ chơi đểu mình thôi; bằng cách bảo cử tri đoàn đừng bỏ phiếu cho Trump là Trump âm thầm về với vợ!

Đảng Cộng Hòa muốn Trump phải gặc đầu cho những ông đảng chọn ngồi vào mấy cái ghế chủ chốt trong nội các của Trump như Mitt Rommey làm Ngoại trưởng Hoa Kỳ chẳng hạn (dù hai ổng chẳng khoái gì nhau).

Rommey đã từng dán nhãn: Trump là bậc thầy lừa đảo (a con man, phony and fraud)!

Nhưng Cựu thị trưởng New York, Rudy Giuliani, người đã hết lòng phò tá Trump trong cơn hoạn nạn cũng thèm nhễu nước miếng cái ghế Tô Tần; để tối ngày ngồi chần vần, ăn ngủ trên máy bay mà đi thuyết khách toàn thế giới.

Du lịch năm châu bốn bể, hỏng tốn tiền, sướng giàn trời mây đi!

Hỏng thấy Ngoại trưởng John Kerry… dù chạy xe đạp té lọi giò cũng ráng cò cò mà đi đó không?

Trump định đem cái ghế nầy mà giao cho bạn hiền để thưởng công; nhưng cái đám chóp bu của đảng Cộng Hòa lại không chịu…

Làm mấy ảnh giận, mấy ảnh chơi cú hồi mã thương là hai đứa mình chỉ còn đường về nhà chăn vịt…

Thôi nhịn đi nhe Rudy! Qua ngồi cái ghế Giám đốc Tình Báo quốc gia (Director of National Intelligence)! Rudy Giuliani, tên nào mà nhiều ‘i…i’ là gốc Ý hè! Mà Ý New York nữa, nổi tiếng xưa giờ… Nên ghế nầy cũng ‘ngầu’ lắm đó!

Thế mới thấy dù mấy hôm nay đã bày mâm đặt ghế cho đám quân sư quạt mo dày công hãn mã cho Trump đi đến chiến thắng long trời lở đất, từ kinh ngạc tới kinh hoàng nầy đang cầm ly sâm banh lên nhậu; rồi chia chác. Trump cũng không dám tự ên mình; tự tung tự tác! Sợ vãng hát!

Hơi tức tức chớ, nhưng chỉ dám khoèo một câu thôi: “Hồi trước mấy anh lãnh đạo đảng Cộng Hòa không thương tui… Nhưng giờ thì mấy ảnh lại yêu tui quá xá… há?”

Là đồng chí, đồng đảng Cộng Hòa với nhau mà xỏ ngọt nhau chi thưa Tổng thống tân cử Donald Trump?

đoàn xuân thu

melbourne

Cám ơn em đã yêu anh!

petruskyaus.net

Thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 28- Feb 2024

Em trách… “anh yêu em?!
làm thơ cho người khác,
anh biết… yêu là ghen,
anh làm em tan nát.”

Tình cũ chẳng trăm năm,
cố nhân đã ôm cầm,
thản nhiên sang thuyền khác,
người tham đó bỏ đăng
rằng thơ: “toàn phù phiếm!”
thuyền hoa đi biền biệt,
bóng nhạn đã mù tăm,
sao thơ còn tha thiết?!

Thơ anh dán đầy vách,
khạp gạo em cạn rồi,
thương cánh cò lặn lội,
cuối bãi tới đầu sông,
em gánh gạo nuôi chồng,
lồng tiếng khóc nỉ non.

Nhớ má rầy: “con dại…
lấy ai! sao không lấy?
lại lấy nó – nhà thơ…
nhà thơ… nghèo biết mấy!”

Em cãi lời của má,
ngoan cố…  em lấy anh,
giàu, nghèo em đâu sá,
đâu ngăn được tình ta …

Đôi ta đã qua chiều,
cuộc đời, trời sắp tối,
cuối cùng rồi anh nói:
“còn có một bài thơ
không bao giờ viết nổi…
chữ nghĩa dẫu khôn cùng
cũng còn là giới hạn
để diễn tả tình em.”

 “cám ơn em yêu đã…
làm bài thơ dở dang!”

đoàn xuân thu.

melbourne.

Búp bê

petruskyaus.net

Thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Từ mặt trận anh về,

anh ghé qua thành phố,

anh mua con búp bê

biết cười và biết khóc.

Con búp bê cùng em

hai đứa chơi nhà chòi

em cho búp bê ăn

em dỗ búp bê ngủ

em chọc búp bê cười

hai đứa em cùng vui.

Anh trở về binh lửa

búp bê nó nhớ anh

nó không cười, cười nữa

nó khóc, em dỗ dành.

Tàn trận đánh, anh về

trong hòm gỗ sơn xanh.

Tiễn anh, búp bê khóc

dàn lính bắt súng, chào

tiếng kèn buồn, vĩnh biệt

nước mắt đẫm má em

mộ phần ai ném đất

vùi sâu anh của em.

Búp bê đòi theo anh

bên kia khoảng trời xanh

không còn bom đạn nổ

không còn người giết người

búp bê làm anh vui

em chắc anh sẽ cười.

Ngủ ngon nhá anh hai!

 đoàn xuân thu

Té và rơi

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 08/11/2019 
Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Té và rơi là hai động từ
chết tới bị thương, không tránh khỏi
dân đen hay cán bộ thường gặp phải
chẳng ai biết cớ gì, tại sao, vì răng
những dấu hỏi luôn hiện ra, quen thuộc
thét đâm lờn, hỏi đầu gối đâu biết trả lời
đang đi khi không tự té
hắn chết vì sơ ý đập mặt vào dùi cui
phó giám đốc ông tiến sĩ này nọ
công tác lầu cao tầng ma đưa lối quỉ bày đường
hốt nhiên làm sầu riêng rụng sau vườn lịch bịch 
thà thua cá độ bóng đá nhảy cầu
có để lại gia đình lá thư tuyệt mạng
đằng này lặng lẽ ra đi máu đọng vũng hờn
“đường ra trận mùa này” đã hết đẹp
“đất nước mình ngộ lắm…” chưa nghe sao?
té có thể sứt cọng gãy càng bò lăn bò lết
nhưng rơi, eo ơi, các-mác lê-nin vẫy tay chào
thiên đường xã hội chủ nghĩa nằm cao quá
lỡ tay rơi chỉ còn lối địa ngục vùi thây
như có bác trong ngày vui đại thắng
có ai đánh bài mà không một lần thua?

Hồ Đình Nghiêm

Rượu chưa đủ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 06/03/2019 

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Nhà văn Mai Thảo (1927-1998)

Trong một số báo Văn cũ có in lại bài thơ của Thanh Tâm Tuyền mà tôi yêu thích. Tựa đề là “Bài Nhớ Thi Sĩ”, ở dưới ghi hàng chữ: Nhớ già Ung (Guiseppe Ungaretti) gửi Mai Thảo.

Bài thơ hay. Khó giải thích sự cảm nhận và cũng không nên lạm bàn quanh co. Tác giả “Thơ Ở Đâu Xa” đã gặp gỡ vị thi sĩ người Ý kia chưa, đó chẳng phải là điều đáng thắc mắc. Tôi nhìn chữ “Gửi M.T”, mường tượng ra hình ảnh một ông già khác, chắc cũng không kém phần đặc biệt so với già Ung?

Cả hai ông già, kẻ phương Tây người phương Đông, tôi đều chưa có cơ may gặp gỡ, mặc dù ông già thứ hai, một ông đông-phương-bất-bại dựng lại được “bàn viết lữ thứ” ở bến bờ Cali, thì nghe như có thứ gì thật gần gũi, thật thân quen… Thật thiếu sót nếu chẳng hề một lần được đối mặt.

“Rượu, Chưa Đủ” là nhan truyện ngắn của nhà văn Dương Nghiễm Mậu tôi đọc lại khi ngồi trên xe lửa đi từ Montréal vượt biên giang hồ vặt lần đầu sang Virginia. Rượu, Chưa Đủ, theo như Mai Thảo kể, (in trong cuốn “Chân Dung Mười Lăm Nhà Văn Nhà Thơ Việt Nam”. Nxb Văn Khoa,Cali. Hoa Kỳ. 1985) là những trang bản thảo của một người viết trẻ bị vất vào đáy sọt rác ở một toà soạn báo bạn, ông nhặt về đăng trên tờ Sáng Tạo số đang làm, không sửa một dấu phẩy và là người sớm nhìn ra ở đấy cái lấp lánh sáng của một hạt ngọc.

“Rượu, Chưa Đủ” quá ngắn so với đoạn đường dài. Tuy nhiên, những nhân vật trong truyện đã ùa ra, giúp tôi giết đi cái khoảng trống mãi lắc lư, lấp đầy một nửa đoạn thiết lộ luôn lầm bầm thứ điệp khúc tẻ nhạt; nửa còn lại là hình bóng hư thực của Mai Thảo cứ chực khuấy động trong trí khi muốn nhắm mắt dỗ một giấc ngủ không hề tới giữa chuyến đi vội vã sớm nghe ra sự mỏi mệt.

Cảnh sắc bên ngoài cửa sổ con tàu luân phiên khiêu vũ, đổi thay bao phông màn trôi đi, trôi đi. Những cụm rừng mùa thu vàng rực màu lá như đám cháy phực lửa giữa khoảng không. Những vách núi dựng đứng mà đá xanh tuồng như biết khóc, trơn láng, ẩm ướt với quyến luyến sương mỏng dùng dằng. Những mặt hồ thoáng rộng bày ra một đường chỉ bạc hàn gắn, khâu liền với chân trời hút thẳm. Những bầy chim di bay về đâu mà vẽ lên trời xanh một nét cọ đen, run rẩy… Tất cả, với tôi, đều dẫn tới cuối một tâm thức: Lạc lõng, quạnh quẽ, lẻ loi. Những trang viết đều đặn hằng tháng nằm trong mục Sổ Tay của tạp chí Văn cũng tựa thế. Chủ nhiệm Mai Thảo đã vun quén, đã ghi nhận, đã ngăn phên dậu cho vùng đất ấy thành ra một lãnh thổ riêng. Có tứ thời bát tiết, có năm châu bốn bể, có chuyện người chuyện ta, có sum họp có lìa xa… Và tựu trung, cái bề trái nằm ẩn mặt sau những dòng chữ giàu có chất thơ kia luôn dẫn người đọc vượt qua dấu chấm cuối cùng để chạm mặt với phân vân, buồn nhẹ, tịch lặng, êm rơi. Là bức tường in vào đó cái bóng gầy như một ý thơ của chính Mai Thảo dàn dựng.

Hai ba người mặc đồng phục xanh xám đi băng qua các toa tàu nối kết. Dáng dấp to lớn, dềnh dàng. Và đôi mắt họ dừng tới đâu thì dường như gửi theo chút tra vấn. Tôi đưa cho họ xem tấm căn cước bọc nhựa của một thằng công dân Canadien.

– Toa đi tới đâu?

– Washington DC.

– Làm chi ở đó? Lâu, mau?

– Khoảng độ hai ba hôm. Moa đi thăm một người anh.

– Cảm ơn. Chúc một ngày lành.

Chỉ thế thôi, lấy lệ. Chẳng có gì phải dông dài. Đối đáp cho đỡ buồn ngủ. Mai Thảo chính là sân ga cuối, là trạm dừng sau chót, là “một người anh tôi muốn thăm” như câu nói tiếng Pháp vừa trình bày với nhân viên kiểm soát biên giới Gia Nã Đại- Hoa Kỳ.

Buổi tối, tại tư gia bác sĩ Phó Ngọc Văn (người từng gửi thơ, giọng khinh bạc lẫn hào sảng đăng trên tờ Văn Học ở Cali.) nhà nằm uy nghi trên “đồi gió” đắc địa đã bày sẵn một tiệc rượu linh đình nhằm đón chào bằng hữu phương xa. Tôi không là tửu đồ, nhưng bàn tiệc ê hề sóng sánh đêm hôm ấy khó làm người ta cưỡng chống một cơn say. Say với những khuôn mặt bao vị từng cầm viết, chỉ mới đọc thơ văn họ mà chưa từng được chen vai thích cánh chung ghế bàn. Mệt mỏi, bụi đường xin trút bỏ ngoài bậc thềm. Bước vào, trăm ngọn nến lung linh soi tỏ, lòng mềm ra với muôn tiếng cười rộn ràng vây quanh. Khi nghe gia chủ hô hoán, một ông già gầy còm da xếp nếp tay nắm cốc rượu lững thững đến gần. Dáng cao, khật khưỡng: “Ối dà, cái thằng nhà quê bên xứ lạnh cũng vừa sang tới?” Khuôn mặt không biểu hiện rõ điều gì khi nói. Ngăm đen, thiếu linh hoạt, là một đầu tàu va vấp gió bụi mãi chạy trên đường rầy chưa hề gián đoạn, ngơi nghỉ. Giang hồ và phong sương. Trán cao, tóc thưa, miệng móm, răng rụng mất đã nhiều và chẳng ai chửi thề nghe sướng tai cho bằng. “Đừng gọi tao là nhà văn lớn. Lớn cái đếch gì?”. Trong toàn thể lời nói khô khan, riêng mình “đếch” là chữ có hồn nhất, được kéo dài ra, lên giọng cao, đếch chẳng đùa đâu nhé.

Đó là phút ban sơ tôi gặp mặt Mai Thảo. Và quả thật, tối đó tôi là thằng nhà quê chóng say hơn ai hết. Tiệc rượu tàn, người vẫn thường đăng lắm truyện ngắn của tôi trên Văn tục bản ở hải ngoại vẫn còn ngồi yên bên những chiếc ghế trống. Cổ rụt xuống trên vai gầy, ly rượu chẳng bao giờ vơi được bao phủ bằng những ngón dài, tài hoa. Đôi bàn tay cầm viết không mỏi mệt đã tạo dựng được trên dưới sáu mươi (60) tác phẩm (ông rất ghét dùng chữ “tác phẩm”). Ông ngồi lặng trên ghế, chính nhân dáng kia cũng tự tạo quanh ông một hình khối, nổi bật sự cô đơn bủa vây.

oOo

– Cuối cùng rồi anh cũng sang thăm xứ nhà quê nầy.

– Tôi sang nhiều lần rồi chứ. Bọn chúng nó dắt cho đi xem những kỳ quan. Ừ, thì cũng có đẹp đấy, nhưng mà rượu đâu, hãy mang ra đi chứ. Kỳ quan với thắng cảnh thì cũng nằm ở một chừng mực nào đấy thôi. Nhìn ngó làm cái đếch gì!

Montréal đang giao mùa. Thu như thu ở Virginia năm nào đã rời đi. Chúng tôi cùng bước vào một quán ăn chịu khó đóng cửa ngủ muộn để tránh gió se lạnh vừa vụt tràn qua, khởi đầu cho một mùa đông có tiếng là khắc khe, hung bạo. Bước đi của nó chậm rãi nên khi ghé ngang đã dây dưa trì nán những năm (5) tháng. Nó đang tới để khiến chúng tôi co ro bước lên một tửu quán người Tàu di dân đã ba đời. Củi lửa reo cùng khói bốc cao từ một chảo dầu chiên xào thức ăn vùng nhiệt đới thơm nồng chào đón. Trong đầu tôi hiện lên một nhản rượu: Ông già chống gậy. Chẳng hiểu tại sao? Người viết nên “Sống Chỉ Một Lần” đang là một ông già, nhưng bước đi vững chãi đó mãi mãi từ chối một cây gậy cầm tay.

– Cậu nhớ viết cho Văn giai phẩm Xuân một cái truyện ngắn.

– Dạ vâng.

– Cậu đã ra được cuốn nào chưa? Một thằng nhà văn đừng bao giờ coi nặng chuyện phải in cho kỳ được một vài cuốn sách. Có thì tốt bằng không thì cũng chả sao. Mình sống với văn chương bằng cả tấm lòng, chỉ chừng ấy là đủ.

Tôi nghe, tôi cúi đầu. Như từng im lặng đón nhận lời phát biểu của ông: Thằng nhà văn nên thu mình trong bóng tối, sân khấu đèn màu nhẩy múa, chỗ ấy vốn dành riêng cho bọn Hùng Cường Mai Lệ Huyền.

Phạm Nhuận gọi mấy món. Anh bồi bàn nghiêng mình một bên lễ phép thưa gửi “tài lũ”.

– Tài lũ cái đếch gì. Nó làm như bố người ta không bằng. Anh nên ăn thức này, anh ngủ một tị cho khoẻ. Ối giời! Sợ, sợ lắm!

Mọi người cùng cười. Cười luôn đi trước tâm sự. Cởi mở xong mới đụng tới được những hàn huyên thân tình. Và Mai Thảo là một người khó tính, ít ăn ít nói trước đám đông xô bồ. Thảng hoặc nge tâm sự, riêng tư: Ban đầu là Hồ Dzếnh, người từng khuyên chớ dẫm chân vào con đường văn chương. Tôi không nghe, trái lại còn hăm hở nữa. Kết quả cái sự giấn liều kia là một quyết định đúng đắn.

Ai cũng ngầm hiểu, ông và nhóm Sáng Tạo đã đưa văn học Việt Nam bước ra một khung trời mới, cách ly khỏi ảnh hưởng của Tự Lực văn đoàn. Gần bên Mai Thảo như tiếp cận một cuốn sách dầy nặng nhiều chương hồi. Giở số trang 1976 là bắt gặp một đoạn văn đầy mưa bão, u ám. Lật vội qua trang sau là chuỗi ngày lưu đày, trốn chạy trên chính quê hương mình. Giở lui thì bắt gặp thời bất toàn của “Đêm Giã Từ Hà Nội”. Giở tới thì nhìn ra “Hồng Kông Ở Dưới Chân”. Từ 1994 là bước qua chương tương lai, ở đó khẳng định một điều: “Lưu vong là lưu vong mãi. Đã mang phận phải ra đi thì nên đi luôn, chẳng muốn về. Không về là vì tâm chẳng muốn về. Thế thôi”.

Mọi người cùng ăn, ông thì không. Lại lập luận: “Cái bao tử nó không đòi hỏi thì cứ để mặc nó, tôn trọng nó. Và đã thành thói quen. Cái uống thì lại khác…” Ông cười, nhếch mép rồi “vô” một ly khác. Thuốc lá Winston đốt lên điếu mới mặc dù nằm trên đĩa gạt tàn hẳn còn nửa điếu cháy dở. Ông từng nửa đùa nửa thật cùng tôi: “Thành phố cậu ở xem ra văn minh hơn bọn nhà quê bên Cali. Anh làm cái đếch gì mà cấm người ta hút thuốc? Nhà quê bỏ mẹ!”. Khói thuốc mơ màng, giọng trầm, khàn đục: “Điều tôi mãi tiếc, hối hận thì đúng hơn, là chưa được uống rượu với ông Tản Đà”.

Ông già Mai Thảo ở chơi với bọn “nhà quê” được một tuần. Đón có Luân Hoán, đưa tiễn có Phạm Nhuận. Trời mưa lai rai, gió cuồng thảng hoặc những đêm hàn huyên muộn trễ việc lên giường. Một tuần có khi nghe ông nói tiếng Pháp lưu loát, có khi nghe chậm rãi tiếng mẹ đẻ, giọng Hà Nội chuẩn mực rót xuống bàn rượu những tâm sự đắng lòng. Không nghe ông trách cứ một ai, chẳng nghe ông ca ngợi người nào. Ông quan niệm: Cứ mặc xác chúng nó. Hơi đâu!

Một tuần, có khi thấy phong độ, lại lắm lúc nhìn ra cơ thể ấy đang đến hồi suy nhược, mệt mề, thôi linh hoạt. Tạp chí Văn mỗi khi một đi xuống, điều đó có phải do bởi tuổi già, một mình chăm sóc? Không, chẳng phải thế. Lỗi ở bọn trẻ đi sau, lỗi ở tôi khi đóng góp bài vở. Có lần ông nói: “Thế hệ cậu không có được sự may mắn. Thời ấy, sinh viên học sinh vẫn kẹp trong sách vở những cuốn “Để Tưởng Nhớ Mùi Hương”, “Mười Đêm Ngà Ngọc”… Bọn tôi sống hẳn với văn chương, chí thú viết truyện không hở tay”.

May mắn? Bất hạnh? Quả có thế. Chẳng có gì kỳ cục hơn là khi ta ném một hòn sỏi xuống hồ, quăng mạnh tay, rớt, chìm, mất tăm tích; mà mặt nước kia vẫn tịch lặng chẳng hề xao động cho sóng đồng tâm nhăn gợn, loang ra.

Ông Mai Thảo về lại Cali. Nhớ lời ông, tôi ngồi viết truyện ngắn cho Văn giai phẩm Xuân với cõi lòng trống vắng. Đây cũng là điều kỳ quái khác. Nói kiểu Mai Thảo: Xuân cái đếch gì khi ngoài kia là một trời băng tuyết lấp đầy chôn lạnh! Cái ô vuông cửa sổ trông tựa một tờ giấy trắng. Để nó sạch tinh khôi hay vấy bẩn vào, cào cấu những hàng chữ không thật lòng, run yếu? Ừ, viết thì viết. Một lời đã hứa thì cố gắng giữ tròn. Chữ thoát ra, dẫu không hay nhưng nó ký gửi theo một tâm thành, chẳng dối gạt.

Chuông điện thoại reo:

– Đang làm gì thế?

– Đang bóp trán.

– Viết lách đấy à?

– Phải.

– Ngồi vọc bàn máy đánh chữ sướng hay ngồi nhậu cùng anh em sướng?

– Còn phải hỏi.

– Thay áo quần đi. Ta lái xe đến đón liền khi.

Tôi không phải là tửu đồ. Điều đó đã có lắm người “thị thực chữ ký”. Nhưng mà chén chú chén anh thì vẫn thích hơn là đầu óc đã quên khuấy hình dáng cây mai chi chít hoa vàng nở đầy cành lá mà cố mường tượng lấy được rồi vẽ rắn thêm chân những bánh chưng pháo đỏ ông đồ lì xì mừng tuổi tống cựu nghinh tân.

Ông Mai Thảo đi rồi, bàn rượu có vẻ trầm mặc, như thiếu một thức gì. Bạn hãy để mặc tôi, đừng thắc mắc, hãy uống những gì bạn thích. Cordon bleu, X.O… Thế thì trà đá chanh đường chăng? (chữ của Khánh Trường). Không, đâu mà tệ thế, cho tôi xin một ly Martell. Tôi muốn bắt chước thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, uống trôi chất cay này để nhớ già Mai Thảo.

Rượu, chưa đủ. Nhớ Mai Thảo là nhớ câu thơ của Bùi Giáng mà ông ca ngợi: “Xin chào nhau giữa con đường, mùa Xuân phía trước miên trường phía sau”. Là mỗi khi nhận báo Văn qua bưu điện, vẫn bất di bất dịch hàng chữ viết tay quen thuộc ngoài phong bì vàng. Cầm lên, trong trí hiện ra một đám mây; nhiều màu, rực rỡ, bay giạt qua bầu trời nhỏ bé của văn chương Việt Nam. Mây che nắng, mây tạo mưa rồi trôi tới một phương trời rộng. Một đám mây cô quạnh, thong dong, bềnh bồng, lạc loài trên vùng đất viễn xứ.

Tôi không là tửu đồ. Đã đành. Nhưng rượu, biết uống mấy cho vừa, cho nguôi ngoai, cho chìm quên, hở ông nhà văn không thích được gọi là lớn?

Hồ Đình Nghiêm

Bài đã đăng Hợp Lưu số 16, tháng 4 & 5, năm 1994. Chủ đề “Mai Thảo 50 năm hệ luỵ với văn chương”. Đánh máy lại, có chỉnh sửa. Tháng 3, 2019. Và thêm chú thích: Vì sức khoẻ sa sút, năm 1996 Mai Thảo chuyển giao tạp chí Văn cho nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng chăm lo. Mai Thảo sinh năm 1927 tại Nam Định và mất năm 1998 ở California.