This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Mùa hè tới, có tin vui. Nguyễn cùng Trần đi hai tiểu lộ riêng biệt đã chính thức nhập vào một đại lộ sáng đèn. Không ai đi đường mà chẳng bắt gặp trạm nghỉ chân. Không dong buồm nào mãi dật dờ, thuyền phải có khi tấp vào một bến đậu, thả neo. Bậc trưởng thượng đã mang hai lá số tử vi nhờ thầy sáng mắt xem giùm. Đã an tâm khi biết ra thiên thượng hoả chẳng ngán trường lưu thuỷ dập tắt và thằng tuổi Mùi coi bộ hợp tạng, chẳng xung khắc với con Hợi. Thậm chí người lớn tuổi của hai họ đã định vị được cái nhà hàng có lối trang hoàng rất tốt về mặt phong thuỷ. Rường cột phông màn quanh năm đều phủ tuyền một sắc đỏ. Ôi, nếu gắn thêm một miếng gỗ chạm trổ hai chữ song hỷ thì chốn ấy rõ là nơi thích hợp để cho đôi trẻ tới sum vầy, sắc cầm hoà hợp long phụng giao duyên ghẹo nguyệt giỡn mây. Mắt phượng mày ngài rạng rỡ nụ cười ra mắt quan viên hai họ và thân thích bà con bằng hữu.
Mọi thứ đâu ra đó, y như kịch bản vở hài kịch luôn chấm dứt bằng một hôn lễ. Phức tạp đi dần về giản đơn, lu bu riết rồi phải có khi khoanh tay ngồi thở dốc. Chú rể tương lai giao việc cho thằng em út bị nó có năng khiếu về lãnh vực còm-píu-tờ, nhờ trình bày rồi lay out ra một cái thiệp cưới quyết không đụng hàng. Em của cô dâu tương lai vì quen sinh hoạt đình đám ca-ra-ô-kê đã thỉnh được ông Ngọc chuyên trị làm MC có biệt tài kể chuyện tục và giả được giọng nói ba miền, đi theo ông là một bộ phận không nhỏ ca sĩ nghiệp dư ăn vận thông thoáng mặn những tình khúc bô-lê-rô có khả năng làm người ta khóc trong tiệc cưới. Nhất nhất thảy đều ra đầu ra đũa, tường lửa nào cũng vượt qua, họ quyết không để “bó tay chấm com” can dự tới.
Thiệp in trước cả tháng để khách mời từ phương xa dễ thu xếp lịch trình, mua vé máy bay về dự tránh cảnh nước tới chân mới nhảy. Các tiểu bang trên toàn lãnh thổ Hoa kỳ nếu có thân bằng quyến thuộc ngụ rải rác đều đồng thuận gật đầu “see you soon”, ngay cả ở Việt Nam, xa hơn tràng giang cách trở sóng lớn, cuống rốn ngàn dặm cũng kêu: Chiện nhỏ, cho người ra phi trường rước tui thì ô-kê ngay. Kiểm lui dò lại khách mời lên tới hai trăm, nhà hàng chứa tới ba trăm chỗ ngồi phòng hờ có trường hợp khách kéo rốc toàn gia phô trương lực lượng đình đám đổ bộ. Những cụ hom hem thường bảo “nghĩa tử nghĩa tận” thì đã là ngày vui cũng nên xí xoá những chuyện bất ưng, chộn rộn chỉ một lần chơ mấy! Bồ hòn có lúc phải ngọt, mặt mày cô dâu chú rể cứ nhăn nhó ngó sao đặng, vô tư đi bà con cô bác!
Người ta cũng thường ngôn: Ba người Việt chụm đầu lại đã thành một cái chợ. Trẻ lên năm cũng tường hai trăm người tụ họp thì hổng chừng biến ra thứ siêu thị đang nhập hàng tươi giá on sale chen chúc nhặng xị. Ai cũng có thể nhập vai trưởng ty thông tin văn hoá, chí ít cũng từng tác nghiệp qua chức phóng viên chuyên đưa tin nóng. Nhập tiệc đúng như giờ in trong giấy mời thì chẳng nói gì, chờ lâu quá ắt đâm buồn miệng, lý lịch ba đời của Nguyễn và Trần bị mang ra luận bàn. Nhiều tình tiết hấp dẫn vây quanh người làm bố cô dâu, rằng sở dĩ cô ấy có dung nhan kiều diễm là bởi cô giống bà hai chứ hai đứa con của bà chính thì trông quê mùa lắm. Ủa, hoá ra anh Năm có hai bà vợ luôn sao cà? Ừa, bà một làm giấy bảo lãnh cho cô em ở bên nhà qua, chốn lạ chưa quen với phong thổ thì sa chân vào cạm bẫy ông này bày ra, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, làm vượt mức quy định để phải cháy hợp đồng mà thành quả là quy hoạch được bụng mang dạ chửa. Bà vợ, cũng là người chị vò đầu bức tóc cảnh nhân tình thế thái, đâm tâm đắc câu ngạn ngữ của người Li Băng: “Sẽ dễ chịu nếu có một ngàn kẻ thù đứng ngoài vây khốn còn hơn là chỉ một đứa ẩn náu trong nhà ta”. Đó là lý do hôm nay đằng nhà gái thiếu mặt bà lớn cùng hai đứa con. Ngoảnh mặt làm ngơ, ném lui một cục lơ. Vui gì chốn ấy hý lộng cùng ai? Chửi thề thì hoá ra ta là người kém văn hoá! Muốn giữ nếp sống lành mạnh thì phải biết tôn trọng tập thể. Tính ưu việt nằm ở chỗ ấy, im lặng đồng nghĩa với khinh khi.
Vậy thì phía đàng nhà trai? Ừa thì họ cũng từng kinh qua nỗi đau của sự bội phản. Bà ngoại chú rể trước đây từng đào hầm trong nhà dấu nuôi mấy chú du kích đặc công, ngày thắng lợi đến được cách mạng cấp cho tờ giấy chứng thực má đây là “mẹ anh hùng” rồi ngày một ngày hai đuổi “mẹ” đi chỗ khác chơi, soán đoạt căn nhà biểu là thuộc diện quy hoạch biến đổi thành viện bảo tàng khắc dấu nơi đây chiến sĩ ta từng trường kỳ nằm gai nếm mật sinh mệnh như ngàn cân treo sợi tóc. Giờ đây “ngoại” có thể sửa đổi câu ngạn ngữ nọ thành: Sẽ dễ chịu khi cả đại đội nguỵ đứng ngoài còn hơn dấu che một thằng vi-xi ở ngay trong nhà.
Câu chuyện sẽ miên man chẳng dẫn tới hồi kết nhưng những cái bao tử mốc meo đã đến lúc trễ hẹn lại lên. Dĩ thực vi tiên, đóng hai trăm bạc tiền lì xì nên ăn hối ăn hả được thức gì tốt thức đó, dộng vào cho đỡ xót ruột cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Mùa này lobster đang sale mà sao chúng dọn hai đĩa ngó eo xèo quá, mình mẩy thì ít mà chân cẳng thì phì nhiêu, thật khó nhá. Quây tròn một vòng không hiểu chân cẳng ấy biết âm thầm bò đi đâu? Thực khách ngoài việc ăn còn sung việc quậy, cứ ngứa tay cầm đũa gõ chén gõ ly liên hồi kỳ trận. Hai nhân vật chính cứ thế mà siêng bú mồm nhau. Trước khi cắt may đóng bộ, y phục của hai trẻ ắt phải mặc thử qua lắm bận trông cho sít sao. Vậy thì đôi uyên ương kia có từng làm nháp khi giờ này diễn tuồng hôn hít rất đạt, vượt quá mức quy định. Siêu sao màn ảnh rộng hôn kiểu gì họ hôn kiểu đó, coi mòi ướt át gợi cảm hơn. Đê mê, chú tâm, dán chặt, nhắm mắt; bỏ ngoài tai lời rì rào của bọn dư luận viên, chẳng màng ánh mắt của ông già bà cả lúc nào cũng đề cao mấy chữ thuần phong mỹ tục. Dại dột cho bọn trẻ người non dạ khi chúng chẳng biết giữ gìn sức khoẻ, còn nước còn tát kiểu đó đến khi cần kíp điệu võ dương oai thì xí quách đâu nữa mà nhá, mà ăn tươi nuốt sống, mà thề nguyền chuyện đầu bạc răng long. Bắt đền anh đó. Em sẽ hờn dỗi phụng phịu vì anh chỉ dắt em đi có nửa đường rồi vật mình xuội lơ cẳng cò. Chẳng ra ngô ra khoai, không ra đầu ra đuôi. Thiên thượng hoả đang phừng phừng lửa ngọn mà trường lưu thuỷ… chơi kiểu gì kỳ dậy cha!
Mưa không ướt đất!
Không chắc là cô dâu chú rể sẽ đi đúng kịch bản động phòng sau buổi liên hoan tiệc tùng. Thường thì họ suốt ngày đã mệt phờ râu, đã bở hơi tai, đã mặt cắt không còn giọt máu cho bao thủ tục buộc phải tuân theo, đến tối chỉ có nước leo lên giường ngồi đếm tiền hối hả moi ra từ thùng phước sương. Lời ăn lỗ chịu và kinh doanh kiểu thành hôn thì đa phần đều gạt lệ thua buồn. Thằng Út trước khi rời khỏi nhà hàng, vì trọng trách được uỷ thác, tuy say chếnh choáng cũng đủ dũng lược để trao vào tay anh cái máy tính bảng đã sắp lập trình chi ly, rất ư khoa học minh bạch bao mục phí tổn từ a tới z, rõ ràng như 2 + 2 = 4. Chị dâu của Út chỉ việc ngồi làm phép cộng, sau đó thì lấy số lớn mà trừ cho số nhỏ thì… rõ như ban ngày, không có gì ẩn nấp dưới ánh mặt trời.
Nhưng ban trưa, cái váy cưới cầu kỳ của cô dâu vô tình là nơi ẩn nấp của một chú sâu đi lạc. Bóng dâm mát mẻ hay do một mùi hương lạ rù quến để chú vui chân đi khám phá? Hơi bị nhột, lát sau hơi bị ngứa. Cô vừa ngồi xuống ở một triền cỏ mượt tạo dáng cho gã chụp hình luôn tay bấm máy. Thử dậm cẳng, thử khép chặt hai bắp đùi, thử nấp sau vai chồng đưa tay mang găng trắng muốt gãi nhẹ qua bao lần vải dày nhiều nếp gấp. Ui, sướng quá, nàng ngậm miệng chẳng biểu tỏ. Nếu công viên không bóng người, nàng sẽ lật tốc cái váy lên để bắt anh chồng son trẻ thò năm ngón vụng dại vào thăm dò cào cấu cho hả giận. Hình như chỗ ấy đã tấy sưng nụ nhỏ. Con mèo con chó có lông, con sâu cái kiến vẫn đông bụi bờ. Giá mà vắng ngắt như tờ, bà đây đờ đẫn tay rờ đùi sâu.
Trước khi nai nịt ra ôm chú rể chào đón khách để chụp hình lưu niệm, cô dâu trấn thủ trong nhà vệ sinh rõ lâu, chốt cửa lại, gát chân lên, vén áo và săm soi tì vết. Ơn trời, con sâu cái kiến này thuộc loại hiền, cắn mà chẳng nhiễm độc tấy sưng. Không phơi xác cũng chẳng rõ nó lưu lạc ẩn trốn ở vùng miền nào. Y phục vướng víu chứ không thì đã dội qua miếng nước cho mát mẻ, vệ sinh mụt nhọt nổi mận bất ngờ. Chàng có vẻ nóng ruột, phóng tia mắt mang nhiều tra vấn, chùm bông gắn bên ve áo vest coi mòi cũng buồn nhiều hơn vui tuỳ người đối diện. Nàng ghé tai thầm thì, em bị sâu cắn anh ạ! Hồi nào? Ở đâu? Khi trưa hết nằm đến ngồi tạo dáng ngoài công viên cỏ mượt ấy, bi chừ mới thấy nhức nhối gần chỗ nhạy cảm ấy. Anh có bị kiến cắn không? Bị em ngọt như cục đường vậy vẻ chi! Anh đâu đủ tư cách để chúng nặng lòng đến thăm. Nàng ôm bó hoa tươi áp vào trũng ngực, sau khi để mắt dòm chừng có loài ký sinh trùng nào ẩn thân. Chiếc áo khoét rộng cổ, thợ may khéo ở chỗ nó ôm chật chội vòng một làm tôn tạo những thứ cần phơi bày. Chàng từng tuyên bố hùng hồn, anh là thằng giặc Trung quốc bành trướng luôn muốn giữ chủ quyền hai hòn đảo bồng bềnh kia. Mai này con chúng ta mặc sức mà măm không lo thiếu hụt lương thực. Đồ quỷ nà! Nàng mắng chàng. Ba phần nũng nịu bảy phần khoan khoái. Ảnh nói vậy thôi chứ tui nào lạ gì miệng mồm ảnh, hư lắm, ham hố lắm, đa sự lắm lắm.
Nhà gái cử một người cực tín nhiệm trông coi cái thùng cạc-tông đựng lễ vật của bá tánh mừng ngày thành hôn đôi trẻ. Cái thùng ấy được bảo mật đem dấu thu sau khi biết chắc chẳng còn thực khách đến viếng và 1 giờ sáng nó được mang vào thang máy, lên tầng ba, vào phòng 301 nằm ngay trên đại sảnh của nhà hàng. 1.30 AM, cô dâu lột bỏ chiếc áo dạ vũ xuống, leo lên giường nệm dầy ngồi xé băng keo dán quanh thùng giấy. Cô hít hơi sâu, nghiêm túc như một nhân viên ngồi kiểm phiếu trong cuộc bầu cử tìm người tài giỏi cho liên bang nước nhà. Trong mỗi phong bao đa phần là tiền mặt, phần còn lại thì ký tấm ngân phiếu. Chú rể từ phòng tắm bước ra, phong phanh cái khăn lông quấn quanh bụng tợ mặc xà-rông thiếu vải. Cần anh phụ không? Chú nói rồi ngồi bên mép giường, chú lựa cái bì thư xem chừng hơi cộm phồng. Một tờ giấy học trò gấp làm tư nhét thêm ba tấm ảnh màu. Tay chú có hơi run: “Em yêu dấu, như thề nguyền, anh giữ lời bỏ đi xa để thế một lời chúc không thực lòng: Cầu mong em hạnh phúc. Đi xa có nghĩa là chết, chẳng biết anh có là bóng ma kỷ niệm mà em muốn quên. Anh thì mãi thương nhớ em, những tấm ảnh này là một bằng chứng. Hình bóng em đã ăn sâu vào trí não, vào con tim anh. Đi xa cũng không có nghĩa là chết, chỉ thoi thóp hụt hơi để trông đợi một bình minh biết đâu sẽ tới với đôi ta. Hôm nay ngày cưới em, năm sau đúng vào ngày này anh sẽ trở lại thành phố này, sẽ âm thầm dọ tìm ra tung tích em chẳng thể nào là bóng chim tăm cá. Dù em có trải qua hai ba đời chồng, anh tự hào mình là người đầu tiên, và hắn nguyện yêu em đến mãn đời. Người không thể gọi em bằng hai tiếng: Mình ơi!”
Ba tấm ảnh chụp cảnh nóng, cảnh bức xúc, cảnh đồi truỵ giữa cô dâu trần như nhộng (nằm dưới) đang giao hoan với một phản lưng bóng nhẫy mồ hôi mồ kê (nằm trên, không thấy mặt). Người nằm dưới chừng bỏ hết tinh thần, mọi giác quan vào cuộc truy hoan nên chẳng hay biết có một ống kính bí mật đang chạy ngấc tự động rec. Ba tấm này được cắt ra từ thước phim ám muội đó. Thành tâm mà nói, đứa gửi thư chẳng phải mang hậu ý tống tiền, nhưng rõ là chơi trò black mail vì tự cổ chí kim chưa ai đi mừng tiệc cưới bằng cái phong bì trời sầu đất thảm kiểu nọ. Chú rể xô cô dâu nằm ngửa ra nệm, hung hãn mạnh tay tuột nội y cô ấy ra. Anh làm gì thế? Say rồi à? Tôi muốn nhìn rõ chỗ ấy? Cô dâu vùng vẫy: Đã êm rồi, hết ngứa rồi, đã thoa kem rồi… Nếu nó không chảy máu thì có nghĩa… Thì đã bảo là con sâu này thuộc dạng hiền, không làm tấy sưng, khỏi nhờ anh gãi… Vậy ư? Tôi không gãi được vì đã có thằng khác hơn một lần làm sâu cắn đê mê, có đúng thế không?
Những tờ giấy bạc tung lên, vung vãi đầy tapis. Ba tấm ảnh cùng trang thư vẫn nằm chết lặng. Nước mắt cô dâu ướt đẫm và người chồng mới cưới say cơn phẫn hận, trút bao thù hằn xuống thân thể mãi co quắp, mãi đối kháng. Lạ lùng thay, khi chồng không xem đối tượng là vợ mình, trò cụp lạc chừng như diễn tới thiên thu. Chưa bao giờ, chữ động phòng lại mang đủ nội hàm đến vậy. Chăn chiếu tơi bời, tiếng rên la thế đồng hồ gõ nhịp: Đã ba giờ sáng. Thanh minh, kể rõ ngọn ngành, thú tội… ích gì cho buổi ấy! Lời hoặc lỗ cũng chưa tính xong sổ sách. Mai này anh đường anh tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi? Biết đâu đấy! Chuyện đại sự mà.
Nhớ Má đồng bưng, ruộng, vườn, rẫy bái, Chưn sình lầy, lúa nếp, cánh đồng mưa…
Chỉ với hai câu thơ thật giản dị trong bài Cặp đệm nắm xôi, Đoàn Xuân Thu đã khắc hoạ được hình ảnh một bà Má quê đơn sơ, nghèo khổ, đầu tắt mặt tối, vất vả trăm chiều. Nhịp điệu ngắt quãng và âm điệu trầm bổng của câu thơ còn khiến người đọc hình dung ra ngay sự tất bật, lặn hụp trong công việc đồng áng của Má giữa một khung cảnh mưa gió sụp sùi.
Má quê không phải chỉ vất vả trong công việc đồng áng mà còn phải quán xuyến tất cả mọi công việc trong gia đình. Cuộc sống Má suốt đời lận đận lo cho chồng, cho con như trong bài “Con vẫn muốn về quê gánh mận”:
Nhớ Má thương, suốt một đời lận đận; Lận đận theo chồng, lận đận nuôi con.
Hình ảnh Má luôn gắn liền với với chiếc áo bà ba sờn rách – một hình ảnh vừa cụ thể, vừa rất quen thuộc của những bà Má nghèo khổ nơi vùng quê sông nước miền Nam:
Con tha thiết gọi quê mình xứ mận! Má lấy chồng nghèo, chiếc áo bà ba, Vai áo bà ba sờn theo năm tháng, Con ra đời chiếc áo Má vá vai.
Chiếc áo vá vai ấy ngày một dầy thêm theo năm tháng và theo đà khôn lớn của con, bởi đôi vai của Má đã gánh vác tất cả những nỗi nhọc nhằn trong gia đình, trong sự nuôi dạy con cái:
Mụn vá dày, dày thêm, ngày con lớn: Tiền học hành, quần áo – Má – một tay…
Chiếc áo vá vai ấy không những là biểu tượng của quê nghèo, của những nỗi gian lao, vất vả, mà còn là của lòng hy sinh, sự tận tuỵ và tình thương con bao la không bờ bến của Má. Nó đã tạo nên một ấn tượng không thể phai nhoà trong tâm trí của con. Vì thế sau này, khi đã khôn lớn và có tiền gửi về cho Má may áo mới, con vẫn muốn giữ lại tấm áo kỷ niệm ngày xưa như giữ mãi chính hình ảnh của Má trong những tháng ngày vất vả nuôi con:
Tiền con gởi Má may áo mới, Giữ dùm con chiếc áo năm nào, Áo vá vai, nhớ ngày nhịn đói, Cắt rừng thăm, nuôi con… tù đày. (Ngã ba sông)
Ở vùng quê nghèo nên mọi thứ đều thô sơ, thiếu thốn. Không có nhà bảo sanh, Má sanh con tại nhà, cắt rún con bằng miểng chén. Con lớn lên Má nuôi con ăn học bằng “Cặp đệm, nắm xôi” do Má tự làm lấy. Kỷ niệm về nếp sống nghèo khổ ấy đã ăn sâu vào tâm trí của con đến nỗi sau này khi đi vào cuộc chiến, giữa tiếng bom đạn vang rền, con vẫn nghe đâu đấy âm thanh của nhịp chày giã cỏ bàng đương cặp đệm ngày xưa của Má:
Con lớn lên, con đi vào chiến trận, Hành quân hoài mấy bận lội đồng bưng. Sao vòng vọng nhịp chày xưa, Má giã?! Giã cỏ bàng, đương cặp đệm, nhớ thương!
Cũng như bao người Mẹ hiền khác, mặc dù nghèo khổ, thiếu thốn, Má đã dành cho con tất cả những gì tốt đẹp nhất, những món ăn ngon nhất Má có được. Hình ảnh Má trong ca dao “Mẹ già như chuối ba hương, như xôi nếp một, như đường mía lau” đã được nhà thơ vận dụng thật khéo léo, tài tình trong hoàn cảnh riêng của mình:
Suốt một thời thơ ấu con mang theo: Cặp đệm Má đương, nắm xôi Má nấu. Xôi nếp một, bếp bình minh khói toả, Đường mía lau thơm, vị ngọt quê nghèo!
Những sự vật giản dị, bình thường nhất trong cuộc sống nơi quê nghèo bỗng hiện lên đẹp đẽ lạ thường trong đoạn thơ! Đó cũng chính là nét đẹp đầm ấm, an hoà của quê hưong mình trong thời thái bình ngày trước, nơi đó tuổi thơ của con đã êm đềm trôi qua trong sự bảo bọc dịu dàng của Má. Đó chính là nét vàng son của một thời đã qua mà con sẽ không bao giờ tìm lại được. Và cũng như tiếng chày xưa đã để lại dấu ấn khó phai mờ, thì nắm xôi Má nấu cũng đã đi vào các bữa ăn trong cuộc sống đời thường của con, lúc ấm êm cũng như khi gian khó:
Chiều dừng quân, trợn trạo lùa cơm sấy, Con bùi ngùi, nhớ lại nắm xôi xưa. (Cặp đệm nắm xôi)
Nhà mình nghèo, Má lo cho con sao cho đủ ăn cũng vất vả, chật vật lắm rồi. Đó là lý do tại sao sau này miếng ăn đã gợi cho con nhớ Má nhiều đến như thế. Không phải chỉ có “nắm xôi nếp” gợi nhớ, mà tất cả những món ăn khác của Má nơi quê nghèo. Các món ăn đạm bạc, tôm tép Má xúc ngoài mương rạch và rau trái Má trồng quanh nhà đã khiến con nhớ mãi. Vì thế, nhớ Má cũng là nhớ đến hương vị đậm đà của quê hương:
Chiều cuối năm nhớ nhà, nhớ tết, Tép rang mằn mặn, canh mồng tơi, Năm tận, tháng cùng, ngày sắp hết, Lệ chan cơm buồn lắm Má ơi! (Ngã ba sông)
Nhà mình nghèo, nên mặc dù là con nhà vườn, con chỉ được hái trái mận đèo để ăn, còn mận đẹp để làm mặt, đem bán. Có thể ngày ấy con chưa hiểu, nhưng sau này con càng thấy thấm thía và thương Má nhiều hơn:
Lê, táo quê người ăn sao xốp xộp, Trái mận đèo, con cắn, bộp – dòn tan. Trái mận đèo! Má cho con được hái, “Nhà mình nghèo; mận mặt bán người ta!” (Con vẫn muốn về quê gánh mận)
Nhất là sau này khi đã lìa xa quê hương, sống ở xứ người ê hề những lê cùng táo, thì chính trái mận đèo lại gợi nhớ đến Má biết bao! Nó làm con liên tưởng đến hình ảnh Má trong những ngày cuối đời: già yếu, run rẩy trong gió mưa cuộc đời:
Con thấy Má, áo bà ba lẩy bẩy, Như trái mận đèo, run rẩy trong mưa! (Con vẫn muốn về quê gánh mận)
Hình ảnh Má càng trở nên lung linh, chập chờn trong ngấn lệ rưng rưng của con:
Má đồng bưng rưng rưng tình mẫu tử, Thương Má nhiều, thương cặp đệm, nắm xôi! (Cặp đệm nắm xôi)
Thương Má nhiều nhưng con vẫn phải dứt áo ra đi. Đó là bi kịch của cuộc đời, là nghịch lý trong cuộc sống Má từng gánh chịu. Má biết thế, nên âm thầm, nhẫn nhục chịu đựng và chấp nhận hy sinh. Bởi Má hiểu tương lai, hạnh phúc của con chính là nguồn vui của Má, là chính cuộc sống của Má:
Vào chỗ chết tìm ra chỗ sống, Tử biệt buồn hay nỗi sanh ly? Thuyền ra biển, ngàn trùng biển sóng, Vỗ ngàn sao – dõi mắt con đi. (Ngã ba sông)
Để rồi từ đó lòng Má vẫn không nguôi thương nhớ con xa. Má mòn mỏi mong chờ, đêm đêm ngọn đèn chong mắt trông ngóng tin con cho đến khi khô dầu, lụi bấc:
Xưa bến cũ con đi; Nay bến cũ con về. Mòn mỏi Má đợi mong, Trong sức tàn, lực kiệt: Đèn khô dầu, lụi bấc Đôi mắt khép lại rồi!
Ôi, tình Má thương con! Bao la và mãnh liệt quá đi thôi! Nó vượt qua cả giới hạn của sự sống chết. Má không chỉ thương con lúc còn sống mà cả khi Má đã qua đời. Đôi mắt Má giờ đã khép lại, nhưng lòng thương nhớ, mong đợi con vẫn rộng mở, vẫn thăng hoa. Vong linh Má có lúc vươn xa tít tận trời, như đang tìm kiếm đứa con xa:
Ôi Má ơi! Cả trời thương sụp đổ. “Con không kịp về, giờ phút cuối, Má thương ơi!”
… Ngôi vườn cũ ai sẽ ngồi đốt lá? Khói lên trời tìm kiếm đứa con xa. (Chuông ơi đừng reo nữa!)
Có lúc Má lại quanh quất thật gần, như vẫn còn đang quấn quít, ấp ủ, không muốn rời xa con:
Ôi! Má của con, Má của con! Từ nay thôi chắc chẳng còn ai thương con như thế nữa? Bếp lửa chiều hôm chợt tắt rồi, Mờ bóng Má chập chờn trên vách lá, Má về đâu? sinh, tử: cõi vô thường. (Nhận của con nếu có chỉ là thơ)
Và khi Ngọn đèn chong mắt đã tắt, Má đã ra đi, để lại trong con cả một trời thương nhớ. Má mất rồi! Má đã thực sự trở về với Đất Mẹ, với Quê Hương, bởi “má là quê hương, quê hương là má” (Chuông ơi đừng reo nữa!). Bây giờ con đã hiểu tại sao mỗi khi con thiết tha nhớ Má, con lại càng quay quắt nhớ quê nhà mình. Cái gia tài lớn nhất Má dành để lại cho con chính là Quê Hương. Nơi quê hương ấy là cả một trời nắng ấm, ấm áp tình Má thương con. Nơi quê hương ấy, có những ngày tháng êm đềm, gợi cho con nhớ bao kỷ niệm thân thương bên Má. Nơi quê hương ấy, bên những dòng nước phù sa uốn quanh, những mảnh vườn sum suê cây trái, những cánh đồng lúa mênh mông, vẫn còn hằn sâu dấu chân cò lặn lội, một đời tận tuỵ, vất vả, hy sinh của Má – của những bà Mẹ Việt Nam:
Con đã qua mùa đông quê người lạnh thấu xương! để con nhớ quê nhà ta cả một trời nắng ấm.
Con đã qua mùa hạ quê người cháy rát da! để con nhớ quê nhà ta cuối năm trời chớm lạnh;
Đất quê người, thân con, đời cô quạnh, Tha thiết hoài, nỗi nhớ Má, thương Quê.
Năm 75, đang là sinh viên ban SPCN (Science, Physic, Chimie, Naturel) Lý Hóa Vạn Vật. Đại học Khoa học Sài Gòn em tính thi vô trường Đại học Y Khoa để làm Bác sĩ. Thì miền Nam mến yêu của tụi mình sập tiệm. VC vô bắt em phải đi đào kinh, vét mương để trở thành giai cấp lao động. Học làm Bác sĩ, chuyên chích đít mấy anh mình mà bắt ‘bà’ phải học đào kinh để làm cái giống gì? Bị mấy đứa quần nilon dầu ‘quần’ tối tăm mặt mũi như vậy phần nếu cứ cà nhỏng chống xâm lăng; sợ VC bắt lấy thương binh cùi đui sứt mẻ của nó là bỏ bu nên Tía em nói ưng nó phứt cho rồi. Dẫu sao nó cũng là thằng có học tới Tú tài hai! Vậy là em nhắm mắt đưa chân ra lấy thằng chả. Mặn nồng hương lửa, diễn Nôm là ‘tù ti tú tí’, chưa được đầy năm thì Má ảnh, tức bà già chồng của em, gom đâu được mấy cây vàng tiệm Thế Tài đưa cho em, nói thôi hai đứa bây dông đi mới có tương lai. Tía Má già rồi đành ở lại mà chịu trận. Phước đức ông bà để lại sau một tuần lênh đênh trên biển thì tới được Pulau Bidong, Mã Lai. ‘Giả’ xưa đâu có lính tráng gì nên lọt sổ; vì phái đoàn Mỹ ưu tiên lãnh mấy anh bạn lính đồng minh của nó. Đành phải đi nước Úc của Kangaroo. Dù nghe nói bên Úc mùa Đông lạnh quéo, râu xụi lơ, nhưng đi cho rồi để đảo trống chỗ cho bà con mình mới tới nữa chớ!
Những năm đầu tiên ở Melbourne cũng vất vả, bận rộn thiệt nhưng hạnh phúc; vì hổng có thời giờ mà cãi lộn. Nói hổng cãi nhau là không có chính xác. Cũng có một vài lần. Và lần nào cũng vậy, thằng cha cà chớn lửa nầy, ỷ mình độc quyền ‘cầm’, làm nư, mang cái mền dầy cui ra salon ngủ mình ên, bỏ em ở lại một mình trong phòng hoa chúc với cái chăn đơn! Mà bà con biết mà mùa đông Úc Châu nó lạnh trong xương lạnh ra; mà ‘giả’ chơi cha mang cái lò sưởi 37 độ rưỡi đi, bỏ em cô quạnh, để buồn nào hơn đêm nay khi ngoài kia bão tuyết đầy Trời?! Lửa hờn căm của em đã nhen lên từ độ ấy! Em hy sinh làm ‘cleaner’, tức công nhân vệ sinh cho ảnh đi làm ‘cụ’ sinh viên! Sau đó, em thu xếp để vừa học vừa làm, chớ đường đường là một nữ sinh viên đài các SPCN mà lau bàn, quét rác hoài coi sao được nè?! Trời thương cho hai kẻ nghèo nhưng bền chí phấn đấu! ‘Giả’ ra trường, làm chuyên viên điện toán chuyên thảo phần mềm chống bọn’ hacker’, tức tin tặc! Em học xong làm việc cho ngân hàng, chuyên dụ người ta mượn tiền mua nhà để em ăn hoa hồng…
Cuộc sống ổn định, em sinh con. Đứa con trai đầu lòng ra đời chưa bao lâu thì gia đình lủng củng, bắt đầu cãi nhau, trước ít sau nhiều… Và những khác biệt về ý thích, cá tính bắt đầu lộ ra, tình ta rã bèn như đồ vàng mã gặp mưa rào. ‘Giả’ hiện nguyên hình bản tính phát xít như ‘Mussolini’, độc tài như ‘Stalin’, điên loạn như ‘Hitler’ và bốc phét như ‘Mao Trạch Đông’! Thằng chả còn tuyên bố láo lếu như vầy: “Chân lý chính là ta!” (Cứ tưởng mình là Hoàng đế Caesar thời cổ đại La Mã không bằng!) Lấn tới hổng được thì em đành phải thụt lui. Việc tranh cãi giữa hai vợ chồng như chạy chiếc xe trên con đường rất hẹp. ‘Giả’ chắn đường, nếu mình sấn tới tất đụng, hư móp cả hai. Thôi đành gài số ‘R’ mà de lại. Thấy em nhịn thằng chả cứ lấn tới, lấn sát mé giường luôn! Hổng lẽ chịu rớt xuống sàn, đành để cho ‘giả’ chấm tọa độ! Không đi lính mà ‘giả’ có khiếu như đề lô pháo binh vậy. “Em ơi đừng lấy Pháo Binh. Đêm đêm nó pháo rung rinh cả giường!” Kết quả là em tọt thêm một đứa nữa! Thêm con, thêm đầu bù tóc rối rồi cũng thêm xung đột vợ chồng! Giờ như cơm bữa. Ngày nào không có gây là coi như bữa cơm đó mất ngon! Chỉ an ủi là ‘giả’ không có máu bạo động! Hay có lẽ quánh vợ ở Úc nầy, bạo hành gia đình, là bị lính bắt nên ‘giả’ sợ chăng?! Không dám xuống tay động thủ nhưng hay động mỏ, ác khẩu thôi hết biết! Thằng chả không biết rằng chửi vợ cũng là bạo hành đó! (Mấy bà nhân viên xã hội dạy em như thế!) Thằng chả rất tự hào vì có lối nói làm ai nghe phải tức đến hộc máu mồm…
Nói tới CS là thằng chả ghét cay ghét đắng nhưng ‘giả’ lại có đủ tính xấu của Cộng sản: tàn nhẫn, độc tài và chuyên chính! Tự coi mình là người duy nhất đúng: “Duy ngã độc tôn!” Mỗi lần thuyết trình đề tài gì cho em nghe, thay vì kính thưa kính gửi má bầy trẻ thì thằng chả lại chửi và có lúc chửi thề; thiệt làm ê chề cho cái tiếng Việt của quê mình ghê! Cãi nhau với em, ‘giả’ gầm thét như hổ nhớ rừng của Thế Lữ vậy! (Là bài thơ tủ của thằng chả!) Một lần có bạn ‘ní’ đến nhậu tại nhà, em nói để em xào cho vài món đưa cay thì ‘giả’ gạt phăng đi… “Em chỉ biết nấu ăn chớ không biết làm đồ nhậu?! Để đó cho ta!” Làm 5, 10 chai beer, là phởn lên: “Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt. Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua. Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ. Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm …Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm. Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi. Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi. Với cặp báo chuồng bên vô tư lự”
Chính vì nghĩ mình là Cọp, nên ‘giả’ luôn kiêu căng, tự phụ, mở miệng chê bai người này ngu, kẻ kia dốt, óc đặc, óc tàu hủ… Bản tính ‘giả’ vốn không chấp nhận phê bình, chỉ trích hoặc khuyên răn gì ráo, nhiều lúc em chỉ nhận xét nhẹ nhàng (như búa bổ) nhưng ‘giả’ cảm thấy thương tổn và chỉ chờ dịp để sỉ vả em rất nặng lời. Khi thằng nhỏ con em được 3 tuổi, trong một lần cãi vã, ‘giả’ nói: ‘Mother in law’ (má đơ in lo) lúc nào cũng phải lo! (Chẳng qua em có lén gởi về má em chỉ có hai ngàn đô để ăn trầu. Thằng chả xót của quá, nên phát biểu linh tinh!) Đấy là giọt nước làm tràn cái ly đã đầy. Chút tình cảm vợ chồng còn sót lại trong em hoàn toàn nguội tắt. Người ta nói dâu hiền rể thảo. Nhưng rể nầy là rễ đu đủ! Em bèn ra luật sư để làm thủ tục ly dị. Luật sư khoái quá, hối em ký lẹ lẹ lên đi! Nhưng em nhìn hai đứa con thơ, chúng có tội tình gì mà phải chịu mồ côi khi cha chúng còn sờ sờ ra đó. (Còn ăn, còn nhậu, còn nói dóc tưng bừng!) Ly dị rồi lỡ có con ‘ngựa bà’ khác nhào vô ‘giả’ thì sao? Đâu có được nè! Vậy là em ngoe ngoảy ra về, tiếp tục ở nữa, dù ông Luật sư mất mối, mặt buồn xo như cái bánh bao chiều! Vậy là tiếp tục chịu đựng, vì tình yêu đã đội nón lá ra đi, cuộc sống bên lề đời nhau thật là nhạt hơn nước ốc. Hu hu! (Trích nhựt ký cùa em yêu! He he)
“* Mến tặng các đồng đội thân thương của tôi thuộc Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù. ** Như một lời tạ lỗi gởi đến linh hồn Nguyễn Quang Trí, thuộc trung đội 3, Đại Đội 84, Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, đã tử trận trên chiến trường Thường Đức, Quảng Nam, tháng 8 năm 1974.”
Trại Trần Quí Mai, hậu cứ của Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, chấn ngay vào một ngã tư đường. Con đường chính của trại Hoàng Hoa Thám chạy từ cổng A của Sư Đoàn Nhảy Dù, qua bộ tư lệnh, cải hối thất, sân vận động với những khẩu pháo 130ly và xe tăng T54 tịch thu được của địch trưng bày dọc theo sân cỏ, sau đó cắt ngang một con đường khác chạy đến từ phía cổng Phi Long. Nơi giao nhau của hai con đường này chính là hậu cứ của một Tiểu Đoàn Nhảy Dù mang huy hiệu con ngựa bay nổi lên trên một chiếc dù, ở giữa hằn lên con số 8, Gia Đình Bác Tám. Nếu đi từ cổng Phi Long, con đường chạy xuyên qua một khu vực rộng lớn của căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, khi qua khỏi góc tử sĩ đường thì bước chân bỗng nhiên từ từ chậm lại, vì phía trước mặt một vọng gác nhô ra sát ven đường, thấp thoáng có bóng dáng một người lính với quân phục Nhảy Dù, vai đeo súng đang đứng gác. Đây là ranh giới cuối cùng không thể vượt qua, hậu cứ Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù. Góc bên phải của ngã tư đường là dãy nhà của bộ chỉ huy tiểu đoàn và Đại Đội 80, đầu dãy nhà là phòng sĩ quan trực. Cặp bên tay phải là những dãy nhà của các Đại Đội 81, 82, 83, không thấy lán trại của Đại Đội 84 ở nơi đây. Sau khi băng qua khỏi ngã tư, con đường sẽ dẫn đến khu nhà thờ, khu trại gia binh của Tiểu Đoàn 8 ND và Tiểu Đoàn 9 ND, rẽ sang bên phải sẽ dẫn đến khu chợ Sư Đoàn với hàng quán ồn ào, nhộn nhịp. Thằng em 84 đã được ngắt ra, đẩy tuốt xuống cuối con đường chính của căn cứ Hoàng Hoa Thám. Đầu con đường là cổng A của Sư Đoàn, cuối con đường là Khối Bổ Xung tiếp giáp với bên Không Quân, lán trại của Đại Đội 84 nằm sát bên Khối Bổ Xung. Càng xa mặt trời chừng nào lại càng mát mẻ chừng nấy. Tổ ấm của Đại Đội 84 là dãy nhà tôn, đầu dãy là một nhà thủy tạ, chính giữa dãy nhà là văn phòng của Đại đội trưởng. Trong căn phòng Đại đội trưởng, đơn sơ một cái bàn, vài ba cái ghế đã mốc meo, anh chàng hậu cứ vừa mới lau chùi vội vã nên còn nhiều chỗ bụi bặm đóng thành từng mảng. Hành quân liên miên, đã hơn 2 năm mới được trở về thăm lại chốn xưa, mạng nhện, ổ chuột lúc nhúc cũng đúng thôi. Trên vách tường treo khung hình của Tướng Trương Quang Ân, vị Tiểu Đoàn trưởng đầu tiên của Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù. Một ít chiến lợi phẩm được gắn trên bức tường, lá cờ của mặt trận giải phóng, chiếc nón cối kiểu xưa, giây đạn có bi đông nước, một khẩu súng AK báng xếp, những món đồ này tịch thu được trong một trận đánh nào đó đã đi vào dĩ vãng xa xưa. Trước mặt lán trại là một bãi cỏ tương đối rộng, nơi tập họp của đại đội. Ba lô súng đạn của từng trung đội xếp theo hàng lối thứ tự ngay trên sân cỏ. Tiểu Đoàn về hậu cứ nghỉ dưỡng quân, chỉnh bị đơn vị sau hơn 2 năm lăn lộn trên các chiến trường, từ mặt trận An Lộc, qua cuộc hành quân đẫm máu tái chiếm Quảng Trị, rồi đến giai đoạn nằm giữ đất dọc theo sườn phía tây của Quốc lộ 1, từ Quảng Trị xuống tận Thừa Thiên. Về nghỉ dưỡng quân mà ba lô súng đạn lúc nào cũng sẵn sàng trước sân đại đội, Nhảy Dù ơi, ai đày đọa mà sao mi khổ như rứa. Nhìn thấy mặt mũi hậu cứ, dù chỉ một lần trong đời, cũng là hạnh phúc lắm rồi. Có những người lính Nhảy Dù đến lúc chết mà vẫn chưa biết hậu cứ đơn vị của mình nằm ở đâu. Mãn khóa huấn luyện quân trường, tình nguyện về Sư Đoàn Nhảy Dù, tốt nghiệp khoá dù, về Khối Bổ Xung nằm chờ phân phối đi các tiểu đoàn tác chiến, ra đơn vị dấn thân vào các cuộc hành quân, chết. Vậy là lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn chưa biết được hậu cứ của mình nằm ở nơi đâu. Huỳnh Ánh tham dự trận đánh An Lộc với cấp bậc binh nhì. Rời An Lộc, hành quân ngay ra miền địa đầu giới tuyến trong chiến dịch tái chiếm Quảng Trị thân yêu. Bao nỗi nhọc nhằn hiểm nguy, bao nhiêu lần đối diện với cái chết chỉ trong gang tấc, trời thương nên Huỳnh Ánh vẫn còn sống đến ngày hôm nay, trên cánh tay áo nay đã mang lon hạ sĩ nhất. Sau hơn hai năm ngụp lội trong trận mạc, lần này theo đơn vị về Sài Gòn nghỉ dưỡng quân, Huỳnh Ánh mới được nhìn thấy lần đầu tiên hậu cứ của mình, ngỡ ngàng trong hạnh phúc. Từ cấp bậc binh nhì lên tới hạ sĩ nhất, hơn hai năm quần thảo trên chiến trường, Huỳnh Ánh chưa bao giờ được nhìn thấy mặt mũi của tờ giấy phép dài ngắn ra sao. Trên cuộc đời này đầy rẫy những điều vô lý, người ta áp dụng triệt để câu “dụng nhân như dụng mộc”, cấp dưới được xem là cỏ cây, cỏ cây thì làm gì có tình cảm, vậy thì cần gì phải đi phép. K’Stul, người của miền núi, quê quán ở Pleiku, tướng tá cao to, K’Stul có sức khoẻ hơn người nên luôn luôn được giao cho khẩu đại liên M60. Đã hai năm qua, khẩu M60 của K’Stul đã gây bao nhiêu giông gió cho địch quân trên khắp các chiến trường ác liệt, anh chàng đen thui, ít nói này chắc có lẽ cũng thuộc loại vô cảm nên chưa bao giờ được ban cho tờ giấy phép. Nhưng một hôm, bất ngờ K’Stul hắt ra nỗi niềm: – Thiếu úy, em nhớ nhà quá thiếu úy ơi. Đi từ cấp bậc binh nhì lên đến hạ sĩ nhất mà vẫn chưa được nếm mùi những ngày phép, lần này toàn bộ tiểu đoàn về hậu cứ nghỉ dưỡng quân, anh em thay phiên nhau đi phép, hạ sĩ nhất Huỳnh Ánh đừng có than thở gì nữa nhé, lính Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù lấy ngày bị thương nằm bệnh viện làm ngày nghỉ phép. Những ngày tiểu đoàn về hậu cứ nghỉ dưỡng quân thật là vui, vui hơn ba ngày tết, vui hơn bao giờ hết. Anh em nào có giấy phép thì về thăm gia đình, ai ở lại đơn vị thì xuống khu chợ Sư Đoàn, café, bia rượu, thôi thì thứ nào cũng có. Nhậu lai rai thì cũng phải nhớ giờ giấc trở về đại đội điểm danh quân số, lau chùi vũ khí. Anh em Tiểu Đoàn 8 ND lại được thưởng thức một buổi văn nghệ thật đặc sắc, do công thu xếp của Thiếu úy Nguyễn Quốc Hùng. Các cô ca sĩ mặt mũi xinh đẹp, tươi như hoa, giọng hát của các cô nghe thật tuyệt vời, khác hẳn với giọng ca trên làn sóng radio nghe được từ bên dưới giao thông hào khi còn đóng quân trên miền hỏa tuyến. Ban văn nghệ vừa chơi được vài tiết mục thì anh em bắt đầu ngứa ngáy chân tay, khều nhau ra nhảy đầm. Anh em được dịp thử lại bước đi của mình, hơi vụng về một chút thì có sao đâu, anh chàng Lô Vinh Hải của Trung đội 1, Đại Đội 84, bước ra sàn nhảy với chiếc mũ đỏ giắt trên cầu vai, Hải nhảy thật điệu nghệ trong bản “Sầu đông”. Anh em Tiểu Đoàn 8 ND lại đóng góp cho phần văn nghệ thêm phong phú bằng những bản nhạc đang thịnh hành thời bấy giờ, ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay, tâm sự ấy đã gắn liền theo người lính trên mọi nẻo quân hành, nghe thật xúc động. Đúng là ngày vui qua mau, anh em Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù chưa kịp thưởng thức trọn vẹn những ngày nghỉ dưỡng quân thì đã có lệnh cấm trại 100%. Các Đại đội trưởng ngưng ký giấy phép, đơn vị điểm danh quân số một ngày năm bảy lần, các quân nhân được lệnh hạn chế ra khỏi doanh trại. Vũ khí, quân trang quân dụng được kiểm kê chi tiết, bổ xung đầy đủ. Mọi người xì xào bàn tán, trận đánh này chắc chắn sẽ dữ dội lắm, nhưng ở nơi đâu thì không ai đoán được. Hắn đang tháo bung khẩu súng M16 để lau chùi thì Nguyễn Quang Trí bước lại gần, ngập ngừng nói: – Thiếu úy… Hắn ngẩng đầu lên, rồi lại cúi xuống tiếp tục công việc: – Có gì không Trí, cứ nói đi. – Bữa nay thiếu úy cho em chuồn về nhà… – Tiểu Đoàn cấm quân 100% rồi mà, Trí không biết sao? – Dạ biết, nhưng mà… Hắn ngước lên nhìn, Nguyễn Quang Trí tăng cường về trung đội được vài tuần lễ trước khi tiểu đoàn về hậu cứ nghỉ dưỡng quân. Trí còn trẻ lắm, lính mới ra lò từ quân trường mà, mồ hôi quân trường chưa đủ mặn để xóa bớt đi nét học trò còn vương trong đôi mắt sáng long lanh. Trí im lặng không dám nói thêm khi thấy Trung đội trưởng mặt đen xì, râu ria lởm chởm đang chiếu tướng nhìn mình. Nhưng giọng nói của Trung đội trưởng thì lại hiền lành chứ không dữ dằn như trên khuôn mặt: – Kẹt chuyện gì thì Trí cứ nói ra, biết đâu tôi có thể giúp được. – Dạ… em có lỡ hẹn với cô bạn gái cùng lớp bữa nay đi ăn kem, không ngờ lệnh cấm trại… Tự dưng trong đầu hắn liên tưởng đến câu hát, “có những người đi không về, xa xôi rồi quên ước thề”. – Chuyện nhỏ mà, nhưng lúc này an ninh tăng cường chặt chẽ lắm, làm sao Trí dù ra ngoài được. – Không sao đâu thiếu úy, em có bằng… Dù rồi mà. Em leo hàng rào phía bên cổng C, hôm trước em có chuồn bằng đường đó một lần rồi. – Ừ, đi cẩn thận, ngày mai nhớ trở lại nghe. Lính Nhảy Dù đã từng nhảy từ trên máy bay xuống đất thì trên đời này còn có hàng rào nào có thể cản được bước chân… dù. Lại có những người lính Nhảy Dù không thích xin phép thiếu tá Rào, anh em đi thẳng từ doanh trại sang bên kia phi trường Tân Sơn Nhất, lúc đi ngang qua cổng Phi Long còn tủm tỉm cười. Anh em Quân cảnh Không Quân vốn đã có nhiều thiện cảm với binh chủng Nhảy Dù nên dễ dàng ngó lơ để anh em thoải mái. Đại Đội 204 Quân Cảnh Nhảy Dù tuyển quân từ các tiểu đoàn [Nhảy Dù] tác chiến. Họ là những người đã từng chiến đấu, đã từng vào sinh ra tử ngoài mặt trận, tướng tá cao lớn bặm trợn, có tinh thần kỷ luật cao. Khi được rút về làm công tác giữ gìn an ninh, duy trì kỷ luật cho binh chủng thì họ chu toàn nhiệm vụ rất hoàn hảo. Họ hiểu rõ tâm tư tình cảm của những người lính tác chiến khi trở về thành phố, họ đã từng cảm được cái đau đớn khi nhìn thấy đồng đội ngã xuống trên chiến trường, thế nên họ ứng xử mền dẻo, linh hoạt trong cách giải quyết vấn đề. Nếu vi phạm không trầm trọng lắm thì họ mời lên xe quân cảnh, chạy ra một khúc đường vắng, ngừng xe và thả anh em xuống sau khi đã lịch sự dặn dò khuyên can. Ngược lại, anh em thấy những người Quân cảnh 204 của mình đều là dân thứ thiệt nên cũng có phần kính trọng nể nang, bớt đi những vi phạm phép tắc luật lệ. Tiếc thay, về sau này có những người lính Quân cảnh 204 mặt mũi non choẹt, thước tấc chỉ đứng tới ngang vai người ta mà dám hống hách nạt nộ những người lính từ mặt trận trở về, thật là dễ chết. Buổi chiều ngày hôm sau, lúc đi ngang qua cổng A của Sư Đoàn, nhìn qua bên kia đường, thấy trước cửa một quán giải khát có đôi nam nữ đang bịn rịn chia tay, nhìn thoáng qua hắn nhận ra được ngay Nguyễn Quang Trí. Nguyễn Quang Trí đã trở về đơn vị đúng hẹn, cái cảm giác thương yêu tiếc nuối lúc chia tay chắc sầu thảm lắm, biết làm sao hơn khi đã lỡ sinh ra trong thời chinh chiến. Khi bước vào sân đại đội, hắn ngạc nhiên khi thấy rất đông anh em đang quây quần uống rượu trên những tấm poncho trải lên trên sân cỏ, ai nấy mặt mũi đỏ gay, vài người đã có vẻ lờ đờ. Hạ sĩ Trương Tiến Thành nâng ly rượu lên, chào hắn: – Thiếu úy, uống với tụi em một ly. – Cám ơn, anh em cứ uống tự nhiên, tôi có chút việc phải làm. Trung sĩ Nguyễn Bê có vẻ ngần ngại: – Thiếu úy thông cảm cho tụi em uống say một bữa, ngày mai ra trận biết còn sống hay không để mà trở về. Hắn lướt đôi mắt nhìn những khuôn mặt thân thương của anh em, chiến trận nay mai sẽ nổ ra rất lớn, rất ác liệt, chắc chắn sẽ có những người ra đi không trở lại, sẽ là ai trong những khuôn mặt đang hiện diện ở nơi đây. Có lẽ thần chết đã có sẵn một danh sách trong cuốn sổ bìa đen, hắn ngập ngừng khi nghĩ đến tên tuổi của hắn… Sáng sớm ngày hôm sau, lúc mọi người còn đang mơ màng trong giấc ngủ thì tiếng còi tập họp ré lên giận dữ, anh em chồm dậy, vội vã đánh răng rửa mặt, làm vệ sinh cá nhân. Nhìn ra bên ngoài hàng rào của đại đội, đoàn xe quân vận đã đến từ lúc nào, lặng im chờ đợi dưới hàng cây ven đường. Toàn bộ đại đội tập họp trên sân cỏ, từng trung đội xếp hàng, nhưng không được chỉnh tề cho lắm vì có người quắc cần câu chiều hôm qua vẫn chưa tỉnh rượu, tuy đứng nghiêm mà vẫn còn ngả tới ngả lui. Lần lượt các Trung đội trưởng báo cáo quân số tại hàng, tình hình vũ khí đạn dược. Đại úy Đại đội trưởng Đồng Văn Minh hôm nay khuôn mặt khó coi, bước tới bước lui có vẻ bực bội lắm, một số anh em vẫn chưa kịp trở về. Lệnh từ bộ chỉ huy tiểu đoàn đưa xuống, đại đội lên xe di chuyển tập trung về tiểu đoàn, sau đó toàn bộ Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù được đưa sang phi trường Tân Sơn Nhất. Trên phi đạo, những chiếc vận tải cơ C130 trong tư thế sẵn sàng nhận hàng, bửng sau của phi cơ đã hạ xuống, nhìn lên khoang tàu thấy trống trơn. Lính Nhảy Dù nhanh chóng được dồn lên phi cơ, nhân viên phi hành không đếm người, cứ dồn lên, còn chỗ trống thì cứ đẩy người lên, hết chỗ thì mới thôi. Đúng là đưa người vào chỗ chết nên chẳng cần tuân thủ nguyên tắc hay luật lệ an phi gì cả. Thật là khác hẳn so với chuyến bay chuyển vận tiểu đoàn từ phi trường Phú Bài về Sài Gòn nghỉ dưỡng quân, lần ấy người ta đếm từng người một, tuân thủ rất bài bản mọi thủ tục, nguyên tắc. Một vài anh em do uống rượu quá nhiều vào tối hôm qua nên đã ói mửa ra sàn phi cơ, cũng chẳng thấy ai phàn nàn điều gì. Ngày hôm nay, anh em Nhảy Dù được đưa vào chốn tử sinh, lấy thân xác của mình dựng lên bức tường che chắn cho hậu phương có được những ngày an toàn êm ấm. Gần một tiếng rưỡi đồng hồ sau, máy bay đã bắt đầu làm vòng trên phi trường Đà Nẵng chuẩn bị hạ cánh. Bánh đáp vừa ngừng lăn thì bửng sau của máy bay đã vội vã hạ xuống. Nhìn xuống bên lề phi đạo, một dãy quan tài đã xếp hàng chờ sẵn, chuẩn bị chuyển lên máy bay. Vừa bước xuống phi cơ, anh em Nhảy Dù đã nghe thấy tiếng đạn pháo ì ầm từ xa vọng lại, làm cho nắng phi trường càng thêm ngột ngạt, khô khan. Đoàn xe quân vận bốc ngay Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù vào vùng hành quân, chiều hôm ấy tiểu đoàn đã tạm dừng quân trên địa bàn quận Hiếu Đức, tỉnh Quảng Nam, các đại đội tổ chức phòng ngự qua đêm. Buổi sáng vừa mới tập họp điểm danh trước sân đại đội trong trại Hoàng Hoa Thám, buổi chiều đã có mặt ngay trong vùng lửa đạn, ngẫm nghĩ thấy như một giấc ngủ trưa mộng mị. Các Tiểu Đoàn 1ND, Tiểu Đoàn 8ND, Tiểu Đoàn 9ND, và Tiểu Đoàn 1 Pháo Dù thuộc Lữ Đoàn I Nhảy Dù nhanh chóng được gởi ngay vào mặt trận để chận đứng các mũi tiến công của địch quân sau khi đã nuốt chửng quận lỵ Thường Đức, đang tràn xuống quận Đại Lộc, uy hiếp Đà Nẵng. Ngày hôm sau, Tiểu Đoàn 8 ND được chuyển vận sâu vào Đại Lộc, đoàn xe vừa tới ngã ba Ái Nghĩa, quẹo phải hướng về Ba Khe thì đã nghe tiếng đại bác 130ly của địch bắn rải trên Liên tỉnh lộ số 4, con đường nối liền Đà Nẵng vào Thường Đức. Tiểu Đoàn đổ quân xuống ven đường, triển khai đội hình tác chiến, bắt đầu sào bài nhập cuộc.
Tiểu Đoàn 8 ND vào trận Thường Đức:
– Tiểu Đoàn trưởng: Thiếu tá Nguyễn Quang Vân. – Tiểu Đoàn phó: Thiếu tá Trần Toán. – Trưởng ban 3: Đại úy Trần Cao Khoan. – Đại đội trưởng ĐĐ81: Đại úy Võ Thế Hùng. – Đại đội trưởng ĐĐ82: Trung úy Đỗ Việt Hùng. – Đại đội trưởng ĐĐ83: Đại úy Phan Văn Hiệu. – Đại đội trưởng ĐĐ84: Đại úy Đồng Văn Minh. – Đại đội trưởng ĐĐ Đa Năng: Trung úy Trần Đình Ngọc.
Đại úy Đồng Văn Minh điều đại đội tiến vào làng Hà Nha, các trung đội tấn theo hình chân vạc, băng qua khu ruộng trống trải, đoàn quân tiến chậm, chậm mà chắc. Hắn dẫn trung đội lách sang bên phải để tránh một khoảng đất, trên đó cắm một cây cọc có ghim miếng giấy viết một chữ duy nhất “Mìn”, địch chơi trò tâm lý chiến. Trung đội xâm nhập vào bìa làng rất êm, hắn nhìn thấy thi hài một người bộ đội nằm chết, lớp vải ka–ki Nam Định căng cứng lên như muốn nổ tung vì xác đã trương sình, phình lớn như một con bò mộng. Buổi chiều trên làng Hà Nha vắng tanh, địch ẩn náu ở đâu đó, đang rình rập chờ thời cơ. Trung đội đào hầm củng cố vị trí, đại bác 57ly của địch bắn trực xạ từ bên kia sông Vu Gia, hình thù của viên đạn bay trong không gian tạo nên một vệt đen thoang thoáng, nổ sát vào vị trí đóng quân của trung đội, không hây hấn gì, trật lất. Trời còn đủ sáng để hắn nhìn thấy rõ một toán bắc quân, đầu đội nón cối, quần áo ka–ki Nam Định đang lúp xúp chạy ra từ chân núi, lòn vào phía sau Trung đội 1 do Thiếu úy Nguyễn Quốc Hùng chỉ huy. Hắn điều động khẩu đại liên M60 bắn vào đội hình của địch. Toán quân đội nón cối tản ra rồi biến mất không còn nhìn thấy nữa. Đêm hôm ấy Trung đội 1 bị địch tấn công, giữa lúc tiếng súng đôi bên nổ tung cả một góc trời mà vẫn nghe thấy tiếng Nguyễn Quốc Hùng vang lên lanh lảnh: – Móc mắt nó chà giấy nhám, móc mắt nó chà giấy nhám. Trung đội 1 chận đứng được những đợt tấn công của địch trong đêm hôm ấy mà không hề bị tổn thất. Sáng hôm sau hắn được lệnh tấn sâu vào làng, cảnh vật vẫn im lìm vắng tanh, hình như địch cố ý tránh né giao tranh. Đến buổi trưa, trung đội khoanh tròn, đào hầm phòng thủ, không khí ngột ngạt lắm vì vẫn chưa thấy địch quân lộ diện. Đại đội thông báo, địch quân sử dụng một khẩu 57ly bắn vào quân ta, sau đó địch di chuyển súng ra nơi khác, lấy đạn giấu sẵn ở nơi đó, bắn xong lại di chuyển vị trí. Trung đội nhận lệnh tảo thanh khu vực tìm cách tiêu diệt khẩu 57ly. Anh em để ba lô tại vị trí, hắn cắt cử một người ở lại để trông coi nhà cửa. Nguyễn Quang Trí là quân nhân yếu nhất trong trung đội, mới tăng cường hành quân, còn bỡ ngỡ chưa theo kịp anh em. Hắn nói với Trí: – Trí ở lại trông coi vị trí cẩn thận, có chuyện gì thì bắn lên trời 3 phát một nghe. – Dạ, em nghe rõ thiếu úy. Hắn chỉ xuống một căn hầm chiến đấu: – Trí đứng gác ở dưới căn hầm này, đừng đi đâu hết nha. Nguyễn Quang Trí đeo khẩu M16 lên vai, xách theo dây đạn rồi nhảy xuống. Trên bảng cấp số, quân số của một Trung đội Nhảy Dù là 41 quân nhân, khi vào trận Thường Đức, quân số trung đội lên tới 45 người, trung đội có 2 sĩ quan, một Trung đội trưởng, một phụ tá. Hắn tổ chức trung đội thành 3 cánh, cánh quân đi chính giữa do hắn chỉ huy, 2 cánh quân hai bên đi lùi lại phía sau một chút. Hắn căn dặn các tiểu đội trưởng, cánh quân nào chạm địch sẽ sử dụng hỏa lực tối đa kềm không cho địch ngóc đầu lên, cánh quân kế bên sẽ vòng lên đánh nhanh vào cạnh sườn của địch. Trung đội cẩn trọng tiến quân, khoảng 20 phút sau thì cánh quân của hắn chạm địch. Địch quân khai hỏa trước, đạn bắn ra từ những căn hầm ngụy trang kiên cố. Khẩu M72 trên vai người khinh binh phóng ngay viên đạn về phía địch. Tiếng nổ của viên đạn M72 mở màn cho các loạt đạn bắn phủ lên mục tiêu. Hắn gào lên trong tiếng súng nổ: – Lên ngay đi, Bê ơi. Nhanh như chớp, Trung sĩ Nguyễn Bê dẫn cánh quân xông lên đánh úp vào hông địch, tiếng súng rộ lên vang dội một góc trời. Khi quân ta ào lên lục soát mục tiêu thì địch quân đã biến mất, dưới những căn hầm chữ A vẫn còn vương vãi những dây đạn, một nồi cơm vẫn còn đang bốc khói nóng hổi. Địch vẫn ngoan cố không chịu giao chiến, mọi người đều có cảm giác một cái bẫy đang giăng ra ở gần đâu đây. Trung đội được lệnh dừng quân, không tiến sâu hơn nữa. Lệnh tiếp theo, trung đội phải nhanh chóng trở về vị trí đóng quân. Nơi đóng quân bây giờ sao lạ quá, cây cối ngả nghiêng, vung vãi như thế này. – Trí ơi! Trí ơi! Không có tiếng trả lời. – Tản rộng ra anh em, cẩn thận nhé. Trí ơi, Trí đâu rồi! Chỉ nghe thấy tiếng cành cây vướng víu, xào xạc đong đưa trong gió. Trí đã chết mất xác rồi, một quả đạn đại bác 130ly rơi xuống đúng ngay căn hầm Nguyễn Quang Trí đang đứng gác. Sức nổ khủng khiếp của viên đạn đã biến căn hầm chiến đấu thành một cái ao, khẩu M16 của Trí văng ra xa hàng trăm thước, cong queo vụn nát. Thân xác của Trí chỉ thu lượm được một ít da và thịt lẫn lộn với đất cát. Kể từ lúc ấy, cả trung đội lầm lì, không ai nói với ai một lời nào, trung đội vừa mất đi một người đồng đội, nỗi giận dữ và tiếc thương in hằn lên từng khuôn mặt.
Buổi xế chiều, có người lính lặng buồn ngước mắt nhìn lên bầu trời mây xám, chợt kêu lớn: – Trí, Trí, tụi bay ơi. Anh em đổ xô ra, nhìn theo hướng tay chỉ, xác của Trí bị bắn tung lên cao, rơi vướng trên cành của một cây đa, nhưng thân xác chỉ còn một nửa từ bụng trở lên, một mớ bùi nhùi máu gân da thịt đổ ra từ khoang bụng, đong đưa rờn rợn. Thi hài của Trí được đưa xuống, đặt nằm lên tấm poncho trải trên mặt đất. Trước cái chết thảm thương của Trí, có anh em không cầm được nước mắt. Nguyễn Quang Trí, người quân nhân đầu tiên của Trung đội 3, Đại Đội 84, Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù tử trận trên chiến trường Thường Đức, Quảng Nam. Trí chết mà không được toàn vẹn thân thể, phân nửa còn lại của Trí cũng nhàu nát tang thương. Một cuốn sách nhỏ nhô ra trên túi áo của Trí, nhìn kỹ hơn, đó chính là một cuốn kinh khổ nhỏ. Thượng đế ơi, ngài có hiện diện trên cõi đời này không vậy? Một tín đồ ngoan đạo như Nguyễn Quang Trí, đường hành quân nặng trĩu ba lô súng đạn mà trong túi áo lúc nào cũng một lòng gìn giữ cuốn kinh, lúc nào cũng nguyện cầu đến Ngài, vậy mà Ngài nỡ lòng nào quay mặt làm ngơ để Trí phải chết thảm như thế này. Màn đêm buông phủ xuống làng Hà Nha, tiếng côn trùng nỉ non ai oán. Người lính gác đêm giật mình lắng tai nghe, từ trong hầm chỉ huy của trung đội có tiếng ú ớ, lảm nhảm: – Trí chết tại tôi, Trí chết tại tôi… Trận chiến mỗi lúc một thêm ác liệt, địch đã chiếm đóng vùng đất này từ lâu nên tổ chức được một thế trận rất lợi hại. Địch đưa vào trận địa 2 Sư đoàn chính quy tinh nhuệ để đối đầu với Sư Đoàn Nhảy Dù. Đoàn quân mũ đỏ bất chấp mọi thất lợi về phía mình, liên tục giữ thế tiến công đẩy địch ra khỏi từng ngọn đồi, xô ngã địch xuống từng vực sâu. Máu ra nhiều quá, ướt đẫm cả chiếc áo hoa dù, thấm cả lên chiếc ba lô hắn vác trên vai. Máu của hắn, của Nguyễn Quang Trí, của biết bao đồng đội đổ ra trên khắp nẻo đường đất nước đã không đem lại được một kết qủa tốt đẹp nào. Cuối tháng 4 năm ấy, hắn thôi không còn gắn bó với đơn vị được nữa. Một mình hắn ngơ ngác trước cuộc đổi thay khủng khiếp không thể nào tưởng tượng được. Hắn không biết mình đang đứng ở đâu giữa cuộc đời này, ngày mai tăm tối phủ xuống cuộc đời của hắn. Tuổi thanh xuân của hắn tẻ nhạt trên những chốt đóng quân sâu thẳm trong rừng núi, trải dài theo những cuộc hành quân gian khổ, và tàn tạ trong chốn lao tù đói khát lầm than. Ở nơi đâu hắn cũng luôn bị dằn vặt bởi một nỗi đau, một nỗi ám ảnh, chính hắn đã gây ra cái chết của Nguyễn Quang Trí. Nếu hôm ấy hắn đừng cắt đặt Trí ở lại trông coi vị trí đóng quân, đừng chỉ định Trí đứng gác trong căn hầm định mệnh ấy, thì Trí đâu có chết thảm thương oan uổng như thế. Bước chân ra khỏi chốn lao tù, hắn tìm về nghĩa trang quân đội Biên Hoà vào một ngày tiết trời ảm đạm, trên cao là những giải mây buồn lững thững trôi. Trên từng mộ bia của tử sĩ có khi còn đọc được tên họ, cấp bậc, đơn vị, ngày và nơi tử trận. Lòng hắn cứ miên man tưởng tượng ra khung cảnh chiến trường lúc người tử sĩ nằm xuống, dính một viên đại bác hay một quả súng cối như trường hợp của Nguyễn Quang Trí, hay là một loạt đạn xả nát cả hình hài như Trung sĩ Nguyễn Bê, hay là bị thương rồi bị địch bắt, địch mổ bụng moi ruột gan cho đổ ra ngoài như Hạ sĩ nhất Nguyễn Đông, còn giắt lên trên ngực người đã chết một mảnh giấy ghi dòng chữ “cảnh cáo ngụy Dù”.
Hắn đứng ở đây giữa những nấm mộ hoang tàn, thoang thoáng chung quanh là hồn tử sĩ, hắn bỗng thấy lành lạnh ở phía sau lưng. Rải rác những mộ phần nay chỉ còn là một lỗ huyệt cạn có dáng dấp của một hình chữ nhật. Thấp thoáng những nấm mộ trống trơn, không còn tấm bia để nhắn gởi cho người đang nằm ngơi nghỉ dưới lớp đất sâu. Hắn bắt gặp những hình ảnh của tử sĩ in trên tấm mộ bia, bị đục thủng vào hai con mắt thành hai lỗ sâu hoắm như mộ bia của Thiếu tá Nguyễn Đức Dũng, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù. Hắn cố tìm lại phần mộ của Trung sĩ Lê thế Hiền, thuộc Đại Đội 84, chính hắn đã tiễn đưa Lê Thế Hiền đến an nghỉ tại nơi đây khi hắn còn nằm điều trị trong bệnh viện Đỗ Vinh. Hắn không tìm được phần mộ của Lê Thế Hiền, nhưng cuối cùng hắn đã tìm ra được ngôi mộ của Nguyễn Quang Trí. Trong tấm hình in trên tấm bia, Nguyễn Quang Trí tươi tắn trong bộ quân phục hoa dù, đội beret đỏ, hình chụp trong doanh trại Vương Mộng Hồng, TTHL Quang Trung. Khuôn mặt Trí y hệt như ngày xưa, nho nhỏ hiền hoà, trên mộ bia còn đọc rõ được những dòng chữ ghi tên họ, cấp bậc, đơn vị, ngày và nơi tử trận. Trước mộ phần của Trí, hắn đứng như chết rũ, hắn thấy mình đang trên đường hành quân cùng đồng đội, những địa danh, căn cứ Bình Minh, căn cứ An Đô, Hà Nha, Đại Lộc, Thường Đức… lũ lượt trôi về trong trí nhớ, những khuôn mặt thân thương của anh em từng một thời sinh tử có nhau lần lượt hiện về trong tâm khảm, buồn quá, anh em giờ đây tan tác về đâu, làm sao cho hắn gặp lại được những đồng đội thân thương ấy. Hắn hình dung ra thân xác của Trí đang ngủ yên dưới tấc đất sâu ngay trước mặt hắn, tội nghiệp Trí, chỉ còn có một nửa hình hài nằm trong chiếc quan tài bọc kẽm mà thôi. Không biết cô bạn gái học cùng lớp của Trí năm xưa có một lần nào ghé đến nơi đây để thắp cho Trí một nén hương lòng, nhỏ những giọt nước mắt thương yêu để cuốn trôi những kỷ niệm cho tan vào lòng đất. Lỗi tại hắn, lòng hắn bỗng quặn đau khi nhớ lại buổi chiều hôm ấy trên làng Hà Nha, giá như hắn đừng chọn Trí ở lại vị trí đóng quân, đừng bảo Trí đứng gác dưới căn hầm oan nghiệt, thì có lẽ giờ đây Trí vẫn còn hiện diện trên cõi đời này, chứ đâu phải nằm lạnh lẽo cô đơn dưới huyệt mộ sâu. Trí ơi, lỗi tại tôi. Hễ có dịp thì hắn lại trở về nghĩa trang quân đội Biên Hoà để thăm lại Nguyễn Quang Trí và các đồng đội đã an nghỉ nơi đây. Mỗi lần đi thăm trở về nhà, hắn lại buồn rầu, lại suy tư ngẫm nghĩ, lại nhớ đến những ngày hành quân gian khổ đã qua, lại thấy thương cho những người lính mũ đỏ hào hùng, can đảm nén chặt nỗi sợ hãi xuống đáy lòng, tay siết cò súng ào ạt xông lên giữa lúc địch quân từ trong những căn hầm kiên cố bắn ra như mưa… Một lần đó, khi trở lại nghĩa trang quân đội Biên Hoà, hắn không tìm được phần mộ của Nguyễn Quang Trí nữa. Hắn hoảng hốt, xục xạo tìm kiếm cả một ngày trời mà vẫn hoài công, hắn nhớ rất rõ khu vực an nghỉ của Trí mà, nhất định không thể lẫn lộn được. Có thể người thân của Nguyễn Quang Trí đã lên đây bốc mộ cho Trí rồi, từ nay thôi không còn nhìn thấy tấm hình của Trí trên mộ bia nữa. Trí đã chia tay với các đồng đội đang an nghỉ nơi đây để tới một chốn riêng tư, ấm êm trong hương khói gia đình. Sau này hắn trở lại nghĩa trang vài lần nữa, thử tìm lại ngôi mộ của Trí nhưng vô vọng, không biết giờ đây thân xác của Trí trôi giạt về đâu. Dù rằng trên chiến trường có ngàn điều không may mắn có thể xảy ra bất cứ lúc nào cho một người lính chiến, nhưng sao mỗi khi nhớ về trận Thường Đức, hắn lại cảm thấy áy náy trong lòng. Đôi mắt của Nguyễn Quang Trí, người đồng đội năm xưa, đã nhìn hắn với ánh mắt tin tưởng hết mực, rồi xách dây đạn và khẩu súng M16 nhảy xuống căn hầm định mệnh. Trận Thường Đức và Nguyễn Quang Trí đã trôi qua được 45 năm dài, mà sao tiếng súng vẫn mãi âm vang cho đến tận ngày hôm nay….
Tôi vốn là sĩ quan cấp thấp, ở lại đơn vị chiến đấu, ngày đại tang mở đầu cho miền Nam, tôi đang phục vụ tại tuyến đầu… Trút bỏ bộ quân phục nhiều ngày với bùn đất mồ hôi, tôi chẳng còn có gì để cho vợ và con thơ đang chờ tôi tại khu gia binh hậu cứ Trung Đoàn. Trên chặng đường dài tìm về hậu cứ, lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi phải ngửa tay xin ăn, xin mặc, nhưng cũng từ hành động này tôi hiểu ra được một cách sâu sắc rằng: người lính Việt Nam Cộng Hòa đã có một chỗ đứng nhất định trong lòng đồng bào. Tôi không chỉ nhận được quần áo, nhận được tiền bạc để làm lộ phí, được ăn bữa cơm ấm áp tình người mà còn có cả lời vỗ về, an ủi.
Lần mò về đến khu Trại gia binh hậu cứ, một quang cảnh hiện ra trước mắt tôi, toàn bộ những dãy nhà đã đổ nát, cháy, còn trơ lại một ít cây cột sắt. Đứng bên cạnh hàng rào kẽm gai, lòng tôi quăn thắt: “Trời ơi, sao lại thế này!” Tôi buột miệng thốt lên: “Chẳng lẽ lại đánh nhau ở đây hay sao?”
– Chú đứng ở đây làm gì? Coi chừng bị bắt đó!
Tôi giật mình quay lại, một bà mẹ đứng bên cạnh tôi với cái túi đệm trên tay, chiếc khăn rằn trên cổ, miệng nhai trầu bỏm bẻm, mái tóc đã bạc khô.
– Cháu ở mặt trận về, tìm vợ và cháu nhỏ, trước ở trong này….
– Thôi đi với dì.
Bà kéo nhẹ tay áo tôi:
– Dì nói cho con nghe. Đánh nhau ở đây lớn lắm, ông chỉ huy không chịu đầu hàng, nên họ trả thù… Không còn ai sống sót.
Tôi vội hỏi:
– Họ giết cả đàn bà và trẻ con?
– Dì không thấy, nhưng rất nhiều người đã nói vậy, nhưng chú nên hỏi thăm bà con của chú xem, biết đâu!
Dì nhắc lại:
– Đừng luẩn quẩn ở đây, nó bắt đó!
Từ giã bà mẹ, tôi đành đi lang thang, tìm đến những chỗ quen hỏi thăm. Không ai cho tôi câu trả lời hy vọng, tôi hỏi thăm về chỗ chôn người chết, câu trả lời khuyên tôi: “Chú chẳng tìm thấy gì đâu! Nguy hiểm”.
Đất nước đã được “giải phóng”, chiến tranh đã chấm dứt, người dân không tìm được sự vui mừng; sợ sệt và lo âu căng thẳng trong cuộc sống của mỗi con người. Nhưng tôi biết phải đi đâu? Chỉ còn ở tiểu thị trấn này may ra còn có tin tức về gia đình.
Rồi một đêm của tháng năm, như thường lệ, tôi nằm gối đầu lên thềm nhà của một căn phố tìm giấc ngủ qua đêm, chợt có tiếng súng nổ, có tiếng rượt đuổi, hò hét… rồi có những bóng người chạy vượt qua chỗ tôi nằm… Tôi vừa mới ngồi dậy tựa lưng vào tường thì một đầu mũi súng lạnh ngắt dí vào mặt tôi:
– Đồng chí, bắt được nó rồi, phản động.
Chưa kịp nhìn rõ mặt người nói thì nhận một báng súng giáng vào đầu, tôi ngã xuống hôn mê…
Khi tôi tỉnh dậy, thấy mình đang nằm trên một nền gạch trong một căn phòng trống trơn, cửa đóng kín bưng với một ngọn đèn vàng ệch trên đầu, tay chân tôi bị trói bằng dây điện, máu dồn thâm tím với sự nhức nhối không sao tưởng tượng được. Tôi vào cuộc từ ngày đó, để gặp lại những người cùng màu cờ, màu áo ngày nào,khác chăng chút đỉnh là để tôi có dịp nói: “Tôi bị bắt với tội phản động, chống lại chính quyền Cách mạng 30/4. Còn tại sao họ không xử tử hình tôi, tại sao họ lại nhập chung tôi với những người trình diện thì tôi không hiểu.” Chỉ mang máng nhớ lại lời của cán bộ quản giáo chấp cung: Đó là chính sách khoan hồng nhân đạo của Đảng sau khi tôi bị hành hạ, tra tấn suốt mấy ngày đêm. Rồi tôi cũng được còng tay đưa ra miền Bắc, người cán bộ cộng sản nói rằng: để tạo điều kiện thuận lợi giúp các anh cải tạo tốt sớm về sum họp với gia đình! Tôi không nhận thư, không nhận quà, tôi vô sản 100% .
Vốn mồ côi từ bé, chú tôi thương tình đem về nuôi cho tôi đi học và cũng để chăm sóc các em. Cũng may, tôi có chút đỉnh thông minh nên qua được bậc Trung Học, có được bằngTúTài để sau đó động viên thành Sĩ Quan QLVNCH. Trước năm 1975, chú tôi mất, cuộc chiến nơi chỗ chú tôi ở trở nên ác liệt, và tại chiến trường hầu như không có dịp để nghỉ ngơi, nên tôi không làm sao có thì giờ về thăm thím và các em; giờ đây tôi hiểu, thím tôi đang gặp khó khăn biết chừng nào. Trong lý lịch, nơi địa chỉ khai báo, tôi không biết chọn ở đâu, nên ghi đại địa chỉ nhà thím tôi mà đã từ lâu không liên lạc…
Trong nhà tù, hằng tháng có lệnh cho viết thư, tôi thèm nhận một lá thư nên thỉnh thoảng viết về địa chỉ của thím nhưng tôi chẳng nhận gì. Cuộc sống là một nỗi buồn mênh mang… Con người là một sinh vật sống dai, tôi chờ đợi cái chết đến mà nó không đến. Ngày ngày tôi mấn mó đến các xương sườn, nhổ từng sợi râu cằm, đi lao động, tôi để ý nhặt nhạnh cọng rau, que củi, chú nhái xấu số chậm chân. Chịu khó một chút, ngày được phép nấu nướng, tôi cũng có một chút gì của anh em may mắn có gia đình thăm nuôi chia xẻ để thưởng thức hương vị mỡ màng…
7 năm, tôi được thả ra, anh em đồng cảnh an ủi: “Đừng buồn, âu cũng là số phận. Nhưng thà như vậy còn hơn vợ bỏ đi lấy nón cối, dép râu… làm sao lại có thể nằm ngửa để cho thằng Việt Cộng cưỡi lên người! Hừ đúng là đổi đời!”
Tôi lặn lội về quê, bộ áo tù, lần nữa đã giúp tôi về đến nhà: “Chú mơi” ra hả, trước ở đơn vị nào, chà, cấp úy mà cũng bị đến 7 năm… Cầm lấy chút đỉnh đi đường”. Trên chiếc xe đò, tôi trở thành khách danh dự: không phải trả tiền xe, được mời ăn bánh, mời hút thuốc, và khi nghe tôi nói về hoàn cảnh của mình thì đã có người rướm lệ, nhưng cũng có người kề tai tôi nói nhỏ: “Chú khổ trong tù, nhưng chú có biết còn có nhiều người còn khổ hơn chú kể từ lúc mấy chú ra đi!”
Tôi chỉ ở nhà thím tôi được 5 ngày, xã chứng nhận tôi đã về đến nơi trình diện. Nhưng để quản lý chắc ăn, họ thu cái giấy ra trại của tôi và chỉ thị cho tôi những điều phải làm hàng ngày trong thời gian quản chế. Làm sao tôi có thể sống được khi gia đình thím tôi quá nghèo, giờ đây lại còn cưu mang thêm một miệng ăn, tôi lại chẳng có việc gì để làm ra tiền, ngoại trừ phải lao động xã hội chủ nghĩa. Nhớ lời một thằng bạn, trước cùng ở chung đơn vị, tình cờ gặp lại nó ở Sài Gòn lúc tìm xe về địa phương. “Nếu kẹt, quay lên đây, sống đại tới đâu thì tới. Thí mạng cùi…” Sài Gòn, thằng bạn đã bao bọc tôi, tháng tháng đóng tiền cho thằng công an khu vực, tôi sống với đủ thứ nghề để sau cùng chọn đạp xích lô tiện hơn làm phụ hồ, khuân vác…quên đời bằng những bữa nhậu vỉa hè với đế thật cay, mặc cho tương lai và cũng mặc cho thế sự… Sài Gòn, chỗ nào cũng nói vượt biên, tôi nghe cũng chỉ để mà nghe, vượt biên được tính bằng cây, bằng chỉ, tôi làm sao có thể đi được!!
Năm 1988, phải gọi là năm của Tù Cải Tạo.Do tình hình của khối Xã Hội Chủ Nghĩa bị khủng hoảng, Liên Xô đang lo cứu nguy nền kinh tế đang bị kiệt quệ của mình, không thể mở rộng vòng tay cho đàn em như ngày nào, nên buộc lòng Việt Cộng phải tự cứu mình. Cần có đô la, cần tấm lòng của tên đế quốc… Cần ve vuốt khối người di tản hồi tháng 4/75, nên quyết định thả đại tù. Báo chí, truyền thanh, truyền hình dấy lên một phong trào đón tiếp rầm rộ… những ông HO đã trở về, những ông HO sẽ được Mỹ đón sang Mỹ, những ông HO sẽ được cấp nhà, cấp xe, lãnh tiền tù..!! Những ông HO giờ đây đã có giá… khiến bọn Việt Cộng phải kêu than: “Tụi nó thời nào cũng sướng hơn mình, đúng là chơi theo kiểu Mỹ… Mai Chí Thọ trùm công an, Ủy viên Bộ Chính Trị hậm hực với đám cựu tù: “Đây là do áp lực mà Đảng quyết định thả các anh ra, còn tôi thì sẽ không bao giờ thả các anh ra”… Giờ đây, những ông cựu tù đã có giá… và từ cái giá này có những câu chuyện tiếp theo thể hiện thế thái nhân tình…
Những mụ sĩ quan sống dựa hơi chồng, ỏng a, ỏng ẹo ngày nào, khi chồng hết thời đi tù đã quên ngay tình nghĩa, chụp lấy thằng nón cối để tìm lại chút uy… hoặc thay vì lăn lộn nuôi con, chọn cách dễ nhất, lấy đại thằng đàn ông nào có thừa tiền bạc, kể cả anh Ba bán hủ tiếu bò kho, kể cả mấy chú em tài xế riêng của chồng, hay lính ma lính kiểng… coi như chồng đã chết rồi… Ông HO trở về, lần nữa vì đàn con, ông HO chấp nhận coi như chuyện đã qua để cùng đi Hoa Kỳ, nếu không thì cũng rất khó vì bà sẽ quậy…tại sao không cho tui đi khi tui có hôn thú hẳn hòi… tui thưa lên Công an thành phố!
Đúng là xui tận mạng. Phải biết được đi Mỹ thì chịu khó ở trong tù cho đủ 3 năm với người ta, bày đặt chạy chọt ra sớm, tốn khá vàng, để bây giờ thua thiệt. Hoặc có người còn tiếc: giá mà hồi đó mình khai đại một cái tội nào đó để đi tù thì bây giờ… chà đi Mỹ với danh xưng tị nạn chính trị sau khi ở tù ra nghe nó ngon lành làm sao! Những ông HO không vợ, do hoàn cảnh nào đó, bỗng dưng có những ông mai, bà mối chạy quanh: 5 cây, 10 cây, Honda Dream… nếu chịu lập gia đinh… Thậm chí những ông HO sồn sồn đã cưới được những cô vợ trẻ.. Người dân dưới chế độ Xã Hội Chủ nghĩa chỉ khao khát một điều: tìm một nơi khác để sống, tao chán cái xã hội này quá rồi,cho nên chết sống gì thì cũng tìm cách rađi. Năm 1990, cụ thể – HO1 ra đi, Mỹ đón thật sự. Nhịp độ càng hối hả, đi cho lẹ kẻo Việt Cộng nó đổi ý thì khốn, ai mà tin chúng được. Ngày ngày, tôi có dịp chở khách chạy ngang qua đường Võ Tánh cũ cạnh Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia,một trung tâm dịch vụ xuất cảnh đã được thành lập tại đây để thực hiện chính sách nhân đạo của nhà nước Cộng Sản: bóc lột trắng trợn người HO đếnđây để làm hồ sơ.Tôi cựu tù nhân những 7 năm thế mà đành chịu…không tiền bạc, tờ giấy ra trại để làm bằng cũng bị thâu thì làm sao để đi. Chẳng lẽ đi rao cái giá tù của mình như một sự mua bán! Tôi không thể làm điều đó được, mặc dù có mấy đứa bạn đề nghị với tôi. Còn tờ hộ khẩu và còn những giấy tờ nào khác của mình làm sao cho có?
Năm, từng năm, 91, 92, 93, 94, tôi đành thua cuộc lắm lúc nói đùa: “Mẹ kiếp, tụi qua Mỹ gởi thơ về than khổ, than cực: làm bồi khách sạn, gác dan, rửa chén, nhặt rau… chứ sướng nỗi gì? Chúng nó nói: “Cày mệt nghỉ mới có nhà, có xe…” Nhưng cũng nhiều lần có dịp chở các ông bà Việt Kiều, cứ xem phong thái của họ: da thịt hồng hào, trắng trẻo, tuy không trát nhiều phấn, không sơn đỏ móng tay nhưng vẫn thấy họ có cái gì đó hơn người nhà giàu ở đây..Cho nên khổ thì khổ, nhưng ít ra cũng hơn sống ở xứ này, lòng tôi có cả sự phân vân lẫn ngậm ngùi thân phận…
Thế rồi, cho đến một hôm, tôi chở một người đàn bà từ chợ Bến Thành về nhà, mãi mê nói chuyện nắng mưa cốt để quên nhọc nhằn theo thói quen, tôi không để ý đến tấm bảng cấm… Công an nhân dân xuất hiện đòi xem giấy tờ.Tôi đành phải khai thật, mình là dân cải tạo qua các trại Bắc Nam, được thả về, nhưng bị mất giấy tờ chứ nếu không thì cũng đi Hoa Kỳ như ai..Rồi tôi sau đó áp dụng nguyên tắc đầu tiên: Nói nhỏ vừa đủ nghe: “Xin chú cầm chút đỉnh uống cà phê”… Người đàn bà lúc đầu thấy xe bị chận lại có phần bực mình, nhưng khi nghe tôi kể về lý lịch của mình thì thay đổi thái độ nói xen vào: “Thôi mà các chú, chú ấy tù lâu, lại không có gia đình, tha cho chú ấy đi”… Và tôi như mọi lần với kỹ thuật nghề nghiệp, cặp tờ giấy bạc trong hai ngón tay, hơi chồm người về phía trước che khuất người đàn bà. Công an nhân dân cũng rất kỹ thuật đón lấy tờ giấy bạc kèm theo câu: “Thôi tha cho lần này, lần sau mà tái phạm thì”… tôi vội vàng nhảy lên xe… Đến nhà, người đàn bà xuống xe, trong khi trả tiền đã hỏi tôi:
– Anh có muốn đi Mỹ không?
Tôi thành thật trả lời:
– Cũng không rõ là muốn hay không… nhưng dù sao đi Mỹ cũng là điều hấp dẫn. Có điều tôi không đủ khả năng để chạy giấy tờ, khá tốn kém.
Người đàn bà mời tôi vào nhà, mời tôi uống nước và trong câu chuyện đã khéo léo điều tra về lý lịch của tôi, sau đó nói với tôi:
– Nếu anh thực sự là sĩ quan đi cải tạo về, nếu muốn đi Hoa Kỳ thì tôi có cách giúp anh. Hãy suy nghĩ thật kỹ, nếu có quyết định thì tuần tới cũng vào giờ này, anh quay trở lại. Tôi tên là Mai, thôi chào anh, chúc anh khỏe mạnh.
Tôi ra xe, ghi nhớ số nhà, ghi nhớ khuôn mặt, vóc dáng người đàn bà. Con người có thể tin cậy được qua lời nói và cử chỉ, tôi chợt nhớ đến lời chú tôi: “Những ai khi nói chuyện với người khác nhìn thẳng vào mắt hầu hết đều trung thực”. Người đàn bà này đã có đặc điểm đó, tiếng nói trong và ấm, khỏe mạnh và duyên dáng.
Tôi chợt nghĩ: hay giờ đây lại đến lượt mình. Trong khi chờ đợi đến ngày hẹn, những lúc gác xe dưới tàng cây nằm nghĩ lấy sức, tôi có những giấc mơ được ôm ấp một thân thể, được yêu, được vỗ về, có một mái nhà, có bữa cơm gia đình. Và buồn cười là tôi bắt đầu săn sóc mái tóc mà đã từ lâu tôi quên nó, tôi nặn mụt trên mặt, chịu khó đánh răng, cạo râu, và tìm kiếm nụ cười sao cho tươi tắn một chút trong tấm gương con.
Đến ngày hẹn, chọn bộ quần áo lao động sạch sẽ, mượn thằng bạn chiếc xe Honda. Lần đầu tiên nó ngạc nhiên khi thấy tôi “sạch sẽ” hơn bao giờ. Tôi đã ngắm nghía nhiều lần trước tấm gương, mỉm cười tự tin:Ta là dân HO thứ thiệt 100% được thì chơi tới, không thì thôi, có thiệt gì đâu mà ngại! Nói thì nói thế, nhưng trong lòng sao vẫn rộn ràng như đang làm một cuộc hẹn hò yêu đương của thời mới lớn.
Tôi vừa dừng xe, thì nàng đã xuất hiện ở cửa, trông nàng thật tươi mát trong bộ quần áo lụa màu xanh, má hồng… Và tôi nghĩ rằng nàng cũng ngạc nhiên về tôi. Anh chàng xích lô này cũng không đến nổi quá tệ.
– Anh đến thật đúng giờ.Trông anh đêm nay khác nhiều. Anh hãy đẩy xe vào trong nhà kẻo không yên tâm khi nói chuyện. Hôm trước, nhà đối diện với chúng tôi, chỉ sơ ý một chút đã bị lấy mất. Sài Gòn bây giờ quá lộng.
– Dù sao thì tôi cũng là dân nhà binh và tôi lại có cái thói quen: không được phép trễ đối với lời hẹn của mấy bà. Tôi không đề cập gì đến chuyện xe cộ, mùi nước hoa thoảng nhẹ qua mũi tôi, trông nàng thật quyến rũ.
– Mấy ông galant quá trời, bồ bịch chắc dữ lắm… Mời anh ngồi.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế salon, nàng ngồi đối diện, bộ ghế màu tím sậm, một vài chỗ đã sờn theo thời gian, gian nhà trông sạch sẽ và ngăn nắp.
– Anh dùng nước đá chanh, gia đình tôi không có ai uống trà và rượu.
– Cám ơn chị, tôi chỉ thích uống rượu đế thật cay vào buổi tối để quên đời, ngoài ra thì cái gì cũng quí cả.
Nàng nhìn tôi, sửa lại ghế ngồi, đắn đo một giây, nàng nói:
– Tôi nghĩ rằng anh không tránh khỏi nghĩ ngợi về cuộc gặp gỡ này. Nhưng bây giờ là lúc tôi nói với anh thật đứng đắn về việc anh muốn đi Mỹ theo diện HO. Anh đã nói thành thật về lý lịch của anh nên tôi biết rõ, ngoài cái tên mà anh đã cho tôi hôm trước Mai Quang Thông, tôi còn biết anh sinh năm 1947 ở Mỹ Tho, anh học trường trung học Nguyễn Đình Chiểu,anh vào Thủ Đức, đi tù với tội danh bị bắt vì chống phá chánh quyền cách mạng. Như vậy, về căn bản, anh đủ điều kiện đi Mỹ, vấn đề còn lại chỉ là thủ tục.
Tôi tiếp lời nàng:
– Chị Mai, với tôi vấn đề là thủ tục.
– Anh Thông, tôi có khả năng lo liệu vấn đề này.
– Xin chị nói cho tôi biết tôi phải làm gì? điều kiện?
– Anh Thông, tôi muốn được đi ra nước ngoài, tôi là quả phụ, chồng tôi cũng là sĩ quan, anh tử trận ở An Lộc năm 1973. Tôi có 2 con, một gái một trai. Tôi không muốn chúng lớn lên ở cái xứ sở này để trở thành công dân xã hội chủ nghĩa quen thói nói dối, tàn nhẫn và lừa lọc, nói khác đi không có tương lai.
Nàng đứng dậy:
– Xin mời anh theo tôi để tôi chỉ cho anh xem nhà tôi và các con tôi.
Sau tấm bình phong,trên chiếc tủ thấp, nơi thờ phượng chồng nàng. Một tấm ảnh lớn, sĩ quan cấp tá QĐVNCH còn rất trẻ, với nhiều huy chương.
– Còn đây là ảnh gia đình. Anh ấy, tôi và các con khi đi chơi sở thú lúc anh về phép.
Tôi muốn tìm thấy một sự so sánh giữa con người mặc quân phục và con người mặc thường phục.Tôi quay lại, cặp mắt người sĩ quan nhìn tôi đăm đăm, tôi có cảm giác con người đó đang trao cho tôi một nhiệm vụ.
– Nhà này đứng tên mẹ tôi, nhưng chính là nhà của chúng tôi, cũng may chứ nếu không thì rắc rối. Mẹ tôi ở với chị tôi trên lầu, còn tôi ở dưới này với các con. Xin mời anh trở lại phòng khách để chúng ta có thể bàn thêm….
– Anh Thông!
Khuôn mặt nàng toát lên một sự nghiêm nghị, hơi chồm người về phía trước, nàng nói:
– Điều kiện còn lại quan trọng nhất để chúng tôi và anh đi là tờ hôn thú. Anh lập gia đình với tôi. Tôi sẽ lo liệu tất cả mọi thủ tục xuất cảnh, xin anh cho biết ý kiến của anh như thế nào?
Tôi không tránh khỏi bối rối. Vợ chồng trên danh nghĩa hay vợ chồng thủ tục, thật khó cho tôi để có thể hỏi nàng về điểm này:
– Chị Mai, tôi không có điều kiện gì cả. Vấn đề tôi ở đây hay đi Hoa Kỳ cũng chẳng có gì lớn lao cho bản thân tôi. Tôi không có cha mẹ, vợ con và tôi không tìm thấy được một tin tức nào để kết luận là sống hay chết từ sau tháng 4/75 mặc dù tôi đã để tâm tìm kiếm khắp nơi. Hiện tại tôi sống lang bang. Nhưng tôi vẫn là chiến hữu trong đại gia đình Quân Đội, những gì chị muốn, tôi sẽ làm không có gì trở ngại vìđó cũng là bổn phận mà thôi. Tôi nói không một chút dối lòng, nàng không tránh được xúc động, một lúc sau nàng nói:
– Anh Thông, cám ơn anh, nhưng Mai đề nghị anh nên suy nghĩ cho thật kỹ. Điều kiện rất hệ trọng đến cuộc sống của anh.Mai rất cảm kích trước tấm lòng của anh. Đối với chính phủ Hoa Kỳ, tờ hôn thú sẽ ràng buộc trách nhiệm với nhau khi sang bên đó. Nhất là, tôi sợ anh sẽ bị mặc cảm: tôi dùng tiền bạc mua anh.
– Chị Mai, không ai có thể mua tôi được. Đời dạy cho tôi nhiều thứ, cuộc sống quân ngũ dạy cho tôi nhiều thứ. Tôi cũng chẳng có gì để mất, tất cả tùy thuộc ở chị.
– Anh nghĩ gì khi ký tên vào tờ hôn thú, điểm quan trọng?
– Tất cả tùy thuộc vào trái tim, hãy để nó quyết định, trước mắt là sự tin cậy ở nhau.
– Cám ơn anh!
Nàng mỉm cười tinh nghịch:
– Tuần sau xin mời anh đến, tôi sẽ lo xong giấy ra trại cho anh.
Đưa tôi ra tận đường, bắt tay tôi, cái siết tay ấm áp tin cậy. Đã lâu rồi tôi sống trong cảm giác nguội lạnh, giờ đây tôi cảm thấy có một cái gì đó nao nao trong lòng… Hôm nay nắng Sài Gòn như rực rỡ hơn, cuộc sống không đến nỗi quá tồi để hiểu nhau và chia xẻ dành cho những con người Ngụy bị chính quyền cộng sản coi như kẻ thù. Tôi chạy xe lòng vòng trên các con đường quen thuộc.
Cặp mắt người sĩ quan chồng nàng trong tấm ảnh vẫn theo tôi. Những ngày còn lại trong tuần, tôi rơi vào một sự mệt mỏi, chán nản, mỗi khi đẩy chiếc xe ra đường. Tôi trầm tư đến độ có mấy lần suýt xảy ra tai nạn, nhưng trong tâm tưởng tôi hiểu rằng cuộc sống tôi sẽ đổi thay.
Đúng hẹn, tôi lại đến, vẫn quần áo lao động tươm tất, nhưng tôi không mượn được xe Honda, thong dong với chiếc xe Cyclo của mình, trái tim tôi rộn ràng và ấm áp tôi đến nhà nàng. Nàng đón tôi, với nụ cười tươi tắn, hình như nàng không chú ý gì đến chiếc xe Cyclo mà nàng đang phủ lên con người tôi đôi mắt trìu mến, dịu dàng tha thiết.
Vừa ngồi xuống ghế, nàng đã trao cho tôi tờ giấy ra trại, nàng nhắc tôi:
– Anh hãy xem kỹ có gì sai về lý lịch không?
Tờ giấy quái ác này, màu giấy vàng nhợt nhạt trả cái giá 7 năm cũng chưa xong. Sau đó tôi cầm đọc qua với ý nghĩ trong đầu.
– Không có gì sai, chị làm nhanh thật.
Một cái nhếch mép thật gợi cảm của nàng:
– Xứ sở này mà anh. Nhanh hay chậm tùy thuộc tất cả vào điều kiện “ĐẦU TIÊN” của hệ thống hành chánh XHCN, của tập trung đỉnh cao trí tuệ.
Hôm nay, thì xin mời anh ở lại dùng cơm, tôi sẽ giới thiệu Mẹ tôi, Chị tôi cùng hai cháu với anh. Ít hôm nữa chúng ta sẽ ký tờ hôn thú. Anh còn nhiều thì giờ để rút lui nếu anh không muốn đi xa hơn.
Tôi bày tỏ nỗi ưu tư của mình:
– Hình như sẽ không nhanh đâu, vì còn phải có TV của Mỹ nữa thì mới được xét, có người cho tôi biết sẽ mất nhiều ngày giờ.
– Tôi có thể lo liệu được. Thưa anh, nếu không thì tôi không đặt thành vấn đề. Như anh nói, chúng ta còn phải đối phó với thời gian, nhưng chỗ mà tôi đang chạy không phải ở đây mà tận ngoài Hà Nội, và đã có kết quả trước đây với một số người. Sau khi chúng ta lập hôn thú, anh có thể về đây ở với chúng tôi nếu anh muốn. Anh cần phải được nghỉ ngơi, học Anh văn để có thể sớm thích nghi khi đến nơi… Chúng ta đi muộn cho nên mọi thứ đều phải chuẩn bị trước. Anh đã ở tù, chắc anh sẽ không chê tôi lo cho anh bữa ăn hàng ngày đạm bạc, anh thấy thế nào? Xin anh hãy thẳng thắn với nhau.
– Tôi thực sự chưa nghĩ đến điều này. Từ rất lâu, tôi sống cô độc, con người tôi chưa nhận được một sự chăm sóc nào từ sau ngày cộng sản chiếm miền Nam, nhưng không biết có bất tiện cho chị không?
Nàng lập lại với nụ cười và cái nhìn hóm hỉnh:
– Thưa anh, không có gì bất tiện. Tôi cần ra đi, tôi cần tương lai cho các cháu, tôi cần anh giúp đỡ. Tôi phải có bổn phận lo cho anh trong cuộc sống hàng ngày. Nhà có căn phòng riêng cho anh… Còn chuyện vợ chồng là chuyện của trái tim, hãy đợi cho nó chín mùi!
Ngày tháng trôi đi thật nhanh, tôi có một chỗ đi về mỗi ngày, tôi có cặp mắt trìu mến của người mẹ, tôi có tiếng cười hồn nhiên của các con nàng, chúng thông minh và lễ phép, tối có ánh đèn đêm ấm cúng của một gia đình quây quần bên nhau kể về kỷ niệm xa xưa… Tôi có những giờ phút cùng nàng học Anh văn sửa giọng cho nhau và tôi không đến nỗi tồi để làm cho các cháu phục tôi khi giúp chúng giải các bài toán khó. Một người đàn ông trong gia đình, luôn có chỗ đứng cần thiết cho họ. Những năm tháng khổ cực của tuổi học trò, cuộc sống phong sương, lửa đạn chiến trường, cuộc sống lao tù… Trong bể hạnh phúc, tôi trở thành người bảo vệ trước tiên cho chính mình. Mỗi ngày, nàng có một số thì giờ phụ bán hàng cho chị của nàng trong chợ Bến Thành, tôi đưa nàng đi, đón nàng về, đón các cháu đi học. Thì giờ còn lại tôi học Anh văn, để tối đến tôi hướng dẫn cho nàng và hai cháu.
Sài Gòn, những đêm mưa, tôi không sao ngủ được. Cuộc sống con người không chỉ có ăn, có mặc, có đọc sách. Cuộc sống con người cần phải có tình yêu. Tôi thường đứng bên cửa sổ nhìn mưa trên hè phố, có lúc tôi áp mặt vào song sắt để hứng lấy tơ mưa mát dịu. Trong một mái nhà, ngày ngày gặp nhau, cung cách cư xử của Mai không cho phép tôi có cơ hội để bày tỏ nỗi lòng của mình. Nàng trong sáng quá, tôi chỉ sợ niềm hạnh phúc hiện tại sẽ mong manh nếu tôi không gìn giữ được ở chính mình. Hãy để cho trái tim chín mùi…bằng chờ đợi. Tôi thường nhắc cho mình như một điệp khúc. Rồi ngày phỏng vấn đã đến. Đó là một ngày quan trọng nhất đối với chúng tôi. Nếu Mỹ bác thì coi như công cốc xây dựng mọi thứ cả năm dài. Chúng tôi duyệt lại mọi chi tiết về hồ sơ, nàng mang theo những giấy tờ và hình ảnh của chồng nàng. ..Tôi thực sự lo lắng ưu tư hơn nàng. Vì nếu không được cùng đi thì đây là một mất mát to lớn cho chính tôi vì tôi đã yêu nàng và tôi cần có nàng.
Trông thấy tôi lo ngại, nàng đã đặt tay lên cánh tay tôi, nhìn tôi âu yếm:
– Anh Thông, Mai tin mọi sự sẽ thành…
Sau đó nàng cười:
– Còn nếu không,thì anh cũng chẳng có gì để thua thiệt. Tôi chợt nổi nóng, chụp lấy vai nàng, tôi nhấn mạnh:
– Mai, nếu không đi được thì đây là nỗi bất hạnh của cuộc sống còn lại của anh. Anh yêu em, yêu thật tình, em biết không? Anh muốn chúng ta thực sự là vợ chồng sống cho nhau!
Nghe tôi nói, nước mắt nàng trào ra, nàng thì thầm:
– Em hiểu, nhưng anh có thương các con không?
Tôi cùng nàng quay lại, hai đứa nhỏ, chúng nó đang nhìn chúng tôi. Tôi quì xuống ôm chúng trong đôi tay của mình:
– Các con biết không, chúng ta là một.
… Tiếng loa gọi tên chúng tôi lên phòng phỏng vấn. Chúng tôi nắm tay nhau chan hòa hạnh phúc. Trong căn phòng nhỏ, chỉ có người Mỹ và 1 thông dịch viên. Chúng tôi lập lại lời thề nói sự thật, nhưng lúc đó tôi lại nghĩ rằng: Sự thật lớn nhất với tôi là được yêu nàng. Không có các câu hỏi truy vấn, điều chú ý duy nhất là tờ hôn thú mới lập, nhưng rồi cũng đi qua. Tôi là sĩ quan chiến đấu ở mặt trận, nàng là quả phụ, được ra đi cũng là lẽ đương nhiên.
Niềm vui đến với cả nhà, chiều hôm đó chúng tôi cùng đi viếng mộ chồng nàng, khi nàng đặt bó hoa, đĩa trái cây bánh mứt và thắp hương cùng các con khấn nguyện. Tôi giật chân đứng theo thế nghiêm đưa tay chào kính: “Thưa anh, tôi hứa sẽ lo cho Mai và các cháu trong phần đời còn lại của tôi”. Sau đó, tôi đi tản bộ ra đường, tôi muốn để mẹ con nàng có thì giờ riêng tư với người đã mất. Trở về nhà, nàng làm mâm cơm cúng chồng. Góa phụ 3 năm có quyền tái giá, nàng là góa phụ của nhiều năm, tôi nghĩ chồng nàng sẽ cảm thông chấp nhận.Buổi tối, sau khi tiễn khách thân thuộc ra về, nàng đề nghị tôi đưa nàng ra công viên, lần đầu tiên tôi có cái hạnh phúc đón nhận một vòng tay trên chiếc xe Honda, lần đầu tiên tôi có cảm giác ấm áp rạo rực khi nàng áp mái đầu vào lưng tôi… Thành phố Sài Gòn, với những con đường quen thuộc, hôm nay sao đẹp bội phần, tôi muốn đi khắp các con đường mà tôi đã trải qua trong nhiều năm tháng trước đây với nỗi buồn mênh mang, với nỗi mệt mỏi không rời đằng sau càng lái của chiếc xe Cyclo…
Sau khi gởi xe Honda, chúng tôi nắm lấy tay nhau đi chậm chậm trong công viên. Mai thì thầm:
– Anh ơi! Đã lâu lắm rồi, em mới được sống lại cái hạnh phúc đi cùng một người đàn ông trong công viên. Em cứ nghĩ em sẽ ở như vậy suốt đời để lo cho con nếu không tìm được cách nào đó để ra đi.
– Em không có lần nào tính vượt biên sao? Vượt biên trước đây nó như là một cái dịch kia mà.
– Em có thử hai lần, tốn cũng không ít nhưng không thành, bạn em mất tích; một chuyến đi bị hải tặc, nghe nói lại đủ nổi da gà… Thế giới này sao lắm sự tàn ác. Từ đó, em cho là số phận đã an bài.
Bóng đêm nho nhỏ, đèn đường nhấp nháy lẫn khuất sau các khóm cây. Trên ghế đá công viên, những cặp tình nhân đang âu yếm, có tiếng thì thầm, xuýt xoa, có âm thanh của nụ hôn kéo dài, có tiếng cười rúc rích… Tôi vòng tay qua thân hình Mai siết nhẹ, tôi hôn mái tóc nàng với tất cả nỗi khao khát dồn nén từ lâu.
Mai chợt hỏi tôi:
– Anh Thông, anh nghĩ gì về tương lai?
– Anh không nghĩ gì cả, điều anh nghĩ là em. Anh yêu em, anh muốn cả hai chúng ta tan biến vào nhau. Còn em?
– Em! Em nghĩ về tương lai nhiều hơn hiện tại.Có thể vì em là người mẹ chăng? Em biết ơn anh đã chấp nhận các đề nghị của em giúp mẹ con em được ra đi mà không đặt ra điều kiện nào cả. Chính điều đó đã tác động đến tình cảm của em, nhưng có lẽ điều quan trọng hơn cả, là anh đã tôn trọng em, không đòi hỏi ở em nhu cầu thể xác. Anh có tư cách hơn những người đàn ông khác mà em đã được bạn bè có hoàn cảnh giống em kể lại, chính vì vậy mà em yêu anh!
– Ồ, em của anh, Mai em có biết là có nhiều đêm anh như con thú bị nhốt trong chuồng không? Anh đi quanh quẩn trong phòng. Anh thèm ly rượu đế để say cho quên đời, anh thèm điếu thuốc lá nóng bỏng đôi môi. Anh muốn hét lên cho vơi nỗi ấm ức… Anh muốn đến phòng em, tông cửa vào để được ôm em, làm tình với em, bất cần mọi sự, nhất là những đêm mưa, anh rất khổ, nhưng rồi không hiểu tại sao cuối cùng anh vẫn kềm chế được để con khao khát đi qua…Có lẽ trong tận cùng của con người anh vẫn còn tính kỷ luật tự chế…
– Em hiểu, nên em phục anh. Nhưng anh của em. Chúng ta vẫn còn có món nợ. Chồng em, anh ấy ngã xuống vì chiến đấu, còn anh, anh bỏ cuộc vì lệnh đầu hàng. Nhưng một đất nước không có hạnh phúc cho đồng bào, không có tương lai cho thế hệ trẻ, một chính quyền trở thành niềm tủi nhục cho người dân. Như chúng ta yêu mến quê hương đến chừng nào mà vẫn buộc lòng rời bỏ cha mẹ, mồ mả để ra đi. Nhưng không lẽ chúng ta chỉ sống cho chúng ta!
Tôi chợt cảm thấy lạnh toát cả người, như có lưỡi dao thọc sâu vào trái tim. Người đàn bà này, có một thời gian dài sống bên nhau ngày ngày tuy chưa trao đổi cho nhau thân xác, lại có một suy nghĩ như vậy. Sự suy nghĩ này lại rất hiếm ở những người đàn ông tôi chung chạ trong cuộc sống bụi đời.
– Ồ em, đời anh có quá nhiều bất hạnh, cuộc sống luôn là sự tàn nhẫn,vùi dập đã khiến anh thành kẻ thụ động. Anhkhông hề nói ra với bất cứ ai về những gì anh thấy. Anh chứng kiến trước mắt của mình về cái chính quyền quỷ quái này, bởi vì anh không thể làm được gì để thay đổi nó. Trong nhà tù, có lần anh nghe một sĩ quan cao cấp nói rằng: “Đừng nghĩ rằng đây là những con cừu mà hãy nghĩ đây là những con sư tử đang ngủ. Khi nó thức dậy sẽ thấy sức mạnh của nó”. Ông nói thế khi nghe một người trong đội mạt sát một người khác về thái độ hèn yếu… Đến nay đã mười mấy năm rồi, vẫn chưa có nhiều con sư tử thức giấc. Anh chỉ sợ rồi đây, những con sư tử sẽ già đi theo năm tháng, không còn đủ sức lực để thức giấc dậy sau giấc ngủ quá dài.
– Anh Thông!
Mai chắn lấy người tôi, hai tay vòng qua cổ tôi, nhìn thật gần vào mắt:
– Sẽ có cơ hội và chúng ta sẽ cùng bước vào cơ hội đó. Và nếu chúng ta không thực hiện được, thì sẽ dành lại cho các con của chúng ta. Em nhớ ngày xưa chồng em đã nói với em,lúc em cằn nhằn anh ấy không chịu chiều em ở nhà thêm vài ngày sau khi hết phép:“Em của anh, làm trai nợ nước phải đền, thù nhà phải trả. Ông nội anh đã để mất đất vào tay giặc Pháp, ba anh đã bị Việt Cộng chặt đầu. Hãy ghi nhớ một điều: cuộc sống này không chỉ sống cho riêng mỗi chúng ta…” Chúng ta sẽ bắt đầu nơi đất mới, em tin là chúng ta sẽ có cơ hội và khả năng để làm được cho dù đó là điều nhỏ nhất.
Mai nói với tôi với đôi mắt long lanh, đầy tin tưởng, và sau đó với một nụ hôn ngọt ngào chủ động kéo dài, nụ hôn đầu tiên từ ngày tôi gặp nàng.
Thật khuya, chúng tôi trở về nhà, trên hè phố co ro những bóng người không nơi nương tựa. Cuộc sống của chính tôi ngày nào, ai chịu trách nhiệm về cuộc sống của người dân như tiêu đề của khẩu hiệu: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, phải xót xa để nghe thấy mỗi ngày. Tôi chạy xe thật chậm bằng một tay, tay còn lại tôi nắm bàn tay của Mai đang vòng qua bụng mình, tôi nói cho chính tôi: “Cuộc sống này không phải chỉ của riêng mình”.
Chúng tôi vào nhà, gian nhà thật yên tĩnh, mọi người đang ngon giấc.Mai đưa tôi vào phòng nàng, căn phòng mà cả một thời gian dài với tôi luôn là vùng cấm địa. Trên chiếc bàn nhỏ, một lọ hoa với hai cánh hoa hồng trắng và đỏ, một chai rượu sâm banh ngâm trong sô nước đá và hai chiếc ly thủy tinh có chân. Chiếc giường ngủ đang mời gọi, tôi ôm lấy nàng siết thật mạnh, tôi hôn nàng với tất cả sự tham lam thèm khát… Nhưng Mai đã khéo léo lách ra khỏi tôi, nàng thì thầm: “Khoan đã anh, để em thấp lên cây đèn cầy, chúng ta hãy uống với nhau ly rượu hợp cẩn, chai rượu này em đã để dành nó từ ngày em lập gia đình. Đêm nay, chúng ta sẽ chính thức bước vào cuộc sống vợ chồng. Tương lai sẽ cắt nghĩa cho anh: em là người đàn bà thế nào!
Thông dừng câu chuyện, chúng tôi bừng tĩnh, cuộc đời vẫn đẹp sau những năm tháng bị vùi dập, tan nát. Thay mặt cho bạn bè, tôi nâng ly bia:
– Này các bạn, hãy uống cạn để chúc mừng cho Thông, bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với chị Mai, một người đàn bà tiêu biểu của gia đình quân đội.
Đặt ly xuống bàn, một người trong chúng tôi đã lên tiếng:
– Ông bà đã bắt tay làm được việc gì?
– Cuộc sống mình tuy đến sau nhưng mọi việc đều đi vào ổn định. Mai đã nói với tôi: nàng là người đàn bà như thế nào và nàng đã cắt nghĩa bằng một hành động cụ thể; dành cho tôi một tình yêu nồng thắm của sự đền bù sau nhiều năm tháng mất mát; các con nàng đã có hướng đi đầy triển vọng tại học đường nhờ chuẩn bị đầy đủ vốn liếng Anh ngữ và sự thông minh vốn có. Nàng đã có một cửa hàng, nhưng nàng đã nói: phi thương bất phú, ông bà ta có dạy như vậy, nhưng với em, cửa hàng này với số tiền kiếm được sẽ giúp cho anh rộng chân hoạt động việc chung mà không phải bận tâm đời sống kinh tế… Cho nên, mình đã bước vào cuộc sống chính trị ở đây, làm một cái gì đó cho dù rất nhỏ, nhưng cũng là góp phần vào việc chung… Có khối chuyện để chúng ta tham gia và chia xẻ trong sinh hoạt chính trị của Cộng Đồng mạnh, vô cùng cần thiết cho công cuộc giải trừ bạo quyền cộng sản, bởi vì nó sẽ tác động đến tổ chức chính trị của nước mà chúng ta đang định cư về đường lối và chính sách đối với chính quyền cộng sản. Bởi điều giản dị không phải tự nhiên mà bọn lãnh đạo cộng sản thay đổi thái độ đối với khối người Việt di tản, tị nạn bỏ nước ra đi. Chúng cần đô la từ khối tình cảm quê hương của chúng ta, chúng cần chất xám, khoa học kỹ thuật. Chúng cần chúng ta để yên cho chúng tác oai tác quái trên thân thể đất nước và dân tộc… Nếu mỗi người cùng có quyết tâm, cùng dấn thân, thì chúng ta sẽ có được sức mạnh cần thiết, sẽ lôi cuốn được thêm nhiều người… Tôi đã gặp một số anh em, họ nói: mình cảm thấy ngường ngượng khi có mặt trong một tổ chức…cho nên vấn đề không hẳn cứ đổ lỗi cho việc sinh kế, không có thì giờ…Tóm lại, xin các bạn thông cảm cho mình để mình được phép nhắc lại một câu nói của một bậc đàn anh mà mình đã gặp: “Chỉ có sự mình tước bỏ cái danh vị Chiến sĩ của mình… chứ không ai có quyền bắt ta phải bỏ ngũ”.
Cống có hình trụ làm bằng xi măng có trộn sỏi, đúc cho chắc, đặt âm dưới mặt đường lộ. Cống dẫn nước từ Kinh Bảo Định vô đồng, dẫn thủy nhập điền cho ông bà mình làm ruộng. Qua cầu sắt xã Lương Hòa Lạc, quận Bến Tranh, khỏi luôn chợ Phú Kiết, hồi xưa, VC đặt mìn dưới cái cống nầy giết chết Trung tá Trần Hoàng Quân, Tỉnh trưởng tỉnh Định Tường. Được truy thăng lên đại tá, Trần Hoàng Quân là tên đường dọc theo Giếng nước, bắt đầu từ đường Nguyễn Tri Phương chạy tới đường Ngô Tùng Châu gần cầu bắc Bến Tre. Sau VC vô đổi thành đường Tết Mậu Thân để tưởng nhớ cả đống VC chết trên con đường nầy khi chúng đụng độ với Thiết đoàn 6 Kỵ binh Thiết giáp và lính Sư đoàn 7 vào Tết Mậu Thân.
Miệt Lộ Dừa còn gọi là Lộ Vòng Lớn. Đầu lộ phía cầu sắt Trung An có cái chợ quê chỉ họp buổi sáng. Chợ gần cái cống nên bà con mình gọi là Chợ Cầu Cống. Lộ Dừa là con đường năm 1960, lúc Ba làm Trưởng ty Bưu điện, Má từ Rạch Giá dắt con về chịu tang bà Ngoại lúc con còn thơ ấu!
Ngoài ra, cống làm bằng thiếc có tay cầm, là dụng cụ đo lường mà chú Ba, thiếm Xẩm tiệm hàng xén trong xóm dùng để đong rượu, giấm, nước mắm, dầu hôi. Cái cống còn làm khuôn để chiên bánh cống ngập trong chảo nóng đầy nước mỡ heo.
Ca dao miệt Sóc Trăng cũng có câu: “Hỏi anh có nhớ Bãi Xàu. Bánh xầy chiên mỡ, bánh bao thịt bằm” Thuộc quận Mỹ Xuyên, tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng), Bãi Xàu có bánh pía, mè láo, lạp xưởng, bún nước lèo. Người Tiều ở Sóc Trăng kêu bánh xầy nó chính là bánh cống.
Học giả Vương Hồng Sển trong “Sài Gòn tạp pín lù”
“…Bánh nhưn đậu xanh, chiên mỡ heo, trên mặt có kèm một con tép vàng cháy ngọt bùi, tép nhỏ thì mỗi bánh có hai con tép.”
Bánh cống Sóc Trăng – nguồn wordpress.com
Qua Châu Đốc, Tri Tôn, gọi “bánh xà cón”. Khi lên Chợ Lớn, Sài Gòn thì gọi bánh “giá”, nhân giá đậu xanh, hoặc “bánh tôm khô chiên” Ông Vương Hồng Sển nói vậy không hợp lý. Miệt Hoà Đồng, Gò Công cho thêm vài nhúm giá vô bánh, thế là có tên bánh giá (?!) ư? Giá đâu phải là cái chánh trong nhưn bánh đâu mà gọi là bánh giá? Đóng vai phụ mà tên nguyên bảng hiệu nghe sao lọt cái lỗ tai? Giống như bánh cống chiên bằng cống; gọi bánh vá vì nó chiên bằng cái vá để múc canh, múc cháo.
Theo ông Vương Hồng Sển, bánh xầy bán tại chợ làng Đại Tâm (Xoài-Cả-Nả), là ngon nhứt hạng không nơi nào bằng. Bánh xầy ngon, khi cắn, miếng bánh trong miệng, nhai vừa giòn khướu vừa thơm thơm mùi tép và thơm mùi mỡ mới. Khi nuốt khỏi cần cổ, bánh còn để lại một dư vị mặn mặn cay cay của chén nước mắm ớt rẻ tiền. Bánh đã nuốt vô tới bụng tới bao tử mà chưa thấy no và còn muốn ăn nữa vì dư vị kia thật là thần sầu quỷ khốc”.
Đọc bài bánh cống của tui, một người đẹp ‘post comments’ lên như vầy: “Dạ ngày xưa ở Ngã tư quốc tế Sài Gòn, giấc chừng 3, 4 giờ chiều có bán bánh cống ăn với rau sống, rau thơm chấm nước mắm chua ngọt. Ngon tới nỗi nhớ mấy chục năm rồi em còn nhớ”.
Lời em nói làm tui nhớ ca từ của nhạc sĩ Hoài Linh có câu: “Cầu Chữ Y, Lộ Hàng Xanh, lửa bạo thiêu tám nẻo đường thành” lúc VC tổng công kích Tết Mậu Thân. Tui bèn trả lời người đẹp là quê mình có nhiều ‘Ngã tư quốc tế’ lắm. Như ở Mỹ Tho, chạy xe qua cầu nhớ lời thề năm cũ: “Chừng nào cầu quay nọ thôi quay. Thì qua với bậu mới đứt dây cang thường” một khúc trên đường Đinh Bộ Lĩnh qua khỏi nhà Đông y sĩ Hồ Duy Thiệt.
Ngã tư Quốc Tế Sài Gòn xưa – nguồn Flickr
Còn Ngã tư quốc tế ở Sài Gòn mà người em sầu mộng nầy nói, vốn dĩ không có tên trên bản đồ. Nó gồm 4 con đường: Bùi Viện (tên xưa là Bảo Hộ Thoại). Đề Thám (Dixmude). Trần Hưng Đạo (Galliéni). Đỗ Quang Đẩu sau rạp hát Nguyễn Văn Hảo.
Đào kép cải lương trước giờ tập tuồng thường ra đây cà phê, sau khi vãn hát rồi thì nhậu nhẹt bánh cống, cóc, ổi khô mực. Đời nghệ sĩ lăn lóc gió sương. Ba ngày đêm nổi lên sình chương (sình trương) là vậy đó.
Góc Đề Thám – Bùi Viện có một quán cà phê, trước cửa chủ quán treo tấm bảng viết hai câu thơ lục bát: “Uống đâu cũng phải trả tiền. Uống đây giúp đỡ bạn hiền – cám ơn”
Còn Ngã tư quốc tế trên đường Bùi Viện sau này? Tui chỉ nhớ năm 1987, có nhà may âu phục Sỹ Tân. Là người Bắc 54, ông chủ gọi là nhà may chớ không phải là tiệm may. Ông tên Sỹ Tân. Sỹ viết ‘y’ dài chớ không viết ‘I’ ngắn như dân Nam Kỳ. Tui nhớ tiệm may Sỹ Tân là vì lúc đó CS cho quảng cáo trên đài phát thanh giống chương trình thương mại quảng cáo trên Đài phát thanh Sài Gòn trước 1975. Đối với CSBV đổi mới là lẳng lặng ‘cóp’ lại cái cũ của thời VNCH tư bản. Im lặng, nín khe ‘cóp’; vì nói ra sợ quê. Cóp còn làm chẳng nên thân, làm dở hơn xưa?!
Còn bây giờ, phố Tây Bùi Viện, còn gọi là Phố đi bộ Bùi Viện hoặc Ngã tư quốc tế nơi tập trung của nhiều du khách từ khắp nơi trên thế giới, đa phần đều là Tây ba lô.
Ngày từ mẫu năm nay rơi vào Chủ Nhựt, tuần thứ hai của tháng Năm, tui lại nhớ về đất mẹ, tui nhớ Sài Gòn. Tui cũng nhớ đất Cần Thơ của tui thời lưu lạc khi CSBV cướp được đất Sài Gòn.
Vượt biển ra đi; trong cái chết tìm ra cái sống tự do, tui trở thành con người quốc tế. Tui nhớ Ngã tư quốc tế Sài Gòn, nhớ bánh cống cuốn với cải xà lách, rau thơm chấm nước mắm ớt.
Tui nhớ đèn Ba Ngọn, ngã ba Ngô Quyền Hai Bà Trưng, Bến Ninh Kiều, Cần Thơ. Ngày ấy, 11 giờ khuya, em Nguyễn Hoàng Dũng còn nghĩ tình nghĩa thầy trò; dù tui đã ‘mất dạy’ lâu rồi, nên xách xe Honda 67 chở tui ra để hai thầy trò ngồi cuốn bánh cống, uống rượu nếp than.
Xa quê đã 30 năm, Footscray quê người, tui không còn dịp nào ăn bánh cống nữa. Đêm mơ, tui lần mò về quê cũ! Em yêu bán bánh cống ơi!
Vị trí Kiên Giam 6 ở bên phải, cuối dãy khu Kiên Giam ED tầng 2, gần hồ chứa nước. Nằm chính giữa Kiên Giam 7 và Kiên Giam 5. Đối diện là Kiên Giam 8 và Kiên Giam 9. Diện tích cùng cách bố trí bên trong y chang với phòng Kiên Giam 26 trên tầng 4 mà đêm đầu tiên tôi đã trải qua. Ngay cửa ra vào bên tay phải là một cái bàn cầu tiêu xây bằng xi măng. Từ ngoài cửa vào tới sát vách tường bên trong khoảng 3 mét, bề ngang khoảng 2 mét rưỡi, cũng có một cái bồn rửa mặt bằng xi măng đã bị hư không còn sử dụng được và cũng có một ống nước “truyền tin” bên trên để chúng tôi có thể liên lạc nói chuyện với Kiên Giam 5 và phòng trên lầu.
Khi chuyển đến Kiên Giam 6 này, tôi ở chung với Trương Phái Hàn và Lâm Văn Hua thêm một thời gian mấy tháng nữa thì Lâm Văn Hua nhờ có người nhà bên ngoài lo lót nên được thả về.
Tôi phải nói về anh chàng Lâm Văn Hua này một chút. Anh ta mang hai dòng máu Việt Miên, tướng người to con, gương mặt khá đẹp trai, da ngâm đen nhưng rất hiền và tính tình dễ thương lắm. Anh ta nói tiếng Việt không rành, phát âm đơ đớ còn rất ngọng nghịu. Ba của anh là người Việt đi buôn bán làm ăn rồi lập nghiệp luôn ở Campuchia từ hồi còn thanh niên, sau đó lập gia đình với một người đàn bà Campucia. Anh đã ra đời tại đất nước xứ Chùa Tháp và trưởng thành tại đất nước này. Khi lớn lên anh lập gia đình với một người đàn bà Việt Nam cũng sinh sống tại Campuchia. Sau mấy lần cùng vợ về thăm VN, vợ chồng anh ở nhà ông chú vợ ở Phú Nhuận. Ông chú vợ này là Trung Uý Công An đã móc nối anh mua hàng Thái Lan như thuốc lá Samit, hộp quẹt gas nhựa, vàng… nói chung tùy thời điểm, bất cứ mặt hàng nào kiếm lời được nhiều thì anh sẽ mua thứ đó chuyển về cho ông chú vợ ở Saigon tiêu thụ rồi chia nhau. Anh chàng Lâm Văn Hua này đi buôn lậu như vậy cũng thành công tốt đẹp mấy chuyến, lần chót khi về gần tới Phú Lâm thì bị xét bắt gặp và giải ngay vào Chí Hòa. Chắc có lẽ ông chú vợ Trung Uý công an của anh cũng quen lớn lắm nên anh vào không bao lâu, lúc đó chúng tôi còn ở ngoài Kiên Giam 1, thì anh đã được tin nhắn vào và sau đó không bao lâu thì anh được thăm nuôi gặp mặt đặc biệt rồi.
Anh ta kể cho chúng tôi nghe về thời Pôn Pốt ở Campuchia, người dân đã khổ sở như thế nào? Tất cả các đàn ông thanh niên nào còn mạnh khoẻ đều bị chính quyền Pôn Pốt bắt lên rừng sâu khai phá, lao động canh tác hết. Thu hoạch được bao nhiêu chính quyền Pôn Pốt gom hết. Mỗi ngày các người dân lao động chỉ được phát cho một ít cơm và cá khô, không đủ ăn nên sau mỗi ngày lao động về dù trời tối người dân cũng phải ráng ra đồng tát cá, bắt cua, hái rau rừng… thêm để ăn, chứ đói quá chịu không nổi. Mỗi tháng, chính quyền Pôn Pốt cho người nhà lên thăm, vợ con được ở lại một đêm rồi hôm sau phải đi về ngay. Ở nhà gia đình tuy đói kém nhưng cũng phải gói ghém dành dụm mỗi tháng đem lên nuôi những người lao động. Đó là những người dân bình thường mà còn bị chính quyền Pôn Pốt đối xử như vậy, huống chi tù nhân phạm pháp thì khỏi phải nói, họ còn bị đày ải khổ sở gấp bội lần và gần như người nào đã là tù phạm pháp thì ít ai còn mạng sống sót trở về.
Qua lời Lâm Văn Hua kể lại thì những người dân nào lên rừng lao động cho chính quyền Pôn Pốt mà bỏ trốn khi bị bắt sẽ bị cùm nhốt, bỏ đói cho tới chết. Chính anh một hôm nhớ vợ con quá đã bỏ trốn về nhà, tối ngày chỉ trốn ru rú dưới hầm, không dám đi đâu hết, ban đêm mới dám bò lên… Được không bao lâu thì bị người tố cáo. Một đêm du kích quân Pôn Pốt xông vào nhà cùm anh dẫn đi mất. Sau đó chúng nhốt anh ở một lán trại dài sâu trong rừng nơi đã có nhiều người đã bị cùm trước từ lâu rồi. Anh kể tất cả các tù nhân nằm xếp lớp như cá hộp thành nhiều dãy ngay dưới đất, hai chân bị cùm xuyên qua một cây sắt thật dài thành một “xâu người”, anh diễn tả nguyên văn trông giống như một cây xiên thịt dính vào nhau trước khi đem nướng, chỉ khác một cái miếng thịt ở đây là một con người ta và cứ mỗi “xâu người” như thế khoảng độ 25 đến 30 người. Đói kém bệnh tật thì khỏi phải nói, nhưng đâu làm gì có thuốc men! Mỗi ngày bọn du kích mang tới mấy vắt cơm ném vào trong cho đám tù khốn khổ chia nhau ăn. Đôi lúc đói quá các tù nhân dành giật, đánh nhau loạn xà ngầu cũng chỉ vì một miếng cơm nhỏ bẻ ra chia không đều. Người ta phải ăn cả những con trùng con dán nào phát hiện được. Thỉnh thoảng có một người chết thì “xâu người” còn lại la lớn lên cho du kích quân Pôn Pốt ở một lán trại xa nghe được tới mở cùm cho mang người chết ra chôn vội vã ở một cái hố không xa nơi đó lắm. Từ từ số người còn lại cũng tuần tự thay phiên nhau được kéo ra vùi lấp vào cái hố đó. Lâu lâu du kíck quân Pôn Pốt lại bắt thêm được mấy người ở đâu đó mang về trám vào số người đã chết, nên “xâu người” trong cùm gần như lúc nào cũng chật cứng.
Chính anh cũng tưởng sẽ bị cùm giò ở đó cho đến chết, nhưng nhờ chiến tranh Việt Miên nổ ra, anh được bộ đội VN vào giải cứu kịp thời chứ không cũng chết lâu rồi. Khi bộ đội VN cứu anh ra, anh chỉ còn da bọc xương, người thì đầy bệnh tật, sau đó người ta phải chở anh về nhà bằng xe bò chứ anh đi không nổi nữa. Nhờ vợ con ở nhà còn dấu được ít vàng nên mang ra bán tẩm bổ, thuốc men … cho anh cả năm trời mới hồi phục lại được. Mặc dù có nghe qua báo chí và một số người kể trước đây, nhưng tôi và Trương Phái Hàn nghe Lâm Văn Hua kể về cái ác độc trong thời Pôn Pốt ở Campuchia trước đây mà không khỏi rùng mình.
Cám ơn Phật Trời! Nếu như vậy thì CS VN vẫn còn nhân đạo nhiều lắm nếu so sánh với CS Campuchia trước đây và người dân VN còn may mắn lắm phải không? Ha Ha! Tôi so sánh tới chuyện này mà không khỏi bật cười.
Tôi có một kỷ niệm không bao giờ quên với Lâm Văn Hua.
Ở Kiên Giam 6 một thời gian, cả ba đứa Lâm Văn Hua, Trương Phái Hàn và tôi, bỗng dưng bị ghẻ lác đầy cả người. Khi báo với cán bộ, y tá ở dưới bệnh xá chỉ gởi lên cho chút thuốc đỏ. Thằng nào thằng nấy xức thuốc đỏ đầy cả người trông giống như con cắc kè bông đỏ, thấy mà ghê. Nhưng chứng ghẻ lác vẫn hoành hành chúng tôi, không cách gì hết được. Ban đêm thì ôi thôi khỏi nói, chúng tôi cứ thi nhau mà “khảy đàn” cả đêm không làm sao ngủ được. Lúc đó tôi đã quen biết bà Mẹ nuôi của tôi rồi, nhưng chúng tôi chưa nhận làm Mẹ con. Nên bà không biết là tôi đang bị chứng ghẻ lác này hành hạ ghê gớm như thế. May quá, lúc đó đến kỳ thăm nuôi, Lâm Văn Hua được thăm gặp mặt gia đình nên anh ta ra nói với vợ phải làm sao nhờ ông chú công an gởi thuốc lác vào cho anh gấp chứ không thôi thì ngứa ngáy quá chịu không nổi nữa.
Mấy ngày sau, anh được ông chú vợ gởi vào cho mấy hủ thuốc lác hiệu “Ông Già”. Chúng tôi vừa xức thuốc cho nhau vừa chổng mông xuýt xoa, rên rỉ đau đớn vì thuốc lác này xức vào rát khủng khiếp. Chỗ nào có thuốc xức vào sẽ xùi bọt lên và khoảng da ở vùng đó cháy lên ngay như bị đổ acid vào. Đau đớn thấy tám chín ông trời khi xức thuốc vào chứ không phải chuyện giỡn chơi. Nhất là bị ghẻ lác ngay những chỗ kín. Ba thằng chúng tôi đứa nào đứa nấy cố chịu đựng đau đớn, xức thuốc vào đâu được mấy lần thì chứng ghẻ lác hết tiệt luôn. Quả là hay thật!!! Sau đó chúng tôi cứ kể lại chuyện này mà ôm bụng cười bò càng hoài.
Đó là kỷ niệm của tôi với Lâm Văn Hua, không nhờ có anh chàng Việt lai Miên này nhắn người nhà cứu giúp kịp thời lúc đó, thật không biết chúng tôi phải làm sao với chứng ghẻ lác quái ác đó. Mà nghĩ cũng ngộ, không ai được thăm nuôi gặp mặt khi còn ở Kiên Giam, ngoại trừ vài trường hợp đặc biệt nhưng cũng chỉ giỏi lắm là được một lần. Vậy mà anh chàng Lâm Văn Hua này được thăm gặp mặt mỗi tháng, lại có được ông chú vợ Trung Uý Công An có “bản lảnh” gởi thuốc “đột xuất” vào để cứu nguy ba thằng bị ghẻ lác đúng lúc. Khi nhớ lại điều này tôi cũng lấy làm lạ và số tôi quả thật vẫn còn may mắn lắm.
Sau mấy tháng chuyển vào Kiên Giam 6, Lâm Văn Hua được thả về. Không bao lâu sau thì có một người mới vào thay thế liền. Chúng tôi cũng có một kỷ niệm vui khó quên với người mới đến này như sau: Tôi còn nhớ lúc đó khoảng 10 giờ sáng, tôi và Trương Phái Hàn đang nằm ngủ (ban đêm thức khuya họp chợ, ban ngày ngủ bù là thời khoá biểu bình thường trong tù) thì cán bộ mở cửa đẩy một người vào. Tôi và Trương Phái Hàn đang ngủ, nghe cửa mở, giật mình dụi mắt ngồi dậy nhìn người mới bước vào còn đang đứng rụt rè gần chỗ cầu tiêu.
Google photos
Có lẽ gương mặt ngái ngủ của tôi và Trương Phái Hàn lúc đó trông “ngầu” lắm hay sao, bỗng dưng anh chàng mới tới này ngồi sụp xuống dưới chiếu của tôi, tay móc trong túi ra một gói thuốc Hoa Mai và một ít tiền, anh ta nói:
– Dạ thưa mấy đàn anh, em mới vào nếu có gì lầm lỗi xin mấy đàn anh chỉ dạy dùm cho em, mấy anh biểu gì em cũng nghe hết. Em chỉ còn có chút đỉnh thuốc và ít tiền ở đây, xin mấy đàn anh nhận cho.
Trời! Chuyện gì nữa đây?? Tôi nhìn Trương Phái Hàn lúc đó cũng đang ngơ ngác nhìn qua tôi. Anh chàng “Gà Mới” thấy chúng tôi im lặng lại càng hoảng hốt hơn, anh ta cuống quít nói:
– Dạ em nói thiệt, em chỉ có bao nhiêu đây thôi, không còn gì khác hơn nữa. Mong mấy đàn anh không chê mà nhận dùm cho em vui.
À, tôi hiểu rồi. Anh chàng “Gà Mới” này ngỡ ở đây có qui chế tù anh chị Đại Bàng này nọ như ở mấy chỗ tù hình sự hoặc tệ đoan xã hội…
Trong bụng tôi vừa tức cười vừa làm bộ nghiêm cầm gói thuốc Hoa Mai lên hỏi anh ta:
– Trong này còn mấy điếu đây?
– Dạ, em mua hồi sáng mới hút có một, hai điếu gì đó nên còn nhiều lắm –Vừa nói anh ta vừa xoa xoa hai bàn tay có vẻ hồi hộp lắm.
Tôi lấy ra một điếu, hỏi:
– Có thuốc mà có lửa không vậy?
Mặt anh ta bỗng đổi sắc nói như mếu:
– Chết rồi! Em quên nói cho các đàn anh nghe. Hồi nãy Công an xét đồ đã tịch thu hộp quẹt của em rồi. Xin mấy đàn anh tha lỗi cho em, chuyện này ngoài ý muốn của em..
Tôi cũng làm bộ nghiêm mặt, không nói gì cả lấy ra một điếu cắm lên môi, một điếu khác đưa cho Trương Phái Hàn rồi nháy mắt với nó. Trương Phái Hàn không biết hút thuốc nhưng lúc đó chắc cũng hiểu sự việc và biết tôi đang muốn đùa cho vui với con “Gà Mới” vào này, nên nó cũng cầm điếu thuốc tôi đưa qua gắn lên môi:
– Trương Phái Hàn! Lấy đồ làm lửa ra đi. – Tôi nói như có vẻ ra lệnh.
Trương Phái Hàn lật đật đứng lên, bước tới bồn rửa mặt lấy cái bàn chải đánh răng có cục đá lửa gắn ở cán bàn chải, sau đó nó lấy một miếng mảnh chai dấu trong kẹt bồn rửa mặt và xé ra một tí xíu bông gòn, sau đó nó dùng miếng mảnh chai nẹt lửa ra từ viên đá lửa trên cán bàn chải. Mấy tia lửa nhỏ xẹt ra bắt vào mảnh bông gòn cháy lên thành lửa ngọn. Thế là Trương Phái Hàn mồi điếu thuốc tỉnh bơ trước cặp mắt vừa ngơ ngác vừa thán phục của anh chàng “Gà Mới”. (Cách làm lửa này tôi sẽ kể ở phần tiếp theo).
Sau đó Trương Phái Hàn đưa điếu thuốc cháy qua cho tôi mồi. Tôi khoan khoái rít mấy hơi thuốc rồi đưa gói thuốc lại cho “Gà Mới”:
– Lấy một điếu hút đi.
– Dạ em không dám hút đâu, cái này mấy đàn anh để dành hút đi.
Tôi làm bộ gằn giọng:
– Tôi nói hút thì cứ lấy hút đi.
“Gà Mới” hoảng quá:
– Dạ, dạ…
Anh ta lấy ra một điếu, xin phép tôi mồi lửa rồi ngồi xuống khép nép hút điếu thuốc với tụi tôi. Lúc đó không còn nín cười được nữa, tôi nhìn qua Trương Phái Hàn rồi cả hai thằng ôm bụng cười bò lăng bò càng trước cặp mắt ngơ ngác của anh chàng “Gà Mới” tội nghiệp này. Bữa đó chúng tôi được một trận cười nhớ đời.
Sau đó chúng tôi giải thích với người mới vào là ở đây không có chuyện tù anh chị Đại Bàng, Đại Biếc… đàn anh đàn em gì cả… mọi người như nhau thôi… Anh ta cũng bật ngửa ra và cùng vui vẻ cười với chúng tôi.
Anh chàng mới tới này tên là Lê Thành Cát – trùng tên với tay cua rơ xe đạp của VN, nổi tiếng khắp Đông Dương trước đây – Lê Thành Cát này rất hiền, giọng nói khàn khàn vì cuống họng bị mổ trước đây hay sao đó. Anh ta bị bắt với tội danh “Đánh Cắp Tài sản Nhà Nước XHCN”. Tội danh nghe ghê gớm như vậy chứ thật ra có khỉ gì đâu. Anh ta làm công nhân viên, lương hướng chết đói không đủ đâu vào đâu nên chôm lặt vặt mấy món đồ trong xưởng về bán chợ trời kiếm thêm nuôi gia đình chứ đâu có ăn cắp qui mô gì đâu, tội của anh đúng ra nên liệt vào các loại như ăn cắp vặt thôi chứ làm gì mà phán một câu đao to búa lớn đến độ: “Đánh Cắp Tài sản Nhà Nước XHCN” dữ vậy!!
Ở trong XHCN này, cái gì động đến cũng là Tài sản Của Nhà Nước XHCN, còn cái tài sản đó Nhà Nước XHCN “đánh cắp” từ đâu mà ra thì không nghe thấy Nhà Nước nói. Không lẽ Tài sản đó tự dưng ở trên trời rơi xuống cho Nhà Nước?? Nhân Dân cứ cắm đầu cắm cổ làm chết ông chết cha, được bao nhiêu gom vào là thành Tài sản của Nhà Nước XHCN thôi. Người dân đói khổ quá chôm những gì của chính mình đã làm ra thì bị gán cho một cái “nhãn hiệu” đánh cắp tài sản Nhà Nước XHCN ngay.
Điều này làm tôi nhớ lại lúc đi tù cải tạo, mỗi ngày chúng tôi làm lao động cật lực, trồng trọt đủ mọi thứ từ lúa, khoai mì, bắp… Không biết bao nhiêu mẫu mà nói, đứng nhìn vào khu trồng trọt của chúng tôi lúc bấy giờ phải gọi là rộng lớn bạt ngàn, tầm nhìn mút con mắt. Tôi có thể đoan chắc nếu bịt mắt một người bỏ vào một vườn bắp, hoặc vườn khoai mì nào đó là đi lạc không biết đường ra luôn. Chính chúng tôi đi lao động hàng ngày mà còn lạc lên lạc xuống, mỗi khi đi về phải hú gọi ơi ới, hoặc bẻ một cành mì, cây bắp giơ lên cao ve vẩy để người đang làm ở xa biết chỗ mà đến tập họp ra về… Đến kỳ thu hoạch thì khỏi phải nói nhiều không biết đến bao nhiêu mà kể, xe vận tải chở liên tục từ sáng sớm đến tối mịt ngày này qua ngày khác trong suốt mùa thu hoạch… Vậy mà chúng tôi thì đói nhăn răng!!
Tiêu chuẩn ăn của chúng tôi không đủ trám bao tử thì làm sao có sức mà lao động nặng hàng ngày. Vì thế không thằng nào là không bẻ trộm bắp, khoai mì ăn thêm cả. Nhiều khi đang lao động trên đồng thu hoạch khoai mì. Đói quá, chúng tôi phải nhổ củ khoai mì rồi chia nhau canh chừng cho một thằng đốt lửa nướng. Đôi khi có cán bộ quản giáo ở gần không đốt lửa lên nướng được vì sợ lộ, chúng tôi lột vỏ ăn sống tại chỗ. Miệng thằng nào thằng nấy chất sữa của khoai mì sống chảy trắng đầy hai bên mép và chảy xuống rơi vãi lên cả áo quần… Tệ hại hơn nữa, có người ăn khoai mì sống bị “say” sùi bọt ra mép, dẫy tê tê làm cả bọn hết hồn tưởng anh ta trúng độc… Vậy mà khi xui bị bắt gặp thì mấy tên quản giáo chó má lôi chúng tôi ra họp hành kiểm điểm cả đêm về tội “Đánh Cắp Tài Sản Nhà Nước XNCH”, tài sản mà chính chúng tôi lao động cật lực tạo ra!!
Lê Thành Cát vào ở chung với chúng tôi khoảng nữa năm thì Trương Phái Hàn được ông chủ người Hoa bên ngoài lo lót nên được về. Đúng ra tội trạng của Trương Phái Hàn đâu có gì quan trọng, anh ta chỉ là thợ làm công cho chủ sản xuất bài Tứ Sắc lậu bán trong dịp Tết, nếu anh khai thật thì chắc đã được thả về lâu rồi, nhưng anh lại đóng vai “Lê Lai cứu Chúa” và đã khai là chủ chốt để ông chủ anh thoát tội, nên mới kéo dài mãi tới ngày về cũng hơn một năm rưỡi ở tù chứ đâu ít ỏi gì. Trương Phái Hàn về rồi, tôi nhớ nó rất nhiều. Suốt hơn một năm trời ở chung với tôi, nó luôn giúp tôi nhiều chuyện, nào là cõng tôi lên song sắt phía sau mỗi ngày, có khi một ngày mấy lần khi tôi còn liên hệ với con Nai… sau đó thì canh me cho chúng tôi nói chuyện liên tục không dám ngơi, sợ rủi cán bộ vào thì chúng tôi bị bắt. Chưa bao giờ nó càu nhàu với tôi tiếng nào cả. Sau này khi về tôi có đi kiếm thăm nó mà không gặp vì nó đi làm nơi khác thỉnh thoảng mới về nhà một lần.
Còn lại tôi và Lê Thành Cát ở chung với nhau khoảng 5, 6 tháng gì đó rồi anh ta cũng được thả về. Khi còn ở chung với nhau Lê Thành Cát có cho biết trước đây anh có học nghề may và sau khi được ra có thể anh sẽ sinh sống bằng nghề thợ may. Nhìn những người ở chung với mình lần lượt ra đi. Người thì ra Toà lãnh án đi lao động hoặc chuyển đi một nơi nào khác… người thì được thả về. Còn riêng tôi thì không ai đếm xỉa gì cả. Tính tới lúc Lê Thành Cát được thả về thì tôi đã ở Chí Hoà cũng hơn 3 năm rồi chứ ít ỏi gì sao!!
Google photos
Kể từ khi đổi xuống khu Kiên Giam này, cảm thấy ngày về còn đăng đẳng, không hy vọng gì cả nên tôi đâm ra lì lợm và không còn sợ gì cả. Ban đêm tôi hát hò, nói chuyện với những phòng bên cho tới khuya. Tôi lại là một thằng hay hát thật lớn, hình như có hát thật lớn tôi mới có thể vơi bới đi những buồn bực trong lòng. Đối với tôi bây giờ, lỗ cửa gió buổi chiều đám cán bộ và lao động hay đóng kín lại trước khi khoá cửa sắt lại, không thành vấn đề nữa. Bằng một cái móc kẽm gai chúng tôi bẻ trên song sắt ở phía sau, tôi có thể mở lỗ cửa gió từ bên trong và khép kín nó lại như có người đóng nó lại từ bên ngoài. Bởi vậy mỗi đêm sau khi mở ra cho mát, ban ngày trước giờ lao động mở cửa ra lấy nước thì chúng tôi đã đóng cửa gió lại như cũ rồi, nên khi lao động và cán bộ vào vẫn tưởng là cửa gió được gài kín cả đêm.
Sau khi chuyện liên hệ với mấy tù nữ ở dưới khu Xưởng may bị bể, tôi bị đổi vào trong Kiên Giam 6 này, tại đây tôi học được thêm nhiều chuyện mới. Vấn đề làm ra lửa không còn khó khăn đối với tôi nữa, nay tôi đã biết cách lấy lửa từ bóng đèn. Bằng một nhúm vải mỏng thật khô, như vải mùng chẳng hạn… chúng tôi bọc bóng đèn đang cháy lại, để phần bóng đèn tiếp giáp với nhúm vải khô đó, đợi đến khi nó nóng đến bốc lên khói, chúng tôi chỉ cần giở ra và thổi nhẹ vào nhúm vải khô lúc đó đã cháy đen thui thì lửa ngọn sẽ bốc lên. Cách này có hơi mạo hiểm và dễ làm cháy bóng đèn. Mỗi khi bóng đèn bị cháy chúng tôi phải sống trong bóng tối một thời gian thật lâu trước khi được thay bóng khác, nên từ từ chúng tôi không dùng cách này nữa. Thay vào đó, một cách “văn minh” hơn, chúng tôi mua chuộc lao động Xáng mang vào cho chúng tôi mấy viên đá lửa loại xài trong mấy hộp quẹt máy. Sau đó chúng tôi dùng một cọng kẽm bẻ trên song sắt dùi vào đầu cán nhựa của bàn chải đánh răng đã được hơ lửa nóng cho mềm sẵn, sau đó nhét viên đá lửa vào đó, khi đầu cán nhựa của bàn chải đánh răng khô, nó sẽ co thắt lại giữ viên đá lửa nằm cứng trong đó. Chúng tôi chỉ cần dùng một mảnh chai nhỏ đập bể từ một hủ chao mua hàng tháng và dùng một tí bông gòn kê sát vào cán bàn chải đánh răng nơi có viên đá lửa gắn trong đó, một tay dùng mảnh chai nẹt lên viên đá lửa bắn toé ra mấy tia lửa và thế là đủ để đốt miếng bông gòn nhỏ đã xé tưa ra sẵn. Cách này mau chóng trở thành một cách phổ biến trong đám đám tù chúng tôi và mỗi khi bị xét phòng, đám cán bộ không phát giác ra được và điều quan trọng là chúng tôi không còn phải xé vải áo quần, mùng mền để xe cúi giữ lửa nữa.
Chúng tôi đã biết cách làm ra mực, bằng cách lấy các bao nylon thăm nuôi mỗi tháng cuộn lại thành những que nylon mà ở đây tù gọi là “hỏa tốc”, sau đó chúng tôi đốt lên và kê ngọn lửa ngay dưới cái bồn rửa mặt bằng xi măng, khói bốc lên đen thui bên dưới đáy bồn rửa mặt, sau đó chúng tôi cạo lớp khói đen này, trộn chung với một tí kem đánh răng và nước, quậy lên thật đều, tùy theo số lượng khói cạo ra được mà gia giảm số lượng giọt nước và thế là chúng tôi có một loại mực viết thật tốt. Ngòi viết thì sau khi xài hết kem đánh răng, chúng tôi xé tung cái vỏ không của kem đánh răng ra và chế thành ngòi viết từ mảnh nhôm kem đánh răng này.
Ngoài ra chúng tôi còn có thể đi “xe” chở hàng lên đến tầng lầu 3 qua đường… lỗ cầu tiêu và sau đó người trên lầu sẽ đi xe tiếp chuyền đến những phòng khác. Đây là điều chính tôi khám phá ra được.
Chuyện là như vầy:
Sau khi bị chuyển qua Kiên Giam 6, tôi cũng thường liên lạc nói chuyện với Kiên Giam 5 và phòng trên lầu ngay trên phòng tôi, cũng bằng cách dộng gót chân vào tường gọi nhau làm tín hiệu và sau đó nói vào ống nước “truyền tin” trên bồn rửa mặt.
Có ba người ở phòng trên tầng 3 ngay trên phòng chúng tôi, đó là: Bác Ba Thuyền Trưởng xà lan chở hàng trên sông đi khắp các tỉnh miền Tây, bị bắt về tội “Âm Mưu Đánh Cắp Tài Sản Nhà Nước XHCN”, người thứ hai là một Kỷ Sư Công chánh trước 75, tội xê tê. Khi bị bắt xét nhà có chứa nhiều vũ khí, bị bắt với tội danh “Âm Mưu Lật Đổ Chính Quyền Cách Mạng”, còn người thứ ba thì bị bắt với tội danh “Tuyên Truyền Thơ Ca Phản Cách Mạng” giống như tội danh của tôi. Sau khi hỏi kỹ ra thì Trời Đất ơi! Đó là Cảnh bạn của thằng Hồng Vân (Nguyễn Sĩ Trí), cũng bị bắt giống y chang như tôi vì bị thằng Hồng Vân ngu xuẩn khai ra tên nên bị dính chấu y như tôi vậy. Anh chàng Cảnh này cũng là bạn đi tù cải tạo với thằng Hồng Vân, tôi chưa hề biết qua trước đây ở bên ngoài. Điều khác nhau giữa tôi với anh chàng Cảnh này là trong khi đi “làm việc” với cán bộ chấp pháp (hỏi ra thì cũng đúng là 3 thằng công an đã bắt và làm việc với tôi trước đây), khi bị “quay” quá. Cảnh đã khai thật là: Một hôm khi Nguyễn Sĩ Trí tới nhà Cảnh chơi, cũng đã đưa cho Cảnh đọc bài thơ này, anh ta đã khai cũng vô tình đọc qua chứ không có tuyên truyền cho ai cả. Cảnh cũng hy vọng là thành thật khai như vậy sẽ được cứu xét thả ra. Ai ngờ vẫn bị nhốt mút chỉ.
Khi nghe như vậy thì tôi thấy rằng mình cương quyết chối lúc trước là quá đúng. Chúng nó có nhốt tôi tới đâu thì tới chứ tôi không thể tin được tụi CS này, bằng chứng rõ ràng là Cảnh đã khai thật mà tới giờ vẫn bị nhốt (vào thời điểm tôi biết Cảnh thì chúng tôi đã ở đây hơn 2 năm rưỡi rồi). Tôi không thể khai thật để chúng vin vào đó lập hồ sơ kết án tôi được. Tôi cũng dấu Cảnh là tôi không có đọc và không biết gì về bài thơ đó hết.
Sau đó tôi liên lạc cho thằng Hồng Vân biết là Cảnh đang ở phòng trên phòng tôi. Từ đó chúng tôi vẫn liên lạc nói chuyện đỡ buồn với nhau hằng ngày cho đến khoảng gần nữa năm sau thì Hồng Vân và Cảnh bị đưa ra Toà: Hồng Vân bị kết án 11 năm, chuyển đi lao động cải tạo với tội danh “Tuyên Truyền Thơ Ca Phản Cách Mạng”, còn Cảnh bị kết án 6 năm, chuyển đi lao động cải tạo với tội danh đổi lại là: “Che chở Không Khai Báo Cho Chính Quyền Cách Mạng Người Đã Tuyên Truyền Thơ Ca Phản Cách Mạng”. Có nghĩa biết mà không khai báo!! Thiệt đúng là khôi hài!!!
Riêng tôi, chúng không đá động gì tới nhưng vẫn bị nhốt tại chỗ. Những điều này tôi chỉ biết sau này khi vợ tôi gởi được thư vào báo. Còn lúc bấy giờ tôi chỉ biết Hồng Vân và Cảnh bị đưa ra Toà và chuyển đi mà thôi, chứ không biết mỗi người bị kết án bao nhiêu năm. Trường hợp của Cảnh cũng là một bài học cho những ai còn tin tưởng vào chế độ khoan hồng của CS khi họ bảo mình cứ khai thật đi sẽ được khoan hồng!!
Trở lại chuyện ở Kiên Giam 6 của tôi lúc bấy giờ, hàng ngày tôi vẫn liên lạc với Kiên Giam 5 lúc đó Hồng Vân còn ở và với 3 người trên lầu với nhau để tiêu khiển giết thời giờ đỡ buồn. Vào những lúc cuối tháng gần như mọi nơi đều hết thuốc hút, riêng Công Chánh (biệt danh của anh chàng Kỹ Sư Công Chánh tội Chính Trị ở phòng trên lầu) lại luôn luôn còn dư rất nhiều, vì anh là người rất ít hút thuốc mà tháng nào người nhà của anh cũng gởi vào cho anh một bịch thuốc rê thật lớn. Bởi vậy trên tầng 3, anh được mệnh danh là Mạnh Thường Quân chuyên tiếp tế thuốc rê cho các anh em ở các phòng khác. Lúc đó bên dưới chúng tôi đang “vả” thuốc quá, anh muốn tìm cách gởi xuống cho chúng tôi mà không biết cách nào.
Ban đầu tôi đề nghị anh thử leo lên song sắt phía sau rồi đi dây thòng xuống từ phía tường đàng sau, trong khi đó tôi sẽ đón bắt ở song sắt phía dưới. Nhưng sau khi Cảnh chuyền cho Công Chánh leo lên song sắt phía sau, anh ta đã cố đạp bùi nhùi vẹt qua một bên tìm chỗ trống rồi thử đi xe xuống phòng tôi thì lại bị đám kẽm gai bùi nhùi trên song sắt phòng tôi cản lại không thòng xuống tới chỗ tôi được, thử mấy lần cũng không được nên đành bỏ cuộc.
Cuối cùng nhìn lỗ cầu tiêu, tôi chợt nãy ra một ý. Vì cầu tiêu ở phòng trên lầu sử dụng chung một hệ thống ống thoát thẳng đứng rất lớn, nên nếu ở bên trên dùng bao nylon gói hàng cẩn thận lại trong nhiều lớp và từ trên thòng dây xuống, ở bên dưới tôi sẽ dùng một đoạn dây kẽm dài uốn cong một đầu làm thành hình một cái móc và thọc xuống lỗ cầu tiêu móc sợi dây kéo lên. Tôi bàn với anh kế hoạc này và cả hai đều thấy có lý. Thế là tôi nói với Trương Phái Hàn cõng tôi leo lên song sắt phía sau bẻ một cọng kẽm gai dài, sau khi lấy hết các mắt gai nhọn trên cọng kẽm, chỉ còn lại hai sợi kẽm xoắn vào với nhau, tôi tách chúng ra và chỉ cần một cọng kẽm là đủ, sau đó bẻ một đầu cong lại như cái móc. Tôi báo cho Công Chánh trên lầu chuẩn bị đi hàng xuống. Lúc đó anh ta đã sửa soạn hàng gói trong nhiều lớp nylon thật kỹ rồi thòng dây xuống qua lỗ cầu tiêu, tôi ở bên dưới chờ sẵn và lấy cọng dây kẽm móc dưới lỗ cầu sau đó từ từ kéo lên.
Chuyến đưa hàng thành công mỹ mãn và dễ dàng hơn chúng tôi đã nghĩ. Sau khi lấy hàng xong, tôi thả dây lại vào lỗ cầu tiêu và báo cho Công Chánh cứ thế kéo trở lên lại. Trong khi đó tôi rửa sạch gói hàng sạch sẽ rồi gỡ từ từ các lớp bao nylon ra, hàng bên trong không hề hấn gì cả. Cả đám chúng tôi vui mừng với khám phá mới và lối chở hàng thành công này.
Google photos
Kể từ đó chúng tôi có thể đi xe chở hàng khắp nơi giữa các tầng lầu với nhau. Nhờ phương pháp này, chúng tôi đã giúp cho biết bao trường hợp mới bị bắt vào liên lạc được với người cùng trong “vụ” và chuyền thư giúp họ thông tin với nhau để lời khai được ăn khớp khi bị gọi lên “làm việc”. Đồng thời chuyền thức ăn, đồ tiếp tế cho những người không được thăm nuôi. Danh hiệu “Sáu Khổ, Hai Ga, Ba Long, Ba Thanh…” của tôi lúc bấy giờ ở khu Kiên Giam ED được anh em tù thương mến lắm. Bất cứ việc gì khó và có tính cách mạo hiểm nếu làm giúp được cho các anh em tù thì “Sáu Khổ” tôi làm liền.
Tuy nhiên vần đề cũng không phải là đơn giản, phải có sự hợp tác một lòng của anh em các phòng khác chứ không phải ai cũng sẵn lòng liều lĩnh như chúng tôi. Sau một thời gian dài ở chung, cuối cùng chúng tôi cũng gạn lọc được những tay “chiến đấu” hết mình và sẵn sàng giúp đỡ các anh em khác. Đa số là các người bị tù chính trị và những tay đứng đầu “vụ”, ở tù mút chỉ không thấy ngày về nên đâm liều mạng, không màng gì tới bị phạt phiết gì cả. Ở Kiên Giam tầng 2 chúng tôi lúc đó có: Sáu Khổ (Tôi), Hồng Vân (Nguyễn Sĩ Trí), Gió (Phan Đình Tố), Thanh Đa (Phan Văn Ty), Kim Cương (Tên Nhẫn, tôi quên họ của anh chàng này rồi) là những thằng bạt mạng ở Kiên Giam ED tầng 2 mút chỉ. Trên tầng 3 lúc đó tôi quen với Công Chánh (Anh chàng kỹ sư tội chính trị), bác Ba và Cảnh, từ đó họ chuyền đi các phòng khác.
Đối diện với Kiên giam 6 là 2 phòng Kiên Giam 8 và 9. Tù thay đổi liên miên từ khi tôi ở khu Kiên Giam này. Cứ hết người này đi, lại có người mới vào trám chỗ ngay. Tôi chuyển vào Kiên Giam 6 đước mấy tháng thì Kiên Giam 8 đối diện dành để nhốt những tù bị bệnh… cùi. Lúc bấy giờ có 3 người ở Kiên Giam 8. Nghe nói họ bị bệnh cùi nhưng nhìn bề ngoài thì tôi không thấy gì đặc biệt hết. Mỗi tối tôi vẫn hay nói chuyện với họ trên song sắt. Tuy nhiên họ cũng tỏ vẻ mặc cảm khi sinh hoạt chung mỗi tối. Có một thanh niên khoảng 27, 28 tuổi ở đó với biệt danh là Hoàng Đen, tôi không biết anh ta bị tội gì mà phải vào đây. Anh ta hát những bài nhạc của Chế Linh rất hay. Có lần anh nghe tôi hỏi Hồng Vân ở Kiên Giam 5 còn thuốc rê không, tiếp tế qua cho tôi. Hồng Vân trả lời:
– Tao cũng hết thuốc hai bữa nay rồi.
Hoàng Đen bên Kiên Giam 8 nghe được nên nhảy lên song sắt nói tôi:
– Bên đây còn nè Sáu Khổ. Đi xe qua tui chuyền cho mấy điếu.
Thật không thể từ chối được. Nếu tôi kiếm cách từ chối thì Hoàng Đen và hai người trong phòng sẽ lại càng mặc cảm thêm. Mà nếu nhận lời giúp thì thành thật mà nói tôi cũng hơi ơn ớn, cuối cùng tôi trả lời anh ta:
– Cám ơn trước nghe. Vậy thì tôi đi xe qua ngay.
Anh ta chuyền cho tôi mấy điếu thuốc rê vấn sẵn. Tôi đã hút tỉnh bơ trước mặt anh bên kia song sắt. Từ đó Hoàng Đen thích tôi lắm.
Một lần khác khi tôi ra lấy nước, nhìn không thấy cán bộ, tôi chạy qua mở cửa gió phòng Kiên Giam 9 hỏi thăm Kiều Mi đang bị bệnh mấy câu. (Cô Kiều Mi này là em gái kết nghĩa của tôi). Lao động Xáng cự tôi quá trời và đuổi tôi vào lại phòng Kiên Giam 6 không cho lấy nước nữa. Lao động ở đây có quyền lắm, tuy không làm gì được mình, nhưng có thể chọt cán bộ đi kỷ luật như chơi, hoặc chọt cho cán bộ vào xét phòng tịch thu mấy món “đồ chơi” rồi đi biệt giam, nên nói chung không ai sợ lao động Xáng, nhưng cũng không muốn đụng chạm tới hắn.
Tôi đang cự nự với lao động Xáng tại sao không cho tôi lấy nước, lấy quyền gì mà không cho tụi tôi lấy nước… lao động Xáng cũng nạt lại tôi. Hai bên còn đang cãi qua cãi lại thì Hoàng Đen bên Kiên Giam 8 nhảy lên song sắt, chỉ tay ngay hắn nói:
– Đ.M. mày nghe Xáng. Mày làm quá là chết mẹ mày bây giờ. Mày có ngon thì đi báo cán bộ đi. Tao hứa với mày nếu mày cà chớn với tù ở đây thì đừng bao giờ mày mở cửa phòng này nữa nghe chưa? Nếu không tao sẽ cho mày biết, dù mày mở cửa có cán bộ đứng đó, tao cũng “chơi” mày liền. Mày cũng là tù như người ta, nhờ đút lót ra được lao động rồi hạnh hoẹ với anh em hả? Mày là cái gì mà không cho tù tụi tao lấy nước.
– Tôi đang nói với người ở Kiên Giam 6 chứ không phải nói với mấy anh. – Lao động Xáng trả lời.
Hoàng Đen không chịu thôi:
– Tao không cần biết mày đang nói với phòng nào. Mày cũng là tù mà có thái độ ăn hiếp tù là tao đục mày liền. Cán bộ có tới tao cũng sẽ hỏi cán bộ coi mày là cái gì mà dám cấm tù khác không được lấy nước.
Lúc bấy giờ mấy phòng kia nghe ồn cũng có người leo lên song sắt ngó ra. Thấy ồn quá, lao động Xáng nhẹ giọng:
– Mấy anh em cũng hiểu cho, làm cái gì cũng vừa vừa thôi chứ. Nếu để anh em muốn làm gì thì làm, cán bộ thấy được họ sẽ “xì nẹt” tôi chứ đâu phải là không. Thôi tất cả leo xuống đi, anh em có chút hiểu lầm thôi. Leo xuống ngay đi để rủi cán bộ thấy thì phiền lắm. Còn mấy anh ở Kiên Giam 6 ra lấy nước tiếp tục đi.
Thế là tôi và Lê Thành Cát ra lấy nước trở lại.
Đúng ra lỗi cũng ở tôi thật! Không hỏi anh ta một tiếng nào lại chạy ngay đến mở cửa phòng nữ ra nói chuyện với bên trong. Điểm thứ nhất làm như vậy có vẻ như coi thường và chạm tự ái anh ta. Thứ hai nếu cán bộ bắt gặp, riêng tôi đi biệt giam kỷ luật không nói gì, anh chàng lao động Xáng chắc chắn cũng bị dũa. Nghĩ lại như vậy nên tôi đến bắt tay anh ta thông cảm và nói “Xin lỗi” với anh ta. Lao động Xáng cũng nói xin lỗi tôi về hành động đuổi tôi trở vào phòng lúc nãy…
Như vậy là chuyện được giải quyết êm đẹp, nhưng có hai điều tốt xảy ra sau đó:
– Các phòng khác tỏ vẻ thân thiện hơn với anh em bên Kiên Giam 8, nhất là với Hoàng Đen. Những cuộc nói chuyện cởi mở hơn từ các phòng bên ngoài thỉnh thoảng gọi vào hỏi thăm anh em Kiên Giam 8 và cuối tháng khi các giỏ đồ thăm nuôi các nơi cạn hết, anh em bên ngoài, người nào còn dư giả vẫn đi xe chuyền vào tiếp tế cho anh em Kiên Giam 8.
– Ngoài ra sau vụ đó, Lao động Xáng dễ giải với anh em chúng tôi hơn trước nhiều, thậm chí chuyền đồ “lậu” dùm cho chúng tôi đến những phòng khác, những khi cần thiết mà chúng tôi bị canh me quá đi xe không được.
Tôi viết lại điều này mục đích cũng để nói lên cái tình người tù đối với nhau trong hoàn cảnh khốn khó. Nhất là những người bất hạnh vì bệnh tật… nhưng họ cũng là con người và đôi khi là những người tốt, dám đứng ra bênh vực cho những người khác khi cần, trong khi những người bình thường khác lại không dám.
Bên Kiên Giam 9 thì nhốt toàn tù nữ đa số là vượt biên, trong đó có cô gái bị bắt về tội Kinh Tế, khoảng 22, 23 tuổi rất dễ thương mà thằng Hồng Vân đặt cho một cái tên để gọi khi sinh hoạt với nhau là Kiều Mi vì cô này có đôi lông mi rất dài và cong vút. Cô này cùng chồng có một chiếc xe Lam, sinh sống bằng cách chở hàng cho người khác… trong những chuyến hàng đó, hai vợ cồng cũng chở thêm một số hàng lậu thuế để kiếm thêm… khi thì vải vóc, khi thì hàng lậu thuế từ Thái Lan có người chuyển về… Nói chung ai đi buôn lúc bấy giờ mà không là buôn lậu! Trót lọt thì ăn mà rủi bị bắt thì chịu đóng phạt, chịu tịch thu… vậy thôi! Nhưng hai vợ chồng cô Kiều Mi này đi chuyến chót lớn quá. Chở nguyên một xe Lam vải nhập cảng và sau khi bị bắt lại lòi ra thêm nhiều số hàng quan trọng khác… và thế là cả hai vợ chồng bị bắt vào Chí Hòa.
Thằng Hồng Vân quen với cô lúc tôi còn ở Kiên Giam 1 bên ngoài và đã giúp cho cô liên lạc tin tức với chồng cô đang bị nhốt trên tầng lầu trên. Đến khi tôi vào Kiên Giam 6, mỗi tối cô hay ngồi vắt vẻo trên song sắt nghe tôi kể chuyện. Cô rất thích thú với những chuyện của các nhà văn nổi tiếng như “The Old Man and the Sea”, “Farewell my arm” của Earnest Hemmingway, hoặc “Đôi bạn chân tình”, “Sói Đồng Hoang”, “Câu Chuyện Giòng Sông” của văn hào Đức Herman Hess mà tôi đã có dịp đọc qua kể lại cho cô nghe và phân tích những điều hay mà tôi lãnh hội được. Kiều Mi coi tôi và Hồng Vân như hai ông anh, chuyện gì cũng kêu tôi hoặc Hồng Vân hỏi và mỗi khi đau bệnh cô sợ lắm, cứ khóc tối ngày. Nói chung một cô gái mới lớn, lấy chồng không được bao lâu lại phải vào một nhà tù dữ dằn như Chí Hòa này bảo sao không sợ, nên tôi cứ an ủi cô hoài.
Tôi nhận được khoảng hơn 36 giỏ thăm nuôi thì Hồng Vân và Cảnh ở phòng trên lầu ra Toà. Tin Hồng Vân và Cảnh ra Toà mang tới cho tôi nhiều cảm nghĩ mâu thuẫn:
Google photos
Bọn Chấp Pháp rõ ràng không đủ yếu tố đúc kết hồ sơ đưa tôi ra Toà. Cùng chung một vụ mà hai người kia bị đưa ra Toà xét xử, còn tôi thì không… Như vậy thì hy vọng về của tôi cũng gần kề, vì không ghép tội được thì phải thả tôi ra chứ không lẽ nhốt hoài? Tôi cũng đã ở đây 3 năm rồi còn gì. Tuy nghĩ vậy nhưng cái cảm giác bị nhốt mút chỉ cho bõ ghét của tụi Chấp pháp vẫn không thoát ra được đầu óc tôi. Chúng nó có quyền hạn trong tay, cứ ếm tôi lại và nhốt hoài không thèm cứu xét gì cả thì cũng làm gì tụi nó bây giờ?
Tiếp theo đó 1 tháng sau, bà Mẹ nuôi của tôi được về. Bà về được làm cho tôi mừng vô cùng, như vậy hai chân của bà có điều kiện chăm sóc thuốc thang tốt chứ ở đây tình trạng sức khoẻ của bà sa sút quá, đồng thời tôi cũng an tâm vì bà về được thì cuộc sống vật chất của vợ con tôi bên ngoài sẽ không còn khó khăn nữa. Tuy nhiên tôi cảm thấy cô đơn trở lại.
Sau khi Hồng Vân ra Toà rồi, tôi trở thành thằng tù thâm niên nhất ở khu Kiên Giam tầng 2 này. Bao nhiêu người kể cả Kim Cương, Thanh Đa, Sáu Thạnh, Bồ Câu … đều đã lần lượt chuyển đi hết. Chỉ còn có Gió ở Kiên Giam 2 là kiên trì với tôi thôi. Thằng Hồng Vân đi rồi, tôi buồn và nhớ nó lắm. Tuy nó là thằng đã hại tôi vào chốn tù hãm này. Nhưng chuyện đã qua có trách cứ hoài cũng chẳng được gì. Dù sao nó cũng nhìn nhận lỗi lầm của nó và ăn năn lắm rồi, vả lại hai đứa ở chung trong tù với nhau tính ra đã 3 năm, đã chịu chung bao nhiêu khổ cực và có biết bao kỷ niệm. Đã từ lâu lắm, tôi không còn giận nó nữa. Kẻ thù của tôi, những người đã hành hạ tôi, tôi còn không giận thì làm sao tôi có thể giận bạn tôi mãi cho được! Với lại tôi tự an ủi, biết đâu nhờ chuyện tôi vào Chí Hòa này, mới có cơ duyên gặp được Mẹ tôi.
Thằng Hồng Vân trước đây là thông dịch viên cho Mỹ. Sau thời Mỹ rút quân, nó đi học khoá Sĩ Quan đặc biệt. Trong đám bạn bè quen biết, ngay cả những thằng bạn Pilot đi du học ở Mỹ trước đây, không thằng nào tiếng Anh giỏi bằng nó lúc bấy giờ. Cách phát âm và giọng nói của nó hay đến độ nếu chỉ nghe tiếng nói mà không thấy mặt, ai cũng nghĩ đó là một người Mỹ đang nói chuyện. Nó lại đàn hay hát giỏi. Những bài nhạc của Lobo hoặc country music như Heart of Gold, Take Me Home Country Road… và đặc biệt nhạc tiền chiến VN nó hát truyền cảm lắm. Trước đây tôi quen nó qua một người bạn thân của tôi, có lẽ vì hợp tính tình văn nghệ với nhau nên chúng tôi dễ dàng thông cảm nhau…. Sau này vợ tôi viết thư vào cho biết nó ra Toà bị kết án 11 năm, nhưng chắc có lẽ được giảm án khi ra lao động, nên về trước thời hạn. Sau này được thả về khi lấy vợ nó có gởi hình và thiệp mời qua cho tôi bên Mỹ. Sau đó nghe nói đi diện HO 18 hoặc HO 19 nhưng không biết bây giờ ở đâu, tôi vẫn mong tìm nó hoài mà chưa gặp được.
Còn thằng Kim Cương ở Kiên Giam 3, cũng là một thằng ngổ ngáo ở khu Kiên Giam lúc bấy giờ. Lý lịch của thằng này lại khác bọn tôi. Nó là Công An Khu Vực ở gần đường Tô Hiến Thành, chợ Hoà Hưng. Là Công An khu vực nhưng nó lại nằm trong đám tổ chức vượt biên. Nó khoảng 25, 26 tuổi, người ốm, nhỏ con.. nhưng rất chịu chơi. Nó cũng là thằng bị cán bộ Hùng chiếu cố đì mút chỉ. Tôi hay giỡn với nó:
– Tại hồi mày còn làm công an khu vực, thằng Hùng này đến khu vực của mày cua gái ở đó bị mày làm khó dễ đuổi đi chớ gì, bởi vậy bây giờ nó đì mày là phải rồi.
Nó chỉ cười rồi nói:
– Bây giờ em vô đây nằm rồi, nó có quyền hành trong tay muốn đì em thế nào thì đì. Chứ nói xin lỗi, khi em còn ngoài đời, đến khu vực của em mà cái kiểu này, nội mấy đàn em của em chơi nó cũng đủ chết rồi.
Nó còn nói thêm:
– Nói thiệt với anh Sáu Khổ, hồi em làm công an khu vực, em chưa bao giờ biết làm khó dễ ai hết. Gia đình em sống trong cùng một xóm đó từ hồi em nhỏ xíu đến bây giờ. Bà con trong khu vực của em, ai cũng thương em. Ngày em bị bắt cả xóm không ngờ và nhiều người chạy đi báo dùm gia đình cho em, khi công an dẫn em đi bà con còn chạy theo khóc lóc nữa. Nói thiệt anh chứ, em làm công an là để che mắt thiên hạ và dễ bề tính chuyện của em thôi chứ em ghét mấy đám công an lắm. Là công an chứ em không có chơi với thằng công an nào hết. Không tin mai mốt về em mời anh đến nhà em chơi, coi lối xóm của em đối với em và gia đình em như thế nào?
Sau này khi tôi về tôi hay ghé đến nhà Kim Cương uống cà phê với nó, vì nhà Má vợ tôi ở gần khu nhà nó. Gặp tôi nó mừng lắm, lăng xăng mời mọc đủ thứ. Quả đúng! cái xóm nơi nó ở bên hông chợ Hoà Hưng mọi người có vẻ thân mật lắm. Nó cho tôi biết nó đang tính chuyện đi vượt biên, không biết cuối cùng nó có đi thoát không?
Phòng trên lầu Công Chánh đã ra toà trước Cảnh và Hồng Vân và đã lãnh án nặng nhất: Tử hình. Tối hôm trước khi ra toà, Công Chánh và tôi đã thức nói chuyện qua đường dây ống nước tới khuya. Anh đã bình tĩnh đoán trước cái án dành sẵn cho anh: May lắm mới bị Chung thân còn không thì cầm chắc là Tử Hình. Tôi đã bùi ngùi an ủi anh và nói với anh ngày mai ráng liên lạc cho tôi hay, vì tôi biết sau khi ra Toà về, anh sẽ không nói chuyện được với ai hết, công an sẽ kè theo sát anh khi anh gom góp đồ đạc di chuyển qua nơi khác. Anh nói anh sẽ làm tín hiệu dộng gót chân xuống sàn nhà “Binh” một cái có nghĩa là Tử hình, hai tiếng “Binh Binh” sẽ là Chung Thân.
Đêm hôm đó tôi đã âm thầm cầu nguyện cho anh. Qua hôm sau khoảng 3 giờ chiều, chúng tôi đang ngồi nói chuyện trong phòng, bỗng nghe trên phòng trên có một tiếng dộng “Binh” xuống. Tôi lặng người đi, lòng buồn vô cùng. Như vậy Công Chánh đã bị án Tử Hình rồi!!! Tôi im lặng một lúc thật lâu ngoài âm thầm cầu nguyện cho anh ra, tôi còn làm được gì khác hơn!!!.
“Anh Công Chánh ơi, tôi sẽ nhớ mãi những kỷ niệm trong tù với anh dù chưa bao giờ biết mặt anh một lần. Những kỷ niệm mà hai đứa lui cui chuyển hàng qua đường cống cầu tiêu. Những điếu thuốc rê anh tiếp tế đúng lúc trong những ngày cuối tháng cũng qua đường ống cống cầu tiêu này mà chúng tôi ở phòng dưới này đã chia nhau hút “ngon” chi lạ, cũng như tôi sẽ nhớ hoài có hôm bị đứt dây, nguyên một đòn bánh tét rơi xuống ống mất tiêu… và đã mấy lần “xe” bị trục trặc giữa đường như vậy, đến nổi Kiên Giam 6 tụi tôi bị nghẹt cầu tiêu và phải lánh nạn tại Kiên Giam 3 một thời gian. Cầu xin cho anh được giảm án xin Phật Trời hộ độ che chở cho anh”.
Kể từ khi mấy bạn tù thân ra toà hoặc đổi đi nơi khác và Mẹ tôi về rồi. Tôi đâm ra ít nói, ít tham gia sinh hoạt họp chợ ban đêm. Thỉnh thoảng mới leo lên song sắt nói chuyện với Kiều Mi bên Kiên giam 9 hoặc hát một vài bản nhạc cho đỡ buồn, ngoài ra tôi cứ nằm trong phòng. Kiên Giam 6 lúc đó cũng đã nhiều lần “ra, vào” thay đổi người mới hoài, chỉ có một mình tôi là còn dậm chân tại chỗ: Trương Phái Hàn, Lê Thành Cát cũng đã được về từ lâu, những người đến sau như một ông tham gia tổ chức vượt biên chuyên đánh vùng Phú Xuân Nhà Bè biệt danh Ba Thời Tiết đến ở chung Kiên Giam 6 với tôi được mấy tháng cũng ra Toà đổi đi mất tiêu. Hai người mới là 2 thanh niên trẻ tên Nguyễn Văn Hai và Tám (tôi quên họ) vào lúc này đang còn ở chung với tôi.
Lúc đó, ở Kiên Giam 5 sau khi Hồng Vân ra toà đổi đi không bao lâu thì bên đó có người mới vào. Sau khi liên lạc qua đường ống nước hỏi thăm, chúng tôi được biết ông này là một giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp dạy môn Việt Văn từ trước 1975 mãi tới khi bị bắt. Tôi không biết và cũng không hỏi ông ta tội gì mà bị bắt vào đây. Sau một thời gian nói chuyện qua lại, hình như “hợp gu” hay sao bỗng trở thành thân. Mỗi ngày chúng tôi nói chuyện qua đường ống nước trên cái bồn nước rửa mặt bằng xi măng, tâm sự hoàn cảnh gia đình và đủ thứ chuyện trên đời.
Ông cho biết tên thật là Lâm Vị Thủy dạy môn Việt Văn, đồng thời cũng làm thơ viết văn. Trước năm 1975 có xuất bản tập thơ tình: “Sao em không về làm chim thành phố”. Tôi còn nhớ một bài thơ của ông trong tập thơ này:
Hình như kỷ niệm. Buổi sáng trời mưa tôi trở dậy Soi mặt mình bằng phiến gương đen Chợt thấy hình em sầu đóng bụi Nỗi đau này em nghe chăng em? Thành phố chừng như quên giấc ngủ
Google photos
Tôi đi không kỷ niệm che đầu Không em làm ấm vòng tay lạnh Không cả ngày chưa quen biết nhau Tôi dẫn tôi vào trong lớp học Mây lên màu trắng áo thiên thần Bàn tay e ấp trên trang sách Trông dáng ai mà thương cố nhân Sao em không là em thuở ấy Để mỗi chiều tôi đón cổng trường Đường xưa còn dấu chân em đấy Gót nhỏ giờ vui mộng viễn phương Nghìn thu còn mưa bay mãi đây Xa nhau không một ánh trăng gầy Nửa đêm nghe tiếng xe về vội Tôi đốt đèn lên ngồi ngắm tay Ôi tình yêu đã về hay chưa Còn đây từng tháng đợi năm chờ Còn đây một nét môi cười đó Em vuột tầm tay tôi bơ vơ Người yêu, người yêu, người yêu ơi Mùa thu, mùa thu, mùa thu rồi Hồn tôi muốn khóc làm sao dỗ Em của người ta, tôi của tôi. (Thơ Lâm Vị Thủy)
Một bài thơ 5 chữ nữa của ông khi cảm khái thân phận mà tôi chỉ còn nhớ 4 câu sau:
Nhớ chuyện người Trang Tử. Thương khúc “Vỗ Bồn Ca” Nhìn trời qua lỗ gió. Ta càng thương thân ta… (Thơ Lâm Vị Thủy)
Cũng như rất thích 4 câu thơ sau đây trong một bài thơ khác của ông:
Tôi đã về, tôi đã về đây, Thềm sương mù tỉnh giấc chưa gầy Dấu chân xưa mất trong màu cỏ. Tôi vẫn còn đây, vẫn trắng tay. (Thơ Lâm Vị Thủy)
Trong khi nói chuyện tâm sự hàng ngày, tôi được biết ông có nghiên cứu về môn Tử Vi. Thú thật trước đó tôi chưa bao giờ biết qua về môn này, cũng không thấy hứng thú gì hết mỗi khi nghe ai đề cập tới. Nhưng khi nói chuyện với giáo sư Lâm Vị Thủy, ông giải thích tôi nghe về Tử Vi Nghiệm Lý, những lý giải hay ho mà ông từng biết qua. Đang lúc ở tù rỗi rảnh nên tôi đã chịu khó.. nghe và cuối cùng thì thấy thích. Ông ngỏ ý sẽ chỉ tôi cách an sao trên lòng bàn tay theo phương pháp riêng của ông sau khi nghiên cứu và đúc kết lại thành những bài thơ, phú dễ hiểu…Tôi hoan hỉ nhận lời học.
Phải công nhận thầy chịu khó kiên nhẫn dạy, và trò cũng chịu khó học hỏi… trong một hoàn cảnh hạn hẹp như vậy. Không thấy mặt nhau, ở cách một bên vách tường và chỉ nói chuyện với nhau qua một cái ống nước, lại không có điều kiện giấy bút ghi lại những điều đã học. Tất cả chỉ bằng hình thức học thuộc nằm lòng…Vậy mà sau mấy tháng miệt mài, ông cũng đã chỉ cho tôi thuộc lòng được các sao trong môn Tử Vi và cách an sao trên lòng bàn tay.
Tôi còn nhớ bài đầu tiên ông dạy tôi là cách định vị trí các cung Tí, Sửu, Dần Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dâu, Tuất, Hợi trong lòng bàn tay trái. Bắt đầu là cung Tí ở dưới đốt thứ 3 của ngón đeo nhẫn đếm theo chiều thuận kim đồng hồ mỗi khoảng hoặc đốt là một cung cho đến giáp vòng là đúng 12 con giáp… Rồi thì 10 can Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỹ Canh Tân Nhâm Quí … v…v… và bài thơ tính Mạng, Cục …:
Hải, Lư, Lâm, Lộ, Kiếm-Phong oai.
Sơn, Giáng, Thành- Đầu, Bạch, Liễu sai
Tuyền, Ốc, Tích, Tòng, Lưu-Thủy mạc
Sa, Sơn, Bình, Bích, Bạch-Kim bài.
Phúc, Thiên, Đại -Trạch, Thoa, Tang mộc.
Khê-Thủy, Sa, Thiên, Thạch, Hải lai
Hải Thử, Tuyền Hầu, Sơn khuyển hội
Mã Sa, Khê Hổ, Phúc long hoài
… cho đến bài thơ chỉ cách an vòng sao Thái Tuế như sau:
Thái Tuế quan chiêu, Thiên, Thiếu khuynh.
Tang Môn bi táng, Thiếu Âm bình.
Quan phù khẩu thiệt, Tử Phù bỉ.
Tuế Phá hoại vong, Long Đức ninh.
Bạch Hổ thương phòng, Phúc Thiên hảo.
Điếu phòng tiểu cố, Trực vô tình.
Rồi đến bài thơ an vòng sao Lộc Tồn:
Bác sĩ ( Lộc Tồn ) thông minh, Lực Sĩ quyền.
Thanh Long hỉ khí, Tiểu Hao tiền.
Tướng Quân uy vũ, Tấu Thư phúc
Phi Liêm chủ cô, Hỉ Thần viên.
Bệnh Phù đới tật, Hao khói toả
Phục Binh, Quan Phủ khẩu thiệt triền
Rồi thì 14 chính tinh… các phụ tinh, những Cát tinh, bộ Tứ Linh… Lục đại sát tinh… Ngũ Hành: Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ… và nhiều câu phú, nhiều “cách” tượng trưng cho một lá số mẫu như các cách: Tử Phủ Vũ Tướng, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Sát Phá Tham, Sát Phá Liêm Tham, Cự Cơ Mão Dậu Ngộ Song Hao, Nhật Nguyệt Chiếu Bích, Nhật Nguyệt Chiếu Hư Không Chi Địa, Vô Chính Diệu…V…V… Ôi thôi quá nhiều luôn.
Ban đầu tôi cảm thấy khó thiệt, nhưng càng vào sâu càng thấy khoái và nhiều khi ông thấy tôi mê mãi quá ông cũng hứng chí thức tới gần sáng để chỉ cho tôi… Đến khi tôi đã thuộc lòng hết các câu thơ phú và đã an sao trên bàn tay một cách chính xác và rành rẽ rồi, ông bắt đầy dạy tôi những ý nghĩa căn bản của từng sao trên Tử Vi và các ý nghĩa của những “bộ” sao khi chúng kết hợp với nhau… đồng thời chỉ cho tôi căn bản cách đoán một lá số Tử Vi qua các đại hạn, tiểu hạn. Lưu niên đại hạn, lưu niên tiểu hạn … Nhờ những căn bản này sau khi tôi được về, khi tìm những sách vở về Tử Vi nghiên cứu thêm, tôi đã dễ dàng lãnh hội được những gì trong sách một cách nhanh chóng.
Đó là kỷ niệm nhớ đời của tôi đối với giáo sư Lâm Vị Thủy. Nhờ có ông khai lối chỉ đường mà tôi được biết đến môn khoa học huyền bí này.
Sau này khi về, tôi có đạp xe từ Saigon lên Hốc Môn Bà Điểm để tìm ông. Ông cảm động lắm khi biết tôi đã đạp xe lòng vòng hỏi thăm nhà ông cả buổi trời. Hai chúng tôi ra chợ Bà Điểm ăn sáng và tâm sự một lúc thật lâu. Được biết ông không còn đi dạy được nữa và đang thất nghiệp, hoàn cảnh rất khó khăn, tôi rất là bùi ngùi. Không bao lâu sau thì tôi đi vượt biên. Trước khi đi, tôi có gặp ông lần chót và nói thật cho ông biết là tôi sắp đi vượt biên. Tôi đã gởi ông một bao thư biếu ông ít tiền trước khi đi. Thú thật ngoài cách này ra tôi không còn biết cách nào khác có thể giúp ông được, vì thực tế hoàn cảnh ông lúc đó khó khăn quá. Từ đó tôi mất liên lạc với ông luôn.
Sau khi định cư ở Mỹ, tôi đã nhiều lần đăng tìm ông trên internet nhưng không ai biết tin ông ở đâu cả. Khi tôi về VN lần đầu năm 2001, tôi đi lên Hóc Môn Bà Điểm hy vọng kiếm được ông, nhưng chỉ biết ngậm ngùi khi đứng tại Bà Điểm mà không nhận ra đâu là đâu nữa, tất cả đều thay đổi hoàn toàn. Hỏi thăm cũng không ai biết. Tôi chỉ đành buồn bã trở về và chỉ biết thầm cầu xin cho ông luôn được bình an mà thôi.
Chuyện tôi quen với con Nai – Đoàn Thị Lộc ở xưởng may, phía sau khu ED đã là một chuyện rất đặc biệt mà con Nai luôn luôn gọi đó là một kỳ ngộ, nhưng tôi chỉ xem đó như là một cuộc gặp gỡ khá đặc biệt thôi. Câu chuyện sau đây đối với tôi mới thật sự là một kỳ ngộ và kỳ ngộ này đã thay đổi hẳn cuộc đời của không riêng tôi mà còn cả gia đình vợ con của tôi nữa cho tới ngày hôm nay. Như tôi có nói ở phần mở đầu, lý do thôi thúc tôi viết lại hồi ký này là để ca ngợi “tình người ” và để… đền đáp món nợ ân tình – dù không ai đòi – nhưng tôi tự hứa phải trả cho bằng được và tôi phải thú nhận một điều: Câu chuyện sau đây mới là động lực chính thôi thúc tôi viết lại hồi ký này:
Một sự kiện lớn xảy ra làm thay đổi sinh hoạt của khu Kiên Giam ED tầng 2 rất nhiều. Khi tôi từ Biệt Giam 2 chuyển xuống, khu Kiên Giam này từ trước chỉ nhốt toàn là tù nam. Tôi ở khu này được mấy tháng cũng chỉ toàn là tù nam, nhưng một buổi sáng sớm, mấy tay công an và lao động mở cửa phòng bên tay trái là những phòng Kiên Giam 8, 9, 10 di chuyển hết tất cả các tù nam chuyển qua các phòng bên dảy tay phải. Kiên Giam 1 của chúng tôi cũng nhận thêm 1 người vào trong đợt này (Người này tên là Lâm Văn Hua, người Việt lai Campuchia, bị bắt về tội buôn lậu hàng từ Thái Lan qua VN mà tôi có nhắc ở phần trên).
Chúng tôi biết là có chuyện gì khác thường xảy ra nhưng không rõ là chuyện gì. Cả ngày hôm đó bên ngoài cứ lục đục các cửa phòng mở ra đóng lại nhiều lần và có vẻ nhộn nhịp lắm. Tất cả các cửa gió đều bị đóng kín hết nên bên trong chúng tôi không nhìn ra ngoài được. Đợi lúc nghe tiếng mấy cán bộ nói chuyện văng vẳng bên khu ngoài xa, tôi đu lên mấy song sắt nhìn thật nhanh ra bên ngoài thì thấy mấy lao động đang lăng xăng bên trong phòng đối diện chỉ trỏ sắp xếp cho mấy cô gái trong đó. Tôi nhảy ngay xuống báo với mọi người trong phòng:
-Họ giải tù nữ tới. Dãy bên kia bây giờ tù nữ vô ở rồi.
Lập tức tin này được chúng tôi chuyền qua phòng bên cạnh, phòng trên lầu bằng đường ống nước và sau đó tôi tin rằng sẽ nhanh chóng lan ra khắp các phòng khác.
Buổi trưa đợi cho cán bộ đóng cửa sắt đi xuống dưới có mấy người tù ở mấy phòng bên trong leo lên song sắt gọi hỏi thăm, sau đó tin tức chuyền đến chúng tôi. Các tù nữ chuyển đến cũng gồm có 3 tội: Vượt biên, Kinh tế và Chính Trị. Nhiều nhất là tội vượt biên, sau đó đến kinh tế, Chính Trị thì chỉ có một người đàn bà chuyển từ Phan Đăng Lưu về (sau này tôi được biết bà ta là con gái của Cựu Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu).
Sinh hoạt khu Kiên Giam ED tầng 2 nhộn nhịp hẳn lên khi có tù nữ vào. Sau một vài bữa, các tù nữ đã quen dần và cũng tham gia vào sinh hoạt “họp chợ” ban đêm một cách nhiệt tình lắm. Những cuộc nói chuyện qua lại giữa các tù nam bớt hẳn đi tiếng chưởi thề thấy rõ, cách ăn nói qua lại tự nhiên cũng lịch sự hẳn lên. Ban đêm các tù nữ cũng leo lên song sắt nói chuyện với tù nam ở các phòng đối diện, những buổi “họp chợ” cũng kéo dài hơn thường lệ mãi cho tới thật khuya mới dứt.
Lúc này mỗi đêm chúng tôi được nghe những giọng ca nữ nổi lên tự nhiên nghe thấy hay gì lạ. Có một cô gái lúc bấy giờ khoảng 20 tuổi, người Việt gốc Hoa – tôi đặt cho cô biệt danh là Nhỏ – bị bắt về tội vượt biên, hát bài “Sương Trắng Miền Quê Ngoại” hay đến độ tôi cứ phải yêu cầu cô hát cho nghe mỗi đêm mà không biết chán. Những biệt danh của tù nữ cũng lần lượt được đặt ra cho dễ liên lạc lẩn nhau như Kiều Mi, Quyên Quyên, Hoa, Minh Lan, Minh Tuyết, Thị Mẹt, Nhỏ, Xuân, Nhi… Đêm đến phòng nào phòng nấy cũng có tù nam và nữ leo lên song sắt nói chuyện qua lại um sùm hết. Mấy tù nữ coi vậy mà nhiều người còn gan hơn tù nam nữa, họ cũng đi dây chuyền đồ đạc, quà cáp, thư từ lẫn nhau ì xèo…
Nhờ bên tù nữ được ưu tiên hơn. Lao động và cán bộ tương đối dễ dãi hơn với họ, một số tù nữ có tiền lại mua chuộc được lao động Xáng và công an cán bộ nên họ kiếm được kiếng soi mặt, giấy viết… sau đó chuyền qua cho tù nam chúng tôi, kiếng soi mặt thì chúng tôi đập vỡ ra chia nhau mỗi phòng một mảnh nhỏ đủ để làm “đèn soi” canh chừng “Ma áo vàng”… nhờ thế khi “họp chợ” tương đối an toàn hơn lúc trước. Nói chung sinh hoạt ban đêm của khu Kiên Giam ED tầng 2 trước đây đã nhộn nhịp nay lại càng nhộn nhịp gấp bội nhờ có sự hiện diện của đám tù nữ này.
Riêng tôi sau khi từ Biệt Giam 2 chuyển xuống khu Kiên Giam này, nhận thấy rõ ngày về của mình mịt mờ quá, tôi đâm ra chán nản và đâm ra… lì. Mỗi tối tôi hát hò um sùm. Giọng hát của tôi lúc bấy giờ có lẽ anh em tù thích hay sao đó nên đêm nào anh em tù cũng yêu cầu tôi hát ít nhất 5, 6 bài… Ngoài ra “tài nghệ ” đi xe của tôi cũng tiến bộ rất nhiều. Từ phòng bên ngoài, chúng tôi có thể đi “xe” chuyền hàng cho các phòng tuốt bên trong, dĩ nhiên là phải qua nhiều phòng trung gian. Từ Kiên Giam 1, tôi ném dây qua cho Kiên Giam 10 ở phòng nữ đối diện gần nhất, rồi từ Kiên Giam 3 một anh bạn tù khác ném dây qua cho Kiên Giam 10 phòng nữ lấy về. Sau đó Kiên Giam 3 sẽ đi xe chuyền hàng qua cho Kiên Giam 5 của thằng Hồng Vân đang ở… cứ chuyền theo lối zíc zắc như thế, chuyến hàng sẽ tới bất cứ phòng nào chúng tôi muốn. Những chuyến xe chở hàng như thế chúng tôi gọi là những chuyến hàng “chạy suốt” từ Nam ra Bắc. Còn những chuyến hàng nào gởi những thư từ quan trọng giữa những người tù bị bắt chung một vụ với nhau nhờ chuyển để họ cùng có lời khai ăn khớp với nhau khi đi “làm việc” thì chúng tôi gọi là những chuyến hàng “lớn”. Nói chung dù là chuyến hàng “chạy suốt “từ Nam ra Bắc hay chuyến hàng “lớn”, đều là những chuyến hàng quan trọng hơn bình thường và cần được canh chừng “Ma áo vàng” kỹ càng hơn.
Cũng nhờ vị trí Kiên Giam 1 ở sát ngay cửa sắt ngăn với bên ngoài nên từ lỗ cửa gió tôi có thể quan sát ra bên ngoài khi hát, hoặc canh me cho bên trong đi xe chuyển hàng… dễ dàng và chính xác hơn những phòng bên trong. Các phòng bên trong tuy cũng có mảnh kiếng soi, nên cũng phát giác được khi nào cán bộ đi lên, nhưng không thể thấy được khi cán bộ vừa mới xuất hiện ở chân cầu thang tuốt bên ngoài được, trong khi đó ở vị trí Kiên Giam 1 của tôi thì có thể phát giác ngay khi tên cán bộ vừa mới nhô đầu lên từ phía cầu thang bên dưới.
Bởi vậy hễ bên trong khi cần đi xe chuyển “hàng lớn” hoặc hàng “chạy suốt” thường phải gọi đến tôi canh chừng dùm cho chắc ăn. Nếu có cán bộ vừa xuất hiện ở chân cầu thang là tôi la lên một tiếng “MA” thật lớn. Mọi việc bên trong phải ngưng lại ngay, ai nắm đầu dâu có hàng thì phải nhanh chóng kéo về phòng mình trong vòng mấy giây để dấu liền… Thông thường thì hàng đi trót lọt, hoặc ngay cả khi “Ma áo vàng” xuất hiện thì mọi việc cũng phi tang được, nhưng đôi khi cũng có những “trục trặc” xảy ra… Đó là dây kéo hàng bị đứt nửa chừng, “hàng hoá” rớt lại bên ngoài nằm chình ình và như thế là tên công an lên bắt gặp. Hắn mở cửa sắt đi vào nhặt hàng hoá lên (thông thường chỉ là thực phẩm, thuốc rê… tiếp tế cho một bạn tù nào đó thiếu thốn), sau đó hắn mở cửa phòng giam mà gói hàng bên ngoài nằm gần nhất và quát tháo tra hỏi xem của ai… Các tù trong phòng lúc bấy giờ nếu chối được thì cứ chối tuốt luốt mặc cho tên cán bộ quát tháo… nhưng nếu không chối được thì người đi dây sẽ đứng ra chịu đi biệt giam kỷ luật mà không hề đổ thừa hoặc khai ra cho bất cứ người nào khác, mặc dù gói hàng đó không phải của anh ta và anh chỉ là một người ở phòng trung gian lên chuyền tiếp dùm qua các phòng khác mà thôi.. Đây là một quy luật bất thành văn của chúng tôi ở đây… Tất cả các “Gà Mới” khi mới đến chuồng đều được các “gà cũ” huấn luyện cho “quen chuồng” điều này trước tiên rồi… ngay cả các tù nữ khi bị bắt gặp cũng không ai khai người khác ra bao giờ, tất cả đều im lặng chấp nhận đi biệt giam kỷ luật… “Bù lại” sau khi đi biệt giam kỷ luật về người tù đó được các tù khác thương mến lắm. Khi còn ở Kiên Giam 1, tôi không bị bắt quả tang lần nào cả, nhưng sau này đổi vào bên trong, tôi bị đi biệt giam kỷ luật nhiều lần, một phần cũng vì tội chuyền xe chở hàng bị “thua non” nửa chừng như vừa nói. Tôi sẽ kể những chuyện này trong một chương khác.
Sau khi khu Kiên Giam ED tầng 2 có tù nữ được khoảng 1 tháng thì một đêm khuya có tiếng một cô gái biệt hiệu là Nhi ở bên phòng Kiên Giam 10 gọi qua tôi:
Google photos
– Anh Sáu Khổ ơi! Anh Sáu Khổ. Phòng em có người bị bệnh nặng quá. Phải làm sao đây!!
Cả phòng Kiên Giam 1 chúng tôi lập tức choàng dậy hết. Tôi nhảy lên song sắt, hỏi Nhi đang đeo tòn ten trên song sắt bên Kiên Giam 10:
– Ai bị bệnh vậy em?
– Một bà bác, lớn tuổi rồi? Bác bị bệnh tim và hai chân bị tê bại không đi được. Hiện nay bác thở không được và cơn đau tim đang lên.
Lập tức tôi lên tiếng gào lớn kêu cấp cứu:
– Báo cáo cán bộ. Kiên Giam 10 có người bệnh nặng. Xin cấp cứu…
– Báo cáo cán bộ. Kiên Giam 10 có người bệnh nặng. Xin cấp cứu…
Tôi và những phòng khác tiếp nhau kêu cứu liên tục như vậy cũng cả mấy chục lần. Trong đêm khuya vắng, tiếng kêu la vang lên lồng lộng nghe rất thảm thiết… Tôi không khỏi nhớ lại đêm đầu tiên khi mới vào bị nhốt trên tầng 4, đã bàng hoàng sợ sệt như thế nào khi nghe tiếng kêu cấp cứu ở bên khu FG… Bị bệnh nặng trong hoàn cảnh này quả thật đáng thương. Khoảng hơn nữa tiếng đồng hồ sau mới có người lục đục đi lên. Tên cán bộ trực lên mở cửa sắt ra, quát lớn:
– Nghe rồi. Nghe rồi. Gớm. Làm gì mà la lắm thế.
Chúng tôi ngồi trong phòng chưởi thầm:
– Tổ mẹ mày. Mày nói nghe rồi mà người ta bệnh nặng, mày đợi tới hơn nữa tiếng mới đi lên. Mày cấp cứu kiểu đó thì người ta chết mẹ hết rồi còn gì.
Chúng tôi nghe tiếng mở cửa phòng Kiên Giam 10 rồi tiếng nói chuyện râm rang của nhiều người. Sau đó bệnh nhân được khiêng đi. Đợi chung quanh im lặng đâu đó thật lâu, tôi leo lên song sắt gọi cô Nhi hồi nãy (Cô này khoảng 22, 23 tuổi, cô giáo nhà trẻ bị bắt tội vượt biên):
– Nhi ơi, nghe anh không? cho anh hỏi thăm chút coi.
Nhi nhảy lên song sắt liền, tôi hỏi:
– Bác ấy bệnh ra sao, kể anh nghe coi. Họ có nói gì không??
– Kể từ khi vào đây đến giờ, bác ấy bệnh nằm hoài một chỗ. Hai chân bác bị bệnh tê bại, đi đứng rất khó khăn, đã vậy bác còn bị thêm bệnh tim, thỉnh thoảng lại hay ngộp thở… Nói chung sức khoẻ của bác này rất yếu… Vừa rồi họ phải mang cáng khiêng bác đi bệnh xá. Cầu xin cho bác mau bình phục. Bác ấy hiền lắm.
Khi đó mấy tù nhân ở các phòng trong cũng leo hết lên song sắt hỏi thăm về bệnh tình của người bệnh vừa rồi. Ai nấy đều thấy cảm thương và tội nghiệp cho người đàn bà bệnh hoạn mà còn lâm vào cảnh tù tội.
Tôi hỏi Nhi:
– Bà ấy bị tội gì vào đây vậy?
– Vượt biên.
Tôi đã trải qua chín lần đi vượt biên thất bại trước đây, cho nên biết rõ sự cực khổ như thế nào… nên không khỏi buột miệng la lên:
– Trời đất! Với sức khoẻ như vậy mà bà này dám đi vượt biên thì quá liều rồi.
Nhi cười cười:
– Bà ta không phải tội vượt biên bình thường đâu anh Sáu Khổ ơi. Bà bị khép tội: “Tổ Chức Vượt Biên” và là người đứng đầu tổ chức vượt biên luôn đó.
Như vầy thì tôi thua luôn, lòng nghĩ thầm: “Bà già này coi vậy mà dữ thiệt, bệnh hoạn tùm lum vậy mà là người đứng đầu tổ chức vượt biên”.
Khoảng 3 tuần sau, một buổi sáng khi lao động mở cửa phòng cho chúng tôi đi lấy nước ở hồ chứa bên phía trong khu Kiên Giam, chúng tôi thấy một người đàn bà khoảng 55, 56 tuổi, người ốm yếu, gương mặt rất phúc hậu, hai tay đang vịn vách tường lần từng bước rất khó khăn. Lúc đó có cán bộ đang đứng gần, chúng tôi không dám hỏi gì hết, chỉ nhìn bà đang dò dẫm từng bước khó khăn mà thấy tội nghiệp vô cùng. Đây là lần đầu tiên tôi thấy người đàn bà này. Bà ta nhìn thấy chúng tôi thì nhoẻn miệng cười với một nụ cười thật hiền hậu.
Lúc bấy giờ ở Kiên Giam 1 chúng tôi có 4 người: Tôi, Gió, Trương Phái Hàn và Lâm Văn Hua. Sau khi lấy nước về phòng xong, chúng tôi cứ bàn tán về người bà khi nãy, đây là một chuyện lạ từ trước tới giờ chưa thấy bao giờ, chúng tôi đoán người đàn bà này là người đã được đưa đi bệnh xá hôm nọ. Trưa hôm đó, tôi gọi qua Kiên Giam 10 hỏi thì được xác nhận là người đàn bà đó chính là người bệnh đã được đi bệnh xá 3 tuần trước. Tối hôm đó chúng tôi “họp chợ”, hỏi thăm về bệnh tình của bà thì được biết bà đã khoẻ nhiều, nhưng hai chân còn yếu lắm. Bác sĩ phê chuẩn cho bà phải tập đi mỗi ngày, không được nằm một chỗ nếu không sẽ bị liệt luôn hai chân và được phép nhắn người nhà gởi thuốc từ bên ngoài vào chửa. Nên mỗi ngày bà được cán bộ cho phép đi ra ngoài tập đi lại theo như sự phê chuẩn của bác sĩ cho thoải mái bớt. (Sau này tôi mới được biết bà đã bõ tiền ra cho tụi cán bộ ăn nhiều lắm tụi nó mới tử tế và cho bà được ra ngoài mỗi ngày và nhắn người nhà gởi thuốc từ ngoài vào, chứ dễ gì chúng nó ưu đãi bà như vậy!!)
Sau đó mỗi buổi sáng khi đi lấy nước chúng tôi đều thấy bà vịn tường tập đi như vậy. Khi nào không có cán bộ đứng gần chúng tôi hỏi thăm và chúc bà mau khoẻ mạnh trở lại… bà cũng mỉm cười thăm hỏi xã giao với chúng tôi vài câu, thế thôi.
Một đêm chúng tôi đang “họp chợ” như thường lệ, tôi đang hát thật lớn thì thình lình cán bộ Hùng từ dưới chân cầu thang đi lên. Vừa thấy hắn xuất hiện ở chân cầu thang, tôi ngưng hát và báo động “MA” một tiếng thật lớn. Bên trong tất cả im lặng như tờ ngay. Tên cán bộ Hùng tức giận lắm vì không bắt được tụi tôi tại trận, hắn đứng bên ngoài đập cửa sắt rầm rầm và quát tháo một hồi thật lâu mới bỏ đi, nhưng đêm hôm đó hắn cố tình bắt cho bằng được chúng tôi tại trận nên ngay sau đó hắn quay lại đứng nấp sau vách tường sắt với khung cửa sắt, rình rập chờ chúng tôi.
Quả nhiên không lâu sau đó tưởng đã êm, Kim Cương ở Kiên Giam 3 hớ hênh, nhảy lên song sắt định gọi phòng nữ đối diện nói chuyện với Hoa là cô gái nó thích… thì bị tên cán bộ Hùng đứng rình sẵn bắt gặp ngay. Thế là hắn mở cửa sắt, vào ngay Kiên Giam 3 chộp Kim Cương đi biệt giam kỷ luật. Cái thằng Kim cương này xui thiệt, lạng quạng cứ bị bắt hoài. Còn tên cán bộ Hùng bắt được Kim Cương để răn đe cả đám chúng tôi, hắn chắc hí hửng lắm, khi dẫn Kim Cương đi ra bên ngoài, hắn còn nói lớn:
– Trước sau cũng bắt dính các anh mà. Những người còn lại khôn hồn thì im lặng ngủ hết đi nghe.
Xong xuôi hắn đóng rầm cửa sắt lại và dẫn Kim Cương đi mất. Lần này hắn đi thật. Đó là chuyện chúng tôi phải chấp nhận, bắt hay không là quyền của mấy tên cán bộ, chúng nó có rình rập bắt thì chúng tôi đi biệt giam kỷ luật thôi, còn họp chợ thì chúng tôi vẫn họp như thường. Chúng tôi đâu có ai ngán đâu!
Sáng hôm sau khi tôi đi lấy nước như mọi hôm, vẫn gặp người đàn bà đang vịn tường tập đi, thấy không có cán bộ tôi gật đầu chào, hỏi thăm bà có khoẻ không? Bà ngừng lại nhìn tôi rồi nói:
– Cháu cẩn thận đừng để bị bắt đi biệt giam thì khổ lắm nghe cháu.
Tôi hơi ngạc nhiên khựng lại, bà nói tiếp:
– Đêm hôm qua khi cán bộ lên đập cửa sắt lúc đó cháu đang hát, ở bên phòng chúng tôi tưởng cháu bị bắt rồi chứ. Phải cẩn thận và bớt ca hát đi cháu. Bị phạt chỉ khổ thân thôi.
Bà vừa nói vừa nhìn tôi với ánh mắt thật hiền.
Tôi lí nhí trả lời:
– Dạ cháu sẽ cẩn thận, cám ơn bác.
Thình lình bà hỏi tôi:
– Cháu theo đạo gì?
Tôi trả lời, hơi ngạc nhiên:
– Dạ đạo Phật, có gì không bác?
Bà không trả lời, chỉ nhìn tôi cười. Sau đó lao động Xáng hối chúng tôi lấy nước nhanh lên nên chúng tôi chào bà rồi đi về lại phòng.
Buổi trưa khi tôi ra lấy cơm. Bà đang vịn tường đứng gần đó, lúc đó không có cán bộ bà nói với tôi:
– Bác có món quà này biếu cháu, nhưng cháu phải kiên nhẫn nghe.
Google photos
Nói xong bà chìa tay ra đưa cho tôi một cuộn giấy nhỏ xíu, tôi ngó chung quanh không thấy cán bộ. Tôi hỏi nhỏ lao động Xáng:
– Cho tôi lấy món quà của bác này đưa nghe.
– Ừ, lẹ đi. – Lao động Xáng trả lời.
Tôi đứng lên giơ tay lấy cuộn giấy nhỏ đó và cám ơn bà, lòng thoáng ngạc nhiên không hiểu sao lao động Xáng hôm nay dễ quá vậy. Té ra sau này tôi biết nó cũng đã được đút lót rồi. Khi về phòng tôi giở ra xem thì ra đó là mấy tờ giấy quyến nhỏ, loại giấy vấn thuốc rê. Trên đó bà ghi lại bài: “Đại Bi Thần Chú” của Quán Thế Âm Bồ Tát, nhưng không đầy đủ vì tờ cuối ngưng nửa chừng…
Đến trưa, tôi đợi lúc cán bộ đi xuống hết mới gọi qua Kiên Giam 10 hỏi thăm bà về mấy tờ giấy viết bài chú đó. Bà mở cửa gió và nói với tôi:
– Bác viết chỉ được có mấy trang rồi mệt quá không viết nỗi nữa, bác sẽ từ từ viết và gửi cho cháu làm nhiều lần vì bài chú này dài lắm, bác có đánh số thứ tự trên mỗi trang. Cháu nên cố gắng học thuộc và tin tưởng trì tụng mỗi ngày sẽ thấy linh nghiệm lắm đó.
Tôi thật cảm động vì thấy sức khoẻ của bà yếu quá mà còn ráng viết bài Chú này cho tôi. Bài Đại Bi Thần Chú này trong Phật Giáo được mệnh danh là một trong Thập Đại Thần Chú, thường được đọc tụng trong mỗi phần khai kinh kệ… Lúc còn bên ngoài tôi có biết qua. Bài chú hoàn toàn bằng tiếng Phạn được dịch sang âm Hán Việt cho người Việt dễ đọc nhưng rất dài và rất khó thuộc. Mỗi ngày tôi đều niệm Phật và cầu nguyện Quán Thế Âm Bồ Tát nhưng không thuộc kinh kệ nào hết, nay bà đã có lòng chịu khó chép cho tôi bài chú Đại Bi trong khi sức khoẻ lại yếu kém như vậy quả thật làm tôi cảm động vô cùng. Tôi hứa cho bà vui lòng:
– Dạ bác đã có lòng chép tặng cho con bài chú quí giá như vậy, con hứa sẽ học thuộc và đọc mỗi ngày trong lúc cầu nguyện. Nhưng bác phải giữ sức khoẻ trước, khi nào thật khoẻ hẳn mới viết, đừng có gấp nghe bác. Hồi nào tới giờ không có kinh kệ gì cả, cháu cũng vẫn cầu nguyện và niệm Quán Thế Âm Bồ Tát độ trì cho hàng ngày thì cũng tốt lắm rồi, đâu có sao đâu.
Quả nhiên tôi thấy bà có vẻ vui khi tôi hứa như vậy.
Sau đó phải mất hơn cả tháng trời gởi làm nhiều lần, mỗi lần vài tờ giấy nhỏ… cứ thế cho đến khi tôi có đủ nguyên bài chú. Nhiều lần bà đứng cầm sẵn trong tay chờ khi tôi ra lấy nước hoặc tới giờ phát cơm để đưa cho tôi, nhưng gặp cán bộ có mặt ngay lúc đó nên không đưa cho tôi được, phải đợi tới đêm khuya tôi đi xe qua nhờ Nhi leo lên cột dùm mấy tờ giấy vào đầu sợi dây cho tôi kéo về. Có lần tôi phải vừa cười vừa nói đùa với bà rằng:
– Không biết lúc trước Đường Tăng Tam Tạng đi thỉnh kinh cực khổ ra làm sao, chứ bây giờ con thấy thỉnh được bài chú Đại Bi này con cũng vất vả không kém.
Bà đã cười lớn khi nghe tôi nói như vậy và khuyên tôi:
– Ráng đi cháu, có như vậy Bồ Tát mới chứng minh cho lòng thành của cháu. Sau khi có đầy đủ bài chú Đại Bi này rồi thì cháu phải ráng cầu nguyện mỗi ngày đó nghe không?
Tôi lại phải “Dạ” cho bà vui lòng.
Thú thật bài chú này bằng tiếng Phạn dù được phiên âm thành Hán Việt nhưng dài quá và khó lòng mà thuộc được. Tôi phải viết lại bài chú đó trên vách tường để đọc và cầu nguyện mỗi ngày.
Không bao lâu sau đó, vì vụ liên hệ với con Nai ở phía sau xưởng may bị bể như tôi đã trình bày ở một tiết mục trên. Chúng tôi bị đổi phòng. Phòng chúng tôi lúc đó có 4 người: Tôi, Lâm Văn Hua, Gió và Trương Phái Hàn. Riêng Gió thì chuyển qua Kiên Giam 2 kế bên ở với Thanh Đa ( Phan Văn Ty ) và Bồ Câu. Còn tôi, Lâm Văn Hua và Trương Phái Hàn thì hoán đổi phòng vào Kiên Giam 6 phía trong, những người ở Kiên Giam 6 đổi ra Kiên Giam 1.
Sau khi tôi bị đổi vào Kiên Giam 6, vị trí này gần hồ nước và nằm ở bên trong. Mỗi ngày bà vẫn vịn tường lần từng bước khó khăn đi tới đi lui để tập và tránh cho hai chân bị tê bại. Thông thường mỗi khi đi tới Kiên Giam 6 bà đều mang đến cho tôi một món quà, khi không có cán bộ đứng gần đó thì bà mở cửa gió đưa trực tiếp cho tôi, hôm nào có cán bộ thì bà nhờ lao động Xáng chuyển đến cho tôi: Khi thì một cái bánh, khi thì một món trái cây … những điều này làm cho tôi cảm động lắm.
Riêng tôi, sau một thời gian đọc Đại Bi Chú mỗi ngày hai lần trong khi cầu nguyện, tôi đã thuộc lòng bài chú này. Bà rất vui khi biết tôi đã thuộc và thường xuyên khuyến khích tôi cầu nguyện hoài thì chuyện gì cũng sẽ đạt được, đừng nản chí. Từ khi tôi quen biết được bà, bà đã khuyến khích, nâng đỡ tinh thần tôi rất nhiều. Trong hoàn cảnh tù tội, gặp được một người như bà an ủi tinh thần như vậy, tôi cảm thấy mình may mắn lắm.
Đối với tôi, bà lúc đó như một người Mẹ mà tôi có thể tin tưởng. Vì không nói chuyện được nhiều với bà nên mỗi đêm tôi viết để qua hôm sau đưa cho bà mang về đọc, nhờ bà có thể đi lại trong dãy Kiên Giam nên mỗi ngày bà vẫn đến Kiên Giam 6 nhận thư tôi đã viết sẵn cho bà. Tôi đã kể hết cho bà nghe tất cả chi tiết về gia đình Ba Má và các em tôi, về vợ con tôi hiện nay đang ở nhà người Dì ruột, vợ tôi đang dạy may ở trường dạy may của người Dì này sống nuôi con qua ngày …. Tôi cũng kể hết tất cả chi tiết về cuộc đời tôi cho bà nghe kể cả thời gian đi tù cải tạo, vượt biên 9 lần thất bại… Những lúc sức khoẻ cho phép bà cũng cố gắng viết kể cho tôi biết về bà…. trong những bức thư qua lại mỗi ngày.
Bà là người miền Bắc, rất sùng đạo Phật. Sau năm 75 khi chính quyền CS nắm quyền, bà cương quyết bằng mọi giá phải đưa các con bà đi ra nước ngoài vì bà đã biết thế nào là CS và đã chạy trốn CS một lần vào năm 54. Sau khi các con bà đi vượt biên thất bại ở các tổ chức khác, bà tự đứng ra tổ chức đưa các con bà đi và cũng đã giúp đỡ đưa được mấy tu sĩ Phật Giáo bị nhà nước CS nghi ngờ dính líu chính trị từ Miền Trung trốn vào Saigon đi vượt biên thành công. Chuyến bị bắt này là chuyến bị bắt nguội, không có quả tang gì hết nên bà hy vọng sẽ được ra sớm. Không ngờ vào tù do điều kiện khó khăn, bệnh tim của bà và chứng tê bại tái phát hành hạ và tưởng bà đã chết rồi, nhưng niềm tin vào sự che chở của chư Phật, chư Bồ Tát của bà rất vững mạnh nên bà cứ kiên trì cầu nguyện và không tỏ vẻ bi quan gì cả. Bà luôn luôn nói với tôi, nghiệp còn nặng thì phải trả thôi, đâu có gì đâu phải lo buồn. Thật là một người đàn bà can cường!
Bà cũng cho tôi biết tên thật của bà là N. T. T. chồng bà mất từ lâu, đứa con đầu lòng cũng mất sớm từ lúc còn bé. Bà đã ở vậy nuôi 3 đứa con: Một gái, hai trai cho đến khi trưởng thành. Đứa con gái lớn của bà trùng tên với tôi, đã lập gia đình và đang định cư tại Pháp với chồng. Hai đứa con trai còn độc thân đang định cư tại Úc vừa tốt nghiệp Kỹ Sư và đã làm đơn bảo lãnh cho bà sang Úc đoàn tụ. Trong khi xúc tiến lo việc bảo lãnh đi Úc thì bà lại bị bắt. Khi biết tôi cùng tuổi với đứa con trai đầu lòng của bà đã không may mất sớm, tự nhiên bà thấy xúc động nói là nhìn tôi mà cứ nhớ đến đứa con vắn số của bà. Sau khi tôi đọc được những lời kể về gia cảnh của bà như vậy, tôi đã muốn khóc ngay lúc đó và ngay hôm sau khi bà lần theo bức tường đi đến phòng Kiên Giam 6 thăm tôi như thường lệ, tôi đã xúc động gọi bà là Mẹ. Tôi còn nhớ rõ đôi mắt bà đã rơm rớm ướt ngay khi nghe tôi gọi như thế. Bà nhìn tôi với ánh mắt thật hiền một lúc thật lâu như để trấn áp đi mối xúc động đang dâng lên trong lòng, rồi cười và nói với tôi nguyên văn một câu như sau mà suốt đời không bao giờ tôi có thể quên được:
– Con của Mẹ đi lạc mãi tới giờ này mới chịu về rồi phải không?
Tôi nghẹn lời không nói được lời nào cả, chỉ biết nhìn bà với nỗi xúc động như muốn bật khóc. Trương Phái Hàn và Lâm Văn Hua đứng bên trong cũng xúc động không kém. Và thế là bà nhận tôi làm con từ hôm đó. Chuyện bà nhận tôi làm con sau đó được chuyền ra, ở khu Kiên Giam ED tầng 2 lúc bấy giờ mọi tù nhân Nam, Nữ … đến lao động Xáng và hai cán bộ Hùng, Lợi ai cũng đều biết hết cả. Buổi tối “họp chợ “, mọi người chúc mừng hai mẹ con tôi và sau đó mỗi đêm sau khi hát hò, sinh hoạt với các tù nhân ở phòng khác, đợi đêm khuya êm vắng trước khi đi ngủ, tôi đều hát tặng bà bài Lòng Mẹ, hoặc bài Bông Hồng Cài Áo là hai bài hát mà bà thích nhất, rồi mới đi ngủ. Điều này dần dần trở thành thói quen, tất cả các tù nhân khác mỗi khi nghe tôi cất tiếng hát bài này dù họ vẫn còn nói chuyện lai rai, ai nấy đều im lặng hết đợi tôi hát tặng Mẹ tôi xong mới tiếp tục sinh hoạt trở lại.
Google photos
Một điều đặc biệt nữa là sau chuyện đó một số tù nam và tù nữ đã gọi bà bằng Mẹ và ngay cả viết thư xin được bà nhận làm con. Nói chung vì tâm lý ở trong tù thiếu thốn tình cảm gia đình, cho nên hình ảnh của Bà ít nhiều gì cũng gợi lại cho các anh em trong tù về hình ảnh của người Mẹ của mình, nhất là các tù nữ, sau vụ bà nhận tôi làm con đa số ai cũng gọi Bà là Mẹ và xưng con với bà cả. Bà viết thư cho tôi hay ngay cả Gió (Phan Đình Tố) lúc đó ở Kiên Giam 2 cũng viết thơ xin bà nhận làm con. Nhưng bà đã viết thư giải thích với mấy anh chị em tù đó là chuyện Mẹ, Con đối với bà là một chuyện thiêng liêng, quan trọng và có ý nghĩa thật sư,ï vả lại đạo Phật có nói: “Chuyện gì cũng phải tùy vào Nhân Duyên chứ không phải muốn là được”… Bà nói bà cũng thương thằng Gió lắm, nhưng không thể nhận nó làm con vì nếu nhận bà sẽ có trách nhiệm và sẽ rất đau đớn khi không lo được cho nó an toàn sau này, mà sức bà thì không thể làm điều đó được.
Bà viết kể cho tôi biết là trước hôm tôi gọi bà bằng Mẹ, trong lòng bà đã xem tôi như là đứa con đầu lòng chẳng may vắn số trước đây rồi. Mỗi đêm bà đều thành tâm cầu nguyện cho sức khoẻ của bà mau khôi phục và sớm được về để bà lo cho vợ con tôi bên ngoài không còn khổ nữa, đồng thời lo cho tôi trong này. Ngay cả sau khi tôi được thả về, bằng mọi giá bà sẽ đưa vợ chồng con cái tôi đi. Đó là tâm nguyện của bà và bà nguyện sẽ làm với tất cả khả năng của bà để thực hiện điều này cho bằng được. Đó chính là lý do bà không thể nhận ai khác làm con nữa. Vì khi nhận làm con bà lại sẽ phải chịu trách nhiệm lớn như vậy chứ không thể để con mình khổ được.
Tôi thật sự cảm động rất nhiều khi bà cho biết như vậy. Thú thật còn trong hoàn cảnh tù đày lúc bấy giờ tôi thật không nghĩ ngợi gì nhiều về tương lai mà bà vạch ra cho vợ chồng con cái chúng tôi sau này, vả lại tương lai… ngày về còn mờ mịt quá, tôi không mong đợi hoặc kỳ vọng quá xa như vậy. Tôi chỉ cảm động về tấm lòng của bà đã thương yêu lo lắng cho tôi. Nội những lời nói mỗi ngày và tình thương của người Mẹ mang đến cho đứa con đã làm cho tôi thấy an ủi lắm rồi. Tinh thần tôi đã sa sút, đã thương tổn quá nhiều rồi, nên những lời nói an ủi tinh thần hoặc những miếng quà tuy đơn sơ như một miếng bánh, một món trái cây nào đó… từ tay bà mang đến cho tôi, đã làm ấm lòng và xoa dịu nỗi đau đớn trong tâm hồn tôi rất nhiều. Những món quà đã ấp ủ tình thương của người Mẹ đối với con, được bà mang đến qua từng bước đi khó khăn phải vịn vào tường dò dẫm từ phía ngoài Kiên Giam đi vào phía trong nơi Kiên Giam 6 để trao tận tay cho tôi. Những món quà như thế đối với tôi lúc bấy giờ còn quý hơn mọi thứ quý giá khác trên đời này nữa! Thử hỏi một thằng tù khốn khổ như tôi lúc bấy giờ, còn thấy có gì quý hơn thế chứ?
Một câu nói của bà đã làm tôi cảm động đến khóc mà suốt đời không bao giờ tôi có thể quên được:
– Con biết không? Ba đứa em của con (Bà ám chỉ đứa con gái lớn và hai đứa con trai của bà đang ở nước ngoài) hiện nay đang ở cảnh sung sướng, thật sự Mẹ chỉ nhớ trong lòng và hằng ngày vẫn cầu nguyện cho chúng nó thôi, chứ Mẹ không có gì phải lo lắng cho chúng nó cả. Hiện nay chính con và vợ con của con đang khổ bên ngoài mới là những người Mẹ lo lắng nhiều nhất.
Trời ơi! Ai ở vào hoàn cảnh của tôi nghe những lời như thế mà không cảm động. Bà lại còn nói:
– Từ từ con sẽ thấy người Mẹ này nói được mà có làm được hay không?
Kể từ khi nhận tôi làm con, bà kể cho tôi nghe thêm nhiều chi tiết. Mẹ tôi cho biết hiện nay bà không còn ai là thân nhân ruột thịt ở miền Nam. Những thân nhân phía bên bà đa số sau 54 còn kẹt lại ngoài Bắc. Còn phía bên gia đình chồng bà rất giàu nhưng bà cũng ít liên lạc. Trong khi tổ chức vượt biên lo cho các con bà trong những chuyến trước đây, vì để tránh sự dòm ngó chú ý của địa phương, bà đã bán nhà chuyển hộ khẩu về nhà một người bạn thân ở Ngã Tư Bảy Hiền mà bà đã giúp đỡ rất nhiều trước đây, cũng như đã từng giúp cho đứa con gái của bà bạn này đi được đến bến bờ tự do thành công, cho nên đối với bà họ luôn luôn coi như là một đại ân nhân. Sau đó bà di chuyển thường xuyên không ở cố định một chỗ nào cả để lo chuyện tổ chức vượt biên. Hiện nay đang trong tù, người bạn thân đó cũng là người duy nhất lo mọi chuyện cho bà bên ngoài.
Một hôm Mẹ tôi viết kể cho tôi biết như sau:
Lúc bị bệnh đưa đi cấp cứu nằm ở bệnh xá, bà đã móc nối được cán bộ ở đó đưa tin về nhà và từ đó vẫn giữ đường dây liên lạc này thường xuyên. Chính đường dây này là đường dây đang lo cho bà ra và hiện nay công việc đó đang tiến triển tốt đẹp. Theo như tin bên ngoài đưa vào, bà hy vọng không bao lâu nữa sẽ được về.
Ngoài ra bà cũng cho biết cả hai tên cán bộ Lợi và Hùng khu Kiên Giam ED tầng 2 ở đây bà cũng đã móc nối được luôn rồi, nhưng hai tên này bà chỉ mua chuộc sai vặt như đem thư từ, chuyển tiền vào cho bà chứ không dính dáng gì tới chuyện lo cho bà ra. Khi nào cần liên lạc với bên ngoài thì với chút đỉnh tiền thù lao, bà có thể nhờ chúng làm cho bà được. Bà còn nói rõ tuy bà có thể sử dụng cả hai tên cán bộ Hùng và Lợi này. Nhưng bà nhờ tên Lợi nhiều hơn. Bà nói ban đầu cán bộ Lợi còn ăn tiền của bà mỗi khi bà nhờ chuyển tin tức cho bà, nhưng dần dần bà cho thì nó lấy chứ không đòi hỏi, đôi khi nó cũng giúp cho bà không lấy tiền nữa. Một điều chính bà cũng ngạc nhiên không ngờ tới nữa là tên công an Lợi cũng đã gọi bà bằng Mẹ và cũng xin bà nhận nó làm con nuôi… nhưng bà đã tìm cách từ chối khéo nó. Bà thấy đã tới lúc có thể nhờ chúng nó giúp liên lạc với vợ con tôi bên ngoài cho tôi như bà đã nói trước đây nên bảo tôi sau khi đọc thư này của bà, tôi cứ việc viết sẵn một thư cho vợ tôi và bà sẽ nhờ cán bộ Lợi chuyển về cho.
Thế là ngay đêm hôm đó tôi viết ngay một bức thư thật dài kể rõ hết mọi chuyện cho vợ tôi nghe về bà mẹ nuôi, xong qua hôm sau đưa cho Mẹ tôi để bà đưa cho cán bộ Lợi chuyển về dùm tôi.
Mấy ngày sau, tôi nhận được thư vợ tôi gởi vào qua đường dây của cán bộ Lợi. Vợ tôi cho biết là đã nhận được 2 bức thư: Một của tôi và một của Mẹ tôi. Qua hai bức thư, vợ tôi đã hiểu rõ hết mọi chuyện. Ngoài ra riêng trong thư của Mẹ tôi, bà có dặn vợ tôi đến địa chỉ của nhà người bạn của bà ở Ngã Tư Bảy Hiền nhận một số tiền mà bà đã có báo trước cho bạn của bà biết rồi. Cứ đến đó nói tên ra thì bà ta sẽ đưa tiền ngay. Mẹ tôi còn an ủi vợ tôi là kể từ nay bà hứa sẽ không để con dâu của bà và 2 cháu nội của bà phải khổ nữa đâu… Quả nhiên sau đó khi vợ tôi tìm đến địa chỉ bạn của Mẹ tôi trong thư, bà bạn của bà đưa cho vợ tôi một số tiền lớn ngay không thắc mắc gì cả. Vợ tôi cho biết cảm tưởng như người ở trong mơ, không tưởng tượng nỗi đó là sự thật, vì số tiền bà bạn của Mẹ tôi đưa cho vợ tôi lớn lắm, nhất là vào thời buổi khó khăn như lúc bấy giờ.
Mặc dầu là người trong cuộc, biết rõ mọi chuyện, vậy mà khi đọc thư ở nhà gởi vào, tôi đây còn ngỡ như mình đang sống trong mơ huống chi là vợ tôi ở bên ngoài thình lình xảy ra một chuyện như vậy. Mọi chuyện đối với tôi bỗng chốc như là một chuyện thần thoại hoang đường nào đó chứ không phải là sự thật nữa! Tôi còn nhớ rõ cái cảm giác của tôi lúc đó thật khó tả. Cái cảm giác của một người vừa được ân sủng của Thượng Đế. Tôi đã quỳ ngay xuống và thành tâm cảm tạ hồng ân của chư Phật, chư Bồ Tát và cầu nguyện Quán Thế Âm Bồ Tát đã hiện thân xuống cứu vớt gia đình tôi. Đối với tôi lúc bấy giờ hình ảnh của bà Mẹ tôi là hình ảnh của đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi đã thành tâm đọc bài chú Đại Bi với tất cả lòng tin tràn đầy mặc-khải. Ngay cả lúc đang viết những dòng này, tôi đã phải nhắm mắt hồi tưởng lại, trong một thoáng cái cảm giác thiêng liêng của lúc đó như đang sống lại trong tôi. Trong đời tôi đã trải qua biết bao lần thành tâm cầu nguyện vào những bối cảnh và thời điểm khác nhau… nhưng có lẽ hôm đó niềm tin tôn giáo trong tôi mãnh liệt và trọn vẹn nhất.
Mẹ tôi đã rất vui khi thấy tinh thần tôi không còn sa sút nữa, nhưng bà vẫn buồn lo vì tính “phá phách” của tôi. Những sinh hoạt của tôi trong khu Kiên Giam đối với các bạn tù ngày càng bạo hơn. Trong khu Kiên Giam lúc bấy giờ chỉ có tôi, Hồng Vân, Gió là những thằng kỳ cựu nhất. Thanh Đa, Kim Cương, Sáu Thạnh, Bồ Câu… và những người khác đều đã lần lượt chuyển đi hết rồi. Tôi chỉ tiếc một điều là không biết Thanh Đa bị chuyển đi đâu, có bị ra toà hay không? Gió thì cũng dạn dĩ lắm, nhưng phải nói chỉ có tôi và Hồng Vân lúc bấy giờ nổi tiếng lắm. Hai thằng cứ thay phiên nhau bị bắt đi biệt giam kỷ luật hoài. Tên cán bộ Hùng lại là thằng ghét và đì tôi nhiều nhất. Nó cứ canh me cố tình bắt tôi đi kỷ luật cho bằng được. Ngay chính cán bộ Lợi đã báo động cho tôi và Mẹ tôi biết là tên Hùng đang chú ý và để ý đì tôi, bảo tôi phải cẩn thận. Tức cười lắm, khu Kiên Giam ED tầng 2 có hai cán bộ Hùng và Lợi. Khoảng thời gian này cán bộ Lợi lại giúp và che chở cho tôi nhiều việc, trong khi tên Hùng gây khó khăn cho tôi và tìm cách hại tôi.
Google photos
Với sự cố tình của một kẻ đang có quyền hành trong tay thì cũng không khó gì khi muốn bắt tôi. Quả nhiên tôi bị tên Hùng bắt tại trận đưa đi kỷ luật còng giò mấy lần. (Tôi sẽ kể chuyện đi biệt giam kỷ luật trong một chương khác). Mỗi lần bị phát giác và bị bắt đi kỷ luật chúng tôi lại phải đổi danh hiệu khác, vì danh hiệu cũ có thể đã bị cán bộ trong khi rình bắt biết được là ai rồi. Từ Sáu Khổ đổi qua Hai Ga, rồi Ba Thanh, Ba Long, rồi Hải Triều. Ôi thôi, tùm lum hết.
Nhưng càng bị bắt đi kỷ luật, nhất là bị bắt vì đi xe chở hàng dùm cho các bạn tù khác, hoặc đang ca hát cho những anh chị em trong tù nghe giải trí lúc “họp chợ”, khi về lại càng được các bạn tù khác thương mến. Trong khoảng thời gian này có mấy người tù nữ như Quyên Quyên, Xuân, Vũ Thị Lan, Kiều Mi rất thương mến tôi. Mỗi khi tôi bị đi biệt giam kỷ luật về, ngay tối hôm đó thế nào các bạn tù cũng chuyền tin cho nhau và lên tiếng hỏi thăm tới tắp. Với nhiệt tình của bạn tù như thế, có muốn trốn tránh cũng không được. Sau đó là thư, quà, thuốc men từ các phòng khác đi xe chuyền tới cho tôi “bồi dưỡng” liên tục… Thử hỏi làm sao tôi có thể tránh né đi đâu cho được! Quyên Quyên, Xuân, Vũ Thị Lan lại ở cùng phòng với Mẹ tôi và chờ đến khuya đã từ Kiên Giam 10 tuốt bên ngoài đi “xe suốt” vào Kiên Giam 6 tiếp tế cho tôi. Còn Kiều Mi ở Kiên giam 9 đối diện tôi nên đi xe qua tiếp tế cho tôi dễ dàng. Cô Kiều Mi này nhận tôi làm anh nuôi và mỗi tối hay nghe tôi kể cho nghe những câu truyện tôi đọc được trong sách vở trước đây, nên Kiều Mi rất thương tôi. Mỗi khi tôi đi kỷ luật về là đêm đó thế nào cô ta cũng nhảy lên song sắt hỏi han tôi đủ thứ. Những chuyện linh tinh như vậy làm cho Mẹ tôi buồn lòng không ít.
Sau một lần tôi bị bắt đi biệt giam kỷ luật về, Bà đã viết cho tôi:
– Con biết không Mẹ đã phải lo lắng biết là chừng nào mỗi khi con bị đi kỷ luật. Mẹ cứ suốt đêm trằn trọc không ngủ được. Cái cảm giác nhìn con mình đang bị nạn mà không giúp được gì làm cho Mẹ đau đớn lắm con biết không? Thôi con đừng bướng bỉnh phá phách nữa. Đừng leo lên song sắt ca hát ban đêm nữa. Ai làm gì mặc ai, con cứ ráng ẩn nhẫn qua ngày đi. Ngày về của Mẹ cũng sắp tới rồi, theo như tin tức bên ngoài đưa vào thì sẽ không bao lâu nữa Mẹ sẽ về. Khi ra được bên ngoài rồi thì Mẹ sẽ rộng đường lo lắng cho con và vợ con của con. Nhưng Mẹ nói hoài mà con không chịu nghe. Con cứ lung tung cả lên như vậy quả thật làm cho Mẹ không an lòng. Đã vậy, nhìn thấy sự quan hệ giữa con và mấy cô ở đây Mẹ lo quá. Con còn đang ở trong tù, bên ngoài vợ và hai con của con đang khổ cực, ngày đêm lo lắng. Con phải làm sao chứ để vướng vào tình cảm với mấy cô ở đây và làm vợ con đau khổ sau này là Mẹ dù thương con cách mấy cũng sẽ không thể bênh vực cho con được đâu.
Câu chuyện của con và con Nai cả cái Kiên Giam này ai cũng biết đã khiến Mẹ không vui rồi. Là một Phật Tử chân chính con không thể có cái Tâm sai trái như thế. Mẹ khuyên con nên khéo xử làm sao để chuyện quen biết với mấy cô ở đây thì chấm dứt tại đây, chứ không thể kéo dài khi ra ngoài được. Mẹ còn nhiều chuyện lớn lo cho con sau này, không muốn phải lo giải quyết chuyện gia đình xào xáo vớ vẩn của con sau này được. Con hiểu không?
Mẹ tôi chưa bao giờ viết cho tôi một bức thư dài như thế, Bà la mắng tôi quá trời! Nhưng chuyện này thì oan cho tôi quá. Mấy cô Quyên Quyên, Xuân và Vũ Thị Lan này quả thật có cảm tình với tôi thật. Nhưng đối với tôi, chỉ là tình cảm như của người anh đối với mấy cô em gái thôi. Quyên Quyên là một cô giáo. Xuân thì gia đình có sạp vải ở chợ Tân Bình, cô phụ cha mẹ buôn bán, còn Vũ Thị Lan nhà ở Hố Nai gia đình làm nghề may mặc áo cưới cho cô dâu. Mấy cô này rất thích nghe tôi hát mỗi đêm và tôi chỉ xem như các cô em gái mặc dù không chính thức kết nghĩa anh em như tôi với cô Kiều Mi ở Kiên Giam 9.
Tuy nhiên tôi cảm động và ân hận lắm khi thấy đã mang lại cho Mẹ tôi bao nhiêu lo lắng như vậy… nhưng thử hỏi tôi còn làm được gì khác. Tôi đã phải thanh minh với Mẹ tôi điều này và đoan chắc là sẽ không có gì xảy ra đâu cho Bà an tâm.
Không bao lâu sau đó thì Mẹ tôi được thả về. Bà được thả vào buổi chiều, Bà đã xin đến Kiên Giam 6 báo cho tôi hay, nhưng không được chấp thuận. Tôi không hay biết gì hết. Ngay sau khi công an đóng cửa sắt đi xuống dưới không bao lâu thì Quyên Quyên gọi báo cho tôi biết:
– Ba Long ơi! (Lúc này danh hiệu của tôi là Ba Long).
– Nghheee.
– Lên đài đi.
Tôi nhảy lên song sắt liền.
– Anh biết tin gì chưa?
– Tin gì? Đâu có nghe nói gì đâu?
– Mẹ về rồi.
Tôi sững sốt với cái tin đột ngột này, cơ hồ như không tin vào đôi tai mình và chưa kịp có phản ứng gì thì Quyên Quyên nói tiếp:
– Mẹ về hồi chiều trước khi phát cơm một chút.
Giọng tôi như lạc hẳn đi:
– Mẹ có nói gì không? Em thấy bà bước đi có khoẻ không?
– Mẹ có xin đến gặp anh nhưng cán bộ Hùng không cho. Bà bảo mấy tụi em cho anh biết là anh cứ yên tâm đi. Bà bảo đã nói gì với anh thì sẽ làm đúng như vậy. Ngay khi về Bà sẽ nhắn tin vào. Anh đừng lo gì cả.
Tôi vẫn chưa hết xúc động, hỏi lại Quyên Quyên:
– Cái đó anh biết rồi. Em thấy Mẹ khi đi, bước đi có vững không.
– Mẹ bước đi cũng yếu lắm, nhưng có lao động Xáng giúp, chắc không sao đâu. Bà để lại giỏ đồ ăn cho anh ở đây nè, mai em sẽ nhờ lao động chuyển cho anh.
Tôi cám ơn Quyên Quyên và xuống nằm vắt tay trên trán, đầu óc cứ đầy ắp hình ảnh của Mẹ tôi đang dò dẫm từng bước vịn vào tường tập đi với gương mặt và nụ cười phúc hậu của Bà. Nước mắt tôi chảy dài ra hồi nào không biết.
Đêm đó là đêm đầu tiên tôi không tham gia sinh hoạt “họp chợ” ở khu Kiên Giam, mặc cho lời kêu réo tên tôi của các bạn tù bên ngoài. Tôi ngồi cả đêm cầu nguyện và nhớ về Mẹ tôi, cầu xin cho Bà sớm tìm được thầy hay, thuốc tốt để đôi chân có thể đi đứng khoẻ mạnh lại như xưa. Kể từ khi Bà được về, tôi thấy an tâm về mặt gia đình ở bên ngoài lắm. Một mặt Mẹ tôi có cơ hội chữa lành bệnh, mặt khác vợ con tôi bên ngoài chắc chắn sẽ được Bà lo và như vậy đời sống vật chất không còn khó khăn nữa. Tuy nhiên tôi buồn và nhớ Bà rất nhiều. Khoảng thời gian này nhiều biến đổi, các bạn thân của tôi lần lượt đổi đi hết kể cả Hồng Vân, Thanh Đa… Chỉ còn có tôi và Gió là kỳ cựu nhất. Tôi đâm ra ít nói, ít tham gia sinh hoạt “họp chợ” hoặc hát hò nhiều như trước nữa.
Khoảng mấy ngày sau khi Mẹ tôi về, tôi nhận được thư của Bà và thư vợ tôi do cán bộ Lợi chuyển vào. Bà không nói gì nhiều về bệnh tình của bà, chỉ vắn tắt cho biết Bà đang ở nhà một đứa cháu họ mà Bà giúp đỡ trước đây để chữa bệnh và đang châm cứu hai chân mỗi ngày. Ngoài ra suốt cả bức thư dài Bà chỉ nói về chuyện của vợ con tôi và tôi! Bà cho biết ngay sau khi về, qua hôm sau bà cho người đến nhà đưa thư của Bà cho vợ tôi bảo lên gặp Bà gấp. Gặp vợ tôi, Bà đã cho biết tình hình chi tiết hơn về Bà và hỏi han vợ con tôi tất cả những sinh hoạt, khó khăn bên ngoài như thế nào cứ nói hết để Bà hiểu rõ hơn và giải quyết cho. Bà nói khi Bà nhìn hai đứa con của tôi và thấy thương chúng quá sức. Bà đã ôm vợ và hai con tôi vào lòng và hứa là từ nay sẽ không để cho gia đình chúng tôi khổ nữa, sau đó Bà mời Má ruột tôi đến, kể cho Má tôi nghe những diễn tiến về tình Mẹ con kết nghĩa trong tù và tâm sự với Má tôi là Bà xin được chia sẻ trách nhiệm với Má tôi để lo cho tôi và vợ con tôi. Cả một lá thư dài, Bà chỉ nói về Bà có hai ba hàng và bảo tôi đừng lo lắng gì cho bà. Trong khi đó cả phần còn lại của bức thư chỉ hoàn toàn lo cho gia đình tôi mà thôi, trong khi sức khoẻ của Bà vẫn còn đang rất yếu kém! Bà đối với tôi như vậy bảo tôi làm sao mà không xúc động cho được. Bức thư của vợ tôi cũng tương tự như vậy cho biết là sau khi vợ con tôi lên gặp Mẹ tôi rồi thì Bà lo lắng đủ thứ hết mặc dầu còn nằm một chỗ và bảo tôi đừng có lo nghĩ gì cả. Tính đến thời gian này thì tôi đã ở trong Chí Hòa hơn 3 năm rồi, nhưng kể từ đó những ngày tù của tôi trong Chí Hòa không còn cảm thấy quá khó khăn nữa. Ngoài những nhớ nhung và nỗi nôn nóng được sớm đoàn tụ cùng gia đình vẫn thiêu đốt trong tôi không ngừng nghĩ, tôi không còn có tâm trạng lo lắng cho vợ con bên ngoài như trước đây.
Google photos
Tôi liên lạc thường xuyên với gia đình một cách đều đặn và “an toàn” qua đường dây cán bộ chuyển thư đi, về cho chúng tôi. Đời sống tinh thần của tôi không còn quá căng thẳng, còn đời sống vật chất thì phải nói là không còn thiếu thốn nhiều như trước đây. Những giỏ quà thăm nuôi mỗi tháng một lần từ nhà gởi vào giờ đây đã “nặng” hơn và đầy đủ hơn, ngoài ra ở trong tù lúc này hễ thèm gì, thích gì thì tôi có thể nhờ cán bộ ra ngoài mua dùm cho tôi ăn uống được, kể cả thỉnh thoảng cũng có chút rượu … Nói chung đang từ một tên tù “bạch đinh” khó khăn đủ mọi thứ từ tinh thần tới vật chất, kể từ khi Mẹ tôi về tôi bỗng dưng thấy mình trở thành một loại tù “trưởng giả”. Hình như bài chú Đại Bi Mẹ tôi đã vất vả chép cho tôi hơn một tháng trời trước đây và sự tin tưởng trì niệm của tôi mỗi ngày đã bắt đầu ứng nghiệm. Trong niềm tin của tôi lúc bấy giờ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát qua hiện thân của Mẹ tôi, đang giơ tay ra cứu vớt đời tôi.
Mà sướng thật? Bây giờ mới là chinh chông, không nhà không chỗ ở; Thầy cai đưa tôi về khách lầu Nam Việt, đầu đường Sạt-ne (Charner, nay là đường Nguyễn Huệ) tận bờ sông Sài Gòn nên mát mẻ lắm. Ở đặng hai tuần thì thầy cai tính về Trà Vinh, vì đã mãn phép. Thầy mời tôi về theo, bụng tôi cũng muốn như vậy lắm, nhưng Má Tư làm kỳ đà, cản rằng thầy có vợ lớn, có tiếng là dữ, về dưới như “nhục huyền hổ khẩu”. Trong làng vợ thầy cai Phó, không khác trên nầy là bà Nguyên soái, bà Phó soái chớ không chơi, và bộ hạ của chúng, tôi làm sao lại. Nghe vậy hồn vía tôi lên mây nên đòi ở lại, túng thế thầy phải dọn phố cho tôi hẹn đến lễ Chánh chung (chánh trung) cách-to ru-dết (14 juillet) sẽ lên thăm.
Lúc ở khách sạn với thầy cai, bụng tôi đang bấn loạn lo việc anh Hạch dầu sao cũng là mối tình đầu, tôi rầu rĩ cả ngày, bỏ hết mọi việc, việc âu yếm với thầy cai tôi cũng bơ phờ, mặc cho duyên mới mảng sầu tình xưa, tóc biếng chai gương biếng soi, nghĩ mình đoản hậu quá, nhưng giữa cơn cụp lạc, thầy cai khen nét tôi ủ dột bằng mười điếm trang. Trong trí nhớ hai cái hột kia còn gởi Má Tư mà tôi cũng không lo đòi. Thầy cai dỗ tôi cách nầy cách nọ đủ thứ, tôi được trớn lại càng nhõng nhẽo. Giá thử má tôi lên gặp tôi lúc nầy thì xấu hổ cho con biết mấy. Ai tập tành mà tám nghề bảy ngón như vầy? Nay thầy cai về dưới rồi, tôi rảnh tay rảnh chân, sực nhớ hai hột kim cương tôi qua đòi má thì hỡi ôi, má nói đã cầm rồi, chờ vài tháng có tiền sẽ chuộc. Cha chả? Nghe mà tức ói máu! Té ra nào là vàng chuỗi neo kiến gì của tôi, má đã lấy một bận rồi, cái tấm trinh của tôi má cũng bán đứng ăn rồi, nay đến lượt hai hột xoàn nầy, má cũng toan giựt nữa. Của người ta cho tôi bao nhiêu, một mình má ăn hết ráo trọi. Vừa vừa vậy chớ. Công má tôi mang nặng đẻ đau, công tía tôi dạy dỗ nên người, sanh ra tôi nuôi cho lớn khôn nên vai nên vế rồi để cho má một mình lợi dụng. Càng nghĩ càng thấm mật, tức tối vô cùng, nhưng thân phận đàn bà vô thân, nhè đưa cán cho má cầm, lưỡi dao bàn về mình nắm, biết làm sao đây.
Một bữa nọ tôi ngồi chơi trước phố đang rầu buồn, bỗng thấy đàng xa đi lại là thầy thông ở căn bên cạnh. Vừa thấy tôi, thầy đã dở nón cúi đầu chào lễ phép. Mà tôi đã có ý xem, từ hôm tôi dọn về đây cho đến nay, mỗi lần thầy gặp tôi là khúm núm ké né xem tôi như là một bà thần sống. Mà coi bộ người nầy thật là nết na đằm thắm, mặt mày thêm hiền hậu không láo nhao như mấy cậu trai lơ kia. Tôi nghĩ trong bụng để mình làm quen và hỏi thăm thầy nầy xem có thể chi kiện má ra toà đòi hai hột xoàn kia được chăng. Người nầy xem bộ đàng hoàng phúc hậu không ba que xỏ lá, ắt tin cậy được. Chờ cho thầy vừa đi ngang nhà, tôi cung kính mời: “Xin lỗi, em mời thầy vào nhà chơi cho em hỏi chút việc”.
Thầy lật đật bước vào, nỗi mừng hai đứa đứa nào hơn? Thầy tươi cười bắt chuyện: “Có việc chi cần dùng đến tôi, xin cô cứ nói, chớ ngại”. Tôi mới thuật nửa úp nửa mở rằng tôi có gởi hột xoàn cho một người, nay họ muốn giựt vậy mình có thể kiện đòi lại được hay không? Thầy hỏi tôi khi gởi có biên lai gì hay chăng. Tôi trả lời rằng không. Tôi thấy mặt thầy có vẻ buồn lo. Thầy hỏi tiếp: “Lúc gởi có ai ngó thấy hay không?”. Tôi lắc đầu. Thầy cũng lắc đầu theo và chắt lưỡi: “Chà! Vậy lấy chứng cớ đâu mà kiện!”. Rồi thầy hỏi dồn: “Mà người ấy có bà con thân thích chi với cô mà cô tin người ta như vậy?”. Tôi đáp cũng mới quen có ít tháng nảy mà thôi. Thầy ngó tôi và chậm rãi nói: “Thưa cô, chuyện nầy thiệt khó hiểu. Nói thiệt, nếu cô muốn cậy tôi thì tôi rất sẵn lòng vừa giúp cô dầu khó nhọc cách mấy tôi cũng không câu nệ, vì thấy cô coi bộ ít quen biết với ai ở đây. Song cô phải tin tôi, mà đọc lại cho rõ ràng mọi sự, thì hoạ may tôi có thế toan tính gỡ rối cho ra, nếu thưa kiện không xong, thì có thế khác. Chớ cô nói không cặn kẽ thì tôi biết mối đâu mà gỡ”. Thấy tôi do dự, thầy lại tiếp: “Có lẽ cô mới biết tôi lần thứ nhứt mà đem tâm sự giải bày thì cũng ngỡ ngàng cho cô đó chút. Cô cho tôi hỏi: Vậy chớ cái người cô gởi hột xoàn đó, cái thế họ còn ở đây lâu dài, hay họ là người trôi nổi bình bồng, nghĩa là cô có sợ nó bỏ đất Sài Gòn mà đi mất biệt hay không?”. Tôi cười liếc mắt tình tứ mà rằng: “Không, dạ thưa thầy không. Người ấy ở đây hoài hoài, hổng có đi đâu hết. Cái sự người ấy trốn, thiệt tôi không sợ”. Thầy mừng mà rằng: “Như vậy thiệt là may. Việc đâu còn có đó. Cô với tôi nay ở gần nhà, thủng thẳng đây sẽ biết thêm nhiều và quen lớn thêm nhiều. Ngày nào cô đủ sức tin tôi thì cô sẽ nói, cung chẳng muộn chi!”.
Chẳng biết sao nghe lời thầy nói một cách hiền từ thành thiệt quá, làm cho tôi hết e lệ hổ ngươi, lúc ấy tôi coi thầy thư là người anh ruột hay là một người thân thích đã quen biết từ chín mười năm rồi vậy, nên tôi bèn thuật lại đâu đuôi gốc ngọn, các sự việc ra sao, không sót một điều, một mảy may. Tôi lại ráng đem hết cái tài văn hoa ăn nói của cái xứ Kim sơn, Xoài hột ra mà dùng, không câu người nầy bang bằng sắc nàng Thuyền, mà phải câu bằng đầu môi chót lưỡi của nàng Điêu trong Tam quốc chí. Duy khi nghe tôi dùng chữ “diếm” thay vì nói “dám”, thầy cười mà hỏi tôi có phải người gốc gác Sầm giang Rạch ông Hổ chăng. Tôi hỏi tại sao thầy biết. Thầy cười nói tiếp: “Thưa cô, vì cô không dám phạm huý chữ “dám” trùng âm với “giám, thái giám” đụng chạm đến cái tiêu tật hay ấn tật của ngài Tả quan Lê. Tôi cũng là người Chợ Giữa, vì sinh nhai trôi nổi lên đây, như đã nói, càng biết càng thân ấy mà!”. Thầy cười lỏn lẻn nói: “Chuyện nghe đã rõ, thôi cô cứ yên tâm, để tôi về tôi lo kế”.
Cách ba bữa sau, thấy trở lại, dặn tôi: “Con mẹ Tư Hớn đó không phải vừa. Nếu chẳng làm cho nó trúng kế thì dẫu trời đánh nó cung không nhả hai cái hột xoàn kia ra đâu.”. Chừng, thầy kê sát tai tôi nói nhỏ rằng phải làm như vầy, như vầy, và căn dặn tôi đây tới đó phải giấu nhẹm, người khác biết được thì hư chè hư xôi hết.
Qua ngay sau, đúng giở hẹn, tôi y kế má dặn rắc rắc làm theo. Xe chạy ngang nhà má, thấy má đang trò chuyện với một đàn ông, râu cá chốt, áo dài bông gấm, đi giày ếch-cạc-panh (escarpin), khăn Lái Thiêu, ngậm xì gà: nửa quê nửa tỉnh, nửa mấy thầy, nửa làng xã. Má vừa thấy tôi, đã bước ra chào niềm nỡ: “Cô Hai đi dạo mát hả? Xin cô ngửng, tôi có chút chuyện”. Má day lại nói với người kia giống chi nhỏ quá nghe không rõ, rồi lật đật chạy ra, móc túi áo khỉ đưa cho tôi xem hai hột kim cương đã nhận làm cà rá và nói nho nhỏ đủ nghe: “Con giả bộ cầm coi và nhìn kỹ một hồi rồi lắc đầu như chưa bằng lòng, làm bao nhiêu ấy rồi trả lại má để cho má tính”. Tôi có hiểu ất giáp gì đâu nhưng cũng làm y như lời má biểu. Bỗng nghe má nói lớn: “Thấy không? Quả y như tôi tiên liệu. Hai hột không đều, một hột màu dầu lửa, hột kia sáng thật nhưng có chút than, thôi để rồi kiếm cái khác”. Xe tôi cứ đường thẳng chạy luôn, má trở vô, trong lúc nói chuyện liếc thấy gã kia ngó tôi trân trân, gần rớt tròng con mắt.
Sáng hôm sau má vô nhà, miệng tích toát hỏi: “Con muốn hai hột xoàn nầy chớ?”. Tôi vội đáp: “Bộ má giả ngộ? Vàng kia không có tiền chuộc. Nay muốn mấy thứ nầy, rồi tiền đào đâu ra?” Má không dứt tiếng cười háy tôi “Của nầy là của con đây chớ của ai? Lúc nầy con mua gì mà không được, lo gì chuộc mấy món vàng nhẹ xều kia?” Thử bây giở con ước má Tư nầy về làm con mọi già để chơi ắt cũng có người ra tiền cho con sắm! Cá cắn câu rơi con ơi!”. Tôi nghe bây nhiêu, đà hiểu hết, đây là thầy cai đã lọt vào mê hồn trận của má, nói cách khác, má đã thổi bùa mê bắt hồn thầy cai, chuyện hai hột xoàn nầy cũng là tại má bày, nói tôi đang muốn sắm kim cương, nên thầy mới mua để làm nghĩa cho tôi mau cảm, và lễ ra mắt như vầy cũng là xứng đáng. Nghĩ lại tôi thật là con đoản hậu. Anh hạch không làm chi cho phật lòng, nói chí tình tôi cũng thương ảnh lắm chớ, nghĩ dại muốn có được một thằng Tambi con để đánh dấu bước đầu buổi sấn thân cùng gió bụi, vợ chồng mới quen hơi, tình nghĩa gần gắn bó, không biết vì mụ nầy là quỷ sứ đầu thai, hay vì mình có cái tật ham đồ bắc kế, ác nhứt là hai cái hột nầy làm choá mắt, nên rốt rồi còn biết phải quấy con nhà gia giáo hoá ra tàn ác, lửa đang nồng, hương đang đượm, má đành phá gia cang hai đứa tôi làm vầy, má Tư ôi là má!
Chẳng những vậy, má còn căn dặn, chiều nay hễ anh hạch ra đi, là phải ra nói đôi lời cám ơn người ta. Mà trước khi, phải đem hai hột xoàn nầy ra giả bộ trả lại cho thầy, và nói rằng mình không dám thọ của quý như vậy, đợi cho thầy năn nỉ đôi ba lần rồi sẽ tạm nhận. Trời đất ôi, mấy lời nghe chó má quá mà tôi mãi mê hai hột nầy nên bất chấp phải trái, khi tôi còn ở nhà tía má tôi đâu có như vầy? Nhưng rồi tôi cũng y theo kế ấy. Xong rồi má Tư nói: “Nay con đem hai hột nầy về trong, bất tiện lắm. Thằng ba da nó thấy thì khó lòng. Vậy con để lại đây cho má giữ giùm là hay hơn”. Nghe cũng phải, tôi giao hai hột kim cương cho má, lật đật ra về. Bữa sau má nhắn nữa, biểu tôi xẻ thầy cai tiền chuộc đồ. Trời đất, thuở nay nào biết xẻ ai mổ ai, thầy cai đâu phải gà vịt mà hòng xẻ mổ? Huống chi người ta vừa ở ngọt quá, mới cho mình hai hột xoàn kia, nay mặt mũi nào xử sự với người ta dường ấy. Cũng vi còn chưa dứt khoát cách ăn thói ở “quân tử Tàu” cho nên tôi đã cụp hàm thiếc với thầy cai mà ba cái đô kia vẫn còn nằm ì ở đợ nơi tiệm cầm đồ chưa chuộc.
Cách vài hôm, bữa nọ, chẳng biết ai mách mà tôi vừa ra nhà má ngồi nói chuyện với thầy cai chưa nóng đít, kế anh hạch hầm hầm hừ hừ ra bắt gặp, lôi tuốt tôi ra xe chở về. Má Tư có nói với: “Đứng đi! Mày vô phen nầy là chết” Nhưng mà tôi nghĩ mình làm mình chịu, dẫu có bề nào cũng chẳng oan ức gì. Chớ nghe lời má, ở lại luôn không về thì cũng đặng, nhưng như vậy thì đoản hậu quá không đành? Khỏi nói về tới nhà, anh hạch khảo tra tôi, còn dữ hơn chị Hoạn vấn tội nàng Kiều, hỏi vàng vàng cũng sạch, hỏi chuỗi, chuỗi cũng tiêu, hỏi chi tôi nói thiệt hết, nhắm chối, chối cũng không được. Anh hạch lột trần tôi như nhộng, cho tôi ăn một trận đòn đáng kiếp, còn lại bao nhiêu đồ đeo trong mình, ảnh lột hết, lấy lại hết rồi tống tôi ra cửa. Ảnh mắng nhiếc má Tư Hớn và tôi không còn một chỗ mẹ đẻ.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.