Văn học Miền Nam 54-75

vanviet.info

Phạm Thiên Thư

5 Tháng Hai, 2021

Post by Sơn râu 20 May 2024

Kỳ 3

Đạo ca 1 – Pháp thân 

Xưa em là kiếp chim,
Chết mục trên đường nhỏ
Anh làm cội băng mai,
Để tang em, chờ mấy thuở
Xưa em làm kiếp lá,
Rụng xuống lòng suối thu
Anh làm mưa tháng bẩy,
Đôi hàng lệ ướt tương tư


Xưa em làm kiếp hoa,
Chết rũ trong nội cỏ
Anh làm giọt sương sa,
Sầu thương em, lệ anh nhỏ
Xưa em làm kiếp gió,
Hay có làm kiếp mây
Anh làm chim chích choè,
Trên đầu gậy, anh hát ca

A ha, ta tuy hai mà một!
A ha, ta tuy một mà hai!
A ha, ta tuy hai mà một!
A ha, ta tuy một mà hai!

Xưa em làm kiếp ao,
Ưu tư mùa cuối Hạ
Anh làm chim bói cá,
Đậu soi mấy mùa trăng
Xưa em là chữ biếc,
Nằm giữa lòng cuốn kinh
Anh là thiền sư buồn,
Ngồi tụng dưới ánh trăng

Xưa ta hẹn với nhau,
Tìm nhau giữa vô thường
Anh hoá thân làm mực,
Thấm vào cuốn kinh thơm
Mai sau chờ nhau nhé,
Đầu thai vào kiếp hoa
Chốn mây mờ phiêu bạt,
Chờ đợi… chim hót ca

A ha, ta tuy hai mà một!
A ha, ta tuy một mà hai!
A ha, ta tuy hai mà một!
A ha, ta tuy một mà hai!

Đoạn trường vô thanh (1972)
(Trích)


Nửa Thu nhân tiết đẹp trời
Non nghiêng – bút dựng, mây dời – mực sa
Thênh thang cáng gấm, tàn hoa
Chàng Kim ngựa trước, áo nhoà sắc cây
Một nhà lên núi xem mây
Rèm thưa hoa động, dấu giày sương đơm (50)
Kiệu dừng bãi núi cỏ thơm
Lên cao mới biết là đường quanh co
Giải sông xanh vẳng câu hò
Lau vàng thấp thoáng cánh cò về trưa
Bà Vương chỉ áng mây đưa:
Chân trời mờ mịt, quê xưa chốn nào
Cuối thu hẳn chớm bông đào
Vườn ta – ai biết giờ vào tay ai
Thân già như hạt sương mai
Cố thôn liệu có còn vài đêm huyên (60)
Vân thưa: Trăm nhớ ngàn phiền
Nhắc chi chuyện cũ, hồ quên bấy ngày
Kim rằng: Sương nổi hoa lay
Cố hương tưởng gợn gió may rùng mình
Lời xưa “Đất dưỡng, trời sinh”
Không ơn ngô lúa, cũng tình trầu cau
Kiều nghe, môi điểm khoé sầu
Vời trông cái nhạn về đâu tít mù
Rừng vàng hiu hắt hơi Thu
Ngàn hoa vẳng tiếng chim gù thiết tha (70)
Đầu sông dằng dặc sóng xa
Chèo ai nhẹ lướt la đà khói giăng
Tay Kiều rẽ lối sương băng
Mắt nàng ẩn nửa viền trăng dõi buồn
Đá triền tựa ngó mây tuôn
Bông may cỏ úa nẻo buồn hắt hiu
Lưng non nhàn nhạt nắng chiều
Trông hài mình – nhớ bao nhiêu dặm trường

***

Tưởng Từ – yên ngựa thanh gươm
Ruổi rong nhật nguyệt, bốn phương là nhà (80)
Tưởng mình – thưở lỡ chân sa
Cành nghiêng, suối nhận kiếp hoa lạc loài
Kim thì lẽo đẽo thiên nhai
Mây bay gió thoảng, dấu ai mà tìm
Mịt mờ cồn cát chân chim
Lòng riêng hỏi mảnh trăng im cuối đường
Rã rời bao dấu hài vương
Gặp chi trong cuộc vô thường mà mong
Cõi sầu sao rộng mênh mông
Tìm đâu một chốn bụi hồng dung thân (90)

***

Chợt nghe tiếng trẻ trong ngần
Trông lên Tiểu Nguyện đang lần bước hoa: (*)
Con tìm bá mẫu gần xa
Bây giờ mới biết mẹ qua chốn này
Kiều vời, bảo: Nguyện ngồi đây
Con ơi! Thử nắm bóng mây xem nào
Trẻ reo: mẹ bắt được sao?
Nàng cười, ôm Nguyện nghiêng vào vòng tay
Chẳng ai bắt được mây bay
Đêm đêm lơ lửng, ngày ngày lang thang (100)
Khác chi cánh bướm nhuỵ vàng
Tìm bay vơ vẩn dưới tàng hoa thơm

***

Thôn xa giải khói nhoà hơn
Tà dương thẫm mảnh thâm sơn cuối trời
Thoảng đưa tiếng gọi tiếng mời
A hoàn tìm đến, mở lời cung nghinh
Bẩm thưa: Quan sắp đăng trình
Thỉnh bà lên kiệu, về dinh kịp đoàn

***

Sông Thu uốn lọn tơ vàng
Bèo xuôi biêng biếc, sóng vang dập dìu (110)
Chim di xao xác đường chiều
Dường tha lác đác ít nhiều hạt sương
Non nghiêng vách tía trời hường
Sau lưng cửa núi mây vương mịt mờ


(*) Tiểu Nguyện: con gái Thuý Vân với Kim Trọng.

“Tâm kệ”

Rửa tay mặt

Gội rửa sạch trần hồng
như hoa ướp trầm xông
nguyện mười phương pháp giới
bi, trí khắp dung thông

Mặc áo lễ

Thân mặc áo giải thoát
lìa tập nhiễm phù vân
nguyện chúng sinh mười cõi
lìa vọng huyễn, qui chân

Thắp nến

Thắp lửa vô lượng quang
sáng soi bảy cửa ngục
nguyện chúng sinh vô vàn
về chân thân: Huệ, Ðức

Ðốt trầm hương

Khơi lò thanh tịnh trầm
gió đưa mười cõi thơm
nguyện theo vô lượng Phật
cúng dường tri kiến hương

Dâng quả

Như trái dâng cúng Phật
kết hạt chắc Bồ Đề
nguyện chúng sinh sáu ngả
tinh tấn chuyển tham mê

Dâng hoa

Như hoa thơm cúng Phật
tam nghiệp: giới hương xông
nguyện khắp ba thời mộng
bừng mở tâm viên đồng

Thỉnh chuông

Ba hồi âm định lực
ngọn triều chuyển sóng cao
rung động đất mê vọng
rực chiếu mười cõi sao
cầu chi ba tạng sách
chuyển hóa sáu trần lao
nguyện mười phương thế giới
thể nhập ánh Phật hào

Cúng kinh

Tâm trụ pho Diệu kinh
lắng tan ba nghiệp vọng
nguyện khắp mười phương mộng
chan chứa Phật quang minh

Mở kinh

Tay mở trang kinh thơm
như bừng khai trí huệ
cầu chư Phật mười phương
sáng soi dòng pháp kệ

Khai mõ

Như thắng cương, buộc ngựa
ý thoát khỏi mê đường
nguyện mở bảy cửa ngục
cứu nhất thiết tai ương

Khép kinh (khi tụng xong)

Vừa khép pho nhật nguyệt
lòng tỏa ánh quang minh
nguyện nêu đuốc bất nhị
soi rọi khắp sinh linh

Cởi áo lễ

Nguyện lìa nhất thiết tướng
như bỏ bè qua sông
nguyện vào nhất thiết tướng
hóa chuyển ngục trần hồng

Văn học Miền Nam 54-75

vanviet.info

Phạm Thiên Thư

 1 Tháng Hai, 2021

Kỳ 2

Thơ Lẻ 

Ngày xưa Hoàng thị 

Đường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng


Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài

Anh đi theo hoài
Gót giầy thầm lặng
Đường chiều úa nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng

Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn

Tay nụ hoa thuôn
Vương bờ tóc suối
Tìm lời mở nói
Lòng sao ngập ngừng

Lòng sao rưng rưng
Như trời mây ngợp
Hôm sau vào lớp
Nhìn em ngại ngần

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở

Thương ơi vạn thuở
Biết nói chi nguôi
Em mỉm môi cười
Anh mang nỗi nhớ

Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau
Ôi mối tình đầu
Như đi trên cát

Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhoà mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ

Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng ráng đỏ

Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu?
Chân tìm theo nhau
Còn là vang vọng

Đời như biển động
Xoá dấu ngày qua
Tay ngắt chùm hoa
Mà thương mà nhớ

Phố ơi muôn thuở
Giữ vết chân tình
Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ

Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời

Tình ơi tình ơi!


Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc.

Chim Quyên Từ Độ Bỏ Thôn Đoài

Chim quyên từ độ bỏ thôn Đoài
Quyên chẳng buồn thảm thiết gọi ai
Về núi Nam gặp cành hoa trắng
Quặn đau lòng ngó phiến tâm mai.

Đồi Cù

Thả gót giầy lãng đãng bên hồ
Trên đồi Cù thông rụng lá khô
Cơn sương trắng lùa ta mải miết
Xuống ven bờ phi hữu phi vô.

Đan Áo

Em ngồi đan chiếc áo len xanh
Hẹn gió thu về gửi tặng anh
Rồi bỏ đó em vào thiên cổ
Anh một đời ngóng áo thiên thanh.

Phơi Áo

Xưa em phơi áo giữa thu phong
Lá vàng cài trên lụa rực hồng
Nay áo đã cuốn về thiên cổ
Lá vàng bay lạnh nỗi niềm không.

Trăng Úa

Đã chớm vào thu sương chẳng bay
Sương rơi ngày đó lạnh ngày nay
Những đêm thức giấc nhìn trăng úa
Tưởng lửa rừng xa đốt giữa mây.

Hoang Phế

Ven núi vàng trơ mấy bức tường
Chiều chiều nắng lụn cú kêu sương
Có con bướm trắng vương nền cỏ
Lẫn giữa ngàn lau dõi chút hương.

Vết Chim Bay

Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Con chim nào qua đó
Còn để dấu chân in

Anh một mình gọi nhỏ
Chim ơi biết đâu tìm

Mười năm anh qua đó
Còn vẫn dấu chân chim
Anh một mình gọi nhỏ
Em ơi biết đâu tìm

Ngày xưa anh đón em
Trên gác chuông chùa nọ
Bây giờ anh qua đó
Còn thấy chữ trong chuông

Anh khoác áo nâu sồng
Em chân trời biền biệt
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa

Ngày xưa em qua đây
Cho tình anh chớm nở
Như chân chim muôn thuở
In mãi bực thềm rêu

Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tướng
Hay một vết chim bay.

Em lễ chùa này 

Đầu Mùa Xuân cùng em đi lễ
Lễ chùa này – vườn nắng tung bay
Và ngàn lau – vàng màu khép nép
Bãi sông bay – một con bướm đẹp

Mùa Hạ qua cùng em đi lễ
Trái mơ ngon – đồi gió mơn man
Từ lò hương – Làn trầm nghi ngút
Khói hương thơm – bờ tóc em rờn

Rồi Mùa Thu cùng em đi lễ
Có con chim đậu dưới gác chuông
Hoà lời ca – vào làn sương sớm
Gió heo may – rụng hết lá vàng

Vào mùa Đông – cùng em đi lễ
Lễ chùa này- một thoáng mưa bay
Và ngoài sân- vài cành khô gẫy
Gió lung lay một cánh lan gầy

Tàn Mùa Đông vào chùa bỡ ngỡ
Tiễn đưa em trong áo quan này
Từng cội hoa – trầm lặng thương nhớ
Tóc em xưa – tơ óng như mây

Vườn chùa đây – vào nằm trong đất
Nép bên hoa – ôi những hoa vàng
Vườn đào tơ chập chờn cánh bướm
Bướm khua râu – ngơ ngác bay ngang

Mộ của em – mộ vừa mới lấp
Có con chim – nào hót trên cây
Lời của chim – chìm vào tiếng suối
Suối xanh lơ – buồn khóc ai hoài

Rồi từ đây – vườn chùa thanh vắng
Đến thăm em – ngày tháng qua mau
Một nụ mai – vừa nở trong nắng
Hỡi em ơi – mây đã qua cầu (láy) à

Văn học Miền Nam 54-75

vanviet.info

Phạm Thiên Thư

 29 Tháng Một, 2021

Post by Sơn râu 20 May 2024

Tiểu sử vắn tắt

Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long sinh 1-1-1940 tại Lạc Viên, Hải Phòng trong một gia đình Đông y. Quê gốc ông nay ở Tiền Hải, Thái Bình. Năm 1943-1951, ông sống ở trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương. Năm 1954 cho đến nay, ông cư ngụ ở Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh).

· Từ 1964-1973: tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Trong năm 1973, ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu truyện Kiều – Đoạn trường Vô Thanh.

· Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn dưỡng sinh Điện công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân-Tâm)…

Ông từng đi tu và rồi hoàn tục, nên có kiến thức khá thâm thúy về đạo Phật. Ông được coi là “người thi hóa kinh Phật” (dịch kinh Phật ra thơ) và là tác giả của nhiều bài thơ phảng phất triết lý mà ông đã tin theo. Nhiều thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, và trở nên phổ biến trong công chúng, có thể kể đến Ngày xưa Hoàng Thị, Đưa em tìm động hoa vàng, các bài Đạo ca…

Trong bài Phạm Thiên Thư, người thi hóa kinh Phật, Hà Thi viết:

“Nhà thơ họ Phạm này tuy xuất hiện khá muộn (1968), nhưng cũng đã đóng góp vào văn học khá nhiều tác phẩm, đặc biệt là những thi phẩm ở dạng khá độc đáo: thơ đạo! Một trong những tác phẩm ấy của Phạm Thiên Thư đã được giải thưởng Văn Học Toàn Quốc (miền Nam Việt Nam) vào năm 1973 (tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh). Một số thơ của ông được phổ thành ca khúc đã mang lại một số đông công chúng yêu thích thơ ông: Em lễ chùa này, Ngày Xưa Hoàng Thị, Động Hoa Vàng, Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu… Thơ Phạm Thiên Thư cứ vấn vít nửa đời nửa đạo thật khác thường, làm cho độc giả ngẩn ngơ, bất ngờ… Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên”.

Hoàng Nguyên Vũ trong bài Cõi lạ Phạm Thiên Thư còn cho biết thêm:

“Nhà thơ Phạm Thiên Thư sinh trong một gia đình bố mẹ làm nghề bốc thuốc nhưng thích thơ văn. Tuổi thơ của ông khá êm đềm. Những điều đó chỉ cho ông được những tiền đề thuận lợi, nhưng để một tài thơ bật hẳn lên thì phải là từ năm 1958, sau một biến động của cuộc đời…

Chuyện là ông có nhóm bạn thơ họa Hồ Quý Ly, tụ tập đàn đúm thơ phú đêm ngày. Thấy đám văn nghệ sĩ này cứ “ương ương dở dở”, cảnh sát chế độ Sài Gòn cũ đã vây bắt. Ông phải ẩn tu vào một ngôi chùa. Đi tu, thực ra với ông không hẳn là tìm một chốn nương náu, mà ông ngộ ra một điều, ông đã tự tìm cho mình một cõi riêng, một kiểu tu hành riêng…

Ông viết Động hoa vàng những ngày đầu ngấm giáo lý nhà Phật, như đánh dấu mình vào một cõi của chính mình trong thi đàn. Dĩ nhiên, Động hoa vàng chưa hẳn là tác phẩm xuất sắc nhất trong đời viết của Phạm Thiên Thư, nhưng nó đã làm nên một “thương hiệu” của Phạm Thiên Thư. Những câu thơ đẩy cái đạo đời bềnh bồng trên cõi Phật, làm hiện hữu cái cuộc đời đáng sống trên cái mênh mang bao la của phù vân hư ảo:

Đợi nhau tàn cuộc hoa này

Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ

Tìm trang lệ ố hàng thơ

Chữ xưa quyên giục bây giờ chim đi…

Nhiều người đã cho rằng Phạm Thiên Thư đi tu mà lòng vẫn hướng về cõi tục. Ông chỉ cười: “Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình”. Quả thực là từ cõi Phật, ông đã làm được những điều đáng nể: thi hóa kinh Phật, sáng tác những thi phẩm hay và đẹp thuộc diện hiếm hoi trong văn học Việt Nam… Thơ của ông được nhiều người có tên tuổi trong giới và rất nhiều bạn đọc mến mộ…”.

Tác phẩm đã in

· Thơ Phạm Thiên Thư (1968)

· Kinh Ngọc (thi hoá Kinh Kim Cương)

· Động Hoa Vàng (Thơ, 1971)

· Đạo ca (Nhạc Phạm Duy)

· Hậu Kiều – Đoạn Trường Vô Thanh (1972)

· Kinh thơ (thi hoá Kinh Pháp Cú)

· Quyên Từ Độ Bỏ Thôn Đoài (Thơ)

· Kinh Hiếu (thi hóa kinh Vu Lan)

· Kinh Hiền (thi hoá Kinh Hiền Ngu, gồm 12.000 câu lục bát)

· Ngày xưa người tình (thơ)

· Trại Hoa Đỉnh Đồi (thơ, 1975)

· Thơ Phạm Thiên Thư (Nhà xuất bản Đồng Nai tái bản)

· Tự điển cười (24.000 bài tứ tuyệt tiếu liệu pháp. Năm 2007, Trung tâm Sách và Kỷ lục Việt Nam đã trao cho ông kỷ lục là người đầu tiên viết Từ điển cười bằng thơ)

· Vua núi vua nước (tức Sơn Tinh Thủy tinh, Nhà xuất bản. Văn hóa Thông tin, 2003).

Nguồn: Wikipedia

ĐỘNG HOA VÀNG

1
Mười con nhạn trắng về tha
Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

2
Xe lên bụi quán hoa đường
Qua sương trắng dậm phố phường úa thu
Tiếng chim ướt sũng hai mùa
Hạt rơi thêm lạnh hững hờ mây qua

3
Dế buồn dỗ giấc mù sa
Âm nao lãng đãng tơ ngà sương bay
Người về sao nở trên tay
Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ

4
Con khuyên nó hót trên bờ
Em thay áo tím thờ ơ giang đầu
Tưởng xưa có kẻ trên lầu
Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa

5
Tóc dài cuối nội mây xa
Vàng con bướm nhuỵ lẫn tà huy bay
Dùng dằng tay lại cầm tay
Trao nhau khăn lụa nhớ ngày sầu đưa

6
Từ chim thuở núi xa xưa
Về đây rớt lại hạt mơ cuối rừng
Từ em khép nép hài xanh
Về qua dục nở hồn anh đoá sầu

7
Ừ thì mình ngại mưa mau
Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi
Sông này chảy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông

8
Ngày xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa

9
Đường về hái nụ mù sa
Đưa theo dài một nương cà tím thôi
Thôi thì em chẳng yêu tôi
Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

10
Sao em bước nhỏ ngập ngừng
Bên cầu sương rụng mấy từng mai mơ
Đêm về thắp nến làm thơ
Tiếng chân còn vọng nửa tờ thơ tôi

11
Đôi uyên ương trắng bay rồi
Tiếng nghe tha thiết bên trời chớm đông
Nửa đêm đắp mảnh chăn hồng
Lại nghe hoa lạnh ngoài đồng thiết tha

12
Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao
Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu

13
Tường thành cũ phiến bia xưa
Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay
Chiều xanh vòng ngọc trao tay
Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha

14
Đêm dài ươm ngát nhuỵ hoa
Chim kêu cửa mộ trăng tà gõ bia
Em ơi rủ tóc mây về
Nhìn trăng nỡ để lời thề gió bay

15
Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ
Tìm trang lệ ố hàng thơ
Chữ xưa quyên dục bây giờ chim di

16
Mây xưa cũng bỏ non về
Em xưa cũng giã câu thề đó đây
Nhớ đành biết mấy tầm tay
Lông chim biển bắc hoa gầy bãi đông

17
Đợi ai trăng rõi hoa buồn
Vắng em từ thuở theo buồm gió xuôi
Chiều chiều mở cổng mây trôi
Chênh vênh núi biếc mắt ngời sao hôm

18
Thế thôi phố bụi xe hồng
Hồ ngăn ngắt đục đôi dòng nhạn bay
Đưa nhau đấu rượu hoa này
Mai đi dã hạc thành ngoài cuồng ngâm

19
Xuống non nhớ suối hoa rừng
Vào non nhớ kẻ lưng chừng phố mây
Về thành nhớ cánh chim bay
Xa thành thương vóc em gầy rạc hoa

20
Hạc xưa về khép cánh tà
Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần
Em về hong tóc mùa xuân
Trăng trầm hương toả dưới chân một vành

21
Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân

22
Thì thôi tóc ấy phù vân
Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương
Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

23
Gầy em vóc cỏ mây dời
Tay em mai nở chân trời tuyết pha
Ngày dài ngựa soải cầm ca
Trán cao ngần nửa trăng tà ngậm sương

24 
Xe lăn bánh nhỏ bụi hường 
Lao xao vó rụng trên đường phố mây 
Mưa giăng ráng đỏ hao gầy 
Đôi con ngựa bạch ném dài tuyết sa 

25 
Chim nào hát giữa thôn hoa 
Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay 
Lụa nào phơi nắng sông tây 
Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông 

26 
Con chim mùa nọ chưa chồng 
Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu 
Từ em giặt áo đông tơ 
Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm 

27 
Thuyền ai buông lái đêm rằm 
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào 
Cửa sương nhẹ mở âm vào 
Lay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca 

28 
Lên non cuốc sỏi trồng hoa 
Xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương 
Vớt con cá nhỏ lòng đòng 
Mải vui lại thả xuống dòng suối tơ 

29 
Vào non soi nguyệt tầm rùa 
Đọc trên mai nhỏ xanh tờ lạc thư 
Thả rùa lại đứng ưu tư 
Muốn qua hang động sống như nguyệt rùa 

30 
Em nghiêng nón hạ cầu mưa 
Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về 
Hoa sầu cỏ cũng sầu chia 
Lơ thơ xanh tụ đầm đìa vàng pha 

31 
Đất nam có lão trồng hoa 
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông 
Lại đem bầu ngọc ra trồng 
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân 

32 
Người vui ngựa chợ xe thành 
Ta leo cầu trúc bên ghềnh thác rơi 
Theo chân chim gặp mây trời 
Lại qua khói động hỏi người tu non 

33 
Bông hoa trắng rụng bên đường 
Cánh thơm thông điệp vô thường tuyết băng 
Con ong nhỏ mới ra giàng 
Cũng nghiêng đôi cánh nhuỵ vàng rụng rơi 

34 
Mùa xuân bỏ vào suối chơi 
Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa 
Múc bình nước mát về qua 
Ghé thôn mai nọ hỏi trà mạn xưa 

35 
Chim từ bỏ động hoa thưa 
Người từ tóc biếc đôi bờ hạ đông 
Lên non kiếm hạt tơ hồng 
Đập ra chợt thấy đôi dòng hạc bay 

36 
Người về đỉnh núi sương tây 
Ta riêng nằm lại đợi ngày mướp hoa 
Bến nam có phố giang hà 
Nghiêng nghiêng nậm ngọc dốc tà huy say 

37 
Tình cờ anh gặp nàng đây 
Chênh chênh gót nguyệt vóc gầy liễu dương 
Qua sông có kẻ chợt buồn 
Ngó hoa vàng rụng bên đường chớm thu 

38 
Mốt mai em nhớ bao giờ 
Bãi dâu vãn mộ cho dù sắc không 
Chân chim nào đậu bên cồn 
Ngựa xuôi có kẻ lại buồn dấu chim 

39 
Đợi người cuộc mộng thâu đêm 
Sông Ngân trở lệ dài thêm dòng nhoà 
Anh nằm gối cỏ chờ hoa 
Áo em bạch hạc la đà thái hư 

40 
Em từ rửa mặt chân như 
Nghiêng soi hạt nước mời hư không về 
Thâu hương hiện kính bồ đề 
Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi 

41 
Ta về rũ áo mây trôi 
Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan 
Rằng xưa có gã từ quan 
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say 

42 
Ngựa xưa qua ải sương này 
Còn nghe nhạn lạc kêu hoài bãi sông 
Nước xuôi gờn gợn mây hồng 
Tiếng ca lạnh thấu hoàng hôn giục đò 

43 
Hoa đào tưởng bóng đào xưa 
Thuyền sang bến nọ dòng mờ khói vơi 
Hoa dương vàng nhạt sầu người 
Ta về uống nước sông khuây khoả lòng 

44 
Đưa nhau đổ chén rượu hồng 
Mai sau em có theo chồng đất xa 
Qua đò gõ nhịp chèo ca 
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say 

45 
Khăn trăng từ độ trao tay 
Nửa tan cát suối nửa mài nghiên sương 
Mốt mai lòng có nghe buồn 
Mảnh trăng hiện hoá thiên đường cõi chơi 

46 
Nhện cheo leo mắc tơ trời 
Dòng chim qua hỏi mộ người tà dương 
Đánh rơi hạt mận bên đường 
Xuân sau mọc giữa chân thường cội hoa 

47 
Nụ vàng hương rộ tháng ba 
Nửa đêm dậy ngó trăng tà tiêu tương 
Chẳng như cội liễu bờ dương 
Tóc xanh mướt giữa vô thường sắc không 

48 
Mai nào thơm ngát thu đông 
Lược em chải rụng đôi dòng tơ xanh 
Đôi chim hồng yến trên cành 
Ngẩn ngơ quên rỉa lông mình điểm trang 

49 
Mùa xuân mặc lá trên ngàn 
Mùa thu mặc chú bướm vàng tương tư 
Động nam hoa có thiền sư 
Đổi kinh lấy rượu tâm hư uống tràn 

50 
Nến khuya lửa hắt hiu vàng 
Trang kinh lác đác đôi hàng nhạn sa 
Ý nào hoá hiện ngàn hoa 
Chữ nào cẩn nguyệt trên tà áo ni 

51 
Dỗ non suối giọng thầm thì 
Độ tam thế mộng xá gì vóc hoa 
Ni cô hiện giữa ta bà 
Búp tay hồng ngọc nâng tà áo trăng 

52 
Tiếng chim trong cõi vô cùng 
Nở ra bát ngát trên rừng quế hương 
Tiếng em hát giữa giáo đường 
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng 

53 
Đố ai nhớ hết hoa vàng 
Đố ai uống cạn sương tàng trăng thâu 
Đố ai tát cạn mạch sầu 
Thì ta để tóc lên cầu đón ai 

54 
Em về sương đẫm hai vai 
Dấu chân là cánh lan dài nở đêm 
Từ em hé nụ cười huyền 
Mùa thu đi mất trên miền cỏ hoa 

55 
Guốc mòn lẫn tiếng sơn ca 
Sư về chống gậy trúc qua cầu này 
Ngó bờ suối lạnh hoa bay 
Thương sao giòng nước trôi hoài thiên thanh 

56 
Có con cá mại cờ xanh 
Bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân 
Nửa dòng cá gặp phù vân 
Hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi 

57 
Dù mai lều cỏ chân trời 
Khơi hương lò cũ khóc người trong thơ 
Em còn ửng má đào tơ 
Tóc xưa dù có bây giờ sương bay 

58 
Lên non ngắt đoá hoa này 
Soi nghiêng đáy suối bóng ai nhạt nhoà 
Nom hoài chẳng rõ là ta 
Tắm xong khoác áo hát ca về làng 

59 
Tay đeo vòng ngọc xênh xang 
Áo em bay giải tơ vàng thiết tha 
Bước chân tìm chán ta bà 
Ngừng đây nó hỏi: đâu là vô minh 

60 
Hỏi con vạc đậu bờ kinh 
Cớ sao lận đận cái hình không hư 
Vạc rằng: thưa bác thiên thư 
Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ 

61 
Nước đi từ thủa bao giờ 
Dòng xuôi người đứng trên bờ ngó xuôi 
Chừng đâu dưới bến hoa tươi 
Buộc thuyền xưa đã có người ngó sông 

62 
Từ hôm em bỏ theo chồng 
Áo trắng em cất áo hồng em mang 
Chiều nay giở lại bàng hoàng 
Mười năm áo cũ hoe vàng lệ xanh 

63 
Đôi chim nho nhỏ trên cành 
Giục nhau đan tổ cỏ xanh bên đường 
Nửa đời mây nước du phương 
Thiền sư ngắt cỏ cúng dường phật thân 

64 
Gò chiều ùn bụi sương lên 
Hỏi ra mới biết nơi yên cành vàng 
Bên mồ chồn cáo đùn hang 
Chim kêu như lảnh tiếng nàng ngân nga 

65 
Cuối xuân ta lại tìm qua 
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn 
Sớm thu ta đánh đò sang 
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa 

66 
Trúc thưa cổng gió ơ hờ 
Em ra tựa cửa nghĩ chưa lấy chồng 
Sông ơi xanh nhé một dòng 
Mùa xuân cắp rổ ra đồng vớt hoa 

67 
Đường dài xao xác chim ca 
Người còn khoác nón theo tà dương nao 
Ván cờ bày trắng bông đào 
Sao lên núi thẫm trăng vào chén không 

68 
Đồi thu vắt suối mây hồng 
Chim xanh lác đác ngược dòng hoa tiên 
Bấc sầu lửa lụn chờ em 
Lệ xưa ai đã đổ nên dầu này 

69 
Đón em như ngóng chim trời 
Bãi xuân sớm đậu chiều dời khói thu 
Em còn áo trắng ngày xưa 
Trong anh muôn thủa bao giờ lệ hoen 

70 
Khơi trầm thơm tụng kinh hiền 
Máu xuân mạch lạnh trong miền xương da 
Vườn chùa có nụ hàm ca 
Sương khuya: pháp bảo trăng tà: vô môn 

71 
Mai tươi cánh nở bên cồn 
Mưa bay lấm tấm cành hương trắng ngời 
Thu đông tàng ẩn kho trời 
Hạt rơi rụng ngọc cánh rời rã hoa 

72 
Cổng làng mở cánh sao sa 
Nhã lan loáng thoáng tiếng gà xóm mai 
Lên chùa dâng dĩa hoa nhài 
Chợt viền trăng lạnh trên hài tổ sư 

73 
Chuông ngân chiều lặng trầm tư 
Tiếng lơi đẫm hạt thiên thư bềnh bồng 
Điệu về tay giấu chùm bông 
Gót chân đất phật trổ hồng hằng sa 

74 
Bóng trăng tịch mặc hiên nhà 
Thành đàn nẩy hạt tỳ bà quyện hương 
Gió thu từ độ tha phương 
Về trên hốc gỗ bên đường lặng im 

75 
Áo em vạt tím ngàn sim 
Nửa nao nức gọi nửa im lặng chờ 
Yêu nhau từ độ bao giờ 
Gặp đây giả bộ hững hờ khói bay 

76 
Tình cờ như núi gặp mây 
Như sương đậu cánh hoa gầy tiêu dao 
Tỉnh ra thì giấc chim bao 
Chuyện mười năm cũ lại nao nao lòng 

77 
Cành sen lá chĩu sương trong 
Áo ni xám vạt trời hong buồn về 
Tay nào nghiêng nón thơ che 
Tay nào lần chuỗi bồ đề xanh xao 

78 
Đôi mày là phượng cất cao 
Đôi môi chín ửng khoé đào rừng mơ 
Tiếng nàng vỡ bạc thành thơ 
Tụng dòng kinh tuệ trên tờ khói mây 

79 
Tóc em rừng ngát hương say 
Tay em dài nụ hoa lay dáng ngà 
Mắt xanh bản nguyện di đà 
Bước trầm hương nhẹ lẫn tà dương chim 

80 
Mắt nàng ru chiếc nôi êm 
Ru hồn tôi ngủ ngàn đêm tuyệt vời 
Em là hoa hiện dáng người 
Tôi là cánh bướm cung trời về say 

81 
Một đêm nằm ngủ trong mây 
Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời 
Cây bưởi trắng ngát hương đời 
Nụ là tay phật chỉ người qua sông 

82 
Non xanh khoác áo sương hồng 
Con chim điểm tuyết ngoài đồng vụt bay 
Tiếng kêu lạnh buốt lòng tay 
Ngón buông lại chợt tuôn đầy lòng hoa 

83 
Em bên cửa chuốt tay ngà 
Cội lan đông mặc nở qua mấy nhành 
Ngày em ướp áo hồ xanh 
Con uyên tha thiết trên cành gọi thu 

84 
Ni về khép cửa chùa tu 
Sớm mai mở cổng quét thu vườn hồng 
Thu vương ngọn chổi đôi bông 
Thoảng dâng hương lạ bướm vòng cánh duyên 

85 
Sư lên chót đỉnh rừng thiền 
Trong tim chợt thắp một viền tà dương 
Ngón tay nở nụ đào hương 
Cầm nghiêng tịnh độ một phương diệu vời 
86 
Một dòng hoa nổi trên trời 
Một dòng hoa nở trong người trầm tư 
Cánh nào mở cõi không hư 
Phiến băng tuyết khảm một tờ kim cang 

87 
Thư em ướp nụ lan vàng 
Lời em gió núi chiên đàn thoảng xa 
Áo em phất cõi di đà 
Ngón chân em nở cánh hoa đại từ 

88 
Chênh vênh đầu trượng thiền sư 
Cửa non khép ải sương mù bóng ai 
Non xanh ướm hỏi trang đài 
Trăm năm còn lại dấu hài động hoa 

89 
Ngày xưa bên dậu vàng hoa 
Chiều chiều kê chõng nằm ra ngó trời 
Năm sau em bỏ đi rồi 
Ta về ngồi lắng mưa rơi giậu buồn 

90 
Trên nền gạch nẻ rêu phong 
Xưa phơi nhã điệu giờ hong đoá quì 
Trẻ đào bãi cỏ xanh rì 
Được thanh kiếm quỉ bao kỳ thu han 

91
Non đem nhạn nhốt trong thành
Cho sông chưa trở yếm xanh dưới cầu
Người còn dệt lụa tằm dâu
Đêm nghe mưa rụng thiên thâu ngoài giàn

92
Núi nghiêng suối vắt tơ đàn
Nhìn ngoài thạch động mưa vàng lưa thưa
Nghiêng bình trà nhớ hương xưa
Từ vàng hoa nọ bây giờ vàng hoa

93
Sáng nghe lan rụng mái nhà
Chừng như mưa nhẹ núi xa mùa này
Đường về mù mịt ngàn mây
Về nam đôi cánh chim bay xạc xào

94
Mây dù chẳng chất non cao
Đường về dù chẳng sông đào nông sâu
Đêm đêm lòng dục nẻo sầu
Thềm trăng ngỡ tưởng hoa cau rụng thầm

95
Nhớ cha giọt lệ khôn cầm
Dưới trăng lấp lánh như trâm vân quỳnh
Nghiêng ly mình cạn bóng mình
Tay ôm vò nguyệt một bình mây bay

96
Gối tay nệm cỏ nằm say
Gõ vào đá tụng một vài biển kinh
Mai sau trời đất thái bình
Về lưng núi phượng một mình cuồng ca

97
Gây giàn thiên lý vàng hoa
Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây
Xuống đầm tát cá xâu cây
Bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim

98
Khách xa nhớ đến nhau tìm
Lên đồi trẩy một giỏ sim làm quà
Hứng nước suối thết bình trà
Hái bầu nấu bát canh hoa cười khàn

99
Vào hang núi nhập niết bàn
Tinh anh nở đoá hoa vàng cửa khe
Mai sau thí chủ nào nghe
Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh

100
Hoa vàng ta để chờ anh
Hiện thân ta hát trên cành tâm mai
Trần gian chào cõi mộng này
Sông Ngân tìm một bến ngoài hoá duyên


Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát Đưa em tìm động hoa vàng.

Nguồn: Phạm Thiên Thư, Động hoa vàng, Cảo Thơm xuất bản, 1971

Bụt nhà

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted on 19/05/2015 

Post by Sơn râu 20 May 2024

Có người hỏi Phật:
Ngồi thiền định thì được gì?
Phật đáp:
Chẳng được gì
chỉ có mất.

Mất giận hờn mất bực bội
mất ganh tị mất hơn thua
mất hoài nghi mất khổ luỵ…

Có người hỏi tôi:
Chăm viết thế thì được gì?
Tôi thưa:
Được gì đâu chỉ có mất
Mất thời gian mất khí lực
mất hạnh phúc mất thong dong
mất sáng suốt mất thực tại

Nhưng ngẫm lại
cũng được lắm điều
được người ghét
được cô đơn
được ngộ nhận
được quàng xiên
được mê sảng
được ú ớ
được tự do…

Và được Phật xoa đầu:
ráng bơi đi con
qua tới bờ ta sẽ
dắt con xuống hoả ngục…

Mộng dữ siêng về canh khuya
hai ba giờ sáng ngồi thức
lẻ loi cùng ngọn đèn
sáng tối chẳng phân minh
được mất khó giũ bỏ.

Tơi tả trầm luân bạn bè ở bên kia bờ
tôi biết viết thay họ những nỗi niềm gì?
Họ sống mà bị cưỡng đoạt nhiều thứ
tôi thật hổ thẹn khi nghe họ thở dài:
“Ta không vào địa ngục
thì ai vào?”

Địa ngục tôi nhiều tiện nghi quá
tôi viết, mất rất nhiều
mà chẳng được điều chi!

Bụt nói đừng viết nữa
hãy tập ngồi thiền định
mây bay trên đầu
chẳng giúp ngươi ngộ
ra hư ảo vây quanh?

Hồ Đình Nghiêm

Biếm hoạ và chữ viết

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 7/9/2015 

Post by Sơn râu 20 May 2024

Hôm nay là thứ Hai, ngày 7 tháng 9 năm 2015.

Đúng tám tháng trước, 7 Jan. rơi vào thứ Tư, ở Paris, 3 tên khủng bố ập vào tuần báo Charlie Hebdo dùng súng bắn chết 12 nhân viên, ký giả trong toà soạn gây nên cơn chấn động làm bàng hoàng cả thế giới. Đây là vụ tàn sát dã man nhất dành cho những người chỉ nắm trong tay thứ “vũ khí” duy nhất: Ngòi viết, cây bút. Mực đổ chan hoà cùng máu, thảm trạng nọ vượt ngoài trí tưởng của loài người.

Bọn khủng bố cực đoan đã gửi đi một thông điệp dữ dội: Bút sa gà chết. Hoặc: Sinh nghề tử nghiệp. Điều này vô tình tạo ra một phản hồi thầm lặng: Hoá ra tranh biếm hoạ và chữ viết đã là “một bộ phận không nhỏ” nhằm tấn công, đả phá những xấu xa lạc hậu mà bọn cường quyền mù quáng đang cổ suý. Chúng sợ lung lay, chúng sợ bật gốc; và nhằm bảo trì guồng máy ấy, không gì khác hơn, chúng tìm đủ cách nhằm bịt mắt khoá miệng những mầm mống trái chiều đối kháng.

Là người Việt, hơn ai cả bạn thừa kinh nghiệm về chuyện ấy. Bạn được dạy chữ Nhẫn, bạn học vô số bài về Đoạn Trường, về cuộc Bể Dâu. Những oan trái, bao cơ man là điều ngược ngạo vẫn mỗi ngày diễn ra trước mắt bạn và dần dà những thứ ấy tác hại vào người bạn. Hậu quả: Sức người có hạn. Bạn bất lực. Hay thời thượng hơn, bạn than: Bó tay chấm com.

Hôm nay, ngày 7 tháng 9, nhằm lễ Labour day nằm nhà rảnh rang, mình vào internet và phát hiện ra chuyện “thú vị”, cóp nhặt ra đây để thuật lại cho bạn nghe. Nhân vật chính, mang tên Đỗ Hùng, giống tên gọi anh ấy đã thử cởi trói thoát khỏi “bó tay chấm com” một phen. Rất hùng dũng. Nếu định cư ở Paris, không chừng mông-xừ Hùng đã vào làm việc cho tuần báo Charlie.

Đỗ Hùng, dân Quảng Trị, học Đại Học Huế, vào Sài Gòn lập nghiệp. Đầu quân vào báo Thanh Niên, nhờ tài năng đa dạng của một phóng viên, anh leo lên tới chức Phó tổng thư ký toà soạn. Mới đây, trên Facebook cá nhân, Đỗ Hùng đăng tải bài viết ngắn, một status về lễ 2 tháng 9 dùng toàn dấu sắc nhằm đả kích và xuyên tạc về ngày này. Chuyện gì tới đã vội tới, người quyền lực đã ra lệnh cách chức và thu hồi thẻ nhà báo của anh phóng viên đầy tài năng. Quyết định trên cũng gửi cho cơ quan An ninh A 87 Bộ Công an và Ban Tuyên giáo Trung ương.

Chuyện không có gì phải náo động. Thử đọc xem một đoạn văn chỉ sử dụng toàn dấu sắc của Đỗ Hùng:

Quốc khánh

Lúc ấy, Thế chiến (thứ mấy tớ đéo nhớ), Đế quốc đánh với Phát-xít. Phía Phát-xít, Thống chế chết. Đám tướng tá, lính lác đánh đấm kém, chết hết đéo sót mấy mống. Phía đế quốc thắng lớn. Thế chiến kết thúc.

Chớp lấy cái thế ấy, bác Ái Quốc, tướng Giáp với mấy chú, mấy mế xứ Pác Bó vác cuốc, vác giáo mác, vác súng ống xuống đánh Phát-xít, đánh Pháp, cướp lấy khí giới, cướp thóc, chiếm bót, cứ thế đánh tới bến. Đánh tới cuối tháng 8, bác Ái Quốc thắng lớn. Bác ấy với các chú kéo xuống Giáp Bát, chiếm phố, chiếm lấy bót Phát-xít, chiếm hết. Hết đánh đấm, bác ấy nói: “Các chú thắng Phát-xít, thắng Pháp, quá xuất sắc”.

Tới tháng 9, bác ấy xuống phố bố cáo quốc khánh. Bác ấy nói: “Đất nước hết chiến đấu, hết đói kém. Phát-xít cút. Đế quốc Pháp cút. Các mế, các chú, các cháu bé hết khóc lóc. Thế giới bác ái…”

Nói tới đó, bác Ái Quốc thắc mắc: “Bác nói thế các chú, các mế, các cháu có thấy quá lí nhí?” Bá tánh phía dưới đáp: “Chúng cháu thấy bác nói rất lớn. Nói thế quá tốt!”

Tướng Giáp đứng kế đó thét lớn: “Quyết chiến quyết thắng!” Bá tánh đáp: “Quyết chiến quyết thắng!”

Hết!
(Chúc các bác Quốc khánh sướng nhé!)

Nhà báo Đỗ Hùng

Chỉ một đoản văn khôi hài đen như trên, Đỗ Hùng có thể đối mặt với bản án tù tội vì “nói xấu chế độ”, bôi bác lãnh tụ. Có kẻ bảo, đây là giọt nước cuối làm tràn ly, vì được biết vào năm 2011, nhà báo Đỗ Hùng từng tham dự nhiều cuộc biểu tình chống Trung quốc. Và kẻ ấy than: Đấy là một cái chết lãng xẹt!

Nếu người ta xem 12 người chết trong toà soạn tuần báo Charlie là thứ kỷ lục bi thảm nhất, thì người ta cũng không quên Việt Nam là một trong những nhà tù lớn nhất dành cho giới ký giả khi họ còn đang giam nhốt trên 16 phóng viên.

Đỗ Hùng chết có lãng xẹt? E không sai. Nhưng dẫu sao anh ấy cũng dạy cho những con cừu biết cách sử dụng chữ viết. Hôm nay không cho xài dấu sắc thì ngày mai anh nên thử dùng dấu huyền xem sao. Rồi chơi dấu hỏi. Chơi dấu ngã. Bí quá, khôn ba năm dại một giờ, buộc lòng ta chơi dấu nặng: Toạ hoạ chuyện lộn xộn, vật vạ tội trạng. Đợi chạng vạng mụ Đội thụi nội tạng. Đụ mạ. Thiệt nặng nghiệp! Việt với Nạm!

Hồ Đình Nghiêm

Thằng?

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

May 10th, 2024

Post by Sơn râu 20 May 2024

Tui vừa mới đọc được trên Facebook có thằng Tây nào viết một câu hay quá: “Welcome to Facebook! Please be patient-someone will disagree with you shortly.” Tui xin tạm dịch là: “Chào mừng bạn đến với Facebook! Xin kiên nhẫn chờ một lát nữa thôi là có người sẽ bất đồng ý kiến với bạn ngay lập tức.”

Quả y như kinh có người em sầu mộng ở huốt trên đất lạnh tình nồng Canada, tức em ở Alaska, đất của Nga đã bán cho Hoa Kỳ khi Nga Hoàng mậu lúi vì chơi bời quá độ.

Alaska gần vùng Bắc cực lạnh chết cha đi. Tui biết vùng nầy qua xem phim The Savage Innocents (Những người vô tội man rợ). Inuk (Anthony Quinn), một thợ săn người Eskimo, tặng vợ mình, Asiak (Yoko Tani), cho một nhà truyền giáo Cơ đốc đến thăm như một phép lịch sự, một phong tục của dân tộc mình. Sao tui yêu cái phong tục nầy quá hà; lòng tui luôn ước ao ít nhứt ông trời cũng xót thương đời tui đang “no sex, no life” được ít nhứt một lần sống ở Bắc Cực chớ?!

Tui biết Alaska qua ‘text book’, tức sách giáo khoa, dạy tiếng Anh: English for Today. Cuốn sách bìa xanh lá nầy, má bán cơm tấm có tiền, mua cho tui học năm 1966 lớp Đệ tứ 9 trường trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho ngày xưa yêu dấu đó.

Tui học về vùng đất lạnh quéo râu, tuyết đóng băng ngay trên mồm khi ta vừa đi vừa thở khói. Tui học về Ben Cook, người Eskimo, dùng lao, đi xuồng độc mộc, săn con ‘seal’, tức con hải cẩu. Máu đỏ loang trên nền tuyết trắng. Từ đó tới nay tui không thèm ăn tiết canh với mấy thằng Bắc Kỳ 9 nút (lại thằng) nữa.

Tui biết về Alaska qua truyện ngắn tức ‘short story’ của Jack London (1876–1916). Tui đọc ‘The Call of the Wild’ : Tiếng gọi nơi hoang dã, kể về chú chó Buck được đưa đến Alaska để làm việc cùng một đàn chó kéo xe trượt tuyết. Tiếng gọi nơi hoang dã làm Jack London thành nhà văn nổi tiếng biết nhiều về chó nhà và chó sói.

Jack London là một kẻ lang thang chết vì bị trầm cảm. Tui nghĩ chắc tui cũng vậy. Tui có cái tánh xấu là thấy ai nổi tiếng là tui bắt chước kể sao y bản chánh chết cách nào. Tui cũng bị trầm cảm nhưng tuổi tui cũng gần gấp đôi tuổi của ổng. Ông chết trẻ mới 40 tuổi thì sao tui bắt chước được đây trời?

Thôi không trúng được độc đắc về tuổi tui trúng khúc sau, khúc chết vì bị trầm cảm cũng được nổi tiếng mà!

Tui khoái Alaska miền tuyết quanh năm. Tuyết dày mùa Đông; rồi tuyết tan mùa Xuân. Tuyết mùa Xuân tan chưa tàn là tuyết mùa Đông lại đến.

Nhưng từ khi bị em Alaska, người Mỹ gốc Mít, bắt giò làm tui bị lọi giò nên tui không còn tha thiết mù quáng yêu Alaska nữa. Tui ngộ ra là trên vùng đất đáng yêu không phải ai cũng đáng yêu. Mà cũng có em mình tưởng mình yêu mà lại không đáng yêu. Tui đã lầm một lần đi cưới vợ nên tui sợ tui ‘ợ’ tới bây giờ. Chủ yếu là gieo vần ‘ợ’ chớ tui không có cái ý nào khác nhe bà chằn lửa!

Cách hành văn cà chớn, vòng vo tam quốc, đi riết không biết đường ra tui học của ông Tản Đà. “Đồ ăn không ngon thời không ngon, giờ ăn không ngon thời không ngon, chỗ ngồi ăn không ngon thời không ngon, không được người cùng ăn thời không ngon..”

Tranh Bảo Huân

Em Mít lấy chồng Mỹ, tánh em giống hịt con vợ tui, cái gì tui cũng biết; chấp luôn cái thằng Google nhe!

Chẳng qua em tên Mít nhưng đít lại Hoa Kỳ, bắt đầu khiêu chiến: “Tui tức cười chỗ ông gọi tui là bà, mà gọi chồng tui là thằng Mỹ. Cũng hay!”

Tui bèn mồm loa mép giải trả lời em như vầy nè: “Mỹ ai tui cũng kêu bằng thằng hết ráo! Tui bắt chước theo ông bà mình đấy thôi! Chú Ba, anh Bảy, thằng Tây, thằng Mỹ, thằng Tàu”, Thằng hết ráo!

Thầy Võ Văn Dung trường trung học P. Trương Vĩnh Ký tại Sài Gòn dạy tui tục ngữ, ca dao lớp đệ thất 5 niên khóa 1963-1964: “Tóc mai đá đất bậu chê. Nâng niu thằng chệt tư bề sọ không! Cái đầu nó vận đuôi nhông. Cái răng trắng nhách miệng không nhai trầu. Gẫm trông thằng chệt thêm rầu…

Sau tháng Tư năm 1975, tui bị ‘mất dạy’, đói quá tui kiếm chỗ đi dạy thêm Anh văn cho một đứa con của thằng chệt (lại thằng nữa) ở Mỹ Tho khá giàu nhờ nghề ấp hột vịt. Một bữa thiếm xẩm, vợ nó, trả tiền công nói một câu tui nhớ tới bây giờ: “Thằng Tửng con ngộ nó nói nị nói tiếng Anh như thằng Mỹ” He he!

Không phải người Việt, đứa nào cũng nị, ngộ như Tàu. Cũng I, you như Mỹ. Ngộ, you hoặc thằng nó lễ phép hay không là còn tùy giọng nói, tùy nơi, tùy lúc nữa. ‘Thằng’ đâu phải đơn giản chỉ là ‘thằng’.

Nói nào ngay khi bàn về văn chương chữ nghĩa, tui khoái lắm nhe. Bàn trúng, bàn trật mình luôn học thêm được cái mới. Tui rất khoái tranh luận với mấy bà. Vì cũng giống như em yêu, tức con vợ của tui, mấy bà là vua cãi lộn. Cãi hay như hát. Tuy nhiên, đôi khi quá đà. Thay vì bám theo đề tài mà cãi; có bà leo lề tấn công luôn cả đời tư đối thủ, vốn không ăn nhậu gì tới đề tài đang tranh cãi. Ôi cái ngoan hiền của con gái Miền Nam? “Chàng ơi giận thiếp làm chi đâu rồi cà? Hôm qua em đi Mỹ về! Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều! Nói ra sợ mích lòng em. Van em! Em hãy giữ yên quê mùa.”

Chắc cãi lộn, em Alaska nghĩ cái thằng (lại thằng nữa) dai như đỉa cứ bám theo hoài; nên em chơi luôn tiếng Nhựt bổn ‘sayonara’ (nói lời tạm biệt chớ không phải vĩnh biệt tình em). Đang hăng tiết vịt, cãi sùi bọt mép, bị em cắt ngang xương, cắt cái cụp, làm mất hứng, tui vẫn ráng vớt cú chót: “Đi nướng bánh mì sandwich cho thằng chồng em (lại thằng nữa) Mister Smith. Nhớ ăn ít ít! “Coi chừng mập như cái hột mít” (Tui viết văn xuôi nhưng khoái gieo vần “ít “)

Chiều thứ Bảy cuối tuần Footscray con phố buồn thiu! Không có thằng nào (lại thằng nữa) kêu đi nhậu nên nằm viết lung tung chọc cho chúng chửi. Thiệt tui là thằng (lại thằng nữa) khùng hết biết đó bà con ơi!

ĐXT

Trò chuyện với nhà văn Trần Vũ

dutule.com

19 Tháng Hai 2011

Post by Sơn râu 20 May 2024

Kỳ 1

1 – Nguyễn Cung: Thành công có làm ông kiêu căng? 

* Nhà văn Trần Vũ trả lời:

Chào anh Nguyễn Cung. Câu hỏi của anh Cung tự nhiên làm tôi nghĩ đến những thăng trầm đã trải qua. Đã lâu không ai nhắc với tôi chữ « kiêu » này nữa, chúng dường như chìm vào tăm tích hoặc bị cuốn trôi nơi nào từ khi tôi vượt biên. Kiếp thuyền nhân đã không cho tôi nhiều dịp tìm lại chất này trong người mình. Có thể vì thiếu khung quốc gia, thiếu khung gia đình khá giả làm nền và kiếp tỵ nạn rồi di dân không cho phép nữa.  

Anh Cung vừa mang tôi về lại đảo Liminangcong bên Phi Luật Tân. Tôi đi xin ăn ở đây, trên đảo này suốt một tháng liền. Anh Cung làm tôi nhìn thấy lại cảnh mình gõ cửa từng nhà dân Phi và miệng kêu « chắp chắp » là « ăn cơm », như cách những thuyền nhân chung tàu bày tôi xin cơm. Thường, dân Phi đóng sầm cửa vì tỵ nạn Việt Nam xin quá nhiều làm phiền họ. Đôi khi họ quát tháo, tuy không hiểu thổ ngữ nhưng tôi vẫn hiểu là mình bị chửi. Một đôi lần bị tạt nước… Những ngày này, tôi khám phá « nhân loại » lần đầu tiên. Nhân loại là lính Phi vừa hôm qua còn là đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa, hôm nay bắt thuyền nhân chào cờ Phi, hát quốc ca Phi rồi mới ban cho một miếng bánh. Sự kiêu căng trong tôi, nếu có, bị đấm nặng những ngày này khi tôi ý thức đánh đổi danh dự lấy một mẩu bánh. Sang Pháp, là những quả đấm khác.

Năm 1980 tôi sống trong một cô nhi viện miền Bắc Pháp, giữa đồng không mông quạnh và vài mươi nóc gia của nông dân. Cuối tuần nhà bếp nghỉ nấu ăn vì bố mẹ nuôi đến nhận trẻ mồ côi đem về, đầu tuần sau sẽ đem chúng trở lại. Tôi đã lớn, nên không ai nhận. Cứ đến chiều thứ sáu là quản đốc nói tôi chịu khó đến dùng bữa với các gia đình trong làng, rồi sang thứ hai căng-tin sẽ mở lại. Tôi đến hết nhà này sang nhà khác, khi đã ăn đủ 50 nóc gia thì lại giáp vòng. Giấc chiều tôi canh giờ họ đi về rồi gõ cửa xin một phần ăn. Dân Pháp lịch sự tiếp đãi, nhưng trong thâm tâm tôi biết: tôi lại sống kiếp ăn xin, ăn mày, tha phương cầu thực mà người Việt Nam rất khinh. Kiêu căng của một con người tan mất một khi nhận thức vị trí của mình. 

Nếu anh Cung ngụ ý là sự thành công trên văn đàn làm kiêu căng, thì tất cả chúng ta đều nhìn thấy rõ vị trí của một người viết: ngồi trên một chiếc ghế đẩu chông chênh, kết bằng giấy in đầy bấp bênh và phù phiếm. Càng phù du khi chiếc ghế này kê tạm vài ngày trên một trang web rồi tan vội theo mây.

Gia Phả

tranvu.free.fr

Trần Vũ

Post by Sơn râu 20 May 2024

I

Tôi đi ở cho tộc Trần từ lâu lắm. Từ cuối đời Lý. Lúc Trần Thị chỉ vừa cắt nhau. Ðêm tháo thai, sống cảnh sinh nở đầu đời nên tâm hồn tôi ngập kinh hãi. Máu từ cửa mình vợ Trần Lý chảy xối, bắn phun tung tóe như bát canh rau dền rơi vãi trên đất. Thứ canh đỏ thẫm, lợn cợn những nhau, thịt, chất nhờn. Trần Thị giẫy, vùng, đôi tay chới với cào cấu vươn tới trong động tác nắm tìm sự sống. Ðã biết đi vào đời là đi vào khổ đau, nhưng tôi cũng không ngờ khổ đau to lớn tàn phá đến rách bươm cửa mình vợ Trần Lý. Mỗi cái quẫy mình là mỗi một vũng máu, trào ra, trào cho đến đầy thau. Máu bê bết chẳng khác một pháp trường.

Cánh tay mụ đỡ đưa cao lắm. Cánh tay lằn những sợi gân oan nghiệt. Miểng chai cắm lùi trong than hồng đỏ rực. Loại miểng chai sắc cạnh, bén nhọn chỉ dùng cho mỗi thứ công việc đành đoạn là cắt cổ người, hoặc nhẹ nhàng lắm: thọc huyết heo. Vợ Trần Lý co rúm như con lợn lôi ra sân bếp. Tôi nhắm mắt, đã hiểu mình sẽ không bao giờ lớn. Trần Thị mất mẹ ở hành động cưỡng ép chối bỏ tình mẫu tử đó. Cuống rốn nắm trong tay mụ đỡ hiểu được số mệnh, vùng vẫy, cựa quậy, tháo thân, cuống rốn như con rắn nước liều lĩnh kháng cự trước lúc bị chặt đầu. Miểng chai xắn xuống, xắn xuống, cứa mãi, thịt rách, gân đứt, máu phụt, vợ Trần Lý căng, đạp, thét la oằn oại gào trong mất mát. Trần Thị bật khóc, tiếng khóc đầu tiên vỡ òa khi cuống nhau nối mình vừa đứt. Máu tiếp tục phun. Nước mắt tôi chảy cho Trần Thị: Vào đời giữa máu me hung bạo.

II

Tôi về ở cho tộc Trần, như thế, từ sau đêm máu me ấy. Tộc Trần là một tộc lớn, ngự trị khắp phủ Xuân Trường. Hiếm ai ngờ một dòng họ còn sót lại từ thời Bắc Tống, kéo xuống lập nghiệp phương Nam khởi đi từ nghề đánh cá nhỏ mọn, sau một trăm năm lại hùng mạnh chừng ấy. Ở cho một gia tộc quyền thế, song công việc của tôi cực nhàn nhã. Ngày ngày theo chân Trần Thị, lẫm chẫm quanh vùng Hải Ấp, rồi lớn dần chạy nhảy bên bờ sông Thao. Trần Thị lớn vụt lên như lẵm lúa bát ngát mênh mông của tộc Trần. Sức sống của con sông Thao cuồn cuộn chảy buông mênh mang về Phú Thọ, cũng chở mang sắc đẹp của Trần Thị. Mỗi dòng sông ở đầu thế kỷ 13 mang một vẻ đẹp riêng, nhưng sông Thao mang vẻ đẹp của đất nước.

    Nhưng nếu tôi không bao giờ lớn, ở lại mãi mãi cái đêm sinh nở tàn bạo, thì Trần Thị trổ vươn như nhành lúa bắn mình đẹp đẽ. Nhành lúa đẹp tựa một ánh chớp sánh bừng rực rỡ, ửng hồng giữa bầu trời tối tăm tàn tạ cuối triều Lý. Chưa ý thức, song Trần Thị thường nắm tay tôi nhìn đăm ra khoảng sân sau, khoảng sân huyễn hoặc, lót đá vân lọt thỏm giữa lòng nhà lưa thưa nắng. Những tia nắng kỳ ảo lấp lánh lăn quăn khắp bức tường loang loáng vẽ nghìn tia ngũ sắc ngời ngời óng ả phản quang không ngớt trên mặt vại nước. Trần Thị kéo tay tôi ngồi xuống. Chúng tôi ngồi sát nhau tưởng chừng có thể nhập làm một, như thể tôi với Trần Thị chỉ là một – một người con gái nhiều giờ liền ngắm bức tường say mê. Nắng nung những ước vọng thầm kín trong tôi, còn khoảng tường vạch lên trước mắt Trần Thị vị trí của tộc Trần. Có lẽ trưa đó, Trần Thị cũng bắt đầu nhận biết vai trò của mình trước lịch sử khi đối diện khoảng tường soi nắng ấy. Nắng soi như chưa bao giờ được soi xuống từ mảnh ngói vỡ vàng chóe, lập lòe, rũ màu sắc, buông thả từng đường, từng mảng, từng cánh tay ôm choàng ngang bức tường rêu cũ kỹ xanh ố mờ thời gian. Cả bức tường vụt sống. Cả thời gian cũng vụt trỗi mình quẩy cuồng sáng lóa trong khóe mắt Trần Thị. Tiếng nước rỏ xuống sân nghe váng âm hắt dội giữa trưa vắng tịch mịch, chợt vang vang thành bước chân của những tên khổng lồ đuổi bắt thời gian. Thời gian của thời đại hay của định mệnh ? Gã khổng lồ mang thân xác tên tuổi tộc Trần – tôi rùng mình nhớ tới Thủ Ðộ – Trần Thị cũng rùng mình lúc tôi cởi cúc, tuột áo, bắt đầu múc nước từ bồn chứa xối cho Trần Thị tắm. Những ngón tay tôi xoa nắn, những ngón tay Trần Thị nắm lại. Mặt đất nở hoa. Không khí thơm sữa. Trần Thị khép hờ mắt, chỉ còn thân xác hiến dâng trọn vẹn. Tôi đuối vào giữa ngực Trần Thị, ngỡ mình sẽ hưởng những dòng máu chảy ấm bên trong, sẽ ôm lấy vào lòng thịt da run rẩy, sẽ ấp ủ thân thể trắng trong mềm nõn. Dưới trần mái âm u không tiếng động, ngón tay tôi ngẩn ngơ mê mẩn, những ngón tay Trần Thị chậm lắm níu chặt, kéo giữ bàn tay tôi ở lại, thúc hối nhịp nhàng nhịp nhàng từng khắc từng khoảnh khắc van lơn nài kéo. Tôi mê man xoa nắn, mân mê âu yếm. Trần Thị khép mở đùi rồi thõng hai tay ngửa mặt buông cho thể xác tận hưởng chút thiên nhiên mỏng manh đang lọt vào tòa nhà. Từng đốm sắc xanh mờ tối, nhảy múa lung linh như có lân tinh, tôi hôn tới đâu đốm sáng bốc thành ngọn lửa phụt cháy. Tôi nuốt lửa cuồn cuộn trên ngực Trần Thị nghe vang vang tiếng nước chảy róc rách, nhưng không chỉ có tiếng nuớc mà bất chợt tiếng đập cánh của bầy quạ đen thất thanh ầm ĩ trên mái vùng bay. Trần Thị giật mình bấu lấy tay tôi thảng thốt:

–      Chị Ðào! Thị sợ!

Mình mẫy ướt đẫm, tôi cũng sợ. Nhưng không phải nỗi sợ hãi vu vơ của cánh quạ đen tuyền đập phần phật quýnh quáng âm động giữa không gian vắng. Nhưng là nỗi sợ hãi sâu chín hun hút từ thịt da trắng ngần trong trẻo của Trần Thị như có nạm ngọc. Mỗi một hột nước là một hạt trân châu óng ánh không bao giờ tắt. Cánh tay tôi cứng sững không dám vươn tới, không bao giờ chạm vào được thân Trần Thị lõa thể đứng tắm giữa sân. Qua mí mắt Trần Thị tôi đã hiểu: Bức tường choáng ngợp. Rõ ràng Trần Thị không thuộc về tôi, nhưng thuộc về khoảng tường xây đắp hơn một trăm năm của tộc Trần. Bức tường đối diện, sừng sững, ngạo mạn đầy uy quyền đời đời không bao giờ sụp đổ. Cả tiếng nước rỉ, võng âm như bước chân của gã khổng lồ man dại chạy sấm sẩn sầm sầm cũng trở nên đe dọa… Nắng nghiêng dần, bức tường lùi vào bóng tối, tới lúc những giọt nắng cuối cùng từ trong gáo nhiễu bay thánh thót chạm đất, vỡ toang trên nền đá ẩm, thì hai chúng tôi mới bừng tỉnh. Khoảng tường cuốn hút kỳ lạ. Bở tường ủ ê hâm hấp. Bàn tay tôi trơ trẽn, buông vội tiếc rẻ vuông ngực trần mơn mởn, đầu vú nhọn nhú lên xuôi mềm mại tròn trĩnh trắng muốt thắt hẹp ở hông rồi lại nở vung ôm chặt lấy đáy thân Trần Thị. Trần Thị cắn môi nhìn tôi bẽn lẽn, một tiếng trống chùa vang xa nhắc nhở…

Tắm xong, tôi lấy xiêm áo cho Trần Thị thay. Vải lụa tím ngà thêu những nụ thủy tiên thôi còn e ấp, nhưng bắt đầu nở. Trần Thị xỏ ống tay áo, khép vạt, chéo áo lập lòe bâng quơ rộn ràng đàn bướm vàng rực. Trần Thị xoay mình ngắm, vạt áo xòe rộng ở gót chân, trong gương váy áo phập phồng phơi múa giống chiếc đuôi của loài công làm đẹp cho cơ ngơi tộc Trần. Tôi không khỏi ngăn mình liên tưởng Trần Thị cũng là một con công, song không phải một loài công nuôi, mà là thứ công để thịt. Chẳng phải ngẫu nhiên mà có câu tục ngữ: nem công, chả phượng. Trên đất nước này, loài vật đẹp đẽ nhất, cũng chỉ phục vụ cho một mục đích phàm phu nhất.

Chúng tôi bước ra gian thờ. Trần Thị nhắc tôi khép cửa. Căn buồng đóng lại, chỉ còn hương thơm thoang thoảng theo dấu chân Trần Thị. Công việc của tôi ngoài nuôi nấng Trần Thị, còn được giao trọng trách chăm sóc bàn thờ. Thứ trọng trách mà tộc Trần chỉ giao cho kẻ bất lực, không có khả năng chống đối, lật đổ tham vọng. Mỗi ngày tôi với Trần Thị quẩn quanh, chữa lại một cành vạn thọ cắm không ngay, treo thêm những vòng nhang xoắn, đốt cho khói hương không bao giờ đứt. Bột nhang vàng lấm tấm, tàn nhang cong oằn, tôi quét dọn tro than không ngừng rơi xuống. Trần Thị hay phụ tôi xếp những trái vải đỏ mọng, xoay những quả cam Bố Hạ phơi mặt vàng óng, rồi lau khắp lượt những mặt người quá cố. Chân dung Trần Kính vẽ bằng than chì như hãy còn sống, nhìn thèm muốn từ bắp chân Trần Thị lên quá đùi. Con ruột Trần Kính là Trần Hấp, cha đẻ của Trần Lý cũng nhìn Trần Thị như thôi miên. Cặp mắt hấp háy của bức vẽ truyền thần tôi lau tới đâu sáng quắc tới đó, muốn hớp hồn, níu kéo từ cổ tay trắng mịn của Trần Thị lục lọi mân mê cho đến tận bờ ngực con gái mềm vun. Tia mắt sờ soạng rờ rẫm. Tia mắt dâm dật ruột thịt. Trần Thị hốt hoảng đánh rơi mâm ngũ quả, những trái hồng quân lăn trên đất chạy trốn. Tôi cũng hốt hoảng bởi hiểu trong cái nhìn ham muốn thèm khát của Trần Hấp đầy dẫy những đòi hỏi chiếm hữu. Trần Thị tung chạy ra cửa, vụt đứng sững ngay lại: Tiếng vó ngựa dồn dập dã man phóng nước kiệu trên con đường đất đỏ bụi mù dẫn đến gian nhà thờ. Tim tôi cũng đập mạnh đứt quãng, cái con người hung hãn nắm vận mệnh tộc Trần đã đến. Yêu Trần Thị nhưng tôi bất lực, thứ bất lực của kẻ ở theo hầu một triều đại.

III

Tôi theo dạy chữ thánh hiền cho Thủ Ðộ từ tấm bé. Thứ chữ dùng làm đạo. Thứ đạo của người quân tử. Nhưng với Ðộ, không có thứ đạo nào hơn sức mạnh. Học hết Tam Tự Kinh, Ðộ không xem tôi như thầy nữa, nhưng coi như một thứ quân hầu đi theo sai việc. Ðộ sớm phát triển cơ thể. Bắp tay nở nang, bả vai đồ sộ. Phóng đao, đâm giáo, dùng đoản côn, tráng đinh khắp làng Tức Mặc không ai hơn Ðộ. Sự phát triển của cơ thể chỉ đưa đến gia tăng tính dục. Ðộ mạnh về đường sinh lý, những chiều đi tập võ về, Ðộ thường cởi trần trùng trục, đứng trần truồng khoe thân trước đám thôn nữ. Ai không muốn xem, Ðộ cho tiền bắt xem. Ai bỏ chạy, Ðộ rượt theo đánh. Chữ Thánh Hiền lúc đó chỉ còn là một mớ hình dáng tạp nham làm bẩn óc Ðộ. Có lần điểm mặt Trần Lý, Ðộ nói không nể nang:

– Ở đời không mưu, không đạt việc lớn!

Trần Lý cúi gầm mặt. Bản chất yếu đuối, trí não không hơn một kẻ đánh cá, Trần Lý không sao trấn áp, tranh được với trí xảo của Ðộ. Năm Kỷ Tỵ 1209, Ðộ mười lăm tuổi, mang sức vóc của loài vượn trắng. Trưa quất ngựa theo Ðộ đến gian nhà thờ của tộc Trần, tâm thần tôi đầy ray rứt của nhà nho bất lực với chữ nghĩa thả mặc dây cương cho môn sinh tìm tội lỗi.

Chiều đó, bầu trời bẩn lắm. Có nắng, nhưng cũng nhiều mây, thứ mây đen tối bao phủ trên nền trời đất nước. Ðộ thúc ngựa như điên, như dại. Nắng ruổi theo sau hớt hãi. Nhưng nếu nắng cuối triều Lý không đủ ấm, thì khi soi xuống mình Ðộ lại biến chất. Lúc vó ngựa của Ðộ rầm rập dẫm vào trong sân thì mặt trời đã trở nên cực hung hãn, mặt trời như có đúc vàng đặc cứng chật căng trên da mặt Ðộ phừng phừng lửa giận. Ðộ thắng ngựa, buộc chặt trước rào. Cả một gian nhà thờ vụt kinh hãi cung kính phủ phục đợi Ðộ. Ðôi mắt Trần Kính sợ sệt trốn tránh. Cặp mắt Trần Hấp nhợt nhạt nhìn lảng vu vơ. Cả một dẫy chân dung cúi gầm mặt không dám ngẩng lên. Anh ruột Trần Thị là Trần Tự Khánh trông thấy Ðộ cũng vội vã bỏ trốn. Ở đời không mưu không đạt việc lớn. Song Ðộ không chỉ mưu mà còn có cả sức lực. Tất cả kẻ sống và kẻ chết trong gia tộc Trần đều biết. Ðộ đá bật cửa, giật mạnh tấm màn gấm che ngoài. Nắng xộc vào hung tợn hơn lũ ăn cướp soi trắng thịt da Trần Thị tái ngắt sợ hãi. Trần Thị luống cuống hỏi:

– Cậu Ðộ tới tìm tôi?

– Không tìm chị thì tìm ai? Tìm chó à?

Ðộ gầm. Giọng nói như tên bắn.

– Phải thằng Sam trốn giặc Quách Bốc về đây hỏi cưới chị?

– Tôi không biết!

Trần Thị co rúm mình lùi vào góc nhà. Ðộ sấn tới, vóc vạc không thua con dã nhân đeo cung kiếm. Sử quan triều sau, với lối chép sử biên niên cổ lỗ, không ai tả được đôi mắt Ðộ. Ðôi mắt của kẻ nhất quyết nắm chức Ðiện Tiền Chỉ Huy Sứ năm mười lăm tuổi. Trần Thị kinh hãi lùi dần, lùi dần, cho tới khi bị Ðộ chụp lấp cằm bóp mạnh:

– Có phải chị nhận lời vì thằng Sam là hoàng thái tử? Có phải?

– Cậu buông tôi ra!

– Có phải?

Ðộ tát Trần Thị một bạt tai ngã sấp. Máu ứa ra ngoài môi. Trần Thị bưng mặt, Ðộ đến siết cổ, Trần Thị cố dẫy, búi tóc xổ tung, những sợi tóc đen nhánh đổ vung vãi xuống phần ức trắng. Ðộ xé toạc ngực áo lột trần xuống tới lưng. Trần Thị gào la khóc lóc thở hổn hển.

– Tôi lạy cậu!

Trần Thị van lơn nhưng Ðộ không nghe, không ai có thể kềm chế đuợc Ðộ. Tôi run rẩy đứng chết trân sau cột nhà, không gian đặc quánh nỗi sợ sệt tê điếng, đã hiểu mình không sao giúp gì được cho Trần Thị, đã hiểu chữ Thánh Hiền chỉ là mớ chữ vô dụng. Số phần Trần Thị chỉ có thể do Trần Thị quyết định, nhưng Ðộ đã nắm lấy tóc kéo lôi đi. Trần Thị giẫy dụa, mười ngón tay bấu sướt trên nền đất cốt trì kéo mà không được. Ðộ ném Trần Thị ngã ngồi, rồi từ từ cỡi giáp. Hai bắp vai Ðộ lồi ra đen đỏ màu đồng. Nắng dát vàng khắp lưng bóng lưỡng, Ðộ đứng xoay lưng nên tôi chỉ trông thấy được những bắp cơ rắn rỏi chạy dọc từ cần cổ xuống gót chân Ðộ trần truồng thô lỗ. Trần Thị tái mặt. Ðôi mắt của Ðộ dâm dật bệnh hoạn, nhưng cũng đầy thỏa mãn, Ðộ từ từ quay lại nhìn tôi hỏi:

– Chữ gì?

– Bẩm, chữ nhân.

Tôi lắp bắp. Ðộ phá ra cười, tiếng cười lồng lộng xuyên xoáy trên nóc nhà, rồi dội hắt xuống. Tiếng cười như có khảm gai. Không phải là Nhân mà là Dục, không phải Dục mà là Trí, không phải Trí nhưng là Dũng. Nhân, Trí, Dũng, Dục, Ðộ có đủ. Lấy thằng Sam là Trí, ăn ở với hắn là Dục, giết hắn là Dũng. Ðộ tiếp tục cười khùng khục đứng dạng chân, vươn tay phơi mình nhìn sững Trần Thị trong tư thế nham nhở. Trần Thị nhắm mắt úp mặt vào lòng bàn tay nức nở. Ðộ bỗng lầm lì cúi nhặt thanh mã nằm rơi trên nền đất. Tiếng cười im bặt.

– Tộc Lý là con ngựa này!

Ðộ chỉ con ngựa ô buộc ngoài máng. Tay chân tôi lạnh ngắt, người rã ra trong cơn sợ hãi, tôi đã hiểu Ðộ sắp làm gì. Ðộ lại nắm tóc kéo lôi Trần Thị lê lết trên mặt đất bắt nhìn quang cảnh. Hai cánh tay Ðộ hươi cao lắm, gân guốc, mạnh mẽ. Bản dao sáng lóa, suốt đời chưa bao giờ tôi trông thấy một thanh mã rùng rợn như thế, đôi mắt của Trần Thị mở căng khiếp đảm, đôi mắt của Ðộ hung bạo, đôi cánh tay vung lên rồi quất xuống bằng tất cả sức lực. Tiếng ngựa rống chói tai. Tiếng vó sắt đập tung như trống nện. Cần cổ con ngựa ô ngập lún bản đao vùng lên, từ chỗ vết thương thịt da máu me đổ trào ra như thác, máu ngập máng, máu lênh láng bắn phun lên nền đất. Tiếng rống khủng khiếp của con vật kêu thất thanh, cố giật ra khỏi rào buộc. Ðộ đã chém tiếp, thân thể trần truồng của Ðộ cũng vấy máu chém xối xả liền tay không ngừng nghỉ, mã tấu hươi lên rồi lại bổ xuống, máu tung như sóng, lớp lớp trào trào. Bản thép sáng lòe lòe sắc lạnh. Hình ảnh một kẻ trần truồng chém đầu ngựa trông kinh hãi. Chất thép rờn rợn. Hai chân trước của con vật đã khuỵu xuống, khoảng lưng đen nhẵn lềnh máu. Những móng ngựa nhồi xuống mặt đất chỉ còn là những vẫy vùng  tuyệt vọng, thứ co thắt của ruột gan đứt đoạn. Máu ộc ra ở miệng, đôi mắt con vật đứng tròng nhìn trừng trừng lên nền trời bát ngát. Mình ngựa đã xụm xuống, Ðộ xắn lấy đầu giơ cao. Những ngón tay tôi thâm tím đi vì sợ. Cặp mắt con vật, chính là cặp mắt của Lý Huệ Tông sau này ở chùa Chân Giáo.

Ðộ bước trở lên thềm, người tắm máu, dáng dấp của tên khổng lồ cuồn cuộn thịt gân. Xét theo sách tướng, Ðộ có thiên mệnh, nhưng thần sắc lại nửa rắn, nửa rồng. Không làm vua mà lại coi vua. Ðộ nhìn Trần Thị say mê, vẻ say mê hung bạo.

– Chị yêu tôi không?

Ðộ cúi xuống, hôn vào giữa đôi môi run rẩy của Trần Thị, một bàn tay sờ soạng phần ức trắng, mân mê nơi đầu vú. Rồi bàn tay trườn xuống bụng, Trần Thị thót người, co rút mình mẩy. Nhưng cử chỉ đối kháng chót cùng đó chỉ làm Ðộ giận dữ:

– Trao thân cho tôi là trao thân cho đất nước. Hiến thân cho tôi là hiến thân cho tộc Trần! Cớ chi phải sợ? Hay chị muốn như con ngựa này?

Ðộ quát.

Buổi chiều đó, tộc Trần khởi nghiệp trên thân xác Trần Thị.

IV

U Ðào đi ở cho dòng họ tôi, từ lâu lắm. Mỗi sáng u thường hay quẩn quơ trước bàn thờ, chữa lại hương án, rót nước, châm trà, rồi lau khắp lượt những mặt người quá vãng, từ tổ phụ, cố nội, bà, cho đến chú tôi mà ánh mắt cứ một ngày một nhạt phai trên bức vẽ. Không có ai trên bức vẽ mà u không biết. Từ cố có chiếc bình điếu bằng ngà khi làm đến chức Thái Sư có người dâng cây gậy bằng vàng lúc chết chôn theo, đến ông tôi từng đăng quang ở điện Thiên An, khi ông khuất chính u là người tự tay khâm liệm. Còn bà tôi theo lời u kể, chạy tản cư giặc Nguyên từ kinh sư về tới phủ Thiên Trường dọc đường trúng tên mà mất. Phút lâm chung bà không ngớt kêu tên cố. Tại sao lại kêu tên cố mà không là ông? U Ðào không bao giờ giải thích cho tôi rõ.

U Ðào như thế, đã ở với từng ấy người của họ Trần. Bây giờ trong bức vẽ nhìn ra, không biết họ có còn trông thấy u? Từ thuở tấm bé, tôi đã trông thấy chiếc bóng của u vật vờ, dật dờ, làm như u đã ở cho tộc Trần suốt nhiều kỷ. Không rõ từ khi nào, nhưng chiếc bóng của u đã ăn sâu lắm, chạm khảm vào trong trí não tôi như thể u chính là sự hiện diện của gian nhà thờ trong mỗi gia đình Việt, từ đời này qua đến đời khác, hết thế hệ này xuyên suốt thế hệ khác, luôn luôn ở đó bất di bất dịch.

Dạo ấy, mỗi sáng, qua khe hở của hai tấm ván ghép rời, lập lòe soi đỏ một tim đèn cầy thắp đêm ngày cạnh hương án, tôi đều trông thấy u Ðào nhặt nhạnh từng cánh hoa tàn rụng rơi, vương vãi dưới gốc chân nhang. U quét tước tro hương, xếp lại những quả na, bày biện thêm những quả xoài cống từ đất Chiêm Thành vàng ửng màu cát. U không biết chữ, lại không có thì giờ đi nghe giảng kinh, nên đối với u dọn dẹp bàn thờ là một hành động hướng thượng. U rất chăm làm, ngày xưa Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị gọi u là sự tôi luyện của thời gian. Thời gian phơi trên mấy ngón tay trắng trẻo trẻ trung của u lúc vào ở cho tộc Trần, cần mẫn sắp xếp hai thếp nhang, đôi nến trắng, một cho khám thờ Phật và một đặt trước bài vị gia tiên. Vẫn động tác đó, nhưng thời gian đã bào mòn, ăn nhấm từng đầu ngón tay, khiến lớp da nhão nhoẹt nhăn nheo như thứ da bị ngâm nước lâu ngày chỉ chực lột để lộ xương. Nhưng hình như u không để ý mấy tới việc thịt da mình bị tàn phá. U vẫn cẩn trọng quét dọn bàn thờ. Xong xuôi tươm tất đâu đó rồi u mới lẳng lặng, lặng lẽ lên gác mời tôi:

– Mời Thiếu Ðế xuống lễ.

Chiếc bóng tôi đi trước, chiếc bóng u già cỗi theo sau. Trẻ thơ, song tôi sớm có ý nghĩ: U Ðào chỉ là một chiếc bóng mờ câm sẵn sàng tan biến nhập hẳn vào từng thớ gỗ, trộn lẫn cùng với mối mọt ở đà nhà mình. Chiếc bóng im lìm không động đậy nơi bức vách. Nếu không phải gia tộc Trần thì cũng là gia tộc khác. U sinh ra chỉ để đi ở, chấp nhận bất lực.

Tôi thắp nhang, van vái, rồi thỉnh một tiếng chuông rước thầy, cố, cùng các nội tổ về.

Quay lại trong thấy u, tôi lại tự hỏi: Tại sao gia phả của dòng họ Trần không thấy chép tên của u Ðào? Dù u đã ở với chúng tôi nhiều kỷ. Cả một kiếp người, vậy mà u cũng chỉ giống giọt nước rỏ từ mái hiên điện xuống chậu kiểng, giọt nước kêu đánh “tạch“ trên tàu lá rồi chảy xuống đất vô tâm tích. Nếu nhìn từ toàn cảnh, tôi chính là cái chậu kiểng tiếp tục hứng giọt nước nhỏ mọn ấy chảy từ thân u Ðào. Tôi, thái tử Ân – Trần Thiếu Ðế – đứa trẻ được nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, chăm sóc, chăm bón, để mong nối dõi cơ nghiệp của tộc Trần.

Song năm Kỷ Mão 1399, triều Trần đã bạc nhược lắm. Thượng Hoàng Thuận Tông bị Quý Ly chuyên quyền đầy ra ở Ngọc Thanh Quán huyện Ðông Triều tỉnh Hải Dương. Tôi cũng phải rời cung Bảo Thanh về ở phủ Thiên Trường, mang danh hiệu Thiếu Ðế mà không có quyền bính. Kẻ ăn, người ở trong nhà chỉ còn mỗi u Ðào và bõ Phúc. Bõ Phúc cũng già lắm, lúc xưa là con của thầy đồ, được nội tổ Trần Hấp rước về dạy chữ Hán cho cụ cố Thủ Ðộ. Thầy đồ qua đời, con trai ở lại giúp việc rồi thành bõ. Lúc tôi bước chân ra sân, nắng rơi lác đác trên những tờ giấy chép chữ Thánh Hiền. Bõ Phúc đang ngồi lom khom phơi kinh sử, mặt bõ ngơ ngác, nói cười như mếu:

– Bẩm Thiếu Ðế ra sân chầu?

– Ðạo đã nát, chữ đã nhòe mực, bõ còn phơi làm chi?

Bõ nhướng mắt ngạc nhiên, những xấp kinh Luận Ngữ của Khổng Tử nhầu nát trong tay bõ. Những tấm giấy đen đũi chép Ðạo Ðức Kinh của Lão Tử ố vàng, thấm nước mềm ủng như bún. Bõ Phúc không hiểu tôi nói gì, lại cúi xuống chăm chỉ xếp từng tờ một, ngay ngắn, thẳng hàng. Những ngón tay già héo của bõ chậm chạp vuốt lại những trang Nam Hoa Kinh rồi bày trên mặt đá. Một cơn gió thổi bất ngờ làm chữ nghĩa bay tán loạn, bõ Phúc hối hả tất tả chạy đuổi theo cho tới lúc cả chiếc bóng bõ cùng những tờ giấymất hút. Sân đá lạnh câm. Không chiêng, không trống, không cờ hiệu, không cả tiếng hát của cung nga, tôi đứng trơ trọi một mình. Phủ Thiên Trường lúc xưa là nơi khởi phát của tộc Trần, về sau là nơi các thượng hoàng sau khi truyền ngôi cho thái tử về dưỡng lão. Chiếc nôi của triều đại mỗi ngày một cũ mục, suy tàn. Tiếng gió lay lắt mấy tấm rèm cửa.

Mãi đến chiều bõ Phúc mới lượm hết chữ Thánh Hiền trở về. Mặt mũi bõ phờ phạc, thở hổn hển. Trông bõ tội nghiệp. Tôi lại đứng xem bõ nhẫn nại phơi kinh sử. Tôi muốn tìm người hiến kế, nhưng không có ai khác, đành hỏi bõ:

– Quý Ly muốn soán ngôi, tôi còn nhỏ dại, phải làm sao?

Bõ Phúc đang ngồi xổm, lấy đá lèn giấy, nghe tôi hỏi bỗng ngửng phắt lên chỉ tay xuống ao quát:

– Ðầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo! Trận này không phá giặc thề không trở lại khúc sông này nữa!

Vẻ mặt bõ Phúc đột ngột hùng dũng, quả quyết. Tiếng nói đanh thép của người bõ già làm tôi muốn khóc, không ngờ những lúc lâm nguy của gia tộc hãy còn người trung. Tôi ôm chầm lấy bõ Phúc, quỳ vội xuống đỡ bõ đứng dậy. Tôi vái sống bõ Phúc hai vái:

– Trời ơi! Mệnh trời chưa hết mới xui bõ về đây, thiên mệnh nhà Trần chưa hết, mai này về được kinh sư tôi nguyện không quên ơn cứu giúp! Vậy bõ có kế chi?

Bõ Phúc cũng xúc động lắm, hai vai run run, đưa tay vấn lại khăn nhiễu. Mặt bõ băn khoăn, hết quấn khăn lại vuốt vạt áo thâm, mãi mới ấp úng:

– Nhổ cỏ thì phải nhổ cả cái rễ nó đi!

Tôi sửng người chưa hiểu bõ Phúc muốn nói gì. Thấy bõ do dự, tôi gặng hỏi:

– Cỏ nào? Ở đâu?

Lúc ấy, tự nhiên mặt bõ Phúc mất hết thần khí, chỉ còn trơ lại thân xác khô vắt của một kẻ già. Nhìn vào đôi mắt bõ trống rỗng, ngơ ngác, hai đồng tử bạc phếch, lờ đờ, tôi chợt hiểu. Hai cha con bõ Phúc theo hầu nội tổ Thái Sư Thủ Ðộ và họ Trần đã quá lâu, về già chẳng còn biết gì nữa; chỉ lập lại những điều được rao truyền, nghe thấy. Tôi muốn giở cười, giở khóc, đâm giận mình thiếu lý trí, kế giữ ngôi báu không ai hỏi kẻ ở đợ trong nhà.

Lúc tôi quay trở vào trong, hàng liễu rũ đứng dưới sắc trời chiều chạng vạng, vẩn vơ chiếc bóng của bõ Phúc hãy còn ngồi lom khom ngờ nghệch phơi ủ chữ Thánh Hiền.

Ðêm đó, sau bữa cơm, tôi hỏi u Ðào:

– Tộc Trần chỉ còn mỗi mình tôi ư?

– Bẩm Thiếu Ðế còn đông lắm.

U mỉm cười, hàm răng nhuộm đen tuyền làm vẻ mặt u thêm trắng. U nói u không bao giờ lớn, trước tôi không tin, bay giờ nhìn u đứng trong bóng tôi, vóc vạc nhỏ nhắn, hai tay xuôi mềm, hai chân bé bỏng, sau lớp da nhăn còn giữ dáng dấp thiếu nữ, tôi mới nhận ra u hãy còn rất trẻ. U bưng khay trà, rót vào chung kính cẩn mời:

– Bẩm Thiếu Ðế ngự.

– U nói sao, tôi không hiểu. Ðông là những ai?

– Bẩm tất cả.

U lại nhìn tôi do dự. Có điều gì bí ẩn u muốn dấu. Tôi nắm tay u, u run se sẽ, tôi cảm nhận rõ ràng mạch máu ấm giữa lòng tay u chảy mạnh. Có lẽ u chưa bao giờ biết đàn ông.

– U còn thương tộc Trần thì dẫn tôi đi gặp.

Ðôi mắt u buồn lắm. Ðôi mắt u nhìn kỹ trong veo như đáy sông Thao, phảng phất tia nhìn của Linh Từ Quốc Mẫu. Tôi ôm u vào lòng và u bật khóc. U Ðào khóc nức nở, nước mắt u đầm đìa, những giọt nước mắt của bao nhiêu năm câm nín, cam chịu, của nhẫn nhục cô đơn. U nuôi tôi từ tấm bé, nhưng chưa bao giờ tôi thấy u khóc nhiều và thành thật như tối đó. Tôi biết u không thể nói, nên u phải khóc. Tôi cũng khóc, vì gia phả tộc Trần xuống tới đời tôi là hết. Quý Ly đã sai Phạm Khả Vĩnh đi giết thượng hoàng Thuận Tông, như ngày xưa nội tổ Thủ Ðộ sai thắt cổ Lý Huệ Tông chồng Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị ở chùa Chân Giáo. Vài hôm nữa chắc Quý Ly cũng cho người đến bắt ép tôi uống độc dược tự tử. Tôi úp mặt vào ngực u thổn thức. Nhưng u Ðào đã lặng lẽ lạnh lẽo gỡ tay. Những giọt nước mắt của u sao mau cạn? Tôi đâm ngờ u không khóc cho tộc Trần.

– Bẩm Thiếu Ðế đã đến tuần.

U đốt đèn lồng dẫn tôi vào sân trong. Khoảng sân lưa thưa gió, tối ám, nước rỉ hai bên vách tường lâu năm bám ẩm rêu. Khói nhang từ lư hương với vàng mã đốt liên tục cay nồng nặc. Bõ Phúc đứng đợi kéo ngai cho tôi ngồi. U Ðào đốt thêm nhang đèn vàng mã. Tiếng nước nhiễu xuống vại nước nghe rõ mồn một. Cả một bức tường khổng lồ soi ánh trăng sáng như một trụ tháp nhà dát bạc. Bức tường sừng sững vĩ đại, bên trên khắc chi chít tên tuổi của những người trong tộc Trần, cùng những chiến công lừng lẫy từ trận Tây Kết, đến Hàm Tử Quan, Vân Ðồn, Bạch Ðằng, hội nghị Bình Than, Diên Hồng… Nghi tục của các vua Trần về ở phủ Thiên Trường là mỗi tối phải mặc niệm trước bức tường đã ghi chép chiến tích. Tôi cũng không thoát ra khỏi tập quán đó.

U Ðào với bõ Phúc xá lạy rồi bước ra.

Chỉ còn tôi với chiếc ngai và bức tường mỗi lúc một sáng lộng lẫy. Ban đầu tôi tưởng là sáng trăng, song cứ mỗi lúc ánh sáng càng rực rỡ chiếu phát như bức tường là cả một khối ngọc khi ửng đỏ lúc long lanh ngời ngời. Ánh sáng huyễn hoặc thu hút đến độ tôi không sao rời mắt đi được. Người tôi mụ đi, chả trách bao nhiêu đời vua Trần đều say mê chiêm ngưỡng bức tường. Ánh sáng từ bức tường thấm vào người tôi tới đâu tê mê tới đó, máu như thông chảy trong cơ thể, sảng khoái, rã rượi, ngọt lịm như say, toàn thân tôi vẫn ngồi yên trong ngai mà như ân ái với nhiều cung nữ, với Chiêu Thánh, với Thuận Thiên, với Linh Từ Quốc Mẫu, với cả u Ðào. Ánh sáng cứ một lúc một mãnh liệt từng vòng từng vòng lớn mãi. Ánh sáng chỉ thoi thóp tắt dần khi trời ửng sáng. Nhiều đêm, nhiều tháng sau, mỗi tối tôi đều đến với bức tường. Cho đến lúc tinh khí kiệt quệ, tôi mới hiểu thứ ánh sáng huyễn mộng đó đến từ hào quang của quá khứ.

6/1992

© Copyright Trần Vũ

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 20 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng

Phần 9

Trời bắt đầu lạnh gắt. Thỉnh thoảng lại mưa phùn làm con đường nhơ nhớp. Khu làm đất lầy lội, mỗi lần bước chân xuống, mỗi lần rùng minh. Vì mưa rét, nên ai cũng ngại lao động, nhất là cơn đói hành hạ liên miên. Suốt ngày chỉ nghĩ đến miếng ăn. Càng “ăn kiểu hàm thụ” càng đói, do đó, bất cứ con gì nhúc nhích từ cóc nhái, thằn lằn, rắn rết, cào cào, châu chấu đều bị tù tìm cách “bắt gọn” cho ngay vào lò lửa. Chỉ trong mấy phút chúng đã hóa kiếp biến vào dạ dầy. Nhưng người đói qua nhiều, các giống côn trùng ăn được lại ít, nên “thực phẩm trời cho” càng ngày càng khan hiếm. Từ các Linh Mục đến các thầy Tuyên Úy đáng kính, trước cái đói, đều giống nhau. Các vị đó còn “hăng say săn đuổi” hơn kẻ trần tục.

Tôi đã chứng kiến một vị Linh Mục trẻ, chiều nào trước khi vô “chuồng” cũng đi bách bộ vòng quanh sân, hay khoanh tay trước ngục, mắt ngước lên trời, lâm râm đọc kinh, săn đuổi một con rắn nhỏ bằng ngón tay út. Sau khi đập chết con rắn, chẳng cần lột da, cho ngay vào bếp lửa nướng, thân con rắn cong queo như chiếc lò-xo đen thui. Vị Linh Mục trẻ đưa vô miệng nhai ngon lành như ăn khúc xúc-xích!

Cũng như tôi được chứng kiến ông thầy Tuyên Úy đói quá, đã ăn cỏ! Thầy cắt những mảnh cỏ non, mọc ở hai bên lề đường hoặc quanh nơi lao động, rửa sạch thái nhỏ, cho vào gô, đút vô bếp nấu nước, đun thật lâu, như ninh bánh chưng. Ninh xong, thầy ngồi trong tư thế nhập thiền rồi lùa từng muỗng cỏ vô miệng. Vừa ăn, thầy vừa nói liên hồi như tụng kinh: Trâu bò ăn được, người ăn được!

Thật đau đớn!Con người một khi không trấn áp nổi dục vọng dù Linh Mục hay Đại Đức cũng vậy thôi, nhiều khi còn dữ đội hơn người thường. Có thầy thèm ăn quá, suốt ngày lải nhải nói về tưong, chao, và những bữa cơm chay trong các ngày đại lễ Phật Đản, Vu Lan! Nhưng vẫn ăn thịt trâu, thịt heo, thịt ngựa như điên! Có vị còn phạm giới và có hành động mà người thường vì danh dự không làm! Nhưng không phải mọi Linh Mục và Đại Đức đều có hành động như vậy. Có nhiều vị rất thánh thiện, rất thanh thoát! Thà chết chứ không chịu làm mất uy ín của Tôn giáo mình thờ phụng!

Một vài anh em, mang theo hạt giống rau cải, rau diếp, rau dền đã chịu khó cuốc những mảnh đất nhỏ, gieo trồng, nhưng phải chờ một thời gian mới có ăn! Trong thời gian chờ đợi, họ còn phải vất vả vì đói. Ở Trại nay, ăn bánh mì luộc dài dài, bột mì của Gia Nã Đại tặng cho nhân dân Việt Nam. Sao họ tặng nhiều thế, mấy trăm ngàn tù ăn hoài chưa hết, ấy chưa kể Nhà Nước và nhân dân. Ai cũng thèm cơm. Bữa nào được chén cơm, mừng húm, tuy chỉ được chia trên một “chén tầu thủy” mỗi bữa!

Sau hơn một tuần khi đến Trại, chúng tôi được gửi thư về nhà có kèm theo “phiếu quà” do Trại cấp, để ăn Tết sắp đến, nay thấp thoáng quà đã tới. Trong buồng tôi, có mười người nhận được. Trong những gói quà đó, ngoài đường thẻ, sữa, đồ mặn, bột Bích Chi, mì ăn liền, thế nào cũng có một vài bánh thuốc lào “3 số 8”. Anh nào biết hút, không nói làm gì. Có những người không biết hút, gói quà cũng có thuốc lào dùng để đổi chác, vì tiền ở đây không có giá trị. Những ai trót đa mang với “làn khói tương tư” mỗi lần thấy ai hút, hoặc ngửi hương thơm quen thuộc của khói thuốc ngon, trong người tự nhiên rạo rực! Một chén cơm đổi lấy 5 “bi” thuốc lào, mỗi ‘bi” to bằng hạt ngô. Tội nghiệp có nhiều anh chưa nhận được quà, thèm thuốc quá đành nhịn đói mang cơm đổi thuốc hút. Trường hợp này làm tôi nhớ đến Lê Huy Linh Vũ ở Nghĩa Lộ! Cơm đã thiếu, còn thiếu hơn ở Trại do Bộ Đội quản lý mà phải hy sinh phần cơm để đổi lấy 5 bi thuốc, sau 5 lần kéo pháo, tiêu tan! Hút có hà tiện lắm, cũng chỉ nửa buổi là hết. Nhưng dù sống hay chết, ai đã ghiền, đều để dành một điếu “3 số 8” cho buổi sáng, khi thức dậy! Điếu thuốc đầu tiên, buổi sáng sớm, có giá trị vô song. Nó làm tâm hồn bay bổng, quên đi được một vài phút đau khổ cuộc đời! Cho đến hôm nay, khi ngồi viết những dòng chữ này trong Trại Tỵ nạn Sungei Besi, tôi không thể hiểu nổi, tại sao con người lại có thể bóc lột nhau một cách tàn ác đến như vậy, trong khi cùng chung cảnh ngộ? Những kẻ bóc lột đó, đau thay, trước kia đều giữ chưc vụ khá quan trọng như Phó Tỉnh Bình Dương, Chánh sự vụ v.v…

Tôi đã hút thuốc lào từ lâu, và hút nặng, mỗi ngày năm, bẩy chục “bi”. Nhưng từ ngày vượt biên, bỏ lại chiếc điếu cầy và mấy bịch thuốc “3 số 8” nơi “bãi đáp”. Trong những ngày đầu, tôi cảm thấy hơi khổ sở, rồi mãi cũng quen, nhất là xung quanh không ai hút! Nhưng, nếu có một người hút, chắc không sao nhịn được, tôi cũng phải mang tất cả những gì mình có để đổi lấy thuốc lào!

Gần cuối năm, tiết trời càng u ám. Từng cơn gió bấc thổi buốt ruột, như cắt da cắt thịt. Mỗi buổi sáng sương mù giăng đầy trời. Toán dắt trâu đạp đất vô “chuồng” kéo trâu ra. Con trâu to lớn với hai chiếc sừng cong veo nhọn hoắt, lừ lừ đi theo chân người dắt, nhưng khi vừa nhìn thấy bãi đất mà nó có nhiệm vụ phải quần cho nát như mọi ngày, đột nhiên nó vùng chạy. Anh dắt trâu cố ghì dây, nhưng không còn sức để giữ nó lâu! Một anh khác cầm roi quất vào mông trâu dồn nó xuống bãi. Nhưng nó chồm lên làm anh dắt trâu ngã sấp xuống, con trâu vùng chạy! Tôi vừa đạp đất vừa nhìn con trâu phóng qua dòng suối nhỏ, chạy mất hút vào lùm cây dưới chân đồi trà.

– Đù mẹ, trâu còn sợ lao động, nữa người! Mùa này cỏ ít, ăn không đủ no, lại làm nhiều, giống vật cũng không kham nổi!

Người bạn tù cùng đạp đất với tôi, nói bằng giọng vừa buồn vừa uất hận :

– Trâu trốn được đó, tụi mình trốn, là bỏ cha!

Gió thổi từng cơn vật vã. Từ sớm, tôi chỉ được ăn 2 khúc sắn, mỗi khúc dài 3 phân, khẩu phần ăn lót lòng 50gram đã tan biến từ lâu. Lúc này cơ thể tôi vì nhu cầu sinh tồn nó tự ăn, nghĩa là nó rút tỉa từng chút, từng chút mỗi ngày làm cho thân xác mỏi mòn, người cứ gầy rạc đi vì thế! Hơi nóng trong người dồn xuống đôi chân, hơi lạnh của đất hút hết, nó lại dồn xuống. Cứ như thế, ngày nối ngày, giữa mùa lạnh khắc nghiệt! Tên Kỳ, Công An quản lý, vô cùng tàn nhẫn, nó xông xáo luôn luôn có mặt để kiểm soát, sỉ nhục, càng làm tinh thần chúng tôi căng thẳng.

Nhưng cảnh tù ở nơi đây cũng không hoàn toàn khô khan. Có Trại nữ tù ở cách Trại Trung Ươngkhoảng 2 cây số. Mỗi sáng họ đi làm ngược chiều. Vì đường lội mọi người phải xắn cao quần cho khỏi lấm. Tôi nhìn những bắp chân trắng nõn đi thoăn thoắt trên đường cả đàn, cả lũ. Có nhiều nữ tù trông cũng khá xinh. Nhiều cô trông dữ dằn không thua đàn ông du đảng. Chiếc xe bò chở gốc rau muống đi trồng, cao đầy như trái núi. Một cô kéo trước, hai người đẩy sau cố gắng lên dốc. Cô gái tóc ngắn đi bên cạnh, cằn nhằn, lèm bèm chửi cô kéo càng. Cô này đang kéo, buông tay. Chiếc xe mất thăng bằng dốc ngược, gốc rau đổ đầy đường. Thấy vậy, cô tóc ngắn đi bên, chắc Đội Trưởng, chẳng nói gì, tiến đến vươn tay túm tóc cô kéo càng, đấm đá túi bụi. Lần thứ nhất, tôi nhìn thấy hai người đàn bà uýnh lộn. Họ quần thảo cũng dữ dội lắm. Nào loi, nào đá, nào kêu, nào chửi, nào gào thét tùm lum. Tên nữ Công An từ phía xa đi lại. Người mập lùn, chiếc đuôi sam đong đưa qua lại, chiếc “cối vàng” úp sụp che gần hết khuôn mặt. Khẩu súng đeo bên hông lúc lắc theo nhịp đi. Khi đến gần nơi uýnh lộn, cô ta chống hai tay vào hông nhìn. Cuộc quần thảo giữa hai nữ tù vẫn tiếp diễn, người nào cũng lấm bê bết. Nhiều người đứng xem, không ai dám can. Hai nữ tù, chắc quá mệt cùng lăn xuống mặt bùn. Tên nữ Công An lúc ấy mới hét:

– Sâm, buông nó ra! Lát nữa về Trại sẽ xử!

Cô tóc ngắn, tên Sâm, đang nằm đè lên đối thủ, nghe lệnh buông ra, đứng lên, mặt đỏ bừng bừng như vừa uống xong ly rượu. Người nữ tù kia ngồi dậy, dòng tóc đen nhánh dính đầy bùn đất đỏ, vừa cho tay quấn tóc vừa chửi. Chiếc áo tuột khuy để lộ một mảng ngực trắng nõn!

Cô tóc ngắn, chỉ tay vào mặt cô kia:

– Trưa nay, mày biết tay tao!

Anh em tù chính trị, đều ngưng làm, nhìn chăm chú hoạt cảnh vừa qua. Một vài tiếng cười nổi lên đây đó!

mạnh hải flickr

Vì sống mãi, quen nhìn, nên thứ gì cũng trở nên nhàm chán. Mỗi sáng dù có đoàn nữ tù đi qua, cũng chỉ là vui mắt chút ít. Có cô vừa đi vừa hát nghêu ngao: “Ngày mai em quyết băng ngàn, vượt suối đi tìm tình yêu!” Tình yêu chắc cô đã tìm thấy nơi một người trong bọn tôi, nên mỗi sáng anh ta vừa làm vừa nhìn ra phía lộ, chờ cô ta đi qua, anh mỉm cười gật đầu. Cô móc cạp quần nhìn nhanh xung quanh rồi ném chiếc bánh mì luộc vào lùm cây! Chờ đoàn nữ tù đi khuất, và ngó tên Công An quản giáo xem nó đứng ở đâu, tìm cơ hội ra nhặt chiếc bánh giấu ngay vào túi. Chả biết mối tình này có đi đến đâu không, nhưng chắc chắn anh bạn tù có bánh ăn mỗi ngày đỡ đói. Còn cô gái đa tình kia, chắc cũng phải có cách nào đó, để khỏi đói.

Buổi nay, tôi thấy Linh Mục Hoạt, tay ôm một bó dầy rau muống xuống khu đất gần chỗ làm. Vị Linh Mục này rất khéo tay, có nghề sửa đồng hồ, nên không phải lao động, chỉ ngồi sửa đồng hồ cho tụi Công An, toàn loại đồng hồ cà tàng từ hồi Pháp thuộc. Tên Công An Kỳ, có buổi vui miệng nói với Linh Mục Hoạt:

– Chúng tôi khổ lắm. Lương có mấy chục đồng, trừ tiền ăn còn lại khoảng 20 đồng một tháng. Năm nào, muốn mua chiếc đồng hồ phải hoản việc nghỉ phép về thăm nhà. Muốn về, khỏi mua đồng hồ. Còn “đài” và xe đạp coi như vấn đề lý tưởng, chỉ mơ ước thôi, suốt đời không hy vọng thực hiện!

– Vào ngành Công An, có khó không, cán bộ?

– Phải 3 đời bần cố, lý lịch tốt. Không có liên hệ và họ hàng với địa chủ, phong kiến, với Tây, với Nhật thuở trước. Bây giờ là “Mỹ Ngụy”. Vào Công An khó hơn đi Bộ Đội nhiều!

Tôi vừa đạp đất vừa nhìn Linh Mục Hoạt cuốc đất làm luống trồng rau muống. Tôi hỏi:

– Ông lấy giống ở đâu vậy?

– Có một bà Phước bị giam ở đây từ năm 54, bả mới quẳng sáng nay đấy! Trồng ít rau để cải thiện. Châu chấu, cào cào hết nhẵn rồi.

Nói xong ông cười, nụ cười rất hồn nhiên. Cách đây mấy hôm, không hiểu có chuyện gì với Tướng Cao, vị Linh Mục Tuyên Úy này đã có thái độ quyết liệt, nói thẳng:

– Tại sao, ông lại xuyên tạc sự thật? Ông báo cáo với cán bộ những điều tôi không làm, không nói?

Tướng Cao trả lời lạnh lùng:

– Ở đây, ai cũng có quyền báo cáo, chả riêng gì tôi!

– Đúng, báo cáo là quyền của ông, nhưng tôi chỉ mong ông đừng xuyên tạc sự thực là được. Chúng ta ở đây, mọi người đều là tù, không có Tướng Tá gì hết. Cách Mạng đã ghi trong nội quy như vậy. Ông muốn về sớm hơn anh em, ông có quyền làm tất cả những gì thuộc riêng ông thôi, đừng hại anh em, để được tha trước.

Nói xong, vị Linh Mục trẻ nay quay về phía anh em nói to:

– Phải lôi rắn ra khỏi hang mà đánh!

Câu chuyện đó rồi cũng qua đi, nhưng mọi người vẫn thắc mắc, không hiểu sao, chuyện gì xẩy ra trong buồng, tên Công An Kỳ đều biết. Mỗi sáng, khi anh em lao động ở “hiện trường”, tên Kỳ vô nói chuyện riêng với Tướng Cao nơi nhà ăn, nằm riêng biệt trên mô đất cao. Tướng Cao và một người nữa được tên Kỳ cho ở nhà, làm vệ sinh: đổ phân, quét dọn nhà tiêu, nhà ở và trông nom vườn hoa, khiêng cáng đồ ăn v v…

Tôi không có ý kiến gì, vì dù sao ông Tướng này cũng là vị chỉ huy cao cấp trong ngành tôi phục vụ. Nhưng tôi nghĩ, giá ở cương vị ông, tôi xung phong xin đi lao động dù có phải vất vả dầm mưa, dãi năng, còn hơn ở nhà làm việc nhẹ như quét dọn, bốc cứt, tuy có nhàn một chút nhưng mang tiếng.

Một buổi sáng, tôi phải đi sửa đường cùng với anh em. Quảng đường bị nước mưa ứ đọng, xe qua lại quá nhiều nên hư hỏng. Trong giờ nghỉ giải lao, tôi bỗng thấy một nữ tù trông có vẻ “trí thức” đang ngồi hái rau muống gần đó. Những lọn tóc đen lánh rũ xuống đôi vai thuôn thuôn. Chiếc áo nâu non làm tăng thêm sắc da trắng xanh, do thiếu ăn. Đôi mắt to đen nhìn sắc sảo. Mũi ngón tay thon nhỏ, thoăn thoắt bẻ những ngọn rau xếp thành từng bó. Tôi ngỏ ý xin. Cô nhìn tôi, rồi ngó xung quanh, nói khẽ:

– Không được đâu anh, con Đội Trưởng nó đứng kia kìa. Nó ác lắm, cho anh, nhỡ nó thấy, báo cáo với cán bộ, thì em chết. Nó đánh và nhốt vào phòng tối, khổ lắm!

Nghe vậy, tôi bỏ ý định xin rau, hỏi khẽ:

– Vì sao, bị đi cải tạo?

Cô gái cắm cúi vặt rau, nhưng vẫn trả lời:

– Khổ lắm, em đưoc điều vào làm ở Tòa Đại Sứ Ba Lan, nước bạn Xã Hội Chủ Nghiã anh em, vì biết Ăng Lê. Em trót yêu một sĩ quan tùy viên thuộc cơ sở đó. Em xin phép Đảng và Nhà Nước cho kết hôn. Vị sĩ quan kia cũng xin với thủ trưởng của họ như vậy. Nhưng kết quả, em bị cho nghỉ việc và bị đưa đi cải tạo, còn anh kia bị gọi về nước.

Tôi cuốc từng nhát uể oải, hình ảnh người nữ tù vì yêu bị đưa đi cải tạo, chập chờn trong đầu. Khi tôi ngưng tay cuốc nhìn về phía vườn rau, cô đã ôm bó rau xanh ngắt đầy ngực, đi đến phía cuối vườn. Tôi chợt thấy một bó nhỏ bên lề đường, chỗ tôi vừa ngồi nghỉ. Tôi biết bó rau đó, cô có nhã ý cho tôi. Gần hết giờ lao động, tôi bỏ chiếc mũ xuống, đến nhặt lên nhét vội vào, kẹp nách, làm ra vẻ tự nhiên chờ kẻng đi về!

Vì thiếu ăn và trời rét qua, tôi bị đau, khai bệnh.

Tôi và 5 nguời khác ôm sổ xuống bệnh xá ở gần nhà bếp. Chúng tôi ngồi chờ ở ngoài sân từ sớm. Gió thổi cắt ruột. Mặt mũi ngươi nào cũng xanh lè. Một tên “tu-bíp” của mình trước 75, mặt lạnh lùng nhìn chúng tôi. Hắn nhìn sổ bệnh, tưởng gọi vào khám, ai ngờ hắn không nói gì. Lát sau, có một tên béo tốt, chiếc ống nghe đeo lòng thòng trước ngực ra dáng bác sĩ. Tôi nghe anh em nói, nó là y tá, tên Mìn, tù hình sự, đã ăn cắp thuốc của Nhà Nước đem bán nên bị bắt. Nó được tụi Công An tín nhiệm giao việc khám bệnh cho tù. Và Hiệp, Bác sĩ quân y ở Cần Thơ phụ tá cho nó. Vừa nhìn thấy chúng tôi, nó trừng mắt:

– Khám bệnh gì mà đông như đi chợ thế này, ông lại cho đi lao động hết bây giờ!

Nói xong nó đi thẳng vô nhà khám bệnh. Chúng tôi uất ức lắm, nhưng không làm gì được, trong khi đó Hiệp lăng xăng, khúm núm “Thưa bác sĩ” ngon ơ! Tên Mìn cho lệnh Hiệp chích cho người này, cho người kia uống thuốc như nó là bác sĩ chính cống và Hiệp là Y tá. Trường hợp này tôi nhớ đến “tu-bíp” Tín ở Long Giao trong những ngày đầu cải tạo, nhưng Tín “tư cách” hơn nhiều!

Tôi được nghỉ một ngày và lãnh 4 viên thuốc cảm. Nhìn anh em khác, có người buổi chiều phải đi lao động! Cái cảnh khám bệnh như vậy nó khốn nạn quá, mất nhân phẩm quá, nên cùng lắm mới khai bệnh.

Sau khi tự tử không chết, thân xác tôi mỏi mòn dần, lại thiếu dinh dưỡng, lao động khổ sai, nên dễ nhuốm bịnh. Tuy không muốn, nhưng tôi vẫn phải đi khám, vì không cách nào khác hơn. Tên Công An Kỳ xuống tận phong khám bệnh hỏi về bệnh trạng của tôi. Một hôm Hiệp cho biết:

– Anh khám bệnh, nghỉ nhiều qua, cán bộ buồng đã lưu ý chúng tôi và cả anh nữa, lần sau sẽ khám kỹ và vấn đề cho nghỉ lao động hay không tùy cán bộ buồng!

Tôi cãi lại:

– Ông nói hay nhỉ! Tôi đau mới phải đi khám bệnh chứ? Tôi có bệnh hay không, ông là chuyên môn phải biết, chứ can hệ gì đến cán bộ buồng?

– Tôi chỉ nhận được lệnh như thế, nên cho anh biết để dè chừng.

Hiệp nói lạnh lùng. Tôi ngẫm nghĩ, rồi chửi thề:

– Đù mẹ, tinh thần như vậy làm đéo gì chẳng thua!

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 20 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng

Phần 8

Sức dội của thắng xe quá gấp làm tôi tỉnh dậy. Tai mơ hồ nghe tiếng nói:

– Ngủ gì, như chết! Xe chạy suốt mấy trăm cây số, không tỉnh!

Một tiếng nói khác:

– Chắc ông ấy mệt! Sức yếu quá!

Có bàn tay lay mạnh vào người:

– Ê, dậy đi ông, đến nơi rồi!

Tôi mở mắt, nhìn đờ đẫn như trong giấc mơ.

Những hình bóng xung quanh như khỏa lấp bởi một màn sương mờ ảo! Tôi cố mở to mắt rồi nhoài người về phía cuối xe! Cổ họng ngứa ngáy, tôi cúi xuống nôn thốc tháo, không sao kềm hãm nổi. Toàn thân rủ liệt, mệt không thể tả. Tôi nôn cả mật xanh, mật vàng cùng rãi rớt. Anh em đã xuống hết. Thấy tôi như vậy, một anh đỡ xuống, một anh kéo túi đồ ra khỏi lòng xe. Tôi nghe tiếng tên quản giáo:

– Ơ, anh kia con ngồi “nàm” gì đấy ? Mang đồ vào Trại! Mau “nên”!

Tôi vẫn ngồi im không nhúc nhích. Túi đồ của tôi nằm lăn dưới gầm xe. Chiếc xe nổ máy, vụt đi!

Tôi cố gắng đứng dậy. Đôi chân lảo đảo, mắt hoa lên. Nhưng tôi vận dụng tất cả khả năng còn lại để đến bên túi đồ, cầm chiếc quai định đeo lên vai, nhung không có cách nào làm nổi! Anh em đã đi xa, không ai nhìn lại, cả tên quản giáo lẫn cảnh vệ.

Chiếc Trại mới với hàng rào tre cao ngất, quét vôi trắng tinh, cách xa khoảng 100 thước, sao lúc này đối với tôi nó xa lắc!… Những chiếc áo vàng qua lại nhộn nhịp. Tuy mệt, tôi cũng còn chút ý thức để phân biệt, cơ sở này thuộc Công An. Dùng tàn lực, tôi kéo túi đồ lê xềnh xệch dưới đất, từng bước một để thu ngắn đoạn đường. Sau cùng, tôi cũng lết tới cổng Trại. Vừa đi, vừa nghĩ tại sao mình không chết với 48 viên độc dược? Một con heo 100kí, chỉ 5 viên Chloroquine cũng đủ giết nó dễ dàng! Sao tôi, sau hơn 2 năm cải tạo, qua 5 nhà tù, từ 62 kí-lô, nay chỉ còn khoảng trên dưới 40 mà số lượng độc dược nhiều gấp 9 lần vì đâu không chết! Đây là định mệnh chăng, hay một phép lạ, hoặc tôi đã chết mà cảnh tượng hiện thấy thuộc thế giới bên kia?…·

Nhưng thực tế là thực tế. Tôi vẫn còn sống, đang cùng các nguời khác đứng nghiêm chỉnh nghe tên quản giáo đọc tên và hô “có mặt”, để giao tù cho tên Công An đứng ngay đó! Sau khi bàn giao xong, tên quản giáo cười, nụ cười đểu giả. Chính nó đã tịch thu tất cả những gì cần thiết cho đời sống của một người tù, chúng tôi không còn gì kể cả chiếc muỗng nhỏ để dùng!

Những người tù cũ đứng xa xa nhìn. Lát sau chúng tôi được cho ăn bát chè nóng. Đây coi như “bát chè tiếp tân” gây thiện cảm ! Nhờ ăn bát chè đậu xanh, trong người thấy tỉnh táo. Chúng tôi được tên Công An hướng dẫn vô buồng. Căn buồng tuy bằng lá nhưng khá sạch sẽ. Mỗi người nằm một chiếu, bề ngang khoảng 80 phân. Trên đầu giường có để sẵn một chiếc mền, một bánh xà-bông, một ống kem và chiếc bàn chải đánh răng. Tuy mệt, nhưng hồi tưởng, thấy lời tên quản giáo nói có phần đúng.

Sau khi nhận chỗ nằm xong, chúng tôi ra sân tìm nước rửa mặt, tay chân. Chiếc bể lớn chứa đầy nước tha hồ dùng. Sau khi rửa ráy, mặt mũi người nào trông cũng tươi lên. Một anh bạn cùng chuyến, tên Trai, nói nhỏ:

– Lúc xe di chuyển từ Nghĩa Lộ lên đây, chắc Bác mệt lắm, tôi nhìn thấy chiếc đầu cứ lắc la lắc lư, tưởng gẫy cổ rồi chứ? Bác yếu quá, sao chịu nổi?

Tôi nhìn Trai, ông ta lớn hơn tôi một tuổi, người gầy ốm, hàng râu mép lưa thưa, nhưng lúc này còn mạnh, vì ông đâu có dùng 48 viên độc dược như tôi?

– Tôi bệnh lâu rồi, Bác ơi! Đây là đâu?

– Lào Cai ! Trại này do Công An quản lý. Tôi nghe nói, tối họ khóa cửa.

– Thế đêm hôm đái iả ra sao?

– Có cầu tiêu trong buồng!

– Chết cha, hôi thối sao chiu nổi!

Chúng tôi đang nói chuyện, bỗng có tiếng còi thổi vang. Đằng, trung tá Dù được chỉ định làm Trưởng Toán, kêu anh em tập họp. Tên Công An, tay cầm xâu chìa khóa, đứng trên thềm cao nói:

– Các anh ngồi xuống!

Tất cả ngồi chồm hỗm trên nền đất. Tên Công An tiếp:

– Trước hết, tôi xin giới thiệu với mấy anh, đây là “nhà tù của Xã Hội Chủ Nghĩa”

Ai nấy đều sửng sốt qua nét mặt, nhưng không ai thốt ra lời nào. Riêng tôi, lần thứ hai, chính tai nghe. Lần thứ nhất, trong đêm đầu ở Suối Máu! Vì tự nhận diện mình nên trong cuốn sách, tôi hay dừng chữ “tù” thay cho chữ “cải tạo”. Nhưng tụi Cộng Sản cấp cao, thường cấm mọi người nói đến chữ “tù”, chỉ được dùng chữ Cải tạo viên hay Trại viên, mỗi lần cần xưng hô! Đồ giả đối!

Nói xong câu đó, tên Công An dừng lại một phút, rồi nói thêm về cách ăn, ở trong buồng:

– Ban đêm, cửa sẽ khóa từ 6giờ rưỡi chiều đến 6giờ rưỡi sáng hôm sau. Kẻng báo ra, sau kẻng báo thức! Các anh phải cắt phiên trực để làm vệ sinh, đổ thùng phân, quét dọn cầu tiêu, buồng ngủ cho sạch sẽ, mền chiếu xếp gọn gàng đúng chỗ quy định. Các anh nghe rõ chứ?

– Rõ!

Chúng tôi xếp hàng hai đi vô buồng. Tên Công An đếm số người. Sau khi vô hết, cửa đóng tiếp theo tiếng dập khóa khô khan. Từ phút này, chúng tôi hoàn toàn cách biệt với sinh hoạt bên ngoài.

Vì quá mệt, tôi nằm lăn ra chỗ ngủ. Mùi chiếu ẩm mốc bốc lên. Tôi trải chiếc mền cho đỡ phải ngửi cái mùi khó thương đó. Tôi ngửa mặt, cố nhớ lại những gì mình đã làm, đã trải qua trong mười mấy tiếng đồng hồ vừa qua. Lúc tôi uống thuốc vào khoảng 5 giờ sáng. Sau 10 phút, ngất đi. Suốt từ đó tới khi đến Lào Cai, vào lúc xế chiều, như vậy, tôi hôn mê khoảng 12 tiếng đồng hồ liên tiếp. Từ phút này, tôi bắt đầu sợ định mệnh! Khi còn ở Suối Máu, tôi nhờ Vọng, một bạn tù giỏi Tử Vi lấy hộ lá số. Vọng cho biết tôi sống đến ngoài 80 tuổi và sẽ mất tại nước ngoài! Tôi cười nói:

– Ông ơi, cuộc đời tàn rồi, sống thêm ngày nào nhục ngày đó. Ham gì đâu mà sống? Còn chết ở nước ngoài, ai cho đi, làm sao đi được để chết?

– Lá số ông sao, tôi nói vậy, còn tin hay không, tùy!

Nay hồi tưởng, chuyện chết ở nước ngoài chưa biết, nhung sau lần tự tử hụt này, tôi biết mình khó chết.

Từ đó, tôi phó mặc đời sống cho định mệnh, chấp nhận mọi việc dù tốt, dù xấu!

Tôi đau ốm liên miên, người gầy rạc hẳn đi, chỉ còn da bọc xương. Lúc đi khám bệnh cân lại, đúng 35 kí-lô. Từ 62 còn 35, mất đi 27 kí-lô! Vì quá yếu, tôi không phải đi lao động, mỗi ngày được chích và uống thuốc! Tôi giấu kín việc tự tử. Cơm nước ở đây tương đối khá hơn ở Trại “cối xanh” quản lý, nhưng vẫn không đủ no. Chúng tôi thỉnh thoảng được ăn thịt trâu hoặc ngựa. Một buổi gần tới giờ cơm, xuống nhà bếp xin nước uống thuốc, tôi bất chợt nhìn thấy một anh trong Tổ làm bếp đang ngồi gặm đầu ngựa, đặt trong lòng chiếc chậu săt. Chiếc đầu ngựa trắng hếu với hàm răng nhe ra như cười, anh ta ghé miệng vào chiếc sọ cạp từng miếng thịt còn dính lại, gỡ chưa hết! Trông ghê quá!

Cái cảnh khám xét của Công An kỹ hơn bộ đội nhiều. Họ tịch thu lần nữa. Tôi lại mất luôn một số đồ. Khám xong tên Công An cho lệnh Đội Trưởng khám người. Cũng lần lưng, bóp túi, nắn gấu áo, cạp quần đủ thứ, nhưng dù sao anh em khám cũng đỡ hơn Công An. Những đồ tịch thu như dây dù, dây nịt, thuốc men, quẹt máy đều được chuyển ra ngoài Trại ngay lập tức. Thuốc, tôi không còn nhưng tôi mất sợi dây dù dài khoảng 20 thước để căng võng và sợi dây lưng quân đội, nhưng vẫn giữ được chiếc Zippo. Vì có chiếc bật lửa này, mỗi sáng khi tôi vừa thức dậy hút thuốc, đã có một anh ngồi chờ xin lửa! Lửa ở đây quá hiếm!

mạnh hải flickr

Sau đó một hôm, chúng tôi học tập nội quy ở Hội Trường. Buổi học tập nội quy rất nghiêm chỉnh, mọi vấn đề đều được trình bầy đầy đủ trên lý thuyết. Hậu cần nói về ăn uống. Mỗi tháng tù được ăn bao nhiều cân gạo, bao nhiêu lạng thịt cá, bao nhiêu lạng rau v.v… Hàng tháng, còn được Nhà Nước cho thêm 3 đồng tiêu vặt, nhưng số tiền này sẽ được Trại thực hiện bằng thuốc lá, thuốc lào, kem đánh răng, xà-bông v.v… Cuối cùng, tên cán bộ giáo dục nói về hoàn cảnh đích thực của chúng tôi.

– Các anh như những con người sắp ra khỏi bóng tối. Lúc này đã 3 giờ sáng, chỉ còn mấy tiếng nữa, các anh sẽ nhìn thấy mặt trời. Cố lên, chớ làm điều gì để ân hận về sau!

Lời nói vừa tử tế vừa hàm ý đe dọa. Bản nội quy gồm nhiều điều ngăn cấm hơn bên bộ đội. Sau đó, chúng tôi mỗi người lại phải tự khai lý lịch và làm một bản liệt kê đã học tập những gì, ở đâu, nội dung ra sao?

Hôm sau nữa, chúng tôi phải đóng đấu chữ CẢI TẠO vô áo quần mặc, từ xà-lỏn tới áo thung. Những đồ nào không đóng dấu, không được dùng, phải gói lại cất vào kho riêng do Công An giữ chìa khóa. Có người không muốn gửi, đóng dấu tùm lum.

Căn buồng tôi ở sát ngay chiếc loa phóng thanh. Mỗi tối đài Hà-nội léo nhéo từ 6 giờ chiều đến 11 giờ đêm. Một tối,nghe thấy từ loa phóng ra câu: “Nói đến vô sản chuyên chính là nói cuộc đấu tranh sắt máu, không nhân nhượng, một sống, một chết với quân thù”! Qua câu đó, tôi biết ngay, Dương văn Minh là ông tướng không hiểu chính trị, nhất là không hiểu Cộng Sản, nên ngày 30-4-75, ông mới yêu cầu “người anh em bên kia” hãy ngừng bắn để điều đình với mục đích hòa hợp, hòa giải Dân tộc! Tôi biết Cộng Sản đã tha cho hai ông: Dương văn Minh và Vũ văn Mẫu không phải đi cải tạo để hứng chịu nhục nhằn, đói khổ. Có lẽ đó, một hình thức trả ơn!…

Nhưng tôi không ở Trại này lâu. Sau trên một tháng, chúng tôi và 32 người khác, tổng số 50, có tên chuyển Trại. Trong thời gian ở đây, tôi có gặp vài anh em cấp nhỏ cùng ngành, tuy không cùng buồng, nhưng thỉnh thoảng có dịp nói chuyện. Tôi có mang ơn một người bạn trẻ, Trung Úy ngành Quân Cụ, đã có sửa dùm tôi chiếc gọng kính bị gẫy. Không có kính, tôi như mù. Chiếc kính đó, tôi mang theo đến ngày vượt biên, bị cướp Thái Lan lấy mất. Nếu những dòng chữ này may mắn anh được đọc, xin nhận ở đây lời cảm ơn của người viết sách!

Cuộc chuyển Trại, được chuẩn bị từ sáng sớm, nhưng mãi đến 9 giờ mới khởi hành. Chúng tôi di chuyển theo đường bộ. Con lộ gập ghềnh lên xuống theo triền núi. Một dòng suối, nước chảy đen ngòm ngay dưới chân. Tôi đeo túi lên vai, lê những bước nặng nhọc vì sức khỏe mỗi ngày một suy yếu. Chúng tôi có gặp một toán di hành ngược chiều. Đây là việc hoán chuyển tù. Chúng tôi đi khoảng 3 cây số, mất tới 4 giờ. Một chiếc cổng lớn, cánh cửa sắt đóng im ỉm. Bức tường gạch cao ngất, nhẵn thín quay xung quanh, rất kiên cố. Trên nóc cổng có hàng chữ: Trại Cải Tạo Trung Ương số 1, tô mầu đen trên nền vôi trắng, trông gớm ghiếc.

Mấy tên Công An vũ trang đeo AK trên vai, đi lại trên mô đất cao, đầu đội mũ biên phòng, một loại mũ ấm, bắt chước kiểu mũ của lính Nga, vì lúc này đã bắt đầu mùa lạnh. Tôi nghe nói, nơi đây xưa kia là nhà tù của Thực Dân Pháp giam giữ những nhà Cách Mạng Việt Nam.

Tên Công An giải tù cho lệnh, tất cả đứng chờ.

Hắn đẩy cửa sắt đi vô một lúc rồi trở ra. Cánh cửa được mở rộng. Một toán Công An từ trong ùa ra. Một tên cho lệnh chúng tôi ngồi xuống, xếp hàng hai! Đếm xong, hắn cho lệnh đi vào Trại, rồi quay người nói với tên Công An đứng bên:

– Tôi giao cho đồng chí Đội này!

Tên Công An được giao, cười gượng, ngụ ý như miễn cưỡng phải nhận.

Tên Công An quản lý dẫn chúng tôi trèo lên những bậc gạch cao chừng 2 thước đi sâu vào chiếc hành lang, hai bên có tường cao, mỗi bên có hai chiếc cửa ra vào, đối điện. Tất cả cánh cửa đều có then và chốt sắt bên ngoài. Tôi liếc nhìn vào một chiếc cổng mở, thấy có vườn hoa tươi tốt, những đóa hồng nở tung xen lẫn cúc vàng. Phia cuối, căn nhà gạch dài khoảng 20 thước.

Chúng tôi được dẫn tới chiếc cổng cuối. Cánh cửa mở rộng. Có hai người chờ sẵn ở đó: Tướng Văn Thành Cao, Tổng Cục phó Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và Trung Tá Kính khi trước ở Cục Tiếp Vận 3. Cả hai người khúm núm chào tên Công An. Chúng tôi, 50 người được lệnh bỏ đồ xuống, nghe tên Công An nói vài câu lấy lệ, rồi giao cho Tướng Cao, nói cho anh em biết về cách ăn ở, sinh hoạt của buồng. Tên Công An đi ra. Chúng tôi ào vào giành chỗ nằm. Buồng có sạp gỗ hai bên, mỗi bên đều có gác, như vậy tương đối rộng.

Buổi trưa, nhà bếp mang cơm lên tận cổng. Tưóng Cao và anh Kính khiêng vô. Cánh cửa được đóng chặt, cài chốt bên ngoài. Tôi hỏi, mới biết, ở đây nhà bếp có nhiệm vụ khiêng cáng cơm đến mỗi buồng. Ăn xong, rửa nồi, chậu xếp vào cáng, xế trưa, nhà bếp lại lên lấy về. Mỗi ngày hai buổi như vậy. Nhà bếp có trách nhiệm đóng và mở cổng, mỗi lần đưa cơm. Nước cũng được phát hai thùng men, chứa khoảng 30 lít, sáng và trưa, trước giờ lao động.

Buổi chiều, hai tên CôngAn vô, cho lịnh điểm nghiệm. Một lần nữa, chúng tôi lại phải bầy đồ ra, đầy ứ chiếc sân toàn cát bụi đen ngòm. Tôi lại phải giấu bật lửa. Cuộc khám xét cũng mất vừa một buổi chiều, do hai tên Công An cùng khám.

Ăn cơm xong, chúng tôi nghe kẻng, ngồi xếp hàng tư giữa sân, chờ lệnh vô “chuồng”. Danh từ ”chuồng” bắt đầu được xử dụng từ đây!

Tên Công An Trực đi vô, tay cầm chùm chìa khóa lúc la, lúc lắc! Đội Trưởng đứng báo cáo số tù. Tên Công An giọng lạnh lùng:

– Cho vào! Hàng trái vô trước, xong đến hàng phải, cứ 2 người một.

Sau khi vô hết, tên Công An dập cửa, kéo chốt sắt khóa lại. Thế là xong! Hai ngọn đèn điện đỏ quạch tuy không đủ sáng nhưng còn hơn Trại B, nơi chúng tôi vừa rời khỏi. Nhịp chân đi ra phía cổng, có tiếng cài chốt phía ngoài. Chúng tôi bị khóa tới hai lần.

Vì một may mắn nào đó, tôi đang cần chiếc lon gô để đựng cơm, tôi nhìn ngay trên chiếc đà, chỗ nằm, có một chiếc. Tôi lấy xuống, thấy có khắc tên Thanh. Tôi chắc của anh nào đó, mới đi sáng nay, bỏ quên. Thôi, tôi cảm ơn chủ nhân chiếc gô, tuy không quen biết, nhưng cũng là cái duyên. Tôi không dùng nó, người khác cũng dùng. Tôi tự nói với mình như vậy để khi dùng được yên ổn trong lòng. Vì cùng cảnh ngộ, cái gô này rất cần cho người tù. Tôi mang theo nó suốt từ ngày ấy cho đến khi được tha về.

Hôm sau lại khai báo lý lich và học tập nội quy do tên đại úy Phó Trại “lên lớp”. Nhà tù nào cũng ngần ấy thủ tục trong những ngày đầu! Chúng tôi được thong thả trong hai ngày xong bắt đầu lao động.

Buổi lao động đầu tiên chúng tôi ngồi thu lu bên cạnh các đội khác. Đội tôi, mang danh hiệu Đội 8. Tôi ngồi đây, nhưng chưa hiểu phải làm gì, lao động ở đâu? Từ trong hàng, tôi liếc nhìn qua chiếc bàn, nơi tên Công An đứng gọi từng Đội đi lao động, thấy trên mô đất cao phía ngoài cổng, lố nhố đầy Công An vác AK trên vai.

Từng Đội được gọi đứng lên, đi ra khỏi cổng. Tên Công An quản giáo đi theo, ra khỏi cổng, tên Công An vũ trang, từ mô đất nhẩy xuống đi kèm. Đội đi thẳng, Đội quẹo trái, Đội quẹo phải lung tung. Sự gọi Đội, hình như theo công tác lao động chứ không theo thứ tự. Chúng tôi chờ lâu lắm, khi các Đội đi gần hết, chiếc sân rộng mênh mông vắng hoe, Đội tôi mới được gọi.

Chúng tôi đứng lên đi ra, tên quản giáo theo sau. Khỏi cổng, một tên Công An vũ trang từ mô đất cao nhẩy xuống, cầm AK bám sát. Chúng tôi được dẫn đi xa khoảng 1 cây số rồi dừng lại trước lò gạch. Đã có nhiều người đang lao động ở dưới thấp, cũng như trên cao. Con trâu to mập đang đi vòng quanh bãi đất lổn nhổn, do một người cầm dây dắt. Rải rác đó đây, có những ụ đất cao. Chiếc lò gạch đang nung, làn khói vươn cao. Mầu trời ảm đạm. Mùa lạnh bắt đầu. Tôi nhớ đến mùa lạnh năm ngoái, phát rùng mình. Ở đây còn cao hơn, chắc sẽ lạnh nhiều. Chúng tôi đang ở địa điểm cách Phố Lu 9 cây số, thuộc tỉnh lỵ Lào Cai.

Đội chúng tôi được phân tán thành nhiều toán, để học việc làm gạch ngói, do Đội 9 đã ở lâu, phụ trách chỉ dẫn.

Tên Công An quản lý luôn luôn có mặt chỗ này, chỗ kia, xem chúng tôi “học tập lao động” ra sao?

mạnh hải flickr

Tôi được điều vào toán đạp đất. Tôi đi vòng quanh quả đất đường kính khoảng 3 thước, cao chừng 1 thước. Năm, sáu người cứ đi vòng vòng, một người cầm chiếc kéo cắt đất, xén lần cho rơi xuống. Chiếc kéo cắt đất làm bằng một cây sắt uốn vòng cung, có sợi dây thắng xe đạp buộc vô hai đầu thật căng. Người cắt ấn xuống, sọi dây cắt đất phăng phăng, mau và gọn! Chúng tôi dẫm lên nhiều lần, đất mịn như tảng bột. Cứ như vậy, hai chân tôi mỏi nhừ. Dẫm chừng 2 giờ được nghỉ 15 phút hút thuốc, uống nước trà tươi, hái từ quả đồi trước mặt. Xung quanh chỗ làm việc, toan đồi trà cằn cỗi, chưa kịp phá đi trồng lại. Nhưng tuy vậy vẫn hái được lá để nấu nước, mỗi ngày 2 thùng. Bụng đói như cào, chân vẫn đạp đều đều trên đất ướt. Tuy mới buổi đầu, tôi đã cảm thấy cam go! Đất được dẫm kỹ, nhuyễn rồi, cho vào khuôn ép thành ngói hay gạch. Chiếc máy ép ngói hoạt động liên tục. Một người cho đất vào khuôn, một người kéo cần giật, một người lấy ra cắt xén, xong đưa vào giàn phơi, chờ khô cho vô lò. Còn gạch hoàn toàn làm bằng tay với chiếc khuôn gỗ, đóng xong có người mang phơi nắng cho ráo chờ nung. Có 2 chiếc lò, một nung ngói, một nung gạch. Vẫn cái kiểu lò cũ kỹ, tôi đã nhìn thấy từ hồi còn niên thiếu.

Từ đó, Đội chúng tôi gắn chặt vào công việc làm gạch ngói. Sau thời gian học tập, chúng tôi bắt đầu làm riêng.Tên Công An quản lý, chia công tác cho mỗi người. Toán làm gạch, toán làm ngói, toán đạp đất, toán giắt trâu dẫm đất và cuốc bãi!

Theo nguyên tắc, muốn có đất làm gạch, phải cuốc đất thành một bãi đất có hình tròn, đường kính khoảng từ 6 đến 8 thước. Sau khi cuốc sơ, đổ nước vô cho trâu dẫm nát. Buổi sáng trâu dẫm xong, buổi chiều người lấy lên đắp thành từng quả đất. Sáng hôm sau, hai người đạp một quả. Vừa đạp vừa cắt, sao cho nhuyễn mịn, không còn cục đất sượng nào mới được. Cắt đạp hai, ba lần mới xong, vừa đúng một buổi sáng. Nếu ai đạp khỏe còn có chút thì giò dư đi “cải thiện”, đun nấu. Nếu không, nhiều lúc đến giờ về, chưa kịp rửa tay chân. Đất đạp xong, đậy bằng tấm liếp che nắng cho khỏi khô và được toán khác đưa đến chỗ đóng gạch. Gạch đóng xong mang phơi.

Các “khâu” ấy, “khâu” nào cũng nặng như nhau, chỉ có Đội Trưởng được ngồi chơi, thỉnh thoảng chạy chỗ này một tí, chỗ kia một lát, đôn đốc anh em cho có việc, lại còn được tên Công An thỉnh thoảng cho khoai, sắn, mật, nấu chè riêng. Quyền lợi của Đội Trưởng như vậy ai cũng ham, nhưng cũng khó tránh vì một khi đã ngoạm được miếng ngon trong miệng, khó nhả ra. Do đó, anh em làm gì tụi Công An đều biết rất mau chóng!