Tết ăn bánh tét

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 23 Nov 2017 

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Hồi ký,

hoànglonghải kể, chuyện thật trăm phần trăm.

(Người Nam ăn bánh tét,

Người Trung, người Bắc ăn bánh chưn)

Họp “Phụng Hoàng” xong, tôi nói nhỏ với thiếu úy Nguyễn Tấn Kiệt, “phụ tá đặc biệt” của tôi:

_ “Chút ông qua phòng tui.”

Vừa về văn phòng, chưa kịp ngồi, thiếu úy Kiệt đã vô, tôi nói liền:

_ “Ông ngồi xuống đi. Tụi đang nghĩ tới thằng cha Hiệp đây!”

Thiếu úy Kiệt hỏi:

_ “Hiệp Vàm Rầy?”

_ “Chớ ai.”

Vàm Rầy, trong Nam thường gọi “vàm” là “dzàm”. Là một khu dân cư ở đầu cầu Vàm Rầy. Khu nầy có khoảng vài chục căn nhà, dọc bờ kinh Rạch Giá / Hà Tiên, kế một cái chợ thật vắng, chẳng thấy họp chợ bao giờ. Dãy nhà bên hông chợ, phía đầu kế ngoài đường lộ là quán càphê hủ tiếu của một cô gái khoảng trên hai mươi tuổi, không đẹp, không xấu, dáng người cao, chưa chồng.

Đó là nơi chúng tôi thường tụ họp, không ăn hủ tiếu thì cũng uống cà phê. Cả hủ tiếu với càphê đều dở, nhưng quán nầy là quán độc nhất ở đây, không ghé vô đây thì chỉ còn ngồi bên đường, như “ăn mày”. Tôi thường nói đùa như vậy. Có lần, tôi với trung tá Hồ Đàn, Thiết đoàn trưởng Thiết đoàn 16, trải bản đồ trên mặt bàn trong quán để chấm tọa độ cho đại bác 105-ly nổ chụp “bọn chúng” đang nghỉ chân trong “kinh Kháng Chiến”.

“Cô nàng” chủ quán, không có chi đáng ngại về việc cô ta có thể làm giao liên cho Việt Cộng. Hôm Việt Cộng đánh vô xã, tức địa điểm nầy, có mấy tên du kích biểu cô làm hủ tiếu cho chúng ăn mà không trả tiền. Nghe cô ta phiền, tôi nói đùa:

_ “Em gái hậu phương” – tôi và trung tá Đàn thường gọi đùa cô ta như vậy, gọi riết rồi tôi không biết cô ta thứ mấy, tên gì – “cứ đòi ngay ông Phó Nghiêm” – Phó quận trưởng Nguyễn Đức Nghiêm.

Tôi cũng gọi đùa ông Phó Nghiêm là “ông Thần Tài” – hễ nơi nào có đánh nhau, nhà cháy, có người dân thường chết hay bị thương, là ông mang giấy tờ tới. Nhà cháy thì được ông ghi tên vô danh sách “Bồi thường chiến tranh”, lãnh bốn chục ngàn và hai mươi tấm “tôn” lạnh – tôn bằng nhôm, của Úc, không nóng như tôn thiếc. Tôi không rõ về người chết và bị thương thì được “bồi thường” bao nhiêu. Có lần tôi cãi với ông Phó Nghiêm:

_ “Sao gọi là “bồi thường”. Mình gây ra mới “bồi thường” chớ. Việt Cộng tấn công vô, gây ra tai họa chớ mình có làm gì đâu?”

Ông Phó Nghiêm, vốn dĩ “dân Bắc kỳ”  mà  lại “vô sự”, có nghĩa là ông không “rắc rối” như tôi, “dân trọ trẹ”, cưới nói:

_ “Ngưuời ta đưa cho mình một danh sách có tên như vậy, cứ thế mà làm. “Cứ thế cứ thế” mà.”

“Cứ thế cứ thế” (CTCT) là tiếng gọi đùa thiếu úy Thịnh, mới về Chi khu, xuất thân khóa 2 trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị (CTCT).

Một lúc ông Phó Nghiêm nói thêm:

_ “Tiền viện trợ Mỹ mà, coi như tiền… chùa. Cho dân hưởng thoải mái.”

Phía trong cùng, sát bờ kinh là nhà xã trưởng Ngô Văn Àn. Hôm Việt Cộng tấn công, ông ta và anh con trai lớn, cảnh sát viên Ngô Văn An, lui xuống nhà bếp, rồi trượt xuống bờ kinh, núp dưới đó.

&

Tôi  nói với thiếu úy Kiệt:

_ “Hôm Viẹt Cộng tấn công, thằng cha Hiệp không có mặt ở cuộc.”

_ “Nó ở nhà con vợ bé, trong Xóm Biển.”

_ “Nó không sợ? Bộ trong Xóm Biển không có giao liên?”

_ “Không đâu! Xóm Biển hầu hết làm nghề biển, tụi nó không móc nối được. Dân “xóm Đồn Giữa”, “xóm Chủ Ry”, “xóm Rượu” đi làm đồng mới dễ bị Việt Cộng bắt chẹt.”

“Xóm Đồn Giữa” là xóm nghèo, dân tứ xứ mới tìm tới ở mấy năm nay, từ hồi có hiệp định Paris càng đông hơn. Xóm nằm từ “Đồn Giữa” – đồn Nghĩa Quân nằm giữa Kinh Lình Quỳnh và Kinh Vàm Rầy – tới đầu cầu Vàm Rầy. “Xóm Chủ Ry” là xóm cũ có nhà ông Henry, thân phụ “Chị Tư Nết”, tức Annette, tức bà vợ ông đại tướng, thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Hồi trước 1945, ông Chủ Ry có vài ngàn mẫu ruộng, vài trăm con trâu – để cày ruộng – Ruộng ông nhiều lắm, ông phải cho đào kinh xã phèn, trong bản đồ quân sự còn ghi tên “Kinh Chủ Ry”. Sau khi “Thổ dậy”, rồi tới Việt Minh khủng bố, ông bỏ xứ đem gia đình chạy lên Rạch Giá, sau khi Tây chiếm lại thị xã nầy.

Ông Chủ Ry thì “theo Tây” nhưng chú Út, em út của ông thì lại “theo Việt Minh chống Tây”, bị Tây bắn chết, mộ chôn bên kia kinh, ngang nhà ông ta. Xóm Chủ Ry bây giờ còn cái nền nhà của ông và mấy ngôi mộ sơn trắng của gia đình ông, nằm kế bên con lộ Rạch giá / Hà Tiên. “Xóm Rượu” là xóm có lò nấu rượu của hai anh em ông Tư, ông Năm Rượu, nằm xa phía trên, ngang “Xóm Đạo” bên kia sông.

Dân xóm nào cũng nghèo, kiếm ăn từng ngày. Họ “đi làm đồng” là đi giăng câu, đặt lợp, đốn tràm, sống “thiếu trước hụt sau”. Giăng câu, đặt lợp thì tôm cá không bao nhiêu, đốn tràm bán cho Tư Trạng, chủ vựa cũng khổ không kém chi, thường bị du kích – Việt Cộng, dĩ nhiên – nghiêm cấm, bắt giữ, tịch tu dao búa, cưa xuồng.

Lệnh của Việt Cộng là:

“Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ,

                        Đốn tràm xanh rước Mỹ về nhà.

Đốn hết tràm làm cho đất thành trơ trụi hay thưa ra thì Việt Cộng trốn ở đâu. Chỉ có ai là thân nhân của du kích hay phải làm giao liên cho chúng, chúng mới cho đốn tràm.

&

_ “Tại sao thằng cha Hiệp đêm đó không có mặt ở cuộc. Nó biết trước nó tránh đi hay tình cờ?”

Thiếu úy Kiệt hỏi ngược lại tôi:

_ “Đại úy nghi nó làm Việt Cộng?”

Tôi cũng nói ngược ông Kiệt:

_ “Ông là người chỉ huy trực tiếp nó, ông phải biết rõ nó hơn tui. Sao ông lại hỏi tui?”

Kiệt nói:

_ “Thằng cha nầy ham nhậu, ham gái. Tui không nghĩ nó theo Việt Cộng!”

_ “Nó có bị gài không?” Tôi hỏi.

_ “Đại úy nói con vợ bé nó gài nó?” Kiệt hỏi lại.

_ “Việt Cộng là chúa gài, “thủ đoạn”. Đừng để tụi nó qua mặt mình.” Tôi nói.

_ “Không gài đâu.” Thiếu úy Kiệt lại nói. “Con vợ bé nó sáng đi theo ghe chở cá, ra Rạch Giá giao hàng cho Tư Sậm, xong tính tiền, chiều đem tiền về. Không nghi có lý do con mẹ nầy vô đồng làm giao liên cho Việt Cộng.”

_ “Khi tấn công vô cuộc, Việt Cộng có điều nghiên. Chỗ nào văn phòng, chỗ nào để súng, chỗ nào hầm tuyền tin, chỗ nào phòng ngủ của thiếu úy Huệ, thiếu úy Trực… Bằng cách nào tụi nó biết. Thằng cha Hiệp có qua con vợ bé báo cáo cho Việt Cộng không?” Tôi hỏi.

_ “Trụ sở cuộc, dân chúng vô ra hằng ngày, văn phòng có che dấu gì đâu. Hầm truyền tin thì ngay trước sân. Vô ra ai cũng thấy, cần chi tới thằng cha Hiệp.” Thiếu úy Kiệt góp ý.

_ “Với lại…”

_ “Với lại chi?…” Tôi hỏi tiếp câu bỏ lửng của thiếu úy Kiệt.

Thiếu úy Kiệt vừa nói vừa cười:

_ “Tướng con vợ bé thằng cha Hiệp dâm lắm. Đã ngủ đoản mà cặp lông mày như sâu róm. Hai người nầy cặp nhau chỉ ham có chuyện đó, ham chi “chách mạng cách miếc” mà làm giao liên.”

Tôi cũng cười, nói: “Đa mi đa hộ mao!”

Nhớ hôm ra Rạch Giá, tôi và mấy người bạn ngồi chung quanh bàn ăn, thiếu tá Trinh kể chuyện ở Giồng Riềng, Cảnh Sát Đặc Biệt đi kích, gặp chiếc ghe nhỏ, trên ghe có hai “anh chị” du kích ngủ say như chết, áo quần còn hở hang, chắc xong rồi chưa kịp mặc.

Thiếu tá Trinh nói: “Hôm qua “mần” nhau môt trận dữ dằn lắm hay sao mà tới sáng còn ôm nhau ngủ như chết; súng nổ cũng không biết, đi luôn. Chết đến nơi còn chưa buông.”

Nói xong Trinh cười ha hả. Cả đám cười theo. Tôi nói: “Trời sinh mà ông! Trời cho sướng vô cùng, ai mà không ham! Không phải là yêu nhau chân thật sao?”

Tôi cười, lại nói thêm: “Thật” không thì không biết. “Chân” thì có “chân”. Hai chân chổng lên trời, hai chân xuôi theo giường.”

Thiếu tá Trinh cũng cười: “Hoan hô “Mối tình “chân.” Có lẽ Trinh muốn nhại tên một truyện dài của Nhất Linh.

&

Tôi lại hỏi thiếu úy Kiệt:

_ “Từ hôm giải toả xong tới giờ, thằng cha nầy có báo cáo gì không?”

_ “Không!” Thiếu úy Kiệt trả lời gọn lỏn.

Một lúc sau, tôi nói:

_ “Mình có 7 xã, Vàm Rầy là nặng nhất, vừa ngang trên đường giây 1C, vừa nhiều nguồn lợi, cá, tràm, máy cày, lúa… Tụi nó bám kỹ lắm. Nếu thằng cha Hiệp phụ trách vùng dó không có kết quả gì thì phải thay người giỏi hơn. Ông cho gọi nó về trình diện ông, giải thích cho y rõ. Biểu Năm Hùng chỉ biểu thêm kinh nghiệm cho thằng chả. Năm Hùng từng làm trưởng ấp Vàm Rầy cả chục năm, hồi còn “Đặc Khu Hòn Sóc”, rành rẻ dưới đó. Nó mà không có kết quả gì chắc phải cho nó đi xã khác.”

Thiếu úy Kiệt “dạ” rồi bước ra.

&

Gần tết, thiếu úy Kiệt vô văn phòng tôi, nói:

_ “Xong rồi, đại úy.”

Tôi hỏi:

_ “Gì xong?”

_ “Thằng cha Hiệp.

_ “Nó làm gì hả?” Tôi hỏi.

_ “Thiếu úy Chiếu vừa tịch thu xong một trăm cặp bánh tét ở Vàm Rầy, nhà Tư Lừng, tiếp tế cho tụi Tư Ngọc ăn tết. Thiếu úy Chiếu sẽ giải Tư Lừng lên.

_ “Tư Lừng nhà đối diện nhà thầy Côn, phải không?” Tôi hỏi.

Thiếu úy Kiệt trả lời:

_ “Đúng đấy!”

Tôi cười:

_ “Cái nầy không phải “Trẻ Tạo đành hanh” đâu nghe. Tự dưng ông “Côn” làm nhà kế ông “Lừng”. Hai ông tự đến với nhau chớ đâu phải do ông trời sắp đặt mà trách trời.”

Nghe tôi nói, thiếu úy Kiệt cũng cười.

Một lúc cười xong, tôi hỏi thiếu úy Kiệt:

_ “Công của “ông” Hiệp?” Tôi hỏi.

_ “Vâng! Nó lên bây giờ, trình diện đại úy.” Thiếu úy Kiệt nói.

Tôi gọi tài xế Thành, biểu kêu hai caphê cho tôi với thiếu úy Kiệt. Tôi nói thêm với tài xế Thành:

_ “Chút nữa có thêm mấy người, “ông” nhớ hỏi họ uống gì kêu thêm.”

Nửa giờ sau, trong khi tôi và thiếu úy Kiệt đang ngồi nói chuyện chơi thì thiếu úy Chiếu với cảnh sát (đặc biệt) Hiệp đi vô. Sau khi chào hỏi xong, biểu ngồi xuống, tôi hỏi thiếu úy Chiếu:

_ “Bữa nay Phó Nghiêm làm gì ở dưới?”

_ “Cả đám ở dưới. Vui lắm. Tỉnh đoàn trưởng Xây Dựng Nông Thôn, ty Xã Hội với ông Phó Nghiêm.” Thiếu úy Chiếu trả lời.

_ “Phát bao nhiêu gạo mà đông vậy?” Tôi hỏi.

_ “Mỗi nhà một bao một trăm ký. Chưa phát tiền, hình như trên bộ chưa đem tiền về. Tôn cũng vậy?” Thiếu úy Chiếu lại trả lời.

_ “Có bao nhiêu nhà bị cháy đâu mà phát nhiều vậy?” Tôi hỏi.

_ “Xã Àn ghi tên hết toàn xóm. Ai xin ông cũng cho. Gởi qua em xác minh, em cũng ký tuốt. Gạo gì của mình đâu!” Thiếu úy Chiếu cười trả lời, vẻ thích thú.

Một lúc, thiếu úy Chiếu hỏi tôi:

_ “Đại ca nhớ con Bạch chủ quán càphê Xóm Biển không?”

_ “Nhớ chớ sao không? Bữa tui ghé, nó săn đón nồng nhiệt lắm, cười tình với tui hoài, “ỏng ẹo” buồn cười thiệt; con nhỏ mặt mày phúc hậu đó chớ! Nhưng tui lơ luôn, tới có một lần rồi thôi.”

_ “Em biết rồi!” Thiếu úy Chiếu trả lời tôi. Xong, anh ta nói tiếp: “Đại ca mà tới hoài, chết nó luôn.”

_ “Ông nghĩ bộ tôi không biết à?” Tôi nói.

_ “Đại ca tới hoài, con nhỏ đóng cửa tiệm luôn.”

_ “Quán nó sống được,” tôi nói, “là nhờ mấy thằng đánh cá biển. Sáng tụi nó ngoài biển về, ghé càphê Bạch uống càphê, ăn nhậu, trưa về ngủ, chiều đánh cá tiếp. Tui ngồi chình ình đó, mấy thằng trốn quân dịch đâu dám tới, “chết” quán con Bạch. Ông nghĩ vậy chớ gì?”

Thiếu úy Chiếu cười:

_ “Đúng y chang.”

_ “Vậy ông có biết tội gì không?” Không chờ trả lời, tôi nói tiếp: “Tán trợ bất phục tùng” đó. Tránh mặt cho tụi nó ăn nhậu, tuy không có chứng cớ, nhưng rõ ràng là vậy. “Em gái hậu phương” phải biết vậy mà cám ơn tui chớ!

_ “Con nhỏ Bạch chịu đại ca lắm đó. Ông vô nó chịu đèn ngay.” Thiếu úy Chiếu vừa nói vừa cười.

_ “Chịu thôi! Chịu thôi. “Hà Đông sư tử hống!” Ông biết không?”

_ “Con Bạch cũng được lảnh gạo?” Tôi lại hỏi.

_ “Nó lảnh hai phần, hai trăm ký. Không biết nó khai sao mà hay vậy!” Thiếu úy Chiếu nói.

_ “Ông cho luôn?” Tôi hỏi.

_ “Cho luôn. Gạo Mỹ mà, tiếc chi? Thằng cha thương phế binh ở đồn giữa, khai ba phần, ba trăm ký, em cũng cho luôn.” Thiếu úy kể, hào hứng.

_ “Thằng thương phế binh nầy có báo cáo “chống Mỹ cứu nước”, có phải không?” Tôi hỏi.

Thiếu úy Kiệt trả lời:

_ “Có”.

_ “Mỹ là vậy đó. Đem gạo cho người ta mà đi đâu người ta cũng ghét. Mấy ông biết sao không?”

Không ai trả lời, một lúc tôi nói:

_ “Đem gạo cho dân thì lâu lâu mới có, còn súng đạn thì ngày nào không có. Thằng cha thương phế binh ngày ngày nó nhìn cái chưn què của nó, nó trách ai? Chiến tranh! Tại vì tụi ngoài kia xâm lược hay tụi Mỹ gây chiến tranh. Tui rất “thần tượng” ông Washington, ông Jefferson, nhưng bọn “buôn bán chiến tranh” ngồi ở “Man-Hát-Tan” như Sương Biên Thùy nói thì có cảm tình sao được. Chiến tranh cũng do bọn đó nữa chớ. Mỹ cứ phát cơm áo cho dân quê hằng ngày, cho bọn trẻ con học hành bình an thì Việt Cộng làm gì được chớ! Người Mỹ có hiểu gì người Việt mình đâu, thành ra viện trợ… trật lất. Vô ích!

&

Ai nấy không nói gì thêm. Để tránh cái không khí nặng nề, tôi quay qua hỏi cảnh sát Hiệp:

_ “Đầu đuôi ra sao?”

_ “Dạ! Bữa hổm ở đây về, Em cũng lo. (Cảnh sát Hiệp lớn hơn tôi mấy tuổi, nhưng y xưng “em” với tôi, giống như nhiều người trong ngành). Em kể chuyện với con vợ bé của em. Nó hỏi em:

_ “Anh có muốn lập công không? Có công thì ông đại úy tha, cho anh ở lại đây chớ gì? Dễ lắm, để tui lo.”

“Em làm thinh, cũng tin vợ chút chút. Tuần rồi, vợ em đem cá ra Rạch Giá về, gặp vợ Tư Lừng xin quá giang. Vợ em cho đi. Nó đem về mấy thúng dừa khô với đậu xanh. Hỏi làm chi. Vợ Tư Lừng nói “gói bánh tét”. Năm ngoái, người ta nói nhà Tư Lừng gói cho Tư Ngọc (Tư Ngọc là trưởng ban kinh tài xã Đức Phương, tức Vàm Rầy), một trăm cặp. Năm nay gói nữa là gói cho Tư Ngọc chớ gì. Xứ nầy, ai nấu nấy ăn, ai giàu có gì đâu mà nấu nhiều.

Môt lúc, cảnh sát Hiệp kể tiếp:

“Xong rồi vợ em giả bộ tới nhà Tư Lừng đặt tiền cọc, nhà nó sát bờ kinh. Gói xong rồi, Tư Lừng chuẩn bị cột giây để giòng xuống kinh.

Thiếu úy Chiếu chen vô, giải thích:

_ “Đại ca biết không! Giòng bánh xuống kinh, đáy kinh lạnh, giữ được lâu. Khi em dẫn đệ tử “Tám Hông-đa” tới khám, tìm không ra mối giây. Té ra thằng cha Tư Lừng nầy cũng phòng xa. Đầu mối giây nó không cột trên bờ. Nó đóng cọc ngay dưới mặt nước, phải mò tay xuống mới nắm được. Em cũng tinh ý, nghi rồi, em dò chừng mé kinh từ đầu nhà tới cuối nhà, thấy đầu cọc, thò tay xuống, thấy mối giây. Nặng thấy mẹ, một trăm cặp.

_ “Tư Lừng khai làm sao?” Tôi hỏi.

_ “Tư Ngọc đặt nó nấu, trả công cao, hình như Tư Ngọc chuẩn bị cho một đám “xâm lược” (Bắc Việt xâm lược) từ Kampuchia qua, chờ sau Tết thì theo 1C mà về Chương Thiện.” Thiếu úy Chiếu báo cáo.

_ “Ăn tết chỉ có một cặp bánh tét?” Tôi hỏi.

_ “Trong mật khu chớ có phải Saigon đâu mà đòi “thịt mỡ dưa hành”. Vậy là may lắm rồi.” Thiếu úy Chiếu trả lời tôi.

_ “Ông giải Tư Lừng cho Năm Hưng lấy lời khai chưa?” Tôi hỏi.

_ “Xong rồi!” Thiếu úy Chiếu trả lời.

Tôi quay qua thiếu úy Kiệt:

_ “Ông nói Năm Hưng (ban khai thác) kết thúc sớm, giải giao về cho F. (Cảnh Sát đặc biệt cấp tỉnh). Tết nhứt, trong khám mình không có tù, ăn tết thoải mái.”

Thiếu úy Chiếu hỏi tôi:

_ “Giải quyết “chiến lợi phẩm” làm sao đại ca?”

_ “Ông làm gì chưa?” Tôi hỏi.

_ “Chưa? Chờ đại úy!” Thiếu úy Chiếu trả lời.

_ “Đừng cho ai ăn. Không đáng chi mấy cái bánh tét, tụi nó thưa ra, mấy thằng cha dân biểu đối lập lợi dụng làm tùm lum, mình bị “điều tra, ăn bánh của dân”, “ăn khế trả vàng”, bực mình lắm.” Tôi nói.

_ “Làm sao? Để vài bữa, bánh hư hết.”

“Ăn khế trả vàng” là câu tôi thường nhắc nhở mấy ông cấp dưới của tôi: Mình ăn hối lộ mười đồng. Cấp trên xuống điều tra, mình đút lại cho tụi nó ăn một trăm, mới yên thân. Vậy là “ăn khế trả vàng”. Mình ăn hối lộ “phương trình bậc một”, thanh tra ăn lại “phương trình bậc hai.”

&

Trưa hôm đó, gặp thầy giáo Xinh, hiệu trưởng trường tiểu học ở quận, tôi kể chuyện một trăm cặp bánh tét. Thầy Xinh cười:

_ “Dễ thôi. Ông đem qua bên trường sơ cấp Vàm Rầy, phát cho học trò mỗi đứa một cặp; vậy là xong ngay; mấy thằng chả “đối lập chống Thiệu” có muốn khai thác, cũng chẳng làm gì được, trơ mắt ếch mà nhìn.

Ý kiến “thần sầu”, tôi nói đùa với thầy Xinh, rồi liền gọi truyền tin cho thiếu úy Chiếu, biểu cho Xã Àn ký nhận trăm cặp bánh; xong, sáng mai đem qua trường phát cho học trò. “Tui sẽ xuống chơi. Chờ tui xuống.” Tôi dặn thiếu úy Chiếu như vậy.

Sáng hôm sau, tôi xuống Vàm Rầy.

Bọn học trò đang học, bỗng nhiên, được xã trưởng, cô giáo gọi ra sắp hàng, mỗi đứa được cho một cặp bánh tét, đem về ăn tết.

Bọn con nít hí hửng ra về, xách cặp bánh tòn ten, vui cười, chuyện trò om sòm. Ai thấy cũng vui.

&

Mất bánh, mất tiền, Tư Ngọc giận lắm mà không làm gì được Quốc Gia.

Một hôm, Hai Quẹo, nguyên là du kích địa phương, bị thương vì bị trực thăng bắn. Sau khi chữa lành ở bệnh viện Rạch Gia, y trở lại Vàm Rầy, lo làm ăn, nuôi vợ con, không theo Việt Cộng nữa. Y đi giăng câu, gặp Tư Ngọc.

Tư Ngọc hỏi con Hai Quẹo có ăn bánh tét của Cảnh Sát phát không? Vô tình Hai Quẹo nói có. Tư Ngọc liền chặt đầu Hai Quẹo cắm lên đầu cọc tràm ở cuối kinh, ghi bản án: “Cướp tài sản của “cách mạng”.

Thấy cái đầu lâu Hai Quẹo, ai cũng giật mình.

Nghe thiếu úy Kiệt báo cáo vụ Tư Ngoc chặt đầu Hai Quẹo xong, tôi nói: “Ác giả ác báo”. Cuộc chiến chưa tàn mà.

Mùa hè năm 1974, Tư Ngọc với mấy tên du kích về thu thuế máy cày phía ngoài “mật khu Trà Tiên”, bị Ba Thân, trung đội trưởng thám báo chi khu, phục kích bắn chết khi y đang ngủ trên võng; mình lỗ chỗ tới mấy chục phát đạn AK.

Đời có ân, có oán cả!

Tuy nhiên, nói cho cùng, cũng là “huynh đệ tương tàn”.

Chuyện nầy tôi có kể trong “Hương Tràm Trà Tiên – tức “Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng” do Văn Mới xuất bản.

hoànglonghải

Bí Mật Của Một Câu Kinh Phật

ThuyenNhanVN

Posted on 22/09/2015by mevh2hpsgfr80

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Hình minh họa

Vừa rồi, chúng tôi , những người bạn chí thân từ thời còn đi học ở Việt Nam trước 1975, rủ nhau qua Canada thăm mấy ông bạn khác. Chúng tôi đến thành phố Montreal vào mùa Hè nên không lạnh lắm. Ở Mỹ hay Canada, nhà cửa, cách sinh hoạt không khác nhau mấy. Và việc đi thăm bạn bè thì cũng chẳng có gì đáng kể ra đây nếu không có một câu chuyện, mà nếu bạn nghe được, chắc cũng sẽ ngạc nhiên, đặt nhiều câu hỏi. Chuyện hơi dài dòng, xin bạn kiên nhẫn. Chúng tôi gồm ba cặp vợ chồng, được gia đình người bạn tiếp đón rất thân tình. Ông ta còn gọi các bạn khác ở gần đó, kéo đến, nên buổi họp mặt thật đông vui.

Khi bữa cơm gia đình đã mãn, các bà lo dọn dẹp chén bát để pha trà và các ông đang chuyện trò sôi nổi , thì ông bạn chủ nhà đổi đề tài:

– Có một chuyện thực, xảy ra ở Việt Nam, khoảng năm 1982. Một chuyện kỳ lạ mà bà chị tôi vừa là người trong cuộc vừa là nhân chứng. Lúc còn ở Việt Nam, chị tôi giấu kín vì sợ đến tai Công An thì sẽ bị tra hỏi, có thể bị tù cũng nên. Nay chị tôi đến xứ tự do, sẽ kể thoải mái. Trong câu chuyện, có gì thắc mắc, xin cứ hỏi chị tôi. Người chị của chủ nhà, đang ngồi với các bà, khi được yêu cầu kể chuyện, chị xin phép vài phút để lên lầu. Lát sau đi xuống, tay chị cầm một phong bì đặt trước mặt và bắt đầu kể. Mọi người yên lặng, lắng nghe.

Gia đình tôi, sau bảy lăm (1975), chỉ còn đàn bà vì đàn ông đều vô tù cải tạo hết cả. Khoảng năm tám mươi (1980), chúng tôi được móc nối để vượt biên nhưng vẫn phải chờ ít nhất một người đàn ông đi tù cải tạo về mới quyết định được. Năm đó, cậu em tôi được thả về, chúng tôi báo cho người tổ chức, họ bảo, có một chuyến sắp ra khơi, phải đi ngay. Từ Sài Gòn chúng tôi đón xe về Cà Mau dự đám cưới. Đám cưới thật nhưng ăn cưới chỉ là cái cớ. Dân địa phương thấy người lạ từ Sài Gòn về ăn cưới thì biết ngay, nhưng rình bắt là công việc của Công An. Thế nên, ai cũng chờ đợi màn thứ 2 là khuya nay, Công An sẽ phục ở bãi đáp để tóm gọn quý vị quan khách nầy. Trò nầy xảy ra thường xuyên, nhưng họ không biết rằng vụ vượt biên nầy lại do chính Công An địa phương đứng ra tổ chức, nên tối đó quí vị Công An với các viên chức xã ấp có nhiệm vụ phải nốc rượu cho thật say, để sáng ra, ai cũng không biết gì cả!

Khuya đó, chúng tôi bị gọi dậy , cấp tốc lên đường. Từ nhà ra biển chỉ vài cây số. Trời quá tối. Chúng tôi âm thầm theo người trước mặt, đi vòng vèo trên các con đường đất. Trong bóng đêm tối đen, thỉnh thoảng , bên đường lại có một toán chui ra nhập bọn, tôi đoán, cả đoàn chúng tôi, ít ra cũng hơn trăm người. Mặc dù đã được dặn trước là khi xuống thuyền phải tuyệt đối yên lặng và trật tự, không được chen lấn cãi cọ, nhưng khi thấy mấy chiếc tắc xi (thuyền nhỏ đưa ra thuyền lớn), người ta ùa nhau lội xuống nước, tranh nhau leo lên thuyền. Cậu em tôi đi trước, tay bồng hai đứa con, vợ nó níu lưng đi sau, tôi níu áo cô ta để khỏi lạc nhau. Chỗ bãi đó toàn sình, ngập đến đầu gối khiến ai nấy bì bõm mãi mà chưa đến thuyền . Cậu em tôi phải kéo hai người đàn bà chúng tôi phía sau nên càng vướng víu, chậm chạp. Mọi người như những bóng ma âm thầm, chen nhau leo lên thuyền.

Khi cậu em tôi bỏ được hai đứa nhỏ lên thuyền, đẩy được vợ nó lên, đến lượt tôi thì bỗng có tiếng súng, tiếng la hét:

– Tất cả đứng yên! Đưa hai tay lên. Ai bỏ chạy sẽ bị bắn bỏ.

Tôi thấy ánh đèn pin loang loáng cách chỗ chúng tôi vài trăm thước. Chủ thuyền vội đẩy thuyền ra. Cậu em tôi chỉ kịp níu lấy be thuyền, người vẫn còn ở dưới nước. Tôi và khoảng vài chục người đành đứng nhìn mấy chiếc thuyền lẫn vào bóng tối, mờ dần ngoài biển khơi. Lúc đó tiếng súng và tiếng hô hoán « Đứng yên! Bỏ chạy bắn bỏ » càng như gần hơn khiến mọi người vội chạy ngược về phía bờ. Như đã dặn trước: Khi bị bể, phải chạy tránh xa ánh đèn của Công An, trốn cho kỹ, chờ vài hôm, yên tĩnh mới tìm cách ra lộ đón xe về.

Vậy là mạnh ai nấy chạy. Tôi bương đại lên bờ, chạy ngược hướng tiếng súng. Vừa chạy vừa run, miệng niệm: «Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát » còn thì cứ nhắm mắt, nhắm mũi chạy đại, vấp mô đất hay gốc cây té xuống thì vùng dậy chạy tiếp. Lúc đầu hình như có người cùng chạy với tôi , quay lại thì không thấy ai cả! Tôi chạy độ nửa tiếng, thấy đã xa, vừa hoàn hồn thì hai chân rã rời, nhấc không lên. Tôi ngồi đại xuống đất, thở dốc. Lúc đó khoảng một giờ sáng. Tôi nhìn quanh. Một bên là biển đen sì, rì rào tiếng sóng, một bên là bờ rừng, với hàng cây là những khối đen, cao hơn đầu người, trông như những con ác thú đang chờ mồi. Tôi đoán, có lẽ Công An rình bắt một vụ vượt biên khác, cách chúng tôi vài ba trăm mét, chủ thuyền tưởng bị bể, nên bỏ chạy, vì thế mọi người mới chạy thoát.

Từ lúc lên xe ở Sài Gòn đến khi về Cà Mau, tôi hoàn toàn không biết mình đang ở đâu? Bây giờ ngồi bơ vơ giữa đồng không mông quạnh, chung quanh tối mù, tôi tự hỏi mình sẽ làm gì, hay phải ngồi như thế nầy cho đến sáng? Lúc nãy, chạy, người toát mồ hôi, bây giờ, gió biển thổi vào, tôi lạnh run cầm cập. Tôi thầm ước cho Công An đến bắt mình , có người cùng bị bắt với nhau cũng yên tâm, rồi sau đó muốn ra sao thì ra! Cái xách nhỏ trên vai tôi vẫn còn. Tôi tìm chai nước lạnh, uống mấy ngụm. Trong xách chỉ có vài chai nước lạnh, mấy viên thuốc say sóng, mấy hộp sữa đặc, cái khăn nhỏ, một mớ đô la và vàng cùng quyển kinh Phật. Không hiểu sao, trong lúc hoảng loạn mà tôi còn giữ được cái xách?

Đang ngồi rầu rĩ, bỗng nhiên, tôi thấy từ xa, có ánh đèn thấp thoáng, có lẽ là đèn dầu hôi, loại thường thấy ở thôn quê, cách tôi hơn một cây số. Tôi mừng rỡ, quên cả mệt, đứng lên, nhắm ánh đèn mà đi. Tôi đi như chạy, té lên, té xuống, mà không thấy đau, cứ nhắm ánh đèn bương tới, vì sợ người ta tắt đèn thì không biết làm sao tìm đến. Độ nửa giờ sau, tôi đến nơi. Đó là một nhà lá, cửa mở, một cây đèn bão (loại đèn để đi trong gió mà không sợ tắt), đặt trên một chiếc ghế nhỏ, để ngay trước cửa, nhờ vậy mà từ hướng bên trái ngôi nhà, tôi vẫn thấy được.

Khi đến trước cửa, tôi kêu lên:

– Có ai trong nhà không? Cho tôi vào với.

Có tiếng đàn ông nói lớn:

– Vào đi! Đừng sợ!

Khi bước vô cửa tôi mới nhận ra là có một người đàn ông đang ngồi hút thuốc lào, cạnh một cái bàn để giữa nhà. Người đàn ông đứng lên, ra đem cây đèn bão và chiếc ghế vào. Nghe giọng lơ lớ, với cách dùng chữ, tôi đoán ông ta là người Bắc giả giọng Nam. Tôi bước vào nhà. Nhà không rộng lắm nhưng đặt ba nơi ba chiếc giường rộng, có trải chiếu tươm tất. Ông ta chỉ chiếc ghế:

– Ngồi đấy đi!

Tôi nói cám ơn, vì áo quần dính sình, không dám ngồi, sợ dơ ghế. Ông ta bảo, giọng bình thản như việc nầy đã từng xảy ra nhiều lần:

– Thế thì đi tắm đi! Tôi có sẵn áo quần của bà xã tôi, thay tạm. Áo quần bẩn thì giặt đi, phơi ra ngoài gió, sáng mai khô ngay, thay trả lại cho tôi, rồi tôi sẽ đưa ra bến xe, đón xe về Sài Gòn.

Nghe nói sáng mai đón xe về Sài Gòn, tôi mừng quính, không ngờ mình may mắn gặp được cứu tinh. Tôi thấy có cảm tình với người đàn ông tử tế đó, định nói lời cám ơn, nhưng nhìn thấy hai con mắt của ông ta, tôi rùng mình khiếp sợ. Ông ta khoảng năm mươi tuổi, dáng người tầm thước, mặt sạm nắng, hai gò má cao, tóc ngắn , chân tay gân guốc … nghĩa là ông ta đúng là một nông dân, chỉ có đôi mắt là khủng khiếp. Tuy đèn dầu tù mù nhưng đôi mắt vẫn ánh lên những tia sáng lạnh lẽo, vừa uy quyền, tàn nhẫn vừa như giễu cợt. Tôi sợ quá, cảm tưởng như mình là con chuột đã bị con mèo chộp được trong móng vuốt nhưng vẫn giữ đấy chờ con mồi chết khiếp mới từ từ thưởng thức. Thấy tôi đứng bất động vì sợ, ông ta cười, giọng dịu dàng nhưng vẫn uy quyền, như ra lệnh:

– Tôi không hại cô đâu. Cô đừng sợ. Tôi nghe tiếng súng nổ là biết ngay vượt biên bị bể nên thắp đèn lên để ai chạy thoát thì đến đây tá túc, sáng mai tôi lấy thuyền đưa ra bến xe về nhà. Tôi đã cứu hàng mấy trăm người rồi. Ai cũng về nhà an toàn. Đừng sợ. Để tôi lấy áo quần cho cô thay tạm. Hôm nay vợ tôi ra chợ thăm đứa con gái, sáng mai, tôi đưa đi, nhân tiện đón vợ tôi về. Đói bụng thì có cơm nguội trong nồi với con cá khô trong bếp, lấy ra mà ăn.

Ông ta nói nhỏ nhẹ, từ tốn nhưng tôi vẫn sợ, răm rắp theo lệnh. Ông ta vào buồng đem ra một bộ đồ đàn bà màu đen , trao cho tôi rồi thắp một cây đèn cầy , chỉ lối đi ra sau chái nhà:

– Có cái phòng tắm sau kia. Sẵn nước với khăn lau. Tắm xong, mặc tạm, còn bộ đồ bẩn thì giặt đi, phơi lên, sáng mai khô, mặc vào, trả lại bộ đồ cho vợ tôi.

Tôi riu ríu cầm áo quần và cây đèn cầy, ra nhà sau, vào phòng tắm, đóng cửa lại, gắn cây đèn sáp lên bệ, xây lưng về phía đèn, cởi đồ ra, dội nước. Tôi làm một cách vô thức, như bị thôi miên bởi cặp mắt của ông ta, tôi đoán , đang nhìn tôi qua khe hở của vách phòng. Tôi tắm qua loa, mặc áo quần vào. Còn nửa thùng nước, tôi đổ ra cái thau nhỏ sẵn đó, vò bộ đồ dính sình rồi treo lên một sợi dây kẽm trong phòng tắm . Khi tôi lên nhà trên thì ông ta chỉ cái giường, có giăng sẵn mùng:

– Cô ngủ trên giường nầy. Tôi ngủ trong phòng. Ngủ đi cho khoẻ, đừng sợ mà thao thức. Mai đi sớm.

Tôi nói:

– Dạ. Cám ơn! Rồi chui vô mùng. Ông ta tắt đèn, đi vào buồng.

Tôi nằm trên giường, mắt mở thao láo, không dám ngủ. Có chiếc mền mỏng, tôi lấy quấn chặt quanh người rồi nằm lắng nghe, không biết chuyện gì sẽ xảy ra? Tôi chỉ mong được ông ta tịch thu hết số đô la và vàng tôi mang theo rồi tha cho tôi về nhà. Tôi cứ lẩm nhẩm niệm Quán Thế Âm, cầu Phật Bà cứu khổ cứu nạn. Trong đêm tối, tất cả im lặng , chỉ có tiếng sóng biển rì rầm nghe như tiếng xe chạy rất xa . Bấy giờ tôi mới thấy người rã rời, vừa mỏi vừa đau ê ẩm khắp nơi , nhất là những chỗ bị mô đất hay gốc cây đập mạnh vào khi tôi chạy bị ngã. Suy nghĩ miên man, tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.

Khi tôi tỉnh dậy thì trời đã sáng. Vừa xếp mùng, mền xong thì ông ta từ trong buồng bước ra.

– Ngủ có được không?

– Dạ. Đi mệt quá nên ngủ say một giấc đến sáng.

Tôi nói mà không dám nhìn ông ta, sợ thấy đôi mắt kinh khiếp đó.

– Cô thay đồ rồi chúng ta đi ngay. Tôi chở cô ra bến xe ngoài chợ, họ sẽ đưa cô lên bến xe tỉnh, đón xe về Sài Gòn. Cô viết vào miếng giấy trên bàn kia, tên họ địa chỉ của cô. Tôi cần biết về cô để sau nầy dễ xác nhận.

Tôi ra sau nhà, thay đồ, đem bộ đồ của vợ ông ta để trên giường, đến chỗ cái bàn, viết tên họ, địa chỉ vào miếng giấy. Ông ta chỉ cái xách nhỏ của tôi « Đừng quên cái xách tay ». Tôi thấy quyển kinh của tôi để ra ngoài nhưng không dám lấy bỏ vào xách, mà làm như không thấy, chỉ vơ vội cái xách, cầm đi theo ông ta. Ra ngoài sân, tôi mới biết, trước nhà là một con sông rất rộng, có lẽ là cửa sông, còn biển thì nằm bên trái căn nhà, cách một cây số. Nhà ông ta nằm giữa một vùng hoàn toàn hoang vắng, chung quanh là sình lầy với cây đước, vẹt, sú gì đó mọc mênh mông, chạy đến mút mắt. Tôi không hiểu vì sao vợ chồng ông ta lại đem nhau ra ở chỗ nầy? Không ruộng vườn, không thuyền bè đánh cá, không có người chung quanh, ngay đến con chim cũng không thấy bay qua. Có chăng là mấy con cua còng gì đó nằm trên mặt sình dương mắt nhìn tôi. Con đường từ nhà ra bến sông được đắp cao, có lẽ là lối duy nhất đưa ông ta ra chiếc thuyền, đến với xã hội loài người.

Ông ta xuống thuyền, tôi bước theo. Nhờ mấy miếng bê tông làm thành tam cấp nên tôi xuống thuyền không khó khăn lắm. Chiếc thuyền nhỏ, dài khoảng 6, 7 mét, rộng hơn 2 mét, gắn máy đuôi tôm. Ông ta tháo dây cột thuyền, giật máy, đưa thuyền ra giữa giòng sông.

Chiếc thuyền chạy giữa hai bờ rừng vắng vẻ, hoang vu. Một lúc thật lâu thì xa xa thấp thoáng mấy mái nhà sau hàng dừa nước, rồi vài chiếc thuyền xuất hiện, chạy ngược chiều. Thuyền ghé vào một bến đò, có nhà cửa, quán ăn, một chợ thôn quê nhỏ và một bến xe lam (xe Lambretta, ba bánh dùng chở khách). Ông ta cột thuyền, ra dấu cho tôi cùng lên bờ. Mọi người thấy ông ta thì cúi đầu chào vẻ kính cẩn và sợ hãi. Ông ta không thèm nhìn ai, đi thẳng đến chiếc xe lam, nói gì đấy với người chủ xe. Người chủ xe khúm núm gật đầu, miệng dạ nhịp, rồi đến nói với tôi:

– Mời cô lên xe. Xe chạy ngay bây giờ.

Ông ân nhân không để ý đến lời cám ơn của tôi, cũng không nói với ai tiếng nào, xuống thuyền, giật máy, quay thuyền ra giữa giòn. Khi ngồi trong xe lam, tôi thấy mọi người đang tò mò nhìn tôi với vẻ sợ hãi rồi thì thầm với nhau gì đấy. Ông xe lam nổ máy, chở một mình tôi, vòng vèo trên đường đất trong xóm rồi đưa xe ra đường lớn, chạy vào thành phố. Ông ta chạy thẳng đến bến xe khách, ngừng cạnh một xe đầy khách, mời tôi xuống, đưa tôi đến ông tài xế, thì thầm với ông ta. Ông tài xế mời tôi lên ngồi ghế trước. Tôi lục trong xách nhỏ, thấy gói đô la và vàng còn nguyên, lấy ra một mớ tiền Việt đưa trả cho hai người, nhưng ai cũng khoát tay.

– Anh Năm dặn rõ là ảnh sẽ trả tiền xe cho cô, chúng tôi đâu dám nhận.

Chiều hôm đó, tôi về đến nhà . Khoảng một tháng sau, người tổ chức đến gặp tôi, báo tin là mọi người đến đảo an toàn, thân nhân sẽ gửi thư sau. Ông ta hỏi tôi rất tỉ mỉ về vụ những người không kịp lên thuyền, tôi kể lại sự việc. Ông ta bảo những người kẹt lại đã bị Công An bắt, chỉ thiếu hai gia đình, gồm bốn người, không có tin tức. Hai gia đình nầy thì tôi biết, họ là thương gia xuất nhập cảng trước bảy lăm, rất giàu. Trước khi đi, họ đã bán nhà, vì tin chắc sẽ đi lọt, như vậy, họ ôm của cải theo (vàng và đô la), phải nhiều lắm.

Chuyến vượt biển lần đó khiến tôi sợ quá, không dám nghĩ đến, ai rủ đi cũng lắc đầu.

Khoảng một năm sau, tôi nhận được một lá thư, tên người gửi lạ hoắc. Tôi hoàn toàn không biết ai đã gửi đến – Chị ta cầm lá thư đưa lên – Mấy năm sau, chồng tôi đi tù về. Chúng tôi qua Mỹ theo diện HO. Vợ chồng tôi qua Canada ở chơi với gia đình cậu em. Gần 10 năm mà tôi vẫn còn giữ lá thư nầy. Để tôi đọc cho quý vị nghe:

– « Gửi bà H (là tên tôi). Bà còn nhớ, lần vượt biển ở Cà Mau, bị bể và bà được tôi cho trọ qua đêm, hôm sau đưa ra bến xe, về thành Hồ. Tôi biết bà thắc mắc. Tôi là ai? Tại sao lại ở nơi vắng vẻ? Tôi sinh sống bằng cách nào?

Tôi cho bà rõ. Tôi là Công An, có nhiệm vụ ở đó để đón những người vượt biên bị bể chạy thoát được. Công An chúng tôi làm nhà cách nhau một vài cây số, dọc bờ biển, nơi thường có bến bãi vượt biên, có thuyền con đón ra thuyền lớn. Như vậy, khi Công An đến bắt vượt biên, người nào chạy thoát cũng chỉ quanh quẩn đâu đấy, thấy đèn là tìm đến, thế là nộp mạng cho chúng tôi. Tôi bảo rằng có vợ ở chung nhưng thật ra, vợ con tôi đều ở ngoài Bắc, tôi vào đây công tác đã được bốn năm, khi nào ổn định sẽ đưa gia đình vào thành phố, vì chẳng ai có thể ở nơi hoang vắng nầy.

Mỗi Công An chúng tôi đã chuẩn bị sẵn các tiện nghi, nước nôi, lương thực, giường chiếu để đón những người vượt biên tìm đến nhờ cứu giúp. Tôi cho ăn uống, ngủ lại, sáng hôm sau, cho họ xuống thuyền, nói là chở ra bến xe để họ về nhà, nhưng kỳ thực, thuyền đi được nửa đường là bị Công An chận bắt. Tôi cũng bị bắt để không ai nghi ngờ.

Thông thường, nếu nhiều người tìm đến thì tôi bảo họ, có gì đem theo nên kê rõ, nhất là tiền bạc, quý kim, để tránh chuyện lấy cắp của nhau. Nếu chỉ một người thì tôi chờ lúc người đó đi tắm sẽ lục xách tay, kiểm tra những gì đem theo. Tôi còn rình nhìn lúc họ đi tắm, cởi đồ ra, sẽ thấy những gì họ lận theo người? Tôi không bao giờ lấy của ai bất cứ thứ gì, nên khi giải giao họ (đưa lên thuyền để bị Công An chận bắt), Công An chấp pháp lấy lời khai, sẽ thấy rằng tôi rất trong sạch …

Tôi từng được Công An tỉnh và trung ương biểu dương nhiều lần về thành tích chận bắt người vượt biên cũng như tinh thần chí công vô tư, không tơ hào đến của cải, vật chất của người bị bắt. Nhưng không ai biết rằng, hễ người nào đem nhiều đô la, vàng ngọc, hột xoàn là tôi thủ tiêu, chôn xác trong rừng. Tôi đào sẵn những cái hố, muốn giết ai, khuya đó, tôi lận súng trong người, bảo họ đi theo tôi để tôi chỉ đường mà đi ra đường chính đón xe về. Vào rừng, tôi bắn chết, đạp xuống hố, hôm sau ra lấp đất lại. Không người nào thoát khỏi tay tôi, vì chung quanh toàn sình lầy, có bỏ chạy một quãng là ngập người dưới sình, tôi chỉ rọi đèn pin, đi tìm và bắn họ rất dễ dàng. Tôi có nói bao nhiêu người bị tôi thủ tiêu với bà cũng chỉ làm bà kinh hoàng chứ chẳng ích lợi gì. Tất cả của cải cướp được, tôi đưa cho vợ tôi đem về quê chôn giấu. Hột xoàn, đô la, vàng ngọc, châu báu … Nghĩa là vợ chồng tôi rất giàu. Vợ tôi bảo, có thể bỏ vốn lập những công ty, mua máy móc để sản xuất hàng hoá xuất khẩu hoặc mua nhà cửa ở Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh cũng không hết của. Dĩ nhiên gia đình tôi ngoài Bắc vẫn sống đạm bạc như bao nhiêu người khác, để tránh bị nghi ngờ. Tôi dự định sẽ làm thêm vài năm, kiếm một số tiền vàng nữa rồi xin ra khỏi ngành. Tính ra, tôi ở đó đã được bốn năm, cho đến cái đêm bà tìm đến nạp mạng cho tôi.

Như mọi khi, lúc bà đi tắm, tôi rình xem bà cởi đồ (để biết của cải lận theo người) rồi lên kiểm tra xách tay của bà. Tôi thấy trong xách có nhiều vàng và đô la. Như vậy, số phận của bà đã được tôi quyết định. Bà sẽ bị tôi thủ tiêu. Trong lúc lục xét xách tay tôi thấy có một quyển kinh, khổ lớn hơn những quyển kinh khác, mà những người vượt biên khác thường đem theo. Quyển kinh lớn đó khiến tôi tò mò. Theo thông lệ, tất cả kinh Phật của những người vượt biên, tôi giữ lại, khi nào lên tỉnh, tôi tặng cho người bạn đang trụ trì một ngôi chùa lớn, gần chợ. Anh ta là Công An, đi tu là công tác, vẫn lãnh lương Công An. Tôi tặng các quyển kinh Phật cho chùa để ai đến lễ chùa mà «thỉnh» những kinh đó thì biết ngay, người đó sẽ vượt biên và chúng tôi theo dõi. Vì tò mò và vì nghiệp vụ, tôi mở quyển kinh của bà ra, để sát ngọn đèn cho dễ đọc. Tôi đọc một cách tình cờ, một câu kinh nằm ngay giữa trang kinh. Chỉ một câu thôi. Câu duy nhất đó khiến tôi lạnh toát người vì kinh sợ. Tôi sợ đến choáng váng, muốn té xỉu, đến độ ngồi chết lặng một lúc thật lâu. Tối đó, tôi không ngủ được.

Hiện nay tôi đã ra khỏi ngành Công An. Tôi đã đi tu ở một vùng núi miền Tây Nguyên, rất hẻo lánh, xa hẳn phố phường, làng xóm. Ngôi chùa nhỏ được cất bên góc núi. Rất xa, dưới chân núi, cách nơi tôi ở, thấp thoáng những nhà sàn của những người thuộc sắc tộc thiểu số. Mỗi buổi sáng, tôi lạy Phật, tụng kinh, rồi lên đồi cuốc đất, trồng khoai sắn, rau quả. Buổi tối tôi lại tụng kinh và suy ngẫm lời Phật dạy. Tôi bảo với vợ tôi là tôi làm nhiệm vụ trên giao, không nên gặp nhau nhiều, thỉnh thoảng lên tiếp tế lương thực mà thôi. Của cải mà tôi kiếm được (vợ tôi đang giữ), tôi dặn, nên trích ra một phần, khi nào có thiên tai bão lụt thì đem cứu giúp người hoạn nạn, giúp bà con, bạn bè khi họ cần, giúp các người già lão, bịnh tật, không nơi nương tựa, giúp các trại mồ côi, các trại cùi hủi …

Tôi viết để bà rõ, nay tôi đã chọn con đường khác. Tôi chỉ muốn biến mất trên thế gian, nhưng còn các con tôi? Chúng là nguồn sống của tôi. Tôi lo sợ cho chúng … Nếu bà là một Phật tử, xin bà đến chùa, cùng góp lời cầu xin Phật Tổ cho tôi sớm tìm được con đường giải thoát. Chúc bà sức khoẻ».

Đọc đến đó, chị đàn bà giơ lá thư lên và nói: «Thư chỉ viết thế thôi».

Chúng tôi lặng đi một lúc rồi có người hỏi:

– Chị có nhớ mình mang theo quyển kinh Phật tên gì không?

– Đúng ra, lúc nào tôi cũng để sẵn quyển kinh «Quán Thế Âm Bồ Tát» trên bàn thờ, hễ hô «đi!» là tôi chỉ việc bỏ vô xách tay và lên đường. Hôm đó, cô em dâu tôi đây, lại lấy quyển kinh đó trước, tôi vội quá, mở tủ kinh Phật của ba tôi để gần đó, vơ đại một quyển, nghĩ rằng «Phật nào cũng là Phật, vị nào cũng phù hộ, độ trì cho chúng sinh tai qua nạn khỏi». Ba tôi, khi còn sinh thời, tu tại gia, nghiên cứu kinh Phật. Ngoài chữ Việt, ông cụ còn biết chữ Hán, chữ Nôm nên thỉnh rất nhiều kinh về nghiên cứu. Thế nên, đến bây giờ tôi cũng không biết mình đã mang theo quyển kinh nào khi vượt biên. Điều tôi tin chắc rằng. Chính quyển kinh đó đã cứu mạng tôi và câu kinh trong đó, như một lời phán của Đức Phật hoặc đấng Hộ Pháp, bảo thẳng với kẻ ác hãy ngừng tay lại. Lời phán đó phải có uy lực mạnh mẽ đến nỗi một kẻ giết người phải khiếp đảm.

Trong bọn chúng tôi, chẳng ai là đệ tử nhà Phật mặc dầu, thỉnh thoảng có đi chùa lạy Phật, tụng kinh trong những ngày lễ, tết. Chúng tôi hỏi nhau rồi phán đoán đủ thứ. Câu «buông đao thành Phật» quá tầm thường, chẳng làm ai động tâm. Muốn biết bí mật của câu kinh đó, chỉ còn cách đi hỏi các Nhà Sư thì hoạ may.

Vì bị câu chuyện trên ám ảnh, nên trên đường từ Canada về lại miền Đông Bắc nước Mỹ, chúng tôi quyết định, ghé vào một ngôi chùa của Sư PT để thăm và hỏi cho ra lẽ. Sư trạc tuổi chúng tôi, là chỗ quen biết nên rất thân tình. Sư PT xuất gia từ lúc 11 tuổi tại chùa Diệu Đế ở Huế. Vượt biên qua Mỹ, sư học và tốt nghiệp tiến sĩ Phật Học. Tuy còn trẻ, nhưng Sư PT thông hiểu Phật pháp và có một cuộc sống rất đạo hạnh.

Trưa hôm đó, chúng tôi được sư khoản đãi cơm chay. Trong lúc thọ trai, chúng tôi kể lại câu chuyện trên cho sư nghe và hỏi sư có biết câu kinh nào đã khiến một người vô thần phải buông đao giết người và đi tu không? Nhà Sư suy nghĩ một lúc và nói:

– Nếu lý luận theo Phật pháp thuần tuý ở đây thì không thích hợp với một người Cộng Sản. Họ đã được dạy căm thù và được huấn luyện cách giết người, nên dù có cả một bầy quỉ dữ từ địa ngục chui lên, hay hàng nghìn Đức Phật hiện ra thuyết pháp, chưa chắc ông Công An nầy phải sợ mà ngưng tay. Ông ta chẳng thù hận gì những người vượt biên, nhưng giết họ để cướp của, ông ta làm thản nhiên như người đồ tể giết heo, giết bò. Mục đích là để có nhiều tiền của cho con cái được sung sướng. Cán bộ Cộng Sản thường bảo nhau: Hy sinh đời bố, củng cố đời con là thế. Kinh Phật chỉ nói về cái nghiệp và cái quả. Ai làm nấy chịu. Nhưng người Việt mình lại có câu Đời cha ăn mặn, đời con khát nước. Cha mẹ thương con cháu thì ăn ở nhân đức, để phước cho chúng. Con cháu, nhớ ơn đó mà thờ phụng các vị một cách thành tâm. Đó là «Đạo Thờ Ông Bà». Ông Công An Cộng Sản nầy thì làm ngược lại, nên ông ta bị ám ảnh bởi việc ác của mình,  quả báo nhãn tiền», con cháu sẽ lãnh đủ. Có thể, con cái ông ta bị đâm chém hay bị giết chóc sao đó, khiến ông ta nghĩ rằng «Mình giết người ta thì con mình bị người ta giết» nên ông ta sợ. Nhưng Phật đâu có dạy về chuyện quả báo cho đời con cháu mà ông ta, khi đọc một câu nào đó trong kinh Phật lại sợ hãi đến nỗi phải bỏ nghề, đi tu?

Trầm ngâm một lát, Nhà Sư nói tiếp:

– Đa số những người vượt biên đều đem theo người là kinh A Di Đà hoặc Bạch Y Thần Chú, coi như có Thần Phật hộ trì bên cạnh. Khi gặp chuyện hiểm nguy thì niệm «Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quảng Đại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát» chỉ đọc tới đọc lui câu đó thôi, coi như tiếng kêu cứu, các vị Bồ Tát sẽ ra tay tế độ, giúp cho tai qua nạn khỏi. Những quyển kinh mà ông ta tịch thu, không nhất thiết đều giống nhau. Có thể người đàn bà kia đã mang một quyển kinh khác. Hơn nữa ở một nơi hoàn toàn vắng vẻ, không có gì giải trí ngoài việc đọc các quyển kinh Phật, quả thật, ông ta đang bước về hướng của giải thoát. Chính cái ý niệm muốn giải thoát khiến ông ta bỏ nghề, và câu kinh Phật kia chỉ như vật xúc tác, như cái nút điện mà ông ta đang mò mẫm trong bóng tối, đã bật sáng, cho ông ta thấy được con đường phải đi. Mỗi người là Phật chưa thành là vậy. Con người dù độc ác , mê muội đến đâu , cũng còn le lói một chút ánh sáng của lương tri.

Chúng tôi hỏi:

– Giả dụ như ông Công An đó đến xin thọ giáo với thầy. Thầy sẽ giảng những gì cho một người vô thần như ông ta hiểu về Phật pháp?

Nhà Sư cười:

– Thoát được «tham, sân, si» là tự giải thoát rồi. Chính tôi phải học ông ta, làm cách nào đã bỏ được chữ «tham»? Chữ «tham» đơn giản, thường tình thôi, không cần phải triết lý xa vời. Tiền của vô tay dồi dào, dễ dàng như vậy mà lại bỏ hết, mấy ai làm được? Còn hai chữ «sân, si», bản thân tôi như đang nằm trong cái rọ, không biết bao giờ mới thoát ra! Ông ta là thầy tôi mới đúng.

– Thầy có thể đoán được câu kinh nào nằm trong quyển kinh nào, đã khiến ông ta phải sợ mà đi tu không?

Nhà Sư lắc đầu:

– Chỉ riêng ông ta biết được mà thôi. Có thể chỉ một câu tình cờ, bình thường nào đó ông ta đọc được nhưng giải thích đúng những băn khoăn, thắc mắc, sợ hãi bấy lâu của ông ta, nó đánh động lương tâm ông ta, hướng dẫn ông ta tìm con đường giải thoát. Xưa kia, lục tổ Huệ năng chỉ nghe một câu trong kinh Kim Cang liền ngộ được đạo.

– Nhưng nhất định phải có một câu kinh nào đó. Thầy thử nhớ xem sao?

Nhà Sư lắc đầu:

– Bị hỏi thình lình, tôi không nhớ ra ngay. Hay là thế nầy. Bây giờ mời quí vị ra vườn sau chùa uống trà, ngắm hoa. Tôi xin được ít phút tập trung tư tưởng, hoạ may sẽ nhớ được điều gì chăng? Mục đích không phải tìm hiểu mà chỉ như trò chuyện cho vui vậy thôi. Tôi không đủ trình độ để giải thích câu chuyện kỳ lạ nầy.

Nhà Sư lên chánh điện. Chúng tôi ra sau chùa, vừa chuyện trò vừa lang thang ngắm hoa cảnh. Có tiếng chuông ngân vang từ chánh điện, rồi tất cả yên lặng. Có lẽ Nhà Sư đang lễ Phật và trầm tư …

Độ một giờ sau, Nhà Sư xuất hiện ở ngưỡng cửa với nụ cười. Sư tiến đến, ngồi xuống với chúng tôi ở một bàn nhỏ dưới gốc cây. Chúng tôi vội hỏi:

– Tìm được câu kinh nào chưa Thầy?

Sư lắc đầu và cười:

– Kinh Phật chẳng có câu nào hăm doạ người ta, bắt người ta phải đi tu cả! Để nói về nghiệp báo thì kinh Thuỷ Sám Pháp có nói nhiều, nhưng tôi chỉ nhớ chính xác vài câu ở các quyển kinh khác, chẳng hạn, trong kinh Đề Bà Đạt Ma (Devadata -suta) có câu: Những việc ác mà ngươi đã phạm, không phải là tại cha ngươi, không phải tại mẹ ngươi, không phải tại thầy, chủ ngươi. Chính một mình ngươi đã phạm, và một mình ngươi phải chịu quả báo. Trong kinh Pháp Cú (Damma-pada) cũng có câu: Dẫu ngươi chạy lên trời cao, ẩn dưới biển sâu, trốn trong núi thẳm, không có nơi nào ngươi tránh khỏi cái quả ghê gớm về tội ác của ngươi …

Nói xong Nhà Sư lộ vẻ bối rối:

– Rất tiếc, vì sự vô minh của tôi mà câu kinh đó vẫn còn là một bí ẩn. Xin lỗi đã làm quý vị thất vọng. Theo tôi nghĩ, sự thống hối của ông ta quá thành khẩn, đã cảm động đến đức Phật, và Ngài đã ra tay tế độ, đã khai ngộ cho ông. Nhưng phải là người thật thành khẩn thì Đức Phật mới làm được việc đó. Và quý vị cũng nên nhớ, cả triệu người Cộng Sản Việt Nam, may ra mới có được một người như vậy thôi.

Phạm Thành Châu 2009/04/29 VanTuyenNet

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Hình minh họa

11. Kết
Đoạn cuối cho một quê hương băng hoại,
một nền văn hóa suy đồi,
một xã hội mục nát.

Tên của hắn là Lâm Châu, độc thân, 30 tuổi, đến Pulau Bidong ngày 28 tháng 4 năm 1980, trên tàu CLA 10385 gồm có 76 người, số thứ tự tàu là 622, có nghĩa là trước con tàu của Lâm Châu, đã có 621 chiếc đến Mã Lai và sau đó được đưa ra đảo Pulau Bidong. Sau khi hoàn tất mọi thủ tục nhập đảo với Ban tiếp nhận người mới, Lâm Châu được Ban nhà ở cho về tạm trú trong một căn lều thuộc khu A, nơi có 3 thanh niên độc thân đang trú ngụ.

Vào khoảng giữa tháng 4 năm 1980, số người Việt Nam tỵ nạn ở trên đảo Pulau Bidong chỉ còn hơn ba chục ngàn người, so với bốn mươi lăm ngàn vào tháng 4 năm 1979. Với chừng đó người, sống chen chúc trong một khu vực khoảng một cây số vuông, quanh bờ biển phía Nam của đảo, quả là có hơi chật chội. Tất cả nhà cửa cũng như lều trại ở trên đảo, được chia ra làm 7 khu A,B,C,D,E,F và G. Tùy theo quan niệm sống cũng như sở thích riêng của từng gia đình, nhiều người mong được sống trong khu A, vì gần bịnh viện Sick Bay, gần chợ chồm hổm nơi khu C, và gần nơi lãnh thực phẩm do Cao ủy tỵ nạn phân phát. Riêng Lâm Châu, vì độc thân nên ở đâu cũng không có gì là quan trọng đối với hắn. Hắn quan niệm, ở khu nào trên đảo Pulau Bidong cũng đều là thiên đường nơi hạ giới.

Một hôm khi đi tắm biển ở khu F, bất ngờ Lâm Châu gặp lại một người bạn ngày xưa cùng ở chung xóm. Cái tình hàng xóm của một thời mà hai người còn bận quần xà lỏn tắm mưa, bắt dế, đá cá lia thia. Sau đó khi lên bậc trung học, mỗi người một nẻo bặt âm vô tín. Gần hai chục năm sau nơi đất khách quê người tình cờ gặp lại, tha hương ngộ cố tri, cả hai ôm lấy nhau mừng mừng tủi tủi, cứ như là Bá Nha gặp Tử Kỳ.

Ông bạn hàng xóm hỏi Lâm Châu.

-Tới đảo lâu chưa?

-Được khoảng một tuần. Còn mày?

-Tao hả? Ngày mai tao qua trại chuyển tiếp Terengganu, rồi đi Mỹ.

Lâm Châu vỗ vai ông bạn hàng xóm.

-Chúc mừng, chúc mừng.

Mặt mày tươi rói, ông bạn hàng xóm hỏi Lâm Châu.

-Mày đã gặp phái đoàn nào phỏng vấn chưa?

-Chưa.

-Ngày xưa có lính tráng gì không?

Đưa bàn tay phải cụt mất hai ngón tay trỏ và giữa, Lâm Châu nói.

-Tao được miễn đi lính vì lý do tàn tật.

-Có cha mẹ, anh em gì ở Mỹ không?

-Không.

Ông bạn hàng xóm chắt lưỡi rồi than.

-Hốt rác là cái chắc.

-Mày nói gì? -Tao nói nếu muốn xin đi Mỹ, mày sẽ bị xếp vào thành phần hốt rác. Hiện tại muốn đi định cư ở Mỹ, phải có một trong ba điều kiện ưu tiên như sau: Ưu tiên một, cha mẹ bảo lãnh cho con cái hay ngược lại, thành phần này sẽ ở đảo khoảng ba đến bốn tháng. Ưu tiên hai, vợ chồng anh em bảo lãnh, thành phần này ở đảo khoảng năm sáu tháng. Ưu tiên ba, là quân nhân, cảnh sát, những người đã từng phục vụ cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, những người này sẽ ở đảo khoảng chín tháng tới một năm.

Hình minh họa

Ngừng một chút như chờ cho Lâm Châu hiểu rõ vấn đề, ông bạn hàng xóm nói tiếp.

-Ngoài ba thành phần trên, hầu hết những người còn lại, nếu không chịu đi định cư tại những nước khác như Canada, Úc, Anh, Pháp…thì cứ nằm ở đảo mà chờ. Một, hai năm, phái đoàn Mỹ sẽ mở một cuộc phỏng vấn nhân đạo, họ lượm hết tất cả những người này, gọi là làm một cuộc hốt rác. Chữ dùng nghe không được êm tai cho lắm, nhưng đó là cách mà những người tỵ nạn sống trên đảo nói chuyện với nhau.

Lâm Châu than với bạn.

-Như vậy tao ở đây có tệ lắm cũng hơn một năm, phải không?

-Đúng.

Sau một phút chần chừ, ông bạn hàng xóm nói tiếp.

-Tao có cái này rất hay muốn nói với mày, tụi mình vô quán cà phê đàng kia ngồi đi. Tao sẽ giới thiệu cho mày một việc làm tốt nhất trên đảo này, làm để cho cơ thể được mạnh khỏe lại có chút tiền, chờ ngày đi định cư. Hy vọng mày sẽ không từ chối.

Lâm Châu nói.

-Khoan đã, tao không có tiền uống cà phê đâu.

-Đừng có thắc mắc, nhằm nhò gì ba cái chuyện tiền bạc lẻ tẻ đó, tao cân hết mà.

Từ bồn chứa nước ngọt khổng lồ, cung cấp nước sinh hoạt cho tất cả mọi người trên đảo, cả hai đi dọc theo bãi biển về phía đồi tôn giáo, ước chừng sáu, bảy trăm mét mới đến được quán cà phê. Quán rộng chừng ba chục mét vuông, một nửa mái của quán lợp bằng tôn, nửa còn lại che bằng mấy tấm ny lông xanh được viền, nẹp, bằng cây rất kỹ. Tuy vậy mỗi khi có chút gió biển thổi vào, phần ny lông dư, viền quanh mái đập phần phật như muốn tách ra, bay đi nơi khác. Bàn ghế trong quán được đóng sơ sài bằng những tấm ván, nhặt nhạnh nơi vỏ mấy con tàu cũ. Một quầy tính tiền ở sâu trong quán, hai cái loa dám tới 100 watt treo trên cột đang phát ra một bản nhạc tình, lời ca buồn da diết.

Nằm nghe sóng vỗ từng lớp xa, bọt tràn theo từng làn gió đưa…

Gần 5 năm rồi mới được nghe lại một bản nhạc ngày xưa của thời Việt Nam Cộng Hòa, nghe trong một không gian bao la rộng rãi của bãi biển nơi xứ người, trong bầu không khí tự do tuyệt đối, không có Bác Hồ, không có Đảng Cộng Sản, không công an khu vực, không tổ trưởng, không tổ phó an ninh, không họp tổ dân phố, không xét sổ hộ khẩu, không đánh tư sản mại bản, không kinh tế mới, không đổi tiền, không cơm độn. Nói chung những thứ gì chết bằm, chết tiệt, có liên hệ tới Đảng Cộng Sản đều không có ở đây. Bất ngờ gặp lại cái không khí bãi biển Nha Trang của những ngày xa xưa cũ hiện về trước mắt, khiến Lâm Châu lặng người chết sửng. Bầu không khí tự do mà anh đi tìm đang hiển hiện trước mắt.

Bắt tay với chủ quán, ông hàng xóm của Lâm Châu giới thiệu.

-Đây là Lâm Châu, bạn của tôi, người mà tôi nói sẽ tiếp tục làm công việc kéo nước.

Chủ quán cười vui vẻ.

-Tôi hoàn toàn tin tưởng nơi ông, cứ thế mà làm đi. Bây giờ hai ông uống gì, cà phê sữa đá, cà phê đen, coca, pepsi, seven up?

Ông bạn hàng xóm của Lâm Châu nói.

-Cho tôi hai ly cà phê sữa đá.

Chủ quán đi vào trong, một lúc sau vợ của ông ta mang hai ly cà phê đến.

Cầm cái muỗng khuấy đều rồi nâng ly ực một hơi. Ông hàng xóm bắt đầu.

Hình minh họa

-Chuyện như vầy, cả năm rồi ở trên đảo Pulau Bidong, tao sống hùng sống mạnh bằng cái nghề kéo nước mướn cho tiệm cà phê này. Đồ nghề của tao gồm có tám cái thùng nhựa đựng nước, mỗi thùng có dung tích là hai mươi lăm lít, và hai sợi dây dù cỡ ngón tay mỗi sợi dài bốn mét. Mỗi buổi sáng sau khi điểm tâm bằng hai chén cơm của Cao ủy, nếu sang hơn tao bỏ ra một đồng Mã Lai là có một tô bún cá to bự, với đầy đủ hành hẹ giá sống. Tám giờ sáng tao đến bồn chứa nước ngọt của đảo, nhờ mấy anh bạn trong Ban cấp thủy du di cho tao tám thùng nước đầy. Từ bồn chứa tao xách những thùng nước này xuống mé biển, cách đó chừng hai chục mét, dùng sợi dây dù xỏ qua tay cầm, cột bốn thùng nước lại với nhau. Sau đó choàng đầu dây qua vai, rồi kéo đến quán cà phê này. Một trăm lít nước tương đương với sức nặng là một trăm ký, mới nghe qua tưởng là khó khăn, cực nhọc lắm. Thực ra nó nhẹ hều, bởi vì tao kéo phía trước, đàng sau nhờ có ông Archimede đẩy phụ. Đoạn đường kéo nước dài chừng sáu trăm mét, tao đi mất nửa giờ, sau đó trở lại làm tiếp chuyến thứ hai. Đổ tám thùng nước vào hai cái phuy của quán cà phê xong, tiền trao cháo múc, chủ quán trả cho tao tám đồng Mã Lai, nếu đổi ra đô la Mỹ được bốn đồng. Mỗi buổi sáng tao tập thể dục chừng hai tiếng kéo nước trên biển, lãnh bốn đô la Mỹ ngon ơ. Mày muốn làm không?

Nhìn bàn tay cụt mất hai ngón của mình, Lâm Châu ngần ngừ.

-Nếu tao không làm thì sao?

-Mày đừng có lo, cái mối này có thằng chịu chung cho tao ba chục đô, để tao sang lại cho nó dàn đồ nghề và giới thiệu với chủ quán cà phê. Khi gặp mày, tao đổi ý chỉ muốn giao lại cho mày, với chút hy vọng là hơn một năm đợi chờ trên đảo, mày có công ăn việc làm để giải khuây, có chút tiền tiêu vặt và tao cũng được trọn chút tình xưa nghĩa cũ với bạn bè. Mày có biết, tại sao tao nói như vậy không?

Lâm Châu lắc đầu.

-Không biết.

Ông hàng xóm của Lâm Châu cười.

-Tao biết mày quên chuyện này rồi. Hồi đó mày có con dế lửa với râu ria chân cẳng coi ngầu hết sức, đá đâu thắng đó, có đứa đòi mua hai đồng mà mày không bán lại đem cho tao. Lúc đó, thiệt lòng mà nói tao cảm động đến muốn khóc. Khi xa cái xóm nhỏ, thằng bạn mà tao nhớ nhất là mày.

Lâm Châu hoàn toàn không nhớ một chút gì về chuyện con dế ngày xưa, vậy mà ông bạn hàng xóm vẫn còn mang theo trong lòng cho đến hôm nay, hắn nhìn ông bạn mà lòng bồi hồi xúc động.

-Cảm ơn mày đã giúp đỡ tao.

-Không có gì đâu, sau khi uống cà phê xong tao sẽ dẫn mày về lều của tao, mày phải dọn qua khu F này ở luôn cho tiện việc làm ăn. Căn lều tao đang ở chỉ có tao và một thằng nữa, hắn cũng mới tới đảo đâu chừng vài ngày.

Khi ông bạn hàng xóm đã lên đường đi định cư, căn lều còn lại hai người, Lâm Châu và một gã thanh niên. Mỗi người một góc lều, mạnh ai nấy sống.

Hai ngày qua đi trong câm lặng, cuối cùng không chịu được bầu không khí tẻ nhạt, Lâm Châu nói với gã thanh niên.

-Tôi tên là Lâm Châu, còn anh?

-Hỏi làm gì?

-Để khi cần, xưng hô cho dễ.

Gã đàn ông với đôi mắt buồn hiu, lơ đễnh nhìn trời.

-Quân.

Lâm Châu chửi thầm trong bụng, mẹ nó sao mày hà tiện lời nói quá vậy, nghĩ như vậy nhưng hắn vẫn cố nhẫn nại.

-Nếu cần gì xin anh cứ nói, làm được gì giúp anh tôi sẽ làm.

-Cảm ơn.

Nói xong Quân lại cắm cúi ngồi viết, coi như không có Lâm Châu đang có mặt trong lều. Một tháng trôi qua bầu không khí nhàm chán trong căn lều vẫn vậy, không có gì thay đổi. Lâm Châu ngày ngày đi kéo nước mướn, khi trở về lều, hắn thấy Quân vẫn ngồi đó chăm chú viết. Có một điều khá kỳ lạ là tuy Quân chăm chú viết, nhưng hình như hắn không viết được bao nhiêu. Một tháng qua rồi mà cũng chỉ một cây viết với cuốn vở. Nhiều lần khi đi lãnh thực phẩm của Cao ủy ở kho tiếp liệu, gần cầu Jetty, tiện thể Lâm Châu lãnh giùm lương thực cho Quân. Nhờ đó mà Lâm Châu biết là Quân đi tàu chỉ có một người, đến đảo ngày… số thứ tự tàu …

Hình minh họa

Chừng đó chi tiết giúp cho Lâm Châu đoán được, chắc tàu của Quân gặp dông tố, bão bùng trên biển, và hắn là người sống sót duy nhất, cho nên hắn mới bị trầm cảm như vậy. Giải tỏa được thắc mắc mang nặng trong lòng, Lâm Châu mới thấy thoải mái, không còn bận tâm nhiều về Quân.

Cũng trong thời gian này, một thuyền nhân là kiến trúc sư đang ở trên đảo, cùng với nhiều người trong khối xây cất, đã được phép của chính quyền Mã Lai, họ bắt đầu xây đài tưởng niệm thuyền nhân trên một ngọn đồi, cách nhà thờ và chùa trên đồi tôn giáo không xa mấy. Mọi việc tiến hành tốt đẹp, qua đến tháng bảy, đài tưởng niệm đã hoàn tất. Đài gồm có một cái đế hình tròn được xây bằng đá, đường kính ước chừng sáu, bảy mét, chiều cao hơn một mét. Ngay trung tâm có một cái trống đúc bằng xi măng tượng trưng cho trống đồng Ngọc Lũ của người Việt Nam. Trên chân đế, có năm cánh buồm trắng, to nhỏ, cao thấp, khác nhau. Cánh buồm cao nhất chắc cũng hơn bốn mét, cùng với bốn cánh buồm khác hội tụ tại một điểm là tâm của nơi đặt trống. Năm cánh buồm tượng trưng cho những con thuyền tỵ nạn Việt Nam, cùng hướng về cái trống đồng là hòn đảo Pulau Bidong, hòn đảo của tự do.

Từ ngày có đài tưởng niệm trên đồi tôn giáo, Lâm Châu thấy Quân không còn ngồi lì trong lều. Mãi cho đến sau này hắn mới biết, Quân ngày ngày vẫn thường lên ngồi dưới những cánh buồm nơi đài tưởng niệm, nhiều lần hắn ngồi cho đến gần nửa khuya mới trở về.

Cuộc sống trên đảo êm đềm qua mau, ngày ngày người ta vẫn tiễn người cũ lên đường đi định cư, đón tàu tỵ nạn mới tới đảo. Những đợt sóng tỵ nạn Cộng sản, lớp sau theo lớp trước, ào ào như sóng biển vỗ bờ tưởng không bao giờ dứt. Sau gần một năm chờ đợi, cuối cùng Lâm Châu cũng được phái đoàn Mỹ phỏng vấn, và chấp thuận cho đi định cư. Để ăn mừng ngày mà cuộc đời bước qua ngã rẽ mới, Lâm Châu chia sẻ với Quân tin vui của mình.

-Anh Quân nè, tôi đã được cho đi Mỹ rồi.

Quân cười, nụ cười mà cả năm rồi Lâm Châu mới thấy.

-Chúc mừng, lên đường bình an.

-Mới được Mỹ nhận thôi, còn phải đợi ít nhất là dăm ba tháng nữa. Trường hợp của anh như thế nào?

Quân thản nhiên nói.

-Tôi thuộc diện ưu tiên ba, năm ngoái phái đoàn Mỹ phỏng vấn và chấp thuận cho đi định cư, nhưng tôi từ chối.

Nghe Quân nói, Lâm Châu tưởng Quân nói giỡn, cho nên hắn không thắc mắc gì rồi nói.

-Cả năm rồi tôi kéo nước mướn cho nên có chút tiền dư. Hôm nay tôi mời anh đi ăn bún cá rồi uống cà phê, mừng ngày tôi được chấp thuận cho đi Mỹ.

Quân gật đầu.

-Đi thì đi.

Sau khi thưởng thức tô bún cá thơm ngon, đậm đà hương vị của biển Bidong, Lâm Châu và Quân kéo nhau đến quán cà phê.

Ngồi xuống chiếc ghế gỗ xập xệ, Quân nói.

-Sở dĩ tôi đi uống cà phê với anh, vì tôi có chuyện muốn nhờ anh giúp đỡ.

-Chuyện gì? Nếu được tôi sẵn sàng làm.

Quân nói.

-Tôi sẽ ở đây làm chúa đảo. Khi nào anh đi định cư, tôi có mấy cuốn vở nhờ anh chuyển cho gia đình của tôi. Được không?

-Tưởng gì khó khăn lắm chớ vài cuốn vở là chuyện nhỏ, anh yên chí đi.

Hình minh họa

Nghe Lâm Châu đồng ý giúp mình, gương mặt của Quân sáng rực lên vui mừng thấy rõ. Hắn nói.

-Cảm ơn anh rất nhiều.

Liên tiếp luôn mấy tuần sau đó, nhiều đêm Lâm Châu để ý thấy Quân say sưa ngồi viết, hắn viết cho đến sáng rồi gục đầu bên ngọn đèn đã cạn dầu từ bao giờ. Hình như có bao nhiêu tâm sự, bao nhiêu sinh lực hắn trút hết vào mấy cuốn vở, như sợ rằng không còn đủ thời giờ để viết.

Đúng như những gì Lâm Châu suy đoán, một buổi sáng nọ khi thức dậy, hắn không còn thấy Quân ngồi đó nữa, thay vào đó là một cái bì thơ, với hàng chữ “Kính gởi anh Lâm Châu”.

Không kịp suy nghĩ, Lâm Châu vội vàng mở phong bì.

Thưa anh Lâm Châu,

Tôi và anh sống chung với nhau trong một căn lều cũng đã được gần một năm, cho đến hôm nay, tôi mới có dịp tâm sự cùng anh qua những trang giấy này.

Như anh biết, bãi biển khu F nơi anh và tôi đang sống, nó nằm ở cực Nam của đảo Pulau Bidong. Nếu đứng tại đây, nhìn về hướng Nam, hòn đảo Cá mập chắn ngay trước mắt, quay qua hướng Đông không bao xa, vợ con tôi đang ở đó. Tuy gần như vậy mà hôm nay, đúng một năm rồi tôi mới chịu đi gặp họ. Sở dĩ có sự chậm trễ như vậy vì tôi cần phải viết, phải kể lại cho ba má và người thân của tôi. Kể cho họ biết chuyện gì đã xảy ra cho vợ chồng tôi vào chuyến vượt biên năm ngoái.

Tàu của chúng tôi, sau năm ngày lênh đênh trên biển, bị tàu hải tặc Thái Lan cướp hết vàng bạc, sau đó húc chìm. Tôi lao mình xuống biển tìm vợ con giữa lúc màn đêm vừa buông xuống. Biển đêm sâu hun hút, đen như mực, tôi vừa bơi vừa gọi tên vợ con đến khản cả giọng. Tôi bơi mà không biết bơi về đâu, cho đến khi sức tàn lực kiệt mới nhắm mắt xuôi tay. Cũng cùng lúc ấy một tấm ván chạm vào tay tôi như có ai đó đưa cho mình. Tôi ôm lấy tấm ván rồi thiếp đi, không còn biết gì nữa. Khi tôi tỉnh dậy, mặt trời đã lên khá cao, chiếu ánh sáng xuyên qua giàn lưới cá phơi nơi mũi tàu. Nhìn thấy mấy người đàn ông lực lưỡng, mình trần như hải tặc Thái lan đang kéo lưới, tôi hoảng sợ la lớn rồi cố vùng dậy để chạy. Hoàn toàn bất lực, tay chân của tôi bủn rủn, tê liệt, không cử động được. Một người trong bọn đánh cá đè tôi, để một ngón tay lên miệng như nói hãy im lặng. Sau đó hắn chỉ vào ngực của hắn, rồi nói.

-Malaysian.

Tôi thở phào nhẹ nhõm rồi nhắm mắt mê đi vì quá mệt.

Bốn ngày sau, tôi được chiếc tàu này đưa đến một đồn lính, hình như là đồn biên phòng của Mã Lai, gần biên giới Thái Lan. Ở đồn lính Mã Lai hai ngày, tôi được Cao ủy tỵ nạn đưa về trại chuyển tiếp Terengganu và sau đó là Pulau Bidong.Trên đảo Bidong, nhiều đêm tôi ngồi một mình nơi đài tưởng niệm thuyền nhân trên đồi tôn giáo. Đêm khuya gió biển lành lạnh, bầu trời đầy trăng sao, tôi dõi mắt nhìn về hướng Đông, nơi đó vợ con tôi và người bạn thân đang trầm mình dưới đáy đại dương, dang tay vẫy gọi. Tôi thẫn thờ ngồi đó nghe biển hát, tiếng hát rì rào khi trầm khi bổng như sóng biển vỗ bờ, như tiếng gọi thầm thương nhớ thiết tha của vợ con, rồi bỗng dưng nước mắt tuôn tràn tưởng như không bao giờ dứt. Cả một quá khứ xa xưa bỗng chốc hiện về ngay trước mắt, năm 1954 hiệp định Genève chia đôi đất nước Việt Nam, gần một triệu người Bắc di cư vào Nam lánh nạn Cộng Sản. Ở Miền Nam người dân được sống trong thanh bình vài năm, sau đó đến cuối năm 1960, Cộng Sản Bắc Việt lập ra Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam rồi đem quân xâm lăng Miền Nam. Chiến tranh mỗi ngày một leo thang khốc liệt, tôi và bạn bè của tôi lên đường tòng quân. Tôi biết, tôi là một người bình thường, đúng hơn là dưới mức bình thường.

Hình minh họa

Suốt bảy năm trong quân ngũ, tôi không có được cái dũng khí của Trung úy Đức bạn tôi, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, thuộc Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 Bộ binh, đã cùng anh em binh sĩ chân giẫm lên xe tăng T54, đầu đội hàng chục ngàn trái đạn pháo của Việt Cộng để rồi bị thương phải cưa mất hai chân khi tử thủ An Lộc, trong mùa hè đỏ lửa 1972. Tôi cũng không có được tính kiêu hùng, coi cái chết nhẹ tựa mây trời nơi vùng hỏa tuyến của Trung úy Thủy Quân Lục Chiến Nhân đầu bạc, khi cùng binh sĩ trong đại đội xả thân tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Tôi lại càng không có cái hào hoa lãng mạn nơi thành phố, nhưng vẫn đầy đủ bản chất anh hùng trên chiến trường nơi biên giới của Long công tử. Trong khi bạn bè của tôi ở những đơn vị tác chiến, cầm súng đánh nhau ngày đêm với Việt Cộng để bảo vệ Miền Nam, lớp chết, lớp bị thương, người còn sống mang tấm thân tàn phế thì tôi được ở đơn vị không tác chiến, sống an lành ở hậu phương. Như vậy với hai mươi mốt năm, từ năm 1954 cho đến năm 1975, khi mà dân quân Miền Nam anh dũng chiến đấu chống Cộng Sản xâm lược, thì riêng cá nhân tôi CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU đậm đà thắm thiết của vợ tôi mới theo tôi cho đến ngày hôm nay, đến cuối cuộc đời.

Thưa anh Lâm Châu.

Tôi là Trung úy Nguyễn trọng Quân, sĩ quan trực Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Một năm trước đây, khi tôi đến được đồn lính biên phòng của Mã Lai, một mình đến được bến bờ tự do, trong khi vợ con thì chìm sâu dưới đáy đại dương, tôi khóc không thành tiếng, dửng dưng đứng nhìn cánh cổng thiên đường Pulau Bidong với ngọn hải đăng đã tắt ngấm, chỉ còn lại cái bóng mờ nơi bờ biển mà không muốn bước chân vào. Tôi tự coi như mình đã chết từ lúc chiếc tàu của tôi, bị tàu hải tặc Thái Lan húc chìm. Trên tàu gồm có hai mươi ba người kể luôn cả tôi, hai mươi hai người đã chìm vào lòng đại dương sâu thẳm, họ là nhóm người trong số hàng triệu, triệu người Việt Nam dùng thuyền vượt biển, được thế giới gắn cho cái chữ Boat People. Người ta ước lượng rằng, trong số vài triệu người đó, một phần tư đã bỏ mình trên biển Đông. Người dân Việt Nam bỏ nhà bỏ cửa, bỏ mồ mả ông cha, bỏ tất cả, vượt biển tìm tự do, họ thà chịu chết trên biển Đông chứ quyết không sống dưới chế độ độc tài man rợ của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Sau này trong lịch sử, các sử gia chân chính của Việt Nam sẽ nói đến giai đoạn mà Đảng Cộng Sản cai trị Việt Nam, và coi đó như một trang sử ô nhục của đất nước, là thời kỳ đen tối nhất của Việt Nam trong suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Sáu cuốn vở mà tôi gói trong tấm ny lông này là những gì tôi muốn nói. Nhờ anh chuyển cho ba vợ tôi, tên ông ấy là Nguyễn văn Bảy, ông vua nhà cửa ở Sài Gòn trước năm 1975. Hiện tại ba vợ của tôi đang sống ở Mỹ, tôi chỉ biết được có chừng đó chi tiết về ông. Anh có thể đọc và phổ biến những gì tôi viết trong mấy cuốn vở này, hy vọng ba vợ của tôi khi nghe chuyện, sẽ biết được tin tức con gái của ông cùng thằng rể và đứa cháu ngoại.

Khi anh đọc những hàng chữ này thì tôi đã đi gặp vợ con của tôi. Chúng tôi đã được sum họp vui vầy bên kia thế giới, một thế giới Tự Do không Cộng Sản

Chúc anh lên đường định cư bình an, hạnh phúc.

Cảm ơn anh.
Nguyễn trọng Quân.

Lâm Châu đọc xong bức thư mà cả người bần thần, thương cho hoàn cảnh bi đát của người bạn chung lều. Không thể chần chờ hắn vội vã mở tấm giấy ny lông, sáu cuốn vở dày cỡ trăm trang được xếp ngay ngắn, đánh số từ một tới sáu. Bên trong mấy cuốn vở là những trang giấy dày đặc những hàng chữ nhỏ đều đặn, nhiều nơi chữ đã nhạt nhòa, hình như là do nước mắt của người viết. Lâm Châu mở trang đầu tiên của cuốn vở rồi bắt đầu lẩm nhẩm đọc.

“ Tôi sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt, quê của tôi ở trên cao nguyên với rừng thông bạt ngàn xanh thẳm, quanh năm sương mù lạnh lẽo bao phủ khắp núi đồi. Tuy Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng rõ rệt, nhưng cao nguyên Lâm Viên nơi tôi ở có hơi khác chút xíu….”

Hình minh họa

Mới đọc được vài trang, Lâm Châu chợt nhớ ra những dòng chữ mà mình đang đọc là của Quân, người bạn ở chung lều với mình suốt một năm qua. Anh bạn này vừa mất tích, hay là đã tự tử từ tối hôm qua rồi. Trên đảo Bidong nếu vì bất cứ lý do gì mà mất đi một người tỵ nạn, Ban chỉ huy trại phải báo cho Cao ủy tỵ nạn Liên hiệp quốc biết. Không thể đọc tiếp, Lâm Châu vội vàng gói sáu cuốn vở vào trong tấm giấy ny lông cất vào túi xách tay, rồi co giò phóng như bay lên Ban chỉ huy trại để báo cáo về tình trạng của người bạn sống chung lều với mình.

Một tuần lễ, trước ngày rời đảo Pulau Bidong đi định cư, Lâm Châu bất chợt nghe được trong mục tìm người, phát đi từ loa phóng thanh của Ban thông tin trên đảo.

“Tìm chồng. Trung úy Nguyễn trọng Quân 32 tuổi, trước năm 1975 phục vụ tại Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, vượt biển ngày 12 tháng 4 năm 1980, trên con tàu gồm có 23 người, đã bị tàu hải tặc Thái Lan húc chìm. Anh Quân, nếu anh còn sống hãy liên lạc số điện thoại …hoặc địa chỉ …California, USA. Vợ Nguyễn thị Cúc.”

Huy Văn Trương
Tháng 12/2023

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Hình minh họa

10. Chương 44
Cát bụi gọi hồn

Khi mà con tàu chở chúng tôi ra khỏi cửa biển Trần Đề được khoảng mươi phút, bất chợt Long công tử nói với tôi.

-Mày nhìn lại phía sau, hình như có một chiếc tàu đang đuổi theo tụi mình.

Tôi ngồi quay người lại, nhướng mắt quan sát. Một chiếc tàu đi biển đang hướng mũi về phía chúng tôi. Nhìn con tàu mỗi lúc một lớn dần, cho đến khi tôi thấy được có hai người đang đứng trước mũi tàu. Tôi la to.

-Mày nói đúng, có tàu đang chạy theo tụi mình.

Im lặng mím môi, Long công tử cho tàu quẹo về tay phải, mặt trời đang ở mũi tàu từ từ nhích sang phía trái. Chiếc tàu đang đuổi theo cũng lẹ làng đổi hướng quay theo. Long công tử cằn nhằn với chủ tàu.

-Ông nói đã lo lót cho trạm công an nơi cửa biển rồi, tại sao tụi nó lại rượt bắt mình?

Mặt mày của chủ tàu xanh lè, ông ta lắp bắp.

-Má… má nó, cái lũ …man rợ.

Chủ tàu chưa nói dứt lời, một tràng AK đã nổ vang, cùng lúc với tiếng đạn rít qua đầu, nhiều viên đạn trúng ngay mũi tàu kêu lụp bụp, vài mảnh gỗ vụn văng tung tóe xuống sàn tàu. Không hẹn mà cả ba người chúng tôi cùng cúi đầu, nằm sát xuống sàn tàu để tránh đạn. Khi tiếng súng đã im, Long công tử cho tàu chạy chậm lại ngồi chờ. Chủ tàu vội vàng hỏi Long công tử.

-Sao ông không tống hết ga chạy trốn, mà lại đợi cho tụi nó bắt.

Long công tử với gương mặt tỉnh queo.

-Tàu của mình chạy chậm như rùa, cho dù tôi có tăng hết tốc lực cũng chỉ được chục cây số một giờ. Tàu của công an chạy nhanh gấp đôi, gấp ba, chưa kịp chớp mắt nó đã tới bên cạnh mình rồi.

Đúng như Long công tử nói, chỉ mới chừng vài phút sau, chiếc tàu của công an đã cặp sát hông tàu của chúng tôi. Hai người thanh niên mình trần trùng trục, nước da đen xạm vì nắng và gió biển, vai đeo súng AK, họ chỉ mặc độc có cái quần cụt. Một trong hai người hỏi với giọng đầy tính uy hiếp.

-Chủ tàu đâu? Tụi mày vượt biên phải không?

Người thanh niên thứ hai tiếp lời.

-Còn hỏi gì nữa, bắn chết mẹ nó vài đứa, cho tụi nó chừa cái thói ôm chân đế quốc Mỹ đã ăn sâu trong máu, xong rồi kéo tàu về giao cho công an.

Nghe hai gã thanh niên nói chuyện với nhau, chủ tàu vội vàng nói nhỏ với Long công tử.

-Tụi này không phải là công an, bọn nó là du kích hay tự vệ biển gì đó thôi, để tôi thử lo lót với tụi nó.

Nói xong chủ tàu hướng sang hai người thanh niên la to.

-Thưa hai anh cho tôi nói.

Hai gã thanh niên bắn chỉ thiên thêm một tràng AK.

– Má cái bọn phản quốc, mang tội vượt biên như tụi mày, còn muốn nói gì nữa đây.

Ông chủ tàu tay run lập cập, miệng lắp bắp.

-Thưa…thưa hai anh, anh Sáu Tùng, trưởng công an biên phòng nơi cửa biển cho chúng tôi đi, nếu không có phép của ảnh, một con kiến cũng không qua được trạm, nói gì chiếc tàu của tôi. Giờ đây anh bắt chúng tôi lại, giao cho công an, họ sẽ bỏ tù chúng tôi mà mục đích chính là khám xét để lấy vàng bạc và tiền của. Bao nhiêu lợi lộc công an hưởng hết, trong khi các anh khổ công làm việc mà chẳng được gì.

Hình minh họa

Gã thanh niên hỏi chủ tàu.

-Mày nói sao? Anh Sáu Tùng cho tụi mày đi?

-Dạ phải, tôi xin thề có trời đất quỷ thần làm chứng.

Thấy hai tên thanh niên xì xào to nhỏ với nhau, chủ tàu nói tiếp.

-Tụi tôi có hai mươi ba người, tôi sẽ nói mọi người còn bao nhiêu tiền của, vàng bạc, đô la, gom lại hết đưa cho hai anh. Các anh có chút đỉnh tiền nhậu lai rai, lại còn đỡ tốn công áp giải tụi tôi giao cho công an.

Sau chừng một phút bàn luận, một trong hai gã thanh niên nói to.

-Làm lẹ lẹ lên, tụi tao đợi.

Không cần nghe chủ tàu nói, tôi chụp cái nón đang đội trên đầu, đi đến trước mặt từng người.

-Lẹ lên quý vị, ai có tiền Việt Nam, đồng hồ , vàng bạc, mau lột ra bỏ vô đây nộp cho du kích, họ cho mình đi rồi đó.

Tôi đếm được ba cái đồng hồ đeo tay, bốn năm chiếc nhẫn, tiền Việt Nam thì khá nhiều đựng đầy một cái nón.

Chủ tàu run run đưa cái nón chứa đầy cúng phẩm cho hai người thanh niên. Cả hai tên du kích liếc nhìn sơ qua cái nón, đưa tay sục sạo bên trong rồi lẹ như chớp ôm gọn vào lòng. Hai tên du kích khoát tay ra hiệu cho đi, đồng thời chiếc tàu của chúng cũng rú ga vọt lên phía trước, quay mũi hướng vào bờ.

Thoát khỏi một đại nạn tưởng chừng như vô phương cứu chữa, chủ tàu cười vui vẻ.

-Tới luôn ông bạn.

Long công tử cho tàu nhắm ngay hướng mặt trời mọc, dọt lẹ.

Nhìn những gương mặt hớn hở vui tươi của mọi người trên tàu, tôi nói với Long công tử.

-Hy vọng không còn ai đuổi theo bọn mình nữa.

Long công tử nói.

-Phải đợi đến hải phận quốc tế mới chắc ăn.

Đưa cho tôi cái địa bàn, Long công tử nói.

-Vượt đại dương bằng con thuyền dùng để đi trên sông, không có hải đồ, không có hải bàn, thậm chí còn không có luôn tài công, phải dùng địa bàn của bộ binh, đã vậy còn bắt hai thằng sĩ quan bộ binh lái tàu. Mẹ nó đúng là không có chó bắt mèo…làm thế. Bây giờ mày mở cái địa bàn ra, nhìn qua đỉnh cao nhất của mũi tàu sẽ thấy mặt trời, sau đó kiểm soát lại qua địa bàn có phải là một ngàn sáu trăm ly giác hay không? Nếu đúng, là địa bàn còn tốt, mình có thể dùng được.

Tôi mở địa bàn, đầu mũi tên màu vàng của cây kim xoay qua, trở lại vài lần, rồi ngừng ở hướng Bắc. Tôi ngẩng nhìn về phía mũi tàu, cúi nhìn địa bàn, mặt trời đứng ngay con số 16 màu đen. Tôi nói với Long công tử.

-Đúng rồi.

Long công tử cười với vẻ hài lòng.

-Tao lái tàu, mày giúp tao xác định phương hướng, tụi mình sẽ làm nhiệm vụ của hai thằng khinh binh, dẫn đường cho một trung đội bộ binh tiến chiếm mục tiêu. Từ giờ cho tới sáng ngày mai, mình sẽ cho tàu chạy theo hướng Đông tức là hướng một ngàn sáu trăm ly giác. Vận tốc của tàu ước chừng bảy cây số một giờ, tao nói là ước chừng, còn thật sự là bao nhiêu tao không rõ. Hai mươi bốn tiếng đồng hồ mình sẽ đi được khoảng trên một trăm sáu chục cây số, sau đó mình sẽ đổi chiều đi về hướng Nam, chừng sau hai ngày hai đêm, mình đổi hướng bốn ngàn ly giác vào Mã Lai. Sở dĩ tao phải chạy theo hình vòng cung như vậy là vì muốn tránh xa Côn Đảo, càng xa càng tốt, lạng quạng để tụi công an biên phòng ở đó nó tóm cổ thì bỏ mẹ.

Tôi cố nhớ lại trong đầu tấm bản đồ vùng Đông Nam Á, in trong cuốn sách địa lý thời Việt Nam Cộng Hòa. Cuốn sách mà mấy tháng qua, tôi coi hoài không chán.

-Mày yên chí đi, tối nay tao sẽ thức suốt đêm điều chỉnh phương hướng cho mày. Mà Long nè, còn có một điều tao muốn hỏi cho rõ.

Hình minh họa

-Nói đi.

-Tại sao mày không giữ hướng Đông chạy một lèo, chừng sáu bảy ngày sẽ đến Palawan của Phi Luật Tân.

-Đi theo hướng đó thì tốt rồi, nhưng tao sợ trong đêm tối mình vướng phải san hô, đá ngầm ở chung quanh quần đảo Trường Sa, và sợ nhất là lạc qua những hòn đảo do hải quân Việt Cộng đang trú đóng trên đó. Bị Việt Cộng bắt, chẳng thà tao chết dưới tay Đông Hải Long Vương còn sướng hơn.

Tôi nhắc Long công tử.

-Đi theo đường của mày có thể gặp phải hải tặc Thái Lan.

Buông tiếng thở dài, Long công tử nói.

-Mày nói đúng, thôi thì bây giờ mình cứ chạy về hướng Đông một ngày một đêm rồi tính sau. Đồng ý không?

Khi mặt trời bắt đầu lặn ở hướng Tây, tàu của chúng tôi đã đi được 10 tiếng, cách xa bờ biển Việt Nam chắc hơn 70 cây số. Suốt đêm hôm đó, dưới ánh sáng lù mù của ngọn đèn bão, tôi ôm cái địa bàn điều chỉnh hướng cho Long công tử lái tàu. Cứ năm, mười phút, qua địa bàn tôi chỉnh với Long.

-Lái qua phải chút xíu. Tốt, rồi giữ yên như vậy.

Một lát sau tôi lại nhắc.

-Qua trái một chút. Đúng rồi.

Bầu trời của những ngày cuối tháng hai âm lịch tối thui, biển êm gió nhẹ, đem đến chút mát dịu thoải mái cho cả hai đứa. Một cơn buồn ngủ ở đâu chợt kéo đến, khiến tôi nói với Long công tử.

-Giờ này mà có ly cà phê đen thì tuyệt.

-Mày đòi hỏi hơi nhiều, lo canh giữ phương hướng cho tao. Chừng vài giờ nữa khi bình minh đến, nếu bầu trời trước mũi tàu sáng hơn bầu trời phía sau lưng, chắc chắn là suốt đêm tụi mình đã chạy đúng hướng.

Sau một đêm dài thức trắng tưởng như vô tận, cuối cùng thì bình minh cũng đến, đúng như Long công tử nói, mặt trời đỏ ối như một cái dĩa lửa khổng lồ xuất hiện ngay trước mũi tàu, chiếu ánh sáng rực rỡ như ánh hào quang chiến thắng đến với chúng tôi, với mọi người trên tàu.

Long công tử vươn vai tươi cười.

-Chắc mình đã cách bờ biển Việt Nam khoảng chừng trăm rưởi cây số. Nói cho tao biết mày muốn đi Phi Luật Tân hay Pulau Bidong của Mã Lai.

Khi nghe hai chữ Pulau Bidong, tôi như bị một ma lực đầy hấp dẫn, quyến rủ, không thể nào cưỡng lại được. Bởi vì đối với tôi Pulau Bidong chính là ngọn hải đăng, sẽ dẫn lối đưa đường cho những con tàu của người tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam, đến bến bờ tự do. Không một chút do dự tôi nói.

-Mã Lai.

-Như vậy khoảng hai giờ nữa, tụi mình sẽ cho tàu quay mũi về hướng Nam.

Tôi gật đầu rồi nói.

-Có mặt trời hướng dẫn, mày lái tàu một mình đi, tao lo phần việc của tao, phân phát thực phẩm và nước uống cho mọi người.

Nói xong, tôi đi đến chỗ Cúc và mọi người đang ngồi dưới sàn tàu. Vinh máy nổ nằm bên máy tàu ngủ ngon lành, bất chấp tiếng dộng ầm ầm đều đều của máy tàu đang chạy.

Lần đầu tiên gặp mặt Hà, vợ của Long công tử, nhìn sơ qua tôi thấy Hà có cái nét đẹp dịu dàng của một cô gái quê, chơn chất, thật thà. Chẳng trách gì ông bạn hào hoa công tử của tôi, ngày xưa khi mới gặp cô ấy đã bị hớp hồn.

Tôi nói với Hà.

-Thưa chị tôi là Quân, bạn của anh Long.

Hà nói với tôi.

-Em có nghe anh Long nói về anh và chị Cúc, mỗi khi nhắc đến chuyện xưa, chuyện từ hồi anh và anh Long còn là Sinh viên sĩ quan Thủ Đức, cho đến lúc cùng bị nhốt trong trại tù cải tạo Sông Mao.

Hình minh họa

Tôi nói.

-Bây giờ tôi đi lấy gạo, nhờ chị và vợ tôi nấu cơm, sau đó vắt thành nắm để tiện phân phối cho mọi người. Được không?

Hà vội vàng nói.

-Chuyện dễ mà, anh yên chí.

Quay sang Cúc, nhìn gương mặt xanh xao bơ phờ của vợ, tôi hỏi.

-Em và con như thế nào?

-Hôm qua mấy đứa con nít cùng với vài người lớn, nôn thốc mửa tháo, tất cả nằm la liệt khắp sàn tàu, giờ thì mọi chuyện đều tạm ổn rồi. Anh cứ lo chuyện của anh giúp anh Long đi. Mà anh nè, tàu của mình đi tới đâu rồi?

Nghe Cúc hỏi, tôi giật mình vì hoàn toàn không biết con tàu mình đang ở đâu giữa đại dương mênh mông, tất cả chỉ là phỏng đoán, có thể hơn một trăm rưởi cây số cách bờ biển Việt Nam.

Tôi nói với Cúc mà như tự trấn an mình.

-Tàu đang đi đúng hướng đó em.

Tôi có được vài tiếng đồng hồ cùng với vợ và Hà lo chuyện cơm nước cho mọi người trên tàu. Cuối cùng tôi cũng không quên đem theo hai nắm cơm vắt và một chai nước cho Long công tử.

Khi tôi trở lại, Long công tử mới bắt đầu cho tàu quẹo phải, chạy về hướng Nam. Tôi nghĩ thầm, vượt đại dương mênh mông bằng con tàu dùng để đi trên sông, với kiến thức của hai thằng sĩ quan bộ binh, không hải bàn, hải đồ là tấm bản đồ của vùng Đông Nam Á nằm trong trí nhớ, liệu chúng tôi có bao nhiêu phần trăm đến được bến bờ tự do.

Mặt trời đã lên khá cao đứng lững lơ bên tay trái của con tàu, chiếu những tia nắng vàng rực rỡ xuống biển. Màu nước biển ở đây không còn trong xanh mà đã đổi thành màu đen, vài con cá tựa như cá heo, đang thi nhau bơi đua với tàu ở đàng mũi. Vinh máy nổ đi đến bên Long công tử.

-Chắc mình phải cho máy nghỉ một vài giờ, đừng có ép quá, vì cái Yanmar này cũng cũ lắm rồi.

Nói xong Vinh máy nổ nhìn tôi.

-Phải chi mình có được cái máy gần như mới tinh, nơi vườn của ông Quân ở Đà Lạt thì hết sẩy.

Tôi không chú tâm nghe Vinh nói, vì sau lưng hắn ở cuối chân trời một chấm đen xuất hiện, tôi nói với Long công tử.

-Có tàu.

Cả ba đứa cùng nhìn về phía cái chấm đen hình như đang di chuyển ngược chiều với con tàu của chúng tôi. Chấm đen mỗi lúc một lớn dần, cho đến khi hình dáng con tàu rõ nét. Vinh máy nổ la to.

-Có tàu ngoại quốc bà con ơi.

Mọi người trên tàu vui mừng, la hét, một vài người cầm cái áo trắng đưa lên trời vẫy gọi, miệng hét to.

-Cứu chúng tôi với, vớt chúng tôi đi.

Con tàu khổng lồ không một bóng người trên bong, im lặng, lầm lủi như một con tàu ma, từ từ lướt ngang qua trước mặt chúng tôi, đem theo hy vọng được cứu vớt của mọi người ở trên tàu. Trời êm bể lặng, con tàu của chúng tôi thả trôi trên mặt nước. Lợi dụng lúc tàu tắt máy Long công tử và tôi nằm tại chỗ, ngủ một giấc, tuy chỉ được vài tiếng nhưng nhờ đó mà sức khỏe của chúng tôi được phục hồi phần nào, sau một đêm thức trắng.

Suốt một ngày trôi qua, có hàng chục chiếc tàu sắt to lớn, xuôi ngược ngang qua con tàu của chúng tôi. Không một chiếc nào tỏ dấu hiệu là có ý muốn cứu vớt, cho dù mọi người ở trên tàu của chúng tôi vẫy cao những cái áo trắng với ba chữ S.O.S. Đêm thứ hai, tôi cũng thức sáng đêm ôm cái địa bàn điều chỉnh hướng đi cho Long công tử. Lần này tôi giữ hướng ba ngàn hai trăm ly giác, cho đến khi mặt trời mọc lên bên phía tay trái của con tàu, lúc bấy giờ Long công tử nhìn tôi với đôi mắt đầy mệt mỏi. Hắn chỉ về phía mặt trời nói.

Hình minh họa

-Hy vọng mình đi đúng hướng.

Ngày thứ ba, trong lúc tàu của chúng tôi tiếp tục di chuyển về hướng Nam.

Long hỏi tôi.

-Mày thử đoán coi, tụi mình đang ở đâu?

Tôi cười đau khổ.

-Mày tưởng tao là sĩ quan Hải quân chắc?

Mãi cho đến sáng ngày thứ tư, tôi và Long công tử cho tàu đi theo hướng bốn ngàn ly giác, lúc này mặt trời đã ở xeo xéo sau lưng của con tàu. Vào khoảng 5 giờ chiều, tôi nói khoảng vì tất cả đồng hồ của mọi người ở trên tàu đã nộp cho du kích ở Việt Nam rồi. Lúc ấy, tôi chợt thấy một chiếc tàu đang hướng mũi về phía tàu của chúng tôi. Khi đã đến gần, tôi nghi ngờ và đoán rằng, đó là một chiếc tàu của hải tặc Thái Lan, vì hình dáng và màu sơn của nó hoàn toàn khác với những chiếc tàu chở hàng mà chúng tôi đã gặp. Trên tàu non chục tên Thái, thân hình vạm vỡ, nước da sạm đen, đứng thành một hàng dài dọc theo hông tàu, tất cả đều mình trần trùng trục, chỉ mặc quần cụt và quấn khố. Một vài tên quẹt mấy cái sọc đen trên mặt, để làm tăng thêm vẻ dữ dằn, hung tợn. Bọn hải tặc, kẻ thì cầm dao, người thì cầm búa, họ cặp sát vào tàu của chúng tôi, năm thằng hải tặc vội vàng nhảy qua. Chuyện đầu tiên chúng làm là lùa đàn ông về phía đuôi tàu, đẩy đàn bà con nít về mũi tàu. Hai thằng nhảy xuống hầm máy, dùng mỏ lết, kềm, khóa mở bù lon, tháo tung cái máy Yanmar F10 ra, ốc vít quăn đầy sàn tàu, trộn lẫn với cát bụi, nước biển, chỗ nào tháo mở không được, chúng dùng búa đập phá không nương tay. Lúc đầu, tôi tưởng rằng bọn cướp muốn phá hủy máy móc, không cho chúng tôi đi tiếp. Cho đến khi thấy bọn chúng đập tháo cái nắp của hộp chứa dầu bên hông máy, lục lọi tìm kiếm. Lúc bấy giờ tôi mới hiểu ra là bọn cướp chỉ muốn tìm vàng giấu trong đầu máy Yanmar mà thôi. Không tìm thấy vàng, bọn cướp bắt đầu chuyển qua lục lọi tất cả túi xách, cũng như quần áo của mọi người, chúng cẩn thận mò trong từng cái ve áo, nắn bóp từng cái lai quần, vì kinh nghiệm cho chúng biết người tỵ nạn thường giấu những sợi dây chuyền vàng trong đó.

Sau cả giờ lục soát, không biết kiếm được bao nhiêu vàng bạc và đô la, bọn hải tặc lục đục nhảy về tàu của chúng, rú ga cho tàu chạy mất.

Tôi thở dài nhẹ nhõm, nhìn mọi người với nét mặt vui mừng vì vừa thoát qua một đại nạn. Mừng vì đám hải tặc bỏ đi không hãm hiếp đàn bà, con gái trên tàu của chúng tôi. Hoàng hôn dần đến, màn đêm từ từ phủ kín bầu trời, một chút gió nhẹ thổi đến, mang theo cái mát lạnh của đại dương. Con tàu chết máy, không người lái trôi dật dờ trên biển, trong khi Long công tử và tôi cố gắng mò tìm dưới sàn tàu từng con ốc, con vít, từng bộ phận nhỏ nhặt của máy tàu đưa cho Vinh máy nổ với hy vọng mong manh là anh ta sẽ sửa được máy tàu.

Dưới ánh sáng của ngọn đèn bão, Vinh máy nổ chỉ vào cái nắp đậy hộp dầu bị bể ra thành mấy mảnh, lắc đầu.

-Giữa biển như thế này, tìm đâu ra bộ phận để thay thế, chịu thua thôi mấy ông ơi.

Không chịu đầu hàng trước số phận nghiệt ngã, Long công tử lấy một cây sào dài chừng ba thước, dựng lên giữa tàu, cột thêm cái poncho dù làm buồm. Tôi hỏi hắn.

-Mày kiếm đâu ra cây sào hay vậy?

-Vợ chồng tao sống trên tàu, cái cây này tụi tao dùng để phơi quần áo.

Nhờ chút gió nhè nhẹ thổi vào cánh buồm dã chiến mới làm được, hình như con tàu có trôi nhanh hơn một chút. Tàu trôi nhưng không biết theo hướng nào, sẽ về đâu, mọi chuyện đã quá tầm tay, chúng tôi đành phó mặc cho số phận đẩy đưa.

Sáng ngày thứ năm, thùng phuy nước sông trên tàu đã cạn gần tới đáy, để lộ ra một lớp phù sa màu nâu đỏ, tôi dùng một cây gỗ nhỏ đâm thẳng xuống đáy thùng rồi nhấc lên, chiều dày của bùn khoảng một tấc. Tôi nhờ Vinh máy nổ nghiêng thùng phuy rồi dùng một cái tô múc tất cả nước đục ngầu trong đó đổ vào một thùng nhựa nhỏ. Hy vọng sau một vài giờ để yên cho phù sa lắng xuống, mọi người sẽ có chút nước uống. Mặt trời đã lên khá cao, đem theo cái nóng mỗi lúc một tăng. Mặt biển lặng yên, chỉ lăn tăn gợn sóng.

Hình minh họa

“Tháng ba bà già đi biển”, câu nói được truyền tụng trong dân gian quả là không sai, tàu đi trên biển mà cứ như là tà tà ở trên sông. Tôi thầm nghĩ, nếu con tàu của chúng tôi đang ở trong tình trạng chết máy, gặp những tháng biển động với dông tố bão bùng, chắc nó đã chìm sâu dưới lòng đại dương tự bao giờ. Khi mà mặt trời đứng ngay trên đỉnh đầu chiếu ánh sáng nóng như đổ lửa xuống con tàu, không khí oi bức ngột ngạt vì không một chút gió, trong không gian bao la tĩnh mịch của buổi trưa, từ xa một con tàu của hải tặc lại xuất hiện, khi đến gần tàu của chúng tôi, nó chạy chầm chậm đánh một vòng quanh tàu rồi cặp sát bên hông. Mấy tên hải tặc nhảy sang tàu của chúng tôi, chúng đi tới hầm máy nhìn quanh. Khi thấy cái máy Yanmar bị phá hư, bọn hải tặc biết là tàu của chúng tôi đã bị cướp trước đó rồi. Sau một lúc xầm xì bàn tán, cả bọn nhảy ngược về tàu của chúng. Hai thằng hải tặc bưng qua cho chúng tôi một thau cơm đầy, một thau cá luộc, một thằng khác hai tay xách hai thùng nhựa đựng nước. Khác với thùng đựng nước ở Việt Nam mà chúng tôi thường thấy, thùng của Thái Lan to hơn một chút, tôi đọc được con số 25L to thật to in nổi trên thùng nhựa. Đặt cơm, cá, nước uống xuống sàn tàu, không nói một tiếng, sau đó cả bọn hải tặc Thái Lan trở về tàu của chúng, tăng ga dọt mất.

Những gì vừa xảy ra trước mắt, cho tôi biết hải tặc Thái Lan là những ngư dân đang đánh cá trên vùng biển của họ. Gặp tàu tỵ nạn, sẵn dịp họ trở thành cướp, nếu may mắn sẽ được một ít vàng, còn không thì cũng chẳng mất mát gì.

Tôi đem thực phẩm và nước uống phân chia cho mọi người trên tàu, tất cả đều có được một buổi trưa no nê với nước uống đầy đủ.

Buổi trưa trên biển ở gần xích đạo, cái nóng của mặt trời quả thật là kinh khiếp, thêm chuyện bầu trời lặng gió khiến không khí càng thêm oi bức, ngột ngạt, mồ hôi của mọi người ở trên tàu toát ra như tắm. Tôi phát cho mỗi người thêm nửa chén nước với lời dặn là, phải đợi đến chiều tối mới phát nước lại.

Cho đến khi mặt trời ngả về hướng Tây, ánh nắng chừng như đã dịu lại, những cơn gió nhẹ cũng bắt đầu thổi, cùng lúc ấy một chiếc tàu của hải tặc lại xuất hiện. Đây là chiếc tàu hải tặc thứ ba mà chúng tôi gặp. Khi hai chiếc tàu gần kề, cặp song song với nhau, tôi đếm được bảy thằng hải tặc thân hình đen đúa, mặt mũi bặm trợn, trên tay dao búa sáng ngời. Bọn hải tặc hò hét nhảy múa trông giống như là những thổ dân Châu Phi, đang mở hội ăn mừng quanh bếp lửa. Mọi người trên tàu của tôi hầu như chết khiếp trước những tên hải tặc hung hăng dữ tợn. Bốn thằng hải tặc nhảy qua tàu của chúng tôi, thằng dẫn đầu tay cầm dao, tay cầm đuốc nhìn xuống hầm tàu. Khi thấy cảnh máy móc bị đập phá, tháo rời ra làm nhiều mảnh, như biết tàu đã bị cướp nhiều lần, tên hải tặc với gương mặt đầy vẻ giận dữ, hắn dùng cây đuốc chỉ vào từng người đàn ông, lùa sang tàu của chúng. Tất cả bọn đàn ông chúng tôi, bị dồn hết về phía mũi tàu của bọn hải tặc. Trong lúc di chuyển, một người đàn ông trong bọn chúng tôi, vừa đi vừa đưa tay gạt mạnh con dao của tên hải tặc sang một bên. Thấy có người như muốn chống cự, vẻ tức giận hiện rõ trên gương mặt của tên hải tặc, đôi mắt của hắn long lên sòng sọc, sẵn con dao đang cầm, hắn vung tay đâm mạnh vào lưng của người đàn ông. Lưỡi dao xuyên qua lưng người đàn ông ngọt như cắm vào thân một cây chuối. Chỉ nghe được hai tiếng la “Chết tôi” rồi người đàn ông quỵ một chân xuống đất. Ngay lúc ấy một em thiếu niên chừng 16 tuổi, chạy đến ôm lấy chân người đàn ông, miệng la to “Ba có sao không?” Tên hải tặc Thái Lan rút con dao ra khỏi lưng người đàn ông, một dòng máu đỏ tươi tràn theo miệng vết thương, chảy xuống sàn tàu. Tên hải tặc với nét mặt lạnh như tiền, co chân đạp xác người đàn ông xuống biển. Với gương mặt đầy sát khí, hắn túm tóc em thiếu niên kéo lên cao, đâm một dao vào bụng rồi đẩy xác xuống biển. Trước cảnh giết người một cách man rợ của tên hải tặc Thái Lan, không ai bảo ai, bọn đàn ông chúng tôi chạy dồn về phía mũi tàu. Thấy đã ổn định cánh đàn ông. Bốn tên hải tặc đang ở trên tàu của chúng tôi, bắt đàn bà phải cởi bỏ quần áo, cũng trong lúc đó ba thằng hải tặc bên tàu của chúng giương mắt đứng nhìn, với những tiếng cười man rợ đầy thú tính. Trước tình trạng tuyệt vọng của cảnh bọn hải tặc Thái Lan sắp sửa hãm hiếp đàn bà, con gái, một sự việc bất ngờ mà tôi biết là ngoài dự đoán của bọn hải tặc và cả tôi nữa. Long công tử tay cầm cây lao đâm cá, mũi lao làm bằng sắt nhọn hoắc sáng ngời, có thêm cái ngạnh nhỏ cong cong ở bên hông. Tôi không biết nó tìm được ở đâu.

Hình minh họa

Hét lên một tiếng thật to, tiếng thét nghe như muốn rách cả màng nhĩ của mọi người, Long công tử lao mình tới gần tên hải tặc đã đâm chết hai người của chúng tôi. Tên hải tặc này đang đứng bên hông tàu Thái Lan, nhìn sang tàu của chúng tôi hai tay đưa lên trời múa may uốn éo. Nghe tiếng hét, tên hải tặc quay người lại, cũng vừa lúc mũi lao cắm phập vào bụng hắn, xuyên qua người, lòi ra sau lưng hơn một gang tay. Tên hải tặc với đôi mắt trợn tròn đầy kinh ngạc, hai tay chỉ kịp ôm lấy cái cán lao đầy máu, loạng choạng thối lui một bước rồi cả thân hình vạm vỡ của hắn ngả nhào xuống biển. Chứng kiến cảnh đồng bọn bị giết, hai tên hải tặc còn lại tay vẫn còn cầm dao búa, bỗng dưng hốt hoảng đi thụt lùi. Long công tử như một con cọp dữ chuẩn bị vồ mồi, hắn gào to, tiếng gào nghe thật ghê rợn rồi bước tới một bước, hai thằng hải tặc lui một bước. Trong lúc hai bên đang còn vờn nhau như vậy, đột nhiên giọng nói của Vinh máy nổ vang lên.

-Ông thầy, giao cái thằng cao cho tôi.

Hai chữ ông thầy vừa thoát ra khỏi miệng của Vinh máy nổ, như một tín hiệu từ thuở xa xưa nào đó, khi mà cả hai còn phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Lúc mà Long công tử là căn cứ phó một trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Thiện Ngôn Tây Ninh, rồi sau đó là Đại đội trưởng một đại đội Biệt Động Quân, trong suốt bốn năm trường dài đăng đẳng, đã từng tham dự hàng trăm trận đánh lớn nhỏ với Việt Cộng, coi cái chết nhẹ tựa chiêm bao. Còn Vinh máy nổ ở Liên đoàn 81 Biệt Kích Dù, với hai câu thơ bất hủ đã đi vào lịch sử.

An Lộc địa sử ghi chiến tích.
Biệt Kích Dù vị Quốc vong thân.

Tiếng la của Vinh máy nổ như một động lực vô hình, một sức mạnh vô địch đẩy Long công tử phóng người về phía trước nhanh như gió. Cái bóng của Vinh máy nổ cũng vội vàng lao theo. Long công tử lúc bấy giờ là một con cọp đang dang rộng hai tay, kéo thằng hải tặc văng ra khỏi tàu mất hút dưới biển. Tiếp theo đó là Vinh máy nổ theo đà phóng, ôm chặt lấy thằng hải tặc còn lại, cả hai cùng lộn nhào trên không một vòng, rồi rơi tòm xuống lòng đại dương đen ngòm.

Tất cả mọi sự việc kinh hoàng chỉ diễn ra trong vòng vài phút, bốn thằng hải tặc đang ở bên tàu của tôi la to bằng tiếng Thái, tiếng la nghe đầy hoảng sợ, rồi cả lũ thi nhau nhảy xuống biển. Ngay lúc ấy, con tàu của bọn hải tặc rú ga phóng về phía trước, tôi nghĩ rằng thằng hải tặc lái tàu sẽ chở bọn đàn ông chúng tôi chạy thoát thân. Không ngờ chiếc tàu quẹo về bên phải, đánh một cái vòng chữ C, rồi nhắm vào bên hông con tàu của chúng tôi đâm vào. Tàu đánh cá của ngư dân Thái Lan thường trang bị động cơ sáu xi lanh, to như một con cá voi với mũi tàu nhọn hoắc vươn lên trời cao. Con tàu của chúng tôi là một con tàu nhỏ cũ kỹ chạy trên sông, nhiều chỗ mục nát muốn rệu rã với cái máy Yanmar F10 nhỏ xíu. Sau một chấn động kinh hoàng, con tàu của bọn hải tặc khựng lại một vài giây, trong khi tàu của chúng tôi đã vỡ làm hai mảnh, mấy cái thùng đựng nước bằng nhựa với vài tấm ván tàu nổi lềnh bềnh trên mặt nước, cùng lúc ấy thân thể của những người đàn bà và con nít đang từ từ chìm vào lòng đại dương sâu thẳm. Tận mắt chứng kiến cảnh đau thương tang tóc, cảnh người thân của mình bị chết thê thảm như vậy, những người đàn ông Việt Nam đang ở trên tàu của bọn hải tặc Thái Lan, kẻ trước người sau nhảy ào xuống biển.

Những tia nắng cuối cùng của một ngày cũng vừa tắt, màn đêm đen tối bao phủ cả bầu trời, biển đêm hoàn toàn im lặng, một sự im lặng đến rợn người, trong tận cùng khổ đau của tuyệt vọng, tôi nhắm mắt lao mình xuống biển, với chút hy vọng là sẽ tìm được vợ con.

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

(Vietnam, Qu’As Tu Fait De Tes Fils?)

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Chương Mười Một

Với Đoàn Người Chạy Loạn

Thứ Ba, ngày 15 tháng Tư năm 1975

Sau một đợt nghỉ ngơi khoảng 30 giờ, trận chiến Xuân Lộc lại tái diễn. Từng đợt cách nhau khoảng 30 phút, hai trung đoàn cộng sản Bắc Việt được một tiểu đoàn chiến xa T.54 dẫn đầu tràn ra tấn công vào các vị trí của Biệt động quân và của sư đoàn 18 bộ binh .Bị đẩy lui với tổn thất nặng nề, hơn 1000 tử thương và 21 chiến xa bị hạ, họ lại tấn kích với một trung đoàn thứ ba, và trận chiến khốc liệt lại tiếp tục.
Sau khi lệnh giới nghiêm vừa chấm dứt tôi lại đi lên Biên Hòa. Ở đó tôi tìm lên được một chiếc xe vận tải chở đầy thùng cây đi Trãng Bom. Một khi lên ngồi giữa hai thùng cây rồi tôi mới khám phá ra đó toàn là những thùng lựu đạn và đạn được chở ra Tràng Bom. Nếu xe nầy mà lãnh một quả đạn pháo của Bắc Việt thì tất cả những bài toán về tài chánh của tôi đều tức khắc được giải quyết.
Trời quá nóng, cái nóng của mùa khô ờ đây, với ánh nắng chói chang trong vắt. Xe cộ đều để lại vết hằn trên đường nhựa đang mềm đi vì sức nóng. Hai bên đường nhìn mút mắt là những rẩy rau cải được trồng ngay ngắn từng ô vuông vắn … Chúng tôi đi qua Hố Nai, một trấn nhỏ với 60000 dân công giáo di cư từ Miền Bắc vào năm 1954. Hai bên con đường chính dẫn vào trấn Hố Nai. có những tiệm buôn, những quán nhỏ bán đồ mỹ nghệ, và có một ngôi thánh đường hùng vĩ nằm ngay sau một bồn cỏ tròn, nơi đó các trẻ em đang chơi, quanh 3 linh mục mặc áo dòng đen.
Chiếc xe vọt lên con đường dẫn đến một khu đồi. Hai chục cây số nữa là đến Trãng Bom rồi. Có mấy chiếc trực thăng đang lượn quanh, mấy hàng binh sĩ đội nón sắt, và hai pháo đội 155 ly , tất cả đang trong cảnh ì ầm của chiến trận. Có nhiều chiến xa lớn, mang đầy cành lá, đại bác chĩa ra phía trước, đang tung tăng trong một đám bụi như có mùi thuốc súng. Còn vài cây số nữa thì đến thị trấn, xe của tôi phải ngừng lại một lúc ở một ụ đất được đấp lên trước một tượng đài bằng đá, dựng lên để kỷ niệm cho những người thợ rừng đầu tiên người Pháp chết ở Nam Kỳ (nguyên tác: Cochinchine). Ngày xưa ở phía sau tượng đài nầy là một trong những vườn bách thảo phong phú nhất ở vùng Đông Nam Á: có đến 6000 loại cây giống, cây kiểng, và lan quí, đã được chọn trồng trong gần 70 năm. Bây giờ thì không còn gì nữa cả , vì vào năm 1968, người Mỹ đã ủi bỏ và đốt sạch để cho hai bên đường được trống trải, dễ giữ an ninh cho các đoàn xe. Ở chỗ vườn cây giống bây giờ chỉ còn lại một bãi cỏ ngắn èo uột và vài cây chuối khô cằn.
Chiếc xe của tôi tiếp tục đi trong vòng 5 hay 6 cây số nữa giữa những làng xóm tiếp giáp nhau, sau đó rẽ sang trái, đi vào một con đường đất gồ ghề dẫn tới một lô trồng cao su. Giữa những hàng cây cao su cách nhau chừng 10 thườc, tôi thấy các chiến xa đang trấn giữ một khoảng đất trống khá rộng. Chạy đến khoảng trống đó chiếc xe của tôi ngừng lại và những anh lính thiết giáp còn trẻ cởi trần trùng trục chạy ra nhận các thùng đạn và lựu đạn tiếp tế. Tôi nhảy xuống đất. Hai xe cứu thương từ mặt trận đưa những thương binh về đây, các băng ca được khiêng đến một chiếc lều kaki lớn, ờ đó có một toán quân y lưu động đang làm việc. Anh em binh sĩ tản ra, tôi nhận ra được đại úy Niệm trên một băng ca, đại úy Biệt động quân mà tôi đã quá giang với ông hôm thứ sáu vừa qua. Mặt ông nhợt nhạt, đôi môi cắn chặt lại, ông bị mất bàn tay trái. Vết thương chưa được băng bó lại, trông thật là thiểu não, máu tươi thỉnh thoảng từ cánh tay bắn lên, và gân tay chỗ đó hình như nát hết. Tôi đi theo băng ca của ông đến toán quân y Tôi nắm thật chặt bàn tay mặt của ông, ông nhìn tôi, nhíu mày lại. Một đại úy quân y gạt tôi ra và nói: “Ông cứ để anh ta ở đây, tôi sẽ lo cho ông ta ngay.” Tôi trở lại một trong những xe cứu thương đang trở ra đường và ngồi đằng sau với anh em khiêng cáng. Sàn xe nơi để các băng ca vương vãi đầy vết máu và đầy “cứt đái”, xông lên một mùi nồng nặc, mùi hôi thúi của phần phía dưới bụng bị vỡ tung ra, gần như có mùi của sự chết chóc, của tử thần …
Xe rẽ về trái và chạy về hướng lửa đạn của mặt trận. Độ chừng 15 phút sau chúng tôi ngừng lại. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn vì được thở không khí trong lành hơn. Chúng tôi đang ở ngay làng Hậu Nghĩa, làng cuối cùng trước khi đến Ngã ba Suzannah.
Nằm dài theo các hố bên dường, cách nhau chừng 5 thước một, hàng trăm binh sĩ đầu đội nón sắt đang hút thuốc nghỉ xả hơi chờ tiến ra trận. Toàn là những người vạm vở, lớn con, rạm nắng, và có đôi tay kệch cộm của người nông dân quen làm đất. Con đường hiện đang bị nghẽn vì một đoàn dân chạy loạn quá dài. Hàng ngàn người chạy giặc đang đi lần xuống Trãng Bom, hết làng nầy đến làng khác. Có những chiếc xe bò, có những xe ba bánh chở đầy đến bánh xe muốn sạt ra vì chở quá nhiều bao lúa quá nặng, có nhiều chiếc xe đạp đã chở cả 3 đứa con trên sườn trước rồi lại còn đèo thêm đứa thứ tư phía sau. Họ đến từ đường đi Dalat, tù Túc Trưng hay từ Gia Kiệm. Họ đi trong yên lặng, trang nghiêm đáng kính và nghèo khổ, vì họ đã bỏ hết tất cả lại sau lưng họ, từ làng mạc trù phú đến nhà cửa ruộng vườn, mùa màng của họ, và cả mồ mã của ông cha nữa.!.
Đoàn quân tiếp tục tiến tới và băng xuyên qua một miếng ruộng cỏ ngắn, có từng bờ đê vuông lác đác có vài đống đất khô nhỏ làm bụi đỏ tung lên theo bước chân của chúng tôi . Tôi tìm một sĩ quan và cuối cùng gặp được một người, đại úy Châu. Ông vừa đi vừa giải thích cho tôi nghe :
– ” Cộng sản muốn bao vây Xuân Lộc và cắt đứt hậu tuyến của chúng tôi ở phía sau ngã ba Dầu Giây (tức Suzannah). Trực thăng chúng tôi đã đổ 1000 binh sĩ Dù xuống bìa rừng phía Tây của thị trấn nầy để tăng cường cho lực lượng phòng thủ ở đó. Hai trực thăng đã bị cao xạ phòng không Bắc Việt bắn rớt. Và lực lượng Dù đã chạm súng rất nặng, nhưng họ vẫn còn bám đất.
Hiện giờ chiến trận đang mở rộng trên 10 cây số về hướng Tây Bắc giữa Gia Kiệm và Suzsnnah. Hai bên đang đành nhau trên các đường xe be và trong các lô cao su. Cộng sản Bắc Việt đang cố cho bám chặt các trục di chuyển của chúng tôi bằng những toán đặc công được võ trang rất hùng hậu, và cố giữ chúng tôi để báo cho pháo binh của họ nện chúng tôi . Cách đây không đầy 7 cây số đang có một cuộc chạm súng lớn lắm , vậy ông đừng rời khỏi hàng quân nghen!”
Chúng tôi càng tiến tới thì càng nghe tiếng đại bác rõ hơn. Các phi cơ khu trục phóng pháo bay ngang chúng tôi thật thấp và chỉ vài giây sau tiếng rú là chúng tôi nghe được tiếng bom nổ điếc tai làm rung chuyển trận địa.. Các khu trục nối tiếp nhau từng đợt 3 chiếc một, cách khoảng nhau chừng 20 giây.
Chúng tôi tiến lên đã được hơn một giờ rồi. Con đường mòn đi sâu vào một rẽo đất có hàng tre già và vườn chuối bao quanh.Thình lình một tràng đạn pháo nổ trên con đường mòn trước mặt chúng tôi chừng vài chục thước. .
Anh em binh sĩ nhảy xuống mấy cái hố, đặt súng máy và bắn vào các hàng tre nhiều loạt đạn. Bộ đội Bắc Việt không còn xa nữa đâu. Tôi bám theo đại úy Châu. đang dùng máy truyền tin cho lệnh bố trí các trung đội của ông. Một số đạn pháo khác đang nổ trong bờ chuối, phạt ngã một số. Xuyên qua kẻ hở của vườn chuối vừa bị phạt ngã, tôi thấy có mấy cái nhà lá đang bốc cháy. những nhóm thường dân từ bốn phía chạy túa ra, đàn bà thì mặc đồ đen, đội nón lá, tay dắt con, tay xách bọc quần áo chạy băng ra đường mòn. Một chị bị một mảnh đạn vào bụng té sấp xuống phia trước như một con thỏ bị đạn trong lúc đang chạy. Một bé trai bị thương ở trán, máu chảy đỏ cả chiếc áo trắng của em, vừa đi, vừa run vừa khóc. Một em bé gái ốm yếu nắm vai em lại và dắt em đi.
Anh em binh sĩ đã tiến đến bờ dậu của mấy căn nhà lá đang cháy với tiếng lên cò súng nghe lắc cắc. Một số thường dân chạy túa ra từ các hầm trú ẩn và chạy xuyên qua cánh đồng. Họ lợi dụng sự tiến quân của binh lính Chánh Phủ để cố chạy ra thẳng quốc lộ trước mặt họ. Các khu trục phóng pháo cơ đang dùng đại bác yểm trợ quân bạn chừng trăm thước trước mặt chúng tôi. Có nhiều cột khói lên thẳng trên không trung. Hàng quân bị đạn bách kích pháo chận đứng lại. Có mộ số bị thương. Đại úy Châu nói nhanh với tôi:
– “Anh hãy đi với đám thường dân lánh nạn nầy đi. Không có gì ở đây đáng cho anh xem nữa đâu.. Rồi anh sẽ bị bắn gục như một con thú vậy.”
Và tôi quay gót trở lại con đường mòn, đi ra quốc lộ.
Trở lại con đường, qua khỏi bờ tre, đến cánh đồng trống, tôi nhập vào với đoàn người chạy di lánh nạn. Đoàn người quá dài đang sắp rời khòi cánh đồng. Có nhiều người bị thương, một ông già lạ thường với chiếc áo trắng và nón cối kiểu thực dân, đang lảo đảo đi vì một vết thương to bằng nấm tay trên vai . Ông đi chừng trăm thước là ngã quỵ xuống. Tôi cố gắng đở ông ta dậy, nhưng ông không còn nhúch nhích gì nữa, ông đã chết rồi ! Một bà mẹ đi ngang qua tôi, vai gánh một đôi gióng. Có một em bé phúng phính má bầu được cho ngồi trên một cái gối đặt ở một đầu gióng đang vô tư đùa nghịch theo nhịp đi của bà mẹ. Phía bên mặt của tôi cũng có một bà khác mặt mày biến dạng lơ láo vì lo sợ và đau khổ, vừa đi vừa lớn tiếng cầu nguyện. Bà ôm cứng đứa con gái khoảng 4 hay 5 tuổi vào lòng, bị trúng đạn ở đầu, tóc tai bê bết máu. Trông thật là thiểu não chịu không nổi!
Tôi đang ở đây, lẫn lộn với một dân tộc mà tôi rất thương. Tôi được sanh ra trong lòng dân tộc nầy, tôi lớn lên trên đất nước của họ phần nào cũng là đất nước của tôi, mà giờ đây tôi chỉ đứng nhìn họ đang đau khổ, đang chết dần mà không làm gì hơn được, chỉ biết cùng đi trên con đường này với họ mà không có một miếng thuốc, không có một cuốn băng, cũng không thể bế giùm một trong những đứa bé nầy, vì chúng hiện là tài sản quý báu nhất mà mẹ của chúng không lúc nào muốn buông ra, và tôi rất hiểu tâm trạng của họ. Nhưng mà tôi muốn kêu lên, muốn hét lên thật to để cho cả thế giới cùng được nghe: “Hãy để cho họ được sống! hãy chấm dứt sự đau khổ của họ đi..! hãy xúm nhau lại để ra sức cố dập tắt giùm các họng súng đi…..”
Nhưng làng mạc cứ thay nhau cháy … hết làng nầy đến làng khác, như những bó đuốc.. và dân chúng nghèo khổ chạy trốn với con cái của họ, quá ray rức vì nỗi lo sợ. Tôi chỉ là một nhân chứng không có một chút quyền hành . Quá thất vọng, người mẹ ôm chặt đứa con gái bị thương chỉ còn biết kêu Trời, gọi Chúa xin Người hãy ban cho sự cứu giúp.
Cuối cùng thì đoàn người lánh nạn cũng ra đến quốc lộ. Có nhiều xe vận tải đang chờ họ. Một số Dân vệ và sinh viên công giáo tình nguyện từ Hố Nai đến, đã giúp đưa họ lên xe.
Đối với những người nầy, coi như cơn ác mộng tạm chấm dứt. Nhưng còn những người khác, hằng ngàn người khác còn đang lang thang trong rừng nằm giữa hai lằn đạn của đơn vị Dù và bộ đội Bắc Việt, dưới tầm đại bác của các chiến xa đang bắn nhau, dưới các quả đạn của bách kích pháo, của pháo binh, của hỏa tiễn, và cả dưới bom đạn của phi cơ. Họ đang kẹt cứng trong cái bẫy sập của hai bên Miền Nam và Miền Bắc đang ra sức hăng say tiêu diệt lẫn nhau …
Đến Trãng Bom, lúc tôi rời khỏi đoàn dân lánh nạn mà không có đủ can đảm dám nói với họ được nửa lời, thì một thiếu tá chỉ huy một đơn vị Dù tưởng tôi là một nhà báo Mỹ chụp cổ tôi và cho tôi một câu với một giọng khinh bĩ: ” Ê ! Nầy anh Mỹ kia, ở chiến trường về, anh hãy viết rõ trong tờ báo của anh là lính Dù Miền Nam chúng tôi không cần phải có đô la mới có đủ can đảm chết cho Đất nước chúng tôi đâu nghen !”

° ° °

Thủ đô Phnom Penh đang trong cơn hấp hối. Quân Khmer Đỏ chỉ còn 5 cây số nữa là đến phi trường Pochentong, một phi trường mà họ đang nện bằng bách kích pháo hạng nặng và các loại Súng Không Zdật (SKZ) Các phi cơ vận tải loại nặng của Hoa Kỳ còn có nhiệm vụ tiếp tế cho Thủ đô nầy, đáp xuống mà vẫn cho máy nổ, bỏ hàng xuống thật nhanh trong vài phút xong cất cánh bay lên ngay, dưới những tràng đạn pháo.
Tất cả nhân viên dân sự người Campuchia làm việc cho phi trường đều nghỉ hết. Việc hướng dẫn cho phi cơ Mỹ đáp xuống được tiến hành bằng các đài kiểm soát không lưu lưu động được thiết lập tạm dưới đất, trên các nạn chống, tháo ráp ra được . Tòa đại sứ Hoa Kỳ, cơ sở ngoại giao duy nhất còn làm việc ở Nam Vang, đã cho di tản hết ba phần tư nhân viên và tất cả hồ sơ lưu trữ. Phần lớn các nhà báo đều đã rời khỏi đây.
Các bệnh viện đầy người bị thương, chất nằm trên băng ca đặt ờ ngoài các hàng hiên. Dân chúng, điềm nhiên và thụ động, lo chôn cất những người chết một cách yên lặng. Những người dân chạy loạn tiếp tục đổ về đây, che lều trại bằng ván thùng, bằng giấy bồi hay bất cứ thứ gì mà họ kiếm được kể cả lá chuối và những mảnh tôn vụn , và nằm tràn lan khắp các lề đường. Đôi khi, sau một tiếng nổ khủng khiếp, một quả đạn hỏa tiễn cuốn phăng đi cả hàng chục căn lều tạm bợ nầy, vứt ra đường những mãnh vụn của thân người nát bét cùng với nồi niêu, ván, gổ.. giữa những vũng máu tươi to lớn.
Dửng dưng với thảm cảnh chung quanh chúng, những con bò sữa đói khát đang tìm gậm vài cọng cỏ hiếm hoi trong các công viên. Tất cả các xe cộ nhất là các mô tô và xcutơ đã không còn chạy được nữa vì không có xăng, được dành cho xe vận tải công cộng và quân xa..
Chánh Phủ đã mang về từ Kompong Cham và Siemreap 8000 quân nhân để tăng cường và hiện có 30 tiểu đoàn đang nằm chung quanh thủ đô.. Nhờ có cầu không vận, họ còn được 20 ngày lương thực và đạn dược, Từ khi chiếm được Neak Luông, một vị trí then chốt trên sông Cửu Long, quân Khmer Đỏ đang sẵn sàng dàn hàng ngang đến 60 tiểu đoàn. Quân trú phòng Neak Luông đã chống cự suốt trong hai tháng nhưng cuối cùng vị trí nầy đã thất thủ ngày 1 tháng 4 trong những điều kiện hơi phi lý.
Ngày đó, vào lúc 12 giờ trưa, thống tướng Lon Nol từ dinh Chamcar-Mon dùng trực thăng bay ra phi trường Pochentong để rời vĩnh viễn khỏi Campuchia trên một phi cơ Hoa Kỳ . Một tiếng đồng hồ trước khi ông rời khỏi sân bay, tất cả các đơn vị Không quân chiến đấu của Campuchia (trên 30 chiếc khu trục T.28) đều nhận được lệnh cấm bay vì lý do an ninh (sợ họ mưu sát thống tướng Lon Nol) nên tất cả đều nằm bất động tại chỗ dưới đất.
Vào lúc 12 giờ 15, tướng Limsi- Seath chỉ huy căn cứ NeakLuong, nơi binh sĩ vừa đẩy lui một cuộc tấn công của Khmer Đỏ dữ dội đến độ có lúc phải đánh xáp lá cà, đã lên tiếng trên máy truyền tin : “Tôi đòi hỏi một sự yểm trỡ cao độ của tất cả các khu trục còn xử dụng được để đánh mạnh địch quân trước khi họ tái tổ chức được trên tuyến xuất phát và trở lại tấn công chúng tôi. Đó là cơ may duy nhất để giữ vững được Neak Luong, nếu không thì tối đa chỉ trong hai giờ nữa thôi thì chúng tôi sẽ bị tràn ngập.”
Bộ Tổng Tham Mưu của Phnom Penh chỉ biết trả lời là “Do lệnh thượng cấp, các khu trục không được cất cánh” Và như thế là 2 giờ sau đó, Neak Luong thất thủ. Tướng Limsi-Seat bị thương, 80 sĩ quan và 2000 binh sĩ bị bắt làm tù binh với cả pháo đội 6 khẩu 105 ly.
Quân Khmer Đỏ dùng 6 khẩu pháo 105 ly đó để bắn vào thủ đô coi như để dọn đường chuẫn bị cho trận tấn kích cuối cùng của họ vào Phnom Penh. Họ hy vọng chiếm được thủ đô trong dịp đầu năm âm lịch của họ (từ 13 đến 15 tháng 4 dương lịch). Như vậy là quân thủ thành sấp được hưởng một cái Tết hứa hẹn là sẽ khủng khiếp và đầy tang tóc vì họ đang bị vây khổn trong một cái rọ sắt đầy lửa.
Chiếc hàng không mẫu hạm Okinawa (chuyên chở trực thăng) đậu tại cảng Kompong Som (trước kia là Sihanouk-ville) với 120 trực thăng và 900 Thủy quân lục chiến, sẽ can thiệp để bảo đảm sự “di tản” trong vòng trật tự và an toàn của 80 hay 90 người Mỹ còn đang có mặt tại Phnom Penh. Dĩ nhiên họ cũng sẽ lo cho một vài nhân vật Campuchia nào đã dính sâu vào cuộc chiến và những người khá giả giàu có.
Nhưng còn 3 triệu người dân tị nạn đã bỏ tỉnh bỏ làng chạy loạn, bỏ hết tất cả…. để “chọn tự do” và cần có sự bảo vệ của những người thuộc chế độ Cộng Hòa “đồng minh của Hoa Kỳ” thì phải ở lại trong cái bẫy đang từ từ đóng sập xuống trên đầu họ. Đó là những nông dân nghèo khổ, chất phát và dễ tin. Vả lại, họ sẽ làm được gì nếu người ta mang họ ra ngoại quốc? Họ không biết nói tiếng Anh, Họ lại không có tiền và cũng không có một ai là thân nhân ở đó? Họ không có con còn nhỏ và trần truồng mà họ chỉ ôm trong tay những bình tro hài cốt mà họ sẽ đem đi chôn ở các chùa. Tro cốt của những người đàn ông rạm nắng vì phải lội sình hằng ngày dưới ruộng sâu, đi theo sau những con trâu đen mập mạp nhưng ngu đần, không có thì giờ để kịp nghe theo lệnh gọi lên tỉnh thành để nhập ngũ đánh đuổi giặc “Việt Nam xâm lược”! Họ đã giết người Khmer và chết vì bị người Khmer giết, và không một ai biết được, hay vì họ không muốn và cũng không cần biết , biết tại sao họ chết, chết cho ai hay chết bằng cách nào ….

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

(Vietnam, Qu’As Tu Fait De Tes Fils?)

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

11. Chương Mười – “Chúng Tôi Không Hèn Nhát
Chúng Tôi Không Sợ Chết”

Thứ Hai, ngày 14 tháng Tư, 1975

Vừa là Chủ Tịch “Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam”, một tổng liên đoàn rất hùng mạnh vừa là Phó Chủ Tịch Tổng Công Đoàn Công Giáo Quốc Tế, ông Trần quốc Bửu là một người rất có quyền lực và rất được kính nể. Ở vào trạc tuổi 60, người tuy có hơi gầy nhưng rắn chắc với đôi mắt sáng ngời, ông luôn luôn ăn mặc rất giản dị với chiếc quần dài màu xám và một chiếc áo bốn túi nhẹ bỏ ngoài.
Vừa tranh đấu cho lý tưởng quốc gia vừa tranh đấu cho công đoàn, bị lưu đày ra Côn Sơn trong thập niên 40, ở đó ông từng ở chung phòng giam với Lê Duẫn, hiện là tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, ông đã vượt ngục và chỉ huy toán “đặc công 25” nổi danh của ông trong thời gian trên 5 năm kháng chiến chống Pháp.
Bị tướng một mắt Nguyễn Bình và đội an ninh chánh trị cộng sản hăm dọa tử hình, vì ông không chịu gia nhập đảng, ông về Sai Gòn năm 1951 và qua Pháp. Ở đó ông theo học khóa công đoàn từ 1952 đến 1954 ở đường Montholon, Ba Lê với Tổng Liên Đoàn Lao Công Pháp (C.F.T.C.).
Về lại Sai Gòn, ông thành lập Tổng Công Đoàn Lao Công Việt Nam (C.T.V.), nơi tập trung 85% lao công Việt Nam.
Tổ chức của ông rất vững mạnh, uy tín và đức tánh bình dân của ông trong giới cần lao đã giúp ông có nhiều sự nâng đỡ từ các công đoàn Hoa Kỳ. Cả phía cộng sản cũng muốn chiêu dụ ông. Lê Duẫn người đã từng ở chung nhà lao với ông ở Côn Sơn, bây giờ là tổng bí thư đảng CSV N đã gởi cho ông một bức thư riêng để yêu cầu ông đừng đứng chung với “bọn tư bản”, phải giữ “thế trung lập” hoặc”về với chánh nghĩa cách mạng”. Ông Bửu đã trả lời thẳng thừng: “Kinh nghiệm mà tôi đã có được với phương pháp của ông, và với lòng tôn kính của tôi đối với quốc gia dân tộc của chúng ta không cho phép tôi tin rằng chủ nghĩa cộng sản là giải đáp duy nhất cho nguyện vọng của dân tộc chúng ta”. Do đó cộng sản đã nhiều lần mưu sát ông nhưng không thành.
Trụ sở của Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam nằm ở số 14 đại lộ Lê văn Duyệt (đường Verdun cũ) trong môt tòa nhà kiếng lớn, nóc nhọn thềm cao, kiến trúc theo kiểu Pháp, trước kia là trụ sở của Câu lạc Bộ Thể Thao Đông Dương.
Ông Trần quốc Bửu tiếp tôi trong phòng làm việc của ông, một căn phòng rộng lớn sáng sủa, có một bàn lớn và một số ghế dựa. Trên tường có treo một bức tranh lụa với hình một con trâu màu xám tro, mõm to, chân đứng dưới ruộng lúa (biểu tượng của Tổng Liên Đoàn là con trâu trong một bánh xe có răng cưa). Trên một giá đầy sách có treo hình một sĩ quan Việt Nam còn trẻ, có cài một băng đen trên chéo góc. Ông Trần quốc Bửu bắt gặp cái nhìn của tôi, liền giải thích:
-“Đó là hình của con trai tôi. tử trận hồi tháng 10 vừa qua. Thằng nhỏ đẹp trai quá, phải không? Nó là một đứa rất gan dạ, thông minh và thẳng tánh. Môn nào nó cũng thành công, học hành, thể thao, và đường đời nữa. Nó có vợ rất đẹp và nhu mì, và một đứa con trai năm nay 3 tuổi. Nó chỉ huy một đại đội và đóng đồn trong quận lỵ của một quận thuộc tỉnh Bà rịa. Nó mới vừa được 27 tuổi thì….
Nói tới đây ông Bửu lắc đầu nhè nhẹ, ngưng một vài giây và tiếp tục với một giọng thật rõ ràng, chậm rãi và có mức độ.
“Tôi muốn nói cho anh nghe về thằng con trai nầy, anh Pierre ạ. Con trai tôi đã chọn quân đội, không phải vì nó ham chiến tranh, mà vì chúng ta đang ở trong thời chiến. Nó đánh đấm cũng khá lắm và đã được khá nhiều huy chương. Chúng tôi khắng khít với nhau lắm. Nó thường viết thư cho tôi. Vài tháng trước khi chết, nó đã tỏ ra rất băn khoăn lo lắng, có lúc hoảng sợ nữa. Trong những ngày đầu của tháng 10, nó có gởi cho tôi một lá thư, để tôi đọc cho anh nghe .
Trần quốc Bửu lấy trong ví ra 3 tờ giấy mà ông đã xếp thật cẩn thận và ông bắt đầu đọc:
– ” Ba kính yêu,
Trong tiểu khu của con tình hình đã đi xuống. Không phải vì dân chúng đã ngả theo sự tuyên truyền của “phía bên kia”, mà tại vì chúng tôi đang thiếu phương tiện để chiến đấu. Mấy anh nông dân trong hàng ngũ “nhân dân tự vệ” không có đủ đạn cho súng của họ, và họ còn phải tìm mua lựu đạn của mấy anh lính chánh quy, thường ít đụng trận hơn họ. Phần các đơn vị chánh quy thì không phải họ tránh chạm súng, mà cứ mỗi lần chạm địch, môt địch quân hơn hẳn họ cả về chiến cụ lẫn đạn dược, nên họ cứ bị tổn thất thật nặng.
Để Ba hiểu rõ hơn tình hình của tụi con, con phải giải thích cho Ba nghe một vài điểm về kỹ thuật. Cộng sản Bắc Việt thì dùng chiến xa T. 54 và đại bác 130 ly của Liên Xô. T.54 là loại chiến xa rất năng động, tuy thô kệch nhưng được bọc sắt rất dày và võ trang hùng mạnh: một đại bác 100 ly lòng dài với 34 quả đạn trong xe, 2 liên thanh 30 ly, và một liên thanh 50 ly, có tầm hoạt động 400 cây số đường bán kính. Trong trường hợp tấn công, tụi con chỉ có ống phóng M.72 (loại ba-zô-ca chống chiến xa). Súng nầy chỉ xử dụng có một lần, bắn xong là phải vứt ống phóng đi, và nó chỉ thật sự hữu hiệu trong vòng 100 thước mà thôi. Do đó mình phải bắn chiến xa địch trên bộ, thật gần, mới trúng đích được . Có nghĩa là mình phải đi bộ đến trong tầm tác xạ chính xác của vũ khí tự động trên chiến xa địch, để cho người ta giết chết mình … mà không chắc là mình sẽ hạ được nó. Trên thực tế muốn tiến sát đến gần chiến xa thường rất là khó, gần như không thể được, vì lúc nào chiến xa cũng có “bộ binh tùng thiết” đi mở đường cho nó và bảo vệ nó. Còn pháo binh 130 ly dù là một loại vũ khí xưa, cũ, trên 20 năm rồi nhưng là một vũ khí đáng sợ. Nặng khoản 8 tấn, được xe xích kéo, có tầm tác xạ tới 27 cây số và có thể bắn đi 6 quả đạn trong một phút. Chỉ cần có 3 khẩu pháo 130 dấu kín trong rừng, và với 1 giờ tác xạ (1000 quả đạn thôi) cũng đủ đánh sập quận lỵ của bất cứ một quận nào. Đạn pháo 130 ly có thể phá vỡ một miếng thép dày 27 ly, cho nên không có một kiến trúc nào, một công sự nào chịu nổi sức công phá của loại pháo nầy. Dân chúng bỏ chạy hết và quân đội của tụi con không thể nào chống trả mà không bị thiệt hại nặng vì chúng tôi chỉ có pháo binh 105 ly với tầm tác xạ ngắn hơn nhiều , và đạn pháo thì được đếm từng quả, 3 viên cho một khẩu trong một ngày, trong lúc địch thì được tiếp tế quá dồi dào về đạn dược.
Để khóa miệng mấy khẩu pháo binh cộng sản nầy, chúng ta bắt buộc phải có ưu thế tuyệt đối về Không quân. Điều nầy rất đúng trên lý thuyết, nhưng hoàn toàn sai trên thực tế.. Từ khi có cuộc khủng khoảng xăng dầu, trực thăng quan sát và thám thính của chúng ta chỉ được phép bay có 3 giờ mỗi ngày. Ngoài ra cộng sản còn được trang bị hoả tiễn tầm nhiệt S.A.7 rất dễ xử dụng và rất chính xác để vô hiệu hóa các loại phi cơ của chúng ta.

Thưa Ba yêu quý,
Con biết rằng Ba có nhiều mối liên hệ với người Mỹ. Cương vị Chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động của Ba sẽ giúp Ba có tiếng nói mạnh hơn. Ba phải giải thích cho họ hiểu rằng tình hình ở đây đã rất là nghiêm trọng lắm rồi. Họ phải cung cấp cho chúng ta vũ khí cần thiết, như hỏa tiễn Tows trên thớt cơ động, và trực thăng võ trang “cobra” trang bị chuyên về chống chiến xa. Họ có hết các thứ nầy mà tại sao họ từ chối ? Họ phải viện trợ cho chúng ta về quân sự và kỹ thuật như họ đã hứa. Tôi yêu cầu Ba, Ba ơi, Ba hãy can thiệp với họ. Nếu không thì chúng ta sẽ bị đè bẹp và bại trận ngay. Chúng tôi không phải là kẻ hèn nhát. Chúng tôi không bao giờ sợ chết. Với điều kiện là còn giữ được một cơ may để chiến thắng, hay là để chống cự với cộng sản có hiệu quả.
Xin Ba tha lỗi cho con vì bắt Ba phải nghe một tờ trình quân sự quá dài dòng. Trong tiểu khu của con, số lần chạm súng và số lần tác xạ của pháo binh tăng lên theo cấp số nhân. Dù sao thì con cũng giữ được đồn của con và con sẽ không rút đi đâu hết….. dĩ nhiên là vẫn còn sống. Binh sĩ của con theo con, và dân chúng vẫn tin tưởng nơi chúng con.
Đứa con lúc nào cũng kính mến và trung thành của Ba”
Ông Bửu từ từ xếp lá thư lại, đằng hắng để lấy giọng và để dằn cơn xúc cảm lại rồi mới tiếp tục:
– ” Tất cả mọi thất bại của chúng tôi đều được gói gọn trong những hàng nầy. Tôi nhận được thư nầy của con tôi sau chuyến đi thăm Á Châu và Âu Châu của tôi trở về. Khi tôi đọc được lá thư nầy thì con tôi đã tử trận được3 ngày rồi.
– Ông có nói gì cho người Mỹ họ nghe không?
– Dĩ nhiên là có. Tôi đã gặp Đại sứ Martin, và các tùy viên quân sự Hoa Kỳ . Tôi cũng có viết thư qua Mỹ. Không có người nào nghi ngờ về những tin tức của tôi. Ông Đại sứ và các tùy viên quân sự đã có ghi chú đầy đủ, và tôi cũng nhận thấy thực tình họ đang quá bận rộn. Nhưng không thấy có ai làm gì hết, tôi muốn nói là họ không có một biện pháp cụ thể nào cả.
– Như vậy cái gì sẽ xảy ra?
– Chuyện gì cũng được hết ! Các ông dân cử chắc sẽ nhúc nhích.Tổng Thống Ford sẽ có những lời tuyên bố dễ nghe. Quốc Hội sẽ kéo dài các cuộc tranh cãi để khỏi phải chuẩn chi ngân khoản viện trợ. Ông Thiệu sẽ ra đi hay sẽ để bị ám sát. Các sĩ quan và binh sĩ trẻ và tự hào như con trai tôi sẽ bị hy sinh vì danh dự, hay vì để kéo dài thêm thời gian cho một vài chánh trị gia tự phụ kịp leo lên nắm quyền, Đủ thời gian để dàn dựng một kịch bản tưởng như bất thần được ứng biến, mà thật ra đã được viết sẵn từ lâu.. Người Mỹ sẽ đóng cửa các văn phòng cuối cùng của họ. Hạm đội 7 sẽ có mặt tuần rỏn ở biển Đông.
Rồi cộng sản sẽ chiếm Sai Gòn . Và tất cả lỗi đều sẽ được đổ hết cho chúng tôi!!.

° ° °

“Đây thật đúng là thời điểm để trở lại nhận xét nghiêm túc về Hiệp Định Paris. Chế độ cảnh sát và quân đội của ông Thiệu phải nhường chỗ cho những người đại diện, có trách nhiệm và xứng đáng hơn, để họ bắt đầu một cuộc nói chuyện thành thực và nghiêm chỉnh với cộng sản trước khi đã quá trễ. “
Người nói với tôi lời tuyên bố nầy là Nghị sĩ Vũ văn Mẫu, tiến sĩ luật xuất thân từ trường Đại Học Luật khoa ở Paris, (đúng như tấm biển treo trước văn phòng luật sư của ông), và Chủ Tịch Phong Trào Hòa Giải Quốc Gia, một phong trào của Phật giáo quy tụ những người chống đối dai dẳng nhứt của ông Thiệu.
Nhỏ người, tròn trịa, khoảng sáu mươi, hay lăng xăng quậy phá, với gương mặt xương xẩu và giọng nói thanh tao kỳ lạ, là luật sư cho các công ty xăng dầu (Shell và Socony) , ông Mẫu là một người giàu có và liến thoắng, khôn khéo và cơ hội chủ nghĩa hơn là thành thực và quả cảm. Dân Sai Gòn không hề thích ông, một phần vì ông gốc người Miền Bắc, một phần vì họ thấy ông kiêu căng và xảo trá. Dù sao thì ông cũng thông minh và lanh lợi. Ông đã từng là Tổng trưởng Ngoại giao của Tổng Thống Ngô đình Diệm, đã nhiệt tình và hết lòng phục vụ Tổng Thống Diệm và ủng hộ đường lối cương quyết chống cộng, nhưng sau đó, khi có cuộc khủng khoảng Phật Giáo, ông tự từ chức và cạo đầu để chứng tỏ một lòng với sự tranh đấu của các sư sãi. Ba tháng sau đó thì Tổng Thống Diệm bị sát hại.
Tin chắc là Phật tử đang cần có một người “lãnh đạo thực sự” nên ông Mẫu đi sát với các sư cốt cán của chùa Ấn Quang, những người chống đối tất cả mọi hình thức của chế độ quân nhân, và với sự yểm trợ của họ, ông đắc cử Nghị sĩ. Trước hết ông đụng ngay ông tướng Kỳ, sau đó mới tới ông Thiệu.
Cuối năm 1973, lúc ông Thiệu định cho sửa đổi Hiến Pháp nhằm ra tranh cử Tổng Thống một nhiệm kỳ thứ ba, Vũ văn Mẫu lại cạo đầu một lần nữa để chống đối, và tuyên bố là chỉ để tóc lại “ngày nào mà chế độ độc tài được cáo chung” . Từ đó ông được thêm một biệt danh là “thợ cạo hàn thử biểu”
– “Ông Thiệu đã dối gạt tất cả mọi người, trừ tôi, Chỉ có một cách để chấm dứt cuộc chiến, là cho ông Thiệu đi và đưa tướng Minh lên thay thế ông ta. Ông Mẫu nói với tôi bằng một giọng lạ lùng của một cậu bé hỗn xược.
– Còn Hiến Pháp thì sao?
Bằng một cử chỉ kiên quyết, ông gạt phăng luận cứ nầy:
– ” Ông Thiệu đã vi phạm Hiến Pháp để tiếp tục chiến tranh. Ai cấm cản chúng tôi vi phạm Hiến Pháp để đem lại hòa bình ? Chúng tôi sẽ tìm được đa số tương tự để làm chuyện đó.
– Và người nào sẽ là Thủ Tướng?
– Tôi!
Luật sư Vũ văn Mẫu phá lên cười nắc nẻ có vẻ bực tức, sau đó làm mghiêm trở lại, và nói tiếp với một giọng tâm tình:
– Ông biết không, tôi tốt với tướng Minh lắm. Ông đã có nói với tôi là ông rất cần môt người giỏi về luật để bàn cãi với cộng sản… và ông đã nhắm vào tôi.
– Ông tin thật là có thể thương thảo trong khuôn khổ Hiệp Định Paris à?
– Không có một căn bản nào khác để mà thương thảo, và đây là nghề của tôi, nghề bàn cãi, biện hộ, thuyết phục và ngay cả dùng mưu nữa. Tôi biết bênh vực cho một hồ sơ, tin tôi đi. Khó mà có thể bắt bí tôi lắm, tôi sẽ dùng một luận cứ mà không một ai dám làm. Một khi tôi lên rồi, tôi sẽ đòi hỏi tất cả người Mỹ phải rời khỏi ngay đất nước nầy trong vòng 24 tiếng đồng hồ, và ông hãy tin tôi đi, họ sẽ đi ngay cho ông xem! Ông có vẻ hoài nghi hả? ông sai rồi. Đây nầy, tôi cho ông một cái hẹn trước ba tuần lễ ở Dinh Độc Lập. Tôi sẽ là Thủ Tướng, tôi sẽ tiếp ông, và chừng đó ông sẽ thấy là tôi giữ lời hứa của tôi.
Vô liêm sỉ?… hay là biết chắc một trò chơi mà ông ta đã nắm được những con bài chủ nhưng không muốn trưng ra?
Tôi nghiêng về giả thuyết thứ hai. Vì Luật sư Vũ văn Mẫu là con người không bao giờ chịu liều lĩnh.

Trịnh Thanh Tùng, người phụ nữ sống sót trong cuộc vượt biển kinh hoàng

Phương Anh, phóng viên đài RFA
23 Apr 2007

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, chỉ một thời gian ngắn, làn sóng người Việt bỏ nước ra đi bằng thuyền càng ngày càng tăng. Mặc cho bao hiểm nguy đang chờ đón họ. Không ai có thể thống kê được đã có nhiêu người đã bỏ thây trên biển cả và bao nhiêu con thuyền đã chìm dưới lòng đại dương mênh mông.

Chị Trịnh Thanh Tùng và gia đình ân nhân ở Bolinao. Photo courtesy bolinao52.com

Đó là chưa kể những người bị hải tặc bắt đi mất tích. Những câu chuyện thương tâm, những bi kịch trên các chuyến vượt biển rất ít khi được kể lại. Phần lớn, đều muốn quên đi quá khứ để bắt đầu cuộc sống mới. Thế nhưng, vết thương lòng của họ thật khó phai mờ. Có những người vẫn còn bị ám ảnh hay sống trong nỗi dằn vặt bởi chuyến vượt biển hãi hùng.

Trang Phụ Nữ kỳ này xin gửi tới quí vị câu chuyện của chị Trịnh Thanh Tùng, người phụ nữ sống sót trong vụ án Bolinao 52 vào năm 1988, khi thuyền vượt biên của chị bị một chiến hạm Mỹ từ chối không vớt, gây nên thảm cảnh vô cùng khủng khiếp.

Cũng là một phụ nữ rất bình thường như bao nhiêu người khác, chị Trịnh Thanh Tùng sinh năm 1956, cha và anh là sĩ quan cao cấp, phục vụ trong trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Thế rồi, biến cố 30-4, cha và anh ruột đều đi tù cải tạo, nhà cửa bị tịch thu, chị kể lại:

“Sau 75 thì mấy ông Cộng Sản vô không cho đi học nữa, phải đi buôn bán, phụ mẹ. Ba thì đi ở tù, anh cả cũng ở tù tới 14 năm…mấy mẹ con ở nhà khổ lắm…bị lấy nhà …họ đuổi ra, không cho ở nhà của mình (khóc)…sau đó phải đi bán buôn, đi làm ruộng..rồi ba tui đi ở tù về thì má tui mất. Anh cả thì vẫn ở tù, tháng tháng phải xách đồ đi thăm nuôi…nhắc tới khổ lắm!”

Chuyến vượt biển định mệnh

Vào ngày 22 tháng 5 năm 1988, sau khi ly dị một thời gian, chị quyết định dắt con trai chưa đầy 5 tuổi xuống thuyền vượt biên cùng với người anh trai, chị kể tiếp:

Xem video clip trailer phim của Bolinao 52

“Lúc đó tui ly dị và dẫn đưá con đi theo, anh trai tui mới ở tù ra cũng đi theo luôn và anh dẫn theo thêm một đưá con của ảnh… Đi cực lắm, đi rồi lại về, năm lần bảy lượt mới được… mà rốt cuộc cũng bị gì đâu…

4 người đi ngõ Bến Tre, chờ cho đến khi lên tàu lớn…khi đi rất ngon lành, tàu chạy nguyên một đêm, ban ngày ra chạy khoảng nửa ngày thì máy tắt, ông tài công sưả…lúc đó ai cũng còn “sặc sừ”, sau đó máy chạy lại, được một chút thì mưa to gió lớn quá…

Ông tài công nói tắt máy vì sợ sóng lớn đánh tàu bị lật, sau khi hết mưa thì cho máy chạy lại thì máy không còn nổ nữa, lúc đó là khoảng 4, 5 giờ chiều, sửa hoài cũng không nổ, vì thế ông tài công nói là không đi được thì thôi để máy trôi vô bờ, lúc đó tụi này thấy núi xa xa…thì mình nghĩ cũng đúng, và ổng còn nói là ai có giấy tờ gì thì xé đi, đồ ăn uống gì thì ăn cho hết đi, rồi lên bờ thì mạnh ai nấy chạy.

Nghe ông ta nói như vậy thì ai cũng ăn, sau đó mọi người đều ngủ. Sáng ra, tui thấy biển xanh như mực, nó không trôi vào mà trôi ra, lúc đó ông tài công sửa máy nhưng nó không chạy và từ đó trôi luôn…”

Theo lời chị cho biết, chiếc ghe cứ trôi trên biển như thế và nhìn thấy rất nhiều tàu qua nhưng không chiếc nào dừng lại…Giữa biển cả mênh mông, chỉ có trời và nước, mọi người đều bắt đầu kiệt sức…chị nói tiếp:

“Không có ai ngừng lại để vớt mình hết, duy nhất ngừng lại là chiếc tàu Mỹ, không có chiếc tàu nào dừng lại hết, toàn là đi ngang qua thôi, gặp nhiều lắm…Ngày thứ 10, gặp tàu Nhật thì có mấy người trên tàu nhảy xuống, đến ngày 19 thì gặp tàu Mỹ ngừng lại cho đồ ăn…

Ngày thứ tư là tui hết đồ ăn rồi, chỉ còn gói bột cam và ống sữa. Khi biết chiếc tàu bị trôi thì gia đình chủ tàu đã dành đồ ăn cho riêng họ, nước cũng vậy, khát nước thì họ chỉ phát cho chút xíú, rốt cuộc cũng hết nước.”

Chuyến đi hãi hùng

Thế rồi, trên chiếc ghe nhỏ với 110 người ấy, ngoài những người đã hoảng loạn nhảy xuống biển, thì bắt đầu có người chết:

Chị Trịnh Thanh Tùng trong chuyến trở về lại Bolinao. Photo courtesy Bolinao52.com

“Người nào chết thì thẩy xuống biển, chết trước nhất là con bé nhỏ 3 tuổi, ngồi kế tui vì nó khóc nhiều quá, nó đòi ăn, đòi uống hoài, nó là đưá chết đầu tiên…Khi gặp tàu Mỹ, ở trên chiếc tàu đó có người Việt Nam, ông ta tên Nghiêm hay Nghiệm gì đó vì tui thấy bảng tên của ông ta, ông ta là lính trên chiếm hạm đó.

Ông Việt Nam đó nói là chiếc tàu của ông ta đang trên đường đi công tác ở vùng Vịnh, không thể giúp tụi tui được, chỉ cung cấp thức ăn trong vòng hai ngày, sau đó, sẽ được đưa vào Nam Dương hay Phi Luật Tân…

Họ cung cấp thức ăn trong hai ngày mà trong khi đó, mình đói 19 ngày rồi, mà chiếc ghe phải có người tát nước, ngày nào nước cũng vô mà không ai chịu tát hết, thành ra, ai tát nước thì mới được phát đồ ăn, đồ ăn có trong hai ngày, ngày thứ ba thì cũng chờ…rốt cuộc không thấy gì hết và không còn đồ ăn nữa.”

Được biết, vì để sống còn, giữa biển cả mênh mông, không nước, không lương thực, chị đã phải uống nước tiểu của con trai mình và chấp nhận ăn thịt đồng loại để giữ mạng sống cho mình và con trai. Chị kể:

“Có người nói là khi nào tôi chết thì lấy thịt tôi làm thức ăn để cho mọi người sống sót còn tới bến bờ chứ nếu không thì không ai biết như thế nào…Nghe nói vậy thì mình không biết ai nói câu nói và ai đã làm chuyện đó…

Ai cũng phải tát nước hết, thành ra, ngoại trừ con nít thôi, ai cũng phải tát hết, cho nên tui quả quyết rằng 52 người còn sống sót người nào cũng phải ăn hết, anh Minh đưa cho tui hai phần vì tui có con nhỏ, nhưng tui cũng phải tát nước.. có những người không chịu làm thì anh ta đánh người ta…

Sáng ra, anh kêu dậy tát nước mà chưa kịp dậy là anh ta múc nước biển đổ lên người mình. Mỗi một đêm, sáng ra là nước ngập nửa ghe rồi.”

Công khai câu chuyện

Ai cũng phải tát nước hết, thành ra, ngoại trừ con nít thôi, ai cũng phải tát hết, cho nên tui quả quyết rằng 52 người còn sống sót người nào cũng phải ăn hết, anh Minh đưa cho tui hai phần vì tui có con nhỏ, nhưng tui cũng phải tát nước.. có những người không chịu làm thì anh ta đánh người ta…

Cuối cùng, đến ngày thứ 37, như một phép mầu, một chiếc tàu đánh cá Phi đi qua đã vớt những thuyền nhân khốn khổ này và đưa vào đảo Bolinao, sau đó, họ được chuyển tới trại tạm cư Palawan và câu chuyện của họ được khám phá.

Vị hạm trưởng chiến hạm Mỹ bị đưa ra toà án quân sự, và những thuyền nhân sống sót lần lượt đi định cư, trong số đó có chị Trịnh Thanh Tùng. Đến Mỹ năm 1991, sau một thời gian ổn định cuộc sống, chị trở thành cô thợ cắt tóc bình thường như bao phụ nữ khác, chỉ biết cố gắng nuôi dậy đưá con trai sao cho nên người.

Những tưởng cuộc sống sẽ bình lặng nhưng không đơn giản như thế, vì mỗi khi đêm xuống, trong một thoáng nào đó, sâu thẳm trong trái tim chị, hình ảnh những người đồng hành trên chiếc ghe năm xưa vẫn còn ám ảnh: “Tui nhớ mãi có một chị đó ngồi ngoài sau chiếc ghe, và ngoài đó thì nắng quá, chị đó người Hoa, không nói tiếng Việt, chị ngồi đó mà chết luôn, người chị khô và đen, y như là bức tượng chứ không phải là người, mắt mũi miệng của cổ sùi bọt trắng bóc, giống như bọt kem đánh răng vậy.

Tui nhớ nhất là chị Năm, nằm cạnh tui, chị cứ nói là: “lạnh quá, Tùng ơi, ôm chị đi.” Tui đưa áo mưa của tui cho chị ấy luôn và ôm chị, sáng ra thì chị ấy chết…”

Cho đến một ngày, một người bạn của chị nói với chị rằng, có đạo diễn Nguyễn Hữu Đức nhắn tin trên Đài phát thanh địa phương đang đi tìm những nhân chứng trong vụ án Bolinao 52 năm xưa.

Suy nghĩ mãi, cuối cùng, chị đồng ý cho gặp mặt và cũng từ đó, câu chuyện về chuyến vượt biển kinh hoàng mới được chị công khai cho mọi người và nhất là cậu con trai nay đã trưởng thành. Và, điều quan trọng hơn cả, tâm nguyện của chị là:

“Tui muốn đi về Bolinao để cảm ơn họ, mặc dù sống ở đó có 7 ngày nhưng tui ráng nhớ chỗ đó để khi có dịp trở lại, vì theo tui, đó là nơi tui được sanh ra lần thứ nhì, ước nguyện của tui là được trở về thăm lại chỗ đó.

Trước khi tui đi Bolinao, tui cảm thấy mình chưa làm xong điều gì hết, tui muốn trở về để thăm và ra ngoài biển, vái những người bạn của tui cũng như vái những người đã giúp cho tui sống.”

Với một tâm hồn bình dị, đơn sơ và đầy lòng vị tha, khi chị gặp lại một trong những người thuỷ thủ trên chiến hạm Mỹ năm xưa đã ngoảnh mặt làm ngơ, để gây ra thảm cảnh đau lòng, chị chỉ hỏi ông ta rằng:

“Tôi đã hỏi ông ta tại sao không giúp, thì ông ta nói rằng ông chỉ thừa hành lệnh thôi, tất cả những người trên chiếc tàu đều giống như ông ta thôi, đều cảm thấy có tội khi bỏ chiếc ghe mà đi…Chính ông bác sĩ trên tàu của họ cũng đã chuẩn bị sẵn sàng giường để đón qua, nhưng họ rất sững sờ khi thuyền trưởng ra lệnh đi, vì họ biết chiếc ghe này sẽ chết..”

Can đảm thì cũng không phải là can đảm gì vì gặp hoàn cảnh như vậy thì mình phải làm như vậy thôi…Khi tui ở trên ghe, không bao giờ tui nghĩ tui sẽ chết, tui được như vậy là Trời Phật thương mình lắm rồi, mình không cần phải giàu, không cần phải đi xe đẹp, không cần phải mặc quần áo sang…cuộc sống bình lặng như vầy là được rồi.

Trở lại Bolinao

Giờ đây, sau khi đã về lại Bolinao, nơi chị được cưu mang chỉ có 7 ngày, gặp lại ân nhân đã cứu mạng, cùng ra biển thắp nhang cho 58 người thiệt mạng, lòng chị cảm thấy nhẹ nhàng và thanh thản:

“Sau khi trở về, tui cảm thấy sống bình yên hơn…Tui chỉ ước mơ cho con tui thành tài, mình qua đây đâu phải cho mình đâu, mà để lo cho con mình. Nghĩ về quãng đời qua của mình, tui nghĩ con người ai cũng có số, mình muốn cũng không được, cuộc đời nó đưa đẩy thì mình phải chấp nhận như vậy…

Can đảm thì cũng không phải là can đảm gì vì gặp hoàn cảnh như vậy thì mình phải làm như vậy thôi…Khi tui ở trên ghe, không bao giờ tui nghĩ tui sẽ chết, tui được như vậy là Trời Phật thương mình lắm rồi, mình không cần phải giàu, không cần phải đi xe đẹp, không cần phải mặc quần áo sang…cuộc sống bình lặng như vầy là được rồi.”

Riêng với cậu con trai vượt biên với chị chưa đầy 5 tuổi năm xưa, nay đã là lính thuỷ quân lục chiến trong quân đội Hoa Kỳ, thì cho đến bây giờ anh mới được nghe mẹ kể lại. Chúng ta hãy nghe anh Phan Thanh Lâm tâm sự:

“Tôi chỉ nhớ rằng trên thuyền, tôi rất yếu, chỉ nằm thôi, và đã bị đói khát, tôi phải ăn cả kem đáng răng, nhưng sau cùng, mẹ tôi cũng tìm cho tôi đồ ăn, mà tôi không biết đó là thức ăn gì, cho đến bây giờ tôi mới hiểu ra…

Nhưng tôi nghĩ, chẳng qua vì chúng tôi phải sống mà thôi. Tôi không ngờ suốt mười mấy năm qua, bà đã phải chịu đựng sự dằn vặt như thế. Mẹ tôi đã hy sinh cho tôi rất nhiều và bà ấy là một người mẹ tuyệt vời. Nếu mẹ tôi không can đảm đưa tôi qua đây, để tôi được như ngày nay, thì tôi không biết rằng tương lai của tôi ở Việt Nam sẽ ra sao nữa.”

Qúi vị và các bạn vừa nghe câu chuyện của chị Trịnh Thanh Tùng, người phụ nữ sống sót trong chiếc ghe nhỏ Bolinao 52 năm xưa. Phương Anh xin dừng nơi đây. Hẹn gặp lại qúi vị và các bạn trong chương trình kỳ sau.



Thảm cảnh Bolinao 52

Nhân vật thật: Trịnh Thanh Tùng

William Cloonan

Đao diễn: Nguyễn Đức

Bài Nguyễn Ngọc Chấn.

Hình Nguyễn Đức

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Mùa Quốc Hận năm nay, kính mời quí đồng hương hãy đi xem cuốn phim Bolinao 52 được trình chiếu tại Bowers Museum, 2002 N. Main Street Santa Ana, Ca 92706. Chủ Nhật ngày 26 tháng 4, từ 1 giờ đến 4 giờ.

Ngòai phần chiếu cuốn phim thảm cảnh Bolinao 52, Đạo diễn Nguyễn Đức và Ban tổ chức sẽ có buổi lễ vinh danh tạ ơn ông Corwin Al Bell, nguyên hạm trưởng USS MORTON, Hải Quân Hoa kỳ đã có công cứu vớt hàng trăm thuyền nhân Việt Nam trên biển Nam Hải. Ông Corwin Bell là một trong số những hạm trưởng của Hải Quân Hoa Kỳ và thế giới, đã thi hành đúng bổn phận của người hàng hải, cứu vớt những kẻ gặp nạn trên biển cả, mà còn thể hiện được tình nhân đạo giữa con người với nhau. Ngòai việc được vinh danh công trạng, ông Bell cũng đã tạo được mối liên lạc mật thiết, đậm tinh với những nạn nhân đã được ông cứu sống, nay đã thành đạt và vẫn ghi nhớ ơn cứu tử của ông.

Tuy vậy trong cuộc vượt biển tìm tự do của người Việt Nam, không nhất thiết mọi vị chỉ huy hàng hải đều thi hành mệnh lệnh nhân đạo một cách đúng đắn mà, rất nhiều người đã ngỏanh mặt làm ngơ để cho hàng trăm ngàn người Việt nam bị vùi thây trên biển Nam Hải. Đó chính là động lực cho sự hình thành cuốn  phim “BOLINAO 52”, thảm kịch trên biển Nam Hải của đạo diễn Nguyễn Đức.

Bolinao 52 của Nguyễn Đức

Một Phim Tài Liệu về Chuyện Người Tị Nạn Được kể trung thực nhất bằng những người thật, vật thật làm cho người xem cảm nhận được những gian khó của người Việt Nam trên đường tìm tự do. Nguyễn Đức đã soạn một nền tảng với nhiều nghề nghiệp. Anh làm họa sĩ cảnh trí, nhân viên đoàn nghiên cứu y tế, nhà sản xuất kỹ thuật truyền hình. Đức có bằng Truyền Thông Đại Chúng (Mass Communications) từ Đại học California ở Berkeley. Với nhiều năm kinh nghiệm làm phim, anh muốn kể lại câu chuyện đầy máu và nước mắt qua cuốn phim tài liệu, Bolinao 52, để đưa ra ánh sáng một chuyện dài của thuyền nhân Việt nam từ góc nhìn của những người sống sót.

Cuốn phim tài liệu đến gần như là tình cờ.

Nguyễn Đức sinh ra giữa chiến tranh Việt nam, đến Mỹ bằng đường biển lúc 15 tuổi. Lúc nào anh cũng có một liên hệ cá nhân mật thiết với biển cả. Anh và gia đình trôi dạt trên biển 4 ngày trước khi được một chiếc phi cơ tuần tra Mỹ phát hiện, và sau đó được cứu lên chiến hạm USS Long Beach. Ngay trong lúc lênh đênh trên biển ở tuổi 15, Đức đã tự nhủ sẽ kể lại chuyện này nếu sống sót.  Thọat đầu anh chỉ định kể lại chuyện vượt biển của riêng mình, nhưng cuối cùng hoàn cảnh đẩy đưa anh vào thế giới thuyền nhân Việt nam  có hàng ngàn chuyện khổ  đau gấp trăm gấp ngàn lần chuyến đi của anh. Đức đã dốc hết tâm tư vào việc làm  để đời cho thế hệ sau này.

Đường vào cõi chết.

Thật tình cờ Đức biết được câu chuyện Bolinao 52. Anh thấy lóe lên một tia sáng khi xem ký sự truyền hình của Diane Sawyer trong chương trình “60 Minutes”, nói về phiên tòa án quân sự của một hạm trưởng Hải quân Hoa Kỳ, đã bỏ rơi những người tị nạn trên chiếc thuyền mong manh giữa biển, mà nạn nhân đã chết hơn một nửa.  Năm 1988, chiến hạm mang tên USS DUBUQUE, hạm trưởng  là Alexander G. Balian  với 25 năm kinh nghiệm  bị tuớc quyền chỉ huy vì đã làm mất danh dự cho ngành hàng hải Hoa kỳ, “bỏ rơi người gặp nạn trên biển dù họ là kẻ thù của mính”; Đằng này họ là thường dân vô tội.

Chiếc thuyền rời Bến Tre tháng Năm 1988 với 110 người gồm nam phụ, lão ấu. Ngày đầu tiên thuyền đã bị chết máy sau một trận bão, trôi dạt theo dòng nước trong hai tuần liên tiếp. Nhiều tàu lớn đi qua, nhìn thấy, nhưng không chiếc nào dừng lại. Chiếc tàu đầu tiên ngừng lại là chiến hạm Mỹ (USS) Dubuque, từ Phi Luật Tân trên đường đến Vịnh Ba Tư. Chiến hạm Dubuque có thông dịch viên người Việt cũng  được biết tình trạng thuyền bị chết máy hơn hai tuần, mấy chục ngày không lương thực, cạn nước uống, lênh đênh trôi. Thuyền nhân chết dần chết mòn chỉ còn lại một nửa. Chiến hạm chứng kiến thuyền nhân quăng mấy xác chết xuống  biển để ra dấu tình trạng tuyệt vọng. Chiến hạm Dubuque từ chối cứu chiếc thuyền. Vài người tị nạn lấy sức tàn bơi qua chiến hạm, đu giây lên thành tầu. Thuyền trưởng ra lệnh rung giây cho rơi xuống biển rồi liệng phao bắt họ bơi về thuyền và…lặng lẽ bỏ đi.

Sau hai ngày với lương thực được tầu Mỹ bố thí, thuyền nhân yếu lả. Mức độ người chềt khủng khiếp hơn. Lương thực và nước uống hòan tòan kiệt cạn. Họ không còn chọn lựa nào khác là…. bắt buộc phải nuốt trửng những miếng thịt người đồng hành mới chết để lấy sức.

37 ngày sau, dân đánh cá Phi luật tân cứu được và đem họ đến phố Bolinao. 110 người rời Việt nam, đến bến bờ tự do chỉ còn 52 người. “Báo chí Phi loan tin, báo chí Mỹ đánh hơi; từ đó câu chuyện vượt biển kinh hòang được cả thế giới biết đến qua tên gọi Bolinao 52, địa danh cứu vớt họ và 52 người sống sót trên tổng số thuyền nhân 110 người.

Dù báo chí, truyền thanh truyền hình đã kể nhiều về biến cố này nhưng theo Nguyễn Đức, cũng là một thuyền nhân, thời gian lênh đênh trên biển chỉ bằng một phần 10 chuyến đi của Bolinao, Đức thấy câu truyện cần phải được kể lại bằng chính những người sống sót.

Đức nghiên cứu tài liệu về Bolinao 52 nhưng không thấy bao nhiêu vì ai cũng muốn quên đi cảnh tượng kinh hòang ấy. Sau cuộc phỏng vấn trên đài VNCR Đức liên lạc được em gái một người sống sót trên chuyến đi này. Đức gặp chị Trịnh Thị Tùng, chị đồng ý kể lại câu chuyện sáng tỏ từ lúc khởi hành đến ngày cặp bến Bolinao.

Nguyễn Đức đưa khán giả vào diễn tiến cuốn phim BOLINAO 52 từ lúc tìm nhân chứng đồng ý nói thật và ước nguyện của nạn nhân. Chị Trịnh Thanh Tùng đã ổn định đời sống ở Mỹ, con trai chị lúc vượt biển mới 5 tuổi nay đã làm một chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Khát vọng của chị Tùng là được trở lại Bolinao để gặp gỡ, tạ ơn những dân làng đánh cá nghèo nào đã cưu mang họ. Chị Từng cùng đòan quay phim làm lễ cầu siêu cho 58 thuyền nhân xấu số đã bỏ thây trên biển cả và một số da thịt họ đã giúp sức cho người còn lại sống qua cơn đói lả.

Nhân chứng cho biết cảm giác khi khát nước, mẹ phải nhường những gịot nước mưa cho con, trong khi chị uống nước tiểu của con để khỏi chết khô. Kinh hòang nhất khi chị Tùng kể, vì đói quá, anh ruột chị Tùng đã dùng hai tay mở miệng chị ra, bỏ vào miếng thịt của “Cô Vân”, người bạn đồng hành vẫn ngồi bênh cạnh chị, mới chết đêm hôm trước. Chị Tùng nhắm mắt nhắm mũi nuốt trửng miếng thịt và, nhờ đó sống còn để kể lại chuyện xưa.

Trong Bolinao 52 có một biến cố khác khá sâu sắc. William Cloonan nguyên là thủy thủ chiến hạm Dubuque. Ông phục vụ trên chiến hạm này khi chiếc thuyền Bolinao 52 gạp nạn. Ông và nhiều chiến hữu chứng kiến cảnh tang thương của chíếc thuyền tị nạn, nhưng là cấp thừa hành ông không làm gì được đành phải thi hành lệnh hạm trưởng. Nhưng hình ảnh ấy vẫn ám ảnh ông hàng chục năm sau, ông ước ao có dịp gặp mặt nạn nhân của chiếc thuyền ấy nếu có ai may mắn còn sống sót để phát biểu cảm nghĩ của ông vả các bạn.

Nguyễn Đức đã sắp đặt để hai mẹ con Chị Tùng gặp ông Cloonan. Không khí lạnh nhạt nặng nề lúc đầu dần dần tan biến để lại sự thông cảm giữa những trách óan và mặc cảm tội lỗi. Cuối cùng sự bao dung và đồng cảm Nguyễn Đức đã ghi lại được cảm xúc của hai thành phần vào một cuốn phim tài liệu vô giá.

Nhân mùa quốc nạn năm nay, CNN kính mới quí đồng hương hãy đến xem phim Bolinao 52 để hình dung lại giá trị của hai chữ tự do chùng ta đã phải trả bằng bao nhiêu máu và nước mắt.

Phim “Bolinao 52” – thảm kịch của 110 người vượt biên đi tìm tự do

http://www.rfa.org/vietnamese
17 Apr 2007
Phương Anh, phóng viên đài RFA

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Cách nay 17 năm, vào tháng 5, một con thuyền nhỏ xuất phát từ Bến Tre chở 110 người vượt biên đi tìm tự do. Thật không may, chỉ sau một ngày ra khơi, chiếc ghe nhỏ ấy đã hỏng máy và trôi lênh đênh trên biển…Trên chuyến hải trình, họ đã gặp nhiều tàu ngọai quốc nhưng không một chiếc nào dừng lại cứu vớt.

Cuối cùng, họ gặp một chiến hạm Mỹ, những tưởng được tàu này cứu vớt, nhưng đã bị viên hạm trưởng từ chối. Thế rồi, thảm kịch đã xảy ra, phân nửa thuyền nhân đã chết vì kiệt sức, đói, khát…số còn lại bắt buộc phải ăn thịt của đồng loại đã chết để mà sống. Khi đến được bến bờ, câu chuyện thương tâm của họ được khám phá. Vị thuyền trưởng chiến hạm Mỹ bị đưa ra tòa.

Câu chuyện chìm dần vào quên lãng, nhưng mới đây, một nhà làm phim người Mỹ gốc Việt, Nguyễn Hữu Đức, đã tốn rất nhiều công sức và thời gian trong suốt 5 năm trời để thực hiện cuốn phim tài liệu về câu chuyện bi thảm này như để ghi lại phần nào lịch sử đau thương của thuyền nhân Việt Nam. Mục Câu Chuyện Hàng Tuần kỳ này xin mời quí vị nghe những chi tiết liên quan đến cuốn phim “Bolinao 52”

Đạo diễn Nguyễn Hữu Đức

Đạo diễn Nguyễn Hữu Đức, một cựu thuyền nhân, định cư tại Hoa Kỳ năm 1980. Sau khi tốt nghiệp trung học, anh theo học ngành vẽ tại Art Insitute of Houston và làm ở trung tâm điện ảnh thế giới Hollywood. Hàng ngày, anh có dịp tiếp xúc nhiều với phim ảnh và thế là anh quyết định theo học ngành truyền thông tại đại học UC Berkeley.

Anh rất yêu thích ngành làm phim tài liệu và đã từng phụ tá đạo diễn cho các phim tài liệu dài nhiều tập nói về gia đình và bản sắc, rất có giá trị như “The New Americans” và “My Journey Home”. Cả hai phim này đã từng được trình chiếu trên kênh truyền hình Hoa Kỳ PBS. Theo lời anh cho biết, bắt đầu từ năm 1998, anh đã rất chú ý đến vụ án chiếc tàu “Bolinao này” nhưng không có cơ hội để tìm hiểu nhiều hơn. Nguyên nhân nào đã gây sự chú ý của anh, anh cho hay:

“Vụ tầu Bolinao 52 xảy ra vào năm 1988, được đăng lên báo Mỹ như New York Time hay LA Time bởi vì chuyến tàu này đã gặp được chuyến tàu hải quân Mỹ ở vùng Đông Nam Á trong khi chiếc tàu này trôi dạt…

Vụ tầu Bolinao 52 xảy ra vào năm 1988, được đăng lên báo Mỹ như New York Time hay LA Time bởi vì chuyến tàu này đã gặp được chuyến tàu hải quân Mỹ ở vùng Đông Nam Á trong khi chiếc tàu này trôi dạt…

Nhưng ông thuyền trưởng USS Dubuque đã không vớt những thuyền nhân này và lúc chiếc tàu này được vào thì những người sống sót đã kể lại và quân đội hải quân Mỹ bắt đầu xử ông thuyền trưởng.

Lúc đem ông ta ra toà thì báo chí đã đăng lên vấn đề này…Có nhiều bài viết trên báo và từ đó Đức đã sưu tầm ra được. Cũng có chương trình 60 minutes đã chiếu câu chuyện này vào năm 1988.”

Cũng theo lời của đạo diễn Nguyễn Hữu Đức, dựa theo các tài liệu mà anh đã sưu tập được thì sau khi bị chiến hạm Mỹ bỏ rơi, họ đã trôi thêm 18 ngày, rồi được một chiếc thuyền đánh cá Phi cứu và đưa vào đảo Bolinao, khi đó chỉ còn lại 52 người kể cả trẻ em, tổng cộng họ đã trải qua 37 ngày lênh đênh trôi trên biển.

Bắt đầu đi tìm những nhân chứng của “vụ án Bolinao 52” này không phải là chuyện dễ. Khởi đầu từ một thuỷ thủ tên Bill Coonan, là một nhân chứng trên chiến hạm USS Dubuque năm xưa, anh đã mở lại từng trang tài liệu. Anh kể lại về kết quả vụ tàu Bolinao 52 năm xưa:

“Toà Hải Quân Mỹ xử ông thuyền trưởng đã bỏ rơi những người thuyền nhân này, nhưng ông ta không bị đuổi ra khỏi quân đội, không bị bỏ tù. Bây giờ, ông ta vẫn còn sống ở thành phố Los Angles. Đức không có dịp để gặp vì nhiều lần Đức điện thoại, muốn nói chuyện nhưng ông ta không muốn trả lời.

Đức tìm được chị Tùng là một trong những người sống sót và đi tìm hiểu, và tìm được một người thuỷ thủ trên chiếc tàu USS Dubuque của hải quân Mỹ và ông này rất hối hận về chuyện đã xảy ra 17 năm trước. Ông vẫn còn bị ám ảnh về ngày chuyến tàu hải quân Mỹ gặp chiếc tàu thuyền nhân nhỏ bé này.

Ông rất tức tối về quyết định của thuyền trưởng, vì ông ta nghĩ rằng những người này đáng phải được vớt vì tình trạng lúc bấy giờ quá đau khổ rồi, có người đã chết và trôi trên biển, có người đã bơi đến chiếc tàu và leo lên sợi dây để leo lên tàu hạm nhưng bị ông thuyền trưởng ra lệnh cắt dây để những người đó té xuống biển, những hình ảnh đó vẫn còn ám ảnh ông ta sau bao nhiêu năm nay…

Năm 2004, Đức có gặp được ông ta khi ông đến Los Angeles để thăm con gái của ông. Ông này tên là Cloonan. Ông chỉ là một thuỷ thủ thôi nhưng ông rất buồn về điều đó, bao nhiêu năm qua, ước vọng của ông Cloonan là chỉ muốn gặp lại những người sống sót để xin lỗi vì những chuyện xảy ra…

Chi tiết từ ông Cloonan rất rõ ràng, lúc đó ông ta sửa soạn để đưa những chiếc thuyền nhỏ của hải quân Mỹ đến chiếc Bolinao 52…coi tình hình chiếc tàu này. Nhìn từ chiếc tàu hạm, ông ta thấy tình trạng của những thuyền nhân cần cứu gấp vì có những người nhảy xuống biển mà bơi đến chiếc tàu.. Ông ta sửa soạn để tiếp đón những thuyền nhân này nhưng được tin là thuyền trưởng không vớt và ông ta rất buồn về điều này..”

Đạo diễn Nguyễn Hữu Đức. Photo courtesy Bolinao52.com

Những thuyền nhân còn sống sót

Với những thuyền nhân còn sống sót, thì thật là điều vô cùng nan giải, anh đã phải đăng báo, nhờ các đài Việt Ngữ ở địa phương tìm người. Sau một thời gian, có người liên lạc với anh và cho biết tin tức về thuyền nhân sống sót năm xưa, nhưng ai cũng từ chối, không muốn kể lại tấn thảm kịch ấy.

Nhưng rất may, cho đến một ngày, anh gặp được chị Trịnh Thanh Tùng: “Đức đã gặp được chị Tùng là một nhân vật chính trong cuốn phim này. Phim này kể lại mọi chuyện, từ những chi tiết… mà chị Tùng đã cố gắng nhớ lại, đã trải qua, và chị Tùng có ý muốn về đảo Bolinao mà nơi chị đã được những người Philippines vớ và đem vào, để tìm lại những người đã cứu giúp, để cám ơn những người đó.

Năm 2005, Đức và chị Tùng cùng phái đoàn quay phim đã trở về Philippines và tìm được một người đánh cá duy nhất còn sống, đã cứu vớt chiếc tàu Bolinao 52 năm xưa.”

Cũng trong năm 2006 vừa qua, lần đầu tiên, một cuộc hội ngộ giữa người phụ nữ can đảm Trịnh Thanh Tùng và người thủy thủ trên chiến hạm USS Dubuque năm xưa đã diễn ra như để giải trừ nỗi phiền muộn của hai bên kéo dài trong suốt mười mấy năm trường.

Chỉ khai thác ở khiá cạnh này mà thôi nên đạo diễn Nguyễn Hữu Đức đã không ghi lại những chi tiết có thể gọi là kinh hãi và rùng rợn vì anh hiểu rằng đó là vấn đề hết sức tế nhị.

Anh tâm sự: “Thật ra, những người ở trên chuyến tàu này đã không muốn thổ lộ là họ đã trải qua như thế nào vì chuyện này rất buồn và gợi lại những chuyện có thể làm cho người ta depress. Có nhiều người đã qua đây lập gia đình nhưng gia đình vẫn chưa biết được quá khứ của họ…

Chị Tùng là một trong những người sống sót, rất can đảm, vì chị nghĩ là con cháu của chị bắt buộc phải biết về những chuyện chị đã phải trải qua… có nhiều chuyện xảy ra trên chuyến tàu mà mình chưa biết. Có một anh, khi vượt biên còn nhỏ, cả gia đình đã chết hết rồi, cha mẹ, em cũng bị chìm trên biển và anh đã chứng kiến những thân nhân của mình chết trên chiếc tàu đó.

Lúc đó, anh đến Mỹ chỉ có 10 tuổi. Năm 2006, người bà con họ của anh này, có dựng một kịch bản tên là Trial by Water, cũng về chuyến tàu này, kể lại những gì anh đã trải qua và kịch này ghi lại những chuyện rùng rợn ăn thịt người ở trên chiếc tàu. Đức đã xem vở kịch đó nhưng rất nhiều người không đồng ý kể ra những chi tiết rùng rợn như vậy, vì mình không trải qua chuyện đó, mình không thể ghi lại đau đớn của người ta được.”

Mang tính lịch sử

Mục đích đầu tiên là Đức muốn tạo ra những chuyện từ xưa đến bây giờ, từ ngày thuyền nhân đã bỏ Việt Nam ra đi đến bây giờ, có nhiều chuyện không thể kể nổi cho những người ngoại quốc, những người không trải qua, và cùng lúc đó, những câu chuyện này trong gia đình nhiều khi cũng không thể kể ra được…

Được hỏi qua cuốn phim tài liệu mang tính lịch sử này, anh mong khán giả cảm nhận điều gì, anh cho hay:

“Mục đích đầu tiên là Đức muốn tạo ra những chuyện từ xưa đến bây giờ, từ ngày thuyền nhân đã bỏ Việt Nam ra đi đến bây giờ, có nhiều chuyện không thể kể nổi cho những người ngoại quốc, những người không trải qua, và cùng lúc đó, những câu chuyện này trong gia đình nhiều khi cũng không thể kể ra được…

Đức muốn kể cho những người chưa trải qua, những cảnh vượt biên là như thế nào…Mục đích thứ hai là những thế hệ trẻ sanh ra ở bên Mỹ hiểu về vấn đề lịch sử của cha mẹ mình, hay là ông bà mình đã trải qua như thế nào…tại sao lại có mặt ở trên nước Mỹ này.”

Thưa quí vị và các bạn, riêng với chị Trịnh Thanh Tùng, khi hỏi vì sao chị lại quyết định nhận lời kể ra hết những chi tiết đạo diễn Nguyễn Hữu Đức, chị nói:

“Ban đầu mình cũng không tính nói vì cái chuyện đó xảy ra ngoài ý muốn, nhưng khi mình coi phim “Alive” của Mỹ, chiếc máy bay rớt trên núi tuyết, những người đó họ phải ăn thịt bạn đồng hành của họ để họ sống sót. Tôi coi phim đó tôi thấy rằng họ cũng giống mình, chỉ khác một điều là mình đi tìm tự do cực khổ, còn họ thì đi chơi, nên nếu mình không nói ra thì đâu ai biết.

Khi tôi sống được và qua tới Mỹ, thì tôi nghĩ rằng không có gì phải sợ hãi, phải lo lắng hết…giống như một phép nhiệm mầu cho những người Phi giúp mình nên mình mới sống được..nên tui nghĩ chuyện đó không có gì xấu để dấu hết.

Nhưng khi tôi quyết định nói ra thì nhiều người cũng nói là không sợ người ta cười, người ta nói Việt Nam mình man ri mọi rợ..Nhưng tôi muốn những thế hệ trẻ phải biết hay những đưá trẻ may mắn đi thẳng từ Việt Nam qua, chúng nó đâu biết thuyền nhân vượt biên cực khổ như thế nào.

Tôi không phải làm cho tôi mà tôi làm cho những đứa nhỏ, sau này, khi tôi chết rồi, tụi nó coi lại.. Tôi coi lại thấy rất xúc động, khóc và cả rạp hát nhiều người cũng khóc, như thế tôi thấy là mọi người đã hiểu cho mình…”

Tuy thế, cho đến bây giờ, trong lòng chị vẫn thắc mắc một điều: “Tôi vẫn còn thắc mắc tại sao ông ta không dang tay cứu vớt những người trên chiếc tàu của tôi? Trong khi đó, trên ghe đã có người chết, đã thẩy xuống biển, ổng cũng thấy rồi…

Anh của tôi cũng bơi qua đó mà họ đã làm cho anh ấy rớt xuống, lúc ấy anh đã đuối rồi, họ thẩy cho anh chiếc phao và bảo bơi về lại ghe đi, và họ sẽ giúp nhưng họ đã không giúp…”

Có lẽ sẽ không bao giờ có câu trả lời cho thoả đáng. Phải chăng chúng ta chỉ có thể tạm giải thích rằng vào thời điểm ấy, có lẽ thế giới đã mệt mỏi và đang muốn quay lưng lại với thuyền nhân Việt Nam, nên vị hạm trưởng trên chiến hạm Mỹ năm xưa đã lạnh lùng từ chối?

Cuốn phim tài liệu này không hề lên án hay chỉ trích một phía nào, mà nó chỉ là tiếng nói của những người sống sót từ chiếc tàu Bolinao 52 kể lại chuyến hải hành của họ ra đi tìm tự do ra sao. Phương Anh xin dừng nơi đây. Mời quí vị đón nghe thêm chi tiết về chị Trịnh Thanh Tùng trong mục Trang Phụ Nữ vào sáng thứ hai tuần sau.

“Bolinao 52” … Chuyện Bây Giờ Mới Kể

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Bolinao là tên một hòn đảo thuộc tỉnh Pangasinan, vùng Tây Bắc Phi Luật Tân. Theo thống kê chính thức, dân số Bolinao vào năm 2010 là 74,545 người, sống chủ yếu vào nghề đánh cá… 52 là số thuyền nhân sống sót đã đến được Bolinao trên một chiếc thuyền vuợt biển với 110 người, rời Việt Nam vào một đêm tháng 5/1988. Cuộc hành trình kéo dài một thời gian kỷ lục: 37 ngày lênh đênh trên biển với những cơn bão khốc liệt trên biển Đông. Ngoài những cơn bão, chiếc tầu đã bị hỏng máy nhiều lần và thả trôi trên biển.

Cuộc vượt biên tưởng chừng như đã gặp vận may khi họ đến gần một chiếc tầu Hải quân Hoa Kỳ đang trên đường thi hành nhiệm vụ đến Vùng Vịnh Ba Tư. Khi đó đã là ngày thứ 19 của cuộc hành trình đi tìm tự do. Thế nhưng, thuyền trưởng chiếc USS Dubuque quyết định chỉ tiếp tế lương thực cho các thuyền nhân chứ không cứu vớt họ vì lý do đang trên đường công tác. Chiếc tầu tiếp tục lênh đênh trên biển… Đến khi lương thực và nước uống đã cạn kiệt, người ta phải tính đến việc “xẻ thịt những người đã chết trên tầu thay cho lương thực để cầm hơi”… Đó chính là một khía cạnh nhân bản đã thu hút nhiều ý kiến trái chiều: người ta bàn đến rất nhiều vấn đề bắt đầu bằng chữ “nhân”. Nhân tính? Nhân đạo? Nhân nghĩa? Và bên cạnh đó còn một câu hỏi về “lương tâm” của cả người trong cuộc lẫn người ngoài cuộc.

Cuối cùng, như một phép lạ, 52 trong số 110 thuyền nhân còn sống sót đã được ngư dân Phi Luật Tân đưa về đảo Bolinao. Họ ở lại trên đảo 1 tuần lễ trước khi được chuyển qua trại tỵ nạn. Rời Việt Nam năm 1988 và đến năm 1990 họ đến định cư tại Hoa Kỳ, nơi mà trước đó họ đã một lần bị Hải quân Hoa Kỳ từ chối.

Chuyện tóm tắt một cách đơn giản là vậy. Cũng từ câu chuyện này, đạo diễn Nguyễn Hữu Đức đã dựng lên phim tài liệu “Bolinao 52” dài 57 phút 24 giây [*]. Bộ phim đã được trình chiếu trên toàn Hoa Kỳ thông qua PBS.org, tham gia 15 liên hoan phim quốc tế và đoạt hai giải thưởng: Giải lựa chọn của khán giả trong Liên hoan Quốc tế phim Việt (2007) và Giải thưởng EMMY vùng Bắc California (2009).

Câu chuyện “Bolinao 52” được khởi đầu một cách rất tình cờ. Qua một buổi phát thanh trên radio bằng tiếng Việt tại Orange County, California, một thính giả biết tin đạo diễn Đức cần liên lạc với những thuyền nhân được ngư dân đảo Bolinao vớt. Cô cho biết anh cô là người đã bơi đến tầu USS Dubuque xin cứu giúp. Anh Đức gọi điện thoại cho ông nhưng người này từ chối nói chuyện. Sau 3 tháng kiên trì thuyết phục, người này cho một cái hẹn với điều kiện chỉ gặp nhau một lần duy nhất.

Người đàn ông dấu tên đã cho anh Đức một lối thoát: ông ta không nhớ gì nhiều nhưng có lẽ đạo diễn nên gặp em gái của ông trên chuyến tầu định mệnh ngày nào. Và cuốn phim đã có tia hy vọng được thực hiện khi nhân vật chính, chị Trịnh Thanh Tùng, đồng ý xuất hiện trong phim…

Chị Tùng xuất thân từ một gia đình, nói theo ngôn ngữ ngày nay, là “có nợ máu với nhân dân”! Sau 1975, chị và mẹ phải bươn chải để “thăm nuôi” những người thân: ba chị đi học tập cải tạo 5 năm và người anh lớn, với cấp bậc Trung tá Biệt Động Quân, đã sống 14 năm trong “trại cải tạo”… Họ chỉ còn một lối thoát duy nhất: rời khỏi Việt Nam trên chiếc tầu định mệnh xuất phát từ Bến Tre sau khi đã nhiều lần thử thách nhưng thất bại…

Ngay từ những phút đầu phim, chị Tùng đã nói với đạo diễn Đức trong chuyến trở lại Bolinao:

“Chị đã nói với lòng… chị sẽ trở lại Bolinao trước khi chị đi đâu… Suốt 17 năm nay chưa đi đâu hết… Điều chị muốn làm là làm một lễ cúng cho 58 người bạn đồng hành, họ đã đi chung chuyến tầu đó rất lâu, chị không biết tên hết, không nhớ mặt hết nhưng dầu sao nó vẫn ở trong lòng của chị… lễ cúng này sẽ đem lại cho họ, cho chị… bình an trong tâm hồn để sống…”

Đại gia đình chị Tùng trước năm 1975

Người xem phim được thấy cảnh của hòn đảo Bolinao, 17 năm sau khi được những ngư dân vớt… và một số “hoa đăng” đã được thả trôi ra biển như những vòng hoa riêng tặng những người đã yên nghỉ trong lòng đại dương. Và rồi câu chuyện thuyền nhân mang tên “Bolinao 52” bắt đầu.

“Bolinao 52” trải qua những thử thách đầu tiên khi gặp bão, tài công quyết định tắt máy chờ cơn bão qua đi… Đến khi khởi động lại, máy tầu không nổ. Thuyền nhân một khi ra khơi chỉ bám víu vào những dấu hiệu của sự sống. Một vệt đen trên nền chân trời là hứa hẹn một hòn đảo, một chấm trên biển cả cũng có thể là tầu lớn, một chấm đen trên bầu trời biết đâu là chiếc máy bay…

Chị Tùng kể lại vào ngày thứ 10 có một chiếc tầu buôn xuất hiện trong tầm mắt… Quần áo, giầy dép, can nhựa được đốt lên trong đêm tối với hy vọng chiếc thuyền sẽ được tầu lớn nhìn thấy.. Năm người con trai còn khỏe trên “Bolinao 52” quyết định sẽ bơi qua tầu để xin cứu vớt. Họ bám vào một mảnh ván với hy vọng đến được tầu buôn. Thế nhưng, chiếc tầu mang cờ Nhật từ từ rời xa họ và 5 thanh niên cũng không thấy quay về… Chị Tùng tin là mỗi con người đều có cái “số” của mình.

“Chết từ từ… Mỗi ngày mình đều thấy có người chết trên thuyền… Chị Năm ngồi kế tôi mượn chiếc áo mưa vì than lạnh… nhưng khi rờ thì thấy nóng hổi… cho mượn áo mưa chị vẫn thấy lạnh. Chồng chị Năm đã chết mấy hôm trước và hai đứa con trai của chị thì đang ngủ… Tôi ôm chị Năm rồi mệt quá cũng thiếp đi, đến khi trời gần sáng chị đã chết trong tay tôi từ hồi nào…!”

Những đứa bé trước khi chết luôn miệng kêu gào thức ăn, nước uống. Có hai anh em nọ, người em thì cứ đòi ăn nên cầm lấy tay anh mà cắn, anh đau quá rút tay ra em lại la lên… “cho em ăn với”… đêm đó đứa em đã chết vì đói… Ít hôm sau, người anh cũng đi theo em… Mọi người chỉ cầu xin… một phép lạ! Đến đây phim chuyển qua trường hợp của bản thân đạo diễn Nguyễn Hữu Đức cũng là một thuyền nhân. Anh tỵ nạn năm 1980 và may mắn khi được một chiếc tầu của Hải quân Mỹ vớt, khác với số phận bi thảm của những người trên tầu “Bolinao 52”. Anh Đức đã có trích đoạn cảnh sung sướng của những người được tầu USS Long Beach vớt trên biển, hình như để người xem đối chiếu với số phận hẩm hiu của “Bolinao 52”.

 Chị Trịnh Thanh Tùng trở lại Bolinao sau 17 năm

Cậu bé Nguyễn Hữu Đức (áo đen) và gia đình tại trại tỵ nạn năm 1980

Anh Đức kể lại trong một đoạn phim chiếc thuyền của anh được tầu Hải quân Mỹ cứu tựa như “cuộc hành trình đi thẳng từ địa ngục đến thiên đàng”:

“Chỉ mới ra lên đênh trên biển có 4 ngày, chúng tôi đã được vớt… trong khi nhiều người khác lại gặp một kết cuộc bi thảm… Gia đình tôi ra đi vào năm 1980, thuyền của chúng tôi là một trường hợp may mắn…

Ra đi là chuyện bất ngờ

Dù mưa dù nắng thân mình chẳng hay…”

Bản thân những người trên chiếc thuyền của anh Đức có thể tự hào là mình may mắn nhưng những chiếc thuyền khác, những người khác bị cuốn xuống lòng đại dương hay thậm chí còn bị hải tặc cướp bóc, hãm

hiếp. Thuyền nhân Việt Nam có nhiều chuyện để kể lại nhưng cũng có nhiều chuyện quá bi thảm không thể nào nói ra và người ta thường yên lặng, dấu kín trong lòng.

 Trẻ em thuyền nhân và thủy thủ trên chiếc USS Long Beach

Trở lại chiếc “Bolinao 52”. Đến ngày thứ 19, phép lạ đã đến với sự xuất hiện của một chiến hạm Hoa Kỳ. Nguyễn Hữu Đức đã may mắn tìm thêm được một nhân chứng vô cùng quý giá: William E. Cloonan, một hạ sĩ quan Hải quân về hưu. Trả lời một câu hỏi trong cuộc phỏng vấn của đạo diễn, Cloonan cho biết:

“Điều khuyến khích tôi tham gia bộ phim này là muốn cho thế giới biết những sự thật về người tỵ nạn… các phương tiện truyền thông đã nói rất nhiều về các thuyền nhân sau khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975… Những gì truyền thông viết chỉ đúng một phần và phần còn lại được phóng đại đến độ không có thật…

 Anh hỏi tôi có muốn gặp lại một trong những người sống sót trên chuyến tầu đó không, câu trả lời của tôi là có, tôi rất muốn được gặp… Tôi sẽ nói với họ là tôi rất tiếc dù bản thân tôi không phải là cấp có thẩm quyền để thay đổi quyết định bỏ rơi họ… Dù sao đi nữa tôi vẫn cảm thấy mình có lỗi với họ…”

William E. Cloonan và đạo diễn trẻ Nguyễn Hữu Đức

Cloonan phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ 26 năm,nhiều nhất tại khu vực biển Nhật Bản và Việt Nam. Ông có mặt trên một chiếc tầu đã từng vớt người tỵ nạn. Năm 1978 tầu ông gặp chiếc thuyền có 478 người lênh đênh trên biển. Sau khi neo tại khu vực 24 giờ chờ liên lạc, Bộ Ngoại giao và Hải quân đã ra lệnh vớt họ… Ông kể lại:

“Điều đó khiến tôi tự hào là một thủy thủ Hoa Kỳ… tự hào là người Mỹ! Chúng tôi đã vớt họ… hỗ trợ y tế và đưa họ đến tận cổng nhập cảnh để vào Hoa Kỳ… Đó là nhiệm vụ của người thủy thủ và đó cũng là luật pháp quốc tế: Con người trên biển cả, nếu có điều gì đó xảy ra cho họ thì đạo đức và lương tâm sẽ ràng buộc họ với chúng tôi…”.

 Thủy thủ tầu Mỹ cứu người tỵ nạn trên biển

“Bolinao 52” không gặp may mắn như những thuyền nhân trước họ. Vào ngày 10/6/1988, chiếc thuyền đã gặp chiến hạm USS Dubuque, trên tầu có nhân chứng William E. Cloonan, cấp bậc Trung sĩ (Chief Petty Officer), kể lại diễn tiến khi chiến hạm gặp chiếc thuyền của người tỵ nạn.

Theo lời Cloonan, hạm trưởng Dubuque, Alexander Balian, chỉ cung cấp cho thuyền nhân bản đồ, nước uống và lương thực… không thể cứu vớt họ vì USS Dubuque đang trên đường đến Vịnh Ba Tư trong hành trình tiếp tế quân dụng đến Iran. Một lý do nữa được bổ sung khi hạm trưởng USS Dubuque phải ra tòa án binh vì hành vi “không vớt người gặp hoạn nạn trên biển”: có sự trục trặc trong liên lạc với người trên thuyền với chiến hạm. Theo Hạm trưởng Alexander Balian, ông chỉ biết trên thuyền có 60 người nên việc tiếp tế không đầy đủ và kết quả là sau đó có đến 30 thuyền nhân đã chết trên thuyền dẫn đến cảnh phải xẻ thịt người chết làm lương thực cho người sống…

Tòa án quân sự Hoa Kỳ xét xừ vụ chiến hạm USS Dubuque bỏ rơi chiếc thuyền tỵ nạn “Bolinao 52” vào tháng 11/1988. Từ trại tỵ nạn ở Phi Luật Tân, 52 người sống sót trên thuyền đã ký một đơn kiến nghị ân xá cho thuyền trưởng Alexander Balian. Alexander Balian bị tước quyền chỉ huy và phải nhận khiển trách nặng nề vào tháng 2/1989. Đây cũng là một án lệ về đạo đức, làm gương cho những thuyền trưởng trong Hải quân Hoa Kỳ. Sau khi được hạ thủy ngày 1/9/1967, USS Dubuque chấm dứt hoạt động ngày 30/6/2011.

USS Dubuque (LPD-8)

“Bolinao 52” chính là câu chuyện thương tâm mà không ai đã từng trải qua muốn nhắc lại những điều bi thảm… Người mẹ nhường phần nước cho con và dặn khi nào con muốn tiểu tiện bà sẽ uống lại phần nước tiểu… Báo chí còn thuật lại có những vụ giết lẫn nhau trên thuyền vì thực phẩm và nước uống. Chị Tùng khẳng định đó không phải là sự thật. Nhưng lại có một sự thật vô cùng tàn nhẫn đã xảy ra trên thuyền. Những người sống sót phải xẻ thịt những người vừa chết để có đủ sức lực tát nước ra khỏi thuyền. Những người không dám ăn thịt đồng loại sẽ chết và chính họ là nguồn cung cấp thực phẩm cho những người còn sống! Chị Tùng đã không dám ăn nhưng sau cái tát trời giáng của người anh trai… chị đã phải nuốt. Sau này, có người hỏi cảm tưởng khi phải nuốt thịt người, chị kể lại trong nước mắt… khi đó đâu còn cảm giác, chị chỉ biết nuốt!

Trung sĩ Cloonan khi nghe câu chuyện ăn thịt người trên thuyền, ông tự dằn vặt chính bản thân mình đã không cứu giúp họ dù quyền quyết định nằm trong tay hạm trưởng. “Chúng tôi đã có quyết định sai lầm… Tới giờ này, tôi vẫn cảm thấy mình có lỗi trong việc không cứu vớt họ và tôi chỉ muốn nói lời xin lỗi với họ…”

Đạo diễn Nguyễn Hữu Đức phải mất 2 năm đi tìm những người có liên quan thông qua các phương tiện truyền thanh và truyền hình tại Mỹ. Anh tiết lộ qua một cuộc phỏng vấn: “Bao nhiêu năm nay tôi vẫn thường tự hỏi tại sao một chiếc tầu của Hải quân Mỹ lại từ chối vớt những người tỵ nạn và đó cũng là một trong những lý do khiến tôi thực hiện bộ phim mày…”

Ở phần cuối cuốn phim có thể coi là một “happy ending” khi hai nhân chứng của “Bolinao 52” – Thuyền nhân Trịnh Thanh Tùng và cựu Trung sĩ William E. Cloonan – gặp nhau sau biến cố của 17 năm về trước. Trong buổi hội ngộ còn có bé Lâm ngày nào, nay đã gia nhập Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (US Marine Corps).

Trong vòng tay thông cảm, chị Tùng và thủy thủ Cloonan đã ôm lấy nhau… Người xem có cảm tưởng “Bolinao 52” đã đi đến đoạn kết cuộc, qua đó những người trong cuộc thấy như vơi đi chuyện của 17 năm về trước… Chuyện thật cảm động nhưng kết cuộc có hậu.