This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, chỉ một thời gian ngắn, làn sóng người Việt bỏ nước ra đi bằng thuyền càng ngày càng tăng. Mặc cho bao hiểm nguy đang chờ đón họ. Không ai có thể thống kê được đã có nhiêu người đã bỏ thây trên biển cả và bao nhiêu con thuyền đã chìm dưới lòng đại dương mênh mông.
Chị Trịnh Thanh Tùng và gia đình ân nhân ở Bolinao. Photo courtesy bolinao52.com
Đó là chưa kể những người bị hải tặc bắt đi mất tích. Những câu chuyện thương tâm, những bi kịch trên các chuyến vượt biển rất ít khi được kể lại. Phần lớn, đều muốn quên đi quá khứ để bắt đầu cuộc sống mới. Thế nhưng, vết thương lòng của họ thật khó phai mờ. Có những người vẫn còn bị ám ảnh hay sống trong nỗi dằn vặt bởi chuyến vượt biển hãi hùng.
Trang Phụ Nữ kỳ này xin gửi tới quí vị câu chuyện của chị Trịnh Thanh Tùng, người phụ nữ sống sót trong vụ án Bolinao 52 vào năm 1988, khi thuyền vượt biên của chị bị một chiến hạm Mỹ từ chối không vớt, gây nên thảm cảnh vô cùng khủng khiếp.
Cũng là một phụ nữ rất bình thường như bao nhiêu người khác, chị Trịnh Thanh Tùng sinh năm 1956, cha và anh là sĩ quan cao cấp, phục vụ trong trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Thế rồi, biến cố 30-4, cha và anh ruột đều đi tù cải tạo, nhà cửa bị tịch thu, chị kể lại:
“Sau 75 thì mấy ông Cộng Sản vô không cho đi học nữa, phải đi buôn bán, phụ mẹ. Ba thì đi ở tù, anh cả cũng ở tù tới 14 năm…mấy mẹ con ở nhà khổ lắm…bị lấy nhà …họ đuổi ra, không cho ở nhà của mình (khóc)…sau đó phải đi bán buôn, đi làm ruộng..rồi ba tui đi ở tù về thì má tui mất. Anh cả thì vẫn ở tù, tháng tháng phải xách đồ đi thăm nuôi…nhắc tới khổ lắm!”
Chuyến vượt biển định mệnh
Vào ngày 22 tháng 5 năm 1988, sau khi ly dị một thời gian, chị quyết định dắt con trai chưa đầy 5 tuổi xuống thuyền vượt biên cùng với người anh trai, chị kể tiếp:
Xem video clip trailer phim của Bolinao 52
“Lúc đó tui ly dị và dẫn đưá con đi theo, anh trai tui mới ở tù ra cũng đi theo luôn và anh dẫn theo thêm một đưá con của ảnh… Đi cực lắm, đi rồi lại về, năm lần bảy lượt mới được… mà rốt cuộc cũng bị gì đâu…
4 người đi ngõ Bến Tre, chờ cho đến khi lên tàu lớn…khi đi rất ngon lành, tàu chạy nguyên một đêm, ban ngày ra chạy khoảng nửa ngày thì máy tắt, ông tài công sưả…lúc đó ai cũng còn “sặc sừ”, sau đó máy chạy lại, được một chút thì mưa to gió lớn quá…
Ông tài công nói tắt máy vì sợ sóng lớn đánh tàu bị lật, sau khi hết mưa thì cho máy chạy lại thì máy không còn nổ nữa, lúc đó là khoảng 4, 5 giờ chiều, sửa hoài cũng không nổ, vì thế ông tài công nói là không đi được thì thôi để máy trôi vô bờ, lúc đó tụi này thấy núi xa xa…thì mình nghĩ cũng đúng, và ổng còn nói là ai có giấy tờ gì thì xé đi, đồ ăn uống gì thì ăn cho hết đi, rồi lên bờ thì mạnh ai nấy chạy.
Nghe ông ta nói như vậy thì ai cũng ăn, sau đó mọi người đều ngủ. Sáng ra, tui thấy biển xanh như mực, nó không trôi vào mà trôi ra, lúc đó ông tài công sửa máy nhưng nó không chạy và từ đó trôi luôn…”
Theo lời chị cho biết, chiếc ghe cứ trôi trên biển như thế và nhìn thấy rất nhiều tàu qua nhưng không chiếc nào dừng lại…Giữa biển cả mênh mông, chỉ có trời và nước, mọi người đều bắt đầu kiệt sức…chị nói tiếp:
“Không có ai ngừng lại để vớt mình hết, duy nhất ngừng lại là chiếc tàu Mỹ, không có chiếc tàu nào dừng lại hết, toàn là đi ngang qua thôi, gặp nhiều lắm…Ngày thứ 10, gặp tàu Nhật thì có mấy người trên tàu nhảy xuống, đến ngày 19 thì gặp tàu Mỹ ngừng lại cho đồ ăn…
Ngày thứ tư là tui hết đồ ăn rồi, chỉ còn gói bột cam và ống sữa. Khi biết chiếc tàu bị trôi thì gia đình chủ tàu đã dành đồ ăn cho riêng họ, nước cũng vậy, khát nước thì họ chỉ phát cho chút xíú, rốt cuộc cũng hết nước.”
Chuyến đi hãi hùng
Thế rồi, trên chiếc ghe nhỏ với 110 người ấy, ngoài những người đã hoảng loạn nhảy xuống biển, thì bắt đầu có người chết:
Chị Trịnh Thanh Tùng trong chuyến trở về lại Bolinao. Photo courtesy Bolinao52.com
“Người nào chết thì thẩy xuống biển, chết trước nhất là con bé nhỏ 3 tuổi, ngồi kế tui vì nó khóc nhiều quá, nó đòi ăn, đòi uống hoài, nó là đưá chết đầu tiên…Khi gặp tàu Mỹ, ở trên chiếc tàu đó có người Việt Nam, ông ta tên Nghiêm hay Nghiệm gì đó vì tui thấy bảng tên của ông ta, ông ta là lính trên chiếm hạm đó.
Ông Việt Nam đó nói là chiếc tàu của ông ta đang trên đường đi công tác ở vùng Vịnh, không thể giúp tụi tui được, chỉ cung cấp thức ăn trong vòng hai ngày, sau đó, sẽ được đưa vào Nam Dương hay Phi Luật Tân…
Họ cung cấp thức ăn trong hai ngày mà trong khi đó, mình đói 19 ngày rồi, mà chiếc ghe phải có người tát nước, ngày nào nước cũng vô mà không ai chịu tát hết, thành ra, ai tát nước thì mới được phát đồ ăn, đồ ăn có trong hai ngày, ngày thứ ba thì cũng chờ…rốt cuộc không thấy gì hết và không còn đồ ăn nữa.”
Được biết, vì để sống còn, giữa biển cả mênh mông, không nước, không lương thực, chị đã phải uống nước tiểu của con trai mình và chấp nhận ăn thịt đồng loại để giữ mạng sống cho mình và con trai. Chị kể:
“Có người nói là khi nào tôi chết thì lấy thịt tôi làm thức ăn để cho mọi người sống sót còn tới bến bờ chứ nếu không thì không ai biết như thế nào…Nghe nói vậy thì mình không biết ai nói câu nói và ai đã làm chuyện đó…
Ai cũng phải tát nước hết, thành ra, ngoại trừ con nít thôi, ai cũng phải tát hết, cho nên tui quả quyết rằng 52 người còn sống sót người nào cũng phải ăn hết, anh Minh đưa cho tui hai phần vì tui có con nhỏ, nhưng tui cũng phải tát nước.. có những người không chịu làm thì anh ta đánh người ta…
Sáng ra, anh kêu dậy tát nước mà chưa kịp dậy là anh ta múc nước biển đổ lên người mình. Mỗi một đêm, sáng ra là nước ngập nửa ghe rồi.”
Công khai câu chuyện
Ai cũng phải tát nước hết, thành ra, ngoại trừ con nít thôi, ai cũng phải tát hết, cho nên tui quả quyết rằng 52 người còn sống sót người nào cũng phải ăn hết, anh Minh đưa cho tui hai phần vì tui có con nhỏ, nhưng tui cũng phải tát nước.. có những người không chịu làm thì anh ta đánh người ta…
Cuối cùng, đến ngày thứ 37, như một phép mầu, một chiếc tàu đánh cá Phi đi qua đã vớt những thuyền nhân khốn khổ này và đưa vào đảo Bolinao, sau đó, họ được chuyển tới trại tạm cư Palawan và câu chuyện của họ được khám phá.
Vị hạm trưởng chiến hạm Mỹ bị đưa ra toà án quân sự, và những thuyền nhân sống sót lần lượt đi định cư, trong số đó có chị Trịnh Thanh Tùng. Đến Mỹ năm 1991, sau một thời gian ổn định cuộc sống, chị trở thành cô thợ cắt tóc bình thường như bao phụ nữ khác, chỉ biết cố gắng nuôi dậy đưá con trai sao cho nên người.
Những tưởng cuộc sống sẽ bình lặng nhưng không đơn giản như thế, vì mỗi khi đêm xuống, trong một thoáng nào đó, sâu thẳm trong trái tim chị, hình ảnh những người đồng hành trên chiếc ghe năm xưa vẫn còn ám ảnh: “Tui nhớ mãi có một chị đó ngồi ngoài sau chiếc ghe, và ngoài đó thì nắng quá, chị đó người Hoa, không nói tiếng Việt, chị ngồi đó mà chết luôn, người chị khô và đen, y như là bức tượng chứ không phải là người, mắt mũi miệng của cổ sùi bọt trắng bóc, giống như bọt kem đánh răng vậy.
Tui nhớ nhất là chị Năm, nằm cạnh tui, chị cứ nói là: “lạnh quá, Tùng ơi, ôm chị đi.” Tui đưa áo mưa của tui cho chị ấy luôn và ôm chị, sáng ra thì chị ấy chết…”
Cho đến một ngày, một người bạn của chị nói với chị rằng, có đạo diễn Nguyễn Hữu Đức nhắn tin trên Đài phát thanh địa phương đang đi tìm những nhân chứng trong vụ án Bolinao 52 năm xưa.
Suy nghĩ mãi, cuối cùng, chị đồng ý cho gặp mặt và cũng từ đó, câu chuyện về chuyến vượt biển kinh hoàng mới được chị công khai cho mọi người và nhất là cậu con trai nay đã trưởng thành. Và, điều quan trọng hơn cả, tâm nguyện của chị là:
“Tui muốn đi về Bolinao để cảm ơn họ, mặc dù sống ở đó có 7 ngày nhưng tui ráng nhớ chỗ đó để khi có dịp trở lại, vì theo tui, đó là nơi tui được sanh ra lần thứ nhì, ước nguyện của tui là được trở về thăm lại chỗ đó.
Trước khi tui đi Bolinao, tui cảm thấy mình chưa làm xong điều gì hết, tui muốn trở về để thăm và ra ngoài biển, vái những người bạn của tui cũng như vái những người đã giúp cho tui sống.”
Với một tâm hồn bình dị, đơn sơ và đầy lòng vị tha, khi chị gặp lại một trong những người thuỷ thủ trên chiến hạm Mỹ năm xưa đã ngoảnh mặt làm ngơ, để gây ra thảm cảnh đau lòng, chị chỉ hỏi ông ta rằng:
“Tôi đã hỏi ông ta tại sao không giúp, thì ông ta nói rằng ông chỉ thừa hành lệnh thôi, tất cả những người trên chiếc tàu đều giống như ông ta thôi, đều cảm thấy có tội khi bỏ chiếc ghe mà đi…Chính ông bác sĩ trên tàu của họ cũng đã chuẩn bị sẵn sàng giường để đón qua, nhưng họ rất sững sờ khi thuyền trưởng ra lệnh đi, vì họ biết chiếc ghe này sẽ chết..”
Can đảm thì cũng không phải là can đảm gì vì gặp hoàn cảnh như vậy thì mình phải làm như vậy thôi…Khi tui ở trên ghe, không bao giờ tui nghĩ tui sẽ chết, tui được như vậy là Trời Phật thương mình lắm rồi, mình không cần phải giàu, không cần phải đi xe đẹp, không cần phải mặc quần áo sang…cuộc sống bình lặng như vầy là được rồi.
Trở lại Bolinao
Giờ đây, sau khi đã về lại Bolinao, nơi chị được cưu mang chỉ có 7 ngày, gặp lại ân nhân đã cứu mạng, cùng ra biển thắp nhang cho 58 người thiệt mạng, lòng chị cảm thấy nhẹ nhàng và thanh thản:
“Sau khi trở về, tui cảm thấy sống bình yên hơn…Tui chỉ ước mơ cho con tui thành tài, mình qua đây đâu phải cho mình đâu, mà để lo cho con mình. Nghĩ về quãng đời qua của mình, tui nghĩ con người ai cũng có số, mình muốn cũng không được, cuộc đời nó đưa đẩy thì mình phải chấp nhận như vậy…
Can đảm thì cũng không phải là can đảm gì vì gặp hoàn cảnh như vậy thì mình phải làm như vậy thôi…Khi tui ở trên ghe, không bao giờ tui nghĩ tui sẽ chết, tui được như vậy là Trời Phật thương mình lắm rồi, mình không cần phải giàu, không cần phải đi xe đẹp, không cần phải mặc quần áo sang…cuộc sống bình lặng như vầy là được rồi.”
Riêng với cậu con trai vượt biên với chị chưa đầy 5 tuổi năm xưa, nay đã là lính thuỷ quân lục chiến trong quân đội Hoa Kỳ, thì cho đến bây giờ anh mới được nghe mẹ kể lại. Chúng ta hãy nghe anh Phan Thanh Lâm tâm sự:
“Tôi chỉ nhớ rằng trên thuyền, tôi rất yếu, chỉ nằm thôi, và đã bị đói khát, tôi phải ăn cả kem đáng răng, nhưng sau cùng, mẹ tôi cũng tìm cho tôi đồ ăn, mà tôi không biết đó là thức ăn gì, cho đến bây giờ tôi mới hiểu ra…
Nhưng tôi nghĩ, chẳng qua vì chúng tôi phải sống mà thôi. Tôi không ngờ suốt mười mấy năm qua, bà đã phải chịu đựng sự dằn vặt như thế. Mẹ tôi đã hy sinh cho tôi rất nhiều và bà ấy là một người mẹ tuyệt vời. Nếu mẹ tôi không can đảm đưa tôi qua đây, để tôi được như ngày nay, thì tôi không biết rằng tương lai của tôi ở Việt Nam sẽ ra sao nữa.”
Qúi vị và các bạn vừa nghe câu chuyện của chị Trịnh Thanh Tùng, người phụ nữ sống sót trong chiếc ghe nhỏ Bolinao 52 năm xưa. Phương Anh xin dừng nơi đây. Hẹn gặp lại qúi vị và các bạn trong chương trình kỳ sau.
Mùa Quốc Hận năm nay, kính mời quí đồng hương hãy đi xem cuốn phim Bolinao 52 được trình chiếu tại Bowers Museum, 2002 N. Main Street Santa Ana, Ca 92706. Chủ Nhật ngày 26 tháng 4, từ 1 giờ đến 4 giờ.
Ngòai phần chiếu cuốn phim thảm cảnh Bolinao 52, Đạo diễn Nguyễn Đức và Ban tổ chức sẽ có buổi lễ vinh danh tạ ơn ông Corwin Al Bell, nguyên hạm trưởng USS MORTON, Hải Quân Hoa kỳ đã có công cứu vớt hàng trăm thuyền nhân Việt Nam trên biển Nam Hải. Ông Corwin Bell là một trong số những hạm trưởng của Hải Quân Hoa Kỳ và thế giới, đã thi hành đúng bổn phận của người hàng hải, cứu vớt những kẻ gặp nạn trên biển cả, mà còn thể hiện được tình nhân đạo giữa con người với nhau. Ngòai việc được vinh danh công trạng, ông Bell cũng đã tạo được mối liên lạc mật thiết, đậm tinh với những nạn nhân đã được ông cứu sống, nay đã thành đạt và vẫn ghi nhớ ơn cứu tử của ông.
Tuy vậy trong cuộc vượt biển tìm tự do của người Việt Nam, không nhất thiết mọi vị chỉ huy hàng hải đều thi hành mệnh lệnh nhân đạo một cách đúng đắn mà, rất nhiều người đã ngỏanh mặt làm ngơ để cho hàng trăm ngàn người Việt nam bị vùi thây trên biển Nam Hải. Đó chính là động lực cho sự hình thành cuốn phim “BOLINAO 52”, thảm kịch trên biển Nam Hải của đạo diễn Nguyễn Đức.
Bolinao 52 của Nguyễn Đức
Một Phim Tài Liệu về Chuyện Người Tị Nạn Được kể trung thực nhất bằng những người thật, vật thật làm cho người xem cảm nhận được những gian khó của người Việt Nam trên đường tìm tự do. Nguyễn Đức đã soạn một nền tảng với nhiều nghề nghiệp. Anh làm họa sĩ cảnh trí, nhân viên đoàn nghiên cứu y tế, nhà sản xuất kỹ thuật truyền hình. Đức có bằng Truyền Thông Đại Chúng (Mass Communications) từ Đại học California ở Berkeley. Với nhiều năm kinh nghiệm làm phim, anh muốn kể lại câu chuyện đầy máu và nước mắt qua cuốn phim tài liệu, Bolinao 52, để đưa ra ánh sáng một chuyện dài của thuyền nhân Việt nam từ góc nhìn của những người sống sót.
Cuốn phim tài liệu đến gần như là tình cờ.
Nguyễn Đức sinh ra giữa chiến tranh Việt nam, đến Mỹ bằng đường biển lúc 15 tuổi. Lúc nào anh cũng có một liên hệ cá nhân mật thiết với biển cả. Anh và gia đình trôi dạt trên biển 4 ngày trước khi được một chiếc phi cơ tuần tra Mỹ phát hiện, và sau đó được cứu lên chiến hạm USS Long Beach. Ngay trong lúc lênh đênh trên biển ở tuổi 15, Đức đã tự nhủ sẽ kể lại chuyện này nếu sống sót. Thọat đầu anh chỉ định kể lại chuyện vượt biển của riêng mình, nhưng cuối cùng hoàn cảnh đẩy đưa anh vào thế giới thuyền nhân Việt nam có hàng ngàn chuyện khổ đau gấp trăm gấp ngàn lần chuyến đi của anh. Đức đã dốc hết tâm tư vào việc làm để đời cho thế hệ sau này.
Đường vào cõi chết.
Thật tình cờ Đức biết được câu chuyện Bolinao 52. Anh thấy lóe lên một tia sáng khi xem ký sự truyền hình của Diane Sawyer trong chương trình “60 Minutes”, nói về phiên tòa án quân sự của một hạm trưởng Hải quân Hoa Kỳ, đã bỏ rơi những người tị nạn trên chiếc thuyền mong manh giữa biển, mà nạn nhân đã chết hơn một nửa. Năm 1988, chiến hạm mang tên USS DUBUQUE, hạm trưởng là Alexander G. Balian với 25 năm kinh nghiệm bị tuớc quyền chỉ huy vì đã làm mất danh dự cho ngành hàng hải Hoa kỳ, “bỏ rơi người gặp nạn trên biển dù họ là kẻ thù của mính”; Đằng này họ là thường dân vô tội.
Chiếc thuyền rời Bến Tre tháng Năm 1988 với 110 người gồm nam phụ, lão ấu. Ngày đầu tiên thuyền đã bị chết máy sau một trận bão, trôi dạt theo dòng nước trong hai tuần liên tiếp. Nhiều tàu lớn đi qua, nhìn thấy, nhưng không chiếc nào dừng lại. Chiếc tàu đầu tiên ngừng lại là chiến hạm Mỹ (USS) Dubuque, từ Phi Luật Tân trên đường đến Vịnh Ba Tư. Chiến hạm Dubuque có thông dịch viên người Việt cũng được biết tình trạng thuyền bị chết máy hơn hai tuần, mấy chục ngày không lương thực, cạn nước uống, lênh đênh trôi. Thuyền nhân chết dần chết mòn chỉ còn lại một nửa. Chiến hạm chứng kiến thuyền nhân quăng mấy xác chết xuống biển để ra dấu tình trạng tuyệt vọng. Chiến hạm Dubuque từ chối cứu chiếc thuyền. Vài người tị nạn lấy sức tàn bơi qua chiến hạm, đu giây lên thành tầu. Thuyền trưởng ra lệnh rung giây cho rơi xuống biển rồi liệng phao bắt họ bơi về thuyền và…lặng lẽ bỏ đi.
Sau hai ngày với lương thực được tầu Mỹ bố thí, thuyền nhân yếu lả. Mức độ người chềt khủng khiếp hơn. Lương thực và nước uống hòan tòan kiệt cạn. Họ không còn chọn lựa nào khác là…. bắt buộc phải nuốt trửng những miếng thịt người đồng hành mới chết để lấy sức.
37 ngày sau, dân đánh cá Phi luật tân cứu được và đem họ đến phố Bolinao. 110 người rời Việt nam, đến bến bờ tự do chỉ còn 52 người. “Báo chí Phi loan tin, báo chí Mỹ đánh hơi; từ đó câu chuyện vượt biển kinh hòang được cả thế giới biết đến qua tên gọi Bolinao 52, địa danh cứu vớt họ và 52 người sống sót trên tổng số thuyền nhân 110 người.
Dù báo chí, truyền thanh truyền hình đã kể nhiều về biến cố này nhưng theo Nguyễn Đức, cũng là một thuyền nhân, thời gian lênh đênh trên biển chỉ bằng một phần 10 chuyến đi của Bolinao, Đức thấy câu truyện cần phải được kể lại bằng chính những người sống sót.
Đức nghiên cứu tài liệu về Bolinao 52 nhưng không thấy bao nhiêu vì ai cũng muốn quên đi cảnh tượng kinh hòang ấy. Sau cuộc phỏng vấn trên đài VNCR Đức liên lạc được em gái một người sống sót trên chuyến đi này. Đức gặp chị Trịnh Thị Tùng, chị đồng ý kể lại câu chuyện sáng tỏ từ lúc khởi hành đến ngày cặp bến Bolinao.
Nguyễn Đức đưa khán giả vào diễn tiến cuốn phim BOLINAO 52 từ lúc tìm nhân chứng đồng ý nói thật và ước nguyện của nạn nhân. Chị Trịnh Thanh Tùng đã ổn định đời sống ở Mỹ, con trai chị lúc vượt biển mới 5 tuổi nay đã làm một chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Khát vọng của chị Tùng là được trở lại Bolinao để gặp gỡ, tạ ơn những dân làng đánh cá nghèo nào đã cưu mang họ. Chị Từng cùng đòan quay phim làm lễ cầu siêu cho 58 thuyền nhân xấu số đã bỏ thây trên biển cả và một số da thịt họ đã giúp sức cho người còn lại sống qua cơn đói lả.
Nhân chứng cho biết cảm giác khi khát nước, mẹ phải nhường những gịot nước mưa cho con, trong khi chị uống nước tiểu của con để khỏi chết khô. Kinh hòang nhất khi chị Tùng kể, vì đói quá, anh ruột chị Tùng đã dùng hai tay mở miệng chị ra, bỏ vào miếng thịt của “Cô Vân”, người bạn đồng hành vẫn ngồi bênh cạnh chị, mới chết đêm hôm trước. Chị Tùng nhắm mắt nhắm mũi nuốt trửng miếng thịt và, nhờ đó sống còn để kể lại chuyện xưa.
Trong Bolinao 52 có một biến cố khác khá sâu sắc. William Cloonan nguyên là thủy thủ chiến hạm Dubuque. Ông phục vụ trên chiến hạm này khi chiếc thuyền Bolinao 52 gạp nạn. Ông và nhiều chiến hữu chứng kiến cảnh tang thương của chíếc thuyền tị nạn, nhưng là cấp thừa hành ông không làm gì được đành phải thi hành lệnh hạm trưởng. Nhưng hình ảnh ấy vẫn ám ảnh ông hàng chục năm sau, ông ước ao có dịp gặp mặt nạn nhân của chiếc thuyền ấy nếu có ai may mắn còn sống sót để phát biểu cảm nghĩ của ông vả các bạn.
Nguyễn Đức đã sắp đặt để hai mẹ con Chị Tùng gặp ông Cloonan. Không khí lạnh nhạt nặng nề lúc đầu dần dần tan biến để lại sự thông cảm giữa những trách óan và mặc cảm tội lỗi. Cuối cùng sự bao dung và đồng cảm Nguyễn Đức đã ghi lại được cảm xúc của hai thành phần vào một cuốn phim tài liệu vô giá.
Nhân mùa quốc nạn năm nay, CNN kính mới quí đồng hương hãy đến xem phim Bolinao 52 để hình dung lại giá trị của hai chữ tự do chùng ta đã phải trả bằng bao nhiêu máu và nước mắt.
Cách nay 17 năm, vào tháng 5, một con thuyền nhỏ xuất phát từ Bến Tre chở 110 người vượt biên đi tìm tự do. Thật không may, chỉ sau một ngày ra khơi, chiếc ghe nhỏ ấy đã hỏng máy và trôi lênh đênh trên biển…Trên chuyến hải trình, họ đã gặp nhiều tàu ngọai quốc nhưng không một chiếc nào dừng lại cứu vớt.
Cuối cùng, họ gặp một chiến hạm Mỹ, những tưởng được tàu này cứu vớt, nhưng đã bị viên hạm trưởng từ chối. Thế rồi, thảm kịch đã xảy ra, phân nửa thuyền nhân đã chết vì kiệt sức, đói, khát…số còn lại bắt buộc phải ăn thịt của đồng loại đã chết để mà sống. Khi đến được bến bờ, câu chuyện thương tâm của họ được khám phá. Vị thuyền trưởng chiến hạm Mỹ bị đưa ra tòa.
Câu chuyện chìm dần vào quên lãng, nhưng mới đây, một nhà làm phim người Mỹ gốc Việt, Nguyễn Hữu Đức, đã tốn rất nhiều công sức và thời gian trong suốt 5 năm trời để thực hiện cuốn phim tài liệu về câu chuyện bi thảm này như để ghi lại phần nào lịch sử đau thương của thuyền nhân Việt Nam. Mục Câu Chuyện Hàng Tuần kỳ này xin mời quí vị nghe những chi tiết liên quan đến cuốn phim “Bolinao 52”
Đạo diễn Nguyễn Hữu Đức
Đạo diễn Nguyễn Hữu Đức, một cựu thuyền nhân, định cư tại Hoa Kỳ năm 1980. Sau khi tốt nghiệp trung học, anh theo học ngành vẽ tại Art Insitute of Houston và làm ở trung tâm điện ảnh thế giới Hollywood. Hàng ngày, anh có dịp tiếp xúc nhiều với phim ảnh và thế là anh quyết định theo học ngành truyền thông tại đại học UC Berkeley.
Anh rất yêu thích ngành làm phim tài liệu và đã từng phụ tá đạo diễn cho các phim tài liệu dài nhiều tập nói về gia đình và bản sắc, rất có giá trị như “The New Americans” và “My Journey Home”. Cả hai phim này đã từng được trình chiếu trên kênh truyền hình Hoa Kỳ PBS. Theo lời anh cho biết, bắt đầu từ năm 1998, anh đã rất chú ý đến vụ án chiếc tàu “Bolinao này” nhưng không có cơ hội để tìm hiểu nhiều hơn. Nguyên nhân nào đã gây sự chú ý của anh, anh cho hay:
“Vụ tầu Bolinao 52 xảy ra vào năm 1988, được đăng lên báo Mỹ như New York Time hay LA Time bởi vì chuyến tàu này đã gặp được chuyến tàu hải quân Mỹ ở vùng Đông Nam Á trong khi chiếc tàu này trôi dạt…
Vụ tầu Bolinao 52 xảy ra vào năm 1988, được đăng lên báo Mỹ như New York Time hay LA Time bởi vì chuyến tàu này đã gặp được chuyến tàu hải quân Mỹ ở vùng Đông Nam Á trong khi chiếc tàu này trôi dạt…
Nhưng ông thuyền trưởng USS Dubuque đã không vớt những thuyền nhân này và lúc chiếc tàu này được vào thì những người sống sót đã kể lại và quân đội hải quân Mỹ bắt đầu xử ông thuyền trưởng.
Lúc đem ông ta ra toà thì báo chí đã đăng lên vấn đề này…Có nhiều bài viết trên báo và từ đó Đức đã sưu tầm ra được. Cũng có chương trình 60 minutes đã chiếu câu chuyện này vào năm 1988.”
Cũng theo lời của đạo diễn Nguyễn Hữu Đức, dựa theo các tài liệu mà anh đã sưu tập được thì sau khi bị chiến hạm Mỹ bỏ rơi, họ đã trôi thêm 18 ngày, rồi được một chiếc thuyền đánh cá Phi cứu và đưa vào đảo Bolinao, khi đó chỉ còn lại 52 người kể cả trẻ em, tổng cộng họ đã trải qua 37 ngày lênh đênh trôi trên biển.
Bắt đầu đi tìm những nhân chứng của “vụ án Bolinao 52” này không phải là chuyện dễ. Khởi đầu từ một thuỷ thủ tên Bill Coonan, là một nhân chứng trên chiến hạm USS Dubuque năm xưa, anh đã mở lại từng trang tài liệu. Anh kể lại về kết quả vụ tàu Bolinao 52 năm xưa:
“Toà Hải Quân Mỹ xử ông thuyền trưởng đã bỏ rơi những người thuyền nhân này, nhưng ông ta không bị đuổi ra khỏi quân đội, không bị bỏ tù. Bây giờ, ông ta vẫn còn sống ở thành phố Los Angles. Đức không có dịp để gặp vì nhiều lần Đức điện thoại, muốn nói chuyện nhưng ông ta không muốn trả lời.
Đức tìm được chị Tùng là một trong những người sống sót và đi tìm hiểu, và tìm được một người thuỷ thủ trên chiếc tàu USS Dubuque của hải quân Mỹ và ông này rất hối hận về chuyện đã xảy ra 17 năm trước. Ông vẫn còn bị ám ảnh về ngày chuyến tàu hải quân Mỹ gặp chiếc tàu thuyền nhân nhỏ bé này.
Ông rất tức tối về quyết định của thuyền trưởng, vì ông ta nghĩ rằng những người này đáng phải được vớt vì tình trạng lúc bấy giờ quá đau khổ rồi, có người đã chết và trôi trên biển, có người đã bơi đến chiếc tàu và leo lên sợi dây để leo lên tàu hạm nhưng bị ông thuyền trưởng ra lệnh cắt dây để những người đó té xuống biển, những hình ảnh đó vẫn còn ám ảnh ông ta sau bao nhiêu năm nay…
Năm 2004, Đức có gặp được ông ta khi ông đến Los Angeles để thăm con gái của ông. Ông này tên là Cloonan. Ông chỉ là một thuỷ thủ thôi nhưng ông rất buồn về điều đó, bao nhiêu năm qua, ước vọng của ông Cloonan là chỉ muốn gặp lại những người sống sót để xin lỗi vì những chuyện xảy ra…
Chi tiết từ ông Cloonan rất rõ ràng, lúc đó ông ta sửa soạn để đưa những chiếc thuyền nhỏ của hải quân Mỹ đến chiếc Bolinao 52…coi tình hình chiếc tàu này. Nhìn từ chiếc tàu hạm, ông ta thấy tình trạng của những thuyền nhân cần cứu gấp vì có những người nhảy xuống biển mà bơi đến chiếc tàu.. Ông ta sửa soạn để tiếp đón những thuyền nhân này nhưng được tin là thuyền trưởng không vớt và ông ta rất buồn về điều này..”
Đạo diễn Nguyễn Hữu Đức. Photo courtesy Bolinao52.com
Những thuyền nhân còn sống sót
Với những thuyền nhân còn sống sót, thì thật là điều vô cùng nan giải, anh đã phải đăng báo, nhờ các đài Việt Ngữ ở địa phương tìm người. Sau một thời gian, có người liên lạc với anh và cho biết tin tức về thuyền nhân sống sót năm xưa, nhưng ai cũng từ chối, không muốn kể lại tấn thảm kịch ấy.
Nhưng rất may, cho đến một ngày, anh gặp được chị Trịnh Thanh Tùng: “Đức đã gặp được chị Tùng là một nhân vật chính trong cuốn phim này. Phim này kể lại mọi chuyện, từ những chi tiết… mà chị Tùng đã cố gắng nhớ lại, đã trải qua, và chị Tùng có ý muốn về đảo Bolinao mà nơi chị đã được những người Philippines vớ và đem vào, để tìm lại những người đã cứu giúp, để cám ơn những người đó.
Năm 2005, Đức và chị Tùng cùng phái đoàn quay phim đã trở về Philippines và tìm được một người đánh cá duy nhất còn sống, đã cứu vớt chiếc tàu Bolinao 52 năm xưa.”
Cũng trong năm 2006 vừa qua, lần đầu tiên, một cuộc hội ngộ giữa người phụ nữ can đảm Trịnh Thanh Tùng và người thủy thủ trên chiến hạm USS Dubuque năm xưa đã diễn ra như để giải trừ nỗi phiền muộn của hai bên kéo dài trong suốt mười mấy năm trường.
Chỉ khai thác ở khiá cạnh này mà thôi nên đạo diễn Nguyễn Hữu Đức đã không ghi lại những chi tiết có thể gọi là kinh hãi và rùng rợn vì anh hiểu rằng đó là vấn đề hết sức tế nhị.
Anh tâm sự: “Thật ra, những người ở trên chuyến tàu này đã không muốn thổ lộ là họ đã trải qua như thế nào vì chuyện này rất buồn và gợi lại những chuyện có thể làm cho người ta depress. Có nhiều người đã qua đây lập gia đình nhưng gia đình vẫn chưa biết được quá khứ của họ…
Chị Tùng là một trong những người sống sót, rất can đảm, vì chị nghĩ là con cháu của chị bắt buộc phải biết về những chuyện chị đã phải trải qua… có nhiều chuyện xảy ra trên chuyến tàu mà mình chưa biết. Có một anh, khi vượt biên còn nhỏ, cả gia đình đã chết hết rồi, cha mẹ, em cũng bị chìm trên biển và anh đã chứng kiến những thân nhân của mình chết trên chiếc tàu đó.
Lúc đó, anh đến Mỹ chỉ có 10 tuổi. Năm 2006, người bà con họ của anh này, có dựng một kịch bản tên là Trial by Water, cũng về chuyến tàu này, kể lại những gì anh đã trải qua và kịch này ghi lại những chuyện rùng rợn ăn thịt người ở trên chiếc tàu. Đức đã xem vở kịch đó nhưng rất nhiều người không đồng ý kể ra những chi tiết rùng rợn như vậy, vì mình không trải qua chuyện đó, mình không thể ghi lại đau đớn của người ta được.”
Mang tính lịch sử
Mục đích đầu tiên là Đức muốn tạo ra những chuyện từ xưa đến bây giờ, từ ngày thuyền nhân đã bỏ Việt Nam ra đi đến bây giờ, có nhiều chuyện không thể kể nổi cho những người ngoại quốc, những người không trải qua, và cùng lúc đó, những câu chuyện này trong gia đình nhiều khi cũng không thể kể ra được…
Được hỏi qua cuốn phim tài liệu mang tính lịch sử này, anh mong khán giả cảm nhận điều gì, anh cho hay:
“Mục đích đầu tiên là Đức muốn tạo ra những chuyện từ xưa đến bây giờ, từ ngày thuyền nhân đã bỏ Việt Nam ra đi đến bây giờ, có nhiều chuyện không thể kể nổi cho những người ngoại quốc, những người không trải qua, và cùng lúc đó, những câu chuyện này trong gia đình nhiều khi cũng không thể kể ra được…
Đức muốn kể cho những người chưa trải qua, những cảnh vượt biên là như thế nào…Mục đích thứ hai là những thế hệ trẻ sanh ra ở bên Mỹ hiểu về vấn đề lịch sử của cha mẹ mình, hay là ông bà mình đã trải qua như thế nào…tại sao lại có mặt ở trên nước Mỹ này.”
Thưa quí vị và các bạn, riêng với chị Trịnh Thanh Tùng, khi hỏi vì sao chị lại quyết định nhận lời kể ra hết những chi tiết đạo diễn Nguyễn Hữu Đức, chị nói:
“Ban đầu mình cũng không tính nói vì cái chuyện đó xảy ra ngoài ý muốn, nhưng khi mình coi phim “Alive” của Mỹ, chiếc máy bay rớt trên núi tuyết, những người đó họ phải ăn thịt bạn đồng hành của họ để họ sống sót. Tôi coi phim đó tôi thấy rằng họ cũng giống mình, chỉ khác một điều là mình đi tìm tự do cực khổ, còn họ thì đi chơi, nên nếu mình không nói ra thì đâu ai biết.
Khi tôi sống được và qua tới Mỹ, thì tôi nghĩ rằng không có gì phải sợ hãi, phải lo lắng hết…giống như một phép nhiệm mầu cho những người Phi giúp mình nên mình mới sống được..nên tui nghĩ chuyện đó không có gì xấu để dấu hết.
Nhưng khi tôi quyết định nói ra thì nhiều người cũng nói là không sợ người ta cười, người ta nói Việt Nam mình man ri mọi rợ..Nhưng tôi muốn những thế hệ trẻ phải biết hay những đưá trẻ may mắn đi thẳng từ Việt Nam qua, chúng nó đâu biết thuyền nhân vượt biên cực khổ như thế nào.
Tôi không phải làm cho tôi mà tôi làm cho những đứa nhỏ, sau này, khi tôi chết rồi, tụi nó coi lại.. Tôi coi lại thấy rất xúc động, khóc và cả rạp hát nhiều người cũng khóc, như thế tôi thấy là mọi người đã hiểu cho mình…”
Tuy thế, cho đến bây giờ, trong lòng chị vẫn thắc mắc một điều: “Tôi vẫn còn thắc mắc tại sao ông ta không dang tay cứu vớt những người trên chiếc tàu của tôi? Trong khi đó, trên ghe đã có người chết, đã thẩy xuống biển, ổng cũng thấy rồi…
Anh của tôi cũng bơi qua đó mà họ đã làm cho anh ấy rớt xuống, lúc ấy anh đã đuối rồi, họ thẩy cho anh chiếc phao và bảo bơi về lại ghe đi, và họ sẽ giúp nhưng họ đã không giúp…”
Có lẽ sẽ không bao giờ có câu trả lời cho thoả đáng. Phải chăng chúng ta chỉ có thể tạm giải thích rằng vào thời điểm ấy, có lẽ thế giới đã mệt mỏi và đang muốn quay lưng lại với thuyền nhân Việt Nam, nên vị hạm trưởng trên chiến hạm Mỹ năm xưa đã lạnh lùng từ chối?
Cuốn phim tài liệu này không hề lên án hay chỉ trích một phía nào, mà nó chỉ là tiếng nói của những người sống sót từ chiếc tàu Bolinao 52 kể lại chuyến hải hành của họ ra đi tìm tự do ra sao. Phương Anh xin dừng nơi đây. Mời quí vị đón nghe thêm chi tiết về chị Trịnh Thanh Tùng trong mục Trang Phụ Nữ vào sáng thứ hai tuần sau.
Bolinao là tên một hòn đảo thuộc tỉnh Pangasinan, vùng Tây Bắc Phi Luật Tân. Theo thống kê chính thức, dân số Bolinao vào năm 2010 là 74,545 người, sống chủ yếu vào nghề đánh cá… 52 là số thuyền nhân sống sót đã đến được Bolinao trên một chiếc thuyền vuợt biển với 110 người, rời Việt Nam vào một đêm tháng 5/1988. Cuộc hành trình kéo dài một thời gian kỷ lục: 37 ngày lênh đênh trên biển với những cơn bão khốc liệt trên biển Đông. Ngoài những cơn bão, chiếc tầu đã bị hỏng máy nhiều lần và thả trôi trên biển.
Cuộc vượt biên tưởng chừng như đã gặp vận may khi họ đến gần một chiếc tầu Hải quân Hoa Kỳ đang trên đường thi hành nhiệm vụ đến Vùng Vịnh Ba Tư. Khi đó đã là ngày thứ 19 của cuộc hành trình đi tìm tự do. Thế nhưng, thuyền trưởng chiếc USS Dubuque quyết định chỉ tiếp tế lương thực cho các thuyền nhân chứ không cứu vớt họ vì lý do đang trên đường công tác. Chiếc tầu tiếp tục lênh đênh trên biển… Đến khi lương thực và nước uống đã cạn kiệt, người ta phải tính đến việc “xẻ thịt những người đã chết trên tầu thay cho lương thực để cầm hơi”… Đó chính là một khía cạnh nhân bản đã thu hút nhiều ý kiến trái chiều: người ta bàn đến rất nhiều vấn đề bắt đầu bằng chữ “nhân”. Nhân tính? Nhân đạo? Nhân nghĩa? Và bên cạnh đó còn một câu hỏi về “lương tâm” của cả người trong cuộc lẫn người ngoài cuộc.
Cuối cùng, như một phép lạ, 52 trong số 110 thuyền nhân còn sống sót đã được ngư dân Phi Luật Tân đưa về đảo Bolinao. Họ ở lại trên đảo 1 tuần lễ trước khi được chuyển qua trại tỵ nạn. Rời Việt Nam năm 1988 và đến năm 1990 họ đến định cư tại Hoa Kỳ, nơi mà trước đó họ đã một lần bị Hải quân Hoa Kỳ từ chối.
Chuyện tóm tắt một cách đơn giản là vậy. Cũng từ câu chuyện này, đạo diễn Nguyễn Hữu Đức đã dựng lên phim tài liệu “Bolinao 52” dài 57 phút 24 giây [*]. Bộ phim đã được trình chiếu trên toàn Hoa Kỳ thông qua PBS.org, tham gia 15 liên hoan phim quốc tế và đoạt hai giải thưởng: Giải lựa chọn của khán giả trong Liên hoan Quốc tế phim Việt (2007) và Giải thưởng EMMY vùng Bắc California (2009).
Câu chuyện “Bolinao 52” được khởi đầu một cách rất tình cờ. Qua một buổi phát thanh trên radio bằng tiếng Việt tại Orange County, California, một thính giả biết tin đạo diễn Đức cần liên lạc với những thuyền nhân được ngư dân đảo Bolinao vớt. Cô cho biết anh cô là người đã bơi đến tầu USS Dubuque xin cứu giúp. Anh Đức gọi điện thoại cho ông nhưng người này từ chối nói chuyện. Sau 3 tháng kiên trì thuyết phục, người này cho một cái hẹn với điều kiện chỉ gặp nhau một lần duy nhất.
Người đàn ông dấu tên đã cho anh Đức một lối thoát: ông ta không nhớ gì nhiều nhưng có lẽ đạo diễn nên gặp em gái của ông trên chuyến tầu định mệnh ngày nào. Và cuốn phim đã có tia hy vọng được thực hiện khi nhân vật chính, chị Trịnh Thanh Tùng, đồng ý xuất hiện trong phim…
Chị Tùng xuất thân từ một gia đình, nói theo ngôn ngữ ngày nay, là “có nợ máu với nhân dân”! Sau 1975, chị và mẹ phải bươn chải để “thăm nuôi” những người thân: ba chị đi học tập cải tạo 5 năm và người anh lớn, với cấp bậc Trung tá Biệt Động Quân, đã sống 14 năm trong “trại cải tạo”… Họ chỉ còn một lối thoát duy nhất: rời khỏi Việt Nam trên chiếc tầu định mệnh xuất phát từ Bến Tre sau khi đã nhiều lần thử thách nhưng thất bại…
Ngay từ những phút đầu phim, chị Tùng đã nói với đạo diễn Đức trong chuyến trở lại Bolinao:
“Chị đã nói với lòng… chị sẽ trở lại Bolinao trước khi chị đi đâu… Suốt 17 năm nay chưa đi đâu hết… Điều chị muốn làm là làm một lễ cúng cho 58 người bạn đồng hành, họ đã đi chung chuyến tầu đó rất lâu, chị không biết tên hết, không nhớ mặt hết nhưng dầu sao nó vẫn ở trong lòng của chị… lễ cúng này sẽ đem lại cho họ, cho chị… bình an trong tâm hồn để sống…”
Đại gia đình chị Tùng trước năm 1975
Người xem phim được thấy cảnh của hòn đảo Bolinao, 17 năm sau khi được những ngư dân vớt… và một số “hoa đăng” đã được thả trôi ra biển như những vòng hoa riêng tặng những người đã yên nghỉ trong lòng đại dương. Và rồi câu chuyện thuyền nhân mang tên “Bolinao 52” bắt đầu.
“Bolinao 52” trải qua những thử thách đầu tiên khi gặp bão, tài công quyết định tắt máy chờ cơn bão qua đi… Đến khi khởi động lại, máy tầu không nổ. Thuyền nhân một khi ra khơi chỉ bám víu vào những dấu hiệu của sự sống. Một vệt đen trên nền chân trời là hứa hẹn một hòn đảo, một chấm trên biển cả cũng có thể là tầu lớn, một chấm đen trên bầu trời biết đâu là chiếc máy bay…
Chị Tùng kể lại vào ngày thứ 10 có một chiếc tầu buôn xuất hiện trong tầm mắt… Quần áo, giầy dép, can nhựa được đốt lên trong đêm tối với hy vọng chiếc thuyền sẽ được tầu lớn nhìn thấy.. Năm người con trai còn khỏe trên “Bolinao 52” quyết định sẽ bơi qua tầu để xin cứu vớt. Họ bám vào một mảnh ván với hy vọng đến được tầu buôn. Thế nhưng, chiếc tầu mang cờ Nhật từ từ rời xa họ và 5 thanh niên cũng không thấy quay về… Chị Tùng tin là mỗi con người đều có cái “số” của mình.
“Chết từ từ… Mỗi ngày mình đều thấy có người chết trên thuyền… Chị Năm ngồi kế tôi mượn chiếc áo mưa vì than lạnh… nhưng khi rờ thì thấy nóng hổi… cho mượn áo mưa chị vẫn thấy lạnh. Chồng chị Năm đã chết mấy hôm trước và hai đứa con trai của chị thì đang ngủ… Tôi ôm chị Năm rồi mệt quá cũng thiếp đi, đến khi trời gần sáng chị đã chết trong tay tôi từ hồi nào…!”
Những đứa bé trước khi chết luôn miệng kêu gào thức ăn, nước uống. Có hai anh em nọ, người em thì cứ đòi ăn nên cầm lấy tay anh mà cắn, anh đau quá rút tay ra em lại la lên… “cho em ăn với”… đêm đó đứa em đã chết vì đói… Ít hôm sau, người anh cũng đi theo em… Mọi người chỉ cầu xin… một phép lạ! Đến đây phim chuyển qua trường hợp của bản thân đạo diễn Nguyễn Hữu Đức cũng là một thuyền nhân. Anh tỵ nạn năm 1980 và may mắn khi được một chiếc tầu của Hải quân Mỹ vớt, khác với số phận bi thảm của những người trên tầu “Bolinao 52”. Anh Đức đã có trích đoạn cảnh sung sướng của những người được tầu USS Long Beach vớt trên biển, hình như để người xem đối chiếu với số phận hẩm hiu của “Bolinao 52”.
Chị Trịnh Thanh Tùng trở lại Bolinao sau 17 năm
Cậu bé Nguyễn Hữu Đức (áo đen) và gia đình tại trại tỵ nạn năm 1980
Anh Đức kể lại trong một đoạn phim chiếc thuyền của anh được tầu Hải quân Mỹ cứu tựa như “cuộc hành trình đi thẳng từ địa ngục đến thiên đàng”:
“Chỉ mới ra lên đênh trên biển có 4 ngày, chúng tôi đã được vớt… trong khi nhiều người khác lại gặp một kết cuộc bi thảm… Gia đình tôi ra đi vào năm 1980, thuyền của chúng tôi là một trường hợp may mắn…
Ra đi là chuyện bất ngờ
Dù mưa dù nắng thân mình chẳng hay…”
Bản thân những người trên chiếc thuyền của anh Đức có thể tự hào là mình may mắn nhưng những chiếc thuyền khác, những người khác bị cuốn xuống lòng đại dương hay thậm chí còn bị hải tặc cướp bóc, hãm
hiếp. Thuyền nhân Việt Nam có nhiều chuyện để kể lại nhưng cũng có nhiều chuyện quá bi thảm không thể nào nói ra và người ta thường yên lặng, dấu kín trong lòng.
Trẻ em thuyền nhân và thủy thủ trên chiếc USS Long Beach
Trở lại chiếc “Bolinao 52”. Đến ngày thứ 19, phép lạ đã đến với sự xuất hiện của một chiến hạm Hoa Kỳ. Nguyễn Hữu Đức đã may mắn tìm thêm được một nhân chứng vô cùng quý giá: William E. Cloonan, một hạ sĩ quan Hải quân về hưu. Trả lời một câu hỏi trong cuộc phỏng vấn của đạo diễn, Cloonan cho biết:
“Điều khuyến khích tôi tham gia bộ phim này là muốn cho thế giới biết những sự thật về người tỵ nạn… các phương tiện truyền thông đã nói rất nhiều về các thuyền nhân sau khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975… Những gì truyền thông viết chỉ đúng một phần và phần còn lại được phóng đại đến độ không có thật…
Anh hỏi tôi có muốn gặp lại một trong những người sống sót trên chuyến tầu đó không, câu trả lời của tôi là có, tôi rất muốn được gặp… Tôi sẽ nói với họ là tôi rất tiếc dù bản thân tôi không phải là cấp có thẩm quyền để thay đổi quyết định bỏ rơi họ… Dù sao đi nữa tôi vẫn cảm thấy mình có lỗi với họ…”
William E. Cloonan và đạo diễn trẻ Nguyễn Hữu Đức
Cloonan phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ 26 năm,nhiều nhất tại khu vực biển Nhật Bản và Việt Nam. Ông có mặt trên một chiếc tầu đã từng vớt người tỵ nạn. Năm 1978 tầu ông gặp chiếc thuyền có 478 người lênh đênh trên biển. Sau khi neo tại khu vực 24 giờ chờ liên lạc, Bộ Ngoại giao và Hải quân đã ra lệnh vớt họ… Ông kể lại:
“Điều đó khiến tôi tự hào là một thủy thủ Hoa Kỳ… tự hào là người Mỹ! Chúng tôi đã vớt họ… hỗ trợ y tế và đưa họ đến tận cổng nhập cảnh để vào Hoa Kỳ… Đó là nhiệm vụ của người thủy thủ và đó cũng là luật pháp quốc tế: Con người trên biển cả, nếu có điều gì đó xảy ra cho họ thì đạo đức và lương tâm sẽ ràng buộc họ với chúng tôi…”.
Thủy thủ tầu Mỹ cứu người tỵ nạn trên biển
“Bolinao 52” không gặp may mắn như những thuyền nhân trước họ. Vào ngày 10/6/1988, chiếc thuyền đã gặp chiến hạm USS Dubuque, trên tầu có nhân chứng William E. Cloonan, cấp bậc Trung sĩ (Chief Petty Officer), kể lại diễn tiến khi chiến hạm gặp chiếc thuyền của người tỵ nạn.
Theo lời Cloonan, hạm trưởng Dubuque, Alexander Balian, chỉ cung cấp cho thuyền nhân bản đồ, nước uống và lương thực… không thể cứu vớt họ vì USS Dubuque đang trên đường đến Vịnh Ba Tư trong hành trình tiếp tế quân dụng đến Iran. Một lý do nữa được bổ sung khi hạm trưởng USS Dubuque phải ra tòa án binh vì hành vi “không vớt người gặp hoạn nạn trên biển”: có sự trục trặc trong liên lạc với người trên thuyền với chiến hạm. Theo Hạm trưởng Alexander Balian, ông chỉ biết trên thuyền có 60 người nên việc tiếp tế không đầy đủ và kết quả là sau đó có đến 30 thuyền nhân đã chết trên thuyền dẫn đến cảnh phải xẻ thịt người chết làm lương thực cho người sống…
Tòa án quân sự Hoa Kỳ xét xừ vụ chiến hạm USS Dubuque bỏ rơi chiếc thuyền tỵ nạn “Bolinao 52” vào tháng 11/1988. Từ trại tỵ nạn ở Phi Luật Tân, 52 người sống sót trên thuyền đã ký một đơn kiến nghị ân xá cho thuyền trưởng Alexander Balian. Alexander Balian bị tước quyền chỉ huy và phải nhận khiển trách nặng nề vào tháng 2/1989. Đây cũng là một án lệ về đạo đức, làm gương cho những thuyền trưởng trong Hải quân Hoa Kỳ. Sau khi được hạ thủy ngày 1/9/1967, USS Dubuque chấm dứt hoạt động ngày 30/6/2011.
USS Dubuque (LPD-8)
“Bolinao 52” chính là câu chuyện thương tâm mà không ai đã từng trải qua muốn nhắc lại những điều bi thảm… Người mẹ nhường phần nước cho con và dặn khi nào con muốn tiểu tiện bà sẽ uống lại phần nước tiểu… Báo chí còn thuật lại có những vụ giết lẫn nhau trên thuyền vì thực phẩm và nước uống. Chị Tùng khẳng định đó không phải là sự thật. Nhưng lại có một sự thật vô cùng tàn nhẫn đã xảy ra trên thuyền. Những người sống sót phải xẻ thịt những người vừa chết để có đủ sức lực tát nước ra khỏi thuyền. Những người không dám ăn thịt đồng loại sẽ chết và chính họ là nguồn cung cấp thực phẩm cho những người còn sống! Chị Tùng đã không dám ăn nhưng sau cái tát trời giáng của người anh trai… chị đã phải nuốt. Sau này, có người hỏi cảm tưởng khi phải nuốt thịt người, chị kể lại trong nước mắt… khi đó đâu còn cảm giác, chị chỉ biết nuốt!
Trung sĩ Cloonan khi nghe câu chuyện ăn thịt người trên thuyền, ông tự dằn vặt chính bản thân mình đã không cứu giúp họ dù quyền quyết định nằm trong tay hạm trưởng. “Chúng tôi đã có quyết định sai lầm… Tới giờ này, tôi vẫn cảm thấy mình có lỗi trong việc không cứu vớt họ và tôi chỉ muốn nói lời xin lỗi với họ…”
Đạo diễn Nguyễn Hữu Đức phải mất 2 năm đi tìm những người có liên quan thông qua các phương tiện truyền thanh và truyền hình tại Mỹ. Anh tiết lộ qua một cuộc phỏng vấn: “Bao nhiêu năm nay tôi vẫn thường tự hỏi tại sao một chiếc tầu của Hải quân Mỹ lại từ chối vớt những người tỵ nạn và đó cũng là một trong những lý do khiến tôi thực hiện bộ phim mày…”
Ở phần cuối cuốn phim có thể coi là một “happy ending” khi hai nhân chứng của “Bolinao 52” – Thuyền nhân Trịnh Thanh Tùng và cựu Trung sĩ William E. Cloonan – gặp nhau sau biến cố của 17 năm về trước. Trong buổi hội ngộ còn có bé Lâm ngày nào, nay đã gia nhập Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (US Marine Corps).
Trong vòng tay thông cảm, chị Tùng và thủy thủ Cloonan đã ôm lấy nhau… Người xem có cảm tưởng “Bolinao 52” đã đi đến đoạn kết cuộc, qua đó những người trong cuộc thấy như vơi đi chuyện của 17 năm về trước… Chuyện thật cảm động nhưng kết cuộc có hậu.
Mười một giờ ngày 12 tháng 4 năm 1980, gia đình Vinh máy nổ gồm có bốn người và gia đình tôi có ba người, bắt đầu chuyến vượt biển. Từ Sài Gòn xuống Cần Thơ, đoạn đường chỉ chừng 170 cây số, mà chúng tôi phải mất hơn 6 giờ mới đến nơi. Vừa xuống xe đang còn ê ẩm cả người sau mấy giờ ngồi bó gối một chỗ, tôi đã thấy một người đàn ông với gương mặt hiền lành chơn chất, nước da ngăm đen, áo sơ mi xám ngắn tay, ông ta đến bên tôi.
-Xe đạp ôm cậu Hai.
Tôi trả lời.
-Tôi đợi xe lôi.
Nhận ra mật khẩu, người đàn ông dẫn tôi ra khỏi đám đông rồi nói.
-Tôi tên là Ba Râu, được ông Dậu phân công đi đón mấy người.
Khi biết được người dẫn đường do Long công tử sắp đặt, tự nhiên tôi cảm thấy an tâm vô cùng.
Ông Ba Râu nói mà như là ra lịnh.
-Tất cả hãy đi theo tôi, nhớ chia làm hai toán riêng biệt, đừng có đi chung.
Nói xong ông ta dẫn chúng tôi đi dọc theo một con đường nhỏ, qua một khúc cua, ông chỉ vào một căn nhà khá rộng.
-Trước mặt là cái quán cơm bình dân, mọi người vào đó cứ yên tâm mà ăn uống, chủ quán là vợ của một người lính Ngụy. Nhớ ăn cho no vì phải đến gần trưa mai mới được ăn lại. Không có gì gấp, cứ từ từ mà ăn, bao lâu cũng được.
Ông Ba Râu ngưng nói, nhìn chúng tôi như chờ đợi có ai hỏi gì không, khi thấy mọi người đều im lặng, ông nói thêm.
-Phía sau quán có nước rửa mặt, có cầu tiêu, khi ăn xong qua bên kia đường, tôi đợi ở đó.
Tôi kêu hai dĩa cơm trắng, một miếng cá kho, Cúc và con gái của tôi ăn chung một dĩa. Tuy cả nước đang sống trong hoàn cảnh đói ăn, thiếu mặc, nhưng cái hào sảng của người dân ở đây vẫn còn hiện rõ trong dĩa cơm đầy ắp, cao như ngọn núi. Tôi đang ở tại một thành phố mà người ta gọi là Tây Đô, là trung tâm của vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long, cho nên những hạt gạo trong dĩa cơm coi bộ cũng trắng trẻo, tròn trịa, và hình như cũng thơm hơn những hạt gạo ở các tỉnh khác. Gác bỏ ngoài tai những lo âu của một chuyến vượt biên đầy hiểm nguy đang chờ đón, tôi có được bữa ăn tối no bụng và ngon miệng. Cách đó hai cái bàn, Vinh máy nổ và vợ con của anh ta cũng đang tận tình thưởng thức bữa cơm. Thời gian qua mau, bên ngoài mặt trời đã lặn từ lâu, hai ngọn đèn Neon trong quán chiếu ánh sáng trắng mờ xuống căn phòng, Vinh máy nổ trả tiền xong, dẫn vợ con đi về phía nhà sau. Chờ cho đến khi gia đình Vinh máy nổ trở lại, rồi dẫn nhau đi qua bên kia đường, lúc bấy giờ tôi mới thanh toán tiền cơm, cùng vợ con đi ra nhà vệ sinh.
Khi chúng tôi qua đến bên kia đường, đã thấy Vinh máy nổ và vợ con của anh ta đi được một khoảng khá xa phía trước.
Ông Ba Râu nói với tôi.
-Mấy người cứ đi theo sau tôi, cách vài chục thước là được rồi, đường đi cũng khá xa đó, mấy cây số chứ không ít đâu.
Sau cả giờ lội bộ, chúng tôi đến được một bãi đất rộng cỡ chừng cái sân quần vợt. Một chiếc xe chở hàng đậu ở góc sân, sát với lề đường. Chỉ vào những lùm cây bên đường, ông Ba Râu nói.
Hình minh họa
-Vào trong đó nằm nghỉ, tôi đi lo công chuyện lát nữa sẽ trở lại đón.
Tôi nhìn quanh, không thấy gia đình Vinh máy nổ ở đâu, trong lòng có hơi lo lo, tuy nhiên tôi vẫn kéo tay Cúc và con đi vào một bụi cây gần đó. Chúng tôi nằm nghỉ ngơi, sau một ngày di chuyển đầy mệt nhọc. Tưởng chỉ đợi chờ chút xíu, ai ngờ hơn cả giờ sau ông Ba Râu mới trở lại, đưa tay chỉ chiếc xe, ông ta nói.
-Bên tay phải của chiếc xe là bờ sông, hai người đi tới đó rồi theo bờ dốc mà đi xuống, sẽ thấy chiếc ghe đậu sẵn nơi đó. Nhớ chờ tôi đi xa rồi hãy đi.
Khi cái bóng của ông Ba Râu đã khuất trong màn đêm, tôi dẫn vợ con lần theo vệ đường đến gần chiếc xe, quả thật sau đó là triền dốc thoai thoải. Phía dưới sông một chiếc ghe khá lớn, với hai ngọn đèn bão thắp sáng nơi mũi ghe. Khoảng năm người, vừa đàn ông, vừa đàn bà, đang hì hục chuyền tay nhau những trái thơm từ ghe lên bờ. Tất cả đều im lặng, chú tâm làm việc. Tôi nghĩ thầm, tổ chức đưa đón người vượt biên như thế này quả thật là tuyệt vời, hàng hóa thì cứ từ ghe chuyển lên bờ, người thì cứ từ bờ mà xuống ghe. Vì nghĩ như vậy nên tôi tà tà bồng con gái của tôi đưa xuống ghe. Người đàn bà đang chuyển thơm dừng tay, bà ta nhìn tôi với vẻ mặt đầy ngạc nhiên sửng sốt. Cũng cùng lúc ấy, có có người đập nhẹ lên vai của tôi rồi nói nhỏ.
-Lộn rồi ông nội ơi, ghe của mình ở bên kia chứ không phải ở đây đâu.
Tôi nghe giọng ông Ba Râu nói mà giựt mình toát mồ hôi, vội vàng ôm con quay người đi theo ông ấy gấp. Đi mà không kịp nhìn phản ứng của những người trên ghe chở thơm như thế nào.
Khi gia đình của tôi lên được chiếc ghe tam bản, chun vô cái mui lợp bằng tre ở giữa ghe, tôi đã thấy gia đình Vinh máy nổ ở trong đó rồi. Chiếc ghe nhỏ xíu chỉ chở được bốn người lớn và ba đứa con nít, mà đã chật ních. Ba Râu đứng sau đuôi đẩy nhẹ mái chèo, chiếc ghe từ từ rời bến.
Nếu tôi nhớ không lầm thì đêm nay là 27 hay 28 âm lịch rồi, chỉ còn một, hai ngày nữa là qua tháng ba, tháng của bà già đi biển. Những ngày cuối tháng của âm lịch, không trăng không sao, bầu trời tối đen như mực, giữa không gian bao la tĩnh mịch, tôi ngồi lặng yên mắt nhìn vào khoảng tối mênh mông, tai nghe tiếng mái chèo khua nước đều đặn. Càng về khuya âm thanh của nó nghe càng lúc càng rõ hơn, thỉnh thoảng lại có tiếng cá quẫy nước trước mũi ghe, làm tăng thêm cái im vắng của đêm dài. Trong bóng đêm dày đặc, tôi bò chầm chậm về phía đuôi ghe, nơi ông Ba đang đứng chèo.
-Ông Ba nè, còn bao lâu nữa mới tới điểm hẹn.
Giọng nói của ông Ba, nghe như là hơi thở của gió sông.
-Còn lâu lắm, ít ra phải chiều mai mới tới.
-Xa dữ vậy sao ông?
-Xa chớ, tính ra phải chèo ròng rã gần một ngày một đêm đó cậu.
Tôi nêu thắc mắc với ông Ba.
-Bộ hổng có cách nào khác, mau hơn hay sao?
-Có chớ, nhưng mà ông Dậu muốn tuyệt đối an toàn nên chọn cách này.
-Như vậy khi lên được tàu lớn, mình bỏ chiếc ghe này phải không?
Vẫn với giọng trầm trầm.
-Tôi đâu có đi, nhiệm vụ của tôi là chở người đến chỗ hẹn, Khi mấy người lên tàu lớn xong xuôi, ông Dậu sẽ trả tiền công cho tôi.
-Như vậy, ông Ba phải chèo ghe thêm một ngày một đêm nữa để trở về.
-Đúng như vậy.
Tôi chắt lưỡi.
-Chèo đi và về suốt mấy ngày đêm như vậy, ông được trả bao nhiêu tiền?
-Hai chỉ.
-Tai sao ông không leo lên tàu lớn đi vượt biên luôn.
Có tiếng thở dài của ông Ba trong đêm vắng.
Hình minh họa
-Tôi còn có bổn phận lo phụng dưỡng mẹ già. Mẹ của tôi đau yếu quanh năm, nếu tôi bỏ đi, ai lo cho bà. Hai chỉ vàng cho chuyến đưa khách này là một số tiền lớn, đủ cho tôi sửa lại cái mái nhà đã mục nát, còn dư chút đỉnh dùng để lo thuốc thang cho mẹ.
Tôi ngã lưng xuống sàn ghe, nhắm mắt cố dỗ giấc ngủ mà trong lòng vẫn còn vướng bận chút ưu phiền. Tôi ngủ một giấc ngon lành, cho đến khi trời mờ sáng mới giật mình thức dậy, ông Ba vẫn đứng đó, hai tay đều đặn đưa đẩy mái chèo. Tôi biết ông Ba đã thức nguyên đêm, chèo ghe không nghỉ, vậy mà gương mặt của ông trông vẫn bình thường, không một chút gì gọi là mệt mỏi. Lúc này thì mọi người trong ghe đã bắt đầu thức giấc, Vinh máy nổ múc một thau nhỏ nước sông, cho mọi người rửa mặt.
Ông Ba Râu vừa chèo ghe vừa lên tiếng căn dặn mọi người.
-Khúc sông này còn nhiều ghe xuồng qua lại, mấy người thay phiên nhau mà rửa mặt đừng có bò ra khỏi mui ghe, lát nữa khi đến chỗ nghỉ ngơi, lúc đó ai muốn làm gì thì làm.
Tuy nói vậy mà phải mấy tiếng đồng hồ sau, ghe mới tấp vào một doi đất cây cối um tùm. Ông Ba Râu lấy trong bị ny lông, phát cho mỗi người hai nắm cơm vắt.
-Ở đây rất là an toàn, ít ghe tàu qua lại, mọi người có thể chun ra khỏi mui, ngồi trên ghe ăn cơm. Tôi phải nghỉ một chút cho lại sức, khoảng một giờ nữa mình sẽ tiếp tục đi.
Nói như vậy nhưng mãi cho đến khi mặt trời ở ngay trên đỉnh đầu, ông Ba mới bắt đầu cho ghe di chuyển. Tôi nhìn quanh, dòng sông rộng mênh mông từ bên này bờ qua bờ bên kia có thể hơn một cây số. Đó là do sự ước đoán của tôi mà thôi, còn trên thực tế, sông rộng bao nhiêu tôi không rõ. Ghe đi khá xa bờ, trên sông tàu bè ngược xuôi không nhiều lắm. Khi mà mặt trời bắt đầu lặn ở cuối chân trời, ông Ba chỉ vào một cái cồn to thật to ở giữa sông.
-Mình đã đến điểm hẹn, tối nay khoảng tám giờ tàu lớn sẽ đến. Bây giờ tôi sẽ cho ghe tấp vô cái cù lao đó để nghỉ ngơi, chờ tàu đến rước.
Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ, êm đẹp. Mới gần tám giờ, giữa đêm tối mịt mù có tiếng động cơ của máy Yanmar nổ giòn mỗi lúc một gần hơn. Ngày xưa lúc được phóng thích khỏi Tổng trại 8 tù binh, trở về Đà Lạt tôi làm vườn ở Đa Thiện, ngày ngày tưới nước bằng cái máy Yanmar F10 cho nên tôi rất quen thuộc, nghe tiếng nổ của máy là tôi nhận ra ngay.
Giữa đêm đen, tôi thấy ánh đèn pin chớp tắt ba lần. Ông Ba cũng vội bấm đèn ba lần. Vài phút sau, ghe của tôi và tàu đã đến gần nhau. Giọng của Long công tử từ bên tàu hỏi vọng sang.
-Quân với Vinh phải không?
Cả hai đứa tôi đều nói.
-Đúng.
Chiếc tàu do Long công tử lái chạy chậm chậm như ngừng lại, ông Ba chèo ghe cặp sát hông tàu. Con gái của tôi và Cúc được đưa lên trước, sau đó là gia đình của Vinh máy nổ, tôi là người cuối cùng leo lên tàu.
Trên tàu hoàn toàn trống vắng, chỉ có vợ con của Long công tử, tôi đoán vậy vì tôi chưa gặp mặt vợ hắn bao giờ. Sau một lúc chuyện trò, trao đổi tiền bạc với ông Ba, Long công tử cho tàu tách khỏi ghe của ông Ba rồi dọt mau về phía trước.
Tôi đi đến bên Long.
-Sao không thấy ai hết vậy?
Long trả lời tôi.
-Chạy khoảng một giờ nữa, tụi mình sẽ đón thêm hai gia đình, già trẻ lớn bé khoảng mười người, sau đó sẽ là gia đình chủ tàu và tài công gồm có tám người, tổng cộng có tất cả là hai mươi tám người trên chiếc tàu này.
Quá chín giờ, tàu nhận thêm hai gia đình mà chỉ có tám người, gần một giờ sau thêm gia đình ông Hòa chủ tàu.
Hình minh họa
Vừa gặp mặt Long công tử, chủ tàu đã vội vàng nói.
-Mẹ nó thằng tài công biến đâu mất, tôi đợi nó cả buổi chiều mà không thấy. Giọng của chủ tàu đột nhiên như than thở.
-Khổ một điều là cái hải bàn lại do nó giữ, mới mệt cho mình.
Vinh máy nổ hỏi chủ tàu.
-Không có tài công, không có hải bàn, mình phải làm gì bây giờ?
Ông chủ tàu với nét mặt đầy bối rối.
-Tôi đang muốn điên cái đầu, không biết phải giải quyết như thế nào. Mất cả hai năm tính toán, sắp xếp, chuẩn bị, cuối cùng không đi được chỉ vì một sai lầm nhỏ tý xíu hay sao.
Nhìn Long công tử, chủ tàu nói.
-Đây là cơ hội ngàn năm mới có một, không thể bỏ qua, tụi mình phải đi thôi.
Vinh máy nổ hỏi vặn chủ tàu.
-Ông định làm tài công phải không?
Lắc đầu lia lịa, chủ tàu chỉ Long công tử.
-Ông Dậu lái chứ tôi mà lái cái nổi gì.
Vinh máy nổ nói.
-Nè ông Hòa ơi, ông có nằm mơ hay không? Bắt ông Dậu lái tàu ra khơi vượt đại dương, khác nào ở trên đất liền, có một chiếc xe chở hành khách với ba chục chỗ ngồi, đổ đèo mà không có tài xế. Ông biểu lơ xe phải cầm tay lái, đã vậy ông còn bịt mắt anh lơ xe. Nếu xe xuống hết đèo, mà tai nạn không xảy ra, thì đó phải là một phép lạ.
Chủ tàu phân bua với Vinh máy nổ.
-Trong một chuyến vượt biên chui, công việc quan trọng nhất là đón khách, tám mươi phần trăm thất bại là ở chỗ này. Tối nay công tác đón khách do ông Dậu làm, đã hoàn thành tốt đẹp. Kế tiếp là chuyện, từ đây ra tới biển còn có hai trạm công an, một cái cách cửa biển gần ba mươi cây số, tôi đã cúng cho nó ba cây. Còn trạm công an gần cửa biển, bọn cô hồn sống này đòi bảy cây nữa mới chịu nhắm mắt làm ngơ. Chính bản thân tôi sẽ đứng trước mũi tàu vẫy tay như một ám hiệu, khi tàu của mình đi qua hai trạm công an đó. Vàng thì họ đã lấy rồi, nhưng chuyện cho mình đi hay bắn mình chết, còn tùy vào mệnh trời. Đêm nay nếu tàu của mình không qua cửa ải, anh Vinh có trả lại cho tôi mười lượng vàng, mà tôi đã chi cho công an hay không?
Lúc này Long công tử mới lên tiếng.
-Cãi nhau cho đến sáng cũng không giải quyết được vấn đề, mình phải quyết định ngay lập tức, có đi hay không?
Chủ tàu sau một lúc do dự, ông ta bèn đẩy trách nhiệm cho Long công tử.
-Tất cả mọi việc đều do ông Dậu quyết định.
Long công tử vừa lái tàu vừa nói với giọng ôn tồn.
-Ông Hòa à, trước năm bảy lăm, tôi là trung úy trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Phan văn Dậu là tên giả.
Tháng ba năm sáu chín, tôi tốt nghiệp Trường Bộ binh Thủ Đức, tình nguyện đi Lực Lượng Đặc Biệt. Cuối năm bảy mươi, binh chủng này giải tán, tôi về binh chủng Biệt Động Quân. Cấp bậc và chức vụ cuối cùng của tôi là, Trung úy đại đội trưởng một đại đội Biệt Động Quân. Sở dĩ tôi phải giải thích đầu đuôi rõ ràng như vậy, vì với chức vụ đại đội trưởng, tôi phải chịu trách nhiệm trực tiếp đến mạng sống của hàng trăm binh sĩ dưới quyền. Đại đội của tôi đụng trận với Việt Cộng không biết bao nhiêu lần, trong cảnh bom rơi đạn nổ, cận kề với tử thần, tôi chưa một lần nao núng, chưa một lần cảm thấy lẻ loi đơn độc, vì biết rằng có hàng trăm binh sĩ đang cầm súng chiến đấu bên tôi.
Long công tử bất chợt chỉ vào đám hành khách, rồi mới nói tiếp. -Hôm nay, trên con tàu này, với khoảng hơn hai chục người, có được mấy người… sống chết với tôi. Tôi thật sự phân vân lưỡng lự. Nhưng mà xét cho cùng, tự do thì phải trả bằng mạng sống của mình mới có được, từ sau năm bảy mươi lăm, đã có hàng triệu người dân Việt Nam, họ thà chết trên biển cả để đổi lấy tự do. Thì tại sao một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như tôi, lại không dám làm. Tôi sẽ lái tàu vượt biển, còn chuyện có đến được bến bờ tự do hay không, còn tùy vào mệnh trời như ông Hòa đã nói.
Hình minh họa
Vinh máy nổ bắt tay Long công tử.
-Yên chí đi, tôi đứng sau lưng của ông, Tám mươi mốt Biệt Kích Dù cũng từ Lực Lượng Đặc Biệt mà ra. Mình phải đánh một trận cuối cùng cho oai hùng trước khi đầu hàng số mệnh. Nhất định không để phải cúi đầu nhục nhã như tháng tư năm bảy lăm.
Nhìn thẳng vào mắt Long công tử, Vinh máy nổ với nụ cười đầy bí mật.
-Tôi có một món quà đặc biệt tặng ông.
Nói xong, Vinh máy nổ lục trong túi lấy ra một cái địa bàn của lính bộ binh Việt Nam Cộng Hòa.
-Cái địa bàn này nó theo tôi từ khi tôi về Tám mươi mốt Biệt Kích Dù. Sau bảy lăm, tôi giữ nó làm kỷ niệm, giấu kỹ cho đến bây giờ.
Vinh máy nổ và Long công tử nhìn vào cái địa bàn, rồi cả hai cùng cười to. Giữa đêm khuya vắng lặng, tiếng cười đầy sảng khoái của họ vang vang trên dòng sông, nghe như cả một thời chinh chiến kiêu hùng của ngày xa xưa cũ vẫn còn hiện diện đâu đây.
Dứt tiếng cười Long công tử nói.
-Anh Vinh lo phần máy móc, nhắc nhở tôi phải làm gì, chạy như thế nào. Tôi biết cái máy Yanmar F10 này quá yếu, quá cũ, cho một chuyến vượt biên dài ngày trên biển.
Quay sang tôi.
-Quân, mày lo phần kiểm soát và phân phối thực phẩm, quan trọng nhất là nước uống, mình chỉ có một phuy nước sông và một thùng nhựa chứa hai mươi lít nước mà thôi. Chừng đó nước ngọt cho hơn hai chục người, chính xác là hai mươi ba người,phải không? Tất cả đều do mày định liệu.
Trong đêm khuya tĩnh mịch tiếng máy tàu nổ đều đặn, đưa con tàu hướng ra cửa biển.
Khi mà ông Hòa đứng trước mũi tàu, vẫy tay lần thứ hai, trời cũng bắt đầu sáng, mặt trời ló dạng ở phương đông, chiếu những tia nắng màu hồng rực rỡ cả một góc trời, tôi biết tàu đang qua cửa biển. Đột nhiên tôi nhớ đến câu ca dao được truyền tụng trong dân gian.
Lênh đênh qua cửa Thần Phù. Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.
Ở đây tôi chỉ muốn nói đến nghĩa đen của câu ca dao mà thôi, Thần Phù là cửa biển thuộc tỉnh Ninh Bình, Miền Bắc Việt Nam. Ngày xưa hàng chục thế kỷ trước, từ đồng bằng sông Hồng vượt biển vào Nam, khi qua đây, người ta sợ hãi những đợt sóng to gió lớn nơi cửa biển sẽ làm chìm tàu. Hôm nay chúng tôi vượt biển trên một con tàu nhỏ, ngoài chuyện dông tố bão bùng còn phải đối diện với nạn bắt bớ, giam cầm, tù đày của công an Cộng Sản Việt Nam, rồi nạn cướp của, hiếp dâm phụ nữ của hải tặc Thái Lan, cả hai đều tàn bạo man rợ như nhau. Nếu so ra, ở vào thế kỷ thứ hai mươi này vượt biển lánh nạn Cộng Sản, còn thập phần nguy hiểm hơn sóng gió nơi cửa biển Thần Phù cổ xưa.
Kiến thức về địa bàn và phương hướng trong Trường Bộ binh Thủ Đức, kinh nghiệm nơi Trường Võ Bị Đà Lạt, cho tôi hiểu rõ về phương hướng và tọa độ. Mặt trời đứng ngay trước mũi của con tàu, tôi biết chúng tôi đang đi đúng hướng
Tôi ngoảnh nhìn hai bên bờ sông, mù khơi xa tít là đất liền, cửa biển rộng mênh mông ước chừng vài cây số. Rời bỏ quê cha đất tổ, ngậm ngùi nói câu giã từ Việt Nam, giã từ nơi đã cưu mang tôi hơn 30 năm, vui buồn khổ đau lẩn lộn. Và cũng vui mừng hớn hở nói lên mấy chữ “Vĩnh biệt nhà tù hình chữ S”.
Những ngày thường trong tuần, vì phải đạp xích lô ca đêm cho nên tôi ngủ đến 10 giờ sáng mới thức dậy. Đang ngon giấc tôi chợt nghe tiếng dộng cửa ầm ầm. Sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, khi nghe tiếng đập cửa mấy ai mà không sợ, tôi lật đật chạy ra, trong lúc tiếng đập cửa mỗi lúc nghe một gấp rút hơn.
-Anh Quân có nhà không? Vinh máy nổ đây.
Khi nghe giọng nói của Vinh, tim tôi mới đập bình thường trở lại. Tôi la to.
-Đang tới đây, có gì mà gấp quá vậy anh bạn.
Khi cánh cửa vừa hé mở, Vinh máy nổ đã lẹ làng nghiêng mình luồn vô nhà, kéo theo một gã đàn ông. Nhìn hắn ta tôi sửng sờ chết lặng, đưa tay giụi mắt, không tin vào đôi mắt của mình trong khi toàn thân rúng động. Cuối cùng tôi la to với tất cả sự sung sướng tràn ngập trong lòng.
-Long công tử, có thật là mày không? Mấy năm trước chia tay với mày trong tù, tao tưởng tụi mình sẽ vĩnh viễn xa nhau. Nào ngờ hôm nay lại thêm một lần nữa hai đứa mình lại gặp gỡ, tạo hóa quả thật là kỳ diệu.
Với nụ cười đầy vui sướng hiện ra trên mặt, Long công tử ôm chầm lấy tôi, hai tay siết chặt.
-Mẹ nó, sáng nay đang ngồi uống cà phê ở chợ trời Nguyễn Thông với Vinh máy nổ, nghe nó kể chuyện về một gia đình có ba người xin đi vượt biên với điều kiện qua Mỹ sẽ trả tiền sau. Tên của hắn là Nguyễn trọng Quân trung úy Trường Võ Bị Đà Lạt. Vừa nghe tới đó tao giật thót cả người và tin chắc là mày.
Chưa hết vui mừng tôi lắp bắp hỏi.
-Tại sao mày dám quả quyết như vậy?
Long công tử với giọng đầy tự tin.
-Cái tên của mày hơi khác lạ, rất khó trùng, hơn nữa lại phục vụ tại Trường Võ Bị Đà Lạt, thì còn ai vào đây nữa.
Đến lúc này Vinh máy nổ mới nói với tôi.
-Thì ra hai người là bạn thân, hèn gì khi mới nghe tôi nói đến tên Nguyễn trọng Quân, ông Dậu bỗng như bị điện giựt, hấp ta hấp tấp giục tôi chạy xe đến đây gấp. Trên đường đi tôi phóng xe như mới ăn cướp nhà băng ra, vậy mà ông Dậu cứ la là sao chậm quá vậy.
Long công tử nói mà như nhắc nhở Vinh máy nổ.
-Bây giờ anh về lo việc máy móc đi, tôi có vài chuyện phải nói với thằng này. Tối nay tôi sẽ gặp lại anh, mình cần giải quyết những khó khăn đang gặp phải.
Đợi cho Vinh máy nổ đã đi xa, Long công tử mới hỏi tôi.
-Vợ con mày đâu rồi? Tao muốn thăm, muốn nhìn tận mắt vợ mày, người đàn bà tuyệt vời đã chịu nhiều gian khổ, hy sinh giúp tụi mình vượt qua những ngày đói rách, tuyệt vọng trong trại tù cải tạo.
Tôi nhìn Long công tử.
-Trông mày bây giờ đen đúa, chai lì cứ như là một tay giang hồ hảo hán thứ thiệt. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ vẫn còn nét hào hoa nho nhã của ngày xưa.
Long công tử cười.
-Mày đừng có đánh trống lảng, đưa tao đi thăm vợ con mày ngay đi.
Tôi càu nhàu với Long công tử.
-Tao vừa thức dậy, cho tao vài phút đánh răng rửa mặt.
Long công tử vừa mồi điếu thuốc vừa nói.
Hình minh họa
-Lẹ lẹ lên.
-Mày làm gì mà hối như chạy giặc vậy? Vợ con tao đang ở ngoài đầu hẻm chứ có xa xôi gì đâu. Cho tao năm phút thôi.
Miệng thì nói tay chụp cái bàn chải, đánh răng qua loa cho có, sau đó mới thong thả, thoải mái trút cái bầu tâm sự đã mang nặng suốt đêm qua. Xong xuôi mọi việc, trong người nhẹ nhàng, tôi cùng Long công tử thả bộ dọc theo con hẻm ra đầu đường. Vừa đi tôi vừa hỏi Long công tử.
-Nói cho tao biết, mày trốn trại như thế nào? Bây giờ sống ra sao? Cha mẹ vợ con ở đâu? Có định vượt biên hay không?
Im lặng một lúc thật lâu, Long công tử chửi thề.
-Mẹ nó, mày tưởng tao có ba đầu sáu tay chắc, làm sao tao có thể trả lời một lúc ba, bốn câu hỏi của mày. Hỏi từ từ từng câu một đi.
-Tao nóng lòng quá, muốn biết mọi chuyện xảy ra như thế nào với mày, chắc cũng hơn ba năm rồi, kể từ lúc tao với mày xa nhau cho đến giờ. Thôi thì mày kể chuyện trốn trại trước đi.
Long công tử tươi cười.
-Chuyện tao trốn trại thì có gì đâu mà nói, vì không một chút khó khăn, nguy hiểm. Hồi còn ở trong trại tù, mỗi lần đi lao động bên ngoài là tao dành nhiều thì giờ dò xét mấy thằng lính canh, tìm hiểu thói quen của tụi nó, quan sát thật kỹ mọi địa hình nơi mình lao động. Sau vài tháng, khi đã biết rõ mọi sự việc, một buổi trưa nọ thừa lúc mọi người lo ăn trưa, cải thiện linh tinh, mấy thằng lính gác nằm nghỉ dưới gốc cây khá xa, tầm quan sát hạn hẹp, tao biến vô khu rừng đầy cỏ cây rậm rạp, thay bộ đồ tương đối còn sạch sẽ của mày cho, rồi chuồn thẳng ra quốc lộ, đón xe ôm dông lẹ. Chạy càng xa trại tù bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
Long công tử chợt ngưng kể, hắn vỗ vai tôi.
-Nhờ một trăm đồng tiền mới của mày cho, giá trị của nó khá lớn vào thời bấy giờ, dư sức cho tao xoay xở, trốn tránh qua các trạm kiểm soát của công an để về đến Sài Gòn.
Thấy đã gần chỗ Cúc ngồi bán hàng, tôi ngắt lời Long công tử.
-Hôm nay tao sẽ đãi mày một chầu ăn sáng thật đặc biệt, ngon nhất vùng Tân Định này.
Long công tử nói.
-Giữa thời buổi đói rách đến xanh mặt, ăn thứ gì mà không ngon.
Tôi hỏi Long.
-Mày có ăn bánh căn bao giờ chưa?
Long công tử nhíu mày như đang suy nghĩ.
-Có một lần, nó chẳng ra cái con mẹ gì hết, nướng cục bột gạo lên nhai, cũng giống như là ăn bánh căn, có gì khác nhau đâu mà ngon với dở.
Tôi cự với Long.
-Đó là chuyện hồi xưa, lúc mày còn là Long công tử, lái xe hơi thể thao, ăn trưa ở Hoàng Gia, chiều đến ghé nhà hàng Đồng Khánh trong Chợ Lớn ăn tối. Còn bây giờ cả nước đói rả họng, khoai lang không có mà ăn, củ mì không có mà độn, mày thử ăn bánh căn làm bằng bột gạo nguyên chất, sẽ biết đời là gì ngay. Nó ngon không thua gì thức ăn ở nhà hàng Thanh Bạch, nơi tụi mình ăn tối ngày xưa.
Đến gần đầu con hẻm, quanh lò bánh căn của Cúc chỉ có ba đứa nhỏ khoảng chừng năm, sáu tuổi đang ngồi ăn. Tôi và Long công tử ngồi xuống trên hai cái đòn nhỏ, bên cạnh mấy đứa bé.
Tôi nói với Cúc.
-Cho ông khách này bốn cặp, giới thiệu với em đây là Long công tử, bạn tù mà anh đã kể cho em nghe nhiều lần.
Quay nhìn Long, tôi nói.
-Còn đây là Cúc, vợ tao.
Long công tử bất chợt nổi giận, hắn cau mày.
Hình minh họa
-Mày cũng vừa phải thôi, tại sao mày không nói cho tao biết sớm hơn là vợ mày đang bán bánh căn ở đây.
Dứt lời hắn quay sang Cúc.
-Xin lỗi chị, cái thằng Quân này hơi hồ đồ khiến tôi quá bất ngờ. Hôm nay tôi định đến gặp Quân, sau đó là thăm chị và cháu, trong cùng tận đáy lòng, tôi muốn nói một lời cảm ơn muộn màng với chị. Tôi còn sống cho đến ngày hôm nay, là nhờ sự chăm sóc hết lòng của thằng Quân bắp cải này. Khi còn ở trong tù, nhờ vào thực phẩm thăm nuôi và số tiền chị gởi cho Quân, có bao nhiêu hầu như nó đem chia đôi cho hai đứa. Nhờ vào số tiền đó mà khi trốn thoát khỏi trại tù, tôi đi về đến Sài Gòn một cách dễ dàng. Hôm nay lần đầu tiên gặp chị, gặp người ơn, tôi thật sự xúc động khó nói nên lời. Chị và Quân bắp cải là hai người mà tôi vẫn thường nhắc đến, khi kể chuyện cho vợ tôi nghe về những ngày tháng tôi bị đày ải trong tù.
Cúc nhìn Long công tử.
-Anh Long à, tiền bạc có đó rồi mất đó, chỉ tình thương yêu, quý mến, giúp đỡ lẫn nhau, tình nghĩa đó mới còn mãi với thời gian. Em có nghe nói, anh là bạn thân của chồng em cả chục năm về trước, lúc hai người còn là Sinh viên sĩ quan Thủ Đức. Từ giờ anh cứ gọi em là em, em nhỏ tuổi hơn anh nhiều mà.
Long công tử giải thích.
-Văn hóa Việt Nam, tôi phải gọi vợ của bạn là chị, chữ chị ở đây không có nghĩa là bà chị mà nó mang ý kính trọng.
Cúc tươi cười, đưa một cái dĩa có mấy cái bánh căn tới trước mặt Long.
-Cảm ơn anh, mời anh ăn bánh đi, để nguội mất ngon.
Đến lúc này tôi mới chen vô.
-Không biết tao đã nói cho mày nghe chưa, ba vợ của tao là ông Nguyễn văn Bảy, trùm nhà cửa ở Sài Gòn, vợ tao là con gái của ổng, con một.
Long công tử nói nhỏ.
-Tao có nghe danh ông ấy, biết đến ổng như là một triệu phú tiền muôn bạc vạn của Sài Gòn. Vì vậy tao hơi thắc mắc là tại sao mà vợ chồng mày phải trôi giạt đến con hẻm này, sống trong cảnh thanh bần, nói đúng hơn là phải sống nghèo đói như vậy.
Tôi chỉ tay về phía Cúc.
-Mày hỏi vợ tao thì rõ hơn.
Cúc, tay xúc cái bánh bỏ ra dĩa, miệng kể với Long công tử, kể rõ đầu đuôi ngọn ngành.
-Ngày một tháng năm, năm bảy lăm, khi vợ chồng tôi bị đuổi ra khỏi nhà, ngủ vỉa hè rồi đi về Đà Lạt trên chiếc xe chở rau, anh Quân đi học tập hơn một năm, được thả về với gia đình. Sau đó trong lần đánh tư sản hai hay ba gì đó, bao nhiêu tiền bạc của cải của tôi bị cái lũ đầu trâu mặt ngựa cướp sạch sẽ, vơ vét không chừa một chút gì.
Cúc nói với nét mặt buồn buồn.
-Anh cũng hiểu giùm cho tôi, vì quá uất ức mà không biết phải kêu với ai, nên tôi dùng chữ có hơi nặng nề để chỉ bọn người nhân danh là giải phóng, mà thực chất thì chẳng khác gì bọn cướp cạn.
Long công tử lên tiếng.
-Tại chị hiền quá nên mới nói như vậy. Gặp phải tay tôi, nếu có kẹo đồng tôi tặng cho tụi nó mỗi đứa vài chục viên mới hả dạ.
Vừa nói xong Long công tử lại chắt lưỡi than.
-Người ngoài cuộc thì nói vậy, chứ thực ra nếu lâm vào hoàn cảnh của chị, tôi cũng phải đành thúc thủ mà thôi. Nói đâu xa, hồi còn ở trong trại tù cải tạo Cà Tót, tôi bị sốt rét, bị bỏ đói đến gần chết, cũng đành bó tay chứ làm gì được. Hôm nay hoàn cảnh của chị và Quân tuy có bi đát, nhưng vẫn còn may mắn hơn tôi nhiều. Năm bảy mươi sáu, tôi trốn khỏi trại tù Sông Mao về Sài Gòn, sống mà phải giấu kín lý lịch, luồn lách tránh né những đợt càn quét của công an Việt Cộng, vừa kín đáo dò la tin tức cha mẹ và vợ con. Suốt mấy tháng trời tìm kiếm, tôi mới biết được những chuyện kinh khủng đã xảy ra cho gia đình tôi. Mấy cái biệt thự của ba tôi đã bị Việt Cộng tịch thu, cái thì làm cửa hàng mậu dịch quốc doanh, cái dùng nuôi heo, cái làm ty ngoại thương. Nguyên một cái kho hàng bên Khánh Hội của ba tôi, chứa toàn là động cơ nổ dùng cho nông và ngư nghiệp, vừa mới nhập cảng về đầu năm bảy lăm, bị Việt Cộng đánh tư sản mại bản đợt một, họ chở đi sạch sẽ. Sau đó họ cho ba má của tôi ở trong một cái chòi, ngay góc sân căn biệt thự mà ba má tôi đang ở.
Hình minh họa
Cúc nhăn mặt hỏi Long công tử.
-Một cái chòi? Như vậy mà ba má của anh sống được sao?
Long công tử cười.
-Tháng tư năm bảy mươi lăm, chị và thằng Quân bắp cải bị đuổi khỏi nhà, từng ngủ vĩa hè, ba má tôi được cho sống trong cái chòi kể cũng là khá rồi. Chị hãy từ từ, tôi sẽ kể tiếp cho chị nghe. Sau đợt đánh tư sản mại bản, ba tôi buồn rầu sanh bịnh rồi mất, mẹ tôi vì có sẵn bịnh từ trước, lại không có người chăm sóc nên cũng chết theo ba tôi. Đó là theo lời kể của bà bán nước mía ở góc đường gần nhà tôi ngày xưa. Nhờ có có cơ hội bằng vàng đưa đến giúp mình tìm hiểu về gia đình, tôi làm như vô tình hỏi bà ta “Dì có biết xác của họ được chôn ở đâu không?” Bà bán nước mía trả lời “Dưới cái chế độ này, người ta chỉ cần cướp lấy tài sản của người giàu, còn ai chết, chôn ở đâu không phải là chuyện họ phải lo”. Tôi hỏi tiếp “Còn con cháu thì sao?” Bà bán nước mía trả lời “Nghe nói có cô con dâu, thì đã dẫn con lên Ban mê Thuột tìm mẹ ruột thất lạc ở trên đó. Mà cậu hỏi gì mà kỹ quá vậy?” Nói xong bà bán nước mía nhìn tôi chăm chú “Tội nghiệp, ông bà ấy có một người con đi lính Ngụy mang lon trung úy, biệt tích từ tháng tư năm bảy lăm. Ông trung úy đó có phải là cậu không?” Có tật giật mình, hồn vía lên mây, tôi kêu thêm một ly nước mía rồi nói với bà ta “Nếu là trung úy Ngụy, giờ này tôi đang ở trong tù cải tạo nơi rừng sâu núi thẳm, làm gì có thể ngồi đây uống nước mía, nghe dì nói chuyện.”
Cúc hỏi với giọng đầy lo âu.
-Không giấy tờ làm sao anh sống ở Sài Gòn, trong lúc bọn công an ngày càng nhiều, càng kiểm soát gắt gao hơn.
Long công tử với giọng nói đều đều.
-Ban ngày tôi lang thang ở chợ trời Nguyễn Thông, chợ trời là nơi xô bồ phức tạp, đủ mọi thành phần trong xã hội, đa phần là Ngụy nên họ thường hay giúp đỡ lẫn nhau, trong khi công an chỉ lo tịch thu tang vật để kiếm lợi, không để ý gì đến chuyện khác. Ban đêm tôi mò đến Trường đua Phú Thọ, nơi có mấy cái ống cống đúc bằng bê tông thời Việt Nam Cộng Hòa còn bỏ lại, chun vô ngủ.
Cúc hỏi Long công tử.
-Vợ con của anh đang ở đâu? Anh có tin tức gì về họ không? -Tôi lúc đó như một người mù, ngay cả mồ mả của cha mẹ ở đâu, tôi cũng không biết, thì làm sao tôi biết vợ con ở đâu. Hỏi ai bây giờ? Sau cả năm sống chui rúc trong ống cống, gầm cầu xó chợ ở Sài Gòn, nhờ có năm trăm đô la mà Quân cho, khi túng đói tôi đổi một trăm đô thành vàng, đô la lúc đó có giá trị cao nhờ những người vượt biên muốn có tiền đô giấu đem theo. Một trăm đô đổi được năm chỉ vàng, có khi được sáu chỉ, vì vàng trong dân chúng còn có nhiều nhưng đô la thì hiếm, và cũng tùy người mua cần gấp hay không. Thị trường vàng và đô la tùy thuộc vào nhu cầu của người vượt biên, chứ không căn cứ nhiều vào thị trường của vàng và đô la trên thế giới. Nhờ những tờ đô la Quân bắp cải cho, tôi sống tương đối dễ dàng. Sau đó cũng nhờ môi giới ở chợ trời, tôi lo lót cho công an mua giấy tờ, thay tên đổi họ, rồi xin được một chân gác kho cho một hợp tác xã. Nói là xin chứ thật ra tôi phải mua cái chỗ làm này hết hai chỉ vàng. Đó là một số tiền lớn nhưng với tôi thì lại quá rẻ vì tôi sẽ có công ăn việc làm hợp pháp, và điều quan trọng nhất là có chỗ ngủ ban đêm. Coi kho thì đương nhiên phải ngủ trong kho rồi. Giã từ đời sống lang thang đây đó tối đến phải ngủ trong ống cống, tôi có cuộc sống công khai hợp pháp, không còn sợ công an xét hỏi. Nhờ có giấy tờ nghề nghiệp đàng hoàng tôi đi làm chứng minh nhân dân, có chụp hình lăn tay đầy đủ. Tôi bây giờ là công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chết tiệt. Cái tên Long công tử, trung úy Lực Lượng Đặc Biệt, tù cải tạo trốn trại được tôi khai tử từ lúc ấy.
Hình minh họa
Cúc thắc mắc hỏi.
-Anh không sợ công an phát hiện ra, anh là sĩ quan Ngụy hay sao?
-Chị khỏi lo, lúc tôi ở tù bộ máy hành chánh của Việt Cộng còn thiếu sót nhiều, nói đúng hơn là họ không có đủ phương tiện để kiểm soát, chỉ căn cứ vào lời khai của sĩ quan Ngụy, không chụp hình không dấu tay, làm sao mà truy xét.
Móc trong túi tấm thẻ chứng minh nhân dân, Long công tử đưa cho Cúc coi rồi nói.
-Đây là lá bùa hộ mạng hợp pháp của tôi. Tôi có tên mới là Phan văn Dậu, dựa theo năm sinh của tôi. Một cái tên nghe đậm chất quê mùa, dân dã, bởi vì tôi đang đóng vai một anh nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long mà.
Đang nói chuyện Long công tử im bặt, khi thấy hai người khách ngồi xuống ăn bánh.
Một trong hai người nói.
-Cho tôi tám cặp, nhiều mỡ hành.
Mấy đứa nhỏ cũng vừa ăn xong, trả tiền cho Cúc rồi dẫn nhau đi.
Nhìn theo lũ nhỏ, Cúc nói với hai người khách mà như là giải thích.
-Ba đứa nhỏ chỉ có một đồng đủ mua bốn cặp bánh. Khi tụi nhỏ ăn xong, nhìn đôi mắt với cái miệng của tụi nó thấy vẫn còn muốn ăn thêm, thương quá tôi cho thêm ba đứa bốn cặp nữa, tổng cộng là tám cặp tất cả.
Hai người khách cười đùa.
-Hai đứa tui ăn tám cặp, vậy thì chút nữa cũng chỉ trả một đồng thôi. Phải không?
-Dạ không, tám cặp phải trả hai đồng, một đồng thì không đủ tiền mua gạo.
Long công tử đứng lên, nói với Cúc.
-Tôi và Quân ngồi ở quán cà phê bên kia đường, lát nữa chị muốn mua gạo với giá rẻ không? Qua gặp tôi bên quán đó.
Trên đường đi đến quán cà phê, tôi hỏi Long công tử.
-Mày đi buôn gạo hồi nào vậy?
Long công tử cười sặc sụa, hắn cười mà nước mắt muốn trào ra.
-Mày đi lính cũng được bảy năm, học hành cũng tạm được, tù cải tạo cũng từng trải qua, vậy mà cho tới giờ đôi khi mày vẫn còn ngây ngô, ngớ nga ngớ ngẩn. Tội nghiệp cho sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thấy người lạ tao không muốn nói chuyện, nên ngầm báo cho vợ mày biết là tụi mình đi uống cà phê gần đây thôi, chớ có buôn gạo bán cơm gì đâu.
Quán vắng khách tôi và Long chọn một cái bàn nơi góc, loại quán cóc như thế này gần đây xuất hiện khá nhiều ở Sài Gòn.
Long công tử hỏi tôi.
-Mấy giờ vợ mày nghỉ bán?
-Hết bột sẽ nghỉ, thường thì vào khoảng mười một giờ trưa.
-Tao có một chuyện rất quan trọng, cần bàn với vợ chồng mày. Trưa nay tao ăn cơm ở nhà mày, rồi nói chuyện luôn được không?
Tôi gật đầu, nói.
-Được quá đi chớ, mày không nói tao cũng bắt mày phải ăn cơm với vợ chồng tao. Mày có đầy đủ giấy tờ hợp lệ, vợ chồng tao cũng vậy, không có gì phải lo sợ công an hay hàng xóm dòm ngó. Bây giờ nói tiếp cho tao nghe chuyện của mày đi.
Hình minh họa
Long công tử ngồi dựa lưng vô vách tường, hai tay đan vào nhau rồi vòng ra sau đầu.
-Khoảng hơn một năm trước đây, lúc tao còn làm cái công việc giữ kho, một ngày nọ có một người đàn ông đến gặp tao gợi chuyện, rồi tự giới thiệu mình tên là Hà văn Hòa. Ông này muốn tao bỏ nghề gác kho, về làm việc lái tàu chuyên chở hàng hóa trên sông cho ông. Công việc này không có gì là khó nhọc, lương bổng lại cao hơn gác kho khá nhiều. Quá sức ngạc nhiên tao hỏi ông ta, tại sao lại là tao, một thằng bước chân xuống tàu là say sóng, nói gì đến chuyện lái. Ông ấy nói là cần một người lanh lẹ, tháo vát và nhất là trọng chữ tín. Tao là nhân tuyển thích hợp nhất vì ông ta đã dò xét suốt thời gian tao làm việc coi kho. Không ngờ mình đã bị người ta bí mật theo dõi mà không biết. Có tật giật mình, tao tiếp tục chuyện trò với ông Hòa mà mục đích là dò hỏi, tìm hiểu nguyên nhân đầu đuôi mọi chuyện. Sau đó mới biết được, lý do đơn giản là vì suốt thời gian tao coi kho, của cải vật chất bên trong không mất mát bất cứ một thứ gì cho dù là cây kim sợi chỉ. Từ đó ông Hòa suy ra tao là một thằng có tính tình ngay thẳng, không tham lam. Ông muốn mướn tao, chuyện chỉ có vậy. Biết rõ nguyên nhân, tao vui vẻ nhận công việc mới. Sau vài tháng thực tập, tao thực thụ lái con tàu chạy trên sông, cho đến bây giờ. Chỗ này tao muốn giải thích thêm chút xíu cho mày hiểu, người Việt Nam mình thường dùng chữ, tàu, ghe, thuyền, mà không chịu phân biệt rõ ràng. Tao cũng vậy, dùng chữ tàu để chỉ chiếc ghe tao đang lái.
Tôi hỏi Long công tử.
-Còn vợ con mày ra sao? Đó mới là chuyện tao muốn biết.
-Mày hỏi vợ con tao hả? Từ ngày trốn trại về, sống chui rúc như chuột, cho đến khi chạy được giấy tờ hợp lệ cũng hơn một năm, sau đó lại thêm một năm làm nghề gác kho, rồi chuyển qua lái tàu. Khi mà mọi việc đã ổn định, lúc bấy giờ tao mới đi lên Ban Mê Thuột tìm vợ con. Tao đã vạch sẵn kế hoạch trong đầu, nếu vì một lý do nào đó vợ con tao đã chết hoặc thấy mình không còn chút hy vọng nào, tao sẽ vô rừng tìm phe mình, nếu không gặp nữa, sẵn đó sẽ băng rừng qua Thái Lan luôn. Tính toán là như vậy, nhưng thực ra đó là một chuyến đi tuy có gian nan vất vả, nhưng lại mang đến cho tao một kết quả tuyệt vời.
Long công tử nghỉ một lúc, uống một hớp cà phê, rồi tiếp tục câu chuyện.
-Chuyến đi bắt đầu từ Sài Gòn, khi xe đến Phan Thiết, tao đã nhớ đến mày rồi, nhớ trại tù Sông Mao với cái hàng rào vỉ sắt PSP, không biết mày còn bị nhốt trong đó hay không, hay là đã bị đưa đi trại tù khác rồi. Nhớ để mà nhớ chứ thực ra tao biết mình hoàn toàn bất lực, không làm gì được hết. Mặc dù có giấy tờ đầy đủ nhưng khi xe chạy ngang qua Sông Mao, tao vẫn thấy hồi hộp trong lòng. Nhìn về bên trái của quốc lộ nơi có trại tù, tao cầu mong cho mày được mạnh khỏe, không tật bệnh, sống để chờ ngày về với vợ con.
Long công tử với chút ngập ngừng ra mặt, hỏi tôi.
-Ngày đó khi tao trốn trại, mày có bị tụi Việt Cộng điều tra hay đánh đập gì không?
Tôi cười thoải mái.
-Tụi nó dẫn độ tao lên ban chỉ huy trại để làm việc, điều tra về mày, rồi dần cho tao một trận nên thân, ê ẩm cả người.
Sẵn trớn tôi kể cho Long công tử nghe chuyện khi bị đánh, tôi khai gian có ông cậu là Bí thư tỉnh ủy của tỉnh Lâm Đồng. Nhờ vậy mà mấy tháng sau đó, tôi được phóng thích.
Trợn tròn đôi mắt biểu lộ sự ngạc nhiên tột cùng, Long công tử lắc đầu.
-Không thể có chuyện như vậy xảy ra được, đâu phải cứ khai có thân nhân theo Việt Cộng là được cho về sớm, tao ngờ rằng còn có chuyện gì khúc mắt, lẫn khuất bên trong. Khi thả một thằng tù, tụi Việt Cộng phải điều tra cho người về địa phương xác nhận, tìm hiểu.
Tôi đồng ý với Long công tử.
-Mày nói đúng.
Sau đó tôi kể tiếp tất cả những tình tiết chi ly nhỏ nhặt, trong việc tôi được phóng thích.
Nghe xong, Long công tử với vẻ thoải mái.
-Phải như vậy mới được.
Tôi uống một ngụm cà phê có màu nâu đen, không mùi không vị.
-Chuyện của tao mày đã biết rồi, nói cho tao biết mày đi Ban Mê Thuột tìm vợ con như thế nào?
Hình minh họa
Long công tử đưa tay gãi đầu.
-Có nhiều chuyện muốn nói quá, nên đầu đuôi lẫn lộn. À…như thế này. Đến Phan Rang tao ngủ lại một đêm ở đó, sáng hôm sau lên đường đi Nha Trang, sau đó là Dục Mỹ, đèo Phượng Hoàng rồi Khánh Dương, toàn là những địa danh của một cuộc chiến bi hùng, một cuộc rút quân bi thảm. Nhìn cảnh cũ, nhớ chuyện xưa mà buồn đến đứt ruột, cuối cùng tao đến Ban Mê Thuột vào một buổi chiều mưa bay giăng mắc khắp phố phường. Ban Mê Thuột một thời của gió bụi mưa mùa, buồn muôn thuở, đang chìm trong hoang lạnh cô đơn, lạnh như tâm hồn tao lúc bấy giờ. Tao mò đến nhà của má vợ tao, chỉ còn thấy một căn nhà xiêu vẹo đổ nát, không cửa, không mái và dĩ nhiên không có một ai ở bên trong. Dò hỏi những người sống quanh đó, tao biết được cả gia đình gồm có vợ con của tao và má vợ, đã bị đưa đi khai khẩn đất hoang đâu tận Ban Dong, gần biên giới Việt Miên.
Tôi góp ý mà như muốn chia sẻ khó khăn với Long công tử.
-Ngày xưa Tần Thủy Hoàng xây Vạn lý trường thành, có điển tích nàng Mạnh Khương vạn lý tầm phu. Ngày nay mày đi tìm vợ coi bộ cũng gian nan không khác gì mấy.
Long công tử nói.
-Có khác mà mày không để ý, cả trăm ngàn sĩ quan Ngụy cùng với công chức, cảnh sát, bị lùa vô trại cải tạo không có ngày về. Dân chúng thì, người giàu bị gắn cho cái nhãn tư sản mại bản, bị tịch thu gia sản, đày đi vùng kinh tế mới. Người nghèo bị bịnh hoạn như má vợ tao thì bị đưa đi đến những vùng rừng sâu nước độc gọi là khai khẩn đất hoang. Như vậy những căn nhà sang trọng, đầy đủ tiện nghi ở thành phố không lẽ bỏ hoang, không nói chắc mày cũng thừa biết chủ nhân mới của những căn nhà đó là ai rồi. Cá nhân tao nếu không trốn trại, vẫn còn ở trong tù thì ai sẽ là người lo cho vợ con tao? Cả trăm ngàn người tù cải tạo, vợ con của họ đều chịu cảnh khổ đau nghiệt ngã, nhiều trường hợp còn cay đắng gấp ngàn lần mà vợ tao phải chịu. Ngày xưa chỉ có một nàng Mạnh Khương tìm chồng, ngày nay một trăm ngàn vợ tù cải tạo, lặn lội tìm chồng đâu tận Lào Cai, Yên Bái, Vĩnh Phú… khác nhau là ở chỗ đó.
Long công tử hớp một ngụm cà phê rồi nói tiếp.
-Đêm đó khi trời đã tối mịt, tao đi đến bến xe gần cây số ba, trình giấy tờ cho công an đàng hoàng, xin ngủ ở trạm bán vé xe đò.
Tôi hỏi Long công tử.
-Tại sao mày không thuê phòng trọ? Bộ không có tiền hay sao?
-Lỡ đóng vai một ông gác kho nghèo nàn, một thằng lái tàu mướn thì phải diễn cho trọn vẹn vai trò. Hơn nữa ngủ bờ ngủ bụi, ngủ ống cống cả năm trường tao còn chưa sợ, thì sá gì dăm ba tuần lễ lang thang vạn lý tầm thê. Sáng hôm sau tao đi Ban Dong, suốt mấy ngày ở đó lặn lội khắp rừng sâu núi thẳm, dò hỏi tin tức của Hà và con. Hoàn toàn bặt âm vô tín, bóng chim tăm cá biết đâu mà tìm. Còn tin tức quân phục quốc của phe mình cũng hoàn toàn mù mịt trong mây. Tao trở lại Ban Mê Thuột, đêm nằm thao thức nhớ vợ thương con mà lòng đau quằn quặn. Không chịu đầu hàng nghịch cảnh, tao lại dò tìm ở khu vực chung quanh đồn điền của ba tao.
Long công tử bất ngờ hỏi tôi.
-Mày có biết tại sao tao không dám công khai đến đồn điền, để hỏi thăm tin tức của vợ tao không? Bởi vì hầu hết công nhân ở đồn điền đều biết tên, biết mặt tao trong khi giấy tờ tao mang trên người đều có tên là Phan văn Dậu. Nếu để bại lộ thân thế, tao sẽ bị tù rục xương, cũng có thể bị Việt Cộng cho dựa cột như chơi. Sau một tuần giấu mặt, khổ công dò hỏi, tao biết được một chi tiết khá quan trọng, vợ con tao đang ở nhà ông cậu vợ, căn nhà tranh vách đất ở gần cây cầu Mười bốn trên dòng sông Serepok. Hồi còn ở trại tù Sông Mao, tao có kể cho mày nghe chuyện tao và vợ tao đi câu cá ở đó. Mày còn nhớ không?
Tôi lẹ làng trả lời.
-Nhớ quá đi chớ, nhớ luôn lúc đó mày còn đang gù vợ mày mà.
Hình minh họa
Long công tử khen.
-Mày có trí nhớ khá tốt, viết hồi ký được đó. Sau bao ngày gian lao khổ nhọc tìm kiếm, cuối cùng tao tin rằng mình đã thấy được tia sáng cuối đường hầm. Từ Ban Mê Thuột quá giang một chiếc xe bò chở khoai mì, tao xuống xe bên kia cầu Mười bốn trong một buổi chiều mây xám đầy trời, mưa bụi bay lất phất như muốn che lấp cả con sông Serepok đỏ màu phù sa. Rảo bước qua khoảng rừng thưa đầy cỏ dại, tao đến được căn nhà khi trời nhá nhem tối. Hình dáng của căn nhà vẫn vậy, vẫn giống như hơn mười năm về trước, khi tao và Hà ghé qua. Chỉ có một điều là mái tranh đã mục nát, vách đất nhiều chỗ bị mưa gió bào mòn lòi cả thân tre bên trong. Đứng tần ngần trước cửa, giũ những hạt mưa bụi lành lạnh bám vào tóc, vào quần áo, sau một lúc chần chờ, tao quyết định đẩy nhẹ cánh cửa tre chỉ khép hờ, rồi bước vào nhà. Phải mất một, hai phút, mắt của tao mới quen dần với cái tăm tối của căn nhà. Đảo mắt một vòng, nơi góc nhà bên bếp lửa, một người đàn bà và đứa nhỏ đang ngồi sưởi ấm, trên bếp nồi nước đang sôi, phát ra những tiếng kêu sùng sục. Người đàn bà hỏi “Ông tìm ai?”. Giọng nói của bà ta nghe thật êm đềm đầy thân quen, tao mạnh dạn đi đến gần hơn. Dưới ánh lửa bập bùng lúc mờ lúc tỏ, vợ tao với gương mặt già đi trông thấy, nhưng đôi mắt thì vẫn trong sáng như thủa nào. Đưa tay vuốt những giọt nước mưa còn đọng lại trên mặt, mà tao cứ tưởng như mình đang lau những giọt nước mắt tràn đầy hạnh phúc. “Em không nhận ra anh hay sao? Anh là Long đây mà.” Nói xong tao cứ yên chí rằng vợ tao sẽ rất vui mừng, ôm lấy chồng với đôi mắt sung sướng nơi gương mặt mà tao hằng đêm nhung nhớ.
Long công tử ngưng kể chuyện, hắn thong thả mồi một điếu thuốc nhả khói bay mù trời, rồi mới tiếp tục.
-Trái với sự suy nghĩ của tao, đôi mắt của vợ tao bỗng trở nên hoảng sợ, hai tay run lẩy bẩy chống xuống đất, đạp hai chân lùi cả thân hình về phía sau, miệng lắp bắp “Anh sống khôn thác thiêng, đừng có cho em thấy anh như vậy. em hứa tối nay sẽ nấu chén cơm để cúng anh”. Nghe vợ nói tao giật mình chợt tỉnh, hiểu rõ tâm trạng của vợ, tao nói to “Anh là Long còn sống sờ sờ ra đây, có chết đâu sao em lại nói như vậy”. Đưa tay giụi mắt, rồi lại giụi mắt, im lặng một hồi lâu, Hà ngập ngừng ấp úng “Anh còn sống…Còn sống phải không?” Tao gật đầu mà lòng ngập tràn hạnh phúc rồi nói với Hà “Anh vẫn còn sống, đang ở bên em đây nè”. Lúc bấy giờ Hà mới đứng lên nhào tới, ôm chặt lấy tao rồi khóc như mưa, tiếng khóc nghe chừng như đầy ắp yêu thương nhung nhớ. Thằng con trai của tao lúc bấy giờ cũng đã mười một tuổi rồi, ốm như cây sậy, đen như củ súng đu lấy vai của tao miệng mếu máo “Vậy mà má nói với con ba mất rồi”. Đưa tay chỉ lên miếng vải đen to bằng đầu ngón tay may nơi ngực áo “Má bắt con để tang cho ba, cả má cũng để tang nữa”. Tao hỏi vợ “Tại sao em biết anh đã chết mà để tang”. Nước mắt Hà vẫn lưng tròng “Có một ông lính Biệt Động Quân trong tiểu đoàn của anh đến nhà báo tin, ông ấy nói có thấy anh và vài chục người lính nữa bị Việt Cộng lùa lên xe Molotova đem đi xử bắn”. Tao nói với Hà “Chuyện như vậy mà em cũng tin được hay sao?” Vợ tao đưa tay giụi mắt “Ngay lúc ấy thì không, nhưng một tháng rồi hai tháng trôi qua, cho đến một năm sau vẫn không nghe được tin tức của anh, không thấy anh trở về, bấy giờ em mới hoàn toàn tin lời người lính nói, tin rằng anh đã chết rồi”. Tao nhìn quanh căn nhà rồi hỏi “Má đâu rồi em”. Nghe tao hỏi, Hà với giọng nói đầy đau khổ “Em nghe cậu nói lại, tháng ba năm bảy mươi lăm khi Việt Cộng tấn công vào Ban Mê Thuột, má theo đoàn người di tản rồi biệt tích luôn, em nghĩ là má đã chết mất xác trong một khu rừng nào đó trên đường trốn chạy. Một người bình thường sức khỏe còn đầy đủ, cũng khó mà vượt đèo lội suối, huống chi má đã già yếu lại bịnh hoạn”. Tao ở lại thành phố Ban Mê Thuột, đợi vợ tao xin giấy phép đi thăm bà con. Một tuần sau, tụi tao về đến Sài Gòn an toàn.
Hình minh họa
Liếc nhìn cái đồng hồ treo trên tường, tôi nhắc Long công tử.
-Quá mười hai giờ rồi, tụi mình về nhà ăn cơm rồi nói chuyện tiếp.
Long công tử dằn mấy tờ giấy bạc xuống dưới đáy ly, số tiền khá hậu hỷ so với giá hai ly cà phê, tôi cười đùa với hắn.
-Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời, Việt Nam Cộng Hòa mất rồi nhưng mày vẫn là mày không có gì thay đổi.
Long công tử nói mà như là than thở.
-“Rằng quen mất nết đi rồi”
Khi tôi và Long công tử về đến nhà, Cúc đang lui cui trong bếp nấu cơm.
Long công tử hỏi tôi.
-Con mày đâu?
Bất ngờ nghe Long công tử hỏi, tôi cũng không biết con mình đang ở đâu.
Thấy tôi lúng túng, Cúc đỡ lời.
-Sáng nay chị Hai dẫn con bé đi sở thú chơi rồi, chắc chiều mới về. Sẵn dịp anh Long ở lại ăn cơm với tụi này luôn.
Long công tử tiếp lời Cúc.
-Chị không mời tôi cũng ở lại, vì có chút việc quan trọng phải nói với chị và Quân.
Chỉ một lát sau cơm được dọn lên bàn, một tô canh rau muống nấu với tôm khô thêm vài miếng cà chua đỏ thắm nổi trên mặt, hai lát cá lóc kho tộ. Hình như Cúc đã đoán được Long công tử sẽ ở lại ăn trưa với chúng tôi, nên đã nấu một bữa ăn khá tươm tất. Chúng tôi vừa ăn cơm vừa chuyện trò.
Tôi vui vẻ mở đầu.
-Vợ chồng tao có nhờ Vinh máy nổ, cho tụi tao gặp mặt chủ tàu thương lượng xin ba chỗ trên tàu vượt biên, khi qua đến Mỹ sẽ trả tiền sau, không ngờ đại diện chủ tàu lại là mày.
Long công tử vừa bưng chén cơm lên, chưa kịp ăn hắn lại đặt xuống rồi nói với tôi.
-Có thể nói, tao là đại diện cho chủ tàu cũng được, chuyện hơi dài dòng, nhưng mà tóm lại đầu đuôi là như thế này. Hồi còn ở Tổng trại 8 tù binh Sông Mao, mày đưa cho tao năm trăm đô la, tao nhét vô túi cho mày vui lòng vì tao nghĩ thầm, mày là cái thằng lẩm ca lẩm cẩm. Ở trong tù một hột cơm không có mà ăn, cầm tiền của Việt Cộng, muốn mua tán đường cũng phải trăm cay nghìn đắng mới mua được. Bắt tao ôm một mớ đô la khác nào ôm một đống giấy lộn, đã vậy nếu bị khám xét bất thình lình, lòi ra cái tội tàng trữ tiền của đế quốc Mỹ, chắc chắn nằm thùng sắt mọt gông, không chừng còn bị đem đi xử bắn để làm gương nữa là khác. Trốn thoát trại tù về đến Sài Gòn, khi đã xài đến đồng bạc cuối cùng của Việt Cộng, lúc bấy giờ tao mới thấy được mãnh lực của mấy trăm đô la mà mày đưa cho tao. Chừng đó tiền, nếu đem đổi ra vàng sẽ được khoảng ba cây. Trong lúc người dân cả nước đang sống trong bần cùng khổ cực, chạy ăn từng bữa thì ba cây vàng đúng là một tài sản quý hiếm đối với tao. Chữ quý hiếm được hiểu theo cả hai nghĩa, giá trị vật chất và tình bạn gói ghém ở trong đó. Từ một tay công tử xài tiền không đếm, tao trở thành một người biết coi trọng, trân quý đồng tiền. Trong đời sống hàng ngày tao cố gắng bươn chải, chạy đầu này đắp đầu kia, kiếm chút tiền sống lây lất qua ngày đoạn tháng. Chỉ trong trường hợp thật cần thiết, chẳng đặng đừng lúc bấy giờ tao mới dùng đến.
Cúc hỏi Long công tử.
-Hiện giờ anh đang làm gì?
Long công tử mau mắn trả lời Cúc.
-Nghề nghiệp của tôi là lái tàu chở hàng trên sông, mà có chuyện gì không chị?
Không trả lời câu hỏi của Long công tử, Cúc hỏi.
-Tàu anh đang lái, có kích thước như thế nào?
-À…bề ngang gần ba thước, chiều dài non mười thước, mũi tàu bầu, tròn, gắn máy Yanmar F10, chỉ dùng để chở hàng di chuyển trên sông. Còn tàu đi biển thì mũi tàu phải nhọn, chiều dài hơn mười bốn mét. Đó là theo lời chủ tàu nói.
Hình minh họa
Cúc nhắc Long.
-Như vậy, con tàu anh lái, đâu có liên quan gì đến chuyện vượt biên.
Long cười.
-Không mà có đó chị, tất cả mọi người kể cả trạm canh gác của công an dọc theo hai bên bờ sông đều biết rõ, tàu đi trên sông với cái mũi bầu mà ra biển chỉ cần một vài đợt gió lớn, sóng vỗ mạnh, con tàu sẽ bị bể và chìm ngay.
Sau vài tháng, khi tôi đã quen với cuộc sống trên sông rạch. Một hôm ông Hòa là chủ chiếc tàu mà tôi đang lái, gặp riêng tôi tâm sự, hỏi tôi có muốn vượt biên hay không? Tôi cười nói với ông ấy là “Ở Việt Nam cây cột đèn nếu đi được, nó cũng đã đi mất rồi, huống gì là tôi.” Ông Hòa cho biết ông mua chiếc tàu này với mục đích là che mắt thiên hạ, thực tâm là khi có dịp, ổng sẽ dùng nó để vượt biên. Dùng tàu đi trên sông mà vượt biển khác nào đi tự tử, thế nhưng ông Hòa cho rằng người ta quên mất câu nói mà dân đánh cá thuộc nằm lòng “Tháng ba bà già đi biển”. Đó là cái kẽ hở mà con tàu của ông Hòa sẽ chun qua để vượt đại dương. Ông Hòa bàn với tôi lập ra một ban tổ chức gồm có, ông Hòa chủ tàu, tài công là một ngư dân đã có nhiều năm kinh nghiệm đánh cá trên biển, ông này là bạn ông Hòa, thợ máy là Vinh máy nổ, tôi lo việc rước người trên sông, tất cả bốn gia đình của ban tổ chức có con số chính xác là mười lăm người. Chủ tàu sẽ nhận thêm ba gia đình nữa khoảng mười người, số tiền đóng góp của họ sẽ dùng để lo lót cho công an, tân trang máy móc, mua xăng dầu, thực phẩm cho chuyến đi. Nay có thêm ba người của gia đình chị nữa, con số sẽ vào khoảng gần ba mươi người.
Cúc hỏi Long công tử.
-Tụi tôi sẽ phải trả bao nhiêu?
Long công tử cười sảng khoái.
-Chị nghĩ như thế nào mà hỏi tôi như vậy? Bản thân của tôi là do thằng Quân bắp cải cứu sống, nay tôi có bổn phận phải hoàn lại những gì mà tôi đã nợ chị và Quân. Chị không phải tốn một xu trong chuyến đi này. Tôi cũng biết hiện tại chị và thằng bắp cải làm gì có tiền mà đòi đóng với góp. Nếu có tiền chị đã không phải bán bánh căn kiếm sống.
Cúc nói nhỏ với Long công tử.
-Vợ chồng tôi hiện còn một cây, nhờ chị Hai cất giữ.
Long công tử nói với Cúc.
Lượng vàng của chị cứ để chị Hai giữ giùm, trong trường hợp, chuyến đi thất bại, bị công an bắt, chị Hai có sẳn tiền mà lo lót cho công an lãnh chị và Quân ra khỏi tù. Còn nếu thành công coi như chút vàng đó giúp cho chị Hai.
Quay sang nhìn tôi, Long công tử nói.
-Trong chuyến vượt biên, mày phải thay tên đổi họ, dùng giấy tờ giả, đừng bao giờ để lộ cái gốc sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa của mình. Một anh nông dân chân lấm tay bùn ngu ngơ tin tưởng vào Xã Hội Chủ Nghĩa, lúc nào cũng tốt hơn là một tên sĩ quan Ngụy phản động chống đối cách mạng. Tất cả giấy tờ và tên thật của mày và vợ, hãy giao cho chị Hai giữ giùm luôn.
Đang say mê nói, Long công tử vỗ trán, như nhớ ra điều gì đó.
-Còn một điều quan trọng mà tôi quên nói với chị. Đại dương bao la vô tận, nạn hải tặc đang hoành hành tại vịnh Thái Lan, con tàu của mình nhỏ xíu, là tàu đi trên sông chứ không phải tàu đi biển. Chuyến vượt biên sẽ có muôn ngàn hiểm nguy chờ chực, người đời đánh bài bằng tiền, người dân Việt Nam đem tiền của, vàng bạc cộng thêm sinh mạng của họ để vượt biển, tôi đem mạng sống của mình và vợ con đặt vào một canh bạc mà nếu thắng sẽ có được hai chữ tự do. Còn nếu thất bại thì hậu quả là mình phải trả bằng những gì mình đặt xuống chiếu bạc. Hôm nay đã qua tháng chín dương lịch, đầu tháng tư năm tới tàu sẽ ra khơi, không thể chần chừ vì đó là cái tháng định mệnh. Tụi mình còn tới khoảng nửa năm nữa mới lên đường, xin chị và Quân hãy suy nghĩ kỹ, cho tôi biết có muốn tham dự hay không?
Ngày Thứ Sáu, 11 tháng Tư Lần nầy thì sắt thép đụng nhau rồi! Đụng rất nặng ở Xuân Lộc. Câu chuyện bắt đầu từ đêm thứ tư đến ngày thứ năm 10/4 bằng một cuộc pháo kích dọn đường rất dữ dội: 2000 quả đạn pháo và hỏa tiễn đã được rót xuống thành phố. Vào lúc hừng sáng, 2000 đặc công cộng sản có chuến xa T.54 yểm trợ đã mở cuộc xung phong vào Xuân Lộc. Đến 8 giờ, coi như họ đã chiếm được ba phần tư thị trấn, trong khi có 2 trung đoàn đang đánh bọc vào 2 bên sườn. Suốt cả ngày hôm qua, chiến trận đã hoành hành khốc liệt. Nhưng chúng tôi chỉ được biết vào hồi 7 giờ sáng sau giờ chấm dứt thiết quân luật. Vừa biết được hai bên đã đụng nhau ác liệt, tôi đi ngay lên Biên Hòa, đến Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Quân Đoàn lo cả phòng thủ cho Sai Gòn. Tại đây tôi đã gặp Trung tướng Toàn, một người lớn con vạm vỡ từng theo học ở trường Thiết Giáp Kỵ Binh Saumur ở Pháp. Ông có tính nóng nảy nhưng là một người thích ra trận, nhất là tấn công. Vào năm 1972, chính ông đã bẻ gãy tất cả các trận tấn công của cộng sản Bắc Việt vào Cao Nguyên. Ông vừa mới từ mặt trận trở về bằng trực thăng. Các sĩ quan tham mưu vây quanh ông để nhận lệnh. Ông nói với họ vài ba câu xong ra hiệu cho tôi và nói: -“Rất vui mừng được gặp lại anh ở đây, anh Pierre. Nhưng chắc tôi không có thì giờ để lo cho anh đâu. Nếu anh muốn đi xem thì anh hãy lên Ngã ba Biên Hòa rồi từ đó nhảy lên một chiếc cam nhông nào đó để lên thẳng Trảng Bom. Nhưng hảy cẩn thận nghe. Nặng lắm rồi đó.” Tôi biết rất rõ vùng Xuân Lộc. Từ năm 1947 đến 1948 tôi đã đi hành quân trong tiểu khu nầy ròng rã cả năm với toán đặc công của tôi. Vào thời kỳ đó, Xuân Lộc chỉ là một thị trấn nhỏ với khoảng vài dãy phố chừng 50 căn nhà gạch liền vách nhau hai bên chợ có nóc, và trên trăm nhà lá. Ga xe lửa là trạm dừng chân của đoàn “tàu thiết giáp”, một đơn vị “an ninh thiết lộ” của lê dương xâm mình, được trang bị loại đại bác Bofor và liên thanh nồi, nối liền Sai Gòn với miền Nam Trung Phần.. Dinh ông quận trưởng hành chánh người Pháp được tô điểm bằng một dàn hoa leo, nằm đối diện với trại “lính kỷ luật”, một đơn vị tập trung các binh sĩ nhiều lần bị kỷ luật, mà chỉ có một cơ may trở về đội ngũ của mình bằng một huy chương tưởng thưởng trong tác chiến. Xa xa về phía trước là một bộ phận của Hiến Binh lưu động, và đơn vị thân binh người Thượng, tất cả đều trú đóng trong một thành có tường đá bao quanh. Lúc bấy giờ tiểu khu nầy cũng không yên lắm đâu. Đã có nhiều trận phục kích, tấn công đoàn tàu hỏa hay đoàn xe trên quốc lộ vì hai bên đường đều có rừng hay đồn điền cao su của hảng SIPH (đã trồng 20.000 mẫu và đang khai thác 12.000 mẫu), và cao nguyên Bình Lộc với cỏ voi lá bén như dao cạo, với tre to và rừng cây già. Từ đó thị trấn nầy đã lớn lần ra. Hằng ngàn dân tỵ nạn rách như bươm, người thiên chúa giáo từ Miền Bắc đến định cư ở đây vào năm 1954. Chủ đồn điền ở đây đã cho các cha xứ 120 mẫu đất không lấy tiền để cất một ngôi thánh đường, một ngôi trường đạo và một nhà ở cho Linh mục do Sai Gòn bổ nhiệm. Quận cũ được cải biến thành quận lỵ của tỉnh, với một bệnh viện tối tân, và một dinh thự cho vị tỉnh trưởng, một nhà bưu điện, một trung tâm học vụ và một sân vận động. Dân tỵ nạn từ Miền Bắc vào đã xây nhiều ngôi nhà xinh xắn bằng gạch, nhiều căn nhà có dàn cho hoa leo, họ cũng đã mở ra hàng trăm tiệm buôn bán và xưởng mỹ nghệ. Một sư đoàn lính Mỹ đã đóng quân ở đây ba năm, đã xây cất một phi trường và nhiều doanh trại với đầy đủ tiện nghi. Xã đã biến thành thị trấn, và một thành phố trù phú đang sinh hoạt với 60.000 dân, nơi đây hằng ngày đều có hàng loạt “xe be” chở cây lóng và các xe rau cải đi về Sài Gòn. Bây giờ thì chiến tranh làm vỡ tan hết tất cả dưới một cơn bảo thép. Tôi đã đến đây không biết bao nhiêu lần rồi. Tôi đã thuộc hết hình ảnh của Xuân Lộc nầy, và những tiếng ồn ào ở đây, tiếng gầm của các khẩu pháo binh đang tác xạ làm rung chuyển mặt đất, tiếng rít khô khan và sắc bén của những viên đạn bắn đi với những chùm lửa, chùm sắt thép làm nát hết thân người và ném các mảnh xương thịt đó đây vung vãi….trên mặt đất. Bây giờ là 9 giờ sáng rồi, trời cũng đã quá nóng, mặc dù có dồn điền cao su thường giữ được độ mát nhờ có bóng râm. Trước khi vào Trảng Bom, cảnh sát dã chiến có dựng lên một hàng rào chữ chi để kiểm soát mọi sự lưu thông, tiếng súng bắn chỉ thiên thay cho tiếng tu hít., tôi xuống xe, kiểm soát xong tôi tiếp tục tản bộ đi về phía trước khoảng 100 thước. Thị trấn rất yên tĩnh và cần cù siêng năng nầy được thu hẹp chung quanh những cơ sở lớn sơn màu vàng được lợp ngói đỏ, thuộc công ty đồn điền SIPH, (nhà máy, văn phòng, trung tâm truyền thanh, nhà của giám đốc v.v..). Các anh thợ rèn và thợ mộc, cởi trần trùng trục đang tiếp tục làm việc trong mấy căn chái dựa hai bên đường. Tôi cố gắng tìm một đồn cũ của người Pháp hồi trước, nằm về bên phải của ngôi chợ. Vào năm 1948, đồn nầy được một đại đội binh sĩ dưới quyền của trung úy Suako, một lực sĩ người đảo Antilles, với bộ mặt cứng rắn đến hung dữ, một tay thiện chiến, đã từng làm chủ mảnh đất nầy trong vòng 30 cây số chung quanh, thiện chiến đến độ Việt Cộng phải sợ và đặt cho anh ta cái tên là “beo đen”. Dĩ nhiên cái đồn nầy không còn nữa. trung úy Suako đã chết và trong 25 năm nay, cuộc chiến đã thay đổi hẳn bộ mặt của nó, nhưng nó vẫn còn ở đây. Dữ dội hơn và gây chết chóc nhiều hơn! Một pháo đội 105 ly đặt sau hàng cây đã bắn đi một tràng. Một chiếc xe Jeep vừa hụ còi vừa đi qua. Một sĩ quan đứng bên cạnh tài xế khoát tay. Đoàn xe tiếp tục lăn bánh, tôi lại lên xe và tiếp tục đi. Quốc lộ đi qua nhiều làng mạc, có rào đóng kín và bên trong có nhà thờ. Hầu hết dân làng đều là dân “di cư”, tỵ nạn từ Miền Bắc. Các cụ già thản nhiên im lặng ngồi nhìn binh sĩ đi ngang qua trước nhà. Các trẻ em thì cứ nô đùa, các bà thì đang đập lúa. Cả một dảy nhà gỗ là của người “Nùng”, những người rạm nắng di cư vào đây từ miền Thượng Du Bắc Việt, giáp giới với Trung Quốc. Họ là những người nhai thuốc lá và cũng thích “sơi” thịt cầy, có truyền thống làm giặc hay cướp biển, không sợ Trời, không sợ quỷ thần, không sợ Việt Cộng, và cũng không sợ sen đầm nốt! Tuyến phòng ngự thứ nhất nằm ở phía trước Trảng Bom chừng 10 cây số. Từ đó trở đi, thình lình không khí thay đổi hẳn. Hai bên đường vốn được khai quang sạch sẽ khoảng 100 thước bề sâu cốt để tránh bị phục kích, có nhiều chiến xa hạng nặng và thiết vận xa đang tuần tiễu dọc theo các bờ chuối trong bìa rừng. Chung quanh một công sự đổ nát, trên một chục khẩu pháo binh 105 ly đang tác xạ, làm tung bụi lên mù mịt. Giữa một khoảng trống có đánh dấu bằng khói màu, các trực thăng khổng lồ “chinook” đang thả xuống nhiều toán binh sĩ mặc quân phục Biệt động quân, đội mũ nâu, mang đầy mình đạn dược và lựu đạn.. Một đoàn chiến xa M41 với cờ đuôi nheo cột trên ăng ten, đang di chhuyển về hướng mặt trận. Rồi lại đến lượt các binh sĩ thuộc binh chủng Nhảy Dù với quân phục xanh lá cây, mủ đỏ, súng tự động M.16 cầm tay. Chúng tôi gặp hai xe cam nhông chở thương binh, chỉ được băng bó sơ khởi, như những bóng ma, máu me bê bết, nằm la liệt chồng chất lẫn lộn lên nhau. Chúng tôi đi được thêm 5 cây số nữa thì phải ngừng lại.Tiếng súng nghe như gần bên rồi. Những tiếng nổ ròn của đại liên nghe rất rõ cùng với tiếng tác xạ ầm ầm của pháo binh. Chiến xa dẫn đầu, sau đó là các xe Jeep và xe 4/4 chở Biệt động quân. Tôi nhảy xuống xe vá quyết định đi tới trước với toán binh sĩ nầy. Biệt động quân là các đơn vị tiếp viện, hành quân từng tiểu đoàn 600 người gồm phần đông là binh sĩ lớn tuổi, già kinh nghiệm chiến trận và không biết hốt hoảng. Tôi lên một xe 4/4, ngồi cạnh đại úy Niệm . Trong khi di chuyển ông kể cho tôi nghe một vài câu chuyện. Đại đội của ông từ Chơn Thành về, ở đó ông và đại đội đã chiến đấu suốt 16 ngày liền và chỉ về nghỉ xả hơi được có 48 tiếng đồng hồ là phải ra trận nữa đây. Lực lượng cộng sản được tung vào mặt trận Xuân Lộc rất là quan trọng: 3 sư đoàn Bắc Việt được tăng cường 1 trung đoàn chiến xa T. 54 và được khoảng 30 khẩu pháo 130 ly và 152 ly viện trợ từ Liên Xô. Đối diện với lực lượng tấn công của cộng sản, phía Chánh Phủ chỉ có sư đoàn 18 bộ binh của tướng Lê minh Đảo, 1 lữ đoàn Dù, 5 Liên đội Biệt động quân và lữ đoàn 3 Thiết giáp của tướng Trần quang Khôi. – “Chúng tôi được lệnh phải đến Xuân Lộc bằng mọi giá”, đại úy Niệm kết luận với tôi như thế. Và chắc không dễ dàng lắm đâu. Trước mặt chúng ta là sư đoàn 6 Bắc Việt. Chính sư đoàn nầy, cách đây 3 ngày, đã tấn công vào ngã ba Suzannah, các xã chung quanh đó, nhà máy và trung tâm đồn điền nầy,. Hai tiểu đoàn Dù đã phản công đêm nay và đã chiếm lại ngã ba nầy. Cộng sản Bắc Việt đã có chiến xa yểm trợ và tổn thất nghe đâu cũng nặng lắm. Nhưng lực lượng Dù vẫn bám đất. Chúng tôi chắc phải xuống xe và phải đi bộ chừng 10 cây số, vòng qua ngã ba Suzannah mới tới Xuân Lộc được.” Đoàn xe chúng tôi đến gần Suzannah. Và chúng tôi lọt vô luôn giữa chiến trận. Những tràng đạn pháo binh, bích kích, hỏa tiễn chém nát mấy ngọn cây và mảnh đạn ghim xuống đường. Anh em Biệt động quân bỏ hết xe và tiến lên theo hướng thị trấn. Họ chia ra làm 3 toán, họ tiến lên từng đoạn ngắn, súng cầm tay. Bên trái và bên phải chúng tôi những hàng cây cao su đều đặn và thẳng tấp tạo nên những hành lang tranh tối tranh sáng. Suzannah là một đồn điền xưa nhất trong vùng, có khoảng 3.500 mẫu và 300.000 cây cao su. Đồn điền được chia ra thành từng lô 100 mẫu có đánh số…… Dửng dưng với chiến sự và mặc cho sự ồn ào của đạn súng, lén lén và yên lặng các phu đồn điền vẫn tiếp tục công việc cạo mủ của họ, dao đục mang ở lưng và thùng đựng mủ xách tay, họ không buồn nhìn lên khi chúng tôi đi ngang qua họ. Chúng tôi tiến lên trong một khung trời mờ ảo, đi dưới một vòm lá xanh um rợp bóng nửa tối nửa sáng có nơi biến màu đất đỏ dưới chân thành màu xám tro. Chúng tôi đi sâu thêm một đoạn nữa dưới những tàng cây. Không khí thấy đã ẩm ướt làm tôi khó chịu. Tôi tự hỏi không biết lúc nào bọn Việt Cộng nằm đâu đó trong vườn cao su rộng mênh mông nầy sẽ khai hỏa đây ? Nhưng vẫn chưa có gì xảy ra. Và chúng tôi tiếp tục tiến tới, hơn nửa giờ nữa. Và thình lình tiếng đại bác nghe như gần bên tai, đại liên thi nhau nhả đạn. Biệt động quân bắt đầu chạy tới, trăm thước, rồi hai trăm thước, một con đường mòn, một khoảng đất trống và đến con đường. Chiến xa, xe vận tải .. cả một đoàn binh sĩ đang ở tư thế tác chiến. Họ thuộc sư đoàn 18 bộ binh của Miền Nam Việt Nam. Anh em Biệt động quân giải thích cho họ biết là chúng tôi từ đâu tới. Đoàn quân đi lại con đường đó nhưng lần nầy họ đi ngược lại, vì con đường đã trống trơn. Họ đang tìm cách bọc sau lưng bọn cộng sản Bắc Việt để liên lạc với đơn vị Dù. Thành phố Xuân Lộc đầy khói và đầy những tiếng nổ. Tháp chuông nhà thờ bị nhiều quả đạn bắn bay hết một góc, nhà ga đang cháy. Các cột điện sập ngã đầy đường, giây điện bị đứt. Gần bên hông trường Nhà Dòng, hai khẩu pháo 105 ly đang bắn về hướng quốc lộ đi Phan Thiết. Khỏi chợ chừng 200 thước, súng liên thanh nổ từng tràng ngắn, xen lẫn vào lại có những tiếng nổ chát chúa của lựu đạn cầm tay. Thật khó mà có môt ý niệm về tình hình. Hai chiến xa M.48 có ống kính hồng ngoại tuyến bên hông pháo tháp đang tiến về phía chợ. Các binh sĩ Biệt động quân thì đang bố trí các ổ súng máy phía sau những đống gạch vụn của gần chục ngôi nhà đã sụp đổ bên phải của bưu điện . Họ cũng có một số súng phóng lựu M.79, một loại vũ khí tấn công nòng ngắn rất hữu hiệu trong thế cận chiến. Tôi ngồi phía sau một vách tường đã sụp đổ, và tôi sẽ ở đây suốt buổi trưa và tối nay. Vào lúc 6 giờ chiều, một loạt hỏa tiễn rơi vào chợ. Năm, mười hay mười hai quả gì đó, nổ điếc cả tai…. và sau đó có tiếng la hét. Nhiều chị đàn bà và trẻ con rách rưới mình đầy máu vừa la vừa băng qua đường, chạy ùa về phía nhà dòng. Ở về hướng Đông Bắc, chung quanh sân bay không còn nghi ngờ gì nữa, nghe có tiếng súng liên thanh nặng bắn liên hồi. Và đùng một cái pháo binh Bắc Việt nã ngay vào thành phố. Chúng tôi bị kẹp cứng trong vòng lửa đạn. Không thể đếm được là bao nhiêu quả. Cá nhân tôi chưa từng bị pháo kích nặng như vậy bao giờ. Các quả đạn pháo binh cày rất có hệ thống từng căn nhà một, căn nầy sập đến căn khác. Thành phố bị một cái bừa thép cày lên sới lại.. liên tục trong vòng 2 giờ đồng hồ. Không có môt bóng người nhúc nhích. Đêm đã bắt đầu xuống, trời nóng bức. Tôi không có gì để ăn, không có gì để uống, lại không có mũ sắt nữa ! Thật là không ổn tý nào! Vào lúc 10 giờ, hai trái bom sáng nổ trên không trung và vô số ngôi sao sáng rơi xuống màn đêm như một cơn mưa ánh sáng… Tiếp theo đó là đạn pháo binh lại tiếp tục rơi xống thành phố. Lần nầy là pháo 130 ly. Tôi nghe tiếng đạn đi trên đầu chúng tôi ầm ầm như tiếng tầu hỏa đang mở hết tốc độ, và ngay sau đó là những tiếng bùng nổ tiếng nầy tiếp tiếng kia liên tục.. Đất cát, rồi đá sỏi, rồi lửa rồi miểng đạn bắn đi tung tóe khắp nơi..Và nổi lo sợ làm bụng quặn đau…. Đến khoảng nửa đêm thì ngưng pháo kích. Người tôi ướt đẩm mồ hôi. Có một sự yên lặng hoàn toàn trong vài giây… và thình lình tiếng dế nổi lên gáy đều đều môt cách kỳ lạ và bất lịch sự, vì chúng là những con dế mèn nhỏ bé đâu cần biết đến chiến tranh hay giặc giã là gì, cứ gáy cứ hát lên một cách bền bỉ và ngạo nghể để mà sống… Con người tìm cách giết lẫn nhau, dế mèn có gì đâu mà phải lo sợ! Vào khoảng 3 giờ sáng, bóng đêm lại bất thần sáng rực lên. Bách kích pháo, súng liên thanh, súng tự động thi nhau nỗ. Từng đợt một, bộ đội Bắc Việt mỡ những cuộc xung phong. Tiếng hô “Tiến lên” nghe vang dội. Bấy giờ binh sĩ Biệt động quân mới xử dụng vũ khí của họ. Súng liên thanh thi nhau quét những làn sóng xung phong của địch, hàng ngàn tia lửa như điện chớp xé nát màn đêm… các khẩu đại bác pháo binh bắn trực xạ, bẻ gãy các đợt xung kích, làm im tiếng xung phong của địch. Chung quanh ngôi chợ, các chiến xa T.54 đang dùng đại bác bắn sập từng ngôi nhà. Chiến xa M.48 của Miền Nam chạm súng với họ trong một cự ly thật ngắn . Cảnh tượng trông thật là khủng khiếp. Với thân hình nặng nề màu xám và các đại bác nòng dài cứ lóe sáng lên mỗi lần tác xạ, gợi lên một trận chiến quái dị giữa những con voi khổng lồ.. Thật hoàn toàn là một trận đụng độ với nhau. Một trận mưa trái sáng soi tất cả chu vi phòng ngự bằng một ánh sáng mờ nhạt. Hai phi cơ võ trang C.119, được trang bị liên thanh điện tử (6000 viên phút). nhảy vào vòng chiến, tác xạ nhanh đến độ tai mình không còn phân biệt được từng tiếng đạn đi, người ta cứ tưởng đó là tiếng của một miếng tôn thiếc bị xé toẹt ra… Vào tảng sáng, các phóng pháo cơ A 37 lại đến dội bom và bắn hỏa tiễn vào phía sau ngôi chợ và cả về hướng phi trường. Binh sĩ Biệt động quân ra khỏi hầm trú ẩn của họ, vừa tiến lên từng đoạn ngắn vừa ném lựu đạn. Tôi thấy có 3 người ngã xuống, và người thứ tư thì bị một loạt đạn vào đầu. Đến 10 giờ sáng, tôi vẫn ở đằng sau bức tường của tôi. Tôi thấy hàng trăm binh sĩ Miền Nam đầu đội mũ sắt đang tiến tới. Một trung úy lúc đi ngang qua bức tường của tôi đã cho lệnh: ” Có hơn trăm tên bộ đội chết bầm đang trốn trong bệnh viện, Mình phải đuổi bọn chúng ra ngoài.” Vẫn còn đạn pháo và vẫn có một số binh sĩ bị tung lên trời. Một chiến xa T.54 bị một phát đạn 105 bắn trực xạ giữa xích, đang cháy khói lên nghi ngút. Có nhiều chiến xa M.48 đang yểm trợ cho bộ binh trước bệnh viện. Thời gian trôi qua..có nhiều tiếng hò reo và nổ ì ầm nhưng cũng có đôi lúc có sự yên lặng tuy ngắn ngủi. Và viện binh đã đến, Binh sĩ Miền Nam bắt đầu lục soát những căn nhà đổ nát bằng lựu đạn… Đến 3 giờ chiều, lúc đã im hết tiếng súng trong thành phố thì tôi rời chổ núp của tôi. Thành phố coi như vẫn còn trong vòng kiểm soát của Miền Nam Việt Nam. Người ta bắt đầu kiểm điểm xác chết của quân Bắc Việt. Họ mặc quân phục xanh ô liu và đi giày “tơ nít” hiệu Bata bằng cao su. Tôi đếm được rải rác chừng 30 bị chôn nừa thân mình dưới những đống gạch vụn. Một toán nhỏ Biệt động quân đang đẩy trước mặt họ 3 tù binh, đội nón cối bằng mớp được bọc vải màu xanh, trên nón có gắn môt ngôi sao bằng đồng. Nom họ còn rất trẻ, cao lắm là 16 hay 17 tuổi. Một trong ba người đó bị thương ở vai. Xa hơn môt chút, có một T.54 bị hạ, nằm phơi xác dưới một góc mái hiên đổ sụp. Cách đó vài thước, trước một hiệu thuốc tây vỡ kính, có một chiến xa của Miền Nam pháo tháp mở rộng, đầu chiến xa bị một viên đạn bộc phá B.40, đứt hết xích, giống như một con quái vật nằm bất động. Tất cả những tiệm buôn chung quanh chợ đều bị đạn pháo binh quạt sập đổ xuống hết. Kim Long, một quán ăn lâu đời nhất của thành phố (nơi mà cách đây 30 năm binh sĩ của trung đoàn 22 bộ binh của người Pháp (22ème R.I.C.) thường đến đây để ăn hủ tiếu) đã sập chỉ còn là một đống gạch vụn bị cháy đen. Bệnh viện chỉ còn là một cái vỏ nám đen vì khói. Rải rác trong sân là giường chiếu, dụng cụ y khoa, bô, bốc lẫn lộn khắp nơi với một số tử thi của bộ đội Bắc Việt mất tay mất chân mảnh vụn vung vãi ra cùng khắp. Cạnh bên chợ về phía rừng, một xe ủi đất đang đào một đường dài độ một thước. Và anh em Biệt động quân đang xếp tất cả những tử thi và những gì còn rơi vãi trên chiến trường vừa qua. Một tuyên úy đi dài theo đó lẫm nhẫm đọc kinh cầu nguyện lần cuối cùng cho họ, sau đó xe ủi đất đẩy họ xuống hố và lấp đất lại.Tôi quay trở lại. Gần nhà thờ, dưới hai cây to mà cành lá đã gảy nát, có khoảng 30 binh sĩ bị thương nặng được cho nằm trên băng ca. Những chai huyết thanh được treo trên báng súng cắm thẳng đứng xuống đất bằng lưỡi lê, và từ đó các ống cao su truyền máu thẳng đến kim tiêm vào cho thương binh. Các y tá đang săn sóc cho họ và vừa đuổi ruồi cho họ vừa trò chuyện nho nhỏ với họ. Tôi gặp tướng Đảo trước cửa Nhà Dòng. người ông nom ốm gầy, có vẻ mệt nhọc. – “Chúng tôi đã đẩy lui được họ, ông nói. Đây là một thành quả tốt nhằm nâng cao tinh thần cho anh em binh sĩ và cho cả hậu phương.. Họ bỏ lại 400 xác trên trận địa và chúng tôi đã hạ được 9 chiến xa T.54, bắt được 20 tù binh trong đó có 1 sĩ quan. Nặng nhất là chiến trận ở gần phi trường, và phía sau nhà ga.. Bây giờ thì trận tuyến đã phát triển ở hướng Bắc và hướng Tây, trên cao nguyên Bình Lộc và chung quanh Gia Kiệm. Anh em phi công báo cho biết là lực lượng cộng sản Bắc Việt đang tập trung mạnh lắm ở Giá Rai. Anh em Dù đã giải tỏa được ngả ba Suzannah rồi. Tất cả người Pháp ở đồn điền S.I.P.H. đều an toàn. Các đồn điền cũng không bị thiệt hại gì sau các cuộc đụng độ ở đó.” Gia Kiệm với 40.000 dân. là một thị trấn rất phồn thịnh được mọc lên hai bên đường đi Dalat, cách Xuân Lộc khoảng 15 cây số. Ở đây nhà cửa tiệm tùng sung túc nằm san sát bên nhau, có rào dậu, có lũy tre. Dân chúng toàn là người công giáo di cư từ Miền Bắc, một lòng với nhau. Không một người lạ mặt nào lẻn vào được ở đây. Nếu cộng sản Bắc Việt tấn công vào đây thì nhất định sẽ bị thiệt hại lớn. Vùng Giá Rai, nơi các đơn vị Bắc Việt tập trung nhiều nhất, nhờ dựa lưng vào vùng rừng bụi của núi Chứa Chang, một ngọn núi đất cao khoảng 900 thước, trên đó có gần 3000 giống thảo mộc nhiệt đới mà Viện Khoa Học Sai Gòn đã ra công gìn giữ. Ngọn núi nầy là một đài quan sát rất lý tưởng, và dựa vào khu rừng của ngọn núi nầy, cộng sản có thể sẽ tung ra một cuộc tấn công mới từ phía Đông vào Xuân Lộc. Vào lúc 5 giờ chiều có một chiếc xe vận tải nhẹ đi liên lạc với Trảng Bom. Tôi nhảy lên xe đó. Ngã ba Suzannah được đơn vị Dù trấn giữ, nằm kín trong hố cá nhân, và một số chiến xa thuộc lữ đoàn 3 Thiết Giáp. Có nhiều xe đã đi phía trước chúng tôi . Đi được khoảng 3 cây số, cách chúng tôi độ hơn 100 thước, một chiếc xe chở dân chúng bị trúng một quả đạn pháo. Tiếp theo tiếng nỗ chói tai là bụi, lửa bắn lên tung tóe. Cả chiếc xe và những người hành khách trên xe đều không còn gì cả! Chỉ còn trên đường một chấm đen lớn, và vung vãi thịt xương tóc tai của người chết và mấy mảnh kim khí của hộp số.. Và như vậy là chỉ trong có một giây đồng hồ, mà trên 20 người dân vô tội đã bị xóa hẳn tên trong danh sách người Việt. Ở Việt Nam chuyện đó xảy ra không biết bao nhiêu lần hằng ngày. Làm sao mà dân tộc nầy, một dân tộc đã bị quá nhiều đau khổ, chết chóc, đã từng bị xua đuổi khỏi thành phố của họ với đất đai làng mạc mồ mả bị tàn phá, mà người ta vẫn còn chém giết nhau mãi như vậy dai dẳng năm nầy qua năm khác một cách bền bỉ và dã man như vậy được? Ai sẽ là người chấm dứt được chuyện nầy vĩnh viễn một ngày nào đó, chấm dứt được cơn ác mộng đẩm máu và đáng ghê tởm nầy cho người dân vô tội?
Chương Tám Đừng Bao Giờ Tin Tưởng Hoa Kỳ Như Một Đồng Minh
Ngày Thứ Năm, 10 tháng Tư Chung quanh vòng đai của Thủ đô, nhiều xe ủi đất và máy xúc đất đang không ngừng đào lấu từ tấn nầy đến tấn khác đất và đá sỏi để hàng ngàn nhân công mặc quần cụt và sơ mi ngắn tay đen, dùng xe đẩy nhỏ , đưa đến dùng vá cho vào các thùng phuy sắt được kết nối lại từng 4 thùng một với nhau bằng dây sắt và được đặt trên các lề đường để dùng làm bờ tường chống chiến xa. Tất cả những xe đò từ các tỉnh đến Sai Gòn đều được quân cảnh lục soát và kiểm tra kỹ. Các ngã tư đường quan trọng đều có các cuộn kẽm gai bao quanh. Hai bên các đầu cầu đều có binh sĩ canh gác với các loại vũ khí nặng đặt trong các lô cốt bằng ximăng hay trong các hầm trú ẩn có bao cát ở trên. Những công cuộc chuẩn bị chiến tranh không hề làm bận tâm người dân ở thủ đô. Ở khu vực ngân hàng, sau nhiều chuyện xô đẩy chen lấn ồn ào, sự yên tĩnh đã trở lại bình thường. Đồng mỹ kim tuần rồi đã vụt lên đến 1600 đồng thì nay đã xuống trở lại đến 1000 đồng. Thành phố Chợ Lớn, trung tâm thương mại và tài chánh của Việt Nam tiếp tục sinh hoạt bình thường. Không khí buôn bán không có gì thay đổi. Người ta vẫn còn tìm nhìn lên các bảng hiệu tiệm với hàng chữ màu đen hay màu vàng luôn được treo trước cửa hàng . Ở đây buôn bán vẫn là ưu tiên hàng đầu . Trước hết là các cửa hàng bách hóa, thôi thì hàng được bày la liệt đủ mọi thứ : nào là nón phớt Ý đại lợi, nào là dầu thơm của Pháp, nào là máy ảnh của Nhật… tất cả treo dài dài trên tường, có cả ly cốc và nồi niêu…. Hàng tá đèn lồng được bày bốn năm hàng dài trên các kệ, đèn chùm đủ kiểu được treo lòng thòng từ trên trần nhà. Đèn điện sáng choang vì người Tầu không ưa bóng tối. Kế đến là các hàng tạp hóa, với nhiều loại rượu: loại khai vị của Pháp. rượu vang Úc Châu, sâm banh thượng hảo hạng nhưng thường thì chỉ có nhãn hiệu là thật. Tất cả các loại bánh bít quy của Anh… nhưng làm ở Hong Kong là phần chắc. Các tiệm buôn thường chia ra làm 2 hay 3 ngăn, mỗi ngăn mỗi chủ khác nhau. Người ta thuê, rồi lại cho thuê lại: khúc trước thì bán cà phê, mà khúc sau thì là một tiệm hớt tóc. Các tiệm bán trà thì có hàng trăm bình trà bằng đất nung, nhưng phía sau đó lại có các hũ rượu nếp. Trong các tiệm ăn thì mấy anh bồi bàn mặc áo thung lá lăng xăng chung quanh các thương gia béo phì và vui vẻ, lâu lâu lại vén áo thung ba lá lên rất tự nhiên gọi là để cho mát cái bụng phệ. Đứng trước các lò nấu có năm sáu anh đầu bếp, lưng trần, đang lo nấu cơm hay đang làm món ra gu đậu. Trước hiệu ăn nào cũng có treo đầy “lạp xưởng”, và các miếng thịt “xá xiếu” dài ,những con vịt khô dẹp , và các chùm ớt đỏ chói…. Chung quanh các tiệm bán tạp hóa, bán chạp phô hay các kho hàng lúc nào cũng có dủ mặt các tay tiểu công nghệ : nào là thợ vá giày, thợ sửa khóa, thợ ráp khuôn hình . . . các cô bán bông thì chào hàng trước các tiệm trồng răng, các tiệm kính nơi có trưng bày đủ loại gọng, loại kính đủ màu đủ kiểu.. Ngoài kia là con kênh, đầy ghe thuyền, sà lan, ghe chài lớn…và tiếng vịt kêu, đang đến từ các nhà máy xây lúa ở Bình Tây, cao to vòi vọi bên cạnh các căn lều lụp xụp của các công nhân và phu khuân vác. Không khí thì đầy những hạt bụi lấm tấm màu đen : người ta thường dùng trấu để đốt lò xây lúa nên có cả một đám mưa bụi tro. Các bao lúa được chất lên chung quanh nhà máy xây gạo cao như núi, để chờ chuyển thành triệu nầy đến triệu khác. Những hình ảnh phong phú nầy đặc biệt trái ngược với các mẩu tin từ chiến trường gởi về. Chơn Thành vừa mới được di tản, đây là một thị trấn nhỏ nằm ngay ngã tư giao lộ cách Sai Gòn khoản 80 cây số ngàn về hướng Đông Bắc. Thị trấn bé nhỏ nầy với vài xã nghèo nàn nằm chung quanh một ngôi nhà thờ vách ván, là nơi đã từng xảy ra nhiều trận giao tranh đẫm máu. Các khu rừng tre quanh đây đã bị bom của pháo đài bay B. 52 cày nát và đốt cháy. Việt Cộng đã đào đường hầm hẹp và ngoằn nghoèo dài hàng cây số trong vùng bình nguyên quanh thị trấn. Nhưng Biệt động quân đã đuổi họ đi hết và đã chiếm lại khu săn bắn nầy. Từ Chợ Lớn về, tôi gặp bạn Lupi của tôi, một người dân đảo Corse ốm yếu và có tánh hay bồn chồn, tóc đã bạc phơ nhưng cặp mắt còn đen nhánh tinh anh. Sau 30 năm phục vụ liên tục ở Đông Dương, anh ta gần như đã sạt nghiệp. Đồn điền của anh ta (gần đèo Blao trên đường đi Dalat) đã bị cháy hết. Ngày hôm kia anh dã ở Xuân Lộc. Với một giọng không thay đổi của người dân đảo Corse, anh ta tiết lộ cho tôi biết: – “Anh biết không, trong rừng thuộc tiểu khu nầy, bộ đội chánh quy cộng sản đông như kiến vậy. Thành phố Xuân Lộc đã biến thành một căn cứ quân sự khổng lồ, với những pháo đài và những ổ mối. Sư đoàn của Chánh Phủ với nhiệm vụ phòng thủ thành phố đã sống dưới hầm và trong các lô cốt bằng bê tông, trong các đường hầm hay núp kín sau các ụ đất. Mỗi một nhà kho, mỗi một sân nhà đều biến thành một hầm trú ẩn dùng để chống chiến xa, hay cho một ổ đại bác liên thanh… Mỗi đêm Xuân Lộc đều ăn hỏa tiễn của cộng sản Bắc Việt. – Thế dân chúng làm gì? – Con số thường dân tăng lên gấp đôi. Hàng chục ngàn dân tỵ nạn từ khắp nơi kéo đến,và ở cùng khắp thành phố, trong các sân trường, trong các hầm hố, che lều ở hay mắc võng vào thân cây nằm. Và không một ai muốn rút lui hết. Sớm muộn gì cộng sản Bắc Việt cũng sẽ tấn công đến nơi rồi. Các sĩ quan của Miền Nam Việt Nam mà tôi đã gặp đều khẳng định là họ không lùi nữa.
° ° °
Trước tòa đại sứ Hoa Kỳ, có mấy trăm người Việt Nam đang xếp hàng trên lề đường chờ xin phép nhập cảnh để được đi Mỹ. Đại sứ Graham Martin không tiếp báo chí và đã không bao giờ rời khỏi sứ quán của ông, vừa là một dinh thự vừa là một pháo đài sơn màu trắng ngà, có một bức tường bê tông bao quanh có gằn máy chụp ảnh tự động. Hai anh binh sĩ Thủy quân lục chiến với lễ phục lớn (kết trắng, găng trắng, quần chạy nếp đỏ) đứng gác lúc nào cũng trong tư thế Nghiêm trước hai cánh cửa bọc sắt có ổ khóa chỉ được mở bằng mật mã bằng máy vi tính từ xa. Nóc bằng của sứ quán đã được cải biến thành bãi đáp cho trực thăng. Với 62 tuổi, người cao lớn và rắn rỏi, trán đã có nhiều vết răn sâu, mặt cũng đã có nếp nhăn và quầng thâm, ông vẫn luôn luôn mặc quần áo màu xám, cả giầy cũng vậy, giờ đây ông đã có một dáng đi hơi nặng nề và mệt mỏi của một võ sĩ quyền Anh đánh quá một trận, mà từ khước không chịu cho đôi tay ngơi nghỉ! Phải nói rằng nhà ngoại giao Hoa Kỳ nầy có một lối xử sự không được bình thường. Trái hẳn các đồng nghiệp của mình luôn có thái độ “lạnh nhạt”, dù tình hình quá nghiêm trọng họ vẫn đánh giá bằng một thái độ dửng dưng khác thường, ông Martin là một người biết trọng danh dự, biết thế nào là giá trị của một lời hứa đã được đưa ra, là môt người biết đau khổ và biết xúc động. Ông đã mất một người con trai trong chiến cuộc ở Việt Nam và không chấp nhận là đứa con của mình đã hy sinh một cách vô ích. Ông ta đã tỏ thái độ giận dữ với các nhà báo và các nghị sĩ theo chủ nghĩa “hòa bình” , những người quên hay chối bỏ sự hy sinh của 58.000 binh sĩ Hoa Kỳ ở Việt Nam . Thay thế đại sứ Ellsworth Bunker (người được coi như là cha đở đầu của Tổng Thống Thiệu) sau khi Hiệp Định Paris vừa được ký kết, ông Graham Martin, một nhân vật thẳng tính và không mưu mẹo quanh co, ngay từ lúc đầu đã cố gắng giúp đở và che chở cho vị Tổng Thống Miền Nam Việt Nam . Ông đã tranh đấu với Quốc Hội năm vừa qua để đòi hỏi Hoa Kỳ phải tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế như đã hứa cho Miền Nam Việt Nam , nhưng ông đã thất bại. Từ sau ngày Cao Nguyên bị thất thủ, ông đã công khai biện hộ và vận động riêng để sự cứu trợ cấp thời phải được gởi sang Việt Nam; và bằng mọi phương tiện mà ông có sẳn, ông đã nâng đở tinh thần của người dân Miền Nam. Ông đã đi xa hơn nữa bằng hành động phối hợp cuộc hành quân “bốc trẻ mồ côi”, một việc làm chạm tinh thần quốc gia dân tộc và lòng kiêu hãnh của người dân Việt Nam. Trong một bức thư riêng gởi cho Thủ Tướng Chánh Phủ Việt Nam , ông đã giải thích rằng những phản ứng xúc động do hoàn cảnh vô cùng khốn đốn của các trẻ mồ côi có thể sẽ làm nghiêng cán cân dư luận của dân chúng Hoa Kỳ có lợi cho Miền Nam Việt Nam . Nhưng nội dung lá thư riêng của ông lại được tung ra cho báo chí gây ra môt làn sóng phản đối dữ dội. Tuy vậy ông Martin không ngã lòng. Và như ông đã khiếp sợ sự “trốn chạy”, nên ông cẩn thận hơn một chút đối với các anh nhà báo vá các nghị sĩ quá tò mò, buộc các cộng sự viên của ông phải đề cao cảnh giác và nêu gương phẩm cách của mình, và khuyên họ không nên buông thả theo “tính chủ bại” và ông cũng cố gắng thuyết phục họ là “cuối cùng rồi có lẽ Hoa Kỳ cũng sẽ tỉnh dậy thôi” Trong lúc cuộc tháo chạy đã gần như hoàn toàn, trong khi hàng trăm ngàn dân tỵ nạn làm nghẽn hết đường sá, và hết thành phố nầy đến thành phố khác cứ tiếp tục thất thủ, ông vẫn phô bày một sự lạc quan không lay chuyển, mỗi ngày cẩn thận tính sổ các xã ấp mà Sai Gòn còn đang kiểm soát được và gởi về Hoa Thạnh Đốn nhiều điện văn “tối khẩn” đòi hỏi những chương trình phát triển kinh tế dài hạn cho phần đất còn lại của Miền Nam Việt Nam . Cho đến khi Hoa Thạnh Đốn đòi hỏi ông Martin phải sẳn sàng để di tản 5000 người Mỹ hiện còn đang ở Miền Nam Việt Nam thì ông đã trả lời bằng một công hàm hết sức gay gắt, khuyên Bộ Ngoại Giao hãy khóa “vòi nước hoảng loạn” lại. Ông Martin không dấu giếm với những người bên cạnh ông rằng ông coi chuyện “di tản” nầy như một cuộc “tháo chạy nhục nhã”, một “hành động hèn nhát”, một hành động “phản bội có cân nhắc” đối với một người bạn đồng minh đang có nguy cơ đứng trước cái chết …. Khi tôi đi trở xuống đường Catinat (Tự Do), tôi không thể không nghĩ tới sự thay đổi lạ lùng về đường lối chánh trị của Hoa Kỳ và sự rời rạc của khối dân cử của họ. Đã có một lần, một vị Tổng Thống Hoa Kỳ mang tên là Richard Nixon. Có nhiều người đồng hương của ông đã không thích ông và tố cáo cách điều hành Chánh Phủ của ông. (điều nầy có nhiều trung tâm có uy tín đã ghi nhận đúng như thế). Họ cũng công nhận có một vài việc ông “biết làm” trong vấn đề chánh trị đối ngoại, nhưng họ nghĩ rằng trong lãnh vực nầy Henry Kissinger (người ta nói là chất xám của Nixon) mới chính thật là người thợ khéo đã gầy dựng nên những thành công cho ông Chủ Nhà Trắng. Sau một màn tranh đấu đầy khả nghi, được đánh dấu bằng những cú đấm quá hạ tiện, cuối cùng ông Nixon phải từ chức.Tám tháng đã trôi qua từ đó. và hình như bị một nền công lý nội tại trả thù cho danh dự của một người đã từng bị dân chúng chà đạp một cách bạc bẽo, quốc gia Hoa Kỳ lúc bị ngất ngư vì suy thoái kinh tế, một sự suy thoái mà không một nước Tây Phương nào tranh khỏi , mới bắt đầu biết được hương vị chua chát của môt sự tỉnh mộng! Bây giờ chúng ta chứng kiến được gì đây ? Một sự hoảng loạn của một Tổng trưởng Ngoại Giao mà từ Quốc Hội đến báo chí người ta không ngần ngại bắt ông phải từ chức. Con người siêu nhân hoạt bát đeo kính to, từng là một tiến sĩ có phép mầu khi xưa, nay gần giống như một nhà ảo thuật mệt mỏi đang làm cho khán giả chán ngấy, vì không diễn được trò nào cho ra hồn. Trên sân khấu buồn tẻ của một ông Gerald Ford đầy thiện ý nhưng không một ai muốn nghe lời cảnh cáo của mình, vì thiếu quyền lực và không có uy tín, ông đã tỏ ra hoàn toàn không có khả năng để áp đặt quan điểm của mình cho các đồng viện trong Lập Pháp. Mặt khác, người ta sẽ nghĩ gì về Quốc Hội Hoa Kỳ nơi đó những phần tử (tự do) đã cất cao giọng từ sau các cuộc bầu cử hồi tháng 11 (hậu quả khác của vụ tai tiếng Watergate) khi Quốc Hội đó đã tự cho phép mình đi nghỉ hè mà không cần nói một chữ nào về sự viện trợ bổ túc mà Hành Pháp đã xin cho hai quốc gia đồng minh đang trong cơn hấp hối là Miền Nam Việt Nam và Cam Pu Chia? Còn ở điện Capitol, người ta lại tỏ ra hết súc hấp tấp để tìm chuyện gây gổ xấu xa giữa cơ quan tình báo trung ương CIA và cơ quan điều tra liên bang FBI về những tài liệu có khi cũ xưa từ 15 năm trước, còn hơn là bận tâm đến những nổi khổ đau bất hạnh của các nước ở Đông Dương đang kêu cứu một cách vô vọng! Vả lại tại sao họ phải lo lắng ? Miền Nam Việt Nam có mất đi chăng nữa thì cũng chẳng có gì đe dọa tới nền an ninh của Hoa Kỳ. Sai Gòn và Hoa Thạnh Đốn cách nhau đến 17.000 cây số! Chỉ có người Miền Nam Việt Nam và chỉ có họ thôi , mới có thể khôi phục được tình hình. Bởi vì không còn có vấn đề tái can thiệp của lực lượng quân sự Hoa Kỳ vào Việt Nam nữa. Nhưng có một điều quan trọng mà Quốc Hội Hoa Kỳ từ chối không chấp nhận, đó là nhiên liệu và đạn dược cần thiết phải được cung cấp cho quân đội Miền Nam trước khi đã quá trễ. Như vậy, nếu chiến trận tiến tới và bắt đầu có giao tranh trước khi hàng tiếp liệu được bảo đảm đến nơi, thì không những quân đội Sai Gòn sẽ thất trận, nhưng họ đã thất trận vì Hoa Kỳ đã phản bội họ. Và bài học duy nhất được rút ra từ chiến tranh Việt Nam sẽ là: “Đừng bao giờ tin tưởng vào Hoa Kỳ như là một đồng minh của mình!”
Thay vì nói chống Trung Quốc, nên nói đúng là chống Trung Cộng, chống Tàu Cộng, Tàu Trung Hoa Lục Ðịa, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc (People’s Republic of China), cái xứ sở núi liền núi, sông liền sông, môi hở răng lạnh với Bắc Việt Nam chứ không chống người Tàu chung chung. Vì người Ðài Loan cũng gọi là người Tàu, dân ở China Town Los Angeles cũng là người Tàu. Người Tàu hiện có mặt trên khắp địa cầu, đúng như người ta đã nói: “Ở đâu có khói, ở đó có người Tàu!” Bản thống kê của Wikipedia, có 40 triệu người Tàu sống khắp năm châu, ít như Bắc Ái Nhĩ Lan chỉ có 4,145 người và đông nhất ở Indonesia có tới 7,776,000 người Tàu sinh sống. Họ giỏi nghề buôn bán, chịu khó cực nhọc và rất thành công trong thương mãi, do đó quốc gia cũng đã bị thế lực “các chú” khuynh đảo, nhất là trong địa hạt kinh tế. Không kể đến hàng nghìn điệp viên trên thế giới đang làm việc cho tổ quốc họ trong các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, kinh tế và tin học, còn thì đa số người Tàu đã trở thành người bản xứ, chịu các biến cố chính trị, chiến tranh, đồng lao cộng khổ với dân địa phương để sống còn.
Trong thời gian gần đây, sau khi Trung Cộng lấn chiếm Hoàng Sa, chèn ép Việt Nam trên vùng biển của quê hương, hăm doạ và bắt bớ ngư dân, nghênh ngang có mặt khắp nơi trên đất Việt, muốn đẩy Việt Nam vào vị thế một quận, huyện lệ thuộc bá quyền phương Bắc, và trước thái độ khiếp nhược của đảng và chính phủ Cộng Sản Việt Nam, trong nước cũng như ở hải ngoại đã dấy lên những phong trào chống Trung Cộng bành trướng. Dư luận kêu gọi các phương thức chống Trung Cộng, và chống luôn cả Tàu, bằng cách:
1-Không mua hàng sản xuất từ Trung Cộng, 2- Không đi du lịch Trung Cộng, 3- Không tổ chức đám cưới tại nhà hàng Tàu, 4- Không ăn cơm Tàu.
Thứ nhất, việc tẩy chay hàng hoá Trung Cộng không phải có từ khi có xung đột Hoa Việt, nhưng vì bọn Trung Cộng là bọn không lương tâm, bọn giết người, chuyên sản xuất những mặt hàng không những kém phẩm chất mà còn gây độc hại cho người tiêu dùng. Thế giới chấn động vì sữa bột nhi đồng do Trung Cộng sản xuất đã gây tử vong và đưa đến bệnh sạn thận cho hàng vạn trẻ em, áo quần phát xuất từ Trung Cộng có tẩm chất formaldehyde, trái cây nhập vào Việt Nam có ướp chống thối rữa, thực phẩm được bảo quản với chất gây ra bệnh ung thư. Mới đây thôi, đêm 10/9, các chuyên viên môi trường Hà Nội bắt được một xe hàng vận chuyển hơn 3 tấn mỡ động vật đang ở giai đoạn phân hủy. Số mỡ này dự kiến được dùng làm nhân bánh trung thu. Trước đây, khi dư luận than phiền về phẩm chất hàng Trung Quốc, Tham Tán Kinh Tế – Thương Mại tại toà Ðại Sứ Trung Cộng Hồ Tỏa Cấm đã công nhận hàng Trung Quốc kém phẩm chất nhưng lại kiêu ngạo nói rằng, do Việt Nam yêu cầu nhập, nên Trung Cộng “giúp”. Như vậy phải chăng nước Việt là cái hố rác sau vườn nhà của Trung Cộng mà người dân Việt phải năn nỉ trả tiền mới xài được loại rác độc hại này.
Không mua hàng Trung Cộng
Mặt khác, hàng hoá Trung Cộng tuy có giá rẻ nhưng là hàng dỏm, như chúng ta đã biết, nên kết hợp với lòng yêu nước, tẩy chay hàng hoá, thực phẩm Trung Cộng, người tiêu dùng cũng không phải thiệt thòi gì. Ngay đối với khách hàng trên thế giới, nhiều nước cũng đã tẩy chay hàng Trung Cộng vì những lý do độc hại và kém phẩm chất. Ngày nay nhiều thương hiệu ở nhiều nước đã có những hàng hoá sản xuất từ Trung Cộng vì nơi đó có nhân công và nguyên liệu rẻ, nhưng chúng ta có thể không sử dụng vì tại các nước tư bản chúng ta đang sống, hàng tiêu dùng phải nói là dư thừa, không phải là những thứ hàng hoá độc quyền không thể lựa chọn.
Thứ hai, trong thời gian qua, nhiều người Việt Nam thích đi du lịch Trung Cộng vì giá rẻ và cũng vì Trung Cộng có nền văn hoá gần gũi với Việt Nam, chuyện “gần gũi” này cũng là vì chúng ta bị lệ thuộc Tàu quá lâu. Trung Cộng có Vạn Lý Trường Thành, có Thiên An Môn, có những ngôi chùa cổ vài thế kỷ. Nơi đây, có phong cảnh hữu tình, có sông nước mà người lớn tuổi chúng ta đã biết qua Ðường thi, hay những lớp người khác đã bị nhiễm tâm qua những cuốn phim bộ Tàu, những bộ sách nổi tiếng, từ hàng nửa thế kỷ nay đã đi vào từng gia đình Việt Nam với ngôn từ, y phục, phong cách Tàu, cả lịch sử lẫn thần thoại, cả danh nhân lẫn mỹ nhân, lâu rồi xem như sinh hoạt quen thuộc của gia đình và đất nước chính mình. Sau một nghìn năm bị nô lệ Tàu chúng ta biết thờ Thần Tài, Quan Công, Phước Lộc Thọ, biết đốt vàng mã, biết chơi Tết Trung Thu, biết ăn lạp xưởng và mặc xường xám. Món cờ bạc thì cờ tướng là phổ thông, quan chức thì biết tài bàn tổ tôm, mạt chược. Người ngoại quốc nhìn vào chúng ta bên cạnh người Tàu, không nghe tiếng nói, nhiều lúc không biết ai là Tàu, ai là Ta. Mặt mũi hao hao, ăn uống cũng chén đũa, cơm canh, nếu không phân biệt được xì dầu và nước mắm khác nhau thế nào, thì khó phân biệt ai là Tàu, ai là Việt.
Bản thân tôi, dù ít học, lớn lên, võ vẽ dăm câu thơ Ðường, cũng mơ đến cảnh chuông chùa Hàn San, quạ kêu, trăng lặn:“Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, bán dạ chung thanh đáo khách thuyền.” Không mê Tàu mới là chuyện lạ!
Nhưng với một quốc gia đã là kẻ thù truyền kiếp của đất nước chúng ta, một quốc gia đã giết tù nhân, lấy cơ phận con người đem bán, giết tín đồ Pháp Luân Công lấy gan mật, đem chiến xa cán nát hàng nghìn sinh viên đòi dân chủ ở quảng trường Thiên An Môn, với “tội ác chiến tranh, tội ác chống Nhân loại, tội ác chống nhân quyền, chính sách thuần chủng và diệt chủng của chúng ở Tây Tạng, Mãn Châu, Mông Cổ và Ðông Nam Á. Lời Ôn Gia Bảo kết tội Ðức Ðạt Lai Lạt Ma là một “tên khủng bố” phát biểu trên đài truyền hình CNN không thể tha thứ và phản ánh tính man rợ của thứ luật pháp của kẻ mạnh từng chế ngự thập niên đầu của thế kỷ này (1), liệu nơi đó có phải là một nơi chúng ta tìm được sự yên bình, thanh thản để đi du lịch không?
Người Phi biểu tình chống Trung Cộng
Thứ ba, chúng ta thử nhìn lại đề nghị tẩy chay không tổ chức đám cưới tại nhà hàng Tàu: Xin báo tin buồn cho bạn đọc là tất cả những nhà hàng Tàu tại các thành phố lớn có đông người Việt cư ngụ từ đây cho đến cuối năm Âm Lịch đã kín chỗ đặt tiệc cưới. Lễ cưới tổ chức tại tư gia, nhưng tiệc cưới bắt buộc phải tổ chức tại một nhà hàng Tàu, đó là một định luật bất thành văn của người Việt tại hải ngoại. Nhiều gia đình đã tổ chức tiệc cưới cho con tại những nhà hàng Mỹ, Pháp… nhưng thất bại vì món ăn không hợp khẩu vị cho các bậc cha mẹ, và người lớn tuổi, khung cảnh lạ lẫm, đành phải nhận những lời chê trách, đàm tiếu của khách tham dự. Cuối cùng, dù có chọn nhà hàng Tây nhưng cũng phải nhờ nhà hàng Tàu chi viện thực đơn Trung Hoa.
Mấy ai đã làm được một cuộc cách mạng, tuy xem đơn giản nhưng không thực dễ dàng, là tổ chức tiệc cưới một nơi không phải là…nhà hàng Tàu. Nhưng nghĩ lại trong những vùng mà cộng đồng người Việt tỵ nạn sinh sống, người Tàu cũng đã trải qua những đoạn đời bôn ba gian khổ không kém gì chúng ta. Cộng Sản vào, người Hoa chịu cảnh đánh tư sản, năm 1979 người Tàu chịu nạn xua đuổi ra khỏi đất Việt Nam bằng những con thuyền “bán chính thức”. Ðã bao nhiêu người Hoa bị đục thuyền cho chết giữa biển khơi, sau khi của cải vàng bạc, đã bị vơ vét, nhà cửa đã bị tịch thu. Người Hoa sang đây cũng như chúng ta, với hai bàn tay trắng, đã làm lại cuộc đời, gầy dựng cho con cái học hành từ những nỗ lực đáng khâm phục. Cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới hiện nay chưa có đoàn kết mật thiết với cộng đồng các sắc dân khác, nên những cuộc tranh đấu của chúng ta thường bị lẻ loi. Người Việt tỵ nạn chúng ta chống Cộng Sản Việt Nam được thì người Tàu nói chung (không phải là Trung Cộng) cũng có thể chống lại chính sách của Bắc Kinh. Ở trong đất nước Việt Nam, hai sắc dân Hoa Việt có chung hoàn cảnh, kể cả hoàn cảnh là nạn nhân của chế độ bạo tàn Cộng Sản, nhưng khi tỵ nạn ra nước ngoài, người Hoa và người Việt chưa bao giờ có cơ hội ngồi chung lại với nhau. Cộng đồng Việt Nam không phải là chính phủ nên không có chính sách, nhưng thiết nghĩ cộng đồng tỵ nạn người Việt phải có đường lối, và trong giai đoạn khẩn thiết này, nên phân biệt chính phủ Cộng Hoà Nhân Dân Trung Cộng, hiện là quan thầy khắng khít của Cộng Sản Việt Nam và người Tàu trên thế giới.
Không du lịch Trung Cộng
Chuyện còn lại là chuyện ăn cơm Tàu. Người Việt hải ngoại có cái cơ may được thưởng thức đủ món ăn quốc tế trên đất khách, dù là bạn ở tại đâu, Pháp, Úc, Canada hay Mỹ. Ngày nay những món ăn Ðại Hàn, Nhật Bản, Thái Lan, Mễ Tây Cơ… kể cả Trung Ðông rất dễ kiếm trong vùng gia đình bạn đang sinh sống, nhưng tựu trung, ngoài cơm Việt Nam ra, thực phẩm Tây và Tàu là quen thuộc nhất với chúng ta, thói quen từ những ngày xa xưa, vì ẩm thực là một thứ văn hoá mà Tàu hay Tây đã đem đến trong thời gian đô hộ. “Ăn cơm Tàu” lại là ba cái nhất trong đời sống mà người Việt đã từng ca tụng. Thay vì với một tô phở tái nạm hành trần nước béo quốc hồn quốc tuý, trưa nay chúng ta cũng có thể ghé quán thưởng thức một tô hoành thánh mì, tôi nghĩ cũng không sao, miễn là chúng ta còn biết nỗi đau mang tên Việt Nam.
Ai cũng xót xa nhìn về đất nước, nhìn thấy Trung Cộng ngang ngược và nhìn thấy Việt Cộng yếu hèn như lời trong bài hịch của Ðức Trần Hưng Ðạo:“… nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn.” Ðảng thì “Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình, có kẻ quyến luyến vợ con cho thoả lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân.”
Trong bốn điều mà trước đây quý độc giả đã lên tiếng về phương cách chống Trung Cộng, thiết nghĩ nếu chúng ta, người Việt trong nước và đồng bào hải ngoại sẽ làm được hai điều, tẩy chay được hàng Trung Cộng và nhất định không đi du lịch Trung Cộng. Hai điều thấy tuy dễ, nhưng chúng ta chưa đoàn kết và chưa có quyết tâm thực hiện, cũng như trước đây việc không gởi tiền, không du lịch về Việt Nam trong tháng Tư Ðen của đồng bào hải ngoại chỉ mới gây một ý thức trong quần chúng nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn, cũng vì “thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn.” Vả lại, chống Trung Cộng hữu hiệu trước hết phải chống Việt Cộng.
Có điều mỉa mai là các cơ quan truyền thông hải ngoại, chúng ta loan tin chống Trung Cộng, nói về nỗi bi phẫn của dân chúng ở quê nhà như ngư dân cấm ra biển đánh cá, đồng bào cấm nói lời đụng chạm đến quan thầy, ngay cả danh từ Trường Sa- Hoàng Sa cũng trở thành tên “huý kỵ” phải kiêng cữ, mà có xướng ngôn viên vẫn mặc “xường xám” đọc tin, thầy tu Việt lại tụng kinh Phật bằng tiếng Tàu, phim bộ Trung Quốc vẫn chiếm quá nhiều thời lượng trên màn ảnh nhỏ và thiên hạ vẫn nhởn nhơ rủ nhau đi du lịch Trung Cộng.
HP
Orange County, CA.
(1) Trích lời kêu gọi của sử gia Vũ Ngự Chiêu: Là một người nghiên cứu lịch sử thế giới và luật pháp, tôi tin tưởng mãnh liệt rằng dân chúng Hoa Kỳ và Âu châu phải chú ý nhiều hơn đến tham vọng thuần chủng của người Hán. Tôi kêu gọi Liên Hiệp Quốc và tất cả các chính phủ trên thế giới thiết lập Tòa Án Hình phạm quốc tế để truy tố Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo cùng đồng bọn ở Trung Nam Hải (Bắc Kinh) về tội ác chiến tranh, tội ác chống Nhân loại, tội ác chống Nhân quyền, chính sách bành trướng và diệt chủng của chúng ở Tây Tạng, Mãn Châu, Mông Cổ và Đông Nam Á. Lời Ôn Gia Bảo kết tội Đức Đạt Lai Lạt Ma là một “tên khủng bố” phát biểu trên đài truyền hình CNN không thể tha thứ và phản ánh tính man rợ của thứ Luật pháp của Kẻ mạnh từng chế ngự thập niên đầu của thế kỷ này.
Cái gọi là Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa chính là mối đe dọa hòa bình thế giới trong suốt sáu thập kỷ qua, và sẽ là nguồn gốc của chiến tranh thế giới thứ III. (Lê Thọ Giáo dịch)
5 giờ chiều, 3 tay Hell Angels từ tiểu bang New Hampshire, gạt chống chân 3 chiếc mô tô Harley ở bãi đậu của quán Bar Aigle Noir, nơi tụ tập dân xăm mình, xăm mặt, áo da, đeo khoen mũi, khoen tai, chích choác, thuốc men của khu vực tiếng Pháp, phía đông thành phố Montreal. Họ đẩy cửa, cả 3 bước vô. Bar vắng tanh, ở giữa có một bàn tròn, 5 người của nhóm Nomads, băng đảng mô tô nổi tiếng của Montreal, đầu quấn khăn đỏ, râu tóc xồm xoàm, áo thun trắng, áo khoác da ngắn tay, cùng đứng dậy
– Hello J! Hello H, hello D!
Mọi người ngồi vô bàn, chào hỏi, bắt tay.
M, trùm băng Nomads, mở đầu câu chuyện.
– Nomads xin chào những người anh em Hell Angels… Xin mời chầu rượu đầu tiên.
J, Hell Angels đứng dậy.
– Xin cám ơn Nomads, chúng tôi có mặt ở đây, ngày hôm nay, không để uống rượu mừng.
M chưng hửng, anh để ly rượu xuống bàn.
J tiếp.
– Chúng tôi tới đây… Để lấy Montreal, khu vực thương mại mới của Hell Angels
– Không thể được, đây là đất sống của Nomads bao nhiêu năm qua.
J cười.
– Rất có thể được! Chúng tôi đã quyết định.
M phản đối.
– Không!
J chụp tay M đè xuống bàn, tay kia rút khẩu súng ngắn, gắn hãm thanh, làm cái bụp vô ngay trán M, anh văng ra, rớt xuống sàn, nằm ngay đơ, đầu ngoẹo qua một bên, trên trán một lỗ tròn màu đen rỉ giọt máu nhỏ.
Đám Nomads lạnh người trước phát súng quá nhanh của J, Bar Aigle Noir đông cứng lại.
J đút súng vô thắt lưng, 2 tay Hell Angels, cùng đứng dậy, cả 3 cùng nói.
– Ngay từ bây giờ! Montreal là đất của Hell Angels.
3 người Hell Angels bước ra bãi đậu, chạy về hướng biên giới Mỹ.
Nhóm Nomads, rút về Thành Phố Quebec, bắc Montreal, cách 2 giờ lái xe, làm đám tang cho M.
Nghĩa địa St Matthew, 8 giờ sáng.Đám tang M vắng tanh, không kèn trống, không vòng hoa, không thân nhân bạn bè, chỉ 8 thành viên Nomads khiêng quan tài, ông Cha đạo, và cớm chìm cớm nổi bu quanh khu vực. Điều gây ngạc nhiên cho mọi người là, Jane, người vợ Mỹ gốc Thái Lan của M không có mặt.
3 năm sau.
11 giờ đêm, tại Stock Bar, sô múa truồng đặc biệt của dân đồng tính tại đường Saint Catherine, khu vực phía đông, thành phố Montreal.
Anh vũ công bước ra sàn nhảy trong mảnh lụa thái dệt thô, với những hoa văn thêu chỉ vàng, 2 tay anh vung mạnh, mảnh lụa văng ra, cho thấy làn da ngăm, gương mặt vuông, tóc cắt ngắn, mày đen, mắt đen, nét đẹp trai của đàn ông Thái trong bộ trang phục của điệu múa truyền thống “Khon” với mặt nạ nhũ vàng, dao quắm cầm tay.
Đèn chuyển màu tím tươi, loại nhạc “Khon” của Thái ẻo lả như loài rắn quấn nhau, anh vũ công uốn éo, lăn lộn trên sàn với những động tác gợi dục, thân hình ngăm đen uốn lượn theo tiếng khèn tre truyền thống của Thái.
Bỗng! Nhạc tắt ngúm.
Anh vũ công tung mặt nạ, lột bỏ áo quần, trần truồng đứng dang chân với “Thằng nhỏ” lủng lẳng trong chiếc bao màu tím cột dây vàng. Điệu múa truồng bắt đầu và chấm dứt trong vòng 2 phút.
Đèn tắt.
Tiếng huýt gió, vỗ tay lào xào.
Đèn sáng nhẹ.
Anh vũ công bước ra tiến sát sân khấu, cúi chào, khách khứa chồm lên tặng tiền típ, nhét đầy chiếc quần lụa ôm sát cặp mông tròn lẳn của anh.
Arkhom, người nam vũ công múa truồng đến từ Thái Lan đã trở thành “Cây đinh vàng” ở Stock Bar, sô múa truồng của dân đồng tính tại Montreal bắt đầu hút vé.
Tiếng gõ cửa.
– Vô đi!
Cô phục vụ ló đầu, đưa bó hoa hồng.
– Khách hàng hâm mộ tặng.
– Cảm ơn Jenny!
Arkhom đứng dậy, lấy chiếc phong bì màu hồng, kẹp trong bó hoa, mở ra.
Mảnh giấy, có giòng chữ “Xin ngưỡng mộ tài năng của Arkhom, Mr J” nằm trên 2 tờ 500 đô Mỹ mới tinh.
Từ đêm đó, J, dân đồng tính bẩm sinh, tay trùm của nhóm hell Angels New Hampshire, mê mẩn anh vũ công mơn mởn Arkkhom, cuối tuần nào cũng đưa Arkhom tiệc tùng say sưa suốt sáng trên chiếc du thuyền sang trọng chạy một vòng sông Lawrence từ phố cổ Montreal.
Bao nhiêu quà tặng đắt tiền, sang trọng, bao nhiêu tiệc tùng xa hoa với những chai rượu cỡ 5-10 ngàn đô tràn ly suốt đêm đến sáng, Arkhom vẫn giữ khoảng cách với J, trừ những ve vuốt, hôn hít, nựng nịu, Arkhom luôn ngừng lại, hoặc lẫn tránh giờ phút cuối cùng, tuyệt đối không bước vô phòng ngủ.
– J… Anh vui lòng đợi một thời gian ngắn, cho em qua cơn khủng hoảng trong lòng.
– Khủng hoảng?
– Người tình của em mới chết vài năm … Trước khi em tới Montreal.
Arkhom nắm tay J.
– Em biết anh yêu em.
J cười.
– Còn hơn như vậy! Anh muốn cưới em.
Arkhom cúi mặt.
– Cho em một thời gian, rồi em sẽ thuộc về anh.
J ôm Arkhom hôn nhẹ.
Mùa hè năm đó, Arkhom về Thái thăm gia đình 1 tháng.
– Nhân tiện! Em sẽ lên núi học thêm những đòn sát thủ bí truyền của Muay Thai, biểu diễn thành những điệu múa sexy…
– Tuyệt!
Dân đồng tính đêm nào cũng chen chúc ngồi chung quanh sàn nhảy của Bar Aigle Noir để bốc cơn hứng tình với điệu nhảy Muay Thai sexy của vũ công Arkhom.
J đẩy cửa.
– Hello cục cưng Arkhom, em sẽ không còn làm việc tại Bar Aigle Noir nữa.
– Tại sao?
– Hell Angels đã mở một sô múa truồng lớn tại khu Saint Michelle, em về đó, chỉ biểu diễn vào tối thứ 7 hàng tuần… Dành những ngày còn lại nghỉ ngơi, vui chơi với anh.
– Ô! J… Em cảm ơn anh!
Arkhom ôm hôn J.
Sô múa truồng “Thai and Sex” đông nghẹt khách mỗi đêm, vì màn Muay Thai sexy của “Cây đinh vàng” Arkhom.
Chiếc máy đếm tiền chạy rẹt rẹt.
J rút ra 2 xấp 20,000 đô, để xuống bàn.
– $40,000 tiền bán cỏ cho 1 đêm cuối tuần… Hà hà! Tụi mình đã hái ra vàng ở “Thai and Sex”, Arkhom đã làm ra mọi việc.
J khui chai Chivas, nốc một hơi dài, để xuống bàn, 2 tay Hell Angels khui thêm 2 chai, chia nhau làm sạch.
– Tháng tới tụi em tính tổ chức một sô đặc biệt tại “Thai and Sex”, dành riêng 1 đêm cho anh, Hell Angels New Hampshire và số bạn bè tại Montreal.
– Cám ơn John!
J ôm 2 người bạn, cả 3 la lớn.
– Hell Angels, 1 người vì mọi người, mọi người vì 1 người!
Từ hôm khai trương sô “Thai And Sex”, Arkhom có thì giờ nghỉ ngơi, anh không đi chơi, đi shop mà mỗi ngày dành 4 giờ, chăm chỉ tập luyện vài đòn bí truyền của Muay Thai, loại đòn tay, đeo dao nhỏ, đánh chỏ và đầu gối vô các tử huyệt, giết đối phương trong chớp mắt. Đây là đòn sát thủ ngày xưa, của đội cận vệ 12 người cảm tử, bịt mặt bằng mặt nạ vàng, luôn đứng chung quanh, bảo vệ vua Thái suốt ngày đêm.
J vô phòng ngồi xuống ghế, căn phòng ngát mùi trầm, Arkhom đang luyện tập. Anh quỳ xuống, tung người lên, xoay nhanh, tay phải đánh vòng cung, ánh thép lóe sáng, Arkhom quỳ xuống sàn, thu tay về thế thủ, cúi chào.
– Hello Arkhom! Cục cưng của anh… Cuối tháng này, Hell angels sẽ làm sô đặc biệt tại “Thai and Sex” mừng sinh nhật anh.
Arkhom bước tới hôn J.
– Em sẽ làm một đêm biểu diễn đặc biệt cho anh, với những điệu múa chưa bao giờ trình diễn…
– Cám ơn!
– Nhưng không phải ở sô “Thái and Sex…
Arkhom, ngước mặt.
– … Ở một nơi đặc biệt, em tự tổ chức.
– Ô! Arkhom…
J ôm Arkhom.
– Cục cưng…
Arkhom đẩy J ra, cười nhẹ.
– Đợi!
9 giờ tối thứ 7, Bar Aigle Noir, khu tiếng Pháp, phía đông thành phố Montreal đóng cửa, dành riêng cho tiệc sinh nhật của J, trùm Hell Angels.
3 chiếc Harley, bảng số New Hampshire, 3 tay Hell Angels, khăn bịt đầu, áo quần da đóng đinh bạc, tay xăm xanh đỏ, tai đeo khoen như cướp biển, râu ria xồm xoàm bước vô.
– Hello J! Hello H, hello D!
– Hello cục cưng Arkhom.
Bar Aigle Noir chỉ có chiếc bàn nhỏ, 4 ghế chung quanh, sát tường là bàn tiệc, với những món Thái thuần túy, đã làm sẵn, đựng trong những bát, tô bằng bạc trắng, một đĩa lớn đựng ổi Thái, me chín tươi, xoài, mít, thơm, táo nhỏ và thanh long vàng đỏ. 10 chai Chivas, xếp 1 hàng.
Arkhom đẹp rực rỡ trong chiếc áo choàng bằng lụa, dệt chỉ vàng, vắt vai kiểu Thái. Anh mang chai Chivas, 3 cái ly để xuống bàn, lấy một đĩa lớn trái cây đủ thứ.
– Sinh nhật anh J, em xin mời.
3 người cụng ly, chúc mừng J.
Arkhom, lùi lại.
– Hôm nay, sinh nhật J, em xin biểu diễn một màn Muay Thai đặc biệt.
J đứng dậy, tay đưa cao ly rượu.
– Cám ơn cục cưng của anh.
Arkhom đứng nghiêm, ngước mặt, nhắm mắt, 2 tay đưa thẳng lên … 1 phút, 2 phút, 3 phút… Rẹt! tiếng lụa xé lớn, chiếc áo khoác vai trên người Arkhom tung lên, bay về phía sau. Arkhom hiện nguyên hình võ sĩ Muay Thai. Đầu đội vòng vải điều, đuôi gà đủ màu dài phía sau, hai bắp tay, 2 bắp chân thắt dải chỉ đỏ.
Anh bắt đầu những đòn tay, chỏ, gối của Muay Thai, kèm với những động tác sexy gợi tình.
3 tay Hell Angels đã hừng hừng, bước tới, lấy đầy 3 đĩa thức ăn Thái và 3 chai rượu.
– Hoan hô Arkhom!
J đứng dậy, cụng ly với 2 người bạn.
Arkhom quỳ xuống sàn, nhạc tắt. Bar Aigle Noir lặng tanh, thoảng mùi sả, mùi cà ri Thái.
Yên lặng …
– Mr J! Trùm Hell Angels…
Arkhom từ từ đứng dậy, cất tiếng.
– … Cách đây 3 năm… Cũng tại Bar Aigle Noir này…
Arkhom chỉ tay vô mặt J.
– Mr J… Đã bắn nát đầu M, trùm băng Nomads của Montreal, và cướp lấy thị trường ma túy từ tay Nomads …
Arkhom bước chậm, tới trước mặt J.
– J! Mày mở mắt ra!
Arkhom lột tóc, cởi vòng vải ép ngực
Tao chính là Jane, người vợ gốc Thái của M, trùm Nomads mà mày đã sát hại.
J và 2 tay Hell Angels đứng phắt dậy, Arkhom lùi lại một bước.
– J, hôm nay là ngày tao rửa hận cho cái chết của chồng tao!
Và như một tia chớp, Arkhom phóng tới, 2 gối bung lên ngay ngực J, 2 tay dang rộng, lưỡi dao nhọn lóe ánh bạc trên 2 cổ tay, cô xoay một vòng tròn … Ngón đòn bí truyền của đội cận vệ Hoàng Gia Thái làm J văng ra, hộc lên như con gấu trúng đạn, hai tay cố ôm chiếc cổ đã bị cắt ngang, máu phun ra từ một lỗ rộng ngoác, đỏ lòm, J rớt xuống sàn cái rầm.
2 tay Hell Angels thất thần, đứng im.
– Tụi bay biến đi, không liên lụy!
Jane bước tới quầy, rót ly lớn Chivas, làm cái ực.
– Hello! 911… Bar Aigle Noir, phía đông Montreal có án mạng.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.