Perfectly Timed Photo Frames a Solar Eclipse Around a Man Leading a Camel in the Desert

mymodernmet.com

By Sara Barnes on January 23, 2020

Post by Sơn râu 11 Jun 2024

Tất cả các bức ảnh đầy cảm hứng đều có điểm chung của nhiếp ảnh gia, nhiếp ảnh gia đã ở đúng nơi, đúng thời điểm. Đôi khi, nó LỚN bởi tình cờ; nhưng, như nhiếp ảnh gia Joshua Cripps chứng minh, nó thường là kết quả của nhiều tháng chuẩn bị. Sáng tạo có trụ sở tại California đã lên kế hoạch ở Trung Đông vào giữa tháng 12 năm 2019 khi anh phát hiện ra sẽ có nhật thực hình khuyên. Sự kiện này đã thuyết phục anh kéo dài chuyến đi của mình để chụp một bức ảnh về cảnh tượng tráng lệ. Và nhờ vào kế hoạch điên rồ của anh ấy, anh ấy đã có thể chụp được cảnh nhật thực đóng khung hoàn hảo một người đàn ông dắt lạc đà băng qua cồn cát.

Vì vậy, làm thế nào mà Cripps có bức ảnh này? Toàn bộ buổi chụp được lên kế hoạch tỉ mỉ, anh ấy tiết lộ với My Modern Met, từ quốc gia (UAE) đến địa điểm (sa mạc Liwa), đến cả tọa độ GPS của cả tôi và lạc đà đều đứng, cũng như đầu mối chiều dài của ống kính tôi sẽ sử dụng. Ngay cả thời gian đã được lên kế hoạch, đến phút khi nhật thực xuất hiện trong khung phía sau người đàn ông và lạc đà của anh ta. Cripps đã sử dụng một ứng dụng có tên PhotoPills để xác định vị trí lý tưởng và sau đó anh ta bắt đầu suy nghĩ về vấn đề này. . Anh ta muốn thứ gì đó sẽ là đại diện của vùng và phong cảnh, và cuối cùng anh ta định cư trên một con lạc đà vì nó là một loài động vật thuần hóa dễ kiểm soát hơn một sinh vật như chim ưng hay ngựa Ả Rập.

Đối với cát trôi, không phải bất kỳ cồn cát sẽ làm. Cripps có những yêu cầu cụ thể về độ cao của cồn cát để có được bức ảnh. Anh ta biết rằng anh ta sẽ phải đứng cách con lạc đà gần như chính xác 1.000 feet để có được tỷ lệ chính xác giữa kích thước của con lạc đà và mặt trời. Anh ta cũng nhận ra rằng anh ấy cần một cồn cát có thể nhìn thấy trên bầu trời khi đứng ở góc 6,15 độ. May mắn thay, Cripps đã có thể tìm thấy một cồn cát đáp ứng các tiêu chí nghiêm ngặt của mình.

Với tất cả các kế hoạch đã được thực hiện, Cripps chỉ có thể đợi cho đến khi nhật thực bắt đầu. Và một khi nó đã làm, anh ấy đã chuyển động liên tục: đưa mọi thứ vào vị trí, chụp phơi sáng thử nghiệm và liên tục thay đổi các tác phẩm của mình để đuổi theo mặt trời. Toàn bộ nhật thực kéo dài gần hai tiếng rưỡi và Cripps đã dành 23 phút để chụp một loạt 133 hình ảnh ghi lại bản chất của những gì anh ta định làm. Cripps đã suy nghĩ về việc bắn những lần nhật thực trong tương lai và anh ta đã giành chiến thắng phải chờ đợi quá lâu. Sẽ có một nhật thực toàn phần có thể nhìn thấy trong một lát cắt nhỏ của Nam Mỹ vào ngày 14 tháng 12 năm 2020. Bây giờ anh ấy đang suy nghĩ về những gì anh ấy sẽ chụp trong thời gian đó.

Nhờ lập kế hoạch tỉ mỉ, Joshua Cripps đã có thể chụp được bức ảnh nhật thực tuyệt vời về một người đàn ông dắt lạc đà băng qua cồn cát.

Cripps không nói tiếng Ả Rập và người đàn ông không nói tiếng Anh, vì vậy Cripps đã vẽ một bức tranh về những gì anh ta muốn bức ảnh trông như thế nào.

Trong khoảng thời gian 23 phút, Cripps chụp được 133 bức ảnh.

Hồi Ký Chí Hòa

Vĩnh Khanh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on April 28 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 11 Jun 2024

Google photos

Chương 13
Liên Lạc Được Với Nguyễn Sĩ Trí

Mỗi sáng sớm thức dậy, tôi ngồi cầu nguyện khoảng nữa tiếng, sau đó làm vệ sinh cá nhân rồi lao động mở cửa đi lấy nước, trở vào phòng tập thể dục… riêng tôi lúc này mỗi ngày tập dịch cân Kinh đánh tay từ trước ra sau 1000 lần mỗi bận. Sau khi tập Dịch Cân Kinh thì đi bộ đếm bước từ góc này đến góc kia của phòng khoảng 1 tiếng, ngày 2 lần sáng và tối. Trong phòng trên vách tường một người tù nào đó ở trước đây đã vẽ một chữ “Nhẫn” bằng tiếng Hoa thật lớn. Mỗi ngày khi đứng dạng chân tập Dịch Cân Kinh, tôi luôn luôn đứng trước vách tường đối diện với chữ “Nhẫn” này, vừa tập trong lòng vừa thầm nhủ phải “Kiên Nhẫn, Kiên Nhẫn… rồi mọi chuyện sẽ qua”. Nhờ thế nên thời gian sau này tinh thần tôi không còn quá bi quan như lúc trước nữa.

Sau phần tập thể dục buổi sáng, tôi lấy ra một nhúm mì gói vụn ở nhà vợ tôi gởi cho mỗi tháng, bỏ vào ca nhựa đổ nước lạnh vào, đợi nó nở ra ăn. Đây là buổi điểm tâm sáng hàng ngày của tôi. Một bịch mì vụn như vậy, mỗi sáng bốc cho khéo tay thì cũng lây lất được cho đến cuối tháng. Những ngày vừa mới nhận quà xong thì khá hơn với chút ít bánh mì khô hoặc trái cây tươi… Sau đó chúng tôi nói chuyện qua ống nước với phòng bên và trên lầu, đánh cờ tướng giết thì giờ… chờ phát cơm buổi trưa. Sau khi ăn trưa xong thì đi tới đi lui một chút rồi ngủ. Ở Kiên Giam này phòng rộng rãi nên ít nóng hơn Biệt Giam 2 cho nên buổi trưa có thể ngủ được khoảng nữa tiếng hoặc 45 phút.

Sau đó thức dậy hoặc đánh cờ tướng, hoặc nói chuyện qua lại với các phòng bên cạnh hay trên lầu giết thời giờ Buổi chiều khoảng 4: 30, sau khi lãnh cơm xong để dành lại đến khoảng 6:30 mới ăn. Ăn cơm chiều xong bữa nào tôi cũng đi bộ tới lui cả tiếng đồng hồ trong phòng. Khoảng thời gian còn lại của buổi tối là thời gian “họp chợ”, nói chuyện qua lại với các phòng Kiên Giam khác, xen kẻ là chương trình văn nghệ “Tù hát tù nghe”, chương trình này kéo dài cho tới thật khuya mới ngưng, hoặc chỉ ngưng đột ngột khi bị cán bộ đi tuần lên bắt gặp mà thôi… Sau đó trước khi đi ngủ tôi ngồi xếp bằng cầu nguyện khoảng nữa tiếng rồi mới đi ngủ.

Những sinh hoạt ở khu Kiên Giam cứ thế lập đi lập lại mỗi ngày, chỉ có điều được ở chỗ rộng rãi hơn và ở chung với người khác nên cũng đỡ buồn, điều kiện sinh hoạt khá hơn và sạch sẽ hơn vì mỗi người được tiêu chuẩn 1 sô nước lớn xài cho một ngày, với sô nước này mỗi tù nhân có thể tắm được và tối có thể lau mình được trước khi ngủ. Đồng thời khả năng liên lạc với các tù nhân khác tương đối dễ dàng hơn.

Một buổi sáng trong khi tôi và các người chung phòng đi vào hồ nước bên phía trong lấy nước như mọi ngày, khi ngang qua Kiên Giam 5 thấy có một người leo lên song sắt gọi tôi:

– K. phải mày đó không K.?

Tôi ngước nhìn lên thì trời ơi! đó chính là thằng Nguyễn Sĩ Trí chung vụ với tôi. Chính vì nó mà tôi mới bị vào trong này. Nhìn thấy nó là máu trong người tôi sôi lên, lúc đó có lao động Xáng đứng kế bên, tôi chưởi nó liền:

– Đ.M. mày. Mày có biết mày đã hại tao và gia đình tao khốn đốn đến mức nào hay không, thằng khốn kiếp Đ.M. mày, tao và gia đình tao đối với mày tốt quá mà tại sao mày hại tao tới nổi này?

Qua đôi kính cận thị dày cộm, nước mắt nó tuôn ra liền. Nó nhìn tôi nói qua nước mắt:

– Tao cũng không biết nói sao nữa K. ơi. Mày chưởi tao đúng lắm. Tao xin lỗi mày. Tao có lỗi với mày và gia đình mày vô cùng, nhưng thật tình tao đâu có ngờ là mày bị vào đây đâu.

Anh chàng lao động Xáng đang đứng gần đó hoảng hồn bước tới đập mạnh vào phòng Kiên Giam 5 và hối tôi:

– Lấy nước lẹ lên đi, còn nhiều người lắm. Lẹ lên. – Rồi hắn nói mở cửa gió Kiên Giam 5 nói vào bên trong:

– Xuống liền ngay đi? Bộ muốn chết hả. Cán bộ đứng ngoài kia kìa.

Tôi nhìn thấy thằng Nguyễn Sĩ Trí khóc, tự nhiên cơn giận trong tôi vơi đi rất nhiều. Tôi nói với nó:

– Để trưa hoặc tối nói chuyện đi. Tao chỉ nói cho mày biết là tao không nhìn nhận bất cứ cái gì cả. Hoàn toàn: “Không biết, không nghe, không thấy”. Mày nghe rõ chưa.

Nguyễn Sĩ Trí hiểu liền:

– Vậy là tốt đó. Tao cũng không có khai gì tới mày hết. Yên chí đi. Tao sẽ nói cho mày rõ chi tiết thêm sau. Bây giờ không tiện. Một lần nữa xin mày đừng giận nữa Tao sẽ kể cho mày biết sau. Thật tình tao không cố ý hại mày đâu.

Nói xong nó leo xuống.

Gặp được thằng Nguyễn Sĩ Trí này, tôi vừa giận vừa mừng. Giận là khi nhìn thấy mặt nó như khơi lại nỗi đau đớn oan ức của tôi và gia đình chịu đựng bấy lâu nay. Còn mừng là dù sao, nó cũng cho biết nó không có khai gì về tôi, như vậy những việc tôi đã chối sẽ không có bằng chứng nào buộc tội tôi được cả.

Buổi trưa hôm đó khi phát cơm xong, đám cán bộ đóng cửa đi xuống bên dưới hết. Đầu óc tôi vẫn còn nghĩ ngợi hoài về việc gặp thằng Nguyễn Sĩ Trí hồi sáng này, bỗng có tiếng dộng vào tường 2 tiếng từ bên Kiên Giam 2. Tôi đến bên ống nước ghé tai vào nghe, có tiếng Thanh Đa (biệt danh của Phan Văn Ty):

– Bên đây sắp đi xe qua nghen. Có hàng cho Sáu Khổ đó.

Tôi cám ơn Thanh Đa và cúi xuống chỗ ống nước nơi nối liền 2 phòng Kiên Giam với nhau chờ, được một lúc thì có một đầu cọng kẽm lòi ra, tôi đưa tay rút lấy, trên đó có một gói nhỏ được bọc nylon cẩn thận. Lấy gói nhỏ đó ra, trả cọng kẽm về dưới ống nước rồi dọng vào tường 2 cái ra hiệu cho bên đó kéo cọng kẽm về cất. Sau đó tôi giở gói nylon nhỏ đó ra xem. Thì ra đó là một bức thư do thằng Nguyễn Sĩ Trí gởi chuyền mấy phòng mới tới được tay tôi. Nội dung nó kể cho tôi nghe về vụ bị bắt của nó và tại sao lại dính dáng tới tôi.

Nó kể cho tôi nghe nó vô tình có khai là mỗi ngày đi làm về thì thỉnh thoảng có ghé ra chỗ tôi đang sinh sống bằng nghề bơm quẹt gas chơi và thỉnh thoảng chúng tôi có đi uống cà phê, nhậu nhẹt với nhau. Nó nói lý do nó khai như vậy vì nó bị “quay” quá. Bọn công an bắt nó làm một tờ kiểm điểm kể từng chi tiết sinh hoạt của nó mỗi ngày ở đâu, đi đến đâu phải kể ra hết. Nó nghĩ nó khai thỉnh thoảng ghé ra chỗ tôi chơi, ăn uống với nhau thì cũng chỉ là thường tình, không thể dính líu tới tôi được và tôi sẽ không bị việc gì… Ai ngờ tôi lại cũng bị bắt vào đây… Nó nói nó ân hận quá. Còn vụ bài thơ… Nó nói hoàn toàn nó không có khai gì dính líu tới tôi hết, kể cả việc đưa cho tôi xem qua hoặc cho tôi đọc nó cũng không có khai. Nó nói cùng bị bắt trong vụ, ngoài tôi và nó ra, còn có một thằng bạn cũng đi học tập cải tạo về tên Cảnh nữa (anh chàng Cảnh này tôi hoàn toàn không quen biết).

Google photos

Tóm lại, nó nói cái ngu dại của nó là đã nói ra tên của bạn bè, nó nghĩ đơn thuần là không ai dính líu đến chuyện gì cả thì sẽ không sao, ai dè lại bị bắt hết cả đám như vầy. Nó bảo tôi, nếu có đi làm việc với chấp pháp thì cứ một mực chối không dính dáng gì đến chuyện bài thơ đó cả, để một mình nó chịu. Dù bị ép cách mấy cũng đừng nhìn nhận gì hết vì nó hoàn toàn không có khai tôi dính líu tới bài thơ đó. Nếu cần khi đi làm việc thì xin đối chứng, khi đối chứng nó sẽ xác nhận điều đó… Nó hy vọng tôi và Cảnh sẽ được thả về sớm… Sau cùng nó xin lỗi tôi một lần nữa. Phần tái bút nó nói có gì thì gọi danh hiệu nó trong này là: Hồng Vân, để liên lạc. (từ giờ trở đi tôi sẽ gọi Nguyễn Sĩ Trí bằng danh hiệu Hồng Vân).

Như vậy là đã ngã ngũ câu chuyện rồi. Tôi đọc bức thư của nó mà ngậm ngùi không tả được. Tất cả chỉ vì sự vô tình đến độ ngu xuẩn của nó mà giờ này hại biết bao nhiêu người. Mặc dù tôi không nhìn nhận nhưng dễ gì tụi CS này sẽ thả tôi. Chúng nó đâu cần biết tôi có bị oan hay không. Nhưng bây giờ có giận, có chưởi rủa thằng Hồng Vân này thì cũng đâu có ích gì. Âu đây cũng là số phần, kiếp nạn của tôi. Tôi lại là thằng nhiều tình cảm, dễ tha thứ. Vả lại nhìn nó khóc hồi sáng và đọc bức thư giải thích, nói lên nỗi ân hận của nó, tôi không làm sao còn có thể giận nó nữa. Có giận thì cũng chẳng cứu vãn được cục diện đã xảy ra. Thôi! Dẫu sao bạn bè cũng đã nhận lỗi rồi. Nghĩ như vậy tôi bước tới cửa, dán mắt qua lỗ cửa gió thấy không có ai bên ngoài, tôi la lớn:

– Hồng Vân ơi.

Mấy giây sau, có tiếng nó la trả lời lại thật lớn:

– Nghheee.

– Đã nhận được rồi… Hiểu rồi…. Không giận mày nữa đâu.

Có tiếng nó trả lời thật lớn, nhưng nghẹn ngào như đang khóc:

– Cám ơn mày nhiều.

Tôi bên này cũng thấy bùi ngùi muốn rớt nước mắt. Tôi còn nhớ gặp Hồng Vân hôm đó thì còn đúng 1 tuần nữa là Tết Nguyên Đán tới, đây là cái Tết đầu tiên của tôi trong tù.

Hồi Ký Chí Hòa

Vĩnh Khanh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on April 28 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 11 Jun 2024

Google photos

Chương 12
Ma Chí Hòa

Nói về ma ở Chí Hòa thì nhiều câu chuyện ma được kể truyền khẩu giữa tù với nhau lắm. Người thì nói chính mắt đã trông thấy, người thì nói chỉ nghe kể lại… Riêng tôi thì chưa bao giờ chính mắt thấy ma ở Chí Hòa. Lúc còn ở chung với bác sĩ Hoà, Lộc và Ngô ở Kiên Giam 1. Một đêm khuya tôi giật mình thức dậy đi tiểu thì thấy Lộc và bác sĩ Hoà đang ngồi nói chuyện. Tôi cũng nghĩ hai người khó ngủ nên thức khuya chuyện trò thôi. Sau khi đi tiểu xong định đi ngủ lại thì Lộc hỏi tôi rằng:

– Hồi tối giờ anh có thấy gì không?

– Không? Anh nói thấy cái gì là sao, tôi không hiểu?

– Vậy thôi, nếu anh không thấy gì thì để mai tôi kể cho anh nghe, anh đi ngủ tiếp đi.

Lời của Lộc làm tôi thắc mắc, không hiểu anh ta muốn nói gì? Tôi quay sang qua bác sĩ Hoà, thì gặp ông này đang cười cười:

– Anh ta hỏi anh có thấy ma không đó.

Vào lúc giữa đêm như vậy, sao bỗng dưng bác sĩ Hoà lại đề cập tới ma, vả lại bình thường ông này đâu bao giờ thích bỡn cợt đâu. Tự nhiên tôi thấy rờn rợn:

– Ma? Đâu có thấy gì đâu? Bộ anh Lộc và bác sĩ thấy ma hả?

– Tôi đâu có thấy, anh Lộc thấy đó.

Tôi ngồi choàng dậy, nhìn qua Lộc:

– Thiệt không anh Lộc? Đừng giỡn nhột cha nội, nửa đêm không ngủ tự nhiên đem ra nói chuyện này?

– Thiệt chứ ai nói giỡn mấy chuyện này làm gì? – Anh chàng Lộc trả lời – Hồi nãy tôi đang ngủ khi quay qua, chợt mở mắt tình cờ nhìn ra phía cửa thì thấy có một đầu người đội bê rê xanh như kiểu nón bê rê của lính Thủy Quân Lục Chiến. Người đó thò đầu nhìn vào, mặt có vẻ rất buồn bã. Tôi giật mình ngồi lên nhìn kỹ lại thì không thấy gì nữa. Hết ngủ nỗi, tôi ngồi tiếp tục nhìn ra phía cửa một lúc lâu thì bỗng dưng thấy cũng cái đầu đội bê rê đó thò vào nhìn tôi nữa. Tôi sợ quá nhưng ráng bình tĩnh giơ tay bắt ấn Quan Âm chỉ về phía anh ta niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” 3 lần và xua tay bảo anh ta “Đi đi. Đi đi”, sau đó tự dưng anh ta biến mất nãy giờ không thấy xuất hiện nữa. Tôi hết ngủ nỗi luôn. Gặp lúc bác sĩ Hoà thức dậy đi tiểu nên tôi nói chuyện, hỏi ổng coi hồi nào tới giờ ổng có thấy như vậy lần nào chưa?

Nghe kể như vậy thì làm sao mà còn có thể ngủ lại được, nên tôi cũng ngồi dậy nói chuyện với hai người:

– Tôi tin là có ma ở đây thật, nhưng mình không làm gì động chạm đến “họ” thì chắc không ai phá mình làm chi đâu. Tôi nghĩ anh nên cầu nguyện, van vái oan hồn của họ thì chắc họ sẽ thôi không quấy phá anh nữa.

Tôi làm ra vẻ tỉnh bơ nói như vậy với Lộc nhưng trong bụng cũng sợ lắm vì lúc nhỏ tôi đã từng thấy ma khi cùng mấy đám bạn rủ nhau nửa đêm vào nghĩa trang rình xem và tin chuyện này lắm. Tôi nói chuyện với hai người mấy câu nữa rồi ngồi xếp bằng ngay ngắn, mặt quay vào tường nơi tôi thường cầu nguyện mỗi sáng, tối. Tôi cầu nguyện xin chư Phật chư Bồ Tát hãy gia hộ cứu vớt cho những oan hồn vất vưởng nơi chốn tù đày này sớm được siêu thoát… Sau đó tôi cũng van vái thầm trong bụng:

– “Nếu có ai đó chết linh thiêng, oan ức ở chốn này xin đừng về phá chúng tôi. Chúng tôi chẳng may cũng lâm vào cảnh đau khổ này và cũng chịu nhiều oan ức lắm. Xin hãy phù hộ cho chúng tôi sớm được ra khỏi chốn tù đày này, tôi hứa khi được về sẽ cúng kiến tạ ơn…”

Tôi không cần biết ai theo tôn giáo gì, tin gì… nhưng tôi phải nói rằng trong suốt thời gian tôi ở tù Chí Hòa, chưa thấy một người nào tỏ vẻ không tin hoặc nhạo báng chuyện này cả. Có thể họ không tin trong lòng nhưng chưa bao giờ thấy ai mở miệng nói ra với lời lẽ chế diễu cả.

Bất cứ ai ở Chí Hòa đều không thể quên được có nhiều đêm khuya khi mọi người đang ngủ bỗng nghe có nhiều tiếng la đồng loạt thật lớn, qua hôm sau thế nào cũng nghe lao động kể rằng bên ngoài khu tập thể đêm hôm qua thấy ma. Mấy lao động cho biết khi thấy ma, cả khu tập thể mấy chục người đều thấy hàng loạt y như nhau. Tôi đã hỏi lao động Xáng:

– Vậy chính anh có thấy không?

Lao động Xáng trả lời:

– Tôi đã nói cả khu tập thể ai cũng thấy rõ cả, thì làm sao tôi không thấy được. Bộ anh không tin hả?

Sau đó anh ta không nói thêm gì với tôi, nhưng khi bác sĩ Hoà hỏi thì anh cho biết rõ chi tiết hơn vì bác sĩ Hoà đã từng giúp anh nhiều lần trong vấn đề thuốc men, bệnh tật mỗi khi anh hỏi tới. Có một lần anh bị bệnh nửa đêm phải gọi cấp cứu. Khi các y tá đi lên người ta biết ông là bác sĩ nên nửa đêm công an đến mở cửa Kiên Giam nhờ ông đi cấp cứu dùm. Từ đó lao động Xáng âm thầm giúp đỡ lại bác sĩ Hoà nhiều mặt. Anh cho bác sĩ Hoà biết ở ngoài tập thể nhiều người đang ngủ thì bị giật đứt giây mùng, sau đó nhiều người thấy một bàn tay đang lơ lửng chỗ lối đi ngay giữa khu tập thể. Chính bàn tay này đã giật đứt giây mùng của tù. Trong phòng tập thể đèn sáng mở cả ngày lẫn đêm nên mọi người đều thấy rất rõ. Bàn tay lơ lửng như thế một lúc khá lâu. Thông thường thì khi tất cả đồng loạt la lớn lên thì bàn tay sẽ biến mất nhưng đôi khi một đêm cứ tiếp diễn như vậy hai ba lần. Đôi lúc lại thấy có bóng người bước đi rõ ràng giơ tay giật đứt giây mùng và ném mùng vương vãi khắp nơi rồi trong khi bao nhiêu tù nhân la hét đồng loạt lên, bóng người đó tự nhiên biến mất tiêu trước bao nhiêu cặp mắt kinh hãi của tù. Bữa nào xảy ra như vậy là ngoài khu tập thể mọi người thức tới sáng, ngồi nói chuyện chứ không ai còn có thể ngủ lại được.

Chuyện này dần dần trở thành quen thuộc đến độ đêm nào nghe tiếng la đồng loạt ngoài khu tập thể, bên trong chúng tôi ai nấy đều giật mình thức dậy và không ai bảo ai chúng tôi đều âm thầm cầu nguyện. Ngay cả công an cũng biết chuyện này và một số công an cũng đã bị ma nhát.

Kiên Giam 1 chúng tôi khi nhìn qua lỗ cửa gió có thể thấy bên ngoài bàn làm việc của cán bộ. Chính mắt tôi trông thấy một buổi sáng, cán bộ Lợi bày thịt heo quay, bánh mì, trái cây trên bàn làm việc và thắp hương khấn vái kính cẩn lắm. Sau đó hắn ta còn đốt giấy vàng bạc nữa. Chúng tôi bên trong nhìn thấy cảnh đó, bàn luận với nhau nhưng không rõ vì lý do gì hắn ta cúng kiến thành tâm như vậy. Đến giờ phát cơm buổi trưa, bác sĩ Hoà hỏi lao động Xáng chuyện đó thì anh ta cho hay là đêm qua khi cán bộ Lợi đi tuần bị ma nhát, anh ta cũng cho hay đây không phải là lần thứ nhất công an trực gặp ma, nhiều người đã gặp rồi và ai nấy đều phải tin cả.

Trong những chuyện ma trong Chí Hòa, có những truyền thuyết về chuyện con ma vú dài thường xuất hiện trong Chí Hòa từ hồi trước 1975 đã mang lên báo chí làm sôi nổi cả một thời, vẫn còn được tù kể cho nhau nghe tuy mỗi người kể có chi tiết khác nhau nhưng tựu trung vẫn là một giai thoại trong Chí Hòa ít nhất là cho đến khi tôi vào vẫn còn nghe những câu chuyện này..

Đó là những chuyện ma của người đã chết. Ngoài ra trong Chí Hòa vẫn có những con ma sống lảng vảng hù doạ tù nhân mỗi ngày. Đó là những “con ma” công an. Đây mới chính là những con ma thực sự đối với tù nhân. Không hiểu đã có từ bao giờ, khi tôi vào đã có tiếng lóng “MA” để ám chỉ công an Chí Hòa rồi. Mỗi tối khi chúng tôi leo lên song sắt nói chuyện qua lại với các phòng khác hoặc ca hát cho nhau nghe, thông thường chúng tôi có đồ soi canh chừng cho nhau, khi có người phát hiện công an trực đi lên, ám hiệu báo động cho nhau biết là người đó sẽ la lên một tiếng: “MA”. Tất cả các phòng khi nghe ám hiệu đó sẽ im lặng hết, vì thế chỉ xui lắm chúng tôi mới bị bắt gặp tại trận. Ở khu ED chúng tôi ở có hai “con ma áo vàng” phụ trách tầng hai: một tên là Lợi và một tên là Hùng. Tên cán bộ công an Lợi khoảng 25, 26 tuổi rất hiền và tương đối dễ dãi với chúng tôi, cũng không quát tháo nạt nộ tù nhân. Thành thật mà nói hôm nào gặp ca của cán bộ Lợi trực thì tụi tôi nói chuyện ca hát tương đối thoải mái.

Google photos

Hắn không có đi rình rập bắt bớ tù một cách nhỏ mọn. Lúc nào chúng tôi đang hát hò hoặc nói chuyện với các phòng, gặp lúc hắn đi lên thông thường hắn chỉ đập mạnh vào cửa sắt cảnh cáo chúng tôi và yêu cầu chúng tôi im lặng đi ngủ… chứ không chưởi rủa hoặc rình bắt tù đi biệt giam kỷ luật như các tên cán bộ trực khác. Trong khi đó tên Hùng là một tên hắc ám, rất khắc khe với tù và hay rình rập chúng tôi để bắt đi còng giò biệt giam kỷ luật. Ngoài ra hắn hay chưởi rủa tù nhân mỗi khi bắt gặp tù nhân phạm lỗi. Những khi đi tuần lên không bắt được ai vì đã bị tụi tôi báo động trước thì hắn tỏ vẻ bực bội lắm, chưởi bới lung tung. Bản thân tôi đã bị tên này rình rập bắt còng giò biệt giam kỷ luật mấy lần.

Ngoài hai tên cán bộ Lợi và Hùng này ra, còn có những tay cán bộ ở các tầng khác. Mỗi tầng có 2 tên công an phụ trách hàng ngày. Ban đêm thì chúng thay phiên nhau trực. Gặp lúc mấy tên kia trực cũng đa số là hắc ám lắm. Do thế danh xưng “MA” ám chỉ cho chúng cũng không sai chút nào.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 10 Jun 2024

Google photos

Một bước sấn vào đường đời – đến nhà cô chủ sự

Chưa đầy ba bữa, má tôi sai cầm mười đồng bạc ra chợ Mỹ, cụ bị mua đồ bôi kim châm hủ ki (đậu hủ phơi khô như bánh tráng), dọn lần cho kịp ngày giỗ ông nội. Từ chợ Giữa, Kim Sơn ra đến thị thành Mỹ Tho, vẫn còn đường đá đỏ Biên Hoà, đi lại bằng xe kiềng có hai ngựa kéo, xe hơi, ô tô lúc đó chưa chạy trên đường nầy. Chuyến nầy vừa ra tới chợ cũ, xuống đậu nơi đầu cầu sắt, tôi mua hốt mớ cho rồi, đem xuống xuồng giao hết con nhỏ đi theo, dặn nó cứ bơi về giao cho má tôi, vì tôi gạt nó đừng chờ, dối rằng còn mua vài món nữa rồi sẽ quá giang xe kiếng về sau. Tôi ngó chừng cho nó bơi ra sông, chưa tới khúc quanh, tôi đã bỏ đó, lo đi tìm nhà cô chủ sự. Lúc ấy mặt trời đà cao mú, mà cô chưa thức và còn phải đợi cô rửa mặt chải gỡ trót canh. Thiệt nhắc lại cái cách cô gặp tôi cô mừng, tưởng gặp mặt bà con ruột rà cũng không hơn đặng. Cô chủ vừa cười vừa nói: “Ủa nầy, em. Tội nghiệp thì thôi. Mắc hồi hôm lỡ thức chơi bài…, phải qua ngủ nướng thêm chút nữa chắc nhọc lòng em chờ đợi, hoặc qua đã mất dịp gặp em mà qua hằng trông đợi”.

Cô nầy nói làm sao, tôi nghe hay quá, mà cơ khổ tôi còn khờ ịch, nào biết tiếng gì đáp lại cho trôi. Thứ đi rửa mặt mà cô cũng dắt tôi theo. Phòng tắm, cầu tiêu, bồn rửa mặt gì sang quá, thấy mà ngốt con mắt. Chỗ nào cũng sạch, không một chút mùi hôi. Ý cái cô làm sao mà rửa cho rồi nội cái mặt, thô; hết sức là lâu. Nào xà bông cung thơm, phấn giồi cũng thơm, dầu xức tóc thì khỏi nói, đến nước súc miệng cũng thơm, mà thấy cổ xài không biết tiếc mà ngán cách ăn xài nầy. Tôi nghĩ dại trong bụng: “Người ta cũng thì người ta như mình, mà người sao ăn sung mặc sướng đủ điều, đã chẳng làm gì cho đụng móng tay, mà chuỗi kiềng đeo không hết, quần áo chẳng thiếu gì. Lại còn bài bạc thâu đêm, rồi ngủ cho trưa trờ trưa trật. Còn mình đây, sao lại cực khổ mãn đời: nồi cơm, trách cá, xắt chuối nuôi heo, một ngày chí tối làm không hở tay, xin có một cây kiềng, mà mấy tháng nay xin hoài không được”. Nghĩ như vậy rồi lại thầm ước: “Chớ chi mình được như cô nầy, thì có phước biết chừng nào?”

Khỏi nói, cô chủ sự bữa đó, thôi mời ăn cái nầy, uống thử cái kia, bụng đâu mà chứa, mà món nào cũng lạ miệng. Tới món phô mát, tôi vừa nếm bỗng vùng mình nó muốn vọt ra, nhưng vừa nuốt khỏi cổ, lại thấy ngon ngon, và qua miếng sau là tôi đã bủa sua bắt tay làm bạn như quen từ hổm. Rượu chát mới hớp một hớp, tôi đã xây bồ bồ. Cô chủ sự kéo tay tôi lại ngay tủ kiếng, mở ra một mở áo quần, thứ nào cũng thơm tho đẹp tốt hẳn hoi, dẫu con ông cả ông cai trong tổng cũng chưa sắm nổi và so bì cho đặng.

Cổ thấy tôi coi không nháy mắt, cổ lại lựa một mở xinh nhứt mà mặc vào cho tôi. Cổ lại mấy nào vòng vàng, chuỗi hột, dây chuyền xà tích đeo vào cổ tay. Cổ lại bày, nói để cho cổ gỡ đầu, bởi tóc lại và xức dầu thơm cho tôi, nhưng tôi từ chối vì sợ má tôi hay, và một hai miệng nói không dám mà cổ muốn làm tôi ra sao thì làm.

Đoạn cô khép cánh tủ, kéo tôi đứng ngay thắng trước tấm gương lớn đầy mặt tủ. Cô lại òn ĩ nỉ non như mật ngọt rót tai: “Đó! Em có thấy không? Em mà có đồ ăn mặc, đồ bắc kế, thì qua đây thua xa lắc. Chớ chi em để cho qua giồi phấn thoa son và bới lại mở tóc cho tân thời, thì em là tiên nga trên thế!”. Tôi không nhịn được, vụt nói hớt: “Ước chừng có cây kiềng vàng hôm trước đeo nữa, tôi coi được không cô?”. Cô chủ sự chúm chím cười lòi ra hai cái răng vàng duyên đến, và nói: “Sao lại không được? Mà tuỳ em, sau nầy em muốn mấy cái lại không có? Vậy thôi, em cứ nghe lời qua, về đừng cho ai hay, lo tom góp áo quần cho sẵn. Bất kỳ là ngày nào, hễ em lên tới đây, thì qua sẵn có thế tiện giúp em lập cuộc đời như qua đây không khác”. Được lời như cởi tấm lòng, mừng khấp khởi lật đật giao đồ đạc, từ giã, ra xe vừa kịp chuyến chót.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 10 Jun 2024

Google photos

Phần 1

Sài Gòn “tạp pín lù” là gì?

Nếu dịch đúng ra Hán Việt, là “Sài Gòn đã biên lô” vẫn chưa ai hiểu là gì? Tả, tạp là “đả”, đánh; Pín – có hai nghĩa: “pín” là đuôi sam thằng Chệc đời Mãn Thanh, nhưng đây pín có nghĩa là “biên” (Hán tự) và “bên, gần bên” (Nôm). Lù là lò, lò lửa.

Tạp pín lù, là “đả biên lô”, tức là món ăn nấu chín gần bên lò lửa; cũng như “ăn sán lẩu” là ăn thịt sống nhúng vào nước sôi bắt trên lò lửa nóng. Số là người Tây bày ra một từ khí làm bằng chì, thiếc, vật kim khí có chân cao giữa khoét lỗ đặt vài cục than cháy, chung quanh là nồi chứa nước thịt ngọt, khách ăn tự lựa từng món ngon: mề gà, lòng heo, ruột già, ruột non, dồi trường, tự gắp bằng đũa và nhúng vào nước thịt đang sôi, rồi tự gắp qua chén và không cần biết món nhúng đã chín hay còn sống sượng. Rồi thì rượu cay, rau sống ngốn nghiến chàm ngoàm cả miệng không thốt ra lời được, món ăn ấy gọi “ăn sán lẩu”, dịch ra Hán tự là sán – sanh (thức ăn còn sống, chưa chín), “lẩu”: lò (lô), ăn Sanh lô, nhưng nếu nói: “sanh lô” ba Tàu không hiểu, phải nói theo họ “ăn sán lẩu”, hoặc ăn “cù lao” vân vân.

Tiếng miền Nam rắc rối pha chè, người ngoài vô đây, xin khuyên đừng ham “nói chữ”.

Sài Gòn tạp pín lù, nôm na là Sài Gòn thập cẩm, Sài Gòn tào lao, Sài Gòn ba lăng nhăng, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Sài Gòn sán lẩu cũng được, nhưng tạm dùng danh từ tạp pín lù. Nếu nói theo Bắc thì “Sài Gòn thập cẩm; nếu nói theo Trung thì “Sài Gòn tào lao”, nhưng tác giả sanh tại Sóc Trăng (Nam Kỳ) nên: tập nầy danh gọi Sài Gòn tạp pín lù là vì vậy.

Thay lời tựa

Thư một người chửa quen biết, gởi cho tác giá “Sài Gòn năm xưa” Thưa ông,

Tôi là V.A. hiện ở Paris chưa tiện nói danh tánh và địa chỉ, thơ từ xin dùng lối poste réstante, hộp thơ số…

Đời nầy không nên thấy sang vội bắt quàng làm họ. Về sang, đúng ra ông chưa có, duy có nhà còn y như cũ, đồ ngoạn hào không hảo hớt, văn viết còn có người đọc. Quyển “Sài Gòn năm xưa” còn người tìm mua vởi giá cao, quả ít ai được như vậy, tạm gọi rằng sang. Tôi nay, quê quán Mỹ Tho (Rạch Gầm), chồng chẳng may sớm thất lộc, cùng quê vởi quê vởi ông ở Sốc Trăng, bắt quàng được chứ?

Giũ lời tiên phu ký thác, nay tôi nhờ người thân tín nầy cầm bức thơ và luôn tập nhật ký cuộc đời cửa hai tôi, nhờ ông điểm xuyết, tôi đàn bà viết còn vụng về, sau nầy có dịp tiện tưởng ông nên cho vào “Sài Gòn năm xưa” gọi bổ túc. Ông viết “Sài Gòn năm xưa”, xuất bản đã hai lần, sách biên khảo được vậy là khá, nhưng tại sao ông bỏ sót không viết đầy đủ về nhóm chị em chúng tôi. Trong sách ông kể đủ, nào Trần Bá Lộc bợ Tây, bạo tàn, nào Đỗ Hữu Phước bán đứng liệt sĩ Thủ Khoa Huân, làm giàu trên xương máu đồng bào, nào Sáu Ngọ vua cờ bạc… nhưng vì sao ông chừa giới ăn chơi, đám công tứ bột, và nhóm giang hồ lưu lạc, mượn yên hoa son phấn hành nghề? Vâng, nhóm son phấn ẩy, cứ gọi đúng tên, có chi rằng nhục, có tên để gọi. có chữ để đọc, kêu xách mé hại gì? Hay vì yêu hoa nhắc đến truỵ lạc, ông sợ nên né tránh?

Miệng tụng kinh Di Đà, lòng chứa sẵn một bồ dao găm. Ấy là quân giấu hình, giấu dạng. Ban ngày ăn tương chao niệm Phật, trời sắp tối, tay cầm chuỗi, tay gõ mõ, mắt láo liếng xanh khách. Khách xuống xe đi lỏn nhà, nhè nhà kế bên cũng thờ thần mày trắng bước vô, kinh đọc chữ cà lăm, chữ vấp váp, thà làm nghề nằm ngửa như bọn tôi mà ít tội hơn. Thế gian truỵ lạc còn nhiều làm sao kể xiết? Xã hội ngày nay đã dường thế, ông có giấu cũng không xong. Phàm xấu che tốt khoe là thường lệ, thơm gì đời con đĩ mà thuật ra đây. Nhưng xin chớ quên chút công của chị em chúng tôi mới phải. Những năm 1920 đến 1945, ruộng Hậu Giang nhờ kinh xáng khai thông mà phát, mùa trúng liên tiếp, lúa lại được giá, con cháu các địa điền chủ lớn đua nhau giỡn với tiền rừng, bạc biển. Có thằng, cha chết chưa kịp chôn, đã ăn cáp bằng khoán, ôm đi cố cho chà setty (chetty) lấy bạc cho kịp mua xe chở em đi ăn nem hứng gió. Các chủ ruộng có con trai đều háo hức cho sang Pháp, thi đậu bằng trung cấp thứ thiệt làm nghề thầy cãi, thày thuốc, thầy nhổ răng, nay thảy đều già cóp. Đám khác không biết học chữ, thì lại học khiêu vũ, nhiếp ảnh, cắt may về xứ mở phòng chụp hình (Antoine Giàu”, lập nhà may Âu phục (Nguyễn Phong Tân), đồng bào hại đồng bào, thời Nam kỳ quốc, bắt nói cho sửa “Tân Sơn Nhứt’ hễ nói “nhất’ thì a-lê hấp cho chầu Diêm Vương, tưởng hưởng lộc Tây lâu dài, té ra vẫn đền mạng bên Pháp vì tội bán nước, chạy trời không khỏi nắng. Có nhóm ít tiền, cho con ra học trường cao đẳng ở Hà nội để làm đốc phủ, đốc sự, mộng Huỳnh lương chưa tỉnh, sự nghiệp đã đi đời, kẻ đau tim chết sớm, kẻ chờ con lãnh sang nước ngoài chở thời, các con chủ điền muốn xứng danh “công tử bột, phá gia chi tử”, nếu không có chị em chúng tôi tiếp tay, xô đẩy làm cho cái xã hội ăn chơi đàn đúm trào Pháp mau sụp đổ. Có thế ấy thì cái xã hội này mới có chỗ mọc lên. Ông không viết trong “Sài Gòn năm xưa” nên chị em chúng tôi phải nhắc. Đừng gọi là phá gia chi tử, họ không hư hơn ai kia đâu. Họ có quyền tung vãi đồng tiền của ông cha họ làm giàu bằng mồ hồi nước măt tá điền, nay bọn con tá điền trở về báo thù, ấy là quả báoo nhãn tiền, chớ đâu phải thiên đao bất công. Nếu không có chị em chúng tôi hốt vãi quăng bừa thì đồng tiền thất đức của chủ điền chủ ruộng vẫn khoá chặt trong tủ sắt hiện Bauche, hiệu Fichet, làm sao lọt tới tay bác lái xe, chú thổi bếp. Gánh nước làm chi cho đau vai, ở trong làng lấy một chồng làm chi để sanh con lũ khủ cực thân, sức đàn bà có bao lăm và chỉ có làm nghề không vốn nầy, ủa quên, vốn là nhan sắc trời dành, hoạ may mới cất đầu lên được, không chi cũng ăn mặc sung sương trong một thời gian. Không bán dạng thuyền quyên. không xuống đường làm đĩ để chết rục trong xó hè à? Làm đĩ có ba bốn đường vả lại có chồng mà còn ăn vụng lại thúi hơn là làm đĩ công khai. Chúng tôi sanh sống trong những năm 1920-1945, thò bốc trong túi công tử bột, ăn to xài lớn, tung vãi: đục, khoét, gặm, nhấm, làm đủ mọi cách, xã hội như nay mới có. Tưởng không nên cười con đĩ và nên chấm công cho gái giang hồ. Bao nhiêu nước mắt của chị em chúng tôi, nếu có phép nào gom lại được thì sẽ biến thành “khổ hải” bao la. Bao nhiêu nỗi oan khúc bất công của xã hội đối với chị em chúng tôi, nếu có phép quy tụ lại thì ắt hoá ra lửa, lửa nầy đủ để đốt bầu trời nầy tan ra mây khói, và khói nầy sẽ là thiên hồn địa ám, mù mịt còn dày hơn bên Anh quốc những tháng sa mù, đèn Diogène đâu dễ rọi thấy đường

Chúng tui nào muốn phơi hày sự tích không thơm tho cho công chúng biết. Riêng tôi nay đã yên thân chốn nầy, không khác kẻ dưới sông đã lội được lên bờ, bụi trần gội sạch, há vạch lưng cho khách qua đường như ông đếm thẹo hay sao. Có chị nào lớp nhỏ, lên chưn quá, ông nên đốt bớt cho vừa. Vừa tập tành, chân chưa sạch phèn, đã tưởng mình khôn hơn thiên hạ!

Cái kiếp má hồng, sớm tươi bao nhiêu, chiều càng lợt bấy nhiêu, chị em bạn gái chở ỷ tài và chớ quên điều ấy.

Lòng chai dạ đá là lòng con đĩ ít học rnhư tôi, ăn cháo đá bát là bụng con đĩ giận đời bỏ rơi thành ra bất mãn (như tôi). Lúc còn son sắt, những ham bay nhảy đua đòi, khác nào chim non vừa lìa ổ mẹ đang tập bay, và khi lông cánh đầy đủ, máu tham hơi đồng càng hăng, nào còn hiêt trởi kia có mắt. Đến khi chung cuộc ai từng đọc truyện Tây Du ắt nhớ lúc lão Tôn Ngộ Không thi tài cùng hư Lai. Tôn dùng cân đẩu vân nhảy một nhảy tưởng đụng nóc trời. Khi gíác ngộ, xem lại: mình vẫn đứng lé đé dưới chân Phật tổ và vũng nước dơ để làm dấu, nay lớn không hơn bọt miếng con thằn lằn. Chuông chùa cảnh tỉnh đêm khuya, Nam Mô A Di Đà Phật, thanh dơ văn chung càng tỏ. Viết được thì nên viết để răn hờ đám chị em, nhưng xin khuyên ông nơi nới tay, vì “gở cho hết nợ, còn gì là duyên”.

Còn sống đây, tôi còn đi đây đi đó, không muốn có người chỉ trỏ, chúng tôi chết rồi, mặc tình ông muốn hỏi tên tôi.

Chúc ông giai lão và mong sớm đọc những gì ông viết.

Ký tên: Quả phụ V.A.

Paris, ngày… tháng… năm…

Google photos

Dẫn

Bức thơ của bà V.A. và tập bồi ký viết tay nầy, do một tiến sĩ nguyên tử học từ bên Pháp nhân về thăm gia đình, ghé trao tôi vào buổi sáng ngày 14 tháng tám dương lịch 1979, là ngày 22 tháng 6 nhuận năm Kỷ Mùi. Thú thật, hôm đó lòng tôi đang ngổn ngang rối rắm vì còn phải chạy vô Chợ Lớn, cho kịp trước giờ cất đám anh Lê Ngọc Trụ (mất vào chiều thứ bảy 11-8-1979, (tức 19 tháng sáu nhuận Kỷ Mùi) khiến nên tôi chỉ nói vắn tắt vài lời xã giao cùng cô ấy, rồi cáo lỗi để lo làm phận sự đối với anh bạn chí thân Lê Ngọc Trụ.

Mãi đến tháng ba năm 1982 nầy, tôi xán cảm nặng đến lo sợ không còn viết lách chi được nữa, khi ấy tôi mới hồi tâm lấy tập hồi ký của bà V.A. ra đọc và ra công đánh máy lại sạch sẽ, hầu giữ lời với bà V.A., nếu có dịp thuận tiện sẽ tự xuất bản, bổ túc quyển “Sài Gòn năm xưa” như lời bà đã khuyên. Hoặc giả chưa xuất bán được thì cũng cứ sắp xếp cho sẵn sàng. Dẫu có ra đi theo ông bà cũng mặc kệ, phú cho người đi sau, muốn sử dụng cách nào cũng tốt, vì tôi nào còn ở đây mà cản trở hoặc cho ý kiến kiếu thọc gậy bánh xe.

Ngày 9 tháng sáu Dương lịch 1982

° ° °

I. Chuyện thứ nhứt. – Chuyện một cô lưu lạc

(nhan nầy do bà V.A. chọn như vậy).

Nếu tôi cứ ăn ở theo sách, cứ lấy chồng trong làng, cứ an phận tuỳ duyên, cui lục làm ăn, gánh nước nấu cơm giũ mùng giặt áo, thì bất quá về già trở nên một mụ trầu, nếu may mắn lắm, chồng là con thây Cai tổng, thì nay lên mặt bà xã, bà hương, tốt phúc hơn nữa, ông Cai có đất điền, thì tôi sẽ nối giữ ruộng vườn, làm bà chủ điền, rồi con bầy cháu lũ, sáng trông nom quết chuối nuôi heo, chạng vạng tối coi trẻ tắt bếp đóng cửa, rồi thỏn mỏn chết rụi trong bóng tối, rồi đời một kiếp hoa. Tột bực đi nữa, chồng là học trò giỏi, thi đậu làm ông nầy ông kia, lên đến tột phẩm nhơn thần trong nầy là đốc phủ, chú quận. Chi cho bằng trốn cha trốn mẹ, một khi sấn bước giang hồ, thế mà được ăn sung mặc sướng, lên xe xuống ngựa một lúc, nay chễm chệ trời Tây một ghế, hỏi ai hơn ai? Tôi không dám khuyên lấy gương tôi mà bắt chước, cũng không biểu đừng noi dấu tôi mà bước theo. Đèn nhà ai, nấy sáng. Và đại phàm, “Mỹ nhơn tự cổ như danh tướng, Bất hứa nhơn gian kiến bạch đầu” (cổ thi). (Tôi dịch theo tôi: “Ngàn xưa người đẹp như danh tướng, không hẹn cho ai thấy bạc đầu” (Xin giữ y nguyên văn cho tôi, – ý muốn của đàn bà).

° ° °

Kể trong Nam người biết dùng son phấn kiểu đàn bà Tây phương, thì nghe nói lại ở Chợ Lớn năm xưa có nhà ông Đốc phủ Sư, bà dùng nhan sắc chiêu dụ các quan Tây, quan An nam còn danh từ “bằng cấp da” vì đã lấy cái da bì bạch trong thơ bà Đoàn Thị Điểm để thực hành, mảnh bằng ngày xưa bên Pháp viết trên da thú thuộc chế cho da còn đời đời; sao bằng da người thêm tươi mát, nõn nà, chồng mau thăng cấp. Bà chế ra son để vẽ môi, chế ra phấn đê tô mặt, giấy nhang phấn chì bà đâu thèm xài, và các có con bà, mặc áo mong mời cháo đêm khuya, các tay bài, mê cái trắng hở hang, khách quên nước bài, bổ khạp bổ đôi, càng mau sạt nghiệp. Nhà của bà, nay dấu tích còn trên đại lộ Hồng Bàng, chỗ có mấy cái tháp giữa lộ, vì khu đất là một ngôi chùa cổ, ông châm một câu tiếng Pháp, Tây dẹp chùa thưởng đất cho ông làm chủ.

Kể về người đẹp trong Nam, xưa hơn hết, có có Ba, con thầy bông Chánh – thông Chánh dám xách súng bắn biện lý Táy Jabouin ở Trà Vinh, năm xửa năm xưa, con là cô Ba được hãng xà bông Việt Nam in lại hình trên mỗi viên xà bông bán chạy vo vo, không lửa sao có khói, và cũng vì bóng sắc sa mê mà tên giữ công lý kia đến quên đường đạo đức: chết cũng đáng.

Xứ xứ hữu giai nhân kỳ nữ:

Đất Bắc thơm tho, đại biểu là cô Tư Hồng, với càu:

Ngũ phẩm sắc phong hàm cụ lớn

Trăm năm danh giá của bà to.

Một câu lơ thơ có 14 chữ, nghe rất nôm na; có người vội vàng tưởng “hàm cụ lớn” đối với ‘của bà to”, thì chữ “của” nghe không được chỉnh, ấy chết, có ngờ đâu chính chữ “của” mới là đắc thế nhất của nhà nghĩ ra chữ nầy. Nối bật lên, có thể làm rung động cám giác người già nua có lẽ là tiếng trống ngũ liên giữa khoảng làng đêm vắng. Có chữ “của” câu đối mới hay: một mình nó ký thác cá hai ý muốn: vừa khen tâng bốc, vừa xỏ ngấm ngầm. Khi moi được chữ “của” đế gieo vào câu văn, giá ai gạ đổi chữ “của” lấy một xe hơi Hoa Kỳ, đám chắc nhà nho kia nào ưng đổi chác. Nhứt là cụ Tam nguyên Yên Đổ, cha sanh chữ nầy, lúc ấy đã loà hai mắt, còn thiết tha gì ô tô xe Mỹ quốc? Nhưng kể về văn chương cụ còn giàu sụ, chưa hết tứ, cụ còn hạ thêm câu:

Có tàn, có tán, có hương án thờ vua, danh giá vang lừng băm sáu tỉnh,

Này biển, nầy cờ, nầy sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người.

Tiện đây đế ghi lại những danh hoa đởi trước, tuy chưa phải hoa khôi, nhưng đã làm tiền phong cho chị em lưu lạc sau nầy.

Đó là:

– Cô Chánh Bẹt-tăng, ở Sốc Trăng, chồng là tham biện Pháp, nhìn một người con sau làm thanh tra Sở mật thám, nhưng được chữ hiền, không làm hại ai, tên Gaston Bertin, em ông nầy, học lớp nhứt trường tỉnh cùng tôi đồng trang lứa, vì không có khai sanh nên không thi tiểu học được và mất tích luôn, là anh Jean Tình.

Ở Sóc Trăng, lối 1918, có cô Hai Đẩu, chồng lập nhà hàng bán những món ngoại hoá âu châu: đèn man chon, sa von thơm, phấn chà răng v.v…, nhưng dân trong xứ còn quê mùa, thấy cách trưng bày quá sang, y như nhà hàng Tây, nên không dám vào mua chác, sau phải dẹp quán, lui về sinh sống ở Sài Gòn. Đời nầy không dùng chữ Bà, dùng chữ cô (cô Chánh Bẹt-tăng, cô Hai Đẩu, v.v…) là đã nể nang lắm rồi.

Sau cô Bẹt-tăng ở Sốc Trăng, có cô Ba Thọ, nhà ở xóm nhà thờ. Tuy rỗ hoa mè, nhưng cô Ba rất có duyên ngầm, cô không dùng son phấn, để mặt tự nhiên mà lại quyến khách hơn ai, cô dong dảy người, cao ráo, cô đáng hàng cô bác, nhưng lối năm 1933, mỗi lần cô ngồi xe kéo tay, xe đi ngang nhà, để vô đinh ông chủ tỉnh, tôi ngó quên thôi, tuy vẫn biết đó là món hàng của ông bô mình. Chủ tỉnh ở Sốc Trăng những năm ấy là Giudicelli, nhất hạng tham biện, vì có bịnh hút nên đường công danh không leo đến ghế thống đốc Nam Kỳ, nhưng các thống đốc, khâm sứ đều kiên tài viết văn, cô Ba như cây kiểng xinh xinh để gần bàn đèn cho ông ngắm, chồng ngày vợ tháng, hai người không xơ múi gì, cô nhờ ông như chùm gởi đóng nhành me, ông bám cô như thằn lằn ôm cột cầu, tuy vậy mà mối tình tương đắc.

Chép đến đây, tôi xin nối lời bà V.A., vì là trang khai màu, kể tiếp luôn nhũng danh kỵ lừng danh thôi Pháp thuộc, lắm cô chỉ “văn kỳ thinh”, vài cô vẫn được diễm phúc “kiến kỳ hình” và xin đừng hỏi tôi thêm, tội lắm. Đó là: không sắp theo thứ tự, vả lại mỗi cô có một sắc thái riêng biệt, biết làm sao sắp xếp cho vừa lòng cả chị lẫn em, chị tuy lé nhưng răng đều đều như hạt dưa, nào thua em, tuy tươi tốt mới mười tám thanh xuân, nhưng phải nỗi khi đến gần, phảng phất mùi ni chà, mất hứng. Thôi thì, xin lỗi nhé, đành dành riêng mỗi người một chiếu, và lần hồi sẽ kể sau đây, cũng không dám đi quá sâu vào đề, e đụng chạm làm chinh lòng người còn sống, đã là nhắc lại đây như điểm binh ai còn ai mất, hà tất tranh luận ngôi thứ cho thêm phiền. Chuyện đã lui vào dĩ vãng, nay nhớ chừng để tưởng niệm các cô:

– Cô Ba Pho, tộc danh là Lê Thị Ngọc, thánh danh là Rosalie, từng làm chủ một nhà may, náo nức yến anh, đường Sabourain (Tạ Thu Thâu – nay là Lưu Văn Lạng) buổi trước;

– Cô Tư Ăng lê, không rõ tên gì cho hản, tay bài kéo xệp câu tôm của bà nhạc, mỗi lần đến nhà để “câu cá”, vẫn sóng thu mắt liếc như dao;

Google photos

Cô Marie Huê, ngồi kết nhà bán cơm Việt “Đông Pháp lữ quán” đường Espagne cũ;

– Cô Ba Cù là, có giọng khao khao, mỗi lần hỏi tôi mượn tiền, dầu không có, mắt cô ướt ướt, mũi cô đo đỏ, dẫu tiền không một xu dính túi, cũng phải đào cho ra.

– Cô Hai Thời, nhà ở ngang nhà hàng cơm Tây ở đất Hộ (Dakao), cùng một dãy với rạp chớp bóng nay gọi Rạp Cầu Bông; tôi nhớ địa chỉ rõ, vì cô là kế thất của ông Bô, thông ngôn toà án Sài Gòn, nhiều người còn nhớ danh, ông Trần Văn Kính;

– Cô Lucie Bandeau, gọi làm vậy là cô bị đế dấu tích trên trán, nhỏ thôi, nhưng đế che vết nầy, cô thường lấy một băng màu che khuất mà thành danh luôn;

Cô Chapuis, gọi theo tên chồng, trước ở Cần Thơ, sau lên Sài Gòn, khiêu vũ nghề riêng ăn đứt không nhường cô gái nhảy Cẩm Nhung sau nầy.

– Cô Năm Cần Thơ, kết bạn với một vị luật sư quê ở Châu Đốc, cùng đi kháng chiến, không hiểu vì sao keo tan hồ rã, cô bỏ về và biệt tích luôn ở Sài Gòn.

Cô Sáu Hương, em công tứ Bích, cả hai vốn con nhà giàu lớn xứ Trà Vinh, đi ăn chơi theo tiếng gọi trái tim chớ không vì sinh kế.

– Cô Tư Nhị, trẻ trung và đang độ xuân thì, quê ở Nam Vang xuống.

– Cô Ba Trà, nõn nà lấn hơn Tư Nhị, và vẫn là địch thủ, giành riêng một công tử sẽ nói nơi sau;

– Cô Bảy Hột Điều, vì khuôn mặt chữ điền, y như “Hột Điều” nay đã khoát áo nâu sồng, sắp như vầy, vì cô có một sự tích ly kỳ, hồi sau phân giải;

Và còn nữa, nào Sáu Én, Chín Én, Mười Tóc Đỏ, làm sao kể đủ, mỗi cô như hoa riêng mỗi sắc, chỉ thua các chị về bề thẻ, vè địa vị, chớ kể về nhan sắc há thua ai.

Đến đây xin tạm ngừng, nếu sơ sót sẽ thêm sau, và chép tiếp chuyện theo bà V.A. đã viết:

Chịu trách nhiệm xuất bản: Nguyễn Kiên

Chịu trách nhiệm bản thảo: Ngô Văn Phú

Sửa bản in: Nguyễn Xanh Vàng

Bìa: Nguyễn Đức Nhu

1. V.A. tự thuật

Trước khi lạc bước giang hồ, nhớ khi tôi vẫn là con nhà gia giáo, tía má tôi lấy nho phong, đạo đức làm nề. Có ngờ đâu khi trái thân lưu lạc, xã hội ăn chơi đã biến tôi quá mau, trở nên gian ngoan gần như “bán trời không chứng”, việc gì cũng dám làm, và vạn sự khởi đầu chỉ vì lòng ham muốn không dằn và vì mê có một cây kiềng vàng chạm như đã thấy trên cổ cô chủ sự vợ Tây đoan mà ra cớ đỗi như vầy.

Hỏi: Đàn bà đẹp là cái thá gì?

Thưa: Đó là con vật có hai chân, khi bất đầu làm quen, thích xưng em ngọt xớt, nhưng khi bắt hồn sanh người quân tử được rồi, lại chỉ mong trèo lên đầu lên cổ, ngồi chềm chệ trên chóp bu, làm ông làm cha chưa đã và cái sở thích ngày xưa là tiếng xé lụa của nàng Bao Tỉ, ngày nay là toan đập đổ bất cứ cái gì trước mắt, dẫu chắc như xi măng cốt sắt nhà lầu, bền dẻo sắt thép như ô tô kiểu Mỹ, hoặc sơn son thếp vàng tưởng là thiên niên như ngôi vua ngoài ấy: “Hai quả núi vàng pha núm tuyết, một khe hang nước nức mùi hương” chỉ bao nhiêu ấy đủ khuynh gia bại sản.

Tâm hồn của tôi ngày nay tuy còn đục xà ngầu như lu nước sông chưa lóng phèn, nhưng sao lại khắc khoải vẫn nhớ cánh u tịch nơi nhà tía má tôi năm xưa ở Rạch Gầm. Nhà là lá, cột là cột tràm, nhưng nay tôi quý hơn góc lầu Paris tráng lệ nầy. Ba căn không lớn, căn giữa chừa làm nơi thờ phượng ông bà, giang san sự nghiệp chỉ có cái tủ thờ bằng gõ mật, để trơn bén không chạm trổ nhưng bóng láng như gương soi, và một bộ ván ba, nghe nói ông nội tôi đi làm rừng trên Tánh Linh, thả bè theo sông đem về một súc, cưa rả ra nhờ tay khéo của bạn, đóng được hai món nầy truyền lại tía tôi, nâng niu hơn châu ngọc. Chái bên đông bốn mùa mát mẻ, chiếu lác vạt tre thông thoáng là chỗ nghỉ lưng của gia đình; chái hướng Tây, chiều trời nóng hực thì lấy làm bếp nấu ăn.

Nhưng tôi thích nhất, không phải phía mặt tiền day ra Sầm giang; sông sâu nước chảy, mà lại thích mặt háu, ngó ra đồng ruộng bao la. Nhà tía tôi ở gần nhà ông Cả Tâm, bà con với ông Chủ Trước có trường gà nức tiếng Sông Tiền, tỏi nay vẫn thỉnh thoảng bồi hồi nhớ chái nhà sau cách nhà độ một dặm hú là một ngôi chùa cố, cứ chiều chiều ngồi canh nồi cơm lửa rơm, tôi thường dựa lưng vào vách thả hồn lâng lâng. Ngoài xa kia chì nghe văng vẳng tiếng chó báo khách, bỗng đâu một hôi chuông chẫm rãi đưa đến lỗ nhĩ. Ban đầu là mấy tiếng trong trẻo như xé phanh buổi hoàng hôn tịch mịch, tiếp theo là một khoảng lặng lẽ đến nghe được tiếng ruồi muỗi bay, kế đến là một hồi não bạt tiếng mất tiếng còn y như tiếng nhạc nghe trong giấc chiêm bao, rồi khởi sự là một tiếng gõ trong vắt bắt qua những tiếng gõ khác dập dồn. Giọng kinh đều đều, phát âm nghe thật não nuột khi hạ xuống khi cất lên, không khác tiếng gọi thiêng liêng từ non Bồng nước Nhược nào đưa đến, như nước chay trong suối mơ, không còn gì là dục vọng, nhục tình, một giọng kinh thật ru hồn êm dịu. Bao nhiêu niềm đau thương trên thế, bao nhiêu khổ cực dưới trần, đều quên mất, chỉ còn lại một niềm bác ái vô biên, dẹp hết phong trần đấu tranh, miên được tịnh tâm giữ bồn xa cõi tục. Không van xin, không ham muốn, chỉ còn sức chịu đựng và một niềm thứ tha. Khi ấy tôi nửa say nửa tỉnh, ai dám nói xứ mình không nên thơ, và tại sao tôi không tiếp tục ở nhà tía má tôi, để nửa đời phiêu bạt, chưa biết bờ bến là đâu như hôm nay vầy? Ấy cũng chỉ vì mê một cây kiềng vàng chạm.

Hôm ấy, tôi đang ngồi giặt áo mé sông trước nhà. Bỗng một chiếc ghe có mui như ghe thầy cai tổng dùng đi hầu lệ và sơn trắng phếu, chèo ngay lại gần chỗ tôi ngồi và cặp bến. Vừa ghé xong, thấy hai người lính với một ông Tây nhảy lên bờ và xăm xăm hưởng nhả chú Phó lý, ở thân trên nhà tía tôi một đỗi. Thôi rồi, tôi biết nhà chú Phó lý thường đặt rượu lậu, vì tía tôi hay sai tôi đến đó mua rượu đem về, nay có ai mách, nên Tây đoan lại xét bắt chớ không có chuyện gì khác. tôi đang nhìn xem sửng sốt, kế thấy trong mui ghe chun ra một cô dong dảy người, mặc áo bà ba trắng vải ba-tích (batiste) bó sát da, dưới mặc quần lãnh Tàu láng mượt, mặt mày cô trắng như bột, trông lịch sự quá chừng quá đỗi, mà hấp dẫn nhứt là chiếc kiềng vàng cô đeo nơi cổ. Cha chả! Cấy kiềng nó chói mắt làm sao? Tôi nhìn cô trân trân… Đã ngót mấy tháng nay, tôi to nhỏ nài nỉ má tôi, đòi chằng chằng ngày đêm mà chưa có cây kiềng vàng chạm. Nội làng tôi chỉ thấy con gái thầy cai có một cây, nên tôi muốn lắm, đêm nào tôi cũng chiêm bao cứ thấy cây kiềng hoài, nhưng kiềng của con ông cai, tuy vẫn chạm nhưng nào có khéo như cây kiềng trên cổ cô nầy? Nhắm không đeo bàng phân nửa. Cây nầy chẳng biết chạm kiểu gì mà nó sáng rơ, chói loà, ngó vô thật là choá mắt. Tôi đang nhìn và suy nghĩ vẩn vơ, bỗng nghe tiếng cô phát lên cưởi mà khen tôi rằng: “Con nhà ai, khéo đẻ, dễ thương quá! Em lại đây cho qua hỏi thăm đôi chút”. Nghe mà mừng quýnh, tôi không đợi cô nhắc hai lần. Cô mời tôi xuống ghe kẻo nắng. Tuy gái vườn, chớ thuở nay tôi không nhát như chị em bạn gái khác. Thêm cây kiềng nó xúi giục, tôi hết biết sợ là gì. Tôi cố ý ngồi khít bên cô để xem cho mãn nhãn. Vừa nước vô tới khoang, cô lấy nước trà nóng ra mời và lấy bánh Tây ra ép tôi ăn. Song trong bụng hơi khớp, tôi không nuốt vô, chỉ thấy cô sờ soạng vuốt ve tôi làm nổi ốc cùng mình… Mùi dầu thơm cô xức thật là bát ngát, nó nhẹ nhàng, làm cho tôi càng mê mẩn tâm thần. Cô thấy tôi ngó sửng cây kiềng, vụt hỏi: “Bộ em muốn lắm sao?” Tôi bèn thú thật: “Đã mấy tháng nay, tôi xin mãi mà má tôi chưa cho”. Cô mới hỏi tôi con của ai, cha mẹ làm nghề gì. Rồi cô cởi cây kiềng đang đeo nơi cổ, cô choàng tay lấy đeo vào cổ tôi, lại lấy gương soi nhỏ trong xách tay cho tôi mặc tình ngắm nhìn. Bây giờ tôi mới rõ vì sao mỗi lần tôi đi chợ, Hai Truyện, Ba Sách liếc ngó thì thầm, và đám đàn em Năm Xuân, Sáu Đồng buông lời chọc ghẹo. Nhớ tía má tuy nhà nghèo nhưng không thiếu nợ, tía má cưng, khỏi dang nắng cấy gặt, chỉ cho làm việc vặt trong nhà, da tôi thẳng, không dồi phấn mà hơn xa da cô nầy đã quá nửa chừng xuân, ngực tôi không độn mà no tròn đẩy áo nịt gần muốn đứt, không như ngực cô đã xệ quả mướp, tôi mảng tưởng tượng chỉ thấy cây kiềng vàng chạm trên cổ, mơ màng nhớ đâu mình đã thành tiên, bỗng nhớ lại không phải được đeo cây kiềng nầy mãi mãi, từ tiên hoá ra con nhỏ giặt áo: cho em nó, thau đồ giặt còn tươm bọt xà bông, nhớ đến đó, vụt nước mắt từ đâu sa ròng ròng giọt giọt.

Google photos

Cô chủ sự, cô xưng như vậy, không ngớt lời khuyên giải: “Em đừng buồn. Nếu em muốn, hãy tìm qua qua tính cho. Vậy bữa nào, em đi chợ, hãy ghé nhà, đừng ngại. Nhan sắc em như vầy, lo chi không có đồ bắc kế. Thật tình mới biết mà qua thương em lắm. Nhà qua ở gần công-xi (công ti) rượu, qua khỏi nhà lồng chợ một đỗi. Để bữa em ghé, qua sẽ tính cho”. Thiệt là lời ăn tiếng nói của cô nó ngọt ngào làm sao. Trong bụng tôi mừng đến đánh trống chiến, trông ngày trông đêm, trông cho mẹ mau mau sai đi chợ Mỹ (Mỹ Tho), để ghé nhà cô nầy xem cô tính chuyện gì. Chuyện trò chưa dứt, bỗng nhớ ba đồ giặt, phần sợ má tôi thình lình kiếm tôi ra đây bất tử, thì không xong. Tôi lật đật nói ba câu từ giã leo lên bờ, bươn bả ôm thau đồ không cần sạch, bước lên nhà thoát thoát.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 10 Jun 2024

Lời Giới Thiệu

Cụ Vương Hồng Sển(1902-1996) là một nhà văn đặc biệt Nam bộ mà cũng là một học giả, một nhà cổ ngoạn có một không hai Việt Nam. Ông có một bút pháp độc đáo, duyên dáng… mà vài thập kỉ của thế kỉ XX chưa có nhà văn nào có thể so sánh được.

Vào buổi vãn niên, ông có mấy tác phẩm mà ông cho là “tâm đắc” của mình được xuất bản, trong đó có cuốn Sài Gòn tạp pín lù (tức Sài Gòn năm xưa II, III) nối tiếp Sài Gòn năm xưa I xuất bản từ năm 1962 tại Sài Gòn.

Nói như tác giả (VHS), Sài Gòn tạp pín lù là ông nhớ đâu viết đó và viết bằng máy chữ nên rất tự do, tự nhiên, chân thành và không kém thân tình. Sài Gòn tạp pín lù đến với chúng ta tuy trẻ, nhưng vẫn được độc giả say sưa đọc bởi vì bút pháp cùng với văn phong cố hữu có một không hai của nhà cổ ngoạn họ Vương. Có thể nói Sài Sài Gòn tạp pín lù như là một thứ Sài Gòn vang bóng của tác giả và của cả dân Sài Gòn từng vui buồn với đất Bến Nghé từ bao giờ cho đến bây giờ.

Đã lâu lắm chúng ta mới được thưởng thức một bữa Tạp pín lù đặc biệt. Nói là đặc biệt bởi vì người nấu và dọn cho chúng ta bữa ăn này là nhà văn, nhà học giả kiêm nhà chơi cổ ngoạn Vương Hồng Sển lão thành.

Sài Gòn tuy không có một quá khứ “nghìn năm văn vật” như Hà Nội, Huế; nhưng nơi đây lại có những “nam thanh nữ tú”, nhứt là có một cái duyên ngầm tạo được những sợi dây tình cảm cắt không đứt bứt không rời.

Trong số những người nặng tình với Sài Gòn, chúng tôi biết có nhà văn Vương Hồng Sển. Từ năm 1962, ông có cuốn Sài Gòn năm xưa (1962) mà trong bản in đầu ông từng viết:

“Đối với các bạn nhỏ, tôi (VHS) xin nói lớn:

1- Chỗ nào các bạn thấy mới, đừng sợ, ấy là tôi đã cân nhắc kĩ càng, cứ tin, cứ dùng: “coi vậy mà xài được”.

2- Chỗ nào chưa “êm” nhờ cóc bạn chỉ giùm, nếu tìm cách bổ khuyết càng tốt, gọi giúp lẫn nhau, già thua trẻ không xấu, mác cỡ bậy, hay gì?.

Vây Sài Còn năm xưa I là phần nói về nguồn gốc và vị trí của thành phố Sài Gòn. Còn Sài Gòn tạp pín lù (II, III) là phần nói tiếp để nói về “nam thanh nữ tú”, về cảnh sinh hoạt của Sài Gòn khoảng 70, 80 năm về kỉ niệm xưa, về những mối vương vân tưởng là tầm thường, nhưng đã để lại trong lòng người với những rung động còn kéo dài mãi đến bây giờ và có thể tận mai sau.

Tác giả gọi là “Tạp pin lù” là để nói về mọi việc, để không bị gò bó bởi thứ tự thời gian, để “nhớ đâu nói đó”, để mở rộng giới hạn cho câu chuyện của mình. Cái duyên riêng của “cụ Năm Sển” là ở đó. Nói “cu cu chằng chằng”nhưng không lạc đề mà lại rất giàu nghệ thuật.

Xã hội miền Nam thời Pháp thuộc – mà nay cũng gần như vậy – là một xã hội “tứ chiếng”, một xã hội có tính cách “siêu quốc gia” (cosmopolite) với đông đủ các mặt “Tây, Chệt, Chà Maní”; với những nhân vật có nhiều khía cạnh lạ lùng mà ngày nay trong mắt chúng ta, những người miền Nam không thuộc hàng những người cố cựu, có vẻ như bị bao phủ trong một không khí huyền thoại. Cô Ba Trà, cô Tư Nhị, cô Sáu Ngọc Anh, cô Năm Pho, cô Bảy Hột Điều… bao nhiêu người đẹp của một thời mà tác giả Sài Gòn tạp pín lù đã nhắc lại, gợi lại làm chúng ta khi nghe, cảm thấy bồi hồi khi nghe như thi sĩ Villon ngày xưa của Pháp đã ngâm “Đâu rồi những vần tuyết cũ” (Mais òu sont les neiges d’antan?) mà cứ mãi vương vấn bên mình!

Sài Gòn tạp pín lù còn là một thứ “đi tìm thời gian đã mất” (à la recherche du temps perdu), một thứ hành hương về quá khứ để hồi tưởng về những thú vui, những cảm xúc, những mùi vị nay không còn nữa! Tô cháo cá chợ Củ, bát phở đường Turc (nay là đường Hồ Huân Nghiệp), món bò bung, bánh hỏi của ông già Thủ Đức… cũng tạo được sự kì diệu của chiếc banh Madeleine nhúng vào tách nước trà tilleul đối với Marcel Proust năm nào ở trời Âu.

“Javais vingt ans et c’etait le printemps” câu hát của Vương Hồng Sển trong Sài Gòn tạp pín lù mà chúng tôi xin phép được đổi từ thì hiện tại ra thì quá khứ để cùng nhau tiếc cái tuổi Hai mươi và mùa xuân rực rỡ của mình.

Cái thú đọc Sài Gòn tạp pín lù là ở đó, mà cũng tại văn phong cụ Sển nữa.

Nguyễn Q. Thắng

Vũ Ánh đọc “Lối Cũ Chẳng Sao Quên” của Bích Huyền

sangtao.org

Vũ Ánh

Posted 14/05/2011 

Post by Sơn râu 10 Jun 2024

Những đoản khúc của người góa phụ can đảm này được cất lên cùng với tiếng thở dài và những dòng nước mắt lặng lẽ trong những đêm thanh vắng, của những ngày tháng cũ, và của cả những ngày tháng hiện tại. Tôi đã nghe những đoản khúc nhẹ nhàng ấy nhiều lần trên làn sóng phát thanh của Đài Văn Nghệ Truyền Thanh và sau này trên các luồng sóng của một vài đài phát thanh khác. Nhưng khi đọc lại Lối Cũ Chẳng Sao Quên của Bích Huyền mới thấy trọn vẹn được bối cảnh những tùy bút mà bà mô tả.
Một điều dễ hiểu: tôi, chúng tôi, cũng như chồng bà đã trải qua, đã sống trong những bối cảnh ấy.

Bởi vậy, những ngôn ngữ mà bà sử dụng trong mẩu ký ức nhẹ nhàng về cả một quãng đời đau khổ của bà chính là một nỗi dằn vặt đối với chúng tôi. Vâng, tại sao chúng tôi lại không giữ nổi một mảnh đất đáng giữ như vậy, để cho sau khi đã hòa bình rồi còn có những người trở thành goá phụ? Không những thế, biến cố và những biển dâu mà chúng tôi góp phần tạo nên, nó đã biến những người phụ nữ như Bích Huyền, cũng như hàng triệu phụ nữ Việt Nam khác phải nối thêm cuộc đời bằng một đoạn đường long đong, cay đắng.

Phu quân của Bích Huyền là một sĩ quan cấp tá, giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng trường Đại Học CTCT Đà Lạt, ông và nhiều sĩ quan khác, dù đau khổ trong bao nhiêu năm lưu đầy, dù kẻ chiến thắng để lên vai ông cũng như trên vai chúng tôi cái gánh trĩu nặng của thù hận, nhưng ông vẫn còn được chút hạnh phúc để mà vượt lên: còn người vợ. Tôi không có cái may mắn như Trung tá Nguyễn Quang Hưng và nhiều sĩ quan khác. Nhưng nghĩ cho cùng, thì, cũng chính vì không có được cái hạnh phúc cần thiết ấy mà tôi hiểu được vai trò của người vợ quan trọng như thế nào trong cảnh hoạn nạn của chúng tôi. Khi còn mũ cao áo dài, có thể ít người nhìn ra những vị trí quan trọng của phụ nữ trong cuộc đời mình. Nhưng khi rơi xuống vực thẳm, mới thấy cái cần thiết của lòng chung thuỷ.

Tôi đã trải qua một câu chuyện cảm động và cho tới bây giờ tôi vẫn chưa quên được người bạn ấy. Anh là một Tiểu Đoàn Trưởng, suốt cả một đời trận mạc, không tơ hào của ai một đồng. Lương lính tháng nào xào tháng ấy, cho nên gia đình đã gần như khánh kiệt ngay sau khi Cộng quân chiếm được thành phố Huế. Tôi gặp lại anh vào năm 1985, trong một trại tù khác nằm trên đường mòn Hồ Chí Minh. Người vợ lặn lội từ Huế vào để thăm chồng. Quà cáp, chỉ là một vài gói cám rang trộn gừng và đường cùng một gói thuốc. Khi gặp nhau ở nhà thăm nuôi, hai vợ chồng chỉ ngồi nhìn nhau trong nước mắt…

Tôi hỏi anh, thì được trả lời: “Tao không thể nói được gì, dù tao rất muốn nói để xin lỗi vợ tao là chúng mình chưa chiến đấu hết mình nên đến nay nàng mới khổ. Mày biết không, một nách bốn đứa con, vợ tao làm sao sống nổi trong cái thành phố ấy.”

Những lúc như thế, tôi biết rằng bạn tôi nói thật. Người bạn đời của bạn tôi, vẫn sống được để đón người lính trở về. Nhưng người phụ nữ can đảm ấy chỉ được hưởng hạnh phúc còn sót lại đúng ba tháng trời trong cơn đau đớn của chứng ung thư. Rồi qua đời, rồi đem đi trái tim đã tan vỡ trong lòng người lính già nay đang định cư tại vùng hoang dã phía Bắc Minnesota.

Tôi không biện bạch cho chúng tôi trong thời kỳ đen tối ấy, thời kỳ mà cho đến nay, 25 năm đã qua, tôi cũng muốn quên đi để làm được những chuyện khác, nhưng nó vẫn như một vết thương , lúc nào cũng chỉ chực sưng tấy lên mỗi khi nhớ tới. Bởi vậy Lối Cũ Chẳng Sao Quên của Bích Huyền, là một tập hợp của nhiều đoản khúc góp lại thành một bi hùng ca của giới phụ nữ trong những năm tháng đen tối và vỡ vụn sau 30/4. Trường ca ấy, Bích Huyền không phải chỉ viết cho riêng bà, viết cho người con gái duy nhất của bà, Nguyễn Quang Diễm Uyển, mà cho biết bao nhiêu người phụ nữ đồng cảnh với bà trong những năm tháng khốn đốn, thay chồng nuôi con, gánh bớt cho chồng bao nhiêu nhọc nhằn.

Nuôi con. Vâng, hai từ ngữ đó là một âm điệu cổ điển từ ngàn xưa, thời mà chốn nhân gian hay hát những khúc hát nhẹ nhàng và thấm đượm của lòng từ mẫu. Cái khó khăn của công việc này cũng chỉ giản dị như cách diễn tả một trạng thái tự nhiên, không nói ra, không hát lên những điệu ru bên chiếc nôi đong đưa, người ta cũng biết, cũng hiểu. Nhưng nuôi con ở giai đoạn sau 30/4/1975 đã trở thành những thử thách. Người phụ nữ có chồng bị đẩy vào những trại tập trung không những phải gánh chịu những mỉa mai, trì siết của cuộc đổi đời cay đắng, mà còn gặp phải những khó khăn sập xuống từ lòng thù hận, khi họ chưa bao giờ biết buôn chui bán lậu,phải lăn lưng xuống đường phố buôn lậu bán chui, chưa bao giờ biết nói dối cũng phải nói dối, để cố bơi qua một dòng sông đầy những rác rến của một xã hội tan hoang, dối trá và lừa đảo. Trên dòng sông ây, có người phụ nữ vượt thoát được và cũng không thiếu những người phải buông trôi …

Nhưng cũng chẳng có người phụ nữ nào đáng trách trong hoàn cảnh ấy. Bởi vì, những khúc bi hùng tráng mà họ hát lên không phải là những biến khúc của sự tuẫn tiết, cũng không phải là những ngày tháng hào hùng của những nhân vật lịch sử như Trưng Triệu, mà đó là những biến khúc của sự nhẫn nại, khôn ngoan, chịu đựng trước những sóng gió khi không còn người đàn ông trong nhà.

“Trong gió bụi, tôi vẫn nhìn thấy một đôi mắt đẹp…”. Hình như Ernest Hemingway viết câu văn này khi mô tả những phụ nữ Tây Ban Nha bị kẹt giữa cái không khí đậm đặc oán thù của thời kỳ hậu nội chiến, tôi thấy thấm hơn là câu “Thân gái dặm trường”. Cái thấm hơn đó, không phải là do hình ảnh mà Hemingway đưa ra lãng mạn hơn, mà là vì hoàn cảnh của những người phụ nữ Tây Ban Nha những năm đầu thế kỷ 20 không khác gì hoàn cảnh của Bích Huyền 50 năm sau. Mỗi một kỷ niệm có liên hệ với đời sống Bích Huyền từ thời thơ ấu ở miền Bắc cũng như những năm tháng sau này ở miền Nam đều xuất hiện trong câu chuyện, giống như nó được trao cho vai trò tạo những hình ảnh phản diện để bà có thể vẽ lên được những bức tranh của sự thay đổi về cả không gian và thời gian. Giữa những hình ảnh đối chọi đó, người ta thấy hình ảnh nhỏ bé của người đàn bà trong cơn giông bão của lịch sử. Chỉ cần một mẩu nhỏ ký ức của Bích Huyền trong Đường Ra Vĩnh Phú, chúng ta có thể có được một bản vẽ chính xác:

“Ngồi trong toa con tàu Thống Nhất, tôi vẫn chưa hoàn hồn. Tay khư khư ôm chặt túi xách trong lòng, tôi nhìn theo Nụ len lỏi tìm lối ra giữa những người đang đứng lố nhố tranh giành nhau xếp đồ đạc. Gần tới cửa, Nụ còn ngoảnh lại nhìn tôi, mắt đỏ hoe. Nước mắt tôi làm nhòa đi hình ảnh Nụ trong phút giây ngắn ngủi chia tay. Nụ như bị xô xuống khỏi tầu. Xa xa, sân ga Bình Triệu dưới những ngọn đèn không đủ sáng, cảnh tượng vô cùng hỗn độn… Tiếng còi tàu hú vang báo hiệu đến giờ khởi hành. Tiếng còi dài văng vẳng trong đêm tối. Ngày xưa, khi còn bé, tôi đã từng được học những bài văn tả cảnh sân ga. Niềm vui xum họp, nỗi buồn chia ly, tiếng còi tàu lanh lảnh âm vang trong lòng, tùy theo tâm trạng mỗi người.”

“…Lòng tôi hôm nay, tiếng còi tàu nghe ghê rợn quá! Như tiếng rú, tiếng thét đe doạ con người thất thế, một thân một mình đi thăm nuôi chồng “học tập cải tạo”. Không có một bóng người đứng trên thềm ga tiễn đưa, không có một ngọn đèn vàng lẻ bóng hắt hiu, chỉ có hàng ngàn những con người lam lũ, hối hả, vội vàng trên sân ga, giành giựt từng miếng cơm thừa, từng manh áo rách…”.

Hoặc chúng ta có thể đọc một đoạn khác khi nhà văn, nhà giáo này gặp được mặt chồng:

“Bốn năm xa cách, chúng tôi nhận ra ngay những thay đổi của nhau. Thời gian và khổ cực. Cuộc sống bên ngoài cũng không mấy tự do. Khóc thì sẽ bị đuổi ra. Nhưng những giọt nước mắt vẫn lặng lẽ rơi.”

“Năm phút. Mười phút. Gần hết giờ thăm. Những câu hỏi, câu trả lời lạc lõng. Toàn những chuyện đã viết trong thư. Mấy cái gai nhọn lúc nào cũng muốn như đâm vào da thịt. Đi suốt cả chiều dài đất nước để có được mười lăm phút gặp nhau. Quà thăm được sắp lên xe trâu. Tôi nhìn theo chồng đứng vào hàng để giải về trại. Chồng tôi theo ra cổng nhà thăm nuôi, nhưng chỉ được đứng bên hàng giậu nhìn theo cho đến khi toán người đã khuất vào lùm cây …Thuở còn đi học, nghe cô giáo Tỉnh giảng Kiều say mê, nhưng lại chỉ thích Chinh Phụ Ngâm, để rồi ngày nay phải mang nỗi sầu cô phụ. Tôi nuốt nước mắt và bỗng dưng vạn vật mờ tất cả…”

Trong cái xã hội hoang nát, tiêu điều của bao nhiêu năm phải gò lưng dưới cái ách Cộng Sản, người ta vẫn có thể tìm lại được khá nhiều tấm lòng, những tấm lòng không bị chai mòn bởi hà khắc, bởi những cái đói khổ vô lý mà những người Cộng Sản mang cho họ. Điển hình của những người đó là ông Tuyển trong câu chuyện Lối Cũ Chẳng Sao Quên. Những tấm lòng ấy chẳng phải là di sản của một chủ nghĩa nào tạo nên cả. Nhưng khi đọc Lối Cũ Chẳng Sao Quên, tôi vẫn cứ tin rằng phải có điều gì linh thiêng lắm nên ở miền đất nước ấy, người ta vẫn có thể nhìn thấy những cánh hoa của tâm hồn người Việt mọc lên từ sỏi đá. Hãy nghe Bích Huyền mô tả về ông Tuyển:

“Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước mặt tôi. ‘Được biết cô về đây bốc mộ chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi sẽ hết sức giúp đỡ cô và các ông anh đây.’ Vầng trán cao, khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từ tốn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông Tuyển là một người có số vốn kiến thức về học vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh.”

Cũng do tấm lòng này mà công cuộc bốc mộ chồng của Bích Huyền xuông sẻ vào những phút chót:

“Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp được bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ. Suốt đêm qua, người anh lớn cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt anh tôi xúc động.Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bạn bè đã dồn tất cả cho người chết mang theo. Nước mắt tôi dàn dụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng gửi trong 5 ký lô quà đầu tiên ra Bắc. Chiếc sơ mi trắng ngà, có từng sợi chỉ xanh, hồng nhạt sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta…tất cả tôi đã tự tay xếp vào chiếc ba lô trước ngày anh đi trình diện…”

Khi đọc mẩu ký ức này trong Lối Cũ Chẳng Sao Quên của Bích Huyền, hình ảnh làm tôi chú ý chính là chiếc chăn đỏ. Chiếc chăn này trại tù thường phát cho những người tù. Nó dệt bằng một loại len làm từ những mẩu vải vụn ở những đống rác, do Trung Cộng dệt và sản xuất. Chăn rất nặng nhưng không được ấm lắm. Hành trang này để người tù đắp, gối đầu hay lót sàn nằm, và khi người tù chết, các bạn bè thường dùng nó để quấn xác người đồng cảnh xấu số. Ở trại tôi, do không có áo quan, nên chỉ quấn như thế và đem chôn. Những bộ quần áo trận đã vá đùm vá chặp cũng được bạn bè mặc vào hết cho đồng đội qua đời. Và cũng chính vì thế mà khi bốc mộ chồng, Bích Huyền mới nhìn thấy chiếc chăn đỏ ấy.

Khi còn chiến trận, người nằm xuống được đồng đội quấn bằng tấm poncho. Khi thua trận, lâm vào cảnh tù đầy, bạn bè dùng tấm chăn đỏ của nhà tù để quấn cái thân xác tả tơi của người lính. Nhưng chúng tôi vẫn gọi chiếc chăn đỏ là “da xích thố”. Không biết khi còn sống, Nguyễn Quang Hưng có khi nào nói tới chữ nghĩa đau đớn và bi hùng ấy, khi gặp vợ không? Dù sao, tôi vẫn nghĩ, những hình ảnh ấn tượng và xót xa nhất trong mẩu ký ức này là tấm chăn đỏ bọc thi thể của Hưng.

Dĩ nhiên trong Lối Cũ Chẳng Sao Quên, chúng ta còn bắt gặp không thiếu những hình ảnh nhẹ nhàng, mà phần lớn còn đọng lại từ tuổi thơ của nhà văn nữ này về đời sống thực, thiếu thốn, nhếch nhác, thiếu văn minh, văn hóa của một xã hội sau mấy chục năm bị những người Cộng Sản làm cho tha hóa, mai một. Những liên tưởng của Bích Huyền được mô tả một cách tự nhiên, và cũng chính vì thế nó tạo được ảnh hưởng trên toàn bộ tác phẩm của bà. Nó chợt đến chợt đi như tương lai chẳng bao giờ chắc chắn mà người dân miền Nam Bắc dường như đã quen mòn rồi. Cái khổ đã hằn lên khuôn mặt người dân như những nhát dao chém xuống đá, và con đường mà cả dân tộc bị buộc phải bước đi trên đó sẽ chỉ là một con đường cụt. Nó giống như những con đường mà Bích Huyền đã từng bước lên để theo dấu chân chồng. Nó cũng giống như những con đường đầy lau lách mà Bích Huyền trở lại để khai quật và chuyển hài cốt của chồng vào trong Nam. Đó là hai khối màu chính của bức tranh. Những con đường ấy dẫn đến thảm kịch cho Hưng. Không những Bích Huyền chẳng bao giờ quên mà còn nhiều phụ nữ ở đây chắc cũng có những con đường không quên được của một giai đoạn buồn bã trong đời họ.

“Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi cho kịp chuyến đò cuối cùng…”

Đó là câu kết của Lối Cũ Chẳng Sao Quên. Câu văn buồn man mác. Bởi vì, cũng chẳng biết cả dân tộc này rồi có kịp được chuyến đò cuối cùng hay không?

Bản tiếng Anh là của Quỳnh Diễm, một luật gia trẻ tuổi vừa mới tốt nghiệp. Quỳnh Diễm định cư tại Úc châu khi mới lên hai tuổi, nhưng tiếng Việt vẫn còn chảy mạnh trong trái tim người phụ nữ thế hệ thứ hai này. Cô đã tự nguyện dịch Lối Cũ Chẳng Sao Quên ra tiếng Anh “The Trail I Will Never Forget” để cho lớp trẻ có thể đọc được. Bản tiếng Anh khá hoàn chỉnh, nhưng tôi vẫn ngại rằng nếu không thêm phần chú thích thì các em sẽ không hiểu những từ ngữ mà chỉ có tù nhân và thân nhân mới hiểu được. Dù sao, tôi cũng vẫn nghĩ rằng, lớp trẻ sẽ rất hoan nghênh The Trail I Will Never Forget và cả người dịch nữa.

Vũ Ánh

Lối cũ chẳng sao quên.

baovecovang2012.wordpress.com

Bích Huyền

Posted on February 1, 2020 by Lê Thy

Post by Sơn râu 10 Ju8n 2024

Ðường trần quên lối cũ

Người đời xa cách mãi

Tình trần khôn hàn gắn thương lòng…

(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay –

Ðoàn Chuẩn-Từ Linh)

Vĩnh Phú, địa danh tôi muốn quên mà không thể nào quên. Trong suốt hơn mười năm qua và trong cả cuộc đời. K1, K2, K3, K4…những chữ số ký hiệu kinh hoàng. Của tôi. Của những người tù và gia đình họ. Ở rồi, đến rồi, đi rồi…mấy ai muốn quay trở lại? Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải trở về đây. Cảnh vật không khác xưa là bao nhiêu dù thời gian trôi qua bốn năm rồi…

Những khẩu hiệu:”Chào mừng thành công Ðại Hội Ðảng 5,” “Ðảng Cộng sản Việt Nam, Người lãnh đạo Tài Tình”, “Ðảng Cộng sản Việt Nam muôn năm…” lem luốc màu đỏ vì nước mưa, chảy dài xuống như những dòng nước mắt pha máu ngoằn ngoèo trên từng bờ tường loang lổ, cũ kỹ. Ngay phía dưới lại có hàng chữ mang tính “Pháp lệnh” bằng những lời thô tục “Cấm ỉa đái”. Có cả những nét chữ nguệch ngoạc chửi thề. Hình như không một ai để ý.

Ở cái ga xép èo uôc gần tận cùng của đất nước này, những con người lam lũ, ngác ngơ, còn đang loay hoay với ký trà, bao gạo, rổ rá nhựa, nồi niêu xoong chảo, xấp vải hoa Chợ Lớn hoa xanh, hoa đỏ…Che che, giấu giấu, tránh con mắt dòm ngó của bọn Công an kinh tế. Chính sách của Ðảng đổi mới rồi, tự do buôn bán nhưng người dân lại khổ vì sưu cao thuế nặng.

Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi không đến trại Tân Lập bằng đường sông nữa. Ðạp xe trên bờ đê. Dắt xe đi bộ qua bãi cát lổn nhổn những vỏ sò, vỏ ốc. Băng ngang qua những thửa ruộng khô cằn của vùng đất miền trung du. Cái hình ảnh “quê em miền trung du, đồng chiêm lúa xanh rì…”của một thời hoàng kim nào xa lắm, nay ở đâu? Giặc tràn về đốt phá thôn làng. Gia đình ly tán. “Vườn không nhà trống tàn hoang” còn trong trí óc non nớt của tuổi thơ tôi. Giờ đây, giặc nào đã làm cho miền Bắc điêu tàn?

Ðảng Cộng Sản Việt Nam, đỉnh cao của trí tuệ loài người! Ôi! mỉa mai thay những khẩu hiệu kêu to như những chiếc thùng rỗng! Ðảng lãnh đạo tài tình làm sao để bao nhiêu năm đời ta có Ðảng, bấy nhiêu năm Ðảng phá nát tan? Ðể những người dân quê hiền hoà cởi mở trở nên ngu ngơ câm lặng đến thế kia sao?

Dân cư ở đây rất thưa thớt. Họ sống trong những mái nhà lụp xụp, vách đất, mái tranh. Mảnh vườn. Rào thưa. Khoảng sân đất. Giếng nước. Chiếc gầu…tất cả đều quá nhỏ bé, trơ trụi, xa lạ. Trẻ con gầy còm, ốm yếu. Quần đùi vá víu miếng nọ miếng kia. Cởi trần, ngồi nghịch đất. Không tiếng nô đùa. Không tiếng hát. Không tiếng nhạc của máy thu thanh. Không cả tiếng hót. Như một vùng đất chết.

Ba người anh cùng đi với tôi chuyến này đều là những thanh niên đầy nhiệt huyết của hơn ba mươi năm về trước. Thoát ly gia đình, mang tuổi trẻ của mình cống hiến cho đất nước. Ðể rồi khi biết mình bị lừa thì đã muộn. Cũng dòng sông Lô nắng vàng lấp lánh nhưng còn đâu tiếng hát rộn ràng? Cũng con đê này của những buổi chiều vai đeo ba lô tùu chiến khu về, rầm rập bước chân.

Trong thời gian, “Hồi chuông ngân nga trong chiều thu ngập gió…Hồn ta chìm đắm tiếng chuông xa vời.” Ba người anh tôi ôn lại một vài kỷ niệm xưa. Tiếc nuối. Tôi làm các anh tỉnh giấc mơ:”Phải chi ngày ấy các anh không đi theo phong trào Thanh Niên Cứu Quốc thì nay em đâu phải đi bốc mộ chồng ở một nơi đèo heo hút gió này!” Ba người anh im lặn. Họ như muốn quên đi những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng. Yêu tự do. Yêu tổ quốc. Ðánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước. Chiến thắng Ðiện Biên Phủ, ngày trở về giải phóng thủ đô Hà Nội. Những người bộ độ với tuổi hai mươi. Trẻ trung. Học thức. Hà Nội đã bừng lên một sức sống mới.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Hà Nội tưng bừng tiếng hát. Không bao lâu, những cuộc đấu tố dã man diễn ra khắp nơi. Ông bác tôi bị đấu tố, dù có năm người con đi kháng chiến. Nghe tin dữ, các anh về quê xin Ðảng khoan hồng. Không những không tha, họ còn xúi giục các anh tôi: phải giác ngộ cách mạng, phải đứng vào hàng ngũ nhân dân, cùng vạch tội, chỉ tên địa chủ, cường hào, ác bá. Ông bác tôi bị tù. Khổ sai lao động. Thất vọng, đớn đau nhìn bố vác cây, đào đất, khiêng đá, trộn hồ…Những người tù già này làm việc suốt ngày đêm để đạt chỉ tiêu biến khu đất hoang quanh hồ Bảy Mẫu, Hà Nội, thành một công viên mang tên Thống Nhất. Ðến thập niên 1980 đổi thành công viên Lê Nin.

Cũng vì sự khổ nhục của người bác thân yêu mà bao lần ra Hà Nội là bấy nhiêu lần tôi không đặt chân vào công viên này. Cũng như tôi đã không đến vui chơi khu K4 Long Khánh, một địa điểm du lịch mớ lạ của miền Nam. Vì nơi đây được tạo nên bởi những bàn tay của cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị Cộng sản tù đầy, hành hạ.

Các anh tôi, vài năm đầu “Sài Gòn giải phóng” vì đường lối của Ðảng, hay vì muốn các em của mình ở miền Nam sớm “giác ngộ” để hoà nhập ngay với cuộc sống mới, đã có những lần tranh luận. Bao giờ cũng trở thành lớn tiếng cãi nhau. Tôi đã làm các anh nhức đầu không ít. Lần cuối cùng, tôi không cãi lại các anh nữa. “Ðảng đã cho các anh tôi sáng mắt sáng lòng. “Ðó là lần một anh nói với tôi:”Người em không yêu làm em khổ, em đâu có đau bằng anh? Anh đã yêu, anh đã dâng hiến cả cuộc đờim mà ngày nay anh bị phụ bạc, anh bị lừa dối…” Một anh khác:”Viên gạch đã trót để vào xây tường, giờ có rút ra cũng bị vỡ tan. Thôi em ạ, không còn còn đường nào khác!”

Trên con đê này, giữa khung cảnh hoang vắng của buổi chiều trung du, bốn anh em đi bên nhau. Thương cho thân mình. Thương cho các anh. Lý tưởng sụp đổ tan tành. Ngày mai đen tối.

Trời chạng vạng. Tôi đã bắt đầu đi những bước thấp bước cao. Quãng đường này làm tôi nhớ lại những lần vượt biên. Xuống ghe tại Nhà Bè khi thành phố còn chìm trong màn đêm. Lên bờ đi bộ băng qua bao nhiêu là thửa ruộng. Vấp ngã bao lần mà không cảm thấy đau đớn vì thần kinh đang trong tình trạng căng thẳng: hồi hộp, lo sợ.

Lần nầy trên cánh đồng: mệt mỏi, chán chường. Cũng phải vài giờ nữa mới tới trụ sở Ban Chỉ Huy. Tiếng dế nỉ non. Xa xa ánh đèn leo lét. Cố lê bước tới đó để xin ngủ nhờ qua đêm. Nhìn một căn nhà tương đối khang trang, chúng tôi vào gặp chủ nhà xin ngủ đỡ ngoài mái hiên. Nhưng cũng bị từ chối. Ðang lo lắng không biết tôi có đủ sức đi tiếp hay không, thì như có phép lạ, một người đàn bà gánh lúa từ xa đi tới. Bà ta dừng lại:”Các bác tìm nhà ai thế?” Khi biết ý, bà ta mời chúng tôi về nhà. Bốn anh em mừng rỡ như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Dù gánh lúa nặng trĩu trên vai, bà ta vẫn bước đi thoăn thoắt. Trong khi tôi lẽo đẽo theo sau.

Khi bà đẩy cánh cổng tre, bóng tối làm tôi không thể nhìn rõ một người đàn ông đang xếp lúa ngay đầu nhà. Ông ta không quay lại và cũng không lên tiếng đáp lại lời chào của các anh tôi. Trước thái độ lạnh nhạt đó, chúng tôi hơi e ngại. Trong lòng vẫn mừng thầm không bị đuổi ra.

Một gian nhà ba gian bằng tre sơ sài nhưng gọn ghẽ. Nhìn cách trang trí nhà cửa, nhìn bức tượng Chúa nho nhỏ trên bàn thờ cao, tôi có thể đoán chủ nhân không phải là người quê mùa. Tôi ôm bộ quần áo ra giếng. Những giọt nước mát lạnh làm tôi tỉnh táo lại. Trăng bắt đầu lên. Tôi đã nhìn rõ khung cảnh chung quanh. Mảnh sân hình chữ nhật. Khu vườn nhỏ. Chái bếp cuối sân. Ánh lửa bập bùng. Hàng cây cau vươn cao đón ánh trăng. Tôi liên tưởng tới hàng cau của khu vườn trước nhà tôi ở quê hương. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường trèo lên nhanh như một chú mèo con để hái quả cau cho mẹ tôi têm trầu đãi khách. Trong không gian thoang thoảng mùi hương hoa thiên lý. Âm thanh tiếng đàn mandoline bản Valse Favorite vui tươi, tiếng hát chan chứa tình quê “Làng tôi xanh bóng tre. Hồn lắng tiếng chuông ngân. Tiếng chuông nhà thờ rung…” chợt khua động trong tôi ngày tháng êm đềm thời thơ ấu.

Tôi thở thật sâu để nén xúc cảm. Ðêm yên lặng. Ðêm mờ ảo. Tất cả đều rất mong manh. Một tiếng động nhỏ cũng đủ làm tan vỡ giấc mơ xưa thoáng đến với tôi, đưa tôi về thực tại. Tôi phải vào nhà để bàn chuyện ngày mai.

Tiếng cười nói làm tôi ngạc nhiên. Ông chủ nhà cùng ba anh tôi đang vui vẻ quây quần bên khay trà bốc khói. Thấy tôi vào, ông kéo ghế trịnh trọng mời ngồi. Tôi còn đang ngơ ngác trước thái độ thay đổi nhanh chóng thì một anh đã giải thích:”Ban đầu ông Tuyển tưởng anh em mình đi thăm nuôi tù. Bây giờ ở đây có tù hình sự (những thanh thiếu niên can tội cướp của giết người) Tù chính trị chuyển đi từ lâu rồi. Một số về trại Hà Nam Ninh. Ða số vào Nam.

Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước mặt tôi:”Ðược biết cô về đây bốc mộ cho chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi xin hết sức giúp đỡ cô và các ông anh đây.”

Vầng trán cao. Khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từ tốn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông Tuyển là một người có một số vốn kiến thức về học vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh.

Ông Tuyển đã sắp xếp chỗ ngủ cho chúng tôi. Ðể khách được tự do, ông Tuyển dặn dò vợ con và đi vào thôi tìm người quen chuyên việc cải táng.

Gian phòng khách rộng, sơ sài nhưng ngăn nắp. Giường tre, bàn gỗ mộc mạc, thô kệch, được hình thành có lẽ do bàn tay của chủ nhà. Tượng Chúa và tượng Ðức Mẹ trên cao là một hình ảnh cảm động hiếm có trong những ngôi nhà tại miền Bắc. Theo như lời ông Tuyển, đời sống gia đình ông bắt đầu khá hơn kể từ khi hợp tác xã nhà nước tan vỡ. Lối làm ăn tập thể nhường lại cho lối khoán sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn phải nộp đủ cho nhà nước, cả nhà xúm nhau cày cấy mới có gạo ăn.

Dưới nhà ngang, các con ông bà Tuyển đang đập lúa, giã gạo, sàng sẩy…Mọi người chăm chú làm việc, không tò mò để ý khách phương xa. Tôi mệt mỏi nằm thiếp đi trong chốc lát.

Khi tôi tỉnh dậy, trăng đã lên cao. Ông Tuyển vừa về tới. Tay cầm hai chai rượu và một bó hoa tươi. Ông cho biết đã tìm được một người rất thành thạo trong việc bốc mộ. Chai rượu này để rửa hài cốt. Tìm mua được rượu ở miền núi không phải là chuyện dễ dàng.

Bà Tuyển bưng mâm cơm từ nhà bếp lên. Chúng tôi trải chiếu ngoài hiên, ngồi ăn cơm dưới ánh trăng. Ðĩa thịt gà luộc thơm mùi lá chanh thái chỉ rắc lên trên. Tô canh rau “tập tàng”- đủ mọi loại rau hái ngoài vườn – mát ngọt. Tôi không ngờ anh em chúng tôi được đối xử như một thượng khách ở nơi đây. Thế mới biết ở một nơi tưởng chừng như không có, ta vẫn tìm thấy một tấm lòng.

Qua một đêm ngủ với nhiều mộng mị, sáng sớm hôm sau, tôi và các anh đến Bộ Chỉ Huy. Có quãng đường đi được bằng xe đạp. Có quãng đường đá lởm chởm phải dắt bộ. Chỉ huy trại là người mới. Không phải Thiếu Tá Nguyễn Thùy tôi gặp lần trước. Hắn vồn vã thái quá, khiến tôi chỉ im lặng ngồi nghe. Hắn kể chuyện, có một người nước ngoài, cách đây không lâu, về đây bốc mộ bố. Cầm bình hài cốt lên xe, xe không nổ máy. Gọi xe ngựa đến kéo, con ngựa nhảy quớ lên không chịu chạy.

Nhìn hắn ba hoa, ngồi bỏ cả hai chân lên ghế, tôi hơi khó chịu. Nhất là cặp mắt hắn thỉnh thoản lại nhìn vào mấy bao thuốc là “555” anh tôi mang đến làm quà. “Ba con năm vừa nằm vừa ký”, cho nên bọn tôi mới được chấp thuận một cách dễ dàng.

Những chuyện hắn nói có thể xảy ra ở đâu, hắn nghe được. Hắn muốn nói đến đời sống tâm linh. Anh em tôi thì có rất ít thời gian. Cũng có thể sau một thời gian quá dài bị đè nén, những con người triệt để chống chủ nghĩa duy tâm ngày nay bắt đầu duy tâm hơn ai hết.

Xe Volga cọc cạch chở chúng tôi đi lên ngọn đồi, nơi an nghỉ của những quân nhân chế độ cũ. Ít ra từ ngày Việt Công muốn bang giao với Mỹ, đã có lúc họ bỏ được từ ngữ “ngụy quân ngụy quyền”. Nhưng tiếc tay những tên gọi này vẫn là vết hằn trong lòng người Việt.

Tôi ngồi đợi trong một căn nhà nhỏ dựng sơ sài bằng tre nứa. Nền đất lồi lõm. Trên vách nhỏ treo đủ thứ khẩu hiệu, kế hoạch công tác hàng tháng, tuần… Hình ảnh các lãnh tụ Cộng Sản thế giới và trong nước quá khổ so với bức vách, treo xộc xệch như sắp rơi. Ðây là nơi làm việc của toán công an canh gác.

Cách đây bốn năm, khi tôi đến nơi đây nhận mộ chồng, cảnh vật chung quanh gọn ghẽ hơn. Hàng ngày còn có bàn tay bạn tù săn sóc. Giờ đây cỏ cây, dây leo chằng chịt, không nhìn thấy lối đi. Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, tên công an cầm bản đồ nghĩa trang và các anh tôi trở lại trụ sở với gương mặt thất vọng. Không tìm thấy mộ vì cỏ cây che lấp cả một vùng rộng lớn. Tim tôi như muốn ngừng lại. Chẳng lẽ lại về không?

Tôi xin mọi người hãy cho tôi đến tìm. Tôi thầm cầu nguyện cũng như ở Sài Gòn, mẹ tôi và các em tôi đã cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được tốt đẹp.

Kỳ lạ thay! Tôi chỉ vạch lá chui vào đúng một quãng ngắn là tìm ra mộ. Tôi reo to lên. Các anh tôi đứng ngoài không tin. Ngôi mộ có hai bia đá. Tôi lầm thế nào được. Một tấm bia tôi mang từ Hà Nội lên. Một tấm bia nữa của anh em bạn tù đẽo gọt bằng tay. Nét chữ khắc vào đá mờ đi vì rêu phủ.

Trong khi người thợ cải táng chặt cây cối chung quanh, tôi thắp nhang lui cui cắm trên từng ngôi mộ. Ðêm mưa, cỏ ướt, ngửi thấy có hơi người, những con vắt nhảy ra, bám lấy chúng tôi. Máu chảy ròng ròng. Tôi muốn ngất người đi vì sợ. Cây cối quang dần. Dầu nóng tôi bôi đầy mặt, mũi, chân, tay, khiến những chú dế bé xíu cũng không dám nhảy ra đột kích nữa.

Một ít trái cây mua vội dọc đường, bó hoa ông Tuyển mua dùm, chúng tôi chỉ có những tấm lòng thành trước linh hồn người đã khuất. Người anh lớn nhất của tôi khấn thật lâu. Những cây nhang cháy rất nhanh, tàn cong vòng…khói nhang thơm toả ngát. Nhát cuốc đầu tiên bổ xuống đất, lòng tôi đau buốt. Tiếng cuốc, xẻng đều đều vang vọng giữa miền rừng núi hoang vu. Từng tảng đất bật lên, tâm hồn tôi nhu vỡ vụn. Cho tới lúc lưỡi cuốc đụng vào quan tài. Tôi hồi hộp. Các anh tôi nôn nóng.

Khi tôi ra đến Hà Nội, các bậc lão thành có trấn an:”Ðất núi miền khô ráo, xương cốt lâu ngày sẽ tan đi. Phải chuẩn bị tinh thần: có thể đứng trước một cái hòm chỉ có đầy cát bụi!”

Thế cho nên khi những nhát búa đầu tiên bổ xuống để nạy nắp quan tài, tôi cứ giật thót mình. Một cảm giác đớn đau như lần đầu tiên nghe thấy tiếng đóng đinh vào quan tài bố tôi lúc liệm quan…

Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ! Suốt đêm qua, người anh lớn của tôi cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt các anh tôi xúc động. Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bạn bè đã dồn tất cả cho người chết mang đi. Nước mắt tôi ràn rụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm ký lô quà đầu tiên ra Bắc. Chiếc sơ-mi trắng ngà có từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt, mang về Sài Gòn sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta…tất cả tôi đã tự tay xếp vào ba lô trước ngày anh đi trình diện “học tập cải tạo”.

Không còn lầm được. Không còn ảo tưởng:”Ðã trốn trại, còn đang ẩn trốn tại một nơi nào.” Tôi mất anh thật rồi! Thế là hết. Tôi khóc nức lên. Trời như nổi gió. Cỏ cây chao đảo. Ðồi núi quay cuồng. Quanh tôi cảnh vật mờ đi…

Lâu lắm, khi tôi tỉnh dậy, đống tro tàn của áo quần vừa đốt còn âm ỉ cháy. Trong một cái xanh to bằng gang dùng thổi cơm cho trại tù đã gẫy tay cầm, các anh tôi đã đổ bột nhang thơm với rượu trắng để ngâm xương cốt. Người thợ cải táng cùng các anh tôi quấn giấy bao từng lóng xương, đặt từng mảnh vào trong nhiều túi ni-lông …

Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi bước nhanh cho kịp chuyến đò cuối cùng…

Đường ra Vĩnh Phú

baovecovang2012.wordpress.com

Bích Huyền

Posted on February 1, 2020 by Lê Thy

Post by Sơn râu 10 Jun 2024

Ngồi trong toa của con tàu Thống Nhất, tôi vẫn chưa hoàn hồn. Tay khư khư ôm chặt chiếc túi xách trong lòng, tôi nhìn theo Diễm đang cố len lỏi tìm lối ra giữa những người đang đứng lố nhố tranh giành nhau xếp đồ đạc. Gần ra tới cửa, Diễm còn ngoảnh lại nhìn tôi, đôi mắt đỏ hoe. Tôi cũng khóc. Nước mắt tôi làm nhòa đi hình ảnh Diễm trong giây phút ngắn hai chị em chia tay nhau. Diễm như bị xô xuống khỏi con tàu…

Xa xa, sân ga Bình Triệu dưới những ngọn đèn vàng vọt không đủ sáng, cảnh tượng vô cùng hỗn độn. Người đi, kẻ lại, người mang, kẻ vác… xô đẩy, chen lấn nhau. Tiếng la hét, tiếng gọi nhau í ới trên một khoảnh đất gồ ghề, tăm tối. Tôi cũng vừa từ đám đông đó lên đây. Bọn cán bộ nhà nước được lên tàu trước từ ga Phạm Ngũ Lão, trên những toa riêng hoặc những toa có giường nằm…

“Thật may, nếu không có Diễm đi tin thì làm sao mình còn đủ hành lý!” Lần đầu tiên tôi thấy Diễm khỏe quá! Hai tay hai túi xách nặng, cồng kềnh, chen đám đông phăng phăng mở lối cho tôi lên tàu. Bọn cướp giật trà trộn giựt xách tay, rạch ví, móc túi. Tiếng la thất thanh. tiếng chửi thề. Tiếng khóc, tiếng gọi nhau… tất cả tạo thành một âm thanh hỗn loạn. Thần kinh tôi như muốn đứt ra. Hai chị em chỉ kịp bám lấy song sắt của toa tàu là đã như có người đẩy lên rồi. “Kìa! Nó giựt đồng hồ của tôi!” “Trời ơi! Ví của tôi đâu mất rồi!” Mặc kệ. mạnh ai nấy chen. Chân tôi bị dẫm lên đau điếng. Áo quần tôi tả tơi, xốc xếch, đầu tóc rối bời.

Giờ đây, tôi ngồi trên tàu, dưới kia cảnh tượng vẫn đang tiếp diễn…

Tiếng còi hú vang báo hiệu sắp đến giờ khởi hành. Tiếng còi dài văng vẳng trong đêm tối. Ngày xưa còn bé, tôi đã từng được học những bài văn tả cảnh sân ga. Niềm vui sum họp, nỗi buồn chia ly. Tiếng còi tàu lanh lảnh âm vang trong lòng tùy theo tâm trạng của mỗi người. Lòng tôi hôm nay, tiếng còn nghe ghê rợn quá! Như tiếng rú, tiếng thét đe dọa những con người thất thế – như tôi – một thân một mình đi thăm nuôi chồng “học tập cải tạo” tại một nơi rừng sâu, nước độc tận cùng miền Bắc.

Không có một bóng người đứng trên thềm ga đưa tiễn. Không có một ngọn đèn vàng lẻ bóng hắt hiu, như tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Thúy u buồn ngày nào trong một ca khúc tễin đưa nào đó… Xa rồi, chỉ có hàng ngàn con người lam lũ, hối hả, vội vàng trên sân ga giành giựt tranh nhau từng miếng cơm sạn mốc, từng manh áo rách.

“Giấy tờ đâu? Mở túi này ra!” Giọng hách dịch của tên kiểm soát. Rồi những khuôn mặt lạnh lùng của toán công an kinh tế phía sau. Một tên nghênh ngang cầm đèn pin, bất kể rọi vào cả mắt hành khách. Một tên cầm chiếc gậy ngắn, xấc xược thọc thọc vào hành lý của khách… Đến lượt tôi: “Giáo viên. Về Bắc nghỉ hè à? A, đi thăm nuôi chồng học tập cải tạo. Thăm nuôi tù thì nói mẹ nó ra đi. Học tập học tiếc cái nỗi gì với cái bọn ngụy ác ôn đó. Thôi, khỏi xét.” Lẽ dĩ nhiên, xét làm gì ba cái đồ lương thực. Họ muốn bắt những con buôn. Tôi cố nén tức giận, tủi hờn, mừng rỡ nhận lại tờ giấy phép, không có tờ giấy này tôi không thể vượt qua mọi cửa ải từ Nam ra Bắc. Chạy chọt hàng bao nhiêu nơi, chờ đợi hàng bao nhiêu ngày, tôi mới có được mảnh giấy đen thui này đây.

Họ di chuyển xuống hàng ghế dưới, tiếp tục hạch sách, lục lọi. Và hành khách tiếp tục năn nỉ, van xin. Hàng hóa nào có nhiều nhặn gì cho cam! Chục mét vải. Dăm gói bột ngọt. Rổ rá nhựa, xô xách nước, bình nước mắm… Vậy mà có người vẫn khóc ngất khi bị tịch thu. Nồi cơm độn mì, độn khoai tay chỉ mong vào tiền lời nhỏ nhoi đã mất cả rồi.

Tiếng máy xình xịch. tiếng còi tàu rú lên từng hồi như thúc giục, như đồng lõa với những việc làm sai trái trên con tàu mang tên Thống Nhất Bắc Nam.

Bên ngoài trời tối, không một ánh sao. Sương khuya lạnh buốt. Vài con đom đóm lập lòe. Chung quanh tôi, mọi người đều đã nằm ngủ la liệt. Người trải miếng ni-lông dưới chân ghế chật hẹp, người nằm ngả nghiêng trên đồ đạc, ngổn ngang chật cả lối đi. Võng mắc chi chít. Tiếng ngáy, tiếng thở mệt nhọc vang lên. Tôi mệt mỏi tựa đầu vào thành ghế gỗ. Có lẽ chỉ còn có một mình tôi thao thức nên thấy đường dài. Nhớ mẹ, nhớ con, nhớ nhà.

Thế là tôi đã phải xa nhà, xa những người thân yêu, vượt mấy ngàn cây số, đi đến một nơi xa lạ. Làm sao tránh khỏi lo âu? “Thân gái dặm trường”, lời nói người xưa thật đúng tâm trạng của tôi bây giờ.

Cũng trên quãng đường này, trong toa xe lửa của một thời xa lắc – thuở còn đi học – ánh mắt long lanh, giọng cười ròn rã reo vui suốt cuộc hành trình. Trại hè Nha Trang. trại hè Thống Nhất Huế. Trại hè sinh viên Huế-Saigon Đà Lạt. Mỗi mùa hè là một mùa tưng bừng hứa hẹn. Còn đâu nữa những tiếng cười khúc khích, tinh nghịch của các bạn tôi trong những đêm không ngủ? Các bạn học cũ của tôi, giờ phiêu bạt nơi đâu? Phạm Hữu Lộc, Bùi Thức Phước, Nguyễn Long Hải, Duy Trác… trong những trại tập trung cải tạo của Cộng Sản. Ấu Oanh, Hoàng Oanh, Ngọc Diệp, Kim Oanh… bán đứng buôn chạy quần áo cũ, thuốc tây. Hồng Thủy, Hồng Hảo, Ngọc Tâm, Hương Kiều Loan… ngàn trùng cách biệt.

Tôi cố quên đi những gương mặt đang say men chiến thắng Nguyễn Đắc Xuân, Cao Thị Quế Hương, Kim Tuyến. Tôi ngậm ngùi thương tiếc Lê Hữu Bôi, bị thảm sát trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế. Bốn năm “giải phóng miền Nam” rồi, bốn năm quay cuồng, vật lộn với cuốc sống mới, có bao giờ được một vài phút suy tư?

Qua mỗi lần tàu ghé một sân ga, bất kể ngày đêm, hàng hóa rỡ xuống, chất lên nhanh chóng gọn nhẹ. Bọn chỉ huy đoàn tàu kết hợp cùng bọn công an kinh tế buôn bán thì còn sợ gì ai xét. Trong khi những người dân, hàng chỉ có một chút xíu thôi mà vẫn bị dòm ngó, hoạch họe đủ điều.

Những giỏ soài Nha Trang của vợ chồng chú bộ đội ngồi trước mặt tôi đã biến mất. Những giỏ soài treo toòng teng trên đầu, những giỏ soài la liệt dưới sàn tàu đều trống trơn. Càng đi xa hơn thì hành lý trên tàu càng vơi nên hành khách còn có lối đi. Hành khách buôn dọc đường. Xã hội chủ nghĩa cấm buôn bán cá thể mà hầu như cả nước đều buôn. Cán bộ công nhân viên mua được nửa ký đường, lon sữa, mươi gam bột ngọt mỗi tháng đều mang ra chợ bán cho người buôn, kiếm chút tiền bù đắp vào đồng lương ít ỏi. Cũng nhờ đó mà tôi mới mua được những thực phẩm thăm nuôi chồng. Tôi thở dài ngao ngán cho kiếp sống đói nghèo.

Tàu càng rời xa miền Nam, làng mạc càng hiu hắt. Bốn năm tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội là đây? Đồng ruộng khô cằn, xóm làng xơ xác. Con tàu đưa tôi vượt qua vĩ tuyến 17, tới miền Trung “ôi, quê hương xứ dân gầy” của nhạc sĩ Phạm Duy. Dân không chân lấm tay bùn – vì đồng ruộng bỏ hoang – mà sao đen đủi. Gương mặt ngơ ngơ ngẩn ngẩn, đứng trước những thau nước chờ khách trên tàu xuống mua rửa mặt, rửa chân.

Một bà cụ lưng còng xuống, manh áo vá không đủ che thân, xách ấm nước đi bán rong. Đường tàu mỗi lúc một xấu, nhất là Thanh Hóa. Con tàu tròng tranh nghiêng ngả. Đồ đạc rơi đổ cả vào người.

Làng quê miền Bắc kia sao? Tôi ngỡ mình đang nằm mơ. Bởi hiện thực quá phũ phàng.

“Việt Nam đất nước ta ơi,

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn…”

Miền Bắc hai mươi năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể. Đồng ruộng xóa mờ ranh giới, bao la bát ngát thẳng cánh cò bay… Chỉ là hình ảnh tưởng tượng của cán bộ vẽ ra, khi tuyên truyền, khoác lác với dân miền Nam. Trước mắt tôi… đồng khô, nắng cháy. Xa xa xóm làng hoang vắng. Quán nước bên đường che bằng một mái tranh cũ nát, chiếc chõng tre lỏng chỏng một vài món quà lặt vặt: viên kẹo bột vàng, trái chuối thâm đen. Điếu cầy tre, ấm nước, ly trà cũ bẩn… Mỗi lần tàu ngừng, hành khách tranh nhau mua từng bát cơm khô cứng, lèo tèo một ít rau xào…

Tôi đến Ga Hàng Cỏ – Hà Nội sau ba ngày, ba đêm trên tàu như một người bị tra tấn. Rã rời, mệt mỏi. Hà Nội hiện ra trong mắt tôi với tất cả sự nghèo nàn, lạc hậu. Đèn đường vàng vọt. Trong nhà, ánh điện lù mù nhưng tôi vẫn nhìn thấy nhà nhà ngồi quanh mâm cơm để dưới đất. Đó là hình ảnh đầu tiên về Hà Nội.

Nhà anh chị tôi ở tầng thứ tư của một khu nhà tập thể vùng Kim Liên. Chỉ là một phòng nhỏ hai mươi mét vuông. Độc nhất một cái giường cũ mọt dành cho bố mẹ và đứa con út còn bé. Hai đứa con lớn học đại học nằm dưới đất. Kệ sách vở đụng trần nhà. Dưới gầm giường lỉnh kỉnh bát chén, nồi niêu, xô nước. Gia đình anh chị tôi điển hình cho giới trí thức Hà Nội: chồng, cán bộ nghiên cứu khoa học, vợ bác sĩ. Tôi rùng mình lo sợ tương lai.

Hà Nội với những con đường nhỏ hẹp, đầy ổ gà, bụi bậm. Hà Nội với nhà cửa cũ nát, xiêu vẹo. Hà Nội với con người nhâng nhâng, nháo nháo, chửi thề nói tục. Không phải một thủ đô văn minh lịch sự như theo lời những cái máy nói đã mạt sát Sàigon, ca tụng Hà Nội – mà trong những buổi học tập chính trị ròng rã qua năm tháng, chúng tôi đã phải nghe. Hà Nội trong ký ức tôi, trong thơ, trong nhạc… chỉ là hư ảo.

Lên ga Bình Triệu, xuống ga Hàng Cỏ: kinh hoàng. Tiếp tục cuộc hành trình, tôi đáp tàu đi Vĩnh Phú. Ga nhỏ, người đông. Mùi hôi thối dưới đất, mùi mồ hôi nồng nặc trong ánh nắng hè gay gắt. Tôi muốn nôn oẹ. Lại bị hạch sách, nạt nộ khi làm thủ tục để được lên tàu. Lại chen lấn, xô đẩy. Tôi chạy mãi tìm cửa lên tàu. Toa nào cũng chật cứng người. Cuối cùng chỉ còn giành được một chỗ đứng ở cuối nơi toa tàu nối nhau. Khi con tàu ra khỏi thành phố, một số thanh niên leo lên nóc, tôi mới có một chỗ để ngồi bó gối.

“Ban nãy tao leo lên toa chở lợn, gà. Bị đuổi xuống.”

“Xã hội này là súc vật sướng hơn!”

Tôi nghe tuổi trẻ miền Bắc nói chuyện như thế.

Gió thổi mát lạnh. Trời vần vũ cơn mưa. Cứ ngồi như thế này cho đến tối hay sao? Thế rồi sức chịu đựng của tôi vẫn vượt qua những trận mưa trời làm ướt sũng toàn thân, những trận mưa than từ ống khói tàu nhả xuống. Cũng may là than đá, nếu không biết bao nhiêu hành khách kém may mắn không được ngồi trong toa như tôi sẽ bị nhuộm đen như thế nào?

Con tàu nặng nề đi qua những cánh rừng cọ xác xơ, những đồi chè cằn cỗi thưa thớt dưới cơn nắng cháy.

“Đẹp vô cùng Tổ Quốc ta ơi,

Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt

Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát

Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca…”

Tôi không hiểu sao Tố Hữu lại có thể làm được những câu thơ với những hình ảnh tươi đẹp như thế?

Ga Ấm Thượng là trạm cuối cùng tôi xuống. Nơi đây chỉ là một túp lều tranh vách nát giữa vùng đất đìu hiu của miền thượng du Bắc Việt. Bốn bề hiu hắt, vắng vẻ. Trời chập choạng tối. Ánh đèn dầu leo lắt run rẩy như muốn tắtlàm tăng thêm vẻ hoang vu.

Tôi sẽ ở lại đây một đêm.

Sau một ngày dài ngồi bó gối trên tàu, tôi muốn ngả lưng trên chiếc giường tre ọp ẹp có trải manh chiếu nát. Những con rệp lâu ngày bị đói rủ nhau ra tung hoành làm tôi phải bật dậy suốt đêm. Sáng sớm đã có tiếng xì xầm ở bên ngoài. Dân quanh vùng lén mang chuối, gạo, gà… bán cho những người thăm nuôi tù. Họ giành nhau để được tên cán bộ nhà ga phân phối khuân vác từng thùng lương thực xuống thuyền để lấy tiền công.

Sang đò ngang, lại chuyển đò dọc. Tiền khuân vác, tiền chuyên chở, bao nhiêu cũng phải trả.

Con thuyền cũ chòng chành vì nặng hành lý. Khách trên thuyền chỉ có khoảng năm người. Từ Saigon hay từ các tỉnh miền Nam đi thăm nuôi. Thuyền không có mái. Hơi nóng từ trên trời giội xuống, từ dưới nước bốc lên. Tôi như muốn ngất lịm đi vì say sóng. Đây là con sông Lô trong nhạc Văn Cao. Không có tiếng hò, tiếng hát trên sông. Chỉ có tiếng mái chèo đập nước, tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền. Hai bên bờ sông, chỉ toàn là cây dại. Hoàn toàn im lặng.

Khi mặt trời đứng bóng, thuyền cập bến đò Ngọc. Trái với tên bến Ngọc, bến đò này toàn sỏi đá lởm chởm. Từ bờ sông lên tới đường đi, chúng tôi phải trèo lên từng phiến đá sắc cạnh. Phụ nhau kéo đồ đạc lên rồi ngồi chờ xe trâu tới thuê chở chuyển đồ vào trại.

Tôi ngồi tựa lưng vào một gốc cây khô. Bên kia sông, không một mái nhà. Cỏ cây chằng chịt. Phía sau lưng, hoang vắng. Một lối đi nhỏ mất hút sau rặng cây rậm rạp. Đứa bé trai khoảng trên mười tuổi, không biết từ đâu xuất hiện. Chiếc quần ngắn cũ chắp vá đủ màu bọc ngoài đôi chân gầy guộc. Lấm lét nhìn chung quanh, nó đến gần chúng tôi, khẽ nói:

“Cho nhà cháu vác vào trại nhá! Tiền công rẻ hơn xe trâu.”

“Trại có gần đây không hả cháu? Đi chừng bao lâu? …”

Chợt thằng bé chạy vụt vào lùm cây.

“Này, chị kia, nói chuyện gì với nó thế?”

Tên công an, mặt non choẹt, vác súng đi tới: “Gia đình nhà đó “nà” bọn “nười” lao động. Không chịu sản xuất, chỉ định “nàm” thuê.”

Đưa đôi mắt nhìn khắp lượt có vẻ đe dọa, hắn hất hàm nói tiếp: “Đợi đấy. Sẽ có xe của Hợp tác xã phục vụ. Ai không tuân lệnh, cúp thăm nuôi.”

“Việt Nam tham dự Thế Vận Hội mang về ba cúp: Cúp điện, cúp nước, cúp lương thực. Giờ đây lại sắp lãnh thêm một cái cúp nữa.” Tiếng thì thầm, rúc rích của hai thanh niên đi cùng chuyến.

Tiếng lọc cọc từ xa mỗi lúc một gần. Xe trâu đến. Những mảnh cây ngang dọc sơ sài đóng vào nhau. Bốn bánh xe đẽo bằng gỗ. Sợi dây thừng lớn nối từ cổ xe vào mình một con trâu già. Cán bộ hợp tác xã nhảy xuống khỏi xe. Chúng mời nhau điếu thuốc lá Thủ Đô. Lương thực được chúng tôi khuân chất lên xe. Bao nhiêu thùng là bấy nhiêu tiền. Thùng to, nhỏ giá chở khác nhau. Tên cán bộ ngồi trên một thùng đồ vững vàng nhất. Chiếc roi mây quất nhẹ vào mình trâu để con trâu bước đi. Ngươì thăm nuôi lẽo đẽo đi bộ theo sau. Trời nắng. Đường gồ ghề những đá. Người và vật lê bước nặng nhọc. Đi, đi mãi… Sâu tít vào rừng. Đường vòng vèo tưởng như không có lối ra. Qua những con suối cạn, ì ạch mãi chúng tôi mới đẩy được xe qua. Tên cán bộ ngừng lại cho con trâu nghỉ mệt. Dãi nhớt đầy miệng, trâu thở phì phò. Tội nghiệp cho cả trâu. Tội nghiệp cho cả người thăm nuôi. Cổ tôi khô. Đầu nhức như búa bổ. Tôi ngồi vật xuống cỏ…

Trời đã xế chiều, ánh nắng nhạt dần. Người và vật vẫn tiếp tục cuộc hành trình trong yên lặng. Có tiếng lá khô vỡ vụn. Không phải tiếng xào xạc của lá cây rơi rụng. Không phải tiếng chân chạy của thú rừng.

Cặp mắt tôi như sáng lên. Một toán người bẻ lá đi ra. Có người thân quen không nhỉ? Bộ quân phục của binh chủng thủy quân lục chiến dù phai màu theo năm tháng, dù bị rách vá bởi kiếp đọa đầy, vẫn không làm mất đi vẻ thông minh sáng sủa của những người tù. Vai vác cuốc, tay cầm xẻng, bi đông nước lủng lẳng thắt lưng, các anh nhìn chúng tôi với ánh mắt cảm thông, chia sẻ.

Tên công an thấp bé ôm súng chạy xộc lên phía trước. Tôi đi sát bờ cỏ, len lén rắc kẹo lên lối đi. Những mảnh giấy cuộn tròn thật nhỏ vội vàng chuyền tay. Lời nhắn gửi của các anh gửi về Saigon.

Quãng đường rộng hơn, bằng phẳng. Đó đây, thấp thoáng mái nhà. Tôi gặp Ngô Kim Thái, bạn học cũ Trưng Vương đi trở ra. Chúng tôi chỉ kịp chào hỏi nhau vài ba câu. Sắp tới K5. “K1 hả? Còn đi lâu lắm…”

Xe trâu mỗi lúc một nhẹ hơn khi ghé qua một K. Tôi là người cuối cùng, đi vào K có con số nhỏ nhất. Lố nhố vài người đến trước đứng trên thềm. Mọi người nhanh nhẹn phụ giúp chuyển đồ trong khi tôi trả tiền xe.

Xếp đồ vào phòng qui định, tôi chỉ kịp nhận giường chiếu là buông mình nằm mê mệt.

“Chị! Dậy đi chị! Không trình giấy, ngày mai làm sao được gặp?”

Nghe đến giấy tờ, tôi bật người lên. Quên cả nhức đầu. Tú, người lay gọi tôi, có gương mặt trái soan, còn rất trẻ. Tú đi chuyến tàu đêm, đến đây từ sáng.

“Phòng tắm ở đâu?”

“Phòng tắm hả?” Tú cười chỉ về hướng sau nhà.

“Mấy tấm phên che không kín. Có còn hơn không. Nhưng nước bẩn lắm. Phải xuống tít dưới kia lấy nước ở suối. Em có mua được một cái xô. Cho chị mượn đó.” Tôi cảm ơn người bạn mới.

“Trước anh làm gì?”

“Chiến tranh chính trị.”

“Cấp bậc?”

“Trung tá. Chức vụ luôn nhé! Tham Mưu Trưởng trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt.”

“Chết, chức to quá! Chồng em cũng chiến tranh chính trị. Cấp úy nhỏ nhất thôi. Mà chị ơi, đúng rồi! Chính trị tội nặng nhất. Họ gọi là thành phần ác ôn, tập trung tại K1. Không biết họ nhốt mấy ổng có gần đây không nhỉ?” Tú thì thầm. “Họ cấm không cho người thăm nuôi ra khỏi khu này, cho nên… em chẳng biết gì hơn.”

Tôi nhìn quanh, Vẫn cỏ cây chằng chịt. Chỉ có hàng rào chung quanh khu tiếp tân này là được cắt xén cẩn thận, ngay ngắn. Ngôi nhà ba gian. Tường cây, mái bằng lá cỏ khô, nền đất. Hai gian dành cho thân nhân. Khoảng sân nhỏ với những bồn hoa, luống cây cảnh xếp bằng sỏi đá đơn sơ. Khung cảnh nơi đây chắc chắn phải có bàn tay của những người tù. Lòng tôi chùng xuống. Ngậm ngùi. Phía xa là nhà bếp. Trong ánh lửa bập bùng, thấp thoáng bóng người mẹ già, người vợ trẻ lui cui đun nấu thức ăn tươi cho ngày mai. Thịt gà kho gừng, thịt bằm ớt rang khô. Bát canh rau, thịt kho trứng… Những món ăn quen thuộc như chìm vào quên lãng – vì bên ngoài cũng thiếu thốn, có được ăn đâu?

“Chị có nhìn thấy những cây nhang cắm trên cành cây phía đằng kia không? Của một bà phòng bên cạnh. Ổng chết lâu rồi.”

Tôi lạnh người. Sáng nay mới biết. Dã man. Để người ta lặn lội ra đây?

Đêm xuống. Bao trùm núi rừng. Tôi thao thức không ngủ. Lo lắng. Chỉ mong trời sáng. Cuối cùng tôi cũng thiếp đi được một chút để rồi được đánh thức bởi tiếng khua động của mọi người chung quanh.

Giây phút chờ đợi như kéo dài. Hơn tám giờ, hai tên công an ôm giấy tờ đến, lững thững trong khi mọi người nôn nóng. Gọi tên ai, người đó mới được vào phòng đợi.

“Con chị tên gì?”

Kỳ quá! Hôm qua đã ghi rồi mà. Người đàn bà ấy đã đứng tuổi, đi cùng chuyến đò với tôi. Tên công an thì chưa đến hai mươi tuổi. Bà đáng tuổi bà, tuổi mẹ hắn.

“Thưa ông…”

“Này, chị phải bỏ ngay cái giọng quan niêu phong kiến ấy đi nhá!”

Giọng rụt rè: “Thưa anh…”

“Ai anh em gì với cái nhà chị?”

Tiếng nói cất lên như một tiếng thở dài:

“Thế bây giờ tôi phải gọi như thế nào đây?”

“Gọi nà cán bộ. Báo cáo cán bộ. Biết chưa?”

Lần lượt mỗi người vào như bị hỏi cung. Mỗi người bị tên công an vặn vẹo, nạt nộ. Gian phòng nhỏ hẹp, chỉ đủ kê một cái bàn nhỏ ở góc cửa ra vào, tên công an ngồi làm cái việc hỏi cung. Một cái bàn dài, rộng kê ở giữa. Thân nhân ngồi một dãy. Phía bàn đối diện dành cho tù nhân. Vị trí của mỗi người tùy theo sự sắp xếp của công an.

Và giây phút chờ mong đã đến. Người thân của chúng tôi đã được giải tới. Mọi người trong phòng nhốn nháo. Người ngồi bên trong đứng lên để được nhìn rõ hơn. Những người tù thong dong bước tới mỗi lúc một gần. Quần áo mang trên người còn nguyên nếp gấp. Quần áo mang theo, nhưng lần này sao rộng thùng thình như đi mượn. Cặp mắt ai cũng sáng lên khi nhận ra người thân yêu.

Tên công an áp giải bắt xếp hàng ở dưới sân. Hắn hất hàm cho từng người vào. Hơn bốn năm xa cách, chúng tôi nhận ra ngay những nét thay đổi của nhau. Thời gian và khổ cực. Cuộc sống bên ngoài cũng chẳng mấy tự do. Khóc thì sẽ bị đuổi ra. Nhưng những giọt nước mắt vẫn lặng lẽ rơi.

Năm phút. Mười phút. Thời gian trôi nhanh. Gần hết giờ thăm. Những câu hỏi, câu trả lời lạc lõng. Toàn những chuyện đã viết trong thư. Đôi mắt tên công an gườm gườm. Mấy cái gai nhọn lúc nào cũng muốn đâm vào da thịt.

Đi suốt cả chiều dài đất nước để có được mười lăm phút gặp nhau. Quà sắp lên xe trâu. Tôi nhìn theo chồng đứng vào hàng để giải về. Chúng tôi theo ra cổng, nhưng chỉ được đứng bên hàng giậu nhìn theo cho đến khi toán người đã khuất vào lùm cây.

“Cùng trông lại mà cũng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

Thuở còn đi học, nghe cô Tỉnh giảng Kiều say mê. Nhưng chỉ thích Chinh Phụ Ngâm, để rồi ngày nay phải mang nỗi buồn cô phụ. Tôi nuốt nước mắt nghẹn ngào. Bỗng dưng vạn vật mờ tất cả…

Trích từ tập hồi ký Lối Cũ Chẳng Sao Quên

(The Trail I Never Forget)