This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ngày 26 tháng Tư 1989. Hán Thành, Nam Hàn. Tôi ngồi trong căn phòng đợi u uất, xám xịt dành cho các bị cáo, nghẹn thở chờ đợi bản án. Ngoài hành lang dẫn đến phòng xét xử, đám đông giận dữ chen lấn bên cánh cửa, tôi sợ họ sẽ tràn vào phòng. Tiếng gào thét đáng ghét vang lên, dường như cả tòa nhà cũng rung động trước những lời nguyền rủa. Sát nhân, sát nhân, sát nhân… Tôi chắp hai tay, toàn thân run rẩy. Những lời hò hét ấy dành cho tôi. Không. Người ta hò hét với tôi. Trong khi run lên vì những lời kêu la, tôi lại nghĩ đến các vụ án xét xử những kẻ phản bội ở Tòa án Nhân dân ngay sau khi nước Triều Tiên vừa thoát khỏi ách thống trị của Nhật. Giờ đây tôi mới hiểu bầu không khí hồi ấy cũng kinh hoàng biết nhường nào đối với những kẻ bị xét xử. Mặc dù trong phòng còn có những người khác – một bác sĩ, một nữ y tá và ba điệp viên đặc biệt, hầu như sống cùng tôi trong những năm trở lại đây -, chưa bao giờ tôi cảm thấy cô độc hơn lúc này. Cho dù tôi cảm thấy những con người ấy rất gần gũi với tôi và họ cũng cảm thấy như vậy, điều này không quan trọng; tôi chờ đợi bản án, chứ không phải họ. Trong giây phút đó, tôi vô cùng ghen tị vẻ hồn nhiên của họ, tương lai của họ và một nỗi buồn ghê gớm xé lòng tôi. Để tự an ủi, tôi cố gắng nhắc lại những dòng “Thánh Kinh” mà trước đây cha tuyên úy đã viết cho tôi, nhưng rồi cánh cửa bật mở và bốn cảnh sát bước vào trong bộ quân phục được hồ cứng, đeo phù hiệu lấp lánh, để đưa tôi vào phòng xử án. Họ bao quanh để bảo vệ tôi, như thế, họ cùng tôi chen chúc qua đám đông nhộn nhạo đang phát khùng. Căn phòng lập tức bùng nổ. Khi đó, lần đầu tiên tôi xuất hiện trước công chúng vì những cuộc xét xử không diễn ra công khai, chỉ đến khi tuyên án người ta mới cho quần chúng vào. Mọi người như một bầy ác thú bị bỏ đói, giận dữ, những lời nhục mạ, nguyền rủa trút như mưa lên đầu tôi. Nếu có thể, họ sẵn sàng xé tôi thành nhiều mảnh. – Con nặc nô khốn nạn! – một phụ nữ đứng tuổi ngồi ở những hàng đầu suýt xoa. – Mày đã sát hại đứa con trai độc nhất của tao. Bây giờ ai là người chăm sóc tao đây? Tôi cảm thấy thời gian như dừng lại trong quãng đường đến ghế bị cáo và khi rốt cục được ngồi xuống, tôi đã không thể tự chủ nổi. Tim tôi đập loạn xạ, người tôi run lẩy bẩy như cầy sấy. Tôi bật khóc nức nở và thầm thì nhắc đi nhắc lại một từ duy nhất: mẹ, mẹ ơi! Dù mẹ có hình dung một số phận thế nào đi nữa cho con gái mẹ, chắc hẳn mẹ không nghĩ đến cảnh tượng này. Mẹ đã nuôi dạy tôi với tình cảm trừu mến khôn cùng và sự tận tâm hoàn toàn, và tôi cảm thấy tôi đã phản bội mẹ tôi. Trong khoảng khắc đó, tôi nghĩ đến cảnh mẹ tôi cẩn thận mặc bộ đồng phục nhà trường cho tôi, mẹ đính những ngôi sao chính tay mẹ làm lên áo quần tôi. Giá giờ đây mẹ được thấy tôi, hẳn tim mẹ sẽ ngừng đập. Nhưng có một điều còn tồi tệ hơn thế nữa. Chẳng những tôi đã phản bội mẹ tôi mà tôi còn phản bội tổ quốc tôi. Chính phủ tôi chắc hẳn sẽ coi lời khai báo của tôi cho chính quyền Nam Hàn là một sự phản bội đê tiện nhất. Vì hành vi phản bội ấy, chẳng những tôi bị hắt hủi mà gia đình tôi chắc chắn cũng bị giam giữ trong một trại cải tạo lao động kinh khủng nào đó, và họ sẽ phải chịu đựng ở đó đến cuối đời. Tôi đã phá hỏng chẳng những đời tôi, mà cả đời họ nữa. Bắt đầu những thủ tục hình thức, nhưng tôi không làm sao có thể chú ý đến chúng. Tôi hoàn toàn chắc chắn là người ta sẽ kết án tử hình tôi. Tôi đã làm nổ chuyến bay 858 của Hàng Hàng không Triều Tiên (Korean Air Line), tôi phải chịu trách nhiệm về cái chết của 115 người. Thật đặc biệt, nhưng cho đến khi tôi chưa bước chân vào căn phòng xử án có bầu không khí sôi động, tôi chưa nhận thức được đày đủ rằng tôi đã làm một việc kinh khủng đến mức nào. Mặc dù tôi đã đặt bom trên máy bay, tôi không nhìn tận mắt vụ nổ cũng như tôi không thấy địa điểm xảy ra tai họa và cho đến giờ, bằng một cách nào đó, tôi vẫn cảm thấy tôi chẳng dính dáng gì đến hành động này, như thế nó đã chẳng xảy ra hoặc tôi cũng không phải chịu trách nhiệm thực sự về điều đó. Nhưng khi nhìn thấy thân nhân những nạn nhân của tôi trong phòng xử án, cuối cùng tôi mới bắt đầu cảm nhận sâu sắc tính rùng rợn trong tội trạng của tôi. Tôi không dám liếc nhìn xuống cử tọa. Bởi lẽ tôi đã phá hỏng cuộc đời họ. Tôi không cảm thấy tôi có đủ nghị lực, đủ dũng cảm để làm điều đó. Vài người phụ nữ đứng tuổi đã gây cho tôi nỗi dày vò kinh khủng nhất, những người này vẫn bám vào tia hy vọng rằng thực ra tai họa đã không xảy ra, rằng chính phủ Nam Hàn đang giữ kín các thân nhân của họ ở một nơi nào đó, nhưng họ vẫn sống. Tôi khóc nức nở. Tôi muốn ôm chầm những con người đó, muốn nói cho họ hay tôi hối hận biết nhường nào vì hành động tôi đã làm.
(NCTG) Chừng hai năm trước, khi bắt đầu được nhận nhiệm vụ, người ta bảo rằng tôi phục vụ tổ quốc tôi ở mức độ cao nhất. Tôi đặt niềm tin vô điều kiện vào Kim Nhật Thành, Lãnh tụ Vĩ đại của chúng tôi, vị cứu tinh của Bắc Triều Tiên. Bằng hành động của mình, tôi đã không giúp hai nước Triều Tiên thống nhất như các thủ hạ của Kim đã hứa hẹn. Tôi cũng không trở thành anh hùng dân tộc như người ta hằng cám dỗ. Thực chất, tôi không còn là con người mà là một thứ quái vật vô giá trị, đáng khinh bỉ. Đột nhiên tôi nhận ra mình vẫn nắm trong tay mẩu giấy mà cha tuyên úy đã chép trích đoạn “Thánh Kinh” cho tôi. Tôi không thể đọc được vì mắt nhòa lệ, nhưng tôi nhớ đại khái về nó: Đừng sợ, vì ta ở bên ngươi; Đừng tuyệt vọng, vì ta là Thượng đế của ngươi. Ta khiến ngươi thêm nghị lực và ta giúp đỡ ngươi; Bằng đôi tay, ta nâng ngươi lên. Nhưng những lời lẽ đó cũng không an ủi được tôi. Tôi không thể tin rằng có một vị Thượng đế nào – dù đó là Thượng đế nhân từ nhất – lại có thể tha thứ cho những gì tôi đã làm. Trong những tháng dài bị giam giữ, niềm an ủi duy nhất của tôi là chẳng bao lâu nữa, người ta sẽ cho phép tôi được chết. Một lần, cái chết đã lẩn tránh tôi: đó là khi tôi bị bắt ở sân bay Bahrein cùng Kim Soung Il, đồng đội khủng bố của tôi: theo lệnh, cả hai chúng tôi đều tìm cách tự vẫn bằng ống thuốc đựng chất độc giấu trong điếu thuốc lá. Kim đã thành công, ông chết ngay lập tức, nhưng không hiểu sao tôi thoát chết để rồi phải chịu đựng một mình nỗi đau đớn và ý thức tội lỗi bởi cảnh tượng đau buồn do hành động của tôi gây ra. Đồng thời, vì là người trẻ hơn, tôi cũng cảm thấy tôi phải sống thêm một thời gian và phải chịu đựng, đó là hình phạt xứng đáng đối với tôi. Bỗng nhiên người ta yêu cầu tôi đứng dậy. Tôi hiểu là đã đến lúc bản án được tuyên bố. Vị thẩm phán hỏi tôi có muốn nói gì trước khi tuyên án. Tôi cố gắng lấy hết sức lực và cuối cùng, khó khăn lắm tôi mới lý nhí được những lời cụt lủn như sau: – Giờ đây tôi đã hiểu được mức độ trầm trọng của hành vi tội lỗi do tôi gây ra. Tôi biết ơn rằng tôi đã có dịp nói lên sự thật và nhận biết sự thật. Tôi chỉ còn cảm thấy căm thù Kim Nhật Thành và tôi cũng không coi mình xứng đáng để xin bà con họ hàng các nạn nhân hãy tha thứ cho tôi. Tôi im lặng vì tôi phải lấy hết can đảm để dám cất lời xin ân xá. Bởi lẽ, mặc dù tôi biết tôi đáng nhận cái chết và qua nhiều tháng trời ròng rã, gần như tôi mong mỏi được chết, nhưng đến giờ, khi tôi đã rất gần cái chết, khi cái chết đã có vẻ rất hiện thực, tôi lại kinh hoàng vì nó. Tuy nhiên, tôi vẫn không thể buông ra được một lời van vỉ. Tôi câm lặng vì tôi hiểu rõ sống sót còn tồi tệ hơn chết và cầu khẩn xin khoan hồng là một điều thảm hại và nhục nhã. Vậy mà, tận sâu thẳm tiềm thức tôi vẫn có một cái gì đó lên tiếng, thúc đẩy tôi nói. Đột ngột tôi có một cảm giác đặc biệt, rằng tôi còn phải làm một việc gì đó, tôi phải sám hối một cách nào đó. Tôi phải sống sót vì tôi còn… Nhưng vị thẩm phán đã tiếp tục đọc liến thoắng bản án vì ông coi sự im lặng của tôi là dứt khoát và đột nhiên, tôi chỉ còn nghe thấy: – Sau khi nhận được lệnh phải đặt bom làm nổ nổ chuyến bay 858 của Hãng Hàng không Triều Tiên do chính Kim Chính Nhật – con trai Kim Nhật Thành – đưa ra, và bị cáo đã thực hiện chỉ thị đó… Để biểu lộ mong muốn chặn đứng tất cả mọi người trước những hành vi tương tự, tòa án quyết định hình phạt nặng nề nhất. Và bây giờ, tôi tuyên án tử hình. Đám đông òa lên ầm ĩ. Mặc dù đã tính đến bản án này, đột nhiên tôi thấy chóng mặt và đau nhói ở vùng dạ dày. Máu đông lại trong huyết quản tôi, tôi đờ người trong một khoảng khắc, nước mắt giàn dụa. Vĩnh biệt cha mẹ, vĩnh biệt các em Hyun Ok và Hyun So, con không bao giờ còn nữa với cha mẹ, với các em. Tôi được đưa khỏi phòng xét xử. May mà tôi đã bị chấn động đến mức những lời sỉ nhục và nguyền rủa rơi lả tả khỏi người tôi. Trên chiếc xe buýt nhà tù, một ước vọng mãnh liệt – được gặp lại gia đình một lần cuối – tràn ngập lòng tôi, dù tôi biết đó chỉ là một mộng tưởng hão huyền. Tôi nghĩ đến đứa em trai tinh nghịch và cô em gái tuyệt vời của tôi, và tôi cầu nguyện các em ít nhất cũng giữ mình hơn tôi, chúng đừng phải chịu một số phận như tôi. Và tôi lại nghĩ đến việc chính phủ Bắc Triều Tiên sẽ đối xử tàn ác như thế nào với họ. Độc lập với chuyện gia đình tôi hoàn toàn không biết gì về nhiệm vụ của tôi (thậm chí họ còn chẳng biết tôi đã trở thành một nữ gián điệp), họ cũng sẽ phải trả một cái giá khủng khiếp vì lời khai báo của tôi, vì tôi đã phản bội tổ quốc. Tôi đau khổ. Tôi chỉ có thể làm một việc. Tôi đếm. Tôi tính từng ngày cho đến khi bị tử hình.
Nước sông Seine giờ này đã rút xuống Nhường các ngả đường dâng ngập bàn chân Ở Marseille ở Bordeaux ở Nice ở Lyon Dân tứ xứ hò reo cùng cờ quạt Euro 2016 làm Pháp chộn rộn hơn bao giờ Nạn khủng bố chẳng có gì đáng sợ Bóng lăn trên sân là tín ngưỡng hơn cả đam mê
Tiền euro cao giá luôn hơn đồng gia kim Cầm một trăm bạc chẵn đổi về được bảy mươi Vác bảy chục đi cá độ bắt Anh thắng Nga 2-1 thì được 630 euro nhét túi quần Chín mươi phút phù du trôi với màn hình cà giựt sóng yếu tải về làm rớt mạng cuộc chơi Xôi hỏng bỏng không ở trò may rủi ưa le lói cuộc đời cũng lắm gian nan.
Người đàn bà ở quận 13 an ủi có sao đâu qua đây tui bao ăn ở vé trận tứ kết đã mua sẵn rồi trong khi chờ đợi tui sẽ thăm giò cẳng ông Họ đá giày mà mình chân đất sân nhà tui chẳng có bóng hậu vệ lẫn trọng tài giường chiếu phẳng phiu e hơn bãi cỏ mượt vòng cấm địa tui xoá sạch những vạch vôi và thiên vị cho ông hưởng quả phạt đền.
Sức lực nhà ngươi đâu tá hổ thẹn hơn cả gối lỏng chân chùn. Cá độ thua giờ thử bày trò chơi khác kệ đi mà ông chỉ mua cái vé a-lê rờ tua montréal-paris có một ngàn hai năm chục chơ mấy một năm mới có được cái rằm lộn xộn thì tui sẽ đổi ý.
Cẩn tắc vô ưu đi tham vấn bác sĩ Ưa làm cầu thủ à, bộ muốn chết sao? Péle dạo đó đau lưng có chút xíu cũng phải ngồi ghế dự bị vua làm bàn gạt lệ dòm quả bóng nằm ngoài khung thành.
Tui ưa lội nước sông Seine mà đã hết lụt nhờ trời thôi đợi một bữa đẹp trời cổ động viên người ta đánh nhau đến bể đầu máu phun có vòi ngẫm cũng mất sướng.
Ông cà rịch cà tang mới chả sướng người ta đã bôi trơn bỏ ngõ khung thành mà chẳng chịu sút tui bán độ tới cỡ đấy còn đòi chi hơn đồ già chát ôn hoàn dịch vật gì đâu á tôm cua cá nai gà đã dâng tận miệng mà bày đặc chê bai bày đặc tình tứ “Paris có gì lạ không em” những “ga Lyon đèn vàng các thứ”…
Ông bà nói thậm chí lý “cái khó bó cái khôn” bạn bè nhắc cực đau lòng “mày chỉ xào khô thôi chứ đâu còn nước nôi gì mà tơ tưởng”. huống chi giờ này tui vác mạng đi qua cửa an ninh phi trường máy dò sẽ ré lên vì phát hiện ra con vít bắt trong xương gần tiếp cận quả bóng da Cha mẹ sanh con trời sinh tính Nết tui như vậy hèn gì bạn nữ không có ai! Đẹp xấu tuỳ người đối diện là câu tầm bậy quan trọng là anh đủ sức ra sân vờn bóng như nhân vật “Bồn Lừa” của nhà văn Duyên Anh. Em ơi, thằng Đức đã giết Ukraine hai bàn rồi đó Không một giận hờn, chẳng có tiếng rên la kiện tụng Fair play.
Nguyễn thị Thanh Bình nhận định & thực hiện với Trần Doãn Nho, Đặng Phùng Quân và Hồ Đình Nghiêm
Sau hơn 20 năm dòng sông Bến Hải ngăn cách chia đôi, và người Việt chúng ta trải qua cuộc nội chiến bắn giết nhau huynh đệ tương tàn, bây giờ nhìn lại ngày 30/4/1975, anh còn nhớ tâm cảm và hình ảnh đậm đặc nào in sâu trong lòng mình nhất? Khi ở Miền Nam lúc ấy, thành phố bấn động xé nát bởi những tiếng gầm rú của chiến xa, khói súng. Với Bắc Việt vẫn được tiếng là đội quân hiếu chiến, giỏi thói xiềng chân cố thủ, và quân đội rầm rầm hung hãn xe tăng thiết giáp, súng ống đâm sập cổng Dinh Độc Lập, nơi có vị Tổng Thống 48 giờ Dương Văn Minh và nội các đã chờ sẵn để “bàn giao lịch sử”, vì cố tránh cho Sài Gòn những cuộc đổ máu không cần thiết. Trong trường hợp xem ra hàng phục thay vì “trung lập” này, kẻ chiến thắng tha hồ hống hách nhìn kẻ chiến bại như chẳng có gì, còn gì để nói chuyện “bàn giao”, ngoài thái độ hả hê mở khóa 16 tấn vàng quốc gia để rồi mang đi cống nộp cho quốc tế C.S. Liên Xô lúc bấy giờ. Cũng từ phút giây ấy, Cộng quân “triệt hạ”, vứt bỏ trước tiên lá Cờ Vàng VNCH, vinh danh và dựng ngay lá Cờ Đỏ Phúc Kiến trên toàn bộ nóc nhà ủ dột của dân tộc VN. Và như thế, liệu khi dùng bạo lực vũ trang xâm chiếm Miền Nam với mục đích “đi cứu nước”, “giải phóng Nam Miền Nam”, và “thống nhất đất nước”, vào thời điểm ấy liệu lính Bắc Việt có thấy một và chỉ một người lính Mỹ nào còn lai vãng? Và sau 41 năm “Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào” và “Ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…” như Lê Duẩn thú nhận, anh thấy được bài học lịch sử gì ở đây và bản chất của công cuộc “giải phóng” này ra sao?
Mới đây ở ngoài nước, những người Việt tỵ nạn đã có thêm một cụm từ “Ngày Hành Trình Tìm Tự Do” để gọi Ngày 30 tháng 4, mặc dù có thể ba chữ “Ngày Quốc Hận” đã là một cách dùng, cách gọi quen thuộc. Theo nhà văn Trần Vũ thì đây là “Ngày Chiến Thắng của Cái Ác”, và như thế cũng không khác gì với tên gọi của Luật Sư đang bị cầm tù Nguyễn Văn Đài là “Ngày của Cái Ác đã Chiến Thắng”. Điều này làm chúng ta liên tưởng đến cụm từ vẫn không còn xa lạ gì với dân gian: “Ác với dân”, và 3 chữ “hèn với giặc” đi đầu, kể từ Ngày được gọi là Đại Thắng Mùa Xuân, Giải Phóng Miền Nam, Thống Nhất Đất Nước Về Một Mối, Nam Bắc Sum Họp Một Nhà… Do đó, tên gọi có khi không quan trọng vì ai cũng đã thấy rõ sự giả dối, giả tạo, đánh tráo khái niệm của từng tên gọi, và không ai trong chúng ta là không tự hỏi cuộc chiến đã thực sự tàn chưa, hay những người con dân Việt vẫn phải đối đầu từng ngày cho những cuộc chiến khác? Và thay vì phải loay hoay tranh cãi cho một tên gọi không thực tế, anh định sẽ làm gì trong ngày 30/4, như khui sâm banh cụng ly ăn mừng, khi lòng mở hội vì VN ta còn đánh thắng cả siêu cường Mỹ (thì nhằm nhò gì anh hàng xóm xấu bụng to lớn, sao lại dở trò lấn lướt được?) hoặc nên làm gì như mặc áo đen hay áo trắng đổ xô ra đường, và đi lặng lẽ như một ngày để tang chung cho những anh linh tử sĩ, chiến sĩ, đồng bào vô tội đã đền nợ nước của cả hai bên?
Lẽ nào anh chỉ thừ người ra, vọng tưởng đôi chút và không làm gì cả như một ngày nghỉ lễ, hoặc may lắm là viết vội những cảm xúc… thơ tháng 4? Hay với những người con lưu lạc tỵ nạn xứ người, có gắn kết với biến cố, sự kiện lịch sử này, liệu 41 năm sau có còn thấy mình muốn sờ lại hoặc xoa dịu vết thương cũ, để biết rằng chỉ có mình là nên tự trách mình: “Tôi Làm Tôi Mất Nước” như một tựa sách của Lê văn Phúc chăng. Và bây giờ với mốc điểm vẫn còn lắm tang thương của 30/4, anh nghĩ sao khi Đảng CSVN vẫn tiếp tục ăn mừng kỷ niệm chiến thắng, với những tổ chức rình rang như diễu binh, diễn hành, trưng bày triển lãm di sản chiến tranh, cờ quạt văn nghệ đàn đúm mời gọi đông đảo, cốt giương oai thành quả cách mạng, trong khi biết bao nỗi đau ngút ngàn khác vẫn chưa có cơ may hàn gắn được? Liệu có cách chi để lòng người bớt ly tán, khi nhà cầm quyền này hoàn toàn không thực tâm muốn hòa giải với trước hết là những người trong nước với nhau và giữa những mặc cảm của người Miền Nam cũ thua trận đang có những phân biệt đối xử?
Nhiều người cho rằng nhà nước của XHCN này là nhà nước của riêng 4 triệu đảng viên với “còn đảng còn mình” và cho gia đình họ, nên không thể và không phải là nhà nước của 90 triệu dân được quyền chọn lựa. Anh có nghĩ đây là lý do chính đáng khiến đa số những người VN nếu có cơ hội sẽ nhấc bổng đôi chân mình lên để tự bỏ-phiếu-chân cho những thăm dò không thể sống chung được với CS. Bấy lâu nay người ta vẫn thấy “nếu cột đèn biết đi cũng sẽ đi”, nhưng tại sao với cả những du học sinh tràn đầy chất xám cho nước nhà cũng “một đi không trở lại” hoặc chỉ 1, 2 người trong số 13, 14 người buộc trở về nước mà thôi? Nhất là cho đến thời điểm này, những người VN vẫn còn muốn tìm đường bỏ nước ra đi. Đó là chưa kể tình trạng rẻ rúng của những phụ nữ Việt Nam phải bán mình nô lệ tình dục khắp bốn phương, và thanh niên tìm cách đi lao động xứ người để kiếm sống, cùng dành dụm nuôi gia đình. Vậy thử hỏi với 2/3 dân số Việt Nam bây giờ là tuổi trẻ, là những người không hề có quá khứ, ký ức chiến tranh hận thù, nhưng sao họ vẫn không thể gầy dựng nổi một tinh thần yêu nước như người Nhật để mang đất nước đi lên, hoặc phải biết noi gương cha ông mình. Hay lý do không còn ai buồn dạy dỗ, giáo dục, hâm nóng trong họ những bài học công dân lịch sử đáng nhớ, để còn thấy hãnh diện mình là người Việt Nam bất khuất chăng.
Nói với họ điều gì đây trong dịp 30/4 này, khi ngoài kia Biển Đông đang dậy sóng từng ngày và nơi đây nước Việt đang có cuộc “xâm thực” cá chết và biển chết ở Miền Trung, mà thực sự không ai dám đứng lên hỏi cho ra lẽ một nhà nước chỉ biết hãnh tiến với ngoại quốc rằng: “VN chúng tôi tự hào đã đánh thắng tới ba đế quốc sừng sỏ”, khi chính Thủ Tướng Thái Lan đã phải buộc miệng với cố Thủ Tướng VN là Võ Văn Kiệt lúc ấy: “Chúng tôi tự hào đã không phải đánh nhau với đế quốc nào cả”. Lúc ấy là năm 1991, còn lúc này là năm 2016, thử hỏi tuổi trẻ và trí thức VN phải làm gì, để hòng đẩy lùi “Ngày 30/4 Oan Khiên” không còn trở về tra vấn những con người cùng một dòng máu Việt Nam?
Trả lời tổng quát của nhà văn Trần Doãn Nho
Trước hết, xin được cám ơn phỏng vấn viên, nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình. Bản thân những câu hỏi của cô không chỉ là những tra vấn mà là một nỗi dằn xé, ray rứt. Đọc những câu hỏi mà như đọc nỗi trăn trở của chính mình. Hơn thế nữa, mỗi câu hỏi vừa là nỗi trăn trở lại vừa chứa đựng câu trả lời.
Mà cũng không chỉ đến ngày 30 tháng 4 mới trăn trở. Với tôi, đó là một trăn trở hàng ngày. Chúng ta sống trong thân phận của những người thua cuộc 30 tháng Tư, đâu có khi nào nguôi ngoai. Ra đi, chúng ta sống một lần hai thế giới: một người Mỹ/Úc/Pháp/Canada… trong tâm thức một người Việt. Một hình thức nhị trùng nhân cách! Vừa hưởng thụ lại vừa đau đớn vì những gì đang có. Một đổi chát nghiệt ngã! Những tranh cãi về tên gọi ngày 30 tháng Tư, thực tế, chỉ là phản ảnh những trăn trở không nguôi của người lưu vong. Nó trở thành một nỗi đau hàng ngày. Tranh cãi chữ nghĩa làm chúng ta đau thêm, nhưng biết làm sao được. Chấp nhận tự do có nghĩa là chấp nhận cả những gì tích cực lẫn những gì tiêu cực. Cứ xem những tranh cãi của các ứng cử viên tổng thống Mỹ hiện nay, ta sẽ thấy đâu chỉ có cộng đồng người Việt là “nhiều chuyện”. Một nước Mỹ hùng cường là thế, văn minh là thế, tiến bộ là thế, dân chủ là thế mà cũng đầy dẫy những vấn nạn, nói gì đến Việt Nam, nhất là Việt Nam của những người mang vết thương 30 tháng Tư!
Dẫu vậy, với tôi, hải ngoại lại chứa đựng mầm mống của tương lai. Hải ngoại là một Việt Nam khác. Một VNCH nối dài, nói như Tạ Chí Đại Trường. Hải ngoại có một nền văn học. Hải ngoại có những tổ chức cộng đồng. Hải ngoại có báo chí, có truyền thông. Hải ngoại bảo tồn truyền thống. Hải ngoại chuyển sức sống của mình vào trong nước. Tuy phân tán và tranh cãi lẫn nhau, nhưng hải ngoại là một thực thể, một thế lực và là là một đối trọng đối với nhà cầm quyền Cộng Sản. Hơn thế nữa, một chỗ dựa vững chắc cho phong trào dân chủ trong nước. Tiếng nói của hải ngoại vẫn có một ảnh hưởng đáng kể vào trong nước. Nhiều người trong nước, khi bị đàn áp, vẫn tìm thấy một chỗ dựa ở hải ngoại. Có thể nói, hải ngoại là một hậu phương lớn, chứa đựng một không gian tích cực để gieo mầm mống của tương lai. Tôi cảm thấy tự hào với cái hải ngoại của mình. Và trong khả năng nhỏ bé của mình, tôi đã và đang đóng góp một chút công sức của mình vào đó. Bằng văn học.
Vả lại, đâu phải chỉ chúng ta mới đau nỗi đau 30 tháng Tư. Nỗi đau này hiện đang giằng xé cả những người đã từng nằm trong phe chiến thắng. Hãy vào trang Bâu Xít hay những blog của những bloggers hiện đang sống trong nước mà xem. Xu thế đòi dân chủ càng ngày càng lan rộng, từ những người tuổi đảng (CS) đầy mình cho đến giới trẻ lớn lên sau ngày 30 tháng Tư. Những giá trị VNCH âm thầm trở lại trong nhiều sinh hoạt xã hội. Và đôi khi, thâm nhập ngay trong guồng máy nhà nước.
41 năm dằng dặc! Đời thì quá ngắn. Lịch sử lại quá dài và vô tình. Nhưng tôi tin rằng lịch sử luôn luôn chuyển động, hướng về cái văn minh, cái tiến bộ. Hãy góp phần mình trong chuyển động đó của lịch sử. Với những gì mình đang có.
Và đây là những vần thơ tháng 4:
Chiều 29 tháng 4 trên đường Công Lý
thành phố thất thần bóng tối đến sớm mây thấp và cửa đóng, đường run năm giờ chiều, chiếc đồng hồ bứt rứt tôi đi trong bóng của mình
dinh Ðộc Lập úa như phế tích âm thầm góc đường Hồng Thập Tự – Công Lý toán lính nhảy dù ngồi ăn cơm lá rơi trên tấm poncho lá rơi trên ga-men lá rơi thảng thốt chiếc áo trận nhòe ngậm ngùi lịch sử
lá rơi, rơi mải miết như đùa như trò chơi như mơ như thực cuộc phế hưng bủn rủn phận người.
lính nhảy dù, người ngồi kẻ đứng súng nghiêng nhắm vào thành phố vô hồn những góc đường bối rối dấu chân chìm
đêm xuống nhanh cho một ngày mai khác
ngày mai mặt trời vẫn sẽ lên thành phố khép chặt lạnh và quên.
Trả lời của GS nhà văn Đặng Phùng Quân
1/ Với tư cách là một nhà nghiên cứu chiến đấu (tôi dùng từ ngữ của người Pháp: militant), trong Phê phán hệ tư tưởng Mác-xít (khởi sự viết đã lâu trong dự án luận về cơ sở tư tưởng thời quá độ, song khi khai triển vấn đề, đã vượt khuôn khổ để trở thành một quyển sách) ở chương 9, khi phê phán thực tiễn chủ nghĩa Mác, trước sự sụp đổ của khối Liên xô và Đông Âu và ý thức hệ cộng sản, hiện tại chỉ còn một số nước như Trung Cộng, Việt nam, Miên, Lào, Cuba vẫn duy trì độc đảng CS, tôi gọi là những nước trầm tích hậu cộng sản.
Đặc điểm của những nước trầm tích này là khoác bộ mặt chủ nghĩa xã hội nhà nước, song thực tế là một chủ nghĩa nhà nước chuyên chính với một giai cấp bóc lột mới từ một đảng gồm những người có đặc lợi, đặc quyền nắm giữ độc quyền cai trị.
2/ Vào thời điểm tôi nhận được Bản luân lưu lên tiếng kháng cáo Trung Cộng âm mưu chiếm đoạt hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa, kêu gọi “chính quyền Việt Nam” phải có “động thái”, tôi không ký vì một lý do đơn giản, tôi không nhìn nhận “nhà cầm quyền Hà Nội”.
Chế độ Cộng sản (hình thức mới của chế độ quân chủ phong kiến) khởi sự một “triều đại” với những con người đảm lược, “nằm gai nếm mật”, “tôi luyện trong lò đào tạo quốc tế” để tiến tới thành công, thắng lợi trong việc nắm được quyền bính, xây dựng thành một khối thống nhất, là đỉnh cao nhất của quyền lực, (song như những Milovan Djilas, Svetozar Stojanovic lớn lên và kinh qua trải nghiệm thực tế trong thế giới cộng sản đó, đã nhận xét) khối quyền lực đó đã sản sinh ra một hệ thống giai cấp bóc lột mới, bắt nguồn từ một độc đảng gồm những người có đặc lợi, đặc quyền vì nắm giữ độc quyền cai trị xã hội, người ta không thừa kế điều gì ngoài việc len lỏi leo lên địa vị cao trên bậc thang quyền lực, đòi hỏi trung thành với đảng, tức là với giai cấp mới này.
Những đặc điểm của giai cấp mới này là độc quyền cai trị, củng cố bằng những tín điều thư lại; về mặt lý luận thì chế độ đó mở ra với mọi người, song thực chất nó tập trung quyền trong tay thiểu số lãnh đạo, nó lại gia tăng đặc quyền đặc lợi cho những kẻ gia nhập tổ chức này.
Những nước cộng sản hiện hữu là những tàn tích của thử nghiệm một mô hình xã hội, trả một giá xương máu cho nhân loại. Hai đặc điểm cơ bản của những nước mệnh danh xã hội chủ nghĩa này là một guồng máy khủng bố có sách lược và một hệ thống xã hội băng hoại.
“Nhà cầm quyền Hà Nội hiện tại” tiêu biểu cho bộ mặt của chế độ quân chủ phong kiến thời đại trong quá trình theo quy luật lịch sử là đang ở giai đoạn suy thoái, tất yếu sụp đổ từ trong nội tạng của nó.
3/ Điều kiện ắt có và đủ để chế độ cộng sản tại Việt nam sụp đổ là: toàn dân chán ghét đến độ bất chấp bạo quyền với guồng máy công an cảnh bị đàn áp, trường kỳ nổi dậy chống áp bức; thế hệ 70s, 80s, và 90s thoát bỏ ý thức hệ cộng sản, đi tìm lý tưởng cho mai hậu và đối kháng đám Khuyển Ưng của Hán bang quỉ quyệt; những tranh giành quyền lực trong Đảng gay gắt dẫn tới phân hoá TW tan rã.
Lý ưng, một đất nước xã hội băng hoại như thế không thể tồn tại: một là cao trào dân chủ tất thắng, hai là nó sẽ chuyển hoá thành một nước “chủ nghĩa quân phiệt” hầu như phổ biến trên chính trường vùng Trung Đông và Đông Nam Á, bởi vì cơ bản của nền chính trị này là chế độ cực quyền, độc tài và tham nhũng; danh xưng “đảng CS tiên tiến vô sản”, “chủ nghĩa xã hội” chỉ là hư từ chính trị, ba là đất nước sẽ là một phiên bang của khối Trung hoa Đại đạo trước ngưỡng cửa Thế chiến Ba bùng nổ ?
4/ Thử minh họa một cách cụ thể đất nước Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ qua như sau:
4.1 bọn thống trị là ai ? bộ Chính trị & TW đảng CS : vật tạo sinh quái đản của tập đoàn mệnh danh là đảng cộng sản, phản lại quan niệm của Karl Marx, Chúa Trời của đảng CS/tôn giáo mới thời đại này, bởi quan niệm của Marx rõ rệt là:
– không tách rời vai trò của người cộng sản như một nhóm cách mạng chuyên nghiệp nhân danh giai cấp công nhân để tranh đấu;
– không quan niệm Đảng là một bộ phận ở bên trên lãnh đạo quần chúng
vậy bọn chúng là gì? phản giáo, cơ hội chủ nghĩa, phá hủy thánh tượng Karl-Marx, lãnh chúa phong kiến mới tọa ngự trong những lâu đài hiện đại, biệt lập với quần chúng dân đen (cứ nhìn cánh tượng môi sinh Hà Nội [khu biệt thự sang trọng đối diện với khu dân cư nhà lá] ngày nay phản ảnh sự thực đó)
4.2 Nhân dân là ai? Quần chúng dân đen chịu mọi cảnh ngộ : chính quyền cướp đất của dân, nhà nước dâng đất, biển đảo cho Tàu Cộng, chia rẽ cư dân Nam Bắc, phụ nữ bán mình, làm nô lệ, đồ chơi cho ngoại nhân khắp phương, trai tráng làm công, nô lệ lao động ở xứ người, v.v…
Ngày trước, nhà cách mạng lão thành Phan Bội Châu từng cảnh tỉnh toàn dân:
Năm mươi triệu há ngồi chịu chết? Cũng có phen kịch liệt một lần
Huống chi 90 triệu dân đen ngày nay, há ngồi chịu chết trước bạo quyền khuyển ưng/đày tớ cho hết Liên xô tới Tàu cộng?
Nhà văn Hồ Đình Nghiêm trả lời
Những câu bạn hỏi, tự thân đã là một cuốn “Bên Thua Cuộc” thu nhỏ. Mình đang ở vào ngày 29 tháng 4 năm 2016, bị mấy câu hỏi ấy “tấn công”, thiệt là nước đến chân mới nhảy, e khó việc di tản. Bốn mươi mốt năm rồi hở bạn? Sao lòng bạn vẫn còn chật những niềm đau cũ? Tháo bông băng ra, vết sẹo chưa lành miệng trên da.
Ngần ấy thời gian “bên thắng cuộc” vẫn đi “loanh quanh cho đời mỏi mệt” để phải chịu đón đầu những phản ứng từ lòng dân. Những cuộc biểu tình vẫn xuống đường và vẫn bị cường quyền dẹp tan chẳng từ nan nhìn ngó cảnh máu đổ thịt rơi. Vũ Như Cẩn. Mọi ngả đường đều mang tên thằng lạc hậu kia. Chốn ấy có những thứ đáng phàn nàn: Chuyện lớn thì cố sức, bằng mọi giá phải thu bé lại, nhỏ xíu như cái móng tay trong lúc cái bánh chưng, tô hủ tiếu hoặc một tượng đài vô bổ thì đổ công sức nhân lực vào làm sao ngó cho thật hoành tráng. Họ không phủ nhận mình thiếu thốn tiền của nhưng họ sẵn lòng phí phạm chuyện bắn pháo bông thay vì mang tiền phân phát cho bọn cùng khổ.
Chỗ mình định cư, các nghị sĩ đã thông qua, đã đồng thuận tên gọi là Ngày Hành Trình Tìm Tự Do, vì hãy nhớ cho rằng tháng Tư là tháng đánh dấu niềm đau của cộng đồng di dân người Việt. Đất nước Canada này cũng nuôi dưỡng 4 chàng ca nhạc sĩ. Họ lập ra ban nhạc Pop Rock mang tên VIET CONG và không lâu sau đã phải phân trần: Chúng tôi chỉ là một nhóm nghệ sĩ chả hề bận tâm tới chính trị, nhưng sai lầm của chúng tôi mang, ấy là vô tình khơi lại nỗi đau của người Việt và vì thế chúng tôi xin được ngỏ lời xin lỗi. Chúng tôi sẽ đổi tên ban nhạc sau “sự cố” này.
Tương tự, ở bên Úc, một quán ăn mang tên Uncle Ho cũng bị phản đối và họ đã thay da đổi thịt những 3 lần. Chuyện ấy làm sao xẩy ra được ở Việt Nam, ở cái nơi mà Công Lý, Tự Do cũng như vạn con đường khác đều bị thay tên? Làm mới trong u mê ám chướng.
Những câu hỏi bạn đặt ra tự thân đã là một bản cáo trạng, một thứ vén áo cho người khác xem lưng. Săm soi tấm lưng trần kia rồi thì biết nói sao cho vừa đủ cái vấn nạn phô bày xấu hổ kia. 41 năm, mình nghĩ trong chằng đường dài ấy, những người viết văn làm thơ hải ngoại hẳn đã từng trả lời phần nào, đã moi ruột moi gan ra cho chúng ta thấy nỗi đau “khủng” khiếp kia trong những sáng tác của họ. Hơn cả “chiều chiều ra đứng ngõ sau, trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”.
Hằng năm cứ vào tháng Tư cá ngoài biển chết nhiều và trên không có những đám mây quờ quạng. Thuỷ triều đỏ đã tràn bờ sạt lở đất đai. Thần linh đã vắng mặt. A di đà hoặc lạy Chúa chỉ là cơn gió nhẹ chẳng đủ làm mát da hằn bao vết sẹo.
Nguyễn thị Thanh Bình nhận định & thực hiện với Trần Doãn Nho, Đặng Phùng Quân và Hồ Đình Nghiêm Nguồn: Bài do nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình gửi
Ngày 18, tôi bỏ Huế, đi mạng không. Tới 26 tháng 3, ở Sài Gòn nghe tin Huế chết. Ngồi cà phê quán cóc trước Thư viện Quốc gia tự dưng nước mắt giọt ngắn giọt dài giữa trưa đứng gió. Ba hôm sau, Đà Nẵng mất. Ngày ám tối ấy được Luân Hoán khắc ghi trong 4 câu thơ:
“hăm chín tháng ba bảy lăm chia tay nhau tại Ngã Năm dặn rằng: thằng nào sống phải nhớ ăn thêm tô mì Quảng cho thằng chết đi”.
Bạn tôi ai còn ai mất? Tôi không biết, tôi chạy xe về bên hông chợ Tân Định, ăn, và, lùa vô miệng đắng tô bún bò lưu lạc, nhai trái ớt hiểm rau ráu mà nước mắt thôi còn để chảy ra. Chỉ toát mồ hôi, ướt nghe ngói một chữ buồn. Buồn vô hậu. Một tháng sau, màu đỏ liền lạc suốt non sông.
Lại thất tán, lại đổ vỡ, lại thiếu hụt, lại tù tội, lại kẻ ở người đi. Sau bốn năm đầy tai ương, tôi chịu cúi đầu vĩnh viễn xa đất mẹ chưa phút giây nguôi hận thù. Lần này không nhớ tháng ngày, chỉ biết đêm không trăng sao, gió lạnh và sóng lớn. Thuyền nhỏ trôi hơn hai tuần thì đến được Hồng Kông, Hớn Cỏn, Hương Cảng, Cảng Thơm. Và một trang đời chính thức được lật qua. “Em về điểm phấn tô son lại, ngạo với nhân gian một nụ cười”. Cười thì quả có cười thật, nhưng ngạo thì… dạ mô có. Em cũng biết thân biết phận chớ bộ, tại bây chừ lý lịch em mang: Vô tổ quốc.
Xa xứ, do đẩy đưa duyên phận, tôi quen được lắm anh chị đồng hương hoặc đôi người có cảm tình với Huế. Mới đây thì biết thêm anh Đỗ Xuân Tê viết văn, anh Trần Huy Sao làm thơ. Bàn viết lữ thứ (chữ của Mai Thảo) cả hai vị đều ở tận tiểu bang California, khác đất nước và địa lý thì xa muôn trùng nên chẳng thể sớm chiều hẹn hò tay bắt mặt mừng (bán trời có văn tự).
Anh Đỗ Xuân Tê chỉ là khách phương xa lỡ nặng lòng với đất Thuận Hoá. Để minh định anh trích dẫn thơ của Trần Kiêu Bạc trên bài tản mạn “10 năm biết Huế”:
“Mai mốt về ôm lòng đất Huế, Mượn Huế ai làm Huế của tôi”.
Không che dấu cảm tình dành cho vùng gần sát địa đầu giới tuyến kia, anh ghi ra những cột mốc khi ghé ngang, dừng chân như thứ duyên nợ “chiều chiều trước bến Vân Lâu, ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm..”: Đầu tiên là mùa Thu 1965, kế đến là Mậu thân 68, mùa Hè 71, mùa Hè 73… và cuối cùng vào năm 1988, trên chuyến tàu Bắc Nam chở khách tang thương, ghé nhà ga Huế vào nửa đêm, ăn được tô bún bò ân tình khi O bán bún nhìn và hiểu ra thân phận của khách để từ chối việc nhận tiền. Nhà văn Đỗ Xuân Tê tả cảnh Huế chìm trôi trong sương khuya, buồn lặng. Và anh chấm câu: Rồi thì xa Huế vĩnh viễn. Một sĩ quan vì công vụ phải đến Huế làm việc ngắn ngày trong nhiều thời điểm, 23 năm sau người sĩ quan ấy mang thân tù tội vừa được trở về quê cũ, ghé ngang Huế xưa, sương giăng hấp hối tiễn biệt.
Nói tới Huế, vua Tự Đức từng xuất khẩu thành thi: “Tứ thời giai hữu hạ, nhất vũ tiện thành đông”. Hè suốt bốn mùa, mưa một trộ biến thành mùa đông. Nghĩ về Huế, hầu như chữ dùng ai nấy cũng đều váng vất chút buồn. Như ruốc buộc phải nêm vô nồi bún bò giò heo (màu không trong như tô phở). Nói rứa thì e mang tội là vơ đũa cả nắm. Anh Trần Huy Sao, dân cố đô thứ thiệt, hình như biệt lệ. Thơ anh tách biệt với thứ không khí rất “căng” của Trần Vàng Sao:
“Bây giờ tôi đủ tuổi tôi Nam mô di Phật một đời như không Ra đường tôi đứng trời trồng Ốm o xo bại tưởng chừng đứa điên”. …..
“mả cha cuộc đời quá vô hậu cơm không có mà ăn ngó lui ngó tới không biết thù ai những thằng có thịt ăn thì chẳng bao giờ ỉa vất”.
Thơ Trần Huy Sao dung dị, bình thường, nặng tính tâm sự, nhưng vì “đời thường” như rứa mà chữ nọ biết đi thẳng vô rọt, vô gan, nghe thương dễ sợ:
“sáng hôm ni thiệt là sáng giựt mình thấy hình o mô ở trên phây-bút o mô ri hè ngó quen quá sức ngó một thôi một đỗi, té o Mười!”
“hồi về xóm nhỏ giú cái mặt không thôi ai ngó cũng thất kinh… … mụ nội cha bây đời thương hải để người tau yêu khóc quá trời”.
Cũng hậm hực, cũng bất bình nhưng dễ lòi ra tâm địa của người miệng hùm mà gan sứa. Giận lẫy ba lơn rứa thôi chứ lòng này lành như hòn đất. Thơ anh Trần Huy Sao có nhiều chữ duyên dáng vì đặt nó đúng chỗ. Không phải ai cũng có được chữ “khoèo” như anh:
“Huế mình lên núi qua đèo Vượt truông trấn ải cũng khoèo ớt theo”.
Những khung cảnh của Ban Mê Thuột, Đà Lạt với nhiều kỷ niệm qua thơ của Trần Huy Sao trở thành một dương bản êm đềm chứa nhiều thi vị dễ mềm lòng khi ngắm lại. Ngoài tài nghệ là phó nhòm chụp bắt cảnh trí những địa danh, Trần Huy Sao còn là một đầu bếp giàu kinh nghiệm. Tô cơm hến, tô mì Quảng, bánh khoái, bún bò qua chữ viết “đắc địa” đã trở thành món “đặc sản’ của riêng thương hiệu Trần Huy Sao. Đọc thơ mà thấy thơm ngon, tài nghệ ấy xưa nay hiếm. Trong một đoản văn, Trần Huy Sao viết như thế này, có phải “chết người” không?: “..Với nồi cá kho rim là rim tới đúng độ ngả màu là thè thẹ lửa riu riu cho lai rai vô tới Huế”.
Duyên dáng quá! Thè thẹ. Huế mới gớm! Người xứ khác chưa chắc hiểu ra. Một đôi chỗ, anh dùng chữ “ngạ”. Nói không ngạ tương đương với “làm sao nói cho hết đây”. Hoặc “nói răng được”? Nhiều thức lắm, ăn không ngạ! Huế đã đành, mà phải Huế xưa mới thấu hiểu. Chụp ảnh rồi, nấu nướng cũng xong, thì giờ còn lại anh cặm cụi dệt vần thương yêu cho gia đình. Ba đảm đang hơn cả những gì người ta mong đợi. Con gái mới sinh cháu, ông Ngoại mừng vui bằng bài thơ ca ngợi hạnh phúc khi về già. Con trai đi xa, làm cha viết xuống tâm cảm đắng lòng. Cô Út lấy chồng, ba lăng xăng tìm lời chia mừng bằng sáu, tám, bằng thất ngôn, bằng lượng sóng cao bên ngoài eo biển San Diego…
Tôi sẽ rất trẽn nếu có ai hiểu lầm tôi mon men làm chuyện bình văn thơ. Dị òm vì biết mình mô đủ khả năng, nói bâng quơ về cái duyên đẩy đưa thì hoạ may. Tự dưng đến một lúc quen biết thêm hai ba người bạn văn, ấy không phải là điều vui thú sao. Khi vui, lỡ nói điều không phải thì chuyện ấy cũng dễ thứ tha. Khi buồn cũng vậy, mấy mươi năm rồi, nhớ về Huế cách trở lòng còn nặng mang vết thương u uất cũng là điều dễ cảm thông.
Ngày cuối thầm lặng chia tay Huế, tôi đi mạng không. Năm tháng trôi qua, các anh chị “đồng bệnh tương lân” đã cho tôi hưởng ké nhiều hương liệu cuộc sống. Huế không chỉ có mù u, hoa phượng, khuynh diệp, sầu đông, sen, sứ… mà Huế còn chất ngất những mùi vị khác toả lan qua chữ viết thập bát ban võ nghệ “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”. Bây giờ tôi giàu hơn xưa, hành trang nặng lòng, cám ơn những người đồng hành trên bước đường lưu lạc. Hẹn gặp nhau ở Huế khi chốn ấy chỉ toàn cả người tử tế. Nói không ngạ, cười chưa bưa và thè thẹ nhậu lai rai dưới trăng thanh gió mát. Anh Đỗ Xuân Tê và anh Trần Huy Sao có đồng ý không?
Tôi chạy đến thì anh tôi đã bỏ đi. Một đám đông bu trước tiệm nước. Chiếc khăn bàn anh tôi ngồi rũ xuống một góc được giữ lại bằng một lưỡi dao ngập trên bàn. Người đàn bà chủ tiệm mặt tái xám, đứng chôn chân trước quầy hàng, tay nắm chặt mấy tờ giấy trăm thật mới. Mấy người nữ chiêu đãi đang cúi xuống chân bàn lượm các mảnh vỡ, hót đống bún bò lẫn mùi la-de, lựa những chiếc nem nhớp nháp như bị mửa lên. Tôi quay trở ra, không có ý đi tìm gặp anh tôi, nhưng tôi cũng không về nhà. Thầy mẹ tôi chắc sốt ruột lắm. Tôi ghé lại nhà cô Út tôi. Cô hỏi: “Anh cháu về chưa?”
Tôi đáp: “Anh ấy đang ở trên đường về nhà”. Cô tôi lạ lùng: “Cháu nói gì kỳ thôi, cô không hiểu”. Tôi lại bên chiếc đôn sứ góc nhà vặn nhạc. “Thấy thầy mẹ cháu, các cô chờ anh ấy hoài, có vẻ quan trọng, cháu cũng nói vậy cho có vẻ quan trọng”. Cô tôi bật cười bổ cho tôi một trái táo. Chú tôi chưa về. Nhà đã bật điện. Một đứa tớ gái lên hỏi: “Mợ dùng cơm bây giờ hay chờ cậu cháu?” Tôi bảo cô tôi: “Cô cho cháu ăn cơm tối nay”. “Cháu không gấp chứ?” “Không”. Cô tôi bảo đứa tớ gái: “Thôi, chờ cậu mày về cùng ăn”. Hai cô cháu tôi ngồi đối diện nhau. Tôi nói: “Cho phép cháu doãi chân cho đỡ mỏi”. Tôi dựa lưng vào băng ghế, hai chân doãi dài trên mặt đất. Cô tôi ngồi lọt trong ghế, nom cô mập và lòng ghế hẹp hẳn đi. “Đám giỗ hoãn lại một ngày là phải. Anh cháu về kịp”. Cô tôi nói như thầy mẹ tôi. Nhưng tôi không dám cãi. Tôi bảo mẹ tôi anh tôi sẽ không vui khi biết đám giỗ hoãn lại chờ anh. Mẹ tôi giận: “Anh con nếu có lởn vởn trong đầu một đám giỗ, là đám giỗ anh ấy”. Cô tôi đoán được tâm trạng tôi, phân giải: “Anh cháu về đúng ngày giỗ đủ mặt họ hàng, tết đến nếu làm biếng, không đi thăm bà con cũng được”. “Cô nói có lý”. Tôi nói nhưng thấy cô tôi không đúng. Anh tôi đâu có sợ làm phiền họ hàng bao giờ. Nguyên đời sống của anh khiến anh ít liên lạc với bà con, huống hồ anh lại tự biệt lập với tất cả. Một lần đã lâu anh bảo tôi: “Thà vơ vất trong thực tại này còn hơn dựa vào những ung thối đã qua mà sống với một tình yêu giả tạo”. Tôi không ưa những bất mãn, nổi nóng nhằm làm nổi mình hơn nhằm một biểu lộ cần thiết, nên tôi rất chịu anh tôi. Nghe anh nói, tôi giữ sự lễ phép của người em thụ huấn huynh trưởng. Tối, chú tôi về. Hai chú cháu vừa ăn vừa nói chuyện – đúng hơn, tôi nghe – Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ, mặc cảm dốt của một ông tướng đã thất thế, và Cô gái Đồ Long. Chú tôi Kim Dung là một thiên tài. Tôi thêm: “Một thiên tài viết kiếm hiệp”. Chú tôi nhỏ hơn, thấp hơn cô tôi. Có lẽ vì vậy chú hay tỏ ra uy quyền với vợ và bọn học trò mà chú tự hào sống gần được tâm trạng chúng. “Bọn chúng sinh nhằm cái xã hội này như những con ngựa bứt cương. Phải có đời sống bứt cương mới trị được”. Thì ra chú tôi là người “bứt cương”. Nói chuyện với chú tôi vẫn có ngạc nhiên những đột ngột vì biết thêm một sự lạ ở chú như thế. Có lần chú nói đến những kẻ xoay như con thò lò sáu mặt, tôi hết hiểu nổi chú. “Cháu có thấy bây giờ người ta đọc nhiều kiếm hiệp là để quên đi những cái đùi giò bò…” Tôi đáp: “Người ta đọc kiếm hiệp còn nói viết và suy nghĩ về kiếm hiệp”. Tôi cười: “Vừa rồi, chú có viết một bài về Trương Vô Kỵ? Những anh hùng dự tưởng hay nỗi khát vọng trăng sao?”. Chú tôi lắc đầu. Lắc đầu vì tôi cười, không vì từ chối. “Bây giờ không ai có quyền sống xa đời sống đông đảo quanh mình”. Tôi xin cô một ly nước lọc uống rồi chào cô chú tôi về. Cô tôi đưa tôi ra cửa, bảo tôi: “Sáng sớm mai cô sẽ lên. Tết nhất đến nơi, nghỉ buổi nào thiệt buổi đó nhưng ngày giỗ ông cha ai mà dám quên, không tư tưởng tới?” Tôi kêu xe xuống Phú Lâm. Người bạn tôi – tên Thưởng – đang ngồi đờn ở vườn hoa sau nhà. Tôi bước dọc theo hiên sau xuống con đường nhỏ đá sỏi. Mùi dạ lý hương sực nức. Thưởng ngồi trong tấm ghế nhựa đặt vào một lối rẽ nhỏ. Thưởng nắm tay tôi: “Lâu lắm mới thấy bồ”. “Lâu lắm mới gặp lại anh”. Tôi đỡ cây guitare hawaiienne cho Thưởng vào nhà lấy thêm ghế. Mặt trăng còn một vành nhọn nhưng đủ sáng những nõn mây trôi ngang trên vườn. Hàng dừa cuối vườn loà xoà, lấp lánh ánh sáng tinh tú. Thưởng trở ra đặt hai chiếc ghế sát nhau: “Cùng nhìn vành trăng muộn chịu chứ?” “Chịu”. Thưởng đưa cho tôi một gói thuốc Mỹ: “Hút thuốc xem?” Tôi từ chối: “Hút thuốc tôi ít hút từng điếu. Mà hút liền một lúc bao thuốc của anh, đêm ngủ nhức đầu, mơ gớm lắm”. Thưởng cười: “Mơ gớm cũng bừng mắt dậy một cái là hết. Sự thực còn nhiều cái gớm hơn nhiều. Nếu không hút thuốc, hết còn gặp những cái gớm ghiếc, cả Việt Nam sẽ từ thuốc hết. Kể cả những đứa nhỏ đi đêm, đốm than đầu thuốc là là trên mặt đất”. Chúng tôi ngồi hút thuốc. Con đường nhỏ lộ hẳn giữa những thân cây thấp. Tôi bảo Thưởng cho nghe bản “Đêm tàn bến Ngự”. Thưởng vuốt trên phím đàn, hai gò vai rung và nhấp nhỏm. Tôi nhìn bầu trời cuối năm, thấy bầu trời cao nhưng vẫn quen thuộc. Trước kia tôi vẫn nghĩ hết tuổi lãng mạn, hết còn ưa trông trời. Nhưng tôi chỉ có cảm tưởng mình không yên tâm mơ mộng, còn bầu trời mây và trăng sao tôi vẫn ham. Có lẽ nào tôi như chú tôi, không còn biết nói về điều gì gần gũi để đến độ phải lục chồng kiếm hiệp của con cái truy nguyên ra ông Kim Dung thiên tài: “Bây giờ không ai có quyền sống xa đời sống đông đảo quanh mình”. Chú tôi đã quá khôn khéo và thích ứng tự nhiên như thuyết của Darwin. Thực ra chú tôi không hề “bứt cương”. Tôi nghĩ. Chú tôi vẫn là người tha thiết và nhiệt thành. Ở Hà Nội, tránh đám người làng quấy quả vì chuyện tị nạn, chú lên làng Bưởi mắc võng đọc Marx, vào Sài Gòn chú tin ông Diệm như người tạo cơ hội cho những nhân tài tham gia việc nước, những thí dụ trong khi giảng bài, một nửa số thí dụ về đời ông Ngô. Từ ngày ông Ngô đổ, chú sinh ra nghi ngờ tất cả chuyện xưa lẫn chuyện nay. Chú bảo chú đã bị anh em nhà Ngô lường gạt. Chú thôi không tham gia mấy đoàn thể của Bộ Giáo dục. Chú viết báo văn hoá trình bày nỗi nghi ngờ của mọi tầng lớp, viết về Trương Vô Kỵ với những danh từ triết học lẫn chịu chơi. Chú vẫn nhiệt thành và vẫn đơn giản dù có muôn ngàn rắc rối do mình tạo ra. Dù mọi nghi ngờ phong phú, mọi thắc mắc về nhân sinh của chú đã làm cho một học sinh muốn xin làm một tên đầy tớ để tỏ cái ân đã có người hiểu được lớp trẻ mình, chú vẫn bị cô tôi nhìn như một người dễ nổi nóng vì một đôi đũa lau không sạch. Gió càng về đêm càng mạnh. Trăng đã bị mây che kín. Bầu trời còn sao và hoả châu. Chúng tôi im lặng trong ánh sáng chao chát hồng rực trên các cành cây trong vườn. Thưởng đờn lại bản “Đàn chim Việt”. Tôi đứng dậy vươn vai, hít mạnh mùi dạ lý hương. Thấy nhức đầu ngây ngất, tôi bảo Thưởng: “Mình đi ngủ là vừa”. Thưởng chiều ý tôi mắc màn ra hiên ngủ. Tôi thiếp đi tai vẫn mơ màng tiếng Thưởng. Lúc tôi tỉnh dậy, đầu tôi vẫn nặng, Thưởng đã ngáy đều. Tôi lại ngửi hương thơm dạ lý. Chắc anh tôi đã về nhà. Ngày mai có thể lại lắm chuyện lộn xộn. Tôi hình dung đến bữa cỗ như hình dung đến một thế giới đàn bà. Thế giới ở bên tôi từ bao giờ. Tôi đã sống, đã vui và cũng đã có lần buồn vì một người đàn bà trong thế giới đó. Nếu gạt bỏ được ý nghĩ nhớ đến Hà Nội là một trạng thái tinh thần suy nhược trước hiện tại khô cằn, tôi có thể nói tôi nhớ đến thím Hương như một người đàn bà đưa tôi ra khỏi thành phố của thời thơ ấu. Dạo đó Điện Biên Phủ đã tới hồi ngã ngũ. Thầy tôi lúc đầu còn tin năm cửa ô Hà Nội vững hơn những dãy núi quanh lòng chảo Điện Biên, vẫn còn nuôi ý định mở lại, với bác sĩ Hoàng Cơ Bình. Về sau, lúc đã nao núng, thầy tôi thấy Hà Nội quá xa cửa biển quá xa những con tàu vào Nam, gia đình tôi lật đật xuống Hải Phòng. Đúng ra, gia đình tôi lúc đó đã chia hai. Chuyện di cư chưa nghe ai nói tới. Ông Ngô có được gia đình tôi nói tới cũng chỉ vì mấy câu khẩu hiệu viết ở Nhà Thuỷ tạ hồ Hoàn Kiếm: “Cụ Ngô thống nhất sơn hà. Già Hồ chia sẻ nước nhà làm đôi”. Thầy tôi là tộc trưởng, gia đình tôi lại không được khá như mấy bà cô tôi, nên chuyện chia hai gia đình lúc đó có vẻ hợp lý. Tôi, đứa em trai út và thầy tôi là những người sẽ vào Nam. Anh tôi với mấy đứa em gái và mẹ tôi sẽ ở lại về làng phụng dưỡng bà nội tôi. Ba cha con tôi xuống Hải Phòng vào những ngày Hải Phòng nắng gay gắt nhất. Chúng tôi ở nhờ nhà một bà cô họ chờ nghe ngóng tình hình rồi mới đi. Suốt ngày thầy tôi đi gặp mấy người bạn nhờ họ giúp ý kiến. Tôi và đứa em hết ra tiệm sách kế bên rạp Kim Chung mướn truyện về đọc, lại ra sau bếp nhìn qua hàng kẽm gai đếm những con tàu vào ga. Người cô họ tôi tuy chiều chúng tôi, ít muốn chúng tôi ở bên mỗi khi cô mở đài Thái Nguyên nằm trên giường nệm nghe: Chồng cô kháng chiến, cô chờ đón người trong Nam gửi ra cho cô một giỏ trái cây, cô bổ cho anh em tôi ăn rồi bảo: “Tao vẫn mong chúng mày về để ăn măng cụt. Nhưng chú mày mà về tới đây, Nam Bắc thành xa lạ rồi còn gì. Chúng mày vào trong đó mặc sức mà ăn”. “Thầy cháu định vào Nha Trang gặp mấy người bạn rồi mới thuê xe ngựa qua sa mạc vào Nam. Tôi nói, cô tôi nghe, có vẻ buồn. Cô hỏi: “Anh em mày có nhớ mẹ mày không?” Thằng em tôi khóc. Tôi nói: “Không nhớ”. “Mày lớn rồi có khác. Ở làng, mày lấy vợ được rồi đó cháu ạ”. Cô tôi tủm tỉm cười. Tôi ngượng đỏ mặt. Những lúc có cô ở nhà, chúng tôi có những phút khuây khoả như vậy. Cô tôi đi khỏi, cửa nhà ngoài đóng im ỉm, hai anh em tôi vừa lạc lõng vừa sợ hãi. Những lúc đó nếu ra sau nhà, nhìn những con tàu thì nhớ nhà thêm, nếu ngồi trong phòng thì bị con ở của cô tôi doạ nạt. Nó thường trợn mắt hỏi tôi: “Sao bố con mày dại thế? Hoà bình đến nơi còn kéo đi, Việt gian hả?” Tôi chửi nó, nó túm lấy gáy tôi tát như trời giáng. Thằng em tôi vừa khóc, vừa cào cấu nó trợ lực với tôi. Nó đá thằng bé sưng đùi, trầy ngực. Sau mỗi trận đánh, nó doạ: “Chúng mày mà mách bố cô chúng mày, tao nhổ đờm vào thức ăn cho chúng mày ăn”. Lời đe doạ của nó làm chúng tôi sợ, tìm cách nói dối cô tôi, thầy tôi về những vết tích do con ở gây ra. Một hôm thầy tôi về báo tin sẽ trở về Hà Nội rồi cả gia đình sẽ có máy bay vào Nam. Tôi chạy xuống bếp bảo con ở: “Tao lại về Hà Nội đây. Mày có già đời cũng không bước chân được lên cầu sông Cái”. Con bé hùng hổ toan túm lấy tôi, tôi chạy lùi vào nhà, trỏ mặt nó: “Hai năm nữa thống nhất, mày chết với tao”. Chúng tôi đi một chiếc Traction về Hà Nội. Qua cây cầu treo, tôi ngoái đầu lại thấy thù Hải Phòng. Dãy Đông triều trùng điệp xa lạ và thần tiên. Qua Hải Dương, những làng hai bên đường phất phới những lá cờ đỏ sao vàng. Lúc đó tôi mừng vì được trở lại nhưng bắt đầu thấy mình đang quay về thành phố buồn, thiệt buồn. Tôi thoáng nghĩ đến chuyến xe ngựa cha con tôi định thuê băng qua sa mạc. Lúc đi, tôi không kịp thấy mình xa Hà Nội, lúc về, tôi thấy mình đang mỗi lúc một gần tháp nước khổng lồ nhiều bóng tối ở đầu Hàng Đậu, đang gần những gầm cầu, những vườn bông và ga Hàng Cỏ. Xe qua cầu. Tôi nghĩ giá được xuống xe chạy trên đường dốc dẫn xuống chỗ máy nghiền đá, chắc tôi sẽ có lại cảm tưởng khi về làng bước vào khu sân gạch Bát Tràng đen như da trâu. Về Hà Nội, thầy tôi nghĩ ngay đến chuyện nhắn người về làng mang bà tôi ra. Làng tôi đã bị chiếm. Có vài người trốn ra chờ di cư. Sau một đêm bàn tính với mẹ và anh tôi, mọi người chọn thím Hương là người sẽ đưa bà tôi ra. Bà tôi vốn thương thím sẽ khó mà từ chối khi thím ngỏ ý mời bà đi Hà Nội. Thím lại có mấy người anh bộ đội, chắc chuyện ra khỏi làng cũng đỡ gặp khó khăn. Nhắn người về rồi, cả gia đình tôi chờ đợi. Riêng tôi, tôi thấy mong gặp lại thím Hương một lần cuối trước khi vào Nam. Thím Hương có nước da thật trắng, thông minh và viết được đơn thuốc bằng chữ Hán cho chồng giắt vào túi dết khi chú tôi hết phép về cưới vợ. Tôi còn nhớ ngày cưới, chú nhất định mặc đồ quân đội đi rước dâu. Bà tôi đã giận dữ mắng chú: “Bao giờ hết đánh nhau, vợ chồng mày sống khuất mắt tao, muốn làm gì thì làm. Bây giờ mày làm thế, người ta chửi vào mặt tao. Người ta lại bảo thời thế đảo điên, luân thường lộn ngược vì bọn lính tráng chúng bay”. Chú Hương vốn thương bà tôi, thấy mẹ vừa giận vừa chực khóc, đành ậm ừ gượng gạo xỏ hai ống tay áo màu phân ngựa vào tấm áo the cũn cỡn không che nổi hai ống quần ka-ki chật ống. Buổi chiều chú Hương đi, thím Hương không đưa tiễn, cặm cụi cầm cái chổi mo quét từng góc sân gạch. Tôi chưa ra Hà Nội, móc túi lấy từng cục pháo xiếc tung lên cao cho rớt xuống sân nổ lép bép. Thím Hương chốc chốc lại ngửng nhìn tôi cười gượng. Thím kêu điếc tai, kêu Hà Nội vui, kêu lá cây bưởi với cây táo ở ngoài bờ ao bay vào quét mỏi tay vẫn không sạch. Tôi bảo thím: “Tết này thể nào chú cháu cũng về”. Thím lại cười. Nụ cười thím tĩnh như bóng thím lẩn khuất bên trăng tường hoa trước cổng, bên những trụ gạch gắn những hình rồng phượng bằng những mảnh bát vỡ. Tôi ra dưới gốc táo, cầm dao khua lắc cắc lên các cành cây, lấy ít quả đưa cho thím. Thím chùi từng trái táo vào ống tay áo, bảo tôi: “Lớn lên chắc cháu đỡ khổ hơn chú cháu”. Tôi về Hà Nội ít lâu, thím Hương mang mo và lá dong ra cho gia đình tôi và mấy người cô gói giò gói bánh. Buổi chiều, thím dẫn tôi đi mua một tấm foulard, một cuốn truyện Kỳ Phát rồi dẫn tôi vào rạp Bắc Đô coi phim “Về miền Tây” có Roy Roger … Lúc về, qua gầm cầu hàng Giấy, thím mua mấy khoanh bánh chưng rán về cho mấy đứa em tôi. Sáng hôm sau thím về từ lúc ngoài phố vẫn còn chập chờn ánh đèn của người đổ thùng. Tôi chít khăn foulard đạp xe ra đầu phố kêu xích lô rồi tiễn thím ra bến Nứa. Hồi chú tôi chết mất xác ở Điện Biên Phủ, đường từ chỗ xe hàng đậu dưới cây gạo chân đê về làng tôi lúc nào cũng có một bọn com-măng-đô họp với phòng nhì đón người lột tiền, hãm hiếp, nên chỉ có thầy mẹ tôi và các cô tôi nhờ một người vợ lính đưa về. Tôi nhớ mẹ tôi đã thuật lại bà tôi chửi chú tôi bất hiếu đến hết cả nước mắt. Cũng từ đó, làng tôi thành xa xôi. Bà tôi và thím Hương thỉnh thoảng được một người buôn bán xuôi ngược, gặp thầy mẹ tôi nhắc tới. Thím Hương mang bà tôi ra vào buổi sáng chủ nhật. Căn nhà gia đình tôi ở tạm lộn xộn những đồ đạc. Bà tôi bảo thầy tôi nhiều bận: “Chúng mày cứ an tâm mà đi. Tao ở lại với con Hương. Mẹ con tao ra thăm chúng mày một lần cuối rồi chiều nay về làng”. Thầy tôi gắt: “Bà muốn nó sống tới già với bà sao?” Bà tôi cương quyết: “Nó như con gái tao. Rồi ra tao gả chồng cho nó”. Khi các cô tôi tới khuyên dỗ, bà tôi xoay chiều: “Tao vào Nam, con Hương cũng đi với tao”. Thầy tôi giận mặc quần áo bỏ đi. Cô Út tôi nhỏ nhẹ: “Kể ra mẹ mang chị ấy đi cũng chẳng sao. Nhưng còn thầy mẹ, anh em chị ấy ở lại, mình cố tình mang chị ấy đi, chị ấy cũng khổ, họ hàng chị ấy cũng buồn mà mình lúc nào cũng phải nghĩ ngợi”. Các cô tôi mỗi người một điều, bà tôi nghe họ, khóc ròng. Tôi bảo thím Hương: “Thím ra hồ Ha Le với cháu một lát, xem mẹ cháu có bán được nhiều chưa”. Thím ngần ngại nhìn tôi: “Cháu không biết bao giờ mới gặp lại thím, thím cho đi chơi với thím chiều nay”. Thím lấy nón, lại bảo bà tôi: “Con ra hồ xem chị Cả bán bàn ghế một lát”. Tôi và thím đi về phía hồ. Bờ hồ ngổn ngang những bàn ghế, giường tủ… Người bán nhiều hơn người mua, nom vội vã, nhăn nhó. Người ta câu bừa cá ở hồ lên, mặc mấy người cởi trần từ trong nhà thuỷ tạ đi thuyền ra quát mắng. Đám người coi câu cá la ó trả lại đến lúc chiếc thuyền quay vào mới thôi. Họ dửng dưng nhìn những người đứng bán đồ đạc, bàn tán với nhau về cái chết của Đỗ Đình Đạo, về mấy chiếc G.M.C thi nhau đâm vào khu Khâm Thiên. Mẹ tôi đã bán gần hết các thứ mang ra, đang ngồi ngơ ngẩn trên mép cái bàn còn lại. Thím Hương nói với mẹ tôi ít câu rồi giục tôi về. “Về nhà bây giờ buồn chết, thím cho cháu đi coi chớp bóng một lần cuối”. Thím Hương thở dài. Những con đường từ phía Hàng Cỏ ra bờ Hồ thật vắng. Những ngôi nhà tây cổng đóng im ỉm. Nom vào sân nhà Đấu Xảo thấy rộng mênh mông. Bờ hồ, rạp Moderne vắng người. Thím tôi mua vé, tôi ngắm hình Victor Mature mù hai chân bị xiềng đẩy cái cối xay. Lúc về, hai thím cháu tôi lên Khâm Thiên, dặn xe hàng sớm mai ghé qua nhà đón. Thím Hương bảo tôi: “Lớn lên chắc cháu đỡ khổ hơn chú cháu”.
° ° °
Anh tôi đã về nhà. Lúc tôi trở về, mấy người cô tôi đã tới đông đủ. Bàn thờ đầy hoa quả, bánh trái. Mẹ tôi đang tẩy mực, thấy tôi, mẹ tôi ngửng lên rồi lại cúi xuống. Tôi bỏ vào nhà, nghe có tiếng mẹ tôi vọng theo: “Con với cái, hư đốn hết cả”. Tôi lên lầu. Anh tôi đang ngồi đánh bài với mấy đứa nhỏ. “Anh về hồi nào? Tôi hỏi và thay quần áo”. “12 giờ đêm qua”. Anh tôi ngồi chình ình giữa giường nệm, át hẳn mấy đứa nhỏ. Mắt anh mờ hơn trước, râu anh lởm chởm khắp má. Tôi rất khó hình dung lại hồi anh còn cắp nách những cuốn triết hoặc cần cù tô từng nét chữ Hán cho đậm nét. “Hôm qua chú đến tiệm nước kiếm ta?” “Không”. Anh tôi đứng dậy, vươn vai, người anh nhún nhảy trên nệm. “Ta chờ chú về đi ăn sáng”. Bọn trẻ reo lớn: “Phở Tàu Bay nghe anh?” Anh tôi quờ chân vào gầm giường kiếm đôi giày: “Ờ, ờ, phờ Tàu Bay”. “Đi tắc xi cho lẹ nghe anh?” “Ờ thì đi tắc xi”. Tôi hơi ngượng vì tiếng đáp của mình. Tôi bảo anh: “Phở Tàu Bay đông lắm, làm sao len nổi”. “Đông thì gắng chờ chớ sao”. Bọn trẻ lại reo. Chúng đun đẩy nhau theo sau anh tôi bước xuống cầu thang. Rửa mặt xong, anh bảo mẹ tôi: “Trưa nay con mắc kẹt xuống Thủ Đức thăm một người bạn. Mẹ nhớ để phần xôi chè cho con”. Mấy người cô tôi cười ồn ào. Cô Út tôi nói: “Lính gì mà như con nít. Nếu sợ mất phần xôi chè, đi chơi làm gì nữa. Ngồi canh bên bàn thờ, chắc ăn”. Mẹ tôi như biết chúng tôi ưa sinh chuyện, cãi lý, bao giờ cũng thong thả trả lời. Vẻ thong thả của bà vừa bắt chúng tôi phải kìm lại nỗi hối hả hoặc nóng nảy vừa khiến những lời bà nói thành rõ ràng bên tai chúng tôi. Bà cũng muốn tỏ ra không quá chú trọng đến những quyết định của con cái tuy lúc nào bà cũng ngầm đặt trong đầu chúng tôi bà là người có những quyết định sau cùng. Những phỏng đoán này không cần thiết cho tôi. Những việc làm theo ý bà hoặc trái lại, tôi đều làm trong im lặng, thản nhiên. Tôi vốn sợ những ồn ào co rút lại thành những tiếng động rời rạc thêm vào đời sống eo xèo của mình. Nhưng anh tôi thì không. Anh ưa gây gổ với bà như thể đó là một hình thức để biểu lộ mình còn có gia đình, còn sống giây phút với gia đình. Anh cãi cọ với bà cả những lúc anh muốn trêu chọc bà. Mẹ tôi, cả những lúc đó cũng dễ giận con. Bà khó lòng bỏ được ý nghĩ mọi người trong gia đình này đã sinh nhằm vào những ngày giờ xung khắc. Trước kia tính nghiêm khắc của bà nhằm bao bọc hạnh phúc cho con cái nên ở những roi đòn của bà chúng tôi cũng nhìn thấy con mắt dịu dàng. Bây giờ, hạnh phúc đó không thuộc về bà nữa. Cũng không thuộc về chúng tôi như một độc lập được giành giựt. Tính nghiêm khắc của bà trở thành một cái vỏ ốc rỗng ruột. Chúng tôi nhìn cái vỏ ốc đó, mường tượng có hồi mình được sung sướng. “Không đi đâu cả. Mày về ăn giỗ hay mày về để đi thăm bạn?” Mẹ tôi nói. Anh tôi cười lớn: “Mấy thứ vặt đó đâu có đáng công xin phép nghỉ”. “Mày kiêu bạc vừa vừa chứ. Con trai mà cãi lại mẹ, mày chưa thành nhân đâu con ạ”. Anh tôi có vẻ ngượng nhưng vẫn cười: “Giỗ chạp là phần của mấy bà, ăn nhằm gì tới tụi con trai”. Dứt lời anh tôi quay trở vào. Cơn giận của mẹ tôi tới lúc hết kìm nổi, bà vứt mấy con mực xuống chậu nước bắn tung tóe, đứng dậy: “Mày định xấc với cả mẹ mày nữa đấy hả? Mày không sợ người ta chửi vào mặt mẹ mày sao?” Anh tôi yên lặng vào nhà châm thuốc hút, chờ mấy đứa nhỏ thay quần áo. Chúng tôi đi ăn phở rồi sang cà phê Nhân uống. Anh tôi nói: “Tao chán cái cảnh này lắm rối. Bao nhiêu năm nay vẫn những bộ mặt ấy, vẫn những câu chuyện ấy quanh đám giỗ ấy. Tao không muốn về nhà cũng vì vậy”. “Đằng nào mọi việc cũng coi như đã xong. Anh nói, mẹ buồn”. Tôi nói gắng gượng. Tôi vốn ít muốn thuyết phục người khác, và không ưa nghe người khác thuyết phục mình. “Không ai giận gì mấy người đàn bà…” Anh tôi lắc đầu với một thằng bé đánh giày. Tôi cười nhớ lại câu chuyện nói với chú tôi tối qua. “Nhưng đời sống của những người ghép vào với họ, thật hỏng”. Tôi nóng mặt: “Anh nói ôm đồm quá”. Anh tôi nhíu mắt. Mắt anh nhìn sấp nhưng tôi vẫn bắt kịp cái quắc sáng của anh chạm mạnh vào mắt tôi. “Tao không nói tuyệt đối. Tuyệt đối chỉ có ở giảng đường, ở những thằng cố chấp, không có trong sinh hoạt. Có lẽ nào chú lại không hiểu tao nói gì, nói đến những ai”. Anh tôi nói như một người bị ám ảnh, không cần biết câu nói của tôi có ăn nhằm gì với nỗi thôi thúc ồn ào trong người anh. “Tao không chịu được những bộ mặt trí thức thất bại lộ ra cả trong việc theo vợ đi ăn giỗ, nói chuyện thời thế và Hà Nội. Họ khôn khéo ăn nói những thứ mọi người đang thích ăn thích nói để che lấp nỗi nhớ tiếc vốn là mầm sống của họ. Họ không nhớ một mình Hà Nội, cũng không nhớ Hà Nội như tình của của một chiến bại, hoặc cao hơn, một nỗi nhớ cần nhiều cố gắng thực tại để bù đắp sự thất bại còn dây dưa chưa biết đến bao giờ. Họ còn thương nhớ cả những nếp suy nghĩ của mình nữa. Trước tình thế này, họ nên khuất mắt, đừng luẩn quẩn bên chân những người vừa mới lớn lên đã phải nhào vào chống đỡ những sụp đổ do họ gây ra”. Tôi yên lặng nghe anh tôi nói. Những lời anh nghe thật quen thuộc. Chỉ còn vẻ nóng nảy dồn dập vẫn là của anh. Không bắt được khối nóng đó, không nhìn anh, tôi chẳng còn gì để phân biệt mình đang nghe anh hoặc một người bạn nào đó. Những lúc xa anh, nghĩ đến anh chốc lát, khối nóng đó cũng hiện ra kèm theo. Lúc thoạt bắt gặp, khói nóng nồng nàn lôi kéo cả những khó chịu đã qua của tôi. Nhưng trong một lát, khối nóng chỉ còn trong ý niệm, thoát hẳn những mường tượng của cảm giác, anh tôi cũng tan biến theo. Khối nóng, dù tôi có nghe ngóng, chờ đón cũng vẫn loãng đi, mặt mũi, hình dạng anh tôi, dù tôi cố tìm một điểm đặc biệt như cái nốt ruồi ở xế bên mũi, con mắt kéo dài, gãy góc ở gần đuôi để suy ra toàn thân anh, cũng không hề hiện rõ. Nhưng anh tôi lại là người luôn luôn muốn xây đắp cá tính. Anh biết chọn chi tiết để tự mô tả. Lưỡi dao ngập trên mặt bàn, “Mười hai giờ đêm qua”… “Nếu gạt bỏ phương tiện ưu thế, lúc này không ai có quyền buộc tội ai. Ai cũng muốn giành giựt tuổi trẻ cho mình, dù tuổi trẻ đó quá bận rộn về nhan sắc mình chăng nữa”. Tôi nói. Anh tôi nhìn tôi chờ tôi tiếp hay đo lường nhiệt tình của tôi lộ trên mặt tôi. “Không phải vì vậy mà thái độ nghi ngờ có chỗ đứng tốt. Nên thành thực để thấy nhau dễ thương hơn trước phút có người gục ngã”. Anh tôi uống, nhăn mặt. Tôi đẩy cho anh dĩa đường. Anh trút hết vào ly, khuấy mạnh. Anh uống một hơi, trả tiền rồi kéo chúng tôi ra khỏi tiệm. Trời gay gắt, không một dấu hiệu tết sắp tới. “Chú đưa tụi nó về”. Anh tôi nói và ngoắc một chiếc tắc xi. “Anh không về?” “Chiều tao về. Tao không muốn nhìn những bộ đồ lớn ngồi chật nhà nói chuyện bằng cấp và Hà Nội”. Tôi bực mình: “Anh cố chấp quá. Nói đến Hà Nội không là một cái tội”. “Hà Nội có làm thầy mẹ quên được tao đi lính không?” Mấy đứa em tôi đã mở cửa, lên xe. Tôi bảo anh tôi: “Hà Nội có đấy rồi. Nhiều đêm thầy mẹ nhớ anh, nghe súng không ngủ được. Thầy mẹ dậy nói chuyện Hà Nội”. Một quân nhân cưỡi chiếc Vespa chạy bên kia đường, thấy anh tôi chạy chậm lại. “Thằng hôm qua gây lộn với tao đó”. Anh tôi nói, giơ tay vẫy, chạy xuống đường. Tôi bước lên xe, thấy anh tôi ngồi đằng sau người nọ chạy về phía Sài Gòn.Tôi nghĩ tối nay sẽ rủ anh tôi xuống ăn mì Chợ Lớn. Tôi nhớ tới thím Hương. Nỗi nhớ của tôi không vì một chiều mùa đông mua bánh chưng rán ở gầm cầu Hàng Giấy, không vì tháp nước sừng sững đầu Hàng đậu, không vì những chiếc lá táo, lá bưởi rơi đầy sân, rơi suốt buổi chiều chú Hương ra đi. Tôi nhớ tới thím vì không hiểu có lần nào thím nói với anh tôi: “Lớn lên chắc cháu đỡ khổ hơn chú cháu”? Những ảo tưởng về tương lai chua xót, nhưng bao giờ cũng đáng phấn khởi hơn những ảo tưởng về những chuyện đã qua, dù đẹp nhưng tĩnh và chết như bóng thím Hương trên bức tường hoa, bên những trụ gạch dát hình rồng phượng bằng các mảnh sành mảnh sứ.
Xuống tới bãi trời trống, đám người bước mau hơn. Một thanh niên hỏi Dần: “Vụ đó tới đâu rồi?” Dần chắc anh ta muốn hỏi về Yến, cười gượng: “Chẳng đi tới đâu”.
Người thanh niên nhìn Dần lộ một chút ngạc nhiên để thay thế một câu hỏi khác chắc Dần sẽ không ưa. Dần ngại phải nhiều lời, nói tiếp: “Lúc mấy cậu tới tôi đã định giữ lại để cô ấy thấy đông, về cho sớm. Từ tối hôm đó, cũng không thấy tới nữa”. Trước mặt đám người, vùng nước rộng quanh eo, cuồn cuộn đất màu. Giờ là mùa khô. Nước nguồn như vậy là hung dữ. Người học trò từ miền ngoài vào thi bàng hoàng nhìn mặt trời xuống chếch chói mắt, nhảy ùm xuống luồng nước lạ. Dần đứng tần ngần nhìn mọi người xuống tắm. Nước lạnh lẽo như mang nhiều xác lá mục. Dần hối đã nhận lời rủ của đám học sinh, chần chờ cởi quần áo. Chân vừa ngập nước, Dần rùng mình nổi da gà rồi liều lĩnh nhào bừa ra luồng nước bỏ cho thân thể chìm xuống giữa đà cuốn băng băng… Những đốm vàng loá trước mắt có ánh xanh xanh lạnh lẽo. Dần thấy giả chết cũng có vẻ ngộ nghĩnh và mơ hồ thấy mình cười với một khuôn mặt không rõ chìm dưới lớp đất vẩn như phù sa. “Chịu hết nổi rồi”. Dần nhoái lên nói và ngơ ngác tìm kiếm bọn kia. Họ ở thực xa, nom nhỏ li li. Dần ngơng theo đà nước, giạt người vào một bờ cỏ bị xói lở. Ngâm mình một lát, Dần tìm cách lên bờ, nằm dài ra thở. Mặt trời vàng cả những mây sa thấp. Dần nghĩ: kiếm lấy một vài điều để viết cho Thục. Dần nhớ là Yến đã đến lúc lá thư vừa mới phóng mấy chữ quen thuộc: “Nhà bà ngoại, ngày… tháng… 1967”. “Yến nó xấu, nó tục đến sốt ruột”. Dần nghĩ lúc đưa Yến ra ngõ. “Vậy mà nó vẫn nói lảng lúc mình đòi cưới”. Dần chắc vẫn chưa dứt khoát thoát khỏi những ngày bị bịnh trở lại, lơ đãng nghe tiếng bọn kia ấm ới và tiếng nước. Trong những giấc mơ, dường như cũng có lúc Dần đòi cưới một người nào đó. Dần ghê sợ đôi bàn tay của người y tá mỗi lúc nghĩ vẫn chưa thoát khỏi ông ta. Hai bàn tay thực run, nhớp nháp mồ hôi tối nào cũng cử động có bấy nhiêu: chích nín thở, nhón của Dần một điếu thuốc và chìa ra cho Dần bắt. Dần bật cười. Cũng may, nếu mình là con gái chắc cũng mơ đòi cưới cha ấy. Thục nghĩ sao nếu biết những chuyện Dần ở đây? Thục thì chẳng bao giờ làm ồn. Bữa mua xổ số, Thục có vẻ không thích nhưng vẫn không nói. Dần lựa hai tấm, một giữ, một đưa cho Thục: “Nếu hai tấm cùng trúng, chúng mình không lấy được nhau”. Thục yên lặng nghe Dần, đưa tấm vé số lên trước mặt giả làm gương soi vuốt lại những lọn tóc bỏ trên vai. Gã học trò tỉnh ngoài đã lên nằm dài bên đống quần áo. Gã là thi sĩ, chiều nay thi xong môn cuối gã sợ rớt cuống cuồng. Gã đang kêu “con nước”, “hoàng hôn”, “ráng chiều” gì đó. Dần che mắt nhìn những tia chói vàng trong vùng mây như nối liền với khoảng mù ở đầu nguồn. Những âm thanh ở phía gã học trò thực khó nghe. Lúc để ý, chỉ có cảm tưởng gã nằm ngửa mặt bên mép nước mồm la không ngớt. Dần nằm nghe ngóng – chẳng hiểu mình nghe ngóng gì – tới lúc nghe bọn kia lao xao gọi về. Giữa đường, gió nổi lớn, bụi cát quấn quít đầu tóc chưa khô. Nhưng Dần thấy mình như vậy là đã quá sạch. Vào phố, Dần chia tay đám học sinh. Thấy chưa tới giờ đi ăn cưới, Dần đi uống một chai la-de. Mùa nóng, gió ồn ào mà khô nhăn da. Dần kiếm một tiệm có hàng rào cây xanh ngăn bụi. Đặt chiếc ghế vào sát thân dừa lấy chỗ tựa, dần ngắm xung quanh thấy mình như ngồi trong một khu vườn. Dần uống chậm cho tiêu thời giờ. Dần nhớ tới tiếng ve trong những chòm cây bắt đầu tối ở bãi cỏ trước nhà, chiếc bàn kê dài ra sân ăn bữa cơm muộn, những chiếc ghế thực chắc mẹ Dần sắm riêng cho mấy đứa con trai lớn ưa ngồi ngả nghiêng. Giờ thì không còn một tên ở nhà. Mẹ Dần đỡ mệt nhưng chắc buồn. Riêng với Dần, bà vẫn tiếc không được giàu có để ở gần săn sóc Dần. Bà chỉ còn cách gởi thư khuyên Dần mỗi khi bớt bịnh, nên kiếm la-de uống trước mỗi bữa ăn. Dần ghé qua về nhà thay quần áo và rũ lại tóc. Vào ngõ, Dần mới nhớ ra tối nay có cái hẹn với một người đàn bà có cái tên giả thực khó nhớ. Kiều Bích. Bà ngoại Dần không có nhà. Hai hàng lài tây dẫn vào trong sân nở đầy bông. Những chiếc vỏ trứng vịt úp trên các ngọn lá cây dừa lớn làm cảnh ở trước nhà có gió rung chập chờn. Dần ra đầu nhà chỗ đặt một dãy chum lớn múc nước mưa uống và rửa mặt. Dần bắt chước một người anh Dần huýt sáo cho bớt vắng vẻ. Thấy con nhỏ nhà bên cạnh đang ủi đồ trên hiên, Dần băng lối sau vườn sang nhờ nó ủi chiếc khăn tay. Con bé rực rỡ đẹp trong một thân thể hết lớn thêm. Nó cười cười bỡn cợt Dần về Yến và tò mò hỏi Dần đi ăn cưới ai. Dần bảo: “Ủi đi cô. Lúc về tôi lấy trộm cho mớ confettei với vài miếng bánh, gắng thức mà chờ”. “Tôi chờ thực đó”. Nó nói và cặm cụi ủi, mồ hôi nhỏ giọt. Dần nhìn mớ đồ quen mắt bao lâu nay. Nhưng chiếc ny-lon hoa lá nhỏ nhắn, mấy cái bandeau đủ màu, hai núm “xú chiêng” nhỏ bé, tội nghiệp. Dần nhớ tới người anh có tiếng huýt sáo những lúc chạy rông. Hắn thương nó lâu quá. Ra trường rồi hắn trở về đây không chừng. Bà ngoại đã bảo: “Thằng Dần-anh bị con bé nó cột chân tay rồi”. “Anh Dần-anh đổi ra đây đó”. Dần nói đùa. Con bé lườm Dần. “Ảnh ra, ăn nhằm gì tới tôi”. Dần bật cười, cầm khăn về nhà. Con bé vọng theo: “Tôi chờ thực đó”. Ngôi nhà ngói có hành lang bốn phía nom thấp, tối. Dần bật đèn, soi gương vận quần áo và nghĩ qua loa về Kiều Bích. Bà ngoại Dần vẫn chưa về. Mấy con chuột đã quen thói bắt đầu cắn nhau chí chóe trên bàn trang điểm của dì Phong ở phòng sau nhà. Dần để đèn sáng, đóng cửa, ra sân nói vọng sang nhà con nhỏ: “Coi nhà giùm tôi. Có ai tới, nói cỡ tám giờ tôi về”. Dần đi như chạy bụi. Phố đông người, nhiều thí sinh chọc ghẹo gái qua đường. Đám cưới của người bạn thực đơn giản, rất hợp với Dần. Sau khi dùng nước ở nhà, hơn ba chục người kéo nhau ra tiệm. Con gái chiếm già nửa. Khi được sắp xếp ngồi đối diện, họ có vẻ ngượng. Bên đàn ông khơi mào ồn ào. Dần xin chỗ để ngồi với Lan. Tiếng vỗ tay khuyến khích. Lan mắc cỡ nhìn xuống ly Coca tối màu. Dần đã có mấy hơi Black and white uống lấy được, tự dưng hào hùng. Anh bạn tổ chức mỗi năm phút lại yêu cầu Dần cho kết quả. Khi Lan đã chịu nói, anh bạn tổ chức cho riêng hai người vài kiểu hình. Lần lượt những giọng say được Dần mời đứng lên bày tỏ cảm tưởng về cô dâu chú rể mới. Dần rắc lên phần bánh flan của Lan ít confetti màu áo cô dâu và mời Lan. Lan cười không từ chối. Dần uống thêm và thấy cám ơn Lan thực tình. Lan đầu và vai đầy confetti như có vẻ đẹp cô dâu từ khi chưa biết nghĩ chuyện vợ chồng. Dần cũng lấy cái hồn nhiên của người bạn đang uống thực vui bên vợ mới cưới, thấy mình cũng có vẻ chú rể. Nhưng không có cô dâu nào cho Dần. Dù nhiều lần đòi cưới, chưa bao giờ Dần hình dung được một hạnh phúc chồng vợ quen thuộc với mình. Dần nhớ tới Thắng hôm hắn đột nhiên có mặt ở đây. Hắn nói đã cưới vợ, có con và lấy làm tiếc. “Tao đang ăn khách”, hắn than thở. Hắn mò về đây cũng không ngoài mục đích để được xa vợ con ít ngày, kiếm lại một vài tình nhân cũ. Dần mệt cái ồn ào của hắn, nói bịnh để khỏi đi cặp với hắn lang thang kiếm gái và tìm người bán lại khẩu colt 12. Một buổi trưa, bà ngoại Dần đi vắng, hắn dẫn Kiều Bích về phòng Dần. Dần bỏ xuống phòng dì Phong loay hoay kê lại tấm gương bầu dục ở bàn trang điểm cho dì được chừng mười lăm phút thì thấy hắn ra sau đi tiểu ghé vào bảo Dần: “Em vẫn như xưa”. Sau đó, hắn đi giao súng cho một người bạn cũ, nói nửa giờ sẽ về. Dần lên thấy Kiều Bích đang nằm quạt, vận bộ đồ đen của Thắng. Kiều Bích nhỏm dậy, nom hiền thục, khiêm tốn. Nàng nói: “Em là em gái anh Thắng. Nghe anh Thắng nhắc tới anh đã lâu, giờ mới được gặp, em thực mừng”. Dần ra khỏi tiệm ăn mới thấy nôn nao khó chịu. Dần vừa đi vừa rũ confetti trên tóc để có những cử động làm quên phần nào cơn say. Về tới nhà, Dần thấy người y tá hút thuốc chờ ở trên hiên. Ông ta đưa tay bắt lúc Dần bước lên mấy bực thềm. Dần nắm chặt bàn tay nhớp nháp của ông ta và mửa thốc tháo. “Nguy quá, rượu say lại đi gió”. Tiếng ông ta kêu vang ngôi nhà vắng. Dần quỳ xuống thềm chống tay vào cột nôn không còn muốn đứng dậy. Người y tá chặn ngực và lưng cho Dần rồi dìu vào nhà. Dần nằm thẳng cẳng nghe ông ta loay hoay ở một chỗ đâu đó như tìm kiếm vật gì. Giá có một trong những người Dần đòi cưới gỡ giùm chiếc cà vạt. Tiếng động do người y tá gây nên đi xa hơn. Dường như ông ta đang lục lọi cùng mấy con chuột ở trên bàn trang điểm của dì Phong. Một lát, lòng bàn tay và gan bàn chân Dần được bôi mát. Dần giựt mình hỏi: “Ông bôi thứ gì đó?” “Vôi của bà già đó mà. Vôi cũng như chanh, giải say”. Dần mở rộng hai bàn tay, thở thiêm thiếp. Hai bàn tay, hai chân Dần như thoa đầy kem thoa mặt của dì Phong. “Bữa nay nghỉ chích một buổi, ông có thể về. Cám ơn ông”. Dần nói lên khoảng không. Người y tá lại rờ rà trên người Dần, nói khôi hài làm Dần cười như ngủ mơ rồi chào ra về. Dần nghĩ tới người học trò từ miền ngoài vào thi bàng hoàng nhìn mặt trời xuống chếch chói mắt nhảy ùm xuống luồng nước lạ. Buổi chiều thấy xa như ký ức về tiếng gọi nhau ấm ới của bọn đi tắm và tiếng nước. Dần vẫn nhắm mắt, đưa lòng bàn tay xòe rộng lên mặt ngửi xem có phải mùi kem trong cái hộp bám bụi trên bàn trang điểm của dì Phong. Hôm dì đi, cuốn tiểu thuyết của Mai Thảo vẫn còn đánh dấu bằng mụn vải vàng non ở nửa phần cuối, Kiều Bích ưa đọc Mai Thảo. Dần cho là Kiều Bích nói dối. Nhưng khuôn mặt Kiều Bích thực vẫn hiền thục, giọng nói vẫn khiêm tốn dễ thương. Dần nhỏm dậy ra khép cánh cửa phập phành. Sao giờ này Kiều Bích chưa tới? Dần thiu thiu ngủ, mơ gặp một cái thực bất ngờ: Reita Faria, hoa hậu Ấn Độ. Lúc tỉnh dậy Dần thấy nhức đầu, thấy có hương thơm và ánh trăng. Một người đàn bà quần áo trắng ngồi băn khoăn ở chiếc ghế cạnh giường. “Kiều Bích”. Dần nhỏm dậy buột mồm kêu cái tên giả của cô ta. Dần coi đồng hồ: “Cũng may tôi mới chợp mắt có một lát”. “Em đã định về”. Kiều Bích nói dịu dàng. Giọng cô ta như giọng con gái. Dần nói vừa đi ăn cưới về, bảo Kiều Bích ra ngoài chum nước rửa mặt. “Reita Faria”, Dần như cầu một điều lành rồi bật cười như vừa có được một vật dụng mới. Đồng hồ trong nhà gõ chín giờ. Dần nhớ ra đã quên lời hứa với con bé nhà hàng xóm. Gió bắt đầu lớn. Dần quay vào thoáng chút ngạc nhiên lúc hai người nhìn nhau. Hồi nãy mặt Kiều Bích như không thoa kem. Giờ thì nom rõ thực vẻ khờ khờ của những nét tinh nhanh bị lấp kín. Kiều Bích thành một khối trắng dịu dàng với ít điều che giấu. “Nhà anh thực lắm chuột”. Kiều Bích nói. Dần nói đùa: “Có vài con thôi nhưng đêm nào chúng cũng ồn ào trang điểm”. Kiều Bích kéo xích chiếc ghế ngồi lùi ra sau lúc Dần ngồi lại gần. Vẫn dáng khoan thai, vẫn tấm áo không cổ ba nút gài bằng vải sau lưng và chuỗi hột đen huyền. Hai tấm áo dài nối đang may vẫn chưa tới ngày lấy. Khuôn mặt trong mớ tóc ôm kín gáy vẫn mơ hồ gợi chút xúc động. Dần ngồi nói dông dài, không nhắc tới chuyện đưa Kiều Bích đi thăm người bạn như đã hứa. Dần nghĩ tới Thắng lúc hắn đi tiểu. Đêm nay Dần lén bà ngoại giấu người đàn bà trong nhà này chắc cũng được. Cùng lắm, để Kiều Bích trong phòng dì Phong, chẳng bao giờ bà cụ ngờ tới. “Thứ hai tới em vô lại Sài Gòn”. Kiều Bích nói. “Tôi không định về. Chờ tôi cùng đi cho vui chịu không?” “Chừng nào anh về?” Dần nhiệt thành với một câu mơ hồ: “Ờ… tôi cố gắng sao để cùng về với Kiều Bích”. Kiều Bích cười một mình. Dần nhìn hai bàn tay đặt trên mép áo thấy già và đen đủi, khác hẳn khuôn mặt. Người bạn Kiều Bích định tới thăm cho Dần biết hồi trước Kiều Bích thực khá. Sau ngày đẻ đứa con đầu lòng, đào ngũ, người đàn bà này sa sút hẳn. Từ đó tuy không bỏ hẳn đây, nhưng rất ít ai hiểu người đàn bà này sống ra sao. Dần không cần biết những chuyện đó. Trước Dần chỉ có người đàn bà có thể là còn trẻ, dịu dàng ngấm ngầm thôi thúc Dần bằng một ước muốn lạ. Dần thích thú vẻ thuần hậu đáng nghi hoặc của người đàn bà. Đêm nay, chắc Dần sẽ nắm lấy bàn tay đen đủi. Dần sẽ tuốt ống tay áo nàng lên cao để coi lớp da thịt thực tình bên trong. Dần lặp lại: “Chị ấy là vợ người bạn thân của tôi, không có gì phiền”. Đồng hồ trên cổ tay Kiều Bích chỉ gần mười giờ. Dần thả chuỗi hột xuống ngực người đàn bà, đứng dậy thay quần áo. Kiều Bích tránh thực giỏi. Chuỗi hột vừa dìu khuôn mặt nàng lại gần mặt Dần, nàng chợt kêu tới tên người bạn gái cũ, cái hẹn. Con đường tới nhà người bạn vắng và bụi. Bóng Kiều Bích gãy trên mặt đường đất nom đẹp như dáng một nữ sinh của nét vẽ Duy Liêm. Hai người đi như một cặp vợ chồng. Một đám thí sinh lùng đánh giám thị ùa từ ngoài phố vào tản mát chạy trốn. Dần thấy nhẹ người giữa gió. Dần hỏi người đàn bà đào ngũ có biết những con ve sầu? Kiều Bích tả sai hết. Dần đành nói về Thắng và tỏ ý tiếc đã không có nàng chụp hình lúc hắn sắp đi. Khẩu colt 12 của hắn đổi được chiếc canon và hai chục đôn. Buổi sáng hắn đi, hắn đánh thức Dần dậy thật sớm. Hai người quanh quẩn trước sân chụp lẫn cho nhau hết cuộn phim vẫn ngờ ngợ không được một tấm ra hồn. Người đàn bà hỏi: “Ảnh có nói gì tới em không?” Dần cười: “Có. Anh ấy lặp lặp lại những lời Kiều Bích kêu tôi lộn xộn”. “Ảnh bày đặt”. Kiều Bích nói tiếp: “Ảnh coi em như em gái, đối với em hết sức tự nhiên. Bữa ảnh bắt vận đồ của ảnh cho khỏi nhàu áo dài, em mắc cỡ muốn chết”. Dần không rõ chủ đích câu nói của người đàn bà. Cô ta luẩn quẩn che đậy một cách vô ích như một loài gậm nhấm càm lá phủ lên người. Những ngày tháng của cô ta thì bừa bộn trong trí nhớ nhiều e ngại vì tội đào ngũ. Nhưng cách ăn nói thì đơn giản như một cố gắng thu gọn trước mắt người khác. Cô ta có một đời sống bình thường, rõ rệt, có thể nói cho người khác nghe. Cô ta muốn Dần, có khi cả cô ta, hình dung những lời thêu dệt đó. Cô muốn mượn một đời của người khác để trở lại với mọi người. Cô như không còn gì, có gì, kể cả những trang tiểu thuyết của Mai Thảo. Dần cũng chẳng hơn gì. Tấm vé số mua cho Thục, bãi Trời Trống, gã học trò la bai bải, Yến, Lan, bàn tay người y tá, những cái vỏ trứng úp đầu đám lá dứa, ước muốn tuốt ống tay áo Kiều Bích… không ăn nhập gì tới nhau nhưng như có sự hoà hợp liên tục tốt đẹp tạo nên Dần bây giờ với những bước chân chắc chắn bên một người như vợ mình mới cưới. Buổi chiều như một cuộc chạy đuổi vô cớ. Dần như không nhập vào đời sống. Dần sống phút này với một bàn tay của người không ngờ Dần để ý tới, phút khác với vài đốm confetti màu trên một góc bánh flan. Dần nói chuyện với những vật vô tri như từ trước vẫn sống luẩn quấn bên gian phòng dì Phong vắng mặt. “Giá bây giờ tôi xin cưới Kiều Bích có cho là tôi nói giỡn?” Dần hỏi đột ngột. Kiều Bích né xa dần, lùi lại, kêu nhỏ: “Anh ăn nói kỳ cục”. Dần bước chậm chờ người đàn bà: “Đó là tôi thí dụ”. “Thí dụ gì mà nghe nhột nhạt…” Tiếng cười hai người nhỏ nhưng thực rõ giọng thẹn thùng của người đàn bà. Dần nghĩ lúc vuốt ngược ống tay áo người đàn bà chẳng còn bao lâu. “Cùng vô với anh, chị Hiên cười chết”. Kiều Bích nói lúc vào ngõ nhà người bạn, Dần yên lặng đi trước dẫn lối. Ngõ hẹp và tối. Trăng khuất trên những mái nhà cao cổ kính. Người đàn bà dường như kêu lên những tiếng nhỏ và chân vẫn bước. Cô ta có vẻ muốn được dỗ dành. Người bạn Dần đi trực đêm. Hiên còn thức, tỏ vẻ mừng rỡ nhận ra Kiều Bích. Hai người đàn bà làm ồn mấy đứa nhỏ ngủ trong mùng. Họ phải dỗ cho chúng ngủ lại rồi nhỏ giọng rủ nhau ra mãi giữa sân, kê ghế ngồi nói chuyện. Dần nằm trên cái võng dưới hiên, hút thuốc. Khi nào cưới Thục chắc Dần cũng dẫn vợ tới nhà các bạn. Nhưng Thục chắc ít nói hơn. Trong sân khuất gió không bụi, trăng có vẻ sáng. Dần lấy trong túi mấy mẫu vải áo dài Thục gởi ra tẩn mẩn coi lại màu. Bữa đó, chở Thục về tới cổng, Thục bảo: “Anh cho em coi lại cái số của anh”. Dần lục túi, đưa cho Thục. Thục chập hai tấm vé số xé vụn vứt lả tả rồi chạy vào nhà. Bức thư đầu, gửi về, Dần trách: “Như vậy chẳng bao giờ chúng mình giàu”. Hai người đàn bà ngồi giữa sân nom nhỏ nhắn. Có lúc chợt để ý, Dần nghe thì cười như con nít, kẻ thì nói những lời khó hiểu. Họ nhỏ giọng những lúc chợt quay vào nhà, nơi có Dần và mấy đứa trẻ con ngủ yên. Dần biết họ nói chuyện hồi còn nhỏ, muốn nghe thử nhưng ít chú ý được lâu. Vào lúc họ đấm nhau thùm thụp và cười sặc sụa thì phía ngoài đường có tiếng người kêu cháy ở chợ. Phía đó hửng đỏ. “Cháy ở chợ, anh Dần?” Một người đàn bà vọng vào: “Chắc vậy”. Dần nói. Hai người đàn bà nín thinh một lát rồi nhỏ giọng với những tiếng khúc khích không kìm được. Dần nhớ tới đám cháy có đứa nhỏ bị đốt đen thui cách đây không lâu. Lúc lửa ở mấy thùng dầu bít lối vào cửa, nó nắm lấy mấy cái chấn song ở cửa sổ nhảy như choi choi. Nó được xách ra để cạnh bờ giếng, nằm sấp mặt, chân tay co quắp như chực bơi. Bữa đó, về nhà tắm rửa xong, Dần bệnh trở lại. Sau này, có đêm Dần chợt mơ thấy nó như chợt mơ thấy tên Reita Faria. Nó đen đủi và đảo qua đảo lại nhảy nhót sau những chấn song. Nhìn phía trời nín thinh đỏ ửng thấy lửa có vẻ lớn mạnh, Dần coi đồng hồ, kiên nhẫn để hai người đàn bà nói chuyện, coi lại mấy mẫu vải và nhớ lại đứa nhỏ. Gần hai giờ đồng hồ, Dần không hề nghĩ cách để ngủ với Kiều Bích đêm nay. Kiều Bích bên Dần bỗng trở thành một điều hết sức tự nhiên, không cần phải lo tính. Người này cảm thấy người kia ở bên cạnh, yên lòng, nghĩ tới những chuyện tận đâu. Ở nhà người bạn về, trời đã khuya, dọc đường có những chiếc xe ba bánh chở hàng ở chợ về nhà. Người ta nói thiệt hại lớn. Bọn cướp đồ dữ hơn cả lửa. Có người chạy hàng ra ngoài gặp cướp lại ôm cả đống vải vứt vào lửa. Những xương cốt lâu ngày dưới nền chợ đã tới lúc gây tai hoạ. Người đàn bà kêu thấy sợ hãi vẩn vơ. Hai người đi trong một không khí hư hư thực thực như nhìn từ một con bệnh vừa khỏi. Tới một bụi tre khuất trăng, Kiều Bích bỗng dừng lại giục Dần đi trước. Dần hỏi, Kiều Bích chỉ nói: “Em sợ”. Dần nắm tay Kiều Bích: “Có tôi, sợ gì”. Kiều Bích vội giật tay lùi lại: “Anh để em đi tự nhiên”. “Sợ thì chỉ còn nước ngồi thụp xuống, đi làm sao được mà nói tự nhiên”. Dần nắm chặt hơn cái cổ tay vùng vẫy; trừ mảnh vải trắng của quần áo người đàn bà, Dần không còn nom rõ chút gì nơi Kiều Bích. Nhưng cái cổ tay cô ta bỗng đột ngột làm thức các giác quan. Dần như đang giằng co với thằng nhỏ đen đủi nhảy nhót sau những chấn song sắt. Lòng bàn tay Dần bị thúc lia lịa bằng các đầu xương khô. Dần thả cổ tay Kiều Bích, thở nhẹ nhõm như bắt chước hơi thở của cô ta trước mặt. Cô ta kêu: “Anh thực kỳ”. Dần cười thành tiếng để khỏi phải hút một điếu thuốc. “Thôi về”. Dần giục và bước đi. Dần muốn nghĩ dông dài chút ít để khỏi dừng lại ý nghĩ mình chưa được khoẻ sau lúc bôi vôi lòng bàn tay. Nghĩ tiếp chắc lại có cảm giác lúc nắm lấy bàn tay người thầy chích đứng trên hiên. Dần nghĩ về Thục, về những mẫu vải. Dần nghĩ về những bàn tay mình không thể đón lấy một cách bình thường. Dần cũng nghĩ những người con gái, đàn bà Dần đòi cưới như một trò đùa bậy bạ. Dần chợt nhớ tới người chú họ ăn chay lâu ngày ngửi thấy thịt bò là nôn ọe. Lần đầu khám phá ra điều này chú ấy ngẩn ngơ nhìn vợ con và mớ thực phẩm hằng ngày. Không lẽ Dần cũng có chỗ giống chú. Mọi người quanh Dần đâu chỉ có mùi thịt và xương. Trí nhớ Dần đâu chỉ có thằng nhỏ đó. Giấc ngủ Dần đâu có thể mơ mãi thấy cái tên Ấn Độ Reita Faria. Nhưng tới giờ, Dần vẫn sống quanh quẩn với mấy thứ đó. Người đàn bà đào ngũ như không còn xác thịt, chỉ còn những lời nói dối. Đứa nhỏ vẫn dẫn đường cho mọi liên tưởng. Và Reita Faria với những miếng phù hiệu bằng kim khí nhọn trên đầu không gợi nhớ tới những binh chủng Mỹ cô ta gặp trên các vùng đất đổ bộ mà như một điều chắc chắn sẽ gặp lại ở mỗi cái chợp mắt. Dần sao rồi đây? “Kiều Bích, Kiều Bích, ra phố uống nước nhân tiện coi chợ cháy một thể?” “Em sợ”. Tiếng người đàn bà sau lưng thực yếu trong lớp cát gió vừa cuốn ào tới. Dần ra khỏi rặng tre, quay lại chờ. Giữa những luồng bụi mù mịt, người đàn bà một tay lấy vạt áo trắng che mặt, một tay như quờ quạng tìm cách lại bên Dần. Dần đứng im cứng nhắc, cảm giác thực rõ từng lớp đất cát đang bồi quanh da thịt, bít kín tai, mũi, biến mình thành một pho tượng đất ngắm trăng. Có hồi dì Phong làm thơ: Trời đang vào thu Pho tượng đứng đó Chờ cơn mưa bụi Những chiếc lá vàng… Chợ cháy nên coi như không có giờ giới nghiêm. Các quán ăn, tiệm nước để cửa muộn. Đường phố đầy người dạo chơi. Vẻ khuya khoắt ở các ngõ ngách không còn lúc hai người ra tới vùng ánh sáng quanh chợ. Họ vào một tiệm có nhiều nhạc cũ và rải rác những thí sinh uống-cà-phê-suy-tư. Kiều Bích tự dưng nhận uống “33” với Dần. Cô ta nói thêm: “Nhưng uống bằng ly, có nhiều đá chớ không tu chai”. “Ăn chút gì để ngủ cho no bụng?” Dần hỏi. Thấy đói, Kiều Bích bảo Kiều Bích muốn ăn, sợ nặng bụng, mơ nhiều. Dần kêu phần ăn riêng mình rồi lơ đãng nghe nhạc, hút thuốc nhìn Kiều Bích vớt đá trong ly la-de đưa mình chùi mặt. Lúc đứa bồi bàn kéo cánh cửa sắt, hai người mới trở ra. Phố đã vắng thực sự. Kiều Bích lại kêu sợ lúc qua chợ nghe có tiếng đàn bà khóc khuya. Dần đưa tay ra vu vơ, lần này Kiều Bích để yên. Có thể cô ta đã mệt không muốn kéo dài thêm với Dần ảo tưởng về mình. Có thể trời đã khuya, uống đã ngây ngất, cô ta lại muốn trở về đời sống hỗn độn cố muốn quên đi của mình. Cô vẫn thực ngoan lúc Dần ve vuốt, dìu về nhà. Đường rộng thênh thang, hai người đi thực chậm. Dần thấy cái rùng mình cực nóng của người đàn bà trong vòng tay lúc đột ngột có tiếng chó sủa. Trước mặt họ, một người lính cao lòng khòng vai đeo súng, ôm cái mền trước bụng, quay lại đạp chân thình thịch dậm doạ con chó dai dẳng sủa cắn phía sau. Trăng sáng chênh chếch, Dần muốn nhớ thêm ít câu thơ của dì Phong mà không được. Tới lùm cây trước nhà rào rào như chở bão, Dần dừng lại ôm sát lấy người đàn bà. Người đàn bà lúng túng điều gì, lùi lại yếu ớt. Bóng những cành cây loáng qua quật qua quật lại, cô ta như nép trong một bóng tối yên ổn. Dần nắm cổ tay cô ta như giỡn, Dần kéo cao ống áo. Cô ta cười gượng gạo khó hiểu. Dần trỏ về phía cổng nói nhỏ: “Cổng khép, bà ngoại chắc đã về ngủ”. Hai người nín lặng lách qua cổng. Dần mở cửa đưa Kiều Bích vào phòng. Phòng tối mò, Dần kiếm một lát mới ra chỗ bật điện. Dần lấy quần áo mát của mình đưa cho Kiều Bích bảo thay cho khỏi nhàu áo dài. Kiều Bích ngồi ở mép giường đón lấy mớ quần áo nhưng không nhúc nhích. “Sao thế?” Dần hỏi, thấy mình ngớ ngẩn như ước muốn được vuốt cao ống tay áo người đàn bà. “Anh tắt đèn, ra ngoài cho em thay đồ”. Kiều Bích nhỏ nhẹ. Dần làm theo, trở ra hiên trước. Hoa lài tây rụng nhiều trên lối đi. Những chiếc vỏ trứng úp trên cây dứa lăn long lóc trên mặt sân đất. Dần vòng ra phía những chum nước rửa mặt. “Dần-em về rồi đó à?” Tiếng bà ngoại Dần hỏi ở sau nhà. Dần “Dạ” rồi vục đầu vào chiếc thau. Thấy mát mẻ, Dần sẵn đà vào phòng tắm xối nước ào ào. Lúc trở ra, Dần vòng về phía sau nhà, miệng huýt sáo bắt chước người bạn. Bà ngoại Dần nằm ở trên hiên bên những nén hương đuổi muỗi cắm trong cái lon sữa bỏ cát. Dần đẩy xích cái lon có những đầu than đỏ rung rung, ngồi xuống cạnh bà. “Đi đâu mà về muộn thế?” Bà hỏi. “Cháu lại nhà người bạn”. Hiên sau khuất gió, Dần bỗng thấy khoẻ khoắn dễ chịu. “Có ghé lại chợ không? Đời bà chưa bao giờ cảm thấy đám cháy lớn như vậy”. “Cháu có đi qua”. Dần nói và nghĩ chắc người đàn bà đã thay xong quần áo và đã nằm nghỉ. Dần cắm lại mấy que hương đổ nghiêng, bắt gặp bà ngoại đang ngắm nghía những đốm than đỏ. Bà bảo Dần: “Bà ao ước được ăn một đám giỗ có đủ mặt mấy anh em con như hồi còn ở ngoài đó”. Dần bật cười: “Mẹ cháu vẫn bảo anh em cháu không một ai cắm được nắm hương nên thân”. Bà cụ cũng bật cười: “Cô ấy đầu đã hai thứ tóc rồi còn ưa nói ngoa”. Dần châm một điếu thuốc, tựa cột nhìn về phía căn phòng dì Phong. “Trời đang vào thu, pho tượng đứng đó, chờ cơn mưa bụi, những chiếc lá vàng…” Dần ngâm nga như giọng bà ngoại vẫn ngâm Lục Vân Tiên. Lúc này Dần đã hiểu tại sao Thắng mau chán người đàn bà. Vẻ đen đủi của cô ta như len đến tận những chân tóc. Da thịt cô ta quả thực sa sút, tới độ mềm nhẽo, cô ta chẳng còn gì. “Thôi, cháu đi ngủ trước”. Dần nói, dời khỏi mái hiên, vòng về trước nhà. Những chiếc vỏ trứng vẫn lăn long lóc trên sân. Căn phòng Dần vẫn tối om. Dần gõ nhẹ cửa như chẳng thể chán ghét đứa nhỏ đen đủi trong trí nhớ và Reita Faria trong giấc ngủ sắp tới. Dần nghĩ sẽ ôm người đàn bà trong lòng suốt đêm dù mắt có mở lớn vì những lùm cây reo ào ào như chở bão quanh nhà.
Trên bàn để một chiếc cái máy truyền tin bọc bằng bao vải bố, một chiếc ra-dô ấp tân sinh, một dĩa rau lớn, một tô gan lẫn lá sả, hai dĩa thịt nướng, bốn cái ly chén đủ loại đựng rượu đế và một xấp bánh tráng. Phon kéo ghế cho một người vừa tới muộn.
– Không còn chuyện chi quan trọng như cái vần đề này. Uống cùng anh em ít ly rồi lo công vụ cũng không muộn.
Người tới muộn lừng chừng ngồi xuống ghế, phân vân:
– Nói hoài anh em vẫn không thông cảm, kẹt quá.
– Có chi mà kẹt, để tôi gọi về nói anh chưa tới được là xong.
Người đối diện với Phon vừa nói vừa đứng dậy nhắc chiếc máy truyền tin đặt vào lòng. Anh ta kéo dài cần dây trời, bật “pin” cúi đầu gọi về trụ sở xã.
– Dùng cái máy đó coi bộ cũng không khó. Phon nói. Trong máy có tiếng trả lời âm âm phát ra. Người tới muộn áy náy:
– Phiền mấy anh quá…
– Anh Năm còn nói vậy tụi tôi giận đó. Từ hồi thằng Xanh chết tới nay, ngoài anh Năm, ba đứa tôi còn biết thương ai hơn.
Năm cười cảm động:
– Mấy anh nói tới thằng Xanh khiến tôi lại nhớ nó, thấy tội cho nó. Nó hoang mà điều nó cũng vui cũng dễ thương như mấy anh đây.
– Sức mấy mà nói tới thằng đó. Uống đi anh Năm.
Người đối diện Phon giục; Phon trông cho mọi người nâng ly rồi mới cạn theo một hơi. Phon không ham nhắc lại chuyện thằng Xanh. Nó chết buồn hơn cả mấy bài ca ruột của nó. Cúc Hoa ôi, nếu chúng ta còn xa cách nhau vì kẻ tuyền đài người dương thế thì mãi mãi anh còn là kẻ bị đầy ải đơn côi trong ngục thất của tâm hồn. Có nhiều lúc vắng hai thằng bạn thân còn lại bên mình Phon vẫn bắt chợt nghe mình ê a nhại lại giọng ca của thằng Xanh ngày nào. Bây giờ thì Phon sắp xa nốt hai thằng này. Phon vừa nhập nghề của chúng nó. Nhưng Phon không ở xã để được như thằng Đành ở bên thằng Thấu, thằng Thấu ở bên thằng Đành. Hai thằng này nói Phon sướng hơn tụi nó. Ở quận tuy ít thong thả hơn ở xã nhưng vui hơn, dễ kiếm đồ nhậu ngon lành hơn. Phon đành tin tụi nó như vẫn tin tất cả những bất ngờ lúc nào cũng có thể xảy ra không may cho mình. Cúc Hoa ôi, nếu chúng ta còn xa cách nhau vì kẻ tuyền đài người dương thế…
– Bữa nay anh Năm khách sáo dữ. Ngồi nhậu mà còn suy nghĩ vậy là chưa phải hết mình với anh em.
Đành vừa nói vừa gắp một đũa thịt bỏ vô chén Năm, Năm đã uống ráo ba ly nhưng chỉ ăn toàn bánh tráng với rau và một hai miếng gan. Năm lắc đầu tỏ vẻ bất lực trước sự vồn vã của bạn nhưng đôi đũa không hề đụng vào mấy miếng thịt. Đành đang cười thấy vậy chợt ngẩn ngơ nhìn Năm. Đôi mắt lông mày rậm nặng nề nom yên lặng với những tia máu đỏ bừng bừng trong lòng. Bỗng nhiên Đành cất tiếng cười lớn, hai chân đẩy cho lưng ghế ngả ra phía sau, mặt hếch lên mái nhà.
– Hay là anh Năm nghi đây là thịt con ngựa trúng mìn hồi hôm nên hãi?
– Ai mà nghi, mà hãi. Hãi sao nãy giờ ăn cả chục miếng gan.
Năm vừa nói, vừa gắp một miếng thịt kèm với khế chua bỏ vào mồm, cạn một ly rượu, Tay Năm quơ quất đưa ra trước mặt vớ lấy cái chai xị rót đầy một ly -khác, nốc luôn một hơi.
– Coi tôi uống vậy mà nói không hết mình sao được.
Giọng Năm có những âm thanh quấn quít, dính, sệt. Năm ăn và uống như quên nuốt, mồm nói liên hồi tiếng cười thật lớn. Thấu nhổ trên bàn thờ một cái chân hương, xỉa răng. Hai gò má bóng và dài. Hắn nhoài người rót rượu vào ly của Năm:
– Bữa rượu tiễn chú ba ít nhứt cũng phải vậy mới vui chớ. Vô nữa đi anh Năm.
Phon để ý thấy Năm ăn như thể vội vã mà thực ra ăn rất ít, uống và nói thật nhiều. Phon muốn gắp cho Năm một đũa thịt nữa nhưng lại thôi, chỉ gượng gạo phụ họa Thấu:
– Thấu nói vậy mà trúng ý tôi đó. Vui thêm để kỷ niệm tôi lên đường làm bổn phận nam nhi.
Đành đứng dậy, kéo xích ghế, cầm xị rượu Phon vừa rót đầy, lại vỗ vai Năm, rồi ngó vào mặt Năm lắc lư cái đầu bắt chước Trình Giảo Kim nói với Đơn Hùng Tín bằng một bài ca điệu Quảng đông “ly rượu này… ày ày, em xin để tặng anh à à.” Năm dằn mạnh ly xuống bàn, quắc mắt.
– Ta cho phép.
Đành ê a rót đầy ly Năm rồi đi vòng quanh bàn, tiếp tục ca lần lượt chuốc cho từng người. Năm đã hết gìn giữ, ngả nghiêng theo tiếng hát của Đành, chốc chốc lại dựng thẳng người, hét lớn “ta cho phép”. Nhưng mỗi lúc có ai gắp thịt bỏ vào chén mình, hắn vẫn không tránh được vẻ sững sờ đột ngột.
Khi Thấu nằm dài ra tấm ngựa gian bên cạnh vặn ra-dô nghe, Năm lảo đảo đứng dậy ra về. Phon đưa hắn ra cửa và mồi cho hắn điếu thuốc.
– Không phải thịt con ngựa hồi hôm đâu anh Năm. Lòng nó xổ cả đống lẫn lộn với lòng Cai Bốn. Ai mà dám ăn.
Năm gục gặc cái đầu bước xuống đường, ở trong nhà Đành và Thấu cùng căng mồm, vươn cổ ói bừa bãi xuống đất. Phon lặng thinh đứng giữa khung cửa nhìn vào.
Cúc Hoa ôi, nếu chúng ta còn xa cách nhau vì kẻ tuyền đài người dương thế thì mãi mãi anh còn là kẻ bị đầy ải đơn côi trong ngục thất của tâm hồn. Bây giờ thì Phon đã hát lại tất cả những bài ca của thằng Xanh mà Phon nằm lòng. Ba giờ gác cầu một ngày. Thằng Xanh vẫn còn có thứ an ủi được Phon. Phon vịn vào cây cản xe sơn từng khoanh đỏ trắng mà hát, dựa vào thành cầu mà hát. Lòng cầu chạy sâu hun hút giữa hai hàng vòm sắt cao ngất đen đủi. Ngửng cổ lên, bầu trời vướng ở trên kia thật xa. Những phiến gỗ dầy nhấp nhô xếp ngang hai bên con đường sắt hành cho xe lửa trước kia không có xe chạy qua trông như cỏ hoang. Sát hai bên thành cầu, đường dành cho người đi bộ nhô cao, hẹp. Có rất ít người đi trên đó trong một ngày. Chỉ có những ai đi xe hai bánh lật đật ghé vào khom mình cúi xuống giữ cho xe ép vào lối đi tránh một đoàn G.M.C. hoặc M.II3 chạy ầm ầm qua cầu. Những chỗ thành cầu phình ra để tránh xe đã hư và không được sửa lại. Đứng ở đầu cầu, ngó đầu ra ngoài nhìn dọc lên, những chỗ đó nom như ái chuồng sắt bỏ không. Mấy người sửa cầu có khi ngồi ăn cơm trưa ở trong những cái củi đó, vừa ăn vừa có thể nhìn xuống những khoảng trống thiếu gỗ lát ở dưới chân mình để thấy nước chảy ở dưới kia. Trên thành từng vòm sắt, một khoảng sơn trắng nổi bật vuông vắn làm nền cho một chữ số nhịp cầu Phon di chuyển trong vòng năm nhịp, có thể nhìn thấy dáng một vài người gác cầu khác lẩn khuất, bên những vòm sắt lớn lao. Những lúc Phon và người gác đoạn cầu kể bên vô tình gặp nhau ở lằn giới hạn, cả hai cùng cười im lặng quay lưng đi hoặc trao đổi vu vơ một hai câu thật ngắn. Nhiều lúc Phon ở vào một tình trạng lơ mơ để thấy Cúc Hoa có hai cánh tay trắng muốt chuốc rượu thằng Xanh, để nghĩ đến một ngày “có điều kiện vật chất” mua thịt bò tươi thay cho thịt ngựa chết uống la-de chay cho rượu thằng Đành thằng Thấu. Phon thường giật mình mỗi khi có tiếng xe sầm sập qua cầu. Dần dần giật mình như thành một chứng bịnh. Phôn ưa đưa tay một tay giữ mũ, một tay mở rộng ấn lên cầm xoay hẳn mặt đi cho xương đầu, xương cổ kêu rắc rắc.
Phon rất rành về ưu thế của những xe qua cầu. Xe quân đội, tất nhiên. Nhưng đáng để ý nhất vẫn là đoàn chiến xa của thiết giáp. Mỗi lần những chiếc M.113 qua cầu, tất cả như rung chuyển dữ dội. Những lúc đó, Phon khuất vào những chân vòm cầu để tìm một chút vững chãi, yên dạ. Vào các buổi chiều, từ tỉnh qua để chạy vào các làng, vào những con đường núi, đoàn xe từ từ, chậm chậm qua từng nhịp cầu, những người lính nhô ra khỏi cục bướu thép, yên lặng, bâng quơ. Thị xã sau lưng họ đã sáng màu đen néon, núi non và làng mạc trước mặt họ bắt đầu mờ khí núi. Vào các buổi sáng, đoàn xe rầm rập trở về, trên xe có nhiều người lố nhố hơn, những chiếc mũ gài vào cầu vai cũng nhềiu hơn. Tóc họ ngược ra sau. Lúc này hầu như không một chướng ngại nào có thể làm họ tạm ngưng trên đường về. Họ không cần biết đầu đàng kia có xe nào chạy sang không. Một lần hai thiếu úy từ thị xã ngồi trên xe “ríp” chạy về quận được mười nhịp cầu thì gặp họ, đầu xe “ríp” và đầu xe bọc sắt kề sát nhau, máy nổ rầm rầm. Phon hồi hộp đứng xa mà nhín. Trong một lát, người ở hai xe như cùng bất động. Thiết giáp hốm đó chỉ có hai chiếc, do một thượng sĩ chỉ huy. Cuối cùng, một thiếu úy nhảy xuống xe lại bên chiếc thiết giáp:
– Chúng tôi đã qua được già nửa cây cầu .
Người thiếu úy vừa nói vừa chỉ lên con số 10 trên vòm thành cầu.
– Bên này được đi trước.
Một giọng nói gọn lỏn trên xe thiết giáp. Trên đó, có người đưa một gói thuốc cho các bạn. Phon hơi nhúc nhích theo một phãn ứng tự nhiên nhưng rồi lại làm thinh. Người thiếu úy phân vân, đứng yên. Người trên xe thiết giáp dõng dạc:
-Bên này cũng đã vượt hết chín nhịp. Xe bên này nặng, không biết “de” bao giờ.
– Chúng tôi muốn nói một cách hợp lý.
Người thiếu úy nói. Có tiếng cười trên xe thiết giáp.
-Xe này nặng không biết “de” bao giờ.
Một giọng khác lặp lại. Người thiếu úy quay trở lên xe nói gì với bạn. Tiếng máy vẫn rầm rầm. Một lát sau chiếc xe “ríp” “de” về phía bên kia cầu. Trên cả hai xe thiết giáp cùng nổi lên những tiếng cười ồn ào.
– Nút đồng ngoài chợ bán thiếu gì. Chạy đi, bộ nằm chình ình giữa cầu hoài sao.
Có tiếng người giục. Và đoàn xe chuyển xích nghiến trên sàn gỗ.
Phon ngơ ngẩn nhìn theo, nghĩ thầm:
– Mỗi ngày gặp một vụ như vậy có khi đở sầu.
Phon dựa vào thành cầu tìm một thoải mái lạnh ngấm vào da thịt từ chân vòm sắt. Lúc đó, Phon mong được ngồi trên chiếc xe thiết giáp dù có phải đi xa, tới những miền sự sống chết chỉ cách nhau có mấy phân bọc sắt. Phon sẽ có tiền lương đầy đủ, có thể bỏ ra tám trăm mua một bộ thủy quân lục chiến như người thiếu úy ngồi trong phòng việc ở quận để mặc ra tiệm, uống la-de và trừng trị bòn cao bồi nếu chúng nghinh Phon. Và nhất là Phon khỏi phải nghĩ nhiều về ông ta. Kề cả hai lần vào hai cuối tháng vừa qua, Phon gặp riêng ông năm lần tất cả. Đều ở nhà riêng. Ba lần trước, Phon vào với một người quen. Ở nhà ông, người quen đó vẫn nói nhiều với Phon. Như thay mặt cho ông. Ông ta cũng ngồi ngay bên Phon nhưng mặt ông luôn luôn khuất sau tờ báo.
– Vào nghĩa quân thì được ở gần vợ con cha mẹ.
Câu nói duy nhất của ông sau tờ báo. Mấy lần đó khi ra về, Phon không nhớ được rõ mặt ông, chỉ có bàn tay thô lớn có nhựa thuốc bám trên hai móng thường rơi tờ báo ôm lấy ly la-de là Phon nhớ thật tường tận. Nhưng bây giờ Phon coi như đã quen ông. Có lần ông bị quận trưởng xài xễ, Phon đã thấy tội nghiệp. Hồi đó Phon vẫn tưởng ai vào nghĩa quân cũng mất ba tháng lương đầu cho 6ong ta. Nhưng từ hôm có ông già về đây, xe chạy vun vút trên sàn cầu, Phon hiểu mình có thể vào nghĩa quân mà vẫn có tiền ngay từ tháng đầu tiên. Ông già tò ra vui và thương bọn Phon. Lúc ông nói khôi hài, Phon thấy ông nhìn mình. Trước khi ra về ông nói anh em có gì thắc mắc cứ phát biểu hoặc viết cho ông theo địa chỉ ông vừa cho.
Một người bạn đã nói nhỏ với Phon:
– Mất không cho nó ba tháng lương kỳ quá. Nó buôn tụi mình, tố cáo đi. Mầy nói lên một tiếng sẽ có liền nhiều tiếng khác nói theo. Nó sẽ bị trói như con heo tức thì.
Phon giận dữ:
– Mầy định tính nước chết cho tao đó sao? Ai nói theo tao? Mấy thằng học sinh có tên trong sổ lương? Mấy thằng nghĩa quân mất tích mấy hôm rồi chả chưa bôi tên? Định tính nước chết cho tao sao đó mầy?
Tuy nói vậy, song từ hôm đó Phon hết còn tội nghiệp ông ta mỗi khi ông quận trưởng nổi giận. Trước kia, Phon cho mình còn hơn bọn học sinh. Bọn chúng cả sáu tháng sau mới có tiền. Phon mất ba tháng còn đỡ. Bây giờ Phon thấy cùng xui như nhau. Đã hai tháng, hai lần cầm bút ký sổ lương để ông ta lãnh tiền, Phon cho là ai cũng có hồi không may. Còn hai tháng nữa. Mình gác cầu hoài nên coi ngày tháng nó lâu hết vậy thôi. Bọn nó mau chân hơn mình, bọn nó đỡ lỗ, không tốn một cắc, thằng Đành, thằng Thấu, thằng Xanh… Ngày còn lại ở bên quận, có đêm ôm súng ngồi sau xe qua cầu sáng thị xã với ông, Phon đã nghĩ vậy. Ông thường sang bên đó vào những đêm khao quân, con gái ông sang ca hát giúp vui. Con gái ông là một nữ ca sĩ tân nhạc địa phương, biệt hiệu Thùy Dương. Trừ những đêm bận đi nằm ngoài ruộng, mỗi lầh Thùy Dương xuất hiện trên sân khấu, không bao giờ thiếu mặt ông ngồi trên dãy ghế hàng đầu. Thùy Dương mười bảy tuổi, trán rộng, cằm nhỏ, tóc Thanh Thúy, giọng Thúy Nga, nụ cười tê tái Trúc Mai. Ông thương Thùy Dương bằng tình thương của người cha già đối với đứa con độc nhất. Ông kêu là “người bạn nhỏ bướng bỉnh” của ông. Mỗi lần sang thị xã, ông thường ăn vận chình tề như những lần chỉ huy binh đội dàn chào các ông lớn. Thùy Dương bình thường ưa mặc “din”, áo sơ mi, nhưng mỗi khi đi trình diễn, luôn luôn mang áo dài tươi màu, cha con ông thường đi tới quận rồi mới chở bọn Phon đi theo. Hai cha con ông ngồi băng trước, nói cười suốt dọc đường vì những điều thật vụn vặt. Bọn Phon ngồi sau, ba người. Hai người mang súng và một người mang máy truyền tin liên lạc thường trực với bên quận.
Đến rạp hát, bọn Phon ở ngoài. Chiếc xe đậu xa cửa rạp trên một chỗ vắng vẻ, nhưng ba người vẫn có thể nghe được tiếng đờn hát từ trong rạp vọng ra. Lúc đó Phon không biết làm gì cho qua bốn giờ chờ đợi. Nói chuyện vô tình hướng câu chuyện đến việc ăn nhậu. Phon kể những món ăn cha Phon thường làm hồi ông còn sống, đến món cá tràu um rắc lá lốt của thằng Xanh, đến cảnh sửa soạn một bữa cỗ có vịt tiềm, mướp đắng nhồi thịt… Hai người bạn thường cắt ngang lời Phon. “Nghèo mà ham” Phon gượng gạo bào chữa:
– Sống không ham cơm ham thịt sống chi?
Phon ra ngồi một mình trên bậc lên xuống ở cửa xe, hết nhìn về phía những hàng quàn hàng nước ở trước rạp hát lại ngửng lên trời nhìn sao. Trời càng về khuya quanh rạp càng vắng, tiếng ca tiếng đờn vang ra càng dìu dặt. Chiếc máy truyền tin trong xe chốc chốc lại vang lên tiếng người ở bên đồn nghe như giọng nghẹt mũi. Cúc Hoa ôi, nếu chúng ta còn xa cách nhau vì kẻ tuyền đài người dương thế thì mãi mãi anh còn là kẻ bị đầy ải đơn côi trong ngục thất của tâm hồn. Phon nghe mình hát lúc nào mà không hay.
– Im đi cha nội, làm ơn cho tụi tôi nghe hát ở trỏng.
Hai người bạn Phon lên tiếng váo lúc Phon chợt nhận ra mình ngâm nga như nhận một lỗi lầm. Phon xuống đường trật mũ, đi loăng quăng cho đỡ sốt ruột. Phon không hiểu tại sao những tiếng động ở đây lại làm Phon bức rức, không như những buổi gác cầu. Trong nỗi bứt rứt đó, Phon thầm mong buổi ca nhạc đêm nay thiệt hay cho cha cô Thùy Dương thiệt vui. Đêm nay, sau khi ở rạp trở ra, ông cũng cho bọn Phon ăn uống và tỏ ra thân mật hơn bao giờ. Bốn giờ trong rạp hát, nơi ông đã có nhiều thay đổi, dù chỉ trong một thời gian ngắn đủ để ông thấy hứng khởi mà cho bọn Phon no nê. Ông thường ngồi ở hàng ghế đầu bên những ông lớn trong tỉnh và những anh hùng còn mệt mỏi, những chiến binh tay quấn băng, mặt sứt mẻ. Chiếc ghế da êm ái làm ông có cảm tưởng quen thuộc khi ngồi trong phòng những ông lớn, nhưng bộ quân phục chỉnh tề lại khiến ông nghĩ mình gần gũi những chiến binh hơn. Và khi Thùy Dương được giới thiệu, ông hồi hộp chờ đợi rồi thấy “người bạn nhỏ bướng bỉnh” thướt tha xuất hiện dưới ánh đèn mầu, ông đột ngột nhận rõ mình cũng chỉ là một người lình già đi nghe hát. Thùy Dương hết còn bướng bỉnh, hết còn những câu nói tiếng cười vụn vặt mà là một thiếu nữ có một ngôn ngữ như thơ. Ông xúc động vì ngôn ngữ như thơ, lạ tai đó, con gái ông đang ở một thế giới khác có màu hồng màu xanh màu tím đổi thay, có tiếng nhạc dìu dặt quyến rũ những chiến sĩ dưới này, những người ngày mai, ngày mốt có thể nằm chết. Càng nghe con hát, ông càng xa dần con, càng nghĩ đến cuộc vui qua mau, càng thấy gần những người băng tay quấn mặt, thấy gần những đêm nằm ngoài ruộng, trong đồn. Tiếng hát Thùy Dương đưa ông vào cô đơn của nỗi chết.
Và khi ra khỏi rạp, bên Thùy Dương, ông nghĩ đến bọn Phon, những kẻ cùng trên một đường với mình. Phon được ăn no và không mong gì hơn mỗi đêm đều có tiệc khao quân.
Cúc Hoa ôi, nếu chúng ta còn xa cách nhau vì kẻ tuyền đài người dương thế thì mãi mãi anh còn là kẻ bị đầy ải đơn côi trong ngục thất của tâm hồn. Nước đã lên mênh mông. Cách đây bốn năm hôm lòng sông còn cạn khô, nước động trong những vũng sâu rải rác, trâu bò còn đi thung thăng dưới chân cầu. Bây giờ nước đã ngập hết các vết tích từ bãi cát đầy vết xe nhà binh ở đầu cầu đến những gò cát nổi cao như những cù lao xanh um cỏ. Làng mạc ở xa đã thành những vũng màu lam gọn mắt. Ghe xuất hiện trên mặt nước đã nhiều, xuôi ngược thênh thang, tuy nhiên thuyền lớn vẫn hay bị mắc cạn. Phon nhìn trong trời mưa lấm tấm, những người quần áo sũng nước, ngâm mình dưới dòng sông mím môi ôm bánh lái dắt đi hoặc cong người dồn sức đẩy đằng sau mạn thuyền. Thuyền chất đầy lúa mới gặt thân còn tươi, lá còn phảng phất màu xanh. Thuyền lừ đừ trên nước, tiếng ấm ới của người đẩy thuyền ở sâu, ở xa. Chân cầu nước xoáy dữ dội. Mạn cầu nhớp nước. Những chiếc đầu bù-loong gắn dình với các thanh sắt nhỏ giọt. Đôi bàn chân Phon nhúng hoài trong giầy đầy nước, nhiều lúc bắt lạnh rùng người. Lòng cầu sạch trơn, lớp nhựa đường trên gỗ láng bóng thêm phần hun hút. Phon thêm một điều thuốc lá nuốt trọn từng ngụm khói.
Máy chiếc Lăm-bét-ta qua cầu. Tiếng máy ò ò vang vào các thành sắt. Hông xe đều che kín. Một vài vệt dầu loang trên sàn gỗ óng ánh. Tới đồn canh bên này cầu, một chiếc xe đậu lại, một người con gái bước xuống. Phon nhận ngay ra người con gái thường sang ngủ ngày với trưởng đồn. Cô ta khoác áo mưa màu vàng đậm, vận quần trắng áo hoa nhạt màu. Người mảnh khảnh mặt hơi tái song hồn nhiên. Phon có quen cô ta. Hôm ngày trưởng đồn sang nhậu với ông thiếu úy được gắn huy chương ở bên quận, cô ta ngồi đợi ông và hỏi chuyện Phon. Phon nói chắc còn lâu ông trường đồn mới về. Cô cười “tôi nói tôi chờ mà Phon”. Ay náy không biết kiếm chuyện chi nói trong thời gian lâu thế, bỏ ra ngoài. Nhưng chỉ lát sau Phon lại quay vào gượng gạo lặp lại “còn lâu ổng mới về”. Cô gái ngồi trong chiếc ghế độc nhất của người trưởng đồn ngửng nhìn Phon cười “Tôi chờ”. Sau một lát ngập ngừng, Phon hỏi “cô… có chi cần gặp ổng?” Nói xong Phon thấy ngượng. Cô gái vẫn cười “có chi đâu mà cần. Muốn chờ thì chờ vậy thôi”. Cô gái có vẻ vui nhưng ngồi yên cả tiếng đồng hồ không tỏ ra uể oải cũng không rờ rà tới các thứ trong phòng. Đên trưa người trưởng đồn vẫn không về, cô gái mới đứng dậy bảo Phon “Tôi về, anh.”
Phon đưa cô ra cửa đồn. Cô không đi ngược xuống quán con nhỏ mắt lé ăn nem nướng cũng chờ xe như mọi khi. Cô lững thững sang cầu, tay lướt trên thành sắt, tóc và hai ống quần bay rạt về phái sau. Cặp đùi cô nom thiệt nhỏ. Phon không muốn nghĩ cô đã hết tiền về xe tuy không thấy cô cầm nơi tay chiếc khăn bọc tiền như mọi khi.
Cô gái giở tiền trong khăn tay trả tiền người lái xe, quầy quả bước vào đồn. Đồn là một nhà ga cũ, xung quanh có hàng rào thép gai và các hầm lộ thiên. Chỗ cửa bán giấy xe trước kia có mấy người lính nhô đầu ra xét giấy tờ các xe vào thị xã. Cánh cửa đóng im ỉm ở đầu nhà ga mở cho cô vào rồi đóng lại. Một lát cửa lại mở, mấy người lính ra đường bước lại phái cây gỗ cản đưa chuyền nhau một gói thuốc. Phon mấm năm đầu ngón chân trong lòng giấy ướt sũng có cảm giác bị tê và một móng chân bị nhét cát nhưng không rõ ngón nào. Phon vuốt mặt, vẩy tay cho đỡ ướt, bước từng gượng nhẹ. Giày quá rộng, mỗi chân lồng hai chiếc vớ dày vẫn còn lỏng.
Từ sau mấy chiếc xe đậu ở đầu cầu. Thằng Đành chụp áo mưa đạp xe vượt lên. Phon giơ tay vẫy nhưng nó không hay. Nó dừng lại bên cây gỗ cản, thò một chân ra khỏi chiếc áo mưa nhà binh chống xuống đường hỏi han mấy người lính. Họ chỉ về phái cầu. Phon giơ tay vẫy, chân bước sang mạn cầu bên kia chờ bạn. Đành hất mặt lên cười với bộ mặt bón nước. Hắn đạp xe lên, dừng trước mặt phon, chân phải đặt trên đường dành cho bộ hành.
– Mạnh giỏi mầy?
– Mạnh. Có chuyện chi đó?
– Có chuyện chi đâu.
– Rảnh chuyện vậy na.
– Ờ, tụi tao mà.
Phon sờ vào chiếc áo lụng thụng của bạn:
– Tụi mầy xếp thiệt
Đành liếm nước quanh môi, nghe những tiếng súng từ vùng núi đầu sông vọng xuống.
– Vậy là đỡ rồi. Chỉ còn có hai tháng nữa mầy đã lương.
– Bữa đó tao gắng xin về gặp tụi mầy. Nghe nói sau bữa tao đi thằng Năm có chuyện với tụi mầy?
– Nó thông cảm rồi. Bữa thằng con nó chết nó cũng mời tụi tao lại nhậu. Con có chết được hơn một tháng
Thiệt tội.
Thằng Thấu nói hay quá nó cũng đỡ sầu.
– Ơ Thấu…
Một chiếc xe “ríp” phóng vụt qua, Phon quay mặt ra thành cầu.
– Cấm nói chuyện trên cầu?
– Cấm.
Đành ngó trước ngó sau rồi vòng xe trở lại:
– Vậy tao về
Phon dựa lưng vào thành cầu:
– Tao có lời thăm Thấu.
Dường như vừa có một dòng nước chảy từ gáy xuống sống lưng. Phon quơ tay ra sau cọ mu bàn tay vào lưng nhưng chỉ thấy lớp áo nhựa vừa trơn vừa lạnh. Phon sửa lại chiếc mũ đội đầu cho riềm mũ bao ra ngoài cổ áo mưa. Mưa chợt đổ xuống dồn dập. Sàn cầu bắn tóe những hạt nước lớn. Ngọn núi cao ngất đỉnh đội một phiến đá vuông, ở cuối khúc quành vừa hiện ra mờ mờ đã biến mất. Thản nhiên, Phon khom người lại dưới một cây sắt lớn. Đầu Phon rúc dưới cây sắt, hai vai nhô ra ngoài. Phon nghĩ tới những lúc ngồi với vài người bạn trong đồn ở ngoài quán con nhỏ mắt lé để quên những giọt nước dội từ vai bắn lên hai má. Mưa lớn như vầy, mái quán dột hết. Nhưng ít ra cũng còn một chỗ không bị hắt mưa để Phon ngồi xuống uống ít ly ngó con nhỏ co ro ôm hai vai loanh quanh bên mình. Hai tháng nữa, Phon có thể nhờ nó mua mực tươi ở chợ quận về xào với thơm xanh cho thỏa lòng mong muốn.
Một vài chiếc xe chạy vút vào lòng cầu, bỏ lại tai Phon tiếng những phiến gỗ bấp bênh bị bánh xe lướt qua. Tuốt bờ sông bên kia rài rác vài chiếc thuyền bất động mơ hồ. Dòng nước mỗi lúc như thêm dữ dội xoáy quanh những chân cầu bao dây kẽm gai. Phon ước những giọt nước trên môi mình là rượu. Phon vuốt mặt, nhô ra khỏi cây sắt. Về phía bên bờ này, có một vật gì trôi lại gần cầu. Mặt sông ở dưới kia thật rộng, mờ mờ, vật bị trôi đậm màu. Lúc chưa trông rõ, Phon thấy vật đó lúc chìm hẳn lúc nhô lên mặt nước. Khi đã đoán chừng nó là một vật, Phon thấy chốc chốc từng phần con vật lại hiện trên mặt nước sau một hồi mất tă,. Một con bò, chiếc đuôi vật vờ vừa chìm nghỉm, một mỏm đầu với hai cái sừng đã nhô lên. Có lúc cả chiếc đâu nó trồi lên khỏi mặt nước, mõm há rộng nhăn răng. Phon mong nó sẽ đụng vào một vạt cát thiệt cao để nom cho rõ. Dòng nước quá mạnh. Con vật trôi mau, tựa vào thành cầu, Phon cúi xuống nhìn. Chiếc đầu với hai sừng nhô lên một lần nữa. Con vật chắc mới chết. Lúc Phon ra gác cầu trận đánh mạn trên sông mới bắt đầu. Phon chắc nó cũng trúng đạn như con bò tuần trước trôi qua đây. Chân cầu và những phên kẽm gai có thể giữ nó lại. Con bò đã trôi vào gầm cầu. Phon không còn nhìn được, Phon bước sang bên kia, cúi gập người trên thành sắt không nom được suốt chân cầu. Phon chờ, tuy biết nó có thể mắc kẹt. Thân một cây dừa trôi sau con bò đã băng băng qua cầu.
Phon trở qua trở lại hai bên thành cầu. Tầm mắt Phon vẫn bị chận lại. Phon bứt rứt lắng tai xem có tiếng động nào chứng tỏ con vật còn đang ở dưới chân cầu. Chỉ có tiếng nước xoáy.
– Nó đã bị kẹt vào dây kẽm gai.
Phon lẩm bẩm. Tiếng nước xoáy dội mạnh lên tai Phon.
Trên bàn để một máy truyền tin bọc bằng cái bao vải bố, một chiếc ra-dô ấp tân sinh, một dĩa răn lớn, hai dĩa thịt nướng, ba cái ly chén đủ loại đựng rượu đế và một xấp bánh tráng. Đành kéo ghế cho Năm:
– Không còn chuyện chi quan trọng hơn cái vấn đề này, uống cùng anh em ít ly rồi lo công vụ cũng không muộn.
Năm lừng chừng ngồi xuống ghế, phân vân:
– Nói hoài anh em vẫn không thông cảm, kẹt quá.
– Có chi mà kẹt, để tôi gọi về nói anh chưa tới được là xong.
Đành lấy mấy kéo cần dây trời, bật “pin” cùi đầu gọi về trụ sở xã.
Năm áy náy:
– Phiền mấy anh quá.
– Anh Năm nói vậy tụi tôi giận đó. Từ hồi thằng Phon chết tới nay, ngoài anh Năm, hai đứa tôi còn biết thương ai hết.
Năm cười cảm động:
– Mấy anh nói tới thằng Phon khiến tôi lại nhớ nó thấy tọi nó. Nó ham ăn nhậu mà điều nó cũng vui, cũng dễ thương như mấy anh đây.
– Sức mấy mà nhắc tới thằng đó. Uống đi anh Năm.
Ngồi nhậu mà còn suy nghĩ. Đành cất tiếng cười lớn ngửa mặt lên trời. Thịt ngựa. Thịt bò. Ta cho phép. Cúc hoa em ôi. Ta cho phép.
Một đùi thịt bò còn nóng máu, một xị rượu lúc đã thay quần áo khô, có lẽ không còn điều gì đáng ước ao hơn thế. Tay Phon nhiều lúc đặt trên cán dao bên thắt lưng. Một đùi thịt bò, một xị rượu lúc đã thay quần áo khô. Phon nhìn về phía người bạn gác ở nhịp cầu đàng kia. Anh ta vẫn còn khuất vào một cây sắt nào đó để trú mưa. Không ai biết được cái đùi bò của Phon cả. Có chăng một mình con nhỏ mắt lé. Có cần gì phải chờ hai tháng nữa. Còn những đêm khao quân, còn tiếng súng trên kia và dòng sông này. Tao sẽ nghĩ, sẽ nhớ đến tất cả bọn bay. Cúc Hoa em ôi…
Phon thắc thỏm nhìn xuống dòng nước. Con bò chắc chắn đã bị kẹt nhưng vẫn có thể trôi đi bất ngờ, Phon tựa vào thành cầu chờ đổi gác.
Mưa ngớt dần. Người Phon nhiều lúc nổi da gà bắt rùng mình vì một cơn gió ở dưới sông tạt lên. Phon nhìn về dốc cầu. Sau cây cản gỗ, xe đậu nối đuôi. Đã hết giờ làm buổi sáng. Các công chức làm ở quận đã trở về thị xã. Những chiếc xe hơi que gạt hạt nước trên kính quệt qua quệt lại uể oải, máy nổ dồn dập, nóng chảy. Những chiếc Lăm-bét-ta ướt át có nhiều người mặc áo mưa và ngậm khói thuốc.
Mấy người lính từ trong đồn ra đổi gác. Họ đi hàng một, sát thành cầu. Phon cởi mấy nút áo nghe như ngực mình bốc hơi. Người bạn thay thế Phon nói:
– Tao đang nghe dở sáu câu.
Bọn Phon thong thả trở về đồn. Qua một chiếc xe hơi, có dấu thập tự, Phon nghe có tiếng cười thật trong của mấy cô mặc áo mưa màu với người đàn ông ngậm ống điếu tì tay trên bánh lái. Phon thoáng có ý định xin họ mấy viên thuốc nhức đầu nhưng chân vẫn bước theo các bạn vào đồn, tháo giày, cất súng.
Chiếc bảng cấm ở đầu cầu được xoay mặt. Đoàn xe từ từ lên cầu để khói lại phía sau. Một lát, chiếc bảng cấm lại được xoay ra. Từ phía thị xã, bọn học trò quần trắng áo trắng ngồi trên xe đạp lũ lượt qua cầu. Hôm nay là thứ hai.
Nắng lộ dần trên các vòm cầu. Cánh cửa đóng im ỉm ở đầu nhà ga bật mở. Người con gái sáng ngủ ngày với trưởng đồn nắm chiếc khăn tay đi ra, bước lên một chiếc Lăm-bét-ta. Phon nắm một con dao, bước xuống bờ sông.
Buổi sinh hoạt chiều nay tự nhiên có rất nhiều cảnh vệ tham dự. Không khí buổi điểm số, do đó rất trang nghiêm. Những tiếng hô âm vang giữa buổi chiều rừng núi, có tác động rất đặc biệt. Tên quản giáo, như thường lệ, khen chê xong bắt đầu :
– Ban Chỉ Huy trại biết, các anh đang thiếu thốn thực phẩm, không có thịt cá, rau dưa gì trong mấy tháng nay, nhưng các anh cũng thông cảm với hoàn cảnh khó khăn của trại, cũng ‘nà” khó khăn chung của đất nước sau mấy chục năm chinh chiến, mới hòa bình trên một năm nay, “nàm” sao có thể đầy đủ ngay được? Vì vậy, trại mới quyết định khắc phục khó khăn đó bằng kế hoạch trồng rau và đào ao thả cá. Cái khu bữa nọ các anh phát quang sẽ đào thanh ao thả cá. Cá giống, trại sẽ mua, các anh đào xong thả cá giống, chỉ trong vài tháng “nà” các anh tha hồ có chất đạm! Vậy, ngày mai toàn Trại sẽ “nàm” thông tầm. Nhà bếp sẽ phát bánh sớm để các anh “nãnh” cả phần ăn trưa “nuôn”!
Nói đến đây, hắn đưa mắt nhìn quanh quất:
– Các anh nhà bếp đâu?
– Dạ, chúng tôi đây!
– Sau buổi sinh hoạt này, các anh đến hậu cần “nãnh” “nương” thực. Các anh phải “no” sao, đúng 5 giờ sáng “nà” có bánh để phát. Nghe rõ chứ?
– Rõ!
-Như vậy “nà” xong! Tôi nhắc “nại”, mai các anh “nàm” thông tầm, từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều. Tan hàng!
Anh em ai nấy đều tỏ ra sốt sắng trong công tác ngày mai, vì còn gì vui hơn mấy tháng nữa có cá ăn mỗi bữa, thay vì nước muối triền miên!
Đã có người thức từ 4 giờ sáng. Tiếng điếu cầy kéo sòng sọc. Giá như mọi hôm, chắc thế nào người hút cũng nghe chửi, nhưng sáng nay anh còn được cảm ơn vì nhờ tiếng điếu, anh em mới dậy sớm sửa soạn cho công tác đặc biệt. Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng ý như vậy, có người lè nhè:
– Dậy đéo gì sớm thế? Đù mẹ, cứ làm như khi có cá được ăn cả ao! Còn lâu ạ!
Tiếng kẻng sáng nay gõ sớm hơn thường lệ. Anh em ai nấy đều sẵn sàng cầm chiếc túi nylon bọc chiếc bánh, để dành đến buổi trưa! Kẻng chưa dứt, đã có người chạy ra sân, lấy nước sôi vì sợ ra chậm sẽ hết! Những anh thuộc Tổ trực, sẵn sàng đi lãnh dụng cụ!
Trời chưa sáng, ai nấy đều đã có chiếc bánh và 1/4 nóng hổi trong tay. Có người cẩn thận chưa cho vào túi nylon ngay sợ thiu, để ở ngoài cho nguội, mới gói lại. Tôi không chịu nổi cơn đói, đưa 1/4 phần bánh buổi sáng vô miệng. Có chút bột, tự nhiên trong bụng thấy ấm áp. Đúng 7 giờ, từ ngoài cổng rất nhiều cảnh vệ đi vào cùng các tên quản giáo. Mọi người không ai nghi ngờ gì, sẵn sàng đi đào ao thả cá!
Một tên cán bộ, đeo K54, tôi chưa thấy mặt lần nào, dõng dạc nói:
– Các anh mang hết tư trang ra sân điểm nghiệm!
Tất cả đều chưng hững, quay vào Lán thu xếp đồ mang ra sân, cả ca cóong, lon, hộp! Lán 1 ngồi đầu, tiếp Lán 3, Lán 2 ngồi hàng cuối. Tôi đang sửa soạn, bỗng có mấy tên cảnh vệ xông vô Lán:
– Anh kia, còn “nàm” gì đây, sao chưa ra?
Tôi vội vàng ôm đồ, ngồi hàng cuối ngay cửa. Hôm trước, xin được chiếc lọ nhỏ, tôi đã cho tất cả số thuốc vào đó. Tôi để nó ở dưới chân, tìm chỗ giấu. Xung quanh tụi cảnh vệ vũ trang đứng đầy, khó lòng nhét vào đâu được. Tôi thoáng nảy ra ý kiến, chôn nó xuống đất. Tôi lấy chiếc cán muỗng “i nốc” cầm trong tay, ngoáy xuống đất. Không may, chỗ tôi ngồi đất lẫn đá quá cứng, khó khoét, nhưng trước tình thế này, không còn cách nào khác, phải cố gắng để giữ lọ thuốc. Tôi cứ ngồi xổm, chiếc muỗng trong tay, ngoáy liên tục. Tôi yên tâm phần nào vì chỉ có 4 tên, khám cho 300 người, còn lâu mới đến chỗ tôi. Sau 20 phút tận lực, tôi cũng có một cái lỗ vừa đủ chôn lọ thuốc. Chôn xong, tôi dẫm chân lên, như vậy tạm yên.
Cuộc khám xét lần lần từng hàng một. Mỗi phút qua đi, lòng tôi như lửa đốt. Mãi rồi cũng đến lượt hai tên khám đồ của tôi, không thu gì. Khi khám hết lượt, tên đeo K54 nói gọn:
– Các anh xếp đồ lại, chờ “nệnh”!
Mọi người lại thu vén nhanh nhẹn cho vô túi đeo lưng hoặc bao. Linh tính cho biết, sẽ có chuyện gì xảy ra. Tôi san đồ làm 2 gói, nếu có phải di chuyển, sẽ gánh cho nhẹ. Tôi đã có sẵn cây đòn trong dịp làm hàng rào.
Sáu tên cảnh vệ tiến ra giữa sân, rồi mỗi tên hô:
– Đội 1 theo tôi! Đội 2 theo tôi.
Cứ như vậy, sáu tên dẫn sáu Đội đi ra cổng. Trong khi chờ đến lượt Đội mình, tôi nhìn vào Lán, thấy tên quản giáo đang lục lọi, tìm từ góc cột đến mái nhà, xem tụi tôi có giấu gì không?
Chúng tôi đi theo tên cảnh vệ vũ trang ra cổng, rồi cứ vậy thẳng đường, tới ngọn đồi mà mấy tháng trước khi đến đã ngồi chờ tại đó. Từ trên đỉnh, tôi nhìn thấy trại của Tính. Nơi đó, cũng có đông người đi về phía chúng tôi. Chừng nửa giờ sau, khu vực tập họp đã đông nghẹt. Tính đã nhận ra tôi, giơ tay vẫy vẫy. Tôi vẫy lại, thay lời chào. Đây là lần cuối cùng, tôi và Tính thấy nhau. Tính có vẻ mập và trắng ra, chắc hẳn là công việc nhẹ tại trại, chứ không đi lao động. Ở trại nào cũng có một số công việc chuyên môn như đan rá, rổ, làm bếp, trồmg rau v v… thuộc loại công tác nhẹ. Ai không có sức khỏe, có thể xin làm công việc ấy, nhưng muốn xin, cũng không dễ vì số người được ở nhà rất hạn chế!
Sau khi tập họp xong, tên quản giáo cầm xấp giấy vẻ mặt trang nghiêm, nói:
– Theo “nệnh” trên, một số anh sẽ chuyển trại. Sau khi gọi, anh nào có tên, đứng sang phía tay phải của tôi. Nghe rõ chứ?
– Rõ!
Hắn mở xấp giấy, đọc tên và cấp bậc, toàn Trung Tá khoảng trên 100 người.
Sau khi đọc xong, hắn cho lệnh những người không có tên đứng vào ở riêng biệt.
Tôi xỏ 2 gói đồ vào chiếc đòn cho cân. Chúng tôi được lệnh di chuyển theo một tên cán bộ đeo súng ngắn không mang quân hàm, chắc cấp sĩ quan, tác phong có vẻ chững chạc. Hơn 100 con người gồng gánh, đeo, vác đi lần theo con đường mòn, không phải con đường đã đưa chúng tôi đến. Mọi người đều nghĩ, chỉ đi chừng 1 cây số sẽ có xe đón. Ai ngờ, cứ đi dài dài.
mạnh hải flickr
Ánh nắng buổi sớm mai chiếu chếch tạo nên sự tương phản về mầu sắc. Một bên rực rỡ, một bên ảm đạm, mơ hồ! Đường gập ghềnh rất khó đi. Qua khỏi con lộ đất, chúng tôi gặp con lộ đá khá rộng, có xe hơi chạy qua tung bụi mù. Hai túi đồ của tôi, theo nhịp chân, lúc la lúc lắc, làm chiếc đòn nghiến vào vai đau chịu không nổi. Tôi đặt nó xuống ven đường, tháo ra nhét vào túi đeo lưng. Vì không có thì giờ sắp xếp cho gọn, tôi nhét bừa nên nó đẩy ứ công kềnh. Tên cảnh vệ giục:
– Cái anh này, mau “nên”, còn ngồi đây đến bao giờ?
Tôi buộc vội rồi đeo lên vai, chạy lật đật để theo kịp dòng người. Vì đeo nặng lại đi gấp nên chóng mất sức. Mồ hôi vã ra đầm đìa! Tôi thấy khát nước, bỏ chiếc túi đeo xuống, lấy chiếc bi-đông ra tu một hơi gần hết 1/3. Theo kinh nghiệm di chuyển, trước khi đi xa, nên nuốt muối cho đỡ ra mồ hôi, lâu mất sức. Biết vậy, nhưng mọi người sáng nay không ai nghĩ sẽ phải làm cuộc “vạn lý trường chinh”, nên chẳng ai chuẩn bị. Sau khi đã cơn khát, tôi lại đi những bước chệnh choạng. Hơi nóng bốc từ mặt đường hừng hực. Thỉnh thoảng có dẫy nhà làm sát mé lộ, vài người đứng nói chuyện, thấy chúng tôi đi qua họ nhìn bằng những con mắt thương hại. Qua cái nhìn đó, tôi thấy xấu hổ vì chúng tôi không phải lũ ăn mày tình thương! Chúng tôi, những người thua trận, bị cầm tù gánh chịu nhục nhã do kẻ thắng trận muốn hành hạ để trả thù!
Dòng người rời lộ đá, quẹo vô con lộ đất đỏ au. Vừa quẹo khỏi khúc quanh, chúng tôi gặp một toán người lếch thếch, cũng gánh, gồng đeo vác, di chuyển ngược chiều. Một người hỏi:
– Cấp gì đó mấy anh?
– “Bò ngũ”. Còn mấy anh?
– “Bò tứ” và “Bò tam”! Mấy anh từ đâu đến?
– Từ Yên Bái! Còn mấy anh?
– Từ Nghĩa Lộ! Như vậy, chúng tôi đi, nhường chỗ cho mấy anh đó!
Tên cảnh vệ trừng mắt nhìn anh bạn đang trao đổi. Anh kia ngừng bặt.
Dòng người uể oải, lê bước, đi sâu vào con lộ, bắt đầu lên dốc. Một anh ngoái cổ hỏi:
– Còn xa không?
– Khoảng 4 cây!
Nghe câu trả lời, tôi rùng mình. Từ sớm, tôi đi khoảng 3 cây, bây giờ thêm 4 cây nữa!
Đeo nặng, di chuyển dưới nắng bảy, tám cây số, leo đèo xuống dốc, tuy mệt, nhưng chẳng ai khước từ được. Sau khi leo qua hai con dốc, mệt quá, tôi nằm lăn bên vệ cỏ.Tên cán bộ áp tải tù, thấy tôi như vậy, hắn dừng lại chờ. Tên này khá tử tế, tuy trông mặt cũng dữ dằn như mọi tên bộ đội coi tù khác. Hàm răng hô đưa ra khỏi môi như cười:
– Sao mệt quá hả? Sắp đến nơi rồi, cố lên!
Tôi biết, hắn nói câu đó, cũng như Tào Tháo đánh lừa quân sĩ sắp tới rừng mơ, khi họ quá khát nước. Chiếc bi-đông không còn giọt nào. Cổ họng khô cháy. Tôi nhắm mắt để tránh ánh nắng. Thấy tôi nằm lâu quá, mọi người đã đi xa, tên cán bộ xách chiếc túi của tôi lên, đeo vào vai hắn:
– Tôi mang dùm một quảng. Đứng dậy, đi!
Tôi nhỏm người, cảm thấy nhẹ nhõm. Tên bộ đội đeo dùm qua ba con dốc. Thấy tôi đã lấy lại sức, hắn trao trả. Tôi khoác chiếc túi đeo lên vai, từ từ xuống dốc. Con dốc khá dài. Nếu trại ở cuối con dốc này, hy vọng tôi sẽ tới nơi, yên lành! Nhưng không, sau khi xuống hết con dốc, một con dốc cao khác đã chờ trước mặt. Tôi lại cố gắng từng bước leo dần, leo dần. Khi lên tới đầu đốc, tôi hoàn toàn kiệt sức, ngã lăn trên bãi cỏ may, nằm đè lên chiếc túi đeo lưng. Tên cán bộ đã đi xa. Tôi nhìn về phía trái, cách xa chừng 100 thước, có nhiều dẫy nhà và những chiếc áo xanh qua lại. Tôi biết, nó là doanh trại của bộ đội. Dòng chữ “Không có gì quý hơn Độc Lập Tự Do” đập vào mắt. Tôi biết, sắp đến trại tù. Ở lưng chừng dốc, có hai người đang leo những bước chân lê lết! Lát sau, khi lết tới đầu đốc, họ cũng nằm lăn ra y hệt tôi. Thế là ba cái thân người sống dở, chết dở, nằm giữa vùng đồi núi mênh mông. Hai người lên sau, nằm chừng 15 phút, họ đứng dậy đi. Còn lại tôi, một mình nằm trơ như phiến đá. Chẳng biết nằm như vậy bao lâu, tôi bỗng nghe có tiếng chân đến gần. Mở mắt, thấy Hữu tôi mừng quá, gọi tíu tít. Hữu mỉm cười:
– Biết ông mệt, nên tôi ra đón!
– Trại còn xa không?
– Qua con dốc này là tới!
Vừa nói, Hữu vừa nâng tôi lên, tháo túi đồ treo trên vai tôi ra, đeo vào vai mình.Tôi ngồi dậy, đi từng bước mệt mỏi theo Hữu. Chúng tôi xuống hết con dốc, lại leo thêm con dốc nhỏ, tôi nhìn thấy vài dẫy nhà ở dưới thấp, và những thửa ruộng ngập nước. Hữu chỉ tay về phía trước:
– Trại đó!
Đi chừng nửa tiếng nữa tới trại. Lúc đó, 3 giờ chiều. Như vậy tôi di chuyển quảng đường dài khoảng 7 cây số, từ 9 giờ sáng đến 3 giờ chiều, mất 6 giờ, trung bình 1 giờ đi được hơn 1 cây số!
Khi đến nơi, anh em đã vào Lán và chuẩn bị xong chỗ nằm. Trại gồm sáu Lán, chia thành hai dẫy, mỗi bên ba chiếc. Tất cả những người mới đến ở hai Lán, những người đã ở từ trước, gom trong bốn Lán. Toàn cấp Trung Tá. Tính trung bình khoảng trên dưới 300. Trại ở trên ngọn đồi thấp. Rất nhiều gốc cây còn sót lại, chứng tỏ trại mới đuợc dựng cùng với thời gian dựng trại Yên Bái, nơi chúng tôi vừa rời bỏ. Những anh em, tôi vừa gặp đi ngược chiều, chắc sẽ chuyển về nơi tôi ở cũ. Có lẽ, đây chỉ là việc hoán chuyển theo kế hoạch tập trung từng cấp cho dễ điều hành.
Tôi xin nước uống dưới nhà bếp. Mùi cơm thơm phức đưa vào mũi làm ứa nước miếng. Đã mấy tháng nay, chưa đuọc ăn hột cơm nào, nạy được ngửi mùi cơm đã thấy nôn nao, tưởng như có thể ăn hết cả thau.
Cơm ở đây được đựng trong những chiếc thau tráng men. Cứ mười người 1 thau cơm và 1 thau canh. Tuy đói, nhưng chưa đến giờ phát cơm, tôi đi xuống suối tắm giặt. Con suối ở đây cũng nhỏ như con suối ở Yên Bái, nhưng nghe anh em ở cũ nói, dưới xa, nơi chân đồi có dòng suối lớn, bề ngang rộng cả mấy chục thước. Tắm giặt xong, tôi nằm nghỉ trên sạp nứa, chỗ gần Hữu và Đàm. Một hồi kẻng gõ vang, giờ lãnh cơm.
Buổi chiều nay tôi được ăn một bữa cơm với canh cải nấu muối, như chưa bao giờ được ăn ngon như vậy. Ăn xong, tôi ngồi trên một gốc cây nhìn lên những ngọn núi nhấp nhô đan kín vùng trời. Trại chưa có hàng rào.
Khu tụi cán bộ ở phía bên kia con suối, trên những ngọn đồi cao hơn. Những mái nhà rải rác đó đây, trông khang trang sạch sẽ. Ngay dưới chân đồi, có vọng gác. Trên đồi chúng tôi ở, cũng có căn nhà lá dành cho tụi cảnh vệ và vọng gác. Cả hai nơi đều có thể quan sát, kềm chế mọi sinh hoạt của chúng tôi bất kể lúc nào.
Vào khoảng 7 giờ tối, tiếng kẻng vang lên. Từ trong các Lán, mọi người ào ra sân tập họp. Chúng tôi làm theo. Cũng như lần trước, chúng tôi, những người mới đến chưa có Đội Trưởng. Một anh lại tình nguyện. Sau khi tập họp xong, đứng chờ. Một lũ bộ đội từ dưới đồi bước lên, mỗi tên cầm trong tay một chiếc lồng đèn. Vào đến giữa sân, chúng tỏa ra hai bên, mỗi tên đến một Lán.
mạnh hải flickr
Tên cán bộ hỏi:
– Các anh mới đến, đã có Đội Trưởng chưa?
– Dạ, tôi! – Anh tình nguyện giơ cao tay.
– Tốt! Đây, buổi sinh hoạt đầu tiên giữa chúng tôi và các anh. Như các anh đã biết, chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà Nước tha tội chết cho mấy anh, “nại” còn giáo dục để nay mai các anh trở thành những người “nương” thiện. Các anh cố gắng học tập tốt, “nao” động tốt để sớm trở về với gia đình. Trong thời gian ở trại này, các anh cố giữ gìn kỹ “nuật” tuân hành “nệnh” cán bộ, nếu không chúng tôi sẽ nghiêm trị, các anh nghe rõ chứ?
– Rõ!
Vẫn ngần ấy luận điệu, nghe chán quá! Tên cán bộ tiếp:
– Sáng mai, các anh sẽ khai báo lý lịch, học tập nội quy. Tan hàng!
Anh em kẻ vô Lán, người còn đứng ngoài. Những Lán có người cũ, tụi cán bộ nói lải nhải để sinh hoạt mãi chưa xong. Cây đèn dầu đặt dưới đất, ánh lên, không soi tỏ các khuôn mặt. Tôi chỉ thấy những thân hình và những bộ đồ tác chiến hòa trộn vào nhau thành một khối đặc sệt.
Một anh lên tiếng.:
– May quá, không có điểm nghiệm. Đỡ phải giấu đồ.
– Ừa, may thật, ngày mai chỉ khai báo lý lịch, học tập nội quy, cái đó quá quen thuộc! Đù mẹ, nội quy đéo thèm chép nữa, chỉ dò dò, ghi thêm, xóa bỏ những chỗ thừa, vì nó “xêm xêm” cả.
Sáng nay, tôi trực, lo phần ăn cho anh em. Tay cầm chiếc rổ đi xuống nhà bếp, lãnh xong đem về chia cho Tổ. Cầm 1/4 miếng bánh mì nhỏ xíu đưa vô miệng, chỉ mấy phút sau, miếng bánh đã theo nước miếng vô bao tử. Từ hôm đến, chúng tôi chưa được ăn miếng cơm nào. Anh em nhà bếp nói trong kho hậu cần, bột mì đầy nhóc, không thấy gạo đâu! Có lẽ, phải ăn bánh mì luộc dài dài! Ăn gì cũng không bằng ăn cơm. Cơm ăn mát ruột, dù no hay đói, chứ ăn bánh mì luộc mãi chịu sao nổi? Nhưng chịu hay không cũng vậy thôi, tù làm gì có quyền đòi hỏi?
Một hồi kẻng dài báo giờ lao động. Tôi theo Tổ bước lên đồi phát quang. Tổ trực đã đi lãnh dao, cuốc ở kho vật dụng, nơi bên kia dòng suối nhỏ. Trong lúc chờ dụng cụ phát quanh, tôi ngồi dưới tàng cây có những bông hoa vàng nhỏ li ti như hạt kê, chẳng hiểu nó thuộc loại cây gì? Mỗi lần có gió thổi, những hạt kê vàng rơi lả tả như phấn rắc, tỏa mùi hương hăng hắc. Tia nắng đầu tiên chiếu trên ngọn cây cao phía xa. Ánh nắng lấp lánh nhảy múa qua cành lá còn đẫm sương buổi sớm, rung rung như những chiếc bóng đèn nhỏ treo giữa nền nhung xanh thẫm.
Dụng cụ phát quang đã được mang về và phân phối. Dụng cụ ít, anh em nhiều, nên thay phiên nhau làm. Những nhát dạo chặt đôm đốp vào thân cây, những nhát cuốc bổ ào ào xuống những bụi nhỏ. Khoảng nửa tiếng, xung quanh chỗ tôi ngồi đã quang hẳn. Một vùng ánh nắng đổ xuống chói chang. Mùi lá tươi xông lên ngai ngái. Chúng tôi cứ thay nhau làm đến trưa, một góc đồi đã trơ trụi. Chiếc Lán tôi ở, ngang tầm mắt nhìn và con suối uốn mình vòng theo chân đồi rồi mất hút sau bờ cây thấp. Vài người cởi áo vì trời bắt đầu nóng. Bỗng có tiếng kêu:
– Ong, ong, …anh em coi chừng!
Tôi nhìn ra xa, đám ong vò vẽ đang cất cánh. Tôi vơ vội một cành lá đề phòng. Mọi người đều chạy dạt, vừa chạy vừa mặc áo. Những cành lá khua vung vít để đuổi ong. Một anh nhanh trí bật lửa châm vào đống lá khô gần đấy. Ngọn lửa bén dần, nhờ gió bốc to, tỏa khói mù mịt một khoảng đồi. Đàn ong không dám bén mảng đến nơi có khói, chúng bay cao rồi biến mất. Một anh tiến đến chỗ có tổ ong, leo lên cây giựt xuống, cười hô hố:
– Đù mẹ, không có mật, nhưng nhiều ong sáp quá, nhậu cũng được một bữa!
Nói xong anh cho tay cạy từng con bỏ vào miệng.
Đội Trưởng không phải lao động. Nhiệm vụ của Đội Trưởng là nhận lệnh của cán bộ rồi xỉa lại cho anh em. Do đó các Đội Trưởng đều nhàn rỗi. Tôi nhìn thấy Hà, Đội Trưởng đội của tôi đang “cải thiện” gần bờ suối. Chẳng biết anh đun nấu gì, mùi thơm bay lên đến trên đồi!
Tiếng kẻng tan tầm khua vang. Tiếng vọng âm âm luồn qua khe núi một lát mới tắt. Chúng tôi ùa xuống suối, rửa tay chân, chờ lãnh chiếc bánh luộc! Buổi chiều vẫn ngần ấy công việc, nhưng anh em làm có vẻ uể oải vì quá nắng. Một tên bộ đội, cấp sĩ quan, đeo súng ngắn, đi kiểm soát công việc. Hắn dừng lại chỗ chúng tôi làm.
– Mấy anh, phát quang phải chặt sát gốc, nếu chừa gốc nhiều quá, cây có thể sống “nại” được, lúc đó phải đánh rễ “nôi” thôi “nắm”! Các anh rõ chứ?
Chúng tôi dạ cho êm chuyện! Tự nhiên, hắn nói thêm:
– Các anh “nà” may “nắm”. Khí hậu ở đây hiền hơn ở nơi các anh vừa rời khỏi. Dù sao cũng gần tỉnh.
Một anh nhanh nhẩu:
– Thưa cán bộ, anh em hết thuốc lào, cán bộ có đi Yên Bái làm ơn mua dùm!
– Được, tôi không đi, nhưng cán bộ hậu cần thường đi, có gì tôi bảo mua giúp!
Nói xong, hắn đi nhanh vòng qua phía bên kia đồi.
– Đây gần Yên Bái, anh em ơi! Tôi hỏi mánh, biết ngay!
Chúng tôi đều phục vì anh nhanh trí, nên biết được địa điểm mình đang có mặt.
Buổi chiều tôi ra suối lớn tắm. Dòng suối khá rộng, nước chảy cuồn cuộn. Chúng tôi chỉ được tắm ở phía dưới. Phía trên dành cho nhà bếp. Tôi đi men theo dòng nước, nhảy qua từng tảng đá lớn để đến nơi ít người. Tôi nhìn lên vách núi, cây cỏ mọc rậm rì, từng từng lớp lớp. Nơi bên kia bờ có nhiều thân cây đổ ngang, tạo nên một rào chắn tự nhiên. Tôi ngâm mình dưới lòng suối, nước chảy rào rạt bên trên như mơn trớn vỗ về. Do kinh nghiệm, tôi biết, sống trong nhà tù Cộng Sản có thể làm gì có ích cho bản thân cứ làm, vì không ai lường trước những gì sẽ xẩy ra tới cho mình trong giờ sắp tới.
Tôi trở về vừa kịp giờ lãnh bánh. Đàm cho tôi cục đường thẻ. Bánh mì luộc ăn với đường thẻ ngon tuyệt. Tôi cắn từng miếng nhỏ, tính toán sao cho miếng bánh cuối cùng vẫn còn đường. Ai đã ở tù, mới biết đường là quý! Tôi cảm ơn Đàm nhiều.
Buổi chiều nay, khoảng 6 giờ, chúng tôi phải tập họp để điểm số trước khi vào Lán chứ không muộn như đêm qua. Như tối trước, lần lượt mỗi Đội Trưởng báo cáo số người, rồi mỗi người đọc số thứ tự của mình. Sau khi điểm số xong, tên cán bộ trực sinh hoạt giao công tác ngày mai. Từ đó trở đi, chúng tôi cứ như những chiếc máy: lao động, lãnh bánh, điểm số, thức ngủ theo đúng giờ giấc quy định.
Sau một tuần, công tác phát quang ngọn đồi đã xong, chúng tôi gom cây, cành vào một góc chờ khô, đưa xuống nhà bếp. Công tác làm hố xí do đội 5 phụ trách cũng xong. Anh em mỗi sáng đi cầu phải trèo lên con dốc cao khoảng 6 thước. Hố xí có chừng 20 căn, dành cho 300 người nên vẫn còn có người chờ, nhưng sự chờ đợi này không thê thảm như hồi ở Suối Máu.
Chiều nay, Tổ tôi được phân công đào giếng nước.
Đường kính miệng giếng rộng 4 thước, sâu 10 thước. Đó là chỉ tiêu, phải thực hiện xong trong một tuần.
Sớm hôm sau, chúng tôi khởi đầu công tác. Mười người hì hục làm, thay phiên nhau cuốc và bốc đất. Khu đào giếng ở gần con suối nhỏ, dưới chân đồi, nơi chúng tôi vừa phát quang, cả đất lẫn đá. Chúng tôi đào hết sức từ sáng đến chiều cũng chưa lấy được một lưỡi mai. Như vậy làm cách nào xong được chỉ tiêu đã ấn định? Thời gian cứ qua đi lạnh lùng. Một tuần lễ đã gần hết, chiếc giếng đào sâu độ 2 thước. Mỗi ngày tên cán bộ trực đi kiểm soát lắc đầu, chê “nao” động kém!
Hôm nay, ngày cuối cùng của công tác, chúng tôi hết sức đào tới giờ chót, đo lại được chừng 2 thước rưỡi. Lòng giếng khô ran, chưa một giọt nước!
Tuần sau, chúng tôi được thay công tác vì bị phê bình là “nề mề”, bầy nhầy, không chịu triển khai công tác, “nao” động tiêu cực, không đảm bảo chất lượng v.v… Chúng tôi được giao công tác trồng dứa trên quả đồi vừa phát quang bữa nọ. Tên cán bộ phụ trách trông nom và hướng dẫn cách trồng, luôn luôn có mặt. Hắn cuốc và trồng vài cây làm mẫu, chúng tôi cứ thế thi hành!
mạnh hải flickr
– Các anh trồng rồi các anh hưởng, chứ ai ăn vào đấy?
Hắn nói như muốn chúng tôi hiểu, mình làm cho mình, do đó, phải cố gắng thực hiện công tác! Nhưng hắn muốn nói gì thì nói, anh em vẫn “nề mề”, “bầy nhầy” vì mỗi bữa có một chiếc bánh mì luộc vô bụng làm sao có đủ sức để tích cực?
Nhưng rồi công tác trồng dứa cũng hoàn tất. Chúng tôi lại thay công tác, đi san nền nhà cho tụi Việt Cộng, ở rải rác trên đồi. Từ trên đỉnh đồi, tôi có thể nhìn bao quát khắp vùng. Tôi nhận ra con đường khi mới đến, cả cái Trại có Tính ở. Từ xa, nó trông giống khu nhà bình thường, không có vẻ nhà tù.
Phong cảnh buổi sáng thật đẹp, những dẫy đồi núi xen kẽ nhau, tạo nên một vòng đai muôn mầu rực rỡ dưới ánh nắng. Những làn mây trắng như bông gòn rải rác trong các khe núi. Tôi làm ít, ngắm cảnh nhiều. Mỗi nhát cuốc bổ xuống chỉ để che mắt chứ không đạt năng xuất. Nhưng công tác này cũng không kéo dài được bao lâu. Ít bữa sau, Tổ tôi lại thay công việc khổ sai.
Buổi chiều nay, tên cán bộ sinh hoạt cho biết:
– Từ ngày mai, các anh đi lấy dang trên đồi, để làm hàng rào! Ngọn đồi trước mặt các anh đó!
Chúng tôi nhìn lên, ngọn đồi cao ngất, ngay trên đỉnh có hàng cây xanh rì!
– Chỉ tiêu cho mỗi anh, 10 cây một ngày, mỗi cây có đường kính 6 phân, dài 4 thước. Các anh nghe rõ chứ! Vấn đề làm hàng rào không phải để kềm chế các anh đâu! Ở đây nhiều thú dữ, chúng tôi phải bảo vệ các anh, và ít nhất, để giữa chúng tôi với các anh có một chút phân biệt. Chứ cứ như thế này, không tiện! Có đúng không các anh?
– Dạ đúng!
Chẳng hiểu sao, chúng tôi lại đồng thanh cùng thốt ra tiếng nói đó.
Buổi tối, vẫn không có đèn, trong lòng chiếc Lán đen thui. Đó đây, tiếng “kéo pháo” nghe ròn rã. Giọng nói rì rầm trôi dần vào vắng lặng.
Từ sớm, mọi người đã thức, tuy kẻng chưa gõ. Đây, công tác đi xa Trại lần thứ nhất nên anh em có phần nào sốt sắng. Tiếng kẻng vừa gõ, tất cả đã ồ ra sân đi lãnh bánh và nước chứa đầy bi-đông. Miếng bánh luộc nhỏ bằng 2 đầu ngón tay. Nhiều người lo xa chưa ăn, cất trong túi áo, để dành lúc leo đồi vì con dốc khá cao!
Tên cán bộ quản giáo người Hà Tĩnh, đeo súng ngắn, đến dẫn các đội leo đồi. Tôi cùng mấy anh em băng qua con suối lớn, tiến dọc theo triền núi kiếm dang. Tôi leo con dốc thấp, chắc nơi đây đã có nhiều người qua lại nên thành lối mòn. Lên tới đầu dốc, tôi thấy mấy bụi dang. Mừng quá, vung dao chặt lia lịa. Con dao quá cùn, chặt mười mấy nhát chưa đứt một cây. Mồ hôi đã ướt đẫm áo. Nản quá, tôi vứt dao ngồi thở. Vừa lúc đó, có tiếng nói phía sau:
– Thôi, anh nghỉ đi. Tôi đã chặt sẵn mấy cây, lát nữa buộc lại để anh mang về!
Nghe nói, tôi vội nhìn xem ai, nhưng cố nhớ mà không ra.
– Anh không nhớ tôi sao?
Tôi nói ngượng ngùng:
– Xin lỗi, không nhớ!
– Anh không nhớ cũng phải vì tôi mới chỉ gặp anh một lần ở nơi làm việc. Tôi tên Tài!
– A, Tài, bạn ở vùng 4 phải không?
– Đúng!
– Cảm ơn bạn nhiều. Con dao của tôi cùn quá, chặt không nổi.
Tài cười, đi đến nơi đã chặt, rút dang ra khỏi bụi. Vấn đề rút dang cũng khá vất vả vì bị vướng cành, có khi chặt rồi, không tài nào lôi ra được, đành bỏ!
Tài rút ra 6 cây, lấy dao vát hết cành nhỏ, chặt ngọn dùng dây rừng buộc chặt. Theo tiêu chuẩn, mỗi người phải lấy 10 cây, nhưng vì sức yếu, tôi chỉ vác 6 cây. Mang về nếu tụi nó hỏi, tôi sẽ trả lời theo đúng chính sách: Lao động tùy sức!
Tôi cảm ơn Tài lần nữa, rồi vác bó dang lên vai đi đến đầu con dốc. Tôi hạ bó dang, tìm cách đưa xuống. Sau khi suy nghĩ, không tìm ra cách nào hơn là thả cho bó dang tự do lao xuống, muốn rơi vào đâu cũng được.
Nhưng nghĩ lại, trong lúc bó dang đang lao, nhỡ có người từ dưới leo lên, chắc chắn không tránh được tai nạn! Không biết sao hơn, tôi khum hai bàn tay đưa lên miệng làm loa, hét to: nguy hiểm, tránh xa! Sau khi la mấy tiếng, tôi đẩy bó dang xuống. Bó dang lăn nhanh, va vào đá, sợ dây buộc đứt tung, mỗi cây văng một ngả. Báo hại, tôi bò xuống đi nhặt từng cây rải rác, tìm dây khác bó lại. Công việc tìm dây không dễ dàng vì ở dưới thấp khó có dây rừng. Tìm mãi không ra, tôi đành đi nhặt các sợi dây bị đứt nối liền, buộc tạm.
Tôi vác bó dang lên vai, men theo sườn núi đi về. Đường đi cũng không dễ dàng, vì gập ghềnh, có khi phải lội qua những vũng nước rộng, bên dưới lổn nhổn đá lớn, nhỏ, rêu bám trơn như mỡ. Các cây dang trên vai, vì buộc không chặt nên mỗi cây choãi một ngả, rất khó đi. Cuối cùng, tôi cũng mang về tới nơi. Mồ hôi ướt đẫm áo quần. Tôi cứ để nguyên, nằm lăn ra đất.
Đội Trưởng đang ngồi uống nước, thấy tôi về, chạy ra hỏi:
– Sao, có 6 cây, chỉ tiêu 10 cơ mà?
Tuy mệt, nhưng tôi cố nhỏm dậy:
– Lao động tùy sức! Anh khoẻ mạnh sao không đi lấy, lại ở nhà?
– Tôi là Đội Trưởng, cán bộ cho phép không phải lao động! Tôi chỉ kiểm soát sự lao động của anh em trong Đội thôi!
– Kiểm soát cái con c….! Tù cả mà! Lại còn chức sắc!
Thấy tôi nổi nóng, anh không nói gì, quay vào. Anh em cũng lục tục mang dang về. Người nào quần áo cũng ướt sũng như ngâm nước, mặt mũi bơ phờ như vừa trải qua cuộc chạy đua quá mức.
Tôi đã lấy lại sức, đứng lên định ra suối tắm giặt, chợt nhìn lên trên đồi. Một đoàn người đông đảo kéo dài từ đỉnh đồi xuống đến lưng chừng, trên vai mỗi người đều có bó dang dài thượt dưới ánh nắng chang chang trông giống như con rắn khổng lồ đang trườn mình bắt mồi.
Tôi vắt chiếc khăn mặt lên vai, lững thững đến bờ suối. Tôi tắm ở con suối nhỏ sau nhà. Vừa tắm, vừa nhìn lên ngọn đồi trồng dứa, trông khá vui mắt.
Vào xế trưa, mọi người đều về đến nơi. Đàm vừa quăng bó dang xuống đã chửi thề:
– Đù mẹ, lao động dài dài kiểu này chắc chết quá!
mạnh hải flickr
Hữu cùng đi với Đàm, nhưng vốn hiền lành, có tinh thần chịu đựng, tuy trước kia là ông Toà của Toà Án Mặt Trận Vùng 8. Còn Cung ở đội khác, nên trong công tác ít gặp nhau, ngoại trừ lúc rảnh rỗi, thường nói chuyện tâm tình. Vốn dòng dõi quan liêu phong kiến, chắc Cung cũng đã nhìn ra cái thế của mình, nên lúc này hắn thường buồn hon vui. Những tư tưởng trong thơ đã nghiêng về giải bầy nỗi u uất thầm kín!
Những bó dang chất đầy khoảng sân. Cứ như vậy, trong một tuần lễ, dang chất kín mặt sân với bề cao trên 1 thước. Buổi chiều anh em được tự do.
Qua tuần sau, Đội 1 và 3 làm hàng rào. Những cây dang được vạt nhọn một đầu, chặt ngắn còn độ trên 3 thước, đan chéo cánh sẻ kín xung quanh khu vực. Công tác làm hàng rào cũng mất cả một tuần mới xong. Có lẽ, chiếc hàng rào chỉ nhằm phân cách giữa chúng tôi và khu vực của tụi Cộng Sản ở, nên vẫn còn ba nơi để chừa lại không rào. Nó như ba chiếc cổng. Chiếc thứ nhất thông ra con suối lớn. Chiếc thứ hai qua con suối nhỏ đến khu nhà bếp của tụi cán bộ và kho dụng cụ. Chiếc thứ ba ngay vọng gác, lối đi ra bên ngoài. Trong khi các đội khác làm hàng rào, Đội tôi làm công tác phát quang những bụi lá dong mọc dầy đặc xung quanh khu nhà bếp của tụi cán bộ. Trong khi chúng tôi ăn bánh mì luộc dài dài, tụi cán bộ Cộng Sản ăn cơm. Tôi nhìn thấy cả đống cơm thừa đổ giữa lòng suối, trong khi mình đói thắt họng. Không phải một chỗ, nhiều nơi như vậy, chứng tỏ bữa nào tụi nó ăn cũng dư. Tôi chưa thấy lá dong ở đâu nhiều như ở đây. Nhìn những tầu lá to như lá chuối ngã gục dưới lưỡi dao, tôi chợt nhớ, mỗi dịp Tết vợ tôi thường đi mua lá dong để gói bánh chưng, làm sao tìm được những chiếc lá tốt như thế này.
Mỗi tối, tên cán bộ quản giáo đều sinh hoạt kiểm thảo công tác. Tụi Cộng Sản hay thiệt, dù ở đâu chúng cũng đều nói chung một luận điệu, không thấy ngượng. Lúc vào đầu, bao giờ cũng khen. Sau câu khen giả dối, mới phê bình xây dựng, đập tan nát. Nào lười biếng, tránh né lao động, không hăng say tích cực!… Nào chỉ tiêu, nào đánh giá, nào học tập tốt, lao động tốt sẽ sớm được về! Câu này nghe mãi trở thành trò hề. Không ai muốn nghe, nhưng bắt buộc vẫn phải làm ra vẻ chú ý để tiếp thu những lời giáo huấn! Công tác của Trại thay đổi luôn luôn. Nay làm việc này, mai việc khác. Việc nào cũng khổ sai cả.
Đã hơn hai tháng nay, chúng tôi không được ăn miếng thịt nào. Lao động mỗi ngày 8 tiếng, toàn việc nặng. Cơm không có mỗi ngày lãnh hai chiếc bánh mì luộc, mỗi cái khoảng 200 gram và 1/4 chiếc bánh buổi sáng 50 gram. Như vậy chúng tôi chỉ được ăn 450 chất bột với muối, không có chất béo, chất rau, chất đạm nào! Do đó, ai nấy đều gầy dộc hẳn, da khô khốc. Trên nguyên tắc, theo giấy tờ, chúng tôi được ăn 18kilo chất bột, 300 gram thịt mỗi tháng. Nhưng thực tế chúng tôi chỉ được ăn 13kí500 chất bột. Số bột dư và chất đạm, chất béo, chúng tôi hoàn toàn không có quyền được biết.
Buổi sinh hoạt chiều nay sau khi điểm số xong, tên cán bộ quản giáo hỏi:
– Ngày mai Đội nào trực?
Một cánh tay giơ lên:
– Dạ, Đội tôi!
– Sáng mai, anh cắt bốn người đi mua “nợn” cách xa Trại khoảng 15 cây. Những anh này phải mang theo dây, đòn khiêng và lương thực ăn bữa trưa. Nghe rõ chứ?
– Dạ rõ!
Nghe nói mua heo, ai nấy mặt mày tươi rói! Sau khi tan hàng, vào trong Lán, Đội Trưởng sinh hoạt chỉ định Tổ trực phải cắt bốn người ngày mai đi khiêng heo. Tổ Trưởng của Tổ trực lại sinh hoạt, tính toán số người đã và chưa thi hành công tác “đột xuất” để cử đi. Bốn người tới phiên, mặt mũi buồn xo vì biết đây là loại công tác vất vả.
Sáng sớm, khi anh em còn ngủ vùi, bốn anh đã nai nịt gọn ghẽ. Mỗi anh giắt theo chiếc bánh mì luộc, phần ăn trưa. Tên cán bộ hậu cần, đeo súng ngắn đứng ngoài Lán gọi vào:
– Đâu, những anh nào đi mua “nợn”?
– Chúng tôi đây, cán bộ!
Tiếng đáp từ trong vọng ra . Những tiếng chân đi ra ngoài, theo ánh sáng của chiếc bật lửa.
Anh em vẫn ngủ. Tiếng ngáy đều đều cất lên như thường lệ. Thật vô phúc cho anh nào khó ngủ lại nằm kế bên các ông “vua ngáy”. Nằm mãi cũng chán, tôi vùng dậy đi ra sân. Những vì sao chưa lặn hết nhấp nháy trên cao như những ngọn đèn sắp lụn. Cảnh vật vô cùng vắng lặng. Từ xa, tiếng chim “bắt cô trói cột” kêu ra rả như xé ruột. Hồi khuya, lúc thức giấc, tôi có nghe thấy tiếng rú thảm thiết, hình như tiếng rú của đàn vượn đang gặp cơn nguy hiểm. Tiếng rú chạy dài theo triền núi hồi lâu mới dứt. Núi rừng luôn luôn chứa trong nó niềm bí mật của đêm sâu. Khi ánh mặt trời đã tắt, không khí của núi rừng cũng thay đổi. Con người dù can đảm cách mấy cũng không có gan di hành một mình giữa cảnh thâm u của núi rừng ban đêm. Do đó, việc trốn Trại cũng khó thực hiện. Tôi nhớ đến Khắc, chẳng hiểu lúc này hắn ở Trại nào? Hắn còn nuôi ý định trốn Trại không? Trại ở đây không có kẽm gai và mìn, sự canh gác cũng lơ là chứ không kỹ như ở Long Giao hoặc Suối Máu, mà sao coi bộ khó lòng vượt qua được cái vòng đai thiên nhiên của núi rừng miền Bắc!
Trời sáng dần. Phía nhà bếp, ánh lửa cháy đỏ rực. Có tiếng vỗ cánh của bầy gà con bị nhốt trong chuồng. Cái chuồng gà nhỏ có tre dang, đã được làm lại kín đáo, không còn sợ rắn! Tuy không quen biết anh chủ gà, nhưng tôi vô cùng cảm phục tinh thần chịu khó, biết lo xa. Trong khi anh em ăn bánh mì luộc chấm muối, anh vẫn có trứng gà ăn đều đều.
Sáng nay, chúng tôi đi phát quang một khu vực ngoài Trại. Từ hôm đến, bữa nay, tôi mới được bước ra khỏi chiếc cổng gác. Phong cảnh nhìn theo mặt phẳng không đẹp bằng nhìn từ trên cao. Mặt trời chiếu chói chang trên những ngọn đồi trà phía xa trông tươi mát. Cảnh vật yên tĩnh, không có cả tiếng chim kêu. Chúng tôi, người vác dao, kẻ vác cuốc đi thành hàng dài theo lối mòn có sẵn, leo qua hai quả đồi trước khi đi vào địa điểm lao động.
Đây, một khu hoang, cây cối chằng chịt. hơn 200 con người phải làm sạch trong buổi sáng, để lấy chỗ trồng trọt.
Buổi sinh hoạt chiều qua, tên quản giáo nói:
– Hiện nay, Trại thiếu rau cỏ và thực phẩm. Các anh “Cải Tạo” phải giúp Trại tạo ra của cải vật chất để nuôi sống mình và người khác!
Một Đội được phân công phát quang từng mảng. Những tên cảnh vệ làm nút chặn trên các lối rẽ đề phòng việc trốn Trại. Có những tên đứng trên bờ đất cao để quan sát cho rõ.
Một hồi còi rúc lên, tất cả ào xuống khu đất đầy cây dại, cỏ gianh cao ngập đầu người. Từng nhát dao lia tới tấp, từng nhát cuốc bổ liên hồi. Khu đất quang dần. Các cây cao từ từ ngã xuống như những tên tử tội sau giờ hành quyết, được cởi dây trói, xác lìa khỏi cọc.
Trong khi mọi người đang làm, bỗng có tiếng hò reo vang dội từ mé trái. Tôi ngừng tay ngó nhìn. Một đám người đông đảo vừa reo hò, vừa khua dao, đập túi bụi từ góc nọ tới góc kia. Chừng 15 phút sau, tiếng reo hò lắng xuống. Một người giơ cao lên khỏi đầu một con vật mầu xám tro, có chiếc đuôi dài xù to như bông lúa. Nhìn thấy Quang, Đội Trưởng Đội 5, từ phía đó đi lại, tôi hỏi:
– Cái gì vậy?
– Anh em bắt được một con chồn.
– To không?
mạnh hải flickr
– Bằng bắp chân!
Nói xong anh đi thẳng về phía tên quản giáo, hình như để trình bầy chuyện vừa qua. Từ xa, tôi thấy tên quản giáo gật đầu. Chờ Quang qua mặt, tôi hỏi nữa:
– Cán bộ nói sao?
– Cho anh em ăn!
Tôi vừa làm vừa ngẫm nghĩ, mấy chục người ăn một con chồn bằng bắp chân, cũng chẳng khác gì 180 người ăn một con gà chết khi còn ở Long Giao năm ngoái! Trong lúc đang chống cuốc đứng nghỉ mệt, bỗng có người từ một bụi rậm bước ra, đến gần tôi, nói:
– Uổng quá, đáng lẽ anh đâu phải có mặt ở nơi này. Sáng ngày 29-4, Đại tá Anderson lái xe tìm anh để đưa đi di tản, rất tiếc, ông ta không biết nhà anh, tôi cũng không biết mà chỉ. Chắc cái số của anh đi tù nên bỏ lỡ dịp may!
Nghe xong, tôi cười. Đại tá Anderson mến tôi qua hội họa. Tên thực tế, tôi và ông ta không liên hệ gì với nhau nhiều trên công tác.
Sau mấy câu chuyện tầm phào, người bạn tù quay trở về Đội mình, còn tôi lại cúi gập người bổ từng nhát cuốc xuống bãi đất như trút tất cả sự giận hờn vào cây cỏ vô tri.
Sau 6 tiếng đồng hồ lao động liên tục, khu đất phát quang đã trống trơn. Cây cối nằm rạp ngổn ngang như bãi chiến trường sau giờ quyết chiến. Trời nắng gắt, nhưng trên đỉnh núi mây phủ mù mịt, một góc trời tối sầm. Có thể, chiều nay sẽ mưa. Từ hôm đến Trại, chưa mưa lần nào. Suối lớn cũng khô cạn, để lộ những tảng đá mầu xám chì mốc thếch.
Chúng tôi đi về, quần áo ướt nhèm, lấm bê bết, thất thểu như đoàn quân bại trận trước họng súng của những tên cảnh vệ áo quần khô ran sạch sẽ!
Vừa về đến Lán, mọi người quẳng nhanh vật dụng vào một góc, chạy ào ra suối. Ai thích nhiều nước ra suối lớn, ai ngại đi, tắm suối nhỏ. Có lẽ chất nước làm con người tỉnh táo, sau những giờ mệt nhọc, nên tiếng nói cười lại cất lên ầm ĩ. Sống trong cảnh lao tù, anh em cũng cố tạo ra niềm vui khi có dịp để khỏa lấp những giây phút buồn tủi! Dẫy núi cao bao quanh chúng tôi như bức tường thành không cách nào kinh qua được.
Tôi nghe nói, con chồn bắt được hồi sáng, đưa xuống nhà bếp làm thịt. Vì không có mỡ và gia vị nên sau khi làm lông, cho vào lửa thui vàng, chặt nhỏ kho muối.
– Thịt chồn kho muối, bố ai ăn được?
– Đù mẹ, thèm thịt quá, có cũng tốt!
– Chết thì thôi, nhất định tôi không ăn thịt chồn, tanh ngòm!
Những câu đối thoại trôi đến tai, dù không muốn nghe. Trên con suối nhỏ hàng trăm người tắm, nên tuy vẫn chảy mà dòng nước đục ngầu vì bị khuấy từ phía trên.
Trời bỗng tắt nắng. Mầu sắc chìm xuống, lắng đọng. Tôi nhìn lên. Từng tảng mây đen trôi cuồn cuộn như bị xô đẩy bởi luồng gió cực kỳ mạnh. Trên đỉnh núi hàng cây nghiêng ngã. Một đàn sáo xoải cánh bay vội về hướng núi, chỉ một thoáng chúng đã chìm khuất vào mầu xanh âm u của rừng rậm. Gió bắt đầu thổi dữ dội. Những quần áo phơi đây đó, bị gió hất tung vương vãi. Một cơn lốc bụi đỏ bay mù trời.
Giờ phát bánh đã tới. Những chiếc bánh nguội ngắt vì nấu từ sáng. Tôi đưa chiếc bánh lên miệng cắn từng miếng lớn. Có lẽ, vì quá đói nên tôi nhai rất nhanh. Chiếc bánh biến hết vào dạ dầy, cứ tưởng như chưa ăn!
Tôi nằm chờ mưa, nhưng gió đã đẩy cơn mưa về phía khác. Mầu trời sáng lại. Những tia nắng lại chiếu xuống cảnh vật là không khí oi bức hơn lúc chưa chuyển mưa.
Chiều nay chúng tôi được nghỉ vì đã đạt mức khoán. Anh em lợi dụng thời gian này để làm công tác riêng như vá quần áo, xếp lại túi hành trang. Toán đi mua heo giờ này vẫn chưa về. Ánh nắng chiều đã trải rợp 1/3 sân. Tôi ngồi trong bóng mát nói chuyện với Hữu và Đàm. Nói cho đúng, những câu câu chuyện nói mãi với nhau cũng chán, còn ước đoán về ý đồ của kẻ thù lại nản hơn, vì không bao giờ đúng. Do đó, nhiều khi chúng tôi ngồi với nhau, chẳng ai nói câu nào!
Bỗng có tiếng reo:
– A, heo đã về!
Tôi nhìn ra cổng, thấy bốn người cởi trần, trông rõ từng chiếc xương sườn, đang ì ạch khiêng con heo khá lớn. Vừa vào qua hàng rào, bốn người đặt mạnh con heo xuống đất, nhưng lạ quá con heo không kêu. Tên cán bộ hậu cần, bước vô đến ngay chỗ con heo, nói:
– Mấy anh không được việc gì hết, có mười mấy cây số mà để heo chết! Không khiêng xuống nhà bếp làm thịt, còn chờ gì nữa?
Bốn người uể oải đứng lên, đưa cây đòn vào vai. Tám bàn chân lảo đảo khiêng con heo chết xuống nhà bếp. Sau khi thi hành xong nhiệm vụ, bốn anh trở về Lán, nằm vật ra thở dốc như sắp chết theo con heo.
Tuy không quen thân, nhưng tôi biết một anh là Đại Úy, hai anh là Thiếu Tá, còn một anh là Chánh sở Quan Thuế Sàigòn. Lát sau, chắc đỡ mệt, anh Quan Thuế nói với người bạn nằm kế bên:
– Ối cha, từ thuở có mặt trên cõi đời, chưa bao giờ cực như bữa nay. Đi xa quá, nó kêu 15 cây mà đi hoài có lẽ tới 20 cây. Đi và về tổng cộng 40 cây. Đù má, mình đã mệt bỏ cha, con heo cứ quẫy. Mỗi lần nó quẫy chiếc đòn nghiến vào vai, đau chịu không thấu. Tôi bảo nó: “Thôi heo ơi! Một là mày chết, hai là tao chết. Nếu mày cứ quẫy hoài thế này có lẽ tao chết trước mày.” Bốn thằng chia phiên khiêng. Mỗi cây số lại nặng thêm. Sau bàn nhau, hai thằng khiêng, còn hai thằng coi chừng tên hậu cần. Nếu nó lơ là, thoi vào bụng heo, thoi liên tục kỹ cho chết, chứ nó quẫy như vầy, sao khiêng nổi. Từ lúc ấy, chúng tôi vừa khiêng, vừa thoi vào mạng mỡ heo. Mỗi lần thoi, con heo lại rống lên như bị thọc huyết. Sau thoi mãi vừa đau tay vừa mỏi, chúng tôi đá. Tên hậu cần đi cách xa chừng 20 bước chân, đến chỗ nào khuất, đá đấm heo thoải mái. Á, heo nó cũng khoẻ lắm đa. Đấm đá như vậy, khi về gần đến Trại nó mới tử đấy. Đường xa mệt quá, hai đứa khiêng không nổi, phải dùng chiếc đòn dài, bốn đứa cùng khiêng con heo khoảng 60 kí. Vái trời đừng bao giờ ăn heo nữa!
Anh ta nói một hồi, xong vùng dậy, ra suối tắm rửa! Mấy anh kia, không ai nói gì. Chắc cuộc đời chiến đấu đã quen chịu đựng gian khổ, hay vì một lý do nào đó, không ai hay biết!
Bữa bánh chiều nay ăn muộn vì còn chờ thịt heo. Đến tối mịt, anh em mới được phát mỗi Tổ một chén thịt cả nạc, mỡ lẫn xương chia ra mỗi người được một miếng to bằng hai ngón tay và chút nước muối!
– Ủa, con heo to thế, sao anh em mỗi người được có miếng nhỏ như vậy?
– Đù má, tụi cán bộ ăn mẹ nó hết bộ lòng và gần nửa con, còn lại bao nhiêu chia cho 300 người lấy đâu cho nhiều?
– Tiên sư cuộc đời, khiêng mấy chục cây số gần chết, cũng chỉ được miếng mỡ mỏng dính thế này, có đau không?
Tiếng chửi bới chìm dần vào bóng tối. Dù chê bai, nhưng miếng thịt và nước muối cũng hết vèo trong nháy mắt.
mạnh hải flickr
Vì ăn trễ nên sinh hoạt cũng muộn. Chúng tôi tập họp giữa đêm tối. Ánh đèn bão cầm trong tay tên cán bộ quản giáo chỉ đủ rọi sáng chỗ hắn đứng. Sau khi điểm số xong, đến phê bình kiểm thảo rồi giao công tác mới. Ngày mai, Đội tôi phải đi kiếm củi cho nhà bếp, cứ hai người 1 thước khối. Tôi nghĩ ngay đến những khúc cây rải rác trên triền núi, chỗ lấy dang.
Sáng hôm sau, tôi giắt 1/4 miếng bánh vào túi, vác dao cùng với Kiểm, người bạn nằm kế bên, đi lấy củi. Kiểm, nguyên Trung Tá Trung đoàn Phó, Trung đoàn K. Anh vốn hiền lành, ít nói. Tôi không hiểu với tính tình ấy làm sao anh chỉ huy? Chúng tôi leo theo lối cũ. Khi tới nơi, tôi choáng váng vì đã có cả chục người đang gom các cây củi khi trước đây không ai để ý. Tôi và Kiểm đành đi tìm nơi khác. Chúng tôi leo qua triền núi phía bên kia chặt cây tươi vậy. Chúng tôi chặt hoài, tuy đã mỏi, nhưng vẫn chưa được bao nhiêu. Trong lúc tôi chặt, Kiểm nhặt gom vào một chỗ, đến gần trưa, chuyển dần xuống con dốc để đưa về Trại. Chúng tôi phải khuân làm mấy chuyến, xếp củi vào chiếc ô vuông quy định có chằng dây. Hai người làm quần quật cả buổi sáng mới được 1/3 ô. Tôi nói với Kiểm:
– Trưa nay tụi mình khỏi ngủ, ăn xong đi kiếm ngay mới đủ.
Kiểm đồng ý. Chiếc bánh mì luộc bữa trưa lọt thỏm vào bụng, biến mất. Tôi dốc bi-đông vô miệng uống ừng ực, lấy nước làm no rồi ngả lưng nghỉ mệt chừng mươi phút. Trời nắng gắt, toàn Trại ngủ im lìm, chỉ có hai chúng tôi vác dao leo núi. Chặt đến chiều vẫn chưa đủ chỉ tiêu, mới chỉ được 3/4 ô, trong khi các ô khác đầy nhóc. Đã đến giờ tên cán bộ hậu cần đi kiểm củi. Khi đến ô của chúng tôi, hắn hỏi:
– Ô này của anh nào?
– Dạ, của chúng tôi!
– Sao có chừng này?
– Dạ, vì sức yếu, lấy không nổi.
Tên hậu cần nhìn chúng tôi bằng con mắt lạnh lùng:
– Các anh ăn thiếu có được không?
Chúng tôi không trả lời.
– “Nần” này thôi, “nần” sau không được đâu nhá!
Chúng tôi thở đánh phào như trút được gánh nặng, rủ nhau đi suối lớn tắm, trước khi về Lán. Tắm giặt xong, tôi mặc chiếc quần ướt đi về.
Buổi tối, chúng tôi sinh hoạt chính trị toàn Trại. Đề tài thảo luận về 3 cuộc Cách Mạng do Nhà Nước Cộng Sản đề ra. Đêm nay trời có trăng nên không cần đèn. Mỗi đội chúng tôi ngồi quay tròn để sinh hoạt ngay tại chiếc sân lớn. Tên quản giáo đi đi lại lại từ Đội này qua Đội khác để tham gia ý kiến và đôn đốc cho cuộc thảo luận được sôi động.
– Đảng và Nhà Nước đề ra kế hoạch 5 năm để tiến hành 3 cuộc Cách Mạng. Thứ nhất, Cách mạng về sản xuất; thứ nhì: Cách mạng khoa học, kỹ thuật; thứ ba: Cách mạng văn hoá. Tối nay các anh hãy thảo “nuận” về cuộc Cách Mạng thứ nhất. Còn hai cuộc kia để tối khác. Các anh còn ở “nâu” “no” gì? Đây, nằm trong kế hoạch học tập, các anh nên cố gắng “động não” để có những ý kiến sâu sắc, nhằm đưa buổi học tập tới kết quả! Nghe rõ chưa?
Mấy trăm cái mồm cùng nói:
– Rõ!
Cuộc thảo luận bắt đầu. Anh nào nhanh mồm nhanh miệng đưa ra ý kiến, để tên quản giáo chú ý tới mình. Nào sản xuất để cải tiến nông nghiệp, nào sản xuất để hiện đại hoá nền công nghiệp, nào sản xuất về Quốc Phòng! Lời qua tiếng lại, thấm thoát đã 9 giờ đêm. Tên quản giáo cho lệnh nghỉ, tối mai tiếp tục.
Mọi người ùa ra, tìm chỗ khuất nơi bờ rào đi tiểu, xong vô Lán. Tối nay trăng sáng quá. Không ngủ được, tôi cứ đi loanh quanh gần nơi cổng, nhìn ra chiếc cầu gỗ bắc ngang dòng suối, do Đội 1 thực hiện. Tôi đứng nhìn chiếc cầu phơi mình dưới ánh trăng, nổi bật như chiếc cầu trong bức tranh Nhật Bản. Tiếng nước suối róc rách nghe rõ mồn một. Tôi nghĩ thầm, giá lúc này không có chiếc rào ngăn cách, tôi có thể ngồi trên chiếc cầu gỗ nhỏ bé kia, vừa ngắm trăng, vừa nhìn cảnh vật, tai nghe tiếng suối chảy, thú vị biết bao! Vừa nghĩ tới đó, bỗng có tiếng quát:
– Anh nào kia, đứng “nàm” gì đấy?
– Dạ, nóng quá, chưa ngủ được!
– Vào ngay!
Sau tiếng ra lệnh khô và sắc, có tiếng kéo cơ bẩm lạch cạch. Tôi vội vàng đi vào! Anh em còn nhiều người thức, hỏi:
– Sao, chuyện gì vậy?
– À, chưa ngủ đứng ngắm trăng bị đuổi vô!
Có tiếng mỉa mai thốt khẽ trong bóng tối:
– Nghệ sĩ cho lắm vào, có ngày ăn đạn!
Những buổi kế tiếp, chúng tôi vẫn lao động đều đều. Có Đội đi lấy tranh lợp nhà. Có Đội cuốc đất trồng sắn. Có Đội làm nền nhà, phát quang v.v… Công tác lấy tranh lợp nhà có vẻ gay go nhất: vừa đi xa, vừa gánh nặng.
Đoàn xe cứ xuống dốc hoài, thỉnh thoảng mới leo qua một con dốc nhỏ. Tôi biết, chúng tôi đang bỏ miền cao, nhưng đi về đâu, chưa rõ! Từng đoàn người lũ lượt, đeo, vác, gồng, gánh từ 5 giờ sáng đã phải thức giấc, chuẩn bị sẵn sàng để di chuyển. Bữa ăn sáng, lưng chén bắp cứng như đá, không ai nuốt nổi. Hôm mới đến, lạ miệng, còn ăn, nay vừa nhìn thấy đã sợ!
Sáu, bảy trăm con người cùng di chuyển một lượt, tạo nên sự nhộn nhịp khác thường. Những tên cảnh vệ, cầm ngang khẩu A.K. đứng rải rác ở dọc đường, từ nơi ở đến ngoài lộ, chỗ xe đậu. Ra tới đất Bắc, chúng tôi không phải chuyển Trại ban đêm nữa. Rừng, núi, vùng đất cấm của Xã Hội Chủ Nghĩa, nên họ chẳng còn kiêng sợ gì, chúng tôi không thể trốn giữa một địa hình không quen thuộc, không có lực lượng võ trang nào hậu thuẫn. Tôi nhận thấy sự đề phòng của họ chỉ nhằm hình thức phô trương, chứ không kềm chế ráo riết như hồi ở trong Nam. Mỗi chiếc xe chở 30 người, không che bạt. Chúng tôi ngồi trong lòng xe tha hồ ngắm phong cảnh bên ngoài. Chiếc túi đeo lưng đã được sửa chữa lại, tuy không tốt lắm, nhưng tôi tin nó không thể đứt chỉ bất ngờ nhu ở bến Sáu Kho Hải Phòng.
Phong, người bạn trẻ mới quen, đề nghị, hành trang của hắn và tôi luồn trong cây đòn tre, mỗi người khiêng một đầu cho nhẹ vì từ chỗ ở ra ngoài lộ cũng khá xa. Hắn muốn giúp tôi cho đỡ vất vả. Tre và dang ở đất này không thiếu. Phong đi một lúc, kiếm được chiếc đòn tre đực, xỏ qua hai túi đồ, bảo tôi khiêng thử. Tôi nâng đặt lên vai, quả nhiên nhẹ thực.
Giờ di chuyển bắt đầu. Chúng tôi khiêng hai túi đồ lủng lẳng bước tung tăng như đi chơi. Nhưng khi vừa qua chiếc cầu gỗ, tên cảnh vệ đứng ngay đầu cầu, kêu lại:
– Các anh “nấy” cây đòn này ở đâu?
– Dạ tôi nhặt được ở khe suối!
Tên bộ đội quắc mắt:
– Anh nói “náo”. Cây đòn này của chúng tôi bị mất sáng nay. Bỏ “nại” ngay!
Phong bẽn lẻn đặt hai túi đồ xuống, rút cây đòn ra, đặt ngay dưới chân tên cảnh vệ. Nó không nói gì. Tôi nâng chiếc túi đeo lên vai. Phong làm theo, trước con mắt tò mò của anh em.
Đi một quãng, tôi hỏi Phong:
– Sao cậu lấy của tụi nó?
– Đâu có biết! Sáng nay đi tìm, thấy cây đòn tốt quá, bèn cầm về!
– Cậu nhặt nó ở đâu?
– Ngay trước cửa căn nhà tụi cảnh vệ ở!
– Sao lúc ấy nó không nói?
– Nào ai biết! Lúc con lấy, chắc tụi nó không để ý!
– Chẳng biết nó dùng cây đòn ấy làm gì?
– Để tụi nó chống cửa! Bố không trông thấy, một đầu còn dính đất sao?
Ra đến lộ, tôi và Phong mỗi người lên một xe do sự phân chia của tên cảnh vệ áp tải tù. Trước khi leo, Phong ngoái đầu nói với tôi:
– Cái số con không được giúp Bố, chờ dịp khác vậy!
Phong đưa tay vẫy vẫy. Tôi thấy Tính và Cung có mặt trong đám người rời Trại. Có lẽ vì quá đông, họ không nhìn ra tôi.
Sớm nay không nắng. Mầu trời bàng bạc với những đám mây mang hình thù kỳ dị, dính cứng ở tầng cao như tấm bích họa khổng lồ. Tiếng máy xe nổ đều đều. Dọc đường, tôi nhìn thấy những chiếc cối giã gạo tự động, tạo bằng sức nước. Đó là sáng kiến lâu đời của dân miền núi. Không thấy ai canh gác, chiếc chầy cứ lên xuống đều đặn, nhịp nhàng. Có lẽ, do sự tính toán từ trước, mỗi cối gạo sẽ phải mất khoảng thời gian bao lâu. Sau thời gian đó, chủ nhân cứ việc sai người ra mang gạo về sàng, sảy là xong! Nền văn minh cơ khí còn lâu mới có ảnh hưởng đến vùng đất này.
Phía xa xa, ở chân dãy núi, những mái nhà sàn ẩn núp sau các bụi tre, chuối trông nên thơ. Hàng cau cao vút ngả nghiêng theo chiều gió làm cảnh vật thêm phần sinh động. Đoàn xe chạy qua những khu có nhà ở đông đảo. Chúng tôi sợ ăn đá, nên mọi người đều đề phòng, nhưng khi xe chạy qua, họ chỉ đứng nhìn, không một viên đá, không một câu chửi.
Đoàn xe đang chạy bỗng chia hai. Một quẹo vô con lộ đất. Một đi thẳng. Chiếc xe chở tôi, chiếc cuối cùng quẹo vô. Tôi biết sắp đến Trại mới. Ngay đầu con đường quẹo, tôi nhìn thấy tấm bảng “Không có gì quý hơn Độc Lập, Tự Do”, nền đỏ chữ vàng nổi bật giữa mầu xanh của núi rừng. Đoàn xe chạy thêm chừng dăm cây số ngừng lại giữa những đồi trà bát ngát. Chúng tôi được lệnh xuống. Trời bắt đầu nắng. Những tia nắng ác liệt đổ xuống làm mọi người mệt nhoài. Tên cảnh vệ áp tải bảo chúng tôi đi lên ngọn đồi trọc phía trước mặt ngồi chờ. Trời nắng như vậy phải ngồi phơi mình trên ngọn đồi trọc làm sao sống nổi? Nhưng dù không muốn, mọi người vẫn phải lếch thếch mang hành trang lên đồi. Khi lên đến nơi, người nào cũng mở bi-đông dốc nước vô miệng. Từ ngọn đồi, nhìn ra xa, tôi thấy khu nhà ở sâu phía chân núi. Đinh ninh thế nào mình cũng phải tới nơi ấy, tôi rùng mình lo sợ, dưới cái nắng này đeo nặng từ đây tới đó chắc hụt hơi!
Tính và Cung đã nhìn ra tôi. Hai người trèo lên, ngồi nói chuyện. Cung đến Sơn La trong đợt chuyển Trại 2 tại Suối Máu, trước tôi nửa tháng.
Cung hơi gầy. Trong câu chuyện không thấy hắn nói đến Thanh Nghị nữa. Chắc hắn đã nhìn rõ sự thực. Chúng tôi nhắc đến anh em đã gặp hoặc chưa. Còn Tính cứ thắc mắc hoài không hiểu tại sao họ lại đưa mình đến địa điểm này?
Cung nói, có vẻ bất cần:
– Thắc mắc làm chó gì cho mệt xác! Đưa đi đâu cũng vậy thôi! Ra đến đất Bắc là hết rồi!
Những tia nắng quái ác, mỗi phút hình như mỗi nóng thêm. Nhìn mặt mũi người nào cũng đầm đìa mồ hôi. Một anh mang theo chiếc lồng gồm gà mẹ và năm, sáu gà con. Anh ta bỏ chiếc nón lá đang đội xuống che cho gà, còn anh trùm chiếc khăn rửa mặt lên đầu che nắng! Tôi nhìn anh thầm cảm phục, ngoài hành trang nặng, còn mang thêm chiếc lồng gà. Quả phi thường!
Một tên bộ độ tiến lên đồi:
– Anh nào đi trên xe từ số 1 đến số 10, theo tôi!
mạnh hải flickr
Tính đứng dậy đi xuôi xuống chân đồi. Một tên khác nói:
– Anh nào đi từ số 11 đến số 20, theo tôi!
Cung đứng dậy hỏi tôi:
– Ông đi xe số mấy?
– Tôi cũng chẳng rõ, chỉ biết xe cuối!
– Số 20 rồi! Tôi số 16. Tôi với ông cùng đi.
Cung xách túi đồ lên vai. Chúng tôi men theo lối mòn đi chênh chếch hướng núi. Còn toán của Tính đi thẳng về phía khu nhà sát chân núi. Những bàn tay đưa lên trời vẫy vẫy chào nhau.
Tên bộ đội dẫn chúng tôi đi vòng qua đồi, rồi qua cây cầu gỗ bắc ngang dòng suối, đi sâu mãi! Đường không có, chúng tôi lần theo lối mòn, băng ngang nhiều vũng nước rộng. Chiếc túi đeo lưng nghiến vào vai mỗi lúc mỗi nặng. Người tôi ướt đẫm mồ hôi như vớt dưới ….(sách in thiếu trang 362)
……
Có tất cả 10 người xung phong làm bếp. Lán tôi ở có hai anh. Mười anh làm bếp đi theo tên bộ đội. Lát sau họ khiêng một bao tải bột mì xuống nhà bếp ở gần con suối khá lớn, nước chảy ầm ầm.
Cả chiều hôm ấy chúng tôi được nghỉ ngơi, chờ cơm. Ngay sát nhà, có dòng suối chảy uốn éo. Con suối tuy nhỏ nhưng nước rất trong. Tôi cởi quần áo, ngồi trên tảng đá, múc từng lon nước xối vào người. Nước suối mát thật. Khi trước tôi nghe tắm suối rất độc, vì nước suối chảy qua nhiều khoảng có lá mục, nhất là lá lim, nên người yếu dễ ngã bệnh. Bệnh sốt rét không nhất thiết do muỗi gây nên, còn do khí núi, nước uống và tắm rửa nữa! Nhưng, tuy biết vậy, tôi không thể không tắm giặt, vì ngoài nước suối, còn nước đâu dùng?
Chỉ một thoáng, con suối nhỏ đã đầy người tắm. Người nào cũng chọn nước đầu nguồn, vì tắm dưới sợ tắm nước thừa của người trên dòng.
– Ủa, sao ông tắm ở đây. Tôi vừa ra suối lớn tắm giặt, đã ghê vậy đó!
Ngẩng nhìn, thấy Đàm, người bạn đã gặp ở Suối Máu.
– Lỡ rồi, để mai. Mà sao, lúc lên xe tôi không thấy ông?
– Đông quá sao nhìn thấy? Cả Hữu nữa, hắn tắm sắp về.
– Vui hé! Ông đi đợt 2, cứ tưởng không bao giờ gặp lại nhau nữa!
– Anh em mình thiếu gì! Tại ông không để ý đấy. Ông ở Lán nào?
Đến tối mịt, chúng tôi mới được phát mỗi người một chiếc bánh mì luộc nóng hổi. Những chiếc bánh, theo nguyên tắc, đều có cân lượng y như nhau, nhưng mỗi cái lại có một hình thể. Có cái tròn vo như trái banh “ten-nít”, có cái chè bè như cái dĩa con, có cái hình bầu dục! Do hình thể khác nhau đó, làm người ta có cảm tưởng cái nọ to hơn cái kia. Vì thế nên khi bánh được chia đều cho mỗi Tổ 10 người, các Tổ viên muốn tỏ ra công bằng đều đồng ý, mỗi người mang một con số, rồi bữa nay số 1 lấy trước, muốn lấy cái nào tùy ý, đến số 2 cứ thế nối tiếp. Bữa sau, người số 2 lấy đầu, bữa tiếp nữa là người số 3 v.v…cho hợp lý!
Nhịn cả ngày trời, mới có chiếc bánh luộc, mọi người đều tỏ vẻ chán nản, nhưng chẳng ai dám nói ra. Trong khi ấy dưới nhà bếp, toán nấu nướng tha hồ ăn. Ăn thừa còn mang cho bạn bè thân thiết. Sở dĩ anh em biết được do một người trong Lán có tới 3 chiếc bánh luộc!
Lẽ dĩ nhiên, anh em có phản ứng. Từ hôm sau nếu dư bánh sẽ chia đều cho các Lán. Những người làm bếp có quyền ăn no, miễn đừng mang cho.
Buổi sáng, mỗi người được 1/4 chiếc bánh đút vừa một miếng.
Vừa ăn bánh sáng xong, chúng tôi được lệnh mang đồ ra điểm nghiệm. Lần điểm nghiệm này làm tại chỗ nằm. Mọi người đều bầy hết cả hành trang của mình ngay trước mặt. Cả Lán biến thành cái chợ bán tả-pí-lù, thứ gì cũng có. Hai tên bộ đội đi khám xét. Một tên cầm tập vở, mỗi khi có món đồ bị tịch thu, hắn biên vào. Thuốc men cũng thu. Một tên cầm chiếc túi vải, đồ nào tịch thu cho vô đó. Tôi sợ quá, chưa kịp giấu gói thuốc Lan cho và 2 vỉ Valium, tôi ấn đại nó qua khe sạp cho rơi xuống đất.
Bên ngoài, một tên bộ đội nhòm qua chiếc cửa sổ con đối diện. Sống lưng tôi lạnh buốt như có cục nước đá vuốt mạnh. Tôi cảm thấy trên trán rịn mồ hôi, sợ tên bộ đội nhìn thấy cử chỉ vừa qua. Nhưng mấy phút trôi đi không thấy nó nói gì, tôi mới yên tâm. Hai tên điểm nghiệm đã tới trước mặt. Chúng giở từng thứ một, tịch thu của tôi con dao ăn. Con dao này, tôi đã giấu thoát từ Long Giao, Suối Máu đến Sơn La. Nhưng ở đây, tôi chủ quan vì thấy có mấy con dao nhỏ của các anh em khác, không bị thu. Có lẽ, con dao này đẹp, nó thuộc lại “i-nốc” của Pháp. Sau cùng, một tên hỏi , có tiền Giải Phóng không? Tôi móc túi đưa 80 đồng. Tên cầm vở, biên tên và số tiền rồi bảo sẽ đổi ra tiền “ngàn”, tiền miền Bắc trả lại, vì bây giờ đã thống nhất. Tất cả mọi người có tiền Giải Phóng đều nộp vì nghĩ, ở trong tù bị giam giữ giữa rừng sâu, có gì để mua bán và tiền Giải Phóng đâu có giá trị ở miền Bắc?
Cuộc điểm nghiệm đến gần trưa mới xong. Chờ cho tụi bộ đội đi hết, tôi kiếm một chiếc que dài khều gói thuốc, lòng mừng khấp khởi.
Ăn chiếc bánh luộc buổi trưa xong, nghỉ ngơi một lát lại nghe tiếng kẻng. Buổi chiều, anh em lại phải làm bản kê khai lý lịch. Chán gớm! Trại tù nào cũng vậy, cũng ngần ấy thủ tục phải làm, đến chỗ nào cũng khai báo. Vì luôn luôn phải khai báo, nên chúng tôi đều thuộc lòng: tên, tuổi, số quân, chức vụ, đơn vị, ngày vào lính, sinh quán, trú quán, vợ con, cha mẹ, anh em v.v…
Sau khi làm xong, trao cho Đội Trưởng để nộp. Tôi xem đồng hồ tay, mới hơn 5 giờ chiều, nơi đây đã chạng vạng. Tôi ngẩng mặt nhìn vòm trời, mầu mây vẫn xanh biếc, nhưng dẫy núi cao bao vòng xung quanh chiếc thung lũng nhỏ đã ngăn không cho ánh sáng lọt vô.
Từ chân núi, bốc lên làn sương mỏng. Đó là khí núi! Mầu tím ngăn ngắt trông dễ sợ. Ở đây, không có chân trời, vì bốn bề bao quanh bởi núi, đồi. Muốn nhìn trời, phải ngửa mặt. Tụi Cộng Sản tìm chỗ giam tù quá lý tưởng, lại luôn luôn di chuyển nên rất khó tìm. Cũng do đó, một đơn vị đặc biệt của Quân Đội Mỹ đã thất bại trong kế hoạch giải thoát tù binh tại Sơn Tây bằng trực thăng vận năm nào?
Tôi đi vòng quanh để tìm hiểu vị trí Trại. Ngoài ba chiếc Lán và ngôi nhà bếp ở dưới thấp, trên những ngọn đồi rải rác xung quanh, còn có những ngôi nhà lá khang trang dành riêng cho tụi cán bộ. Một chòi canh ngay đầu con lộ nhỏ, con lộ duy nhất dẫn vô Trại. Tên cảnh vệ súng trên vai, đi đi lại lại trước chiếc chòi như người máy. Chúng tôi không được đi ra ngoài khu vực hạn chế, tuy không có hàng rào phân chia giới hạn, nhưng ai cũng biết không được leo lên đồi hoặc băng ngang dòng suối để qua bên kia, dẫn vào chân núi. Cảnh vật nơi đây vô cùng buồn nản. Đời sống tù túng dễ làm con người cuồng trí, nếu suy nghĩ nhiều về nó!
mạnh hải flickr
Buổi tối, không có đèn nên anh em ai cũng buông mùng sớm, tuy chưa ngủ. Tiếng “kéo pháo” sòng sọc và tiếng nói chuyện thì thầm làm buổi tối đỡ buồn nản. Chẳng biết công tác nào sẽ đến với chúng tôi ngày mai khi thức dậy, vì đối với Cộng Sản, cái gì cũng bất ngờ!
Thức trong bóng tối mãi cũng chán, tôi chui vào mùng, nằm thẳng đơ, mắt nhắm chặt mong đi vào giấc ngủ càng sớm càng tốt. Tôi vừa thiu thiu, bỗng có tiếng gọi tập họp điểm số, người Lán nào đứng trước Lán đó. Một tên cán bộ xách cây đèn bảo đến giữa sân, bên cạnh lố nhố nhiều tên cảnh vệ vũ trang. Từng Lán một hô từ số 1 đến số chót. Sau khi điểm số xong, tên cán bộ cầm đèn, nói dằn từng tiếng:
– Các anh chú ý. Bắt đầu từ mai, các anh sẽ “nao” động. Trại có 3 “Nán”. “Nán” 1 gồm đội 1 và 2. “Nán” 2 gồm đội 3 và 4. “Nán” 3 gồm đội 5 và 6.
“Nán” 1 và 2 ngày mai phát quang sườn đồi phía sau. “Nán” 3, Đội 5 đào hố xí, Đội 6 “nàm” vệ sinh quanh Trại. Ban đêm các anh không được đi “nại” ngoài khu vực Trại. Nếu có gì cần kíp phải báo cáo với cán bộ cảnh vệ. Không được tự ý hành động! Các anh nghe rõ chứ?
– Rõ!
Tiếng nói âm vang giữa đêm sâu, trong lòng thung lũng.
– Tan hàng!
Anh em nhộn nhịp quay vào Lán. Vì quá tối, lối đi lại chật, nên có người dẫm chân lên nhau, hoặc va chạm, tạo nên những tiếng chửi thề thô tục!
Đêm nay, giấc ngủ không đến, tôi cứ trằn trọc, xoay qua trở lại bên cạnh tiếng ngáy đều đều của anh bạn nằm kế bên.
Có lẽ tôi cũng chợp mắt được một lúc. Hồi gần sáng bỗng giật mình thức giấc vì tiếng la mất gà.
– Thôi, chết cha, nó ăn mất một con rồi!
– Ai ăn?
– Rắn chứ còn ai vào đây nữa!
– Sao cậu không treo lên cao?
– Đâu biết có rắn!
Tôi nhỏm dậy, bước ra khỏi Lán, ngó về phía anh chủ gà đang nâng chiếc lồng lên ngang tầm mắt, nhòm vô trong:
– Đù mẹ, nó nuốt mất con to nhất đàn!
– Sao gà mẹ không chống cự?
– Gà nhìn thấy rắn, nín khe. Nếu nó dám kêu, mình chạy ra, làm sao rắn nuốt?
– Này, đừng có đùa, đêm cậu ra, rắn nó mổ luôn cậu, chết ngắc!
Vừa lúc đó, tiếng kẻng vang lên. Mọi người đều dậy. Một đám người bu quanh chiếc lồng gà, mỗi người góp một câu về vấn đề bảo vệ gà làm huyên náo góc sân.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.