This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ngày 5 tháng 7 năm 1961, tại căn cứ không quân Kadena, đảo Okinawa, Nhật Bản, Phái bộ cố vấn quân sự Mỹ (MACV) tại miền Nam Việt Nam đã đề nghị quân đội Mỹ thành lập “Biệt đội 57 vận tải chiến thuật” với 15 máy bay trực thăng UH-1A. Chiến thuật “Trực Thăng Vận” của Mỹ đã ra đời từ đó, và ứng dụng trong những năm tháng ác liệt nhất của chiến trường Việt Nam. Trực thăng là loại phi cơ đa dụng trong chiến tranh, như vận chuyển nhân lực, vũ khí, lương thực, tiếp tế, tải thương và tấn công. Cho nên sự ra đời của các loại trực thăng với kỹ năng tân tiến là điều cần thiết cho quân đội Mỹ trong việc bảo vệ nước Mỹ và đồng minh trên thế giới.
Hãy tưởng tượng một chiếc trực thăng quân sự có thể vận chuyển lính tới những vùng chiến sự khốc liệt nhất trên thế giới với tốc độ nhanh gấp đôi trực thăng Black Hawk (trực thăng hiện tại có tốc độ khoảng 277/km/giờ ). Defiant X, loại trực thăng mới, trang bị những công nghệ điện tử và hệ thống vũ khí tấn công hiện đại của hãng Sikorsky, hứa hẹn sẽ là loại máy bay tấn công tầm xa rất hiệu quả.
Là đối thủ đáng gờm trong cuộc thi của quân đội Mỹ với hợp đồng chế tạo “Máy Bay Trực Thăng Tác Chiến Tầm Xa” (Long range combat helicopter). Thiết kế trực thăng Defiant X đã đáp ứng các yêu cầu hiện tại và tương lai về việc vận chuyển, và chiến đấu.
Trực thăng Black Hawk. Nguồn. Oren Rozen,Wikimedia Commons
Liệu Defiant X có khả năng thay thế trực thăng Black Hawk?
Defiant X là phiên bản mới của máy bay trình diễn Lockheed Martin’s SB-1 Defiant (Lockheed Martin Corporation là chủ của hãng Sikorsky). Đây là chiếc trực thăng cùng dòng với Raider X, một loại trực thăng của Lockheed đã tham gia trong một cuộc thi khác của quân đội, chương trình “Máy Bay Do Thám Tấn Công Tương Lai” (Future Attack Reconnaissance Aircraft). Cả 2 loại máy bay đều được thiết kế và chế tạo theo mẫu X2 của hãng Sikorsky, đã bay trong năm 2008.
Chiếc SB-1 tham gia cuộc thi “Máy Bay Trực Thăng Tác Chiến Tầm Xa” trong năm 2021, với mục đích thay thế máy bay trực thăng đa năng Black Hawk đã phục vụ trong quân đội từ năm 1979.
Trực thăng UH-60 Black Hawk có tốc độ 277/km/giờ, hiện có hơn 12 kiểu, đây là trực thăng đã phục vụ cho quân đội Mỹ trong chiến tranh vùng Vịnh, cuộc tấn công Panama, chiến dịch Afghanistan, Iraq. Cho đến nay, hơn 4,000 trực thăng Black Hawk đã được sản xuất, và được quân đội của nhiều quốc gia sử dụng như Do Thái, Thụy Điển, Úc…
Nhiều cựu chiến binh tin rằng, Black Hawk là phi cơ trực thăng hữu dụng nhất đã được sản xuất và cũng không dễ gì thay thế bằng trực thăng khác. Tuy nhiên, để phục vụ chiến tranh trong tương lai, quân đội Mỹ đang muốn có một loại trực thăng với khả năng bay 426 km/giờ, hoặc nhanh hơn. Trực thăng Defian X đã đạt tới tốc độ mong muốn, 429.7 km/giờ, trong một chuyến bay thử vào tháng 10 năm 2020 và dự định sẽ bay tới tốc độ 463 km/giờ. Defiant X được thiết kế cho quân đội có phạm vi hoạt động xa, khả năng thoát hiểm cao, và hiệu quả sát thương mạnh.
Defiant X chở được 12 quân nhân, hoặc hàng hóa nặng 1,670 kg. Mới đây, trong một cuộc biểu diễn của Sikorsky cho thấy chiếc trực thăng Defiant X mới của họ đã dễ dàng bốc một khối hàng cỡ 2,400 kg. Khả năng này cho thấy Defiant X có thể sử dụng để chuyển quân, hoặc mang những hỏa tiễn công phá hạng nặng. Lockheed và Boeing đã tuyên bố rằng Defiant X là phương tiện duy nhất có khả năng bốc vật liệu (treo dưới máy bay) nhanh trong chiến trận với phạm vi hoạt động hợp lý.
Trực thăng Defiant X đã bốc khẩu đại bác M777, nặng cỡ 4,218 kg tòng teng dưới thân mình một cách nhẹ nhàng, coi như đã thắng Black Hawk (Chỉ có khả năng bốc 4,082 Kg). Tuy nhiên khả năng bốc dỡ mạnh nhất của Defiant X vẫn là bí mật.
Defiant X được điều khiển bằng điện tử, đáp ứng những kỹ thuật bay đặc biệt khi tác chiến, như bay thấp, băng qua các khu rừng, những vùng có địa hình không bằng phẳng, và qua những thành phố với những cao ốc khác nhau. Trực thăng Defiant X cũng được trang bị bộ phận tự giảm nhiệt để tránh hệ thống truy tìm nhiệt năng và các hỏa tiễn dẫn đường bằng tia hồng ngoại của đối phương.
Trực thăng Defiant X tại phi trường. Nguồn. Lockheed Martin
Trực thăng Defiant X và V-280 Valor
Trong những năm tới, thị trường máy bay trực thăng dự tính sẽ tới mức 90 tỉ đô. Những công ty lớn trên thị trường như Lockheed Martin, Bell Textron đều muốn giành phần tối đa. Defiant X được Sikorsky và Boeing ca ngợi là có sức chở nhiều nhất trên thế giới. Nó đang tranh tài với chiếc trực thăng V-280 Valor của Bell, đây cũng là một trực thăng tối tân đang hăm he thay thế Black Hawk.
Trực thăng V-280, với 2 động cơ, chuyển động thẳng đứng giống như trực thăng V-22, nhưng nhỏ hơn. Thay vì dùng động cơ lớn để bốc thẳng lên và bay tới như loại VTOL (A vertical take-off and landing-Máy bay có khả năng cất cánh và đáp thẳng) V-280 có 2 động cơ ở mỗi đầu cánh, có thể bốc lên và bay ngang với vị trí 90 độ, có nghĩa là bay giống như trực thăng có 2 cánh quạt như VTOL.
Trực thăng này bay với tốc độ 555.6 km/giờ, nhanh hơn trực thăng Defiant X, có 2 móc chở hàng, có thể bốc 4,500 kg hàng hóa, và chuyên chở được 12 lính tác chiến. So với Defiant X, Bell cho biết, thiết kế máy bay của họ có nhiều an toàn cho phi công và quân nhân, thí dụ như V-280 không có cánh quạt ở đuôi, ít nguy hiểm cho những người dưới đất trong trường hợp phi cơ bị rớt, một số bộ phận tự hủy hoại, không gây nguy hiểm cho hành khách và phi hành đoàn. Nếu một động cơ bị hư hỏng, động cơ còn lại vẫn có thể truyền lực cho cả 2 cánh quạt để cất cánh trong trường hợp khẩn cấp.
Trực thăng SB-1 Defiant, Defiant X đã làm cho cuộc thi trở nên hấp dẫn cho các chuyên gia quốc phòng và các cựu chiến binh.
Trực thăng V-280-Valor. nguồn. theaviationist.com
Một số chi tiết hấp dẫn của Defiant X
– Đây là chiếc trực thăng được thiết kế có hệ thống điều khiển điện tử, với bảng điều khiển điện tử, thay thế bảng điều khiển bằng tay.
– Defiant X có thể bay tới 547 km/giờ, vì khoảng cách giữa 2 động cơ ở đầu cánh còn đủ chỗ gắn thêm động cơ thứ 3 để tăng tốc độ.
– Với máy bay trực thăng thường, nếu dây cáp, hoặc dây kéo ròng rọc bị hư trong khi đang làm việc, phi công thường bị mất kiểm soát, nhưng với Defiant X, khi bay bằng kỹ thuật điện tử, bảng kiểm soát đã trở nên không cần thiết. Những động tác điều khiển máy bay của phi công được đưa sang tín hiệu lái điện tử bằng hệ thống máy tính và chuyển thẳng tới trung tâm điều khiển ở mặt đất.
Hiện tại, hơn 90% loại máy bay bằng cánh quạt đang phục vụ trong quân đội Mỹ đã được Sikorsky và Boeing sản xuất, Defiant X có lẽ là chiếc trực thăng tiện dụng nhất mà họ đã sản xuất cho đến nay. Nhưng con đường thực hiện hợp đồng “Máy Bay Tác Chiến Tầm Xa Tương Lai” (Future Long-Range Assault Aircraft-FLRAA) cũng không phải dễ dàng. Cho nên, liệu máy bay Defiant X sẽ trở thành chiếc trực thăng, được người Mỹ yêu thích như chiếc Black Hawk trước đây không? Thời gian sẽ trả lời.
Cám ơn viên ngoại Ngọc Minh dù tôi chưa bắt tay đứa con anh lưu lạc ông viên nội Luân Hoán ham bóng đá euro trực tiếp gián tiếp tôi chưa ngó được dung mạo Thuý Kiều Thuý Vân xúi tôi đá phạt đền giò cẳng tôi hư và cỏ đang hồi hết mượt nghe Đạm Tiên hát bài nhạc cũ if you are going to san francisco be sure to wear some flowers in your hair nếu no hair thì không có duyên hoa cài tóc xin anh đừng quở all it mean bullshit như đã từng
vùng vịnh ấy xa như chuyện chiếc cầu đã gãy tôi bây giờ ra đường luôn ngó trước dòm sau chúng ta cùng viết vớ vẩn dòng thương vay khóc mướn từ thập niên 80 đến giờ nước mòn hao chân cầu râu tóc anh dài mọc quanh chân dung nghệ sĩ tôi muốn sang anh chuyền lửa điếu cần sa thơ anh luôn thở ra luồng khói lạ say tỉnh người ngoại đạo có ai ngờ độc cô cầu bại lập thân cũng vì ngộ mọi lẽ bí kíp cô ở chữ ngó vậy mà hổng phải vậy đâu nghen
ở chốn này tôi từng ra đứng bờ sông trông cá cá chết trông sao no star where hôm nào anh qua tôi quyết mời ăn bún chả nắm chai bia mình nói chuyện đội đá vá trời sau lứa mình chẳng còn ai trông cậy toàn cả bọn bán mình chuộc Trung hoa tôi thích thơ anh ở những từ nhạy cảm chớ nhảy sông Tiền đường mà chửi ông trời fucking xanh
cám ơn tập thơ anh chưa kịp tới chúc mừng anh vẫn mơ mộng in ra thơ bìa xem trang trọng tuyệt vời ruột đúc đầy đặn một toà thiên nhiên.
Theo khảo sát của giới y khoa, trung bình phải tới 10 tuổi, các em nhỏ mới ý thức về cái chết. Không có nghĩa rằng vào độ tuổi đó các em sẽ đánh mất dần sự hồn nhiên. Tính trong sáng của tuổi mới lớn sẽ đoạn lìa chừng nào các em biết yêu đương, bị dằn vặt bởi tình cảm lứa đôi, biết dối gạt đặt điều, phần nhiều rơi vào hạng tuổi 16 đầy đa đoan lắm sự. Tuổi chưa được phép mua rượu, chưa cho mua súng, chưa được quyền đi bầu. Vậy thì, cứ cho là 15 tuổi trở xuống, tâm hồn các em vẫn là trang giấy trắng chưa bị đời sống tác hại, bôi bẩn. Qua lượng định của nhà danh hoạ Pablo Picasso (1881-1973): “Tất cả những đứa bé đều là nghệ sĩ. Vấn đề là liệu khi lớn lên chúng còn giữ được sự biệt đãi ấy không”. Cái nhìn của nhà văn Mark Twain (1835-1910) thì xác đáng dễ thuyết phục hơn: “Những nguồn tin phát ra từ miệng trẻ con luôn thú vị ở chỗ, chúng nói tới những gì chúng biết, xong thì ngậm miệng lại”.
Dân gian ta cũng có câu: Ra đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ”. Chúng không đặt điều đâu, hãy an tâm, chúng thật thà như đếm. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu than: “Dân hai lăm triệu ai người lớn, nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”. Trẻ con của cụ Tản Đà mang thứ nội hàm khác: Ngu ngơ, dễ bị gạt gẫm, dễ bị dụ dỗ để kẻ xấu nắm tay lôi đi vào mê lộ. Chuyện này đôi lúc người lớn cũng bị mắc phải chứ nào riêng bọn nhỏ ngây thơ.
Lên trung học, lớp đệ thất (còn hồn nhiên- em nào có biết gì!) vào giờ Văn được cô dạy về bài thơ “Miếu vợ chàng Trương” của vua Lê Thánh Tông:
“Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương Miếu ai như miếu vợ chàng Trương Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ Cung nước chi cho luỵ đến nàng Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt Giải oan chăng lọ mấy đàng tràng Qua đây mới rõ nguồn cơn ấy Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng”.
Cô giải thích điển tích về bài thơ: Trương làm lính thú, vợ ở nhà nuôi con mọn. Mỗi tối thắp đèn lên, để khuây nỗi nhớ, người vợ ôm con và chỉ cái bóng in lên vách mà nói: Đó là cha con. Tàn cuộc binh đao, Trương được trở về nhà nhưng bất ngờ là đứa con không nhìn mặt, nó bảo là cha tôi mỗi tối mới về bên hai mẹ con. Trương nghe, nghĩ ngay rằng người vợ đã lợi dụng thời gian mình vắng mặt đã hư đốn đi ngoại tình. Không tìm ra cách để minh oan, người vợ quẫn trí đi tới bến sông mà trầm mình tự tử. Đến tối, khi thắp đèn lên, đứa con chỉ vào bóng hắt vào vách để lập lại câu nói quen thuộc: Cha kìa, cha trở về kìa. Trương tỉnh ngộ, hiểu ra thì đã muộn, thất thểu ra bên sông lập nên đàn chay suốt ba ngày đêm mong giải oan cho vợ. Người đời sau lập miếu thờ vợ của Trương, chuyện đến tai Vua, làm ra bài thơ cho khắc vào bia đá. “Khá trách chàng Trương khéo phủ phàng”. Vua Lê Thánh Tông nhân từ quá, lẽ ra phải mắng: Trương nọ sao quá trẻ con, vợ của nhà ngươi cũng trẻ con không kém. Nước bốn ngàn năm mà vợ chồng ngươi không chịu lớn cho!
Trẻ con “đương đại” năm 2016 ở xứ “Bạch Tuyết thì hiếm mà lố nhố tới mấy triệu chú lùn” vào giờ tập làm văn, cô ra đề: Tả bố em. Thằng Nhất viết: “Bố em có một hàm răng vàng, hàm răng vàng luôn chỉ bảo em những điều hay lẽ phải”. Con Nhị viết: “Bố có hình dáng còi và cao. Bố em rất hay đánh giấm, cứ mỗi khi em xem phim lại thấy bố đánh giấm hai ba lần”. Tả ông nội. Thằng Nhất viết: “Khi em được sinh ra thì bố mẹ em đã làm ma cho ông nội em rồi”. Con Nhị viết: “Nhà em có nuôi một ông nội, ông nội suốt ngày chẳng làm gì cả chỉ trùm chăn ngủ, đến bữa ăn ông ló đầu ra hỏi: Cơm chín chưa bây?”. Ôi, Nhất và Nhị, rõ là bài làm của hai em “luôn thú vị” và “nghệ sĩ”.
Tả mùa xuân: “Mùa xuân ở quê em mở rất nhiều hội. Những ngày ấy trên đường có rất nhiều các ông các bà tay cầm ô đen ô đỏ đứng nói chuyện râm ran như bầy chim líu lo gọi mẹ”.
Tả người thầy em yêu quý: “Thấm thoắt đã ba mùa hoa ban nở, thầy giáo phải tạm biệt chúng em để về xuôi. Cả làng cả bản đứng tiễn thầy vô cùng ngậm ngùi. Riêng em đứng nhìn theo thầy cho đến khi thầy xa dần, xa dần, đến khi nhỏ bằng con chó em mới quay lại bản”.
Ôi chao, thật trong sáng, hồn nhiên và mang nặng tính sáng tạo! Có lẽ mai này em sẽ là một nhà thơ in nhiều đầu sách, bởi còn bé thế kia khi gặp phải đầu đề: Đặt câu cho có vần, em đã trả lời một mạch: “Muốn học chóng thành, em phải thái hành. Có con trâu, bị ruồi bâu. Có con chim, bị vỡ tim”. Thầy cô chớ bảo: Nhỏ như con thỏ chán như con gián mà chúng em cười cho, nhé!
Các em khi học môn văn đôi lúc phải nương nhờ vào cuốn “Tự điển tiếng Việt” (Nhà xuất bản Bách Khoa Hà Nội) để tra cứu. Sách ấy giảng nghĩa như sau:
Ả đào: Đào hát trong các hộp đêm. Con ranh: Con đẻ ra thì chết. Niết bàn: Nát bàn. Nhà xác: Nhà vĩnh biệt. Nữ thi hào: Thi hào đàn bà. Nữ thi nhân: Nữ thi hào. Yếu hèn: Hèn yếu. Ghi nhớ: Ghi và nhớ lấy. Nhà tu hành: Người tu hành. Nắn bóp: Nắn và bóp. Thơ ngây: Ngây thơ. Bia: Rượu giải khát. Nhà trường: Trường học. Lâu đài: Lầu và đền đài.
Cuốn sách dày ngàn trang kia còn chứa đựng lắm cách giải nghĩa ngô nghê khác nhằm giữ tính trong sạch cho tiếng Việt khỏi bị mai một, hoặc bị thế lực thù nghịch đan tâm soán đoạt đổi thay. Vì sự bất đồng giữa hai vùng miền, các em cũng bỏ công thu thập cái khác biệt nọ kia:
Bắc bảo kỳ, Nam kêu cọ Bắc gọi lọ, Nam kêu chai Bắc mang thai, Nam có chửa Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi Bắc quở gầy, Nam than ốm Bắc cáo ốm, Nam khai bệnh Bắc đến muộn, Nam la trễ Nam mần sơ sơ, Bắc làm lấy lệ Bắc ùn tắc Nam dồn cục Bắc bảo ban Nam dạy dỗ Bắc bố mẹ Nam tía má Nam đù má Bắc đéo mẹ.
Dần dà thơ ngây bỏ đi một lèo chẳng quay đầu. Thú vị và chất nghệ sĩ nương náu trong em cũng đoạn tuyệt khi các em chạm mặt với bao hung hiểm mà cuộc đời mãi hào phóng trao tay. Nghi kỵ, bạc ác, tráo trở ập đến. Tuổi 17 không thể bẻ gãy sừng trâu, nhưng có thể làm ra bài thơ tương tự như của tác giả Nguyễn Phương đăng tải trên Facebook. Bài mang tên dài “Thế là anh bộ đội được nhập băng của Bác”:
Đêm nay Bác không ngủ- thì kệ mẹ Bác đi. Anh đội viên thức dậy thấy ba lô mất rồi mà sao Bác vẫn ngồi anh nghi ngờ Bác lấy Bác ơi Bác có thấy ba lô của cháu không? Chú làm mất của công phải trình lên đảng uỷ nhưng nghĩ tình đồng chí anh bày chú cách này nội ngay trong đêm nay chôm ba lô thằng khác Anh đội viên nhìn Bác Bác nhìn ánh lửa hồng lòng sung sướng mênh mông anh nhập băng của Bác.
Không còn thầy cô đứng bên lưng uốn nắn. Nhưng gạch đá của trường đời đã ném tới tấp thằng “nhà thơ”phản động kia. Nào lạ gì khi tác giả đang sống trong một quốc gia có hơn 240 vị phó chủ tịch Tỉnh, 122 Thứ trưởng, không dưới 35.000 Tiến sĩ và một bộ phận không nhỏ thủ đắc thứ đầu óc nhiều chất xám siêu khủng. Hắn bị nguyền rủa nhưng phước cho hắn, đất nước xây nhà tù nhiều hơn trường học này vẫn lần khân chưa vui chân đến bắt hắn nhập kho.
Được voi đòi hai bà Trưng, hắn sẽ loan tin việc học viện Phật giáo Larung Gar đang bị Trung quốc phá huỷ để giảm dân số từ 50.000 xuống còn 5.000. Hắn sẽ giật tít: “Bây Chừ Tây Tạng, Mai Này Việt Nam”. Không quên viết bài luận “tả con ong”: Chẳng ai để tâm tới một con ong, nhưng khi cả triệu con ong hợp lại, ngay đến cả cái được gọi là dũng cảm cũng phải trốn chạy trong sợ hãi. Chính quyền chỉ sợ một điều, đó là ngày mà chúng ta cùng đứng lên.
Điều đó thật thú vị. Hắn có trẻ con không? Hắn có nghệ sĩ không? Cầu mong cho hắn đừng như con trâu bị ruồi bâu. Đừng như con chim bị vỡ tim. Lỗi lầm ngày ấy đã qua rồi, “thép đã tôi thế đấy”. Hy vọng hắn đang làm “người lớn” theo cách hiểu của cụ Tản Đà.
Trên sân vận động ở Nice ngày 27 tháng 6, nhiệt kế ghi: 23 độ C. Ở trung tâm thành phố Montréal thì 29 độ, những quán bán bia phô trương cờ xí luôn đông chật bọn người yêu football và quán cà phê bên kia đường đang chốt giá cá độ tỷ lệ là 7/2. Bỏ ra 20 bạn sẽ thu về 70 nếu Iceland thắng.
Trước đó ba tiếng, trực tiếp từ sân cỏ ở Saint Denis đội tuyển Ý đã loại Tây Ban Nha với tỷ số 2-0 đầy thuyết phục, oanh liệt đi vào tứ kết và con đường Saint Laurent này, đoạn phố có Tiểu Ý đại lợi đóng đô đã tưng bừng hò reo, chết mệt cho hạnh phúc oà vỡ những trận cười khản tiếng. Vào gọi một chai bia, những tín đồ trẻ người non dạ ấy sẽ quàng vai bá cổ bạn và mặc nhiên, bạn sẽ để cho mấy cô môi hồng có dính sốt cà chua bên khoé miệng lôi kéo theo họ một cơn say dường như bất tận. Ý luôn thủ lãnh trong thời trang ăn mặc, kỹ nghệ xe hơi, bộ môn túc cầu và theo cuộc thăm dò mở rộng: Hạnh phúc thay nếu vợ bạn là một cô gái Ý.
Mặt trận lắng xuống trong canh giờ, giải nhiệt xong, bạn chuẩn bị chao người tiếp khi tuyển thủ England cùng Iceland đang ra sân. Vận động trường nêm chật hai màu áo trắng xanh nằm tách biệt và bao giờ cũng vậy, ở mỗi trận cầu màu trắng của cổ động viên người Anh luôn đông đảo, lấn lướt. Họ mang kèn trống theo, trương hết ra những băng-rôn cờ quạt và bôi trét lên mặt một chữ thập đỏ. Họ hiện thân là những thần dân mãi xem football là một thứ tín ngưỡng. Nào có lạ gì, những câu lạc bộ bên xứ họ đã thay phiên làm say lòng người, hết Liverpool tới Manchester United, Chelsea, Aston Villa, Newcaste, Everton, Sunderland, Tottenham, Arsenal, Leicester… Nói theo kiểu thơ văn Việt: Họ ra đi mang theo cả hình bóng quê hương. Lịch sử nước nhà khiến họ hãnh tiến cất cao đầu, cờ bay rợp ở những sân cỏ có đội Tam Sư thi đấu, bề thế, đình đám.
Người ta đánh giá kỳ này đội tuyển Anh là nơi tập hợp những chân sút đẳng cấp, tốc độ, thể lực. Do vậy, nhìn từ mọi yếu tố, họ trên chân đội non trẻ Iceland, họ buộc phải thắng, con số dự kiến được đưa ra 2-0 hoặc 3-1. Đó là lý do bạn bỏ ra hai chục bạc rồi thu về bảy chục nếu Iceland thắng, một canh bạc thiếu hẳn sự logic. Chạy đâu khoảng 4 phút, người chưa kịp đổ mồ hôi, trọng tài người Slovenia đã thổi còi chỉ tay vào chấm phạt đền. Rooney nhẹ nhàng thong thả mang về cho Anh cái lợi thế trên cả tuyệt vời. Thôi, đánh đấm gì nữa mấy chú! Một bình luận viên tay nắm chai bia phát ngôn tiếng Anh kiểu cổ mà giọng đắng chua về thế cuộc lấy trứng chọi đá. Không quá hai phút phù du trôi đi, cầu trường rúng động ở pha gỡ hoà tỉ số do công của hậu vệ Sigurdsson khoác áo số 6. Biểu đồ trên mặt trận cá cược có thể đang có sự thay đổi nhằm phục vụ cho những kẻ có máu cờ bạc, bởi cách chơi điềm tĩnh và thông minh của đội tuyển Iceland, họ tuyệt không ngã lòng mặc dù đội Anh nắm toàn bộ sự chủ động. Xông xáo và quyết đoán là cách chơi của tập thể Iceland, không mấy khi được tràn lên sân đối phương nhưng những lần tấn công của họ đều khiến tuyển Anh phải xao xác bấn lòng để lộ ra bao khoảng trống chết người. Phút thứ 18 lưới giăng ở cầu môn Tam Sư lại rung lên bởi chân sút Sigthorsson, tiền đạo mang áo số 9. Màu xanh vốn được xem là màu của hy vọng, nhưng màu áo của Iceland hôm ấy đang cố cắt nghĩa cho thế giới biết về ý nghĩa của màu chiến thắng. Và bên kia lằn vôi của tuyển Anh cũng như đông chật trên khán đài, màu trắng của họ trước sau vẫn tượng trưng về cái “tang gia bối rối”, về sự lịm chết đang hồi phủ đầu. Cờ quạt ủ ê, một thứ “kỳ vô phong”. Miệng ngậm thôi hát hò, một thứ “nói năng gì cũng thừa”. Và mắt phóng xuống sân cỏ đang nát tan cũng có lắm cửa sổ linh hồn đang ứa lệ.
Alan Shearer, từng là đội trưởng tuyển Anh, người tiền đạo mang áo số 9 mấy mùa xa xưa luôn có công lớn đem về những thắng lợi vẻ vang cho màu cờ sắc áo nước Anh giờ này ông có mặt ở Pháp với vai trò làm bình luận viên, với kinh nghiệm từng trải đã đưa ra nhận xét ngay sau trận Anh bị Nga cầm hoà 1-1 ở phút cuối cùng: “Một sự thật khó chối cãi, tuyển Anh chỉ là những chú sư tử không có răng và bị nhổ sạch móng vuốt. Chúng ta tự hào là hàng trên có những 5 siêu sao vua phá lưới và hàng thủ có được 2 tảng bê tông khó bề vượt qua, nhưng liệu chúng ta sẽ ăn ngon ngủ yên chỉ vì ngần đó thôi? Hãy nhìn cách họ di chuyển trên sân, lúng túng khi phối hợp, kiến tạo ra những đường chuyền nhưng chẳng gây được hậu quả nếu không muốn nói là hỏng phí. Đến khi có cơ hội hiếm hoi họ toàn đá bóng xa khung thành. Câu hỏi ấu trĩ được đặt ra: Chúng ta có khả năng làm thủng lưới đối phương?”
Về phần tiền đạo Gareth Bale (một trong những ngôi sao của Real Madrid) thủ quân của đội tuyển xứ Wales từng phê bình: “England là đội tuyển luôn đánh mất quyết tâm khi thi đấu, một đội hình thiếu sót vai trò của một người truyền lửa. Một ban nhạc giao hưởng không có được người nhạc trưởng. Hãy nhớ lại World Cup 2014, họ là một trong những đội yếu kém bị loại ngay ở vòng đầu. Lần này thì họ không thể đặt chân vào tứ kết”. Lời thật thường mất lòng, Bale đã chịu biết bao gạch đá sau câu nói thẳng thắng đó. Rooney chửi, huấn luyện viên Roy Hodgson chửi và hơn một triệu cảm tình viên xứ sương mù đã thoá mạ ra rả trên những phương tiện truyền thông. Vô tình họ làm rõ, bổ túc thêm tính xác đáng của câu danh ngôn: Sự giận dữ nào khác gì bạn uống thuốc độc mà mong kẻ khác chết!
Tuyển Anh vừa chết, cầu thủ gục đổ trên sân cỏ sau tiếng còi ré lên chấm dứt 90 phút mà 11 con dân Nữ hoàng mãi chạy quờ quạng trên sân. Một bình luận viên cộng tác với đài BBC ở London than: “Không biết họ thi đấu với sơ đồ nào, chiến thuật gì? Họ thật kém cỏi!” Nước mắt tiếp tục đổ ra, huấn luyện viên Roy Hodgson từ chức ngay sau cuộc họp báo và “cha con” họ âm thầm băng qua biển Manche ngăn cách đôi bờ để về lại cố xứ, chẳng biết ai trong số họ có còn hơi sức để hát nhỏ bài “đêm buồn tỉnh lẻ”!
Mặt trái của tấn tuồng sầu não đầy mây xám kia là bề mặt của ánh dương quang tươi hồng chiếu sáng trên niềm hạnh phúc tự tạo của vùng đảo nhỏ có tên gọi Iceland. Tất cả những trang báo chuyên đề football đã hiện ra những mỹ từ xác đáng nhằm tán dương 11 đứa con vừa qua cơn thử lửa, chế ngự lửa, dập tắc lửa để hiên ngang bước vào một trang sử mới. Theo bảng sắp hạng của FIFA, Iceland đứng thứ 38 và hôm nay họ khiến những chiến thuật gia phải hoài nghi về thứ trình độ dẫn banh của các chàng áo xanh ấy. Đó là đội không có lấy một cá nhân siêu việt, họ chơi tập thể và mỗi thành viên làm tròn khả năng khi nhận được bóng. Đơn giản là họ luôn mang đến sự rắc rối cho đối phương, muốn chế ngự họ phải nghĩ tới một thứ đấu pháp đầy cảm hứng và linh động vượt ra ngoài sách vở. Đội Anh không hơn họ vì chẳng qua đội Anh luôn cổ suý cho thứ đấu pháp nặng tính kinh điển thường là 4-2-4.
Cuộc so giày và mang về chiến thắng hiển hách của Iceland được ca ngợi, trước tiên là sự đối chiếu vào các con số. England: 53 triệu cư dân. Đất nước Iceland: dân số rất khiêm tốn, chỉ có 330.000. Nói châu chấu mà đá voi cũng được, hoặc văn hoa hơn: Là ngọn cỏ thoát ra khỏi bóng che của cây cổ thụ. Anh là một đại gia và Iceland vừa viết nên câu định nghĩa lý thú, rằng không phải đã là đại gia thì anh có quyền làm cha thiên hạ. Xui khiến nhớ về trang sử xưa của nước Việt đã bao lần dạy cho giặc phương Bắc từng bài học về lễ độ mỗi bận bọn bành trương hăm he dàn quân ưa lấy thịt đè người. Giặc đến nhà đàn bà phải đánh, câu nói này e cũng phát sinh từ nguồn cội xa xưa.
Ngày nay thì giặc đang tự tung tự tác ngay ở trong nhà. “Thầy giáo từ nay chịu tháo giày”. Không thể mang giày mơ làm người Iceland ra sân đá một trận thật lẫm liệt để đời cho đại gia phương Bắc tái mặt máu. Do đâu nên nỗi? Do thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói: “Ngày nào tôi cũng đọc báo để lắng nghe tâm tư của nhân dân”. Báo ấy chuyên đề về cá độ bóng đá hở? Tâm tư của nhân dân đang hấp hối mà “ngài” không đọc ra trên mặt báo hử? Ngài cũng như các đấng trung với đảng hiếu với dân rất dị ứng chuyện phản cảm “Hội nghị Diên Hồng” của tiền nhân. Tập đoàn của ngài cùng một bộ phận không nhỏ rất không ưa cụm chữ trưng cầu dân ý. Ở cuộc chơi này quý vị ra sân với thứ đấu pháp “trời không dung đất không tha”. Quý vị bôi trơn trọng tài biên để họ thôi phất cờ việt vị, quý vị gạt chân kéo áo đốn ngã người trong vùng cấm địa mà không nghe tiếng còi thổi phạt đền. Đội khách bị làm tình làm tội đến te tua để nghe quý vị hồ hởi hát bài Hotel California với ca từ nghịch lý: “Bạn có thể trả phòng bất cứ lúc nào bạn muốn, nhưng bạn không được phép rời đi”.
Những khán giả phơi nắng đen đúa ngồi trên vòng chảo các sân vận động xuống cấp cũng hy vọng điều nghịch lý: Có ngày đội tuyển của nước nhà bị phơi áo, càng bị thủng lưới nhiều phen càng tốt. Cá chết? Lãnh đạo không biết vì răng? Máy bay rơi rụng? Lãnh đạo chả hiểu nguyên nhân? Ghe thuyền ngư dân bị tàu Trung quốc đâm vỡ, đánh chìm? Lãnh đạo mặt tỉnh như ruồi trước bao xôn xao ong ve khắc khoải. Ong ve tủi phận nhớ câu nói của bậc thông thái Albert Einstein: “Không thể chống lại những thằng ngu, vì chúng quá đông”.
Dân số của Iceland không vượt qua con số 330.000 đã đánh bại anh đại gia gồm 53 triệu dân. Bài học về sự cứng cỏi có quyết tâm của thiểu số vẫn còn chấn động trong mùa Euro chưa tới hồi ngã ngũ. Đội tuyển Iceland vừa cấy một giấc mơ, khai thông một con lộ mà những nước nhược tiểu kiểu Việt Nam nên khắc ghi, học hỏi và trông đợi có ngày được thực hành, dẫm chân theo dấu ấn kia. Muốn thế, điều trước tiên và duy nhất, nam phụ lão ấu cùng đồng lòng mang giày, đội tuyển không dưới 10 triệu người cùng vào vai tiền đạo, đá sạch những trái bóng tăm tối và xuẩn động bay ra khỏi sân cỏ Việt Nam. Hãy chung tay viết nên câu thoại mới: Còn dân chủ còn mình!
Mới đó mà vợ chồng tôi sống ở Sài Gòn đã hơn ba tháng. Tôi ngày đêm rong ruổi trên chiếc xích lô quanh Sài Gòn, nhờ đó mà biết được khá nhiều về những đường phố chính cũng như ngóc ngách của thành phố này. Sài Gòn là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa, nơi mà trước đây người dân Miền Nam vẫn thường tự hào gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông, với vựa lúa khổng lồ của đồng bằng sông Cửu Long, nguồn cung cấp thực phẩm dư thừa cho cả Miền Nam. Bốn năm sau ngày giải phóng, người dân phải ăn độn bo bo, khoai mì, khoai lang, có thứ gì độn thứ đó, cả nước đói đến xanh mặt. Tôi đang hành nghề đạp xích lô, vào thời buổi này, người có tiền để đi xích lô cũng hiếm như lá mùa thu, đã vậy giá của một cuốc xe còn tụt xuống bậc thấp nhất. Một ngày lao động cật lực của tôi, đạp xe rã cẳng cũng chỉ kiếm đủ tiền mua gạo. Thực lòng mà nói được như vậy cũng đã quý lắm rồi, nếu đem so với những gia đình bị lùa lên vùng kinh tế mới, đói rét, bịnh tật, trốn về Sài Gòn sống lây lất nơi vỉa hè. Tôi chỉ muốn kể lại những gì mình đã chứng kiến chứ không có ý than phiền hay oán trách với ai. Phần tôi ngoài chuyện đạp xích lô nuôi sống gia đình, tôi còn có mục đích khác là dò tìm đường vượt biên. Hang cùng, ngõ cụt, đường lớn, hẻm nhỏ, nơi nào tôi cũng mò tới để nghe ngóng, thu thập tin tức. Từ chuyện hôm nay một chiếc tàu đăng ký bán chính thức, chở hơn năm trăm người tới được Mã Lai, cho đến ngày mai con tàu sắt chở tám trăm người đến được Hồng Kông. Tất cả những nguồn tin như vậy, tôi nghe mà lòng bán tín bán nghi, nghe như là nghe một tin đồn, bởi vì không thể kiểm chứng được. Những lời đồn như vậy gia tăng ngày một nhiều, nhiều đến chóng mặt.
Một ngày nọ, đang rỉ rả đạp xe tà tà kiếm khách trên đường Hiền Vương, ở đây tôi thích dùng tên đường cũ, cho dù tên đường có đổi hay không, tôi không thèm để ý đến. Một lần nọ khi ngang qua khu chợ trời Nguyễn Thông, bất chợt tôi nhớ đến anh thanh niên đòi mua cái máy bơm Yanmar F10 của tôi ở vườn rau Đa Thiện năm trước. Không ngần ngại, tôi hỏi một bà bán quần áo cũ ngồi bên lề đường.
-Ở đây dì có biết anh Vinh máy nổ không?
Người đàn bà không nhìn tôi.
-Vinh máy nổ hả? Đi thẳng tới ngã tư Kỳ Đồng hỏi, người ta sẽ chỉ cho.
Tôi gặp Vinh máy nổ, anh ta mình trần chỉ mặc độc có một cái quần cụt, mồ hôi nhễ nhại đang cúi người bên chiếc máy nổ chạy bằng dầu cặn. Lui cui, cặm cụi, vặn ốc, siết bù lon, quay máy, quay hoài máy cứ nằm lì ra đó ăn vạ, Vinh máy nổ đưa tay quẹt mồ hôi trán, nhăn mặt, co chân đá mạnh vào cái máy.
-Má mày.
Đang có ý định kiếmVinh máy nổ chuyện trò, hỏi thăm đường đi nước bước, gặp cảnh hắn đang nổi giận như vậy, tôi chỉ biết im lặng, ngồi yên trên xích lô đưa mắt nhìn.
Mồi một điếu thuốc, Vinh máy nổ ngồi xuống chiếc ghế đẩu, ngửa mặt nhả khói lên trời, bất chợt thấy tôi, hắn hỏi.
-Anh bạn cần gì?
Tôi không trả lời, nhìn Vinh với hy vọng hắn nhận ra tôi.
Thấy tôi ngồi yên, Vinh máy nổ đổi qua giọng nói đầy bực tức.
-Cha nội ở đâu tới đây, muốn gây sự phải không?
Hình minh họa
Thấy tình thế coi bộ không được yên, tôi vội nói.
-Anh Vinh không nhận ra tôi hay sao?
Nhìn tôi một lúc lâu, Vinh máy nổ hất hàm.
-Anh là ai, làm sao tôi biết được.
Tôi nhắc Vinh.
-Năm ngoái anh có lên Đà Lạt, muốn mua cái máy Yanmar F10 mới cáu chỉ của tôi ở ngoài vườn rau, nhớ không?
Sau một lúc suy nghĩ, Vinh xuống giọng.
-Cái máy thì tôi nhớ rồi đó vì nó quá tốt, còn anh thì tôi quên mất mẹ nó rồi.
Giọng nói của Vinh máy nổ đúng là giọng nói của dân giang hồ, tôi thở dài ngao ngán.
-Anh nói đúng, cái gì đáng nhớ thì mình nhớ. Hôm nay tôi đến đây chỉ muốn thăm anh, sau đó là mời anh ly cà phê.
Vinh máy nổ gật đầu cái rụp.
-Đi thì đi, má nó cái máy này nó hành tôi từ sáng tới giờ, phải nghỉ ngơi một chút, uống ly cà phê mới được.
Đưa mắt nhìn tôi Vinh hỏi.
-Ngồi đâu đây anh bạn?
-À…cái quán cà phê ở góc đường đàng kia, lên xe tôi chở đi.
Vinh máy nổ quay vô nhà nói lớn.
-Má thằng cu đâu, lên coi nhà chút xíu tôi đi công chuyện rồi về liền.
Hai ly cà phê đen đá được mang ra, tôi cầm muỗng khuấy cho tan đường, bưng lên làm một hơi.
-Cà phê gì mà đắng chát cả cổ.
Vinh nói.
-Nửa cà phê, nửa bắp rang, thêm xác cau khô xay nhuyển, đắng là phải rồi, nhưng mà có chút mùi cà phê cũng đỡ ghiền. Phải không anh bạn?
Tôi gật đầu.
-Anh nói đúng.
Nhìn quanh thấy quán vắng khách, tôi ngập ngừng thổ lộ tâm tình.
-Anh Vinh nè, tôi đến Sài Gòn này cũng được mấy tháng rồi, tìm đường vượt biên nhưng không có quen ai, hôm nay chợt nhớ tới anh, nhớ chuyện anh mua máy nổ gắn vô tàu vượt biên, nên tôi đến nhờ anh chỉ mối giùm.
Nhìn tôi lâu thật lâu như để đánh giá những gì tôi mới nói, Vinh dò hỏi.
-Anh ở gần đây không?
-Bên Tân Định.
-Ngủ vỉa hè hả?
-Không, tôi ở với bà chị họ bên ấy.
-Có hộ khẩu đàng hoàng không?
Tôi thoải mái trả lời.
-Đương nhiên là có rồi.
Vinh máy nổ tỏ vẻ tin tưởng.
-Coi bộ ngon à nhe, thời buổi này mà vô được hộ khẩu ở Sài Gòn, không phải là chuyện dễ, chung chi cho công an cũng bộn phải không?
Hỏi mà không cần nghe tôi trả lời, Vinh tiếp.
-Muốn nghe chuyện vượt biên hả? Miền Bắc như thế nào thì tôi không biết chớ ở Miền Nam này, ngày nào cũng có tàu vượt biên. Đi ngay sông Sài Gòn thì năm cây, Vũng Tàu ba cây, vùng bốn hai cây, một cây cũng có luôn. Nhưng mà, mười đường dây đi chui như vậy, chỉ có một là thiệt, chín cái còn lại là đồ dởm. Anh có dám chơi không? Nếu không thì còn một con đường này nữa, bin cái đường bán chính thức của nhà nước, mười hai cây. Đây là con đường chắc ăn như bắp, bảo đảm một trăm phần trăm là ra tới hải phận quốc tế, vì tàu có công an hộ tống. Sau đó thì chết chìm trên biển vì chở quá nhiều người, hay là gặp dông bão thì ráng mà chịu. Nghe Vinh máy nổ nói một hơi, tôi vẫn còn bán tín bán nghi.
Hình minh họa
-Cảm ơn anh đã nói cho tôi biết rõ ràng mọi chuyện. Tôi muốn hỏi thêm về những người đi bán chính thức, họ là ai?
Vinh lên giọng.
-Anh có theo dõi tin tức qua đài BBC hay VOA, nói về boat people và những con tàu chở đầy người tỵ nạn không?
-Không.
-Vậy mà cũng bày đặt nói chuyện vượt biên, chuyện tôi kể sau đây anh sẽ không tin, nhưng mà đó là hoàn toàn thật. Năm ngoái có một con tàu tên là Southern Cross ghé Sài Gòn chở một ngàn hai trăm người Việt gốc Hoa đi bán chính thức, mỗi người đóng cho nhà nước mười hai cây.
Vinh máy nổ xoa hai tay vào nhau.
-Chỉ làm một chuyến thử nghiệm, sơ sơ ông nhà nước ẵm gọn hơn nửa tấn vàng một cách ngon lành. Còn chuyện mấy ông lớn chia chác vàng như thế nào thì không một ai biết được, nó thuộc bí mật nhà nước.
Tôi nhắc chừng Vinh.
-Anh không sợ hay sao? Nói nhỏ nhỏ thôi.
Với gương mặt tỉnh rụi Vinh nói.
-Chuyện này thiên hạ đồn rùm beng ai cũng nghe, chỉ có anh là không biết thôi. Mà nè chuyện chưa hết đâu, sau đó khoảng cuối tháng mười năm 78, thêm chiếc tàu Hải Hồng chở hơn hai ngàn năm trăm người, cũng là người Việt gốc Hoa, từ đồng bằng sông Cửu Long đi Indo hay Mã Lai gì đó. Mỗi người nộp mười sáu cây, chủ tàu bốn, nhà nước mười hai.
Vinh chắt lưỡi.
-Anh biết không, mười hai cây nghe thì ít nhưng nó nặng gần nửa kí lô. Nói cho gọn, một mạng người đổi lấy nửa kí vàng. Chủ tịch đảng hay Thủ tướng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nuốt gọn hơn một tấn vàng mà không bị mắc nghẹn. Ăn chừng đó vàng mà mấy ổng cũng không thấy no, sau đó lại có hàng trăm chiếc tàu Hải Hồng khác tiếp tục ra đi, mỗi chiếc chở theo năm, sáu trăm người, mỗi người lại đóng cho nhà nước nửa kí vàng.
Tôi ngạc nhiên quá sức.
-Đếm đầu người đổi lấy vàng, như vậy là buôn người rồi chớ còn gì nữa.
-Buôn hay bán gì thì tôi hoàn toàn không biết, nhưng đó là tin tức của đài BBC nói, dựa theo lời khai của những người đi trên tàu cặp bến Mã Lai. Phần tin tức này chính tai tôi nghe không bỏ sót một chữ.
Tôi hỏi thăm dò Vinh.
-Tôi với anh mới quen nhau, những chuyện bí mật như vậy anh đem kể cho tôi nghe, bộ anh không sợ tôi là công an chìm hay sao?
Với vẻ mặt đầy tự tin, Vinh máy nổ thản nhiên nói.
-Sợ mẹ gì. Hỏi nhỏ thôi, trước năm bảy lăm anh là lính Ngụy phải không?
Tôi lưỡng lự.
-Đúng.
Vinh cười với vẻ mặt hãnh diện.
-Tôi đoán có sai đâu. Cùng phe mà, đánh bài lật ngữa luôn nghe, không giấu giếm gì hết, tôi là trung sĩ nhất Liên đoàn tám mốt Biệt Kích Dù, tốt nghiệp Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Còn anh bạn?
Tôi nói.
-Anh lật bài, tôi cũng lật luôn. Trung úy Nguyễn trọng Quân, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Nhìn tôi với ánh mắt tựa như còn nghi ngờ. -Sĩ quan Ngụy đang còn học tập mút mùa ở Miền Bắc, xuân thu nhị kỳ mới thả một ông quan bịnh hoạn sắp chết về, nói là đã học tập tốt, nên được nhà nước khoan hồng nhân đạo cho về đoàn tụ với gia đình. Có ông quan nào mà lang thang ở đây được, cha nội đừng có bày đặt hù tôi à nghen.
Hình minh họa
Không chần chừ tôi móc trong túi quần, lấy cái bằng tốt nghiệp của Tổng trại 8 tù binh Sông Mao được bọc plastic cẩn thận, đưa cho Vinh máy nổ.
Coi xong tờ giấy, thái độ của Vinh hơi thay đổi, giọng nói của hắn có phần xúc động.
-Hết đường bin rồi hay sao mà ông thầy phải đem thân đạp xích lô?
Không trả lời Vinh, tôi phân trần.
-Tôi với anh trước bảy lăm không quen biết, không cùng đơn vị, anh gọi tôi là ông thầy khiến tôi thêm xấu hổ.
Vinh máy nổ giải bày.
-Trước bảy lăm khi tôi ra trường, mang cái lon trung sĩ còn mới tinh về trình diện Tám mươi mốt Biệt Kích Dù. Ông thầy của tôi đã dìu dắt, hướng dẫn, nâng đỡ, đưa tôi vượt qua mọi gian lao nguy hiểm, trong những ngày đầu binh nghiệp nơi chiến trường. Ông ấy là trung úy tốt nghiệp Trường Võ Bị Đà Lạt. Giống hệt như ông.
Tôi biết là Vinh máy nổ đã hiểu lầm, hắn tưởng tôi là dân Võ Bị Đà Lạt. Trước năm 1975, nếu có ai tưởng lầm như vậy, tôi không đính chính mà còn nhận luôn. Bây giờ tuổi đã khá lớn, đã biết suy nghĩ chín chắn thì đâu phải ra đó, ngô ra ngô, khoai ra khoai. Không muốn nói dối với người không biết. Tôi xác nhận với Vinh.
-Tôi là trung úy tốt nghiệp Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, được thuyên chuyển về phục vụ tại Trường Võ Bị Đà Lạt, khác xa với ông thầy của anh là sĩ quan hiện dịch, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Cùng là trung úy, nhưng tôi không thể nào sánh với ông thầy của anh được đâu.
Tôi ngồi xích lại gần Vinh.
-Tôi năm nay ba mươi, còn anh?
-Hai mươi tám.
Tôi nói.
-Gọi tôi bằng anh là tôi mừng lắm rồi.
Vinh máy nổ gật đầu, hắn nhỏ giọng.
-Không biết thì thôi, giờ đã quen nhau rồi, tôi muốn nói với anh Quân một chuyện quan trọng, tụi này có tổ chức một chuyến vượt biên, định qua Tết khi trời yên bể lặng là đánh. Tất cả mọi thứ hầu như đã chuẩn bị đầy đủ, chỉ thiếu cái hải bàn, anh đạp xích lô đi nhiều nơi, đến nhiều chỗ, cố dò hỏi mua giùm tôi cái hải bàn. Giá nào cũng phải mua.
Tôi lập lại lời Vinh.
-Giá nào cũng phải mua? Nếu tìm được tôi chỉ cần đổi lấy ba chỗ trên tàu, anh đồng ý không?
-Anh cứ tìm đi, chuyện này để tôi bàn với ông chủ tàu rồi cho anh biết sau.
Tôi xin Vinh một miếng giấy và cây bút, viết địa chỉ của tôi ở Tân Định rồi trao cho Vinh.
-Tất cả mọi việc đều nhờ anh, có tin tức gì nhớ báo cho tôi biết.
Trước khi chia tay, tôi uống một ngụm cà phê đậm màu xác cau, cất tiếng gọi chủ quán tính tiền.
Vinh máy nổ khoát tay.
-Chuyện của anh là lo đi tìm cái hải bàn, ba cái thứ lẻ tẻ vụn vặt này, để tôi.
Kể từ đó, cứ dăm ba ngày là tôi ghé thăm Vinh máy nổ. Khi thì kéo ra quán kiếm chút cà phê, lúc thì ngồi tại nhà Vinh uống ly trà đá, bàn chuyện vượt biên. Tình thân giữa tôi và Vinh mỗi lúc một sâu đậm, gần như có thể tin tưởng lẫn nhau hoàn toàn.
Một hôm tôi ngồi ở nhà Vinh máy nổ uống trà, nhân lúc trà dư tửu hậu, tôi mới có ý nhờ Vinh máy nổ.
-Anh Vinh nè, tôi có chuyện muốn nhờ anh.
-Chuyện gì vậy?
-Trước khi nhờ, tôi phải kể rõ cho anh nghe về hoàn cảnh gia đình của tôi. Vợ tôi là dân Sài Gòn, anh có nghe tên ông Bảy Ấn bao giờ chưa?
Hình minh họa
Vinh nhíu mày.
-Có phải ông ấy là ông vua nhà cửa ở Sài Gòn, trước năm bảy lăm không?
Tôi vội vàng nói.
-Đúng vậy.
Vinh hỏi.
-Anh nhắc tới ông già đó làm gì? Nghe đâu là ông ấy chạy đi Mỹ lâu rồi mà.
-Tôi phải nhắc bởi vì ông ấy chính là ba vợ của tôi.
Vinh trợn mắt.
-Anh em bạn với nhau lâu nay, biết nhau khá nhiều, khá thân thiết, sao anh cứ hù tôi hoài vậy.
Không cần phải vòng vo Tam Quốc nữa, tôi rù rì kể cho Vinh máy nổ nghe mọi chuyện kể từ tháng tư năm bảy lăm, lúc tôi và Cúc bị đuổi ra khỏi căn biệt thự ở đường Công Lý, đến lần đánh tư sản mại bản đợt hai hay ba gì đó. Tất cả tiền bạc tài sản của chúng tôi đều bị mất sạch, cuối cùng phải lưu lạc đến Tân Định sống, vợ tôi bán bánh căn, còn tôi đạp xích lô như anh biết.
Nghe xong chuyện, Vinh bùi ngùi.
-Tôi làm gì giúp anh được?
-Nhờ anh giới thiệu vợ chồng tôi với chủ tàu, chúng tôi muốn thương lượng với ông ta cho vợ chồng tôi đi, khi đến Mỹ sẽ trả tiền sau. Thú thật với anh, hiện tại ở Việt Nam này, gia tài của vợ chồng tôi chỉ có một lượng vàng, tiền bán cái máy Yanmar, cái máy này anh đã thấy rồi.
Vinh tiếp lời tôi.
-Biết, biết mà.
Tôi tiếp tục câu chuyện.
Tất cả tiền bạc của vợ tôi hiện còn ở ngân hàng ngoại quốc, số tiền này nhiều đến nỗi dám làm nghiêng nhà băng như không.
Vinh cười với giọng đầy khoái trá, hắn khen tôi.
-Anh cũng biết giỡn đó.
Tôi nói.
-Không có giỡn đâu, với chừng đó tiền, vợ chồng tôi trả cho chủ tàu một, hai chục cây, coi như mấy đồng tiền lẻ bị đánh rơi. Hơn nữa chủ tàu muốn đem theo chút tiền qua Mỹ sống, phải giấu giếm chỗ này chỗ nọ. Cho vợ chồng tôi đi theo, khỏe re, để vàng sờ sờ trước mắt mà không ai biết được. Chuyện quan trọng là anh Vinh tin lời tôi nói được bao nhiêu phần trăm.
Vinh nói.
-Tin anh thì tôi tin rồi, còn chủ tàu có chịu hay không lại là chuyện khác.
Tôi giải thích với Vinh máy nổ.
-Sở dĩ tôi phải thương lượng với chủ tàu, vì tôi đã lùng kiếm khắp cả Sài Gòn mà không thấy tông tích bất cứ cái hải bàn nào hết. Thời buổi này, tìm cho được cái hải bàn của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, còn khó hơn chuyện hái sao trên trời, mò kim đáy biển. Con đường duy nhất để vợ chồng tôi có thể đặt chân lên tàu vượt biên, là xin đi với điều kiện qua Mỹ sẽ trả tiền sau.
Vinh nâng ly trà ực một hơi.
-Yên chí đi, khi gặp chủ tàu tôi sẽ đem chuyện này bàn với ông ta. Còn được hay không thì tôi không biết.
Với tờ giấy phép đi lại của công an thành phố Lâm Đồng, vợ chồng tôi và chị Hai, sau một ngày xếp hàng rồng rắn, chầu chực ở bến xe gần ấp Ánh Sáng, cuối cùng chúng tôi cũng mua được 3 tấm vé đi Sài Gòn.
Chị Hai là người đứng chủ hộ khẩu của căn nhà ở Tân Định, chúng tôi đến gặp tên công an khu vực xin ghép thêm tên Cúc, tôi và Hương con gái của tôi vào. Ngày xưa thì miếng trầu đầu câu chuyện, hôm nay đất nước đã giải phóng rồi, tùy theo tầm mức quan trọng hay không của vấn đề mà miếng trầu sẽ to hay nhỏ, nhiều hay ít, chị Hai ôm theo cây thuốc lá Samit của Thái Lan, gói gọn trong bao giấy để làm lễ ra mắt. Gã công an khu vực tươi cười chuyện trò với chúng tôi, trong khi tay của hắn nhét lẹ cây thuốc vào hộc bàn. Sau màn thẩm vấn, điều tra lý lịch của tôi và Cúc kỹ càng thêm sự liên hệ chị em họ giữa Cúc và chị Hai, gã công an khu vực cho giá.
-Một cây.
Chị Hai than.
-Thưa anh sao nhiều dữ thần vậy, chỉ là chuyển hộ khẩu thôi mà.
Gã công an điềm nhiên nói.
-Đường Hai bà Trưng ở Thành phố Hồ chí Minh, bên này thuộc quận Một, bên kia thuộc quận Ba, cách nhau chỉ hơn chục thước. Chuyển hộ khẩu từ quận Một qua quận Ba cũng hết năm chỉ rồi, gia đình chị từ Đà Lạt về đến đây, xa lắc xa lơ, đường sá xa xôi tới ba trăm cây số lận, ngồi xe đò hết một ngày mới tới. Lấy một cây là rẻ quá rồi, còn kèo nài cái nỗi gì.
Chị Hai xuống giọng năn nỉ.
-Xin anh bớt cho gia đình chúng tôi chút ít, được không?
Gã công an lắc đầu nguây nguẩy.
-Đó là cái giá theo quy định ngầm ở trên, tôi không thể nào thay đổi được.
Tôi nhìn Cúc mà ngán ngẩm cho số tiền quá lớn phải chi ra. Chỉ viết thêm ba cái tên vào sổ hộ khẩu mà phải tốn chừng ấy. Đây quả thật là việc làm của một chính quyền vô đạo, lúc nào cũng tự xưng là vì dân vì nước mà thực chất là một lũ cướp cạn, bóc lột tận xương tủy của người dân.
Tháng 3 năm 1979, gia đình tôi di chuyển về Sài Gòn, sống trong căn nhà nhỏ của chị Hai bên Tân Định. Chuyện di dời chỗ ở cũng có một vài trục trặc nho nhỏ xảy ra, không theo đúng như ý mình. Chẳng hạn như tiền bán cái máy bơm nước Yanmar là hai cây, tôi phải trả cho người môi giới hết một chỉ. Bù lại đường ống dẫn nước bằng sắt từ chỗ đặt máy bơm lên đến vườn rau dài hàng trăm mét, tôi bán được hai chỉ. Riêng miếng đất vườn vì ông nhà nước đang tính chuyện bắt mọi người phải vô hợp tác xã, nên tôi bán đất mà không có ai mua, đành để đó giao cho trời đất trông coi.
Ngày mà chúng tôi dọn vào căn nhà của chị Hai ở con hẻm nơi Tân Định, ngay tối hôm đó, nhân có buổi họp tổ dân phố, gã công an khu vực, đưa gia đình tôi lên giới thiệu với mọi người trong tổ. Sau đó hắn long trọng trao cuốn sổ hộ khẩu gồm có tên của chị Hai là chủ hộ, kế đó là tên Cúc, tôi và con gái của chúng tôi, tổng cộng là có tất cả là bốn người trong hộ.
Xong xuôi mọi việc, gã công an khu vực ra về, ngày hôm sau hắn mới đến nhà tôi lấy tiền. Sở dĩ gã công an làm việc xong rồi mới nhận vàng sau mà không sợ bị quỵt, vì thân phận của người dân chạy lo chuyển hộ khẩu như gia đình tôi, giống hệt con cá nằm trên thớt. Quỵt tiền công an khác nào đi giựt tiền của thằng ăn cướp, nó bắt cả gia đình cho đi tù mọt gông, đánh cho lòi tiền ra mới thôi.
Hình minh họa
Sau đợt đổi tiền ngày 3 tháng 5 năm 1978, đồng tiền mới có mệnh giá khá cao do nhà nước ấn định. Vào thời điểm đó 1800 đồng tiền mới sẽ mua được một lượng vàng. Tuy nhiên tiền được in ra không có vàng bạc, Mỹ kim hay một nền kinh tế vững chắc để bảo chứng, nên đối với thế giới bên ngoài, đồng tiền của Cộng Sản phát hành, không khác gì tờ giấy lộn. Trong nước niềm tin của dân chúng đối với đồng tiền còn tệ hơn, người ta chỉ giữ một số tiền rất ít ở trong nhà, đủ tiêu dùng hàng ngày. Chỉ có vàng là có giá trị tuyệt đối, tất cả mọi việc từ giao dịch làm ăn đến buôn bán đổi chác, đều dùng vàng làm căn bản. Gã công an đòi tôi trả đúng một lượng vàng mà phải là vàng lá Kim Thành mới được, bởi vì chính anh ta cũng không tin vào giá trị đồng tiền của nhà nước.
Vô được căn nhà ở con hẻm Tân Định, xong xuôi chuyện hộ khẩu, gia tài vốn liếng của tôi và Cúc còn đúng một lượng vàng. Đối với tôi, lúc này lượng vàng mà chúng tôi hiện có là cả một gia tài khổng lồ mà tôi phải cất giữ kỹ càng, sau này sẽ dùng nó để vượt biên. Cho dù có chết đói chúng tôi cũng phải chịu, quyết không được đụng đến số vàng này. Vì nghĩ như vậy nên tôi bàn với Cúc, là phải đem vàng chôn giấu dưới nền gạch hoa trong nhà bếp.
Cúc với giọng nói không được vui.
-Tụi mình quả thật là ngây thơ, để mất bò mới lo làm chuồng.
Tôi thở dài rồi than.
-Phải chi mình làm cái chuồng bò sớm hơn thì đỡ biết mấy.
Hình như không muốn nhắc đến chuyện buồn, Cúc chuyển đề tài.
-Mình phải tìm cách lo làm ăn, kiếm tiền để sống, ngồi không sẽ chết đói hết.
Tôi nói với Cúc.
-Mấy ngày nữa anh sắm vài món đồ nghề, ra góc đường đầu hẻm ngồi vá xe đạp.
Cúc nhìn tôi ra chiều thương hại.
-Anh làm có được không?
Tôi mạnh dạn trả lời.
-Đó là nghề của anh mà, ngày xưa khi còn đi học ở bậc trung học, vì nhà quá nghèo nên anh phải tự sửa xe, vá xe, tiết kiệm đồng nào hay đồng nấy. Hơn nữa thời bấy giờ tại Đà Lạt, chỉ hai tiệm bán và sửa xe đạp là tiệm Công Thành và tiệm Tân Tiến. Hai tiệm này nằm đối diện nhau trên đường Phan đình Phùng, cách quán mì quảng ở hẻm Ngọc Hiệp khoảng chừng ba trăm mét. Xe đạp của anh nếu bị cán đinh, lủng ruột ở đâu, anh phải tự vá lấy không thể dẫn bộ hàng vài ba cây số đến hai cửa tiệm trên để vá xe. Ngoài ra, anh cũng biết sửa chữa những hư hỏng lặt vặt của xe đạp từ hồi đó, bây giờ bất đắc dĩ, dùng nó làm kế sinh nhai chắc cũng có thể được. Phần việc của anh sẽ như vậy, còn em làm gì?
Cúc nói mà như đã có tiên liệu sẵn trong đầu.
-Em với chị Hai sẽ ra đầu hẻm bán bánh căn cho dân trong xóm. Cả ba người cùng đi làm, hy vọng sẽ nuôi được thân và con, không bị chết đói. Có điều này em muốn nhờ anh, tối đến khi về nhà anh giúp em xay bột, được không?
-Được quá đi chứ mình đã giao hẹn rồi, cố gắng bươn chải kiếm cơm chờ cơ hội vượt biên. Anh chỉ hơi ngại một điều, thời buổi gạo châu củi quế, người dân cả nước ăn độn bo bo, một loại thực phẩm mà các nước khác chỉ dành để nuôi súc vật. Hiện tại giá một kí gạo chợ đen là mười đồng, vàng thì một trăm tám mươi đồng một chỉ, tính ra, một chỉ vàng mua được có mười tám kí gạo. Anh so sánh như vậy để em thấy, gạo đắt như vàng. Bánh căn được làm từ gạo, đem xay thành bột. Như vậy bánh căn là một món ăn của giới nhà giàu, người dân lao động sống trong con hẻm của mình lấy tiền đâu mà ăn bánh căn?
Cúc với giọng nói bình thản.
Hình minh họa
-Vì anh là người Miền Trung sống trên cao nguyên, nơi mà cuộc sống vốn đã khó khăn từ xưa, nên anh mới có lối suy luận như vậy. Anh à, hiện tại mình đang sống ở Sài Gòn mà, người dân ở đây suy nghĩ và tiêu pha không giống như những nơi khác. Cả tuần nhịn đói ăn độn bo bo, nhưng nếu họ có chút tiền là kéo nhau đi ăn tiệm. Giờ này không còn nhà hàng nữa, thì chỗ bán bánh căn bên lề đường của em, sẽ là quán ăn lý tưởng cho mọi người.
Tuy không đồng ý, nhưng tôi phải thừa nhận là Cúc có lý phần nào.
-Anh hy vọng em nói đúng. Nếu vậy thì mình phải thử thời vận một lần.
Cúc tươi cười nói.
-Ngày mai em với chị Hai sẽ đi chợ mua thêm một ít đồ dùng lặt vặt, tất cả mọi thứ khác hầu như đã có đủ. Trước đây sau ngày ba mươi tháng tư, chị Hai đã bán bánh căn ở con hẻm của nhà mình rồi.
Phần tôi, tôi bắt đầu hành nghề sửa xe đạp, đúng ra là vá bánh xe đạp bị lủng ruột thì đúng hơn.
Ngày đầu tiên, vác đồ nghề ra một gốc cây ở đầu đường, tôi đóng tấm giấy bìa cứng với hàng chữ “Vá xe đạp” lên thân cây, đặt đồ nghề xuống rồi ngồi đợi. Tôi ngồi từ sáng tới trưa, nắng Sài Gòn nóng cháy da, mồ hôi ướt dầm cái áo sơ mi cũ, uống cả lít nước mà vẫn không hết khát. Cuối cùng sự chờ đợi của tôi cũng có kết quả. Người khách đầu tiên là một ông cụ khoảng 60 tuổi, nhìn chiếc xe của ông, tôi nghĩ thầm không biết ở cái đất Sài Gòn này còn có chiếc xe nào bệ rạc, xập xệ như chiếc xe này không. Vá xong hai cái lỗ do cán phải đinh, cầm 1 đồng của ông cụ, tôi ngập ngừng không biết xử trí ra sao cho phải đạo. Lấy đồng bạc của ông cụ thật lòng tôi không nỡ, không lấy thì đói rã họng. Sau một hồi do dự, tôi đưa lại tiền cho ông cụ rồi nói.
-Người ta vá cái ruột xe, chỉ chừng năm, mười phút, con làm tới cả hơn nửa giờ, vậy mà bác vẫn kiên nhẫn ngồi chờ, không một lời phiền trách. Lần này con không lấy tiền bác đâu, để lần sau đi.
Ông cụ hấp háy đôi mắt.
-Hình như cậu mới ra nghề, phải không?
-Dạ phải.
Ông cụ nhét tờ giấy bạc vào tay tôi.
-Cố gắng lên, dăm ba bữa, nửa tháng sẽ quen tay thôi mà.
Những ngày sau đó, chuyện làm ăn của tôi vẫn ì ạch một chỗ, không khá lên chút nào. Có ngày sáng vác đồ nghề đi tối vác về, không kiếm được đồng xu cắc bạc nào hết. Tiền vào thì không có nhưng đến trưa vẫn phải ăn, một chén rưỡi cơm là tiêu chuẩn của tù cải tạo, được tôi đem áp dụng cho cái nhà tù lớn mà tôi đang sống.
Không như lời khuyên của ông cụ đã cho tôi đồng bạc tuần trước. Tôi hành nghề chưa được nửa tháng, chưa quen tay đã muốn bỏ nghề tìm việc khác với lý do là không có khách. Tôi vá xe đạp mà suốt ngày chỉ có một việc ngóng cổ chờ khách, nhìn xe cộ chạy qua rồi chạy lại trước mặt mà phát chán. Buồn đời tôi ngồi dựa lưng vào gốc cây, trùm cái nón vải rộng vành cũ mèm lên mặt, rồi thả hồn đi về miền quá khứ vàng son một thuở. Tôi nhớ lại từ lúc còn nhỏ xíu, ngày này qua ngày khác đạp xe đi học, cuối tuần cùng Nhân đầu bạc rủ thêm vài thằng bạn nữa đi tắm ở Hồ Xuân Hương. Vì hồ nằm ngay trung tâm thành phố nên có lệnh cấm tắm. Cấm thì cấm, lũ nhỏ chúng tôi kéo nhau đạp xe đến cuối hồ, qua ngã rẽ lên Trung tâm Nguyên Tử Lực, gần đó có cây cầu sắt đen sì bắt ngang con suối dẫn vào hồ, tại đây chúng tôi mặc sức bơi lội mà không có gì phải lo lắng. Lúc nhỏ tin lời Nhân, tôi bắt con chuồn chuồn voi to bằng ngón tay út, cho nó cắn rốn, tuy đau gần chết, nhưng nhờ vậy mà sau hai tuần tôi đã biết bơi. Thêm vài tháng nữa, tôi đã bơi nhanh như rái. Tôi đã cùng với mấy đứa bạn bơi cùng khắp nửa Hồ Xuân Hương, từ vườn Bích Câu tới cầu sắt. Cho tới bây giờ dù ai nói gì cũng mặc kệ, tôi vẫn tin rằng nhờ cho chuồn chuồn cắn rốn mà tôi biết bơi, và bơi giỏi nữa là khác.
Đang mơ mơ màng màng, tôi chợt giật mình tỉnh mộng.
-Ngủ hả?
Hình minh họa
Giọng nói sang sảng của ai đó kéo tôi về với thực tại. Ngước mặt nhìn lên, trước mắt tôi một ông già trạc ngoài 50, quần cụt áo cộc, nước da ngăm đen đang ngồi chễm chệ trên yên chiếc xích lô đạp. Đưa tay chỉ vào bánh xe, ông ta nói.
-Bơm xe coi mày.
Tôi lật đật chụp cái ống bơm, lẹ làng gắn vào cái van bằng sắt nơi bánh xe. Sau chừng hơn chục cái bơm dầu như thời còn là Sinh viên sĩ quan ở Thủ Đức bị huynh trưởng phạt. Khi ước chừng đã đủ hơi, tôi lấy cái cán búa gõ mạnh vào bánh xe để thử độ căng.
-Xong rồi chú.
Ông đạp xích lô móc túi đưa cho tôi một đồng.
Tôi từ chối.
-Thưa chú, bơm xe không có tính tiền.
-Giỡn hoài mày, có làm phải có ăn, những chỗ vá xe đạp, người ta bơm bánh xe đều có tính tiền. Tao đưa mày một đồng, được không?
Tôi nhìn kỹ mặt ông đạp xích lô, đúng là dân Sài Gòn, nghèo nhưng mà tính tình cởi mở, rộng rãi và đầy hào sảng.
-Cảm ơn chú.
-Ơn với nghĩa gì. Mày không biết tao nhưng tao biết gia đình mày.
Bị ám ảnh thường xuyên bởi cái bất an trong chế độ Cộng Sản, lúc nào cũng sợ bóng sợ gió, tôi đang cố đoán coi ông già này là ai, tại sao lại biết mình.
Thấy tôi ngẩn người không nói gì, ông đạp xích lô nói.
-Đâu chừng hai tuần trước, khi thằng công an khu vực đưa gia đình mày trình diện trước tổ dân phố, hôm đó tao có đi họp nên biết mày.
Tôi thở phào nhẹ nhõm.
-Bữa đó đông người quá, nên con không biết ai là ai.
-Nhìn mày, mặt mũi coi cũng sáng sủa, tướng tá cũng tạm được, tao tưởng mày về con hẻm đó để làm vương làm tướng gì. Ai ngờ lại đi vá xe đạp. Hỏi thiệt nè, làm ăn có được không?
-Thưa chú đói gần chết, cả tuần mà kiếm chỉ được mấy đồng.
-Vậy sao? Bỏ mẹ nó đi, theo tao đạp xích lô, nghề này coi vậy mà cũng dễ thở.
Tôi phân trần với ông.
-Con không có tiền thế chưn để mướn xe, cũng như không có người giới thiệu.
Trầm ngâm một lúc, ông đạp xích lô nói.
-Chiếc xe này của tao, tao chỉ đạp ban ngày, tối đến nếu mày muốn, tao sẽ cho mày mướn.
-Thưa chú, con chưa có kinh nghiệm, chỉ sợ chạy không đủ sở hụi đóng cho chú.
-Ê, mày đừng có lo, làm được nhiều đưa nhiều, làm ít đưa ít, không có khách thì khỏi trả tiền mướn xe cũng được.
Thấy điều kiện cho mướn xe quá dễ dãi, tôi hỏi.
-Thiệt không chú?
-Bộ tao giỡn với mày hả? Làm ăn chứ đâu phải ngồi lê ngồi lết ngoài quán nhậu, muốn nói gì cũng được. Tao nói một là một, tin tao đi. Mà nè nói cho mày biết, đạp xích lô dù gì kiếm tiền cũng khá hơn nghề vá xe đạp của mày, suốt ngày chỉ biết ôm gốc cây, ngủ gà ngủ gật, chẳng làm được cái con mẹ gì hết.
Tôi nói to.
-Cảm ơn chú, nếu được như vậy thì con làm liền.
-Quên cái chữ cảm ơn đi, vợ chồng mày coi bộ cũng có học hành đàng hoàng, mà sao giờ này lại trôi giạt đến đây. Cỡ tuổi mày có đánh chết ngày xưa cũng là lính Ngụy, phải không?
Hình minh họa
Trước câu hỏi khá bất ngờ của ông đạp xích lô, tôi ú ớ không nói nên lời, che giấu lý lịch hay là khai thiệt. Đang còn phân vân, tôi chợt nghe ông đạp xích lô tiếp luôn.
-Tao đạp xích lô mấy chục năm rồi, từ trào ông Diệm qua ông Thiệu cho đến bây giờ, không có dính líu gì đến Cộng Sản. Mày đừng có lo.
Yên tâm được phần nào, tôi nói.
-Thưa chú, con là lính Ngụy, cảm ơn chú đã có lòng giúp đỡ.
-Nữa, mày lại nói chuyện ơn với nghĩa, giúp người sa cơ thất thế là chuyện phải làm. Mày bỏ hết đồ nghề lên xe, tao chở đi một vòng, chỉ dạy mày mọi ngóc ngách trong nghề.
Đang lui cui lo thu dọn, tôi nghe ông đạp xích lô nói thêm.
-Tao thứ tư, vì đạp xích lô kỳ cựu nên dân trong xóm hẻm của mình gọi tao là ông Tư xích lô. Còn mày tên gì?
-Thưa chú, Quân.
-Có chuyện quan trọng mà lúc nãy tao quên nói với mày. Tao đạp xe có năm ngày trong tuần thôi, thứ bảy, chủ nhật, tao nghỉ. Hai ngày đó, nếu muốn mày có thể lấy xe chạy luôn.
Tôi hỏi ông Tư.
-Tại sao ông nghỉ hai ngày vậy.
-Mày hỏi hơi lạ, trâu bò đi cày cũng phải cho nó nghỉ ngơi. Hỏi như vậy, hèn gì mày ngồi vá xe là phải rồi.
Ông Tư chở tôi đi loanh quanh khu chợ Tân Định, chỉ mấy chỗ mà ông thường đậu xe chờ khách, rồi nói.
-Tao sẽ căn dặn cái đám đồng nghiệp của tao giúp đỡ cho mày. Phần mày, nhớ nói mày là con nuôi của ông Tư xích lô. Nếu không bọn xích lô ở đây, lại tưởng mày là thằng trôi sông lạc chợ ở đâu đến giành mối, tụi nó đục cho mà giập mật như không.
Nhờ trời giúp, tôi bỗng dưng trở thành dân đạp xích lô ngon lành. Tất cả mọi chuyện đến với tôi một cách tốt đẹp, đẹp như mơ.
Từ ngày tôi hành nghề đạp xích lô, tiền bạc vô khá là đều đặn, đủ tiền mua gạo cho bốn người trong nhà, tiền thực phẩm thì Cúc và chị Hai lo. Từ đó cuộc sống vật chất của gia đình tôi tạm ổn định, không còn phải lo lắng nhiều. Thêm một điểm lợi mà tôi không ngờ tới, nhờ đạp xích lô rong ruổi nhiều nơi, tôi nghe ngóng được nhiều tin tức về chuyện vượt biên. Từ chuyện ở Miền Tây, người ta vượt biên chỉ tốn vài chỉ vàng, đến chuyện người Hoa đi đăng ký bán chính thức, mỗi người đóng cho nhà nước 12 cây. Nói chung tất cả mọi tỉnh ven biển, người ta rủ nhau vượt biên hà rầm. Đi thoát cũng nhiều, chìm tàu vì gặp dông tố bão bùng cũng lắm, bị hải tặc Thái Lan cướp bóc hãm hiếp cũng bộn. Và quan trọng nhất là bị công an Việt Nam bắt bỏ tù cũng khẳm.
Tất cả tin tức mà tôi thu thập được, đưa đến cho tôi một kết luận: Nếu chịu khó về sống ở Cà Mau hoặc những tỉnh lẻ xa Sài Gòn, chuyện một người dân chỉ cần chung góp vài chỉ vàng là có thể vượt biên được rồi. Và, tôi tin đó là sự thật.
Sau mấy tháng đạp xích lô, tôi đã thuộc khá nhiều con đường của Sài Gòn, không còn bỡ ngỡ như những ngày đầu, phải nhờ khách chỉ đường cho mình đạp xe. Có một chuyện mà tôi vẫn giấu kín trong lòng không nói với ai, đó là lần tôi đạp xe chở khách đi dọc theo đường Công Lý, nay đã đổi tên thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Khi về ngang qua con đường Nguyễn minh Chiếu ở Phú Nhuận, lòng tôi bỗng dưng bồi hồi xúc động một cách lạ thường. Tôi đạp xe men theo con đường này, đạp xe mà như sống trong mơ, nhà cửa hai bên đường vẫn như xưa, không có gì thay đổi. Hình ảnh của chính tôi với bộ tiểu lễ của Trường Bộ Binh Thủ Đức, ngồi bên cạnh Dung trong chiếc taxi nhỏ xíu, mùi thơm của nước hoa mà Dung dùng vẫn còn lẩn quẩn đâu đây. Rồi cũng chính hình ảnh của tôi khi về Sài Gòn học khóa Đại đội trưởng, trong bộ quân phục lính tác chiến, với huy hiệu của Trường Võ Bị Đà Lạt may bên tay áo trái, thêm hai cái bông mai vàng trên cổ áo. Dung với chiếc áo dài lụa màu vàng mỡ gà, ôm gọn lấy thân hình đầy đặn của nàng.Chúng tôi rong chơi khắp Sài Gòn trên chiếc xe Honda hai bánh của Dung. Không biết đó có phải là những ngày hạnh phúc nhất trong đời hay không, mà khi nhớ đến tôi lại thấy mọi chuyện hiện ra rõ mồn một trước mắt.
Hình minh họa
Tôi dừng xe trước nhà có hai cây vú sữa, mà không hiểu bằng cách nào tôi có thể đến đây được. Căn nhà vẫn vậy, vẫn như xưa nhưng sao tôi thấy có cái gì đó hơi là lạ. Sau một lúc tìm tòi lục lọi trong ký ức, tôi mới nhận ra căn nhà bây giờ chỉ còn có một cây vú sữa, cây kia đã bị cưa mất tự lúc nào. Chuyện cũng phải thôi, ruộng dâu còn biến thành biển cả, tôi và Dung người đi kẻ ở, thì hai cây vú sữa chỉ còn một là phải rồi.
Một người đàn bà mở cửa nhìn tôi rồi hỏi.
-Ông tìm ai?
Nhìn người đàn bà, tôi biết bà ta là ai rồi, và mong rằng bà ta cũng nhận ra tôi. Đợi cả phút mà không thấy tôi nói gì, người đàn bà quay lưng đi vô nhà miệng thì nói.
-Cái đồ mất nết.
Tôi lật đật gọi giật lại.
-Chị Lành.
Người đàn bà quay lại thật nhanh, nhìn tôi một lúc rồi hỏi.
-Sao ông biết tên tôi?
-Chị không nhớ tôi sao? Tôi là Quân đây mà.
Người đàn bà mở to đôi mắt nhìn tôi một lúc rồi la to.
-Cậu Quân phải không, mới có mấy năm mà sao cậu thay đổi nhiều quá vậy. Nếu cậu không nói, chắc tôi không nhận ra cậu, cứ tưởng là ông đạp xích lô đang đợi đón khách. Mời cậu vô nhà uống nước, thật là may mắn tôi có nhiều chuyện muốn nói với cậu.
Đang còn lấn cấn với chiếc xích lô, tôi chưa biết phải làm gì thì chị Lành đã nói.
-Đem xe vô sân, tôi sẽ khóa cổng lại là an toàn.
Chị Lành pha cho tôi một ly trà nóng.
-Sĩ quan Ngụy học tập được thả về đếm trên đầu ngón tay, cậu về được bao lâu rồi?
-Cũng hơn hai năm.
-Dữ ác hông, vậy mà hôm nay mới tới đây. Tôi mong được gặp cậu, bởi vì có một lá thư của cô Dung gởi cho cậu.
Vì nóng lòng muốn biết trong thư nói gì, tôi vội vàng hỏi chị Lành.
-Dung nói gì vậy chị?
-Cậu cứ từ từ uống nước đi, tôi vào trong lấy thư cho cậu.
Nhìn nét chữ của Dung, tôi thật sự xúc động tưởng như mình bị ngộp thở. Để trấn áp sóng gió trong lòng, tôi cố lấy bình tĩnh hớp một ngụm trà. Bức thư viết từ tháng 7 năm 78.
Anh yêu,
Em đang ở California với ba má. Mọi chuyện đều tốt đẹp. Chỉ thiếu anh nên em cảm thấy cuộc đời như vô nghĩa, cho dù là em đang ở Mỹ. Ở đây em có theo dõi tin tức Việt Nam, và biết rằng tất cả sĩ quan Ngụy đều được nhà nước khoan hồng nhân đạo, cho đi học tập cải tạo. Em hiện đang đi học lại và sẽ chờ anh, chờ mãi cho đến khi mình gặp lại nhau.
Em chỉ viết ngắn gọn vì đường bưu điện giữa Mỹ và Việt Nam, hình như chưa được thiết lập bình thường. Nếu nhận được thư này, anh nhớ trả lời cho em liền nghe. Địa chỉ của em ghi ngoài phong bì.
Thương anh rất nhiều, nhớ anh còn nhiều hơn nữa.
Em, Dung.
Đọc xong bức thư, tôi ngồi thừ người ra như kẻ mất hồn. Được một lúc, tôi thẫn thờ nhét lá thư vào túi quần, đi ra sân.
Chị Lành mở cổng đứng nép qua một bên, nhường đường cho tôi đẩy chiếc xe xích lô ra. Không chào không nói, tôi đạp xe đi thẳng về nhà.
Tới đầu con hẻm, tôi thấy Cúc vẫn chưa về, đang ngồi bên lò đúc bánh căn, bu quanh là ba người đàn bà và hai đứa con nít, họ đang say sưa thưởng thức mấy cái bánh căn một cách ngon lành, đầy nhiệt tình.
Hình minh họa
Thấy tôi Cúc vui mừng nói lớn.
-Anh ngồi đây coi hàng giúp em một chút, em về nhà lấy thêm bột rồi ra liền.
Tôi ngồi bệt xuống cái đòn bằng gỗ nhỏ xíu, múc một ít nước mắm ngọt đã pha sẵn đựng trong cái thẩu bằng thủy tinh, đổ vào chén, thêm một muỗng tương ớt rồi thản nhiên bốc một cái bánh chấm nước mắm nhai ngon lành.
Đúng là món ăn của nhà giàu, chỉ toàn là bột gạo, không pha bắp, không trộn bo bo, nhờ đó mà cái bánh dẻo thật là dẻo, thơm thật thơm mùi gạo. Sẵn bụng đang đói, tôi nhai ngấu nghiến một lúc ba cái bánh, trước những cặp mắt đầy ngạc nhiên của mấy người đàn bà.
Cúc từ trong hẻm đi ra, hai tay bưng một cái nồi nho nhỏ. Hương, con gái tôi mặt mũi lem luốc, tay níu áo bà ba của mẹ, tay cầm cái chén. Nhìn hai mẹ con áo quần lôi thôi lếch thếch, giống như vừa mới đi làm ruộng về, thương vợ, thương con, thương cho bản thân mình, bỗng dưng tôi thấy cay cay nơi mắt. Tôi đưa tay giụi mắt rồi nói khống.
-Có chút ớt thôi mà sao cay quá.
Cùng lúc ấy, một quyết định dứt khoát thoáng qua trong đầu, tôi lần trong túi quần, lấy bức thư của Dung, bức thư mà trước đây chừng nửa tiếng, tôi nâng niu quý trọng. Sau một phút chần chừ, tôi dùng cái gắp than bằng sắt, dở cái khuôn bánh căn to cỡ cái chén nhỏ lên, thả bức thư vào. Bì thư được làm bằng một loại giấy dày, trắng bóc, tên của tôi được Dung viết bằng lối chữ in không bỏ dấu, uốn mình vặn vẹo trong lửa hồng như than khóc trước khi biến thành tro bụi. Cũng cùng lúc ấy, gương mặt của Dung với đôi mắt đầy vẻ lo âu nhìn tôi, trước khi mất hút trong lòng chiếc máy bay C130 đêm nào ở phi trường Tân Sơn Nhất. Đôi mắt ấy, tôi đem theo cho đến ngày hôm nay, giờ đây nó đang mờ dần, nhạt nhòa rồi biến mất. Tôi đặt cái khuôn bánh căn lại chỗ cũ che kín ánh lửa hồng, mà tưởng là mình đang đậy nắp tấm ván thiên, chôn chặt mối tình say đắm, cuồng nhiệt của một thời xa xưa. Trong giây phút chạnh lòng, tôi chợt nghe tôi nói với chính mình: Dung ơi! Anh muốn gọi tên Dung một lần nữa, để rồi từ đây cho đến cuối cuộc đời sẽ “Quên hẳn tình em.”
Ngày Thứ Tư, 9 tháng Tư – “Thiệu phải ra đi. Nếu ông từ chối không chịu ra đi thì ông sẽ bị quân đội đảo chánh, hay sẽ bị một sĩ quan giết chết để trả thù cho tất cả những người đã chết vì ông ta. Một người phi công trẻ đã thử giết ông ta rồi, nhưng anh ta thất bại. Nhưng mà còn có những người khác nữa. Thiệu là một tướng lãnh không có khả năng và là môt chánh trị gia tham nhũng. Ông không lãnh đạo một Chánh Phủ mà cầm đầu một “băng đảng” Tất cả mọi người đều ghét và khinh bỉ ông ta.” Ngưòi nói lên những lời buộc tội ngắn nầy không phải là môt quan tòa, cũng không phải là một dân biểu hay là một ông đại tá. mà là một linh mục: Cha Trần hữu Thanh, thuộc dòng Chúa Cứu Thế, chủ tịch “Phong Trào Tranh Đấu Chống Tham Nhũng Để Cứu Nước Và Vãn Hồi Hòa Bình”. Năm nay ông 50 tuổi, dáng người gọn ghẽ, tóc đã bạc hoa râm, mặt vuông, có đôi mắt sáng ngời lanh lợi sau cặp kính tròn gọng sắt, cha Thanh mặc một áo dòng đen cũ, tiếp tôi trong một văn phòng nhỏ bên cạnh nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng. ông ta mạnh dạn nói tiếp: -” Thiệu là một người bất nhân. Ông ta đã làm hư quân đội, hành chánh và tòa án. Các tướng lãnh thì phải bỏ tiền ra mua chức vụ chỉ huy của họ, các tỉnh trưởng, cảnh sát trưởng, các quan tòa cũng phải mua chức tước của họ rất đắt. Dĩ nhiên sau đó họ phải tìm cách thu hồi lại và như vậy là họ phải ăn hối lộ. BàThiệu là một người công giáo tốt, về lễ bái cũng như về từ thiện. Nhưng bà không thể nào cưỡng lại được lòng ham muốn “quà cáp”, những vòng cẩm thạch, những hột xoàn mà người ta dâng cho bà để mưu cầu có môt sự che chở của bà. Bà mua đất mua nhà cửa và gian lận thuế. Và chồng bà cứ để cho bà muốn làm gì thì làm. Chính vì muốn tranh đấu chống lại các sự thối tha đó của chế độ nầy mà tôi phải đứng ra chống ông Thiệu. Tôi có được sự ủng hộ của hàng trăm người công giáo và nhiều nghị sĩ và dân biểu. Đức Cha Bình của Tòa Giám Mục Sài Gòn đã ủng hộ hành động của tôi. Các sĩ quan, các bác sĩ, luật sư đã viết thư cho tôi hay đã đến đây gặp tôi để ủng hộ tôi và khyến khích tôi tranh đấu . . . . – Hà Nội và M TGPMN khẳng định là Cha hành động theo sự xúi giục của người Mỹ. Những người thân ông Thiệu cũng có cùng một luận điệu đó và nói thêm rằng các linh mục ủng hộ Cha như các cha Nghi và cha Thanh Lan đều là những người có khuynh hướng tiến bộ. Cha Thanh nhảy lên: – Tôi không có dính dáng một tý nào với người Mỹ, họ không bao giờ có một hành động nào để thử ép ông Thiệu phải ra đi, hay ngay như phải loại bỏ 3 tên đại bất lương luôn bao vây quanh ông ta. Tôi sẽ nói cho ông nghe chính xác hơn. Lưu manh nhất Việt Nam là tướng Quang, cố vấn của Tổng Thống về tất cả mọi vấn đề liên quan đến an ninh. Ông nầy đã thiết lập các hệ thống buôn bán ma túy, buôn lậu và nhờ đó mới có được một gia tài kếch xù. Ông Thiệu lúc nào cũng từ chối không muốn sa thải ông Quang nầy, hoặc như ông thường làm một vài lần khi ông muốn dẹp một chướng ngại cho mình ông gởi người đó đi sang ngoại quốc làm đại sứ. Rất là giản dị, bởI vì ông Quang biết rõ những bộ xương được cất trong tủ nào, và khi nào vói không tới thì ông ta bắt đầu nói vớ nói vẩn. . . Còn 2 thành viên của đảng mafia mà ông cũng không bãi miễn được. Trước hết đó là Trung tướng Nguyễn văn Toàn cựu Tư Lệnh Quân Đoàn II, mà ai cũng biết là buôn lậu. Ông làm giàu bằng những cúp cây rừng và những sòng bạc, và còn bị cáo buộc tội hãm hiếp nữa. Việc nầy mặc dù có một chiến dịch báo chí dữ dội, mà vẫn không đi đến đâu hết. Ông Thiệu chỉ cho ông ta rời khỏi chức vụ một vài tháng thôi, rồi lại đưa ông ta về lãnh trách nhiệm Vùng III Chiến Thuật. Chính ông ta hiện đang lo việc phòng thủ Sài Gòn. Sau cùng là tướng Trang sĩ Tấn, Chỉ huy trưởng cảnh sát Đô Thành. Đây là một người ham tiền và tàn ác. Ông ta kiểm soát đĩ điếm và các sòng bạc lậu.. Ngoài ra ông còn thành lập một đường dây xuất ngoại đưa con cái những người Tầu và những người giàu có sang Thái Lan để trốn quân dịch. Một trong những người đại diện của ông ta ở Ba Lê (Pháp) lo tiếp nhận những người phạm tội nầy sang tỵ nạn ở thủ đô nước Pháp và cung cấp đầy đủ giấy tờ hợp pháp kề cả một giấy phép cư trú, như vậy là ông ta ăn được 2 lần tiền, bởi vì khách hàng của ông ta phải trả tiền lúc đi và lúc đến. Người đại diện nầy là chủ một nhà hàng Việt Nam ở khu La Tinh (Paris), cũng có một hệ thống “gái gọi” dành cho các vị Tổng bộ trưởng khi đi công vụ ghé lại Ba Lê. Do đó xa tầm nhìn của những kẻ tò mò, tránh không làm hại đến thanh danh của họ đồng thời không có ai động đến họ được Và mặc cho tất cả những điều ô nhục đó, tướng Trang sĩ Tấn vẫn tiếp tục được sự che chở của Tổng Thống và bà Thiệu, đến độ họ đã đề nghị gả con gái cho Tấn nữa.” Tôi nhìn Cha Thanh. Chẳng những Cha đã tỏ ta thành thật mà còn tin chắc rằng ông được trao cho một “sứ mạng”. Ông Thiệu đã trở thành một biểu tượng của người xấu mà ông phải hạ bệ bằng mọi giá để cứu đất nước và để ông ta phải chịu đền tội. Một khi sứ mạng cứu nước đã xong, thì ông sẽ nghĩ thế nào về giải pháp tương lai đây? Tôi đặt thẳng câu hỏi với Cha: ” Giả dụ là ông Thiệu chịu ra đi hay bị đuổi đi, thì ai sẽ là người thay thế ông ta đây? -Bất cứ ai cũng được! Tất cả những gì chúng tôi mong muốn, đó là một người liêm khiết và ngay thẳng,có quyết tâm phục vụ đất nước . – Tại sao không phải là Cha? Cha Thanh sững sờ, nhìn chòng chọc vào mặt tôi sau khi tôi vừa phát biểu một điều coi như bất lịch sự ghê gớm, và ông phát lên cười nắc nẻ. – Dĩ nhiên là không phải tôi rồi. Tôi không phải là một chánh trị gia. Tôi dấn thân tranh đấu vì tôi yêu đất nước tôi, và để hợp với thiên chức của tôi, tôi chỉ tố cáo những việc làm không phải và những tật xấu của một chế độ mất giá trị. Nhưng tôi không có ý định cũng như tham vọng nào để giữ vai trò của một nguyên thủ quốc gia. – Vậy thì ai đây? – Chúa sẽ giúp chúng ta tìm người cần phải có. – Nhưng nếu cộng sản không thừa nhận người đó thì sao? – Cộng sản có thể chiếm đất nước nầy bằng vũ khí, họ đang chứng minh điều đó. Nhưng họ không thể áp đặt một chế độ không hợp với 20 triệu dân Miền Nam Việt Nam. – Nhưng nếu họ cứ thử làm thì sao? – Họ sẽ không thử đâu. Họ cũng thừa thông minh và thực tiễn để phải hiểu rằng chỉ có một cách duy nhất để tái lập hòa bình thật sự là phải thành lập một Chánh Phủ Đoàn Kết Quốc Gia, ở đó có đủ mọi xu hướng và phải có sự ủng hộ của toàn dân. Dù sao thì họ cũng đã từng và không bao giờ ngưng hứa như thế mà. Cha Thanh giữ yên lặng một lúc, sau đó hình như bất chợt ông công nhận được một chuyện khó có thể xảy ra, nên ông nói thêm một cách thật cương quyết: – Ông biết không, ít nhất tôi cũng là một người chống cộng sản như tôi đã chống ông Thiệu. Nếu những người của Hà Nội quyết định cộng sản hóa Miền Nam, dựa trên quân đội của họ và các chánh trị viên của họ, thì họ sẽ thất bại. Dân chúng sẽ chống lại và sẽ có một cuộc nội chiến không có hồi kết thúc. Cũng trong ngày thứ tư 9 tháng 4 nầy, vào lúc 15 giờ, tôi đến thăm một người bạn của tôi Đó là ông Trần trung Dung. Lúc nào ông cũng ăn mặc sang trọng, áo sơ mi lụa, quần thẳng nếp và mang giầy Ý đại lợi, đầu chải láng, người lúc nào cũng bình tỉnh chững chạc ăn nói từ tốn và rất lễ độ với mọi người, Ông là con của môt người chơi đồ cổ ở Huế, là bạn học cũ của tướng Võ ngyên Giáp vào thập niên 30 ở trường trung học Albert Sarraut và sau đó ở đại học Luật tại Hà Nội . Ông đã từng là một tỉnh trưởng trẻ ở tỉnh Phú Thọ, đảng viên đảng Đại Việt, một đảng đối lập vớI cộng sản Việt Minh trong cuộc chiến dành độc lập, sống lưu vong bên Tầu, trở lại đời sống chánh trị sau khi cưới cháu của Tổng Thống Ngô dình Diệm và trở thành Tổng trưởng Quốc Phòng. Hiện ông là Phó Chủ Tịch Thượng Viện. Thuộc một gia đình có tiếng tăm lâu đời, lại hấp thụ cả hai nền văn hóa Tây Phương và Đông Phương, đã từng trải qua nhiều biến cố lịch sữ, thường có nhiều giao dịch cả ở Việt Nam và ở ngoại quốc, những chuyến đi du lịch ở ngoài với những chức vụ mà ông đã và đang tiếp tục đảm nhiệm…. tất cả cho thấy ông là một người đối thoại lý tưởng. Không như các chánh trị gia của đất nước ông, sự hiểu biết của ông về những sự việc và những con người , gia tài mà ông đang có giúp ông sống độc lập đối với bổng lộc của chánh quyền .. tất cả đều bảo đảm một tính khách quan và không thiên vị trong phán đoán của ông. Tôi thuật cho ông nghe hết về buổi viếng thăm của tôi với Cha Thanh và những toan tính đáng sợ của Cha đã nói với tôi. Ông cười và bình luận: -” Cha Thanh là một “anh hùng rơm” (nguyên tác: Don Quichotte). Ông quá thật thà khi nghĩ rằng hễ nhảy ra nắm được cây chổi trong tay là có thể quét được hết. Những cây chổi hả, khi cuỡi lên được nó rồi thì chúng sẽ đưa những người phù thủy tập sự đi rất xa. Chúng ta đang sống ở Việt Nam, nơi mà chế độ được thành lập trên sở hữu tư nhân; có nghĩa là có một khái niệm về lợi tức và hình thành một phương tiện cho sự tăng tiến xã hội. Mọi người đều ra sức để chứng minh rằng chúng ta hư hỏng vì tham nhũng, và đĩ điếm tràn ngập. Đối lập thì xác nhận rằng không có tự do phát biểu và các thể chế đi sai hết rồi. Tôi đã có đi nhiều ra ngoàì. Tham nhũng thì đâu cũng có hết, ở Âu Châu, Nhật Bản và cả ở Hoa Kỳ nữa. Nó còn dữ hơn ở Việt Nam ta nữa kia, vì các nước đó giàu hơn Việt Nam gấp bội, và giản dị hơn nó được khéo che đậy hơn. Ở bên Pháp, bên Mỹ hay bên Nhật, báo chí thường chỉ trích những vụ tai tiếng, những vụ buôn vàng lậu hay ngoại tệ liên quan đến các ông cảnh sát, các viên chức cao cấp , các nhà đầu tư bất động sản hay cả những tổng bộ trưởng. Bên Hoa Kỳ các anh chàng găng tơ (gangster) thường chen vào chánh trị và các cuộc bầu cử. Đã xảy ra rồi một ông thị trưởng của thành phố New York chạy ra ngoại quốc mang theo cả ngân quỷ của thành phố.. Con số ma túy bắt được lên đến hàng mấy tỷ mỹ kim. Đĩ điếm ít nhất cũng nhiều như bên Việt Nam chúng ta, những người giả trang đòi quyền cưới hỏi nhau, thậm chí còn có nhiều linh mục đồng ý thừa nhận hôn nhân của họ nữa. Bên Pháp trong một số rạp chiếu bóng trên đại lộ số 5 hay Champs-Élysées , muợn cớ là giải phóng tình dục, người ta cho chiếu những phim khiêu dâm mà trước kia chỉ được kín đáo chiếu trong nhà cho một số ít thân chủ tìm hứng cảm mà thôi. Tôi thường tự hỏi dựa trên nguyên tắc nào mà họ chỉ trích chúng ta một cách có hệ thống như vậy? Ông Trần trung Dung đặt hai bàn tay thật sát lên bàn viết của ông và nói tiếp, với một giọng đều đều: – ” Nước Việt Nam không có gì xấu hơn hay tốt hơn các nước mà họ tin là họ có thể đánh giá ta được. Đối với ông Thiệu cũng vậy. Tôi biết ông ta rất nhiều , tôi đã nhiều lần đến với ông ta, và đã nói chuyện nhiều với ông ta. Chúng tôi đã có đụng chạm nhau và cuối cùng ngày 3 tháng 4 vừa qua, tôi đã bỏ phiếu thuận cho một nghị quyết của Thượng Viện đòi hỏi sự ra đi của ông ta. – Ông ta là một người thông minh, có khả năng và dám hành động. Lòng can đảm và ý chí quyết tâm kháng cự mà ông ta đã chứng minh trong thời kỳ cộng sản tấn công dữ dội vào năm 1972, chúng ta không thể nào quên được . Chỉ trong vòng một năm gần đây thôi, không lâu lắm, ông Thiệu có thay đổi.. Trước kia, khi tôi đưa ra những câu hỏi về những vấn đề của đất nước, thì ông ta đã trả lời dài dài cho tôi, đầy dủ từng chi tiết một. Ông rất chú tâm đến những việc ông làm, cái nhìn sáng quắt của ông đã chứng tỏ niềm tin và lòng thành thật của ông.. Nhưng rồi đùng một cái, cái nhìn của ông lu mờ hẳn đi, ông ta nghe tôi nói mà không buồn nói gì cho tôi hết, tránh không trả lời vào các câu hỏi của tôi, và cuối cùng là tránh không muốn gặp tôi nữa. Tôi đã cảm thấy được sự thay đổi đó từ đầu năm 1974. Tôi đã hiểu là ông Thiệu đã mất hết lòng tin. Hiển nhiên ông đã biết rõ là Hoa Kỳ đã buông bỏ chúng ta rồi. Ông đã biết rõ là ông chỉ còn đánh một hiệp cuối cùng với bọn cộng sản, mà trong hiệp chót nầy ông bầu của ông đã để cho ông tự lo liệu lấy một mình trong lúc cộng sản đến đánh trên đầu ông bằng một đôi găng có dấu chiếc bàn ủi sắt bên trong… Và như vậy là ông đã bắt đầu chuẩn bị sự hồi hưu của mình, sửa soạn cho mình một chiếc nệm êm ấm rồi đó! Ông Trần trung Dung ngả người tới trước và nói với tôi: – ” Anh Pierre nầy, tôi còn một vài nhận xét nữa phải nói. Bắc Việt luôn luôn khoe với chúng tôi là một chế độ dân chủ trong sạch và cứng rắn, nơi đó sự lương thiện được nâng cao thành đức tánh. Tôi đã đọc báo của họ kỹ lắm và tôi thường ghi nhặt được rằng các giám đốc hợp tác xã hay bị bắt vì tội biển thủ gia súc; rằng các hãng xưởng bình dân của họ thường gian lận sổ sách, bán buôn bất hợp pháp vật liệu mới toanh được họ biến cải thành vật liệu “dư thừa phế thải” gồm có đầu máy xe lửa và hàng chục tấn dây điện; rằng các sinh viên thường buôn bán chợ đen vải sồ và thẻ tiếp tế lương thực; rằng hàng trăm tấn gạo bị lươn lẹo; rằng có nhiều tổ chức buôn lậu xe đạp, máy may, và đá lửa; rằng các anh lính mới thường hay đào ngũ; rằng các phụ nữ thường buông thả trong các hoạt động tội lỗi của nghề mãi dâm…. Nhưng có ai ở ngoại quốc biết đọc được tiếng Việt, hay bỏ thì giờ để phân tích tỉ mỉ báo chí nhạt nhẽo của Hà Nội bao giờ? -” Anh Pierre biết ở Sai Gòn có bao nhiêu tờ báo không? – 29 tờ: 19 tờ Việt ngữ, 7 tờ Hoa ngữ, 2 tờ Anh ngữ và 1 tờ Pháp ngữ. Họ thường viết bài chỉ trích Chánh Phủ. Có một số bị tịch thâu, bị kiểm duyệt, nhưng họ vẫn tiếp tục ra báo. Còn ở Hà Nội chỉ có 3 tờ báo: tờ nhật báo Nhân Dân, tờ Hà Nội Mới và tờ Quân Đội Nhân Dân. Cả 3 tờ báo nầy đều được viết, in ra cho Đảng phân phát và Chánh Phủ không bao giờ sợ bị một chỉ trích nào cả. Điều nầy ở Ba Lê ai cũng biết hết. Ông Jacques Decornoy đã xác nhận rõ trong báo Le Monde. Ông ta giải thích với một lương tâm nghề nghiệp đáng khen rằng: Dĩ nhiên là mọi dư luận có xu hướng trái ngược đều không thể được trình bày ở Hà Nội. Và ở Miền Bắc không thấy có một người nào dám nêu lên quan niệm về Tự Do của Phương Tây”. Mục tiêu mà Cha Thanh tự nhắm vào là TT Thiệu. Cha có nói với anh là Đức Cha Bình đã đồng ý và khuyến khích Cha tiếp tục tranh đấu phải không?. Tất cả hai người đều có thể nghiêng về trường hợp Cha Quản Lý của Giáo xứ mà phía sau lưng ông nầy có một số bù nhìn tay sai đang kiểm soát nửa tá ngân hàng tư, buôn hối đoái và cho vay cắt cổ , (28 % lời), giết chết đồng bạc trong thời gian không quá 4 năm . Ông ta cũng đầu cơ về đất đai và tài trợ cho các dịch vụ địa ốc. Tòa Tổng Giám Mục còn là sở hữu chủ của nhiều khách sạn đặc biệt là khách sạn Caravelle, nơi đó các phòng thường tiếp bọn gái nhẹ dạ còn nhiều hơn là những người đi hành hương ở Fatima. Cuối cùng nếu anh cho phép thì tôi sẽ kết luận như thế này : Nếu ông Thiệu quyết định ra đi, thì cái sơ đồ trong những tuần lễ hay những ngày sắp tới, đối với tôi hình như đã có vẽ sẵn trước rồi! Giả thuyết thứ nhất: bọn cộng sản sẽ khai thác thắng lợi và cố gắng chiếm Sài Gòn. Họ có thể làm được chuyện đó, nhưng các chánh trị gia và các nhà ngoại giao không tin như vậy, vì họ cứ tưởng rằng cộng sản trước nhất đang đi tìm một chiến thắng chánh trị. Và sự loại trừ được Tổng Thống Thiệu, một kẻ thù không thể giải hòa được, là đã giúp họ đạt một chiến thắng vẻ vang rồi. Từ đó ta mới có giả thuyết thứ hai, có khà năng đúng hơn và yên tâm hơn : giai đoạn thứ nhất là thành lập tại Sai Gòn một toán gồm một số đại diện của lực lượng thứ ba. Sau đó sẽ thành lập Hội Đồng Hòa Giải Dân Tộc mà Hà Nội và Chánh Phủ Lâm Thời Miền Nam (M TGPMN) đã kêu gọi thành lập mãi từ 2 năm nay mà vẫn không được . Những người thuộc lực lượng thứ ba cũng có thể tin cậy được. Có nhiều người khao khát trước hết là đem lại hòa bình. Một số khác thì thấy M TGPMN là một phong trào tranh đấu của người quốc gia hơn là cộng sản. Một nhóm thứ ba khác thì chán nản vì sự tham nhũng của chế độ, nên bị C PLTCHMN lôi cuốn. Tất cả đều tin tưởng là có khả năng giải quyết bình đẳng với cộng sản , nếu không thể thao túng họ được. Tất cả những người nầy đều là những thằng điên và vô ý thức. Họ phải đầu hàng cộng sản hay là đi tù mà thôi. Còn đối với Cha Thanh thì ông sẽ có dịp may nếu ông còn có quyền giữ được tràng hạt của ông ta để tụng trong khám tối…..”
Thứ Ba 8 tháng 4: 7giờ 30 sáng Tôi thả bộ trên con đường Pasteur, đến đại lộ De La Somme và cuối cùng đến bùng binh Chợ Bến Thành. Chợ Sài Gòn có một ngọn tháp vuông trên nóc giống như một chòi canh của một cái đồn nào đó thời ông Galliéni, có những tấm bảng quảng cáo bao quanh hết khuôn viên phía ngoài, nào là kem đánh răng, dầu thơm, rượu, thuốc lá v.v.. Cạnh đó là nhà ga xe lửa, có mấy chiếc xe buýt hiệu Ford và Pontiac sáng chói, đang đậu chung quanh đó, tất cả đều cho thấy là vấn đề kinh doanh của Sài Gòn, mua bán hay mậu dịch gì từ nhiều năm qua đều là sản phẩm từ Hoa Kỳ hết. Tuy nhiên nên nhớ ở khắp những nơi nào có lớp người bình dân Việt Nam đang sống, thì chỗ dễ tới nhất và gắn bó với người dân nhất, phải là cái chợ. Dưới cái vòm to của chợ Sài Gòn hay trong những kiến trúc rộng thênh thang kiểu “ba tàu” ở Chớ Lớn; ở khắp các thành phố thuộc Đồng Bằng sông Cửu Long, hay cuối cùng trong tất cả các chợ vườn dọc theo các sông ngòi đầy xuồng ghe hay lục bình, tất cả đâu đâu cũng luôn luôn có lúc nhúc một thứ hàng hóa, cùng một loại người và cùng một cặp mắt như nhau. Qua khỏi các tấm bảng quảng cao rồi thì mặt trời và ánh sáng phải nhường chỗ cho một vùng lờ mờ nửa sáng nửa tối, với một đám đông ồn ào và lăng xăng san sát bên nhau mà không hề chen lấn xô đảy nhau bao giờ. Trước khi nhận rõ được mặt của từng người là tôi đã bị rơi vào một luồng gió đủ cả các mùi vị lẫn lộn nhau. Mùi trái cây ngọt như nước đường, mùi thơm như ngũ vị hương, nồng nặc như ớt, tiêu, gừng, nước mắm , mùi hôi của đồ lòng, của bếp núc, đủ hương vị của hàng tạp hóa, dầu thơm của thợ cắt tóc v.v.. Tất cả đều có hết ở đây, từ mọi thứ mà con người gặt hái được, đã đánh bắt được, các mặt hàng mỹ nghệ đã sản xuất được, trưng bày hay sắp xếp trên các giá gỗ và các kệ, được rọi sáng rực bằng đèn nê ông. Trước tiên là nhang thơm, những cây nho nhỏ dài dài như diêm quẹt mà người ta thường thắp lên trong nhà hay trong chùa miểu hay dọc theo đường đi: ở đây người ta xếp nhang thành từng bó một, trong những bao vàng, đỏ lòe lẹt kiểu người Tàu. Bên cạnh đó là giấy tiền vàng bạc, loại tiền dành riêng cho người đã quá cố sở hữu dùng để cúng hiến cho ông bà tổ tiên. . . . Sau các mặt hàng dùng để hiến dâng cho người quá vãng, là tất cả những sản phẩm của đất đai: những quày chuối dài, những trái mít to, những tháp cao đầy ngất trái cây và rau cải đủ loại lạ mắt khác nhau, ngổn ngang. Các trái sầu riêng giống như con nhím xanh, với cơm bên trong hơi thối nhưng rất béo ngọt mà người sành ăn rất thích; những trái khế hình quả trám có khía sáng ngời, các trái ổi ruột đỏ hồng, những trái xoài to chín đỏ như các thỏi vàng, có những khu đầy trái thơm trái khóm và dưa leo, các rổ giá đậu trắng trông như những cọng búng. Xa hơn chút nữa là cá khô từng bó cột lại bằng dây dừa, hay vừa mỏng vừa dẹp được treo lên như những chiếc lá khô. Và đây là hàng cá tươi mới về, nào là cá thu được khứa ra từng khứa, cá ngừ, cá tráp, cua bể, tôm càng xanh, những con cá chình lớn như con trăn mà người bán phải dùng chày để đập đầu cho chết. Còn đây là hàng gạo, người bán mắt tròn xoe mặt sáng rở, đang quảng cáo gạo của mình, gạo ngon, được trưng bày cùng khắp, trong các bao lát miệng bao mở rộng, Người mua gạo bốc gạo lên xem, từng vóc một, đổ gạo từ tay nầy sang tay kia để đánh giá từng loại gạo, này là gạo Gò Công, kia là gạo Vĩnh Long, nhỏ hạt hơn, còn gạo Châu Đốc thì là màu đỏ. Tôi rời khỏi chợ, đi ra đường, lúc đó vào khoảng 8 giờ. Các tiệm bán hàng vẫn còn bày bán đủ thứ nào là máy truyền hình, nồi nấu cơm Nhật, các túi bằng da cá sấu v.v.., các hiệu nữ trang với những tấm kính có viết chữ tàu sáng chói, với những chiếc vòng đeo tay hay dây chuyền bằng vàng y 24 ca ra đỏ rực. Đùng một cái, tất cả mọi người đều ngước mũi lên trời. Một tiếng rít chói tai từ một phản lực cơ át hết tất cả mọi tiếng ồn ào khác. Và mọi người đều nhớ biết là đã từ lâu mọi phi cơ đều bị cấm không cho bay ngang qua vùng trời của thủ đô, nơi có Dinh Độc Lập. Tự nhiên mọi người đều cố gắng nhìn lên để nhận dạng xem phi cơ phản lực loại nào đã bay qua thật thấp ở ngay trên vùng trời của thủ đô. Một chị đàn bà la lên: “Chắc chắn nó sẽ bỏ bom vào Dinh Độc Lập “. Và hầu hết những người có mặt trên con đường nầy đều la theo: “Nó sẽ dội bom lên Dinh Độc Lập” Ngay sau đó, hai tiếng nổ dữ dội đi liền theo tiếng rít của phản lực cơ. Thời gian không đầy một phút trôi qua, chiếc phi cơ lại bay ngang qua mục tiêu của nó, đánh dấu bằng 2 tiếng nổ nhỏ và vài tràng đại liên ngắn. Lần nầy thì tôi nhận rất rõ tiếng nổ lốp đốp đều đặn của súng đại bác tự động. Sau đó thì chiếc phi cơ đi xa lần đến một nơi vô định nào đó. Cuộc tấn công nầy xảy ra không quá 5 phút. Tôi rảo chân đi nhanh hơn. Phía trên dinh Tổng Thống rất gần đây, một côt khói đang bốc lên, còn bao quanh các cây cối trong vườn. Khoảng 10 phút sau, có 4 xe cứu hỏa đến tại chỗ. Trước cổng chánh của Dinh Độc Lập có khoảng 50 binh sĩ Dù đang ở trong tư thế phòng thủ, mỗi người ngồi sau một góc cây, sẳn sàng chiến đấu. Các xe Quân Cảnh bao quanh khu vục, cô lập Dinh Độc Lập với cả thành phố. Các anh cảnh sát dã chiến với quân phục rằng ri, súng cầm tay, đang hướng dẫn mọi sự lưu thông tránh xa dinh Độc Lập. Các ngả tư đường dẫn tới dinh đều có ngựa sắt kẽm gai chận hết. Cả trung tâm thành phố có nguy cơ bị tắc nghẽn giao thông một cách nhanh chóng và điều nầy chỉ làm tăng thêm tình trạng hỗn loạn. Tôi đi dài xuống đường Tự Do. Nhiều tin đồn nhảm sai hẳn sự thật đã được lan truyền ra rồi .. Một anh tài xế xe tắc xi bước ra khỏi xe của anh ta trước tiệm sách Albert Portail, vừa múa tay múa chân vừa la ầm lên : “Tổng Thống đã chết rồi “. Các chị bán thuốc lá lo thu xếp các quầy thuốc của họ lại. Đứng giữa một đám đông những người hiếu kỳ một anh luật sư ở nhóm đối lập thuộc phong trào “đòi quyền sống cho người dân” đã xác nhận một cách rất nghiêm túc: ” Đó là chiếc phi cơ săn giặc F5 do tướng Nguyễn cao Kỳ lái. Ông ta đã làm chuyện vừa rồi đó. Các dàn ra đa của Tân sơn Nhứt đã theo dõi chiếc F5 nầy và đã thấy nó bay về hướng Thái Lan.” Nhưng, tôi đã biết rất rõ tướng Cao Kỳ, ông chưa từng bay phi cơ phản lực bao giờ! Có một số xe thông tin có gắn loa phóng thanh chạy khắp nơi để thông báo giờ giới nghiêm bắt đầu có hiệu lực từ 12 giờ trưa nay. Và thành phố đã trở nên vắng ngắt hết sức nhanh chóng. Các cửa hàng bỏ rèm xuống che kín cửa tiệm. Đường sá thường thì đầy rẫy xe cộ, và ồn ào vì tiếng mô tô, giờ thì đã trở nên vắng lặng. Giờ đây Sài Gòn là môt thành phố chết, một thế giới im lặng , ở đó chỉ có các binh sĩ với súng ống đi tuần rỏn như những bóng ma giữa các nút chặn kẽm gai. . Vào lúc 13 giờ trưa, tôi liên lạc được với tướng Cao Kỳ bằng điện thoại. Với một giọng hết sức mỉa mai ông nói:. – “Thật là một chuyện tào lao! một hành động quá trẻ con không có một cơ may đi đến đâu hết. Phi công là một sĩ quan rất trẻ, vừa mới học xong phản lực cơ F 5 E cách đây vài ngày. Trước đó anh ta được huấn luyện trong nhiệm vụ săn giặc, và cách đây không đầy 3 tuần lễ, anh ta mới bắt đầu được tham gia tập luyện về nhiệm vụ đánh bom. Theo chỗ tôi nghe được thì đây là một thằng nhỏ bốc đồng, có máu anh hùng. Nhưng tôi chưa từng gặp mặt anh chàng nầy bao giờ. Một lần nữa, tôi không dính dáng gì đến chuyện nầy. Hơn nữa tôi không muốn giết ông Thiệu, tôi chỉ muốn ông ta rời khỏi chức vụ cho rồi.. . . . “ Sau một phút yên lặng, sau đó ông ta lại nói, nhưng gần như nói cho riêng ông ta nghe mà thôi : “Rất tiếc là thằng quỷ phi công đó đã không làm được trò trống gì cả! Sau đó một ít lâu, Tổng Thống Thiệu lên tiếng trên đài phát thanh. Ông ta vẫn còn sống. Ông ta thuật lại chi tiết cuộc ném bom mà ông là mục tiêu chính. Ông xác nhận đây không phải là một âm mưu mà là một hành động lẻ loi. Phi công bay ở cao độ 300 thước,và đã thả xuống 2 trái bom vào dinh Độc Lập, và sau đó quay trở lại lần thứ hai bắn xuống hai trái hỏa tiễn và vài tràng đại bác 20 ly. Ông Thiệu nói tiếp: ” Có một số người nào đó muốn đe dọa tôi bằng võ lực để ép buộc tôi phải ra đi, nhưng tôi sẽ không nhượng bộ đâu. Tôi sẽ tiếp tục làm việc như thường và tiếp tục dìu dắt quê hương. .” Mọi người đều đồng ý – một lần không phải là thói quen – nói là Tổng Thống Thiệu đã có phản ứng thật nhanh và rất hay. Nhưng liệu ông có thể giữ yên lặng được không? Vào lúc 4 giờ chiều, đường phố lại nhộn nhịp trở lại, các hiệu buông cuốn rèm lên lại. Sự lưu thông lại có quyền trở nên hỗn loạn như cũ. Tôi gọi điện thoại đến đại tá Xuân, ở Sở An Ninh, một người bạn cũ trên 20 năm mà tôi đã biết ở Bắc Việt, lúc ông làm ở Phòng Nhì. Ông hẹn gặp tôi ở khách sạn Caravelle vào lúc 5 giờ chiều. “Với ông ta chắc chắn tôi sẽ biết được việc gì đã xảy ra.” Trong khi chờ đợi, tôi sẽ đi bách bộ một vòng lên Dinh Độc Lập từ đường Pellerin đi lên. Trước rạp chiếu bóng Casino, người ta đang xếp hàng mua vé vào xem xuất 17 giờ. Rạp đang quảng cáo ba bộ phim “Công Phu”. Các em bán báo đang trải ra trên sạp những tờ báo buổi chiếu vừa mới in xong.. Ở đường Lê Lợi những người bán hòm rương và va ly đang trúng mánh. Xa hơn một chút, tôi di dọc theo Thư Viện Quốc Gia rất đẹp, được xây cất trên nền cũ của Khám Lớn khi xưa, nơi đã từng giam giữ hằng ngàn tù cách mạng và phần đông là các lãnh tụ thuộc Chánh Trị Bộ hiện thời ở Hà Nội. Trong huê viên trước đó có nhiều toán sinh viên đang cãi nhau ồn ào hay kêu gọi đùa giởn với nhau. Đại lộ Norodom uy nghiêm rộng lớn nay được gọi là đại lộ Thống Nhất, thẳng tắp từ Vườn Bách Thảo đến Dinh Độc Lập, bây giờ gần như hoang vắng. Các cuộn kẽm gai được căng ra làm nút chặn ở các ngả tư đường bây giờ đã được xếp lại và mang đi, nhưng Quân Cảnh vẫn còn tiếp tục canh tuần. Không thể nào đi đến gần Dinh Độc Lập được . Cổng chánh của Dinh vẫn còn nguyên vẹn, và không thấy có một dấu vết nào của hành động dội bom hay bắn phá ban sáng. Dinh Độc Lập, nơi Tổng Thống Thiệu ở và làm việc, có một lịch sử dài và thơ mộng. Được xây cất vào năm 1868, tòa nhà nầy khi xưa có tên gọi là Dinh Đô Đốc hay Dinh Norodom. Lúc bấy giờ đây là một công thự huy hoàng diễm lệ, (xây cất theo kiểu môt chiếc bánh sinh nhật) chung quanh có rào chấn song bằng đồng trên có mạ vàng, những bãi cỏ xanh với đường đi bên trong trải cát đỏ, và một nhà bát giác với nóc cao nhọn. Ngay ở cổng chánh có lính gác đội nón kiểu lính thú trên đỉnh có chóp nhọn bằng đồng sáng chói và đeo găng tay trắng lưu truyền lối văn hóa thuộc địa. Nơi đây các vị toàn quyền có những buổi tiếp tân rất ngạo nghễ, huê viên được thắp sáng lên, có các dàn nhạc vĩ cầm, với những bộ đồng phục lòe lẹt, những bộ lễ phục trắng , các bà các cô thì mặc áo hở ngực hở vai trang điểm diễm lệ như đi dạ hội ở Ba Lê vậy. Người được ở tại dinh Norodom có nghĩa là người đó là chủ nhân của đất nước nầy. Tướng ÉLy, vị Cao Ủy người Pháp sau cùng ở Đông Dương đã trao cho Chánh Phủ Việt Nam biểu tượng cuối cùng nầy của chánh quyền thuộc địa ngày 7 tháng 9 năm 1954. Sau khi chánh thể Cộng Hòa được công bố, thì dinh Norodom được đổi danh xưng thành Dinh Độc Lập. Ngày 27 tháng 2 năm 1962, 2 sĩ quan phi công Việt Nam thề sẽ hạ sát Tổng Thống Diệm nên đã lái 2 chiếc phi cơ dội bom sập nát dinh thự cổ kính nầy. Dĩ nhiên như một phép lạ, Tổng Thống Diệm vẫn không hề hấn gì. Nhưng tòa nhà thuộc địa cổ nầy bị hư hại gần như sập hết, nên Chánh Phủ đã quyết định xây lại một dinh thự mới. Lần nầy nhiệm vụ xây cất được giao cho một kiến trúc sư Việt Nam trẻ, từng được “giải thưởng Roma”, đó là ông Ngô viết Thụ. Để gây quỹ cho công tác xây cất mới nầy, Chánh Phủ mở một “chiến dịch quyên góp”. Mỗi công chức, mỗi người binh sĩ của Miền Nam Việt Nam đều đóng góp một ngày lương vào quỹ xây cất. Các doanh nhân thì ký cho nhiều chi phiếu khá lớn, sinh viên học sinh thì tùy theo túi tiền của mình mà đóng góp, và những người nghèo cũng tùy theo mà bỏ tiền vào toán đi quyên góp do Bộ Công Chánh phái đi.
Kiến trúc sư Ngô viết Thụ từ chối không nhận tiền thù lao cho bản vẽ, và các kỹ sư, chuyên viên của quân đội bắt tay vào việc, công trường làm việc 24 trên 24 giờ kéo dài hơn 10 tháng. Cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, và cái chết của Tổng Thống Diệm và người em của ông làm ngưng trệ công trường suốt trong 6 tháng dài. Sau đó công trường được mở lại, nhưng phải mất 3 năm nữa mới xây dựng xong Dinh thự mới, được tướng Nguyễn cao Kỳ long trọng khai trương ngày 30 tháng 10 năm 1966. Công trình đã phải tốn đến 1 triệu 500 ngàn mỹ kim (7 triệu quan Pháp). Dinh Độc Lập được xây bằng xi măng cốt sắt, cẩn toàn đá hoa cẩm thạch, cửa kính màu xanh da trời, có 3 mặt phẳng nằm ngang và song song, (kiến trúc theo lối chữ Việt Nam tượng trưng cho nền dân chủ). Tất cả đặt ngay trung tâm của một công viên được vẽ rất cẩn thận và rất tráng lệ. Giờ đây dinh thự rất duyên dáng nầy được binh sĩ Dù vây quanh canh gác, đạn và lựu đạn mang đầy ngườI, ẩn mình phía sau rào chấn song sắt nặng nề, biến dinh thự thành một pháo đài. Tòa nhà bát giác trước kia dùng làm nơi chơi nhạc, nay đã biến thành một pháo đài chống chiến xa. Nhiều pháo đội phòng không được ngụy trang dưới các tàng cây trong hoa viên, và 3 chiếc trực thăng trang bị liên thanh đang đậu trên bãi cỏ. Cổng chánh được khóa chặt. Quan khách phải trình diện ở “cổng công vụ” , cổng nầy dẫn đến các nhà đậu xe, nằm gần Tòa Án. Mỗi xe đều phải qua sự khám xét của binh sĩ. Họ đưa xuống gầm xe một tấm kiếng để xét kỹ là không có một bánh thuốc nổ nào được gắn vào sườn xe . Sau đó quan khách đi qua một cái rào chắn được quay bằng tay để chạy đến chỗ đậu xe. Dưới chân cầu thang lớn đã có một sĩ quan tùy viên tiếp đón và dẫn khách đến phòng tiếp tân, nơi đây có ghế dựa màu đỏ và tủ cẩn xa cừ, có một cặp ngà voi lộng lẫy.. Ở về phía cuối phòng có một cánh cửa, ăn thông vào phòng làm việc của Tổng Thống Thiệu, một gian phòng rất rộng , ngay giữa phòng có một lá quốc kỳ VNCH to lớn. được căng từ trên trần xuống tận sàn nhà. Ở hai đầu bàn làm việc, có những chân quỳ trên để các máy truyền tin và các hệ thống thông âm nội bộ, dùng như các trạm tiếp vận truyền tin giúp cho Tổng Thống có thể liên lạc thẳng với các tổng bộ trưởng hay các tư lệnh Vùng, Cảnh sát trưởng hay các tỉnh trưởng bất cứ lúc nào cũng được Trước cửa và trong hành lang dọc theo phòng làm việc nấy luôn luôn có hai người cận vệ lực lưỡng, mặc quần áo xám, giỏi võ và thiện xạ, được tuyển lựa trong lực lượng người nhái hay biệt động quân. Hai người nầy nằm trong một nhóm 8 người cận vệ của Tổng Thống được huấn luyện đặc biệt. Các anh lực sĩ nầy có gương mặt rất bình thường, nhưng có đôi tay cứng rắn, và dưới lớp áo ngoài lúc nào cũng có khẩu súng lục đeo ở nịt, Họ liên lạc với nhau bằng máy truyền tin cầm tay và canh giữ Tổng Thống ngày lẫn đêm. Tổng Thống Thiệu nhỏ người nhưng có một thái độ gần như lạnh lùng, cô đơn và bướng bỉnh, tự giam mình trong Dinh giống như một thuyền trưởng của chiếc tàu lặn của người Đức lúc nào cũng ở bên tay lái và từ khước không chịu nổi lên mặt nước để đầu hàng. Mặc dầu bị chính phi cơ của mình dội bom, hay bị các tướng lãnh của mình đe dọa, không ai có thể nói được hôm nay con người của ông đang nghĩ gì, một con người miền Trung rất bí mật và cứng đầu đã đọc một bài diễn văn thao thao như nước chảy ở đài truyền thanh và truyền hình, nhưng không bao giờ tiết lộ tâm sự của mình trong chỗ riêng tư.Ở phòng trà Givral, một người Việt Nam ốm gầy, có đôi mắt ti hí, có bộ râu rậm trên cằm, đang giải thích cho một số thanh niên đang bu quanh ông ta về những điều bậy bạ của ông Thiệu. Tất cả đều do ông kể hết, từ chuyện thâm cung bí sử đến chuyện bán quyền bán tước, từ chuyện giãi phẩu thẩm mỹ của bà Thiệu đến chuyện buôn lậu hột xoàn.. Ông ta vừa cười khẩy vừa nhổ mấy sợi râu trên càm vừa nói : – ” Thiệu đã trở thành một người điên như Hit Le trong hầm trú ẩn của ông ta vào những ngày cuối cùng ở Bá Linh vậy .Ông ta điều động các sư đoàn ma của ông và tin tưởng là ông có thể thắng trận vì người Mỹ sẽ gởi phi cơ và vũ khí bí mật đến cho ông ta. Sự điên rồ của ông ta là hậu quả của những ám ảnh về sinh lý của ông. Ông ta đã hoang phí thì giờ với các cô gái 14, 15 tuổi mà thuộc hạ đã dẫn nộp cho ông ta.” Tôi cố quan sát con người hùng biện nầy. Ông là một người thuộc giới báo chí, gốc người Miền Bắc,từng bị thất bại trong cách mạng, là một người đã từng hợp tác có giá trị đối với Nhật trong cuộc săn đuổi cộng sản lẫn kháng chiến Pháp , sau đó ông đã phục vụ rồi lại phản bội liên tục các chánh quyền và các tư lệnh cảnh sát thuộc Chánh Phủ Việt Nam . Anh ta có một biệt danh là “Cao Giao” và đã làm việc lâu năm với tờ New Week. Đây là một người hay lục lạo tỉ mỉ nhất vào các “bãi phân thối” mà tôi biết được ở Sài Gòn. Khách sạn Caravelle nằm bên cạnh Quốc Hội, trước kia có tên là Khách sạn của Nhà Hát Tây, bởi vì tòa nhà có vòm tròn hiện đang dùng làm Trụ sở cho Quốc Hội trước kia là Nhà Hát Tây của thành phố Sài Gòn dưới thời Pháp thuộc. Trước kia Cha Lecca là chủ khách sạn nầy; ông ta là một cựu thượng sĩ thuộc quân đội Pháp bụng phệ và chột mắt đã đổi sang nghề bán nước giải khát. Những nhà hàng hải và các tay ma cô người “Cọt sờ” chuyên buôn lậu vàng và mỹ kim thường đóng đô ở đây, uống rượu a-nis của Miền Nam nước Pháp do họ tự mang tới trong những hộp bánh bít quy có hàn chì cẩn thận, hết chầu nầy đến chầu khác. Cô thâu ngân viên là một cô gái lai Tầu, khoảng 20 tuổi, rất đẹp và lả lơi khiến cho mọi người đều phải dán mắt nhìn cô. Một ngày nào đó Cha Leccia về nước và bán khách sạn lại cho Tòa Giám Mục Sài Gòn. Vị quản lý giáo xứ nầy biến cải khách sạn của những người vô lại nầy thành một “khách sạn hạng sang”. Ông cơi thêm 8 tầng lầu, sân thượng ở tầng chót là một nhà hàng lộ thiên. Trang trí bằng cẩm thạch Đài Loan, gổ dát từ Phi luật Tân, cây xanh, sơn mài Thành Lễ, nhơn viên được tuyển lựa cẩn thận và quản lý là người Pháp, khách sạn Caravelle đã nhanh chóng trở thành một cơ sở đẹp nhất của thành phố. Suốt chiều dài của cuộc chiến, khách sạn không có phòng trống bao giờ: sĩ quan, dân biểu, nhà báo, các nhà kinh doanh, thường chia nhau các phòng có đầy đủ tiện nghi. Sau người Mỹ lại đến lượt các kỹ nghệ gia Nhật và các nhà thầu Đại Hàn. Bây giờ, sau chuyện tán loạn ở Cao Nguyên, thảm kịch ở Đà Nẵng và cuộc chiến đang đến gần thủ đô Sài Gòn , các nhà báo lại tràn ngập khách sạn. Phòng khách đầy những tay săn hình, trang bị máy thâu hình lớn và nặng nề, vai lại mang máy ảnh và ống kính dài như những ống phóng lựu. Đại tá Xuân đợi tôi ở quầy rượu. Ông ta cười, nụ cười của ông kéo dài làm lộ những nét nhăn từ mắt đến tận mang tai. Chúng tôi đã sống với nhau trong hai năm sau cùng của cuộc chiến Pháp Việt ở Miền Bắc và những ngày cuối cùng ở Hải Phòng. Lúc nào tôi cũng thấy ông cườI, ngay những lúc chúng tôi đang bị đạn bách kích pháo nện vào lúc chúng tôi đang nằm trong các hố cá nhân đầy bùn sình ở Suối Tre. Tôi không bao giờ thấy ông ta hốt hoảng và cũng không thấy ông to tiếng bao giờ. Ông nói năng nhỏ nhẹ, chẫm rãi, hay tìm dùng đúng danh từ, và luôn chú ý giữ đúng cú pháp. Trong văn phòng của ông ở cổ thành Hà NộI, ông đã viết rất cẩn thận bằng cọ lông một câu rất có ý nghĩa xây dựng: “Nếu anh biết thì hãy nói cho những người hiểu biết. Nếu anh không biết, thì hãy im lặng và cố lắng nghe. Và có lắng nghe thì anh sẽ biết.” Ông ta nói với một giọng bình tĩnh nhưng có chút ngập ngừng. – ” Chào anh Pierre, Cuối cùng rồi Anh cũng đã tìm lại được đúng đường rồi đó . – Việc gì đã xảy ra hồi sáng nầy vậy anh Xuân? Ở ngoài phố người ta thuật lại là Mỹ đã dàn dựng cú nầy để thanh toán ông Thiệu. Họ còn nói là phi công đã đáp xuống sân bay Udorn của Mỹ và đã được chấp thuận cho tỵ nạn tại Thái Lan. – Người ta không biết gì hết. Người phi công đã dội bom xuống Dinh Độc Lập tên là Nguyễn thành Trung. Đó là một anh trung úy trẻ mới có 26 tuổI, người Miền Bắc, đã có một vợ và 2 con. Anh ta đã hành động theo sáng kiến riêng của mình, vì quá giận và chán ngán khi thấy các tướng lãnh và Tổng Thống đã bỏ hết tỉnh nầy đến tỉnh khác mà không có một trận chiến nào. Anh ta cũng buồn và thất vọng vì vợ con anh ta không thể rời khỏi Đà Nẵng được và còn bị kẹt trong vùng kiểm soát của cộng sản. – Sáng sớm hôm nay, vào khoảng trước 8 giờ có hai phản lực phóng pháo cơ đã cất cánh từ phi trường Biên Hòa, cách Sài Gòn 30 cây số. Họ có nhiệm vụ đánh bom vào một mục tiêu địch ở phía trên tiểu khu Phan Rang, dọc theo bờ biển. Một lúc sau dó trung úy Trung báo cáo là phi cơ anh bị trục trặc kỹ thuật không thể tiếp tục bay được. Hai mươi phút sau anh ta nhắm vào Dinh Độc Lập đâm thẳng xuống. Tất cả đều diễn tiến rất nhanh chóng. Pháo đội phòng không ở Dinh Độc Lập không có thì giờ để mà kịp phản ứng. Một trong hai trái bom của anh ta đã làm mẻ một góc cầu thang sau của Dinh và làm vở hết các cửa kiến của tầng trệt. Trái bom thứ hai rơi xuống hoa viên không gây một thiệt hại nào. Sau đó anh ta còn bắn hai trái hỏa tiển làm thủng nóc nhà để xe, và có bắn đại bác 29 ly xuống bải cỏ, gây 2 tử thương và 5 bị thương nặng. Có trên 40 người bị mảnh kiếng làm trầy da..Dù gì đi nữa, nếu anh ta có đánh trúng ngay Dinh đi nữa thì anh cũng không thể nào giết Tổng Thống được . Nóc dinh mới cất nầy dày đến mấy thước bê tông, và phải qua cả 4 tầng lầu từ nóc dinh mới xuống tới phòng của Tổng Thống được. – Còn chuyện đáp xuống sân bay ở Thái Lan? – Một sự bịa đặt hoàn toàn! Trưa nay hồi 15 giờ, đài Hà Nội đã cho ra một thông cáo xác nhận là trung úy Trung đã đến vùng giải phóng Đà Nẵng với phóng pháo cơ của anh ta. Tổng trưởng Quốc Phòng của cái gọi là Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam đã gắn huy chương yêu nước hạng 2 và đã thăng cấp Đại úy của quân đội Giải Phóng Miền Nam Việt Nam cho anh ta. Điều nầy chứng minh rõ ràng là mấy anh “mũi lõ” không có gì dính dáng đến việc nầy. Tùy viên quân sự Hoa Kỳ rất tức giận vì đây là chiếc phản lực phóng pháo cơ F.5.E. đầu tiên đã rơi nguyên vẹn vào tay cộng sản. Đây là một phóng pháo cơ chiến thuật vừa ngăn chặn vừa yểm trợ, tốc độ bay nhanh (mach 1,6), dễ điều khiển, được trang bị vũ khí rất mạnh và toàn bộ bằng điện tử (máy dò tìm mục tiêu loại nhỏ, tác xạ bằng máy điện toán, máy chụp ảnh bằng hồng ngoại tuyến). Loại phi cơ nầy chỉ mới được mang ra xử dụng cách đây không quá 18 tháng…
Ngày mới bước chân đến Mỹ, với tuổi mới trên 50, lo chuyện dựng vợ gả chồng cho con cái, tham gia niềm vui của con cháu mình và con cháu bạn bè, tháng nào chúng tôi cũng phải tham dự một hai tiệc cưới. Bây giờ suýt soát tuổi 80, sắp lên chức “cố,” cả năm không còn khăn áo chỉnh tề, lên xe “phó hội” ký tên vào sổ vàng, tươi cười đóng hụi chết, mà áo trắng, cà vạt đen, mặt mày buồn thảm đi viếng tang cũng khá nhiều.
Bạn bè, đơn vị cũ, một thời chinh chiến hay là long nhong thời thơ ấu, ông thì nằm trong nhà hưu dưỡng đã hơn năm, ông thì đi gậy chống, walker hay ngồi xe lăn, ông thì đã thành tro bụi chứa trong cái hũ có khắc tên để trên chùa, hay ra nằm ngoài nghĩa địa với bia mộ đề tên!
Bây giờ không còn vào nhà hộ sinh để thăm cháu ra đời, hay chúc mừng hôn lễ của ai nữa, mà toàn đi nhà dưỡng lão, bệnh viện hay tang nghi quán! Có người bạn mới gặp ở quán cà phê, tươi vui, yêu đời, vài hôm sau vừa nghe tin đột quỵ. Sau một vài tuần ở bệnh viện và trung tâm phục hồi trở về, bây giờ không còn nói được, tay chân lẩy bẩy, gặp nhau, ứa nước mắt, mà không khóc, sợ bạn buồn nản chí.
Trong nhà hưu dưỡng, đi thăm một người bạn khác, gặp một người bạn biến chứng tiểu đường, mắt đã mù, nằm ở đây đã bốn năm, còn nhớ tiếng nói của bạn mà mừng, nhưng không còn trông thấy nhau nữa. Rồi có người mang ống dẫn tiểu, có người mang tã, có người sống nhờ thức ăn chuyền thẳng vào bao tử, mà phải sống không chối từ, không thể dễ dàng chọn cái chết dù muốn chết.
Tôi cũng biết có trường hợp, anh nằm đây đã trên 10 năm, sau lần “tai biến.” Anh mở lớn đôi mắt nhìn tôi, anh nhớ tôi hay không, tôi không rõ, đôi mắt đờ đẫn, mệt mỏi, đầy những chịu đựng. Lần nào vào thăm anh, tôi cũng thấy chị ngồi đó, theo anh suốt một cuộc hành trình dài lâu, mà vẫn như đi một mình. Nhan sắc chị đã tàn phai, thân gầy như xác ve, sức tàn, lực kiệt. Chỉ sợ một ngày nào đó, chị ra đi, bỏ anh lại cho ai? Rồi một ngày, nghe tin anh mất, buồn, nhưng mừng cho chị, từ nay được giải thoát.
Nhưng chỉ ít lâu sau thôi, nghe tin chị cũng theo anh. Chút dầu còn lại trong cây đèn nhỏ đã cạn!
Tuần rồi vào bệnh viện thăm một thằng bạn thời niên thiếu, cái thuở bạn bè mùa Hè nào cũng rong chơi, tinh nghịch mà vô tư, có đêm ngủ lại nhà nhau, mà bây giờ nó nằm đó, hôn mê. Cũng một thời hạnh phúc, cũng một thời đau khổ, cũng vật vã trong chiến tranh, cũng tủi nhục trong tù đày, giờ này đâu còn gì vui buồn mang theo nữa. Thôi ra đi bình yên!
Những người lính cũ dự định tổ chức họp khóa, thời còn sung mãn, một năm một lần, bây giờ ba năm chưa muốn gọi nhau. Ngày trước tập họp vài ba trăm có dư, nay là vài ba chục cũng khó kiếm. Trong điện thoại, ở xa, có bạn nói thều thào không ra hơi, có anh điếc ù phải đeo máy, có người kêu than đau chân đi không nổi, thì làm sao mà họp khóa, điểm danh với anh em được. Ở gần thì đau mắt, không lái xe được, cũng có nhớ bạn thương bè, nhưng sức đã tàn, lực đã kiệt, cũng chẳng còn vui thú gì những lúc gặp gỡ anh em. Thôi đành một tiếng “xin lỗi” là xong!
Trước đó, thăm một anh bạn cùng khóa nhà binh, tuy già yếu, đau ốm trên giường bệnh, nhưng thấy còn lạc quan vui tươi: “Thế nào tháng sau, họp khóa, tôi cũng đến! Lâu quá không gặp anh em!” Lời hứa vui vẻ ấy không ngờ không bao giờ thực hiện được. Chúng tôi “họp khóa” năm ba thằng với anh tại nhà quàn trong ngày tiễn đưa. Rõ ràng là anh có hẹn với chúng tôi là anh sẽ đến, nhưng ở một nơi khác.
Hôm nay họp khóa, chị đã trở thành bà quả phụ, nhận bó hoa từ anh em, nhắc lại như một lời chia buồn. Lần “điểm danh” này, vắng mặt quá nhiều anh em, trong đó có anh. Vắng mặt có lý do – Miễn tố!
Quân số hôm nay đã hao hụt nhiều, phần lớn bất khiển dụng, hoặc được xếp loại 2, nhưng không bao giờ được bổ sung! Chắc các bạn còn nhớ giờ điểm danh cuối cùng, hay là buổi chào cờ cuối cùng trong đơn vị vào cái Tháng Tư nghiệt ngã của đất nước, rồi anh em, mỗi người một nơi. Có anh em may mắn trôi giạt, sống sót đến xứ người, có người thất thân lâm cảnh tù đày. Đã có bao người chết trong trại tù hung hãn, bao nhiêu người chìm sâu xuống đáy biển oan khiên.
Bây giờ quê người lận đận, mà vẫn có đồng đội, rỗi công đi tìm người thất tán, tái cấu trúc, hay tái bố trí, gọi là đồng môn cùng quân trường, là khóa học, là binh chủng, là đơn vị! Họ gặp nhau, già yếu hơn xưa, tóc đã bạc phơ, câu chuyện ngày cũ, nhớ nhớ, quên quên. Họ gặp nhau mà nước mắt lưng tròng. Nhưng những lần tập họp thưa thớt dần, xa dần, mệt mỏi dần trong ngày tháng phai tàn.
Không phải là một lời nói bi quan, đây có thể là lần điểm danh cuối cùng. Ở tuổi ngoài bảy mươi, cuộc đời còn lại chỉ có thể tính bằng giờ. Nhiều đồng đội đã bỏ anh em đi xa, nhiều người đã không đến. Con số người mất cũng lớn bằng người còn. Răng, tóc, trí nhớ cùng với bạn bè đã bỏ chúng ta ra đi biền biệt.
Tướng MacArthur đã để lại một câu nói để đời: “Old soldiers never die; they just fade away” (Người lính già không chết; họ chỉ phai nhạt dần đi).
Tôi thích và yêu kính những người lính chết trận. Tôi không thích những người lính sống cũng như chết, sống như cái bóng ma. Phải có sự khác biệt của một người lính hy sinh trên chiến địa ngày xưa và một người lính cũ chết trong nhà dưỡng lão. Không thể coi họ như nhau.
Sống mà phai nhạt dần, cho đến một ngày nào đó, không ai còn nhớ đến mình nữa, thì cuộc đời này buồn biết mấy! Mà thôi, chuyện gì rồi cũng qua, cái gì rồi cũng đến!
“Anh hùng có sá chi thua được, Tiết nghĩa nào phai với đất trời.” (Thủ Khoa Huân) Chúng ta đã biết một nước Nhật anh hùng, người Nhật có trách nhiệm với quần chúng và Tổ quốc. Trong chính quyền, các viên chức gây ra sự tổn thất hay tai nạn trong phần trách nhiệm của mình đều tự xử bằng cách nhận lỗi và từ chức. Những Sĩ quan Nhật lúc sa cơ thất trận biết chọn cái chết cho mình để tròn khí tiết. Trận Okinawa với Quân đội Mỹ kéo dài 82 ngày, kết thúc vào tháng 6, 1945, trong những giờ phút cuối cùng biết không giữ nổi đất đai của Tổ quốc, ngày 15 tháng 6, trong một hang động lớn, Đại Tá Kanayama, Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 27 BB tập hợp 102 người còn lại của Trung đoàn. Ông ta làm lễ đốt Quân kỳ Trung đoàn và nói: – “Trong ba tháng vừa qua, anh em đã cùng tôi chiến đấu. Lòng dũng cảm, chí hy sinh, sức chịu đựng của anh em, lịch sử sẽ khắc sâu. Nay tôi nói lời cám ơn anh em đã phục vụ quên mình. Giờ đây, tôi tuyên bố giải thể Trung đoàn. Từ nay trở đi, anh em không còn bị ràng buộc, tôi lãnh trách nhiệm về việc này. Riêng tôi, tôi sẽ vĩnh viễn ở lại đây. Nhưng tôi cấm anh em theo tôi. Ra lệnh cho anh em phải sống để kể lại cho hậu thế biết Quân đội Nhật Bản đã anh dũng chiến đấu như thế nào ở Okinawa.” Đoạn Đại Tá Kanayama rút gươm mổ bụng. Đại Úy Sato chặt đầu người chỉ huy theo đúng nghi thức rồi hô to TennMheika banzai! (Thiên Hoàng vạn tuế), dứt tiếng hô, ông chĩa súng lục vào đầu bóp cò tự sát. Cũng trong ngày 21 tháng 6, trong Chỉ huy sở của mình tại Mabumi, Tướng Ushijima và mọi người đều hớt tóc, cạo râu. Sau đó ông viết thư trình lên Thiên Hoàng Hiro Hito báo cáo về tình hình chiến sự tại Okinawa và tạ tội không giữ được đảo. Thư được điện về Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Hoàng Gia tại Tokyo. Cuối cùng, ông nói với Đại Tá Yahara: – “Đại Tá Yahara, ông cũng như tôi lẽ ra phải tự sát. Nhưng tôi ra lệnh cho ông ở lại. Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến Okinawa này. Mặc dù sống sau khi thua trận là nhục nhã, nhưng Tư lệnh của ông ra lệnh cho ông phải chịu cái nhục này.” Yahara do đó là Sĩ quan cao cấp bên phía Nhật sống sót sau trận đánh và về sau ông đã cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề “Trận Đánh Vì Okinawa.” Chiều ngày 22 tháng 6, Tướng Ushijima và Tướng Cho quỳ gối hướng về phía Bắc (hướng Hoàng Cung) vái ba vái và tiến hành lễ tự sát. Tướng Cho đưa cổ cho Đại Úy Sakaguchi chém đầu. Tướng Ushi-jima lấy gươm tự mổ bụng, tiếp theo đó bảy Sĩ quan tham mưu cùng tự sát. Ngày 2 tháng 7, trận Okinawa chính thức chấm dứt. Hai tháng sau trận Okinawa, trong giai đoạn cuối cùng của Đệ II Thế Chiến, Mỹ đã thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima and Nagasaki của Nhật Bản, sáu ngày sau, 15 tháng 8, 1945, Nhật Hoàng mới dứt khoát chấp nhận Tuyên ngôn Potsdam, đồng ý đầu hàng. Biết tin này, một số Sĩ quan trẻ trong Quân đội Nhật định làm đảo chính, định tiêu diệt phái chủ hàng và buộc nhà vua chấp nhận quyết chiến đến cùng. Nhưng cuộc đảo chính đã không xẩy ra, khi lệnh đầu hàng ban ra, nhiều Tướng lĩnh và Sĩ quan đã tự sát, trong đó có Bộ Trưởng Lục Quân Anami, Đại Tướng cựu Tổng Tham Mưu Trưởng Sugiyama, Đại Tướng Tư Lệnh miền Đông Tanaka… Vào tháng 4 năm 1975, khi Quân đội Cộng Sản đang trên đường tiến vào Nam Vang, người Mỹ đã mời Thủ Tướng Sirik Matak và toàn bộ Chính phủ Miên nên ra đi, vì ở lại thì sẽ bị Khờ Me Đỏ sát hại. Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Thủ Tướng Sirik Matak đã viết một lá thơ vô cùng cảm động gởi cho Đại sứ Mỹ tại Nam Vang là ông John Gunther Dean. Lá thư đầy nghĩa khí và tiết tháo của một người anh hùng “Sinh vi tướng, Tử vi thần,” nhưng cũng đầy cay đắng như sau: Tôi chân thành cám ơn lá thư của quý ông, và ngỏ lời đưa tôi đến bến bờ tự do. Tôi thì không thể rời bỏ nơi này một cách hèn nhát đến thế. Đối với quý ông và nhất là đối với đất nước nhân hậu này, tôi chưa hề tin rằng quý ông có ý nghĩ từ bỏ một dân tộc muốn tìm chọn tự do. Quý ông đã từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi đành bó tay. Quý ông đã rời bỏ chúng tôi, chúng tôi thật lòng ao ước quý ông và quý quốc sẽ tìm thấy hạnh phúc dưới bầu trời này. Nhưng hãy nhớ rõ điều này, nếu tôi có chết ngay bây giờ, trên mảnh đất mà tôi yêu mến, thì cũng chỉ vì mọi người sinh ra rồi sẽ có ngày trở về cát bụi. Tôi chỉ có một lỗi lầm là đã tin vào người Mỹ các ông. Xin ngài, người bạn quý, nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành của tôi.” (Hoàng Tử Sirik Matak) Khi Khờ Me Đỏ vào toàn bộ chính phủ Miên đều bị giết, riêng gia đình ông Sirik Matak, từ con cháu đến các người giúp việc trong nhà ông đều bị Khmer Đỏ sát hại.
Trong những ngày cuối cùng của VNCH, trước khi người Mỹ quyết định bỏ mặc cho VNCH tự chiến đấu chống Cộng sản, Đại Sứ Martin của Hoa Kỳ đã chính thức gặp Tổng Thống Trần Văn Hương và mời Tổng thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào, cũng như hứa sẽ bảo đảm cho tổng thống một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng thống cho đến ngày trăm tuổi. Tổng Thống Trần Văn Hương đã trả lời : “Thưa ông Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi bỏ nước ra đi, tôi rất cám ơn ông. Nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết Cộng Sản vào được Saigon, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.” Ngày 30 tháng 4, 1975, Saigon thất thủ sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng quân Bắc Việt, Quân Đội Việt Nam chúng ta không thiếu anh hùng: bốn Tướng lãnh VNCH đã tự sát, đó là Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Vùng 2 Chiến Thuật, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh SĐ 21 BB, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh SĐ5BB. Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã dùng độc dược, và ba Tướng lãnh sau dùng súng ngay tại Bộ Chỉ Huy của mình.
Đại Tá Hồ ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng. Đại Tá Cẩn đã bị quân Cộng sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ. Cũng như Đại Tá Kana-yama, Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 27 BB của trận Okinawa, Tướng Vỹ của Bình Dương đã triệu tập một phiên họp bất thường, thật ngắn ngủi, để giải thích cho mọi người rõ lệnh đầu hàng. Ông nói : “Lệnh bắt chúng ta buông súng bàn giao cho địch, nói thẳng ra là đầu hàng… Vì tôi là một Tướng chỉ huy mặt trận, tôi không thể thi hành được lệnh này. Tôi nghĩ thân làm Tướng là phần nào đã hưởng vinh dự và ân huệ của Quốc Gia hơn các anh em, nên tôi phải chọn lấy con đường đi riêng cho tôi.” Cảm thấy nỗi nhục thất trận, không phải chỉ hàng Tướng lãnh, cấp Tá như Trung Tá CSQG Nguyễn Văn Long, đã tự bắn vào đầu, chết dưới chân tượng TQLC trước Quốc Hội, Trung Tá Trần Đình Chi, An Ninh Quân Đội đã tự sát tại văn phòng ông ở Biên Hòa. Một Hạ sĩ quan Quân Cảnh đã kết liễu đời binh nghiệp của mình tại Biệt Khu Thủ Đô, và nhiều binh sĩ Nhảy Dù đã choàng vai vây vòng tròn với nhau trên đường lui ở Ngã Ba Ông Tạ, cũng như những toán TQLC trên bãi biển Tư Hiền, với những quả lựu đạn mở chốt để cùng chết với nhau. Quyết định chọn cái chết là khó, nhưng cái chết diễn ra rất nhanh, chọn sự sống là dễ, nhưng sự sống kéo dài làm người ta tủi nhục. Trong khi đó ngày 7 tháng 5, 1954, Điện Biên Phủ thất thủ, Tướng chỉ huy De Castries đã ra đầu hàng, bị bắt làm tù binh và được trao trả sau Hiệp Định Genève. Ông rời Quân ngũ năm 1959 và qua đời năm 1991 tại Paris, Pháp. Ông có trở lại thăm chiến trường xưa nhưng không hề ca tụng kẻ thù. Trái lại Đại Tá Bigeard, bị bắt tại Điện Biên Phủ, sau 50 năm đã ca tụng kẻ thù và chê Quân đội Pháp. Tương tự như vậy, bên cạnh những hào kiệt đã tuẫn tiết, Quân đội chúng ta cũng có những mạt Tướng không chịu chết cho đời thương tiếc, mà sống để lại ô danh và tủi nhục cho đồng đội đã hy sinh xương máu cho sự nghiệp, chạy về quị lụy ôm chân kẻ thù xưa. Bên cạnh những anh hùng, cũng có những kẻ phản bội. Chúng ta liên tưởng đến hai câu thơ của Cụ Phan Bội Châu: Dù lịch sử, cha ông thây kệ. Nhục hay vinh họ kể gì đâu! Người xưa đã nói : “Không lấy thành bại mà luận anh hùng.” Nếu hôm nay chúng ta mỗi năm đến ngày 30 tháng 4 còn ngẩng mặt nhìn đời được là nhờ hào quang của những người đã chết, rửa mặt cho miền Nam. Còn chúng ta sống, kéo dài cuộc sống làm sao để cho khỏi hổ thẹn. Huy Phương
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.