Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Tameichi Hara

Trần Vũ

March 5th, 2021

Post by Sơn râu 12 Apr 2024

Kỳ 2

Tameichi Hara là sĩ quan hải quân sáng chói thuộc hạm đội viễn dương Nhật Bản. Lý thuyết phóng ngư lôi của Hara được Hải quân Hoàng gia Nhật dùng làm cẩm nang ứng dụng chính thức trong suốt cuộc chiến. Với trên trăm hải hành và qua 13 trận thủy chiến lớn, Hara đã đánh chìm 2 tiềm thủy đĩnh, 1 khu trục hạm, 1 tuần dương hạm nhẹ và gây hư hỏng nặng cho 1 khu trục hạm Hoa Kỳ khác. Các thủy thủ của Hara cũng bắn rơi 10 phi cơ Đồng Minh. Một chiến tích phi thường, càng thêm đặc biệt khi các tàu chiến dưới quyền Hara không bị US Navy phá hủy. “Một Hạm trưởng không thể đánh đắm”, “The Unsinkable Captain” là biệt danh phía Hoa Kỳ đặt cho Hara.

Hai chương đầu tiên của tập hồi ký là những tâm nguyện và hoài bão của một tân khóa sinh xuất thân dòng dõi võ sĩ đạo. [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Phần 1:

Một samurai chào đời

Chương 1

Tôi chào đời vào ngày 16 tháng 10 năm 1900, ở ngoại ô thành phố Takamatsu (Cao Tùng Thị) thuộc tỉnh lỵ Kagawa, nằm trên bờ biển phía bắc đảo Shikoku, đối diện với quang cảnh ngoạn mục của biển Nhựt Bản.

Gia đình tôi thanh bạch. Tôi là con út trong số năm anh chị em. Cha mẹ tôi cắm cúi trên mảnh đất nhỏ bé của hai người từ sáng sớm đến mờ tối. Như hầu hết nông dân Nhựt Bản, một trong những xứ có mực độ dân số cao nhất thế giới. Huê lợi kiếm được không đủ nuôi sống gia đình, vì vậy mà cha tôi phải thức trắng đêm để làm thêm một số nông cụ thô sơ mang đi bán.

Hình ảnh vất vả đêm ngày của song thân tôi có lẽ là hình ảnh mà tôi không bao giờ quên được. Hai người có rất ít hoặc không có thì giờ để chơi đùa với anh chị em chúng tôi. Ngay khi còn bé nhỏ, hai anh trai và hai chị gái tôi đã phải sớm tiếp tay tìm miếng ăn cho gia đình.

Lúc tôi ra đời, ông nội tôi, Moichiro Hara, đã gần 70 tuổi. Ông trông nom và chơi đùa với tôi. Hồi còn trai trẻ, ông nội tôi là một Samurai với đầy đủ ý nghĩa, và tôi là đứa cháu chịu rất nhiều ảnh hưởng của ông.

Cho đến năm 1871, dân chúng Nhựt được chia làm bốn thứ bậc hoặc bốn giai cấp. Nhưng cũng từ năm ấy các lãnh chúa phong kiến phải giao nộp binh phù và đất đai cho Thiên hoàng. Khởi đầu kỷ nguyên Minh Trị.

Trước đó, giai cấp quyền uy là giới Samurai. Giòng họ tôi cũng thuộc giai cấp này, và đã phục vụ cho lãnh chúa Takamatsu hàng nhiều thế kỷ. Nhiệm vụ của các Samurai thời bình là quản trị các vấn đề địa phương và đảm nhiệm công việc huấn luyện quân sự liên tục để đề phòng khi tai biến. Ngược lại, đời sống của họ được các lãnh chúa bảo đảm. Cũng vì vậy giới Samurai tỏ vẻ kiêu hãnh, và sống tách rời hẳn với 3 giai cấp khác là Sĩ, Nông, Thương.

Với địa vị và các đặc ân, một Samurai sẽ nhận thấy khó mà thích ứng với một nghề mới nào khác. Vì vậy, hầu hết Samurai khi từ giã nghề võ sĩ để chuyển sang nghề buôn bán đều gặp thất bại hoàn toàn. Ông tôi cũng không thoát khỏi thông lệ. Bám vào mảnh đất nhỏ bé do lãnh chúa chu cấp, là tất cả những gì mà ông tôi có thể làm sau khi giã từ nghề cũ. Kỳ lạ làm sao, cuộc đời tôi lại có những nét gần gũi với cuộc đời của ông tôi. Rời khỏi Hải quân Hoàng gia sau khi Nhựt Bản đầu hàng sau cuộc chiến thế giới thứ hai, ngoài danh nghĩa cựu đại tá hải quân ra, tôi không có một nghề nào khác.

Lực lượng Ðồng Minh chiếm đóng không chỉ bãi bỏ hẳn tất cả ngân khoản cấp dưỡng cho các cựu sĩ quan mà còn cấm họ giữ bất kỳ chức vụ công nào. Do đó, nhiều năm sau chiến tranh gia đình tôi đã phải sống đắp đổi bằng cách cầm cố đồ đạc và làm các công việc lao động chân tay. Dù vậy, tôi không bao giờ hối tiếc sự chọn lựa nghiệp dĩ hải quân của mình. Ông tôi đã dạy tôi nhiều bài học mà tôi luôn ghi ơn. Những bài học này giúp tôi chiến thắng và cho phép tôi tồn tại trong chiến bại sau cuộc đại chiến đó. Trong suốt chiến tranh các thuộc cấp của tôi chịu thương vong ít hơn bất kỳ thủy thủ đoàn nào của bất kỳ khu trục hạm nào được chỉ huy bởi các hạm trưởng ngang cùng kinh nghiệm với tôi.

Ông nội tôi chăm sóc tôi chu đáo lạ lùng. Vì mẹ tôi bận rộn, ông phải săn sóc và trông nom tôi trong suốt thời thơ ấu. Khi tôi bắt đầu đi chập chững, ông thường dẫn tôi loanh quanh các ngôi đền, dỗ dành, chơi đùa và mua bánh cho tôi.

Khi tôi bắt đầu biết nói, ông kể cho tôi nghe các câu chuyện của giới võ sĩ đạo không bao giờ dứt. Sau này mẹ tôi có nói lại lúc ấy ông đã hy vọng tôi sẽ phục hồi danh vọng của dòng họ, vì theo ông, tôi là đứa trẻ thông minh nhứt trong những đứa trẻ lên năm.

Bây giờ tôi có thể nhắm mắt nhớ lại hình ảnh ông lão đầu bạc như bông ngồi thật thẳng, trong tư thế của một Samurai, mỗi sáng và mỗi chiều trước bàn thờ của dòng họ. Bàn thờ với các bài vị của tổ tiên chúng tôi cũng như của vị lãnh chúa vùng Takamatsu, là sứ quân Yorichika Matsudaira. Nghi lễ hàng ngày này không bao giờ thay đổi hoặc gián đoạn, cho đến khi ông tôi ngã bệnh nặng.

Trước giờ phút lâm chung, với sự hiện diện của tất cả những người trong gia đình, ông gọi tôi đến và ra dấu cho tôi lại gần. Lúc đó tôi lên sáu, song thân đã dẫn tôi lại đứng cạnh giường bệnh, cầm đôi tay nhỏ bé của tôi lên đặt vào tay người. Ông quơ tay nắm lấy thanh kiếm võ sĩ đạo của ông và đặt vào đôi tay nhỏ bé của tôi. Ông thều thào: “Tamei, thanh kiếm này là của cháu. Hãy lắng nghe lời dặn dò cuối cùng của ông.”

Mọi người vẫn yên lặng. Giọng người sắp chết đứt quãng: “Tameichi Hara! Cháu là cháu của một Samurai, cháu phải nhớ điều này: một Samurai đã chọn đời sống như vậy, hắn luôn luôn phải chuẩn bị để chết. Nhưng cháu đừng diễn dịch sai lầm lời dạy này. Không bao giờ nên cố theo đuổi chăm chăm một cái chết dễ dàng như vậy, vì việc này sẽ chống lại tinh thần thực sự của Bushido.

“Ông đã nói với cháu nhiều lần về sự toàn vẹn ở một Samurai là cố gắng hết sức để hoàn thành các nhiệm vụ của mình. Cháu hãy cố gắng để làm như thế. Luôn luôn đề phòng và nỗ lực gấp đôi những gì tốt nhứt để tự vươn lên.”

Mặc dù lúc ấy tôi quá nhỏ để hiểu thấu đáo những gì mà ông tôi nói, nhưng lời nói của người hấp hối đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với tôi, khiến tôi nhớ rõ và không sao quên được.

Năm sau đó, tôi vào học trường mẫu giáo và đều dẫn đầu lớp trong suốt sáu năm theo học, và tôi đã đem danh dự đầu tiên đến cho gia đình khi rời khỏi trường này.

Gia đình tôi vẫn khốn khổ. Hai anh tôi, một người lớn hơn tôi 10 tuổi và một người lớn hơn tôi 8 tuổi, đã phải tiếp tục phụ việc với cha mẹ tôi. Hai người anh này và hai người chị của tôi, không ai học quá bậc tiểu học. Nhìn kết quả học hành của tôi, các anh chị tôi đã thuyết phục cha tôi cho tôi tiếp tục lên bậc trung học. Họ nói: “Chúng con sẽ cố gắng kiếm tiền cho em con ăn học”. Nhờ đó mà tôi mới có thể tiếp tục con đường học vấn. Tôi không bao giờ quên sự hy sinh to lớn này của anh chị mình.

Tôi phải qua một kỳ thi tuyển vào trung học và may mắn thay, tôi có tên trong 5 học  sinh được chấm điểm đậu. Chỉ có 5 học trò ở Cao Tùng Thị vượt qua được kỳ thi gắt gao vì trường này là một trong những trường danh tiếng nhứt của Nhựt Bản, chỉ thâu nhận những học sinh ưu tú. Trải qua năm năm theo học ở đây, tôi không thể nào chiếm nổi các hạng danh dự, nhưng tôi cũng đứng được ở hạng thứ mười trong số 150 học sinh tốt nghiệp.

Sau khi qua khỏi bậc trung học, tôi phải nghĩ đến một nghề nghiệp nào đó. Hiển nhiên là tôi thích theo đuổi việc học lên cao hơn nữa. Nhưng muốn theo học tại các trường cao đẳng và đại học, cần phải có nhiều tiền, mà gia đình tôi thì không thể nào kham nổi. Dưới kỷ nguyên Minh Trị chỉ có tiểu học là miễn phí mà thôi. Cho nên tôi chỉ có thể tiếp tục con đường học vấn ở các viện do chánh phủ đài thọ tài chánh. Ðiều này lúc ấy có nghĩa là tôi phải chọn một trường đào tạo ra giáo sư hoặc quân nhân. Tôi mang dòng máu Samurai, nên tôi đã chọn một trường quân sự. Tôi không quên những lời cuối cùng của ông nội tôi.

Chương II

Tôi tốt nghiệp trường trung học Takamatsu và tháng 3 năm 1918. Tôi ghi danh dự thi vào cả hai trường Hàn Lâm viện Lục Quân ở Ðông Kinh và Hàn Lâm viện Hải Quân ở Eta Jima, gần Hiroshima. Sở dĩ tôi ghi danh cả hai trường vì tôi ít có hy vọng được Hải quân tuyển chọn…

Sở thích của tôi là hải quân, nhưng nếu thất bại, Lục quân sẽ thâu nhận tôi, bởi vì tôi không thể chờ đợi thêm một năm nữa để tham dự kỳ thi tuyển tới.

Ông nội tôi là một kỵ sĩ, tại sao hải quân lại hấp dẫn tôi nhiều như vậy? Có lẽ tinh thần của tôi đã đơn giản đáp ứng truyền thống địa phương của tổ tiên. Thành phố Takamatsu và ngoại cảnh có một ý nghĩa đặc biệt cho binh chủng hải quân, vì chính nơi này đã khai sanh ra hải quân Nhựt Bản.

Biển Nhựt đã cung hiến cho nước Nhựt những gì mà biển Egée là vùng biển nằm giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp đã cung hiến cho xứ Hy.

Ðời sống sơ khởi của dân chúng Nhựt đều phát triển và xoay quanh biển này, với hàng nhiều ngàn hòn đảo nhỏ đầy cảnh sắc của nó, giống như nền văn hóa của Hy Lạp đã bắt đầu trên các bờ biển Egée.

Trận hải chiến quan trọng đầu tiên trong lịch sử Nhựt xảy ra ở gần bờ biển Takamatsu vào tháng Hai 1185. Tháng sau đó, một lực lượng hải quân được thành lập gồm toàn những người dân Takamatsu, và lực lượng này đã giữ vai trò chánh trong cuộc chiến thắng ở Dan-no-ura thuộc biển Nhựt, một trận đánh lớn chưa từng thấy trong lịch sử của quốc gia Nhựt Bản.

Vào thế kỷ thứ XIII, khi một hạm đội Mông Cổ khổng lồ với 200,000 binh sĩ của Hốt Tất Liệt âm mưu đổ bộ lên Nhựt Bản từ phía Bắc Kyushu (Cửu Châu), một lần nữa, lực lượng hải quân Takamatsu đã giữ vai trò chánh yếu trong tiêu diệt địch ở bờ biển Nhựt. Michiari Kono, một vị Ðô đốc lừng danh của Nhựt, sinh quán gần Cao Tùng Thị, là người đầu tiên leo lên soái hạm Mông Cổ sau khi đắc thắng trong trận hải chiến khủng khiếp vào năm 1281. Tất cả các quyển lịch sử của Nhựt đều ghi lại kỳ tích này. Lần đó, toàn thể hạm đội Mông Cổ bị đánh tan ở vịnh Hakata. Sau này, các hạm đội Nhựt còn thực hiện nhiều “hải xuất phục thù” từ biển Hoàng Hải tiến đánh lục địa Trung Hoa.

Hạm đội Nhựt Bản thời Trung cổ này đã thi hành các nhiệm vụ có tính cách giống như xung kích quân của thời tân tiến. Khác với hạm đội Mông Cổ, vì không có ý định chiếm giữ thường trực đất Trung Hoa nên hạm đội Nhựt không mang theo số lượng quân đông đảo. Các thủy thủ cảm tử Nhựt sẽ bất thần đổ bộ lên đất liền, đột kích chớp nhoáng các lực lượng Trung Hoa, và rút lui ngay sau khi đốt phá. Lịch sử Trung Hoa đã cho thấy những xung kích quân Nhựt này đã đạt được nhiều kết quả trong các cuộc tấn công vào miền duyên hải Hoa Lục ở thế kỷ thứ XVII và đã tiếp tay lật đổ nhiều triều đại của họ, trong đó có triều đại nhà Minh nổi tiếng là cường thịnh.

Di sản hải quân của tỉnh lỵ sinh quán chắc chắn là yếu tố chính gây cảm hứng cho việc chọn binh nghiệp của tôi.

Hàn Lâm viện Hải Quân ở Eta Jima là một trong những trường có kỳ thi tuyển chọn kỹ càng với điểm số cao nhất ở Nhựt. Những thanh niên nhiệt huyết, những người thi rớt kỳ thi tuyển chọn đầu tiên ở trường này phải đợi đến một năm sau hoặc có thể là hai năm để đợi cơ hội khác để thi lại. Nhưng gia đình của tôi thì không thể để tôi đợi thêm một năm nếu không qua được kỳ thi. Vì vậy tôi cũng ghi danh vào Hàn Lâm viện Lục Quân.

Kỳ thi tuyển chọn vào học viện Lục quân chỉ được tổ chức ở các thành phố chính trên toàn quốc. Vào tháng 4, một tháng sau khi tôi tốt nghiệp trung học Takamatsu, tôi đến Marugame để dự thi tuyển vào Hàn Lâm viện Lục Quân, bài thi dễ dàng với tôi và tôi chắc rằng tôi sẽ vượt qua với số điểm cao.

Tháng sau đó tôi đến Honshu (Bản Châu) bằng đường thủy từ Cao Tùng Thị để dự kỳ thi tuyển vào Hàn Lâm viện Hải Quân được tổ chức ở Hiroshima. Cùng lúc này trường trung học Takamatsu có tổ chức một chuyến viếng thăm Honshu, nhưng tôi không thể tham gia vì lý do tài chánh.

Chuyến đi đầu tiên trong đời của một thanh niên thôn quê 18 tuổi thật sự sôi động, một mình lên thành phố lớn Hiroshima, thành phố lớn nhất phía Bắc Honshu, sầm uất nhộn nhịp, các con đường sang trọng rộng rãi đã làm tôi ngơ ngác.

Tôi ở trong một khách sạn trông có vẻ hiện đại nhất nhưng nằm xa những khu nhộn nhịp. Kinh nghiệm thuê phòng lần đầu tiên của tôi tỏ ra kém khôn ngoan. Ở các khách sạn của Nhựt các bữa ăn của khách được nữ nhân viên phục vụ ngay trong phòng. Cô gái phục vụ cho tôi vào khoảng 20 tuổi, đẹp và thân thiện. Nhưng vì quá thân thiện đã làm tôi căng thẳng!

“Anh có muốn uống chút rượu mạnh không?” cô gái hỏi.

“Không, thưa cô. Tôi chưa đủ tuổi uống rượu và hơn nữa ngày mai tôi phải dự thi vào Hàn Lâm viện Hải Quân Eta Jima.” Tôi trả lời.

“Ồ!” cô gái trầm trồ. “Anh chuẩn bị thi vào Hàn Lâm viện Hải Quân! Tuyệt làm sao! Anh sẽ trở thành một sĩ quan chói sáng! Anh sẽ quay lại khách sạn này trong bộ quân phục hải quân bảnh bao chứ? Em rất muốn gặp lại anh!”

Cuộc nói chuyện này làm tôi không được thoải mái. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với một người con gái nào từ trước đến giờ ngoài các chị tôi. Ðiều đó làm tôi nổi nóng khi cô gái cứ đặt ra những câu hỏi gây khó cho tôi. Khổ sở lắm tôi mới phun ra được từng chữ khi trả lời cô ấy, và thở phào nhẹ nhõm khi cô quay gót đi. Tôi mở vài quyển sách mang theo ra, tâm trạng lo âu và cố gắng học thêm chút ít trước khi thi. Tôi lật sách tới lui hàng giờ mà vẫn không tập trung được. Người khách phòng kế bên đang uống rượu thi với chiêu đãi viên. Giữa những lúc uống họ hát hò. Thật kinh khủng. Tôi nhận ra là mình đã chọn sai khách sạn.

Ðến nửa đêm tôi chịu thua và gọi xuống Tiếp tân yêu cầu họ chuẩn bị giường ngủ cho tôi. Các khách sạn ở Nhựt không có giường ngủ trong phòng. Khi khách cần nghỉ ngơi người phục vụ sẽ trải một tấm nệm futon ở giữa phòng cho khách nghỉ.

Cô chiêu đãi viên năng nổ lại xuất hiện để chuẩn bị giường ngủ cho tôi. Thay vì rút lui sau khi xong việc, cô ta lại giúp tôi thay đồ và chuẩn bị quần áo cho tôi, tôi thật sự bối rối.

Cô ta phớt lờ giọng nói cà lăm tỏ vẻ không đồng ý của tôi và bắt đầu đấm bóp cho tôi. Tôi đành nhượng bộ.

“Anh chàng trai trẻ ơi!”, cô ta nói với giọng chế nhạo, “trông anh rất căng thẳng, anh cần được xoa bóp. Nếu anh không dãn gân cốt và thoải mái tâm gan thì ngày mai anh sẽ thi trượt!” Cô gái cười khúc khích.

“Tên em là Noriko người tỉnh Yamaguchi”, cô nói tiếp. “Em đã làm việc ở khách sạn này suốt 3 năm rồi. Thỉnh thoảng cũng gặp nhiều rắc rối vì không phải khách nào cũng lịch sự như anh!”

Tôi lặng im, mặc dù cô ta mát-xa rất điệu nghệ nhưng lời nói của cô ta còn gây căng thẳng cho tôi hơn.

“Em không có nhiệm vụ tối nay…”, cô ta thì thầm “Anh có thể giữ em lại…”

Tiếng nói của cô gái thật trầm, nhưng đối với tôi lại vang như tiếng sấm động. Tôi hoảng sợ. “Cô muốn nói gì?”, tôi to giọng.

“Ồ! Này anh chàng tuổi trẻ ơi, anh đừng nên đóng trò thì hơn! Một anh chàng đẹp trai như anh phải biết qua hàng tá gái là ít. Tốt hơn là đêm nay anh nên giải trí để ngày mai đủ bình tĩnh mà đối phó với các bài thi.”

“Xin cô rời đây giùm tôi…,” tôi van nài. “Tôi chưa bao giờ biết qua một cô gái nào cả. Trong đời tôi, tôi cũng chưa từng nói chuyện với một cô gái nào cả, ngoại trừ các chị tôi. Cuộc thi ngày mai tối quan trọng đối với tôi.”

“Anh có vẻ đang nghĩ em là một con điếm!”, nàng nói. Giọng nàng thịnh nộ và giận dữ. “Em tự nguyện ở đây đêm nay với anh, bởi vì em cảm thấy yêu anh khi mới gặp. Em cũng biết theo luật của nhà trường, anh sẽ bắt buộc phải từ chối các cô gái khác trong bốn năm anh theo học ở Eta Jima. Em sẽ không tiết lộ vụ này cho các đồng nghiệp của em đâu. Anh nghe đó! Tất cả các phòng kề cận đều yên lặng. Họ ngủ hết rồi. Anh có thể ôm em mà không phải lo lắng…”

Tình cảnh này đối với tôi thật quá lắm! Tôi thành thật van xin cô gái rời khỏi phòng. Cuối cùng, cô ta bước ra với một cái nhìn đầy vẻ khinh thị.

Tai nạn này đã phá rầy giấc ngủ của tôi. Hôm sau tôi vào trường thi một cách uể oải vì thiếu ngủ. Tôi không cảm thấy một chút tin tưởng nào vào các bài thi mà tôi đã làm. Tôi trở về Takamatsu với sự chán nản và thất vọng.

Khoảng mười ngày sau tôi nhận được giấy báo cho biết đã qua được kỳ thi ở Hàn Lâm viện Lục Quân và phải trình diện Ðông Kinh vào tháng 8. Nhưng tôi đã đạt được ước nguyện: Hải quân đã nhận tôi! Tôi la hét “Banzai! Banzai!”, “Thiên hoàng vạn tuế! Vạn vạn tuế!” và nhảy nhót vui mừng khi nhận được điện tín thông báo thứ nhì này.

Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Tameichi Hara

Trần Vũ

February 26th, 2021

Post by Sơn râu 12 Apr 2024

Kỳ 1

Năm 1956 Saburo Sakai cho xuất bản hồi ký Samurai! được dịch ra nhiều thứ tiếng và trở thành bestseller trên toàn thế giới. Sakai đi vào huyền thoại với biệt danh “võ sĩ đạo của không trung”, The Sky Samurai hay Samurai of the Skies. Hai năm sau, Hạm trưởng Tameichi Hara viết hồi ký Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc và cũng nhanh chóng thành sách cần tham khảo cho những nghiên cứu về thủy chiến. Hara, cũng dòng dõi Samurai, nhận biệt danh “võ sĩ đạo của biển cả”, The Sea Samurai.

Khác biệt nào giữa Sakai và Hara? Rất nhiều. Vì Hara lên đến chức hải quân đại tá tương đương với một không đoàn trưởng hay một trung đoàn trưởng bộ binh, trong lúc Sakai chỉ vừa lên trung úy trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến. Tầm nhìn của Sakai, như thế, giới hạn vào những phi vụ không chiến cá nhân trong khi nhãn quan của Hara phủ rộng các thủy đoàn. Đặc biệt Hara là lý thuyết gia phóng ngư lôi của Hải quân Nhật và được xem là hạm trưởng tài ba nhất, “The Unsinkable Captain”, đã tham dự hầu hết các trận thủy chiến lớn. 

Nếu hồi ký của Hara ít chi tiết tình cảm lâm ly như mối tình giữa Sakai với Hatsuyo trong amurai! thì ngược lại, người đọc nhìn thấy việc vận hành và tham chiến của các hải đoàn Nhật Bản trên nhiều mặt: Học thuyết, chiến thuật, kỷ luật và những quyết định sống chết trên đài chỉ huy.

Như đã làm với hồi ký của Sakai, một lần nữa xin phép dịch giả Nguyễn Nhược Nghiễm cho hiệu đính và bổ túc bản Việt ngữ của ông (đã dịch từ bản Anh văn Japanese Destroyer Captain) qua đối chiếu với bản Pháp văn Les Torpilleurs du Soleil Levant của René Jouan. Và thay tựa tiếng Việt Yamamoto và Những Trận Đánh Lịch Sử Trên Thái Bình Dương của Tủ Sách Lê Thanh Hoàng Dân bằng tựa tiếng Pháp Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc, vì Đô đốc Isoroku Yamamoto rất ít xuất hiện trong hồi ký và đây là câu chuyện của những tàu khu trục hạng nhẹ.

Sau hết, câu nói của Hara: “Cuộc bại trận này không hề gây tổn thương đến vinh dự, niềm tin và thành quả mà các thủy thủ Nhựt đã đạt được..” cũng có thể dành cho các binh sĩ VNCH. 

[Trần Vũ]

(*) Tameichi Hara giữ chức Hải đội trưởng Khu trục hạm (Destroyer Squadron Commander) rồi thăng hạm trưởng tuần dương hạm vào những tháng chót của cuộc chiến.

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Thay Lời Tựa

Khi Nhựt Bản bắt đầu hồi sinh sau đệ nhị thế chiến, dân chúng Mỹ có cái nhìn vô tư hơn đối với cuộc chiến, và càng ngày càng có nhiều người bắt đầu đòi hỏi những câu chuyện xoay quanh cuộc chiến này được nói thẳng ra. Nhiều quyển sách có giá trị đã được một số cựu phi công Hải quân Hoàng gia viết, phản ảnh trung thực sự hiểu biết về những trận không chiến mà các tác giả đã từng tham dự.

Nhiều người đã thúc giục tôi kể lại câu chuyện hải chiến thời ấy. Ðây không phải là một việc làm dễ dàng, bởi các thủy thủ chỉ được huấn luyện để chiến đấu mà không được huấn luyện về viết văn. Thực vậy, quyển sách này không thể ra đời nếu không có sự hợp tác hết lòng của một số đông thân hữu mà tôi không thể nào đề cập hết ra đây. Tuy nhiên tôi có thể nói là tất cả những người có tên trong quyển sách này đã được tôi đích thân phỏng vấn, hoặc đã tình nguyện cung cấp chuyện riêng của họ cho tôi.
Tôi đặc biệt ghi ơn người bạn của tôi, Ko Nagasawa, giữ chức vụ Tổng tư lịnh của Tân Hải Quân Nhựt khoảng thời gian từ 1954 đến 1958, là người không chỉ sẵn lòng cung cấp cho tôi các câu chuyện của chính ông, mà còn chỉ thị cho Phân bộ Lịch sử của hải quân hợp tác với tôi.Tất cả các sử gia của hải quân đã đóng góp rất nhiều vào quyển sách này bằng cách cho phép sử dụng các kết quả tìm tòi và nghiên cứu của họ, điều khiến tôi luôn luôn nhớ ơn.

Tôi tin quyển sách này sẽ cung hiến một quan điểm trung thực của phía Nhựt, có thể bổ túc cho nhiều quyển sách giá trị của người Mỹ đã viết trước đây, nhưng có một điều đáng buồn là hầu hết các tài liệu liên quan đến Nhựt đều thiếu chính xác. Khi viết, các tác giả Mỹ dựa vào các cuộc thẩm vấn những người còn sống sót hoặc cựu chiến binh, do chính những kẻ chiến thắng thực hiện vào thời gian sơ khởi của cuộc chiếm đóng, thành thử những chứng liệu của họ thường quá phiến diện.

Khi viết sách này, tôi đã cố gắng khách quan càng nhiều càng tốt, và để làm như thế, tôi phải đưa ra sự phê phán nghiệt ngã, không chỉ đối với chính tôi, mà còn đối với những thân hữu đã giúp đỡ tôi hết lòng. Thói quen của con người, và cũng là sự thất bại của mọi sĩ quan trong quân đội, là thường cố che đậy mọi lỗi lầm nếu không của chính mình thì cũng của đồng đội. Thực vậy, tôi đã thấy khổ tâm khi phải tránh sự thất bại này.

Sự phê phán và sự chơn thực của tôi có thể gây nhiều tổn thương cho các đồng nghiệp của tôi, và có thể cho phía đã chiến đấu chống lại tôi. Tuy nhiên, tôi hy vọng rằng độc giả, như thế, sẽ có một cái nhìn bao dung, và xin cố hiểu rằng thâm tâm tôi không muốn gây phiền lòng cho riêng một ai.

Sống sót sau khi tuần dương hạm Yahagi của tôi bị đánh chìm ở Okinawa vào tháng 4 năm 1945, tôi được bổ nhiệm về Trường Huấn luyện Ngư Lôi đỉnh Kawatana gần Sasebo và Nagasaki. Chức vụ chỉ huy mới của tôi là trông coi về công cuộc huấn luyện du kích chiến, dự phòng chống lại các cuộc đổ bộ của Hoa Kỳ lên lãnh thổ của Nhựt Bản.

Lịnh đầu hàng của Nhựt Hoàng Hiro Hito ngày 15 tháng 8 năm 1945 đã xảy ra trong khi tôi đang đảm trách công việc huấn luyện một số thanh niên Nhựt cải trang thành phụ nữ hoặc tăng ni, cho mục đích đặc công chặn các lực lượng xâm chiếm, ở căn cứ Kawatana. Tôi đã giao nộp căn cứ này cho một Lực lượng Ðặc nhiệm Hải quân Hoa Kỳ, do Ðại tá Francis D. McCorkle chỉ huy, vào ngày 25 tháng 9 năm 1945. Viên đại tá Mỹ, sau này lên đến chức đô đốc, đối xử với tôi với tư cách một người bạn hơn là một kẻ chiến thắng, điều này làm tôi ngạc nhiên. Ông ta yêu cầu tôi tặng ông ta một máy tính tốc độ của một trong những chiếc ngư lôi đỉnh tự sát Shinyo đang đậu ở quân cảng Kawatana. Tôi bắt buộc phải làm hài lòng ông ta.

Từ khi chiến tranh chấm dứt, tôi làm việc cho một công ty chuyển vận muối. Hai đứa con gái lớn của tôi kết hôn năm 1954, chồng của chúng, một là sĩ quan hàng hải, một là công chức. Con trai tôi, Mikito, đã vào đại học, vợ tôi, Chizu, khỏe mạnh và hạnh phúc.

Tameichi Hara, Đông Kinh, ngày 25 tháng 2 năm 1958

Phi Lộ

Trong suốt Thế chiến, từ 1941 đến 1945, toàn thể Hải quân Hoàng gia Nhựt sở hữu 25 hàng không mẫu hạm, 12 thiết giáp hạm, 18 tuần dương hạm nặng, 26 tuần dương hạm nhẹ, 175 khu trục hạm và 95 tiềm thủy đĩnh. Nhưng chính các khu trục hạm nhỏ bé, bất kỳ thời gian nào cũng không quá 130 chiếc, mới đích thực gánh mọi nặng nhọc nhất của cuộc chiến. Chúng là con ngựa của Hải quân Hoàng gia.

Những khu trục hạm bé nhỏ này không chỉ đơn giản được giao nhiệm vụ của các tàu chiến mà còn phải lãnh nhiệm vụ hộ tống các cuộc chuyển vận và có khi phải hộ tống hàng nhiều tháng, càng đặc biệt khi từ đầu năm 1943 đến giữa năm 1944, hầu hết các đại chiến hạm của Nhựt đều được “giữ gìn cẩn thận” cách xa mặt trận. Khu trục hạm Nhựt từng tham dự rất nhiều hải chiến dữ dội và đạt nhiều chiến tích vẻ vang vào những ngày đầu cuộc chiến. Những chiến thắng này đã chứng minh tài điều động khu trục hạm của sĩ quan Nhựt vượt trội hẳn Ðồng Minh.

Tuy nhiên, từ giữa năm 1943 các khu trục hạm Nhựt đã hoạt động hết tháng này sang tháng khác mà không được bảo trì hoặc tu bổ đúng mức; cũng như sự khiếm khuyết nhân lực khó thay thế đã khiến các tàu chiến hữu hiệu này dần mất ưu thế trước các tàu cùng loại của Ðồng Minh. Thêm nữa, công việc phát triển các thiết bị kỹ thuật của Ðồng Minh đã đạt đến mức độ đáng kinh ngạc, và hơn nữa, họ dần chiếm lĩnh không trung.

Tuy nhiên, các khu trục hạm Nhựt vẫn chiến đấu ngoạn mục cho đến tàn cuộc chiến. Tôi nghĩ những thành tích của chúng đáng nhắc lại cho hậu thế. Ðành rằng những trận chiến của khu trục hạm không thể so sánh với những hải chiến quy mô và lừng danh chẳng hạn như thủy chiến biển San Hô, Midway, Mariana hoặc vịnh Leyte có cả sự tham gia của phi cơ và các thiết giáp hạm chủ lực, nhưng những nỗ lực và thành công của tàu khu trục hạm Nhựt cũng có tầm mức giá trị cần được ghi lại chi tiết. Nhứt là khi chúng đang dần bị lãng quên.

Các hàng không mẫu hạm Nhựt đã giữ vai trò hàng đầu trong trận Trân Châu Cảng, có thể nói một thành công, cũng như các cuộc hành quân quy mô sau đó, song đã đưa đến thảm bại hoàn toàn ở Midway, Mariana và vịnh Leyte.

Các tàu chiến lớn của Nhựt được Bộ Tư Lệnh Tối Cao nâng niu và “giữ gìn” bằng mọi giá, cho dù ngay khi gặp phải những tình thế tồi tệ nhứt. Như đại thiết giáp hạm Musashi 72,400 tấn, tiêu thụ nhiên liệu gấp 80 lần chiếc khu trục hạm lớn, chỉ tham chiến một lần và bị đánh chìm ở vịnh Leyte mà không có dịp may để sử dụng 9 khẩu pháo 460 ly nhằm vào bất kỳ một mục tiêu giá trị nào.

Chiếc Yamato 72,800 tấn, chiếc tàu song sinh với Musashi, chỉ tham chiến được 2 lần. Tại Leyte, chiếc Yamoto bị các hàng không mẫu hạm hạng nhẹ của Hoa Kỳ chận đứng. Và hai tháng sau đó trên đường tham dự nhiệm vụ tự sát ở Okinawa, thiết giáp hạm này bị đánh chìm ở Ðông Hải, cách bờ biển Nhựt Bản hơn 100 dặm.

Chỉ có những khu trục hạm nhỏ của Nhựt hoạt động liên tục trong suốt cuộc chiến và trong nhiệm vụ hộ tống các đại chiến hạm. Chúng đã đánh chìm nhiều chiến hạm, tàu ngầm, các dương vận hạm vận chuyển tiếp tế cho binh sĩ của địch quân.Nhiệm vụ thích thú nhất của tôi trong hải quân có lẽ là khoảng thời gian lênh đênh trên các khu trục hạm và cũng có thể nói đó là nhiệm vụ mà tôi theo đuổi trong suốt cuộc chiến. Lúc ấy các đồng ngũ trong hải quân đã gọi tôi là “hạm trưởng huyền diệu” và chiếc khu trục hạm Shigure của tôi mang biệt danh “Kiên cố”. Tôi không nghĩ rằng tôi đáng được hưởng những lời khen ngợi ấy. Những sĩ quan thuộc 129 khu trục hạm của Nhựt bị đánh đắm, cũng giống như nhiều lực lượng hải quân khác đã ra đi vĩnh viễn lúc tài ba của họ còn đương bột phát và nhiều người trong số này vượt xa tôi. Thực ra sự sống sót của tôi chẳng qua là nhờ may mắn.

Giữa những kẻ sống sót như tôi, tôi tin rằng có những người tài cán bằng hoặc hơn tôi, nhưng họ tránh đề cập đến các thành tích của họ, dĩ nhiên họ đã làm theo châm ngôn: “Bại tướng không nên nhớ đến mình.” Riêng tôi, tôi quyết định “thách thức” câu châm ngôn này, không phải cho chính tôi, mà cho những khu trục hạm và những thủy thủ đã từng chiến đấu với chúng, một niềm tin thích đáng. Cho họ thấy rằng cuộc bại trận này không hề gây tổn thương đến vinh dự, niềm tin và thành quả họ đạt được.

Nếu quyển sách này có vẻ như đã nói quá nhiều về tôi, xin độc giả hiểu một cách đơn giản là tôi chỉ muốn cố gắng thể hiện một “mẫu thuyền trưởng khu trục hạm của Nhựt Bản”, với những thao tác thích ứng, cũng như các lỗi lầm của hắn, ngoài ra chẳng còn hàm ý nào khác.

Hồi ký này không thể nào ghi lại tất cả câu chuyện của từng khu trục hạm một. Ðặc biệt, tôi đã bỏ qua không đề cập đến khu trục hạm Yukikaze đã dự tám cuộc hành quân và các trận hải chiến quan trọng trong những ngày cuối của cuộc chiến nhưng vẫn còn tồn tại. Bởi lẽ theo thiển ý của tôi, các thành tích của Yukikaze trong khoảng thời gian từ 1941 đến 1944, Ðại tá Hải quân Ryokichi Ranma là người đủ tư cách để viết về. Tôi hy vọng ông sẽ viết đầy đủ chi tiết về chiếc Yukikaze qua các dữ kiện của riêng ông.

Vào ngày 7 tháng 4 năm 1945, tuần dương hạm hạng nhẹ Yahagi đã chịu đựng một cuộc tấn công kéo dài 90 phút của các phóng pháo cơ Avenger và chiến đấu cơ Hellcat của Hoa Kỳ. Chiếc tàu đã trúng 6 thủy lôi, 12 quả bom 250 cân Anh, và nhiều loại bom khác. Hình phạt này tỏ ra quá nhiều cho chiếc tàu dù nó đã chiến đấu dũng cảm.

Sáng sớm hôm đó, Yahagi khởi hành từ biển Nhựt Bản với 8 khu trục hạm và thiết giáp hạm khổng lồ Yamato. Mục tiêu của các chiếc tàu này là Okinawa. Nơi đây, một cuộc tấn công tự sát sẽ được tung ra nhằm vào các lực lượng xâm chiếm của Hoa Kỳ. Rõ ràng đây là một cuộc tấn công tự sát, bởi các tàu chiến của Nhựt chỉ mang theo đủ nhiên liệu cho lượt đi mà thôi.

Bấy giờ cách bờ biển Nhựt Bản không đầy 100 dặm, địch quân đã tung ra một cuộc tấn công dữ dội, chận đầu lực lượng đặc nhiệm Yamato và hạ gục tuần dương hạm nhẹ Yahagi.

Là hạm trưởng của Yahagi, tôi đứng trên đài chỉ huy vào lúc các lượn sóng đã mấp mé đến chân. Cùng đứng với tôi là Phó Ðô đốc Keizo Komura, tư lệnh lực lượng hộ tống. Quanh chúng tôi đầy rẫy sự hủy diệt do cuộc tấn công của địch gây ra. Trong lòng chiếc Yahagi, xác người lẫn lộn với các mảnh vỡ, không một vật gì còn nguyên vẹn sau cuộc không kích như vũ bão. Chiếc tàu nghiêng về tả mạn 30 độ và chìm nhanh chóng. Phó Ðô đốc Komura không bị thương, riêng tôi mặc dù máu chảy xuống ướt bàn tay trái, tôi cũng không hề có cảm giác gì gọi là bị trúng đạn. Nhìn quanh lần cuối cùng, tôi thấy thiết giáp hạm Yamato, cách phía trước tôi khoảng 6 km, vẫn còn chiến đấu. Hai trong số các khu trục hạm của chúng tôi đã chìm. Ba chiếc khác đang bốc cháy dữ dội, hạ dần xuống nước và sau đó mất tăm hẳn. Ba chiếc còn lại đang chạy theo hình chữ chi một cách tuyệt vọng.
“Ði.”, Phó Ðô đốc Komura nói. Tôi gật đầu. Chúng tôi tháo giày và nhảy xuống nước. Ngay lúc đó chiếc tàu chìm xuống, cuốn chúng tôi theo tận dưới đáy Ðông Hải. Vực nước xoáy từ chiếc tàu chìm tạo ra đã nắm cứng lấy chúng tôi như một bàn tay vô hình có sức mạnh khủng khiếp. Tôi vùng vẫy một cách vô ích. Tôi ngộp thở và nuốt nước biển liên hồi. Quanh tôi tối đen như mực. Tôi đã chết? Chưa, tôi lại cố gắng vùng vẫy. Tôi không sao nhớ được đã trải qua bao nhiêu phút, nhưng đó là một thời gian rất dài đối với tôi, thình lình bàn tay có sức mạnh khủng khiếp đó buông tôi ra. Một làn ánh sáng mỏng manh phía trên, chứng tỏ tôi đang trồi lên mặt nước. Một dòng bọt từ mũi tôi túa ra và tôi lại uống nước. Tôi đạp mạnh vùng vẫy để bắt buộc bóng tối nhường lối cho bầu trời xanh và ánh nắng. Tôi giựt nẩy mình vì trồi lên mặt nước một cách quá đột ngột. Choáng váng đầu óc trống rỗng, tôi chỉ biết thả trôi trên mặt nước. Nhưng tôi nghe và nhìn thấy chiếc Yamato vẫn còn đang chiến đấu. Phi cơ của Hoa Kỳ quây quần như một bầy muỗi chung quanh chiếc tàu, và những trái hỏa tiễn chí tử được phóng ra, những trái bom liệng xuống, những trái ngư lôi phóng đi nhưng chiếc tàu vẫn tiếp tục chống trả. Cảnh tượng hào hùng này đã giúp tôi rời khỏi cơn ngơ ngác.

Thiết giáp hạm Yamato 72 ngàn tấn, 9 đại bác 460 ly

Nhưng cảnh tượng trước mắt chẳng tồn tại lâu, vì tiếp liền đó, một cột lửa và khói trắng vĩ đại từ chiếc tàu bốc lên, che khuất mọi vật. Riêng cuộn khói bốc cao khoảng 6000 thước. Khi khói tan, tôi không còn thấy gì trên mặt nước nữa. Ðại chiến hạm Yamato, niềm kiêu hãnh của Hải quân Hoàng gia Nhựt, đã biến mình vào biển cả, điều này có nghĩa là vận mạng của Hải quân Hoàng gia đã cáo chung.

Tôi rùng mình. Những giọt lệ nóng dâng đầy đôi mắt và chảy xuống má. Tôi bám lấy một mảnh vụn và trôi lênh đênh một cách buồn bã.

Vận mạng của tôi cũng cáo chung. Từ đầu cuộc chiến Thái Bình Dương cho đến nay, tôi đã thực hiện hơn 100 hải xuất và, trong khi một số đồng đội của tôi đã vĩnh viễn ra đi, tôi luôn luôn trở về với những chiến thắng. Giờ đây tôi mới nếm mùi cay đắng của chiến bại lần đầu tiên trong đời binh nghiệp của mình.

Khi tôi biết mình chẳng có bất kỳ dịp may sống sót nào ở hiện tại, những hình ảnh của quá khứ bỗng nhiên tràn ngập tâm trí.

Tôi nhớ lại cuộc thảo luận đầy sôi động trong ngày hôm qua giữa 3 vị Ðô đốc và 10 hạm trưởng về mạng lịnh được gọi là chuyến đi cuối cùng của hải quân Nhựt. Không ai trong chúng tôi hy vọng nhiệm vụ thành công. Thiết giáp hạm Yamato cùng với tuần dương hạm Yahagi của tôi và 8 khu trục hạm khác phải trực chỉ Okinawa với số nhiên liệu vừa đủ cho lượt đi. Chúng tôi, với nhiệm vụ tự sát, sẽ tấn công với những gì mà chúng tôi có để chống lại hạm đội của Hoa Kỳ ở Okinawa. Nhưng chúng tôi đã bị đánh gục ngay trước nửa đường đến mục tiêu.

Tôi thấy hình ảnh những người trong gia đình tôi một cách sống động. Bỗng nhiên khuôn mặt của tôi như bị một màn mưa mờ che phủ. Tôi ứa nước mắt.

Tôi gào to: “Vĩnh biệt Chizu. Em là một người vợ hiền, là mẹ tốt của các con chúng ta. Vĩnh biệt hai con Yoko và Keiko, và Mikito, con trai của ba. Sau khi ba của các con ra đi vĩnh viễn, quê hương của các con trở thành xứ chiến bại, các con sẽ phải gánh chịu cảnh khốn cùng. Hãy tha lỗi cho ba! Hãy cố nhớ lại là ba đã làm tất cả những gì mà một người lính có thể làm.”

Sau đó, tôi nghe một giọng hát cất cao. Tôi không cô độc. Tôi nhìn quanh, nhận thấy nhiều chiến hữu khác đang lập lờ trên sóng nước. Dần dần tiếng hát của họ họp đoàn, bất chấp các tiêu lịnh huấn luyện đã cấm chỉ họ làm như thế. Qua tiếng hát đầy dẫy thê lương, tôi nghe như thấp thoáng bài “Chiến sĩ ca” xưa cũ:

Nếu tôi rời xa biển cả

Tôi sẽ trở về như một xác chết nổi trôi

Nếu nhiệm vụ gọi tôi lên núi

Ðồng cỏ xanh sẽ là áo liệm thân tôi

Vì đã nguyền hiến thân phục vụ Thiên hoàng

Tôi sẽ không chết yên bình giữa thê nhi êm ấm

Lệ tôi ngừng ứa, và tôi khép đôi mắt lại để hồi tưởng các con thơ, những ngày còn cắp sách đến trường, những người bạn sinh viên sĩ quan cùng khóa, trường hải quân Etna Jima và những trận chiến đầy vinh quang ở biển Java, Solomon….

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 12 Apr 2024

Chương 3

Lê Đình Điểu nghe tin tôi là nạm nhân bị ” đàn áp văn nghệ ” sớm nhất. Ngày hôm sau, buổi học chiều mấy ngày sau, suốt buổi học anh không nói gì. Giờ tan học. Điểu rủ tôi về nhà anh chơi, vẫn căn nhà vắng vẻ đó, ba má Điểu chưa đi làm về. 
Ngồi trên ghế mây ở bao lơn nhìn xuống con hẻm nhỏ, anh vào thẳng vấn đề: 
– Này bạn, tôi thấy không chịu nổi rồi đó. 
Tôi biết Điểu muốn đề cập đến chuyện gì, nhưng vẫn vờ hỏi: 
– Chuyện gì vậy bạn? 
– Còn chuyện gì nữa, chuyện cậu bị ông chú tàn nhẫn đánh một trận vì bạn sáng tác văn nghệ, thằng em họ bạn, thằng Hoà ấy, đã kể cho tôi hết rồi, hôm bạn không có nhà. Có phải bạn bị hai chục cái chổi lông gà vào mông chết lên chết xuống, còn bị xát muối ớt vào đít không, chưa hết còn bị phạt nhịn cơm một ngày. Có phải vậy không, tội nghiệp hoàn cảnh bạn mồ côi…. 
Tôi nghệt mặt ra, thằng con ông chú đã kể với bạn tôi quá đáng. Có bị đánh đòn thật, vì tội ghi tên thật dưới bài viết, nhưng đâu đế nỗi thê thảm như thế. Thằng nhóc đặt điều, khi tôi bị đánh thì anh em nó vỗ tay nhảy choi choi lấy làm khoái chí lắm, nói với bạn tôi thì chúng lại ra vẻ thương xót. Thương xót khỉ mốc gì. 
Tôi nhìn Lê Đình Điểu thú thật: 
– Tôi có bị ông chú ” đục ” một trận thật, nhưng không thê thảm thế đâu, thằng em tôi nói hơi quá đáng, thật tình chú tôi, cũng như cha, thương tôi, thấy tôi ham mê văn nghệ sợ tôi xao nhãng việc học, nhưng đó là theo quan niệm của ông. 
Lê Đình Điểu ra vẻ khó chịu: 
– Tôi thì không chịu lối cha mẹ giáo dục kiểu đàn áp con như vậy, vả lại chúng ta không làm gì bậy, không lêu lổng chơi bời, chúng ta lành mạnh, chúng ta vẫn là học sinh giỏi trong lớp. 
Tôi gật đầu biểu đồng tình: 
– Tôi đồng ý…. 
– Nhưng tại sao lại để ông chú đàn áp vậy? 
– Tôi làm gì được, ông có quyền. 
Điểu cười nhạt, gật gù rất là ông cụ non: 
– Nói tóm lại tôi hiểu hoàn cảnh bạn. 
Giọng Lê Đình Điểu nhỏ lại: 
– Bạn là người có tài, nhưng sớm mồ côi, ngheò khó, phải sống nhờ vào họ hàng mới ra nông nỗi này. Tôi hiểu thế đấy, nhất định tôi phải có một bài báo ” đối thoại với các đấng làm cha mẹ “. Bài báo đó sẽ đăng vào báo của chúng mình. 
Lê Đình Điểu nhất định giữ ý kiến ấy, tôi có giải thích mấy anh cũng không chịu hiểu khác. Chẳng những thế, Điểu còn phê bình chú tôi là con người đàn áp văn nghệ, con người không tình cảm, không có cả ” con tim “….. Ôi thôi không biết lá bao nhiêu từ ngữ ghê ghớm khác. Anh ta nói mà tôi phát ớn, phát sợ. Nếu ông chú tôi có mặt ở đây, tôi không biết phải chui đâu mà trốn. 
Tôi xua tay: 
– Thôi thôi, tôi xin ” ông “. 
Chúng tôi mới ngồi nói chuyện với nhau một lúc mà trời đã xế chiều, nắng tắt dần dưới ngõ hẻm. Tôi nghĩ đến chú, có lẽ giờ này ông đã về, ông luôn luôn về nhà đúng giờ, nếu tôi về muộn cũng có điều hơi phiền. 
Tôi nói với Điểu: 
– Muộn rồi, tôi phải về bạn à! 
– Ngồi chơi chút đi, mình còn nhiều chuyện bàn với nhau. 
– Còn chuyện gì đâu. 
– Ủa, bạn quên là tết năm nay mình phải làm môt số đặc san cho nhà trường à! 
– Chuyện đó là của mấy anh lớp trên, chứ mình chỉ phụ thôi. 
– Cho bạn biết thi văn đoàn Lãng Bạc của mình chính là nòng cốt đó, lớp mình tuy nhỏ nhưng quy tụ nhiều tài hoa, thi văn nhạc hoạ đủ cả. Số báo xuân này mình phải làm thật vĩ đại, phát hành rộng rãi.Mỗi gia đình học sinh bắt buộc phải mua một số báo xuân với giá đặc biệt để ủng hộ cho quỹ học sinh, có thể đăng ký mua thêm để biếu. Các anh lớn lớp đệ nhị đệ nhất đã đi khảo giá in, giá giấy rồi, một vị mạnh thường quân sẽ cho vay tiền không lấy lời để làm báo, miễn là do các học sinh làm. 
Những lời nói đầy phấn khởi của Lê Đình Điểu tự nhiên hớp hồn tôi, tôi quên luôn lời ” chú dạy “, mắt sáng lên và tôi cũng trở nên nồng nhiệt hăng hái: 
– Mình phải làm thật hay, bài vở xuất sắc mới được. 
– Đương nhiên, nhưng bạn có chịu viết một truyện ngắn đặc sắc không? 
– Viết chớ, mình sẽ hết sức cố gắng. 
Lê Đình Điểu cười ha hả, bắt tay tôi thật chặt: 
– Có thế chứ, vậy thì ngày mai chúng ta bàn tiếp, bây giờ thì bạn có thể về với ông chú hắc ám của bạn được rồi. 
Tôi đạp xe về nhà, đèn đường đã bật sáng, tôi vừa nghĩ đến lời Lê Đình Điểu, vừa nghĩ cách nói dối về muộn. Có lẽ ở nhà đã bắt đầu ăn cơm, tôi biết chắc rằng tôi vẫn được để phần đàng hoàng. Rồi đầu óc tôi cứ lẩn quẩn nghĩ hoài đến tờ báo xuân của nhà trường. Truyện ngắn tôi sẽ viết, những bài thơ, tuỳ bút, phóng sự của bạn bè. Tôi hình dung số báo xuân, khổ hơi to một chút để trình bày, dầy những 30 trang, tranh bìa vẽ lại bức tranh dân gian. Tranh lợn gà chuột gì đó, truyền thống vẽ tranh làng Đông Hồ. Nơi đó cũng xa xôi rồi, ở miền Bắc xa xôi kia, nay đã chia cắt. Tryuện ngắn của tôi phải cảm động khóc lên được.Tôi nghĩ đến truyện ngắn tôi đọc hồi nhỏ khi còn ở miền Bắc, trời lạnh nằm trong chăn bông, vùi mặt khóc rưng rức, cảm đông như truyện ” anh phải sống ” của Khái Hưng trong Tự Lực Văn Đoàn, rồi còn bao nhiêu truyện ngắn khác tôi đã đọc. Riêng tôi cũng phải có một truyện ngắn cảm động chứ. Thiếu gì, ngay chính những ngày thơ ấu của tôi, những ngày lưu lạc thuở nhỏ tản cư. Ngày bác cả tôi bị Tây giết bỏ lại bác cả gái què quặt. hôm đó tôi đã khóc biết bao nhiêu nước mắt. Bố tôi khóc liền mấy đêm, rồi một buổi sáng sương mù ông giã từ vợ con lên đường. 
Tôi hiểu rằng ông đi để trả thù cho cái chết tức tưởi của anh. Bóng ông mờ dần vào rừng núi thượng du Bắc Việt. Tôi cõng thằng em trên lưng đứng nhìn theo cha. Chỉ nghĩ như thế thôi tôi đã thấy cay cay ở mũi và chớp nhanh mắt. 
Tâm hồn tôi như thế, tôi không mơ làm văn sĩ sao được. Đầu tôi đầy ắp dĩ vãng và những điều suy nghĩ. Tôi phải thực hiện ngay đêm nay. Tôi nhấn chân trên bàn đạp. 
Tôi qua cầu Quay về hướng SG, vô tình qua đường Lê Thánh Tôn, qua khám lớn SG cũ, nay bị phá sập, còn trơ gạch vụn cỏ đã mọc đầy. Mấy năm trước, sinh viên di cư đã cắm trại ở đây chờ sắp xếp về ký túc xá Minh Mạng. Tết năm di cư đầu tiên, trời lạnh như tết miền Bắc, các sinh viên di cư nhớ quê hươngnổi lửa trại, liên hoan đón giao thừa, cùng nhau nhắc lại những cái tết quê hương. Trời bất chợty đổ mưa, những cơn mưa nhẹ, như bụi, như mưa xuân miền Bắc. Ca sĩ Minh trang, vợ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước bất ngờ xuất hiện. bà đứng trước đống lửa rừng rực và hát. Bài ” hướng về Hà Nội ” của Hoàng Dương. Hà Nội ôi! hướng về thành phồ xa xôi….. Tôi không hiểu tại sao mình lại có mặt buổi lửa trại đó và cũng buồn nhớ quê hương. Tôi nghe tiếng khóc xụt xùi, trời vẫn mưa hạt nhẹ và ngọn lửa vẫn bùng bùng. 
Tiếng hát như có thêm sinh khí càng não nùng…..Sự im lặng sau bài hát đến trống vắng, những con người buồn đến lặng thinh. Rồi một tiếng khóc không nín được, oà lên, lây lan sang ngưòi khác. Hình như trong đó có cả tôi, dù rằng tôi đã xa Hà Nội trước đó mấy năm rồi. Nay tôi lại hướng về những ngưòi di cư, những người cùng quê hương miền Bắc với tôi. 
Tôi muốn ghi lại buổi lửa trại đêm giao thừa năm đó từ lâu lắm rồi, vì tôi nhớ như in, nhưng mấy chục năm cầm bút tôi đã bỏ sót nó…..Như từng bỏ sót nhiều điều, nhiều chuyện. Dĩ vãng đó nằm trong thuở tôi mơ làm văn sĩ. 
Sau khi bỏ học trường Thiếu Sinh Quân ở Vũng Tàu, còn có tên tây Enfant de troupe. Tôi ở lại SG. Tôi không vào được trung học công lập, đành học trường tư. Thầy Bùi Giáng, giáo sư việt văn, tôi là học trò của thầy. Ông là người phóng khoáng chỉ thhích làm thơ, dạy học và rong chơi. ông đứng ngoài chính trị và các phe phái. Khi đó cuối cuộc chiến, không thiếu gì các giáo sư theo phái này theo theo phe phái kia, dĩ nhiên lôi kéo cả những học sinh về với phe mình. Rồi hiệp định Genève, chia đôi đất nước. Cuộc di cư ào ạt. những người Bắc di cư toả rakhắp miền Nam. Ngôi trường Kiến Thiết cũng trống vắng nhiều học sinh. Tôi hỏi ra nhiều ngưòi đã theo gia đìnhhoặc đoàn thể tập kết ra Bắc. Chính bạn bè tôi cũng ở trong số đó. Tôi không hiểu tại sao có tình trạng ấy. nguời thì di cư người thì tập kết. Tôi trở nên cô đơn. Tôi lần mò xuống trại học sinh Phú Thọ chơi. những người bạn mới, cùng quê hương xứ sở tôi. Thỉng thoảng tôi gặp người bạn quen, ở Hà Nội của tôi thuở xa xưa. Tôi hỏi một người họ hàng rằng sao lại có trường hợp ấy. Tôi được trả lời vắn tắt. Rằng không ai bỗng dưng bỏ làng nước, mồ mả tổ tiên mà ra đi. Chuyện chính kiến là chuyện của người lớn, tôi không mấy quan tâm. nhưng tâm hồn tôi lãng mạn. Tôi sẵn sàng cảm động khi nghe một bài hát về Hà Nội, quê hương miền Bắc, những mảnh đời khổ sở của các học sinh miền Bắc, nghề kiếm tiền ăn học của một số đông học sinh di cư hồi ây là nghề bỏ báo cho các nhà tư nhân hoặc dạy học tư gia. Báo chí của ngưòi di cư bắt đầu ra đời, chỉ vài tờ thôi, người ta nói là báo chống cộng. Có thật nhân dân miền Bắc đang phải sống dưới một sự cai trị hà khắc? 
Những cuộc đấu tố giết ngưòi kinh khủng mà người ta gọi là cải cách ruộng đất. Quả là kinh khủng, nếu chuyện đó có thật. Cả triệu người chết oan ức sau một cuộc chiến dài 9 năm, bao nhiêu xương máu đổ ra. Bao nhiêu người đã hy sinh. Một chiến Điện Biên phủ long trời lở đất, cho dân tộc hay cho chế độ? Tôi mệt óc vì những chuyện như thế. Những ngày chúa nhật buồn tôi thường đạp xe xuống nghĩa địa Đô Thành thăm mả bố, thì giờ rảnh rang, tôi đạp xe xuống ông Tạ, ngã tư Bảy Hiền rồi bà Quẹo. Ngoại vi đô thành, khi đó còn hoang vu lắm. Loáng thoáng nhà dân dọc đường, một vài chỗ có nhữnng ngôi nhà thờ đơn sơ bằng gỗ mọc lên, khu người Bắc di cư thiên chúa giáo. Tôi nghe tiếng ru, điệu ru à ơi miền Bắc, tiếng thổi kèn đu đủ mà hồi bé tôi từng nghe những người làm xiếc ở chợ miền Bắc, tất cả những hình ảnh đó, âm thanh quen thuộc đó đã nằm im trong đầu tôi, nay bùng lên, như ngọn lửa. Có tiếng hát nào đó ở quán cà phê Thăng Long: 
Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu….báo nhiêu mộng đẹp xây lên thành khói tan thoe mây chiều…….. 
Tôi tạt vào quán Thăng Long uống ly cà phê, nghe nhạc và ngồi nhớ về miền Bắc, để thấy mình như một kẻ ly hương……Tất cả ở đây đều có phong cách Bắc Kỳ…..Tha hồ mơ mộng….vì những lý do như vậy, tôi sang trường di cư do một ông anh bà con, giáo sư Nguyễn Hữu Quyền xin cho. Tôi đỡ được một khoản tiền đóng học phí mỗi tháng. 
Nhà anh Quyền ở Ông Tạ. Hai bác sinh ra anh cũng ở đó. Có dịp tới thăm. Đã có lần anh Quyền khuyên mẹ tôi mua nhà ở khu Ông Tạ, vì gia đình tôi chưa có một căn nhà riêng, vẫn phải ở nhờ nhà chú. nhưng mẹ tôi phải lo buôn bán nên ít khi có nhà. Mẹ tôi chê vùng Ông Tạ xa thành phố nên không mua nhà nơi đó. Tôi vào trường di cư, tôi có thêm một số bạn mới. Lòng nhớ quê hương có dịp tăng trưởng trong một cái đầu nhậy cảm. 
Trời đã tối hẳn. Tôi thả hồn mơ mộng mãi nên quên cả đường về. tôi đâm hoảng, tự trách mình sao vô tâm vô tính như thế. Tôi nghĩ đến cây chổi lông gà rung rung trong tay chú. Đã chót rồi, nhưng tôi không quên ghé tiệm tạp hoá mua cho con bé Hạnh mấy kẹo bạc hà. Ngộ lỡ tôi có bề nào thì có con bé Hạnh và chó Lu an ủi. Không như thằng bé Đức cầm sẵn chổi lông gàđưa tôi để ” dâng ” lên chú. Thằng Đức nổi tiếng là thằng ” ác ” nhất nhà, thằng Hoà thì chỉ biết cái thân mình, thằng Hiền láu cá vặt, chỉ riêng con Hạnh có lòng ” từ bi ” xứng đáng nhận những cái kẹo của tôi. 
Về đến nhà trời đã tối hẳn, khác hơn mọi khi, bảy giờ mà những đưa em, con chú tôi còn đưa nghịch ngoài sân.Con bé Hạnh và con chó Lu sủa mấy tiếng thân ái. Bé Hạnh nhanh nhẩu: 
– Anh ơi! bác mới về, bác mua nhiều kẹo bánh lắm cơ, bác đang ngồi nói chuyện với ba má ở sân nhà sau. 
Mẹ tôi về, tôi dúi vội cái kẹo vào tay bé Hạnh, dắt xe đạp vào nhà. Mẹ tôi và chú thím ngồi nói chuyêngị ở bàn ăn, bây giờ là lúc ngồi uống nước trà, ăn bánh tráng miệng, nhưng trước mặt chú tôi vẫn là ly nước lọc. Tôi sững sờ nhìn mẹ, bà hơi già đi so với hồi đầu niên học, tóc bà đã điểm vài sợi bạc. Tôi chào mẹ, chú tôi đang dở nói chuyện với mẹ, hình như về chuyện chọc hành của tôi, ông nhìn tôi: 
– Chị thấy đó, mãi giờ này nó mới chịu về. 
Tôi nói dối, chống chế ngay: 
– Dạ, cháu phải tới nhà bạn chép bài. 
Chú tôi chỉ hừ hừ, như thói quen của ông: 
– Vào ăn cơm, xong rồi gọi các em vào phòng học, muộn nửa tiếng rồi, chú còn phải nói chuyện với mẹ cháu. Có gì không hiểu mang sách ra hỏi chú. 
Anh em tôi ngồi học, thật ra có học hành gì được. Tôi thì nao nức về mẹ, còn mấy đưa em thì chọc phá lung tung. Chín giờ tối, như thường lệ, chúng tôi gấp sách, tự động đi làm vệ sinh buổi tối rồi vào phòng ngủ. 
Mẹ tôi ngồi chờ tôi ở căn nhà ngang. Căn phòng chú tôi dành riêng cho tôi và mẹ tôi mỗi khi về. mẹ tôi pha sẵn một bình trà và vài phong bánh đậu xanh. Dưới ánh đèn nê ông, bây giờ tôi mới có dịp quan sát mẹ kỹ hơn. Mẹ tôi mới hơn 40 tuổi, nhưng trông già như ngưòi 50, bà gầy guộc, nước da xanh men mét. Có lẽ bà đã lam lũ quá sau khi cha tôi mất đi, ngoài ra bà và dì tôi con phải nuôi 2 đứa em còn nhỏ. Mẹ tôi rót trà, mà thuở sinh của cha tôi không thể thiếu mỗi buổi tối và sáng sớm, giọng mẹ tôi mệt mỏi hỏi: 
– Con học hành hồi này thế nao? 
Tôi ăn uống tự nhiên và trả lời mẹ chung chung: 
– Con học hành vừa đủ, trên trung bình. 
Mẹ tôi im lặng một lát, uống từng hớp trà nhỏ: 
– Mẹ biết con còn có thể học giỏi hơn nữa, chỉ vì con không cố gắng đó thôi. Tôi đành im lặng, đúng như mẹ tôi nhận xét, tôi có thể học giỏi hơn, bằng chứng là ở lớp dưới, nhiều lần tôi đã đứng nhất lớp. 
Giọng mẹ tôi buồn bã: 
– Cả nhà đều đặt hy vọng vào con, riêng mẹ chẳng kể đến làm gì, con còn hai em nhỏ, con là anh cả torng nhà. Mẹ cố gắng, nhưng một ngày nào đó mẹ tuổi già sức yếu, các em con đều trông cả vào con. Con nên sống thực tế một chút đừng có mơ mộng hão huyền. Con thấy một đời nghệ sĩ của bố con đó….. 
Giọng mẹ tôi trở nên ngậm ngùi, hình như trong giọng nói của bà có nước mắt. Lòng tôi nao nao thương mẹ, tôi hứa nhỏ: 
– Con cố gắng. 
Đúng là chú tôi đã mách mẹ tôi vì tôi mơ làm văn sĩ. Tôi phải nói thế nào cho mẹ tôi hiểu tôi không có tội gì hết. 
Dù đang ngồi với mẹ, tôi vẫn mơ đến số báo xuân của nhà trường do chính chúng tôi thực hiện. Một truyện ngắn hay bài tuỳ bút nào mang tên tôi trên báo. Cả trường sẽ biết đến tôi, kể cà các thầy cô, nhất là thầy dạy văn, ông sẽ cười hỉ hả. Tôi biết được chính ông là người chọn bài vở cho số báo. 
Nguồn tư tưởng của tôi bị cắt đứt, khi mẹ tôi nói sang chuyện khác: 
– Này con, con bắt đầu lớn rồi đó, vì hoàn cảnh gia đình mình, các em còn nhỏ, mẹ muốn sau ba năm gia đình mình xum họp trở lại, cà dì con cũng có mơ ước như mẹ. Ngoài chuyện học hành ra con còn phải giúp mẹ và dì chăm non hai em nên người. 
Tôi bâng khuâng hỏi mẹ: 
– Làm thế nào được khi gia đình ta….. 
Mẹ tôi trả lời dứt khoát: 
– Chuyện đó mẹ đã lo rồi và đã nói chuyện với chú thím, bà nội, mẹ sẹ đưa dì và cả hai em về, mẹ đã có đủ tiền để mua một căn nhà nhỏ trong hẻm nảy đây, địa điểm buôn bán được. 
Mẹ tôi im lặng uống nước trà và ăn bánh, một lát bà nhình thẳng vào mặt tôi: 
– Còn chút vốn liếng, mẹ mở một tiệm tạp hoá trong xóm. gia đình mình cùng lo hàng họ buôn bán, con giúp gia đình những lúc rảnh rang sau giờ học hành. 
Vậy là tôi được trao trách nhiệm, mẹ tôi ngồi nói chuyện đến khuya, cùng bàn đến tương lai cho gia đình nhỏ bé của chúng tôi Hai đưa em nhỏ của tôi, một trai và một gái út, chúng phải được chiều chuộng, dậy bảo và học hành. Tôi thấy mình trở thành một ngưòi quan trọng, một khúc quanh lớn trong đời tôi chăng? Đêm khuya, mẹ tôi đã đi ngủ, nhưng tôi không ngủ được, tôi ngồi mãi ở bàn học nhìn ra ngoài trời đêm. 
Vầng trăng lưỡi liềm sắp lặn ở cuối trời, có lẽ đêm đã khuya lắm, tôi vẫn ngồi đó và mang giấy bút ra. Rồi tôi quên hết hiện tại, chỉ còn hình ảnh cha tôi lung linh, trong bộ quần áo bộ đội kháng chiến chìm dần trong màu xanh của nuúi rừng Việt Bắc. Dòng sông Thái Nguyên từ mạn ngược, nước lũ đổ về chảy xiết, chiếc cầu treo Đại Từ nối từ đầu núi này qua núi kia đong đưa như đưa võng, đằng sau kia là núi Tam Đảo mờ sương không nhìn thấy ngọn. Tiếng hát bài ” Tạ từ ” của nhạc sĩ Tô Vũ cất lênm trong hồn tôi. Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh……Gió đem khúc nhạc thanh bình…… 
Tất cả những điều đó được giải bày trên những trang giất đặc kín chứ. Tôi đang viết văn. Tôi nghe tiếng gà gáy đâu đó, tiếng xe cộ bắt đầu chuyển động ngoài đường. Thành phố SG thức giấc. Tôi không ngờ hồn tôi đã đi cả ngan cây số trong một đêm, tới tận đầu nước VN. 
Tôi ký vội tên thật của mình dưới tập bản thảo. 
Tôi úp mặt trên những tờ bản thảo rồi ngủ thiếp đi. 
Khi tỉnh dậy, tôi thấy mẹ đang nhìn tôi. Không biết bà đang nghĩ gì, nhưng đôi mắt ấy không có vẻ trách móc.

Thuở mơ làm văn sĩ

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 12 Apr 2024

Chương 2

Tôi nằm sấp trên đi văng, đầu ngóc lên như con thằn lằn. Xung quanh tôi, đám con ông chú nhìn tôi bằng ánh mắt hãi sợ. 
Tờ báo có bái tuỳ bút của tôi ký tên thật nằm ngay trước mặt và chú tôi thì cầm chổi lông gà cán mây, đôi mắt ông lấp lánh sau cặp kính trắng. Ông nổi giận, cơn giận có thể khủng khiếp lắm, nhưng ông cố kìm lại bằng tiếng thở dài tuyệt vọng, ông khẽ lắc đầu: 
– Long, con có nghe chú nói không? 
– Dạ, con nghe chú nói. 
– Bố con chết được mấy năm rồi  
– Dạ, thưa ba năm. 
Giọng ông chú trở nên buồn bã: 
– Bố con trước đây là một họa sĩ xuất thân từ Beaux Art (Cao Đẳng Mỹ Thuật) Đông Dương ra có bằng cấp đàng hoàng mà suốt đời chẳng làm nên trò trống gì. Sống nghèo rớt mùng tơi cho đến lúc chết. Bố con kỳ vọng ở con rất nhiều, gửi con cho chú, hy vọng con sẽ học hành đến nơi đến chốn, có bằng cấp làm nên ông nọ ông kia, ngờ đâu con lại xao lãng việc học hành mơ làm văn sĩ, con chọn sai đường rồi…. 
Giọng ông hằn học nhưng không kém phần buồn bã: 
– Làm văn sĩ không phải là chuyện gì xấu xa, chú khẳng định như vậy, nhưng đời nghệ sĩ khốn khổ lắm con ơi, nhất là nghệ sĩ ở đất nước mình, mang cái nghiệp đó vào thân rồi khổ cả một đời đấy con ạ. Con không thấy bao nhiêu văn nghệ sĩ ở đất nước mình than thân trách phận đó sao: Anh thì than đói, than nghèo, than khổ, nợ nần ngập đầu, rõ ràng là họ đã viết thành văm, làm thơ….. 
Tôi ngạc nhiên vì thấy chú tôi đọc ra mấy câu thơ dẫn chứng cho lối nói của ông. Hình như mấy câu thơ của Nguyễn Vỹ. Giọng chú tôi như muốn gầm lên: 
– Đấy nhé, chính mấy anh làm thơ viết văn nói ra để ” khuyên đời “, răn đe những kẻ lăm le đi theo con đường ấy, chú không dặt điều nói bậy. Chú khuyên vậy nhưng vẫn chưa thể ngấm vào da thịt con được đâu. Chú cần phải cho con thấm hơn, thấm đến tận đầu, xương tuỷ và nhớ đến già. Con xứng đáng nhận mười cái chổi lông gà…. 
Tôi kinh hoàng, nhưng biết làm sao được, đành nhắm mắt nghiến răng chịu trận tỏ ra can đảm không khóc để giữ “sĩ khí” của kẻ cầm bút. Cái chổi vun vút phết vào mông đít tôi bỏng rát, quả là thấm đến tận tâm gan, tì, phế. Khi đó tôi chỉ mơ ước cái mông đít của tôi bỗng dưng biến thành mo cau. Tôi không hét lên, nhưng nhất định không van xin để bớt đòn. 
Thằng Hiền, thằng em láu cá con chú, vô công rỗi nghề ngoác miệng đếm từng roi, thỉnh thoảng nó còn đếm lộn. Con bé Hạnh giận lên đùng đùng như chính nó bị ăn roi. 
Trận mưa roi đã qua, tôi đau quắn đít mà không khóc được, nhưng con bé Hạnh thì khóc nức nở đi “cứu thương” bằng cách đề nghị xát muối ớt vào những vết thương “văn nghệ” của tôi lằn lên như con lươn. 
Cuối cùng ông chú nghiêm khắc của tôi cụng phải phì cười. Tôi cuống cuồng van xin con bé Hạnh đừng cứu vớt “thể xác đớn đau” của tôi cái kiểu đó. 
Thằng Đức nhảy tưng tưng như mọi da đỏ, đếm: 
– Mơ làm văn sĩ này….một, ái da đau. Mơ làm văn sĩ này….hai. Ối chu choa. Mơ làm văn sĩ này….ba. Trời đất ơi…. 
Cứ thế nó đếm tới mười, cho đến lúc cả bọn bị chú nạt lên mới chịu im 
Buổi tối hôm ấy đến giờ học bài, chú tôi kiểm soát bài vở chặt chẽ của tôi và chú đã khám phá ra khá nhiều bài thơ tôi chép vào sau cuốn vở toán. Ông lắc đầu ngao ngán: 
– “Thi văn đoàn Lãng Bạc” của mày không biết là cái quái gì. Mày đáng được hưởng thêm mười cái chổi lông gà nữa rồi con Hạnh sát muối ớt vào đít. Làm toán đi, mày phải làm xong mấy bài toán đại số này không thì chết đòn, suốt ngày mơ mơ mộng mộng, nút mắt ra đã làm thơ tình ái, nguy hiểm đáng báo động. 
Một sự thật hết chối cãi, cái tên thật của tôi làm so giấu chú được. Phần thì đớn đau mông đít, phần thì tủi thân vì bị “đàn áp”. Tôi ra vườn một mình ngồi “sầu thế sự”. 
Dưới bóng lá cây chấp chới trên đầu, tôi ngước lên ước ao nhìn thấy một ngôi sao cô đơn. Đêm này thật yên tĩnh, bây giờ tôi mới khóc được. Nước mắt tôi nhoè nhoẹt, ngôi sao của tôi cũng mờ đi…..Chỉ còn một ngôi sao cô đơn làm bạn với tôi giữa đêm trường thanh vắng. Sương đêm xuống nhiều, trời hơi lành lạnh. Có lẽ giờ này chú tôi đã ngủ yên giấc, đời sống chú tôi rất mực thước và kỷ luật, chú luôn luôn theo đúng giờ giấc như chiếc đồng hồ treo tường của chú, kể cả lúc chú chơi văn nghệ giải trí. Đúng sáu giờ chiều chú ôm cây đàn Mandoline, gảy tưng tưng đúng mười lăm phút, tôi đếm được 3 bản nhạc, có khi chỉ hai bài rưỡi chú ngừng vì đã hết giờ. Sau đó đọc báo 45 phút. Bảy giờ chiều ăn cơm, nghỉ một lát. Tám giờ tối chúng tôi vào phòng học. Đến 9 giò 15 tối tất cả chúng tôi phải đi ngủ. Sáu giờ sáng tất cả phải dậy ra sân tập thể thao với ông. Bảy giờ sáng làm vệ sinh cá nhân, ăn điểm tâm rồi đi học. 
Trong tủ sách của ông ngoài những sách toán, khoa học, ngoại ngữ tôi thấy thêm loại sách ” học làm người”. 
Chỉ riêng ngày hôm nay ông phá lệ “ban” cho tôi một trận đòn nên thân vì tôi dám mơ ước làm văn sĩ. Cái nghề văn sĩ, thi sĩ qua con mắt môt người mực thước như ông là một nghề cùn mằn, dở ông dở thằng, bất mãn đời mới lao vào. Con người đó là con người lung tung chẳng còn ra làm sao hết, tự hại mình, ăn hoang phá hoại, trác táng hư hỏng. Mất cả đàng hoàng đứng đắn. Tôi có thể lây cái tính nghệ sĩ đó sang các con ông không chừng. Tôi biết trong đầu ông nghĩ như thế. Tôi nguyện sẽ ghi điều này vào nhật ký. Như Anne Frank. Tôi lại mơ mộng mình viết nhật ký như thế nào cho lâm ly thống thiết. Nhưng nguồn cảm hứng tôi bị cắt ngang thảm hại, vì không phải chỉ có mình tôi ngồi trong khu vườn quạnh quẽ đêm hôm khuya khoắt này. 
Tôi nghe tiếng động, tiếng cành cây khô gãy dưới bước chân ai. Lạy trời, không phải là chú ! Không phải là chú. Con chó lông xù nhảy chồm lên liếm mặt tôi lia lịa. Con chó Lu tất nhiên có bé Hạnh. Quả nhiên cái bóng của nó ló ra ngay sau đó. giọng con bé đầy ngậm ngùi: 
– Ba đánh anh Long đau lắm hả? 
Tôi nổi cáu: 
– Vớ vẩn, kệ tao, ông ấy mà biết lại khốn khổ cho mày thôi, vào nhà ngủ đi. 
Giọng con bé Hạnh thì thào: 
– Ba không biết đâu, ngủ rồi, mà anh có đau không? 
Tôi bực mình vì con bé Hạnh lẩn thẩn: 
– Bị đánh mà không đau sao cho được, thân xác người ta chứ có phải……. 
Con Lu vẫn chồm lên liếm mặt tôi, rít lên những tiếng thật dễ thương. Bé Hạnh mau mắn: 
– Em có mang thuốc ra cho anh, để em xức thuốc cho anh. 
Tôi giật nẩy mình, giọng thảng thốt: 
– Thuốc gì vậy? 
– Muối ớt, có trộn thêm tiêu nữa. 
Tôi la lên: 
– Vậy thì chết tao rồi, mày có cho thêm hành tỏi dấm chua nữa không, như nước mắm cơm tấm bì. 
Trong ánh sáng mờ mờ của sao đêm, tôi cũng nhận thấy mặt cô bé ngệt ra vì ngây thơ vô tội, không hiểu gì hết. 
– Chưa có thêm hành tỏi dấm, me vào bếp lấy thêm. 
Đang buồn tôi cũng bật phì cười, chắp tay vái cô em gái lia lịa: 
– Tao van mày, tao lạy mầy trăm lạy, mày cứu thương kiểu đó bằng giết tao mất. 
Con bé ngây thơ, có tiếng là ” ngu dốt ” nhất nhà, hỏi lại tôi: 
– Sao vậy anh ? 
– Còn sao nữa, tao mà phải giải thích cho mày hiểu được thì tao phải hụt hơi chết mất thôi. Cho tao xin đi, tao chỉ nói đó là thuốc độc, mày mà thoa cho tao, tao chết liền, chỉ có thế thôi. 
Con bé hạnh rụt cổ, le lưỡi: 
– Vậy mà em đâu có biết, em thấy ai bị thương đều thoa muối hết mà. 
Tôi không nín cười được: 
– Ừa chỉ có muối thôi, chớ không có ớt tiêu hành tỏi dấm gì ráo, thôi vào nhà đi ngủ cho tao yên. 
Con bé vẫn lân la bên cạnh tôi không chịu vào nhà. Nó ôm con Lu ngồi ngay bên cạnh: 
– Anh dám mơ làm văn sĩ tội nặng lắm phải không? Mà văn sĩ là ” con ” gì vậy anh? 
Trời ơi là trời, tôi phải la lên như vậy. Là con gì ư? Nào tôi có biết alà con gì đâu mà giải thích cho nó hiểu chứ. Nó vô tình, ngây thơ dốt đã xúc phạm đến giấc mơ ” cao cả ” của tôi, nếu nó là con trai như thằng Hiền, thằng Đức, thằng Hoà dám ăn một cái thoi của tôi lắm. Nhưng nó lại là gái, thương anh bị đòn, như con chó Lu thương tôi vậy. Tốt hơn hết tôi không thèm nói chuyện văn nghệ với nó. Có bửa váo đầu nó cũng không thể nào hiểu nổi sự cao đẹp của nghề văn sĩ. dù bị đòn đau tôi vẫn sùng bái như thường. Chợt nhớ ra, tôi móc túi lấy cho nó một cái kẹo bạc hà. cái kẹo bạc hà the the ngọt ngọt mà con bé rất khoái. Con bé nhìn sát vào cái kẹo, hít hít ngửi ngửi rồi nhẩy cẫng lên: 
– Ừa, đúng rồi, mà sao anh có tiền mua cho Hạnh vậy? 
Tôi xuỵt khẽ, ra cái điều quan trọng: 
– Bí mật, nói riêng với Hạnh thôi, tiền anh làm văn sĩ đó, người ta trả công cho anh. 
Con bé Hạnh mút kẹo một cách ngon lành: 
– Thế hả, văn sĩ không phải con gì hả, văn sĩ là người, có đúng không? 
Mãi bây giờ con bé mới phát ngôn một câu dễ nghe. 
– Đúng rồi, ăn hết đi rồi vào nhà, cấm không được nói với ai tao làm văn sĩ nghe chưa! 
Con bé vừa mút kẹo vừa gật đầu lia lịa: 
– Anh nên làm văn sĩ, mai lại làm nữa nhé. Hạnh không mách ai đâu, mà anh phải mua kẹo cho Hạnh à, cả một cái bánh bông lan nữa. Hạnh sẽ cho con chó Lu một miếng. 
Từ hôm đó, cả nhà chỉ có con bé Hạnh đồng ý với tôi nên làm văn sĩ, đi đâu nó cũng hỏi tôi đã làm ” văn sĩ ” thêm chưa. 
Tôi mệt với con nhóc, nhưng cũng thấy vui vui. Ít ra trong nhà chú, tôi cũng có một đồng minh, một đồng minh tuy không hiểu gì nhưng coi tôi như thần, vì có kèm theo những viên kẹo bạc hà, đôi khi có một chiếc bánh bông lan. 
Tôi nói với nó: 
– Hôm nay toa làm văn sĩ thêm ” một xăng ti mét ” 
– Bao giờ anh làm văn sĩ dài đến một ” cây số ” thì nhiều kẹp và bánh lắm hả? 
Tôi thở phào chán chường như một triết gia: 
– Biết sao được, làm văn sĩ mà dài đến một cây số thì cũng mệt lắm. 
Tôi đọc liền một câu của cụ Nguyễn Bá Học: 
– “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. 
Con bé Hạnh ngẩn tò te, chẳng hiểu tôi nói gì nữa mà lảm nhảm như vậy, nó đưa kẹo cho chó Lu liếm, thế là hai đưa ăn chung kẹo, thành thói quen, đến độ con bé ăn chung cơm với cả chó khi cả nhà phát hiện ra thì chuyện đã xảy ra quá lâu! 
Sau này tôi còn học được một vài câu thơ chữ Hán cũng xổ thơ loạn lên với con bé, nó chẳng hiểu gì, càng tốt. 
Cái mặt tôi cứ vác lên kênh kênh, có lẽ coi đáng ghét lắm. 
Tôi mơ ước mua được một cặp kính trắng đeo, làm nhà văn cho thêm phần trí thức. Còn nhiều thứ lỉnh kỉnh khác nữa làm hành trang cho môt văn sĩ, theo quan điểm của tôi thuở đó, một thuở non nớt mang không biết bao nhiêu sai lầm. 
Đến bây giờ tôi vẫn còn hình dung thấy khu vườn nhà chú tôi đêm nào. Những suy nghĩ ước vọng thuở đầu đời. Ngôi nhà và khu vường đó cũng mất rồi. Bé Hạnh cũng không còn nữa, cô em gái tôi đã bỏ xác trên biển cả trong lần vượt biên bỏ quê hương mà đi. Lòng tôi đau quặn thắt, tôi muốn nói với linh hồn em rằng, tôi vẫn muốn làm văn sĩ như ước vọng thuở đầu đời. Tôi đã bước một bước dài, không phải chỉ bước nhích từng xăng ti mét. Một bước dài lịch sử một thế kỷ. nhưng tôi đã làm được gì? Chưa, chưa gì cả, mà sức lực đang mòn kiệt theo thời gian. Chưa gì cả phải không hay mới lá bắt đầu? Vậy thì giao thừa năm 2000 tôi sẽ leo lên căn gác bút cầu xin cho tôi sống lâi trăm tuổi, tôi làm trọn nghiệp mà tôi hằng mơ ước. Tôi đã mất một khoảng thời gian khá dài, tôi xin bù đắp dù bằng sức tàn. Hỡi linh hồn người thân, bạn bè bằng hữu hãy phù hộ cho tôi, những người cùng thế hệ với tôi đã nằm xuống. Hồi đầu năm 1999 tôi nghe tin qua làn sóng điện Lê Đình Điểu ở nơi xa xôi ngoài quê hương đã nằm xuống. Chúng ta hãy tạm gác bên ngoài mọi chính kiến để làm việc mình từng mơ ước. Thực hiện những điều ” thuở mơ làm văn sĩ “.

Thuở mơ làm văn sĩ

Nguyễn Thụy Long
Tuổi Xanh xuất bản 2000

Post by Sơn râu 12 Apr 2024

Tựa

Năm 1950. Ở Hà Nội, tôi 10 tuổi, mới đậu xong bằng tiểu học, sửa soạn thi vào lớp đệ thất (lớp 6 bây giờ) trường trung học Chu Văn An. Nghĩa là sẽ trở thành học sinh trường bưởi danh tiếng xưa kia đấy. Nhưng là tuổi ăn tuổi chơi. Ba tháng hè, tôi tham gia tất cả những trò chơi trẻ con ở Hà Nội. Đánh đinh, đánh đáo, sưu tầm programes ở những rạp chiếu phim, xem ciné và đọc truyện.
Có lẽ thứ mà tôi đam mê nhất là đọc truyện. Tôi đọc lung tung đủ thứ truyện, từ truyện kiếm hiệp đến mọi loại tiểu thuyết, in thành từng tập mỏng phát hành mỗi tuần mà cha tôi gọi là tiể thuyết ba xu. Gom góp từng tập mỏng ấy để đóng lại thành pho sách dầy. Những truyện đăng trên báo tôi cũng cắt đóng lại thành từng tập. Không kể việc sưu tầm từng cuốn tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn mà tôi rất ngưỡng mộ. Tất cả những cuốn sách cũ, đôi khi nát phải tự phục chế. Lý do đơn giản là tôi không có tiền để mua những cuốn tiểu thuyết tinh còn thơm mùi mực in.
Tôi ngưỡng mộ biết bao nhiêu tác giả. Mơ ước ngaynào đó mình được như họ. Tôi mê đến độ, có thể đọc tiểu thuyết bất cứ lúc nào không phải chỉ ở những ngày rảnh rỗi. Thường xúc động về tình huống số phận của các nhân vật. Mùa rét nằm trong chăn bông đọc tiểu thuyết. Tôi nhớ đọc cuốn ” người anh cả ” của Lê Văn Trương, tôi cũng là anh cả trong gia đình nhỏ bé của mình, thế là tôi xúc động. Chui vào torng chăn khóc thoả thích. Khóc sưng cả mắt, vì thương thân phận người anh cả trogn tiểu thuyết đó quá. Sau này, và đến bây giờ tôi vẫn thường mủi lòng trước những hoàn cảnh, có thể trong tiểu thuyết, đời thật hay phim ảnh. Nếu bạn bè tôi có nhận xét về tôi : Trông con người nó hung hãn như vậy, nhưng tâm hồn thì yếu đuối.
Thuở bé xem phim Charlot. Phim The Kid (dịch ra tiếng Việt là Gà trống nuôi con) khi Charlot lạc mất đức con nuôi, Charlot buồn ngẩn người ra. Tôi cũng chảy nước mắt. Còn nhiều, rất nhiều tình huống khác, torng tiểu thuyết hay trong phim ảnh làm cho tôi mủi lòng, đến rơi lệ.
Không biết đó có phải là con đường gai góc mà tôi đã chọn khi cầm bút không? Khi ở Hà Nội, tôi trao lại cho thằng em họ tủ sách. Ra đi nhưng vẫn thăm hỏi về những cuốn tiểu thuyết. Sau năm 1954 thì viết bưu thiếp, cho đến lúc bặt tin. Rồi nhiều chục năm qua….tôi trở thành nhà báo, nhà văn……Cũng là một đời lỡ mà thôi. Nhưng tôi hãnh diện làm sao khi chọn nghề cầm bút.
Sau năm 1975. Miền Nam bại trận, người chiến thắng vào thành phố. Những cuốn sách in ấn phát hành ở miền Nam bị kết tội phản động, bèn được đem ra thiêu đốt. Tôi đứng nhìn tro tàn khói bay, cầu xin cho nó được phiêu diêu miền cực lạc. Tôi cũng đã chứng kiến nhiều tác giả khóc những cuốn sách trên đống tro tàn. Người buôn bán sách, nhưng suốt một đời yêu quý sách, nên làm sách, in ấn sách, đứng ngẩn như người mất hồn trước nhà sách, mà chính là kho sách vĩ đại của mình ở đại lộ Lê Lợi. Nhà sách Khai Trí nay đã đổi tên chủ.
Tôi muốn nói ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương. Một đời ông dành cho những cuốn sách, không phải mình là tác giả mà của nhiều người khác. Ông có cái đam mê của ông, đam mê đến cuối đời. Mấy ai đã được sống đến trăm tuổi, nay tuổi ông Khai Trí đã 80. Hơn nửa đời người kinh doanh sách, nhưng không thể gọi ông từ hạ đẳng là “đầu nậu sách”. Như có lần sau khi nhà sách Khai Trí tịch biên, tôi đã nghe lời miệt thị ấy của một nhà văn muốn lập công. Ví như loài cỏ ” đuôi chó ” mà ông Phan Khôi đã viết hồi nào trong Nhân Văn Giai Phẩm. Tôi nói ít ai thọ được trăm tuổi. Học giả Vương Hồng Sển đã là thọ mà chỉ sống được 94 tuổi. Không như điều mơ ước của cụ, thọ tròn một thế kỷ để nhìn cho rõ hơn ” nhân tình thế thái “. Năm ngoái, tôi gặp học giả Giản Chi. Cụ đã 94. Người yếu lắm rồi, cụ đi phải có người dìu. Nhưng tôi nghe nói cụ vẫn đọc sách, vẫn nghiên cứu. Cụ đọc sách bằng kính lúp soi trên trang giấy. Đáng quý lắm sao.
Cách nay một năm tôi gặp ông Khai Trí trong bữa giỗ ông Chu Tử. Tôi hỏi ông rằng cái nhà sách Khai Trí của ông ở đường Lê Lơi ông đã xin lại được chưa? Sau khi ông từ Mỹ về và đã hồi tịch trở lại người Việt Nam. Ông cười và trả lời:
– Sẽ xin lại được, thời hạn trả lại là năm 3000.
Tôi chưa lẩm cẩm đến độ không hiểu nổi câu trả lời ấy là lời chua chát của một người kiên tâm với cái nghiệp của mình nay đã quá chán nản.
Câu chuyện văn nghêvọng vòng, tôi nhắc đến một bài mới đây viết trên báo chi nhắc ông Khai Trí, có người nhà văn, cũng ông đó, đã hết lòng ca tụng sự hào sảng của ông chủ nhà sách danh tiếng. Ông Khai Trí đã chậm rãi trả lời:
– Tôi biết anh đó, khi tôi ngồi ở Chí Hoà anh ta đi với phái đòan vào thăm từ. Anh từng biết tôi, nhưng hôm ấy anh ta nhìn tôi như nhìn những người tù khác chưa hề quen biết. Vì khi đó tất cả chúng ta đều là kẻ ngã ngựa, bị kết án….
Tôi thoáng nhìn thấy nụ cười ruồi của ông Khai Trí:
– Nhắc lại làm chi không biết nữa.
Đúng vậy, nhắc lại làm ch, nói theo thổ ngữ Nam Kỳ.
Tôi suy nghĩ hoài về câu nói ấy. Một câu nói thóang nghe thì tầm thường, nhưng suy nghĩ thì nó đòi hỏi ở người cầm bút thật nhiều đấy. Tuổi đời, kinh nghiệm đời không chưa đủ, còn đòi ngưòi cầm bút có một điều kiện khác. Có xứng đáng để cầm bút mà viết không?
Đã rất nhiều đêm tôi ngồi trên căn gát bút suy nghĩ. Nên cầm lại cây bút hoặc không nên. Cuối cùng thì tôi đã có quyết định. bây giờ thì dĩ vãng dồn dậy trong tôi.
Trước đây tôi đã viết dang dở tập hồi ký ” thuở mơ làm văn sĩ ” ở một tuần báo thiếu nhi trước năm 75. Sau đó tôi viết lại, những mong ” đăng báo ” được. Nhưng bị đánh giá thấp qua biên tập. Tập hồi ký chẳng ca tụng được caí gì. Chỉ ca tụng một giấc mơ, giấc mơ của một kẻ mơ làm văn sĩ. Tôi đành gác bút…..
Gần nửa đời người làm việc cầm bút. Đến nay không giữ được quyển sách nào của mình viết ra. Trận hoả tai năm 75, không phải riêng tôi bị thiệt hại mà nhiều bạn bè đồng nghiệp của tôi cũng cùng chung số phận và còn trở thành tội phạm, bị đem ra trưng bày tại phòng trưng bày ” tội ác Mỹ Nguỵ ” Nhiều năm dài những cuốn sách của tôi, của chúng tôi bị cầm tù. Tôi không có tiền, lộ phí, không có giấy tờ tuỳ thân đàng hoàng. Đến bây giờ tôi cũng không đi. Phải chăng tôi muốn giữ mãi hình ảnh của Hà Nội, của những con đường những tỉnh miền Bắc tôi đã đi qua nguyên vẹn như thuở nào? Tôi không trả lời của chính câu hỏi mình tự đặt ra.
Tôi như nhìn thấy mình thuở mới bước qua tuổi trẻ thơ mang ước mơ mình trở thành văn sĩ. Ôi giấc mơ mới đẹp và ngọt ngào làm sao. Đến bây giờ cũng vậy, tôi không coi giấc mơ đó là oan nghiệt hay nghiệp chướng phủ phàng.
Muỗi đêm nay sao ra nhiều thế, nó cắn tôi nhoi nhói. Không biết có con muỗi nào mang mầm bệnh không? Nếu có chắc chắn là nó truyền cho tôi căn bệnh nào đó ác tính chứ không phải mãn tính. Muỗi Sài Gòn từng có tiếng cắn đau từ xưa. Tôi nhớ thuở ở Hà Nội, có một ký giả chuyên viết film du jour trên nhật báo lấy bút hiệu là Muỗi Sài Gòn.
Tôi sống với giấc mơ đẹp của tôi. Một đọan ngắn thôi “thuở mơ làm văn sĩ “. Xin mời bước vào tập hồi ký này.

1999.

Chương 1

Buổi sáng tinh mơ trời còn mờ sương, nằm trong giường với mẹ, tôi đã nghe tiếng ngâm thơ của ông ngoại ở nhà ngoài. Tôi không thể nào ngủ thêm được nữa. Tôi choàng dạy bò ra với ông ngoại.
Trên sạp gụ trải chiếu hoa cạp điều trong căn nhà rộng thênh thang, ông ngoại tôi ngồi đó, trước mặt là bộ đồ uống trà xinh xinh,chiếc điêu ông bịt bạc cẩn có cần trúc cong vút, lò than tàu đất nung nhỏ xíu rực lửa đỏ hồng bên trên đặt cái ấm quai vạc như đồ chơi trẻ con, nước sôi vụt ra vòi. Tôi nhìn cái điếu bình của ông ngoại chạm trổ cẩn sà cừ hình mấy ông tiên ngồi đánh cờ, cảnh núi sông mây nước, xe điếu là những mắt trúc ngắn liền nhau uốn cong vút như cần câu. Tất cả những ” đồ chơi ” xinh xinh của ông ngoại đều khiến tôi ưa thích, say mê và mộng mơ.
Ông ngoại tôi mặc áo bông đoạn ấm áp ngồi xếp chân tròn ngay ngắn, chăm lo ấm nước trà bốc khói thơm thoảng mùi hoa sen. Từ chỗ ông ngồi nhìn ra ra ao sen rộng, ở đó neo một chiếc thuyền nan, hoa sen nở đỏ chen lá xanh trên ao. Trên mặt ao còn lăng đăng sương mù buổi sớm mai. Phía trước ao có một khoảng sân lát gạch tàu không rộng lắm.
Phía xa kia, sau luỹ tre xanh, rặng núi Tam Đảo nhô cao che mất một phần chân trời, sương mù như một giải khăn san bao quanh ngọn núi.
Tôi leo lên lòng ông ngoại nằm cuộn tròn như một con mèo ngoan ngoãn. Bàn tay ngoại xương xẩu với những móng dài lá lan lần vào mái tóc xanh của tôi gãi nhè nhẹ, ông phủ một vạt áo lên người tôi, ông vẫn tiếp tục ngâm thơ, mãi sau này khi lớn lên tôi mới biết đó là một đoạn thơ Đường của Lý Bạch.
Quanh tôi, hương trà sen thơm thoang thoảng, mùi hạt bưởi phơi khô dùng làm đóm hút thưốc lào, cháy thơm ngai ngái. Người ta nói ông ngoại tôi có cách ẩm thực cầu kỳ lắm. Từ năm giờ sáng ông đã ngồi trên chiếc thuyền nan bơi trên ao gạt ra khỏi đóa sen lấy dúm trà ướp trọn đêm. Nước pha trà ông cũng hốt bhững hạt sương đêm torng suốt đọng trên lá sen. Đóm hút thuốc lào của ông dứt khoát phải bằng hột bưởi phơi khô và tách đôi, xiên bằng cái châm bạc. Tôi nằm trong lòng ông ngoại nhìn khói thuốc chờn vờn trong không khí mờ ảo làm nổi bậc những câu đối sơn son thếp vàng treo trong căn nhà ngang, những bức đại tự trên tường bên cạnh, bộ tràng kỷ mặt bàn đá cẩm thạch. Tất cả cảnh vật đó, vòng tay ôm thân ái của ông bao qianh tôi làm lòng tôi êm dịu rồi thiếp dần vào giấc ngủ. Giấc ngủ bình yên thoải mái của tuổi ấu thơ thuở nào, thuở mà tôi không bao giờ quên được.
Bây giờ thì ngoại không còn nữa.
Miền Trung Châu Bắc Việt, nơi ấy xa xôi rồi…..
Tôi dứt lời đọc bài tuỳ bút của mình, đám bạn bè vỗ tay rào rào. Trong căn nhà nhỏ của Lê Đình Điểu, bút hiệu Y Dịch, người bạn học với tôi trang hoàng diêm dúa một cách hết sức trẻ con. Trên tường, ngay trước bàn học của Điểu có hàng chữ cắt dán màu đỏ bằng giấy thủ công học trò ” trụ sở thi văn đoàn Lãng Bạc “. Trên bảng đen ghi chương trình phiên họp hàng tuần của thi văn đoàn cùng tên các bạn thành viên trong nhóm. Điêu quan trọng trên hết là chương trình có ghi mục bình văn bài tuỳ bút của tôi.
Thi đoàn chúng tôi gồm sáu đứa cùng lứa tuổi choai choai, tất cả đều là bạn học chung trường. Chúng tôi mới ở cấp trung học được ba năm. Đặc biệt chúng tôi say mê văn nghệ, ngành văn thơ, như nhiều anh chịo em khác của các trường ngày đó, chúng tôi lập thi văn đoàn, làm riêng những tờ báo chép tay, chuyền nhau đọc.Tôi nghĩ lối chơi ấy rất lành mạnh của tuổi trẻ. Chúng từng phải nhịn quà sáng, các bạn gái thì nhịn ô mai, me chua, tầm ruột chấm muối ớt để dành tiền mua giấy bút làm báo. Tờ báo chúng tôi ra mỗi tháng một số mang tên Thăng Long, thu hút được khá đông đảo bạn đọc trong trường, có khi còn lan sang trường nữ. Địa chỉ toà soạn tờ báo chính là nhà của Lê Đình Điểu. Chúng tôi sung sướng vì trò chơi đượm nét văn háo của mình. Hiện trong ngăn kéo của tổng thư ký văn đoàn Lăng Bạc, Lê Đình Điểu, còn nhiều hồ sơ của các bạn ” thi văn hữu ” nam nữ xin gia nhập. Nhưng điều đó còn xét đã, tổng thư ký Lê Đình Điểu, bút hiệu Y Dịch luôn luôn quan trọng.
Sáu khuôn mặt ” nòng cốt ” chúng tôi hôm nay ngồi họp trịnh trọng. Bởi vì tôi, người quan trọng nhất có bài được đăng báo, trong trang văn nghệ học sinh. Điều quan trọng hơn nữa là tôi lại còn được nhận tiền nhuận bút, không nhiều nhặn gì nhưng cũng đáng hãnh diện. Rõ ràng là một tờ báo in ấn đàng hoàng phát hành phắp nước. Vậy là tôi đã có thành tích trong nghiệp văn.
Sáng hôm nay cả đám anh em chúng tôi, chở nhau bằng xe đạp đến tận toà báo để nhận báo biếu và tiền nhuận bút. Anh nhà văm Vân Sơn, người phụ trách trang văn nghệ học sinh tiếp đón anh em chúng tôi niềm nở. Ông chủ nhiệm và nhiều nhà văn nhà báo lớn bắt tay chúng tôi. Rõ ràng tài năng tôi đã được đánh giá. Dù là một bài viết con con.
Nhà văn Vân Sơn còn trẻ, có lẽ chưa tới tuổi 30. Anh mang kính trắng gọng đồi mồi tròn xoe càng tăng thêm vẻ trí thức trên khuôn mặt thanh tú rạng rỡ của anh. Sau một lúc tiếp chuyện, uống nước ở phònh khách toà báo, khuyến khích chúng tôi trong việc sáng tác, anh viết tên tôi vào tờ ” bông ” để xuống quản lý dưới lầu lãnh tiề nhuận bút. Tay tôi run bắn lên vì cảm động khi ký vào ” bông “.
– Không bao nhiêu đâu em, nhưng là cái duyên văn nghệ em nên nhận chút tiền nhuân bút của toà báo, mong mỏi rằng anh sẽ nhận được thêm nhiều bài vở văn thơ của các em.
Tôi sướng rơn, nhìn các bạn lòng đầy hãnh diện. Chỉ có một điều tôi không mấy hài lòng là người phụ trách quên phức mất bút hiệu của tôi, mà lại in tên thật. Cũng hơi rắc rối cho tôi, tôi không muốn ai trong nhà biết tôi mang mộng làm văn sĩ. Nhưng chuyện đã lỡ rồi, biết làm sao được. Cứ cho là” định mệnh đã an bài. “
Buổi sáng hôm ấy, thay vì tôi mời anh em một chầu đậu đỏ bánh lọt, nước đá, mát rượi ở Bến Thành, anh em đều nhất trí tôi nên mua một chai ” si rô cam ” về trụ sở, tức căn phòng của Lê Đình Điểu, cả căn nhà của Lê Đình Điểu vắng vẻ vì ba mẹ anh đi làm suốt ngày. Cho nên chúng tôi mặc sức nói chuyện văn nghệ.
Sau chầu nước đá si rô, ăn bánh bích qui. Lê Đình Điểu làm công tác của ” nhà báo ” với tôi, anh phỏng vấn:
– Xin ” nhà văn ” vui lòng cho biết cảm tưởng của anh về ” tác phẩm ” anh cho đăng tải trên đại trang văn nghện học sinh của đại nhật báo Ngôn Luận.
Trời đất ôi, Lê Đình Điểu đã ” bơm ” trang văn nghệ học sinh thành đại trangvà tôi thành nhà văn. Có phải là giấc mơ không? Tôi liền trả lời thẳng ro, chẳng nghĩ ngợi gì:
– Khoái thấy mồ, khoái nhất là có tiền nhuận bút.
Miệng anh chàng Lê Đình Điểu dẻo như bán kẹo kéo, anh ta tán tụng bài tuỳ bút của tôi một hồi, rồi tiếp:
– ” nhà văn ” có buồn phiền gì khi ” người ta ” quên béng mất không ghi bút hiệu của anh dưới tác ” phẩm giá ” trị đó không?
Tôi suy nghĩ một lát rồi mới trả lời:
– Có chút chút, vì bút hiệu của tôi tra trong nhiều quuyển từ điển Hán Việt mới tìm ra, nay bỗng dưng bị ” phang ” luôn tên thật thì cũng phiền thôi.
Phiền như thế nào thì ở đây không thể nói được. Tôi từ chối luôn những câu hỏi hơi rắc rối của Lê Đình Điểu. Buổi họp chấm dứt trong bầu không khí vui vẻ, liên hoan si rô đá với bánh kẹo. Tất cả đều hài lòng. Tôi không quên bôc mấy cái kẹo bỏ túi. Tôi thành người ” vĩ đại ” nhất trong đám bạn bè. tôi thả hồn lãng đãng trong giấc mơ làm văn sĩ, tôi chỉ thành văn sĩ được thôi, không thể thành thi sĩ được. Vì tôi biết mình không có khiếu làm thơ.
Tôi đạp xe quanh trong thành phố. Sài Gòn hôm nay đối với tôi sao đẹp thế, nắng vàng rực rỡ trên những tàn cây đại lộ. Tôi đi qua trường học, con đường rộng thênh thang. Hôm nay là ngày nghỉ sân trường vắng vẻ, hàng phượng vĩ cũng bắt đầu trổ hoa, tôi nghe đâu đây tiếng ve sầu kêu., tuy rằng không ran ran như những ngày cao điểm mùa hè. Ngồi lại bên lề đường, ngẩng lên nhìn tàn cây phượng vĩ. Tiếng ve sầu kêu, nó ở đâu nhỉ ? Dưới những chiếc lá xanh nhỏ xíu hay những chùm hoa đỏ? Tiếng ve sầu kêu, ở đâu cũng giống nhau. Tiếng ve sầu ở Sài Gòn cũng giống như ở Hà Nội. Tôi xa Hà Nội đã sáu năm rồi mà sao hình ảnh Hà Nội tôi vẫn nhớ như in, từ con đường, góc phố. Tiếng ve kêu ở Nghi Tân, Cổ Ngư ở sân trường báo hè về….Sân trường tiểu học Đỗ Hữu Vị ở cuối dốc phố Hàng Than. Trước trường Hàng Than có một gánh phở sáng nào cũng đông khách. Mùi nước phở thơm lừng. Những ngày đó tôi thường ao ước được ăn một bát phở, nhưng gi đình bố mẹ tôi đều còn ở ngoài kháng chiến. Tôi sống nhờ một ông bác ruột, dù bác có thương cũng không thể bằng bố mẹ lo cho mình. Tôi nhậy cảm nên thường có những lúc thầm tủi thân.
Buổi sáng hôm nay, tự bài mình viết được đăng báo. Tôi lại nhớ miền Bắc, nhớ vùng Trung Châu Bắc Việt, nhớ thượng du, những nhớ nhung xa xôi da diết. Hình ảnh bố mẹ tôi, gia đình tôi ngày đoàn tụ, sự đoàn tụ thảm hại sau nhiều năm tháng. Bố tôi ở ngoài kháng chiến trở về Hà Nội. Buổi chiều tôi đi học về, bố tôi ngồi đó với bác, râu ria mọc tua tủa. Ông vốn đã lầm lì, may càng lại lầm lì hơn khi nghe bài hát ” trở về ” của Hoàng Giác từ chiếc máy radio Philips ở nhà bác. ” tung cánh chim tìm về tổ ấm, nơi sống bao ngày giờ đằm thắm……
Bố tôi nói với bác:
– Cơn sốt rét cách nhật của em lại đến rồi. Cứ cách ngày lại một trân….anh cho em đi nằm, dứt cơn em lại ra nói chuyện với anh…..
Bố tôi chưa kịp có cái vuốt đầu tôi thì ông đã nằm rên hừ hừ. Những cảnh đó bây giờ tôi đã thấy lại.
Như thời cha tôi làm việc ở Cục Kiến Tạo trên Đại Từ Thái Nguyên. Cái cầu cheo leo bắc qua con sông Đại Từ nước chảy xiết. Hôm nào đó cha tôi đưa tôi đến chiếc cầu treo ấy để tôi vể Hà Nội, mẹ tôi đưa tôi về rồi trở đi ngay ít hôm sau. Tôi đứng khóc mùi trên lan can nhà bác ở số 38 ngõ Hoà Mã buổi sáng Hà Nội sương mù….
Buổi tối, sau bữa cơm chiều, cha tôi ngồi uống trà với bác ở phòng khách. Ông nói:
– Cám ơn anh, nhưng em không thể đi làm cho Pháp được. Em không thể nào quên ngày anh Cả bị Tây giết ngoài hậu phương bởi vậy em mới đi theo kháng chiến. Em về đây cũng chỉ vì vợ con. Được anh vá các chú ấy ở Sài Gòn giúp đỡ em và vợ con em sẽ buôn bán qua ngày, mong sao các con nên người, được học hành……Em nói thật, em không ưa gì bọn vẹm nên mới về đây. Sống ở đâu cũng là bất mãn thôi với những người bị coi là trí thức vô sản….
Một tháng sau gia đình tôi thuê được một căn nhà ở đầu phố Trần Nhân Tôn và phố Huế trông sang chợ Hôm. Gia đình tôi mở cửa hàng cơm, cha tôi bưng tô rửa chén. Ông đông bạn bè, toàn là bạn bình dân xích lô, xe kéo, ông kiêm luôn nghề vẽ quảng cáo cho rạp xi nê. Ông nguyên là hoạ sĩ xuất thân từ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Tôi hoà nhập vào đời sống Hà Nội. Tô lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm, nghịch như quỷ sứ. Cha tôi nói như vậy. Ông muốn hướng tới một hướng khác. Thế là gia đình tôi vào Sài Gòn. Tôi được gủi ra Vũng Tàu học trường Thiếu Sinh Quân vì chú thứ năm của tôi dạy học ở trường đó. chú tôi xin cho tôi được ngoại trú để kèm học.
Nhưng thực tế không phải như vậy. Tôi ở nhà chú, không có thì giờ để học vì có bà thím quá gian ngoa, quá quắt. Tôi bị đối xử tệ hại còn hơn một đứa ở không công. Từ năm giờ sáng đã phải trở dậy dọn hàng cho thím ở ngoài chợ, bẩy giờ mới được đi học. Trưa trở về coi hàng cho thím.Hai giờ trưa lại đi học. Chiều về dọn hàng đến bẩy giờ tối. Đẩy cả mấy xe bó ệt đầy nhóc hàng hoá. Tôi còn thì giờ đâu mà học hành. Ngày chủ nhật cũng không được ra bãi biển chơi đùa như các banmạ phải ở nhà bổ củi. Sự học hành của tôi bắt buộc phải sút giảm. Thím tôi điêu ngoa về SG nói về tôi với bố mẹ tôi là một đứa trẻ chẳng ra gì. Một ngày kia tôi chịu đựng không nổi bèn bỏ nhà chú thím ra đi, ra bến tàu về SG bằng đường thuỷ, muốn thế nào xũng được. Nhưng tôi bị bắt trở lại. Tôi còn nhỏ bé quá đành phó mặc cho số phận….Cho đến ngày điện tín bay ra VTàu báo tin bố tôi chết đột ngột……Tôi đang bệnh nặng, chân tay phù thủng to bằng cái chĩnh. Chú tôi xin vé máy bay của nhà binhPháp trở về SG, cũng đúng là lúc đưa tang bố tôi ra nghĩa địa đô thành. Bộ quân phục thiếu sinh quân của tôi chật cứng và chân không thể đi nổi đội giầy, tôi lết đi bằng đội dép Nhật, chống gậy đi theo xe tang. Cuộc trở về thảm nảo, tôi khóc vùi bên quan tài của cha.
Tôi cương quyết ở lại SG với mẹ và em, không ra VTàu nữa. Tôi bị coi là đưa cứng đầu. Xảy cha nhờ chú. Tôi còn ông chú thứ tư ở SG. Ông này như ông bác thứ hai của tôi hết lòng vì em vì cháu. Sự thật tôi được nhờ ông rèn cặp như chính các con của ông, nên những năm đầu của trung học dù phải học lại lấy căn bản nhưng cũng khá ra, không giỏi lắm, nhưng không đến nỗi dốt nát. Tôi luôn đứng đầu môn văn trong lớp, nhưng môn toán lại kém. Điều mà chú tôi, một người khoa học không thích tí nào. Sau thời gian đi chơi loanh quanh, tôi lo lắng biến thành sợ hãi. Tự đánh giá việc viết văn của tôi là có tội, đại tội với chú. Sự trừng phạt không thể khác. Tôi nghĩ đến cái chổi lông gà rung lên trên tay chú mà toát mồ hôi. Tôi cầu cứu sự ” cứu rỗi ” ở đâu bây giờ? Ở linh hồn bố tôi? Mả của ông ở dưới nghĩa địa Đô Thành. Tôi đạp xe xuống tuốt cuối đường Lê Văn Duyệt, trước trại lính nhảy dù Nguyễn Trung Hiếu, ngồi trước mồ cha tôi khấn khứa ông phù hộ cho tôi ” tai qua nạn khỏi “. Tấm tức khóc, khóc vì sợ hãi trận đòn đau, sẽ không tránh khỏi. Dù tôi biết chú tôi trừng phạt vì thương không phải vì căm thù hoặc để thoả lòng độc ác. Trời về chiề utôi mới ra về.
Tôi mồ côi cha, tuy còn mẹ, nhưng mẹ tôi phải lo buôn bán để nuôi các em nhỏ của tôi. Tôi phải sống nhờ, học nhờ ngay nhà chú ruột. Chú tôi là người học thức, chú có địa vị cao trong xã hội, thương yêu cháu như những đứa con ruột cuẩong, nhưng ông vô cùng nghiệm khắt, nhất là chuyện học hành.
Tôi đâm hoảng khi nghĩ đến chú, đôi mắt loang loáng sau cặp kính trắng. Chiếc chổi lông gà rung rung trong tay chú. Sau bữa cơm chiều, anh em tôi nghỉ chơi một lát rồi ngồi vào bàn học. Ông chú tôi thường xuyên xem bài vở chúng tôi và sẵn sàng chỉ dẫn cặn kẽ, ông gầm thét như cọp khi thấy anh em tôi dốt nát, hoặc trong sổ điểm có môn nào kém cỏi. Môn toán, tôi kém nhất. Ông nhìn vào môn văn, dù rằng tôi luôn luôn vào hạng cao, nhưng ông chẳng có một lời khen nào, mà chỉ nghe ông hừ hừ trong cổ họng. Ông lạnh lùng nói:
– Mày kém toán lắm, mày phải luyện cho giỏi, mấy bài toán đại số tao ra mày đã làm xong chưa?
Chú thường nhắc nhở với anh em chúng tôi như thế! Chú yêu thương chúng tôi, nhưng yêu thương theo kiểu của chú, tôi hiểu thế. nhưng còn điều gì xảy ra cho tôi hôm nay, tôi biết rõ vào buổi chiều.
Tôi cho là một buổi chiều ảm đạm trong đời tôi, có lẽ là một khúc quanh. Tôi không thể oán trách hcú được. Tôi cố hiểu trong vầng trán rộng của chú tôi hơi nhăn lại suy nghĩ gì, có lẽ không bình thường như mọi khi, lúc trừng con cháu lười biếng học hành.
Qua mắt tôi nhìn, ông là môt nhà khoa học, trong đầu ông chứa toàn những bài toán rắc rối, mà tôi có học đến bạc đầu cũng không giải nổi đáp số, nói chi đến những bài đại số, hình học tầm thường tôi phải làm và học mỗi ngày.
Ông chú có cái lý của ông, lý của đấng làm cha mẹ, hoặc phải thay cha mẹ lo cho tương lai máu mủ của mình. Quyền huynh thế phụ, chú thay cha.

Vĩnh biệt Sài Gòn

 Jean Lartéguy

Phạm Kim Vinh dịch

Nhà xuất bản Thế Giới 1991

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

6. Chương 6

Thứ Tư 30 tháng 4 năm 1975

Những ngân hàng đã đóng cửa, không mở cửa lại nữa. Những nơi đổi tiền đã đóng rèm cửa xuống rồi.

Graham Martin và những cộng sự viên cuối cùng đã dùng trực thăng tới mẫu hạm Blue Ridge đang đậu ở ngoài khơi cách Vũng Tâu 30 cây số.

Mệt mỏi và sầu thảm, ông ta từ chối mọi lời tuyên bố và chui vào phòng riêng. Ông ta còn không mang theo được lá cờ Mỹ cuốn lại cẩn thận trong tay như Đại sứ Mỹ tại Nam Vang đã làm.

Là dân ngoại giao chuyên nghiệp, Martin không biết thích nghi với những màn bi kịch. Một Thủy quân Lục chiến lo cuốn lá cờ. Nhưng Martin đã bỏ lại tấm hình chụp Nixon cùng gia đình có chữ đề tặng của Nixon. Chúng tôi tìm được tấm hình ấy.

Những Thủy quân Lục chiến chót đã ra đi lúc 8 giờ 30 sau khi liệng một trái lựu đạn khói vào thang máy và làm rối loạn những cơ cấu điện tử điều khiển các cánh cửa sắt, do đó biến sứ quán Mỹ thành một pháo đài không thể chiếm được.

Tổng thống Ford tuyên bố như sau:

“Cuộc di tản đã chấm dứt. Tôi ngợi khen các nhân viên của quân lực đã thi hành tốt cuộc di tản, cũng như ngợi khen Đại sứ Graham Martin cùng với các nhân viên của ông ta đã biết làm tròn bổn phận tốt đẹp trong những hoàn cảnh khó khăn.”

“Cuộc hành quân này đã khép kín một chương trình trong lịch sử Mỹ. Tôi yêu cầu tất cả những người Mỹ xiết chặt hàng ngũ, tránh những sự chỉ trích về quá khứ, và hãy nhìn phía trước mặt hướng về những mục tiêu và cùng nhau làm việc cho những nhiệm vụ phải hoàn tất.”

Henry Kissinger thì cho rằng đây là một sự thành công. 950 người Mỹ chót đã được đưa đi trong khuôn khổ của cuộc hành quân Lựa Chọn 4 trong kế hoạch Talon Vise và đưa được 5.500 ngườỉ Việt. “Henry thân mến” chỉ mong được có bấy nhiêu cũng đã hài lòng rồi.

Sáng nay, chỉ có các sứ quán Pháp, Nhật, Bỉ và phái bộ Thụy Sĩ mở cửa.

Tướng Minh và những cộng sự viên thân cận nhất đã tự giam mình vào dinh Độc Lập. Chẳng còn ai canh gác nữa. Saigon có bị đốt cháy không?

Cướp bóc cứ tiếp tục. Lần này đến lượt nhà riêng của Graham Martin bị vơ vét sạch, rồi đến sứ quán Anh. Những toán cướp có võ trang tiến dần tới trung tâm thành phố. Nhưng những cảnh thảm khốc nhất diễn ra tại bến tàu.

Coutard và toán chuyên viên truyền hình có mặt tại đó trong khi tôị đánh máy một bài báo, bài báo ấy sẽ không bao giờ tới nơi, sẽ không xuất hiện trên báo.

Trong sự rối loạn kinh khủng, những người Imh muốn cưỡng bách chiếc tàu chót cho họ lên và đã nổ súng. Người ta cướp những máy quay phim, máy chụp hình, tất cả những gì có thể mặc cả được.

Những chùm người bám lấy sườn tàu. Đàn bà, trẻ em bị đè bẹp.

Xe của chúng tôi có thể bị đám đông tràn ngập. Một người lính sắp dùng báng súng đập vỡ kính xe. Cần phải chuồn ngay nếu chúng tôi không muốn mất hết máy móc và những cuốn phim. Và nếu không muốn bị treo cổ.

Coutard, Mathurin và Merlin vừa mới đến chỗ tôi. Chúng tôi tới căn phòng cũ của Phillippe Franchini, đó là đài quan sát rạt tốt và Jean Pouget đang ở đó.

Lúc này là 10 giờ 15. Trên đài phát thanh, Tướng Minh phổ biến lệnh đầu hàng không điều kiện: “Đường lối chính trị mà chúng ta dự trù là sự hòa giải giữa những người Việt Nam để tránh đổ máu vô ích. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu anh em binh sĩ của nước Việt Nam Cộng Hòa chấm dứt những sự thù nghịch trong bình tĩnh và tôi yêu cầu họ ở đâu hãy ở đó.”

“Tôi yêu cầu những người lính anh em của chính phủ cách mạng lâm thời ngưng những sự thù nghịch. Chúng tôi chờ gặp chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận về lễ chuyển giao quyền hành trong trật tự, để tránh mọi sự đổ máu vô ích cho nhân dân.”

Rồi đến một thông điệp khác do một viên tướng dũng cảm hồi hưu đọc, Tướng Nguyễn Hữu Hạnh. Vì Tướng Vĩnh Lộc đã chuồn hồi đêm nên người ta đã kéo Tướng Hạnh ra và cử ông ta cầm đầu quân đội.

“Binh sĩ, các trung đoàn trưởng, các chỉ huy đơn vị, các lực lượng địa phương, lực lượng nhân dân tự vệ, tôi, tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Phó Tổng Tham mưu trưởng, tôi yêu cầu tướng lãnh và quân nhân các cấp triệt để tuân theo mệnh lệnh của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa liên quan đến cuộc ngưng bắn.”

“Bộ Tư lệnh Quân sự sẵn sàng tiếp xúc với Bộ Tư lệnh Quân sự của chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam để thực hiện cuộc ngưng bắn tránh đổ máu.”

Và bỗng nhiên, từ nơi tôi quan sát, tôi trông thấy một đơn vị Dù di chuyển dọc hai bên đường Catinat theo đội hình chiến đấu. Súng cầm tay, họ điều động trong một trật tự hoàn hảo. Khi các sĩ quan ra dấu, họ ngừng lại, núp sau những cánh cửa rồi lại tiến lên.

Sắp giao tranh tại Saigon chăng? Trông những người lính này cương quyết lắm. Khi tới ngang nhà hàng Continental, họ quẹo về hướng chợ Bến Thành. Một hiệu lệnh được ban ra. Thế là họ trút bỏ hết quân phục và khí giới với đồ trang bị rồi họ bỏ chạy. Còn lại những gì của quân đội nữa, một trong những quân đội mạnh nhất và được trang bị tốt nhất Đông Nam Á? Những đống khí giới và đồ trang bị, những sợi giây đeo băng đạn.

11 giờ 30, Long, một Đại tá cảnh sát, tự bắn vỡ sọ trước bức tượng của Thủy Quân Lục Chiến đối diện trụ sở Hạ viện. Ông ta nằm sóng sượt. Chiếc nón kết có hoa lá bạc đặt trên ngực. Sự dàn cảnh của một nhiếp ảnh viên.

Máu và óc chảy từ bên tai trái ra. Ông ta vẫn còn thở trong khi ở phía trên ông ta có tiếng sè sè của máy quay phim và máy chụp hình. Một lát sau, ông ta tắt thở tại nhà thương Grall.

12 giờ 5 phút, một xe jeep chạy tới đường Catinat trên cắm lá cờ Việt cộng bự trong khi những chiếc xe tăng tới chiếm dinh Độc Lập. Cờ Việt cộng được trưng lên trước tiền đình. Một chiếc T-54 húc tung cánh cửa sắt vì người ta chậm mở rồi bắn một phát đại bác và vài tràng đạn đại liên thanh để thị uy. Mười bốn xe tăng khác theo sau, pháo tháp mở và cành cây cắm đầy xe. Binh lính đội mũ lợp lá theo kiểu mũ thuộc địa, quân phục xanh và đi dép Hồ Chí Minh chế tạo bằng vỏ xe hơi, võ trang bằng tiểu liên AK-47 của Trung Hoa, nhẩy ra khỏi xe tăng và chạy vào dinh.

Trên bao lơn, cờ của chính phủ cách mạng lâm thời được kéo lên. Saigon bị chiếm và không bốc cháy. Chỉ thiếu chút nữa thôi.

Phó Tổng thống Nguyễn văn Huyền, Thủ tướng Vũ văn Mẫu và Tướng Minh đã là diễn viên và nhân chứng trong những giờ phút chót của Saigon và họ đã kể cho tôi nghe những giờ chót ấy.

Và số phận của Saigon đã được định đoạt như dưới đây trong vòng vài phút ngày 30-4, khoảng từ 10 giờ 30 tới 11 giờ sáng.

Minh và hai người phụ tá là Huyền và Mẫu ngồi trong phòng khách nhỏ của dinh. Chừng năm chục nhân vật ngồi chờ ở phòng lớn để dự buổi lễ trình diện Tân Nội Các. Người ta đã vơ vét những gì có thể tìm được trong lúc này. Do đó mà Giáo sư Vũ văn Mẫu đã mang theo các thư ký văn phòng luật sư của ông ta.

Không còn chút hy vọng nào để thương thuyết nữa. Sự hỗn loạn ngự trị ở đường phố và những đơn vị đầu tiên của cộng sản đã vào Sàigòn. Nhưng ở khắp nơi đều có những ổ kháng chiến, gồm những đơn vị ưu tú bám lấy lãnh thổ. Thí dụ như tại Tân Sơn Nhất, một đơn vị Dù đã dùng súng Bazooka làm nổ tung năm xe tăng Sô Viết.

Ba người ngồi chờ phái đoàn thứ hai do họ gởi đi trại Davis (Tân Sơn Nhất) trở về. Chẳng thấy gì. Thời giờ cứ trôi qua.

Bỗng cánh cửa mở. Họ đứng phắt dậy, tưởng rằng đại diện của quân đội cộng sản tới đặt các điều kiện cho sự đầu hàng.

Đó chỉ là Tướng Vanuxem. Là một cố vấn rất được Thiệu nghe theo, ông ta tới đây trước đó vài ngày theo lời mời của Thiệu để mang tình bạn đến an ủi Thiệu và cho những lời khuyên nhằm cải thiện tình thế. Thiệu đã từ bỏ quyền hành và Vanuxem còn ở lại. Đi dạo quanh cái dinh bỏ trống, ông ta bước vào trong. Không có thư ký, không có người canh gác. Chỉ có sự bỏ trống. Tướng Minh không dám mời ông ta trở lui. Vanuxem là cựu sĩ quan của cái quân đội mà Tướng Minh còn giữ sự trìu mến lớn lao. Có lẽ Tướng Minh tưởng rằng ông ta thi hành một sứ mạng nào đó?

…. Vậy thì Vanuxem sẽ được tham dự những giờ phút chót của cái chính phủ này, cái chính phủ mà những kẻ xấu mồm đã nói rằng được thành lập tại Ba Lê và do Đại sứ Pháp L.J.M Mérillon chủ tọa tại Sài Gòn. Không một nhà báo nào dám mong có được cái cơ hội như Vanuxem lúc ấy. Sáng hôm ấy, Vanuxem có mặt tại đó nhân danh nước Pháp.

Ngồi ở góc bàn, Vũ văn Mẫu gấp rút thảo lời kêu gọi ngưng bắn. Rồi Mẫu và Minh ngồi vào trong xe đi tới đài phát thanh, trên đường đi, nắm được Cựu Tướng Hoàng đang ngơ ngác tìm viên Tham mưu trưởng là Tướng Vĩnh Lộc. Lộc đã chuồn hồi đêm rồi.

Phó Tổng thống Nguyễn văn Huyền thì lui vào một phòng nhỏ để cầu nguyện.

Ba người biết rằng cộng quân đã sẵn sàng tàn phá Saigon nếu mọi sự kháng cự không chấm dứt ngay, và có thể cộng sản mong có sự kháng cự để tàn phá. Bọn chúng sợ hãi cái thành phố này. Bọn chúng muốn cái thành phố ấy phải mang thương tích và quỳ gối đầu hàng.

Minh và Mẫu vừa mới quay trở về thì nhìn thấy những xe thiết giáp ở bãi cỏ. Không phải là những xe tăng cộng sản mà họ chờ đợi nhưng là ba xe tăng M-48 của quân đội Nam Việt Nam. Vài sĩ quan trẻ tuổi vừa từ trên xe nhảy xuống.

Các sĩ quan này từ chối sự dầu hàng. Họ muốn tiếp tục chiến đấu vì danh dự và vì họ từ chối chủ nghĩa cộng sản.

Họ đâu thèm bận tâm đến việc họ có thể bị chôn vùi dưới những đống gạch vụn đổ nát của Saigon?

Tướng Minh chỉ còn có vài phút để thuyết phục các sĩ quan này. Đại bác 130 và những ống phóng hỏa tiễn 122 ly đã đặt sẵn chung quanh thủ đô.

Sau này, Vũ văn Mẫu cho chúng tôi biết là sự đe dọa ấy có thật. Ông ta và Tướng Minh bị cầm tù 48 giờ trong dinh và một trong những sĩ quan Bắc Việt canh giữ họ, cấp Đại tá hay cấp tướng gì đó nói: “Chúng tôi được lệnh bắn Saigon từ 11 giờ sáng nếu mọi sự kháng cự không ngưng. Thành phố đã được chia ra làm 30 ô vuông. Mỗi ô vuông sẽ lãnh 100 hỏa tiễn và 3.000 đạn đại bác 130 ly.”

“Sau đó, chúng tôi sẽ xung phong. Chúng tôi biết sẽ có những trận đánh dữ dội trong thành phố và có một đơn vị nhất quyết chiến đấu tới cùng. Chúng tôi dự trù những cuộc chiến đấu ấy kéo dài bảy ngày từ 30 tháng 4 tới 7 tháng 5, kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, tới lúc đó, chúng tôi sẽ làm chủ Sàigòn. Đến lúc ấy thì mọi sự kháng cự sẽ ngưng.”

Vũ văn Mẫu nói thêm:

– Tướng Minh và tôi biết rằng những cuộc chiến đấu ấy vô ích vì sẽ gây cho các thường dân số thương vong từ 250.000 tới 300.000 người chết và một phần lớn Saigon sẽ bị tiêu hủy vì những đám cháy không gì có thể ngăn được. Rất nhiều khu nhà ở đều làm bằng gỗ và cảnh sát cũng như mọi lực lượng an ninh đều biến mất.

Dùng uy tín của người cựu chỉ huy, của người thật sự tạo lập quân đội Nam Việt Nam, với giọng nói oai nghiêm của người cha răn dậy những đứa con ngỗ nghịch, Minh Cồ cảm phục lòng can đảm của các sĩ quan trẻ tuổi ấy nhưng giải thích cho họ biết rằng nếu đánh nữa thì họ chỉ làm tăng thêm sự bất hạnh cho đất nước.

Họ còn được bao nhiêu người? Những thành phần còn lại của một lữ đoàn Dù và Thiết Giáp. Chừng hai ngàn người tất cả.

Trước mặt họ có 15 sư đoàn: hơn 100.000 người, các trung đoàn pháo, hỏa tiễn phòng không. Và tất cả đều sẵn sàng xung phong, chỉ mơ ước được nhào vào cái thành phố này vì nó đã luôn luôn chối bỏ bọn chúng, cái biểu tượng của mọi chế độ thực dân và mọi chế độ đế quốc. Để trừng phạt và tiêu diệt thành phố này. Tiếp tục chiến đấu là mắc mưu bọn chúng.

Các sĩ quan đã hiểu và họ trở về đơn vị để thuyết phục các thuộc cấp ngưng chiến đấu. Nhưng có nhiều người sẽ đi về vùng đồng bằng để lập chiến khu. Những kẻ chiến thắng có thể tiến vào Saigon được rồi.

Ai đã cứu Saigon? Không phải Kissinger hoặc Graham Martin đã cứu Saigon khi đẩy ông Thiệu ra ngoài, cũng không phải Sauvagnargues hoặc Mérillon đã cứu Saigon khi bứt ông Hương thống khổ ra khỏi chiếc ghế Tổng thống. Cứu tinh của Saigon, Tướng Dương văn Minh. Ông ta đã cứu thủ đô vì trong suốt cuộc đời của ông ta, ông ta luôn luôn là điều trái ngược với một chính trị gia và đối với các đại úy trẻ tuổi, ông ta vẫn là biểu tượng của một sự cao cả nào đó, một sự lương thiện, một người không hiểu nhiều về những sự tế nhị của chính trị quốc gia hoặc chính trị quốc tế nhưng vào lúc quyết định này, ông ta có thể được lòng tin của những thanh niên hai mươi tuổi sẵn sàng chết. Những người trẻ tuổi này đã khinh bỉ bác bỏ tất cả những lời dao to búa lớn của các nhà ngoại giao và các chính khách vì rằng hai hạng người ấy chỉ biết nói những chuyện cho người già nua, cho những kẻ khuyển nho và cho những kẻ quen với những trò rắc rối này.

Rồi đến chiếc xe jeep cắm cờ chạy tới đường Catínat lúc 12 giờ 5 phút, đến vụ chiến xa chiếm Dinh, theo sau là những xe vận tải Molotova chở đầy binh sĩ, năm chục nhân vật hoặc thư ký tới dự lễ trình diện nội các hoặc tham gia nội các, tới vụ hai ông Minh và Mẫu hai tay đưa lên trời bị những anh “bộ đội” súng tiểu liên cầm tay áp giải lên một xe jeep.

Họ được áp giải đến đài phát thanh để đưa ra lời kêu gọi tối hậu hãy ngưng bắn cho những người chiến sĩ còn đang chiến đấu. Vì người ta vẫp còn đánh nhau tại Tân Sơn Nhất, tại Gia Định, chung quanh một vài trại lính và gần Bộ Tư lệnh Cảnh sát, và ngay cả ở đường Pasteur nữa vì nơi đây có một nhóm quân cảm tử tìm cách chống cự.

Đến 13 giờ thì xong hết mọi chuyện.

Minh được trở lại Dinh, ở đó, ông ta bị canh chừng. Ông ta tự coi là đã làm xong bổn phận.

Sau khi kêu gọi ngưng bắn và kêu gọi quân lực Nam Việt Nam buông súng, trước khi xe tăng cộng sản tiến vào Dinh, ông ta tuyên bố với một trong những người ký giả cuối cùng mà ông ta đã gặp là Arnaud của hãng AFP (Agence France Presse):

“Hôm nay hoặc ngày mai, tôi chờ họ (điều này chứng tỏ ông ta đã bị cắt đứt mọi sự tiếp xúc với những người bên kia). Phải làm như vậy. Phải cứu lấy những mạng người, những mạng người Việt và Pháp nữa. Hãy kể lại cho Đại sứ Pháp nghe rằng ông đã trông thấy tôi ở đây.”

Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi này diễn ra lúc các sĩ quan trẻ tuổi còn muốn chiến đấu đã trở lại đơn vị và lúc xe tăng cộng sản tiến vào,

Tất cả những người mà tôi hỏi chuyện sau đó và những người có mặt cùng với Minh Cồ, các cộng sự viên thân cận nhất của ông ta, Phó Tổng thống Huyền, Thủ tướng Mẫu, tất cả đều xác nhận rằng những tên lính và sĩ quan đầu tiên tiến vào dinh để bắt họ đều là người miền Bắc.

Lúc ấy, các nhân vật trong chính phủ họp tại phòng khách long trọng của Tổng thống Cộng Hòa. Trong lúc này thì chính phủ cách mạng lâm thời chỉ được đại diện bởi lá cờ nửa xanh nửa đỏ giữa có ngôi sao vàng và một người lính của Hà Nội treo lên phía trước tiền đình thay cho lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Sau khi các xe tăng tiến vào bãi cỏ trước dinh, đến lượt bộ binh cơ giới hóa ngồi trên xe của Nga hoặc của Tàu chế tạo. Cũng là một thứ xe nhưng nếu xe của Tàu thì người ta phải đến gần mũi xe mới đọc được những chữ ghi ở đó. Các anh “bộ đội” nhảy xuống đất, súng lăm lăm trong tay. Họ ngồi tại bãi cỏ có bóng mát mà mưa tưới ướt và bãi cỏ ấy ở phía trước nhà thờ Đức Bà.

Chúng tôi đi lần vào bọn họ. Có những người thì hung hãn, có những người khác cười với chúng tôi, có người bằng lòng cho chúng tôi chụp hình, có người từ chối. Họ chưa nhận được chỉ thị gì và không biết phải đối xử với chúng tôi ra sao.

Tôi ngạc nhiên vì tuổi nhỏ của những ngưởi lính này, mười sáu, mười bảy, mười tám, ngạc nhiên vì thân hình ốm yếu của họ, vì bộ đồng phục màu xanh quá rộng đối với họ. Họ có cái đầu của những đứa trẻ trong ban hợp ca của nhà thờ được mang chiếc mũ thuộc địa. Họ cười một cách dễ thương nhưng họ cầm trong tay những khí giới nguy hiểm: Tiểu liên Trung Cộng AK-47 hoặc Kalachnikov của Nga, súng Bazooka, súng B-40 và một chùm lựu đạn tròn nhỏ đeo ở giây nịt bụng.

Nhưng cấp chỉ huy của họ thuộc về một thế hệ khác, thế hệ của những người bốn chục tuổi, nét mặt rắn rỏi vì Chiến tranh, dầy dạn phong sương vì những năm chiến đấu trong rừng. Chính họ là những người lính – thầy tu – đã chỉ huy và cuồng tín hóa những người lính tập sự hày.

Hình như toàn thể một thế hệ đã biến mất, thế hệ đã dự những trận đánh dữ dội chống lại người Mỹ, thế hệ đã bị dội bom B-52, thế hệ đã chết mòn mỏi trên đường mòn Hồ Chí Minh. Bị xóa sổ của thế giới, bị bôi tên khỏi cuộc đời.

Cả một thế hệ bị tiêu diệt vì chiến tranh! Những người còn sống sót thì được tôi luyện bằng thép, vững chắc trong sự căm thù người ngoại quốc. Chính những người ấy đã đưa những đứa trẻ này tới Saigon, làm cho chúng lặn lội trong rừng, làm cho chúng chiến đấu, không tha thứ một sự yếu lòng nào và thuyết giảng cho chúng nghe trong rừng già Cao Mên cái tôn giáo mới, tôn giáo có Chúa không phải là Marx mà là Hồ Chí Minh và có mục tiêu là nước “Đại Việt Nam” để sẽ thâu toàn thể Đông Dương thuộc Pháp ngày trước.

Nhưng những cán bộ này đã thành ra những thứ đồ quý, khan hiếm đến nỗi bộ chỉ huy cao cấp buộc họ không được hy sinh mạng sống một cách dễ dàng và luôn luôn được một nhóm bảo vệ. Họ còn được lệnh là phải chạy trốn nếu thấy có thể bị bắt.

Tôi nhận được những con người ấy với nụ cười gắn trên mặt họ như một chiếc mặt nạ. Đó là những người Việt thật sự, những người lính giỏi nhất Á Châu. Họ chỉ biết chiến tranh là cứu cánh và không biết đến điều gì khác. Họ có cái đức tin lạnh lùng của những người truy tà. Họ tin tưởng ở cái chủ nghĩa cộng sản của Bắc Việt, trong đó mọi thứ kết chặt với nhau: chủ nghĩa Mác xít rút gọn còn có vài giáo điều, một chủ nghĩa quốc gia cuồng nhiệt, dễ nóng giận, một lòng yêu tổ quốc Việt Nam, yêu nòi giống Việt Nam khiến cho người ta bực mình nhớ đến những chủ nghĩa chủng tộc khác và những sự cuồng nhiệt khác, một đời sống đạo đức, trong sạch, một sự khắc khổ của những người tu hành. Và cả một hệ thức kiểu “Hướng Đạo” bắt nguồn từ những trại thanh niên ngày xưa của Đô đốc Decoux, tất cả ở phía “cách mạng quốc gia”: lửa trại, ca hát, dân vũ, trò chơi, tôn sùng lãnh tụ già Hồ Chí Minh mà đời sống được coi như một ông thánh thật sự. Trên tấm hình bác Hồ tôn kính xuất hiện khắp nơi ấy, chỉ còn thiếu có cái vòng hào quang. Và người ta quên mất con người ngày trước của ông ta: một người cách mạng dữ tợn, không chút thương xót và để duy trì sự nhất trí của đảng, ông ta đã không ngần ngại đem nộp những người đối đầu với ông ta cho sở mật thám Tây để thủ tiêu những người ấy.

Nhưng cái tình cảm mạnh mẽ nhất đã khuấy động họ là sự kiêu căng bao la mà họ khó dấu dưới sự giả đò khúm núm khiến cho ngay cả những đồng minh của họ cũng không chịu nổi: người Nga, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Ba Lan, Đông Đức và nhất là người Trung Hoa. Họ đã đánh bại người Pháp. Nếu họ bớt cứng rắn thì họ đã có thể thương lượng với người Pháp. Rồi thì họ đã lẳng lặng tiêu hóa nước Việt Nam thay vì chinh phục. Họ tưởng đã đánh bại được người Mỹ thời Johnson trong khi thực ra, người Mỹ không bao giờ muốn đánh đến cùng và người Mỹ đã bị phá hại vì sự bất ổn của lương tâm. Nhưng khi người ta muốn duy trì đế quốc của thế giới thì người ta không nên bận tâm vì lương tâm. Về vấn đề này thì nên hỏi người Nga.

Người Việt cộng sản đã trở thành một dân tộc chinh phục, một dòng tu quân sự Đỏ, xả thân cho chiến tranh và cho sự chinh phục. Ba triệu người chết vì sự kiêu căng.

Và những người lính con nít này!

Tôi đi xen vào với họ. Dân Saigon bắt đầu lại gần, ngạc nhiên vì thấy chưa bị những ngườỉ lính ấy cắn. Ngạc nhiên vì thấy họ còn trẻ quá, tươi cười quá… khi họ có thể vượt qua khỏi sự canh chừng của những người chỉ huy khắc khổ của họ.

Cùng với Coutard, Merlin, Mathurin và Brigitte Friang, với Pouget, Held và F. Dehre, với Dreyfus và Caviglioli, ngoại trừ một bạn đồng nghiệp nổi hứng mang một băng tay màu đỏ và những dấu hiệu của chính phủ Cách mạng Lâm thời, tôi có thể nói rằng tất cả chúng tôi đều ngạc nhiên vì sự ít tha thiết, hay đúng hơn là sự chịu đựng của nhân dân Saigon. Một vài cái vỗ tay kín đáo, vài bao thuốc lá mà người ta lén đưa cho các anh bộ đội, vài câu hỏi khôn ngoan. Chỉ có thế thôi.

“Họ có gia đình ở Nam Việt Nam không?” Đó là câu hỏi mà người ta thường hỏi những người lính ấy. Đó là một cách hỏi để tìm hiểu về cái chính phủ Cách mạng Lâm thời, là chính phủ đã chính thức chiếm, à xin lỗi, đã giải phóng thành phố, nhưng trong lúc này, chẳng thấy binh lính của chính phủ ấy ở đâu hết.

Đến chiều tối mới thấy những đơn vị miền Nam không nhiều, trang bị tồi, đi thất thểu, đó là những người ở bưng được những người lính vẻ vang của Hà Nội giao cho những nhiệm vụ phụ thuộc. Vì người ta thiếu lính —cho chính phủ Cách mạng Lâm thời nên người tạ đã chế tạo thứ lính ấy.

Tôi đã nói chuyện với những đứa trẻ của Nhân dân Tự vệ là thứ lực lượng xuất hiện những ngày gần đây và đáng lẽ phải giữ gìn trật tự thì lại: đã làm trái lại. Tôi thấy chúng đã biến thành những người bưng biền, mang băng tay đỏ, chiếm đoạt những chiếc xe hơi rồi lái xe thật mau trên những đường phố vắng lẫn lộn vào với những thiếu niên lạc loài khác, những tên du đảng đã lượm trên lề đường một khẩu súng M-16, một súng lục hoặc tiểu liên rồi biến thành quân kháng chiến. Đảng cần có những người kháng chiến gia nhập giờ chót. Do đó, đảng không đòi hỏi nhiều về điều kiện gia nhập. Bất cứ ai cũng có thể gia nhập được.

Người ta cần có bọn trẻ nít ấy để chứng minh lập luận giải phóng Saigon, để một ngày nào đó, người ta có thể xác nhận rằng toàn thể nhân dân Saigon – đó là cái công thức – đã nổi dậy khi quân đội nhân dân Nam đến gần.

Và vì vẻ đó, để cho sự gian dối mang một vẻ có thật đôi chút, người ta để cho lũ trẻ nít ấy làm trò xiệc và bắn nhiều tràng đạn khi nhận kèn inh ỏi chạy xe trên đường phố.

Saigon không được giải phóng, Saigon không nổi dậy, Saigon đã bị quân đội xa lạ từ miền Bắc đến xâm chiếm, trắng trợn vi phạm tất cả các thỏa hiệp ký tại Ba Lê, những đơn vị được trang bị một phần bởi nước Trung Hoa (giờ nầy, nước ấy đang hối tiếc) và được người Nga trang bị rất nhiều (Nga tính chẳng bao lâu nữa sẽ dùng Bắc Việt để chống lại người Tàu) đó là sự thật. Chúng tôi là 120 nhà báo có thể chứng minh được điều ấy. Những người cộng sản biết thế cho nên hai giờ sau đó, đúng 14 giờ, vào lúc diễn hành, bọn chúng chặn chúng tôi ởSaigon bằng cách cắt đứt những đường giây viễn ấn và truyền tin, bằng cách không cho chúng tôi gởi hình ảnh đi ra ngoài. Bọn chúng bắt chúng tôi im lặng để có thời giờ tin ở sự gian dối của chúng.

Quân đội Việt cộng, cái quân đội mà người ta nhồi mãi vào tai chúng tôi rằng đã được huấn luyện bằng súng gỗ trong rừng, cái quân đội ấy đang diễn hành trước mắt chúng tôi. Đó là đoàn xe tăng T-54, T-56 với những máy ngắm bắn ban đêm bằng hồng ngoại tuyên, đó là những thiết vận xa, những xe thám thính gắn đại liên, những pháo đội phòng không, những đại bác nòng dài có xe chạy xích kéo. Và tất cả những xe jeep này, những xe vô tuyến, những đài ra-đa lưu động, và cả rừng ống hỏa tiễn, những súng cối hạng nặng, hàng ngàn xe vận tải chất đầy lính trang bị những súng tiểu liên tân tiến nhất. Từ mọi phía, họ tiến vào thành phố giữa những tiếng gầm thét của động cơ và tiếng xích sắt nghiến đường của các xe chạy xích.

Này anh bộ đội, anh từ pháo thép xe tăng ló ra, đầu anh mang mũ đen, trông giống những người lính thiết giáp Nga đàn áp những cuộc nổi dậy của công nhân tại Bá Linh, Prague và Budapest, anh từ đâu tới đây?

Từ Hà Nội.

Và anh, anh đang lái chiếc xe kéo một khẩu đại bác 130 ly có tầm bắn xa hoặc lái một xe vận tải Molotova, anh ta bố trí khẩu súng phòng không gần dinh tổng thống? Còn anh, anh lính khốn khổ đang đi bộ, một chiếc khăn mặt quấn quanh cổ. Anh từ đâu tới?

Từ Hà Nội. Từ Hà Nội.

Chúng tôi đi tới đại lộ nối liền Chợ Lớn với Saigon. Nơi nào cũng thấy ngổn ngang những xe thiết giáp, xe vận tải và đại bác 105 ly bỏ lại. Trẻ nít lượm súng bắn chơi lên trời hoặc đội mũ sắt cải trang làm lính, có đứa mặc áo giáp hoặc lấy những giây đeo đạn quấn vào mình và giỡn chơi với những trái lựu đạn như chơi với những trái banh. Những người lớn tuổi khôn ngoan hơn, chỉ mở nắp các xe để kiếm những thứ phụ tùng có thể xài được. Nhưng một trăm ngàn lính Nam Việt Nam hôm qua còn bảo vệ Saigon nay biến đâu hết? Quân phục, đồ trang bị của họ vứt ngổn ngang trên lề đường, dưới đường, trong rãnh. Một trăm ngàn người lính mặc đồ lót!

Chiếc tàu chở người tị nạn sáng nay muốn ra khơi đang còn đậu ở bến nhưng người tị nạn đã trốn hết rồi.

Các trạm cảnh sát đã được các ủy ban địa phương chiếm đóng, các uỷ ban này thường gồm những người trẻ tuổi tuy làm ra vẻ nghiêm chỉnh nhưng lại có vẻ như giỡn chơi. Chợ Lớn yên tĩnh. Chưa thấy treo cờ. Người Tàu khôn lắm. Họ tự hỏi xem phải treo cờ Hà Nội cờ đỏ sao vàng hay treo cờ chính phủ Cách mạng Lâm thời. Người Tàu chẳng dại gì treo một thứ cờ để rồi cờ ấy bị thay thế bởi một thứ cờ khác.

Tại Phú Thọ có không khí của một hội chợ. Thẳng thắn cười đùa, và của sự nhẹ nhõm. Mọi người ở khu này đều ra ngoài đường. Để hôi của. Kéo những bao gạo, bột mì, đồ hộp, rượu Whisky, rượu Champagne, những thùng la-de và Coca Cola. Họ vơ vét sạch những cửa hàng mà chủ nhân đã bỏ chạy, ủy ban khu phố gồm vài người trẻ tuổi mang tay đỏ, trang bị súng M-16 gắn mấy bông vại đỏ, tìm cách tạo ra một vẻ gì như là trật tự và ngăn chận việc cướp tất cả những bao gạo lấy được ở một kho hàng.

Trên đường đến trường đua. Một xe tăng Mỹ và một xe tăng Nga đối diện nhau, cả hai cùng bị phá hủy. Hai xe đã bắn nhau rất gần. Cuộc đấu súng kỳ lạ này diễn ra sáng nay. Hai cái xác xe còn bốc khói, ở trong xe, những xác người cháy thành than.

Và đây, xuất hiện những đơn vị bộ binh đầu tiên, từng hàng dài tiến lên trong bộ đồng phục quá rộng. Các anh bộ đội được huấn luyện để mỗi ngày đi được 50 cây số với luôn đồ trang bị. Họ là những con thiêu thân của cuộc chiến này nhưng họ không xẹp.

Tại Tân Sơn Nhất, những xác chết mà chúng tôi nhìn thấy ngày hôm qua vẫn còn đó và bốc lên những mùi hôi thúi. Nhưng những đám cháy đã được dập tắt rồi.

Gần Lăng Cha cả, người che chở và bạn của vua Gia Long, những người chiến sĩ Dù đã đánh trận chót. Họ chiến đấu tới mười một giờ ba mươi, cho tới khi các cấp chỉ huy của họ từ cuộc gặp gỡ đau thương với Tướng Minh trở về thuyết phục họ nên bỏ cuộc chiến. Họ đã dùng súng Bazooka tiêu diệt năm xe tăng Nga loại T-54 nặng năm mươi tấn và còn đang bốc cháy. Một chiếc nổ tung với tất cả đạn dược trong xe. Chúng tôi chỉ kịp đậu xe lại để tránh.

Các chiến sĩ Dù không để lại một chút gì, không để lại người chết, những người bị thương, khí giới hoặc đồ trang bị.

Chúng tôi tìm cách vào sân bay. Nhưng sân bay do các anh bộ đội mang vũ khí canh gác và dường như được một người thường phục chỉ huy

Chúng tôi ngỏ lời với người chỉ huy đó. Anh ta nhẹ nhàng giải thích rằng không vào được vì rằng những tên bù nhìn của Mỹ đã đặt mìn tất cả vào sân bay sẽ rất nguy hiểm cho chúng tôi. Nhân dân Việt Nam rất lo lắng giữ an ninh cho các người ngoại quốc. Hắn nói thêm:

– Vài ngày nữa ông trở lại đi.

Thật là một thứ nói dối có hạng. Vì rằng ba giờ sau đó đã có một chuyến bay đầu tiên từ Hà Nội đáp xuống.

Chúng tôi quay lại. Trở lại Saigon giữa tất cả những người lính kia, những người thường dân kia, những người tị nạn kia đang làm cản trở đường đi. Chúng tôi gặp sáu xe tăng Mỹ dàn ra theo đội hình chiến đấu, đại bác chỉa thẳng nhưng đã bị xa đoàn bỏ rơi. Chúng tôi bắt buộc phải lái xe bọc vòng mọi thứ chướng ngại vật: rào cản, những cục xi măng. Không có sự can thiệp của Minh thì người ta đánh nhau lâu và chắc có thương vong.

Tại một ngôi chùa có đám đông đang họp. Vườn của chùa đã trở thành trại tạm trú cho hàng trăm người. Có những người mắc võng, có những người dựng lều, những người khác thì nấu ăn.

Các anh bộ đội hoàn toàn lạc lõng trong sự lưu thông loạn lạc này và dân Saigon có vẻ không biết tới các anh bộ đội. Không thù nghịch. Dường như dân Saigon đã quen với những kẻ mới tới và những kẻ ấy lúc này nhút nhát kín đáo. Chỉ vài giờ sau khi dứt giao tranh, dân Saigon đã coi thường những kẻ mới tới và chế diễu sự quê kệch của những kẻ ấy. Sau biết bao nhiêu kẻ chiếm đóng mới mà dân Saigon phải quen và phải lợi dụng nếu có thể. Các anh bộ đội không thích lối đối xử đó. Họ tưởng sẽ được hoan hô, được choàng vòng hoa chứ không dè bị đối xử tệ như vậy. Dân Saigon thật kỳ lạ, vừa mới sợ hãi rồi lại an tâm ngay đấy! Thấy chưa bật bớ ai, chưa xử bắn ai, lập tức người dân Saigon đã tìm lại được sự vô tâm và đang tự hỏi làm cách nào có thể ‘‘lừa bịp” những kẻ mới tới. Những người dân ấy cũng lo lắng vì rằng có lẽ chẳng kiếm chác được gì nhiều nơi những người lính khốn khổ mang dép kia. Nhưng lần này, dân Saigon lầm rồi. Khi đạo đức dựa trên một chế độ cảnh sát thường trực và khi sự tố cáo lẫn nhau được coi là một nghĩa vụ đối với quốc gia thì đạo đức ấy thắng tội lỗi.

Chúng tôi đi qua Câu lạc bộ thể thao, một trong những nơi quý phái Sài gòn, những nơi đó đã bị chiếm đóng rồi. Tại hội đua ngựa, một bà chủ nhất định đòi xem thẻ hội viên của chúng tôi. Bà ta khăng khăng đòi xem thẻ chúng tôi. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện rồi vượt hàng rào và thấy trong phòng uống rượu toàn thể số nhân viên của hội đang ngồi may cờ Việt cộng.

Vài con ngựa bình thản gặm cỏ tại bãi gần đó, gần một cái chuồng một chàng trẻ đang vỗ về con ngựa.

Tại trường Marie Curie, có treo một tấm bảng. Sau các biến cố này thì kỳ thi vấn đáp phải dời lại tới ngày 3-5.

Cờ bắt đầu xuất hiện trên các cửa sổ. Người ta khâu vội vàng cho nên những lá cờ thay vì hai màu xanh dương và đỏ đã thành xanh lá cây và đỏ.

Những chiếc xe gắn loa phóng thanh chạy khắp ngã đường và đậu tại các ngã tư rồi chuyển đi lời cảnh cáo lập lại nhiều lần bằng giọng nói miền Bắc.

“Các lực lượng của Mặt trận Giải phóng Quốc gia đã làm chủ Sàigòn. Đồng bào đừng lo ngại. Đồng bào sẽ được đối xử tử tế nếu tôn trọng trật tự và kỷ luật.

Dưới trận mưa, một người đàn ông mặc quần lót đang lặng lẽ băng qua đường và cười: đó là một người lính Việt Nam Cộng hòa.

Đài Saigon đã biến thành đài Giải Phóng. Một nữ xướng ngôn viên cho thính giả biết rằng nhiều ngàn người dân Saigon hăng say đang đi diễn hành trên đường Catinat mang những biểu ngữ (chúng tôi đang ở trên con đường này). Có ba bốn kẻ vô nghề nghiệp được một anh cán bộ gom góp lại và anh này đang ra sức gào vào cái loa phát thanh.

Và cô xướng ngôn viên tiếp tục:

“Tất cả đoàn kết để làm cách mạng trong thành phố Hồ Chí Minh, làm vẻ vang cho thành phố ấy vì đã nổi dậy trong cuộc chiến đấu thắng lợi hạ những tên bù nhìn Mỹ và bè lũ ăn lương của Mỹ.”

Một lúc sau đó, đài phát thanh phổ biến mười điểm chương trình của chính phủ Cách mạng Lâm thời. Mười điểm ấy được áp dụng cho nhân dân Nam Việt Nam:

  1. – Mọi Cơ Cấu hiện hữu phải thi hành chính sách của chính phủ Cách mạng Lâm thời. Hệ thống cai trị cũ phải được hủy bỏ. Các đảng phái phản động và các tổ chức khác phục vụ đế quốc và những tên bù nhìn đều bị giải tán.

2 – Nam nữ bình đẳng, tự do về lương tâm và tín ngưởng.

3 – Cấm mọi hoạt động gieo rắc chia rẽ, kêu gọi đoàn kết để xây dựng vùng tự do và xây đời mới.

4 – Mọi người được bảo đảm quyền làm việc và có nghĩa vụ ủng hộ cuộc cách mạng.

5 – Tất cả mọi của cải của chính quyền bù nhìn đều do chính phủ Cách mạng Lâm thời quân lý.

6 – Săn sóc trẻ mồ côi và người già yếu là làm bổn phận đối với quốc gia.

7 – Khuyến khích khu vực nông thôn để phát triển sản xuất.

– Các cơ sở văn hóa, nhà thương, trường học do người ngoại quốc quản lý, phải theo đuổi các hoạt động nhằm phục vụ nhân dân. Những tài năng hữu ích cho việc xây dựng xứ sở đều phải được ưu đãi.

8 – Các binh lính đã rời bỏ hàng ngũ địch sẽ được đối xử khoan hồng.

8 – Ngoại trừ những kẻ chống lại cuộc cách mạng và những kẻ ấy sẽ bị trừng trị, những người ngoại quốc và những tài sản của ngoại kiều sẽ được bảo đảm.

Trụ sở Hạ viện trước kia là rạp hát thì bây giờ do các “ủy ban Địa phương” chiếm đóng. Bộ đội thay thế cảnh sát: Biểu ngữ cũ thay bằng biểu ngữ mới. Nhưng trước cửa nhà hàng Continental, vẫn còn biết bao nhiêu hành khất, gái điếm, những kẻ ăn mặc lố lăng, những trẻ đánh giày, những người mối lái, những trẻ nít.

Giới nghiêm. Chúng tôi ăn tối tại khách sạn Caravelle. Từ sân thượng, chúng tôi thấy những kho đạn nổ tung và những cột khói bốc lên từ phía Chợ Lớn.

Từ nay, Saigon mang tên Hồ Chí Minh. Trước cửa kháeh sạn Continental chỉ được treo lá cờ của chính phủ Cách mạng Lâm thời. Các chủ nhân mới của thành phố đã buộc phải tháo gỡ lá cờ Pháp.

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

Chương 6

Những người đang ngủ đứng!

Để cầm chân và đánh lạc hướng Quân lực Việt NamCộng Hòa, phía Bắc Việt mở những cuộc tấn công theo lối dương Đông kích Tây. Ngày 22 tháng giêng, một cảnh sát trưởng đạp phải một trái mìn ở gần đồn Nguyễnvăn Quế thuộc vùng ngoại ô Sài Gòn. Cuộc mưu sát nầy đã làm bị thương 4 người cảnh sát.

Đây là lần đầu tiên từ năm 1972, không khí chiến tranh tràn vô tới Sài Gòn. Phải chăng Việt Cộng lại chuẩn bị phá rối ngày Tết nữa? Tết Việt Nam năm nay bắt đầu từ ngày 11 tháng 2 dương lịch.

Ông Hoàng đức Nhã, người em bà con với ông Thiệu có vẻ lo âu. Bốn tháng nay ông không còn là Tổng trưởng Thông Tin nữa. Đề nghị cuối cùng của ông trong tư cách vừa là tổng Trưởng vừa là cố vấn riêng của ông Thiệu là nên liên lạc thẳng với CPLTCHMN. Mặc dầu ông đã công khai tuyên bố (“4 Không”) nhưng ông Thiệu cũng thấy ý kiến nầy hay hay. Nhưng người Mỹ sẽ nghĩ thế nào về vấn đề nầy? Năm 1963 họ đã loại bỏ ông Diệm bởi vì những người em của ông nầy đã muốn nói chuyện trực tiếp với Hà Nội . Đây là một bài học luôn luôn ám ảnh ông Thiệu.

Nhiều người chỉ trích ông Nhã là đã ngiêng về cánh tả. Nhưng ông nầy nghĩ mình là người thực tế hơn: “Đó là vấn đề “sống còn của Miền Nam chúng ta”. Ông không tin rằng cái gì tốt cho Hoa Kỳ nhất thiết sẽ tốt cho Việt Nam.

Ông Đại sứ Graham Martin đã đòi hỏi và đã loại được ông Nhã ra khỏi nhiệm sở của ông ta nằm ở ngay tầng lầu ba trong Dinh Độc Lập. Người ta gán cho ông Nhã một biệt danh là “một cậu nhỏ chống Mỹ” (nguyên tác: “anti americain kid”) mặc dầu ông đã ba mươi ba tuổi đầu rồi, và ông không bao giờ rút lại lời nói của ông. Tổng Thống Thiệu nghĩ rằng mình có phần nào sai khi nhượng bộ với Đại sứ Hoa Kỳ . Ông đã cho ông Nhã rời khỏi Bộ Thông Tin nhưng vẫn còn tín nhiệm người em của mình. Ông Nhã cố thuyết phục Tổng Thống:

_ “Phải xốc Chánh Phủ của ông Khiêm mạnh lên, ông Thủ Tướng của Anh thiếu hoạt bát. CSVN tấn công Phước Long là để thăm dò hệ thống phòng thủ của chúng ta. Họ muốn xem phản ứng của người Mỹ, và Hoa Kỳ đã không nhúc nhích!”

Ông Thiệu không tin chút nào về chuyện đó. Ông Nhã nói với ông Thiệu như một người em nói với ” ông anh cả”. Lúc ông Thiệu chỉ mới có một đứa con gái, ông xem Nhã như một người con trai hơn là một người em. Khi ông Thiệu là chỉ huy trưởng trường Võ Bị Quốc Gia ở Đà Lạt, ông Nhã còn là học sinh nội trú trường Trung học ở đó, nên thường đến chơi với gia đình ông Anh mình. ông Nhã thông thạo cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Sau đó ông qua học bốn năm ở trường đại học Oklahoma trước khi vào đại học Pittsburgh và tốt nghiệp ở đó với bằng kỹ sư. Cũng giống như ông Kissinger và người dân Mỹ thuộc vùng Trung Tây Hoa Kỳ, ông Nhã không có lòng tin đối với những người Mỹ ở vùng bờ biển phía Đông. Có rất ít người Việt Nam hiểu người Mỹ bằng ông Nhã. Ông Nhã cũng đã giải bày cho “ông anh cả” của mình ít nhất 90% những suy tư của mình. Đối với một Tổng Thống, như vậy cũng đã quá nhiều rồi. Đối với người Mỹ, ông Nhã không có một tự ty mặc cảm nào mà trái lại ông có một ý thức tự tôn. Và ông cũng không giữ sự tôn kính đối với người già hay các niên trưởng theo truyền thống của người Việt Nam. Ông ta có đủ mọi thứ để quyến rũ người ta và cũng có đủ mọi thứ để làm phật ý mọi người, tùy theo. So với người Việt Nam bình thường thì ông Nhã có hơi to con với 1 thước 65 bề cao. Với cách ăn mặc thanh lịch và đúng mốt, với sự thông minh và kiến thức nhanh nhẹn, ông Nhã bổ túc và lần lượt gây khó chịu cho các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ. Ông cũng khuyên ông Thiệu nên thay người tham mưu trưởng của mình đi. Lúc ông Martin đến Sài Gòn, một nhân viên ngoại giao có nói với ông Nhã: – “Ông có muốn tôi giới thiệu ông với ông Đại sứ không? ” Ông Nhã thẳng thừng nhấn mạnh: – “Không. Tôi là một Bộ trưởng, Ông Đại sứ phải tự giới thiệu với tôi mới phải chứ !” Ông Martin không bao giờ tha thứ cho ông Nhã về tính yêu nước bồng bột và quá tự tin về nghi thức xã giao của ông nầy. Ông Kissinger và ông Martin đều cho là vì còn quá trẻ tuổi nên ông Nhã chưa có đủ kinh nghiệm. Và ông Nhã không đến đỗi dùng ảnh hưởng của ông trong vấn đề lạm dụng quyền hành . Lối sống của ông cũng khác lạ hơn người ta nữa. Ông lái xe Mustang, Mercedes, và trong phòng khách của ông, ông xây một ống khói cho lò sưởi đốt bằng củi, như của người Mỹ vậy, dĩ nhiên đây là lò sưởi độc nhất ở Sài Gòn. Ông Nhã có một hệ thống tin tức khắp thế giới. Trước khi Hiệp Định Paris được ký, ông ta đã có nhiều đụng chạm dữ dội với ông Kissinger. Ông ta thúc giục ông Thiệu:

_ “Tổng Thống Ford bị trói tay trong lãnh vực tài chánh. Người Mỹ chỉ nói cho Anh những gì mà họ muốn Anh nghe thôi. Tôi nói thật với Anh là chúng ta không thể tin vào ông “Anh Lớn” Hoa Kỳ được”.

Ông Thiệu thở ra và nói:

_ “Chú nói hơi quá. Chú nghiêm khắc quá! Ông Martin bênh vực và ủng hộ chúng ta.” Từ khi tới Sài Gònông Martin đã bảo đảm là sẽ có viện trợ Hoa Kỳ cho Tổng Thống Thiệu, một sự tin tưởng mà ông Thiệu đang cần . Đại sứ Mỹ đã cho lệnh nghiêm nhặt cho các ban ngành trực thuộc phải phá tan mọi âm mưu nhằm làm lung lay hay lật đổ ông Thiệu. Mỗi một hành động đối lập hay chống đối ông Thiệu đều phải được xem là một mầm móng của âm mưu đó. Mệnh lệnh còn đi xa hơn : các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ phải bớt tiếp xúc với cánh đối lập không cộng sản ở Miền Nam Việt Nam, nhất là với “lực lượng thứ ba” mà lãnh tụ của họ là tướng Dương văn Minh mà người ta thường gọi là ông “Minh Dương” (nguyên tác: “Grand Minh”), (người Mỹ thường gọi là “Big Minh”). Đối với người Mỹ, lực lượng thứ ba nầy có nhiều điểm yếu. Một số cá nhơn hay phe nhóm không đáng kể ở tại Thủ Đô Sài Gònvà một vài tỉnh nào đó, được coi là đại diện cho lực lượng nầy mà qua họ để tìm kiếm được một giải pháp chánh trị nào đó, thật là một điều quá vô ích.

Ngày 24 tháng giêng 9 người Mỹ gồm 6 nam 3 nữ, biểu tình trước Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Họ mang một biểu ngữ bằng vải: “người Mỹ muốn có hòa bình ở Việt Nam. Hoa Kỳ phải chấm dứt chiến tranh” . Khách qua đường tò mò nhìn vào nhóm người nầy với một vẻ chế diễu. Báo chí được gọi đến. Họ quay cảnh nầy và phỏng vấn những người tham gia. Và như vậy là các đài NBC, AP, UPI, và báo chí Hoa Kỳ bảo trợ cho hành động nầy. Những người biểu tình đòi “hòa bình” nầy, những người mà Đại sứ Martin ghét nhất, đã vào Sài Gòn với giấy phép nhập cảnh du lịch chỉ có giá trị trong một tuần lễ. Họ phát một số truyền đơn. Một nhiếp ảnh viên ngoại quốc biết chuyện đã cười và nói mỉa mai:

_ “Các tay nầy có dám gan ra tận Hà Nội để làm trò biểu tình như vầy không?

Cảnh sát đến yêu cầu họ giải tán. Họ từ chối. Cảnh sát trưởng không muốn bắt họ một cách công khai, nhất là không muốn sự bắt bớ nầy được truyền hình Mỹ quay phim. Về sau, người ta đến khách sạn mời họ một cách rất có lễ độ, và hộ tống họ ra tận phi trường, đưa lên phi cơ về Bangkok lúc 21 giờ 30.

Ông Martin mừng lắm. Chính tổ chức của Fred Bransman, người đã ở Hà Nội với bà ký giả FritzGerald cách đây mấy ngày, đã đài thọ mọi chi phí cho chuyến du lịch của những tay biểu tình nói trên. Những người “đòi hòa bình” nầy đã thất bại trong việc gặp gỡ và phối hợp với những thành viên của lực lượng thứ ba cùng các phật tử ở Sài Gònđể tổ chức một cuộc biểu tình khác trước Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ . Ông Martin tin rằng đây là một sự cố ý nhằm gây ra những sự xô xát mà nếu được quay thành phim và phổ biến ở Hoa Kỳ thì bọn “đòi hòa bình” sẽ chứng minh rằng chế độ đàn áp của Sài Gòn không đáng được nhận viện trợ kinh tế và quân sự. Ông Martin rất vừa ý, dù sao thì những người biểu tình nầy cũng là công dân Hoa Kỳ, họ đã được đối xử một cách đàng hoàng và bị trục xuất một cách quá đẹp.

Có những tâm hồn cao thượng, có những kẻ trung gian, thật có giả có, có những con rối… lúc nhúc, hướng về Hoa Thạnh Đốn, ai cũng xác nhận là mình có một giải pháp chánh trị cho Việt Nam.

Ngày 27 tháng giêng, trong căn phòng số 6209 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Robert Miller tiếp ông Trần văn Hữu. Ông Miller là cánh tay phải của ông Kissinger, là phụ tá Tổng trưởng đặc trách về Đông Nam Á và Thái bình Dương Sự Vụ. Ông Trần văn Hữu là cựu Thủ Tướng Miền Nam Việt Nam. Hai mươi năm trước ông đã từng thương nghị về nền độc lập của Việt Nam thành phố Pau (Pháp). Giống như tất cả các cựu Thủ Tướng thời Pháp, ông nào cũng tin rằng mình có có thể lãnh đạo đất nước trong tương lai. Ông Hữu được ông Donald Heath Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam từ 1950 đến 1954 giới thiệu. Tuy nhiên sự giới thiệu nầy không được nặng ký lắm để được đích thân ông Kissinger tiếp kiến. Ông Hữu đã tìm mọi cách vận động trong thời gian ông ở khách sạn Hilton ở New York: ông xác quyết rằng ông là người có thể đứng ra thương nghị giữa hai nước Việt Namquốc gia và cộng sản. Ông viện dẫn rằng ông có sự chấp thuận của ông Thiệu trong việc “dùng tên của cá nhơn mình để đứng ra thương thuyết, chớ không phải dưới danh nghĩa của một nhân viên của Tổng Thống Thiệu, vì Hà Nội “không ưa” ông Tổng Thống nầy”. Ông Hữu còn đoan chắc rằng Hà Nội khuyến khích ông vì lúc nào ông cũng tán đồng cho một viện trợ kinh tế cho Miền Bắc Việt Nam.

Là một người giàu có, và chống cộng, ông chống đối lực lượng thứ ba, mà theo ông chỉ là một loại tổ chức chánh trị đã có trò chơi không minh bạch với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông giải thích với ông Miller rằng ông Thiệu chắc chắn sẽ không bao giờ từ nhiệm để trao quyền lại cho một tướng nào khác, dù đó là ông Khiêm hay ông Minh Dương (nguyên tác: Grand Minh). Trái lại ông Thiệu sẽ ra đi nếu qua thương thuyết ông Hữu đạt được một nền hòa bình có thể chấp nhận được . Lúc bấy giờ ông Thiệu sẽ vui vẻ mà lui ra khỏi chánh trường, vui vẻ vì vẫn còn để lại sau lưng mình hình ảnh của người anh hùng đã từng chiến thắng Bắc Việt năm 1972 , ông Hữu nhấn mạnh: – “Là một tướng lãnh Miền Nam đã đánh bại được người anh hùng Miền Bắc Võ nguyên Giáp năm 1972, ông Thiệu sẽ giữ được tên tuổi của mình trong Lịch Sử”. Trước khi kết thúc buổi tiếp xúc, ông Hữu giới thiệu với ông Miller hai người cộng sự viên: Lê quốc Túy, cựu đại tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Mai văn Hạnh, cựu phi công Quân Đội Pháp, người có hai quốc tịch Pháp và Việt Nam.

Ông Miller tóm tắt quan điểm của Hoa Kỳ với ông Hữu:

_ “Chúng tôi luôn luôn nhắm vào sự thi hành Hiệp Định Paris, chủ trương rằng hai Bên Việt Nam phải cùng nhau bàn bạc về tương lai của Miền Nam Việt Nam. Chúng tôi luôn luôn tự hứa là phải tiếp tục giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa về phương diện vật chất cho đến khi nào quốc gia nầy thấy còn cần thiết để chống đỡ áp lực quân sự của phía Bắc Việt.”

Sau đó ông Miller thảo một bản tường trình về việc nầy cho ông Kissinger:

_ “Chủ yếu, ông Hữu nghĩ rằng Miền Bắc công nhận là họ không thể chiếm được Miền Nam bằng võ lực. Và họ mong kết thúc bằng một giải pháp chánh trị . Ông Hữu nói ông ta có tất cả lý lẽ để tin rằng Tổng Thống Thiệu sẽ sẵn sàng từ nhiệm để nhường quyền lại cho một người nào có thể thiết lập một nền hòa bình thật sự ở Việt Nam.”

Liên Hiệp Quốc cũng là một trong số những trung gian có máu mặt. Đại diện Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc phản kháng, sau khi Bắc Việt chiếm Phước Long. Qua văn thư trả lời ông Tổng thư ký Kurt Waldheim rất lấy làm tiếc và chua chát ghi nhận rằng với tư cách Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, ông không có một nhiệm vụ gì trong việc soạn thảo và ký kết Hiệp Định Paris. Ông Waldheim tiếc rằng những sự mất mát về nhân mạng là do sự leo thang chiến tranh ở Việt Nam. Ông không thể làm gì hơn được, ngoài việc chuyển những sự kinh sợ và lo âu của ông đến Chánh Phủ Việt NamDân Chủ Cộng Hòa ở Hà Nội. Và không quên nhắc lại sự kính mến đối với đại diện Hoa Kỳ (theo thông lệ)!

Đối với Việt Nam, dưới trào ông Waldheim, Liên Hiệp Quốc hoàn toàn đứng ngoài cuộc, trong một sự bất lực đáng ghê sợ. quá “tục tỉu” như De Gaulle đã từng nói. (nguyên tác: “machin”)

Như vậy thì Waldheim có hữu ý gì đối với trò chơi của Hà Nội?

Ngày 30 tháng giêng, với sự có mặt của Kissinger và Schlesinger, Tổng Thống Ford tiếp các lãnh tụ Quốc Hội trong một tiếng rưỡi đồng hồ. Ông phải vận động với lưỡng viện Quốc Hội để họ có thể chấp nhận đơn xin ngân khoản viện trợ bổ túc cho Việt Nam Cộng Hòa. Các nghị sĩ và dân biểu đang canh chừng Trung Đông. Theo thuyết của ông Kissinger, ông Ford giải thích rằng trong việc thi hành chủ nghĩa quốc tế của mình Hoa Kỳ không thể chỉ chú trọng đến mỗi một vùng Trung Đông vì đó mới chỉ là một điểm trên bản đồ của thế giới mà thôi Như vậy Hoa Kỳ sẽ tự phơi bày chủ nghĩa phân biệt của mình ở chỗ khác, như Việt Nam chẳng hạn.

Các lãnh tụ có nghe mà không có cam kết gì hết.

Tại Thượng Viện và Hạ Viện, không khí có hơi mát. Nhưng ông Ford không lấy làm ngạc nhiên khi nghị sĩ dân chủ Edward Kennedy đổ tội cho Chánh Phủ là “dậm chân tại chỗ” trên địa hạt ngoại giao. Phía chánh trị gia dân chủ, đối thủ vẫn còn là đối thủ. Tổng Thống Ford và những người của ông càng ngạc nhiên hơn nữa khi nghị sĩ Henry Jackson, đưa ra một lời tuyên bố công khai, hoàn toàn đối với chủ nghĩa chống cộng:

_ “Hoa Kỳ phải chấm dứt cuộc chiến nầy”

Bộ máy lập pháp nặng nề và chính xác của Hoa Kỳ đang chạy. Ngày 30 tháng giêng nầy người ta triệu tập các thành viên thuộc Ủy Ban Phân Phối Ngân Khoản . Một cuộc họp quan trọng của các ủy ban và tiểu ban thuộc Thượng Viện và Hạ Viện. Hạ Viện vẫn giữ độc quyền trình bày những luật lệ về tài chánh. Nặng nề và rất thận trọng, trong một khung cảnh oai nghiêm, các tiểu ban đưa ra những câu hỏi chất vấn các viên chức cao cấp của Chánh Phủ. Tiểu Ban “Phân Phối Ngân Khoản” nghe nhiều nhân chứng. trong đó có Eric von Marbod, cộng sự viên của Phụ Tá Tổng Trưởng Quốc Phòng, đặc trách về tiếp vận.

Ông Von Marbod xác nhận rằng: Ngũ Giác Đài dự kiến một cuộc tấn công của cộng sản trong sáu tháng sắp tới.

Tướng A. Graham, trưởng Phòng Tin Tức Tình Báo của Ngũ Giác Đài xác nhận rằng: ” – “Chúng tôi không nghĩ rằng Hà Nội mưu toan đạt được chiến thắng toàn bộ trong những tháng sấp tới. Chúng tôi dự kiến là quân đội của Miền Nam sẽ gặp nhiều khó khăn quan trọng. Chúng tôi đang chờ đợi những cuộc tấn công trong vùng Kontum và Pleiku”.

KonTum và Pleiku, chính là vùng mà Bộ Tham Mưu Bắc Việt đã quyết định là “không tấn công”.

Tất cả những sứ quán cộng sản ở Hoa Thạnh Đốn đều theo dõi các cuộc điều trần ở Quốc Hội. Họ có cả những biên bản khi những cuộc điều trần nầy được diễn ra công khai và khi họp kín thì những tiết lộ sẽ làm thỏa mãn những kẽ tò mò muốn tìm hiểu. Như vậy là Hà Nội được báo trước ngay sau đó. Một xã hội (quá) cởi mở không có gì còn là bí mật hết, ngay ở cấp quyết định tối hậu cũng vậy. Ở Hoa Kỳ gần như không thể giữ kín được bất cứ một hành động bí mật nào, cho dù đó là một hành động có tầm mức quan trọng . Lời khai của các nhân chứng Graham và Von Marbod không có gì mâu thuẫn quan trọng với nhau hết: một cuộc tấn công có thể không nhắm vào chiến thắng cuối cùng. Tuy nhiên, những nhân chứng nầy gây bối rối cho các vị dân cử, đại diện cho dân chúng Hoa Kỳ . Dân biểu Robert Gialmo (dân chủ) của tiểu bang Connecticut nói:

_ “Những con số về tương quan lực lượng mà quý vị cung cấp cho chúng tôi cho thấy là quân số Miền Nam cao hơn quân số Bắc Việt ở trong Nam Bộ”

Từ 10 năm nay, câu hỏi về quân số của hai Bên Nam Bắc Việt Nam thật khó có thể ước tính được . Phải biết phân biệt giữa chánh quy và không chánh quy, giữa việt cộng của CPLTCHMN và lực lượng bảo an của Miền Nam Việt Nam. Tổng Thống Ford vừa nói rằng hiện tại 298.000 bộ đội Bắc Việt đang có mặt ở chiến trường Miền Nam . Ở Hoa Thạnh Đốn với sổ sách trong tay, người ta quả quyết là quân đội chánh quy thuộc QLVNCH và lực lượng bảo an, dân vệ là 1.300.000 người. Như vậy, phải nghiêm chỉnh xét lại xem cán cân lực lượng sẽ ngiêng về bên nào? Đó là ý nghĩ của các vị đại diện dân ở Quốc Hội. Tướng Graham biết rõ là QLVNCH không có được tới 500.000 người thực sự là quân số hành quân hay tác chiến. Quân đội nầy được tổ chức rập khuôn theo kiểu Hoa Kỳ: cứ mỗi người lính trong đơn vị tác chiến thì người ta phải có 5, 10, hay đôi khi 20 ở hậu cứ, trong những kho, trong các Bộ Tham Mưu hay ở các căn cứ không quân. Thú nhận việc nầy là sẽ đặt lại cả vấn đề chánh trị quân sự của Hoa Kỳ từ bao nhiêu thời gian lâu nay rồi.

Vấn đề không phải là giải thích sự yếu kém thuộc về cơ cấu tổ chức của Quân Lực Việt NamCộng Hòa, mà phải chỉ cho người ta thấy được những thuận lợi giúp cho bộ đội Miền Bắc có thêm sức mạnh. Tướng Graham bèn xoay qua đường mòn Hồ chí Minh:

_ “Giờ đây, một phần quan trọng của con đường nầy đã được tráng nhựa. Trước kia lực lượng tăng viện của Bắc Việt phải mất 70 ngày đi bộ mới vào được chiến trường Nam Bộ. Bây giờ họ chỉ mất có 3 tuần lễ . Thời gian nầy họ vượt phần lớn các đoạn đường bằng xe vận tải.”

Ông Philip Habib, Phụ tá Tổng trưởng ngoại giao đặc trách Đông Nam Á Sự Vụ cũng ra điều trần trước Ủy Ban. Ông là một trong những phụ tá của Kissinger ở Paris. Ông Gialmo hỏi:

_ “Trên phương diện pháp lý Hoa Kỳ có nghĩa vụ phải tiếp tục võ trang cho Việt Nam Cộng Hòa hay không? Hỏi xong ông Giamo lại tự mình trả lời luôn cho câu hỏi của mình:

_ “Có nghĩa vụ tinh thần, mà không có nghĩa vụ pháp lý”

Ông Habib rất hân hoan: – Đó là một thể thức rất tốt, rất chính xác.! “ Và cuộc điều trần vẫn tiếp tục…..

Có lẽ đây là một sự khéo phối hợp đúng lúc: ông Thiệu thấy được nghệ thuật xử dụng truyền thông mà ông Nhã đã chỉ cho ông, nên ông đã cho tờ Washington Post phỏng vấn. Tờ nhật báo nầy là một tờ báo rất có ảnh hưởng ngay tại thủ đô Hoa Kỳ. Tổng Thống Thiệu không nghĩ rằng Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh của họ. Tuy nhiên ông cũng phải dự trù trường hợp xấu nhất, ông tuyên bố:

_ “Nếu Hoa Kỳ bỏ rơi Sài Gòn thì Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi vẫn tiếp tục chiến đấu”

Nhưng thật ra đây là một thất sách. Ông Thiệu lẽ ra phải tuyên bố là:

_ “nếu không có được một viện trợ tài chánh nào thì quân dân Việt Nam Cộng Hòa đành phải chịu buông súng bỏ cuộc thôi!”

Đằng nầy ông Thiệu đã vô tình cho thấy là nếu không có viện trợ của Hoa Kỳ thì Sài Gòn vẫn có thể tiếp tục chiến đấu. Cuộc phỏng vấn chẳng những đã trở thành vô hiệu mà còn có hiệu quả ngược lại!

Để chứng minh quyết tâm của mình, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố là không cho giải ngũ nữa. Các binh sĩ sẽ không được rời khỏi quân đội trước 38 tuổi, hạ sĩ quan không trước 42 tuổi và sĩ quan cấp úy không trước 45 tuổi. Để nói lên tinh thần chiến đấu của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa Tòa Đại Sứ Việt Nam. Ở Hoa Thạnh Đốn bèn thông báo cho lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ . Do đó mà có một số dân cử trong Quốc Hội đã nói với nhau:

_ “Cuối cùng rồi thì người Việt Namcủa “chúng ta” cũng có thể xoay trở để tự lo liệu lấy” (nguyên tác: nos Vietnamiens với chữ nos nghiêng)

Tình cờ, Quốc Hội Mỹ ngẫu nhiên chú ý tới vùng Đông Nam Á, các đại biểu lại nhìn thấy tình hình ở Cam Bốt có vẻ nghiêm trọng. Chỉ cần theo dõi tin tức trên truyền hình cũng xác định được tình thế.

Nếu Quốc Hội Hoa Kỳ có thật tâm muốn nhận định tình hình ở Việt Nam năm 1975 có nghiêm trọng hay không, thì chỉ cần xem một vài hình ảnh đánh nhau trên hệ thống truyền hình cũng đủ rồi, nhưng rất tiếc là trận đánh Phước Long chẳng có được nhiêu phim ảnh!

_Lực lượng Khmer Đỏ chiếm 80 % lãnh thổ, bắn rốc kết vào Phnom Penh. Sài Gòn chưa có gì đến đổi như vậy.

_Quân số mỗi tiểu đoàn Cam Bốt từ 300 hao hụt chỉ còn 100 người. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không có tan rã như vậy

_Trên sông Cửu Long (địa phận Cam Bốt), Khmer Đỏ bắn chìm tàu dầu. Chiếc tàu dầu cuối cùng đến được Phnom Penh ngày 23 tháng giêng. Con sông Mekong (địa phận Việt Nam) vẫn còn lưu thông tốt.

Đường dây duy nhất nối liền thủ đô Cam Bốt với thế giới bên ngoài là cây cầu không vận. Tại Hoa Thạnh Đốn vào một buỗi trưa mát trời, ông Douglas Pike, một chuyên viên về Việt Nam, tác giả của một quyển sách nói về Việt Cộng, lững thững rảo bước trên con đường Mall, một con đường mà hai bên có các viện bảo tàng, có các đài kỹ niệm, và các Bộ của Chánh Phủ. Ông Pike là một chuyên viên thầm lặng, nên luôn luôn từ chối không muốn dính líu về tình cảm đến chuyện Việt Nam. Ngay như lúc ông còn làm việc ở Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn cũng vậy. Trong trận tấn công của Việt Cộng hồi Tết Mậu Thân – lúc nước Việt Nam đang trong cảnh máu lửa- bạn bè khách khứa của ông Pike lấy làm ngạc nhiên khi thấy ông bình tỉnh xếp loại các con tem trong bộ sưu tầm của ông và nói rằng: “Phải biết chờ.. rồi mọi việc cũng sẽ qua đi…” Cùng tản bộ với ông, có ông Sam Burger, một cựu nhân viên của sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Hai người vừa mới tham gia một hội đồng giám khảo của trường đại học. Một đại tá đã trình luận án tiến sĩ: “Không có Hoa Kỳ quân dân Miền Nam có giữ được đất nước mình hay không ?” Ông đại tá nầy có vẻ lạc quan. Hai vị giám khảo thì không quá lạc quan như vậy. Trên đường về Bộ Ngoại Giao, ông Sam Burger nói nhỏ với ông Pike:

_ “Xem chừng như hết rồi phải không?

Hơi trầm ngâm, ông Pike đi được 10 bước mới trả lời:

_ “Đúng vậy, Hết rồi!

Ông Pike chưa cần phải suy nghĩ là đã tin chắc như vậy rồi! Ông lại nghĩ miên man: Tôi lại kể chuyện gì nữa đây? ông không thể tự nói với mình là “Miền Nam Việt Nam có thể sống còn…”

Trong giới công chức ở đây, những người như hai ông Pike và Burger quá hiếm…. Chung quanh ông Kissinger, người ta đang bị Trung Đông ám ảnh.

“Không có gì nguy hiểm bằng tình hình ở Trung Đông”

Ông Kissinger xác nhận như vậy. Ông ta muốn đạt được một Thỏa Ước về sa mạc Sianai. Tổng Thống Sadate của Á Rạp dường như dễ dãi hơn Thủ Tướng Do Thái Rabin. Ông nầy chỉ có một đa số mong manh ở Quốc Hội nên không mạnh tay trong hành động. Còn ông Kissinger thì theo dõi những uẩn khúc chánh trị trong nội bộ của Do thái nhiều hơn là của Miền Nam Việt Nam. Ông ta đang chuẩn bị cho một chuyến đi 10 ngày qua Trung Đông vào tháng hai. Ông muốn đạt được một thỏa thuận với người Do Thái là họ phải lui về 50 cây số ở Sinai. Trong cuộc vận động nầy, qua các tài liệu ngoại giao hay qua nghiên cứu trên bản đồ, các công chức cao cấp đã tốn rất nhiều thì giờ cho đèo Mitla trong sa mạc Sinai hơn là đèo Ải Vân ở Đà Nẵng.

Ở Hoa Thạnh Đốn, có rất ít người có trách nhiệm hình dung được là Bắc Việt sấp sửa tiến quân hằng trăm cây số đến vùng Cao Nguyên. Toàn là những người làm việc ở văn phòng nên họ thiếu óc tưởng tượng.

Ở Bruxelles (Bĩ) ông Đại sứ Nguyễn phú Đức của Việt Nam Cộng Hòa đến thăm tướng Alexander Haig, Tổng Tư Lệnh lực lượng Đồng Minh Khối Bắc Đại Tây Dương. Ông Thiệu không thích Kissinger nhưng giữ kỷ niệm tốt với tướng Haig. Năm 1972, ở Nhà Trắng, dưới trào Tổng Thống Nixon, tướng Haig đã có thảo luận về Hiệp Định Paris với ông Thiệu. Ông Haig cũng có ép ông Thiệu ký vào Hiệp Định, nhưng rất là nhã nhặn và lịch sự. Giữa quân nhân với nhau, họ dễ thông cảm và hiểu nhau hơn. Tướng Haig hứa với ông Nguyễn phú Đức là ông sẽ đích thân can thiệp với Tổng Thống Gerald Ford.

Từ tướng Marshall đến tướng Eisenhover, người ta chưa từng chứng kiến một sự thăng cấp nhanh như trường hợp của tướng Haig. Chỉ trong vòng có bốn năm, từ cấp đại tá ông ta nhảy vọt lên cấp đại tướng bốn sao. Ở tuổi 50, ông giữ một nhiệm vụ đầy uy quyền ở Âu Châu. Ông sớm hiểu được là muốn thành công trong binh nghiệp thì cần phải có nhiều quan hệ tốt với giới chánh trị. Sỹ quan cấp tướng cần phải chứng tỏ mình có đầy đủ năng lực về chánh trị cũng như về chiến lược quân sự. Tướng Haig đã tốt nghiệp về khoa “bang giao quốc tế” ở Đại Học Hoa Thạnh Đốn . Ông đã từng chiến đấu ở Việt Nam, là Tổng Tư Lệnh của Khối Bắc Đại Tây Dương, qua vài phản ứng của các thủ đô Âu Châu tướng Haig biết rõ là người ta đang đánh giá về lòng tin của họ đối với Hoa Kỳ . Ông biết rằng Lịch Sử tạo anh hùng, và nhiều người như

Nixon, hay Kissinger cũng có thể tạo ra thời thế. Nhưng liệu ông Ford có cơ may nào nắm bắt được thời cơ hay không?

Đến Hoa Thạnh Đốn, ông bàng hoàng thấy không khí chánh trị có vẻ lộn xộn quá. Muốn đánh mạnh vào dư luận quần chúng, ông nghĩ có lẽ ông phải xin từ nhiệm. Người ta tiếp ông ở Nhà Trắng. Thông thường thì ông có tật hay dùng tiếng lóng, nói dài dòng, và thích dùng những danh từ trừu tượng bóng gió hơn là nói thẳng như người Anh, nhưng lần nầy quá cảm xúc, ông nói thẳng với ông Ford, rất là dản dị và dể hiểu:

_Thưa Tổng Thống, ông phải cho tái oanh tạc, dù Quốc Hội có từ chối.”

_Ồ, tôi không làm được việc đó đâu. Cả nước đã chán ghét chiến tranh lắm rồi! Ông Ford nói.

Tướng Haig lại nhấn mạnh là ông Ford cần phải gởi pháo đài bay B 52 đến đó ngay. Đúng theo nguyên tắc và cũng đúng theo quyền lợi của cá nhân ông! Nếu không thì ông sẽ không được tái bầu lại đâu, tướng Haig xác nhận như vậy:

_Ông phải chứng tỏ quyền lãnh đạo của mình ngay bây giờ đây, trước khi nó quá muộn.

Ông Ford có vẻ quan tâm nhưng vẫn không bị lay chuyển. Các nhân viên thân cận như Ron Nessen và Donald Rumsfeld an ủi ông:

_Ông Haig không nắm vững được tình hình thực tế ở Hoa Thạnh Đốn. Trong những ngày nầy, ông có phản ứng của một quân nhân chớ không phải của một chánh trị gia.

Và họ bồi thêm một phát súng ân huệ nữa:

_ “Dưới trào ông Nixon, tướng Haig thường có nhiều cuộc hành quân bí mật và làm mất hòa khí giữa Quốc Hội và Nhà Trắng.”

Ông Ford phải giữ đúng vị trí của một Tổng Thống pháp định, để không còn ai nhớ đến các cuộc dội bom bí mật xuống Cam Bốt của ông Nixon.

Hơn nữa, theo ước tính của những công chức của Nhà Trắng, thì sẽ không có cuộc tấn công nào của Bắc Việt trước năm 1976.

Đúng là những người đang “ngủ đứng”!

Cái quần

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

Trời chiều nhọ mặt người. Khi đôi mắt già nua không còn nhìn rõ lỗ mọt ở cái ruột xe đạp khách đưa vá nữa.

Chúng tôi dẹp hàng. Nói là cửa hàng xe đạp thì hơi quá, một trạm hay một điểm sửa xe thô sơ dọc đường thì đúng hơn. Chúng tôi, tôi và người bạn già, ngang nhiên chiếm một khoảng lòng lề đường để hành nghề sửa xe đạp kiếm chác qua ngày.

Tôi cũng như anh bạn đều không phải thợ chuyên nghiệp. Chúng tôi là những tay ngang, đói đầu gối phải bò, bỗng nhiên một ngày nào đó thấy mình trở thành thợ, kiếm ra đồng tiền nuôi sống bản thân bằng chính mồ hôi, sức lao động chân chính của mình. Điếu đó đủ mãn nguyện rồi.

Tôi không phải người đầu tiên hành nghề ở chỗ này, chính anh bạn già của tôi, cũng là bạn cải tạo ngày nào.

Anh đã ngồi một mình ở lề đường một thời gian dài rồi tôi mới vô tình ngang qua. Chúng tôi tay bắt mặt mừng, ngồi với nhau, uống với nhau ly nước, hút điếu thuốc lào, hàn huyên kỷ niệm tù cải tạo. Khi biết tôi vẫn thất nghiệp, không nhà cửa, không gia đình, không hộ khẩu, nghèo kiết xác anh đề nghị tôi hợp tác với anh.

Đúng khi đó có người đến bơm xe đạp, tôi ra bơm thay bạn, nhận tiền khách đưa anh. Anh đề nghị:

– Bây giờ cậu ở đây sửa xe với tôi, đừng ngại, rồi nghề dạy nghề thôi, chúng ta cùng chia nhau mà sống. Chịu không nào? Chịu quá đi thôi. Từ ngày ấy, tôi trở thành anh thợ phụ, có thể thay anh trong những lúc anh phải vắng mặt. Buổi trưa tôi có cơm ăn, dù đạm bạc và không no lắm, đủ cho thể lực cầm được cái kìm vặn con bù loong. Buổi sáng là ly cà phê đen hạng bét, bảnh thì thêm điếu thuốc lá làm thơm râu, nếu không, điếu thuốc lào cũng xong thôi. Tôi được cái nết chịu thương chịu khó, thật thà như đếm nên bạn thương quí. Chập tối như bây giờ, bạn già gom những đồng tiền kiếm được suốt ngày, đếm chia cho tôi một phần ba số tiền đó.

Rất sòng phẳng, nhưng tôi vẫn thấy nét áy náy trong mắt anh:

– Đáng nhẽ tớ phải chia đôi với cậu, nhưng vì tớ còn phải nuôi mẹ tớ và thằng cu, cậu chỉ có một thân một mình, thông cảm nhé!

Tôi cười, nghĩ thật nhanh, thời buổi này trên đời dễ gì đã có người tốt với mình. Tôi có máu quân tử Tàu, bạn bè cần phải gìn vàng giữ ngọc cho nhau, bèn làm mặt giận, nói dỗi:

– Biết rồi, khổ lắm nói mãi! Mai mà cụ còn phát ngôn cái kiểu ấy là tôi bỏ cụ cô đơn, tôi lại đi bụi…

Nụ cười của người bạn hiền lành, anh dẹp đồ chất lên xe đạp, dặn với tôi:

– Mai nhớ đến sớm, mình kiếm tiền uống cà phê.

Tôi khoác túi lên vai, lững thững quay đi. Tất cả cơ nghiệp tôi trong cái túi này. Một bộ quần áo cải tạo tương đối lành lặn, hai chiếc quần đùi, một đang mặc, một để “sơ cua”, khăn mặt rách ngang ngửa cái giẻ lau nhà, kem và bàn chải cùn đánh răng mang nhãn hiệu Cà Là Mèng, một cái ca nhựa mẻ miệng, một cái ve

đựng đúng một xị rượu, một miếng ni lông nham nhở thay chiếu, một cái mền rách bươm mà ấm áp vì đụp vá lia chia.

Tôi có thể nằm ngủ ở bất cứ lề đường, hàng hiên nào, đúng cảnh màn trời chiếu đất mà chẳng sợ trộm cắp.

Còn có gì đáng giá đâu mà sợ mất. Tôi, một người vô sản chân chính sống trong “thành phố mang tên Bác”. Tôi mở to mắt nhìn thành phố ban đêm, ánh sáng chan hòa khắp nơi. Những công viên, những cửa hàng ăn uống, những xe cộ đời cũ được tân trang đẹp đẽ nối đuôi nhau, những lời ca tiếng hát rộn lên từ những quán cà phê, quán bia ôm. Thành phố thời gian này đang ở cuối thời điểm đỉnh cao của bao cấp, sửa soạn đổi mới, rập rình mở cưa bước sang kinh tế thị trường.

Tôi giống như một hạt bụi lãng đãng bay trong cảnh thanh bình. Tôi bay theo một anh bạn bán kẹo kéo, quần áo xanh đỏ “mô đen” chợ trời, nơi bán toàn những tàn dư Mỹ Ngụy, chiếc xe đạp chở quầy kẹo kéo có máy cát sét phát luồng âm nhạc chói tai. Hình như điệu nhạc Lămbađa thì phải, đèn âm thanh chớp chớp nháy nháy xanh đỏ. Tôi bay theo cặp nhân ảnh vào công viên lén nghe những lời tỏ tình lãng nhách nhạt phèo. Tôi bay theo những vị giám đốc đầy quyền uy khạc ra lửa mửa ra tiền vào nhà hàng uống bia lon, nhậu đặc sản rắn chuột, có người đẹp son phấn phục vụ hẩu hạ đến nơi dện chốn. Hạt bụi tôi vật vờ lãng đãng dạo chơi khắp chốn khắp nơi như hồn ma quên siêu thoát.

Cuối cùng thì hạt bụi tôi đậu lại một quán cóc quen thuộc của bà già trầu mắt toét ngồi sau cái bàn bầy lổn nhổn nghêu sò ốc hến và những con khô đủ loại. Cái lò than nhỏ xíu bốc mùi thơm con khô đang nướng. Cái bàn nhỏ gần đó có mấy anh em vô sản ngồi nhậu la hét chẳng văn hóa tí nào: “Dô! Dô! Trăm phần trăm”, chén tình chén nghĩa. Tôi đưa cái ve không cho bà chủ quán, khi bà ta đang đập chí chát con khô cá thiều trên cục đá:

– Đế nếp Gò Đen nhé! Trăm bạc đậu phong đưa cay.

– Một xị thôi hả chú?

Bà già hỏi tôi câu thường lệ, tôi chẳng buồn trả lời Cái ve của tôi cũng chẳng thể đựng được hai xị. Có một cơn gió mát nào đó vừa thổi đến, cơn gió lành lạnh hơi nước. à, thì ra trời sắp mưa. Một tia chớp nháy lên ở cuối trời.

Cầm xị rượu và gói đậu phong mà tôi thấy sảng khoái. Tôi sẽ đỡ chán đời, rồi ngày mai ra sao thì hãy hay. Tôi giống như một đứa trẻ ăn tham, phải tìm một xó xỉnh kín đáo, riêng biệt để chẳng ai làm phiền mình. Rượu dứt khoát tôi phải uống một mình. Cha mẹ ơi? Những lúc ấy tôi lại thích làm thơ, nếu nhớ không lầm tôi cũng có tí ti tâm hồn thơ, nhưng nhiều năm rồi tôi vẫn không răn được một câu nào ra hồn, đành phải đọc thơ người khác vậy, mà chỉ nhớ lõm bõm. Rồi thời gian cũng qua đi.

Tôi trở về nơi quen thuộc, nơi đó một mình tôi một cõi, không một tên ă n mày, đui què mẻ sứt, một tay bụi đời chán đời hành nghề nhặt bao ny lông. Tôi dừng bước giang hồ dưới hàng hiên một cửa hàng thương nghiệp lớn nào đó, tôi chẳng cần biết, chẳng thèm để ý đến bảng hiệu nó mang tên gì. Tôi trải tấm ny lông, vậy là thành cái chiếu. Cái túi xách để lên đầu làm gối, cái mền vá chằng vá đụp chống được muỗi mòng.

Phía bên kia đường lại đông đảo rộn rịp. ớ đó là một mái hiên rộng, dài nếu tôi nhớ không lầm thì nơi đó là cửa hàng ăn uống La Pagode xưa kia, nơi các anh nhà báo thường ngồi trao đổi tin tức cho nhau, mà họ dịch nôm ra là quán Cái Chùa. Nay tên La Pagode không còn nữa. Những khách hàng xưa đã biến, như biến khỏi thế gian. Có một sự liên kết bất thành văn, hay hẹn ước bằng mồm, người về trước hay sau đều giữ “nhà” cho nhau, không cho bất cứ kẻ “lạ mặt” nào chiếm “nhà” của hàng xóm mình. Cái đó gọi là tình làng nghĩa xóm cửa tầng lớp người ở đáy tận cùng xã hội.

Cho dù tôi ở bên này đường, chưa bao giờ liên hệ với họ. Từ khi tôi đến ngủ, cho tới nay, chưa có ai xí chỗ của tôi, dù ban đêm nhiều khi tôi về muộn. Một luật hè phố cho những khách bụi đời, trong đó có tôi. Tôi có tính xấu ít ai chịu nổi, khi uống rượu là rống lên đọc thơ. Tôi nói là đọc thơ, chứ không phải ngâm thơ, có rống lên thì cũng tiếng được tiếng không, tiếng còn tiếng mất.

Ba bài thơ tôi thường rống lên là bài Hồ Trường, Tây Tiến, Hành Phương Nam, đôi khi bài Tống Biệt Hành mà tôi quên tiệt tên tác giả. Tôi cảm khái lố lăng đến độ tưởng mình là hiệp sĩ, kiếm sĩ, hay cái con khỉ khô gì của thuở xa xưa.

” Vỗ gươm mà hát… nghiêng bầu mà hỏi… Trời đất mênh mang ai người tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường… ý… a… “

Thối không chê được, khi tỉnh rượu, lúc tàn canh tôi mới nhận ra điều ấy. Khốn nạn thân tôi, một thằng già keo bẩn, rượu chỉ uống một mình mà chỉ có một xị, lấy đâu ra vò ra hồ trường để mời khách thập phương. Chẳng ai thèm để ý đến làm gì.

Biên giới của sự sống là cái chết. một bậc hiền nhân chán đời nào đã nói như thế. Tôi thấy có lý. Cái thân khốn khổ của tôi sống muốn không nổi nữa thì chết có nhằm nhỏ gì. Nhưng còn ở lại thế gian ngày nào tôi vẫn phải sống cho ra trò. Tuy cái miệng tôi có láo lếu như ng tôi tự biết mình là người hiền, nên sẽ được hưởng phúc.

Tôi vẫn nghĩ đến một đêm nào, một làn gió độc vô anh dạo chơi, trúng ngay tôi, thế là ngủ luôn giấc ngàn thu, hồn phiêu diêu miền cực lạc, hoặc Chúa đứng ở cửa Thiên Đàng vẫy gọi, thế là tôi bèn trút bỏ cái thân xác thối tha cho cát bụi lại trở về với cát bụi…

Tôi tợp một miếng đế cười khà khà, ném hạt đậu phọng vào miệng đưa cay. Bữa cơm chiều của tôi có thế. Trời bây giờ mới lất phất mưa. Tôi nhìn sang bên kia đường, nghiêng người hàng xóm của tôi lác đác tụ về.

Qua màn mưa, tôi vẫn quan sát được họ: ông già cô đơn nằm cuối hàng hiên, gia đinh mẹ mìn nằm kế, có anh chồng đui què mẻ sứt. Tôi nghĩ gia đình ấy hành nghề mẹ mìn vì có cả “cô lếch xông” con nít san sát tuổi nhau, mỗi sáng tôi thấy có người tới lãnh đi suốt ngày, tối trả về cho chị ta, tiền thuê mướn sòng phẳng, đôi khi còn kèm theo quà cáp. Tối, chị điểm danh con, đếm như đếm vịt. Tối nay tôi nghe chị la lên:

– Còn đứa vắt chân lên cổ nữa, sao giờ này nó chưa trả tao? Trời ơi, muộn chút nữa là nó phải trả thêm tôi hai ngàn, không thì tôi…

Anh chồng chột mắt, cụt giò đang gầy bếp lửa nấu nướng chi đó, gắt lên:

– Làm chi mà ồn vậy, con nhỏ mới ra nghề nhưng coi bộ cũng đàng “giàng”, mày thiệt… Chị vợ lồng lên với cơn ghen, chửi chồng không thiếu một câu tục tĩu nào. Đổ thừa cho thằng chồng mê con ăn mày mới. Anh chồng cho con vợ lắm mồm một cái bạt tai, xàng luôn một cây nạng gỗ, rồi mọi chuyện êm ru. Anh chồng uống rượu, cuối cùng chui vào chiếu làm gì lục đục trong đó (tôi không biết). Dăm phút sau anh ta chui ra chửi thề một câu:

– Lần này mà mày không đẻ thêm đứa nữa thì chết mẹ với tao nghen. Nhớ lúc nào cũng phải khai là mới sanh lần đầu, đừng quờ quạng khai đã sanh nhiều lần, nó đè ra đoạn sản là mất giống. Tao sẽ bỏ mày, tao lấy con khác liền một khi. Đ.M coi đứa nào hận đứa nào.

Mụ mẹ mìn nằm trong chiếu, thò đầu ra quác lên:

– Giỏi thì vô đây thằng đui què kia, đừng đổ thừa tao, tưởng bảnh hả?

Cùng lúc đó chị ăn mày bế thằng bé vắt chân lên cổ về. Chị ta moi tiền ra trả, nhưng mụ mẹ mìn không chịu:

– Đâu được mày, giờ này mày mới đưa con tao về dễ gì… Đưa thêm tao, chớ không mai mày đi mướn chỗ khác nghen…

– Thì em đưa thêm chị một ngàn rồi.

Anh chồng tật nguyền đĩnh đạc ra vẻ một đàn anh đầu nậu chủ gia đình:

– Đâu được, tao không binh vợ, nhưng bà ấy nói có lý. Vì thương mày mới ra nghề, vợ chồng tao giao “cục vàng ” cho mày. Mày phải biết làm cái chân nó vắt lên cổ nghệ thuật được như thế không phải dễ. Tao mất bao nhiêu công phu uốn nắn còn hơn mấy cha nghệ nhân uốn cây kiểng. Khai đi, khai thiệt đi, mày trúng mánh ở “tác phẩm” này phải không? Biết điều mai tao lại cho bế cây vàng của tao đi nữa, còn không thì biến đi nghe mậy.

Con ăn mày mới lưỡng lự:

– Em có trúng mánh, nhưng không nhiều nhặn gì, thằng nhỏ và em có được đĩa thịt bò lúc lắc thừa, chút xíu tiền bố thí mà. Thằng què la lên:

– Ở đâu? Ai?

– Dạ nhà hàng nổi ngoài bờ sông!

– Việt kiều hay du khách nước ngoài?

– Hổng biết nữa, họ đều là người…

– Thôi mày ơi, đúng là Việt kiều rồi, mày trúng mánh rồi, đưa đây, đưa thêm cho tao vài đô thôi.

– Anh chị xử ép em quá, nhưng thôi cũng được, anh chị lên giá “goài” thì em cũng chết. Bộ dễ gì, em cũng phải “ca” chớ bộ…

Thằng què cười hô hố, nhét tiền vào cạp quần, hỏi tiếp:

– Mày ca sao, có thảm không, nói nghe coi!

– Dạ, em ca thằng bé bị “chất độc màu da cam” nên chân nó vắt lên cổ.

Bên này đường, tôi cười bò lăn bò càng. Đến bây giờ nhớ lại, tôi còn cười. Tôi nghĩ ngay đến bài hát gì đó có câu chất độc màu da cam mà tôi không nhớ hết nội dung. Quả thật con nhỏ ăn mày là thiên tài, có đấu óc sáng tạo.

Cuối hàng hiên bên kia đường, chỗ khuất nhất, bóng đèn đường chỉ rọi tới lờ mờ là “nhà” của em. Nhưng tới giờ này em chưa về.

Tôi vốn là kẻ nòi tình nên thương người đồng điệu. Em bận bon chen kiếm khứa ở công viên nào đó, hoặc một khúc đường vắng nào chăng?

Đêm mưa buồn lê thê như vầy có mấy ai ra đường, vui chơi, gái đứng đường ế độ, cho dù đóng vai con nhà lành, ngây thơ khờ dại lỡ độ đường hay gì đi nữa khứa vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Nhiều đêm tôi thấy thương cô ta. Chờ mãi chẳng thấy nàng về, tôi tưởng tượng ra đủ thứ, dù tôi chưa một lần nhìn rõ mặt nàng, không biết tên nàng. Tôi thấy mình là một tay chơi. Một tay chơi gặp khó khăn ở giữa thành phố sa hoa, nhưng lại gặp nàng ở một nơi khuất tất nhất, đèn đường bị lưu manh đập bể, tối đến độ không nhìn rõ mặt người con gái đối diện với mình, như trong một bài thơ của Jacques Prévert, mà tôi được đọc qua bản dịch, dùng làm giấy gói đậu phọng: Ba que diêm trong đêm đánh từng que một:

Que thứ nhất nhìn trọn một em

Que thứ hai nhìn đôi mắt

Que cuối nhìn miệng em

Rồi tối hẳn cho anh nhớ lại

Tất cả nét yêu khi xiết chặt em vào lòng.

Một con điếm đứng đường được thăng hoa do một tay chơi có máu thi sĩ. Nhưng điều đó quan trọng gì, tôi thấy hồn tôi bay bổng nghĩ đến nàng, khi tôi cô đơn, tàn xị rượu mỗi đêm thay cơm chiều.

Tôi ngả người nằm xuống, giấc ngủ chập chờn và hình như nghe thấy cả tiếng bước chân em về.

Lãng mạn ra phết. Tưởng tượng ra cái lưng ong thon thả của em ngả xuống vỉa hè.

Mưa rả rích, những hạt mưa loang loáng qua ánh đèn đường. Tôi kéo cái mền phủ lên đầu. Tôi thiếp đi trong giấc ngủ bốc hơi men.

Tôi thức giấc không biết lúc ấy là mấy giờ đêm, mưa vẫn còn rả rích. Trong giấc ngủ vừa rồi tôi mơ thấy nàng, giấc mơ đẹp. Tôi và nàng cùng dạo chơi trong công viên và nói lời yêu đương chân thật, nhưng lời lẽ thế nào tôi đã quên ráo.

Bây giờ thì tôi tỉnh ngủ hẳn, tôi lại nghĩ đế n nàng. Thế nằm của tôi xoay mặt vào tường, tôi muốn quay mặt trở ra. Nhưng hãy gượm nào, yêu mà, đi đâu mà vội. Con người như tôi chẳng nên làm chuyện gì hấp tấp, cứ từ từ rồi cũng có đêm tôi bò được qua bên kia đường.

Cũng một đêm mưa gió như đêm nay… Nghĩ đến mà tôi thấy nóng bừng cả mặt. Xây mộng đẹp mà nghĩ đến toàn chuyện ma bùn ma tịt thì thật chẳng còn ra làm sao nữa, nghiêm chỉnh chút coi. “Nhưng không, nàng phải bỏ ngay cái nghề đứng đường, phải sống trong sạch và lương thiện kia”. Khi tôi xoay được nửa người, tôi cũng đã xây được nửa giấc mộng. Nàng là bà chủ một hàng. Bán nước trà nóng ở ga xe lửa. Một cái điếu cày hút thuốc lào kêu thật giòn, trên một cái chiếu nàng ngồi giữa róc nước trà cho khách giang hồ. Ở một góc gần đó, tôi đun nước cho nàng. Tiếng điếu thuốc lào rít lên xoe xoè, chuyện giang hồ nam bắc nổ như pháo rang. Quanh chúng tôi. Tiếng còi tàu khởi hành rúc trong đêm. “Ôi chao, đời sống tuyệt vời và đơn giản biết bao”.

Tiếng gió thổi vù vù, hình như có một vài giọt mưa hắt vào chỗ tôi nằm. Không biết giờ này nàng về chưa?

Tôi xót sa và quay hẳn người hướng mặt sang bên kia đường. Tim tôi muốn đứng lại đập thình thinh. Rồi tôi thở, rồi vã mồ hôi.

Tôi chớp chớp mắt, banh to mắt ra mà nhìn. Giấc mơ đẹp được thành hình bây giờ như một làn khói thuốc lào tan loãng vào không khí. Tụ lại phía bên kia đường, ngay tại chỗ “con điếm” nằm. Nó nằm chình ình thõng thượt. Dáng điệu mời gọi cho hai bàn tay nhớp nhúa của gã cỡn trai ngồi cạnh lần mò. Con nhỏ ngủ say quá chăng, đến độ để cho tên lưu manh quờ quạng làm chuyện đồi bại? Hay nàng làm “ca đêm” bắt khứa về ổ kiếm chác ngoài giờ?

Những lời dự đoán xoay mòng mòng trong đầu tôi như dự đoán thời tiết.

Bên kia đường mọi chuyện cứ diễn ra nhịp nhàng. Một pha gay cấn sẽ xây ra trong ít phút nữa thôi. Tôi là người chứng kiến trọn vẹn.

Hai bàn tay nhớp nhúa của thằng khốn nạn “xoạng” loạn cào cào, thế mà con đượi vẫn ngủ say như chết.

Hay là mỗi tối khi nàng hành nghề xong nàng nốc vài viên “xì chọc xì kéo” hay “nốc tan nốc tiếc” gì đó, em “xỉn” nên không biết con mẹ gì nữa. Nếu quả vậy thì nàng đáng thương làm sao, ôi người tình một đời hư đốn.

Mắt tôi càng mở to hơn để nhìn rõ, quân khốn nạn kia bây giờ lần mò phần dưới thân thể nàng. Và rồi rất từ từ, rất thận trọng, hai bàn tay ma mãnh đụng vào dây lưng quần nàng. Cái quần được rút ra từ từ. Tôi quết nước bọt, tôi thấy hết. Đến đoạn nào đây, chắc sẽ tới ngay bây giờ. Ơ kìa, gã tuổi trẻ ấy thật từ tốn nắn vuốt cái quần vừa lột được gấp lại, lịch sự như Tây.

Rồi, thoắt một cái và nhanh như con sóc, gã co giò phóng. Nhanh hơn cả tiếng la của cô gái vừa nhỏm dậy.

Gã đã biến dạng sau màn mưa bụi cuối đường. Cả khu xóm bên kia đường thức giấc, lao nhao. Chỉ riêng tôi còn nằm lặng người vì cảnh tượng vừa xảy ra. Cô gái bu lu ba loa chữi bới thằng khốn nạn. Rồi tiếng cười hô hố, khăng khắc của thằng chột què:

– Mẹ kiếp, ớ thúi, ngủ đến bị lột quần mà cũng không biết.

Con vợ mẹ mìn dài cái mỏ, luận điệu “giậu đổ bìm leo, cây cứt chó cũng leo theo”:

– Đĩ gặp điếm rồi, con ơi? ủa mà sao nó không biết gì vậy. Còn thằng đui què kia không nhìn nó nữa, tao thì móc luôn tròng mắt kia của mày bây giờ.

Thằng chột què vẫn cười ngặt nghẽo. Cô gái tức tưởi khóc phân bua:

– Tôi biết chớ sao không, biết ngay từ lúc đầu lận, nhưng…

– Nhưng mụ nội mày, vậy mà để…

– Tôi đâu có dè nó đểu như vậy.

Mụ mẹ mìn chửi toáng, ra vẻ hiểu đời:

– A thôi, tao hiểu rồi, mày là đồ “nứng” bậy.

Con nhỏ la lên vì bị xỉ vả chạm tự ái:

– Nói cho các người hay, con này kinh nghiệm đầy mình không có nứng bậy đâu, hôm nay trời mưa nên ế độ, về đây đang nằm thì thằng khốn nạn kia nhảy a thần phù vô, tưởng nó biết thông cảm sau khi xong chuyện, ai dè… Trời đất ơi, cái quần của tôi.

Cô gái lại khóc nức lên. Lão già cô đơn cũng bò dậy, chép miệng chán cho tình đời đen bạc:

– Thời buổi làm ăn khó khăn, nói chuyện giá cả đàng hoàng chớ con, ủa mà quần gì vậy nhỏ?

Cô gái càng trở nên uất ức, tức tưởi:

– Cha mẹ ơi, cái quần của tôi là quần “mô đen” mới, có nhiều “li”, nhiều túi, ống túm, dây nhợ tùm lum chớ đâu phải quần thường.

Gã chột què thôi cười:

– A, tao thấy thứ quần đó, bây giờ ở thành phố này mặc thiếu gì, nội hay “ngoại”, mà sao mày có được?

Cô gái gào lên:

– “Ngoại”, quần “ngoại” đàng hoàng, mà tôi có đâu, tôi theo chị em đi mướn của người ta mới chết chứ. Làm sao mai tôi đền cho người ta đây, cả trăm ngàn…

Cô gái ở truồng ngồi bó gối khóc hu hu. Đám con mẹ mìn cũng thức giấc bò lổm ngổm như cua. Thằng bé vắt chân lên cổ, lết đến cạnh cô gái, thao láo mắt nhìn, thò tay gãi đít xành xạch. Nó cũng đang ở truồng, chỉ khác một điều là nó vắt chân lên cổ. Những ngón chân dị dạng quặp lấy một bên vành tai vít nghiêng cái đầu.

Vợ chồng mẹ mìn, lão già cô đơn không còn để ý gì đến cô gái bị cởi truồng nữa.

Họ quay ra tranh cãi nhau về giá cả cái quần “mô đen”. Ai cũng tự cho mình là người nắm vững giá thị trường. Giá trị cái quần, chỉ giá trị cái quần thôi mới là đáng kể.

Cô gái giẫy đành đạch khi thằng bé vắt chân lên cổ mất thăng bằng ngã lăn kềnh ra ngay dưới chân cô ta.

Mẹ mìn chồm lên xoe xoè chửi:

– A con đĩ thối không đáng một xu kia, mày kẹp đầu con tao hả, tao thì xé xác mày ra.

Thằng vắt chân lên cổ được mẹ nó xách lên như xách một gốc củi khô, liệng lại vào chỗ nằm cùng đám con nít bò lổn nhổn.

Một thằng bé trong đám con mẹ mìn, vỗ tay nhảy tưng tưng hát:

– á li ba ba… cái quần rách làm ba… á li ba ba…

Cô gái bị trấn lột quần khóc vang cả một góc phố đêm. Đã đến lúc tôi trở dậy ra đi, vì muốn ngủ tiếp cũng chẳng được.

Trời vẫn còn tối, cô gái vẫn ngồi đó, rúc vào một xó tối nhất. Nhưng đêm sẽ không dài mãi để che chở cho thân xác trần truồng của nàng.

Còn một chút xíu nhân tính sót lại trong người, tôi không đành lòng khi thấy một người gặp chuyện khó khăn. Tôi hy sinh chiếc mền rách quàng lại cho nàng. Tôi ra đi, không nghĩ ngợi gì nữa và quên luôn chuyện ấy.

*

Thời gian sau, tôi nghe có người nói. Thấy một cô gái nhem nhuốc, cởi truồng đi rong vỗ tay hát như điên:

– A li ba ba… cái quần Hara mất đêm qua…

Tôi thầm nghĩ, chẳng biết có phải nàng không?

Tự nhiên tôi thấy xót xa. Lại thêm một dạng điên, một hình thức điên nữa. Điên phải bị một cú “sốc” nặng, và quan trọng nhất là phải có thì giờ hành nghề điên, không thì người ta nói là điên giả vờ. Khối kẻ muốn điên mà không được.

Nguyễn Thụy Long

Cái Giường

Nguyễn Thụy Long

Post by7 Sơn râu 11 Apr 2024

Tôi không thể không có quyết định dứt khoát khi chấp nhận thuê cái chuồng heo bốn thước vuông làm nhà ở, che mưa đụt nắng cho hai vợ chồng và cái bào thai vợ đang mang. Dầu gì tôi cũng không thể lôi nàng lếch thếch, lang thang đi khắp đầu đường xó chợ, gầm cầu, công viên. Tuy trời đất mênh mông tha hồ màn trời chiếu đất, đâu cũng có thể là nhà. Nhưng căn bản vẫn là một mái nhà, an cư mới lạc nghiệp. Nói chuyện ấy mà buồn cười. Tôi còn nghiệp đâu mà lập. Tôi vốn là nhà văn nhà báo hành nghề thời chế độ cũ, nay đã hết thời, chẳng còn ai dùng đến nữa. Tôi tạm thời gác bút, không nghĩ đến chuyện viết lách làm văn nghệ nữa. Tôi tìm một nghề khác, đang trên đường tìm kiếm.
Tôi trả tiền cò (hoa hồng) cho mụ dắt mối nhà. Đúng ra bây giờ là một cái phòng, nguyên là một cái chuồng heo đủ chỗ cho một con nái xề với một bầy con. Cái chuồng heo trong một dấy chuồng heo, nay đã được ngăn phòng ra cho thuê. Tiền thuê tính theo gạo, 15 kí gạo một tháng. Thôi cũng được. Nhà không cóđiện, tất cả phải thắp đèn dầu, nước thì có giếng chung, ỉa đái có ao cá tra gần đó, thoải mái đổ chất thải nuôi bầy cá đói. Vợ chồng tôi tự giấu thân phận mình, tôi khai tên tuổi, trình độ văn hóa với chủ nhà, tôi chỉ biết đọc biết viết, vợ tôi thì mù chữ. Có vậy mới mong hoà nhập được với đám cư dân ở đây, nếu muốn kiếm miếng ăn. Chốn này là vương quốc Ve Chai, buôn bán đồ phế liệu. Tân Phú, nơi mà trước đây linh mục Đinh Xuân Hải trị vì như một lãnh chúa, chính quyền hồi đó cũng phải nể vì. Tôi nhìn thấy tại nơi đây có hướng làm ăn tốt cho mình.
Căn nhà tôi thuê, nay gọi là nhà, không gọi là chuồng nữa. ở hương lộ 14, nhà ở sâu trong ruộng. Trên cánh đồng hoang, trên nghĩa địa phơi đầy bao ni lông phế liệu, được giặt phơi. Hầu hết cư dân nơi đây là bọn khố rách áo ôm sống bằng nghề nhặt bao ni lông, sắt thép, vỏ đạn phế thải. Thu gom, phân loại ra bán lại cho vựa ve chai. Vì cơm gạo, tôi gia nhập làng ve chai học nghề. Tôiđường cùng rồi, không làm thì lấy gì mà ăn, trả tiền nhà linh tinh đủ thứ, còn phải lo cho cái bào thai của vợ tôi đang mang, mỗi ngày một lớn. Đến khi nào đó vợ chồng tôi có một hài nhi chàođời. Thương con như con chó con mèo biết thương con. Dù đời sống nghiệt ngã thế nào, tôi cũng phải giữ lấy huyết thống của mình. Tôi nghĩ thế. Như một thách thức. Tôi trở nên hung dữ và dễ nổi giận, đã có lần nổi giận vì có người nhân danh đạo đức loài người dám ra lời bắt vợ tôi phải phá cái bào thai đi vì họ cho rằngđứa bé này ra đời là nghiệp chướng.
Tôi thây kệ cuộc đời này lâu rồi, nhưng không thây kệ giọt máu của tôi. Người ta cho tôi là kẻ nghèo khổ hết thời, vô tích sự, lại ngang chướng. Thây kệ họ, bố mẹ vẫn mong mỏi ngày con rađời, dù trong bão táp mưa sa, trong nghèo đói khốn khổ. Tôi thầm hứa vậy.
Bà chủ nhà đưa vợ chồng tôi vào phòng xem nhà. Bà đứng tuổi, vợ của một ông đại tá đã về hưu. Năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc, rồi vượt Trường Sơn trở về Nam chiến đấu “chống Mỹ cứu nước”. Bà vẫn ở lại miền Nam bí mật hỗ trợ cuộc chiến đấu của chồng. Nay thì ông đã trở về, ông ở căn nhà ngoài chợ với bà nhỏ. Bà lớn được quyền thừa hưởng trọn vẹn căn nhà xưa, vườn và ao cá. Quyền lực ông to rộng nhưng đối với vợ lớn rất có tình có nghĩa. Bà chủ nhà tôi lấy làm hài lòng về chồng. Chúng tôi xem căn phòng bé tẻo teo, đại tá phu nhân nói:
– Hai vợ chồng bay ở đây là vừa gọn vừa xinh. Này tao nói nhé, vợ mày bầu bì đi thuê nhà rất khó, mày biết chủ nhà nào cũng kiêng kị người thuê nhà có bầu. Nhưng nhà tao có truyền thống cách mạng nên không kiêng kị gì hết, tiền nhà rẻ mạt, chỉ mười lăm kí gạo một tháng, tính bằng tiền như thuế má của nhà nước vẫn tính, chẳng ai thiệt thòi. Đúng đó, trước kia nhà này là dãy chuồng heo, nhưng tao thấy nuôi heo không có lợi, tao bèn thôi nuôi để cho thuê lấy phước. Này đừng cười tao, tao cho chúng mày thuê là làm phước, tao còn lạ gì tụi bay, toàn là thứ trôi sông lạc chợ, lính ngụy, lưu manh, không một mảnh giấy tùy thân, không hộ khẩu, mất quyền công dân, đâu phải người chân chính lương thiện. Vậy mà tao dám chứa chấp, công an phường mó đến tụi bay là không được với tao rồi. Ông ấy nhắc “máy” lên một cái, lính công an “teo bu ri”, xin được thả ngay tụi bay về “nguyên quán”. Ông là người có uy ở vùng này. Nói đến chú Bẩy ưng ai mà không biết, trưởng công an phường, trưởng phường đội, ủy banđều là hàng con cháu ông hết. Bay cứ nói ở nhà Bảy ưng chẳng ai dám đụng đến bay. Tụi bay do tao quản lý.
Bà đại tá Bảy ưng nói một hơi. Trong hoàn cảnh này tôi thấy bà nói có lý và đúng quá. Quả thật vợ chồng tôiđang kẹt trong hoàn cảnh đúng như vậy. Bà là một bà tiên, ông Bảy ưng là một ông Bụt ban cho thế nhân những điều ước. Điều ước nào cũngđược đáp ứng, hài lòng. Căn phòng tuy hơi nhỏ một chút, nhưng cũng đủ chỗ cho vợ chồng tôi, ở góc nhà có kê một cái giường hai người nằm. Bà chủ nhà mau mắn:
– ấy cái giường này của con mẹ thục nhà trước, nó trốn đi không trả tao một tháng tiền nhà nên bỏ lại đấy. Nếu vợ chồng bay có tiền trả tao được hai ngàn rưởi thì lấy xài luôn. Còn không mẹ kia nó chuộc lại tao chịu thôi. Hoặc tụi bay có giường thì cứ khiêng tới mà xài.
Tôi lắc đầu:
– Dạ không, tất cả đồ đạc chúng tôi chỉ có trong hai cái giỏ xách với mấy cái nồi niêu xoong chảo chở trên chiếc xe đạp kia.
Bà chủ nhà chặc lưỡi:
– Vợ chồng bay quả là nghèo, đến cái giường cũng không có, vợ mày bụng mang dạ chửa, bộ nằm đất sao?
– Dạ, cũng có manh chiếu rách lót miếng ni lông bên dưới nằmđỡ, dạ cũng có cái mùng…
– à thôi vậy cũng được, mà thôi tạm thời tao cho vợ chồng bay mượn đỡ cái giường này, vay mượn được ai tiền thì trả tao sau. Tao kỳ hạn cho bay một tuần. Chớ hôm nay tao biết bay cũng không có đủ tiền trả tao cái giường. Thấy người nghèo khổ tao cứ rớt nước mắt, tao không đành lòng đặng, tao có đạo đức cách mạng.
Vợ chồng tôi cảm ơn bà Bảy, thiệt tình tôi cũng không biết làm sao…
– Được được đừng nói nhiều, chuyện làm phước mà, này, mà tao cũng nói trước, mày trả tiền được sớm là cái giường của mày, còn mẹ kia đến chuộc sớm thì ráng mà chịu nghe.
– Dạ, bà Bảy cứ yên tâm.
Bà chủ nhà trở ra, vợ chồng tôi chuyển đồ từ xe đạp vào nhà giải chiếc chiếu rách lên giường. Việc đầu tiên, vợ tôi ngả lưng lên cái giường mượn tạm ấy:
– Gớm ê cả người, anh chở em trên xe đạp ấy đường xóc ơi là xóc.
Tôi nhìn vợ hài lòng:
– Thấy sao, cái giường được không?
– Sao không được, mình nằm đất bao lâu rồi, bây giờ nằm giường mà không được nữa sao?
Tôi mỉm cười tự tin:
– Mình sẽ có cái giường này, anh có thể mượn được tiền đểmua. Cái giường gỗ chắc chắn như thế này chỉ có hai ngàn rưởi thì cũng không mắc mỏ gì.
– Anh chỉ được cái lúc nào cũng lạc quan.
– Không lạc quan sống sao được, em nhớ mình sẽ còn có con.
Suốt một buổi chiều tôi sắp đặt nhà cửa, một cái bếp nho nhỏ, chén đũa nồi niêu xoong chảo tôi nhặt ván vụn ở quanh nhà kê gạch lên cũng xếp được gọn ghẽ. Nhà cũng có chỗ lui ra lui vào. Tôi càng trở nên lạc quan về căn nhà mới của mình, như thuở nào cách đây hai mươi năm, tôi có một căn nhà do tôi làm chủ. Buổi chiều đầu tiên tôi nằm lăn lộn trên sàn gạch bông mát mẻ. Nỗi vui mừng ấy không chỉ có trong đầu mà còn thấm cả vào da thịt. Căn nhà đó nay vẫn còn, nhưng tôi không được ở nữa, vì nếu tôi ở là phạm pháp, tôi cư ngụ bất hợp pháp trên căn nhà tôi làm chủ. Đơn giản là tôi không được cấp hộ khẩu trên căn nhà ấy. Tôi vẫn chưa có quyền công dân, mà chẳng biết bao giờ mới có. Tôi kéo theo người vợ trẻ sống bơ vơ giữa chợ đời. Hai vợ chồng tôi sống nhưcon sâu cái kiến. Phần thua thiệt nhiều nhất vẫn nghiêng về phía vợ tôi. Nếu nàng không theo tôi, một kẻ hết thời, trở nên bần cùng khố rách áo ôm thì đâu đến nỗi này.Với độ tuổi trung niên mà sức lực đang trên đà tàn tạ sau những năm dài học tập cải tạo, laođộng kiếm ăn, liệu tôi có bảo vệ được nàng không. Nàng mang trong bụng cái bào thai, huyết thống của tôi. Tôi sẽ phải làm việc, lao động cật lực, bỏ ngoài tai ngoài mắt mọi lời đàm tiếu, tiếng thị phi. Tôi có thêm sức mạnh. Ngày mai tôi gia nhập nghề ve chai, lượm lặt bao ni lông, tôi lang thang trên những bãi rác, để đố phế thải được tái sinh, dù chất lượng có kém đi nhưng vẫn còn xàiđược.
Tôi loanh quanh trong căn nhà nhỏ và nghĩ đến đứa con sẽ chào đời, nơi ăn nằm của nó, giấc ngủ yên trong tiếng ru hời của mẹ. Tôi phải lo cho bầu sữa được căng, con tôi không bị khát sữa mẹ nó. Tôi lãng mạn rồi, lãng mạn này đưa đến lãng mạn khác. Tôi nhìn lên trần nhà chuồng heo có cái xà ngang khá vững chãi. Tôi nói với vợ:
– Anh sẽ treo lên cái xà ngang này một cái thúng, lót vải rách và che miếng vải mùng để làm cái võng cho con, vừa tầm tay emđưa, ru con ngủ.
Vợ tôi cười lộ chiếc răng khểnh:
– Ông này chỉ lãng mạn, sao không tính đến một cái nôi hay cái võng mà lại là cái thúng.
– Đây không phải sáng kiến của anh, anh vay mượn của đồng bào thổ mán ở miền thượng du Bắc Việt hồi anh còn nhỏ tản cưlên đó. Em công nhận không, sáng kiến ấy hay đáo để, đứa bé nằm trong cái thúng, đi đâu, làm gì cũng mang theo được, cứ treo lên cây vừa làm việc vừa trông chừng nó, lớn hơn nữa thì thả nó lê la, chạy chơi quanh quanh. Anh đi một ngày đàng, học một sàng khôn.
Vợ tôi cười rũ:
– Thôi ông ơi, ông đừng mơ mộng nữa, tôi nghe thảm quá rồi.
Tôi cho vợ tôi trẻ người non dạ nên không nghĩ xa chứ tôi có mơ mộng bao giờ, tôi hơn nàng ở chỗ biết nhìn xa hơn lỗ mũi mình. Tôi trở nên kiêu ngạo một mình, cho mình là người chồng vững tay chèo, biết lèo lái con thuyền gia đình con con. Việc người ta liệu cơm gắp mắm. Tôi sẽ có tất cả, sẽ…
Vợ tôi đưa tôi về thực tế.
– Này anh, nhà mình sắp hết gạo rồi đó, chỉ ăn được bữa chiều nay, sáng mai nữa thôi, còn tiền mua mắm muối….
Tôi đang hưng phấn, nói với vợ:
– Thôi chiều nay mình không ăn cơm nhà, mình ra chợ ăn hủ tíu, em gầy lắm, nên bồi dưỡng tí nước xương thịt để lấy chất bổ nuôi con. Mọi chuyện để mai tính.
Chúng tôi ra khỏi nhà, không cần khóa cửa, thời buổi thanh bình chẳng còn sợ trộm cắp. Vả lại, tôi còn cái đếch gì mà mất nữa.
Ra khỏi cửa, tôi gặp vợ chồng con cái người hàng xóm, cũng thuê chuồng heo ở như vợ chồng tôi. Anh chồng, chị vợ đang thui một con gì đó nho nhỏ trên bếp lưa. Anh chồng cười mời tôi:
– ở lại nhậu với tôi, thịt con linh miêu này ngon đáo để. Mình trước lạ sau quen, lại là hàng xóm…
Tôi đành xin lỗi vì phải đi có công chuyện. Anh chồng vui vẻ:
– Thôi vậy sáng mai đi quán bà “Ba Đít Láng” uống cà phê với tôi. ở đây thiếu gì công chuyện mần ăn. Nơi đất lành chim đậu mà.
Tôi đạp xe chở vợ tôi ra chợ Tân Phú, vợ tôi nói:
– Buổi trưa ra ngoài giếng, em thấy anh này mới đập chết một con mèo của nhà ai đó. Có lẽ anh ta nói linh miêu là con đang bị nướng đó.
Sau này thì tôi biết từ chó, mèo, chuột chù, chuột cống, gà vịt, cá tra dưới ao thấy bóng anh ta đều lặn sâu lánh xa. Một tay săn lùng miếng ăn nguy hiểm. Cả vợ lẫn chồng đều là loại lưu manh chuyên nghiệp. Cái gì cũng có thể làm được, miễn là có tiền có ăn. Anh ta nói đó là bản năng sinh tồn. Buồn cười thật, tôi chót giấu thân phận mình là một kẻ dốt nát nên chẳng có lời nào phản bác.
Tôi chán cho đời, nhắp chén rượu khan, mặc kệ mẹ đời. Tôi hùng hục đi làm như con trâu. Đời sống lưu manh của những kẻ phạm pháp đường cùng vây chặt lấy đời sống nhỏ bé của tôi. Tôi có bị ảnh hưởng hay không thì hạ hồi phân giải. Tôi đang sững trong vũng bùn, nơi gió tanh mưa máu. Đồng tiền kiếm lương thiện quả có khó khăn. Cái bao tử đương nhiên thiếu thứ để bóp nặn, xay nghiền. Cái bụng vợ tôi không to được, có lẽ bào thai cũng èo một lắm. Có được chất bổ béo nào đâu để nuôi lớn. Những cái đạp nghịch ngợm của bé cũng yếu ớt, không như con người ta. Tôi lo lắng không biết là chính đáng hay vẩn vơ do đời sống thường xuyên thiếu thốn xúc tác vào đầu.
Những tiếng chửi thề, văng tục nổ giòn rôm rộp về miếng ăn miếng uống của vợ chồng hàng xóm và những người quanh vùng, quả tôi khó mà hoà đồng hòa nhập được với họ. Nhưng vẫn cứ phải sống chung, và cố giữ hòa khí. Tôi vẫn coi đời sống này là tạm mà.
Ngày hôm sau tôi lên Sài Gòn, tìm đến người bạn xưa. Anh Nhã. Tôi với anh là bạn từ lứa tuổi choai choai kéo dài cả mấy chục năm trời. Tôi tin anh là người thân duy nhất, vì tôi không đối xử xấu với bạn bao giờ.
Chẳng những chúng tôi thân nhau mà hai bên gia đình cũng thân nhau. Sau này khi tôi khổ, tôi không mặc cảm vẫn lui tới anh và gia đình anh bên ấy. Ngược lại, anh cũng lui tới với tôi. Đời sống gia đình anh Nhã khá hơn tôi nhiều. Không có những ngàyđói rã họng như tôi. Đời sống anh bình bình, không sóng gió khi có cuộc đổi đời. Tuy không làm gì, nhưng anh có “ngoại viện”, những thùng đồ từ ngoại quốc của người thân gửi về anh tương đối đềuđặn. Vợ anh cũng buôn bán nhì nhằng. Nhưng chị ở bên nhà mẹđẻ nên anh rảnh rang chỉ phải lo săn sóc đứa con gái, để cháu tiệnđi học. Khi buồn anh tới bạn bè, trong đó có tôi, uống chén trà, ly rượu cho đỡ sầu đời. Thường thì anh là người chủ chi.
Tôi đến anh Nhã khi anh vừa ngủ dậy. Tôi nói vợ chồng tôi mới dọn nhà. Anh nói “thế à” rồi tiếp: “Tôi đi với bạn, xem vợ chồng bạn sống ra sao.
Anh Nhã chắt ra từ trong hũ một chai rượu thuốc ngâm mang theo. Anh mua thêm ít đồ mồi. Anh vẫn giữ phong độ của một tay chơi thuở nào. Anh có vẻ ngậm ngùi khi thấy đời sống quá cực khổ của vợ chồng tôi.
– Cụng ly với tôi, anh nói một câu chữ:
– Gặp thời thế thế thời phải thế… Ráng chịu đựng đi.
Tôi vào thực tế, nói đến cái giường:
– Vợ chồng tôi cần một cái giường, nhà tôi còn sinh nở, có cháu bé…
– Thì cái giường này cũng được rồi, cần gì mới me.
– Giường này của người ta cho mượn, có hạn định chỉ trong bảy ngày, nếu không mua kể như không có, lại nằm đất. Nằm đất thì tội vợ tôi quá. Tôi mượn bạn hai ngàn rưởi thôi để mua lại cái giường này.
Anh Nhã cười:
– ồ được thôi nhưng hiện giờ tôi không mang theo tiền, để lúc khác vậy. Thôi ăn nhậu đi.
Tôi cố với vát:
– Bạn giúp tôi, cố có trước hạn định.
– Chuyện nhỏ.
Tôi tin tưởng bạn. Tôi có một buổi chiều thoải mái. Anh bạn hàng xóm cũng sang góp vui, anh ta ăn nhậu một cách tục tằn, ba hoa và chửi thề luôn miệng. Anh ta nói đến thời vàng son đã qua của anh. Những ngày học tập cải tạo. Những tên trại anh đã đi qua, anh thuộc hàng “sĩ quan chế độ cũ, về những tên trại cải tạo anh ta nói sai bét, toàn là trại giam cưỡng bức lao động cho loại tội phạm hình sự, lưu manh. Rồi đây anh và gia đình anh phải được hưởng qui chế đặc biệt, vì anh là “lính đánh thuê cho Mỹ”. Tôi muốn nổi nóng, nhưng dằn lại được và cả anh bạn tôi cũng dằn nóng. Vì tôi đã dặn bạn giấu thân phận mình ở chốn này. Một thằng lưu manh láo khoét, hoàn toàn láo lếu lại đa ngôn. Một loại người càng nói càng sai, nhưng cứ nói, vì với hắn “mục hạ vô nhân”.
Đến sẩm tối, anh bạn tôi đậy nút chai rượu lại, coi như ngưng bữa nhậu. Anh hàng xóm vẫn chưa đã:
– Này, đi đâu thế, mình chưa hết chuyện mà, thời của mình.
– Xin lỗi, thời của anh chứ không phải thời của chúng tôi.
– Vậy thì để lại rượu đi
– Không được, giọt rượu là giọt máu, đương nhiên là tôi phải mang đi, tôi và bạn tôi có chuyện riêng cần nói.
Anh hàng xóm nát rượu trơ trẽn:
– Tôi bị gạt ra ngoài?
Đúng thế, tôi nói là chúng tôi có chuyện riêng mà.
Ra khỏi nhà, anh Nhã nói với tôi:
– Tôi muốn nổi nóng rồi, vì bạn mà tôi nhịn.
– Đúng vậy tôi đã phải và đang sống chung chạ với những loại người ấy, đó là điều khổ tâm cho tôi. Tôi thông cảm bạn.
Hàng ngày tôi đi làm. Công việc tôi không phải nhặt bao ni lông mà xé bao thuê, đem giặt sạch rồi phơi khô, phân loại. Mùi hôi thối đựng trong bao ni lông khiến người xé bọc muốn nôn oẹ tại chỗ nhưng vẫn phải chịu đựng. Vợ tôi, không giúp gì được trong cái thứ nghề quái gở này. Nàng có thể ói ra mật xanh, mật vàng, nàng đang có thai. Không thể để nàng kéo dài tình trạng ốm nghén bất đắc dí.
Bà chủ vựa ve chai của tôi còn rất trẻ, son phấn loè loẹt vàngđeo đỏ người. Bà mới giàu và cũng mới cưới chồng, một tay chơi nửa đời nửa đoạn nào đó nói giọng Bắc kỳ cố sửa giọng nhưng vẫn ngọng, khi nổi giận đến mất khôn. Anh ta đủ cái hách dịch đểđiều khiển bọn người làm thuê như tôi, mà anh gọi là “công nhân viên”. Vợ anh là “giám đốc”, anh là “phó giám đốc điều hành”. Cái xe Honda đời cũ của anh mua lại tân trang sáng loáng một cách hợm hĩnh chạy vòng vòng trên bãi phơi bao, sân ngồi xé bao và nhà giặt bao, mùi át xít trong xà bông bột của các hãng xà bông tổ hợp xông lên chóng mặt. Chị vợ ngồi thu gom mua phế liệu rành rọt đến độ không một bạn hàng nào qua mặt được. Tiếng chị ta choe choé suốt ngày:
– Này, mang đi vựa khác mà bán nghe, vựa này không muađâu.
– Sao vậy, bao ni lông mà, cân lên rồi trả tiền như mọi khi…
– Mọi khi thì mua được, nhưng lần này thì không mua. Tôi mua của người khác chớ không mua của chú. Tại sao?
– Muốn biết hả, thông Tư đâu, mày xổ tung bao ni lông đó ra, nếu không có độn đá thì tao cùi…
Quả nhiên trong bao ni lông ấy có tới bốn hòn đá xanh, cân nặng đến hơn ba kí lô. Miệng bà giám đốc vựa ve chai Thành Công quang quác:
– Rõ chưa nào, thôi mang đi vựa khác, nhớ nhặt lại mấy hònđá bỏ vào bao, nhà anh đừng hòng qua mặt con này. Con này có thừa kinh nghiệm.
Anh bán bao ni lông đành năn nỉ bán giá hạ để lấy tiền mua gạo sống qua ngày. Một bạn đồng nghiệp xé bao ni lông cạnh tôi nói:
– Đừng hòng qua mặt con Ngọc Tũn này, nó chuyên nghề nhặt bao ai lông từ hồi sáu tuổi. Bây giờ thì nó giầu lên làm chủ. Sang rồi nó đổi tên từ Ngọc Tũn thành Ngọc Tuyết..
– Tôi muốn hỏi về cái tên trong hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân kia.
– Đúng, tên trong hộ khẩu và chứng minh thư nhân dân bây giờ là Nguyễn Thanh Ngọc Tuyết. Có tiền là xong hết.
– à, thì ra chị muốn bỏ luôn chữ Thị quê mùa, thay vào đó chữ Thanh cho sang, xứng đáng với cuộc đổi đời, với địa vị sang cả của chị.
Tôi vẫn còn thắc mắc tại sao từ một con bé nghèo đói bẩn thỉu lại trở thành bà chủ giàu có như vậy. Sự thắc mắc ấy được giải tỏa ngay. Cô bé gập may, một lần ngồi xé bọc ni lông thuê cho người ta, chị thấy một bao ni lông đầy những khoeo vàng. Chị thủ chị giấu và trở nên giàu có, nhất nghệ tinh nhất thân vinh, chị theo nghề truyền thống. A ra vậy, hèn chi khâu xé bọc ni lông, người ta xé rất kỹ. Ai cũng mang một hoài vọng, hy vọng mà người ta không chê là hão huyền. Biết đâu lại không có một bà già lẩm cẩm nào đó gói vàng vào bọc ni lông giấu con chấu rồi quên, liệng đi. Mùi hôi thối từ những bao phế liệu xông lên nồng nặc, những con chó đứng vây quanh đang muốn chôm vồ một cái bao nào đó tha chạy.
Một con cún đã vồ được một bao, cong đuôi té chạy. Tiếng người la lối:
– Bắt nó, bao ni lông lụa…
Lụa là tên gọi thứ bao ni lông có màu trắng tinh mềm nhuyễn, loại Một. Anh phó giám đốc điều hành gầm lên:
– Bắt ló đập chết ngôn, à thằng lào đập được tao cho nuôn xác ló, nhớ để cho tao miếng chả chìa…ờ thằng Lam hả, tao cho mày nàm nính bảo vệ, chiến đấu với mấy con chó.
Tiếng con chó kêu đến “đắng” một cái, nhả cái bao ni lôngđựng phân, dấy lên tê tê… Kẻ đập được con chó chính là thằng Nam, người lùng săn trộm, hàng xóm nhà tôi. Phân vãi tung toé, thối hoăng, còn cái bao ni lông được lấy lại.
Anh phó giám đốc điều hành cố vẻ hài lòng:
– Nàm thế nà đúng, không để thất thoát nguyên vật niệu của cơ sở. Phải giết chết, phải ăn thịt những con chó tham nhũng.
Những cục phân té đổ vung vãi được đám chó ăn cướp dọnđến loáng là xong. Một anh ngứa miệng nói không ngãi trước nghĩsau với đám chó đang tranh ăn:
– Ồ lẹ lên tụi bay, ông phó giám đốc biết lại mệt bây giờ.
Anh phó giám đốc ngồi ghếch chân lên chiếc xe Honda tân trang. Nhậy cảm, ra họng liền:
– Ê thằng kia, nói gì vậy? Tao mà đi ăn tranh cứt với chó à?
– Tôi có nói gì đâu, tại anh nghĩ như thế.
– Tao cho mày nghỉ việc.
– Làm thì làm, mà nghỉ thì nghỉ, trả tiền thuê cho tôi đi
– Mày muốn vậy hả, dễ thôi. Mày đừng tưởng mày nà công nhân viên, mày nà cu ni, tất cả đều nà cu ni, thứ không có biên chế. Đừng lói chuyện nuật pháp với tao, tao nà luật mà luật nà tao. Truyền đời cho chúng bay biết, ông đi từ bắc chí lam đã từng nàm ông nớn. Thằng lào, con lào không muốn nàm lữa thì nghỉ. Không có luật nao động bồi thường cho bất cứ đứa lào. Có nàm thì có ăn. Không kỷ luật thép với chúng mày thì không xong.
Tôi biết tôi đang sống ở đâu, đang làm gì, tôi câm họng suốt một con giáp, mười hai năm trời. Tôi vầy vò những chiếc bọc ni lông thuộc loại hàng “hắc quẩy. Tôi thuộc tên hàng như cháo, nhưnhững tay chuyên nghiệp. Những bao ni lông phế liệu được tái sinh và tôi cũng được xào nấu tái sinh nhiều lần.
Tôi về đến nhà người mệt nhoài, buổi chợ chiều muộn mằn, đồ ăn mua được đều là thứ ế ẩm, mà cũng chẳng có gì giá trị vì số tiền tôi kiếm được trong suốt một ngày làm việc cật lực chẳngđáng là bao, gạo cho hai người ăn, đồ ăn thì khiêm nhượng miễn là mặn miệng để nuốt trôi cơm. Tôi muốn làm thêm “ca” đêm, là đi giặt bao ni lông thuê, nhưng vợ tôi cản:
– Thôi anh, hồi này anh yếu lắm rồi, anh lại húng hắng ho, coi chừng anh nhiễm ho lao, đám phế liệu bẩn thỉu như thế anh hít ngửi cả ngày… Có được hai bữa cơm là quí rồi, buổi sáng anh cũng có được ly cà phê, nắm xôi, điếu thuốc. Mình sống qua ngày chớ có làm giàu làm có gì đâu.
– Mình còn phải lo cái giường, em cũng cần tí thịt cá bồi dưỡng cho cái thai.
– Biết rồi, không can gì đâu, hồi này em ăn được, đồ ăn chẳng có gì mà em ăn tới gần ba chén cơm đấy. Còn tiền mua cái giường anh Nhã đã hứa cho mượn.
– Mượn thì cũng phải trả, dù là bạn bè…
Đang nói đến bạn thì anh Nhã đến. Tôi cười nói:
– Bạn linh thế, tôi biết bạn đến đúng hẹn mà.
Anh Nhã cười, ngồi ghé xuống một góc đầu giường, đặt xị rượu xuống, rượu trắng và một cái ly con con, chúng tôi thường uống “xây tua “, nghĩa là người này uống cạn giao ly cho người kia xoay vòng.
Cuộc uống “xây tua” đều đặn thì phần mỗi người là tám ly conđủ sừng sừng, không hẳn say mà cũng không đủ tỉnh táo. Nhưng cũng dễ quên buồn. Nhã róc rượu anh mời tôi uống trước:
– Rượu đế nếp Bà Bóng Gò Đen đấy, nước nhất nhé. Uống say êm lắm, không nhức đầu, tôi đặt nó từ Gò Đen Long An đó, hôm nay nó mới mang lên. Một can hai mươi lít, quí lắm nên tôi phải lấy luôn để dành uống. Xị này tôi mang tới cho bạn uống, tôi chỉ nhâm nhi chút chút với bạn cho vui thôi, ồ quên mất rồi, tôi
không mang theo tí đồ mồi nào.
– Có đấy, tôi còn mấy miếng thịt Tam Tạng.
– Thịt Tam Tạng?
Tôi mang ra món tàu hủ kho tương, hai đôi đũa, giải thích:
– Tôi gọi món tàu hủ kho này là thịt Tam Tạng cho sang. Vì thịt cá dị ứng với khẩu vị vợ chồng tôi từ lâu rồi.
Hai vợ chồng tôi lại có bệnh viêm màng túi, nên phải kiêng kỵ kỹ lưỡng, nhiều hôm chúng tôi hạt muối cắn đôi, phòng bệnh hơn chữa bệnh. Thầy thuốc dặn thế.
Tôi uống rượu và lòng cảm thấy hưng phấn, vợ chồng tôi sẽ có một cái giường. Có thể sau xị rượu này tôi sẽ hùng dũng lên đập cửa má Bảy đang ở nhà trên trả tiền. Cái giường thuộc về tôi, tôi thuộc về cái giường, cái giường sẽ là thành viên thân thiết của giađình tôi. Nó sẽ là một đồ vật yêu quí như con chó, con mèo trong một gia đình. Ngược lại, tôi phải săn sóc nó, khi nó long đinh tôiđóng lại, nước véc ni tróc nham nhở tôi sẽ mua hộp sơn sơn lại cho sáng sủa. Lúc tôi đang hứng khởi như vậy, đang mơ mộng nhưbản chất tôi thì anh bạn bèn “pạc xơ cờ…” Lý do anh chưa cho tôi mượn được số tiền tôi yêu cầu để mua lại cái giường. Một thoáng sững sờ, nhưng rồi tôi giữ được bình tĩnh ngay nghe anh nói:
– Đến hẹn rồi mà đồ ngoại quốc của tôi chưa về tới. Thế có kẹt không chứ, hôm nay còn mấy ngàn, cái thằng bán rượu Gò Đen lại mang lên, tôi trả hết cho nó rồi. Đúng cái rượu bạn vừa uống đó, ngon như thế mà mình không mua thì uổng. Tôi hứa với bạn tôi nhớ chứ, hay là bạn xoay tạm ở đâu, rồi tôi sẽ đưa bạn sau vậy Tôi hỏi bà già thì không tiện, vì mẹ con tôi mới có chuyện xích mích, mà hỏi bà xã tôi lại không tiện nữa vì vốn buôn bán của bả. Bạn biết bản thân tôi có làm gì ra tiền đâu. Này, bạn có thể nói với bà chủ nhà thư thả được không?
Tôi đặt ly rượu xuống:
– Chắc chắn là không rồi, tôi cũng chẳng xoay được ở đâu hết. Tôi chỉ biết xoay đằng trước ra đằng sau thôi. Nhưng thôi, bạnđừng quan tâm đến chuyện đó nữa. Đối với tôi là chuyện lớn nhưng đã là chuyện nhỏ rồi. Trước đây chúng tôi từng nằm đất, đừng vì chuyện ấy mà sứt mẻ tình bạn.
Tôi vốn là kẻ nông nổi, không ngờ tôi lại ăn nói bình tĩnh nhưthế. Nhìn vợ, tôi thấy nàng cũng rất bình tĩnh. Nàng đã rửa xong mớ bát đĩa, đang xếp vào rổ trên cái kệ dã chiến do tôi đóng. Xị rượu ngon tôi không uống hết, đậy nút lại đưa bạn tôi mang về. Tôi tự đo lường được thân phận mình.
Tôi tiễn bạn ra về, hình như trời đang về khuya. Chốn ngoại thành này vắng vẻ. Hương lộ 14 ai đóng lên ở ngã ba đường cái tên mới đường âu Cơ, tổ tiên dân tộc tôi, tôi nhìn mờ mờ thấy dưới ánh điện vàng. Tôi trở về ngôi nhà chuồng heo. Vợ tôi đã lên giường nằm, mùng đã buông, cái mùng vá chằng vá đụp màu cháo lòng. Tôi cài cửa tắt đèn, chui vào mùng. Bóng tối âm u, ngoài mùng muỗi reo vo vo, ngoài trời gió nổi. Có một con cá tra nào đó quậy trong ao. Mái tôn hở, tôi nhìn thấy một ngôi sao đơn độc trong trời đêm. Thốt nhiên thở dài.
Vợ tôi nắm tay tôi:
– Đừng buồn anh, em chịu đựng được mà. Người ta nắm kẻ có tóc chứ ai nắm kẻ trọc đầu.
– Đừng nói thế thêm mích lòng.
Tôi đặt tay lên cái bụng lúp xúp của vợ. Bé đang cựa quậy, nhưng sao yếu quá. Tôi im lặng trong đêm. Ngôi sao ở khe hở mái tôn hồi nãy đã di chuyển theo vòng quay trái đất. Tôi không nhìn thấy nữa. Con dế mèn ngoài đầu hè cất tiếng gáy hoà nhập với nhiều âm thanh côn trùng khác. Cái giường ngày mai hết hạn cho mượn. Lồng ngực tôi nặng nề, tôi bật lên tiếng ho.
Sáng sớm tinh mơ tôi đã mò ra quán cà phê bà Ba Đít Láng ở chợ Tân Phú. Quán cà phê bình dân không trưng bảng hiệu mà lại mang cái tên tục tĩu như thế Nhất định là cái tên của bọn giang hồ, quân khố rách áo ôm đặt cho, nhưng nguyên do tôi vẫn chẳng rõ vì sao. Quán đông khách như được quỉ thần phù hộ trong khi cà phê bắp rang, pha túi dở òm. Tôi mua một cái dầu cháo quẩy vừa uống cà phê vừa nhai. Đúng ra chẳng ngon lành no nê gì mà chỉđỡ buồn miệng, có cảm tưởng mình có lương thực, đang nhai nuốt nó. Như kẻ sắp chết đói nhai cỏ, rễ cây, đánh lừa cái dạ dày khốn khổ của mình.
Tôi thắc mắc về tên quán cà phê, nhưng rồi cũng biết. Chẳng phải hỏi ai, cứ nghe khách giang hồ nói chuyện với nhau rồi khắc biết thôi.
Bà chủ quán góa chồng, sống với hai cô con gái đã đỡ đầnđược mẹ. Bà tuy hơi đứng tuổi nhưng vẫn còn nét mặn mà, là niềm mơ ước của nhiều tay chơi tỉnh lẻ, những mong làm nên chuyện “rổ rá cạp lại”. Nhưng lâu rồi, niềm mơ ước ấy vẫn chưađược đáp ứng dù lời ong bướm dập dình quanh người thiếu phụ tuổi đời đang ở độ “ngon lành”. Thể hình tròn trịa, nụ cười tươi hết cỡ như đóa hoa mãn khai lấn lướt cả hai đóa hoa hàm tiếu của hai đứa con gái. Bà Ba không xe xua trưng diện, tứ thời cái áo bà ba cổ tròn màu xanh, màu tím, màu mỡ gà hoặc màu trắng thắt eo hông ôm lấy cái quần đen vải Mỹ A láng bóng, tròn vo, mượt mà khiến nhiều tay hảo ngọt vùng Tân Phú phải hít hà thèm muốn. Một tay chơi hết thời, nửa đời lỡ, giờ làm nghề nhặt bọc ni lông thấy chịu không đặng, nhân buổi uống cà phê sáng, do bạn bè thách thức và cũng muốn bày tỏ tình cảm bằng thái độ bạo dạn, anh ta xoạng bậy “cái chảo” láng mướt của bà. Bà chửi, suýtđánh. Công an bèn túm lên phường bắt làm kiểm điểm rồi đưa đi giáo dục qua lao động hết ba tháng trời. Tên quán cà phê bà BaĐít Láng có từ đó.
Quán ngày một phát triển, đông khách, bà Ba Đít Láng không có tình thì cũng có nghĩa. Bà có một dịp lên thăm người khách hàng bị đi học tập vì bà, đồ tiếp tế hậu hĩnh, không quên một bình cà phê biếu bạn. Như một lời hứa hẹn, nhờ anh ấy mới có tên quán mà ai cũng biết, đông khách. Cuộc tình, nếu có thể gọi nhưthế, dừng lại ở đó hay đi đến đâu tôi không biết. Nhưng người khách hàng “tội lỗi” xưa cũng có trở lại và được uống cà phê miễn phí. Lại được bà Ba Đít Láng sai vặt, còn hai cô con gái thì lườm nguýt, dầu mỏ ra chửi:
– Chú tưởng đã làm được dượng tôi mà lên mặt. Uống cà phê thí mà còn đòi cà phê sữa, coi có được không?
Bà Ba Đít Láng khóa cửa động đào hay mở có Trời biết. Tất cả đều bù trật trong cái ồn ào của buổi sáng quán cà phê bình dânđông khách.
Tôi cặm cụi lao động xé bọc ni lông cho tổ hợp phế liệu Thành Công của Thị Ngọc Tũn hy vọng vay mượn được tiền, trừ lương mỗi ngày có tính lời để mua lại cái giường. âu đó cũng là niềm vui, tặng phẩm sinh nhật cho vợ. Tôi chưa vô tích sự. Hai ngày nữa thôi, tôi sẽ cầm được số tiền “lớn ” ấy, khi bà chủ đã đủ tin cậy ở tôi. Cái giường sẽ thuộc về gia đình tôi. Tôi hưng phấn, tay nghề mỗi lúc một cao, xé đến loáng đã được cả kí bọc ni lông, bất kể dơbẩn. Thây kệ những cơn ho rũ rượi làm mềm cả thân xác.
Phiên chợ chiều muộn màng, chợ chẳng còn gì, không lẽ bắt vợ ăn hoài cái món thịt Tam Tạng, nàng sẽ lả người đi mất, và cái bào thai, con tôi sẽ yếu không giẫy đạp nữa thì khốn, nó bị suy dinh dưỡng khi còn nằm trong bụng mẹ.
Tôi vào quán cơm bình dân mua ít thịt kho, cái trứng vịt kho và chén canh khổ qua nhồi thịt. Tất cả được đựng vào bao ni lông mà nhà hàng cho là bao sạch. Tôi chấp nhận, lom khom xách đồăn về cho vợ trong niềm hạnh phúc tràn trề. Canh khổ qua mát, miếng thịt, rừng kho nước dừa khiến gia đình tôi ngon miệng,
con tôi tha hồ giẫy đạp trong bụng mẹ nó.
Không biết phải gọi là hồi sinh hay tái sinh cho đúng. Thây kệ sao cũng được ăn mừng cái giường, cũ người mà mới ta.
Tôi bước chân vào nhà trong niềm hưng phấn, nhưng buồn ngay khi thấy nàng, vợ tôi ngồi bệt dưới đất.
Nàng ngồi trên tấm chiếu rách. Tôi kêu lên:
– Sao lại thế này?
– Người thuê nhà cũ đã đến chuộc lại cái giường mất rồi.
– Kỳ vậy, anh đã khất với bà Bảy…
Vợ tôi thở dài đến thượt một cái:
– Ai biết được, đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn.
– Để anh lên nói chuyện với bà Bảy.
– Kệ anh, nhưng em biết chẳng ăn thua gì đâu.
Anh nói gì thì cứ nói, coi chừng bị bứng ra khỏi nhà, mình sẽ mất an toàn. Có người đến đòi thuê căn nhà này giá cao hơn đấy. Lại có đặt cọc, mình ganh nổi với họ không? Anh liệu lời mà nói.
Mẹ kiếp, lại còn thế nữa. Nhưng tôi vẫn nói để vợ an lòng:
– Anh biết, anh tin ở cách ăn nói của mình. Đại tá Bảy ưng chẳng từng khen anh là người ăn nói có văn hóa đó sao. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Vợ tôi đang buồn cũng phải bật phì cười, cái răng khểnh mới duyên làm sao, hớp hồn tôi:
– Anh chỉ được cái vậy, ai bơm vào cho cứ tưởng thật. Thôi em sửa soạn cơm, a hôm nay cơm có thịt, có canh, có trứng. Sao mà sang quá vậy? Lẹ lên rồi về ăn nghe.
Tôi lên gặp bà Bảy. Bà đang ngồi xỉa trầu thuốc dưới ánh đènđiện từ cái bóng máng trên bình “ắc quy. Thấy tôi, bà hỏi ngay:
– Mày lên tao về vụ cái giường, phải không?
– Dạ đúng vậy, má Bảy đã hứa…
Bà Bảy nhổ một miếng cất trầu vào cái lon sữa bò:
– Tao đã gia hạn cho mày, người ta đến chuộc, tao làm saođược.
– Hai ngày nữa tôi đủ tiền mà.
Bà Bảy nhìn nhanh tôi:
– Tao biết, nhưng không làm sao được, người thuê nhà cũ cũng nghèo như mày vậy. Tao không đành, giúp đứa này bỏ đứa kia. Cứ công bình mà làm. Tao là người có đạo đức cách mạng.
Bà Bảy nhìn lên bức chân dung vẽ truyền thần của chồng làđại tá Bảy ưng, đủ cả cân đai mũ mãng. Bà vững lòng tin truyền sang cả tôi phải nghĩ là nền đạo đức của bà đúng, rất đúng.
– Tao nói vậy, phải không mày?
Tôi mềm lòng gật đầu:
– Dạ phải, chỉ mong má Bảy giúp cho vợ chồng tôi một việc khác.
– Khất tiền nhà phải không?
– Dạ không, một chuyện khác.
– Cứ “trình bày” hợp lý tao chấp nhận.
– Vợ tôi có thai, nằm đất thì hại sức khỏe quá…
– Ờ ờ, cũng đúng, vậy thì mày mang một cái giường khác vế mà nằm.
– Cái giường tre cũng mắc, tôi không đủ tiền mua, đồ cũ họ cũng nói trời thần lắm.
– Vậy hả, mày tính sao?
Thấy tôi liếc nhìn cái giường nhỏ ở góc nhà, bà Bảy giẫy lên:
– Không được đâu, cái giường ấy tao không bỏ không, của con tao đấy. Nó đi bộ đội chiến đấu ở phía Tây Nam tổ quốc, chống Khờ Me đỏ, lâu lâu nó về nó phải có giường nằm nghỉ ngơi. Mày biết nó cũng là sĩ quan ở binh đoàn Cửu Long, con dòng cháu giống.
Tôi cười:
– Dạ không phải, tôi không mượn giường, mà cũng không mua lại nữa.
Đến lượt má Bảy ngạc nhiên:
– Vậy là cái gì? Nói rõ ra nào!
– Muốn xin má Bảy cho đóng xuống sàn bốn cái cọc, tôi đi tìm ván cốt pha về làm mặt, kê làm giường cách mặt đất cho đỡ ẩm thấp.
Bà Bảy rơ miếng thuốc xỉa trên hàm răng có dính quết trầu màu đỏ, móc miếng thuốc lên môi thành một cục to bằng trái tắc. Suy nghĩ một lát rồi lắc:
– Cũng không ổn, mày biết sàn chuồng heo tao đổ bê tông, mày đào bới tầy quầy ra, hư nền nhà tao. Mai mốt tao nuôi heo, heo phải nằm sàn, ỉa đái tùm lum. Chớ heo có nằm giường bao giờ. Cái giường của mày cố định ở đó coi sao được. Tao bác ý kiến “ngông cuồng” của mày. Tao thiệt hại quá, ông chồng đại tá nhà tao rầy la tao. Thấy cũng thương, mà tao biết làm sao được.
Tôi thua, năn nỉ vô ích với một người có đạo đức cách mạng như bà Bảy, được huấn luyện cứng như thép.
Tôi lui về chốn chuồng heo. Tôi nghĩ đến câu chuyện đại tá Bảy ưng nói với tôi, ngày ông và đồng đội “xẻ dọc Trường Sơn”, nằm bờ nằm bụi để có ngày hôm nay. Giải phóng cho nửa phầnđất nước, thống nhất đất nước. Các vị ấy gian khổ biết bao nhiêu. Sự đau khổ của vợ chồng tôi có nhằm nhỏ gì. Ba cái lẻ tẻ. Cần phải lấy đó mà làm gương.
Đêm hôm ấy ngủ đất, nằm lạnh lưng nên tôi ho hơi nhiều, vợ tôi cũng ho và trăn trở không ngủ được, cái cống thoát nước trênđầu nằm chảy róc rách, muỗi bay vo vo góp sức phá thêm giấc ngủ chập chờn… Tôi biết rằng miếng ni lông mỏng rách trải dưới cái chiếu rách không ngăn nổi khí lạnh dưới nền sàn, nếu có miếng dầy hơn? Nhưng làm sao được. Tôi nằm tính toán thâu đêm. Tôi không kêu trời mà chỉ hiểu thấu thêm câu nằm gai nếm mật, hiểu giá trị anh hùng của những người xẻ dọc Trường Sơn. Đẹp đẽ biết bao, hào hùng biết bao! Con ngựa chướng trong người tôi muốn lồng lên phi nước đại. Buổi sáng hôm sau tôi đi làm sớm, uống vội ly cà phê đen nhỏ ở quán cà phê bà Ba Đít Láng. Tôi đến cơ sở gặp bà chủ:
– Tôi xin rút lại lời xin mượn tiền bà.
– Vậy hả? Có món khác rồi chăng?
– Không, thứ tôi định mượn tiền bà để mua, người ta bán mất rồi.
– Chú mua món gì vậy?
Tôi không thể giấu được bà chủ, tình thật kể lể câu chuyện cái giường cũng là câu chuyện giải tỏa ẩn ức. Bà chủ vựa ve chai của tôi tỏ ra thông cảm và nhân hậu. Luôn miệng nói “thế à” và câu “tội nhỉ”.
Cuối cùng bà nói:
– Tiếc rằng nhà tôi không có dư cái giường nào, chớ không, tôi cho chú mượn. Mình cùng cảnh nghèo với nhau dễ thông cảm.Được thôi, nếu thấy, tôi sẽ mua giùm chú, một cái cũ cũ cũngđược chớ gì. Hồi trước thiếu gì, tôi phải chẻ làm củi, nay lại không thấy nữa.
Tôi nghĩ bụng tôi cần ngay hôm nay, chứ chuyện mai sau thì nói làm gì. Tôi hùng hục làm việc, đến chiều trời bới nắng, tôiđược cắt ra thu gom bao ni lông phơi ngoài ruộng mang về cất trong kho. Bao ni lông khô ran vì hôm nay trời nắng và nóng đến 39 độ, tôi loáng thoáng nghe đài phát thanh nói thế khi đang ngồi xé bọc ni lông, mồ hôi chảy ròng ròng. Thế mà vẫn có cả trăm người lui cui trên bãi rác đổ nắng lửa, phơi lưng với trời, gục mặt trên đất, bãi rác lúc nào cũng như chực bốc cháy. Những con người như đám thiêu thân.
Những đôi mắt trẻ thơ nguyên xanh trong, dưới cái nắng gay gắt đó biến màu đỏ, màu vàng như mắt khỉ, mớ tóc rối chuyển sang màu rơm rạ. Bao nhiêu con người lang thang kiếm ăn nhưbầy chó hoang. Tôi thương cho họ, chính là thương tôi, tôi cũngđang ở hoàn cảnh đó. Tôi mơ ước một ngày nào đó được nói lên cảnh này, nhưng không vì vậy mà hận thù ai cả. Một tinh thần rất Việt Nam, thụ động mà không thụ động: Ngồi buồn mà trách ông xanh, khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười.
Trời tắt nắng, tôi thu gom được hết bao ni lông phơi đóng bao, thồ lên xe đạp chở về kho. Có thể ngay tối nay có người sẽ phân loại, một bộ phận khác phân loại rồi chở đi nhà máy tái sinh qui tụ ở quận 5 tức vùng Chợ Lớn. Những đồng bào người Hoa cần cù chịu khó làm ông chủ lớn, đón gió. Có tổ chức nhịp nhàng nhưtrong cỗ máy hay một tổ kiến. Tôi nhìn thấy cái vĩ đại trong hoạt cảnh xã hội, tôi ghi nhận như người quay phim ghi nhận những thước phim tư liệu. Tôi xổ tung mớ ni lông, đặt lên bàn cân tạ có trừ bì. Tôi khám phá ra những bao ni lông thật to rộng, mỗi cái phải to bằng cái chiếu con, dài cỡ hai thước, ngang cũng tám mươi phân, ni lông khá dày. Có thể người ta dùng để bọc một cỗ máy gì chăng, nay là dạng phế liệu, đã được giặt sạch, phơi khô. Tôi nở nụ cười.
Thực tế tôi đang nghĩ đến một cái giường vừa hẫng hụt khỏi niềm mơ ước. Bây giờ tôi phải lót ổ để nằm, tấm ni lông mỏng rách lót dưới một cái chiếu rách không thể ngăn khỏi chướng khí ẩm thấp chốn chuồng heo.
Tôi cần một cái ổ lành lặn, dầu cho là tạm thời thay cho cái giường. Sáng kiến loé trong đầu tôi nhưng tôi phải thực thà, tôi tới chị chủ vựa:
– Tôi cần hai miếng ni lông lớn kia, bà có thể để lại cho tôi giáđặc biệt được không?
Chị chủ vựa ve chai nhíu mắt nhìn hai tấm ni lông tôi đã nhặt ra. Sau một phút suy nghĩ cắn môi thoa son đỏ loét hình trái tim, chị gật gật:
– Cần dùng có công chuyện hả, được thôi.
– Bà chủ cho biết bao nhiêu tiền, tôi cân cả hai tấm được hai kí tư, dạng ni lông lụa dầy.
Tất cả đều có giá của nó và đã phân loại, tôi nói theo đúng kinh nghiệm của kẻ trong nghề.
Bà chủ lại nhíu mắt, ghếch một chân lên ghế. Tôi nhìn thấy những móng chân sơn màu tím xẩm. Nhưng gót chân thì vẫn nứt nẻ dài, đen xì, chứng tỏ bà có một thời cực nhọc từng lang thang trên những bãi rác. Sự lao động của bà được đền đáp mang đến vinh quang. Bà cắn môi rồi nở nụ cười, kiểu nụ cười của một ngôi sao,trong làng cải lương hay tài tử nữ phim ảnh Hồng Lông:
– Được thôi, nhưng chú thì tôi không bán mà tôi biếu chú đấy. Chú đàng hoàng, lương thiện, lại biết chữ, chồng tôi nói thế. Vì hoàn cảnh chú phải làm nghề này.
Tôi ngạc nhiên, nhưng cũng phải cảm ơn một người có lòng tốt, có con mắt tinh đời. Họ biết gì về mình, khi tôi đã ngụy trang,đã ẩn mình, giấu tung tích như một kẻ tội phạm đang bị truy nã. Khi tôi không có một tội gì, tôi chỉ muốn không ai biết đến tôi, không ai nhớ ra tôi thôi.
– Tôi chỉ biết đọc biết viết!
– Không đâu, chồng tôi biết rõ chú mà, thôi được ngày mai chú làm lại sổ sách giùm tôi thật rõ ràng. Cái thằng thư ký của tôi nó mới học đến lớp ba, sổ sách làm teng beng, nhầm lẫn thất thoát bao nhiêu tiền bạc.
– Còn công việc xé bọc?
– Sẽ có người khác làm thay chú. Cháu nâng đỡ chú lên địa vị cao hơn, người tài mà, chồng cháu nói quyết không bỏ sót nhân tài.
Tôi để ý thấy cô chủ xưng cháu với tôi. Tôi có được bơm lên không. Cô ta như một nữ hoàng tự hạ mình xuống đám tiện dân, hết một tên nâng lên hàng kẻ sĩ. Cuộc đời có lắm chuyện bất ngờ. Như trước đây ba mươi năm, tôi đang làm cu li bên kho 5 Khánh Hội được chủ thầu bốc lên làm cai cu li rồi lên địa vị cao hơn nữa. Rồi tôi trở thành nhà văn nhà báo trong những sự bất ngờ. Lại là chuyện hạ hồi phân giải.
Tôi cám ơn cô chủ, ôm hai tấm ni lông về nhà, không quên hứa sáng mai sẽ trở lại cùng anh thư ký coi việc sổ sách cũ. Tôi chỉ muốn giúp anh ta thôi chứ không có ý tranh việc.
Tôi về nhà, vứt đi tấm ni lông rách ở dưới, trải lên hai tấm ni lông mới, lành lặn, cái bao có hai lớp. Tôi giải tấm chiếu rách lên là có một cái ổ khá xinh xắn. Tôi nói với vợ:
– Thôi cũng được, anh sẽ mua một cái chiếu mới lành lặn, trước khi mua cái giường.
Từ nãy vợ tôi không nói gì, nàng quan sát tôi như con chim mái quan sát con chim trống làm tổ. Lòng tôi thấy vui vui. Vợ tôi nói:
– Sao hôm nay anh vui thế?
– Anh sẽ kể cho em nghe tối nay, khi ngủ giường mới.
– Cái ổ mới mới đúng.
– Cái tổ chim bồ câu được không?
– Khỉ ơi là khỉ!
Căn nhà nhỏ của tôi vang tiếng cười. Có phải hạnh phúc đó không? Chỉ vợ chồng tôi biết với nhau.
Ngoài sân tôi nghe tiếng bà Bảy ưng xoe xoè chửi vợ chồng thằng Nam ở chuồng heo cùng dấy:
– Mày thiệt tệ, ăn cắp ăn trộm quanh hàng xôm láng giềng, giờ có con gà mái đẻ nhà tao mày cũng câu luôn, lông gà còn đây mày chối cãi cái gì. Bao nhiêu lần mày ăn cắp trứng, lưới trộm cá tra của tao, tao thương hại không nói đến, chớ tao không đui. Nhà tao không chứa quân ăn trộm ăn cắp. Tao muốn bay ra khỏi nhà tao, càng sớm càng tốt, tao thí luôn cho số tiền nhà vợ chồng bay còn thiếu tao…
Tiếng con vợ thằng Nam năn nỉ:
– Má tội nghiệp cho vợ chồng con, vì hoàn cảnh mà phải vậy thôi, chớ trước đây chúng con cũng sống trong nhà cao cửa rộng vậy. Anh ấy đi học tập cải tạo về…
– Câm ngay, chúng mày nói láo, chẳng phải ông nọ bà kia gì ở chế độ cũ được đi học tập cải tạo mà là đôi vợ chồng lưu manh chuyên nghiệp trộm cắp vặt bị tù nên mới có tư cách ấy. Tao không đui, vợ chồng mày đâu phải như vợ chồng nhà người ta.
Con vợ thằng Nam oé lên, tôi nghe giọng điệu nó chĩa sang vợ chồng tôi nói xiên nói xỏ. Tiếng thằng Nam ồm ồm:
– Thôi bà ơi, bà đừng nói đụng chạm đến danh dự tôi. Bà khenđứa này chê đứa kia. Tôi lưu manh nhưng cũng không lưu manh bằng kẻ khác sống ở đây. Tôi chỉ bần cùng sinh đạo tặc. Có saođâu, đời mà… Cái nhà bà cho thuê là cái chuồng heo chớ là gì mà báu giá thế.
Bà Bảy ưng tức cành hông, giọng bà gay gắt:
– Ngay sáng mai tụi bay đi khỏi đây, nếu không tao cho công an xúc bay đi đổ ngoài bãi phế liệu.
– Xong ngay, bà đuổi hết chứ? Hay chỉ một gia đình tôi?
– Vợ chồng con cái mày thôi, người khác có tội tình gì.
Thằng Nam cười lên khăng khắc, có lẽ nó đang tu xị rượu để”nung chí anh hùng”.
– Tôi đi, nhưng kẻ khác đừng hòng ở đây để bà làm giàu. Tôi kiếm chuyện đó.
Tôi liếc nhìn vợ tôi như thầm hỏi. Vợ tôi nói:
– Kệ họ, mình chẳng dính gì đến họ.
– Dzăng miếng!
– Mình có làm gì đâu, ăn cắp ăn trộm của ai cái gì đâu.
– Ấy vậy mới dzăng miếng, bởi mình không là đồng bọn.
Tôi muốn nói đến cái ngược ngạo của cuộc đời. Nhưng thây kệ, tôi mệt mỏi quá rồi. Tôi thèm một giấc ngủ hơn tất cả. Làm việc ban ngày ở nơi hôi thối không được nghỉ ngơi, đêm thường xuyên bị mất ngủ thì chết mất.
Tấm ni lông giải dưới chiếu quả nhiên đỡ ẩm thấp. Tiếng gió thổi qua vách liếp nghe êm như lời ru.
Tôi thiếp đi không biết bao lâu.
– Thằng giặc kia, bước khỏi nhà tao ngay, mày hiểu rằng đàn ông đàn bà không quen biết nhau không thể ở chung một nhà,đừng nói chi nằm chung một giường. Cút xéo, biết điều thì cút xéo ngay…
Đúng là một người đàn bà trọng tuổi mà lạ hoắc đối với tôi. Mụ có son phấn mà mặt xanh nhợt nhạt như ma, đôi mắt quắc lênđổ lửa, lạnh lùng. ừ, tôi đang ở trong một căn nhà lạ, nằm trên giường với người đàn bà lạ.
Kỳ vậy, không biết tại sao nữa. Tôi chưa kịp giải thích thì mụđàn bà hung dữ giương những móng tay nhọn hoắt lên cào mặt tôi. Tôi né tránh, mụ vồ hụt nhưng mười móng nhọn cứ múa vèo vèo trước mặt tôi. Tôi hét lên…
– Anh! Anh! Tỉnh dậy, anh!
Tôi thở hào hển, đêm tối mò mò, một cơn ác mộng, chỉ là một cơn ác mộng. Vợ tôi đang ngồi bên cạnh lay gọi.
– Anh tỉnh rồi, thắp đèn lên.
Vợ tôi chui ra khỏi mùng thắp ngọn đèn dầu. Tôi hoang mang về cơn ác mộng, mồ hôi vã như tắm. Tôi hổn hển nói:
– Ghê quá, một cơn ác mộng ghê quá.
Vợ tôi sờ trán tôi:
– Anh bịnh rồi, tại anh làm việc nhiều quá đấy mà, anh cầnđược nghỉ ngơi. Đừng nghĩ ngợi lung tung. Anh la hét mà em bắt sợ.
Vợ tôi róc cho một hớp nước lạnh, thoa dầu rồi ép tôi ngủ. Nhưng không ngủ được, tôi cứ hoảng sợ. Cái đèn dầu để ngoài mùng rọi ánh sáng vàng vọt, mờ mờ. Tôi thao thức nghĩ hoài đến cơn ác mộng vừa rồi. Bây giờ đến lượt vợ tôi, có lẽ đã quá mệt nên ngủ say. Tôi nghe tiếng ngáy của nàng, rồi tiếng ú ớ. Nàng lại nói mê chăng? Tôi cầm tay nàng bỏ xuống khỏi ngực, nàng xoay người nằm nghiêng. Rồi nàng giẫy đạp, nàng hét.
Tôi ôm lấy nàng, nàng đánh vào mặt tôi bôm bốp. Rồi nàng hồi tỉnh, nhin tôi kinh hãi:
– Ma, ma, anh ơi!
– Em ngủ mê, làm gì có ma.
– Thật đấy thật đấy, đúng là một con ma. Em không ngủ nữađâu, cứ nhắm mắt lại là thấy nó.
Nàng kể cho tôi nghe cơn ác mộng. Một gã đàn ông lạ hoắc, kéo nàng, ép nàng nằm chung giường với hắn.
Hắn than hắn cô đơn, đang cô đơn thì có người đến chung sống. Nàng phản kháng mãnh liệt. Khi nhìn kỹ thì thấy hắn là một con ma. Đúng là một con ma kinh khủng, hắn cứ nhất định đòi bắt nàng, nàng chống trả đánh đấm hắn túi bụi…
Tôi phi cười:
– Có thể con ma đó là anh!
– Nỡm, thế mà cũng đùa được, nhà này có ma.
Tôi suy nghĩ một lát:
– Nếu có ma thật thì đâu cũng có ma chứ riêng gì nhà này. Chúng ta đang sống trên mảnh đất lắm người mà cũng nhiều ma, mà thôi, không nói nữa, em lại sợ không ngủ được.
– Em không ngủ đâu, nằm canh cho anh ngủ.
– Anh cũng không ngủ được.
– Vậy thì mình nằm chờ sáng, anh chở em đi uống cà phê.
– Mình sẽ uống cà phê sữa, đã lâu lắm mình không uống cà phê sữa. Anh phải hút một điếu thuốc thơm. Em ăn tô hủ tíu, chịu không?
– Ừ nhưng anh ăn gì?
– Gói xôi hay cái dầu cháo quẩy như mọi khi.
– Không chịu đâu, anh có ăn hủ tíu thì em mới ăn, anh làm việc cực nhọc…
Tôi đặt tay lên bụng vợ:
– Tất cả dành cho con, nghĩ đến nó bất kỳ là trai hay gái, anhđều thương, đều muốn hy sinh cho nó. Em nhớ chỉ chúng ta là bố mẹ mới thương yêu nó thôi. Ngoài ra, xin lỗi anh không còn dám tin tưởng ai.
Không ai thương chúng ta cả, nói chi thương nó, hài nhi vô tội này bị coi là nghiệt chướng.
Anh thù hằn đời sống đến thế sao?
– Không thù hằn mà chỉ cảnh giác, chính đời sống này đã dậy anh như thế…
Chúng tôi chung sống với nhau, nhưng vì chuyện cơm áo ít có dịp tâm tình. Đêm nay nhân chuyện sợ ma, chúng tôi nói chuyện thâu đêm. Sáng sớm tinh mơ, vợ chồng tôi trở dậy đã thấy bà Bảyưng quét sân quèn quẹt. Bà nhìn vợ chồng tôi, hỏi:
– Sao chúng bay dậy sớm vậy?
Vợ tôi mau mắn:
– Chúng cháu ra chợ uống cà phê.
– Đêm qua tụi bay làm chi mà um xùm vậy, đánh lộn hả?
– Không có đâu…
Tao tối qua cũng không nói gì vợ chồng bay, chỉ vợ chồng thằng lưu manh kia phải bước khỏi nhà tao ngay ngày hôm nay. Vợ chồng bay đừng hiểu lầm, tao thương vợ chồng bay ít học mà hiền lành, không xạo sự. Giúp đỡ được tụi bay tao giúp liền, vợ chồng có điều gì không phải thì bảo nhau, đừng đánh lộn, nghe không…
– Dạ, tụi cháu không đánh lộn, tại đêm qua thấy ma nên cháu mới la.
– Ma hả, ứa tao sẽ cúng kiềng, oan hồn uổng tử ở đây thiếu gì. Xưa kia nơi đây là bãi chiến trường mà. Ông Bảy nhà tao có đánh trận này, tao là giao liên.
Buổi chiều tôi trở về, vợ chồng thằng Nam hàng xóm đã dọn nhà đi.Vợ thằng Nam trút giận ngoặt sang gây lộn với vợ tôi. Nhưng chuyện cũng đã qua. Cái giống ti tiện hạ cấp ấy vẫn thế, chấp nhất làm chi. Tôi thấy thuộc lối vào nhà có treo một nhánh xương rồng, cửa lại dán một lá bùa nào đó viết vẽ lăng quăng. Vợ tôi hiểu thắc mắc của tôi, nàng giải thích:
– Má Bảy “ếm xì bùa” con ma đó. Bùa má lấy của thầy nào đó em không biết, anh đừng có bóc đi mà bả giận.
Tôi ừ ào cho qua chuyện. Cuộc sống yên ổn hơn khi bên cạnh tôi không còn gia đình hàng xóm ồn ào toàn những chuyện trộm cắp lừa đảo. Nhưng bùa chú cũng vô ích, những con ma vẫn lộng hành. Tôi mất ngủ, người gầy dốc, tuy rằng công việc không đến nỗi nặng nhọc như lúc đầu. Tôi đi làm không cần phải mặc những quần áo xấu, rách. Tôi được cầm lại cây bút, không phải để viết văn, làm thơ mà để viết những con số trong sổ hàng. Nhưng cũng là cầm bút vậy. Địa vị tôi được nể vì, có người ve chai còn gọi bằng thầy.
Tôi huấn luyện cho cậu thư ký trình độ học vấn lớp ba đỡnhầm lẫn hơn trong sổ sách. Thuở đó người có học vấn làm việc trong một cơ sở hiếm hoi như lá mùa thu.
Chuyện tôi được trọng dụng không có chi lạ. Giám đốc của tôi ký tên bằng cái gạch chéo chữ thập. Tôi làm giùm cho họ nhữngđơn từ gởi nơi này nơi kia, lại “có tài điều khiển nổi cái máy chữ cũ rích hiệu Remington, những đơn từ trở nên trang trọng hơn, có mộc xanh mộc đỏ mang tên cơ sở, tên giám đốc Ngọc Tũn. Nhưvậy làm gì mà tôi không được trọng dụng, ở xứ mù thằng chột làm vua. Đúng là trường hợp của tôi.
Những con ma vẫn quấy phá gia đình nhỏ bé của tôi. Tôi không tin chuyện ma quỉ mà buộc phải tin, thây kệ bà Bảy ưng cúng kiềng cho vợ tôi, vì nàng ngã bệnh mà bà già trầu Bảy ưng nói là bị ma làm. Nhưng tôi vẫn phải cho nàng uống thuốc hàng ngày. Tiền bạc kiếm được đổ vào thuốc và những bữa ăn có thêm chất lượng, nên vẫn chưa mua được cái giường cho ra hồn. Cái giường bây giờ là những tấm ván kê lên mấy viên gạch cách mặt sàn xi măng mươi phân, hai tấm ni lông dầy ngăn cách hơi ẩm thấp, cái chiếu mới. Như vậy cũng tạm ổn rồi.
Ông bà chủ tỏ ra biết điều và trọng dụng tôi, giao tôi điều hành hầu hết công việc trong cơ sở, trừ công việc mua bán và xử dụng người. Tôi không thể hiểu được cái lắt léo mánh mung trong công việc, kể cả việc đi mua bán đồ phế liệu có tôi được đi theo. ông bà chủ dự tính thành lập hẳn một nhà máy tái sinh đồ phế liệu.
Cho đến một ngày, vợ chồng ông bà chủ đề nghị tôi mở một lớp bổ túc văn hóa cho riêng hai vợ chồng… Tôi cũng đành chấp nhận, vì tôi có thêm thu nhập. Nhưng sao tôi vẫn chán công việc ấy, chán những tiếp xúc hàng ngày đầy những mánh mung. Đôi khi những quyết định của tôi làm mếch lòng chủ.
Mướn thêm một người, hoặc sa thải một người… ông phó giámđốc điều hành gay gắt:
– Chú nên hiểu rằng đây là cơ sở làm ăn, không phải viện tế bần, mình không nên giúp ai hết vì lòng nhân đạo.Thực tế là thế tôi phải nhận sự sai trái.
Vợ tôi bị ma làm nên ốm đau quặt quẹo hoài, ốm đau như giả vờ… Tôi buộc phải tin rằng trên đời có ma hiện hình hay ở trong những cơn ác mộng để dọa người. Nạn nhân của ma toàn là những con người hiền lành, yếu đuối hay hết thời như… tôi chẳng hạn. Những con ma đều có tư cách hèn hạ như nhau, nhưng nguy hiểm vô cùng. Nguy hiểm ở điểm đó.
Sửa soạn cho một đời sống văn minh, một cuộc đổi mới nào đó sau ngày chiến thắng. Thành phố được giải phóng phải giàu đẹp gấp mười ngày xưa. Con người ở đó phải sống văn minh hơn đểtheo kịp đà tiến bộ của thế giới, của nhân loại. Tôi đứng lại tức là tôi tụt lùi. Con người tiến bộ là con người biết bỏ thuốc lào hút sang thuốc lá, thuốc có cán (đầu lọc) mang mác ngoại quốc càng tốt. Biết bỏ dép râu, mũ cối để đi dép sa bô da, tiến tới đi giầy, đội mũ giô kề hoặc mũ phớt. Phụ nữ phải biết bỏ áo bà ba để mặcđầm, bỏ khăn rằn đội đầu để làm tóc kiểu cọ, biết trang điểm son phấn. Tất cả những thứ cũ kỹ xưa kia đều nên chui vào tủ kính ở viện bảo tàng lịch sử, nhà truyền thống.
Một ngày nào đó ai muốn biết phải giở tư liệu lịch sừ ra tham khảo hoặc nghe hướng dẫn viên thuyết minh.
Tôi vẫn tin như thế và có những suy nghĩ lẩm cẩm. Vì nhìn đà tiến bộ quay đến chóng mặt. Đối với thế giới chẳng nhằm nhỏ gì, nhưng với đất nước này thì đã ghê gớm lắm. Dập dình chuyện đổi mới, có thể đổi mới luôn tư duy. Nhưng tôi thấy vẫn còn nhiều khó khăn lắm, vì ở các cơ quan, các công sở vẫn còn những người dân thấp cổ bé miệng khi muốn xin xỏ một điều gì trên mặt giấy tờ, tay vẫn lo le điếu thuốc có cán hiến dâng lên vị cán bộ để cán bộ thông cảm. Kẻ tự coi là nhỏ bé làm việc nhỏ, các ông lớn thì làm việc lớn, muốn làm ăn phải biết chi đẹp, nơi bàn chuyện là cửa hàng bia có ôm để nói chuyện phải quấy. Tôi nghe ông bà chủ tôi nói vậy.
Tôi an phận thủ thường, tuyệt chẳng nghĩ đến chuyện bon chen. Hiền như chưa bao giờ hiến thế, như một lão bộc ở nhà quê có cơ may được vào nhà chủ giàu có.
Dân số thành phố bùng nổ, vì những lý do gì đó, người ta dồn vào thành phố để làm ăn, để kiếm sống. Nhà nước phải nới rộng vùng ven đô để trở thành đô thị. Các nghĩa địa chôn người chết nên đi chỗ khác chơi, di dời đi nơi xa hơn nữa, nhẩy cứ như cóc nhẩy. Xương cốt người chết cũng điêu linh. Người còn thân nhân thì đỡ, người không còn thân nhân cũng được nhà nước liệu bề lo toan hợp tình hợp lý. Tôi được biết chừng đó thôi.
Buổi trưa, vợ chồng cô Ngọc Tũn rộn lên về việc đi thâu mua bao ni lông. Dĩ nhiên tôi là người được đi theo để lo chuyện sổ sách. Anh thư ký lo chuyện cân đo Hẳn phải là một đám bán đồphế liệu to nên Ngọc Tũn lo một số tiền lớn mà nàng vẫn chưa an tâm, nói với chồng:
– Anh đi theo tôi, nếu thiều tiền bạc anh chạy về lấy liền. Mình tiền trao cháo múc nó không ép giá được. Có phải sang tay ngay mình cũng có lời.
Anh chồng mà số tử vi có sao thân cư thê chiếu mệnh, hỉ hả:
– Cần gì phải sang tay ai, mình dư sức xử lý nó, làm thành phẩm khi đó bán còn lời gấp mấy…
Anh ta còn tỏ ra nắm bắt được nền kinh tế thị trường trên đà phát triển mà vợ chồng anh đang gặp thời cơ:
– Ta có thể không cần bán, chờ cho nhà máy tái sinh của mình hoạt động, ta sẵn vật liệu, có giải tỏa cả mười nghĩa địa ta cũng chẳng lo.
Thế là sao? Thế nào? Tại sao lại liên quan đến việc giải tỏa nghĩa địa? Tôi không hỏi ai cả, lặng lẽ đi theo họ.
Anh chồng, phó giám đốc điều hành, hôm nay không nói ngọng vì anh đang hồ hởi chứ không tức giận. Anh chỉ tức giận mới nói ngọng. Điều đó ai cũng biết.
Nghĩa địa bị đào bới đông nghịt người. Người công tác lao động có, thân nhân những bộ xương khô vừa gào khóc vừa la lối:
– Khi chôn má tôi, ngoài những vòng vàng bà mang theo, tôi nhớ còn bỏ vào miệng bà một chỉ vàng mà, bây giờ sao không có…
Bà ta gào khóc, trong khi mấy người làm công việc đào mồ mồm năm miệng mười:
– Có thì lẫn đâu đó chớ ai ăn cắp của người chết, mang tội…
Chị đàn bà đốt nhang khấn vái lia lịa:
– Má ơi, má có khôn thiêng thì phù hộ cho con tìm lại được chỉ vàng, tưởng má được mồ yên mả đẹp, ai dè. Má có khôn thiêng thì vặn cổ chúng nó. Mùi hôi hám của những xác chết được đào bới lên thật khó ngửi, hòa lẫn không khí nóng hầm hập càng dậy hơi. Bây giờ thì như một khu chợ trời, người ta ngã giá đủ thứ được xử dụng lại, từ cái nắp ván thiên gỗ còn tốt, đến một cái vòng ngọc thạch, chẳng may bị vỡ. Tất cả đều là đồ ve chai được đánh giá. Quần áo của xác chết nếu không mục nát cũng được đánh giá. Những mộ bia, những phiến đá, những chồng gạch được đập ra từ các ngôi mồ, có thể dùng lại để xây cất. Tiền, tất cả đều là tiền, ngoại trừ những bộ xương, mảnh xương dược rửa sạch trước khi bỏ vào cái tiểu sành do thân nhân mang tới.
Nhiều bộ xương chưa tiêu còn dính thịt da bầy hầy dậy mùi hôi đến phát khiếp. Những xác chết khó tiêu được khâm liệm trong bao ni lông dầy buộc chặt ngăn không khí. Nhưng khi baođược mở hơi xì ra, xác chết đột nhiên phồng lên rồi xẹp xuống, chảy nước màu gì đó coi kinh khủng, không hẳn màu bùn xám, màu máu mủ, xương thịt thối rữa. Những xương thịt đó bị dốc ra khỏi túi ni lông, được rửa sơ trong một vũng nước lớn, ném sang một bên. Ruồi nhặng bay như trấu, va đập vô tội vạ người đứng xung quanh. Những chiếc khăn bịt mũi trở nên vô ích. Những khăn tẩm dầu gió, dầu cù là càng trở nên vô ích hơn nữa, dậy mùi hơn. Có những người nôn oẹ. Nhưng họ vẫn lăn xả vào tranh nhau thu mua.
Bà chủ Ngọc Tũn là người có tiền và dầy dạn kinh nghiệm trong những việc mua bán như thế này. Chờ cho các bạn hàng nhỏ tranh cướp, thâu mua hết. Bà ra một giá cao nhất, mua mão toàn thể những bao ni lông vĩ đại của những bạn hàng nhỏ. Tôi nhìn những bao ni lông và nhận thấy quen quen. Rồi tá hỏa, thì ra thế, toàn là bao ni lông khâm liệm người chết, như những chiếc áo quan tráng chì kẽm mà tôi từng thấy thuở còn chiến tranh. Thuở tôi còn làm phóng viên chiến tranh chạy rong trên những mặt trận. Quá giang những chuyến máy bay C.130 chở xác tử sĩ từ Quảng Trị về Sài Gòn, sao bây giờ tôi mới nhận ra những bao ni lông ấy. Những kẻ khác vẫn làm việc vô tư nhiều bao còn nhầy nhụa thịt da. Có cả đội người đứng xua đuổi, đánh đập bầy chó đói chỉ toanđánh cắp xương. Tiếng bà chủ bên tai tôi:
– Chú vô sổ giùm tôi, tôi thâu mua được sáu trăm bảy mươi ba bọc ni lông. Cho nó chuyển lên xe lam của cơ sở mình. Tối nay chú cho điều động người giặt sạch, đừng tiếc xà bông, sáng mai cho phơi khô rồi nhập kho.
Tôi xây xẩm mặt mày, những tia nắng chiếu trên nghĩa địa loé lên thành hằng vạn ngôi sao. Tôi muốn ói. Bà chủ nhìn tôi:
– Mặt chú xanh quá, sao vậy?
Tôi dốc bi đông nước, uống ừng ực, nhưng tôi vẫn thấy chóng mặt, bây giờ hình như nhức đầu.
Tôi nói với bà chủ:
– Tôi bị trúng gió rồi.
Bà chủ đưa tôi chai dầu gió:
– Chú thoa đi, ờ thôi, chú cứ về, giao lại công việc cho thằng nhỏ.
Tôi loạng choạng leo lên xe đạp ra khỏi nghĩa địa đang bị đào bới trong cảnh hỗn loạn của phiên chợ trời về chiều. Cái oi bức, nồng nực của nắng tháng hai vùng nhiệt đới làm tôi muốn ngất xỉu. Trời ơi, cái giường của tôi, tấm ni lông khâm liệm người chết. Tôi đã nằm chung với ma quỉ bấy lâu nay. Vợ tôi đau ốm, cái bào thai cũng đau ốm lây. Bố đã lầm lẫn! Cả nhà tôi bị ma làm bấy lâu nay. Tôi phải đốt nó không phải trả thù mà trả lại những gì của người cõi âm, tôi khấn khứa. Tôi cuồng lên đạp xe, mà sao hai chân tôi cứ ríu lại Tôi ngã lăn trên đường.

_____________

Cái Còng  

vietvanmoi.fr

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

Cái còng! Nói đến từ ấy tôi thất kinh. Mạng số không ra quái gì, bởi vậy nhiều lần trong đời tôi đút tay vào còng. Thời Ngô Đình Diệm làm tổng thống, tôi bị tống giam vào khám Chí Hòa. Hai tay bị còng, cái còng Tây để lại, bằng đồng, vặn vít chứ không khóa. Tất cả “quái khuếch ” đều chịu thua khi bị mang loại còng này.

Thời Nguyễn Văn Thiệu là nguyên thủ quốc gia, tôi cũng bị ném vào Chí Hoà vì tội chống đối lăng nhăng gì đó. Bị khóa tay. Nhưng cái còng năm xưa vắng bóng đâu rồi. Một loại còng mới có răng cưa, dây xích ngắn, khóa chắc chắn do Mỹ quốc viện trợ. Tôi nhìn thấy cả thùng còng chưa dùng tới có dán nhãn hiệu hai bàn tay nắm lấy nhau, tỏ rõ lòng thân thiện, ném ở góc phòng can nhơn khám Chí Hòa.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, tôi quờ quạng lại bị tóm và bị còng. Nhìn lại cái còng, tôi thấy nó đã cũ kỹ, đúng là cái còng tàn dư của Mỹ Ngụy bỏ lại. Tôi bị khóa tay giải đi khám Chí Hòa. Tôi vô phúc nên bị khóa bằng cái còng xét rỉ. Khóa hóc, càng cựa quậy lưỡi răng cưa ở cái còng tối tân càng thít chặt, đến độ hai tay tôi sưng lên, đỏ lựng. Người cán bộ công an lôi tôi đi phá chiếc còng bằng búa và đục sắt. Hai cổ tay đau điếng mà không dám kêu. Tôi còn bị chửi lên đầu:

– Tổ cha thằng phản động, mày làm tao tiêu mất một cái còng rồi.

Khi vào xà lim, tôi bị cùm bằng sắt. Tới trại học tập cải tạo tay tôi bị cùm bằng tre, chân thì bị cùm gỗ cây thau lau, cổ cũng bị gông nốt. Khi bị kết tội chống đối hay trây lười lao động.

Nói tóm lại, cái còng, cái cùm, cái gông đều là một thứ dụng cụ để khống chế cơ thể con người. Nó muôn hình vạn trạng.

Tôi muốn quên chuyện đó khi được trả tự do.

Quên vĩnh viễn cái còng. Nó lâm sự xui xẻo cần được đốt vía xua đuổi đi như thay pháp trừ tà ma quỉ quái.

Tôi trở về tự.do, thảnh thơi sống bằng nghề mua bán ve chai. Tôi rong chơi khắp thành phố, rao hàng và nhiều khi cũng trúng mánh. Thâu mua được nguyên một cục răng vàng, một cái đỉnh bằng bạc, một cái huy chương bắc đẩu bội tinh bằng vàng 18 K của một ông tướng, ông tá nào đó ở cư xá sĩ quan mà nay phải đi học tập mút mùa tận Hà Sơn Bình. Thằng con trai ngu dốt dại khờ của ông ta lục ra bán cho tôi. Thế là tôi trúng mánh..

Rõ ràng tôi là thằng mua gian bán lận. Đạp lên đầu nhau mà sống. Để chắc ăn, tôi móc ra hai chai át xít Một chai nước màu vàng, một chai nước màu trắng. Chấm lên đồ vật mình định mua. Một vệt đen nổi lên. Trúng rồi! Tôi phải ếm giá. Cái đồ khỉ này chỉ đáng giá một ly cà phê đen, thêm cho ba điếu thuốc lá Samit lậu Thái Lan! Tôi nói với chú nhóc:

– Cho chú em năm đồng đi uống cà phê, hít Samit cho đỡ vã, thật ra tôi chẳng muốn mua cái khuy đồng này làm gì.

– Cái huy chương của ba tôi, Bắc đẩu bội tinh.

-Chẳng cần biết, cũng như cái khuy đồng thôi. Chỉ có kẻ ngu dốt như tôi mới mua một cái khuy đồng tới năm đồng bạc.

Chú nhóc vã, đành ô kê ngay. Thế rồi tôi thơ thới ra đi. Thật ra chẳng cần mua bán nữa, tôi đã trúng mánh rồi. Tôi chạy về bọn thu mua ngồi ở góc đường Nguyễn Thiện Thuật, hùng dũng gọi rượu thuốc uống để nung chí anh hùng. Thằng phân lòm cân vàng trả tiền cho tôi theo giá vàng thị trường. Mặt tôi cứ vác lên, ra lệnh cho đám ve chai hết thời gọi rượu uống thả cửa. Thằng bạn tôi có bút hiệu là Sao Biển, trước kia làm nghề viết báo, nay cũng ra nghề ve chai mang cái bản mặt sưng tím, lỗ đầu, lỗ mũi ăn trầu, trẹo quai hàm trở về:

– Xui quá, tao bị chúng nó quây lại “phện” cho một trận thừa chết thiếu sống. Chút xíu nữa thì chúng nó móc mắt tao cho tao chuyển sang nghề bán vé số. Tôi thân róc ly rượu xây chừng mời bạn:

– Cạn ly, lý do?

– Tao thử vàng, một bà lão có chiếc răng vàng lung lay muốn bán cho tao, nhưng còn ở trong miệng bả. Để chắc ăn tao biểu bả há miệng ra, lấy át xít thử. Không may một giọt át xít rớt ra nước răng bả, bả dẳy lên tê tê. Vậy là con cháu bả xúm lại đập tao. Phải thử vì răng vàng bây giờ nhiều loại giả, làm bằng đồng mạ vàng hay i-nốc. “Đại đế ve chai đã cảnh giác anh em như thế.

Chúng tôi hộc lên cười, uống rượu như điện, an ủi bạn gặp cảnh tai nạn nghe nghiệp. Thay vì ca hát, chúng tôi mở cuộc thi rao hàng xem đứa nào hót hay nhất. Nội dung bài thi chỉ như thế này:

– Mắt kiềng bể, vỏ đồng hồ, vỏ cà rá, răng vàng, bạc vụn, tiền xưa bạc cũ, ai bán không. Mua hết, bán hết, bà con cô bác ơi… ấy vậy mà nhiều thằng rao không ra lời. Thằng thì nghẹn lời, thằng tủi thân, mấy con “ghệ” rao như khóc. Thằng bị bệnh sốt rét tắt tiếng ngang. Thằng sứt môi rao có âm điệu ễnh ương kêu. Tôi dĩ nhiên rao được, công phu tập luyện đi lại theo đại đế ve chai hết sáu tháng trời mới vỡ giọng. Hôm nay tôi giật giải vì tôi là người trúng mánh.  Không phải ngày nào cũng giống như ngày nào.

Ngày vàng son có và ngày thê thảm cũng có. Vận bỉ đến không hẹn, tôi rao rát cổ bỏng họng mà chẳng có ma nào mang đồ ra bán. Tôi đi vào một xồm xưa, theo tôi đánh giá hẳn là có cối giã trầu bằng bạc, hay tiền xưa bạc cũ, chắc cũng bằng quí kim. Xóm Gà này có nhiều bà già trầu, ưa để dành chắt bóp, tiền bằng bạc chôn giấu cả hũ ngoài vườn. Thế là tôi cất tiếng rao giữa buổi trưa nắng cháy. Nâng giá đồ vật mình muốn mua lên cho thêm phần hấp dẫn.

Trong xóm có một quán nhậu đông đảo khách hàng. Tôi nhận ra họ đều là thanh niên, ở trần, mặc quần đùi ngồi chồm hổm ngay giữa quán nhậu đế với một mâm xíu quách, chấm nước mắm chanh ớt. Bữa nhậu đang đến hồi gay cấn, bầy hấy. Chẳng biết họ đã “cưa, hết bao nhiêu lít đế, văng tục và chửi bới nhau đến từ thứ bao nhiêu triệu. Những cục xương văng vung vãi khắp nơi. Ruồi nhặng bay như vãi đậu. Có người nghe tiếng rao, anh ta ngoắc tôi vào:

– Mày mua tiền xưa bạc cũ phải không?

– Dạ, đúng vậy.

– Mua với giá cao, một đồng ăn chín mười đồng?

– Đúng vậy.

– Kim loại màu vàng?

– Chính thế!

Người đàn ông hỏi tôi mặt đỏ như mặt gà chọi, kêu thằng nhỏ ngồi cùng bàn:

– Bẩy, mày về nhà tao mở cái ngăn tủ, lấy sang đây cho tao đồng kim loại màu vàng. Chủ quán đâu, đưa thêm một can rượu nữa, hết xíu quách thì nướng khô…

Thằng Bẩy phóng rẹc một cái. Nó sang đến bên kia đường. Chạy vào nhà, lục lọi. Tiếng đàn bà la chói lói.

Thằng nhỏ chạy sang quán đưa đồng tiền cho tôi:

– Chung tiền đi, quí lắm đó?

– Cha mẹ ơi, một đồng tiền điếu, dùng để cạo gió.

Đồng tiền dùng lâu ngày mòn vẹt, màu vàng, bóng loáng. Không phải đồng tiền bà đầm xoè. Tôi chưa kịp nói gì mụ đàn bà đã nhào sang xoe xoè chửi:

– Nhậu nhẹt từ đêm qua tới giờ chưa đã sao, bây giờ lại về nhà khiêng của đi bán nữa.

Gã lớn tuổi bình tĩnh:

– Đừng ồn lên vậy, bà yên tâm bán được cho chú ve chai này, tôi chia cho bà năm chục.

Tôi lắc đầu đưa lại đồng điếu:

– Tôi không mua đâu.

Một gã khác trong đám nhậu:

– Tại sao không mua, rõ ràng mày nói mua mà.

Mụ đàn bà nhảy choi choi:

– Không bán, tao không bán cho đồ lưu manh chợ trời. Bọn này ghê lắm, chuyên đi lừa gạt người lương thiện.

Tình thế trở nên gay cấn. Đám đàn ông say rượu hung tợn. Chúng dám làm thịt tôi cướp hết tiền bạc vốn liếng lắm! Miệng mụ đàn bà điêu toa độc ác, kinh khủng không kém:

– Đồ buôn gian bán lận, trời ơi, đồng tiền cạo gió của tôi bằng vàng y mà rẻ mạt thế à. Lột da nó ra!

Không còn cách nào khác, chạy là thượng sách. Tôi nhẩy nai. Tôi phải nhanh hơn bọn say rượu kia, khoẻ hơn mụ nái xề chân yếu tay mềm. Tôi phóng đi, vẫn nghe tiếng chân đuổi theo đồng thời nghe tiếng ngã ạch đui.

Chín mươi chín phần trăm tôi thoát hiểm. Nhưng này, sao lại có bàn tay ai túm cổ tôi. Sợ chết, tôi liền giở mặt hèn ra:

– Lạy ngài, tha cho con, con còn phải nuôi mẹ già, vợ dại, con thơ.

Tiếng cười hề hề:

– Bình tĩnh đi…

Gã đàn ông mặt rỗ chằng rỗ chịt, có hàm răng cải mả ố vàng, nam đen, trông cái mặt như trái xúp lơ.

Tôi vẫn chưa hoàn hồn:

– Thật tình tôi không thể mua được món hàng ấy của các ông. Tôi không gian dối gì hết…

Gã đàn ông buông cổ tôi, vẫn cười nhe hàm răng cải mả:

– Đúng rồi, tôi hiểu, cái đồng điếu hạng bét đó mà mua gì được. Vào nhà tôi đi, anh có hàng mua được. Tôi biết anh là “chuyên gia mua đồ cổ”.

Tôi hoàn hồn thật sự, đứng trước mặt anh ta.

Hình dạng anh ta coi xấu xí vậy nhưng cũng không có gì nguy hiểm. Tôi chỉ nhận thấy anh ta có biệt tài bắt người. Chỉ một cái nắm cổ, hết cựa quậy. Hẳn là một cao thủ, giấu tung tích.

Tôi theo anh ta vào căn nhà rách nát. Mái lá, tường bằng tôn thùng khuy. Sàn xi măng loang lổ trơ cả đất . Hai đứa trẻ ở truồng, mặt mày lem luốc nằm ngủ. Đứa nhỏ đút ngón cái vào miệng mút, dãi dớt nhậu nhão

Căn nhà nhỏ thấp lè tè, nóng hầm hập. Gã đàn ông mặt mũi quái gở mời tôi ngồi xuống sàn:

– Ngồi chơi chờ tôi chút. Tôi mang ra món đồ “gia bảo” này chắc chắn anh mua được. Hắn khom người xuống mở cái cửa tủ nhỏ xíu lục lọi. Tiện tay tôi lột cái mũ ra quạt cho hai đứa bé. Tự nhiên tôi thấy thương chúng, như thương hai đứa con tội nghiệp của tôi. Mái tóc tơ của trẻ thơ phơ phất. Gã đàn ông lục một hồi, lấy ra một vật gói giấy cẩn thận đưa cho tôi:

– Đồ gia bảo đó, sự nghiệp đời tôi, bây giờ phải bán cho anh, tôi tiếc đứt ruột.

Vật tôi cầm trên tay nặng như sắt thép, có thể một vật gì đó không bằng vàng cũng bằng bạc, đồng đen? Tôi vẫn chưa mở giấy:

– Cái gì đây?

– Anh có quyền mở ra xem hàng, mình thuận mua vừa bán, tôi chỉ cần tiền mua đủ năm ký gạo cho các chịu. Tội nghiệp chúng cả tháng trời nay ăn mì sợi khoai lang. Con vợ tôi đi bán tàu hủ mà không đủ tiền mua gạo cho tụi nó. Tôi thất nghiệp mấy năm nay rồi, không làm gì ra tiền, cứ phải bán dần đồ đi ăn… Tháng trước tôi bán chiếc xe đạp cũ, sườn hiệu Tao cho lạc xoong. Người ta tân trang sơn phết lại lời đáo để đó .

Tôi giở hai lần giấy gối lấy ra món đồ. Tôi thất kinh kêu lên:

– Trời, cái gì thế này, sao lại cái còng?

– Ừ cái còng đồ, cái còng gia bảo của tôi, mua đi rẻ thôi mà.

Tôi vẫn giẫy lên:

– Không được tôi sợ cái này lắm.

Gã cười, nhe hàm răng cải mả và nước răng xám ngoét ra:

– Xem kỹ hàng đi, hàng tốt, cả một đời làm lính kín của tôi mới trúng thăm được cái này. Một triệu cái còng viện trợ mới có một cái đặc biệt, trong nghề tôi biết, không sét rỉ, khóa nhậy đàng hoàng, pặc một cái là khóa nghiến lại, hết đường cục cựa.

Anh bạn mới say sưa nói đến sự nghiệp lính kín chuyên đi bắt người của anh ta ngày nào, nay đã là dĩ vãng.

Những cái hay cái đẹp và cái tốt của chiếc còng gia bảo mà anh may mắn làm chủ. Anh nói nó “o li din” đồ ngoại vì có chữ đề Made in USA. Tôi phải chặn anh ta lại:

– Tôi hiểu giá trị của nó rồi, nhưng cái này mua làm gì được?

– Đề phòng kẻ gian.

– Thôi đi cha nội, mua rồi tôi bán cho ai đây?

– Sao lại không, công dụng của nó ghê lắm chứ. Bây giờ kẻ gian hơi nhiều, anh dùng cái còng này khóa xe đạp, ông nội thằng vồ xế nào dám đụng đến. Mấy cái khóa xe đạp Trung quốc sản xuất đâu có bằng. Công dụng của nó đó, chưa kể…

Anh ta bỏ lửng câu nói, nhưng tôi cũng hiểu cái oai của cái còng khiến kẻ gian e ngại. Nhìn hai đứa bé ngủ say, tôi thấy tội nghiệp quá. Tôi nói thôi được. Trả cho anh ta năm đồng bạc, ném cái còng vào túi xách khoác vai, ra khỏi nhà anh cựu lính kín, nói cách khác là công an chìm thời chế độ cũ. Trời vào trưa, nắng gay gắt, nhưng tôi phải đi nữa, mua được món gì kha khá một chút. Không thì coi như hôm nay lỗ sở hụi. Tôi nghĩ đến vài địa bàn hoạt động: Tại sao tôi không đến nhà một bà quen mà ở đó tôi từng mua được nhiều món quí. Giới thiệu người ăn hoa hồng. Khu đó là nơi béo bở cho những thằng ve chai như tôi.

Tôi cuốc bộ đến nơi đó.

Cư xá buổi trưa vắng tanh. Hình như chỉ có mình tôi cầm xâu chuỗi máng đồ ve chai, – vừa lắc vừa điểm ngón tay từng món hàng:

Coi này, cái kiềng bể cũng mua được, cái nắp viết máy cũ rích cũng mua được. Cái vỏ cà rá mất hột cũng mua được. Tất cả mọi thứ trong nhà vứt đi đều mua được hết. Chung tôi không mua rẻ bán đắt mà chỉ lấy công làm lời. Bán hết, bán ráo trọi đi bà con ơi. Tôi lảm nhảm độc thoại, ai muốn nghe thì nghe, không thì thôi. Tôi giống như một thằng điên. Cuối cùng tôi cũng đến được ngôi nhà đó. Nhà chị Tư. Rung xâu chuỗi ve chai lên, cánh cổng mở. ở nhà đã hiểu ám hiệu của tôi.

Chị Tư tiếp tôi ở phòng khách. Chị lúc nào cũng mặt hoa da phấn, áo quần là lượt diêm dúa. Hôm nay mà chị bận bộ đồ suýt bóng màu tím hoa cà, thêu ren, móng chân móng tay sơn phết công phu. Người chị đẫy đà ấy vậy mà chị lại có bệnh. Căn bệnh hiểm nghèo là nhồi máu cơ tim. Bệnh hoạn như vậy, nhưng chị lại làm một nghề cực kỳ nguy hiểm gai góc là chủ tàu chuyên đóng tàu vượt biên đưa người ra nước ngoài. Sự khôn ngoan của chị không để đâu cho hết. Lời nói chị như mật ngọt róc vào tai người nghe. Đứa con gái lớn của chị bưng ra cho tôi một ly nước chanh ướp lạnh. Uống vừa mát vừa ngọt vừa giải cảm nắng. Chờ tôi uống hết ly nước chanh, chị hỏi tôi trong nụ cười:

– Thế nào, hôm nay định đưa đến chị mấy mối?

Tôi khẽ lắc đầu, chị hơi nhíu đôi lông mày “điêu thuyền”:

– ờ sao lạ vậy, tôi nói với chú cả tháng nay mà không tìm được mối nào sao?

– Dạ, cũng có tìm, nhưng người ta không tin em có tàu. Người ta sợ em bịp.

– Chú cứ đưa đến đây, tôi bao hết, tiền mặt thì ba cây một người, nếu chung tiền bên kia thì bốn cây. Chung tiền bên kia, ở đây tôi vẫn cho chú hoa hồng trước Nhưng này, có đưa đến đây cũng phải đặt cọc cho tôi, tôi mới cho xem tàu. Dứt khoát là cọc năm chỉ, không ưng đi tôi trả lại cọc, không sợ mất, tôi giữ lại hai chỉ làm tin.

– Chi vậy chị?

Chừng nào tàu của tôi ra khỏi hải phận tôi trả nết. Chớ không nó đi tố cáo tôi thì ai chịu cho tôi đây, chiếc tàu của tôi cả mấy trăm cây vàng. Tính tôi thực thà có sao nói vậy, chuyện gì bảo đảm được tôi mới dám nói. Tôi+bảo đảm bến bãi an toàn, tàu ra khỏi hải phận, được chưa, khi ấy tôi mới hết nhiệm vụ. Ra ngoài đại dương tôi không bảo đảm được sóng to gió lớn hay cướp biển. Chuyện đó thuộc về chuyện của ông Trời rồi.. Ta cầu xin Trời, Chúa, Phật. Người nào cầu xin theo đạo người nấy, nên cầu lấy bình an là đáng quí nhất. Sóng gió có thể vượt qua được, tàu của tôi không bao giờ dùng loại tàu nhỏ, ít lắm là dài hai mươi lăm thước, máy Ray 6. Bốn ngàn lít dầu dự trữ. Thủy thủ đoàn toàn là hải quân cũ, hai tài công một lái đường sông, một lái đường biển. Chú thấy đã mê chưa. Ba cây vàng rẻ rề…

Chính tôi nghe nói mà còn mê tít, vì tôi cũng muốn đi mà không có vàng, có cây cối gì ráo. Tôi đành thúc thủ, mặt buồn xo. Nhặt lẻ vài ba phân vàng, mua bán ve chai, đời thuở nào mới đủ “cây” để đi.

Chị Tư là người sểnh tâm lý, chị hiểu tôi, chị nói:

– Chú tìm cho tôi ba mối, mỗi mối ba cây chồng tiền bên này. Tôi cho chú một chỗ.

Tôi không tin được tai mình. Tôi nhìn chị, tự chỉ vào ngực mình:

– Em ấy à?

– Chính chú, chú tưởng tôi nói giỡn đó hả. Chú biết tôi là người làm ăn đàng hoàng mà, một là một, hai là hai. Thôi cố gắng lên, tôi thương chú như em, đáng ra tôi cho chú đi không, nhưng tôi e rằng người ta dị nghị.

Nụ cười của chị Tư nở tòe loe coi rất là… đã.

Thân phận tôi là kẻ hèn nên đành nhịn và cũng cười mỉm ăn theo. Chị Tư luôn luôn đoán trước được ý nghĩ của tôi, chị hỏi:

Hôm nay không có mối manh gì, chú đến chị có việc gì không?

Tôi như được gãi đúng chỗ ngứa, vọt miệng:.

– Chuyến này chắc chị có cho con chị đi theo tàu?

Có chứ, hai đứa, cũng để làm tin với khách hàng.

– Vậy thì chị bán lại cho em thứ gì của cháu không cần xài nữa, chẳng hạn như đồng hồ, cát xét, ra-đi-ô hay quần áo cũ gì cũng được. Em đi rạc cẳng từ sáng đến giờ mà chưa mua được gì.

Chị Tư lại cười:

– Mua bán khỉ gì, được rồi, tôi cho chú. Sang Mỹ thì xài đồ Mỹ, mấy thứ này ở Mỹ nó vứt ra nghĩa địa. Tôi khoái trong bụng. Tôi chợt nhớ ra tôi chưa hút điếu thuốc lá nào. Tôi có mấy điếu Đà Lạt xuất khẩu lẻ để trong túi xách. Tôi lục tôi tìm thuốc và cái bật lửa. Tay tôi lụp chụp, vô tình cái còng gia bảo mà tôi mua được lọt ra khỏi giỏ rơi cạch xuống nền gạch bông. Chị Tư nhìn xuống, hét lên một tiếng thất thanh, ngã bật ngửa ra ghế sa lông. Những đứa con của chị chạy ra cấp cứu mẹ vừa lúc tôi nhặt cái còng lên. Chị Tư chưa ngất xỉu hẳn, chị thều thào:

Công an, chú ấy là công an, cái còng kìa, còn súng… Chú ấy theo dõi nhà mình bấy lâu nay má không biết… Chuyến ngoài Bà Rịa mình bể… do… do chú… ấy…

Tôi cuống lên, xua tay lia lịa:

– Không phải, không phải…

Đứa con gái chị Tư, thuộc nòi làm ăn, phản ứng nhanh, quì ngay xuống chân tôi vái lấy như tế sao:

– Lậy chú, xin chú bỏ qua vụ này cho má cháu. Cháu không quên đền ơn chú ngay tức thì hai cây.

– Nhưng tôi…. số là thế này…

Tôi thấy chị Tư đưa bàn tay nguyên năm ngón lên. Đứa con gái líu tíu:

– Dạ, thưa năm cây vậy, cháu biết chú chia chác với anh em. Chú để cho tàu nhà cháu thoát chuyến này.

Vâng, chú cứ cầm trước năm cây vậy. Tôi hết đường chối cãi. Tôi nhìn thằng con trai to con của chị Tư, mặt nó lầm lì coi thiệt dễ sợ. Tôi bắt buộc phải thủ thế, một tay cầm cái còng, tay kia đút vào túi xách. Tôi vừa bóp nát một điếu thuốc Đà Lạt. Không thể nói năng, giải thích gì được. Tôi lùi ra cửa và ra đường luôn.

Chỉ loáng sau tôi nhìn thấy chị Tư ngồi sau xe Honda của thằng con trai chạy vụt qua tôi. Họ mải nhìn sang phường công an bên kia đường nên không nhìn thấy tôi. Thiệt là một ngày xúi quẩy.

Chưa ra hết chung cư, tôi gặp thằng Sao Biển. Nó lắc xâu chuỗi ve chai, nhẫn nại rao hàng, người nó rạc đi như con ve sầu, mặt đỏ gay, gân cổ kéo lên cả chùm. Nhưng gặp tôi, nó cười ngay:

– Trúng mánh rồi hả, không thấy mày rao nữa.

Tôi chửi thề một câu:

– Đ. M. xui tận mạng.

Hai thằng kéo nhau vào quán, ăn đỡ đói rồi nhậu. Tôi kể cho bạn nghe vụ cái còng. Hắn nghe lấy làm thú vị.

Rượu sừng sừng, hắn nói:

– Mày ngu quá, cứ lấy mẹ nó năm cây hối lộ đi, làm gì nhau nào. Mày đưa tao tới… Tao tính gọn sổ sách.

Tôi lắc đầu:

– Đầu óc tao chậm tiêu cũng có mà muộn rồi cũng có. Đừng nghĩ nuốt năm cây của nó dễ đâu. Nó có thể nhốt mình lại chờ cho chuyến của nó ra khơi mới thả. Hoặc băm xác mình như xíu mại, liệng xuống hầm cầu dội nước cho tiêu theo phân…

– Thôi ghê quá, mày? Đừng nói nữa. Có bao nhiêu bỏ ra đây mình ăn nhậu. Mai mình sẽ trúng mánh, tao với mày chia nhau.

– Vốn đâu nữa mà làm ăn?

– Vay vốn con Bokassa nhà tao, “xanh xít đít đui thôi, như bạn hàng chợ Tân Định.

Bokassa là cô gái lai da đen, con nuôi của bà mẹ vợ Sao Biển. Vì là da đen nên Sao Biển phong cho nó chức vị công chúa Bokassa, con gái hoàng đế Bokassa, vua kim cương, đá quí ở châu Phi.

Buổi nhậu của tôi với Sao Biển tàn cuộc về đêm. Khi trăng treo đỉnh đầu.

Trên đường về, Sao Biển nói với tôi rằng đã tìm ra nơi có chiếc thuyền buồm bằng bạc. Có khắc chữ Sterling, bảo đảm “din”. Ngày mai trúng mánh đó tha hồ mà vẻ vang.

Đi qua cầu Bình Lợi, Sao Biển hỏi tôi có chán sống không. Hắn hỏi mượn tôi cái còng và quăng tòm luôn xuống sông.

Hắn nói:

– Tưởng mày chán sống thì khóa tay mày lại bằng cái còng gia bảo này quăng mày xuống luôn.

Tôi dựng tóc gáy.