Bố Già

vietmessenger.com

Maruio Puzo

Bản dịch: Ngọc Thứ Lang

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Google photos

Chương 10 BỆNH VIỆN TƯ, TƯƠNG ĐỐI NHỎ NÊN CHỈ CÓ MỘT CỬA. Michael đứng trên lầu nhìn xuống quan sát thấy rõ, muốn vô bắt buộc phải đi hết những bậc thang cuốn, không còn một lối nào khác. Hết bậc thang là ra tới ngoài đường lúc bấy giờ còn đèn sáng nhưng vắng tanh không có lấy một chiếc xe. 
Thời giờ gấp rút nó chạy như bay như biến xuống 4 tầng lầu, xuống dưới nhà, chạy thẳng ra cửa, ngó hai bên thì xe hồng thập tự cũng không có! 
Michael đốt một điếu thuốc, bước ra đường, tỉnh táo mở nút áo vét phanh ra, đứng dựa cột đèn cố ý để ai cũng phải thấy. Mắt nó ngó lia và chợt giật mình vì từ Đại Lộ số 9 có bóng người lầm lũi bước tới. Rõ ràng là một thằng đàn ông, tay ôm gói đồ dài dài, lại mặc đồ trận nữa! Mớ tóc dài đen láng, khuôn mặt thằng này ngó quen quen nhưng nó tới sát bên cột đèn Michael vẫn chưa nhận ra là ai. Nó đứng sừng sững trước mặt, tay chìa ra tính bắt tay và giọng đặc sệt tiếng Ý nhà quê: 
– Cậu Michael… cậu không nhớ cháu ạ? Cháu là rể ông Nazorine, chủ lò bánh. Cháu là Enzo đây. Cháu nhờ Ông Trùm vận động mới được như thế này. 
À, nhớ ra rồi. Michael bèn đưa tay bắt. Enzo hỏi ngay: “Thưa cậu… cháu muốn vô thăm Ông Trùm chút mà giờ này trễ rồi, không biết họ có cho không?” 
Michael cười: “Không được đâu! Mai mốt tôi sẽ nói lại là chú có tới được rồi”. Có chiếc xe rú máy từ đầu đằng kia chạy vọt tới nơi. Michael lưu ý ngay bèn nói nhanh: “Bây giờ chú lo về đi. Sắp có chuyện lộn xộn… bọn cớm dám kiếm chuyện khó chịu lắm đấy”. 
Cu cậu nghe tiếng “cớm” mặt đã tái nhợt. Cớm mà kiếm chuyện thì làm sao nhập quốc tịch Mỹ được? Bị tống về xứ chắc! Nhưng Enzo chỉ hoảng có lúc đầu, lắc đầu quầy quậy: “Cháu khỏi về! Nếu lộn xộn thì cháu phải ở lại chớ? Chỗ Ông Trùm đối với chúng cháu thì về sao được?” 
Michael nghe mủi lòng. Biểu nó về mà nó nhất định đòi ở lại thì… ở lại cũng chẳng sao! Có hai đứa bao giờ cũng an toàn hơn một? Biết đâu chừng bọn cô hồn của Sollozzo tới toan làm ẩu chợt thấy hai thằng đứng gác ngoài cửa nên dám khớp mà dông luôn? Một thằng thì chúng khỏi sợ! 
Nghĩ vậy Michael mời Enzo hút thuốc, tự tay mồi lửa. Hai thằng đứng dựa cột đèn hút thuốc trong đêm vắng. Aùnh đèn chiếu hắt từ nhà thương ra coi tụi nó thật kỳ dị. Chưa hút xong điếu thuốc thì có chiếc xe đen mui kín xuất hiện. Nó vọt tới và chạy sát lề, chạy ngang chỗ hai đứa đứng làm như muốn ngừng lại. 
Michael cúi thấp đầu, liếc thật nhanh mấy thằng trong xe. Người nó nổi gai ốc. Xe ngừng lại thiệt nhưng chỉ một tích tắc vọt ngay. Rất có thể người trên xe đã nhận ra nó! Michael đưa mời Enzo thêm điếu thuốc và để ý thấy tay cu cậu run run. 
Cỡ 10 phút sau còi hụ ầm ĩ, chiếc xe cảnh sát trờ tới, thắng trước cửa nhà thương. Theo sau còn hai chiếc nữa. Chỉ một loáng sau cửa vô đầy những cớm nổi cớm chìm. Michael mừng mở cờ trong bụng bước tới. Thằng Sonny can thiệp cũng nhanh đấy chớ? 
Ô hay, khi không hai thằng mang sắc phục đàng hoàng nắm cứng lấy Michael. Một thằng khác chạy lại lục soát khắp người. Một gã đồ sộ mang lon vàng Đại úy xuất hiện. Bọn đàn em dạt ra. Trông gã to con, chững chạc, cỡ tuổi trung niên song rất lẹ. Mặt đỏ bừng bừng, giận dữ, gã xông tới Michael la lối. 
– Tao đã cho hốt hết mấy thằng đầu trộm đuôi cướp mà sao còn lọt mày? Mày thằng nào? Mày lảng vảng ở đây làm gì? 
Gã cớm chìm đứng sau lưng báo cáo: “Người hắn không có gì, đại úy”. Michael đứng yên ngó, chăm chăm ngó cặp mắt xanh sáng loáng. “Hắn là Michael Corleone, con trai của Ông Trùm”. Michael lên tiếng: 
– Lạ nhỉ… khi không thấy mấy thầy chú đang canh gác kỹ vậy mà đi đâu mất hết. Dám có lệnh đổi gác bất tử lắm. 
Lão đại úy hùng hổ trợn mắt: 
– Thứ chó chết của mày mà dám sủa bậy vô công việc của tao? Tao cho lệnh tụi nó rút đấy. Canh gác cho mấy thằng ăn cướp hả? Có giết nhau chết tao cũng đ… cần, ông già mày bị chúng nó quất trước mặt tao… tao cũng thây kệ! Cút cha mày đi! Không phải giờ thăm nuôi cấm hẻo lánh đến đây… 
Dù bị chửi vào mặt tàn nhẫn vậy. Michael vẫn chỉ ngó lão, đăm đăm. Nó nghĩ nhanh như điện chớp. 
Cứ điệu bộ hùng hổ của thằng đại úy này thì đúng bị thằng Sollozzo mua đứt… Lão hốt bằng hết bọn người của Tessio, ra lệnh rút bọn cớm chìm đang canh gác để nó ngang nhiên vô “kết thúc” ông già. Lão quơ một cú hết sạch, nhưng nào ngờ Michael lò dò tới, lại thêm thằng Enzo nữa! Trên chiếc xe lúc nãy dám có thằng Sollozzo. Thấy bóng Michael nó đành vọt luôn, hỏng ăn và bực bội cự lão đớp bạc mà làm hư việc nên mới có màn la lối ngang ngược này!
Vì vậy Michael cưỡng lại: 
– Tôi không đi đâu hết nếu ông không cho người bảo vệ ông già tôi đàng hoàng. 
Lão không thèm nói mà ra lệnh cho thằng cớm chìm: “Mày nắm đầu nó cho tao”.
Gã cớm ấp úng: “Trình đại úy, nó đâu có vũ khí? Nó là anh hùng TQLC. Nó không dính dáng vô mấy vụ này! Sợ báo chí moi móc…” 
Lão đại úy hét lớn: “Thây kệ nó. Tao biểu mày nắm đầu nó!” 
Rất tỉnh táo, Michael hỏi xỏ: “Vậy là thằng đường Thổ đã mướn ông thịt ông già tôi? Nó chi bao nhiêu mà làm dữ vậy?”
Uất quá, lão gầm lên: “Nắm đầu nó”. Hai thằng mang sắc phục bèn chia hai bên giữ Michael thật chặt. Quả đấm khổng lồ của lão tung lên xáng ngay mặt nhưng Michael kịp né qua một bên nên lãnh trọn cú nháng lửa ngay gò má. Michael nghe như lựu đạn nổ trong đầu, miệng nó toé máu và lổn nhổn những răng gãy. Rõ ràng nó có cảm giác trẹo quai hàm, chân nó khuỵu xuống, nếu không bị giữ đã bị té rồi. 
Đau lắm nhưng Michael vẫn tỉnh táo. Gã cớm chìm nhảy ra, ngăn lão Đại úy: “Đại úy, nó bị nặng đấy!” 
Lập tức lão vênh váo: “Tao đụng nó hồi nào? Nó tấn công tao và nó té. Tụi bây không hiểu vậy sao? Nó chống cự lại, nó không cho bắt mà?” 
Mắt Michael hoa lên nhưng vẫn kịp thấy mấy chiếc xe lao tới vun vút. Mấy bóng người nhảy ra. Gã luật sư quen của Clemenza chạy tới trước mặt Đại úy, thông báo một cách dõng dạc: 
– Xin cho hay là gia đình Corleone đã mướn một công ty trinh thám tư bảo vệ an ninh cho Ông Trùm. Những vị thám tử tư này có giấy phép mang vũ khí đàng hoàng. Nếu Đại úy câu lưu họ thì sáng mai xin mời ra biện lý cuộc giải thích lý do. 
Luật sư quay sang Michael: “Còn ông, ông có cần vô đơn thưa kẻ nào vừa bạo hành?” 
Michael ấp úng mãi mới bật ra một câu ấm ớ. Hàm nó bể rồi, cất tiếng nói khó quá: “Không… Tôi trượt chân… Tôi té…” 
Lão Đại úy ngó Michael một phát thật hách song nó vẫn cười nhạt. Tội gì để lộ luồng phẫn nộ, uất ức đang làm tê dại cả đầu óc, thân xác nó? Tội gì để người ta biết nó nghĩ gì, nó định làm gì sau khi lãnh cú đấm vừa rồi? Bố Già in hệt vậy! Michael chỉ kịp nghĩ đến đấy là vừa ngất đi. 
Sáng mai nó tỉnh dậy trên bệnh viện, chỗ gò má bể đã kẹp lại và mất một lúc 4 cái răng hàm trên bên trái. Hagen đang ngồi bên. 
– Thế nào… phải đánh thuốc mê kia à? 
– Chớ sao? Bác sĩ phải mổ hàm trên để lấy ra bằng hết những mảnh xương vụn mà? Bề nào mày cũng ngất đi trước! 
– Tao chỉ bị có vậy thôi? 
– Đúng. Nên Sonny muốn mày về Long Beach. Ngay bây giờ có nổi không? 
– Được chớ? Ông Già ra sao? 
Hagen lúng túng: 
– Bây giờ yên chí rồi. Có thám tử tư canh chừng và chung quanh còn nhiều người của mình. Để về nhà nói… 
Người lái xe đưa hai đứa về Long Beach là Clemenza. Tuy đầu nhức nhưng Michael nôn nóng muốn biết sự thực đêm qua nên Hagen phải kể lại: 
– Mày có nhớ thằng cớm chìm nhảy ra bênh mày hồi hôm? Người của Sonny, thằng Philips đó. Nó cho biết rất rõ về thằng Đại úy Mc Closkey. Vô cùng nham nhở, chỉ thích tiền và từ hồi mới vô lính đã “nhám tay” nặng. Mình cũng phải chi tiền tháng cho nó nhưng Mc Closkey thuộc típ tham, không thể tin nổi. Chắc Sollozzo phải chi nặng lắm nên thình lình nó viện lý do hết giờ để đuổi hết bọn đàn em Tessio mà thằng nào có súng còn bị hốt về bót. Rồi khi không nó ra lệnh rút cả ê kíp an ninh chìm đang canh Ông Già về làm công tác khẩn. Sẽ có ê kíp khác thay thế có điều chúng cố tình tà tà tới trễ để rộng chỗ cho bọn Sollozzo nhào vô thịt ổng. Độc chưa? Theo Philips thì thằng Mc Closkey dễ nể ở chỗ không bao giờ nó chịu thất bại. Hỏng một lần thì thế nào nó cũng chơi lại bằng được. Chắc thằng Sollozzo cho nó ăn đẫm và còn hứa hẹn ghê gớm lắm! 
– À, vụ của tao có báo đăng không? 
– Khỏi! Mình ém mà bọn cớm cũng lo nhận chìm luôn. 
– Còn cu cậu Enzo? 
– Nó láu lắm. Cớm đến nhà là nó tà tà lỉnh. Có phải nó cùng đứng với mày lúc xe thằng Sollozzo chạy ngang? 
– Đúng thế. Cái thằng vậy mà được lắm! 
– Sẽ có người chiếu cố nó. Còn mày thế nào? Tao thấy chỗ gò má kỳ cục thế nào ấy. 
– Không sao! Mày nói thằng Đại úy tên gì? 
– Nó là Mc Closkey. À, cũng nên cho mày biết tin này cho đỡ tủi. Người của mình vừa quất xong thằng Bruno Tattaglia, đúng 4 giờ sáng nay. 
– Ô hay, sao bảo cánh mình tạm thời nằm êm? 
Thằng Sonny điên lên về vụ đêm qua ở nhà thương. Nó tung đàn em ra khắp New York và New Jersey, cứ chiếu theo “danh sách” của nó mà bắn. Mày thử hỏi lại với nó coi chớ tao kềm hết nổi. Vụ này vẫn chưa cần đánh lớn mà. 
– Tao sẽ nói. Sáng nay có hội hả? 
– Đúng. Vì đã tiếp xúc được với Sollozzo. Nó muốn điều đình. Có thằng được cử đi lo sắp đặt rồi. Nghĩa là chúng mình thắng. Thằng Sollozzo biết là không nuốt nổi nên chỉ mong toàn mạng. Có lẽ cái chết của thằng Bruno làm nó khớp, nó biết mình dám đánh và đánh thật chớ khỏi nhịn nhục nữa… Về vụ Luca Brasi thì mình biết rồi: Nó bị chơi hồi khuya thì chiều hôm sau tụi nó mới bắn ông già. Luca bị ngay trong quán thằng Bruno. 
– Phải vậy tụi nó mới dám đụng đến ổng. 
Về đến cư xá Long Beach là thấy ngay tình trạng chiến tranh. Cửa vô không ngăn dây xích mà cả một chiếc xe tổ bố nằm chình ình chắn lối. Hai bên hai thằng gác. Hai căn bìa cửa sổ trên lầu mở tung. Vậy là Sonny đã thủ sẵn! 
Clemenza ngừng xe, cả ba đi bộ vô, hai thằng gác là người của lão. Chẳng chào hỏi mà chỉ ậm ừ ra dấu. Cười nói, hỏi han là miễn! Tới cánh cửa lớn thì lão chưa gọi đã mở: thằng gác đã để ý quan sát từ lâu. Vô “văn phòng” có Sonny, Tessio ngồi đợi. 
Sonny đứng dậy nựng chỗ đầu bể của Michael, khen “đẹp” rối rít. Nó gạt phăng, ra buya rô ngồi rót một ly scotch uống cho cái cằm bể bớt nhức nhối. 

Google photos

Cũng vẫn 5 đứa hội họp trong phòng nhưng lần này không khí khác hẳn. Sonny không lì lì bực bội nữa mà vui cười hể hả. Làm như nó bắt buộc phải nhập trận rồi nên vứt hết thắc mắc, chẳng ai cản lại nổi. Với nó thì sau vụ Ông Già suýt chết lần nữa, ở nhà thương thì chẳng có điều đình gì nữa. 
– Mày vừa đi thì có phôn của “sứ giả”, Tom! Thằng đường Thổ đề nghị điều đình. Thằng cáo già! Nó vừa chơi đấy đã bắn tin nghị hoà được rồi. Không lẽ mình cứ ỳ ra thụ động? 
– Thế mày trả lời…? 
Sonny vùng cười lớn: 
– Thì tao bảo muốn sao cũng được, muốn bao giờ cũng được. Tao chẳng đi đâu mà vội, cả trăm đàn em tao đã gài sẵn cho nằm đầy đường rồi. Nó muốn kéo dài bao nhiêu lâu thì kéo. Có điều đừng thò mặt ra, ló một sợi tóc cũng chết cha nó với tao! 
– Mà nó đề nghị cụ thể những gì? 
– Nó chỉ đích danh, yêu cầu tụi mình cử thằng Michael tới tiếp xúc nghe đề nghị của nó. Dĩ nhiên thằng trung gian phải bảo đảm sinh mạng Michael còn nó thì chẳng dám đặt vấn đề bảo đảm. Bảo đảm thế quái nào được? Nhưng nó yêu cầu người của nó đưa thẳng Michael đến địa điểm do nó chọn. Sau khi nghe nó nói thì Michael ra về thong thả. Nó giữ bí mật nơi gặp gỡ nhưng cho hay trước là đề nghị của nó rất biết điều, chắc chắn mình sẽ chấp thuận… 
– … Nhưng còn cánh Tattaglia? Còn mạng thằng Bruno bỏ hả? 
– Cánh Tattaglia bọc xuôi theo Sollozzo, không gợi vụ Bruno ra nữa. Kể như huề! Chúng dám chơi Ông Già thì một thằng của chúng phải nạp mạng. 
– Mình phải tới coi nó đề nghị cái gì. 
Dù Hagen lên tiếng rất thận trọng nhưng Sonny vẫn gạt phắt. Nó lắc đầu quầy quậy, bắt chước điệu bộ ông già: 
– Thôi ông consigliori! Khỏi điều đình, đề nghị gì hết. Tao không có gì để nói đi nói lại với thằng Sollozzo! Chừng thằng sứ giả trở lại thì tao sẽ trả lời thẳng: nạp thằng Sollozzo… bằng không thì đổ máu lớn. Nệm sẽ trải ra và đạn bay đầy đường. Chừng đó thì thằng nào cũng đau hết. 
– Đời nào các cánh khác chịu đổ máu lớn? Tốn kém lắm! 
– … Vậy thì nạp mạng thằng Sollozzo, có vậy! 
Sau khi buông vắn tắt, Sonny quay sang Hagen: 
– Mày khỏi cần cố vấn về cái vụ điều đình nghe Tom! Quyết định tao đã có rồi và bổn phận của mày là giúp tao thắng. Mày hiểu chớ? 
Hagen cúi đầu suy nghĩ một lát rồi lên tiếng: 
– Tao đã tiếp xúc với người của mày đằng bót. Ra thằng Mc Closkey bị Sollozzo mua đứt và nó chi nặng lắm. Nó còn hứa hẹn cho “ăn chia” vào vụ ma túy sau này nên thân danh Đại úy Cảnh sát mà chịu làm cận vệ cho nó. Nghĩa là Sollozzo đi đâu cũng cặp kè Mc Closkey một bên. Đi gặp Michael cũng phải có nó ngồi cạnh, có vậy thằng Đường Thổ mới dám ló mặt ra. Dĩ nhiên nó đâu cần mặt sắc phục, nhưng súng lúc nào chẳng kè kè và như vậy thì chơi thằng Sollozzo sao nổi. Đụng vào nó là có chuyện với Mc Closkey mà xưa nay cha thằng nào dám nổ một thằng Đại úy Cảnh sát rồi rút êm? Đụng đến một Sĩ quan Cảnh sát giữa New York thì không riêng họ nhà cớm phản ứng tàn nhẫn mà cả nước sẽ ồn ào phản đối. Toàn thể giới giang hồ sẽ nghẹt thở, chịu hết nổi và cứ cánh Corleone mình đổ vạ! Lúc bấy giờ tụi mình sẽ thành một thứ hủi, chẳng ai dám gần. Ông Già có tạo được bao nhiêu thế lực chính trị cũng vứt đi, họ sẽ lờ cái một! Mày đã tính trước cái hậu quả đó chưa, Sonny? 
Cả hai ông caporegime Tessio và Clemenza cùng ngồi thừ người, ngồi đổ mồ hôi hột, lặng yên kéo khói xì gà. Chẳng dám có ý kiến gì vì sơ sẩy một chút thì mạng dám đi luôn. Dân dao búa, chịu trận bao giờ chẳng lãnh đủ trước? Rốt cuộc Michael phải lên tiếng: 
– Mình có thể đưa Ông Già về nhà điều trị không Tom? 
– Không thể được. Ổng còn cần nhiều thứ săn sóc, còn bắt buộc phải nằm lại. Có thể phải giải phẫu nữa không chừng. Tao đã tính rồi mà không thể! 
– Như vậy mình chơi thằng Sollozzo tức thời. Chờ đợi là chết với nó vì thua keo này nó sẽ bày keo khác. Mình không biết đường nào mà đề phòng trong khi nó nhất định thịt Ông Già bằng được. Nó phải thịt vì tình hình bất lợi cho nó rõ. Nó thấy trước mắt, đằng nào cũng bị… thì chơi Ông Già biết đâu chừng lật ngược tình hình? Nó lại có thằng Đại úy Cảnh sát yểm trợ sát sạt như vậy thì nguy hiểm cho ổng lắm. Không thể đợi được… 
Sonny đưa tay gãi cằm: 
– Mày nói đúng. Mình không thể chờ đợi, không thể để nó thí mạng Ông Già. 
Hagen đặt vấn đề: “Nhưng còn thằng Mc Closkey đó. Giải quyết cách nào? “Sonny quay sang Michael mỉm cười: “Ừ, mày tính sao về Mc Closkey?”. Michael chậm rãi lý luận: 
– Mc Closkey là một ca đặc biệt, một quá độ phải không? Nhưng nhiều khi… biết là quá độ mình vẫn cứ phải làm. Chẳng hạn nếu bó buộc phải nổ Mc Closkey thì mình vẫn nổ chứ? Nhưng mình nổ một thằng cớm bẩn, một thằng cớm bán đứt lương tâm, dính vô áp phe ma túy để ăn chia chớ chẳng phải một sĩ quan Cảnh sát gương mẫu, làm công vụ đàng hoàng. Mình có móc nối sẵn với báo chí thì phải mớm cho chúng nó đủ sự kiện để chúng vạch ra những thối nát rành rành của thằng cớm bẩn Mc Closkey. Nghĩa là mình chuẩn bị dư luận chu đáo để phản ứng sẽ tới yếu đi phần nào… Tôi nói vậy nghe được không? 
Michael ngừng lại để nhìn từng mặt dò hỏi. Tessio và Clemenza làm ra vẻ quan tâm nhưng vẫn ngồi im. Một mình Sonny nói như reo lên: 
– Mày bàn nghe được đấy. Nói tiếp đi… Ông Già chẳng thường nói: “Miệng trẻ nhiều khi linh lắm sao?”. Rồi sau đó làm gì… Michael? 
Thấy Hagen nhìn nó gật đầu mỉm cười, Michael đỏ mặt tiếp: 
– Sollozzo muốn tôi đến gặp nó thì tôi đi. Chỉ có 3 thằng: Sollozzo, tôi và Mc Closkey ngồi một bên chớ gì? Mình cứ hẹn cỡ hai ngày, nó giữ bí mật địa điểm thì mình cố dò tìm bằng được. Buộc nó phải gặp gỡ ở một chỗ nào công cộng… chớ đi vô nhà riêng thì khỏi! Một bar rượu, một nhà hàng nào đó vào giờ đông khách thì khỏi sợ thằng nào làm ẩu, phải không? 
Thấy không? Thằng Sollozzo sẽ yên chí lớn… đời nào mình dám nổ một thằng Đại úy Cảnh sát! Trước lúc gặp gỡ nó vẫn phải đi kiếm cách củ soát cả người tôi. Vậy mình phải lo “đặt” đồ nghề ở ngay địa điểm họp, giấu sẵn đâu đó. Tôi sẽ chớp lấy để thình lình cho cả hai thằng đi luôn. 
Cả bốn thằng cùng giật mình nhìn Michael trừng trừng. Hai lão caporegime sững sờ. Hagen không lạ mà chỉ hơi buồn. Sonny lõ mắt ngó nó rồi cười ngặt nghẽo, cười sặc sụa. Nó cười tưởng đến nghẹt thở vỡ bụng, đưa tay trỏ Michael: 
– Lạ không này! Một thằng học trò, nhóc con là mày… xưa kia không muốn dính vô bất cứ chuyện gì của nhà bây giờ đòi khơi khơi nổ một lúc hai đứa! Nổ cả Đại úy Cảnh sát chỉ vì bị nó đấm bể mặt! Vậy là mày trả hận chớ đâu phải giải quyết chuyện làm ăn? Coi, mới bị có một cú ngay mặt mà đòi thịt hai mạng… bộ mày giỡn chơi? 
Hai lão caporegime có hiểu gì đâu? Cứ tưởng cậu cả Sonny bật cười chế giễu thằng em út bốc đồng bậy nên ngó Michael coi bộ thương hại. Hagen lẳng lặng không nói trong khi Michael đưa mắt nhìn quanh và Sonny ôm bụng cười sặc sụa: 
– Mầy tính hạ cả hai thằng… thiệt sao em? Không có mề đay đâu, ghế điện đấy! Đây đâu phải chiến trường nổ súng ầm ầm, quân thù cách cả cây số? Nó ở sát nách mày, mày phải nhìn thấy tròng mắt nó trợn ngược lên. Ngón tay mày nhấn cò là chân mày phải mau mau nhảy qua một bên, nếu không muốn óc nó văng ra tứ tung, dính đầy cả vô bộ đồ lớn kìa! Đấy, nổ là phải như vậy… chớ đâu phải để trả hận một cú đấm của một thằng cớm? 
Cho đến lúc ấy Sonny vẫn còn cười ngạo. Nhưng đột nhiên Michael đứng phắt dậy, gắt: “ Đừng mở miệng cười nữa!” 
Giọng nó nghiêm lạ. Làm Tessio, Clemenza không dám cười nữa thật. Người nó đâu có vạm vỡ, cao lớn gì nhưng trông Michael thật dễ sợ, in hệt Bố Già hồi nào! Mặt nó không còn chút máu, cặp mắt nó lì lợm làm như nếu Sonny còn cười nó dám xông tới đập chết liền tại chỗ. Khỏi nói nếu tay nó sẵn súng thì mệt với nó rồi! 
Quả nhiên Sonny khựng lại khi giọng Michael cất lên hằn học, gay gắt! “Mày tưởng tao không dám làm hả?”. Sonny vội cải chính: – Coi, tao đâu cười… mày không dám? Tao biết mày dám chớ? Tao chỉ bật cười vì khi không có chuyện thay đổi tức cười vậy thôi. Chớ hồi nào đến giờ tao vẫn biết mày là thằng lì, mày lì còn hơn ông già nữa kìa! Cả nhà xưa nay chỉ có mình mày dám cưỡng lại ổng, phải không? Hồi nhỏ, mày có chút xíu mà mày dám chơi tay đôi cả với tao, còn thằng Fred với mày thì có tuần nào không đập lộn. 
Vậy mà thằng cáo già Sollozzo cứ tưởng đâu mày là thằng yếu, mày để cho thằng cớm đập mà không dám phản ứng và mày không muốn dây dưa đến những vụ đánh đấm ở nhà này! Nó tưởng đâu nuốt sống mày như không và thằng cớm thì cứ đinh ninh mày là thằng chết nhát… 
Ngừng lại một chút, Sonny ôn tồn nói: 
– … Nhưng mày là con của bố, khỏi có ai biết ngoài tao! Mấy bữa nay, từ hôm ổng bị chúng chơi… tao vẫn có ý chờ mày tự ý chui ra khỏi tháp ngà, vứt bỏ cái vỏ trí thức dấm dớ bấy lâu nay. Tao vẫn chờ mày đổi lốt để sát cánh cùng tao thịt bằng hết những thằng dám chơi ông già, dám đụng đến nhà mình! Hà hà… chỉ nhờ có một cú đấm thôi như thế này mà được việc quá! 
Sonny ra điệu bộ coi thật tức cười làm tất cả cùng cười ồ lên, Michael lắc đầu giải thích: 
– Không, nếu tao làm vụ này thì chỉ vì mình kẹt. Mình không thể chờ coi thằng chó chết Sollozzo ám hại ổng lần nữa… Mà cả nhà này chỉ có một mình tao là có thể tới gần nó. Nếu chơi nó mà phải thịt luôn một thằng Đại úy Cảnh sát thì tao sợ rằng mày có kiếm cả năm cũng không có thằng nào dám đâu! Mày làm thì được chớ Sonny? Nhưng mày còn vợ con, còn phải điều khiển công việc cho đến ngày bố bình phục. Thằng Fred đâu còn hồn vía gì? Chỉ còn mình tao. Tao làm là hợp lý quá rồi chớ đâu phải vì một cú đấm bể mặt? 
Sonny chạy lại ôm Michael: “Mày lý luận vậy mà đúng boong. Phải không Tom?” 
Hagen nhún vai đáp: 
– Trên lý thuyết thì vững đấy! Tao đồng ý vì tao cho rằng thằng Sollozzo không thật lòng muốn gặp mình điều đình mà nó chỉ chờ cơ hội làm cú nữa. Con người của nó như vậy, thành tích của nó cho thấy. Nếu nó định thịt ông già thì mình đành phải chơi nó trước, dù có phải nổ luôn cả thằng Mc Closkey. Vấn đề là thằng nào đứng ra chơi nó sẽ khó sống lắm. Sao lại cứ phải thằng Michael? 
Sonny nói khẽ: “Tao chơi được”, nhưng bị Hagen gạt ngay: 
– Mày thì có 10 thằng Mc Closkey làm cận vệ nó cũng chẳng dám cho lại gần cả cây số! Vả lại mày còn phải tạm thời gánh công việc nhà đâu liều mạng được, Sonny? Để hỏi Tessio và Clemenza coi có thằng nào dám lãnh vụ này không? Một thằng thật chì. Dĩ nhiên mình phải bảo đảm vật chất cho nó sau này… 
Clemenza từ chối: “Không được! Thằng cáo già nó biết mặt hết. Còn tao và Tessio đi thì thấy mặt nó đã lặn gấp còn làm gì được?” 
Hagen đề nghị hay là thử chọn một thằng amatơ, chưa phải người nhà nhưng chơi có nét thì hai lão caporegime cũng lắc đầu quầy quậy. Tessio giễu một câu: “Cử một thằng amatơ đi sao được? Kể như nó đang đá chân đất bắt lên đá Hội tuyển tranh cúp vậy!” 
Rút cuộc Sonny đi đến kết luận: 
– Vụ này phải cử Michael đi! Có cả triệu lý do, song lợi hại nhất ở điểm tụi nó vẫn tưởng đâu thằng này chết nhát. Còn tôi, tôi đảm bảo Michael làm được, làm ngon lành là khác! Đó là chi tiết tối quan trọng vì với thằng Sollozzo mình chỉ có một cơ hội mà thôi. Bây giờ mình phải dồn nỗ lực yểm trợ cho Michael. Địa điểm tụi nó giấu thì mình phải cấp tốc tung người ra, buộc tụi nó phải nghe ngóng, phăng ra bằng được, với bất cứ giá nào. Phải biết chắc chỗ đó rồi mới giấu được “đồ nghề” chớ? 
Sau đó Clemenza phải kiếm cho ra một khẩu “an toàn” nhất, nòng thật ngắn. Đạn chì, nhồi thuốc lấy, phải có sức công phá tối đa. Nghĩa là thật dữ. Khỏi cần phải chính xác vì mình chơi gần quá mà? Kể như dí sát vào đầu chúng mà nổ và nổ xong là buông súng tức khắc, buông ngay lập tức. Khỏi lo để lại dấu tay. Mình đã có đồ thoa sẵn ở nòng cũng như ở cò súng cho trơn lu. Quan trọng nhất là chớ để nó vồ được quả tang mày đang cầm súng, mày còn cầm súng. Bao nhiêu nhân chứng mình cũng cóc cần, miễn là mày buông được súng ra. Ngược lại thì trời gỡ! Nhớ chưa Michael? Sẽ có người bảo vệ mày, đưa mày đi cấp tốc và mày có quyền “lặn” luôn, chừng êm xuôi hết mới ló ra. Có thể mày phải biến một thời gian khá lâu, nhưng chớ có giở trò từ biệt, nhắn nhe con nhỏ đó. Gọi điện thoại cũng khỏi! Chừng mày ra khỏi xứ này, an toàn rồi… tụi tao sẽ có tin cho nó sau. Mày cứ in vậy mà thi hành. 
Nói đến đấy, Sonny ngó thằng em út cười mỉm rồi ôn tồn nói tiếp: 
– Ngay từ bây giờ mày khỏi đi đâu hết. Mày phải ở cạnh Clemenza và chú ấy đưa khẩu nào mày ráng sử dụng cho quen tay. Nếu cần phải bắn tập. Còn mọi việc khác sẽ có người lo cho mày hết. Yên chí chưa? 
Tự nhiên Michael nghe một luồng khoái cảm rạt rào chạy ngang cơ thể. Nó phải “chỉnh” thằng anh một cú. Nó quắc mắt lên: 
– Bộ mày phải dạy tao “phòng gian bảo mật” nữa sao? Bằng không tao sẽ chạy lại nó nắm tay dặn dò, từ biệt chắc? Bỏ mấy cái trò sơ đẳng con nít ấy đi chớ? 
– À, xin lỗi chú mày… Tao cứ nghĩ mày amatơ nên dặn cho chắc ăn! 
Michael vùng nói lớn: 
– Mày nói sao? Tao mà… amatơ? Ông Già truyền cho mày cái gì thì tao cũng lãnh vậy… chớ tao đui, tao điếc sao? Tao cũng chơi ngon lắm chớ bộ? 
Hai anh em nhìn nhau cười ha hả làm mọi người cũng bật cười theo. Hagen tự động lãnh chân rót rượu, pha cho mỗi đứa một ly. Mặt nó rầu rầu. Vậy là con nhà văn sắp phải giở võ đến nơi. Một thằng học Luật đầy mình nay phải chơi luật rừng đây! Nhưng trong thâm tâm nó tự an ủi: 
– Bề nào cũng đỡ khổ ở chỗ mình còn nắm được phần nào chủ động!


Bố Già

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch Ngọc Thứ Lang

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Google photos

Chương 9

TỐI HÔM ĐÓ MICHAEL LÊN NEW YORK GẶP KAY MÀ trong lòng rầu rĩ. Nó cảm thấy bị lôi cuốn vào việc nhà “lại bực mình bị Sonny cử vào việc canh điện thoại”. Phiền nhất là bọn họ bàn gì với nhau và bằng lòng để nó được dự nghe những bí mật, chẳng hạn những vụ giết người. Ra điều đủ tín nhiệm! 
Nhìn thấy mặt Kay nó cũng có mặc cảm lừa dối, không thành thật mỗi khi nói về gia đình. Michael cũng có nói qua thật nhưng bao giờ cũng nửa đùa nửa thật như kể chuyện xinêma chớ chẳng phải nhân vật có thật. Trong khi đó ông bố bị bắn gục giữa đường và ông anh cả thì sắp đặt kế hoạch giết người! Sự thật là vậy nhưng kể cho em bé nghe sao được? Nó nói “bất quá chỉ là tai nạn” và mọi mọi sự xong cả rồi… trong khi biết bao nhiêu chuyện sắp nổ bùng! 
Bây giờ mới là lúc lo đối phó. Dù Sonny đã công nhận là nguy hiểm nhưng xem ra tụi nó vẫn đánh giá thấp đối phương, Michael không thể không thắc mắc về ngón đòn hiểm: với một thằng liều lĩnh và cáo già như Sollozzo thì phải coi chừng yếu tố bất ngờ. Quả thực là Michael lo lắm nhưng cả 4 thằng chuyên nghiệp Sonny, Hagen, Tessio, Clemenza cùng cho là đã “nắm vững tình hình” một thằng thì vô can, amatơ như nó còn biết nói gì? Vả lại có cho nó cả đống mề đay gấp mấy lần số mề đay Thế Chiến II của nó thì Michael cũng chẳng ham nhập trận! 
Sự hờ hững làm Michael có mặc cảm bất hiếu với Bố Già. Ô hay, ông bố đẻ bị bắn nát người mà nghe giải thích “chỉ là một tai nạn thuần túy nghề nghiệp” nó lại có vẻ thông cảm hơn ai hết mới kỳ lạ. Làm như một đời quyền thế như ổng thì phải chịu như vậy đó. 
Michael xưa nay vẫn muốn tách rời gia đình, tự lập cuộc đời nhưng nhè lúc sóng gió thế này thoát ly sao nổi? Nó bắt buộc phải ở lại, bắt buộc phải làm một cái gì vì nghĩa vụ con cái nhưng đặc biệt chỉ làm những vụ phi quân sự, nghĩa là khỏi có trách nhiệm với những vụ chiến đấu chém giết. 
Từ nhà lên New York, Michael đi xe hơi có đàn em Clemenza hộ tống, xuống xe có người nhìn trước nhìn sau cho đến khi nó bước vô lữ quán. Kay đợi sẵn ở dưới nhà, hai đứa dẫn nhau đi ăn tối. 
– Chừng nào anh đi thăm ông già? 
– Tám rưỡi hết giờ vô thăm. Anh đợi mọi người về hết đã. Ổng nằm phòng riêng có y tá riêng nên anh có thể ở lại một lát. Dù chẳng để làm gì cũng ở lại vì ổng đã tỉnh táo, đã nói được gì đâu? 
– Tự nhiên em thấy thương ông già, nhất là bữa đám cưới ổng coi bộ hiền lành đấy chớ? Làm sao tin nổi những chuyện mấy ông nhà báo vẽ vời? Em chắc không đúng sự thật quá! 
– Thì anh cũng tin vậy! 
Michael chỉ vắn tắt có vậy. Dù với Kay là người mà nó thương yêu, tin tưởng cũng chẳng cho biết điều gì về ông già hoặc gia đình. Nàng vẫn là người ngoài. Khi Kay hỏi “Anh có dính vô vụ đánh lớn nay mai” thì nó cười hề hề, đứng lên mở nút áo vét ra: “Coi đi… có súng đâu mà đánh lớn?” 
Lúc trở lên phòng đã khá trễ nhưng hai đứa vẫn uống chung nhau một ly cốc tay. Michael đặt nàng trên đùi. Lớp lụa lót trong thật mịn mà làn da Kay còn mịn màng hơn nhiều. 
Hai đứa nằm bên nhau mơ mơ màng màng cho đến lúc Michael chợt nhỏm người vùng dậy: “Chết cha… gần 10 giờ rồi. Phải đến nhà thương cấp tốc chớ?” 
Nó lật đật chạy vô phòng tắm để lau mặt, chải đầu. Kay chạy theo đứng phía sau ôm choàng ngang lưng nũng nịu nói: 
– Chừng nào tụi mình làm đám cưới? 
– Bao giờ chẳng được? Đợi ông già bình phục, tình hình yên tĩnh một chút… Chắc em phải giải thích cho ông bà già trước quá! 
– Giải thích cái gì? 
Vừa ngó gương chải đầu, Michael vừa cà rỡn: 
– Đại để em phải nói con gặp một chàng trẻ tuổi gốc Ý, đẹp trai, hào hùng. Sinh viên Dartmouth ngon lành. Từng phục vụ Tổ quốc trên chiến trường. Có Anh dũng Bội tinh, Chiến thương Bội tinh, đàng hoàng, chăm chỉ. Có điều ông thân sinh ra chàng là một tay tổ Mafia, từng giết người như bỡn và hối lộ nhà nghề. Vừa bị “thanh toán nát bay người”. Cam đoan không có vụ “cha nào con nấy”. Cha tướng cướp thật nhưng con chịu khó làm ăn vô cùng. Liệu em có thuộc lòng bằng ấy bài không? 
Kay buông chàng ra, đứng dựa cửa phòng tắm, cất tiếng hỏi: 
– Bộ ổng tay tổ Mafia thiệt… và ổng dám giết người thiệt sao? 
– Sự thật anh đâu biết! Mà có biết ai biết được đâu? Nhưng nếu có thực anh cũng chẳng ngạc nhiên! 
– Bao giờ mình lại gặp nhau anh? 
– Bây giờ em nên về nhà suy nghĩ lại cho chín chắn. Quên hết mọi chuyện vớ vẩn đi rồi nghỉ Giáng sinh xong chúng ta sẽ gặp nhau trở lại trường. Chừng ấy hãy nói… 
Kay “đồng ý” và đứng ngó Michael đi khuất, trước khi chui vô thang máy chàng còn vẫy tay chào. Chưa bao giờ nàng có cảm giác gần gũi, gắn bó tha thiết với Michael đến thế. Giá có ai bảo hai đứa sắp phải xa nhau 3 năm đằng đẵng. Kay đâu chịu tin. Và chịu sao nổi kìa? 
Từ tắc xi lật đật chui ra, Michael ngạc nhiên vì đường phố vắng ngắt mà bên trong nhà thương cũng chẳng thấy một mạng nào. Vậy mà gọi là “có canh chừng” thì chết thật! Mấy thằng đàn em Tessio, Clemenza đi đâu cả? Không học West Point ra nhưng ít nhất hai lão caporegime cũng phải biết đặt người chỗ nào ở một địa điểm như thế này chớ? Ngay hành lang cũng chẳng có thằng nào đâu? 
Giờ này 10 giờ 30, còn ai thăm viếng gì nữa? Hoảng quá Michael khỏi vô Phòng Đợi hỏi. Biết số phòng Ông Già rồi, nó nhảy đại vô thang máy của nhân viên phóng thẳng lên lầu 4. Kỳ quá, chẳng ai hỏi han gì đến nó cả! Đứng ngay trước phòng ông già cũng chưa thấy mặt con y tá mướn riêng để săn sóc ổng và hai thằng cớm chìm thường trực ngày đêm để chuẩn bị lấy cung cũng đi đằng nào mất biệt! 
Thế này thì bọn đàn em Tessio, Clemenza cắt gác biến đi đâu? Cửa phòng bệnh mở toang mà Michael ló đầu vô chẳng thấy ma nào, ngoài một bóng người lù lù nằm trên giường. Nhờ ánh trăng vàng úa hắt qua khung cửa sổ, nó nhận ra khuôn mặt đau khổ của Ông Già, bộ ngực phập phồng lên xuống coi bộ mệt mỏi quá! Từ chiếc tủ kê đầu giường, mấy ống dưỡng khí ngòng ngoèo chạy chui vào lỗ mũi ổng và dưới chân giường là cái chậu để nhận đồ dơ do cơ thể ổng bài tiết ra, cũng do mấy ống thông hơi dẫn xuống. Ngó một lát coi ổng vẫn còn thở, Michael yên chí quay trở ra và đụng đầu con y tá. 
Michael tự giới thiệu: 
– Tôi là con Ông Già… Tôi muốn thăm bố tôi một lát. Mấy ông cảnh sát vẫn canh chừng đây đi đâu cả? 
Con nhỏ mặt còn non choẹt nhưng coi bộ rành nghề, biết bổn phận lắm. Nó chững chạc giải thích: 
– Người bệnh mệt vì quá nhiều người vô thăm, vượt ra ngoài thể lệ bệnh viện. Cách đây chừng 10 phút, cảnh sát vô mời ra hết. Mấy ông thường phục vẫn canh chừng ở đây thì có điện thoại của Ty Cảnh sát kêu cách đây lối 5 phút. Tôi đưa máy cho họ nghe thì không hiểu có chuyện gì họ cũng lật đật về luôn. Nhưng ông yên chí đi, tôi ngồi ngoài canh chừng Ông Già cũng được. Có gì trong phòng là tôi biết ngay. Tôi để ngỏ cửa vì vậy mà! 
– Cô chịu phiền cho tôi ngồi với bố tôi một lát có được không? 
– Ít phút thì được. Xong, ông nhớ ra ngay. Luật lệ nhà thương là vậy, có gì tôi bị la. 
Michael trở vô, kiếm điện thoại, nhẹ nhàng nhấc lên nhờ tổng đài bệnh viện cho gọi ra ngoài. Nó quay số phôn nhà, số phôn đặt ngay trong văn phòng ổng ở Long Beach để thông báo gấp cho Sonny. 
– Sonny đấy hả? Kỳ quá, tôi ghé bệnh viện thăm bố mà chẳng thấy ai hết trọi! Người của Tessio không có một thằng, mà cớm chìm cớm nổi cũng tuyệt không thấy một đứa. Nghĩa là ông già hoàn toàn nằm trơ một mình, hoàn toàn chẳng có ai bảo vệ. Tại sao vậy kìa? Vô lý quá, dám sắp có chuyện. 
Giọng Michael run run mà đầu dây đằng kia hơi thở thằng Sonny nghe cũng hồi hộp, căng thẳng dữ. Ít phút sau mới nghe tiếng nó: 
– Nghe tao nói đây. Cái vụ này đúng là đòn thằng Sollozzo… 
– Tôi cũng nghĩ thế. Nhưng nó làm cách nào mà cớm vô xua hết cả mọi người ra, kể cả người của Tessio? Và mấy thằng an ninh chìm cũng lật đật đi hết… tại sao vậy? Không lẽ thằng cáo già Sollozzo đã mua đứt Sở Cảnh sát New York? Nếu vậy thì mình nguy lắm. 
– Đúng, nguy lắm! Nhưng mày đừng bấn lên chớ? Cũng may mà tình cờ mày có mặt đúng lúc. Vậy mày ở trong phòng khoá cứng cửa lại và khỏi đi đâu hết. Tao sẽ điều động người của mình tới ngay trong vòng 15 phút. Tao sẽ phôn ngay bây giờ. Mày nghe tao cứ ở trong phòng với bố, chớ có sợ hoảng. 
– OK. Sợ quái gì mà sợ? 
Michael gác phôn lên. Tự nhiên chẳng cảm thấy sợ hãi gì hết mà chỉ thấy cả một nỗi căm hờn dâng lên trong con người nó, lần đầu tiên. Tụi nó sắp đặt chơi thế này là tận tình, không nổi giận sao được? Đầu óc nó quyết định nhanh như máy, nhưng quyết định theo ý nó… Chớ nghe thằng Sonny sao được? Michael bấm chuông kêu y tá vô. 
– Tôi nói điều này cô đừng sợ nghe! Ông già tôi bây giờ phải chuyển đi chỗ khác, chuyển liền tức thời. Sang phòng khác lầu khác cũng được. Nhờ cô tháo gấp mấy ống thông hơi kia… để tôi đẩy giường đi được không? 
Con nhỏ trố mắt ngạc nhiên: “Ô hay, sao khi không di chuyển kỳ cục vậy? Bác sĩ biết là chết”. Michael đành lẹ làng giải thích: 
– Chắc cô có đọc báo nói về ổng chớ? Cô thấy không, đêm nay tự nhiên chẳng có ai canh gác hết! Lại có tin chúng sắp cho mấy thằng tới đây ngay bây giờ để… cho ổng đi luôn. Mình không di chuyển gấp là không kịp. Vậy cô sẵn lòng giúp tôi chớ? 
Phải nhìn nhận là Michael có biệt tài chỉ huy. Nó mới có vắn tắt có vậy mà đang ngơ ngác sợ hãi, con bé y tá đồng ý liền: 
– Mình đâu cần phải tháo ống? Đẩy giường đi… và đẩy cái tủ theo được mà? 
Michael bắt tay vô việc liền. Thật nhanh nhẹn, nó đẩy tuốt giường ông già sang một căn phòng trống ở cuối hành lang. Con nhỏ trợ giúp rất đắc lực nên Michael căn dặn: “Cô nhớ ở trong phòng với ổng. Chờ “viện binh” tới ngay bây giờ… chớ đi ra dám “bị” oan lắm!” 
Giữa lúc ấy tự nhiên ông già lên tiếng. Dĩ nhiên giọng ổng còn ồ ề, ngượng nghịu nhưng chẳng yếu chút nào: “Michael đấy hả? Có chuyện gì vậy con?” 
Mừng quá nó cúi sát xuống mặt giường, nắm lấy tay ổng: “Con đây bố! Bố đừng sợ nghe! Bố cứ nằm yên, bố đừng cục cựa… có ai gọi bố đừng lên tiếng nghe! Tụi nó tính “thịt” bố… nhưng có con ở đây, bố yên chí, bố khỏi sợ!” 
Dĩ nhiên Ông Trùm đang đau đớn lắm và chết ngất từ chiều hôm qua, vừa hồi tỉnh dậy có biết chuyện gì đâu? Nghe thằng con đứng bên giường nói vậy thì cũng biết đại để vậy… những vẫn cố ráng mỉm cười để trả lời tỉnh khô: 
– Ô hay, sao bố lại sợ nhỉ? Từ năm 12 tuổi đến giờ… thiếu gì thằng muốn giết bố mà bố sợ quái gì chúng?

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Google photos

Phần 24

Suýt chết hụt trong một trận ghen

Thấy hội đồng về rồi, chị em tôi bàn soạn, tính phải lo mau đoạn phút mối tình nầy, nhắm để dây dưa lâu ngày e sanh chuyện không hay.

Sẵn tại nhà chị chủ sự, có nuôi một mụ tay sai sồn sồn, có tánh ham uống rượu thửa rượu cắp, lại có tật thèo lẻo nhứt hạng, đời đó chưa có radio mà mụ ấy đúng là một cái máy truyền tin sống. Một ngày chí tối không làm gì hết, chỉ trông cho ai sai vặt, mượn mua giống gì đặng có ăn xởi ăn bớt, ăn tước trên đầu người ta mới chịu. Từ hôm mụ ta thấy anh hội đồng lân la nhà tôi, mụ lén dòm hành mọi cách chớ cho có dịp kiếm chuyện đâm thọc lập công. Tôi thầm nghĩ: nếu chọc tức mụ nầy làm sao mụ cũng oán, rồi thèo lẻo lại với cô hội đồng thì tức nhiên kế tôi ắt thành. Bữa nọ tôi rình và bắt đặng tại trận mụ Ba Hợi đang có làm tàn lén mở nút chai dầu “Ý muốn của đàn bà” (Ce que femme veut) của tôi ra mà hửi hít. Tôi miệng chửi tay vả cho một hồi, chị ta lầm lì bỏ đi ngoe nguẩy. Tôi sai trẻ theo dõi xem có phải mụ chằn tinh giả ấy đi lại nhà thầy hội hay không. Trẻ về học lại quả y như lời tôi độ, không sai một mảy. Tôi liền cụ bị giấy tờ sẵn hết, rồi lánh mặt bước trái qua nhà chị Hai bán nem nướng bò bún, chờ nghe tin tức.

Cô hội đồng Ph, hay tin tôi dọn về ở nhà bánh ếch đường Garcerie của chồng, nổi cơn ghen đùng đùng, dẫn bổn bộ binh mã gồm một bồi trai và hai con hầu gái, hăm hở tìm tôi để phân thây xé thịt và phá tan sự nghiệp nhà tôi. Ào vô nhà, thấy nhà vô chủ, chị ta càng được nước, lên ngồi vách đốc giữa bộ ngựa gõ, thị thiềng cho đám nha trảo phá cửa buồng tôi và tuôn hết đồ đạc luôn và “đồ tế nhuyễn của riêng Tây” của tôi quăng hết ra ngoài đường, không chừa một món. Trẻ vừa báo tin, tôi bèn lòn ngả sau, nhảy lên xe kéo chạy tuốt xuống bót “giếng nước”, trình giấy tờ minh bạch lên ông cò và cáo rằng: “Thầy hội đồng Ph. bán nhà cho tôi có tờ đoạn mãi chứng minh, mà không hiểu sao vì cớ nào hiện bây giờ có một người đàn bà, nghi là vợ ông hội đồng lại kéo người của bà, đương đập phá nhà tôi, lại liệng ném đồ đạc của tôi ra ngoài đường hết”. Ông cò lập tức sai hai người lính đi theo tôi, và bắt hết cả bọn. Chừng ông hội đồng hay, tức tốc xuống bót trâm tiếng Tây với ông cò và lãnh vợ về. Nhưng tôi không nghe, nói với ông cò tôi là vợ chủ hãng tàu quốc tịch Ăng-lê, nay về nghỉ dưỡng bịnh bên xứ, bà hội đồng làm như vầy là mất danh giá tôi và nài xin ông cò giải việc nay cho tòa án đặng tôi kiện về thể diện. Tôi làm dữ quá, và nắm gương bén về phần cán, tội nghiệp cho thầy hội, nhắm bề thế thất đủ mười, nên chịu thua, phải năn nỉ với chị chủ sự cậy nói giùm, lên gởi riêng cho tôi hai trăm đồng tiền thiệt hại, kỳ dư sau nầy có hư hao bao nhiêu, thầy đều chịu bồi thường hết. Chừng ấy tôi mới chịu làm tờ bãi nại.

Từ đó mỗi lần anh Ph. đến nhà, tôi cứ sai trẻ đuổi ngay, biểu đừng cỏ chà lết lại đây nữa, rồi bà đến làm nhục tôi, tôi không chịu đâu. Nói đánh phách, hãy lập trang thờ bà là tốt hơn. Vài lần như vậy, thầy hội đồng nhắm thế gây tình với tôi không êm, vả lại muốn đòi số bạc cũng khó nỗi đòi, vì giấy tờ đâu đó đã phân minh rồi và đã giao cho tôi làm chủ rồi, nếu nói vấy ra càng thêm xấu hổ, thiên hạ sẽ cười cho thúi đầu. Thôi, một phen mắc lận đàn bà, tất hơn là làm thinh rán chịu!

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com    

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Google photos

Phần 23

Nhà ai sắm sẵn

Xe tới đường Catinat, đậu lại ngang nhà hàng Continental, chị chủ sự mở bốp-phơi hơi chậm, thầy hội đồng khoát tay giành trả tiền xe song mã, rồi giành mua một cái lôsờ (loge) ba chỗ ngồi thượng hạng. Trong lúc quây phím hát, đèn tắt, thầy hội đồng ngồi trên ghế kế bên tôi in tuồng ngồi trên than lửa đỏ. Tay chưn bộ tịch thầy làm làm sao, không lẽ tôi nói ra đây cho đặng… Chừng vãn lớp đầu, thầy mời chị em tôi bước qua Đại lục khách sạn (hôtel Continental, lúc đó chỉ tiếp khách Tây và người An nam – phải ăn vận thật sang mới cho vào cửa). Chị chủ sự vui miệng, đặt buổi rượu nầy là tiệc “bình thuỷ tương phùng” và buộc phải có sâm banh mới đáng. Thầy hội gọi bồi khui một chai Mum đắt tiền nhất, khi cụng ly thầy ước với tôi rằng:

– Chỗ nầy đông người, không lẽ, chớ chi tôi vôi cô cùng uống chung một ly mới toại nguyền

Tôi đáp lại:

– Như ai kia, không dám nói, chớ đặng người đứng đợt như ông, mà cố cập đến phận linh đinh như chiếc lá giữa dòng nầy, thì dầu ông không nói, chớ tôi cũng lo đền ơn nghĩa trả. Ngặt một điều là tôi nay nhà cửa chưa yên, biết có gần gũi ông được nhiều ngày hay chăng.

Chị chủ sự tiếp lời:

– Có phải bao nhiêu mối tệ, một mình anh ôm hết đó phải không? Em tôi đây đã tất tình nài anh một cái nhà, mà sao tôi coi ý anh còn phân phân bất nhứt! Nè, anh hội đồng, cho tôi hỏi thứ chơi và đừng giận, nghen! Xưa nay nghe tiếng anh xử thế tề gia không sai chạy, mà chuyến nầy, tôi coi bộ anh hết dám tự chuyên. Hay là anh còn sợ chị ở nhà nghi kỵ?

Ông Phát có hơi mất cỡ, nói đỡ rằng:

– Em chủ sự, biết qua thuở nay lắm chớ? Kìa, chuông reo, hãy mau qua xem hát tiếp rồi về nhà sẽ nói chuyện.

Thầy hội lấy khăn choàng lên vai tôi mà nói nhỏ: “Cô chủ sự cổ nói yêu cổ đa! Madame hãy nhớ cho tôi câu: “Đại trượng phu tiên trị kỳ gia” đó mà?

Vãn hát, bị mắc mưa. May thời kiếm được một cái, xe kiếng hai ngựa. Thầy hội đồng ga-lăng (galant, thói nịnh đầm), nhường băng sau cho chị chủ sự ngồi, còn tôi và ông Phát, ngồi băng trước.

Trời mưa càng già, gió tạt tứ phía, nên kéo cửa kiếng bít bùng.

Tôi bấy lâu rừng núi đã trải, voi cọp đều thấy, nào biết sợ giống gì, thế mà hôm nay phải run rẩy rởn ốc với thằng cha nầy, để cho thầy mặc tình trổ mặt yên hùng, còn tôi hết sức đỡ bên nầy thì che bên kia mà cũng không khỏi. Nhưng cái thân đã từng quen với hạch, gặp bầy sẻ sẻ xá chi! Xe đưa đến nhà chị chủ sự, vô nhà, tôi xin lỗi thầy hội đồng cho tôi thay áo trước mặt, còn mặc một cái áo trong nhà thật mỏng, ngồi tiếp chuyện. Chị chủ sự, theo phận chủ nhà, lăng xăng lo đãi đằng gà vịt rượu trà. Chừng ba bốn tuần “mai quế lộ” (mai té lộ) điều khiển anh hội đồng ta gần cúp, chỉ đem ra một tô giấy tín chỉ 1 , dở chuyện cái nhà ra nói, xin thầy hạ bút làm tin. Tuy đã tuý luý nhừ tử, mà thầy hội đồng còn đủ trí khôn, hỏi móc họng chị chủ sự:

– Ý! Cái cô! Giấy tờ đâu mà sẵn làm vầy? Lại mua bán gì mà nửa đêm nửa hôm như vầy?

Tôi vội nói nửa pha lửng nửa thiệt:

– Bộ khi ông hội đồng ổng sợ nửa đêm tôi không có sẵn mấy ngàn đồng bạc chồng ra cho ổng chớ gì?

Thầy liếc tôi:

– Cô Hai khéo nói mát nói mỏ thì thôi! Giá gì mấy ngàn đồng bạc mà người như tôi lại coi trọng hơn cô hay sao. Thôi! Được! Như cô đòi “giấy trắng mực đen” cho chắc, thì “giấy trắng mực đen” cho rồi!

Thầy vừa cầm viết, tôi lai cản, giả đò đi mở tủ, nói:

– Tôi mới lấy dưới ngân hàng một ngàn đồng để xài mấy bữa, nay còn bảy tám trăm đây. Vậy tôi chồng đỡ cho ông bấy nhiêu ấy, rồi ngày mai, giờ nào ông nhứt định, tôi xuống lấy thêm chồng cho đủ số, đặng không?

Ông Phát vừa cười vừa chụp tay tôi kéo lại mà rằng:

– Người ra biểu ngồi đây chơi! Bữa nào ghé nhà sẽ “lấy” hết một lần cũng đặng mà, phải không, em cô chủ sự? Ngon với nhau mà?

Tôi hứ một tiếng đồng tình ngọt xớt, vừa xít lại gần xoa yêu chót mũi thầy bèn lau lau cây viết, tỏ ra mình là tay hay chữ, rồi ký tên vào tờ bán, xong rồi trao hết cho tôi. Kế nghe đồng hồ gõ một giờ, thầy làm bảnh, than mệt xin kiếu về ngủ. Tôi lên xe kéo ngồi chung đưa thầy tôi cửa, thầy cho hay vợ đi vắng, mời tôi vào nhà cho thầy hỏi thăm chuyện riêng. Tôi cười duyên, lấy tay rở trán thầy mà rằng:

– Đi đâu mà vội, không mất đâu mà sợ. Để bữa khác, hôm nay anh uống rượu nhiều, không nên. Thôi, anh vô nghỉ đi, chẳng thiếu chi ngày!

Tôi với hun theo kiểu thằng Lu-y, lấy môi ép vào môi thầy, hôi rượu nồng nực.

Tôi trông rảnh rang đặng cười cái khật của đời cho đã, kẻo hồi giờ nó bắt nôn trong ruột. Tôi lấy hai trăm đồng bạc đền ơn chị chủ sự, nhưng chỉ làm mặt giận, lại rầy tôi sao còn khách sáo, chỉ không chịu lấy, rằng chị em nương dựa nhau mà ở đời, khi vầy khi khác, chớ đi tính từ chút công như vậy mà coi được hay sao.

Thấy chỉ biết điều, tôi cũng bớt giận phần nào, và từ ấy tôi cũng có lòng mến chỉ.

Tôi dọn nhà vừa xong, sắp đặt đâu đó vừa vừa con mắt, thì thầy hội đồng đã mon men đến cửa. Thời may, vào lúc chị chủ sự vừa đến chơi, chỉ chận đầu ông hảo ngọt ta rằng:

– Coi kìa? Anh hội đồng lóng nầy bộ túng rồi sao, mà lại đòi tiền gấp dữ vậy?

Ông hội đồng Pháp có tánh se sua, thường khoe mình giàu có và ăn ở rộng rãi nay bị chận họng hỏi nhằm chỗ tức, ông ta giận, trả lời thiếu một điều gây lộn với chị chủ sự:

– Cô thiệt khi tôi quá! Bạc muôn kia, còn chửa thấy gì, sá chi thứ năm ba ngàn, mà tôi đây túng sao? Bữa nay cô Hai chưa trả thì mai, mai chưa trả thì mốt, để tới bữa nào, lại không đặng. Tôi đến đây, cố ý coi cô Hai dọn nhà xong chưa và đồ đạc tôi sắm như vậy đủ dùng cùng không, chớ tôi đây có con mắt, biết coi người mà, hỡi cô chủ sự?

Chị này thừa dịp nói liền:

Anh đến chị em tôi dọn nhà còn thiếu món chi đặng anh cho thêm phải không? Nè! Chỗ này còn thiếu một tấm gương soi mài cạnh, anh xuống chợ cũ, mua một tấm kiếng một thước bề ngang về treo bên vách gần bộ ngựa gỗ đó thì là tuyệt đẹp. Bữa nào anh có xu nhiều, anh mua gọi là lễ tân gia tặng em út.

Ông Pháp đổ quạu vì lời nói xóc óc, đứng phắt dậy tay móc bóp phơ, miệng nói:

– Còn đợi bữa nào, vậy chớ bữa nay không có xu hay sao? Nè!

Đó rồi thầy rút ra ba bốn tấm giấy xăng, thêm một mở giấy “mỡ gà” (giấy năm đồng đời Pháp), bỏ vãi trên bàn. Chị chủ sự cười ngắc nga ngắc nghẽo, rồi sửa nghiêm nét mặt chắp tay xá xá mà rằng:

– Coi! Nói có bao nhiêu ấy, mà anh giận tôi cho đành sao anh Phát! Tôi chọc tức anh chơi, để thử xem chữ “nhẫn” của anh có tới bực nào chớ nội cái đất Sài Gòn luôn và Chợ Lớn nữa, ai lại chẳng biết danh hội đồng Phát, trước kia là thơ ký Nam kỳ soái phủ, ăn chơi đúng mực, thạo đờn, thiện nghệ cây kìm và gái nào lại không mê anh về cái ngón bốc rời không tiếc. Đáng mặt con trai ông Hàm Ninh, Sa Đéc, tuy không phải công tử mà ăn xài công tử dẫu cậu Ba ở Bạc Liêu nào bì!

Chị chủ sự thổi ngay chỗ ngứa, ông hội đồng hết giận, thấm ý cả ba cười xoà, chị chủ sự không chịu thua, giã lã:

– Anh à! Tôi cũng hiểu ý anh đến đây coi em tôi nó muốn xin món gì thì anh cho. Thôi! Bây giờ em hãy sửa soạn lẹ lẹ, rồi chị em mình đi hóng mát với anh hội, luôn địp đi lựa tấm kiếng Chợ Cũ hay là kiếng nhà hàng Courtinat mới sướng cho nè?

Mỗi mỗi đều bị chị chủ sự tước tước, làm cho ông hội đồng hết phương chối từ sẵn xe Sáu Thiện còn đậu trước cửa, chị em tôi bắt quách ông ta theo ra tận đường Catinat, lựa tại hãng Courti nạt một tấm kiếng mài cạnh lộng khuôn bằng thuỷ tinh. Ông hội đồng trả đủ một trăm mười hai đồng. Tôi biên số nhà cho hãng sai người giao hàng tại chỗ, còn bọn tôi đánh một vòng vô Chợ Lớn xực mì chiên tôm đường Zaccaréo rồi mới về. Ghé nhà mới của tôi, chị em mời thầy ở lại xơi cơm và đánh tứ sắc ăn hun. Ông Phát nói:

– Bạc-đông (pardon) để bữa khác, bữa nay cho moa kiếu vì ma-pham đi góp lúa vừa về. Moa phải về lo việc tính sổ, coi ai thiếu ai đủ. Chơi vẫn chơi, mà làm cũng phải làm, mới có tiền nuôi em út chớ!

Thầy nắm tay chúng tôi, giặc giặc mấy cái rồi lên xe ra về, tốn hết nội cuộc luôn tấm kiếng, ngót một trăm rưỡi đồng bạc.

——————————–

1Giấy tín chỉ: đời Pháp thuộc, sở trước bạ có bán sẵn đủ loại giấy có đóng mộc trước, dùng viết giấy tờ mua bán điền sẵn, giấy này vừa bền lại vừa bảo đảm

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Google photos

Phần 22

Gặp người hào hiệp khí khái

Cổ hối trẻ chạy lại trước nhà hát Tây, kêu một cái xe song mã, bánh cao su, có đèn khí đá, nếu gặp xe của Sáu Thiệt thì càng tốt vì anh xe nầy biết điều, chạy xe giờ không tính giá mắc lại thạo đường xá hơn ai. Cổ và tôi trang điểm rồi lên xe đi dạo phố một vòng. Cổ biểu xà-ích (sais) đánh xe lại đường Blaucsubé gần đây còn mang tên Garcerie, rồi Duy Tân, ngừng lại rồi chỉ một cái nhà bánh ếch có sân rộng hỏi tôi “được hay không”. Tôi xuống xe lại gần đứng ngoài hàng rào dòm vào, tôi khen “nhà nầy, thiệt là phải thế!”. Cổ biểu tôi đánh giá coi đáng mấy. Tôi nói chừng bốn ngàn trở lại, thì nên mua. Miệng nói bốn ngàn, chớ cô bác biết trong lưng tôi, hoạ là bán luôn tôi đây mới đủ số tiền nầy! Cô chủ sự nghe tôi đánh giá, vừa cười vừa vỗ vai khen: “Má nó có con mắt tinh đời, vừa rành vừa thạo hơn ai. Thôi! Lên xe rồi chị em mình sẽ nói chuyện”.

Cô chủ sự biểu quay đầu xe trở lại, rồi nói với tôi rằng: “Tôi muốn nói má nó một điều, bằng lòng cùng không, xin cứ thiệt tình cho tôi rõ”. Tôi trả lời: “Cô đáng tuổi làm chị tôi, có việc chi sai biểu, cứ nói đại, việc chi mà ngại”. Cổ bèn tỏ ý muốn kết làm chị em sanh tư chi giao với tôi, dặn tôi từ hậu đừng gọi cổ bằng cô, hễ đáng chị thì gọi chị cho thêm thân”. Tôi chịu, vì nghĩ mình còn cô thế, phải kiếm sao cho có nha trảo vi kiềng càng đông càng hay, như vậy mới có thể dọc ngang tung hoành trên cái đất đầy chông gai Sài Gòn – Chợ Lớn nầy đặng.

Xe chạy gần tới cầu Bông, gió mát từ rạch Thị Nghè thổi tới, chỉ biểu ngừng xe một lần nữa, và kiếm chỗ đậu xe nơi lề đường xe điện, bên hông chùa Ngọc Hoàng. Tôi lật đật hỏi.: “Ghé nhà ai đó chị?”. Cô chủ sự nghe tôi kêu chị, coi bộ khoái lắm, nhe răng cười lòi mấy cái răng bịt vàng, trông còn duyên đến, chỉ kề tai nói đủ nghe: “Ghé bợm đa tình họ Bùi, con cháu Bùi Kiệm trong Lục Vân Tiên, chàng ta tên Phát, chị phải khoe người em mới của chị đây cho chú chàng biết mặt!”. Tôi vừa xuống xe vừa hỏi tiếp: “Mông-xừ là chủ cái nhà hồi nãy đó hả? Mà chức phận của va là gì đó chị?”. Chỉ nói: “Hội đồng! Ông hội đồng thành phố, Mông-xừ hội đồng Phát, mà cũng là chủ cái nhà em coi lúc nãy đó đa!”.

Thầy hội thấy chị em tôi bước vô, chạy ra mừng rỡ rước vào sa-lông, coi bộ mau mắn lịch duyệt, rành người, có thể thống, người don don không mập không ốm, miệng ngậm xì-gà, duy cứ tiếng Tây trâm trết. Vừa tới cửa, tôi thấy thầy nắm tay chị chủ, chào: “Bủa-sua cô chủ sự. Xà-hoa-dẻn, ma-đầm”, Tôi vụt né, may thời chị chủ láy mắt, tôi hội ý kịp, bèn đưa tay: “Bủa-sua ông hội đồng!”. Chủ nhà nghe tôi gọi trúng danh vị của mình, nhoẻn miệng cười duyên, siết tay tôi thật mạnh, rồi dắt tay nhau vào nhà. Khách đàn bà mà ông ta đãi rượu sâm banh khui nguyên chai và thuốc thơm hiệu con mèo “Caraven A” sang trọng. Rót rượu xong, thầy hội đồng vừa bưng ly cụng với chị chủ một cách rất lịch sự thân mật. Tôi cũng bưng ly của tôi, ra dấu rồi ngừng lại mở đầu câu chuyện, sau khi ngồi lại đàng hoàng theo ngôi chủ khách: “Bẩm ông, tôi nghe chị chủ sự tôi khoe ông là tiểu Mạnh Thường đất nầy, đã giàu có sang trọng, mà tánh tình lại quảng đại hào hiệp hơn ai. Chị chủ đưa tôi đến đây, trước cho tạn mặt người danh giá, sau cũng có một việc sở cậy ông như đặng thì ơn ấy tôi nguyền tạc dạ”. Tôi vựa nói đến đó vừa liếc mắt đưa tình.

Thầy hội đồng vụt cười dòn, ép tôi cụng ly uống cản, rồi ông vuốt vuốt chót râu trái ấu, hứa trừ lấy gan ông trời còn ngoài ra chuyện chi ông cũng sẵn lòng giúp tôi đặng cả. Chị chủ tiếp lời buộc thêm:

– Em đừng lo, em chưa biết ông hội, chớ hễ ổng hứa với em một tiếng thì như rựa chém đất. Mà điều nói chơi, chớ ong, ủa anh hội, đứng chém chị em tôi, nghen anh!

Ba chúng tôi cười xoà, chị chủ thắng thế buộc thêm một câu nữa:

– Huống chi em đàn bà mới quen biết anh đây, lẽ nào ảnh đi nói trửng cho mất thể diện với em sao?

Rồi day lại thầy hội đồng, chị chủ nói cho một hơi:

– Thưa anh hội, em tôi đây, chồng vừa về dưỡng bịnh bên xứ Ăng-lê, nên ở đây một mình buồn, một hai cũng đòi trở lại quê nhà dưới Mỹ Tho, tôi cầm cản thiếu điều hụt hơi, cô ta mới chịu ừ ở lại, tuy vậy mà đòi cất nhà mới ở sao cho gần gũi cùng xóm với tôi cô ta mới chịu. Tôi nhắm nội đây duy có cái nhà của anh ở đường Garcerci đó là phải thế hơn cả, và khỏi cất mới. Xin lỗi anh, hồi nãy sẵn xe tôi tọc mạch đã dắt và chỉ cái nhà cho em tôi đây, nó bằng lòng lắm, vậy anh bỏ trống chưa dùng, nó thì ưng bụng rồi, vậy không dám nào anh làm ơn để cái nhà ấy cho em tôi ở, rồi sớm tối chi, anh có đi đâu rồi rảnh, ghé tạt vào đó chơi chẳng là thú vị lắm sao?

Thầy hội đồng gãi đầu gãi tai, liếc liếc tôi rồi chắc lưỡi trả lời gượng gạo:

– Thiệt khó cho tôi quá! Không mấy thuở cô đây cậy tôi một chuyện mà việc không thành thì cũng khó coi quá! Chẳng phải tôi không muốn để cái nhà đó lại cho “madame”, tôi thì sẵn lòng lắm, ngặt một nỗi tôi mới mời lỡ cậu tôi ở dưới ruộng Ât Êc (Trà Vinh), tháng tới nầy lên dưỡng bịnh uống thuốc đồ đạc chi chi tôi đã sắm đủ, ước chừng kể về nhà về đó từ khí, tính ra trên bốn ngàn rưỡi bạc. À mà thôi! Việc đó để thủng thẳng tôi tính lại coi Tôi sẽ kiếm một cái nhà khác cho cậu tôi cũng được. Duy xin cô madame, đừng quên…

Chị chủ sự ngồi òn ỷ, nói hơn nói thua với cậu ta, trong khi ấy tôi giả đò bước trái ra hàng ba, gọi xà-ích đem giùm vô hai cái khăn tua, thừa dịp ngoắt chỉ ra nói nhỏ vậy vậy. Chỉ trở vô nói:

– Thưa anh mà ông Phát ơi? Bữa nay sẵn dịp cô hội đồng đi khỏi, chị em tôi mời anh đi xem hát nơi rạp Eden ở Catinat chơi, được không?

Thầy hội đồng háy chỉ mà rằng:

– Cô cứ khéo giả ngộ với moa hoài. Ước chừng có ma-pham ở nhà, moa cũng măng-phú, muốn đi đâu thì đi chớ. Mặt nầy lại sợ vợ à?

Nói rồi, thầy trở vô buồng, sửa soạn, rửa mặt cho thêm chút phấn và nước hoa (đàn ông mà giồi phấn) rồi theo chị em tôi ra xe, chị chủ sự ngồi mé tay trái, để thầy hội đồng ngồi giữa, tôi ngồi sát bên bên mặt và ép khít tay giữa một hoa hồng mãn khai nhưng chưa tàn và một đoá trà mi đang thời xuân sắc.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Phần thứ hai

Thống Khổ Nhập Môn
(Đề Lao Gia Định)

Phần 10

Chuyến xe đời chập chùng hệ lụy đổ chúng tôi xuống một địa chỉ mới. Địa chỉ mới, với tôi. Với dân tộc tôi thì nó đã quen thuộc đến cũ mèm. Số 4 đường Phan Đăng Lưu, Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, là địa chỉ mới ấy. Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, không ai cần biết số 4 đường Chi Lăng, tỉnh Gia Định. Những kẻ biết nó đều bất hạnh. Vì nó khoác cái nhãn hiệu hãi hùng: Đề lao Gia Định. Cũ hơn cả Nha Cảnh Sát Đô Thành, đề lao Gia Định do thực dân Pháp xây dựng. Nó nằm giữa Tòa án Gia Định và Tòa Tỉnh trưởng Gia Định. Nhà tù luôn luôn sát khít tòa án. Hình phạt và công lý gắn bó nhau. Ông Ngô Đình Diệm làm cách mạng nhân vị, ông ta chỉ xoá tên… phế đế Bảo Đại. Đề lao Gia Định vẫn còn nguyên. Và cách mang nhân vị của ông ta dùng đề lao Gia Định giam nhốt những người đối lập chế độ nhân vị. Cơ chừng nhân và vị đã nặng mùi, từ đó. Trong sự nghiệp khai phóng tự do, dân chủ của Hoa Kỳ, người Mỹ ít quan tâm tới đề lao Gia Định. Bằng tinh hoa kiến trúc Hiệp Chủng Quốc, họ đã tặng Việt Nam Cộng Hòa hai nhà tù thật hiện đại, thật tư bản. Để nhốt và khai thác Việt Nam cộng sản. Ở Tô Hiến Thành. Đôi mắt chú Sam đã nhắm tít khi ngang qua đề lao Gia Định. Do đó, đề lao không được hưởng văn minh và tự do Hoa Kỳ. Nó bệ rạc cả nội dung lẫn hình thức. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cách mạng vô sản tiếp quản đề lao. Rồi, vì Chi Lăng đổi tên Phan Đăng Lưu, dân chúng tự ý đổi tên đề lao Gia Định thành nhà tù Phan Đăng Lưu, mặc dù, nhà nước cộng sản ghi rõ trên văn thư là Trại T-20. Vị anh hùng giai cấp Phan Đăng Lưu đã được phục sinh như một cai ngục vĩ đại của một nhà tù mà cổng treo tấm bảng nền vàng chữ đỏ: Không có gì quý hơn độc lập tự do! Câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh chỉ sáng nghĩa và sáng giá khi con người vào tù bởi độc lập, tự do. Và con người phải chui qua cái cổng, chui dưới tấm bảng nền vàng chữ đỏ “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Dân tộc Việt Nam đã loay hoay với độc lập, tự do ngót nửa thế kỷ. Chúng ta loay hoay giành độc lập, tự do giữa chúng ta. Rốt cuộc, mãi mãi, chúng ta ngậm ngùi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Người Việt Nam đã nhân danh cái của thiên hạ mà tàn sát nhau. Chưa ai chịu truy nã phận mình. Chúng ta điên rồ trong trò chơi của ý thức hệ. Và tàn cuộc, chúng ta hành hạ lẫn nhau. Chưa đủ, chúng ta thù hận nhau, chém giết nhau. Khi ấy, cánh đồng mầu mỡ quê hương, cỏ dại nhiều hơn lúa.

Bạn biết chợ Bà Chiểu chứ? Đằng sau Lăng Ông ấy mà! Bên đây đường, cổng đề lao. Bên kia, hông chợ. Biên giới của tự do và tù đầy ngắn ngủn. Chuyến xe đời chập chùng hệ lụy qua cổng chính. Cổng khép kín ngay. Xe ngừng lại. Tấm vải bố kéo lên. Chúng tôi, hai người chung một chiếc còng tay, nhảy xuống đất. Người ta mở cổng và lùa chúng tôi vào sân trong kín đáo. Buổi chiều hôm ấy không có nắng. Trời âm u. Chúng tôi ngồi trong sân thứ hai. Chúng tôi đi đứng tự do ở cái sân nhỏ, chung quanh tường cao giăng giây kẽm gai ngọn đỉnh. Một bạn tù vỗ vai tôi:

– Duyên Anh.

Tôi nhận không ra.

– Thế Viên đây mà.

Thế Viên, trời ơi, tác giả thi phẩm ướt tình Người yêu tôi khóc, giáo sư văn chương của trường Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho! Năm nào, anh đã giới thiệu tôi với cử tọa buổi diễn thuyết của tôi ở trường Gioan 23, Định Tường. Sau đó, chúng tôi sang Cồn Phụng, thăm ông Đạo Dừa. Thế Viên có mái tóc bồng bềnh, đôi mắt thật thi sĩ. Anh chưa từng chống cộng sản. Một nhà giáo tận tâm, một thi sĩ lãng mạn, suốt đời ca ngợi tình yêu, tại sao anh vào tù?

– Hệ lụy, anh Duyên Anh à!

Thế Viên đã về Nhà Trang, dạy ở đó cho đến đại nạn hồng kỳ. Là giáo chức, không một ngày quân trường, anh chỉ bị học tập tại nhiệm sở của anh vài tuần và tiếp tục nghề nghiệp theo giáo trình, giáo án của chế độ mới. Tháng 4-1976, anh vô Sàigòn thăm Doãn Quốc Sĩ, ăn cơm trưa với Sĩ. Đáng lẽ, Thế Viên về sớm là thoát nạn. Định mệnh của anh nằm trong sự quyến luyến của Doãn Quốc Sĩ. Sĩ đã lưu bạn hiền uống cà phê, kéo dài những phút hàn huyên. Tác giả Dòng sông định mệnh đâu biết người ta đã bủa lưới vây bắt anh. Công an ập vào căn nhà trong căn hẽm dài đuờng Thành Thái. Người ta còng tay Doãn Quốc Sĩ. Người ta đọc lệnh bắt anh. Tác giả Đoàn người hóa khỉ đã tận mắt nhìn người hóa khỉ. Thế Viên dính lưới một cách oan uổng. Không hề có lệnh bắt anh. Anh không được Trần Bạch Đằng chiếu cố. Trần Bạch Đằng vẫn chưa cho anh “một chỗ đất sống dưới ánh mắt trời”. Những tên công an nằm vùng, gã sinh viên đại học Vạn Hạnh, học trò cũ của Thế Viên, đã đích thân còng tay thầy của nó và đưa thầy nó vào cuộc phiêu lưu ê chề, nhục nhã. Nó gặp thầy, không nghiên mình như Carnot, mà bắt thầy nó đứng nghiêm. Và nó bảo thấy nó can tội thi sĩ phản động!

Tên sinh viên đại học nằm vùng này không phải là tên cộng sản mầm non học thói Đặng Trần Thường thứ nhất và duy nhất. Trước nó cả ba chục năm, nhà văn Lan Khai, tác giả Cái hột mận, Ai lên phố cát, đã bị học trò bỏ vào rọ tre, đeo đá nặng và thả xuống sống chết sặc sụa. Thế Viên may mắn hơn Lan Khai, Khái Hưng. Anh không bị đếm tung từng chết trầm. Anh chỉ bị học trò bắt đi… học tập. Người cộng sản sẽ trả lời thế nào về tình nghĩa, về đạo đức, về phẩm cách qua sự việc bắt nhốt Thế Viên? Bản chất của công sản là phản bội. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thủ tiêu bao nhiều bằng hữu, bao nhiêu đồng chí sáng giá hơn mình? Chúng ta chưa có bằng chứng cụ thể. Bằng chứng cụ thể là thi sĩ Thế Viên được học trò cộng sản đền ơn bằng còng, xích và ngục tù. Những anh cộng sản làm dáng ở Paris, ở Bonn, ở Amsterdam, ở Londres, ở Washington, có gợn chút ưu tư? Sự mỉa mai không dành cho những anh tập sự phản bội, tập sự dẫm nát tình nghĩa. Mà, hơi buồn, lại phải dành ưu tiên cho ông nhà văn Kẻ Tà Giáo. Ông nhà văn Kẻ Tà Giáo là con rể ông Trương Gia Kỳ Sanh, là em rể tên cộng sản khát máu Trần Bạch Đằng. Cả nước đều rõ. Trần Bạch Đằng tuyên bố: “Bọn văn nghệ Sàigòn không có đất sống dưới ánh mắt trời”. Cả nước đều rõ. Ông nhà văn Kẻ Tà Giáo tham dự phiên họp đầu tiên của Hội Văn Nghệ Giải Phóng. Cả nước đều rõ. Ông nhà văn Kẻ Tà Giáo được Trần Bạch Đằng cài đi nằm vùng ở Tin Sáng của bọn Ngô Công Đức, đi Bắc về Nam. Cả nước đều rõ. Ông nhà văn Kẻ Tà Giáo sang Mỹ dẫn lời Bertol Bretch: “Buồn cho thời đại, nói chuyện với cỏ cây cũng là một tội lỗi”. Nhiều người biết. Nhiều báo đăng. Chúng ta khó chịu cái thái độ bất lương trí thức của ông nhà văn với. Người nên nói lời của Bertol Bretch chỉ là Vũ Hoàng Chương, là Thế Viên. Những kẻ nhởn nhơ công tác theo chị thỉ của Trần Bạch Đằng, một giai đoạn nào đó, trong khi, các thi sĩ “nói chuyện với cỏ cây” chết rũ trong tù là những kẻ không được tha thứ. Song, người “quốc gia” vốn rộng lượng. Và những kẻ đã cộng tác với kẻ thù của họ, vẫn ngông nghênh, vẫn mục hạ vô nhân, tưởng thiên hạ mù và câm hết, ong óng một giọng bịp bợm rẻ tiền: “Tôi không nuôi một ảo tưởng nào. Và điều mong ước dĩ nhiên của tôi là tiếp tục dùng ngòi bút để phục vụ người Việt đang định cư ở hải ngoại”. Nuôi ảo tưởng nào cho một giai đoạn nào? Nước Mỹ không có Trần Bạch Đằng, sẽ có ai? Đó là ưu tư của người “quốc gia”, nếu họ còn chống cộng và còn tham vọng giải thoát quê hương. César nói: “Kẻ thù có thể tha thứ, kẻ phản bội phải ném vào chuồng cọp”. Những kẻ phản bội, những tên ở lại, đã xách súng lùa anh em đi họp chào mừng cộng sản, đã viết báo cộng sản, đã làm việc với công sản và đã vượt biên bằng thuyền và bằng máy bay sang Mỹ, sang Pháp. Bằng chứng rành rành, đọc tên đứa nào, đứa nấy cúi mặt câm nín. Thì vẫn công khai múa mép và múa bút. Thì vẫn được hoan nghênh như chiến sĩ đấu tranh cho tự do, dân chủ. Và nạn nhân của chúng nó thì bị vùi dập tơi bời, bị dồn vào cuối đường cô đơn, tuyệt vọng. Người “quốc gia” còn một hạng, mà dưới mắt và trong ý nghĩ đốn mạt của nó, ai cũng là cộng sản, nếu đã nằm tù cộng sản và nếu trốn khỏi đất nước muộn màng. Cái hạng chống cộng bằng sách vở này, chưa một phút nhìn giép râu dẫm trên đường phố Sàigòn, chưa một giây nếm nổi chua xót của tổ quốc, quá khích đến tội nghiệp. Có lẽ, sự cường điệu quốc gia chỉ nhằm khoả lấp một co cẳng chạy dài, vất lại một quá khứ bần tiện.

– Gia đình tôi chưa biết tôi ở tù. Thế Viên buồn bã nói.

– Họ đã cho viết thư mà. Tôi nói.

– Tôi đã viết hai lần. Không thấy gia đình trả lời, không có ai gửi quần áo, thuốc men, tiền bạc.

– Anh còn tiền không?

– Còn. Tôi đăng ký mấy chục.

Chúng tôi được lệnh xếp hàng và ngồi yên lặng. Tôi nhìn sang phía Thế Viên, thi sĩ của tình yêu. Người yêu của anh, những người yêu của anh còn khóc? Tại sao người ta không bắt chủ nhiệm nhật báo Xây dựng, nhật báo Tự Do chống cộng khét lẹt? Tại sao người ta không bắt Thanh Lãng? Câu trả lời có phần lợi cho sự “ân trả oán đền” của cộng sản. Linh muc Nguyễn Quang Lãm đã lôi Thái Bạch ra khỏi Tổng nha Cảnh Sát quốc gia và bảo đảm hành vi “nằm vùng “ của nó. Linh mục Thanh Lãng đã xin ông Nguyễn Văn Thiệu thả Vũ Hạnh và cho nó một chỗ ngồi ở Trung tâm Văn Bút Việt Nam. Ban chấp hành Văn Bút bình yên. Thế Viên không chống ai thì lận đận. Chắc chắn, anh đã không thích May cờ giống thi sĩ Tướng Lĩnh, không thích Ngày mai giống thi sĩ Hoàng Trúc Ly gửi đăng Sàigòn giải phóng vội vàng. Anh cũng không thích giống văn sĩ Lan Đình, tuyết hận Nguyễn Mạnh Côn chê Từ hôm khởi chiến của mình, bị loại ra giải văn học tổng thống bằng loạt bài Thâm cung bí sử trên Tin Sáng. Anh ngồi chồm hổm, thi sĩ của chúng ta. Nông dân Moritz của Giờ thứ hai mươi lăm chỉ vì trời mưa, chỉ vì vợ đẹp mà lưu lạc mấy chục nhà tù phát xít, đồng minh. Thi sĩ Thế Viên chỉ vì ly cà phê hàn huyên, chỉ vì Người yêu tôi khóc mà đã lưu lạc hai nhà tù cách mạng. Tôi đi tù không oan uổng. Sự hèn mọn của công sản ở đó, và từ đó, loài người có thể phán xét công lý cộng sản.

Chúng tôi bị phân thành ba nhóm. Ba tên công an chức sắc của đề lao Gia Định xuất hiện. Họ ngó chúng tôi như lái buôn nô lệ chọn người. Cười nói một lúc, họ thỏa thuận, mỗi tên nhận một nhóm. Nhóm của tôi vào sau cùng. Chúng tôi, Hồng Dương, Nguyễn Hữu Hiệu và tôi, được đưa vào khu C-1. Dương Nghiễm Mậu, Đặng Hải Sơn, Thế Viên đến khu khác. Đề lao Gia Định, thời Pháp đô hộ có mỗi khu A. Khu A cũ kỹ, ẩm thấp, nhưng đầy đủ “tiện nghi”. Người Pháp lập một thư viện nhỏ, tràn ngập tiểu thuyết trinh thám, gián điệp. Sang thời cách mạng nhân vị, ông Ngô Đình Diệm trùng tu khu A và cất thêm khu B mái phẳng xi-măng cốt sắt. Qua cách mạng vô sản thống nhất cả nước, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” hơn thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, xây liền một mạch hai khu C-1, C-2. C-1 và C-2 mỗi khu có 7 phòng và 12 cachots. Cachot hay biệt giam đối diện phòng giam tập thể. Biệt giam khu A có phòng nhốt bốn, năm tù nhân, còng tay, xích chân dính chùm 1. Trưởng khu C-1, bí danh Sáu Cầu, người Quảng Ngãi. Ông ta bảo chúng tôi đứng xếp hàng. Một công an quản giáo dở sổ ghi tên tù nhân mới nhập trại. Sau này, tôi biết tên hắn là Hùng, dân Củ Chi “thành đồng cách mạng”. Tù nhân tặng hắn biệt danh Hùng kẽm gai.

Hồng Dương rất thông minh. Anh ta kéo tôi đứng cuối cùng hàng. Để có thể biết anh em ai vào phòng nào. Nguyễn Hữu Hiệu vô phòng 3 C-1. Hồng Dương đã xong thủ tục. Tôi là kẻ cuối cùng. Khám xét hành lý của tôi hồi lâu, gã quản giáo cật vấn lý lịch:

– Họ và tên?

– Vũ Mộng Long.

– Bí danh?

– Không có.

– Nghề gì?

– Viết văn.

– Viết tiểu thuyết ba xu hả?

– Phải

– Bút hiệu?

– Duyên Anh.

– A, Duyên Anh viết Điệu ru nước mắt.

Sau khi ghi lý lịch của tôi vào sổ tù, sổ đoạn trường, gã quản giáo hỏi tôi:

– Tại sao anh viết Điệu ru nước mắt?

Tôi đáp:

– Tôi sẽ trả lời với cán bố chấp pháp.

Có nghĩa rằng, cai ngục, anh không có quyền thẩm vấn tôi. Gã quản giáo cay cú. Hắn cũng là tên nằm vùng. Tôi hiểu hắn đã đánh dấu tôi. Đó là điều dại dột, là sự lãng quên lời dặn “Chớ dại chết ở cái lỗ chân trâu”.

– Anh đã viết Kẻ bị xóa tên trong sổ bụi đời?

– Phải.

– Bao giờ anh viết Kẻ được xóa tên trong sổ tù?

Hắn không cho tôi trả lời, vẫy tay xua tôi ra chỗ Hồng Dương. Một tên cai ngục dẫn tôi đến phòng cuối dãy. Chúng tôi vào phòng 6 C-1. Ở đây, tôi gặp lại các anh em của tôi: Thanh Thương Hoàng, Chóe, Thân Trọng Kỳ, Cao Sơn.

Như tất cả các phòng giam tập thể của C-1 và C-2, 6 C-1 của tôi thấp lè tè, lợp tôn. Nó dài tám thước, rộng bốn thước. Hồ nước, cầu tiêu ở trong đó luôn. Người ta xây bục xi măng cao khỏi nền đất hai gang tay làm bục ngủ. Có một miếng trống, thấp gần cửa để chia cơm nước. Trần phòng là những thanh xà mười tròn, chồng lên nhau thành hình vuông, đầu người chui không lọt. Chẳng hề có cửa sổ, cửa gió. Chúng tôi tiếp dưỡng khí qua ô nhỏ vừa bằng cuốn sách bỏ túi trổ giữa cửa sắt. Trưởng phòng và Trật tự viên dùng dây đo lại toàn phòng để chia chỗ nằm đồng đều cho tù nhân. Khi phòng đã chật, thêm tù nhân mới là một sự vất vả. Chia chỗ thường dẫn đến gây gỗ, mỗi tù nhân bị bớt một chút xíu chiều rộng. Cuộc chia chỗ kéo dài nửa tiếng, tôi được đúng hai gang tay chiều rộng. Bằng hai gang đo này, tôi chỉ có thể nằm nghiêng hay nằm ngửa, đặt đôi tay lên bụng, không nhúc nhíc. Hành lý của tù nhân được treo lên những thanh sắt trần sát tường. Tù nhân có, ít nhất, một cái bị cói và một cái giỏ plastic. Bị đựng kẹo, bánh, đường, bột, mì vụn, thuốc lá, thuốc cảm sốt và quần áo. Giỏ đựng chén, muỗng, nước mắm, thức ăn mặn. Tất cả bằng nhựa. Mọi đồ kim khí bị nghiêm cấm. 6 C-1 thêm Hồng Dươngng và tôi, là 52 người. 52 người chiếm một diện tích 32 thước vuông tính cả cầu tiêu, hồ nước, sàn tắm, chỗ chia cơm nước.

Xong thủ tục nhập phòng và sau bữa cơm chiều vội vã, tôi có dịp tìm hiểu phòng 6 C-1. Trưởng phòng, thiếu tá cảnh sát đặc biệt Lâm Văn Thế, ngoài 50 tuổi, điềm đạm, nhẫn nhục. Ông Thế thuộc thế hệ kháng chiến Nam Bộ. Năm 1954, thay vì xuống Cà Mau ra Bắc tập kết, ông ta đã ngược lên Sa Huỳnh. Nửa đường, ông ta bỏ về. Rồi ông cộng tác với cảnh sát quốc gia, tự học thi đậu tú tài, tự học Anh ngữ. Trong tù, ông ta học chữ Nho bằng phấn viết trên bục xi măng với ông hiệu trưởng trường Tàu. Phấn bị cấm, ông nhúng ngón tay vào ca nước mà học. Ông Thế bị bắt ngay đêm 30-4-75 tại nhà. Trật tự viên, Dzũng quan tài, một du đãng trẻ, lừng danh sau vụ cướp súng của bộ đội, bắn nhau với công an, bị bắn què cẳng và bị đánh gãy răng. Thư ký phòng là nghị viên hàng tỉnh Nguyễn Tấn Lợi. Đó là ba chức sắc của phòng 6 C-1. Ngoài ra, phòng 6 tập hợp đủ thành phần: Tư sản mại bản Chợ Lớn, phản động trẻ tuổi, đầu trộm đuôi cướp, án phạt của chế độ cũ về những thành tích bất hảo. Và nhà văn, nhà báo, nhà vẽ, nhà đạo diễn! Cái xã hội tù ô hợp nầy chửi thề văng tục suốt ngày, kèn cựa nhau từng tí. Nó khác xa với sĩ quan trình diện học tập hay công chức cao cấp trình diện học tập. Trình độ văn hóa và tâm tính hoàn toàn chênh lệch nên đối nghịch nhau liên miên. Tôi được nhiều độc giả du đãng và phản động trẻ săn sóc. Và đó là những hệ lụy suốt thời gian tôi trọ ở khách sạn quốc doanh Đề Lao Gia Định.

Năm chúng tôi, Thanh Thương Hoàng, Chóe, Hồng Dương, Thân Trong Kỳ và tôi, xúm quanh nhau hút thuốc lá, chuyện trò.

– Chúng mày là chuyến xe vét đấy. Bên Sở chỉ còn một Nguyễn Sĩ Tế vẫn nằm cachot. Thanh Thương Hoàng nói.

Tác giả Cánh chim mỏi đưa tay gãi háng:

– Tao bị ghẻ nặng rồi.

Anh tiếp:

– Đêm sang đây thật hãi hùng. Chúng tao cứ tưởng nó đem đi thủ tiêu.

Làm sao tôi quên đêm ấy. Bản lề phòng giam kèn kẹt ghê rợn. Nó nhiễm đầy Đảng tính nên kỹ thuật dọa nạt của nó tuyệt vời. Một kẻ bất cần đời như Hoàng Anh Tuấn mà nghe đọc tên mình thì rối loạn, chụp vội mỗi cái điếu cày ra đi, quên cả hành lý. Con người rất con người là phải biết sợ bỏ rọ ngâm sông. Thiếu nỗi sợ đó, con người vô tri giác. Và phê bình nỗi sợ đó, phán xét nỗi sợ đó, dành cho các phán quan Nói Phét ở những nơi bày tỏ sư dũng cảm không bị đánh thuế. Tôi đã thấy các vị phán quan bệnh hoạn này trên đất nước của Lincoln. Hình như, tất cả đều ngậm miệng, đều khom lưng trước quyền uy ảo tưởng Hoàng Cơ Minh. Chủ nghĩa tôi mọi thường tỏ ra thiếu hào sảng với đồng nghiệp oan khiên và đồng bào oan khổ. Một giây Hoàng Anh Tuấn thôi, sẽ không còn nhớ chụp cái điều cày ra đi. Mà sẽ đứng nghệt mặt, xón đái ra quần. Vậy thì, chưa kinh quá khốn cùng, nên câm họng, chớ nên luận anh hùng hay chụp mũ bừa bãi. Không hề kiếm nổi một anh hùng tù ngục trong ngục tù cộng sản đâu. Chỉ có những kẻ bất trí, những kẻ thiếu chí lớn, ngông nghênh với đám cai tù chăn trâu cắt cỏ, tự hạ thấp mình cùng lũ công an nói ngọng. Để chết dại ở lỗ chân trâu. Thảng hoặc, những anh hùng tù ngục được vinh tôn bởi một tù nhân vô loại “xuống bếp ăn vụng thit, ăn cắp cơm cháy, ăn tránh phần cơm heo”, tưởng đã chẳng hiển hách, còn bị nhục thêm. Không có gì xấu hổ để bị bắt hay tình nguyện vẽ tranh Hồ Chí Minh trong tù cả. Biết nhẫn nhục “vẽ chân dung Hồ Chí Minh cũng như vác củi, cuốc đất”. Sự bảo trọng thân xác kiểu “cũng như” đã phô bày sự tồn tại lãng nhách trong một pho hồi ký thuật viết lách còn phải học tập lâu ngày. Lãnh tụ cộng sản không chấp nê những tiểu tiết trong nhà tù. Không có thằng lãnh tụ cộng sản nào làm anh hùng trong nhà tù cả. La fin justifie les moyens. Chúng nó hèn hạ để tồn tại, để trở thành “cha già dân tộc”, để trở thành Tổng bí thư và Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Trong Ngục trung nhật ký, Hồ Chí Minh không ngần ngại tự khai:

Ở đời trăm sự đều cay đắng
Cay đắng đâu bằng mất tự do
Mỗi lời mỗi việc không tự chủ
Để chúng dắt đi tựa trâu bò.

“Cha già dân tộc”, chủ tịch Hồ Chí Minh “vĩ đại sống mãi” đã mất thế tự chủ, đã biến thành trâu bò cho cai ngục dắt dẫn, sai bảo. Thế giới đã quên cái hèn của Hồ Chí Minh, chỉ còn nhớ cái vĩ đại của một người đọc Tuyên Ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chúng ta đã không khai thác cái khía cạnh ở tù hèn hạ của lãnh tụ cộng sản. Chúng ta chỉ khai thác cái khía cạnh ở tù hèn hạ của chúng ta. Không hiểu nổi tâm sự và chí lớn của đại bàng, bằng thù vặc cá nhân, bằng đố kỵ hẹp hòi, bằng kết tội và phán xét thiếu suy diễn và a dua, những con chim sẽ mãi mê lép nhép. Rốt cuộc, cái tư tưởng anh hùng tù ngục nằm gọn trong tiếng ăn: “Ăn vụng, ăn cắp, ăn tranh”. Và nó chỉ có thế. Nó không thoát nổi thứ địa ngục tồi tệ với mấy trăm trang sách vô tích sự, viết lấy được, mà kiên nhẫn doc, người ta dễ dãi cách mấy cũng khó tìm nỗi hạt bụi thông minh, vết chấm tài hoa.

– Nhưng mà hên. Chóe nói.

– Hên sao? Tôi hỏi.

– Vừa sang tới đây, nó lùa chúng tao vào hội trường. Anh em đủ mặt. Thiếu anh Tế và bọn mày. Đang đêm, Mai Chí Thọ đến.

Thanh Thương Hoàng ngừng lại, kéo một hơi thuốc lá. Chậm rãi, Chiểu 2 tiếp:

– Nó thăm hỏi chúng tao. Tình cảm ra phết. Bố Côn đứng phắt dậy, đại diện anh em xin xỏ. Anh em buồn quá. Bố ấy đói thuốc đâm ra ngớ ngẩn. Thằng Trịnh Viết Thành nổi đóa. Tao phải nói bố Côn không đại diện ai cả, bố ấy đại diện cho riêng bố ấy thôi.

– Rồi sao?

– Mai Chí Thọ cười.

– Rồi sao?

– Chúng tao yêu cầu gặp vợ con. Mai Chí Thọ ô-kê. Thằng nầy thủ đoạn vô song. Nó bảo anh em ghi địa chỉ để nó sai người đi báo gấp. Và sáng hôm sau, chúng tao gặp vợ con, tiếp tế ê hề … Chúng mày sẽ được gặp vợ con.

– Sang đây làm việc gì chưa?

– Chưa. Nó quên rồi.

Anh em đủ mặt. Thế là, ngoài nhà văn, nhà báo quân đội đi trình diện học tập theo diện sĩ quan, đám văn nghệ sĩ và ký giả bị bắt trong chiến dịch 2-4-76 đã bị lùa hết về đề lao Gia Định, trừ Nguyễn Sĩ Tế vẫn cô đơn ở cachot Sở Công An.

– Phòng 5C-1 có Doãn Quốc Sĩ, Sao Biển, Hoàng Vĩnh Lộc, Vương Hữu Đức, Minh Đăng Khánh. Anh em khác trụ trì khu A, khu B, Chiểu nói. Được gần gũi nhau cũng đỡ buồn.

Khi kẻng tù báo ngủ Chiểu nói riêng với tôi:

– Ngày về xa lắm đấy, Duyên Anh ạ! Chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên.

Tôi về chỗ của tôi. Không ai được phép giăng mùng. Dzũng quan tài muốn chia máu đồng đều cho muỗi. Vì 52 tù nhân nhồi nhét vào diện tích 32 thước vuông nên Trật tự viên Dzũng quan tài đặt lệ:

– Cấm nằm co kiểu xếp thìa.

– Cấm nắm kiểu chân nầy gác lên đầu gối chân kia.

– Sắp lớp kiểu cá mòi hộp, đầu anh này là chân anh kia nằm cạnh.

– Cấm tiểu tiện ban đêm.

Chúng tôi tuân lệnh. Anh mập nằm nghiêng, anh gầy nằm ngửa. Tất cả nằm thẳng không nhúc nhích. Tôi nằm cạnh Nguyễn Tấn Lợi và Chóe, hai tên cùng to xác. Tuy kẻng tù đã điểm nhưng ngọn đèn nê-ông không tắt. Nó sẽ sáng đến lúc điểm danh sớm hôm sau. Đêm đầu, lạ nhà tù, tôi khó nhắm mắt. Nhớ câu thơ của Sông Hồ “Chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên” mà Thanh Thương Hoàng vừa khuyên vừa khuyến cáo, tôi suy nghĩ mãi. Có lẽ, mọi chuyện buồn nhỏ nhặt hết, kể cả chuyện buồn ở tù. Những ngày còn nằm bên Sở Công An, tôi đã ao ước chuyển trại. Tôi muốn biết khoảng 20 nhà tù trong thời gian ba năm. Tôi thiếu cái thung dung của Dương Nghiễm Mậu. Mậu tính mười hai năm. Tôi chỉ dám tính một cái mốc. Cộng sản đặt mỗi mốc tù ba năm. Nếu tôi độc thân như Mai Thảo, Như Phong, mọi việc quá dễ dàng. Tôi có người vợ yếu đuối, đau ốm quanh năm và ba đứa con còn nhỏ dại. Nằm tù, mà cứ lo chuyện xảy ra ngoài đời thì mau héo hắt lắm. Tôi vào tù, chắc chắn, bằng hữu đã sợ vạ lây mà xa tránh. Nghĩ ngợi lung tung, rồi ý nghĩ lại trở về nồi cháo thịt chiều 8-4-76. Tôi thèm gặp vợ con tôi để hỏi nồi cháo thịt có bị cháy đen. Nồi cháo hay thân phận tôi? Chóe đang ngáy pho pho. Lợi đã co một chân và gác chân kia lên đầu gối chân co. Mồ hôi của hai tên phì lũ chảy sang chỗ tôi khiến lưng tôi nhơm nhớp. Tôi nhổm dậy, dựa lưng vào tường, kiếm thuốc lá hút và quan sát năm mươi mốt ổ bánh mì trong lò. Có mỗi ô cửa gió, dưỡng khí ít, thán khí nhiều, mà con người vẫn sống, vẫn ăn, vẫn ngủ. Tiếng ngáy, tiếng gải ghẻ soàn soạt, tiếng mớ tạo thành một hợp âm. Thỉnh thoảng, cái chân gác lên đầu gối của anh này rơi bịch xuống ngực anh kia, hay chân anh kia đạp trúng đầu anh nọ, thì những tràng chửi thề văng ra. Nhưng tù nhân cứ ngủ. Mùi vị đề lao mới ghê. Mồ hôi chua, hôi nách, mũ ghẻ và mùi cầu tiêu, quyện lấy mùi thuốc lá, thuốc lào, nước mắm, mắm ruốc … Cơ hồ, tôi thoáng thấy mùi đau khổ.

Thả hồn theo khói thuốc, tôi về gõ cổng nhà tôi. Im lặng. Bên ngoài cũng đã là một ngục tù. Và vợ con tôi đang thoi thóp trong ngục tù bao la đó…

——————————–

1Đọc Sỏi Đá Ngậm Ngùi, cùng một tác giả. Nam Á Paris xuất bản 1985.
2Tên thật của Thanh Thương Hoàng là Nguyễn Thanh Chiểu.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Phần 9

Không phải là Ba Trung nữa. Cũng không phải là phòng làm việc của Ba Trung. Tôi đang “đương đầu” với người công an chấp pháp khác. Y nói tiếng Nghệ Tĩnh nặng nề. Trên bàn của y không có cà phê, không có thuốc lá. Những ngày “trăng mật” của tôi và công an chấp pháp, hình như, chấm dứt. Tôi đã đụng độ 4 chấp pháp tại Sở Công An Thành Phố. Người thứ nhất, biểu tượng của miền Nam, chẳng bao giờ muốn bị nhuộm đỏ linh hồn, đã chỉ điểm cho tôi biết chỗ nào là bom, mìn, chông, bẫy trên tử đạo và triết lý sống đời tù cộng sản. Người thứ hai, biểu tượng của nằm vùng láu cá, muốn chứng tỏ mình cao thượng. Người thứ ba, biểu tượng của nền văn nghệ công an. Và người thứ tư. Để xem, y là biểu tượng cái gì.

– Anh làm tự khai.

– Tôi đã làm.

– Tôi bảo anh làm tự khai với tôi.

– Khai gì nữa? Tôi đang khai dang dở thì người ta ngừng lại mạn đàm. Tôi muốn coi bản tự khai dang dở để khai tiếp.

– Tôi là chấp pháp mới của anh, mọi việc bắt đầu lại.

– Nhưng khai gi?

– Quá trình, cuộc đời anh từ mười tuổi đến ngày bị bắt. Anh nhập bằng cái sơ yêu lý lịch của anh.

Y đem cho tôi 10 tờ giấy khổ giấy in roneo và cây Bic:

– Trang nào xóa bỏ, anh không được phép xé, phải nộp đủ mười tờ. Anh nhớ chưa?

– Tôi nhớ.

– Yêu cầu của tôi là mỗi ngày anh viết 20 trang: sáng 10, chiều 10.

– Tôi không phải là máy viết.

– Ngày xưa, một ngày anh viết cho mấy nhật báo? Anh tự hào viết nhanh nhất nước mà.

– Viết nhanh vì không cần suy nghĩ.

– Tự khai không cần suy nghĩ.

– Không suy nghĩ là thiếu thành khẩn.

Tôi hiểu ngay thủ đoạn của tên chấp pháp này. Y muốn tôi viết nhanh là y đã giăng bẫy. “Chúng ta có nhiều thời giờ”. Tôi nhớ Ba Trung. Và tôi không cần phí lời nữa. Tôi cầm bút, viết “phăng-tê-di” hai chữ Tự khai. Trong hàng chục chữ ghép sau chữ tự như tự do, tự hào, tự lực, tự lập, tự cường, tự chủ, tự vấn … tôi thấy có tự sát là bi đát nhất mà vẫn kém não nùng hơn tự thú, tự kiểm, tự khai. Tự khai – tự thú – tự kiểm. Nhà thơ Paul Éluard đã viết tự do trên lá, trên hoa, trên bảng đen, trong trái tim … Tôi viết tự khai trên cái gì, trong cái gì? Nhà văn chúng ta không bị công sản bắt về các tội hình sự; chúng ta không hề là công cụ của chế độ, của thế lực nào; chúng ta không đảng phải đối nghịch ý thức hệ, tư tưởng; chúng ta đã là những con người của lương tâm. Và thế, hơn cả mọi thứ … giai cấp tù, nhà văn là tù nhân của lương tâm (prisonnier de conscience). Cộng sản bỏ tù cả lương tâm. Họ không có lương tâm, chủ nghĩa của họ không có lương tâm. Họ đã giết chết thi sĩ của tình yêu, của lương tri con người là Vũ Hoàng Chương. Họ đã đầy thi sĩ làm thơ tả giọt nước mắt của người yêu là Thế Viên. Họ đã còng chân xích tay người viết cổ tích là Doãn Quốc Sĩ. Họ đã bắt cả lương tâm phải tự khai để truy nã niềm bí ẩn của lương tâm. Đó là cộng sản. Còn những kẻ không hề bị tự khai, nhưng luôn luôn tự nhận mình ấm áp lương tâm, cũng học đòi phán xét tù nhân của lương tâm. Trên cái gì, trong cái gì, tôi đã viết tự khai? Trên cay đắng phận người và trong cô đơn cõi đời. Trên cái gì, trong cái gì, tôi cần nói, sắp nói, sẽ nói với bọn học đòi phán xét tù nhân của lương tâm? Hãy để câu trả lời đó.

Như Tử Trường Tư Mã Thiên ôm nỗi đau dao hoạn hèn mọn. Ôi, 2000 năm cũ, lương tâm kẻ sĩ Tư Mã Thiên lên tiếng – Tiếng nói duy nhất của thời đại – vì nỗi oan khiên của Lý Lăng, của con người. Lương tâm vằng vặc trăng sao ấy đã chịu nhục hình. Bằng hữu Tử Trường đâu, chiến hữu Tử Trường đâu, tri kỷ Tử Trường đâu? Họ đứng trước mặt Tử Trường. Xanh mặt vì sợ bạo quyền, không dám bênh Tử Trường. Run rẩy vì sợ bổng lộc, không dám cứu Tử Trường. Trơ mắt ếch nhìn kẻ sĩ thọ hình nhục nhã. Rồi phán xét mỉa mai: Tại sao chẳng can đảm chết đi, tại sao cam đành bị thiến. Cũng may, Tư Mã Thiên không bị tù, không bị tập trung lao cải. Chứ không sẽ: Thằng Tư Mã Thiên làm ăng-ten, bán bè bạn, quỳ gối bò đi lãnh khẩu phần, xí gạt anh em nửa đêm dậy nấu nước pha cà phê rồi uống một mình, bị chọc thủng một mắt rồi! Vân vân và vân vân … Tư Mã Thiên cô độc, đem tâm sự nói với người xưa. Và cái tồn tại, cái để lại ở cuối đường hệ lụy, cái làm phục sinh sự chết là Sử Ký Tư Mã Thiên. Tư Mã Thiên vĩnh cửu, lúc nào cũng gần gủi con người. Bằng tác phẩm. Bọn phán quan đâu rồi nhỉ? Chúng nó chết rửa xác, chẳng còn ai thèm nhớ, thèm biết chúng nó sau khi chúng nó “phản tỉnh” và đã thực hiện những số báo tưởng niệm, tưởng mộ, đã quyên tiền bỏ túi và tuyên bố giúp vợ con kẻ sĩ tù nhân của lương tâm. 2000 ngàn năm cũ mà ngỡ gần nhau gang tấc. Tự tình khúc của Cao Ba Nhạ có làm xúc động lũ sâu bọ triều đình nhà Nguyễn đâu. Đã hiểu thế thì cũng chẳng cần Tân tự tình khúc mai này. Có lẽ, Ru khúc, Sầu khúc, Tình khúc đẹp hơn. Và, trong khi, ngậm trái đắng để làm gì hơn Sử Ký của Tư Mã Thiên, hãy ngâm thơ Nguyễn Bá Trác: “Chỉ ta ta biết, lòng ta ta hay”. Hoặc cùng bằng hữu ở Paris, đêm đêm, vật ngã vài chai hồng tửu, nghe Quỳnh Dao thở nhẹ:

Thôi, đành ru ta với ta
bằng xót xa< br />đêm già,
ngục đá
Rượu mềm môi nuối tiếc kiêu sa phôi pha
Ở dĩ vãng hiện về rét mướt phồn hoa…

Rồi đọc thơ Nguyễn Bính:

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười

Sau cái sơ yếu lý lịch, tôi ngừng lại. Tên chấp pháp – cứ như võ hiệp Kim Dung, chấp pháp, trưởng lão chấp pháp, mã đầu chấp pháp – ngồi hút thuốc, nhìn tôi viết. Y không mời tôi một điếu. Đúng là bản chất vắt chày ra nước của quê hương Hồ Chủ Tịch vĩ đại! Hay y cố tình thay đổi cung cách đối xử?

– Tôi nghĩ viết lâu rồi, không thể viết đúng yêu cầu của anh được.

– Phải khắc phục mọi khó khăn.

– Tôi không biết khắc phục.

– Thì tuân hành mệnh lệnh. Anh đọc nội quy chưa?

– Tôi đã đọc.

Nội quy trại giam, Điều 1: “Can phạm phải triệt để tuân hành chỉ thị và mệnh lệnh của chiến sĩ và cán bộ trong trại giam”.

– Vậy tuân hành đi.

Tôi tuân hành. Tôi cho chữ bò chậm chạp trên trang giấy. Tôi viết như học trò viết “Ecriture”. Tôi bỏ hàng thừa. Tôi để lề rộng. Đến giờ cơm trưa, chỉ mới được hai trang.

– Viết xong 10 trang thì anh về dùng cơm.

Y ngồi ì. Tôi ngồi ì. Không phải tôi không viết nổi mà là tôi chán viết. Chắc chắn, tôi tìm cách đổi chấp pháp. Với chúng tôi và với tất cả can phạm phản động hiện hành (những người chống cộng sau 30-4-1975), hễ chấp pháp làm việc không nổi hoặc không đủ khả năng làm việc với can phạm, Phòng Chấp Pháp thay thế công an chấp pháp khác. Can phạm có quyền nói thẳng với chấp pháp: “Tôi không thể làm việc với anh”. Chế độ Nguyễn Văn Thiệu cũng không hề đánh đập, tra tấn nhà văn, nhà báo khi họ bị bắt về bất cứ tội gì. Nhiều can phạm phản động hiện hành bị tra tấn bằng các kiểu còng, khóa ở đề lao Gia Định, bị đánh ở Cục Quân Báo (Tổng Nha Cảnh Sắt cũ) và trại Tô Hiến Thành. Những nhà văn bị bắt trong chiến dịch 2-4-1976 không hề bị đánh thẩm vấn ở Sở Công An, đề lao Gia Định, không hề bị chửi rủa tàn tệ. Đập bàn, quát tháo là căng nhất. Đưa vào cachot là biện pháp cuối cùng. Nắm được cái thế khỏi sợ ăn đòn, tôi bèn viết hoa lá cành về thời tiểu học. Ba Trung đã ra lệnh cho tôi: “Anh bỏ bớt râu ria thời thơ ấu”. Tôi quên Ba Trung, râu ria với tên chấp pháp Nghệ Tĩnh. Đoạn đời lớp ba ở huyện Phụ Dực, bị ỉa đùn trong lớp, tôi miêu tả kỹ lưỡng. Ông đói, mày cũng đói. Máy thèm ăn chứ ông không thèm ăn. Cơm tù hấp dẫn gì! Đúng năm trang chữ ruồi bò, y bảo tôi:

– Nghỉ, chiều viết tiếp.

– Chưa đủ 10 trang.

– Tôi bảo nghỉ!

– Tôi sợ buổi chiều không đủ 20 trang.

– Tôi bảo nghỉ. Đó là mệnh lệnh!

Bao tử của y chỉ thị y ban mệnh lệnh. Ăn cơm tập thể mà trễ bữa thì chỉ còn vét đĩa. Đã có ý đồ, tôi năn nỉ y:

– Tôi đang hăng say viết.

– Nghỉ!

Y dằng bút khỏi tay tôi. Rồi y kêu quản giáo dẫn tôi về phòng. Buổi chiều, y theo quản giáo đến tận phòng đón tôi ra làm việc. Cũng như buổi sáng, y ngồi hút thuốc, không thèm mời tôi. Tiếp tục quãng đời thơ ấu, tôi sang trang thứ sáu. Vẫn cung cách lề rộng, hàng thưa, chữ ruồi bò, tôi viết tự khai, viết những gì mà Ba Trung bắt tôi viết. Người chấp pháp miền Nam đã dặn dò tôi: “Anh sẽ phải làm tự khai nhiều lần. Vậy, khi viết phải sáng suốt mà nhớ những gì mình đã viết”. Tôi rất sáng suốt, lúc này, lúc mà tôi viết những gì tôi đã viết theo lệnh của Ba Trung. Được thêm hai trang, chấp pháp xứ Nghệ ra lệnh nghỉ. Y nhìn tôi, cười ruồi, gật gù:

– Anh thèm hút một điếu thuốc không?

Tôi có thói quen hễ viết là phải hút thuốc lá. Và hút liên miên. Ở nhà tù cộng sản, khi công an gọi ra làm việc, tù nhân không được phép mang theo thuốc lá và không được phép hút nếu công an không cho phép. Gã chấp pháp xứ Nghệ đã nghiên cứu kỹ lưỡng thói quen của tôi, y bắt tôi thèm hút để ban phát một ân huệ này, y sẽ đánh giá chúng tôi như những tên hèn mọn. Tôi chưa kịp trả lời, y nói tiếp:

– Anh Nguyễn Mạnh Côn rất chân thật. Anh ta thèm hút thuốc phiện, chúng tôi đem bàn đèn vào cho anh ta hút.

Tôi lặng thinh. Gã công an xứ Nghệ đã móc gói thuốc lá khỏi túi, đặt giữa bàn với hộp diêm Thống Nhất.

– Anh Côn viết tự khai thành khẩn lắm. Có đoạn anh ta chạy tội là đã không huấn luyện Hoàng Anh Tuấn, Nhã Ca và anh chống cộng sản. Các nhà văn trẻ của Sàigòn đã phản bội Nguyễn Mạnh Côn, phản thầy, chống cộng sản.

Tôi bắt đầu khó chịu.

– Anh Côn khai hết những điều không lấy gì làm đẹp đẽ về bản thân anh và nhiều người khác.

Tôi chợt nhớ thủ đoạn gây mâu thuẫn của công sản mà tôi đã đọc trong cuốn sách nào. Sự khó chịu sơ khởi dành cho anh Côn bỗng tiêu tan ngay. Người ta đã chọn anh Nguyễn Mạnh Côn là người quen tôi nhất để tạo niềm thù hận giữa tôi và anh Côn. Và tôi sẽ không ngần ngại trả đũa anh Côn. Và người ta sẽ nắm vững những gì anh Côn muốn dấu diếm. Đem bàn đèn vào nhà tù cho tù nhân hút thuốc phiện là điều không tưởng. Và nữa, chưa từng bao giờ anh Côn huấn luyện chúng tôi viết văn và chống cộng sản. Gã công an xứ Nghệ dừng ở đó. Y nhắc lại câu hỏi:

– Anh thèm hút một điếu thuốc không?

– Không. Tôi đáp.

– Hút đi, tôi chiêu đãi anh.

Y cầm gói thuốc lên:

– Tại sao anh khước từ?

Tôi mỉm cười:

– Vì tôi không thèm.

– Tại sao anh không thèm?

– Tôi đang được Đảng giáo dục. Thưa anh, bài học tập đầu tiên của tôi là khắc phuc mọi thèm muốn.

– Tốt.

Y bỏ gói thuốc vào túi.

– Chúng ta mạn đàm thân mật nhé?

Tôi nói:

– Tùy ý anh.

Y tỏ vẻ bực tức một cách rất … chân tình:

– Tại sao tùy ý tôi?

Tôi cũng tỏ ra rất chân tình:

– Anh Ba Trung khẳng định chúng tôi đang ở tù. Ở tù thì không được phép tùy ý mình.

Y cười:

– Anh ở tù với Đảng, với Cách Mạng, không ở tù vì tôi, với tôi. Đồng chí Ba Trung hơi lệch lạc tư tưởng. Bỏ cái hiện tại ở tù của anh đi, anh Duyên Anh. Ta nói chuyện khác.

Y chuyển đòn:

– Tôi đã đọc anh, đọc thật kỹ. Anh kiêu ngạo lắm. Viết phóng sự nguyền rủa cộng sản và bêu rếu lãnh tụ của chúng tôi, anh bảo anh viết bằng chân. Viết tiểu thuyết nham nhở, anh bảo anh viết bằng tay trái. Viết truyện trẻ con, anh bảo anh viết bằng tay phải. Viết tự khai, anh viết bằng gì?

Gã công an chấp pháp xứ Nghệ dồn tôi vào thế bí. Tôi trả lời thế nào? Nếu hôm nay, ngồi ở quán Đào Viên số 82 Rue Beaudricourt quận 13, Paris của người đẹp Lan Phương, bất cứ một thằng cộng sản nào hỏi câu tương tự, tôi sẽ đầy đủ can đảm và dũng cảm trả lời: “Tôi viết tự khai bằng củ cà-rốt của tôi”! Nhưng tháng 5 năm 1976, tôi nằm bẹp trong xà lim của Sở Công An Nội Chính, sự cao ngao của tôi mềm xìu. Tôi đã hèn mọn, tầm thường. Và tôi buồn bã nói:

– Anh hiểu tôi khó trả lời, hỏi mà chi?

– Hỏi để biết mà đánh giá tự khai của anh.

Gã chấp pháp xứ Nghệ xua tay:

– Thôi, anh đừng trả lời câu hỏi ấy nữa. Tôi trấn áp anh, tôi nhận khuyết điểm.

Nhìn tôi. Cái vẽ hãm tài trên khuôn mặt buổi sáng của y biến mất. Như thể, y đã lột mặt. Giọng nói của y, tuy trọ trẹ, mà đầy tình cảm:

– Anh Duyên Anh ạ, tôi vẫn còn ấm ức truyện dài mang tính cách tự thuật Trái chín rấm của anh.

Tôi chột dạ. Thằng này đọc tôi kỹ quá.

– Tôi cho sau Con sáo của em tôi, Cái diều, Nắng chiều quê nội, Đại dương trong lòng con ốc nhỏ là những kế tiếp xem TRÁI CHÍN RẤM có ngọt ngon bằng trái chín cây. Tại sao anh không viết thêm?

– Vì nó không thể chín.

– Nói thật đi, vì anh lấy vợ địa chủ và anh quên giai cấp của anh. Tôi biết, thằng Hữu sẽ đưa con Mai, em gái nó, vào đời khi bố mẹ nó chết. Anh em nó sẽ ê chề trong đời sống tư sản mà ông chú Nghiêm của nó là biểu tượng khốn kiếp. Cuối cùng, sẽ giống thằng Vọng, Hữu sẽ đi tìm cách mạng. Anh sẽ hơn mọi nhà văn cách mạng nếu dòng văn chương của anh không bị cắt đứt bởi giai cấp cố hữu của anh. Bản chất của anh là vô sản. Chưa muộn gì đối với anh. Anh có thể trở về sông Trà Lý. Xa dòng sông tình nghĩa ấy, anh phiêu lưu quá đà. Anh viết truyện Chiến tranh mèo chuột rồi đổi thành Rồi hết chiến tranh, anh phản bội giai cấp đích thực của anh, anh gọi giai cấp vô sản là chuột, mỉa mai cách mạng vô sản là thiếu chính nghĩa và tạo chính nghĩa cho bù nhìn mèo và thực dân phú ông. Anh nghĩ Đảng không quan tâm vụ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ bắt cái bộ Dân Vận của ngụy quyền cấm anh viết phóng sự Tiền Mẽo, Sến Việt và ký Thương Sinh trên nhật báo Sống à? Anh bơ vơ, anh lạc lõng, anh tự nhận “Cộng sản không tha, quốc gia không dung”. Cộng sản nào không tha anh? Cộng sản dung anh. Anh về suy nghĩ đi …

Gã chấp pháp xứ Nghệ dẫn tôi về phòng. Y đã chơi tôi một đòn cân não, khiến tôi thao thức không ngủ suốt đêm. Y biết tôi nhiều mà tôi hoàn toàn không biết y. Cũng như những người đã chống cộng, đang chống cộng ầm ỹ chẳng hề biết tí ti gì về Ủy Viên Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam. Mãi mãi, người ta đánh giá cộng sản qua mấy chú bộ đội khờ khạo, nói ngọng. Con đường tù, con đường hệ lụy, xem chừng, còn hứa hẹn thật dài. Dương Nghiễm Mẫu đã dọn sẵn 12 năm. Tác giả Cũng đành không thích đếm những ngày tù, tháng tù. Tôi yêu Dương Nghiễm Mậu. Và tôi nói Dương Nghiễm Mẫu là nhà văn tôi yêu nhất. Cộng sản biết tôi nhiều hơn tôi biết tôi.

Ít độc giả thân mến nào của tôi nhắc tới truyện dài TRÁI CHÍN RẤM mà Con sáo của em tôi là chương nhất. Truyện dài này mang nhiều dáng dấp tự truyện. Tôi chỉ muốn diễn tả lòng hy sinh cao quý của người anh dành cho em gái. Hữu sẽ đưa em vào đời. Nó quên cả xuân đời của nó. Nó chịu đựng mọi đau đớn, moi nghịch cảnh. Khi tận mắt chứng kiến hạnh phúc của em, Hữu mới nghĩ đến mình. Thì nó đã héo hắt. Đã cuối thu. Sở dĩ tôi bỏ rơi TRÁI CHÍN RẤM vì không thể kéo dài một điệu buồn bã mấy trăm trang sách. Gã chấp pháp xứ Nghệ đã đổ vạ vợ tôi làm tôi quên giai cấp vô sản. Tôi đã chống đối sự quy định giai cấp cho con người. Nhưng tôi không hiểu tại sao cộng sản cứ muốn tôi xác nhận tôi thuộc gia cấp vô sản. Cộng sản bảo dung tôi và cộng sản bắt tôi, giam nhốt tôi nhục nhã. Và họ bảo tôi về suy nghĩ.

Không bao giờ tôi còn được gặp người chấp pháp xứ Nghệ nữa. Y lại bỏ rơi tôi. Cho đến một buổi chiều cuối tháng 6 năm 1976, cai ngục mở của với tờ danh sách can phạm đánh máy.

– Những người có tên sau đây…

Phòng B của tôi, lần lượt Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Hồng Dương, Đặng Hải Sơn và tôi, hành trang tù, rời khỏi phòng. Chúng tôi xếp hàng đôi với nhiều can phạm khác của các phòng. Ngồi xuống theo mệnh lệnh, chúng tôi chờ đợi. Chưa hiểu thân phận mình sẽ trôi dạt tới cái địa chỉ khốn kiếp nào của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, vừa mới thành công vĩ đại bầu cử quốc hội cả nước. Tôi, thật sự, mất hết từ đêm 8-4-1976. Tôi còn gì bây giờ nhỉ? Còn chứ, tôi an ủi tôi: Ta còn nhà tù!

– Mình đi đâu, Mậu?

– Có lẽ về đề lao Gia Định hoặc sang Chí Hòa. Đi đâu thì cũng là đi tù, ông ạ!

Bốn giờ, chúng tôi nghe cai ngục đọc danh sách lần chót. Rồi đứng dậy, hai người một cái còng nhãn hiệu USA, cộng sản còng tay chúng tôi, đẩy chúng tôi lên xe bít bùng. Tôi nhớ, năm 20 tuổi, xem một cuốn phim nhan đề “Ma vie commence en Malaisie”. Cuốn phim mô tả thân phận một phụ nữ Anh trong lửa đạn và sự chiếm đóng của Nhật ở Mã Lai. Người ta thường bắt đầu cuộc sống đích thực bằng nỗi khổ đích thực. Dường như, chỉ bằng nỗi khổ mà con người kinh quá, nó mới khám phá nổi những bí ẩn của đời sống và biết bắt đầu cuộc sống của mình tự đoạn nào. Một hôm, tôi gặp Bùi Duy Tâm ở ngã tư Phan Đình Phùng – Trương Minh Giảng, Sàigòn. Anh ta vừa từ trại cải tạo ra. Anh ta nói với tôi: “Bây giờ, chúng ta nhìn rõ cả trái đất. Song tới phút này thì cũng đáng kể là tới.” Định mệnh đưa tôi đi xa hơn cái tới đáng kể của bạn tôi. Tôi bị còng tay dẫn vào Sở Công An. Ngót hai tháng trời nằm đây, tôi đã tra vấn tôi không ngừng. Tôi được thảnh thơi nhìn lại 15 năm viết tiểu thuyết của tôi. Chữ nghĩa của tôi đã không làm tôi xấu hổ. Chỉ có niềm ân hận là tôi chưa xuất bản bộ truyện 1200 trang Vẻ buồn tỉnh lỵ. Cuốn cuối cùng của bộ truyện vẽ cảnh đời đau đớn, ngơ ngác 1954, y hệt cảnh đời bi đát, não nề 1975. Toàn bộ của nó là lịch sử 10 năm (1944 – 1954) dưới mắt và trong ý nghĩa tuổi thơ trôi nổi theo vận mệnh dân tộc. Cách mạng và chiến tranh. Hòa bình và thù hận. Mỗi đổ vỡ đều có thể xây dựng lại, trừ nỗi băng hoại tình người. Tôi rất tiếc đã mất cơ hội trở thành nhà văn tiên tri. “Nếu cần thì ta làm lại tất cả”. Từ tra vấn trong cô đơn, tôi chợt thấy tâm hồn tôi có một chuyển mùa kỳ lạ. Và tôi bỗng thèm sống, khao khát sống. Tôi muốn bắt đầu cuộc sống của tôi ở Một địa chỉ chung của chủ nghĩa. Cuộc phiêu lưu đi tìm ý nghĩa cho đời sống của tôi còn dài, vô hạn định. Nỗi thống khổ đầu tay của tôi là một thử thách nhẹ so với nỗi thống khổ của các văn hào thế giới. Nỗi thống khổ mà các nhà văn lừng lẫy của nhân loại đã trực diện, đã đương đầu, đã kiên nhẫn chịu đựng, đã phấn đấu im lặng ví như trái núi. Nỗi thống khổ tôi đang ngậm chỉ là cái móng tay. Cái móng tay chớ vội ồn ào khi trái núi nín thinh, bình thản liếm máu trên vết thương của mình mà cống hiến cho đời sống những ý nghĩa tuyệt với về tình yêu và hạnh phúc.

Trước đây, tuyệt nhiên tôi không có tham vọng văn chương. Hoặc nếu người ta bắt tôi phải công nhận tôi có tham vọng văn chương thì tham vọng văn chương ấy là thứ tham vọng giới hạn bằng vong đai biên giới quốc gia. Lúc này, lúc tay tôi đang đeo còng chế tạo tại USA, tham vọng văn chương của tôi cuồn cuộn, sóng gió, bão táp. Tôi thèm trả lời người cộng sản một câu nói đầy miệt thị “Thế giới đâu đã đọc sách của các anh”! Phải, thế giới chưa hề biết chúng tôi như những nhà văn rực rỡ nhân bản. Thế giới chỉ biết chúng tôi, chỉ nghĩ về chúng tôi như Nguyễn Ngọc Nghĩa ăn cắp tượng Chàm, như Phạm Văn Đổng mở sòng bạc, chứa thổ đổ hồ, như Hoàng Đức Nhã ngu si, nham nhở, như Nguyễn Văn Thiệu hèn mọn, như Đặng Văn Quang đốn mạt và bầy chồn cáo tham nhũng, lũ tướng lãnh đào ngũ trước lệnh đầu hàng, như bọn y sĩ ăn cắp… Thế giới, đáng lẽ, phải biết Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Hải Chí, Cung Tiến, Phạm Duy, Thanh Tâm Tuyền, Võ Hồng, Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Anh Tuấn, Phạm Thiên Thư… Nhưng, với thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ say mê “Cô Gái Đồ Long”, với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu say mê “Căn nhà ngoại ô”, với Bộ trưởng Ngô Khắc Tỉnh mê hái hoa và vì mê gái chạy trốn không kịp, thế giới, hôm nay, vẫn tưởng miền Năm không có nhà văn lỗi lạc như miền Bắc. Miền Nam chỉ biết làm chiến tranh, làm giàu, không biết làm văn học nghệ thuật đúng nghĩa!

Tôi đã leo lên xe. Chúng tôi đã leo lên xe. Chuyến xe đời chập chùng hệ lụy. Tấm vải bố trùm kín mít. Xe nổ máy. Rồi lăn bánh. Giã từ Sở Công An, giã từ một địa chỉ chung của chủ nghĩa. Tôi đi tới một địa chỉ khác. Giã từ và cám ơn những cay đắng, nghẹn ngào vỡ lòng. Cám ơn nó đã cho tôi bắt đầu cuộc sống và tham vọng văn chương.

4-1985

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 18 Jun 2024

Phần 2

Phương án 4 và những hồ sơ chết

Không phải do ngẫu nhiên mà nhà cầm quyền Hà Nội đặt tên cho những trại cải tạo bằng những mã số đứng trước một hàng số, chẳng hạn như T-4, T-2, T-10, Z-30A, Z-30C hay Z-30D, hoặc A-20, A-10, A-30 hoặc B-1, B-5, B-7… Thực ra, không một người tù cải tạo nào có thể biết hết tên và mã số của các trại giam trên toàn cõi Việt Nam sau 30 tháng 4 năm 1975, và trong nhiều trường hợp, tù nhân cải tạo còn không biết cả mã số trại lao cải mình đang bị lưu đày nữa, chẳng hạn như họ chỉ biết quan gọi trại Bố Lá (Bà Rịa), Nhà Ðỏ (Bình Dương), Tiên Lãnh (Quảng Nam), Bù Gia Mập (Phước Long), Kinh 5 (Cà Mâu), Tống Lê Chân (Phước Long)… Những trại này phần đông là trại nhỏ thuộc quyền quản lý của tỉnh. Loại trại có chữ “T” hay “B” là những trại tạm giam, loại trại được đánh mã số chữ “Z” là các trại thuộc quyền quản lý của Cục Trại Giam Miền Nam Bộ Công An. Trại mang mã số “A” là trại thuộc quyền quản lý của liên Bộ Nội Vụ và Bộ Công An chỉ dùng để chỉ những trại mà nhà cầm quyền Việt Nam xếp vào loại trại giam dùng để trừng phạt những tù cải tạo “không thể cải tạo được”. Ở ngoài miền Bắc Việt Nam, dường như chỉ có 2 trại giam được xếp vào loại trại trừng phạt, đó là trại Cổng Trời ở Hà Giang gần sát biên giới Việt Trung và trại Thanh Cẩm thuộc tỉnh Thanh Hóa. Cả hai trại này là nơi trước đây được nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam dùng để nhốt những Biệt Kích VNCH nhảy toán ra Bắc và những tù nhân chính trị đặc biệt. Ðây là câu chuyện hết sức phức tạp được các tác giả Sedgwick Tourison trong tác phẩm “Secret Army, Secret War” (Quân Ðội Bí Mật, Cuộc Chiến Bí Mật) và Richard H. Shultz trong tác phẩm “Secret War Against Hanoi” (Cuộc Bí Mật Chống Hanoi) thuật lại đầy đủ, một cuộc chiến được mô tả là một phản đòn mà chính phủ của Tổng Thống John F. Kennedy và sau đó là chính phủ Lyndon B. Johnson “nhắm vào miền Bắc để gây áp lực với Hà Nội để trả đũa những gì mà họ đang thực hiện với đồng minh VNCH của Mỹ ở miền Nam Việt Nam”.
Tôi nhấn mạnh ở đây rằng, những trại được kể ra ở trên chỉ là những trại mà tôi được biết đến nhờ những vụ chuyển trại giữa các tù nhân với nhau trong hơn 13 năm tù tôi từng trải cũng như qua hàng vài chục lần bị kêu lên “làm việc” (từ ngữ để chỉ việc phải đi khai cung), chứ thật ra vào giai đoạn từ sau 30 tháng 4 năm 1975 cho đến cuối năm 1992, trên đất nước Việt Nam có hàng ngàn trại tù cải tạo đủ loại, đủ kiểu và đủ cấp từ địa phương (tỉnh, quận, huyện) cho đến trung ương (Bộ Nội Vụ và Bộ Công An). Nhưng đây chỉ là con số ước lượng, còn nhà cầm quyền Việt Nam giữ rất kín con số nhà tù kể cả các nhà tù dành riêng cho tù hình sự nam và nữ được che đậy bằng cái tên rất sáo là “trại phục hồi nhân phẩm”.
Những ai chưa từng trải qua một ngày tù nào dưới chế độ Cộng Sản và những ai chưa bao giờ có người thân ruột thịt bị lưu đày sau khi miền Nam Việt Nam bại trận, nếu nghe tôi cho mô tả lại cái vẻ “khang trang bề ngoài” của những trại tù cải tạo dưới chế độ cộng sản có thể sẽ vội vã cho ngay rằng tôi ca tụng chế độ lao tù cộng sản. Nhưng ngay bây giờ đây, chúng ta đang sống trong một đất nước tự do, đang sống trong một thời đại thông tin mà không điều gì có thể che giấu được, đang trong một giai đoạn cần phải có những phán đoán sâu sắc hơn thay vì những phán đoán mang tính tuyên truyền về những gì đã xảy ra cho những người tù cải tạo như chúng tôi trong một giai đoạn đen tối sau biến cố lịch sử xảy ra vào ngày 30 tháng 4, 1975. Tôi xin giải thích một lần nữa lý do tại sao chế độ Cộng Sản cần có những che đậy cái thế giới đầy đọa con người ở những “địa ngục trần gian” bằng bề ngoài của các trại tù cải tạo lao động hay gọi tắt là trại lao cải.
Trước những ngày sụp đổ hẳn mọi người ở miền Nam Việt Nam cũng đã từng nghe những lời khuyến cáo của một một chuyên viên về du kích chiến người Anh, Sir Robert Thompson, theo đó nếu miền đất này rơi vào tay Cộng Sản, một cuộc “tắm máu” sẽ diễn ra. Thực tế, nếu nhìn vào bối cảnh của Sài Gòn sau 30 tháng 4 năm 1975, người ta hẳn thấy những lời khuyến cáo của ông chỉ có giá trị nhất định bởi điều mà ông tiên đoán đã không diễn ra công khai trước mắt. Nhưng tại những vùng đất từ Quảng Trị vào đến Ninh Thuận, nhất là ở Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Ðịnh điều này đã diễn ra một cách tàn bạo qua lời kể lại của những xã trưởng mà tôi đã có dịp sống với họ tại các trại B-5 Tân Hiệp, nhà tù Chí Hòa tức T-10, Hàm Tân Z-30C và A-20, Z-30A. Những xã trưởng này từng trốn thoát các cuộc tắm máu đó, chạy vào Sài Gòn và vùng phụ cận để trốn tránh, nhưng bị truy đuổi và cuối cùng bị bắt. Phần lớn số xã trưởng này bị đưa ra tòa án nhân dân và bị kết án tử hình. Hồ Biên, một xã trưởng thuộc quận Thăng Bình, Quảng Tín bị cùm tại căn biệt giam bên cạnh căn biệt giam cá nhân nơi tôi cũng bị cùm tại trại B-5 Tân Hiệp tháng 10 năm 1975 cho biết đêm 5 tháng 5 năm 1975, cả gia đình của ông gồm vợ và 5 đứa con bị những người chiến thắng kéo ra một cánh đồng trống và bị xử tử sau một ngày chúng truy lùng mà không bắt được ông. Người xã trưởng này vốn là một đảng viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng đã tìm mọi cách trốn vào Sài Gòn. Ông sống lẩn tránh ở khu Ngã Tư Bảy Hiền để tìm phương tiện xuống Rạch Giá thoát thân. Nhưng cuối tháng 6 năm 1975, ông bị công an bắt vì sử dụng giấy tờ giả. Ông nói thêm về trường hợp của ông như sau: “Chúng nghi tôi là viên chức xã từ miền Trung chạy vào Sài Gòn lánh nạn chỉ vì cái giọng Quảng đặc sệt của tôi. Thế là chúng giải giao tôi về tạm giam ở trụ sở Tổng Nha Cảnh Sát cũ của mình được sử dụng làm trụ sở của Công An Miền. Chúng cho người về tận Thăng Bình để kiểm tra lý lịch của tôi và tháng 8 năm 1975, tôi bị đưa ra tòa án nhân dân kết án chung thân”. Hằng đêm cứ mỗi lần liên lạc nói chuyện với ông Hồ Biên, tôi đều nghe thấy tiếng khóc. Ông luôn luôn nói rằng ông ân hận đã để vợ và 5 đứa con bị chết chỉ vì ông trốn. Tôi chỉ biết nói với Hồ Biên rằng dù ông có ra trình diện thì cả ông và vợ con đều sẽ không thoát chết đâu. Tôi chỉ còn biết an ủi ông và điều làm đúng nhất của ông trong lúc này là làm sao bảo toàn được sức khỏe và chờ đợi cơ hội khác. Ngày tôi ra khỏi khu biệt giam ở trại B-5 Tân Hiệp Biên Hòa để bị đẩy về phòng giam tập thể, nơi giam giữ hầu như toàn bộ viên chức tiểu khu Long Khánh kể cả Ðại Tá Phúc, tỉnh trưởng, thì Hồ Biên bị đẩy lên xe cùng một số cán bộ Xây Dựng Nông Thôn chuyển trại. Từ đó cho đến mười mấy năm sau này, tôi không còn gặp Hồ Biên tại bất cứ trại tù lao cải nào.
Tuy nhiên, có một câu hỏi mà tôi cần trả lời ngay, đó là tại sao nhà cầm quyền Cộng Sản lại gọi việc lưu đày những tù nhân vào loại trại có mã số “A” là Phương Án 4. Thực ra, ít có tù cải tạo nào hiểu được rằng khi bị giải giao từ các trại khác lên trại A-20, A-30 hay A-10 tức là nhà cầm quyền Cộng Sản đã coi mỗi người tù là một “hồ sơ đã được khép lại”, có nghĩa là họ sẽ phải sống kiếp lưu đày vĩnh viễn. Ðây là một kế hoạch lớn và Hà Nội bắt chước kiểu lưu đày tất cả các nhân sĩ, trí thức, quân nhân chế độ, những quân nhân trong Hồng quân Liên Xô bị nghi ngờ phản động ở Tây Bá Lợi Á thời Stalin từng được văn hào Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn kể lại những chi tiết kinh khủng trong các tác phẩm từng được dịch sang Việt ngữ trước 30 tháng 4 năm 1975 như “Một ngày trong đời của Ivan Denisovich”, “Quần Ðảo Gulag” và “Tầng Ðầu Ðịa Ngục”. Ông được trao giải Nobel Văn Học năm 1970. (Khi tị nạn ở Hoa Kỳ, ông viết một số các bài lai cảo trong đó ông khẳng định một cách rõ rệt tư cách tị nạn của ông, theo đó ông ghét cay ghét đắng chế độ cai trị ở Liên Xô nhưng lúc nào cũng yêu đất nước Nga. Sau khi Liên Xô sụp đổ, ông trở về sống nốt quãng đời còn lại ở nước Nga.)
Trong khi đó, tại Việt Nam Cộng Sản, những người tù cải tạo nào bị lưu đầy ra miền Bắc phần đông đều biết câu chuyện được các anh em gọi là câu chuyện về “13 con ma”. Nhóm từ “13 con ma” ở đây là một cách gọi mang tính châm biếm dành cho 13 sĩ quan cao cấp VNCH từ hàng tướng đến cấp đại tá trong một ủy ban được Cục Trại Giam Miền Bắc, Bộ Nội Vụ và Bộ Công An thành lập để nghiên cứu việc thành lập một Tiểu Tây Bá Lợi Á tại một vùng hành lang song song với đoạn khởi đầu con đường mòn Hồ Chí Minh thuộc Ðồng Hới chạy dài xuống phía Nam tận Hương Hóa, Khe Sanh. Khi những tù cải tạo bị đày ra ngoài Bắc được lần lượt giải giao về những trại trong Nam sau khi Trung Quốc đánh chiếm chớp nhoáng 6 tỉnh biên giới Việt Trung năm 1979, anh em chúng tôi gặp lại nhau ở trại A-20 Xuân Phước, các bạn tù bị lưu đày ở miền Bắc kể lại khá nhiều chi tiết về kế hoạch nói trên, nhưng không có chi tiết hoặc nhiều khi câu chuyện lại chỏi nhau. Mãi cho đến năm 1982, các cô chú tôi từ miền Bắc vào thăm bố tôi trước khi ông qua đời, họ có nhắc tới mối lo ngại rằng tôi có thể bị chỉ định cư trú tại một vùng thuộc Nghệ An sau khi được thả và gia đình cũng có thể bị trục xuất ra sống tại vùng đất đó. Dường như “Phương Án 4” đày những tù cải tạo ra các trại A-20, A-30 và A-10 có liên quan đến những tin tức nói trên. Ðỗ Khắc Minh, người bạn tù mà chúng tôi gọi thân mật là Minh “cà chua”, một cựu sĩ quan từng tham dự vào vụ nổi loạn tại trại tù Suối Máu-Biên Hòa Ðêm Giáng Sinh 1978 và một vài vụ khác nữa ở nhà tù Chí Hòa sau đó đã cho tôi biết một chi tiết khá quan trọng khi chúng tôi gặp nhau ở trại A-20 Xuân Phước: “Sau khi vụ nổi loạn năm 1978, bọn tôi những người trong tổ chức lãnh đạo vụ nổi loạn bị đưa vào biệt giam ở nhà tù Chí Hòa, bọn thẩm cung nói thẳng là nhóm chúng tôi sẽ bị đưa đi an trí để có thời gian suy nghĩ về hành động của mình. An trí ở đây theo tôi có nghĩa là anh em chúng mình sẽ là những hồ sơ đã đóng lại và khó lòng ra khỏi nhà tù của họ trừ phi có một biến chuyển nào ghê gớm lắm từ bên ngoài”.
Minh “cà chua” nói đúng những điều mà viên đại úy công an tên là Tý, cán bộ an ninh trại Z-30C, năm 1979 nói với một số đông những người bị gọi lên thẩm cung sau ngày Trung Quốc tấn công 6 tỉnh miền Bắc: “Các anh sẽ được chuyển tới một nơi an toàn để cải tạo lâu dài tại đó”.


Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

15/03/2014

A20 Vũ Ánh

Quyển Hồi ký Thung Lũng Tử Thần của tác giả Vũ Ánh đã được tôi đăng trên trang blog trước đây, nay xin được post lại một lần nữa và cũng để chia sẽ trên trang Facebook để bạn nào chưa có dịp xem qua có cơ hội để biết đến Vũ Ánh. Phần đời rất thật, cay đắng, đọa đầy, bạo hành thể xác và tinh thần nhưng vẫn vượt qua được những tai ách đó đã trút lên ông, để lại vết sẹo hằn trên quãng đời còn lại của ông không bao giờ quên hay xóa nhòa được.

Phần 1

Đặt tên cho một lòng chảo

LTG – Hồi đầu năm cháu nội tôi, Catherine Vũ 11 tuổi hỏi bố nó: “Tại sao ông nội bị tù, có phải ông nội phạm tội hình sự không?” Con trai tôi cũng chỉ trả lời đại khái là sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản, nhà cầm quyền mới đã bắt tất cả các cựu sĩ quan quân đội và cựu công chức từ cấp chỉ huy thấp nhất đến cao cấp nhất đẩy vào các trại cải tạo để trả thù. Năm nay con trai tôi đã ngoài 40, nhưng không thể nào giải thích chi tiết với con gái nó về những gì đã xảy ra cho ông nội và những người bạn tù khác của ông nội đằng sau những cánh cổng nhà tù ấy. Thực ra, lúc tôi vào tù cải tạo, con trai tôi mới 6 tuổi và khi tôi trở về từ nhà tù thì nó đã là một thanh niên 19 tuổi và nằm trong danh sách những thanh niên không được đặt chân vào ngưỡng cửa của trường đại học vì cái lý lịch của tôi. Ðó là lý do tại sao tôi viết loạt bài này. Tôi hy vọng đây là một lời giải thích, một nhắc nhở với thế hệ thứ hai và thứ ba của không những người Việt Nam tị nạn ở hải ngoại mà còn ở trong nước để họ đối chiếu và so sánh khi cần. Ngày nay, chế độ lao tù ở Việt Nam có thể đã có nhiều thay đổi, nhưng tôi tin rằng mục tiêu của chế độ này cũng vẫn dựa trên nền tảng cũ: đàn áp và tiêu diệt khả năng đối kháng của con người trong chế độ toàn trị ở đất nước ấy. Tuy nhiên, tôi vẫn nhấn mạnh rằng loạt bài này chỉ phản ảnh cách nhìn của riêng tôi về một giai đoạn lao tù đặc biệt sau ngày miền Nam Việt Nam thất trận. Tôi viết là viết cho thế hệ con cháu tôi và chia sẻ với thế hệ con cháu của những bạn đồng tù khác, chứ không phải là bản lên tiếng, lên án hay cáo trạng gì cả và tôi không phản đối những cách nhìn khác.

Cái tên này được các tù cải tạo vốn là những sĩ quan quân đội và các cấp chỉ huy trong công chức VNCH từ trưởng phòng trở lên và tù chính trị án nặng kể cả tử hình đặt cho một cái lòng chảo đặc biệt ở xã Xuân Phước thuộc quận Ðồng Xuân thuộc tỉnh Phú Khánh (tên gọi mới của tỉnh Phú Yên), nơi có trại cải tạo A-20. Từ ga xe lửa La Hai trên Quốc Lộ 1 muốn vào đến lòng chảo này phải vượt qua 60 cây số đường rừng, tức là phải vượt qua trạm cuối cùng nơi có một trại Lực Lượng Ðặc Biệt cũ thời chiến tranh cách A-20 khoảng 10 cây số, vượt qua một vòng đai gồm khu kinh tế mới và một vòng đai gồm gia đình công an và dân làng do Việt Cộng kiểm soát thời chiến tranh. Từ ga xe lửa La Hai vào đến trại, thân nhân các tù cải tạo phải lội qua rất nhiều con suối vào mùa mưa, trong đó nguy hiểm nhất là suối Lạnh, nước lên mấp mé bờ và chảy xiết. Về vị trí thì theo nhiều tù cải tạo rành về địa thế cho biết trại A-20 nằm trong một khu rừng già bên cạnh con đường mòn mới mà người Cộng sản gọi là Trường Sơn Tây bên này dãy Trường Sơn.
Theo lời kể của cựu trung úy bộ đội xe tăng của CSBV tên là Hội thì vào năm thứ hai của thập niên 1980, mẹ tôi đã suýt chết đuối tại con suối này khi cố lặn lội lên trại thăm tôi. Hội chính là người đã cứu bà khi mẹ tôi làm rớt túi bánh mì khô cụ đem lên trại cho tôi nhưng trại không cho gặp vì lúc đó tôi đã bị kỷ luật vô thời hạn trong xà lim cá nhân mà đám tù nhân chúng tôi gọi là “hộp” hay “chuồng cọp.” Hội vốn là chi đội trưởng một chi đội xe tăng T-54 từ Ðồng Hới vượt cầu Hiền Lương vào Huế rồi dừng lại ở Ðà Nẵng đầu Tháng Năm, 1975. Một năm sau, khi đang đóng quân và hoạt động tại Hòa Cầm, Hội bị bắt vì tội biển thủ, một loại tội gán cho hành động trộm xăng quân đội đem bán lấy tiền tiêu xài. Bị đưa ra tòa án quân sự và bị kết án 10 năm tù, viên cựu trung úy xe tăng này đã được giảm án vài lần vì thực ra tội tham ô này chẳng đáng gì so với những “anh lớn ăn cắp và biển thủ công khai” nhưng có ô dù che đỡ nên chẳng sao cả, theo như lời Hội nói. Tôi nghe câu chuyện này do chính Hội kể khi anh ta bị đưa vào biệt giam nơi tôi đang bị cùm vì anh ta liên lạc giúp đỡ các thân nhân đi thăm gặp qua đò ngoài giờ qui định. Ghi lại sự kiện này, tôi muốn nhấn mạnh đến một thành phần khác đặc biệt được đưa đến trại A-20 Xuân Phước để làm những công việc mà chúng tôi không được phép làm. Thành phần ấy là những tù hình sự gồm phần lớn có án tù vì tội danh cướp có vũ khí hay những cựu sĩ quan quân đội CSBV tham ô, biển thủ. Họ được phân bổ các công việc thuộc “diện rộng” mà ban quản trại gọi là diện “tự giác” vì được tin tưởng là thành phần này sẽ không trốn trại.
Trại A-20 Xuân Phước có từ bao giờ và có bao nhiêu phân trại? Thật ra, khó biết được ngày chính xác trại tù cải tạo này được thành lập từ vì có nhiều câu trả lời khác nhau từ các nguồn tin. Nhưng theo lời một bạn tù cải tạo thuộc nhóm người di tản sang Guam rồi đòi trở về trên con tầu Việt Nam Thương Tín vào mùa Hè năm 1975 thì trại được xây dựng khi phần lớn số người di tản trở về từ Guam bị đưa vào cái lòng chảo này và bị bắt buộc phải phá rừng, xây dựng trại cuối năm 1975 và kéo dài sang đến các năm 1976-1977. Một số anh em này được thả dần dần, nhưng cũng có người vẫn còn bị tù cho tới năm 1985. Những tháng cuối năm 1975 khi bị đưa từ trại B-5 Tân Hiệp, Biên Hòa, về biệt giam khu ED ở nhà tù Chí Hòa để thẩm cung, tôi có liên lạc được với một số anh em từ Guam trở về trên chuyến tầu Việt Nam Thương Tín cũng bị biệt giam tại khu này. Một năm sau tôi được chuyển xuống phòng giam tập thể và có dịp sống với họ trước khi bước vào cuộc lưu đầy dài hạn ở các trại lao cải (các trại tù mà trong đó tù cải tạo phải lao động khổ sai).
Thời gian tôi sống trong biệt giam ở khu ED nhà tù Chí Hòa đã xảy ra một số các ngộ nhận, tức giận và có những lời lẽ quá đang đối với các anh em trở về trên chuyến tầu Việt Nam Thương Tín xuất phát từ các phòng biệt giam khác. Vào lúc ấy, tôi đã cho rằng đây là sự bất công vì khi chưa tìm hiểu nguyên nhân khiến họ dù đã di tản đến Guam, có người đã vào tới Camp Pendleton rồi lại đòi trở về thì không nên vội vã khi cùng đồng cảnh với nhau. Khi gặp lại cựu Trung Tá Trần Văn Nam, một trong những viên chức cao cấp của Bộ Chiêu Hồi cũng nằm trong số những người trở về, tôi hiểu được hành trình quay ngược lại đất nước của những tù nhân từ chuyến tầu Việt Nam Thương Tín bắt nguồn từ động lực của trái tim. Ông đã nói với tôi trong bữa cơm tù chúng tôi ngồi ăn chung tại phòng giam 14 khu ED: “Lúc bỏ đi mình như người bị tê liệt suy nghĩ. Nhưng sang đến Guam rồi, bình tâm trở lại nỗi day dứt thương gia đình bố mẹ vợ con còn kẹt lại, ăn một miếng cơm mà như một khúc gỗ chặn lại ở cổ họng, tôi không còn lựa chọn nào hơn là quay lại xứ sở mà tôi biết sẽ bị đày đọa. Nhưng thà là như thế.” Ông Nam bị “vác bao bố chỉ xanh” (bị lưu đày ở ngoài Bắc) năm 1977. Trong chuyến ra Bắc cùng với ông Nam có cựu Bộ Trưởng Thông Tin Nguyễn Ngọc An, Trung Tá Thạch chánh văn phòng của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương và nhiều cựu viên chức cao cấp khác của chính phủ VNCH. Kể từ đó, tôi không còn dịp nào gặp lại họ nữa.
Vài năm sau, khi bị giải giao đến phân trại E thuộc trại A-20 Xuân Phước mà chúng tôi gọi là trại trừng giới, tôi có gặp lại vài anh em nhóm Việt Nam Thương Tín ở cả trại E (trại ngoài cùng) lẫn trại B (cách trại E khoảng 5 cây số). Một phần trong số anh em này lao động ở “diện rộng.” Hầu như không một ai trong số những anh em trên chuyến tầu định mệnh mà khi di tản có trọn vẹn gia đình bên cạnh. Có những người đi cả hai vợ chồng nhưng con bị kẹt lại, có những người cả gia đình di tản, nhưng kẹt lại mẹ già, nên đành để vợ con ở lại Guam còn mình phải quay về, có người di tản với gia đình nhưng không mang được hôn thê sắp cưới theo mà cuối cùng cũng phải theo tiếng gọi của trái tim mù lòa quay lại cố quốc cho trọn tình. Tôi chỉ sơ lược vài nét chấm phá về hoàn cảnh của những người bạn tù thuộc nhóm Việt Nam Thương Tín.
Nói cho ngay là nếu muốn viết lại những trang sử đặc biệt của những người đã bỏ nước di tản trước hay trong ngày 30 Tháng Tư, 1975 đến Guam rồi phải quay trở lại quê nhà vì nhiều nguyên nhân tình cảm gia đình khác nhau, thì vẫn còn nhiều nhân chứng hiện cũng đã được tái định cư lại ở nước Mỹ, nhưng đây không phải là mục tiêu của loạt bài này. Cá nhân, tôi vẫn quí những anh em tù Việt Nam Thương Tín vì thực ra cái giá mà họ phải trả bằng cuộc sống lao tù trong các nhà tù cộng sản sau khi từ Guam trở về dù có bị nhìn theo lăng kính nào thì hành động bất chấp đến hiểm nguy cho cá nhân họ để quay lại với gia đình cũng còn có giá trị văn hóa nhất định của người Việt Nam. Cho nên, bây giờ tôi quay lại câu chuyện của tôi, của chúng tôi, những người tù tại một trong số những trại tù được xếp vào loại khắt khe nhất trên toàn cõi Việt Nam vào giai đoạn ấy.

Tổng quát về chế độ lao cải ở Việt Nam, tôi có thể vạch ra một chu kỳ khép kín như thế này: tù cải tạo được đưa vào những khu rừng già, phát quang, tự tay dựng trại để “tự quản” nghĩa bóng tức là tự nhốt mình, phải lao động để làm ra “của cải vật chất” để tự nuôi sống và có thể góp phần nuôi sống cả đám cai tù nữa. Trong thời gian lao cải, nếu người tù nào “cải tạo tốt” sẽ được thả, người tù nào chưa tốt hay chưa “an tâm cải tạo” thì phải tiếp tục cải tạo cho đến khi tốt thì mới được “tha ra khỏi trại.” Tôi xin nhấn mạnh ở đây một lần nữa là trong loạt bài này tôi dùng đúng thứ chữ nghĩa che đậy hành động bóp chẹt bao tử để tẩy não tù nhân của nhà cầm quyền Hà Nội. Trong những văn bản nói về các trại cải tạo với các nhà báo nước ngoài, Hà Nội thường dùng chữ “re-education camp” và họ dịch nguyên ngữ là “trại cải giáo.”
Có những trại lao động cải tạo (lao cải) đưa ra một nội qui cấm dùng chữ “tù cải tạo” mà phải dùng chữ “trại viên.” Bản thân, khi bước vào khu biệt giam của nhà tù B-5 Tân Hiệp Biên Hòa, nơi tạm giam một số cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn thuộc Ðoàn 59 người của VNCH, một số xã trưởng từ miền Trung di tản vào miền Nam bị truy đuổi và bắt giữ sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 và một số sĩ quan bị bắt làm tù binh trong trận đánh cuối cùng tại Long Khánh, tôi và một số anh em khác đã được một cán bộ tên là Bé nhắc đi nhắc lại tư cách “trại viên” trong khi tay tôi bị trói và vài phút sau đó hai chân bị cùm cứng bằng chiếc còng tự chế gắn chặt vào bệ nằm trong phòng biệt giam cá nhân. Gần đây có một khán thính giả nghe tôi nói trên màn ảnh truyền hình đã gởi e-mail đưa ý kiến là chúng tôi không nên dùng chữ tù cải tạo hay trại cải tạo mà cứ dùng thẳng là tù nhân hay nhà tù. Vị khán thính giả này nói cũng có lý. Nhưng nếu dùng hai chữ này thì người ngoài có thể đồng hóa chúng tôi với những tù hình sự (trộm cắp, cướp, hiếp dâm, buôn bán ma túy, tham ô, biển thủ…) nên tôi dùng chữ tù cải tạo hay trại cải tạo để đề cập tới một kiểu nhà tù được đặc biệt thiết lập nhằm nhốt và hành hạ những người thua trận. Cá nhân, tôi hiểu cuộc tranh luận về chữ nghĩa sẽ không bao giờ có kết thúc và vì thế nếu thấy tiện thì chúng tôi sử dụng, ngoài ra không có một hậu ý nào khác. Vì theo tôi, vấn đề quan trọng không phải là chữ nghĩa che đậy mà là nhà cầm quyền Việt Nam đề ra mục tiêu cải tạo và áp dụng những biện pháp trừng phạt về thể xác cũng như tinh thần tàn bạo thật đấy, nhưng liệu họ có cải tạo được chúng tôi theo ý họ muốn không, nhất là về khoản bản năng đối kháng. Sự tranh luận và những đánh giá về bản năng đối kháng mà chúng ta đọc được phần lớn là dựa trên cảm tính và lập trường chính trị chứ chưa có một cuộc điều tra nào mang tính chất tâm lý chuyên môn được thực hiện trong số những nhân chứng còn sống ở hải ngoại. Nhưng nếu căn cứ vào sự kiện có những người tù cải tạo chân ướt chân ráo về tới nhà khi được thả ra là đã tìm đường vượt biển ra nước ngoài hoặc khi có chương trình nhân đạo HO nhận những thành phần cựu tù cải tạo từng bị đẩy vào các trại cải tạo ít nhất là 3 năm định cư ở Hoa Kỳ thì chỉ có một số rất ít những người lựa chọn sự ở lại để “góp phần xây dựng đất nước,” còn phần lớn đều lựa chọn sự ra đi đã là những minh chứng cho thấy sự thất bại của chính sách cải tạo con người của chính quyền Việt Nam cộng sản. Cho nên khi những năm gần đây xuất hiện một số những hoài nghi hay cáo buộc người này người nọ bị tẩy não, tôi cho rằng đó là những cáo buộc vô căn cứ và coi nhẹ những chịu đựng và đau khổ mà người tù cải tạo phải trải qua, không nên duy trì mãi những ý tưởng ấy. Nó vừa bất công, vừa không có chứng cớ thuyết phục.

Ký ức Phú Nhuận & chợ Xã Tài

baotreonline.com

Trang Nguyên

Post on December 30th, 2021

Post by Sơn râu 17 Jun 2024

Từ xưa, chợ Phú Nhuận chỉ là một ngôi chợ nhỏ, bán buôn hàng hoá giống bao ngôi chợ làng khác trên đất Sài Gòn – Gia Định. Tuy nhiên, điểm khác biệt của ngôi chợ này là sự gắn liền với việc phát triển đô thị. Từ một xã Phú Nhuận thuộc quận Tân Bình được sáp nhập, mở rộng thêm ranh giới đổi thành quận Phú Nhuận có diện tích khiêm tốn và dân số không nhiều so với các quận giáp ranh. Do vậy, từ một chợ làng Phú Nhuận bỗng nhiên trở thành một chợ cấp quận.

Góc phía ngoài chợ Xã Tài (Phú Nhuận) trong những ngày giáp Tết. (Nguồn: Manhhaiflickrs)

Khi tôi đưa ra nhận xét trên, ông bạn già phản ứng ngay. Ông từng có thời gian ngụ tại Phú Nhuận ngay ngã tư Võ Di Nguy (Phan Ðình Phùng ngày nay) và Võ Tánh (phía Phan Ðăng Lưu) sau thời kỳ 1945 khi miền Bắc gặp nạn đói, gia đình cha mẹ ông di cư vào Sài Gòn, mở tiệm may sinh sống. “Chợ nào không là chợ bán buôn hàng hoá, thức ăn thức uống mà phải phân biệt chợ làng chợ quận. Chợ Phú Nhuận hồi xưa cũng chỉ rộng có bấy nhiêu. Sau này, hồi năm 1975 trước khi tôi theo dòng người di tản ra nước ngoài, ngôi chợ cũng như vậy, đâu có lớn hơn chút nào”.

Nhưng sau vài giây, ông nói ra cảm nhận như vầy: “Tôi mới về thăm lại Phú Nhuận, đổi thay nhiều quá, vùng đất nửa quê nửa tỉnh trong khu vực hẻm Cô Giang, Cô Bắc và Thích Quảng Ðức phía bên kia đường, hồi nhỏ tôi thường đi giăng lưới bắt cá lòng tong trên con rạch ở đó, bây giờ nhà cửa san sát. Lại còn khu đường Phan Xích Long mới mở dẫn xuống Rạch Miễu, toàn nhà lầu, bán buôn sầm uất không còn nhận ra vùng trồng rau rẫy của người lao động nghèo, buôn gánh bán bưng trước kia. Và khi đi chợ Phú Nhuận, tự nhiên mình lại có cảm giác đến một ngôi chợ quận trung tâm, mặc dầu nếu so với vài ba cái chợ khác trong quận mới lập sau này như chợ Nguyễn Ðình Chiểu, chợ Mới, có khi còn thoải mái hơn”.

Vậy là ông quay lại cái ý phân biệt chợ làng chợ quận của tôi. Một cảm nhận vô hình không cần cụ thể bằng con số, phân biệt chợ lớn chợ nhỏ có bao nhiêu sạp bán buôn, tiện ích phục vụ trong chợ như thế nào. Sự cảm nhận một ngôi chợ quận nơi mình đang sống cũng thú vị lắm vì chính ngôi chợ đó nói lên việc phát triển cư dân, hình thành bộ mặt đô thị. Và nó cũng làm cho miền ký ức của chúng ta sống lại những hình ảnh ngày xưa trong cảnh chợ búa đông người, một nét sinh hoạt bán buôn không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày của người thôn quê hay dân thành thị, dù trong thời thanh bình hay đương thời tao loạn.

Ông kể lúc còn nhỏ, thỉnh thoảng đang ngủ ngon lành thì ông bà già kêu giật giọng dậy… dậy! “Thì ra mấy ông Việt Minh từ miệt Gò Vấp vào, đi rảo dọc đường, gõ mõ kêu gọi đồng bào nay mai đình công bãi thị. Sáng theo bà già cắp rổ đi chợ Phú Nhuận thấy truyền đơn rải trắng đường, cáo thị dán đầy trên vách tường mặt tiền chợ. Hồi xưa, xã Phú Nhuận chỉ lèo tèo vài ba con đường chính, đa phần nhà cửa mặt tiền đường không có tiệm bán buôn hay tiệm ăn như sau này. Nét sinh hoạt mang tiếng cận thị thành chớ còn buồn tẻ lắm. Ít có cơ quan chính quyền, chỉ có vài ba nhà máy sản xuất hàng hoá thủ công hay chợ búa là nơi sinh hoạt của người dân trong cuộc sống hằng ngày. Mấy ổng kêu đình công bãi thị thì cứ kêu, chứ người dân ngưng hoạt động làm ăn mua bán thì lấy cái gì mà ăn, cho nên Chợ Phú Nhuận vẫn ì xèo mua bán”.

Ông thả hồn vào câu chuyện không đầu không đuôi khi mớ ký ức hỗn độn qua từng giai đoạn bỗng chốc ùa về. “Trên con đường Võ Di Nguy mọc lên nhiều tiệm may do người Bắc di cư vào thời gian chia cắt hai miền. Vài ba tiệm thuốc Bắc thuốc Tây, tiệm buôn dọc theo đường cái từ Cầu Kiệu trở vô thuộc làng Phú Nhuận, mấy ngôi nhà gạch mái ngói âm dương của người Tàu mở tiệm chạp phô ngay bên hông chợ. Phú Nhuận vào thời gian này đã có nét thị thành, nhưng còn nhiều đất trống phía bên trong những con hẻm nhỏ thông ra các mảnh đất trồng rau màu”.

Khu Rạch Miễu, Phú Nhuận khi xưa rất thôn quê thanh bình, đầu thập niên 1960 (Ảnh: Tư Liệu)

Nghe ông nhắc lại phong cảnh của miệt Phú Nhuận thuở trước so với thuở sau này, khi ra đời đi làm cũng không khác là bao. Tôi nhớ vào khoảng đầu thập niên 1980 khi nhóm chúng tôi đi khảo sát thực địa lập bản đồ hiện trạng quận Phú Nhuận thì dân cư mới đến chưa đông, hiện trạng không thay đổi nhiều so với bản đồ không ảnh do Mỹ chụp trước 1975. Hẻm Cô Giang, Cô Bắc nhỏ hẹp dẫn ra một vùng đất trống gần lăng Võ Di Nguy, còn nhiều bụi tre mọc quanh những mái nhà tranh không khác gì một làng quê giữa lòng thành phố. Ðường cống hộp thoát nước ra Rạch Miễu rất lớn. Nghe đâu đường cống này do quân đội Ðại Hàn xây  từ hồi mấy năm trước bỏ dở, trước khi kết thúc chiến tranh. Nhà cửa tạm bợ xập xệ trong khi phía vùng đất Nghĩa trang Bắc Việt tương tế gần quân khu 7 (Bộ Tổng tham mưu VNCH ngày trước) đang giải toả, có dấu hiệu xây dựng lấn chiếm đất công (đất quân sự) hình thành. Và rồi vài năm sau đó, khi tôi trở lại trường học có dịp qua lại nơi đây nhiều lần đã thấy nhà cửa san sát tới tận đường Ðào Duy Từ. Tôi biết chắc một điều, lập hiện trạng quy hoạch một đường, nhà cửa của người dân mới di cư vào Sài Gòn đi theo một nẻo, xây dựng chẳng cần phải xin phép, chờ hợp thức hoá là xong. Và thời gian sau đó nữa, những dự án lớn phát triển nhà ở dân cư nối tiếp nhau ra đời đã khiến ông bạn già từng sống ở Phú Nhuận phải tròn mắt ngạc nhiên sau nhiều năm xa xứ trở về thăm lại chốn xưa.

Thời gian ông rời xa Phú Nhuận thì nơi đây đã chuyển mình thành một quận nội thành không còn kiểu sống của người dân nửa quê nửa thành thị như thuở ông trưởng thành trên vùng đất mang cái tên đẹp có từ thời khai lập thôn xã trên trăm năm trước. Mà đâu chỉ có mỗi cái tên Phú Nhuận đẹp đẽ dành cho vùng đất cưu mang gia đình ông di cư từ Bắc vào Nam làm ăn sinh sống. Sài Gòn – Gia Ðịnh còn nhiều làng mang tên bắt đầu bằng chữ “Phú”: Phú Thạnh, Phú Hoà, Phú Nhuận, Phú Thọ, Phú Lâm, Phú Lợi, Phú Ðịnh. Phú Mỹ, Phú Xuân… Chắc hẳn người xưa muốn dân chúng sống ở vùng đất mới lập làng được giàu có ấm no hạnh phúc nên làng nào cũng lập chợ.

Tuy nhiên, trong cuốn tiểu thuyết “Ông Cử” viết hồi năm 1935 của nhà văn Hồ Biểu Chánh, từng có thời gian sống và mất ở Phú Nhuận, miêu tả thế này: “Bấy giờ Phú Nhuận còn tiêu sơ, chưa phát triển: Ở sát một bên kinh thành Sài Gòn, lại nhờ mấy năm lúa gạo cao giá làm cho cuộc kinh tế đâu đâu cũng thạnh phát nên miệt Phú Nhuận mở mang mau lẹ, ngày nay dân cư đông đảo, buôn bán xôn xao, xe hơi, xe điện rần rần, nhà gạch phố lầu chớn chở… Mà cách mấy mươi năm về trước thì Phú Nhuận bất quá là một làng trộng trộng của tỉnh Gia Ðịnh vậy thôi. Trong làng có một cái chợ kêu là chợ Xã Tài ở dựa bên đường xuống cầu Kiệu, song cái chợ ấy leo heo, mỗi buổi sớm mai, bạn hàng nhóm thưa thớt một lát, mà bán cá tôm, rau thịt sơ sịa cho bình dân ở chung quanh dùng hàng ngày, chớ không có món chi ngon, không có đồ chi quý… Dọc đường xuống cầu Kiệu, thì có năm ba tòa nhà ngói, nền đúc, rào sắt coi sạch sẽ, mỗi chặng, xa xa có một tiệm Chệt bán đồ tạp hóa giống như các tiệm ở theo mấy chợ nhà quê, còn bao nhiêu thì là nhà lá, hoặc phố ngói mà vách ván cũ mèm, cất chen lộn với nhau, coi dơ dáy…”.

Qua vài đoạn miêu tả trong truyện, ít nhiều làm tôi hình dung được quang cảnh của làng Phú Nhuận ngày xưa không như nhiều người vẫn nghĩ, nơi đây là vùng đất đông dân cư náo nhiệt, tuy rằng “ở sát một bên kinh thành Sài Gòn”. Còn chợ Xã Tài là một cái tên xa lạ ngay từ thuở ông bạn già của tôi về cư ngụ tại Phú Nhuận những năm cuối thập niên 1940. Ông bảo: “Ði đâu cũng nghe kêu là chợ Phú Nhuận chớ nào nghe gọi là chợ Xã Tài”.

Ngôi chợ “ở dựa bên đường xuống cầu Kiệu” xa xưa kia dựng nên từ 1850 do ông Lê Tự Tài người miền Bắc di dân từ đàng ngoài vào Gia Ðịnh rất sớm. Ông cùng dân chúng khẩn hoang lập ấp dựng làng khi Phú Nhuận còn là một cái thôn nhỏ. Ông Tài được dân đề cử làm thôn trưởng, sau miệt đất này, dân khắp nơi kéo về định cư nhiều hơn, Phú Nhuận được mở rộng địa danh hành chánh lên cấp xã. Ông Tài lại được tín nhiệm làm chức Xã trưởng và dân trong vùng thường hay gọi ông là Xã Tài. Ðể đáp lại cảm tình của dân chúng, ông cho dựng lên một ngôi chợ nhỏ, lợp tranh tre mái lá để có chỗ cho bạn ghe mang hàng theo con rạch Thị Nghè đến trao đổi buôn bán với dân sở tại. Chợ Xã Tài hình thành từ đó. Về sau chính quyền Pháp cho xây lại chợ Phú Nhuận.

Hơn trăm năm, trải qua thăng trầm thời cuộc, chợ Phú Nhuận cũng bao lần thay đổi hình hài từ chợ làng lên chợ quận.

Các hiệu buôn trên đường Võ Di Nguy gần chợ Xã Tài (Nguồn: Manhhaiflickrs)

TN