Nguyễn Quý An, người bạn tù.

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

Mang cái túi xách tay, chỉ chứa đủ một bộ quần áo cũ, chiếc mùng nhà binh, khăn mặt, bàn chải răng và mấy gói mì con cua, tôi lội bộ từ nơi tạm trú, cư xá Trung Dũng, trại gia binh của ban Quân Nhạc và đơn vị phòng vệ Đô thành, gần cuối đường Hồng Thập Tự phía cầu Thị Nghè, đến trường Nguyễn Bá Tòng. Cánh cổng trường chỉ hé mở, một tên bộ đội đứng gác. Vào bên trong cũng hai hàng vệ binh, súng cầm tay, mũi súng gắn lưỡi lê chỉa xuống đất. Tôi hơi giật mình, bước đến trước mấy chiếc bàn xếp dọc dài giữa sân, bốn người mặc quân phục xanh lá cây, chừng là sĩ quan, trên cổ áo mang những ngôi sao vàng nền đỏ thẩm, những chiếc nón cối cũng màu xanh, đội sụp xuống che khuất cả chân mày, chỉ thấy những con mắt sòng sọc nhìn lên, ngó xuống. Họ ngồi thu giấy tờ. Người ngồi cuối ghi chép xong, y hất đầu như ra lệnh cho tôi đi vào theo lối có toán vệ binh đứng gác cách nhau một tầm tay giữa hai người. Tôi bước lên lầu hai theo chỉ dẫn. Tên bộ đội đứng đầu hành lang chỉ tôi vào một phòng học, bàn ghế đã được xếp chồng về một góc.

Hôm nay thứ Sáu, 13 tháng 6- 1975, còn những ba ngày nữa mới hết hạn “đi trình diện”, nhưng Phường Khóm đã đến tận nhà để nhắc nhở, thúc giục từ chiều hôm qua. Họ nói các anh không nên chậm trễ, không ai “đảm bảo” an ninh cho các anh, vì “nhân dân” đang căm thù các anh lắm, đi trình diện sớm để được “nhà nước cách mạng” bảo vệ!

Không biết họ “sắp đặt” nhân sự từ lúc nào mà chỉ mới hơn một tháng đã có ngay những kẻ thừa hành khá “chuẩn mực” cả trong ngôn ngữ mới, lạ?

Thôi thì đi “học tập” một tháng cho xong, để được cấp giấy tờ trở về quê, không còn con đường nào khác. Nhưng khi bước đi giữa hai hàng vệ binh lầm lì, đằng đằng sát khí, tôi cảm thấy có điều gì bất ổn. Tôi hối tiếc đã không nán trễ thêm môt ngày để dò xét tình thế. Tôi tiếc đã không nghe lời người bạn rủ trốn về miền Tây; vào đến đây thì mọi việc đã an bài! Tôi lại nhẩm tính cái vận hạn mười năm “Liêm, Tham, Kình Đà, Không, Khiếp…” của mình mà buông xuôi, thúc thủ mặc cho định mệnh!

Đã có mấy người vào trước đang ngồi tựa vách tường, im lặng, quay nhìn chào tôi, người mới tới, bằng ánh mắt. Cứ ít phút lại có thêm một người bước vào, nét mặt người nào trông cũng hốc hác, thất thần, thiếu ngủ. Khi sĩ số trong phòng đã hơn một tiểu đội, bắt đầu có nhiều tiếng thì thầm, hỏi nhau tin tức từ những nơi khác. Tin đồn về những đơn vị còn chiến đấu, không chịu buông súng. Mấy vị tướng, nhiều chiến sĩ, những quan chức đã tự sát, tậpthể, cá nhân hay cả gia đình. Có người kể lại vụ một sĩ quan Thiết giáp đã bắn vào đầu vợ và mấy đứa con rồi quay súng vào đầu mình tự sát ở cư xá Chí Hòa. Về sau nầy có người cho biết đó là anh Lê Văn Hồng, người bạn của tôi, cùng khóa 66A SVSQKH. Hồng không may bị loại phần khảo hạch quân sự nên đã vuột mất hoài bão “lướt gió tung mây”, từ ngày anh chuyển qua Bộ binh, tôi chưa một lần gặp lại anh, một người đẹp trai, hiền lành vui tính, anh có một giọng ca khá truyền cảm. Không ngờ một người như anh lại có hành động can trường như thế.

Cứ năm, mười phút lại có thêm người mới vào phòng. Phòng chỉ chứa trên hai chục mạng. Người cuối cùng vừa bước vào mặc bộ bà ba đen, mang hai cánh tay giả, mà bàn tay là là cái móc sắt trắng. Có người lên tiếng tuy nhỏ, nhưng ai cũng nghe, vẻ ái ngại:

-Thương phế binh đã đến lượt đâu mà anh vào đây sớm làm gì?
Anh cười, hồn nhiên:
-Phường khóm họ bảo đi thì mình cứ đi, chứ có biết gì đâu? Mấy ông “cách mạng” thì chưa nghe thấy nói gì, mà mấy ông “Ba mươi” ghê quá!
Anh nói tiếng Bắc, trông anh có vẻ điềm tĩnh. Mọi người đều cố nói chuyện với nhau thật khẽ. Những câu chuyện trao đổi rì rầm giữa các nhóm hai, ba người đứng hoặc ngồi trong căn phòng chật hẹp. Trong ánh mắt, nụ cười, mỗi người đều có những mối lo âu riêng về những ngày sắp tới. Chẳng ai buồn hỏi tên tuổi mà chỉ hỏi thăm nhau về binh chủng, đơn vị và ở đâu, làm gì trong những ngày cuối cùng. Trong phòng nầy có tới năm mạng Không quân: Một phi công F5 đã giải ngũ, về sau nầy mới biết tên anh là Lưu Tùng Cương, người mất hai cánh tay là Nguyễn Quý An, Phi đoàn 219 Lôi Hổ, Bùi Văn Thời, Phi đoàn quan sát. Anh Hảo sĩ quan không phi hành và tôi.

Trời mới hơi xế chiều, Những người mới vào ngang qua hành lang để đến những phòng kế thưa dần. Một tên bộ đội vào phòng đọc lại danh sách, chỉ định tổ trưởng, đội trưởng. Rồi hắn đọc mấy điều “nội quy” và dặn tới giờ ăn thì đội trưởng, tổ trưởng cử người xuống sân lấy phần cơm lên chia nhau.

Trong thông báo nói cơm nước đặt nhà hàng của khách sạn cung cấp, nay chỉ thấy phát một chậu cơm chưa chín đều và thau cá ngừ kho với nước muối còn mùi tanh tưởi. Mọi người cố nuốt cho qua bữa với nỗi chán chường, ngán ngẫm. Tôi để ý thấy An tháo hai cánh tay giả dựa vào tường, đặt tô cơm trên túi xách cá nhân, anh dùng hai phần cánh tay còn lại kẹp chặt chiếc thìa xúc cơm ăn, không mấy khó khăn. Ăn xong anh lần bao thuốc lá Quân Tiếp Vụ trong túi áo ra, ngắm hình người lính ôm súng lao tới trên nền cờ vàng sọc đỏ, một thoáng tư lự, anh lắc nhẹ bao thuốc rồi đưa một điếu lên môi. Anh lại lần hộp quẹt zippo trong túi áo ra, anh giữ chặt giữa hai cùi tay lắc mạch cho bật nắp rồi kẹp giữa hai đầu gối, dùng đầu cánh tay bật bánh xe và giữ chặt vị trí giữ ngọn lửa để mồi thuốc. Xong anh buông bánh xe, ngọn lửa tắt, anh lắc ngược trở lại đậy nắp cho vào túi. Những động tác chậm rãi, nhưng đều đặn, nhịp nhàng, quen thuộc.

Tối đến, mọi người đi ngủ sớm. Tôi thấy An kéo mùng ra, đứng tìm vị trí để treo. Tôi giúp anh mắc một đầu, rồi căng mùng nằm cạnh đó. Nằm trằn trọc mãi, một lúc đã có nhiều tiếng ngáy lớn, nhỏ. Cũng có người còn thao thức, thở dài.

Những ngày thứ hai, thứ ba, sự lo lắng sợ sệt của ngày đầu nơi mọi người đã vơi bớt, nhưng thời gian trôi đi quá chậm. Những đợt người tiếp tục đi vào dưới sân trường. Nội quy không ai được đi ra khỏi phòng, ngoại trừ đi vào nhà vệ sinh gần đó. Vài người ngồi gần cửa hay đứng lấp ló để ngóng tìm người quen mới vào, đi ngang qua ngoài hành lang.

Đội trưởng và mấy tổ trưởng được chỉ thị lập danh sách “trích ngang”, thu tiền ăn của tổ viên đóng góp như đã quy định trên thông cáo, tiền ăn một tháng! Ai nấy chẳng có việc gì ngồi tụm năm tụm ba hút thuốc, kể đủ thứ chuyện cho qua ngày giờ.

Một người hỏi An về trường hợp của anh. Trước đây giữa cuộc chiến dầu sôi lửa bỏng, nhiều câu chuyện bi hùng của nhiều đơn vị, cá nhân… không phải ai ai cũng biết hết, có khi chỉ nghe biết loáng thoáng rồi lắng chìm, lãng quên theo tình hình sôi bỏng từng ngày. Nay có thì giờ vô tích sự, ngồi nghe một nhân chứng cũng chính là người trong cuộc kể lại nhiều chi tiết sống động gian nguy và quả cảm trong những phi vụ rải và đón biệt kích.

Người phi công khu trục được tiếng oai hùng, dù ai chẳng may lãnh đạn phòng không của địch, thì trước khi “đi không ai tìm xác rơi”, ít nhất anh cũng đã dội lên đầu thù những trái bom nặng ký. Người phi công Lôi Hổ chiến đấu âm thầm, nhận nhiều hơn cho. Vài cây đại liên trang bị trên phi cơ không đủ làm cho địch quân tán loạn, mà chỉ để được đáp trả bằng những loạt đạn đủ loại bắn lên từ những hang núi hóc rừng, khi chiếc H34 cồng kềnh phải đáp xuống trong những điều kiện vô cùng khó khăn, nguy hiểm.

Những chiến sĩ biệt kích gan lì, chiến đấu rất cô đơn, mỗi toán hai, ba người giữa núi rừng trùng điệp, quân thù vây bọc tứ bề, không những phải gan dạ mà còn phải mưu trí và biết ứng biến trong từng giây phút. An kể chuyện tự nhiên và sống động, đôi khi anh ngưng lại với vẻ cảm xúc mỗi lần nhắc tới một đồng đội, một phi hành đoàn phải hy sinh hay bị địch bắt giữ mà không có cách nào cứu được, những chiến hữu biệt kích có đi mà không trở về.

Anh kể lại phi vụ cuối cùng, chiếc H34 anh lái bị bắn cháy ở cao độ, con tàu như bó đuốc lao xuống từ trên cao, anh ráng bình tĩnh đáp khẩn cấp xuống chỗ trống, mỗi một tích tắc là một nỗi chết đau đớn kinh hoàng, anh cố cứu lấy phi hành đoàn; nhưng khi đáp xuống an toàn, anh xô cửa nhảy ra khỏi phi cơ thì không nhìn thấy người phi công phụ, anh lăn nhiều vòng cho dập tắt ngọn lửa  phủ quanh người, rồi anh cũng bất tỉnh.

Tôi hỏi anh người phi công phụ là ai? Anh nói Nguyễn Hải Lộc, người Huế, có quen không? Tôi nói Lộc khóa 65 E, hồi đó ở Tân Sơn Nhất tôi có biết tin anh ấy bị bắn rơi máy bay và tử thương nay nghe anh kể lại mới rõ chuyện. Anh nói có lẽ Lộc nhảy ra trước khi phi cơ chạm mặt đất và chạy trốn vào bụi rậm, rồi đuối sức và bất tỉnh, nên khi toán cấp cứu đến thì không tìm thấy.

Tôi hỏi về trường hợp anh đã cứu một phi hành đoàn Mỹ ngộ nạn mà báo chí từng đề cập. Anh kể lại từng chi tiết, nghe xong mới thấy anh là tay gan lì, quyết đoán và đầy tình người. Tôi nói:

-Nghe kể cũng đủ lạnh cẳng, anh liều lĩnh thật!

Anh cười:

-Chỉ là phản ứng tự nhiên, khi cất cánh lên an toàn rồi, nghĩ lại cũng giật mình chứ!

*

Đêm thứ ba, khi tôi vừa chợp mắt thì nghe có tiếng xe ầm ỳ trên đường phía trước cổng trường, tiếng chân người đi lại ngoài hành lang, vài người ngồi dậy trong mùng nghe ngóng. Có người bước vào phòng bật đèn lên và ra lệnh:

-Tất cả dậy thu xếp tư trang, chuẩn bị sẵn sàng “cơ động!”

Lạ tai về hai tiếng “cơ động” nhưng tất cả mọi người đều ngầm hiểu và nhất loạt nhỏm thu xếp chăn mùng, nhanh gọn cho vào túi xách. Không ai nói tiếng nào, chỉ có tiếng động sột soạt, càng làm tiếng xe bên ngoài rộn ràng thêm lên giữa đêm khuya. Thu xếp xong chỉ trong vòng mấy phút, tôi quay lại tính phụ giúp An thì anh đã ngồi trên ba lô gần lối cửa.

Lúc xếp hàng xuống sân để ra xe giữa hai hàng vệ binh súng ống lăm lăm cầm tay, tôi cố ý đi gần An để giúp anh khi cần, nhưng anh đã đứng cách sáu, bảy người phía trước. Ra tới đường, mọi người lần lượt lên xe, những chiếc Motolova phủ kín trần, ngồi bó gối chật ních giữa sàn xe, nhiều tiếng thở dài lo lắng, có tiếng xì xầm bàn tán, hoang mang chẳng hiểu chúng nó đem mình đi đâu giữa đêm khuya?

Tôi định nói vào tai mấy người ngồi cạnh phải cảnh giác trường hợp Tết Mâu Thân để đối phó nếu có chuyện bất trắc xẩy ra, nhưng hai tên vệ binh đã nhảy lên chống súng ngồi hai bên thành cửa xe phía sau và hai tên khác trên đầu xe, phía bên ngoài.

Đoàn xe lần lượt chuyển bánh qua những con đường phố khuya im lìm, ánh điện vàng vọt, ra xa lộ về hướng Long Khánh, rừng cao su hai bên tối om. Tôi cảm thấy bồn chồn lo lắng về hình ảnh Mậu Thân, miên man nghĩ cách đối phó nếu tình huống xấu xẩy ra. Rồi tôi lại tự trấn an là trường hợp sẽ xẩy ra như thế nếu Mỹ quay trở lại dưới bất cứ hình thức nào, ném bom hay đổ quân. Nhưng rồi tôi tin chắc là không đời nào! Những lực lượng nhỏ, lẻ tẻ còn kháng cự không đủ sức làm chúng sợ để phải tiêu diệt ngay những kẻ đang ở trong tay.

Đêm càng về khuya khí hậu rừng lạnh lẽo. Đoàn xe rẽ vào một doanh trại cũ thì trời vừa hừng sáng. Có người cho biết đây là căn cứ Long Giao của quân đội Mỹ đóng sau nầy đã bàn giao cho Trung đoàn X…Chúng tôi xuống xe, trời chưa sáng hẳn, sương xuống dày đặc, hơi lạnh buốt cóng chân tay. Chúng tôi được chỉ vào một căn nhà kho mái tôn, cao rộng, dấu vết hoang tàn, ẩm mốc…căn nhà chứa đủ bốn đội, non 120 người.

Trời sáng nhanh, chúng tôi dọn dẹp và phân chia chỗ nằm. Mỗi người đi lượm nhặt những tấm ván ép, giấy carton cũ, bao cát để kê lót chỗ nằm của mình. Căn nhà được gọi là “láng”, Bác sĩ Cẩm được cán bộ chỉ định làm “láng trưởng”, Bs Cẩm là Trung tá Quân y , Chỉ huy trưởng Quân y viện Quy Nhơn, dáng người ông cao lớn, chừng ngoài bốn mươi, tư cách chững chạc, trước mặt bọn cán bộ ông không tỏ vẻ khúm núm, sợ sệt như một vài người. Trước mặt anh em, những lần tập họp điểm danh, chia công tác, trong khi chờ tên cán bộ đến, ông luôn ôn tồn khuyên nhủ và an ủi mọi người cũng là cách tự trấn an mình. Lời lẽ của ông khá khôn khéo để anh em đồng cảnh không buồn lòng và bọn chúng có nghe được cũng khó bắt bẻ, gán tôi.

Chỉ mới có mấy ngày ở đây mà đã cảm thấy không khí tù túng, ngột ngạt, lâu dài. Lao động là làm những công việc tạp dịch lặt vặt, dọn dẹp cỏ rác trong doanh trại, sửa sang lại những hàng rào kẽm gai, những con đường đất đỏ bị xói mòn qua mùa mưa trước. Ai cũng trông đến ngày được “học tập” cho xong để được về nhà sớm!

An đáng lẽ được miễn lao động, nhưng anh vẫn đi theo anh em, anh nói:

-Đi làm với anh em cho vui, ngồi nhà cũng buồn. Hơn nữa thấy anh em phơi nắng, dầm mưa mình cũng thấy áy náy.

Không cản được, mọi người cũng chiều theo ý của anh.. Chỉ khi nào công việc quá nặng nhọc, hoặc những buổi chiều nắng gay gắt, nhiều người mới khuyên anh ở nhà giúp dọn dẹp vặt vãnh, tới giờ đi nhận phần cơm trước cho tổ, đội.

Mới ba tuần lễ mà thời gian như cả mấy tháng, nhiều người nôn nóng, trông đợi ngày giờ được “học tập!”

Thế rồi ngày đó cũng đến! Căn “láng” chúng tôi đang ở phải giải tỏa để dùng làm hội trường. Các đội được phân tán vào những nhà khác. Đội của tôi có hai tổ dọn qua căn nhà tôn mới dựng bên kia nhà bếp và giếng nước, còn một tổ ở chung nhà với đội bên cạnh. An và tôi thuộc tổ I, bên trái. Anh muốn nằm đầu bìa cho tiện việc treo mùng và đứng lên ngồi xuống dễ dàng, anh tổ trưởng cho tôi nằm kế An để giúp anh khi cần. Mặc dù mọi người trong tổ, đội lúc nào cũng sẵn sàng muốn giúp anh bất cứ việc gì, nhưng tính anh rất tự trọng, đầy nghị lực và nhẫn nại, anh nói cứ để anh làm lấy cho quen, nhờ vả hoài sẽ trở nên ỷ lại và lười nhác.

Đối với tôi, An là khóa đàn anh xa nên tôi vẫn tôn trọng trong cư xử, trái lại anh nói: “Mình cũng sàng sàng, xấp xỉ nhau cả, cứ coi như bạn bè cùng lứa.”

Nằm kế tôi là ông Lô Hồng Chân, tổ trưởng tổ I, đến ông Sen Sao Khao, đội trưởng, cả hai là sĩ quan Thanh tra thuộc Bộ Tổng Tham Mưu gốc người Nùng, tính tình bộc trực, hiền lành chất phát. Tổ II nằm phía đối diện, anh Hảo là tổ trưởng, nằm cạnh Hảo là anh Lưu Tùng Cương, trước An mấy khóa, trông anh rất trẻ, hiền lành vui tính và ít nói.

Chuyện trông đợi rồi cũng đến, những buổi sáng tập trung một nửa trại lên hội trường để “học tập” gọi là “lên lớp”, nửa trại còn lại có “lớp” buổi chiều. Những cán bộ thuyết trình “giảng dạy” gọi là “giáo viên”, những người nầy nói năng trơn tru, lớp lang, mạch lạc , thuộc lòng, nhắm đúng tâm lý những người thua cuộc đang hoang mang lo lắng, nên ai cũng cảm thấy nhẹ nhõm, yên lòng.

Trong thời gian “học tập” được gia tăng phần ăn lên một chút, có nhiều bữa ăn mỗi người được chia một mẫu thịt bằng đầu ngón tay cái, làm cho ai nấy cũng thấy “phấn khởi”. Ai có đem theo tiền được cho “đăng ký” (lập danh sách) rồi đội trưởng đi theo cán bộ ra “căn tin” (câu lạc bộ, cửa hàng nhu yếu phẩm) của trại để mua đem về phân chia: đường sữa, thuốc lá…

Sau những buổi sáng “lên lớp” ở hội trường, những buổi chiều phải ngồi “thảo luận” từng tổ 15 người, anh em gọi là “ngồi đồng!” Thảo luận “bài học” buổi sáng, chung quanh những câu hỏi đã được hướng dẫn sau mỗi buổi học, một viên cán bộ “chính huấn” đến ngồi theo dõi suốt buổi. Một vài người khai mào “phát biểu”, rồi ai cũng phải “cố gắng” phát biểu, cho lấy có, tên cán bộ như soi rõ tâm lý đám “học viên”:

-Các anh phát biểu thì phải cho “sâu, sát”, nghĩa là các anh phải thấy rõ “bản chất của Đế quốc Mỹ là xâm lược”, “ngụy quyền Sài Gòn là tay sai”, mà các anh là thành phần cao cấp trong chế độ, được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi. Các anh đừng có phát biểu chung chung mà phải “động não”, phải “xoáy sâu vấn đề”: đảng CSVN đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là đỉnh cao trí tuệ của loài người, Bác đã lãnh đạo đảng và nhân dân đi từ thắng lợi nầy đến thắng lợi khác, đã chiến thắng ba Đế quốc to là Pháp, Nhật, sừng sỏ nhất là Đế quốc Mỹ. Vì vậy, các anh phải thấy được thời đại Hồ Chí Minh là thời đại vẻ vang nhất trong lịch sử Việt Nam.

Mới “học tập” được vài bài mà tinh thần ai nấy quá căng thẳng, lúc nầy mới thấy đi lao động “khỏe hơn”, nắng mưa nhọc nhằn một chút nhưng không cảm thấy nhức đầu buốt óc, nghe những lời rêu rao nhân nghĩa giả dối đầu môi, ép buộc người thất thế phải tự kết tội, phải tự xỉ vả mình, đồng cảnh phải tố cáo lẫn nhau!

Thế rồi mười bài học cũng trôi qua. Có người còn lạc quan rằng “học” xong sẽ “mãn khóa”. Lại có kẻ loan tin đã dựng xong lễ đài mãn khóa ở trại Sóng Thần. Nhiều đêm nghe tiếng đoàn xe di chuyển đâu phía ngoài đường lộ, có người nhỏm dậy kêu lên “Xe tới rồi anh em ơi!” Làm nhiều người choàng tỉnh dậy theo, có lần tôi buôt miệng:

-Ngủ đi mấy cha nội ơi! Phải “học” thêm năm, mười năm nữa, không phải một hai tháng đâu mà bật rật!

 Nằm trong mùng anh Viễn lên tiếng mắng vốn:

-Cha nào miệng ăn mắm, ăn muối nói bậy bạ, xui quẩy!

Lại có người phụ họa, như trút tức bực:

-Đúng là thối mồm!

Tôi im luôn, chính tôi cũng giật mình khi nói ra ý nghĩ thầm kín mà sau nhiều ngày nghiền ngẫm lá số Tử vi của một số người mới quen biết khi vào đây trong. Suy đoán từ cộng nghiệp của một nhóm nhỏ nằm trong tập thể lớn. Tôi cũng mong rằng điều tôi nghĩ là không đúng, lời tôi nói là sai bậy! Nhưng sau mấy lần chuyển trại, nhiều người vẫn còn đi chung với nhau, khi lên Bù Gia Mập, ra Xuân Phước… như anh Phạm Đức Vui, anh Hồ Viết Viễn, đôi khi còn nhắc chuyện cũ để nửa đùa, nửa thật: “Cũng tại chú mầy nói nói bậy mà mình ở tù lâu!”

Sau những buổi “lên lớp” rồi về tổ, đội “đào sâu thảo luận” từng “bài học”, ít hay nhiều ai cũng phải “thấm nhuần đường lối chính sách của Cách mạng”:

-Bây giờ các anh đã thấy rõ tội lỗi của các anh đối với nhân dân và “cách mạng!”  Nay các anh đã được đảng và nhân dân khoan hồng mà tha cho tội chết; vì vậy mà các anh phải biết ăn năn hối cải, phấn đấu học tập rèn luyện để sớm trở thành người công dân tốt trong xã hội mới, để sớm được trở về sum họp với gia đình! Bước đầu sự tiến bộ của các anh sẽ được đánh giá trong “Bản tự khai”.  Các anh phải khai báo cho thành thật với “cách mạng”, như vậy các anh mới mong sớm “giác ngộ” mà về đoàn tụ với vợ con được!

Đó là lời tên chính huấn nói sau khi hết bài học cuối cùng! Tôi mơ hồ chiếc bánh vẽ đang treo lên tường! Buổi “lên lớp” tổng kết để chấm dứt mười “bài học”, để giáo viên hướng dẫn cách “tự khai” từng đề mục, từng chi tiết và giải đáp mọi thắc mắc của “học viên!

Tan lớp, về tổ đội từng người phải “động não” mà khai báo sao cho “tốt!”

Giữa năm 1972 (hay 1973?) tôi được Phi đoàn sắp xếp đi học một khóa “Mưu sinh và thoát hiểm” ở Trung tâm huấn luyện Không Quân Nha Trang, giảng viên thuyết trình về “kinh nghiệm khi rơi vào tay kẻ địch và cách khai báo” với Việt Cộng. Vị giảng viên nầy là một phi công trực thăng bị VC bắn hạ, bắt giam và được thả về trong đợt trao trả tù binh. Anh cho biết nếu chẳng may rơi vào tay chúng, ban đầu chúng sẽ ngọt ngào phủ dụ cho mình thành khẩn khai thật, khai hết, chúng sẽ bắt khai đi khai lại nhiều lần để so sánh, đối chiếu. Theo kinh nghiệm của anh thì chỉ nên khai những gì cần khai cho dễ nhớ, những gì giấu được thì bỏ qua, khai thêm, khai bớt hoặc khai trước sau bất nhất chúng sẽ truy vấn đến khổ sở, dù chúng dụ ngọt hay hăm dọa cũng đừng tin, đừng sợ mà phải tỉnh táo giữ vững lập trường. Với hai tiếng đồng hồ, anh trình bày rất nhiều kinh nghiệm trong thời gian anh bị bắt làm tù binh CS, không hiểu sao tôi lại chú ý và ghi nhớ kỷ chuyện “khai báo?”

Tôi cũng kín đáo truyền đạt lại kinh nghiệm nầy cho nhiều người, trừ một vài người tỏ ra “quá tiến bộ” trong “học tập” qua những lần “phát biểu” tự tố cáo mình và tố cáo đồng cảnh một cách hăng say, cuồng nhiệt! Chẳng phải ích kỷ mà chỉ ngại những người nầy đem ra phê bình trước tổ, ngay cả khi có mặt bọn cán bộ thì nguy hiểm!

Đến giờ khai báo, người nào người nấy ngồi im lặng, suy tư rồi cắm cúi viết. An lấy tấm ván nhỏ kê lên hai thùng đạn (loại hộp chứa đạn có nắp kín, dung tích chừng ba, bốn lít, người nào cũng nhặt một hai cái để đựng thức ăn, làm ghế ngồi, đem theo những lần chuyển trại cho đến khi bọn cai tù là công an thì chúng tịch thu hết!) anh kẹp cây bút giữa hai phần cánh tay còn lại để viết, tên cán bộ đi vào nhìn thấy cũng tỏ vẻ ngạc nhiên.

Gần hết giờ quy định cho việc khai bản nháp, tên cán bộ phụ trách đột ngột xuống kiểm tra và gom thu tất cả, kể cả những mảnh giấy ghi chép ngoài, hắn nhặt luôn tất cả những mẫu giấy lớn, nhỏ mà nhiều người vò vứt dưới nền nhà. Hắn bảo các anh được nghỉ ngơi đến sáng mai khai lại và viết sạch sẽ trên mẫu giấy do trại phân phát. Nhiều người không kịp cất giấu mẫu giấy ghi tóm lược những điểm chính để khai lại lần sau như tôi đã chỉ mánh. Trước khi viết bản để nộp may tôi đã đề phòng, cảnh giác nên viết hai mẫu dàn bài tóm tắt và cất đi một bản.

Lúc nầy tôi mới thấy sự ích lợi thiết thực của khóa học “Mưu sinh và thoát hiểm”. Tôi thầm cám ơn chiến hữu Trung úy phi công Trực thăng là vị giảng viên của khóa học, tôi hy vọng và thầm cầu mong anh được may mắn, không lâm nạn lần thứ hai, trong lúc nầy.

Hôm sau, trại phát mẫu giấy “Bản tự khai” để mọi người viết lại, rồi những ngày kết tiếp là những buổi “ngồi đồng” căng thẳng để “kiểm điểm: phê và tự phê” bản tự khai của từng người. Mỗi người lần lượt đọc bản tự khai của mình, những người khác trong “tổ học tập” nêu câu hỏi thắc mắc xem đương sự đã khai đúng, khai đủ, khai thành thật chưa? Có những điểm nào không rõ ràng, chưa thành khẩn thì mọi người phải “góp ý phê bình giúp đỡ” để đương sự phải “nhận sai sót khuyết điểm” mà khai lại cho đúng.

Tên cán bộ ngồi theo dõi thấy chúng tôi có vẻ miễn cưỡng đặt câu hỏi chung chung, vô tội vạ, không cố ý “đấu tố” nhau, hắn gay gắt: “Các anh còn tiêu cực, bao che tội lỗi cho nhau, chưa mạnh dạn nhìn nhận tội lỗi của mình, cũng như chưa thẳng thắn phê bình, giúp đỡ cho người khác thấy! Như thế thì các anh làm sao mà mong tiến bộ được”

Được kích động, vài người bắt đầu đào sâu, tìm cách để “tố” đồng cảnh, hoặc tự phê rằng mình còn khai thiếu sót, tự che giấu. Tên tên cán bộ tỏ vẻ hài lòng:

-Đấy! Các anh phải mạnh mẽ phê và tự phê như vậy. Nhưng đó cũng mới chỉ là bước đầu có tiến bộ, các anh phải mạnh dạn hơn nữa! Các anh còn tự giấu diếm và bao che cho nhau nhiều lắm.

Nghe kể ở những tổ khác có người còn tự bịa ra rằng trong những cuộc hành quân đã đốt bao nhiêu nhà, bắn chết bao nhiêu “cách mạng”, được cán bộ khen là rất thành khẩn! Có một người còn đấu tố rất hăng vị chỉ huy trực tiếp của mình cũng đang ở trong trại nầy!

Những người thân thiết, tín cẩn trong tổ “học tập” của tôi vẫn ngầm bảo nhau nhất định ù lì không mắc mưu và đừng quá sợ hãi vì những lời dụ dỗ, răn đe của bọn chúng, giữ một lập trường “phát biểu chung chung!” Rồi cũng qua, “kiểm điểm bản tự khai” của người cuối cùng trong tổ xong, tên cán bộ phụ trách thu hết bản tự khai và phát bản mới bắt viết lại với lời dặn “Lần nầy là lần chót, các anh phải khai cho đúng, khai thật, khai hết!”

Tôi nhủ thầm “Ừ! Thì khai hết! Trước sau như một!”

Càng ở lâu trong nhà tù CS mới thấy sự thâm hiểm của chúng về Mười bài học nhồi sọ, bước đầu khủng bố tinh thần trước khi chúng khéo léo vừa khuyến dụ vừa đe dọa người tù phải “thành khẩn khai báo: khai thật, khai hết!” Để rồi “Bản tự khai” là bản cáo trạng mà từng người tù phải tự kết tội cho chính mình, thậm chí là một bản án tử hình, một khi bọn cai tù cần đến mà tòa án “nhân dân” của chúng khỏi mất công soạn thảo!

 Như sau nầy, chỉ một thời gian ngắn sau khi học tập khai báo xong, chuyển trại lên Suối Máu-Tân Hiệp, ngày xử án hai người vượt ngục là anh Tư và anh Bé, công tố chỉ cần đem “bản tự khai” của hai anh ra đọc rồi đúc kết:

 “Đấy! Tội ác của các anh đối với cách mạng, đối với tổ quốc và nhân dân do chính các anh khai báo, nay các anh không chịu yên tâm học tập để nhận được sự khoan hồng của đảng và nhân dân, các anh còn âm mưu trốn ra ngoài để tiếp tục chống phá cách mạng, nhưng cách mạng vẫn luôn đối xử nhân đạo với các anh, giúp các anh không tiếp tục gây thêm tội ác đối với nhân dân nữa bằng cách tuyên án “Tử hình!”

Ngay lập tức, toán thi hành án xông lên, nhét trái chanh vào mồm hai tử tội và lôi nạn nhân ra pháp trường, không chậm trễ.

Bản tự khai cũng chính là trọng lượng nặng nhẹ của từng người để xếp loại và chuyển trại thích hợp cho việc cai quản, hoặc để tiện việc “xét tha” sau nầy.

“Học tập và khai báo” xong, tinh thần bớt căng thẳng. Tiếp tục những công việc dọn dẹp quanh trại. Những buổi rảnh rỗi, An nhặt miếng sắt mỏng đem mài thành lưỡi dao để sử dụng lặt vặt, nhiều anh em bắt chước làm theo. Một tên cán bộ tình cờ trông thấy, hắn ra lệnh đem nộp và cấm tiếp tục. Nhiều người chế dụng cụ đào hà thủ ô, nấu nước uống, có người lấy được nhiều phơi khô dể dành, tính nay mai đem về làm quà!

Một ngày Chủ nhật nghỉ, anh Lưu Tùng Cương và tôi tìm thấy dây khoai mài gần gò mối ngoài bãi đất trống, anh và tôi thay nhau đào xuống sâu bốn mét, hơn ba ký củ, cả hai tổ góp đường nấu chè.

Vào một buổi sáng “lao động xã hội chủ nghĩa” ngày Chủ nhật, thấy có một phái đoàn “cấp cao” ở đâu tới “kiểm tra”, họ dừng lại gần tổ chúng tôi, thấy An đang phụ với anh tổ trưởng kéo chùm kẽm gai, một người chỉ trỏ và nói gì đó với mấy người kia, một người lấy giấy bút ra ghi chép. Thế là anh em lại bàn tán, có người nói “Chắc là An được cho về, trước khi bọn mình mãn khóa!”

Quả nhiên, ít hôm sau, An được gọi lên ban chỉ huy trại để “làm việc”. Anh được thông báo sẽ được cho về. Ai cũng mừng, phần thì mừng cho anh, phần thì hy vọng cũng sẽ đến lượt mình.

Trong mấy ngày An làm thủ tục chờ đợi, nhiều người đọc địa chỉ của mình nhờ anh về Sài Gòn nhắn tin, không ai dám ghi lên giấy. Tôi cũng nhờ anh về nhắn với người em chú bác ở cư xá Vĩnh Hội. Lúc anh đi, tôi chào và nhắc “nhớ giúp nghe”, thế là anh đọc đúng tên người và địa chỉ mà tôi đã nói với anh mấy hôm trước. Tuy nhiên tôi vẫn nghĩ bụng, về Sài Gòn, có lẽ bận rộn công việc, anh không thể nhớ hết từng ấy địa chỉ của nhiều người, hơn nữa thời buổi nầy đi lại cũng khó khăn, nên tôi cũng không hy vọng và thấy cũng chẳng có gì quan trọng, chỉ muốn nhắn cho người nhà biết tin để yên tâm, thế thôi!

Vậy mà, gần bảy năm sau, khi tôi về thì người em nhắc lại  “Hồi anh đi được hơn ba tháng, có một ông đi xe đạp với hai cánh tay giả tới đây nhắn tin, anh ấy nói là ở cùng chỗ với anh mới được cho về trước.” Tôi càng thêm thán phục trí nhớ và thiện chí của An.

 Trước khi về, An để lại cho tôi tấm nylon mà trại phát làm chiếu nằm, thứ nylon dệt sợi để may bao cát, tôi đem theo lúc chuyển lên trại Suối Máu, tháo rời cả hai tấm rồi xe sợi, đan đủ một chiếc võng, tôi đã mang theo nhiều trại qua những năm tháng sau nầy. Mắc võng nằm những buổi chiều ở rừng Bù Gia Mập, những buổi trưa nắng ở Bù Đăng…lại chợt nhớ tới An, chẳng biết tình cảnh của anh ra sao bên ngoài cái xã hội khốn khó nầy?

Hết hạn, rồi tôi cũng được thả về! Từ Xuân Phước ghé Nha Trang hai ngày tôi về tạm trú ở Vĩnh Hội mấy hôm nữa và xuống Giá Rai, Bạc Liêu, gia đình nhà vợ đang tạm cư ở đó

Gần một năm khó sống với bọn VC địa phương quá hung hăng hắc ám, tôi bỏ trốn khỏi Giá Rai- Bạc Liêu về vùng kinh tế mới Xuyên Mộc. Một lần tôi lên Sài Gòn, gặp anh Nguyễn Bá Cầu đang làm thợ sửa đồng hồ trên lề đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận, anh Cầu thuộc Phi đoàn 120 cũng cùng khóa với An, ở chung tổ đội với tôi ngoài Xuân Phước, anh về trước tôi một năm. Tôi hỏi địa chỉ An nhưng anh không biết. Anh nói chỉ gặp An có một lần lúc đó An đang làm “gia công” thợ bạc gần dưới Ngã Bảy, nhưng lần sau anh ghé lại thì An đã nghỉ việc.

Mãi về sau tôi gặp Xuân mới biết địa chỉ An, anh Phạm Ngọc Xuân cùng khóa và cùng Phi đoàn với An. Xuân cho hay:

-Hắn đóng tàu vượt biên hai lần nhưng thất bại!

Tôi hỏi:

-An cũng tổ chức vượt biên nữa à?

-Hắn tự đóng tàu lấy mới đáng nói chứ!

Tôi trố mắt khâm phục, nhưng không mấy ngạc nhiên về tài năng và ý chí của An.

*

Tôi dẫn xe đạp đi vào con hẽm 322 đường Trần Bình Trọng, địa chỉ mà Xuân cho. Tôi bấm chuông và nhìn vào khoảng sân không tới sáu mét vuông. Một giàn lan treo lủng lẳng, nhiều chậu lan và bonsai xếp hàng vòng quanh chân tường. Có tiếng chân, An bước ra mở cửa, anh cười:

-Để nhớ xem, Ân phải không?

-Tôi chịu thua trí nhớ của anh! Mười mấy năm rồi chứ ít chi. Thấy anh cũng không thay đổi gì mấy.

-Già nhiều đấy chứ không thay đổi sao được.

-Tóc chưa có sợi bạc là chưa già.

Tôi theo An vào nhà, anh mời tôi ngồi và anh đi thẳng ra phía sau. Anh mang nước trở ra. Tôi đứng dậy đỡ lấy và cùng ngồi xuống. Anh nhấc bao thuốc lá trên bàn, lắc một điếu đưa lên môi, vừa nói:

-Hồi ở Long Giao tôi nhớ hình như bạn không hút thuốc, sau nầy có hút không, làm một điếu cho vui.

-Dạo sau tôi có thử thuốc lào, nhưng bị say ngã té nên bỏ luôn.

An chậm rãi lấy hộp quẹt lên, cũng những động tác bật lửa như ngày trước, ngày đầu tiên ở trường Nguyễn Bá Tòng.

Những câu chuyện vãn mười mấy năm không thể nào kể hết. Tôi hỏi và anh kể rõ về hai lần anh tự tay đóng tàu vượt biên, những nguyên nhân không thành công. Anh nói hiện nay anh đang trồng lan, anh đứng dậy bảo tôi ra xem cho biết.

Anh giải thích về đặc tính và giá trị của từng loại lan. Anh giảng giải về phương pháp lai giống. Tôi chẳng có chút kiến thức gì về lan nên cũng chỉ nghe như vịt nghe sấm.

Tôi nói:

-Tôi cũng thích cây kiểng nhưng không kiên nhẫn và tỉ mỉ như anh được.

Anh nói:

-Nếu để ý nghiên cứu và chịu khó lúc ban đầu thôi, chẳng khó khăn gì đâu. Bạn ở dưới Xuyên Mộc, khí hậu rất thích hợp. Rừng dưới đó cũng có nhiều giống lan quý hiếm. Nghề trồng lan ở Sài Gòn cũng sống được lắm.

Anh kể tên vài loại lan ở rừng Xuyên Mộc, tôi nghe xong rồi cũng không nhớ. Anh hứa sẽ kiếm cho tôi tài liệu để nghiên cứu và thực hành.

Quay vào nhà ngồi một lúc thì trời xế chiều, tôi xin phép cáo từ. Tôi nói biết nhà rồi, có dịp lên Sài Gòn tôi sẽ ghé chơi. Anh bảo tôi ngồi đợi anh một chút, rồi đi vào bên trong, tôi đoán anh vào lấy vật gì đó cho tôi, tôi đứng dậy nhìn bức tranh treo trên tường. Một lát anh trở ra, hai phần cánh tay kẹp xấp giấy bạc loại lớn nhất, anh nói:

-Bạn cầm lấy xài đỡ.

Tôi cố nén cơn xúc động. Tôi đỡ lấy xấp giấy bạc, vỗ vai anh và nói:

-Anh làm như vậy tôi sẽ không bao giờ trở lại đây nữa.Rất biết ơn anh, nhưng cho phép tôi được từ chối.Tôi ở dưới quê kinh tế mới nhưng cũng không đến nỗi nào đâu. Phải sống lam lũ bề ngoài để che mắt tụi nó thôi. Anh Xuân cũng thường giúp tôi, với Xuân thì tôi không từ chối.

Tôi cuộn xấp giấy bạc nhét vào túi áo anh, thấy anh có vẻ áy náy, tôi nói:

-Anh yên chí đi, hiểu tấm lòng của anh là quý rồi. Lẽ ra tôi phải giàu có mà giúp anh mới đúng.

Nghe tiếng ho, tôi hỏi An:

-Ai ở phía sau đó?

Anh nói:

-Bà cụ, mẹ tôi.

-Vậy mà anh không nói, cho tôi vào thăm bà cụ.

Anh dẫn tôi vào chào và hỏi thăm cụ. Bà đã ngoài chín mươi, nét phúc hậu quý phái, búi tóc bạc phơ, cụ đeo mắt kiếng và đang khâu vá, tai còn nghe rõ, cụ nói chỉ có đôi chân yếu nên đi đứng khó.

Tôi nói:

-Mẹ cháu cũng gần chín mươi, còn đi đứng được nhưng mắt thì yếu và tai không nghe rõ. Cụ còn được anh An ở bên, cháu không được may mắn như vậy.

Cụ an ủi:

-Mỗi người có một hoàn cảnh cháu ạ, thời buổi nầy ai ai cũng khổ cả cháu ơi.

Tôi cũng vâng dạ và chào cụ để ra về.

An tiễn tôi ra cổng.

* Gần một năm sau, tôi có công việc đi lên Sài Gòn.Tôi đạp xe đến nhà An, giữa trưa Sài Gòn oi nắng. Anh có sẵn cho tôi tập sách dạy trồng Lan và một tập tài liệu về Bonsai đánh máy, những hình vẽ đã được anh ghi chú nhiều chi tiết cặn kẽ. Có một chuyện hơi nguy hiểm, tôi định gợi ý nhờ anh giúp, nhưng tôi chần chừ đắn đo mãi. Rồi khi vào thăm bà cụ, khi nhìn hai phần cánh tay còn lại lúc anh ngã người sau ghế phà khói thuốc, trầm ngâm. Bất giác tôi thấy ái ngại tính thôi. Những câu chuyện cũ, mới… chung quanh đời sống, thế rồi tôi cũng kể câu chuyện với anh. Tôi nói tôi lên Sài Gòn lần nầy là để đưa một người bạn đi chữa bệnh, anh ta trước là Trung úy biệt phái Xây dựng nông thôn, sau mấy năm tù trở về anh vượt biên bằng đường bộ đến Thái Lan, ở trại tỵ nạn anh đã theo một tổ chức trở về “Phục quốc” từ Bắc Thái Lan qua ngả Lào, đến biên giới Lào -Việt, bị Việt Cộng phát giác truy đuổi, một số bị bắn chết, một số bị bắt, anh ta và một số ít trốn thoát về tới Miền Nam rồi phân tán mỗi người tự hòa nhập mỗi nơi để hoạt động. Anh ta lấy tên giả là Hoàng Đình, thường gọi là chú Tư, nhập “hộ khẩu” giả trong vai là anh vợ của một quân nhân Sư đoàn II Bộ binh trước đây, hiện ở kinh tế mới dưới Xuyên Mộc. Anh tìm đến tôi mời tham gia cộng tác, ban đầu tôi nghi ngờ có thể đây là tổ chức “Kháng chiến, Phục quốc” giả do VC tổ chức để giăng lưới, gài bẫy đánh lừa, nhưng sau một thời gian theo dõi, tìm hiểu, tôi tin  tổ chức của anh là “thật”. Nhưng tôi nhận thấy tổ chức nầy khó phát triển và khó vận động lôi kéo quần chúng, khó có thể hoạt động bền vững, lâu dài. Tôi hứa sẽ yểm trợ, giúp đỡ nhưng sẽ tham gia khi biết rõ tinh thần và bản lĩnh của nhóm lãnh đạo mà Tư hết lòng tin tưởng, ngợi khen. Ngoài những thời gian đi liên lạc, hoạt động tổ chức, Tư lao động ruộng rẫy với người “em rễ” giả, Mới đây, một hôm đang ngủ trong chòi rẫy giữa rừng, anh bị trúng gió, miệng méo xệch, tay trái bị tê liệt. Sợ lộ tung tích nên không thể vào các bệnh viện, tôi đưa anh lên Sài Gòn đi châm cứu “chui” ở cư xá Nguyễn Thiện Thuật, hiện tại tôi đang gởi anh ta tạm trú ở nhà một người bạn của tôi dưới Bà Quẹo.

Tôi hỏi An nếu thấy không trở ngại anh có thể giúp được gì cho anh ta như giới thiệu chỗ nào chữa bệnh tốt hơn, giúp ý kiến về phương cách hoạt động, giới thiệu những người có tâm huyết muốn tham gia hay yểm trợ, vì đây là một tổ chức “Phục Quốc thật”, không sợ bị lầm. An hứa sẽ giúp trong khả năng hạn chế của mình

Tôi cáo từ khi bóng nắng xuống thấp bên kia vách tường. Đến chào bà cụ, nhưng cụ đang ngủ. Tôi ôm theo hai tập sách anh cho. An chỉ lên tấm bằng “khen thưởng” mà anh đã đoạt giải nhất trong cuộc dự thi triển lãm của hội “Cây Cá Kiểng” vừa qua với giò Hồ Điệp. Tôi nói:

-Dân chơi lan ở đất Sài Gòn nầy toàn là bậc sư cả mà anh chiếm giải nhất thì xin bái phục.

Ra tới sân anh còn khoe với tôi giò Nghinh Xuân đang trổ hoa, “một loại lan chỉ trổ vào dịp Giáng Sinh cho đến Tết.” Anh giải thích.

Tôi lên xe đạp còn ngoái lại đưa tay vẫy chào anh lần nữa, rồi đạp xe loanh quanh những con đường phố bụi bặm với nỗi buồn trống trải.

*

Tôi đưa Tư đến giới thiệu với An, sau khi ra về tôi nói với Tư rằng An là một người có tâm chí tốt, nhưng hoàn cảnh của anh ấy thì như anh đã thấy, lại còn bà mẹ già trên chín mươi, cần thiết lắm mới nên đến nơi đó. Có chuyện gì xẩy ra là mình ân hận suốt đời. Tư nói rằng anh cũng suy nghĩ như tôi vậy.

*

Tháng Ba,1992 tôi đến Texas được vài ba tuần lễ thì gặp Sáu Đằng, bí danh của người “lãnh đạo” tổ chức Phục Quốc mà Tư đang hoạt động. Ông ta xuất thân từ Quốc gia Hành chánh, từng là Phó tỉnh trưởng nội an nhiều tỉnh ở Miền Nam, sau khi ra khỏi nhà tù CS ông đã vượt biên rồi đến Mỹ sớm. Qua hai lần diện kiến và nhiều lần nói chuyện, tôi đánh giá vị nầy không mấy có viễn kiến chính tri, thường chủ quan về thời cuộc, tâm chí tầm thường, tham vọng hạn hẹp, chỉ có thể thuyết phục nhân tâm một số người, đặt mục tiêu cao nhưng không xa, được chăng hay chớ, nếu thành công thì về chia chỗ ngồi, ghế lãnh tụ. Còn thất bại thì là kẻ dễ phủi tay, “đem con bỏ chợ!” Ai chết sống mặc ai!

Tôi định biên thư bóng gió gởi về cho Tư biết đôi phần. Nhưng chỉ vài tháng sau thì được tin Tư bị bắt tại nhà người bạn tôi ở Bà Quẹo, về sau nầy tôi được biết rằng bọn phản gián Hà Nội đã  lần ra dấu vết, chúng phối hợp với công an bảo vệ chính trị tỉnh Đồng Nai theo dõi anh từ Xuyên Mộc đến Sài Gòn.

Anh bạn tôi nhanh chân trốn thoát qua Nam Vang, tin chỉ có thế, thư từ gởi về Việt Nam đã chậm lại không thể hỏi rõ, công an bưu điện có thể mở bất cứ thư từ “nghi ngờ” nào gởi đến và đi để kiểm duyệt. Tôi không biết Tư có đến nhà An mấy lần, có bị chúng nó theo dõi không? Nếu có thì thật là nguy cho An. Nếu không, tôi tin tưởng Tư sẽ không hé môi khai báo thêm gì về An cả. Nỗi âu lo trong tôi kéo dài ngay cả lúc An được anh Nguyễn Quý Chấn và nhóm thân hữu vận động với chính phủ Hoa Kỳ qua một vị cựu Đại tá người Mỹ gốc Nhật để An được đi định cư. Anh Nguyễn Quý Chấn trước có ở Phi đoàn 417 Hỏa Long, cùng là Nguyễn Quý người Miền Bắc, nhưng hai anh không cùng họ hàng với nhau.

Hơn một năm sau, khi An đến Cali, tôi mới thở phào, nhẹ nhõm.

Ở tù thêm mấy năm, Tư mưu kế thoát khỏi ngục CS và trốn qua biên giới Thái Lào, rồi tiếp tục hoạt động trở lại. Tôi vẫn do dự, ngại nói rõ với Tư những nhận xét của tôi về tổ chức và lãnh đạo mà tôi đã gặp trực tiếp và đánh giá. Chần chờ mãi cho đến một ngày mọi tiên liệu của tôi đã trở thành sự thật. Thêm một lần tôi hối tiếc, tự trách mình thiếu quyết định dứt khoát sớm, làm hệ lụy đến cho nhiều người, ngay cả chính bản thân mình!

MAJ. Nguyen Quy An and his daughter, Kim Ngoc, are greeted by COL. Robert D. Phillips, vice commander, 60th Airlift Wing, on arrival at Travis AFB. An, a recipient of the Distinguished Flying Cross, risked his life by flying his CH-34 Sikorsky helicopter into the path of a UH-1H helicopter to force it to abort an unsafe landing on a field

Major Nguyen Quy An. Vietnamese KingBee Pilot. “We have to bring back all my friends.” Hundreds of missions in support of SOG. Shot down 4 times. Wounded. Double amputee. Communist prison camp. Another one of my heroes.

Vặn tới một giờ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 15/03/2019

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

 Nữ tiếp viên hàng không Air Canada đa số tuổi trên 40. Hết đẹp, tàn phai, tròn người, thôi dịu dàng. Và cho dẫu đấu tranh đòi bình quyền, trong lòng phi cơ, nam nhân cùng job vẫn nhiều hơn nữ giới. Quý bà mặc váy xanh nước biển chỉ chiếm một phần ba, ngực cài cánh chim sắt, cổ quàng chiếc khăn lụa màu đỏ ẩn chìm vô số chiếc lá phong, thứ biểu tượng riêng ngành hàng không Gia Nã Đại cầu chứng. Bây giờ leo vào máy bay, ít khi nhìn thấy một vài đoá hoa xuân thì lướt qua êm ái, dùng dằng sau lưng một mùi hương dịu ngọt bám gót.

Sử dụng phương tiện di chuyển đi mây về gió nhậm lẹ này đâu ai để tâm chiêm ngưỡng dáng ngọc, tôi mọc lên ý nghĩ quàng xiên nọ vì tôi đang nhớ tới Quỳnh Hoa, người bỏ tiền ra mua vé máy bay mời tôi “chịu khó” sang Mỹ chia sẻ niềm vui cùng cô khi vừa tìm ra một bến đậu. Một niềm vui quá đỗi bất ngờ, đáng hoài nghi, đáng nhìn tận mặt, đáng đặt câu hỏi khờ khạo: Tại sao? Quyết định chín chắn chưa? Thân này ví xẻ tới bao nhiêu khúc rồi?
Mấy chục năm trước, thời còn là học sinh thật thà như đếm, hai đứa từng khi che chung chiếc áo bồ bịch, dại khờ chưa đọc thông câu kệ “đời là bể khổ, tình là dây oan”. Không chịu lãnh hội thơ Bùi Giáng: “Môi là môi của môi hôn, mà không hôn để môi mòn mỏi môi”. Tôi từng nói: Bồ mang tên Quỳnh Hoa, đâu cần phải thắp đuốc, Huế này trong đêm có cả vạn đoá quỳnh hoa thay phiên nở bông. Bịch thưa xong, bồ phán ngay: Là răng? Phổ thông? Loạn xị xà bì? Đi mô cũng gặp? Phải hay ho cha mạ mới thơm thảo lựa đặt cho. Nhiều người trùng tên gọi thì đủ chứng minh, quan trọng là hoa này chẳng giống hoa kia. Đừng nhiều lời, chớ có nhọn mồm nghe bạn tèo. Thế kỷ trước, bồ ưa bắt nạt ăn hiếp tèo. Tèo chưa kịp tán dương mỹ danh đã sớm nghe bồ lên giọng. Yêu người chưa chắc đã yêu cả đường đi lối về, bởi đường cắt chia ra quá nhiều đoạn. Duyên thề đã lỡ, thất lạc lâu hung, bi chừ xa xôi nghe bồ nên duyên mới, vậy mà chẳng cực lòng nhắm mắt bay qua mấy con sông thầm thì hát khi đã bình phi: Hôm nay ngày cưới em, vì sao nàng mời tôi đến? Lại lơ mơ nhớ một ca từ do ông nhạc sĩ viết nên, qua giọng ca nữ trình bày chất ngất tâm sự tự động đổi giống đực sang giống cái: “Mưa bên nàng có làm anh khóc”? Ôi, chả lẽ máy bay bình an đáp xuống một bầu trời ráo hoảnh, lật đật chạy vào cửa hàng duty free nhanh tay tậu một đống mù-soa giấy Kleenex để khi lệ đổ từng dòng theo người vu quy có thứ mang ra mà chặm, mà lau, mà chùi con mắt đỏ ham sùi sụt. Xưa nay cha chết mạ chết mới khóc bù lu bù loa, bồ lên xe hoa há lẽ tèo dậm cẳng sướt mướt hu hu nước mắt cá sấu? Mất mặt bầu cua cá cọp quá thể! Quỳnh Hoa từng trách móc: Muốn đo mức nông sâu của cuộc tình, biểu cảm trước tiên là biết dằn vặt thổn thức ngây dại, có ai như bồ tèo cứ trương mắt ốc mặt tỉnh như ruồi, ngó bắt nản. Thấy chưa đủ để chấm câu bèn thòng thêm cái kết luận: Người chi mà quá hậu đậu!

Ra đường ngu ngơ, về nhà hỏi mạ: Hậu đậu là răng mạ hè? Mạ la: Tau không biết, chăm học chăm hành đi con. Học giỏi, sáng dạ thì đoạn tuyệt hậu đậu. Tôi theo thằng bạn chui vô quán cà phê nghe quân sư dạy đời: Mi về biểu con Hoa mặc áo làm bộ sút khuy nút, khi nớ xem mặt thằng bồ có còn tỉnh như ruồi nữa không? Chẳng nắm tay thì nắm chưn, nắm cho đã rồi giả ngây cởi thêm một hột nút áo. Người mô ngầy ngà thì người nớ rõ là hậu đậu.

Quá sức lợi hại chuyện ngày xưa, hồi ức chi chặp phi cơ đã trồi sụt hạ thấp dần, ba cái bánh cao su nghiến mặt xi măng phi đạo ken két lay tỉnh tới hiện tiền. Một nữ tiếp viên hàng không “ô-tét-đờ-le” khom lưng đòi lại cái head-phone cái chăn đắp. Mắt hành khách hậu đậu nhìn vô một đường khe núp sẵn sau hai hạt nút cố tình để hở. Thương ông Bùi Giáng quá mức: “Khi xưa tôi đã có lần, và bây giờ đã đôi phần tôi quên”. Tạm biệt, chúc một ngày lành. Ngực phập phồng. Tôi lập lại lời bà ấy. Lâu ngày dùng lại tiếng Anh đâm lọng cọng. Thuở xa xưa tôi chọn Pháp văn làm sinh ngữ chính, bậc Trung học thầy giảng theo sách “Cours de langue et de civilisation Francaises” do ông Gaston Mauger biên soạn. Tome 1 bìa xanh xám dày 248 trang. Hình như trong cuốn “Bài học về ngôn ngữ và văn minh Pháp” nọ có bài văn ngắn tả cảnh gia đình ông Vincent từ Paris sang thăm thú Montréal? Trò phải biết thì quá khứ, phân định ra thì hiện tại, ngôi thứ nhất số ít ngôi thứ ba số nhiều, sao vật này có “le” đi trước vật nọ lại là “la”. Thế nào là động từ bất quy tắc, cái chi kêu bằng pát-xê-còm-pô-dê… Ôi, linh tinh lục tặc bao điều đã rơi rụng dần. Khi Quỳnh Hoa biết tin tôi định cư ở Montréal, với trí nhớ chưa hao mòn cô đã nhắc lại cuốn sách kia, rồi đùa: Xin chào ông Vincent, có nhận biết ai đang “pạt-lê” không? Tôi hô câu tiếng Pháp: Embrassez-moi mon amour. Quỳnh Hoa lên giọng tở mở: Okay. See you soon. Make love not war.

Tôi ra đi không mang ba-lô, hậu đậu chỉ đeo cái túi xách gọn nhẹ, bước ra cánh cửa tự động mở, đứng trông thiên ngó địa chừng tàn một cây nhang thì có một gã đàn ông diện bộ đồ lớn miệng cười tới mang tai chạy lại gần: Mụ cô mi, mấy chục năm rồi tướng tá mặt mày mi cũng rứa, có vất vô hóc bò tó tao cũng nhận ra. Hắn ôm tôi coi mòi tỏ tình thắm thiết. Mi biết đó, nhân vật chính giờ ni như ngồi trên lửa, đầu tắt mặt tối, Hoa ra lệnh cho tao phải đi rước mi. Thấy tao ra răng? Tôi định thần, thằng cu Cương thì thay đổi gắt, thay đổi dữ lắm, chỉ cái tật luôn nói búa sua thì cứ rứa, y xưa. Phàm những kẻ ăn nói tứ tung bát giác như hắn lại dễ chơi, dễ thân cận, ruột để ngoài da. Một dạo, cu Cương nớ cũng từng cất công mang cây si tới trồng trước nhà Quỳnh Hoa, đâu chừng một năm chẳng biết chuyện chi xảy ra khiến loài cây bạc phước nọ bị héo úa, ai bứng nhổ đi, trồng chi cho chật đất? Tôi không điều tra mà Quỳnh Hoa cũng… tỉnh như ruồi. Cu Cương dễ thương ở chỗ hắn mọc tâm lành, không hận kẻ bạc tình, chẳng thù oán giận hờn việc bị cho ra rìa. Diện mạo vui tươi chưa hề gợn da nhăn, áo quần chăm chút bảnh bao, nghe đồn Cương sẽ là một trong hai người phụ rể, rất mực uy tín. Lại được Quỳnh Hoa giao phó trao chức bộ trưởng bộ ngoại vụ lẫn tiếp tân, đưa đón khách phương xa lạc loài về như thằng tôi, lên chương trình đi nhậu cơm hàng cháo chợ, dàn xếp cho chỗ ăn chỗ ngủ. Quỳnh Hoa ký duyệt văn bản: Không được đem con bỏ chợ, gây chấn thương thêm vào nỗi đau của đứa hậu đậu ngày nào bị đồng minh giũ áo tháo chạy.

Cu Cương chở tôi từ phi trường hút gió đi vào thành phố bưng bít cao ốc láo liên ngoạn cảnh. Nhìn ngó cho có chút khái niệm về thành phố có tao và Hoa trú thân, mất đâu khoảng mươi phút hắn quành xe vào khu thương mãi của “người mình”. Ăn bún bò hí? Mụ ni người Đà Nẵng nhưng là cao thủ bún bò Huế dân cố đô địch chẳng lại, không ngon không lấy tiền. Tôi ôn kỷ niệm cho cu Cương nghe:

Ngày xưa mạ của Quỳnh Hoa nấu bún bò cũng ngon ác liệt. Mi biết không? Hoa nói, muốn ăn phải lăn vô bếp, nhưng trước khi ăn phải tập vận động tay chân. Giò heo luộc chín để nguội, Hoa đưa tao cái nhíp bày cách nhổ lông lởm chởm sợi ngắn sợi dài trên bắp đùi heo nái. Nhổ cho sạch để khi bày vô tô bún ngó vệ sinh dễ nuốt hơn. Mạ của Hoa cười: Giỏi hè! Mát tay như rứa mai sau mụ vợ được nhờ.

Cương háy: Được tài bày đặt, làm như đang kể chuyện tình võ hiệp của Vô Kỵ Triệu Minh không bằng!

Tôi chọc: Cặp kia vụng về, chàng chỉ biết nhổ lông mày cho nàng, làm sao sánh được với tao, cao thủ biết nhổ lông chân.

Cương nguýt, mắt có đuôi: Khác biệt lớn lao đáng bàn cãi là chân heo hay chân người? Cả đời, tao có nhìn ra cảnh Hoa mặc quần xà lỏn mô nà, cứ ưa làm trạng cho cố xá!

Ăn uống no say, mùa này chóng tối, trời chiều nhá nhem. Cương chở tôi về con đường vắng xe nơi có cái khách sạn đèn đóm tờ mờ nhỏ không khác một căn nhà bình thường, trước cửa bày đặt gắn ba sao cầu chứng vào tấm bảng hiệu chữ đã tróc sơn. Cương làm khúc dạo đầu, chỗ ni giá cả phải chăng đúng với yêu cầu tạm trú chỉ mong có chỗ đặt lưng mà ngáy, mi nên hiểu đã là cô dâu thì có chán khối việc phải lo, ăn trông nồi ngồi xem hướng, ngay từ phút này nên liệu cơm mà gắp mắm. Tao nói thiệt thời buổi ni khó tìm ra ai rộng lòng chu đáo như Quỳnh Hoa, lo cho mi từ a tới z làm tao phải ghen tị, mi không chuột sa hũ nếp thì cũng thuộc dạng có căn tu. Cái gì mà chuột sa hũ nếp với cu tăng cha nội! Người ta đang cắn rức lương tâm thì đúng hơn.

Cu Cương dẫn tôi đi vào một hành lang nhỏ rồi dừng chân trước cánh cửa ghi số 9. Thôi, vào tắm một phát giũ sạch bụi đường, ngủ yên giấc cho lại sức. Tao về, mai tới sớm chở mi đi cà phê. Vét-tông cà vạt đầy đủ cả bộ sậu rồi chứ? Tôi nhìn Cương: Đi bụi đời thôi mà, chỉ đeo cái ba-lô, nhét làm gì ba thứ lỉnh kỉnh ấy cho nhọc sức. Mai uống cà phê xong chở tao tới chợ chí rận tậu bộ đồ vía hàng xi-đa, năm bảy đồng diện xong rồi dụt cũng không hối tiếc. Mẹ, khi đó không chừng mà le lói bắt mắt, bảnh tỏn hơn thằng phụ rể xa lắc. Trước khi bỏ đi, Cương chửi: Ông nội mi!

Giường không lớn, gối chăn nệm màu mỡ gà cho tiệp với màu vôi vàng, tủ gỗ và màn cửa đều sắc nâu, ton sur ton hài hoà với tấm thảm đỏ bầm. Chỗ dùng vệ sinh cách nơi đứng tắm chỉ ba bước chân, không biết lỗ mũi thì lớn bao dường để mang ra so sánh. Nói nhỏ như con thỏ thì coi bộ khi dễ cái khách sạn ba sao này quá. Cả đời tôi chưa từng đặt lưng trong một khách sạn nào cả nên bù trất việc so sánh, định giá. Bên kia biên giới, đất nước có thành phố tôi ở, hình như hèn kém lắm tiền phòng một ngày cũng phải tiêu tốn 100 đô?

Tôi đi tắm, phải đứng dưới vòi sen hòng tìm gặp một tinh thần minh mẫn mới cầu may có được thân thể tráng kiện sau, bước ra vuông phòng mờ mịt hơi nước, đợi tóc khô trước khi ngủ, ngồi mép giường táy máy mở TV xem thử có gì hay ho. Muốn coi thứ đồi truỵ bức xúc ác ôn cho qua đêm dài lắm mộng thì màn hình hiện lên hàng chữ đỏ: Bạn đã cân nhắc chưa? Bạn phải trả 3 đồng 99. Và bạn phải trên 18 tuổi. Cấm sao chép dưới mọi hình thức, bất tuân sẽ chịu vào ngồi nhà lao trung ương 5 năm đồng thời đóng 250.000 tiền phạt. FBI kính báo. Lôi thôi nhỉ? Doạ nạt nhỉ? Dằn mặt nhỉ? Tưởng tình cho không biếu không chớ, giải trí mà tốn 4 đô thì cũng nên tính toan, không đùa đâu nhé, cho dù món ăn tinh thần ấy giúp mình không nở bề ngang cũng mạnh cho bề dọc. Ba kênh đài đang phát sóng kia “lành mạnh” qúa, chả có gì lôi cuốn cả. Đài thì diễn hài kịch khó hiểu, đài thì tường thuật tin tức đó đây và băng tần cuối cùng thì trình chiếu về thế giới động vật, kiểu cần cù như ong thợ, kiểu trì chí kiến tha lâu đầy tổ, kiểu như con mèo con chó có lông con chim có cánh con công đủ màu.

Có tiếng gõ cửa. Một hai ba. Tôi dỏng tai lên. Bốn năm sáu. Phát động ra một nghe mơ hồ nhưng tới số sáu thì rõ là cường độ décibel tăng cao. Nôn nóng như công an hăm he đòi xét giấy đăng ký tạm trú. Tôi tần ngần lại mở cửa, trong đầu nghĩ ra vài câu tiếng Anh dùng để đối đáp với nhân viên khách sạn, chẳng hạn: Tôi nào có gọi phone yêu sách đòi phục vụ thứ này thức kia đâu cà? Có đi lộn phòng không nà. Hãy khai báo thật thà. Nói ngay là…

Một bà người Á châu Thượng Hải Hàn Quốc gì đó dáng vẻ đường bệ mặc chiếc váy đỏ hiện ra sau cánh cửa. Bà này chắc không phải vào phòng làm vệ sinh giường chiếu? Bà nhìn vào chiếc khăn tắm tôi dùng quấn quanh bụng, may bà không hỏi có phải sir mang tên Trần Một Nửa? Phải mất tới hơn phút tôi mới nhận ra bà ấy đích thị ma-dzê-in Vietnam mang tên Quỳnh Hoa. Xin bỏ quá cho cái nằm mộng cũng chẳng ngờ này. Đường đột tới sững sờ, ngỡ như chỉ xảy ra trong phim Thập Diện Mai Phục thôi. Thân phận giữa hai đứa quả có sự khác biệt hố sâu, bà là chủ khách sạn mà tôi là nhân viên chuyên hút bụi hành lang ôm chăn màn đi giặt giũ phơi phóng, tơ lơ mơ chây lười lao động là boss cho nghỉ việc, ăn hưu non đặng ta về ta tắm ao ta đuổi gà sân trước quét rác sân sau chống chổi ngậm hờn việc thế sự.

Quỳnh Hoa bước vô, đóng cửa bằng lưng. Nữ hiệp vung tay quá đà đã xuất ngân lượng ra, móc hầu bao nhằm chi trả cho tôi thoát cảnh qua sông luỵ đò, thậm chí còn bao giàn trà đình tửu điếm nhà nghỉ cho tại hạ kinh qua ba ngày xuống núi lăn lóc chốn giang hồ xa lạ đi một ngày đàng học một sàng khôn. Tôi dùng tay bấu vào chiếc khăn lông đang cảm động tới độ thoi thóp lỏng lẻo muốn giả mù sa mưa. Xin lỗi, mình nhận không ra, bạn thay đổi dữ quá. Tôi nói, không thốt ra câu cuối: Giống như mới vừa ra khỏi thẩm mỹ viện. Vai trò Cương làm có tốt không? Cương có nói xấu Hoa điều gì không? Vừa hỏi, Hoa vừa nhón gót cởi đôi giày cao gót, đi chân trần tới đặt mông ngồi xuống giường. Tôi nhìn tấm nệm đang co rúm, trên TV chiếu cảnh con rắn nằm đờ đẫn vì đang cố tiêu hoá con chuột gồ ghề mắc nghẹn ở cổ họng. Chuột kêu chút chít trong rương, anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay. Sao chẳng mặc áo? Sửa soạn hay đã tắm xong? Làm chi mà đứng thẫn thờ kiểu nớ? Bước tới đây. Tệ quá, gặp bạn cố tri cách xa biền biệt mà không thèm ôm ấp hỏi han lấy một tiếng. Đã quen con mắt chưa? Hoa đâu đổi thay đến độ có thể đi nhát ma cho người ta thót tim. Nhớ khi xưa bồ kể chuyện con ma vú dài, sợ bắt mắc tiểu nín đái luôn.

Thôi đừng nhắc lại chuyện ngày xưa. Kể về người sắp làm chồng cho tui nghe đi. Ủa, đã lạ chưa tề, bộ ông Cương bị may miệng không bép xép điều gì sao? Hoa vẫn nhìn tôi, nhãn tuyến long lanh như thanh xà quan sát con chuột chù: Ổng nhỏ thua Hoa ba tuổi, vợ chết sớm và mình đồng ý đứng ra đóng vai mẹ hiền. Gà trống nuôi con thấy cũng không phải, tội nghiệp cách gì. Và đứa con ổng cũng ra chiều thương mến, tin cậy Hoa. Ổng biết mình từng qua ba lần đổ vỡ nhưng vẫn tha thiết ân cần săn đón tốn nhiều công sức, bỏ ngoài tai bao miệng lưỡi thế nhân. Năm mươi rồi, còn nước nôi gì mà lên mặt ỏng ẹo làm cao, trước khi héo úa gỡ gạc chút đỉnh vậy mà… Lại đây cho tui ôm bồ cái, sẵn tắm xong để tui hun hít bậy bạ cho đỡ nhớ người xưa. Hoa luôn cầm tay cái iPhone, bồ áp má tèo xong liền tự selfie hai mái đầu đang tàn phai chụm lại. Mấy thuở mới được đoàn viên, đời có bao lăm mà hững hờ?

Thu cất tấm ảnh chân dung xong, Hoa vất điện thoại thông minh xuống bên mông, hết đụng máy móc thì táy máy sờ người. Dùng điện thoại thì nhớ sạc điện, con người cũng một nghĩa như nhau, chẳng ngó ngàng tới thì khó mà bắt sóng. Con mèo con chó có lông, cũng nên chọc giận buộc công ngủ vùi. Hoa nằm vật xuống nệm, cằn thân lên dong tay tắt hai ngọn đèn bắt đầu giường. Hoa quỳnh chỉ nở về đêm, son trẻ không nói gì, bây chừ xộc xệch thì vẫn muốn coi bóng tối là đồng loã của việc che dấu vụng chùng. Đừng cởi, chỉ việc lật váy lên. Hôn mình đi, ở bên má, dưới dái tai, ở cổ, những chỗ ngày xưa mình cho phép được hôn.

Tôi thở gấp: Mình hôn ở ngực được không? Không. Hôn ở nách? Không. Mình hôn bụng? Không, nhột lắm. Đừng hôn hít, đừng nói năng. Yêu Hoa đi. Nhẹ nhàng thôi, từ tốn thôi… Không ấy thì để cho Hoa ở trên. Hoa kiêng ăn dữ lắm mà người cứ phát phì, cục mịch, cái béo tốt đầy tai hại, có đúng không? Mình xa nhau đã quá lâu, phút sum họp gắn kết này phải cố đền bồi sao cho tương xứng, bồ nhớ chớ sớm bỏ cuộc nghe chưa. Tôi đưa tay vuốt ve, sờ soạn từ đầu gối lên tới mông Hoa, có lẽ thằng chồng sắp hợp thức hoá kia đã chí thú lao động chuyên cần cầm nhíp đi nhổ sạch những sợi lông lạc loài? Giò heo mới cần vệ sinh kiểu đó, cha nội! Táy máy tay chân, ngứa ngáy làm chi cho hư bột hư đường thế kia. Rõ là nhàn cư vi bất thiện! Rách việc quá xá quà xa.

Chuột kêu chút chít trong rương chẳng qua là em trốn trong đó giả giọng làm ám hiệu, phận sự còn lại của anh là đề cao cảnh giác đi đứng cẩn thận chớ gây tiếng động kẻo mạ thức giấc phát hiện âm mưu bán trời không văn tự của chúng bây. Ca dao luôn chứa sự ngây ngô đáng yêu đến thế, nhưng hiện tại Quỳnh Hoa đi từ “chút chít” đến ư hử liên hồi trong mỗi thao tác chẳng cần che dấu, chưa tính chiếc giường cũ kỹ già nua cũng góp giọng kêu ca. Mạ đang luộc giò heo, hạ lửa lò nước sôi ùng ục: Ủa, mèo đực hay mèo cái mà thê thiết gào nấc mùa động tình rứa bây? Con mèo nhảy đổ nồi canh, con chó chạy lại lanh chanh dính đòn.

Mèo thương tình nằm vật mình sang bên, tóc rối bao che khuôn mặt đang thở nhịp hối. Mèo sờ thân chó trụi lông: Cảm ơn bồ nhen. Tin tới số mạng không? Nếu ngày đó hai đứa mình khởi đầu đã keo sơn thì chẳng rõ hậu vận sẽ ra sao? Sau nhiều đổ vỡ, mình chỉ muốn sống đơn thân, buông bỏ hết. Nhưng rồi khi gặp hai cha con họ, hoàn cảnh đẩy đưa làm mình trở lại với cái tham sân si như cũ. Tội lỗi!

Rất giản tiện, mèo chỉ thò chân vào quần lót, xong thì kéo váy xuống y như trước. Chó cũng vậy, quấn lại chiếc khăn tắm từ thắt lưng, vẫn mang tên gọi Trần một Nửa. Bán thân luôn biểu tượng về điều bất toàn. Vầng trăng ai xẻ làm đôi là một ví dụ. Uyên ương gãy cánh là một ví dụ khác. Một thằng chồng sắp cưới, trước đêm tân hôn hắn biết cô vợ lén tới khách sạn ngủ hoang với thằng bạn cũ đến từ phương xa, liệu hắn có nửa hồn thương đau? Khéo lo, mèo phải biết dấu cứt chứ! Mèo mở sáng màn hình cái iPhone nhìn tấm ảnh chụp tự sướng. Thôi, Hoa về. Mười giờ rồi, phải thích nghi mặc dù hẳn còn sớm vì vừa chỉnh sửa vặn đồng hồ tới một tiếng. Người ta gọi sự ăn gian nọ là Daylight Savings Time. Xuân đang tới và Spring Forward.

Mèo bước vào phòng vệ sinh, trong khi chó mở sáng hai bóng đèn vàng, soi rọi chăn nệm nhăn nhàu ghi dấu tích một cuộc tình “thù này phải trả”. Rồi mai em đưa anh xa kỷ niệm, xin lần cuối… Mèo mang tiếng hát từ chỗ giải thuỷ bước ra. Tóc hết rối, váy thôi nhăn và bờ môi vừa được trau chuốt tô son lại: Có sẵn tiền Mỹ trong túi không? Cầm trăm bạc này cho có mà chi trả tiền ăn quà vặt, không nên để cho Cương bao suốt, kỳ cục lắm. Chó muốn sủa một tiếng nhưng ngại mèo hờn giận, không luôn cả tiếng merci. Chó nói: Tự nhiên sao mình cầm lòng không đậu chẳng muốn giã từ vũ khí đầu hàng cuộc chơi. Mèo ngó vào chiếc khăn quấn quanh bụng kẻ vừa lộng ngôn: Nói thế là có ý gì? Trăng vẫn treo trên đầu súng? Thích tham dự chiến cuộc vào giờ thứ 25? Lời tèo đã thốt há lẽ bồ lại giả điếc giả câm? Lòng bồ mở rộng hải hà phen này rồi mai sau có đóng chặt cũng rũ bỏ phần nào chút ân hận vậy.

Bóng đèn lại thui chột đi, để bóng tối lấn chiếm một vuông phòng chỉ phát ra tiếng thở. Lần này thì chiếc váy bị cởi phăng ra, ném không xót thương rơi xuống thảm. Cho ham hố hôn đó, hôn cùng khắp cho bõ những ngày cơ cực. Ư… ứ… ừ… Thật ra thì giờ này mới có 9 giờ chứ mấy… Có thích selfie hai con nhộng mang về giữ làm kỷ niệm không? Ui, máy móc ích gì cho phút ấy. Quên đi nha, đang sửa soạn thăng hoa. Hay trăng hoa? Hay mèo mả gà đồng? Hay chết bỏ bể bỏ?

Khách sạn vắng tẻ, ít ai thuê ngụ, có lẽ vậy. Nếu lắm kẻ lỡ đường vào tá túc, phòng bên hẳn đã có đôi bàn tay đập vào vách ngăn: Xin vui lòng vặn nhỏ âm thanh vừa đủ nghe để khỏi làm phiền lòng hàng xóm. Ôi dà, bọn tớ hoàn toàn nói tiếng mẹ đẻ, liệu đằng ấy áp sát tai vào vách, nín thở có thông hiểu chút gì chăng? Thôi thì thôi nhé, động đất cũng chỉ ngần ấy thôi…

Hồ Đình Nghiêm

Vân Cẩu

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

Thoát được bát quái trận đồ, Đằng Vo đứng nhìn căn nhà án lối. Vật đổi sao dời, cảnh sắc biến hóa, đường sá thay tên đổi họ, thiệt khó tùm. Mà cũng không chừng thằng lái xe ôm ưa trấn lột tiền bằng cách chạy vòng vo, thong thả phun khói xăng. Chóng mặt, say nắng. 

Đằng Vo bước vào sân, hơi choáng váng. Một người đang ôm bình tưới nước ngẩng mặt lên, án chừng dọ hỏi, đón đường.

– Có đúng là nhà của Kiếm Văn?

– Thưa phải.

Những cánh hoa đầm đìa ướt át, lả lơi. Năm sáu loài khác nhau, ba bốn màu dị biệt. Hương thơm nhẹ thoảng. Nước rơi xuống, giọt đọng trên cánh hoa, giọt lăn vào đất, thẩm thấu.

Người đàn bà ngưng tay khi nước đã cạn trong bình. Y phục nhàu bẩn, dáng dấp quê mùa, tựa hồ một kẻ làm công.

– Nói cho Văn biết có ta từ ngàn dặm đến thăm.

– Xin đợi ở đây, tôi vào báo cáo.

Đằng Vo chắp tay sau lưng, nhìn ngang liếc dọc cảnh vật. Dưới mái hiên có treo dãy lồng chim. Sơn ca, chích chòe, họa mi, hoàng yến thay phiên hòa âm. Tiếng cao tiếng thanh chen vai thích cánh, ngân nga giữa chiều đang dịu nắng. Hoa và chim. Vườn tược và cách bài trí. Ô hay, xem chừng như đây là nơi quan chức an hưởng tuổi già. Một kẻ giàu tiền của muốn ẩn dật vui thú điền viên?

– Trời đất ơi!

Một tiếng la. Nửa mừng vui, nửa thảng thốt.

Kiếm Văn mang tiếng reo ra khỏi bậc thềm. Áo quần bảnh bao, mặt mày tươi nhuận, thần sắc khác thường.

– Về hồi nào? Sao không đưa tin cho đệ đi đón rước?

– Về ban trưa. Ta bao giờ cũng ưa mang đến sự bất ngờ.

– Than ôi! Bao nhiêu năm rồi? E đã có hơn mười mấy mùa lá rụng. Huynh thật đổi thay.

– Bậy. Trước sau ta vẫn vậy. Kiếm Văn mới là kẻ làm ta ngờ vực.

Trong đầu ta không hình dung được cảnh trí này. Đứng đây mà ngỡ ngàng, tưởng chân đi lạc vào gia trang kẻ khác.

– Thôi, chớ chơi nhau. Chớ làm tình làm tội nhau kiểu ấy.

– Ta mừng cho hiền hữu không hết sao lại bảo là chơi nhau? Ta vẫn tưởng kẻ ở lại quê nhà đứa nào cũng lam lũ chật vật. Ai mà dè!

– Cuối cùng huynh cũng quay đầu. Phú quý không về làng khác nào áo gấm đem mặc vào ban đêm. Hãy vào nhà, uống một chút men cay gọi là đánh dấu buổi sum vầy, mừng vui vô hạn.

Đằng Vo đi theo Kiếm Văn. Nhà ba gian hai chái đã phá bỏ để xây cất theo kiểu hiện đại. Trường kỷ, tủ khảm xà cừ, bệ thờ ông bà tổ tiên đã dẹp mất, nhường chỗ cho bàn ghế gọn nhẹ in tuồng của Ikea. Mỹ thuật, hài hòa, sang cả. Đằng Vo dòm qua, bật lên tiếng than:

– Ta mà phú quý gì. Sống lây lất xứ người lao động quần quật cũng chỉ vừa đủ miệng ăn. So ra, nhà ta bên đó không thể sánh được chốn này. Cuộc đời thật có nhiều cái khó hiểu!

– Thật sao? Khó hiểu lắm sao? Xuân vũ vô cao hạ, hoa chi hữu đoản trường.

Kiếm Văn xổ nho. Đằng Vo ngả người xuống ghế.

– Bàn tay có ngón ngắn ngón dài, nếu thế ta là ngón cái còn Kiếm Văn là ngón giữa chăng?

– Khẩu khí ấy thật không phải là của bọn Việt kiều. Nhưng thôi, hãy quên đi. Mọi thứ đều phù du, tình bạn là vạn tuế, đúng không?

– Đúng mà sai. Đừng cưỡng bức định nghĩa một thứ gì ráo. Ta đọc trên báo Công an, hằng hà sa số những vụ khó hiểu, đơn cử như con đâm cha mẹ những năm nhát dao trí mạng vì muốn làm chủ hai triệu đồng. Chuyện ấy nên hiểu sao cho thông ý suốt tình?

Bia Heineken được khui. Lon nhôm ướp lạnh, logo ngôi sao đỏ in bên ngoài vả mồ hôi, chảy nước mắt.

– Uống đi. Uống mừng mầy chục ngàn dặm kinh qua mà chẳng bị không tặc khủng bố, lành lặn hình hài về tới quê hương.

Đằng Vo nghe lời, ngửa cổ nốc bia. Thoáng đọng trong con mắt, lung linh vẻ đẹp rạng ngời của một thiếu nữ thoát y. Đặt lon bia xuống bàn, kéo vạt áo chùi kính cận thị, đeo lên lại và ngó chăm chú vô bức tranh sơn dầu khổ lớn treo ở góc tường, anh họa sĩ nào đã tỉa tót vẽ nên một dáng dấp sống động, ngỡ như thật. Ngày xưa, ông quan tội nghiệp nào đi sứ sang Tàu đã đưa tay chụp bắt một con chim có trong bức tranh, chuyện đó e phải nên tin. Thực và giả, việc ấy chỉ có bọn nghệ nhân nghệ sĩ mới hiểu thấu tường tận.

– Có đẹp chăng? Kiếm Văn rung đùi.

– Đẹp. Đẹp lắm. Đằng Vo chớp mắt.

– Người hay tranh?

Đằng Vo nheo nheo hai con mắt. Lông, tóc, mông, ngực, eo, đùi. Đầu, mình và tứ chi thảy đều mượt mà, không tì vết. Thậm chí nốt ruồi cũng chẳng đậu được một hột đen.

– Sao lại hỏi thế? Sao lại treo cái báu vật đó giữa nơi này? Hội họa có được hiểu là một thứ để khiêu dâm không? Treo lên để trắc nghiệm lòng người chăng?

– Ngôn từ nọ có đúng lại có sai. Thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật mà lòng gợn tà ý thì ắt rằng kẻ đó chẳng phải là bạn của Văn này.

Sao, từ thuở làm kiếp ăn nhờ ở đậu huynh có còn xắn tay áo lao vào cuộc chơi giởn màu vọc cọ?

– Than ôi! Vo này ví như cây quýt bị bứng trồng ở nơi hiểm địa.

Chua lè, đắng chát. Sinh lực tiêu hao, ta chẳng còn thiết để tâm vào một việc làm nào cả.

– Uổng thay! Phí thay! Thảng hoặc lòng có dấy lên chút nỗi niềm hối hận?

– Hối hận chuyện gì ?

– Chuyện bỏ trốn đất cha làm thân lưu lạc.

– Bậy. Ta sống còn tới hôm nay là nhờ mau chân. Làm con rùa rút cổ ở lại thì e hẳn du địa phủ lâu rồi. Thôi, đừng khơi chuyện cũ, mất vui. Ta về hôm nay mọi vật tưởng như đã khác trước?

– Phải. “Hãy lau khô nước mắt đi em, vết thương hôm qua sẽ thành sẹo”.

– Thơ của Kiếm Văn?

– Không dám đâu. Tuyên ngôn của một kẻ đại thần.

– Đổi khác không có nghĩa là vết thương đã thành sẹo. Diện mạo này tuy bề ngoài hoa hòe hoa sói nhưng bên trong chừng như nhiểm độc trầm kha. Nghe đâu nuôi dưỡng vi trùng vô số kể.

– Sida là bệnh ngoài da, mười năm mới chết thì ta sợ gì.

– Lần này thì đúng là lục bát của Kiếm Văn?

– Đấy là quan niệm sống của chị em ta. Văn này tuyệt không đủ sức để sáng tác một câu xuất thần tựa thế.

– Vậy chớ hiền hữu làm quái chi mà một tay gầy dựng nên cơ ngơi to tát đến dường này?

– Đêm nay hãy nán lại tệ xá, chúng ta nằm gác chân lên nhau mà hàn huyên bao chuyện đổi dời.

– Nói cũng đúng.

– Về ở lâu mau?

– Ta không có hoạch định chương trình. Dài lâu hay ngắn hạn đều tùy vào lòng người, lệ thuộc cảnh vật. Thành tâm mà nói mọi thứ ở đây từng đã thờ ơ lạnh nhạt với ta, như không có dây mơ rễ má nào liên hệ với nhau. Ác cảm. Ngay phút ban đầu đặt chân xuống đất mẹ cũng phải bị nộp tiền mai lộ mới được hanh thông chuyện đi đứng. Ôi, ta vẫn ngỡ bọn thảo khấu Lương Sơn Bạt chỉ có trong võ hiệp kỳ tình giả tưởng mà thôi!

– Cha mẹ ôi! Bơ sữa của bọn đế quốc đã đầu độc huynh mất rồi! Sao lại phát ngôn linh tinh ra thế? Nhập gia thì phải tùy tục.

Đằng Vo chưa phản ứng chợt có tiếng chuông ré lên. Trong túi áo Kiếm Văn dấu gọn cái vật phát tiếng thúc bách ấy. Cầm điện thoại di động như tựa một cái tai heo, Kiếm Văn áp nó vào má và sắc diện luôn thay đổi khi đón nghe lời nhắn nhủ thì thầm.

– Thật là đường đột. Xin thứ lỗi, đệ có chuyện khẩn phải đi ngay. Huynh cứ ngồi yên vị mà nhấm nháp, thoải mái tựa đang ở nhà mình. Thu xếp công việc xong đệ sẽ dời chân trở về và chúng mình kéo nhau đi nhà hàng đặc sản cao cấp đánh chén.

Xe gắn máy đời mới sản xuất ở nước đàn anh Trung quốc vĩ đại từ nhà sau được dắt ra. Máy nổ dòn, Kiếm Văn leo lên yên.

– Nhớ nhé, chớ buồn chân đi thơ thẩn mà lạc mất nhau. Đi đái đi ỉ? thì cứ tỉnh bơ lui nhà sau xả bầu tâm sự.

– Được. Ta đợi. Tám giờ tối là hạn cuối.

– Quân tử nhất ngôn.

– Đinh mười phân đóng chặt vào gỗ.

Xe hai bánh phun khói lại ở sân mang bóng hình Kiếm Văn vụt mất như gió thoảng. Đằng Vo khui thêm bia, mặt đỏ ké và lò dò tới đối mặt với tấm tranh. Thiếu nữ đứng trần truồng bất động ấy khoảng tuổi đôi mươi, tuy bị dát mỏng hình hài trên mặt bố phẳng nhưng Đằng Vo cũng mường tượng ra những vùng thật sung mãn nhô ra ngoài. Tràn đầy, căng cứng. Bắt chước tiền nhân, Đằng Vo cũng thò tay sờ nắn thử. Nếu ta làm chủ được xác thân kia thì những đứa bạn mà ta kết giao đều phải có lý lịch là thái giám trong sạch, ba đời không nuôi chim, đảng viên đảng dị ứng đàn bà.

Ý nghĩ ấy làm Đằng Vo mắc đái, vén màn vải in hình chùa Một Cột lui gian nhà sau. Chạng vạng ngoài trời và tù mù phòng vệ sinh ám tối. Bước chân thôi dọ dẫm khi ngọn đèn néon xanh tái mở bừng con mắt trên đầu Đằng Vo. Có tiếng cười nhẹ sau lưng.

– Công tắc đèn nằm đây chứ nào phải bắt ở đó mà đưa tay sờ soạng.

Đằng Vo quay đầu, sững sờ tới độ chẳng rút được bàn tay đang mân mê những hạt nút vừa cởi ở quần. Giống như chuyện liêu trai, người vừa gióng tiếng giễu cợt đó là một thiếu nữ mặt hoa da phấn. Cô đã sống động từ bức tranh bước ra, không quên mặc vào người bộ đồ ngủ bằng hàng lụa mỏng. Được ôm con ma ấy vào lòng có chết cũng cam, Nghĩ vậy Đằng Vo chẳng chút hãi sợ, nao núng.

Nói cho khoa học biện chứng, bia trong người Vo đã trao cho Vo sự can đảm. Đồng thời nó có vẻ xúi giục Vo, khích lệ một cuộc tổng tấn công. Tiền pháo hậu xung, lấy thịt đè người. Ôi, nhà thì quạnh quẽ mà nhà ấy lại chứa độc có cảnh trai đơn gái chiếc. Cái ấy là ý nghĩ sáng suốt của ta chứ không phải do bia Heineken xúi dại.

– Vo này lưu lạc đã lâu, đi đã gần cùng khắp mọi chốn nhưng thề với em ta chưa từng gặp ai mang thứ nhan sắc diễm tuyệt như em đang có. Phút đầu, khi ngó lên bức tranh, lòng ta đã thoáng giao động, nhuốm mùi tục lụy sững sờ. Nói cho ta biết em tên chi? Nhắc nhở cho ta hay đây là hiện thực mà không hề là mộng ảo.

Áo lụa mỏng di chuyển lại gần, êm ái, thướt tha.

– Sao lại mộng mơ, sao lại hoang đường? Khi ngắm tranh, Kiếm Văn không giới thiệu qua cho anh rõ à? Em là Quỳnh Hoa. Và chúng ta đang ở đời thường.

Khứu giác Vo đánh hơi, cánh mũi Vo phập phồng. Quả nhiên từ người con gái không ngừng xô dạt tới một hương mùi kín đáo. Nó không hẳn là mùi Dove, Camay; lại càng không ra mùi xà phòng Chà Và, Cô Ba, trầm, bồ kết do nội địa sản xuất 72 phần dầu. Đích thị đây là mùi thanh tân của một đứa con gái vừa đi qua cánh cửa vị thành niên, mùi hoa quỳnh oằn thân khai hoa nở nhụy kín đáo giữa đêm thâu. Ấm thầm, ngây ngất.

– Nãy giờ em trốn nơi mô mà ta không hề thấy qua?

– Em bận tắm. Em bận vốc nước kỳ cọ rửa ráy, em lau mình lau mẩy. Kiếm Văn thông báo: Hôm nay nhà ta có khách quý. Không có gì quý hơn… ông khách Việt kiều.

– Mà này, ta cũng hơi sơ ý. Liên hệ giữa em và bạn ta ra sao? Biết trước để khỏi mang tội sàm sơ?. Bà con xa? Láng giềng gần? Hay thê nhi, tì thiếp?

– Trật tuốt luốt. Gọi sư huynh cũng đúng mà nói Kiếm Văn từng là ân nhân của em cũng chẳng sai.

Đằng Vo nhìn mặt mũi, ngó tay chân, quan sát thân hình Quỳnh Hoa. Rõ ràng người với tranh tuy hai mà một, như chị em sinh đôi, như hai giọt nước. Hoa nhường nguyệt thẹn.

– Thằng họa sĩ nào cũng khá mát tay!

– Xưa nay em nghe đời gọi là bác sĩ mát tay, thi sĩ mát giây, chứ chưa bao giờ nghe tới họa sĩ có đôi tay thiệt mát.

– Không mát thì nóng, không sạch thì bẩn; cái đáng nói là thành quả: Nó đã lột tả hết nét đẹp mà em có. Kiếm Văn quả là kẻ biết nhìn người, khéo chọn lựa.

– Ngó dậy mà hổng phải dậy!

– Tại sao vậy cà?

– Anh còn nhớ trò chơi tìm ra bảy điểm khác biệt thường in trên báo không?

– Nhớ, thời xưa ta rất ưa chơi trò đó. Họ đặt hai hình vẽ tựa nhau nằm kề cận để thử nghiệm cặp mắt mình. Bên này ba cành hoa bên kia chỉ có hai. Ông sói tóc này có ba sợi, hình kia thì đầu lại mọc thêm sợi thứ tư…

– Bức tranh treo ngoài kia và em cũng có vài điểm dị biệt.

– Tranh thì hoàn hảo lắm rồi, chẳng lẽ em lại trách cứ lão họa sĩ

– Với đôi mắt của một kẻ tầm thường, người nào cũng phát hiện không chịu triển khai hết vẻ đẹp thầm kín trên người em? ra sự khác biệt ấy.

Bàn tay Quỳnh Hoa đưa lên lần cởi nút áo. Bụng dưới căng cứng, Đằng Vo như người đứng trên lửa.

– Khoan, xin em hay đợi.

– Chuyện gì?

– Ta linh cảm như có điều bất thường đang rình rập.

– Anh có muốn đi đái thì cứ nói trắng ra. Đái cho nhẹ người, điều bất thường đang rình rập kia sẽ trôi ra ống cống.

– Phải. Ta sẽ đái nhưng chưa chắc là ta sẽ nhẹ người. Kiếm Văn trở về bất ngờ và ta sẽ nói sao với nó đây? Giang hồ đã từng coi thường bọn Việt kiều như ta. Dỏm, hồi hộp, Việt gian… đủ các thứ gán ghép.

– Anh thì khác, dưới mắt em anh là đã xỉn. Còn Kiếm Văn? Một kẻ đi hẹn hò với nhân tình nhân ngải thì hắn ta đâu có dễ mau chân rời bỏ hiện trường. Lại nữa, giờ này đang cao điểm, tất phải bị ùn tắc giao thông. E phải tới tám giờ tối chàng ta mới phờ phạc trở về, đến hẹn lại lên.

– Ùn tắc giao thông?

– Bị kẹt xe đó, không hiểu à?

– Fuck.

Đằng Vo chửi thầm. Rắc rối hơn cả tiếng tây tiếng u.

Hạt nút cuối cùng thoát khỏi khuy, hai tà lay động như màn voan treo trước cửa phòng the run rẩy gió. Da thịt trắng ngần, phơi bày từ bán phần đến toàn phần. Nụ hồng lấp ló. Đằng Vo nuốt nước bọt. Quả?thật, tu bia có đến cả lít vậy mà nó đã bốc hơi đi đâu? Khô khan, bỏng rát. Thèm ăn chù?g một trái dừa tươi biết mấy! Thèm uống vụng một bầu sữa ngọt vô cùng!

– Khoan…

– Nữa, lại hụi rồi khoan. Sao anh cắc cớ quá chừng chừng!

– Ta không phải hạng trẻ người non dạ. Thực ra thì em đang nuôi dưỡng một âm mưu gì?

– Em sợ và em ghét chữ âm mưu vô hạn. Ấm mưu vượt biên, âm mưu bôi bác chế độ, âm mưu chống đối chính quyền. Đừng đổ oan vào lòng thơ ngây này bằng cụm từ khó nghe đó.

– Ta cũng ghét câu như chim vào lồng như cá cắn câu. Bác Hồ cũng từng làm thơ răn đe: “Đau khổ gì cho bằng mất tự do, đến buồn đi ỉa cũng không cho!”

– Ỉa đái gì thì làm lẹ lên. Có ai cấm cản đâu?

– Vo này đâu phải hạng phàm phu tục tử. Ta phải biết thu dấu của quý trước mặt chị em phụ nữ.

– Thôi, để khỏi mất thời giờ vô lối em đành thưa thốt đôi điều để xua tan sự dị nghị có ở anh.

– Phải. Sáng sủa bao giờ cũng hơn mờ ám. Em cứ nói thật, nếu được không chừng ta sẽ dốc lòng vui vẻ giúp em ít nhiều.

Chiếc áo được cởi ra. Quỳnh Hoa để mặc cho nó rơi nhẹ xuống đất. Cô xoay người lại.

– Anh thấy gì không?

– Em cảm cúm hay em bị trúng gió?

– Kiếm Văn đánh em bằng roi mây đó.

– Bậy. Không phải có người đã cạo gió cho em sao? Sau lưng hằn đỏ hình xương cá.

– Ở ngực thì sao, có ai lại cạo gió nơi vú bao giờ?

– Trời đất! Kiếm Văn bạn ta sao lại nhẫn tâm đến thế.

– Để em cởi quần cho anh xem những thương tích bên dưới. Em và bức tranh không hề là bóng với hình. Nếu có, một bên đã là quá khứ, một bên là hiện tại thương đau. Khác, khác xa.

– Dập liễu vùi hoa! Không thương hoa tiếc ngọc. Bậy, bậy thật!

– Anh nói sao?

– Không. Ta thật ái ngại. Cho em và cho ta.

– Xin anh hay thương em.

– Thương yêu có năm bảy đường. Em muốn ta tỏ bày bằng cách gì?

– Em sợ bị tù đày chốn này rồi. Hãy mang em cao chạy xa bay. Ơn cứu tử ấy em nguyện làm thân tôi mọi để đền đáp.

– Nhưng mà…

– Nhưng mà để tỏ thành tâm, trước tiên em xin được hiến dâng, ngay từ giờ phút này.

Đằng Vo tần ngần, mặt khờ khạo tuồng như suy nghĩ lao lung.

– Cơ hội chỉ tới với chúng ta lần này thôi. Dùng dằng, thắc mắc, toan tính thì sẽ hỏng việc.

Cho anh hai phút, em ra khóa lại cửa nẻo.

Quỳnh Hoa bước đi và Đằng Vo tranh thủ đứng đái, bộ tịch bấn loạn, rùng mình mấy bận.

– Khi tới đây anh có trông thấy dãy lồng chim không?

– Thấy. Có chi đặc biệt?

– Những que những cành trong lồng đều có bao quanh ở ngoài bằng giấy nhám.

– Chi vậy?

– Để móng chim được mài sắc, để mỏ chim gạt vào dần dà sẽ bén ngọt tựa lưỡi kéo.

– Ta thực không hiểu.

– Nếu nó tấn công địch thủ vì ghen ghét tiếng hót thì nó sẽ chóng thắng trận trong vẻ vang. Dập tắt bài ca sinh tồn của giống khác.

– Ai bày ra trò hiểm độc ấy?

– Dạo này đang có cao trào mang chim đi uống cà phê, học mót từ phim ảnh Tàu. Con chim nào lỡ chết sau màn đấu nhau, khổ chủ sẽ có đó làm mồi đưa cay. Nhậu chim nướng rất bắt. Trước giải trí sau được bồi dưỡng. Kiếm Văn rất thú vị chuyện đó. Chữ hiểm độc là do anh nói, vậy thì anh đã tin những thương tích có trên người em chưa? Anh hôn hít đi, đâu có mùi khuynh diệp mùi dầu cù là mà bảo là cạo gió.

– Phải, ngó tướng em sung, đúng là kẻ không bao giờ biết cảm mạo xâm xoàng. Ta mới là đứa đang cần xức dầu nhị thiên đường.

– Chi vậy?

– Một, ta đã say bia. Hai, ta đã say em. Than ôi, người đâu gặp gỡ làm chi..!

– Đằng này có cái futon, anh tạm ngã lưng và chúng ta ký kết một hợp đồng.

– Ký kết hợp đồng? Em ơi, ta sợ nhất là câu “bút sa gà chết.”

– Chỉ là một cách nói đã quen mồm. Như thế này nhé, anh hãy ăn tươi nuốt sống lấy em rồi sau đó mang em tới một phương trời

cao rộng khác.

Quỳnh Hoa đưa tay ôm eo dìu đỡ Đằng Vo đi. Thân nhiệt giao hòa, chân cẳng va chạm, vướng víu như Lăng ba vi bộ. Một bên tỉnh táo ngửi thấy mùi bia nồng vướng trong hơi thở gấp. Một bên mù lòa ngửi ra mùi thơm của một thứ trái cây dấu chín trong hủ gạo. Đằng Vo không gian dối, quả tình hắn đang say. Trôi nổi đã lâu, đây là lần đầu hồ hởi phấn khởi, vân vân và vân vân. Phải về quê hương mới bắt gặp, mới đăng ký được cái cảm giác lạ lùng nọ. Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Quái đản thật! Ắn ở thiếu vệ sinh. Biết bùn lầy nước đục mà cũng nhắm mắt lao đầu xuống. Chuyện nấu nướng bếp núc cũng thế, ai đời mà nó bảo mình hãy ăn tươi nuốt sống lấy nó!

Gương cận thị được lấy ra bởi đôi tay lụa là của người trong tranh. Năm ngón cởi áo, mười ngón cởi quần, xuống tận cùng là cởi giày lột vớ. Trần như nhộng. Con tằm cựa quậy đòi ăn lá dâu. Đằng Vo nhìn Quỳnh Hoa, ngó sự vật bằng nhãn quang của một kẻ lâu ngày không về thăm thôn Vỹ, để thấy “da” em trắng quá nhìn không ra, mơ hồ có vết lọ nồi bôi đen ở đâu đó, rất sương khói. Chẳng cần là pháo binh, Đằng Vo cứ xem vệt đen kia tựa một điểm đã chấm tọa độ. “Này anh bạn đồng đội… Hay rót cho khéo nhé kẻo nhầm nhà tôi…” “Ôi, đường ra trận mùa này đẹp lắm…Trường sơn đông leo lên trường sơn tây.”

Đang loay hoay sửa soạn, đang chuẩn bị hô xung phong thì cánh cửa bên hông nhà mở rộng, thảng thốt, chết điếng, trăng treo đầu súng nguội lạnh.

– Mẹ kiếp. Tao mà về trễ chừng nửa giờ thì đôi gian phu dâm phụ này đa bê nguyên cặp sừng tê giác đặt trên đầu thằng Kiếm Văn này rồi. Hãy vào đây mà coi, mà chứng giám cho nỗi đau của một kẻ bị bạn thân chơi khăm. Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi!

Kiếm Văn đứng chống nạnh giữa gian nhà, mặt mày tựa rắn hổ đang phùng mang trợn mắt. Có một kẻ đi sau lưng và kẻ đó vừa đóng chặt cánh cửa lại. Kiếm Văn đằng hắng: 

– Thưa anh, tôi mời anh về đây cốt là để nhậu nhẹt khuya nay, sau nữa là tôi muốn thông báo cùng anh tôi có đứa bạn phương xa về thăm nhà, xin được đăng ký tạm trú ít hôm. Vậy đó, vậy mà tưởng vui vẻ cả làng, ngờ đâu lại diễn ra thảm trạng này. Ôi bạn hiền! Ôi vợ quý! Xin anh hay lấy công đạo mà xử lý giùm, đời Kiếm Văn này chưa bao giờ đau đớn tợ hôm nay!

Đằng Vo vội vã tròng lại y phục vào người, lóng cóng nhặt tìm được cặp kính cận. Ô hay, sao Quỳnh Hoa vẫn thần sắc rạng ngời như thế? Nàng tuyệt không chút mảy may sợ sệt, mắc cỡ. Ta, thân đại trượng phu, có lý nào lại tệ hại chết đứng như Từ Hải?

– Tang chứng vật chứng rành rành. Anh kia, còn lời gì để nói? Tôi, công an khu vực, xin mời anh về đồn nghiêm chỉnh thi hành pháp luật nhà nước không khoan nhượng.

– Nghe đồn nghe bót thì bản thân tôi cũng sợ hãi huống chi bạn tôi từ nước ngoài ngày đầu về thăm thú.

Kiếm Văn phát biểu cảm tưởng.

Kẻ tự nhận là công an lên giọng, gần như reo hò:

– A. Việt kiều đây hở? Vậy thì để ông chơi theo kiểu Việt kiều.

Đánh điện thư về bển kêu họ hàng thân thích sang mà kíp lãnh ra. Nhà nước không sẵn cơm nuôi béo những hạng vô đạo đức như ngươi.

– Xin anh khoan hồng, chớ bắt giam tù tội. Chuyện nội bộ, xin phép cho chúng tôi được dàn xếp riêng tư. Hoa, em sớm mời anh Bảy đây một lon bia, uống để hạ hỏa.

Lạ. Roi mây đâu? Sao không mang ra quất con nha đầu đĩ thỏa kia một vài lằn ngang dọc? Khiếp, chúng đó đóng tuồng tự biên tự diễn hay sao? Thế còn thằng mặt xanh mày lả mặc thường phục nói sôi bọt mép kia? Công an thật ư? Chẳng thấy súng ống dây dợ nhưng cốt cách bặm trợn ấy chắc đúng là đầy tớ của nhân dân. Tiến thối lưỡng nan, tình thế khó xử, tứ bề thọ địch, miệng ngậm như hến. Đằng Vo ngồi co rúm trên futon, mặt mày rã rượi, tỉnh rượu muộn phiền.

– Rượu mời không uống lại đi uống rượu phạt. Thôi, nói năng chi cũng bằng thừa, mày hãy cuốn gói mà trốn khỏi nhà tao. Kiếm Văn vô phúc lỡ giao du với một thứ bạn khốn nạn. Kinh nghiệm này đời sau vẫn còn khắc ghi!

Kiếm Văn nói, tự động đến mở rộng cánh cửa, mặt lạnh như tiền.

Hắn cư xử rất mực đàng hoàng, chẳng có biểu lộ sự ghen tuông nóng nảy quá đáng. Thong dong độ lượng y như quân tử Tàu.

– Ta thật có lỗi, ta thật nhẹ dạ, ta những mong mang được niềm vui đến cho Quỳnh Hoa…

– Đừng rườm lời. Mày cút ngay, hay nhớ cái địa chỉ này để bận sau chớ xớ rớ trở lui. Anh Bảy công an đây chỉ niệm tình tha thứ duy một lần này thôi.

– Đâu có được. Người ta rộng lượng cũng chỉ ở một chừng mực nào đó thôi. Hắn ra về mà người lành lặn không rụng một sợi lông thì e quý vị đã coi thường sự có mặt của Bảy này mất rồi.

– Vậy chớ anh hai muốn chi?

Đằng Vo xuống giọng. Ông công an xán tới gần.

– Bảy này một lời nói ra bốn ngựa khó kéo. Ta muốn giữ của ngươi cái đồng hồ đeo tay không người lái để làm vật kỷ niệm, có được chăng?

Nhẹ nhàng quá, tưởng gì ghê gớm hơn. Đằng Vo cởi chiếc đồng hồ Thụy sĩ giá tám trăm đô ra khỏi cổ tay. Mẹ kiếp, kinh nghiệm lần sau về thăm nhà nên đeo đồng hồ nhựa giá bảy đồng tính luôn cả thuế. Sự hào nhoáng nào cũng là con dao hai lưỡi cả. Nó cứa vào ruột, quặn thắt. Vĩnh biệt nhé, Oméga. Vật ở lại giùm, cho người đi êm thắm.

Bảy đeo vào tay, săm soi.

– Đồ dỏm hả mày, sao kim chỉ? giờ giấc lung tung bấn loạn cả lên?

– Thưa anh, giờ ấy là giờ ở một đất nước xa xôi chứ không phải giờ của tổ quốc giàu mạnh mến yêu này. Bản thân chiếc đồng hồ nọ thì lao động rất xuất sắc, trong sáu năm trời nó chỉ sai lệch có hai giây thôi.

– Được, trông vừa vặn bắt mắt như chính tao đi lựa mua. Tao tha mày đấy, về lại xứ vật chất cặn bã ấy nhớ cho tao gửi lời hỏi thăm đồng bào mình.

Cánh cửa đóng đùng một tiếng, như sấm nổ giữa trời giông.

Hú hồn, phước đức ông bà để lại. Đằng Vo lau mồ hôi trán, phố phường lên đèn, rậm rật mọi thứ tiếng động lan tràn luôn chảy. Ta vẫn bình yên và đời này vẫn đập hối hả nhịp tim thời buổi mở cửa kinh tế thị trường. Những bảng hiệu sáng đèn toàn tiếng Tây tiếng u nhấp nháy chào mời, dân vô học ngó qua e phải gầm đầu cắn lưỡi tự tử. Những người cởi xe gắn máy chạy tán loạn như bị ma rượt, họ mang kính râm, đeo khẩu trang, găng tay lên thấu nách như thể Ninja; như thể chuẩn bị đánh cướp nhà băng một vố to. Thiệt gay cấn, khó nhìn rõ mặt, vô phương nhận đoán ai là đầu đảng, ai cảm tình viên, ai tòng phạm, ai vô can, ai con nhà lành. Xêm xêm cá mè một lứa.

Người đàn bà đợi Đằng Vo thất thểu đi ra tới đường cái mới đóng cửa sắt, bóp chặt ổ khóa. Bà trở vào nhà đưa trả Kiếm Văn máy điện thoại di động.

– Thím Ba cầm đỡ năm chục mà chi viện cho dượng dưới quê. 

Lần sau nhớ gọi tôi sớm sủa một chút, chậm hơn hồi nãy vài phút không khéo thằng đó đã đánh du kích em Hoa tới tả tơi.

– Xí, anh khinh thường em cũng vừa phải thôi. Hắn du kích thì em giao liên, em dẫn cho đi lòng vòng thì hắn biết đường mô mà mò.

– Đây, phần em hai trăm. Còn thằng Bảy, tao giữ phần mày ở đây, đưa bây giờ thì mày lại cúng hết vào mục chích choác.

– Ảnh có cái đổng xịn rồi, nghèo mà ham! Lần sau có nhập vai công an thì nhớ bỏ bộ mặt đang đói thuốc kia ra kẻo rách việc.

– Được, tớ không lấy tiền, nhưng đã lập ra công ty thì xin cứ thông báo sự thật cho tớ mừng lây thành quả.

Quỳnh Hoa ngó Kiếm Văn, cô nhét tiền vô xú-chiêng chật chội.

– Trong bóp hắn có tất cả là bảy trăm năm mươi lăm đô. Tui đã cẩn thận rà soát thắt lưng, sờ nắn chiếc quần xì -líp, thậm chí còn thử xỏ chân vô giày hắn nhưng không phát hiện vật thu dấu. Thằng đó chắc thuộc thành phần vô sản bần cố nông. Đánh trận này thiệt chưa đã.

Bảy hỏi giờ rồi vặn kim đồng hồ điều chỉnh phút giây:

– Hắn là bạn cũ của ông thật sao?

– Sao lại có chuyện giả vào đó? Hắn vượt biển lần thứ tư mới được trót lọt. Mẹ cha nó, nhớ lại có lần hắn bắt tao ngồi chờ ở bãi bốc đến trắng con mắt, thiếu đường bị muỗi tha đi, nhức nhối tới độ thấy ông bà ông vải luôn.

– Thôi, anh lo lên chương trình đãi đằng em và anh Bảy là vừa, ở đó mà nói chuyện xưa tích cũ.

– Em ăn nói vậy là thiếu chất xám. Cái này người ta gọi là ôn cố tri tân. Nghĩ lại, ta đây thật hối hận.

– Anh hối hận điều gì?

– Phải mà hồi đó ta giao du kết bạn cho nhiều thì giờ này đã ngồi không mà ăn bát vàng.

– Thật không đó cha. Còn công sức con Hoa này thì bỏ cho chó ăn hay sao?

– Ừ nhỉ. Em là số một. Làm sao ta có thể phụ em. Cái đó thì em đã đi guốc trong bụng ta rồi, chẳng cần thề thốt. Kế mỹ nhân bao giờ cũng lợi hại. Đêm nay ta nguyện tắm táp sạch sẽ, ra giữa trời đốt hương khấn vái cao xanh, rằng xin cho em được giữ mãi nhan sắc ấy, xin cho thân thể em mãi được phì nhiêu núi đồi căng cứng.

– Làm chi có trời đất, làm gì có thần linh. Đừng bắt em đi khách cho Tây ba-lô thì thân xác này sẽ không sớm bị xộc xệch. Cái ấy là chân lý.

– Em nói chí phải. Và chân lý thì ngàn năm không đổi. Nói xong Kiếm Văn ôm Quỳnh Hoa vào lòng, điệu bộ như cưng trứng hứng hoa, cực kỳ âu yếm, cẩn trọng dịu dàng. Nàng quả là con gà đẻ trứng vàng, là cánh cửa hữu nghị rộng mở chào đón mấy anh khúc ruột từ ngàn dặm đi lơ ngơ về nộp mạng. Bộ nội vụ mà thuê được nàng làm công an chìm, làm gián điệp, thì đất nước ngày mỗi phồn vinh, kẻ thù sừng sỏ nào cũng đánh thắng. Than ôi! Mấy sếp lớn không biết dụng binh, chẳng có mắt nhìn người, thua xa một mình Kiếm Văn này vậy. 

Chuyện hậu Liêu trai chí dị đành phải ngừng lại ở đây. Người thuật chuyện cảm thấy ngao ngán, bần thần tựa cảm giác Đằng Vo đi lạc loài giữa phố khuya. Những mong sao cho Vo nọ xoay xở được tiền nong sớm trở về Mỹ quốc. Cũng thiết tha mong cầu cho Vo tu được thân, ổn định tinh thần qua những trang sách thấm đẫm hương vị Thiền học. Chớ đem lòng oán hận, xem cuộc đời này chỉ? là đám mây vân cẩu trôi ngang, một sớm một chiều sẽ tan biến.

Xin được buông bút.

Hồ Ðình Nghiêm

Mộng Lệ An, lập Xuân Nhâm Ngọ.

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

28. Chương Hai Mươi Bảy

“30 Năm Chiến Tranh:
Không Giải Quyết Được Gì Cả!”

Lúc tôi rời khỏi Miền Nam Việt Nam (lần cuối cùng) vài giờ trước khi mất Sài Gòn , tôi đã tưởng rằng mọi việc đều đã được chấm dứt.
Miền Nam đã thất trận. Khi đã thua rồi thì Miền Nam chỉ còn có phục tùng theo luật lệ của kẻ chiến thắng mà thôi.
Không còn nghi ngờ gì nữa là Sài Gòn sẽ sống dài dài, sống mãi thật là lâu dài với giờ Hà Nội . Một trang sử đẫm máu hình như đã được vĩnh viễn lật qua. Sợ hãi và chết chóc đã được gạt bỏ ra khỏi quốc gia nầy rồi, một đất nước quá đói nghèo và quá đau khổ.
Nhiều tháng đã trôi qua và tất cả hình như không quá đơn giản như tôi đã tưởng như vậy. Những tiếng vang cuối cùng đến tai chúng tôi từ Miền Nam Việt Nam đã cho thấy là mọi việc đã không được tốt lắm. Sài Gòn và Đồng Bằng sông Cửu Long đầy rẫy các trung đoàn quân chánh quy Bắc Việt quá bực bội vì dân chúng có vẻ như không phục tùng.
Các cựu chiến binh Miền Nam còn chưa chịu buông súng xuống hết. Có những chiến khu đang được hình thành, một số sinh viên đã vào đó. Dân chúng yểm trợ họ. Tình trạng mất an ninh đang lan rộng. Cuộc trấn áp được coi là quá khắt khe. Tình trạng thiết quân luật chưa bao giờ được bãi bỏ. Các cuộc bắt bớ càng ngày càng tăng. Tiếng đại bác vẫn còn nổ rền trên đồng ruộng và đêm đêm người ta vẫn còn nghe nhiều tràng súng liên thanh tự động.
Đã có nhiều người ngoại quốc ra đi. Các giáo sĩ thì bị trục xuất. Cái được gọi là CPLTCHMN thì không có thực quyền. Ngày 2 tháng 9 vừa qua trong một cuộc diễn binh vĩ đại được tổ chức để kỷ niệm này lễ độc lập lần thứ 30, tất cả các “xe chỉ huy” đi trước các đơn vị chỉ mang có một lá cờ duy nhất – lá cờ đỏ sao vàng – , lá quốc kỳ của Miền Bắc Việt Nam.
Luật sư Nguyễn hữu Thọ, người Miền Nam, đã từng là một nhân vật thuộc giai cấp tư sản của thành phố Sài Gòn trước khi gia nhập vào lực lượng cách mạng và trở thành Chủ Tịch của “Mặt Trận quốc gia Giải Phóng”, đã lên khán đài để đọc một bài diễn văn dài để nói lên “sự vui mừng vì nước Việt Nam đã không còn bị chia cắt và đã hoàn toàn tự do, độc lập và thống nhất từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau” Không còn một ám chỉ nào đến những chủ đề trong quá khứ về “hai chữ Miền Nam ” hay về sự tôn trọng “dư luận của số đông quần chúng”
Báo chí chánh thức ở Sài Gòn trình bày ngày nầy qua ngày khác những chiến thắng của quân đội giải phòng Bắc Việt, của Khờ Me Đỏ, của Pa Thet Lào như là một chiến thắng chung của một Mặt Trận Cách Mạng duy nhất bao gồm cả Đông Dương, xem như một Liên Bang mà Hà Nội sẽ là người lãnh đạo.
Các đồng hồ của Sài Gòn được kéo lùi lại 60 phút, để theo đúng với giờ Hà Nội, mà theo lời xác nhận của người nữ xướng ngôn viên của Đài Phát Thanh Giải Phóng đọc trước mỗi bản tin tức, kể từ nay sẽ là “giờ chánh thức của Đông Dương” Ca tụng một chiến thắng đã từng được mong đợi từ lâu, đã đưa những người lãnh đạo Miền Bắc Việt Nam đến chỗ hết lời tán dương sự hình thành của một khối đấu tranh chống đế quốc gồm có những chế độ tiên tiến hiện hữu và tương lai , bành trướng xuống hết miền Đông Nam Á Châu.
Nhưng trong khi Hoa Kỳ rút lui, họ đã để lại trên đất nước Việt Nam hai cường quốc xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc chia rẽ nhau vì một sự tranh giành ảnh hưởng ý thức hệ và vì một sự đối đầu truyền kiếp.. Đã thấy có nhiều sự rạn nứt giữa hai nhóm thân Nga và thânTầu. – Bên Lào, nhóm Thân Nga đã thắng thế vì có Hà Nội đỡ đầu. Nhưng Trung Quốc thì nắm chặt Bắc Lào và hai con đường chiến lược được 3 sư đoàn và một lực lượng phòng không hùng hậu bảo vệ. Quân đội hoàng gia Lào, hùng hậu với 60.000 người đã bị giải tán. 3000 sĩ quan của lực lượng nầy bị lưu đày lên Sầm Nứa (vùng Cao Nguyên Bắc Việt) để “học tập cải tạo”, và tất cả binh sĩ của họ đều bị nhốt trong các trại lao động khổ sai. 1.500 chuyên viên Liên Xô và 400 chiếc phi cơ của hãng Aéroflot đã đến thay thế các chuyên viên Mỹ và các phi cơ của hãng Air América (hãng hàng không riêng của Trung ương Tình Báo CIA). Họ đảm trách công tác tiếp vận và tất cả mọi liên lạc của Pathet Lào (quân đội cộng sản Lào). Hoàng thân Souvanna Phouma, vị Chủ Tịch được chỉ định của Chánh Phủ Liên Hiệp Lào chỉ giữ một vai trò tượng trưng, và sẽ rút lui vĩnh viễn sau những cuộc bầu cử vào tháng 4 năm 1976.
– Tại Cam Bốt, các nhà ngoại giao Liên Xô đều bị trục xuất và cộng sản Tầu đang ở trong thế mạnh. Nhưng các phi cơ nào muốn đáp xuống phi trường Phnom Penh đều phải đánh một vòng chừng 1500 cây số để tránh không bay ngang qua lãnh thổ Việt Nam, ở đó sự có mặt của Liên Xô càng ngày càng mạnh. Những chiếc tàu đầu tiên cập bến vào các cảng Sài Gòn và Đà Nẳng là những chiếc tàu chở dầu và chở hàng của Liên Xô. Mạc tư Khoa đã bí mật và cứng rắn cho Bắc Việt biết là họ đặt quyền lợi của họ vào việc xử dụng căn cứ Không quân và Hải quân ở Cam Ranh, một vị trí chiến lược hàng đầu ở nửa đường giữa Hong Kong và Tân gia Ba, một căn cứ mà Hoa Kỳ đã bỏ ra mấy trăm triệu mỹ kim để thiết lập và xử dụng. Bộ chỉ huy tối cao của Liên Xô coi việc nhượng cho họ được quyền xử dụng căn cứ Cam Ranh chỉ là một sự bồi hoàn hợp lý đối với một số lượng phương tiện khổng lồ mà Liên Xô đã từng giúp và viện trợ cho Bắc Việt trong suốt thời gian cuộc chiến tranh giành độc lập.
Với sự tái mở lại sự lưu thông trên kinh đào Suez, việc xử dụng được căn cứ Cam Ranh sẽ là một trạm chủ yếu giữa các căn cứ của Liên Xô từ Ấn độ Dương ở phía Nam (đảo Socotra, Berbara ở Somalie) đến mũi Vladivostock ở mạn Bắc. Các hạm đội của Liên Xô do đó sẽ có thể mở rộng phạm vi hoạt động trên Biển Đông của Trung Quốc hết sức an toàn. Tuy vậy nhưng muốn đi đến một Hiệp định cũng sẽ không dễ dàng lắm đâu. Bắc Kinh không bao giờ muốn thấy sự bố trí của một kẻ địch lảng vảng ở ngoài khơi cách bờ lục địa của mình không xa, để có thể đe dọa mình, sau sự lui binh của Hoa Kỳ . Chánh Trị Bộ của Hà Nội tuy phần lớn đều “thân Liên Xô”, nhưng cũng có một số “thân Tầu” mà vị thế chánh trị cũng nặng ký lắm như Nguyễn lương Bằng Phó Chủ Tịch nước, Trường Chinh, Chủ tịch Quốc Hội, và Hoàng văn Hoan, Tổng trưởng Nội Vụ.
Một vấn đề khác làm cho Bắc Kinh nổi giận: đó là số phận của trên một triệu rưởi người dân Trung Hoa đang ở Miền Nam Việt Nam. Khi bộ đội chánh quy Bắc Việt vào Sài Gòn , tất cả thương gia người Tầu ở Chợ Lớn đều đã treo trước cửa tiệm của họ lá cờ của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Nhưng họ được lệnh phải tháo xuống ngay.
Những người Tầu nầy quá đông và sống rất có tổ chức, đã kiểm soát tất cả nền kinh tế và hệ thống phân phối ở Miền Nam, và như thế là họ siết chặt quá nặng nề hành động của Hà Nội . Nếu họ được Bắc Kinh bảo vệ, họ sẽ thoát khỏi gọng kềm của Hà Nội ngay. Qua nghị định của Tổng Thống Diệm từ năm 1956, họ được nhập quốc tịch Việt Nam và giờ nầy họ vẫn tiếp tục còn mang quốc tịch Việt Nam và vẫn được coi là “dân Việt Nam “
Một chiến dịch hung bạo đang được tiến hành để đánh vào những người đầu não của những người Tầu nầy mà họ gán cho một danh từ xấu xa là “tư sản mại bản”, được người ngoại quốc trả lương. Đài phát thanh cộng sản đổ hết trách nhiệm cho họ về chuyện giá cả thị trường đang tăng vọt, do họ đầu cơ tích trữ làm cho hàng hóa khan hiếm. Ngoài ra chánh quyền cộng sản còn buộc tội họ là đã phá hoại cuộc cải cách tiền tệ vừa rồi. Đài phát thanh còn loan báo tên tuổi của họ, loan báo đã bắt được nào là ông “vua gạo”, ông “vua thuốc lá”, “vua cà phê”, “vua vận tải”, “vua ngư trường”, “vua thuốc tây” v.v..Một nhân vật cộng sản vừa thay thế Trần văn Trà trong chức vụ Trưởng Ban Quân Quản Sài Gòn Chợ Lớn là Mai chí Thọ, một người lai Tầu, là người đang có trọng trách điều hành chiến dịch đánh “tư sản mại bản” đã nói:
– “Chúng tôi phải ngăn chận bọn tôi tớ của đế quốc, không cho họ tiếp tục làm đội quân thứ năm nhằm làm hại nền kinh tế của đất nước”.
Người Tầu phản ứng lại với mối đe dọa nầy bằng cách làm nhiều bản kiến nghị ủng hộ đường lối chánh trị của Chủ Tịch Mao trạch Đông.

Thống nhất đất nước bằng võ lực không giải quyết được gì cả. Nước Việt Nam vẫn là miếng mồi ngon để cho các thế lực ngoại bang tranh nhau giành giựt.
Cũng như việc ký kết Hiệp Định Ba Lê không thể đi tới chấm dứt được chiến tranh, chuyện áp dụng biện pháp quân sự để chiếm thủ đô Sài Gòn và xâm chiếm cả Miền Nam Việt Nam … đã không chấm dứt được những nỗi đau khổ của một dân tốc vốn đã rách nát.
Cách mạng Miền Bắc quá hung hăng và háo chiến đã dựa trên nguyên tắc “chánh quyền ở đầu lưỡi lê họng súng” để thiết lập đường lối hành động của mình. Hà Nội đã lựa chọn con đường khư khư quá cứng rắn. Miền Bắc chẳng những muốn thống trị Miền Nam, mà còn muốn hài tội họ, ép buộc và thuyết phục họ phải đi theo ý thức hệ của họ, một sự thật mà Hà Nội nghĩ rằng chỉ có Hà Nội mới là người duy nhất được nắm giữ.
Con đường quá dài đó có đầy chướng ngại, đầy áp bức, đầy chết chóc, nhục nhã… không thể dẫn tới hòa bình được, một nền hòa bình mà cả dân tộc đang mong đợi từ 30 năm qua, trong tình trạng chia rẽ vì bị đổ quá nhiều máu, có quá nhiều tang tóc, và quá nhiều đau khổ.
Có một cách duy nhất dể cho những người chiến thắng hàn gắn lại tất cả các vết thương còn đang rướm máu và quá nhức nhối nầy, đó là họ phải cố gắng đè nén lòng kiêu căng qua chiến thắng của họ xuống, để công bố ngừng tranh luận về ý thức hệ, để chứng minh cho người ta thấy tấm lòng độ lượng của mình. Sự thống nhất thật sự phải đi qua con đường “hòa bình của con tim”, trở lại những truyền thống cũ của đạo lý và sự khoan dung. Đó là con đường xoa dịu nhân tâm. Chỉ có như vậy thì cả hai Miền Nam Bắc mới họp nhau lại thành “Một Đất Nước Duy Nhất” của một “Dân Tộc Duy Nhứt” trên 50 triệu người dân tự do trong tình anh em được . Một đất nước giàu có và phồn thịnh, có nhiều tài nguyên thiên nhiên gần như vô tận với những cánh rừng nguyên thủy, với nhiều con sông lớn đầy phù sa, với ruộng đồng bao la bát ngát, với những mỏ than lộ thiên, với những mỏ dầu, với những bãi cát trắng và những hải cảng kín gió mùa…. Một dân tộc có tay nghề khéo léo, đảm đang và siêng năng cần cù rất hãnh diện để được nhận lấy một chỗ đứng xứng đáng trong cộng đồng thế giới……
Đây có phải là một giấc mơ không hiện thực? để cuối cùng hé mở được bức màn đầy máu đỏ, đang đè nặng trên mảnh đất đang bị dày vò nầy, để nhìn thấy được một đất nước không còn hận thù và không còn chiến tranh, ở đó những người cùng một giống nòi đang cố tìm lại con đường hạnh phúc của họ?


Pierre Darcourt

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 1 Apr 2024

27. Chương Hai Mươi Sáu
Thật Chua Chát Thay Cho Cái Gọi Là “Giải Phóng!!!”

Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 9, anh Phạm, một người bạn của tôi, cuối cùng được một chỗ trên chuyến bay về Pháp. Khi vừa đến Ba Lê, anh điện thoại cho tôi ngay tại phi trường Roissy:
– ” Tôi phải đi gặp anh liền, để cho anh biết, để cho anh nói với tờ báo của anh những gì đã xảy ra ở Sài Gòn. Trầm trọng lắm!”
Anh bạn tôi có vẻ bị quá căng thẳng, bị kích thích quá độ như một người vừa bị một cú sốc nặng, muốn phản đối và kêu cứu vậy . Đó không phải là thói quen của anh.
Anh Phạm là một người Việt Nam, người Miền Tây, đặc biệt rất cứng cỏi và rất bình tĩnh. Anh là một sĩ quan thiết giáp, tỵ nạn chánh trị ở Pháp từ năm 1955, sau đó anh đã tiếp tục học và đã giật được bằng kỹ sư điện toán và cử nhân hóa học một cách vẻ vang.. Anh ta có một chỗ đứng vững chắc trong một công ty viễn thông lớn từ hai mươi năm nay. Vào dân Pháp năm 1958, anh chưa về Việt Nam lần nào từ hai mươi năm nay. Hôm 2 tháng 4 vừa rồi anh trở về Sài Gòn để thăm gia đình anh, và bị kẹt lại đó trong 4 tháng. Tôi phải gấp rút đi gặp anh bạn tôi mới được.
Tôi gặp lại bạn tôi, lúc nầy người trông quá gầy, vẻ mặt mệt mỏi, với cặp mắt lo lắng bồn chồn. Anh nắm tay tôi trong hai bàn tay của anh thật chặt và nói với tôi một hơi
-” Anh Pierre ơi, ở Sài Gòn chỉ còn có một sự đói rách khốn khổ, một nỗi thất vọng, một sự chống đối và một cái chết mà thôi. Con người đáng ghét nhất đáng khinh nhất ở Miền Nam ngày nay không phải là ông Thiệu, cũng không phải tướng Trần văn Trà, mà là tướng Dương văn Minh. Chẳng những ông ta đã bán đứng Miền Nam mà ông ta đã cúi đầu quy lụy trước những người cộng sản Bắc Việt.
– Hãy bình tĩnh đi ông bạn ơi, Anh hãy cố gắng sắp xếp những ý của anh cho có thứ tự một chút đi…
Anh Phạm nhìn tôi như một người mộng du, đang tập trung vào một thế giới nào đó mà chỉ có riêng một mình anh biết thôi, rồi mới nói:
– “Anh không thể nào hiểu được cái gì đã xảy ra bên đó đâu. Anh không thể nào tưởng tượng nổi là tất cả đều đã thay đổi hết. Và cả một sự thù hận!….
Anh ta ngưng một lúc, lấy tay dụi cặp mắt như một người ngủ vừa mới thức dậy, một người vừa mới qua một giấc mơ hãi hùng, rút từ trong túi ra một cuốn sổ tay màu đen, lật qua lật lại vài tờ rồi nói:
– ” Tôi giữ được cuốn sổ tay nầy qua cuộc khám xét. Tôi có ghi lại rất đầy đủ, tất cả những gì tôi đã thấy, đã nghe và đã hiểu được .Trong suốt hai mươi năm qua, tôi gác bỏ chánh trị ra ngoài tai. Đến tháng 3 năm nay, khi tôi nằm rất thoải mái ở ghế phô tơi để xem truyền hình ở Ba Lê, cũng như tất cả những người Pháp khác, tôi tưởng người Việt Nam chạy trốn chiến tranh hoặc là họ đã bị sự tuyên truyền chống cộng đầu độc. Anh biết không, thật sự tôi đã lầm ! Bây giờ tôi mới hiểu là tại sao người Việt Nam đã chạy trốn đầy đường. Không phải họ chỉ chạy trốn đạn pháo và các đơn vị cộng sản Bắc Việt. Mà họ thật sự chạy trốn bộ máy ở phía đằng sau bộ đội cộng sản đó anh Pierre! Các loa phóng thanh, các sự tố giác và lên án, mọi sự chuyển đổi bắt buộc của đời sống, những trại tập trung cải tạo, những tòa án nhân dân, và những “cán bộ” vừa cuồng tín vừa cuồng nhiệt không mệt mỏi, mặt lạnh như tiền, ngoan cố và khắt khe còn hơn các thầy tu của Tòa án Dị giáo. Những tên cán bộ nầy khi họ nắm được anh rồi, họ không bao giờ buông tha anh ra cho đến khi nào anh phải tưởng tượng tìm ra được những trọng tội của mình để mà tự thú tội mới xong . có nghĩa là cho tới khi nào anh phải tự nhận là anh có phạm tội dù đó là một tội trạng do anh tưởng tượng ra, nghĩa là cho tới khi nào anh chối bỏ tất cả, chối bỏ tín ngưỡng của anh, chối bỏ bạn bè của anh, gia đình của anh, cho tới khi nào anh hội nhập vào giáo hội của họ, vào lý thuyết của họ, vào lối sống của họ… dĩ nhiên là đi ngược lại hết với đời sống cũ…
Anh Phạm ngừng một vài giây rồi lại tiếp tục:
– ” Tôi đã nhìn thấy bộ máy đó điều hành rồi, nó núp kỹ ở đàng sau các “bộ đội” ngây ngô từ Miền Bắc đi vào Miền Na . Nó rất là khủng khiếp. Tôi sẽ cố gắng giải thích cho anh, cố gắng kể cho anh nghe những gì tôi đã thấy.
Tất cả binh sĩ vào chiếm Sài Gòn đều cầm là cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.mà họ gọi là “lá cờ của C PLT CHMN”. Dân chúng Miền Nam đều nghĩ rằng: “giữa người Miền Nam với nhau, cuối cùng rồi người ta cũng có thể thỏa thuận được với nhau, để có được một giải pháp”. Nhưng làm gì có người Miền Nam? Chỉ có toàn là “bộ đội” người Bắc. (nguyên tác:des Tonkinois), những chú “nhà quê” chỉ thích mua những chiếc đồng hồ có chỉ ngày tháng mà từ ngày cha sanh mẹ đẻ họ mới được thấy lần đầu tiên và họ gọi là “đồng hồ có cửa sổ”, và họ thích chụp ảnh với các anh phó nhòm chuyên chụp dạo ở ngoài đường phố. Người dân Sài Gòn bắt đầu gọi họ là “những con ếch” vì họ mặc quân phục màu xanh lá cây và thường “đi hai hàng”. Cũng không có gì quá đáng lắm đâu. Chỉ châm biếm chơi thôi. Và các sĩ quan thì vào ở khách sạn. Họ chưa từng được thấy thang máy bao giờ. Một ngày nọ, ở khách sạn Palace, tôi được chứng kiến một cảnh đặc biệt lạ lùng. Một bà cụ già dùng thang máy đi lên lầu ba. Một cô gái còn trẻ cũng dùng chiếc thang máy đó để đi trở xuống, khi cửa mở cô gái bước ra và đi về phía trước. Một anh sĩ quan người Bắc đang đứng ở tầng trệt, bước lui lại mấy bước và kinh ngạc la lên: “Đây là máy móc gì đây? kỳ lạ vậy? Một bà cụ vừa bước vào đây đi lên, bà ta rất già, nhưng lúc trở xuống thì bà ta trẻ lại gần 50 năm!” Nghe tôi nói như vậy chắc có người cho là tôi kể chuyện lịch sử của thành phố Marseille hồi xa xưa phải không anh? Nhưng không, đây là một chuyện thực, một chuyện sống! Còn nhiều chi tiết nữa lắm. Anh có muốn tôi kể thêm cho anh nghe không? Họ cũng không bao giờ thấy biết những phòng tắm nữa. Họ lấy nước trong những cầu tiểu của mấy bà để rửa mặt. Có một buổi chiều các thương gia và mấy ông “Bang” Tàu vừa “hiến” cho quân đội giải phóng một bệnh viện tư lớn nhất ở Chợ Lớn và đã mở tiệc khoản đãi các sĩ quan cao cấp của họ. Tối đến, người Tàu cho gọi mấy nhiếp ảnh viên tới để chụp ảnh. Họ chụp ảnh bằng đèn. Khi ánh đèn chớp của máy ảnh vừa lóe lên, các sĩ quan đều đứng bật ngay dậy và cùng rút súng lục ra. Họ tưởng đó là một cuộc mưu sát. Tất cả những giai thoại nầy cả Sài Gòn ai cũng biết hết cả. Người dân ở thành phố cười riễu! Họ không thể nào hiểu được là những người mà họ đang khi dể nầy chỉ biết có những làng mạc nghèo khổ, những trại huấn luyện, núi rừng và chiến tranh. Một thế giới mà không hề có một chiếc tủ lạnh, hoặc một máy ghi âm, cũng không có khách sạn, không có đèn chớp để thu hình ban đêm. Khi người ta cười là người ta tưởng là mình che dấu cái lo sợ của mình.
Nhưng dân chúng Sài Gòn đã nhanh chóng hiểu rằng “họ cười là sai”. Đã có những chuyện rắc rối xảy ra.. Các chú “bộ đội” đã bắt gặp kẻ trộm đang chuyển xăng trong nón sắt của họ, và kẻ trộm đã bị bắt buộc phải uống hết những gì họ chứa trong nón sắt của họ. Họ đã bắt được những anh móc túi, và họ đã dùng súng lục bắn vào hai bàn tay của những người nầy trước khi thả cho họ đi. Sau đó họ cũng sẽ cho thấy là họ cũng xử binh sĩ của họ y như vậy.
Một anh tài xế xe Molotova đã cán chết một em bé ở Gia Định. Bà mẹ la lên, đám đông tựu lại đòi phải được sửa chữa. Anh trưởng xa đề nghị bồi thường ba bao gạo. người mẹ từ chối hẳn và nói lớn :”Anh ta giết chết con tôi, tôi muốn anh ta đền mạng”. Nghe vậy, người trưởng xa lập tức lấy cây súng của một “bộ đội” gần đó và cho ngay một phát đạn vào đầu anh tài xế. Và về sau đó đã có những cuộc xử tại chỗ các phạm nhân bị trói tay và được cột vào hai miếng gỗ, ngay trên đường phố, như vậy gọi là để làm gương . Kể từ đó dân chúng Sài Gòn mới thấy sợ và họ bắt đầu nói là “Họ còn độc ác hơn bọn Nhật nhiều!”
Nghỉ một chút để hút thuốc, anh Phạm kéo một hơi dài thật ngon rồi lại tiếp tục kể:
– ” Kỷ luật sắt và sự tàn ác của mấy chú “bộ đội” đã gây xúc động cho người dân Miền Nam. Nhưng họ còn chưa biết bọn “cán bộ” đảng viên của đảng cộng sản. Bọn nầy không có mặc quân phục xanh như “bộ đội”. Họ thường mặc quần dài màu xám hay màu sậm hơn và một áo sơ mi trắng không bao giờ ủi và bỏ ra ngoài. Đó mới thật sự là chủ nhân ông. Họ không ồn ào nhưng có mặt khắp mọi nơi. Họ quan sát, đặt câu hỏi, ghi vào sổ tay, tìm hiểu, nghiên cứu và quyết định. Họ là những người hướng dẫn các lớp học tập cải tạo. Lúc ban đầu, người dân Sài Gòn thấy mình tiến bộ nhưng còn hoài nghi. Họ đã theo các buổi học tập cải tạo nầy với cảm nghĩ là mình đang ở một lớp mẫu giáo dành cho những em bé chậm tiến. Họ hát theo những gì người ta bắt phải hát, họ cũng vỗ tay , cũng lập lại những gì họ bảo phải lập lại . Khi bước ra khỏi lớp họ cười khẩy.Và sau đó một lần nữa là họ hết cười nổi, họ hết còn cười khẩy được nữa. Bởi vì “cán bộ” bắt họ phải viết đi viết lại 10 lần, 20 lần những lời tự thú của họ. Không một người nào trong dân chúng thấy mình có phạm tội, và như thế là coi như tất cả đều thấy sai hết. Đây nhé:
– các tiệm buôn đã bán thuốc ngừa cho Mỹ để họ ngủ với các cô gái: là có tội;
– người thợ ở cơ xưởng đã đóng góp vào nỗ lực chiến tranh: là có tội;
– thương gia người Tàu đã mua lại chiến cụ phế thải: là có tội;
– cô gái ăn sương đã làm mất danh dự dân tộc khi bán mình cho người ngoại quốc: là có tội;
– anh sinh viên đã có cả một bộ sưu tập các đĩa nhạc giật gân… là có tội
Tất cả mọi người mọi giới đều đã, đang hay sẽ là kẻ phạm tội hết.
Như vậy là phải biết tội của mình, phải biết sửa mình, phải biết bắt buộc cha mẹ mình, con cháu mình, bạn bè mình phải sửa chữa, cải tạo; phải biết “vạch trần” có nghĩa là phải tố giác những người nào từ chối không chịu thay đổi.
Và kế tiếp sau đó là bắt đầu có những cuộc ruồng bắt, những cuộc khám xét. Các công an mật vụ đến nhà ban đêm, lục lọi khắp mọi nơi, gõ vào tường, tháo hết bàn ghế, các vật dụng trong nhà, khám xét hết quần áo, có khi mở tung những chỗ khâu vá ra xem. Chỉ cần có một quyển sách nhỏ chống cộng nào đó, một bức tranh ảnh nào đó của Mỹ, hay một hình ảnh nào đó của ông Thiệu còn bỏ quên trong ngăn kéo, là người chủ nhà sẽ bị bắt mang đi.
Buổi sáng thật sớm người ta có khi người ta gặp những hàng người tay bị trói quặt ra sau lưng, bị binh sĩ mặt lạnh như đồng dẫn đi. Có đôi lúc các bà vợ chạy theo sau vừa la vừa khóc. Các anh “bộ đội” đuổi họ đi bằng báng súng… Và như thế là người ta quây mặt đi không ai dám nhìn vào cảnh nầy.
Không phải họ chỉ bắt người mà họ còn tịch thu, trưng dụng nhà cửa nữa. Tất cả những ai có nhà rộng rãi, nghĩa là có hơn hai phòng cho cả gia đình, thì phải cho một số “bộ đội’ vào cư trú, phải giặt giũ cho họ, nấu cơm cho họ. Các sĩ quan thì ở biệt thự. Những anh nhà giàu nào đã bị tịch thu chương mục trong ngân hàng thì phải giao nộp tất cả đồ mỹ nghệ, sổ sách và hàng sơn mài cho các ủy viên tài chánh. Còn lại món nào thì họ đem bán lần bán hồi để mà sống. Đến khi không còn gì để bán được nữa thì họ tự tử. Sài Gòn là một thành phố tuyệt vọng mà các tủ ở đầu giường có đầy đủ hóa chất hay những viên thuốc giết người đủ màu, trắng, hường và xanh. Người nào không có thuốc thì cạo diêm sanh ở các vỏ quẹt để uống.
Tất cả mọi chuyện đều nhằm dồn con người vào con đường cùng của thất vọng.
Các cuộc điều tra thẩm vấn, các cuộc bắt bớ, nhất là tình cảnh khốn khổ và sự đói rách. Có trên một triệu người không có việc làm và không có gì để ăn, đólà chỉ mới tính riêng cho Sài Gòn mà thôi đó. Chánh quyền cộng sản đã loan báo trên đài phát thanh là họ đã phát không sáu ngàn sáu trăm (6.600) tấn gạo cho một triệu ba trăm ngàn (1.300.000) dân nghèo ở đô thành trong 2 tháng 5 và tháng 6. Như vậy tính ra bổ đồng chỉ có chưa tới 100 gram gạo cho một người mỗi ngày.
Con đường Tự Do thì đã vắng ngắt, tất cả các tiệm đều đóng cửa. Trên vỉa hè đường Charner, người ta bày bán đủ mọi thứ trên các tấm vải dù, nào là quạt máy, dao muỗng, thượng vàng hạ cám, bán với giá thật rẻ mạt. Người bán ăn mặc rất tươm tất nhưng quá gầy. Với một nắm bạc chỉ mua được vài kí gạo. có nhiều người còn đem bán cả bàn thờ ông bà. Tôi đã chứng kiến được rất nhiều chuyện rắc rối. Ở khu vực Chợ Cũ, đằng sau Kho Bạc, một người trạc năm chục tuổi đã giựt một túi xách của một bà qua đường.Bà ta la lên. Một đội tuần tiễu đã đến kịp và bắt kẻ cướp giựt, Anh ta đứng thẳng người lên và cao giọng nói lớn lên với “bộ đội”:
– Đúng vậy, tôi là một kẻ trộm. Các anh hãy làm giùm tôi một việc: hãy đi tìm giùm vợ và 5 đứa con tôi lại đây và hãy bắn hết chúng tôi giùm tại đây trước mặt mọi người, bởi vì chúng tôi không còn gì để ăn hết. “
Cũng có những cô gái còn tiếp tục mặc quần áo kiểu Tây Phương. Lúc đầu thì cộng sản còn châm chước cho. Nhưng bây giờ thì bị cấm hẳn. Các anh “bộ đội” dùng kéo lớn cắt bớt mấy chiếc quần quá rộng. Tôi đã chứng kiến tận mắt một cô gái giận dữ vì người ta xé quần Gin của cô. Cô tức giận xé cả áo cánh và cởi luôn nịt vú của cô ta ra, cầm ném vào mặt của “Bộ đội” và đưa bộ ngực trần ra nói với họ:”Sẵn các anh ở đây thôi thì hãy cắt giùm cặp vú của tôi luôn giùm đi!” Cô nầy không phải là một cô gái ăn sương. Đài phát thanh đã loan báo là trong vài tuần lễ nữa, mọi người dân “nam cũng như nữ” đều phải mặc một loại quần áo như nhau: áo quần bằng vải thô nhẹ nhuộm củ nâu, màu đỏ nâu.
Anh Phạm nhăn mặt, nhíu mày có vẽ hơi buồn cười, ngưng giây lát, xong lại tiếp tục nói nữa:
-” Anh Pierre biết không? bọn cộng sản cũng dùng nhiều trò tiểu xảo nhưng rất là đơn sơ và người ta cũng mắc bẫy như thường. Tôi sẽ kể cho anh nghe một giai thoại không quan trọng lắm, nhưng biểu lộ được cái cách của họ gạt gẫm những người chưa được cảnh giác. Một tháng sau khi Sài Gòn bị chiếm, một giờ trước khi thiết quân luật, tôi cùng một ông bạn giáo sư đi dạo cách rạp chiếu bóng Casino không bao xa. Thình lình chúng tôi nhận thấy hàng đèn trước quán rượu “Đêm Đông Phương” đã được bật cháy sáng và từ trong tiệm có tiếng nhạc xập xình vọng ra ngoài. Bạn tôi vừa cười vừa nói; “Có thể họ đã mở cửa hộp đêm trở lại. Chúng ta hãy vào đây uống một ly cho nó bớt căng thẳng. Chúng tôi đẩy cửa bước vào. Có nhiều cặp đang nhảy trên sàn và ban nhạc đang chơi một bản nhạc giật gân. Quầy rượu cũng được thấp sáng, và có một số vũ nữ đang ngồi uống trên ghế cao trước quầy.Chúng tôi đang đi đến một cái bàn. Hai “bộ đội” đột nhiên xuất hiện từ phía sau một cây cột, chĩa súng vào chúng tôi và đẩy chúng tôi ra cửa , chẳng nói chẳng rằng. Ngày hôm sau chúng tôi được nghe một cô gái nhảy của tiệm Las Végas cũ giải thích câu chuyện đó như sau:” Chúng tôi hơn một chục người cả nam lẫn nữ đã được gọi tới một “sân khấu”, là cái hộp đêm nầy, được trả cho mỗi người 1000 đồng và được đãi một bữa cơm. Bù lại chúng tôi phải nhảy với nhau suốt hai tiếng đồng hồ, “như hồi còn chế độ bù nhìn” vậy. Có những chuyên viên quay phim chiếu bóng của những nước cộng sản ở Âu Châu đến thu hình chúng tôi, và sau đó thì các anh bộ đội đã đưa chúng tôi về nhà bằng xe quân vận. Cuốn phim đó nghe nói sẽ được dùng để tuyên truyền ở ngoại quốc, để cho người ta thấy là chế độ mới thật sự đã quá dễ dãi.
Một tuần lễ sau đó, họ lại làm y như vậy một lần nữa ờ nhà hàng “Arc en Ciel” trong Chợ Lớn, với những người khách ăn mặc sang trọng, với mọi thức ăn bày trên “búp phê” thịnh soạn, từ món heo quay vàng cháy, thịt heo ghim nướng, đủ thứ trái cây, rượu vang, rượu khai vị v.v.. nhưng tất cả khách hàng đều là đóng trò hết, họ được đãi ăn vì nhu cầu dàn dựng để quay phim. Cảnh phim được quay để nhằm cho thấy Sài Gòn không thiếu món gì, bởi vì các nhà hàng sang trọng vẫn tiếp tục được tiếp tế đầy đủ và thường xuyên. 1
– Và cái gọi là CPLTCHMN thì ra sao rồi? trong tất cả những chuyện đó?
– Các tổng bộ trưởng của cái Chánh Phủ đó đã ở Sài Gòn nhưng không có gì để điều hành.
Họ được ở trong những dãy nhà thuộc Bộ Tổng Tham Mưu cũ của Miền Nam, gần sân bay Tân sơn Nhứt . Có lính gác chung quanh doanh trại, súng ống hẳn hòi. Công an chánh trị Bắc Việt không rời họ nửa bước và họ không tiếp một ông khách nào. Các thành viên của “Ủy Ban Lãnh Đạo” thì ở trong thành phố, trong những khách sạn hạng nhì mà có nơi không có nổi một cái điện thoại. Thỉnh thoảng họ cũng có mặt trên khán đài. Lâu lâu từng định kỳ đài phát thanh và báo chí cũng có loan báo những bản tuyên bố hay đăng những bài nói về các “nhân vật của Miền Nam và của Miền Bắc”, hay nói về đường lối chánh trị “không liên kết” của Miền Nam. Nhưng cũng không dối gạt được ai. Các sĩ quan Bắc Việt đồn trú đều mang phù hiệu của C PLT CHMN trên nón cối. Tôi đã có trò chuyện với một trong những sĩ quan nầy, một đại tá thuộc sư đoàn 320 B.
Anh ta vừa nhún vai vừa nói với tôi:
– “Chỉ là một phù hiệu thôi mà, cũng như những lá cờ vậy. Những dấu hiệu tượng trưng cần thiết để tiến hành “chiến dịch Hồ chí Minh” thôi. Phải cho có một sự tin tưởng đó là bộ đội của CPLTCHMN đang giải phóng Miền Nam . Sự thật thì chúng tôi đều là quân đội Miền Bắc và do Hà Nội chỉ huy”
Những gì mà đại tá đó đã nói với tôi đều được chứng thực bằng sự kiện.. Những người Bắc thì chiếm hết các biệt thự và nhà đẹp, các khách sạn hảo hạng, các cơ quan công cộng. Chỉ có họ mới được xử dụng các xe du lịch loại tớn của người Mỹ bỏ lại. Những những lãnh đạo cách mạng Miền Nam được chia ra làm hai thành phần: thứ nhứt là những người “tập kết”, những người đã chọn lựa đi ra Miền Bắc hồi năm 1954, và thứ hai là những kháng chiến quân của Mặt Trận Giải Phóng. Cả hai thành phần đều chống người Bắc (nguyên tác:anti-Tonkinois).Họ bị đối xử như những người anh em nghèo và thực sự không được có một trách nhiệm nào rõ ràng hết, mặc dầu họ được gán cho những danh vị chánh thức. Tôi đã có trò chuyện với nhiều người trong số những anh “tập kết”. Họ nói: “Ở ngoài Bắc, chúng tôi không phải là người ngoại quốc. Nhưng bây giờ thì chúng tôi đã về nhà chúng tôi rồi, chết sống gì chúng tôi cũng ở đây, chúng tôi không trở ra ngoài đó nữa đâu.” Tình cảm của người dân Miền Nam mạnh hơn bao giờ hết. Cách xử sự của những người Miền Bắc trong tư thế chiếm đóng đã giúp cho người dân Miền Nam gắn bó với nhau hơn. Dân chúng Miền Nam không biết cười nữa rồi mà vẫn gọi người Bắc là bọn “xâm lăng” (nguyên tác:les “xam-lang” ), những kẻ xâm lược, hoặc những ” cá rô cây” (nguyên tác: “caro-cay”). Danh từ khinh bỉ nầy muốn nói ra nhiều điều lắm. Con cá rô là loại cá mà người dân nghèo thường ăn. Vì có một số người Bắc đã làm những con cá rô bằng cây bỏ vào chén nước mắm để lúc nhìn thoáng qua cũng thấy họ có ăn cá, nhưng thực sự là họ chỉ có ăn cơm không mà thôi. Danh từ “cá rô cây” cũng đồng nghĩa với “đói nghèo mà kiêu căng”.
– Anh có nghe nói gì về kháng chiến hay là chiến khu gì không?
– Dĩ nhiên rồi. Chỉ cần đi một chút thôi, nghe đài phát thanh, đọc báo chí hay những thông cáo dán ở tường, thì thấy ngay bằng chứng. Tại Sài Gòn thiết quân luật đã được tái lập lại. Và đó không phải là chuyện đùa đâu. Về đêm “bộ đội” hễ thấy cái gì nhúc nhích là họ bắn liền. Đài phát thanh kêu gọi dân chúng hãy “tố cáo những người phản động nào còn lẩn trốn”. Báo chí thường loan báo nhiều lần hàng tuần là “lực lượng an ninh đã bao vây và hạ sát những toán phản động còn ngoan cố giữ vũ khí đạn dược”. Lúc đầu thì “bộ đội” bị đâm bằng dao găm, hay bị siết cổ. Đó là những hành động lẻ tẻ, do những phản ứng tức giận của một vài sĩ quan lạc lõng. Bây giờ thì đã có nhiều hệ thống, bắt đầu có tổ chức và những vụ ám sát có lựa chọn. Người ta thường nhắm vào các cán bộ và công an. Người ta làm giấy căn cước giả mạo. Có truyền đơn được rải trong trường học kêu gọi sinh viên ra chiến khu.Tất cả các sinh viên đâu có đễ bảo đâu. Có lần họ đã đánh một ủy viên của đại học. Vào cuối tháng 6, đã có một sự nhen nhúm biểu tình. Một cán bộ đã bị đập chết bằng búa. Người cầm đầu đã bị bắt và bị xử bắn ngay. Cái chết nầy đã làm cho sinh viên hoang mang.. Vào tuần lễ đầu của tháng 7, lại có xảy ra một chuyện rắc rối nữa trầm trọng hơn.. Sáu trăm sĩ quan thuộc QLV NCH (600) đi trình diện hồi tháng 5 đã bị đưa đi đến một trại tù khổ sai ở giữa rừng, ở vùng núi Bà Đen cách Sài Gòn khoảng hơn 100 cây số về hướng Bắc. Tình trạng sinh sống của họ rất là vô nhân đạo. Hằng ngày họ chỉ được phát có hai nắm cơm với muối và phải đốn cây to với những chiếc rìu thường, từ sáng cho đến chiều.. Một buổi sáng nọ vào cuối tháng 6, các “bộ đội” giữ họ (chỉ có chừng 100 chú) đã tập hợp họ lại và nó : “Các anh đông quá, nên vì lý do an ninh, chúng tôi sẽ cột các anh lại từng cặp hai người một”. Các sĩ quan nầy phản đối:”Chúng tôi không có làm gì sai trái, chúng tôi làm việc như trâu rồi mà mấy anh còn muốn cột chúng lại như súc vật? Chúng tôi không thể nào làm việc cặp đôi như vậy được, cũng không thể đi vệ sinh riêng rẽ được nữa.”Các chú” bộ đội không cần biết và bắt đầu cột họ lại từng cặp với nhau. Bấy giờ các sĩ quan tù nhân mới chơi xả láng. Họ ùa vào tấn công các bộ đội giữ tù. Dĩ nhiên bộ đội đã nổ súng và có hơn 100 sĩ quan bị tử thương, nhưng những người khác đã tước được khí giới của bộ đội và đã tàn sát hết toàn bộ . Cộng sản đã đưa nhiều xe binh sĩ đến tăng cường và cuộc trấn áp thật là rất tàn nhẫn. Chỉ có một nhúm sĩ quan đã chạy trốn được vào rừng có mang theo vũ khí. Vài ngày sau, Bộ Nội Vụ đã loan báo trong một bản thông cáo báo chí là :” có vài trăm phản động đã chết trong một tai nạn trên đường Tây Ninh.” Ngay sau khi được biết tin nầy, hàng trăm vợ con của những sĩ quan đã tụ tập trước Bộ Nội Vụ gần Nhà Thờ Chánh Tòa. Họ yêu cầu phải giải thích, họ đã xô đẩy các lính gác và chửi người phát ngôn viên của Chánh Phủ:
– “Chúng tôi không tin. Không thể nào có đến hàng trăm người chết trong một tai nạn trên quốc lộ. hãy trả thây của chồng con của chúng tôi và chúng tôi sẽ thấy biết tại sao họ chết.” . Họ quá bị khích động gần như cuồng loạn. Nhưng môt giờ sau đó, tất cả khu vực nầy được bộ đội đến bao vây, họ chĩa súng và lên cò súng liên thanh nghe răng rắc và các bà bị giải tán bằng báng súng. Đó là những gì đã xảy ra ở Sài Gòn , anh Pierre. Độc tài và chỉ có độc tài!
– Và đã có những gì đã xảy ra ở các tỉnh?
– Trong các thành phố ở Miền Tây, vì không có báo chí để có thể thấy được những gì đã xảy ra trong những ngày đầu của việc cưỡng chiếm, thật là đẫm máu. Công tác tái lập tình hình “đạo đức” thật là vừa tàn bạo vừa vụng về. Các cô gái và các bà còn trẻ bị buộc tội vì ăn mặc “lố lăng”. Các buổi họp có nhảy đầm bị binh sĩ “công phẫn” giải tán, nhạc cụ bị tịch thâu vì đàn guy ta điện và cả bình điện là của đế quốc. Tòa án “nhân dân”, cho hành quyết ngay. Cảnh Sát và cán bộ của tỉnh bị gán tội “tham nhũng”. Quân đội Miền Nam không có hành động chống đối sau khi Sài Gòn bị chiếm.. Nhưng các đơn vị được phân tán và mới bắt đầu có những vụ đánh úp, sau đó vài tuần. Có mấy trung đoàn thuộc sư đoàn 21 bộ binh (một trong 3 sư đoàn đồn trú ở Tây Nam Sài Gòn ) đã đi vào vùng ly khai của Hòa Hảo. Như anh đã biết , Phật Giáo Hòa Hảo là một giáo phái địa phương chống cộng sản dữ dằn nhất và cũng được ghi nhận là không tùng phục chánh quyền trung ương. Họ vẫn có một lực lượng bán quân sự . Giáo phái nầy có mặt khắp trong số 11 tỉnh và có gần mấy triệu tín đồ. Vùng kháng chiến mạnh nhất của họ nằm gần biên giới Cam Bốt, trong tam giác Long Xuyên – Châu Đốc – Tân Châu, một vùng giàu có với nhiều sông rạch và ruộng lúa, một vùng chằng chịt đầy đường nước, dễ dáng chăng bẩy, dính liền với vùng núi Thất Sơn, Tôi đã dùng giấy tờ của anh tôi để đi xuống được Miền Tây thăm gia đình. Các trục lộ giao thông chính và các trung tâm thành phố đều được quân đội chánh quy Bắc Việt trấn giữ. Nhưng có vẻ như họ không được nghỉ ngơi theo kiểu dưỡng quân: thường xuyên có các đội tuần tiễu bằng chiến xa và binh sĩ luôn luôn để tay vào cò súng, còn pháo binh thì ở tư thế sẳn sàng tác xạ.. Các trục giao thông phụ và các đường nước thì không được họ kiểm soát. Có rất nhiều sông rạch, với nhiều nhánh tua tủa và nhiều bờ đê. Bây giờ thì ngược lại hết, đến lượt cộng sản bị phá rối, cộng sản phải gác và giữ cầu và phải duy trì trật tự.. Trong hiện tại thì họ không làm xuể. Cũng có nhiều nhóm dân quân tự xưng họ là người của Mặt Trận và họ không chịu nghe lệnh người khác. Có nhiều cuộc biểu tình và nhiều cuộc chống biểu tình. Kiểu như tình trạng vô Chánh Phủ giống như thời kỳ khởi nghĩa hồi 1945 vậy. Lực lượng phản loạn của Miền Nam táo bạo lắm, họ nã bách kích pháo, họ đặt mìn các cầu, kho xăng và kho đạn. Tại Cần Thơ, một trung tâm chính buôn bán lúa gạo của các tỉnh Miền Tây và là một giang cảng chính của Vùng Đồng Bằng, lệnh thiết quân luật được áp dụng rất nghiêm túc từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng. Đã có nhiều đường dây vượt biên ra ngoại quốc. Nhưng phần nhiều là người Trung Hoa. Vì trước hết là các tàu đánh cá và các tàu hàng hải đã lấy tiền quá mắc : mười triệu đồng mỗi người cho một chuyến vượt biên. Và sau nữa là khi họ tới Mã Lai, Singapore, hay Thái Lan, thì ngay lập tức họ được cộng đồng người Trung Hoa ở quốc gia đó giấu kín, và có trách nhiệm làm giấy tờ hợp pháp cho họ. Trong khi người Việt Nam thì không có một tổ chức nào tiếp đón họ nên thường bị đuổi về.
– Cộng sản họ không thể ngăn chặn được chuyện đó sao?

– Đâu có dễ dàng. Họ không có bao nhiêu tàu chiến. (Hải Quân Miền Nam đã đưa được hết tất cả tàu chiến loại đi biển về hết ở đảo Guam). Bờ biển Miền Nam đã được phát triển tối đa và những người dân chài thuộc lòng hết từng chi tiết nhỏ của các sông ngòi từ những ngõ ngách cho đến các vịnh nho nhỏ. Tất cả những gì người cộng sản có thể làm được chỉ là tăng cường kiểm soát đường sông, bắt buộc hành khách nào đi đến các thành phố ở ven biển đều phải đi bằng các đoàn tàu có hộ tống.
Ngoài ra cũng có một số chiến khu khác không phải ở Miền Tây. Thí dụ như ở vùng Đông Bắc của Sài Gòn, giữa Xuân Lộc và Phan Thiết, dọc theo Rừng Lá, có một số binh sĩ Dù thường chận xe đò rồi dẫn hành khách vào rừng để họ tuyên truyền chống cộng.. Các quân xa cộng sản cũng thường cán phải mìn. Một ông đại tá cựu tư lệnh lực lượng Đặc Biệt của Nha Trang và Biên Hòa đang chỉ huy hết vùng kháng chiến nầy. Ông đã tập trung được một lực lượng rất có kỷ luật khoảng vài ngàn người gồm có Dù, biệt động quân Thủy Quân Lục Chiến và những người chạy thoát được của sư đoàn 18 bộ binh . Họ chỉ chiến đấu về đêm.
Trên vùng Cao Nguyên thì có lực lượng Fulro (Mặt Trận Thống Nhứt của các sắc tộc bị áp bức), một lực lượng đã từng không nhìn nhận chánh quyền của Tổng ThốngThiệu mà cũng đã bị cộng sản làm cho thất vọng. Họ vào chiến khu với khoảng 4 tiểu đoàn chuyên tác chiến vùng rừng rậm . Đặc công của họ đã tấn công Pleiku 2 lần.
Trong vùng Hố Nai, những trận đụng độ đã tiếp tục xảy ra giữa những người công giáo và lính chánh quy Bắc Việt. Đã có gần 300 chú “bộ đội” đã bị giết từ sau ngày Sài Gòn bị chiếm. Con đường đi Dalat và đi Vũng Tàu bị cắt đứt nhiều lần.
Ở về hướng Bắc của Sài Gòn có nhiều binh sĩ thuộc giáo phái Cao Đài đã vào rừng ở vùng Núi Bà Đen.
– Có một Bộ Tham Mưu bí mật nào khả dĩ đủ khả năng để phối hợp thành một hành động chung giữa các lực lượng đó không?
– Tôi không có một chi tiết nào khác ngoài những gì mà tôi đã nói với anh. Các truyền đơn mà các lực lượng nầy rải ra có mang chữ ký của tướng Lạc, cựu Giám đốc Nha Chiến Tranh Chánh trị, của tướng Trưởng, cựu Tư Lệnh Vùng I , và của tướng Bùi thế Lân, cựu Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến.
– Thế mà người ta nói là cả 3 tướng nầy đều đang ở Hoa Kỳ.
– Cũng có thể lắm. Ai cũng biết là họ rất bình dân và anh em cựu quân nhân Miền Nam không biết là họ đã được người Mỹ bốc đi. Có thể là những sĩ quan chỉ huy các lực lượng kháng chiến đã dùng tên tuổi và uy tín của mấy tướng lãnh nầy để dễ kêu gọi và mộ thân binh cũng nên. Dù muốn dù không thì dân chúng ủng hộ những người kháng chiến mới nầy, tiếp tế cho họ và không tố giác họ.
Anh Phạm lau mồ hôi trán và lại tiếp tục nói:
– ” Nầy anh Darcourt, tôi cũng cần phải nói với anh về người bạn của anh, Đức cha Thuận đó. Ngày 14 tháng 8 vừa qua, Đức Tổng Giám Mục Bình và Đức Phó Tổng Giám Mục của ông là Đức Giám Mục Thuận được gọi tới Dinh Độc Lập, nơi làm việc của Ban Quân Quản. Khi đến nơi thì người ta cách ly hai người ra. Đức Cha Bình phải ngồi nghe một bài diễn văn dài của chánh quyền . Người ta nói nhiệm vụ của ông là giữ gìn an ninh và trật tự trong cộng đồng giáo dân và theo dõi sát cộng đồng để họ thi hành nghiêm chỉnh luật lệ cách mạng. Vào cuối buổi nói chuyện, Đức Cha Bình yêu cầu họ giao hoàn lại cho ông Đức Phó Tổng Giám Mục. Người ta đã trả lời cho ông là:
-“Đức Giám Mục Thuận đã được xe công an đưa trở về địa phận của ông ta ở Nha Trang. Sự có mặt của ông ở đây làm rối loạn trật tự công cộng”
Giờ đây Đức Cha Thuận bị quản thúc trong một ngôi làng nhỏ cách thành phố Nha Trang vài chục cây số về phía Nam. Ông sống trong một căn nhà lá, mỗi ngày được lãnh 100 $ (tương đương với 50 xu đủ để ông mua vài món rau cải.) và 200 gram gạo (Khẩu phần hằng ngày của một trẻ em 6 tuổi), và không được tiếp bất cứ ai. Vả lại không phải chỉ có các linh mục công giáo là đáng cho mình lo lắng.
Thượng tọa Thích trí Quang của chùa Ấn Quang, người đã góp công trong việc hạ bệ chế độ của Tổng Thống Diệm năm 1963 với chiến dịch tự thiêu của các sư sãi,, và là người chống đối tới cùng Tổng Thống Thiệu… đã bị bắt ngày 12 tháng 8 và bị giam vào phòng tối ở khám Chí Hòa. Từ lâu rồi Thượng tọa Thích trí Quang đã được coi như là người của cộng sản. Nhưng, từ sau ngày Sài Gòn bị chiếm, và cho tới khi ông bị bắt, ông không ngớt kêu gọi các tu sĩ của ông ” thay vì tự thiêu thì hãy chết trong chiến đấu”. Ngày 6 tháng 8, ông đã có một buổi họp ở sân chùa Ấn Quang và cực lực tố cáo “Các Ban Quân Quản Bắc Việt đã cho lệnh hành quyết quá nhiều người bằng vũ khí thô sơ”. Chỉ vài ngày sau đó là công an mật đã đến bắt ông.
Anh Phạm đến ngồi sát vào tôi, ôm cứng vai tôi và với một giọng gần như vừa thịnh nộ vừa tuyệt vọng anh nói:
– ” Thật là một thảm kịch. Tất cả mọi người ai cũng đã tưởng rằng sau khi Sài Gòn bị chiếm là phải có “hòa bình” và “hòa giải”, và như thế là dân chúng Miền Nam không còn gì để mà lo sợ nữa. Thật là cả một sự điên rồ ! Nỗi lo sợ của ngày hôm nay còn tệ hơn nỗi lo sợ bị bom và đạn pháo nữa. Bởi vì nó không có thuốc chữa. Đây là một chứng bệnh nan y.. Những người không chịu bỏ súng xuống sẽ chịu đựng được bao lâu nữa? hai năm? ba năm? nhưng cuối cùng rồi họ cũng sẽ bị tiêu diệt, nếu không có một người nào giúp họ. Nếy Hoa Kỳ muốn…
– Không bao giờ , anh Phạm ơi! Hoa Kỳ không có muốn nữa đâu. Họ sẽ không làm gì nữa cả.
– Như vậy là sẽ có một cuộc nổi loạn. Một cuộc nổi dậy đầy tuyệt vọng của dân chúng Miền Nam . Anh cũng biết là cộng sản đã thả hết tù trong khám ra? như thế là các khám đường sẽ không có trống lâu nữa đâu. Không bao lâu nữa nó sẽ đầy ấp tù nhân trở lại. Và chưa kể tất cả những trại cải tạo đã có trong rừng núi… đã làm chết dần chết mòn không biết bao nhiêu người, mà không có một nhân chứng…
Tôi từ giã anh Phạm, bạn tôi, với lòng se thắt lại. Tôi biết rõ hệ thống tù đày mà anh vừa nói với tôi. Tôi đã từng là tù nhân của người Bắc Việt. Không có một sự nhân đạo nào được tách rời khỏi những mục tiêu mà người cộng sản đã nhắm vào. Phương pháp của họ, đặt trên nền tảng bí mật và tuyệt đối khắc nghiệt, là bất di bất dịch. Miền Nam Việt Nam đang bị biến đổi tận gốc rễ. Nếu cho là còn quá sớm để có thể đoán được kết quả sau cùng, thì lúc nào người ta cũng có thể dựa vào các biện pháp mà họ đang thực hiện để nhận định được đường hướng của sự biến đổi đó.
Kể từ lúc Sài Gòn bị chiếm , và từ khi chế độ cũ bị sụp đổ ngày 30 tháng 4, trên phương diện hành chánh, Miền Nam Việt Nam đã bị đặt dưới quyền cai trị của các Ban Quân Quản ở trung ương Sài Gòn hay ở các tỉnh, trên thực tế không có liên lạc gì với nhau cả. Vấn đề được đặt ra là “một Chánh Phủ dân sự” trong tương lai sẽ được thành lập ở Sài Gòn; nếu không có thực quyền thì Chánh Phủ nầy sẽ chỉ là một phái bộ đại diện của Chánh Phủ Hà Nội trong những lãnh thổ bị chiếm đóng mà thôi..
Các cơ quan hành chánh và quân sự sẽ bị ám ảnh vì những vấn đề chánh trị và những bài toán về an ninh; nhiệm vụ chủ yếu của họ là chuyển đổi tâm trạng và tinh thần của dân chúng Miền Nam cách nào để họ có thể chấp nhận một cuộc thống nhất nhanh chóng hai Miền Nam Bắc Việt Nam . Nỗ lực trước tiên là phải tiến tới việc đặt một nền tảng chánh trị và một cơ cấu hành chánh mới, nhằm bảo đảm cho dân chúng có được một môi trường vững chắc hầu tránh mọi lệch lạc về tư tưởng cũng như về hành động. Đồng thời cũng phải có nỗ lực về sự tổ chức và điều hành các trại tập trung cải tạo trong đó hầu hết các cựu cán bộ quân cán chánh phải chịu qua một thời gian tùy theo sự tiến bộ của các tù nhân theo như báo chí của Chánh Phủ đã loan báo.
Các vấn đề kinh tế chỉ là hàng thứ yếu và không phải là mối bận tâm của chánh quyền mới. Không có gì gấp rút phải làm cho bộ máy kinh tế chạy lại, và một sự trì hoãn như vậy ở Miền Nam được giữ cùng lúc với sự hạ thấp mức sống của người dân sẽ giúp thống nhất dễ dàng hơn với Miền Bắc vốn đã nghèo đói sẳn từ lâu rồi. Ngoài ra vì con số thất nghiệp tăng lên quá nhanh, một phần dân chúng Miền Nam bị đói; hành động phát gạo cho các gia đình không có lợi tức, và cho thợ thuyền của nhiều xí nghiệp, đã tập cho dân chúng Miền Nam thói quen nhờ vả vào chánh quyền .
Một hành động quan trọng khác được tiến hành để buộc những người dân lánh nạn, những người không có công ăn việc làm và tất cả những người “vô ích” phải rời khỏi thành phố để trở về nguyên quán, hoặc đi định cư trong những vùng ít dân cư mà chánh quyền đã quyết định nâng lên hàng có giá trị. Chủ tịch Huỳnh tấn Phát vừa tuyên bố là 3 triệu rưởi người phải rời khỏi thành phố ( trong số đó chỉ riêng thành phố Sài Gòn đã có 1 triệu rưởi). Mặc dầu có nhiều cố gắng trong công tác tuyên truyền và kích thích về vật chất, dân chúng chỉ trở lại ruộng rẫy của mình hết sức chậm chạp.
Nền kinh tế Miền Nam đang xuống dốc vì nạn lạm phát phi mã do không có thu nhập công cộng, do vì nền hành chánh cũ đã biến mất, do vì sự ngưng trệ gần như hoàn toàn của mọi hoạt động kinh tế . Từ ngày 1 tháng 5 đến 1 tháng 8, giá cả đã tăng vụt, lên 70%. Từ những lời tuyên bố của những đại biểu đến từ Hà Nội, người ta suy ra là Miền Bắc có khuynh hướng về kỹ nghệ, và Miền Nam thì có khuynh hướng về nông nghiệp.. Do đó mới có nhu cầu chuyển số lớn dân chúng từ thành thị về thôn quê, và chuyển cơ sở kỹ nghệ từ Miền Nam ra Miền Bắc.
Chương trình của CPLTCHMN đã có ghi rõ là tài sản của tư nhân sẽ được giữ lại và đời sống cũng như tài sản của người ngoại quốc sẽ được bảo vệ.
Tuy nhiên có nhiều tin tức có thẩm quyền từ Hà Nội và đặc biệt là bài báo được đăng ngày 28 tháng 5 trong tờ Nhân Dân, một bộ phận của đảng cộng sản, đã cho thấy nhiều hạn chế trầm trọng trong bản tuyên bố của CPLTCHMN, như: Chỉ có tài sản của tư nhân thuộc các xí nghiệp nào không có cộng tác với đế quốc hay với chánh quyền phản động cũ thì mới được bảo đảm được giữ lại.
Ông Phó Chủ Tịch của “Tổng Liên Đoàn Lao Công Tự Do” vừa tuyên bố là 70 phần trăm các xí nghiệp của Miền Nam Việt Nam kể từ nay sẽ được đặt dưới sự quản lý hành chánh.
Có rất nhiều quyết định đã khiến cho nền kinh tế tự do bị sụp đổ. và đẩy các xí nghiệp đến chỗ phá sản hoặc bị chánh quyền cộng sản “quản lý”:
– đóng cửa các ngân hàng ngay từ ngày 30 tháng 4 và phong tỏa các chương mục gởi tiền tiết kiệm, nhưng lại bắt buộc phải trả tiền ứng trước của ngân hàng; một hệ thống ngân hàng mới được thiết lập thật chậm chạp, nhưng chỉ có những xí nghiệp có “phép điều hành” mới xử dụng được.
– bắt buộc các xí nghiệp phải gánh chịu các chi phí quan trọng: tái thu nhận các nhân viên đã bị sa thải từ trước; Phải trả lương cho thợ thuyền không làm việc (vì xí nghiệp bị đóng cửa theo lệnh của chánh quyền); phải trả tiền bồi thường cho nghỉ việc thật nặng, từ ngày 30/4 / 75, cả cho nhân viên không bị sa thải hay không xin nghỉ việc.
– có biện pháp “cấm bán” mà không nghĩ gì tới nhu cầu của xí nghiệp hay các nhu cầu của thị trường.
– quyết định “quản lý” các xí nghiệp mà chủ nhân đã rời khòi nước Việt Nam hay những xí nghiệp nào mà chánh quyền còn nghi ngờ về chủ quyền thật sự của những người chủ nhân.
– Không có một khả năng nào để nhập cảng hay xuất cảng.
– Thông tin và Liên lạc với thế giới bên ngoài bị co cụm lại chỉ còn có điện báo. Đường thơ tín chỉ được thiết lập lại vào ngày 1 tháng 9, nhưng giới hạn không quá 500 gram.
Chánh quyền mới kiểm soát thật chặt chẽ và độc đoán tất cả các ngành kinh tế.
Kể từ ngáy 30 tháng 4, mà cộng sản gọi là “ngày giải phóng”, Ban Quân Quản nắm quyền kiểm soát hầu hết các xí nghiệp; trong hai tháng, hoạt động chính yếu của họ chỉ có thiết lập các bản kiểm kê tất cả tài sản, bất động sản và động sản và các kho tàng hiện hữu.
Từ ngày 1 tháng 7, có những vị “Giám Sát Trung ương” được đặt vào các xí nghiệp. Họ là đại biểu của chánh quyền, vừa là Giám Sát, kiểm tra tài chánh, vừa là cán bộ của Chánh Phủ, có đầy đủ thẩm quyền điều tra rộng rãi. Tất cả mọi dịch vụ của xí nghiệp đều phải được “khán” qua và “chấp thuận” của những vị Giám Sát nầy.
Tuy nhiên chủ nhân của xí nghiệp vẫn cón trách nhiệm đối với xí nghiệp, mặc dầu đã mất hết quyền hành.
Có những công ty quốc doanh hay những tổ chức “bán chánh thức” được thành hình để bảo đảm việc phân phối hay bán ra hết mọi sản phẩm làm ra; các xí nghiệp không được quyền từ khước dịch vụ của những tổ chức đó.
Giá cả được chánh quyền đơn phương ấn định, nhưng các nơi mua trả tiền thật chậm trể. Có một số cơ quan quân sự hoặc hành chánh đã đem bán lại ngoài thị trường tất cả hay một phần hàng hóa mà họ đã mua được của các xí nghiệp.
Kế hoạch sản xuất và những sự hướng dẫn đều được các Bộ ở Hà Nội thiết lập; không có một cơ quan hành chánh kinh tế nào thật sự có mặt ở Sài Gòn.
Hầu hết tất cả dịch vụ xuất nhập cảng đều ngừng hẳn. Tất cả những giao dịch với ngoại quốc được giới hạn trong vài chuyến hàng lặt vặt do những “quốc gia anh em” gởi tặng với tư cách nhân đạo (lương thực và xăng dầu của Liên Xô, đường của Cuba v.v..)
Những hiệp ước hữu nghị và hợp tác kinh tế được ký với Liên Xô, với Algérie, với Lybye và Irak đã được chánh quyền loan báo, nhưng nội dung không bao giờ được tiết lộ. Úc Châu cũng như một số quốc gia Bắc Âu cũng có hứa sẽ viện trợ kinh tế.
Có nhiều kho dự trữ hàng hóa coi như sẵn sàng để xuất khẩu, nhưng do vì chánh quyền hoàn toàn không có đủ khả năng, nên số hàng hóa đó vẫn bị phong tỏa tại chỗ. Tương lai của các xí nghiệp Pháp bị liên lụy rất trầm trọng. Không có một thể thức chánh trị tổng quát nào được ấn định. Những sự trưng dụng và những sự tạm giữ đương nhiên đã làm hại các xí nghiệp Việt Nam và của Pháp không phân biệt, theo từng lãnh vực hoạt động, như những ngân hàng và những đồn điền lớn. Một số dịch vụ được dành riêng cho chánh quyền (thuê bao phương tiện hàng hải và cước phí cho tàu bè). Buôn bán qua dịch vụ nhập cảng cũng thuộc độc quyền của Nhà Nước.
Không còn gì nghi ngờ là Hà Nội đã có vẻ chống đối sự duy trì những hoạt động kinh tế của người Pháp. Vị thế của Hà Nội xem ra rất là đơn giản: Vào năm 1954, tất cả mọi quyền lợi của người Pháp ở Bắc Việt đều mất sạch tiếp theo sự kiện Điện Biên Phủ. Năm 1975 ngày nay quyền lợi của người Pháp chắc cũng sẽ bị mất hết ở Miền Nam Việt Nam sau ngày cộng sản chiếm được Sài Gòn. Chưa có một lời tuyên bố chánh thức nào được loan báo theo chìu hướng nầy , nhưng các cán bộ cách mạng đã nhiều lần khoe khoang với cử tọa Việt Nam về sự tình nầy.
Hầu hết các xí nghiệp Pháp đang lâm vào tình trạng sắp bị phá sản, trừ một vài trường hợp ngoại lệ đặc biệt có được hoàn cảnh may mắn (còn tồn trữ được nhiều nguyên liệu lúc mất Miền Nam , hay xử dụng nguyên liệu địa phương):
– tiền mặt trong kho đã cạn, chi thường quá cao mà thu thì không có gì, đã không nhận được tiền ứng trước của ngân hàng, mà còn phải hoàn trả các khoản cho vay của ngân hàng từ trước ngày mất Miền Nam.
– Nguyên liệu tồn trữ cạn dần mà hoàn toàn không có khả năng thay thế trong tất cả mọi trường hợp.
– Trước tiên là chánh quyền quân sự, bây giờ có khi là chánh quyền dân sự , nhưng trong mọi trường hợp cả hai đều không chút quan tâm đến tương lai của các xí nghiệp.
– Nghiệp vụ bán sản phẩm đã bắt đầu được các tổ chức “Bán-Chánh Phủ” ưu ái lo lắng hết giùm.
– Tất cả các chủ nhân xí nghiệp đều mất hết quyền quyết định.
Nếu vì nhờ sự khéo léo của các vị giám đốc và nhờ họ có giúp đỡ qua lại giữa họ với nhau , nên phần lớn các xí nghiệp chưa đóng cửa, một số khá lớn công ty đã quyết định cho hồi hương nhân viên người Pháp. Văn phòng và Ban Điều Hành của Phòng Thương Mãi Pháp chỉ còn có 12 trên 32 người hiện diện trước khi Sài Gòn bị chiếm đóng.
Các xí nghiệp chi dùng tất cả những gì mà họ hiện có; hầu hết đều bị đẩy vào tình thế suy sụp mà vì họ còn cố gắng giữ cho xí nghiệp không bị phá sản nên tình trạng tài chánh của họ càng ngày càng thêm bi đát. Từ bây giờ là đã có một số xí nghiệp thấy cần phải đi đến quyết định đóng cửa. Nhưng chánh quyền quân sự đã chẳng những không cho phép mà họ còn bắt buộc họ phải tiếp tục trả lương cho nhân viên của họ; ngay như chuyện cho nghỉ việc từng phần cũng bị cấm. Và như thế là các giám đốc công ty, xí nghiệp người Pháp đang trở thành những “con tin” của thợ thuyền.
Trên bình diện nhân viên, người Pháp ở mọi đẳng cấp đều rất chán nản. Từ hơn 4 tháng nay họ không được ra khỏi Sài Gòn và không nhận được thư từ báo chí nào hết. Tình trạng sinh sống của họ thật là rất khó khăn. Thuốc men tìm không ra , và các bệnh viện thì cũng không có thuốc. Không có một quyết định nào cho ngày tựu trường. Mọi sự liên lạc với chánh quyền đôi lúc không được nhã nhặn lắm, và rất là khó khăn với các Ủy Ban cách mạng . Có quá nhiều chuyện tịch thu nhà cửa. Không có một sự bảo đảm nào để tìm lại được căn nhà và bàn tủ ghế của mình lúc mình vắng mặt, mà cũng không được phép gởi hay mang theo những vật dụng cá nhân của mình, nếu có may mắn được rời khỏi Sài Gòn . Xin được một chiếu khán xuất cảnh không có nghĩa là sẽ có được một chỗ trên phi cơ. Và có được một chỗ trên chuyến bay không có nghĩa là vào được phi trường; đã có nhiều chuyến đi bị hủy bỏ vào giờ chót. Và cứ thế hầu hết người Pháp đều mong mỏi được rời khỏi Việt Nam.
Do đó, giữ được quyền lợi kinh tế của người Pháp ở Việt Nam quả là một điều quá không chắc chắn, vì nó tùy thuộc hoàn toàn vào những yếu tố chánh trị.
Những hoạt động quan trọng đã không còn nữa; các ngân hàng bị chiếm hữu và bị tịch thu, các hảng bảo kê đang nằm chờ để “tự giải tán”, chuyện ký gởi tàu thuyền và môi giới hàng hải đã bị cấm; nghiệp vụ nhập cảng thì cũng bị cấm, hàng xuất khẩu của các đồn điền lớn bị “quản lý” (tạm giữ)
Nói một cách tổng quát thì tất cả những xí nghiệp (lớn nhỏ, hay trung bình) được xem như bị tiêu tan trong một thời gian quá ngắn.
Những người đại diện cho quyền lợi kinh tế của người Pháp ở Việt Nam đã mất hết hy vọng đã rời khỏi Việt Nam hay đang cố gắng để rời khỏi nơi đây. Những biện pháp mới liên quan đến sự ra đi của những người có trách nhiệm trong xí nghiệp đã biến họ thành những con tin trong tay chánh quyền và những Ủy Ban Cách mạng ở địa phương.. Xí nghiệp thì bị cấm không cho đóng cửa , mà nhân viên thì phải được tiếp tục trả lương!
Một sự tranh chấp rất nặng nề đang sắp được diễn ra…

——————————–

1Có một cuốn phim loại được anh Phạm vừa kể cho tôi nghe đã được chiếu thật sự ở Tây Đức, cách đây 2 tháng.

Vĩnh biệt Sài Gòn

 Jean Lartéguy

Phạm Kim Vinh dịch

Nhà xuất bản Thế Giới 1991

Post by Sơn râu 9 Apr 2024

5. Chương 5

Thứ Ba ngày 29 tháng 4

Giới nghiêm trong hai mươi bốn giờ để người Mỹ di tản những người Mỹ sau chót (chừng một ngàn người) và hàng chục ngàn người Việt Nam từng được Mỹ hứa hẹn cho đi theo.

Nếu tuân theo lệnh giới nghiêm thì chúng tôi không thể nào ra khỏi Saigon đang bị bao vây và cũng không thể ra khỏi khách sạn. Nhưng cái chính phủ này không có đời sống vì rằng nó chỉ được một nhóm chính trị gia thừa nhận.

Quân đội, nghĩa là những gì còn lại của quân đội, cái quân đội cầm quyền từ thời Diệm, đã không được người ta hỏi ý kiến. Người ta không thấy quân đội làm cho việc giới nghiêm được tôn trọng, cảnh sát thì vắng mặt một cách kỳ lạ.

Cuộc bàn giao quyền hành chiều ngày hôm qua: lại một tuần hát bội vụng về.

Thế mà ông già Hương đã trau chuốt bài diễn văn của ông ta:

“Một trang lịch sử đã mở qua, một trang sử mới sẽ được Tướng Dương văn Minh viết… Đại tướng không những sẽ cần có thiện chí mà cần có can đảm nữa. Khi bác bỏ một giải pháp quân sự chúng ta đã chọn con đường hòa giải, hòa hợp và hòa bình…”

Trái với điều làm cho người ta tưởng, Hương xác nhận với tôi rằng Tướng Minh không có một tiếp xúc nào với Mặt trận Giải phóng. Ông ta chỉ còn có một mình. Nhưng quốc hội đã để cho các tướng lãnh thức dậy, nhất là Tướng Tổng trưởng Trần văn Đôn, Phát ngôn viên cho Sứ quán Pháp tại quốc hội này. Ai cũng tưởng rằng số phận của Nam Việt Nam được định đoạt tại Ba Lê.

Minh đã trả lời ông Hương cũng bằng một giọng nói cao cả:

“Chấp nhận điều khiển đất nước trong những điều kiện hiện tại chẳng có gì là vui thú. Chính phủ do tôi được chỉ định thành lập sẽ là chính phủ hòa giải quốc gia và tôi mạnh mẽ tin tưởng rằng chính phủ ấy sẽ có thể nốì tiếp những cuộc thương thuyết với Mặt trận Giải phóng”.

Ông ta nói với quân đội:

“Các bạn phải bảo vệ lãnh thổ còn lại, bảo vệ hòa bình và giữ cho tinh thần cao. Khi đã đạt được cuộc ngưng bắn thì các bạn phải tuyệt đối tôn trọng. Trong những vùng mà các bạn kiểm soát, các bạn phải gìn giữ an ninh và tài sản của đồng bào, không bao giờ rời bỏ hàng ngũ, không bỏ vũ khí và phải tuân theo các mệnh lệnh ban ra trong bất cứ trường hợp nào. Mọi hành động bất tuân kỷ luật sẽ bị nghiêm trị.”

Tướng Minh anh dũng! Ai sẽ trừng phạt các binh sĩ bây giờ đây? Những người đang đào ngũ không chạy sang phía cộng sản. Họ giữ lấy khí giới để cướp hoặc nếu cần thì để tự vệ.

Chẳng còn tướng lãnh nào để mà truyền lệnh, và các tá đã chuẩn bị hành lý. Chỉ có một vài đơn vị còn giữ được những cấp chỉ huy như trường Võ Bị Đà Lạt và các đơn vị Dù là không rơi vào sự hỗn loạn.

Hôm qua chúng tôi trông thấy những người lính chạy trốn, mang theo vợ con lúc nhúc, tháo bỏ những gì cồng kềnh như mũ sắt, áo giáp, chỉ còn giữ có quần áo lót và khẩu súng. Và sau họ là làn sóng người tị nạn như đàn kiến, kéo theo hoặc mang theo những cái bao lớn như con người của họ. Có những người thân thể băng bó dính đầy máu và bùn. Mặt hốc hác, đôi mắt hết sinh khí.

 Đôi khi họ phát ra một tiếng kêu, tiếng kêu của một con vật.

Một trong những người tị nạn bị té lăn xuống một cái hố, bị làn sóng người bỏ lại. Tiếng dục nhau: “Mau lên, mau lên”. Người già, đàn bà và trẻ em đi lẫn vào với những người lính bỏ cuộc, ngồi trên chiếc xe bò, xe à cút tơ, xe vận tải, quang gánh trên vai, tay bồng con nhỏ hoặc đẩy xe đạp chở nặng một cách không tưởng tượng nổi. Và khi người ta hỏi họ tại sao phải rời bỏ làng xóm thì họ trả lời là họ chẳng biết gì, rằng họ sợ.

Họ đi về Saigon, cuốn trôi những hàng rào cản mỉa mai mà những người lính đã vội vàng dựng lên trên xa lộ Biên Hòa. số binh sĩ càng ngày càng giảm và họ bắn những loạt súng M-16 lên trời thay cho những tiếng còi.

Một phần của đám người đã được hướng dẫn về phía nghĩa trang quân đội và tìm chổ ở tạm ngay trên những ngôi mả, có nhiều ngôi mả mới, nhưng những người khác tiếp tục đi tới.

Tối hôm qua, người ta còn đặt mìn trên các cây cầu bắc ngang sông Đồng Nai nhưng chỉ có một cây sập. Thỉnh thoảng lại có một trái hỏa tiễn rớt xuống ruộng, làm bắn bùn lên đám đông khiến cho họ tản mát và hét lên. Một đùi người bị cắt đứt ngang đầu gối nằm ở giữa đường trong khối thịt bầy nhầy.

Nhưng Tướng Minh anh dũng vẫn cứ tiếp tục đọc diễn văn:

“Hỡi những người anh em phía bên kia, tôi thành thật muốn hòa giải và các bạn biết rõ điều ấy. Tôi yêu cầu mỗi tầng lớp dân chúng tôn trọng quyền sống của mỗi người. Đó là tinh thần các thỏa hiệp Ba-Lê. Các bạn đòi tôn trọng thỏa hiệp và chúng tôi cũng thế. Chúng ta phải ngồi lại cùng một bàn để tìm giải pháp hữu hiệu nhất cho quốc gia và dân tộc. Để chấm dứt mau lẹ những khổ cực của nhân dân và binh sĩ, tôi đề nghị chúng ta ngưng ngay những cuộc tấn công lẫn nhau. Tôi hy vọng rằng các bạn chấp nhận đề nghị này và thương thuyết sẽ có thể khởi sự sau khi thành lập chính phủ”.

Câu trả lời đến ngay. Những hỏa tiễn rớt xuống dinh: Bọn Việt cộng không muốn nói chuyện với ai nữa, kể cả Tướng Minh. Bọn chúng không hề có ý muốn thương thuyết. Các thỏa hiệp Ba Lê: Một trái chanh đã bị chúng liệng bỏ sau khi vắt hết đến giọt cuối cùng. Chúng chỉ nhận một sự đầu hàng không điều kiện. Và còn đòi nhiều nữa. Chúng muốn trừng phạt cái thành phố này vì đã xua đuổi chúng hai lần vào năm 1945 và 1968.

Trận đấu kỳ lạ, một kẻ muốn làm thằng điếc còn kẻ kia thì mù.

Tại Ba-Lê, Mặt trận Giải phóng đòi tiêu hủy bộ máy chiến tranh của Saigon nhưng tại Saigon, là nơi Mặt trận Giải phóng dường như không được quyền nói chuyện với ai, những viên chỉ huy người Bắc từ chối cuộc đối thoại và bắn ra những hỏa tiễn.

Saigon sẽ bị trừng phạt, Saigon sẽ bị tàn phá vì có tội, vì đã hưởng thụ quá kỹ nhờ chiến tranh trong khi những người khác phải đánh giặc.

Đã nhiều lần, Tướng Minh nói với tôi rằng ông ta phục Tướng De Gaulle và phục cái nhìn chính trị của De Gaulle. Gần đây, ông tuyên bố muốn được làm như De Gaulle.

Hương muốn được làm như Pétain. Khi thay thế Hương, Minh chỉ có thể làm cùng một thứ việc. Trong diễn văn, ông ta có giọng nói của vị thống chế già của nước Pháp.

Con người miền Nam nầy thật gần với người Pháp chúng ta và sự sụp đổ của họ thật giống như cuộc sụp đổ của chúng ta năm 1940.

Tôi biết rõ hai người sắp lập chính phủ Minh, cả hai đều là người khả kính nhưng không được Việt Minh hoan nghênh vì họ có sự nghiệp chính trị dài.

Vũ văn Mẫu, Thạc sĩ Luật khoa của Pháp, Giáo sư Đại học xuất sắc, đã từng ngồi xử án tại Hà Nội, Khoa trưởng trường Luật, Tổng trưởng Ngoại giao của Ngô Đình Diệm. Là Phật tử thuần thành, ông ta từ chức để phản đối sự hành hạ những người Phật tử. Ông ta là Đại sứ của chính phủ Minh tại Luân Đôn. Thời Thiệu đắc cử nghị sĩ, ông ta không ngớt phản đối chế độ và trở thành người cầm đầu phe đối lập hợp pháp, Ngôn ngữ hoạt bát thông minh, không thiếu óc hài hước, từ một năm nay, ông ta được coi là đầu não cho Minh. Minh làm gì cũng hỏi ý kiến ông ta.

Là người thành thật tin tưởng ở sự chủ hòa vì xác tín tôn giáo, ông ta điều khiển phong trào “Các Lực Lượng Hòa Giải” và ca tụng các lực lượng ấy từ khi ký các thỏa hiệp Ba Lê.

Ông ta sẽ là Thủ tướng.

Nguyễn văn Huyền là một người thuộc thành phần khác. Ông ta là một người Công giáo trước khi là chính trị gia. Người ta nói ông ta là người tin ở những điều huyền bí. Là người lương thiện, đạo đức và cứng rắn, ông ta cho người ta cái cảm tưởng là một thầy tu đã lấy vợ rồi thì điều gì cũng dựa vào Chúa Trời. Ông ta là một trong những người được kính nể nhất miền Nam, ít ra cũng ở cái vũng lầy chính trị trong đó có tất cả những con ếch kêu ì ọp mà Thiệu liệng cho chút ân huệ để im tiếng. Ông ta hạ ứng cử viên gà của Thiệu và được bầu làm Chủ tịch Thượng viện.

Năm 1974, ông ta từ chức, bỏ luôn cả chức nghị sĩ của ông ta nữa.

Ông ta không ưa Tướng Tổng thống Thiệu. Ông ta trách Thiệu là người tham nhũng, có lối sống trụy lạc và ít tôn trọng hiến pháp. Đôi khi Thiệu gây ra những cơn khủng hoảng và tại Vũng Tàu, tham dự những vụ “giải trí ’ rẻ tiền theo kiểu hạ sĩ quan của thời thực dân Pháp.

Nếu Vũ văn Mẫu là bộ óc của Minh thì Nguyễn văn Huyền là lương tâm của Minh. Là người chủ trương tôn trọng các thỏa hiệp Genève vì ông ta thực tế và vì cho rằng không còn con đường nào khác, ông ta được đặc biệt chỉ định để thương thuyết với chính phủ cách mạng lâm thời.

Các Tổng trưởng khác không được chỉ định.

Tám giờ sáng. Lý thị Dương, nhà “sư nữ” làm thông dịch viên cho chúng tôi hôm nay đã trút bỏ bộ đồ nâu sòng may ở nhà Dior để mặc một bộ đồ khác kín đáo hơn. Bà ta cho chúng tôi hay rằng bà ta biết một tòa nhà mà sân thượng được dùng làm bãi đáp để máy bay trực thăng Mỹ đáp xuống cho người di cư.

Bà ta có thể đưa chúng tôi vào tòa nhà ấy vì đó là nhà… của bà ta. Con người kỳ lạ! Trước khi rời miền Nam Việt Nam, chúng tôi được biết rằng bà ta là một trong những người giầu nhất Saigon, có nhà ngân hàng số hai của thành phố này, nhà máy dùng mười ngàn công nhân, một công ty hàng hải và còn nữa. Tài sản của bà ta trị giá 18 tỉ bạc.

Chúng tôi đi tới tòa nhà ấy. Nhà mới xây gần đây, tối tân, cao sáu tầng và tọa lạc tại số 6 của công viên ở gần tòa nhà viện Đại Học Saigon.

Công viên này là một cái trụ vĩ đại cắm sâu vào cái mai con rùa, chung quanh có nước để trẻ nhỏ giỡn chơi. Đó là công trường tượng trưng cho viện trợ quốc tế cho Nam Việt Nam. Nhưng những ai biết bề sau của công trường này sẽ cho chúng ta biết rằng Thiệu cho xây cái đài ấy để đóng đinh cái đuôi còn rồng nằm dưới đất đe dọa Saigon.

Chúng tôi leo lên mái nhà cùng với toán chuyên viên truyền hình. Tòa nhà này hoàn toàn được dùng làm văn phòng cho các nhân viên sứ quán Mỹ và cho các chi nhánh của sứ quán Mỹ. Trên sân thượng, có một cái sân khiêu vũ sơn màu đen, mang con số 23 màu vàng: Đó là một sân đáp trực thăng cấp thời.

Chung quanh tòa nhà có lưới sắt, có người mang súng canh gác và chỉ mở cửa cho những ai nói đúng mật hiệu. Một chiếc xe bự mầu trắng trên mui có đèn rọi và còi hụ vừa nhả ra hai người và hai người này lập tức nhẩy vào một căn phòng của một tòa nhà.

Một trong hai người đó là một người lực lưỡng như kiểu điệp viên James Bond, chưa cạo râu, bồn chồn nóng nảy và khi đi ngang qua, hắn bảo hắn trông tôi khó ưa. Những người lính gác Việt Nam nhìn chúng tôi và hy vọng rằng chúng tôi sẽ đánh lộn.

Những căn phòng của tầng lầu thứ sáu đều có người đang ở. Tôi gõ cửa nhưng không ai trả lời. Chỉ có một dân to con, râu quai nón mặc quần lót nhẩy ra yêu cầu chúng tôi để yên cho hắn ngủ. Không, hắn không tính chuyện di cư. Hắn ở đây được lắm mà.

Di tản? Chưa nghe nói bao giờ. Hắn đóng sầm cửa vào mũi tôi. Tôi còn kịp nhìn thấy một khẩu súng M-16 có sẵn băng đạn dựa vào chiếc ghế.

Chung quanh tôi, bầu trời đầy những trực thăng đủ loại. Những con chuồn chuồn ấy ngập ngừng giây lát rồi đáp xuống một mái nhà. Trước mặt chúng tôi là sứ quán Mỹ. Trên sân thượng của sứ quán, hai chiếc trực thăng cùng đáp xuống một lượt.

Khi nào đến lượt chúng tôi? Núp sau cái chòi canh và giống như những nhà khảo cứu côn trùng, chúng tôi rình đón con bọ khổng lồ của chúng tôi.

Nó đây rồi, ngập ngừng rồi đậu xuống tro

ng tiếng đập mạnh của cánh quạt. Đó là một chiếc Iroquois đẹp, có thể chở được 12 người. Không phải là một máy bay quân sự. Đó là máy bay của Air America, hãng hàng không của CIA. Phi công là một người Mỹ và chỉ mang một súng sáu nhưng có hai tên lính đánh thuê người Phi Luật Tân mang mũ sắt, võ trang dữ dội và mặc áo giáp.

Từ dưới hầm chui lên, chúng tôi thấy anh chàng hồi nãy mặc quần lót. Lần này, hắn mang áo quần chỉnh tề. Túi quần hắn ló ra một khẩu súng lục và hắn không ngớt nói vào chiếc máy phát thanh nhỏ đang cầm tay.

Một số người thuộc thành phần khác nhau bắt đầu xuất hiện. Chúng tôi đã có mặt đúng ngay điểm di tản những dân gốc bự của CIA. Dĩ nhiên là có những dân xịa loại vệ sĩ như tên hồi nãy chút nữa tôi đụng đầu nhưng cũng có những tên “trùm”. Một trong những tên trùm này y phục rất chỉnh tề. Cà vạt, đồ lớn, áo quần ủi láng, bình tĩnh, lịch sự kiểu giáo sư tại các trường đại học danh tiếng. Được các kẻ dưới rất kính nể. Trong khi những tên khác hục hặc với tôi thì tên này bằng lòng nói chuyện. Hắn chỉ cho tôi xem cái túi đựng đồ rửa mặt của hắn.

“Tất cả những gì tôi mang theo được của cái xứ yêu dấu này chỉ có bấy nhiêu. Nhưng ít ra thì tôi cũng đi thoát được. Còn biết bao nhiêu người phải ở lại?”

“Cuộc ra đi trong tai họa này, sự bỏ rơi tất cả những người đã từng tin cậy ở chúng ta, thật là một cái nhục cho Tây phương! Và một cái nhục lớn cho chính phủ Hoa Kỳ nếu người ta có thể gọi những kẻ đang ở Hoa Thịnh Đốn là chính phủ. Năm mươi ngàn lính Mỹ đã chết để chúng ta đi với tình trạng này.”

Viên phi công giải thích cho chúng tôi biết rằng anh ta đưa các hành khách tới một chiếc mẫu hạm của hạm đội số 7 ở ngoài khơi và rằng việc di tản phải chấm dứt vào nửa đêm. Sau giờ ấy thì cộng sản sẽ bắn vào tất cả những gì ở trên trời.

Vậy thì có một thỏa hiệp giữa người Mỹ và cộng sản. Có lẽ đã có thỏa hiệp tại Ba-Lê, ở cấp cao nhất giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn.

Viên phi công nhìn đồng hồ rồi bảo chúng tôi: “Nào, lên máy bay đi”. Anh ta tưởng chúng tôi là toán nhân viên truyền hình người Mỹ và anh ta tin chắc rằng chúng tôi sẽ cùng đi với anh ta.

Ở tầng dưới, đám đông dồn tới trong khi các xe lớn và xe nhỏ của Mỹ ùn ùn kéo tới nhả người ra.

Tôi lại gần để xem. Ở phía bên rào sắt là toàn thể nhân viên sứ quán Ý với viên đại sứ cùng người vợ tuổi đã cao, đang đứng dưới nắng. Người ta chờ viên Đại sứ Hòa Lan. Người ta không chịu mở cửa cho ông ta, các nhà ngoại giao Nhật do dự vì họ chưa biết phải làm gì. Họ sẽ ở lại. Và cả một khối người dồn tới hàng rào. Một chiếc xe Mercedes mầu đen rèm cửa buông kín chạy vòng quanh, đàng trước có những người cỡi xe gắn máy hộ tống. Hai bên đầu mũi xe có cây sắt để cắm cờ. Ai vậy?

Tổng trưởng nào hoặc chủ tịch nào? Có lẽ đó là viên tham mưu trưởng của quân đội?

Một số gia đình Việt Nam gồm đàn bà, trẻ em và bà già cùng với vô số va-li và gói đồ đã vào trong tòa nhà cùng với một vài người dân sự Mỹ.

Tòa nhà Lý thị Dương thân mến như vậy là một cái phi trường trực thăng trên mái nhà cho các “nhân vật”, còn dưới nhà dùng làm nơi tập trung cho những người kém quan trọng.

Trong cái làn sóng người này, vài nhân vật hữu trách Mỹ hoàn toàn bị tràn ngập.

Tôi bắt đầu hiểu chuyện gì xẩy ra. Người Mỹ đã lập những danh sách đầy đủ. Họ đã dự trù di tản một số gia đình nhưng họ không bao giờ nghĩ rằng một gia đình Việt Nam không phải chỉ gồm cha mẹ và ba bốn đứa con mà còn gồm cả ông bà, các chú, các bác, cô dì cháu chắt và bầu đoàn thê tử của lũ con cháu nữa: ít nhất là bốn mươi người. Và rằng tại Chợ Lớn, người ta đã in những danh sách giả cho cuộc di tản. Tôi đã có ở trong tay nhiều danh sách giả như thế. Làm giả đủ mọi cách và bán với giá nhiều triệu bạc.

Trong tòa nhà này, có những người có tên trong danh sách thiệt lẫn với cả những người có tên trong danh sách giả. Sự rối loạn thật là hoàn toàn. Vì không hiểu gì hết nên những người hữu trách Mỹ đã chạy trốn lên tầng lầu sáu rồi đóng chặt cửa phòng lại. Trên sân thượng, chiếc trực thăng vẫn nằm chờ lệnh cất cánh.

Thế là mọi người nhào đến chỗ tôi. Người ta muốn trao cho tôi những đứa trẻ. Tôi chẳng làm được gì mà người ta cũng năn nỉ tôi cứu giúp. Người ta cho tôi xem những vé máy bay của các hãng hàng không từ hai ngày nay không đáp xuống Saigon nữa và những giấy chứng nhận đủ mọi loại bằng tiếng Anh, Pháp và Việt ngữ.

Một người chừng năm chục tuổi nói với tôi:

– Xin ông làm ơn cho tôi đi với ông. Chúng tôi thì chẳng cần đi nữa nhưng còn nó thì phải cho nó học tại một nước tự do.

Tôi hỏi ông ta:

-Thế còn ông?

Ông ta cúi đầu:

– Danh sách của chúng tôi không đúng hẳn là thứ thiệt.

– Ông lo ngại gì?

– Tôi là giáo sư. Tôi chưa bao giờ làm việc với người Mỹ.

Trong số những người có mặt tại đây, người ta gặp đủ thứ: Có người làm giầu nhờ người Mỹ, có người làm cho Mỹ và có những người muốn ra đi chỉ vì sợ những con người đến từ hành tinh khác, từ Hà Nội, những con người có dáng đi nhẹ nhàng và những cử chỉ cân nhắc.

Lý thị Dương phân phát nước cam và ly uống nước. Tôi kéo bà ta ra một chỗ và hỏi:

– Tại sao bà không đi? Tôi biết rằng chiếc trực thăng trên mái nhà nầy sẵn sàng cho bà đi. Bà được ghi tên trên một danh sách đặc biệt. Bà tốt nghiệp tại một đại học lớn ở Mỹ. Một phần gia đình của bà ở Gia Nã Đại, một phần khác thì ở Pháp. Hai đứa con của bà đã có mặt tại Pháp. Bà không thiếu tiền. Bà nói tiếng Pháp, Anh, Nhật, bà có bằng Tiến sĩ kinh tế. Tại sao bà không đi?

Bà ta bật cười lúng túng:

– Không có tôi thì làm sao ông phỏng vấn được? Tôi không thể nào bỏ xứ sở của tôi theo chân của những kẻ tuy hứa hẹn tốt đẹp nhưng đã bỏ rơi chúng tôi. Tôi không muốn là một kẻ lưu vong. Tôi muốn làm việc bằng chân tay, tuy mất hết nhưng được ở lại nước tôi.

“Tôi sợ hãi những kẻ sắp tới, sợ những phương pháp của họ. Cách sống của họ làm tôi ngại ngùng. Tôi ở lại. Dầu cho tôi có bị tước hết tài sản của cải. Có lẽ người ta sẽ cho tôi giữ lại nghề dạy học, có lẽ họ sẽ hiểu là họ cần những người như tôi vì tôi biết rõ những cơ cấu phức tạp của môn tài chánh tân tiến. Có lẽ…”

Tôi ra khỏi tòa nhà. Phía bên kia rào sắt, cả một đám đông đứng chờ. Không kêu, không khóc. Đôi khi có cơn tức giận hoặc cơn thất vọng.

Một người đứng đó, riêng biệt khỏi đám đông. Đối với người Việt Nam thì ông ta là người to con, tóc trắng, dong dỏng cao tuy tuổi đã lớn, quần áo cũ nhưng chiếc áọ rất trắng và thắt cà vạt, một chiếc va-li nhỏ bằng giấy để dưới chân.

Tiếng Pháp của ông ta hoàn hảo:

– Tôi chỉ có một mình, tôi nghèo. Tôi đã bẩy mươi tuổi. Tôi chẳng còn ai nữa nhưng tôi muốn đi…

– Tại sao vậy?

– Thời Pháp, tôi là Giám đốc sở Săn Bắn Đông Dương và là thợ săn nổi tiếng nhất của bán đảo. Một người thợ săn chỉ có thể sống tự do và những kẻ sắp tới sẽ không để cho tôi được tự do.

– Ông có tên trong danh sách không?

– Không. Tôi không có phương tiện. Phải trả tới hai hoặc ba chục ngàn mỹ kim. Thế mà tôi vẫn muốn đi Pháp. Tất cả bạn hữu tôi đang sống tại Pháp, Tôi không biết những người Mỹ này.

Và dưới cái nắng chói chang tàn nhẫn này, ông ta kể thuộc lòng tên những con vật mà ông ta bắn hạ tại cao nguyên Bolovens, những rừng rú tại cao nguyên hoặc tại xứ Mọi, nơi mà người bạn của ông ta là vua Bảo Đại, một cây súng giỏi, đã tạo được thành tích đẹp nhất thế giới: 257 con cọp, 180 con gấu…

Một phụ nữ Việt gốc Âu Châu còn trẻ nói với tôi:

– Tôi muốn đi cùng với chồng Việt của tôi. Cả hai chúng tôi đều là giáo sư của hội Văn Hóa Pháp. Người ta chẳng làm gì để giúp chúng tôi di tản. Cho nên tôi mới tới đây. Có lẽ người Mỹ sẽ hào hiệp hơn. Chúng tôi nghèo nên không thể trả hàng chục ngàn mỹ kim mà người ta đòi chúng tôi. Nhưng chúng tôi muốn cùng đi với con cái sống tự do. Nếu ông biết ông Lãnh sự Pháp, ông có thể đưa cho ông ta lá thơ này. Ông đó đã từ chối tiếp chúng tôi.

Bây giờ thì có hơn một trăm người đứng trước tòa nhà, người thì mang những túi vải, có người thì mang những va-li Samsonite lộng lẫy, cùng với những đứa trẻ rất ngoan mở mắt to vì ngạc nhiên và đang mút ngón tay.

Tất cả những người ngủ mơ đó, vừa mới rớt từ mái nhà xuống và đang dụi mắt. Họ vẫn không hiểu.

Trực thăng không ngưng đáp xuống và cất cánh tại sứ quán Mỹ. Trước cửa sứ quán, người Mỹ và Việt, những người được chọn lựa, vứt bỏ những chiếc xe hơi tráng lệ cho đám người bất lương xâu xé. Nếu không thể cướp luôn cả chiếc xe thì những đám người này lột đệm xe, bánh xe và những phụ tùng khác.

Có cả trăm, cả ngàn người đang xô nhau trước tấm cửa sắt có Thủy Quân Lục Chiến canh giữ.

Một người đàn bà khóc trong khi thiên hạ mổ xẻ chiếc xe Mercedes của bà ta. Bà ta lập lại:

– Thế mà tụi nó hứa sẽ cho chúng tôi đi.

Khi người Pháp chúng tôi từ giã Hà Nội, chúng tôi có tác phong khác. Chúng tôi còn có thời giờ nói lời giã biệt với những người chết mà chúng tôi để lại trong những ngôi mả cỏ mọc rêu phong.

11 giờ sáng. Chúng tôi lái xe tới Tân cảng. Thời tiết càng lúc càng nóng ngột ngạt. Đàn ông, đàn bà và trẻ em mình đầy bùn chui qua những rào gỗ có mắc kẽm gai, lúc nhúc như những con sâu. Họ lội bùn để chui vào những kho hàng của người Mỹ mà trước đó hai ngày còn có những chiếc tàu mang cờ hiệu, những hãng hàng hải lớn nhất thế giới dỡ hàng xuống. Họ mang trên vai những gì đã vồ được: gạo, thịt, nước trái cây, kẹo, quạt máy, máy xay, gỗ, tôn, bất cứ thứ gì. Tôn và gỗ sẽ đắc dụng còn máy điều hòa không khí chắc sẽ chẳng còn hợp thời nữa.

Các bà già răng đen đã bắt đầu ngồi xổm dạm bán những món hàng vừa vớ được, bán để lấy những tờ bạc từ nay trở thành vô dụng. Một trạm cảnh sát. Các cảnh sát viên chẳng buồn mang súng và để mặc cho người ta cướp đồ. Một lát sau thì một viên cảnh sát gia nhập đoàn người lúc nhúc để cướp. Những cảnh sát viên khác theo sau.

Một người đàn ông lớn tuổi đứng dựa vào xe đạp nói với tôi:

– Thưa ông, ông có thấy là nhục nhã không trong khi mà quốc gia lớn nhất thế giới là nước Mỹ lại bỏ rơi quốc gia nhỏ nhất là Nam Việt Nam để sáng nay, diện tích chỉ còn có Saigon. Tôi cảm thấy nhục thay cho họ.

Đại lộ đầy rác đủ loại. Bỗng có những hồi còi hụ và những tràng súng tiểu liên bắn lên trời: Quân đội Nam Việt Nam rút lui. Một đoàn xe khổng lồ đèn rọi sáng chạy về phía Saigon gồm có những xe vận tải lẫn với những xe chở chiến xa, xe ủi đất, xe thiết giáp gắn đại liên, còi kèn bóp om xòm.

Ở giữa đoàn xe ấy có những người lính, người thì đi bộ, người thì cưỡi xe gắn máy nhưng đa số còn giữ được vũ khí cá nhân. Một nửa số người ngồi trên các chiến xa là đàn bà và trẻ em. Một bà cụ già ngồi bình thản trên một chiếc xe ủi đất vĩ đại, cười và nắm chắc trong tay cái túi đựng mấy thứ quần áo rách rưởi.

Xe đạp, xe gắn máy, những thùng đồ hộp chồng chất lên trên những xe GMC và lọt vào trong đoàn xe ấy có một xe chở đầy heo.

Tại Phú Thọ, giữa Tân Sơn Nhất và Chợ Lớn, nhà cháy rụi và nổ như những hộp quẹt. Trên lề đường, những tấm tôn chi chít những vết đạn và bên một chiếc xích lô ba bánh, có ba xác chết: Một người lính và hai thường dân chết vì một loạt đạn nhưng chẳng ai buồn lượm xác họ. Ngày mai vẫn còn những xác chết ở đó. Lửa bốc cháy vào những cột điện. Lửa cháy dọc theo đường dây điện. Chẳng có ai để dập tắt cả khu này sẽ cháy rụi chăng? Những loạt đạn nổ bên trái và bên phải. Ai bắn và bắn ai? Và vẫn còn cái vũ khúc của những trực thăng nhả người xuốhg sân bay Tân Sơn Nhất.

Nạn hôi của lan tràn. Chỗ này, người ta cướp một căn nhà trước đó do người Mỹ ở, Đây là nhà thờ Báp Tít. Xa hơn nữa là một nhà thương. Chỗ nào cũng bị cướp: Bồn tắm, chậu rửa, quạt máy, kệ gỗ, máy xay, giây điện.,

Cảnh sát cũng thi đua cướp phá. Hai bà già khệ nệ cùng nhau khiêng một chiếc tủ bự trong khi ba chiếc xe vận tải chạy vụt qua chở đầy lính Dù. Họ bắn mọi thứ súng lên trời. Họ không cần chú ý tới sự hỗn loạn. Họ đang vội vàng đi chiếm đóng các vị trí sau chót để tìm cậch trấn giữ. Nếu không thì có thể họ sẽ đi về phía đồng bằng nơi đó có cả một quân đoàn còn đang giữ vững và dường như còn muốn chiến đấu.

Không còn trật tự, luật pháp và chính phủ nữa. Cộng quân gác súng dưới chân khoanh tay chờ cho Saigon tự tan rã. Ngày mai, người ta sẽ giết hhau tại Saigon vì một két la de. Một số người đã bắt đầu mong mỏi đến đón tiếp ngay thứ mệnh lệnh lạnh lùng kèm nụ cười giết người của những con người từ hành tinh khác tới.

Ở bên cạnh nhà hàng Continental, người ta cướp phá trụ sở cơ quan viện trợ quân sự Mỹ. Từ trong cửa sổ, tôi trông thấy những cảnh sát viên mặc đồng phục kéo lê ở giữa đường Catinat một chiếc kệ khổng lồ.

Sáng nay thứ Ba 29 tháng Tư, tôi đã chứng kiến sự sụp đổ của những người Mỹ và Việt thì Saigon trang hoàng cờ Pháp như ngày 14 tháng 7.

Một lần chót trước khi chết, Saigon trương ra những mầu sắc của nước Pháp, Saigon nợ nước Pháp nhiều. Chính những viên Đô đốc Toàn quyền Charner, Bonard và những người khác đã biến cải làng chài lưới Cao Mên khi trước ở bờ con lạch đầy dẫy những tên trộm cướp thành ra cái thành phố này. Người ta dán cờ Pháp trước kính xe, có người dán cờ nhỏ, có người dán cờ bự. Người ta sơn cờ Pháp trước cửa nhà. Tất cả những ai có nước da trắng dầu là người Pháp hay không đều mang cờ ba mầu.

Người Việt Nam cũng làm theo họ. “Báo chí Pháp”. Tất cả các ký giả, kể cả những ký giả Anh Mỹ cũng mang biểu hiệu đó.

Nam Việt Nam: Thủ đô Ba-Lê, Tổng thống Valery Giscard d’Estaing đã ủy quyền cho J.M.Merillon trong khi các cố vấn Minh, Vũ văn Mẫu và Huyền làm việc tại văn phòng các chi nhánh của dinh Tổng thống, đang chờ lệnh ở điện Élysée. Tôi co phóng đại thật đấy nhưng sự việc gần như đúng là diễn ra như vậy.

Những điểm tập trung cho kiều dân Pháp nếu tình thế tồi tệ: tòa lãnh sự Pháp, khách sạn Continental, trường Marie Curie và trường St. Exupéry.

Nhưng sứ quán Pháp thì không. Nhất là sứ quán Pháp thì không. Người ta giữ ý với nhau. Người ta đã tích trữ thức ăn và nước uống. Trong sứ quán ấy là niềm hy vọng chót, và nơi ẩn náu cuối cùng của hăng ngàn người bơ vơ thì sứ quán ấy đóng chặt cánh cửa sắt. Sứ quán ấy đã biến thành một cấm thành. Gần đây, người ta đã xây tường cao thêm và mắc lưới sắt vào những cửa sổ.

Và vì nước Pháp chẳng còn vai trò chính trị nào nữa, vì chúng ta đã bị ru ngủ bởi cái chính phủ Cách mạng Lâm thời khi cái chính phủ ấy chỉ có tại Ba-Lê, thay vì phải xuất hiện, thay vì đi thăm các điểm tập trung của dân Pháp, thay vì phải có mặt ở nơi nào có người Pháp, trấn an, hòa mình với dân Pháp thì viên Đại sứ Pháp lại chỉ tự giới hạn vào các hoạt động của đại sứ. Ông ta núp sau khoa nghĩa vụ học của ông ta. Còn Graham Martin thì lội bộ về nhà riêng để lấy đồ và có thể gặp nguy trên đường về nhà.

Saigon trang hoàng cờ Pháp và Đại sứ Pháp chỉ biết tin ấy khi người ta cho ông biết.

Phía tòa lãnh sự Pháp cũng chẳng hơn gì. Viên lãnh sự ngủ trên bàn giấy, sau tấm cửa lưới sắt. Chính người tùy viên thương mại Friang phải lo tập họp những người Pháp vì người có trách nhiệm về việc ấy đã chuồn rồi.

Hắn ta đã nói với những người dưới quyền: “Tôi kiếm chỗ đậu xe”. Rồi hắn leo lên trực thăng của Mỹ. Bỏ mặc tất cả.

Còn đâu nữa thời xa xưa khi mà viên Tổng Lãnh sự Pháp Lambroschini tuy không tốt nghiệp trường Hành chánh nhưng hồi Tết năm 1968 đã lặn lội trong lửa đạn tìm các ký giả, sống với các Linh mục, các chủ đồn điền, những người Pháp tại Đakao, biết tất cả những gì xẩy ra trong khi nhà đại sứ thông thái của chúng ta xử sự như một người mù.

Không phải đó là lỗi của ông ta. Ông ta đã thi hành đúng các mệnh lệnh nhận được. Nhưng quả thật đó là sự nghèo nàn tâm hồn của những nhà kỹ thuật gia xuất sắc ấy! Thế mà J.M. Merillon đã hành động khá tốt tại Jordanie. Á Châu đã làm hại ông ta.

Chúng tôi phóng tới Tân Sơn Nhất để xem những thiệt hại. Căn cứ này sáng nay trúng hỏa tiễn và đại bác 130 ly: những cột khói bốc cao, kho hàng và kho xăng cháy. Nhưng dường như các phi đạo không hề gì. Không thể di tản được nữa. Nhiều đoàn xe dài, phần nhiều là xe Mercedes. Trên xe toàn những khách hàng “sang nhất” ngồi chờ. Và những người đàn bà chạy, những người đàn bà bình dân đội nón kéo tay những đứa trẻ khóc lóc và chẳng hiểu gì. Có những con ngựa gỗ cản đường và những cảnh sát viên hung hãn.

Một cảnh sát viên đặc biệt nóng nảy rút súng ra dọa tôi. Anh ta không muốn cho chúng tôi quay phim. Vài phút sau, anh ta cùng với các đồng nghiệp nhẩy lên một chiếc xe rồi biến mất. Chẳng còn ai canh gác sân bay nữa.

Thế là hết rồi. Các xe đành quay trở lại. Cái bẫy đã khép chặt chung quanh hàng ngàn người Việt và Tàu. Muốn ra khỏi Saigon chỉ có cách dùng trực thăng hoặc dùng tầu nhưng giá chỗ ngồi thật đắt.

Ngoài đường phố thấy xuất hiện nhiều thanh niên mặc đồ bà ba đen mang súng M-16 hoặc súng Carbine. Trông họ rất giống những tên du đãng đã cướp giật đồ. Dường như họ đi giữ trật tự. Hay là để phá trật tự? Họ ởđâu ra?

Tân chính phủ hoàn toàn thất bại trong việc tiếp xúc với chính phủ Cách mạng Lâm thời. Chính phủ Cách mạng có 150 người ở Tân Sơn Nhất là sĩ quan và binh sĩ của Việt cộng và 45 người của Bắc Việt. Ai là người Bắc, ai là người Nam? Ai chỉ huy họ? Họ bị binh sĩ Việt Nam Cộng hòa vây chặt và họ sống bên trong những nhà gỗ và

những giao thông hào kiên cố. Đó là tất cả những gì còn lại của thỏa hiệp Ba-Lê.

Thật khó mà biết ai chỉ huy họ. Có phải người chỉ huy là Đại tá Võ Đông Giang không? Có lẽ đó không phải là tên thật của hắn. Người hắn cao và gầy, hắn giữ vai trò phát ngôn viên đối với báo chí và phải chăng hắn là người Nam? Hay người chỉ huy là tên kia, Tướng Hoàng Anh Tuấn được coi là người miền Bắc? Không phải hai người đó mà là Trần văn Trà và Trà trước hết là một người chỉ huy lịch sử của cộng sản.

Một phái đoàn chính phủ do Phó Tổng thống Huyền gọi tới (ông Công giáo Huyền được Minh Cồ ủy thác việc thương thuyết) đã đến trước hàng rào kẽm gai. Bọn cộng sản từ chối tiếp phái đoàn. Bọn chúng không muốn bàn cãi nữa: chúng chỉ nhận sự đầu hàng không điều kiện.

Graham đến thăm xã giao Đại sứ Pháp. Lý do chính là để từ biệt. Và để tặng Đại sứ Pháp chiếc xe Cadillac mầu đen lộng lẫy. Đại sứ Pháp có lẽ chẳng cần đến món quà tặng ấy. Nhưng mãi đến 3 giờ 30 sáng hôm sau, Martin mới ra đi sau khi chứng kiến trong cái tư thế bất lực của mình cái tài hoa: Tài hoa vì chính sách của ông ta, tài hoa của Nam Việt Nam.

Nguyễn Cao Kỳ, con người chủ trương “đánh đến cùng” cũng ra đi trên chiếc trực thăng riêng của ông ta. Ông ta nguyền rủa Thiệu vì ít ra, Thiệu chuồn cũng có thời giờ mang theo hành lý.

Trở lại khách sạn Continental. Đường phố không được an toàn vì có quá nhiều vũ khí ở ngoài đường và vì các cảnh sát viên đã biến mất. Chẳng ai tôn trọng lệnh giới nghiêm. Người ta tiếp tục cướp phá trụ sở của cơ quan viện trợ Mỹ. Đàn bà, trẻ em, cảnh sát và quân nhân, tất cả đều nhào vô. Đồ đạc cướp được thì được chất lên xe jeep hoặc lên những xe nhỏ đẩy bằng ổ bi.

Từng toán binh sĩ áo quần tả tơi đi ngang qua, mặt ngơ ngác, thường là đi chân đất. Đám đông dân chúng thì đến đập vào tường và gõ cửa sứ quán Mỹ. Các Thủy quân Lục chiến Mỹ mắt đỏ ngầu vì mỏi mệt tự nhiên thấy có những người đề nghị đút lót cho họ từng năm mỹ kim để cho những người đó lọt vào bên trong sứ quán. Những người lính Mỹ này phải dùng báng súng nện vào những bàn tay đang bám lấy bức tường.

Những người khác thì tìm cách đi tới sứ quán Pháp, nhưng những hiến binh lực lưỡng đã chờ họ ở bên kia bức tường và đẩy họ về nơi khởi hành như đẩy một đồ vật. Nếu người đó là quân nhân thì hiến binh tước súng.

Khi đêm buông xuống thì chỉ còn một nhóm người chung quanh Đại sứ Graham Martin, còn đúng 125 người lo về an ninh. Họ lùi dần lên các tầng lầu trên, còn các Thủy quân Lục chiến thì giữ mái nhà.

Những người Việt Nam bị bỏ rơi đứng đó, giữa những va li và những gói đồ ngổn ngang. Đó là những người đã được người ta hứa cho đi, đó là những người tưởng rằng có thể dùng giấy giả để thoát thân.

Dùng một thanh sắt, một người hôi của phá vỡ bình xăng của một chiếc xe hơi bỏ hoang và hứng lấy xăng vào một cái chậu bằng nhựa. Xăng sắp khan hiếm và người ta không có xăng dự trữ.

Những trực thăng hạng nặng Chinook của hạm đội số 7 tiếp tục bay sát mái nhà và mang theo những hành khách. Đến đêm, trực thăng mở đèn hiệu trong khi từ mái nhà, người ta dùng đèn rọi để soi sáng điểm đáp xuống. Trên trời, có những tia sáng như sao chổi và tiếng cánh quạt đập.

Trên mái một tòa nhà trước mặt chúng tôi có những người Việt Nam đã đốt lửa bằng mọi thứ vật liệu mà họ có sẵn tại chỗ: giấy, đồ gỗ, thùng xăng. Họ giữ ngọn lửa ấy suốt đêm, hy vọng một cách ngây thơ rằng một chiếc trực thăng sẽ trông thấy dấu hiệu cầu cứu ấy mà đến chở họ đi. Sáng hôm sau, ngọn lửa ấy sẽ tắt và chẳng ai tới cứu họ hết.

Lý thị Dương hớt hải đi tới, mang theo đứa con trai nhỏ và người tớ gái. Người ta đã cướp tòa nhà của bà ta rồi. Và chính những người canh gác nhà của bà ta đã cướp phá. Có những binh sĩ còn bắt đứa con của bà ta làm con tin nữa. Bà ta phải nộp tất cả số tiền mang theo, nghĩa là gần một triệu đồng để chuộc lại đứa con.

Khi nào những người Mỹ, người Anh hoặc người nào “mũi lõ” mà bỏ nhà đi là người hàng xóm lập tức chỉ chờ có thế để nhào vô, leo rào, phá cửa và cướp hết.

Điện bị cắt và chúng tôi phải thắp nến ăn cơm. Những người bồi bàn lặng lẽ tới lui, tiếng đại bác và tiếng súng liên thanh nghe gần hơn trước. Một viên đạn lạc đáp xuống đĩa của tôi. Là một chuyên viên về vũ khí, Coutard xoay tới xoay lui viên đạn và sau hết, nói rằng đó là đạn M-16.

Chúng tôi được biết những cảnh thảm khốc diễn ra tại bến tàu. Hàng ngàn người đã xung phong chiếm các tàu, các ghe thuyền. Chiếm tất cả những gì có thể nổi trên mặt nước. Nhưng con sông đã bị đặt mìn. Một vài chiếc tàu đã đi lọt được, nhiều chiếc khác không đi được, còn những chiếc khác nữa bị nổ tung.

Các phi công Việt Nam lái trực thăng đã tự tổ chức cuộc di tản. Đến giờ hẹn, trực thăng tới mái một tòa nhà để cho những người trong gia đình núp sẵn trong nhà ấy. Họ chở nhiều người nặng quá đến nỗi một trong những chiếc trực thăng đã rớt ngay xuống Chợ Lớn cùng với số hành khách quá đông và vô số hành lý. Đáng lẽ ra chỉ được chở một phần ba số hành khách.

Những chiếc trực thăng này đáp xuống rất đông trên sân những mẫu hạm thuộc hạm đội số 7 và họ đáp gấp rút quá đến nỗi chiếc nào nhả hành khách ra rồi là người ta hất ngay chiếc đó xuống biển.

Gia đình Các phi công lái máy bay phản lực được di tản trước nhất và các phi công F-5 thì lái máy bay tới hạm đội 7 hoặc tới vịnh Subic tại Phi luật Tân. Bảy mươi lăm chiếc máy bay khác đã đáp xuống căn cứ Utapao cách Vọng Các 150 cây số về phía nam, chở theo hai ngàn người. Chỉ có tự lo thì mới chu đáo được.

Bắt đầu từ ngày 14-4, người Mỹ bắt đầu di tản người Mỹ và những người Việt Nam có tên trong danh sách. Họ đã lập một cầu không vận giữa Saigon, căn cứ Không quân Clark tại Phi Luật Tân và đảo Guam bằng các máy bay C-130 và C-141 để chở người tị nạn.

Người ta phải di tản 130.000 người. Trong một tuần lễ, có 30 ngàn người được chở đi.

Trước sự nghiêm trọng của tình thế, người ta đẩy mạnh việc dùng máy bay luân chuyển. Trong số 7.500 người Mỹ, chỉ còn 1000 người Mỹ được coi là cần phải ở lại để thi hành một vài nhiệm vụ phá huỷ hoặc bảo vệ các vụ bốc người đi. Gần hết tất cả những kho đạn dược và kho xăng sẽ bị phá hủy.

28 ngàn người Việt Nam được di tản trong vòng sáu ngày. Còn kẹt lại 100 ngàn người Việt Nam khác.

Chúa Nhật và thứ Hai, nhịp độ di tản đều đều diễn ra nhưng đến chiều thứ Hai thì phi trường bị đại bác bắn vào. Những chiếc C-130 được lệnh đáp xuống không đáp xuống nữa. Đến 21 giờ, người ta được biết rằng sân bay lại dùng được vì pháo kích đã ngưng.

Tuy nhiên, vì bị các cố vấn thúc dục, Tổng thống Ford quyết định cho thi hành cuộc hành quân “Lựa Chọn 4”. Dùng máy bay trực thăng tăng cường cho các máy bay kia. Lệnh được đưa ra lúc 22 giờ 51. Phi cảng Tân Sơn Nhất lại dùng được tiếp theo những cuộc thương lượng bí mật giữa người cộng sản và người Mỹ. Do ai làm trung gian? Tôi không biết. Phần lớn cuộc di tản diễn ra tại sân bay. Kéo dài tới hết đêm cho đến khi vài hỏa tiễn của cộng quân nhắc nhở rằng cuộc ngưng bắn đã chấm dứt.

Đài phát thanh của người Mỹ truyền đi ám hiệu “Frequent Wind”. Bay rất cao trên trời, những chiếc Phantom của Mỹ sẵn sàng can thiệp nếu cộng sản vi phạm cuộc ngưng bắn. Nếu cộng sản không tôn trọng cuộc ngưng bắn thì sẽ đổ vỡ, gây tai họa và leo thang. Nếu cộng sản bắn hỏa tiễn Sam-2 và Sam-7 thì toàn thể không lực của hạm đội số 7 sẽ thực hiện những cuộc oanh tạc trả đũa.

Và ở phía dưới thì có ba triệu dân Saigon cùng với môt triệu người tị nạn đang chờ ở cửa ngõ thành phố.

Vì nhà hàng Majestic bị pháo cho nên những người Ba Lan trong ủy hội Quốc tế chạy tới khách sạn Continental và Astor. Họ vừa mới đậu xe xong thì các cảnh sát viên đã chạy tới. Những người này dùng báng súng để đập cửa xe và cướp. Những cảnh sát viên phạm pháp chăng? Không. Họ chỉ tới để chia phần với nhau. Trong khi đó thì những người Ba Lan đứng dựa cửa nhìn ra mà không dám can thiệp.

Súng bắn ở khắp nơi.

Đêm chót của Saigon là đêm điên loạn. Chung quanh thành phố, những cây xăng bốc cháy, những kho đạn nổ tung. Lúc đáp xuống các mái nhà, trực thăng mở đèn chiếu trông như đôi mắt những con quái vật gớm ghiếc đang tìm mồi.

Tại Dinh Độc Lập, Tướng Minh tuyệt vọng tìm cách tiếp xúc với người cộng sản nhưng chúng không muốn nói chuyện với ông ta nữa.

Vài chiếc xe cứu thương chạy ngang, hú còi nghe thảm thiết. Pháo binh bỗng gầm lên. Nhưng đó chỉ là cơn giông, cơn giông nhiệt đới với những cột nước và những tia chớp xuyên thủng màn đêm.

Những người hôi của cuối cùng cong lưng dưới trời mưa vì họ đã chất lên những xe xích lô một số lượng đồ nhiều đến nỗi nếu là ở bên Pháp thì người ta phải dùng tới xe vận tải mới chở hết.

Tù nhân chính trị đã được thả tự do. Các tù nhân thường phạm cũng nhân dịp này  trốn luôn. Chỉ cần cúi xuống là lượm được ngay một cây súng. Và những phần tử ghê gớm ấy đã tự võ trang cùng mình.

250.000 binh sĩ trôi dạt, từ 700 ngàn đến 800 ngàn người tị nạn tìm cách vượt qua cửa ngõ thành phố Saigon, một tầng lớp trộm cướp sẵn sàng biến Saigon thành một địa ngục chạm trán của những đảng buôn ma túy, của lính đào ngũ, của đạo tặc và nghiện hút. Lại còn những binh sĩ Lực Lượng Đặc Biệt nữa: họ là những người bất cần trong lúc này.

Khách sạn có thể bị tấn công bất cứ lúc nào. Tôi lấy ra số tiền 5.000 mỹ kim và vài ngàn đồng quan mà tôi đã cất trong tủ. Khách sạn thoát được nạn cướp nhưng rồi số tiền đó cũng mất trong phòng của tôi.

Tôi lại trông thấy những người lính mà tôi gặp cách đây vài giờ trên xa lộ khi họ dồn về Saigon với số vật liệu chồng chất. Họ cười giỡn, họ vẫy tôi và vì tưởng tôi lạc đường nên họ đưa tay kéo tôi lên xe họ rồi họ đưa tôi tới một cuộc chạy trốn không lối thoát.

Nhưng kìa, một chiếc xe cứu thương. Nhìn vào xe thật là ghê sợ: Những thân người bị dập nát, đầy máu dường như vẫn còn sống và rên rỉ. Không có thầy thuốc và cũng chẳng có Y tá…

Và cái cảnh đó cứ tiếp diễn trong khi tiếng đại bác tới gần lần lần và trực thăng bay trên đầu chúng tôi.

Tôi có cảm tưởng đang sống trong một cơn ác mộng, cái bi thảm pha lẫn cái hài hước rẻ tiền. Những người lính này cười đùa, còn những người lính kia đang chết. Cấp chỉ huy của họ (những cấp chỉ huy còn ở lại với họ) cho tôi biết rằng họ được lệnh tiến tới những vị trí không còn nữa. Hay là người ta muốn bảo vệ nhà thờ Đức Bà ở cuối đường Catinat.

Trong vài giờ, cũng những người lính ấy đã đổi nét mặt. Họ vừa mới nhận thấy rằng họ thua trận. Giận dữ vì bị bỏ quên, căm hờn vị bị cấp chỉ huy bỏ quên, họ đứng trên mái nhà xả súng bắn lên những trực thăng đang bay trên đầu họ. Những phản lực cơ Phantom gào thét bay xẹt qua.

Không còn trật tự, luật pháp, chính phủ nữa. Những người cộng sản đang chờ. Chúng muốn trừng phạt Saigon. Ngày mai, người ta sẽ giết nhau vì một két la-de.

Saigon không hấp hối. Sau khi trút hết chất liệu, Saigon đang rẫy chết trong thối nát, trong những đám cháy và trong sự cướp bóc. Những kẻ may mắn đã chuồn được trên những trực thăng của Mỹ. Những người khác thì trốn lánh. Có những người thiểu não trở về từ Tân Sơn Nhất là nơi lại bị hỏa tiễn rớt vào. Có những người bị bỏ quên, có những người chẳng quen biết ai. Và chúng tôi, những nhân chứng bị bó tay, phẫn uất, chúng tôi là những người đã từng yêu dấu thành phố này mà chẳng làm được gì hết để giúp thành phố này. Bọn cộng sản Việt cứ để mặc. Saigon bắt đầu sám hối về những sự mất trật tự, vì ưa kiếm chác, vì những quán rượu ổ điếm, vì những sòng bạc, những đêm điên loạn, những cơn mê. Và cũng vì những cơn hăng say của trìu mến và của nhiệt thành. Và cái tinh thần độc lập đã từng đôi khi biến cái thành phố này thành một nữ chúa của tự do.

Vì Saigon đã bị kết án tử hình.

Chúng tôi vừa được biết tin ấy. Đài phát thanh của Mặt trận Giải phóng nghe được ở Tân Gia Ba tuyên bố rằng từ nay, tên của Saigon là Hồ Chí Minh.

Tên của một người chết. Cái tên ấy không hợp với thành phố.

Tôi trở về phòng. Đại bác 130 ly đã im tiếng. Hỏa tiễn không nổ nữa. Nhưng còn em nhỏ kia đang làm gì? Em đang tắm trong vũng nước bùn nhỏ ở lề đường rồi em nhập bọn với những trẻ em trần truồng khác giỡn chơi dọc theo những bức tường của khách sạn, giống như những con mèo hoang?

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 9 Apr 2024

10. Chương 5

Lưỡi rìu và gốc cây

Cơ quan sưu tầm tin tức của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đều biết rằng Bộ Chánh Trị và Quân Ủy Trung Ương, cơ quan quyền lực tối cao về chiến tranh của Bắc Việt, đang họp ở Hà Nội, họp liên tục từ ngày 18/2/1974 cho đến ngày 8/1/75, ngay tại Hà Nội.

Ngày 8/1 đó, ở Hà Nội cũng như ở Sài Gòn mọi người đều biết kết quả sau cùng của trận chiến ở tỉnh Phước Long: tiếng súng đã hoàn toàn chấm dứt.

Các lãnh đạo đảng cộng sản đều có mặt đầy đủ trong tất cả các buổi họp giữa đại diện Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt và Bộ tham mưu chiến trường Miền Nam gồm cả thành phần chánh trị và quân sự của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Về phía chánh trị thì có Lê Duẫn, Trường Chinh, chủ tịch Quốc Hội, Phạm văn Đồng, Lê đức Thọ. Phía quân nhân thì có các tướng Võ nguyên Giáp, Tổng trưởng Quốc Phòng, Văn tiến Dũng, Tổng tư lệnh, Lê ngọc Hiền Tham mưu trưởng hành quân, và Trần văn Trà, Tư lệnh chiến trường B2 ở Nam Bộ.

Trừ hai tướng Trần văn Trà và Lê ngọc Hiền, còn thì tất cả đều là thành viên của Bộ Chánh Trị. Đảng kiểm soát Quân Đội và các tướng lãnh đều nằm trong guồng máy chánh trị của đảng. Cho nên không thể nào có chuyện “đảo chánh” nhau được vì không ai lại đi lật đổ chính mình được.

Các quân nhân cũng có tham gia vào chánh quyền nhưng với mức độ vừa phải thôi để không có ai vô công rỗi nghề được ở thủ đô Hà Nội.

Các lãnh đạo quân chánh đang hình thành một kế hoạch chiến lược cho hai năm 1975 và 1976. Văn tiến Dũng đã ghi lại như sau:

” Tất cả đều xoay quanh việc đánh giá tình hình của chúng ta ở trong nước cũng như tình hình ở nước ngoài. Nếu chúng ta tấn công mạnh quá thì bọn bù nhìn sẽ phản ứng ra sao ? Câu hỏi căn bản là : Hoa Kỳ sẽ hành động thế nào ?Họ có dám can thiệp hay không ? Hay họ sẽ có kế hoạch nào khác ? Họ có toan tính gì khác không ? Chúng ta sẽ có phương thức nào phù hợp và tốt nhất cho cuộc cách mạng của chúng ta? chúng ta sẽ có kế hoạch nào trong 2 năm sấp tới ?” Các cuộc bàn cãi đã kéo dài rất lâu.

Phạm văn Đồng vừa đi tới đi lui vừa nói:

_ “Nếu phải đánh giá địch, chúng ta vừa phải trả lời nhiều câu hỏi, vừa phải tránh những nhận định cũ. Chúng ta đang ở trong một giai đoạn mới. Hoa Kỳ đã rút hết quân của họ theo đúng Hiệp Định Paris rồi. Với Hiệp Định, họ thấy đó là một thắng lợi của họ. Thế nhưng đây là một thất bại của họ.”

Khi người cộng sản nói với dân chúng thì họ quả quyết rằng Bắc Việt hoàn toàn chiến thắng. Nhưng giữa họ với nhau, những người có ý thức trách nhiệm thì có khác, thắng lợi chỉ tương đối thôi.

Ông Đồng lại nói tiếp,

_ “Bây giờ, Hoa Kỳ không có cách nào can thiệp lại bằng cách gởi quân sang đây nữa đâu. Họ chỉ có thể yểm trợ hỏa lực bằng không quân hay hải quân mà thôi. Mà yểm trợ hỏa lực thì không thể quyết định được thắng hay bại đâu.”

Ông ta cười:

_ “Tôi lại nói đùa nữa rồi đây! Nhưng lần nầy tôi nói thật; Tôi quả quyết rằng Hoa Kỳ không trở lại đây nữa đâu. Cho ăn kẹo cũng không dám!”

Nhờ các công điện của Liên Xô từ Hoa thạnh Đốn chuyển tin về Hà Nội qua trung gian chuyển tiếp của Mạc tư Khoa, và chỉ cần đọc qua các báo Mỹ, Thủ tướng Bắc Việt đã biết rõ là Hoa Kỳ sẽ không còn xử dụng lục quân ở đây nữa.

Trường Chinh, to con, một lý thuyết gia nặng ký của cánh bảo thủ giáo điều, đã phát biểu thật chậm rãi. Với một quyển sổ nhỏ cầm trên tay, ông trịnh trọng khai triển những gì ông đã ghi chú trong đó, thật khoan thai và bình tỉnh như cần phải đánh từng dấu phết cho từng đoạn trong từng câu… Ông nói:

_ “Địch đang bị áp lực của chúng ta đè nặng trên ba mặt: các cuộc tấn công trên phương diện quân sự, khó khăn kinh tế và kỹ thuật, và phong trào nổi dậy của nhân dân…”

Các lãnh đạo đảng biết rất rõ họ đang nói gì khi họ nhắc tới phong trào nổi dậy của nhân dân. Công thức nầy được moi ra từ giáo điều. Các biên bản và các hồ sơ lưu trữ phải được bám chặt vào các điều tuyên bố nặc mùi tuyên truyền này. Sự nổi dậy của dân chúng Miền Nam chống lại chế độ Sài Gòn hả? Đó chỉ là một loại “dĩa bay” trong thời chiến: lúc nào người ta cũng nói đến nó mà không bao giờ người ta thấy được nó!

Trường Chinh lại nói tiếp:

_ “Như vậy là địch sẽ yếu đi một cách nhanh chóng. Quân đội của họ không bao giờ giải quyết nổi cái mâu thuẫn giữa việc rải quân đóng đồn để giữ dân giữ đất với việc tập trung tác chiến lưu động . Tuy nhiên họ vẫn còn mạnh đó. Họ chưa mất bao nhiêu quân số đâu vì họ còn có khả năng tuyển mộ.”

Điều nầy thấy rất rõ: trên chiến trường Miền Nam, Bắc Việt có 350 ngàn quân chánh quy. Họ có thể tập trung toàn bộ để hướng mũi dùi tấn công vào một vài điểm. Còn quân lực Việt NamCộng Hòa và lực lượng Bảo An tính chung là 1triệu 300 ngàn nhưng bị phân tán mỏng trải rộng ra trên toàn lãnh thổ.

Trường Chinh cũng đặt câu hỏi về một sự can thiệp có thể xảy ra của Hoa Kỳ , một ám ảnh không nhỏ đối với cộng sản:

_ “Người Mỹ còn để lại 25.000 cố vấn quân sự ở Miền Nam.”

Nhà cầm quyền Miền Bắc cuối cùng có tin vào những con số mà họ đã dựng lên hay không? Nếu có thì họ tự đầu độc họ mà thôi ! Ở đây cũng vậy, những chuyện hoang đường đó đã trở thành sự thật trong các hồ sơ lưu trữ, và hồ sơ lưu trữ nầy biến thành Lịch Sử (danh từ Histoire được tác giả viết hoa).

Đối với người cộng sản, Lịch Sử không phải là một chuỗi dài sự việc nối tiếp nhau, mà là những gì đúng theo đường lối, tiên liệu và tuyên ngôn của đảng, đúng theo các giáo điều Mác xít cứng ngắt của đảng. Trường Chinh hình như ít theo sát những diễn biến trên sân khấu chánh trị của Hoa Kỳ bằng Phạm văn Đồng, nên ông nói:

_ “Nếu Hoa Kỳ cảm thấy có cơ nguy thì họ sẽ can thiệp. Nhưng họ sẽ gặp khó khăn khi xử dụng lục quân, và họ phải hết sức cẩn thận và bị hạn chế phần nào trong việc xử dụng hải quân hay không quân”

Xuyên qua các biên bản chánh thức của những cuộc thảo luận, người ta ngửi thấy một sự khác biệt bàng bạc giữa một Phạm văn Đồng tinh tế hơn và một Trường Chinh giáo điều hơn, mặc dầu ngôn ngữ của hai người đều giống nhau.

Trong các phiên họp thì mỗi người đều được phát biểu quan điểm của mình, có người phát biểu dài tràng giang đại hải hàng giờ làm như chuyện lập đi lập lại một lời đoan chắc nào đó phải được đánh giá là nặng ký hay phải được coi như một thực tế vậy. Người ta không đắn đo gì khi phải dùng lại lời nói nào đó của một đồng chí khác trong khi họ ngấm ngầm tỏ thái độ không đồng ý. Về sự can thiệp của Hoa Kỳ, một giả thuyết hơi nguy hiểm, thì có một sự thỏa hiệp chung là: có thể có nhưng xác suất không cao. Phải tiếp tục tấn công. Tổng bí thư Lê Duẫn, một nhân vật đầy uy quyền trong Ban Lãnh đạo Bắc Việt đã kết thúc các buổi họp:

  • ” Hai năm thì mau, mà cũng là quá chậm. Chúng ta phải tiến hành cùng một lúc hành động quân sự, chánh trị và ngoại giao. Đó là phương thức mà chúng ta phải áp dụng, phương thức đặc thù của chúng ta.”

Ông ta rất có lý . Đó là phương thức của cộng sản Bắc Việt: cùng lúc mở ba mặt trận, ba gọng kềm hay là “ba mũi giáp công”

Để giúp cho vị trí chánh trị và ngoại giao của CPLTCHMN của họ được thêm phần vững chắc, họ dự định phải chọn một thành phố ở Miền Nam để làm thủ đô. Tây Ninh hay An Lộc ? người ta gác lại quyết định nầy, một phần vì nếu ” thủ đô mới” nầy bị không lực Hoa Kỳ tàn phá thì trên phương diện chánh trị đó là một điều rất phiền.

Dĩ nhiên với sự đồng thuận, người ta chọn kết luận của Lê Duẫn để đưa vào nghị quyết cuối cùng: “Không bao giờ chúng ta còn có những điều kiện quân sự và chánh trị hết sức thuận lợi hơn để đưa chúng ta đến sự thống nhất trong hòa bình.”

Các sư đoàn Bắc Việt vừa nuốt trọn một tỉnh của Miền Nam Việt Nam. Điều khoản về “thống nhất trong hòa bình” của Bắc Việt không thiếu vẻ khôi hài và vô liêm sĩ ! Những người lãnh đạo cộng sản chưa biết họ phải chơi cái trò nào trước , chánh trị ?ngoại giao? hay quân sự?

“…….Chúng ta có đủ quyết tâm và phương tiện để chiến thắng và ngăn cản Hoa Kỳ không cho họ tiếp cứu chánh quyền SàiGòn …”

Quyết tâm thì hiển nhiên đã có rồi, còn ý chí thì luôn luôn là cuồng tín!

Tại Hoa Thạnh Đốn , chánh phủ mạnh nhất thế giới luôn góp mặt hay có hành động khắp năm châu, đang có vô số việc phải lo và phải làm. Các nhân vật có trách nhiệm thường xuyên chú ý khắp mọi nơi. Họ canh chừng Trung Đông, Âu Châu, Trung Mỹ, Phi Châu, nhưng Kissinger thì hơi xao lảng.

Tai Hà Nội chánh phủ chỉ thấy có đoàn kết : chỉ có một mục tiêu từ 30 năm nay, chỉ có một chân trời chánh trị duy nhất là giải phóng cả Đông Dương khỏi sự cai trị của ngoại bang, thống nhất hai Miền Nam Bắc, và xây dựng xã hội chủ nghĩa . Ban lãnh đạo Miền Bắc đã qua được một giai đoạn khó khăn: họ đã thuyết phục được với nhau rồi và năm 1975 họ còn phải khuyến dụ dư luận quốc tế rằng sự thống nhất hai miền Nam Bắc là lẽ sống còn của người cộng sản Việt Nam.

Bản tuyên bố trong nghị quyết cuối cùng có câu:

“Chúng tôi có trách nhiệm đối với dân tộc chúng tôi và đối với các dân tộc trên thế giới” Người ta ngửi thấy ngay bàn tay của Lê Duẫn, một cây cổ thụ trong ban lãnh đạo đảng. Ông ta nói đi nói lại một câu mà không cần biện luận.

Đi đứng hơi nặng nề, phong thái không nhanh nhẹn lắm, Lê Duẫn là một trong những sáng lập viên lịch sử của đảng. Ông ta không có tánh tình xuề xòa nhưng thâm độc như Hồ chí Minh, lại không được duyên dáng như Phạm văn Đồng, hay hòa nhã như Võ nguyên Giáp. Ông là lý thuyết gia, chiến lược gia, sĩ quan tình báo, và phụ trách văn phòng của đảng cộng sản Việt Nam. Ông sanh quán ở Miền Trung Việt Nam, biết rất rõ Miền Bắc và Miền Nam là nơi ông đã tham gia kháng chiến chống Pháp. Là Tổng bí thư đảng cộng sản 15 năm nay , ông đã thay thế Trường Chinh bị hạ tầng công tác xuống làm Chủ Tịch Quốc Hội, vì bị quy trách sát hại trên 40.000 nạn nhân trong chiến dịch cải cách ruộng đất đẫm máu năm 1956. Cộng sản Việt Nam thanh toán những người thù trốt kít hay thuộc các đảng phái quốc gia khác, nhưng không bao giờ họ thanh toán lẫn nhau.

Lê Duẫn đã có đi Liên Xô và Trung Cộng. Ông ta chưa từng biết thế giới phương Tây bao giờ. Ông là giáo sư của cách mạng, chịu ảnh hưởng kiểu cách ăn nói của Staline, nên cứ nhắc đi nhắc lại là ” cộng sản Việt Namcó trách nhiệm trước các dân tộc của thế giới”, hoặc “phải biết khai thác sự mâu thuẫn trong hàng ngũ địch“. Đối với ông ta, biện chứng pháp là một quyền lực siêu linh, là một hấp lực chánh trị để nhào nặn và uốn nắn thế giới nầy. Vào tháng đầu năm 1975 nầy, chiến thắng đã được thấy rõ rồi nhưng phải làm thế nào đây để tránh những sự thất vọng như những cuộc tấn công năm 1968 và 1972. Việc khai thác mâu thuẫn đã không được tiến hành đến nơi đến chốn. Đối với Lê Duẫn sự thay đổi xã hội ở Việt Namphải thông qua sự biến chuyển quân sự. Đã có nhiều thời điểm đúng với biện chứng pháp rồi, như năm 1968, 1972 và 1976. Chế độ của ông Thiệu không thể nào không sụp đổ được . Trận tấn công hồi Tết Mậu Thân là một chiến thắng chánh trị nhưng lại là một thất bại về quân sự của cộng sản. Võ nguyên Giáp đã thú nhận là cộng sản đã bị thiệt hại trên 40.000 chiến binh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam – điều nầy đã giúp Hà Nội giải quyết xong bài toán: số lượng quan trọng về nhân sự của Mặt Trận. Cho tới lúc các cán bộ của Mặt Trận bị nghiền nát hết thì Lê Duẫn mới thấy được là Lịch Sử đã chuyển động. Hơn tất cả các lãnh tụ cộng sản khác, theo Lê Duẫn thì định mệnh của các quốc gia Đông Phương chuyển theo số mệnh nào đó của Tây Phương. Lê Duẫn dường như bị lời tiên tri của bản tuyên ngôn cộng sản lôi cuốn mạnh hơn Hồ chí Minh và sâu hơn cả Phạm văn Đồng. Tất cả những bản văn của ông ta đều chứng minh điều đó:

“Những điều kiện khách quan cho thấy sự thành công của cách mạng ở Việt Nam đã gần kề, mặc dầu đảng chưa được mạnh lắm , quân đội còn có nhiều khó khăn và nhân dân đã uể oải. Còn hàng chục thứ khác nữa, nhưng chiến thắng đã lộ rõ ra rồi, không có gì lay chuyển nổi.”

Hiệp Định Paris ư? Chỉ là hợp thức hóa cho cộng sản mua thời gian không hơn không kém, một loại nguyên liệu mà họ đang cần, lại dẫn tới sự rút quân của Hoa Kỳ, một giai đọan gần như cuối cùng của tiến trình chiến thắng. Lê Duẫn có thể cho thấy rõ sự kiêu hãnh phi thường của đảng cộng sản Việt Namđối với các đồng chí của mình và ngay cả với các đồng chí Liên Xô, Trung Quốc, Nam Tư hay Đông Đức nữa. Nếu cần ông ta sẽ chỉ trích cả Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh, những nước đang chơi trò đu đưa mất thì giờ với Hoa Thạnh Đốn. Ông ta thuyết phục các cán bộ đảng rằng chỉ có người Việt Nam mới nắm giữ đúng phương thức Mac xít nhất. Ông ta không bao giờ tin ở thuyết “sống chung hòa bình”, mà ông gọi là một phát minh buồn nôn của Khrouchev. Ông ta tuyên bố là cách mạng thế giới đã ở trong tầm tay. “Cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam là mủi dùi tấn công của quân đội cách mạng thế giới” . Ông lái con thuyền Việt Nam giữa sự chệnh hướng của Liên Xô và những sự lầm lỗi của Trung Quốc, và ông giữ vững tay lái.

Nghị quyết tháng giêng năm 1975 công bố một “nhiệm vụ lịch sử” của cộng sản Việt Nam trong cộng đồng các dân tộc trên thế giới. Khi ông Phạm văn Đồng tiếp các khách ngoại quốc, thì ông tự chứng minh trước hết ông là một người quốc gia, còn Lê Duẫn, đặc biệt khi nói với những người cộng sản khác thì ông không cần dấu diếm gì cả: ông đang suy nghĩ và đang hành động như là một người cộng sản quốc tế.

Sau các phiên họp về chánh trị, hội nghị ở Hà Nội bắt đầu xem xét các bài toán quân sự.

Cũng nhiều.

Tướng Trần văn Trà nêu lên các khó khăn trong hiện tại cũng như trong thời gian đã qua, Ít có cấp lãnh đạo quan trọng nào chân thật như vậy:

_ “Vì phải hoạt động liên tục từ tháng 4/1972, cán bộ và binh sĩ của chúng tôi đã mệt mỏi, chúng tôi không có thời gian để thay thế cán bộ được. Tất cả các đơn vị của chúng tôi đang xao xuyến, chúng tôi đang thiếu nhân công, thiếu thốn lương thực và đạn dược. Do đó thật rất là khó khăn khi phải đương đầu với các cuộc tấn công của địch. Có đôi lúc chúng tôi phải tháo chạy để cho địch có cơ hội kiểm soát lại một số dân”

Đây là ông nói về tình hình chánh trị và quân sự sau khi Hiệp Định Paris được ký kết.

Tướng Lê quang Đạo Ủy viên chánh trị trong Quân Ủy Trung ương, ngắt lời tướng Trà và đưa ra một loạt đề tài cũ rích:

  • Chúng ta phải giải quyết mâu thuẫn thường xảy ra giữa cấp chỉ huy quân sự và chánh trị viên trong đơn vị.

Loại đề tài nầy làm cho tướng Giáp bực bội, ông thích nghe phần trình bày kế tiếp của tướng Đạo.

  • Một số lớn sĩ quan thiếu sự hiểu biết về kỹ thuật khi đối diện với loại chiến tranh mới của thập niên 70. Khi bộ đội Bắc Việt chúng ta dùng chiến xa năm 1972, họ đã vấp phải nhiều lỗi lầm. Họ đánh giá thấp sự tác chiến của binh sĩ Miền Nam.
  • 90 % bộ đội chánh quy của chúng ta ở trong Nam cần phải tác chiến tốt hơn trong hợp đồng binh chủng, vì có cả bộ binh, pháo binh và chiến xa trên chiến trường.
  • Cần phải làm tốt hơn khâu tiếp vận, và các chiến cụ phải được đồng nhứt với nhau. Bắc Việt chúng ta không có sản xuất chiến cụ được . Các quốc gia xã hội chủ nghĩa bạn giao cho mình đủ loại đạn dược mà có những loại đạn không đúng với lòng súng.
  • Và cuối cùng dĩ nhiên là phải hoàn tất khâu huấn luyện cho mọi người , từ sĩ quan cho tới anh bộ đội.”

Mười năm trước, năm 1965, trong quân đội nhân dân, cứ 8 anh bộ đội thì có 1 cán bộ. Bây giờ thì 1 cán bộ cho 6 bộ đội. Phẩm chất phải chạy theo số lượng. Từ tháng giêng năm 1973, bộ đội Bắc Việt ở trong Miền Nam được tăng lên gấp đôi, và tướng tư lệnh được một số xe thiết giáp 7 lần nhiều hơn, 700 chiến xa, hầu hết là T 54 và T 55.

Về tiếp vận, thì đường mòn Hồ chí Minh đang trong tình trạng tốt – người Miền Bắc giữa họ với nhau thường gọi là hệ thống đường 559, vì người ta bắt đầu xây dựng năm 1959- Có những đoạn còn khó xử dụng sau tháng tư vì lúc đó trời mưa.

Người ta quyết định chuyển nhiều đơn vị công binh đang giữ đường mòn Hồ chí Minh nằm trong địa phận Lào và Cam Bốt về trực thuộc vào các đơn vị tác chiến ở chiến trường Miền Nam. Quyết định quan trọng: tướng Văn tiến Dũng sẽ chỉ huy các cuộc hành quân ở Miền Nam trong những tháng tới.

Trong trận chiến ở Phước Long, đã có nảy sanh ra nhiều bất đồng về chiến thuật. Tướng Trà không nhận được đủ số chiến xa mà ông đòi hỏi. Tướng Lê ngọc Hiền giữ lại gọi là dự trữ một số vũ khí, đạn dược nhất là chiến xa và pháo binh -giống như các tướng lãnh của Miền Nam Việt Nam– Tướng Dũng nhìn xa tới năm 1976 nên chấp thuận ý kiến của vị tư lệnh hành quân của mình – .

Các chiến lược gia của Hà Nội phân năm 1975 ra làm 3 giai đoạn:

_ giai đoạn đầu: tới tháng 2, thuộc chiến trường của B2.

_ giai đoạn hai: từ tháng 3 đến tháng 6, phải tiến hành một số cuộc hành quân bao gồm khắp cả lãnh thổ Miền Nam

_ giai đoạn ba: từ tháng 7 trở đi, là một giai đoạn hoạt động hạn chế để chuẩn bị cho năm 1976.

Trong viễn ảnh một “cuộc tổng tấn công và tổng nổi dậy đi tới chiến thắng năm 1976” tướng Hiền đã thiết lập kế hoạch phân phối đạn dược loại súng lớn: 10 % cho năm 1975, 45% cho năm 1976, còn lại là dự trữ. Người Miền Bắc đúng là tiết kiệm và lo xa như những con rái cá. Nhưng sau chiến thắng Phước Long, họ bắt buộc phải thay đổi hết các sự toan tính nầy. Tướng Trà sẽ nhận được nhiều đạn dược hơn dự trù, 27.000 tấn thay vì 11.000 tấn cho năm 1975.

Tầm quan trọng của chiến thắng Phước Long đẩy các nhà lãnh đạo Bắc Việt phải kéo dài thêm hội nghị sau ngày 8 tháng giêng.

Tướng Văn tiến Dũng giải thích quan điểm của Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt. Ông đề nghị tập trung một lực lượng hùng mạnh, quét mạnh để mở một “hành lang Kontum” từ đó dẹp tan địch để giải phóng tỉnh Kontum. Sau đó sẽ đè nặng áp lực lên Bộ Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật ở Pleiku. Như vậy họ sẽ giải phóng được một phần lớn Miền Tây Nguyên. Pleiku và Kontum nằm rất gần vĩ tuyến 17, biên giới của 2 nước Việt Namvà rất gần với hậu cứ Bắc Việt của họ, dưới 100 cây số. Như vậy họ có thể tập trung dễ dàng chiến xa trong vùng nầy.”

Ý tướng Dũng là muốn giữ những đường tiếp vận càng ngắn càng tốt. Do đó ông ta chọn mục tiêu Pleiku và Kontum. Tướng Trần văn Trà, tuy là tướng của Bắc Việt nhưng hiện là đại diện cho binh sĩ ở trong Nam, không có cái nhìn giống tướng Dũng:

_ “Ông đánh giặc theo lối vua chúa! Ông chỉ quan niệm là dùng một quân số khổng lồ và hàng tấn đạn cho một trận tấn công. Khác hẳn với chúng tôi, những người lính khổ ở một chiến trường xa xôi rất khó khăn khi phải đếm từng viên đạn. Tấn công Kontum và Pleiku là đưa mình vào một điểm cực mạnh của địch . Ở đó địch đã phòng thủ kỹ lâu rồi, họ đang chờ chúng ta trong thế mạnh đó.

Tướng Trà đề nghị một phương án khác:

_ “Tấn công vào Ban mê thuột là đánh một đòn bất ngờ mà địch không thấy được. Đó là ta đánh sau lưng địch, đánh vào hậu phuơng của địch, nơi mà họ không có chờ chúng ta. Đó là cách ta đốn cây bằng lưỡi rìu ngay ở sát gốc. Sau đó cành lá tự chúng nó sẽ rơi rụng thôi.

Những cuộc bàn cãi về các phương án quân sự cần phải theo tiếp theo chiến thắng Phước Long được tiếp tục tiến hành. Ngày 15 tháng giêng, tướng Trần văn Trà và Phạm Hùng bí thư đảng bộ Miền Nam, tức là lãnh đạo về mặt chánh trị, cả hai đi gập Lê Duẫn (các bản phúc trình gọi là anh Ba). Cũng chưa quyết định. Lê Duẫn nhấn mạnh phải tấn công vùng Đồng Bằng sông Cửu Long, phía Nam Sài Gòn , nhắm vào các thành phố. Ông có hàm ý nhìn nhận rằng sự nổi dậy của dân chúng vẫn còn là một bài toán:

_ “Trong địa bàn thành thị, ta phải đặt hết trọng tâm vào phong trào quần chúng để biến họ thành dòng thác. Phải dùng đàn bà con nít, học sinh sinh viên, thợ thuyền.. làm mũi dùi của cuộc đấu tranh nổi dậy.”

Tướng Trà lại thuyết phục Lê Duẫn về ý định tấn công Ban mê Thuột. Bộ Chánh Trị họp xét. Tại Bộ Tổng Tham Mưu và ở Quân Ủy Trung ương người ta cũng họp để thảo luận. Một điều chắc chắn là Hoa Kỳ sẽ không can thiệp bằng bộ binh.

Ngày 20 tháng giêng, Phạm Hùng và tướng Trà, đại diện CPLTCHMN đi gặp Lê đức Thọ. Ông nầy thông báo cho hai người biết là đã có quyết định. Mục tiêu tấn công sắ p tới sẽ là Ban mê Thuột.

_ “Tôi đã đến họp với Quân ủy Trung ương để cho họ biết là Bộ Chánh Trị đã quyết định mục tiêu cuộc tấn công nầy rồi. Tình hình quốc tế rất là phức tạp. Chúng ta phải giới hạn các cuộc đánh nhau trong năm 1975.

Các nhà chánh trị quyết định, các quân nhân chỉ có việc thi hành. Với Văn tiến Dũng và bộ tham mưu, thì binh sĩ của họ sẽ ở khá xa các căn cứ không quân của vùng Sài Gòn. Bắc Việt cũng có không quân nhưng họ không bao giờ xử dụng dưới vĩ tuyến 17.

Ngày 24 tháng giêng, tướng Trà lên đường trở về Nam Bộ, về Bộ Tư Lệnh chiến trường B2 của ông ta. Tướng Trà và Phạm Hùng đã cân nhắc để xin được quyết định tấn công vào Ban mê Thuột.

Họ đã suýt không tham dự được phiên họp ở thủ đô Bắc Việt. Vào tháng chạp, tư lệnh hành quân Bộ Tổng Tham Mưu ở Hà Nội đã gởi cho họ một công điện để cho họ biết là khỏi cần lên Thủ Đô. Họ không nhận được công điện đó. Trên đường ra Bắc, dọc theo đường mòn Hồ chí Minh, họ không gặp được người của Bộ Tổng Tham Mưu, Lương văn Nho, người có nhiệm vụ phải trao cho họ công điện đó và cả chỉ thị “liên quan đến kế hoạch cho năm 1975”, kế hoạch nầy sơ khởi không có dự trù một cuộc hành quân qui mô nào.

Tướng Trà rất thỏa mản khi nhận được vũ khí và đạn dược bổ túc. Các phiên họp đã làm ông phát khùng lên. Là một tướng hai sao của quân đội chánh quy Miền Bắc, vì đại diện cho CPLTCHMN, ông phải giữ đường hướng và những quyền lợi của tổ chức nầy đến một mức độ nào đó thôi.

Dáng người trung bình, mặt tròn, tánh tình vui vẻ, 57 tuổi, tướng Trà vừa bồn chồn khi phải dậm chân tại chỗ trong thời gian ở trại Davis, vừa phải đương đầu dụng mưu đấu trí với Ủy Ban Quốc Tế và các Ban Liên Hợp 4 Bên và 2 Bên.

Trần văn Trà là người đã tổ chức trận tấn công vào SàiGòn hồi Tết Mậu Thân 1968, và ông vào Nam chiến đấu từ năm 1959. Trong cái CPLTCHMN trong Nam Bộ, ông là nhân vật số 2 sau Phạm Hùng. Trong hệ thống cộng sản Việt Nam ở cấp nào cũng thế, chánh trị vẫn đứng trước quân sự. Nhưng lúc ở mặt trận, từ cấp sư đoàn trở xuống đến trung đội, thì quân sự có quyền hơn chánh trị . Trong thời gian ở trại Davis, để trả lời cho các phóng viên Tây Phương, ông Trà đã dùng những câu hóm hỉnh hơn là những công thức cứng đờ như cái lưỡi cây của cộng sản. Ông rất thích chụp ảnh như ông Thiệu. Ông rất thích thú khi nhờ mua được hai máy Polaroid, một loại máy chưa được biết ở Hà Nội. Ông sẽ dùng máy nầy cho chiến dịch sắp tới của ông nhưng chỉ là phim đen trắng thôi.

Sau mấy tháng ở trại Davis, tướng Trà lại trở vô bưng. Hồ sơ của ông trong các cơ quan tình báo Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa chỉ thấy toàn là dấu hỏi. Ông vốn là con nhà chài lưới, đi làm công nhân hỏa xa. Ông phục vụ trong đảng bộ cộng sản Nam Bộ, sau Hiệp Ước Genève 1954 ông tập kết ra Bắc và theo học các trường quân sự để trở thành Sư trưởng sư đoàn 320. Ông là thành viên trong Quân Ủy Trung Ương, nhưng không có chân trong Bộ Chánh Trị. Vì nhu cầu giữ bí mật trong các hội kín nên những người cộng sản Việt Nam thường dùng bí danh, mà Hồ chí Minh là người đầu tiên. Tướng Trà có nhiều bí danh như Tư Chí, Mười Trí. Đôi khi để đánh lạc hướng ông còn chơi ngông dùng ngay tên thật của những tướng lãnh Bắc Việt khác, như của tướng Trần nam Trung.

Trên đường về Bộ Tư Lệnh của ông, ông nhận thấy đường mòn Hồ chí Minh, hay đường 559, giờ đây ở trong tình trạng rất tốt. Khởi thủy, vào những năm 50, con đường nầy chỉ là con đường đất. Từ 1959 nó đã trở thành một hệ thống đường rộng lớn. Hai đường lớn song song nhau chạy về hướng Nam. Trong 3 năm sau cùng, công binh Bắc Việt đã thiết lập thêm nhiều đường ngang từ Tây sang Đông, dẫn tới sát bờ biển Huế và Đà Nẵng. Có nhiều đoạn có thể bọc vòng quanh một vài thị trấn hay các vị trí quân sự của quân lực VNCH . Trong vòng 16 năm các đường mòn đã biến thành đường đất, đường đất thành đường lộ, và đường lộ đã trở thành xa lộ. Các xe vận tải có thể chạy ba bốn hàng. Song song bên cạnh đó còn có đường cho người đi bộ. Cứ cách 8 tiếng đi bộ là có các trạm nghỉ, trạm gác, trạm tiếp tế. Bộ tham mưu đã điều về đây nhiều tiểu đoàn phòng không để giữ an toàn cho con đường nầy nhất là từ tháng giêng 1974.

Tướng Dũng nói là “Miền Bắc đã dùng hằng ngàn cơ giới đủ loại như xe ủi đất, hằng chục ngàn binh sĩ, thợ thầy, kỹ sư và những người tình nguyện trẻ ” Tình nguyện hay không tình nguyện thì khối người làm đất, công binh, thợ điện nầy đều gập rất nhiều khó khăn như oanh tạc cơ B52, gió mùa, hay tiếp tế không đủ ăn, bệnh rét rừng trong lúc Bắc Việt lại không có đủ thuốc ký ninh cho họ. Với một sức chịu đựng dẻo dai và lòng kiên nhẫn phi thường, khối người đó đã bạt núi san bằng những đoạn tưởng chừng không thể vượt qua được , vận chuyển các tảng đá, đốn cây, xây cầu, làm phà, và đào cả hầm trú ẩn nữa. Người Việt Nam thật là dẻo giai, chịu đựng hết mọi thứ mệt nhọc. Họ được huấn luyện, khuyến khích, ghép thành đội ngũ và có kỹ luật sắt, họ làm việc rất hăng say và tận tụy. Đám lao công nầy đàn bà cũng như đàn ông đều hy sinh một cách cuồng tín như đám dân công trước kia đã từng vác súng đạn xuyên rừng núi đến Điện Biên Phủ vậy.

Tướng Dũng hãnh diện mô tả công tác sửa sang đường 559, và những lời nói của ông ta được xác nhận qua các không ảnh mà phi đội thám sát Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đã chụp được.

_ “Đường nầy rộng 8 thước. Các xe vận tải lớn, các quân xa hạng nặng đều chạy được cả 2 chiều, với tốc độ cao. Họ đã chuyên chở đêm ngày hàng ngàn tấn đến tận chiến trường để yểm trợ cho chiến dịch lớn.” Bộ tham mưu Bắc Việt hình như rất bằng lòng với cách thức họ đưa được xăng dầu vào Nam Bộ:

Dọc theo con “đường chiến lược nầy” chạy dài một ống dẫn dầu nối liền Quảng Trị đến Lộc Ninh, đủ sức tiếp tế cho hằng chục ngàn xe đủ loại đang xử dụng con đường nầy . Thật là một điều nghịch lý, quân đội của một nước nhỏ chậm phát triển, thiếu thốn đủ mọi thứ, lại có một đường ống dẫn dầu quân sự tốt nhất thế giới.

Tướng Võ nguyên Giáp và Văn tiến Dũng trước hết là những người tiếp vận giỏi, lại có binh sĩ hy sinh phục vụ tận tâm. Còn người Mỹ không bao giờ thành công trong việc vô hiệu hóa con đường nầy, đó là một thất bại lớn về mặt chiến lược của họ. Đứng trước một kẻ địch có quyết tâm như vậy , với tất cả kỹ thuật hiện đại trong tay mà họ không làm sao cắt đứt được một hệ thống giao thông ngang dọc trên 10.000 cây số của đường 559 nầy. Từ năm 1959, người Mỹ thất bại trong việc bẽ gãy đường mòn Hồ chí Minh, dù đã xử dụng phương tiện điện tử tối tân hiện đại nhất. Thì làm sao Việt NamCộng Hòa làm được việc đó trong năm 1975?

Trong tuần lễ cuối cùng của tháng giêng, tại Hà Nội, Lê Duẫn tiếp tướng Văn tiến Dũng tại nhà riêng. Ông tổng bí thư hỏi tướng tổng tư lệnh: “ liệu lực lượng mà ông có trong tay có đủ để tấn công Ban mê Thuột hay không?

_ “Với những gì chúng ta có, cũng được rồi, tướng Dũng trả lời. Nếu biết xử dụng thì có thể phần may mắn sẽ về phía chúng ta.

Ông Tổng bí thư xem chừng như chưa tin chắc lắm về chiến thắng nầy.

Sau đó tướng Dũng đi gặp ông Lê đức Thọ. Bộ Chánh Trị đã có quyết định là đưa vào Nam nhân vật đã từng thương thuyết ở Paris. Cũng vẫn một phương thức cũ : một quân nhân được một nhân vật chánh trị theo kèm bên cạnh. Nói về cuộc tấn công sấp tới, mà dưới nhãn quan của mình ông thấy chưa phải là cuộc tấn công cuối cùng, ông Thọ nói:

_ “Nếu ta thắng ván bài lớn nầy, chúng ta sẽ tạo được một thời cơ mới rất có lợi cho chúng ta.” Và vẫn nhã nhặn ông nói tiếp:

_ “Anh hãy giữ mình cẩn thận nghe!

Lê đức Thọ hiện là một nhân vật khá quan trọng trong đảng và là một trong những người có thể thay thế cho Lê Duẫn. Năm nay ông ta 64 tuổi. Ở Paris trong suốt gần 5 năm mật đàm hay thương thuyết công khai vừa là kẻ thù vừa a tòng với Kissinger, ông ta đã mê hoặc ông tổng trưởng ngoại giao Hoa Kỳ qua thái độ ngạo mạn rất lạ kỳ của ông mà Kissinger đã nhận ra được. Ông ta còn tự cho phép mình lên mặt thầy đời với Kissinger nữa. Trong một pha mật đàm ở nhà của ông Jean Sainteny, ông Kissinger lên giọng giáo sư, nói oang oang lên: “Tôi nói là….ông Tổng Thống muốn….. Ông đòi hỏi phải……” Như một lãnh chúa, trong bộ áo cổ cao, rất thản nhiên Lê đức Thọ lắng nghe Kissinger nói. Xong ông trả lời rất nhẹ nhàng:

“Thưa ông Kissinger, ông có thấy tóc tôi đã bạc hết rồi hay không? Tôi đã có tuổi đời lâu rồi, tóc của ông vẫn còn đen quá. Ông còn phải học nhiều nữa. Những gì mà ông vừa nói với tôi, tôi cũng đã nghe qua rồi, nhưng bằng một ngôn ngữ khác. Ông hãy nghe đây: Người Pháp đã nói với tôi y như giọng của ông hôm nay vậy đó, người ta đã nói với tôi những chuyện đó, bây giờ ông lại nói lại với tôi nữa.” Ông Kissinger không bao giờ luống cuống, ông ta hạ thấp giọng và nói một câu “Thưa Ngài” với một ông Lê đức Thọ đang thích thú.

Người Mỹ được bầu lên thì chỉ làm việc trong một thời gian có hạn định vài năm thôi, còn Lê đức Thọ cũng như những người trong ban lãnh đạo đảng ở Bắc Việt , ông ta đã làm việc quá lâu rồi. Hồ chí Minh đã từng xác nhận là người cộng sản phải phục vụ trong 10 năm, 20 năm, 30 hay 50 năm là thường. Ban Lãnh đạo đảng đã tránh những cuộc thanh trừng đẫm máu trong nội bộ của họ. Lê đức Thọ là người sanh trưởng ở Miền Bắc, vào đảng từ năm 16 tuổi, ông được người Tây Phương biết nhiều từ khi ông đạt được nhiều thành quả ở Paris. Lê Duẫn chỉ huy chiến trường trong Nam cho đến năm 1953, thì Lê đức Thọ vào thay ông. Thành viên của Bộ Chánh Trị từ năm 1955, Lê đức Thọ đề ra một chiến lược tổng quát, đúng theo phương thức của Bắc Việt là “vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh, đánh đánh đàm đàm”. Đây là một dấu hiệu đang đi lên của ông: tên ông đứng trước tên ông Giáp trong danh sách tiểu ban lo về đám tang Hồ chí Minh.

Thời cơ đến với ông vào năm 1975. Một người có tầm cỡ như ông Thọ được đưa vào Miền Nam. Hơn hẳn các người khác ở Hà Nội ông Thọ có đủ thông số quốc tế.

Trước khi Lê đức Thọ lên đường đi vào chiến trường Miền Nam, Lê Duẫn nói với ông ta: – “Đừng trở về đây trước khi thắng trận nầy nghe ! Bây giờ chúng ta đang gặp một cơ may lịch sử. Cơ may nầy không bao giờ ta gặp lại trước 10 ngàn năm nữa đâu”

Ít nhất điều nầy cũng đã đảng xác nhận về sau.

Tây Phương còn nói nhiều đến ông Võ nguyên Giáp. Năm 1975, yếu đau, ông bị gạt ra ngoài các cuộc hành quân. Trong lúc tướng Văn tiến Dũng trẻ hơn với tuổi 58, đã là đại tướng bốn sao hồi năm trước. Ông Giáp cũng là đại tướng bốn sao. Là một nông dân thật sự – thấy rõ qua giọng nói của ông- Văn tiến Dũng đã làm việc trong một nhà máy dệt như là một thợ điện, một người thợ giỏi, một quý tộc của giai cấp vô sản. Ông vào đảng cộng sản Đông Dương lúc còn trẻ. Bị bắt, ngồi tù, được thả ra, bị bắt lại và lợi dụng việc chuyển trại ông trốn khỏi nhà tù, đến trốn trong một ngôi chùa, ở đó ông sống hai năm như một nhà sư Phật giáo. Sau đó ông là chánh trị viên và tiếp đó chỉ huy trưởng một trong các sư đoàn việt minh có tiếng nhất , sư đoàn 320. Năm 1972 ông là thành viên Chánh trị bộ và chỉ huy chiến dịch lớn đánh chiếm Quảng Trị. Nhưng nhờ oanh tạc cơ B 52, Miền Nam Việt Nam đẩy lui được cuộc tấn công. Từ đó tướng Dũng lo canh tân quân dội Miền Bắc, rút ra được những bài học từ những thất bại và đã đi thực tập ở các trường cao đẳng quân sự Liên Xô. Ông đã học được phương thức chỉ huy và tác chiến hợp đồng binh chủng cấp sư đoàn. Các tùy viên quân sự ở Hà Nội cho rằng ông là người dễ mến, có sáng kiến và có kiến thức hơn tướng Giáp. Các nhân viên ngoại giao đều thì thầm với nhau là tướng Dũng và tướng Giáp đều nghiêng về Liên Xô hơn. Tướng Dũng là một quân nhân nhà nghề. Liên Xô cung cấp tới 95% chiến cụ nặng gồm máy bay, pháo binh và chiến xa. Dĩ nhiên tướng Dũng với tư cách là tổng tư lệnh phải rút tỉa ra những bài học cần thiết cho quân đội Bắc Việt trong việc xử dụng chiến cụ nầy. Nhiều cuộc tranh luận giữa phe nghiêng về chuyên nghiệp quân sự và phe nghiêng về ý thức hệ, (bên Hồng bên Chuyên). Cũng như đa số các sĩ quan cấp tá và cấp tướng, Dũng nghiêng về bên Chuyên: kỹ thuật quân sự đối với ông là quan trọng hơn các tài liệu của Mác. Trước khi đi vào Nam, tướng Dũng đã có một buổi nói về quy tắc về chuyên ngành trong quân đội. Ông nói:

_ “Sau khi nghiên cứu về những đặc tính của chiến tranh hiện đại, Lénine đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải thành lập một quân đội chánh quy cho một nhà nước của giai cấp vô sản. Trong đại hội đảng kỳ 8 của đảng cộng sản Liên Xô, Lénine đã đánh bại hết những đối thủ quân nhân trong nội bộ đảng, những người muốn binh vực một quy chế nhằm bầu lên các vị chỉ huy, nhằm giữ một kiểu cách và hành động du kích chiến, những người chống đối kỷ luật quân sự, những người chống đối lại việc thành lập một quân đội chánh quy của giai cấp công nông, một quân đội đỏ mà Lénine đang binh vực. Tướng Dũng đã thận trọng nêu lên truờng họp của Lénine, muốn mỗi người sĩ quan trước hết phải là một kỹ thuật gia, phải chuyên hơn là hồng. Danh từ chính yếu phải dùng là “quân đội chánh quy”. Kỳ dư nào là “chánh quyền của giai cấp vô sản” nào là “quân đội của giai cấp công nông” tất cả đều là chất độn. Tướng Dũng rất dứt khoát với quan điểm của mình. Tuy nhiên để tránh khỏi bị gán cho là thành phần “xét lại” ông ta kết luận một câu rất lạ kỳ: “Tính nhà nghề của quân đội chánh quy của tất cả quân đội phản ảnh trước tiên là bản chất của giai cấp của quân đội đó”

Giống như tất cả các quân nhân lên đến một cấp nào đó, ở quân đội Miền Bắc cũng như ở quân lực VNCH tướng Dũng biết rõ tác phẩm của Tôn Tử, một người Trung Hoa, đã viết về nghệ thuật chiến tranh cách đây hai ngàn năm. diễn tả những quy củ của chiến tranh mà ông coi là một nghệ thuật chớ không phải một học thuyết, nhưng nghệ thuật đó phải căn cứ trên những dữ kiện khoa học. Tôn Tử là một người Trung Hoa. Hầu hết những người Việt Nam không thích nhắc tới món nợ đối với nền văn hóa của Trung Hoa. Do vậy mà tướng Dũng mới ám chỉ đến Carl von Clausewitz, hiện đại, ông lại lợi dụng lý thuyết của Lénine -trong đó có cả Marx và Engels, một tính chính thống quyết phải có ở Hà Nội. Ngoài giáo điều chính thống đó, người ta còn học Clausewitz trong các trường đại học của Liên Xô. Sự kết hợp chánh trị và quân sự của ông tướng người Phổ đã cảm hóa được một người cộng sản Việt Nam, nhứt là ý kiến cho rằng : “chiến tranh là một sự tiếp nối của chánh trị quốc gia với những phương tiện khác hay với sự pha trộn với các phương tiện khác”

Tôn Tử nói: “Hãy tìm một con đường gián tiếp đồng thời phải đánh lạc hướng địch bằng cách dùng mồi nhử địch. Như vậy ta có thể đi sau địch mà lại đến trước họ. Người nào biết hành động như vậy là hiểu được chiến lược trực tiếp và gián tiếp.”

Clausewitz viết: “Chiến thắng không nhất thiết chỉ thắng địch trên chiến trường, mà là sự tiêu diệt tiềm năng vật chất và tinh thần của họ, một sự tiêu diệt mà người ta thường chỉ thực hiện được sau khi hoàn tất chiến thắng trên chiến trường.” Tướng Dũng là một người chăm chỉ đọc Tôn Tử và Clausewitz.

Ve Sầu

hoiquantramhuong.com

Hoàng Long Hải

 Posted on 29 April 2013

Post by Sơn râu 9 Apr 2024

Những người xa quê thường mang theo trong hành trang tâm tưởng của mình những hình ảnh đậm màu sắc và âm thanh của quê hương. Tôi cũng vậy. Bất chợt mùa xuân qua đi, nắng hè đang tới, len lỏi đâu đó trong cây cỏ, trong không khí nồng ấm buổi sáng mai, trong hơi gió thoảng ban chiều. Nó làm tôi bỗng nhớ Việt Nam, nhớ quê hương thời thơ ấu, nhớ Huế là nơi tôi học hành và dạy học, trước khi nhập ngũ rồi đi xa.

Dĩ nhiên, Huế có nhiều cảnh sắc để nhớ như người ta thường nói: Hoàng thành, đền đài, lăng tẩm, miếu mạo, và sông Hương, núi Ngự.

   Trong âm thanh của Huế, trong tiếng đàn nguyệt, đàn bầu, tiếng ca Nam ai, Nam bình, khúc hát Hậu Đình (1) vang dội cả một khúc sông Hương, – khiến có người than rằng “Thương nữ bất tri vong quốc hận” – nhưng lại nhiều khi, tôi không sao quên được tiếng ve sầu.

     Hè về là tiếng ve sầu cùng về. Tiếng ve sầu bao giờ nghe cũng gần gũi, vui vẻ, thân quen, nhắc nhở người ta nhớ những cái gì đó trong dĩ vãng: mùa hè năm trước, vui chơi, cắm trại, lội sông, du ngoạn, nắng hồng, phượng đỏ, và… ve kêu.

     Nói cho đúng với khoa học thì các chú ve đã trở về trên cây nhãn, cây mù u, cây mít, cây cau sau một cuộc hành trình lưu đày 17 năm, hơn cô Kiều những hai năm. Kiều chỉ có mười lăm năm lưu lạc. Con ve 17 năm giam hãm, trong cái trứng ve, dưới lớp vỏ cây.

     Sau đít con ve cái có một vật nhỏ giống hình con dao. Vật đó cứng, đục vào vỏ cây để con ve gởi trứng vào đó. Từ khi sinh ra trong cái trứng, quá trình chuyển hóa trở lại hình dạng con ve, theo khoa học, là 17 năm. Nếu như hôm nay loài ve tuyệt diệt, thì phải 17 năm sau, khi những cái trứng được sinh ra trong mùa hè năm nay, 17 năm sau mới chuyển hóa thành hình ve, thì sau đó người ta mới không còn nghe tiếng ve kêu nữa. Ai có thể ngờ một cuộc “hành trình” dài lâu đến như vậy!

Ve là loài sinh vật của vùng nhiệt đới. Nhưng lạ, chỉ ở Huế mới có nhiều ve, đầy trong cả những vườn nhãn, vườn cau, vườn mít. Huế có những khu vườn cũ, có thể cả trăm năm. Những khu vườn nầy thường chỉ trồng nhãn, thêm một ít cây mít, cây cau, cây mớc để cho giây trầu leo lên. Buổi trưa, trời đang oi nồng, khó dỗ giấc ngủ. Bỗng ngoài vườn, một tiếng ve kêu lên, rồi cả ngàn tiếng ve đáp lại. Vậy là tiếng ve vang lên ran cả khu vườn. Nó như một “hội Diên Hồng” của loài ve: Một lời kêu, vạn lời đáp. Đó là môt bản đại hợp xướng, cũng đủ giọng trầm bỗng cao thấp, dài ngắn, tiếng gần, tiếng xa. Nó kêu um trên các cây nhãn đấy, nhưng ra đứng mà xem, trong tàng cây rậm rạp, hương nhãn thơm lừng, khó tìm thấy chú ve nào. Con ve đeo vào lá, núp trong lá, khó thấy được. Nhưng tiếng kêu của nó thì rõ lắm, gần lắm, tưởng như đưa tay với lên cành nhãn thấp là bắt được.

  Tiếng ve không kêu đơn độc, một mình, lẻ loi, cô quạnh như tiếng dế, nhất là tiếng dế kêu lúc đêm khuya. Đó là một bản hợp xướng, nhưng tại sao lại nghe không vui. Không vui không phải bởi tiếng ve kêu rè rè, lách cách, nhưng bởi cái âm thanh kéo dài ra. Lắng tai nghe tiếng ve hòa điệu, người tinh tế thường thấy nửa vui nửa buồn. Vui là vì cái ấn tượng vui chơi ngày hè do nó đem lại, buồn là bởi cái âm thanh kéo dài, rền rền, không nặng, không nhẹ, không làm chói tai người nghe, không mơ hồ khiến người nghe không nhận rõ. Bản hợp xướng đang rộn rã, kéo dài cả nửa tiếng, một tiếng thì…

   Bỗng tiếng ve ngưng bặt, im lặng. Hoàn toàn im lặng. Sự im lặng ấy làm cho người nghe bỗng thấy hụt hẫng. Nó là dấu lặng bất thần hiện ra trên năm giòng nhạc. Nó đột ngột như cái archet của của cây đàn vĩ cầm rứt ra khỏi mấy sợi giây đồng, như bàn tay của người chơi đàn piano ngưng chạy trên phiếm, như tiếng đàn của người kỹ nữ trên bến Tầm Dương: “Nước suối lạnh, dây manh ngừng đứt”(2). Sự im lặng đột ngột ấy bao giờ cũng để lại cho người nghe một dấu ấn, một ấn tượng, một sự ngạc nhiên. Tại sao đang hát, tại sao đang đàn, tại sao đang kêu gọi nhau vui thế, bỗng ngưng bặt. Có ai phá đám các nhạc sĩ, có ai quắc mắt biểu cô ca sĩ ngậm miệng lại. Không! Không có gì cả! Không ai ra lệnh. Không ai phá đám. Vậy mà bỗng nhiên cả ngàn con ve trong vườn nhãn bỗng đồng loạt im tiếng trong khi chúng đang ca vui, chào đón mùa hè?!

    Sau trận đánh tết Mậu Thân, tôi chuẩn bị nhập ngũ. Nhà cũ không còn, tôi dọn về một căn nhà nằm bên bờ sông An Cựu, gần cung An Định. Nhà của ông chủ phía trước, sát đường bờ sông, – đường Phan Đình Phùng – Nhà tôi ở phía sau, nằm sâu trong vườn nhãn. Đây là những cây nhãn lưu niên không dưới tuổi của nửa thế kỷ. Lại mùa xuân sắp qua hết, mùa hè đang tới. Hoa lá trở về trên những cành nhãn già. Nắng long lanh trên những lá cây màu xanh đậm. Sắp nhập ngũ, dù “tự động trình diện không có lệnh gọi”, tôi cũng buồn như tất cả mọi người trước một cuộc chia ly. Trời đã xế trưa, đang nằm mơ màng nửa thức nửa ngủ, tôi bỗng nghe ngoài vườn tiếng ve kêu um lên, buồn vui lẫn lộn.

    Tiếng ve sầu kêu trong một ngày sắp sửa đi xa, rời bỏ quê nhà làm tôi bỗng nhớ những tiếng ve sầu tôi đã từng nghe trước kia mà rất nhiều khi tôi không chú ý. Có thể một hôm nào đó, tôi không nhớ kỹ, đang đạp xe đạp đi học trên đường Hộ Thành – sau nầy gọi là đường Đinh Bộ Lĩnh, trước tiệm ăn Quốc Hương, – ngang phía ngoài cửa Hiển Nhơn của Đại Nội, bỗng tiếng ve vang dội từ trên những tàng cây nhãn rậm rạp trồng hai bên đường. Tôi nghĩ thầm. Té ra mình đã nghe nhiều lần mà không chú ý. Tệ thiệt. Tệ thiệt đó! Người ta đã hát cho mình nghe, cố hát cho mình nghe! Vậy mà mình chẳng chú tâm chút nào! Đâu có phải chừng đó. Thế còn những tiếng ve sầu trong vườn nhãn ở khu Canh Nông, cuối đường Kinh Thương, trong những vườn nhãn của ông Bá dạy sử địa, vườn bà tham, bà thị và cả nhà NTH, bạn tôi, ở đường Chùa Bà nữa chi?! Còn nữa đấy. Tiếng ca của hàng vạn chú ve trong “Vườn ai xanh quá, trong như ngọc” ở Vĩ Dạ, ở Phú Cam, ở làng Nham Biều phía trên chùa Linh Mụ hay ở Nguyệt Biều quá nhà máy vôi Long Thọ. Nhiều quá! nhiều quá! Làm sao nhớ hết. Nhớ không hết thì cũng cố mà nhớ. Mai đây và dài lâu nữa, trên con đường lưu vong viễn xứ, ở tận cuối miền Nam, hay Mã Lai, hay Mỹ miếc gì đó, làm sao còn nghe tiếng ve sầu, như một dư âm của một thời tôi chưa quá “tam thập nhi lập”.

   Người ta cũng ví con ve sầu là chàng nhạc công, cô ca sĩ nghèo mạt rệp đấy! Nghèo như con dế mèn trong bản nhạc “Thằng Cuội” của Lê Thương: “Có con dế mèn, hát trong đêm khuya, hát xẩm không tiền, nên nghèo xác xơ”. Người nghệ sĩ đã nghèo lại còn bị đời chê bai đấy. “Xướng ca vô loài”. Tội nghiệp chưa!

    Về mặt luân lý, người Tây phương cũng chê chú ve sầu vô tích sự, lại còn ham vui chơi ca hát, không biết “tích cốc phòng cơ”. Thật đấy, trong “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” hay “Luân lý GKT”, tôi không biết, tôi từng nghe chị tôi học hồi xưa lắm:

Ve sầu kêu ve ve

Suốt mùa hè

Đến kỳ gió bấc thổi

Nguồn cơn thật bối rối

Một miếng cũng chẳng còn

Ruồi bọ không một con

Vác miệng chịu khúm núm

Sang chị kiến hàng xóm

Xin cùng chị cho vay

Dăm ba hạt qua ngày

Từ nay sang tháng hạ

Em lại xin đem trả

Trước thu, thề đất trời

Xin đủ cả vốn lời.

Tính kiến ghét vay cậy,

Thói ấy chẳng hề chi

– Nắng ráo chú làm gì?

Kiến hỏi ve như vậy.

Ve rằng:

– Luôn đêm ngày.

Tôi hát, thiệt gì bác

Kiến rằng:

– Xưa chú hát

Nay thử múa coi đây./

(Ngụ ngôn – La Fontaine –

Nguyễn Văn Vĩnh dịch) (3)

  Kiến là con vật cần cù chăm chỉ, chỉ biết làm việc, không biết vui chơi, ca hát bao giờ, thậm chí cả việc sinh dục, để đái chúng nó cũng giao cho kiến chúa lo. Chúng chỉ lo kiếm mồi, đem về chất đầy kho lẫm. Với cá tính đó, làm sao kiến có thể thông cảm chú ve sầu vui ca suốt mùa hạ, bây giờ đói kém, vác bị gậy qua nhà kiến vay mượn, xin ăn.

   Thế là đàn ve chết đói khi mùa hạ qua đi, khi gió bấc lạnh thổi về. Ấy là khi mùa thu đã tới. Cảm cái lạnh và cái buồn của thu, Xuân Diệu đi tìm những xác ve nhưng có thấy gì đâu:

Dưới gốc nào đâu thấy xác ve

Thế mà ve đã tắt theo hè

(Ý thu. Xuân Diệu ) (4)

Xuân Diệu đúng là con người lẩn thẩn. Làm sao ông ta có thể thấy xác ve chết dưới những gốc cây! Khi chàng nhạc sĩ già yếu, không còn cất nỗi tiếng đàn, tiếng địch, khi đói quá qua nhà chị kiến xin ăn không được, chàng nghệ sĩ nghèo xác xơ hồn lìa khỏi xác. Xác ve rơi xuống cạnh gốc cây. Các chị kiến, anh kiến không bỏ lỡ cơ hội, xúm nhau lại kéo xác ve về tổ để làm một buổi thịnh soạn hay để đó chờ khi mưa xuống, tuyết rơi, không đi ra ngoài được thì đã có xác ve làm ấm lòng. Thiệt là bất nhân. Bầy kiến thiệt là bất nhân. Khi người ta đói, xin ăn, kiến không cho. Nhưng khi ve chết, bầy kiến hè nhau ăn thịt ve.

Thế là tôi xa Huế 50 năm. Năm mươi năm không còn nghe tiếng ve kêu, với tâm trạng u uẩn than oán như trong câu ca dao tôi nghe mẹ hát từ khi còn thơ ấu: “Con ve kêu mùa hạ, biết mấy thu hỡi chàng!” Nghe con ve kêu mà sợ mùa thu lạnh lẽo, chờ chàng không về! Đó là tâm trạng ai nhỉ? Mẹ bồng con? Hòn vọng phu ở Đồng Đăng, ở Phú Yên hay ở Long Khánh. Trên dãi đất hình chữ S, ở đâu chẳng có những người đàn bà Việt Nam ôm con đợi chồng!

Thế là 50 tôi không còn nghe tiếng ve kêu, dù có khi tôi ở Saigon, vui chơi trong vườn cây trái ở Lái Thiêu, lặn lội trong những vườn dừa mênh mông ở Kiến Hòa, hay lang thang ở Cái Sắn, thậm chí cả ở Hà Tiên, ngồi chơi trong vườn cây sum suê của lăng Mạc Cửu, Mạc Thiên Tứ.

Không ở đâu tôi nghe được tiếng ve sầu kêu um cả một khu vườn nhãn như ở Huế. Tuy không được nghe bên tai, nhưng tiếng ve thì còn đấy. Nó ở sâu trong đáy hồn tôi, trong tâm tưởng của một người viễn xứ.

Mấy hôm trước đây, nói chuyện ve sầu với một người bạn. Người bạn bảo: “Ở Washington D.C.” có ve sầu đấy. Uở, kỳ thiệt, Washington D.C. thuộc xứ lạnh, tuyết giá, làm sao có ve sầu? Washington D.C. và các tiểu bang chung quanh có rất nhiều người Huế tị nạn. Không lý trong hành trang di dân, họ mang theo con ve sầu, hay trứng của những con ve sầu nên bây giờ ve sầu mới sinh sôi nẩy nở ở đấy. Biết đâu! Người Huế vốn sâu sắc thì họ có mang theo con ve sầu cũng không có gì lạ. Mang theo một chút gì của Huế để cho ấm lòng!

Người Việt định cư ở Mỹ lâu năm, nhập tịch Mỹ, người ta gọi họ là người Mỹ gốc Việt. Đó là mặt pháp lý. Hồi xưa ở quân trường, Nam-Bắc-Trung sắp chung một trung đội, một tiểu đội nên bọn sinh viên sĩ quan thường gọi đùa nhau bằng những tiếng “Người Việt gốc Rau” để ám chỉ anh Bắc Kỳ, “Người Việt gốc Ớt” để ám chỉ anh trọ trẹ, hay “Người Việt gốc Giá” để ám chỉ anh Nam kỳ. Trong cách đùa như thế, có thể gọi người Huế định cư ở Washington D.C. là “Người Việt gốc Ve Sầu” được không? Nói bậy bạ, không chừng bị mắng chớ chẳng không!

Nhưng dù gì thì cũng không biết chắc Washington D.C. có ve sầu hay không. Nghe có ve tôi cũng mừng. Có hay không có, thế nào mùa hè năm nay, tôi sẽ về Wasgington D.C. để hy vọng được nghe tiếng ve sầu nơi đất khách!

_______________________________________

(1) Nguyên văn (Dạ Bạc Tần Hoài)

Yên lung hàn thủy, nguyệt lung sa,

Dạ bạc Tần hoài cận tửu gia.

Thương nữ bất tri vong quốc hận,

Cách giang do xướng “Hậu Đình Hoa”.

Đỗ Mục

(2) Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt

Ngừng đứt nên phút bật tiếng tơ

Ôm sầu, mang giận ngẩn ngơ

Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay

(Tỳ bà Hành – Bạch Cư Dị – Phan huy Vịnh dịch)

(3) La cigale ayant chanté

Tout l’été,

Se trouva fort dépourvue

Quand la bise fut venue :

Pas un seul petit morceau

….

(4) Ý thu

…..

Dưới gốc nào đâu thấy xác ve

Thế mà ve đã tắt theo hè

Chắc rằng gió cũng đau thương chứ

Gió vở ngoài kia, ai có nghe….

(Xuân Diệu)

Hít Hà Con Chắt Chắt…

Vài lời

Tôi vốn dốt môn sinh vật, cứ tưởng con hến cũng như chắt chắt thuộc loài “giáp xác” như tôm chẳng hạn vì nó có vỏ. Tra tự điển mới biết chúng nó thuộc lài nhuyễn thể có hai miếng vỏ, thuộc bộ Veneroida, xuất hiện nhiều nơi trên mặt địa cầu, kể cả Nam Mỹ, châu Đại Dương và châu Phi đen.

Có điều lạ, dân các xứ ấy cũng “đói” không khác gì dân Việt Nam ta, họ cũng dùng loài nhuyễn thể nầy làm thực phẩm, nhưng không biết chế biến để làm thành những món ăn ngon như ở nước ta. Không ít người ngoại quốc biết món cơm hến, nhất là những “ông, bà” nào đã đến du lịch Huế. Tiếc một điều, con chắt chắt không thấy xuất hiện ở Huế nhiều, nên Huế chỉ có cơm hến mà không có cơm chắt chắt.

Là món ăn của người bình dân, tôi không thấy con hến hay con chắt chắt xuất hiện trong văn chương bình dân như tục ngữ, ca dao. Món nầy không “gợi hứng” cho các nhà thơ của miền ruộng rẫy hay sao?

Nếu có ai biết, xin chỉ giùm.

Đa tạ

Sông Thạch Hãn cũng như Hiếu Giang là những con sông già, bờ sông không sâu hẳm, lẫn lộn cát với bùn, là nơi sản sinh loại chắt chắt và hến, không nơi nào bằng. Vì vậy, nói tới con chắt chắt, các vùng khác thì mù tịt, nhưng dân Quảng Trị thì lại rất rành. Rành ăn canh chắt chắt và cũng rành “chế biến”, nhứt là kể từ khi “Nhậu để khói sầu lên chất ngất” (NBS). Chiến tranh, đời lính, chết chóc, nghèo khổ sau chiến tranh, nhậu trở thành một “vũ khí chiến lược tiêu cực” để chống lại đói nghèo, vô vọng…

Canh chắt chắt nấu với rau muống hay khế hoặc bầu, thường có nhiều gừng. Gừng là một dược liệu chống hàn, vì con chắt chắt thuộc “giống hàn”. Hàn dễ gây đau bụng – đau bụng chớ không tháo dạ, không thuộc loại “tào tháo đuổi”. Người ta con bảo con chắt chắt sinh ở bùn. Rửa không sạch bùn, canh chắt chắt dễ làm đau bụng. Cũng để bớt mùi bùn, canh chắt chắt phải nấu cay. Trẻ con không ăn cay được thì bên đọi (bát) canh phải có chén nước mắm ớt. Ớt chìa vôi giả dập với nước mắm, nếu nhà giàu, nhà nghèo giả ớt với muối hột.

Mùa hè, gió Lào (còn gọi là gió Nam, “may được nồm nam cơn gió thổi” Nguyễn Khuyến) – nóng nực, buổi chiều ăn cơm với canh chắt chắt là món ăn giải nhiệt “siêu đẳng” của “Quảng Trị tui nghèo đất cày lên sỏi đá”.

Dọc theo bờ sông Thạch Hãn và sông Hiếu, nhiều làng có nghề cào chắt chắt, nhưng nhiều nhất là làng An Giạ, phía dưới ngã ba sông Hiếu và sông Thạch gặp nhau, gần cửa Việt. Gần tới biển nên nước sông không mặn mà cũng không còn ngọt, thường gọi là vùng nước lợ. Nước lợ là nơi “định cư” của loài chắt chắt, không muốn sống nơi “biển mặn”. Đó là nơi hội tụ của bùn và cát, cũng là nơi hội tụ của hàng triệu con chắt chắt cống hiến cho dân quê xứ tôi món canh đặc biệt không nơi nào có.

Đừng lầm chắt chắt với hến. Con hến lớn hơn và cũng nhiều hơn. Cách bán chắt chắt và hến cũng giống nhau. Hoặc bán tươi, từng mớ, để trong rổ, rá, hoặc bán chín. Một đầu gánh là rổ hến đã “trơi” vỏ, đong bằng loon hay chén, đầu kia là hủ đất nung, đựng nước hến. Cái (con chắt chắt hay con hến) mà không có nước thì không ngon vì nước ngọt và mát.

Ở Quảng Trị người ta không bán cơm hến, nhưng Huế thì khá nhiều. Cơm nguội đựng trong chén. Cơm thì ít, hến thì nhiều, thêm rau thơm, bắp chuối xắt lát… Nhiều nhứt là ớt. Ớt rất cay. Người miền Nam đến Huế còn không dám ăn bún bò, huống chi cơm hến cay hơn bún bò nhiều.

Làm ruộng là nghề chính của nông dân, cào chắt chắt hay hến là nghề phụ, chỉ làm mùa hè, là mùa sản vật sinh sôi nảy nở nhiều. Gọi là cào vì người ta dùng cào để bắt chắt chắt hay hến. Dĩ nhiên, cái cào có hình dạng như cái cào, khoảng cách của răng cào nhỏ hơn, nên khi cào, cát bùn thì lọt qua răng, còn con hến hay con chắt chắt thì bị giữ lại.

Chắt chắt, hến sinh sống dưới mặt nước, từ chỗ trên mắt cá đến bụng, ít khi ngang tới ngực. Người cầm cào thường đi lui, cào lui nên người ta thường nói đùa câu “ăn tới làm lui”. Buổi sáng, đàn ông con trai có khỏe thì ra cào chắt chắt, hến. Trong khi các mẹ các chị thì gánh hàng lên bán ở các chợ như Đông Hà, chợ Sòng, chợ Thuận, chợ Sãi và chợ Quảng Trị (thị xã), sau khi đã ngâm nước giếng, lọc gạn sạch cát, đá, bùn…

Những nhà khá giả thường dùng bánh tráng nướng, bẻ thành miếng xúc chắt chắt hay xúc hến mà ăn. Bánh tráng nướng thường là loại bánh tráng mè, dày. Chắt chắt hay hến thì xào với “tóp mỡ”, hành Tây và ớt xắt lắt mỏng, theo chiều dọc của trái ớt.

Chắt chắt là món ăn của người nghèo, bình dân. Vua quan và nhà giàu có không ăn món “quê mùa” nầy bao giờ. Tuy nhiên, có người nói vua Thiệu Trị rất thích canh chắt chắt “hiện diện” trong mâm “ngự thiện” của vua. Có gì đâu! Khi còn trẻ, chưa nối nghiệp vua cha, vua Thiệu Trị thường hay “ra chơi” Quảng Trị, nên cũng đã có lần “thời” món ăn dân giả nầy. Té ra, vua của ta cũng “quê” chớ không “sang trong phú quí cao lương mỹ vị” như các đại gia ngày nay

Xa Quảng Trị, người ta chỉ nhắc lại “món quê” để mà nhớ. Ai đó thèm lắm thì có thể mua vài dĩa “hến xuất khẩu” ở các chợ Việt Nam đem về nấu cơm hến ăn chơi, còn như chắt chắt thì người ta chỉ có thể ăn… hàm thụ mà thôi.

Hoàng Long Hải

Tiếng hát

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 31 Jul 2016 

Postr by Sơn râu 9 Apr 2024

“… dĩ vãng là thơ
Đem thơ về ghép nhạc, thành khúc tình ca”

(Nhật ký đời tôi – Thanh Sơn)

Thân tặng chị Bích Huyền,

người phụ trách Chương Trình Thơ Nhạc của đài VOA,

như một lời cám ơn sâu nặng!

tác giả

Vào những buổi chiều giữa mùa hè, khi trời ít mây, cảnh mặt trời xuống thấp dần trên rặng Trường Sơn, đẹp một cách lạ lùng!

Hồi xế chiều, khi trời còn sáng, mặt trời đã nghiêng về phía Tây, nhưng hình dạng còn nhỏ, chỉ bằng một cái dĩa bàn. Đến khi mặt trời sắp đụng tới đỉnh núi Trường Sơn, mặt trời to hơn, có khi bằng một bánh xe đạp.

Mặt trời đỏ gay, mầu hồng tươi, giống như miếng sắt đang nung trong lò thợ rèn. Trời không có mây, nên chung quanh không có một vầng hào quang nào cả. Phía xa xa, có khi có những đám mây đang lảng vảng, ở phần rìa của những đám mây ấy, phản chiếu ánh mặt trời, cũng hiện lên mầu đỏ, gần giống màu đỏ mặt trời, cũng đẹp như vậy. Mầu mây đỏ nằm sát bên màu mây đen hay trắng, tạo ra một sự tương phản, lôi kéo cái nhìn của người ta.

Thế rồi mặt trời đi dần xuống, từ từ chạm vào đỉnh những ngọn núi hình răng cưa của dãy Trường Sơn. Khi mặt trời bắt đầu bị núi che khuất, thì mặt đất cũng bắt đầu tối lại, trước tiên là một màu đen còn mờ nhạt, mầu đen đó từ từ dâng lên cao. “Chiều lên dần dần, chiều không xuống.” Nhận xét đó của Xuân Diệu, xem ra  ở đây thật đúng với cảnh quang chung quanh, khác với câu thơ ông đã từng viết: “Chiều ơi hãy xuống thăm ta với.”

Chiều xuống là nói theo cách thông thường, chiều lên là nói theo nhận xét của Xuân Diệu.

Chiều lên! Có nghĩa là mầu đen từ mặt đất đang lên dần.

Màu đen của đất, màu đỏ của mặt trời, hòa quyện với nhau tạo ra mầu tím. Ban đầu, khi chiều mới lên, màu tím của trời chiều chỉ là mầu tím nhạt. Khi mầu đen của đất đậm hơn, thì mầu tím cũng đậm hơn, thành màu tím than, như màu áo đàn bà con gái Huế thường mặc. Cái mầu tím của trời chiều trở thành mầu tím trong văn chương và của thời trang. “Chiều tím, chiều nhớ thương ai?!” như trong một bài hát, hay “Chân Trời tím”, tiểu thuyết của Văn Quang.

Hồi mới lớn, khi lòng tôi bắt đầu có những nỗi buồn vô cớ, khi tôi bắt đầu có những mộng ước đi xa, khi tôi bắt đầu mơ mộng những chuyến viễn du, mơ làm một thủy thủ “Ra khơi biết mặt trùng dương, biết đời viễn vông, biết ta hãi hùng, bởi cái máu giang hồ vặt trong dòng họ cha ông tôi, hay ưa làm một kẻ “lãng tử” như bạn bè thường gọi, khiến tôi có một cái đam mê của tuổi trẻ: Tôi ưa ngồi trên những bãi cỏ già bên bờ sông Thạch Hãn, để nhìn cảnh trời chiều, từ ngày nầy qua ngày khác, cho tới khi mùa gió heo may bắt đầu, khi ở phía trời đông ngày lại ngày hiện ra những đám mây dày, tầng tầng lớp lớp.

Mùa thu đã ngấp nghé về rồi!

Nằm trên những bãi cỏ bên bờ sông Thạch Hãn, phía trước trường Tiểu Học Quảng Trị, hay trước dinh Công Sứ; ở đấy, hàng cây dương liễu còn dày, tàng cây còm rậm, người ta nghe rất rõ tiếng gió vi vu thổi qua những ngọn liễu già. Tiếng gió thổi ấy nghe buồn lắm, dù đang giữa mùa hè tươi vui, hay trong những đêm đông lạnh lẽo.

            Dương liễu giang đầu, dương liễu xuân

            Dương hoa sầu sát độ giang nhân.

            Sổ thanh phong địch ly đình vãn,       

                        Quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần

            Ngô Tất Tố dịch:

Sông Dương dương liễu đua tươi,
Hoa dương buồn chết dạ người sang sông.
Đình hôm tiếng sáo não nùng,
Anh đi bến Sở, tôi trông đường Tần.

            Bài thơ “Hoài Thủy Biệt Hữu Nhân” nầy là của Trịnh Cốc, người Tầu, thời Vãn Đường, tức là cuối triều đại nhà Đường. Cốc làm bài thơ nầy khi tiễn một người bạn trên bến sông Hoài. Ở bên Tầu, sông Hoài là con sông dài thứ ba sau Hoàng Hà và Dương Tử, phát xuất từ rặng Tần Lĩnh nên có khi người ta gọi nó là “Tần Hoài”. Sông Hoài đổ nước vào sông Dương Tử mà không đổ ra biển.

            Sông Hoài cũng là đề bài cho một bài thơ nổi tiếng khác. Bài thơ tên “Bạc Tần Hoài” của Đỗ Mục. Người Việt mất nước thời kỳ Pháp đô hộ rất cảm khái với hai câu “Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa.” Tôi sẻ bàn tới đề tài nầy vào một dịp khác, có thể là khi bàn về bài hát “Đêm tàn Bến Ngự” của Dương Thiệu Tước, trong đó, ông nhạc sĩ họ Dương có ý trách “Ai luyến ai tiếc khúc ca Tần Hoài!” sau khi ông nhắc tới khúc Tiêu Tương.

            Nhạc sĩ Hoàng Nguyên, dân Cam Lộ Quảng Trị, khi soạn bài “Cho người tình lỡ”, mà có người cho rằng ông viết thay cho bà vợ Phan Huỳnh Điểu, khi ông đến trường Phan Chu Trinh ở Đà Nẵng, và gặp bà ta ở đó, nghĩ về một “Dòng sông chia ly”, về một người “Lạc bước khi qua cầu”, thì cái dòng sông đó là sông Bến Hải.

Thật ra, không phải sông Bến Hải, cũng không phải là sông Hương. Sông Hương, cũng như sông Bến Hải, không sông nào có “liễu khuất bến giang đầu”, mà chỉ là sông Thạch Hãn; ông thấy nó khi ông học tiểu học ở ngôi trường bên bờ sông ấy. Cũng bởi vì ý nghĩ đó, ngày trước hay bây giờ, khi hát câu:

Ngày anh ra đi, rặng liễu chưa xanh mầu
Mà nay bên sông, liễu khuất bến giang đầu!

trong trí tôi hiện ra hình ảnh những hàng liễu bên bờ sông Thạch Hãn, với bên kia sông là bãi cát vàng và những bờ tre xanh biếc của làng ngoại tôi, cũng như những ngôi làng kế tiếp nó, dọc theo dòng sông: Nhan Biều, Trung Kiên, Tả Kiên…

            Thế rồi trời tối dần lại, cùng những hơi sương từ giữa dòng sông từ từ bay lên. Khói ở trên sông đấy, là “yên ba”, là “sử nhân sầu”, là “Hoàng Hạc (lâu)” bay về đâu đó, về phía những dãy núi cao:

                        “Nhật mộ hương quan hà xứ thị

                        Yên ba giang thượng sử nhân sầu.”

            Thôi Hiệu xa nhà, nên khi thấy sương khói trên sông thì đâm ra nhớ nhà, bèn hỏi “hà xứ thị?” Tôi thì đang ngồi ngay bên bờ sông, ngay quê hương mình, mà cũng thấy “sử nhân sầu.”

            Cuộc đời thật đáng buồn!

Tôi học cái buồn đâu đó trong “Hai Buổi Chiều Vàng” của Tự Lực Văn Đoàn hay của Huy Cận, Xuân Diệu, nhưng mỗi ngày, khi nghe trên loa của Ty Thông Tin phát ra bài “Tiếng Đàn Tôi, với lời ca của Thái Hằng “Đời lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt” thì những đứa học trò mới lớn như tôi không thấy đời buồn sao được!

Tôi ngồi đây mà nghe như từ phía trung tâm thành phố “Ta ngồi nghe những tiếng thị thành xa, Hồn lơ đảng mộng ra ngoài cửa lớp” thì không buồn cũng phải buồn hoặc đang vui cũng thấy lòng bỗng trở nên buồn vô cớ.

            Từ những “tầm nguyên” của văn chương, người học trò trước năm 1975, khi học về “Chinh phụ Ngâm”, ông thầy dạy Việt Văn, không thể không nhắc tới “Tiêu Tương” hay “Bạc Tần Hoài” khi giảng cho học trò câu thơ:

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

&

            Nằm trên bãi cỏ bên bờ sông Thạch Hãn, nhìn những ngọn liễu chỉ vu vơ lên vòm trời xanh, tôi không thể không nhớ tới Đoàn Văn Cừ, “Thế là đêm nay mình lại được như ngày nào… qua vịnh Bái Tử Long, nhìn cột buồm chỉ chỏ vẩn vơ những vì sao, kể cho nghe câu chuyện hải hồ cũng thú…”

Tôi không được cái thú đêm nằm nhìn cột buồm chỉ chỏ những vì sao trên vòm trời cao, nhưng ở đây, tôi được cái thú khác: Nhìn những ngọn liễu “chỉ chỏ” những vầng mây đang trôi nhanh trên bầu trời mùa hè cao rộng.

            Mây ở đây không bay mãi trên trời xanh như những nơi khác. Buổi sáng, khi ngọn gió Lào còn thổi mạnh, gió thổi từ hướng đèo Lao Bảo ra biển đông, thì mây theo gió trôi ra biển. Những đám mây trôi nhanh, – có phải vì gió thổi mạnh -, nên mây trôi nhanh như đuổi bắt, tham dự một cuộc chạy đua, đám mây nào ra biển trước thì được phần thưởng gì chăng?

Buổi chiều, gió Lào ngừng thổi, mây lại từ biển lững thững bay về núi. Mây bay chậm, đôi khi tưởng như ngừng trôi, dừng lại đâu đó, để nhìn xuống mặt đất, nơi tôi nằm ngữa nhìn trời.

Tôi không nghĩ mây có một linh hồn, nhưng buổi sáng thì chúng đuổi bắt, buổi chiều thì thong thả ra về. Nó như có một cái gì đó, một cái gì mà Anatole France từng hỏi: “Hỡi các vật vô tri vô giac kia, các người có một linh hồn chăng? Linh hồn đó, quyện vào linh hồn của ta, bắt ta phải yêu mến các người.” Cái lãng mạn của France, cái lãng mạn của văn chương Pháp đã thấm vào hồn tôi hồi nào mà tôi không hay.

            Một lần nhà văn Đình Ngân – tác giả tập truyện ngắn “Phong Lan”, – thầy giáo Việt Văn của tôi, nói với bọn học trò chúng tôi: Buổi chiều nhìn bầu trời trên sông Thạch Hãn, chúng ta thấy những đàn chim bay về núi, theo hình tam giác. Con chim đầu đàn bay trước, như một mũi nhọn, những con chim khác bay theo.

            Tôi cũng đã từng thấy những đàn chim bay như thế vào những buổi chiều hè trên sông Thạch Hãn. Xa kia nữa, phía bắc, phía Ái Tử, có một cánh chim lẻ loi, đảo cánh một mình. Trời càng chiều, chim bay về núi càng nhiều, có lẽ chúng phải vội về tìm nơi ngủ qua đêm sau một ngày kiếm ăn ở biển đông.

            Nhưng tôi còn nhớ một điều khác nửa, từ thực tế mà cũng từ trí tưởng của tôi.

            Tôi không chắc gánh hát Charlot Miều, trên đường lưu diễn xuyên suốt chiều dọc của nước Việt Nam, có ghé lại Quảng Trị hay không, nhưng một lần, anh cả tôi đi xem hát về, ngày nào cũng ngâm nga “Đàm chim bay thướt tha trên núi cao miền xa, Mang theo những mối buồn màng mơ dạ tâm sầu đó chăng?…”

Trí óc của một đứa bé tám tuổi cho tôi nhớ chừng đó, đúng sai tôi không biết. Tôi bắt chước anh tôi, cũng hát theo như vậy, trong khi trí tưởng của tôi, hiện ra hình ảnh những đàn chim bay trên sông Thạch Hãn; rồi có phải, từ thời thơ ấu, tôi đã nhìn đàn chim bay mà mang trong lòng một mối “buồn màng mơ” như trong lời hát bài “Thu trên đảo Kinh Châu” của Dương Thiệu Tưởng, mà mãi đến khi khôn lớn tôi mới biết toàn bài.

            Và cũng từ tuổi ấu thơ ấy, khi mới biết khôn, tôi từng nghe câu hò ru em:

                        Chim bay về núi, túi tối rồi,

                        Để cho em bậu rửa nồi nấu cơm.

            Người xưa không có đồng hồ để xem giờ. Đồng hồ của họ là cái bóng nắng đổ qua thềm, và hình ảnh những cánh chim bay “về núi, túi rồi” . Túi là tối, tiếng Quảng Trị của  “Quảng Trị tui” đấy quí ông bà ạ.

            Trong chiến tranh, giới nghiêm lúc 6 giờ chiều. Nhưng sau ngày ngưng bắn 20 tháng 8 năm 1954, theo “Hiệp Đình Genève”, tôi may mắn có dịp lại ra nằm trên bãi cỏ bên bờ sông Thạch Hãn vào buổi tối, khi giờ giới nghiêm được kéo dài tới lúc nửa đêm.

Vòm trời cao lại hiện ra đầy sao:

            “Đêm đêm trời lặng gió lành, nằm ngữa mặt nhìn ngàn sao, lòng người êm dịu một cách kỳ lạ! Nằm sát mặt đất mà tưởng như đứng đỉnh núi cao, nhìn ra đại hải.

            “Những chấm thuyền li ti xê dịch dọc ngang, cái xe dịch như chút hoài nghi, mắt người không thấy được, nhưng lòng người lâng lâng say một cuộc viễn hành. Trong tư duy dấy lên những bụi đường và chừ đây, dừng chân nằm lặng bên bờ hồ mát ngọt.

Lâu rồi, những giọt mồ hôi nhỏ trên đường đời, nhựng giọt mồ hôi nối dài đánh dấu bước đi, chập chững từ nơi mẹ, bỡ ngỡ bước vào đời và bâng khuâng về huyệt mả. Mỗi người đi về huyệt mả đều mang một chuỗi hột sao, kết tinh bằng những giọt nước mắt bắt từ nơi mẹ, và chấm dứt bằng giọt nước mắt rơi trên ván quan tài.

            Giữa lúc thoát thai và giờ quá vãng, đời người đếm biết bao nhiêu giọt mồ hôi và nước mắt. Mồ hôi và nước mắt biểu hiệu cho lao khổ và thương đau, nhưng cũng biểu hiệu cho sức sống. Con người không đổ mồ hôi và nước mắt trong đời mình là con người bằng gỗ, chất gỗ mất lần nhựa sống, tan rã lần vì mục nát, người đó có cũng như không.

            Nằm đây, bên bờ sông Thạch Hãn, dưới bầu trời sao dày đặc vào những đêm không trăng. Tôi nhớ gì về lời thầy giáo Việt Văn, về một trời sao triệu triệu giọt nước mắt của đời người như Lưu Nghi viết ở đoạn trên, hay vì “Đời lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt” như tôi từng nghe không biết bao nhiêu lần.

            Thế rồi tôi bỏ xứ mà đi, năm mười sáu tuổi.

            Cái gì có thể giữ chân tôi lại được, khi tôi mê mẩn đọc “Thèm Đi” của Nguyễn Tuân, khi tôi mơ mộng muốn làm “một chàng phiêu lãng ôm đàn tới giữa đời” như Tư Mã Tương Như.

Tôi mang theo trong hành trang sâu thẳm của tiềm thức, hình ảnh những buổi chiều ở quê nhà.

Trong cuộc hành trình của một đời phiêu bạt, khắp bốn vùng chiến thuật, “Tôi thường đi đó dây, bùn hoang in dấu giày”, tôi cũng từng thấy cảnh trời chiều đẹp ở nhiều nơi. Những buổi chiều Cao Nguyên, lo lắng đêm tối địch sẽ tấn công, lớn hơn niềm vui khi ngắm cảnh trời chiều; hoặc những buổi chiều ở Vàm Rầy, bên bờ kinh Rạch Giá – Hà Tiên, nhìn mặt trời sắp lặn sau ngọn núi Cô Tô đơn độc của vùng Thất Sơn, lòng tôi buồn hơn vui!

Trong cuộc đời của một người lính chiến, sinh ra và lớn lên ở một nơi không xa Vĩ Tuyến 17 bao nhiêu, và lưu lạc đến vùng bờ biển vịnh Thái Lan, nơi tận cùng của đất nước, tôi đã đi quá xa mà không trông mong gì có một ngày trở về quê cũ, để thấy những buổi chiều hè rực rỡ khi tôi còn niên thiếu.

Cuộc “đời phiêu lãng”của tôi dài dằng dặc. Sau khi rời cái nhà ga nhỏ bé của thị xã Quảng Trị, tôi đã đi qua những ga tầu, những bến sông khắp cả miền Nam trong hai mươi năm máu lửa chinh chiến. Thế rồi, cũng một đêm sao đầy trời như đêm nào trên sông Thạch Hãn, khi tôi còn niên thiếu, tôi rời cửa Sò Lưới, kế mũi ông Trang, thực hiện một cuộc hành trình rời xa đất nước…

&

Và chiều nay, một buổi chiều giữa mùa hạ, như bao nhiêu chiều hôm trước, như bao nhiêu chiều năm trước, tôi lại ngồi đây, trên một sườn đồi thoải thoải, phía sau nhà tôi để nhìn cảnh trời chiều.

Cuối đời, tôi dừng cuộc phiêu lưu của đời tôi ở vùng núi non Đông- Bắc nước Mỹ. Thành phố tôi ở, tọa lạc trên một vùng núi non, gồm 7 ngọn đồi, được người Mỹ gọi là “Seven Hills”. Vậy mà hình ảnh những buổi chiều hè nơi cố quận vẫn còn nặng trĩu trong lòng tôi.

Người di dân Mỹ trước đây mấy thế kỷ cũng nặng lòng với cố hương như chúng ta vậy. Bỗng nhiên, người ta tình cờ đọc hay thấy đâu đó những cái tên cũ bên phía trời Âu. Berlin chẳng hạn, hay Amish, tên cũ ở bên Đức, là tên mới của người di dân; hay Tara, nguồn gốc từ Hy Lạp, “di cư” sang Ái Nhĩ Lan, rồi dừng lại ở một đồn điền bên ngoài thủ phủ Atlanta, của tiểu bang Georgia, được mô tả một cách chi tiết trong tác phẩm “Cuốn theo Chiều gió” của bà Margaret Mitchell, sau đó hiện lên trên màn bạc của cuốn phim cùng tên.

Cái tên Tara đâu phải chỉ dừng lại đó, mà còn là tên của một cô gái Mỹ gốc Tầu, làm cùng sở với tôi. Khi tôi nói với cô ta về nguồn gốc của tên cô, cô lấy làm ngạc nhiên, không ngờ cái tên mình có  nguồn gốc “xa xôi” như vậy. Mai đây, nếu cô trở về cố hương, cái tên ấy sẽ theo cô mà đi quanh quẩn trên lục địa nước Tầu nữa chăng?

            Cái tên “Seven Hills”, nơi tôi định cư, nó cũng có một quá trình lâu dài như vậy. Nó từ bên Ái Nhĩ Lan, và nằm trong hành trang của người di dân xứ nầy mấy trăm năm trước. Cũng từ thời kỳ xa xưa đó, “Seven Hills” lại là tên thành phố nơi tôi dừng chân! Cuối cuộc đời rồi chăng, hay tôi còn đi nữa, và trong hành trang tha phương lần nữa lại có một cái tên Tây, nơi tôi đã định cư gần một phần tư thế kỷ nay. Cũng quá là dài, cho một cánh chim từng phiêu bạt hơn nửa vòng địa cầu!

            Tôi lại ngồi đây, ở sân sau nhà tôi và nhìn xuống phía kia, một thung lũng nhỏ. Bên kia lại là một ngọn đồi, ngọn đồi của phi trường thành phố.

            Điều lôi cuốn tôi không phải là phi trường, nhưng đằng sau phi trường ấy, là phía mặt trời lặn xuống trong những buổi chiều tà.

            Ở phía ấy, mặt trời chiều lặn xuống phía sau ngọn đồi. Ngọn đồi không hùng vĩ như những ngọn núi của dãy Trường Sơn, nhưng cũng đủ hấp dẫn tôi. Ngồi đây, vào mỗi buổi chiều, để nhìn mặt trời xuống, cũng với màu sắc đỏ ối như mặt trời chiều sau dãy Trường Sơn, và mặt trời tóe lên những tia lửa màu đỏ, một màu đỏ rất đẹp từng ám ảnh tôi khi tôi còn niên thiếu.

&

            Năm ngoái đây, cũng những buổi chiều hè ngồi đằng sau nhà chờ nhìn mặt trời lặn như thế nầy, tôi thường lắng nghe tiếng hát của một đứa bé ở nhà bên cạnh.

            Lần đầu tiên, tiếng hát ấy làm tôi ngạc nhiên. Nhà đó là nhà baby sitter. Bà hàng xóm người Mỹ nhận giữ khoảng năm bảy đứa trẻ, bọn trẻ chưa tới 4 tuổi để có thể vào pre-school theo cách tổ chức giáo dục ở đây. Bọn chúng cũng la hét, cũng khóc cười, chơi đùa và nói với nhau bằng tiếng Mỹ. Bỗng nhiên hôm đó, tôi lại nghe tiếng hát Việt Nam của một đứa bé, có thể là một thằng bé.

            Thằng bé hát buồn lắm. Còn bé mà giọng nó đã trầm, rất truyền cảm làm tôi nhiều khi nghĩ tới Sĩ Phú. Tiếng hát khi trầm, khi bỗng, nhiều khi kéo dài ra, rền rền, như tiếng tụng kinh trong chùa Phật. Thằng bé cũng thông minh lắm, những bài hát tiếng Việt, nó thuộc gần hết, nhưng khi hát bài tiếng Mỹ, như hôm tôi nghe nó hát bài Titanic, có chỗ “anh chàng” không thuộc thì “anh” lại hát lua lua, không rõ tiếng gì.

            Trong khi những đứa bé khác chơi đùa trong nhà hay ở cái deck phía sau, thì hình như nó nằm một mình trên cái giường đặt sát cửa sổ ngó sang nhà tôi mà hát nghêu ngao.

            Trong nhiều buổi chiều, thằng bé hát lâu lắm, có khi tới lúc trời sắp tối, dài hai ba giờ đồng hồ, khi mẹ nó đến đón trễ.

Tại sao nó hát nhiều hơn, bất thường hơn những đứa trẻ khác? Lòng nó có một nỗi buồn gì chăng, hay nó có một “tâm hồn nghệ sĩ” khi nó còn ấu thơ? Nó hát để khuây khỏa nỗi buồn; buồn gì ở một đứa bé mới ba tuổi? Hay thằng bé có thói quen ưa hát, dù không ai tập cho nó, nhưng nó vẫn hát vì nó là đứa bé ưa hát hỏng hay chăng?

            Cái thú ưa hát hỏng cửa đứa bé, có thể bắt nguồn từ tâm lý của người Việt chúng ta?

Người Việt chúng ta có cái may mắn hơn các dân tộc khác. Chúng ta được nghe hát từ khi còn bé thơ, có khi còn trong bụng mẹ. Khi người mẹ có bầu, mẹ chưa hát để ru con, nhưng đứa bé trong bụng mẹ đã nghe tiếng ru ạ ời bên hàng xóm, của bà ru cháu:

                        “Cái ngủ mầy ngủ cho lâu,

                        Mẹ mầy đi cấy ruộng sâu chưa về”

            Đó là tiếng ạ ời ở phía Bắc.

            Hoặc:

                        “Ru em cho théc cho muồi,

                        Cho mạ đi chợ mua vôi ăn trầu

                        Mua vôi chợ Quán, chợ cầu,

                        Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.

của hò ru em miền Trung

Hoặc:

                        “Ví dầu cầu ván đóng đinh,

                        Cầu tre lắc lẻo, gập ghềnh khó đi.”

của dân ca Nam Bộ.

Vậy nên, trong chúng ta, có ai không biết, không nhớ, không thương tiếng “ạ ời” của Bà, của Mẹ hay của Chị, v.v…

            Có khi đứa bé mới năm bảy tháng, bỗng nhiên nó chọi, đạp và la lên vài tiếng vô nghĩa nào đó. Vô nghĩa là với chúng ta, nhưng với đứa bé, tiếng la lên đó là một thứ ngôn ngữ nào đó của nó, bởi vì, tiếng la đó không phải là phát ra từ vô thức, mà chính từ ý thức của đứa bé. Nó muốn nói một cái gì đó, bằng ngôn ngữ nào đó; biết đâu, có khi là một tiếng hát, giọng hò mà nó đã được “thấm nhuần” từ khi trong bụng mẹ.

            Người Tây phương, nếu muốn “rèn luyện” cho trẻ con trở thành thiên tài khi còn trong bụng mẹ, thì trong thời gian người mẹ mang thai, người chồng, hay một người nào đó trong gia đình cho người mẹ thường xuyên “thưởng thức âm nhạc”, v.v… Đó cũng là cách, như nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, thầy dạy nhạc của chúng tôi kể lại: nhạc sĩ Nguyễn Đình Chiểu, rèn luyện cho “bé” Thơ Thơ khi “bé” còn trong bụng mẹ, để về sau, Thơ Thơ giành được giải vô địch dương cầm ở Pháp.

            Ở xứ Mỹ nầy, cha mẹ cho trẻ con học đàn Piano từ khi chúng mới năm ba tuổi. Đó là cách rèn luyện cho trẻ em về nghệ thuật và nhân cách.

            So với người Việt Nam, cách thức “hấp thụ” âm nhạc như của người Tây phương là quá trễ.

            Tôi không rõ đứa bé bên hàng xóm “học hát” từ lúc nào, nhưng giọng hát của nó, mới ba tuổi đã nhuần nhuyễn lắm, gây xúc động cho tôi không ít, nhất là khi giọng hát của thằng bé mang một vẻ trầm buồn, như trong đó, có một thời thơ ấu buồn nhiều hơn vui, hay tiên đoán một tương lai, không hồn nhiên và vui tươi như bao nhiêu trẻ em khác.

            Thế rồi, một hôm, tôi gặp người mẹ trẻ đến đón con về, sau một ngày “làm neo” vất vả.

            Hỏi về em bé, người mẹ nói: “Nó không cha! Có cha cũng như không cha.”

Thằng bé cũng con nhà nòi văn nghệ đấy. Ông bà ngoại của bé là người của ban Lễ Nhạc trong Đại Nội trước 1975, không phải để vua ngự khi ngai vàng chưa để trống, mà để chào đón quan khách ngoại quốc khi họ đếm thăm cố đô. Họ cũng là “cung văn” của những miếu đền thờ phượng “Thiên Tiên Thánh Giáo”, cũng có khi lên đàn hát cúng kiếng tận “Điện Hòn Chén” nơi thờ phượng “Bà Chúa Liễu Hạnh.”

            Rồi thời thế thay đổi. Sau năm 1975, ban lễ nhạc cung đình giải tán, “Thiên tiên Thánh Giáo” bị cấm cửa vì bị phê phán là mê tín dị đoan.

            Gia đình người nhạc sĩ cung đình lưu lạc lên cao nguyên kiếm sống theo gương ông Trần Khánh Giư “Một gánh kiền khôn quảy xuống ngàn.”

Thế rồi một ông “Kỷ sư bán xăng” từ Mỹ “áo gấm về làng”, cưới cô gái út trẻ đẹp của hai vợ chồng làm nghề đốt than.

Người con gái theo chồng với hy vọng thoát ra khỏi cảnh nghèo đói khốn cùng, để cứu giúp cha mẹ.

Thời thế lại “đổi thay lòng người”, khi mà người ta biết, về Việt Nam cưới vợ, sẽ kiếm được năm ba chục ngàn “đô”. Bấy giờ dù tình có đẹp, vợ có hiền, con có dại, người chồng trẻ vẫn rứt áo ra đi, để tìm một hạnh phúc khác với “đính kèm” mấy chục ngàn đồng.

Vì lòng người “bạc trắng lửa hồng” nên người con gái bị chồng bỏ, đành ôm con dại mà tự kiếm sống ở xứ người. Có cách nào hơn, học nghề “neo” vừa tiện, vừa mau có tiền để tự nuôi thân, nuôi con và giúp đỡ cha mẹ nghèo.

Lý lịch của người “ca sĩ tí hon” bên cạnh nhà tôi là như thế đấy. Vừa có “truyền thống gia đình” từ bên ngoại, vừa chịu hoàn cảnh “con côi”, dù mẹ không góa cũng như góa bụa. Tiếng hát của đứa bé, trong hoàn cảnh đang thương đó, làm sao được vui?

Và như thế, câu hát hơn năm mươi năm trước của Thái Hằng, “Đời lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt” bây giờ lại xoáy động tâm hồn tôi một lần nữa, khi tôi đã già.

Mùa hè năm nay tôi không còn nghe tiếng hát của thằng bé nữa.

Có lẽ nó đã vào pre-school, trong khi tôi vẫn ngồi đây, mỗi buổi chiều, để nhìn mặt trời lặn xuống bên kia đỉnh đồi, không chỉ để nhớ những cảnh chiều ở đầu nguồn sông Thạch Hãn, làm say đắm lòng tôi khi tôi còn niên thiếu, mà còn để nhớ biết bao nhiêu thứ khác nữa, từ những câu hát đã dấy lên trong lòng tôi về những nỗi buồn về kiếp người, và cả tiếng hát của đứa bé, tôi từng lắng nghe năm ngoái đây, mà năm nay tiếng hát đó cùng em bé trôi giạt về đâu trong cuộc đời lưu lạc ở xứ người!

Lòng tôi vẫn còn tiếc nhớ tiếng hát trẻ thơ ấy!

Đời có biết bao nhiêu điều để chúng ta tiếc nhớ, nhiều khi nó không phải là tài sản, cũng không phải là bạc vàng!

Mùa hè năm 2016.

hoànglonghải

Thứ tha niệm tình

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 11/01/2016   

Post by Sơn râu 9 Apr 2024

Năng động và xinh trẻ. Môi hồng và tóc vàng. Tạp dề đen in cái logo màu lục tròn trịa quen thuộc, người con gái tên Janne nở nụ cười gượng gạo: You thiệt biết nói đùa. Tay cầm cái khăn đã vắt ráo, cô vừa lau những mặt bàn trống lạnh và khi đến bên tôi, cô mãi trăn trở vày vò nó trong đôi bàn tay có bôi màu sơn chuối non ở tám móng. Tám mà không mười, chừa ra hai hẳn có ngụ ý. Và khi nhìn thấy, nó gieo cho tôi sự cảm nhận về một điều gì liên hệ tới bất toàn. Thật thiếu sót, chẳng công bằng.
Ai lại nhẫn tâm thế. Đùa cợt thì tuỳ trường hợp, tuỳ hoàn cảnh. Tôi chẳng hơi đâu đi cải chính, tôi bảo: Như tôi, tôi cũng mới vừa làm một cuộc đi xa. Kèm với vé máy bay có tờ giấy ghi chi tiết: Montréal đi Toronto, trạm trung chuyển, là 531 cây số, Toronto tới Washington DC là 552 km. Rồi từ phi trường Dulles về quán Starbucks này ngốn thêm 20 cây. Chừng ấy dặm trường phải trải qua nếu bảo là không xa thì nên gọi là gì? Hoặc thương tình bạn ấn định bằng lối mông lung: Tuy xa mà gần tuy gần mà xa.

Janne phê bình: So sánh sai lạc, đi từ quốc gia này tới một đất nước khác nó chẳng thể đủ sức để ví với sự nhắm mắt bay vào chốn vô cùng. Tôi nhìn bảng tên cô rung động trước ngực áo, thầm nghĩ nếu bôi xoá đi hai mẫu tự cuối sẽ còn lại Jan. Jan là chữ viết giản lược của tháng giêng, là tinh tươm khởi đầu một năm chứa nhiều tai ương hơn niềm vui hứng đọng được. Là trinh nguyên tựa một mầm non chuẩn bị nhú ở địa hình kia có xuân cựa mình, nhưng đóng băng một nhựa sống trên thân thảo mộc ở nơi chốn này.

Tôi bay xa, đi bất chợt và mua vé rẻ nên phải mất nửa ngày đường mới đặt chân xuống tới. Cảnh sắc vẫn thế, quen mắt nếu siêng theo dõi những thườc phim hành động bởi đơn giản chốn đây là cứ địa đầu não của CIA, “một bộ phận không nhỏ” của FBI. Sông Potomac chưa đóng băng và toà Bạch ốc lắm khách nhàn du đi quàng xiên bên ngoài rào thưa làm lá chắn định phận. Diện mạo thảy ngần ấy nét chung tình, nhưng giờ đây quán cà phê Starbucks đang mang vẻ xa lạ, bạc bẽo đợi sau tấm cửa kính. Gã khách quen của ngày tháng cũ nghe hụt một nhịp đập khi ngồi xuống ghế. Anh chọn đúng cái bàn mà ông nghệ sĩ thầm lặng ấy vẫn ngồi. Janne nói, ông vẫn đến mỗi sáng, hết đọc tờ Washington Post thì lấy viết ghi chữ hoặc vẽ trên những bao bì đựng bánh có in thương hiệu Starbucks. Nếu you là người thân của ông, xin cho tôi gửi lời chia buồn đến gia đình ông nghệ sĩ ấy. Hèn gì đã hơn tháng tôi thầm nghi hoặc về cái vắng mặt có vẻ bất thưồng kia. Cô tháng Giêng cho hay, chúng tôi từng ngỏ lời mượn ông những bức ký họa, lộng kiếng và treo trong quán như thể làm một cuộc triển lãm nhỏ. Rất đặc thù, rất lạ, rất ấm cúng.

Những chữ very very very trùng lặp kia mang tới chập chùng những hình ảnh và chừng như tôi đang dựa lưng vào từng kỷ niệm có riêng với “ông nghệ sĩ” ấy. Dáng dấp một nhân ảnh có lối đi rất mực nhàn hạ nếu không muốn dùng tới chữ đủng đỉnh. Chẳng việc gì phải vội, chuyện gì hẳn còn ở đó. Thuật bói toán gọi đích danh: Số sướng. Có đôi khi ta phải nên xiêu lòng để mông muội tin tới cái huyễn hoặc của tử vi, tướng số. Anh có sướng không? Tôi chẳng rõ, anh luôn đứng vào hàng ngũ của những người kín tiếng, ít tâm sự giãi bày. Giữa đám đông, anh thường ngồi ở nơi xa mọi luận bàn tranh cãi. Làm thinh, không góp tiếng vào cuộc rượu sôi nổi của bạn bè. Người ta có một chữ để trao anh: Hiền. Hai chữ: Dễ mến. Ba chữ: Quý bằng hữu.

Anh sẽ góp tiếng, bằng vào một thuật ngữ khác lạ, chừng nào anh đơn thân về ngồi lại ở một nơi quen thuộc. Sự quen thuộc được vây bọc bởi mùi sơn dầu. bởi gió lao xao đi vội qua cánh rừng sau nhà, và bởi một thứ nặng tợ ngàn cân có danh xưng: Sự cô đơn khủng khiếp. Xóm Natick luôn điù hiu, Burke hằng cửu tịch lặng đọng vũng. Mê thiếp đến tận đáy và rồi giữa thẳm sâu cô đọng, bất thường gióng lên thảng thốt tiếng hú một hồi còi. Tàu hoả không lộ hình, điều này càng làm cho tiếng còi mãi gửi trao một nỗi buồn tủi, bôi thẫm thêm vào bóng chiều tím rã rời rơi xuống huyệt ngày. “Tôi xin có lời xin lỗi, các bạn trách dạo này tôi làm nhiều thơ”. Đó là cách anh bày tỏ, ở một nghĩa khác, về tiếng còi tàu chạy dạt ngang ngoài bìa rừng hoảng hốt những lá. Chuyến tàu luôn có thứ lịch trình đi, về đều đặn như nhật, nguyệt. “Nhà thơ là một chuyến tàu và mọi người đều đến muộn sân ga”. Phạm Công Thiện từng nói thế. Anh không là nhà thơ, trước sau anh là một họa sĩ. Washington DC là một địa danh. Và ĐC là ký hiệu nổi tiếng, uy tín đóng triện bảo chứng trên vô vàn bức tranh sơn dầu khởi đi từ 1962. Và Đinh Cường, anh ấy đã vừa mua lấy cho mình chiếc vé lẻ, ngồi trên chuyến tàu và chúng ta đã… đến muộn ở sân ga. Tôi qua biên giới thắp cho anh nén nhang vĩnh biệt, qua sớm đôi ngày khi tang lễ chưa cử hành. Để giết thời gian có vẻ như đang ngưng đọng tôi tìm tới quán cà phê anh quen ngồi cũng như tôi đã trầm ngâm ngồi vào chiếc ghế lạnh đặt trước giá vẽ. Một đống giẻ lau tay lau cọ vằn vện lấm màu, những tấm bố trắng lớn nhỏ nằm úp mặt vào nhau, những tuýp sơn dầu vặn vẹo co quắp và tôi lắng lòng nín thở đợi chờ tiếng còi tàu vang vọng đâu xa. Tuyệt không có, ngay cả tưởng tượng trong tưởng tượng, thin thít vô âm ba đáp trả. Điếng câm. Bầu trời xám, không tuyết đứng gió và chẳng mưa. Khi tôi rời Montréal, hàn thử biểu ghi vạch: -2 độ C. Ở chốn này đang 8 độ cọng. Ấm không ấm lạnh không lạnh, nhưng giữa không gian này đã bày rõ một hụt hẫng, một thất thoát lớn. Nó khiến những lượng định chẩn đoán về bệnh tình khí hậu thời tiết thảy đều sai lạc.

Trên máy bay với động cơ là hai cánh quạt vù vù rầm rộ (hơn 40 năm mới được nhìn lại, mới được leo lên) trôi lừ đừ trên nền mây im sững ngó tựa băng tuyết, tôi đọc một đôi dòng trên tờ nhật trình do cô tiếp viên hãng bay Porter khỉ ho cò gáy phát cho kẻ lữ thứ: An honest weatherman says, today’s forecast is bright and sunny with an 80% chance that I’m wrong.

Tôi đã sai lầm tới 90% khi nghĩ về cuộc đi xa của anh Đinh Cường. Có điều gì bất thường khi ai kia (tôi ghét chữ Thượng đế) đã hoán đổi lịch trình chuyến tàu cuối ngày (và cuối đời). Con tàu lạ lẫm kia không dừng ở mỗi sân ga, điều đó cũng đồng nghĩa là bất khả vọng lên một hồi còi. Bằng bặt lao đi trong câm lặng, sự câm lặng miên viễn. Nó lôi theo sau những thổn thức, những bịn rịn, những ướt át, những kêu than vô ngôn.

Hôm nay trời âm u, không nắng không gió không mưa không tuyết không ẩm thấp không khô ráo. Tôi rất buồn và có thể là tới 98% tôi đã vừa thông báo sự thật.

Hồ Đình Nghiêm
Virginia 10.01.2016
Mạo muội đánh bài nương nhờ vào giàn máy của cố họa sĩ Đinh Cường.