This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tên thật Nguyễn Đông Ngạc sinh ngày 10.9.1939 tại Phúc Yên (Bắc Việt), cựu học sinh Chu Văn An. có đăng thơ và truyện trên Thái Độ, Văn Học, Đất Nước, Hành Trình, Nghệ Thuật, Khởi Hành, Tìm Hiểu. Đa số các bài viết đều lấy chất liệu từ đời sống thực tế, nhất là cuộc chiến tranh hiện tại có từ đời cha ông còn kéo dài cho tới bây giờ. Các bài đăng thường bị cắt xén. Chưa có tác phẩm nào được xuất bản.
Hiện là giáo sư trường Trung Học Cộng Đồng Quận 6, Saigon, và chủ trương Nhà Xuất Bản Sóng.
QUAN NIỆM VỀ TRUYỆN NGẮN
Về nội dung: Bất cứ đề tài nào của thơ, của truyện dài cũng có thể là đề tài của truyện ngắn. Nhưng vì là truyện ngắn nên tình tiết, ý tưởng phải thật chọn lọc và có tính cách quyết định hơn. Truyện ngắn gần giống như thơ Đường ở nội dung.
Về hình thức: Phần này theo tôi là phần quyết định sự thành công hay thất bại của truyện ngắn (nhất là loại truyện ngắn không có cốt truyện) và là phần xác định sắc thái của mỗi tác giả, phần khám phá và làm mới truyện của mỗi ngòi viết, còn Nghĩ và Viết như thế nào là sự lựa chọn của mỗi người, và dĩ nhiên truyện ngắn hay phải là truyện làm cho người đọc thích và chịu được sự thử thách của thời gian. Hiện nay, tôi quan niệm: quá khứ, hiện tại, tương lai là một giây chuỗi không thể tách rời và tôi đã chọn cách diễn tả không phân biệt rõ ràng từng thời gian. Người đọc sẽ thấy cả ba thời gian lẫn lộn kể cả không gian nữa. Một người trong cùng một lúc có thể sống nhờ ý nghĩ, nhờ trí tưởng tượng, nhờ kinh nghiệm ở mọi nơi và mọi thời gian.
Phần lớn truyện của tôi đều có bút pháp của truyện Đỉnh Cao Sương Mù.
Về Truyện Ngắn “ĐỈNH CAO SƯƠNG MÙ”
Đỉnh Cao Sương Mù là một truyện viết với mối ám ảnh của chính tôi về chiến tranh và là truyện duy nhất tôi nghĩ có thể qua được kiểm duyệt.
Nguyễn muốn ném cả cốc cà-phê vào mặt hai thằng mập như heo bàn góc trái đang nham nhở với một con điếm ngồi đợi khách bàn bên, hay ít ra cũng một trong năm thằng đang uốn trẹo cái mồm nói tiếng Mỹ giọng bồi ngồi ở giữa quán. Nhưng Nguyễn chợt nghĩ để làm gì và một nỗi buồn chán dâng lên. Nguyễn thở dài ngả lưng vào thành ghế, chân duỗi dài ra, thu ngắn cái nhìn trong một khoảng cảnh cũng vừa đủ. Cặp giò đứa con gái xoay đi xoay lại, Nguyễn ngó chăm chú, tối om chẳng thấy gì. Của em có gì lạ không anh? có Chứ, anh thích nằm hút thuốc lá ngắm nhìn em như thế, khói thuốc len lỏi mơn man, thật gợi cảm và súc tích, Anh kỳ quá, chúng mình yêu nhau mà và em làm sao cảm được như anh mùa thu sương mù trên mắt, trên môi, trên ngực em, trên đùi em, Anh này, người ta bảo con gái Bình Định, Qui Nhơn lạ lắm phải không? Ừ. Tại sao hả anh? Nguyễn phì cười. Thằng bé đánh giày mời đánh giầy thầy. Nguyễn xua tay. Thêm một người Mỹ dắt tay một con nhân tình người Việt đã về già má trát đầy phấn, mắt vẽ đen như con sâu róm vào ngôi cạnh Nguyễn. Anh chàng Mỹ còn trẻ khom lưng kéo ghế, con đĩ ngồi xuống gọi: bồi, bồi. Thằng đàn ông Việt hấp tấp chạy lại. Tim Nguyễn đau nhói. Ý nghĩ phải ném cả ly cà-phê vào mặt một đứa ngồi trong quán lại đến ám ảnh.
Nguyễn vẫy gọi thằng bé bán báo cho nó năm đồng nhờ mua thêm thuốc lá. Nguyễn nói với người yêu Anh chán bộ binh lắm rồi, Lính đi bộ vài tháng đánh vài trận, ở rừng ở xó người nó cùn đi. Nghe Nguyễn nói Hằng chỉ khóc. Nguyễn hôn lên mắt người yêu, tóc Hằng buồn buồn ở cổ, nước mắt ấm da thịt. Nguyễn chợt thấy thương Hằng nhiều, ôm chặt người Hằng và để nàng khóc. Nguyễn cảm thấy mệt mỏi. Đầu Hằng rung trên ngực Nguyễn cùng với tiếng nấc. Hai người lính bỏ về đá đổ mấy chai bia gây tiếng động, mọi người quay lại nhìn, đầy một bàn vỏ chai. Nguyễn nhìn theo, người bỗng lạnh toát, một người dáng đi giống hệt thằng bạn mới chết trận của hắn. Hắn đi giống hệt thằng bạn nối khố của anh Hằng ơi. Hai đứa chở nhau bằng xe đạp từ nhà ra tận Nghi Tàm tắm rồi trèo lên cây hái trộm ổi, ngày nào cũng chiều tối mới về nhà, lắm hôm anh bị ông bác đánh đòn đít sưng vù. Nhưng hôm san hắn đến anh vẫn không thể chống lại được sự cám dỗ của nó. Ngày anh yêu em hắn khóc hoài, hắn ghen với em và anh cũng khổ sở lắm. Mẹ chết chính hắn với anh đã lo việc chôn cất. Hai đứa như hình với bóng, đi chơi, học, ăn, ngủ.
Nguyễn rít mạnh điếu thuốc ngó mông lung vào khoảng không, trước mắt Nguyễn không gian là một khối đặc mù không một chướng ngại, hình ảnh thằng bạn chập chờn, đằng sau cái hình ảnh ấy mẹ Nguyễn mắt buồn thăm thẳm, rồi cha, em Nguyễn cùng hiện ra. Một người khách đi qua, Nguyễn co chân lại, cặp giò đứa con gái mở rộng vô tình hướng về phía Nguyễn, Nguyễn chớp mắt: đùi con bé trắng và đẹp. Nguyễn ngửng đầu lên, lúc đó Nguyễn mới nhận ra nó là đứa con gái mới vào, khá xinh và gay cấn, đứa con gái trước đã về từ lúc nào. Bóng người lính mất vào đám đông. Nguyễn ngẩn ngơ. Nó chết thật phi lý, đang hành quân bị một viên đạn xuyên qua đầu. Của một tên lính Việt Cộng già hay trẻ? Ông già nó khóc vai rung chuyển như lên kinh. Thằng con trai lớn độc nhất. Tội nghiệp. Còn Nguyễn đi trận liên miên, phép lạ nào đã cứu hắn, chung quanh đạn như mưa rào, Nguyễn vẫn trơ trơ. Nhưng có thể như thế mãi được không? Một ngày nào đó định mệnh sẽ đến, hắn sẽ nằm xuống như bao người lính khác. Thật giản dị. Nguyễn rùng mình. Có thể như thế được không. Nguyễn là người chót. Nguyễn phải sống. Nếu Nguyễn chết mọi chuyện sẽ rơi vào quên lãng.
Những hình ảnh đã quá mờ, những hình ảnh còn chập chờn, con đường làng, cái ao hình chữ nhật, cây đa đầu làng Nguyễn vẫn trèo lên nằm ngủ, bờ đê, cánh đồng nơi Nguyễn và em Nguyễn vẫn đùa nghịch với trẻ con, họ mạc, Ông Nội, Ông Ngoại, binh nhì Hai đã hy sinh cho Nguyễn sống, những người lính Nguyễn nhớ lẫn tên, lẫn mặt chết dưới chân. Nhất là gia đình Nguyễn, Nguyễn còn nhớ rõ từng chi tiết, một thảm kịch như thảm kịch quê hương, cha, mẹ, em Nguyễn, cái tiểu gia đình đã trôi nổi từ làng này đến làng kia ra tỉnh, vào Nam. Mỗi lần di chuyển là mỗi lần Nguyễn mất một người thân. Cha Nguyễn theo kháng chiến bị mất tích không biết đã chết hay bị Tây bắt cầm tù ở đâu, em Nguyễn ở lại Bắc với họ hàng cũng chẳng nhận được tin tức gì. Mẹ chết. Nguyễn coi như người sống sót cuối cùng. Chính cái thảm kịch gia đình này đã làm cho Nguyễn trên con đường tiến dần tới cõi chết bỏ rơi dần những quen thuộc của thời thơ ấu hay chỉ còn nhớ mù mờ về những thứ đó, quê hương, họ mạc, đồng đội như chỉ còn lẩn khuất trong một vùng sương mù len lỏi giữa những khuôn mặt cha mẹ, em hắn. Những khuôn mặt ấy như tự chiếu tỏa ánh sáng, thứ ánh sáng vừa đủ, nổi bật trong vùng sương mù của ký ức. Hai người Nguyễn được nói chuyện, một người Nguyễn chỉ được nghe kể lại đã tạo nên những màu sắc, khoảng cách khác nhau của ký ức, người cha như một quá khứ đã xa trườn ẩn sau cái quá khứ gần là người mẹ và đứa em. Họ, những người đã chết không còn được ai nhắc đến ngoại trừ Nguyễn, họ đã sống trong tâm tưởng Nguyễn, và Nguyễn từng giây, từng phút sống với họ, chiến đấu với thời gian, giết chết từng sự quên lãng để cho họ sống. Nhưng nếu Nguyễn chết, mọi hình ảnh, kỷ niệm sẽ chết theo. Không thể như thế được, Nguyễn cần phải sống. Nguyễn nghe rất rõ âm vang những lời nhắc nhớ của mẹ về người cha làm cách mạng đã làm khổ bà suốt đời.
Đời cha Nguyễn, Nguyễn chỉ biết qua lời kể của mẹ. Người cha đó bây giờ sống tùy thuộc trí tưởng tượng của Nguyễn. Bức ảnh độc nhất ông để lại nhỏ bằng nửa bàn tay, nhìn không rõ nét, chụp ông cưỡi ngựa đeo súng. Mộng của Nguyễn là học luật sư theo đuổi con đường cha hắn đã đi. Nhưng lịch sử đã bẻ cong đời Nguyễn. Nguyễn phải bỏ ngang việc học. Những ngày trước khi nhập ngũ Nguyễn đã có ý nghĩ họ sẽ sót tên. Nguyễn sẽ không nhập ngũ và nói cho họ hiểu lý do Nguyễn phải sống. Nguyễn sẽ đứng trước tòa cãi… Bây giờ thì mọi chuyện đã xong. Nguyễn đã nhập ngũ, vào cuộc với một thái độ chia xẻ những bi thảm của chiến tranh, quê hương phải gánh chịu như tất cả những người trẻ tuổi khác, chỉ cần một viên đạn là đủ kết liễu đời Nguyễn, kết liễu luôn cái thảm kịch đang quay cuồng trong óc Nguyễn, xóa mờ tất cả. Nguyễn chua chát tự hỏi, nếu em Nguyễn vào Nam, nếu mẹ Nguyễn bỏ Nguyễn lại. Sự lựa chọn đã xong. Bên này giòng sông là bạn, bên kia giòng sông là thù. Từ đó khởi đầu cuộc chém giết càng ngày càng không thể cứu vãn được. Nguyễn nghĩ nhiều tới gia đình và tương lai. Nếu Nguyễn chết. Nếu tên Nguyễn văn Nguyễn chết? Có gì thay đổi không?
Em, anh luôn bị cuốn hút vào những bí mật của thiên nhiên. Ngày xưa anh còn nhớ nữa thực nửa không thực đã nhiều lần vú bế anh từ nhà quê ra tỉnh đi bằng xe hỏa ban ngày qua những ruộng lúa, mồ mả, ban đêm đi trên con đường đầy cây, đèn điện lập lòe, chim kêu, vú dọa anh ma cà rồng. Tiếng xe lửa, âm thanh của rừng. Anh ngủ gật rồi xe ngừng lúc nào anh không biết. Tỉnh dậy anh đã nằm trong một căn nhà sóng biển đánh chung quanh. Anh nhìn qua cửa sổ, biền đen ngòm kỳ bí. Anh sợ hãi hoang mang. Đến bây giờ những lo sợ hoang mang từ thuở nhỏ vẫn mơ hồ xuất hiện. Anh cố quên nhưng không được, cố giải thích nhưng vô hiệu. Nó vẫn tới. Từ đó lớn lên anh sống có vẻ vu vơ làm sao, chưa hẳn chỉ là mơ mộng. Em, em có nghe anh đang nói gì không. Em hãy nhìn lên đỉnh cao sương mù kia. Nơi ấy là một hốc đá ngày xưa anh thường ngồi trên đó nhìn xuống thung lũng, cỏ xanh thắp thoảng, ẩn hiện trong sương mù. Anh nằm nhìn trời, nhìn mây, nhìn đất như thế gần hai năm trường. Anh yêu, em đã hiểu vì sao nhiều lúc trông anh ngơ ngác như người mất hồn, anh trở nên bí mật và em thấy anh đẹp một cách hoang đường. Những lúc đó em đã thấy gì trong mắt anh, em có thấy sương mù trên mặt anh không. Em, anh thèm hơi lạnh của đỉnh cao, hay chúng ta trèo lên trên kia đi em. Em lười di chuyển lắm anh. em mở cửa sổ cho gió lạnh thổi vào nhé, nằm quay đầu lại trên chiếc giường kia anh có thể nhìn được đỉnh cao. Em thấy sương mù đang tan dần, trời hơi có nắng. Tuyệt đẹp anh ơi. Thiên nhiên đang chuyển động, sương mù bay, di chuyển, em sợ chúng mình sẽ không còn yên tĩnh để thưởng thức cảnh này. Em yêu, anh muốn chúng mình cùng lên ngồi trên đó nhìn xuống thung lũng, thành phố và hôn nhau. Lần này cảm giác chắc lạ lắm. Anh thấy trong anh như có gì đang thay đổi sau những ngày chiến đấu nguy hiểm trở về nằm yên nghỉ bên cạnh người yêu. Anh mới từ thế giới của những người chết trở về. Anh còn như ngửi thấy mùi khét lẹt tanh hôi quanh đây, anh vẫn còn sống phải không em. Em nghe anh, anh ơi, em sẽ ở thật lâu trên đó với anh, ôm chắc trong tay thân thể nóng của anh, dù biết chắc rằng anh còn sống và không còn phải lo sợ vẩn vơ. Nhưng anh phải kể chuyện cho em nghe, phải hôn em đến khi nào em chết lịm vì ngộp thở và môi em nóng lên làm tan giá lạnh của trời thu Đà Lạt. Và tuyệt đối không được kể chuyện chiến tranh đó anh. Em không muốn nghe và nghĩ anh có thể chết, ít ra là lúc nằm bên cạnh anh. Em thích nghe những dự định tương lai của anh, những chuyện anh nói về một thế giới nào đó khác ngoài cái thế giới đang có này, nói về ngày xưa hay nói về hư vô chẳng hạn. Lúc đó anh vẫn ở gần em mà như xa em. Em sợ hãi tưởng như mất anh, nhưng anh vẫn trong tay em cùng hơi ấm. Em càng yêu anh nhiều hơn. Anh lạ lắm. Anh nhớ mang theo gói thuốc. Em thích mùi thuốc lá trong hơi thở anh. Hôn em và dìu em đi hỡi người yêu điên dại của em. Vũ trụ đang tan quanh chúng ta. Anh hãy ôm chặt em hơn nữa anh. Em đang nhìn thấy sương mù trên mặt anh mỗi lúc một dày hơn. Em chết trên tay anh chẳng còn thấy gì.
Một sự tình cờ nào chiếc máy bay Nguyễn đi đã trở về mang theo lá thư và cuốn nhật ký chàng gửi cho Hằng: “Hằng yêu của anh, đây là tất cả những bi ẩn của cuộc đời anh. Cuốn sách này sẽ làm em hiểu rõ tâm hồn anh hơn, nỗi câm nín chịu đựng và tính lạnh lùng của anh. Bấy lâu đời anh là một thảm kịch chỉ tại anh không đủ can đảm và tàn nhẫn giết họ thêm một lần. Anh ích kỷ và thành thật xin em tha tội, hiểu cho anh về sự đối xử tàn nhẫn của anh với em khi từ khước lời đề nghị hôn nhân của em. Lấy em, nếu anh không quên được họ anh sẽ chỉ làm khổ em thôi, mà như em đã biết anh sống không phải đời sống của riêng anh mà là đời sống của nhiều người đã chết. Anh hiểu em đã kiên nhẫn hy sinh nhiều trong lúc yêu anh với hy vọng sẽ thay đổi được anh. Nhưng sự thật không thể như vậy được, anh càng ngày càng sống gần họ hơn. Những sự xích mích xảy ra giữa chúng mình chỉ do một nguyên nhân giản dị, những người chết không chấp nhận sự có mặt của em trong đời sống anh và họ đã thắng. Anh bất lực như thế nên dù rất yêu em anh cũng chẳng biết phải giải quyết ra sao. Anh không thể xa họ và cũng không muốn làm phiền em.
Họ và em chống đối nhau. Em không chịu nhượng bộ và hiểu rằng yêu anh là em phải chấp nhận sự có mặt của họ. Anh đã cắt nghĩa cho em nhiều lần là hơn thua với họ sẽ chỉ làm cho anh khổ sở thêm, anh là nạn nhân và tình trạng cũng chẳng hơn gì, chúng mình vẫn không thể xóa được sự có mặt của họ trong đời sống. Riêng anh những lúc không nghĩ tới họ, anh thấy yêu em điên cuồng, không thể sống thiếu em và anh chẳng muốn đòi hỏi gì ở em ngoài tình yêu. Anh tự thấy vô lý tại sao cứ phải nghĩ tới họ. Anh đã tự làm khổ anh và khổ lây cả em. Tại sao anh đã không duy trì đời sống của họ bằng cách viết lại xong rồi không thắc mắc nghĩ ngợi gì về họ nữa. Biết như thế nhưng anh vẫn không thể thoát được sức chi phối của họ. Anh chỉ có thể quên được họ nếu anh tiêu diệt được ý thức của anh nghĩa là anh có thể làm cho sự suy nghĩ ngừng lại hay là có thể chắt lọc nó mà như em biết anh đã bất lực nên anh vẫn phải tiếp tục sống trong thảm kịch và làm cho em buồn khổ. Chắc em đã nhận ra tâm tính anh thay đổi bất thường vì sao và anh đã yêu em nhiều như thế nào. Anh cầu khẩn mong em tha thứ những lầm lỗi của anh với em. Anh cũng thành khẩn mong sẽ có ngày em chịu chấp nhận và chịu làm vợ anh.
Hiện tại tương lai anh đang bế tắc, anh cũng không hiểu anh có thể thoát qua được trận chiến này hay không. Anh phải làm sao bây giờ dù đã tìm đủ mọi cách để giải quyết vẫn chẳng hơn gì. Anh lại không thể tìm sự yên thân bằng cách đào ngũ. Anh chỉ còn biết cố gắng đương đầu với Định Mệnh.
Cuộc chiến đấu của anh hoàn toàn lần mò vì anh cũng chẳng biết Định Mệnh muốn bắt tương lai anh phải như thế nào, định lựa chọn gì ở anh. Đó cũng là lý do khiến anh trở nên tuyệt vọng, càng đau khổ hơn cho anh là sự tuyệt vọng này lại rất sáng suốt. Anh đang sống cái thảm kịch gia đình anh vì thế anh là hai lần thảm kịch khi cố gắng làm cho những cuộc đời ấy hồi sinh. Anh có quyền thù ghét cái chiến cuộc này không em. Nếu anh chết em biết rồi sẽ ra sao. Tất cả sẽ chết theo. Đấy là lý do anh đã viết nhật ký và đấy cũng là lý do anh muốn cuốn nhật ký này đến tay em. Em hãy đọc thật kỹ em sẽ dễ dàng nhận diện ra từng khuôn mặt trong gia đình anh. Người cha, người mẹ, đứa em qua những giòng đối thoại của anh với họ. Quyển sách sẽ được in ra, sẽ được viết thành tiểu thuyết, hay thành kịch do chính em, người thân, đồng loại, con em, hay sẽ bị bỏ quên, nhất nhất đều liên quan đến sự sống còn của toàn gia đình anh. Anh tự hỏi thảm kịch này sẽ còn kéo dài đến bao giờ, hết đời anh, đời em thôi hay còn mãi. Tùy chiến tranh, tùy sự sống chết của anh và tùy em. Trước khi dừng lời viết cho em anh phải thú thật em là người đàn bà duy nhất anh yêu và thành thật muốn cưới làm vợ. Thật buồn phải không em vì anh không tin anh sẽ qua khỏi được cuộc chiến tàn khốc này để cưới em.
Con đường bỗng tối lại hỡi anh. Em đang đi giữa những hàng cây và vẫn không thể náo ra thoát được sự bủa vây tình cảm. Nơi đâu cũng có hình ảnh anh. Từ trên cao em thấy sương mù bay dưới chân. Em đi trên sương mù. Ước gì em có thể bay đến với anh bằng con đường sương khói này. Nắng đã bắt đầu yếu ớt, cảnh vật dần chìm trong sương tạnh. Dày đặc. Em đang ở giữa những tiếng reo thầm thì của rừng thông và âm thanh tình ái. Lời buồn của anh. Những hôm trời có nắng anh thường trèo lên đỉnh cao. Từ đó anh có thể nhìn thấy con suối nước chảy êm đềm, sườn đồi cỏ xanh, đàn bỏ gặm cỏ nhởn nhơ. Nhiều hôm quên cả giờ về ăn cơm. Mẹ anh đi kiếm, hai mẹ con ngồi nhìn giòng nước. Mẹ kể cho anh nghe về đời cha anh, chống Pháp rồi mất tích. Cuối cùng cả hai cùng khóc. Mẹ ôm anh vào lòng. Lời anh như ru bên tai em ngọt ngào. Em im lặng nghe anh tả. Nhìn vào mắt anh vời vợi sâu hút em bỗng sợ hãi lo lắng vì liên tưởng tới những nguy hiểm chết chóc. Em không muốn khóc nhưng tự nhiên nước mắt vẫn ứa ra. Gió vẫn thổi vi vu. Dưới mắt em nhà cửa thấp thoáng, xe cộ trôi trên những con đường. Em thầm ao ước có anh bên cạnh lúc này. Em sẽ nằm dài trên cỏ nghe anh nói những lời yêu đương. Hiện tại quanh em chỉ có trống vẳng và tiếng rền rĩ thầm lặng của đồi núi ngập chìm trong sương lạnh trắng xóa mầu sữa.
Hằng lịm dần trong vùng trí nhớ của chính nàng. Tình yêu đã làm cho nàng đê mê. Trong khi đó Nguyễn người yêu của nàng, đã thực sự bay trên những ngọn cỏ lá cây. Chàng đã chết thật nhẹ nhàng. Một viên đạn đồng vô tình. Ngày qua đi, cỏ bắt đầu mọc và sẽ xanh mờ, gió sẽ thổi về hát cho chàng nghe như chính chàng hằng mơ ước. Nhưng suốt đời chàng sẽ không còn được nhìn lại người yêu, quê hương, sương mù… Một ngày nào đó Hằng sẽ biết là chàng đã chết, Cuốn nhật ký, những gì còn lại cuối cùng của đời chàng. Chiến tranh vẫn tiếp diễn đều đặn như nhịp sống. Trên hốc đá gió vẫn thổi làm bật lên những âm thanh buồn. Sương mù cũng vẫn lơ lửng bay đẹp như ngày nào của tình yêu. Và Hằng vẫn thầm thì trong óc những lời yêu đương. Anh là kẻ duy nhất nhận lời trăn trối của mẹ. Tìm cho ra tông tích cha và phải bằng mọi cách chôn bà cạnh ông nơi quê hương anh. Đến bao giờ đất nước mới thanh bình để anh làm vừa lòng mẹ anh anh cũng chẳng biết dù anh đang tham dự chiến tranh. Vi thế em hãy tin anh không thể nào chết được. Anh phải sống bằng mọi giá. Anh đã thứ thách với Định Mệnh lao mình trong những nguy hiểm và em thấy không, anh vẫn sống nhăn răng.
Tên. thật là Nguyễn Đức Dũng sinh ngày 15.1.1926 tại Bình Nguyên, Thăng Bình, Quảng Nam. Học ở quê nhà (Thăng Bình) rồi ở Đà Nẵng, và Huế. Sống trong vùng kháng chiến liên khu Năm cho đến Hiệp định Genève. Đấu tranh đòi hiệp thương hai miền Nam Bắc năm 1955, bị chính quyền Diệm bắt giam; cuối 1956 được tự do, vào Saigon viết báo và dạy học, cộng tác với Bách Khoa, Mai, Văn… Năm 1961 chính quyền Diệm bắt lại nhưng nhờ báo chí can thiệp nên sớm được tự do.
Năm 1967 đã tham gia Lực Lượng Bảo Vệ Văn Hóa Dân Tộc.
Đã viết: Vượt Thác, Mùa Xuân Trên Đỉnh Non Cao, Lửa Rừng, Đọc Lại Truyện Kiều…
QUAN NIỆM VỀ TRUYỆN NGẮN
Thu gọn một cảnh sống, một cuộc đời và cố gắng trình bày những nét đậm đà nhất, tiêu biểu nhất hầu góp phần xây dựng xã hội theo chiều hướng mà mình cho là hợp lý, tiến bộ. Sự trình bày ấy có thể là tố cáo, là khích lệ, là phê phán, là tán thường… Nó cũng đóng một chủ đích như truyện dài, nhưng chỉ khác ở chỗ nó ngắn, và vì ngắn vấn đề phải khiêm tốn hơn, đơn giản hơn.
Về Truyện Ngắn “CỔ TÍCH NGÀY XUÂN”
Nội dung câu truyện Cổ Tích Ngày Xuân thật quá rõ, nói dài dòng sợ bất kính với bạn đọc. Đó là mâu thuẫn giữa chính và tà, thiện và ác. Đó là đối lập giữa văn hóa thoái bộ, hưởng thụ vị kỷ, nhằm tạo những hạng mọt sách chỉ biết có mình mà không quan tâm gì đến đồng bào, đồng loại, sớm thành một mối tai họa cho dân chúng; và văn hóa nhân bản, một thứ nhân bản đích thực, cụ thể, bắt nguồn từ sự cảm thông với đông đảo kẻ khốn khổ và đồng hóa với những giá trị lớn lao, cao đẹp một cách hồn nhiên qua chiến đấu và thử thách.
Mai Trầm là một kẽ sĩ ở mạn Hoài Dương, người không cao, chí lại thấp, thường lấy cái lỗ đồng tiền làm thứ mắt kiếng ngắm nhìn thiên hạ. Trải bao nhiêu năm đèn sách, gã chỉ mong chiếm bảng vàng đặng làm một con chuột lớn đục khoét túi tiền của dân cho thỏa giấc mộng cao sang.
Mỗi ngày, ôm sách đến trường ở cách xa nhà độ hai ngọn núi, Mai Trầm thường dừng bước lại trên đèo Chân Cửu, cúi nhặt một viên đá nhỏ ném vào trong một hốc núi tục gọi là hang Huyệt Động và tự nhủ rằng: “Chừng nào hang đá lấp đầy thì ta cũng sẽ công thành danh toại”. Hăng hái trong khát vọng ấy, Mai Trầm chúi mũi chúi lái mà học, không biết đất trời gì nữa.
Thầy dạy, một hôm, gọi Mai Trầm lên và bảo:
– Ta thấy con rất có chí, biết điều cầu học. Nhưng nên soát xét lại thái độ học của mình.
Vòng tay cung kính, Mai Trầm thưa lên:
– Dám mong sư phụ chỉ giáo, chẳng hay con có điều gì phải nên sửa đổi?
Thầy dạy bảo rằng:
– Có hai điều đáng quan tâm: Một là con chỉ chuyên nhìn vào sách mà không chịu nhìn vào đời. Con người phải sống với đời chứ không thể nào nằm ngồi ở trong sách mãi. Sách chỉ là một phương tiện để đi vào trong cuộc sống đó thôi, cắm cúi vào trong sách vở mà không biết đến bên ngoài, liệu khi rời sách bước chân vào đời thì khác nào kẻ mù lòa nói chuyện trăng sao? Bởi lẽ sách vẫn ở nguyên một chỗ mà cuộc đời thì biến hóa phi thường.
Thầy dạy ngừng lại để xem phản ứng trên mặt người học trò giỏi, rồi tiếp:
– Hai là trong khi học tập con không nhìn thấy bạn mình. Không ai có thể tiến bộ thật sự nếu chỉ lo học riêng lấy cho mình. Con ngồi giữa đám bạn bè mà chỉ biết mỗi phần con, lấy họ làm cái khung tốt cho mình nổi bật thì sao cho hợp đạo học? Cái gì mà con cướp đoạt của đời thì đời sẽ cướp đoạt lại. Sự cướp đoạt lại có thể ở trong hiện tại, có thể ở trong tương lai, nếu không kiếp này thì trong kiếp khác.
Mai Trầm vâng dạ nhưng vẫn không chịu thay đổi lối học của mình. Đến mùa thi cử, Mai Trầm hăm hở đi thi. Con đường từ nhà dẫn đến kinh kỳ khá xa, phải tính ít nhất hai tuần băng qua nhiều thác, nhiều ghềnh. Họ Mai rủ một người bạn đồng môn, quê ở làng bên, tên là Vương Bái, khăn gói lên đường.
Khi qua gần lỗ Huyệt Động, Mai Trầm chợt nhớ đến lời khấn vái hàng ngày của mình là bao giờ đá lấp đầy thi mình thành đạt, cúi nhìn thấy huyệt vẫn còn khá sâu, bèn bảo Vương Bái:
– Bây giờ thì anh đi trước đi, tôi lấp cái huyệt này cho đúng với lời tôi đã khấn nguyện ngày xưa.
Người bạn họ Vương đáp lời:
– Chúng ta đồng hành mà lại kẻ trước người sau thì coi sao được? Anh cứ lấp đi, tôi góp sức với.
Mai Trầm liền nói:
– Phải rồi, anh lấp với tôi một tay cho chóng. Mình hứa với mình chứ có hứa với ai đâu!
Hai người hì hục suốt một hồi lâu thì hốc lấp đầy. Đến lúc xuống suối rửa tay, Mai Trầm rửa mãi không sạch nước cứ đục lầy loang rộng ra trên mặt suối. Mai Trầm giận lắm, hậm hực:
– Cái đất vùng này sao mà dơ bẩn đến thế?
Quay sang Vương Bái, thấy gã rửa xong ngồi trên tảng đá, Mai Trầm liền hỏi:
– Sao mà chỏng vậy? Chắc là anh quen ở bẩn quá thôi.
Vương Bái lấy làm ngạc nhiên, bảo rằng:
– Tay tôi đã sạch lắm rồi, sao còn phải rửa?
Mai Trầm lại đưa tay mình lên coi thấy còn lấm láp, lại xuống vũng suối kỳ cọ. Cuối cùng đôi bàn tay Mai vẫn không chịu sạch. Không được hài lòng, Mai vội lau tay rồi cùng khăn gói lên đường.
Đến một tòa miếu rất xưa hai người cùng ghé vào nghỉ. Nhân có tấm bia khá cổ, rêu phong, Vương Bái cúi đọc. Mai Trầm cũng ghé lại xem nhưng không biết được là gì. Mai hỏi:
– Chữ gì mà kỳ cục vậy?
Vương Bái đáp lời:
– Đây là một lối cổ tự có từ sáu bảy trăm năm về trước, gọi là chữ Triện Đại Trang, bây giờ ít ai dùng nữa.
Mai không muốn nhận mình dốt, bảo rằng:
– Tôi có học qua chữ ấy đã lâu nhưng quên nhiều rồi. Thế anh có đọc được không?
Vương Bái đáp lại:
– Đọc hết không được nhưng vẫn hiểu rõ đại khái.
Mai Trầm ra vẻ lưỡng lự rồi hỏi:
– Vậy bia nói gì?
– Ghi lại công đức một người ăn mày.
– Ăn mày mà cũng có công đức sao?
– Sao lại không thể có được? Người này tên là Mã Ngữ bấy giờ sống ở Thủy Lăng, gặp mùa lụt lội nước lên tràn ngập xóm làng đến phải bỏ xứ mà đi. Tiếp đến lại bị giặc cướp quấy phá không sao sống nổi, lâm vòng bệnh hoạn phải đi cầu thực tha phương. Đến tại miền này Mã Ngữ chọn ngôi cổ miếu làm nơi trú ngụ, ăn xin quanh vùng. Bấy giờ giặc ngoài kéo đến rất đông, án ngữ cả vùng Tây Bắc, giết hại vô số sinh linh. Đại tướng Ninh Sơn cầm quân tiến đánh, đẩy chúng ra được năm mươi dặm ngoài, nhưng sau quân giặc viện binh tiến đến khá đông lập mưu gài bẫy bắt được hùng tướng Ninh Sơn trói chặt dẫn về. Qua ngôi miếu này vừa trưa, trời rất oi bức, quân giặc dừng lại nơi đây, viên tướng của giặc là Trầm Phi Bá vào trong miếu cổ nghỉ trưa. Lúc ấy, Mã Ngữ đang nằm trong miếu, nghe động, vội dòm ra ngoài thấy thế không dám chạy đi, vội chui vào trong bệ gạch ở nơi chính điện. Đến trưa, Mã Ngữ nghe có tiếng ngáy như sấm làm cho các khung cửa gỗ mong manh rung động, thò đầu ra xem thì thấy tướng giặc nằm ngay trên điện mà ngủ. Liếc nhìn chung quanh không thấy có ai thấp thoáng, mấy tên lính gác đang ngồi ngủ gà, ngủ gật ngoài sân, lập tức họ Mã bò ra, men gần lại bệ, rón rén nắm thanh bảo kiếm tên giặc đặt bên cạnh mình, chém mạnh giữa cổ khiến nó chết ngay không kịp kêu lên một tiếng. Đoạn Mã cởi hết giáp phục mặc vào người mình, đun xác giặc xuống dưới bệ rồi leo lên trên nằm vào chỗ nó. Xế trưa linh gác ngoài sân nhìn thẳng vào trong thấy tướng còn ngủ không đánh thức, đành chịu bồn chồn chờ đợi. Mãi đến khi trời sụp tối Mã mới ngồi dậy, làm bộ mệt nhọc bước ra, rồi tiến đến chỗ Ninh Sơn, làm vẻ hung hăng, xua tay ra dấu bảo lính dạt xa hai bên và vung lưỡi kiếm như muốn chém đầu Nhưng Mã hạ kiếm chặt đứt các vòng dây trói, bảo nhỏ:
– Ngài trốn mau lên. Tôi đã giết tên tướng giặc ấy rồi.
Ninh Sơn tiếp lấy thanh kiếm, quay lại chém chết những tên đứng gần rồi kéo Mã Ngữ xông xáo giữa đám giặc cướp, mở một đường máu. Quân giặc canh giữ chung quanh ùn ùn kéo đến khá đông phóng dao bủa tên nhưng nhờ trời tối và tài võ nghệ của tướng Ninh Sơn nên cả hai người chạy thoát. Ra khỏi núi được một dặm, Mã Ngữ không đi được nữa vì kiệt sức rồi. Mã nói:
– Tôi đã bị tên từ sớm nơi lưng nhưng không dám nói, sợ Ninh tướng quân vì tôi mà dừng bước lại.
Ninh Sơn đặt Mã ngồi xuống, rút mũi tên ở lưng ra thì Mã ngã lăn trên đất. Bèn hỏi:
– Ngài là ai đây mà giết được loài giặc dữ cứu tôi trong lúc khốn nguy?
Mã Ngữ mệt nhọc đáp lại:
– Tôi chỉ là tên ăn mày ngụ trong cổ miếu đó thôi. Không có chí khí, không có bản lĩnh, nhưng cảm cái lòng oai hùng xưa nay của ngài vì dân khử bạo, lại căm cho loài cướp nước dã man nên thừa cơ hội mà giết được giặc.
Kể lại sự việc vừa qua, Mã gắng gượng tiếp:
– Bây giờ thế là toại nguyện, vì cả cuộc đời ăn mày tủi nhục đã có dịp tốt dựa nhờ thế mạnh tướng quân mà bớt xấu hổ. Nay có chết đi cũng chẳng hối tiếc.
Đại tướng Ninh Sơn cúi xuống lấy miệng hút máu thấm độc ở nơi vết thương của Mã, quỳ lạy rồi nói:
– Con người có những lúc bĩ không ai tránh được nghèo khốn nhưng cái tinh thần vị nghĩa, bất khuất vẫn còn, là còn sáng tỏ như sao trên trời. Hình hài của ngài là kẻ ăn xin, nhưng tâm hồn ngài là đấng trượng phu cao trọng hơn trăm ngàn lần những bọn mũ cao áo dài quỳ gối khom lưng trước lũ giặc quỷ để mong kiếm chút bỗng lộc cao sang. Tôi với ngài đây cùng gặp gỡ nhau ở trên tinh thần cứu nước, nhưng tôi xin cảm tạ ngài là bậc ân nhân.
Mã Ngữ gắng gượng đáp lại:
– Tôi biết mình không còn sống được nữa. Xin chúc tướng quân còn đủ sức khỏe giết loài ác tặc cứu dân.
Ninh Sơn khóc ròng, vội hỏi:
– Ngài còn dặn bảo điều gì nữa không?
Mã phều phào nói:
– Ước nguyện cho mọi con người đừng ai khốn khổ, đói nghèo, điêu linh vì giặc giã nữa. Xin cho gửi xác gần tòa cổ miếu, vì đó là nơi nương náu nhiều ngày…
Nói xong, tắt thở. Ninh Sơn vuốt mắt cho Mã Ngữ xong, cởi chiếc áo ngoái gói xác họ Mã rồi đào một huyệt mà chôn lấp lại, hì hục trong đêm bỏ đá mấy đống làm dấu mộ phần. Sau đó, Ninh Sơn đuổi sạch kẻ thù, thống nhất cõi bờ, truyền đem mộ người ăn mày dời đến cồ miếu, dựng một bia lớn ghi rõ công đức và phong là Vương.
Mai Trầm nghe xong có ý không được bằng lòng.
Gã nói:
– Thờ phụng cả bọn ăn mày là điều quá đáng.
Vương Bái trả lời:
– Đâu có thờ phụng ăn mày? Thờ người cứu nước là Mã Ngữ đó.
Mai bỗng hỏi lại:
– Thế anh học cổ tự này ở đâu?
Vương đáp:
– Nhà tôi vốn nghèo, đâu có cách gì học hỏi cho nhiều. Tôi tự tìm học trong các sách xưa rồi quen lê la tìm đọc trong các bia cổ. Nhưng biết thì ít mà hiểu thì nhiều là nhờ mình đọc ở ngoài các chữ.
– Làm sao mà đọc ở ngoài chữ được?
– Phàm các câu nói, câu văn đều có một số các tiếng chính yếu như là bộ óc, thấy được cái óc đủ rõ con người, không cần phải biết chân tay. Hơn nữa, đó cũng là thói quen thôi.
Nghĩ rằng Vương Bái giấu cái sở học với mình nên Mai tỏ ý không vui. Rồi họ tiếp tục lên đường về kinh ứng thí.
Qua đến Liêu Nam thì trời tuôn mưa xối xả suốt ba ngày liền, cả hai trú ngụ trong một ngôi chùa. Đến ngày thứ ba nước sông cuồn cuộn dâng lên tràn ngập. Đứng trên chùa cao nhìn xuống thấy những làng mạc bập bềnh trong nước, vị sư trưởng rất băn khoăn hội cùng tăng ni trong chùa đắn cây, phá các tường gỗ đóng bè cứu lụt. Vương Bái hăng hái phụ lực cùng với mọi người xông ra cứu giúp dân làng.
Mai cứ ngồi lì trong phòng đọc sách, bảo vời họ Vương:
– Lụt cả trời đất mà riêng chúng ta cứu đỡ phỏng được mấy người? Hơn nữa, bỏ công mười năm đèn sách mà chết đuối trong mưa bảo thì uổng phí quá.
Vương bèn đáp lại:
– Học cốt giúp người, nay thấy nỗi nguy kẻ khác mà ngồi yên sao?
Mai không đáp lại, chúi đầu vào sách. Càng ngày nước lụt càng cao, nạn nhân càng nhiều, mọi người quanh vùng sống sót đều tập trung lại nơi chùa là chỗ cao nhất để lo việc cứu trợ. Một hôm, có một nông phu là Hàn Kỳ Lực vừa vớt xác chết trở về đi qua phòng Mai Trầm ở, thấy Mai tay cầm quyển sách liền nhảy xô vào quát lớn:
— Khốn nạn! Nhà ngươi là ai mà lúc này còn điềm nhiên tọa thị ngồi đó nhai văn nhả chữ, mặc cho mọi người chết chóc, lo âu ?
Rồi giằng quyền sách ném ra ngoài cửa, túm lấy đầu tóc Mai Trầm kéo ngược hẳn lên, nói rằng: Mày có thấy nước ở ngoài kia không?
– Có… thấy.
– Thế sao mày cứ ngồi im trong phòng đề cho mọi người lo lắng mà không đóng góp phần nào? Cái loại như mày ngày sau thi đỗ làm quan lại càng chết bọn dân đen này thôi.
Nói xong Kỳ Lực những toan hành hung, nhưng vị sư trưởng nghe động, chạy đến bảo rằng:
– Thôi chớ gây điều huyên náo trong lúc mọi người đều phải bận tâm, bận trí vào việc cứu nạn. Việc người đều phải bận tâm, bận trí vào việc cứu nạn. Việc thiện phải được xuất phát từ lòng, bắt buộc làm gì ? Kẻ nào đã không muốn thấy, đã chẳng muốn làm, thì nên khuyên nhủ hơn là ép uổng.
Ròi gỡ tay Hàn Kỳ Lực, kéo gã ra ngoài.
Mai Trầm sau cơn hoảng sợ, lấy làm giận lắm, tự bảo:
– Ta nhớ mày rồi, sẽ có lúc gặp.
Ở trong thâm ý, họ Mai quyết tâm thi đỗ, làm quan, xin về trấn nhậm vùng này trị bọn lỗ mãng với mình một phen.
Nhưng sau hôm đó Mai Trầm cảm thấy không có cách gì ngồi yên mà học, nên gắng gượng theo Vương Bái cứu giúp nạn nhân bão lụt. Khi cả hai người chèo chiếc bè đến một ngôi nhà chìm ngập trong nước, thình lình bỗng nghe có tiếng kêu rên thê thảm. Họ Vương vội vàng lái bè cập đến rồi cả hai cùng leo lên trên nóc, sờ soạng tìm đến chỗ phát ra những tiếng kêu.
Họ thầy một người cao tuổi nằm trên mải ngói, nhợt nhạt, thoi thóp, tay vẫn còn cằm chặt lấy một gói khá nặng. Họ Vương vừa chạm đến người, kẻ kia đã kêu rủ lên, ôm sát gói đồ vào ngực, ngón tay run rẩy, co quắp, bấu chặt lại như móng vuốt của loài thú dữ.
Gã kia thều thào:
– Trời ơi! đừng ai động đến tôi hết.
Rồi lại rên rỉ hết sức thảm thiết như muốn kêu cứu. Họ Vương liền bảo với Mai:
– Đây là một gã trọc phú trong cơn lụt lội lo giữ lấy vàng để mặc vợ con cuốn theo dòng nước. Rồi đem vàng lên chỗ kín đáo nhất mà nằm, chờ cho nước rút, nhưng đã kiệt sức quá rồi.
Mai Trầm nói rằng:
– Vậy kệ xác nó.
Vương bảo:
– Trong khi cứu nạn thế này, khó lòng phân biệt kẻ ác người thiện. Chúng ta chỉ biết đó là mạng người mà thôi. Dầu sao cũng phải đem gã ra khỏi nơi này.
Nói xong, giục Mai áp lại khiêng người kia ra nơi bè. Người ấy kêu la hốt hoảng như ai cắt cổ, tay vẫn không ngừng ôm chặt gói vàng trên ngực. Gã kêu:
– Không đi đâu hết! Không đi đâu hết!
Vương cúi xuống bảo:
– Chúng tôi cứu ông, đừng sợ. Không ai chiếm lấy của cái ông đâu.
Gã kia quẫy mạnh, hé mắt nhìn ra, lại kêu:
– Trời ơi!
Và đạp cặp chân gầy nheo vào cả hai người như muốn đẩy họ xuống nước. Mai nói:
– Cho nó chết đi rồi đem vàng kia về cứu các nạn nhân khác, thế là thượng sách.
Vương đáp:
– Bổn phận của ta là đi cứu người chứ không có quyền phán xử.
Rồi tìm mọi cách đem gã kia lên trên bè.
Chèo được một quãng thì gặp gió ngược, bè không đi mau cứ lơ lửng mãi giữa vời. Trời dần dàn tối, gió càng thổi lạnh. Người kia chịu không nổi được, rên rỉ một hồi rồi tắt lịm dần. Vương Bái vuốt mắt cho gã rồi xé vạt áp đắp lên mặt. Nhưng được một lát, bỗng thấy xác gã ngồi nhổm hẳn lên đưa tay quờ quạng, rồi chừng như không chịu nổi một sự tuyệt vọng lớn lao gã nhoài người ra khỏi bè, lăn mình xuống nước tối đen như là vực sâu thăm thẳm.
Mai Trầm quá sức ngạc nhiên hỏi rằng:
– Sao gã đã chết, còn ngồi dậy được?
Vương Bái đáp lời:
– Có lẽ thần xác của gã nhiều năm quá tha thiết với bạc vàng nên khi đã chết còn thiết tha chăng?
Thốt nhiên, gió nổi rất lớn rồi mưa tuôn xuống thêm nhiều. Trong đêm mù mịt, hai người ngồi sát gần nhau trên bè mà vẫn không thấy mặt nhau. Chiếc bè mỗi lúc càng chòng chành hơn, Vương liền bảo Mai:
– Cố giữ gói vàng đem về cho vị sư trương cứu giúp nạn nhân.
Rồi bèn nỗ lực chèo chống, để mong ngược gió về chùa. Nhưng gió quá mạnh đẩy bè trôi phăng về phía Tây Nam. Phần đã gắng sức quá nhiều trong mấy ngày qua, phần bị đói lạnh trong đêm nên đến nửa khuya thì Vương cảm sốt, nằm gục mê man trên bè, không biết đất trời gì nữa.
Mai Trầm lo giữ gói vàng, không chèo chống được, cứ mặc cho bè trôi đi. Đến khi sờ vào trán của Vương Bái thấy nóng mê man, Mai tự nhủ rằng: “Cách này chắc gã không sao sống nổi. Nếu ta đưa gã về chùa mà gã sống được thì phải nuôi dưỡng mất cả tháng trời chưa chắc khỏi bệnh”.
Đoạn xô Vương Bái xuống nước, rồi cầm sào đẩy bè tới, sau khi đã cột chặt gói vàng vào cổ mình.
Bấy giờ trời đã lặng gió, Mai Trầm chèo cho tới sáng thì đến một thị trấn lớn. Ở đấy khá cao, nước chỉ tràn vào tới thềm nên mọi người vẫn đi lại mua bán như thường. Mai Trầm tìm một nhà trọ, thuê một gian phòng lịch sự rồi đóng chặt cửa, ngồi đếm số vàng. Đây là lần đầu họ Mai thấy vàng quá nhiều như vậy nên hoa cả mắt, tay cứ run lên không sao đếm được. Giờ lâu, gã mới định tâm và đếm được một trăm nén. Tuy vậy, vẫn cứ ngại mình lầm lẫn nên phải đếm đi đếm lại đến mấy mươi lần. Xong, gã tìm vào hiệu kim hoàn đồi bớt một nén, lấy tiền vào quán ăn uống no nê rồi sắm sửa các vật dụng lên đường.
Họ Mai thuê một chiếc ghe khá lớn, đi theo đường biển mà đến kinh kỳ. Trên ghe, suốt ngày Mai được ăn nằm thong thả nên thấy vui vẻ cực độ.
Một hôm, đến thành Giang Biên thì gặp trời tối, ghé đậu nơi bến. Cơm nước xong xuôi, Mai ra ngồi trước mũi thuyền ngắm cảnh đèn sáng và người đi lại nhộn nhịp trước mắt. Bỗng nghe có một tiếng hát rất là não nùng bên cạnh. Nhìn qua, thấy một thiếp phụ khá đẹp đang hát trong một khoang thuyền. Chung quanh, người nghe thỉnh thoảng ném tiền tán thường. Tiếng hát vẳng lên:
Vượt trăm nghìn ngục nhân gian
Tìm sao cho gặp mặt chàng thì thôi
Con thơ như ngọc tan rồi
Mẹ cha khuất bóng, còn đôi lứa mình
Đưa tay vuốt tóc còn xanh
Bạc đầu riêng vẫn để dành cho ai…
Mai Trầm gọi người lái thuyền, và bảo:
– Gọi người ca nữ ấy đốn cho ta. Bảo ở luôn đây đêm nay.
Người kia trả lời:
– Ca nữ ấy là Chung Từ Ly phiêu bạt tìm chồng bị quan bắt giam giữ trong ngục tối lâu ngày rồi đày ải đến chốn xa. Nàng không bao giờ tiếp khách.
Mai Trầm có vẻ khó chịu, nói rằng:
– Phàm gái xướng ca đều phải sống thêm nghề ấy cả, sao không chịu tiếp? Bảo nó đòi trả bao nhiêu, ta cũng chịu trả.
Lái thuyền đợi Chung Từ Ly hát xong đám ấy, đón mời sang thuyền. Mai Trầm vừa gặp mặt nàng vội nói:
– Ta tuy hơi lùn nhưng tài năng ta cao hơn thiên hạ, điều đó không nói ắt nàng cũng hiểu. Nguyên ta nghe nói chồng nàng bị bắt, thật là cảnh ngộ đáng thương. Hãy lấy mảnh giấy ghi rõ lý lịch, rồi nay mai đây thi đỗ ta sẽ tìm cách cứu xét cho nàng.
Từ Ly vội vàng lấy giấy trần tinh, rồi trao cho Mai. Mai nói:
– Ta nghe nàng hát ban nãy nhiều rồi. Bây giờ ta mời nàng qua để mà trả tiền.
Từ Ly tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi lại:
– Thưa ngài, những người ở trong đám ấy trả cho tôi rồi, ngài ở ngoại cuộc, không phải tính tiền.
Mai Trầm bèn đáp:
– Phàm nghe giọng hát thì phải nghe xa là hay. Ngồi gần, người hát chiếm hết giọng hát. Ta trả cho nàng gấp ba lần tiền của bọn lúc nãy.
Từ Ly trả lời:
– Thưa ngài, tôi không dám nhận.
Mai Trầm mỉm cười:
– Gái hát chê tiền, quả cũng là điều rất lạ. Xưa nay, ta đọc trong sách, thấy lớp như nàng đều sống vì tiền cả mà.
Từ Ly nghiêm sắc mặt lại, trả lời:
– Xin ngài đừng đem sách vở ra mà xúc phạm cuộc đời. Cho phép tôi lui.
Mai Trẫm gượng nói:
– Thôi đừng giận dữ. Chẳng qua ta nói thử lòng đó thôi. Nào hãy ngồi xuống đi nào.
Người đàn bà vẫn đứng yên.
Mai Trầm nói tiếp:
– Con đường ta đi còn xa, muốn có một người đàn bà bên mình. Vậy nàng theo ta có được hay chăng?
Từ Ly đáp lại:
– Ngài đi về đâu?
– Về kinh.
Sau một phút giây suy nghĩ, Từ Ly trả lời:
– Xin vâng. Tôi mong được theo về đó kêu oan cho chồng.
Mai Trầm nghĩ bụng: “Bọn này chỉ khéo làm bộ. Mới gặp thì lại khoác vẻ đạo đức, nhưng chính đó là kiểu cách đòi giá cao thôi.”
Rồi bảo lái thuyền dọn riêng một khoang cho Từ Ly nằm.
Từ Ly yên lặng đến nơi dành riêng cho mình.
Nửa đêm, đang nằm thao thức, nàng thấy Mai Trầm tắt đèn tiến tới bên nàng.
Lập tức, Từ Ly ngồi dậy, cầm lấy chiếc đàn.
Mai Trầm đưa một bàn tay lên che miệng nàng. Nhưng nàng gạt phắt tay gã, toan kêu to lên thì gã vội bảo:
– Đừng kêu. Ta sẽ cho nàng nguyên một nén vàng.
Từ Ly trả lời:
– Nén vàng của ngài không xóa sạch được ô nhục.
Mai Trầm liền bảo:
– Đêm tối không ai hay biết, làm sao mà ô nhục được?
Người đàn bà đáp:
– Ô nhục đối với chính mình, hà tắt phải đợi kẻ ngoài biết đến. Xin ngài lùi lại, không thì tôi sẽ kêu lớn.
Mai Trầm gắng gượng nói tiếp:
– Hai nén vàng ròng, có bằng lòng chăng?
Từ Ly cả giận, trả lời:
– Đem cả núi vàng cho ta, ta cũng không thèm. Đừng có nhiều lời, vô ích.
Mai Trầm bèn nói:
– Thân ngươi giá đáng bao nhiêu mà nói những lời khinh mạn. Nay mai ta đỗ đạt rồi, những hạng như nàng không đáng cho ta chọn làm tì thiếp một đêm, có gì mà cao giá vậy?
Nói xong, hậm hực lui về chỗ nằm nhưng cứ trằn trọc không sao ngủ được.
Sáng dậy gã bảo Từ Ly:
– Ta chọn một người đàn bà để theo ta trên đường xa mà nàng thì vô dụng quá.
Từ Ly trả lời:
– Tưởng ngài kiếm người sửa sang cơm nước cho nên tôi mới chịu lời. Nay không ưng chịu, xin trả tôi về chỗ cũ.
Bấy giờ thuyền đã đi xa biết là mấy dặm sông hồ? Mai Trầm hằn học:
– Ta đã bị ngươi lường gạt.
Người đàn bà nói:
– Kẻ lường gạt người, chính là ngài đó.
– Con tiện tì này vô lễ!
Từ Ly không khuất, đáp lại:
– Đê tiện hay là cao sang chỉ đo được bằng nhân cách mà thôi. Những kẻ khinh mạn đàn bà không phải con của giống người.
Mai Trầm trợn mắt:
– Hừ, to gan quá lắm. Sao ngươi dám bảo không phải con của giống người?
– Vì chúng đâu biết có mẹ. Mẹ chúng chẳng là đàn bà hay sao?
Mai Trầm tức lắm, tưởng có thể xách Từ Ly mà ném xuống bể.
Đến chiều hôm đó, thuyền ghé lại miền Nghi Đảo là nơi hoang vắng. Gã bảo người đàn bà lên mua ít đồ nhắm để tối uống rượu. Khi Chung Từ Ly lên bờ đi được một quãng, gã bảo lái thuyền nhổ neo mà chạy. Lái thuyền hỏi lại:
– Còn người đàn bà?
Mai đáp:
– Cho nó ở lại. Chẳng dùng được việc gì cả.
Lái thuyền không chịu:
– Ở đây là chốn hoang vu, sao nỡ bỏ người ta lại?
– Nhà ngươi chớ có bận tâm vô ích. Cứ cho thuyền đi, ta sẽ trả gấp rưỡi số tiền đò.
Chủ thuyền ham lợi, giong buồm, nhổ neo đi thẳng.
Ra đến kinh kỳ, chỉ còn ba ngày đã tới khoa thi, sĩ tử bốn phương kéo đến ồn ào tấp nập, quang cảnh thật là náo nhiệt khác thường. Trong thời bấy giờ có Lưu Hào Vĩ là viên chủ khảo hết sức tham lam, lén cắp đề thi đem bán cho những con nhà vọng tộc để kiếm vàng ngọc. Cứ mỗi đề thi được đánh đồi bằng số nén vàng ròng và kẻ mua bán gặp nhau trong một hầm đá khá rộng sau dinh thừa tướng họ Võ, vốn là cậu ruột của Lưu.
Giá bán quá cao nên bọn con quan lười biếng học hành rủ nhau chung vốn mua các đề ấy. Đồng thời đôi người thấy đó là dịp tốt để làm ăn nên quyết mua đề đem ra khai thác làm giàu.
Một người bạn thi ở gần phòng trọ của Mai, tên là Lý Can, thấy Mai ăn tiêu sang trọng biết là gã có tiền nhiều, bén mớm cái ý mua đề trục lợi. Mai Trầm mừng lắm hẹn với Lý Can vào một buổi tối cùng đi tới hầm đá ấy.
Đến nơi, cả hai thấy một người rất đạo mạo, ra vẻ là tay phương diện quốc gia đang ngồi chính giữa, hai bên có hai thuộc viên uy nghi, ngồi ở hai bên.
Mai Trầm bèn hỏi:
– Xin cho biết giá nhất định mỗi đề là bao nhiêu tiền?
Thuộc viên bên hữu trịnh trọng đáp rằng:
– Ở đây là một tổ chức nhân đạo giúp đỡ cho những kẻ sĩ suốt năm không có thể giờ học hành, nên không có một lề lối mua bán như bọn gian thương.
Người ngồi ở giữa gật đầu, nói tiếp:
– Chính thế. Chúng ta phải làm việc thiện để mà cứu đời.
Người ngồi bên cạnh phụ họa:
– Vi vậy, không thì nêu ra giá cả bây giờ. Văn chương lại vốn là một thứ đồ vô giá. Một khi đỗ đạt, các người có đủ phương tiện làm ăn, tiền của lương dân sinh sinh, hóa hóa hét sức nhiệm mầu, khai thác bao nhiêu cũng được. Do đó các người phải cho biết trước sẵn có bao nhiêu tiền bạc ta mới tùy liệu mà đòi giá cả phải chăng.
Mai Trầm bèn đáp:
– Tôi chỉ có ba nén vàng.
Lập tức, người kia hàm hầm quát lớn:
– Đồ khốn, lui ra! Chỉ có ba nén mà cũng tính chuyện đỗ đạt là nghĩa làm sao?
– Thực tình tôi có năm nén nhưng còn phải để chi dụng vì con đường về rất xa.
Người kia lộ vẻ suy nghĩ rồi hỏi vị ngồi ở giữa;
– Ý của Thượng Quan thế nào?
Vị này phán rằng:
– Nếu xem nó quá là học trò nghèo thì nên giúp đỗ’ để mua phúc đức về sau. Bán rẻ cho nó nửa đề cũng được.
Mai Trầm kêu lên:
– Nửa đề thi làm sao hiểu mà thi cho đặng?
Vị đại quan nói:
– Tiền nào của nấy là lẽ thường tình xưa nay. Nếu muốn hiểu đủ thì cứ trả gấp đôi số vàng. Bây giờ chịu vậy thì ta trao cho, song điều quan trọng ngươi phải là học trò nghèo mới được. Chúng ta chỉ thương những kẻ khốn cùng, vì đây là triều đại của dân nghèo.
Mai Trầm nói:
– Tôi quả là thứ dân nghèo chính hiệu, nghèo trên ba đời.
Vị đại quan truyền:
– Khám nghiệm ngay xem để biết thực giả ra sao!
Hai người bên cạnh áp đến lôi Mai Trầm lại trước đèn, lật bàn chân gã ra xem. Cả hai làm bộ quan sát thật kỹ, nháy nhỏ với nhau, rồi nói:
– Đích thực là học trò nghèo. Thôi lấy nó sáu nén vậy.
Mai Trầm lôi ra sáu nén, đặt ở trên bàn cho đại quan xem lại. Vị đại quan nói: Hãy chặn tên này xét lại chu đáo, chắc nó còn vàng trong người. Hai kẻ thuộc hạ lại xông đến lôi Mai Trầm, đè xuống, lọc lọi một hồi lôi ra từ trong lưng quần đủ hai chục nén và nói:
– Đại quan thật là sáng suốt. Đích thị nó không phải là dân nghèo.
Vị quan nghiêm nghị phán rằng:
– Đã nghèo sao còn có vàng? Vả lại bọn nghèo thường thường chăm học, làm gì phải chạy mua các đề thi! Tội của thằng này to lắm, dám mạo nhận cái danh nghĩa nghèo nàn để mà lường gạt bề trên, thật đáng vào ngục tối. Song nếu nó nộp đầy đủ số vàng thì khoan dung cho nó một lần thứ nhất.
Mai Trầm tiếc của, xanh mặt, nói giọng thiểu não::
– Vậy xin hãy giao đề thi cho tôi.
Vị quan rút một tờ giấy màu vàng có đóng dấu rất kỹ lưỡng, rồi bảo:
– Bọn ta làm ăn lâu dài và có tín nhiệm, nhà ngươi chớ lo. Cầm biên lai này, và trước ngày thi ghé lại nơi đây mà nhận đầu đề. Không thể giao sớm đề ngươi đem về phổ biến bậy bạ.
Mai Trầm cùng với Lý Can đành phải cáo từ lui ra, lòng rất buồn phiền. Ra đến bên ngoài, Mai Trầm giậm chân than thở:
– Thôi chết cha rồi, bị kẹt hai chục nén vàng trong đó, dễ gì mà lấy lại được! Đem bao nhiêu của mua mảnh giấy lộn này sao?
Họ Lý an ủi:
– Không hề gì đâu. Người ta là vị đại quan, lẽ nói sai lời.
Mai đáp:
– Nó không nói sai, nhưng chắc là nó nói láo. Bây giờ chúng ta nguy mất. Chưa kịp làm ăn mà đã lỗ hết cả vốn liếng. Việc này chung qui là tại anh ca.
Lý buồn rầu lắm, nghĩ ngợi một lát rồi nói:
– Thôi được. Tôi đã có cách.
– Cách gì?
– Bây giờ ta làm thế này…
Đoạn kề miệng vào tai của Mai Trầm nói nhỏ mấy câu. Mai Trầm hớn hở gật đầu:
– Thôi vậy cũng được.
Qua tối hôm sau hai người tìm thuê hai gã du đãng, cho ăn mặc rất lịch sự, đứng núp ở ngoài hầm đá của viên đại quan họ Lưu rồi cùng thuê một căn nhà rất là bí mật ở ngay cuối phố. Cứ thấy kẻ nào đi đến thì bọn du đãng đón đường, bảo rằng:
– Các người muốn tìm Lưu đại quan đấy phải không?
Nếu họ đáp phải thì cứ dẫn đi ngoằn ngoèo và đưa đến căn nhà riêng. Tại đây Mai Trầm đã mua của một gánh hát một bộ đồ quan rất đẹp mặc vào, ngồi giữa, gã Lý Can bận sắc phục nha môn làm người chuyển ngôn, cả hai bịa ra nhiều đề, viết thành nhiều bản, rồi đòi giá cao mới bán, do đó chỉ trong mấy ngày đã kiếm được một món tiền rất lớn, trên cả hai trăm nén vàng.
Mai bảo Lý rằng:
– Không ngờ mình lại làm ăn khá giả thế này. Cũng nhờ là bọn sĩ tử bây giờ lười biếng quá cỡ, thêm nữa địa vị ngày nay dễ kiếm chác hơn. Điều mà ta sung sướng nhất là chúng cứ ỷ có sẵn đề rồi không chịu coi lại văn bài nên mình có dịp đỗ cao.
Do bọn Mai, Lý phỗng hết tay trên như vậy nên quan họ Lưu ế hàng, cuối cùng đến ngày thi cử, đành phải giao đề cho Mai để lấy thêm vài nén nữa.
Năm ấy Mai đỗ thủ khoa, Lý cũng đỗ cao, và một số đông con nhà có tiền nhưng không biết chữ bao nhiêu cũng được mũ cao áo dài. Một số bị mưu của Mai, mất tiền mà không trúng đề, giận lắm, làm đơn tố cáo họ Lưu gian lận. Nhưng Lưu khôn khéo đút lói quan trên nên chỉ có vài ba người thuộc hạ bị khép vào tội tử hình mà thôi.
Mai được bô nhiệm làm quan trấn thủ Hà Tây là vùng hết sức giàu có. Bấy giờ xã hội bày ra tình trạng rối loạn vô kể. Nguyên do là vì những hạng cai trị đều không có một căn bản học vấn và đạo đức nào mà chỉ nhờ mấy nén vàng đã làm quan được nên cùng thi nhau vơ vét của dân, cốt sao cho được nhà cao cửa lớn, ngựa xe rộn rịp là thỏa dạ rồi. Họ lập thành một tổ chức rộng lớn gọi là Kim Tiền Đảng Hội, chỉ có mục đích là kiếm được nhiều tiền. Mỗi một hội viên phải đeo trên ngực ỏ trong lớp áo nhà quan một đòng tiền lớn, mài nhẵn, không có mặt trái mặt phải nào cả để làm huy hiệu. Gặp nhau thì chỉ lấy ngón tay trỏ bấm vào đầu ngón tay cái để làm dấu hiệu liên lạc, chào kính. Các hội viên này phát triển ngày một thêm đông, làm cho thanh thế của hội thật là lẫy lừng hết sức. Một trong những tay trụ cột của tổ chức này là Hoàng Kim Trọng có uy tín lớn khắp nơi, ở đâu cũng được một số quan lại cao cấp đỡ đầu và nhiều gái đẹp đỡ đuôi. Nói về nghi thức nhập hội thì ly kỳ lắm. Chỉ cần làm một tờ trình lý lịch, trong đó nêu rõ đã trục lợi như thế nào, rồi viết một bài luận văn bênh vực cho tiền, là được trúng cử vào kỳ thứ nhất. Sau đó, vào kỳ thứ hai là kỳ vấn đáp, có ba người đeo mặt nạ hỏi các câu rất khó khăn về chuyện làm tiền, phải thuộc lòng các nhân vật lịch sử đã nhờ tiền bạc làm nên danh giá hoặc đã vì tiền mà không từ bỏ một thủ đoạn nào. Trung bình cử hỏi mười câu mà đáp đúng được năm câu là trúng tuyển rồi. Ai không nói đúng số ấy thì phải về nhà nghiên cứu trên ba tháng nữa mới được ứng thi kỳ hai. Đậu xong cả hai khóa ấy là vào kỳ ba, thiên nhiều về môn thực hành hơn là lý thuyết.
Đại khái các môn thực hành gồm có các khoa như sau: bỏ người dự thi vào trong một phòng rồi bịt mắt lại, đoạn bảo anh ta tìm đồng tiền giấu một nơi nào đó trong các khe cửa. Thí sinh cần phải dùng mũi chứ không được phép dùng tay để tìm. Môn này tuy cũng hơi khó, song tính trung bình ba trăm thí sinh thì bị đánh hỏng độ năm sáu người là cùng. Nguyên do là các vị đứng giảm khảo cho Hội, vốn là những người có trình độ cao nên rất sẵn sàng nhận món hối lộ của các thí sinh đề cho họ đỗ. Thủ đoạn rất dễ: chỉ cần bôi vào đồng tiền một mùi gì đó rồi cho thí sinh biết trước để họ đánh hơi, và muốn cho thật chắc chắn họ vẫn bôi vào đồng tiền những chất hôi hám đặc biệt. Chỉ có thí sinh nào nghẹt mũi lắm mới bị đánh hỏng.
Về cách khảo thí thực tập thứ hai, thì có môn này: một người cầm một đồng tiền xoay mạnh cho nó quay như chong chóng rồi thí sinh phải xoay người cho kịp đồng tiền. Nếu tiền còn quay mà thì sinh đã ngã nhào thì coi như là phạm phép, không thể dung nạp. Cách này tuy khó gian lận vì nó có vẻ công khai, song các ông lớn chủ trì cũng vẫn có thừa phương pháp để mà ủng hộ thí sinh. Họ chỉ việc quay nhẹ tay một tí là được.
Còn cách thứ ba rất là khó nói, vì chẳng hợp với vệ sinh, song cũng nên kể ra luôn, là bỏ đồng tiền vào một thùng lớn đựng toàn phân bã rồi cho thò tay, mở mắt để mà bươi móc lục lọi sao cho tìm được. Tất nhiên phải có một sức chịu đựng cao độ về các mùi hôi mới đứng suốt buổi mò mẫm như thế. Nhiều thí sinh đã bôi đầy dầu thơm vào mũi mà vẫn không sao chịu nổi, có người ngất xỉu nửa chừng. Nói chung, còn có nhiều môn khác nữa, như là nhai tiền, nuốt tiền, câu tiền, giấu tiền… nhưng tương đối dễ thực hiện.
Trong số các bọn quan lại móc họng dân chúng lấy tiền và trong số các hội viên của tổ chức trên thì Mai Trầm có uy thế rất lớn. Một phần vì gã đậu cao, có tiền bạc nhiều khi ra nhậm chức, lại có thủ đoạn. Suốt một năm ròng trấn nhậm gã đã tống giam có đến ba trăm người dân có chút máu mặt, lấy vợ của hàng nha lại có đến bốn năm mươi người. Vàng bạc của gã đúc thành từng khối vuông vức, chồng làm bức tường trong nhà, và gã ngủ giữa tường vàng tên gọi là Kim Bích phòng.
Được trên hai năm, Mai Trầm một hôm soi gương bỗng thấy mặt mũi của mình thay đổi khác xưa rất nhiều. Trán gã tự nhiên lồi lõm, y tuồng bị sự suy tinh bất thường bên trong làm cho ảnh hưởng bên ngoài, lại thêm cặp môi dày ra mím lại, biểu lộ một tấm lòng tham không đáy và sự thèm khát không nguôi. Nhất là cặp mắt luôn luôn đục ngầu, hấp háy đảo nhìn đầy ý soi mói, sục sạo. Có quan Đô Úy ở gần muốn gả cô con gái quí cho Mai nhưng Mai chưa muốn lấy vợ. Gã nói:
– Có một người vợ thì chỉ có mỗi một vợ mà thôi. Không có vợ nào thì sẽ có được mọi người làm vợ.
Một hôm đang ngồi suy nghĩ bỗng nghe có tiếng động mạnh, ngẩng đầu nhìn lên thấy một quyền sách rớt ở góc phòng. Trong óc sực nhớ mối thù bị người nông dân nắm tóc kéo lên buộc đi cứu lụt ngày nào, liền nổi cơ giận quyết lòng trả thù. Mai liền cho kẻ tâm phúc là Hắc Đạo Nhân mang một lễ tốt và một phong thư đem qua cho viên tổng trấn vùng ấy, nhờ bắt và áp giải Hàn Kỳ Lực đến tại nha môn của mình.
Viên tổng trấn này là Tôn Bảo Ngọc cũng ở trong ban lãnh đạo Hội Đảng Kim Tiền nên khi nhận được phong thư, vội vàng cho đi bắt Hàn Kỳ Lực. Lúc ấy vào trưa, Kỳ Lực đang nằm ngủ dưới gốc đa thì có bốn tên sai nha đi tới. Kỳ Lực không hề hay biết gì cả, thiêm thiếp giấc nồng. Một tên lấy chân đá vào mạn sườn Kỳ Lực nhưng anh ta vẫn không hay. Một tên khác bèn dùng đao đánh mạnh vào ông chân anh, khiến anh choàng mắt, tỉnh đậy, hỏi rằng:
– Các anh là ai mà lại phá ngang giấc ngủ người ta như vậy?
Tên sai nha đáp:
– Mày đui hay sao mà không thấy rõ chúng ta là ai?
Kỳ Lực trả lời:
– Sao lại chẳng thấy? Lũ mày chỉ là một phường chó má đấy thôi, dựa lưng bọn quan lại ác thú để mà hiếp đáp dân lành.
Lập tức một tên sai nha vung chiếc roi da quất mạnh vào mặt Kỳ Lực. Nhưng Kỳ Lực không né tránh chỉ hơi lắc đầu, hé miệng cắn chặt chiếc roi vào giữa hàm răng rồi gặc một cái thật nhanh khiến cho tên kia ngã chúi về trước, buông vội tay ra. Kỳ Lực cằm lấy chiếc roi, đứng vụt ngay dậy, quát to:
– Nào, lũ chó săn, bay muốn trừng trị thế nào cho xứng tội trạng?
Mấy tên còn lại vung đao chém tới loạn xạ nhưng Hàn Kỳ Lực vẫn múa chiếc roi vun vút đỡ gạt, nhiều lần quất mạnh vào mặt mũi chúng, khiến chúng tối tăm mặt. Tên bị ngã chúi lần đầu nhiều lần muốn ngồi nhỏm dậy để cứu đồng bọn nhưng con roi da trong tay Kỳ Lực vận chuyển quá nhanh, đến nỗi mỗi lúc gã nhỏm dậy được đã bị một roi giáng xuống ngay mông quắn quýt không sao ngồi thẳng.
Kỳ Lực giao đấu một lát thì bọn sai nha đều chạy dài. Anh ta đuổi theo nắm cổ một tên hỏi rằng:
– Bọn mày đi tìm đứa nào?
Tên này liền đáp:
– Chúng tôi được lệnh bắt người có tên Kỳ Lực họ Hàn.
– Bắt về tội gì?
– Không rõ tội gì. Quan trên truyền bảo như vậy.
– Đưa trát cho tao xem nào.
Tên sai nha đưa tờ trát cho Kỳ Lực. Đọc xong Kỳ Lực kêu lên:
– Trời ơi! Nó bảo rằng ta can tội xúc phạm quan trên, hành hung kẻ sĩ, lỗ mãng, khinh người. Bọn này láo thật!
Rồi quay sang bọn sai nha, Hàn nói:
– Bọn bay chẳng cần phải tìm đâu xa, tao đây là Hàn Kỳ Lực. Nói thật, cả trăm đứa bay cũng chẳng làm gì nổi tao, nhưng bọn mày đã có lòng tìm đến mà ta cũng có bụng gặp quan chúng mày để xem cho rõ hư thực. Vậy hãy theo ta về nhà để ta gói ghém một ít áo quần, mang theo ít lương thực, thưa lại ít tiếng với cha mẹ già, rồi ta sẽ đi cùng với chúng mày.
Nói đoạn, đưa tay vẫy bọn sai nha trở lại, cùng quay về nhà. Sau khi chuẩn bị hành lý, Hàn thưa cha mẹ:
– Việc nhà đã có mấy em lo liệu, xin cha mẹ chớ lo phiền. Nếu con không đi, chúng sẽ vu cáo làm phiền cha mẹ. Nay thử đến đó, xem lũ ác ôn này dở trò gì.
Kỳ Lực vừa tới công đường thì quan trấn thủ chẳng nói chẳng rằng cho lính trói chặt nhốt vào ngục tối. Ngày sau, cho một toán quân mang đao, mang kiếm áp giải về dinh Mai Trầm. Vừa thấy mặt Hàn, họ Mai quát tháo:
– Hay cho tên kia! Mày có nhớ mặt ta không?
Kỳ Lực trả lời:
– Một kẻ làm ruộng khốn khổ như tôi làm sao quen được với ngài mà nhớ hay quên. Có lẽ ngài lầm với kẻ nào chăng?
Mai Trầm cười gằn, rồi đáp:
– Khốn nạn, mày đừng mong trốn tội lỗi của mày. Ta đây là kẻ học trò ngày trước trốn tránh nạn lụt tại chùa Hoa Nghiêm đã bị nhà ngươi xúc phạm. Nay ta cho đem ngươi đến không ngoài giáo dục cho ngươi về sự tôn kính đối với kẻ sĩ để ngươi nhớ mãi suốt đời và truyền lại cho con cháu của ngươi lòng tôn kính ấy.
Kỳ Lực mím môi, làm thinh, tự thấy mình đã dại dột dẫn mình đến nộp mạng cho quỉ dữ. Cuối cùng, nghĩ rằng không lẽ chịu sự khuất phục dễ dàng, Kỳ Lực trả lời:
– Quan lớn bây giờ là kẻ có quyền, ngài muốn làm gì lũ dân hèn này chẳng được. Nhưng nếu ngài muốn nhớ lại thì ngày xưa tôi chỉ xúc phạm đến một kẻ sĩ vô trách nhiệm trước bao nỗi đau khổ của đồng bào mình chứ đâu có làm thương tổn mọi kẻ sĩ được?
Mai Trầm quát lớn:
– Đừng có hỗn láo! Truyền cho nha lệ đánh nó trăm roi như là bài học vỡ lòng. Rồi mày còn được học tập nhiều bài khác nữa cho thêm sáng mắt.
Bọn sai nha lôi Kỳ Lực ra sân, đánh đúng trăm roi khiến Hàn quằn quại cố nén tiếng kêu, cắn răng chịu đựng gia hình.
Thấy vẻ mặt quá bình tĩnh của Hàn, Mai căm tức lắm, bảo rằng:
– Tên này thuộc loại cứng đầu, đánh đập bao nhiêu cũng không biết sợ. Phàm con người có biết sợ mới biết phục thiện. Vậy nhốt nó vào ngục tối, ta sẽ có cách.
Rồi người nông dân đôn hậu và kiên cường ấy sống chết ra sao? Và người đàn bà chung thủy và đáng yêu kia, bị bỏ rơi giữa hoang đảo, còn mất thế nào? Anh chàng thư sinh trung chính, nhiệt thành, bị xô xuống vùng nước lạ giữa đêm mưa bão, có thoát được chăng?
Sự việc còn dài, ngày xuân lại ngắn, chỉ xin vắn tắt trình bày để khỏi nản lòng bạn đọc đang phải thưởng xuân trong nổi băn khoăn.
Hòn đảo mà nàng Từ Ly lạc vào không phải là chốn hoang vu. Nơi đấy là chỗ trú ẩn của những đàn ông trốn chạy đàn bà. Những anh chàng gặp vợ dữ, những gã trai phụ tình, đồng mang những nỗi nghi hoặc về đời, đổi lại thành họ Nghi cả, chọn miền đất này gọi là Nghi đảo làm căn cứ địa. Bắt gặp Từ Ly, họ liền ghép nàng vào tội đột nhập phá hoại, toan xé xác nàng cho hả những mối hờn giận đối với đàn bà chất chứa lâu nay. (Kể ra điêu đó không những bất công mà còn phi lý nữa. Nhưng xét cho cùng thì xưa nay đàn ông đãi ngộ đàn bà vẫn chưa có gì tốt hơn điều đó bao nhiêu.)
Tuy nhiên Từ Ly không để cho mình trở thành nạn nhân của những anh chàng râu quặp mang mối mặc cảm hốt hoảng về người đàn bà. Dầu biết rằng đáng lý ra đàn bà phải nên xé xác đàn ông thì mới công bằng, nhưng tự hiểu mình cô thế nàng phải mềm mỏng để mà thoát nạn. May thay ở nơi người nàng ngời chói một thứ ánh sáng hết sức kỳ diệu đẩy lùi được sự hung tợn của bọn mày râu. Cái ánh sáng ấy không chỉ ở vẻ xinh đẹp và sự hiền dịu của nàng, mà chính ở lòng chung thủy và sự hi sinh của nàng cho một tình nghĩa cao sâu. Lớp đàn ông ở Nghi đảo thật sự xúc động về nàng, họ chợt thấy rằng người đàn bà tốt và đáng yêu quý vốn có nhan nhản trên mặt đất này. Và họ hiểu người đàn bà, có tồi tệ chăng, phần lớn cũng do chính bọn đàn ông gây ra.
Giác ngộ điều ấy, họ cùng tranh nhau hộ tống nàng Chung Từ Ly trở về đất liền, như tranh nhau bảo tồn một giá trị, và cũng vì thề dân trên Nghi đảo dần dần trốn hết, bởi không còn đủ lý do để tập họp nữa. Từ đó, ở trong đất liền, những anh chàng buồn và những gã tình nhân khổ không còn có chỗ di trú như xưa, đành phải lẩn quẩn trong nhà đề mơ về một chân trời xa lạ. Nơi chân trời ấy, không phải vắng bóng đàn bà, mà có người tình trong mộng chung sống với mình toàn bằng rau cỏ và không khí.
Còn chàng Vương Bái, đang sốt mê man, bị gã Mai Trầm xô xuống giữa vùng nước lụt, thoáng bị ngấm lạnh, tỉnh người. Cái tài chữa trị ngày nay bệnh viện Cơ Đốc vẫn dùng là ngâm các người bị sốt vào trong nước đá có lẽ cũng được xuất phát từ chuyện này chăng? Nhiệt độ đã nhờ nước lụt làm giảm khá mau, chàng Vương cố gắng bơi lội và vớ được một cây cột nhà khá lớn trôi nổi giữa dòng. Ôm chặt vị cứu tinh cột, chàng được sóng nước lấp vào chân núi hoang vu. Ở đấy, Vương Bái gặp nhiều nạn nhân sống sót như chàng, nhưng đều phải chịu đói lạnh vì đi cứu trợ được một số người làm việc từ thiện thuổng hết đem bán.
Nhưng trong những tháng ngày dài đói lạnh, Vương Bái có dịp nghĩ ngợi sâu xa về cuộc đời mình và về cuộc đời đồng loại. Đau khổ vẫn là vị giáo sư tốt, và học trò ngoan Vương Bái tìm được chân lý trong kiếp sống này. Chàng đã đứng lên, mạnh dạn đối diện với những gian lao trước mắt, quần tụ tất cả những nạn nhân lại, không còn mơ tưởng bảng vàng như một lá bùa hộ mệnh, mà đem sức mạnh hợp đoàn vươn lên từ những kêu đòi chính đáng mà xây dựng tương lai.
Và một mùa xuân đã đến với chàng. Ngục tù của gã Mai Trầm đã bị san bằng, Kỳ Lực cũng như chồng nàng Từ Ly và bao kẻ khác đã được giải thoát. Niềm vui đoàn tụ sau những đắng cay, lại càng thắm thiết, mặn nồng.
Tất nhiên Mai Trầm đã không còn nữa, dù gã vẫn còn tiếp tục được sống trong nỗi buồn phiền. Bởi lẽ gã tượng trưng cho bóng tối, mà bóng tối phải thuộc về dĩ vãng.
Tên thật Nguyễn Thị Thái, sinh ngày 15.4.1944 tại Sơn Tây, Bắc Việt. Di cư nào Nam năm 1954 và sống ở Saigon. Trình độ học vấn: Đại học. Khởi sự nhập tịch làng văn từ năm 1965 qua sự giới thiệu của nhà văn Võ Phiến với tạp chí Bách Khoa. Sau đó cộng tác thêm với các báo Văn, Vấn Đề, Đời, Diễn Đàn…
Ngoài lãnh vực văn chương còn sinh hoạt trong các ngành phát thanh, truyền hình, báo chí, điện ảnh… Tác phẩm đầu tay: Vừa Đi Vừa Ngước Nhìn, một tập truyện; và từ đó tới nay cũng chỉ mới cho xuất bản một tập truyện vì tự nghĩ chưa đủ “chín mùi” để viết truyện dài…
QUAN NIỆM VỀ TRUYỆN NGẮN
Tuy nhiên, vẫn quan niệm rằng truyện ngắn là một thể tài cô đọng, khó thực hiện và đòi hỏi người viết một sự duyên dáng trong lối kể chuyện — tựa như công việc của một họa sĩ hí họa tài ba.
Về Truyện Ngắn “CHUNG CƯ”
Truyện ngắn “Chung Cư” dành cho nhà xuất bản được sáng tác trong một hoàn cảnh khá độc đáo. Sáng hôm sau là thời hạn phải trao bài, tối hôm đó, cơm nước xong, 8 giờ tôi ngồi vào bàn viết với ý định kể một câu chuyện tình. Nhưng không khi nơi tôi ở dạo ấy (1970) — chung cư Nguyễn Thiện Thuật — vào giờ đó lại là lúc mà các tiếng động có cường độ mạnh nhất, và rồi trong lúc vật lộn tranh đấu cho tâm hồn mình một yên tĩnh vừa đủ để khai thác đề tài dự định, tôi bị lôi cuốn vào việc ghi lại sinh hoạt của chung cư với tất cả sự phản kháng dành cho nếp sinh hoạt không thể phù hợp với tâm hồn người Việt Nam nói riêng và tám hồn con người nói chung giữa một thời đại máy móc. Và viết xong truyện đó, tôi thấy sảng khoái và nuôi ý định rời chung cư từ đó…
Đến chiều vụ dọn nhà kể như xong. Trong khi Hạo đang lo đóng đinh lên vách để treo vài bức tranh ở nhà ngoài, Nhiên loay hoay thu xếp những vật dụng gồm nồi niêu, soong chảo, bát đũa, v.v. vào hai dẫy tủ đóng sát vào tường cách mặt đất gần hai thước, theo hình thước thợ, trong bếp. Người thiếu phụ cảm thấy hân hoan, sung sướng đến độ, có lúc, nàng đứng ngẩn ra giữa những thùng sữa bằng giấy bỏ ngổn ngang trên sàn nhà, trong đựng các đồ bếp núc chưa được xếp ra, tự hỏi không biết nên sắp xếp ra làm sao, với một tâm trạng y hệt như của một đứa trẻ khi được dọn đến nhà mới. Nhưng ở một đứa trẻ, nó chỉ cảm thấy dọn nhà là một thay đổi thú vị, hơi pha tính chất phiêu lưu và hoàn toàn vô trách nhiệm. Còn ở Nhiên, việc dọn nhà lần này là cả một sự quan trọng, một hạnh phúc lớn lao và quý giá mà lần đầu tiên, từ ngày lấy Hạo, nàng có được. Bởi vì, đây là lần đầu tiên vợ chồng nàng được làm sở hữu chủ căn nhà này, một căn nhà vuông vức, xinh xắn, nằm ở lầu hai tại một trong khoang mười tòa nhà thuộc chung cư N.T.T. Bảy năm làm vợ Hạo, trên mười lần dọn nhà, đến cái độ nhiều lúc muốn sắm thêm ít đồ đạc cần dùng, Nhiên cũng không dám, vì luôn luôn sống trong tâm trạng phải dọn nhà khiến nàng e ngại. Với Hạo, việc đó đã trở thành quen thuộc, vả lại, trước khi lấy Nhiên, anh đã quen nếp sống lưu lạc giang hồ, đồ đạc sang lắm là một cái sắc tay trong đựng dăm ba bộ quần áo và mấy cuốn sách gối đầu giường (theo cả hai nghĩa), mà tệ lắm là… trần có bộ quần áo đeo trên người với đôi dép lẹp kẹp; hôm nào đồ bỏ giặt, rủi có người tới rủ đi chơi, là y như rằng anh phải cái ốm hoặc bận. Thành ra, việc phải dọn nhà luôn luôn không hề làm Hạo bận tâm. Nhưng với Nhiên không thể được! Nàng là một người đàn bà, có khuynh hướng vì một cuộc sống ổn định, giấc mộng muôn đời của đa số đàn bà. Dù chẳng bao giờ tỏ ra phiền trách chồng về nỗi cửa nhà, nhưng Nhiên đã có những lúc không che giấu được sự chán nản, mệt mỏi. Họ lênh đênh khắp Saigon hầu như khu vực nào của Saigon họ cũng đã đặt chân tới ở qua ít tháng, ít hôm hoặc ít giờ. Nếu có ai nghe họ kể chắc không tin được, nhưng quả thật đã có lần bấn quá chưa thuê kịp nhà, họ đã phải trú chân hết hai đêm tại một khách sạn rẻ tiền gần trung tâm thành phố. Đó là lần đầu tiên Nhiên ở tại một khách sạn. Nàng sợ cái không khí sô bồ và nhơ nhớp ở đó, đến độ không dám dời chồng đến nửa bước, sợ nhất là khi phải ở trong phòng một mình, tưởng như lúc nào cũng có thể có người giả vờ vào lộn phòng với một ẩn ý nào đó… Mà nào phải họ khó khăn trong vấn đề nhà ở gì cho cam. Nhiên cho rằng có lẽ tại số vợ chồng nàng nó lận đận, biết sao. Lại được cái anh chồng quá dễ dãi, gì cũng xong. Thuê nhà đấy, nhưng hễ chủ nhà vừa ngỏ ý lấy lại nhà là Hạo trả liền, để rồi vợ chồng lại khăn gói quả mướp ra đi. Hạo thường an ủi vợ “Thôi cứ sống tạm ở thành phố này, chịu lận đận đôi ba năm, khi nào yên lành vợ chồng con cái mình về miền quê, hay lên cao nguyên kiếm lấy mảnh đất trồng rau cải, dựng một mái lều, anh sẽ mở một lớp học nhận dăm ba đứa học trò kiểu Cao Bá Quát xưa, sống cũng sướng chán”. Hôm nào vui miệng, Nhiên góp chuyện, đùa chồng: “Nhưng nhất định là anh không bất đắc chỉ như Cao Bá Quát đấy chứ?”
Cho đến một dạo khi những gia đình nạn nhân cháy nhà sau vụ Tết Mậu Thản rục rịch rút thăm lãnh nhà bồi thường trong các chung cư do chính phủ xây cất, mở đầu kỷ nguyên “nhà chung cư” tại nước Việt Nam Cộng Hòa, có nhiều gia đình không ở, vì một số lý do nào đó, bèn gọi người bán lại. Thoạt đầu giá cả tương đổi rẻ: từ năm, sáu trăm ngàn đến hai, ba trăm ngàn, tùy theo nhà ở dưới đất hay lầu một, lầu hai, lầu ba. Dân Việt Nam dễ mắc bệnh phong thấp, hoặc… sớm bị mỗi lưng, chồn gối, nên có khuynh hướng không ưa nhà ở trên các lầu cao. Do đó, các căn ở dưới đất thường đắt hơn cả, và càng lên cao, giá càng rẻ.
Hạo có một người bạn thân hồi trước Tết Mậu Thân, dạo khu B.C., đường N.T.T. còn ở trong tình trạng mới mở mang, anh ta có chiếm được một mảnh đất trên một bãi rác, bèn dựng một túp lều, dựa nhờ vào vách một căn nhà gần đó, bán cà-phê, nước ngọt làm vì, theo kế hoạch chiếm nhà chiếm đất theo vết dầu loang, cho đến khi một ngôi nhà gỗ hai tầng được chính tay anh ta chớp nhoáng dựng lên, bất chấp cả các điều kiện nhà cửa của Sở Vệ Sinh Đô Thành. “Ngôi nhà” hẹp vanh vanh, chiều dài sáu thước, chiều ngang vỏn vẹn có… hai thước. Nhưng chiến thắng cuối cùng và đáng kể nhất của anh, là treo được một cái bảng số nhà và lấy được một cái sổ gia đình tại khu đó. Kịp khi vụ Tết Mậu Thân xảy ra, cả khu này bị khói lửa liếm sạch, trong đó có “ngôi nhà” kỳ dị của anh ta. Rồi khi khu đó được tái thiết xong với những tòa nhà chung cư rất khang trang, mát mắt đứng sừng sững vững vàng đầy vẻ mời gọi, anh ta, lúc đó đã phiêu bạt nơi khác làm ăn có chiều phát đạt, chợt nhận ra mình còn giữ được tấm sổ gia đình độ nào, bèn vác nó về và rút thăm lãnh được một căn, trong chung cư, nhưng anh khóa cửa bỏ đó, không ở.
Tinh cờ gặp Hạo, người bạn thân của thuở hàn vi lưu lạc giang hồ, và nghe Hạo cho biết về tình cảnh của mình, anh ta bèn cho Hạo mua lại căn nhà chung cư của mình, với điều kiện trả góp, đến khi nào hết thì thôi, với giá ba trăm ngàn.
Và thế là Hạo đương nhiên trở thành chủ nhân ông của một căn nhà trong chung cư. Khỏi phải nói Nhiên sung sướng đến mức nào, bởi vì đối với nàng, như thế có nghĩa là từ đây chấm dứt kiếp Do Thái lang thang, như thế có nghĩa là từ đây Nhiên có thể sắm sửa, bày biện tổ ấm của gia đình nàng thế nào, tùy thích, như thế có nghĩa là từ đây, nàng bắt đầu thấy được cái mộng ước muôn đời đàn bà của mình trở thành thực tế, không còn là một chuyện viễn vông nữa. Nếu dân Do Thái coi Palestine là Đất Hứa, là Thánh Địa của họ, thì căn nhà chung cư cũng là một thứ “Đất Hứa” của Nhiên vậy. Tuy nhiên, để làm vui lòng chồng, Nhiên đã nói: “Dù vậy, khi nào yên lành, em vẫn theo anh lên cao nguyên hay về miền quê, để cùng anh thực hiện giấc mộng của một Cao Bá Quát… không bất đắc chí. Căn nhà này, sẽ để cho con cái mình chúng ở, đi học, anh nhé”. Hạo chỉ cười. Dẫu sao, đây cũng là một dịp dừng chân nghỉ ngơi cần thiết. Hạo nghĩ đến việc cầm bút viết lại, một việc mà anh đã tạm xếp lại một chỗ, vì mắc kế sinh nhai và… dọn nhà liên miên.
– Em nghĩ gì mà đứng thần người ra thế?
Nhiên giật mình quay lại. Nàng chợt bẽn lẽn khi thấy chồng đứng ở hành lang dẫn xuống nhà bếp. Nàng có cảm tưởng chồng đã đọc được những ý nghĩ và cảm xúc của mình. Nàng nói lảng:
– Em… chắc phải cho bớt bát đĩa đi, anh à…
Nàng thấy ngay sự lố bịch của mình. Cứ làm như mình nhiều bát đĩa lắm không bằng, dù sở thích của mình là sưu tầm bát đĩa, đồ sứ, v.v. Lẽ ra mình phải nói: Em phải sắm thêm ít bát đĩa nữa để bày cho sướng, cho đã, mới phải.
– Các con chạy đi đâu rồi, anh?
– Chúng nó đang bận khuấy phá các ngõ ngách, xó xỉnh của “con tàu” này.
– Con tàu nào, anh?
– Đó chỉ là một cách ví von. Em không thấy mỗi tòa nhà chung cư với những hành lang chạy dài bao quanh nó, giống như một con tàu chở hành khách đấy sao…
Vặn nước rửa tay, Hạo bảo:
– Anh đói rồi. Mình đi ăn tiệm bữa nay chăng?
Nhiên dẫy nảy:
– Sao anh hoang thế? Em đã mua sẵn thức ăn từ sáng. Để em làm cơm, mình ăn mừng nhà mới luôn, chẳng hơn à?
Hạo vừa lau tay vào chiếc khăn bông, vừa nói:
– Em muốn thế, cũng được… Làm lẹ lẹ lên, anh đói quá rồi đấy.
Nhiên khẽ “dạ” một tiếng, rồi thu xếp đồ đạc và lôi chiếc bếp cồn ra.
Có tiếng bát đĩa chạm vào nhau từ các căn khác vọng lại và tiếng trẻ con khóc, tiếng người nói nghe như sát bên tai, bởi cứ tám căn một chung nhau một khoảng không gian lộ thiên cho có không khí, từng cặp căn một đối điện nhau, không vách ngăn, người từ nhà này có thể nhìn sang nhà kia, nhìn lên nhà trên, nhìn xuống nhà dưới một cách… vui vẻ, xum vầy.
Nhiên cảm thấy ấm cúng, thân mật ngay được với khung cảnh mới lạ này.
Một giờ sau, hai vợ chồng Hạo và hai đứa con trai, một lên sáu và một lên năm tuổi, cùng nhau quây quần bên mâm cơm đặt trên chiếc bàn ăn trong bếp. Ăn trong bếp tuy hơi hẹp, song gọn và tiện hơn. Thằng Tuấn Anh khoe đã cùng với thằng Tuấn Em đi lục lạo khắp cái tầng lầu trong “con tàu” này, lại sang cả “tàu” khác nữa làm Nhiên trợn mắt kêu lên:
– Coi chừng lạc đó, Con!
Tuấn Anh lên mặt thành thạo:
– Lạc sao được, mẹ, “tầu” nào cũng giống “tầu” nào hà. Các “ca-bin” đều y hệt nhau hà, chỉ khác ở chi có “ca-bin” có ti-vi, máy lạnh đủ hết, có “ca-bin” không…
Nhiên mắng yêu con trong khi Hạo nhìn con vẻ trầm ngâm, thú vị:
– Sư mày thằng Tuấn Anh nhé. Lanh lắm chỉ tổ choắt người, không khá được!
Hạo quay sang vợ:
– Khiếp! Em mắng con cái giọng gì nghe mà.. ghê quá vậy?
Nhiên cười xòa, lảng sang chuyên khác:
– Mình ở đây, thật tiện, anh nhỉ? Mưa gió khó lo nhà giột. Cống rãnh khỏi lo nghẹt… Chả bù dạo trước! Em nghiệm lại thấy là chưa bao giờ mình được ở nhà không bị mưa giột, hay cầu cống tắc, chưa kể nhà méo xẹo, thiếu đầu hụt đuôi. Em nhớ hồi mình ở cái nhà dưới Tân Định. Nghĩ lại vẫn còn ớn! Nhà gì mà thắt đuôi chuột dễ nể: lại thêm ngay giữa phòng khách mọc lên một cây dừa thân to như thân cổ thụ, trái dừa già khô lâu lâu lại rơi lộp bộp xuống mái ngói. Hôm nào mưa to gió lớn, thân cây vặn tới vặn lui làm sàn nhà muốn tróc vậy đó. Chưa kể chú tắc kè cứ đêm đêm vặn mình kêu “hết tiền! hết tiền!”…
Hạo cười, vừa ăn vừa ngó vợ. Nhiên là một người vợ rất dịu hiền và ngoan ngoãn. Chỉ phải tội nhiều lúc nàng nói hơi nhiều, như một đứa trẻ học nói, bạ chuyện gì nói chuyên ấy, líu la líu lô. Hạo cảm thấy vui lây với niềm vui của vợ.
Cơm nước xong, Tuấn Anh lại kẻo Tuấn Em đi chơi. Hạo rủ vợ đem ghế ra ngồi ngoài hành lang trước cửa. Anh bàn với vợ mua lấy vài loại cây leo cho leo ở phía trước để nhìn cho mát mắt. Anh cũng nói cho vợ nghe ý định viết lại của mình. Hai vợ chồng nói lan man qua chuyện ở chung cư, về sự thiệt thòi của những gia đình ở tầng cao nhất và tầng thấp nhất. Trời mưa, nhà dột, thì những gia đình trên cùng lãnh đủ, cống cầu có nghẹt hay đường chung cư có lụt lội, các gia đình tầng đất hứng. Mình ở tầng này, vậy là trung bình, anh nhỉ. Thế mỗi ngày hai lần giúp anh đem xe lên xuống vị chi là bốn lần cầu thang, em không ngại à? Như thế cũng như thể thao, càng khỏe, mà anh. À, tiền nước điện ở đây, mình trả ra sao há? Điện thì trả theo công tơ; còn nước thì họ tính theo công tơ chung, rồi chia đều ra từng căn, trả giá đồng hạng. Vậy thì nhà nào xài ít tha hồ mà chịu thiệt, anh nhỉ. Bà bên cạnh bảo em là có người lãnh đổ rác, mỗi căn chịu ít tiền mỗi tháng. Cái nhà bà ở căn 119 quét cầu thang lô này đó. Mỗi tháng họ xin hai chục. Vậy hả?… Họ tổ chức vậy được đấy chứ, anh nhỉ? Sao? Anh đang nghĩ gì vậy? Không… à…, anh nghĩ đến một cuốn truyện có bối cảnh là một chung cư…Này anh, em nghĩ nếu tụi nó có pháo kích lại, coi mòi mấy anh ở tầng trên cùng lãnh quá, anh há? Chỉ nói dại, cái nhà cô này. Bộ cô cho chúng nó chỉ pháo kích trên đầu mình chứ còn trước mặt sau lưng thì không, đấy chắc? Hôm nào rảnh, anh với em vô đường Nguyễn Trãi — phải đường Nguyễn Trãi không nhỉ? — tìm đến cái tiệm bán cây đó, lựa vài loại cây leo. Anh khoái trồng mướp. Lá mướp dẹp, trái mướp dài xanh buông thòng xuống dậu, trông thật đã con mắt — Thôi anh ơi, trồng mướp tụi nhỏ đi qua, chúng phá mất. Trồng thứ bông giấy hay bông kèn, tiện lại dễ mọc, không hay bị chết, bị khô. Nhưng việc đầu tiên là hẵng làm cái mái nhà che chỗ hành lang dẫn xuống nhà bếp bên cạnh nhà tắm đã, không có mưa xuống hắt chết — Em chỉ nghĩ đến cái nhà bếp của em thôi hà — Chứ sao. Cũng như anh lo giàn cây trước nhà của anh đó. Anh thấy không, trẻ con chơi ở đây cũng sạch sẽ hơn. Cả một lô những hành lang bọc quanh tòa nhà suốt bốn tầng lầu tha hò cho các cậu chạy nhé, khỏi lo xe cộ, rác rưởi, bụi bặm…
II
Cứ năm phút một, khi Hạo vừa gờ gờ ngủ, lại có tiếng trẻ con vừa chạy vừa la rầm rập qua trước cửa. Hạo lại lầm bầm trở mình. Cuối cùng, thấy nằm phía ngoài không ồn, Hạo ôm gối vào phía trong, sát lối bành lanh dẫn vào nhà bếp. Anh vừa đặt mình nằm xuống giường bỗng khám phá dường như căn trên đầu căn anh ở đang có một cuộc họp mặt gia đình trong bếp. Mọi người tranh nhau nói, cười oang oang. Thêm vào đó, là tiếng rửa chén bát, tiếng trẻ khóc, tiếng máy phát thanh. Đã hơn một giờ trưa rồi. Hạo cần nghỉ trưa để buổi chiều có thể làm việc. Nhưng Hạo không tài nào chớp mắt được lấy một phút.
Bên giường bên, Nhiên đang đọc báo. Thấy chồng thở dài, trằn trọc mãi không ngủ, nàng đưa mắt nhìn anh vẻ ái ngại, song không dám nói gì.
Bọn trẻ lại chạy qua trước cửa. Dường như có tiếng la của cả hai thằng Tuấn. Hạo bỗng chồm dậy, nhào ra cửa gọi như hét:
– Tuấn Anh! Tuấn Em! Về bảo!
Hai thằng bé đang hùng hục chạy, nghe bố gọi, bèn đứng khựng lại, ngó về phía bó nó, dò xét, chờ đợi. Hạo toan la con, bỗng nhận ra gốc cây mướp của anh đã bị đứa nào vặt khỏi chậu kiễng từ hồi nào, cái cây vừa mới nho nhoe leo được hàng lưới thưa đan bằng dây thép che hết gần nửa phần trên khoang lan can trước nhà.
Hạo giận đến run cả người, run cả giọng. Tuấn Anh và Tuấn Em ngờ bố gọi về về vụ cây mướp, chúng cùng lên tiếng:
– Không phải con!
– Không phải con, bố. Con… không biết đứa nào. Chắc bọn thằng Vạn bên xóm Đền vẫn qua đây chơi!
Hai thằng bé, mỗi đứa đến đứng bên bố, tay chống nạnh, ngó cây mướp, vô tình không dè bị Hạo mỗi tay véo tai một đứa lôi vào trong nhà. Chúng kêu oai oái:
– Bố ơi, đâu phải con vặt!
– Oan con mà, bố ơi! Hu hu… con không biết gì hết!
Nhiên buông tờ báo xuống giường, ngồi dậy:
– Cái gì mà ba bố con làm ồn quá vậy? Buổi trưa…
Hạo quay lại vặc với vợ:
– Buổi trưa! Buổi trưa cái con khỉ! Sao không bảo bọn trẻ thôi chạy, mấy nhà hàng xóm thôi nói, thôi nghe máy hát đi, có được không?
Nhiên can chồng:
— Thôi mà, anh. Muốn bảo con nó về nhà, thì lựa lời chứ. Sao anh lại… giận cá chém thớt thế.
Được thể, thằng Tuấn Em ngoác miệng ra gào, bên thằng Tuấn Anh chỉ dám mếu máo là cùng. Nhiên dẫn hai con ra nhà bếp.
Còn lại mình Hạo, anh chán nản buông mình xuống ghế sa-lông, đốt một điếu thuốc để dằn cơn giận. Bây giờ thì Hạo thấy tỉnh hẳn ngủ. Một lúc sau cơn giận tan Hạo cảm thấy buồn buồn. Từ ít lâu nay, Hạo dễ mất bình tĩnh, hay nóng giận, không biết vì sao. Trước kia anh nổi tiếng là một người đơn giản, trầm tĩnh. Cái gì đã thay đổi mình đến thế nhỉ, Hạo tự hỏi. Có lúc Hạo nghĩ hay vì đã lâu anh không có dịp đi đây đi đó để thay đổi không khí tù túng của thành phố? Và vì con người ưa cuộc sống lưu lạc giang hồ của anh không thích nghi với một ổn định? Làm gì ra có được cái lý do lãng mạ đến thế! Đôi khi Hạo cảm thấy sống bên cạnh vợ con, nhất là Nhiên, mà anh thấy cô đơn hơn thuở hai vợ chồng còn lận đận? Chẳng lẽ anh ghen với vẻ an bình của vợ, với sự thích nghi khá nhiệt thành và say mê của nàng về cuộc sống ở chung cư, với sự am hiểu tường tận đầy thích thú của nàng về mỗi cá nhân riêng tư ở chốn này
Hay đúng hơn, anh tức vì Nhiên dường như đang bị lôi đi xa khỏi vùng ảnh hưởng của anh, để gia nhập vào cuộc sống ở đây, cuộc sống mà anh chẳng thể hòa mình? Ngày xưa, vì luôn luôn phải dọn nhà, Nhiên chẳng mấy quan tâm đến hàng xóm láng giềng. Ở đây khác hẳn. Cái bếp trong một căn nhà chung cư, thay vì là chỗ ẩn sâu kín nhất trong nhà lại là nơi để lọt ra ngoài những chuyện riêng tư của mỗi gia đình nhiều nhất.
Hạo dụi điếu thuốc vào chiếc gạt tàn, đứng dậy sửa soạn đi làm, như một người bị xua đuổi ra khỏi một nơi đáng lẽ phải là chốn yên ổn và ấm cúng nhất.
Sau mấy tiếng làm việc hùng hục, Hạo thấy lòng nguôi nguôi. Anh ân hận đã để mất bình tĩnh hồi trưa, đã nghĩ không tốt về vợ. Anh toan về nhà, sực nghĩ ra hôm nay thứ sáu có cải lương truyền hình, nên ngần ngại. Anh nghĩ bây giờ có về nhà, cũng chẳng được cùng vợ con ngồi trò chuyện vui vẻ trong hòa khí nào. Anh không chịu nỗi cái cảnh đã chẳng làm gì được, dù ngồi đọc một cuốn sách, dù muốn nằm nghĩ nghe nhạc êm dịu, bởi vì Nhiên sẽ bị màn ảnh truyền hình lôi cuốn, bởi vì căn nhà sẽ tràn ngập những âm thanh từ tứ phía đổ lại. Đến cái thèm khát được rúc vào xó bếp cung là điều không được thỏa mãn tại chung cư. Cuộc sống đang bị loạn xà ngầu… Từ ngày về ở trong chung cư, Hạo chưa được hưởng lấy một buổi sáng ngủ muộn và thức giấc trong một sự êm lắng trọn vẹn, thanh thoát, trong sáng…
Khi Hạo về đến khu chung cư, đồng hồ đã chỉ mười một giờ ba mươi. Tuồng cải lương đã dứt. Mọi nhà còn chong đèn mở cửa ra vào hoặc cửa sổ, cho thấy mùng chiếu dọc ngang bên trong, có căn, cả gia đình lăn ra ngủ không trên nền nhà đá hoa lau sạch và đồ đạc duy nhất là một cái tủ đựng quần áo dựng ở góc nhà, với ba cái ghế dựng sát mé tường. Hạo tránh nhìn vào các nhà còn để đèn. Nhưng bước chân của Hạo, tuy nhỏ, cũng đủ khơi dậy sự chú ý của những khuôn mặt hoặc đang cúi trên sách báo, hoặc đang khâu vá… Họ ném cho Hạo những cái nhìn ơ thờ hơi mệt mỏi sau một ngày tranh đấu ngấm ngầm với đủ loại tiếng động ồn ào và cuộc chạy đua vô tận. Có lúc, Hạo thầm ví cuộc sống ở chung cư như một đứa trẻ: ban ngày thật hoạt động, ban đêm thật yên tĩnh êm đềm. Hạo hiểu rằng mình đã tỏ ra quá khắt khe với nó, đứa trẻ ấy.
Hạo dùng chìa khóa riêng mở cửa. Bọn trẻ đã ngủ cả. Chỉ còn mình Nhiên. Nàng đang ngồi giặt đồ. Tiếng giũ và sả nước khua động cả bốn tầng lầu. Ở đây, một căn có người đi vào nhà cầu, là cả tám căn liên hệ tới khoảng lộ thiên chung đều biết do tiếng nước giật cầu. Thường Nhiên giặt đồ sau khi rửa chén bát buổi tối xong. Hôm nay nàng giặt trễ. Tối thứ sáu nào nàng cũng giặt đồ trễ, trừ phi tuồng cải lương trên ti-vi dở quá! Hạo nghĩ có lẽ mình đã bất công với vợ. Cả ngày ở nhà lo việc chợ búa, bếp núc giặt giũ, nàng có gì để giải trí đâu, ngoài cái ti-vi. Trước kia, Nhiên cũng thích đọc sách. Nhưng Hạo không hiểu sao từ ngày về đây ở, Nhiên không mấy đọc nữa. Anh cũng chẳng có dịp hỏi vì sao. Anh ngỡ rằng mình có thể đã biết lý do tại sao. Dầu sao, Nhiên cũng chỉ là một người đàn bà đơn giản, dễ bị tôi cuốn bởi những thú vui dễ dãi.
– Hôm nay, em giặt đồ trễ vậy?
– Thứ sáu mà anh! Thứ sáu nào chả vậy. Cái ti-vi của nhà nó “nhảy” quá, anh à.
– Tại thiếu ăng-ten, chắc vậy.
– Anh dùng cơm chưa? Còn…
– Rồi, em.
Một lát sau, Nhiên xếp đồ giũ rồi vào một cái sô, đậy nắp lại, để mai sẽ phơi. Nàng tắm qua loa, thay bộ đồ mát bằng hàng nội hóa, rồi tắt đèn lên nhà nằn cạnh chồng lúc đó đang nằm hút thuốc. Hạo dang tay ra cho vợ gối lên tay mình. Họ nằm im một lát. Hạo cảm thấy tâm hồn dịu hẳn đi. Hạo thường làm việc khuya, khi vào giường nằm Nhiên đã ngủ rồi. Rất ít khi họ được hưởng cái thú cùng thức nằm bên nhau như hôm nay, Hạo có cảm tưởng dù sống bên nhau, mà hai vợ chồng có nhiều lúc như lạc mất nhau.
Anh dụi thuốc lá, quay sang vòng tay ôm lấy vợ siết vào người mình. Anh chỉ muốn nằm yên ôm vợ trong vòng tay như vậy. Nhưng người đàn bà lại nghĩ khác. Đôi khi cái ý thức bổn phận ở nàng mãnh liệt một cách thái quá.
Hạo biết vợ chỉ đợi làm xong bổn phận là sẽ lăn ra ngủ.
Hạo đốt một điếu thuốc khác khi nghe hơi thở đều đều, nhẹ nhàng đầy vẻ yên bình của người vợ đang nằm quay lưng lại phía mình, chiếc gối ôm trong vòng tay, giữa cặp đùi còn vương hơi ấm của cuộc ái ân vừa qua. Trong im lặng của đêm, Hạo nghe cay đắng trong lòng. Hạo có cảm tưởng sẽ có một ngày nào đó, khi cơ hội cho phép họ dời thành phố, dời khỏi cuộc sống bủa vây, ngột ngạt này, chính Nhiên sẽ từ chối đi theo anh.
Lúc ấy, anh sẽ trở thành một thứ Cao Bá Quát bất đắc chí thật sự, một thứ Cao Bá Quát tân thời, chỉ vì chẳng thể thích nghi được với cuộc sống đang đi dần đến chỗ máy móc của những đua chen, vật lộn, của những tòa nhà chung cư hiện diện như những con tàu bị kẹt trên đất liền, với những căn nhà chung cư không một góc xó an toàn cho một tâm hồn mỏng manh bị đe dọa không ngừng, bởi những âm thanh hỗn độn của ngày và bởi chính cả sự im lặng tĩnh mịch của đêm…
– Cậu nghĩ đến cậu nhiều quá,..
– Anh muốn nói… tôi ích kỷ? Tôi bình thường, như mọi người. Tôi thương vợ, thương con, hòa nhã với mọi người, và sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai cần sự giúp đỡ, trong khả năng của tôi. Làm sao có thể gọi như vậy là ích kỷ được?
– Cậu không hiểu ý tôi. Tôi muốn nói, cậu thiếu sự hòa mình với cuộc sống xung quanh, cậu đặt ra một số nguyên tắc cho cuộc sống của cậu, và cậu bo bo giữ lấy chúng, không chịu linh động hóa chúng đi, khi cần. Muốn sống cho thích hợp với cuộc sống, đôi khi cần phải hy sinh một số nguyên tắc, hay ít ra tỏ ra uyển chuyển trong việc áp dụng chúng. Cậu thiếu cái đó.
– Kết quả?
– Cậu cảm thấy cô đơn trong xã hội cậu đang sống, cô đơn ngay giữa những kẻ thân yêu là gia đình cậu.
– Tôi đã tập cười, tập tha thứ. Anh thấy đó: tôi lúc nào cũng cười, và sẵn sàng bỏ qua mọi sự.
– Cậu cười, nhưng thật ra cậu đeo mặt nạ có vẽ cái miệng cười, đấy thôi. Cậu bỏ qua, nhưng sự thực như thế đâu có nghĩa là cậu từ bỏ quan điểm của cậu và chấp nhận những người mà cậu tha thứ, mà cậu đã phẫn nộ vì họ, dần dần, mọi người trở nên xa lạ đối với cậu, và ngược lại, cậu hóa ra xa lạ đối với họ.
Vậy tôi phải làm sao?… tôi phải làm sao bây giờ…
Hạo trở mình nghĩ đến ngày mai và những ngày mai nữa. Anh phải làm sao bây giờ? Nhiên ơi! Em Thiên Nhiên của anh ơi…
Hồi tuần trước, hầu hết các trường đại học tại Mỹ đã khai giảng niên học mới. Trong khi cuộc sống của nhiều tân sinh viên và gia đình các em xem như không có nhiều thay đổi đáng kể khi chỉ chuyển từ ngôi trường này sang trường khác trong cùng thành phố, thì đồng thời, đây là một sự thay đổi to lớn với những em rời gia đình để bước hẳn vào cuộc sống nội trú độc lập, dù trong hay ngoài tiểu bang, thậm chí tại các quốc gia khác. Là bậc phụ huynh, chúng ta sẽ làm quen hay điều chỉnh với điều này ra sao?
Đón chào sinh viên mới
Sau 18 năm nuôi con, như nhiều cha mẹ khác, sau khi đưa con gái vào nội trú cũng làm tôi suy nghĩ vẩn vơ. Một người bạn bảo rằng, rồi sẽ quen với điều này vì anh cũng từng trải qua trước kia. Tất nhiên tôi hoàn toàn hiểu được trạng thái cảm xúc và sự biến chuyển suy nghĩ theo thời gian, nhưng điều đó không có nghĩa là bất cứ cha mẹ nào cũng sẽ làm quen với việc xa con một cách dễ dàng, cho dù có chuẩn bị từ lâu.
Bạn bảo rằng vì chúng ta là cha mẹ Việt hay là người Á Ðông nên lo lắng, nghĩ ngợi quá nhiều. Nếu bạn gia nhập vào nhóm phụ huynh của các sinh viên cùng khóa tại ngôi trường con cái bạn theo học trên mạng xã hội, bạn sẽ thấy rằng không chỉ cha mẹ mà ngay cả các em đang đối diện với một giai đoạn không dễ dàng. Ngắn hay dài sẽ tùy mỗi cá nhân hay gia đình khác nhau nhưng đây là điều đang xảy ra.
Tôi đọc được ít nhất hai chia sẻ của hai bà mẹ Mỹ kể rằng họ đã khóc suốt trên đường về nhà sau khi đưa con vào nội trú. Một người ở ngay trong thành phố và một người từ tiểu bang khác. Một người mẹ khác thì kể rằng con gái bà đã khóc suốt cả tuần vừa qua vì nhớ nhà, nhớ bạn bè. Cô bé này than với mẹ là cô đã “sai lầm” lớn khi chọn đi học xa. Một người mẹ khác thì xót con khi con bà bị cô bé ở chung phòng nói nặng lời vì con gái bà không muốn ra ngoài với cô bạn. Tôi đã đọc được vô số mẩu chuyện nho nhỏ như vậy trong nhóm phụ huynh gần cả ngàn người, có đủ sắc dân.
Chia sẻ của một phụ huynh về nỗi nhớ nhà của con gái
Những chia sẻ trên là từ những cha mẹ Mỹ và sinh viên Mỹ. Họ bộc bạch, chia sẻ, tìm kiếm các lời khuyên, an ủi hay cố vấn trong nhóm với nhau. Còn văn hóa Á Ðông của chúng ta vốn kín đáo, chỉ ôm trong lòng vô số điều mà nếu thố lộ, biết đâu sẽ có những lời khuyên hợp lý hay hữu dụng để áp dụng.
Con cái chúng ta cũng vậy, mỗi em một tính cách khác nhau. Có em mạnh mẽ, cứng cáp, bước vào cuộc sống độc lập dễ dàng. Và không ít em mới lớn còn nhút nhát hay đã quen với sự bảo bọc của cha mẹ lâu nay giờ sẽ đối diện với cuộc sống mới trong một tập thể từ đủ sự khác biệt sẽ có phần bỡ ngỡ hơn. Và không phải em nào cũng có thói quen thố lộ, chia sẻ niềm vui hay thử thách riêng tư của mình khi bước vào cuộc sống mới.
Ðó là lý do mà tất cả những suy nghĩ và trạng thái cảm xúc, kể cả lo lắng và lo sợ đều có thể hiểu và cần được thông cảm, chia sẻ với nhau.
Người Mỹ gọi trạng thái tâm lý này là hội chứng “empty nest”, một cảm giác trống vắng của cha mẹ khi con cái như những chú chim nhỏ trưởng thành và rời tổ bay xa sau bao nhiêu năm chung sống với cha mẹ trong gia đình. Cảm giác trống vắng này càng lớn hơn bội lần nếu đó là đứa con duy nhất hay đứa con cuối cùng rời nhà.
Ngày đầu tiên niên học
Vậy là những người cha mẹ có con cái rời nhà để bắt đầu một đời sống độc lập, chúng ta sẽ làm quen với điều này như thế nào?
Thứ nhất là chúng ta hãy cảm thấy đây là điều đáng vui, đáng hãnh diện vì con cái chúng ta đã trưởng thành. Sau hàng chục năm học hành cấp dưới, được thụ hưởng một nền giáo dục căn bản từ học đường lẫn trong gia dình, đây là lúc các em chứng tỏ mình sẽ tự hòa nhập, thích ứng với môi trường mới như thế nào. Cha mẹ cũng có thể hãnh diện là mình đã đưa các em đi qua chặng đường đầu tiên để bước vào ngưỡng cửa đại học như vậy.
Cha mẹ có thể nhìn lại sự giáo dục, cách dẫn dắt con cái của mình để tin tưởng rằng các em sẽ biết cách xoay trở trong nhiều tình huống khác nhau, biết hành xử với những bạn đồng học, giáo sư có suy nghĩ hoàn toàn khác mình. Ðến lúc này thì chúng ta sẽ thấy rằng, không chỉ điểm học mà một tính cách, một kỹ năng giao tiếp, ứng xử từng được vun đắp sẽ cần thiết thế nào.
Building nội trú của sinh viên
Thứ nhì là hãy nhắc mình rằng, con cái chúng ta bước vào đại học, bước vào một môi trường học thuật và là nơi huấn luyện các em trở thành những người hữu dụng cho mai sau. Các em không đi ra chiến trường, các em không đến nơi nguy hiểm. Chúng ta đang ở trong thời đại thông tin mà sự giao tiếp có cách xa ngàn dặm cũng có thể nghe thấy nhau trong tích tắc qua màn hình điện thoại trên tay bất cứ lúc nào. Tuy nhiên cũng đừng quá lạm dụng điều này, hãy để các em tự nhiên và liên lạc về cha mẹ.
Cuối cùng là chúng ta có thể biết rằng, đây là khoảng thời gian hào hứng, đáng nhớ và tiếp nhận vô số điều mới lạ của con cái mà một khi ra trường, các em sẽ không còn nhiều cơ hội khi đối diện với thực tại cùng áp lực công việc và đời sống. Chúng ta sẽ tiếp tục yêu thương, ủng hộ và đồng hành cùng con cái trong giai đoạn quan trọng này, cho dù có cách xa.
Chia sẻ những điều này cùng các bạn cũng là điều tôi nhắc nhở chính mình. Trong niềm tin rằng, rồi đây con cái chúng ta sẽ có được một nền tảng học vấn vững chắc và được huấn luyện những kỹ năng, những mục đích sống tốt đẹp để trở thành người hữu dụng mai sau.
Sau hơn một tháng kể từ lô độc đắc Mega Millions gần 1.4 tỉ đô la được thông báo có một vé duy nhất trúng thưởng được bán ra tại tiểu bang Illinois, thì vẫn chưa có người hay nhóm nào xuất hiện để nhận giải thưởng. Bất kể ai là người may mắn này, đây là khoảng thời gian vô cùng khó khăn, lẫn lộn giữa vô số cảm xúc mừng vui, lo lắng hay sợ hãi trước số tiền thưởng to lớn bất ngờ này. Câu chuyện thật của một cặp vợ chồng trúng độc đắc 1.5 tỉ đô la tại South Carolina trước đây đã kể lại hành trình trải qua của họ như thế nào.
Xếp hàng mua vé số – nguồn record-journal
Buổi sáng, sau đêm kết quả lô độc đắc được công bố của một ngày tháng 10 năm 2018, một phụ nữ lặng lẽ lái xe đến tiệm KC Mart No. 47 tại Simpsonville, SC để quan sát, nghe ngóng tình hình trong sự hồi hộp và nỗi bất an. Ðó là tiệm tạp hóa mà bà đã mua tấm vé số. Bà đã xem kết quả trên truyền hình cùng các phương tiện truyền thông nhưng vẫn không tin mình là người duy nhất đã trúng lô độc đắc, chính xác là 1.537 tỉ đô la và là giải lớn nhất thế giới này.
Nếu tiệm vẫn im ắng, vẫn hoạt động mua bán bình thường thì có nghĩa bà đã nhầm, mọi chuyện và đời sống vẫn sẽ lại bình thường. Nhưng mọi việc đã diễn ra đúng như vẫn thường diễn ra mỗi khi có cây xăng hay tiệm tạp hóa nào bán được vé độc đắc: vô số phóng viên, máy ảnh, ống kính truyền hình trước tiệm với hàng trăm người tụ tập, bàn tán xôn xao. Có cả trực thăng của hãng truyền hình đang bay lượn trên cao. Như vậy tấm vé số của bà đã dò đến dò lui hàng chục lần đêm trước thật sự là tấm vé đã trúng lô độc đắc. Người phụ nữ ngồi im trong xe, tay chân run rẩy và tim đập mạnh, có cảm giác như mọi người đến để đợi và biết bà là người đã trúng số.
Ðó là lời khai của bà Beth Smith, một cái tên giả khi ra tòa làm chứng chống lại người luật sư đại diện là Jason Kurland đã lấy của bà hơn 80 triệu đô la sau khi trúng lô độc đắc.
Bà Beth kể lại rằng, cảm giác đầu tiên khi tấm vé số của bà trùng khớp với tất cả con số lô độc đắc Mega Millions là sự kinh ngạc, không tin, mừng vui và hồi hộp, sợ hãi. Ở tuổi gần 60 và có chồng là một luật sư, cuộc sống hôn nhân đầm ấm và đầy đủ với con cái đã trưởng thành sau 36 năm chung sống khiến họ như không còn muốn có gì thay đổi hay cần phải có thêm thật nhiều tiền.
Vậy mà tấm vé số trúng độc đắc đến như một định mệnh và đã làm thay đổi, xáo trộn hoàn toàn cuộc sống của cả hai.
Một gia đình trúng vé số tại Columbiaville- nguồn michigan lottery connect
Lẫn lộn giữa niềm vui là sự lo sợ về sự an toàn của vợ chồng cùng con cái bà. Ðiều đầu tiên bà nghĩ đến là phải giữ tuyệt đối bí mật về việc trúng số, cất tấm vé số vào két sắt gia đình. Vợ chồng bà bàn bạc, nghĩ đến việc tìm luật sư, tìm cố vấn tài chính, những CPA thuế vụ, những hãng đầu tư. Ai là những người họ có thể tín cẩn và sẽ giữ bí mật danh tính cho họ? Có vô số điều bất ngờ mà bà chưa bao giờ từng lo nghĩ đến cùng lúc như vậy.
Họ chưa bao giờ biết hay nghe tên luật sư Jason Kurland tại New York cho đến khi thấy anh ta xuất hiện trên truyền hình hướng dẫn về việc trúng vé số. Ở tuổi ngoài 40, Jason từng đại diện cho hai thân chủ trúng giải đến hơn ba trăm triệu đô la trước kia. Nhìn cách Jason tự tin trình bày, dẫn giải, họ tin rằng Jason là một “luật sư vé số” thật sự, biết đại diện và cố vấn cho những người trúng thưởng lớn.
Chồng bà gọi đến Jason qua một điện thoại ma, không cho biết danh tính của người sử dụng. Một cuộc hẹn tại Las Vegas được hai bên thỏa thuận sau cuộc nói chuyện.
Luật sư Jason sẽ đại diện họ để nhận giải thưởng, phân chia cho các tổ chức từ thiện, con cái và thân nhân gia đình mà cả hai muốn cho tiền. Ðiều quan trọng nhất vẫn là không để lộ danh tính của họ, chỉ mỗi luật sư Jason là người đứng ra lo mọi chuyện.
Những cuộc nói chuyện, thảo luận kéo dài hơn 5 tháng. Ðến tháng Ba năm 2019, vợ chồng bà Smith, như đã nói bên trên là tên họ giả của cả hai khi danh tính của họ vẫn còn được giấu kín với công chúng, đã cùng luật sư hẹn gặp cùng phía ban xổ số tiểu bang. Xe an ninh có vũ trang đón ba người tại một địa điểm bí mật hẹn trước và chở về văn phòng Sở xổ số. Cửa rèm che lại, các máy thu hình tắt đi, hai vợ chồng trình ra tấm vé số độc đắc.
Số tiền trước khi đóng thuế họ nhận được một lần là 878 triệu đô la. Luật sư Jason Kurland được trả công là 200 ngàn đô la cho riêng việc sắp xếp này.
Câu chuyện đến đây đã có thể chấm dứt. Nhưng không!
Luật sư Jason Kurland – nguồn law.com
Số tiền được vợ chồng bà hiến tặng một phần cho nhiều tổ chức từ thiện khác nhau. Phần còn lại, luật sư Jason mở 4 tài khoản khác nhau tại 4 ngân hàng lớn với 300 triệu đô và sẽ giao cho các giám đốc tài chính tại các ngân hàng này đầu tư và quản trị. Vợ chồng bà chỉ muốn những đầu tư hết sức an toàn, tiền lời có thể thấp nhưng không có bất cứ rủi ro nào. Ông bà giữ lại một số tiền khác.
Mọi chuyện như suôn sẻ, dễ dàng. Ngoại trừ tất cả các tài khoản ngân hàng này đều do luật sư Jason đứng tên và có quyền vào tài khoản, xem xét các chứng từ với thù lao là 50 ngàn đô la mỗi tháng. Còn vợ chồng bà thì không.
Jason bắt đầu cố vấn đầu tư vào các quỹ đầu tư và doanh nghiệp khác nhau số tiền còn lại. Ðầu tiên là vào hai quỹ tín dụng chuyên cho các tiểu thương vay, phân lời là 9%. Tiền lời hàng tháng sẽ chia cho 10 thành viên gia đình. Jason tiếp tục giới thiệu đến một hiệu buôn kim cương, trả hai triệu đô tiền lời mỗi sáu tháng cho mỗi 12 triệu cho vay. Jason tiếp tục đề nghị đầu tư vào ngựa đua với mức lời cũng đầy hấp dẫn. Rồi đầu tư vào một hãng nhựa cung cấp cho California. Vào khách sạn…
Nhưng rồi các tiền lời từ các nguồn đầu tư chia cho các thành viên gia đình bắt đầu thất thường và không cố định số tiền như thỏa thuận. Rồi vợ chồng bà nghe tin hiệu buôn kim cương đang bị điều tra với dấu hiệu lừa đảo. Rồi cuối cùng chủ nhân cùng cả luật sư Jason cũng bị FBI bắt.
Vợ chồng bà hoảng sợ. Không biết những khoản tiền của mình ở đâu và sẽ như thế nào. Vì chỉ mỗi luật sư Jason đứng tên và được xem hồ sơ. Việc chứng minh mình là chủ nhân thật sự của những tài khoản ngân hàng khá nhiêu khê nhưng cuối cùng vợ chồng bà cũng sở hữu các tài khoản này nhờ sự giúp đỡ của Sở xổ số, các giấy tờ liên quan giữa vợ chồng bà cùng luật sư Jason.
Té ra luật sư Jason Kurland cùng các nhân viên của anh ta đã thâm lạm, tiêu xài tiền của thân chủ vào nhiều thứ xa xỉ khác nhau. Tổng cộng ba nạn nhân trúng số đã mất khoảng hơn 100 triệu đô la. Jason bị truy tố tội lừa đảo cùng nhiều tội danh khác.
Còn vợ chồng ông bà Smith, giữa sự sung sướng, vui mừng là vô số đêm mất ngủ cùng nỗi lo lắng kể từ sau ngày trúng số độc đắc.
(Riêng tặng anh T.N., người đã âm thầm tưởng lệ kẻ viết này trong nhiều năm qua bằng một phong cách thật đáng cảm kích và trân quý.)
Chúng bay đến mỗi buổi sáng. Chúng mang đến một khoảng khắc hạnh phúc nhất trong ngày, cho tôi. Đều đặn mỗi buổi sáng. Chúng đậu trên các nhánh cây, nhảy nhót chuyền cành lao xao, nói chuyện líu lo, gọi nhau líp chíp, bay trong sân nhà tôi vào một thời điểm đang có những biến đổi sâu đậm, trong tôi. Những thay đổi có lẽ có một không hai trong đời. Khoảng hơn một năm nay tôi có một thú vui mới, tôi nghĩ đó là thú vui của một người già mặc dù còn vài ba năm nữa tôi mới đến tuổi sáu mươi, còn quá sớm để lãnh tiền hưu trí. Thú vui cho chim ăn mỗi buổi sáng. Ban đầu tôi tưởng đó chỉ là một trò chơi mới, thế cho những buổi sáng ngồi quán cà phê tán dóc với mấy anh bạn, những bữa nhậu tưởng chừng không thể nào bỏ được mỗi khi chiều xuống, những đêm cuối tuần đi nghe nhạc, hay tụ tập ở một nơi nào đó với các bạn văn, thi, họa, ca hoặc một loại sĩ nào đó mà người đời thường tán tụng. Thế rồi một ngày nọ, khi quan sát mấy con chim đang mổ ăn những hạt gạo bé tí trắng ngần nằm vương vãi trên nền gạch đỏ như màu đất miền cao nguyên, tôi chợt nhận ra đây không phải là một trò chơi bình thường của một người đã luống tuổi. Nó là một bài học bắt nguồn từ những biến cố trong quá khứ, một bài học dẫn đến những sự việc trong tương lai. Một bài học mà tôi cần ôn lại, mỗi ngày. Chuyện “học” cho chim ăn của tôi thật sự khởi đầu từ vợ tôi. Năm ngoái, mấy bao gạo ở nhà bỗng có mọt, nghe nói vì chính phủ Mỹ cấm nhập cảng gạo được trồng với mấy loại thuốc diệt sâu bọ nào đó, nên gạo dễ xuất hiện những con mọt đen thùi, đầu nhọn như tê giác có sừng, bò lổn nhổn trong bao gạo cất trữ hơi lâu trong nhà. Những con tê giác đen, nhỏ bằng nửa hạt gạo. Nghe nói gạo có mọt là vì vậy, chứ tôi chẳng buồn tìm hiểu thêm chi cho mệt. Có điều chúng tôi phải dùng rổ để sàng gạo mỗi ngày, cho mấy con mọt đen rơi rớt ra ngoài, tránh cho chúng không bị ngâm trong nước vo gạo hay bị đun chín trong nồi điện. Đám mọt rơi xuống đất rồi muốn đi đâu thì đi. Chúng tôi chỉ có thể làm tới mức đó cho số phận của chúng. Nàng nhà tôi siêng sàng gạo, có lúc mang hết bao ra ngồi ngoài sân suốt cả buổi với tay rung qua lắc lại, cho mọt rơi xuống sân gạch. Cùng rơi rớt với đám tê giác li ti là những hạt gạo bể nát. Một buổi trưa kia khi đứng dậy bưng rổ gạo vào nhà, chưa kịp trở lại để quét sân còn lấm chấm với bụi gạo và những hạt bể, vợ tôi thấy mấy con chim sẻ lao xuống tranh nhau ăn gạo nát. Chỉ trong mấy giây, chúng ăn hết sạch gạo. Tội nghiệp, chúng nó đói, nàng kể cho tôi nghe trong bữa cơm chiều hôm ấy.
Không biết vì giọng nói cảm động của vợ, hay vì một điều gì đó tiềm ẩn trong tôi đã khiến tôi phải hành động. Thế là ngay ngày hôm sau tôi vốc một nắm gạo thảy ra ngoài sân, chờ xem đàn chim đến ăn. Chẳng thấy con nào đến ăn vào buổi trưa. Nhưng khi bước ra sân vào buổi chiều, tôi không thấy một hạt gạo nào còn sót trên sân, hết sạch. Như một nhà nghiên cứu thứ thiệt, nhà nghiên cứu… chim, mấy bữa sau tôi ném gạo ra sân gạch vào những giờ giấc khác nhau, cuối cùng mới biết đàn chim luôn bay đến ăn vào sáng sớm lúc mặt trời vừa mới mọc.Từ ngày đó, sáng nào cũng vậy, khi ánh nắng ban mai vừa rọi vào mái hiên, luồn qua những cành lá và làm sáng lên một góc sân, tôi vội vàng nắm một mớ gạo bước ra cửa. Rải xong, vừa bước vào bếp và đóng cửa lại, tôi biết đằng sau lưng đang có đám chim lao xao mổ ăn từng hạt gạo.
Mấy con chim cũng vậy. Một thời gian ngắn trước khi mặt trời tỏa sáng rực rỡ trong khu xóm nhà tôi giữa khu phố Little Saigon này, chúng tụ tập đâu đó trên những tàn cây, dây điện chung quanh nhà, đợi tôi làm động tác thảy gạo xong là chúng chuyền từ các nhánh cây xuống thật gần góc sân, và khi tôi vừa khép cánh cửa bước vào bên trong thì có lẽ chúng cảm thấy an toàn, liền đáp ào xuống nền gạch, bắt đầu một bữa ăn sáng trong yên lặng. Thật sự yên lặng. Tôi ít thấy chúng tranh ăn, cãi nhau chí chóe. Chúng di chuyển theo một hàng ngang, chăm chỉ mổ những hạt gạo, có khi nghiêng mỏ qua một bên để kẹp gạo vào miệng. Ăn no, chúng bay đi mất, để lại những hạt chờ dịp được ăn vào một lúc khác trong ngày.
Hầu hết mấy con chim ghé ăn sáng ở nhà tôi là chim sẻ màu nâu, mắt đen. Thường là gần một chục con, có khi nhiều gấp đôi, cũng có khi chỉ vài con bay xuống. Dạo sau này chúng dạn dĩ lắm. Thay vì đậu ở trên dây điện hay nhánh cây ở xa, chúng bay đến tụ năm tụ ba trên cây hoa bụt vàng cạnh mái hiên, hoặc lướt vào luôn bên dưới mái hiên để đậu trên lưng ghế, núp xen lẫn với lá trong những chậu cây trúc xanh, cây hoa lồng đèn ngược màu hồng lợt, chậu đinh lăng, hay chậu quỳnh, chậu giao. Đôi lần tôi đứng lấp ló cạnh cánh cửa, xem bầy chim làm gì trong lúc chờ tôi rải gạo. Tôi thấy chúng cũng dẩu mỏ nói líu lo, om sòm không thua người ta tán dóc ở mấy quán cà phê vào buổi sáng. Vui như tết. Mới bữa hôm trước có con còn đáp gần chân tôi khi tôi vừa thả những hạt gạo xuống, nhưng rồi nó cũng bay lên cành cây chờ cho tôi vào hẳn trong nhà rồi mới xuống ăn. Một sáng kia, thấy tôi ngồi xem chim ăn từ bên trong cánh cửa, nàng nhà tôi cũng “xà” xuống ngồi bên cạnh, cùng chồng ngắm mấy con chim xinh xinh, be bé đang nhảy lóc chóc mổ gạo. Nàng bỗng buột miệng nói, “Chúng ăn như đàn gà con, nhưng đàn gà này biết bay.”
Thế là trong hơn một phút sau, chúng tôi ngồi yên lặng xem đàn gà biết bay dự bữa điểm tâm, một bữa tiệc vui mắt và vui tai. Phải chi là một nhạc sĩ, tôi sẽ diễn cho bạn nghe tiếng chân chim nhảy thật nhẹ cạnh những hạt gạo, nhẹ nhưng vẫn nghe được, từng bước êm ái bắt đầu một ngày mới. Beethoven từng viết lên những tiếng gõ cửa thình thịch của định mệnh trong bản giao hưởng Fifth Symphony lừng danh khắp thế giới, Chopin với những Concerto đầy cảm xúc cuồng nhiệt của con tim, và Johann Strauss với Dòng Danube Xanh lả lướt đầy sức sống, nhưng chưa nghe có một nhạc sĩ nào, ngay cả thiên tài Mozart, tả lại những tiếng chân chim nhẹ nhàng, loắt choắt, lẹ làng bằng những nốt nhạc. Chắc mấy ông nhạc sĩ nhà mình bận lo chuyện lớn, chuyện thân phận con người, chuyện tình yêu, chiến tranh, nên chả buồn để ý đến mấy chuyện nhỏ xíu, chuyện vặt vãnh, chuyện vớ va vớ vẩn, như ngồi xem chim. Khác với gà, mấy con chim nhảy từng bước, nhảy nhảy, nhảy rồi bay, bay bay. Chim không đi lửng chửng như mấy con gà con màu vàng tơ mà tôi từng nuôi hồi còn bé ở Nha Trang. Nhưng cũng giống như đám gà con thuở xưa, đàn chim màu nâu ngày nay cho tôi được hưởng những giây phút bình yên, hạnh phúc nhất trong ngày. Bạn có bao giờ cho chim ăn, hay cho một ai đó một bữa ăn khi họ đang đói, bạn sẽ hiểu được niềm vui của người cho.
Từ lời nhắc nhở của những bậc tiền bối, tôi hiểu ra chim cũng như bao con thú khác, chúng không có cái may mắn của con người, không thể bước vào chợ hay một quán ăn ở phố Bolsa như tôi đây, để mua một bao gạo, mấy bó rau, thùng mì gói, hay ổ bánh mì mỗi khi đói. Sinh ra làm thú vật thật khổ sở, phải chiến đấu từng giây, từng phút đi tìm miếng ăn để sống còn, hết cả ngày. Ấy vậy mà chúng còn có thể bị túm bắt, bị luộc, bị xào lăn, bị chiên dòn hay thậm chí bị ăn sống để nuôi mạng của một sinh vật khác. Mỗi buổi sáng, khi mặt trời vừa ló dạng, tôi rải cho chim ăn chỉ một chút gạo, mà rồi được chúng cho lại một món ăn tinh thần, đầy bổ dưỡng để nuôi nấng mầm thương yêu vốn thường bị lấp kín dưới đáy lòng.
Thế nên tôi cảm thấy rất hạnh phúc trong khoảng khắc ấy, khoảng khắc được xem chim nhảy ăn những hạt gạo, được quét đi vài bãi nhỏ trăng trắng do chim để lại cho ông “chủ quán,” trước khi lao vào một cuộc sống đầy bon chen, nhốn nháo, đi làm để nuôi mạng sống của chính mình. Tôi cũng không bao giờ quên, và cũng không muốn quên, rằng mầm tình thương cần được chăm dưỡng ấy trong tôi đã nảy sinh từ một biến cố kinh hoàng, cho tôi, và do chính tôi gây ra chứ không ai khác.Biến cố ấy xảy ra lâu lắm rồi, tôi sẽ kể cho bạn nghe ở đoạn chót, bạn ráng chờ. Còn bây giờ thì xin nói tiếp chuyện… chim, và sự thay đổi sâu đậm trong tôi lúc này.
Mùa hè qua, tôi dành những ngày nghỉ làm để leo lên mái nhà, cố gắng sửa cho căn mobile home của mẹ tôi không bị dột khi mùa mưa tới. Mẹ tôi tuy đã tám-mươi nhưng còn khỏe mạnh, sáng suốt như một người mới trên sáu-mươi. Bà sống trong căn mobile home với em tôi, chăm sóc đứa con bị bệnh cả thân lẫn tâm, đi đứng không bình thường, miệng không còn thốt ra những tiếng nói quen thuộc như ngày xưa, những ngày trước khi bị tai biến mạch não. Hai mẹ con sống với nhau như vậy đã lâu lắm rồi, cuộc sống tuy đầy đủ cũng có lúc cần được chắp vá thêm bằng những mảng tình thương, như căn mobile home bằng tôn đã cũ, quá cũ này. Mỗi khi mưa tới, nước dột nhễu xuống hành lang, rơi vào phòng ngủ, hay chảy thành dòng trong phòng tụng kinh dưới một trận mưa El Nino. Mẹ ngại tốn tiền cho căn nhà đã cũ, cho dù là tiền của con, nên không muốn lợp lại hết mái nhà. Tốn cả mấy ngàn, phí lắm, mỗi năm mưa có mấy lần, thôi khỏi cần, bà nói vậy.
Nhưng mỗi khi qua thăm mẹ vào ngày mưa, thấy mấy chậu hứng nước để chỗ này, chỗ kia, tôi không chịu được, muốn làm gì đó để giúp mẹ. Thế nên mùa hè vừa rồi, cứ mỗi Chủ Nhật được nghỉ làm, tôi lại vác thang đến nhà, leo lên mái và tìm nơi nghi dột để trét dầu hắc, dán những lớp mái mua ở Home Depot, có lúc dùng cả mấy tấm bạt lớn giăng kín một phần mái nhà, chặn xuống bằng gạch, hay bôi keo để dán chặt xuống đề phòng gió Santa Ana. Có làm mái nhà mới biết, không dễ tìm ra chỗ nước chui vào và rơi rớt trong nhà. Leo lên mái suốt mấy cuối tuần, che chắn tới một phần ba mái, vậy mà mỗi khi có một trận mưa thì lại thấy mẹ để chậu ở đâu đó, không nhiều như trước, nhưng vẫn còn chỗ bị dột. Một buổi trưa nắng cháy đen cả da, không chỗ núp bóng trên mái tôn kêu những tiếng ộp ẹp dưới bàn chân dò dẫm, tôi nghỉ tay ngồi xem mấy con chim đậu trên dàn ăng-ten ở đầu bên kia của mái nhà. Ban đầu chỉ dăm ba con, sau có tới gần hai chục con đậu kín dàn. Chúng nói chuyện líu lo, ỏm tỏi, không có vẻ gì sợ tôi, còn có vẻ như muốn xem cái ông này đang làm gì trên mái nhà.
Thấy có mấy con trông quen quen như chim thường ăn sáng ở nhà mình, tôi chu mỏ huýt sáo gợi chuyện… với chúng. Nghe những tiếng líp chíp từ mấy con đang nhìn về hướng mình, tôi có cảm tưởng chúng hiểu tôi đã huýt sáo chào “hello” chúng. Thế là chúng tôi “nói chuyện’ với nhau cả mấy phút. Tôi huýt sáo những tiếng dài ngắn không đều, chim đáp lại bằng những tiếng chíp chíp. Đến khi chim rủ nhau bay đi nơi khác, tôi mới nhận ra mình không biết tên của chúng. Cả đám chim sẻ màu nâu, con nào cũng giống nhau, chẳng đứa nào có một cái tên để gọi, để nhớ, vậy mà chúng vẫn có thể cùng tôi chia sẻ được một khoảng khắc bình yên, thân thiện giữa một buổi trưa nắng cháy. Từ đó tôi chợt nghĩ đến chuyện tên tuổi của chính mình. Có kẻ nói từ lúc sanh ra với cái thân, người ta được đặt cho cái tên, và rồi suốt đời phải khổ vì cái tên được gán cho cái thân ấy. Khổ vì phải bảo vệ cái tên và cái thân, ai đụng tới hai thứ đó là đánh lại liền, uýnh chết bỏ, bằng súng hay bằng cây viết. Nếu không bị ai chạm tới thì lại dành thời giờ để đánh bóng cho cái tên, giữ cho làm sao người ta không quên mình, tô điểm cho cái thân, làm sao cho nó luôn được đẹp đẽ, “trẻ mãi không già.” Gọi là khổ vậy chứ nói là sướng thì cũng không sai. Sướng khi được người ta nhắc đến tên mình, được thấy mặt mình trên Facebook, được người đời trao một phần thưởng hay khắc tên trên một tấm bia đá mà chính nó một ngày kia cũng hao mòn. Sướng khi cái thân được ăn ngon, được ngủ phòng khách sạn, được mặc đẹp.
Tôi trót lỡ là một người viết, lại có một cái tên để gọi, nên rất thấm thía chuyện sướng khổ nói trên. Tôi trót nhận một danh xưng mà người đời gán cho, “nhà văn,” nên luôn lao tâm tìm kiếm sự sáng tạo trong những “tác phẩm” mới nhất. Sau mấy phút trò chuyện “mạnh ai nấy hiểu” với chim trưa hôm ấy, tôi ngồi lặng yên nhìn đến hàng hàng lớp lớp mái nhà từ khu nhà của mẹ tôi đến tận phố Bolsa nằm cách đó không tới một dặm đường chim bay. Chỉ một khoảng không gian đó thôi, bé tí như hạt cát, viên sỏi trên một quả đất rộng mênh mông này, mà đã có tới cả ngàn con người, cả vạn cái tên luôn sống trong sự khổ rồi sướng, sướng rồi khổ, triền miên đến tận chân trời. Giữa nắng trưa khô gắt không một gợn gió và nóng như ở giữa sa mạc, tôi chợt nghĩ đến một cách sống “sáng tạo” nhất mà tôi có thể làm được. Đó là tự xóa dần tên tuổi của mình, ngưng đánh bóng nó, ngưng nhắc đến nó, ngưng hết mọi thứ, để từ từ quay ngược trở về thuở sơ sinh khi vừa mới chào đời, khi chưa có một cái tên để đeo vào người như đeo một cái gông cùm suốt đời. Thế nên từ bữa ấy, tôi tự nhảy ngược ra phía sau, nhảy nhảy, cầm chổi xóa dần những vết chân chim từng để lại trên sa mạc. Tưởng công việc xóa dấu vết ấy không mấy khó, vì tôi chỉ là một người viết hạng thường, tên tuổi không bay xa hơn chốn Bolsa này, vớ cái chổi quét quét vài cái là xóa sạch tên, vậy mà cũng khó nhọc lắm bạn ạ.
Ngưng tụ tập với đám bạn văn chương để dần dần người ta quên mình, cũng dễ thôi. Ngưng lao vào thế giới của chữ nghĩa, ngưng dùng những con chữ như một nhà ảo thuật biểu diễn trên sân khấu để được người đời vỗ tay, nhắc tới tên mình, cũng dễ thôi. Nhưng ngưng viết, dù chỉ viết để cất đi, chẳng bao giờ ngó lại hay gởi cho ai đó đọc, coi bộ khó hơn tôi tưởng. Vì lẽ gì? Một bữa nọ tôi nghiệm ra. Trở lại với mấy con chim đến ăn mỗi buổi sáng, một bữa kia tôi thấy có thêm một cặp bách thanh. Hai con chim này lớn gấp đôi mấy con chim sẻ ăn mót gạo. Hai con bách thanh không ăn gạo, chỉ đậu đâu đó trên hàng rào hay trên một nhánh cây, đợi cho đám sẻ ăn xong rồi mới bay vào mái hiên. Sau mấy lần thấy hai con bách thanh, chúng tôi mới biết chúng đến làm tổ bên dưới mái nhà, trong một góc kín của mái hiên. Rồi một thời gian sau vợ chồng tôi nghe có tiếng chim con kêu líp chíp liên tục, từ sáng đến xế trưa, xuất phát từ chiếc tổ được kết bằng những cọng cỏ khô và giấy rác.
Chim bách thanh này dạn dĩ lắm, Mỹ người ta gọi là mockingbird hay mockingjay gì ấy. Chỉ một con thôi mà cũng ồn như cái chợ, nói huyên thuyên với những âm thanh có khi nghe chát chúa, có khi nghe lét chét một chuỗi dài, mà bao giờ cũng lớn. Một bữa nọ, tôi ngưng cắt cỏ ở sân sau nhà khi thấy có con bách thanh đang nói lớn tiếng trên dây điện. Tôi huýt sáo gợi chuyện với nó, nó đáp lại bằng một tràng âm thanh nghe như tiếng huýt sáo của tôi. Nghe vui tai, tôi “hội thoại” với nó một hồi lâu. Vui ghê! Chuyện chim cũng có lúc buồn, buồn lắm.
Một bữa nọ vợ chồng không còn nghe chim con kêu chíp chíp đòi ăn từ tổ trên cao. Vợ chồng đoán chim con đã đủ lông đủ cánh, biết tự bay đi để kiếm ăn và có một cuộc sống mới. Hai con bách thanh lớn cũng đã biến mất. Vài bữa sau, nhân tháo gỡ một loa nhỏ từng được gắn trên góc mái hiên gần tổ chim, tôi tò mò nhìn vào tổ, và rồi khám phá một sự thật, đúng hơn là một phần của sự thật. Con chim con đã chết chứ không phải đã trưởng thành và bay đi. Xác của nó mới chớm mọc lông, mỏ ngoắc ra có lẽ chết trong lúc đang gọi mẹ và đói. Tôi mang xác chim chôn ở góc sân sau nhà, nơi tôi thỉnh thoảng vẫn chôn những con vật khác từng được tìm thấy chết ở trong sân, một con bọ hung, một con chuột đất, hay một con cắc kè. Khi còn nuôi cá, tôi cũng chôn cá chết ở đấy. Tôi từng niệm chú vãng sanh cho chúng, và nay cho con chim con mới mất. Tôi có nghe xúc động trong lòng, khi nghĩ rằng có lẽ con chim mẹ bách thanh đã gặp nạn, nên không thể bay về tổ cho con ăn, khiến chim con chết vì đói. Tôi không thật sự biết chuyện gì đã xảy ra cho chim mẹ, hay chim cha, chỉ biết chim con đã chết với miệng hé rộng, rất tội nghiệp. Tôi đã không kể lại chuyện này cho vợ biết, để cho nàng tiếp tục giữ ấn tượng về con chim con đã cất cánh bay xa.
Hôm đó tôi đã xúc động cho cuộc đời ngắn ngủi của chim, đứng suy tư một hồi lâu với chiếc xẻng con còn cầm trong tay, nhưng không khóc, như một lần kia tôi đã khóc khi chôn xác chim. Lần ấy đã lâu lắm rồi, cũng gần bốn-mươi năm chứ không ít, giữa một ngày mùa đông tuyết giá ở miền tây của tiểu bang Pennsylvania. Ba mẹ con chúng tôi đã may mắn, thoát khỏi Sài Gòn ngày 30 tháng Tư, 1975 trên một chiếc xà lan chật cứng người, được nước Mỹ bao dung này cho tị nạn và định cư tại Pittsburgh. Một nhà thờ đã đón chúng tôi sau những tháng sống bất an trong một gia đình bảo trợ. Họ giúp ba mẹ con được tạm trú trong một ngôi nhà cũ cho thuê, chia sẻ một phần ba ngôi nhà với gia đình chủ nhà và một cặp vợ chồng trẻ.
Ở bên kia đường, đối diện ngôi nhà của chúng tôi là nhà của ông Wes. Ngày đó ông Wes Stitely đã gần sáu-mươi, cỡ tuổi tôi bây giờ. Ông sống với vợ, bà Rita. Họ có ba người con gái đã trưởng thành, hai người đã lập gia đình, một người sống vậy với một con chó cưng. Như có duyên tiền định, tôi “chơi” thân với ông Wes ngay từ ngày mới đến sống ở thị trấn Rillton này. Chiều tối sau giờ học bài, tôi chạy qua chơi với ông. Hai ngày cuối tuần cũng vậy. Thật ra ông Wes là một thợ mộc chuyên nghiệp làm việc cho hãng Westinghouse, tôi lại thích mạy mọ với đinh búa, cưa cắt gỗ cây ở tuổi mới lớn, nên có lẽ vậy mà đôi bên hợp nhau. Ông dạy cho tôi cách cưa đóng, chà láng những chiếc bàn picnic nhỏ xíu, có khoét hai lỗ đủ lớn để đựng hai chai ketchup và mustard. Đi thăm ai ông cũng chở tôi theo trong chiếc Ford truck cũ màu đỏ, mời họ mua những chiếc bàn picnic để cho tôi có tiền xài vặt. Ông biết ba mẹ con chúng tôi chỉ đủ sống với tiền lương từ việc làm của mẹ ở một nhà hàng. Ông có xây một căn nhà gỗ ở cuối sân, nơi chứa gỗ và dụng cụ nghề thợ mộc, và cũng là nơi hai chúng tôi tá túc mỗi đêm, mỗi cuối tuần. Ông thường nói ông lên căn nhà gỗ để “trốn” vợ, trốn bà Rita sau bữa cơm chiều. Ông không có thói quen tụ tập với bạn nhậu hay bạn tán dóc, cũng chẳng bao giờ đi nhà thờ, không hút thuốc, chẳng bia rượu, cũng chẳng đọc sách báo chi hết, chỉ ở nhà với vợ rồi mỗi tối “trốn” lên căn nhà gỗ ấy để làm một việc gì đó. Còn tôi, một đứa trẻ mới đến tị nạn sau một cuộc chiến tàn khốc ở quê hương, cũng muốn “trốn” theo ông ở căn nhà gỗ ấy. Ông kiếm việc cho tôi làm, rồi thầy trò, hay cha con cũng vậy, mạy mọ, nói chuyện trên trời dưới đất mặc dù tiếng Anh của tôi chẳng ra gì cho đến tối khuya, khi tôi cần về nhà với mẹ và em, còn ông về với bà Rita. Thỉnh thoảng bà rời căn bếp ở ngôi nhà lớn, ghé thăm hai “cha con,” gõ cửa để trao một cái bánh ngọt mới làm xong.
Những ngày “thần tiên” giữa tôi với ông Wes kéo dài được hai năm, trước khi mẹ tôi tìm được một việc làm khá hơn ở gần thành phố Pittsburgh và chúng tôi phải dọn đi. Phải nói là thần tiên mà không có dấu ngoặc kép, vì khoảng thời gian đó đã thật sự là như vậy, khi nhìn lại từ mấy chục năm lưu lạc từ ngày rời Rillton. Ông Wes không có con trai, mấy đứa cháu ngoại thì không ai màng gì đến nghề thợ mộc, nên ngày ngày ông sống chỉ có vợ và ngôi nhà gỗ ở cuối sân. Còn tôi, có lẽ vì trong tiềm thức cần có một người đàn ông hướng dẫn sau ngày cha chết trận, tôi có cảm tình với ông ngay từ ngày đầu mới gặp. Đôi bên đã bổ túc những khiếm khuyết trong cuộc sống tinh thần. Có điều tôi không bao giờ nói được cho ông hiểu nỗi buồn của tôi về cái chết của cha tôi, về một người lính đã tử thương trong một cuộc phục kích của Việt Cộng ở đâu đó giữa đồi núi, về một người mẹ tay bồng một đứa con, tay kia nắm tay một đứa bé mới lên năm đứng cạnh một huyệt mộ đang được lấp đất, che dần một chiếc quan tài phủ cờ được chôn ở Nha Trang, và về ký ức duy nhất về cha khi ông còn sống là ngày ông chơi với tôi trong một ngôi nhà lá ở miền cao nguyên đất đỏ Ban Mê Thuột. Thế nên những ngày thần tiên ở Rillton cũng có một lúc không mấy êm đẹp, kinh hoàng nữa là khác, và có liên hệ đến chim. Vào những ngày mùa đông buốt giá trong tháng Giêng và tháng Hai, tôi thường ngồi trong căn nhà gỗ nhìn ra sân trắng xóa tuyết, trắng xóa từ sân nhà ông Wes đến những ngọn đồi ở chung quanh. Ở tuổi đó ông bắt đầu có tật ngủ gật. Trong khi ông ngủ ngồi trong chiếc ghế cạnh lò sưởi đốt cây khô, tôi nhìn những con chim xà xuống ăn ở một máng cao đặt giữa sân. Ông Wes luôn đổ thóc lúa, hạt dưa cho chim ăn, nuôi những bầy chim hoang suốt mùa đông. Bữa trưa hôm ấy, đang xem những con chim nhiều màu sắc xanh đỏ chăm chỉ mổ ăn những hạt lúa, tôi thấy một con quạ đen từ đâu bay tới. Con chim đen to bằng con gà đã xua đuổi hết bầy chim nhỏ đi nơi khác, có lúc còn mổ vào mắt mấy con nhỏ như muốn giết chúng. Bất bình trước cảnh chim đen giành ăn với mấy con chim be bé, xinh xinh, tôi mở hé cửa sổ để la con quạ. Gió lạnh ùa vào phòng làm tôi phải khép lại cánh cửa, không thể la tiếp để đuổi nó. Thế rồi trong một lúc bực bội khi thấy con quạ tiếp tục la oang oác, uy hiếp mấy con chim nhỏ, tôi vói tay lên máng treo súng trong căn nhà gỗ. Chỉ là một cây súng bắn bi mà ông từng chỉ cho tôi biết cách bơm hơi bằng tay cho đến khi có thể bắn được mấy viên bi. Cầm lấy cây súng, tôi hé mở cánh cửa sổ một lần nữa, nhắm họng súng vào con chim đen. Phát đầu tôi bắn trật, làm nó bay lên cao. Một hồi sau nó lại đáp xuống máng, tiếp tục giành ăn với chim con. Phát thứ hai tôi bắn trúng, làm con quạ rơi xuống nền tuyết trắng xóa.
Trong giây phút cực kỳ phấn khởi như cảm thấy mình vừa làm được một điều có ý nghĩa, bảo vệ được mấy chim con, tôi vội vàng đánh thức ông Wes. Không hiểu tôi nói mô tê gì, ông khoác áo lạnh và cùng tôi lội tuyết đến xem xác quạ. Bộ xác đen tuyền, nổi bật trên tuyết trắng, những vết máu đỏ tươi loang thấm vào tuyết. Tôi thấy ông Wes thoáng giật mình khi thấy xác con quạ. Ông là người vui tính, nói nhiều, nhưng không giờ la mắng, nói xấu ai. Trưa hôm ấy, giữa một ngày lạnh buốt, bầu trời xám không có ánh nắng mặt trời, ông Wes không nói một lời trách mắng về hành động của tôi. Ông im lặng một cách khác thường, xong trở lại căn nhà gỗ và trở ra với hai cây xẻng, trao cho tôi một cây. Ông xúc xác chim với mớ tuyết thấm máu, bảo tôi đi theo đến một góc sân gần bìa rừng. Sau đó chúng tôi xúc tuyết ra khỏi mặt đất, đào một huyệt nhỏ cho con chim. Lúc đẩy xác chim vào huyệt, tôi bỗng nhớ đến giây phút quan tài của cha tôi được người ta đặt xuống hố, một hình ảnh không mờ phai trong suốt mấy chục năm. Cha tôi mất, để lại một góa phụ với hai con thơ, mà một trong hai đứa đã mang theo một nỗi giận tiềm ẩn, một nỗi hận khuôn ngôi, để rồi có lúc nó bộc phát qua một hành động dẫn đến đẫm máu. Nghĩ đến con quạ kia, không biết nó là chim cha hay chim mẹ, nhưng nó đã chết, vĩnh viễn không bao giờ được về với con của nó, tôi bỗng bật khóc và quì xuống cạnh ngôi mộ vừa được lấp. Tôi không nhớ mình đã xúc động, quì khóc trong bao lâu, chỉ nhớ ông Wes đã vỗ nhẹ vai tôi, nhắc tôi trời sắp tối, không khí đang rét lạnh. Sau đó tôi cầm xẻng đi cạnh ông trở về căn nhà gỗ, yên lặng trong cơn sám hối mà đến nay vẫn còn ở trong tôi. Ông Wes và bà Rita nay đã là người thiên cổ. Còn tôi, một kẻ đang tìm niềm vui ở những buổi sáng cho chim ăn.
Chúng bay đến mỗi buổi sáng. Đều đặn mỗi buổi sáng. Một buổi sáng nọ, khi “đàn gà con biết bay” đã cất cánh sau một bữa ăn no nê, tôi chợt thấy một con chim đen đậu ở trên dây điện. Nó kêu mấy tiếng oang oác, xong bay xuống sân nơi đàn chim con đã ăn trước đó. Nó đi quanh quẩn giữa các chậu cây, mổ chỗ này chỗ kia tìm miếng ăn. Vốc một nắm gạo, tôi mở cửa thảy ra cho nó. Ban đầu nó bay trở lên dây điện, sau biết tôi đã vào nhà, nó bay trở xuống mổ gạo ăn. Đợi nó ăn xong và bay đi, tôi bước ra sân như muốn tìm bóng dáng của nó. Con chim đen đã biến đi đâu mất, hoàn toàn không thấy đâu như chưa từng có mặt ở đây chỉ mới mấy phút trước đó. Trên nền trời cao, một bóng chim đang bay xa và tan dần vào ánh sáng ban mai, mờ dần cho đến khi không còn một dấu vết trên nền trời xanh. Ước chi một ngày kia, tôi đây, cùng những tội lỗi của chính tôi, cũng hòa tan vào hư không, được quét sạch, không còn để lại một vết chân chim nào ở cõi thế gian này.
Tựa đề trên, ba chữ nọ bị chia lìa từ câu ca dao nguyên bổn:
Còn ăn còn ngủ còn gân, không ăn không ngủ có mần được chi.
Nó thiếu dấu chấm hỏi đoạn hậu, hoặc một dấu chấm than? Cảm hoài hay một sự ta thán?
Trong ca dao không thiếu những hình ảnh ngây ngô đến duyên dáng, không thiếu những từ ngữ vụng về tới đáng yêu. Đơn cử:
Chuột kêu chút chít trong rương, em đi cho khéo đụng giường mẹ hay.
Và:
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
Chao ôi, hai chữ rảnh rang sao nó đắt giá tới ngần ấy. Hơn hẳn chữ thong thả, hơn hẳn tiếng thanh cao hoặc cung bậc nhiều nhạc tính du dương khi chim hót. Rảnh rang thường dùng để áp đặt vào hoàn cảnh một kẻ đang quỡn, chẳng có việc mần, ngồi chơi xơi nước, nhàn cư vi bất thiện… Đối cực với nó là lu bu, là đầu bù tóc rối, là cày 2 jobs, với over-time các thứ bở hơi tai.
Lên non đốn củi đụng chỗ đốn rồi xuống sông lấy nước gặp chỗ cát bồi khe khô.
Hoài công! Nói kiểu mấy ôn mệ thuở xưa: Làm cho lắm tắm cũng ở lổ (trần văn trụi). Có công ăn chuyện mần thì mệt mà rảnh rang đôi khi cũng làm cho oải. Lo toan. Không ăn không ngủ để đi tới chung cuộc: Mô có mần được chi!
Đôi khi mất ngủ, rảnh rang nằm nghĩ ngợi, việc viết lách lung tung xèng của mình cũng chẳng khác kẻ gánh đôi thùng thiết đi xuống một dòng sông đang gặp hạn ngổn ngang cát đá. Phải mà còn đọng một vũng thì sẵn lòng múc ánh trăng vàng đổ hắt đi cho khỏi tiếc công. Nào khác gì đứa tiều phu mông muội đứng dưới rừng lá mù bay. Không nghe tiếng chim khôn hót cô quạnh, và mình rõ là người dại từng nói tiếng cộc cằn khó nghe.
Cô nhân tình bé nhỏ thuở đầu đời luôn phê bình trong những cái email đầy cao hứng mang nội dung trách cứ kẻ u mê xa ngái. Thiếu đường bị cô mắng là đồ phản động. “Cam sành lột vỏ còn chua, thương em còn nhỏ anh cua để dành”. Sai lầm, đánh hỏng một nước cờ, thay vì kéo pháo về phòng ngự lại ùn đẩy con tốt sang sông tạo cơ hội cho kẻ khác đốn ngã cây quế đơn lẻ giữa rừng tà nhiễu loạn. Cam sành thành bưởi thành thanh trà thành ngực khủng. Thành gia thất thành đầu bù tóc rối và điện thư mới hoan hỉ báo tin vừa thành bà nội. Chao ôi thời gian, thoắt cái nó xoá sạch những thơ mộng rồi bày biện ra bao bạc lòng. Bà nội nói, Huế chừ thay đổi dữ lắm, rứa khi mô mới giỏi chân về? Thay vì khoe ảnh đứa cháu cưng, bà nội gửi tấm hình một cô gái tóc thề đang đạp xe đi giữa phố mà trong tay nắm bộn một khoảng tiền. Không quên chú thích bên dưới: Chỉ có ở Huế!
Một sự hãnh diện? Nói tới nỗi yên bình riêng biệt của cố đô? Ở Hà Nội, ở Sài Gòn hả, ánh đao vung lên, xoẹt một đường hàn khí buốt bên tai rồi thì cánh tay nắm tiền đoạn lìa khỏi thân khổ chủ trong một chợp mắt. Tiền mất tật mang trong sát na nằm mộng cũng chẳng ngờ. Đau đớn tới độ nước mắt không thoát chảy ra được. Cứng thây.
Nguyễn Trãi gọi Huế là “phên dậu ở phía Nam”. Lê Lợi thì bảo: “Vùng đất ấy là lòng dạ của ta”. Bà huyện Thanh Quan trải lòng:
“trời mưa ở Huế sao buồn thế, cứ kéo dài ra đến mấy ngày”.
Đông Hồ động lòng:
“Gió chiều vương áo nàng Tôn Nữ Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ”.
Sư Viên Thành làm mấy câu đậm chất thiền:
“Vầng trăng núi Ngự, nước sông Hương chưa đi tới đó hận muôn đường khi đã tới rồi không gì lạ vầng trăng núi Ngự, nước sông Hương”.
Huệ Phổ trong bài Mạt Lị Từ, tuy nói về hoa nhài nhưng liên tưởng ra ảnh hình đất Thần Kinh:
“Vẻ như tuyết điểm đẹp dung nhan một sợi hoa quanh búi tóc quàng thức giấc, mùi hương đâu lạnh thoảng nửa lầu trăng xế, nửa lầu sương”.
Toàn bộ nét cổ kính ấy có còn không? Dĩ nhiên mất. Có những đổi thay làm người ta hân hoan và có những thay đổi làm người ta xót xa trong câm lặng. Trả lời email cho “bà nội”, mình chỉ chép lại bốn câu của Kim Thánh Thán sáng tác khi ông tạm trú một đêm trong miếu hoang:
“Chung hưởng tiệm dĩ tịch trùng ư Phật diện phi bán song quan dạ vũ tứ diện quải tăng y”.
Y như một black mail, “bà nội” thêm bực mình về cái thói ỡm ờ của thằng bồ cũ. Ai hiểu sao thì hiểu là sai lập trường, phải Ngô ra Ngô Sở ra Sở sắn ra sắn khoai ra khoai, qua lâu rồi thời nhá cơm độn. Mình đùa với bà nội, lỡ có người bắt gạo nấu hoài mà chẳng thành cơm thì sao, cháo không ra cháo hồ không ra hồ. Còn ôm vết thương lòng sâu đậm đến thế sao? Mình có o con gái học sư phạm “mắt chưa vương lệ sầu” dung mạo giống y như mình thuở nọ, có ưa không? Sao nhẫn tâm loạn ngôn ra thế?
Tạm dịch nhé:
“Im vắng mọi tiếng động mặt Phật chấp chới bóng côn trùng mưa đêm khép hờ cửa bốn vách máng đầy áo sư”.
Bà nội viết, mình thích đọc những lá thư ngắn, trao đổi trong chừng mực như vậy thôi. Mình từng xem những bài viết dài của bạn, thường thì nó sa đà vào những thứ cấm kỵ, tỉ như nói xấu nhà nước quá cũng không nên, đôi khi nó làm cản trở việc tao phùng của chúng ta mất.
Trả lời bà nội, mình dùng hai câu ca dao xét thấy có chút trừu tượng “ai hiểu sao thì hiểu”:
Con ai đem bỏ chùa này A di đà Phật con thầy thầy nuôi
Mình đã bỏ công viết, đã vắt óc nhào nặn ra, toàn là của chùa. Bá tánh thì có cả trăm bao tử khác nhau, chê mặn chê nhạt là điều dễ hiểu, không ai hạp bụng mình cũng chuyện tất nhiên; nhưng người mình từng thương yêu từng lậm bùa mê thuốc lú mà chê mình là phường phản động thì e phải “A di đà Phật con thầy thầy nuôi”.
Mình đã chẳng mần chi được người ấy thời trai tráng thì giả thử đóng vai Việt kiều hồi hộp áo gấm về làng e cũng không mần được chi. Lại tái diễn cái màn xoay mòng vòng Kim cô; lên non đốn củi với lại xuống sông lấy nước. Củi nằm toàn bộ trong tay lâm tặc, nước thì sắp cạn vào tay Trung quốc. Đụng chỗ đốn rồi và cát bồi khe khô. Trần tình có nhiêu đó thôi cũng bị “tình cũ nghĩa xưa” chì chiết rằng chao đảo lập trường với lại mất phương hướng. Đành buông thả tâm trạng theo Đồng Đức Bốn:
“tôi giờ xa cách bao nhiêu đem thơ đổi lấy những chiều tương tư”.
Nhắm ăn được không? Hay bắt chước Đạo Tiềm, bạn của Tô Đông Pha:
“Bế môn toạ huyệt nhất thiền sáp đầu thượng tuế nguyệt không tranh vanh”.
Tuệ Sỹ dịch ra:
“Khép cửa hang sâu một giường thiền trên đầu năm tháng trôi chênh vênh”.
Ôi chao cái chữ chênh vênh kia nó nói lên được biết bao điều!
Nếu không chênh vênh thì giờ đây mình cũng thành “ông nội” như ai kia. Ông nội từ khuya, từ đời tám hoảnh!
Thế đấy thế đấy! Thành cũ lâu đài bóng tịch dương. Buồn làm chi Công Tằng Tôn Nữ Huế ơi!
Thằng cháu tôi sinh ở bên ni Ca-na-điên giấy thế vì khằn con mộc cầu chứng to đùng cực uy tín không lôi thôi on đơ troa gì cả tự trứng nước mày đã là người tử tế
cha sanh mẹ đẻ hồi nào tới giờ nó luôn lễ phép gọi tôi là Uncle Ho nói tiếng Việt thì khó lòng mặt đỏ tía tai chữ nghĩa ngô nghê đầu voi đuôi chuột cà rịch cà tang cầu dừa đủ xoài hổng có sầu riêng
hắn chẳng thích tôi nếu không muốn nói là khinh ra mặt bởi tôi phu phen lao động bị tư bản xà quần tay làm thương tật mà hàm vừa đủ nhai đếch biết câu ở đâu có bóc lột ở đó có đấu tranh hơi bị nhác như cáy nhũn như con giun bị dày xéo hắn xổ một tràng ngoại ngữ rất vất vả tôi tự phiên dịch lòng thòng sống chiến đấu lao động học tập không theo gương chú Hồ tí teo
kệ cha mệ nội giày dép còn có số nói thiệt nghe phận người đâu biết lựa chọn cửa mình để chui ra giống như con lạc đà vậy sách ở Việt-nam sáng mắt sáng lòng chú giải, đấy là con chim có hai cánh hoành tráng kiếp đại bàng nghe thế cũng xao xác không dám bay xa buồn lặng
mới hôm qua thằng rắn mắt kia lại vui mồm cà khịa du biết coi tin tức không ở bên Úc chộn rộn hơn trăm người hò reo đi biểu tình ủa, lại chuyện biển đảo chứ gì biết ngay mà, khỏi nói nó kêu bu-sịt gà mờ gì đâu á bị có quán ăn mở thương hiệu trêu ngươi Uncle Ho tôi cà lăm thưa thốt với cháu mày chúa dựng chuyện vẽ rắn thêm chân rồi mượn gió bẻ măng ưa đá giò lái ôi mà hơi đâu xứ này tự do dân chủ cho mày chửi tao thoải mái đời tao coi như bỏ đi thanh thản hưởng bonus cứ tha hồ cứt đái với lỗ đít với phất lại phơ
cho tao chửi đê em mờ mày một tiếng có đặng không ấy là suốt cuộc đời buồn nhiều hơn vui thằng uncle ho này đâu có nuôi râu mẹ, cháu với chú, bác, dượng, cô, dì mờ ám và rắc rối tao đang oải.
Sông Cửu Long, còn có tên là sông Lớn, sông Cái, bắt nguồn từ Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc, Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia chuyên chở rất nhiều phù sa bồi đắp vùng châu thổ rồi đổ ra Biển Đông bằng chín cửa. Chính vì thế dòng sông mới có tên là Cửu Long, là chín con rồng,
Bắt đầu từ Phnom Penh, sông Cửu Long chia thành hai nhánh: Tiền Giang, Hậu Giang là do lưu dân từ vùng ngũ Quãng vào đất mới, vào miền Tây (khoảng nửa cuối thế kỷ 17), gặp con sông lớn đầu tiên gọi là Tiền Giang, sau đó gặp con sông lớn thứ hai gọi là Hậu Giang.
Trên sông Tiền có 6 cửaː Tiểu, Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu, trên sông Hậu có 3 cửaː Định An, Ba Thắc và Tranh Đề.
Cửa Ba Thắc, khoảng thập niên 1960, đã bị nhiều cồn cát ở cừa sông bồi lấp, chỉ còn là con rạch nhỏ mang tên sông Cồn Tròn có cửa nằm sâu bên trong cửa Tranh Đề, nên sông Hậu ngày nay chỉ còn hai cửa biển.
Cái cửa thứ hai mới biến mất là cửa Ba Lai do bị hệ thống cống đập Ba Lai ngăn lại để ngọt hóa vùng ven biển của tỉnh Bến Tre.
Vậy là Cửu Long chỉ còn là Thất Long, 7 cửa sông chính thông thuyền ra biển Đông.
Bây giờ vùng châu thổ đồng bằng sông Cửa Long có khoảng 17 triệu người dân thân yêu của mình đang sinh sống. Vậy mà gần 2 triệu người dân phải đau lòng, nước mắt lưng tròng, đứt ruột tha hương, rời bỏ “vùng mật ngọt” với gạo trắng nước trong, dòng sông, ruộng đồng đầy tôm cá để tha phương cầu thực.
Đàn ông thì đi làm thuê, làm mướn cho hãng xưởng Đài Loan, Nam Hàn ở tận Bình Dương. Phụ nữ trung niên phải đi Đài Loan qua tới cả Arab Saudi làm ‘osin’ tức ở đợ.
Còn phụ nữ trẻ có nhan sắc một chút thì phải để cho mấy Chú Chệt Đài Loan, Củ Sâm nắn bóp lựa chọn như lựa một con thú cưng về làm vợ.
Thân phận người phụ nữ Việt nam bị bức hiếp, bạo hành; tiếng kêu cứu, khóc than cứ biến vào cõi hư vô.
Ai đang bức tử dòng sông Cửu Long đã nuôi sống đồng bằng thân yêu của chúng ta bao đời nay?
Thủ ác là Tàu Cộng và Việt Cộng, Lào Cộng và Miên Cộng. Tội ác hủy hoai môi trường sinh thái vùng hạ lưu sông Cửu Long trước hết là do Trung Cộng ngang nhiên xây con đập khổng lồ ở Vân Nam. Rồi nước Lào xây liên tiếp 9 con đập thủy điện để bán điện cho Thái Lan và Cambodia cũng xây hai đập.
Hậu quả nhản tiền thấy liền trước mắt là đập thủy điện thay đổi dòng sông, dòng nước làm bà con mình ở miền Tây lãnh đủ. Mất nguồn cát phù sa mầu mở, bờ sông sạt lở, nhà dân đổ chìm xuống sông. Bờ biển thì cũng sạt lở, nước mặn tràn vào.
Cái lẽ phải ở đây là dòng sông chảy qua nhiều nước. Không phải sông chảy qua nước Tàu rồi Tàu muốn làm gì thì làm.
(Bài học lịch sử ngày xưa về nguồn nước đã cho biết Ông Thái Hữu Kiểm dựng chợ Trong bên cạnh rạch Ba Tri, giúp cho dân cư ở khu này có nơi làm ăn sinh sống. Khi đó có ông Xã Hạc ở chợ Ngoài chơi ép, đắp đập chặn không cho ghe thuyền từ sông Hàm Luông vào chợ Trong. Ông Kiểm bất bình, kiện lên Huyện, Huyện xử chợ Trong thua với lập luận: “Mỗi làng đều có quyền đắp đập trong địa phận làng mình”.
Ông già Ba Tri Thái Hữu Kiểm không chịu cái phán quyết bá láp nầy khăn gói đi bộ 1000 cây từ Ba Tri ra Huế để đưa đơn lên nhờ vua Minh Mạng phúc thẩm lại phán quyết bất công kia.
Vua thụ lý rồi xử cho dẹp bỏ đập, vì rạch là rạch chung, đường giao thông chung của cả chợ Ngoài lẫn chợ Trong.
Vậy thì các nước trên thượng lưu sông Cửu Long, đầu têu là Trung Cộng ỷ mình là nước lớn làm càn như vậy đâu có được, các nhà học giả về môi trường của nước mình phải ra Đại hội đồng Liên Hiệp quốc thưa nó mới được.
Ăn thua thì chưa biết chắc nhưng ít nhứt để các nước khác thấy được cái dã tâm của Trung Cộng mà dè chừng.
***
Cái gây hại cho vùng châu thổ sông Cửu Long do nước ngoài đã là kinh khủng; nhưng hậu quả kinh khiếp hơn lại chính là do chính những quan chức CS trong nước.
Vịn vào công trình nghiên cứu khoa học (tào lao) ngọt hóa Bán đảo Cà Mau, bọn chúng đi mượn tiền nước ngoài về xây dựng cái hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé.
Nghe thấy vậy, nên mấy hôm nay các nhà bảo vệ môi trường người Việt trong cũng như ngoài nước khẩn thiết lên tiếng báo động công luận, khuyên can bọn chúng ngừng lại nhưng hình như là đàn khảy tai trâu, nước đổ đầu vịt!
***
Hồi CS Bắc Việt chiếm được miền Nam, CS Bắc Việt đã mang nguyên xi chương trình đắp đê ngăn lũ của sông Hồng ngoài Bắc vào áp dụng ở miền Nam
Vùng trủng tứ giác Long Xuyên, cứ đắp đê, cứ chận nước lại để làm lúa ba mùa. Được cái nầy là mất cái kia. Lúa thì có nhiều thiệt nhưng đất thì ngày một cạn kiệt không còn mầu mở, vì làm gì có phù sa theo nước lụt mà bồi đắp như xưa giờ.
Phải xài phân hóa học, thuốc trừ sâu…Tiền vốn nhiều, bán lúa giá chẳng bao nhiêu nên dân làm ruộng từ nghèo thành mạt.
Rồi cả đống công trình được vẻ lên nào là: Công trình Quản Lộ-Phụng Hiệp, Cống đập Ba Lai. Bà con dân Bến Tre có câu thơ như một tiếng chửi thề: “Ba Lai là cái cửa mình. Trung ương đem lấp dân tình ngẩn ngơ!”
Cái đập nầy chắn ngang cửa sông Ba Lai từ xã Thạnh Trị (Bình Đại) tới xã Tân Xuân (Ba Tri).
CS đánh trống thổi kèn là để ngăn mặn, giữ ngọt cho 115,000 hecta đất, cấp nước ngọt sinh hoạt cho hơn 600 ngàn dân Bến Tre và Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành. Rồi phát triển giao thông thủy bộ và cải tạo môi trường sinh thái vân vân và vân vân…
Hậu quả nhản tiền là: Sông Ba Lai ngừng chảy, vì biến sông Ba Lai thành hồ.
Nói ngăn mặn từ biển tràn vô giờ dân Bến Tre phải sống với nước sông Ba Lai mặn hơn trước kia nhất là vào mùa khô, thiếu nước ngọt kinh niên, phải tới 100,000 đồng/mét khối mới có mà xài.
Không có tiền mua nước ngọt là phải bơm từ những giếng ngầm, nguồn nước ngầm này cũng ngày một hạ thấp và có nơi cư dân đã phải khoan đến độ sâu 80-120 mét làm đất sụt lún thấp nước mặn tràn vào nhiều hơn trước.
Ngăn dòng nước thì sông ô nhiểm do rác rưởi, độc chất thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân bón hóa học tràn xuống tích tụ dày đặc, nước trong các sông rạch đổi sang màu đen, bốc mùi hôi thối.
Các loài cá trắng của nước chảy, giờ trong nước tù đọng có nguy cơ chết ráo. Chỉ còn lại các loài cá đen nước tù của ao hồ như cá lóc, cá trê, cá rô phi. hủy diệt sinh cảnh và nguồn thủy sản nơi cửa sông và vùng ven biển.
Các loại cây quen sống ở vùng nước lợ như cây dừa nước, hư hại và chết do vùng nước lợ bị ngọt hóa.
Phía trong cống, thì chẳng còn nước lớn, nước ròng mỗi ngày, hoặc nước rong nước kém mỗi nửa tháng. Lục bình phát triển tràn lan kín cả mặt sông rạch ghe xuống hết đi luôn. Dân phải phun thuốc diệt cỏ trên lớp lục bình để còn thủy lộ mà đi lại khiến nước sông càng ô nhiễm thêm nữa.
Mấy nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam đã từng kêu gào là: trồng nhiều loại cây khác nhau chớ không hẳn là cây lúa. Nuôi nhiều loại con khác nhau chớ không hẳn là bắt com tôm ôm cây lúa rồi cả hai cùng chết. Vì con tôm cần độ mặn trên 4 phần ngàn, còn cây lúa dưới 4 phần ngàn. Nước thải ruộng tôm làm chết lúa và nước thải ruộng lúa có nhiều thuốc sâu cũng làm chết tôm.
Thế nên đừng đắp đập để ngăn mặn, lợ; vì nước mặn, lợ cũng có lợi cho dân miền ven biển. Đừng thế thiên hành đạo làm chuyện nghịch kỳ thiên nữa mấy cha nội!
Xưa giờ người dân miền châu thổ, miền văn hóa sông nước, chưa có nha khí tượng, mà đã biết dự báo thời tiết, nắng mưa khá chính xác và hiệu quả.
Chưa có nha Địa chất, nhưng đã biết chọn đúng loại cây trồng, không chỉ có cây lúa họ biết đa canh để giữ màu cho đất. Cứ một vụ lúa rồi cuốc khoai để đất sốp cho vụ mùa sau.
Hối xưa vùng châu thổ năm nào cũng lụt. Đâu có nghe ai than khóc gì đâu; vì lụt rửa phèn cho đất, nước dân lên tiêu diệt mầm mống sâu gây bệnh rồi bồi đắp phù sa, một loại phân bón của thiên nhiên ăn đứt phân hóa học vốn làm chai đất.
Không trồng được lúa mùa nước nổi được thì thủy sản: cá tôm dư sức bù qua. Mà còn bù rất sộp nữa!
Nhưng tại sao Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn của CS bộ dốt nát hay sao mà không biết cái thực tế rành rành ra đó.
Họ biết chớ ban bệ tùm lum đầy đủ học vị cũng cùng mình tứ đầu tới đích.
Biết nhưng vẫn vẻ ra cái đề án phải xây dựng hệ thống thủy lợi quy mô lớn, xây dựng cống đập ngăn mặn, đào kênh dẫn nước ngọt quí hiếm từ Sông Hậu xa tít để tiếp tục bắt dân trồng lúa, như Dự án SôngCái Lớn – Cái Bé.
Được duyệt dự án thì họ mới có ăn, rồi đem chính mạng sống và kế sinh nhai người dân ra đánh bạc.
Chữ rằng: Nhứt phá sơn lâm nhì đâm Hà Bá là phá rừng và hủy hoại dòng sông, tiêu diệt môi trường sống của dân là hai tội ác trời không dung đất cũng không tha.
Bên mấy nước phương Tây dân chủ nầy đây, đâu có đứa nào dám gan cùng mình làm ẩu như vậy? Cái đảng ‘Xanh’ chuyên bảo vệ môi trường nó sẽ đem mấy cha ra mà mần thịt.
Ngẫm lại cuối cùng cái tàn hại của rừng, của sông, của biển quê mình là cũng do thể chế chánh phủ độc tài CS mà thôi.
Nó làm cái nầy, dân cự nự kêu ngưng thì nó vẻ ra cái khác. Cái vòng lẩn quẩn nó không ngừng. Bỡi cái bản chất của chế độ XHCN là thối nát, tham nhũng, độc tài…Mà bản chất thì làm gì sửa cho được chớ.
Nên Boris Yeltsin gần cả đời theo CS bên nước Nga nói “Cộng sản không thể nào sửa chữa, chúng phải bị đào thải” (Communists are incurable, they must be eradicated…).
Dân mình không chấm dứt nó. Thì nó sẽ chấm dứt dân mình!
Mùa lạnh, tỉnh lỵ có được mấy ngày đại nhạc hội và một tiệm cà phê mới nên cũng đỡ buồn. Đại nhạc hội thì do anh Anh, Ty Tiểu học tổ chức, có khá nhiều cô giáo và một vở kịch cần nhiều hoa hường. Những tấm bìa quảng cáo dán trong các tiệm lớn nói về đại nhạc hội: Những người trình diễn sẽ là những anh em đang dùng cơm với bạn, đang chơi billard, đang che dù dạo phố, rất quen thuộc nhưng cũng rất độc đáo… Sãi nói đùa với anh Anh: “Mùa lạnh tên nào cũng hốc hác, bệ rạc. Gom cả mớ thảy lên sân khấu đèn màu, anh giúp tụi nó đỡ bị rét”. Những buổi chiều ghé về nhà ngắt bông hường mang lên rạp hát cho anh Anh, Sãi thấy cửa thường đóng kín. Không muốn quấy rầy người bạn mượn nhà, Sãi quay ra cổng đi luôn. Quân và người tình hắn mấy ngày liền chỉ ăn đồ khô và ngũ cốc. Sãi có ý chờ Đởm ở trên núi xuống để đi coi đại nhạc hội nhưng không thấy tăm tích. Hắn như có nợ với tỉnh này. Một con bé có chiếc jupe serrée giấu ở bờ biển miền trong mỗi năm rủ hắn vào đó dạo chơi ít ngày đã giữ hắn lại tỉnh này suốt mấy năm làm công chức và mấy năm đi lính. Giờ thì hai đứa bỏ nhau. Đởm thù tỉnh lỵ, hẹn sẽ chỉ trở về khi Sãi ngất ngư sắp chết. Nghe nói hắn có một người yêu mới cực đẹp và hắn đang dạy cho nó biết đọc, biết đi xe đạp. Hồi Sãi về Sài Gòn tính chuyện vợ con, Đởm có về một lần. Hắn uống rượu, nhổ hết mấy cụm chuối khuân vứt xuống bến sông viết bừa bãi lên vách tường rồi bỏ đi.
Mùa lạnh cùng những ống quần kéo cao của những cô giáo trong ngõ bùn phía cửa hậu sân khấu như một điều vỗ về nhớp nháp. Rạp hát có sức ấm của những người quen mặt. Có những Ty trưởng và phụ huynh già nhai trầu hút thuốc rê và bông đùa bằng tiếng Pháp. Sãi được anh Anh cho coi không mất tiền. Người con gái nào trên sân khấu cũng có màu buồn. Người con trai nào trên sân khấu cũng chợt có hứng khởi như sắp có một cuộc phiêu lưu. Nhưng một tình yêu nảy nở nhân dịp này chắc không có. Họ như luôn ở thế sẵn sàng bước ra phố với cái dáng thu trong áo, với cái lạnh riêng mình cũ kỹ. Sãi nói với một ông già dở chứng ngồi cạnh chốc chốc lại móc ve rượu trong túi ra uống: “Bạn bè tụi nó bỏ phố xá vào đây hết trơn, bữa nào tôi cũng phải tới đây ngồi nhìn”. Ông già hỏi sao Sãi không vô Sài-gòn giúp ông già buôn bán? Sãi cười: “Tôi mắc coi nhà cửa, vườn tược, vô chi được”. Ông già nói Sãi thực sướng. Sãi hết hứng nói chuyện. Có lúc mưa đổ bên ngoài nghe rõ tiếng, người trong lòng sân khấu chìm đi và người coi phía dưới có chút ngơi nghỉ. Sãi muốn rủ Thị xuống ngồi với mình nhưng ngại anh Anh phiền. Đứng ngấp nghé hoài ở cửa sau hậu trường mà khích lệ Thị cũng nhột nhạt. Màn chính của Thị là một màn điều khiển hợp xướng. Một bầy con nít vừa trai vừa gái được dàn hình vòng cung một góc sân khấu. Tất cả vận đồ trắng, con trai noeud xanh, con gái jupe ngắn buộc bím. Trông đứa nào cũng ra vẻ nghiêm trang nhưng lời hát như lời trả bài cô giáo. Thị quay mặt vào bọn trẻ, không kể cái dáng đánh nhịp, quần áo nàng cũng đủ lòe xòe. Bài hát có vẻ mỏi cẳng. Dứt bài có đứa co giò chạy bừa vào trong. Thị phải chạy vào lôi ra để hát theo lời hô bis, bis của mấy ông già ngồi hàng ghế đầu phía dưới. Lúc mãn hát, Thị cùng các bạn được anh Anh chở xe đi ăn và đưa về nhà. Sãi bảo Thị bỏ về sau màn hợp xướng, Thị không nghe. Thấy nàng có vẻ cố tình, Sãi bực mình bảo: “Cô ngỡ bữa nào tôi cũng đến ngửi mùi bã trầu nghe học trò cô ê a hát rồi về một mình sao”. Thị kêu: “Anh nói chi mô mô nghe sao sao đó”. Sãi làm thinh. Thị nghịch với sự phân giải. Lời Thị bày tỏ là lớp tơ tằm tự cuốn quanh mình. Nhưng dường như đó không là nỗi kín đáo. Những lúc đó mặt Thị vẩn vơ và lời nói bỏ lửng, chậm rãi như đang rời buông một đường dây trong tay với ít nhiều chểnh mảng. Cũng lúc đó Sãi nổi giận như không còn thấy cái vẻ lôi thôi, quen thuộc trong cặp mắt mở lớn. Cơn giận vụt đi như một cái chụp bắt muộn nhưng kịp để rút tay về. Thị đã trở về với nguyên vẹn. Sãi lặng thinh, một cái xoay lưng vào khoảng-không-ngỡ-vẫn-còn-hơi-nóng. Sãi nghĩ tại mình chẳng nói được gì hơn những lời vẫn nói với nàng. Sãi sắp đi. Và muốn có một người con gái quen quen, gần gần để nhớ. Những năm qua nếu được sống bên mấy đứa em gái, chắc mùa đông này Sãi đã không hấp tấp gượng gạo nhìn mớ quần áo loà xoà như một vật thực quen. Và Thị vẫn còn như nàng nguyên vẹn. Nhưng Thị, nàng có thể chờ những người có sự khoan thai, điềm tĩnh hơn. Những người sống và chết trong giả tưởng đã được sum vầy. Sum vầy là những vết chân ngoảnh lại nhận ra khi Sãi nôn nả chạy về phía trước. Sãi sắp đi. Mấy tiếng đó truyền trong bạn bè như một ngôn từ sáo mép. Có cuộc viễn du nào không gặp lại được mớ quần áo loà xoà?
Đêm đại nhạc hội chót, Sãi không tới coi. Thời gian để biết thêm về Thị còn ít ỏi quá. Nửa đêm ăn cháo gà với một người bạn ở nhà ga về, Sãi thấy Thị và mấy người bạn ngồi chen chúc trong một chiếc xe Jeep đậu trước cửa một tiệm nước sắp đóng cửa. Sớm hôm sau, Sãi nghe lời rủ của một cậu học sinh, đi xe đò vào chơi vùng biển, con bé của Đởm giấu chiếc jupe serrée. Trong chuyến xe chạy qua những núi đá, những rừng cây khô đã nghe có những người đàn bà buôn bán nói chuyện chia ba đất nước. Những lúc xe ngừng lại sửa, họ ngồi bệt trên đường đèo, bên những cây dương hút thuốc nhai trầu, ồn ào nói chuyện như đang ở nhà. Bầu trời lạnh lẽo không có chi thuận tiện cho việc đứng giữa đường nhưng Sãi đã gặp nhiều người quen sắp đi lính cỡi Honda về tán dóc ở những quán chợ, những chóm khóm ven lộ. Trời có lúc mưa. Mấy cây cầu nổi có khi kẹt xe, đầy người hai bên bờ sông. Cái lạnh nóng mặt khó chịu như hớp rượu khi đói bụng. Những vệt chữ lưu niệm ở những chồng đá ngổn ngang chân núi phơi bày thêm nỗi hoang sơ của bầu trời trống trải. Sãi nghĩ quanh về một người tình vừa lấy chồng, về Thị với mấy người bạn nàng ưa dạo phố. Sân khấu đối với Thị hết sức bất thường. Nhưng ấm áp hơn căn phòng nàng mướn. Một vài lúc chợp mắt trong rạp, tỉnh dậy Sãi có sẵn ý nghĩ nàng vẫn còn ở đó. Nàng đang săn sóc bọn trẻ. Một vài người già cả quen biết đang chờ đợi nàng.
Miền biển đi tới không còn cái lạnh tỉnh ngoài. Ở đây nghe nói có mấy người con gái rực rỡ và quyền thế. Chiếc xe tới bến, ngày đã muộn. Cậu học sinh giới thiệu Sãi với người phu xích lô chủ nhà trọ và xin được chở về nhà. Đường phố gió khô đầy bụi. Pháo được phép bày bán sớm cho bọn Mỹ mừng Tết. Trước những night-club vẫn còn những cành thông Noel. Cuộc hành trình vừa qua kéo dài mệt đừ. Những bã trầu, mẩu thuốc trên đường đèo, chuyện chia ba đất nước xa khuất như bầu trời lạnh bên kia rặng núi. Chải xong bộ quần áo, Sãi đi ăn rồi kiếm vào người bạn đã hẹn trước. Không gặp ai, Sãi theo cậu học sinh ra bờ biển loanh quanh kiếm một cái kiosque nghe nói triển lãm tranh. Bờ biển vắng như thể bọn Mỹ cũng có chiều cuối năm. Những chuyến xe lam rỗng không chạy ào ào kiếm mối. Một vài xe chở sinh viên Hải quân và con gái vào phố mang cái dáng chiến sĩ và dạ vũ. Sóng nổi bọt và những đèn hiu hắt ngoài xa thì gợi hình ảnh những chuyến xe đó cũng như thiệp mời không chính thức. Phố lên đèn. Sãi nhờ cậu học sinh dẫn tới thăm một ông bạn văn đứng tuổi. Ngôi nhà nom như một biệt thự bỏ trống. Ông bạn văn đang dùng bữa cơm muộn với mấy người con nhỏ dưới đèn. Sãi xưng danh tánh và nghe tiếng cười nói mừng rỡ. Sãi tự rót lấy trà uống để ông bạn dùng tiếp bữa cơm. Lúc ngồi nói chuyện, Sãi như gặp lại người anh đã lâu không tin tức. Chuyện viết lách, chuyện rong chơi. Chuyện nhà neo người, chuyện khó khăn kiếm kẻ giúp việc. Gần tới giờ chiếu xuất phim cuối, Sãi từ giã cái gia đình có tiếng cười thực khoẻ và công việc bộn bề. Giữa khuya, về nhà trọ. Phố đêm còn những người ngoại quốc đốt pháo. Sãi trằn trọc khó ngủ. Chỉ còn cái lạnh lúc đêm về sáng là có thể đợi chờ. Cỡ năm giờ sáng, Sãi rùng mình nghe có người đập cửa gọi tên Sãi. Người ta hô hoán có trộm. Dưới mặt ngõ dẫn vào những ngôi nhà của người phu xích lô, người ta thấy vứt bừa bãi giấy tờ của Sãi. Đèn bật sáng mọi phòng. Mọi người kiểm lại đồ đạc. Không ai mất gì. Kể cả chiếc quần và mớ giấy tờ vứt dưới đường của Sãi. Người ta bàn tán không hiểu. Căn gác Sãi mở cửa suốt đêm, treo nhiều áo ấm và một tủ đầy ra-dô, ti-vi của chủ nhà đã bị cạy khoá. Sãi bỗng dưng như một kẻ lạ bị theo dõi. Sãi bảo cậu học sinh sẽ về chuyến xe sớm nhất. Mặt trời lên, ông bạn văn tới thăm, nghe tiếng nói cười từ lúc bước chân giậm dưới những vòng thang gỗ. Những mái nhà phía dưới còn ướt sương sớm. Ông bạn văn ngồi bên mép giường hỏi chuyện hành trình của Sãi. Sãi nói phải quay về trước khi vô miền trong. Sãi cũng kể chuyện mất trộm cho ông bạn văn nghe chơi. Lúc tiễn ông bạn văn về, Sãi gặp mấy người bạn. Một bữa ăn sáng ồn ào những chuyện đi chuyện ở. “Đủ rồi. Thành phố này không dung người lạ”. Sãi giỡn giỡn lúc chia tay họ ở bến xe. Cậu học sinh tần ngần nhìn Sãi: “Ở đây học chờ Tết, thấy uổng. Muốn về lại quá”. Sãi bảo khung trời này dễ gợi nỗi thèm đi. Có về cũng vậy thôi. Bộ đã nhớ những đêm hai đứa nằm co quắp? Những đêm lạnh lẽo anh nhớ em vô cùng, vách núi lưng đèo mòn đôi gót phong sương… Tiếng hát nghêu ngao, sau cái phóng ào ra sân những đêm lạnh mà buồn đi tiểu. Bộ đã nhớ tiếng hát đuổi ma đó rồi sao?
Chuyến xe trở về ít khách. Có những đoạn đường xe chất đầy rơm và những người làm ruộng. Một cô thợ may đợt sóng mới ngồi bên Sãi ôm theo nửa trái mít ăn suốt dọc đường. Cô ta thích nói lại những buổi vũ Noel vừa được dự ở đây. Một bà già ra tỉnh ngoài lấy xác đứa cháu nội bỗng có chuyện gây gổ với cô gái. Hai người cùng lắm lời. Họ nói đủ thứ điên đảo, điếm đàng, đất nước, lẩm cẩm v.v. Đám người có rơm chất đầy xe còn chọc vô thêm để có chuyện cười. Cô gái bắt xe “tốp” giữa đường, ném lại cái nhìn ghê tởm rồi nhập với mấy người thanh niên choàng manteau cỡi Honda chạy ào ào ra miền ngoài. Về tới ranh giới hai tỉnh, trời mưa xối xả. Chiếc xe lại hư, nằm cả giờ bên bãi đá chồng lổn ngổn dưới chân núi. Những ống dẫn dầu từ dưới vịnh về phi trường có từng khúc sáng trong không khí mù mù ướt át… Sãi về tới nhà thì Quân và người con gái đã đi. Anh Huệ cho đứa con đầu lòng tới kêu Sãi lên anh ăn cơm và bàn chuyện cho mướn nhà. Sãi ăn uống ngấu nghiến. Chuyện nhà cửa, Sãi bảo anh Huệ tính sao cũng được. Ngôi nhà cũng như Sãi đã là những rắc rối, cha Sãi không muốn nghĩ tới. Cái đập vai đầy phấn billard hôm Sãi ghé vào tiệm chào ông để ra đây còn rõ như những chữ lem nhem Đởm viết trên tường. Thế giới của ông trẻ quá. Hôm người yêu Sãi đi lấy chồng, những bạn ông đã bắt tay Sãi chia buồn. Sãi thuật lại với Thị chuyện đó. Hôm Sãi đột nhiên nhận ra Thị có dáng lòe xòe.
Ở nhà anh Huệ về, Sãi tắm và cuốn mền ngủ. Như vậy lúc phố lên đèn mới đến Thị được. Cánh cửa đóng kín dối gạt bạn bè. Với bọn này, chỉ một ly cà phê tạm biệt qua quít. Còn phòng lúc trở lại bất ngờ.
Sãi dậy lúc có cảm giác Đởm về đứng trước cửa. Sãi quờ quạng bật đèn, ra giếng. Những đêm lạnh lẽo anh nhớ em vô cùng, vách núi lưng đèo mòn đôi gót phong sương… Những cành cây chạm mặt. Sãi tỉnh hẳn dưới những bóng lá rũ nước. Giấc ngủ, bộ quần áo mới thay, tấm áo khoác ngoài đổi mặt, Sãi bước trên mặt đường phố với dáng ấm áp, gọn gàng. Qua tiệm cà phê mới, Sãi thấy Thị trong đám bạn gái bạn trai bước ra. Sãi né cái ồn ào lối đó, tới nhà Thị ngồi chờ. Ở bệ xi măng xây bỏ lửng đầu hiên có một mớ vỏ chuối. Trước cửa ghim một tờ giấy. Tôi đến, các cô đi vắng. Ngồi đợi thêm ăn hết nải chuối vẫn chẳng thấy ai về. Xin hẹn khi khác. Du Thản Chi.
Bọn Thị vào tới ngõ ồn ồn tiếng cười nữ sinh nội trú. Mấy người con trai cũng theo vào. Sãi đứng trước căn phòng ngoài khoá kín tạo chút ngạc nhiên lúc chưa rõ mặt. Tiếng mở khoá của người con gái đầu đàn. Tiếng giễu của mấy người bạn trai. Tiếng kêu một cô đọc tấm giấy. Giọng thương gã Du Thản Chi, người bạn lặn lội, chân thành, Thị yên lặng, xa Sãi một khuôn mặt tối. Cánh cửa mở cùng hơi thở trút nặng lúc trở về. Mọi người nhường nhau vào căn phòng chật chội. Thị nói:
“Mình ở ngoài nói chuyện”.
Hai người lại bệ xi măng đầu hiên. Trong nhà nổi tiếng hát nghịch ngợm của một cô thay áo: Đêm nay một người tiễn một người. Sao rơi hò hẹn gặp sao rơi… Nơi cuối chân trời… Thị quay lại đóng im cánh cửa như tránh nói trước. Sãi hất tờ báo có mớ vỏ chuối, ngồi lên bệ xi măng. Thị khoanh tay tựa lưng vào cây cột. Sãi bảo:
“Để anh co giò lấy chỗ Thị ngồi cho ấm?”
Thị lơ đãng nhìn nóc nhà thờ vượt cao ngoài ngõ, cười không rõ:
“Em đứng một lát cho đỡ nực. Đi phố về nhà bao giờ cũng nóng”.
Sãi nghe như mình lặp lại:
“Vài bữa nữa anh đi”.
Thị lần này bụm miệng cười thành tiếng:
“Anh Sãi đi mạnh giỏi”.
Sãi cũng mơ hồ cười theo. Trong nhà vang âm âm tiếng khua động kẻ đứng người ngồi vẫn chưa yên ổn. Thị đẩy chân Sãi, ké né ngồi xuống. Sãi choàng qua vai bấm những đầu tóc cháy của nàng. Hai người hôn nhau. Nước mắt ướt trên mắt Thị khép kín. Thị đẩy Sãi ra và quay mặt khóc. Cái khóc vẩn vơ như một dịp tự nghĩ lại mình. Những giọt nước mắt như từ một tâm hồn có gió và cây lá đẩy đưa. Chẳng có Sãi.
“Ra phố?”
Sãi đứng dậy cùng Thị ra ngõ.
“Nhường chỗ cho người ở trong nhà ra ngồi dặn dò từ biệt”.
Đởm về nói được lắm, không có Thị tao cũng đến mất tiêu tăm tích mày. Sãi hỏi chuyện học hành của người yêu hắn, hắn chửi tùm lum. Nhưng rồi hắn vẫn kể. Người yêu hắn đã biết viết thư tự ví mình như con thuyền giữa dòng Bến Hải.
Đởm mở bung các cửa, đọc những chữ hắn và đám bè bạn viết. Sãi cho hắn biết chuyện cho mướn nhà. Phòng trên này cho một gia đình lính mướn. Phòng dưới Sãi định gọi Du Thản Chi lại ở để hắn giữ mấy tủ sách luôn thể. Thản lì lợm nhưng khí khái. Có bữa hắn đã định mạo hiểm lên đồn lôi Đởm về cho Sãi. Nhưng mấy lần Sãi bảo tới ở hắn đều từ chối. Hắn lấy cớ không chịu được không khí bạn bè Sãi. Nửa tháng nay không thấy hắn tới. Có dư luận hắn về ở dưới làng để sửa soạn cưới vợ. Nải chuối trước cửa nhà Thị chứng tỏ Thản đã lên phố. Không thấy hắn tự tìm đến, tìm hắn là chuyện mất công. Đởm nghe chuyện Thản, có vẻ thích thú:
“Xứ này đúng là xứ anh em kết nghĩa của mày”.
Đởm kéo Sãi đi ăn rồi rủ Sãi đi coi hắn đánh bạc. Hắn banh nút áo, kéo maillot bảo Sãi rờ vô ngực hắn. Sãi thấy một cái bùa vải vàng dấu đỏ của người Thượng.
“Lính nó làm biếu tao đó. Chuyến này về tao cốt ý thử bùa”.
Sãi nói:
“Tao không ngờ mày bệ rạc tới mức đó”.
Đởm cười:
“Chỉ giờ năm sau, đeo mười lá bùa về diễn ở phố này mày cũng đeo”.
Đởm đánh bài luôn mấy ngày đêm. Những người ca hát mấy bữa trước nhiều người có mặt trong sòng bài. Hắn bảo Sãi đừng bận tâm về hắn. Đây là canh bạc tìm lại bạn bè cũ. Khoá học này một số đông giáo viên nhập ngũ. Thị được về dạy một trường gần. Sãi bảo chờ Sãi đi hãy tới trình sự vụ lệnh. Buổi sớm, Sãi từ sòng bài của Đởm ghé tiệm cà phê mời mua ít pâté chaud lại nhà Thị. Những người bạn Thị đều đi dạy buổi sáng, Sãi đỡ mất công bảo Thị lại nhà. Thị khoác tấm áo len đỏ, vận bộ đồ ngồi trên chiếc ghế mây độc nhất hát những bản nhạc để bừa bãi trên bàn chờ Sãi. Sãi không ưa màu áo và nhạc đó. Thị đoán hiểu, cố ý chọc tức. Sãi ngồi một góc chân bàn, lật coi những lời đề tặng nghĩ đến lá bùa Đởm đe doạ. Cơn giận cô bùng lên cũng như lòng lạm dụng tình thân. Thị yêu dấu vẫn là Thị loà xoà cười nói. Thị tự do vẫn là Thị nguyên vẹn thu hình. Tình yêu có khi gây lầm lẫn giữa ước vọng và người đàn bà. Kẻ thất vọng đã ngỡ một đêm ái ân kia nàng đến với mình cùng bao nhiêu bùa phép. Vẻ óng ả sau lớp dầy vải vóc và nổi trống trải của bãi đá chồng dưới chân núi, Sãi có nơi Thị bấy nhiêu.
Sãi thường hôn xuống gáy Thị lúc hai người lại ngồi bên mép giường. Thị yên lặng cúi đầu quệt vạt guốc mỏng mảnh tạo tiếng động. Xúc động nàng âm thầm và khuất ở nơi ngực loã xoã tóc. Sắc đen đôi mi rất thực lúc xoay mặt hôn nhau. Thị ngộ nghĩnh ở vốc tay tham lam đầy vải dày vai áo. Đêm khuya bên sòng bài của Đởm, cái lạnh sau giấc ngủ vật vờ, Sãi thấy nhớ cái dáng quấn quít lúc đó. Đởm đánh bài, nguỵ biện như tình yêu. Căn phòng kín khiến hắn gặp Sãi trong ánh sáng không ngày đêm. Sãi thêm: đó không là ánh sáng con bé hồi trước đi dạo ngoài phố. Đởm cãi hắn không còn kể gì tới con bé. Con bé cũng chẳng là gì. Nó cũng như những năm ồn ào vừa qua chỉ là một sự cần thiết để nản nản mà dễ lấy một người vợ. “Rồi đứa nào cũng sống với một người vợ. Cũng chỉ một người thôi”. Sãi đùa đó là thứ triết lý bộ lạc. Đởm gật: “Rồi cũng có ngày mình tới được đời sống bộ lạc đó”. Đởm đi trước Sãi hai ngày. Hắn thua hết tiền và đưa cho Sãi lá bùa. Sãi thấy kỳ cục. Một người bạn làm thơ sắp cưới vợ đã nhận ra lá bùa vào buổi chiều anh ta mời Sãi tới ăn uống. Trong lúc say sưa, Sãi nói cảnh biệt ly nào mà chẳng cảm động nhưng thực ra lá bùa trong túi Sãi cũng chẳng giúp Sãi uống thêm được bao nhiêu. Và tới buổi tối đến Thị, Sãi thấy nên giữ lấy lá bùa. Sãi khi đã đi xa rồi, sẽ thấy lý do giữ lá bùa lại rõ ràng hơn. Nỗi nhảm nhí không có mốc nào đánh dấu nhưng cũng nổi rõ trong trường hợp bao biện, vị tình. Nỗi bao biện nghĩ mình chẳng có gì mang đi nhiều hơn. Thị vẫn ra khỏi nhà bằng tấm áo choàng thùng thình gần kín hai ống quần mỏng mảnh, sờn cũ. Miệng cắn những hột dưa đợi Tết. Hai người không nói sẽ đi đâu vì vẫn những con đường, những nơi ghé và thói quen mọi tối. Tiếng gió trên cao làm cái tin đám cưới người bạn thơ được loan trên đài phát thanh địa phương có giọng nho nhỏ như tiếng trò chuyện trong phòng. Sãi bảo cái vẻ lôi thôi của Sãi và Thị chỉ hợp với một đám cưới tập đoàn. Thị bỗng vui thích hát một bài ca con nít. Những đêm vầng trăng lên tròn tròn, gió đưa ngàn cây nghe xào xạc, chúng em cùng họp đoàn vui chơi… “Nghe… tình cảm hơn những bản nhạc em vẫn hát”. Sãi nói. Thị đùa không chừng Tết ni về Huế có một ông chồng. “Phải lặn lội về tận quê kiếm một ông chồng, bết quá”. Thị toan cãi thì tới một vùng nhiều ánh đèn. Rút tay anh lại. Hai người đi theo đuôi những chiếc xe bán bánh mì đèn rung chấp chới. Sãi nhớ Đởm đã giơ cao quả đấm khi nói đường phố đây chỉ thấy một lối áo choàng hai mặt và những trưng bày thuộc địa. Những nhà cửa đóng và những mái hiên khuất lấp còn để đèn Giáng sinh. Sãi bật cười khi nhận ra mình vừa giảng giải cho Thị thế nào là quý phái. Thị kể lại nổi buồn khi biết đã qua cái tuổi trèo cây. Giờ còn trèo cây thì hẳn cao hơn hết mọi thứ. Cao nhất. Thị cười rũ. Cái dáng của Thị hôm nom thấy chữ CAO NHẤT vô nghĩa của một người bạn Sãi viết trên tường. Căn nhà đó thực sự mang vẻ ngô nghê của những người đã đi, những người đã vướng vào nỗi bộc lộ bình nhật mình vẫn ít nhiều rẻ rúng. Hai người vào uống nước ở một tiệm nước nhiều bóng cây gần chợ. Tiệm vắng. Thị vẫn có chút ngập ngừng. Sãi có chút bực dọc. Hai người ngồi ở một góc chiếc bàn mặt đá rộng, trống trơn. Sãi hỏi Thị có gì nói không? Thị lặp lại: “Anh Sãi đi mạnh giỏi”. Sãi hỏi gặng, Thị cười: “Đầu óc anh nom thực bờm xờm”. Thị đã nói năng ít nhiều dễ dãi. Nàng bắt đầu quen với một lối nói chuyện. “Từ giờ tới mùa hè năm tới cũng không có gì là lâu”. Sãi nói. Thị cúi uống ly nước không ý kiến. Thị có vẻ chậm chạp ở những phản ứng chưa quen, không thể bắt chước.
Hai người đi nhiều vòng những con đường góc phía Bắc thành phố. Gần giới nghiêm, hai người về cùng những chiếc xe bán bánh mì bắt đầu tản dần khỏi vùng ánh sáng Ngã Năm. Ý nghĩ đi, ở như một không gian lơ lửng. Giữa vẻ óng ả sau lớp dầy vải vóc gần gũi và nỗi trống trải của bãi đá chồng dưới chân núi lúc dời xa. Hai người vẫn trở về qua lối nhà ga. Con đường đó vẫn phải bước bằng cái dáng vượt gió. Có bóng mấy gã lính rải dưới những bức tường đổ trước sân ga thách thức chuyện thanh toán. Căn nhà trong ngõ đã tắt điện. Có ánh bạch lạp một bạn đồng nghiệp của Thị thắp học thi. Hai người đứng tựa vào bệ xi măng đầu hiên. Thị nói chuyện viết thư. Sãi bảo sẽ không kể chuyện lính. “Để chứng tỏ tình yêu phong phú”. Sãi cười như giọng nói buông lơi. Thị đẩy Sãi: “Anh về đi, giới nghiêm rồi… Anh Sãi đi mạnh giỏi”. “Ít ra mỗi ngày cũng đứng đắn năm phút”. Sãi nói. Thị ngã vào lòng Sãi.
Nguồn: Chiếc xương lá mục. Tập truyện ngắn của Y Uyên, mẫu bìa của Duy Thanh, chân dung Y Uyên, được vẽ bởi Duy Thanh. Nguyệt san Tân Văn số 33, tháng 1 năm 1971. Ấn hành lần thứ nhất. In tại nhà in riêng của Cơ sở Văn, xong ngày 10 tháng 1 năm 1971.
Bản điện tử do talawas thực hiện. Gia đình tác giả giữ bản quyền.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.