This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Các bản dịch thủy chiến trong Nam trước 75 ít khi phân biệt Thủy lôi với Ngư lôi. Thủy lôi (Naval Mine) là mìn đại dương, tức một khối chất nổ trong vỏ bọc sắt thả xuống nước rồi trôi dập dình cho đến khi va vào một vật rắn và phát nổ. Thủy lôi là mìn cố định, dùng phong tỏa một hải cảng hay làm rào ngăn tàu chiến đối phương xâm nhập. Ngư lôi (Torpedo) ngược lại, sau khi phóng đi sẽ tự di chuyển và tìm mục tiêu. Ngư là cá, có nghĩa đây là những khối chất nổ có động cơ với cánh quạt và chân vịt để tự bẻ lái.
Ngư lôi của Đức và Nhật được xem nguy hiểm nhất. Ngư lôi Đức gắn đầu nam-châm (magnet) để có thể tự hút vào lườn tàu sắt khi đến gần và gắn máy thẩm âm (acoustic) tự định hướng theo tiếng động chân vịt phát ra từ tàu đối phương. Tuy nhiên chính hai khí tài này, vì chỉ hiệu quả khi khoảng cách không xa, khiến ngư lôi Đức trên các tàu ngầm U-boot tầm xa lý thuyết không vượt quá 5 km.
Từ cuối 1928 Nhật Bản sáng chế thành công ngư lôi viễn dương kiểu 93 (là năm sản xuất 2593 theo lịch Chiêu Hòa) với mục đích: đánh đắm tàu thép Anh-Mỹ trước khi ngư lôi của Đồng Minh chạm đến tàu Nhật. Đặt tiên đề như trên, nên The Japanese Type 93 Torpedo được chế tạo với tầm xa 40 km khi phóng vận tốc 39 hải lý và tầm xa 22 cây số khi phóng vận tốc 49 hải lý. Gấp 3 đường kính tấn công của ngư lôi Anh-Mỹ.
Đặc điểm khác: Ngư lôi Nhật không chạy bằng bình ắc-quy điện mà bằng Ôxy ép đặc, khi lao chìm dưới biển không sủi bọt. Một vũ khí lợi hại tương đương với tên lửa hành trình phóng đi từ các chiến hạm ngày nay.
Đóng góp của Hara là đã cải tiến lý thuyết phóng ngư lôi của Hải quân Thiên hoàng thành một cẩm nang ứng dụng thực tiễn giúp các khu trục hạm Nhật chiếm ưu thế trong hầu hết các trận thủy chiến vào đầu cuộc chiến. Bản thân Hara cũng sẽ đánh đắm 3 tàu Hoa Kỳ bằng chính lý thuyết của mình.
Ngư lôi 93 đi vào lịch sử dưới tên gọi Long Lance, “Lưỡi giáo dài”.
Xin phép dịch giả Nguyễn Nhược Nghiễm thay các chữ Thủy lôi của ông bằng Ngư lôi như trong bản Pháp văn.
[Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương VII
Mặc dù hàng ngày được Nagumo khuyến khích và quan tâm đến, tôi đã rớt kỳ thi tuyển vào trường Cao Ðẳng Tham Mưu. Thay vào đó, vào tháng 9 năm 1932, tôi được chỉ định làm một huấn luyện viên. Nhiệm vụ này gây cho tôi sự bối rối, những sự chỉ định như vậy ít thấy xảy ra trong Hải quân Hoàng gia. Tôi được chọn vào nhiệm vụ này có nghĩa là tôi phải từ bỏ hẳn hy vọng trở thành một sỹ quan tham mưu để trở thành một chuyên viên hẳn.
Trong thời gian ba năm sau khi kết hôn, tôi ráo riết theo đuổi một dự án riêng… Biết rõ dự án có vẻ liều lĩnh, tôi không hề thảo luận chi tiết với bất kỳ người nào. Tôi cũng hiểu nếu các đồng nghiệp của tôi biết được công tác tôi đang làm, chắc chắn tôi sẽ gặp sự chế nhạo.
Khi Ðại tá Nagumo khuyến khích tôi chuẩn bị thi vào trường Cao Ðẳng Tham Mưu, tôi đọc mọi sách giới thiệu cũng như các bài bình luận về khả năng di động tính của Hải quân Hoa Kỳ do chính ông viết trong thời gian đi tu nghiệp. Nhưng tâm trí tôi để đâu đâu. Tôi biết các dự án riêng của tôi có tầm quan trọng nên tôi không thể phân tâm để học hỏi những vấn đề khác. Do đó dù được ngay cả Nagumo đích thân yểm trợ, kỳ thi vào trường Cao Ðẳng Tham Mưu vẫn vuột khỏi tay tôi.
Dự án của tôi hoàn thành vào giữa năm 1932. Dự án này liên quan đến hàng trăm bài toán phức tạp. Tóm lại, tôi đã sử dụng toán học để chứng minh những sai lầm của các lý thuyết về ngư lôi được Nhựt áp dụng xưa nay, và tôi đưa ra một lý thuyết khác dùng làm kim chỉ nam mới.
Một lý thuyết mới thật khó xen vào để tìm chỗ đứng trong một tổ chức quân đội. Hầu hết các sỹ quan được huấn luyện theo các lý thuyết quân sự cũ đều bảo thủ và phản ứng không thuận lợi đối với những sáng kiến mới mẻ. Nhưng rất may là lý thuyết mới của tôi không hề gặp sự chống đối quan trọng nào và đã trở thành lý thuyết ứng dụng về ngư lôi chánh thức của Hải quân Hoàng gia. Ðương nhiên lý thuyết cũ được bãi bỏ. Và kết quả, tôi được bổ nhiệm về trường Cao Ðẳng Tham Mưu để giảng dạy về lý thuyết mới này. Thi rớt rồi về làm giảng viên ngay tại chính ngôi trường mình hỏng thi… là trường hợp hy hữu!
Sau này nhìn lại, mặc dầu tôi hoàn thành nhiều lý thuyết khác trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến, nhưng có lẽ lý thuyết về ngư lôi vẫn là lý thuyết sở đắc nhứt của tôi. Giải thích rành mạch về lý thuyết này không phải dễ dàng, vì trong ấy tôi đã sử dụng nhiều bài toán liên quan đến đại số, hình học, lượng giác và tích phân để áp dụng chính xác vào thực hành. Tuy nhiên tôi có thể nói phớt qua: năm 1932, sau khi tốt nghiệp trường chuyên môn Yokosuka, tôi lại được bổ nhiệm phục vụ trên khu trục hạm, và giữ chức vụ ngư lôi trưởng như thường khi. Tôi đã được học hỏi và huấn luyện tỉ mỉ về vấn đề phóng ngư lôi. Có thể nói là hầu hết thời gian trong suốt ba năm, quyển thuật ứng dụng ngư lôi cũ của hải quân là thánh kinh của tôi. Mỗi tuần chiếc khu trục hạm của tôi đều ra khơi để thực tập phóng ngư lôi. Ðể tiết kiệm, các ngư lôi diễn tập đều không có đầu đạn, và mục tiêu giả có khoảng trống phía dưới để ngư lôi chạy xuyên qua. Sau ba năm huấn luyện lý thuyết và thực hành liên tục, tôi bắt đầu nghi ngờ lý thuyết cũ, vì hiếm khi tôi bắn trúng mục tiêu.
Phản ứng đầu tiên khi bắn hụt là tôi tự thóa mạ tôi, và tôi càng cố gắng học hỏi hơn nữa. Tôi luyện tập thuần thục đến nỗi tôi chỉ cần liếc qua ống dòm là có thể cho biết được khoảng cách mục tiêu bao xa, mức độ gió, mực độ sóng biển, hướng chuyển vận và tốc độ di động của mục tiêu đó như thế nào. Sau khi kiểm chứng lại bằng các giác cụ chuyên môn, tôi nhận thấy tôi đã xác định mục tiêu rất đúng nhưng phóng vẫn trật. Do đó, tôi bắt đầu ngờ vực lý thuyết cũ của hải quân.
Theo lý thuyết cũ, một chiếc khu trục hạm, thường có chiều dài khoảng 90 thước, chạy với tốc độ 30 hải lý hoặc hơn, tiến sát đến tàu địch, khai hỏa mọi loại súng và cuối cùng dứt điểm bằng các quả ngư lôi. Một khu trục hạm Nhựt chỉ mang 16 ngư lôi. Từ 4 ống phóng phía trước và 4 phía sau, “8 con cá” vọt ra cách nhau mỗi con hai giây. Tám quả khác được đưa vào tái nạp vào tám ống phải mất khoảng mười phút. Các loại súng nhỏ của một khu trục hạm không có hỏa lực quyết định như những thiết giáp hạm, thành thử nếu loạt ngư lôi đầu vô hiệu, vận mạng của một khu trục hạm như cáo chung. Nó dễ dàng bị đánh chìm trong khoảng 10 phút cần thiết để nạp lại ngư lôi.
Vì đó mà trong khi thực tập, chiếc khu trục hạm của tôi kể như bị “đánh chìm” nhiều lần, giữa lúc tôi đứng bó tay và nghiến răng trên đài chỉ huy sau khi nhìn thấy các “con cá” của tôi lạc mất hút. Tôi quan sát nhận thấy tài phóng ngư lôi của các khu trục hạm khác cũng không hơn gì mình. Tôi đi đến kết luận là phóng ngư lôi thẳng vào mục tiêu ít có hy vọng trúng, và như vậy có nghĩa là lý thuyết cũ đã sai lầm.
Theo lý thuyết cũ, tám trái ngư lôi được phóng thẳng sẽ trải rộng 1 góc 20 độ. Sau khi phân tách cẩn thận tất cả các yếu tố liên quan, tôi kết luận rằng với góc 20 độ như vậy mục tiêu sẽ được phóng trúng nếu chiếc khu trục hạm của tôi chạy nhanh 30 hải lý theo một đường lượn cong, giống như một đường cầu vồng hyperbole, và ngư lôi phải được phóng ra ở ngay đỉnh của đường cong đó vào một mục tiêu cách xa 2,000 thước, và sau khi phóng ngư lôi xong, chiếc tàu sẽ giảm tốc độ xuống còn 20 hải lý. Qua nhiều tuần lễ diễn tập, tôi cũng khám phá ra chiếc tàu đối nghịch đủ thời gian để lảng tránh trước khi tàu của tôi sẵn sàng để khai hỏa. Và tôi cũng khám phá nhiều yếu tố cần thiết cho việc định lại các phương thức khác, bao gồm khoảng trống 2 giây của tám trái ngư lôi được phóng ra.
Công việc nghiên cứu này khiến tôi mở rộng tầm mắt, và mỗi khám phá mới đều được tôi áp dụng ngay vào thực hành, và đạt được mức độ chính xác gần như cố định. Tôi nổi danh, và được xem là sỹ quan phóng ngư lôi chính xác nhất của toàn thể binh chủng hải quân. Vào thời gian này tôi phục vụ dưới quyền của Ðại tá Nagumo. Có lẽ thành tích này đã khiến ông thích tôi, và cũng vì vậy mà lý thuyết của tôi được hải quân chấp nhận vào năm 1932.
Chỉ trong vòng một năm sau khi lý thuyết của tôi được học hỏi, kỹ thuật phóng ngư lôi của hải quân Nhựt đã đạt đến mức độ chính xác vượt bực.
Năm 1933, Ðề đốc Kaneji Kishimoto và Ðại tá Toshihidé Asakuma thuộc Ủy ban Nghiên cứu Ngư lôi Kuré chế tạo một loại ngư lôi được phóng đi bằng sức ép của Ôxy thay vì không khí. Việc phát triển này rất quan trọng đối với chiến pháp ngư lôi của Nhựt. Ưu thế của loại ngư lôi mới này, mà bí mật giữ kín, vượt trội tất cả mọi loại ngư lôi của các quốc gia khác, qua bảng so sánh bên dưới:
Bảng so sánh
Như vậy, ngư lôi Nhựt ngoài khả năng vừa nhanh vừa có tầm xa hơn các loại ngư lôi tốt nhứt của Hoa Kỳ và Anh quốc, đặc biệt mang chất nổ nhiều hơn, còn có thêm những tiến bộ to tát khác. Các loại ngư lôi thông thường khi phóng ra sẽ tạo thành một vệt dài màu trắng nổi trên mặt nước, khiến cho một chiếc tàu chạy nhanh cũng có thể phát hiện và lẫn tránh dễ dàng. Nhưng một trái ngư lôi đẩy bằng sức ép Ôxy khi chạy đến mục tiêu sẽ không thấy dấu vết gì trên mặt nước cả (Loại ngư lôi này Nhựt giữ bí mật tuyệt đối, đến sau chiến tranh hải quân Hoa Kỳ mới học hỏi được đầy đủ các đặc tính của nó).
Lý thuyết của tôi cùng với việc phát minh loại ngư lôi mới đã nâng cao tinh thần của thủy thủ khu trục hạm. Và khi khu trục hạm nhanh chóng trở thành “báu vật” của hạm đội Nhựt, các kiểu tàu mới được đóng đều đều vào thời gian đó. Các sỹ quan khu trục hạm không mấy lưu tâm đến một số thiệt thòi của Nhựt qua thỏa hiệp giải trang cuối cùng. Họ biết khu trục hạm của Nhựt đang nắm ưu thế to tát và tiên đoán loại tàu này sẽ giữ vai trò quan trọng trong cuộc chiến sắp đến.
Họ đã thiếu cân nhắc về sự phát triển kỳ diệu của các loại Radar điện tử và khả năng không quân vượt bực của Hoa Kỳ. Hai lãnh vực này là yếu tố quyết định dứt khoát kết quả của Ðệ Nhị Thế Chiến.
Dù thiếu cân nhắc như vậy, nhưng không thể nói chúng tôi đã tự mãn. Hơn bao giờ hết chúng tôi cố gắng huấn luyện để gia tăng sự thành thục với loại ngư lôi mới. Nhựt lịnh huấn luyện của chúng tôi là chỉ phóng loại ngư lôi có tầm xa này khi nào đã tiến sát vào 500 thước cách mục tiêu. Mọi sỹ quan cũng được lịnh tìm cách thâu hồi ngư lôi, cho dù trong các buổi thực tập không có gắn đầu đạn.
Chúng tôi đã thi hành triệt để, bởi giá một ngư lôi không đầu đạn lúc đó là 5,000 yên (2,500 Mỹ kim). Hơn nữa, chúng tôi không thể để loại ngư lôi mới này rơi vào tay địch quân, vì như vậy bí mật của nó sẽ bị khám phá. Thỉnh thoảng toàn thể hạm đội phải dàn hàng ngang lướt qua một khu vực rộng lớn của đại dương trong nhiều giờ để chỉ thâu hồi một trái ngư lôi phóng lạc xa khỏi mục tiêu. Vào những ngày có bão, chúng tôi đình chỉ tất cả các buổi diễn tập.
Trong suốt cuộc chiến, hướng tiến đến của các chiến hạm địch không thể nào định trước được. Theo lịnh, các khu trục hạm Nhựt phải tiến thẳng vào mục tiêu, khai hỏa cận và đổi hướng nhanh chóng. Nhưng một khu trục hạm có tốc độ cao không thể nào giảm tốc độ một cách mau lẹ để tránh khỏi đụng chạm và ai cũng đoán biết những đụng chạm giữa đại dương gây chết người là thường. Hơn nữa tiến sát vào địch quân trong vòng 500 thước có nghĩa là đưa đầu vào họng súng của họ.
Trong các buổi diễn tập, chúng tôi thường phóng ngư lôi cách mục tiêu 2,000 thước. Và khi đối đầu thực sự với tàu chiến địch, khoảng cách trung bình để phóng ngư lôi có thể từ 4,000 đến 5,000 thước, một khoảng cách mà các ngư lôi Hoa Kỳ vẫn còn ngoài tầm. Sau này tôi đã đánh chìm ba khu trục hạm Hoa Kỳ bằng cách áp dụng phương pháp mới đó, từ lý thuyết do chính tôi đặt ra.
Tôi được thăng cấp thiếu tá vào ngày 15 tháng 11 năm 1933. Tôi đã có hai con gái, và nhìn lại 12 năm đã trôi qua, kể từ khi tôi rời Hàn lâm viện Eta Jima, tôi cảm thấy đã trở thành một sỹ quan hải quân đầy đủ lông cánh, và là một trong những sỹ quan trẻ tuổi nhứt trong Hải quân Hoàng gia, vượt hẳn những bạn đồng khóa của tôi, ngay cả những người đã tốt nghiệp trường Cao Ðẳng Tham Mưu.
Tôi vẫn còn nghĩ đến mối tình đầu của mình là Utamaru. Tôi nhớ đến ánh mắt sáng tươi của nàng mỗi khi bước chân vào căn phòng tôi thuê sát bến cảng Kuré. Nhớ giọng nói dịu êm của nàng “Em đến rồi đây Tamei.” Nhớ những ngón tay của nàng khi tháo đai lưng và quân phục cho tôi với nụ cười trêu ghẹo “Anh thêm rám nắng Tamei. Em thích anh rám và rắn.” Utamaru có lối nói tinh nghịch nhưng duyên dáng và nàng luôn chìu tôi với hết tấm lòng. Một đôi lần nàng đem theo đàn bầu và hát cho tôi nghe ca khúc Hana-kago no uta, là bài hát Lẵng Hoa khá thịnh hành khi ấy nhưng tôi nhớ nhứt vẫn là thân thể ấm của nàng, tan vào thân thể tôi khi tôi ôm nàng và hỏi “Em chọn đất hay biển?” Nàng trả lời “Nơi anh cặp bến” và đè lên tôi làn môi thơm của nàng. Rất nhiều lần tôi tự hỏi có phải tôi đã đánh đổi nàng để lấy những quả ngư lôi? Những quả ngư lôi nặng ba tấn với chiều dài chín thước… Những khi ấy tôi cảm thấy hổ thẹn là đã cư xử không phải với nàng và đã tiếc nuối trước khi tự trấn tĩnh rồi tự an ủi là những quả ngư lôi cũng chính là đời sống và đam mê của tôi. Trong căn buồng dành cho sỹ quan tôi đã vội vã đốt đi những phong thư cũ kỹ rồi vội vã nhớ đến vợ con với nhiều ăn năn cho dù tôi biết, tôi sẽ còn tiếp tục ăn năn vì sẽ còn nhớ đến Utamaru.
đoàn xuân thu (tựa ý thơ: “To our dear child” – tác giả: không rỏ)
Post by Sơn râu 14 Apr 2024
Bởi già yếu, rã rời, ba lụm cụm nên khi ăn làm vấy bẩn tùm lum! quần áo, tay run, thể nào tự mặc nhẫn nại nha con! thấu hiểu cho dùm.
Nghĩ kỹ đi! nhớ lại thời thơ dại “ai mặc áo quần, ai đút con ăn?”
“Nói tới, nói lui, nói hoài, nói mãi!” đừng ngắt lời ba, chịu khó lắng nghe con thơ bé, ba đọc hoài, đọc mãi truyện, ngàn lẻ một lần, ngủ, mới yên.
Bữa ể mình, sợ nước, ba không tắm “đừng rầy la hay phát ngượng dùm ba!” con còn nhớ? chạy quanh nhà kêu khóc vì ham chơi “chưa muốn tắm ba à!”
Vi tính tối tân, tuổi già, nên chậm chỉ cho ba: cách lên mạng toàn cầu mấy điều sơ đẳng: như ăn, như mặc ba dạy con, kiên nhẫn, dạy từ đầuBa già lẫm cẫm! lúc quên, lúc nhớ đừng càm ràm, đừng cáu kỉnh con ơi! điều quan trọng không phải điều ba nói mà được lắng nghe, được ở gần con
Bữa ể mình, nên bụng ba không đói “lúc cần ăn, ba biết, khỏi ép, la!”
Chân phong thấp, lê dốc đời, run bước đừng để đi, không gậy chống cầm tay ba vịn con, con vịn ba lúc trước tập con đi, chập chững, bước đầu đời.
Bịnh rề rề đôi khi không thiết sống ba cầu mong chết phứt, sống làm chi! đừng cữi nhữi, một ngày con sẽ hiểu tuổi già ba lây lất chỉ chờ đi.
Dĩ nhiên có, đời ba, bao lầm lỗi nhưng bao điều tốt nhất vẫn phần con lo cho con vào đời không thua kém không tự ti, không mặc cảm, không buồn!
Hãy cảm thông khi ba còn kề cạnh như ngày thơ con bé dại bên ba
Đở nâng ba, con thương yêu, trân trọng ba được niềm vui, trong buổi xế tà hình ảnh con, ba mang theo về cõi mãi vô cùng con yêu dấu của ba!
“To our dear child
Poet: unknown.
On the day when you see us old, weak, and weary, Have patience and try to understand us. If we get dirty when eating, If we cannot dress on our own, Please bear with us and remember the times, We spent feeding you and dressing you up. If, when we speak to you, We repeat the same things over and over again, Do not interrupt us. Listen to us. When you were small, We had to read to you the same story A thousand and one times until you went to sleep. When we do not want to have a shower, Neither shame nor scold us. Remember when we had to chase you With your thousand excuses to get you to the shower? When you see our ignorance of new technologies, Help us navigate our way through those worldwide webs. We taught you how to do so many things, To eat the right foods, to dress appropriately, To fight for your rights.
When at some moment we lose the memory Let us have the necessary time to remember. And if we cannot, do not become nervous, As the most important thing is not our conversation, But surely to be with you and to have you listening to us. If ever we do not feel like eating, do not force us. We know well when we need to and when not to eat. When our tired legs give way And do not allow us to walk without a cane, Lend us your hand. The same way we did When you tired your first faltering steps. And when someday we say to you, That we do not want to live any more, that we want to die, Do not get angry. Some day you will understand. Try to understand that our age is not just lived but survived. Some day you will realize that, despite our mistakes, We always wanted the best for you And we tried to prepare the way for you. You must not feel sad, angry nor ashamed For having us near you. Instead, try to understand us and help us Like we did when you were young. Help us to walk. Help us to live the rest of our lives with love and dignity.
We will pay you with a smile and the immense love We have always had you in our hearts. We love you, child.
Nếu bạn sinh ra và lớn lên ở một quận lỵ hay thành phố nhỏ, hẳn bạn nhớ hết những con đường, những ngôi nhà và đôi khi cả một vài cây cổ thụ cho bạn bóng im thời trẻ, hay những bờ sông tắm mát những trưa Hè. Và lẽ cố nhiên bạn cũng nhớ đến một vài nhân vật đặc biệt như một ông cụ râu dài hay một người đàn bà điên trong thành phố. Sau này lớn lên rồi, tha phương, nhưng những con người trong một thành phố cũ của một thời xa xưa vẫn còn như hiển hiện trong trí nhớ.
Những nhân vật ngày xưa được nhớ lại không chỉ là những nơi ăn chốn ở, mà cả sinh hoạt tính tình, cả đến con cái nhà ai, cha mẹ làm nghề gì, có gì đặc biệt. Bây giờ khi kể chuyện một người xưa, qua câu chuyện người ta còn nhớ đến cô kia là con ông chủ tiệm thuốc Bắc, cậu nọ gia đình là một chủ tiệm vàng.
Giàu nghèo, xuất thân từ một gia đình như thế nào, đứa nào cũng mang theo một cái biệt hiệu cho đến lúc lớn lên, mặc dầu răng bây giờ đã hết sún, tóc giờ này không còn “búp-bê” nữa! Lũ trẻ mất dạy thì luôn luôn nhớ tên cha mẹ hay nghề nghiệp gia đình đứa khác, để lúc tức giận dễ bề chửi bới.
Tôi còn nhớ câu răn đe của ông bố: “Ra đường làm gì thì làm, đừng để chúng nó gọi tên cha mẹ lên mà chửi!” Tục ngữ chúng ta cũng có câu: “Thương cha chớ chọc ăn mày!” Nói chung, nếu biết thương cha mẹ thì ăn ở cho thuận hoà, đừng để ai làm tổn thương đến danh dự của gia đình, nghĩa là đem cha mẹ ra mà chửi. Nếu một nhân vật hư hỏng, người ta không gọi là thằng mất dạy mà còn gọi là “con nhà mất dạy!”
Ông bà ngày xưa cũng đã nói: “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống,” tức là phải tìm biết cái gốc gác ra sao. Gốc chẳng ra gì, thì ngọn không khá được, và tìm hiểu cái nề nếp, ngọn ngành của một con người luôn luôn là điều cần thiết. Chẳng thế mà “ra đi mẹ có dặn rằng, cam chua mua lấy, ngọt bồng chẳng ham!” Bà này kỳ thị, cho rằng cam chua dầu sao đi nữa cũng là giống cam, ngọt lắm cũng là loại bồng vô giá trị!
Lấy lai lịch cha mẹ mà xét đoán tư cách của con là lối dùng người của cổ nhân. Chẳng thế mà chúng ta đã nghe giai thoại về cách dùng người của ông Tổng thống Ngô Ðình Diệm, mỗi khi phê chuẩn việc bổ nhiệm cho một cấp chỉ huy quan trọng, ông Diệm thường hỏi người đề nghị: “Thằng ni con cái nhà ai?” Nếu gia đình thằng ni là người có tiếng tăm, đạo đức thì hẳn hắn không ăn hối lộ, không làm điều xằng bậy, vì người đàng hoàng làm điều xằng bậy thì nhục tới cha ông.
Thời nay dùng người, đứng đắn nhất là dùng người có tài, trong chế độ vô đạo thì người ta dùng người trung thành, cùng băng đảng, trung thành và cùng băng đảng thì dễ sai khiến, và sẵn sàng bảo vệ quyền lợi chung. Cũng không cần biết đến gia thế, cha mẹ là ai, gốc gác từ đâu.
Ngày xưa trong cái thẻ căn cước, người ta ghi cả quê quán, tên cha tên mẹ. Ngày nay, đảng viên không còn nhớ tên cha mẹ đặt, dùng bí danh, nguỵ trang gốc gác nên chẳng ai còn biết ai là ai. Bởi vậy chúng nói ngang nói ngược, tham ô, bóc lột, lấy của đất nước, giang sơn làm của riêng, chẳng hề sợ đến thanh danh của gia đình, cũng không ai biết mà chửi đến cha đến mẹ!
Trong Cổ Học Tinh Hoa có câu chuyện “Tiễn người đi làm quan”. Tiết Tôn Nghĩa người Hà Ðông sắp đi làm quan, ông Liễu Tôn Nguyên làm tiệc tiễn hành ở bờ sông, rót chén rượu mời Tôn Nghĩa và nói về nghĩa vụ làm quan:
-“Giả thử ta đây thuê một người làm việc trong nhà, nó đã lấy tiền thuê mà lười không làm việc, lại còn ăn cắp đồ thập vật trong nhà, thì tất ta phải giận mà trách phạt nó và đuổi nó đi. Bây giờ kẻ làm quan như thế quá nhiều, mà không ai dám nổi giận trách phạt và đuổi đi là tại làm sao?”
Cũng trong sách này, chuyện “Thuyết Uyển” có nói:
“Chức đã cao, ý càng phải khiêm cung; quan đã to, tâm càng phải tế nhị; lộc đã hậu, càng phải cẩn thận, chớ có lấy xằng, lấy bậy. Ông giữ được ba điều ấy là đủ trị dân vậy!”
Bây giờ, cán bộ đảng Cộng Sản ở Việt Nam năm nào cũng học tập theo lời “bác Hồ dạy” là “cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của Nhân dân. Các cơ quan của Chính phủ đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác chung cho dân chứ không phải đè đầu dân… Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh…”
Nhưng sự thật, học một đàng làm một nẻo. Cán bộ cao cấp ngày nay như đàn heo sục mõm vào máng, mạnh ai nấy ăn, còn nghĩ gì đến bác với chú.
Tại Việt Nam hiện nay, vô số viên chức cầm quyền giàu có bất thường, sống giàu có với những ngôi nhà riêng trị giá hàng triệu đô la, sống xa hoa vương giả. Tổng Thanh Tra Chính Phủ là người thanh tra tham nhũng mà cũng tham nhũng để giàu có thì còn trách cứ ai.
Hệ thống thanh tra đã kiểm tra 1,800 cơ quan chính phủ mà chỉ tìm ra 22 cơ quan vi phạm tham nhũng. Tổng số vụ tham nhũng đã được phát giác trong sáu tháng đầu năm 2017 chỉ có 47 vụ, liên quan đến 66 viên chức, mà cuối cùng chính phủ kết luận chỉ có một trường hợp vi phạm. Tất cả các vụ còn lại, các viên chức nhà nước đều trình bày tài sản, cơ ngơi của họ là do việc lao động cần cù như chạy xe ôm, nuôi heo, bện chổi, làm men nấu rượu, làm bánh kẹo, làm giá… mà trở nên giàu có.
Ðiều đáng nói là hệ thống thanh tra của chính quyền, nghĩa là đảng, đã bao che người của đảng, chấp nhận tất cả những giải thích trên và tuyên bố tha bổng, chỉ giữ lại một trường hợp duy nhất để tế thần.
Ngày nay cha mẹ thấy con tham ô, vơ vét để có nhà cao cửa rộng càng cho là nhà có phước, con thấy cha mẹ giàu có nhờ chức phận thì lấy làm vui, mai sau củng cố cho đời mình; còn ai như chuyện xưa có liêm sỉ mà biết hổ thẹn. Vậy thì cũng không nên hỏi chúng là con cái nhà ai? Giấy rách phải giữ lấy lề! Có lề hồi nào đâu mà phải giữ?
Trong cuộc đời thường, chúng ta ai cũng có một gia đình để bảo vệ thanh danh, có một tôn giáo để vững một niềm tin, có một tổ quốc để hết lòng phục vụ, nhưng đối với những người Cộng Sản … thì không!
Câu chuyện cờ vàng cờ đỏ này không phải là câu chuyện mới, nó đã xảy ra hàng chục năm nay trên xứ Mỹ, vốn là mảnh đất tự do, chốn dung thân và làm lại cuộc đời của người Việt Nam tị nạn Cộng Sản.
Lá cờ đỏ sao vàng thì gần 42 năm nay, khi người Việt chạy khỏi chế độ Cộng Sản đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ và sau khi Hoa Kỳ bang giao với nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, lá cờ này chỉ thấy, hay chỉ được treo tại tòa đại sứ hay lãnh sự của Cộng Sản Việt Nam, mà không thấy ở bất kỳ ở một công thự hay một tư gia nào cả, thậm chí cả xe của đại sứ, lãnh sự Việt Cộng khi chạy vào khu có sự hiện diện của người Việt cũng phải cuốn cờ lặng lẽ mà đi, nếu không muốn xảy ra chuyện ném đá. Đành rằng ngoại giao đoàn ở đâu cũng được các lực lượng an ninh sở tại bảo vệ, nhưng không ai lường trước được sự bất mãn và cuồng nộ của những nạn nhân, chống đối nó. Vụ Trần Trường xảy ra năm 1999, với chỉ một lá cờ nhỏ và bức ảnh Hồ Chí Minh treo trong tiệm sang băng của ông là một bài học để đời cho chính đương sự, cho cả chính quyền trong nước mon men làm những cuộc thử nghiệm tại hải ngoại và cả các cơ quan công lực của địa phương với vấn đề an ninh của dân chúng.
Lá cờ đỏ nói chung cho đến ngày nay, hiện diện ở đâu thì người Việt tị nạn cũng sẽ tìm cách triệt hạ nó, trừ phi những con người yêu xã hội chủ nghĩa, yêu lá cờ đỏ dùng nó để may đồ lót (chữ nghĩa của Việt Nam bây giờ là nội y) thì những người ghét bỏ nó mới đành bó tay thôi. Một tên loạn trí mặc áo cờ Việt Cộng chụp ảnh phô lên Facebook, nhưng khi đến Little Saigon cũng chỉ dám mặc một cái áo màu đỏ cũng đã phải bỏ chạy, vì gây bất ổn cho cả một khu dân cư. Một ca sĩ được cộng đồng người Việt tị nạn trên đất Mỹ dung nạp, trong lúc về Việt Nam cao hứng, đã chụp ảnh khoe áo dài đỏ sao vàng, đưa loạn xạ ra trên mạng, sẽ trả giá chuyện ngu đần này khá đắt, hải ngoại không còn ai chấp nhận bỏ một đô la cho phép cô đứng trên sân khấu ở đây nữa.
Đây không phải là một thái độ quá khích mà là một thái độ phân biệt dứt khoát, nó là hai mặt của một đồng xu, mà theo một nghĩa khác, chúng ta không thể nhìn thấy nó cùng một lúc.
Tổng Thống Barack Obama của Mỹ có thể đứng đọc diễn văn dưới lá cờ đỏ sao vàng và cạnh tượng Hồ Chí Minh vì nghi lễ ngoại giao, nhưng chúng ta thì không, dù có là công dân hay thường trú nhân của nước Mỹ. Nhiều người tị nạn của chúng ta, nêu lý do hoàn cảnh, về nước đi qua những cổng chào giăng cờ đỏ, treo hình Hồ Chí Minh và những khẩu hiệu tâng bốc đảng Cộng Sản, chắc là du khách không có quyền bảo chính quyền địa phương gỡ bỏ cờ xí, khẩu hiệu khi họ về đây, tiêu xài những đồng đô la dư dả.
Nhưng những phái đoàn trong nước qua đây xin tiền về xây nhà thờ, xây chùa, dự những nghi lễ tôn giáo, ca hát hay dù nói chuyện đấu tranh, trong đó có cả chuyện đấu tranh với chế độ Cộng Sản, cũng không thể bắt chúng ta, những người hải ngoại, mà đại diện là ban tổ chức các sự kiện, phải dẹp bỏ lá cờ Việt Nam của chúng ta trước khi họ bước lên sân khấu.
Tôi xin kể chuyện lá cờ VNCH liên quan đến một vị linh mục đang sống ở Việt Nam, đó là Đức Cha Hoàng Đức Oanh, Giáo Phận Kontum. Khi công an trao sổ thông hành (Cộng Sản gọi là hộ chiếu) đi Mỹ cho ông, họ dặn dò: “Khi ông qua bên đó đừng có nói năng gì về chế độ hiện tại ở Việt Nam, và nhất là đừng đứng chụp hình, quay phim dưới lá cờ vàng!” Đức Cha Oanh đưa trả lại sổ cho công an, thẳng thắn trả lời: “Nếu vậy, thôi chả đi nữa, trả passport lại cho các ông đây!” Công an hỏi tại sao? Ông trả lời: “Thế này nhé, tôi đến nhà người ta, chủ nhà bầy biện, trang hoàng nhà họ. Chẳng lẽ tôi là khách bắt họ phải dẹp cái này, bỏ cái kia, tôi mới vào, làm như vậy coi sao được?” Cuối cùng công an CSVN phải trả lại giấy tờ cho ông.
Không thể lấy lý do “còn phải về Việt Nam” để chúng ta phải di chuyển lá cờ VNCH đi chỗ khác, vì đó là lý do của họ, không phải là lý do của chúng ta. Dù họ cần đến đây để vắt sữa từ “con bò sữa hải ngoại” để ca hát hay diễn thuyết đi nữa, thì họ cũng phải tuân thủ những quy tắc của chúng ta.
Trước đây vào năm 2008, Hội Người Việt ở San Fernando Valley ở thành phố Winnetka, California, đã tổ chức gây quỹ cho cô Aline “Tim” Ribeaud, gốc Thụy Sĩ, giám đốc “Maison de Chance” ở Việt Nam, cũng với yêu cầu của người đi xin tiền, ban tổ chức đã dẹp cờ VNCH trên sân khấu.
Ngày 14 Tháng Bảy, 2015, đại sứ Mỹ tại Việt Nam là ông Ted Osius đến San Jose để tiếp xúc với cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại tòa thị chính. Buổi nói chuyện do văn phòng Dân Biểu Mike Honda phối hợp với Nghị Viên Ash Kalra tổ chức. Phòng hội, theo yêu cầu của Bộ Ngoại Giao, không có trưng bày lá cờ VNCH. Một người tham dự có mang sợi dây in lá cờ vàng trên cổ cũng được yêu cầu gỡ xuống. Trong hoàn cảnh này, chúng ta cũng còn được một thứ quyền là quyền “tẩy chay” không tham dự buổi tiếp xúc.
Và mới đây thôi, tại Annandale, Virginia, một ca sĩ từ Việt Nam sang hát tại một phòng hội nhỏ có khoảng mươi người tham dự cũng từ chối đứng trên sân khấu có lá cờ vàng. Dù cô mang theo đến Mỹ thứ hào quang nào đi nữa? “Lady Gaga” của Việt Nam, “ứng cử viên ngoài đảng vào Quốc Hội Việt Nam,” “có mặt trong buổi họp giữa các nhà hoạt động xã hội dân sự với Tổng Thống Barack Obama,” thì đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở đây, cô vẫn chỉ là một người khách. Những phát biểu của Mai Khôi trên trang nhà của cô sau khi sự việc xảy ra chứng tỏ cô là một đứa trẻ quen nuông chiều, hỗn láo, chuyện này làm tôi lại bất chợt liên tưởng đến hai tiếng “nhãi ranh” của nhà báo quá cố Bùi Bảo Trúc.
Ca sĩ Mai Khôi. (Hình: VN Express)
Tuy nhiên, tôi vẫn không giận cô bằng những người có trách nhiệm, hiện diện trong cái buổi “trình diễn” chết tiệt hôm ấy. Xem đoạn phim quay lại cảnh quý ông loay hoay với hai lá cờ Việt Mỹ, hết đem đến để cạnh cửa sổ, rồi lại đem dựng lại sau lưng khán giả, người xem ai cũng phẫn nộ.
Buổi trình diễn không phải mua vé vào cửa, vì vậy chắc không phải xót đồng tiền mà quý vị không đứng dậy bỏ ra về. Cô Mai Khôi nói “không” với lá cờ, chúng ta cũng có thể nói “không” với nhiều chuyện: không giới thiệu chương trình, không ca tụng, không phỏng vấn và nhất là không chịu ngồi lỳ ra đó để nghe và để vỗ tay hoan hô cho đến cuối chương trình.
Lý do gì để quý vị không dám nói “không?” Lịch sự, nể nang, một sự nhịn chín sự lành hay chúng ta bị mê hoặc với những danh từ “nhà tranh đấu của giới trẻ,” “phong cách nhạc và trang phục phá cách,” “xu hướng phục hưng, Gipsy…”
Cô Mai Khôi này đến Mỹ với mục đích gì, ai cho phép cô đi, ai giới thiệu và tổ chức cho cô buổi “trình diễn” này.
Tôi không tiếc giùm cho quý vị trong ban tổ chức đã mất toi một buổi chiều Chủ Nhật đẹp trời, tôi chỉ thấy quý vị đã tạo một lỗi lầm đáng tiếc, đã không có nổi một sự can đảm tối thiểu, vậy thì còn dám đương đầu tranh đấu với ai, làm gương gì cho giới trẻ? Tôi cũng đã đọc những lời hối lỗi “chân thành” của cô ca sĩ trong câu chuyện này, của người đã giới thiệu cô đến Virginia, nhưng tất cả đều đã muộn, một khi ly nước đã đổ xuống đất!
Đây là một câu chuyện khó tha thứ, và cũng là một bài học đắt giá cho tất cả những người Việt đã sống chết hết cuộc đời mình với một lá cờ.
Thời đại dịch này, người ta lo bệnh, lo chết, đâu có ai tào lao đi lo bàn chuyện chữ nghĩa, vì chữ nghĩa vốn không làm chết ai, cũng chẳng tổn thương ai. Nếu nghĩ đến đường xa, lâu dài thì lại không phải là chuyện cần thiết, bây giờ, đời sống này “sống hôm, chết mai,” lo cho đời mình chưa xong, nghĩ chi đến chuyện con cháu mai sau. Mai sau con cháu chúng ta, ở đây thì nói tiếng Anh-Mỹ, ở trong nước thì nói tiếng Tàu, biết tiếng Việt có còn không? Người xưa phán xét một câu về sự thờ ơ này rất nặng, đó là “ngu si hưởng thái bình” (ngu giả an chi.) Nhiều người không dám khẳng định như vậy, nên có quan niệm rằng suy nghĩ bớt đi một chút cho đời đỡ dằn vặt, đỡ làm mếch lòng ai thì cuộc sống hẳn là bình an, không đụng chạm, không tranh cãi, không chiến tranh.
Mấy tuần này chúng ta, lần đầu tiên được nghe quá nhiều chuyện về “gói.” Ðây không phải là chuyện gói xôi, gói bắp thường ngày của giới lao động bình dân quê mình, trị giá chưa tới một dollar mà có những “gói” giá trị lên đến hằng trăm tỷ dollars như “gói” kích thích kinh tế này sẽ chuyển tiền trực tiếp cho cá nhân, doanh nghiệp Mỹ, “gói” trợ cấp thất nghiệp cho các cá nhân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.
Chữ “gói” này phát xuất từ trong nước, không để chỉ nói đến cái “gói hỗ trợ an sinh xã hội cho lao động mất việc của Hội nghị Thường trực Chính phủ CSVN,” mà còn là cái gói của Mỹ, của Ðức. Chưa bao giờ các thứ gói lại lền khên trôi nổi như hôm nay, tựu trung có rất nhiều thứ gói như “gói cứu trợ,” “gói kích thích kinh tế,” “gói giải cứu,” “gói khẩn cấp.” Những chữ “gói” này phát sinh từ trong nước, nhanh chóng theo con virus Corona lan ra ngoại quốc, đến Little Saigon và được nghe từ miệng cô xướng ngôn viên các đài phát thanh, đài truyền hình, hay được in trên báo chí của người Việt (gọi là người Việt tị nạn CS) ở đây.
Cái gói mà quý vị muốn nói đến đây là gói tiền.
Chúng ta thật không thiếu chữ và cũng dư nghĩa. “Gói” mà trong nước muốn nói đây, chính là “ngân khoản,” “số tiền” hay tệ lắm là “món.” Ðể sửa lại, nếu chúng ta nghe nói “một ngân khoản cứu trợ khẩn cấp 400 tỷ dollars vừa được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua…” nghe có vừa lỗ tai không? Thà là nôm na mách qué như “gói xôi,” “gói bắp,” “giường cứng,” “giường mềm” đi thì không nói, đằng này cứ nghe cái loại chữ nghĩa “một gói hỗ trợ an sinh xã hội,” “ một gói kích cầu…” nửa Ta, nửa Tây là cũng đã biết nó ma-de từ đâu rồi.
Hết nói nôm na, bây giờ chúng ta qua loại chữ nghĩa uyên bác. Chữ nghĩa uyên bác không phải để dành cho giới trí thức dùng, mà qua thời kỳ quá độ này, đúng như câu tục ngữ ngàn xưa là “dốt thì hay nói chữ!” Nếu viết chuyện này thì không biết bao nhiêu trang giấy cho đủ, nên chúng ta chỉ nói đến “chữ nghĩa thời đại dịch” cho khỏi đi xa đề tài hôm nay.
Hiện nay ở Italy và ngay ở New York của Mỹ, số người chết vì Covid-19 mỗi ngày lên quá nhiều! Câu hỏi chúng ta đặt ra, qua báo chí, truyền hình hiện nay là chính quyền địa phương đã “xử lý” những xác chết này như thế nào? Chúng ta cũng hiểu rằng xác chết muốn xử lý chỉ có hai việc, đem chôn hay hỏa táng! Dù vậy nhưng “xử lý” xác chết trong trường hợp này nghe có thuận tai không?
Muốn đặt câu hỏi thế nào tùy bạn, tuy nhiên trong ngôn ngữ VC, chữ “xử lý” được dùng rất rộng rãi như “xử lý nước thải,” “ xử lý các vi phạm pháp luật, “xử lý vết thương trước khi đưa bệnh nhân vào viện,” “xử lý nỗi cô đơn…” Và như vậy, xử lý các xác chết thời đại dịch có khác chuyện xử lý một món thịt kho trong chương trình dạy nấu ăn hay không? Xin hãy đọc dòng chữ “xử lý thịt bò dai trở nên mềm hơn,” trên báo chí trong nước, và để hiểu hết nghĩa của nó. Ðây là một đoạn “xử lý” khác đọc được trong một trang sách dạy nấu ăn:
“Cách xử lý măng khô:” Măng khô rửa sạch bụi bẩn, sau đó cho măng khô vào ngâm nước trong 6 – 8 tiếng cho măng nở mềm. Thay nước ngâm măng vài lần để loại bỏ vị đắng. Luộc kỹ măng, sau đó chắt bỏ nước và thay nước mới. Luộc và xả măng 2 – 3 lần đến khi nước luộc trong lại, không còn mùi khó chịu.
Hãy nghe một cô dạy nấu ăn trên đài truyền hình: “Mình xử lý xong phần rau củ, sau đây là đến phần xử lý thịt!” Sao không nói một cách giản dị: “Chúng tôi đã trình bày cách xắt rau quả, sau đây là đến phần thịt!”
Trong nước định nghĩa hai chữ “xử lý” như sau: “Áp dụng vào cái gì đó những thao tác nhất định để nghiên cứu, sử dụng.” Sao mà rắc rối quá vậy? Chúng ta đâu có thiếu chữ! Vì sao không dùng “cách giải quyết trong trường hợp số người chết lên quá cao?” khi nói đến chuyện người chết ở New York hay Italy?
Chúng ta, thật ra từ trước đến nay, bỏ quê hương, đi thì cũng mang văn hóa chữ nghĩa đi theo, đâu đến nỗi nghèo mạt mà phải dùng loại chữ nghĩa thô thiển, nhếch nhác từ trong nước đem ra, mà thật có hay ho gì cho cam. Nhân mùa dịch chúng ta lại nghe những từ ngữ lạ tai, nhưng nghe lâu thành quen, nào là “lây nhiễm,” “đỉnh điểm,” “diện rộng,” “dập dịch,” “cú hích kinh tế,” “bệnh lý nền,” “lây nhiễm chéo,” “phun khử khuẩn,” hàng ngàn “cặp đôi” hoãn cưới, “liên hệ” ngay với bác sĩ khi vướng dịch…
Không phải đến bây giờ dịch ngôn ngữ trong nước mới lây lan ra ngoại quốc mà đã từ lâu, nhưng hải ngoại không ai chịu giữ khoảng cách với nó, mà còn vô ý thức mang nó đi, phát tán nó khi trò chuyện, tiếp xúc trong cộng đồng làm lây lan, không có một cái khẩu trang nào để bịt mồm chúng lại. Chúng ta cũng không có một phương cách kiểm soát, luật lệ hay giải pháp nào có thể chận đứng nó. Trái lại có thái độ, vô tâm, thờ ơ, vô ý thức đã tiếp tay, phát tán … khiến cho thứ dịch này càng ngày càng phát triển trong cộng đồng người Việt “tỵ nạn,” khó lòng thể cứu vãn.
Chúng ta đang bị đại dịch Virus Corona phát xuất từ Vũ Hán, Trung Quốc nhưng rồi đại dịch này sẽ qua đi, nhưng thứ đại dịch ngôn ngữ phát xuất từ cái xứ CHXHCN Việt Nam là một thứ dịch dễ lây khó gỡ. Dịch này tràn đến Mỹ, Canada, Úc Châu rồi Âu Châu do người Việt tỵ nạn, người Việt di dân mang theo, được báo chí, truyền hình tiếng Việt tiếp tay, gieo rắc khắp nơi, ít người chống đỡ nỗi, một khi đã nhiễm bệnh thì chịu bệnh suốt đời. Ðiều khốn nạn là hết đời chúng ta, nó còn lây lan cho đến con cháu chúng ta mai sau, nhiều thế hệ nối tiếp.
Dịch này không giết ai, nhưng nó phá nát ngôn ngữ, văn hóa mà cha ông chúng ta đã gầy công xây dựng bao nhiêu năm.
Tôi “rửa lon”, – chuẩn úy lên thiếu úy – nhằm Tết Trung Thu, đành bấm bụng mà đãi mấy xếp bánh Trung Thu và uống Champagne.
Dĩ nhiên, ngoài mấy ông lớn, không có đám “đệ tử” của tôi, là mấy hạ sĩ quan, binh nhất, binh nhì làm chung phòng. “Đệ tử” cũng không ai dám lai vãng ở câu lạc bộ, khi thấy mấy ông lon lá đầy mình tập trung ở đó.
Tối đó, nhằm phiên “sĩ quan trực”, xuất hiên ở phòng trực xong, tôi xuống câu lạc bộ, uống càphê với “lính lác”, cùng trực với tôi.
Trời chạng vạng, Hạ Sĩ Đảnh tới. Anh chàng tài xế nầy là người thường lái xe đưa tôi đi công tác Saigon hay các đơn vị phụ cận Saigon. Tôi khoái đi với tài xế Đảnh, nhắm chừng, anh ta cũng khoái lái xe cho tôi đi. Có lẽ vì vui!
Chuyện vui thứ nhất là anh ta thường vượt đèn đỏ.
Saigon hồi ấy, cuối thập niên 1970, đèn đỏ không nhiều, nhưng ưa vượt đèn đỏ là cái tính nghịch ngợm của anh ta. Có lần tôi nói: “Coi chừng đụng xe có ngày!” Anh ta bảo, “Chuẩn úy yên tâm. Tài xế ngon lành mà!”
Cũng có lần bị “đệ tử của Cò Dung” (Cảnh Sát Công Lộ) thổi còi, Hạ Sĩ Đảnh dừng xe, xin lỗi: “Tôi phải đi “hỏa tốc”. Ông Trung Sĩ Cảnh sát Công lộ không chịu, đòi lập biên bản, không thì gọi Quân Cảnh tới.
Đảnh nói: “Ông Cò muốn chi cũng được, nhưng tui đi “hỏa tốc”, chậm một chút là “chết cả đám.”
Nói xong, Hạ Sĩ Đảnh lôi trong xe ra một cái phong bì nhà binh, màu rơm, ngoài đóng dấu “HỎA TỐC”, nói:
-“Tui không nói ông cò làm khó, ông coi nè, quả tình tui đi “hỏa tốc”, bắt tui chờ đây cũng được, nhưng làm ơn ký tên vô mặt sau bì thư nầy, để có trễ hạn, tụi có cớ trình với thượng cấp.”
Tưởng thiệt, Thầy Trung Sĩ Cảnh Sát nói: “Thôi anh đi đi, việc quân như… cứu hỏa mà.”
Xe chạy rồi, Hạ Sĩ Đảnh và tôi nhìn nhau cười.
Tôi hỏi:
-“Ông” xài cái mửng nầy bao lâu rồi!”
-“Ông Thiếu Úy Chương bày cho em đó. Ông ấy là “luật sư” bị động viên. Gặp đèn đỏ, ông bực mình, ông bày mưu vượt đèn đỏ cho lẹ.”
Tôi cười:
-“Bác sĩ dạy người ta vệ sinh, nhưng bác sĩ ở dơ thấy mẹ! Luật sư thì bảo vệ luật, nhưng ưa làm chuyện phạm pháp. Buồn cười thật!”
Không ít lần tôi đi công tác ở Chợ Lớn, “ma chay” mà, nghĩa là vô tận nhà tử sĩ, vô hẽm quẹo hai ba lần mới tới, để rồi “Báo tin người tử trận cho thân nhân”. Thanh niên Ba Tàu có cái lạ, một là vô cùng nhát gan, chạy chọt khỏi đi lính hay làm “lính ma lính kiểng”. Còn tình nguyện thì đi thứ dữ: “Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Cọp Ba Đầu Rằn, v.v… Tôi phải đến “gia đình tử sĩ” không ít lần, sau khi lo cho thân nhân đâu đó xong xuôi, mới an tâm, có dư chút thì giờ mà “nghịch ngợm”. Thầy trò tôi, “ham vui”!
Chợ Lớn không thiếu con gái Tầu, đẹp hay không, không cần biết, nhưng “lạ”. Nhìn là biết ngay “gái Tầu”.
Có hôm tôi hỏi Đảnh – Đảnh sinh đẻ ở Chợ Lớn, nhưng cha mẹ thì Tầu “rặc”. Ba Đảnh còn nói được chút ít tiếng Việt, còn mẹ anh ta thì “mù câm”, nói chuyện với người Việt, thường phải có “thông dịch viên”:
-“Muốn chọc mấy con nhỏ nầy thì nói sao mậy?”
-“Thì “ông” cứ nói “ngộ ái nị”. Đảnh trả lời!
-“Ngộ ái nị” là tôi yêu cô?” Tôi lại hỏi.
-“Đúng rồi!” Đảnh nói.
Tôi cười, nói:
-“Nó chưởi cho mà nghe!”
-“Không đâu – Tụi nó hiền lắm! Có đứa nó nhăn răng cười lại nữa. Ông cứ chọc đi cho vui.”
Nghe lời Đảnh, tôi diễn cái trò “Ngộ ái nị” nhiều lần; cũng vui. Mấy cô Tầu Chợ Lớn đang đi bên lề đường hẽm, bỗng thấy một sĩ quan ngồi trên xe Jeep, ngoái cổ ra nói vậy, họ ngạc nhiên. Thường cúi mặt tiếp tục đi, e thẹn; có cô trố mắt nhìn, ngạc nhiên; có cô cười tủm tỉm.
“Cầm dao lâu ngày đứt tay”. Mẹ tôi dạy như vậy, nên có hôm tôi bị “tổ trác”.
Đúng ra, tôi không nên nói câu ấy với cô nàng nầy. Trông qua, thấy hơi khác, không phải cách ăn mặc như gái Tầu Chợ Lớn, nhưng vì quen thói, tôi nói bừa: “Ngộ ái nị!”
-“Phải không đó! Tôi không phải Tầu đâu nhá.”
Tôi tái mặt, nói với Đảnh: “Dọt lẹ! mầy! Không phải Tầu.”
Hai chúng tôi lại cười ngất nga ngất ngưởng. Không lo. Cô ta đi bộ, chúng tôi đi xe, làm sao cô ta theo kịp mà chưởi chúng tôi.
&
Tối đó Đảnh cùng trực với tôi, anh tìm tôi ở câu lạc bộ. Đưa cho tôi ổ bánh mì nguội gói giấy báo, Đảnh nói:
-“Tui mua ổ bánh mì mừng ông thầy lên lon.
Tôi hỏi:
-“Uống càphê hay bia, tui đãi ông?
-“Một càphê đá”, Đảnh gọi vào bếp. Thấy tôi đang bẻ đôi ổ bánh mì, Đảnh nói:
-“Ông thầy ăn hết đi. Đừng bẻ cho em.”
-“Ngon không mầy?” Tôi hỏi.
-“Ngon lắm!”
Dù mới ăn cơm chiều ở nhà xong, tôi vẫn ăn hết ổ bánh mì thịt nguội. Tôi khen ngon.
Đảnh nói:
-“Thiếu úy biết xe bánh mì nầy không? Khi nào đói, ghé lại mua mà ăn!”
-“Ở đâu?” Tôi hỏi.
-“Ngã năm Chuồng chó” này nè! Xe nầy mới xuất hiện hơn tháng nay. Người ta mua đông lắm. Cô bán hàng cũng… đẹp. Ra trễ là hết hàng.” Đảnh ca tụng xe bánh mì.
-“Để tui ghé lại coi!” Tôi nói.
Đảnh chọc quê tôi:
-“Mua bánh mì chớ không phải nghía cô chủ đâu nhé! Tranh không lại đâu!”
-“Tui chưa vợ mà “ông”, hơn thua cũng phải lo kiếm vợ chớ!” Tôi vừa nói đùa vừa cười.
&
“Ngã Năm Chuống Chó” nằm ngay trên đường tôi đi/ về mỗi ngày. Bên kia ngã năm là “Trại Cẩu Cẩu”. Chúng tôi nói đùa như thế thay cho cái tên “Trại Quân Khuyển”; bên nầy là “Xe Bánh Mì Thịt Nguội”.
Cái xe thì cũ, chủ nhân thì mới. Để tiết kiệm, chắc người chủ mua lại cái xe của ai đó.
Khoảng 6 giờ chiều, trời mùa hè, còn sớm, cái xe bánh mì đã xuất hiện với hai hoặc ba người bán hàng: Một người đàn bà lớn tuổi, có lẽ là mẹ, – Tôi đoán đúng, sau nầy tôi nghe hai cô con gái cùng bán gọi bằng má. Dáng dấp của bà, trông có vẻ là một cô giáo hay công chức, thư ký, không phải là người lao động chân tay. Hai cô gái thì một cô là chị, 17 hay 18 tuổi, không đẹp, nhưng nhìn vào biết ngay là người phúc hậu, – giống mẹ – và cô em, 14 hay 15 tuổi gì đó. Tuổi nầy thì dành cho mấy anh sắp tốt nghiệp trung học hay mới vô đại học. Tuổi tôi thì phải “chọc” cô chị mới xứng đôi. “Nồi nào úp vung nấy”.
Ban đầu, chiều nào tôi cũng ghé mua bánh mì. Trên đường vô trại thì đem vô trại ăn. Trên dường về nhà thì mua về nhà, ai ăn thì ăn. Mua bánh mì là cái cớ để “ngó” cô chị. Trước khi cầm ổ bánh mì lên xe, bao giờ tôi cũng tần ngần, hay giả bộ tần ngần. Khi nào đông khách, cô chị mới không thấy cái vẻ “đi không đứt” của tôi. Khi vắng khách, dĩ nhiên cô ta thấy mà thấy rõ nữa. Tôi đóng kịch hay lắm, hồi còn đi học, văn nghệ hay lửa trại, thế nào cũng có màn kịch hài của tôi và bạn học.
Có lần tôi còn lục ví kiếm tiền, giả bộ “sĩ quan nghèo”. Bọn con gái mới lớn, hay thương người nghèo, như “Gia Huấn Ca”: “Thấy người đói rách thì thương.”
Sau lần tôi diễn trò “sĩ quan nghèo” đó, cô chị nói: “Từ nay, mỗi lần, Hạnh bớt cho thiếu úy một đồng một ổ.” Tôi mừng! Thế là cô ta “trung kế” của tôi. Sau đó, tôi tìm cách hỏi chuyện khi vắng khách. Mua hơi trễ thường vắng khách:
-“Hạnh có nghĩ tên Hạnh thì được hạnh phúc không?”
-“Sao lại không? Hạnh là tiếng trước của Hạnh Phúc mà!” Cô ta trả lời, với một sự tin tưởng mạnh mẽ, lộ trên mặt.
-“Xin lỗi!” Tôi nói. “Tên cô làm tôi nhớ cái chuyện ngắn “Hạnh” của Khái Hưng trong “Hai Buổi Chiều Vàng.”
Mặt cô ta xịu xuống. Có lẽ cô ta đã đọc truyện ngắn đó. Chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị phải học “Tự Lực Văn Đoàn””.
Thấy vậy, tôi nói, giọng hơi hốt hoảng:
-“Chết! Tui vô ý quá, xin cô đừng buồn. Nhưng cái truyện ngắn nó ám ảnh tôi dữ lắm, tôi thấy thương những người tên Hạnh. (Phần nầy tôi nói hơi chậm lại một chút, ít ra, cô ta phải nghe rõ mấy tiếng “Tôi thấy thương những người tên Hạnh). Xong, tôi lại rối rít xin lỗi một lần nữa, rồi vội vàng cầm ổ bánh mì lên xe dọt mất.
Làm như vậy là “đúng bài bản đấy”. Mình gây cho người ta một ấn tượng gì đó, rồi vội vàng xin lỗi mà dọt lẹ. Chắc chắn, người đó không thể không nghĩ về mình: Ghét, thương, giận, vui…
Cái gì cũng được, nhưng phải để lại một ấn tượng. Đó là “nghệ thuật cua gái”, nhiều nhà văn, nhà thơ hay dùng đòn phép nầy! “Nghệ thuật” nầy, tôi “học lóm” bên Pháp, khi tôi học luật bên ấy, do một số bạn bè qua Tây “truyền nghề” lại cho. Con gái Paris đẹp, dễ “cua”, nhưng phải có “nghệ thuật”. “Nghệ thuật” nầy có từ lâu đời của dân Paris chính hiệu.
Tối hôm sau, tôi lại ghé mua bánh mì!
Hạnh làm bánh mì cho tôi, sau khi chào tôi qua loa. Tôi đoán chừng trong lòng Hạnh cũng “đánh lô-tô” đấy. Vẻ bình tình bên ngoài, tố cáo những ngọn sóng trong lòng. “Đưa người ta không đưa sang sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng”. Thâm Tâm bảo có sông mới có sóng. Ở “Ngã Năm Chuồng Chó” nầy, làm gì có sông, nhưng chắc cũng có “sóng trong lòng” đó.
Tôi lại đóng kịch như các hôm trước, tay cầm ổ bánh mì, chân “rời rả” đi ra chỗ dựng xe. Bỗng tôi nghe Hạnh gọi tôi: “Thiếu úy!” – Tôi dừng lại chờ đợi. Hạnh nói: “Thiếu úy muốn nói chuyện với Hạnh, mai mốt đến giờ nầy hay trễ hơn một chút.”
Bấy giờ tôi mới để ý thấy trước xe bánh mì không còn khách.
Tôi quay lại, nói, trầm tỉnh: “Thế nào rồi tôi cũng đi xa. Nếu Hạnh và tôi có nói gì đôi điều với nhau, cũng là một kỷ niệm.”
Hạnh nhìn tôi, hơi ngạc nhiên, vì câu tôi nói: “Tôi cũng đi xa”. Tôi cúi đầu chào Hạnh, miệng lí nhí: “Tối mai tôi lại ra mua bánh mì.”
&
Trong chiến tranh, gia đình nào cũng có nhiều điều lo lắng. “Em nghĩ tới một điều em không dám nghĩ, nghĩ tới một người đi giữa chiến tranh”. Tô Thùy Yên hay Trần Thiện Thanh nói vậy, hát vậy. Đối với những gia đình có người thân ngoài tiền tuyến, có bao giờ hết lo lắng.
Gia đình Hạnh là gia đình cố cựu, một “tiểu công chức” của đất Gia Định nầy. Thân phụ cô làm ở Ty Bưu Điện. Mẹ là cô giáo tiểu học. Nguồn gốc chắc cũng không phải là nghèo. Ngôi nhà họ đang ở, tuy là nhà cũ, ba gian, hái chái, lợp ngói âm dương, trong một khu vườn có trồng nhiều cau, bên cạnh đường Lê Quang Định cũ, là cái nét chung của những gia đình cố cựu khá giả nơi nầy.
Nếu không có chiến tranh, gia đình nầy có thể sống no ấm, êm đềm. Tuy nhiên, một phần vì xã hội phát triển, con cái cần phải tốt nghiệp đại học, nên chi tiêu gia đình tăng lên. Đó là điều vất vả thứ nhất cho cha mẹ.
Thứ hai, gia đình Hạnh lại chỉ có một con trai cả, tiếp sau là ba em gái, Hạnh là chị gái lớn nhứt. Anh của Hạnh, Luận, đang học Luật, bỗng nhiên tình nguyện nhập ngũ. Từ khi Luận vô quân trường, cho đến khi anh ra đơn vị đóng ở Bình Định, sợ con không đủ sống vì tiền lương nhỏ, ba má Hạnh phải lo “tiếp tế” cho con trai. Gánh nặng tài chánh, đã nặng, lại nặng thêm. Ba má Hạnh, nhất là bà mẹ, phải vất vả. “Xe Bánh Mì Thịt Nguội” nầy xuất hiện, là cái mục đích kiếm thêm tiền cho gia đình và cho cậu con trai đang ở ngoài chiến trường.
Ba Má Hạnh thương con trai, dĩ nhiên, vừa là con trai độc nhứt, lại vừa “đang ở lính”. Hạnh và các em Hạnh cũng rất thương Luận; anh trai mà! Đứa con gái nào lại chẳng muốn có một người anh trai, mà Luận thì vui tính, hay chọc ghẹo cho các em gái cười. Hạnh nói: “Anh ấy đi lính rồi, nhà trống trải lạ lùng. Nhiều khi đi học về, không thấy ảnh, muốn khóc luôn.”
Tôi hỏi: “Ở nhà ổng quậy dữ không?”
-“Cũng có, nhưng mà vui thôi. Đám bạn Hạnh, không cô nào không bị anh ta ghẹo. Ghẹo nhưng lịch sự lắm. Con nhỏ nào cũng nói “Ghét anh mầy ghê!” Nhưng ảnh đi rồi, con nào cũng hỏi thăm, hỏi hoài. Anh là người vui tính, đem nụ cười lại cho tụi nó mà!”
-“Bồ nhiều không?” Tôi lại hỏi.
-“Anh ấy mà yêu ai! mà ai chịu ảnh được, ngoài bọn em gái ảnh.”
-“Không yêu ai?” Tôi hỏi.
-“Hình như ảnh nghĩ ảnh sẽ đi lính, nên không muốn “dây dưa”.
-“Tại sao lại cứ nghĩ chuyện đi lính. Con trai độc nhứt. Cha mẹ già 60 tuổi, có điều kiện mà! Bộ ưa làm ông tướng chắc!” Tôi nói, như có vẻ cằn nhằn.
-“Đừng nói vậy” Hạnh nói – “Nghe được, ảnh buồn đó! Ba má Hạnh chưa tới 60 tuổi, mà ảnh thì hình như có cái máu “Nam Bộ Kháng Chiến”, ngày trước thì người ta hăng hái chống Tây, ngày nay thì hăng hái chống “ngoài kia xâm lăng” mình. Thiếu úy nhớ Lục Văn Tiên không?”
Tôi đọc: “Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!” Rồi tôi nói tiếp: “Đúng rồi! “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng” mà làm chi!”
&
Mấy hôm sau, lại trúng phiên trực. Ký tên vào sổ trực ở “Phòng Trực”xong, tôi lại xuống câu lạc bộ, tay cầm hai ổ bánh mì, một cho tôi và một cho Đảnh. Hạ Sĩ Đảnh thường trùng phiên trực với tôi.
Chúng tôi hai người cầm hai ổ bánh mì mà “ngoặm”, Đảnh hỏi:
-“Dính chưa?”
-“Dính gì mầy?” Tôi hỏi.
-“Cô bán bánh mì đó!” Đảnh trả lời.
Tôi cười:
–“Thưa rằng đừng lấy làm chơi!” Con nhà đàng hoàng đó mậy! Không giởn mặt được đâu!”
-“Em có nói “ông thầy” giởn đâu. Cô ta con nhà đàng hoàng. Còn ông thầy bộ không là gì chắc? “Môn đang hộ đối” chớ gì nữa.” Đảnh nói.
-“Thôi! “Lỡ khi mình không về, thì thương người…” Tôi cũng bị ám ảnh bởi câu chuyện của Luận, do Hạnh kể lại nên trả lời bằng cách đọc câu thơ của Hữu Loan.
-“Ông nói cười không! Học luật bên Tây về, làm việc ở “Bộ Chỉ Huy”, làm sao ra tác chiến. Chữ “thọ” to tổ bố mà còn…”
Tôi không trả lời Đảnh!
Tốt nghiệp ở bên Tây, “Me” tôi bảo đừng về, về là bị gọi động viên. Ba tôi không nói gì cả. Về chưa bao lâu thì tôi nhận lệnh gọi, vào quân trường.
Máy IBM cũng lạ. Cũng như mọi người, tôi cứ nghĩ là tôi sẽ trình diện Nha Quân Pháp, hay ít ra cũng “Quân Cảnh”. Vậy mà tôi lại “đi Thiết Giáp”, học lái xe “tăng” M-41, Thiết vận xa M-113, V.100, học bắn đại bác, đại liên, đội hình tác chiến, di hành, hộ tống, lội nước…
Có lần Đảnh hỏi tôi: “Học đại học bên Tây, trường ốc to lớn đẹp đẽ, bộ không hơn chui vô xe học lái M-113 hay sao?”
Tôi cười:
-“Do mình thích hay không thích. Sinh viên mà học đại học bên Tây thì còn gì bằng. Còn như học lái xe “tăng”, cũng có cái vui lắm chớ. Ngồi trên M-113, lõ mắt ra mà tìm một nơi cho xe xuống nước mà không bị mắc lầy. Ra giữa sông lại hồi hộp, qua bên kia cầu Rạch Chiếc, tìm chỗ để lên cho gọn, cũng thú lắm chớ. Nó cho mình những cái cảm giác lo lắng, hồi hộp, căng thẳng…”
Đảnh cười:
-“Ông thầy đúng là người ưa cảm giác. Em thì nhắm làm liều cho xong, chớ có thú vị gì đâu!”
Tôi nói:
-“Ông” nói vậy là không đúng đâu. hồi học trung học, tui cãi với ông thầy khi ông nói: “Cầm dao giết người, người ta cũng thấy cái thi vị của nó”. Sau, học lên nữa, tui thấy ông thầy có lý. Ông “Tự vệ Việt Minh” thấy khoái khi cầm mã tấu chặt đầu một người mà anh ta cho là “Việt Gian”. Trong Thập Tự Chinh, người Tây cũng thích thú giết một người Hồi Giáo. Tụi “ba K” cũng thấy sướng khi đốt nhà người da đen.”
Tôi phải giải thích thêm cho Đảnh các ví dụ trên vì trình độ học vấn Đảnh không cao.
Nghe những chuyện lịch sử như tôi kể, Đảnh thích tôi lắm.
Tôi học tà tà, miễn xong thì thôi. Ra trường đậu trên trung bình, chọn đơn vị xong, lại có sứ vụ lệnh về trình diện Bộ Chỉ Huy, do một động cơ có “mùi nhang trầm thứ thiệt”. Ông Tướng Vùng quen thân với ba tôi, sợ tôi “Tổ Quốc Ghi Ơn” bèn gọi về “Đơn vị không tác chiến”.
Về đây, tôi “đụng” ngay một chuyện làm tôi hơi chột dạ. Hôm lên trình diện Đại Tá Tham Mưu Trưởng, ổng nói, rất từ tốn, như bản tính của ông vậy: “Mình ở đây, không tác chiến, không cần phải đeo “lon” ngụy trang chuẩn úy à!”
“Lon” ngụy trang là “lon” màu đen. “Lon” thông thường là màu đồng.
Trong hai năm phục vụ ở đơn vị không tác chiến, tôi cứ “lấn cấn” hoài. Ở đây, từ các ông sĩ quan già lon nhỏ cho đến các sĩ quan “lon” to, “lon” nhỏ, ông nào cũng phải ít ra hai năm ở “đơn vị tác chiến” mới về đây. Có ông “đánh đấm triền miên”, “thừa sống thiếu chết”, “sẹo đầy mình”. Vả lại, tôi còn trẻ, còn thanh niên, suốt ngày dạ, dạ, thưa, thưa mấy ông lớn… mệt lắm, vì ở đơn vị chỉ huy, ông lớn thì nhiều mà ông nhỏ thì ít. Quanh đi quẩn lại, lon lá như tôi, đếm chưa đủ năm đầu ngón tay.
Thế rồi một đơn vị mới, – cấp trung đoàn -, được thành lập, vùng hoạt động là quanh Saigon hoặc rộng hơn chút ít, không phải đi xa. Ông Thiếu Tá Trưởng Phòng Nhân Viên, biết tính tôi, hỏi: “Sao? Ưa ở đây hay ra Thủ Đức. Đơn vị đóng ở Thủ Đức đó!”
Tôi giấu Ba Me tôi, và tôi xin đi! Đơn vị đóng ở Thủ Đức, cũng đi đi về về Saigon, tuy ít về hơn. Ba Me tôi không hay biết gì cả.
&
Tôi ghé vào Xe Bánh Mì gặp Hạnh, nói: “Còn gặp Hạnh nhiều lần nữa, nhưng không phải mỗi ngày. Tôi lên Thủ Đức.”
Hạnh nói:
-“Anh Hai mấy lâu nay không về phép. Có anh, Hạnh nói chuyện cho vui. Nay anh lại đi rồi…”
-“Đành vậy! Biết sao! Tôi cũng như anh của Hạnh vậy, đàn ông con trai mà! Đâu chịu ở yên!”
-“Đàn ông con trai”! Tiếng ấy nghe sao mà buồn vậy, cứ bỏ đi xa hoài, hết người nầy đến người khác.
&
Tôi cứ tưởng đơn vị còn đóng ở Thủ Đức lâu. Công việc tà tà, hành quân tà tà, khỏe chán!
Ai ngờ!
Bỗng “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Nhân “Ngày Quân Lực 19 tháng 6”, Tổng Thống ra lệnh, ba tháng phải chiếm lại “Cổ Thành Quảng Trị”. Toàn bộ đơn vị tôi chuyển ra Trung, tăng cường cho “Chiến Trường Trị/ Thiên”, xe lớn, xe nhỏ xuống Vũng Tầu, lên tầu thủy ra Đà Nẵng, từ Đà Nẵng ra Huế rồi chia nhỏ, yểm trợ cho các đơn vị Dù và Thủy Quân Lục Chiến đang tiến chiếm Cổ Thành. Vậy là không những hành quân “mút mùa Lệ Thủy” như các đơn vị bạn mà chiến trường thì mù mịt khói bụi, cát bay, núi lỡ…
Tôi triền miên theo đơn vị. Con đường thì không dài, chỉ 60 cây số từ Huế ra Quảng Trị mà xe tăng đi chậm dữ: từ 19 tháng 6 đến 16 tháng 9 mới tới nơi, cũng may, chưa tới ba tháng như Tổng Thống ra lệnh.
Dĩ nhiên, sau chiến công, tôi được ông Trung Tá đơn vị trưởng gọi lên. Ông bảo:
-“Cậu về phép, một tuần.”
Tôi cãi:
-“Em có xin phép đâu!”
-“Tôi biểu cậu đi phép thì cậu đi đi!” Ông Trung Tá hơi to tiếng.
Tôi làm thinh. Hiểu rồi. Ba Me hay bạn bè Ba Me “vận động” đây. Hôm sau, tôi thay bộ đồ nhà binh còn ngon lành, lên ban chỉ huy nhận giấy phép. Ba tháng hành quân liên tục, tìm được một bộ đồ ngon lành, không dễ đâu; khác với hồi còn ở Saigon.
Ông Đại Úy Chi Đoàn Trưởng Chỉ Huy Công Vụ nói với tôi: “Tôi xin máy bay rồi đấy! Tôi cho xe đưa thiếu úy đi Phú Bài, tới ban Chuyển Vận, đưa giấy phép ra là có máy bay.”
Về tới Saigon lúc gần nửa đêm, tôi nhờ xe quân sự, ra Saigon rồi đi taxi về nhà, “gặp Ba Me và các anh chị em”.
Nghỉ xã hơi hai ngày, tôi lấy xe hơi của ba tôi, về thăm bạn bè, lính lác ở đơn vị cũ.
Đang lái xe trên đường Lê Quang Định, qua khỏi Xóm Gà, tôi thấy một “cô nường” đang chạy xe PC bên đường. Cô gái có thân hình khá đẹp, eo ót rõ ràng. Qua khỏi cô ta, tôi nhìn lại. Té ra Hạnh. Đầu cô bịt khăn tang. Tôi tấp xe vô bên đường, mở cửa xe bước ra, chờ cô ta tới, kêu to: “Hạnh!”
Cô ta dừng lại, hai tay cầm ghi-đông, cúi đầu xuống rồi… khóc nức nở. Hạnh khóc giữa đường làm tôi hết sức bối rối. Chưa kịp hỏi cô ta để tang cho ai thì cô ta nói, cùng tiếng khóc: “Anh Hai em tử trận rồi.”
Tôi tưởng như trời sập! Thương Hạnh quá!
Hết sức xúc động, tôi để tay tôi trên bàn tay cô còn ở ghi-đông xe: “Chia buồn! Anh thành thật chia buồn. Cái điều mà mình lo, mình sợ, cuối cùng rồi cũng tới!”
Bỗng dưng tôi nhận ra một điều. Không như trước kia, cô ta xưng tên, bây giờ, cô ta xưng “em”. Còn tôi thì buột miệng xưng “anh”. Không biết cô ta có nhận ra điều đó không!
Tôi mời Hạnh vào cái quán sinh tố bên đường. Hai người uống hai ly. Muốn hỏi thăm mà không biết hỏi chuyện gì. Hỏi về anh Hai, sợ làm cô ta khóc, đành hỏi bâng quơ cha mẹ, thăm sức khỏe… rồi cũng chẳng biết nói gì hơn, bối rối quá!
Tôi vốn là người, như me tôi nói: “Lanh mồm lanh miệng”, vậy mà tôi không biết hỏi hay nói cái gì. Chữ nghĩa, ý tưởng bỗng dưng trốn đâu mất biệt khỏi trí óc tôi. Hạnh cũng vậy, cô ta cũng không nói gì, ngoại trừ câu: “Anh Hai chết rồi, má em bỏ bán bánh mì, không cần việc ấy nữa.” Tôi biết, bán bánh mì là để kiếm thêm tiền cho con trai. Nay con trai qua đời rồi thì Má Hạnh dẹp xe bánh mì là đương nhiên. Nghĩ thì nghĩ vậy, mà nói thì không nói được.
Rồi tôi và Hạnh chia tay. Hạnh cho địa chỉ nhà, tôi đến thăm một lần. Không khí trong nhà buồn bã vì người con trai tử trận chưa lâu. Bàn thờ có hình Luận, có nhang đèn thắp sáng, nhưng sao mà âm u quá vậy?! Ba má Hạnh chào hỏi xong, để tôi và Hạnh ngồi nói chuyện với nhau.
Bây giờ thì buổi chuyện trò bớt buồn hơn, nhưng tôi cũng không dám đi xa hơn về tình cảm giữa tôi và Hạnh. Người ta đang buồn, sợ nói ra… lạc đề, đợi có dịp về phép nữa, bày tỏ mấy hồi, tôi nghĩ vậy. Rồi tôi kể vài chuyện đánh giặc, suýt chết ở ngoài Trung. Hạnh thì kể chuyện được bổ làm giáo sư ngay tại Gò Vấp, sau khi đậu tú tài.
Một tuần lễ ngắn ngủi trôi qua, chưa kịp thăm Hạnh lần thứ hai thì… hết phép. Tôi xin máy bay trở về đơn vị ngoài kia, hy vọng có kỳ nghỉ phép kế tiếp sẽ về Saigon, lại đến thăm Hạnh.
Mọi việc không như tôi hy vọng. Sau Hiệp Định Paris 73, phía Cộng Sản vi phạm hiệp định liên tục, “lấn đất giành dân”. Tôi bị ông Trung Tá đơn vị trưởng gọi liên tục, đi theo ông, góp ý với ông, khi hai phe tranh cãi việc vi phạm hiệp định. Đến khi Cộng Sản Bắc Việt “tổn tấn công” vào đầu năm 1975, thì đơn vị tôi được lệnh rút, từ Diên Sanh, Quảng Trị về Thuận An, Thừa Thiên và “tan hàng” ở đó. Tôi theo đám tàn quân đi dần về Nam, rồi vô trại cải tạo. Cấp bậc trung úy, chức vụ: Chi Đoàn phó, tương đương với 5 cuốn lịch tù.
&
Khi tôi đi tù về thì mọi sự … đều tan hoang. Ba tôi qua đời khi tôi mới vô tù được hai năm. Tôi không về chịu tang cha được. Me tôi và các anh chị em đều… vượt biên, định cư ở Mỹ.
Không đến nỗi đói khổ như các bạn tù khác, tôi sống tà tà và không có tương lai. Và dĩ nhiên, tôi tìm về nhà Hạnh ở Gò Vấp. Nhà đã đổi chủ, người mới là hai ông bà cán bộ Bắc Kỳ. Gia đình Hạnh nhờ một cơ may nào đó, di tản vào những ngày cuối cùng, khi miền Nam còn thoi thóp.
Tôi cũng như nhiều người, ra Sở Ngoại Vụ, lo việc “đi HO”. Điều buồn cười là bản thân tôi có “nhiều vé trống”. Điền tên ai vô bây giờ cho người ta đi cùng.
Bấy giờ thì tôi cũng đã già. Bên Tây về, tôi cũng đã quá tuổi 25. Bao nhiêu năm lính, bao nhiêu năm tù qua đi. “Sáu mươi năm cuộc đời”, tôi đã “xài” mất 40 năm. Hai mươi năm còn lại, đâu còn bao nhiêu, để “yêu ai”! Tình yêu chỉ là khi còn trẻ thôi, như khi tôi gặp Hạnh, mà vì chiến tranh, “Kỷ kiến hữu nhân hồi”, tôi cũng như Luận, anh của Hạnh, còn không nghĩ tới chuyện yêu nữa, huống chi bây giờ. Đôi khi chải tóc, tôi thấy có lắm sợi bạc rồi. Có thể vì đời tù gian khổ mà tóc mau bạc, mà cũng vì bốn mươi rồi còn gì!
Thế rồi một người bạn học, mà cũng là đồng ngũ, “đồng tù” nói với tôi: “Mầy lấy con Nhung đi. Chồng nó tử trận hồi 1974, để lại hai đứa con. Nhà nó nghèo, buôn bán tất tả nuôi con. Cứu ba mẹ con nó, còn hơn mầy xây cả chục cái chùa mầy à!”
Tôi ừ! Không chần chờ, không suy nghĩ, không vì Nhung đẹp hay xấu, không vì Nhung già hay trẻ. Tôi cho việc làm nầy còn hơn Me tôi đi chùa cả đời Me nữa.
Và rồi tôi dắt ba mẹ con lên máy bay đi Mỹ, tôi vui như mọi người, với một “gia đình nhỏ”. Gặp Me ở Mỹ, chắc Me tôi cũng… ngạc nhiên vì tôi có vợ và có… hai con. Riêng về tôi, ở một góc nhỏ nào đó trong trái tim tôi, vẫn là hình ảnh của Hạnh, một người tôi yêu nhưng chưa bao giờ nói với nhau tiếng “Yêu”!
Chuyện không xong rồi. Tại chợ Bến Thành, một tên ăn cắp bị bắt tại trận và bị bắn chết. Xác hắn còn để đó. Một tên khác cưỡi xe gắn máy cướp giật chiếc máy chụp hình cũng bị bắn chết nằm sóng sượt.
Tuần tiểu. Khám xét nhà cửa mỗi đêm. Bắt bớ. Mất tích.
Những buổi học tập dài bất tận cho người trẻ cũng như cho người già. Không phải chỉ có nghe không mà còn phải trả bài nữa. Đến 10 giờ 30 đêm, tại khách sạn, những cô gái có mặt trong phòng các ký giả được lệnh phải đi ra ngoài. Từ đó không có tin gì về họ nữa. Có thể họ bị đưa tới một trại nào đó để học về đạo đức.
Sau cùng, người ta đã lập được một toán đầu tiên gồm những ký giả, danh sách niêm yết trên bảng đen trước cửa Bộ Ngoại giao là nơi đã kiểm kê chúng tôi. Khởi hành lúc 11 giờ, giờ Đông Dương. Tôi không có tên trong danh sách.
Ra đi gấp rút. Các anh bộ đội cực kỳ nóng nẩy đã xua đuổi những đứa trẻ, những người hành khất và đã chặn đường. Lý do: Người ta đã tìm thấy vũ khí ở… nhà những người Mỹ.
Người ta đuổi những nhà báo. Đồ nghề của họ đã bị mất giá và có thể bị tịch thâu nữa.
Nhưng đó mới chỉ là một vụ khởi hành hụt. Đến tối thì các bạn của tôi trở về, tức giận. Dường như sân bay Vạn Tượng là nơi máy bay đáp xuống không dùng được vì đang có mùa gió Nồm.
Ngày mai lại khởi hành lúc rạng đông. Khám xét hành lý rất kỹ nhưng các cuộn phim đều đi thoát được.
Tôi đi chuyến xe thứ hai. Tối hôm trước, tức là ngày 25-5, lúc 10 giờ 30 tại văn phòng của ông già Lợi (cách xưng hô thân mật của chúng tôi với ông quản đốc khách sạn) tôi bị đưa ra một thứ tiểu pháp đình. Ba người mặc đồng phục đeo súng ngắn cũng đứng dậy và đọc cho tôi nghe bản án:
“Ủy ban An ninh Saigon Gia Định ra lệnh cho tên Lartéguy ngày mai phải đáp chuyến bay đầu tiên khởi hành từ Tân Sơn Nhất. Lý do: Có thái độ thù nghịch với tân chế độ”. Trước đây, Thiệu đã liệt tên tôi vào sổ đen và tôi phải trở lại dưới một cái tên giả. Thế là có tiền lệ rồi.
Tôi bắt tay ba ông quan tòa của tôi trước cái nhìn lo lắng của viên thông ngôn vì hắn không hiểu gì về thái độ của tôi. Lẽ ra tôi phải giải thích cho hắn hiểu rằng tại Pháp, khi những người của sở xe đòn thi hành xong nhiệm vụ chu đáo thì sẽ được một người của tang gia khen thưởng. Phải chăng Saigon là bà con của tôi?
Ngày hôm sau, ông già Lợi cho tôi hay rằng khách sạn Continental vừa mới được giao cho “Nhân dân cai quản” ( và rằng một giám đốc mới đã từ Bắc Việt tới. Cả hai chúng tôi đều buồn. Tôi muốn ôm lấy ông ta nhưng tôi không dám làm thế. Ông Lợi là một người khả kính mà.
Hôm sau tại sân bay, người ta tìm cách chiếm lấy những cuộn phim mà Raoul Coutard và tôi đã mang theo. Chút nữa thì chúng tôi bị cướp mất. Những cuộn phim ấy hiện ở Ba-Lê.
Người ta đuổi tôi ra khỏi thành phố mang tên Hồ Chí Minh, nơi đó, trẻ em học hát và học cách tố cáo cha mẹ chúng. Tôi chẳng biết nói sao.
Cái thành phố Saigon kia vẫn còn.
Tôi tới Saigon lần đầu tiên vào năm 1950. Tôi đã yêu dấu Saigon và đã ghét thành phố ấy trong hai mươi lăm năm. Đó là một cô gái làng chơi tàn tệ, tham lam, ưa khoái cảm, ưa đồ gia vị và ưa những hương thơm ngát, nghe theo người này và ngả theo người kia, nhưng không bán mình cho ai. Một thành phố tự do và bây giờ không còn tự do nữa.
Màn đêm đã buông xuống trên thành phố ấy, và trên quãng đời hai mươi lăm năm làm ký giả và viết văn của tôi.
Tôi đã bay trên thành phố ấy lần chót trong chuyến bay Aeroflot của cộng sản để tới Vạn Tượng. Raoul Coutard đụng vào khuỷu tay tôi. Hắn nói: “Coi kìa”. Cũng như tôi, hắn buồn muốn chết. Mối tình của hắn với Saigon lại còn thâm niên hơn nữa. Ba chục năm.
Bắc Việt đã tiến hành được rất nhiều việc trong ba tuần lễ. Họ đã gởi tướng Văn tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng Quân Đội Nhân Dân vào Nam Bộ, với tư cách là Tổng Chỉ huy Chiến dịch. Trong một xã hội khép kín và quân phiệt như Bắc Việt thì người ta có thể theo dõi hành tung của một sư đoàn, nhưng hành tung của một cá nhơn thì không thể được. Tướng Dũng đã rời khỏi căn nhà số 33 đường Phạm ngũ Lão ngày 5 tháng 2 lúc 10 giờ sáng để ra phi trường. Ông ta ghi nhận là các cây đào đã bắt đầu trổ bông. Ông ta đã kỹ lưỡng dàn cảnh chuyến đi vào Nam của ông cũng như của Sư đoàn:
_Ông đã ký trước những công hàm để ở nhà chúng sẽ được gởi cho Mông Cổ, cho Đông Đức, cho Liên Xô, mừng ngày thành lập Quân Đội của các quốc gia này.
_ Sau khi tướng Dũng rời khỏi Hà Nội thì báo chí ở đây phải đăng những tin tức liên quan đến hoạt động của ông như thanh tra, hội họp với sĩ quan các cấp…v.v….
_ Mỗi ngày lúc 7 giờ sáng và 2 giờ chiều, chiếc xe Volga của ông phải chạy từ nhà đến Bộ Tổng Tham Mưu, rèm xe kéo kín. Và chiếc xe cũng phải trở về nhà lúc 12 giờ trưa và 5 giờ chiều. Ngoài ra người ta thường thấy tướng Dũng hay chơi bóng chuyền với bộ đội gác nhà ông, do đó mỗi buổi chiều các anh bộ đội cũng phải tiếp tục hoạt động thể thao này như thường lệ trong sân bóng của tư dinh.
_ Hơn thế nữa, một ngày trước khi ông rời Hà Nội, người thư ký của tướng Dũng lên cơn sốt – thật hay giả không ai thấy được – và một xe cứu thương được gọi đến tận tư dinh đưa người bịnh đi.
Tướng Dũng bí mật bay vào Nam trên chiếc Antonov 24.
Người Mỹ không biết được sự có mặt của tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Bắc Việt ở Miền Nam trước tháng 4/75. Toán tham mưu cùng đi với tướng Dũng có mã số là A.75, tướng Dũng lấy bí danh là Tuấn, tướng Giáp là Chiến. Trong hai người ai quan trọng nhất? Chiến hay là Tuấn? Máy bay đáp xuống Đồng Hới, trên lãnh thổ Bắc Việt. Từ đây toán A.75 được đặt dưới sự điều động của các đơn vị chỉ huy thuộc “559”, Bộ Tư Lệnh đường mòn Hồ chí Minh. Tướng Dũng và đoàn hộ tống đi xe tới Bến Hải, dùng ca nô máy vượt vĩ tuyến 17, làn ranh phi quân sự của hai Miền Nam Bắc. Sau đó đoàn A.75 dùng cả quân xa và xe vận tải thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải để đi tiếp xuống Miền Nam.
Trên đường xuôi Nam, dù đôi lúc phải còn dùng con đường mòn, quang cảnh làm cho tướng Dũng thích thú khi nghĩ rằng không có gì khích lệ bằng nhìn thấy “bộ đội của mình di chuyển bằng phương tiện cơ giới” . Người dân Miền Bắc đã tiết kiệm được từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, để dành tất cả cho chiến trường Miền Nam và chờ một cơ hội lớn. Họ đã che dấu được tất cả những gì mà họ đã trữ trong 10 năm nay mà các cơ quan của Miền Nam của Hoa Kỳ , thậm chí đến Liên Xô và Trung Quốc cũng không thể biết được. Các sĩ quan Liên xô và Trung Quốc không được tự do đi lại được ở Miền Bắc, dĩ nhiên không bao giờ vào trong Nam được. Những ước tính của họ không bao giờ chính xác được vì người cộng sản Việt Nam có kỹ thuật phân tán, mà họ gọi là “sơ tán”. Thường là họ để một tấn đạn dược ở đây, hai tấn ở chỗ kia, trong những thôn ấp và được che dấu và nghi trang cẩn thận. Họ cũng có những kho lớn mà chỉ có họ mới nhận ra được mà thôi. Nhưng đối với các đồng chí Liên Xô và Trung Cộng, cũng như đối với Hoa Kỳ và Miền Nam Việt Nam, họ có thể dấu kín hàng ngàn tấn đạn dược bằng lối sơ tán này.
Khi tới Bộ Tư Lệnh 559, tướng Dũng nghỉ trong một nhà tranh và không thể nào chợp mắt được với quá nhiều câu hỏi trong đầu:
“Làm sao biến ý chí “giải phóng Miền Nam” của Bộ Chánh Trị thành hành động?. Làm thế nào để giật được chiến thắng ở vùng Cao Nguyên?… Làm sao chiếm được Ban Mê Thuột? Làm thế nào để cho Miền Nam Việt Nam phải sụp đổ trong một thời gian ngắn đây?”
Tướng Dũng cũng nghĩ đến lề lối tác chiến độc đáo của bộ đội Bắc Việt trong hơn 30 năm qua: ” Đánh bất ngờ, đập thật mạnh vào trung tâm đầu não…”
Tôn Tử có nói: “Địch phải không biết được tôi sẽ đánh chỗ nào. Vì như thế họ mới phải chuẩn bị đối phó ở nhiều nơi. Và khi mà họ phân tán lực lượng ra nhiều nơi như vậy thì chỗ tôi định đánh họ sẽ không có nhiều quân. Và khi mà họ đưa quân ra nhiều nơi tiền tuyến thì hậu cứ của họ sẽ yếu, còn nếu họ muốn giữ cho hậu cứ mạnh thì tiến tuyến của họ sẽ yếu đi. Nếu họ chuẩn bị đề phòng ở bên tả thì bên hữu của họ sẽ yếu, và ngược lại nếu họ lo phòng vệ bên hữu thì bên trái sẽ không có nhiều quân…. Mà khi họ muốn phòng thủ khắp mọi nơi thì chỗ nào họ cũng yếu”
Còn Clausewitz thì lại nói ngắn gọn hơn: “Chúng ta nói “bất ngờ” là yếu tố căn bản của mọi hành động, không có ngoại lệ.”
Sự độc đáo trong tác chiến của bộ đội Bắc Việt không phải chỉ có yếu tố bất ngờ mà còn phải chuẩn bị cho sự bất ngờ đó trong nhiều năm chớ không phải chỉ trong nhiều tháng. Một trong những lợi khí không thể đo lường được của họ là thời gian, lợi khí khác là sự bền chí.
Là một nhà tiếp vận thận trọng, đi đến đâu tướng Dũng cũng phải biết chắc là các sư đoàn của ông ta có đủ xăng nhớt, có đủ quân xa, vũ khí và đạn dược cần thiết, ông ta cần phải nhìn rõ và muốn được nhìn rõ. Lúc bấy giờ ông ta không thể tin chắc vào khả năng hiện có của mình: “Có thể đập mạnh được hay không đây? trong những điều kiện như thế này, ta có đủ khả năng hay không đây ?”
Để cho cuộc di chuyển của ông được dễ dàng, người ta có gắn thêm vào bảng số xe của ông bản hiệu “T.50”. Điều này có nghĩa là xe của ông ta được ưu tiên số 1 và xe của ông cũng dễ được nhận dạng. Ở một đoạn nào đó, có nhiều toán nhân công nữ tình nguyện hay được chỉ định. Họ đang sửa đường. Tướng Dũng ngừng xe lại. Một số nữ quân nhân nói với ông:
_ Thủ trưởng ơi, Tết sắp đến rồi mà thư từ vẫn chưa đến!
Mỗi khi Tết đến là họ trao đổi quà cáp với nhau. Một thành viên của đoàn A.75 cho toán nữ quân nhân này một gói “kẹp tóc” . Ở một đoạn khác, đoàn xe của tướng Dũng gặp những xe trống, đi ngược chiều về hướng Bắc. Một người tài xế nói:
_ “Thủ trưởng ơi, gần ngày Tết rồi mà chúng tôi không có một điếu thuốc! Những người đi với tướng Dũng không thiếu thuốc lá, và ông ta đem ra phân phát cho nhóm tài xế này. Ở một chỗ khác đoàn xe bắt kịp sư đoàn 316, hoàn toàn cơ động. Sư đoàn có trên 500 quân xa và nhiều chiến xa, nhiều xe bọc sắt. Vốn khởi đầu cuộc chiến 30 năm về trước bằng loại súng trường bắn từ phát một, tướng Dũng cảm thấy thỏa mãn lạ thường khi thấy các xe Zil.31 kéo những khẩu đại bác 122 và 130 ly, các xe tăng T.54 và những pháo đội hỏa tiển SA 2. Tất cả sĩ quan thuộc sư đoàn 316 đều được lệnh tuyệt đối im lặng vô tuyến, Nếu không thì khó mà làm cho trên 10.000 người phải giữ im lặng, nhưng quân đội Miền Bắc có kỷ luật. Đối với một vị tư lệnh chiến trường, muốn đạt được sự bất ngờ thì cần phải có 2 điều: một là không để bị người ta dò tìm được lực lượng của mình ở đâu và hai là cho người ta có cảm tưởng rằng lực lượng của mình hiện ở đâu đó xa lắm. Trong hiện tại các cuộc hành quân dự trù có một cái tên rất giản dị không văn hoa: chiến dịch 275.
Từ các đơn vị tác chiến hiện đang có mặt ở trong Nam cho đến báo chí ở Hà Nội, người ta không tiên đoán được chiến thắng. Các mục tuyên truyền chỉ nhắm vào “năm” làm mốc. Tờ báo của đảng là tờ Nhân Dân lập lại là “năm 1975 là một năm đánh dấu những bước quan trọng của cách mạng Việt Nam: đảng chúng ta vừa tròn 45 tuổi, đất nước chúng ta 30 tuổi, và năm nay chúng ta tổ chức ngày sinh nhật thứ 85 của người đã sáng lập đảng và khai sanh nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Namcủa chúng ta.”
Người ta không thấy được hình của Hồ chí Minh ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương. do đó làm cho người ta nghĩ rằng ở chỗ khác cũng không có. Nhưng người ta chỉ nghe thôi về sự tôn sùng cá nhân ở Mạc tư Khoa hay ở Bắc Kinh . Những câu châm ngôn và thơ phú của bác Hồ nhiều khi còn mạnh hơn là vấn đề tôn sùng cá nhân. Tất cả binh sĩ, hạ sĩ quan và sĩ quan đều nghe mãi một câu được nhắc đi nhắc lại cả ngàn lần : “Không có gì quý hơn Độc Lập Tự Do “. Hồ chí Minh được sanh vào tháng 5 dương lịch.
Tổng Thống Gerald Ford có một định kiến rất là Mỹ: nhất là cho các thành viên của Quốc Hội, ông tin rằng nếu người ta trình những sự kiện dưới một ánh sáng mới, các sự kiện đó có thể làm thay đổi dư luận và kế đó là thay đổi luôn số phiếu bầu. Ông Ford đặt tin tưởng vào phái đoàn các nghị sĩ và dân biểu quốc Hội đang đến Sài Gòn để có thể chuyển đổi tư tưởng của một số lớn dân cử trong Quốc Hội. Thơ mời được ông Philip Habib, Phụ tá Tổng Trưởng Ngoại Giao đặc trách Đông Nam Á Châu gởi đi. Ông này dự trù một phái đoàn khoảng 20 vị. Thông thường thì các vị được người dân bầu lên ở Hoa Kỳ cũng như các nơi khác trên thế giới, đều thích đi chơi đó đây với ngân khoản của những người đóng thuế, nhưng sau nhiều vòng đàm phán tay ba giữa Bộ Ngoại Giao, Nhà Trắng và Quốc Hội, thì người ta chỉ chấp thuận một phái đoàn 10 người gồm: 1 nghị sĩ Dân Chủ ông Dewey Barlett, hướng dẫn phái đoàn, và các dân biểu gồm 1 chủ tịch, ông John Flynt và các thành viên Bella Abzuzg, William Chappel, Donald Fraser, John Murtah, Samuel Straton thuộc đảng Dân Chủ, và Millicent Fewnwick, Jack Kemp, Paul McCloskey thuộc đảng Cộng Hòa. Đối với Nhà Trắng thì đây không phải là một thành phần lý tưởng. Vì trong số 9 vị dân biểu, đã có 4 vị thuộc đảng Dân Chủ đã cùng ký vào một cái văn bản với 78 vị khác để đòi hỏi phải giảm dần viện trợ cho Việt Nam.
Tại Sài Gòn, ở Dinh Độc Lập và Tòa Đại sứ Mỹ, người ta nhìn phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ như là một cơ may cuối cùng cho 300 triệu mỹ kim mà Tổng Thống Ford đã đòi hỏi. Ông Philip Habib và đại sứ Martin không mấy ưa nhau. Ông Graham Martin không vui vẻ gì lắm khi được biết là ông Habib đi theo phái đoàn với Eric Von Marbod.
Ông Thiệu chuẩn bị đón rước và tiếp tân phái đoàn với tất cả sự lưu tâm và lo lắng. Ông đọc cẩn thận các phiếu tiểu sử của từng thành viên do Tòa Đại sứ Hoa Kỳ cung cấp. Bà Bella Abzug, dân biểu của tiểu bang Nửu Ước, là một người khó nuốt, rất nặng ký và thiên về “hòa bình”, bà Millicent Fenwick, một người to con mà hút một ống điếu quá nhỏ…
Hội đồng nội các nhóm để bàn về phương cách đối phó với phái đoàn. Thủ tướng Khiêm thì muốn tổ chức một chuyến đi thăm viếng xã ấp rất thiết thực. Nhưng ông Thiệu không chịu, và quyết định là mình sẽ đáp ứng mọi đòi hỏi của các thành viên phái đoàn. Để đùa giỡn chơi, ông tiến cử luật sư Vương văn Bắc , Tổng trưởng ngoại giao, một người vui tính và bảnh trai hảy theo sát và o bế bà Abzug, làm mọi người đều cười ầm lên.
Theo tinh thần của bức thư mà ông Ford vừa gửi tới cho ông, ông Thiệu vẫn còn nhận thấy sự cam kết của Hoa Kỳ. Ông không biết được là Tổng Thống Ford không đọc hết các bức thư của ông Nixon. Ông không nắm được câu chuyện Watergate ở Hoa Thạnh Đốn đã làm tổn thương quyền lực và sức mạnh của Tổng Thống Hoa Kỳ đến mức độ nào. Ông Thiệu không thấy được việc Quốc Hội muốn lấy lại một số quyền hạn của Nhà Trắng, liên quan đến lãnh vực chánh trị đối ngoại, ông cũng không biết là các cố vấn của ông Ford mong muốn tách rời Tổng Thống của họ ra khỏi bài toán Việt Nam. Vượt ra ngoài các sự kiện nêu trên của các giới chức Mỹ, ông Thiệu tiếp tục đặt niềm tin mù quáng quá dễ dàng: ông Ford là ông Nixon, người nào cũng như người nào, ai cũng đại diện và cam kết cho Hoa Kỳ. Ông Thiệu không biết ông có cần trưng ra những bức thư của ông Nixon và ông Ford hay không ?Ở sứ quán Hoa Kỳ cuộc viếng thăm bắt đầu không được tốt đẹp lắm. Có vẻ không được trôi chảy. Có trên một chục vị phụ tá hộ tống phái đoàn. Ngoài chương trình do các phòng sở của ông Martin bố trí, các ông phụ tá trẻ này chạy lăng xăng khắp Sài Gòn lục soát lung tung. Một số người tìm gặp các nhân viên của sứ quán không lạc quan lắm về lãnh đạo. Có những người thuộc cơ quan CIA như Frank Snepp, từ lâu đã nghĩ rằng Hiệp Định Paris là một sự thất bại của Hoa Kỳ, một sự thất bại mà người ta che đậy không khéo. Hơn nữa, anh Snepp này không tin là Miền Nam Việt Nam thiếu súng đạn.
Đại sứ Martin có cảm tưởng là nhiều thành viên của phái đoàn đã có định kiến rồi, điều này đôi khi được chứng thực. Họ đã biết trước những gì mà họ đến tìm kiếm rồi, đặc biệt là bà Bella Abzug hung tợn này. Họ không có tính cởi mở. Ngay như những dân biểu diều hâu đều thấy ông Martin sắc bén nhưng kém thực tế. Đương nhiên các phòng sở của sứ quán phải có nhiều buổi thuyết trình cho phái đoàn, kể cả Đại Sứ và Phó Đại sứ cũng vậy. Có nhiều chuyện không hay thường xảy ra trong các buỗi thuyết trình. Có một lần vào lúc bắt đầu buổi hội, bà Bella Abzug vừa xuất hiện vừa to tiếng vì muốn gặp trưởng cơ quan tình báo:
_ “Anh Polgar là anh nào?
Ông Đại sứ bực mình khó chịu. Ông không thích người ta điểm danh thuộc cấp của ông như thế. Ông thừa biết là các phụ tá của cả ông nghị sĩ và mấy vị dân biểu muốn tìm gặp những người khác hơn là những người mà sứ quán đã dự trù. Ở văn phòng của Tùy viên Quân lực, phái đoàn đã gặp ông đại tá William le Gro. Ông này trao cho phái đoàn một tài liệu làm cho phái đoàn chú ý. Tài liệu này đánh giá về sự đe dọa của Bắc Việt. Tài liêu này vượt quá những sự dè dặt. Đó là điều18: “người ta chờ đợi một chiến dịch tổng tấn công trên toàn lãnh thổ Miền Nam trong những ngày sắp tới. Một số lớn “nguồn tin” (1) đã cho biết là các sư đoàn trừ bị chiến lược Bắc Việt sẽ được gởi vào Miền Nam” Các vị dân cử hình như đã quen quá với những bản phân tách và đánh giá bi quan , nhất là của giới quân nhân. Họ đã quen thuộc với loại kỷ thuật này ở Hoa Kỳ quá rồi, mấy tuần trước khi bàn cãi về ngân khoản quốc phòng, vô tình người ta thấy trong báo một số bài đánh giá quá cao về mối đe dọa của Liên Xô. Người ta mãi đặt vấn đề tại sao mối đe dọa của Bắc Việt ở đây lại không giống như vậy? Mà người ta không nghĩ rằng nếu tình hình thật sự đúng như vậy thì có cần phải viện trợ cho Miền Nam hay không? Phúc trình của đại tá Le Gro nói rõ quan điểm của ông. Điều 46: “Trong ngắn hạn, Cộng Sản Việt Namchắc chắn sẽ đạt được nhiều chiến thắng khi họ chiếm giữ được một số quận hay thị xã, nhưng về lâu về dài sự tổn thất của Miền Bắc cũng có thể sẽ là một trở ngại cho họ…”
Khi ra khỏi Sài Gònvốn có không khí yên tỉnh, các nhà điều tra muốn tìm thú vui ở chiến trường, cũng không thể nắm được những nhận xét rõ ràng và chính xác hơn giới quân nhân đâu. Ông Paul McCloskey dân biểu California, một cựu sĩ quan hải quân, người vậm vở, đi ra ngay vùng chiến trường mà ông ta đã từng biết được ở Miền Trung. So sánh với tình hình mà ông ta đã từng được biết thì ông nghĩ là tình hình bây giờ có vẻ sáng sủa hơn. Điều này không ăn khớp chút nào với những dự đoán của một anh Frank Snepp.
Khi phải đánh giá về thế lực của ông Thiệu đối với xã hội Việt Nam thì phái đoàn không theo ông Martin hay Lehmann hay Polgar. Những người này xác nhận là ông Thiệu nắm vững mọi vấn đề. Bà Bella Abzug và Dewey Bartlett thì quan tâm đến các tù nhân chánh trị và sự việc bắt bớ các nhà báo. Họ đã được trả tự do hết chưa? ông Martin thẳng thắng xác nhận là ở Miền Nam Việt Nam không bao giờ có tù chánh trị. Ông nói là ở Sài Gòn hệ thống Tư Pháp ít nhất cũng hữu hiệu không thua gì ở Nữu Ước. Người ta nói với ông Martin về những cái gọi là “chuồng cọp” trứ danh để nhốt tù ở Côn Sơn. Ông khẳng định rằng trong vùng khí hậu nhiệt đới, thì các phòng giam này rất sáng sủa và sạch mát hơn những buồng tối. Khi Sứ quán không đồng ý về con số 35.000 tù hình sự ở Miền Nam thì ông McCloskey trả lời rằng:
_ “Hơn phân nửa số tù bị nhốt mà không có bản án. Như vậy thì phải coi như số này là tù chánh trị”(2)
Sứ quán Hoa Kỳ mở tiệc khoản đãi phái đoàn. Một số thành viên của phái đoàn tẩy chay không dự. Bà Bella Abzug lớn tiếng tung ra những chỉ trích mà báo chí ghi nhận:
_ “Chánh Phủ này là Chánh Phủ thối nát, Bà nói. Vì thế không còn ai muốn chiến đấu hết.
Phải tính toán thế nào để loại trừ ông Thiệu đi.”
Được một số nhà ngoại giao cấp trung gian khuyến khích, các thành viên của phái đoàn thố lộ với giới báo chí Hoa Kỳ:
_ “ông Martin quá nghiêng về ông Thiệu nên không thể đánh giá một cách khách quan không khí chánh trị ở đây.
Hay là:
_ “Ông Đại sứ này là một thảm họa!”
Bà Bella Abzug đi lại nhà bà Ngô Bá Thành (3), có nhiều phóng viên báo chí tháp tùng. Bà Thành là một thành viên đối lập không cộng sản thuộc lực lượng thứ ba. Cảnh sát không cho bà ra ngoài nhưng người ta có thể nói chuyện với bà trong nhà. Chánh phủ Sài Gònđã có biện pháp phạt “trọng cấm” bà.
Một cách bất thần, không thông báo trước, bà Bella Abzug đến trụ sở của “Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến”. Cảnh sát giữ an ninh tại đó không cho bà vào. Nhưng cuối cùng sau một vài rắc rối khác, rồi bà cũng gặp được hai sĩ quan thuộc phái đoàn Hung gia Lơi và Nam Dương. Nhưng hai sĩ quan này không cò gì để phải “khai báo” với bà hết.
Biết được việc này ông Martin phát cáu:
_ “Thật là bẽ mặt!
Dai như đỉa, hai ông Bartlett và McCloskey được gặp một số nhà báo đã từng bị bắt. Cảnh sát trưởng Sài Gòn bám sát hai ông này. Ba nhà báo nhìn nhận rằng họ là Việt Cộng nằm vùng. Hai ông giận lắm, đòi phải cho hai ông gặp riêng những người này. Một người đã nói nhỏ rằng: “Họ đánh chúng tôi dữ lắm”
Phái đoàn có nhiều cuộc tiếp xúc với một số chánh trị gia. Linh mục Thanh, người tranh đấu chống tham nhũng tuyên bố:
_ “Một phần ba tiền viện trợ mà quý vị chấp thuận sẽ bị ăn cắp. Quân Đội sẽ bị bán cho kẻ thù cộng sản. Ngân khoản sẽ được dùng để trả lương cho lính ma! số binh sĩ chỉ có tên trên giấy tờ” (4)
Cuộc thăm viếng ở Thủ Tướng Phủ còn chán hơn nữa. Tướng Khiêm và Tổng trưởng ngoại giao của ông có mặt ở buỗi tiếp xúc, đều cảm thấy bị đứng tim. Ở tư gia của ông Vũ văn Mẫu, Bella Abzug và Donald Fraser gặp những người phật tử thuộc nhóm chủ trương hòa hợp hòa giải với ba nghị sĩ và 5 dân biểu đối lập. Các phật tử nhấn mạnh:
_ “Quý vị không nên bỏ phiếu chấp thuận viện trợ để họ xây cất nhà tù! (4)
Bà Bella Abzug lầm bầm:
_“Tôi chỉ bỏ phiếu cho viện trợ nhân đạo mà thôi.”
Thiếu tướng Không quân, cựu Thủ tướng Nguyễn cao Kỳ tiếp nghị sĩ Bartlett. Ông chỉ nói nhẹ nhàng:
_ “Cho đến khi người ta tìm được một giải pháp đúng đắn, chúng tôi rất cần được có viện trợ của Hoa Kỳ”
Các ông Flynt, Chappel, Fraser và Fenwick đã tiếp xúc rất lâu với ông Trần quốc Bửu, Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, một loại Công đoàn như của ông André Bergeron chống cộng tới cùng từ năm 1945, khi mà Hà Nội đã đuổi, bắt, cầm tù và giết một số thành viên của liên đoàn. Ông xác nhận là Tổng Liên Đoàn của ông là tổ chức duy nhất có thể thực hiện một cuộc đình công ở Việt Nam. Đối với ông Trần quốc Bửu thì những người như Cha Lãng hay Vũ văn Mẫu không đại diện cho bao nhiêu người . Ông Thiệu phải tìm cách thử đưa họ vào guồng máy chánh trị , nếu không thì họ sẽ rơi ngay vào tay của cộng sản. Theo ông Bửu, tìm cách bứng ông Thiệu đi, đó không phải là một giải pháp:
_ “ Sau khi chúng tôi loại được Tổng Thống Diệm thì chúng tôi đã phải chịu một loạt khủng khoảng chánh trị. Chúng tôi cần có một sự liên tục và một số thay đổi quan trọng về chánh trị nội bộ.”
Ông trao cho các thành viên này những bản văn được quây “rô nê ô”. Đó là bản diễn văn mà ông đã đọc năm tháng trước trong đó ông vạch trần và tố cáo cái mà người ta gán cho là tham nhũng.
Ông cũng nghĩ rằng một số nhà báo bị bắt có dính líu đến cộng sản . Ông không chắc rằng họ đã có bị đánh đập. Ông thở dài và nói:
_ “Tất cả các nơi trên toàn thế giới này, cảnh sát đâu có hiền đâu!
Về bà Ngô Bá Thành, ông Bửu tỏ vẽ giận dữ:
_ “Tôi biết bà này lâu rồi. Tôi đã từng yễm trợ bố của bà vào chức vụ Tổng Trưởng Lao Động từ năm 1954. Bà cũng giống như các phụ nữ khác, thích đi từ thái cực này đến thái cực khác.
Ông Bửu không phải là một ứng cử viên vào chức vụ Tổng Thống. Ông nói:
_ “Người Việt Nam chúng tôi ai cũng sớm chọn một hướng đi và một mục đích cho đời sống của mình. Chúng tôi phải giử vững nó mới được . Khuynh hướng của tôi thiên về Nghiệp Đoàn chớ không thiên về chánh trị.”
Phái đoàn thực hiện một chuyến viếng thăm chớp nhoáng 12 tiếng đồng hồ thủ đô Phnom Penh. Tình hình đã bắt đầu tan rả ở thủ đô Cam Bốt này. Trong khi phái đoàn đang dùng cơm trưa, một hỏa tiển rơi và phát nổ ở cách họ khoản 800 thước. Ông Đại sứ Hoa Kỳ John Dean tỏ vẻ rất bi quan. Theo ông thì Thủ tướng Lon Nol sẽ từ chức “nếu người ta ước tính ông là một hàng rào ngăn cản con đường dẫn tới hòa bình” : Ông nói thêm rằng:
_ “Hoa Kỳ chúng ta không nên dính vào một cá nhân nào hết.”
Và cách Phnom Penh 200 cây số, ở Sài Gòn liệu Hoa Kỳ có dính với ông Thiệu hay không?
Chiều ngày 1 tháng 3, ông Thiệu đãi cơm tối phái đoàn. Trong khi nâng ly chúc mừng phái đoàn, ông nhắc tới nhiều vị Tổng Thống Hoa Kỳ đã từng cam kết yểm trợ và giúp đỡ Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng. Nhưng ông Thiệu không nói gì đến các bức thơ của ông Nixon, ông Thiệu nói thật chậm rãi:
_ “Sự long trọng cam kết đó đã được nhắc lại trong dịp ký kết Hiệp Định Paris. Liệu những lời cam kết đó của Hoa Kỳ có còn giá trị hay không? Liệu chúng tôi có tin vào lời nói của Hoa Kỳ hay không? Đó là thông điệp mà tôi rất vui mừng khi được thấy quý vị chuyển giùm đến Quốc Hội thứ 94 của Hoa Kỳ.”
Ông Thiệu ghi nhận thái độ chống đối đương nhiên của bà Bella Abzug. Trong khi ông Thiệu nâng ly chúc mừng phái đoàn, bà ta giả bộ không nghe. Các câu chuyện trao đổi có vẻ ngượng ngùng, giữ kẽ với nhau, không được vui, trong một không khí khó thở. Nghị sĩ Bartlett cảm thấy có cảm tình với Việt Nam Cộng Hòa, nhưng ông cũng nói tới sự việc ông đã tiếp xúc với các nhà báo bị bắt. Có người cho ông Thiệu là quá vụng về, có người cho là ông quá cộc cằn.. khi ông gạt phắt nhận xét đó bằng một câu:
_ “Đương nhiên! những người cộng sản lúc nào cũng phải nói là họ bị tra tấn…
Do đó mà cả Sứ quán và Dinh Độc Lập, hình như không thể chuyển “thông điệp” của ông Thiệu được
Cho tới năm 1973, một trong những lo âu của dư luận chánh trị ở Hoa Kỳ là số phận của các tù binh Mỹ ở Bắc Việt. Bây giờ thì họ đã được trở về Hoa Kỳ rồi nên dư luận đó lại nghĩ tới nhiều hơn cho số phận các binh sỉ, hạ sĩ quan và sĩ quan bị ghi nhận lá mất tích trong chiến đấu, một đề tài mà các thành viên của phái đoàn đã có dự định là nói thẳng với đại diện của chánh quyền Miền Bắc và CPLTCHMN ở trong trại Davis, trong sân bay Tân sơn Nhứt. Đối với một số đại diện này, điều tốt nhất là có thể dùng ngay báo chí của họ trong vùng chiếm đóng hay trong quốc gia của họ để nói về số quân nhân mất tích này. Cứ hai năm Hoa Kỳ lại cử một người để thường xuyên thực hiện công tác quảng bá này.
Ngay lúc họ đến trại Davis, phái đoàn Hoa Kỳ có cảm tưởng rằng các phát ngôn viên của Hà Nội chuyển một cuộc bàn cãi có tính cách xây dựng thành một sự tuyên truyền quảng cáo cho khoảng 70 nhà báo, phóng viên, toán quây phim, và các chuyên viên về âm thanh có mặt hôm đó. Các sĩ quan cộng sản ngồi ờ đầu bàn dài dưới bức tượng bán thân của Hồ chí Minh hình như tạc từ một khối mỡ heo bóng loáng. Một trung tá Bắc Việt phó trưởng đoàn Hà Nội lập tức châm ngay ngòi lửa. Ông ta thích đưa ra một câu trả lời chung chung hơn là trả lời tuần tự ngay vào các câu hỏi. Thế là có một sự tranh luận về thủ tục phải theo. Ông trung tá này đọc một bản văn dài dòng trong hai mươi phút:
_ “Chánh Phủ Ford phải chịu trách nhiệm về sự đeo đuổi tiếp tục cuộc chiến, điều này làm cho không thể áp dụng được điều 8 B của Hiệp Định, liên quan đến những người mất tích.”
Để cắt đứt những lời tổng quát rổng tuyếch này, nghị sĩ Bartlett đưa một tấm thẻ bài ghi tên họ của đại úy Clifford Fieszel, số quân 462-56-6781, phi công bị bắn rớt trên không phận Bắc Việt và được ghi nhận là mất tích ngày 30 tháng 9 năm 1968.
Nghị sĩ Bartlett muốn biết về số phận của vị đại úy này. Vì theo một quyết nghị của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thì Chánh Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Việt Nam phải cung cấp những chi tiết chính xác.
Trung tá cộng sản từ chối, không trả lời.
_ “Tôi phải trả lời sao cho bà đại úy Fieszel đây? Tôi sẽ có mặt ở OKlahoma trong 2 tuần nữa. Tôi phải nói gì với bà ta đây? khi mà Chánh Phủ Hoa Kỳ chúng tôi phải cung cấp mỗi tuần một chuyến bay liên lạc giữa Sài Gònvà Hà Nội? những sĩ quan trên chuyến bay đó có nhiệm vụ trước hết là thảo luận với chánh quyền Miền Bắc về công tác tìm kiếm liên quan đến những quân nhân mất tích.” nghị sĩ Bartlett nói. Rồi ông nghị sĩ Hoa Kỳ chấm dứt bằng một câu kết luận của ông:
_ “Ở Oklahoma chúng tôi, có một danh từ đó là “hogwash”! cốt để nói lên đặc tính của những nhận xét của ông.
Trong số các nhà báo có ông Cao Giao hỏi ông bạn Xuân Ẩn của ông ta hogwash nghĩa là gì. Xuân Ẩn dịch ngay:
_ “Có nghĩa là “đồ bỏ”, đồ bá láp không ra gì, đồ cặn bả để cho heo ăn!
Ông Bartlett nhìn người trung tá cộng sản kết luận:
_ “Cũng tốt thôi! sự im lặng của ông chứng tỏ là ông từ chối không trả lời cho tôi.”
Ông dân biểu Millicent Fenwick trở lại những từ ngữ trong bài diễn văn của trung tá cộng sản . Ông ta đã có nói là Chánh Phủ của ông sẳn sàng giải quyết mọi bài toán qua thương lượng. Bằng cách nào đây ? Trung tá cộng sản này trả lời cho các câu hỏi là:
_ “Tôi sẽ chuyển các đòi hỏi của quý vị cho Chánh Phủ của chúng tôi”
Gay gắt và vô ích, cuộc thảo luận tiếp tục trong sự ồn ào gần như bất tận. Những cuộc cải vả này đáng được thu hình lắm đấy, và người ta nghe tiếng máy quay phim chạy rào rào với vài chỉ thị của các nhà báo, và thỉnh thoảng những tiếng than phiền của ông Milicent Fenwick:
_ “Ông ta có trả lời câu hỏi của tôi đâu? ông ta không có trả lời câu hỏi của tôi!”
Ông Mc Closkey cố giải thích cho ông trung tá cộng sản này là có vài dân biểu trong Quốc Hội không muốn tiếp tục giúp cho Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng nếu Chánh Phủ Miền Bắc cứ chống lại công tác tìm kiếm những người Mỹ mất tích, thì ngọn gió có thể đổi chiều thổi ngược lại.
Nhưng đây là một cuộc đối thoại giữa những người điếc, mặc dầu vậy ông Frasier cứ tuyên bố là cuộc nói chuyện này rất hữu ích.
Trng tá cộng sản vẫn giữ vững đường hướng tuyên truyền đến cùng:
_ “Quý vị phải trở về Mỹ để khuyến khích nhân dân và Quốc Hội Hoa Kỳ hãy bác bỏ dường lối chánh trị của ông Ford, tức là phải chấm dứt sự ủng hộ tập đoàn Nguyễn văn Thiệu.”
Ông dân biểu Chappel, với một giọng nói thật chẩm rải và cương quyết tuyên bố:
_ “Cá nhân tôi, tôi đến Việt Nam với một tinh thần và một chủ đích là xem xét tận mắt “tình hình cụ thể” ở đây để lúc về tôi có thể bỏ phiếu “thật đúng đắn” cho bài toán quan trọng: đó là viện trợ cho Miền Nam Việt Nam.”
Để cho trung tá cộng sản này dễ hiểu, ông Chappel dùng ngay những danh từ cộng sản mà ông này đã dùng như “tình hình cụ thể”, “thật đúng đắn”….. Và ông nói tiếp:
“Bây giờ khi đã gặp được các ông rồi, thì tôi đã đi tới được một vài kết luận.. Tôi tin rằng cộng sản các ông không bao giờ có ý định tôn trọng lịnh ngừng bắn… Các ông cũng không tôn trọng nghĩa vụ của các ông liên quan tới tin tức của những người bị mất tích. Các ông than phiền, các ông nói rằng ở đây người ta không tôn trọng quyền đặc miển ngoại giao của các ông, Các ông nói là ở Sài Gònnày người ta cúp nước cúp điện của các ông, nhưng tôi thấy là các ông sống ở đây rất là thoải mái và đầy đủ tiện nghi.”
Ông dân biểu đưa tay chỉ cây quạt máy trên trần nhà (đang chạy), chỉ các cây cối và sân cỏ chung quanh trại, rồi nói tiếp:
“tất cả những thứ này đều do hai Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ đài thọ….
Khi tôi về đến Hoa Kỳ … tôi có ý định sẽ bỏ phiếu chấp thuận 300 triệu mỹ kim viện trợ bổ túc cho Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa.”
Nhưng các nhà báo Việt Nam đều lấy làm thích thú mà ghi nhận rằng người thông dịch cộng sản không có thông dịch lại câu nói sau cùng này của dân biểu Chappel.
Bà Bella Abzug muốn cho không khí bớt găng, buông ra một câu:
_ “Sự trao trả 23 hài cốt của quân nhân Hoa Kỳ chết trong thời gian bị bắt ở Bắc Việt và sự việc mà trung tá Bao đã chấp nhận hỏi lại Chánh Phủ của ông về tin tức của đại úy Fieszel cũng đã chứng tỏ được tinh thần khả dĩ có thể an ủi được nổi đau của các gia đình có con em quân nhân bị coi là mất tích ở đây..”
Bà ước mong rằng Chánh Phủ Bắc Việt sẽ cung cấp thêm tin tức liên quan đến các quân nhân bị mất tích…
_ “Đó sẽ là một bước tiến lớn, Thiện chí tốt.. Bình thường hóa quan hệ….
Tất cả những gì mà cả Sứ Quán Hoa Kỳ và Dinh Độc Lập cho tới giờ này không thể đạt được đối với phái đoàn, thì giờ đây một cách không chủ tâm chỉ trong vòng một tiếng rưỡi đồng hồ họ đã đạt được với thái độ của một số dân biểu và vì thái độ của những người cộng sản. Các thành viên của phái đoàn Hoa Kỳ tỏ ra rất giận dữ.
Họ đi qua trại của CPLTCHMN, cách đó 50 thước.
Tướng Hoàng anh Tuấn, thuộc Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên, ra tiếp phái đoàn. Thấy đã quá trể như đã dự trù , ông hỏi phái đoàn:
“Chúng ta có nên họp trong một giờ hay không?
Hai ông Barlett và Flint bàn với nhau:
_ Có lẽ nửa giờ cũng quá đủ rồi.
Tướng Hoàng anh Tuấn sẽ đọc một bản văn. Đã nghe một lần bên kia cũng quá đủ rồi. Nghị sĩ Barlett ngắt lời ông Tuấn:
_ Tại sao CPLTCHMN không chịu làm gì hết, đúng theo điều mà Hiệp Định Paris đã có ghi rõ, liên quan đến những người mất tích? (điều 8 B trong Hiệp Định)
Nhưng tướng Tuấn vẫn cứ tiếp tục đọc:
_ “Người Mỹ phải chịu trách nhiệm về sự không thi hành Hiệp Định Paris và về điều mà người ta không thể giải quyết được bài toán của những người mất tích”
Phái đoàn Mỹ đưa ra những câu hỏi thật chính xác. Nhưng cũng giống như đồng chí cộng sản Bắc Việt của ông lúc nãy, tướng Tuấn cũng chỉ nói chung chung. Ông Flynt muốn có thêm chi tiết liên quan đến 41 xác chết của người Mỹ không được trao trả cho Hoa Kỳ.
Tướng Tuấn nói:
_ “Sau khi ký Hiệp Định Paris, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục theo đuổi cuộc chiến. Không thể thi hành Hiệp Định được …. Mỗi tuần đã có hằng ngàn người Việt Nam chết ….”
Ông Flynt ngắt lời:
_ “Tôi không muốn nghe chuyện đó, Tôi muốn biết 41 xác chết đó bây giờ đang ở đâu?”
Tướng Tuấn đáp:
“Không ai bắt buộc tôi phải trả lời cho câu hỏi này, và tôi tưởng rằng nhân dân Hoa Kỳ sẽ hiểu tại sao.”
Nói xong ông ta nhìn đồng hồ
_ “Ba chục phút của chúng ta hình như đã hết rồi!”
Vừa nói ông ta vừa đứng dậy và bỏ đi
Trên đường ra xe đi về, bà Millicent Fenwick tâm sự với các nhà báo rằng : bây giờ thì bà ta sẽ bỏ phiếu cho cả viện trợ nhân đạo và viện trợ quân sự nữa.
Ngay sau đó đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Giải Phóng đều lên tiếng là “phái đoàn nghị sĩ và dân biểu Hoa Kỳ đã có những lời tuyên bố không đứng đắn và không xứng đáng với địa vị của họ.”
Người ta ghi nhận là không có một sự giao tranh nào trong thời gian phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ có mặt ở Việt Nam. Người ta không thấy có một cuộc hành quân nào trên cấp đại đội hay ít nhất cũng không có một cuộc chạm súng nào quan trọng hết.
Ngày chúa nhật 2 tháng 3, trước khi đáp phi cơ về Hoa Thạnh Đốn, nghị sĩ Barlett mở một cuộc họp báo tại phi trường. Thêo ông: “Muốn chấm dứt cuộc chiến, phái đoàn sẽ khuyến cáo Tổng Thống Ford nên thúc đẩy ông Kissinger tiếp tục thương lượng với Liên Xô ,Trung Cộng và Bắc Việt. “Ông Nghị Sĩ Barlett có biết đâu rằng ông Tổng trưởng Ngoại Giao không có một chút hứng thú nào khi phải đàm phán với cộng sản trong tư thế yếu.
Khi phái đoàn sửa soạn lên phi cơ thì Đại sứ Martin chạy tới:
_ Tôi có thể tháp tùng với quý vị về Hoa Thạnh Đốn hay không?
Nghị sĩ và các vị dân biểu đã gặp ông Martin này quá nhiều trong những ngày gần đây rồi. Viễn cảnh có thêm vài giờ nữa với ông cũng không mấy ai thích thú nhưng làm sao từ chối cho được đây?
Sau khi phái đoàn rời khỏi Sài Gòn, nhân vật số 2 của sứ quán Hoa Kỳ gởi một điện tín về cho Bộ Ngoại Giao, có đoạn kết luận như sau:
_ Sứ quán nghĩ rằng ít nhất cũng có một số đông thành viên của phái đoàn đã được thấy một khía cạnh có ích lợi, tổng quát về sân khấu chánh trị ở Việt Nam, dù chuyện đó rất là mới mẻ đối với họ. (ký tên Lehmann)
Đến Hoa Thạnh Đốn, ông Martin nhận thấy một không khí bất lợi khắp nơi, cho đến ngay cả các phòng sở trong Bộ Ngoại Giao. Bản phân tách tin tức sau cùng của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương và của Bộ đều xác nhận rằng:
“Quân đội Bắc Việt ở phía Nam vùng phi quân sự, dù có mạnh hơn lúc nào hết, nhưng không có khả năng đánh bại quân lực VNCH một cách dứt khoát được.”
Chỗ nào cũng thấy có ý kiến tương tự:
“Quân Lực VNCH sẽ không dễ gì bị đánh bại trong mùa khô này’’
Ông Martin ở nhà của cô con gái, đường 42, và bắt đầu đi vận động. Bộ Ngoại Giao cấp cho ông một chiếc xe, các nhân viên trẻ trong khối Đông Nam Á Sự Vụ đi lấy hẹn cho ông.
Ở Sài Gòn ông là nhân vật số 2 của thủ đô, sau ông Thiệu. Nhưng ở Hoa Thạnh Đốn thì ông chỉ là một ông Đại sứ như những người đại sứ khác thôi, không có tiền hô hậu ủng. Ngay ở Bộ, ông có cảm tưởng là những người công chức đều biết rằng “dính vào vấn đề Việt Nam không có lợi cho việc thăng quan tiến chức được đâu.’’ Ông Martin tự nhủ: “chắc chắn là họ không muốn đưa đầu ra cho Jane Fonda tát đâu”.
Ông Martin không muốn mất thì giờ để mà thuyết cho các vị dân biểu của đảng Công Hòa theo hướng đi của ông. Vậy mà ở đó ông cũng đụng phải những sự im lặng. Robert Gialmo, một dân biểu Cộng Hòa trong tiểu bang quan trọng nhất là tiểu ban Ngân Sách, hình như đang lưỡng lự:
Vậy có những ai sẽ là đồng minh của ông Martin đây? Trong hàng nghị sĩ thì có Barry Goldwater. Từ lâu rồi, ông Graham Martin không hy vọng thuyết phục được một trong những người bạn già của ông, Mike Mansfield, lãnh tụ khối đa số Dân Chủ ở Thượng Viện. Ông Martin thấy thật là cả một sự khó khăn để cho người ta nghe và hiểu được mình! Và coi như ông hoạt động xuyên qua một bãi mìn! Tất cả những người trẻ, cộng sự viên hay làm việc cho các nghị sĩ và dân biểu đều là những người chủ bại, chủ trương ‘’hòa bình”, cho nên ông Martin nghĩ là mình đang bơi ngược dòng!
Ông biết là nhiều thành viên trong phái đoàn đã loan truyền những chỉ trtích gay gắt về cá nhân ông như Doinald Fraser đã nói công khai và thẳng thừng:
_ “Chừng nào mà Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn vẫn còn đi với Chánh Phủ của ông Thiệu, chừng đó khó mà nhận thức được đâu là thực chất quyền lợi của Hoa Kỳ.”
Ông Graham Henderson Martin vốn là một người có ý thức nghiêm trọng về nhân phẩm và những đặc quyền của mình nên ông cảm thấy mình bị lăng nhục ở Hoa Thạnh Đốn. Vào tháng 3 năm 1973 khi nhận nhiệm sở ở Sài Gòn, ông đến Việt Nam chậm hết mấy ngày vì muốn có được một chuyến bay chánh thức đưa ông thẳng đến thủ đô VNCH, Vì riêng chuyện đó thôi đã thừa nhận rằng ông Đại sứ Mỹ là đại diện của cá nhân ông Tổng Thống Hoa Kỳ.
Ông là một người cao lớn, 63 tuổi, tóc ngâm đen, có cái nhìn sắc bén, sức khỏe hơi kém, hút thuốc mỗi ngày phải đến vài gói, có dáng điệu của một người quý phái mà có một số người cho đó là kiêu căng, và một số người khác thì thấy đó là kiểu cách đứng đắn. Ông Martin gốc ở tiểu bang Bắc Carolina, thuộc một trong những gia đình lớn ở bờ biển Miền Đông Hoa Kỳ như họ tộc Cabot, họ tộc Lodge, Kennedy…Ông rất hãnh diện về người cha của mình, một ông mục sư, người đã từng dạy ông rằng: “Nói thật là một điều rất dễ và rất là hữu ích hơn là nói dối..’’ Đứng trước các nghị sĩ và dân biểu, Đại sứ Martin sẳn sàng cho thấy lòng ngay thẳng chân thật của ông hon là sự thông minh hiểu biết của cá nhân mình.
Ông không phải xuất thân từ những trường đại học danh tiếng như Harvard, Princeton, hoặc Yale, mà từ trường Wake Collège không có tiếng tăm gì hết. Ông nghĩ rằng môn Lịch Sử, La tinh, và Hy Lạp đã giúp ông có một “quan niệm rõ ràng về quá khứ”
Lên Hoa Thạnh Đốn , ông là nhà báo trong một thời gian ngắn, chưa đủ lâu để hiểu rõ về nghề này nhưng cũng lâu vừa đủ để thấy “không ưa” được nghề này. Ở Sài Gòn ông chia giới truyền thông ra làm 2 nhóm. Một phần lớn trong số này (nhóm thứ nhứt) là những người không thích nghi với đường lối chánh trị chánh thức của sứ quán. Số ít còn lại thuộc nhóm thứ hai.
Ông Martin khẳng định rằng một người làm báo có lương tâm thì không được làm hại gì đến quyền lợi của Hoa Kỳ. Nếu có cảm thấy một sự thật không thuận lợi cho mình thì cũng phải nín lặng mới đúng.
Ông Martin là hiện thân của những giao tiếp thường trực và đối nghịch lẫn nhau giữa một nhà báo và một nhà ngoại giao, và đôi khi giữa các thế hệ nữa. Ở Việt Namcũng như ở các chỗ khác, những Đại Sứ có tuổi ít khi nào hòa hợp được với các phóng viên trẻ. Ngắn gọn hơn, ông tin rằng rằng hầu hết các nhà báo ở Sài Gòn và Hoa Thạnh Đốn dù là dị đồng, họ vẫn “thiên về Hòa Bình của Hà Nội”, nếu không muốn nói là “chống Thiệu”. Giờ đây, ông Martin không có được bao nhiêu người là đồng minh trong giới báo chí. Trước kia thì có Cyrus Sultzberger, một nhân vật quan trọng của tờ New York times là bạn của ông. Bây giờ thì tờ Times đó lại quay ra chống phá sứ quán của ông, đó là điều mà ông Martin trung thực nghĩ như vậy. Ở Sài Gòn ông chấp nhận tiếp một nhà báo, ông George McArthur, phóng viên của tờ Los Angeles Times, bạn thân của một nữ nhân viên sứ quán. Ông Martin có thể chứng tỏ là mình cùng đứng về phía tự do báo chí để có dịp bênh vực cho giới truyền thông. Lúc ông James Markham đi vào khu Việt Cộng, ông Martin đã kịp gặp ông Thiệu để bênh vực cho phóng viên này, nếu không thì ông ta đã bị ông Nhã trục xuất rồi. Đến giờ này thì ông Martin không còn thấy hứng thú chút nào để mà bênh vực những người phóng viên “bẩn thỉu” loại đó nữa.
Ông đã cho lệnh dứt khoát: không lẩn tránh mà cũng không liên lạc dù là bán chánh thức với báo chí. Ở Sài Gòn thuộc cấp của ông đã phản bội ông trong lúc phái đoàn của Quốc Hội Hoa Kỳ viếng thăm Việt Nam và do đó giờ đây ở Hoa Thạnh Đốn sứ quán mới phải nhận lấy những hậu quả đó.
Ông Martin bước vô nghề vào thời ông Roosevelt, ông lo về An Sinh Xấ HộI . Ông tự nhận mình thuộc đảng Dân Chủ. Vì trong thời chiến ông là Đại tá, một sĩ quan tình báo chuyên viên đặc trách về Đông Nam Á , thường hay lui tới với ông Alan Dulles, sáng lập viên của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (CIA), nên ông Martin tự hào rằng mình hiểu biết nhiều trong lãnh vực tranh tối tranh sáng của “tin tức” hơn hẳn một Polgar hay một Snepp. Tất cả những bản phúc trình không rõ ràng nói trên về dự tính của Bắc Việt đã làm cho ông bực mình. Nhưng cuối cùng về tình hình thì riêng ông cũng có một cái nhìn tổng hợp rồi.
Là một người có trách nhiệm về hành chánh của sứ quán Hoa Kỳ ở Paris từ năm 1947 đến 1955, ông biết rõ về những tay cộng sản Việt Nam này. Ông Martin theo dõi sát về ông Phạm văn Đồng ở Genève năm 1954. Nhất là ông đã thấy Chánh Phủ Pháp thương thuyết và nhượng bộ với Việt Minh. Ở Paris, ông đã có liên lạc chặt chẻ với những cơ quan tình báo đặc biệt. Nhờ sự liên lạc thân hữu với ông Roger Wybot mà ông Martin mới có được những tin tức mà CIA không lượm lặt được về những người Mỹ chủ trương “hòa bình” và những hoạt động của họ khắp nơi ở Âu Châu. Trong lần thăm viếng sau cùng của Phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ, niềm vui đầu tiên và duy nhất của Đại Sứ Martin là được biết Chánh Quyền Sài Gòn đã từ chối không cho một thành viên của phong trào đòi hòa bình là ông Don Luce được tháp tùng nghị sĩ và các dân biểu Mỹ.
Ông Martin vẫn còn phần nào là một người thân Pháp. Sự thiết lập bang giao của Hoa Kỳ sau bài diễn văn của tướng De Gaulle ở Phnom Penh là một điều không bình thường. Là một con người ít giao du, nên ở Sài Gòn ông Martin chỉ tới lui với Đại sứ Pháp là ông Jean Marie Mérillon mà thôi.
Ông rất thành công trong nghề: Đại sứ ở Thái Lan từ năm 1963 đến 1967, ông giành được cho Hoa Kỳ một quân cảng và 6 phi trường mà không hề ký một văn kiện chánh thức hay môt khế ước nào. Ông khinh ra mặt những người có óc quân sự thiển cận, nên đã từng chống Ngũ Giác Đài về dự án đưa quân vào Thái Lan, và ông đã yêu cầu cho triệu hồi tướng William Stillwell về, vì ông này không chia xẻ quan điểm của ông Martin. Cũng ở ngay tại Bangkok, ông Martin đã gặp ông Thiệu.
Một người con nuôi của ông Martin là phi công lái trực thăng, đã tử trận ở Việt Nam. Từ dạo đó nhiều người cho rằng ông Martin đã trở nên cứng rắn hơn. Khẳng định rằng Hoa Kỳ không nên xử dụng Hải Quân của mình ở Thái Lan – và những nơi khác -, ông Martin đã gởi về Bộ Ngoại Giao nhiều công hàm “khó ngửi” mà TổngTrưởng Ngoại Giao lúc đó là ông Dean Rusk không thể chấp nhận được, nên ông Martin phải rời khỏi nhiệm sở Bangkok, trở về Bộ với chức vụ Phụ Tá đặc biệt phụ trách về di cư và những người tỵ nạn. Một chức vụ trong tủ kính ! Nhưng may mắn cho ông là lúc còn ở Bangkok, ông đã từng trải thảm đỏ tiếp rước một luật sư của hảng Coca Cola, một người đã từng là chánh trị gia của đảng Cộng Hòa, ông Richard Nixon.
Khi đã trở thành Tổng Thống, ông Nixon nhớ tới những sự lưu ý của ông Martin và gửi ông sang Rô Ma (Ý). Ở đó ông Martin không nói tiếng Ý mà chỉ nói tiếng Pháp của thành phố Ba Lê, nhưng với tư cách trưởng phái bộ ngoại giao, ông theo sát và chỉ huy hết các phòng sở, kể cả cơ quan tình báo CIA, giám sát sự phân phối ngân khoản cho các đảng phái của người Ý, trong đó có đảng xã hội của Bettino Craxi. Tin chắc rằng chính ông đã ngăn cản không cho đảng cộng sản Ý nắm được chánh quyền, ông Martin cũng sẽ làm như vậy đối với những người cộng sản Việt Nam. Nhưng kìa! Hảy xem lại coi, ai là người thật sự va chạm với tính chất phức tạp và tế nhị của người Việt Namhơn ông ở Sài Gòn hay ngay cả ở Hoa Thạnh Đốn? Có thể là ông Kissinger, người mà ông đã từng phục vụ như một trong những phụ tá trong thời gian thương thuyết ở Ba Lê. Ngồi đối diện với Lê đức Thọ, ông Martin nhận rõ ông này là người có một lòng tin mảnh liệt vào đảng cộng sản , kiên định hoàn toàn, khó mà lay chuyển nổi. ” Những người cộng sản khẳng định rằng họ là những người thừa kế của quả địa cầu này.” Ông Martin đã từng nói như vậy. Trong những lúc nghỉ giải lao uống trà ở Ba Lê, ông Martin và Lê đức Thọ đã có nói chuyện với nhau về những đứa cháu của họ. ông Martin đánh giá cao Lê đức Thọ nhưng ít hơn ông Kissinger.
Ông đã có mua một trang trại ở Tostane, sửa soạn để về hưu. Vào tháng 12 năm 1972, ông Alexander Haig báo cho ông biết là ông Nixon muốn chỉ định ông đến Sài Gòn . Nhưng ông lưỡng lự. Ông muốn chấm dứt nghiệp vụ. Ở Sài Gòn sẽ chịu nhiều búa rìu lắm, nhưng ông Haig nhắc tới Nhiệm Vụ và Danh Dự:
_ “Nếu Tổng Thống đã nói là ông ta cần đến ông, thì ông nên đi. Ông không thể làm việc 8 năm ở Ba Lê và 4 năm ở Rô Ma, để rồi sau đó lại từ chối một nhiệm sở khó.”
Và ông Martin đã nhận lời. Vào tháng 6 năm 1973, trong lúc Thượng Viện chấp thuận sự bổ nhiệm này, ông Martin đã tuyên bố:
_ “Chúng ta phải chấm dứt sự cam kết của Hoa Kỳ ở Việt Nam càng sớm càng tốt, nhưng bằng cách nào, đó là một điều cực kỳ quan trọng. Chúng ta phải chấm dứt ở đó nhưng phải để lại một nước Việt Nam sống được với nền kinh tế vững chắc.”
Ngay trên chuyến bay về Hoa Thạnh Đốn ngày 2/3 này nhà biện luận Martin vẫn tán tụng với phái đoàn Quốc Hội về tương lai sáng lạng của nền kinh tế ở VNCH.
Ngay tại thủ đô cũng vậy, ông cứ nhắc đi nhắc lại chuyện này khi thì ở chỗ này khi thì ở chỗ khác, nhưng xem chừng như không có kết quả gì lắm. Dư luận và tin đồn được các nhà báo và các nhơn viên ngoại giao ở Sài Gòn được loan truyền từ trước đã bao vây ông và vô hiệu hóa
ông. Người ta không bao giờ cáo buộc là ông không làm việc, nhưng đã làm việc không đúng. Người ta biết ông đã đọc tất cả các công điện, rất chính xác và rất tỷ mỷ. Có người đã nói là ông chỉ nhìn thấy cây mà không thấy được đám rừng. Người khác thì nhấn mạnh là ông đã bao che cho ông Thiệu và Chánh Phủ của ông này quá nhiều, mặc dầu ông biết Thủ Tướng Khiêm là một người quá xoàng. Khi người ta nhắc tới vấn đề tham nhũng thì ông Martin gợi ý “đó là chất dầu trong tiến trình phát triển kinh tế” hay là “trong thời chiến chuyện đó cũng khó tránh được”. Ông nói tới việc xuất cảng dầu, ngư hải sản… có thể giúp cho Miền Nam Việt Nam cơ hội tốt để sống còn.
Ông Martin thường nhắm vào Hoa Thạnh Đốn trong những tháng gần đây. Theo ông, đây là mặt trận thứ hai của cuộc chiến ở Việt Nam.
Trong khi ông Martin vắng mặt, ông giao quyền xử lý thường vụ cho ông Wolfgang Lehmann, vị phó dại sứ tín cẩn của ông. Ở Hoa Thạnh Đốn Đại sừ Martin mở mặt trận chiến đấu ở hậu phương, mà theo ông là chính yếu và rất quan trọng, đó là 300 triệu mỹ kim viện trợ bổ túc cho VNCH. Quá mệt mỏi, lả người vì bị quá nhiều thử thách, lại bị đau răng, ông phải về nhà ông ở Bắc Carolina để nhờ người em họ chửa cho mình.
Đối với ông Hoa Thạnh Đốn đã xa, mà Sài Gòn còn quá xa hơn nữa!
Chú Thích của Dịch Giả
“Nguồn tin” : danh từ “nguồn tin” được giới tình báo định nghĩa là những người cho tin, hoặc do họ cài cấy vào lực lượng địch quân, hoặc nhân viên tình báo đi săn tin tức ở những vùng xôi đậu. Nói cách khác “nguồn tin” là “người” chớ không phải là “tin tức”.
“tù chánh trị”: Côn Sơn và Biên Hòa là nơi giam giữ các tù binh cộng sản bắt được tại mặt trận, hoặc những cán bộ đảng viên cộng sản ở cơ sở do Phòng Nhì của các Tiểu Khu bắt được , có quy chế riêng, khác với tù hình sự. Phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ có ác ý gọi đó là tù chánh trị. Số tù cộng sản này (trên 7000) được trao trả cho Bắc Việt và CPLTCHMN như Hiệp Định Ba Lê đã quy định.
Dịch giả biết rõ nhờ may mắn được phục vụ trong Phái Đoàn Quân Sự VNCH thuộc Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên Trung Ương, nên đã được đi thăm các trại tù cộng sản này trước khi trao trả họ cho cộng sản Bắc Việt .
Bà Ngô Bá Thành: Bà này là vợ của luật sư Ngô Bá Thành. Tiếng là thuộc “lực lượng thứ ba” nhưng bà là một thành phần thân cộng, hoạt động phản chiến ngay trong nước, xách động dân chúng bằng mọi hình thức (biểu tình hay bất hợp tác với chánh quyền), đòi hỏi Việt Nam Cộng Hòa phải ngưng chiến đấu, đơn phương chấm dứt cuộc chiến để có “hòa bình”. Dĩ nhiên bà không bao giờ đòi hỏi Bắc Việt và Việt Cộng cũng phải làm như vậy. Thời gian trước 30/4/75 bà thường đi vào các vùng của MTGPMN, liên lạc với cộng sản , nên Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa phải có biện pháp “cấm cung” bà. Sau 30/4/75 bà là dân biểu Quốc Hội của CSVN suốt mấy khóa cho tới ngày nay (2001). Do đó xếp bà vào thành phần đối lập không cộng sản là hoàn toàn không đúng sự thật.
Năm 1974 đọc chương thứ 6, tôi có cảm giác Hara là một “kỹ sư đào mỏ” vì đã bỏ Utamaru tuy là kỹ nữ nhưng đã yêu Hara thiết tha, để kết hôn với Chizu mà “của hồi môn là năm căn nhà rộng lớn đang cho mướn ở Kamakura” …
Bốn thập niên sau đọc lại, hiểu ra chính Chizu, là hiền thê chính thức và duy nhất, đã cho Hara sự ổn định tâm trí giúp hoàn thành lý thuyết phóng ngư lôi vô cùng lợi hại về sau trong các trận thủy chiến. Bên cạnh Utamaru hát hay, xinh đẹp và yêu kiều, không chắc Hara sẽ hoàn bị binh nghiệp. Đa phần là Hara sẽ phải ra khỏi hải quân như cảnh cáo của thượng cấp. Thế chiến sẽ diễn ra thiếu lý thuyết ngư lôi và không có sự tham chiến của Hara mà Hoa Kỳ đánh giá là hạm trưởng không thể đánh đắm, “The Unsinkable Captain”.
[Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương VI
Ngày 1 tháng 12 năm 1926, tôi được thăng cấp đại úy và phải tu nghiệp khóa nâng cao ở Yokosuka. Khóa học suốt một năm này dành cho những người được tiến cử để thành hạm trưởng các khu trục hạm trong tương lai.
Yokosuka nằm cách Kuré 300 dặm đường chim bay, khung cảnh và không khí đã làm tôi thay đổi. Ở đây, tôi có thể quên dần buổi chia tay ảm đạm đầy sầu thảm với Utamaru. Tôi không quên nàng nhưng các môn học mới mà tôi đang theo đuổi đã lấp đầy nỗi phiền muộn riêng tư. Tôi vẫn muốn trở về căn phòng trọ của mình và nằm trên mặt nệm futon bên cạnh Utamaru, được gối đầu lên làn da bụng trắng mát của nàng nhưng chương trình học bắt tôi tập trung.
Ngoài ra lúc ấy sự căng thẳng ở Trung Hoa càng lúc càng gia tăng khiến tôi bận tâm theo dõi.
Hoa Lục vào những ngày này đang xảy ra cuộc tranh chấp giữa hai tay chiến tướng quan trọng. Tưởng Giới Thạch ở phía Nam và Trương Tác Lâm ở phía Bắc. Ðầu năm 1927, lực lượng của Tưởng tỏ ra trên chân của Trương, và đã chiếm giữ Nam Kinh vào ngày 24 tháng 3. Lực lượng của Tưởng tạo ra một sai lầm quan trọng, là khi chiếm Nam Kinh đã phóng tay cướp phá, tràn cả vào các lãnh sự quán và gây khó dễ cho các quốc gia Nhựt, Anh, Mỹ và Pháp.
Ba tàu chiến Hoa Kỳ đã nã trọng pháo vào Nam Kinh. Hải quân Nhựt đổ bộ một lực lượng đặc nhiệm lên Nam Kinh để bảo vệ kiều dân Nhựt. Những sự việc này đã khiến Tưởng Giới Thạch phải ngỏ lời xin lỗi các quốc gia vừa nói và quy tội cho Cộng Sản Mao. Trong thực tế Mao đã bị Tưởng đánh bại trước đó và đã phải vạn lý trường chinh lui về mật khu.
Tháng 5 năm 1927, Nhựt Bản đổ bộ các đơn vị bộ binh lên bán đảo Sơn Ðông (Shantung) ở Hoa Bắc nhằm ngăn chặn các biến cố khác. Tuy nhiên hành động này càng đẩy mạnh các phong trào quá khích bài Nhựt ở Trung Hoa.
Ðối với độc giả hiện tại chắc chắn sẽ cho rằng việc đổ bộ vừa rồi là hành động vụng về. Tuy nhiên sự thực Trung Hoa lúc ấy là một xứ sở đã rách nát bởi các cuộc nội chiến, hai chánh phủ Quốc-Cộng cùng không có uy quyền tối thượng. Quyền trú quân của Nhựt Bản được công nhận từ chiến thắng Hoàng Hải buộc nhà Mãn Thanh chấp nhận và sau khi cuộc chiến Nga-Nhựt kết thúc với chiến thắng Ðối Mã của hải quân Nhựt, chánh phủ Tôn Dật Tiên cũng thừa nhận nhưng nay là vấn đề. Một cách trung thực, binh lính Nhựt vẫn thường có những hành động khiêu khích dân Trung Hoa, và cả hai chánh phủ Dân Quốc và Cộng Sản đều khuyến khích các cuộc biểu tình bài Nhựt.
Vào mùa Xuân năm 1927, hội nghị Tài binh Giải trang lần thứ hai được mở ra ở Genève. Nhựt Bản đã cứng rắn đòi hỏi tổng số trọng lượng các chiến hạm Nhựt phải gia tăng cao hơn giới hạn 60% so với Anh và 70% so với Hoa Kỳ, do hội nghị lần thứ nhất đưa ra. Hai cường quốc hải quân hàng đầu bác bỏ đòi hỏi này, và hội nghị đổ vỡ. Năm cường quốc phải dàn xếp trên căn bản thỏa hiệp Hoa Thạnh Ðốn 1921.
Những biến cố thế giới này đã thúc đẩy mạnh mẽ sự cố gắng làm việc và học hỏi của tôi. Vào thời gian tôi nhận bổ nhiệm mới, các khu trục hạm và tuần dương hạm được nâng lên địa vị quan trọng chưa bao giờ thấy trong thời Ðệ Nhứt Thế Chiến.
Sau khi tốt nghiệp Trường Chỉ huy Khu Trục hạm, tôi được giao phó công tác trên tàu, với tư cách sỹ quan ngư lôi trưởng của khu trục hạm Susuki (Hòa Thảo). Tôi đã giữ nhiệm vụ này trên hai năm, lâu hơn bất kỳ nhiệm vụ nào mà tôi từng giữ trước đây. Chiếc tàu hoạt động trong hải phận Trung Hoa, hầu hết ở Hoa Bắc và đảo Ðài Loan, thường buông neo ở Thanh Ðảo (Tsingtao), hải cảng then chốt của bán đảo Sơn Ðông, và bán đảo này cũng chính là mồi lửa của các cuộc xung đột Nhựt-Hoa ở hiện tại.
Khu trục hạm của tôi đến Cơ Long (Keelung), Ðài Loan vào ngày 1 tháng 4 năm 1928 vừa lúc tôi nghe tin Tưởng Giới Thạch đang bắt đầu xua quân hướng về Sơn Ðông. Tin tức này khiến các tàu phải trực chỉ Thanh Ðảo. Nhưng ở đây tình hình có vẻ êm dịu, vì vậy ngày 15 tháng 4, chúng tôi quay lại đảo Bành Hồ (Pescadore) ở phía Tây Ðài Loan.
Biến cố Tế Nam (Tsinan, còn gọi Tể Nam hàm nghĩa phía Nam của sông Tể Thủy) đầy nhục nhã xảy ra hai tuần sau đó. Ðạo quân Hoa Bắc của Trương Tác Lâm bắt đầu giở trò cướp phá thủ phủ của Sơn Ðông, nhưng đã bị thảm bại không lâu sau đó khi họ Tưởng tiến đánh và chiếm giữ thủ phủ này vào ngày 1 tháng 5. Nhưng quân của họ Tưởng vẫn tiếp tục cướp phá, giống như họ đã làm vào hai năm trước đây ở Nam Kinh. Mười bốn kiều dân Nhựt bị sát hại và hơn hai mươi người Nhựt khác mất tích, và tất cả 114 ngôi nhà của người Nhựt đều bị cướp bóc và thiêu hủy hoàn toàn.
Lục quân Nhựt được rút từ Mãn Châu và Triều Tiên để đưa đến nơi xảy ra biến cố và đã vãn hồi trật tự. Tuy nhiên chánh sách “cây roi lớn” này chỉ khiến cho người Trung Hoa phẫn nộ thêm, và gieo mầm mống cho cuộc xâm chiếm quy mô của Nhựt xảy ra sau này.
Cuối năm 1928, tôi ở Kobé và gặp anh Cả Sakutano. Anh đã thúc giục tôi lập gia đình. Tôi cười to: “Em đã từng mang tiếng xấu rồi, bây giờ anh có chắc là em tu chỉnh chưa?”. Tôi nói mà vẫn nhớ đến Utamaru. Anh Sakutano, từ trước đến nay vẫn là một người anh hiền của tôi, đáp một cách nghiêm trang: “Ðể anh tìm một số ứng cử viên đoan trang cho em”. Tôi nói anh cứ tiến hành nhưng tôi nghĩ chắc anh chẳng có chút may mắn nào. Tôi vẫn nghĩ đến Utamaru với tất cả hy sinh của nàng.
Khoảng một tháng sau, tôi nhận được thơ của anh kèm theo một tấm ảnh với lời ghi chú ngắn, theo đó “người trong ảnh” xứng để trở thành “phu nhơn” của tôi.
Cô Chizu Asayama, 22 tuổi, là con nuôi một chủ xưởng chế tạo vật dụng bằng da thuộc lớn nhứt của Nhựt Bản. Trong thơ cho biết bà mẹ nuôi của nàng muốn có một người rể là sỹ quan hải quân, bởi lẽ bà ta muốn sống gần con, và dĩ nhiên một sỹ quan hải quân với các chuyến hải hành vắng mặt dài lâu cho phép bà đến thăm con.
Dưới mắt tôi người trong ảnh quả có nhan sắc. Nàng tốt nghiệp trường Nữ Cao Ðẳng nổi danh Ochanomizu. Một cô con gái gia đình giàu có, anh tôi viết, tất nhiên “trâm cài lược giắt” và quan trọng hơn hết là của hồi môn, gồm có “năm căn nhà rộng lớn đang cho mướn ở Kamakura,” một thành phố bờ biển của giới thượng lưu gần Yokosuka.
Cả câu chuyện đối với tôi đầy bất ngờ. Tại sao một cô gái đủ điều kiện như vậy lại ưng thuận làm vợ của tôi? Sao nàng không chọn một sỹ quan ưu tú, để hy vọng trở thành “Ðô đốc phu nhơn” tương lai, có hơn không? Gia đình nàng chắc chắn đã thuê thám tử tư điều tra quá khứ mối tình kỹ nữ của tôi với Utamaru và họ đã biết tất cả. Vì vậy, tôi nghi ngờ nàng có những khuyết điểm gì đó, không thích hợp với các tay thanh niên khác.
Tôi trao thơ cho hạ sỹ quan tùy viên thân cận của tôi và hỏi ý kiến của anh ta. Viên hạ sỹ quan đã đáp một cách nghiêm trang: “Ðại úy, anh của tôi là một cảnh sát điều tra, nếu Ðại úy muốn, tôi sẽ nhờ anh ấy điều tra giùm cho.”
Tôi đồng ý. Một tháng sau, người anh của hắn cung cấp đầy đủ hồ sơ chi tiết cho tôi, theo đó: “Cô Chizu Asayama chẳng phương diện nào đáng chê hết. Từ dung nhan đến vóc dáng, hạnh kiểm và học vấn.” Tay hạ sĩ huýt sáo khi trao hồ sơ như thể đó là một mỏ vàng khiến tôi phải trừng mắt cho hắn biến đi.
Tôi gặp nàng lần đầu vào tháng 3 năm 1929. Cuộc gặp gỡ quan trọng này kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ với sự hiện diện của đầy đủ quyến thuộc hai bên. Ngày sau đó, tôi trả lời ưng thuận với gia đình nàng, và nàng cũng vậy. Hôn lễ được sắp xếp theo đúng nghi thức cổ truyền của Nhựt Bản. Người ở Tây phương sẽ lấy làm lạ khi thấy một vấn đề quan trọng như vậy lại được quyết định chỉ sau một cuộc gặp gỡ. Và đồng ý của hai phía sau vỏn vẹn 24 tiếng. Nhưng phải nói rằng các cuộc hôn nhân sắp xếp theo lối này đã chứng tỏ thành công hơn những cuộc hôn nhân thường cho là có sự tìm hiểu trước ở các nước khác. Gặp gỡ giữa đôi trai gái thường diễn ra sau khi cả hai gia đình đã có sự thỏa thuận trước, vì vậy mà ít khi xảy ra việc từ chối, trừ phi một bên khám phá ra khuyết điểm nào đó đã bị che đậy.
Hôn lễ cử hành tại đền thờ quốc giáo Shinto ở Ðông Kinh vào ngày 25 tháng 5 năm 1929, trong khi chiếc khu trục hạm của tôi buông neo ở Yokosuka. Tôi được cấp hai ngày phép. Ngay sau hôn lễ chúng tôi đi hưởng một ngày trăng mật ở suối nước nóng Atami cách Tây Nam Ðông Kinh khoảng 50 dặm. Ngày hôm sau tôi trở về tàu một mình. Cô vợ mới của tôi xuống xe lửa ở Oiso, một thành phố ven bờ biển khác nằm giữa Atami và Yokosuka, nơi gia đình nàng đang sinh sống. Tôi đã sống một đời sống hôn nhân lạ lùng vì kể từ đó trong nhiều tháng tôi mới gặp gỡ vợ tôi một lần. Ngay trong hôn lễ tôi vẫn nghĩ đến Utamaru và cảm thấy có lỗi với nàng.
Sáu tháng sau đó, tôi được thuyên chuyển đến Alikazé (Thu Phong), một khu trục hạm 1,500 tấn, vận tốc 39 hải lý, 4 pháo 120 ly. Lần này tôi vẫn giữ chức vụ cũ, sỹ quan ngư lôi trưởng, đúng một năm.
Tháng 4 năm 1930, Anh quốc và Hoa Kỳ tiến đến một thỏa hiệp giải trang mới ở Luân Ðôn, đặt định giới hạn trọng lượng của các tàu hộ tống. Các loại tàu khác vẫn duy trì giới hạn của thỏa hiệp năm 1921. Kết quả hội nghị mới này khiến cho các sỹ quan hải quân Nhựt nổi nóng. Như vậy, tổng số trọng lượng của tuần dương hạm hạng nặng Nhựt chỉ bằng 62% so với Hoa Kỳ. Riêng tổng số trọng lượng của tiềm thủy đĩnh, theo thỏa ước, hai quốc gia đều bằng nhau.
Lúc bấy giờ khó mà giải thích tại sao các kết quả này đã không làm hài lòng hải quân Nhựt Bản. Nhựt Bản đã cố đòi hỏi gia tăng số trọng lượng các tuần dương hạm hạng nặng ít nhất 70% so với Hoa Kỳ. Nhưng sự đồng đều về tiềm thủy đĩnh theo thỏa ước đã không được giữ đúng, bởi vì lúc đó tổng số trọng lượng của loại tàu này của Nhựt Bản đã là 77,900 tấn so với 52,700 tấn của Hoa Kỳ.
Tất cả những lời bàn tán này đã chứng tỏ sự ngây ngô sau đó, khi khả năng sản xuất tàu chiến của Hoa Kỳ gia tăng đến mức độ đè bẹp hẳn Nhựt Bản trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Nhựt Bản khó thể chạy đua võ trang với Anh-Mỹ nhưng vào năm 1930, các sỹ quan hải quân Nhựt đã không lưu tâm về việc này. Họ nhấn mạnh Nhựt Bản đã bị áp lực quá dễ dàng của Hoa Kỳ ở Luân Ðôn. Bấy giờ họ xem Hoa Kỳ không chỉ là một kẻ thù ngấm ngầm mà còn là một kẻ thù ra mặt. Kể từ đó về sau, tất cả những cuộc động binh đều đặt trên mặt lý thuyết nhằm vào “kẻ thù giả định” là Hoa Kỳ.
Vào ngày 8 tháng 11 năm 1930, vợ tôi sanh đứa con gái đầu lòng, được đặt tên là Yoko. Bốn tuần sau đó tôi được chỉ định giữ chức vụ sỹ quan ngư lôi trưởng trên khu trục hạm Fubuki (Bão tuyết), trọng tải 2,000 tấn, 6 pháo 127 ly, 9 phóng ngư lôi, vận tốc 38 hải lý. Suốt một năm phục vụ trên chiếc tàu này, tôi đã kết bạn với một người trong đời tôi không bao giờ quên được. Ðó là vị chỉ huy Hải đoàn Khu trục hạm của chúng tôi, Ðại tá Chuichi Nagumo.
Nagumo từng là một giảng viên của trường hải quân Yokosuka. Sau đó ông đi tu nghiệp một năm ở Hoa Kỳ và vừa mới về nước. Ông là một trong những chiến thuật gia khu trục hạm tài ba nhứt trong Hải quân Hoàng gia. Kiến thức tôi được mở mang khá nhiều trong một năm gần gũi ông. Nagumo khuyến khích tôi chuyên cần học hỏi bằng cách cho tôi mượn khá nhiều sách vở ông mang về từ Hoa Kỳ. Ông rất mến tôi, và ông nói thế nào tôi cũng sẽ được theo học trường Cao Ðẳng Tham Mưu.
Lúc đó tôi không bao giờ tưởng tượng Nagumo, sau này là Phó Ðô đốc, sẽ chỉ huy lực lượng đặc nhiệm vĩ đại của Nhựt Bản tấn công Trân Châu Cảng. Nhưng tiếp theo đó, trận đại bại Midway xảy ra, và Nagumo trở thành đề tài của mọi loại chỉ trích. Tuy nhiên trong ký ức của tôi, ông vẫn là một sỹ quan tài ba và nhiệt tâm.
Một trong những ưu điểm của Tameichi Hara là đã đem đến cho người đọc, xuyên qua hồi ký, khá nhiều kiến thức về phương thức thiết lập hải quân của Đế quốc Nhật, mà cách phân định đặt tên tàu chiến giúp nhìn thấy trọng tải và kích cỡ đại bác của chiến hạm ấy.
Hara cũng kể lại chân thật mối tình đầu đầy say đắm của mình với một kỹ nữ. Geisha, hơn một ca kỹ, là chỗ dựa tinh thần và chốn vỗ về thân xác, ngay cả khi hệ thống quân kỷ cứng rắn không cho phép kết hôn. Chừng như Quân lực VNCH không có ngăn cấm này?
“Trung úy, đêm mai trở lại đây một mình và gọi em. Tên em là Utamaru. Trung úy nhớ cho em…”
[Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương V
Danh hiệu các chiến hạm đối với độc giả ngoại quốc chắc có âm thanh xa lạ. Trong suốt cuộc chiến Thái Bình Dương có nhiều người Tây phương gọi một chiếc tàu Nhựt là “Maru”. Tuy nhiên, phải lưu ý rằng tất cả chiến hạm hoặc tàu bè khác của chánh phủ Nhựt không kèm chữ Maru ở cuối danh hiệu. Chữ Maru lúc đó chỉ các tàu chở hàng hoặc tàu đánh cá Nhựt mà thôi.
Maru nghĩa đen là vòng tròn, tròn trịa hoặc bầu bĩnh. Dân Nhựt thời trung cổ thường dùng chữ Maru để đặt tên cho con trai của họ lúc nhỏ. Chẳng hạn như Hideyoshi Toyotomi, chiến tướng lừng danh thế kỷ thứ XVI, thường được so sánh với Nã Phá Luân, có tên ấu thời là Hiyoshi Maru, chữ Maru ở đây có nghĩa là “cậu bé hoàn hảo (hoặc đầy may mắn) và rạng rỡ như mặt trời”. Và tên ấu thời của Yoshitsune Minamoto, danh tướng thế kỷ XII, là Ushiwaka Maru, có nghĩa là “khỏe mạnh như một con bò con”.
Dân Nhựt, theo lối nhân cách hóa, đã thêm chữ Maru phía sau danh hiệu con tàu của họ. Từ 100 năm qua, chữ Maru không còn sử dụng kèm với danh hiệu của tàu bè chánh phủ nữa. Chiến hạm Nhựt, cũng như nhiều quốc gia khác, đã được phân ra từng loại để đặt tên. Do đó, một người nếu quen với hệ thống này chỉ cần nghe qua cái tên có thể biết ngay đó là thiết giáp hạm, tuần dương hạm, khu trục hạm v.v.
Các thiết giáp hạm Nhựt thường lấy tên của các tỉnh lỵ cổ hoặc núi non. Thiết giáp hạm danh tiếng Yamato mang tên Nara, tỉnh lỵ và cũng là đế đô cổ nhứt ở miền Trung đảo Hondo. Nara xưa kia còn được sử dụng để chỉ toàn thể nước Nhựt, vương quốc Ðại-Hòa. Việc đặt tên chiếc Yamato cho thấy Hải quân Hoàng gia kiêu hãnh về sự đồ sộ của chiếc tàu này là dường nào. Tàu song sinh với Yamato là thiết giáp hạm Musashi, mang tên kinh thành phía Bắc Ðông Kinh. Cũng còn là tên kiếm sĩ lừng danh Miyamoto Musashi chưa từng thất bại khi đấu kiếm. Musashi cũng là triết gia, chiến lược gia vĩ đại trong thế kỷ 16. Nhưng đặc biệt các thiết giáp hạm Haruna, Kirishima, Kongo, Hiei lại mang tên các ngọn núi. Bởi nguyên thủy các chiếc tàu này là tuần dương hạm được biến cải thành thiết giáp hạm vào năm 1930, và chúng vẫn giữ y tên cũ.
Các tuần dương hạm nặng thường mang tên núi và các tuần dương hạm nhẹ mang tên sông ngòi. Các hàng không mẫu hạm có những tên thích hợp với “nghề bay”. Hàng không mẫu hạm Hosho (Phụng Tường), được đóng năm 1921, còn có nghĩa là Phi Phượng. Hiryu và Soryu, tham dự cuộc tấn công Trân Châu Cảng, có thể dịch là “Phi Long” và “Thanh Long”. Riêng 2 hàng không mẫu hạm mang tên Kaga và Akagi, cùng bị đánh đắm ở Midway vào tháng 6 năm 1942, mang tên một tỉnh lỵ và núi. Ðiều này dễ hiểu bởi chiếc đầu là một thiết giáp hạm và chiếc sau là tuần dương hạm biến cải thành hàng không mẫu hạm. Một nguyên tắc: Tỉnh lỵ rồi mới đến núi, rồi sông và cả ba xếp sau thành đô hay kinh đô. Chiếu theo quy tắc đó có thể đoán ra kích thước và trọng tải chiếc tàu.
Tiềm thủy đĩnh và tàu săn tiềm thủy đĩnh được đánh số với các mẫu tự phía trước. Những tiềm thủy đĩnh lớn mẫu tự đặt ở đầu con số là “I” và những tiềm thủy đĩnh nhỏ là “RO”. Tất cả tàu săn tiềm thủy đĩnh đều đặt ở đầu con số bằng hai mẫu tự “SC”.
Các khu trục hạm mang tên khí tượng học chẳng hạn như Hatsuyuki (Tuyết đầu mùa), Fubuki (Bão tuyết), Shimakazé (Gió hải đảo), Amatsukaze (Thiên phong), Akitsuki (Thu nguyệt), Fuyutsuki (Ðông nguyệt) hoặc Yugumo (Tà vân). Các khu trục hạm nhẹ mang tên các loại cây, trái và hoa, chẳng hạn như Sanaé (Bông lúa), Sakura (Anh đào) hoặc Kaba (Mộc phong).
Khi một chiến hạm Nhựt bị phế thải, một tàu mới thay thế thường mang tên chiếc tàu cũ, không hề thêm bất kỳ con số nào có ý nghĩa như “II” chẳng hạn. Thành thử tôi phục vụ trên hai chiếc tàu khác nhau, nhưng cùng mang tên Amatsukaze.
Nhiệm vụ của tôi trên chiếc Amatsukaze cũ là nhiệm vụ ở ngay trường mẹ đầu tiên của tôi. Khu trục hạm này, đậu ở Kuré, cách Eta Jima không xa mấy. Sau nhiều tháng lênh đênh trên mặt biển, đời sống đất liền hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Khi tôi đi dạo trên các đường phố náo nhiệt của tỉnh lỵ này, các thủy thủ đều chào kính tôi đúng điệu. Trên tàu hoặc tại các căn cứ hải quân, việc chào kính này không có gì khác thường, nhưng ở đây lại gây cho tôi một cảm giác kỳ quái trong bộ quân phục với mắt nhìn những người mặc thường phục.
Bảy năm sống khắc khổ dưới kỷ luật sắt và huấn luyện liên tục, tôi ít có dịp may hưởng thụ và xa hoa. Bấy giờ tôi đã 26 tuổi, và là hoa tiêu trưởng của một khu trục hạm tân tiến. Lương tháng của tôi là 75 Yên, thời đó là một số tiền khá lớn. Ở Kuré thình lình tôi bừng tỉnh, cho nơi đây là dịp may hưởng thụ đầu tiên.
Một đêm thứ Sáu, tôi và 2 trung úy khác quyết định đến một hộp đêm. Chúng tôi gọi 3 kỹ nữ, mỗi giờ phải trả mỗi cô geisha một Yên. Họ hát và nhảy với chúng tôi. Rượu saké không ngớt tràn ly cùng với những liếc mắt cùng lời nói ngọt ngào đượm nồng duyên dáng; những môi thơm khiến chúng tôi mê mải và thời gian trôi qua nhanh chóng.
Mười một giờ đêm, cuộc vui chấm dứt, chúng tôi phải trở về tàu. Khi chúng tôi sắp đứng dậy, một trong ba cô geisha khẽ nói với tôi: “Trung úy, đêm mai trở lại đây một mình và gọi em. Tên em là Utamaru. Trung úy nhớ cho em…” Cô geisha nhỏ bé này trẻ nhứt và đẹp nhứt trong ba cô. Tôi nhìn vào đôi mắt khẩn cầu của nàng và gật đầu.
Ðêm sau tôi trở lại hộp đêm một mình và gọi nàng. Nàng hát hay và khiêu vũ giỏi, nhưng sự ngây thơ của cô geisha này mới là phương diện mê hoặc tôi nhiều nhứt. Nàng mới 18 tuổi và vô nghề một năm. Tôi nói: “Vào tuổi của em, anh bước chân vào Eta Jima. Em biết Eta Jima không?”
“Biết chớ anh! Em biết rõ lắm, vì quê em ở Nomi Jima ngay bên cạnh mà.”
Nàng có một nụ cười đáng yêu. Hai chiếc răng khểnh xinh xinh. Tôi cảm thấy những gì mà nàng dành cho tôi vượt xa hơn nghề nghiệp của nàng.
Thình lình tôi nhớ lại sự ngù ngờ của tôi trong khách sạn ở Hiroshima, khi tôi đến đấy để thi vào Eta Jima. Cô hầu ở khách sạn đó có vẻ quá thúc bách đối với bất kỳ một cậu trai 18 tuổi nào.
Hiện tại tình thế đã đổi ngược. Tôi đã nốc nhiều cốc saké và bắt đầu chếnh choáng. Tôi có 24 giờ phép và nàng ưng thuận thâu đêm với tôi.
Một số người ngoại quốc không hiểu rõ nghề nghiệp của một geisha. Họ không phải là một loại gái giang hồ. Công việc của họ là đem lại màu sắc và gây vui tươi cho các buổi tiệc tùng, dạ hội… nếu họ dan díu với một người khách nào đó thì chỉ là chuyện riêng tư của họ. Ðêm đó tôi phải trả khoảng 12 Yên, kể cả tiền thù lao cho nàng.
Hai ngày sau tôi trở lại. Lần đầu tiên nếm mùi yêu đương, tôi si nặng cô gái, và chỉ trong hai tuần tôi đã tiêu hết cả số lương hàng tháng. Tôi không thể ngăn mình gặp lại Utamaru, thêm vài tuần, rồi vài tuần nữa tôi tiêu sạch lương của một năm đi tàu. Từ khi ra trường hàng tháng tôi gởi về cho má tôi và các anh chị tôi hai phần ba tháng lương để giúp gia đình còn khổ cực và cũng để trả nợ vay cho tôi ăn học. Số còn lại tôi cho vào sổ tiết kiệm, nhưng từ khi thâu đêm với Utamaru, số tiền đã từ từ chắp cánh bay.
Ngoài tính nết dịu dàng và chân thực mà mỗi khi ôm nàng trong tay tôi đều cảm được sự dâng hiến ở nàng hoàn toàn tự nguyện, Utamaru còn rất tinh tế. Nàng nhận biết và chận tôi: “Anh đừng nên đốt tiền như vậy. Tại sao anh không mướn một căn phòng rẻ tiền để em có thể lui tới thăm anh ở đó, như vậy có phải là anh khỏi sạch túi không?”
Tôi đã theo lời khuyên của nàng vào tháng kế, khi chiếc khu trục hạm của tôi trở lại Kuré sau chuyến đi thường lệ. Sau khi mướn một căn phòng, tôi trở lại hộp đêm để tìm nàng và báo cho nàng biết: “Anh đã thiết lập xong căn cứ Hải-Lục trên bờ!”. Tôi quá lạc quan cho rằng nàng có thể đến ở hẳn tại cứ địa của tôi và cùng nàng xây tổ ấm.
Tôi không biết rằng Utamaru, theo thông lệ, đã nhận được trước một số tiền của người chủ hộp đêm lúc bắt đầu nhận việc, và số tiền này nàng đã gởi về cho người cha nghèo khổ và năm đứa em của nàng. Vì vậy, nếu muốn thôi việc nàng phải hoàn lại số tiền ứng trước, nhưng các geisha mỗi mùa đều phải mua sắm nhiều chiếc áo Kimono đắt tiền nên hiếm khi dành dụm được để hoàn lại cho chủ.
Tôi đã kinh ngạc và vui mừng khi Utamaru đến phòng tôi ngay buổi chiều đó. Thật là thích thú khi chỉ có một mình tôi với nàng. Nàng khác hẳn bên ngoài hộp đêm, không chưng diện kimono sặc sỡ, không phấn son làm tăng nét nhu mì ở nàng. Nàng không còn vẻ geisha mà giống như một hôn thê ngoan ngoãn. Chúng tôi tự nhiên hơn và nếu tôi ân ái với nàng say mê hơn thì Utamaru cũng chăm sóc tôi nhiều hơn, nàng nấu ăn để chúng tôi không phải ra ngoài và đơm lại các cúc áo cho tôi hoặc lau chùi thanh kiếm sỹ quan của tôi cho thật sáng. Tôi sung sướng ngắm thân thể nàng khêu gợi đi lại uyển chuyển trong phòng và sẵn sàng hiến dâng cho tôi đến tuyệt đỉnh. Chúng tôi trò chuyện thâu đêm sau ân ái. Trước mỗi lúc chia tay nàng không quên đánh bóng đôi ủng da của tôi và nói: “Em muốn anh lúc nào cũng bảnh bao.”
Mọi thứ đối với tôi lúc ấy đều lâng lâng, còn mọi sự bỏ đi. Thực vậy, ngay cả sự hy sinh to tát của nàng đã đến đây với tôi, tôi cũng không biết đến. Tôi chỉ nghĩ nàng phải chịu thiệt thòi một buổi chiều, nên tôi trao nàng năm Yên để đền bù lại, và tôi cho như vậy là khá hào phóng. Sự thực là người chủ của nàng đã đòi hỏi một số tiền đặc biệt một khi nàng đi hành nghề nơi khác, vì mỗi lần như vậy khách hàng phải trả một số tiền gấp đôi, nghĩa là mỗi giờ đến hai Yên. Nàng không muốn cho tôi biết việc này, và nàng đã lấy tiền túi trả khoản tiền sai biệt cho chủ. Và nàng càng tiếp tục hẹn hò với tôi, tiền dành dụm của nàng càng tiêu tán, và trở thành mang công mắc nợ. Utamaru không hé môi mà vẫn đều đặn đến căn phòng nhỏ của tôi mỗi khi tàu cặp bến.
Tôi tiếp tục u mê trước tình cảnh bối rối của nàng, rồi chính tôi cũng gặp sự bối rối riêng. Mỗi tháng tiền lương của tôi xài hết sạch chẳng còn lấy một đồng. Thậm chí không có dư để gửi về cho má tôi như trước đây và sổ tiết kiệm đã cạn sạch. Nhưng tôi còn trẻ và đang yêu, tôi si nàng và chỉ biết chạy đuổi theo thú vui của đời sống, nên tôi chấp nhận việc này. Dè sẻn làm sao được khi mình còn trẻ.
Một buổi chiều, vào tháng 9 năm 1926, khi tôi sắp sửa lên bờ thì có lịnh chuyển đến cho biết vị hạm trưởng muốn gặp tôi. Tôi đến trình diện ông ngay chỗ ở của ông trên tàu. Chỉ một mình ông, và ông đang đi tới đi lui một cách bồn chồn. Cái nhìn gay gắt của ông khiến tôi phát ớn.
“Trung úy Hara đó hả? Ngồi đi! Tôi có chuyện muốn thảo luận riêng với anh.”
Giọng của ông rất xa lạ, và ông như đang cố kìm hãm nỗi bực tức. Tôi tự hỏi không hiểu ông ta muốn thảo luận việc gì?
“Anh đã từng phục vụ đủ thời gian để biết rằng trên các khu trục hạm, không giống như những chiếc tàu lớn hơn, chúng ta sống như trong một gia đình. Với tư cách người chỉ huy của anh, tôi phải biết công việc riêng tư của anh và có bổn phận khuyên bảo anh.”
“Tốt! …Hừ, tôi thật cũng không muốn xen vào đời sống riêng tư của anh làm gì. Anh còn trẻ, độc thân và có quyền hưởng các thú vui của tuổi trẻ. Nhưng anh có biết rằng anh đã hưởng một cách thái quá hay không?”
“Thưa Ðại tá…”
“Tôi biết cô bạn anh. Ca hoàn Utamaru. Tôi không phàn nàn việc anh dan díu một đêm với một geisha. Phải, đó là người tình, nhưng đã đến lúc anh phải chấm dứt sự gần gũi với cô gái này. Như vậy cũng quá nhiều rồi. Hiện anh bao nhiêu tuổi?”
“Trong tháng này tôi đúng 26 tuổi, thưa Ðại tá”.
“Tại sao anh không cưới vợ và định nơi chốn cho rồi? Anh đầy đủ mọi phương diện. Hồ sơ của anh tốt. Có cả ngàn gia đình muốn anh trở thành chàng rể.”
“Có thể như vậy, thưa Ðại tá. Nhưng tôi nghĩ cuộc sống của một sỹ quan trẻ chưa thực sự thích ứng với việc lập gia đình. Tôi hoàn toàn chưa nghĩ đến việc lấy vợ.”
“Hừm… Và vì vậy anh đang sống với một ca kỹ?”
“Ðúng như vậy, thưa Ðại tá.”
“Anh là một thằng ngu! Tôi không thể ngờ rằng anh lại suy nghĩ ngu như thế! Hải quân Hoàng gia không bao giờ dung thứ cho việc một sỹ quan hải quân lại chung sống với một kỹ nữ. Anh có điên không? Anh bị loạn trí à?”
“Thứ lỗi cho tôi, thưa Ðại tá. Nhưng tôi không xem Utamaru là một geisha thiếu phẩm hạnh. Nếu việc chung sống như vậy với cô ấy gây ra cảnh chướng tai, tôi sẽ xin được cưới cô ấy.”
“Ðồ khùng! Hải quân Hoàng gia sẽ không bao giờ chấp nhận đâu! Anh không thấy rằng mình đang tự hủy hoại binh nghiệp ư? Tôi đang giữ một lá thơ phàn nàn từ chủ của cô ta. Anh không nhận ra rằng cô gái của anh đã phải mắc nợ đến 2,000 Yên vì đến chung sống với anh sao? Hành xử của anh không xứng với một sỹ quan. Thay đổi cách sống của anh đi, hoặc binh nghiệp của anh trong hải quân chấm dứt! Tôi thấy phát bực khi phải nói chuyện này với anh. Cút ra đi! Ðồ con bò!”
Tôi bước ra ngay lập tức. Chán nản và tuyệt vọng, tôi lê từng bước chân nặng nhọc mò mẫm về phòng, vừa đi vừa suy nghĩ cách giải quyết vấn đề này. Cuối cùng, tôi liều mạng viết thơ cho các anh tôi để xin giúp đỡ và xin ý kiến. Ðêm đó, tôi viết thơ cho cả hai anh tôi. Anh cả Shigeru, một nhân viên của công ty đường sắt Nam Mãn Châu và anh kế Sakutaro đang làm việc ở Kobé trong một công ty vận chuyển muối.
Họ hồi âm ngay lập tức, với những lời khuyên răn và khiển trách nặng nề y như hạm trưởng của tôi. Tuy nhiên, họ là những người anh tốt, họ gởi kèm theo vài trăm Yên nhằm giúp tôi chi trả cho cuộc sống bợm nhậu trăng hoa đáng xấu hổ của mình. Cuối thơ họ không quên răn đe tôi nếu không từ bỏ cuộc sống phóng túng này họ sẽ từ tôi.
Việc khó khăn nhất để kết thúc vấn đề này đó là lần gặp gỡ cuối cùng với Utamaru. Tuy nhiên, cô ấy rất bình tĩnh khi nghe tôi giải thích và cuối buổi hẹn nàng nói: “Em chưa bao giờ nghĩ đến thậm chí trong cả giấc mơ của mình là trở thành cô dâu bên cạnh một sỹ quan hải quân như anh cả. Em đã làm theo sự khao khát của mình, và em sẽ tự mình gánh trả những món nợ của em. Những tháng vừa qua bên cạnh anh là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong đời em.”
Tuy xúc động, nàng vẫn gắng giữ để không khóc. “Ðừng lo lắng cho em. Gần đây em có nghe tin tức của dì em từ Hoa Kỳ. Dì đã lập gia đình với một kiều dân Nhựt thành đạt và ngỏ ý muốn đưa em sang sống chung. Em đang có kế hoạch chấp nhận sự bảo lãnh của dì.” Nàng cắn môi, “Anh phải lập gia đình và trở thành một sỹ quan thành đạt. Là nguyện ước của em. Lo cho sự nghiệp và hãy quên em đi.”
Utamaru là một cô gái tốt. Tên thật của nàng là Haruko Takai. Từ đó tôi không còn nghe tin tức gì của nàng nữa. Tôi không biết câu chuyện bà dì có thực hay là nàng nói dối để tôi yên tâm, nhưng tôi hy vọng nàng được sống hạnh phúc ở Hoa Kỳ.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.