Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 12 Jun 2024

Google photos

Phần 6

Hết vàng lần thứ hai

Vừa dọn về nhà mới trong Chợ Lớn đâu được vài ngày, kế má Tư tọt tét vô thăm. Má căn dặn một hai chớ có tin mà mắc điếm thằng ba da trời đánh nầy. Nghe vậy hay vậy, tội nghiệp nói có trời làm chứng, tôi ở cửa giữa, nắng bề nào che bề nấy, biết làm sao bây giờ. Má, tôi cũng thương; mà ảnh, ảnh muốn gì, tôi cũng chịu. Chưa đầy một tháng, chồng tôi sắm lại cho tôi chuỗi và vàng tay đủ hết, con người làm sao mà rộng rãi với vợ con quá, chỉ tiếc không phải một màu da.

Bữa nọ, không có anh ấy ở nhà, má Tư vô, biếu tôi lấy cho mượn năm trăm đồng, vì má có chuyện cần kíp lắm. Tôi than năm trăm không có, tiền chồng cho để xài vặt, tôi tiện cặn vừa hơn tám chục, chớ một trăm cũng không có đú, má tạm đỡ về mà xài. Má mới biểu thôi thì cho má mượn đỡ vàng đem về cầm, rồi nội trong hai ngày, má chuộc lại liền, thẳng không hay đâu mà sợ. Tôi nghĩ đầu dây môi nhợ cũng nhỏ người ta mà mình nay được no cơm ấm áo như vầy, không lẽ mình nói không cho thì cũng ngặt. Tiếng má Tư ở Sài Gòn phải vừa või gì, nếu chọc cho bả giận và mếch lòng thì dễ gì sống trên đất nầy với bả hay sao? Nghĩ vầy rồi, tôi tuôn hết vòng vàng của cái cho má mượn, chỉ chừa mấy nhón thường đeo hàng ngày mà thôi. Bả về rồi, tôi ăn ngủ không được, lo lắng trông mau đúng hai ngày, kẻo phen nầy, chồng tôi hay đặng việc nầy, thì có nước chết. Té ra đúng hai ngày mà trông hoài không thấy tăm dạng, qua ngày thứ ba, anh vừa bước ra, tôi vội khoá cửa, tuột ra nhà má. Tới nơi thấy má nằm xuôi xị. Vừa thấy mặt, má nói cho một hơi: “Ác nghiệt hôn. Làm cho con tôi phải ra đến đây làm vậy! Con ơi! Thiệt là rui cho má quá? Hôm má mượn đồ của con, là má tính còn hai kỳ góp nữa thì hết thiếu thằng Annamalê. Cho nên má định mình làm tốt đem góp tất cho nó một lần để rút giây nợ cho nó có cảm giác là mình là người tốt rồi vài hôm sau mình giả bộ dắt con Bảy ra hỏi, rồi mình ký tên xa-nhe (signer) bảo lãnh, vay lại năm ngàn đồng bạc mới mà xài. Mình nghĩ bề thế con Bảy chị con như vậy và mình lại vừa mới trả hai ngàn đồng cũ rất tử tế chưa đợi đúng kỳ, đã vậy thằng Annamalê nó có dặn má coi chỗ nào chắc chắn chỉ cho nó để nó cho vay bạc, như vậy đó lẽ nào phen nầy nó từ chối. Ai dè xui quá là xui? Rủi ôi là rủi! Đồ đạc của con đem về, má cầm chưa đầy ba trăm. Má phải mót thêm đồ nhà nhập vô cầm được một trăm ngoài nữa. Rồi lại mượn thêm năm chục đồng của cô Sáu Sửu, nhập vào mới đủ hai tháng tiền cho nó. Ra lấy giấy nợ cũ xong xuôi, hôm qua nầy dợm ra nói chuyện với nó về vụ hỏi năm ngàn đồng mới, ngờ đâu có tin nó đau. Hồi sớm mai nầy, má mới ra ngoài, thì nó chưa mạnh. Con nghĩ mà coi má sai lời với con, có chết được không? Làm má buồn quá. Đi mới về, mới liệng cái khăn, vừa nghỉ lưng kế con ra đây làm vầy. Tội quá!”

Thôi? Má đã nói như vậy, phép mình nói sao bây giờ? Ra về tay không, chỉ xin má một điều phải lo phải chạy làm sao, kẻo để lâu, chồng hay đang phen nầy việc tác tệ dường nầy, ảnh đánh cho ắt là nhứt sanh nhứt tử.

Được hai bữa tôi ra, thì má kêu trời cho hay Annamalê vừa đem đi chôn. Và má bây giờ quả tận lương vô kế. Tôi nghe vậy thì hai hàng nước mắt chảy ròng ròng. Cô bác phải ai gặp tôi lúc đó, chắc là tưởng thằng Annamalê nầy là tình nhơn của tôi nên nghe tin chết tôi mủi lòng như vậy. Kỳ thật tôi khóc mấy lượng vàng của tôi không cánh mà bay. Tôi khóc cho bản thân tôi, phen nầy làm sao biết đào đất mà trốn, mà trốn sao được với anh hạch nhà tôi dẫu xương đồng da sắt cũng phải mềm? Tôi ngồi khóc nỉ non nỉ nọt. Má an ủi: “Tuy vậy mặc lòng, con chớ có rầu buồn làm chi cho hao tốn nhan sắc. Má còn tính toán. Con chớ tưởng tiếng Tư Hớn đất Sài Gòn nầy, đành khoanh tay ngồi coi con mang hại hay sao? Còn nước còn tát mà. Trời sanh voi, phải sanh có chớ?”

Tôi lau nước mắt ra về, lòng nặng trĩu.

Ngày sau, lối ba giờ chiều, má ngồi xe kéo tay vô… Má bệu bạo: “Con ôi! Cứu má phen nầy, không thì mẹ con mình chết chùm với nhau đó. Mấy ngày rày má chạy đã cùng phương, mà lo không ra kế. Má lại e phen nầy chồng con nó hay đồ đạc mất nữa thì nó không dung, mà chẳng lẽ má để cho vợ chồng con rời rã vì má hay sao? Đã biết, với thằng điếm ba da đó thì có kế chi tình nghĩa vợ chồng. Tuy vậy, đây cũng là chỗ nhờ cậy của con, tưởng mất rồi khó kiếm. Chớ má biết rõ bụng nó không quyết chí lâu dài với con đâu. Thứ quân…” Má nói đến đó rồi thở ra không nói dứt câu… Tôi hỏi: “Vậy bây giờ má tính sao?”. Má Tư tiếp: “Có một chước nầy là vẹn toàn, ngặt nỗi con bây giờ, đâu có nghe lời má”. Tôi hỏi phăng tới: “Chước gì má cứ nói, con nào dám chẳng nghe lời má hay sao”. Má đáp nho nhỏ: “Nề! Có một thầy cai ở Trà Vinh, người giàu có lớn lắm, thêm dám ăn xài. Thầy lên đây bán lúa mà má biết tánh thầy, hễ thấy con ắt quít đít liền. Vậy chiều mai con hãy bắc kế cho thật bảnh, lối gần năm giờ con ngồi xe tay cho kéo ngang nhà má mà đừng ghé. Má có chào hỏi, con cứ trả lời cầm chừng rồi chạy luôn; còn chi nữa, mọi việc để đây cho má lo liệu. Vái trời cho con lọt mắt thầy thì không khác chuột vào thúng nếp. Ở đời phải biết phòng xa. Nói cho cùng, rủi thằng ba da nầy có sa thải con ra, thì sẵn còn thầy cai đó. Chớ bằng không, thì một mai rồi trở tay không kịp. Mà con phải nhớ cái thằng điếm chó ở nhà đây nó buông con nầy bắt con kia, xưa nay ai cũng biết trừ có mình con. Ngây thơ quá thì lầm to. Đừng chắc con ăn đời ở kiếp mãi mãi với thằng hạch nầy. Nó thuở nay, hễ con nào còn mới thì nó tâng tiu, chớ ít ngày xài đã, nó đạp đầu ra cửa, lại còn kiếm cách lột đồ sạch bách. Hôm nọ vì thấy con bơ vơ nên má gả đỡ chớ xong xảy gì đâu! Má ỷ có má đây, ắt nó không làm gì con đặng nên má gả phứt cho con tạm an thân, nay nếu con chẳng biết nghe lời thì sau nầy dừng trách. Ý cái con, sao mà khờ quá!”

Ban đầu tôi còn bần dùng, còn chút lương tâm nên không nhứt quyết e làm vậy khó coi. Thà chừng nào chồng bỏ sẽ hay, chớ nay chồng đang âu yếm không tỏ chút gì lầm lỗi cho mình đành bạc bẽo, huống chi vòng vàng người ta cho không tiếc, mình ăn ở vô nghì, trời đất nào dung. Nhưng sau rốt má Tư òn ỉ êm tai, rồi tôi ưng chịu hết. Má ra về hẹn đi mướn đồ bắc kế, sẽ cho chị Sáu cần vô phải chưng diện làm sao cho thầy cai bị thâu hồn thâu vía.

Chia tay Phan Lạc Phúc

Nguyễn Xuân Thiệp (May 1, 2016)

Post by Sơn râu 12 Jun 2024

Ở thế kỷ này, chia tay nhau đâu còn có trường đình, đoản đình hay ải tây nơi quan ngoại, hoặc giả một phù dung lâu. Và cũng không cần một bến sông, sân ga, cầu tàu, phi trường, trạm xe greyhound… hay một nơi nào đó gọi là funeral home. Chia tay nhau ngày hôm nay chỉ cần trên một trang web ảo, hay một trang báo giấy khiêm nhường.

Và theo cách thức như thế, chúng ta đã chia tay Phùng Nguyễn, Đinh Cường, Nguyễn Ngọc Bích, Hoài Khanh, Tạ Chí Đại Trường, và mới đây Phan Lạc Phúc. Theo các bạn văn cho biết Phan Lạc Phúc ra đi ngày 28 tháng 4. 2016 tại Úc sau một cơn đột quỵ. Ôi, chỉ trong vòng nửa năm thôi mà có quá nhiều anh em ra đi, lại toàn là người có tài, tử tế, có tấm lòng với đất nước. Một câu hỏi lờn vởn trong tâm trí những bạn bè còn ở lại: Sau Phan Lạc Phúc rồi sẽ là ai nữa đây.

Người viết những dòng này với Phan Lạc Phúc có mối liên hệ hơi đặc biệt. Ông và Hà Thượng Nhân thuộc lớp người đi trước. Khi bọn này (NXT, Huy Phương, Mai Trung Tĩnh…) ra trường với lon chuẩn úy thì các ông đã ở cấp bậc cao và nổi tiếng. Hà Thượng Nhân với những bài thơ Đàn Ngang Cung trên báo Tự Do, rồi làm giám đốc Đài Phát Thanh Sài Gòn và chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến của Quân Đội. Phan Lạc Phúc cũng từ báo Tiền Tuyến và lừng lẫy với mục Tạp Ghi dưới bút hiệu Ký Giả Lô Răng. Có thể nói Phan Lạc Phúc là người đầu tiên đưa Tạp Ghi lên thành một thể loại văn chương (như Tùy Bút vậy – Vũ Trung Tùy Bút). Sau này một số nhà văn dùng theo và nó trở thành phổ biến.

Sau ngày ở quân trường ra, Nguyễn là người mê đọc Tạp Ghi của ký giả Lô Răng. Với kiến thức quảng bác, tấm lòng nhân hậu, chữ nghĩa giàu có và giọng văn dí dỏm, Phan Lạc Phúc đã quyến rũ người đọc. Mê văn nhưng chưa bao giờ được quen với người. Nhiều lần ghé thăm bạn bè ở Đài Phát Thanh Quân Đội và Phòng Báo Chí, vậy mà Nguyễn chưa hề gặp mặt bắt tay Phan Lạc Phúc. Chỉ thấy ông loáng thoáng đâu đó, đang cười nói với Hà Thượng Nhân và Nguyễn Đạt Thịnh. Sau này đi tù trên đất Bắc Nguyễn cũng chỉ gặp và kết thân với Hà Thượng Nhân. Mãi tới mấy năm sau khi đi tù về, tới ăn ở tiệm phở Nguyễn Minh Diễm trong Chợ Lớn, Nguyễn mới được gặp và chuyện trò với Phan Lạc Phúc. Ông vẫn giữ được vóc dáng và phong cách của một quân nhân.

Ra hải ngoại, Nguyễn vẫn được đọc những bài tạp ghi của Phan Lạc Phúc. Ông định cư ở Úc và thỉnh thoảng viết cho các báo ở Mỹ này. Vẫn những bài tạp ghi đầy chất humour và trí tuệ. Văn phong của Phan Lạc Phúc luôn giữ được vẻ đẹp và sự hấp dẫn khiến Nguyễn đọc ông với sự thích thú và lòng ngưỡng mộ. Không riêng Nguyễn mà nhiều người nữa cũng rất quý Phan Lạc Phúc. Nhà báo Giao Chỉ Vũ Văn Lộc đã viết: “Tìm trên Internet với tên Phan Lạc Phúc các bạn sẽ thấy toàn là những bài bác viết đầy chuyện tử tế, nhân hậu để lại cho chúng ta. Tôi là độc giả của bác từ Việt Nam. Rồi khi ra tù qua Úc, bác Phúc tiếp tục viết Tạp Ghi chuyện xa gần quanh ta cho bạn bè. Sự nhân hậu tử tế thể hiện trong văn phong cả chuyện trong tù. Đối với bác Phúc có cả những tay cai tù và ngay cả trưởng trại tù cũng có người tử tế. Bác viết về chuyện người coi trại tù khi nói chuyện với những tù cải tạo gọi là các ông. Chuyện chưa từng có.”

Lưu Na, một cây bút trẻ, trong một bài viết tựa đề Tháng Tư Hoa Tím đã bày tỏ lòng tưởng nhớ Phan Lạc Phúc. Cô viết khi đọc Tuyển Tập Tạp Ghi của tác giả: “Bên cạnh những nhận định đơn giản mạch lạc và chắc chắn về thế cuộc, PLP còn có những thẩm nhận tinh tế về văn hóa, con người. Qua PLP, những bóng người đã một lần có mặt trong cuộc bể dâu hiện ra như phố đêm Sài gòn quanh co khuất nẻo, những uẩn khúc không ai biết đến nói lên can qua không chỉ trên đất nước mà còn trong nội tâm của tác giả, nơi hoàn cảnh mỗi gia đình, trong suy tư của người dân một đất nước.”

Bây giờ xin nói đến chút tình và kỷ niệm của Phan Lạc Phúc với Nguyễn và tạp chí Phố Văn. Hồi đó, năm 2000, khi chuẩn bị ra tờ Phố Văn, Nguyễn viết thư nhờ Phan Lạc Phúc viết cho vài lời giới thiệu. Phan Lạc Phúc bèn viết ngay một bài rất đặc sắc. Sau đây là một trích đoạn:

“Hôm nay mới gặp Tần Thủy Hoàng
Bạo chúa như ông sướng hay khổ
Trời đã sang thu lá đã vàng
Ông khóc hay cười trong nấm mộ…
-Chị buông ra em còn về viễn phố

“Hôm nay mấy câu thơ đầu tiên trong vở kịch Người Điên của Hoàng Cầm lại trở về trong ký ức tôi. Vở kịch này được công diễn lần đầu trước ít ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp bùng nổ (19 tháng 12-1946). Ngày thường thì tôi quên… nhưng vài bữa nay tôi nhớ sau 54 năm xa cách. Tôi vừa nhận được thư của bạn cũ, nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp từ Texas (Hoa Kỳ) gửi sang. Ông bạn tôi đang có ý định “ra” một tờ báo thuần văn nghệ lấy tên là PHỐ VĂN. Từ chữ PHỐ lạ lẫm, bỗng nhiên tâm viên ý mã tôi nhớ lại “Chị buông ra em còn về viễn phố”. Chị ở đây là một người đàn bà điên đang đi tìm chồng và cũng muốn nhân đó xóa đi một chế độ độc tài hà khắc. Người mà người đàn bà điên (Kiều Loan) nắm lấy tay không phải là Tần Thủy Hoàng mà chỉ là một cô gái nhỏ. “Chị buông tay em ra (em đâu phải là Tần Thủy Hoàng) cho em đi về nhà -nhà em xa lắm ở một bến sông xa”. Viễn phố tức là bến sông xa -đầu mối của mọi sự liên tưởng và khơi gợi.

“Trong tình yêu cũng như trong chữ nghĩa, có nhiều điều khó giải thích. “Trái tim có lý lẽ riêng của nó mà lý trí không hiểu được.” Có những chữ đối với tôi nó hoang đường huyền thoại, tôi vừa yêu vừa sợ nó -ví dụ như viễn-phố-bến-sông-xa. Sự yêu mến làm bật dậy một số câu thơ đã “yên nghỉ” trên nửa thế kỷ nay trong tiềm thức. Bến-sông-xa là một cuộc hành hương trở về kỷ niệm. Bến Trung Hà trên Quảng Oai nước sông Cái (Hồng Hà) đỏ lừ -ngày xưa gọi là ngã ba Hạc… đi sang bên kia là Việt Trì địa đầu trấn Sơn Hưng Tuyên (Sơn Tây-Hưng Hóa-Tuyên Quang) lịch sử. Hay là bến Ngọc Bài của nhánh sông Tích Giang nước chảy lặng lờ -lên Thạch Bích rồi ra sông Đáy qua Đồng Quan-Chợ Đại-Cống Thần đi vào Phát Diệm (Ninh Bình) rồi thẳng vô chợ Rừng Thông (Thanh Hóa) của một thời kháng chiến…

“Chữ bến sông, bến đò bao giờ cũng gợi ra trong tôi một sự chia ly nào đó. Mình sợ cũng không làm sao tránh được. Ôi! ‘cảnh biệt ly sao mà buồn vậy’ cũng bắt đầu từ đấy. “Cơm nước xong, thầy mẹ tôi, anh chị em tôi, cả những kẻ ăn người ở trong nhà đều đưa tôi ra bến đò, chỗ thuyền đậu”. Bến đò là chỗ chia tay. Nó bắt đầu từ chữ PHỐ của ông đấy -thưa ông Nguyễn Xuân Thiệp.”

Và rồi Phan Lạc Phúc đi tìm từ nguyên của chữ Phố bằng cách hỏi một anh bạn trẻ tốt nghiệp Đại Học Văn Khoa Sài Gòn ban Việt Hán. Chữ Phố viết với bộ thủy là bến sông còn viết với bộ kim có nghĩa nơi đổi trao mua bán như phố phường, phố thị. Rồi ông bạn của Nguyễn làm một cuộc hành hương ra Bắc vô Nam tìm xem con phố nào có thể gọi là Phố Văn. Trường Thi, Khâm Thiên đều không hợp. Tự Do, Phạm Ngũ Lão ở Sài Gòn ngày xưa cũng chưa trọn nghĩa. Cuối cùng Phan Lạc Phúc đi tới kết luận:  “Đi tìm một sự đồng thuận về Phố Văn thật khó. Chúng ta có lẽ phải bắt chước một nhà nghệ sĩ Âu Châu lưu vong khi ông nói đại ý rằng: “Nơi nào có Tự Do, nơi ấy là quê hương”. Chúng ta không đi tìm được một địa chỉ phố văn cụ thể; vậy tờ báo nào, tạp chí nào, cuốn sách nào có “văn” thì nơi ấy là Phố Văn. Không chừng ông bạn làm thơ của tôi ở Texas đang chủ trương như vậy. Nhưng ý hướng là một chuyện, có thực hiện được không là chuyện khác. Cho nên thưa ông Nguyễn Xuân Thiệp… tôi vừa mừng cho ông, vừa lo cho ông?”

Phải nói là một bài văn xuất sắc. Các bạn của Nguyễn có thể vào mục Giới thiệu phovanblog trên Blog Phố Văn để đọc toàn bài và thưởng thức văn phong vừa trí tuệ uyên bác vừa nhân hậu lại đượm chút u mặc. Quả thật ít người viết được như thế. Phan Lạc Phúc vừa là người của văn chương vừa là người của những giao tình ấm áp. Mới năm ngoái đây khi Nguyễn chuẩn bị in Sài Gòn Nơi Tôi Đã Vui Chơi Và Nhỏ Lệ cho Nguyễn Quang Hiện, Phan Lạc Phúc từ bên Úc gọi điện hỏi thăm và chúc sức khỏe. Thời gian qua cũng nhiều khi Nguyễn được đọc những bài Tạp Ghi của Phan Lạc Phúc như khi ông viết về Phượng Tím (Jacaranda) ở Úc, viết về những kỷ niệm với Phạm Đình Chương hay tảo mộ những bạn tù xấu số. Và trong bài viết mới đây về Thanh Minh, Nguyễn cũng đã tìm đọc lại ông. Bây giờ thì ông đã về nơi viễn phố, nơi ước mong sẽ không có chiến tranh, trại tù và những nắng quái mưa hoang. Ông Phan Lạc Phúc ơi, văn chương và Tạp Ghi của ông sẽ còn mãi cũng như cái tình của người đối với nhau.

Nguyễn Xuân Thiệp

Bạn tù Sơn La

baovecovang.wordpress.com

Posted on 5 May 2022 by Lê Thy

Phan Lạc Phúc

Post by Sơn râu 12 Jun 2024

Google photos

Trời Sydney năm nay lạnh hơn mọi năm. Đêm đông buốt giá, phải trở dậy kiếm cái heater. Mở đèn lên, nhìn ra ngoài vườn, sương đêm đã đọng thành một màn băng mỏng. Nhìn màn băng mỏng trên sân, ký ức tôi bỗng trở về cái lạnh buốt xương năm 1976, khi tù “cải tạo” miền Nam năm đầu tiên ra Bắc. Tụi tôi được “chiếu cố” cho ở Sơn La, địa danh nổi tiếng “Nước Sơn La, ma Vạn Bú”. “Sơn La âm u, núi khuất trong sương mù”. Tù “cải tạo” thuộc trại 1, liên trại 2 được phân ra ở trong trại tù Sơn La thời Pháp thuộc. Sau nhiều cuộc biến thiên, nhất là sau vụ ném bom miền Bắc, các trại tù này đã đổ nát, chỉ còn lại cái nền xi măng. Nhà tù đã đổ bây giờ được che tạm bằng ni-lông, hoặc lợp bằng tranh mỏng. Sơn La là miền cao nên lạnh sớm. Mới tháng 11 gió bấc đã lồng lộng thổi về. Đến cuối tháng 12, lạnh vào cao điểm… Chậu nước để ngoài sân, qua đêm đã đọng thành băng mỏng bên trên.

Hồi đó nằm cạnh bên tôi là hai người bạn tù cùng trong đội rau… Một ông nguyên là dân Thiết Giáp, một ông nguyên là Thượng Tọa (giám đốc nha Tuyên Úy Phật giáo). Ông Thiết Giáp trước đây vốn là một tay hào hoa rất mực. Ông thuộc loại “Tây con”, học trường danh tiếng Saumur, đánh giặc rất chì, ăn chơi rất bảnh… Đôi lần tâm sự vụn, ổng rút trong ngực áo ra có tấm ví có hình một bà rất đẹp, rất mignonne mà khẽ nói “bà xã moi”. Đôi mắt đục và nhăn vì đói lạnh của ông chợt sáng lên khi nhìn lại hình ảnh vợ. Mới đây ổng vừa nhận được một gói quà 1kg đầu tiên từ trong Nam gửi ra. Ông hy vọng lắm vì có người nhận được ít thịt khô, ít ruốc chà bông. Gói quà của ông, xem đi xem lại mãi chỉ có một cái áo lạnh và đặc biệt có hai cái quần slip màu hồng nhạt, chắc là của phái nữ. Tôi không tiện tò mò, hỏi han về việc riêng của bạn nhưng tôi chắc bà xã của bạn phải yêu thương lắm, phải lãng mạn lắm mới gửi món quà để “tưởng nhớ một mùi hương” như vậỵ. Đôi khi rảnh rỗi, ông bạn tù hàng xóm của tôi lại khẽ giở món quà đặc biệt ra hồi tưởng…

Trước đây ông bạn tôi thường hút Lucky. Đi “cải tạo” ông mang theo một cái pipe Dunhill và vài hộp thuốc Half and Half. Nhưng đã lâu rồi hết thuốc hút pipe, ổng cũng như mọi người khác hút thuốc lào. Quá nửa đời người rồi mới biết cái hấp dẫn của thuốc lào. Nhất là mùa rét, sáng sớm tinh mơ ngồi dậy, hút một điếu đầu tiên trong ngày, cho nó say lơ mơ quên trời, quên đất, quên cảnh lên voi xuống chó, quên luôn cảnh lưu đày tù tội. Ôi phút tuyệt vờị…

Thuốc lào hấp dẫn như vậy nên trong tù đã có thành ngữ “Có thuốc lào là có tất cả”. Nhưng ở miền Bắc cái cần thiết nhất là gạo, ăn còn không đủ thì lấy đâu ra thuốc lào cho tù. Đành trông chờ vào quà của gia đình gửi tới. Nhưng trong những chuyến gửi quà đầu tiên, có mấy ai được nhận thuốc lào. Thuốc lào thành của hiếm… Ở trong tù cái gì thiếu cũng chấp nhận được, nhưng thiếu thuốc lào là một thiếu thốn rất lớn lao. Thuốc lào không những làm quên hiện tại mà thuốc lào còn là dấu móc để người tù “cải tạo” thêm kiên nhẫn đi tiếp cuộc đời tù dằng dặc. Trong trại không có ai có quyền đeo đồng hồ. Phải gửi đồng hồ cũng như những đồ tùy thân có giá ở trại. Ngày ngày đi làm, cuộc sống khổ sai nhọc nhằn, đời tù hun hút, thời gian mịt mờ.

Trong khi đó quy định của trại giam cứ một tiếng rưỡi đồng hồ lao động là có “kẻng” nghỉ 10 phút “hút thuốc, uống nước”. Điếu thuốc lào ở trên một cái đích gần gũi để người tù vươn tới, một đoạn đường dù ngắn nhưng sắp đến nơi. Nó cũng là một an ủi nhỏ sau hơn một giờ cực nhọc. Vì vậy nên dù khó kiếm, dù đắt đỏ, cũng không ai muốn bỏ thuốc lào. Những tay có thuốc lào thấy vậy nên càng ngày càng lên giá. Một phần ăn sáng (một phần tư chiếc bánh mì luộc) trước đổi được 5 điếu thuốc lào, sau xuống giá còn 3, rồi còn 2 điếu… Người ta sẵn sàng quên đi cái đói để đổi lấy một vài phút say quên.

Anh bạn tù hàng xóm của tôi, nghiền thuốc lào quá nặng, rét đến nơi mà không thuốc hút. Anh liền lấy cái pipe Dunhill nổi tiếng của Ăng lê ra đổi thuốc lào. Được chừng 10 hôm là hết thuốc. Có người mách lấy lá ngải cứu phơi khô thái nhỏ hút vô nghe được lắm. Anh bạn tôi nghe lời, phơi đi phơi lại lá ngải cứu trộn thêm với nước điếu và một chút nước mắm, một chút đường. Hôm hoàn thành thuốc lào ngải cứu, anh có mời tôi hút thử, cũng thấy say say nhưng không êm bằng thuốc lào, mà rát cổ họng. Ông bạn tù Thượng tọa mới bảo rằng không nên hút cái giống ấy, hao người, hao phổi. Nhưng anh bạn tôi thèm thuốc quá cứ hút thuốc ngải cứu cho đỡ thèm. Một hôm, vừa hút xong, chưa kịp đặt cái điếu cày xuống, máu mũi anh đã chảy ròng ròng.,..

Mùa đông đầu tiên ngoài Bắc, anh bạn tù hào hoa một thuở của tôi vừa đói, vừa lạnh, vừa thèm thuốc. Theo anh thì mùa lạnh ở VN khó chịu hơn bên Tây nhiều mà lạnh nhất là hai cái taị “Nhiều khi tôi cứ tưởng hai cái tai lạnh cóng của tôi nó rụng mất rồi”. Anh vừa nói, vừa run lập cập. Một buổi tối trời vừa lạnh, vừa mưa, lán lợp giấy nilong, nước mưa giột tí tách, anh bạn tù của tôi chợt có sáng kiến mớị Anh lấy chiếc quần slip của vợ gửi cho chụp lên đầu, kéo sụp xuống tận mí mắt, che kín hai tai. Trong cái chập choạng của một ngọn đèn dầu hỏa, tôi thấy anh “không giống ai”, mà trên thế giới này chắc không thể có một cái mũ, cái nón nào ly kỳ đến vậy. Anh nhếch một nụ cười, vừa hài lòng vừa ngượng ngập và khẽ nói: “Cho nó ấm hai cái tai mà đỡ nhớ thương vợ con, ông ạ…”

Dạo ấy, tù “cải tạo” còn thuộc quyền quân quản, thuộc Bộ quốc phòng, chưa thuộc Bộ nội vụ. Quân đội trông nom tù, chưa phải công an. Anh em chưa phải vào các trại tù mà ở trong các lán, có dây thép gai bao quanh và bộ đội canh gác ở ngoài. Buổi tối chưa có lệ vào phòng giam, xích cửa lại, gióng sắt đưa lên giam tù trong đó suốt đêm, sáng mai mới tháo xích, mở cửa, ăn uống, ỉa đái trong đó luôn như các trại tù công an sau này. Nhưng mỗi tuần vài ba lần thế nào quân đội Vi Xi cũng có kiểm tra đột xuất, mà kiểm tra thường vào ban đêm. Nghe tiếng còi gắt gỏng rít lên là anh em phải vội vàng trở dậy, mắt nhắm mắt mở chạy ra sân đứng xếp hàng 2 để cho cán bộ kiểm soát. Anh “lán trưởng” sau khi kiểm lại số người trong lán, đứng nghiêm báo cáo.

– Báo cáo cán bộ, lán 4 trại 1, 30 người đủ.

Tên Thượng úy chính trị viên cầm đèn pin, đứng cạnh một anh lính mang AK tùy tùng, hất đầu ra lệnh:

– Được, cho vào. Tù hàng hai lần lượt kéo nhau vô lán.

Anh bạn tù Thiết Giáp của tôi đang dở thức dở ngủ nên lật đật cứ đội nguyên cái “mũ” không giống ai ra xếp hàng. Khi anh vừa đi qua tên Thượng úy, chợt có tiếng giật giọng:

– Anh kia đứng nại.

Tất cả anh em vô lán hết, chỉ còn NVP Thiết giáp đứng co ro ngoài cửa. Anh em lắng nghe cuộc đối thoại bên ngoài:

– Cái này là cái gì?
– Dạ… cái quần…
– Ở đâu ra?
– Vợ tôi gửi cho tôi.
– Tại sao mà anh nại đội cái quần của vợ anh…
– Tại trời lạnh quá… mà không có mũ…
– À, anh này bôi bác chế độ. Anh tên gì? Mai nên nàm việc…

Tên Thượng úy Vi Xi này anh em trong trại đặt tên là “Thượng úy Không No”. Tuần nào sáng thứ Hai, y cũng lên lớp anh em về mọi thứ chuyện trên trời, dưới biển. Nói thì ngọng líu, ngọng lo, l đánh ra n nhưng lúc nào cũng thở ra giọng “đỉnh cao trí tuệ”. Một hôm trong đề tài “an tâm học tập, “cải tạo”” y ta lên tiếng: “Các anh không no, gia đình các anh không no, nhân dân không no, đã có đảng và nhà nước no”. Mọi khi, y ta nói trời trăng mây nước gì, tù cũng cứ ậm ừ, coi như gác bỏ ngoài tai. Bữa ấy, khi vừa nghe y nói tới đó, đám bạn tù “cải tạo” bỗng phát lên một trận cười rầm rĩ cũng với tiếng vỗ tay vang dậy. Y ta tưởng bở, lại càng đỏ mặt tía tai lên mà nói tiếp….

Nhưng sau này không biết có tên “thối mồm” nào đó mới lý giải cái cười rôm rả và tiếng vỗ tay không ngớt của tù “cải tạo” cho y. Y ta giận lắm. Giận lắm nên y hành hạ anh em tù sát ván. Một anh bạn tù đói quá, nhổ trộm khoai mì (sắn) mọc trên sườn non. Trước đây, cái tội như thế này chỉ bị cảnh cáo trước đội, rồi viết kiểm điểm “rút kinh nghiệm” là xong. Kỳ này, chính trị viên “Không no” liền nhốt anh bạn nhổ trộm sắn 1 tuần vào trong cái cũi dây thép gai, một kỳ công của đỉnh cao trí tuệ. Đây là một túp lều, nhưng một túp lều quây bằng dây kẽm gai. Không có tường mái, chỉ có một tấm bạt được coi như mái lều. Ở trong dây thép gai quấn ngang dọc, chằng chịt cao thấp. Người vô ở trong đó phải cẩn thận lắm không thì bị gai cào rách lưng, rách mặt, đặc biệt là ngồi không được vì thấp quá, nằm cũng không được vì không đủ chỗ. Lúc nào cũng phải nửa nằm, nửa ngồi cứ lom khom, lom khom…

Chính trong thời điểm này anh bạn tù Thiết Giáp của tôi lên gặp “y ta làm việc”. Khi về, NVT mặt mũi chảy dài. Anh cho hay là cán bộ “Không no” tuyên bố không cho anh đội cái mũ “thiếu văn hóa” ấy nữa. Anh phải làm kiểm điểm “hứa trước đảng và nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh lệnh của cán bộ”. Buổi tối, bên ngọn đèn dầu tuôn khói mịt mù, anh bạn thiết giáp của tôi thở phào phào ngồi viết kiểm điểm, vừa viết vừa run vì đói lạnh, vì không có cái mũ che tai… Chợt ông bạn hàng xóm bên phải của tôi là Thượng tọa Thích Thanh Long (nguyên giám đốc nha tuyên úy Phật giáo) từ từ lên tiếng:

– Đừng có lo, rồi đâu có đó…

Nói xong, ông khẽ lục trong đám quần áo của ông lấy ra một tấm áo nâu dài, tấm áo “Thượng tọa” của ông mà đưa cho ông Thiết Giáp.

– Hãy cứ quấn cái áo này lên đầu cho ấm… Rồi ta tính…

Chúng tôi, ông Thượng tọa, ông Thiết Giáp, và tôi, là 3 người trong số 1 tổ “tam tam” trong đội rau. Ba người chúng tôi phụ trách một khu rau ở bên bờ suối, cạnh bệnh xá và khu B dưới gốc cây lim già… Chúng tôi cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm… nên hiểu nhau nhiều lắm. Được làm với ông già này là một điều may mắn lớn. Vì ông Thiết Giáp với tôi, từ xưa đến giờ đâu có biết cày cuốc, trồng rau trồng củ ra làm sao đâu. Ông già Thượng tọa chỉ vẽ cho chúng tôi hết thảy. Từ cách cầm cái cuốc, cái thế đứng khi cuốc phải như thế nào? Cuốc hùng hục “như trâu đánh mả” như tôi là không được. Cuốc như thế là “cuốc lật” dành cho việc cuốc ruộng, cuốc vườn. Ở đây trồng rau thì cuốc phải “đầm”, nhẹ nhàng, từ tốn như mưa dầm, mưa lâu thấm đất. Cuốc hùng hục như tôi thì sức đâu mà cuốc cả ngày cả buổi. Ông cụ còn chỉ cách sử dụng các loại cuốc thật nhỏ, chỉ lớn hơn cái bay thợ nề một chút thôi. Rồi còn ủ phân, pha nước tiểu, tưới bón, trồng trọt…

Mỗi loại rau, mỗi thời kỳ đều tưới bón khác nhau, lúc nhỏ tưới bón khác, lúc lớn phải bón thúc lại khác. Bây giờ chúng tôi đang trồng rau cải ngồn ngộn, những trái su hào no tròn… Đi tưới nước giữa hai hàng cây cải tốt tươi, tiếng vòi nước hoa sen dội vào lá cải nghe rào rào, ông cụ ung dung làm việc, thần thái an nhiên. Ngoại cảnh hình như không ảnh hưởng được đến ông cụ. Ông giống như một ông già nhà quê thuần hậu, quanh quẩn bên cây lá trong vườn. Ông hình như không lo, không sợ cái gì. Ông nói ít, cái câu thường thấy ở ông cụ là: “Đừng có lo, rồi đâu có đó”…

Để cho cái việc của ông bạn Thiết Giáp “đâu có đó” đối phó với anh thượng úy “Không no”, ông cụ Thanh Long một ngày chủ nhật sau đó liền cắt cái vạt áo dài nâu “Thượng tọa” của ông lấy vải may cho ông bạn Thiết Giáp một cái mũ đội đầu. Bàn tay già nua run rẩy (năm ấy 1976 ông cụ đã 63 tuổi) đường kim mũi chỉ cũng thô sơ vụng về nhưng ông bạn Thiết Giáp đón nhận cái mũ mà rưng rưng xúc động. Ông cụ đã cắt chiếc đạo y ra may mũ. Ai cũng tiếc chiếc áo dài theo ông cụ đã lâu, chắc mang nhiều kỷ niệm tu hành của một vị cao tăng, nhưng ông cụ chỉ cười xòa mà nói: “Thì nó cũng chỉ là cái áo…”

Đã lâu lắm rồi, người địa phương ở Sơn La nói vậy, mới có năm quá lạnh như năm nay. Đúng là “giậu đổ bìm leo”, vào cái lúc mà tù “cải tạo” ra Bắc, lại đụng ngay một trận rét kinh hồn… Mà xưa nay cái lạnh và cái đói có nó có liên hệ “hữu cơ” với nhau. Càng đói thì càng rét – mà càng rét thì càng đói. Anh em ta đã có người “nằm xuống” vì đói lạnh. Vũ Văn Sâm (viết văn, làm nhạc) chết đêm 16 rạng 17 tháng 11 năm 1976 bên bịnh xá, sau cơn gió mùa đông bắc đầu tiên. Đến đầu tháng giêng 1977 (không rõ là ngày 3 hay 13 tháng giêng, tôi nhớ không được kỹ lắm) Ngô Quý Thuyết – tòa án quân sự vùng 4– cũng đi luôn, đi rất êm đềm, rất lặng lẽ. Sáng ra không thấy anh ta dậy nữa, lay chân gọi dậy thì người đã lạnh cứng từ lúc nào rồi. Trong tờ khai của đội trưởng đội của anh NQ Thuyết, có nói rằng “Anh NQ Thuyết được đội cử nuôi heo, anh đói quá nên thường ăn vụng cám heo. Chắc là bị ngộ độc nên đã chết”.

Ở xứ thượng du này có cái rất sẵn là đá và cỏ. Những bữa trời quang mây tạnh, trèo lên núi kiếm lá về ủ phân, thấy bát ngát toàn núi là núi. Những chỏm núi gần xa, chập chùng ngút mắt trông giống y như một màng lưới bao la mà mỗi ngọn núi là một mắt lưới. SƠN LA = lưới núi. Hay thật, đúng y như thế thật. Tù mà ở trong cái lưới núi này thì chạy đi đâu cho thoát. Vì nhiều núi nên có nhiều loại đá. Một bạn tù trẻ tuổi ở khu B bên cạnh, Vũ Xuân Th. tay biệt kích dù mũ xanh kiệt hiệt có khá nhiều tài: đóng ciné, điêu khắc, vẽ, đánh bóng chuyền có hạng, mưu sinh kỳ tài… Bây giờ Vũ Xuân Th. kiếm ăn lần hồi những khi rảnh rỗi bằng cách chọn đá marble về gọt thành nõ điếu hút thuốc lào. Nõ điếu made in Vũ Xuân Th. thì khỏi nói, vừa đẹp vừa có khắc hoa, khắc chữ (theo yêu cầu) vừa kêu ròn rã không thể tả. Giá rẻ thôi: một ký sắn hay 2 cục đường tán 1 cái. Tôi và Vũ Xuân Th. là chỗ “bồ tèo” nên Vũ Xuân Th. có tặng một cái nõ điếu tuyệt vời: rất kêu (cái này là dĩ nhiên rồi) mặt trước có khắc nổi hình một con diều hâu đậu trên cành thông, một bên là một đóa hoa hồng, một bên nữa là khắc năm tháng… Khi đem tặng cái nõ điếu, Vũ Xuân Th. mới “bốc láo” rằng:

– “Một đóa hồng cho đại bàng cô đơn đây”.
– “Đại bàng đại biếc gì nữa ông ơi, đáng lẽ ông phải khắc một con quạ già mắc bẫy”.

Trong khi đó ông bạn già Thượng tọa của tôi cũng đi kiếm đâu được mấy mảnh đá dài dài. Lúc nào rỗi rãi lại thấy ông cụ ra bờ suối mài mài, đục đục…. Một hôm tôi thấy trong lều dụng cụ của tổ rau tụi tôi, hình dạng hai tấm bia đá thô sơ có khắc tên: Vũ Văn Sâm, mất ngàỵ.., Ngô Quý Thuyết mất ngàỵ.. Tôi nhấc tấm mộ bia lên, nhìn ông cụ. Ông cụ ngó mông ra khoảng rừng núi chập chùng mà nói:

– “Thì cũng mong đánh dấu được vài nắm xương tàn.”

Một sáng mùa đông vào khoảng nửa buổi, tôi đang lặc lè 2 thùng “ô doa” (arrosoir) tưới nốt cho khoảng vườn rau trước mặt, gần nhà bếp khu B thì bỗng có tiếng gọi khe khẽ, khẩn trương:

– Này, nàỵ
– Ai đấy?
– Vũ Xuân Th. đây.
– Làm gì đấU?
– Bữa này làm “chảo trưởng”. Thổi cơm nhà bếp. Ăn cháy không?

Tại sao mà bạn ta hôm nay lại hỏi một câu “thừa thãi” như thế nhỉ. Tôi và Vũ Xuân Th. đều là dân “volley”. Tôi thì già rồi còn Th. thì đang sức. Trong làng “bóng chuyền” tụi tôi, mỗi khi mà cây nêu lỡ tay nêu sang lưới bên kia thì dân bóng chuyền kêu bằng “cơm nắm cho tù”, nghĩa là đối phương được biếu không một trái banh ngon lắm, bổ lắm, chắc ăn lắm, ít khi có lắm. Bây giờ chúng ta là tù “chính cống bà lang trọc” rồi, đói lòi xương, vàng mắt mà lại còn hỏi “có ăn cháy không?”. Chừng như nhận ra sự vô duyên của mình, Vũ Xuân Th. vội nói:

– Chạy ra góc vườn lấy mảnh lá chuối lại đâỵ
– Có ngay.

Sau đó từ cái lỗ mắt cáo của hàng rào nhà bếp khu B, qua đám lá duối và dây leo bìm bìm, tôi nhận được từ bạn ta Vũ Xuân Th. một cái gói lá chuối âm ấm, nóng nóng. Để ngay cái gói này áp sát vào bụng, mà đi về dưới gốc lim già bên bờ suối, nơi cái lều nhỏ của tiểu tổ chúng tôi.. Ôi chao, cái làn da bụng lép kẹp của tôi đang được sưởi ấm, đang được phỉnh nịnh. Cái may mắn này ít khi có lắm. Tôi phi về như bay. “Tây con” Thiết Giáp thấy tôi mặt mày tươi rói liền ngẩng đầu lên hỏi:

– Cái gì mà hí hửng thế?

Tôi bước vô lều, nhìn trước nhìn sau, rút từ trong bụng ra gói lá chuối còn tươm khóI. Mở ra, miếng cháy vàng rộm, nóng hổi, đang bốc hơi. “Tây con” sáng mắt ra, vội hỏi:

– Ở đâu ra thế?

Tôi chỉ sang khu B mà khẽ nói:

– Bạn vừa cho…

Tôi để phần ông cụ một miếng, ông cụ đang bận tay ngoài chỗ “cây giống”. “Tây con” và tôi chia nhau miếng cháy nóng, vừa ăn rau ráu vừa hít hà. Từ sáng đến giờ, mỗi đứa chúng tôi xách ít ra cũng hàng trăm đôi nước, chân tay, mình mẩy rã rời, bởi vì buổi sáng có cái gì vào bụng đâu. Dạo này hết bột mì cứu trợ rồi. Cái gọi là “bữa sáng” chỉ là một chén cháo bột khoai mì loãng đầy mùi hôi mốc. Không ra đâu vào đâu. Mùa lạnh nước suối cạn, phải lần xuống dưới lòng suối mới múc được nước. Leo lên bao bậc đá trơn, tay xách đôi thùng tưới, miệng thở dốc, sức cứ oải dần, tay chân càng lúc càng nặng trĩu, nhấc không muốn nổi. Trời thì lạnh và ẩm. Cái rét thượng du miền Bắc rất thấm, rất sâU. Người Bắc kêu bằng rét ngọt. “Cái ngọt nó lọt tận xương”, lại thêm xách nước nên áo quần thấm nước suối. Cái lạnh bên ngoài cái đói bên trong nó hành mình tơi tả. Đang khi sức cùng lực kiệt, đầu váng mắt hoa như thế thì có miếng cháy nóng này…”Ôi món quà từ trên trời rơi xuống”. Chưa có món bánh mì nào trên thế giới có thể sánh được với miếng cháy.

Ông cụ ăn từ tốn, không có ào ào như tụi tôi. Ông cụ làm còn nhiều, còn mạnh hơn tụi tôi nữa mà hình như ông già không thấy mệt mỏi. Lúc nào cũng nhẩn nha, lững thững mà việc gì cũng xong. Ông cụ vẫn nói “từ lúc nhỏ đi tu ở nhà chùa…. thì tôi vẫn làm lụng như thế này, cũng dưa cà như thế này… chỉ tội nghiệp các ông…” Ông cụ chỉ vẽ cho chúng tôi cách làm vườn, trồng cây, bón tướị.. Những công việc gì khó khăn, vất vả ông cụ giành lấy mà làm. Như cái món lấy phân bắc (phân người) về ủ, ông cụ cũng tự tay làm lấy. Hôm nay, sau khi ăn miếng cháy xong, ông cụ khẽ nheo mắt, tay giơ một nhúm thuốc lào mà nói “hút đi”. Thuốc lào thật, dẻo quánh, thơm nồng, đâu phải thuốc lào “ngải cứu” hay thuốc lào “lá cải khô”.

– Hút luôn hở cụ. Hay là xái nhì, xái ba?
– Hút luôn đi.

Trong cái lúc thuốc lào khan hiếm như lúc này, nếu có thuốc lào thật, đâu có dám hút luôn cả điếu. Phải hút xái nhì, có khi xái ba, tức là một điếu thuốc mà hút 2 hay 3 người. Người thứ nhất châm lửa, rít một hơi, người thứ 2 rít một hơi, rồi người thứ 3 hơi cuối cùng. Người nào mà được hút cuối cùng là “đặc biệt”, vì được hưởng cái hậu, được rít kêu lóc cóc… Hôm nay, trúng số rồi. Vừa được ăn “bữa lỡ”, lại có thuốc lào thật rít thẳng tay. Tôi hút xong điếu thuốc lào mà say lừ đừ. Từ mấy bữa nay, hôm nay mới có thuốc lào thật. Còn toàn hút thuốc lào “lá cải già tẩm nước điếu phơi khô”. Ăn xong, hút xong thấy đời sáng láng, phơi phới. Tôi liền tà tà đi ra gần chỗ nhà bếp, đằng hắng lấy giọng mà thưa với bạn ta rằng:

“Tương phùng được buổi hôm naỵ..
Trùng phùng lại nhớ giờ này hôm sau”.

Tôi nghe thấy tiếng cười rinh rích rồi Vũ Xuân Th. vừa cười, vừa nói vọng ra:

– Được rồi, hiểu rồi.. ông nội … Cứ khoảng giờ này ngày mai ông lại tới đâỵ.. Nhưng mà khéo léo đấy nhá.

Thế là cứ vào khoảng nửa buổi, 9 giờ rưỡi mười giờ sáng những ngày sau đó, mỗi khi thấy bạn tôi “chảo trưởng” ra cơm, tiếng xẻng khua xuống chảo gang kêu xoèn xoẹt, là tôi lại lững thững giả vờ bắt sâu bọ, bên bụi ruối.. rồi lĩnh từ tay bạn ta một gói cháy vừa chín tới mang về…

Nhưng cái thời gian “bồi dưỡng” này không được bao lâu. Chừng hơn nửa tháng sau, bạn tôi Vũ Xuân Th. đã rời khỏi nhà bếp, ra làm công việc khác. Nguồn tiếp tế của tụi tôi bị cắt. “Phúc bất trùng lai họa vô đơn chí”, bạn Thiết Giáp NVP của tụi tôi cũng điều sang đội chăn nuôi. Cái khu rau này, thượng úy “Không no” tuyên bố:

– “Chỉ cần 2 người cũng đủ. Các anh khắc phục”.

Công việc 3 người làm trước đây đã “bá thở” bây giờ còn lại có 2 người. Ông cụ gần như bao giàn hết công việc cũ của NVP nhưng tôi vẫn phải làm thêm. Nhưng điều đáng phàn nàn là trong thời gian bồi dưỡng vừa qua cái bao tử của tôi nó bắt đầu quen ăn “bữa lỡ” hồi 9, 10 giờ sáng rồi. Bây giờ “ăn quen nhịn không quen” cứ nửa buổi là tôi phờ phạc, đói mịt mờ, cất chân, cất không muốn nổi. Thấy tôi rũ rượi như “gà chết” ông cụ một bữa nhìn tôi rồi chắt lưỡi:

– “Đừng có lo…”

Ông cụ cầm con dao, xách cái bị cói phăng phăng, chừng nửa giờ sau ông cụ về, đặt phịch cái bị vào trong bếp. Trong cái lều nhỏ của tụi tôi, lúc nào bếp cũng cháy lim dim, vừa để đun nước, hút thuốc vừa để sưởi những lúc nghỉ tay… Bây giờ ông cụ quạt lửa lên, lấy mấy củ sắn ở trong bị ra bỏ vào bếp nướng. Ông cụ bảo tôi ra ngoài coi “động tĩnh”. Tôi lại bắt đầu mừng vì có đồ ăn, nhưng lại ghê vì tôi biết ông cụ vừa lên trên đồi lấy sắn của trại.

Ở các trại tù hoặc các nơi đóng quân của Vi Xi, ở chung quanh thế nào cũng có một số đất đai thống thuộc. Ở vùng đồng bằng hoặc trung du thì trồng lúa, trồng ngô khoai trồng trà, trên thượng du như Sơn La này thì trồng sắn, trồng ngô, trồng mía. Thứ sắn lưu niên để từ năm này sang năm khác, coi như là nguồn lương thực dự trữ. Đây là thứ cây lương thực dễ trồng nhất trong thiên hạ. Nhổ cây sắn lên lấy một chùm củ. Xong rồi cứ cây sắn ấỵ lấy dao chặt một gang tay, phải có ít nhất là 3 mắt. Cuốc một nhát cuốc hay lấy dao đào lên, nhét một cái hom lên trên mặt đất. Cứ thế là chừng năm sau, mỗi cái hom lại thành một cây sắn, lại cho một chùm củ. Đất tốt thì củ lớn, đất xấu thì củ nhỏ.

Trong những thứ lương thực ở trại tù miền Bắc, sắn được xếp vào hạng bét. Chỉ tiêu, cân đo, đong, đếm của lương thực là 1 gạo ăn 2 ngô, hay là 3 khoai, hay là 4 sắn. Dù là hạng bét nhưng đối với tù đói nhăn răng, nó vẫn là rất quý. Tù mà động đến sắn, ngôi, khoai của trại là “xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa”. Nhất là trong khi thượng úy “Không no” cứ như cái bóng ma, lúc ẩn lúc hiện, chuyên môn rình rập theo dõi anh em. Đó là nghề của hắn.

Tôi có một anh bạn cùng khóa, NKB xưa nay tính tình “nhà binh” cho đến tận kẽ răng. “Reglo” số 1, việc làm răng rắc, quần áo là ủi thẳng tắp, giầy botte de saut bóng láng, huy chương đeo một dề, xe díp bóng ngời nệm trắng tinh tươm. Đi “cải tạo” ra Bắc bây giờ bạn tôi, không biết vì không hợp thủy thổ hoặc đói khát ra sao mà răng rụng hết, thành một ông già móm xọm. Nhưng bạn tôi lại thèm đường thèm mật quá. Ở gần khu trại mộc của đội anh có một khu trồng mía. Mía cứ bị bẻ trộm hoài, thượng úy “Không no” rình rập mãi mà không bắt được ai. Một bữa, thượng úy thấy thấp thoáng bóng người trong ruộng mía liền nhảy ra bắt giữ. Gặp ông bạn móm xọm của tôi.

– Anh vào đây nàm gì? Ăn trộm mía phải không?
– Tôi đi kiếm rau “tàu bay”, tôi đâu có ăn trộm mía.
– Không ăn trộm mía vào đây để làm gì?

Anh bạn tôi liền há mồm ra, chỉ vào hai hàng lợi không răng mà phều phào nói:

– Tôi đâu còn răng mà ăn mía.

Thượng úy “Không no” thấy vậy, không còn bắt bẻ vào đâu được nữa nên vùng vằng bỏ đi. Nhưng y ta nhất quyết bắt cho bằng được người ăn cắp mía. Một bữa không biết y ta đến từ bao giờ, cải trang ẩn dạng ra sao mà ông bạn móm của tôi vào chặt một cây mía là bị y ta bắt được ngay tại trận. Y rất bằng lòng về chiến công “bắt trộm” của mình. Bạn tôi quá thiếu chất đường (cũng như hầu hết các tù “cải tạo” thèm chất ngọt và thèm mỡ) nên thường lén vô ruộng mía, đem dao chặt vội một vài đẫn, nhét vào người mang về. Lấy dao dóc mía, chẻ mía ra từng miếng nhỏ đưa vào miệng không răng mà nhần, mà ngậm. Nó cũng khỏe lên được phần nào. Còn vỏ mía thì phải chôn xuống đất ngoài vườn.

Ngay bữa bắt được kẻ trộm mía, thượng úy “Không no” liền biểu diễn quyền uy của mình bằng cách khác; không có giam tội nhân vào cái cũi dây kẽm gai mà y bắt ông bạn không răng của tôi cầm nguyên một cây mía đứng riêng ở ngoài cổng trại. Y ta nói: “Hãy nhìn cho kỹ đi, thượng cấp của các anh đấy”. Anh em đi làm về đều thấy ông bạn tù gì, cầm cây mía đứng lom khom, cúi mặt không dám nhìn ai. Ai cũng thương anh…. đồng cảm với anh vì đi tù “cải tạo” trăm người như một đều phải “cải thiện” cách này, cách khác. Con người “một động vật xã hội”, nên “đói là đầu gối phải bò”. Thế thôi, chả ai coi thường, chả ai bỉ thử anh đâu. Nhưng tôi biết, bạn tôi vốn trọng phép tắc lễ nghi nên bạn tôi đau lắm.

Do vậy nên bây giờ thấy ông bạn già Thượng tọa đi lấy trộm sắn về cho tôi ăn vì tôi thèm quá, đói quá, tôi vẫn cứ ghê ghê trong bụng. Thượng úy “Không no” mà bắt được, không biết y ta sẽ hành hạ mình cách nào đây? Nhưng sợ bị bắt là cái lo xa. Còn đói cồn cào ruột gan là cái lo gần. Thế thì ta hãy cứ ăn cái đã. Đang đói bụng mà lại có sắn lùi bếp than thì nhất thế giới rồi. Tôi cứ chạp thẳng cánh. Ông cụ đi lấy sắn, nướng sắn mà ông cụ có ăn bao nhiêu đâu. Tôi ăn phần lớn. Và sau đó cứ vào khoảng 9, 10 giờ sáng, tưới bón xong là ông cụ xách cái bị đi ra. Lúc thì sắn lúc thì khoai, lúc thì củ giong… Tôi cứ có ăn đều đặn.

Bạn “Tây con” Thiết Giáp NVP phải đổi sang đội chăn nuôi, trong cái rủi lại có cái may. Bên ấy có công tác lên rừng đẵn cây chuối hột về cho heo ăn. Được ra ngoài thuộc “diện rộng” đi xa xa, gặp được ‘đồng bào nên mới có cơ hội kiếm ăn, đổi chác. Vắng mặt tên quản giáo, len lén đem được một cái quần tây, một cái ao pull, một cái kính, một cái bật lửa… đem “quy ra thóc” lấy xôi, lấy cơm mắm… hoặc ‘quy ra thuốc’ lấy thuốc lào… đều được cả, thành ra tụi tôi dạo này có vẻ “phong lưu” hơn trước.

Một bữa lấy sắn về ông cụ đang ngồi trong lều, quạt đang đều tay, sắn đã bắt đầu chín bốc mùi thơm ngậy, tôi đã chực sẵn đến giờ ăn, thì bỗng có tiếng động nhẹ đằng sau. Tôi quay lại thì thấy đôi ủng màu đen đã đứng sau lưng tự lúc nào rồi. Tôi chết sững. Thượng úy “Không no” đã tới.

– Biết ngay mà, cứ vào khoảng 10 giờ nà cái nều này có khói – Thượng úy “Không no” đắc chí.

Tôi cứng họng không biết nói năng gì, tâm thần hoảng hốt. Ông già thượng tọa của tôi, khẽ ngước lên, nhìn thượng úy “Không no” rồi điềm đạm nói:

– Cán bộ thứ cho. Anh em chúng tôi … đói quá…

Giọng nói ông bình tĩnh, người ông vẫn ngồi vững vàng, cái tay quạt sắn vẫn đều đặn không thay đổi, không cuống quýt, mà cũng không ngừng nghỉ.

– Như thế này là nâu rồi đấy nhá. Không phải chỉ một hôm nay mà thôi đâu? – Thượng úy “Không no” vừa nói vừa quay ra xem xét, kiểm soát căn lều. Chợt y thấy hai cái mộ bia mà ông già Thượng tọa của tôi mới đục xong còn để đó. “Vũ Văn Sâm mất ngàỵ..”, “Ngô Quý Thuyết mất ngàỵ…” Y đọc mộ bia xong nhìn chúng tôi, một anh tù già tóc bạc phơ, một anh tù trung niên xác xơ ốm đói. Hình như có một suy nghĩ gì đó thoáng qua, nên nét mặt y có vẻ đắn đo, xong rồi y lững thững đi ra mà nói:

– Sau không được thế nữa nhá. Ninh tinh.

…Cho đến bây giờ không biết vì lý do nào mà tên thượng úy hầm hừ ấy đã bỏ qua cho chúng tôi. Có thể vì những tấm mộ bia, nghĩ đến những người anh em xấu số của chúng tôi đã chết vì đói lạnh… hoặc là phong thái “đại hùng, đại lực, đại từ bi” của con nhà Phật trong phút giây nào đó đã khơi dậy được “chút tính người còn sót lại” trong y?

Phan Lạc Phúc

Hồi Ký Chí Hòa

Vĩnh Khanh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on April 28 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 12 Jun 2024

Google photos

Chương 15
Quen Với Tù Nữ Ở Xưởng May

Một hôm khoảng gần 5 giờ chiều, chúng tôi đang chơi cờ tướng thì nghe có tiếng đàn bà con gái nói chuyện khá lớn ngay phía sau Kiên Giam 1, hình như họ đang nấu ăn.. Chúng tôi đã biết phía sau đó là khu xưởng may dành cho các nữ tù nhân có án ra lao động. Thỉnh thoảng cũng có nghe tiếng nói chuyện qua lại của các cô này nhưng không lớn bằng lần nầy. Có vẻ như các cô ấy đang nấu ăn ngay sát bờ tường phía sau chúng tôi. Tôi bảo Phan Đình Tố để tôi đứng trên vai anh ta và tìm cách đu lên các song sắt nhét đầy bùi nhùi kẽm gai phía trên cao. Với đôi dép sa pô mang vào lòng bàn tay, tôi cố gắng đẩy vẹt đi một khoảng bùi nhùi kẽm gai đủ để tạo một chỗ trống cho tôi bám vào song sắt ngồi chồm hổm tòn ten trên bờ tường cao, tuy vậy cũng không thể tránh hết các mũi nhọn của mắt kẽm gai đâm vào thịt đau nhói. Nhìn xuống phía dưới thì quả nhiên thấy dưới đất phía bên ngoài loáng thoáng có mấy cô gái đang vừa nấu ăn vừa chuyện trò vui vẻ lắm, tuy nhiên vẫn bị vướng kẽm gai không nhìn rõ hoàn toàn được. Tôi bảo Trương Phái Hàn canh chừng cán bộ ngoài cửa gió cho tôi rồi một tay đu tòn teng trên song sắt, một tay bẻ quặp những nhánh kẽm gai vào phía trong để tôi có thể ngồi rộng rãi và an toàn hơn.

Cuối cùng tôi cũng vạch ra được một lỗ trống chui đầu sát vào song sắt để nhìn xuống cho rõ hơn.. Lần này tôi nhìn thấy rõ có 3 cô gái và một người đàn bà đứng tuổi đang lui cui nấu thức ăn trên một cái bếp dã chiến kê bằng mấy cục đá.

Tôi hỏi thăm vọng xuống dưới:

– Chào thím, chào mấy cô. Thím và mấy cô có nghe tôi không?

Mấy cô gái và người đàn bà ngạc nhiên nhìn nhau rồi ngước lên phía tôi:

– Có. Nghe rõ lắm, nhưng không thấy gì hết. Anh ở đâu vậy? Ở dưới này nhìn lên chỉ thấy một khoảng trống lờ mờ và bùi nhùi kẽm gai thôi.

Tôi đưa một bàn tay thò ra phía ngoài, ngoắc ngoắc:

– Mấy cô thấy bàn tay tôi chưa??

Ở dưới reo lên:

– Thấy rồi, thấy rồi.

Người đàn bà đập vào vai một cô:

– Mấy đứa bây la lớn quá vậy? Cán bộ thấy thì chết hết cả đám bây giờ.

Sau đó người đàn bà và 3 cô vừa tiếp tục nấu ăn, vừa nói chuyện và canh chừng cán bộ ở dưới. Qua lối nói chuyện tôi được biết người bàn bà là Má của một trong 3 cô gái.

– Các anh ở trển mấy người vậy?

– 4 người. Mấy cô có phải ở xưởng may không.

– Tụi em ra lao động mỗi ngày ở xưởng may, còn tối thì về lại khu tập thể nữ. Trên đó là khu nào vậy? Mấy anh bị “kẹt” tội gì mà vào đây vậy?

– Ở đây là khu Kiên giam ED, chỉ có 3 tội: Kinh Tế, Vượt Biên và Chính Trị.

– Anh bị tội gì?

– Chính Trị.

– Chà bị bắt tội chính trị chắc “châm” lắm hả.?

– Thì cũng như mấy người khác thôi. Ở đâu cũng là tù, có khác gì đâu.

– Anh bị “kẹt” bao lâu rồi?

– Hơn 1 năm rồi.

– Anh có được thăm nuôi không?

Tôi hỏi lại:

– Có nhận quà mỗi tháng chứ không được gặp mặt.

– Còn Thím và mấy cô ở đây bao lâu rồi?

Người đàn bà trả lời tôi:

– Cũng được hơn 2 năm rồi, tụi tui ra lao động xưởng may đa số là có án rồi, chỉ còn lao động chờ ngày về thôi. Còn gần 1 năm nữa tụi tôi mãn án về rồi.

Tôi định hỏi bà ta và mấy cô gái bị tội gì mà vào đây, nhưng cảm thấy ngại ngại nên lại thôi.

Người đàn bà nói với 3 cô gái kia:

– Mấy đứa ở đây vừa nấu canh vừa nói chuyện đi, để tao ra phía ngoài canh cán bộ cho, có gì tao ho lên một tiếng thì ngưng ngay nghe.

Sau đó bà ta bõ đi ra phía ngoài canh chừng giùm. Còn lại 3 cô gái ở dưới bàn bạc nho nhỏ với nhau gì đó, rồi một cô có gương mặt sáng sủa, rất dễ thương với đôi mắt thật to, đen láy ngước lên nhìn:

– Mấy anh có muốn nhắn gì về nhà không? Tụi em có thể nhắn dùm cho.

Lời đề nghị đột ngột này thật ngoài sự tưởng tượng của tôi làm tôi nhất thời lúng túng không biết trả lời như thế nào? Hiện nay vấn đề liên lạc bên ngoài với chúng tôi, những người còn đang trong vòng “làm việc” quả thật rất khó khăn. Ngoài những người có tiền lo lót đằng sau hậu trường thì không biết, còn đám “bạch đinh” như chúng tôi hiện nay thì lời đề nghị này quả là một việc không ngờ được, nếu mấy cô này có thể giúp chúng tôi được chuyện này thì đây đúng là một cơ hội bằng vàng. Tôi ấp úng trả lời:

– Anh … anh cũng không biết nhắn cái gì nữa? Để anh hỏi mấy bạn trong phòng xem có ai cần nhắn gì không nghe.

Lúc đó Trần Văn Ngô, Phan Đình Tố và Trương Phái Hàn đều nghe rõ những mẫu đối đáp qua lại cũng cảm thấy bất ngờ với sự việc biến chuyển đột ngột như vậy.

Tôi hỏi lại mấy người bạn tù trong phòng:

– Mấy anh em thấy thế nào? Có ai muốn nhắn gì không, mấy cô này có thể giúp cho nè.

Không đứa nào phản ứng gì cả, biết có thiệt không đây? Sao chưa gì mà mấy cô này lại lên tiếng giúp một chuyện quá quan trọng như vậy. Chuyện này không phải giỡn chơi, rủi bị phát giác thì hậu quả cũng không phải là nhỏ. Tuy nhiên chúng tôi cũng không muốn bỏ qua cơ hội bằng vàng này.

Tôi bảo Trương Phái Hàn canh ngoài cửa gió thật cẩn thận rồi nói xuống phía dưới:

– Hiện nay mấy anh chưa biết nhắn gì vì đột ngột quá. Mấy em có thể từ từ cho tụi anh suy nghĩ được không?

– Được rồi, khi nào cần thì giúp gì được, tụi em sẽ giúp. Cũng chưa tới ngày thăm nuôi, mấy anh cứ suy nghĩ, nếu muốn thì gần tới ngày thăm nuôi cho tụi em hay. Tụi em còn ra đây thường mà. Ở trên đó các anh có được nấu nướng không?

– Không. Bị cấm lửa gắt gao lắm cho nên làm gì có chuyện nấu nướng?

– Chà! Như vậy các anh ăn uống làm sao?

– Lao động phát tiêu chuẩn sao thì ăn vậy thôi, cộng với đồ khô của gia đình gởi vô. Chỉ vậy thôi.

Ba cô gái lại bàn tán gì với nhau một hồi rồi cũng cái cô có đôi mắt to, đen láy ngước lên hỏi:

– Các anh muốn ăn canh cải bẹ xanh không. Ở dưới này tụi em nấu nhiều lắm. Đi dây xuống đi, em chuyền lên cho.

Tôi thấy phấn khởi quá. vội nói:

– Mấy em chờ một chút để anh kiếm dây đã nghe.

Nói xong tôi nói Phan Đình Tố dựa vào tường cho tôi đứng trên vai leo xuống. Cả đám bất ngờ với sự quen biết mới này. Chúng tôi lôi hết dây nhợ dấu dưới rảnh bồn rửa mặt và vách tường ra nối lại thành một sợi thật dài sau đó Phan Đình Tố để tôi đứng lên vai leo lại trên song sắt. Tôi nói xuống dưới:

– Mấy em xem chừng kỹ lưỡng, rồi cho anh biết để anh đi dây xuống.

Google photos

Sau khi canh chừng cẩn thận bên dưới, một cô khoát tay ra dấu cho tôi thòng dây xuống. Trong khi tôi nhảy xuống lo dây nhợ hồi nãy, mấy cô này đã chuẩn bị canh nóng cho chúng tôi trong một lon guigoz rồi. Khi dây thòng xuống tới nơi, các cô ấy lẹ làng cột vào cái quay xách bằng dây kẽm và ra dấu cho tôi kéo lên.

Đây là chuyến hàng xa nhất mà “xe” tôi chạy đầu tiên ở Chí Hòa này và may mắn thay hàng hoá “vận chuyển” đến nơi đến chốn an toàn. Cả bọn hí ha hí hửng ra mặt. Tôi nói với một giọng thật xúc động:

– Cám ơn bà thím và mấy em dưới đó nhiều lắm nha. Đây là món canh nóng đầu tiên của tụi anh trên đây mà không phải nhận theo tiêu chuẩn trại giam. Anh chưa nếm qua, nhưng chắc chắn là ngon lắm. Nhất là do tay của 3 người đẹp như các em nấu. Anh không biết phải nói như thế nào, nhưng có một điều chắc chắn là suốt cuộc đời anh sẽ không bao giờ quên món canh tình nghĩa này.

– Không phải em nấu đâu, do cô này nấu đó. –Hai cô kia đưa tay chỉ về phía cô có đôi mắt to, đen láy hồi nãy – Anh ăn thấy ngon thì phải nhớ tới cổ đó nha.

Nói xong 2 cô cười khúc khích. Tôi cũng thấy vui lây với không khí đặc biệt hôm nay.

Tôi lên tiếng tự giới thiệu:

– Gọi anh là Sáu Khổ đi. Còn 3 cô em gọi là gì.

Hai cô kia nhanh nhẩu lên tiếng:

– Gọi em là Bảy, còn cô này là Thúy.

Cô có cặp mắt to, đen ngước mắt nhìn lên cười khúc khích:

– Trời! Người ta có “một cái khổ ” đã muốn chết rồi, anh làm gì mà tới “Sáu Khổ” lận. Anh gọi em là Nai đi, con nai đó.

– Ủa sao không lấy tên gì khác lại gọi là con nai??

– Tại em thích vậy mà. – Cô móc trong túi ra một con nai kết bằng dây nylon đủ màu sắc thật khéo giơ giơ lên cao cho tôi nhìn thấy – Tại em thích nai, loài vật này hiền lành, dễ thương nhất.

– Còn bà Thím hồi nãy là ai vậy?

Con Nai chỉ tay vào cô gái được gọi là Bảy:

– Bác là Má của chị Bảy đây nè.

– Má ruột của Bảy hả?

– Ừ. Má ruột của em đó. – Bảy xác nhận.

Tôi không khỏi thở dài:

– Cả hai mẹ con cùng vào đây một lượt thì khổ quá. Xin lỗi, em có thể cho anh biết hai Má con của em bị ghép vào tội gì mà vào đây không, Bảy? Nếu em thấy không tiện thì không nói cũng không sao, anh hiểu?

Bảy cười trả lời:

– Anh Sáu Khổ này lịch sự quá đi thôi. Có gì đâu mà không tiện anh? Hai má con của em chèo ghe nhỏ chở người vượt biên ra ghe lớn, bị bắt cùng một lúc nên vào đây một lượt.

– Còn Thúy và con Nai. Hai em bị tội gì mà vào đây vậy.

Con Nai cười thật tươi:

– Thôi hai đứa em không nói cho anh biết đâu, anh biết sẽ cười tụi em, thà anh không biết thì hơn.

– Xin lỗi hai em, nếu không tiện thì thôi. Nhưng đối với anh đã vào chốn này rồi thì đồng cảnh ngộ, ai cũng như ai hết. Mỗi người mỗi hoàn cảnh đâu ai nói hơn ai được, miễn làm sao chúng ta đối xử với nhau bằng tình người là quý lắm rồi.

Thúy cũng ngước nhìn lên nói:

– Mới quen biết với mấy anh nên em không cho mấy anh biết nhiều đâu. Sau này quen nhiều thêm một chút rồi tụi em cho mấy anh biết sau.

Lúc đó Phan Đình Tố và Trần Văn Ngô ở dưới chắc chịu không nổi nên nhờ Trương Phái Hàn giúp đứng trên vai nó và cũng tìm cách vạch được một chỗ trống đeo tòn teng ngay kế bên. Tôi giới thiệu:

– Không biết các em thấy không, nhưng có thêm hai anh trong phòng anh vừa lên để làm quen với các em nè.

– Tụi em không thấy, chỉ thấy mờ mờ thôi. Chào hai anh “mới”. Em là Bảy, hai cô này là con Nai và Thúy, còn hai anh tên gì vậy?

– Anh hả, gọi anh là Gió đi. – Phan Đình Tố trả lời.

Ngô xen vào nói:

– Chào mấy em, còn anh tên là Quyền… gọi anh là Quyền đi. Cám ơn mấy em đã cho canh nghe. À quên, để anh trả lại cái lon guigoz cho mấy em.

Ngô nói vói xuống bảo Trương Phái Hàn đổ canh vào ca nhựa rồi rửa lon guigoz xong chuyền lên cho nó, sau đó chúng tôi thòng dây xuống trả lại cho mấy cô bên dưới.

– Thôi tụi em phải đi vô đây. Ở đây nãy giờ lâu lắm rồi, không muốn bị cán bộ để ý. Lần sau ra tụi em sẽ gọi các anh.

Phan Đình Tố than:

– Trời! trời! Mới vừa leo lên chưa kịp nói chuyện gì là các em đã bỏ đi rồi. Buồn quá vậy.

Tôi cũng tiếc nuối:

– Ủa các em phải đi vào rồi sao? Buồn quá há. Nếu lần sau có ra thì gọi tụi anh nghe. Nếu gọi 3 tiếng mà không thấy tụi anh trả lời thì biết là tụi anh bị kẹt. Đừng tiếp tục gọi. Còn nếu không có gì thì tụi anh trả lời các em liền.

– Được rồi, cứ như vậy đi. Các anh có cần gì không cho tụi em biết đi, nếu tụi em có thì sẽ chuyền lên cho các anh liền.

– Em có thể gởi cho anh một cây bút chì, mấy diêm quẹt được không?

– Được. Viết chì và diêm quẹt thì tụi em có. Mà anh lấy viết chì thì phải viết thơ cho tụi em đọc đỡ buồn đó nghe, chớ đừng có màn lấy viết chì rồi viết thơ tình cho người khác đọc là em buồn lắm đó – Con Nai nói, đôi mắt đen láy thật dễ thương.

Bảy và Thúy chọc con Nai:

– Còn nữa! Mấy anh ăn canh nếu thấy ngon thì phải nhớ tới người nấu đó nghe. Bảo đảm tối nay con Nai ngủ không được.

Cả ba cô cười khúc khích rồi bỏ chạy mất.

Không biết con Nai, Bảy và Thúy có bị mất ngủ đêm đó không, chứ bốn đứa chúng tôi đứa nào đứa nấy thức tới sáng. Sự việc lúc chiều quả là một điều khác với sinh hoạt thường ngày của chúng tôi. Ngoài vấn đề quen được mấy cô bên xưởng may tạo cho chúng tôi một cảm giác ấm áp, an ủi vô cùng trong hoàn cảnh khó khăn này, chúng tôi còn có hy vọng liên lạc được với gia đình bên ngoài. Chuyện này quả thật quan trọng quá. Mặc dù 3 cô gái bên dưới tỏ ra thật tình giúp, nhưng rủi chuyện bị đổ bể ra thì ngoài chuyện mấy cô đó và chúng tôi bị kỷ luật đã đành, chuyện quan trọng đáng nói là nội dung của những lá thơ đó rủi rơi vào tay bọn công an cán bộ thì đúng là nguy hiểm không lường được chứ không phải giỡn chơi.

Riêng cá nhân tôi thì không có gì phải che dấu, lo nghĩ. Chỉ muốn biết bắn tin về cho gia đình và chỉ cách cho gia đình gởi tin vào lại cho tôi thôi. Còn 3 người bạn cùng phòng, nội vụ ít nhiều gì cũng dính líu tới những người khác… cho nên họ lo là phải. Tôi nói với 3 người bạn:

– Tụi bây cứ suy nghĩ cho kỹ, nếu cảm thấy nguy hiểm quá thì thôi. Riêng tao thì tao chẳng có gì phải lo, nên tao quyết định thử thời vận. Đây là cơ hội không dễ gì có được. Vả lại theo tao thấy, mấy cô này khi đã hứa giúp như vậy chắc có cách an toàn mới dám làm. Chứ không lẽ mấy cổ không lo cho bản thân mấy cổ hay sao?

Phan Đình Tố, Trương Phái Hàn và Trần Văn Ngô bàn tới bàn lui cuối cùng tất cả đồng ý nhờ mấy cô ở xưởng may giúp. Tất cả đều chấp nhận mọi hậu quả chứ không chịu bỏ qua cơ hội bằng vàng này. Nếu các cô gái bên dưới giúp được thì quả là một điều may mắn không tả nổi.

Google photos

Tôi không cần biết các cô ấy tội gì, đã làm gì mà phải vào chốn này… Nhưng các cô ấy đối với chúng tôi quá tốt và tràn đầy tình người, các cô ấy đã không phân biệt và không thắc mắc gì về những tội trạng của chúng tôi trên đây, thậm chí không thấy được mặt mày chúng tôi đâu cả, chỉ nghe có tiếng nói và mới quen biết lần đầu đã bất chấp những hình phạt kỷ luật có thể xảy đến cho các cô ấy bất cứ lúc nào, vậy mà đã sẵn lòng giúp đỡ chúng tôi rồi. Trong hoàn cảnh khốn khổ như vầy, tình người thật là đáng quý. Nó vượt lên trên tất cả những lề thói bình thường. Bị cô lập với đời sống bên ngoài bấy lâu nay, liên hệ được với mấy cô gái này đã mang lại cho chúng tôi nhiều an ủi mà không ai có thể mang đến cho chúng tôi vào lúc bấy giờ được, kể cả người thân!!

Qua hôm sau, sau giờ phát cơm chiều, mấy tên công an đã khoá cửa nhốt lao động vào khu tập thể hết. Chúng tôi nôn nóng chờ đợi. Một lúc lâu sau, nghe có tiếng gọi:

– Sáu Khổ ơi, có nghe không?

Tôi lật đật trả lời thật lớn:

– Ngghheeeee. Chờ môt chút.

Chúng tôi ai cũng phấn khởi, Trương Phái Hàn ngồi xuống cho tôi đứng trên vai nó xong xuôi rồi đứng thẳng người lên cho tôi bám theo song sắt đu người lên. Tội nghiệp thằng Trương Phái Hàn này, trong suốt thời gian chúng tôi quen với mấy cô dưới xưởng may, nó là thằng cực nhất. Nó chuyên môn làm bàn đạp cho chúng tôi đứng trên vai để leo lên song sắt, sau đó lãnh nhiệm vụ canh gác cán bộ cho chúng tôi nói chuyện với nhau. Không bao giờ nó phàn nàn gì cả vì nó cũng vui lây với không khí mới này, vả lại nó cũng hy vọng mấy cô bên dưới có thể giúp nó nhắn tin về dùm cho ông chủ và Má của nó.

Đêm hôm qua chúng tôi đã bõ công vừa canh chừng cán bộ, vừa thay phiên nhau đeo tòn teng trên song sắt bẻ quặp những móc nhọn kẽm gai vào bên trong để khi leo lên chúng tôi không bị những móc nhọn này đâm vào được nữa. Nếu cán bộ có vào phòng, từ bên dưới nhìn lên thì cũng chỉ thấy một đám bùi nhùi kẽm gai chứ không thể phân biệt được những mắt gai nhọn giờ đã nằm cả vào bên trong. Bây giờ khi leo lên ngồi tòn ten trên song sắt chúng tôi thấy thoải mái hơn hôm qua nhiều lắm… Hôm nay chỉ có hai người: Con Nai và Thúy ở bên dưới đang lui cui nấu nướng. Tôi lên tiếng:

– Chào hai em. Khoẻ không?

– Khoẻ. Anh Sáu Khổ đó phải không? Mấy anh có khoẻ không?

Phan Đình Tố và Ngô cũng nhờ Trương Phái Hàn nhắc lên ngồi cạnh tôi hồi nào không hay. Phan Đình Tố trả lời liền:

– Cám ơn em, anh khoẻ lắm, chỉ có nhớ mấy em buồn muốn chết đây nè.

Hai cô ở dưới cười khúc khích, con Nai hỏi vói lên:

– Anh Gió đó phải không? Anh Gió nhớ ai vậy? Nhớ ai thì nhớ chứ đừng nhớ em nghe, để anh Sáu Khổ nhớ đến em đủ rồi.

Nghe con Nai ăn nói bạo như vậy chúng tôi cũng thấy bớt e dè. Cả đám chúng tôi; mấy người nữ ngồi bên dưới vừa lui cui nấu ăn vừa nói chuyện với “người vô hình” trên lầu cao; còn mấy thằng “đực rựa” trên lầu thì hai tay vừa bám chặt song sắt, ngồi chồm hổm trên bực tường như mấy con khỉ vừa nói cười vui vẻ với bên dưới.

Tôi hỏi hai Má con của Bảy hôm nay đâu không thấy. Con Nai cho tôi biết Bảy và Má cô ta bận không ra được. Tôi nói với con Nai:

– Bảy ra không được làm một anh trên này nhớ quá đây nè. – Tôi ám chỉ Trần Văn Ngô.

Hai cô ở dưới cười khúc khích:

– Vậy hả? Tội nghiệp không, Bảy biết được chắc mủi lòng lắm. Anh đó tên gì vậy, để tụi em nói lại cho Bảy cho.

Tôi quay qua Ngô đang vắt vẻo kế bên nhìn nó cười. Ngô cũng cười rồi trả lời xuống bên dưới:

– Anh là Quyền nè. Hôm qua đã gặp hai em rồi, không nhớ giọng nói của anh sao? Em về nói lại với Bảy là anh Quyền nhớ nhiều lắm nghe. Mới gặp hôm qua mà cả đêm anh ngủ không được rồi. Tưởng đâu bữa nay có Bảy ra nói chuyện cho đỡ nhớ, ai dè lại ở “trỏng”. Buồn quá hà!

Bên dưới con Nai và Thúy cười như nắc nẻ, trả lời Ngô:

– Anh Quyền đừng lo, tụi em sẽ chuyển hết sự nhớ nhung của anh cho Bảy dùm cho, bảo đảm “chỉ ” nghe sẽ cảm động lắm, lần sau thế nào “chỉ” cũng ra nói chuyện với anh.

Cả đám chúng tôi 3 người tòn teng trên cao nói chuyện qua lại với hai cô bên dưới nếu ai nhìn vào cảnh đó chắc cũng không khỏi nín được cười. Tuy nói chuyện, tôi không quên nhắc chừng Trương Phái Hàn:

– Mày nhớ cẩn thận canh me dùm nghe Trương Phái Hàn, chớ rủi tụi nó lên là chết hết cả đám đó.

Trương Phái Hàn cười rất hiền:

– Yên chí đi. Mấy anh cứ nói chuyện thoải mái đi, có gì thì em báo động liền.

Tôi hỏi nó:

– Mày muốn làm quen một cô nào bên dưới không, tao hỏi mấy cổ giới thiệu cho.

Trương Phái Hàn cười bẽn lẽn nói tiếng Việt giọng còn lơ lớ:

– Mấy anh chọc em hoài, em đâu biết nói chuyện đâu, tiếng Việt của em nói không rành, mấy cô cười chết.

Tôi hỏi hai cô bên dưới:

– Mấy em có biết cô nào người Việt gốc Hoa ở dưới không, trên này có một anh người Việt gốc Hoa muốn làm quen với một cô cho đỡ buồn nè.

– Có mấy người Việt gốc Hoa, nhưng tụi em không quen thân, với lại mấy chuyện liên hệ này phải thân lắm mới dám nói. Lỡ gặp người không tốt họ “chọt” cán bộ một cái là chết liền. Tụi em chỉ chơi và tâm sự với những người bạn thật thân mà thôi, ngoài ra đâu dám tin ai đâu anh. Nhất là trong tù này, nhiều thành phần phức tạp lắm.

Nghe vậy, tôi nói ngay:

– Tụi anh nói là nói vậy thôi, chứ tụi anh hiểu mà. Mấy em cũng cẩn thận nghe, khi nào thấy không an toàn thì đừng ra. À sẵn đây anh dặn, nếu khi nào các em ra gọi tụi anh, thì cứ gọi một cách trống không, để lỡ có ai nghe cũng không biết em đang gọi ai. Nếu trên này an toàn thì tụi anh trả lời ngay, còn nếu mấy em gọi 3 tiếng mà không thấy ai trả lời là biết trên này đang có “ma” thì đừng gọi nữa.

Chúng tôi cả đám tiếp tục nói chuyện qua lại, giỡn hớt với nhau thật vui vẻ, sau khi hai cô nấu nướng xong, con Nai bảo chúng tôi đi xe xuống cô cho đồ ăn nữa.

Lần này, các cô đã chuẩn bị cho chúng tôi canh nóng và thịt kho thật là ngon. Đồng thời gởi cho chúng tôi một cây bút chì và một hộp diêm quẹt còn đầy nguyên, ngoài ra lại còn có mứt kẹo Tết vừa qua nữa. Chúng tôi đứa nào đứa nấy cảm động và vui mừng lắm, tôi hỏi:

– Mấy em làm lao động xưởng may buổi chiều được tự do đi lại, nấu nướng hả?

– Nói chung tụi em đứa nào cũng gần mãn án, nên mọi sự đi lại được dễ dàng, cán bộ ít để ý tới tụi em. Mỗi ngày, buổi trưa khi hết giờ lao động bữa nào gặp cán bộ dễ thì tụi em được ở ngoài chơi chờ tới giờ lao động chiều, còn không thì phải trở về phòng. Buổi chiều khi hết giờ lao động, trong khi chờ đợi cán bộ nhốt lại vào phòng tập thể thì tụi em nấu nướng bên ngoài rồi mang về phòng ăn sau. Nhiều bửa gặp cán bộ dễ dãi hoặc bỏ đi chơi đâu mất, tụi em ở ngoài này tới tối mịt mới bị “lùa vào chuồng”.

Con Nai ngước nhìn lên nói:

– Các anh đã chuẩn bị nhắn gì về gia đình chưa? Hôm qua tụi em đã bàn rồi, nhất định giúp cho các anh được chuyện này.

Chúng tôi hỏi hai cô nhắn bằng miệng hay là bằng thư? Có an toàn không? Rủi đổ bể sợ ảnh hưởng đến ngày mãn hạn tù của mấy cô.Con Nai cho tôi biết nếu nhắn miệng thì an toàn 100%, nhưng lúc đó người thăm nuôi đông đúc, ồn ào lắm… sợ lu bu quá người nhà không thể nhớ nổi địa chỉ rồi lại quên đi… Còn như gởi thư thì cũng không sao vì mấy cô ra thăm nuôi không bị xét, nhưng nên viết thận gọn, nhỏ xíu dễ dấu thì chắc ăn hơn… Cô cho biết còn mấy ngày nữa là tới kỳ thăm nuôi rồi, nên bảo chúng tôi nếu muốn thì viết sẵn thơ để các cô gởi về cho.

Google photos

Thế là đợi khi gần đến ngày mấy cô ở dưới thăm nuôi, 4 đứa chúng tôi viết thư vào giấy quyến vấn thuốc rê, bọc tờ giấy có ghi địa chỉ ở bên ngoài, cuộn lại thật nhỏ nhờ các cô chuyển về dùm. Sau đó chúng tôi hồi hộp chờ đợi. Ngay buổi chiều ngày thăm nuôi, Bảy, Thúy và con Nai chạy ra báo cho chúng tôi biết đã chuyển thơ cho người nhà trong lúc thăm nuôi an toàn hết rồi. Khỏi phải nói, mấy đứa chúng tôi vui mừng và biết ơn mấy cô biết là chừng nào. Trong hoàn cảnh bị cách ly này, mấy cô ấy dám giúp chúng tôi chuyện này thì đúng là không có gì quí bằng. Người nhà nhận được tin của chúng tôi chắc là mừng lắm và quan trọng hơn hết là bên ngoài sẽ xoay sở ăn khớp với các lời khai của chúng tôi trong này… Nhất là Trần Văn Ngô và Trương Phái Hàn lúc nào cũng lo lắng về những lời khai của mình không biết người nhà sẽ phản ứng thế nào lỡ trường hợp bị công an gọi lên hỏi và nếu người nhà trả lời không ăn khớp với những gì đã khai trong này thì “mệt ” lắm. Điều đáng quý nữa là, mấy cô chỉ mới quen chúng tôi có mấy ngày, lại chưa từng biết mặt chúng tôi, vậy mà dám ra tay giúp cho chuyện nguy hiểm này. Nếu lỡ bị bắt gặp, hậu quả chắc chắn ảnh hưởng rất nhiều tới ngày về của mấy cô. Cái ơn này quả thật to lớn quá! Đêm đó tôi viết một bức thư dài bày tỏ lòng biết ơn của chúng tôi đến với hai má con của Bảy, Thúy và con Nai.

Nhờ sự quen biết này mà chúng tôi và gia đình liên lạc được với nhau. Những giỏ quà kế tiếp của gia đình đã báo cho chúng tôi điều đó. Chúng tôi an tâm rất nhiều khi biết được tin tức gia đình chuyền bí mật vào cho chúng tôi qua thư dấu trong quà, những chỗ mà chúng tôi cho biết trước là sẽ không bị xét đến. Tôi còn nhớ thằng Trương Phái Hàn đã mừng đến chảy nước mắt khi nhận được thư của Má nó và của ông chủ nó báo cho biết là đang lo cho nó ra. Mọi việc êm xuôi thuận lợi, nó sẽ không bị đưa ra toà… một thời gian ngắn nữa nó sẽ được về… Còn thằng Trần Văn Ngô thì cũng vui mừng ra mặt khi nhận thư vợ báo cho biết là ở nhà vợ con và gia đình nó vẫn khoẻ mạnh… bảo nó cứ yên tâm đừng lo lắng gì nhiều cho gia đình… Vợ nó còn cho biết người cùng vụ bị bắt chung với nó đã khai nhận hết, nó chỉ bị nhẹ thôi… không sao đâu.

Còn tôi với Phan Đình Tố, hai thằng bị khép vào tội chính trị, tuy không có tin gì về tương lai của ngày về nhưng ít nhất cũng biết tin vợ con, gia đình ở nhà đều khoẻ mạnh… thì cũng là điều đáng vui mừng rồi. Riêng tôi rất an tâm khi được vợ tôi cho biết vẫn còn dạy may tại trường dạy may của Dì tôi và học trò bây giờ đông hơn trước nhiều lắm… Các con tôi cũng rất ngoan, riêng con trai tôi học rất giỏi… Trong hoàn cảnh bị cách ly với bên ngoài, lòng nôn nóng biết tin tức gia đình bấy lâu nay là một điều chúng tôi khát khao vô cùng, nên dù là với những dòng chữ đơn sơ, những tin tức vắn tắt hạn hẹp trong khuôn khổ của một tờ giấy nhỏ bé dấu kín trong thức ăn như thế, đối với chúng tôi mà nói, như thể một trận mưa lớn vừa tưới lên những mảnh đất bị nắng hạn, khô cằn từ lâu. Chúng tôi đọc đi, đọc lại thư của người nhà không biết bao nhiêu lần và tôi dám bảo đảm cả 4 đứa chúng tôi đứa nào đứa nấy đều thuộc lòng tờ thư của người nhà gởi vào cho mình… Vậy mà nửa đêm chúng tôi không ngủ được lại ngồi dậy lôi ra đọc tiếp…

Mỗi chiều sau giờ làm việc, các cô gái bên xưởng may lại ra nói chuyện với chúng tôi. Có mấy cô chúng tôi cũng an ủi và đỡ buồn nhiều. Chúng tôi mỗi ngày vẫn chuyền thư lên xuống qua lại. Sau một thời gian quen biết, con Nai cho biết tên thật của cô là Đoàn Thị Lộc, bị bắt về tội cướp giật, còn gần 1 năm nữa sẽ hết hạn tù. Khi cô cho tôi biết về tội trạng của cô trước đây, cô có vẻ ngần ngại lắm. Tôi đã an ủi và cố gắng dùng những lời lẽ tạo cho cô không có mặc cảm. Tôi khuyên cô sau khi ra tù thì nên kiếm việc gì làm ăn đàng hoàng, tránh đừng làm những chuyện không tốt nữa. Cô cho biết là sẽ cố gắng nhưng chưa biết sẽ phải làm gì để sống vì cô thực sự không có một nghề nghiệp nào chắc chắn cả. Tôi viết kể cho cô biết nhà tôi là một trường dạy may do người Dì ruột làm chủ. Vợ và 2 cô em tôi đều đứng dạy may và học trò các nơi đến học đông lắm. Tôi có thể giúp cô đến học miễn phí để có một nghề may vững vàng kiếm sống qua ngày được. Tôi cho cô biết tôi đã viết thư về cho bà Dì và vợ tôi trình bày rõ ràng hoàn cảnh của cô và chắc là sẽ được giúp, vả lại cô chính là ân nhân đã giúp tôi trong này chuyền thư về nhà thì sẽ không có gì phải ngại. Tôi cũng đã nhận thư trả lời ở nhà gởi vào cho biết khi nào người giúp tôi về thì cứ tới, vợ và hai em tôi sẽ giúp dạy may miễn phí cho, không sao đâu. Tôi cũng nói cho con Nai yên tâm là khi cô gần về tôi sẽ viết một bức thư giới thiệu để cô mang về đưa cho Dì và vợ tôi cho chắc ăn. Cô cảm động lắm nói khi về sẽ đến nhà tôi, nếu cần thì sẽ nhờ tôi giúp sau… và cứ thế chúng tôi liên lạc đều đặn gần cả năm trời cho đến ngày con Nai được thả.

Trong khoảng thời gian này, nhiều sự việc thay đổi, tôi cũng bị di chuyển qua phòng Kiên Giam khác mà tôi sẽ kể trong những phần sau. Ở đây tôi chỉ muốn kể riêng chuyện tôi quen với các cô gái ở xưởng may. Có ba chuyện liên quan tới con Nai đã làm tôi thật sự cảm động:

Chuyện đầu tiên là cô ta tặng một món quà đặc biệt cho tôi. Lúc đó chúng tôi liên lạc quen biết nhau cũng hơn nữa năm rồi. Một buổi chiều, chỉ có một mình cô ra phía sau bờ tường, tôi nghe tiếng cô gọi có vẻ gấp rút lắm:

– Sáu Khổ ơi, nghe không?

Sau khi nghe tôi trả lời, cô hối tôi:

– Anh đi xe xuống lẹ đi, em có cái này hay lắm cho anh nè.

Tôi cũng tưởng là những bức thư qua lại hằng ngày hoặc một món đồ ăn chơi nào đó, nhưng khi từ trên cao nhìn xuống thấy cô cầm trên tay một cái gói, tôi ngạc nhiên hỏi:

– Cái gì vậy?

– Chút nữa là anh biết liền chứ gì.

Sau khi tôi đi xe chở hàng lên an toàn, cô nhìn lên và nói:

– Sau khi coi xong đừng cười em nghe và cấm anh không được cho chị Bảy và Thúy biết là em đã gởi cho anh mấy món này đó. Em không muốn họ biết đâu. Họ biết họ sẽ cười em đó.

– Cái gì mà hôm nay em bí mật dữ vậy?

– Thì chút nữa anh sẽ biết liền chứ gì, thôi em đi vào đây.

Nói xong cô bỏ chạy vào ngay.

Thật sự tôi không biết phải nói sao khi nhận được món quà bất ngờ này. Cả Gió, Trương Phái Hàn và Lâm Văn Hua cứ trầm trồ và chọc tôi hoài (Anh chàng Lâm Văn Hua này người Campuchia có vợ Việt Nam, đi buôn lậu hàng hoá Thái Lan từ ngả Campuchia về Saigon và bị bắt tại Phú Nhuận. Thời gian này Trần Văn Ngô đã ra toà lãnh án 3 năm tù và chuyển đi rồi, không bao lâu sau thì Lâm Văn Hua vào). Trong bao nylon con Nai gởi lên cho tôi là hai con tôm và một con nai được thắt bằng những dây nylon nhiều màu sắc thật đẹp. Ngoài ra còn có một bức thư thật dài trong đó cô bày tỏ tình yêu đối với tôi. Cô nói rằng từ trước tới giờ nhiều người khuyên cô sau này đừng tiếp tục đi cướp giật lường gạt người khác, đừng làm chuyện phạm pháp nữa… nhưng những lời khuyên như thế chẳng qua chỉ là lời khuyên suông mà thôi, trong đó không có ai thật sự quan tâm cho cô. Những người khuyên cô đã không nghĩ rằng, đâu có ai muốn làm chuyện phạm pháp để rồi bị tù đày, khổ nhục này nọ… nhưng đôi khi con người không có sự lựa chọn, không có lối thoát, và thực tế hơn hết là lúc bấy giờ nếu không làm chuyện đó thì người ta sẽ không có đường sống được… chẳng những cá nhân người đó đói khổ mà còn cả một gia đình đàng sau nữa. Cô không kể rõ chi tiết hoàn cảnh gia đình của cô và tại sao cô phải làm chuyện phạm pháp trước đây, nhưng cô chỉ nói hãy tin cô đi lúc đó cô không còn đường chọn lựa. Sau đó khi quen biết với tôi, cô không muốn cho biết về tội danh của mình, nhưng cuối cùng không hiểu sao cô lại cho tôi biết. Cô nói nếu sau khi biết tội trạng của cô xong mà tôi có thái độ khác hoặc tỏ ra khi dễ cô thì cô sẽ tự động tránh né, không tiếp xúc với tôi nữa. Nhưng không ngờ tôi đã không chê trách gì hành động đi cướp giật xấu xa của cô trước đây mà còn khuyên những điều tốt lành cho cô sau này nữa… Tuy nhiên cô đã nghĩ đó cũng chỉ là những lời khuyên suông như những lời khuyên trước đây mà thôi… nhưng càng lúc cô càng thấy tôi thật sự quan tâm cho cô và những lời khuyên đó đã chứng tỏ cho cô thấy là những lời khuyên thật lòng muốn cô có một cuộc sống đàng hoàng hơn sau này. Cô rất cảm động khi tôi cho biết là đã viết thư về nhà giới thiệu cô cho Dì và vợ tôi, để giúp cho cô được học nghề may miễn phí sau khi ra khỏi tù. Hoàn cảnh của tôi còn ở trong tù như thế này mà cũng tìm cách giúp cô… và càng làm cô cảm động hơn nữa khi tôi đã có vợ lại dám giới thiệu một người đàn bà khác về nhờ vợ mình giúp cho người đàn bà đó, mà không sợ có thể bị vợ hiểu lầm này nọ…

Google photos

Chính những điều đó làm cô xúc động. Cô thật sự nghĩ rằng tôi thật lòng muốn giúp cô có phương tiện để làm lại cuộc đời sau này và từ đó cô có cảm tình nhiều với tôi hồi nào không biết… Cô nói con Nai bằng dây nylon đủ màu cô thắt đã lâu rồi, đi đâu cô cũng để trong túi như một món đồ chơi, kể cả lúc đang may ở trong xưởng may cô cũng đặt nó trước mặt. Nai là loài động vật cô thích nhất vì nó hiền, đồng thời một phần cũng do tên của cô là Đoàn Thị Lộc (Lộc cũng có nghĩa là Nai). Sau khi suy nghĩ kỹ cô đã quyết định tặng món vật mà cô thích nhất đó cho tôi để làm kỷ niệm… Còn hai con tôm như tượng trưng cho sự có đôi có cặp…

Cô còn nhắc trong một bức thư tôi viết cho cô trước đây khá lâu, tôi đã giới thiệu và giảng cho cô biết về thơ ca, sau đó chép cho cô một bài thơ mà tôi nói là tôi thích nhất của thi sĩ Hoài K., bài thơ có tên “Nước Mắt”. Cô thú thật với tôi trình độ học vấn của cô thấp kém. Cô không biết và không hiểu gì về thơ ca, vậy mà không biết tại sao cô bỗng dưng thích bài thơ “Nước Mắt” của nhà thơ Hoài K. đến độ thuộc lòng luôn và cứ mỗi khi buồn buồn là cô lại hay nhẩm đọc lại bài thơ đó. Cô nói với tôi cô thích nhất mấy câu sau và đã hơn một lần khóc khi nhẩm đọc lại mấy câu thơ này:

……………………………….

Ta biết em buồn như chính ta,

Cùng trong gai góc ước vòng hoa.

Trái tim nhỏ quá đôi dòng máu.

Hồn khép nghìn thu lệ vẫn nhoà.

…………………………………

(Thơ Hoài K.)

Mấy đồ vật kết bằng dây nylon màu và lá thư dài quả là một món quà bất ngờ! Thật ra liên hệ qua lại giữa chúng tôi với nhau hàng ngày dần dần nãy sinh ra tình cảm cũng khó tránh được, tuy nhiên nếu nói đến tình yêu ở đây thì thật hoang đường quá phải không? Xét cho cùng điều này không hoang đường chút nào, trái lại là một điều rất thực tế do ức chế tâm sinh lý mà ra! Một điều mà khoa học có thể giải thích được! Cái libido của con người khi bị ức chế sẽ có sự bùng phát một cách tự nhiên vào những trường hợp mà lý trí khó có thể can thiệp vào. Nói như vậy không có nghĩa tôi muốn biện minh về liên hệ đặc biệt của tôi và con Nai – Đoàn Thị Lộc này. Đây là một hồi ký, không nên có sự biện minh ở đây! Một hồi ký thì chỉ nên viết lại sự thật dù sự thật đó như thế nào đi nữa.

Sau này khi có dịp hồi tưởng lại thời gian đã qua, tôi có thể nhớ lại được những nãy sinh tình cảm do ức chế tâm sinh lý như vậy xảy ra không riêng cho cá nhân tôi, cá nhân cô Đoàn Thị Lộc… không riêng cho ai cả, mà phát sinh gần như cho nhiều người mà tôi đã biết trong thời gian đi tù cải tạo trước đây và thời gian trong Chí Hòa này. Sự liên hệ của con Nai, Bảy, Thúy với Gió (Phan Đình Tố), Trần Văn Ngô và tôi trên Kiên Giam 1 vô hình chung đã có một sự ghép đôi cho 3 cặp với nhau: Thúy và Gió, Bảy và Ngô, con Nai và tôi. Mới đầu chỉ là một sự ghép đôi cho vui, nhưng dần dần với những thư từ qua lại mỗi ngày tình cảm của chúng tôi thắm thiết hơn. Trường hợp của Thúy và Gió, Bảy và Ngô cũng xảy ra theo một trình tự không kém gì của tôi và con Nai. Hai cặp đó cũng có những phát sinh tình cảm không thể tránh được.

Nhiều năm về sau, khi nhìn lại sự việc với cái nhìn khách quan hơn – ngay cả khi đang viết lại những dòng này – Tôi thấy rõ sự khởi đầu của những liên hệ quen biết này chỉ là do tâm trạng thiếu thốn tình cảm, thiếu thốn một sự an ủi nào đó trong lúc đang đau khổ. Tâm Sinh Lý là những nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày của con người. Khi thiếu chúng, đời sống con người sẽ mất quân bình ngay. Vì thế đối với những người tù lúc bấy giờ khi Tâm Sinh Lý đã bị hạn chế tới dưới cả mức tối thiểu nhất của con người thì sự mất quân bình xảy ra là một điều tự nhiên, do thế nãy sinh ra vấn đề ức chế tâm sinh lý như tôi đã có dịp trình bày ở trên.

Nếu từ môi trường bên ngoài nhìn vào với ánh mắt khắt khe và dưới một góc độ phê phán nào đó, nhiều người có thể sẽ chê trách chúng tôi và lên án những tình cảm kỳ quái này. Tôi có thể nói ngay rằng: Điều đó hãy khoan kết luận vội, hãy tìm hiểu kỹ hơn về đời sống của những “con người” đang sống trong môi trường đó đi … hoặc – xin lỗi – hãy trải qua đi rồi phê phán cũng chưa muộn. Điều tôi có thể nói trong Hồi Ký này là: Ngay lúc đó không một ai trong chúng tôi có một ý nghĩ mình đang làm điều gì lỗi với vợ con bên ngoài cả. Tình cảm của vợ con, gia đình bên ngoài đối với chúng tôi lúc đó cũng vẫn vậy, chúng tôi vẫn thương nhớ người thân bên ngoài vô cùng, chưa bao giờ nhạt nhoà hình ảnh và sự thương nhớ đó trong lòng chúng tôi. Còn những tình cảm liên hệ bên trong nhà tù lúc bấy giờ, tôi thấy rõ đó là những nhu cầu được tìm đến đúng lúc một cách cộng hưởng của những “con người” đang mất quân bình về Tâm Sinh Lý, để bổ sung cho nhau vào những thiếu thốn thực tế lúc bấy giờ. Một nhu cầu như đói thì ăn, khát thì phải uống… thế thôi.

(Sau này còn nhiều trường hợp mà tôi thấy, biết ngay trong Khu Kiên Giam ED hoặc các nơi khác trong một hoàn cảnh tương tự)

Lần thứ hai đã làm tôi xúc động thật nhiều, lúc đó cô đã gần mãn hạn tù. Trong khi đứng nói chuyện với tôi thì bị cán bộ bên xưởng may từ xa phát giác. Họ bắt cô khai đã liên lạc, nói chuyện với ai? Cô nhất định không khai, họ nhốt cô biệt giam kỷ luật, còng giò cô và đe doạ nếu cô không khai ra ai là người cô liên hệ, họ sẽ dời ngày thả của cô lại… Những chuyện này tôi hoàn toàn không biết. Tự nhiên mấy hôm liền không thấy cô ra liên lạc với tôi, cũng không thấy những cô khác ra, tôi hơi thắc mắc và cũng nghĩ là tình hình bên dưới đang khó khăn sao đó … nhưng không ngờ là sự việc nghiêm trọng như vậy. Một hôm Bảy chạy ra báo chúng tôi vắn tắt cho biết chuyện liên hệ giữa các tù nữ ở xưởng may với tù nam trên khu ED bị đổ bể sau khi con Nai bị bắt, nhưng cô ta nhất định không khai ra tôi dù cho có thể bị dời ngày thả lại cho đến khi nào cũng không biết được. Cô ta nhắn cho tôi hay là cô ta không ra được, bảo tôi đừng buồn. Nếu lỡ có công an trên khu Kiên Giam ED đến tra hỏi chúng tôi trên này thì cứ chối, đừng nhận gì cả. Cô không có khai ra bất cứ ai… Việc cô bị biệt giam kỷ luật còng giò thật ra cô bảo Bảy dấu tôi nhưng Bảy cũng nói cho tôi biết luôn.

Tôi lặng người đi vì xúc động khi nghe tin này. Tội nghiệp con Nai quá. Tôi đã ước gì chính mình bị còng giò biệt giam kỷ luật thế cho cô, nhưng biết làm sao hơn! Tôi chỉ biết cầu nguyện cho cô và mong rằng chuyện này sẽ không ảnh hưởng đến ngày về của cô. Khoảng hai ngày sau chúng tôi cũng bị công an khu kiên giam ED lên hạch hỏi lung tung, nhưng dĩ nhiên là chúng tôi khai không biết gì hết. Sau đó chúng phân tán 4 chúng tôi, đổi qua các phòng khác. Phan Đình Tố bị chuyển qua Kiên Giam 2 kế bên, còn Trương Phái Hàn, Lâm Văn Hua và tôi thì hoán đổi qua phòng Kiên Giam 6 bên phía trong, những người đang ở Kiên Giam 6 thì chuyển ra ngoài Kiên Giam 1.

Tôi mất liên lạc với con Nai và mấy cô bên xưởng may khi chuyển qua Kiên Giam 6. Khoảng hơn hai tuần sau, một buổi chiều sau giờ làm việc, tôi nghe phía sau có tiếng con Nai gọi tôi:

– Sáu Khổ ơi! Ở đâu vậy, có nghe không?

Tôi mừng quá, hướng ra phía sau la lớn lên:

– Nghe rõ? Chờ một chút.

Tôi nhờ Lâm Văn Hua giúp cho tôi đứng lên vai nhảy đeo lên song sắt phía sau Kiên Giam 6 liền. Phía bên dưới Kiên Giam 6 là phòng tắm của khu Bệnh Xá, có một vách tường kế đó ngăn đôi khu bệnh xá và khu xưởng may. Tôi nhìn qua phía tay phải bên khu xưởng may, thấy con Nai đang đứng sát bờ tường ngăn đôi hai khu vực xưởng may và bệnh xá, cô đứng ngay dưới phòng Kiên Giam 5 của thằng Hồng Vân (Nguyễn Sĩ Trí) đang ở. Tôi nói vọng xuống:

– Anh thấy em rồi, em có nhìn thấy anh không? Nhìn qua phía bệnh xá nè, anh đang ở phòng ngay bên phía bệnh xá đó.

Vừa nói tôi vừa cố trườn người giơ tay ra vẩy vẩy để cô có thể nhìn thấy tôi mặc cho những mũi kẽm gai nhọn bấu vào vai và đôi tay tôi đau điếng. Con Nai ở phía bên kia xưởng may ngước nhìn lên về hướng tôi. Cô tỏ vẻ vui mừng khi nhìn thấy bàn tay tôi đang thò ra ngoài vẩy vẩy dù hai mắt còn đỏ hoe:

– Ah, em thấy anh rồi! Em kiếm anh ở chỗ cũ thì nghe anh Gió cho biết anh đã bị chuyển đến chỗ mới này rồi. Em tưởng không tìm được anh, hồi nãy em khóc quá chừng. Em có món đồ muốn gởi cho anh, làm sao anh đi xe lấy được đây?

Google photos

Tôi nghe nói mà cảm động hết sức:

– Em có khoẻ không? Vụ vừa rồi có ảnh hưởng đến ngày về của em không? Anh lo quá, hổm rày mong tin em quá mà không biết phải làm sao?

Cô nói, giọng lạc đi như muốn khóc:

– Không có gì đâu. Sau khi ra khỏi biệt giam, em chỉ bị cảnh cáo thôi, không ảnh hưởng ngày về của em. Anh đừng lo. Còn anh có khoẻ không? Em không ra ngoài được lâu, tình hình ở xưởng may lúc này căng lắm. Hôm nay gặp cán bộ dễ đi đâu mất tiêu nên em đánh liều ra đây kiếm anh định đưa cho anh món đồ này, nhưng bây giờ anh ở bên phía đó, làm sao em chuyền lên cho anh được đây? –

Tôi nói vọng xuống:

– Chờ anh một chút, để anh nhờ bạn anh giúp xem được không.

Nói xong tôi nhảy xuống, ra phía cửa trước gọi Hồng Vân báo cho nó biết:

– Ê Hồng vân, tao có hàng ở phía sau, mày có thể đi xe lấy hàng dùm cho tao được không?

Lúc đó ở Kiên Giam 5, Hồng Vân nghe con Nai và tôi nói chuyện qua lại nên đã biết rồi, nó trả lời ngay:

– Được rồi. Chờ tao lấy xe rồi sẽ chở hàng về cho.

Sau đó tôi nhờ Trương Phái Hàn cẩn thận soi kiếng canh cán bộ ở phía trước, còn Lâm Văn Hua đưa vai cho tôi leo lên lại song sắt phía sau:

– Em chờ một chút, bạn anh sẽ đi xe lấy hàng dùm cho anh.

Khoảng 2 phút sau, Hồng Vân nhảy lên song sắt phía sau. Tôi giới thiệu nó với con Nai sau đó Hồng Vân thòng dây đi xe xuống lấy hàng cho tôi.

Chuyến chở hàng đến nơi đến chốn an toàn. Con Nai mừng quá nói:

– Vậy là em yên tâm lắm rồi. Anh biết không? Em đem gói đồ này theo khi đi may ở xưởng may mấy ngày nay rồi, cứ chờ có dịp là chạy ra để chuyển cho anh trước khi em được thả về. Chờ hoài mà bị canh me quá nên không có dịp. Bữa nay có cơ hội thì lại được biết anh chuyển đi chỗ khác, em buồn quá, khóc hồi nãy giờ quá trời. Tưởng đâu bữa nay không gởi được nó cho anh chắc là em buồn lắm. Anh Hồng Vân ơi, em cám ơn anh nhiều lắm.

Tôi rất cảm động nhưng cũng ráng nói:

– Gói đồ gì mà quan trọng dữ vậy. Em phải cẩn thận, gần về rồi rủi có gì thì kẹt lắm đó.

– Em thì thấy gói đồ này quan trọng lắm nên bằng mọi cách phải gởi đến tay anh trước khi em về. Còn anh thấy nó quan trọng hay không em không màng, miễn em biết anh nhận được là em mừng rồi. Như vậy mới không bõ công của em mấy tháng trời thức khuya làm ra nó.

Thằng Hồng Vân còn đang đu tòn teng đàng sau bên Kiên Giam 5 nghe nói vậy cũng cảm động huống chi là tôi là người trong cuộc, nó lên tiếng chen vô:

– Mày như vậy là có phước hơn tao lắm rồi nghe Sáu Khổ. Có người thức khuya làm quà tặng cho mày mà không nói được lời cám ơn cho người ta vui sao mậy??

Tôi nói vọng xuống với con Nai:

– Anh chỉ sợ là em vì liều lĩnh quá lỡ có chuyện gì xảy ra ảnh hưởng đến ngày về của em thì anh buồn lắm, còn dĩ nhiên những gì em gởi cho anh cũng đều quý và đều quan trọng cả.

Bên dưới con Nai nhoẻn miệng cười, cặp mắt to đen láy ngời lên niềm vui:

– Anh nói như vậy nghe mới được chứ. Thôi em đi vào đây. Tuần tới em về rồi. Anh ở lại phải cẩn thận ráng giữ sức khoẻ, ăn ngủ điều độ và siêng tập thể dục, đừng để bị bệnh trong này khổ lắm. Em sẽ cố gắng ra gặp anh một lần nữa trước khi về nếu có cơ hội.

– Em yên tâm đi, anh sẽ không sao đâu. Anh giữ kỹ và cũng nhớ địa chỉ của em rồi. Không biết còn bao lâu nữa, nhưng anh có thể hứa với em là sau khi về, anh sẽ tìm em.

Cô ngước nhìn lên phía tôi, dù biết rằng chẳng thấy gì hết ngoài mớ kẽm gai bùi nhùi trùm kín song sắt phía bên ngoài, đôi mắt to đen láy ngời lên niềm vui:

– Anh nói thì phải giữ lời đó nghe. Đừng có gạt em à nhe.

Một mối thương cảm từ đâu bỗng dâng lên, tôi thấy tội nghiệp cô vô cùng. Trước khi chạy vào cô còn cẩn thận nhắc:

– Lần nhận quà tới, anh nhớ coi cho thiệt kỹ sẽ có tin của em đó nghe.

Sau đó cô bỏ chạy vào mất.

Chuyện của cô và tôi gần như trên Kiên Giam ED tầng 2 lúc bấy giờ ai nấy cũng đều biết, vì mỗi lần trao đổi qua lại như vậy, mấy phòng kế bên đều nghe hết.

Hồng Vân sau đó đi dây chuyền cho tôi gói hàng qua phòng tôi. Khi giở ra, tôi sững sốt khi thấy trong đó là một cái áo gối vải trắng tinh được thêu viền chỉ đỏ chung quanh, trên mặt áo gối thêu một hàng chữ nổi thật tinh xảo:

“Tình yêu của em dành cho anh ngày hôm nay, nhiều hơn ngày hôm qua và ít hơn ngày mai ”

Tôi cầm cái áo gối đó trên tay mà chỉ biết lặng người đi với sự xúc động. Dù biết tình cảm này chỉ là một phát sinh do ức chế tâm sinh lý mà ra, nhưng là con người ai cũng có xúc cảm, tôi cũng chỉ biết ghi nhận cái cảm tình này của con Nai mà thôi.

Mấy ngày sau, một đêm tôi đang ngồi nói chuyện với 2 người bạn tù trong Kiên Giam 6 thì có tiếng gọi văng vẳng từ xa ở phía sau:

– Sáu Khổ ơiiii. Nghe không. Con Nai đây nè. Mai về rồi. Nhớ quá hà. Ở lại mạnh giỏi, ráng giữ sức khoẻ nghe. Sáu Khổ ơiii. Ngủ ngon nghe. Nhớ quá hhhààà!

Trong đêm vắng tiếng gọi vang lồng lộng, đến được chỗ tôi chắc là cô phải la lớn lắm. Chữ “hà “được cô kéo dài vang trong đêm nghe nảo nuột làm sao! Một cảm giác xúc động kỳ lạ bỗng dâng lên trong lòng tôi. Như vậy là cô ấy được về thật rồi. Tôi rất mừng khi nghe tiếng cô gọi cho biết ngày mai được thả về. Như vậy quả là một tin mừng. Đêm đó trong lời cầu nguyện hằng ngày trước khi ngủ, tôi đã cầu nguyện cho cô luôn được bình an, may mắn và sớm có một việc làm lương thiện để làm lại cuộc sống mới.

Lần xúc động thứ ba của tôi đối với con Nai là ngay sau khi cô được thả về, ngày thăm nuôi nhận quà kế tiếp đó, trong giỏ quà do vợ tôi mang vào có quà của con Nai đúng y như cô đã hứa. Trước đây khi còn liên lạc, cô cho biết khi về sẽ gởi quà vào cho tôi và kèm thư dấu trong đó. Cách gởi thư dấu trong quà thì cô đã biết quá rành dấu như thế nào sẽ vào trót lọt mà không bị xét. Cô cho biết sau ngày cô về, lần thăm nuôi tiếp theo đó sẽ gởi vào cho tôi một con vịt quay và bánh mì, trên ổ bánh mì cô sẽ chấm một dấu phẩm nhỏ màu đỏ, coi như là ám hiệu để biết là của cô gởi vào và trong giỏ quà thăm nuôi đó, phải cẩn thận xem xét cho thật kỹ, món nào lạ mà hồi đó đến giờ ở nhà gia đình tôi chưa bao giờ gởi … thì đó là món của cô và ở bên trong thế nào cũng có thư dấu trong đó.

Cho nên khi nhìn thấy thịt vịt quay và ổ bánh mì dù đã bị bẻ nát ra thành nhiều mảnh nhưng vẫn còn dấu phẩm màu đỏ nhỏ bằng đầu ngón tay út ở đầu ổ bánh mì, tôi biết ngay là của con Nai gởi vào như đã hứa. Tôi lục tìm hết các món quà trong giỏ thì thấy có một gói mắm cá sặc là món mà hồi nào đến giờ tôi chưa bao giờ nhận qua. Trong bụng nghi nghi nên tôi kiểm điểm thật kỹ từng con mắm sặc trong đó, quả nhiên phát giác trong bụng của 3 con mắm có 3 gói nylon dẹp, nhỏ dấu thật kỹ. Tôi lấy ra rửa sạch, giở lớp nylon bọc bên ngoài ra, thấy mỗi gói nylon bên trong có 5 tờ giấy vấn thuốc rê viết chi chít chữ trên cả hai mặt tờ giấy, tổng cộng là 15 tờ có đánh dấu số từng tờ đàng hoàng. Đại khái cô cho hay sau khi về mới biết được gia đình của cô bên ngoài khó khăn hơn cô đã tưởng. Khi còn trong tù, ở nhà dấu không cho cô biết rõ hoàn cảnh khó khăn như thế nào. Hiện cô vẫn chưa có việc gì làm nên không có tiền, cô phải lấy cái áo dài vải soa thêu của cô bán đi lấy tiền mua quà cho tôi như đã hứa. Cô còn nói vịt quay các nơi khác không ngon nên cô đi vào tận Tô Hiến Thành để mua cho tôi ăn, vì vịt quay trong Tô Hiến Thành nổi tiếng là ngon nhất. Hôm cô đi mua vịt quay về bị mắc mưa do đó bị cảm lạnh hết mấy ngày …Cô cho biết có đến trường dạy may nơi vợ và hai em gái tôi đang phụ trách dạy. Cô làm bộ đến hỏi cách thức ghi danh học may và có nói chuyện trực tiếp với vợ tôi.

Google photos

Cô khen vợ tôi đẹp quá và tự nhiên sau đó bỏ ý định đưa bức thư giới thiệu tôi viết sẵn lúc trước ra cho Dì và vợ tôi để được giúp đỡ vào học may miễn phí. Tuy nhiên cô hứa sẽ nghe theo lời khuyên của tôi và sẽ cố gắng tìm một việc làm lương thiện sống chứ không đi cướp giật, lường gạt hoặc làm bất cứ chuyện phạm pháp nào nữa. Cô nói cô đã thức nhiều đêm và khóc trước khi viết thư này … nói rằng tôi và cô ở hai tầng lớp khác nhau, gặp nhau trong tù đã là một kỳ ngộ may mắn cho đời cô rồi. Cô cầu chúc cho tôi sớm được về đoàn tụ với gia đình, sẽ luôn nhớ đến tôi và cầu nguyện cho tôi mỗi ngày. Ở phần tái bút, cô cho biết cô nhờ người mang quà dùm đến nhà cho vợ tôi làm bộ nói rằng người đó trước có ở chung với tôi và quen biết rất thân với tôi trong tù, nay được thả về nên muốn nhờ vợ tôi gởi vào cho tôi ít quà coi như chút tình nghĩa. Vợ tôi rất tin nên nhận quà và không nghi ngờ gì hết.

Tôi đọc đi đọc lại thư của con Nai không biết bao nhiêu lần, lòng xúc động không tả được. Ai ở vào hoàn cảnh của tôi mà không xúc động cho được!! Tôi lấy trong xách tay ra cái áo gối thêu, hai con tôm và con nai thắt bằng dây nylon trước đây cô ấy đã tặng cho tôi. Vừa ngắm lại mấy món quà này lòng vừa thầm nhủ sẽ giữ kỹ chúng trong suốt thời gian tù đày, dù có bị di chuyển đến đâu tôi cũng sẽ giữ gìn chúng cẩn thận… đợi sau này khi được thả về tôi sẽ tìm kiếm, trao trả lại tận tay cô và trực tiếp nói lên hai tiếng “Cám ơn” từ đáy lòng, để chứng tỏ tôi đã trân quý những món quà cô tặng cũng như trân quý cái “tình người” đẹp đẻ mà cô đã trao cho tôi như thế nào.

…Và tôi đã thực hiện đúng lời hứa đó …

Cuối năm 1985 tôi được thả về, khoảng 2 tuần sau, tôi đạp xe tìm đến địa chỉ nhà con Nai đã cho tôi trước đây. Cô ở trong một con hẻm nhỏ, khu Cống Bà Xếp, ga Hoà Hưng. Tôi hỏi thăm tên cô ban đầu không ai biết. Nhưng sau khi hỏi qua mấy người và phải tả đến hình dáng… trạc tuổi…, đồng thời cho biết người tôi muốn tìm trước đây có lần đã ở tù Chí Hòa thì mới có người biết và hướng dẫn dùm tới trước một căn nhà lợp tôn, bên ngoài có một hàng rào nhỏ viền chung quanh. Tôi thấy có một chiếc xe xích lô đạp đậu ngay bên trong hàng rào ngay trước sân nhà.

Trong khi tôi vịn chiếc xe đạp đứng chờ bên ngoài thì cậu bé dẫn đường mở cửa hàng rào vào nhà thông báo. Một lúc sau con Nai bước ra. Cặp mắt đen to lay láy ngơ ngác nhìn tôi không biết là ai. Đây là lần đầu tiên cô nhìn thấy tôi!! Trông cô thật tiều tuỵ khác với lúc tôi gặp trong tù, điều này đủ nói lên cho tôi biết đời sống bên ngoài của cô chắc chắn là không thoải mái lắm. Một mối xúc động vô hình bỗng từ đâu dâng lên khiến tôi chỉ biết yên lặng nhìn cô bước ra sát hàng rào mà không lên tiếng ngay được.

Cô vừa mở cổng rào vừa hỏi:

– Dạ thưa ông kiếm ai?

– Tôi kiếm một người tên là Đoàn Thị Lộc, xin lỗi cô có phải…?

– Dạ phải. Còn ông là ai, tìm tôi có chuyện gì không ạ?

Tôi không trả lời thẳng ngay câu hỏi của cô mà nhìn cô với đôi mắt thật xúc động:

– Tôi vừa từ Chí Hòa ra…

Cô khựng lại mấy giây rồi trong một phản ứng tự nhiên, đưa tay lên che miệng:

– Anh… Anh là Sáu Khổ đó phải không?

Tôi gật đầu, thấy rõ đôi mắt to của cô bắt đầu rơm rớm:

– Trời đất! Anh được về hồi nào vậy?

– Được khoảng 2 tuần rồi.

Lúc đó có mấy người trong nhà cũng đang từ cửa nhìn ra, cô nói với tôi:

– Bên trong nhà em bê bối lắm. Anh chịu khó chờ em một chút, em ra liền rồi mình ra ngoài tiệm nước nói chuyện tiện hơn.

Không đợi tôi trả lời, cô quay lưng đi nhanh vào nhà, mấy người thân của cô ngạc nhiên hỏi gì đó, nhưng cô không kịp trả lời chạy biến mất vào phía trong. Mấy phút sau cô xuất hiện trở lại với cái áo khác và cùng tôi đi bộ ra phía ngoài hẻm.

Tôi hỏi cô:

– Em muốn đi đâu?

Cô trả lời, giọng còn run run, mất bình tĩnh thấy rõ:

– Kiếm một quán nước nào nói chuyện cũng được. Xin lỗi anh lúc nãy đã không mời anh vào nhà, vì bên trong nhà em chật chội bê bối lắm mà người trong nhà cũng đông, em muốn kiếm chỗ khác nói chuyện thoải mái hơn.

Chúng tôi im lặng đi bên nhau luồn lách qua mấy con hẻm, không ai nói với ai điều gì thêm. Tôi cảm thấy bối rối khi đi ngang qua nhiều người lớn và trẻ em đang đứng nhìn chúng tôi một cách tò mò. Chúng tôi tìm một quán sinh tố vắng cách khu vực nhà cô một khoảng khá xa. Tôi hỏi cô vào đây có được không? Cô im lặng gật đầu.

Tôi khoá xe đạp xong, lấy túi xách nylon trong giỏ xe đạp ra rồi cùng con Nai bước vào. Cô im lặng đi theo tôi chọn một bàn khuất bên trong, dáng dấp ngoan ngoãn rụt rè y như người con gái lần đầu tiên đi chơi với bạn trai. Không nói ra nhưng tôi cũng biết cô đang bối rối lắm, tôi phá tan bầu không khí im lặng:

– Em vẫn khoẻ chứ?

– Dạ cám ơn anh, em cũng bình thường?

– Từ khi về đến nay, em có liên lạc với Bảy lần nào không? Cô ấy cũng vẫn khoẻ chứ?

– Tụi em có liên lạc với nhau một lần rồi thôi. Nhà của Bảy ở tuốt Phú Xuân, Nhà Bè xa quá. Vả lại khi ra bên ngoài rồi, ai cũng lo chạy đôn chạy đáo với cuộc sống nên đâu có thời giờ nhiều để liên lạc với nhau.

Tôi mỉm cười, nhìn cô:

– Em thấy anh giữ uy tín không? Anh nói thế nào anh cũng tìm em ngay sau khi về mà.

Cô ngước lên nhìn tôi, cặp mắt đen to lóng lánh:

– Em cũng đã tin như vậy. Hồi còn ở xưởng may, linh tính cho em hay thế nào anh cũng giữ lời. Em cám ơn anh đã giữ lời hứa. Như vậy an ủi cho em lắm.

– Em gặp anh rồi, thấy anh thế nào?

Cô vừa cười vừa cúi mặt lí nhí trả lời:

– Hồi đó nghe anh nói bị bắt tội chính trị, em tưởng anh già lắm, nhưng anh đâu có già đâu.

Tôi cười lớn qua câu nói của con Nai, không khí tự nhiên thoải mái không còn cái cảm giác bối rối ban đầu nữa.

Tôi nhìn ngay cô rồi hỏi:

– Em có thể nói cho anh biết cuộc sống bên ngoài hiện nay của em có thoải mái không?

Cô thở dài:

– Khó khăn lắm anh ơi. Làm quần quật cũng chỉ sống tạm qua ngày thôi.

– Em đang làm gì vậy? Nếu em thấy không tiện trả lời thì thôi, anh sẽ hiểu và không thắc mắc gì đâu.

– Thôi em không nói cho anh biết đâu. Anh biết chỉ thêm buồn chứ ích lợi gì. Có điều em có thể nói cho anh biết là em không có làm điều gì phạm pháp và thất đức hết. Em vẫn nhớ lời anh khuyên trước đây, nên dù khó khăn em vẫn sinh sống kiếm tiền bằng mồ hôi, sức lực của mình. Lúc trước sau khi em về một thời gian, mấy người bạn cũ của em cũng tới, tìm cách rủ rê em đi vào con đường phạm pháp, nhưng em tìm cách tránh né tụi nó hết… dần dần tụi nó thấy em cương quyết nên cũng thôi.

– Sao em không đến học may ở trường dạy may ở nhà anh. Em đã biết may sẵn rồi, bây giờ học thêm thì chắc mau rành nghề hơn người khác lắm. Làm thợ may dù sao cũng nhẹ nhàng hơn.

Con Nai cười, nụ cười thật buồn: – Em có tới chỗ trường dạy may nơi vợ anh đang dạy và có nói chuyện với vợ anh. Ban đầu em cũng định xin học may như anh đã có lòng giúp, nhưng sau khi nói chuyện với vợ anh rồi, không hiểu sao em đổi ý không muốn làm phiền tới gia đình anh. Em cám ơn anh đã có lòng nghĩ tới em, nhưng trời sinh voi sinh cỏ, em không sao đâu. Em sống được mà. Đừng lo cho em, em hứa với anh là sẽ không làm gì phạm pháp nữa đâu.

Cô nhìn tôi cười buồn rồi nói lảng qua chuyện khác:

– Anh mới về, chắc chưa làm gì đâu hả? Anh định sẽ làm gì?

– Anh cũng chưa biết, chắc nghĩ một thời gian rồi cũng phải kiếm gì làm để sống. Trước khi bị tù, anh ngồi bơm quẹt gas nhựa sống qua ngày, nếu không tìm được gì khá hơn có lẽ anh sẽ làm lại nghề bơm quẹt gas nhựa này quá…

Tôi lấy trong túi xách ra một gói nylon đưa cho con Nai:

– Đây là những món quà em tặng cho anh lúc trước. Anh đã quý trọng và gìn giữ rất cẩn thận trong suốt thời gian còn trong Chí Hòa. Anh đã tự hứa là sẽ mang đến trao lại tận tay em sau khi được về để trực tiếp nói tiếng: “Cám ơn em” từ đáy lòng anh. Anh đã quý trọng nó và trân quý cái tình người em đã dành cho anh trong cảnh khổ đau nhất.

Nước mắt con Nai ướt đẫm. Cô nghẹn ngào không nói được lời nào, từ từ lấy trong bao nylon ra 2 con tôm và con Nai thắt bằng dây nylon đủ màu sắc do chính tay cô thắt ngày trước và vuốt ve cái áo gối có hàng chữ thêu mà cô cho biết đã thức cả tháng trời mới làm xong.

Tôi cũng chỉ biết im lặng nhìn cô khóc, lòng xúc động vô cùng. Được một lúc, cô cất lại mấy món vật vào trong túi nylon, lau nước mắt ngước lên nhìn tôi:

– Em không ngờ là anh đã gìn giữ mấy món này kỹ như vậy. Cám ơn anh đã quí trọng mấy món quà tầm thường này. Em biết là anh đã có gia đình rồi mà còn gìn giữ để trao trả lại tận tay cho em… Anh đối với em như vậy rất là quý và an ủi cho em lắm. Anh đã biết em thuộc thành phần cặn bã trong xã hội, đi cướp giựt của người khác để sống, mà anh vẫn không chê bai và đối với em như vậy khiến em thấy cảm động lắm. – Nói xong cô lại bật khóc.

Tôi không biết phải nói sao để an ủi cô, chỉ biết tiếp tục im lặng nhìn cô khóc trong khi lòng cũng đang dấy lên một mối xúc cảm không tả nổi. Chúng tôi ngồi thêm một chút rồi ra về. Tôi có nói với cô bất cứ lúc nào cô thích, cứ đến học may tại nhà tôi. Nếu tôi giúp được gì cho cô tôi sẽ giúp. Tôi cho cô biết tôi sẽ tìm thăm hai Má con của Bảy ở Nhà Bè, hỏi cô có muốn đi cùng không. Cô cho biết cô không đi được, chỉ gởi lời thăm nếu có gặp hai má con của Bảy. Chúng tôi chia tay nhau ở đường rẽ vào hẻm nhà cô và từ đó tôi không còn có dịp gặp lại con Nai- Đoàn Thị Lộc – nữa.

Mấy ngày sau tôi mượn xe Honda của ông anh bà con, chở vợ tôi đi thăm một vòng những người tôi quen biết và có ơn nghĩa trong tù trước đây mà tôi biết chắc đã về rồi. Chúng tôi có đi Nhà Bè thăm hai má con của Bảy. Cả hai không ngờ vợ chồng tôi đến thăm. Sau đó thấy hoàn cảnh của Bảy khó khăn chúng tôi đã đề nghị giúp và vợ tôi nhận lời dạy may cho Bảy. Thế là sau đó, mỗi ngày Bảy từ Nhà Bè đi xuống đến Trương Minh Giảng chỗ trường dạy may của bà Dì tôi để hai em cùng vợ tôi dạy may miễn phí cho. Còn cô Thúy thì tôi không biết ở đâu nên không đi thăm được.

Năm 2004 tôi về VN, tình cờ đi đến khu cống bà Xếp, ga Hoà Hưng. Cảnh vật đã hoàn toàn đổi thay đến độ tôi không thể nào nhận ra mình đang đứng ở đâu… Có một bóng dáng ai đi ngang qua giống con Nai y hệt, làm tôi nhớ đến cô vô cùng. Tôi đã vòng xe lên xuống, qua lại cả buổi cố tình hỏi thăm nhà của cô, nhưng không một ai biết… sau đó tôi có làm bài thơ nói về điều này:

Tìm

Tôi đứng đó lòng chợt buồn vô cớ
Ngẩn ngơ nhìn tưởng thấy dáng ai quen.
Tà áo ấy bỗng vàng thêm nỗi nhớ.
Trôi về đâu chiều nhạt nắng mông mênh.
Lần phố cũ tìm bóng người thuở nọ.
Bước âm thầm như đợi một cầu âu.
Mây hôm nay lãng du về nơi đó
Xin động lòng làm sớm chút mưa Ngâu
Chiều hạ trắng, nắng vờn thân áo mỏng
Chưa tạ từ đã vội tắt xa xăm
Người lẩn trốn giữa dòng đời xao động
Tôi vô tình tìm mãi đến ăn năn.

(Tặng Đoàn Thị Lộc.)

Đối với tôi, con Nai- Đoàn Thị Lộc – vẫn là một người ơn của tôi trong bước đường hoạn nạn, cho đến bây giờ tôi vẫn luôn luôn trân quý cái “tình người” cao đẹp mà tôi đã nhận từ nơi cô và vẫn ao ước được gặp lại cô một lần nữa.

Hồi Ký Chí Hòa

Vĩnh Khanh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on April 28 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 12 Jun 2024

Google photos

Chương 14
Tết Đầu Tiên Trong Chí Hòa

Thời gian vẫn đều đặn trôi. Lật bật mà cũng tới Tết Nguyên Đán rồi. Đây là cái Tết đầu tiên trong Chí Hòa của tôi. Một cái Tết không mong đợi chút nào! Trước đó mấy ngày, chúng tôi được phép thăm nuôi nhận quà đặc biệt nhân dịp Tết này, ngoài mấy món quà có tính cách nói lên ngày Tết cổ truyền như mứt kẹo, bánh chưng, bánh tét.. không khí và cuộc sống trong khu Kiên Giam chúng tôi cũng gần như bình thường, không có gì khác lạ xảy ra…

Mặc dù bên trong khu Kiên Giam sinh hoạt cứ đều đặn như vậy, nhưng bên ngoài khu tập thể, đến gần Tết không khí sôi nổi khác thường. Vị trí Kiên Giam 1 nằm sát ngay cửa sắt ngăn đôi bên ngoài và khu Kiên Giam, nên đứng bên trong nhìn qua lỗ gió, chúng tôi có thể thấy bàn làm việc của công an cán bộ và các sinh hoạt của các lao động. Vào những ngày cận Tết nhiều tù nhân ở khu tập thể được gọi ra ngoài chùi rửa, quét dọn, trang hoàng trên những vách tường… không khí bên ngoài rất là sôi động… Từ trong phòng chúng tôi nhìn cảnh đi tới đi lui bên ngoài mà thấy thèm thuồng vô cùng. Khi mất đi tự do mới thấy tự do là đáng quý biết chừng nào. Cùng hoàn cảnh tù, nhưng tù ở tập thể còn có “tự do” đi lại trong một khuôn viên nào đó, được “tự do” làm một số việc nào đó… mà đám tù ở biệt giam hoặc Kiên Giam chúng tôi không có được. Sự khác biệt chỉ có thế, nhưng đối với chúng tôi lúc bấy giờ quả những khác biệt rất lớn. Có ai ở vào hoàn cảnh đó mới thấy thấm thía được điều này.

Tôi còn nhớ một hôm anh chàng lao động Xáng mở cửa Kiên Giam 1 hỏi:

– Cán bộ cần 1 người chà rửa, xúc bồn chứa nước có ai tình nguyện không?

Không một chút chần chừ, tôi giơ tay liền. Bồn nước cho cả khu Kiên Giam rất lớn, nằm sát với vách tường ở cuối dãy. Thật ra sau khi xả hết nước, lấy bàn chải chà rửa sạch sẽ bên trong… chỉ mất khoảng 1 tiếng đồng hồ là cùng, nhưng tôi “câu giờ” cho tới hơn 2 tiếng, sau đó thì được tắm rửa thật thoả thích. Đó là lần tôi được tắm rửa kỹ lưỡng, sạch sẽ nhất trong suốt thời gian ở Chí Hòa. Tôi còn nhớ chỉ được ra lao động khoảng hai tiếng rưỡi đồng hồ bên ngoài như thế thôi, tôi đã thấy thoải mái lắm rồi, cái cảm giác tù túng không còn nữa, ít ra trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó. Nói như vậy để thấy được sự tù túng bên trong và những người tù đi lại bên ngoài khác biệt như thế nào. Do thế đã không có ít trường hợp tù nhân bên ngoài tập thể lo lót tiền bạc để được ra lao động.

Mọi đêm, sinh hoạt họp chợ của khu Kiên Giam ít nhất cũng tới 1, 2 giờ sáng mới bắt đầu bớt sôi động dần. Nhưng đêm Giao Thừa, hình như ai nấy đều có tâm sự riêng nên không muốn leo lên song sắt nói chuyện tán gẫu cho tới khuya như thường lệ nữa. Sau màn văn nghệ bỏ túi và chuyện vãn sơ sịa thì không ai bảo ai, mọi người đều tự động rút lui xuống nằm nhớ nhà và gia đình của mình. Ở Kiên Giam 1 chúng tôi cũng không ai muốn nói chuyện với ai nhiều vào lúc này. Mọi người hình như muốn dành những giây phút này cho cá nhân mình.

Tôi nằm suy nghĩ miên man, nhớ nhà quá chịu không nổi. Quay sang chỗ của bác sĩ Hoà, Lộc và Ngô thì thấy 3 người này cũng đang nằm im ru nhưng tôi bảo đảm là không ai có thể ngủ được đâu. Thật vậy ai mà có thể ngủ được vào lúc này cho được chứ? Đến khoảng nửa đêm, mặc dù đã có lệnh cấm đốt pháo từ những năm trước, nhưng chúng tôi cũng nghe lẹt đẹt vài tiếng pháo nổ lẻ tẻ và tiếng súng bên ngoài bắn lộp độp từ nhiều hướng khác nhau vọng đến. Giờ Giao Thừa đến rồi! Tôi ngồi dậy xếp bằng và yên lặng cầu nguyện một lúc thật lâu. Sau đó 4 người trong phòng chúng tôi bắt tay và chúc Tết lẫn nhau. Chúng tôi chúc cho ai nấy sớm được đoàn tụ với gia đình. Chúc cho năm tới có thể ăn Tết với gia đình bên ngoài… và chúc sức khoẻ mọi người đều dồi dào trong thời gian còn lại nơi chốn khốn cùng này. Những lời chúc tuy đơn sơ nhưng 4 người chúng tôi ai nấy đều cảm động lắm.

Kế tiếp chúng tôi tuần tự ra trước lỗ cửa gió tham gia cùng với những phòng bên trong, kêu gọi tên chúc Tết lẫn nhau, rồi bác sĩ Hoà, Lộc, Ngô và tôi bày ra chút ít bánh mứt vừa ăn vừa chuyện vãn cho đỡ buồn chứ làm sao mà có thể ngủ được vào lúc này. Đêm Giao Thừa đầu tiên trong Chí Hòa của tôi như thế đó.

Ngày mồng 1 Tết, mới sáng sớm chúng tôi đã nghe tiếng gõ vào các xô, thau nhựa ầm ỉ làm mọi người trong Kiên Giam nhốn nháo lên hết. Chúng tôi ở nhìn ra lỗ gió thì thấy các tù nhân khu tập thể đang múa lân. Không biết họ lấy giấy báo và giấy màu ở đâu ra và làm như thế nào mà chúng tôi thấy con lân trông cũng đẹp, cũng tô phết màu mè với râu bạc… đầy đủ lắm. Lại có cả ông Địa phe phảy quạt đi kế bên. Chúng tôi thay phiên nhau nhìn ra lỗ gió, các phòng khác bên phía trong dãy Kiên Giam không thấy được nên hỏi vọng ra:

– Sáu Khổ ơi, ngoài đó làm cái gì mà ầm ỉ vậy? Anh có thấy gì không?

– Bên ngoài tập thể đang múa lân, đông lắm.

– Vậy thì Sáu Khổ chịu khó làm một màn “Trực Tiếp Tường Thuật” lại cho anh em trong này “thưởng thức ” ké với nghe.

Và cứ thế tôi tường thuật các diễn biến bên ngoài cho các anh em phía trong biết. Hai cán bộ Hùng và Lợi đang đứng vỗ tay xem múa lân trông thấy chúng tôi nhìn ra lỗ cửa gió và nói chuyện với các phòng bên trong. Cán bộ Hùng từ bên ngoài bước vào, lạnh lùng đóng mạnh cửa gió Kiên Giam 1 lại không cho chúng tôi nhìn ra ngoài nữa. Thế là xong. Hết coi múa lân luôn!

Khẩu phần ăn ngày Tết chúng tôi được phát mỗi đứa một mẫu thịt heo bằng lóng tay cái và một chút nước có váng mỡ bên trên. Như vậy cũng là đặc biệt lắm rồi. Tù mà! Không lao động sản xuất thì ăn chi nhiều! Cũng may trước khi Tết gia đình chúng tôi được phép thăm nuôi tiếp tế đặc biệt nên đám tù chúng tôi cũng có được chút hương vị của bánh tét, bánh chưng, mứt kẹo… từ nhà gởi vào nhắm nháp cho đỡ tủi.

Buổi chiều, sau khi phát cơm xong, đợi cán bộ đóng cửa đi xuống dưới một hồi lâu, chúng tôi bắt đầu “họp chợ”, làm một màn văn nghệ dã chiến ngắn ngủi rồi thôi. Không khí sinh hoạt trong dãy Kiên Giam chúng tôi mấy ngày Tết không được hào hứng bằng những đêm khác. Tuy không đứa nào nói ra miệng, nhưng trong bụng đều thấy nhớ nhà và buồn lắm nên không tha thiết gì đến “họp chợ” khuya như mọi hôm. Đêm nằm thỉnh thoảng nghe vẳng lại bản nhạc “Xuân này con không về” của một anh em tù nào đó cất tiếng hát lên, nghe sao mà thấm thía đến từng “tế bào”, làm cho nỗi nhớ nhà càng ray rức thêm lên! Trong phòng chúng tôi, không một ai ngủ được cả nên rủ nhau ngồi dậy đánh cờ tướng, nói chuyện cho tới sáng. Mấy ngày Tết rồi cũng trôi qua lặng lẽ trong khung cảnh nhàm chán này.

Tôi ở Kiên Giam 1 được khoảng 3 tháng thì Bác Sĩ Hoà và Nguyễn Phước Lộc tuần tự trước sau chuyển đi. Tôi nghe nói Nguyễn Phước Lộc ra Toà nhận án rồi chuyển đi lao động ở Phước Long, tôi không có dịp gặp lại anh ta được nữa. Còn bác sĩ Huỳnh T. Hoà thì sau này khi được thả, tôi có đến thăm ông tại phòng mạch của ông ở Thị Nghè. Được biết ông vẫn theo tôn giáo của ông Nguyễn Thành Công và còn ở lại VN cho đến bây giờ.

Chỉ còn tôi và Trần Văn Ngô còn lại ở Kiên Giam 1. Sau đó có những người mới lần lượt trám vào chỗ trống trong Kiên Giam 1. Tình cờ tôi gặp lại ông Hiền ở cùng một khu xóm với tôi ở ngoài đời. Lúc tôi còn bên ngoài thì ông này nổi tiếng là một trùm thuốc nam. Ông thu mua các loại cây cỏ thuốc nam ở miền Trung chở về, phân loại và phân phối lại cho khắp các đại lý ở Saigon. Cả gia đình ông đều làm nghề này, trong khu Nguyễn Huỳnh Đức lúc bấy giờ không ai là không biết gia đình ông. Mỗi lần xe tải chở thuốc nam về, ông mướn người trải ra phơi cả một dãy dài trên đường Nguyễn Huỳnh Đức. Đương thời của ông lúc bấy giờ công an, cán bộ đến nhà ăn nhậu hà rầm mỗi ngày. Con trai lớn của ông tên Phát tôi cũng biết. Không ngờ kỳ này cả hai cha con ông đều bị bắt vào đây.

Google photos

Ông cho biết trước đó chính quyền khuyến khích khuếch trương nghành thuốc nam, nhiều tay cán bộ gộc tới tìm ông vì biết ông có nhiều uy tín và rành về nguồn cung cấp các cây cỏ thuốc nam ở miền Trung, nên chính quyền cổ vũ ông làm việc này để làm sống lại nghề thuốc nam đang ngày một yếu kém. Nhưng sau khi thấy ông làm ăn rầm rộ, thì mấy tay to mặt lớn nhảy vào dành phần, tìm cách hất ông ra để độc quyền, chúng bới lông tìm vết và khép ông vào tội “Buôn Bán những cây thuốc quí trái phép”, đồng thời khép ông thêm tội “Qua mặt Chính Quyền, hối lộ viên chức Nhà Nước …”.

Tôi còn nhớ mỗi lần đi “làm việc” ông bị quay nhừ tử, đến độ khi trở về phòng, ông bõ ăn cả ngày, chỉ nằm đắp một cái khăn ướt trên trán và thở dài thôi. Ông Hiền ở chung Kiên Giam 1 với tôi, còn Phát con trai ông thì ở Kiên Giam 10 đối diện. Ông gặp tôi trong tù, rất mừng vì mới vào mà gặp người quen tâm lý ai cũng thấy an ủi. Ông Hiền này lúc ngoài đời có 1 bà vợ chính thức, ngoài ra ông còn lén lút sống với 2 bà vợ nhỏ, nên thăm nuôi tháng nào cũng có 3 giỏ đồ đầy ắp. Ông chia xẻ cho chúng tôi nên phải nói thời gian ông Hiền ở chung, chúng tôi ăn uống tương đối đầy đủ lắm. Ông ở chung với tôi được mấy tháng thì hai cha con ông ra toà và cũng chuyển ra tập thể nhưng gia đình ông có lo lót bên ngoài nên hai cha con ông về trước tôi.

(Khi tôi được thả về có qua nhà thăm ông và thằng Phát con trai ông. Sau này khi về VN, nghe nói ông Hiền đã mất sau một cơn bệnh nặng. Tôi có tìm thăm thằng Phát thấy nó buôn bán đồ phế liệu văn phòng ở đối diện kênh Nhiêu Lộc, Phú Nhuận cũng khá lắm.)

Ông Hiền vừa đi ra khỏi Kiên Giam 1 thì có kẻ khác trám vào ngay. Tôi có thêm 2 người bạn tù mới:

Một người là một thanh niên trẻ khoảng hơn 21, 22 tuổi, người Việt gốc Hoa tên Trương Phái Hàn, tay này hiền lành và chất phát lắm. Gia đình Trương Phái Hàn rất nghèo, nó làm công cho một ông chủ cũng người Hoa chuyên môn làm bài Tứ Sắc lậu để bán nhân dịp Tết, sau đó bị chính quyền địa phương phát giác, tại hiện trường lúc đó chỉ có một mình Trương Phái Hàn mà thôi và nó bị bắt ngay tại chỗ. Sau khi bị giải về phường, ông chủ của nó bắt liên lạc ngay với nó và thương lượng bảo nó cứ nhận hết mọi tội trạng, kể cả việc nó đứng ra nhận làm chủ luôn cơ sở sản xuất bài Tứ Sắc đó và chỉ làm có một mình chứ không có ai khác … Phần ông chủ của nó sẽ chạy chọt bên ngoài lo cho nó về, đồng thời sẽ chu cấp tiền bạc cho Má và gia đình nó đầy đủ. Ông chủ của nó còn hứa hẹn sẽ bồi thường cho nó hậu hỉ sau này, miễn là không khai ra ông ta. Thế là thằng Trương Phái Hàn cứ một mực nhận hết tất cả tội trạng kể cả nhận làm chủ cơ sở đó luôn.

Tụi tôi đôi lúc hỏi đùa chọc nó rằng:

– Lỡ ông chủ của mày ban đầu còn lo này lo nọ, đợi mày nhận hết tội trạng rồi nửa chừng bỏ không lo nữa thì làm sao? Mày đâu có làm gì được ông ta đâu?

Trương Phái Hàn trả lời tỉnh bơ:

– Nếu vậy thì mấy anh không biết người Hoa chúng tôi rồi. Thứ nhất, tôi tin ông chủ của tôi không bao giờ làm như vậy. Người Hoa rất uy tín: nói một là một, hai là hai nhất là trong vấn đề làm ăn. Thứ hai, nếu như ông chủ của tôi làm như vậy thì kể như ổng cũng tiêu tùng luôn, ông ta sẽ không còn làm ăn được với ai nữa.

Nói chung nó có vẻ tin tưởng hoàn toàn vào những gì ông chủ đã dặn, chấp nhận hết và không mảy may lo âu gì cả.

Người thứ hai tên Phan Đình Tố, anh này can tội chính trị:”Âm mưu lật đổ chính quyền Cách mạng”. Mới thoạt nhìn anh Phan Đình Tố này khó có ai có thể nghĩ rằng anh lại tham gia một tổ chức hoạt động chính trị. Bề ngoài trông anh trắng trẻo, rất đẹp trai, ăn nói nhỏ nhẹ ai cũng có thể nghĩ anh là một sinh viên đại học hơn là một người tham gia tổ chức chống lại chính quyền. Phan Đình Tố ở vùng Phú Nhuận, hàng ngày anh đạp xích lô sinh sống che mắt địa phương để tiện việc hoạt động của anh bên ngoài. Anh không kể gì nhiều về những hoạt động cũng như tổ chức chính trị của anh và chúng tôi cũng tế nhị không bao giờ hỏi tới.

Thế là chúng tôi lúc bấy giờ có 4 người: Tôi, Trần Văn Ngô, Phan Đình Tố và Trương Phái Hàn. Bốn người chúng tôi ở chung với nhau một thời gian khá dài nơi Kiên Giam 1 này.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 12 Jun 2024

Google photos

Phần 5

Về Chợ Lớn

Anh hạch nói không suông sẻ như vậy đâu, nhưng ở đời dây tình cảm đâu phải ở đầu môi, chót lưỡi, tôi nghe ảnh nói mà độ được tấc lòng. Bụng định lòng chai dạ đá mới sau nầy qua mặt bọn đàn ông được, nhưng mới nghe có mấy câu rao Nam nầy mà nước mắt muốn trào, tâm can mềm èo như bún thiu, tôi muốn nhảy lại cắn môi anh hạch để tỏ dấu tri ân, nhưng tôi cố dằn với lấy cái khăn quấn đầu của ảnh vừa chùi nước mắt vừa ngã đầu vào vai ảnh, cho hay giọt nước mắt đàn bà, nước nào như nước nấy. Nhan sắc không phải còn hoài, tuổi thanh xuân đi rồi không trở lại, muốn cự nổi với bọn đàn ông mau quên mau chán, phải học cho đủ nghề, đủ bài bản, cho nên buổi tập sự với anh nầy tôi không tiếc, duy nghe nói hạch tàu đò còn cao đệ hơn nữa, duy chưa gặp nên chưa dám viết, cái gì có nếm mới nên thuật lại cho chị em tường, muốn lấy chút kinh nghiệm làm đuốc soi đường, soi không khéo, đám hậu sanh sẽ cười cho là hủ lậu.

Sáng ngày, chồng tôi vừa ra khỏi cửa, một lát chưa giập bã trầu, má Tư mon men cho chị Sáu qua lấy tin tức, hỏi thăm anh tôi đã hay mất hết đồ chưa, tôi dối rằng chưa. Đến nửa đêm, anh hạch về, và nói với tôi làm vầy: “Em còn thơ ngây quá! Cái mặt non nhớt, rồi tưởng má Tư mập mạp như Phật bà rồi lòng hiền như Bụt hay sao? Thuở nay ai chẳng nghe danh bà Tư Hớn đường Bồ-rệt (Boresse, nay là đường Calmette). Bả định bắt hồn sanh ông cò Chapuis ở bót quận Nhì, không ngờ cô Cá Hấp cao tay ấn hơn nên thộp trước. Bà day qua anh đây toan gỡ, mà anh trót thương em nên phải ra tay, không để em trong vòng tay Dì Tư mãi mãi. Mặc cho dì bứt râu ông tổng nầy tổng nọ. Dì Tư máng coi em như cái vú sữa, còn sữa còn cần dùng, cho nên dì phớm phỉnh đong đưa, ngày nào em cạn sữa, dì hất chơn em cái một. Anh đây là thân chủ thuở nay của dì. Hôm em mới lên dì biết anh là thằng nhiều lúi, nên dì cột cho anh phá lòng trinh em mà lấy ba trăm bạc lớn. Đến khi anh gặp mặt em lần đầu thấy còn non nớt quá, anh không đành lòng, hoặc là nói không nỡ. Anh bàn qua việc cưới làm vợ thiệt thọ, dì lên giá năm trăm bạc chẵn chòi. Đồ mập thây, chuyên nghề bán máu con em mà mập vóc! Ban đầu anh không chịu, nhưng sau anh nghĩ lại, trong năm trăm nầy, chẳng những anh có được người vợ trong trắng mà anh còn làm được một việc phước bằng đi hành hương La Mếc (La Mecque, thánh địa của người Hồi giáo, suốt đời phải có một phen đến đó mới đáng là người). Cứu được em ra khỏi lưới dì Tư Hớn, dầu sau nầy em có phụ anh, anh cũng vui lòng cam chịu. Em nghĩ coi chớ chi em gặp thằng khác, thì phải khốn nạn vô cùng chăng? Trong nhà máy thiếu chi gái đẹp mà anh không thương, rõ thật đôi ta có duyên nợ trước. Em mà được như vầy có phải công của dì Tư chút nào đâu? Khi khổng khi không, không đẻ không nuôi, dì ăn đứt năm trăm, lẽ đáng dì cám ơn mình mới phải? Ơn ấy dì không trả, ngày nay dì còn dụ dỗ bài bạc, tính lột da hay rúc rỉa ăn tận xương tuỷ mới nghe, như vậy mà ăn chay niệm Phật. Để anh đem em về trong Chợ lớn cho xa tầm tay với của con mụ nầy mới được. Anh phải chạy nước rút, kiếm cho ra một căn phố thuận tiện, và từ đây tới đó cấm em cho dì hay”. Qua ngày sau, ảnh trở về cho hay phố đã có rồi, và hôm kế đó, có xe cá thắng hai ngựa dọn đồ đi sạch. Đang dọn, má Tư đến, nhưng thấy mặt ảnh hầm hầm. Má ra về, tưởng rằng êm, không dè má lanh trí, lo lót thằng đánh xe, dọn về đâu má biết hết và nhắn tôi: “Thằng điếm ba da nó không vừa, nó muốn lìa mẹ con mình đặng xui mưu làm loạn chi đây nhưng qua mặt mụ Tư Hớn nầy sao nổi?”

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 12 Jun 2024

Google photos

Phần 4

Lấy chồng là hạch gác cửa

Trời đất ôi! Ở trong làng, con thầy cai tổng đến hỏi, cùng trang lứa, cùng học lớp nhứt một thầy, tôi chê “dài lưng tốn vải”, tuy nhà giàu thật, nhưng ăn nói không chọc tôi cười được, một mối khác, Năm Xuân, con bác Cả, đậu bằng thành chung thật, nhưng làm thơ ký cho trường máy Đỗ Hữu Vị, khoe rằng thực là “thơ ký chánh phủ”, tôi không tin, thêm ốm tong teo, e bị lao chăng, mất công đeo khăn tang sớm, mất đẹp! Nay về với anh hạch nầy. Tưởng rằng làm quản gia, một chức khác cho là trọng, ngờ đâu đó là gác cửa ban đêm, và hạch là phiên âm tiếng Ả-rập Hadj, bên xứ họ nghĩa là gì, tôi thật không biết, duy nghe hạch hạch, tưởng đâu là tiếng hắt hơi “hách xì”.Đêm tân hôn, nay nhớ lại còn rùng mình. Đúng là thuyền nan lâm bão lớn, tấm thân trong ngọc trắng ngà, giá kể ngàn vàng, nói theo văn Kiều, đành để “hồng ngâm chuột vọc”. Mà con chuột nầy nó không vọc, nó nghiến răng xàm xạp. Hạch tuy không thương được nhưng ở rất biết điều. Va mướn cho tôi một căn phố không xa nhà má Tư Hớn là mấy, cái nầy là tại tôi đòi y theo lời má Tư căn dặn, y mua bàn mua ghế và tập tôi ăn cà ri, chu choa, ban đầu cay xé miệng, mà nay gặp không cay tôi không thèm rớ, mới kỳ! Nghe tôi đòi muốn ở gần má, ban đầu anh hạch vùng vằng, song thét rồi cũng ưng, vì anh mê tôi như điếu đổ, muốn gì được nấy. Quả lả anh hạch thương tôi một cách thật tình, và nói nhỏ mà nghe, ban đầu tôi không cảm, nhưng chưa đầy bốn tháng, anh sắm cho tôi áo quần chật tủ, vàng, chuỗi có rồi. Má bày cho tui òn ĩ xin nào neo đạc, dứa nghiêng trong có đồ để cho đeo đừng móp, thêm cà rá đeo đủ ngón, mặt chữ “ngẫu” (ngũ), mặt nhận xoàn Xiêm, và cà rá liên hoàn, đeo vỏ ngón tay, thấy liền lạc, khi cởi ra vòng nầy treo lủng lẳng tòn ten, trông ngộ lắm. Đêm nằm tôi cũng mừng thầm. Từ cảm vừa vừa đến mến, rồi qua thương, tình Hạch – Việt cà ri thịt kho, tôi tập ảnh ăn nước mắm, ảnh nín mũi queo râu, thấy dễ tức cười, vợ chồng cách nhau hơn hai con giáp tôi mười tám xuân, ảnh tròm trèm bốn chục, tôi bắt mùi quen ăn nị tưởng cùng nhau sẽ nối tóc đến già. Ảnh lảm việc trong nhà máy xay lúa trong Chợ Lớn Bình Tây, tử ngày đụng tôi, ảnh xin đổi phiên gác không gác tối nữa và làm việc ban ngày đêm nào cũng về, vì vậy ban ngày ở nhà một mình buồn, tôi thường lại nhà má Tư để giải khuây, ngờ đâu má cò máy với mấy chị trong nhà ra ngón độc bày đặt rủ ren cờ bạc. Ban đầu đánh nhỏ thì tôi ăn, gọi là chơi vị tình, sau lần hồi gầy sòng đánh lớn, tôi bị gài vào bẫy, dính ăn dính thua, say máu ngà, bữa nào chiều về nhà cũng sạch túi. Cái nghề cờ bạc, nóng mũi nên phái gỡ, gỡ đâu không thấy, ngày càng lậm, hết chục nầy tới bạc trăm kia thét rồi tới cầm đồ, cứ nay một chiếc, mai mốt cầm một đôi, không đầy hai tháng trời, bao nhiêu chuỗi vàng kiềng chạm đều ton ráo, hoá ra giấy biên lai cầm đồ chú Hoả, ráo nạo. Nói thì nói vậy chớ làm sao tôi đám thả ra chiếc kiềng vàng đeo cổ và đôi neo vòng tay là vật thường ngày không rời mình tôi, há dám gởi tiệm, cho anh hạch ảnh biết. Một bữa nọ, thình lình chưa bốn giờ chiều, ảnh về sớm hơn mọi bữa định thúc hối tôi ăn mặc cho chiếng, vòng vàng đeo đủ, để cùng anh vào Chợ Lớn ăn tiệc đầy tháng nhà bạn hữu, luôn dịp trình diện tôi cho người đồng hương ảnh hay. Mà nào có mặt tôi tại nhà! Nhân diện bất tri hà xứ khứ, đáo hoa y cựu, mãi câu tôm. Cơ khổ, anh Hạch lả Chà đứt đuôi mà nhè thơ Đường tôi kể, ảnh đi miết lại nhà má Tư, bắt tại trận tôi đang ngồi sòng. Nói chí tình, ảnh vẫn giữ lễ độ, nhỏ nhẹ biểu tôi. Anh biểu tôi mau mau sửa soạn để kịp đi ăn tiệc, mà trời đất ôi, còn gì mà bắc kế hay sửa soạn. Tôi vô buồng làm bộ chải đầu gỡ tóc, rồi y theo kế mụ bà không dạy mà biết, là nhào lên giường nhào lăn hô đau bụng. Mà làm sao qua mặt được anh chà ba da nầy. Ảnh không tin, cạch hỏi tôi đủ điều, hỏi thật lòi chánh, mặt mày ảnh từ đen hoá xanh, ảnh muốn đánh tôi, nhưng nghĩ sao anh không nỡ, tôi khóc lóc xin tha, rằng lỡ dại một lần thứ nhứt. Anh hạch không nói, bước trái ra ngoài buồng suy nghĩ, giây lát trở vô, xem bộ bớt giận vì cặp râu trái ấu không giựt lia như ban nãy, ảnh cầm tay tôi vuốt ve và khuyên như lần đầu, tôi khờ dại nên ảnh bỏ qua, duy tôi phải giấu nhẹm đừng cho má Tư hay và nhứt định dời chỗ ở cứ việc thay đồ đi dự tiệc cái đã, bao nhiêu đồ đạc thua lận má Tư, ảnh sẽ sắm lại còn nhiều hơn nữa, duy ảnh yêu cầu tôi đừng đánh đôi đánh đọ, chị em cũ luôn và má Tư là bầy quỷ, là chằng tinh, gấu ngựa, càng xa càng tốt, gần làm chi cho vấy mực hôi.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessneger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 11 Jun 2024

Google photos

Phần 3

Cách lập thân kiểu mới

Về chưa tới nhà, vừa bước chân vô cổng, nghe tử trong dội ra tiếng má tôi chửi có dây có nhợ, không thua các bà các chị chuyên môn ngoài Bắc. Tôi nói bây giờ vẫn không mọt ai tin, nhưng ngày nay nhớ lại biết thương má tôi thì đã quá muộn, và trong máu huyết tôi biết đâu không có tiêm nhiễm vưởng víu của nỗi oan nghiệt cũ, tôi để má tôi mặc tình kể lể, nào đồ gì đồ gì đủ thứ, hỏi: “Sao bữa nay là ngày mấy, chớ mốt nầy là mùng bảy tháng mười ta là ngày giỗ ông nội mày, mà hồi sớm mới nầy vừa thoát ra khỏi nhà, mày đã te te mất dạng, tao vừa trực nhớ cho trẻ chạy theo kêu, thì nó nói mày đã đi xa lắc xa lơ, vậy chớ mày đi rượt ai đâu mà te rẹt như vậy hử?” Tôi không trả lời, đưa tay nhận thêm sáu đồng bạc dặn mua bột mua đường thêm mua mấy món đồ nấu. Tôi đi thẳng vào trong lục ba hột cơm nguội dằn bụng, chờ má tôi bớt giận đi ngủ, sẽ lén tom góp áo quần cần thiết, gói làm một gói chờ canh khuya sẽ đem trước xuống xuồng, kẻo sáng ôm ra, kẻ ăn người ở thấy, thì lộ hành tung, hư chè hư xôi việc lớn.

Trời vừa hé mắt bửng tưng, tiếng gà gáy còn nhựa, tôi đã thức dậy, chải gỡ gọn ghẽ, hối con nhỏ lấy xuồng đưa tôi ra chợ. Tới nơi, tôi để nó ở lại coi xuồng, lo lót nó một đồng xu xôi nếp than đỡ dạ, còn tôi thì đi tuột một mạch vô nhà cô chủ sự. Cô lật đật biểu tôi vào phòng của cô ngồi đó chờ cô sửa soạn bươn bả, chờ tàu lục tỉnh đến thì chị em cùng đi với nhau. tôi hỏi đi đâu, cô đáp đi Sài Gòn chớ đi đâu mà hỏi. Cha chả, lo quá, từ đó đến giờ tôi lên có một lên khi được bảy tám tuổi, năm ấy (1913) vừa xây cất xong Chợ Mới Bến Thành, có ăn lễ khai thị lớn lắm, năm đó tía tôi trúng mùa dư được mấy chục giạ, ao ước sắm một bộ đồ trà hiệu Đào Ngọc, trong Chợ Lớn, nên thừa dịp cho mẹ con tôi đi theo cho biết đèn dầu, đèn khí đá ra sao, và thứ đèn mới có, không tim mà vẫn sáng hơn hai thứ đèn kia, duy dùng điện lực mà sao gọi lả “đèn khí” là khí gì, ác thật. Tôi nhớ thấy chưng cô Bảy Bang bắt từ miếu ông Quan Đế (Thất phủ miếu) kéo ra, hình bát tiên là nhi đồng bảy tám tuổi như tôi, cho ăn mặc như hát bội và cột ghịt cả ngày trối kệ nắng mưa, lúc đó ghe tía tôi đậu ở gần nhà ông Tổng Đốc Phương, nay kinh đã lấp trở nên chỗ Bưu diện Chợ Lớn bây giờ, cha chả, nhớ Sài Gòn rộng lớn bằng mấy chục lần cái làng Kim Sơn của mình, mình đến đó có một lần hồi nhỏ tối ba chớp ba sáng, thấy được sao chổi (sau biết tên gọi sao Halley) mọc năm đó, năm sau xảy ra trận giặc Đức 1(1914-1918). Tôi chỉ lo chân ướt chân ráo cô nầy đưa mình lên trển, dấn thân sấn bước giang hồ, phó thác cho vận mạng và cho cô chủ sự định đoạt. Duy vững bụng vì năm còn nhỏ, đi Chợ Lớn năm đó tía tôi có bắt đến ông thầy Vi Kỉnh Trang, ở một gác nhỏ đường Jaccaréo (nay là Tản Đà, ổng ăn có năm cắc bạc mà vừa coi tướng vừa coi chỉ tay, nói trúng phong phóc, biểu tôi bước đi vài bước rồi ông đoán sau nầy số tôi ở lầu các, có người phục hạ, nhứt hô bá ứng, nhớ vậy nên cũng vững bụng phần nào. Rồi nhớ bâng quơ qua câu “đi lang thang trên đường phiêu bạt, vái Phật trời phò hộ lưu ly”, câu nầy của ai và chữ Tây viết ra sao, mà ông cử Pháp Diệp Văn Kỳ, con ông Diệp Văn Cương, dịch lại làm vậy mà trúng vào bộ vận và tâm sự mình hôm nay quá đỗi. Ờ mà phải, phải lên đó trốn ít ngày cho tía má tôi tìm kiếm không ra, rồi cô nầy hứa sẽ lựa chỗ giàu mà gả tôi, cho tôi nhờ tấm thân, rồi sẽ trở về thú phạt thì tía tôi cũng bỏ qua và má tôi hết giận chớ gì. Nghe hai tiếng Sài Gòn thì muốn thật, mà mãi còn lo cha mẹ bà con ở đâu trên ấy, một thân cô độc rồi mới làm sao đây? Nghĩ gần nghĩ xa, trong bụng đang bấn loạn bỗng nghe tiếng cô dứt “lo cái gì mà lo, trước lạ sau quen chớ lo gì!” Thấy cô nầy hứa chắc ăn, thêm cô lấy chiếc kiềng ao ước cho đeo, thì trăm phần lo cũng đổ sông hết sợ! Tảu lục tỉnh cặp bến, bộ hành lên hết, cô chủ sự biểu theo cô xuống tảu, dặn ban bù đưa hành lý lại ca bin hạng nhì. Tôi bước chân vô cái buồng gì sang quá, thấy mà ngợp!

Google photos

Giường sắt lót hai bên, tuy không rộng mà nệm gòn rất êm, trải ra trắng phếu, nào chậu rửa mặt, nào quạt máy đèn điện có đủ rồi để nữa đây tiền tàu phỏng độ là bao, sang chi lắm, liệu cô chủ sự có đem theo đủ mà bao bọc cho mình, sao không ở nhà cho yên thân, trăm mối ngổn ngang, rối ôi là rối. Mặt trời đã chênh chênh ngã bóng, kiến đã cắn bụng, bụng càng bào chọt, phải bậm môi ma chịu, nghĩ dại rằng tàu lo chạy cho mau tới, ai đâu dưới nầy lo bán cơm, bán cháo cho mình nhờ. Nhưng cô chủ sự đi guốc trong bụng mình mà mình không hay, cô kéo tay tôi qua phòng kế bên, rộng gần bằng một căn phố, giữa phòng bày sẵn một bàn đủ sáu người, nắp bàn rất sạch, có đủ dao nĩa và ly đĩa trong ngần trắng tinh, thêm một bình hoa hông đỏ chói làm trung tim chứng giám. Cô chủ sự và tôi vừa bước vào, kế ông cò tàu, có hai dòng máu Tây Nam đề huề, cùng đi với ba ông Tây viên chức đi công cán, da đỏ như tôm luộc lông mọc-xù xì đen cá cổ tay vả cườm tay, trông như ba con dã nhơn sở thú đi lạc. Sau mấy cái bắt tay giới thiệu, họ ép cô chủ sự ngồi giữa tôi ngồi đối diện, hai bên chúng tôi là bốn ông giống đực, tuy ngôn ngữ bất đồng nhưng nhờ giàu máu 35 cho nên cái gì cũng qua, duy chữ tình khó lọt. Họ châm nhau những gì tôi không hiểu, nhưng cả thảy đều vồn vã lo cho tôi tứ chút, khiến tôi ngượng nghịu, còn cô chủ sự thì ba xí ba tú, họ cười giòn như nắc nẻ, không biết châm biếm hay phục tài. Tôi nào biết tiếng Tây tiếng u gì phòng tiếp chuyện, đành đánh chữ làm thinh. Lát lát liếc đưa tình, lâu lâu nhé răng cười nụ. May nhờ tía má không bịnh tật nên sanh tôi lành lẽ, răng trắng và đều như hột bắp non, môi đỏ tươi đến son còn kém, gẫm lại gái có sắc như con sóng lượn, đứa trai nào cũng không khác chiếc thuyền nan, dầu ông Tây nào làm tới thống đốc, cũng chứa một nòi tình, ba thằng nầy mà sức mấy, đỏng đưa chơi mày hay chúng bay cung cheo. Họ luân phiên dành rót rượu mời, cô chủ sự bẻ bánh mì giúp tôi, tôi gượng gạo nâng ly, vừa nuốt chưa qua khỏi cổ, lửa từ đâu bừng bừng cháy dỏ, đỏ từ môi đến cặp chân mày, đôi má hồng hồng chứa chan tình tứ ở nhả má tôi nào có dạy, mà nói xin lỗi má, con đã hư làm vầy?

Từ đó tôi không còn biết gì nữa, nhưng càng làm thinh họ càng chiều chuộng, định cho tôi, đẹp như vầy ắt tiếng Tây sạch lắm, chẳng qua sầu tình hay chúng đang làm trái ý điểu gì nên tôi làm thái đó thôi. Bữa tiệc mãn, lui về phòng, lên giường nằm sang tàu Nam Vang lần thứ nhứt, phần sóng đánh tàu lắc lư, phần rượu ngà ngà say tôi mơ màng chiêm bao quyết ra đi phen nầy quyết làm sao có tên có tiền có sóng có gió như vầy mới chịu về cùng tía má, nhưng giấc mộng chưa nghĩ trọn tôi đã đánh một giấc quên đầu quên đuôi, trời sáng bét, tôi mở mắt ra đã đến bến Sài Gòn hồi tang tảng sáng.

Bước lên bở, cô chủ sự kêu xe kéo tay, hai đứa ngồi chung xe, chúng tôi vòng vo tới chợ nào không rõ, ghé một nhà trông quả là nhà có của, bàn ghế cẩn, ngựa gõ, tu bàn đều bằng cây danh mộc bóng láng. Bà chủ nhà đã già nên cô chủ sự gọi bằng “má” và ép tôi cũng gọi theo. Cổ để tôi ngồi đàng nhà trước một mình, còn hai người đưa nhau vào trong nói chi không rõ, giây lát trở ra căn dặn tôi hãy ở lại đây với má Tư Hớn ít ngày, chẳng hề gì đâu mà sợ rằng đã gởi gấm yên bài, ở đây với má, má sẽ thương như qua đây thương em vậy, lời lời ngọt lịm như đường phèn. Bà già ấy cũng tiếp đưa lời, “chị em với con Bảy Chủ sự thì cũng như con ruột một nhà, vậy con cứ ở, đừng ngại ngùng chi cả”. Rồi đó bả biểu dọn cơm nước cho hai tôi ăn, trong bữa cơm, cô chủ sự dặn dò tôi mọi việc ráng sao sao cũng phải tin cậy và nghe lời má Tư, thì mới hòng nên thân đặng. Nội Sài Gòn đây có ai lanh lợi và quen lớn với nhiều ông nhiều thầy cho bằng má Tư, như chị đây năm xưa cũng xuất thân cũng nhờ má Tư sắp đặt cho nên ngày nay mới rỡ ràng sung sướng và có địa vị như ngày hôm nay làm vậy.

Nói ba điều bốn chuyện cho qua tang lề, rồi cô chủ sự hôn vào hai má tôi mà tử giã, rằng hãy để cô vô Chợ Lớn mua vài món, và ở luôn nơi nhà quen trong ấy cho đặng sáng sớm đáp tàu về cho tiện và đỡ tiền xe. Cô chủ sự ra về, Má Tư Hớn lấy trong tủ ra một chiếc kiềng vàng chạm kiểu khác và hai chiếc vàng dạy tôi đeo vào thử, xem có vừa vặn không. Đôi vàng quả có rộng một tí, tôi không dám nói: thì má Tư đã bảo cái cô sáu nào đó ở trong buồng, hãy đổi đôi vàng cho tôi, cũng y đồng cân đồng lượng và cùng một kiểu chạm “nhứt cách nhứt chiếu”, một khúc tám bông hoa kế tiếp một khúc chạm câu thi văn vận với đoá hoa (lan cúc trúc mai) đã chạm nơi khúc trước. Má rằng: “Con đã lớn rồi, đeo dầu có rộng chút ít cũng không sao, thêm cổ tay của con nhiều xương, đeo rộng ít thấy, phải để cho em của con đây, đeo cho vừa khít cho thấy cổ tay tròn ống chỉ, vừa khéo vừa đẹp, vừa xứng với vóc đạc, cho má xem cho mãn nhãn thêm vui lòng già”. Y cái bà, trông cục mịch mà lời nói ngọt tợ mía rim! Tôi đang ngồi ngắm nghía mấy món nữ trang mới, không làm gan xa tía xa má làm gì có như vầy, bỗng có một tốp mấy ông mấy thầy kéo nào nhà, ông nào ông nấy xem đã ba ngù, nói với nhau tiếng Tây bốp thiên, kẻ kêu “dì”, người gọi “má”, om sòm bát nhã. Má Tư lật đật biểu chị Sáu dắt tôi theo vòng cửa sau bước qua nhà kế cận mà gởi tôi ngồi chút chơi, vì má nói tôi còn như nai không nên cho lũ say nầy thấy, và dặn tôi chờ giây lát chúng về sẽ lại về nhà.

Ở đây chưa được đúng tuần, vừa quen nước quen cái, một hôm cơm rồi má Tư gọi tôi lại gần rồi nói nhỏ: “Nay có thằng Hạch, quản gia trong nhà máy xay lúa lớn trong Chợ Lớn, giàu lắm, nó muốn cưới con về làm vợ, với một cây kiềng đúng một lượng và hai lượng chuỗi hột quấn tay, con nên ưng nó đi mà lập thân, chỗ nầy được lắm, nên nghe lời má, thuở nay má ăn chay niệm Phật, tạo lập không biết bao nhiêu gia đình như vầy, tụ thiểu thành đa, không nên già kén, mà bỏ qua dịp tốt”. Tôi lúc nầy tứ cố vô thân, bụng đều không muốn cũng chẳng dám nói không. Huống chi mụ nầy, giọng kèn tiếng quyển, thật dễ xiêu lòng, lại nghe có kiềng có chuỗi thì còn chê bai gì nữa. Vậy nên tôi cũng đánh liều gật đầu ưng đại.

Cut Paper Illustrations by Maude White

http://www.thisiscolossal.com

Christopher Jobson

December 27, 2014

Post by Sơn râu 11 Jun 2024

Nghệ sĩ Maude White có trụ sở tại New York (trước đây) tiếp tục tạo ra những bức tranh minh họa tuyệt đẹp bằng giấy cắt, tạo ra hàng tá tác phẩm mới kể từ khi chúng tôi khám phá tác phẩm của cô vào mùa hè này. Màu trắng phụ thuộc rất nhiều vào các đường mỏng và không gian âm để tạo ra mỗi hình minh họa, một quá trình trừ không có chỗ cho lỗi; một vết cắt xấu duy nhất có thể gây tử vong cho một mảnh. Sê-ri mới nhất của cô có tựa đề What Left Left on the Farm liên quan đến chân dung của những người phụ nữ với đồ vật trên tóc. White hiện đang làm việc trong một cuộc triển lãm tại Phòng trưng bày Peter & Mary Ann Vogt ở Buffalo và bạn có thể đọc một cuộc phỏng vấn gần đây với cô ấy trên Artvoice. (thông qua Hi-Fructose)

Maude White


Photo by Joel Brenden

Massive ice formations crystalize in incredible photographs by Paxson Woelber

http://www.thisiscolossal.com

Post on February 25, 2020

Grace Ebert

Post by Sơn râu 11 Jun 2024

Anchorage-based creative Paxson Woelber has captured stunning photographs that illuminate the massive ice formations he recently stumbled upon in an Alaskan cave. Part of Castner Glacier in the Eastern Alaska Range, the expansive chamber is replete with glimmering crystals that jut down from the ceiling in some areas and coat the walls in others.

Woelber shares with Colossal that he visited during a deep freeze that saw temperatures below -30 degrees Fahrenheit, and discovered that the cave was formed by a stream that opened near the back. Geothermal heat warms the interior, causing the higher temperature of the inside to meet the drier, cold air from the outside near the cave’s mouth. This interaction causes moisture in the air to condense, creating the giant formations.

The artist described the experience as feeling as if he were exploring the inner portions of an asteroid. “Near the mouth of the cave, branching tree-like crystals hung down over a foot from the roof of the cave,” he says. “Toward the back, the crystals were smaller and more tightly-packed, like the crystals on the inside of a huge geode.” Head to Woelber’s Instagram to check out footage from his visit.

Anchorage-based creative Paxson Woelber has captured stunning photographs that illuminate the massive ice formations he recently stumbled upon in an Alaskan cave. Part of Castner Glacier in the Eastern Alaska Range, the expansive chamber is replete with glimmering crystals that jut down from the ceiling in some areas and coat the walls in others.

Woelber shares with Colossal that he visited during a deep freeze that saw temperatures below -30 degrees Fahrenheit, and discovered that the cave was formed by a stream that opened near the back. Geothermal heat warms the interior, causing the higher temperature of the inside to meet the drier, cold air from the outside near the cave’s mouth. This interaction causes moisture in the air to condense, creating the giant formations.

The artist described the experience as feeling as if he were exploring the inner portions of an asteroid. “Near the mouth of the cave, branching tree-like crystals hung down over a foot from the roof of the cave,” he says. “Toward the back, the crystals were smaller and more tightly-packed, like the crystals on the inside of a huge geode.” Head to Woelber’s Instagram to check out footage from his visit.