Mắc xương

Hồ Đình Nghiêm

quanvan.net

Post on 27 Apr 2022

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

Nghe nói đây này, bỏ cả cục vô họng, cấm nhai, nín thở cố nuốt cái ực, nhớ chưa? Nuốt ngang xương, nuốt khô khan, khó khăn như bóp họng bóp hầu. Thì trước mắt cứ nuốt cái đã rồi hậu tính, xong húp miếng canh coi thử có trôi đi, hết nấc cục.

Cục cơm nằm trong cuống họng y như con cóc nằm chẳng cục cựa trong miệng rắn, phồng mang trợn mắt. Mọi người bỏ đũa dừng nhai chú mục ngó, người ngồi gần đưa bàn tay tạo thành nắm đấm đập nhịp ba sau lưng nạn nhân. Xong, khoẻ re, thấy chưa, đâu có sao đâu. Gắp rau muống xào mà ăn cho xong bữa, chớ đụng đũa vô khúc cá chiên.

Hắn mới bị mắc xương cá, dù không ngán, thua keo này bày keo khác thì con cá chiên co rúm hình hài nọ đã bị năm miệng ăn kia rỉa cho sạch sành sanh. Đứa mút đầu đứa nhai cái đuôi, xương xóc trắng hếu còn sót nằm chỏng chơ mang vẻ đe doạ. Rau muống xanh đen y như những sợi ny-lông xoắn rối, nhai mỏi miệng không đứt đành vo viên theo cục cơm đã mở đường rớt xuống bao tử. Hú vía, bữa cơm trưa chằn ăn trăn quấn rồi cũng xong, chả cơm lành canh ngọt gì cả. Được ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch là đã may. Chỉ hai thôi mà trước sau đều chan lùa mặn muối với nước mắt.

Theo quy định của xí nghiệp, mỗi bàn có mười khẩu phần, bữa nay đếm ra chỉ sáu đầu người, bốn mạng kia thì đang nằm góc kẹt nào đó trong bệnh viện vì lý do ngộ độc thực phẩm. Nhân số còn lại mừng cho hắn, chỉ mắc xương thôi và đã nuốt chợt cuống họng thứ ám khí ấy xuống mà không cần chạy đôn chạy đáo vào nhà thương. Ăn như ăn cướp, ăn lia ăn lịa thế kia, nếu mày ăn thong dong nhai từ tốn thì đâu đến nỗi. Có đứa đưa ra lời bình. Tía nói sao a chớ, tía có ngon thử ngồi ăn chung với tụi này xem. Công nhân viên nhà nước mà tía, khoan thai có mà đói cho rã họng! Ngoài việc tranh nhau thò gắp, ăn vội vàng tựa như bị ma rượt có thêm lợi điểm là cố tống khứ thứ thực phẩm có vẻ dành cho heo. Ngon lành gì hở tía? Thiệt trần ai khoai củ!

Xí nghiệp chia ba ca, khác biệt giờ ăn giờ mần. Ca đứng máy dệt của hắn tan tầm lúc 5 giờ chiều. Trước cổng xí nghiệp có cái chợ lưu động, hắn ghé gian hàng bán trái cây. Chị Bảy đang rảnh tay, chả thèm cầm quạt mo xua đuổi bọn xâm lược ruồi bu kiến đậu. Ậy, sao mặt mày xanh mét vậy Chín? Dạo này quên cái vụ mắc chịu đi nghen, lôi thôi rắc rối lắm. Hắn lựa được hai trái cam, nặng tay, có vẻ nhiều nước. Nè, có nho Mỹ mới về, ngọt lắm nghe mậy. Nghe nho Mỹ, hắn nói ô-kê. Không cho ghi sổ thì chị đừng hét giá bà chạy, nhân công thôi mà, tiền đâu bồi dưỡng hàng chất lượng! Trời, cớ sao mày đâm nghi kỵ con Bảy này. Tụi mình còn qua lại dài dài mà Chín, chém đứa lạ chớ ai nỡ cứa cổ mày! Hắn trả tiền sòng phẳng, cầm túi ny-lông: Chà, nói nghe thương! Chị Bảy đá lông nheo. Bả lên chức bà nội bà ngoại rồi mà điệu ve kêu. Có lắm anh công nhân viên vô ra những muốn phải lòng quàng xiên như bị trúng gió.

Chạy xe lòn lách một thôi thì ngó ra cổng bệnh viện. Gần 6 giờ mà nắng ở đây vẫn hung hãn quét vằn vện lên tường vôi ngó đau con mắt. Cam và nho, thấy hơi lỏng lẻo Chín mua thêm chai nước trà sâm ướp lạnh sau khi gửi xe. Hắn vòng vo trong hành lang nhiều tiếng khóc than quặn thắt một đỗi thì ngó ra Nhài. Giấy chứng minh nhân dân ghi rõ tên họ: Trần Thị Lài, vậy mà đầu quân vào xí nghiệp sản xuất hàng may mặc tất thảy từ nhớn tới bé đều thống nhất kêu gọi: cái Nhài hoặc bé Nhài hoặc em Nhài hoặc con Nhài. Chính đương sự Lài cũng cười phá ra: Kệ mẹ nó đi mà, chỉ mình bồ gọi đích danh là Lài thì cũng yên tâm, chẳng sợ mai một biến tướng.

Lài mặc quần xa tanh đen, nằm úp mặt vô vách, co cả hai chân nên Chín thấy một đoạn da trần trắng như trứng gà bóc. Tóc rối bung trên gối và tấm chiếu lát hàng nội địa lắm chỗ phai màu. Sao rồi, nghe êm chưa? Chín nói khi ngồi xuống giường con bệnh. Lài trở mình, mặt xanh, mắt quầng, môi khô: Hổng chừng chạng vạng họ đuổi cổ mình về dù chưa nghe êm. Cái bụng nó thốn đau kiểu lạ lắm nghen. Hắn ngó xuống thấy cái lỗ rốn ẩn nấp trên lưng quần luồn sợi dây thun chặt chịa có vẻ như theo đúng chủ trương thắt lưng buộc bụng. Mang Lài đi súc ruột e y tá bệnh viện cũng toát mồ hôi trong công đoạn lột truồng. Lài từng nghịch hắn: Quần chống hiếp dâm đó tía.

Chín bày quà chi viện bồi dưỡng ra: Ăn mấy thứ này vào cho mau lại sức. Lài cầm tay hắn vụng dại: Cả tập thể xà quần nọ chỉ có riêng bồ là đáng yêu, ưa thơm quá. Lài ngồi dậy, tưởng thơm bồ tèo hoá ra là vọc nho cam. Có nên rửa qua không đây, bị sợ ngâm tẩm hoá chất. Lài ngó quanh: Ngồi đây trông chừng giùm cái túi xách, để tui mang trái cây dội qua miếng nước tiện thể đi đái luôn, óc ách nãy giờ. Lài thò chân xuống dò xâu đôi dép cũ mòn, nếu giày dép còn tử tế thì bệnh nhân hẳn đã thu cất dưới gối. Lài đi, như kịch sĩ hài từ cánh gà bước ra sân khấu, bộ điệu một là chọc cười khán giả hai là dòm thấy thương. Đi như một sản phụ mới đẻ con còn đau rát ở cửa mình.

Chú là gì của cổ? Bà nằm giường gần bên ngóc đầu lên hỏi. Tui có con dao Thái Lan sắc bén lắm hồi nào cần cắt cam cứ nói với tui. Chừng tiếng trước có cái anh mặc đồ bảo vệ vào thăm cổ, hai người đút bom lê mận đào cho nhau xong thì anh dẫn xác vô. Tui nằm đây cả ngày trời chả có ma nào vào uỷ lạo, mồ tổ cái phường bạc tình! Chín quay mặt sang con bệnh láng giềng. Nồi nào úp vung nấy, cỡ bốn bó lẻ mấy que hệt bà thì phai nhạt hương tình ắt có lý do, chớ lấy đó làm điều. Nhưng một cái nồi mà có lắm nắp đậy thì ta phải nên ngó lại, tự vấn. Cám ơn chị đã trao cho thông tin, hắn nói, tui làm chung trong xí nghiệp với cổ. Bữa nào tui gặp tai nạn không biết cổ có vào thăm? Rồi cũng nằm ra một đống ngó đời hiu quạnh giống chị vậy. Chú nói sao khó nghe quá, gì mà nằm một đống. Ừ, thà mình ên như tui, tuy có chạnh lòng có tủi thân nhưng so ra, còn hơn rộn ràng quan hệ với bọn người chuyên bắt cá hai tay. Em hổng dám đâu!

Chị có cái ly nào không? Uống cùng tui chai nước trà sâm này cho khỏi đắng họng. Chín khui mở nắp nhựa rồi khom lưng rót đúng nửa chai vô cái ca nhựa bà ấy vừa lấy đi cái bàn chải đánh răng. Hề hề, cái này gọi là bôi trơn đây, tui sẽ làm nhân viên CIA cho chú, sẽ báo cáo cụ thể mọi diễn tiến. Nằm không cũng oải, ngó chùng ngó vụng cũng thú, tin tui đi. Thời bây giờ bạc ác lắm, có con mẹ rách như cái xơ mướp, vào chốn này rồi mà thằng bị cắm sừng còn mang hung khí tới sát giường tính màn chơi tiếp. Bả rên hừ hừ thấy thảm lắm kìa. Thằng giang hồ nọ trước khi bị bắt còn để lại câu nói xanh dờn: Biết vậy ông tạt vào người mày một ca a-xít thì êm đẹp hơn!

Người đàn bà uống sạch ca nước trà sâm ướp lạnh, liếm môi ngó về hướng tới nhà vệ sinh. Ủa, đi đái thôi mà, sao lâu trở ra quá hén! Chú thử rảo một vòng xem có xảy ra sự cố gì không? Chín nhìn cái túi xách Lài đặt bên gối, tần ngần do dự rồi sau cùng ôm lấy nó mà rời khỏi giường. Phòng vệ sinh đâu quá tải chuyện giải thuỷ mà chịu cảnh sắp hàng chầu chực, có hai kẻ đứng tựa người vào tường nhưng họ chủ yếu đang làm sướng mồm chứ chẳng thiết tha chuyện ỉa đái. Lài và một anh y tá mãi huyên thuyên, không biết có phải đang bức xúc bày tỏ thái độ về việc cá đang bơi chuyển sang từ trần? Tay anh y tá đang cầm chùm nho và chí ít ảnh đã xơi hơn chục hột. Hổng rõ Lài đang bôi trơn chuyện gì? Chín nghe chàng mặc áo choàng trắng lên giọng sốt sắng: Không ấy để anh đề đạt với bác sĩ, tối nay anh chuyển em sang nằm phòng kín đáo hơn. Em tắm rửa cho sạch, thay cái áo thông thoáng của bệnh viện và nhớ không được mặc nội y để dễ cho việc làm nội soi. Bác sĩ bảo chỉ lưu tâm tới riêng trường hợp của em thôi đó. Đã sướng chưa? Vậy nhé, tối nay mình gặp lại.

Sao lại đứng lấp ló ở đây? Biểu ngồi đẳng chờ, nói mà hổng khi nào chịu nghe. Đưa cái xách đây, có buồn tay lục soạn không đó tía? Đồ của đàn bà con gái không à, chớ có mó tay tò mò. À mà này, bồ có thủ sẵn cái áo mưa trong túi quần không, cho tui mượn đi. Chín nói, ừa mình kéo nhau vào trỏng, chốt cửa lại làm đại một phát đâu có chết thằng tây nào mà sợ. Đã đến lúc Lài biểu tỏ “thấy thương muốn thơm” tui rồi đó, đúng hôn? Chít mịa, bị ngộ độc đầu óc hả, đồ khùng gì đâu á. Tui đang bỏ công sức đi giao lưu tình cảm với người ta, người ta hứa chăm sóc tui rốt ráo, người ta viết giấy chứng thương hậu hỉ cho tui, người ta khuyên nằm lán lại chớ về cày bừa trong xí nghiệp dễ gây tổn hại… Có thương tui thì bồ về đi, đừng đứng loạng quạng ra đó làm cản trở lưu thông. Về nghỉ cho khoẻ lấy sức mà cày bừa tiếp, không cày cơm đâu mà ăn? Má tui dạy, cơm thương chớ hổng có ai thương đâu. Thấy mặt Chín buồn xo, nghĩ cũng chạnh lòng nên Lài nhón chân thơm vào bên má Chín kêu cái chút. Chắc Lài có xơi nho, môi thơm ngọt rít rát. Bệnh viện chộn rộn lắm người nên tui hôn ở má, chốn phòng the cô quạnh yên hàn thì tui sẽ thơm cùng khắp. Nhớ chưa, nhín đợi năm bữa nửa tháng cho cơ thể thấy sung rồi lúc đó có đòi nợ cũng chưa muộn. Về đi, nói biết nghe thì thương hơn.

Chín bước ra khỏi cánh cửa kính ngăn chia hai cảnh giới khác biệt, bên bầm dập bên dưỡng thương, bên đâm chém bên xức thuốc. Đó chỉ là cái hiểu đơn giản trong đời thường chứ thực chất có lúc tuy hai mà một. Xã hội bên ngoài cũng có kẻ hào hiệp đứng ra xức thuốc cho mình và bệnh viện ấy cũng chẳng thiếu đứa giỏi sử dụng đao gươm, lương y như dì ghẻ, chuyện ấy nào lạ gì, thấy chết không cứu, việc ấy không riêng tiểu thuyết giả tưởng mới thủ đắc.

Chín đứng moi thuốc ra thắp lửa, thở khói vào bóng chiều đang lần đi dần vào màn đêm. Một mụ đàn bà hiện ra sau thân cây to bước lại gần. Mụ nói nhỏ, giọng trọ trẹ khó nghe: Anh muốn sở hữu mười triệu đồng không? Trong xách tôi có chiếc áo choàng trắng của bệnh viện, mặc nó xong anh đi theo lộ trình trong bản đồ tôi vẽ, vào tới cái giường có đánh dấu sẵn rồi bồng ẵm đứa bé nằm đó trở ra. Sau đó người của chúng tôi sẽ lo liệu hết. Chúng tôi đã quan sát, mức độ an toàn lên tới 75 phần trăm. Theo chúng tôi nhận định, anh nào khác gì một y tá, thú thật là ngay cả bác sĩ có khối thằng xấu trai hơn anh.

Chín rít khói, ruột cồn cào. Hắn hỏi, ngay bây giờ? Người đàn bà có đeo khẩu trang nói, tuỳ anh, nhưng càng khuya thì dễ gặp khó khăn hơn. Đi mua cho tôi một chai bia có được không? Chuyện nhỏ. Điều đó có nghĩa là anh đã thoả thuận. Mười triệu? À há, anh nhận trước một nửa, nửa kia sẽ trao khi chúng tôi bồng đứa bé lên xe. Không thành vấn đề, Chín nói, một chai bia lạnh và một con dao nhọn. Người đàn bà gật đầu, không vội vàng, đi thong dong băng qua mặt lộ để bước vào tiệm tạp hoá sáng đèn. Chín không rảnh trí về chuyện sẽ làm gì khi có được mười triệu, đầu óc hắn lợn cợn một điều, giả như vô phúc gặp mặt Lài, có thể Lài là người hứng chịu mũi dao nhọn đâm thủng trái tim bạc tình. Thương cho dao cho kiếm ghét cho nho cho cam. Ghét em hồi đầu rồi thương em hồi sau là vậy. Mười triệu, bán luôn chiếc xe máy, chêm tiền cứng người rồi đi giang hồ một chuyến đoạn lìa quá khứ đau thương.

Người đàn bà đang băng qua đường, đi mà không ngán xe đâm ngang xẻ dọc, đi như vào chốn không người. Lon bia và con dao nằm trong túi ny-lông, phía trên là con mắt biết cười ngó vào mặt Chín.

Hồ Đình Nghiêm

Huế bò bún

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 10/08/2016 

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

tặng anh Phạm Nhuận

Muốn nấu một nồi bún bò, căn bản bạn phải có đủ những nguyên vật liệu sau… Đây là câu mở đầu bạn sẽ đọc phải trong sách, nghe khi xem video ở internet để rồi tò mò muốn xắn tay áo thử sờ soạn với nồi niêu củi lửa điện gaz, thực thi theo công thức người ta bày vẽ, loay hoay xem thành quả món ấy có đạt được đôi phần hoả hầu tựa Mụ Rớt ngày xưa danh trấn giang hồ một thời vàng son cũ.
Mình truy cập vào mạng, có không dưới mười vị giàu kinh nghiệm và giàu lòng hảo tâm bỏ công quây phim chỉ dẫn tường tận cho bá tánh. Lạ một điều là các sư phụ kia có vị nói giọng Bắc 9 nút truyền cảm, có vị phát âm giọng mùi Nam bộ dễ mến. Nghe và ngộ ra: Bún bò đã vượt biên thoát khỏi địa phận miền Trung, đang dần lấy cảm tình hai miền còn lại của một chữ S gầy ốm ngày đêm giao thoa và được vỗ về bởi sóng biển Thái Bình Dương. Sóng lành hay biển dữ? Hồi nào bàn tới chuyện bún hải sản mới mang ra mổ xẻ nguyên vật liệu cá tôm cua mực sò ốc. Heo bò vốn sống ngu ngơ ở đất liền, chẳng liên quan gì tới thuỷ thần, nhớ?

Mình từng nấu Hủ Tiếu Mỹ Tho, khá thành công. Từng ninh hầm Phở Bắc, nước trong khá thơm tho bắt miệng. Thường xuyên trau dồi Bún Bò Huế, khá dậy mùi. Bà con xa láng giềng gần, gom lại khoảng một tá chị em phụ nữ đều thống nhất một kiểu gật gù: Thằng cha này có hoa tay chứ không đùa nhé, nấu thức gì ra thứ ấy, mặn mà… có duyên. Này, đàn ông con trai lưu lạc sang đây không ngờ bọn họ ba đảm đang hơn cả mình tưởng. Thằng cha này mà mở hàng quán hổng chừng phải đuổi khách đi không hết. Họ mồm năm miệng mười khen cho tới hồi thằng cha đầu bếp múc cạn nồi nước lèo mới thôi. Quý vị phụ nữ cấy giấc mơ vào lòng mình: Vay ngân hàng chút bổi mà mở tiệm mần ăn, ông lấy cái tên nghe ấn tượng khác đời cho giang hồ nổi sóng: Bún Bò Ôn Dôn. Thành phố này sẽ mang ơn ôn, khách phương xa ghé thăm Montréal có bún bò ôn Dôn xúi một chút gì để nhớ. Rồi họ tự biên tự diễn ra câu chắp vá: Đi rồi nhớ Dôn, tuổi đời hoàng hôn, may mà có ôn, ta về thăm thôn, quên của hồi môn, đậu một môi hôn, đem tình đi chôn, nào biết dại khôn, không nên tự tôn, chớ có đại ngôn.

Thêu dệt vần điệu thiệt phách tấu, hay ra cái sự cố nữ công gia chánh kia chẳng khác gì chuyện kể nghìn lẻ một đêm, xa xôi, kỳ khu những hoang tưởng. Mình nghe các vị nữ lưu bàn ra tán vô liên hồi kỳ trận khiến đã cái lỗ tai mới gớm. Y như thính giác thưởng thức tiếng lụa xé để lòng vui. Xé trường đoạn, xé toe tua cho đến tận bây chừ mới chịu tắt nghỉn.

Tắt nghỉn hay tắt quạt cũng một nghĩa như nhau, đành phải phơi tình trên cheo leo cọc nhọn. Ngày 6 tháng 8, đúng ngày tháng này của một quá khứ tăm tối, năm 1945, quả bom nguyên tử của Mỹ thả xuống Hiroshima làm chết hơn 100.000 người Nhật. Ở thành phố đó giờ này khói nhang vẫn còn vùng vằn dật dờ một tưởng niệm chưa loãng tan, mờ mịt thức mây. Huế xứng đáng là tụ điểm để hàng năm vào dịp Tết, con dân đứng cúi đầu mặc niệm và hồi tưởng một trang sử đẫm máu do người ở rừng rú về thảm sát dân lành. Đội ngũ bên thắng cuộc đó không duy tâm, họ duy vật để vừa ký xong thứ văn bản “ngậm đắng nuốt cay” chưa ráo mực: UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế đăng ký bảo hộ nhãn Bún Bò Huế (Logo ở đầu bài) nhằm mục đích xây dựng thành một sản phẩm đặc trưng của Huế, có uy tín trên thị trường, được bảo chứng về chất lượng, hương vị, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Đây là điều cần thiết và trách nhiệm của địa phương. Điểm quan trọng là “phát minh” này đã được Cục Sở Hữu Trí Tuệ công nhận. Nôm na có phải là rảnh rỗi sinh nông nỗi? Chẳng có chuyện mần nên tạo dáng selfie một cú, chảnh cho xứng tầm thời đại. Bún bò dứt khoát phải ma-dzê-in Huế.

Vậy thì những ai kinh doanh ẩm thực ở chốn xa, tưởng tới đất Thần Kinh mà hăm he chen vào thực đơn món bún bò thì buộc họ phải chạy u tới xứ Huế xin cho bằng được cái giấy phép và phải dán cái logo đặc thù (của UBND Tỉnh phối hợp cùng hội Du Lịch Thừa Thiên Huế quản lý) bên thương hiệu quán ăn. Tấm bảng viết chữ phăng-ta-dzi “Bún Bò Huế Ôn Dôn” tối nghĩa, chưa hoàn chỉnh hay sao mà bắt phải thêu dệt thêm cái logo Bún Bò Huế kia. Cắc cớ hung! Nhiêu khê quá mạng! Vậy thì tớ bán chui, có được không? Nhắm chơi hổng đặng, tui bỏ mẹ cái món rắc rối ấy đi cho khoẻ xác. Mấy ôn đầu sỏ ở cố đô hồi nào tới giờ vẫn để lộ lối hành sử hơi bị phản cảm vô văn hoá. Không ưa tiếng thơm lây lan xa rộng mà chỉ ưa giữ riết một bên thân xem nó là của gia bảo độc cô cầu bại. Ưa thu gom về một mối, soán đoạt thành tựu của bao nhà quy về một căn hộ tiêu điều vùng ngoại ô. Thử hình dung suốt chiều dài đất nước, mỗi địa phận có món ngon đặc sản thì liền đăng ký sản phẩm, vẽ logo cầu chứng, thằng nào mánh mung chôm chỉa làm hàng nhái tớ kiện cho táng gia bại sản. Và như thế không chừng sản sinh ra nạn thập nhị sứ quân, mỗi đại gia hùng cứ một vùng miền, phở cạy mặt bún, bún ngó lơ mì, mì hổng chơi cơm tấm bì. Rồi hô hào đi làm cách mạng, rồi đến hẹn nại nên ta đi giải phóng, rồi ta đổi tiền và ta thay tên đường. Cứ thế mà loay hoay tiêu hết 4000 năm văn hiến. Vó câu trôi ngoài cửa, bốn mươi năm rồi đường hầm chưa chịu sáng, bị anh Lào láng giềng qua mặt hổng thèm bóp còi. Khi dễ cũng chừng mực nào thôi chứ!

Địa phận Thừa Thiên sẽ mất dấu khi lần qua những chân đèo. Đổ xuống Hải Vân hùng vĩ là trôi tuột vào vùng đất Quảng Nam “chưa mưa đã thấm”. Từ Đà Nẵng trở vô Tam Kỳ, dân địa phương vẫn giữ niềm tự hào về món ngon nức tiếng: Mì Quảng. Theo sử liệu của các nhà nghiên cứu, mì Quảng có từ thời cụ Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng lấn vào mở mang bờ cõi. Món ăn theo chân nhân dân, thuộc về nhân dân mà thầm lặng phát triển bởi lòng yêu mến qua bao niên kỷ. Cố nhà văn Nguyễn Văn Xuân từng nói: “Mì Quảng là mì dân chủ”.

Bún bò Huế không có được sự dân chủ, ngày một ngày hai đã bị phong kiến địa chủ bóc lột. Mô tê răng rứa thì có chút duyên ngầm nhưng nó chẳng thoát ra khỏi một địa phận, gây khó khăn không ít cho một số người khác quê miền Trung. Người miền Nam trước đây chẳng có cảm tình với món bún bò bởi cái cay ác ôn đặc thù. Và hiện tại họ có thêm một cái cớ khác để phụ rẫy: Trình độ thấp kém rất đáng phàn nàn của những kẻ xem thường di sản văn hoá của cha ông. Quyết đóng mộc lên con tem bún bò. Đã lỡ làm Công Tằng Tôn Nữ thì chớ lén phén lấy dôn ngoài xứ Huế. Em là sông Hương mà anh là núi Ngự Bình đó nợ. Sông in dáng núi, núi soi mặt sông. Thuỷ chung. Bún bò Huế muôn năm.

Liên hệ với tin tức thời sự thế vận hội đang tranh đua từng ngày, từng bộ môn, ông Hoàng Xuân Vinh của đoàn Việt Nam vừa làm nên lịch sử với huy chương vàng đầu tiên ở môn bắn súng hơi cự ly 10 mét. Báo chí đồng loạt ca ngợi, sướng rân, xem đó là niềm tự hào dân tộc. Bạn có tự hào khi làm người Huế không? Cho mình bắn một phát súng hơi: Tui rất hãnh diện khi được đứng dưới bảng hiệu “Bún Bò Ôn Dôn”. Có nghĩa là bún bò ni chẳng liên hệ gì với thứ bún bò Huế kia. Ăn bún bò ôn dôn không bổ bề ngang cũng tốt cho bề dọc, chứ xơi phải bún bò Huế nọ có mà triệt tiêu chất xám, rồi uốn lưỡi ăn nói ngôn ngữ của loài vẹt, hoặc két hoặc nhồng hoặc sáo đã từng bị lột lưỡi. Không riêng bún bò, Huế bây chừ lạ lắm eng ơi, ai đời mà hướng dẫn viên du lịch nói cửa ngọ môn điện thái hoà là bản sao chép từ tử cấm thành của Trung quốc đàn anh vĩ đại. Huế ngậm hột thị, có ra bên bến Văn Lâu than thở “ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm ai thương ai cảm” cũng bị công an ngăn cấm. Có khi đau răng mà cũng bị chết, tin không? Đả đảo bún bò Huế quốc doanh!

Hồ Đình Nghiêm

Gạch đá

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 11/07/2016 

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

Khi bạn vô tình (hay cố ý) phạm lỗi lầm, chúng sinh đua nhau mắng chửi bạn và người ta đẻ ra một từ thật dễ chịu để chỉ tới thảm hoạ nọ: Bị ném gạch đá. Bạn cũng như tôi, đi trong cuộc lữ phiền muộn này, thế nào cũng hơn một lần bị hứng chịu gạch đá, không khỏi.

Ngày 7 tháng 7 (song thất mà không lục bát) tôi đã lục chén lục nồi ngồi ăn cơm nguội cục vắt thành hòn mà lệ ứa trong tim. Hậu sự do bởi thằng Đức đã không thắng nổi thằng Pháp. Đức gạt lệ thua buồn và tôi thua cá độ bay mất một nạm tiền. Chẳng do cảm tính, tôi nhảy vào cuộc chơi lành ít dữ nhiều sau lắm đêm đọc báo để minh định thực tài của đội Đức, dẫu sao họ cũng là nhà đương kim vô địch và theo từ điển bóng đá, họ là hình ảnh của một cỗ xe tăng. Chí ít họ sẽ thắng 1 bàn, đó là theo dự đoán của đám đông, trong đó có tôi sốt sắng làm chú du kích bồng súng đi theo đường mòn đã mở. Mặt trận miền Tây vẫn không yên tĩnh. E.M. Remarque có sống dậy cũng sẽ hậm hực viết sang một cuốn tiểu thuyết khác.
Thời sự của báo đài cũng đẻ ra chữ mới: GERFRA khi mà đèn thắp ở tháp Eiffel liên tục chuyển màu từ cờ Đức đổi ra sắc tam tài của Pháp. Chiếc xe tăng kiên cố của vị tướng Erwin Rommel (The Desert Fox) huyền thoại ngày xưa bá chủ trên khắp mặt trận, hôm nay đã tuột xích hỏng pháo tháp trên sân cỏ một thời từng bị xâm lăng. Con gà trống đã cất tiếng gáy (tiếng gáy át tiếng bom). Một mình Antoine Griezmann, người hùng chỉ cao 1m76, tiền đạo nhỏ thó mặt mày sáng sủa khoác áo số 7 đã đơn thân ghi được 2 bàn thắng khiến 11 con tim của đối phương thôi đập, gục đổ. Chàng Antoine sau chiến công hiển hách đã được xem là thế hệ vàng thừa kế Zidane và xếp sau Platini ở tỷ số ghi bàn. Chưa chính thức lên ngai vàng làm vua bộ môn bóng tròn nhưng dân Pháp mặc nhiên xem đó là thứ mùa hè đỏ lửa. Đỏ hân hoan reo vui trên lửa hạnh phúc rực rỡ thắp cùng kinh thành ánh sáng. Nếu được, bọn cuồng tín có thế viết nên ca từ “Như có bác Antoine trong ngày vui đại thắng” để hát vụng dại cùng bia rượu lai láng chảy bên bờ sông Seine.

Tương truyền ở thành phố hoa lệ này từng rộng vòng tay đón nhận một anh An nam mít phu phen lao động dưới hầm tàu đi chui lên bờ. Anh ta sống trải qua một mùa đông khắc nghiệt trên xứ người, nuôi mộng mần chuyện lớn anh đã giao lưu tình cảm với một bác làm việc ở lò nướng bánh mì. Anh cạy đâu ra được hai cục gạch, lén lút lội tuyết đến gõ cửa tiệm bánh mì của bọn thực dân. Bác ấy cũng là người tử tế nhỉ, bác thuận lòng cho anh mít đun hai cục gạch vào lò nướng sau phút han hỏi lý do: Chơ do cớ sự gì thế hở? Dạ, chẳng dấu gì bác, cháu trọ ở nơi cực kỳ giá rét chẳng có lò sưởi, cháu sẽ mang hai cục gạch nóng hổi mới ra lò này về để chêm dưới lưng đặng kinh qua giấc cơ hàn. Nghe chảy nước mắt, không phải thằng thực dân nào cũng đều xấu bụng, nếu nó ác nó có cả vạn lý do để đuổi cổ cái bộ mặt thường trực lấm lét của ta ra khỏi ngõ ngay. Chuyện ngang đó thì dừng, giống như trọng tài đã thổi súp-lê, chẳng biết thằng thực dân nọ có động lòng dúi vào tay thằng cộng sản trẻ tuổi kia khúc bánh mì nào chăng? Thế kỷ sau, câu chuyện ấy đẻ ra một hậu vận, là nhà nước Việt Nam đã cho người cất công sang Ba Lê cố truy tìm cho ra hai cục gạch ngày cũ để mang về chưng trong viện bảo tàng lịch sử, bởi đó là báu vật giúp “người” kinh qua bao gian khó trong suốt chặng đường đi làm kách mệnh!

Pháp vừa ném hai cục gạch vào mặt thằng Đức, ủ uê, nhức nhối, tái xanh mặt máu. Không biết liên đoàn football của Pháp (FFF) có chùng vụng mang trái banh Adidas từng làm cháy lưới đội Đức về dấu thu trong viện bảo tàng, kẻo mai này nó sẽ làm bóng chim tăm cá, biết đường mô mà mò sau bao dâu bể con tạo xoay vần trắng đổi ra đen!

Tôi cũng vừa mới bị thân bằng quyến thuộc ném cả chục cục gạch đá vì tội vất tiền qua cửa sổ. Để trấn an dư luận tôi đã mở máy vi tính mà chỉ cho quý vị ấy xem hình ảnh chụp lại phút quyên sinh của mấy ông nội nhảy cầu từ Bắc vô Nam, nhan nhãn. Ở đâu có cầu có sông, ở đó có đứa muốn gặp mặt tử thần. Thi thoảng có bóng dáng công an dừng xe lại để can ngăn: Con người vốn quý nhất, sao lại vác thân một hai ôm cục gạch để trầm mình? Thua keo này bày keo khác. Còn một trận chung kết nữa mà, bán hết nhà cửa đi thử thời vận lần nữa hẳn hay, nhớ. Chết như vậy là hơi bị sớm đấy! Ùm, đương sự giả nhời bằng tiếng kêu nghe thậm bức xúc. Sóng mãi loang ra, sông mùa Euro toàn xác người mà thôi còn xác cá. “Người cần nước sạch, cá cần minh bạch”. Ai có đi biểu tình chống cá độ bóng đá thì nhớ viết câu ấy lên biểu ngữ.

Tôi còn chút bổi trong trương mục ngân hàng, trận chung kết tới đây tôi bảo thằng Pháp sẽ đá bại thằng Bồ Đào Nha. Có “đồng chí” nào dám tôm độ, mực độ, cua độ, hến độ với tôi không? Bây chừ thời tiết chốn đây cực nóng, nhằm giải hạn tôi nghe theo điều một bác dạy: Chạy lơ ngơ đi đâu đó, nhanh tay lẹ mắt ăn cắp cho được hai cục gạch. Xong công đoạn đó tôi sẽ cạo sửa di chúc của người, tôi đun nó vào tủ lạnh, ngăn đá rồi cuối cùng chêm sau lưng nằm nhắm mắt riu riu cố an dưỡng tấm thân đang vào độ tuổi cổ lai hy. Mẹ rượt, bác với cháu, bóng với đá, cá với tôm. Làm sao được ngủ với cơn mộng: Tuyển Việt sẽ ném vào mặt tuyển Trung quốc hai cục gạch nóng hổi. Tôi thoi thóp đợi ánh dương quang sáng soi hình hài chữ S. Đừng bảo tôi người ngoài hành tinh. Bạn nên nhớ cho, một giấc mơ muôn đời không tốn tiền mua, khỏi đóng thuế. Xin hãy vô tư.

Bồ lay tôi ra cơn mê sảng. Tôi thương bồ (tèo) cũng như bồ (bịch) nhưng tôi ghét cay ghét đắng anh Bồ Đào Nha. Những cảm tình viên của tuyển Pháp sau phút 20 đã mở cờ trong bụng vì chàng Ronaldo áo số 7 (CR7) bỗng chấn thương ở chân trái. Chàng ta khóc trước khi leo lên băng-ca cho chuyên viên y tế mang ra khỏi sân kéo theo biết bao ánh mắt tuyệt vọng của con dân xứ Bồ bỏ công ăn việc làm nơi quê mẹ lặn lội sang Pháp reo hò cổ vũ cho đội nhà. Nước mắt đổ ra thế cho niềm ăn năn thầm lặng, rằng tôi tự lượng sức chẳng thể đổ mồ hôi cùng đồng đội chạy cho tới cuối cuộc chơi. Bồ có thua trận e món nợ đau thương ấy có tôi gánh ở đầu nặng nhất. Nói có vẻ nhỏ nhen, hơn bốn mươi ngàn kẻ mặc áo có in logo con gà trống bên ngực trái ngồi sát cánh trên khán đài đã lòng như thầm mở hội, bác Antoine Griezmann ơi, đường ra trận mùa này đẹp lắm, đường thênh thang sẽ dẫn tới gần Khải hoàn môn. Hãy kéo sơn pháo, cối cũng như hoả tiển vào vùng cấm địa mà tiền pháo hậu xung.

Bồ lay tôi ra giấc mê muội thua sạch nhẵn, hết tiền hết bạc hết ông tôi. Gần cuối hai hiệp phụ, phút 109 tiền đạo Éder áo số 9 vừa vào thay người đã vung mạnh đường Tuyệt mệnh đao khiến sân cỏ Saint-Denis phải co lạnh tợ có ngọn gió thu trái khuấy thổi ngược. Bồ ném một cục gạch không khoan nhượng khiến 11 con gà trống thôi ưỡn ngực, xác xơ lông, thôi gáy, thôi đạp mái, thẫn thờ như thể bị mắc mưa. Thiên thời, địa lợi, nhân hoà anh có đủ vậy mà anh chẳng làm nên trò trống gì. Tan hàng mà chẳng nghe ai gióng tiếng: Cố gắng. Và như thế, mùa Euro sôi động đang như con sóng cuốn dạt xa dần, nhường lại một bãi bờ quạnh vắng. Chẳng biết phố đêm có đèn vàng suy tư không? Chẳng rõ còn xảy ra cảnh cổ động viên ném gạch đá vào nhau nữa thôi. Rồi nhắc lại thắc mắc của Trịnh Công Sơn: Làm sao em biết bia đá không đau?

Tôi có một người bồ tèo, bạn ấy trao tay thứ kỷ vật thuộc loại hàng độc: Một cục gạch lấy được từ bức tường Bá Linh ở phía Đông. Bồ rỉ tai, biết đâu chừng một ngày kia anh sẽ giàu to khi nó lọt vào tay con buôn di tích lịch sử. Dĩ nhiên đã là gạch đá thì chúng thảy đều tựa nhau, vô tri, thô kệch, nặng nề, xấu xí. Bảo rằng nó được moi ra từ cổ thành Quảng Trị thì ắt có giá trị hơn, tôi nghĩ vậy, nơi từng diễn ra trận quần thảo khốc liệt 81 ngày đêm và chôn vùi theo gạch đá biết bao oan hồn của chiến binh hai phía, than van cao ngất trời xanh để mây phải dồn cục trên dãy Trường Sơn u ám.

Tôi dùng cục gạch ô nhục bồ trao để chèn vào kệ sách cho văn chương xếp hàng trên đó khỏi té lăn chiên đổ đèn xuống sàn nhà lắm bụi. Nó không mấy lớn nhưng có thể buồn tay ném ai đó đến vỡ đầu như chơi. Tôi sẽ vỡ đầu nếu chụp hình cục đá nọ rêu rao trên mạng bán giá phải chăng: “Nó moi ra từ hầm mộ cổ bên Ai Cập với số tuổi được phỏng đoán là hơn 4000 năm”. Vỡ đầu vì tội lừa đảo. Cũng có thể giống như trò chơi dính dáng tới cá độ, tôi được mời về nước có xe hụ còi dẫn đường tới viện bảo tàng, các đồng chí lãnh đạo phán: Cục này là cục thứ ba của “người” thời lưu lạc gầy còm nếm mật nằm gai mới phát hiện thấy, từng đun vô rút ra cả mươi bận trong lò nướng bánh mì ở bển, đêm trường ấp ủ cho tới tàn canh gió lạnh. Dĩ nhiên là chúng ta sẽ vận dụng chất xám nhằm khiến cho cục ấy bị mòn khuyết, thay hình đổi dạng và lên nước chút đỉnh cho phù hợp với nạn bể dâu. 500 triệu cho cục này, chú Hồ tính sao?

Hồ Đình Nghiêm

Tháng tư nghiệt ngã

Oliver Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

5. Lời tựa

Quyển sách này mô tả những tấn thảm kịch của loài người , những toan tính ngoại giao, những chiến lược quân sự và những vận dụng chánh trị từ Hà Nội đến Hoa thạnh Đốn xuyên qua Mạc tư Khoa, Balê.. và nhiều thành phố khác, để cuối cùng dẫn đến sự thất thủ của Sài Gòn ngày 30/4/1975, hai mươi mốt năm sau trận chiến Điện biên Phủ.

Quyển sách này tường thuật lại diễn tiến trong 4 tháng đầu của năm 1975 nghiệt ngã. Thông thường theo ký ức tình cảm của mỗi dân tộc, dưới con mắt lạnh nhạt của sử gia, thì đôi khi chuyện một thành phố bị mất đi hay được chiếm lại trong cuộc chiến .. chỉ là một bóng mờ của một thời gian nào đó thôi. Nhưng khi mà một thành phố được gọi là thủ đô, được xem là trung tâm đầu não cuả hệ thống hành chánh, tài chánh, văn hóa và quân sự mà bị địch chiếm, thì sự chiếm đó có nghĩa là địch đã chiếm được chánh quyền!

Năm 146 trước công nguyên thành phố Corinthe bị mất về tay người La Mã thì tức là nền độc lập của dân tộc Hy Lạp (Grec) không còn nữa…

Nã phá Luân rút quân khỏi Mạc tư Khoa năm 1812 cũng được coi như nước Pháp thất trận.

Nhiều thủ đô đã bị chiếm đóng, như Ba Lê năm 1914 và 1940 mà còn có được những cuộc chiến đấu anh dũng như trận La Marne mới được coi như thành phố đó chỉ bị mất về tay quân thù. Tại Âu Châu, khi người lính của Staline kéo lá cờ đỏ lên Trụ sở Quốc Hội Đức ở Bá Linh, là Tây Âu coi như phải thần phục Đông Âu, cũng như ở Á Châu khi Nhật Bản chiếm đóng Singapore vậy.

Hơn 10 năm sau khi bị thất thủ, Sài Gòn được xem là tiêu biểu của một thời kỳ lịch sử chủ yếu hàng đầu: được sự yểm trợ của Liên Xô, Trung Cộng và các nước cộng sản chư hầu khác, một nước chuyên chính nhỏ bé như Bắc Việt đã buộc một quốc gia dân chủ hùng mạnh như Hoa Kỳ phải tháo chạy, đánh dấu cuộc chiến thắng của một xã hội độc tài khép kín đối với một xã hội tự do cởi mở, một cuộc chiến thắng đối với hệ thống Tự Do Dân Chủ…. Chiến thắng vĩnh viễn ư ? Người ta còn nghi ngờ, nhưng một dẫn chứng lịch sử rất giản dị làm cho người ta phân vân: cho tới giờ này khi đã bám trụ được rồi thì người cộng sản chính thống hình như không bao giờ muốn nhả ra nữa.

Đã có nhiều sự lưỡng lự rụt rè và hành động rời rạc từ chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong cuộc chiến ở Việt Nam. Không có một bình luận nào vô tư hết, mà cũng không thể hoàn toàn thu ngắn từng chữ trong diễn tiến của sự việc được,. Ngay như căn cứ trên tài liệu, nhân chứng, phúc trình, công điện, hay những bản tường trình của phóng viên, các bài phóng sự truyền thanh, phim ảnh, thư từ, báo chí…, một nhà báo đang góp nhặt sự việc trong ngày hay một sử gia đang gom góp từng sự kiện trong năm cũng không ai có thể bỏ qua tính cách chủ quan được khi phải chọn lọc và sấp xếp các sự kiện lại để viết sử cho Lịch Sử. Điều này hoàn toàn không có nghĩa là không “vô tư hay chủ quan”.

Cuộc vận động trên báo chí và phương thức viết sử chính yếu không khác nhau mấy. Người viết sử có không gian và có thời gian rộng rãi , còn người làm báo thì có thể dựa trên những câu hỏi của người trong cuộc, cùng thời với mình. Cả hai người đều phải làm việc với sự nhạy bén của mình, một sự nhạy bén mà họ cần phải có, phải biết và phải kiểm soát được.

Tôi không hiểu tại sao tôi lại muốn thấy và nhìn lại hằng loạt biến cố hỗn tạp của năm 75 này?

Tôi đã theo sát cuộc chiến này từ năm 1965 cho đến năm 1973. Như các bạn tôi, hơn mọi cuộc chiến khác, cuộc chiến này đánh mạnh vào tâm tư của tôi, với tất cả ý nghĩa của nó. Mặc dầu có đặc quyền ưu đãi của một nhà báo, tôi xin chiếu khán vào Hà Nội rất khó khăn, trái lại với Sài Gòn thì rất dễ dàng và nhất là tôi và ông bạn Ron Moreau phóng viên của tờ Newsweek tại Sài Gòn, năm 1973 chúng tôi đã vào được vùng đất của Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ở Cà Mau. Chúng tôi không thông báo trước , không được hướng dẫn viên đưa đi. Ron Moreau nói thạo tiếng Việt đến độ biết chơi chữ để làm vui các chiến binh Việt Cộng, phần tôi thì biết nói tiếng Miền Bắc: chúng tôi làm việc chung với nhau.

Quan điểm của tôi về cuộc chiến thay đổi tận gốc. Những sự bực bội của tôi từ những lần viếng thăm Miền Bắc năm trước đã bùng lên dữ dội như chất hóa học. Tôi rời khỏi Việt Nam, tin chắc là tôi đã bị gạt: với một vài dè dặt nào đó tôi đã bênh vực cho cái gọi là “phong trào giải phóng quốc gia” với mục tiêu giai đoạn gọi là chiến đấu chống đế quốc thực dân xâm lược. Sau đó tôi khám phá hơi trễ là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ là cánh tay của chánh phủ cộng sản Miền Bắc được trang bị và nhồi nhét ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Có thể một phần nào đó tôi là một nạn nhân của cái mà Jean Francois Revel gọi là :sự cám dỗ của vấn đề” Để giải thích cho Edgae Morin, dù muốn dù không tôi đã tranh đấu để đến ở Sài Gòn, một thể chế mà chúng tôi đã từng có lần lên án tại Prague (Tiệp Khắc) và Budapest (Hung gia Lợi). Xuyên qua cảm tình của chúng tôi đối với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước kia và Hà Nội sau đó , chúng tôi đã gần như rơi vào cánh tả không cộng sản một cách dại dột và mù quáng. Sự nhận xét của chúng tôi về thể chế cộng sản mà trước tiên là Bắc Việt suýt chút nữa chúng tôi đã coi họ là thiên thần. Sự hoan nghênh của chúng tôi về các chế độ chống cộng, và trước hết là chế độ của chánh phủ Miền Nam Việt Nam xoay qua thành một điều quỉ quái. Chúng tôi không coi Hồ chí Minh là thiên thần mà cũng không coi Nguyễn văn Thiệu là Ác Quỉ. Chúng tôi chỉ mơ về một “chủ nghĩa xã hội có nhân tính” ở vùng Đông Nam Á.

Và còn không ít người đang mơ ước hão huyền như vậy .

Với hai chữ Việt Nam, có nhiều hình ảnh và nhiều khuôn mặt hiện trở lại trong trí tôi, hết sức lộn xộn.

– Đây là một sĩ quan Hoa Kỳ trên núi Bà Đen, chỉ huy một đơn vị lính đánh thuê người Cam Bốt; đây là anh Nguyễn Minh, thông dịch viên của tôi ở Hà Nội , lần đầu tiên tôi đến thủ đô khốn khổ của Miền Bắc, anh Minh giúp Gerard Chaliand và tôi qua khỏi khó khăn trên Quốc lộ 1, lúc các oanh tạc chiến đấu cơ Mỹ đang có mặt trên không phận; kia là ông Thiệu tươi cười sáng lạng đang dùng máy Polaroid chụp ảnh cho tôi tại Dinh Độc Lập… – – Rồi đây là những nỗi kinh hoàng của cuộc chiến, những thương binh của Nam Việt Nam ở Đà Nẵng, của Bắc Việt Nam ở Phát Diệm… Giáo sĩ tiến bộ bên này, giáo sĩ tạp giáo bên kia… chỗ nào cũng toàn là trẻ mồ côi, thiếu tình thương, lắc lư liên tục từ trái qua phải mà triệu chứng thì các nhi khoa Bắc sỉ đều biết rõ cả rồi; nọ là binh sĩ hai Bên, bụng thì lo sợ mà mặt thì vẫn thản nhiên, nhìn chung là gan lì…; đây là những bữa cơm nóng hổi chia xẻ với binh sỉ Hoa Kỳ hoặc Nam Việt Nam , với cán binh Bắc Việt hay Việt Cộng .. người này mời thuốc đầu lọc Winston, người kia mời thuốc lá Điện Biên Phủ và đây là Phạm văn Đồng, lãnh chúa “vĩ đại” mở miệng ra là gọi anh là “bạn thân” theo giọng điệu của chánh phủ Pháp… còn kia là những người dân quê và dân thành thị, tất cả đều mong chờ “hòa bình” nhưng không phải một nền “hòa bình” như lãnh đạo của họ thường quan niệm.

Ôi êm đẹp làm sao những buổi chiều, hay buổi sáng sớm êm ả ở Miền Bắc hay Miền Nam trong thời gian ngưng tiếng súng… Đây là chánh khách Tôn Thất Thiện với những bài bình luận trầm tĩnh và những con cá nhiệt đới của ông…, Kia là nhà lý luận Nguyễn Khắc Viện đang nhồi sọ các khách du lịch ở Hà Nội …,Cả hai ông, người nào cũng thông thạo tiếng Pháp…..

Độc giả sẽ gặp lại trong quyển sách này một số nhân vật mà tôi không quên được vì họ vốn là “con người” . Tôi không hạ thấp người Miền Bắc dù nhiệm vụ và tầm vóc của họ chỉ là thuộc những con rối không hồn và cũng không có nhân cách. Nhưng phải công nhận là họ có một ý chí cao độ, nhưng tự tôn tự đại, một loại anh hùng tính đến khó tả được và không cần biết gì đến thế giới bên ngoài, nhất là dư luận..

Một mặt, nguyên tắc “chỉ huy tập thể” của cộng sản Hà Nội trong mọi hoạt động, như một con quái vật lạnh lùng từ đầu đến chân, theo công thức của Clausewictz chế ngự ba mặt trận ngoại giao, chánh trị và quân sự.

Mặt khác, ở Sài Gòn, người ta nhận thấy sự hỗn tạp của một chế độ mất quân bình, mồ côi.. ở đó những nhân vật chủ chốt đôi khi cảm động vì vô ý thức, nên thường bị rơi vào vô số cạm bẫy của những mưu mô chánh trị hay xảo thuật hành văn trong các văn bản hành chánh của nền dân chủ Hoa Kỳ.

Người ta ngạc nhiên với những sự tiết lộ của một số phiên họp lúc nào cũng mật kín của hệ thống dân sự hay quân sự của Hà Nội. Những cuộc thảo luận, những quyết nghị, những bất đồng… đều do tác giả cộng sản tiết lộ, nhất là từ các tướng lãnh Bắc Việt như Văn tiến Dũng và Trần văn Trà. Khi họ gở được “cái lưỡi cây” ra khỏi miệng thì tha hồ mà họ ăn nói, đôi khi cũng rất thành thật và còn khôi hài nữa, ít nhất là trước quần chúng hay trong các tác phẩm được họ viết và xuất bản.

Những người cộng sản Việt Nam đang làm việc tại Hà Nội hoặc ở các tòa đại sứ, cũng giúp cho tôi tin tức. Tôi thường nói rõ các “nguồn tin” mà tôi có được. Một số “nguồn tin” muốn tôi dấu tên giùm họ, vì họ sợ gia đình của họ bị trả thù, trong số này có vài người Ba Lan, người Mỹ và người Pháp và những người khác cũng vậy: thận trọng, khiêm nhường, thích dấu tên vì an toàn nghề nghiệp ….

Về tên tuổi, dù muốn tránh bị đụng chạm theo phong tục của người Á Đông, tôi cũng cố gắng để không quá cứng ngắt. Chúng tôi nói Thiệu, Minh Dương, Phạm văn Đồng, Hồ chí Minh. Theo người Việt Nam nếu viết trọn thì tên là chữ sau cùng: Thiệu, Minh, Đồng đều là tên. Khi người ta nói Thiệu thì cũng như người ta viết Charles để nói về tướng De Gaulle, hoặc Margaret là để chỉ cho bà Margaret Thatcher.

Một khó khăn nữa cho mắt và tai của người Á Đông: ở Việt Nam Họ và Tên không có nhiều. Ở chỗ này người ta gặp ông Nguyễn cao Kỳ, tư lệnh không quân Miền Nam Việt Nam, ở chỗ khác một anh Nguyễn Kỳ, tù nhân chánh trị ở Miền Bắc . Do đó tôi chỉ dùng tên cho độc giả dễ xem. Khi một nhân vật xuất hiện lần đầu tiên tôi dùng nguyên tên họ như : Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, sau đó tôi chỉ dùng tên:Viên. Độc giả Việt Nam cũng hiểu là tôi không biết dùng 5 dấu trong tiếng Việt, nếu dùng thì chỉ làm trò cười thôi.

Một mong ước: xin độc giả của quyển sách này, dù đứng ở phía hữu hay phía tả, hay ở bất cứ phía nào khác, nếu được hỏi về thái độ, về quan điểm của ngày hôm qua hay của ngày hôm nay đối với Việt Nam, xin đừng có thái độ gần như muốn quên lãng. Trừ trường hợp khi một chiếc thuyền chở đầy người vượt biển tìm gặp được một hải cảng hay một chiếc tàu nào đó, chịu nhận cưu mang những người khách đáng khâm phục này. Ai có thể đánh giá trước một lương tâm hoàn toàn tốt ? Khi đọc lại một vài bài trong các báo bảo thủ năm 1975 chính tác giả cũng phải sửng sờ. Người ta gặp những người chống Mỹ khắp nơi.

Đối với cuộc chiến ở Tây ban Nha, Malraux đã viết là cộng sản ủng hộ người cộng sản và phát xít ủng hộ tướng phát xít Franco, nhưng những thể chế dân chủ không giúp gì cho những người dân chủ hết. Những người dân chủ ở châu Âu quên những người dân chủ ở Việt Nam. Người ta không bao giờ thấy có phát xít ở Nam Việt Nam. Người phương Tây không có gì khác hơn trong đầu họ ngoài những hình ảnh của người Âu Châu . không có hình ảnh nào về chánh phủ dân chủ nửa vời của Sài Gòn. Sự kiện Sài Gòn bị thất thủ không hẳn là một bài học mẫu nhưng vẫn là một tấm gương sáng cho mọi người!

Olivier Todd

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

4. Lời giới thiệu của nhà xuất bản và tác giả Olivier Todd

30 tháng 4 năm 1975: Một ngày lịch sử đen tối của thế kỷ 20 , một ngày không bao giờ quên được đối với tất cả đồng bào Miền Nam Việt Nam. Ngày đó “quân đội nhân dân” Miền Bắc của chánh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (bộ đội Bắc Việt) tiến vào Sai Gon. Ngày đó coi như cuộc chiến 30 năm chấm dứt, một cuộc chiến dai dẳng mà cộng sản Việt Nam theo đuổi bằng mọi giá, ….. dưới chiêu bài “đánh Pháp giành độc lập”, và “chống Mỹ cứu nước” nhằm đuổi họ ra khỏi bán đảo Đông Dương .. bất chấp sự chết chóc, đau thương thống khổ của người dân Việt, để cuối cùng dâng trọn đất nước Việt Nam cho Liên Xô, một pháo đài trung ương của vùng Đông Nam Châu Á …

Ba tháng cuối cùng của tấn bi kịch lịch sử hiện đại nầy được tác giả Olivier Todd tường thuật đầy đủ một cách sống động và độc giả sẽ nhận diện được từng nhân vật bị lôi cuốn hằng ngày theo biến cố nầy, và từng sự việc có liên quan đến tình hình chánh trị quốc gia và quốc tế.

Ông Olivier Todd, sanh năm 1929 tốt nghiệp đại học Sorbonne (Pháp) và Cambridge, Belligue (Anh) là cộng sự viên của đài BBC, của tuần báo Times, Newsweek (Mỹ), là một phóng viên của tờ Nouvel Observateur (Pháp), là tổng biên tập viên của tờ l’Express (Pháp) và là tác giả của nhiều tiểu thuyết có giá trị như: “L’année du crabe” (Năm con cua) hay “Les canards de Ca Mau” (Vịt Cà Mau) v.v.. Ông là một sử gia hiện đại, một trong rất ít nhà báo Tây Phương may mắn theo dõi sát được cuộc chiến từ Hà Nội, Saigon đến vùng bưng biền của Việt Cộng. Rất quen thuộc Việt Nam và nhiều thủ đô của các quốc gia khác ông sẽ đưa độc giả đến các chiến trường sôi động như Phước Long, Kontum, Pleiku, Hué, Đà Nẵng, từ các vùng ngoại ô đến trung tâm Saigon, Washington, Moscou và Paris. .. đến gặp tất cả những nhân vật sống, đang hoạt động lúc bấy giờ, từ Nguyễn văn Thiệu đến Gerald Ford, Kissinger, Võ nguyên Giáp, Phạm văn Đồng, Dương văn Minh v.v… , từ các chiến binh đến những nạn nhân đau khổ của chiến cuộc… Và cuối cùng đến thảm trạng ngày 30/4/75…

Do đó “Tháng Tư Nghiệt Ngã” sẽ được xem như một bản tường thuật đầy đủ và chính xác nhất về những ngày khủng khiếp dẫn tới ngày 30/4/75, ngày báo hiệu cho một màn đêm dài vô tận và còn khủng khiếp hơn nữa cho dân tộc Việt Nam.

Nhà xuất bản Robert Laffont – Paris

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

Cứ mỗi dịp tháng 4 về mỗi năm lại nhắc đến toàn dân miền Nam dù sống trên quê nhà hoặc lưu vong nơi hải ngoại vết thương lòng trong tâm khảm không thể nào quên được ngày đau buồn cuối tháng 4, cái tang chung cho cả dân quân miền Nam.

Lẽ ra tôi sẽ đưa tiếp quyển sách này sau khi xong loạt bài của quyển Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên, nhưng vì đây là đúng vào tháng 4 và đúng là tháng tư nghiệt ngã, xin chia sẽ với bạn đọc quyển sách viết bởi Olivier Todd dịch thuật bởi Dương Hiếu Nghĩa. Xin trân trọng cám ơn tác giả và dịch giả.

Lời giới thiệu của người dịch

Đối với người dân Miền Nam Việt Nam, ngày 30/4 là một ngày dài, bi thảm! Tuy quân dân Miền Nam đã chiến đấu rất anh dũng để bảo vệ đất nước đến giờ phút cuối cùng, nhưng hầu hết Quân Dân Cán Chính Miền Nam vẫn chưa hiểu được.

Tại sao TA mất nước?

Dĩ nhiên phải có những nguyên nhân xa, nguyên nhân gần với những hậu quả chánh trị và quân sự của nó, phải có những lý do chủ quan và khách quan dẫn tới ngày 30/4/75.

Cho dù may mắn chạy thoát được nanh vuốt của bọn quỷ đỏ trước hay sau ngày bộ đội Miền Bắc dùng chiến xa T.54 của Liên Xô ủi sập hai chữ “Độc Lập” của Miền Nam Việt Nam , hay không may mắn hơn phải bị cộng sản lùa đi lao động khổ sai hằng chục năm dài đau khổ từ biên giới Trung Quốc đến mũi Cà Mau, gần như hầu hết quân dân cán chính chúng ta sau giây phút bàng hoàng ngơ ngác chiếu ngày 30/4 với sự có mặt của anh bộ đội Miền Bắc ngay tại Sài Gòn, tất cả đều đã giải đoán sai hết về câu hỏi

Tại sao chúng TA mất nước?

Có hơn “một ngàn lẻ một” câu trả lời: “Tại, Bị, Song le, Vì bởi, Lẽ ra “ … v.v. và v.v.. nhưng tôi nghĩ là chúng ta mỗi người ở mỗi vị trí khác nhau, như người mù chỉ được người ta cho sờ có mỗi một bộ phận nào đó của con voi thôi thì làm sao người đó tả lại đúng hình dáng và kích thước của con voi được?

Do đó lần lượt chúng tôi xin được giới thiệu với độc giả một vài tác phẩm mà hôm nay là quyển “Tháng Tư Nghiệt Ngã” (nguyên tác: “CRUEL AVRIL”) của tác giả người Pháp: Olivier Todd.

Tác phẩm này được xuất bản vào tháng 11 năm 1987 tại Pháp.

Tác giả là một phóng viên, một nhà báo có tên tuổi đã từng cộng tác với các tờ báo lớn ở Hoa Kỳ và Pháp, nên đã theo dõi được gần hết các biến cố chánh trị , quân sự cũng như xã hội tại hai miền Nam Bắc trong suốt cuộc chiến ở Việt Nam.

May mắn hơn ông còn có nhiều liên hệ mật thiết với các bạn đồng nghiệp Pháp, Mỹ, Liên Xô, Đông Âu, và ngay cả Việt Nam : Việt Nam Cộng Hòa, cộng sản Bác Việt và MTGPMN. Nhờ đó tác giả có cái nhìn bao quát hơn, thấy rõ hơn chúng ta mọi nguyên nhân xa gần nhất là về chánh trị và hậu quả của từng sự việc, đặc biệt theo sát được diễn biến của tình hình quân sự ở Miền Nam trong suốt thời gian 4 tháng đầu năm 1975.

Đặc biệt hơn nữa là trước 75, tuy không thuộc hẳn thành phần chống chiến tranh như Jane Fonda hay Ngô công Đức, nhưng ông có tư tưởng tự do phóng khoáng nên ít hay nhiều bị ảnh hưởng của chiến dịch tuyên truyền quy mô , dai dẳng và có hiệu quả của tập đoàn cộng sản quốc tế hỗ trợ cho cộng sản Bắc Việt , nên ông đã có một cái nhìn thiện cảm về “nền hòa bình” mà cộng sản Việt Nam đã vẽ ra và đòi hỏi để lấy đó làm chiêu bài dối gạt dư luận quốc tế về mục tiêu của cuộc chiến xâm lăng của họ, một cái nhìn khác hơn cái nhìn thực tế của chúng ta là những người trong cuộc, đã và đang ra sức chống lại làn sóng xâm lăng của cộng sản quốc tế mà CSVN chỉ là một đạo quân tiền phong. Giống như vợ chồng nữ tài tử Jane Fonda và các nhóm người “chống chiến tranh đòi hòa bình”, về sau này tác giả may mắn thấy được thế nào là “hòa bình” kiểu xã hội chủ nghĩa qua sự thật trần truồng được phơi bày rõ ràng trước cả thế giới, từ thái độ đến hành động của cộng sản đối với người dân Miền Nam Việt Nam trong hơn một thập niên sau khi Sai Gon thất thủ năm 1975, ông chợt nhận ra sự thật phũ phàng, tuy có hơi muộn.

Từ đó ông có một lăng kính khác hẳn với quyển “Cruel Avril” mà chúng tôi tạm dịch là “Tháng Tư Ngiệt Ngã” xuất bản năm 1987, ông thấy rõ nguyên nhân sâu xa và thầm kín của cuộc chiến xăm lăng bạo tàn do cộng sản tạo dựng ra ở Việt Nam, thấy được hậu trường chánh trị của cả phe cộng sản từ Chánh Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Miền Bắc đến công cụ tay sai của họ là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và cái gọi là Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Nhờ đó ông cũng đã thấy được nổ lực chống cộng sản và chánh nghĩa sáng ngời của quân dân cán chính Miền Nam …. nên quyển sách này rất có giá trị về mặt lịch sử, một lịch sử suốt chiều dài của hậu bán thế kỷ 20 mà cộng sản Bắc Việt đang cố ra sức bẻ cong, viết theo chìu hướng “yêu nước” và “anh hùng dân tộc” của họ, hầu che đậy kỹ và chạy tội với hậu thế hành động bán nước hại dân, làm tay sai cho đệ tam quốc tế cộng sản . …..

Chúng tôi xin chân thành giới thiệu tác phẩm này với các bạn “yêu nước mà không yêu xã hội chủ nghĩa” ở hải ngoại cũng như ở trong nước, nhất là đồng bào ở Miền Nam Việt Nam của chúng ta, để trả lờì cho hằng ngàn thắc mắc có khi đến giờ này vẫn không hiểu “Tại sao ta mất nước”. Văn của tác giả Olivier Todd là lối văn phóng sự của một nhà báo và đôi khi của một nhà bình luận chánh trị, nên có nhiều đoạn chúng tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới nắm được ý chính của tác giả. Dù vậy, chúng tôi cũng cố gắng với số vốn nghèo nàn về Pháp văn của mình trong công tác chuyển ngữ, vừa giúp độc giả thấy được và nắm được từng sự việc, sự kiện lịch sử để giải tỏa thắc mắc của mình, nếu có, vừa ghi lại những sự kiện chánh trị cũng như quân sự có liên quan đến lich sử trước và trong ngày mất Miền Nam Việt Nam 30/4/1975, cốt không để cho cộng sản Việt Nam bóp méo được lịch sử theo ý đồ bất chính đến ma giáo của họ.

Chúng tôi xin chân thành đón nhận tất cả những ý kiến xây dựng và sửa chữa của quý độc giả xa gần để bản dịch ngày càng chính xác hơn, trước khi xuất bản.

Người dịch: Dương hiếu Nghĩa

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

14. Chương Mười Ba
Quốc Hội Hoa Kỳ Bàn Cãi Về Ngân Khoản,
Trong Lúc Người Dân Miền Nam Lo Chôn Con Mình

Ngày hôm qua 16 tháng 4, ngỏ lời cùng Hiệp Hội các Chủ Báo Hoa Kỳ với tư cách là vị khách danh dự, Tổng Thống Gerald Ford tuyên bố là “sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam là không sao tránh khỏi được” Ông đã xác nhận:
“Theo các điều khoản của Hiệp Định được ký kết tại Paris ngày 27 tháng giêng 1973, trong khuôn khổ một sự thỏa thuận với Miền Nam Việt Nam , Hoa Kỳ đã cam kết cung cấp chiến cụ thay thế và ngân khoản viện trợ kinh tế cho họ. Tôi nghĩ rằng Liên Xô và Cộng Hòa Nhân DânTrung Hoa cũng đã có những cam kết tương tự như thế đối với Miền Bắc Việt Nam. Những cam kết nầy hình như đã được thực hiện. Điều bất hạnh là về phần cam kết của chúng ta, Hoa Kỳ đã không thực hiện được những lời hứa của mình. Nếu chúng ta thực hiện đúng lời hứa thì Miền Nam Việt Nam không gặp cơn khủng khoảng quá bi thảm như hôm nay. Tôi nghĩ rằng trong trường hợp đặc biệt đó, chúng ta không thể trách Liên Xô hay Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc được. Nếu chúng ta giữ đúng lời cam kết với đồng minh của chúng ta thì thảm trạng nầy tôi tưởng là có thể tránh khỏi được.”
Từ hai ngày nay, ông Kissinger và ông Schesinger, tổng trưởng ngoại giao và quốc phòng đã cùng với tướng Weyand, tham mưu trưởng quân đội Hoa Kỳ sau chuyến đi thanh sát Việt Nam trở về, đã phải tranh đấu “một trận cuối cùng về ngân khoản viện trợ” với Quốc Hội . Họ đã nhấn mạnh đến sự cần thiết để chấp thuận 722 triệu mỹ kim mà Tổng Thống đã xin, như là một “ngân khoản tối thiểu rất cần thiết cho cuộc phòng thủ Miền Nam Việt Nam “. trong đó 326 triệu để tái trang bị cho 4 sư đoàn , để tập họp các đơn vị lại và tái trang bị cho họ, phần còn lại sẽ cung cấp cơ phận thay thế và dụng cụ y khoa và thuốc men để có thể “hổ trợ được cho 60 ngày tác chiến mãnh liệt”
Ông Kissinger đã nói tới trách nhiệm tinh thần tuyệt đối là phải nâng đở một đồng minh đang trong cơn nguy kịch . Vừa làm giảm nhẹ những khuyến cáo từ trước của ông, Kissinger vừa nhấn mạnh là nếu Quốc Hội từ chối không bỏ phiếu thuận cho ngân khoản viện trợ đòi hỏi thì “niềm tin và danh dự của Hoa Kỳ dù không bị sụp đổ thì cũng sẽ bị giảm đi”. “Nếu hai bên muốn tiến tới một sự thương thuyết với nhau thì ít nhất tình hình quân sự phải được ổn định, và nếu không có được sự ổn định tiên quyết đó , thì chỉ có một khả năng thương lượng duy nhất mà thôi, đó là sự thương lượng để đầu hàng!”
Sau khi họp kín, tiểu ban ngoại giao Thượng Viện đã thỏa thuận trên nguyên tắc “chấp thuận một ngân khoản khẩn cấp” là 200 triệu mỹ kim dành để di tản trong vòng trật tự những công dân Hoa Kỳ ở Sài Gòn và “vài người Việt Nam ” có thể bị đe dọa đặc biệt đến tánh mạng.
Trong lúc các cuộc bàn cãi đó tiếp tục một cách tế nhị ở Hoa Thạnh Đốn , thì trận chiến vẫn tiếp diễn ở chung quanh Xuân Lộc, và hiện đang mở rộng ra trên 100 cây số về hướng Đông và hướng Nam của thủ đô Sài Gòn . Các khu trục phóng pháo cơ thuộc căn cứ Biên Hòa cứ bay lên và đáp xuống theo nhịp độ từng 2 chiếc một, cách nhau mỗi 3 phút một. Cứ phải có 3 phi công ứng trực để tuần tự thay phiên nhau trong 6 giờ cho mỗi chiếc khu trục.
Phía cộng sản họ có một lực lượng đại bác phòng không rất hùng hậu cơ động bằng xe kéo. Các phi công phải nhận lấy nhiều sự nguy hiểm không lường được để yểm trợ cho các đơn vị bạn dưới đất, như trong khu vực Bình Giã (cách Sài Gòn 120 cây số về phía Đông Nam) binh sĩ đang đánh xáp lá cà với địch. Chỉ trong vòng 2 ngày pháo binh Bắc Việt đã rót 8000 quả đại bác xuống các vị trí của sư đoàn 18 bộ binh. Liên lạc truyền tin với Bộ chỉ huy của tướng Đảo, người có trách nhiệm mặt trận Xuân Lộc bị mất đi và sau đó được thiết lập lại được . Binh sĩ của ông bám lấy trận địa, chống cự hết sức mãnh liệt gần như điên cuồng, và không để mất một tấc đất nào mặc cho lửa đạn như bão táp liên tục được trút xuống vị trí của họ.
Sáng nay, tôi rời khỏi thủ đô và đã qua cầu Bình Lợi với một tóan 10 vị bác sỉ, do một người bạn của tôi hướng dẫn, bác sĩ Triễn. Ông bác sĩ 60 tuổi nầy là một người công giáo thuần thành, đã có 11 đứa con, có một đức tin và một tinh thần từ thiện không hề suy giảm, người ta thường gọi ông là “bác sĩ của người nghèo” vì ông từ chối không nhận một thù lao nào từ những người nghèo khổ mà ông thường chăm sóc mỗi ngày .
Qua cầu rồi chúng tôi đi theo xa lộ Đại Hàn, và đi khoảng 10 cây số thì đến một bìa làng Tam Bình, một đồn điền cao su chừng 30 mẫu có bóng râm, nơi đó có trên 20 ngàn dân lánh nạn đang ở đó: một đám người nghèo, khổ, ốm gầy, áo quần tơi tả, đi chân đất, toàn là đàn bà, trẻ con và người già. Hầu hết đều không có gì cả, có khi nằm ngay dưới đất, có người thì che tạm lều bằng một vài mảnh ván thùng, hay giấy bồi. Họ đến đây từ 10 tỉnh khác nhau, có nhiều người từ Quãng Trị và Huế, phải đi bộ trên 600 cây số mới đến được bờ biển rồi chen chúc nhau trên những chiếc thuyền đưa họ tới bến tàu ở Sài Gòn rồi từ đó nhờ những anh em công giáo đưa họ đến đồn điền cao su nầy, nơi đây ít nhất họ cũng tránh được hỏa tiễn và đạn pháo binh của Bắc Việt được trong vài ngày.
Các bác sĩ sấp xếp chỗ làm việc ở ngay bìa đồn điền, trống trải, để săn sóc cho các bệnh nhân. Hơn 800 người bệnh (rét rừng, sưng phổi, .. .) ngồi bẹp dưới đất yên lặng chờ đến phiên mình được khám. Trẻ con thì mình đầy ghẻ, mắt thì sưng húp lên vì nhặm, vì toét, hay run lên cầm cập vì rét rừng. Có nhiều bà bị thương và không được thay băng trong 3 ngày nay, nên vết thương hôi thúi không chịu được nhưng không nghe người nào than vãn một câu.
Một vị linh mục mặc áo chùng, vậm vỡ, đầu húi ngắn tới đây bằng mô tô. Vừa xuống xe là cả đám đông vây quanh ông, chào ông và lễ ông nữa. Đó là cha Joachim Châu, ở ngay họ đạo gần nhà thờ Đức Mẹ Fatima. Ông đi dài trên đường dọc theo các hàng cao su , và tôi đi theo ông . Ông nói với tôi:
– “Tình hình có vẻ khả quan hơn đôi chút rồi. Binh sĩ thuộc sư đoàn 5 bộ binh đã cho tôi 200 tấm lều cá nhân, và cho tôi mượn 3 xe bồn chứa nước.. Tôi lấy được của anh em thiết giáp 100 kí lô xà phòng và 200 cái thau nhựa của Mỹ. Phần các bác sĩ thì mang theo 500 kí thuốc men, nhưng chắc không đủ đâu, Ở đây đã có nhiều trường hỡp bệnh thiên thời và chúng tôi hết thuốc chủng ngừa rồi. Từ khi Nha Trang bị thất thủ, viện Pasteur ở thành phố đó không cung cấp được gì cho mình hết, và viện Pasteur ở Sài Gòn thì không thể cung ứng nổi nhu cầu đòi hỏi. Mỗi đêm, đã có từ 10 đến 12 đứa trẻ chết. Riêng tôi thì đang chờ đoàn xe chở gạo đến: ba chiếc ghe chài loại 10 tấn, có thể đủ để nuôi những người khốn khổ nầy trong 2 ngày.”
Ngay sát bên mấy lều đầu, khoảng 20 ông già cởi trần trùng trục lòi xương ra, đang dùng cuốc cặm cụi đào đất. Trước mấy hố vừa đào đó có hai hàng dài thây trẻ nít được quấn chiếu hay bọc ny lông trong suốt , đó là 13 đứa vừa chết đêm qua.
Ngồi trước thây của con mình, mấy bà mẹ đờ đẫn và im lặng không còn sức đâu mà khóc được nữa. Tôi đứng lặng người tại chỗ, không sao có được một cử động nào. Nói gì bây giờ đây? và làm gì bây giờ đây? Phải có một sức bật nào đó của cả thế giới để bốc tất cả những người nầy ra khỏi cảnh nghèo đói, sợ sệt và chết chóc ! Một ông già mặt mày nhăn nheo tiến đến gần tôi và nức nở nói với tôi:
-“Ông là một nhà báo Pháp phải không ? Ông hãy viết trên báo của ông là hãy giúp chúng tôi cứu những đứa trẻ nầy, chúng nó vô tội mà. Phải cho chùng nó một cơ hội để sống sót.. Còn chúng tôi hả, chúng tôi có thể chết, chúng tôi đã chịu quá nhiều thử thách rồi, quá nhiều điều khủng khiếp rồi, quá nhiều tang tóc rồi, nhưng chúng nó, chúng nó chỉ mới bắt đầu thấy ánh sáng, chúng nó còn quá yếu đuối. . . .Chúng tôi không còn sữa cho chúng nó nữa. Hằng ngày chúng tôi chỉ có thể cho chúng nó mỗi một chén cơm . Rồi đây trong vài ngày nữa, khi những cơn bão đầu tiên của mùa mưa ập xuống thì chúng sẽ nằm dưới bùn.Muỗi mòng sẽ hoành hành và con số tử vong sẽ tăng lên gấp 4 lần ! Tôi van ông, ông ơi, ông hãy làm một cái gì đi!”
Tôi lấp bấp một vài lời hứa. Cổ họng tôi co thắt lại, và tôi không có can đảm nhìn thẳng vào cặp mắt trang nghiêm chững chạc nhưng đầy vẻ thất vọng của ông già nầy.
Nếu chiến trận đến gần chỗ nầy, nếu đạn pháo hay rốc kết lại bắt đầu rơi xuống đây, xuống cái trại tạm coi là còn có cơ may cuối cùng nầy, thì những người khốn khổ kia sẽ đi đâu ? trong lúc họ gần như không còn sức để lê bước nữa ?Linh mục Joachim Châu đã có dựng tạm một bàn thờ trên một cái bàn khập khiễng, đặt bộ đồ làm lễ bằng bạc lên tấm trải vá víu, rồi mặc lại bộ đồ giáo sĩ của ông, xong đâu đó ông bắt đầu làm lễ trên một vùng đất rộng đầy cỏ khô cằn. Rất thong thả và trong vòng trật tự, hàng ngàn tín đồ chạy loạn quỳ xuống thành một vòng chung quanh bàn thờ và lớn tiếng cùng cầu nguyện. Tất cả cùng nắm chặt tay nhau họ làm thành một sợi giây thiêng tôn kính, gắn chặt với nhau bằng sự nghèo khó khổ sở mà họ đang chia sớt với nhau. Từ những tín đồ công giáo rách tả tơi nầy, kết giây thân ái chặt chẽ với nhau trên mảnh đất khô cằn sỏi cát nầy, tôi thấy toát ra một cảm tưởng thật lạ kỳ đầy phẩm cách, đầy ước vọng làm cho người ta phải kính nể. Bị người đời và cả Chánh Phủ bỏ rơi, lạc loài lánh nạn trong một mảnh đất nhỏ bé đầy lùm bụi bị lãng quên, không ai biết tới nầy, xa đường, xa lộ, vắng vẻ không ai lui tới nầy, trong một giai đoạn chạy loạn mà không ai còn một món gì trong tay, họ chỉ còn biết giao số phận mình cho Chúa một cách mù quáng. Nhưng Chúa có còn nghe họ hay không đây?

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

(Vietnam, Qu’As Tu Fait De Tes Fils?)

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

13. Chương Mười Hai

Với Người Pháp Lớn Tuổi Ở Sài Gòn

Thứ Tư, ngày 16 tháng Tư

Bất chấp tử thần có thể ập tới bất cứ lúc nào, nhất là hành động do đức tin, từ nóc cao của nhà thờ Sai Gòn vọng lên những tiếng hát trầm bổng bằng tiếng la tinh. Bàn thờ Chúa chưng đầy hoa và được trải một tấm lụa sáng rực rỡ. Hàng ngàn tín đồ công giáo đang dự lễ tấn phong của 25 linh mục đại diện cho các địa phận trong nước.
Khi buổi lễ chấm dứt, tất cả tín đồ hiện diện nắm tay nhau chúc bình an và cầu nguyện cho tất cả các Giám mục, các Linh mục và các tín hữu tự nguyện ở lại nhiệm sở của họ trên lãnh thổ bị chiếm để chia xẻ thử thách của mọi anh chị em cả lương lẫn giáo.
Sau đó cả 25 vị linh mục vừa được tấn phong được cho mặc thêm một chiếc áo choàng trắng có thêu một chữ thập bằng sa ten đỏ, nắm tay nhau bước ra ngoài, người nào cũng có thân nhân và bè bạn mặc lễ phục tươm tất đi kèm. Đám đông thân bằng quyến thuộc nầy từ hàng trăm giáo xứ đến đây cùng nhau qui tụ dưới chân tượng đài Đức Mẹ Đồng Trinh nổi bật cao lên giữa công viên Nhà Thờ.Các linh mục với áo dòng đen và nón đen, các tu sĩ với áo chùng vải thô, các bà nữ tu sĩ, các anh em hướng đạo sinh, các nông dân tay lấm chân bùn nhưng vẫn mặc áo dài có mang huy hiệu Trái Tim của Chúa, các cô thiếu nữ với áo dài nhẹ nhàng, các bô lão với khăn đóng áo dài, các binh sĩ với quân phục rằn ri, chào nhau, ôm nhau kêu gọi nhau và kể cho nhau nghe về tin tức của những người bị cộng sản bắt đi làm tù binh hay những người bị coi là thất lạc trong cơn lốc loạn ly nầy.
Họ ở đó hàng mấy giờ, cười đùa chuyện trò, chiếm hết các lề đường, làm tắt nghẽn lưu thông và sau đó, vào khoảng 12 giờ trưa, theo một dấu hiệu của các linh mục, đám đông kỳ lạ và bất thường nầy, kể cả các chánh trị gia và thương gia, xem chừng như đã sung sướng và hảnh diện được biểu lộ đức tin của mình ngay giữa trung tâm của thành phố kinh doanh nầy, mới chịu giải tán hết trong vòng vài phút, mạnh ai nấy chạy về xe của mình , những chiếc xe vận tải hay xe buýt đã đưa họ tận đây, từ các đồng ruộng và làng mạc của họ. Mỗi xe khi ra khỏi bãi đậu đều được một linh mục cởi mô tô hướng dẫn mở đường. Và nửa giờ sau đó là tất cả không còn một người công giáo nào ở đó nữa.
Trung tâm thành phố đã trở lại với những cảnh kẹt xe, xe xì cút tơ, xe tắc xi, và các xe bán hàng dạo. Sự ồn ào của các sự vận động và mậu dịch cũng đã trở lại trên đường Tự Do (Catinat) dài dài từ nhà thờ đến bờ sông . Các chuyên viên về tin tức cũng bắt đầu vui vẽ phao tin, không cần biết là đúng hay thất thiệt. Chuyện khó nhất là phải biết lọc tin đó.
– Một kho đạn ở Biên Hòa đã bị nổ, làm rung chuyễn cả thành phố: tin nầy đúng.
– Một bản tin đánh đi của UPI xác nhận đó là do sự đột kích của đặc công Việt Cộng. An ninh quân đội thì thản nhiên quả quyết đó chỉ là một tai nạn rủi ro: một tàn thuốc dụi tắt không kỹ, bén lửa qua cỏ khô gây lên một đám cháy làm nổ một kho đạn phế thải.
– Ông Thiệu đã nhờ công ty Balair chở 16 tấn vàng thỏi, số vàng dự trữ của Ngân Hàng Quốc Gia sang Thụy Sỹ. Ông Lý long Thân, một người Tầu giàu có, cố vấn tài chánh của Tổng Thống V NCH đã bán cho một tổ hợp Nhật bản một khối đồng của Chánh Phủ trị giá 300 triệu mỹ kim : tin thất thiệt. Vàng vẫn còn trong hầm của Ngân Hàng (Giám Đốc Ngân Hàng từ chối không ký lệnh xuất kho), và không một phi cơ thương mại nào có thể chở đi 16 tấn vàng một lần một mà không vở sàn kho chứa hàng của phi cơ.
– Ở Việt Nam vẫn còn 2 tỷ mỹ kim “sắt vụn” do quân đội Hoa Kỳ bỏ lại lúc họ rời khỏi Việt Nam. Chánh Phủ Sài Gòn đang thương lưộng với một công ty lớn ở Hoa Kỳ định mua với giá 1 tỷ mỹ kim. Chuyện mua bán nầy chưa ngã ngũ.
– Những người Mỹ ở khách sạn Brinks, gần trụ sở Quốc Hội đã rút đi êm trong đêm tối trên 3 xe vận tải được cảnh sát Miền Nam họ tống : tin nầy rất khó kiểm. Không ai có quyền di chuyển vì có lệnh thiết quân luật từ 9 giờ tối đến 6 giờ sáng. Một điều chắc chắn là: tòa đại sứ Hoa Kỳ đã báo cho tất cả các kiều dân Mỹ trong lãnh vực tư và những người làm việc cho Phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ (D.A.O.) có trách nhiệm về tiếp vận quân sự , trừ những người làm việc cho ngành Y dược và tiếp tế lương thực, là phải sẳn sàng rời Việt Nam trong vòng 30 ngày sắp tới.
– Tất cả những chuyến bay quốc tế đều ngưng vì biện pháp an ninh : Tin không đúng, chỉ có các phi công thuộc hãng Cathay Pacific đang đình công. Họ đòi hỏi phải có một số tiền thưởng về nguy hiểm khi phải đáp xuống Sài Gòn . Các hãng hàng không khác đều bảo đảm giữ nguyên các chuyến bay.
Tiếng đại bác nghe cách thủ đô chừng vài chục cây số. Sự uy hiếp từ phía cộng sản Bắc Việt mỗi ngày mỗi đến gần hơn, nhưng khối lượng lớn dân Sài Gòn cố gắng giữ bình tĩnh.
Các viên chức hành chánh làm việc bình thường. Các chợ búa đều được tiếp tế đều đặn . Đồng mỹ kim còn đổi được 1000 đồng bạc. Người dân vẫn còn đi lại với những xe ba bánh nặng trĩu, xe tắc xi vẫn vét túi hành khách, xe kéo xe lôi lại thấy tái xuất hiện.
Ở Chợ Lớn, thương buôn không thấy hốt hoảng. Dự kiến cho một cuộc tấn công có thể bị cúp điện, họ đã tìm mua hết nến để dự trữ, để có thể bán lại với giá cao gấp ba lần. Dự trù trường hợp cộng sản vào được thủ đô, họ cũng đã vét mua hết tất cả vải đỏ. Họ biết rằng ở những thành phố bị cộng sản chiếm ở Miền Trung, dân chúng được lệnh phải treo cờ Hà Nội và M TGP MN trước nhà. Họ đã tính toán rất kỹ. Bốn triệu lá cờ cộng sản phải cung cấp cho người dân trong vòng 48 tiếng đồng hồ : ba tỷ đồng bạc lời, một áp phe không thể bỏ qua được!
Những người Pháp cố cựu gồm các thầu khoán, kỹ thuật gia, giám đốc xí nghiệp, các nhà trồng tỉa… gặp lại nhau ở tiệm Impérial, của Bonelli (50 năm ở Đông Dương.) hay ở quán cà phê mát mẻ của “papa” Charbonnier, ở cảng, một cựu tỉnh trưởng chuyển sang nghề bán cà phê, và dưới bức tranh của ông lãnh sự đầu tiên Dominique, một người dân thuộc đảo Corse vô cùng vui vẻ, đã phục vụ khách từ 27 năm món súp thập cẩm tôm cá biển ngon nhất Sài Gòn và rượu chát quí hiếm Cinarca .
Người ta thấy có những anh cựu quân nhân của đội quân viễn chinh, những người đã sống sót qua bao nhiêu biến cố. Họ đến từ những tỉnh xa xôi của vùng Đồng bằng, hay từ những đồn điền nho nhỏ ở ven biên của chiến trường. Rất mạnh khỏe, rạm nắng, nhưng kín đáo, họ biết tất cả mà nói thật ít và giữ im lặng khi có người lạ xuất hiện.
Tôi đã gặp được ở đây nhiều bạn cũ :
Moulin, một cựu sĩ quan Dù. Chúng tôi đã cùng được huấn luyện về biệt kích, ở Ấn Độ năm 1945. Đồn điền của anh bị Việt Cộng chiếm.
Nasica, con của một anh hùng kháng chiến bị Đức xử bắn năm 1944, có một tượng kỷ niệm trước khi vào thị xã d’Arnay-le-duc. Anh là một cựu kháng chiến quân người Ý, kỹ sư nhiệt lượng, và chuyên viên đóng tàu chuyên chở đường sông. Xí nghiệp cùa anh còn chưa gặp khó khăn nào.
Roger Routin, một binh sĩ gốc Tunisie, râu xồm nhưng rất có tình huynh đệ. Anh là một phi công dân sự giỏi nhất của Miền Nam. Với chiếc phi cơ nhỏ của anh, anh đã lái đi “nhặt” hết người Pháp ở Dalat và Nha Trang dưới lằn đạn của cộng sản.
Le Gall, chín con, vợ là Lucienne. Mặc dầu đông con nhưng anh đã xây cất một viện mồ côi để nuôi trẻ và mang từ mặt trận về đây được hơn hai mươi đứa.
Tino Agopian, một người trên sáu mươi tuổi người nhỏ thó rất tao nhã, luôn luôn ăn mặc rất kẻng, kỵ sĩ lão thành và đáng tin cậy của các trường đua.
Cũng cần phải nói qua về những người truyền giáo và các mục sư, đuối sức nhưng không mệt mỏi, đã biến những viện tế bần thành những trung tâm xã hội . Tặng phẩm cứ dồn dập được gởi tới và xe nầy đến xe khác đầy thuốc men được chở đến các trại dân lánh nạn.
Câu lạc bộ thể thao, với hồ tắm nổi, đầy đủ tiêu chuẩn tranh tài quốc tế, với những dàn hoa vạn lý, với những sân tơ nít, và nhà thể thao đa dụng, những phòng đánh kiếm và sân tập võ thuật và một vòng đua chạy bộ . . . . đó là ốc đảo cuối cùng của “xã hội” người Pháp ở Sài Gòn. Được một hàng me to và hàng rào xanh bao quanh, đây là một câu lạc bộ hạng sang và lịch sự, ở đó những máy điều hòa không khí của Nhật chưa thể thay thế được các cây quạt trần già nua nhưng còn rất êm lặng và đủ tiện nghi. . Người ta còn tìm thấy phía sau các hàng hiên trong những căn phòng rộng rãi mát mẻ với những bàn ghế toàn bằng gổ nặng, những ghế dựa rộng sâu, những ông chủ ngân hàng bình thản, những nhà ngoại giao lạnh lùng, những giám đốc đồn điền, những tay vô địch bài tây (bridge), những nhà sản xuất bia da đỏ ao như gạch, một vài anh tóc dài, quần ống voi và những cô gái dịu dàng tươi trẻ. . . . .
Nhờ đi thăm người nầy đến người kia, từ một người bạn thân đến một sự giao thiệp vững chắc, tôi thu lượm được một vài tin tức đã được kiểm chứng:
Đức Giám Mục Seitz ở Kontum, 40 năm phục vụ ở Việt Nam, vẫn còn, không hề hấn gì.. Bá tước del Fante, người có biệt danh là “vua ở Cao Nguyên”, vẫn còn sống. Con người quí tộc Ý nầy, người nói được tất cả thổ ngữ của đồng bàoThượng, vừa là bạn vừa là cố vấn của tất cả các trưởng bộ lạc.. là một nhân vật rất lạ thường. Cứng rắn trong công việc nhưng khoan hồng độ lượng với mọi người làm, ông có một sức khỏe sắt đá và một tinh thần lạc quan không gì lay chuyễn nổi, và không có gì làm cho ông ta cảm xúc hết.
Ông M. Mercurio, niên trưởng của các nhà trồng tỉa, chết ở Ban mê Thuột vì một trái bom của không quân Miền Nam đã làm sập nhà ông.
Hơn 30 người Pháp trong đó có 12 giáo viên còn ở lại Dalat, vì thiếu phương tiện di tản, nhưng họ vẫn còn khỏa mạnh.
Những nhà trồng trà và cà phê (10.000 mẫu và khoàn 100 nhà khai thác đặc biệt) trãi dài giữa Blao, Djiring và Ban mê Thuột, bị bắt hay đã chạy khỏi , đều coi như bị phá sản hết. Mùa màng khá lắm, nhưng vì đường bị cắt đừt, nên tất cả đều bị kẹt lại và hư thối hết tại đồn điền. Các nhà máy ở Sài Gòn và Chợ Lớn chuyên sấy trà đen, trà xanh , và rang cà phê đều phải đóng cửa vì không có hàng dự trử. Thua lổ tính ra đến hàng trăm triệu đồng.
Bỏ qua các nhộn nhịp và ồn ào của đường Tự Do, trở lại bệnh viện Grall ở nửa đường giữa nhà thờ Đức Bà và vườn bách thảo. Với những dãy nhà xây sáng sủa có hàng hiên chung quanh và nằm dưới tàng cây to rợp bóng mát, cơ sở nầy vừa là một nơi trú ẩn vừa là một học đường. Được thành lập từ năm 1860, bệnh viện 400 giùờng nói trên trong những tuần lễ sau cùng nầy đã có con số bệnh nhân tăng lên gấp 4 lần. Toán quân y của bác sỉ tổng quát Mazeaud đã đến nhập vào với 20 bác sĩ quân y người Pháp ở đây. Ngay sau khi thảm trạng ở miền Trung bộ Việt Nam bắt đầu có tầm mức nguy kịch , thì vị cựu Giám đốc bệnh viện Grall (4 thời phục vụ ở Đông Dương, chuyên viên về các bệnh của vùng nhiệt đới) đã tình nguyện sang đây với một bác sĩ giải phẩu, một bác sĩ khoa tổng quát và một bác sĩ nhi khoa. Mười bác sĩ dân sự đã tình nguyện đến tăng cường toán quân y của ông. Và toán y sĩ nầy đi từ trại lánh nạn nầy đến trại lánh nạn khác, từ Cân Thơ đến Vũng Tàu hay ra tận đảo Phú Quốc để chăm sóc cho các thương binh và các thường dân bị thương vì chiến cuộc.

Chung quanh Sài Gòn hệ thống an ninh từ từ siết chặt lại. Các đơn vị cảnh sát đặc biệt đều mang áo giáp và đội nón sắt, trang bị hùng hậu đã đi tuần khắp các vùng ngoại ô và được lệnh bắn bất cứ người tình nghi nào mà không cần phải gọi hỏi trước.

° ° °

Chiều nay tôi nhận một lá thơ từ bên Mỹ rất đáng được chú ý. Lá thư của một người bạn của tôi, anh Dick Benham 32 tuổi, cựu phi công trực thăng võ trang thuộc lực lượng Tuần Giang (đơn vị giang thuyền). Hai lần bị thương ở Việt Nam, chuyển sang ngành giáo dục sau khi về Mỹ lấy được bằng tiến sĩ về chánh trị kinh doanh. Và đây là nội dung bức thơ:

” Anh Pierre thân mến, 1

“Tôi đã gọi điện thoại tới Paris, vợ anh đã cho tôi biết là anh đã đi Việt Nam . Bà ta cho tôi số hộp thơ của anh ở Sài Gòn (hộp thơ số 1303). Tôi hy vọng rằng mặc dầu có một “không khí hỗn loạn tại đó, nhưng bức thư của tôi cũng có cơ may đến tay anh được . Có rất nhiều người bạn Việt Nam viết thư hỏi tôi cái gì đang xảy ra ở Hoa Kỳ ? Họ không hiểu “được thái độ chống đối của Quốc Hội và tính thụ động của người đứng đầu Nhà Trắng.” Có rất nhiều lý do để Hoa Kỳ bỏ rơi nước Việt Nam, nhưng tất cả đều dính với câu “chuyện tai tiếng Watergate và chuyện bầu cử lại của dân biểu Hạ viện và 1/3 nghị sĩ “trong tháng 11 / 1974 nầy. Cuộc vận động bầu cử vào mùa thu 1974 được đánh dấu bằng một sự chán nản chung của dư luận quần chúng. Đến độ mà tất cả các kỷ lục về “không đi bầu” đều bị phá hết ! Năm chục phần trăm cử tri Mỹ đã không đi bầu. Đảng Dân Chủ đã đạt được một thắng lợi hoàn toàn áp đảo. Một vài tuần sau đó, ông Jay Lovestone từ lâu là cánh tay mặt của ông George Meany trong tổ chức Công Đoàn Lao Động, đã ước tính trong một cuộc nói chuyện riêng tư rằng trong số những người mới được bầu vào Quốc Hội đã có đến ít nhất 80 là những người còn ướt sũng đằng sau “xe” 2, có nghĩa là những trẻ con thất học 3 và vô trách nhiệm. Vả lại đó chỉ là một đánh giá còn quá thấp, bởi vì 3 tháng sau đó ( tháng 3 / 1975) trong lúc Đông Dương đang trong cơn khủng khoảng, người ta ước lượng con số của những tay “ngu dốt mới” đó đã vào được Hạ Viện Hoa Kỳ 140 đứa 4. Nhất là đặc điểm của bọn “ngu đần” nầy được thể hiện qua thái độ của con đà điểu, không cần suy nghĩ vẫn khăng khăng nhất quyết từ chối không muốn quan tâm đến tình hình của vùng Đông Nam Á Châu. Tự mãn là đã “thuộc một xã hội giàu có, bọn chúng không muốn nhìn ra ngoài những bức tường của chúng đang sống. “Chúng tôi không muốn nghe nói về Việt Nam nữa !” . Đó là câu mà “bọn chúng đã nhắc đi nhắc lại đối với những tiếng vọng từ bên ngoài. Đến khi mà phải gởi một phái đoàn dân cử đi sang Việt Nam để điều tra tình hình tại chỗ, thì người ta đã chọn những con “đà điểu” đẹp nhất. Thí dụ như James Mac Closky (đại diện cho “California), người đã từng khẳng định năm 1967 rằng không thể thắng Việt Cộng nổi; như bà Bella Abzug, một người tranh đấu cho phụ nữ và cho hòa bình đã từng nổi tiếng trong cuộc đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ. Cuộc điều tra của phái đoàn 8 người dân cử đó chỉ được tiến hành vỏn vẹn có 2 ngày và chỉ thừa nhận những thành kiến và định kiến mà họ đã có sẵn từ lâu rồi. Thái độ của những nhà lập pháp đó thật ra chỉ đưa đến một chiến dịch đầu độc rộng lớn từng được các chương trình truyền hình lớn và của báo chí như tờ New York Times, tờ Washington Post, những tập san như New York Review of books 5 (không phải đơn thuần là những tập san văn hóa mà là những phương tiện tranh đấu của những người trí thức như Mary Mac Carthy và 500 người khác với “ý nghĩ “tốt ” cùng loại như thế. Những người to đầu cầm chịch cho trò chơi, cho chiến dịch nầy “chỉ là một nhóm hạt nhân bé nhỏ, nhưng hành động của họ được sức mạnh của truyền thông báo chí Mỹ nhân lên. Một vài nhà báo mà chúng tôi cho họ một biệt danh là “kẻ cả” như James Reston, Antony Lewis, Kraft hay Broder, mà những bài viết của họ được “nghiệp đoàn hóa” (có nghĩa là được phổ biến cùng lúc do một số lượng báo chí địa phương ở các tiểu bang và như thế là có một số lớn độc giã) đã làm mất uy tín của VNCH và những nhà lãnh đạo của họ một cách có hệ thống. Chính những người nầy đã hạ ông Nixon và những người dân cử mới nầy là hình bóng của báo chí đã tạo dựng cho họ lên. Tôi tin chắc là Quốc Hội không chấp thuận ngân khoản viện trợ “

——————————–

1Trong thư bạn của tác giả toàn dùng danh từ “mầy” và “tao” vì họ là bạn chí thân, nhưng trong bản dịch chúng tôi phải dịch là “anh” và “tôi”.
2Nguyên tác bằng tiếng Mỹ “who are still wet behind the cars” (có vẽ khinh bỉ).
3Nguyên tác của tác giả: des jeunes enfants ignares.
4Nguyên tác của tác giả: “nouveaux imbéciles”. Lá thư dùng đến 2 lần danh từ “imbéciles”.
5Về tên của các tờ báo, chúng tôi không muốn dịch ra tiếng Việt, để cho các độc giả nhận diện được rõ ràng những tờ báo Mỹ đó.

Thuốc Phiện: “Trai Tráng Sĩ Cũng…”

Tuệ Chương
Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

“Trai tráng sĩ cũng so vai rụt cổ,
Gái thuyền quyên cũng mặt bủng da chì.”

Thuốc phiện, hồi xưa chỉ có một thứ, màu đen như cao dán, người nghiện lấy một chút, nướng trên “ngọn đèn dầu lạc”, rồi bỏ vào tẩu hút, đại khái như thế, tôi không rành vì tôi chưa hút thuốc phiện bao giờ.

Hút thuốc phiện thú lắm, nên trước năm 1945, đám văn nhà veo ngoài Bắc, diễn dịch mấy tiếng “phiện thú lắm” – nghĩa là hút thuốc phiện thú lắm – thành mấy chữ “phi yến thu lâm”, con chim yến bay trong rừng thu. Tôi nói cho mẹ tôi nghe chuyện nầy, mẹ tôi bảo: Bày đặt! (1)

Hút thuốc phiện gọi là “đi mây về gió”. Mẹ tôi thì thường mai mỉa “trâu bò đút vô ống”. Trâu bò, cũng như ruộng vườn, đem bán hết, đút vô ống, tức là đút vô ống tẩu. Người đã mắc vào vòng nghiện hút thì tài sản tiêu tán hết.

Trước 1945, khi tôi mới vô lớp Đồng Ấu, có nghe anh chị tôi học trong sách “Quốc Văn (hay Luân Lý?) Giáo Khoa Thư” câu ca dao:

Trai tráng sĩ cũng so vai rụt cổ,
Gái thuyền quyên cũng mặt bủng da chì.

Ấy là nói về người nghèo mắc vòng thốc phiện, chớ người giàu thì không. Mấy người Tàu ở xứ tôi, buôn bán giàu có, nhiều người hút thuốc phiện, nhưng ăn uống đầy đủ, cao lương mỹ vị, thì so vai rút cổ thế nào được.

Hồi ấy, trong nhà có bàn đèn là “mốt” chơi của người giàu đấy, không những giàu mà còn sang nữa. Ăn uống no say rồi, sang nằm bàn đèn, “kéo” mỗi người vài ba điếu là nhà giàu có sang trọng.

Anh chàng Long, nhân vật chính trong “Giông Tố” của Vũ Trọng Phụng, tự tử bằng thuốc phiện đấy. (2)

Trong “Hồi Ký Phạm Duy”, ông ta có nói cậu ông – em của mẹ – là Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc trong nhà có bàn đèn thuốc phiện để hút chơi, hay để chứng tỏ nhà sang trọng. Ông Ngọc thuộc nhóm tác giả sách “Quốc Văn Giáo Khoa Thư và Luân Lý Giáo Khoa Thư” thuộc Nha Học Chánh Đông Pháp của chính phủ Bảo Hộ. Ông Ngọc còn là đồng tác giả “Cổ Học Tinh Hoa” với ông Tử An Trần Lê Nhân nữa đấy. Người nhiện thuốc phiện mà viết sách dạy về luân lý thì có tréo cẳng ngổng không? Có lẽ thời ấy hút thuốc phiện, có bàn đèn trong nhà là người sang.

Mốt chơi nầy là do người Việt ta bắt chước người Tàu. Sa vào con đường nầy thì u mê nghiện ngập luôn. Sa vào một tôn giáo, sa vào một tín ngưỡng, sa vào chủ nghĩa… cũng tương tự như vậy. Những người tin vào chủ nghĩa Mác, sa vào chủ nghĩa Mác đều u mê như nhau, giống như người ta xuống tới âm phủ, Diêm Vương bắt ăn một chén cháo lú thì quên hết quá khứ, quen hết cha mẹ, anh em, tộc họ, tổ quốc, đồng bào. Mê muội một tôn giáo, một học thuyết – như người theo Cộng Sản, cũng là ăn cháo lú vậy.

Ông Trần Đình M,. nhà ở cạnh tôi là một tỉ dụ đau đớn. Đau đớn là do tôi cảm nhận, còn ông ta thì tôi không biết rõ. Ông nội anh ấy là một ông quan lớn cuối đời Tự Đức. Nhà vua nhiều lần giao cho ông ấy nhiều trọng trách khi thương thuyết với Pháp, lúc ấy Pháp đang xâm lăng nước ta. Thân phụ anh M. làm thông ngôn cho công sứ tỉnh “Quảng Trị tui”. Anh M. thường khoe với tôi: “Trên là quan công sứ, dưới là quan tuần vũ, giữa là ba tui.” Tôi thường có ý tưởng đen tối về chữ “giữa” ấy của anh M., nhưng thực sự thân phụ anh M. là một người quyền lực lớn lắm. Quan tuần vũ không biết tiếng Tây, nên thân phụ anh ta, thông dịch cho Tây như múa gậy vườn hoang. Quan quyền mà lại làm quan cho Tây nên nhà anh M. giàu có lắm. Vì vậy nên anh M. lo chơi hơn lo học, đọc chữ quốc ngữ không thông, không có công ăn việc làm gì cả. Vợ anh buôn bán ở chợ tỉnh, tần tảo nuôi con, nuôi chồng. Chị vốn là “người ở” nhà anh M., anh ấy “vớt” luôn làm vợ. Chị ấy không đồng ý cũng không được vì anh M. là “cậu ấm con nhà quan to nhất tỉnh”. Không làm việc gì cả nên anh M. “nhàn cư vi bất thiện”. Ban đầu thì chiều chiều anh lên chợ gặp vợ, biểu vợ đưa ít chục để anh đi uống rượu chơi. Ban đầ thì uống ít say ít, “tiến bộ” hơn nữa thì uống nhiều say nhiều. Trước thì uống rượu say rượu, sau thì anh M. đổi món ăn chơi: hút thuốc phiện say thuốc phiện. Thời Ngô Đình Diệm cấm “tứ đổ tường” thì anh M. hút ở tiệm, say ở tiệm. Tới thời Nguyễn Văn Thiệu, không còn thấy cấm “tứ đổ tường” thì anh soạn chỗ hút ở nhà, say ở nhà, có nhiều “hít tô phe” cùng đến với anh. Không chỉ người ta “say thuốc phiện” mà những con thằn lằn trong nhà anh cũng say thuốc phiện luôn. Một hôm về thăm nhà, thằng cháu lớn gọi tôi bằng chú nói với tôi: “Chú ngửi thấy gì không? Bên nhà ông M. đang hút thuốc phiện.” Tôi lắng nghe, trong không khí có mùi lạ, thơm.” Một lúc, thằng cháu lại nói: “Chú nhìn qua vách nhà ông M. coi, cả chục con thằn lằn nằm im trên vách.” Thằn lằn đang say thuốc phiện.”

Cách nay lâu lắm, tôi có đọc một póhng sự trên báo Cải Tạo / Hà Nội. Bài báo kể chuyện, – thời Quốc Trưởng, ngay Hà Thành có nhà ông quan cũ, ông con trai thích làm quan huyện ở nhà quê, khoái con gái nhà quê da thịt “săn chắc” – Nông Thị Xuân, con gái miền Sơn Cước, còn “ngon” hơn con gái nhà quê nhiều. “Bác Hồ” cũng có con mắt “tinh đời” khi chọn Nông Thị Xuân đấy. Nhà có con gái út, học hành thì nhác, mà đọc tiểu thuyết, “truyện đường rừng” thì chăm. Có hôm cô đọc một truyện kể có anh đang hút thuốc phiện, có con rắn bò đến bên cạnh, nằm im, để nghe mùi thuốc. Nghe chuyện ấy, ông nội mai mỉa: “Rắn thì ưa thịt tươi máu sốt, ưa gì mùi thuốc phiện, để nó cắn cho một phát là xong đời cho rổi. Truyện mhảm nhí.”

Anh M. có hai con trai, giống cha, chẳng học hành gì cả. Đứa lớn tới tuổi nhập ngũ, bị đưa tuốt vô Nam, không biết chữ làm sao viết thư về nhà thăm gia đình, coi như đi mất tiêu. Thằng em, mấy năm lính Mỹ đóng ở Ái Tử, lén bán cần sa, bị bắt đi tù. Hai đứa con gái, con chị có chồng đăng lính tử trận, con em làm gái. Vợ anh M. bỏ nhà đi mất, không ai rảnh hơi đi tìm giùm anh M. Thế là gia đình tan nát, lỗi tại “ả phù dung.” Mẹ tôi thường nói câu tục ngữ: “Có ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời.” Ông bà thất đức, con cháu gánh hết.”

Bày “bàn đèn thuốc phiện” để tỏ sự giàu có là do người Việt học thói người Tàu. Tức là nói người Tầu đông người, người giàu cũng đông, và “bàn đèn” cũng nhiều, “sức mua” (thuốc phiện) cũng mạnh. Người Anh thấy ngon, bèn đi mua thuốc phiện bên Ấn Độ đem bán cho người Tàu, gây nên “Chiến tranh Nha phiến”. Sử chép:

Chiến tranh Nha phiến, hay Các cuộc chiến Anh-Trung là hai cuộc chiến xảy ra giữa thế kỷ 19 (1840 – 1843 và 1856 – 1860) gây nên xung đột kéo dài giữa Trung Quốc dưới triều Mãn Thanh và đế quốc Anh. Trong cuộc chiến lần thứ hai, Pháp, Nga và Hoa Kỳ đã liên minh với Anh để tấn công Trung Quốc.

Nguyên do cuộc chiến xung quanh việc chính phủ Anh đòi quyền tự do buôn bán nha phiến từ Ấn Độ thuộc Anh sang Trung Quốc trong khi nhà Mãn Thanh có lệnh nghiêm cấm.

Trung Quốc hoàn toàn thất bại trong hai cuộc chiến với hậu quả phải công nhận thương quyền buôn nha phiến của ngoại quốc. Hơn nữa triều đình Mãn Thanh phải ký các hiệp ước bất bình đẳng, chịu mở nhiều cảng cho các nước ngoài vào thông thương. Hồng Kông thì bị cắt làm nhượng địa cho đế quốc Anh. Nhiều nước đế quốc (Đức, Pháp, Nhật, Nga,…) khác theo chân nước Anh và đã buộc Trung Quốc phải chấp nhận nhiều điều kiện bất bình đẳng ngay trên đất Trung Quốc. Mối nhục này của triều đình Mãn Thanh trước các cường quốc Tây phương là ngòi lửa góp phần cho cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc (1850 – 1864), rồi Nghĩa Hòa Đoàn (1899 – 1901) và cuối cùng là Cách mạng Tân Hợi, kết thúc thời đại phong kiến Mãn Thanh (1911).

(trích Wkipedia)

Người Anh khôn?

Người Pháp cũng không dại!

Cậu (cha) tôi không phải là người thích uống rượu nhưng giỗ kỵ thì phải có rượu cúng, đúng như phong tục của người Việt Nam. Nấu rượu không khó nhưng thực dân buộc người dân Việt Nam phải dùng “Rượu Sica”. Rượu Sica là “rượu Tây”. Rượu Tây nói ở đây không phải thứ rượu sản xuất bên Tây như Champagne, Martell… mà rượu do Tây “quản lý”, như Cộng Sản nói “nhà nước quản lý” vậy. Cho ăn mới được ăn, cho uống mới được uống. Người dân muốn uống rượu, nhà nước cho uống mới được uống. Thời Tây muốn uống thì phải mua rượu Sica đem về uống. Rượu Sica là rượu “Nhà nước – Tây – quản lý”. Ở thị xã Quảng Trị, trước 1945, người ta mua rượu Sica ở tiệm “Chú Sừng” – Chú Sừng làm đại lý rượu Sica cho Tây. Trên sông Thạch Hãn, kế bên chợ Quảng trị, ngày xưa có một bến sông, người ta thường gọi là “Bến Sica”, có lẽ là nơi vận chuyển rượu cho tiệm rượu Sica của Chú Sừng. Chỉ cần nghe người ta gọi “Chú” – (Sừng) – thì biết ngay đó là “Chú Ba Tàu”, như “Chú Quánh” tên thiệt là Diệp Khôn, chủ cửa tiệm Diệp Đức Ký – cố nội Tyler Diệp – hay “chú Nàm”, “chú Vạn” vậy.

Người ta thấy người Việt mang “một vòng thắt cổ”: Uống rượu Tây, mua ở tiệm Tàu” . Người Việt Nam chạy đằng nào cho thoát, nên phải hát như Văn Cao: “Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than”, Trịnh Công Sơn thì gọi “Một trăm năm nô lệ giặc Tây.”

Ai nấu rượu (lậu), ai uống rượu (lậu), tức là không phải rượu của hãng Sica, thì bị đi tù “mọt gông”. Cũng may, thân phụ tôi không phải là người nát rượu, chỉ khi nào cúng quãy, chị cả tôi mới mua chưa tới nửa chai nhỏ đựng rượu đem về cho “cậu” (tức là bố tôi đấy) cúng ông bà.

Nhưng người ta cũng nấu rượu – công khai -, bán rượu cũng công khai. Ai mà ngon vậy? Dân làng Trí Bưu, bên ngoài thành phố Quảng Trị. Làng nầy là “làng đạo” – 99% là dân có đạo, có nhà thờ rất lớn, có ông cha Tây “cai quản họ đạo”. Thằng Tây “đoan” (Douanne) nào “gan cùng mình” mới dám vào làng nầy kiểm soát. Ông cha Tây là cái dù của dân làng nấu rượu đấy.

Ngày nay, “Độc lập – Tự Do – Hạnh Phúc” nên mặc sức “Sáng xị, trưa xị, chiều xị”, “xỉn” tối ngày. Người dân “đã thiệt”.

“Sống đời Nghiêu Thuấn khổ thay,
Giếng đào mà uống, ruộng cày mà ăn.
Sống đời Kiệt Trụ sướng thay,
Có rừng nem béo, có ao rượu đầy.”

Món hàng thứ hai bị Tây độc quyền là thuốc phiện. Năm 1950, người bạn học lớp nhì với tôi, con trai một chú ba, nhà có bàn đèn, rủ tôi: “Mày đi với tau, mua cái nầy cho ba tau.”. Tôi theo nó vào nhà Douanne, mua một hộp thuốc phiện, hộp nhỏ như hộp dầu Cu-là Mắc xu (Mac-Phsu), bằng thiếc, sơn màu đỏ. Buôn bán thuốc phiện là độc quyền của Nhà Nước Tây, ai buôn lậu, đều bị tù.

Người ta thường cho rằng thuốc phiện là món kích thích trí óc người ta nên các nhà văn, nhà thơ xứ Bắc Kỳ khuyến khích nhau hút thuốc phiện, nằm nghiêng mà ngó “Ngọn đèn dầu lạc”. (một tác phẩm của Nguyễn Tuân). TCHYA, Lê Văn Trương, Ngọc Giao, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Trọng Phụng (?) … là đệ tử của “Nàng Tiên Nâu”. Cố vấn Ngô Đình Nhu là một “mưu sĩ” của chế độ nhà Ngô nên cũng có người cho rằng ông thuộc “phe hít-tô”. (hít tô phe.)

Cụ Phan Bội Châu, khi bị giam lỏng ở Bến Ngự, gọi ông Ngô Đình Diệm là chí sĩ, nên dân Huế hồi đó gọi ông Diệm là “Chí sĩ Ngô Đình Diệm”, gọi chung với cụ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Tiểu La… là những nhà cách mạng. Ông Ngô Đình Diệm cũng là người đại diện cho Kỳ ngoại hầu Cường Để ở Huế, ông cũng thuộc “dòng Nho Gia” nên sau khi cầm quyền ở miền Nam, ông phát động phong trào “bài trừ tứ đổ tường”. “Tứ đổ tường” là bốn thói xấu của xã hội thực dân, phong kiến, đồi trụy… miền Nam VN thời bấy giờ. Đó là:  cờ bạc, rượu chè, thuốc xái, đĩ điếm.

Vậy mà một hôm, ông Ngô Đình Nhu, cố vấn tổng thống, với bác sĩ Trần Kim Tuyến, trùm mật vụ, xin gặp tổng thống để bàn việc cho phép “buôn thuộc phiện”.

“Nho sĩ” Ngô Đình Diệm bỗng “đỏ mặt tía tai”, giận dữ nhìn hai ông, tưởng như muốn đuổi hai ông ra khỏi phòng. Tuy vậy, hai ông kia cố gắng thuyết phục. Cuối cùng, tổng thống Diệm đồng ý. Có chi lạ không? Không! Chuyện là như thế nầy.

Trước năm 1954, quân Pháp ở Việt Nam, có một đài kiểm thính. Nhiệm vụ của trung tâm nầy là”bắt”, là theo dõi, kiểm soát, thu thập, giải đoán các luồng sóng điện của địch, để biết sự di chuyển, hoạt động của địch, để có biện pháp “đáp ứng” thích hợp. Đài kiểm thính đó của Pháp để lại cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, vừa cũ vừa lạc hậu. Chính phủ Miềm Nam VN có yêu cầu Mỹ thiết lập cho một đài mới, hiện đại hơn, mạnh hơn, để có thể theo dõi hoạt động của Quân Đội Bắc Việt, đề phòng họ xâm nhập miền Nam, vượt vĩ tuyến 17 hoặc xâm nhập Lào.

Người Mỹ không đồng ý. Họ không muốn chính phủ miền Nam có phương tiện tình báo chiến lược. Họ đã có một đài kiểm thính ở Đài Loan, làn sóng “phủ” toàn bộ vùng Hoa Nam và Bắc Việt. Với lại, quân đội miền Nam chỉ có tình báo chiến thuật, nên Mỹ chỉ đâu thì Việt Nam đánh đó. Mỹ không muốn nước nào “ngang cơ” với họ.

Muốn vượt khỏi vòng kiềm tỏa nầy, chính phủ miền Nam muốn có một “Trung tâm kiểm thính” riêng cho mình, không phụ thuộc vào Mỹ. Tuy nhiên, muốn thiết lập một trung tâm như thế, má móc có thể mua được, hàng của Mỹ, của Nhật, của Đài Loan. Với lại, thuốc phiện là thứ muôn đời, dù cấm cản như thế nào, các chú Ba Chợ Lớn vẫn có thuốc phiện hút đều đều, chi bằng chính phủ “nắm” lấy việc buôn thuốc phiện để dựng đài kiểm thính thì vẫn hơn. Nghe bùi tai, Nho sĩ Ngô Đình Diệm bèn gật đầu cho tiến hành.

“Nguồn” thuốc phiện bán ở miền Nam VN xuất phát từ đâu? “Tam Giác Vàng”, thuộc vùng “tam biên”: Miến Điện, Thái Lan và Lào, chủ là Khun-Sa, một người Tàu lai Shan (dân tộc thiểu số Miến Điện), được mệnh danh là “Vua thuốc phiện”, cung cấp 60% ma túy, xử dụng ở Mỹ. Đối với chế độ anh em nhà họ Ngô, đây là một việc quan trọng, nên tôi có nghe đồn, – chỉ là đồn mà thôi -, ông Ngô Đình Nhu có đi Lào, để gặp một “người bên phía bán thuốc phiện” cho miền Nam. Quả tình tôi tin mấy ông buôn thuốc phiện nầy, dù sao, họ cũng “vì nước” thật lòng.

Sự việc nầy, tôi đọc được khi tôi đọc “Làm thế nào để giết một tổng thống” khoảng trang số 290. Về sau khi cuốn sách nầy tái bản lần thứ hai, thứ ba… ở trong nước cũng như hải ngoại, đoạn nầy bị xóa mất. Có lẽ “Sở Phối Hợp Nghệ Thuật” của TT Thiệu, tái sinh dưới cái áo chùng đen, phùng mang trợn mắt với BS Trần Kim Tuyến và Giáo sư Cao Thế Dung nên hai ông tác giả nầy sợ hay chăng?

Việc buôn bán nầy người ta nói “đụng” với “Xịa”. Nó có thể là một trong nhiều nguyên nhân để Ngô triều sụp đổ hay không, tôi không rõ, nhưng về sau, thời ông Thiệu, nó là công việc của ông tướng Đặng Văn Quang, tay chưn ruột của TT Thiệu trong mối lợi nầy.

Chính trường miền Nam có không ít điều kỳ lạ. Việc buôn ma túy của ông Thiệu xảy ra lúc nào, dư luận và báo chí miền Nam bàn tới không nhiều thời kỳ trước Hiệp Định Paris 1973. Sau biến cố đó, tình hình chính trị miền Nam có nhiều xáo trộn: TT Thiệu muốn thông qua “Luật ủy quền” để ông Thiệu ngồi ghế tổng thống lâu hơn, ông Thiệu muốn thành lập “chế độ độc tài”, Mỹ muốn “lật ông Thiệu” để việc “giao miền Nam cho Cộng Sản Bắc Việt” suôn sẻ hơn… cho nên mới xảy ra “Phong trào chống tham nhũng” của 301 ông cha, do linh mục Trần Hữu Thanh đứng đầu. Trong việc chống tham nhũng nầy, người ta “moi luôn” việc buôn bán ma túy của ông Thiệu do tướng Đặng Văn Quang phụ trách.

Khoảng giữa năm 1974, tôi từ Hà Tiên về Saigon có công việc, ghé thăm nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, tình đồng hương, chớ không có gì về đồng đảng, nhân tiện dịp nầy, tôi vừa bắt giữ hai tên buôn hơn hai ký thuốc phiện trắng và tôi được Trung Tâm Bài Trừ Ma Túy Trung Ương thưởng hơn một triệu đồng thời ấy. Ông Tửu hỏi tôi về tình hình chống tham nhũng ở dưới đó. Tôi trả lời xứ tôi khỉ ho cò gáy, buôn lậu thì nhiều, tham nhũng thì ít, ông Tửu liền ra xe lấy cho ôi xem một tạp chí nói về việc buôn ma túy của ông Thiệu, cuốn The Politics of Heroin in Southeast Asia của tác giả Alfred McCoy. Độc giả muốn biết rõ tình trạng buôn bán ma túy ở Đông Nam Á thì hãy đọc sách nầy, cũng đọc bài của Nguyễn Mạnh Quang: 

“Vấn Nạn Buôn Bán Ma Túy Ở Việt Nam Trước 30/ 04/ 1975”.

Năm 1980, khi tôi đang bị tù cải tạo tạp trại Xuân Lộc, Z30A thì có một số tù cải tạo, khoảng 100 người, từ trại Vườn Đào/ Cai Lậy chuyển lên nhập chung với chúng tôi. Qua chuyện trò với nhau, chúng tôi biết thêm một cách chuyển lậu ma túy dưới thời Tổng Thống Thiệu, do một vài bạn tù nói trên từng phục vụ ở ̉ các “Tiểu khu Bình Long, Phước Long” kể lại.

Như có sắp đặt trước, một vài tuần một lần, một báy bay loại Cessna, từ hướng Lào bay qua, đảo cánh trên một rừng cao su gần tỉnh lỵ, thả xuống một hay hai bao to gần bằng tạ gạo. Tức thì, từ tư dinh tỉnh trưởng, một xe Dodge quân đội, với lính tráng và súng ống đầy đủ, chạy ra nơi có đồ từ máy bay thả xuống, nhặt các bao ấy, đem về dinh tỉnh trưởng. Ngay hôm đó, hoặc vài hôm sau, có trực thăng quân đôi ghé lại, nhận hàng được che dấu trong máy lạnh, hay tủ lạnh, nói là “của ông đại tá” – thường tỉnh trưởng có cấp bậc đại tá -, bị hư, đem về Saigon sửa”. Trực thăng đem về trụ sở “Quốc Tế Quân Viện” – hồi đó do ông trung tướng Trần Ngọc Tám làm chỉ huy trưởng – ở đường Trần Quốc Toản – Bây giờ là Ủy ban Nhân dân Quận 10 – Từ chỗ “Quân viện”, tủ lạnh, máy lạnh” được chở vô Chợ Lớn cho Ba Tàu. “Ở đâu có người Tàu là có buôn gian bán lận” – người ta nhận xét vậy -. Sự việc nầy, trong sách viện dẫn nói trên, tôi không thấy bàn tới. Tôi không thấy có ai nó tới Kontum, Ban Ma Thuột… cũng là những tỉnh sát biên giới Lào, có cách vận chuyển hàng quốc cấm như vậy không?

Có phải đây là đường giây buôn ma túy của ông trung tướng Đặng Văn Quang?

Sau 1975, việc buôn bán ma túy ở Việt Nam thì sao?

Chúng ta là những người rất dễ bị tuyên truyền, dễ định kiến nên có người nói rằng “Cách mạng cái gì cũng tốt, cũng hay”, dưới thời Cộng Sản làm ggỉ có việc buôn bán ma túy.

Lầm to đấy!

Giữa năm 1982, tôi đi tù cải tạo về sống tại Saigon. (Bắc kỳ gọi là “Thành phố Bát” đấy), xem ra mọi chuyện đều tệ hơn xưa. Bấy giờ ma túy có thêm nhiều loại mới, nặng “đô” hơn, dễ dùng hơn, dễ cất dấu hơn. Phổ biến nhất là “chích”. Ống chích quăng vất tùm lum ở nhiều ngõ ngách, bãi rác…

Phân tích tình trạng nầy cũng phức tạp, mất thì giờ. Tuy nhiên, nhìn chung, có hai lý do quan trọng: Hòa bình, khuynh hướng hưởng thụ mạnh hơn trong khi đang có chiến tranh. Hai là một số người “mới” giàu có hơn, nhưng văn hóa mỗi người, mỗi gia đình “thấp” hơn. Đó là những người giàu xổi, và các cậu ấm cô chiêu mới, trong từng lớp thống trị mới. Đó là các gia đình cán bộ Việt Cộng.

Việc mua bán và xử dụng ma úy có dính líu gì tới chính quyền Cộng Sản không mà ít nghe nói tới, nhất là trong giới “báo chí cách mạng”?

Bây giờ chuyện buôn bán ma túy, vì “mấy chả chơi nhau”, như thiên hạ đồn, đổ bể tùm lum. Người ta “ngụy trang” việc buôn bán nầy qua phái nữ ra vào ngoại quốc dễ dàng, như 5 “tiếp viên hàng không” trên chuyến bay từ Pháp về, cũng như 2 “tiếp viên hàng không” đi Seoul.

Không phải việc “chuyển vận” nầy, lần nầy là lần đầu. Cả chục lần rồi đấy. Bây giờ, tranh nhau cái ghế, chức chưởng, quyền lợi, “chơi” nhau mới bể ra.

Trước đây, có bắt vài vụ buôn thuốc phiện ở Nghệ An, sát biên giới Lào, có dính tới Công An, nhưng đó là chuyện nhỏ, nhằm nhò gì với chuyện bây giờ.

Nói mà nghe… chơi thôi.

“Độc lập, Tự do” rồi, nhưng trong một xã hội dù có hay không có dân chủ, ai có quyền thì hơn, như Voltaire đã nói: “Trong bất cứ một xã hội nào, giai cấp cầm quyền là giai cấp thượng lưu.”

Muốn thì làm, ai nói gì được

(1)- Lê Duẫn, con trai “ông thợ Tiềm” – thợ mộc, nhà ờ làng Hậu Kiên, cuối Chợ Sãi. Chợ Sãi nằm trên ngã ba sông Thạch Hãn và sông Vĩnh Định trên đường đi của các chuyến “buôn đò giọc” của tỉnh Quảng Trị/ Thừa Thiên, có dịp sẽ kể sau. Bên cạnh tiệm mộc của ông thợ Tiềm là sạp gạo của mẹ “Mụ Xạ Bình”. Trong chợ Sãi, có hai anh em gốc “chú Ba”, là hai anh em ruột: Ông Xạ Lớn và Ông Xạ Bé. Nhà Ông Xạ Lớn có bàn đèn cho khách. Một hôm, ông Lê Duẫn bị Công An Liên Bang Tây
(2)- “Dấm thanh trộn với thuốc phiện là món “tự tử rất ngọt – dĩ nhiên tôi chỉ nghe nói, chưa dùng bao giờ”

Thiệt thà là cha đứa dại

Hoàng Long Hải
Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Đứng bên quan tài của Vương Tấn sắp hạ huyệt, anh bạn tù Trần Phú Trắc nói nhỏ với tôi, vẻ tội nghiệp:

– “Cái số thằng nầy khổ thiệt! Nó thiệt thà quá!”
Tôi cũng đang thương tình cho anh bạn tù nằm trong quan tài, nhưng nghe Trắc nói, tôi không khỏi cười thầm vì sự ngộ nghỉnh trong nhân sinh quan của người Việt. Nói số phần chỉ là cách an ủi. Ông trời bắt vậy thì phải vậy. “Bắt phong trần phải phong trần…” Số phận là do trời, đó là quan điểm của đạo Nho, nhưng tại sao Trắc lại nói “Nó thiệt thà quá!” Vì nó thiệt thà nên nó khổ. Vậy nó khổ là vì nó thiệt thà. Vậy thì còn số phận gì nữa, trách trời gì nữa. Nó tự tạo cho nó cái số khổ, đâu phải tại trời. Cũng theo cách nghĩ đó, theo nhà Phật, nó tự tạo cho nó cái nghiệp. Quả của cái nghiệp đó là sự khổ. Nhân cái nghiệp là thiệt thà. Vì thiệt thà nên khổ. Nếu quan niệm như vậy thì triết lý đạo Phật cũng… trật lất. Làm ác thì mới chịu cái khổ. Thiệt thà mà cũng khổ, vậy nhân quả đâu có tương ứng nhau. Tôi nói ông Phật nói trật là tôi đúng chớ gì nữa! Tôi giải thích cho Trắc như vậy, anh ta cười, trách nhẹ tôi: “Anh thì cứ hay rắc rối!”
Tôi chỉ lý luận quàng xiên mà chơi như vậy, nhưng trên đường về, vừa lái xe, vừa nghe nhạc “vàng” và tôi không ngớt suy nghĩ về tính thiệt thà của Vương Tấn.
Tốt nghiệp khóa 6 Thủ Đức, khoảng năm 1958, theo như bạn đồng khóa thì ít cũng lên lon thiếu tá, trung tá, có ông lên đại tá, Vương Tấn chỉ mới có đại úy cũng là vì cái tính…thiệt thà.
Hồi ấy, việc lên lon không dễ như sau nầy. Đủ thời gian qui định thì lon chuẩn úy tự động lên lon thiếu úy, thiếu úy lên lon trung úy. Từ trung úy trở lên mới phải “chạy”. Chạy là nói nôm na, văn vẽ là đề nghị lên bộ Tổng Tham Mưu; còn như đặc cách mặt trận là do mấy ông tướng tư lệnh quyết định ngay tại chiến trường. Vương Tấn chưa bao giờ được lên lon tại mặt trận vì anh không thuộc loại đánh giặc chì. Thời của Tấn là thời lên lon nào cũng phải “chạy” mà Tấn thì không biết “chạy” nên lon lá bao giờ cũng ở sau người ta.
Khi có chương trình đào tạo quan sát viên không quân, cũng khoái đi máy bay, nên Vương Tấn xin đi học. Mãn khóa, anh về phục vụ ở miền Trung. Vương Tấn chọn miền Trung vì Huế ở ngoài ấy. Anh hy vọng làm nghề bay, có dịp về Huế chơi. Anh ta đến Huế thật, và với bộ đồ bay trên người, anh đi dạo phố Huế,
– “Trông oai lắm!” – như anh ta nói.
– “Hồi đó tui tính cưới một cô Huế. Sao mà khó thế. Nói chuyện, nó không nhìn mình, cứ nhìn xuống đất, không tán được.”
Bởi câu chuyện đó, có lần tôi nói Trắc: “May cha thằng Tấn. Rước về một cô rồi ngữa mặt lên trời mà than!”
Trắc không đồng ý với tôi, nói: “Duyên số cả anh à! Nó không cưới vợ Huế, về Phước Tuy rước một cô, đời lại bầm dập hơn!”
Trong bọn tôi, Dương Tiến Đông, đội phó, là tay ăn nói bạo mồm bạo miệng nhứt. Có điều, chuyện nó nói, làm người ta bất mãn nhưng vẫn phải cười.
Hôm đó, chúng tôi đang cuốc đất, cách trại cũng không xa, bỗng Vương Tấn bị bệnh. Tấn yếu lắm. Anh ta bị thương, mất một phần xương đùi. Hồi đó, để cứu Tấn khỏi bị cưa chân, Tổng Y Viện Cộng Hòa nhờ Hải Quân Mỹ chuyển Tấn ra hạm đội. Ngoài đó phương tiện đầy đủ và tối tân hơn. Thay vì cưa, bác sĩ Mỹ ghép vào đùi Tấn một thanh Inox, bắt ốc, nên Tấn đi lại được, tuy không bình thường. Vì là thương binh, không muốn giải ngủ, Tấn xin qua 101. 101 là đơn vị tình báo, “tội” của Tấn với “cách mạng” nặng hơn, coi như “tù cải tạo” lâu về. Vì đi đứng khó khăn, Trương Đình Gòn, đội trưởng, xin cán bộ Chinh, công an, cho Tấn khỏi đi đốn cây, phá rừng, công việc nặng nhọc lắm. Anh ta được giao nhiệm vụ xuống suối mài dao. Lâu lâu, sợ Tấn mất việc, Gòn lấy dao của anh em, đưa cho Tấn đi mài. Dao không lụt cũng mài. Gòn nói với người có dao: “Không có dao thì ông ngồi chơi. Thằng Tấn không có dao mài, thằng Chinh bắt nó đi kéo cây. Tội nghiệp nó.”
Hôm Tấn bị bệnh, Đông nói với cán bộ Chinh: “Cán bộ để tui đem nó về; lỡ nó chết ngoài rừng, cán bộ làm báo cáo mệt lắm!” Rồi Đông cỏng Tấn về, có anh cán bộ bảo vệ (tức là bọn canh tù), cầm súng đi theo. Đông nói nhỏ với Tấn: “Đ. má. Tao phải hù thằng Chinh nó mới cho tao cỏng mày về. Vậy mà mày vô ơn.”
Tấn nói: “Tao đi không nỗi, mày cỏng. Tao biết ơn mày. Mày nói tao vô ơn cái chi?”
Đông nói: “Mày nói cám ơn khi nào? Tao nói thiệt, nếu mầy không chịu, tao bỏ mày xuống đây. Mầy chịu, tao cỏng tiếp về trại. Chịu không?”
– “Chịu cái gì? Mày nói đi.” Tấn hỏi.
– “Tụi nó nói vợ mầy đẹp lắm. Mai mốt vợ mầy lên thăm, mày hôn vợ mày giùm tao một cái, còn không thì… đi bộ mà về nè!”
Nói xong, Đông giả bộ buông Tấn xuống. Tấn nói: “Thôi đươc rồi! Đ. mẹ, anh em chơi ép nhau. Mày cỏng tao về đi. Tao sẽ nói với vợ tao!”
Đông phải đứng lại giữa rừng mà cười ha hả vì cái tính thiệt thà của Tấn. Nghe Đông thuật lại chuyện đó, anh em trong đội ai cũng cười. Cũng có người vừa cười vừa nói: “Đ. mẹ! Thằng Đông mất dạy, vợ người ta mà đòi hôn.”
Vậy mà Tấn vẫn không hết tai nạn với Đông. Đang ở ngoài rừng, gần nhà thăm nuôi. Có người ra tận bãi gọi Tấn, báo cho biết có vợ lên thăm. Tấn hoảng, không biết làm sao! Về trại thay áo quần thì mất thì giờ. Vào thăm vợ ngay bây giờ thì kỳ cục! Anh ta đang mặc quần xà lỏn đi lao động, đưa hai cái giò như hai cây sậy đen đủi thì kỳ quá! Áo quần thiếu, phải tiết kiệm, ở với Việt Cộng thì lấy thân che của thay vì lấy của che thân.
Gòn lại tới nói với cán bộ Chinh, cho Tấn đi thăm liền ngay đi, cho vợ Tấn thăm sớm, về sớm, xe cộ khó khăn. Chinh đồng ý, nhưng Tấn không đi thăm được vì không có quần. Đông nói: “Mày mặc quần tao chắc được. Tao cho mày mượn. Nhưng mày đừng quên lời tao dặn như vợ mày lên thăm lần trước. Lần nầy phải nhớ nghe không.” Tấn chần chừ. Đông nói:
– “Mày phải ừ tao mới cởi quần ra cho mày. Ừ đi!”
Tấn lại phải ừ!
Đông lại làm khó: “Mày ừ gì yếu xìu. Ừ to lên, như ở quân trường vậy.”
Tấn ừ thật to! Cả bọn đứng chung quanh, ai cũng cười.
Lần thăm đó, Tấn gặp tai nạn.
Cha mẹ chết, để lại cho Tấn căn nhà gạch. Lần nầy lên thăm, vợ Tấn biểu làm giấy ủy quyền cho thị. Té ra, thị có bồ là cán bộ. Thị lấy nhà, sang tên cho cán bộ vì tên nầy hứa kết hôn với thị. Có nhà rồi, tên cán bộ bèn “Quất ngựa truy phong”.
Từ đó, vợ Tấn không lên thăm chồng nữa. Tấn vừa mất vợ, vừa mất nhà, con Tấn về ở với chị Tấn. Chị Tấn cũng nghèo, không ai thăm nuôi Tấn, hoàn cảnh thật ái ngại. Tấn cam chịu số phận mình, không than van, oán trách.
Một lần, vợ Đông từ Đà-Nẵng vào thăm, Đông mời mấy anh em cùng ăn chung một bữa, chia xẻ niềm vui. Đang bữa ăn, có người than phiền bây giờ nhiều người bỏ chồng, không đi thăm nuôi vì đời sống khó khăn quá, không đi thăm được, cũng có người “ôm cầm thuyền ai.” Hoàng, người cùng đội, nói: “Lấy chồng là một sự chọn lựa, lấy là lấy ông bác sĩ, kỹ sư, ông sĩ quan. Bây giờ lon lá mất hết, chỉ còn là thằng tù. Ai lấy thằng tù làm gì.” Vài anh em tỏ ý không đồng ý với lời giải thích của Hoàng, nhưng ông già Minh lại góp ý: “Cứ trường hợp mình thì anh em biết. Người đàn bà khi lấy chồng là họ tìm một chỗ che thân. Khi sự che thân đó không còn nữa thì họ tìm cái khác. Các cậu không thấy sự sinh hoạt trong một đàn bò sao. Con bò mạnh nhứt là con bò “cai quản” hết tất cả các con bò cái.” Ngưng một chút, già Minh nói tiếp: “Con gà trống muốn dụ con gà mái, giả kêu túc túc, làm như tìm được hột lúa để con gà mái chạy tới.”
Gòn nói, giọng bực tức:
– “Anh nói vậy bộ không có chung thủy hay răng?”
– “Có chứ sao không,” già Minh nói, “nhưng chỉ ở một số người, cái đó tùy thuộc vào cá tính, văn hóa, nền nếp của gia đình, làng xã. Ở nước ta, người ta cố giữ lệ làng là để giữ văn hóa của làng là vì vậy. Thành thử lệ làng, có khi còn hơn cả luật vua.”
Nghe già Minh nói, anh em thông cảm ông. Ông bị mất vợ từ trước khi “sập tiệm” những mấy năm. Vợ ông bỏ ông đi lấy một ông tướng Quân Đội Cộng Hòa. Chế độ trước thì ông bị mất vợ, chế độ nầy thì ông ở tù. Ông có cay đắng với đời cũng không có gì lạ.
Hơn 5 năm sau, khi Tấn được tha về, không có nhà để ở. Hai đứa con ở với chị của Tấn. Bà chị nghèo, hai đứa con thất học. Còn vợ Tấn thì coi như… “Thuyền ra cửa biển”. Tấn đi tìm vợ, vợ Tấn tránh mặt. Lâu lâu, tình cờ gặp vợ, Tấn tới hỏi thăm thì vợ Tấn kiếm cớ bỏ đi.
Cải tạo về, Tấn làm nhiều nghề để sống. Nhiều người bạn tù được tha, làm nghề đạp xích lô. Tấn, vì cái chân què, không đạp nỗi. Nghề phổ thông thứ hai cho “cải tạo viên được tha” là mở “tiệm” vá xe đạp bên đường. Nói “mở tiệm” cho oai. Tiệm là khoảnh đất bên cột đèn, gần ngã ba, ngã tư gì đó, với một cái ống bơm to, mấy miếng ruột xe cũ, một miếng lon sữa bò đập thẳng, đục nhiều lổ để làm bàn mài, một hộp keo, mấy miếng cao-su non, một cái piston cũ, có cái bàn ép, và chai dầu để đốt nóng piston khi muốn vá ép. Thường ruột xe Honda phải vá ép mới bền. Sáng đi, khuya về, ăn uống tại “tiệm”.
Tấn bỏ Phước Tuy ra Vũng Tàu, năng đường, đông khách hơn. Có tiền, Tấn giúp chị nuôi con chị và con của Tấn. Rồi Tấn bỏ nghề đi buôn thuốc Tây.
Mười năm nay, “chính quyền cách mạng” thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng” đời Tự Đức, nội bất xuất, ngoại bất nhập với Tây phương nên cái gì cũng phải “xếp hàng cả ngày” (xhcn) để mua mà không có. Nhờ vậy nên tàu “các nước Xã Hội Chủ Nghĩa anh em” vào ra cảng Vũng Tàu, tàu nào cũng buôn lậu, đặc biệt các loại thuốc Tây, “mặt hàng gọn nhẹ” dễ che dấu. Nhờ người chị quen biết với nguồn hàng nầy nên Tấn được gọi tới giao nhiệm vụ đem hàng từ Vũng Tàu lên Saigon. Tấn dấu hàng trong người, thuốc Tây, nhiều nhứt là “hàng Bun” (Hàng do Bulgaria sản xuất), đạp xe đạp ra khỏi trạm, quá một quảng xa, hơn một cây số, Tấn đón chiếc xe đò quen, đã hẹn giờ trước.
Gần tới Saigon, cũng cách trạm Văn Thánh cỡ hơn một cây số, Tấn lại xuống xe, lại tàn tàn đạp xe vô Saigon, giao hàng cho người quen, là đầu mối ở đường Phạm Hồng Thái, bên ga Saigon cũ. Lại có mối từ miền Tây lên nhận hàng về. Tấn chỉ có nhiệm vụ giao hàng, nhận tiền công, còn giá hàng bao nhiêu, lên xuống thế nào, hai dầu mối trao đổi với nhau. Nhờ làm việc chăm chỉ và chắc chắn, không mánh mung, không ăn cắp, ăn bớt hàng nên các đầu mối tin tưởng. Suốt mấy năm trường, nhờ chịu khó vậy, tuy vất vả, tuy đau ốm, lâu lâu cái chân bị thương lại trở chứng đau nhức, Tấn vẫn cố gắng làm tròn công việc được giao, sống qua ngày, còn dư tiền đưa cho chị nuôi con của Tấn.
Rồi lại có tin đồn xôn xao về việc lập hồ sơ đi Mỹ, được Mỹ bảo lãnh, cho định cư. Ai tù cải tạo 3 năm trở lên, đều được Mỹ cho đi hết. Ban đầu, Tấn không tin. Cỡ như mình Mỹ nhận làm quái gì. Tấn tự nghĩ như vậy. Ai lon to, trung tá, đại tá, tướng lãnh, Mỹ bỏ không được mới phải “gánh” đi. Còn như Tấn, đại úy quèn, lại què quặt, Mỹ rước qua làm chi, nuôi báo cô! Cứ suy nghĩ như vậy nên Tấn chăm lo “chuyện vận chuyển thuốc Tây để cứu người”. Tấn hay đùa với bạn bè về công việc của mình, đầy “tính nhân đạo” như vậy.
Thường đi Saigon, Tấn hay gặp các bạn “đồng tù” như Trắc, Kim, Hoàng, v.v… Ông già Minh thì đã qua đời trong trại cải tạo, trước khi Tấn được tha. Còn Đông thì về Đà-Nẵng, “buôn đường dài”, có nghĩa là mua hàng Saigon đem ra Đà-Nẵng và ngược lại. Gòn thì về Long Khánh, làm rẫy, không gặp ở Saigon bao giờ. Mỗi khi lên Saigon mà gặp Đông thì thế nào cũng có một buổi “nhậu chết bỏ”. Tuy không muốn “chết bỏ” như Đông nhưng Tấn không thể từ chối. Bọn nó có nhiều tiền, Tấn khỏi đóng góp hoặc “Cho mày đóng tượng trưng”, như Đông nói. Cũng qua bạn bè, do họ thúc đẩy, Tấn cũng làm hồ sơ, gởi lén qua Bangkok.
Vợ Tấn nhạy bén chuyện đi Mỹ nầy hơn Tấn nhiều, nên trước khi Tấn làm hồ sơ, vợ Tấn đến thăm, lại năn nỉ khóc lóc, “Anh đi đừng bỏ em lại tội nghiệp. Em dại dột chớ bao giờ em cũng thương anh.” Tấn cảm động khi nghe vợ nói. Vã lại, cũng có lời khuyên của chị Tấn nữa. “Người ta trở lại với mình, em không bỏ được đâu! Tội nghiệp người ta lắm!” Vừa thương chị, lại mang ơn chị nuôi con mình, Tấn nghe lời, làm hồ sơ cho cả gia đình: Vợ, mấy đứa con, mấy đứa cháu con của chị, Tấn nhận là con của mình.
Tháng 10 năm 1992, gia đình Tấn đến Cali, có hội từ thiện bảo trợ. Các con, cháu của Tấn, những đứa lớn vừa đi làm vừa đi học, những đứa nhỏ chỉ đi học mà thôi. Vì là thương binh chế độ cũ, các cơ quan từ thiện khuyên Tấn nên nghỉ ở nhà. Tấn được gọi lập hồ sơ y khoa, được ăn trợ cấp “tiền bệnh”, được “trợ cấp tiền nhà”, v.v… Cuộc sống tạm ổn định.
Đến Mỹ chưa được nửa năm, vợ Tấn lại “giong buồm ra khơi” lần nữa. Giong buồm ra khơi là tiếng lóng của Trắc báo cho bạn bè hay khi ai hỏi thăm Tấn. Riêng với Tấn, anh ta lại buồn, ôm lấy mối buồn trong lòng, cũng không than vãn, khóc lóc, như hơn mười năm trước, vợ Tấn ra đi. Số phận. Bao giờ Tấn cũng tự an ủi mình bằng hai tiếng số phận. Thường thì Tấn thấy thương con nhiều hơn thương thân mình. Con cái bao giờ cũng cần mẹ. Chúng nó cần mẹ mà vợ Tấn bỏ Tấn, điều đó không quan trọng bằng mẹ bỏ con. Nghĩ lại mình, so với số phận con, Tấn thấy mình may mắn hơn. Mẹ Tấn vẫn thương Tấn, gần gủi với Tấn, chăm nom, thăm viếng Tấn cho đến khi mẹ Tấn qua đời. “Con mình thì không được như mình vậy.” Tấn chép miệng than, chua xót.
Năm ngoái đây, tôi đi Cali, không phải để thăm Tấn hay đi đám ma anh ta. Tôi đâu có biết gì rõ về bệnh tình của Tấn. Mấy năm trước, điện thoại cho Trắc, hỏi thăm anh em, người nầy, người kia. Tất cả bạn tù cũ, đều tìm lại được hết, trừ một vài người, không biết ở đâu, dù nhắn gởi nhiều lần. Tôi cũng tìm được số điện thoại của Gòn, hiện ở Houston, liền báo cho Trắc biết. Gòn biến mất từ ngày ra tù tới giờ, không ai biết tin tức gì hết, trong khi vài anh em cố tìm Gòn. Gòn, tính khí hào hiệp, làm đội trưởng, không ít lần cải tay đôi với quản giáo để bênh vực anh em, nhứt là với Chinh, tên nầy khá “ác ôn côn đồ Việt Cộng.” – Câu Gòn thường nói đùa với anh em sau khi “đấu tranh” với Chinh xong.
Tôi đi Cali thăm ông anh vợ và bạn bè. Về tới đó, gọi điện thoại cho Trắc, hẹn đi ăn phở, nhưng trước khi nhận lời, Trắc nói: “Trước khi đi ăn phở với vợ chồng anh, tui tới chở anh đi viếng đám ma thằng Tấn đã. Nó chết rồi, chiều nay chôn.”
Hỏi tới nữa thì Trắc giải thích: “Cả năm nay nó không đi lại được. Bác sĩ lại mổ cái chân bị thương nhưng không hết. Rồi lại bị biến chứng, phong thấp, đau tim… Đủ thứ bệnh. Hai ngày trước bị đột quị. Coi như xong!”
Hỏi tới vợ con, Trắc nói: “Không có tin tức gì vợ nó cả, qua khỏi truông, đi mất biệt. Nghe nói đi theo một thằng nhân tình nào đó, cặp khi thằng Tấn còn ở tù. May mắn các con cháu nó đều học hành và tốt nghiệp đại học cả. Tấn rất vui về việc thành đạt của tụi nó. Đám ma, tụi nó về đủ. Riêng thằng Tấn thì vẫn cu ki một mình cho đến khi qua đời! Số nó vậy!”
Số phận! Lại số phận! Cũng được thôi, dù đó chỉ là tiếng để an ủi, nhất là với một người thật thà như Tấn.

Tuệ Chương/ Hoàng Long Hải