Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

March 18th, 2021

Post by Sơn râu 13 Apr 2024

(Kỳ 4)

Hội nghị Tài binh 1922, còn gọi Hội nghị Giải trang Hải quân Hoa Thịnh Đốn nhằm mục đích khống chế sức mạnh Nhật tại Viễn Đông, áp đặt tỷ lệ 5; 5; 3 cho tổng trọng tải thuyền chiến Anh-Mỹ-Nhật. Có nghĩa một khi chiến tranh xảy ra, hạm đội Nhật chỉ bằng 3/10 Đồng Minh. Tỷ trọng trên gây tức giận cho giới quân phiệt Nhật xem là một nhục nhã.

Hội nghị Giải trang Luân Đôn 1930 từ chối thêm lần nữa yêu sách của phía Nhật muốn tương đương hoặc ít nhất bằng 7/10 Anh-Mỹ. Kết quả là Nhật Bản rời khỏi Hội Quốc Liên, chấm dứt các hòa ước. Giai cấp samurai, cai quản quân đội Nhật, tin với ý chí có thể thắng ưu thế vật chất của Hoa Kỳ như đã liên tiếp chiến thắng Nhà Thanh, Nga hoàng, xâm chiếm Mãn Châu, Cao Ly, Đài Loan và miền duyên hải Trung Hoa. Hòa hoãn vô ích. Từ đây là chạy đua võ trang.

Các thống kê sau 1945 cho thấy kỹ nghệ sản xuất lớn của Hoa Kỳ với dân số gấp ba và tài nguyên dồi dào của cả một lục địa Bắc Mỹ đã nghiền nát ý chí samurai.

Hôm Nay Âu Châu Và Hoa Kỳ Không Áp Đặt Tỷ Trọng Hải Quân Đối Với Bắc Kinh. Là Một Sai Lầm Hay Bước Đi Hòa Bình?

 [Trần Vũ]

(Hải quân Pháp vào năm 1940 có 9 thiết giáp hạm, 1 hàng không mẫu hạm, 27 tuần dương hạm, 28 khu trục hạm, 70 tiềm thủy đĩnh).

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương IV

Thời gian đó, kết quả Hội nghị Tài binh Hoa Thạnh Ðốn được công bố. Hải quân Hoàng gia Nhựt không hài lòng với kết quả này, và đưa đến một số sỹ quan cao cấp xin từ nhiệm.

Hiệp ước Giải trang ở Hoa Thạnh Ðốn ký kết tháng 2 năm 1922 chỉ cho phép Nhựt duy trì tổng số trọng lượng của toàn thể tàu chiến Nhựt là 315,000 tấn, Pháp 175,000 tấn, Ý-Ðại-Lợi 81,000 tấn, nhưng trái lại Anh-Cát-Lợi và Hoa Kỳ tổng số lên đến 525,000 tấn cho mỗi xứ. Sức mạnh của hàng không mẫu hạm giới hạn cho Nhựt tổng số 81,000 tấn, 60,000 tấn cho Pháp và Ý và lên đến 135,000 tấn cho Anh và Mỹ.

Cho riêng tuần dương hạm, thỏa ước đặt ra kích thước và giới hạn cho mỗi chiếc là 10,000 tấn nhưng không giới hạn số lượng. Tỷ trọng như thế giữa Anh, Mỹ và Nhựt là 5; 5; 3 hoàn toàn bất lợi cho chúng tôi.Hiệp ước Giải trang đã khiến nhiều sỹ quan hải quân Nhựt rơi nước mắt. Thiết giáp hạm Tosa, trọng lượng 39,900 tấn hạ thủy năm 1921, phải phá bỏ, và chiếc tàu song sinh Kaga (Gia Hạ) được biến cải thành một hàng không mẫu hạm. Hai thiết giáp hạm Akagi (Xích Thành) và Amagi (Thiên Thành), cùng trọng lượng 34,363 tấn cũng được biến cải thành hai hàng không mẫu hạm. Nhưng trong thời gian xúc tiến việc biến cải này, chiếc Amagi bị trận động đất năm 1923 chôn vùi. Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt cũng bắt buộc phải bãi bỏ các đồ án của bốn thiết giáp hạm, mỗi chiếc 47,500 tấn. Các đồ án này hoàn tất năm 1921 sau nhiều tháng nỗ lực to tát của một số kỹ thuật gia.

Thiết giáp hạm Arizona sẽ bị đánh chìm tại Trân Châu Cảng

Hải quân Nhựt đã nhìn Hội nghị Tài binh Hoa Thạnh Ðốn có tánh cách thuần túy chính trị, mà qua kết quả đã cho thấy Nhựt bị chèn ép trên mọi lãnh vực. Một số dân chúng nhớ lại sự chế tài của luật di trú bài Nhựt ở California vào năm 1913, việc này khiến cho mối liên kết giữa Nhựt và các cường quốc Ðồng Minh trở nên rạn nứt sau Ðệ Nhứt Thế Chiến. Dân chúng Nhựt cũng nhớ lại Hội Quốc Liên đã bị Hoa Kỳ tẩy chay, sau khi tổ chức này được hình thành và do chính Hoa Kỳ điều khiển.

Kể từ đây, Nhựt bắt đầu xem Hoa Kỳ như là một “kẻ thù ngấm ngầm”. Các sỹ quan trẻ, và các sỹ quan mới ra trường như tôi, không có một thẩm quyền nào để đo lường đúng mức sự xét đoán này, nhưng trên phương diện tinh thần, các sỹ quan cao cấp của chúng tôi đã “khua động” bên tai chúng tôi hàng ngày.

Sau chuyến viễn du không lâu, tất cả sỹ quan thuộc khóa của tôi chánh thức mang cấp bậc Thiếu úy Hải quân hiện dịch. Tôi và bốn sỹ quan nữa được bổ nhiệm phục vụ trên tuần dương hạm Kasuga (Nhật Ðỉnh/Vernal Sun). Trong vai trò mới, chúng tôi lập tức đối diện với nhiều vấn đề cần phải quan tâm, chớ không phải riêng “kẻ thù ngấm ngầm” mà thôi.

Tôi không mấy phấn kích với nhiệm vụ mới. Tôi nhớ câu châm ngôn Nhựt Bản: “Phải trải qua ít ra mười năm mới mong trở thành một thủy thủ lành nghề!”. Kasuga không già nua hơn chiếc Izumo (Ngoài Mây) hoặc Yagumo (Tầng Mây Thứ Tám), nhưng chiếc tàu này cũng từng chứng kiến trận chiến Nga-Nhựt vào năm 1904-1905. Tôi tự nhủ: Tôi vẫn còn là một tay mơ. Ðừng ước mơ một chiến hạm tối tân như Nagato (Trường Môn). Hãy kiên nhẫn! Kể từ khi tôi bước chân vào Eta Jima, tính ra chỉ mới sáu năm mà thôi. Tôi trình diện vào tháng 5 năm 1922. Chiếc Kasuga được phái sang Nga-Sô. Chúng tôi lại thực hiện một chuyến viễn du nữa. Tuy nhiên lần đi này không có tánh cách huấn luyện đơn thuần. Nhiệm vụ của Kasuga là bảo vệ cư dân Nhựt ở Tây Bá Lợi Á lúc bấy giờ đang gặp khốn đốn do cuộc nội chiến ở Nga-Sô gây ra. Năm 1920, nhiều trăm người Nhựt đã bị quân Bolshevik Nga tàn sát ở Nikolayevsk. Hai năm sau đó, Tây Bá Lợi Á vẫn còn trong tình trạng hỗn loạn. Từ khi hạm đội Nga bị Nhựt Bản tiêu diệt ở Ðối Mã (Tsushima) năm 1905, hải quân Nga không có loại tàu chiến nào chống lại nổi chúng tôi. Vì vậy, chiếc Kasuga của chúng tôi không phải bắn một phát súng nào, và kinh nghiệm mà tôi nhận được cũng không hơn gì khi tôi ở trên chiếc Yagumo.

Đại tá Yonai Mitsumasa sẽ làm Thủ tướng năm 1940

Chuyến đi vào các hải vực phía Bắc là chuyến đi vào trong sương mù dầy đặc đầu tiên của tôi. Vào tháng sáu, chúng tôi đổ bộ lên Hải-Sâm-Uy (Vladivostok), hải cảng của Tây Bá Lợi Á nổi tiếng với nhiều ngọn đồi dốc thẳng khiến tôi gợi nhớ đến Nagasaki của Nhựt Bản. Cuộc thất trận của Nga phải cầu hòa Ðức và cuộc nội chiến tiếp theo đã gây cho dân chúng ở đây nghèo đói. Những gì tôi thấy ở Hải-Sâm-Uy trái ngược hẳn những gì tôi thấy ở Nữu Ước và các thành phố hải cảng thịnh vượng của các quốc gia chiến thắng khác. Ðiều này khiến cho tôi suy nghĩ rằng một quốc gia không bao giờ nên để cho bại trận. Lúc đó tôi không bao giờ tưởng tượng Nhựt Bản cũng sẽ chịu chung số phận của dân Bạch Nga trong vòng không đầy 23 năm sau đó.Sau Vladivostok, chúng tôi viếng thăm Odomari, hải cảng cực Nam của Sakhalin do Nga nhượng cho Nhựt sau thảm bại Ðối Mã. Lúc đó không ai có thể tưởng tượng hải cảng uể oải tồi tàn này sẽ được Nga-Sô thâu hồi vào năm 1945 và biến thành căn cứ hải quân quan trọng Korsakov ngày nay.

Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hải quân Hoàng gia không sử dụng các loại tàu tân tiến và chạy nhanh trong cuộc hành quân không có đối thủ ở Tây Bá Lợi Á này. Nhưng các Sỹ quan có khả năng về chánh trị được chọn để cầm đầu cuộc hành quân, bởi vì lúc đó giữa Nga và Nhựt không xảy ra chiến tranh, và cuộc hành quân liên quan đến nhiều vấn đề tế nhị.

Hạm trưởng Kasuga là Ðại tá Mitsumasa Yonai, một nhân vật vĩ đại thứ hai mà tôi được phục vụ dưới quyền. Như Ðô đốc Suzuki, người đã đưa ra nhiều nhát chổi cải cách ở Eta Jima, Yonai là vị chỉ huy mà tôi kính nể cao độ nhứt. Nhưng giữa hai nhân vật này có nhiều điểm khác nhau rõ rệt. Ðô đốc Suzuki thích nói thẳng vào mặt, mạnh bạo và ồn ào, còn Yonai ít nói. Dù tuổi đã hơn tứ tuần, ông vẫn còn rất phong độ. Suốt sáu tháng phục vụ trên chiếc Kasuga, tôi không bao giờ thấy ông rầy mắng một sỹ quan nào. Tuy nhiên tinh thần phục vụ của thủy thủ đoàn rất cao. Ai ai cũng nể phục ông, và xem ông như là một trong những người tài giỏi nhứt của Hải quân Hoàng gia.

Ðại tá Yonai và Ðô đốc Suzuki chỉ có một điểm giống nhau: không dung túng các phương pháp kỷ luật tàn nhẫn. Hành vi mẫu mực của Yonai đã quá đủ để ông chỉ huy mà không cần phải áp dụng phương pháp kỷ luật nào khác.

Các sỹ quan trẻ tuổi chúng tôi thoạt đầu đã kinh ngạc khi thấy vị hạm trưởng gần gũi với chúng tôi trong suốt những giờ nghỉ ngơi. Ông ưa thách chúng tôi thay phiên nhau vật lộn với ông. Sau những năm tập tành ở Eta Jima, võ nhu đạo của chúng tôi đã thuộc vào hạng khá nên thoạt đầu chúng tôi có hơi rụt rè, chỉ sợ quá mạnh tay với “sếp”. Nhưng chúng tôi sớm sáng mắt, không một ai trong chúng tôi quăng nổi ông xuống đất. Ông xuống tấn đứng bất động như một hòn đá tảng, và không hề phản công, những ra đòn của chúng tôi dù ác liệt đến đâu cũng đều dội ngược ra hết.

Trong chuyến đi này tôi được tham dự một bữa tiệc tráng lệ đầu tiên trong cuộc đời tôi tại một nhà hàng trên bờ biển. Chủ nhân bữa tiệc này là viên thị trưởng và cũng là quân trấn trưởng hải quân địa phương. Nhiều Geisha xinh đẹp, mặc Kimono đủ màu sắc, hòa đàn, ca múa và rót saké cho khách. Họ ăn nói khéo léo và duyên dáng quá đỗi khiến buổi tiệc thêm phần sống động. Các kỹ nữ tuyệt thế này đã làm cho tôi hoa cả mắt.

Trong các tiệc tùng của người Nhựt thường có một trò vui gọi là “kampai” (uống cạn). Người này đứng dậy tiến đến một người khác với ly saké đầy để mời uống. Người được mời tiếp lấy ly rượu và uống cạn, đoạn rửa ly bằng nước lạnh và rót rượu mới lại và mời lại. Nếu người nào từ chối ly rượu mời này có nghĩa là người đó tự nhận mình đã say. Tôi thấy vừa chủ vừa khách có hơn bốn năm chục người lần lượt “kampai” với Ðại tá Yonai, và ông không từ chối một ai hết. Khi hầu hết thực khách đều ngả nghiêng, nếu không nói là bò càng dưới đất, Yonai vẫn ngồi thẳng đứng như một Samurai sống thực. Khả năng mọi mặt của ông không thể nào lường được, giống như khả năng nhu đạo siêu quần của ông.Trước khi được bổ nhiệm chỉ huy Kasuga, Yonai giữ chức vụ tùy viên hải quân tại Tòa đại sứ Nhựt ở Mạc Tư Khoa và ông đã từng uống rượu Vodka với người Nga. Yonai cũng nói tiếng Nga sành sỏi.

Cuối một bữa tiệc như thế, tôi hết sức nể phục khi nhìn thấy Yonai ngồi chẳng khác một thanh sắt, trong khi những người khác múa rối. Các geisha bu quanh Yonai và cố mang hết tài nghệ ra để gây chú ý và làm hài lòng ông hạm trưởng nghiêm nghị và đẹp trai. Nhưng ông hạm trưởng này không bao giờ “dây dưa” với một cô nào cả.

Thật kém may mắn cho nước Nhựt khi một người như Yonai chỉ phục vụ một vài chuyến đi trên tàu. Hải quân Hoàng gia thường hay chỉ định các chức vụ trên bờ, trong các Tổng Hành Dinh, cho những sỹ quan có khả năng, và do đó những sỹ quan tài ba lại thường thiếu kinh nghiệm hải hành.

Ðô đốc Suzuki xin về hưu trước khi cuộc chiến Thái Bình Dương bùng nổ, ông không chịu đưa ra một tiếng nói nào liên quan đến chiến thuật, chiến lược và chánh sách của hải quân. Yonai đã lên tiếng chống đối chiến tranh, nhưng ông không thể nào đương đầu nổi với tập thể đông đảo các sỹ quan diều hâu bài ngoại quá khích, và vì vậy ý kiến của ông chẳng được ai để ý đến.

Bấy giờ có một câu chuyện gây nhiều bàn tán ở Nhựt. Ðó là câu chuyện Ðô đốc Yamamoto, Tổng tư lịnh Hạm đội Hỗn hợp, muốn nhường chức vụ lại cho Yonai để rảnh tay điều động lực lượng tấn công Trân Châu Cảng. Yonai từ chối. Nhưng tôi tin rằng Yonai có thể làm được mọi việc, cũng như ông có thể làm hay hơn Yamamoto trong chức vụ có tánh cách quyết định đó.

Chuyến đi của tôi trên tuần dương hạm Kasuga kết thúc vào ngày 30 tháng 3 năm 1923, sau khi tôi xin theo học tại một trường đào tạo chuyên môn. Tôi ý thức rằng nếu muốn trở thành một sỹ quan như Yonai, tôi phải học hỏi nhiều hơn nữa. Từ tháng 4 đến tháng 12, tôi theo học khóa huấn luyện về ngư lôi và pháo thuật ở Yokosuka (Hoành Tu Hạ Thị).

Trong lúc tôi đang theo học, Nhựt Bản bị nhiều cơn động đất tàn phá nặng nề. Trận động đất xảy ra trong vùng phụ cận Ðông Kinh và Yokohama (Hoành Tân Thị) vào ngày 1 tháng 9 năm 1923 khiến cho hai nơi này bị tàn phá gấp bội các cuộc hỏa hoạn gây ra. Sự thiệt hại cũng nặng nề hơn các cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ trên hai thành phố này trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến. Thiết quân luật kéo dài một tháng trong khu vực được ban hành, và tôi được cắt đặt nhiệm vụ bất ngờ để duy trì việc thi hành lịnh này.

Một ấn tượng khó quên đối với tôi trong thời gian bi thảm đó: sự giúp đỡ mau lẹ của Hoa Kỳ cho hai thành phố Nhựt bị tàn phá này. Các tàu chiến Hoa Kỳ đã đổ xô đến bờ biển Ðông Kinh với nhiều loại tiếp tế thiết yếu. Hành động đầy thiện chí này khiến lý thuyết chống lại “kẻ thù ngấm ngầm” mà tôi tiếp nhận đã bị lung lay.

Trong năm cuối cùng tôi ở Eta Jima có nhiều quyết định về vấn đề định nghiệp sỹ quan. Trong thập niên 1920 sự nghiệp của sỹ quan hải quân Nhựt theo các phương thức như sau: các sỹ quan được bổ nhiệm về Tổng Hành Dinh là những người có học bạ đặc sắc nhứt tại các trường chuyên môn hoặc Hàn lâm viện, và họ sẽ được nhận vào học tiếp ở trường Cao Ðẳng Tham Mưu. Yonai và Yamamoto thuộc vào nhóm này. Các sỹ quan đồng hạng nhì trong các trường chuyên môn hoặc Hàn lâm viện sẽ được bổ nhiệm phục vụ trên các thiết giáp hạm và tuần dương hạm, nhưng thường họ không được theo học thêm ở Cao Ðẳng Tham Mưu. Các sỹ quan đồng hạng ba được bổ nhiệm về các khu trục hạm, và được huấn luyện thêm về loại tàu này. Các sỹ quan đồng hạng tư sẽ đi tiềm thủy đĩnh, hạng năm trở thành phi công sau khi tình nguyện theo học ở trường huấn luyện phi hành. Cuối cùng là các sỹ quan xếp hạng thấp nhứt sẽ được bổ dụng trên các hộ tống hạm hay tàu vớt mìn.

Vấn đề huấn luyện phi công, chỉ rút từ các sỹ quan hải quân tốt nghiệp hàng năm, bấy giờ được xem là một phương cách có vẻ vô lý. Mười lăm năm sau vấn đề này có nhiều thay đổi đáng lưu ý khi nghề bay hấp dẫn cả đến những sỹ quan tốt nghiệp thủ khoa. Nhưng việc thay đổi đã quá trễ, và vì vậy có thể giải thích tại sao Nhựt Bản đã thất bại trong việc điều chỉnh từ ưu thế thiết giáp hạm sang ưu thế hàng không mẫu hạm, bởi lẽ các sỹ quan ưu tú đều dồn về Bộ Tư Lịnh Tối Cao, và mặc dù họ chỉ biết về thiết giáp hạm, nhưng tiếng nói của họ lại có tánh cách quyết định đối với binh chủng hải quân. Tiếng nói của các sỹ quan không quân chuyên nghiệp không được nghe đến vào thời gian ấy.

Chẳng hạn người cầm đầu Không lực Hải quân Nhựt trong thế chiến thứ hai là Phó Ðô đốc Takijiro Onishi đã không qua được kỳ thi tuyển vào trường Cao Ðẳng Tham Mưu, giống như tôi, và cũng vì vậy mà tôi phải phục vụ trên các khu trục hạm. Nhưng có điều phải nhìn nhận là các sỹ quan xuất sắc trong các môn thi chưa hẳn là những người chiến đấu giỏi.

Hồ sơ học vấn của tôi ở Yokosuka kém cỏi, việc này hoàn toàn do lỗi của tôi. Ngoài sự tự thỏa mãn, sau thời gian chịu đựng kham khổ ở Eta Jima và các nhiệm vụ kế tiếp, có lẽ còn do sự ganh đua đầy trẻ con với Ðại tá Yonai (sau này là Ðô đốc), tôi tập tành nhậu nhẹt. Nhưng tôi uống quá nhiều và thường chếnh choáng khi bước vào lớp học. Ðiều này chắc chắn phải lãnh điểm xấu.

Khi rời khỏi trường Kỹ thuật Ngư lôi và Hải pháo tôi tùng sự trên mặt biển trở lại. Tôi than van khi biết nhiệm sở mới của tôi là chiếc Hatsuyuki (Tuyết Ðầu Mùa), một khu trục hạm cổ lỗ hạng ba, đã hai mươi tuổi thọ, và trọng lượng chỉ có 381 tấn! Hatsuyuki ở thời đại tân tiến này chỉ có thể là một tàu hộ tống nhẹ hoặc một tàu săn tiềm thủy đĩnh hơn là khu trục hạm chiến đấu. Nhưng chiếc tàu này có thể đạt đến tốc độ 29 hải lý, so với 18 hải lý của Kasuga. Tốc độ của nó đã mê hoặc tôi. Ðó là chiếc tàu nhanh nhẹn nhứt mà tôi leo lên kể từ ngày ra trường. Hơn nữa, với nhiệm vụ mới này, tôi còn được thêm một chuyến viễn du nhỏ nữa: Hatsuyuki đậu ở Lữ Thuận Khẩu là hải cảng Port Arthur đối với phương Tây, là hải cảng hải quân Nhựt ở tỉnh Liêu Ninh cực Nam Mãn Châu, để bảo vệ kiều dân Nhựt sinh sống ở Hoa Bắc. Trong một năm, chúng tôi chạy vòng quanh Quan-Ðông (Kwantung), và buông neo hết Dinh Khẩu (Yingko) đến Thiên Tân (Tientsin).

Thời gian này đời sống trên tàu của tôi có nhiều thay đổi lớn. Là một thiếu úy, và là một trong những sỹ quan chỉ huy chiếc tàu, tôi được giao điều động 60 thủy thủ. Ðời sống trên chiếc tàu chiến nhỏ như thế không phải luôn dễ thở. Sự ăn uống tồi tệ. Thủy thủ đoàn không bao giờ được tắm rửa cho thỏa thích, và ngay cả đến nước rửa mặt chúng tôi cũng thiếu, vì vậy mà không ai lưu tâm đến việc cạo râu. Gặp phải các mặt biển thường có mưa giông, chiếc tàu không lúc nào nằm yên, và có lúc chúng tôi phải chạy nhanh nhiều giờ để chống chọi lại thời tiết. Tuy nhiên, thủy thủ đoàn giống như một đại gia đình ai ai cũng nhẵn mặt nhau. Kỷ luật gò bó không còn cần thiết nữa. Tôi bắt đầu cảm thấy như được ở nhà và thích thú với nhiệm vụ.

Tôi hài lòng bởi quyết định chọn nghiệp của tôi ở hiện tại.

Tháng 12 năm 1924, tôi được thăng cấp trung úy và thuyên chuyển đến chiếc Sanaé (Bông Lúa), một khu trục hạm nhẹ trọng lượng chưa đến 850 tấn. Công việc của tôi trên chiếc tàu này cũng không khác gì trên chiếc Hatsuyuki, và suốt một năm, chúng tôi chạy quanh Mãn Châu và Hoa Bắc.

Tháng 12 năm 1925, tôi được bổ nhiệm về chiếc Amatsukaze (Thiên Phong), một khu trục hạm tân tiến hàng đầu, trọng tải 2,540 tấn, tầm hoạt động 9,300 km, với 6 hải pháo 127 ly, 24 ống phóng ngư lôi và 239 thủy thủ đoàn, một bổ nhiệm mà tôi đã thèm thuồng từ lâu. Ðây là chiếc tàu chiến tối tân đầu tiên tôi đặt chân lên trong 7 năm kể từ khi tôi vào Eta Jima. Amatsukaze đạt tốc lực tối đa đến 37.5 hải lý, là 70 km/g. Tôi không còn là một tay mơ nữa, tôi đã trở thành một sỹ quan hải quân thực thụ. Ðó là vinh dự phi thường và thành đạt to tát. Những năm sau này tôi mới nhận thấy mình đã sai lầm biết bao.

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 13 Apr 2024

Chương 6

Tôi chưa thể gọi là đến tuổi trưởng thành vì vẫn còn mơ mộng nhiều lắm, pha thêm chút lãng mạn. Bố tôi là một nghệ sĩ, một họa sĩ, suốt đời ông lỡ làng trong nghiệp hoạ của ông. Nhưng mơ ước của ông vì thời thế hay vì gì đó không phát triển được. Nhưng ông vẫn mơ ước đến lúc nằm xuống….không một bức tranh nào của ông được để lại và người ta đã quên ông…..Quên như quên bao nhiêu những nghệ sĩ khác. 
Có một ngày giữa những năm trung học tôi nghĩ đến điều đó. Khi thấy trường cao đẳng mỹ thuật, mà nay có nhiều các chú các bạn cùng trường cùng khoá với bố tôi giảng dạy. Các vị ấy bây giờ là những họa sĩ có danh, có hoạ sư. Một số còn ở lại ngoài Bắc, một số ở tại SG. tôi ghi tên xin học lớp dự bị hội hoạ, song song với việc học văn hoá. Nhưng chỉ học được một năm, tôi thấy rằng mình không có năng khiếu đó, đành thôi học…… 
Tôi vẫn học văn hoá và tiếp tục tập viết văn. 
Tôi thi đậu năm đó, nhưng là đậu vớt, đậu hạng bét. Tôi tự an ủi mình, dầu sao tôi vẫn được lên lớp. 
Bữa tiệc của những người thi đậu tổ chức tại nhà Lê Đình Điểu, chúng tôi vừa ăn uống vừa noío chuyện tương lai. Có anh đã nói đến chương trình đại học. Lê Đình Điểu đậu khá cao, anh mơo ước sẽ học văn khoa, cả tôi cũng vậy, nhưng chuyện học hành chỉ nói được một lúc, chúng tôi lại trở về đề tài văn nghệ, chương trình sáng tác và hướng sáng tác trong tương lai, nhiều khám phá mới trong lãnh vực văn nghệ. Có bạn đã bình đến thơ của đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore, người được giải thưởng văn chương năm 1913. Tôi hăng hái không kém, cũng nói về Victor Hugo, Pearl Buck, vô khối thi văn hào triết gia thế giới và VN được đề cập tới. Một người bạn cao hứng ngâm ngay bài thơ Đôi Mắt người Sơn Tây, rồi Tây Tiến của Quang Dũng. Anh bạn khác cảm khái ngâm bài thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác. 
Cuộc vui chơi của chúng tôi kéo dài đến gần tối mới chấm dứt. Riêng tôi với Lê Đình Điểu còn rủ nhau đến quán cà phê Gió Bắc làm thêm một chầu cà phê đá nữa. Tới đó rất có thể tôi sẽ gặp Hoài Nam. Từ khi tôi bận học thi, tôi chưa gặp lại lần nào, và tôi cũng có chuyện cần gặp anh ta. 
Ngồi nhâm nhi ly cà phê đá thơm mát, tôi đột ngột hỏi Điểu: 
– Mình nhận được thư của Ming Ng từ ngoài Huế, cậu thấy sao nếu mình….yêu cô ta? 
– Lê Đình Điểu ngưng uống, đặt ly cà phê xuống bàn: 
– Cậu nói sao, yêu? 
Tôi hơi bẽn lẽn, khẽ gật đầu. Lê Đình Điểu hỏi tôi: 
– Có phải hình và thư của cô gái Huế thường gửi vào cho cậu đó phải không? 
Tôi đưa bức thư và hình ảnh của Ming Ng để sẵn trong túi ra. Điểu chăm chú đọc, ngắm hình của Minh Ng, bức hình bán thân mơ mộng, vành nón bài thơ nghiêng nghiêng, phía sau hình có ghi vài lời đề tặng tình tứ. Điểu mỉm cười: 
– Hèn gì thời gian sau này tớ thấy cậu học kém hẳn đi, té ra cậu mê gái hơn văn nghệ. 
Tôi cãi chầy cãi cối: 
– Hai đứa tôi chỉ là tình bạn với nhau thôi, chứ đâu đã có gì, cô ấy có cảm tình hơi nhiều với tớ thôi. Ái tình theo cái kiểu hàm thụ này thì ăn cái giải gì. 
Lê Đình Điểu không còn nghiêm khắc với tôi nữa, anh ta noói như đổ thêm dầu: 
– Này cậu nên ra Huế một chuyến thăm cô nàng. 
Tôi lắc đầu: 
– Ra Huế thì được thôi, nhưng dễ gì gặp được Minh Ng. 
– Sao vậy? 
– Cậu không nghe nói con gái Huế, nhất là giới quý tộc thường kín cổng cao tường lắm sao? 
Mặt Lê Đình Điểu ngẩn ra, anh ta nhắp một miếng cà phê, gọi thuốc thêm, chia cho tôi một điếu hút chơi cho thêm phần thơ mộng. Tiếng nhạc từ máy cũ phát ra đều đều, hình bóng cô Ngọc thấp thoáng sau rèm cửa. Những cây si quen thuộc của quán đã có đủ mặt. Giọng Lê Đình Điểu trầm hẳn xuống: 
– Ngoài Huế mưa dầm dề, có khi mưa thối cả trời đất cả tháng, các cô gái Huế ngoài giờ đi học chỉ ru rú ở nhà tha hồ thơ mộng. nhất là những cô thuộc giới quý tộc, dóng hoàng phái, có cái tên dài thoòng “tằng tằng” gì đó. 
Tôi chữa lại: 
– Công Tằng Tôn Nữ 
– Ừ, đúng vậy, Công Tằng Tôn Nữ. 
Điểu nói một hơi về đời sống ngoài Huế, như là anh ta từng sống ở đó, những nơi phong cảnh đẹp, sông Hương, núi ngự và những lăng tẩm vua chúa, y như điều Minh Ng viết cho tôi trong những bức thư. Thỉng thỏng Minh Ng còn gửi vào đây cho tôi những món quà đặc sản Huế, những thứ bánh kẹo thanh tao, những chuỗi hạt sen hồ Tịnh Tâm. Những món quà đó làm tôi cảm động vô cùng, và tình bạn chúng tôi trở nên đằm thắm hơn. không biết đã bước vào tình yêu chưa? 
Bây giờ thì tôi thả hồn về Huế, về nơi đất Thần Kinh có bóng dáng của Minh Ng, mà tôi chưa một lần gặp gỡ. Lòng tôi rung động và chỉ nghĩ đến Minh Ng, hồn rung lên qua những câu thơ Hàn Mặc Tử 
Sao anh không về chơi thôn vỹ 
Nhìn lá hàng cau nắng mới lên 
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc 
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
 
Cứ như thế tôi thả hồn lênh đênh trôi nổi qua hết những câu thơ ca tụng xứ Huế. Huế đẹp, phải dễ thương làm sao mới có bao nhiêu thi nhân ca tụng chứ. Tôi lý luận như vậy. Lê Đình Điểu thì cứ ra rả nói về Huế, tôi có nghe gì đâu, cho đế nlúc gần về Điểu vỗ vai tôi: 
– Này bạn, tại sao lại có vụ Hoài Nam trong thư này vậy? 
Tôi trả lời lửng lơ: 
– À, có gì đâu, một cô bạn của Minh Ng tên Thu V muốn làm quen với Hoài Nam, và mến tài thơ anh ta…. 
Lê Đình Điểu hít hà: 
– Con gái xứ đó mơ mộng ghê nhỉ, nhưng Hoài Nam nghèo rớt mồng tơi. 
– Cũng chẳng ăn nhằm gì. 
– Ờ, chẳng ăn nhằm gì được. 
Lê Đình Điểu châm lửa hút thêm một điếu thuốc nữa. hai ngón tay kẹp điếu thuốc lóng ngóng, hút thuốc mà chưa dám hít những hơi dài, mắt lim dim tránh khói thuốc, đây là những điếu thuốc lá đầu tiên trong đời chúng tôi. Ngón tay đập đập điếu thuốc lá rỗ tàn, và cuối cùng thì dập tắt luôn vào cái gạt sứ. 
Từ ngoài quán, một anh chàng dựng xe đạp đi nghênh ngang vào quán, gã Thuỳ Nhân. Thuỳ Nhân là bút hiệu của Nguyễn Khắc Giảng, cũng bạn văn nghệ với chúng tôi cả. Vẫn thường đến nhà tôi chơi, anh ta là người Quảng Trị, chính xác là người Đông Hà, ở rất gần cầu Bến hải, anh ra Huế học rồi vào SG, học ở một trường tư nào đó, nhưng là bạn văn nghệ với chúng tôi. Hắn nói có biết và quen Minh Ng ở Huế, và thường hay trêu chọc tôi hai câu thơ chữ Hán, dịch ra tiếng nôm: 
Ngước mặt nhìn trăng sáng 
Gối đầu nhớ cố hương 

Anh chàng này có tíng bô lô bô loa, cứ gặp tôi là chọc phá, giọng nói Quảng Trị hơi khó nghe. Chiều nay cũng vậy, gặp tôi là cái miệng bô lô. Tôi ra hiệu chặn lại: 
– Này cậu có gặp Hoài nam không? 
– Không gặp từ mấy ngày hôm nay. Có nhận được thư của Minh Ng không, có gủi gì cho nàng không mai tớ về Huế…. 
– Không, cám ơn, thôi muộn rồi, bọn tớ về đây. 
Thuý Nhân chèo kéo: 
– Chơi đã nào, uống cà phê với tớ, mai tớ đi rồi, ba tháng nữa mới vào…. 
– Cám ơn, chúc thượng lộ bình an. 
Tôi trả tiền cà phê xong, chúng tôi chia tay nhau. Tôi về nhà, Hoài Nam đang nằm ở nhà tôi, anh ta bênh, người nóng hầm hập, mẹ tôi sót sa: 
– Tội nghiệp thằng bé quá đi, nó tới không gặp con, lại tính đi, mẹ thấy nó sốt quá nên giữ lại, mẹ đã cho uống thuốc rồi, con xin mẹ đặt cho nó một nồi cháo, nhớ bỏ hành nhiều, đập cái trứng gà, toát được mồ hôi là hết cảm liền. 
Trong khi đó xuống bếp nấu cháo cho Hoài Nam, anh ta vẫn sốt li bì trên căn gác của tôi. Tôi nghĩ đến bức thư của Minh ng viết cho tôi. Ngưòi con gái nào đó mà nàng định giới thiệu cho Hoài Nam, tôi nghĩ đến Hoài Nam, hoàn cảnh của bạn hiện tại, nếu không có gia đình này, anh đi lang thang trong cơn sốt, biết đâu chẳng gục ngã ở một góc đường nào đó trong thành phố? Lòng tôi nao nao thương bạn, tội nghiệp cho tuổi trẻ chúng tôi quá đi. Nếu tôi không có tình thương của mẹ, chắc ũng vậy thôi. 
Tôi bưng cháo cho Hoài Nam, anh ta tỉnh táo dần. tô khuấy tô cháo cho nguội bớt: 
– Chịu nóng một chút, rán ăn tô cháo này đi, toát được mồ hôi là đỡ liền, như xông ấy mà. lâu quá không gặp cậu. 
Hoài Nam ăn cháo, anh ta vẫn có dang mệt mỏi. 
– Mình sốt đi sốt lại hoài, nằm ở trại học sinh phú Thọ không có một viên thuốc, lại đói nữa, bọn nhà thầu trại ăn hết rồi, mình phải rán bò đi kiếm ăn lại bệnh thêm, bây giờ cứ mỗi ngày một cơn đến là mệt. 
Nhìn Hoài Nam múc từng muỗng cháo ăn, tôi càng thấy xót xa cho hoàn cảnh bạn: 
– Rán ăn đi, rồi chữa bệnh cho hết, cứ ở lại nhà tôi, cậu cứ coi nhà này như nhà của cậu vậy, những người thân gia đình tôi là người thân của cậu. 
Hoài Nam lặng lẽ ăn cháo, cháo nóng với hành tiêu khiến anh vã mồ hôi, tôi hiểu Hoài Nam cảm động về tình thương của gia đình tôi đối với anh, tôi rót cho anh ly trà nóng, tôi cười với anh: 
– Thế nào thấy đỡ chưa? 
– Nhờ có hai viên thuốc và tô cháo này, mình thấy ngưòi khoẻ rồi, tối nay mình lại làm thơ được. Mừng cậu thi đậu. 
– Nghỉ đi đã, cứ nằm đây rồi làm gì thì làm, mình có chuyện này muốn nói với cậu. 
– Mình khoẻ rôì, chuyện gì vậy, cứ nói ra đi. 
Tôi đành đưa bức thư của Minh ra: 
– Cậu xem bức thư này thì sẽ rõ. 
Hoài Nam chăm chú đọc thư, đọc xong anh trao lại cho tôi, anh cười, nụ cười của anh lúc này tươi hơn. 
– Tôi biết cô bé này, thỉnh thoảng có đọc thơ cô ta d0ăng trên báo, đêm nay mình lại làm thơ. Bây giờ đang có hứng, cậu pha cho mình một bình trà nhé, trà của bà cụ luôn luôn là trà ngon. 
– Được thôi, có cả bánh đậu xanh Rồng Vàng nữa, nhưng mình nghĩ cậu cần ngủ cho lại sức. 
– Nhằm nhò gì chuyện ốm đau vặt vãnh ấy, tớ nghĩ đêm nay cậu cũng thức khuya viết thư. 
Tôi đành chiều ý Hoài Nam, xuống bếp đun nước, xin bà cụ bánh đậu xanh và vài điếu thuốc thơm. Mẹ tôi lườm: 
– Bây giờ cậu lại bày đặt hút thuốc nữa? 
Tôi cười nịnh mẹ: 
– Con lớn rồi, hút thuốc chút chút cho “thơm râu”. 
Mẹ tôi chiều tôi nhưng vẫn nghiêm khắc: 
– Con nên coi chừng lời ăn tiếng nói, học đòi toàn những…..Chú nói mẹ hãy coi chừng con, cái bằng con thi đậu chẳng đáng gì đâu, chơi vừa vừa thôi, mới nút mắt ra, con bé nào ngoài huế hay viết thư cho mày đó? 
Tôi không trả lời mẹ, tìm đường phóng lên lầu. Hoài Nam đã kê một cái ghế ở đầu bàn học của tôi. Chúng tôi ngồi uống trà trên gác nhìn xuống ngõ hẹp đêm khuya. Hoài Nam cũng chỉ tập hút thuốc lá như tôi, anh có thói quen. Mãi tới sau này cứ đưa lên mũi ngửi hít cán thuốc. Thỉnh thoảng Hoài Nam lại lên một cơn ho, tôi can anh: 
– Không sao đâu “ông” ơi, mình phải làm ông “cụ non” một tí chứ! 
Tôi ăn miếng bánh đậu xanh, uống hớp trà nóng, đầu óc tôi thấy tỉnh táo và hình như mắt tôi thêm sáng ra, tôi nhìn xuống con hẻm, những căn nhà lụp xụp, che lợp bằng đủ thứ vật liệu gì nhặt được, ở một căn nhà nào đó vẳng ra tiếng ca vọng cổ của một người nữ buồn thê thiết. Tiếng chửi thề lè nhè của một anh say rượu đang bước thấp bước cao vào hẻm, ánh điện câu vàng vọt. Ở khu bãi rác gió thoảng đưa mùi xú uế. Phía trung tâm SG thì rưc lên ánh điện sáng. Sở rác Nguyễn Tấn Nghiệm ở đường phát Diệm cầu Kho này vẫn còn là vùng giáp ranh với ngoại thành. Tô nghĩ sẽ tả cho Minh Ng qua thu cảnh này, cũng như Minh ng tả cho tôi khu vườn nhà nàng, những câ ycối và những cái tên do chính nàng đặt cho chúng, thơ mộng và lãng mạn làm sa. Nơi tôi ở không có khung cảnh như thế, không có cả tiếng chim hót mỗi sáng. 
Trong phút chốc tôi thả hồn đi thật xa, như tôi đã từng thả hồn về dĩ vãng miền Bắc xa vời. 
Hoài Nam quan sát tôi với trí thông minh của anh, có lẽ anh hiểu tôi đang nghĩ gì, anh thân mật đặt tay lên tôi: 
– Đang nghĩ về Huế và Minh của cậu phải không? 
Tôi cười nhìn Hoài Nam: 
– Chắc là cậu cũng vậy? 
Hoài Nam gật đầu, ánh mắt anh ánh lên, tô không tin vì ảnh hưởng cơn sốt vừa qua: 
– Tôi nghĩ đến người Minh giới thiệu, hình như cô ta cũng làm thơ và viết tuỳ bút, truyện ngắn gì đó đăng trong văn nghệ học sinh? 
– Đúng vậy, tôi thấy cô ta viết cũng khá, viết trong lứa tuổi học trò. 
– Gia đình cô ta cũng có vẻ khá giả? 
– Điều đó tôi không rõ, cũng như tôi không biết gì nhiều về Minh. Tôi nghĩ những gia đình ngoài Huế hầu hết là gia đình công chức, đời sống cũng trung bình vậy thôi, chứ bây giờ có vua quan gì như ngày xưa. Cậu cô đơn, cậu cũng nên có một người bạn gái, thư từ cho đỡ buồn, chỉ có thế thôi. 
Hoài Nam nhìn thẳng tôi: 
– Ừ, có vậy thôi, mình là một thằng nghèo khổ xấu xí. 
– Đừng mặc cảm thế, bộ cậu nghĩ sẽ đi đến đâu nữa? 
– Chẳng nghĩ đến đâu hết, cuộc đời mình chắc từ đây trở đi vẫn chỉ là anh thi sĩ nghèo kiết xác, mình chỉ mê làm thơ, không hiểu sao mình lại đam mê đến thế? 
Hoài Nam ngưng lời một lát: 
– Cậu cho mình tờ giấy và cái bao thư, tối nay tôi viết cho ” cô bé ” một bức thư làm quen, cậu muốn ngủ thì đi ngủ trước đi. 
– Không, tôi cũng phải thức viết thư, ngày mai mình bỏ thư luôn thể. 
Hoài Nam nói: 
– Cậu mua tem luôn nhé! 
– Khó gì chuyện đó, cứ viết đi. 
Tôi uống ly cà phê với vài chung trà mà mắt ráo hoảnh. 
Dẹp những đồ ăn uống lỉnh kỉnh, chúng tôi có mặt bàn rộng thênh thang. Hoài Nam ngồi riêng rẽ một đầu bàn, chúng tôi không ai nói với ai một câu nào nữa. Tôi cắm cúi viết thư cho Minh Ng, báo tin cho nàng biết tôi đã thi đậu, tôi hứa nếu có dịp tôi sẽ ra Huế chơi và thăm nàng. Dù viết dài đến thế nào, khoảng một giờ đêm thì tôi cũng buồn ngủ díp mắt, tôi dán phong thơ lại rồi đi ngủ. 
Hoài Nam vẫn ngồi đó, cho đến gần sáng anh vẫn ngồi. Khị tôi thức giấc tôi thấy Hoài Nam ngủ gục trên bàn, mặt đè lên những trang giấy đặc kín chữ. Trên nóc tôn nhà tôi giắt đầy những bản nháp thơ của anh, và sau này cỡ một năm sau, tôi vẫn còn thấy thêm nhiều bài thơ khác sót lại trên mái tôn. 
Hè năm đó tôi không ra Huế như tôi đã hứa, nhưng tôi hiểu Huế rất nhiều qua những bức thư của Minh Ng. Đầu óc tôi lúc nào cũng lãng đãng nghĩ về xứ Huế. Tôi yêu thật rồi, nhưng chưa một lần gặp Minh. Chiến tranh và đường xe lửa đã cắt. Mãi gần 40 năm sau tôi mới gặp nàng, nàng đã có cháu nôichạu ngoại. Có một lần tôi thoáng gặp một vài câu thơ của Hoài nam trên mái tôn nhà, tôi chỉ nhớ loáng thoáng câu thơ đó của thuở xa xưa: 
Thuở làm thơ yêu em 
Hoa cúc vàng sân thềm 
Lá bay lưng bờ dậu.
 
Đời sống chúng tôi lặng lẽ trôi. Hoài Nam thường xuyên ăn ở nhà tôi, thời gian này anh làm nhiều thơ, hy vọng góp thành một tập, và tôi viết thư thường xuyên cho Minh Ng mỗi tuần.
Hoài Nam sôi nổi hơn, anh tuyên bố: 
– Thế nào cũng phải đi Huế một chuyến thăm Thu, gia đình Thu biết mình hay không, không cần biết, cứ đi đã rồi mọi chuyện tính sai. 
Tôi im lặng, tôi cũng không ngờ, sau này Hoài Nam và Thu sống bên nhau, nên duyên chồng vợ, cả ah đều có danh vọng trong làng văn. Trần Dạ Từ – Nhã Ca. Quê hương Huế và trường Đồng Khánh Huế đón nhận lại đứa con hoang trở lại bằng tác phẩm “Giải khăn sô cho Huế”. Chính là Thu tức Nhã Ca. Một tình yêu đẹp. Tôi chỉ biết nói thế, như nói với nhiều bạn bè. 
Thời gian này tôi ít nhận được thư của Minh Ng, tôi nghĩ nàng bận học hành, mọi khi cứ mỗi tuần tôi nhận được một lần, nhưng đã ba tháng qua, mặc dù tôi viết nhiều thư cho Minh Ng, nhưng không có hồi âm. 
Bẵng đi một thời gian nữa, tin tức bằn bặt, tôi nghe tin Minh đã có chồng. Tôi quên đi và cho chuyện ấy chỉ là chuyện lãng mạn tuổi trẻ. 
Việc buôn bán của mẹ và dì hình như không được suông sẻ cho lắm, tôi thường thấy những nét lo âu trên mặt bà những đêm bà ngồi tính sổ một mình ở quầy hàng. 
Những lần đi cất hàng cho mẹ, tôi thấy lượng hàng hoá ngày một ít đi, tô hỏi mẹ, mẹ tôi không giấu, bà đã nói thật, bà thua lỗ trong môt vài chuyến làm ăn lớn, vốn liếng gần như tiêu tan, hằng ngày bà phải đóng hụi chết và tiền góp, nên gia đình tôi túng thiếu thường xuyên. 
Tôi bắt đầu lo âu về đời sống gia đình, tôi nghĩ đến một hướng làm ăn nào đó để có thêm tiền góp với mẹ. Hai đứa em tôi tuổi còn nhỏ, chưa đứa nào vượt qua bậc tiểu học. nhưng tôi làm gì đây để giúp gia đình ? Tôi không có nghề ngỗng gì hết, nghề dạy học tư gia các bạn tôi đã làm nhiều, chẳng ăn thua gì, mà tìm một nơi kèm trẻ không phải là một chuyện dễ. 
Làm nhà văn hả? Chuyện đó còn phiêu nữa, tôi chưa phải là nguời chuyên nghiệp, tiền nhuận bút có chăng chỉ là hương hoa. Buổi tối buồn, tôi đi chơi lang thang một mình trên đường vắng, tôi đốt điếu thuốc phì phèo hút. Hình như tôi đã mất đi vẻ vô tư tuổi trẻ thuở nào. Tôi lúng túng khi muốn tìm cho mình một tương lai. Thời gian này các nhà xuất bản ở thành phố dịch thuật nhiều sách nước ngoài, những nhà văn của thế giới rất đa dạng. Tôi say sưa đọc Saint Exupery về nghiệp bay. VN cũng có nhà văn Toàn Phong viết về nghề bay bổng. Sáng ở VN, chiều đã có thể ngồi ăn cơm ở Nhật Bản, ôi đủ thứ thú vị. Nhà văn Toàn Phong, tên thật là Nguyễn Xuân Vinh, một nhà khoa học, là trung tá phi công Không Quân VN, mới được Pháp trao trả lại. Một binh chủng trong nhiều binh chủng trong Quân Lực VNCH. Ông Ngô Đình Diệm làm tổng thống ở miền Nam, đối đầu với CS miền Bắc. Miền Nam nhất định sẽ giải phóng nhân dân miền Bắc thoát khỏi ách gông cùm của CS. Ngoài quân dịch, đang mở những đợt tuyển quân vào các binh chủng miền Nam. 
Tôi say sưa đọc những tác phẩm của nhà văn Toàn Phong. Tôi mơ ước một ngày nào đó tôi bay bổng lên chín tầng mây, tầm mắt mở rộng và tôi vẫn mơ trở thành văn sĩ được. 
Tôi rít đỏ đầu điếu thuốc. Mắt hướng lên trời xanh. Tôi phải nói chuyệ này với mẹ.

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 13 Apr 2024

Chương 5

Số đặc san xuân của nhà trường do chúng tôi thực hiện thành công ngoài sức tưởng tượng. 10 ngàn số báo hết veo trong năm ngày. Ngoài những số báo bán cho gia đình học sinh, còn một số học sinh mua làm quà chúc tết cho bạn bè ở xa, thay vì thiệp chúc tết. Trường chúng tôi thu vào quỹ học sinh một khoản tiền lớn. Tất cả mọi người ở nhà trường từ thầy hiệu trưởng đến các thầy cô và học sinh đều vui mừng. 
Riêng chúng tôi, những học sinh trực tiếp thực hiện đặc san được ban thưởng đặc biệt, trong đó có tôi. Tết năm đó chúng tôi dự một buổi liên hoan tất niên đặc biệt tập thể ngoài sân trường, không rieng rẽ từng lớp như những năm trước. 
Lê Đình Điểu đứng trên mặt ” kinh doanh ” luôn luôn tỏ ra tiếc rẻ: 
– Mình mà biết trước như thế này thì in luôn 15 ngàn số cũng hết. Tớ đã bảo mà, mình phải ” vỗ phông ” đổ chì, khi hết mình cứ việc cho lên máy chạy in thêm khỏi phải xếp lại chữ. Có ai chịu nghe tớ đâu, để tình trạng như bây giờ thì có chán không chứ. 
Cuộc bàn cãi về tờ báo xuân om xòm ngay trong buổi liên hoan tất niên: Phê bình báo xuân hết của trường này đến trường khác. Cuối cùng vẫn là tờ báo xuân của trường mình hay nhất, đẹp nhất. Tất cả các lớp học từ đệ thất đến đệ nhất đều có bài và hình ảnh của lớp mình, đủ mặt ” anh hào “. không thiếu một trự, kể cả giáo sư. Riêng ban biên tập của nhà trường cùng thầy phụ trách cũng có hình ảnh, chức năng của nhiều người. Một phóng sự ngắn nói lên nỗi “gian lao” của những học sinh thực hiện tờ báo. những đấu tranh quyết liệt của ngưòi cầm bút đòi bằng được quyền tự do báo chí. Oai thế đấy. Không có một bài nào ngoài khuôn khổ của tờ báo xuân thuần tuý của nhà trường bị ép buộc phải đăng. Thầy phụ trách nổi giận mắng anh học sinh quyết định bài vở: 
– Vứt mẹ nó đi, còn phải hỏi gì nữa, bất kỳ của ai đưa vào cũng không đưọc. Chúng ta làm báo phải có tự do không là công cụ của bất cứ ai. Nếu muốn đăng quảng cáo mình có mục quảng cáo, trả tính theo phân theo cột, lớn thì nguyên trang, tiền nhiều, sòng phẳng. Điều nào đúng chúng ta sẵn sàng ca tụng. 
Có lẽ đó là bài học đầu tiên cho tôi để giữ mãi được nghiệp cầm bút đến cuối đời. Đã nhiều năm rồi lời thầy vẫn còn văng vẳng bên tai tôi. 
Trong buổi liên hoan ấy, có anh bạn có hứng khởi: 
– Báo của trường mình không phải chỉ có mặt ở SG này đâu mà còn ở khắp nơi, các tỉnh nữa kìa., ở cả ngoài Huế, bên Tây. Chính tớ đã gửi báo theo đường bưu điện tặng mấy người bạn, mỗi người ở một tỉnh khác nhau, anh tớ ở bên Tây. 
Nhiêu ngưòi bạn cũng nói như thế. Riêng tôi chẳng tặng một ai ở xa hết. Tôi không có bạn bè ở xa, nói đúng ra tôi không chơi trò kết bạn qua thư từ, tôi coi chuyện ấy mất thì giờ vô ích, chuyện tầm phào. 
Anh bạn tóc ” bềnh bồng mây khói ” ngồi riêng rẽ một chỗ, chẳng thiết ăn uống, vui chơi, hồn thả tận đâu đâu. Ở nơi này thì anh không dám ” nặng phần trình diễn “, nghĩa là cắp quyển sách cửa Albert Camus vào nách. Trong số báo xuân vừa qua anh cũng gửi một bài thơ cho báo, nhưng không được đăng, thầy phụ trách chọn bài vở, một thầy dạy văn lớp bốn đã thẳng tay gạt bài anh và chê thơ gì mà tối om om như hũ nút. Lời lẽ chẳng ai hiểu gì hết, bí hiểm như một bản mật mã. Nhà thi sĩ kiêm triết nhân chê loài người: “thế nhân mắt trắng như nhân ngã….” 
Lê Đình Điểu không mấy ưa nhân vật này, có dịp là anh ta châm chọc liền. Điểu bắt đầu to tiếng, mỗi người phải can một câu, một người bạn khác lên tiếng: 
– Thôi mình ra chỗ khác chơi, trả lại sự yên tĩnh cho thi sĩ. 
Một người bạn khác đế thêm một câu: 
– Thằng Hoan chẳng cần làm thơ, chỉ nhìn con ngưòi nó là thấy thơ rồi. 
Buổi liên hoan của trường chấm dứt trong bầu không khí vui vẻ> Tôi và Lê Đình Điểu rủ nhau đi chơi đến chiều mới về nhà. 
Về nhà, đã thấy Hoài Nam nằm c hờ tôi trên gác, anh ta làm thơ xuân, viết chữ thảo dán đầy trên vách ván. Nụ cười anh hồn nhiên làm sao: 
– Cậu thấy thế nào ? 
– Hay lắm, căn gác của mình càng thêm ấm cúng. 
– Tết này cho tớ ăn tết ở nhà cậu nhé! 
Tôi đồng ý liền. 
– Tớ cũng tính đi tìm cậu, mẹ tớ có nói đi tìm cậu về nhà ăn tết với gia đình cho vui. Hoài Nam chớp chớp mắt. Buổi tối hôm ấy hai thằng ngồi canh nồi bánh chưng đến gần sáng. Năm nay mẹ tôi và dì nhận nấu bánh chưng cho nhiều nhà quen. Có lẽ tết này gia đình nhỏ bé của tôi ăn một cái tết khá hơn mọi năm. Một cái tết sum họp sau ba năm chúng tôi phải ăn những cái tết chia lìa. Sống với chú dù được thương yêu như con, nhưng tôi vẫn thấy xa lạ, khi nhậ những đồng bạc mừng tuổi trong phong bao đỏ. Có lẽ tôi quá nhậy cảm. 
Dưới ánh lửa bập bùng tôi quan sát Hoài Nam., anh ta đang cời bếp để chất thêm củi. Thốt nhiên Hoài Nam lên tiếng: 
– Thiếu không khí lạnh của miền Bắc mình. 
Tôi nhìn dọc theo con hẻm, cách một vài nhà có một nồi bánh tét. Ánh lửa bập bùng và có bóng người lui cui cạnh nồi bánh. Tôi gật đầu: 
– Ờ thiếu không khí lạnh của miền Bắc mình thật, tôi nhớ hồi nhỏ những ngày giáp tết….. 
Hoài Nam ôn lại những kỷ niệm xưa, ngày anh còn nhỏ lắm ngồi bên cạnh mẹ, sát bên đống lửa nồi bánh chưng để tránh cái rét cắt da xẻ thịt. Giọng anh buồn bã: 
– Tớ là con nhà giàu, con trai độc nhất trong gia đình, nhưng mẹ tớ lại chỉ là nàng hầu hạng bét nên cả cái thân tớ cũng bị các mẹ già, các chị bạc đãi. Còn bố tớ thì già yếu nên chẳng biết gì. Tớ nhớ đến sân gạch rộng thênh thang phơi lúa. Cái ao cá có cây sung cành là trên mặt nước mà tớ thường ngồi vắt vẻo trên đó xem mẹ rửa bát trên cầu ao. Tớ biết mẹ là người đẻ ra tớ, nhưng không được gọi mẹ bằng mẹ mà phải gọi là chị. mẹ sinh ra mình mà không làm mẹ, chế độ phong kiến ở nước mình là vậy đó. 
Đôi mắt Hoài Nam nhìn vào bếp lửa lung llinh, giọng xa vời buồn bã: 
– Một ngày kia khi ông bố già tớ chết đi, tớ thấy mẹ tớ bị các bà mẹ già và các chị trói vào gốc cau đánh đến nứt thịt, không biết tội gì, hôm đó trời rét thấu xương, có lẽ là một ngày cuối năm mà trong làng đang sửa soạn tết. Trời đã tối mà mẹ mình vẫn bị trói, mặt mẹ xám ngoét, hai mắt bà ráo hoảnh nhìn mình đến lạc thần, mình nhớ hoài đôi mắt đó. 
Hoài Nam ngưng lời, câu chuyẹn của anh vừa thương tâm vừa hấp dẫn, tôi mủi lòng. Tôi nhìn Hoài nam chứa chan tình cảm. Giọng anh trở nên bùi ngùi: 
– Tối hôm ấy tớ không ngủ được, tớ lén xuống bếp lấy dao cắt dây trói cho mẹ mình, mình nói khẽ với mẹ: “mẹ, mình đi thôi!” Giọng mẹ vừa sợ vừa run:

_”Đi đâu hả con?”

_ “không cần biết, mình đi mẹ à, đi ngay bây giờ.” 
Đêm lạnh căm căm, bụng đoí, hai mẹ con dắt díu nhau ra khỏi làng. Mình nghe đâu đó có tiếng đại bác từ đồn Tây nào đó vọng lại. Ánh lửa ma trơi lãng đãng trên cánh đồng hoang. Trời sáng bạch, mẹ con tớ đến Hải Phòng. 
Hoài Nam có lẽ xúc động nhiều khi nói chuyện, anh lại bắt đầu nói cà lăm. Anh vẫn tiếp tục: 
Mẹ con tớ tìm việc ở Hải Phòng, tớ được đi học, nhưng học hơi ít, tớ học lén thì nhiều và tớ biết làm thơ từ hồi đó. Tớ say mê làm thơ, giở một trang báo ra là việc đầu tiên tìm mục thơ trước hết. Rồi qua bao nhiêu bài thơ mà thuở nào mẹ đọc cho tớ nghe, những bài ca dao chỉ cần nghe tớ đã thuộc, cả thổi sáo, ca hát cũng vậy, mình hoàn toàn bắt chước và học lóm.
Trời gần về sáng trời trở lạnh. Hoài Nam có vẻ đã buồn ngủ, tôi đề nghị với anh: 
– Cậu vào nhà ngủ đi để tớ canh nồi bánh. 
Hoài Nam lắc đầu, anh giải một cái chiếu bên cạnh bếp và ngủ thiếp đi lúc đó. Ánh lửa bập bùng, tôi thấy khuôn mặt Hoài Nam vẫn còn nét trẻ thơ. 
Trời sáng, bánh đã chín dì tôi và mẹ ra vớt bánh, khi đó Hoài Nam mới thức giấc, mẹ tôi nói: 
– Các con vào nhà ngủ bù đi, để mẹ ép bánh xong, chiều con đi giao bánh cho mẹ. Chỉ còn một ngày nữa là tết, con nói Hoài Nam ở lại ăn tết với gia đình mình. 
Tết năm đó không phải chỉ riêng có Hoài Nam ăn tết trong gia đình tôi mà còn vô khối anh em bạn văn nghệ choai choai khác. những người yêu văn nghệ, những nhà văn nhà thơ tương lai đang gặp vận khổ. Tất cả đều thèm một mái ấm gia đình trong ngày tết, thèm tiếng gọi mẹ. Miếng bánh chưng xanh, lòng rộn ràng trong tiếng pháo nổ đón giao thừa. 
Những khuôn mặt bạn bè ngày ấy, những người mang mộng “mơ làm văn sĩ”. Số còn lại chỉ còn đếm trên đầu ngón tay mà cũng xảy đàn tan nghé. 40 năm sau tôi vẫn cảm động vì một bài viết của Viên Linh về bữa cơm và căn gác trên căn nhà xưa. Bài viết ấy ở môt nơi xa xôi lắm, cách VN đến nửa vòng trái đất. Bây giờ tôi tiếp tục kể chuyện một thuở mơ làm thi sĩ. 
Trong năm đó, những truyện ngắn của tôi đăng liên tiếp trên nhiều tờ tuần báo. Tô ký tên thật đàng hoàng, không còn ký bút hiệu mà tôi đã mất công chọn lựa. nhưng sau này tôi đánh giá lại những “tác phẩm” đó tôi thấy nó tầm thường. Và tôi đã im lặng để nhìn, nghe và cảm. 
Tôi tự coi là đã thoát khỏi vòng kềm toả của chú, nhưng tôi vẫn biết rằng chú luôn theo dõi tôi. Một lần tôi đến thăm chú, chú hỏi tôi về chuyện học hành. Chú xem xét kỹ bài vở và số điểm của tôi. Chú nhìn tôi là đứa cháu đã lớn. khônmg phải là đứa cháu nhỏ ngày nào: 
– Môn văn cháu khá lắm, toán lý hoá cháu còn kém. Buổi tối nếu có thì giờ cháu nên đi học thêm những môn này, cháu còn phải lên đại học nữa…. 
Tôi ngồi cúi mặt nghe những lời bảo ban của chú. Chú nhìn thân hình nở nang của tôi: 
– Chú hài lòng về sức khoẻ và thể lực của cháu, trông cháu như một lực sĩ, làm văn thi sĩ mà có một thể lực như vây cũng tốt. nhớ đừng có đua đòi bạn bè hút sách rồi khổ cái thân nghe chưa, chú nghe nói anh văn sĩ nào cũng nghiện gập hết, cháu nên tránh điều đó. 
Tôi bạo dạn hơn, tôi náo nức thưa với chú: 
– Dạ không đâu chú, cháu chơi thể thao mỗi ngày, cháu luôn giữ gìn thân thể khoẻ mạnh. 
Chú tôi gật đầu có vẻ hài lòng: 
– Được, bây giờ cháu phải lo đến cái thân cháu, khôn nhờ dại chịu. Điều quan trọng là cháu phải học lấy căn bản văn hoá rồi muốn theo nghề gì thì theo. Làm văn sĩ cần rất nhiều đến kiến thức, kinh nghiệm sống, còn bây giờ cháu chỉ mới viết đượcnhững truyện tầm thường, kỷ niệm vớ vẩn, chưa khai triển nổi…. cháu đừng tự mãn. 
Ghê thật, chú tôi vẫn thường xuyên theo dõi những bài viết của tôi. Điều tôi được biết thêm là chú tôi không phải là một con người khoa học thuần tuý khô khan. Chú còn là một người biết thưởng thức văn chương và ông có một kiên thức phong phú. Ông giảng cho tôi rất nhiều về một số tác phẩm lớn trên thế giới, điều mà tôi chưa biết tới. Chú giảng giải như một giáo sư dậy văn chính hiệu. Chú kết luận: 
– Đó cháu thấy chưa, cháu cần học hỏi nhiều hơn nữa. Một dúm năng khiếu tầm thường của cháu không đủ đâu, nói như vậy không phải chú bảo cháu không nên viết văn nữa, mà chú khuyên cháu phải thường xuyên học hỏi và đọc những tác phẩm chọn lọc của những người đi trước của VN mình và cả thế giới. 
Hôm ấy tôi về nhà trong trạng thái hân hoan mà nhiều suy nghĩ. Chú tôi đã coi tôi là một người lớn. Cái chổi lông gà đã xa mông đít của tôi. 
Nhưng sau này còn nhiều ngọn roi vô hình khác quất túi bụi lên đời sống tôi. Những ngọn roi còn đau hơn những cú đấm nhà nghề vào mặt, mang tai, quai hàm khi phải lên võ đài đánh nhau thuê kiếm sống. 
Cái đá móc ổ họng của con thần kê cho con vương kê trong một dịp tôi cá độ chọi gà.

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 13 Apr 2024

Chương 4

Tôi xếp những cuốn sách, cuốn báo quý giá (đối với tôi) vào ngăn kệ sách, sẽ chẳng bao lâu nữa tôi sẽ có một tủ sách vĩ đại, đủ loại sách báo cần thiết cho kiến thức của tôi. 
Tôi ngồi ngắm căn phòng, đúng ra là một gác xép gỗ thuôc căn nhà mẹ tôi mua lại. Gác của tôi ngay trên cửa hàng “chạp phô” của mẹ và dì. Dù căn nhà hơi nóng bức một chút, nhưng không hề gì. Tôi rất lấy làm thú vị vì đó là nhà cũa gia đình tôi. Tôi được sống với mẹ, dì và hai em nhỏ mà tôi vô cùng thương yêu. Cửa hàng chạp phô của mẹ buôn bán suốt ngày, nên tôi không bị bó buộc giờ giấc như khi ở với chú. Tôi có thể về nhà bất cứ lúc nào. 
Căn nhà của mẹ tôi ở khúc giữa một con hẻm nghèo, ngay cạnh ngôi nhà lớn của chú tôi. Cư dân torng xóm hầu hết là người bình dân lao động. Từ trên bao lơn gác xép nhìn xuống là một vòi nước ông cộng, suốt ngày ồn ào gianh nhau gánh nước. Nhìn xa hơn nữa, vượt khỏi mấy nóc nhà gạch lợp ngói ngoài lộ chính, tôi có thể nhìn thấy nóc nhà thờ Huyện Sĩ vượt lên cao với cây thập tự giá in mờ mờ trong bầu trời xanh. Kế nhà của tôi là nhà ca sĩ Hùng Cường, người mới đoạt giải nhất thi hát ở đái phát thanh Pháp Á. Suốt ngày anh ta chui đầu vào chum nước hú lên một thứ âm thanh kinh khủng để luyện giọng. Sau này chính anh ta trở thành một kép hát cải lương nổi tiếng ở SG. Buổi trưa, 12 giờ còi hụ sở cứu hoả Đô Thành ngay ngoài đại lộ Trần Hung Đạo mới át nỏi lối luyện giọng quái gỡ của chàng ca sĩ, hơi dài của chàng vẫn thua tiếng còi hụ…… 
Anh ta là bạn trong xóm tôi, rất hâm mộ thể thao. tối tối chúng tôi hay chạy bộ vòng quanh chợ Thái Bình. Anh ta là con bà Ba Sữa, gốc dân Bắc Kỳ Hải Phòng. Anh thành công về cải lương miền Nam. Không thân nhau lắm mà mến nhau vì tình lối xóm thì có. 
Xóm tôi, suốt từ sáng đến chiều, cả buổi tối, đủ thứ âm thanh hỗn tạp, nhưng tôi không lấy điều đó làm buồn như những ngày mới dọn về, trái lại tôi thấy hay hayvà nhất là có dịp đi chơi. 
Thời gian này những người Bắc di cư lần lần tìm lại nhau. Có thể là bà con, có thể là bạn bè hay quen biết nhau ở địa phương nào đó thời gian tản cư, thăm hỏi nhau kẻ ở người đi. 
Bà chủ dây thép, bạn mẹ tôi ở phố Nỉ, nơi gia đình tôi đã tản cư đến hồi kháng chiến. Bà ta nói phải khó khăn lắm gia đình bà mới di cư vào được miền Nam. Coi như những người cuối cùng ở Vĩnh Phúc yên. Bà khá rõ mọi chuyện. Bà nói đến từng nhân vật ở phố Nỉ, người nào sống hoặc chết, người nào đi được và người nào ở lại. Bà nói về thầy giáo Dậu của tôi, một tiểu địa chủ bị kẹt lại. Dĩ nhiên bà không nói với tôi, mà nói chuyện với mẹ tôi: 
– Trong sổ đen có tên ông giáo Dậu bị đưa ra đấu tố…..khi biết được tin đó, ông không để chúng bắt mà ông tự đập mảnh kính rạch bụng tự sát. Ông giáo gan ghê, ông chửi chúng nó trước khi chết….chính sách gì mà độc ác quá….. 
Bà ta chép miệng khi dứt câu chuyện.
Tôi muốn khóc khi nghe tin đó, vì thầy giáo Dậu là thầy dạy cho tôi những lớp đầu tiên, thuở mới vỡ lòng, các con thầy lại là bạn tôi: Anh Phong, chị Phú và em Phượng. những người đó còn sống hay đã chết? Ngày tôi hồi cư về Hà Nội còn qua ấp thầy ở lại một đêm. 
Buổi sáng tôi lên đường vượt vành đai trắng sang Núi Đôi vùng Tề tôi còn nhìn thấy Phượng cúi trên ruộng lúa vàng rực gặt lúa. cánh áo nâu non in trên lúa vàng. Tôi ngoái nhìn lại, tôi nhìn thấy Phượng đứng nhìn theo….Đôi mắt ấy dòi dõi mang trong tôi, càng ngày càng cũ kỹ nhưng nó như bức ảnh xưa mỗi thời gian chồng chất là mỗi quý giá tăng lên. 

Những chuyện đó có thật không hỡi trời! Tôi kêu lên như thế nhiều năm. VN chưa đủ khốn khổ sao còn đầy đoạ con người đến đâu nữa. Không kể đến bom Mỹ đánh Nhật rơi trên Đông Dương chết oan bao nhiêu người Việt. nạn đói năm Ất Dậu cướp đi bao nhiêu triệu sinh linh vì tham vọng của dế quốc. Cuộc kháng chiến của dân tộc suốt cả 9 năm, đổ biết bao nhiêu xương máu, bây giờ còn…..Tôi không thể nói nữa, mà tôi chỉ nghe nói. Gia đình cậu ruột tôi còn kẹt lại Hà Nội, không biết bây giờ ra sao? 
Tôi ngồi quan cà phê Gió Bắc đường Phan Đình Phùng nghĩ ngợi vẩn vơ. Không khí lành lạnh giống như mùa thu Hà Nội mà tê tái lòng. 
Thời gian này tôi sống tương đối thoải mái, đi học, giúp việc nhà và chơi văn nghệ. Chúng tôi không phải làm những tờ báo viết tay nữa. Có tờ văn nghệ học sinh ra đời, các văn thi sĩ choai choai có ” sân ” chơi. Chúng tôi tha hồ tham gia. Một vài truyện ngắn trẻ con của tôi có mặt trên tờ báo ấy. Tô vứt cái bút hiệu của tôi đi mà ký tên thật. Ở đây tôi có thêm nhiều bạn bè, Nam, Bắc, Trung đủ cả. Nhưng tôi vẫn sát cánh bên Lê Đình Điểu. 
Thường vào những ngày chủ nhật đầu tháng, đám văn nghệ choai choai chúng tôi gặp nhau ở toà báo văn nghệ học sinh ở đường Phan Đình phùng. Chủ nhiệm của tờ báo là anh Lê Bá Thảng, tổng thư ký toà soạn là nhà văn Giang Tân. Chúng tôi thoải mái nói chuyện văn nghệ. Ở đây tôi gặp nhiều bạn bè, những ” kẻ sĩ ” choai choai, nhưng có vẻ ông cụ non lắm rồi. Cũng không có những tay làm ra vẻ kỳ quái, nhưng tôi cho rằng ” thùng rỗng kêu to “. Sự thật chẳng có gì đáng nói, vì họ chẳng có sắc thái gì riêng biệt hết. những mớ vay mượn lung tung mà cũng không triển khai được. làm thơ không ra làm thơ bèn nói thơ tự do. Viết văn tối mò mò nói là văn bí hiểm. Chịu không thể nào hiểu nổi. Mở miệng nói ra là trường phái này, trường phái kia. những tác gỉa Albert Camus, Jean Paul Sartre, Simone de Bauvoire. Sự thật tôi không hiểu nổi, khi tôi biết chính họ không đọc và hiểu nổi sách ngoại ngữ….như tôi vậy. Có thể đó là ” cái mốt “. Vì thời gian ấy nhóm Sáng Tạo ra đời, với những tên tuổi sau này trở nên lừng lẫy, như Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sĩ, Mai Thảo, Nguyễn Sĩ Tế, Tô Thuỳ Yên, Nguyên Sa. nhưng tính dân tộc, VN đầy rẫy trong tác phẩm của họ. 
Tôi yêu những câu thơ lục bát của Viên Linh, những bài thơ của Vương Đức Lệ. Cả hai người này tôi đều quen biết thuở còn là học trò. Vương Đức Lệ khi ấy nhà torng trại Lê Văn Duyệt đệ nhất quân khu, anh là con vị sĩ quan nào đó. Còn Viên Linh ở trại học sinh Phú Thọ? Nơi những học sinh di cư mồ côi hoặc đơn lẻ không nơi nương tựa. 
Tôi nghe nói vị quản lý trại đó tham nhũng tiền cấp dưỡng, nên các học sinh phải ăn uống rất kham khổ, bữa cơm nào cũng toàn rau muống xào loáng thoáng tí mỡ, muối. Các bạn học sinh Phú Thọ, nói rằng ngày nào họ cũng phải nhai ” dây kẽm gai “. Vì loại rau muống đó ngưòi ta chỉ nấu cho heo ăn. Cho nên nhiều học sinh trại Phú Thọ phải bung ra đời làm đủ nghề để sinh sống. Tôi biết được chuyện ấy và rất bất mãn. Viên Linh ở trại học sinh Phú Thọ có lẽ anh muốn ra đời sớm, không phải phiền đến gia đình mình mới di cư và không mấy sung túc. Tuy còn ở tuổi học sinh nhưng Viên Linh có tài có khiếu văn nghệ, như một số bạn bè khác theo đuổi nghiệp thơ văn cho đến bây giờ. Như Hoàng Bình Sơn (Tú Kếu) Hoài Nam (Trần dạ Từ) Đám anh em đó, chúng tôi chơi với nhau cho đến tận ngày hôm nay. Những người đó đều ở trại học sinh Phú Thọ thuở di cư. những bạn ấy tự nuôi sống mình từ thuở học trò. Tôi khi ấy coi là may mắn hơn bạn bè vì có gia đình, có mẹ. Căn nhà của tôi ở hẻm đường Phát Diệm mà cũng là nơi lui tới của nhiều bạn bè, không kể bạn học mà là bạn văn nghệ choai choai cỡ tuổi tôi và mẹ tôi được coi như mẹ của nhiều anh em. Khi đó anh em chúng tôi mới có một chút xíu tên tuổi, nhưng vẫn mơ sống một cuộc đời lang bạt kỳ hồ. bao nhiêu là mơ ước biến thành thành thơ của chúng tôi đăng trên báo….Tôi ghét bất công, tham những, giả dối nên văn chương tôi hướng vào đó. Hoàng Bình Sơn cũng xoay chiều, vứt đi những bài thơ tình ướt mới thuở đầu đời để làm thơ chua, thơ chì, thơ đen, thơ xám với bút hiệu Tú Kếu sau này. 
Những người anh em một thuở với tôi, tôi không bào giờ quên họ. khi có tiền chúng tôi rủ nhau đi uống cà phê Gió Bắc, cà phê Thăng Long hoặc cà phê Thọ ở Phú Thọ. Khao nhau chầu phở bà Dậu trong cư xá Công Lý. Phở bà Dậu có truyền thống Bắc Kỳ thêm cho bát cơm nguội trộn với bát nước phở dư. Phải biết ăn phở cơm nguội mới đúng gu Bắc Kỳ. 

Bọn chúng tôi tâm đắc với bài phở của nhà văn Nguyễn Tuân viết trong Nhân Văn Giai Phẩm của nhà văn Phan Khôi chủ trương, từ miền Bắc lọt vào Nam và được in lại phổ biến rộng rãi. Giai phẩm đó phản ảnh đời sống Hà Nội sau khi Hà Nội tiếp thu khi chia đoôi đất nước….có thể đó cũng là chủ trương tuyên truyền của chính phủ miền Nam thuở đó. Những bài viết của Phan Khôi, những truyện ngắn, những bài thơ của Trần Dần. Phùng Quán, Văn Cao và còn nhiều cây bút khác. Thực ìtnh mà nói tôi nghĩ những văn nghệ ấy vô cùng dũng cảm, xứng đáng với nghiệp cầm bút của mình. Không ai bắt buộc chúng tôi phải học tập mà tự mình phân tích rồi không quên được những câu thơ: Tôi bước đi không thấy phố thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ…Hoặc bài viết của Phan Khôi ” Ông Năm Chuột “. Hoặc bài một gì đó viết về một loại cỏ mà người ta đặt tên là cỏ đuôi chó. 
Chuyện ấy nay đã xa rồi, nhưng đã đánh dấu một thời điểm. Tôi nhắc lại để khỏi quên thuở mơ làm văn sĩ. Không phải chỉ riêng tôi mà nay vẫn còn nhiều cô chú nhỏ khác mơ làm văn sĩ….. 
Tôi lại xin tiếp tục câu chuyện của tôi, bình thường như bao nhiêu chuyênbịnh thường kkhác. Thuở đầu đơpì mang những mộng ước từ trẻ con đến trưởng thành. Trong sự trưởng thành thảm hại của một người mơ làm văn sĩ. 
Tối nay công việc của tôi là đến nhà in trông coi cho thợ lên khuôn trang báo chót của đặc san xuân nhà trường. Khoảng tuần sau báo phát hành, chỉ còn gần một tháng nữa thì tết thôi. Tôi nghĩ đến truyện ngắn của tôi được in trên báo xuân nhà trường mà lòng mừng phấn khởi. Tờ báo và bài vở được những tay hoạ sĩ ” cây nhà lá vườn ” trình bầy đẹp đáo để. Bìa in ” ốp xét ” kỹ thuật in tối tân thời đó, sao chép lại một bức tranh dân gian làng Đông Hồ đẹp ơi là đẹp, bóng láng thơm phưng phức mùi mực in. Tôi bắt đầu say mê không khí nhà in, nhất là làm việc đêm. Tiếng máy in tipô chạy xoành xoạch, mùi mực mùi giấy. 
Người thợ in ngồi nhẫn nại trên máy giở từng tờ (cashier) giàn xếp chữ tí tách làm việc, đám con gái ngồi đóng xếp báo, cái que gạt trong tay các cô thoăn thoắt, tiếng giấy xoàn xoạt, chuyên nổ như bắp rang. Tôi thấy cảnh đó như cảnh thu hoạch vụ lúc ở quê nhà, chỗ thì đập lúa, chỗ xay lúa, chỗ giã gạo và chỗ sàng xảy. và tôi, tôi cũng thấy mình quan trọng, dù tôi chỉ là anh thầy cò tạp sự, kiểm soát lại bản sửa lỗi cuối cùng trước khi lên khuôn. Cảnh tượng ấy như có ma lực hấp dẫn tôi.
Tôi nhìn đồng hồ thấy cũng sắp đến giờ hẹn ở nhà in nên vội vàng mặc quần áo xuống nhà dưới. Mẹ tôi đang bán hàng, bà ngước lên hỏi tôi: 
– Con đi đâu vậy, sao không ở nhà học bài và kèm em? 
Tôi trả lời, giọng quan trọng: 
– Con bận, báo lên khuôn chót tối nay, không có con máy phải ngừng chạy, lại phải trả tiền bồi thường cho nhà in, nếu trễ một ngày. 
Quan trọng thế đấy, nhưng tôi không quên xin ” bà cụ ” tí tiền bỏ túi, rồi đi đến nhà in mà lòng thấy hân hoan. Tôi tới nơi và thấy anh Lê Đình Điểu đã ở đó, anh cắm cúi sửa bản in. Anh ngẩng lên nói với tôi, giọng có vẻ nhà nghề: 
– Cái ” bát chữ ” đã xong, nếu không có tôi tới sớm thì cái ” cliché ” này nằm lộn ngược, không đúng với ” makét “. 
– Sửa lại thôi, nhưng tôi đến đúng giờ mà. 
– Biết rồi, tôi có trách bạn đâu, sớm thì vẫn hơn, anh em chạy máy phải ” đềpa ” sớm. Cả 10 ngàn tờ báo chứ có ít đâu. 
Lê Đình Điểu nháy, tôi hiêu ý ra ngay quán cà phê ngoài đường mua một ly cà phê đá đậm và nửa gói thuốc Ruby vào mời anh chạy máy. Anh thợ tỏ ra vui vẻ, uống cà phê và nói chuyện với chúng tôi rôm rả như nói với người lớn: 
– Các cậu còn trẻ mà đã sớm biết làm ăn ” điệu nghệ “trong nghề này, cứ sửa khuôn kỹ đi, tôi hứa là sẽ chạy máy rất cẩn thận và không hao giấy, từ tờ đầu đến tờ cuối không khác nhau. Tôi có kinh nghiệm 10 năm trong nghề này rồi đó, trước đó tôi chạy máy ” pê đan ” chứ đâu có được chạy máy Tipô tối tân như ngày nay, tin vào tài năng tôi đi, nhà in này tuy nhỏ nhưng tuyển toàn thợ giỏi không hà…. Chúng tôi, hai đứa loay hoay sửa bài gần một tiếng đồng hồ. Rồi đến xếp Tipô xuống sửa lỗi lần chót. Khi máy chạy thử, cầm một cahier lên coi thấy hết hẳn lỗi, chúng tôi mới an tâm ra về. 

Lê Đình Điểu vẫn chưa yên tâm hẳn.
– Đáng nhẽ ra mình phải ở lại suốt đêm coi máy chạy, phải chi tôi dặn trước ở nhà. 
– Tôi cũng không dặn nhà, nhưng thôi mình cứ phải tin ở nguời ta, mình kỹ quá cũng không được. 
– Tôi thì vẫn tin đó, nhưng về dấu hỏi dấu ngã bực mình quá đi, tôi sữa kỹ mà Tipô không chịu sửa lại, họ nói với tôi nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Mấy hôm nay tôi cứ phải năn nỉ, đôi khi gây gỗ với họ hoài, đến là bực, một tờ báo của nhà trường mà đầy lỗi chính tả thì coi sao được. 
Tôi phải gạt đi, không thì Lê Đình Điểu còn nói nữa. Chúng tôi cùng đạp xe trong thành phố SG ban đêm. Tôi nói với Lê Đình Điểu. 
– Còn sớm mà, mình về nhà làm gì vội. 
– Đi đâu? 
– Uống cà phê! 
– Ở đâu? 
– Gió Bắc 
Lê Đình Điểu cười hì hì: 
– Ừ thì đi, lúc nào cũng Gió Bắc, cậu chắc mê em đó rồi phải không? 
– Bậy nào, vô đó tìm hưởng chút hương vị Hà Nội thôi 
Thật ra nói vậy cũng chưa phải vậy. Quán cà phê Gió Bắc ở con đường Phan Đình Phùng đông đảo, quán là một căn nhà mặt tiền xinh xinh, ấm cúng những chiếc ghế đẩu, bàn thấp sơn trắng. Có bóng dáng thấp thoáng một tiểu thư khá xinh, lứa tuổi chúng tôi, sua màn cửa màu xanh lơ. Mái tóc mây luôn bỏ sau lưng, kẹp hờ hững bằng chiếc kẹp inox bóng loáng, đôi khi là một chiếc nơ màu tím, theo kiểu để tóc thề gái Hà Nội. Khuôn mặt trái xoan trắng ngần, mũi dọc dừa, miệng tươi như đoá phượng vĩ, đôi mắt bồ câu trong sáng. Nếu bận chiếc áo dài màu xanh lơ trường Trưng Vương Hà Nội nữa thì tha thướt biết bao. 
Khi chúng tôi vào quán, nhiều ” cây si ” choai choai đã có mặt. Nhà triết nhân kiêm thi sĩ mái tóc ” bòng bềnh mây khói ” cùng trường tôi, mắt lơ đãng sau cặp kính trắng cắm cúi trên trang sách đặc kịt chữ Tây. Cái dáng ngồi thì ” thời thượng ” coi ngứa cả mắt. 
Lê Đình Điểu văng tục khẽ một câu: 
– Mẹ cái thằng coi có chán không kìa, tiếng tây thì dốt đặc cán mai mà đi đâu cũng kè kè cuốn sách của Albert Camus, lại còn ngồi đọc nữa kia đấy, coi chừng cầm ngược sách, coi lố bịch. 
Tôi huých khẽ Lê Đình Điểu: 
– Kệ nó mà, bao giờ nó chẳng ” nặng phần trình diễn “. Cậu quên cái bút hiệu kinh khủng của nó à? 
Lê Đình Điểu còn làu nhàu. Cô chủ mang hai ly cà phê ra, mùi cà phê ngon bốc khói thơm mùi bơ Bretel. Tiếng hát từ máy hát cũ phát ra tình tứ càng làm không khí trong quán thêm thơ mộng. Thơ mộng như chính lời nhạc của nhạc sĩ Hoàng Dương trong bài hát hướng về Hà Nội ” Hà Nội ơi…nhớ về thành phố xa xôi. Ánh đèn giăng mắc muôn nơi….Áo màu tung gió chơi vơi….. 
Tiếng hát êm dịu và nhắc nhở nhiều đến nơi chốn chúng tôi đã được sinh ra và lớn lên nhưng chưa trọn vẹn tuổi hoa niên. Từng con đường, từng góc phố, những buổi chiều Hà Nội, Hồ Hoàn Kiếm, tất cả những hình ảnh ấy hiển hiện trong đầu chúng tôi. Chúng tôi mới xa Hà Nội mây năm trời không thể mỗi lúc quên ngay được. 
Cả quán cà phê đều im lặng lắng nghe. Hình ảnh cô Ngọc, cô con gái chủ quán dù bây giờ mặc áo bà ba phin nõn vẫn còn dáng dấp gái Hà Nội, mái tóc thề buông lơi….. 
Mặt Lê Đình Điểu coi dị hợm vậy mà lúc này cũng trở nên thơ mộng. Bài ca sắp dứt. Lê Đình Điểu ra hiệu cho cô Ngọc với lời yêu cầu: 
– Xin cô cho nghe lại một lần nữa được không? 
Thay bằng câu trả lời, Ngọc nhoẻn cười rồi tới bên máy. Bài hát Hà Nội lại cất lên. Bỗng nhiên cả quán nghe tiếng tiêu ai đó cất lên hoà nhịp, tiếng tiêu nghe du dương và điêu luyện, như tiếng tiêu của Tô Kiều Ngân trong chương trình thơ Tao Đàn của thi sĩ Đinh Hùng của đài phát thanh mỗi tối. 
Ở góc quán, một gã choai choai mặt rỗ, gầy gò đang say sưa thổi tiêu, hoà nhịp cùng lời ca trong dĩa nhạc. Đôi mắt gã khép hờ, những ngón tay điêu luyện láy lia qua lỗ tiêu, ống tiêu trúc đẹp lên nước vàng óng. Cả quán im lặng lắng nghe cho đến dứt bản nhạc, có vài tiếng vỗ tay lốp bốp tán thưởng. Một bản nhạc khác nổi lên, nhưng hình như chẳng có ai chú ý, họ lại nói chuyện riêng, có bàn đọc thơ nho nhỏ cho nhau nghe. Anh bạn triết gia kiêm thi sĩ ngồi một mình, thái độ ra vẻ mệt mỏi chán chường. Riêng tôi thì để ý đến anh bạn mặt rỗ thổi tiêu. Tôi khẽ hỏi Lê Đình Điểu: 
– Nhân vật nào đó bạn? 
– Thi sĩ Hoài Nam, bạn không biết à? 
– Thi sĩ? 
Tôi hỏi bằng giọng thán phục vừa có vẻ ngạc nhiên. Lê Đình Điểu tỏ ra hiểu biết, giải thích với tôi. 
– Đúng vậy, hắn di cư vào đây có một mình, một thi sĩ có tài, thơ anh ta đăng rất nhiều trên các báo, chẳng được xu teng nào hết, vẫn phải sống bằng nghề bán báo và bỏ báo tư gia, vẫn đi học, học hành có vẻ bấp bênh lắm. Nhưng nghe nói hắn thông minh tuyệt vời, học gì chỉ thoáng cái là hiểu…hiện đang trại học sinh Phú Thọ. 
Nghe nói đến nơi đó, tôi rụng rời. những trẻ em di cư khốn khổ, sao mãi chẳng thấy ngài nhà báo nào nói lên chuyện đó. Tôi thầm đe, khi nào tôi thành nhà báo tôi phải tố cáo sự ngược đãi đó, nhưng sau này khi tôi thành nhà báo thì trại học sinh Phú Thọ đã giải thể. Những kẻ quản lý trại ấy đã trở nên giàu sụ. Tất cả những sự thật đau thương bắt buộc phải rơi vào quên lãng. 
Tôi nhìn sang anh bạn mặt rỗ mỉm cười thân thiện. Hoài Nam cười lại với tôi. Thế là tôi có thêm một người bạn, tôi mời anh bạn sang ngồi cùng bàn. Đúng như lời Lê Đình Điểu nói với tôi về hoàn cảnh anh. Trong câu chuyện, tôi nhận xét Hoài Nam có tật nói lắp (cà lăm).
Điều thú vị nhất là Hoài Nam cho chúng biết sáng nay anh mới trúng giải nhất thơ do đài phát thanh tổ chức. Anh cười vui vẻ với chúng tôi. Nụ cười anh dễ mến: 
– Này các cậu à, một chút xíu nữa thôi ở quán này mở radio sẽ thấy họ tường thuật đầy đủ, tớ không nói phét đâu. Các cậu không thể tin được một thằng nhóc như tớ lại trúng giải nhất thơ, trong khi nhiều nhà thơ già, râu dài đến rốn ” té ạch đụi ” hoặc chỉ được giải khuyến khích. Đó là sự thật, ai ngờ một thằng nhóc 13 tuổi như tớ, ngèo khó xấu xí lại biết làm thơ…. 
Tôi tò mò hỏi tới: 
– Vậy cậu làm cách nào lãnh giải được? 
Hoài Nam cười láu lỉnh: 
– Ấy đó mới là vấn đề, cả ban giám khảo, toàn là những nhà thơ lớn và nhạc sĩ tiếng tăm đều sửng sốt khi thấy tớ bước lên đòi lãnh thưởng, tớ chẳng có gì chứng minh tớ là Hoài Nam hết, vả lại tớ nhóc quá mà. 
Lê Đình Điểu nóng nảy: 
– Vậy cuối cùng người ta giải quyết ra sao? 
Hoài Nam càng tỏ ra duyên dáng: 
– À, thế này nhé, một vị trong ban giám khảo bèn đề nghị trắc nghiệm tớ, bằng cách phải tự ngâm bài thơ trúng giải, đồng thời ra đề tài cho tớ làm luôn một bài thơ mới trong mười phút. Tớ chỉ làm hết có năm phút, các vị giám khảo trắc nghiệm tớ hết 15 phút, cuối cùng phải cho tớ lãnh giải thưởng, lãnh giải thưởng xong tớ cuốc một mạch đi ăn phở Bà Dậu, không có độn cơm nguội, ăn luôn ba ly chè nữa, lang thang suốt một ngày, bây giờ thì bò về đây nghe nhờ radio. lúc nãy tớ cao hứng thổi sáo chơi may mà không bị ai đập cho một trận vì tội ngông. 
Thế là câu chuyện chúng tôi nổ như pháo. Tôi biết được thêm một phần thân thế của Hoài Nam. Anh cùng di cư với mẹ vào đây, lên tàu với mẹ ở Hải Phòng, vì mải chơi nên lạc mất mẹ từ dạo ấy.
Giọng Hoài Nam buồn buồn: 
– Có lẽ mẹ tớ mải đi tìm tớ nên nhỡ tàu ở ngoài Bắc rồi, biết bao giờ mới gặp lại được, lúc nãy nghe bài Hà Nội tớ xúc động quá, mặc dù chưa bao giờ tớ thấy Hà Nội. 
Chín giờ tối, theo yêu cầu, cô Ngọc mở radio. Bài tường thuật phát giải thưởng thơ. Phóng viên tường thuật lên tiếng một cách thảng thốt: 
– Thưa quý thính giả, điều bất ngờ nhất trong giải nhất thơ năm nay vào tay thi sĩ Hoài Nam, một thi sĩ hiếm có, vì anh là người lãnh giải thưởng cao nhất mà lại ít tuổi nhất. Thi sĩ Hoài Nam mới 13 tuổi. Chính ban giám khảo cũng phải nghi ngờ nên phải làm một cuộc trắc nghiệm tài năng của thi sĩ, cuộc trắc nghiệm vô cùng hào hứng, cuối cùng thì thi sĩ Hoài Nam được tráo giải thưởng. 
Tiếng vỗ tay rào rào, những lời tán thưởng và những câu trả lời cà lăm của Hoài Nam làm chính chúng tôi phì cười. Bài thơ trúng giải nhất của anh được chính anh ngâm lên, tiếng ngâm thơ ấm áp lạ thường, khác với lối nói cà lăm bình thường của anh. 
Buổi trao giải thưởng chấm dứt. Hoài Nam ngồi sượng sùng giữa chúng tôi. Nhiều tay văn nghệ choai choai trong quán nhìn Hoài Nam bằng cái nhìn vừa cảm phục vừa thân thiện. Cả cô Ngọc cũng nhoẻn cười thật tươi với Hoài Nam. Một nụ cười rất hiếm hoi của cô dành cho khách hàng. 
Buổi cà phê đêm chấm dứt, tôi gọi trả tiền, Hoài Nam giành trả: 
– Hôm nay tôi mời hai cậu, vì tớ là người trúng giải, lần khác những khi tớ đói rách tớ sẽ phiền các cậu nhiều. 
– Được thôi. 
Tôi ra ngoài quán dắt xe, hỏi Hoài Nam: 
– Xe đạp cậu đâu? 
Hoài Nam nhún vai: 
– Làm gì có xe, tớ chuyên viên cốc bộ mà, làm nghề bỏ báo cuốc bộ cũng tốt thôi. 
Tôi đề nghị chở Hoài Nam về trại học sinh Phú Thọ, còn Lê Đình Điểu phải về vì nhà bên Khánh Hội qua đến hai cây cầu dài. 
Tối hôm ấy tôi chở Hoài Nam về, nhưng không vào được trại vì quá khuya. Tôi cũng không về được nhà. Hoài Nam rủ tôi đi bụi đời, anh ta biết khá nhiều về những nơi sinh hoạt đêm, vì anh ta từng đi, từng sống như thế. Mắt tôi mở to ghi nhận những sinh hoạt về đêm của SG, có những cảnh đời vô cùng quái dị. Sau này chính là những tư liệu trong văn chương tôi. Hai thằng lang thang suốt đêm cho tới sáng. Chúng tôi tâm sự với nhau và trở nên thân thiết. Tôi mến Hoài Nam vì anh có rất nhiều tài trong lãnh vực văn nghệ. Anh hát hay và đàn cũng giỏi dù rằng chẳng biết nốt nhạc nào. Tôi nghĩ rồi đây Hoài Nam sẽ thành công. 
Sau đêm tôi bỏ nhà đi bụi đời với Hoài Nam, căn gác xép nhà tôi trở thành căn gác văn nghệ cho những ngưởi bạn văn nghệ choai choai của tôi, trong đó có Đỗ Quý Toàn, một tài năng thơ văn và học rất giỏi, anh thường xuyên giật giải thi toán toàn quốc mỗi năm mà mẹ tôi thường phải thay mẹ anh ở xa, làm phụ huynh đưa anh đi lãnh giải. 
Những bữa cơm canh cua rau đay, cà pháo chấm mắm tôm kiểu Bắc Kỳ thu hút một số đông bạn bè mới. Tất cả những bạn bè tôi đều gọi mẹ tôi bằng mẹ. 
Ngoài chuyện học hành, những truyên ngắn của tôi lại xuất hiện trên báo, cũng như những bài thơ của Hoài Nam. Chúng tôi trở nên thân thiết nhau như ruột thịt. 
Riêng chú tôi, thỉnh thoảng ông đến thăm gia đình tôi, ông không lấy gì làm hài lòng. Tôi nhớ mãi câu chú nói với mẹ: 
– Chị cứ chiều nó rồi nó đến hỏng mất thôi, năm sau nó thi trung học rồi đó. 
Buổi chiều mưa, ngồi trên gác xép nhìn xuống con hẻm lầy lội, tôi lại ngẩm nghĩ đến lời nói của chú tôi. Tôi ưu tư về tương lai. Nghoảnh lại nhìn đứa em ê a học bài. Tôi nói với nó: 
– Rán mà học đi, đừng như anh. 
Tôi vô tình nói đúng như lời của cha tôi thuở nào, khi ông là họa sĩ, nhưng tay đã run vì cơn bệnh sốt rét kinh niên mang từ rừng núi Việt Bắc về. Cửa hàng cơm bình dân của gia đình tôi ở góc phố Trần Nhân Tôn, phố Huế, nhìn sang bên kia chợ Hôm Hà Nội, khách hàng ăn cơm đều là lao động bình dân. Tôi thấy cha tôi bưng cơm, rửa bát phục vụ luôn tay. 
Thời gian ấy, tuyệt nhiên tôi không thấy cha tôi nói đến chuyện nghệ thuật.

Vàng phang vô ngực

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 12 Apr 2024

Trong tấm ảnh chụp vào năm 1956, Pablo Picasso (PP) đang phân trần điều gì đó với Brigitte Bardot (BB), 22 tuổi, ngồi dáng nhu mì tựa một cô người mẫu thực thụ. Nếu bên Mỹ, Marilyn Monroe (MM) là biểu tượng của sex thì ở Pháp, BB cũng đoạt lấy tước hiệu ấy vào những năm đầu, 1960 trở đi. MM chỉ cao 1m66 trong khi BB trội hơn, 1m70 và kém đàn chị MM tám tuổi. Cả hai là diễn viên điện ảnh nổi tiếng và danh hoạ Picasso chưa hề mang chân dung rạng ngời cũng như hình thể bốc lửa của BB vào tranh ông. Ông từ chối vẽ chân dung người đẹp Pháp quốc mà không buồn đưa ra lý do.

Bức ảnh này luôn là nguyên cớ khiến tôi nhớ, mãi dằn vặt về tháng ngày cũ. Quá khứ luôn là bức tranh trắng đen. Và một bức ảnh đen trắng bao giờ cũng gây cho tôi chút bồi hồi khi ngó tới, để hồi tưởng. Có thứ gì đó tiềm ẩn, nó lấn nhẹ vào hồn để kịp nhìn ra sự thổn thức vừa vụt qua. Tôi là hoạ sĩ tơ lơ mơ, chưa thành danh, chưa tạo dựng được cho mình một thủ pháp cá biệt và XX mãi là “người đẹp trong tranh”. Tôi gọi Xuân Xanh là X bình phương. Cô thích tên ấy, thoạt đầu, nhưng sau thì chẳng mặn mòi gì. Sao vậy? Nếu tam thừa, làm ba cái mẫu tự X thì thấy phát rồ… Ghê rợn. Cô chấm câu.

Thường thì một hoạ sĩ, họ trải qua nhiều phen thử nghiệm trong chặng đường sáng tác, tự truy tầm cái đẹp. Người ta phân định để chia từng giai đoạn, thời kỳ xám, thời kỳ hồng, thời kỳ xanh… XX cao bằng BB, nghĩa là cũng một thước bảy giống tôi, khi tôi gặp cô đó là lúc cô vừa gượng dậy sau cuộc hôn nhân chỉ kéo dài chưa tới một năm. Chuyện buồn tác hại khiến dung mạo cô có nét quyến rũ ngoài ý muốn. Và thú thật, tôi rất mặn nét thất thần trên gương mặt ấy, khu biệt một nỗi niềm. Đó là thời kỳ xám của riêng cá nhân cô. Để khỏi hư hao, gia đình cũng như bạn bè xúi dục cô hãy đắm mình vào một thứ công chuyện gì đó. Lu bu là liều thuốc an thần và như thế cô trở thành ba đầu sáu tay khi nhảy ra thương trường làm bà chủ một quán cà phê.

Tôi dọ ra địa chỉ, tìm tới Cà phê Xuân Xanh vì nghe có người quen bảo, quán ấy có treo một tấm tranh của tôi. Thành phố này có ức triệu cửa hiệu cà phê, khách tìm tới kéo ghế đôi khi không hẳn để nghiện thứ nước đậm đen chảy rỉ rả từ phin lọc. Một khung cảnh, một bóng hồng, một giá mềm… một vạn nguyên cớ. Tôi không nhớ thời điểm tôi vẽ nên bức tranh nọ, có lẽ đã lâu lắm rồi. Giá trị duy nhất của một cuốn lưu bút mang lại, là khi đã rời xa trường lớp, tình cờ được đọc thấy những hàng chữ vụng dại ngày xưa, không ai trong chúng ta sẽ dửng dưng. Choáng ngộp thứ cảm xúc lạ lẫm để gầm mặt với bao buồn vui. Tôi ngồi ngắm mê mải, nếu không có chữ ký ở góc tranh tôi chẳng đoan chắc nó hiện hữu bằng vào thành quả lao động của người cha bội bạc này. X bình phương không biết tôi là tác giả bức tranh, cũng như tôi chẳng hiểu do đâu cô có được nó. Tôi đang cố tập cho mình sự kiệm lời, nói năng làm gì, đặt dấu hỏi làm gì, mọi thứ rồi cũng sẽ bị lột trần dưới ánh sáng mặt trời. Không nói, nhưng mắt tôi vẫn luôn bị nhan sắc cô trì kéo. Một con mắt có đuôi. Không chừng đó là năng khiếu mẫn cảm của một hoạ sĩ, về sự thẩm định đồ vật qua mắt nhìn riêng lẻ của hắn ta. Tôi yêu câu nói của Picasso: Những gì bạn có thể tưởng tượng, chúng đều hiện hữu. Tôi cũng yêu lời phát biểu của Marilyn Monroe: Muốn giống một ai khác đồng nghĩa với lãng phí chính bản thân bạn.

Tôi là khách quen mặt của quán Xuân Xanh. Tôi vẫn ngồi ở cái ghế kê trực diện tới tấm tranh tôi chưa nhớ được tên đặt cho nó, trước đây. Tôi đã trải qua những trận đói mờ người, muốn sống còn tôi phải bán đi bao nhiêu thứ quý giá. Vật bất ly thân còn đội nón ra đi huống hồ là những bức tranh chẳng biết hô lên một cái giá tiền. Bụng no đủ lúc đó nhưng cái xót dạ thì mãi dây dưa lâu dài. Tôi không thể tự mình gầy được một cuộc triển lãm cá nhân bởi dễ hiểu, tôi chẳng có trong tay đôi ba tác phẩm để trưng bày.. Vẽ xong tấm nào thì có đứa tới gõ cửa cà khịa, tiền trao cháo múc. Chúng nhìn ra sự đớn hèn của tôi, có đứa ác miệng nói: Vẽ tranh để mà tế à? Cầm tiền mà bồi dưỡng xác thân đi ông thánh…

Tôi ngó đứa con tinh thần xanh xao treo trên vách, ngó cho tới lúc có người án che. Anh uống thêm thứ gì không? Đích thân cô chủ quán bước lại gần, hỏi han. Uống một cốc cà phê mà ngồi cả nửa ngày thì có chướng không. Nếu chẳng gọi thức khác thì lời gợi mời kia được hiểu là đuổi khéo. Thú thật là tôi chưa định được chốn đến nhưng e rằng tôi nên bước khỏi nơi làm ăn của người ta. Tôi chuẩn bị đứng lên thì cô chủ quán tự động gọi đứa chạy bàn mang ra hai cà phê đen đá. Một cho chủ một cho khách. Và chủ nói với khách, cho tôi mời anh. Cô còn mời tôi điếu thuốc Craven-A. Con mèo đen là nhãn tôi quen hút khi tiền bạc rủng rỉnh. Hình như anh sinh hoạt ở lãnh vực tạo hình? Do đâu cô hỏi vậy? Thứ nhất, anh ưa ngắm bức tranh ấy. Thứ hai, những ngón tay anh, có ngón chùi chưa sạch vết sơn. Thay vì xác tín, tôi ngó cô chủ qua màn khói thuốc. Trong khi vẽ, tôi thường lùi xa tấm tranh để thẩm định với con mắt nheo vấn vương khói thuốc hệt thế. Một hoạ sĩ, một nhạc sĩ, một thi sĩ, một văn sĩ, nói chung là giới nghệ sĩ đa phần thảy vin nhờ vào khói thuốc. Tôi chẳng hàm hồ đâu, thiếu điếu thuốc gắn vào môi, nguyên ngày Albert Camus không viết được một câu văn.

Tôi hỏi một câu không nên hỏi, có đặng chăng? Anh cứ hỏi, còn trả lời hay không tuỳ thuộc về sự tế nhị nằm trong dấu hỏi ấy. Nếu có người muốn mua bức tranh kia, thiết tha được sở hữu nó thì cô có vui lòng bán đi? Không, mặc dù tôi chưa nhìn ra cái đẹp nó mang. Tôi chưa túng bấn đến độ phải bán đi một kỷ niệm. Cà phê đá nó ngon theo cách của nó, khác với cà phê nóng mà tôi uống vào đầu ngày. Thơm, ngọt, mát, chưa tính đến tiếng rộn ràng của những viên đá xô ngã trong ly thuỷ tinh. Lần đầu, tôi phát hiện cà phê quán Xuân Xanh ngon, đậm đà. Một kỷ niệm? Phải, một người bạn mang tới làm quà cưới. Tôi ấp úng trong khi dụi điếu thuốc chóng cụt: Không hẳn kỷ niệm là thứ buộc mình phải lưu giữ mãi. Tôi hiểu ý của anh, có những kỷ niệm nhắc mình nhớ lại một cơn đau, nhưng với tôi giờ này, tôi thích nhìn nhận nó, quả cảm là sự lựa chọn hay nhất sau mỗi một tai nạn. Nếu tôi có một bức tranh đẹp, cô có sẵn lòng cho nó một bức vách trống để treo lên. Ồ, còn gì thích thú hơn, sẵn tôi cũng chủ quan để nói, là linh tính của tôi dự báo về anh lần này không sai trật. Về điều gì? Về con người anh, tôi chẳng tìm ra lý do để phòng thủ khi kề cận bên anh.

Dần dà, cô chủ Xuân Xanh gần như trút bỏ được thời kỳ Xám. Chuẩn bị bước vào giai đoạn Hồng hay Xanh? Tôi chẳng có linh tinh giác quan để khẳng định được. Tôi vui vì ít ra tôi là kẻ góp phần giúp cô đẩy lùi bao phiền muộn mãi ám ảnh. Tôi vui vì cô xem tôi là một thành viên thân mật của quán cà phê Xuân Xanh. Có bữa, cô quyết định đóng quán sớm hơn lệ thường, vào lúc chín giờ tối. Phút cuối cô mới cho hay đó là ngày sinh nhật của cô. Quán ở ngay góc phố nên chẳng khó việc sắm sửa bánh trái, những phụ tùng râu ria buộc phải có trong một bữa ăn mừng đánh dấu người thêm tuổi. Tôi suy nghĩ, sau cùng mang lại một bức tranh khổ nhỏ, gói kín có thắt nơ. Tôi cạo râu, tôi tắm táp, tôi thay đổi xiêm y thôi bụi bặm rồi bắt xe ôm lòn lách giữa những con đường đến quán trông như dài hẳn ra.

Bài hát Happy birthday là đoạn nhạc chẳng mấy hay nhưng khi người ta mãi sử dụng, biến nó thành sản phẩm độc tôn, nó trở nên một thứ giá trị không thể đụng hàng. Chữ M rất đỗi xấu xí của thương hiệu McDonald’s do trụ được lâu nên dần dà nó buộc người đi đường phải tập quen mắt nhìn và bọn con nít sẽ reo lên khi phát hiện nó từ xa. Cũng vậy, một người con gái trời bắt xấu, nếu bạn trì chí lân la bên cạnh dài lâu, sẽ có lúc bạn nhìn nhận ra nét quyến rũ cô ấy mang. Xuân Xanh có thể chẳng là tuyệt sắc, nhưng dưới nhãn quang tôi, không gì phù hợp cho bằng, rằng gương mặt sầu muộn kia được mang đặt vào giữa bức tranh. Tôi cố sử dụng, kích thích bộ nhớ buộc chúng phải ghi nhận, để có khi, nay mai tôi sẽ miệt mài dựng hình theo trí nhớ.

Ba cái bàn vuông được ráp lại thành một. Bốn nhân viên trong quán kể thêm hai người bạn thân được mời, tôi và cô chủ xị rộn ràng ngồi xuống chiếc bàn dài có phủ khăn trắng, có bày bình hoa hồng tươi. Bánh gâteau dấu trong tủ lạnh đã cắm sẵn cây nến hình số 34, trước khi nó bị phanh thây mọi người nhậu lai rai những món hải sản có bia rượu đi kèm làm lực đẩy khơi mào những câu chuyện mà thường ngày chúng chẳng có cớ để hiện hình. Bất ngờ là tất thảy đều có một tửu lượng đáng gờm, như thể họ sống lâu dài với niềm đau và phương cách dụng tửu giải sầu đã thôi còn hiệu nghiệm. Sầu vẫn còn đó mà rượu đã lờn, thôi gây chếnh choáng. Họ là con cháu của dân nhậu miền Tây Nam bộ, kể cả cô chủ quán cà phê. Cô đặt ly xuống, cạn đáy, liếm mép, nhìn tôi, mắt long lanh. Tôi không là tửu đồ, uống rượu, với tôi như kiếm tìm một sự can đảm. Chất xúc tác của nó làm mình hành sử khác thường, chu toàn những công việc khó ăn khó nói mặt dạn mày dày phàm phu tục tử. Rượu là thứ để bôi mặt kẻ mày bởi tôi tuyệt không phải là trang nam tử hảo hán đầu đội trời chân đạp đất coi trọng chiến hữu đang chung mâm, đang bạt mạng rượu vào lời ra. Hề, hãy rót thêm ra, hãy xé ngang tờ bạc năm mươi. Rượu đưa ngang như vàng phang vô ngực!

Trong suốt câu chuyện xa gần họ góp tiếng, tôi vẽ ra được một đoạn phim chắp vá về số phận cô hàng cà phê. Họ lấy làm ngạc nhiên vì nhân vật chính thay vì căm hận kẻ phụ bạc, cô vẫn dùng mỹ từ khi nói về tên đàn ông kia. Có nghĩa là với Xuân Xanh, hoàn toàn chẳng có con đường nào mang tên cul-de-sac cả. Tấm lòng của cô vẫn có đó một thông lộ, dẫu bé nhỏ nhưng luôn cần thiết cho kẻ hoàn lương lòn lách. Càng ngấm rượu khuôn mặt cô càng mềm ra mà biểu tượng của nó không gì khác hơn là đôi mắt dâng đầy lệ. Khi cô nói “rượu đưa ngang như vàng phang vô ngực” là lúc có đôi giọt nước mắt rơi nhanh xuống khăn trải bàn. Chùng vụng nhưng tôi kịp nhìn thấy. Để kết thúc những nghi ngờ, Xuân Xanh đặt dấu chấm xuống bàn tiệc: Sau tất cả những vấn nạn, bạn nên tha thứ cho người khác, không phải vì họ xứng đáng với điều đó mà chính bạn xứng đáng được hưởng sự bình yên.

Tôi bắt đầu sống với những xáo trộn sau bữa tiệc mừng sinh nhật kia. Xuân Xanh biểu tôi chở cô về nơi tôi tạm trú, lý do cô đưa ra là xem sinh hoạt của một tay hoạ sĩ nó “kinh khủng” đến chừng nào. Lúc ấy đã khuya và một kẻ lỡ uống quá chén như cô hẳn sẽ chẳng còn lòng dạ nào để thăm thú cái giang sơn bừa bộn nồng mùi sơn nơi tôi ở. Cái cô cần là một bồn nước nóng pha tinh dầu để ngâm thân. Một ly nước chanh vắt để giải độ cồn. Một mặt nệm êm ái… Và đó là những thứ tôi không tài nào có được. Tôi không thích làm đứa theo cơ hội chủ nghĩa. Tôi chẳng muốn mang cô ra khỏi cơn say để đối mặt với sự bẻ bàng đầy tủi hổ. Tôi yếu đuối để hỏi nơi cô ở, chở cô về, nhìn cô đi khuất sau cánh cổng mới rồ xe chạy vụt đi. Tới phút giây đó tôi vẫn chưa nói cho cô hay là tôi đã thầm yêu cô. Những người bạn tôi có đứa khi phê phán tôi đã trích dẫn lời Trần Dần: “Những cột đèn không điện, những cột điện không đèn”. Ừ, cuộc sống tôi thường lu câm, ở mọi mặt.

Chỗ tôi ngụ nằm ở vùng trũng thấp, mưa một trận lớn thường biến khu vực thành suối sông. Người bạn nói như vậy nguy hiểm quá, người úng thuỷ không sao nhưng tranh, những tấm bố của cậu có nước phải quẳng đi, vẽ thế chó nào được. Nó tận tình dọ hỏi giùm tôi một căn hộ ở nơi cao ráo, đặc biệt giá thuê rất mềm. Thấy hợp tình hợp cảnh, tôi chỉ có biết hát khúc giã từ đường xưa lối cũ. Đồ đoàn chẳng nhiều, thuê xe ba gác thồ nửa ngày là xong. Tôi khoá cửa, thọc tay túi quần đi tham quan một vòng quanh khu phố mới cho biết sự tình. Tôi thích cái công viên lắm cây xanh và đằng sau ẩn hiện những mộ bia của một nghĩa trang bỏ hoang, tàn phế. Cả hai có vẻ sống chung hoà bình với tịch lặng, với bóng nắng, với tiếng chim sẻ hót líu lo trên những tàng lá chao gió. Tôi vào đó ngồi hút thuốc, lơ mơ chưa định được những gì mình sẽ làm. Nếu đắp mặt một vuông báo để ngủ trên cỏ thì thú quá, chẳng có gì phiền toái.

Một người đàn ông cỡi xe gắn máy thắng đứng, tắt máy, mang xe vào dựng sát chỗ tôi ngồi. Cởi nón bảo hiểm và nụ cười nở ra trên môi, trên một khuôn mặt xa lạ. Hắn gọi đúng tên tôi và thông báo sẽ mang đến tôi một thương vụ béo bở. Hắn chồng trước cho tôi một nạm tiền, lớn không kém cục gạch, sau khi tôi vẽ xong bức sơn dầu khổ lớn, đạt yêu cầu hắn đưa nốt hai cục gạch khác, dây nhợ chằng cột tử tế, vuông vức. Hắn nhún vai, nói chung đó là một hợp đồng dễ ăn, quy ra tiền Mỹ không dưới năm trăm đô. In God We Trust. Tôi ngồi so vai, cái chải chuốt có ở người hắn làm tôi thêm xác tín, rằng đây là lần đầu tôi chạm mặt hắn. Tôi chưa quen ai ưa biểu lộ ra bên ngoài sự hào nhoáng của đứa lắm bạc tiền. Thú thật với anh là tôi chưa khi nào vẽ theo đơn đặt hàng cả. Có thể anh nhìn lầm đối tượng rồi. Hắn mời tôi một điếu thuốc Craven-A, khi cất lại vào túi áo, hoán đổi ở tay hắn là cái iPhone. Hắn nói, cũng có thể anh đổi ý khi nhìn tấm ảnh tôi nhờ anh phóng lớn thành tranh. Hắn dí cái màn hình vừa thắp sáng trên máy điện thoại thông minh vào mặt tôi. Một người đàn bà khoả thân nằm hớ hênh trên giường, nằm với tư thế gợi mời chẳng ngại phô bày những vùng nhạy cảm. Và người đàn bà ấy mang khuôn mặt của Xuân Xanh.

Tôi sẽ in nó ra trên giấy, sẽ trao vào tay anh nếu anh thấy hứng thú để bỏ công thực hiện. Tôi nhớ không lầm là hoạ sĩ Gustave Courbet, người chủ trương nghệ thuật không nguỵ tạo có nói: “Tôi chưa hề thấy qua một thiên thần, và tôi thì không thể vẽ những điều không thấy”. Hắn nói tiếp, với anh, người trong ảnh không phải là một thiên thần sao? Tôi ngó sâu vào mắt hắn, cố tạo sự dửng dưng: Với tôi chẳng hề có thiên thần cũng như ác quỉ, chỉ có người và ngợm thôi. Và nếu chu toàn việc anh bỏ tiền ra thuê, không chừng tôi trở thành ngợm mất. Và anh, anh đâu muốn dây dưa với ngợm, đúng không?

Tôi vẫn đến ngồi ở quán Xuân Xanh. Cô ấy đã hay biết tôi là cha đẻ bức tranh phiêu dạt mà cô đang làm chủ. Tôi thông báo cho cô hay là tôi đã dọn tới một chỗ ở mới, khá xa. Tôi tuyệt không kể lại lần gặp gỡ bất ngờ với người chồng cũ của cô. Điều ấy sẽ gây cho cô sự khó xử khi tôi nói tới mục đích hắn muốn nhờ cậy. Dầu gì thì tôi cũng đã lỡ nhìn thấy toàn bộ những vùng kín trên cơ thể cô, và điều này khiến tôi bức rức ít nhiều. Một sự ám ảnh thì đúng hơn. Thay vì chóng hoàn thành, bức chân dung tôi vẽ XX vẫn dở dang. Một sự khiếm khuyết nào đó can dự để tôi chẳng tài nào hoàn chỉnh được nó.

Rồi một bữa mưa giông đổ về rầm rộ, Xuân Xanh trao tặng tôi bức tranh tôi vẽ thuở đầu đời luôn treo ở quán. Châu về hiệp phố, nó rơi vào tay anh là cả một sự hợp lý. Cô cho hay sẽ thôi bán buôn, sẽ lẫn tránh cuộc đời này. Lần nhậu tới đỉnh vừa qua, tôi tính tặng anh món quà ý nghĩa hơn, đáng nhớ hơn, nhưng đã chẳng thực hiện được. Lạ lùng là thứ tình cảm giữa hai đứa đã làm rào cản, thay vì nó xúi dục mình vượt qua. Những người phụ việc trong quán đã chia nhau các đồ vật lẻ tẻ rơi rớt, bàn ghế ly tách nồi niêu máy móc dụng cụ pha chế cà phê thì đã bán tháo cho một tổ hợp chuyên đi thu mua. Tôi đi xa, tôi sẽ nhớ anh như nhớ thành phố này. Sao anh câm lặng mãi thế? Sao anh không chất vấn tôi? Cô ôm lấy tôi, hôn tôi với giọt nước vừa hình thành ở khoé mắt. Nó chảy xuống, mặn môi. Tôi nói trong ngạt thở, thiếu dưỡng khí: Vậy là tương lai, chúng ta chẳng có gì để cho nhau. Đành đoạn.

Đó là kỷ niệm, là hình ảnh cuối. Xuân Xanh lấy chồng, một ông Việt kiều đầu hai thứ tóc. Cô dắt ông ta làm chuyến xuyên Việt, có thể sang thăm xứ chùa tháp, đi Cam đi Sin trước khi biền biệt lặn mất bên nửa kia địa cầu.

Ngày trước, chúng tôi thường có với nhau những buổi chiều riêng lẻ. Ngồi bên thềm vắng, gần nhau, tựa như danh hoạ PP với diễn viên BB. Tiếc là chẳng ai chụp cho tôi một tấm ảnh giống thế, tiếc là tôi đã ngụp lặn đời mình trong thứ ao tù nước cạn quánh đặc bùn. Giờ này tôi mong gặp lại người chồng cũ của XX, để xúi hắn kể về cuộc tình xưa. Để nói cho hắn biết là XX đã vừa lấy chồng. Sẽ thôi hiện diện ở xứ sở này. Và đưa ra câu hỏi, khi nghe tin ấy, trong bạn có chất chứa một nỗi buồn, không lối thoát?

Hồ Đình Nghiêm

Vang Lu

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 08/09/2017

Post by Sơn râu 12 Apr 2024

Ba tôi không thích thơ văn ca nhạc kịch hoạ. Ông ham chuộng những thứ dính líu tới thể dục thể thao. Một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện là thứ quan niệm luôn trường tồn, luôn bám trụ trong đầu óc ba tôi.

Mạ tôi khác, văn nghệ văn gừng bộ môn nào cũng có hấp lực mà bà yêu thích nhất là tiểu thuyết và kịch nghệ. Mạ hút thuốc ghiền trà xanh và cuối tuần vẫn gầy sòng bài với các bà hàng xóm. Đánh nhỏ thôi, thường huề vốn sau nửa ngày mụ mị với canh sát phạt đỏ đen. Mua vui cũng được 5 giờ mỏi lưng!

Ba Mạ tôi hạnh phúc, bằng chứng là ông bà có được mười đứa con, cửa nhà luôn êm ấm. Một cặp đôi hoàn hảo, nói theo ngữ điệu của thời nay. Thì cũng đúng thôi, bởi căn bản của âm dương cô lại trong sự bù đắp giữa hai thái cực. Giả thử cả ông cả bà đều “trên cả tuyệt vời” thì mười đứa con chúng tôi đâu còn biết tới hai chữ hạnh phúc. Bởi muốn tựu thành hạnh phúc trước tiên người ta phải ngụp lặn trong bể khổ. Sở dĩ có người đẹp được xưng tụng là hoa hậu tại vì đã có lắm đứa mặt xấu đứng vây quanh. Hoa sen nở bông dưới hồ nước tanh e cũng cùng một nghĩa như nhau. Cần xét lại câu “em xinh em đứng một mình cũng xinh”. Chủ quan quá thể! Giả như có cô xinh hơn buồn chân ghé lại đọ dáng thì không chừng em xinh lại đổi thành cây trúc chân mọc đầu đình. Nôm na người ta luôn cần một cột mốc để định vị, một đối tượng để đối chiếu, so sánh. Bún bò bà Rớt nổi tiếng ngon, không đụng hàng vì ở Huế có trăm gánh bún khác ăn chẳng mặn miệng hơn. Ấy là lẽ thường vậy! Đời mới đẻ ra câu “nhất nghệ tinh nhất thân vinh”. Mới đây giáo sư Ngô Bảo Châu (nobel toán học) đăng ảnh chụp chung với bà Đỏ nức tiếng ở Huế về món bánh bèo bánh bột lọc, khoe trên facebook: “Ai ngờ mà bà Đỏ cũng là fan của mình!”. Hai nhất nghệ tinh mặt tươi như hoa vai kề vai nhất thân vinh.

Tựa bài là Vang Lu, thậm cắc cớ nếu dộng đầu vào trong cái lu, tai bạn khi đó sẽ nghe tiếng u u vang dội. Tối nghĩa. Nhưng nói ngược, nói lái không chừng lại hoá ra chữ Vu Lan. Vu Lan là gì? Trẻ lên mười chắc cũng tường bởi chúng sinh cứ nói miết cụm chữ “bông hồng cài áo”. Anh nào chơi bông trắng thì xem như tự khai: Tui đây mồ côi, mẹ cha đã mồ xanh cỏ. Hồng hay trắng chẳng quan trọng bằng mệnh đề: Bạn đã từng báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục? Mùa Vu Lan chỉ là cái dịp để nhắc bạn có ngần ấy thôi. Tôi vốn mang tội với song thân nên chỉ cho phép mình nói tới “vang lu” thôi. U u những kỷ niệm ngỡ đã vàng phai theo cỏ úa.

Vì chẳng mặn nồng với thơ văn nên ba tôi khi đặt tên cho con vừa chào đời, ông chỉ biết vay mượn địa danh chốn ấy. Ví dụ tên chị tôi ghi trong giấy khai sinh: Hồ Thị Lệ Hoà, được ông giải thích như sau: Vì mạ mi đẻ ở Cẩm Lệ quận Hoà Vang, có rứa mà cũng không hiểu! Ui, phải chi ba đặt tên con là Cẩm Vang không chừng lại nghe hay hơn! Con nít biết chi mà làm trạng. Ai biểu vừa lọt lòng mi cứ khóc liên hồi kỳ trận. Lệ là nước mắt. Rồi mới có chút xíu mà đã má lúm đồng tiền. Lệ là mỹ lệ đó con. Lớn lên mi đẹp nhứt xóm chớ không vừa đâu, tin tau đi.

Đến người con thứ ba, ông bị mạ tôi soán đoạt quyền hành “sáng tác” danh xưng. Lỗi lầm khó thứ tha với sự cầu chứng của ông thầy pháp và các vị có chức sắc trong làng: Dám mượn tên thần linh để đặt cho người trần mắt thịt. Chị ấy mất sớm, đã rong chơi ở một nơi cách biệt cõi trần. Thượng giới đã ban chiếu chỉ triệu hồi về tiên cảnh. Rất đẹp gái, rất thông minh, rất khoẻ mạnh. Đùng một cái, tin đâu sét đánh ngang tai, chị đang sống mạnh chuyển sang từ trần. Sau này, ba mạ tôi kể chuyện cổ tích cho mấy sấp nhỏ nghe chỉ dùng một tên gọi nói tới người vắn số: Chị Dại. Dại là niềm ăn năn của ba mạ tôi, dại cũng biểu tượng về một thứ gần như phản khoa học, hoang đường. Họ nói sao thì chỉ biết nghe vậy, đã dính dáng tới thần linh thì nên cung kính không bằng phụng mạng. Và “ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần”!

Một người sính thơ văn như mạ tôi không chắc khi đặt tên con lại nghe văn hoa hơn. Cũng khá là tuỳ tiện, bạ đâu xâu đó nhưng chẳng ai có ý kiến ngầy ngà cự nự. Thứ nhất, phải biết chia sẻ sự mang nặng đẻ đau của mạ. Thứ hai, nên tôn trọng chút kỷ niệm của bà, bởi không phải vô cớ cái mỹ từ kia lại hiện hữu, áp đặt vào tên gọi mình mang.

Ba tôi đã thiếu công bằng khi san sẻ tình yêu thương cho bầy con, ông bênh vực ra mặt những đứa học giỏi, có thể nhịn ăn tiêu để dành tiền cho “rường cột nước nhà” mua sách sắm vở tới thừa mứa. Ông nở mặt nở mày với lối xóm khi con mình phải kêu xích lô chở về nhà vì phần thưởng cuối năm học bọc giấy kiếng quá loạn, ôm không xuể. Mạ tôi khác, bà thương những đứa chậm lụt việc sách đèn mà trăm khi sổ thông tín bạ đều có lời phê của thầy cô bằng viết mực đỏ: “Chăm chỉ, cần cù nhưng sức học cứ không thấy có tiến bộ. Người nhà cần phải lưu tâm bắt trau dồi học thêm”. Ba tôi la mắng, thậm chí dùng roi vọt nhưng mạ tôi can ngăn, bà nói: Chỉ có thầy cô chẳng nắm vững phương pháp giáo dục chứ không nên phê phán rằng học trò dốt. Có sao người ta mới ta than “học tài thi phận” chớ! Mười người con, tôi là đứa dốt nhất nhà. Thuộc dạng “nước đổ đầu vịt” không thẩm thấu sách giáo khoa, toán lý đại số chui tai này qua tai khác mà chẳng điếc con ráy. Dĩ nhiên tôi được mạ thương vô số và cả mạ lẫn con đều phớt lờ lời ta thán của chủ hộ: Con hư tại mạ! Có phản pháo chăng, mạ chỉ bắn sẻ tiếng cắc bụp: Bàn tay thì có ngón ngắn ngón dài, thử tưởng tượng năm ngón đều bằng nhau thì coi sao đặng, dị hình dị tướng mất!

Tôi học dốt do bởi chong đèn thức khuya chỉ nhằm ngốn cho xong những truyện ngắn dài của Tự Lực Văn Đoàn, Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thuỷ Hử, Đồ Long Đao, Lệnh Xé Xác, Thiếu Lâm Trường Hận… thu thập cho có vốn liếng mà hầu chuyện với mạ mình những khi trà dư tửu hậu. Trong nhà, chỉ có mạ tôi là người mở đường cho việc tôi yêu thích văn chương thượng vàng hạ cám. Cầm cây vợt để đánh bóng bàn, đánh cầu lông mỗi sáng theo sự hối thúc của ba tôi làm sao sánh được nỗi khoái trá khi cuộn mình trong chăn để nghiền ngẫm bao hỉ nộ ái ố của cuộc sống do văn sĩ họ dàn dựng ra bằng con chữ? Lợi ích của thể dục thể thao là “không bổ bề ngang cũng tốt cho bề dọc” so ra vẫn kém hiệu quả nếu ta chuyển qua việc đọc, ngốn hết thiên kinh vạn quyển bàn về quân tử tiểu nhân, về triết lý sống, về nhân cách của từng nhân vật biến đổi theo thời cuộc éo le. Suy ra tôi mang nợ mạ mình nhiều hơn ai cả, bởi bà đã sớm “khai nhãn” cho tôi một cảm nhận về chốn bụi trần. Cố gắng thành thật, đừng lương lẹo dối trá ắt cuối đường sạn đạo sẽ có lối thông trong bình an. Mọi cuốn tiểu thuyết đều cố lý giải một chuyện: Khi anh trì chí trang bị tử tế, sẽ không có thế lực nào vùi dập được sự sắt son ấy. Văn chương gọi đó là “cái kết có hậu”, là happy ending.

Theo định luật bất biến mà thời gian mang lại, ba mạ tôi lần lượt phủi chân đi thăm chị Dại. Anh tôi, người học giỏi nhất nhà tuyên bố một câu phản khoa học: Ai chống được luật tuần hoàn? Nhiều tuổi thì buộc phải chết trước, ít tuổi thì chết sau. Anh quên chuyện hệ trọng mà sách vạn vật từng chứng minh: Có nhiều cây cổ thụ vẫn sống ngàn năm trong khi cây non tuổi lại chóng lìa thân gãy cành rã mục trong vườn hoang. Một anh khác cũng sáng dạ không kém, sống qua tri thiên mệnh cho tới cổ lai hy mới đổ bệnh, bệnh này bệnh nọ rồi cũng êm, anh bèn gửi email cho thằng tôi: Tao sống tới giờ này là nhờ trì chú đọc kinh. Gửi cho mi lá bùa này, cố học thuộc lòng sẽ tai qua nạn khỏi. Kèm dưới thư là sáu câu phiên âm từ tiếng Phạn, tiếng-người-ngoài-hành-tinh cực kỳ trắc trở chẳng Hán cũng nào phải Nôm. Tôi hỏi: Anh hiểu hết ý nghĩa của nó không mỗi lần xuống sáu câu? Hiểu mà nói làm gì. Không hiểu mới là phép màu chứ lỵ. Cứ ê a tụng niệm “không bổ bề ngang cũng tốt cho bề dọc”. Mày cũng lắm phen vào sinh ra tử, muốn kinh qua thì mày nương nhờ vào sức mạnh tâm linh nào?

Dạ thưa anh, tui chỉ nằm mơ thấy ba thấy mạ, tui nói thầm “mạ ơi xin cứu con hư, trăng thân mẫu chiếu chừng như chưa tàn”. Mang song thân ra để ỉ ôi xin xỏ so ra đáng làm hơn đọc ngược khẩu quyết Cửu Âm chân kinh như anh mụ mị thần hồn. Tà ma ngoại đạo cũng chừng mực nào thôi. Hiểu ở mặt nào đó, anh còn sống mà nào khác chi chị Dại. Còn nhớ chị Dại không? Khôn ba năm dại một giờ!

Người anh học giỏi nghe xong liền ân đoạn nghĩa tuyệt: Giờ ta mới hiểu do đâu ngày xưa mi là đứa học dốt nhất nhà. Tiếc công cho ta đã chí tình truyền cho lời hay lẽ phải. Mi nhỏ tuổi nhất nhà mà không chừng thác sớm hơn những kẻ già đầu vậy! Hai bàn tay mười ngón lần hồi rơi rụng dần, đưa lên dòm lại nhớ thơ Bùi Giáng “đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm”. Những người con mà ba tôi có thời gian nở mặt tâm đắc vì chúng chóng công thành danh toại có ngờ đâu giờ này sáng tối chở vợ lên chùa làm việc công quả trong khi ở nhà lạnh tanh chẳng lập bàn thờ cúng kỵ song thân. Đố anh vang lu là gì? Tiếng Phạn à? Hổng biết. Đố anh Vu Lan là cái chi chi? Mệt mày quá. Thương nhớ ai thì chôn trong lòng cũng đặng vậy, bày biện ra ngoài chẳng chừng mà mang tội trọng hình thức. A di đà Phật, tới giờ chở vợ lên chùa thắp nhang rồi. Bai.

Bây giờ, chốn đây đang là mùa tựu trường. Hai đứa con tôi sức học cũng thường thường bậc trung và dĩ nhiên vu lan là “ngoại ngữ” chẳng nằm trong bộ nhớ của chúng. Bông hồng hay bông trắng cài áo, với chúng là hình ảnh của hỉ sự khi mà những chú rể hoặc mấy chàng phụ rể có cớ để cài trên ngực áo vest lăng xăng vui vầy ngày trọng đại. Chúng hỏi ba viết “fiction” hay sao? Có ai đọc không? Ừ, chuyện giả tưởng và chẳng bận tâm về thành phần độc giả. Viết để tìm chút thăng bằng, để nhớ lại “my mother” và tiếc uổng là riêng độc giả ấy đã không chứng giám cho lòng thành “con nhờ mạ mà không hư”. Thi thoảng chúng có ra đứng dưới bàn thờ chắp tay cúi đầu, rồi nhận xét: Ba có nét giống bà nội chứ không đùa. Tôi cười, xém chút nữa diễn dịch ra ngoại ngữ cho chúng nghe câu “con trai giống mẹ khó ba đời”.

Đời con thiếu mẹ hỏng xôi
Dưới nồi cơm cháy đã thôi bát đầy
Mai sau tiếc nuối mặt nầy
Tro than nguội lửa thôi vầy khói tan
Con đừng nhắc chữ vu lan
Trong lu có đứa vừa can đoạn trường.

Hồ Đình Nghiêm
Đầu tháng 9, 2017

Vẫn còn sương mù ở London

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 04/10/2011  

Post by Sơn râu 12 Apr 2024

Hồ Đình Nghiêm và Stonehenge

Ngoài cửa sổ có cành cây thưa lá đong đưa, tựa tay dong vẫy chào. Dường như gió luôn lùa qua và mặt trời thì vẫn dấu mặt từ hai hôm nay. Những tảng xi-măng xám chận bít tầm nhìn, dãy nhà bên kia đường buồn câm như thứ sắc màu của một trần mây thấp, nặng trĩu nước? Khuất lấp từ đâu đó, có tiếng rì rầm cùa từng chuyến tàu điện băng ngang; tiếng kêu nghe bất thường cùa đàn quạ đen luôn khuấy động vào trí óc những điều không mấy vui. Hơi thảng thốt.

– Dậy sớm thế? Bên chỗ ông ở giờ này mới có hai giờ sáng.
Gia chủ mặc pyjama xộc xệch, vừa đi ngang và chấm dứt câu nói bằng cách đóng lại cánh cửa phòng vệ sinh. Những con quạ vẫn còn khản tiếng, như bài kinh cầu đọc chưa xong, trượt xuống từ những mái ngói đầy rêu xanh. Hai giờ sáng? Ở bên ấy hắn không nghe quạ kêu. Métro thì hoàn toàn di chuyển êm thắm dưới lòng đất chứ không trồi đầu lộ thiên như ở đây và người ta sẽ chẳng thể đứng dòm trời ngó đất giữa canh khuya được. Nằm trên giường, vùi mặt vào chăn gối, đợi bình minh gọi bằng thứ ánh sáng gắt gao của một ngày hè. Và ngày hè thì rỗi việc đến độ bần thần. Hắn muốn đánh đổi, muốn làm khác đi nên đã tom góp được ít tiền và chiếc vé máy bay British Airways khứ hồi làm hắn chóng mặt. Ðang cao điểm, muà du lịch. Bạn chẳng thể mua ở đâu với giá rẻ hơn. Người ta nói thế. Hỏi có ô-kê không? Hắn đắc-co và giờ này hắn đứng đây nghe quạ kêu giữa bầu trời xám đặc màu chì, nơi mà thời gian chạy trước chốn vừa rời đi những năm giờ sai biệt. “Mặt trời không bao giờ tắt trên đất nước Anh!” Câu nói thật quyền hành, thật cha chú. Sương mù sẽ chẳng tan trong đầu óc của những tên địa chủ.

– Muốn đi thăm thú mọi nơi ông phải ở đây khoảng một tuần.

Gia chủ đi ra, tiếng nước trong bồn cầu còn chảy xuống, rầm rộ đuổi theo sau lưng. Ðầu bù tóc rối, những chữ ấy không chỉ nhắm vào thành phần năng nổ lao động. Bạn hắn vừa thức giấc sau giấc ngủ và dẫu có mộng lành, người nằm trên giường thường không ngồi dậy với một đầu tóc ngó thẳng thớm. Có thể hắn góp phần làm nguyên nhân tạo cho mái tóc ấy rối thành một ổ quạ? Hắn đã từ xa tới dừng chân xin trú ngụ, làm xáo trộn sự bình thường mà người ta cất công tạo ổn định từ nhiều năm.

– Ông sang đây bao lâu rồi? Hắn hỏi.

– Hơn mười năm. Cho là vậy đi, tôi ngờ vực trí nhớ mình lắm. Tôi ngại sự hồi tưởng.

– Tôi cũng thế. Tuy vậy tôi còn nhớ một điều: Chúng ta xa nhau đã hai mươi năm!

– Dữ vậy à? Ðời sống là cái quái quỉ gì vậy? Hai mươi năm, nếu nghịch sớm, giờ này đã có cháu nội cháu ngoại đầy đàn rồi!

Gia chủ tóc đã điểm sợi bạc. Bụng đã lớn và có điều gì đó cướp mất sự linh hoạt nơi điệu bộ. Người Tàu họ thật hồ đồ trong những ví von, định nghĩa. Tri thiên mệnh là cái khỉ mốc gì? What the Hell…

– Ngọc ra sao? Bạn hắn lên tiếng khi xây lưng pha chế cà phê.

– Tôi không biết rõ, bởi vậy tôi sẽ đi thăm cô ấy.

– Thì ít ra ông cũng nắm bắt được một vài điều chứ? Về gia cảnh cô ta chẳng hạn.

– Ngọc đã ly dị, đang ở với một đứa con.

Cà phê giọt ngắn giọt dài chảy xuống từ phin lọc. Muỗng, đường, sữa… mọi thứ đều nằm sẵn ở bàn. Chiếc bàn rộng, còn bày ở đấy hai ba lon trà Ðài-loan, quà hắn mang sang. Những cuốn sách, đa phần đã cũ, nằm xa tầm tay với. Luân-đôn không hề có một hiệu sách của người Việt. Và người ta hãnh diện đó là thành phố mà bạn không tài nào nhìn ra một sợi giây điện giăng ngang. Mọi thứ đều được cất dấu vén khéo dưới lòng đất. Tựa con đường hầm băng qua eo biển mà hắn sẽ chui đi thăm Ngọc, sang tuốt bên Paris.

Hắn ngồi xuống ghế, ánh sáng ngoài cửa luôn yếu đuối vậy mà hắn thấy rõ một hàng chữ in trên gáy sách: La porte étroite. “Bạn hãy mạnh dạn đi vào khung cửa hẹp…” André Gide nói nhiều điều thú vị, nhưng chẳng phải là tác giả câu: “Hành lý nặng nhất của kẻ lữ hành chính là cái ví không tiền”. Nặng, nặng lắm. Hắn đã nhức mỏi đôi vai và quờ quạng đôi chân.

– Dạo đó, vì cớ gì ông và Ngọc phải chia tay?

Cà phê thơm tho xộc vào mũi. Chẳng có mùi gì thích hợp cho một đầu ngày bằng hương cà phê cả. Hắn gầm đầu vào tách nước đen sóng sánh. Ngọc cũng có một mùi hương tiềm ẩn nơi da thịt, nhưng đó gần là thứ hương dạ lý. Mùi của đêm hôm, của bóng tối. Có Ngọc kề cận, đêm sẽ ngạt ngào hơn, đằm thắm hơn; bóng tối sẽ dịu dàng hơn, huyền hoặc hơn, ngất ngây hơn.

– Dạo ấy tôi tập tành viết văn, có thể đó là nguyên cớ khiến gia đình Ngọc lãnh đạm ra mặt. Tôi thích nhất câu nói tát nước của ông bố Ngọc: “Bố mẹ mày, đồ bán trời không văn tự. Thứ nghèo đói mà luôn lếu láo…”

– Ổng chết rồi phải không?

– Tôi không biết. Có lẽ vậy. Người ta chẳng thể sống lâu với sự bẳn gắt đeo bên lưng gần như thường trực.

– Ông ta sẽ khác đi nếu có một thằng rể là bác sĩ kỹ sư.

– Tôi hy vọng thế.

– Chồng cũ của Ngọc làm gì?

– Nha sĩ.

– Vậy thì ít ra khi về già, ông bố của Ngọc sẽ có một hàm răng giả được tặng không, miễn phí.

Gia chủ nói, có vẻ mỉa mai, có vẻ so sánh. Làm như một thằng văn sĩ sẽ không giúp ích được cho một ai, suốt cả cuộc đời. Hắn nhấm nháp cà phê, nghĩ tới câu khôi hài từng đăng trên báo: “Ðừng dại uống cà-phê ở London. Bạn không thấy sao, nếu ngon, dân Anh đã không nghiện trà?!”

– Mấy giờ ông phải đến hãng?

– Tôi khai bệnh. Tôi không đành lòng để cho ông phải chịu vất vưởng một mình ở xứ lạ.

– Nghe ra như ông đang trò chuyện với một con ma. Như tôi là một oan hồn chưa siêu thoát.

– Tôi nói điều này ông đừng ái ngại.

– Về Ngọc? Hay một nhận xét về con người tôi?

– Về nhiều thứ… Ông tin chuyện ma không? Trong đời ông từng thấy qua người của cõi âm chưa?

Treo trên vách là bức ảnh đen trắng đóng khung một khuôn mặt phụ nữ. Người ấy đã thật sự khiếm diện, đã về với đất lạnh; đã làm căn nhà này trở nên quạnh quẽ toàn phần. Hắn nhìn lên, cảm nhận một nỗi buồn lẫn khuất.

– Tin. Tuyệt đối tin. Ngày mai tôi đi Paris rồi, cho tôi giữ kỷ niệm đẹp về ông, chớ kể những điều chẳng mấy vui.

– Nhác gan! Sao yếu bóng viá thế? Vợ tôi luôn là người không bao giờ làm phật lòng một ai. Ðêm qua ông ngủ ngon, có phải thế không?

– Không.

– Vì sao?

– Giờ giấc thay đổi. Lạ chỗ nằm. Những chuyện xưa cũ liên quan tới ông bỗng chốc uà về và nhất là nghe được giọng Ngọc trong điện thoại. Tôi trằn trọc, tôi nhớ những thứ vụn vặt về Ngọc. Chưa bao giờ trí nhớ tôi trở nên minh mẫn đến dường ấy.

– Tôi nghe phong thanh những điều không mấy hay về Ngọc. Cô ta sống có vẻ buông thả.

– Vậy sao?

– Sau khi vợ tôi mất, nhiều người có ý muốn giới thiệu cho tôi một vài cô bạn gái. Ai tốt ai xấu, cô này ra sao bà kia thế nào, họ biết rành rọt hết ráo. Người mình quả thật kỳ lạ. Thảy một phường công an! Trong cái danh sách bá tánh thập phương ấy có ai loáng thoáng nhắc tới Ngọc. Ông hiểu không?

Hắn thắp một điếu thuốc, thở khói xuống mặt bàn. Ngọc cũng hút thuốc, một đôi khi. Ðiều đó có phải làm xấu đi, bôi mờ cái hạnh kiểm của một người đàn bà?

– Ông có vẻ đăm chiêu? Chắc tôi chớ nên rườm lời. Ông sẽ gặp Ngọc, trực giác của một nhà văn sẽ bày ra cho ông một nhận xét đúng đắn nhất.

– Cám ơn ông. Tôi cũng không tò mò để hỏi rằng, ông đã có một cô bạn mới chưa?

– Mệt mỏi. Tôi chỉ biết trả lời có vậy thôi. Ở Soho, trên khu phố Tàu có những ổ nhện. Nếu cần, tôi lên đó chọn lựa và trả tiền sòng phẳng chuyện mua bán xác thịt. Thật khỏe trí. Nghĩ tới hò hẹn, đấu láo, diễn kịch, giả dối và thề nguyền. Của cải và sự chia chác phân công tiền chợ tiền nhà… Mọi thứ đó làm tôi sợ hãi. Một cái định nghĩa có thể chấp nhận được: Càng về già người ta càng giống như trẻ thơ.

– Trẻ thơ là hạng tuổi chúa đòi hỏi, chưa kể đó là thành phần ưa táy máy tay chân. Ngồi một chỗ không yên, sờ cái này, thử bóp cái kia, ưa thọc tay vào những hang ổ; lỗ cắm điện chẳng hạn.

– Ðấy, tôi sợ phỏng tay, sợ điện giật lắm rồi. Cho tôi xin hai chữ bình an!

– Tôi lại nghĩ khác, người ta đâm khó tính khi về già. Ưa bình phẩm, ưa bắt bẻ. Họ luôn để ý tới những tiểu tiết. Họ chẳng thể có được sự hồn nhiên như mấy đứa trẻ. Họ giống như những tờ giấy đã trải qua nhiều lần tái sinh.

– Ông ăn gì không? Bánh mì với trứng gà…

– Tôi không dùng điểm tâm, một tách cà phê và đôi ba điếu thuốc là đủ. Cầm cự cho tới trưa.

– Ở đây không bằng Paris, nói riêng về khoản ăn uống. Sang đó rồi, Ngọc sẽ tẩm bổ cho ông. Khi được tẩm bổ, được chìu chuộng, người ta sẽ bớt rắc rối khi nhìn ngó cuộc đời. Có đúng không?

Hắn nhìn vào mặt bạn, chẳng đọc được điều gì lạ. Vẫn khuôn mặt xanh tái chứa nhiều nếp nhăn, những chân râu mọc tùy tiện. Ðã hai ngày, hắn chưa ngó ra sự thư giãn có trên đó. Một gương mặt không hề thay đổi kể cả lúc bỡn cợt.

– Ông còn nhớ thằng Trí không?

– Trí nào?

– Lý ra ông phải biết nó hơn ai hết. Trí mà hồi xưa từng có chân trong đội bóng của Tổng cục Hoá chất đó.

– Trí nhớ tôi đã suy. Chịu! Tôi chỉ biết Cảng, biết Tổng cục đường sắt, biết đội tuyển Công an…

– Ðám tang vợ tôi có mặt Trí. Nó hiện ở Bỉ. Có dạo nó đi Paris về, mặc trên người chiếc áo T-shirt và ưỡn ngực ra khoe: Quà của Ngọc đấy… Ông ưa nghe kể tiếp không?

Hắn uống hết những giọt đắng cuối. Lạnh, lợn cợn xác cà phê nhám hột trên đầu lưỡi. Bao thuốc Lucky chỉ còn một điếu.

– Tại sao không?

– Chiếc áo trắng, in công phu tựa hồ một bức tranh thuỷ mặc mà Ngọc cất công lựa mua ở trong một thương xá trên Avenue des Champs-Élysées.

– Rồi sao nữa?

– Áo in nhạt hình thiếu nữ khỏa thân, một bên có hàng chữ Tàu viết thật bay bướm mà Trí thắc mắc không tài nào hiểu lấy nội dung.

– Ông thì sao? Ông đọc có được không?

– Dĩ nhiên. Ðó là câu nói nổi tiếng của vua Hán Vũ Ðế: “Năng tam nhật bất thực, bất năng nhất nhật vô phụ nhân”. Nghĩa là: có thể nhịn ăn trong ba bữa chứ không thể thiếu đàn bà trong một hôm. Trí nghe cắt nghĩa xong nó cười ré lên: Ôi! Ngọc quả là người duy nhất đã hiểu thấu suốt tâm cang ta vậy!

Cánh cửa gương không đón nhận thêm ánh sáng, thủy chung vẫn là thứ màu nhợt nhạt, tựa hoàng hôn đang rơi. Tựa điềm báo một cơn mưa sẽ đổ ập xuống. Ngọn đèn vàng được bật lên, nó chiếm ngự mau cái không gian vuông vắn ẩm lạnh. Ánh sáng, tự nó như biết reo vui; hay tại mắt mình nhảy múa nhìn ra hết mọi sự vật đang ẩn náu?

Hắn đứng lên, cầm bật lửa đi lần ra cửa chính. Nơi đó, khuất sau một bức vách có dựng cái bàn thờ người vắn số. Thiếu phụ trong ảnh nhìn hắn bằng một nhãn tuyến long lanh, ngầm nói thật nhiều điều. Ðôi mắt ấy đã nhắm lại khi tròn bốn mươi. Chịu hưởng dương mà không muốn hưởng thọ. Hắn thắp hương, cúi đầu. Tai nghe tiếng những con quạ còn xớn xác ở sân sau, như chúng muốn điểm danh sĩ số hiện diện. Hắn thực sự chưa già, chưa đi xong hạng tuổi tri thiên mệnh, nhưng khi cắm hương lên bàn thờ bằng những ngón run, hắn chợt hiểu một điều: Giờ này quanh hắn, bạn bè chẳng còn ai đông vui. Thưa dần, hao hụt, khuất lấp, đổi thay. Phải thế không Ngọc? Hẹn gặp ở ga Paris Nord, lần cuối trong đời.

Hồ Đình Nghiêm


Vĩnh biệt Sài Gòn

 Jean Lartéguy

Phạm Kim Vinh dịch

Nhà xuất bản Thế Giới 1991

Post by Sơn râu 12 Apr 2027

7. Chương 7

Thứ Năm Ngày 1 Tháng 5

Người thiếu nữ ngồi ngoan ngoãn gần một tòa nhà của nhà thương Grall. Kế bên cô ta là một chiếc va-li mới bằng chất plastic và một giỏ đan bằng mây của người Thượng. Cô gái mặc áo dài màu đen của người phụ nữ Thượng nhưng tóc cô ta màu hung và nước da trắng: Đó là một cô gái Thượng lai Pháp.

Cô ta bao nhiêu tuổi? Mười tám? Hai mươi? Làn sóng tỵ nạn ghê gớm đã cuốn cô ta nhưng còn gần được nguyên vẹn tới cái nhà thương dùng làm nơi tạm trú này trên đó có một lá cờ Pháp.

Chúng tôi phải lại gần mới nhìn thấy những giọt nước mắt trên má cô ta. Cô không nói, không gây tiếng động trong khi đám người tị nạn Việt Nam ồn ào như đàn ong vỡ tổ chung quanh những gói đồ ngổn ngang. Những trẻ nít ngủ gục giữa đám người ấy. Người ta vừa nói cho họ biết rằng họ phải trở về nhà. Saigon không bốc cháy, và rằng Saigon mới đổi chủ thôi.

Ngày hôm qua, những người chủ là Pháp, Nhật rồi lại đến người Pháp, rồi người Mỹ. Cứ mỗi lần thì người dân Saigon lại thích nghi, lại bắt chước, lại chế riễu và khai thác.

Ngày hôm nay, chủ nhân là những anh bộ đội miền Bắc đội nón lá, mặc quân phục rộng thùng thình màu xanh lợt, tất cả được nắn từ cùng một cái khuôn, tất cả đều còn nhỏ tuổi, một nụ cười kiểu dì phước nhân ái gắn trên mặt họ.

Chính cái mặt nạ tươi cười đó làm cho dân Saigon sợ hãi.

Tôi hỏi xem cô gái là ai và từ đâu tới. Cô ta trả lời tôi bằng một câu hỏi khác:

– Chalons-sur-Marne ở đâu? Tôi muốn đi tới đó.

Thiếu nữ ấy là kết quả của mối tình giữa một người Pháp và một phụ nữ Rađê. Người cha đã trở về Pháp, về sau, ông ta đã thừa nhận đứa con. Cô gái đã mất hết trong một cuộc chạy giặc. Chỉ còn lại có người cha mà cô ta chưa thấy bao giờ và cũng không có được cả một tấm hình của người cha nữa. Cô ta đã được đi học và làm việc tại phòng thí nghiệm của một nhà thương Mỹ vùng cao nguyên.

Người ta di tản cô ta cùng với một số nhân viên của nhà thương và hứa sẽ đưa cô ta đi Mỹ. Từ nước Mỹ, cô ta sẽ tìm được cách tới nước Pháp và tìm được Chalons sur Marnes.

Nhưng người Mỹ đã ra đi một cách hỗn loạn và bỏ rơi cô ta. Kéo lê chiếc va li và đeo chiếc giỏ chứa đầy những quà để tặng người cha Pháp, cô ta đã chạy tới nhà thương Grall vì nghe nơi đó là nơi trú ẩn của tất cả các Pháp kiều. Cô gái này tưởng mình là người Pháp nhưng giấy tờ đã làm cho cô ta có quốc tịch Việt. Chỉ có một phép lạ, nghĩa là có một viên lãnh sự đặt tình nhân loại trước sự tôn thờ các qui tắc hành chánh thì cô gái này mới đi được, nhưng làm sao có phép lạ ấy tại Saigon. Cô ta sẽ chẳng bao giờ đi được nữa.

Trong số những người có mặt tại đây, có những người Việt đã có thẻ thông hành của nước Pháp và có những người đã phải từ bỏ Pháp tịch thời Diệm để khỏi bị rắc rối. Tất cả những người mơ ngủ ấy đã bất ngờ rớt từ mái nhà xuống và khi tỉnh dậy thấy mình ở trên một hành tinh khác, chứa những con người quái dị: Những người Hỏa tinh của Hà Nội.

Họ không hiểu gì hết. Họ tuyệt vọng bám lấy những gì họ biết từ ngày trước, lá cờ vẫn bay trên mảnh đất này của nước Pháp.

Một lát sau, tôi phỏng vấn y sĩ trưởng của nhà thương là Đại tá Fourre trước ống kính truyền hình.

Dằn giọng, ông ta nói đến ảo tưởng của một số người. Tuy nhân viên của nhà thương là người Pháp nhưng lại không được hưởng trị ngoại pháp quyền. Nhà thương ấy là lãnh thổ của Việt Nam và nhà cầm quyền mới nếu không chiếm được nhà thương thì cũng có thể gởi những đám tuần tiểu đến đó.

Lúc đó, tôi không biết rằng những tên trùm cảnh sát của Thiệu và những tên tay sai võ trang cùng mình đang bao vây: Tên Đại tá Phạm Kim Vinh và tên Thiếu tá Mai, những tên sát nhân đã giết Paul Leandri. Trong bọn đó còn có tên đã bấm cò súng, tên vệ sĩ đã hiểu sai mệnh lệnh của tên Qui. Các Y sĩ Pháp là những con tin của những kẻ đó. Các Y sĩ này bị làm con tin trong năm ngày vì các cảnh sát viên không chịu dời nhà thương.

Tên Tướng Bình, cầm đầu ngành cảnh sát thì đã tháo chạy, bỏ mặc người dưới và không cho người biết sự chạy trốn của hắn. Đến lúc ấy thì các viên cảnh sát này, cũng như hàng ngàn người khác, cũng như những người Đại Hàn bị viên đại sứ bỏ rơi (tên đại sứ này cũng lại là một cấp tướng nữa), họ đã chạy tới nhà thương Grall.

Nhưng vì nhà thương đang thiếu máu để sang cho người bệnh nên người ta đã buộc những người kia phải hiến máu mới được chạy vào trú ẩn trong nhà thương. Cái bẫy của máu!

Trong một phòng ở bên trung tâm giải phẩu, tôi đã trông thấy một đứa trẻ chết. Nó mới ba tuổi. Một mảnh đạn trong đầu. Người ta đã dùng một chiếc khăn lau mặt phủ lên cái xác nhỏ bé đó. Thế đủ rồi.

Những người khác chìa ra những chân tay cụt. Có những người chân bị xích xe thiết giáp rập nát chân, những người khác mất luôn cánh tay, những người khác thì bị thiêu và da của họ chỉ còn là một cái gì trương lên và nứt nẻ.

Cũng tại nhà thương Grall có hai xác chết nằm bên nhau. Đó là hai viên Tướng Việt Nam tự tử bằng thuốc Nivaquine: Tướng Phú, Tư lệnh vùng cao nguyên, một chiến sĩ tốt tại Điện Biên Phủ. Và Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân khu IV vùng đồng bằng. Tướng Nam vẫn còn là một chiến binh mặc dầu có Thiệu và binh lính của Nam vẫn còn giữ vững lãnh thổ khi Saigon đã đầu hàng.

Người ta kể lại rằng Tướng Phú hấp hối khi được đưa tới nhà thương (nhà ông ta ở trước mặt nhà thương) và người ta đưa ông ta vào nằm trong lều dưỡng khí. Thế rồi vì thiếu dưỡng khí nên người ta tháo ống của chiếc mặt nạ ra.

Tự tử bằng Nivaquine thì hết thuốc chữa và dầu cho có rửa ruột hoặc làm một điều gì khác thì cũng không thể cứu được con bệnh. Phú không được đưa vào lều dưỡng, khí. Vì làm như thế vô ích.

Theo tôi thì có mười hai vụ tự sát của đại tá và tướng, chưa kể những vụ tự sát của các trung úy, đại úy. Như trường hợp các sĩ quan Nhảy Dù đã họp nhau tại nhà của một người trong bọn rồi nắm tay nhau đứng thành vòng tròn để cho một sĩ quan trên tuổi nhất làm nổ tung một chùm lựu đạn. Như viên Thiếu tá trẻ tuổi nhất đã tới trước mặt Tổng thống Hương để tự sát, trước mặt Hương là người kế vị Thiệu.

Chuyện ấy đã xẩy ra vài giờ trước khi tôi tới phỏng vấn Hương.

Tại trại tiền đình có bóng mát trước Dinh Tổng thống, các anh bộ đội đã dựng trại, nấu cơm như khi họ còn ở trong rừng. Họ ngồi xổm trước ngọn lửa nhúm bằng cành cây nhỏ đốt giữa hai cục đá.

Không còn tiếng động nữa, đêm xuống rồi. Một đêm chiến thắng cho những người lính nhỏ con của Hà Nội.

Một cuộc đại chiến thắng quân sự nhưng là một sự đại bại về ý thức hệ. Vì nhân dân đã không nổi dậy theo sự suy luận của người cộng sản. Mặc dầu có những lời hăm dọa của các xướng ngôn viên đài phát thanh Hà Nội và của các đài phát thanh phụ tại Đà Nẵng, Huế, Komtum và Pleiku, các chiến binh miền Nam đã không bắn chết các cấp chỉ huy của họ và cũng chẳng quay súng lại chống chính phủ “bù nhìn” của Thiệu hoặc của Hương hoặc của chính phủ “hiếu chiến” của Tướng Dương văn Minh. Trái lại, họ đã chiến đấu, chiến đấu luôn cả khi các người chỉ huy của họ đã bỏ rơi họ và khi họ biết rằng họ thua trận…

Đêm chót của yên tĩnh và của hòa bình. Những người lính trải những sợi giây ra và đặt các loa phóng thanh.

Tôi vẫn không tin rằng Saigon vừa mới rơi vào tay những người cộng sản. Đó chỉ là cơn ác mộng. Ngày mai, tôi sẽ tỉnh dậy và chẳng có gì xảy ra hết.

Minh Cồ sẽ nói chuyện về hoa lan với tôi, chắc là người ta mới gởi một thứ lan từ Vọng Các tới. Tướng Vanuxem sẽ giải thích cho tôi nghe phải làm thế nào để tái chiếm vùng cao nguyên, và cha Mauriceau sẽ trìu mến kể cho tôi nghe câu chuyện những người Mọi trong khi Philippe Franchini sẽ thán phục thì thầm vào tai tôi:

– Tất cả những người Việt Nam này đều điên nhưng họ thật là quỉ quái! Anh chưa biết được rằng họ đã tìm được cách nào để đánh lừa chính quyền?

Sáu giờ sáng, tôi giật mình tỉnh dậy vì những tiếng hú trong loa phóng thanh truyền đi một khúc quân hành xen kẻ bằng những khẩu hiệu. Saigon quả thật ở trong tay những người mặc đồ xanh rồi.

Cái thứ âm nhạc “cách mạng” ấy chẳng qua chỉ là một sự pha trộn kỳ cục và lải nhải của những khúc quân hành, của những bài ca tôn giáo, những bài dân ca Nga cắt quãng bằng những khẩu hiệu nói về trật tự, lao động và vệ sinh. Thứ nhạc kỳ quái ấy chỉ ngưng vào lúc 22 giờ làm cho người ta điếc tai, làm cho người ta hóa điên. Nó còn đáng sợ hơn tiếng động cơ rộn rã của hàng ngàn chiếc Honda của Saigon ngày trước.

Lưu thông đã giảm vì xăng nhớt khan hiếm và phần nhiều các kho xăng đã bị cháy. Nhà cầm quyền mới – chúng tôi gọi như thế vì chưa biết nhà cầm quyền ấy là những ai – đã ra lệnh đóng các cây xăng, trừ có cây xăng ở gần nhà bưu điện chánh vẫn được điều hành một cách bí mật. Nhưng người ta mua được xăng chợ đen. Sau khi lên tới giá 2.000 đồng một lít, giá xăng sẽ đứng ở mức 1.500 đồng.

Chúng tôi mua 200 lít trữ trong phòng ngủ và có thể gây ra hỏa hoạn cho khách sạn.

Chúng tôi phải lợi dụng lúc còn rối loạn này để quay phim trong thành phố và quay phim ngoài thành phố vì tình trạng này sẽ không lâu. Vẫn là cái kinh nghiệm của tôi tại Hà Nội. Cũng vẫn là những chủ nhân ông cũ nhưng họ đã già rồi. Họ đã khô cằn như những xác ướp. Và họ sẽ làm lại mãi mãi những gì họ đã làm.

Phần lớn các chế độ cộng sản đều phô trương là của giới trẻ nhưng lại do những già điều khiển, thí dụ như tại Bắc Việt, không thấy một bộ mặt mới nào xuất hiện kể từ 1945.

Chúng tôi bàn cãi sôi nổi: Tổng thống Giscard có lý hay không khi ông ta yêu cầu tất cả những người Pháp ởlại. Ông ta không thể làm gì khác. Chúng tôi không có hạm đội và chẳng có đủ máy bay để di tản trên mười ngàn Pháp kiều cho nên buộc lòng phải làm ra vẻ chấp nhận một nước cờ miễn cưỡng.

Cộng sản âm thầm xâm nhập thành phố từng toán nhỏ. Người ta yêu cầu phụ nữ ngưng mặc áo quần hở hang và nên trở lại y phục cổ truyền.

Nhưng trong lúc này, dường như người dân coi thường những lời kêu gọi ấy. Trai và gái tiếp tục biểu diễn lái xe gắn máy. Họ cắm cờ Mặt Trận trên xe và tưởng rằng chỉ cần có thế là được làm mọi thứ.

Dân Saigon tự trấn an quá sớm. Họ ngây thơ, tưởng rằng có thể qua mặt được những tên nhà quê đần độn vừa từ đồng ruộng về. Dân Saigon lầm to. Binh lính cộng sản được lệnh làm ra vẻ khoan dung và hiền từ: Mới hôm trước, những tên lính ấy bình thản giết cả trăm ngàn người dân lành nếu được lệnh. Khi nào đã biến đổi được cái thành phố này thành ra một thành phố xã hội chủ nghĩa thì sẽ có lệnh cho lính cộng sản hết hiền từ.

Các anh bộ đội đặc biệt dán mặt vào những khu chợ trời bán đồ của Mỹ. Mới từ trên rừng trở về, họ mở to cặp mắt nhìn mọi thứ và dùng tiền Hồ Chí Minh mua những xa xí phẩm như máy thâu thanh, máy thâu băng, máy chụp hình và nhiều thứ khác. Trước vẻ mặt con nít và ngoan ngoãn của lính cộng sản, những người đàn bà bán hàng đã yên tâm và bắt đầu bày ra những hàng lậu. Dân Saigon càng an tâm thì đồng bạc cụ Hồ càng xuống giá.

Chúng tôi hỏi thì người lính trẻ tuổi sẵn sàng trả lời, còn cán bộ già rất dè dặt. Cứ năm người thì có tới bốn người là dân miền Bắc. Họ nói rằng chiến thắng làm cho họ vui mừng nhưng đời sống ở Saigon ồn ào quá, đắt đỏ quá và rằng họ đã không được tiếp đón nồng nhiệt như họ muốn.

Mọi tờ báo đều bị đóng cửa, kể cả tờ Courrier d’Extrême Orient của người Pháp. Chỉ có tờ Saigon Giải Phóng in tên bằng chữ đỏ và in hình bác Hồ chiếm hết nửa trang nhất. Báo ấy đăng bài nói về sự thất thủ của Saigon ngược hẳn với sự thật. Hơn nửa triệu quân nhân và công chức chế độ cũ sẽ ra sao? Các phi công trực thăng và các chuyên viên truyền tin ra trình diện đã được tuyển ngay vào quân đội nhân dân vì quân đội ấy đang thiếu chuyên viên. Đài phát thanh thì loan báo rằng từ nay, mọi phương tiện sản xuất là của nhân dân và nhân dân chịu trách nhiệm. Kết quả của sự quy định ấy nhiều khi lại rất tức cười. Thí dụ tại nhà hàng Continental, vài anh cán bộ tập trung các nhân viên nhà hàng lại và nói:

– Thời thực dân đã hết. Từ nay, các anh là chủ nhà hàng. Các anh lo việc điều khiển nhà hàng. Các anh phải chọn một người giám đốc.

Những người khi trước làm bồi bàn vỗ tay rồi bàn tán với nhau một hồi. Sau đó, người đại diện của họ nói với các anh cán bộ:

– Chúng tôi quyết định chọn ông Philippe Franchini làm giám đốc.

Các anh cán bộ há hốc mồm nhìn nhau với một vẻ nghiêm trọng. Quả thật là những người này cần được giác ngộ nặng. Franchini là tên của viên giám đốc nhà hàng mới về Pháp nghỉ phép cách đó ba tuần. Chỉ tội cho viên giám đốc do nhà nước chỉ định lúc ấy đang đứng chờ và yên trí tưởng rằng mọi việc đã xong.

Đài phát thanh Giải Phóng thì truyền đi những lời tuyên bố trái ngược nhau.

Tôi tới nhà Minh Cồ. Ông ta chưa được về nhà. Người tài xế của ông ta cho biết đã nhận được điện thoại của bà Minh nói rằng ông ta đã được đối xử tử tế và chắc sẽ sớm được về nhà.

Ngày 3 tháng 5, chúng tôi tới Hố Nai, chiến lũy của người công giáo chống cộng di cư. Một gác chuông nhà thờ bị đạn đại bác làm hư hại nặng. Vậy là đã có giao tranh tại đây. Tôi ngừng xe và xin gặp Linh mục Chánh xứ.

Một người đàn bà độ bốn chục tuổi đề nghị đưa chúng tôi tới cha sở. Tôi hỏi bà ta:

– Tình hình ra sao?

Bà ta cúi đầu:

– Con trai tôi và mười bẩy người bạn của nó vừa bị xử bắn. Tôi vừa mới đi chôn chúng nó xong.

– Câu chuyện xảy ra như thế nào?

– Chúng nó là tự vệ và chúng nó đánh đến cùng. Chúng nó đứng cả trên gác chuông bắn xuống. Thế là chúng nó bị bắn chết hết.

Cha sở ngồi yên lặng trên chiếc ghế gỗ, hai tay để trong áo dòng. Phòng này rất rộng, chắc được dùng làm nơi hội họp thường ngày.

Cha sở này chừng sáu chục tuổi. Ngài từ Phát Diệm Bắc Việt di cư tới cùng các con chiên.

Tôi hỏi nhưng vị cha sở bảo người thông ngôn nói rằng ngài không biết tiếng Pháp, Ở một góc phòng có một người cầm súng ngồi đó. Chắc hắn không phải là lính chính quy vì hắn mặc đồ bà ba đen.

– Thưa Cha, mọi sự tốt đẹp chứ?

– Phải.

Tôi nhấn mạnh:

– Thưa Cha, mọi việc bình thường?

– Phải.

– Có thể phỏng vấn Cha trước máy thâu hình được không?

– Không, không được.

Không hiểu tại sao lúc ấy, tên lính gác lại ra ngoài xem xét chuyện gì. Lúc đó thì Cha sở nói bằng thứ tiếng Pháp rất giỏi:

– Tình thế của chúng tôi rất khó khăn. Tai họa đã giáng xuống đầu chúng tôi. Xin hãy nói với những người bạn Pháp của chúng tôi để họ cầu nguyện cho chúng tôi: Chúng tôi cần có những lời cầu nguyện ấy. Vĩnh biệt.

Tôi bước ra. Toán chuyên viên truyền hình đang gặp rắc rối. Bọn lính cộng sản khó chịu và chận xe lại. Người thông ngôn của chúng tôi giải thích rằng chúng tôi là người Pháp từ Biên Hòa trở về và đi lạc đường chứ không có ý định quay phim. Bọn lính ấy chẳng cần chú ý đến lời giải thích. Chúng tôi đành phải chuồn.

Trên đường trở về chúng tôi thấy những cảnh làm rợn gáy. Những tù binh bị trói tay, đi trước và theo sau có những người mặc bà ba đen cầm tiểu liên giải đi.

Chúng tôi nghe thấy tiếng đàn bà la hét và nhìn thấy những tên lính cộng sản bắt một người đàn bà đi. Bà ta cố vùng vẫy nhưng không nổi và còn bị những tên lính nắm tóc lôi đi.

Trở về Saigon, chúng tôi thấy các bộ đội đã lục soát các tòa nhà của sứ quán Pháp, bất chấp mọi luật lệ quốc tế. Đại sứ Pháp đã không chống cự. Đại sứ Bỉ thì chống cự và bọn lính cộng sản đã phải rút đi.

Đi thăm trường Marie Curie là nơi đang có thi tú tài. Một thí sinh rất xúc động rút ra một tờ giấy. Phải chăng người ta đã có ý lựa đề thi đó? Đó là đề hỏi về Trung Hoa vĩ đại lân bang đang lo về sự Nga hóa nước Việt Nam.

Cô ta sẽ đậu. Nhưng liệu cô ta có biết rằng văn bằng ấy rồi sẽ vô dụng, cũng như mọi thứ của Tây phương đều vô dụng không?

Tại trường Đại học Khoa học, các nữ sinh duyên dáng cầm mớ lá khô làm ra vẻ đang quét dọn lối đi. Một nữ sinh viên bảo tôi:

– Xin ông chỉ chụp hình chúng tôi ở đàng sau lưng thôi. Nếu các cô bạn của tôi ở Paris mà nhìn thấy chúng tôi như thế này!

Viên Khoa trưởng cũng đề nghị mời tôi đi gặp Khoa trưởng mới từ Hà Nội về. Đó cũng là một anh bộ đội: Nón thuộc địa, áo quần màu xanh, dép cao su cắt ở vỏ xe hơi, túi vải đeo vai, nụ cười khiêm tốn nhưng mắt sáng lên vì kiêu căng sau cặp kính gọng sắt,

Viên Khoa trưởng cũ thông dịch những câu đối đáp giữa tôi và viên Khoa trưởng mới. Tên hắn là Hào, tốt nghiệp về Hóa học và đã học tại Trung Hoa. Hắn nói sẽ thêm nhiều giáo sư từ Hà Nội tới. Có lẽ sẽ thay đổi học trình để thích nghi với những nhu cầu thật sự của xứ sở.

Người ta mời tôi đi xem các sinh viên trong sinh hoạt mới: Họ đứng thành hình tròn, đồng ca theo nhịp tay đập những bài ca cách mạng hoặc chơi những trò chơi cút bắt. Thế gọi là “Sinh hoạt văn hóa ” đấy.

Sinh viên mới ghi danh được chia thành ba toán: Một lo điều khiển lưu thông, một lo vệ sinh trong khu và toán thứ ba lo việc trật tự trong viện đại học.

Trường Luật và trường Văn Khoa đóng cửa vĩnh viễn. Người ta cho rằng hai trường ấy vô ích. Một trường Thông dịch sẽ thay thế hai trường đó. Tại trường Y khoa, các sinh viên bắt đầu gặp khó khăn khi phải ghi phiếu khám bệnh bằng tiếng Việt vì lâu nay, họ được dạy ghi các phiếu ấy bằng tiếng Pháp.

Các sinh viên khác được cần bộ hướng dẫn mang theo loa phóng thanh đi kêu gọi bài trừ văn hóa đồi trụy, hiểu là những gì của Tây phương. Các sinh viên này vẫn còn mặc quần jean nhưng trên lề đường đã thấy bầy nhiều dép vỏ xe và đồ bà ba đen.

Người ta đốt một ít tạp chí Playboy. Sách của các văn hào Tây Phương cũng bị đốt luôn. Mãi tới sau này, rất lâu, mới thấy ủy ban quân quản Saigon Gia Định ra lệnh đính chính rằng chỉ ngưng bán các sách báo đồi trụy và phản cách mạng (chứ chưa có lệnh đốt bừa bãi cả phim ảnh và sách văn học)

Cả một tầng lầu của nhà hàng Continental bị những người đồng phục xanh từ Hà Nội tới chiếm đóng. Họ thuộc về ngân khố và xía vào việc sổ sách của bất cứ việc công hay tư vì đó là những tên cuồng tín về kiểm kê. Tuổi trung bình của họ là bốn mươi.

Tất cả các xí nghiệp tại Saigon đều được xếp vào loại K. K1 là đồn điền, K2 là thuế và hành chánh, K3 là ngân hàng, K4 là ngoại thương, K5 là kỹ nghệ, K6 là vận chuyển, K7 là công chánh, K8 là nhiên liệu, K9 là kỹ nghệ nặng và K10 là canh nông.

Người ta hỏi nhau:

– Anh là K mấy? Bọn ếch nhái trong K của anh đã tới thăm anh chưa? Anh là K5 vì anh điều khiển một nhà máy nhưng là K8 vì trong sân nhà máy của anh có một máy bơm xăng. Ráng ở lại K8 khá hơn, dường như là vậy.

Những con người Hà Nội đảo lộn mọi việc và thoạt đầu, chúng tôi tưởng rằng đó là chiến thuật của họ muốn như vậy. Thí dụ các ngân hàng đều bị đóng cửa và tất cả các xí nghiệp lớn đều bị tê liệt vì không lấy được tiền ở ngân hàng để trả lương cho công nhân.

Sự thật thì các ngân hàng ở Saigon chạy bằng máy tính điện tử IBM. Chẳng có ai làm cho máy tính ấy chạy được hết. Có thể là những máy ấy đã bị phá hoại rồi.

Miền Bắc gọi vào tất cả các kế toán viên hiện có. Họ chăm chỉ ghi bằng tay những tấm phiếu có đục lỗ của những cuốn sổ cái. Ghi như vậy chắc chắn phải mất nhiều tháng nữa.

Vì không có ai được trả lương nên nạn trộm cướp hoành hành khắp nơi. Một người lính Thủy quân Lục chiến tự thiêu trước đài kỷ niệm chiến sĩ. Tay anh ta còn cầm một tờ giấy ghi vỏn vẹn hai chữ: “Tôi đói”.

Chúng tôi là hơn một trăm nhà báo ngoại quốc chen chúc trong hai hoặc ba khách sạn và tuyệt vọng đi lùng xem chính phủ cách mạng lâm thời hiện ở đâu. Không nghe ai nói hết và cái chính phủ ấy chẳng có tăm hơi gì.

Tấn hài kịch đã chấm dứt cho nên người ta chẳng cần tới Nguyễn thị Bình hoặc Nguyễn Hữu Thọ nữa.

Mỗi buổi sáng từ sáu giờ, nhân dân Saigon bị loa phóng thanh dựng dậy bằng vài khúc nhạc quân hành và có xướng ngôn viên loan báo các quyết định của úy ban Quân quản. Do đó, các cựu quân nhân chế độ cũ phải ra trình diện theo từng cấp bậc. Mọi người phải trở lại làm việc. Nếu không làm được nữa thì phải giả đò như đang làm việc.

Tướng Minh hẹn cho chúng tôi phỏng vấn lúc ba giờ chiều. Tôi mang theo đồ nghề. Trong khi chờ ở trước cửa nhà riêng của ông ta, chúng tôi chứng kiến cảnh đốt phá kho chứa phim ảnh của ông ta. Tất cả những cuốn phim tài liệu hoặc thời sự mà ông ta giữ làm kỷ niệm đều bị đốt trước mặt một tên cán bộ và tên này có vẻ chỉ được chỉ định để săn sóc sức khỏe tinh thần và cải tạo cựu Tổng thống Cộng Hòa.

Tướng Minh không tiếp chúng tôi và không gặp một ai nữa. Phụ tá của ông ta là Thủ tướng Vũ văn Mẫu cho tôi hay là điện thoại đã bị cắt và ông Minh được lịnh đừng gặp một nhà báo nào hết.

Ông ta là một nhân chứng phiền phức của những biến chuyển mới nhất. Ông ta phải học bài cho thuộc để trong một tuần nữa, trả cho một đài truyền hình Sô Viết.

Cựu Tổng thống Hương bị chính quyền mới bỏ quên. Ông ta bảo tôi: “Tôi ưa đọc sách. Sách của tôi toàn là sách Pháp. Tôi không đọc được nữa. Tôi ưa ngắm hoa và không nhìn thấy gì nữa. Cũng như xứ sở của tôi, tôi đang đi vào đêm tối.”

Vũ văn Mẫu, Luật gia xuất sắc chẳng biết gì về tương lai, nếu có biết thì chỉ là không có trường Luật nữa và chẳng có luật sư nữa. Ông ta hy vọng được tân chế độ tiếp xúc nhưng chẳng thấy chế độ đâu mà chỉ thấy một chính quyền quân sự và chính quyền ấy không thèm để ý tới ông ta.

Chưa bao giờ Saigon có nhiều vụ cướp và giết người như bây giờ. Tù được thả lẫn với tù nhân chính trị, các cựu quân nhân đói vì không có gì để sống và để nuôi gia đình, các quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt ngày trước. Số quân nhân này khoảng năm ngàn người, và sau hết là các hồi chánh viên.

Hồi chánh viên là lực lượng đặc biệt không ra trình diện mà còn giữ lại những khí giới riêng. Họ biết những gì đang chờ đợi họ nếu ra trình diện. Người ta thấy những tên bộ đội bị giết trong đêm tối và thường là bị giết bằng dao: Đó là việc làm của dân thiện nghệ vì vết tử thương ở ngang hông.

Một đêm, có giao tranh thật sự giữa bộ đội và binh sĩ chế độ cũ. Binh sĩ chế độ cũ từ các mái nhà bắn xuống. Ngày hôm sau, các toán tuần tiểu đều được tăng cường và mỗi toán đều có một máy truyền tin nhỏ.

Một cựu sĩ quan nói với tôi:

– Không khi nào tôi ra trình diện vì như vậy là chui đầu vào rọ.

Nhưng các bạn của ông đã đi trình diện.

Tôi hỏi một viên Đại tá vừa từ nơi trình diện trở về:

– Câu chuyện tới đâu rồi?

– Tốt lắm. Họ bảo chúng tôi về nhà, đừng làm gì hết và cứ ngồi chờ.

– Chờ cái gì?

– Có lẽ chờ lúc họ cần chúng tôi đi chiếm Lào, Cao Mên và Thái Lan. Hà Nội mộng lớn. Dường như họ quên rằng có Trung Hoa và họ không ngớt khiêu khích Trung Hoa.

Gọng kềm xiết chặt chung quanh Saigon. Người Công giáo buồn lắm. Chủ nhật vẫn đầy tín đồ tại nhà thờ lớn. Nhưng có những người biểu tình đòi trục xuất Đức Khâm Mạng Tòa Thánh Lemaitre. Ngài bị tố cáo là đã nâng đỡ Thiệu.

Đó là những người Công giáo “tiến bộ”. Một người trong bọn họ giật lá cờ Vatican và thay vào đó bằng cờ Việt cộng. Quân đội can thiệp và giả đò bắn súng lên trời, giả đò bắt giữ vài tên nhưng rồi lại thả ra ngay. Người ta tìm cớ và tìm được lý do để trục xuất Ngài Lemaitre: Sự hiện diện của Ngài làm mất trật tự.

Có tin rằng các ký giả ngoại quốc không được ra khỏi Saigon nữa. Nhưng vì chưa có thấy lệnh chính thức nên chúng tôi cứ đi đại về tỉnh Mỹ Tho vào một buổi sáng. Ra khỏi Saigon chừng hơn mười cây số, chúng tôi nhìn thấy những pháo đội đại bác 105 ly trong vị trí tác xạ và bị các xạ thủ bỏ rơi, từng hàng xe tăng, nhiều xe thiết vận. Có cả một chiếc trực thăng còn nguyên vẹn đậu giữa một cánh đồng vì hết xăng, trên có một viên tướng. Nhưng không thấy có đồ trang bị và không thấy súng cá nhân. Khi có lệnh ngưng bắn, dường như những người lính miền Nam đã bỏ chiến cụ nặng nề để về miền đồng ruộng, mang theo súng cá nhân.

Tại vùng này, Tướng Nguyễn Khoa Nam đã đạt kết quả rất tốt khi giao nhiệm vụ giữ đất cho Địa Phương Quân và giữ các đơn vị chính quy để điều động. Đáng lẽ các tư lệnh quân đoàn khác phải làm như Tướng Nam. Tướng Nam đã bẻ gẫy cuộc tấn công của cộng quân nhưng khi biết là đã hết rồi thì ông ta tự sát vì không chịu được sự thất trận mà ông ta không phải là người gây ra.

Và hàng rào cản trên đường. Một cô gái đồng ruộng, trang hoàng ba cánh hoa vải đỏ trên mũi súng, nghiêm chỉnh ghi số xe của chúng tôi vào một cuốn sổ nhỏ. Tôi hỏi cô ta:

– Cô vào quân đội nhân dân này lâu chưa?

– Được hai ngày (Saigon bị chiếm đã được hai tuần nay).

Cô ta chịu để cho chúng tôi chụp hình và còn có vẻ khoái nữa. Tất cả những thứ đó như trò giỡn chơi và có vẻ con nít. Miễn là cái trò ấy kéo dài.

Chiến tranh dường như không đụng tới phần đất này của Nam Kỳ. Không thấy hoặc chỉ thấy ít có anh bộ đội. Có vài người tự vệ võ trang bằng súng cướp được. Họ là người Nam chứ không phải là những tên “xâm lăng”. Thấy rõ điều ấy vì họ hòa mình vào đám đông trong khi những tên kia thì đứng riêng.

Ngoại trừ vài tấm biểu ngữ, Mỹ Tho không thay đổi nhiều.

Những người “miền Bắc” chưa chiếm tỉnh này và các loa phóng thanh ít làm ồn ào.

Chúng tôi đi tìm ông Đạo Dừa. Ông ta đã biến mất và dường như đã leo lên một trực thăng Mỹ, để lại người cháu gái lo việc thờ phụng. Chúng tôi đi thăm làng của ông Đạo Dừa, nơi từng chứa những kẻ đào ngũ và trốn lính. Không có ai. Chỉ có hai người tự vệ võ trang đứng xa canh chúng tôi.

Trở lại Mỹ Tho. Chúng tôi quyết định đi tới Gò Công. Bỗng nghe tiếng đại bác. Tiếng nổ cách nhau. Phía xa một làng bốc cháy, vẫn còn giao tranh tại đó hai tuần sau khi mất Saigon. Sau này tôi được biết rằng có nhiều ổ kháng cự tại vùng đồng bằng và vì những ổ ấy đứng vững cho nên người ta phải dùng đại bác để tiêu diệt.

Dường như hai ngàn người của một lữ đoàn Dù đã đi về vùng Đồng Tháp, còn những người khác thì đi về biên giới Cao Mên. Tại Saigon, một sĩ quan Dù từ vùng đồng bằng trở về tuyển mộ những cựu quân nhân không ra trình diện. Sĩ quan ấy gặp một người bạn của tôi và người bạn ấy hỏi viên sĩ quan:

– Làm sao các anh có thể giữ được nếu không được tiếp tế từ bên ngoài: Không nên trông cậy vào người Mỹ. Nhân dân thì sẽ đứng trung lập như mọi khi. Vậy trông vào ai?

– Người Tàu. Vì thế mà chúng tôi chuồn về biên giới Cao Mên. Họ sẽ chuyển đồ tiếp tế cho chúng tôi qua ngả Cao Mên.

Nếu mọi sự trở lại từ đầu và chúng ta ở bước đầu của cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ ba?

Trở lại Mỹ Tho. Trước khi tới tỉnh đó, chúng tôi bị một toán tự vệ chận lại và họ đang đi lùng chúng tôi. Họ đưa chúng tôi tới trước một ủy ban quân chánh. Viên chỉ huy rất lịch sự, xem xét giấy tờ của chúng tôi, chúng tôi uống nước trà rồi giảng luân lý. Đáng lẽ chúng tôi phải xin phép ủy ban Quân quản Saigon Gia Định để nơi ấy thông báo cho ủy ban Mỹ Tho và Mỹ Tho sẽ lo giữ an ninh cho chúng tôi (Vậy đi trong tỉnh này sẽ gặp nguy hiểm hay sao?)

Hắn lo lắng hỏi xem chúng tôi quay phim những gì:

– Chúng tôi chụp những con trâu cày ruộng.

Hắn ngạc nhiên:

– Tại sao lại chụp những con trâu?

– Để chứng tỏ rằng hòa bình đã trở lại thôn quê.

– Tại sao các anh lại chú ý tới các hình ảnh lạc hậu đó của nước Việt Nam. Tại sao lại không chụp hình những máy cầy?

– Tại vì tất cả những máy cày đều mang nhãn hiệu Mỹ.

Sau cùng, người ta thả chúng tôi. Trở về Saigon vô sự. Nhưng ở đại sảnh đường của khách sạn, có treo một biểu ngữ lớn sau khi chúng tôi đi Mỹ Tho: “Các nhà báo ngoại quốc không được phép ra khỏi chu vi Saigon Gia Định nữa”.

Ngày 15-5, có diễn binh kỷ niệm sinh nhật Hồ Chí Minh. Dự trù sẽ có ba ngày liên hoan mừng chiến thắng. Tôi trông thấy diễn hành các khí giới tối tân của Nga.

Lần này có vài đơn vị mặc đồ đen của bưng biền. Một phần trong số đó là người Nam, nhưng con số này không bao giờ quá ba mươi phần trăm. Rốt cuộc, chúng tồi đã tìm thấy cái huyền thoại Mặt trận Giải phóng trên khán đài danh dự. Bác Thọ, bác Phát và bà Bình “thân mến” là những nhân vật quan trọng tại Ba Lê nhưng tại đây thì họ tụt xuống hạng thứ mười một. Tại Saigon, bà Bình không được ở tại một biệt thự mà chỉ được ở một khách sạn hạng hai tên là Miramar phòng số 312. Tôi đã phối kiểm. Các nhân vật của Mặt trận Giải phóng đều bị những “Thống chế” của Bắc Việt kềm kẹp, họ mang đay ngực huy chương và mang cầu vai theo lối Sô Viết. Đến nỗi người ta phải tự hỏi phải chăng chính phủ Cách mạng Lâm thời đã trở thành một điều giả tưởng, một trò bịp kể từ Tết Mậu Thân 1968 là lúc lính và cán bộ chính phủ ấy tàn sát tại Saigon vì muốn chiếm Saigon trong khi Saigon nhất định xua đuổi họ.

Trước khán đài, chỉ có những người lính mang hình Hồ Chí Minh đứng bên dàn nhạc và vỗ tay, còn phần lớn các phái đoàn ngồi trên lề đường thì ngủ gục. Người ta dạy họ cách hăng say suốt đêm qua. Họ chưa hoàn hồn. Chắc là với thời gian họ còn học được nhiều.

Trước sự hờ hững của nhân dân, người ta không dám tổ chức ngày thứ hai và ngày thứ ba của cuộc liền hoan nữa. Những cửa hàng vẫn đóng cửa.

Rồi tới vụ đàn áp các ký giả tại nhà hàng Continental. Máy vô tuyến viễn ấn và những cách liên lạc với bên ngoài đều bị cắt đứt. Không có máy bay nữa. Những hộp phim và những cuộn phim chờ được khai thác nằm chất đống ở đó, vô dụng. Những hình ảnh trong cuộn phim đó nói lên sự thật: Saigon bị xâm chiếm chứ không bao giờ được giải phóng.

Sau khi đã cấm chúng tôi ra ngoài Saigon thì kể từ sáng nay, người ta lại cấm chúng tôi chụp hình nữa.

Hai chuyên viên thu hình của Nhật bị còng tay giãi đi vì họ quay phim cảnh đường Catinat. Thế mà một ký giả từ Hà Nội tới lại viết rằng chúng tôi có thể làm việc như chúng tôi muốn. Phải chăng anh ta phải nói dối như thế mới được chiếu khán?

Các ký giả của các nước “anh em” như Nga, Hung Gia Lợi, Đông Đức, Ba Lan và đặc phái viên của hãng AFP (Pháp) từ Hà Nội được gởi tới để chứng kiến cuộc diễn hành chiến thắng. Để duy trì câu chuyện giả tưởng là có chính phủ Cách mạng Lâm thời độc lập với Hà Nội, người ta đã long trọng cấp cho họ chiếu khán vào Nam Việt Nam. Nhưng vì tại Tân Sơn Nhất không có ai để đóng dấu vào sổ thông hành của họ, hai viên chức của cơ quan di trú Hà Nội đi cùng một chuyến bay với họ vội vàng nhảy xuống, chạy vào văn phòng trống trơn và đóng dấu lia lịa lần thứ hai vào những sổ thông hành đó. Nói lần thứ hai vì rằng những viên chức ấy đã đóng dấu lần thứ nhất cho họ tại Gia Lâm, Hà Nội rồi.

Saigon vùng vẫy, Saigon chống cự để chống lại những kẻ xâm lăng vì những kẻ ấy muốn biến Saigon thành một thành phố khác, một thành phố thật sự cộng sản có trật tự và kỷ luật, kèm theo hệ luận không tránh được: sự tố cáo lẫn nhau.

Trong cuộc chiến đấu ấy, dân Saigon tỏ ra có óc sáng kiến làm cho tôi ngạc nhiên. Do đó họ nghĩ ra trò đám tang giả tạo. Một số gia đình có người đi Mỹ đã lo sợ sẽ bị trả thù. Họ tung ra tin là người nhà của họ vẫn còn ở Việt Nam nhưng vì không chịu được sự thất trận nên đã tự sát. Người ta tổ chức tang lễ trọng thể và đem chôn chiếc quan tài rỗng. Mọi người trong gia đình đều để tang.

Người ta tìm cách lung lạc những tên bộ đội (mỗi gia đình phải chứa một tên bộ đội cho ăn và ngủ). Người ta cho hắn uống rượu. Hắn không quen uống, người ta tán tỉnh hắn, người ta giới thiệu hắn với cô cháu gái hoặc cô con gái của gia đình. Sự thật thì đó chỉ là một cô gái điếm mà người ta thuê để đóng vai trò. Anh bộ đội ngả lòng, ngủ với cô gái và đi tới chỗ phạm tội: Ăn cắp xăng trong xe của quân đội nhân dân để tặng vợ chồng con trai người chủ nhà chạy xe honda.

Nhưng những con người mặc đồ xanh đã tổ chức lại hàng ngũ và vô hiệu hóa những trò lung lạc ấy và những trò ấy chỉ có thể nẩy nở trong một chế độ độc tài thối nát như chế độ Thiệu.

Người ta dạy lũ trẻ hát: “Đêm qua, chúng tôi mơ thấy bác Hồ. Bác nói rằng các cháu phải ngoan. Nếu chúng tôi học hành giỏi trong lớp, bác Hồ sẽ cho chúng tôi chiếc khăn quàng đỏ…”

Đồng thời, người ta dạy chúng cách tố cáo những ” người nhà của chúng: “Trẻ em Việt Nam phải đề cao cảnh giác. Cũng như các bậc cha mẹ và những đàn anh, các trẻ em có bổn phận lột mặt nạ những tên tay sai của chế độ cũ đang âm mưu chống lại cuộc cách mạng…”

Là những đàn cá, người dân Saigon đụng phải những màn lưới đang xiết chặt chung quanh họ.

Trên đường Catinat, một thiếu nữ đẹp cưỡi xe gắn máy, mặc áo dài màu trong sáng, dừng lại hỏi tôi:

– Thưa ông… Ông có phải là người Pháp không?

– Đúng.

– Ông đã lập gia đình chưa?

– Tôi có vợ rồi.

Cô ấy ngậm ngùi:

– Thật đáng tiếc! Nếu không thì ông có thể lấy tôi và tôi sẽ đi thoát khỏi nơi đây. Nhưng có lẽ ông có một người bạn còn độc thân? Tôi có người nhà ở Pháp và cha mẹ tôi sẽ rất biết ơn ông. Vì rằng… vì rằng tôi phải thoát khỏi nơi này.

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 12 Apr 2024

12. Chương 7

Long Mạch

Ở Sài Gòn ngày 27 tháng giêng, ngày kỷ niệm 2 năm ký Hiệp Định Paris đã lặng lẽ qua đi, không có một ai nghĩ tới… .

Khoảng 100 Phật tử, trong số này có chừng 20 ni sư khất thực, có ý định biểu tình, xuất phát từ chùa Ấn Quang. Cảnh sát thẳng tay giải tán. Theo quan điểm bán chánh thức của hai Chánh Phủ Việt Mỹ thì người dân Sài Gòn coi chuyện mất tỉnh Phước Long cũng không phải là một thảm kịch.

Phạm xuân Ẩn, người cộng sự viên chính của tờ Time, người lúc nào cũng biết nhiều tin tức nhất đã nói là: – “Hà Nội muốn có một cán cân lực lượng mới thuận lợi hơn trong việc thương nghị. (1)

Ông ta phân tách như vậy với hai người bạn là Cao Giao và Vượng tại quán càfé Givral. Ông ta cũng đã nói ngắn gọn như vậy với bà Trần thị Nga, thư ký hành chánh thuộc văn phòng của tờ Time. Bà này không bao giờ chú ý đến vấn đề chánh trị. Bà muốn có hòa bình để bà được về thăm lại Miền Bắc của thời thơ ấu, nơi mà bà đã chứng kiến và trải qua một thời kỳ đói khát kinh khủng nhất của lịch sử (thập niên 40), dưới thời Nhật thuộc, và nơi mà bà đã bị ép duyên với một tướng người Tàu Quốc dân đảng (bà đã có một người con với ông này). Sau đó ông tướng bị giết và bà đã chấp nối với người em rể. Bây giờ bà có 4 người con. Sau một thời gian làm việc cho Bộ Xã Hội, bà được chuyển luôn qua văn phòng của tờ Time.

Sài Gòn bây giờ không có nhiều nhà báo ngoại quốc như trước. Trưởng văn phòng của tờ Time hỏi bà Nga tại sao bà quá buồn như vậy?

Bà Nga nói:

_ “Cộng sản còn tiến tới nữa đó”

Sau đó bà cũng không biết tại sao bà lại nói tiếp:

_Tôi nghĩ là tôi sẽ tự sát.

_Có lẽ bà nên tìm cách thu xếp khác, tốt hơn. Người chủ sự nói như vậy. Đi chăng?

Nhà văn Duyên Anh cũng là người di cư từ Miền Bắc như bà Nga, nhưng ông không thấy gì khó khăn hết. Là một nhà báo, có biệt danh là “nhà văn của bọn trẻ”, Duyên Anh đã xuất bản trên 50 quyển tiểu thuyết, thơ, văn…. Ông đã để lại ở Miền Bắc cả cha mẹ và 5 người anh chị em. Mẹ ông đã tử nạn trong một vụ dội bom . Nhà văn này từ lâu đã gia nhập vào một đảng chống ông Diệm, chống Pháp và chống Hoa Kỳ, chống tòa thánh Vatican và chống cả những người Việt Nam nào chạy theo người ngoại quốc nữa. Mặc dầuvậy nhưng nhà văn này không thích và cũng không bao giờ thích chánh trị. Văn ông thường tả cảnh hỗn loạn, hay sự cô đơn của giới trẻ Việt Nam. Nếu không được thù lao bằng đô la như ông Ẩn của tờ Time thì người ta phải làm rất nhiều việc trong các tờ báo Việt Nam mới sống được . Nhà văn Duyên Anh thấy vừa lòng khi ông Nguyễn văn Hão cho ông làm tổng biên tập của 3 tờ báo được phát hành ở Sài Gòn, Cần Thơ và Đà Nẵng, chuyên về kinh tế và giáo dục. Ông nói:

_ “Tôi nhận vì dù được thù lao nhưng những tờ báo này không chạy theo chánh quyền.”

Ông cũng viết cho tờ “Cách mạng xanh” một tạp chí nói về cải cách ruộng đất. Trong lãnh vực này ông Thiệu không đến đỗi nào. Trong tháng ba này nhà văn Duyên Anh chuẩn bị cho một ngày gọi là ” người cày có ruộng”

Nhà sư Thiện Huệ, 23 tuổi, sống với một số nhà sư khác ở một ngôi chùa nằm về hướng Đông Bắc của Sài Gòn, cách sân bay chừng 10 phút lái xe. Qua báo chí ông được biết tin Bắc Việt đã chiếm tỉnh Phước Long . Hầu hết các nhà sư Phật Giáo không bao giờ bàn đến vấn đề chánh trị. Nhưng ngôi chùa Quan thế Âm cao 3 tầng của vị sư trẻ này đã có một thời nổi tiếng. Vào tháng 6 năm 1963, dưới trào Tổng Thống Ngô đình Diệm, để phản đối chủ trương bài Phật Giáo của chánh quyền, một vị sư đã tẩm xăng và tự thiêu ở đây. Bà Nhu, em dâu của ông Diệm đã cho là “ông Sư đã bị quay”. Còn bây giờ ngôi chùa nổi tiếng nhất mà các nhà báo và chánh trị gia thường lui tới là chùa Ấn Quang. Ở đây, Thượng Tọa Thích Trí Quang đang say đắm trong vấn đề chánh trị.

Kỹ sư Văn nghĩ rằng thua một trận không phải là một chuyện quan trọng. Ông đã gặp những người dân lánh nạn, những quân nhân đã từ Phước Long chạy về. Tất cả từ binh sỉ, hạ sỉ quan và cả sỉ quan đều nói rằng họ thiếu súng đạn để có thể tái chiếm Phước Long. Nhiều người còn khẳng định rằng họ không có phương tiện hữu hiệu để chống lại các xe tăng của Bắc Việt . Ông kỹ sư này chỉ tin có phân nửa thôi . Trong thời gian du học ở Paris, ông kỹ sư công chánh này đã có gặp ông Nguyễn Khắc Viện, một người cộng sản có trách nhiệm trong “Hội Việt kiều Yêu Nước”, ông này lo tuyển mộ cán bộ cho Bắc Việt. Lúc đó kỹ sư Văn đang còn mơ ước sự hình thành của một xã hội bình đẳng. Suýt tý nữa là ông đã đi về Hà Nội rồi ! Ông xem một cuốn phim tuyên truyền của Miền Bắc nói về phong trào “cải cách ruộng đất” với những tòa án nhân dân, với những cảnh điền chủ bị chôn sống và bị chặt đầu bằng lưỡi cày. Hoảng hốt, kỹ sư Văn trở về Sài Gòn. Vào những năm của thập niên 50 việc lựa chọn Miền Nam hay Miền Bắc của người Việt Nam đôi khi rất hời hợt….

Là một công chức của Bộ Công Chánh, kỹ sư Văn hy vọng rằng đồng bào Việt Nam của ông sẽ đi theo thuyết trung dung của Đức Khổng Tử. Trung lập và Hòa giải là hiện thân của thuyết đứng giữa. Ông Văn là thành viên của Hội Ái Hữu cựu học sinh, sinh viên các trường trung học Petrus Trương vĩnh Ký, Marie Curie và Chasseloup-Laubat. Trong tổ chức này người ta ca tụng hai nhân vật trung lập: người thứ nhất là Trịnh Đình Thảo, Chủ tịch “Lực Lượng Liên Hiệp Quốc Gia Dân Chủ Và Hòa Bình”, ông này đã chạy theo CPLTCHMN. Người thứ hai cũng trung lập là ông Minh Dương, đang ở Sài Gòn.

_ Tại sao hai nhân vật trung lập, một người ở thành và một người ở ngoài bưng lại không hợp tác với nhau? ông Văn nói. Người ta phải biết vượt qua mọi sự chia rẽ về chánh kiến để cho các gia đình được đoàn tụ với nhau.

Trong các giới trung lưu, có nhiều người Miền Nam có thân nhân ở Miền Bắc và ngược lại. Chúng ta đều là người Việt Nam hết. Ngay như tướng Minh Dương cũng có một người em là Dương văn Nhật, một sĩ quan quân nhu của Miền Bắc.(2) Có nhiều đường dây liên hệ vô hình như vậy ngay ở cấp cao. Ở Sài Gòn người ta nói là bà Tổng Thống Thiệu bao che cho con gái của một thành viên quan trọng trong CPLTCHMN và bà đã đưa cô gái này sang du học ở Hoa Kỳ với tiền riêng của chính bà. Phía người Mỹ cũng than phiền không ít. Có những cuộc dàn xếp ở địa phương giữa Việt Cộng và binh sỉ Miền Nam . Vậy tại sao bây giờ người ta không dàn xếp với nhau ở cấp cao? Tất cả những chuyện này người Mỹ không thể nào hiểu nổi.

Mặc dầu cộng sản Bắc Việt đã tàn sát dân chúng Miền Nam ngoài Huế vào Tết Mậu Thân (1968) , nhưng kỹ sư Văn nghĩ là cộng sản cũng là một bộ phận, một thành phần của quốc gia. Và với danh nghĩa đó, chuyện người cộng sản điều hành đất nước cũng là một chuyện bình thường thôi! Họ cũng đã hy sinh nhiều rồi. Con đường đi đến “trung dung” hình như không tránh khỏi trên phương diện kinh tế, Miền Bắc rất cần có ruộng của Miền Nam và Miền Nam cũng cần có quặng mỏ của Miền Bắc!

Ông Tổng trưởng Giao Thông Công Chánh mở một phiên họp với các chủ sự phòng và giám đốc các công ty liên hệ như Hàng Không Việt Nam, Điện Nước, Chuyển Vận đường bộ đường sông và đường biển, để phân tách vấn đề Phước Long. Ông Tổng trưởng nói:

_ “Đây là cộng sản muốn trắc nghiệm xem phản ứng của Hoa Kỳ có can thiệp hay không và xem chúng ta có tiếp tục chiến đấu hay không?

Ông Tổng trưởng để cho các nhân viên của Bộ được tự do phát biểu sáng kiến của mình: theo đúng lương tri của mỗi người ….

Có nhiều phiên họp khắp nơi, chánh thức hoặc bán chánh thức trong các bộ, hay các công ty. Phiên họp ở Bộ Công Chánh kết thúc, các nhân viên ra về vui vẻ. Trong sự ồn ào người ta nghe được câu:

_ “Người Mỹ đã đầu tư quá nhiều cho Miền Nam chúng ta rồi, nên đâu có dễ gì bỏ chúng ta được”

Hoặc:

_“Hoa Kỳ biết rõ là người Miền Bắc không đủ khả năng khai thác hạ tầng kiến trúc ở Miền Nam ….

Kỷ sư Văn không tin chắc như vậy.

Cũng như bà Nga, nhà văn Duyên Anh, và vị sư kia, cũng như tất cả những người dân Việt Nam ở Sài Gòn  kỹ sư Văn chuẩn bị ăn Tết, một thời điểm rất tốt để mọi người thử đoán xem vận mạng tương lai của mình ra sao. Năm Dần sắp hết, năm Mẹo sẽ đến. Dù là Tổng Thống hay nông dân, thương buôn hay binh sỉ, học trò hay tài xế tắc xi, thợ thầy hay giáo chức, dù được đào tạo ở Tây Phương hay chưa từng xuất ngoại, người Việt Nam nào cũng tin vào khoa học huyền bí với một thái độ hết sức nghiêm túc khiến cho người Âu Châu phải ngạc nhiên và người Mỹ phải rởn tóc gáy! Bài bác cái gì siêu phàm hay phi lý ư?, người Việt Nam sẽ trả lời ngay:

_ “Các ông thì tin vào những lời tiên tri theo khoa học, còn chúng tôi thì tin ở định mệnh theo kiểu của chúng tôi. Muốn đoán được tương lai, chúng tôi có những phương pháp để giải đoán các điềm báo trước.”

Và như thế người ta đi “coi Thầy”. Ở Miền Nam cũng như ở Miền Bắc chánh quyền và báo chí cố đả phá tập tục này. Người ta đến một ông Thầy bói toán. Ông này dùng bốn đồng tiền và một cái bát, xem bao nhiêu sấp ngửa để đoán cho thân chủ. Người ta thường tìm đến các ông thầy mù. Các thầy tướng số thường là học giả nên đắt lắm. Các nhà nghiên cứu người Mỹ nghĩ rằng khoa tướng số xứng đáng hơn lòng thương người. Gương mặt của con người lộ rõ những nét có thể đọc được. Theo một số bác sĩ thì sự thay đổi sắc diện trên gương mặt là dấu hiệu báo trước cho biết trạng thái rối loạn tim mạch.

Ở Sài Gòn người ta vẫn tiếp tục đầu tư. Trước khi xây thêm phòng ốc cho một biệt thự hay muốn cất lại một căn nhà, dù là nhà lá, người ta phải biết rõ việc xây cất đó có cắt đứt “long mạch” nằm ngay dưới lòng đất hay không. Thầy địa lý nào cũng bắt buộc phải làm như vậy. Người ta tin vào những lời chỉ bảo đúng nhất và cũng đắt tiền nhất từ các chiêm tinh gia. Tổng Thống Thiệu thường tin tưởng vào các chiêm tinh gia này. Nếu có một người Tây Phương nào hỏi ông tại sao vậy, tại sao một người Ki tô giáo lại phải đi hỏi ý những chiêm tinh gia? thì ông Thiệu dấu kín sự không bằng lòng của ông bằng một nụ cười nắc nẻ:

_ “Tôi không hỏi ý kiến các chiêm tinh gia mà tôi thỉnh ý các thầy tử vi. Tử vi là một khoa rất chính xác , nhưng không phải tất cả các Thầy Tử vi đều là thầy giỏi.

Năm 1974, ông Thiệu hỏi một chiêm tinh gia:

_ “Nếu tôi từ nhiệm thì ai sẽ thay thế tôi? Đừng quên ông Minh Dương nghe! Sau một hồi suy nghĩ kỹ, ông thầy trả lời:

_Nếu ông từ nhiệm thì không có ai thay thế ông cả.

_Như vậy là cộng sản sẽ thay thế tôi!

Các tướng lãnh cũng vậy, họ cũng hỏi ý các Thầy chiêm tinh trước khi hành quân, một điều mà các cố vấn Hoa Kỳ không mấy thích. Các sĩ quan Bắc Việt thì không làm như vậy nhưng CPLTCHMN thì không ngần ngại xử dụng các ông thầy bói để đánh lạc hướng dư luận ở Việt Nam hay ở ngoại quốc.

Tôn Tử có nói: “Những gì mà người ta gọi là tiên đoán thì không một trời thần nào có thể biết trước được hết. Cũng không thể suy luận hay dự đoán bằng những sự việc đã qua được Mà phải do những người nào biết và nắm chắc được tình hình của kẻ địch.”

Mỗi năm Thầy Huỳnh Liên đều có xuất bản và bán được trên 5000 quyểnTử Vi, và người ta có thể tìm thấy các quyển tử vi này tận ở Paris.

Huỳnh Liên là một thầy Tử Vi giỏi, đoán được số mệnh của quốc gia và của từng cá nhân mỗi người. Ông đã tiên đoán tương lai của nước Việt Nam. Năm nay là năm mẹo (1975), là một năm mà ông Thiệu sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì ông Thiệu tuổi Tý. Bất cứ người nào dù dốt đến đâu cũng biết là chuột với mèo không phải là bạn của nhau (mèo là khắc tinh của chuột). Những người tuổi Tý thì hợp với người tuổi Ngọ. Ai cũng hiểu đó là tuổi của bà Thiệu. Để tránh bớt chuyện không may thì vần phải làm việc thiện, và nếu được thì người ta vào chùa tu phước. Ông Huỳnh Liên thấy trước là năm 1975 sẽ có nhiều chuyện xung đột nhau như nước với lửa vậy.

Các cơ quan hành chánh hình như đang ngái ngũ vì thủ đô quá yên tỉnh.

Ngày 1 tháng 2, ông Giám đốc Bưu Điện loan báo là ông đã có những đường dây điện thoại liên lạc được với Cộng Hòa Nam Phi, với Botsvana, với Lesotho, với Rhodesie qua ngả Paris. Uy tín bắt buộc ! và trong vài ngày nữa đây, người ta sẽ liên lạc với Pretoria còn dễ dàng hơn với Paris nữa.

Du khách tản bộ dạo chơi khắp thủ đô, và người ta tin chắc rằng năm tới đây con số khách du lịch còn nhiều hơn nữa. Tờ báo anh ngữ “Sai Gon Post” một nhật báo đã có nhiều độc giả hơn nhật báo tiếng Pháp Le Courrier d’Extrême Orient trong những năm gần đây đã loan một bản tin sau đây vào ngày 2/2 :” Một trai người Đức, 27 tuổi, muốn kết bạn với một bạn gái Việt Nam, có thể đi đến hôn nhân. Có ảnh gởi tới được càng tốt. Sẽ trở lại Sài Gòn trong những năm tới, 1976

“Ông Hartensuen, 7000 Stuggart, Wannenstrasse 88, Allemagne”

Ban điều hành Thảo cầm viên Sài Gòn rất hãnh diện ghi nhận đã có “137.000 khách viếng thăm, trong số đó có 98.000 người lớn và 38.400 trẻ em”. Ở Việt Nam những con số thống kê liên quan đến người chết , bị thương , người tỵ nạn hay khách viếng thăm sở thú v.v.. thường không được chính xác lắm.

Tổng Thống Thiệu đang chuẩn bị một thông điệp cho người dân Việt Nam vào dịp Tết, đúng theo truyền thống. Năm nay ông nhấn mạnh 3 điểm:

1._ “Phải yểm trợ mặt trận quân sự, tối đa”; Không biết có bao nhiêu mặt trận ở đất nước Việt Nam này?

2.– “Phải tăng cường sản xuất”. Đối với điểm này thì hai Miền Nam Bắc Việt Nam gặp nhau, nhưng Miền Bắc có lẽ phải đôn đốc mạnh hơn Miền Nam.

3._và cuối cùng là “Hậu phương phải được ổn định”, ông mong có một sự đoàn kết và hợp tác mạnh hơn nữa trên mặt trận chánh trị.

Chánh Phủ cần phải giải quyết 3 cuộc khủng khoảng về chánh trị nội bộ.

_Những người Hòa Hảo ở phía Nam Sài Gòn. Giáo phái này theo triết lý Phật Giáo. Họ có tổ chức một lực lượng bán quân sự với một đường lối chánh trị quốc gia chống cộng rõ ràng hơn lực lượng của giáo phái Cao Đài. Người Pháp, rồi người Mỹ cũng như Đệ Nhị Cộng Hòa đều xử dụng lực lượng này. Còn Việt Minh trước kia và bây giờ là Việt Cộng không làm ăn gì được hết trong vùng quê thuộc đồng bằng phì nhiêu của Miền Tây, có quân dân cán chánh gốc Hòa Hảo tham gia kiểm soát. Với gần 2 triệu tín đồ và trên 50.000 được võ trang, họ thực sự là một lực lượng đáng kể. Có lúc họ thỉnh cầu Chánh Phủ nên cử những người của họ vào các chức vụ tỉnh trưởng và quận trưởng. Nhưng ông Thiệu không muốn nới lỏng quyền uy của Chánh Phủ: Các tỉnh trưởng và quận trưởng phải là những quân nhân do ông chọn lựa. Với những người này Chánh Phủ sẽ giữ được quyền lực và kiểm soát chặt chẻ quân đội cũng như dân chúng hơn.

Các đại diện Hòa Hảo được mời đến Dinh Độc Lập để thương nghị. Ông Lương trọng Tường, đại diện cho Tổ Đình yêu cầu ông Thiệu xét lại các thỉnh cầu của lực lượng Phật Giáo Hòa Hảo mà lúc nào ông cũng bảo đảm là vẫn trung thành với Chánh Phủ . Cuối cùng rồi thì đâu cũng vào đó, người ta xoa dịu các đại diện bằng một vài hứa hẹn nhưng chỉ khi nào thanh bình được vãn hồi (3)

_Ngay tại Sài Gòn ông Thiệu phải đối đầu với nhóm đối lập không cộng sản. Nhóm này tuy có ồn ào nhưng không được bao nhiêu người , gồm có Phật giáo và cả Kitô Giáo nữa. Tuy ông Thiệu là người mới trở lại Ki tô giáo, nhưng ông không trông đợi hay nhờ vả gì người công giáo cả. Sau Hiệp ước Genève năm 1954, có nhiều làng công giáo cùng với Cha xứ đã bỏ Miền Bắc di cư vào Miền Nam, những người công giáo này rất tốt. Nhưng trong số những người công giáo ở Miền Nam trong thời gian gần đây có những thành phần gọi là “cấp tiến” lại không có tinh thần vững chắc. Ông Thiệu tin rằng giáo hội Ki tô đã bị nhiễm độc đến tận Vatican rồi. Đức Giáo Hoàng Joan XXIII đã cứng rắn đối với cộng sản . Nhưng khi ông Thiệu được tiếp kiến ở La Mã, thì Đức Thánh Cha Phao Lồ đệ Lục lại khuyên ông nên tìm cách dàn xếp với cộng sản Việt Nam. Ông Phao Lồ đệ Lục cũng đã tiếp bà Nguyễn thị Bình, Bộ trưởng ngoại giao của cái gọi là CPLTCHMN. Cho nên ông Thiệu cũng nghi ngờ luôn những người công giáo.

Linh mục Trần hữu Thanh thuộc dòng Chúa Cứu Thế, một người nhỏ con nhưng hơi nóng tính đã cao hứng thành lập “Phong Trào Dân Chúng Chống Tham Nhũng” đã chĩa ngọn lửa đấu tranh vào cá nhân Tổng Thông Thiệu. Ông phân phối những lời kêu gọi của Phong Trào cho văn phòng báo chí trong nước và cho cả nhà báo ngoại quốc. Vị linh mục này tố cáo ông Thiệu ngày hôm qua thì gian lận trong cuộc bầu cử để nắm chánh quyền và ngày hôm nay thì khuyến khích tham nhũng. Theo linh mục Thanh thì ông Thiệu là một người được sanh ra trong chiến tranh và ông ta muốn kéo dài cuộc chiến này. Có nhiều nhân sĩ ở Sài Gòn tham gia vào Phong Trào Chống Tham Nhũng này, như Nghị sỉ Trương tiến Đạt, và những người công giáo khác như linh mục Thanh Lãng, Chủ tịch Hội Văn Bút, chủ tịch Hội Đồng Báo Chí, và Hội các nhà báo Việt Nam, một người rất có uy tín trong giới trí thức.

Linh mục Thanh của Dòng Chúa Cứu Thế viết văn rất đễ dàng nhưng rất độc ác. Ông viết và phát hành “Bản Cáo Trạng số 1”, không mập mờ, đánh thẳng vào trí tưởng tượng của người đọc, nhất là giới bình dân. Những lời công kích nẩy lửa của ông có hơi lúng túng vì thiếu bằng chứng. Ông xác quyết rằng tài sản quan trọng của ông Thiệu gồm có bất động sản ở Việt Nam và ở ngoại quốc ; rằng ông Thiệu dính sâu vào đường dây buôn ma túy; rằng bệnh viện “Vì Dân” mà bà Thiệu là Giám đốc hành chánh đã trở thành một ổ mua quan bán tước; rằng gia đình của ông và bà Thiệu có hàng trăm “áp phe”. Ông anh rể của bà Thiệu giữ độc quyền nhập cảng phân bón, việc bán phân bón này có một lợi tức quá lớn. Rất thận trọng, ông Thiệu có phản ứng lại theo đường lối riêng của ông. Ông không lý gì tới tác giả của “Bản Cáo Trạng số 1”, không truy tố tác giả về tội phỉ báng, một tội danh có dự liệu trong Hình Luật của Việt Nam, mà Tổng Thống nhắm vào các tờ báo đã đăng bản cáo trạng này với tội danh: có hoạt động thân cộng.

Lại thêm một sai lầm chánh trị tai hại: ông Thiệu đổ tội luôn cho các nhân sĩ công giáo và chánh trị cũng như các nhà báo.

Như vậy chiến thuật và biện pháp của Chánh Phủ cần được giải thích: thì đây, ông Bộ trưởng Nội Vụ họp báo, có bộ trưởng Thông Tin, và Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát kiêm Trung ương Tình Báo đồng tham dự, theo đúng cung cách của chánh phủ, vừa có uy quyền vừa đúng theo luật pháp. Ông Bộ trưởng Nội Vụ tuyên bố:

_16 nhà báo và 2 tổng biên tập kiêm chủ báo bị bắt giữ. Những người này làm việc có lợi cho cộng sản. Họ hoạt động nhằm lật đổ Tổng Thống Thiệu. Chánh Phủ không thể xem họ là thành phần đối lập hợp pháp được.

Năm tờ báo bị đình bản. Một số tờ báo khác bị tịch thu vì Chủ bút của các báo này không chịu cắt bỏ những đoạn văn trong phần bình luận của họ có tính cách bôi lọ vị nguyên thủ quốc gia . Chánh phủ tung ra một cáo buộc không giải thích được: “Các bài báo này tìm cách đầu độc dư luận quần chúng”. Trong cuộc họp báo ông Bộ trưởng đưa ra hai người “phạm tội” không được minh xác lắm: Tô minh Trung thì khai rằng anh ta “làm theo lịnh của Lê Duẫn” và Vũ trọng Lượng thì xác nhận là “người ta cho lệnh anh khai thác tối đa những tin tức nào có hại cho Chánh Phủ”.

Thành phần dự buổi họp báo hầu hết là nhà báo, ai cũng cười. người ta tưởng tượng sai về người lãnh đạo đảng cộng sản ở Hà Nội: làm gì có chuyện ông ta chuyển thẳng lệnh cho một nhà báo ở Sài Gòn được? “Khai thác tối đa” là một nhóm chữ mơ hồ, và không thiếu gì những tin tức xấu. Nói về trạng huống đó thì một nhà báo có ý thức nếu muốn chỉ trích Chánh Phủ thì đâu có cần lệnh lạc gì của ai đâu?

Linh mục Thanh Lãng đại diện cho Hội các ký giả, không sợ gì cả lên tiếng lớn hỏi ông Bộ Trưởng:

_ “Ông có nói là ông đã biết những hoạt động của các người này từ lâu rồi, vậy tại sao ông chờ cho đến giờ này ông mới cho bắt họ?

Ông Bộ trưởng hơi lúng túng không trả lời đúng câu hỏi:

_ “Chúng tôi làm việc trong khuôn khổ của một Chánh Phủ Dân Chủ, Báo Chí phải được Tự Do, nhưng chúng tôi không chấp nhận những người công tác với cộng sản lợi dụng sự tự do đó để dùng báo chí như một phương tiện để tuyên truyền có lợi cho cộng sản . Những lời giải thích đầy tính nguyên tắc đó không đánh lừa ai được cả. Một đại diện của nhật báo Điện Tín bênh vực ký giả Vũ trọng Lương, một nhân viên trong ban biên tập của mình:

_ “Ông Lương coi về tin tức văn hóa trong tờ báo của chúng tôi. Trước đó anh đã phụ trách mục “Thi Văn” trên đài phát thanh Sài Gòn. Nếu trước kia Chánh Phủ không biết anh ta đã cộng tác với cộng sản, thì bây giờ chúng tôi làm sao biết được chuyện đó?

Thính giả bình luận ồn ào. Có người to tiếng hỏi:

_Ai đã bị bắt?

_Đọc tên lên, đọc tên lên.

Ông Chỉ huy trưởng Cảnh Sát đọc một lô tên những nhà báo bị bắt, không nói họ là cộng sản thiệt hay là tình nghi cộng sản.

Ông Cao Giao, một trong “ba chàng ngự lâm pháo thủ” đưa ra câu hỏi:

_Còn anh Choé thì sao?

Choé là một họa sỉ có tài. Ông ta được ghi nhận là mất tích. Những hí họa của anh ta có tánh cách chống cộng sản dữ dằn lắm mà đối với Chánh Phủ cũng không kém gì hơn. Anh ta đã có đề phòng trước nên không bị bắt. Ở Hà Nội thì cộng sản muốn bắt giam ai cũng được nhưng ở Sài Gòn thì chánh quyền phải làm việc cẩn thận hơn.

Sự việc này làm náo động cả thủ đô. Người ta họp nhau lại, rồi người ta đưa ra những kiến nghị trong tinh thần đoàn kết. Một phát ngôn viên của Phật Giáo tranh đấu Ấn Quang tuyên bố là : “chúng tôi sẳn sàng yểm trợ giới báo chí”. Có bốn tờ báo không dính líu vào vụ này đã có quyết định tự đình bản một ngày . Ba tờ báo có trợ cấp của Chánh Phủ thì đăng một bản thông cáo chánh thức không đặt thành vấn đề: “Các ký giả bị bắt giữ là cộng tác viên bí mật của cộng sản”

Đến lượt Thượng viện cũng thấy nóng lên. Bốn mươi tám nghị sỉ thuộc nhóm đối lập không cộng sản ở Quốc Hội cáo giác sự tịch thâu báo chí của chánh quyền viết đầy lên tường quy lỗi cho ông Thiệu đã dùng những phần tử thối nát. Lá thư của nhóm người này không chĩa mủi dùi vào ai hết, ngoại trừ tướng Quang, cố vấn an ninh của Tổng Thống. Họ khéo cẩn thận không nói gì tới vị nguyên thù quốc gia hết, không cáo buộc cá nhân ông ta. Để làm tăng vẻ quan trọng của vấn đề tất cả đều ký tên bằng máu.

Đại sứ Hoa Kỳ cho biết là việc bắt bớ các nhà báo đã gây một hậu quả không hay ở Hoa Thạnh Đốn. Chánh Phủ bèn lui một bước. Các vị Bộ trưởng giải thích là có một sự hiểu lầm. Hầu hết các nhà báo bị bắt giữ dĩ nhiên không thể nào và không phải là cộng sản. Chánh Phủ sẽ coi lại vấn đề và chắc chắn họ sẽ được trả tự do vì họ chỉ là “nạn nhân của sự đầu độc của cộng sản”

Ông Minh Dương họp các bạn bè của ông lại. Đến lượt ông đại diện của lực lượng thứ ba lên tiếng:

_ “Bắt giữ các tổng biên tập và những ký giả nhà báo, đóng cửa những tờ báo đang ủng hộ cuộc chiến đấu của chúng ta, đó là Chánh Phủ đã đụng vào chúng ta rồi đó. Một hành động ngạo mạn và coi thường quần chúng. Chánh phủ độc đoán này muốn bóp nghẹt tiếng nói của chúng ta. Chúng ta còn vui vẻ gì nữa mà ăn Tết? Cuộc tranh đấu của chúng ta sẽ gặp khó khăn rồi. Thưa các bạn, tôi muốn nói tới sự hòa giải mà tôi đã từng tranh đấu lâu rồi, chỉ có sự hòa giải mới đem lại hòa bình mà thôi” (4)

Còn gì chính xác hơn nữa ! ông Minh Dương đã ám chỉ tới nhu cầu trao quyền hành lại cho những người “được sự hậu thuẫn của quần chúng”, cho những lực lượng chánh trị “của quần chúng”.

Giả bộ khiêm nhường ông Minh Dương không muốn đi tới nữa. Ông ta cũng thận trọng không nói tới thái độ độc đoán, và không tấn công đích danh ông Thiệu. Ông ta khôn ngoan lắm. Giữa hai người tướng lãnh hình như có một thỏa thuận ngầm với nhau. Mười hai năm trước cùng với mấy người khác, họ đã từng hợp tác với nhau trong cuộc lật đổ Tổng Thống Diệm. Đúng theo truyền thống thì ông Thiệu phải kính nể ông Minh Dương vì ông này vừa cao tuổi hơn vừa đã từng là cấp chỉ huy của ông. Vì quyền lợi, bắt buộc ông Thiệu phải có thái độ nể nang và ngó lơ cho ông Minh Dương vì có như thế thì coi như trên sân khấu chánh trị ông Thiệu chấp nhận có một đối thủ ít nhất cũng có sức mạnh bề ngoài, còn có bộ mặt đa nguyên đúng ý muốn của người Mỹ nữa. Bù lại ông Minh Dương cũng tiết chế những mối bất đồng hoặc có phát biểu thì cũng nhẹ nhàng kín đáo để tránh khỏi bị loại ra khỏi vòng chiến bằng một sự bắt bớ không hay.

Năm mươi chín tuổi, người cao lớn (do đó mới có biệt danh là Big Minh), tướng Dương văn Minh có một vai trò lạ lùng lắm, một vai trò mà ông không thể tin được là của chính mình. Ngay những người thân cận với ông cũng thừa nhận là ông không có khiếu về chánh trị. Giống như Kác Mác đã từng nói là ở miền đồng bằng thì một ngọn đồi nhỏ cũng có vẻ như là một ngọn núi vậy. Lạ lùng lắm, vì lực lượng thứ ba nhìn nhận ông là đại diện của họ nhưng ông Minh Dương này chưa từng bao giờ tuyên bố như vậy. Gần như ông làm nấc thang cho người khác đi, những người có nhiều tham vọng và không được bình dân như ông. Vậy cái bản chất bình dân mà bạn bè ông thường nói đúng ra nó là cái gì?. Ở Sài Gòn không có người nào và cũng không có cơ quan thăm dò dư luận. Ông Minh Dương luôn luôn rụt rè khi phải xuất hiện trong những cuộc bầu cử, mà thường ông không biết điều động. Còn số mệnh của ông ? có thể là số mạng của người thất bại trong danh dự. Là con của một giáo chức, ông chỉ mơ ước được làm một công chức và được biết Âu Châu. Ông không thể vào trường đại học Sorbonne (Pháp) được , cũng không thể vào trường võ bị Saint Maixent của Pháp. Vào đầu Thế chiến 2, ông nhập ngũ và trở thành quân nhân ở Việt Nam. Vừa mới thoát khỏi một trại tù binh Nhật bản, ông lại bị Việt Minh bắt . Sau đó ông được kết nạp làm giáo viên, phục vụ trong Đệ Tứ Cộng Hòa Pháp quốc. Năm 1954, với cấp bực trung tá, ông Minh đầy tình cảm này đã được lệnh

thanh toán thẳng tay lực lượng Bình Xuyên hung dữ. Được Tổng thống Diệm đỡ đầu, ông Minh được thăng cấp đại tướng bốn sao năm 1957, và sau đó lại tham gia vào nhóm quân nhân lật đổ ông Diệm vào năm 1963, có sự đồng ý của Hoa Kỳ. Ông Diệm bị hạ sát theo lệnh của tướng Minh Dương. Ông thành lập và trở thành chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng trong một thời gian ngắn, nguyên thủ quốc gia danh dự. Tướng Minh Dương lại là nạn nhân của một nhóm sĩ quan trẻ đảo chánh ông năm 1964 và ông được đưa qua sống lưu vong ở Bangkok (Thái Lan) từ đó.

Ông trở về Sài Gòn vào tháng 10 năm 1968. Khi thuộc cấp cũ của ông là tướng Thiệu lên làm Tổng Thống, ông này đề nghị ông làm cố vấn đặc biệt. Ông Minh từ chối đề nghị hấp dẫn này cũng như ông đã từ chối lãnh đạo một đảng của Phật Giáo. Sự trong sáng của tướng Minh mà nhiều người tán tụng ông về sự thanh liêm và khôn ngoan.. đôi khi trở thành vẩn đục . Dinh ông ở số 3 đường Trần quý Cáp, rất khiêm nhường cho một đại tướng bốn sao. Nơi đây ông thường tiếp các chức sắc của chế độ, những nhà ngoại giao không tên tuổi, những bình luận gia nổi tiếng và những nhân viện mật vụ có xưng danh hay không cũng vậy. Năm 1971 kết quả bầu cử của ông tại Sài Gòn cũng tốt lắm.

Đã từ lâu rồi, ông Minh Dương đã nói khéo lắm:

_ “Chánh Phủ Sài Gòn và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (sau này là CPLTCHMN) bên nào cũng đều có cái hay của họ. VNCH có lực lượng quân sự, cảnh sát v.v.. nhưng CPLTCHMN không có. Họ chỉ dựa vào nhân dân mà thôi.”

Vậy nhân dân này là những ai? và họ đang nghĩ gì? Có thể nào tướng Minh Dương sẽ nỗi danh hơn là bình dân ở khắp các đô thị? và trước nhất là ở Sài Gòn?

Năm 1971, người ta muốn là các cuộc bầu cử phải được tiến hành công khai, hay ít nhất cũng có vẻ như vậy . Tòa Đại sứ Hoa Kỳ đề nghị ông Minh Dương ra tranh cử đối đầu với ông Thiệu. Ông Minh lưỡng lự rồi từ chối. Chán nản, người Mỹ không còn chạy theo ông nữa. Lúc bấy giờ, nhân vật duy nhất giữ liên lạc với ông Minh là tướng hiện dịch hồi hưu Charles Timmes. Ông đã làm việc cho Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ đặc trách liên lạc với tất cả các tướng lãnh ở Miền Nam Việt Nam.

Đệ nhị cố vấn của Tòa Đại sứ Pháp, Pierre Brochand thường gặp tướng Dương Văn Minh. Ông Minh tính hòa nhã thích nuôi cá, trồng lan và chơi quần vợt ở Câu lạc bộ thể thao Sài Gòn, nơi mà ông Brochand thường đến. Tướng Minh thường nói: “tôi không có tham vọng gì cả” và người ta tin như vậy. Rồi ông lập lại: “Đối với tôi, chánh trị trước hết là vấn đề luân lý”. Luân lý của tôi là luân lý Khổng Mạnh. Và người ta ca tụng ông. Người Mỹ họ không thấy một chương trình hành động nào trong cái vắng thiếu luân lý Khổng Mạnh đó, họ nhận thức đó là một sự thiếu nghị lực. Nhiều người sau khi đến vấn kế tướng Minh Dương đều trở về với câu hỏi trong đầu, giống như Staline đối diện với tòa thánh Vatican vậy: lực lượng thứ ba có bao nhiêu sư đoàn? Bản thân ông Minh cũng có câu hỏi tương tự. Ông tướng này đi dây giữa CPLTCHMN và Chánh Phủ Sài Gòn. Ông có mặt khắp nơi mà cũng không có mặt nơi nào hết. Ông thản nhiên giữ liên lạc tốt với Thủ tướng Khiêm, một ông tướng bốn sao như ông. Trong giới lăng xăng chạy theo tướng Minh, người ta thường thấy những tài tử nhưng cũng có nhiều người tài trí lỗi lạc. Một trong những người cố vấn chánh trị của ông là ông Tôn thất Thiện, lại có những lời nói bất lợi cho ông Minh về khía cạnh chánh trị:

“Ông Minh là người Nam, là một Phật tử, ông được khắp Miền Nam Việt Nam ủng hộ, từ Huế đến Sài Gòn. Ông là một quân nhân liêm chính, uy tín không hề bị sứt mẻ trong quân đội, ông không có một cao vọng nào cả..”

Sao lạ vậy? Một người làm chánh trị mà lại không có một ước vọng hay một tham vọng nào hết! được sao? Chung quanh ông Minh, có vài người chờ đợi ông ta phải có quyết định, hoặc mong có những tình huống bắt buộc ông ta phải nắm chánh quyền: ông Vũ văn Mẫu, tiến sĩ luật, đã từng là Tổng trưởng ngoại giao. Ôn này chủ trương hòa bình hơn ai hết, bảo trợ cho “lực lượng hòa giải”, một phong trào, một chủ trương chớ không phải là một đảng. Một người nữa là ông Nguyễn văn Huyền, một tín đồ Ki tô giáo thuần thành hơn là một chánh trị gia, một người thần học hơn là một người có tinh thần thực tế, ông từ chức nghị sĩ Quốc Hội để phản đối đường lối chánh trị của ông Thiệu. Ông Huyền đã đánh bại một người của ông Thiệu trong Quốc Hội để lên đảm nhiệm chức vụ Chủ Tịch Thượng Viện. Người ta thấy ít sợ nhưng kính nể ông Minh Dương và những người của ông ta. Qua phát biểu hay những bản tuyên bố, ông Minh đòi hỏi quyền hội họp và nhu cầu phải có những tổ chức chánh trị thật sự, của cả hai bên. Ông Minh Dương không nuôi một ảo tưởng nào đối với chế độ Hà Nội, tuy nhiên ông nhân danh “hòa hợp hòa giải”, ông thường tránh không trực diện nói tới cộng sản Bắc Việt trong những phát biểu chánh thức của ông. Ông cũng không xem thường những chi tiết rất quan trọng của giới tiểu tư sản và tư sản ở Miền Nam. Ông đòi hỏi phải bải bỏ chiếu khán xuất ngoại hay nhập cảnh cho mọi công dân Việt Nam. Trong cố gắng là “một người của tất cả mọi người”, ông không thành “một người nào” của ai hết! Có thể ông ta đang tiến từng bước một để đợi thời cơ thuận tiện chăng?

Trên lý thuyết thì Chánh Phủ VNCH và CPLTCHMN đang tiến hành thương lượng, đàm phán với nhau tại La Celle-Saint-Cloud (Pháp) về tương lai và thành phần của một Chánh Phủ ở Miền Nam , nhưng trên thực tế thì các phiên họp đã ngưng lâu rồi. Nếu ở đó hai Bên thỏa thuận về cái tên của ông Minh Dương, thì ông này sẽ có hành động gì ? Ông ta không khi nào dám trả lời một cách rõ ràng. Ông thì thầm một vài câu bâng quơ như là “Tôi muốn phục vụ Tổ Quốc của tôi với sự yểm trợ của dân tộc tôi ..” . Người ta đồng ý chấp nhận điều này rồi, nhưng cho tới giờ này điều đó không thấy có gì thực tế hay hữu hiệu cả. Trong vụ tịch thâu báo chí, ông Minh Dương đã cho là mình đã tích cực can dự vào, nhưng ông Thiệu không hề ghi nhận được điều gì hết.

Mặc dầu bị cấm nhưng đó đây người ta đã nghe tiếng pháo truyền thống nổ vang…. báo hiệu Sài Gòn cũng đã “ăn Tết”. Các Phật tử dập dìu đi chùa, cố tìm một niềm vui vừa phải thôi! Không một người Việt Nam nào mà không nghĩ tới ngày Tết năm Mậu Thân (1968). Lúc bấy giờ trái với truyền thống Việt Nam, không tôn trọng lệnh hưu chiến mà họ đã thỏa hiệp, cộng sản đã tiến hành một cuộc tấn công khắp Miền Nam Việt Nam. Cho nên cứ mỗi lần Tết đến là người ta tự hỏi: Liệu cộng sản có dở lại cái trò đó nữa hay không?

Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đã có tiên liệu nên đã không cho công chức nghỉ, và cấm quân nhân nghỉ phép dài hạn. Mỗi người chỉ có một ngày rưỡi phép thôi. Dè dặt hơn, Bộ trưởng Giáo Dục cho học sinh, sinh viên nghỉ hai tuần để tránh các cuộc biểu tình ủng hộ các nhà báo.

Ngày 17 tháng hai, Chánh Phủ rút lại một số cáo buộc đối với báo chí. Ngày 18, một phiên tòa đã tha bổng các nhật báo từng bị tố cáo là vi phạm luật báo chí, mà ông Thiệu nghĩ là phải cần được tu chỉnh lại. Ngành Tư Pháp ở Miền Nam hoàn toàn không lệ thuộc vào Hành Pháp: Tòa án buộc Bộ Nội Vụ phải bồi thường 200.000 đồng thiệt hại cho nhật báo Sóng Thần.

Cuối cùng rồi người ta thấy Chánh Phủ giải quyết một cách êm đẹp cuộc khủng khoản này. Cuộc xáo trộn lắng xuống ngay. Những phán quyết cuối cùng của Tòa án đã làm dịu ngay cảm tưởng của ủy ban đại diện Thượng Viện Hoa Kỳ, một điều mà cả ông Thiệu và các Bộ trưởng của ông đã trông chờ.

Một phái đoàn của Việt Nam Cộng Hòa đã đến Bộ Ngoại Giao và Quốc Hội Hoa Kỳ để giải thích lập trường của Miền Nam. Ông Kisinger đã rời khỏi Hoa Thạnh Đốn từ ngày 13 tháng hai, đi một vòng sang Ai Cập, Syrie, Do Thái, Arabie Saoudite, Cộng hòa Liên bang Đức và cuối cùng sẽ đến Genève để gập ông André Gromyko Ngoại trưởng Liên Xô. Chuyến đi này có thể giúp ích cho Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa. Người ta nói tới một sự viện trợ của Arabie Saoudite cho Miền Nam vì Quốc Vương Faysât của quốc gia này ca tụng sự chiến đấu chống cộng sản của quân dân Miền Nam Việt Nam.

Tại thủ đô Hoa Thạnh Đốn, phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa do một nhà ngoại giao khôn ngoan và thận trọng là ông Trần văn Lắm, Chủ tịch Thượng Viện hướng dẫn, đã được Tổng Thống Gerald Ford tiếp kiến. Tổng Thống Ford nói:

_Tôi muốn tỏ lòng khâm phục của tôi đối với cuộc chiến đấu hào hùng của quý vị và đồng bào Miền Nam của quý vị, trong cuộc chiến để gìn giữ sự Tự Do của dân chúng Miền Nam … Tôi tin chắc rằng quý vị đã biết được nỗ lực của cá nhân tôi để đạt được một sự viện trợ và một sự giúp đõ hữu hiệu cho đất nước của quý vị. Tôi mong rằng cuối cùng rồi Chánh Phủ Miền Bắc cũng phải thấy được lòng kiên trì và quyết tâm của quân dân Miền Nam để họ chấp nhận thi hành đúng đắn Hiệp Định Paris.”

Liệu ông Ford có tin vào những gì ông đã nói hay không? Đặc phái viên của ông Thiệu và những người đồng viện của ông ta có cảm giác rằng phần đông những nhân vật mà họ đã gặp và nói chuyện ở Hoa Thạnh Đốn đều không còn muốn nghe đến hai chữ Việt Nam nữa. Những tiếng thở dài mệt mỏi và những hứa hẹn mơ hồ không thế nào dối gạt ai được hết….

Tại Câu lạc bộ Báo Chí quốc gia, ông Trần văn Lắm đã phát biểu:

_ “Đúng ra bài toán không phải ở vấn đề viện trợ bổ túc. Trong những năm trước, người ta phải chi 100.000 mỹ kim mỗi ngày lúc đang có gần 500.000 lính Mỹ hiện diện ở Việt Nam. Bây giờ Tổng Thống Ford chỉ xin có 300 triệu mỹ kim, một con số đâu có gì là thái quá đâu?

Tại Hoa Thạnh Đốn ông Trần văn Lắm đã nhìn thấy quá rõ, người ta không ngừng nhắm vào tánh chất chuyên quyền của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, một luận cứ mà những người phản chiến đang tạo ra và đang đẩy mạnh trên mặt trận truyền thông. Một số thành viên của phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ sắp qua Sài Gòn, nhất là bà Bella Abzug, dân biểu của tiểu bang New York, đã nêu lên mối bận tâm của họ đến vấn đề tù chánh trị ở Miền Nam.

Ông Trần văn Lắm nói:

_ “Quốc gia chúng tôi thực tế được sanh ra từ trong chiến tranh. Cho nên nước Việt Nam không bao giờ có khả năng thực hành hoàn toàn Dân Chủ. Dù thể chế chúng tôi có một vài khuyết điểm, nhưng ít nhất điều này cũng giúp được chúng tôi nhiều khả năng để chuyển đổi..

Những lời nói của ông Lắm không ra ngoài tầm nhận xét của những người ủng hộ chế độ Miền Nam . Trong thâm tâm ông muốn nhấn mạnh rằng sự chuyên quyền hay độc tài của cánh hữu còn có thể chuyển đổi được, khác hẳn với sự độc tài ở cánh tả của cộng sản ở Miền Bắc.

Ông Lắm và các bạn đồng viện của ông rất là khó chịu. Trong sự chú tâm của Hoa Thạnh Đốn về Đông Nam Á, người ta chỉ nghỉ tới Cam Bốt mà thôi. Ngày 13 tháng hai, phúc trình phân tách cập nhật của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương nêu lên hai dự đoán là cộng sản có ý định “chiếm toàn bộ tỉnh Tây Ninh như họ đã chiếm tỉnh Phước Long tháng trước” và “Sài Gòn sẽ phải nỗ lực rất nhiều trong việc phòng thủ tỉnh Tây Ninh.”

Có rất nhiều chuyên viên trong guồng máy chánh quyền cũng như trong những cơ quan nghiên cứu tư ở Hoa Kỳ đã có nhiều dự đoán trong gần 20 năm qua. Các ông này xem chừng như rất thích thú khi họ muốn đem những dữ kiện khoa học ra xử dụng để tìm đáp số xuống thang cho cuộc chiến . Họ quên rằng không thể có vấn đề khoa học trong số lượng hành động của con người, nhất là trong chiến tranh. Đó chỉ là giấc mơ của khoa xã hội học và của tất cả khoa nhân loại học, thường không phải thuộc lãnh vực khoa học mà cũng không liên quan đến nhân loại. Nhưng từ trào của ông Robert Mc Namara ở Ngũ Giác Đài, thì ý muốn của mấy ông này trở thành bất biến!

Sự ám ảnh này đã được thấy rõ ràng trong một báo cáo của một nhà nghiên cứu tên là Warren Phillips, được trình lên trong một buổi gặp gỡ thường niên của “Hội Nghiên Cứu Quốc Tế” ở Hoa Thạnh Đốn từ ngày 18 đến 23 tháng hai. Bản báo cáo có tựa đề là “ông Henry có thành công một mình được không?. “ Ông Henry Kissinger có thể nào ép buộc Bắc Việt phải thương lượng hay không? Ông Phillips dựa trên thuyết của ông Markov và những tiến bộ kỹ thuật của ông ta. Ông Phillips cho rằng: “muốn thấy được hành động của một nước nào đó đối với một quốc gia khác, thì phải phóng chiếu tới tương lai xem nước đó đã có hành động nào trong cùng một lãnh vực trong quá khứ gần nhất.” Người ta giả dụ là những thay đổi và những triệu chứng phản ảnh hành động trong quá khứ có thể dùng để phỏng đoán được những bước hành động trong thời gian sấp tới. Đắm chìm trong cái lối nhìn cuộc chiến theo toán học, một lớp trí thức của Hoa Kỳ trong các bộ tham mưu hay trong các viện nghiên cứu tư nhân, say mê với các con số lũy thừa, các đường cong diễn biến (pa-ra-bol) lô-ga-rít của đại số học, để thiết lập đồ thị dẫn giải về lịch sử, về thuyết tương quan, đa dạng v.v….

Theo chiều hướng đó, ông Phillips xem xét lối cư xử và hành động của Miền Bắc trong những năm từ 1971 đến 1973, để thiết lập những phương trình khá lạ lùng: Hảy tưởng tượng một quốc gia “Q” nào đó, với những mẩu số đã có X (đầu vô), và những mẩu số Y (đầu ra) …

“X———————Q———————–Y”

Và ông Philipps chọn những con số để phân loại các phản ứng của Bắc Việt đối với Hoa Kỳ, Liên Xô, và Trung Cộng:

  • 3 (trừ 3) = rất “không thân thiện”
  • 2 (trừ 2) = “không thân thiện”
  • 1 (trừ 1) = “không thân thiện” ít thôi

0 = trung lập (trung dung, không thân thiện, không chống đối)

+ 1 (cộng 1) = “thân thiện” ít thôi

+ 2 (cộng 2) = “thân thiện”

+ 3 (cộng 3) = rất “thân thiện”

Ông Philipps thiết lập một lô phương trình trên 31 trang giấy và sự nghiên cứu theo dõi của ông dẫn tới một kết luận quá vô vị: kết quả quan trọng của sự nghiên cứu này cho thấy phản ứng của Bắc Việt thay đổi từng thời kỳ, và ông nói một cách ngây thơ rằng “trong hiện tại, không hiểu tại sao Bắc Việt lại từ chiến lược này nhảy sang một chiến lược khác? ” Tại sao một lúc nào đó họ đàm phán để rồi lại tiếp tục đánh nhau, và ngược lại? Do đó ông Philipps thú nhận là “chúng ta cần rất nhiều tin tức về các quyết định trong nội bộ đảng cộng sản Bắc Việt trước khi có thể quyết đoán được họ sẽ có hành động nào đối với quốc tế.”

Trong những năm gần đây đã có rất nhiều bản nghiên cứu loại này, nhưng bản nghiên cứu của ông Warren Philipps không được hai Bộ Ngoại Giao và Quốc Phòng Hoa Kỳ để ý tới. Vì giống như một bức tranh biếm họa, bản nghiên cứu loại này chỉ đại diện cho một khuynh hướng của một số trí thức nào đó ở Hoa Kỳ đối với bài toán Việt Nam mà thôi.

Clausewitz đã có nói: “Đây cho thấy tại sao các công trình nặng về lý thuyết và phê bình của chúng ta thay vì phải sáng sủa và giản dị, vì có như thế thì tác giả mới biết mình viết cái gì và độc giả mới biết mình đọc cái gì… thì có những danh từ kỹ thuật, tối nghĩa, trừu tượng làm cho người viết và người đọc phải xa cách nhau. Tệ hơn nữa đó lại chỉ là những chiếc thùng rỗng! Ngay như tác giả cũng không nắm rõ thực nghĩa của các danh từ đó, và phải chấp nhận một trạng thái mập mờ mà ông ta cũng không hài lòng lắm khi phải dùng ngôn ngữ để nói lên những danh từ đó.

Người dân Hoa Kỳ có quan niệm lạc quan hơn là bi quan: Họ muốn rằng Lịch Sử, trong chiến tranh cũng như trong hòa bình đều phải hợp lý. Trong thập niên 70, Hoa Kỳ sống trong một giai đoạn mà kỹ thuật đang tiến vượt bực gồm các sự phát triển có tính cách quyết định về tin học. Thì làm sao họ không có thể đánh gục được một quốc gia nhỏ bé chậm phát triển như Bắc Việt khi mà họ đã lên được cung Trăng?

Các máy điện toán (vi tính) đã cho những kết quả rất thú vị khi được đối chiếu với những thông số thường, như thuyết “hấp lực” của ông Newton. Các loại máy này chắc cũng phải cung cấp được nhiều loại dữ kiện hơn nữa để hiểu được xã hội và các lãnh đạo chánh trị. Kỹ thuật và phương pháp tin học trong khoa nhân chủng học đã rất thịnh hành ở Phương Tây, nhất là ở Hoa Kỳ, nơi mà ngành tin học đã tiến triển vượt bực. Đó đây có những người như Warren Philipps và những máy vi tính đã cho ra những kết quả vô nghĩa vì các dữ kiện hoàn toàn sai lạc hay quá đơn giản. Các máy điện toán không va chạm được với thực tế. Với một ông Philipps tự tin là nắm được thái độ và hành động của Bắc Việt xuyên qua thuyết của ông Markov, thì chiến tranh là một chuyện không thực tế, càng không thực tế hơn vì đối với một sử gia của thế kỷ 20 thì đó là là một cuộc chiến của thời Trung cổ.

Người ta không thể nào hiểu được người cộng sản Miền Bắc đã tính phải làm gì trong những năm 1963, 1965, 1968, 1972, 1973 . Người ta cũng không biết bây giờ họ sẽ có hành động thế nào trong tháng hai 1975. Với một trình độ hiểu biết tối thiểu về chánh trị, sau một thời gian tiếp xúc có thể nói là cạn cợt với Lenine, người ta phải biết và phải dự đoán được là Bắc Việt sẽ không bao giờ tôn trọng Hiệp Định Paris. Những nhà sưu tầm nghiên cứu Hoa Kỳ ở Trung Ương Tình Báo hay các chỗ khác đã có những tin tức chính xác, nhưng cũng giống như ông Philipps họ không thể nào nắm bắt được ý nghĩ trong đầu của Tổng bí thư Lê Duẫn ở Hà Nội hay của các tướng lãnh Bắc Việt. Một yếu tố căn bản là ý chí độc tôn, một sự tình nguyện cuồng dại có tăng mà không có giảm của lãnh đạo đảng … những yếu tố này không thể đưa được vào một phương trình hay một máy vi tính nào được hết.

Ngày 23 tháng hai, ở phiên họp cuối cùng của Hội Nghiên Cứu Quốc Tế, ông James Schlesinger vẫn không loại trừ một sự can thiệp của Hoa Kỳ , nhưng khi được đài ABC phỏng vấn trên hệ thống truyền hình, ông tổng trưởng Quốc Phòng phải giữ sự dè dặt:

_ “Đó là một khả năng hành động còn xa lắm….

Ông ta cũng chỉ nghĩ đến Cam Bốt:

_ “Chắc chắn là Cam Bốt sẽ rơi vào tay cộng sản, nếu Quốc Hội không chấp thuận một ngân khoản viện trợ quân sự bổ túc..”

Ngày hôm sau, Tổng Thống Ford viết cho ông Thiệu, để trả lời cho những bức thư mà ông Thiệu đã gởi cho ông ngày 24 và 25 tháng giêng, theo đó ông Thiệu muốn biết ý định của Hoa Kỳ sau khi cộng sản chiếm tỉnh Phước Long.

Ông Ford chỉ nói chung chung để cá nhân ông khỏi bị dính vào cam kết nào cả:

_ “Tôi chia xẻ nổi ưu tư của ông. Tôi muốn đoan chắc với ông rằng Chánh Phủ của tôi tiếp tục nhấn mạnh để Hiệp Định Paris được thi hành đúng đắn”

Nói chuyện thi hành Hiệp Định Paris sau khi Miền Nam bị cộng sản Bắc Việt chiếm cả một tỉnh, đã cho thấy một sự giả nhân giả nghĩa quá ngây ngô hoặc một sự ngu đốt không thực tế chút nào của Hoa Kỳ.

Ông Ford còn viết tiếp:

_ “Một lần nữa, quân dân Miền Nam đã chứng tỏ quyết tâm của họ trước các cuộc tấn công của Hà Nội. Mặc dầu thiếu thốn về đạn dược và bị tràn ngập cả ở tỉnh Phước Long và ở ngọn núi Bà Đen vì địch quân có một số lượng quá áp đảo về quân số, nhưng sự chiến đấu dũng cảm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã làm cho tôi rất khâm phục.”

Ông Ford nhìn nhận rằng bài toán chính yếu của quân dân Miền Nam là : thiếu thốn vũ khí và đạn dược. Núi Bà Đen, một ngọn núi nhỏ thuộc tỉnh Tây Ninh, nằm sát biên giới Cam Bốt đã bị cộng sản tấn chiếm, là một trạm tiếp vận truyền tin rất quan trọng. Bộ chỉ huy Bắc Việt hay nói đúng hơn là tướng Trần văn Trà đã tổ chức một cuộc tấn công dương Đông kích Tây đánh lạc hướng, nhằm làm cho người ta lầm tưởng rằng cộng sản Bắc Việt sẽ mở các cuộc tấn công quy mô vào vùng này. Ông Ford còn giải thích thêm cho ông Thiệu để ông này phải tin chắc rằng là nếu cuộc chiến còn kéo dài, phần lỗi sẽ thuộc về phía Bắc Việt:

_ “Chúng tôi tiếp tục tin rằng việc thi hành Hiệp Định Paris qua việc đàm phán trực tiếp giữa hai Bên Việt Nam là phương cách nhanh nhứt, thích hợp nhất và hữu hiệu nhất để chấm dứt cuộc đổ máu…”

Lá thư cũng nhắc lại một cách mơ hồ:

_ “Chúng tôi sẽ làm hết sức của chúng tôi để cung cấp sự giúp đỡ tối cần thiết cho sự chiến đấu của quân dân Miền Nam cho tới khi đạt được nền hòa bình.”

Nói gì thì nói, vẫn không có vấn đề gởi pháo đài bay B.52 hay chiến đấu oanh tạc cơ “Con Ma” (Phantom), dĩ nhiên là không thể có bộ binh! Ông Ford chỉ có một cam kết duy nhất là “xin Quốc Hội ngân khoản”. Ông Thiệu đang ở trong một trận chiến mà ông không sao thấy được phần kết cuộc. Còn ông Ford nói về “hòa bình” như là một vật gì đó đang nằm ở góc đưòng, mặc dầu ông ta vẫn nói : con đường đi tới hòa bình không bao giờ dễ dàng đâu. Từ lâu rồi, con đường này ở Việt Nam rất là dài và rất là khó khăn. Biết là nó đã như thế từ lâu rồi ? Vậy trong tương lai con đường này có còn như thế hay không?

Ngày 27 tháng hai; những người có trách nhiệm ở Nhà Trắng có trong tay một bản báo cáo phân tách tổng hợp của tất cả các cơ quan tình báo: “Bắc Việt sắp chuyển vào Nam một trong những sư đoàn trừ bị, đó là sư đoàn 341 E.”

Chú Thích của dịch giả:

(1) Câu nói của Phạm xuân Ẩn, một cán bộ cộng sản cao cấp nằm vùng, có chủ ý rõ ràng là: che dấu kế hoạch tổng tấn công của cộng sản Miền Bắc .Sau ngày 30/4/1975, Phạm xuân Ẩn lộ nguyên hình là Đại tá cộng sản đặc trách Tình Báo của Hà Nội, nằm vùng tại Miền Nam. Trước 30/4/75 không hiểu tại sau ông lại cho Mỹ bốc cả vợ con ông sang Mỹ, nhưng sau 30/4/75 cộng sản buộc vợ con ông phải về lại Việt Nam nên họ phải trở về qua ngã Đông Âu, rồi Liên Xô để từ đó về lại Sài Gòn. Đến cuối thập niên 80, ông được Hà Nội tuyên dương công trạng và được vinh thăng Thiếu tướng, hiện vẫn phục vụ trong ngành Tình Báo quốc nội, cho đến ngày hôm nay. Sau 1975 hai người ký giả bạn trong “ba chàng ngự lâm pháo thủ” là Cao Giao và ông Vượng mới biết được mặt thật của Phạm xuân Ẩn. Hai ông này đều đã qua đời…..

(2). (nguyên tác:Général Dương văn Nhật). Sau 30/4/1975 mới biết được ông này không phải cấp tướng mà chỉ là một trung tá việt cộng tập kết ra Hà Nội năm 1954, không thuộc hàng ngũ của quân đội Bắc Việt, nhưng được cộng sản đưa trở về Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và được cộng sản bố trí, cho kín đáo vào nằm phục ngay tại nhà ông anh ruột là tướng Minh Dương tại góc đường Trần quy Cáp Sài Gòn, như một sĩ quan liên lạc của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, qua Dương văn Nhật cộng sản đã hướng dẫn tướng Minh Dương cách thức “đoạt” lấy quyền hành từ tay ông Thiệu và ông Trần văn Hương. Chỉ với tư cách tổng tư lệnh ông mới ngăn cản mọi nỗ lực tiếp tục chiến đấu của QLVNCH (nhất là ở Vùng IV Chiến Thuật), ra lịnh cho quân đội buông súng, và tuyên bố đầu hàng, dâng Miền Nam cho giặc cộng!

Phần nói về giáo phái Phật Giáo Hòa Hảo này dịch giả có bỏ bớt một đoạn nhỏ (2 câu). Vì hoặc tác giả không nắm vững vấn đề hoặc nghe theo luận điệu của nhóm nào đó nên đã viết không đúng sự thật. Phần lớn có lẽ tác giả dựa trên một số dữ kiện cũ, từ Đệ Nhất Cộng Hòa thời Tổng Thống Diệm. Những dữ kiện này đến thời Đệ nhị Cộng Hòa đều không còn giá trị nào nữa. Vì lực lượng Hòa Hảo đã hợp tác chặt chẻ với Chánh Phủ của ông Thiệu từ Lập Pháp đến Hành Pháp và trong lực lượng bán chánh quy trong công tác chống cộng mà không có một đòi hỏi nào cả cho đến ngày 30/4/75. Sau khi tiếp thu Miền Nam, bằng những cuộc hành quyết dã man cộng sản đã trút tất cả hận thù lên biết bao nhiêu là viên chức quân sự và hành chánh gốc Phật Giáo Hòa Hảo, kể cả dân biểu (cấp tổng, xã và ấp) như dùng búa đập đầu hay mã tấu chặt đầu sau khi đánh đập hành hạ dã man thay vì xử bắn.. thậm chí đến người đã chết rồi từ lâu cũng đào mả đem cả hòm ra giữa chợ để đấu tố. Dân chúng các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long là nhân chứng sống cho thái độ tàn ác và dã man của cộng sản vì lực lượng này đã hợp tác quá tích cực với các cấp chánh quyền và QLVNCH trong công tác chống cộng, cũng như đã cung cấp một phần nhân lực bổ sung cho tất cả các đơn vị chánh quy và Bảo An của Miền Nam nói chung và Miền Tây nói riêng .Đúng là cộng sản đã mớm cho ông những danh từ “hoà giải”, “hòa hợp” từ lúc này rồi, có nghĩa là từ lúc ông sống “lưu vong” ở BangKok (Thái Lan 1964-1969) vì từ trước 1963 làm gì ông biết nói chuyện “hòa hợp hòa giải”?

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc (Kỳ 3)

Trần Vũ

March 11th, 2021

Post by Sơn râu 12 Apr 2024

Hệ thống Hải Quân Binh Học Hiệu (Kaigun Heigakko) của Đế quốc Nhật phân làm ba trường chính: Trường Hải Quân Công Xưởng đào tạo cơ khí viên, Trường Hàng Hải đào tạo hoa tiêu và Học viện Etajima đào tạo sĩ quan tác chiến trên biển. Etajima là ngôi trường lừng danh nhất vì là chiếc nôi của Hải quân Nhật nơi đã đào tạo ra bốn Thủy sư Đô đốc Tsuboi Kozo, Ito Sukeyuki (Y Đông Hựu Hanh), Togo Heihachiro (Đông Hương Bình Bát Lang) và Yamamoto Isoroku (Sơn Bản Ngũ Thập Lục) làm nên bốn chiến thắng sấm sét:

“Phong Đảo Xung hải chiến” tháng 7-1894 đánh tan Phân Hạm đội Bắc Dương của Mãn Thanh

“Thủy chiến Hoàng Hải” tháng 9-1894 hủy diệt toàn bộ Hạm đội Bắc Dương của Mãn Thanh

“Hải chiến Đối Mã” tháng 5-1905 đánh chìm 3/4 Hạm đội Bắc Hải của Nga hoàng tại Tsushima

“Không tập Trân Châu Cảng – tháng 12-1941 đánh đắm các thiết giáp hạm của US Pacific Fleet

Nếu hai chiến thắng đầu cho Nhật Bản thuộc địa Cao Ly và Đài Loan mà Lý Hồng Chương và Từ Hy buộc phải nhượng và kể từ đây Nhật Bản thống lĩnh Á Châu đẩy lùi Trung Hoa vào bóng tối, thì chiến thắng thứ ba chứng minh sức mạnh hải quân của Nhật ngang hàng với Anh-Mỹ ở tính hiện đại, thuật hành binh.

Etajima như thế là một học viện tân tiến và hiệu quả. Xây cất năm 1866 tại Nagasaki với từng viên gạch nhập cảng từ Anh nói lên ảnh hưởng của học thuyết thủy chiến Anh đối với hải quân Nhật. Đến năm 1888 trường Etajima rời về Hiroshima nhưng lý thuyết xem thiết giáp hạm là chủ lực của Đề đốc Alfred Thayer Mahan vẫn là kim chỉ nam. Là lý do vì sao Nhật đúc rất nhiều thiết giáp hạm nặng, xem là mũi giáo của một hạm đội. (Cả hai tỉnh lỵ Nagasaki và Hiroshima đều là đất thánh của hải quân Nhật trên nhiều mặt: quân cảng, phân xưởng, thiết kế, huấn luyện và giảng dạy… Có tình cờ khi Hoa Kỳ ném bom nguyên tử xuống hai thủ phủ này?) 

Vào tháng 8-1918 khi tân khóa sinh Tameichi Hara nhập học, Etajima vẫn còn là một giấc mơ sáng ngời tương lai. Nhưng nhanh chóng, cũng như Saburo Sakai ở trường phi hành Tsuchiura, Hara sẽ phải hứng chịu một năm huấn nhục tàn bạo của các huynh trưởng ra tay đánh đập. Ở phương diện này, Võ khoa Thủ Đức và Võ Bị Đà Lạt khá nhẹ tay. 

[Trần Vũ]

Phần 1:

Một samurai chào đời

Chương III

Eta Jima là một thánh địa của Nhựt Bản, tương tợ Annapolis của tiểu bang Maryland nơi đặt Hàn Lâm viện Hải quân Hoa Kỳ, là điểm hội tụ những mộng ước cho nhiều triệu thanh niên Nhựt thời chiến. Mỗi năm, nhiều trăm thanh niên đầy nhiệt huyết, mỗi người đều có học bạ xuất sắc và những giấy tờ chứng nhận ưu điểm, đã đổ xô đến Eta Jima để tranh nhau vài chức vụ công hoặc tư. Người ta hy vọng một thế hệ chọn lọc như thế sẽ sản xuất ra các sỹ quan hải quân sáng chói. Nhưng nhiều người đã tốt nghiệp từ ngôi trường huấn luyện sỹ quan hải quân duy nhứt này đã không phát lộ một điều gì sáng chói, và một số đã hoàn toàn thất bại trong các hành động mà quốc gia đã đặt kỳ vọng vào họ.

Những gì tôi viết về Hàn Lâm viện Hải quân và phương thức huấn luyện và đào tạo, không phải nhằm để đưa ra một sự buộc tội. Tôi chỉ trình bày tất cả sự thật để tùy nghi độc giả phán xét.

Tôi nhập học ngày 26 tháng 8 năm 1918. Ngày đó tôi vận một bộ quân phục màu trắng với bảy nút đồng sáng lóa, mang một thanh đoản kiếm xinh xắn, giống như ông nội tôi đã mang lúc còn trẻ. Tôi đã trở thành một Samurai thật sự.

Ba ngày sau khi tôi nhập học, hôm đó lúc tôi sắp sửa bước vào phòng ngủ, một sinh viên năm thứ 3, khóa đàn anh, đã thét lớn. “Nghiêm!”; khi tôi làm theo lời hắn, hắn nhanh nhẹn tiến đến và hỏi một cách hùng hổ: “Tại sao anh không chào tôi?”

Tôi không biết trả lời sao. Tôi có gặp hắn trước đó bao giờ đâu. Hắn cũng không mang cấp bậc hay phù hiệu gì trên vai áo.

“Coi chừng!” hắn gầm lên. “Ðứng cho vững và chuẩn bị. Tôi bắt đầu tẩy sạch tánh vô lễ của anh!”

Hắn nói, đầy giận dữ và nắm tay đấm vào mặt tôi hơn một chục lần. Nếu tôi không được lưu ý trước, tôi đã đo đất với cú đấm đầu tiên của hắn. Thấy tôi chưa ngã, hắn cung tay và thọi thật mạnh khiến đầu tôi dộng vào tường và lần này tôi ngã dụi. “Nghiêm!”, hắn gầm lên nữa. Tôi vừa loạng choạng đứng dậy, hắn đã quặp năm ngón tay đấm xoáy chín mươi độ vào màng tang tôi và kết thúc bằng nện cùi chỏ xuống đỉnh đầu. Cách đối xử này đã gây cho tôi sự bức thiết mãnh liệt. Với mặt mày bầm giập rướm máu ở lỗ tai và chan hòa máu ở mồm miệng, tôi lê lết vào phòng ngủ. Các khóa sinh khác lấm lét nhìn, không ai dám nói một lời.

Ngày kế đó, trong bữa ăn sáng, một sinh viên huynh trưởng – hai chữ Huynh Trưởng đáng hổ thẹn – khám phá ra bộ quân phục của tôi cài nút không đúng cách, và tôi lại nhận thêm một chục cú đấm vào khuôn mặt đã sưng vù của mình. Lần trừng phạt thứ nhì này mạnh tay hơn cả lần đầu. Lỗ tai trái tôi trở nên điếc câm.

Khi một khóa sinh vi phạm kỷ luật, tất cả các khóa sinh khác trong trung đội của anh ta phải đứng xếp hàng dọc và lãnh mỗi người một cú đấm vào mặt. Tất cả các sinh viên đều nếm mùi hệ thống kỷ luật độc đoán này, hầu như không có lúc nào “thiếu thốn”. Mỗi ngày Chúa Nhựt, 180 sinh viên mới nhập học phải lên võ đường để nghe “thuyết pháp” hàng bốn năm tiếng đồng hồ liền dưới ánh nắng mặt trời. Sỹ quan quân trường và các phụ tá của họ, tức các sinh viên huynh trưởng, đảm trách cuộc thuyết pháp. Bài học ngày Chúa Nhựt này hầu hết được chấm câu bằng những cú đấm như mưa bấc. Không thiếu những cú trời giáng làm ộc máu mũi.

Sau vài tháng trui rèn kiểu đó, những kẻ mới đến đều trở thành những con cừu non ngoan ngoãn. Khuôn mặt của mọi người đều mang dấu vết tàn phá của những gì mà họ phải chịu đựng. Một tai tôi điếc hẳn từ bấy đến bây giờ.

Một số người đã từng bị đối xử theo lối kỷ luật nghiêm khắc này lúc còn ở ngoài đời, họ sẽ không lấy gì làm xúc động. Trong một số gia đình Nhựt Bản, người cha muốn trừng trị con mạnh tay cách nào cũng được. Nhiều trường học thôn quê thầy giáo đối xử với học sinh có thể nói là tàn nhẫn.

Tôi lại khác hơn. Tôi là một đứa con mang niềm kiêu hãnh của một gia đình Samurai. Không ai trong gia đình muốn đánh tôi đến một roi. Trường tôi theo học cũng không bao giờ áp dụng các phương pháp kỷ luật nghiệt ngã như vậy. Có lẽ vì vậy tôi có phần nào hư hỏng, và có lẽ vì vậy mà tôi không thích ứng kịp với nghiệp binh. Bất cứ kỷ luật nào ở Eta Jima đối với tôi cũng đầy vẻ xúc phạm nhân phẩm khiến cho tôi phải hờn giận. Ngay cả hiện tại tôi vẫn còn nhớ lại những ngày ở Hàn Lâm viện Hải quân với dư vị chua chát.

Chắc chắn các sinh viên huynh trưởng – khóa đàn anh – của tôi là lũ vô tri, thích thú khi được hành hạ kẻ khác, hả dạ khác thường lúc ra tay khủng bố những người mới vào. Các huynh trưởng đánh chúng tôi như đánh kẻ thù, bằng những đòn thù. Cả bây giờ tôi vẫn thấy chán ghét khi gặp lại mấy khuôn mặt này, ngay cả khi chúng tôi đang chia sẻ chung các công việc nặng nhọc, sự khốn khổ do chiến tranh gây ra, và có cùng sự may mắn được sống sót.

Tiếng kèn đánh thức chúng tôi vào lúc 5g30 sáng, và chúng tôi học hỏi tập tành kéo dài đến 9g tối mà không có một phút giây nào để nghỉ ngơi. Trong thời gian này, ngày Chúa Nhựt vẫn phũ phàng như những ngày thường.

Khi những người mới vào chấm dứt giai đoạn 1 và sinh hoạt có phần ít cứng rắn hơn, các hình phạt thường lệ chấm dứt theo với năm thứ nhứt của chúng tôi.

Cuối tuần không có sinh viên nào được phép đi ra khỏi các vùng phụ cận của thành phố. Thường thường ngày Chúa Nhựt chúng tôi phải leo núi, lội bộ quanh đảo hoặc ngồi cú rũ trong câu lạc bộ.

Một trong những bạn đồng khóa xuất sắc nhứt của tôi là Ko Nagasawa, quê ở miền Bắc nước Nhựt. Anh ta có thể nói là một tay có nhiều đặc tính vượt trội, và hình như hắn chẳng thèm lưu ý đến kỷ luật bịnh hoạn của Hàn Lâm viện. Sau mỗi lần nhận lãnh hình phạt tàn bạo bởi các huấn luyện viên hoặc các sinh viên huynh trưởng, Ko Nagasawa vẫn pha trò một cách tỉnh bơ, khiến tôi phải “kinh hoảng”.

Ko Nagasawa và tôi thay phiên nhau dẫn đầu 180 sinh viên. Khi ra trường, Ko Nagasawa phục vụ xuất chúng ở lãnh vực tham mưu và chỉ huy trong suốt cuộc chiến Thái Bình Dương. Năm 1954, anh gia nhập vào Tân Hải quân Nhựt Bản và trở thành Thủy sư Ðô đốc vào năm 1956 (giữ chức vụ Tổng Tư lịnh Tân Hải quân Hoàng gia từ năm 1954 đến năm 1958). Những ngày ở Eta Jima, Ko Nagasawa được tất cả bạn đồng khóa kính mến, nhưng không một ai tiên đoán con đường hoạn lộ của anh lại tiến đến bực ấy.

Tôi biết có một số bạn tôi đã nhìn những ngày ở Hàn Lâm viện Hải quân của họ với nhiều luyến tiếc. Nhưng riêng tôi, bởi vì “cô độc” chịu đựng hình phạt thể xác ở đây, tôi không thể nào chia sẻ cảm nghĩ của họ.

Lúc đó, tôi thường nhận được thơ nhà mang đến những tin tức rối rắm. Ðó là những phiền muộn khác trong những ngày tôi ở Hàn Lâm viện Hải quân. Bức thơ đầu tiên báo cho biết tin buồn người chị lớn của tôi là Uta chết vì bệnh lao. Và bởi lẽ chị tôi đã bỏ lại hai đưa cháu thơ dại, nên gia đình thuyết phục người chị kế của tôi là Kiyo chấp nối với người anh rể. Kiyo viết cho tôi biết chị không đồng ý, nhưng sau đó chị bất ngờ nhượng bộ. Vì tôi rất được chị Kiyo thương mến, nên việc này đã gây lo nghĩ cho tôi rất nhiều.

Một năm sau, chị Kiyo bỏ chồng và các cháu, trở về với gia đình. Vào lúc đó một hành động như vậy không thể chấp nhận được với một người đàn bà Nhựt có đức hạnh. Nhưng tôi không bao giờ quy tội cho chị tôi. Tôi biết rằng chị tôi có những lý lẽ riêng mà chị ấy cho là phải.

Những biến cố như vậy, cộng thêm đời sống ép thể xác như hiện tại khiến hầu hết ba năm học đầu tiên của tôi đắm chìm thường xuyên trong âu sầu và chán nản. Trong năm cuối cùng, Hàn Lâm viện có một tân chỉ huy trưởng. Ðó là Phó Ðô đốc Kantaro Suzuki, một vĩ nhân thực sự trong đời tôi.

Phó Ðô đốc Suzuki vừa nhận chức đúng 3 ngày, ông đã triệu tập ngay một phiên họp toàn trường. Mở đầu buổi nói chuyện, với một giọng phẫn nộ, ông cấm chỉ tất cả những thứ kỷ luật khắc nghiệt đã được áp dụng. Ông nói: “Trường này được thành lập để đào tạo những sỹ quan ưu tú, không phải là chuồng nuôi súc vật.”

Từ đó, Suzuki đưa ra một loạt cải tổ, quét sạch toàn thể hệ thống cũ của Hàn Lâm viện. Ông tìm cách khuyến khích sáng kiến của sinh viên, vì vậy họ rất hứng khởi trong việc học hỏi. Dĩ nhiên tất cả hình thức đối xử dã man không còn nữa.

Do đó, tôi có cảm giác Phó Ðô đốc Suzuki sẽ còn làm được nhiều việc hơn nữa. Nhưng chẳng may cho nhà trường là Suzuki không ngồi lâu. Kích thước ông quá lớn đối với Eta Jima và ngay cả Hải quân Hoàng gia. Ông về hưu sớm để trở thành nội thần của Thiên hoàng. Năm 1945, ông cầm đầu nội các trong thời gian xảy ra cuộc đầu hàng Ðồng Minh của Nhựt Bản. Sau Kantaro Suzuki, các Ðô đốc tiếp nhiệm chỉ huy Eta Jima đều tầm thường và những cải tổ của Suzuki dần dần bị lãng quên.

Vào ngày 16 tháng 6 năm 1921, tôi ra trường với thứ hạng 40 trên tổng số 150 khóa sinh. Song thân tôi vui mừng và kiêu hãnh khi biết tin này. Tuy nhiên, tôi biết, đáng lẽ ra tôi phải đạt được thành quả tốt đẹp hơn. Nếu không có những trận đòn tàn bạo.

Năm tôi nhập học ở Eta Jima là năm đánh dấu cuộc chiến thế giới lần thứ nhứt chấm dứt. Trong cuộc chiến này Nhựt Bản đứng về phe Ðồng Minh. Quốc gia không chịu đựng sự tàn phá của chiến tranh, và các thương gia Nhựt đã làm giàu vượt mức trong suốt cuộc chiến.

Ðình chiến và thế giới hòa bình, nhưng nước Nhựt lại lâm vào cảnh xuống dốc thảm hại. Ngay ở Eta Jima mặc dù tách biệt với thế giới bên ngoài, nhưng do tình trạng tổng quát, sự sa sút kinh tế ở đây nhìn thấy rất rõ rệt.

Trong năm tôi ra trường, lực lượng hải quân của năm cường quốc lúc này là Anh, Mỹ, Pháp, Ý và Nhựt đang đi đến một thỏa hiệp quy định sức nặng tối đa cho các tàu chiến của họ.

Khóa học của tôi gồm 150 sinh viên tốt nghiệp, được phân phối thực tập trên hai khu trục hạm Izumo và Yagumo, trọng tải 6,000 tấn, hai chiếc tàu này là sức mạnh chánh của Nhựt trong cuộc chiến Hoa-Nhựt hai năm 1894–1895. Bất kỳ loại tàu nào đã 25 tuổi đời thật khó mà hoạt động hữu hiệu. Với tuổi đó, một tàu chiến trở thành một gánh nặng hơn là một tài sản quốc gia.

Tuy nhiên bọn trẻ chúng tôi lại không kìm hãm nổi sự thích thú của mình. Bởi chúng tôi được biết không bao lâu nữa chúng tôi sẽ thực hiện một chuyến đi vòng quanh thế giới. Không vật gì có thể nhận chìm được cảm giác bềnh bồng của chúng tôi lúc ấy. Các chiếc tàu trông già nua đáng sợ, nhưng không ai trong chúng tôi để ý đến điều này.

Trong vòng một tháng, hai khu trục hạm thao luyện trong các hải vực quanh Yokosuka. Công việc cá nhân và tập thể của chúng tôi đã đỡ phần vất vả. Nhiều người trong chúng tôi bắt đầu nhìn lại những ngày ở Eta Jima, như nhìn lại thời gian ở mẫu giáo của họ.

Trong Hải quân Hoàng gia Nhựt có một câu nói cũ kỹ: “Thứ bậc của hải quân được xếp hạng từ sỹ quan đến hạ sỹ quan, trâu bò (có nghĩa là lính trơn) và cuối cùng mới là đến các sỹ quan mới ra lò.” Nói khác đi, đời sống tổng quát của một sỹ quan vừa rời khỏi Eta Jima, và nhận nhiệm sở sơ khởi của họ trên tàu còn khốn khổ hơn bất kỳ một anh lính mới nào.

Chiến hạm Nhựt khi chế tạo không bao giờ để ý đến các tiện nghi nào dành cho chỗ trú ngụ của các sỹ quan mới tốt nghiệp. Chỗ ăn ngủ của họ và binh sỹ trên tàu không khác gì nhau. Ban đêm nếu muốn ngủ phải căng võng. Thức ăn gồm có cơm và lúa mạch, với một chút ít cá hoặc thịt hộp. Không bao giờ thay đổi.

Ðời sống của các tân binh trơn hiển nhiên là khốn khổ nhưng ít ra họ cũng có một công việc riêng để học hỏi và chăm chú vào công việc đó. Trái lại một sỹ quan mới ra trường phải học hỏi mọi công việc trên tàu, từ công việc đun nồi súp-de, thông họng đại bác cho đến việc đo giác cự, và phải học cho chính xác. Chúng tôi không có thời gian nào gọi là thời gian cá nhân riêng cả.

Sau một tháng huấn luyện liên tục theo nguyên tắc, hai chiến hạm già nua rời Yokosuka sang Hoa Kỳ, khởi đầu chuyến viễn du thế giới. Hải quân đã hấp dẫn nhiều thanh niên Nhựt phần lớn là do dịp may được đi đó đi đây như thế này.

Khi hai chiến hạm nhổ neo, các tân sỹ quan đã mừng rỡ reo hò ầm ĩ. Chúng tôi nghĩ là đã thoát khỏi kiếp đọa đày. Chúng tôi đã lầm lẫn biết bao. Chúng tôi không chịu nghĩ đến các lượn sóng tàn nhẫn của Thái Bình Dương đang chờ đón chúng tôi.

Hai ngày sau khi rời khỏi Yokosuka, tất cả chúng tôi đều nằm liệt. Ngay cả tôi, một thanh niên có sức khỏe như voi, cũng nôn thốc nôn tháo ngay bước đầu của chuyến viễn du.

Nửa tháng sau, chúng tôi đến Honolulu, sức khỏe của các tân sỹ quan đều xuống dốc trầm trọng. Tôi cảm thấy muốn cúi xuống hôn mặt đất để cảm ơn Thượng đế. “Cá heo”, tên riêng của tôi thời đi học, hình như trong tình cảnh này không còn thích đáng một chút nào. Và con cá này chỉ bị trừng trị trong hai tuần lễ mà sụt đến 30 cân Anh (khoảng 14 kí lô). Nhiều người khác cũng chẳng kém gì tôi.

Phó Ðô đốc Hanroku Saito, chỉ huy chuyến đi, quyết định lưu lại Hạ Uy Di một tuần lễ. Một phần của quyết định này là để đáp lại sự tiếp đón nồng nhiệt và lòng hiếu khách của dân chúng Nhựt trên đảo, nhưng phần quan trọng hơn là để cho bọn “tân binh” chúng tôi lấy lại phong độ.

Hải cảng kế đến là San Diego, từ đó chúng tôi di chuyển về hướng Nam, xuyên qua kinh đào Panama và đến Nữu Ước vào ngày 29 tháng 10 năm 1921. Cuộc họp giải trang và tài binh của năm cường quốc đang diễn ra ở Hoa Thịnh Ðốn. Việc các chiếc tàu cổ lỗ sĩ của chúng tôi đến Hoa Kỳ vào thời gian đặc biệt này có lẽ nằm trong sự tính toán.

Trong thời gian này, Nhựt đã tìm cách che đậy năng lực thực sự của hải quân. Các thiết giáp hạm Nagato (Trường Môn) và Mutsu, hoàn tất vào năm 1920 và 1921, trang bị tám trọng pháo 305 ly, được cho là có trọng lượng 32,600 tấn và tốc độ tối đa chỉ 23 hải lý. Nhưng sự thực, hai chiến hạm này có trọng lượng 35,000 tấn (đầy tải 42,000 tấn) và tốc độ tối đa gần 27 hải lý, võ trang pháo 410 ly, vượt trội hẳn chiếc Maryland cùng loại của Hoa Kỳ.

Nhựt Bản cũng không khoe khoang về chiếc Hosho (Phụng Tường, có nghĩa cú lượn của chim phượng), là hàng không mẫu hạm tối tân đầu tiên trên thế giới, hoàn tất năm 1921, trọng tải 9,494 tấn, mà cũng không tiết lộ cho thế giới biết về chiếc Shimakazé (Phong Ðảo), một khu trục hạm tuyệt hảo loại mới, 3,400 tấn, được võ trang 4 khẩu 127 ly và 15 ống phóng thủy lôi 610 ly, và có thể đạt tốc lực tối đa 40 hải lý (76km/g).

Trong khi đó Nhựt mang biểu diễn quanh duyên hải Hoa Kỳ hai đống sắt vụn trên mặt nước, do một bọn sỹ quan vụng về mới ra trường điều khiển.

Khi chúng tôi đến Nữu Ước, hầu hết dân chúng ở đây đều đón tiếp chúng tôi niềm nở. Chẳng hạn như trong một buổi dạo cảnh, tôi và ba người bạn ghé vào thương xá Wanamaker, một người Mỹ rất vui vẻ và lịch sự, có lẽ là giám đốc, mời chúng tôi chụp chung một tấm ảnh. Rất tiếc là tôi không nhớ tên ông ta.

Trong bốn anh em chúng tôi chụp chung trong ảnh này, chỉ có Matao Machida, sau này là Ðại tá, đứng ở góc trái và tôi là còn sống sót. Machida trở thành một sỹ quan kỹ thuật, đặc biệt trong lãnh vực quang học. Hiện tại Machida sống ở Ðông Kinh, một trong những ủy viên quản trị của công ty máy ảnh Canon. Ông cũng là người chế loại máy ảnh và các thấu kính cực vi nổi tiếng đương đại.

Từ Nữu Ước chúng tôi băng qua Ðại Tây Dương. Chúng tôi chọn hải trình này, gian nan hơn Thái Bình Dương, bởi lúc ấy chúng tôi đã làm quen với biển cả. Chúng tôi thăm viếng Anh và nước Pháp, trước khi xuyên ngang Ðịa Trung Hải và Ấn Ðộ Dương, hướng về quê nhà. Chúng tôi trở về Nhựt ngày 9 tháng 3 năm 1922 sau thời gian gần 7 tháng vắng mặt.