Bố Già

vietmessenger.com

Mari Puzo

Bản dịch Ngọc Thứ Lang

Post by Sơn râu 20 Jun 2024

Google photos

Chương 11

NGỒI NGAY BUYA RÔ TRONG BÓT, ĐẠI ÚY CẢNH SÁT Mark Mc Closkey mân mê ba chiếc phong bì dầy cộm, bên trong toàn cuống giấy biên đề. Lão nhăn nhó, phải chi biết được ám hiệu của mấy thằng bao đề này thì đỡ khổ biết mấy! Hồi hôm đi hành quân tảo thanh, lão đã ghé ngang một ổ chơi đề của cánh Corleone và chớp được bao nhiêu cuống “tang vật” là nhét hết cả vô đây. 
Thằng chủ đề chắc chắn sẽ phải lạy để chuộc bằng được ba cái phong bì quý giá này. Không có cuống để so… thằng nào cũng chìa giấy biên ẩu ra đòi chung thì tiền đâu ra mà chung cho đủ? Vậy là toàn quyền ra giá… nhưng nó ghi lằng nhằng điệu này thì biết tổng số tiền có biên cỡ bao nhiêu mà đòi? Nếu tiền quyện năm chục ngàn đô la thì cho chuộc năm ngàn là điệu rồi. Nhưng biết đâu ngần này cuống dám một trăm ngàn… vài trăm ngàn? Đòi năm giấy lớn để mà “hố” với nó sao? 
Mc Closkey nắn nắn mớ giấy bên trong. Tốt hơn là cứ để cho nó rét, nó chạy tới năn nỉ lạy van xin chuộc thì có quyền bắt thóp, đớp của nó một cú cho ra gì chớ? Cứ để nó bấn lên xin nạp! 
Lão nhìn đồng hồ trên vách. Sắp tới giờ hẹn đưa thằng đường Thổ đi gặp đại diện cánh Corleone rồi! Muốn đi đâu thì đi, lo cởi bộ đồ lính để mặc thường phục cái đã. Xong ngay. Lão nhấc phôn gọi về nhà tối nay đi công tác, đừng chờ cơm. Mụ vợ đâu biết công tác gì, ngay tiền lão đưa về chi tiêu cũng tưởng lương lính kia mà? Mc Closkey mỉm cười thú vị. Bà mẹ lão ngày xưa cũng in hệt! Lão được ông bố đích thân “truyền nghề” từ hồi còn bé tí, nghề lính là cha truyền con nối mà! 
Hồi đó ông bố đội Cảnh sát có lệ mỗi tuần dẫn thằng con lên sáu đi một tua, hết buya rô trong sở đến tất cả mọi cửa hàng trong vùng trách nhiệm. Hai bố con “đi tuần” đến tiệm nào chủ tiệm chẳng xoa đầu chú nhỏ khen ngoan rồi mở két lấy tiền lẻ biếu chú 5 đô, 10 đô la tiền mới? Chú nhỏ mỗi lần được cha cho đi tuần như vậy là đầy túi tiền mới nên càng yêu nghề lính, mai sau “nhất định làm lính giống bố” nên các chú, các bác trong bót lấy làm khoái chí, chầu lương nào chẳng lì xì cho cháu tí tiền lẻ xài chơi! Có điều tối đa chú Mc Closkey cũng chỉ được bố phát cho 5 cắc, còn bao nhiêu phải gởi vô băng hết để sau này lấy tiền ăn học lên Đại học. 
Ông bố tính xa như vậy nhưng cậu con ham làm lính hơn theo Đại học nhiều! Hết Trung học, đủ tiền là hăm hở nhảy vào ngành Cảnh sát tức thì. Làm lính mà bắt bạc ngon lành thì cần quái gì mấy cái bằng Đại học? 
Cậu Mc Closkey ham vô nghề lắm nên được mặc bộ sắc phục vô là phải biết! Phục vụ gương mẫu, nghề nghiệp trên hết. Mấy thằng ma cà bông đứng đường thấy bóng cậu cớm trẻ là lặn gấp và hết giờ cậu đi tuần mới dám thò mặt ra. Cậu có ông bố để noi gương “phục vụ bắt bạc”! 
Với giới giang hồ, nghĩa là dân làm ăn không hợp pháp lắm trong vùng trách nhiệm thì cậu Mc Closkey vô cùng điệu nghệ ở chỗ đi đúng sách “ai sao ta vậy”. Cứ anh em trong “lít” chi bao nhiêu thì cậu cũng cứ bằng đó mà đưa. Con số đã có sẵn, khỏi thèm đòi hỏi chấm mút thêm mà đại kỵ vụ kiếm chuyện đòi “ăn bẩn”. Do đó công vụ chạy vo vo, chẳng ai phiền trách thưa kiện nên làm gì không lên lon mau? 
Thời gian qua… Cậu Mc Closkey lập gia đình rồi lần lượt có 4 mặt con. Từ trung sĩ nhảy lên trung úy, đại úy… Nghề nghiệp thăng tiến rõ, nhưng cả 4 đứa con đều phải lên Đại học, không được nhảy vô lính. Có tốn kém thật nhưng lương nhà nước không đủ thì ông bố Đại úy đã có cách cho con cái khỏi thiếu một thứ gì. Giới giang hồ trong quận của Đại úy Mc Closkey chỉ phải “chi nặng” thêm chút đỉnh, nặng hơn bất cứ một quận nào khác vì cái phí khoản Đại học lại đặc biệt này. 
Số tiền “ngoại tài” hàng tháng được Đại úy Mc Closkey kể như một phụ cấp, chẳng kể bẩn sạch. Coi, nếu không thì lấy đâu cho đủ để nuôi 4 thằng con leo lên Đại học? Lương lính ít, phụ cấp gia đình nghèo nàn thì bắt vợ nhịn, con thất học hay sao đây? 
Đâu phải tự nhiên mà có “ngoại tài”? Muốn được ăn no đủ thì ngoài bộ áo lính cũng phải mang thân ra phục vụ, phải đánh đấm và lâu lâu cũng phải nổ để lãnh tiền của các “thân chủ” cho đáng chớ? Trong đời lính của Mc Closkey hồ sơ ghi thiếu gì những vụ đụng độ nặng với du đãng “bắt địa”, anh chị đứng bến và ma cô nuôi điếm? Phải nhìn nhận là những vụ “mất trật tự” này lão dẹp mau lắm. Không lẽ phục vụ hết mình, bảo đảm trật tự cho cả một khu vực xã hội đắc lực như vậy mà chỉ có quyền trông cậy ở đồng lương chết đói của nhà nước? 
Trong gia đình Tattaglias thì Đại úy Mc Closkey quen với Bruno, bạn học của một thằng con lão ở Fordham. Gia đình Mc Closkey lâu lâu có quyền tới hộp đêm du hí miễn phí một chầu. Đầu năm dương lịch hay có dịp mời mọc thế nào chủ quán Bruno cũng nhớ đến gia đình ông Đại úy bồ bịch. Có thiệp mời, ngồi bàn danh dự, lại còn được giới thiệu trang trọng với quan khách và đám nghệ sĩ nổi tiếng tới giúp vui. Đổi lại lâu lâu có chuyện nhờ vả, chẳng hạn giấy phép hành nghề cho các em chiêu đãi. 
Nguyên tắc làm ăn của Mc Closkey là không bao giờ thắc mắc đến công việc của “thân chủ”. Không hỏi tại sao, để làm gì… Khi Sollozzo đến nhờ lão vô hiệu hoá hàng rào an ninh của một lão già tên Corleone hiện đang nằm trên giường bệnh thì Đại úy Mc Closkey gật đầu liền và hỏi “Bao nhiêu?” Nó nói mười ngàn đô la là ô kê ngay, khỏi nghĩ ngợi. Phải vậy mới xứng với sinh mạng triệt một tay Mafia gộc, thế lực qua mặt Al Capone ngày nào! Mà triệt được còn đỡ cho xã hội Mỹ nhiều lắm. 
Do đó Mc Closkey làm liền, làm thật chu đáo. Lãnh tiền trước mà? Chừng thằng Sollozzo gọi lại trách “làm ăn thế nào mà ngay trước cửa còn 2 đứa đứng khơi khơi” thì ông Đại úy nổi giận. Đã đích thân đi xúc từng thằng cô hồn về bót lại rút cả ê kíp gác rõ ràng mà bây giờ phải trả lại tiền thì còn cái đau nào hơn? Nỗi đau mang 10 ngàn bỏ băng rồi mà lại phải rút ra trả bèn trút hết vào cú đấm bể mặt thằng Michael. 
Nào ngờ đã không phải trả lại tiền mà Sollozzo còn đề nghị làm ăn lớn làm Mc Closkey hứng chí. Làm gì cũng được huống hồ làm gạc đờ co! Miễn có tiền còn nguy hiểm thì khỏi lo. Bố bảo một dân chơi cũng chẳng dám rớ tới một ông Đại úy Cảnh sát giữa New York! Một thằng Mafia chì nhất cũng phải đứng yên một chỗ nếu một thằng cớm hạng bét muốn kiếm chuyện hành hạ. Còn một thằng cớm bị giết? Lập tức bao “tai nạn” sẽ đổ lên đầu giới giang hồ: Năm bảy thằng bỗng bị bắn bỏ khơi khơi vì những lý do vớ vẩn như chống cự nhà chức trách hoặc chạy trốn… Chịu sao thấu? 
Yên chí lắm Mc Closkey chuẩn bị lên đường. Sao hồi này nhiều chuyện tốn tiền thế? Bà chị vợ bên Ái Nhĩ Lan vừa lăn cổ ra chết. Lại tốn tiền làm ma, biết bao nhiêu tiền thuốc men rồi! 
Còn những ông chú bà bác ở nhà quê gởi thư dài dài sang xin tiền thằng cháu làm ăn bên Mỹ nữa? Cái gì cũng tiền, mà không có không xong! Được cái vợ chồng lão mỗi dịp về làng là bà con trọng vọng cứ như vua chúa. Hè sang năm về thăm quê thì tốt quá, vừa hết giặc xong lại gặp lúc vừa có ít tiền “ngoại tài” này… 
Đi ngang bàn giấy thằng đội trực nhật Mc Closkey dặn hờ nếu có việc cần gấp thì tới kiếm ở đâu. Cái vụ này sợ gì phải giấu? Sợ gì ai? Không lẽ một ông Đại úy Cảnh sát mà không có quyền hẹn gấp một thằng mật báo viên để lấy một tuy ô gì đó? 
Ra khỏi bót, lão đi bộ một khoảng trước khi kêu tắc xi đến chỗ thằng Sollozzo hẹn trước 
Vấn đề lo cho Michael biến khỏi nước Mỹ không tăm tích là do Tom Hagen đảm nhận hết từ sổ thông hành giả, thẻ thủy thủ đến chỗ ăn nằm kín đáo trên một chiếc tàu chở hàng ghé qua Sicile. Có người tức tốc lái máy bay sang trước để lo sắp đặt một chỗ trú ngụ an toàn ở một miền quê, có Ông Trùm địa phương đích thân che chở. 
Ngay lúc Michael “xong việc” nhảy ra thì trước quán rượu đã có chiếc xe thật ngon chờ sẵn mà chân tài xế do Tessio tình nguyện. Xe bề ngoài cũ rích, máy móc cực kỳ tốt, mang bảng số giả. Thứ xe đặc biệt chỉ để xài vào những vụ quan trọng, chẳng có cách nào nhận diện nổi. 
Trước khi lên đường, Michael được Clemenza đưa khẩu súng nhỏ xíu tập sử dụng cho quen tay. Một khẩu 22 nòng ngắn, xài thứ đạn chì đặc biệt, vô lỗ nhỏ xíu nhưng trễ ra toác hoác. Không chính xác lắm nhưng cách năm bước thì không thể trật nổi! Cò hơi cứng một chút nhưng vặn vài con ốc là ngon. Xài làm chi hãm thanh cho mệt? Cần phải cho nó nổ lớn để khỏi có vụ tự nhiên một thằng đi đường chẳng biết quái gì cũng nổi máu anh hùng xông vô can thiệp hoảng là hư hết việc! Phải nổ chúng mới hoảng. 
Dù Sonny từng căn dặn nhưng Clemenza vẫn luôn miệng dượt: – … Xài xong là cho súng rơi. Nhớ là buông xuôi tay xuống đã, rồi mới thả súng cho nó rớt nhẹ bên cạnh. Để người ngoài vừa ngó thấy cứ tưởng đâu mình còn súng trong tay, cóc dám vô. Tụi nó chỉ ngó lom khom cái mặt mà! Rất tự nhiên nhanh chân bước ra. Chớ có chạy. Không nhìn tận mắt thằng nào hết mà cũng không ngó lảng đi đâu hết. Vững tin là chúng nó hết hồn, chẳng điên dại mà nhào vô. Đi tà tà ra, lên xe đàng hoàng, cửa mở sẵn mà? Có Tessio lái thì yên chí đi, đừng sợ ai! Không có tai nạn xe cộ! Cái vụ này tưởng vậy mà không có gì khó đâu. Nào, bây giờ mày thử đội cái nón này tao coi? 
Vừa nói lão vừa chụp lên đầu Michael một cái nón nỉ. Cả đời có đội nón bao giờ, Michael nhăn mặt thì lão giải thích: 
– Cần lắm đấy. Có cái nón là đỡ lắm: nếu cần phải cho nhân chứng nhận diện! Mày đừng lo dấu tay, khỏi có chắc. Báng súng, cò súng đều trét thứ đồ nghề đặc biệt, nhưng chớ có rờ mó bậy vào những bộ phận khác nghe? 
Michael chỉ thắc mắc một điều. Không hiểu Sonny đã dò ra địa điểm mật của Sollozzo chưa? Clemenza lắc đầu: 
– Có dễ gì? Nó cáo già mà! Nhưng mày yên chí đi. Bề nào mày cũng đi về an toàn vì con tin là chính thằng trung gian. Mày về rồi mới thả nó ra. 
– Ủa, sao lại có thằng chịu làm con tin ngu vậy? 
– Để lấy tiền. Nhiều lắm lắm chớ bộ giỡn sao? Có phải ai cũng làm được đâu? Phải uy tín. Đối với Sollozzo mạng nó phải quý hơn mạng mày chắc. Có vậy tụi mình mới tin là nó không dám hại mày để liên lụy đến thằng kia. Tóm lại phần mày chẳng lo ngại gì hết. Tụi tao mới là… lãnh đủ! 
– Tới cỡ nào? 
– Khủng khiếp! Sẽ có đổ máu tùm lum giữa hai cánh Corleone – Tattaglia mà tụi nó còn nhiều cánh khác ủng hộ. Chắc chắn sẽ có màn thấy ngã chôn không kịp… 
Như một triết nhân. Clemenza suy luận: 
– … Có điều mươi, mười hai năm là phải có đổ máu lớn một lần. Kể như một dịp để tẩy bớt thứ máu ở dơ, máu vô dụng! Bề nào cũng phải đổ máu một lần vì không chặn ngay từ đầu, tụi nó tỉa dần mình rồi cũng nuốt sống luôn chớ đâu có tha? Như Hitler vậy, nếu chặn lại ngay từ hồi Munich thì đâu nó có thể làm điên đảo toàn thế giới? 
Nghe lão nói, Michael nhớ lại một lần duy nhất, trước Thế chiến II bùng nổ năm 1939, Bố Già cũng từng lý luận in hệt. Phải chi hồi đó Mafia nắm bộ Ngoại giao thì làm gì có chiến tranh! Ý nghĩ làm Michael mỉm cười. 
Clemenza đưa Michael trở về cư xá, về nhà Ông Trùm đại bản doanh hiện thời của Sonny. Không hiểu nó còn ở lì một chỗ bao lâu trong “văn phòng”, trên bàn bữa bãi cơm còn dư lại và nguyên ½ chai uýtky. Căn phòng Ông Trùm giữ ngăn nắp là vậy bây giờ trông bừa bãi như nhà trọ. Michael đánh thức nó: “Coi, sao mày không ăn ở cho sạch sẽ một chút mà để dơ dáy cỡ này?” 
Sonny ngồi dậy ngáp dài: – Bộ mày ông tướng đi khám trại hả? Vụ đặt súng cho mày chắc không xong vì bây giờ vẫn chưa biết tụi nó đưa mày đi đâu họp. Tụi nó giữ kín quá! 
– Nếu vậy tao dắt luôn trong người được không? Có chắc gì tụi nó củ soát người tao và nếu mình dắt cho kỹ, cho thật khéo thì chắc đâu đã mò ra? Mà nói cho cùng tụi nó mò ra thì cũng làm gì tao? Bất quá tụi nó “giữ giùm” đến lúc tao ra về chớ có sao đâu nào? 

Google photos

– Đâu được! Với thằng Sollozzo thì phải chơi cho chắc, không thể nói như mày! Nổ được là nổ liền, không ngần ngại. Nó trước, thằng cớm sau vì Mc Closkey chơi chậm, không đáng ngại bằng. Mày có dư thì giờ quá mà! Clemenza đã chỉ cho mày cách buông súng chưa? 
– Cỡ 1 triệu lần! 
– Thế gò má còn đau không?
Sonny hỏi và đứng lên ngó. Michael vắn tắt: “Đau chớ” rồi cầm chai uýtky dở trên bàn tu một hơi. Có chất men vô thấy dịu ngay, nguyên nửa mặt bên trái nó ê ẩm, nhức nhối. Chỉ trừ mấy chỗ kẹp sắt có thuốc tê là cứng ngắt. 
– Thôi mày, rượu từ từ chứ Michael? Lúc này… 
– Im đi! Đừng lên mặt dạy dỗ. Tao từng chơi nhiều thằng bảnh gấp mấy lần Sollozzo và từng ở thế yếu hơn nhiều. Nó đã là cái thá gì? Nó có bích kích pháo, cà nông hạng nặng không? Nó có phi pháo yểm trợ… nó có mìn cả bãi không? Bất quá chỉ là một thằng láu cá, có thằng cớm gộc ngồi một bên chớ gì? Khi đã quyết định chơi thì tụi nó phải chết, khỏi có vấn đề gì hết. Quan trọng là mình quyết định và tụi nó thì chết đến đít chưa hay. 
Hagen bước vô gật đầu chào rồi tới mở tủ, lấy chiếc máy điện thoại đặc biệt ra. Nó quay lại mấy lượt rồi nhìn Sonny lắc đầu: “Chẳng có tin gì hết. Thằng Sollozzo không rỉ răng”. 
Có chuông reo. Sonny nhấc phôn lên, giơ tay ra hiệu yên lặng. Nó cầm bút ghi mấy chữ rồi trả lời vắn tắt: “Được… sẽ y hẹn”. Sonny gác phôn cười hề hề: 
– Thằng khốn Sollozzo chơi kỹ thật. Nó tính khỏi còn sót điều gì! Đúng 8 giờ tối nó và Mc Closkey sẽ đón Michael ở trước cửa quán Jack Dempsey. Rồi đi đến một nơi khác nói chuyện. Hai thằng nói với nhau bằng thổ ngữ Sicile và thằng Mc Closkey thì nó cam đoan là “tiếng Ý” cũng cóc biết chữ gì ngoài Soldi là lính. Nó còn điều tra mày xài qua loại thổ ngữ được kia mà, Michael? 
– Cũng may là cóc phải nói lâu! 
Hagen nhắc: “Còn thằng “trung gian” đến chưa? Phải nắm con tin rồi mới để thằng Michael đi được chớ?”. Clemenza xác nhận ngay: 
– Đúng thế, “con tin” đang ngồi đánh các tê với 3 thằng đàn em tin cẩn của tao, trong nhà tao. Đích thân tao phôn về tụi nó mới cho đi! 
Sonny mệt mỏi ngồi ngả ra ghế bành: 
– Bây giờ chỉ còn vấn đề địa điểm. Này Tom, mình có người gài bên cánh Tattaglias mà vẫn chịu, không moi nổi tin sao? 
– Chịu luôn. Thằng Sollozzo cấm có hé môi, vậy mới quỷ quyệt! Nó chẳng cần thằng vệ sĩ nào. Mình thằng Mc Closkey đủ rồi. Về cái vụ này bao nhiêu súng cũng chẳng bằng một màn bí mật. Đúng lắm. 
Có lẽ mình phải cho người theo dõi Michael rồi tới đâu thì tới vậy… 
– Không được! Một là tụi nó cho rơi mấy hồi? Hai là đời nào nó chịu cho mình bám theo? Nó sẽ củ soát vụ “đuôi” trước! 
Lúc bấy giờ đã 5 giờ chiều. Sonny nóng ruột mặt mày nhăn nhó, đưa đề nghị: “Hay mình đành chơi rừng vậy? Đợi xe nó vừa xề lại đón là thằng Michael quất bừa một loạt vào để thằng nào ngồi trong lãnh đủ?” 
Hagen lắc đầu: “Không được. Có chắc gì Sollozzo có mặt trên xe lúc này bây giờ? Thằng khác thì sao? Có phải chưa gì hết mà mình đã lỗ nặng không? Trời, phải làm cách nào biết được chỗ nó dẫn Michael đến!” 
Clemenza bỗng dưng có ý kiến: 
– Hay là mình thử đặt lại vấn đề. Tại sao nó phải chơi quá kỳ như vậy? 
Michael nôn nả giải đáp ngay: 
– Vì nó không thể chơi trò may rủi mà phải nắm chắc “an ninh tối đa” cái đã. Nó “phòng gian bảo mật” được đến đâu hay đến đó chớ đâu thể “đánh đu” với mình? Nó đánh hơi thấy nguy hiểm nên có “bùa” Mc Closkey bên cạnh mà vẫn chưa trọn tin. 
Bỗng nhiên Hagen búng tay “tách” một cái rồi nói như reo: 
– Có vậy mà cũng quên! Thằng Philips, người của mày ở đằng bót! Sonny, sao mày không phôn cho nó một cú hỏi dò coi? Nó là nhân viên thì phải biết xếp Mc Closkey giờ đó ở chỗ nào để có việc khẩn còn kịp liên lạc che chở chứ? Phải rồi, thằng cớm phải biết chỗ nó sắp tới… mà ở đằng bót thì nó có sợ gì mà không cho biết địa điểm? Phải không, gọi thằng Philips liền đi! 
Sonny nhấc điện thoại, quay số và nói khe khẽ vào ống. Nó đặt máy xuống: “Nó sẽ gọi lại cho mình”. 
Cả bọn chờ đến nửa giờ mới có phôn của thằng cớm. Sonny hối hả ghi mấy chữ rồi cúp máy. Mặt nó căng thẳng ra “Rồi”, vậy là chắc ăn. Trừ khi ở nhà… ngoài giờ làm việc muốn đi đâu xếp Mc Closkey cũng phải cho biết để tiện kiếm. Xếp cho hay từ 8 đến 10 giờ tối nay có việc gì cứ lại đằng quán Luna Azura trong khu Bronx. Có ai biết quán này? 
Tessio hớn hở: 
– Có tao đây! Luna Azura thì tao rành quá! Một chỗ tuyệt đẹp cho mình chơi. Quán nhỏ, chia từng ngăn ngồi cho ấm cúng. Thức ăn chiến. Kín đáo. Thực khách chẳng ai buồn để ý đến ai. Tuyệt diệu! 
Nói rồi lão đứng phắt dậy, bẻ vụn mấy điếu thuốc lá ra để lập “bản đồ hành quân” ngay trên buya rô Sonny. 
– Đây là cửa ra vào nghe Michael? Chơi xong là mày tà tà đi ra, quẹo tay trái, tới góc đường quẹo trái nữa. Thấy mày là tao bật pha lên cho xe vọt tới, mở cửa sẵn để mày nhào lên. Có gì nguy hiểm thì mày sẽ la lên tao sẽ nhào vô tiếp cứu… Còn Clemenza phải cho người đi “đặt” gấp khẩu 22 đi. Trong cầu tiêu của quán này có cái khe không ai để ý tới, ở giữa vách tường và bồn nước xả cầu. Lấy băng keo dính cứng nó phía sau bồn nước là tha hồ chắc, Michael nhớ sau khi xét người mày không thấy gì… tụi nó sẽ ỷ y. Đang ngồi ăn nhậu mày làm bộ nhăn nhó mót đi tiểu. Lại ấp úng xin phép đứng lên thì cha chúng nó cũng chẳng biết gì! Đi ra, có đồ nghề trong tay là mày nổ liền, khỏi chần chừ. Nổ ngay, đừng ngồi vô bàn. Chơi vào đầu, mỗi đứa 2 phát. Rồi giông lẹ lẹ… 
Sonny gật gù ngồi nghe coi bộ đồng ý lắm. Nhưng vẫn phải dặn Clemenza: 
– “Đặt” súng chú phải lựa thằng nào thật đàng hoàng, tín nhiệm 100% nghe? Đừng có để thằng em tôi vô rồi ra tay không là không được đâu! 
– Yên chí đi! Khẩu 22 này sẽ nằm đó liền tức thời! 
– Nếu vậy thì hay. Nào, tiến hành! 
Tessio và Clemenza lật đật đi trước. Hagen đề nghị đích thân lái xe đưa Michael lên New York, tới nơi hẹn song Sonny không chịu. “Mày phải ở đây. Thằng Michael chơi xong là tới lượt tụi mình mệt. Tao cần mày ở đây. Đã lo “mớm” đầy đủ cho mấy thằng nhà báo của mình chưa Tom?” 
– Kể như xong. Đã có móc nối sẵn… Tin tức bài vở sẽ ra đều, đúng như ý mình. 
Sonny đứng lên, lại trước mặt Michael, đưa tay ra bắt: “Thôi, mày lên đường đi! Tao sẽ lựa lời nói với má và con nhỏ của mày cũng sẽ có tin đúng lúc. Ô kê?” 
– Ô kê. Tao sẽ vắng mặt cỡ bao lâu? 
– Ít ra một năm. 
Đứng bên cạnh Hagen lên tiếng: 
– Ông Già có thể thu xếp mau hơn nhưng mày cứ kể một năm đi. Có thể rất nhanh… hay rất chậm, tùy thuộc nhiều yếu tố. Ăn thua gì mấy thằng nhà báo viết bài? Ăn thua ở phản ứng của bọn cớm. Ăn thua ở thực lực của mấy nhánh kia. Còn nhiều thứ có thể xảy ra nhưng chắc chắn nhất là tụi mày sẽ khó sống, nghẹt thở lắm lắm. 
Michael nắm tay Hagen: 
– … Ăn thua ở mày cố lo giùm tao. Chớ tái diễn vụ 3 năm xa nhà nữa thì tao khổ lắm đấy! 
– Nếu mày ngại thì… mình thay đổi chương trình liền bây giờ còn kịp chán! Mình thiếu gì biện pháp khác? Hà tất cứ nổ thằng Sollozzo? 
– Biện pháp thì thiếu gì thật… nhưng tao đã suy nghĩ kỹ rồi. Cả đời chăn ấm nệm êm thì lâm nguy cũng phải gồng mình chớ? 
– Đồng ý vậy. Nhưng chớ để tình cảm lấn vô. Đừng vì một cú đấm mà liều mạng, chắc mày hiểu vậy? Tình cảm và công chuyện làm ăn… 
Tom ngước nhìn lên và đây là lần thứ hai nó thấy khuôn mặt Michael lạnh tanh, in hệt Ông Trùm. Nó nói chững chạc: 
– Tom, mày mà còn phân biệt tình cảm với công chuyện làm ăn? Trên đời này cái quái gì chẳng là làm ăn, và tình cảm với làm ăn chẳng qua chỉ là một. Gọi là làm ăn thì gọi chớ tình cảm vẫn nằm sẵn ở trong. Mày biết tao học ở đâu không? Ở Ông Trùm, ở Bố Già, bố tao đấy. 
Ổng người lớn, ổng ngon lành ở chỗ nhận ra lẽ tình cảm bên trong bất cứ mọi sự việc. Một thằng bạn già bị sét đánh, một thằng con cứng đầu nhào vô TQLC rõ ràng là việc cá nhân. Kẹt chút tình cảm lại là việc của ổng. Ổng xem ra biết hết và lo hết. Một khi coi như chuyện rủi ro cá nhân thì tai nạn đâu có nghĩa lý gì nữa? Tao hiểu vậy hơi trễ nhưng còn hơn không chớ? Nếu cái mặt bể thì việc riêng của tao thì vụ Sollozzo thịt Ông Già còn là việc của ai? Cũng của tao vậy! 
Nhờ mày nói lại Ông Già là tao học được ở ổng rất nhiều và hoan hỉ có vụ này đền đáp lại. Ổng cho tao hưởng nhiều, ổng xứng là cha hiền, đúng vậy… 
Michael ngừng dặn dò, ngó ngay mặt Hagen hỏi: 
– … Nhưng có vụ này tao chưa hiểu. Ông Già đối với tụi tao hiền khô. Tao cũng như Sonny, Fred có mấy khi bị ổng đập? Mà Connie thì chẳng bị la bao giờ. Nhưng với người khác thì sao Tom? Tổng cộng ổng đã thịt cỡ bao nhiêu mạng? 
Hagen nhìn lảng ra chỗ khác, thong thả đáp: 
– Michael, có một cái mày chưa học được ổng. Đó là khoa nói. Có bao giờ ổng nói như mày, hỏi như mày đâu? Trên đời này thiếu gì việc bắt buộc phải làm và làm xong là phải quên luôn, khỏi nhắc tới? Lý luận giải thích làm gì? Có giải thích, lý luận được đâu? Cứ làm và quên phứt. 
Trán Michael Corleone cau lại. Nó nghiêm giọng hỏi: 
– Tao hỏi thật mày, trên cương vị consigliori mày có đồng ý để thằng Sollozzo sống là nguy hiểm cho ông già, cho cả mình? 
– Đúng. 
– Đúng hả? Tao phải giết nó. 
Trước cửa nhà hàng Jack Dempsey, Michael đứng đợi nãy giờ. Tám giờ thiếu 5. Nó sắp đến đón, thằng Sollozzo đúng hẹn lắm. Biết vậy nhưng Michael vẫn cứ để dư cả 15 phút. 
Từ nhà sang New York, nó cố quên những lời vừa nói với Hagen. Nếu nó nói sao tin vậy thì cuộc đời của chính nó bắt buộc phải lái theo một chiều, không thể có một lối thoát nào khác? Mai đây đời nó sẽ ra sao? Coi, cứ biết tối nay, lát nữa đây này. Cứ nghĩ vẩn vơ, dấm dớ thì chết liền tại chỗ, hết mai! Phải vứt bỏ hết để chỉ còn nhớ có hai đứa: một thằng cáo già và một thằng cớm gộc. Gò má Michael bỗng nhức nhối. Cũng may! Phải đau đớn thế này mới khỏi quên… 
Tám giờ, sắp đến giờ hát mà khu Broadway chẳng bao nhiêu người. Có lẽ vì lạnh. Đột nhiên có chiếc xe đen mui kín cúp cua chạy tới, chạy sát lề. Thằng lái xe nhoài người sang đẩy cửa kêu “Lên đi”. Không biết nó là ai, Michael nhanh nhẹn lên. Băng sau nguyên cặp Sollozzo – Mc Closkey. 
Thằng đường Thổ nhoài người lên đưa tay bắt. Bàn tay rắn chắc, ấm nhưng khô khan. 
– Rất mừng gặp anh bạn tối nay để ta giải quyết công việc cho xong. Mình phải làm lại… chớ để tình hình này nguy quá. 
– Tôi cũng muốn sắp đặt cho êm tối nay. Tôi không muốn ông già bị thêm nữa! 
Sollozzo lên tiếng rất chân thành: 
– Không có vụ đó đâu, anh bạn! Tôi dám thề trên đầu mấy đứa con tôi đấy. Chỉ mong anh bạn thông cảm… chớ đừng nóng nảy bốc đồng như ông anh Sonny thì mình chẳng có cách nào nói chuyện được! 
Tự nhiên Mc Closkey cũng nhoài người lên thân mật vỗ vai Michael: 
– Không… cậu này người đàng hoàng! Xin lỗi về vụ lộn xộn tối hôm ấy nghe Michael? Tôi nóng bậy quá… mà hồi này hình như có tuổi ưa nổi sùng bất tử, không dằn nổi. Đến phải cởi trả áo lính chớ điệu này tinh thần căng thẳng chịu hết nổi. Càng ngày càng chịu không nổi. 

Google photos

Thằng đểu. Lão vừa cười nham nhở vừa đưa bàn tay vỗ vai, rờ rẫm coi bộ thân tình để đâu cho hết… nhưng bàn tay thô bỉ sục sạo một vòng củ soát nghề nghiệp khắp người Michael, những chỗ có thể dắt súng được là không bỏ sót. Thằng lái xe liếc sang cười nhạt. Nó cho xe chạy miết ra xa lộ ngoại thành, lúc lách ra lúc lách vô rất tự nhiên nhưng thằng nào lái xe bám theo là bại lộ liền! 
Ô hay, nó cho vọt lên cầu Washington. Vậy là qua bên New Jersey? Vậy là ngay thằng cho tin Sonny cũng hố? 
Nó cho xe phom phom lên dốc cầu rồi lên cầu thật, bỏ lại sau lưng thành phố chói chang ánh đèn. Michael cố giữ mặt tỉnh bơ. Điệu này thằng đường Thổ dám cho nó sang cánh đầm lầy New Jersey ngủ với giun… hay chỉ là một thay đổi chương trình giờ chót của nó để đánh lạc hướng tất cả mọi người? 
Xe chạy tới phân nửa cầu. 
Thình lình thằng lái xe biểu diễn một phát quay đầu xe độc đáo, người Michael muốn lật nhào một bên. Đang chạy ngon trớn nó xoay một phát vô lăng cho xe chồm qua lằn ranh nổi giữa cầu và khi trả lại tay lái thì chiếc xe đã quay đầu ngược hẳn lại, hướng về phía New York như không có chuyện gì xảy ra. 
Ở băng sau, cùng một lúc Sollozzo và Mc Closkey quay đầu lại ngó coi có chiếc xe nào cũng bất thần xoay một vòng 180 độ tương tự? Khỏi có. Xe tà tà xuống cầu nhằm đúng hướng Bronx. Nó còn lách thử qua vài con đường nhỏ chắn ngang để chắc chắn không có đuôi bám đã nên cứ vòng vo chạy đến 9 giờ. Sollozzo hoan hỉ đưa gói thuốc mời, rút một điếu hút và khen thằng tài xế: “Mày chạy ngon đấy!” 
Đúng 10 phút sau xe ngừng trước một nhà hàng nhỏ, ở giữa một khu phố tầm thường của kiều dân Ý, ngoài phố vắng tanh, bên trong quán loe hoe vài khách ăn khuya. 
Michael đã sợ thằng tài xế cùng bước vô là hỏng hết, nhưng may quá nó được lệnh ở ngoài xe. Cái vụ mang theo tài xế này cũng hơi bất hợp lệ vì như đã ước định qua trung gian, chỉ có 2 người nói chuyện với nhau và gã cớm ngồi bên mà thôi. Nhưng thây kệ nó ngồi ngoài, Michael cố tình lờ đi. Vậy là quá đẹp, tội gì để tụi nó nghi ngờ? 
Ba người ngồi ở chiếc bàn tròn độc nhất chính giữa quán, Sollozzo không chịu vô những bàn có ngăn kín. Cả quán còn có hai người khách, không biết có phải người của nó bố trí không? Mà bố trí cũng chẳng đỡ kịp! 
Mc Closkey hỏi quán này có gì hấp dẫn không thì Sollozzo đề nghị: “Thử gọi món bê con coi? Số một New York!” Gã bồi trong quán xách lại chai rượu chát, mở nút. Nó chậm rãi rót ra 3 ly đầy nhưng lạ quá, Mc Closkey không uống. Lão phân bua: “Có lẽ dân Ái Nhĩ Lan chỉ mình thằng tôi chê rượu! Tôi sợ thì đúng hơn. Bao nhiêu người chỉ vì nhậu mà chết cả cuộc đời!” 
Sollozzo quay sang Mc Closkey giải thích: 
– Xin lỗi Đại úy trước nghe. Câu chuyện giữa anh bạn Michael và tôi tối nay… tụi tôi xài tiếng Ý. Chẳng phải có gì quan trọng muốn giấu giếm mà chỉ vì có những danh từ làm ăn nói tiếng Anh không trôi vậy thôi. Tôi chỉ muốn thuyết phục anh bạn dàn xếp nội đêm nay cho xong mọi chuyện lộn xộn bất lợi cho tất cả mọi người mà? Đại úy đồng ý chớ? 
– Ô, có gì đâu! Hai người muốn nói với nhau cái gì thì nói. Tôi chỉ “nói” với cái đĩa bíp tết spaghetti này! 
Thế là Sollozzo giở thổ ngữ Sicile ra nói: 
– Xin anh bạn hiểu cho những gì đã xảy ra giữa Ông Trùm và tôi hoàn toàn chỉ do vụ làm ăn mà ra. Ông Trùm là người tôi hằng ngưỡng mộ và chỉ mong có ngày được ổng sai bảo. Đó là một sự thật. Có điều ổng cổ quá, ổng không chịu làm ăn theo thời thế, ổng không chịu đi vào ngành ma túy, dù ai cũng phải thừa nhận rằng chẳng có thứ gì sinh lợi lớn bằng! Ông Trùm nhất định không làm và bảo tôi: “Tôi không thể làm ăn với ông được nhưng phần ông cứ làm đi chớ?”
Ổng nói vậy… nhưng sự thực đâu có giản dị thế? Tôi phải hiểu “cứ làm đi chớ” thế nào được, mình dân giang hồ mà? Không lẽ ổng nói ngay “Anh không làm chuyện đó được” đó thôi. 
Xin nói thực tôi kính mến và e ngại thế lớn của Ông Già thiệt… nhưng không thể vì ổng không muốn mà phải bỏ dở một công cuộc làm ăn sinh lợi, đó là lẽ tự nhiên. Do đó mới xảy ra chuyện đáng tiếc… Chắc anh bạn không lạ gì các cánh New York ủng hộ tôi, dù họ chưa công bố. Nhưng cánh Tattaglias thì đi hẳn với tôi, cùng ăn cùng chịu. Bây giờ không hoà giải gấp thì thế nào cũng có đụng độ lớn: Cánh Corleone sẽ phải chống tất cả mọi phe nhóm khác. Nếu Ông Trùm còn mạnh thì có thể chống được đấy. Nhưng giờ đây cỡ Sonny thay thế sao nổi và consigliori Hagen sức mấy mà được như Genco Abbandando ngày nào? 
Đó là lý do tôi đề nghị tạm hoà, tạm ngưng chống đối nhau chờ Ông Trùm bình phục đặng đích thân ổng thương nghị sau. Tôi đã thuyết phục cánh Tattaglias đồng ý bỏ qua vụ Bruno để tránh đổ máu nữa. Trong thời gian này tôi vẫn phải có ít việc làm ăn kiếm sống, trong ngành của tôi. Tôi không đề nghị cánh Corleone hợp tác làm ăn mà chỉ xin mấy ông đừng phá. Có vậy thôi, rồi sau này chuyện gì chẳng giải quyết được? Đề nghị của tôi có bấy nhiêu, tôi chắc anh bạn đủ thẩm quyền đại diện cánh Corleone để ta nghị hoà với nhau chớ? 
– Xin cho biết thêm về đề nghị khởi sự làm ăn của quý ông. Nghĩa là trong công cuộc làm ăn đó, gia đình tôi giữ vai trò gì… và được hưởng những gì đã chớ? 
– Nghĩa là anh bạn muốn biết chi tiết đề nghị của tôi? 
– Quan trọng nhất là điểm tôi muốn có những đảm bảo chắc chắn rằng sinh mạng ông già tôi khỏi bị đe doạ nữa… 
Sollozzo đưa cả hai tay lên than: 
– Trời đất! Tôi mà đảm bảo gì được? Trái lại mạng tôi đang bị săn đuổi là khác. Tôi đã bị hụt giò… mà anh bạn còn đề cao quá đáng! 
Chỉ cần nghe đến đây là Michael cầm chắc Sollozzo chỉ cần gặp mặt lần này để cố tình kéo dài thời gian vài ba bữa nữa. Nó rình thịt ông già và nhất định làm bằng được. Có điều khoái nhất là cho đến bây giờ thằng đường Thổ vẫn liệt nó vào hạng chết nhát! Một khoái cảm nhè nhẹ dâng trong người, nó thấy gây gấy sướng lạ. Michael làm bộ bần thần để Sollozzo cất tiếng hỏi: “Coi, sao thế?” 
Nó ấp úng, lúng túng mãi mới trả lời: “Tôi uống rượu không quen… Mới bấy nhiêu đó đã mắc tiểu tiện… Xin phép, tôi vô đi tiểu chút… được chớ?” 
Sollozzo ngó ngay mặt nó: “Mắc đái hả?”. Rồi nửa đùa nửa thực đưa tay sang rà rà chỗ bụng dưới Michael. Nó bèn làm bộ bực mình nhưng Mc Closkey trấn an: “Khỏi mò! Nó không có gì đâu, củ soát rồi. Kinh nghiệm quá mà?” 
Sollozzo rõ ràng không khoái những vụ đi tiểu tiện này. Không hiểu tại sao… nhưng không yên tâm. Nó đưa mắt nhìn gã ngồi bàn bên, cặp lông mày nhướn lên hướng về phía phòng vệ sinh. Lập tức thằng đó sẽ gật đầu ý hắn đã coi qua rồi, trong đó không có ai. Biết vậy Sollozzo cũng chấp nhận một cách miễn cưỡng: “Đi lẹ lên nghe!” Rõ ràng nó ngửi thấy một cái gì khác lạ… 
Michael đứng lên, đi về phía phòng vệ sinh. Vô trong nhà là lại bồn tiểu xả lẹ lẹ một bãi cho đỡ tức bụng rồi thong thả bước tới cầu tiêu, đưa tay mò phía sau bồn nước xả cầu. Có ngay! Khẩu 22 nòng cụt, nằm ngoan ngoãn nhờ lớp băng keo. Nó giựt ra, nhét vô cạp quần, cài nút áo lại. Clemenza biểu xài súng khỏi sợ dấu tay nhưng sau khi ra la va bô rửa tay, vuốt tóc nó lấy khăn tay chùi kỹ chỗ vòi nước… 
Mở cửa bước ra đi trở lại bàn, nó thấy ánh mắt Sollozzo nhìn trừng trừng. Michael tươi cười: “Giờ muốn nói gì thì nói”. Mc Closkey lúi húi đớp đĩa bíp tết spaghetti vừa mang ra. Gã ngồi bàn bên nãy giờ hồi hộp đã thở ra khoan khoái. 
Michael ra ngồi bàn. Nó nhớ Clemenza dặn đi ra là nổ liền nhưng không hiểu vì có linh tính hay vì chết nhát mà chưa dám. Rõ ràng nó có cảm giác bây giờ mà có một cử động khác lạ là bị quất sụm ngay. Ngồi xuống yên chí hơn nhiều, ít ra không đến nỗi chân run run đứng hết nổi. 
Sollozzo vươn người tới nói. Nhờ khuất cái mặt bàn, Michael khẽ mở nút áo, ngồi nghe ngoan ngoãn nhưng thực sự có biết nó nói gì? Mạch máu chạy quá mạnh, nghe chỉ thấy ù ù… 
Bàn tay mặt ở dưới bàn từ từ rút khẩu súng nhét cạp quần ra cầm tay. Đúng lúc đó gã bồi bước tới, đứng bên chờ và Sollozzo quay mặt ra kêu thức ăn Michael lập tức đứng lên tay trái hất bàn, tay mặt đưa khẩu súng kê sát đầu thằng đường Thổ. Phản ứng của nó đã lẹ. Michael vùng đứng lên thì nó đã né. Không kịp. Làm sao chơi lại tuổi trẻ? 
Michael nhấn cò. Viên đạn đi ngay màng tang và lúc chui ra phía bên kia đã phá một lỗ toang hoác. Máu, óc, xương sọ nó văng tùm lum đầy áo gã bồi. Khỏi cần phát thứ hai. Đầu Sollozzo nghẹo một bên, ánh mắt nó là ánh mắt người chết, rõ ràng nhìn đời lần cuối. 
Một giây đồng hồ sau, mũi súng hướng về Mc Closkey. Lão kinh ngạc ngó Sollozzo gục, không ngờ có chuyện. Làm như lão không dính dấp gì tới, không tin bản thân lão cũng lâm nguy. Mắt lão giương lên ngó Michael, cái nĩa xiên miếng bíp tết còn cầm tay. Dường như lão có vẻ bực bội… tại sao nó dám làm ngay trước mặt mình và không hiểu tại sao còn chưa vùng chạy hoặc nạp súng đầu hàng cho rồi. 
Michael mỉm cười nhìn lão và xiết cò. Viên đạn đặt đúng chỗ cổ họng bự như cổ trâu nhưng chưa đủ sức kết thúc Mc Closkey. Lão thở ằng ặc làm như mắc nghẹn miếng bíp tết quá lớn rồi hộc lên phun phè phè những tia máu li ti. Rất tỉnh táo, Michael thản nhiên đẩy tới phát nữa, nhằm giữa cái đỉnh đầu có mớ tóc bạc phất phơ. 
Đột nhiên chỗ nào cũng thấy máu. Michael quay phắt sang thằng ngồi dựa vách. Nó ngồi một đống, ngồi chết điếng không hó hé cục cựa mà quay nhìn chỗ khác, hai tay đặt ngay ngắn trên mặt bàn. Gã bồi ôm đầu chạy vô bếp, mặt trắng nhợt, mắt thất thần, hoảng hốt. Rất tự nhiên. Michael đưa mắt quan sát: thằng Sollozzo ngồi chết gục đầu trên bàn nhưng cả cái thân xác nặng nề của Mc Closkey đã nằm vật ra trên sàn nhà. 
Michael nhẹ nhàng buông súng, cho nó rớt trên mình Mc Closkey, lăn xuống sàn không tiếng động. Cả hai thằng có mặt trong phòng có thấy nó thảy lúc nào? Nó mau chân đi ra, đẩy cửa. Xe thằng Sollozzo còn đậu đây nhưng không thấy dạng tài xế. Nó quẹo tay trái tới góc đường quẹo nữa… và choá mắt vì pha đèn sáng rực của một chiếc xe cà tàng đang phóng tới, cửa xe mở toang. Nó nhảy lên, sập cửa là cả chiếc xe vọt cấp kỳ. Tessio ôm vô lăng, mặt lạnh như tiền. 
– Mày làm xong Sollozzo chưa? 
“Làm xong chưa”! Làm như “làm” xong một con nào vậy. Lão hỏi kỳ cục quá. Michael lạnh lùng: 
– Cả hai thằng. 
– Chắc không đấy? 
– Óc tụi nó văng tùm lum. 
Trên băng xe đầy đủ quần áo thay. Xe lao vun vút. Cỡ 20 phút sau Michael tà tà ngồi trong ca bin một chiếc tàu hàng sửa soạn nhổ neo sang Ý. Cỡ hai giờ sau tàu hướng mũi ra biển cả, bỏ lại phía sau cả một đô thị New York sáng rực ánh đèn hoả ngục… 
Michael thấy nhẹ cả người. Vậy là thoát. Cảm giác nhẹ nhõm, khoan khoái in hệt ngày nào… sư đoàn nó đổ bộ lên đảo đánh cận chiến ác liệt và vì một vết thương nhỏ, nó được cáng xuống xuồng cấp tốc chở ra tàu bệnh viện ngoài khơi. Thoát khỏi hỏa ngục. Đúng vậy, phong ba sắp nổi dậy ầm ầm nhưng nó có ở đấy đâu mà lo? 
Ngay sau ngày Sollozzo và Đại úy Cảnh sát Mc Closkey bị hạ sát, toàn thể giới giang hồ New York được cấp báo ngưng hết làm ăn! Khỏi có sòng bạc, ổ điếm nào được hoạt động. Phải tốp bằng hết… cho đến ngày tìm ra thằng khốn đã dám nổ một Sĩ quan Cảnh sát. Cả thành phố bố ráp tùm lum, tảo thanh liên miên. Dân giang hồ bắt buộc lặn hết. 
Ngay sau đó cánh Corleone được các phe nhóm bạn cử đại diện tới. Liệu đã sửa soạn nạp thằng sát nhân chưa. “Coi, cái vụ này đâu có ăn nhập gì với tụi tôi?” Thế là cư xá Long Beach ăn bom. Trong đêm tối một chiếc xe lạ phóng tới, thảy một trái nổ ngay trước cửa rồi vọt mất. Cũng trong đêm đó, hai gã đàn em thân tín cánh Corleone bị hạ một lượt. Đang ngồi ăn nhậu trong một nhà hàng Ý trong khu Greenwich thì bị quất sụm. Đó là khởi đầu cuộc Ngũ gia đại chiến của Mafia năm 1946.



Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 20 Jun 2024

Google photos

Phần 27

Ông tơ khéo xe

Ở nhà phán Đức về, vừa đút đầu vô cửa, tôi thấy chị chủ sự ngồi cho một đống, cái mặt bí xị, vừa thấy tôi, chỉ thở ra, bệu bạo muốn khóc, cho hay tía thằng Như Phước từ trần ở Bạc Liêu, lúc nãy nó theo chỉ lại đây tìm tôi đặng nói mà về chịu tang, rủi không gặp và sợ trễ xe đợi bữa khác lâu lắm, nên cực chẳng đã, nó phải ra đi. Chỉ khuyên tôi đưa cho chỉ năm ba chục và nhờ người hay chữ đặt giùm tấm luỵ cho xưng đáng, đặng chỉ còn tốc xuống dưới thay mặt đi cái lễ điếu tang cho dễ coi. Tôi bắt tức cười vì trái tai quá tôi bèn nói lẩy: “Chớ chỉ cha chồng tôi chết mà được chỉ tử tế làm vậy, chẳng là đại phước”. Mình tính nói chơi, pha lửng vì mới làm thằng chà một cú đáng đích, ai ngờ chỉ đáp: “Khi mà đâu đó gần trúng đa? Cũng gần là cha chồng thiệt đó!” Tôi hét chỉ đừng có nói yêu, tôi nay làm vầy, non non ba chục cái xuân đứng bóng, còn thằng Như Phước, nó là con nít, còn học trưởng Taberd, độ mười bảy mười tám tuổi là cao lắm, thuở nay nó kiếng mình là cô bác anh chị! Khéo nói chướng nó nghe đặng, cũng như bắc thang cho con nít nó trèo đèo, không sợ mất cỡ hay sao?

Chị đang bệu bạo mới đó chớ phải, nay thấy tôi phát giận, chỉ vùng cười ngắc nghẽo thiếu điều làm xấu trên bộ ván, vừa chậm nước mắt, vừa nói: “Thằng Như Phước nó gần kiếng mấy là cô bác anh chị, chớ chưa mà! Ý! Cái con làm sao, mà người ta muốn nó như chết!… Bộ mầy giả đò sao chớ? Có lẽ nào mà mầy không biết không hay”. Tôi nghe bấy nhiêu ấy chưng hửng đành xuống nước, o bế, dịu ngọt, dụ dỗ, biểu chỉ đọc lại công cuộc đầu đuôi làm sao cho tôi nghe: Chỉ ngồi kể cho một giọt: những là lần nào tôi vô trưởng thăm thằng Hiền, con thầy phó Sốc Trăng, mà thằng Như Phước hay được thì thế nào nó cũng bỏ giờ học tập (étude) lén trốn ra dòm kẹt nhà khách (parloir) nhìn trộm tôi cho được! Lại nữa khăn tua tôi giắt chỗ nào, nó cũng làm bộ lấy xem rồi lén hun trơ hun trật. Chỉ nhắc lại mấy lúc gần đây nó lại nhà đánh bài tứ sắc chơi thua bạc trăm, là tại nó giành ngồi tay trên tôi, đặng có đánh đo đánh tháo cho tôi ăn, tôi tới. Bây giờ chị nầy nói, tôi mới nhớ mấy lần đi coi hát Tây hay chớp bóng, nó cũng giành mua vé, và khi vào ngồi trong lôi (loe) nó cố ý ngồi sau lưng tôi đặng có chờm tới trước kề bên vai tôi mà kiếm chuyện cắt nghĩa tuồng kia tích nọ sát bên tai bên lỗ nhĩ. Ý cái thằng, sanh bụng nguỵ mà mình không hay! Chị chủ sự nói nhắc sơ sơ như vậy thử coi tôi có nhớ chừng. Chớ thằng nọ thường than thỉ ỉ ôi với chỉ, thú thiệt mối tình éo le trong trắng nầy và thề rằng nó mà không lấy được tôi làm vợ chồng, thì nó sẽ phế hết sự đời, đi tu cho mát dạ. Chỉ khai thiệt rằng xưa nay nhờ nó cũng nhiều, nên nếu tôi không thương hại xuất tiền cho chỉ bổn thân đi điếu tang, thì chỉ cũng rán xuống tận Sốc Trăng mà đưa đám, cho vẽ mặt vẽ mày cho thằng đó. Trời đất ơi! Việc nầy mới khó cho tôi nhứt! Chị chủ sự nói đà hết tiếng mà tôi vẫn lưỡng lự như con cù lần! Cái tình thương lạ thương lùng làm vậy, khó cho tôi đáp lại được. Vô lý quá một già một trẻ, một thành thạo “con đi thầy”, một non măng đang mài đũng quần trong trưởng chưa rách? Mà suy nghĩ lại cho kỹ: tham thì bụng cũng có tham thật, vì tôi biết tía và anh thằng Như Phước là tay cự phú miệt Ba Thắc, chỉ kém chút ít ông hội đồng Trần Trinh Trạch, chớ nào thua ai. Anh nó, ông Như Gia đã ra riêng, bà già nó đã mất sớm, sự nghiệp của cha để lại, thế nào cậu công tử mũi trắng 1 nầy rồi sẽ phanh phui. Nghĩ cuộc phá su, thì đâu cũng là phá su! Vậy thì dụ nó phí của ấy với mình, còn hay hơn để lọt tay khác? Lập tâm rồi, tôi liền đưa chìa khoá tủ sắt cho chị chủ sự, biểu mở ra lấy năm chục đồng bạc trắng, đặt đồ đi lễ điếu ba chục, còn lại hai chục làm tiền ăn đi đường. Chỉ mở tủ, thấy một xấp hình của tôi, nhà Khánh Ký mới chụp, rôm lắm. Chỉ lấy ba chục đồng và một tấm hình, nài tôi bằng lòng cho chỉ đem hình ấy xuống cho Như Phước, còn hai chục đồng sở phí dọc đường, xin để cho chỉ chịu, rằng kẻ công người của, chỉ tỏ tình biết ơn Phước trót thể. Tôi thấy mụ nầy mấy lúc sau nầy tỏ ra rất khác lúc trước, vả lại nghĩa chị tình em, muôn việc chị nầy vẫn tính phần lợi cho mình hơn là cho chỉ, nên không biết nói làm sao, đành ừ đại cho chỉ đi.

Cậu công tử vừa chôn cha, sắp đặt việc nhà, làm mồ làm mả đâu đó xong xuôi, làm hai mươi mốt ngày vừa rồi, tom góp được trên muôn đồng (10.000$00), tuốt lên Sài Gòn, gởi một mở vô băng, còn phân nửa gói ôm lại nhà chị chủ sự cậy chị ta nói cho tôi chịu giữ giùm. Lúc nầy có máu mặt, nặng túi hơn lúc trước, nên coi dèo cậu ta dạn hơn lóng trước nhiều. Gởi bạc tôi chịu rồi, lại một hai nài tôi xin cho ở đậu. Tôi nghĩ khó xử quá, nên còn dùng dằng không nhứt quyết. Kế chị chủ sự chỉ rước nói để chỉ tính cho. Chỉ mới kêu tôi mà bỏ nhỏ rao Nam như vầy: “Chị biết bây giờ nó rảnh tay rảnh chơn, nên quyết tình với em lắm. Nếu em nói dứt khoát, rủi nó dại không kịp suy nghĩ, làm nư tự vận, có phải cái quả báo đó đổ dồn cho chị em mình mang hay không? Chi cho bằng em cứ cho nó ở đậu nhà nầy, rồi để chị kiếm một đứa sạch sẽ, cặp cho nó, cùng chung chạ tại đây, thì tự nhiên em tránh đặng khỏi tiếng đời dị nghị, nhà đông người thêm vui, lại bớt được tiền chợ phần nao.

Thiệt ba mươi đời, tôi có cái tật hay thương hại người lận đận, và hễ ai đờn êm tai thì tôi thích nghe, vì vậy mà oan oan trái trái nó buộc hoài không thôi. Rồi chị chủ sự lại bày vẽ, kiếm được con sáu Quế Anh học trưởng áo tím bị đuổi, đang chới với, chỉ cột cho thẳng công tử ruộng muối Bạc Liêu nầy, con nhỏ mén mà cũng sạch đời đúng bực, chưa chi xúi thằng nọ sắm cái xe Mi-lo (Milord) kiểu mới, mua ở nhà Laurent Gay ở góc đường Pellerin và La Grandière (Pasteur- Gia long cũ) chiều chiều thắng ngựa Bắc thảo, hai đứa nó cặp nhau đi dạo mát, coi hát xướng tới khuya lơ khuya lắc mới về… ngỡ là tánh con nít, vui đâu chúc đó, khuây lảng mối tình éo le và quên mình được: Ai dè, đêm nào như đêm nấy, canh khuya thức giấc vẫn nghe cậu ta than thở bên phòng:

– Cô Hai ơi! Cô Hai! Cô chích đôi, tôi lẻ bạn, cô ngại nỗi gì, ty hiềm làm sao, mà cái tình thương của tôi đã quá năm trời, cô nỡ dạ nào phủi đi cho đặng.

Ý! Cái thằng bình thường mủ mỉ ít ăn ít nói, mà ngót mười mấy đêm vẫn đờn một bản “tương tư xang xừ líu” tiếng nào tiếng nấy ân hậu thâm trầm… đời tục xưa nay thường ví: “Đàn bà hay lạt lòng”. Chớ tôi xuống núi là để báo oán thù ân, tôi là nguôi ngoai sự oán hờn cuộc thế kia đâu, mà hòng đáp tình xử nghĩa với ai bây giờ cho đặng. Khó cho tôi thật.

Lúc nầy tôi đang tích trữ sự bất công của xã hội đối với hạng đàn bà yếu đuối như tôi, cho nên từ ngày cậu nầy đến ở đậu trong nhà, hễ gặp dịp nào xẻ anh ta đặng thì tôi không hề bỏ qua, như nài bán hột xoàn, xúi sắm ăn sắm mặc, nhưng tôi để ý, khi mua chác vật chí, tôi nói mấy thì cậu ta tin bằng lời, chẳng bao giờ có một tiếng chê mắc chê rẻ. Vậy mà cậu ta còn ít bữa mua món nầy, ít bữa sắm món kia, bày biện trong nhà tôi còn hơn nhà đấu xảo. Cho đến cái xe ngựa nó mua tiền của nó mà cái phắc tua (facture) sau tôi hay được cũng để tên tôi đứng.

Ăn xài như vậy chưa đầy năm tháng, mà tiền gởi băng đã tiêu sạch. Con sáu Quế Anh thấy cậu không còn chi để gặm, đã sớm hát bài “tẩu mã”, quất ngựa truy phong. Mà ngộ, cậu công tử rảnh đặng cục nợ do chị chủ sự gán cho, coi bộ mừng chớ không buồn.

Cậu ta từ giã tôi nói về dưới lo việc nhà, định bán một mở ruộng nào đó và hẹn lối chừng nửa tháng hoặc hai mươi ngày sẽ trở lên và căn dặn tôi cái phòng xin để vậy đừng cho ai khác vô ở, vì cậu ta chí quyết ở đó chớ không ở chỗ nào khác hết, dẫu cho ở nhà hàng Tây Continental (Đại lục khách sạn) cũng không thèm!

——————————–

1Mấy chục năm về trước, lối 1920, miệt Hậu Giang chưa có hát cải lương, vẫn coi hát Tiều (Triều châu) làm môn giải trí lành mạnh. Thường diễn tuồng Tàu trên rạp vải cao cẳng và lộ thiên, thí coi không tiền và thường diễn tích con quan ra đường gặp gái. Con quan trung thì ưa việc nghĩa hiệp, tế khốn phò nguy, công tử nầy để mặt thiệt đẹp đẽ môi son răng trắng, con quan mình thì thích chọc gái, bắt cóc, hiếp dâm, vẫn giặm mặt có một bệt phấn dày nơi mũi, vì hun gái quá nên ra cớ đỗi, rửa không ra, gọi “bạch tỹ công tử” (công tử mũi phấn)

Sài Gòn Tạp Pìn Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 20 Jun 2024

Google photos

Phần 26

Xã tri mắc lận

Việc ác tôi làm một ngày một đậm, không khác tay lỡ nhúng chàm, càng lâu càng thấm… Một bữa nọ, có thầy phó tổng ở Sốc trăng, lâu ngày quên tên, lên tìm tôi, rằng nghe tiếng đồn, nhà tôi cho vay lớn, muốn thế ba trăm mẫu ruộng thượng hạng, vay đỡ có được thì một muôn rưỡi, không thôi cùng cực thì muôn hai. Cậy anh phán Đức dắt lại. Đúc là thầy đờn cò, biết chữ Nho khá. Vào làm ăn tiền ngày, coi việc phiên dịch đơn từ chữ Hán ra quốc ngữ, sau toà dẹp ngạch phiên dịch và bổ hết nhân viên vào ngạch thông ngôn toà, Đức lên phán, vẫn ngồi ăn trầu bô bô và không nói được một tiếng Tây. Đánh phè hay, đờn tươi khá, và quen với tôi nhờ hai nghề nầy. Tôi nói: “Tôi mang tiếng cho vay đặt nợ, là cho nho nhỏ kia, chớ anh yêu nầy, ảnh lại không biết hay sao mả nói chuyện vay hỏi bạc muôn”. Anh phán nghe tôi rao Nam làm vậy báo hại thầy phó sửng sốt ngó tôi, phán Đức rước nói: “Thầy cai (kêu tâng) chưa biết bề thế cô Hai, chớ nói cùng mà nghe, bạc nhà cô có lỡ cho ra quá nhiều và chưa thâu lại kịp đủ số muôn đi nữa, cổ lại hiểm gì một tiếng nói mà không giúp anh em chúng mình hay sao?” Nói đến đó, Đức giả bộ lại gần bàn lấy điếu thuốc, thổi vào tai tôi câu: “Toa buộc xăng” (trois pour cent) là phần một mình cô, còn Đức nầy một bữa cơm cà-ri là đủ”. Nghe ảnh nói làm vậy, tôi mới chịu miệng, lãnh bóc giấy tờ, bằng khoán, hẹn với thầy phó hãy để đó cho tôi đi hỏi thử, được cùng không chiều mai trở lại sẽ hay…

Tôi tuốc lên đường Plerre Flandin (bà huyện Thanh Quan), rủ chị Tư Hào, cùng đi với tôi xuống đường Ohier, xóm chùa chà, kiếm nhà thằng chetty quen với chỉ. Thuở nay tôi tưởng chà xã-tri cho vay đặt nợ thì nhà cửa sang trọng lắm, vì xứ nó nóc chùa vẫn thếp vàng và bò của nó nuôi để kéo kiệu Phật, sừng vẫn bịt bạc. Nào dè vô nhà thằng xã-tri nào cũng y nhau, hai bên vách đều lót giường nằm bằng gạch trải đá bông chỉ chửa khoảng giữa một đường đi chạy theo dọc dài căn phố chừng hai thước bề ngang, giường hay ván nầy không chiếu liếp gì hết, và đứa nào như đứa nấy, từ chủ gọi tàu-kê (thầu kê: đầu gia, tiếng Tiều) đến thằng tớ nấu bếp cà ca-ri, đều ở trần trụi tnù, tớ khác chủ là không được nằm ngồi trên giường nầy, và trưa trưa chủ tiệm chà vẫn nằm trườn trên ván như cá sấu trườn bãi, xem tục tĩu quá chừng.

Chúng không dám lót gạch hoa dưới đất vì sợ tốn nhiều tiền, nhưng gạch Tàu của chúng, lau quét thường ngày, trông đỏ au láng bóng. Tôi cố không nhìn cảnh thô tục trước mắt và rán nín thở để khỏi hít mùi nị, mùi chà đặc biệt của chúng. Tôi đưa bằng khoán cho lão tàu kê tên là Annamalé-chettyar coi, tôi trừ hao, nói muốn vay hai muôn (20.000$00) tính chận một mở để xây xài.

Annamalé hai tay cứ cuốn kèn tờ bằng khoán, miệng nói tía lia giống gì với chị Tư Hào, tôi không nghe được tiếng nào, còn con mắt nó vẫn đảo lên đảo xuống ngó tôi trân trân từ ngực đến mặt rồi ngó xuống thân dưới, tôi mất cỡ quá mà phải rán chịu, đoạn nghe anh ta cười hố hố như thằng ngáo, rồi day lại nhìn tôi không chớp mắt và nói: “Cô để đó, mập-lê 1 biểu luật sư coi kỹ, rồi nói lại với chú Tư, chị Năm, đước?”. Tôi nhìn nó rồi cười và nhại lại nó: “Đước! Đước? Biểu chị Tư nầy, lại cái nhà tôi, cho tôi hay. Đước! Đước!

Qua bữa sau, sớm bửng tưng đã thấy chị Tư Hào đến nhà, ngắt yêu tôi mà rằng: “Thằng Annamalé nó thấy cô hôm qua, nó thèm nhau nước miếng. Hồi hôm nầy nó lại nhà tôi, năn nỉ biểu làm sao cũng dắt giùm nó tới cho biết nhà cô. Con nai nầy nó chịu đèn rồi, chỉ còn chớ cô hạ nó một phát rồi làm thịt. Nhớ chứa cho tôi bộ răng hàm trên để làm bàn nạo nạo dứa. À! mà thằng ấy nó nói muốn cậy cô bán giùm nó li cái hột xoàn người ta không chuộc và đã quá ngày. Nó lo le cho tôi xem sáu hột bự, thiệt là đích đáng, mà đời nào nó giao cho tôi. Tôi ừ và biểu chỉ muốn dắt nó lại thì dắt, chiều tôi có mặt ở nhà thường. Sau đó tôi cũng dặn trước chỉ đôi điều kẻo vuột con nai tơ nầy thì uổng lắm.

Chị Tư Hào vừa về thì tôi tuốt lại nhà chị chủ sự, thuật hết mọi việc cho chỉ nghe, chỉ cười ngất, biểu tôi mau lập tâm thê nào để lật ông táo lửa nầy chơi một chuyến bỏ đi uổng lắm. Nó cắt cổ người Nam mình đã nhiều rồi. Tôi hội ý ra về, nhứt diện nhắn thầy phó rằng việc coi dẻo thuận chiều, xin phiền thấy rán đợi ít ngày, nhứt diện viết thiệp mời anh tư Ve (Pierre Nguyễn Thuận) làm chủ tờ báo không ai đọc “Tiếng kèn” (Le clairon, vì viết tiếng Pháp), mời ảnh gấp qua nói chuyện cần. Tội nghiệp mới mười một giờ rưỡi chưa kịp về nhà ăn cơm, anh Ve đã đến, hỏi từ ngoài cửa hỏi vô:

– Cô chủ nhà ở đâu? và chuyện gì cần kíp lung dữ vậy?

Tôi đáp:

– Có. Có việc lớn và gió lớn 2 chớ không, ai dám làm nhọc lòng anh Ve của tôi. Thôi, lại tủ rượu lấy ly chai và uống áp-bê-rô (appéritif) đi, rồi ở lại đây ăn cơm với tôi, tôi sớm mai nầy làm siêng ra chợ mua được mớ đuông chà là ở Cà mau đem lên, ngon lắm. Mà anh biết ăn đuông chớ?

Tới bữa ăn, tôi mới đọc hết công cuộc thằng xã tri dê, muốn làm bảnh gởi hột xoàn bán giùm, và cậy ảnh chịu khó đừng đi đâu, và cho tôi mượn cái oai của ảnh ít bữa đặng kiếm tiền xài tết. Anh Ve nghe tôi nói tới đó, vùng ngừng hớp rượu, hỏi: “Oai gì? Ở đâu mà mượn? Mượn làm cái gì chớt Mà làm sao cho mượn được?” Tôi cười, ra dấu cho ảnh nín, nghe tôi cắt nghĩa: “Oai là anh từng đi lính sơn đá cho Pháp. Anh có Pháp tịch. Tưởng anh bậm trợn vằm vỡ, tiếng anh rổn rảng oai nghiêm, nên mượn anh giả đò làm chồng cho…”

Mới nói có bao nhiêu đó, Tư Ve nghe kịp, khoát lia khoát lịa mà rằng:

– Thôi! Biết rồi! Thiên cơ bất khả lậu? Em tính trát đặng lột da con lọ nồi ấy phải không? Em biểu làm sao qua cứ việc làm y theo vậy, y không sai chồng thiệt chút nào, nghe không?

Tôi nguýt ảnh mà rằng:

– Chuyện thiệt, đừng có nói giỡn, không nên. Rán cho giỏi người ta biết ơn, người ta kiếm cho một con mèo còn bảnh bằng mười tôi đây nữa là. Chiều, hết giờ làm việc, đi thẳng về đây, ăn cơm, nghe không!

Trời vừa chạng vạng, thằng chà Annamalé ngồi xe kiếng với chị Tư Hào, nó vừa bước vô cửa thấy anh Tư Ve ở trần trụi trụi nằm trên ghế xích đu đương đọc nhựt trình, thì nó dội ngửa muốn thối bộ ra rồi. Tôi lúc ấy đang nằm trên bộ ván cũng đương coi truyện, tôi lật đật bước xuống võng cái một, miệng với kêu:

– Ủa. Nầy chị Tư, ê. Anh Bảy. Vô đây chơi mà. Có sao đâu mà sợ: Ngại cái gì?

Rồi tôi chạy lại vỗ vai thầy Ve và giới thiệu giòn giã:

– Nè mình. Đây là chị Tư Hào, ở đường Pierre Flandin, bạn với tôi từ hồi nhỏ. Còn đây là ông Annamalé đường Ohier, tay buôn hột xoàn, đem xoàn định nhờ tôi bán giùm.

Thầy Ve cũng ứ hự có chừng và chào hỏi lơ là. Tôi mời khách ăn trầu hút thuốc, hối trẻ pha trà mới, rồi giả bộ như trực nhớ việc gì, vùng gọi thầy Ve mà rằng:

– À mình, hồi trưa mình dặn tôi nhắc mình chiều nay xuống nhà Cafford lựa mua súng sáu giùm cho ai đó, mình đi hay không?

Thầy nói:

– Ừ, phải à. Đưa tiền đây đặng tôi đi cho kịp trước giờ hãng đóng cửa. Mua để bỏ túi, hộ thân, chớ mua giùm cho ai đâu.

Tôi xin lỗi khách và lật đật mở tủ sắt lấy tiền đưa cho Ve, anh ta đốt thuốc hút, đội nón xách can (canne, gậy) lấy tiền bỏ túi, rồi dặn lớn:

– Tối nay mình biểu thằng Bốn ngủ ở hàng ba gần cửa có lẽ tôi đi đánh thín cẩu nhà thầy Bảy Phương, khuya hay gần sáng về kêu cửa khỏi làm mất giấc ngủ của mình. Thôi, chào hết các bà con, tôi đi đây.

Thầy Ve sấp lưng vừa ra khỏi nhà, chị Tư Hào hỏi:

– Bộ đêm nào thầy cũng đi như vậy hay sao?

Tôi thở dài, than và liếc anh chà:

– Ôi, anh ấy hơi đâu mà nói. Đêm nào như đêm nấy đều bỏ nhà đi như vậy hết. Mê chà bài hơn mê vợ nhà. Có khi đi tới sáng rồi ở luôn đâu đô, tôi nào thèm nói tới đâu.

Lão táo lửa nghe thâm mật đắc ý, bản mặt tươi như đồ sơn mài vừa đánh bóng xong, nhai trầu ăn lá nầy qua lá kia, và nuốt cốt trầu ráo trọi. (Do nước cốt trầu nói nhanh nên mất chữ nước) Tôi láy một cái, chị Tư biết ý, đứng dậy đi ngay xuống nhà dưới, rồi ở luôn không lên. Khi ấy tôi mới xít ghế lại ngồi gần sát mặt lão táo, hôm ấy tôi có xúc chút ít dầu Coty mùi vừa nhẹ vừa kích thích, tôi đảo cặp mắt như thu hồn táo và chậm rãi biểu lấy hột xoàn cho xem. Tôi thở một hơi dài cho bao nhiêu quyến rủ trong tôi toả ra, tôi chê có một hột có tì, và nước không được sáng. Lão ta, miệng thì nói “Đâu có! Đâu có!” mà cứ cúi riết gần sát mặt tôi còn mắt thì hột xoàn không ngó, tôi bụng tưởng lão coi miếng trái tim tôi đeo giữa ngực cũng có một hột kim cương nhỏ, nhưng dè đâu hôm đó vì trời oi ả, tôi chỉ mặc có một chiếc áo mát thật mỏng, lời cặp nhũ đội thẳng cứng tấm hàng không che đậy, lão táo lửa dục đương bửng, không đè nén được, lão kề mặt và liều mạng hun đại giữa hai ngọc nhũ sương còn ngậm. Tôi tuy có đề phòng trước, mà hồn vía cũng gần lên mây, vì cuộc xung đột bất ngờ quá. Tôi xô đại anh, làm mặt giận, dợm la lên. Anh chà, tay nắm cánh tay tôi lại không cho la, miệng xin lỗi láp giáp, rằng bởi quá thương nên không dằn được. Tôi cười duyên giả đò nguôi cơn giận, lấy một áo bà ba bận thêm và cất tiếng kêu lớn chị Tư ra nói chuyện. Khi ấy tôi biểu Annamalé như muốn tôi bán giùm mấy thứ ấy, thì phải làm giấy đàng hoàng, bán đứt sáu hột đó cho tôi, mỗi bột nặng mấy ca-ra và giá là bao nhiêu, đặng cho tôi đưa giấy ấy làm bằng cớ mà làm giá bán. Chớ không giấy không tờ, đời nầy lắm giả dối, đồ quí mà không lai lịch là đồ giả, người ta có tiền mua thì phải xét nét, chớ phải cá tôm gì ngoài chợ mà mua ẩu mua mở không cần giấy tờ làm chắc.

Chị Tư Hào lại xen vô:

– Ôi! Mà chiều mai nầy là ngày thứ bảy, không biết thầy ở nhà có đi đâu không?

Tôi đáp tỉnh bơ:

– Nào ai biết được anh tôi muốn gì. Mà chiều thứ bảy, có lệ, không đi đánh bài thì cũng thả sáng đêm, nhậu nhẹt hút xách hay làm gì, tôi chả có biết. Mà người ta đang nói chuyện mua bán hột xoàn mà chị lại hỏi bắt quàng làm vậy, thiệt lả lảng nhách!

Thằng chà nghe biết tối mai thứ bảy chồng tôi không có ở nhà, liền chịu miệng, nói để mai, cũng chừng nầy, sẽ đem giấy lại. Còn sáu hột kia, cứ biểu tôi cất đó giữ giùm, không sao mà sợ.

Qua ngày sau, trưa mười một giờ rưỡi, thầy Ve lót tót lại nhả tôi xơi cơm. Tuy thầy với tôi chưa có cuộc ái ân gì, chớ từ ngày quen biết nhau, thì tôi bắt gân mặt biết thầy đã có tình gắn bó. Bởi vậy, cơm nước xong, thầy lại than mệt và nài xin ở lại nghỉ trưa, tôi cũng không trái ý, nhưng tôi để nhà cho thầy nghỉ ngơi gì mặc ý, tôi thả lại nhà chị chủ sự đánh câu tôm chơi cho đến bốn giờ chiều tôi mới về nhà. Ông cậu còn nằm liều chưa dậy. Những ai chưa quen tánh mấy bợm đa tình, ắt là khó chịu, chớ biết ý rồi, thiệt dễ như trở bàn tay. Tôi hối trẻ coi nước rửa mặt, chải nón, đánh giày, rồi tôi phải làm tuồng mơn trớn mới trục nổi con dê xồm nầy rời bộ ván. Tôi nhắc lại chuyện giao kết hôm qua, dặn nhỏ thầy đi chơi ở đâu thì đi, nhưng lối chừng bảy giờ rưỡi tám giờ phải nhớ về lập tức và làm như vậy, như vậy.

Google photos

Thầy Ve đi rồi, tôi biểu dọn cơm chiều ăn sớm hơn mọi bữa, dọn dẹp xong, tôi bê lúi cho bầy trẻ được nghỉ chiều nay đi coi hát bóng hay thả đi đâu thì thả, chúng mừng quá đồng đi tứ tán hết, không thằng nào ở lại nhà. Tôi chờ trời tối thiệt mặt, tôi thay một bộ đồ đen mới, dầu phấn hương xông xạ ướp xong xả rồi, tôi nhắc ghế xích đu ra hàng ba nằm đợi. Trong nhà tôi thắp cây đèn ánh sáng dịu mát lu lu, cửa rào khép kín, ấy là kế trốn khách, sợ rủi có cha nào lại bất tử mà lỡ hết cơ mưu sắp đặt. Cũng may, không rõ nhờ ông bà khuất mặt nào độ, khiến tôi phòng bị kỹ càng như vậy chớ bữa đó không có khách nào lai vãng hết. Và cái thói chờ đợi ai thì sao thấy thì giờ đi lâu quá. Tôi nằm khá lâu lâu, hơi sốt ruột, sợ con cá kia sẩy câu, nào ngờ chú xã tri kia cũng sốt ruột như tôi, anh ta tới hồi nào không biết, và đang đứng đợi sẵn ngoài ngõ. Tuy hẹn thì hẹn đúng bảy giờ, chớ trong bụng tôi chắc thế nào chàng ta cũng tới trước. Đến chừng nghe đồng hồ “con ngựa” gõ bảy tiếng, mà chưa thấy tăm thấy dạng, tôi mới bước rảo ra ngoài coi thứ, ai dè, vừa mở cửa ngõ, trời thì tối không thấy bóng người, thinh không vùng nghe tiếng hỏi: “Chị Hai! Phải chị Hai!”. Tôi gượng gạo hỏi “Ai? Ai?” mà hồn vía đã lên mây, rùng mình rởn ốc. Bộ anh ta nghe tiếng hỏi run en, biết tôi sợ, nên bước trở tới và nói: “Tui? Tui! Anh Bảy Annamalé!”. Coi kỹ lại, “cục tình” của tôi cắc cớ, bận áo bành-tô (paletot) đen bằng nỉ ăng-lê, vận chăn màu sậm.. nên khi nãy tôi kiếm không ra. Hú hồn.

Tôi xây lưng trở vô nhà, ngoắt anh ta biểu theo. Vô đã tới hàng ba rồi, miệng còn hỏi: “Anh đi rồi? Thiệt?” Tôi vừa ừ, vừa ra dấu cho biết chỉ có một mình tôi ở nhà, còn cửa thì khép sơ lại đó. Tôi ra áo dài, thay áo mát, rồi biểu Annamalé cởi áo bành tô kẻo nực, tôi bổn thân giúp mở từ cái nút áo, sờ soạng làm chết tê cả mình thằng chà. Thói của họ là hay ở trần, nên khi nghe tôi biểu không đợi mời hai lần, anh ta cổi tuột cái áo, thấy sẵn có cái gạc nai gần cửa buồng, anh ta móc áo vào đó, lại làm bộ đút đầu dòm vô trong và khen “tốt quá!”. Tôi vặn đèn trong buồng, rủ vô coi, rồi bước lại đứng gần Annamalé, biểu: “Đâu? Đưa cái giấy bán hột xoàn đây cho tôi coi?” Anh Bảy Chà vừa nói “Giấy ở trong túi áo, lát nữa sẽ coi”. Tôi chưa kịp trả lời, thì nghe ngoài cửa có tiếng thầy Ve kêu giựt giọng: “Hai ơi. Ra biểu.” Tôi làm bộ sợ run, vừa chỉ dưới sàng và ra dấu mau mau chun xuống đó trốn. Tôi bước ra ngoài hỏi Ve:

– Chỗ mình không đi coi hát hay sao?

Ve sân si:

– Coi cái gì? Hỏi lảng nháchb. Cái áo bành tô của ai máng đây đây? Chịu thiệt đi! Không, tao bắn nát óc.

Tôi làm bộ khóc nhếu nhàu còn thầy Tư Ve thì đâm sầm chạy thẳng vô buồng kiếm dáo dát. Vừa thấy anh chà ngồi núp dưới giường, anh ta liền móc súng nhắm bắn. Tôi a lại nắm tay thầy, miệng vừa khóc vừa biểu nó chạy. Cơ khổ, nó ở trần trùi trụi, thoát ra được khỏi buồng, bất kể là bàn là ghế, tuôn ra khỏi chạy tuốt.

Thầy Tư Ve và tôi dáy mặt vào vách mà nó nôn cười hòng chết. Đó rồi, thầy khoá cửa lại, soạn ra coi: cái bốp no nóc, bóc ké! Tôi rút ra cái giấy bán hột xoàn, còn bạc báo nhiêu xin nhường cho thầy, đền ơn khó nhọc vì đóng tuồng hay quá. Ve, cái hào hiệp gốc sơn đá không bỏ, dê xồm tổ mẹ, một hai từ chối, lấy ra đâu sáu bảy tấm giấy xăng và một mở bạc nhỏ, thồn đại vào túi áo của tôi, giả đò lỡ tay, khều sơ nhũ hoa, rồi cười bịch hạc nói có muốn thật tình đền ơn thì bao cho thầy đi coi hát đêm nay thì thầy mới chịu.

Tôi buộc lòng phải thay đồ đi với thầy rồi gì nữa với thầy đêm ấy, kẻo phụ tình người ta gắn bó bấy lâu.

Sáng ra tôi mệt mỏi, ngủ trưa hơn mọi bữa. Đâu lối gần chín giờ thì chị Tư Hào ở Pierre Flandin xuống, cho hay thằng xã trì sai chỉ đem trả tôi giấy tờ của thầy phó Sốc trăng và năn nỉ tôi xin cho lại những giấy nợ trong bóp. Aunamalé nhắn biểu tôi để ít bữa cho chồng tôi ngôi ngoai, rồi kiếm cớ nào vô nhà chị Tư Hào cho nó thăm, kẻo nhớ lắm. Còn mấy cái hột xoàn đó, như bán có lời để nữa nó chia hai. Tôi dặn chị Hào về kiếm điều đẩy đưa với nó, rằng tôi bị ảnh ghen đánh tôi xể mặt xể mày hết, nên mấy vết chưa lành, tôi chưa đi được. Tôi nhắn hỏi thăm anh Bảy có hề gì không? Rồi để vài bữa nữa như nó còn nhắc tôi thì giả bộ đi đâu đó rồi về thuật cho nó hay chồng tôi lột đồ nữ trang cất lên hết rồi không cho tôi đeo đến một phân vàng là vì bị tôi lén vô nhà chỉ nhưng đi nửa đường bị ai đó mách, thầy theo bắt trở lại. Bây giờ thầy ghen dữ lắm, sợ nói ra đi đâu, thầy bắt đặng một lần nữa thì ba mạng tôi cũng khó sống. Tôi căn dặn chị Tư Hào rành rọt rồi đền ơn trọng hậu cho chỉ ra về. Khi ấy tôi mới lại đằng anh Phán Đức, trả bằng khoán cậy nói lại với thầy Phó rằng đôn nầy rủi tôi bận việc quá, mà việc nầy giao cho ai cũng không xong, vậy hãy để hưởn hưởn tôi rảnh bớt, sẽ cho ảnh hay đặng nhắn thầy phó lên. Có cái tôi đích thân tôi đi lo, thì mới thảnh việc đặng.

——————————–

1Mập-lê là tiếng điếm đàng của bọn chà, không biết chữ viết ra sao, duy biết có nghĩa là chàng rể, tức là muốn làm chồng của người đàn bà đối diện với nó khi đàm đạo, cũng như tiếng “anh Bảy” là dịch chữ “bey” là một ngôi chúc bên xứ nó, tỷ dụ le Bey du Sénégal, v.v…
2Gió lớn: đại phong, tiếng lóng của giới lục lâm, có nghĩa là món làm ăn lớn tiếng mượn trong truyện Thuyết Đường, do Trình Giảo Kim, đi ăn cướp đón đường lần đầu, gặp mồi ngon, hô: “Hữu đại phong Đại phong

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 20 Jun 2024

Google photos

Phần 25

Lo phương lập nghiệp

Nay nhà đã có, ổ đã dọn, tôi mới quyết tâm lập chí, chịu cực chịu khổ, nhịn ăn nhịn mặc, định trong bụng làm sao phải cỏ một sự nghiệp không thua họ là người xưa kia đã bóc lột tôi, thì tôi mới nghe!

Mà chung qui tôi nói vậy chớ bao nhiêu đường cũng dẫn dắt tới thành La Mã, hết lớp nầy đến lớp khác, thì cũng dùi đánh đục đục đánh săng, người bóc lột người… không khác. Cái nghề làm mẹ đĩ, chủ nhà chứa, nói ra nghe nhục nhã, nhưng nếu không nói huych tẹt ra, thì đoàn đi sau biết đâu mà tránh?

Vậy trước hết tôi lo về xã giao, học dọ coi trong đám mấy ông thầy chịu chơi, ông nào có quyền, thầy nào có thế mạnh, hoặc lanh lợi, hoặc giỏi nghề tráo chác xoay trò, hoặc nữa giao thiệp rộng có quen lớn dưới lục tỉnh nhiều, những người ấy, tôi đều tìm cách làm quen, mời thỉnh người ta đến nhà, khi tiệc yến khi tổ chức đờn ca, trọng đãi họ, để cho thấy nhà mình toàn là những người tai mắt, có thế lực đến chớ không phải hạng tầm thường. Vả lại nhà tôi lúc ấy sắp đặt có nghi tiết lắm: tôi trai tớ gái không thiếu, thảy đều ăn mặc sạch sẽ, áo quần là ủi thẳng thớm, lại biết khuôn phép, lễ nghi, ăn nói dạ thưa, đãi đằng bặt thiệp. Tôi nay là chủ nhà, phải học lại cách xử thế, tập tánh niềm nở với tất cả mọi người, vừa chiều theo ý khách mọi bề: ai muốn chơi theo cách gì, thích đánh cờ, làm thi, ngâm thơ, uống trà, nghe ca hát, tôi phải chạy cho ra và rán lo làm đẹp lòng đủ các giới. Bởi vậy trong nhà lúc nào cũng rần rần rộ rộ: muốn ăn có ăn, muốn uống có uống, muốn hút cỏ hút, muốn cờ bạc có cờ bạc, thậm chí muốn hầu lịch gái xinh, tôi cũng phải kiếm tìm cho có. Danh từ đĩ thầy, điếm chúa có từng làm mới có biết. Khuyên ai chưa đạp cứt chớ chê dơ! Trong nhóm đến nhà thiếu chi khách đa tình, sớm chiều đeo theo một bên, tôi để cho họ mặc sức ve vãn, phận tôi tôi biết tôi giữ lèo giữ lái, không tỏ tình thân thiết ai hơn ai, với tôi ai cũng giả dạng lưu tình, nhưng tôi phải chờ đợi lọc lừa trước đã, sợ nhứt là cảnh trong sân một mái mà đến mấy trống, e nỗi xảy ra cuộc tranh giành xích mích thì cơ đồ tan rã sụp đổ hết còn gì. Bởi khéo xử cho nên cậu nào cậu nấy đều sẵn lòng chịu khó chịu nhọc, toan lập công để mua chuộc lòng tôi. Lần lần một người khen một tiếng mà tiếng đồn đi khắp lục tỉnh, mấy tay cự phú đều có ghé nhà, mỗi khi họ lên dây, hoặc đi hầu kiện, bán lúa, hoặc đưa con lên học trường lớn, vay hỏi bạc chà, hay lên mua sắm đám cưới đám ăn khai bằng, vân vân. Vả lại nhớ quen lớn nhiều, nên sanh ra nghề mới, các tiệm buôn hãng lớn nào trữ bán vật chi, tôi đều thông thạo, và biết rõ món nào chỗ nào xấu tốt, tôi hoá ra có cái nghề nay gọi là mại bản, mà lúc đó gọi theo Tàu là má chính hay mái chính gì gì đó. Rồi nghề dạy nghề, lần hồi các tay thiện nghệ về mua bán lúa gạo, mấy nhà thầu, tài công nhà máy, họ đua nhau dạy tôi, chỉ mánh lời, thế thần mua đi bán lại làm sao cho có lời nhiều. Nhiều khi tôi lãnh mua đồ giùm, một đám mà ăn lời hai phía lãnh bán một ghe lúa, thạnh có bạc trăm, mà chủ ghe lúa lên nhà tôi chơi, phải lễ mễ, tính chuyện ơn nghĩa, lại còn bài bạc cho tôi lấy tiền xâu là khác. Ai hỏi qua việc kiện thưa, tôi phải đóng vai cố vấn, chỉ luật sư nào giỏi việc hộ, việc hình, ông nào miệng lưỡi lanh lợi, thầy thông ngôn nào có tài thông dịch trôi chảy, quan toà mau hiểu và xử án không lầm, thầy nào đem đàng dắt mối rành, thảy thảy tôi đều quen biết. Gẫm lại mình là đàn bà, nếu biết nhỏ nhẹ, khéo trong lời ăn tiếng nói, muốn cậy mượn chuyện chi, đàn ông nào lại không sẵn lòng vừa giúp? Nhiều khi tôi lãnh bướng quá nhiều công chuyện mần (làm) không hết, thế mà tôi chỉ viết thơ cậy ông nầy thầy nọ, họ xởi lời giùm tôi mà việc cũng xong, lại được gãy gọn, công thì của ai không biết mà tiền thì tôi bỏ túi không sót một đồng, thiệt là sướng quá!

Những lúc tôi chạy bận như vậy, thì ở nhà đã có chị chủ sự coi sóc, lớp lấy xâu mấy sòng bài cào, tứ sắc, xì phè hay thín cẩu (thiên cữu). Tay nào chắc chắn mà hụt vốn thì chi ra bạc cho họ ngồi sòng, như may ăn, thì chỉ vuốt lời có bạc chục, rủi thua thì họ là giới giang hồ mã thượng, nào ai chạy chối đi đâu? Tuy lúc hỏi mượn, không giấy không tờ mà còn chắc hơn có trước bạ hay có cầu chứng nơi toà? Vả lại cái miệng của chỉ đó có vừa với gì, ai lại không ghê không sợ cái miệng ấy! Nơi nhà tôi, chỉ còn kiêng dè, chớ với bạn hỏi chỉ tiền ngày tiền tuần tiền tháng, thì ối thôi! Một ngày chí tối, chỉ ra rả không biết lấy gì mà chứa! Đối với bọn cờ bạc, gái tứ thời, chỉ còn cắt cổ siết họng hơn nữa: bắt góp từ ngày, nếu không góp, chỉ đến canh tại nhà, khách vừa ra là chỉ chìa tay thâu tiền răng rắc. Tiếng nói “tiền vay vốn là một trăm”, thế mà chỉ đưa ra có chín chục, chận lại tiền đầu, mười đồng trước, chịu thì cho, bằng không chịu thì hãy xê ra chỗ khác. Rồi một trăm ấy, mỗi ngày phải góp một đồng hai cắc (1$20) và góp đủ một trăm ngày mới hết nợ. Rủi thời túng quá, ngày nào đó không đủ tiền góp 1$20 kia, thì cũng phải trả năm ba cắc tiền lời và 1$20 kia còn thiếu như cũ, nếu làm thinh thì chắc không khỏi chỉ sai người đến nhà làm nhục, hoặc réo tên họ hoặc chửi rủa đến chừng nào có tiền trả chúng mới thôi, hỏi có ác nào hơn? Nơi sở Ba son (arsenal) có lệ một tháng Tây phát tiền làm hai lần, chỉ cho ra năm đồng (5$00), tới kỳ (hai tuần lễ nữa) phải trả sáu đồng (6$00). Như không trả đủ, thì phải trả một đồng (1$00) tiền lời, số bạc năm đồng gác qua tháng sau và đẻ lời ra nữa? Về bạc tháng, chỉ cho ra mười đồng (10$00), cuối tháng phải trả mười hai đồng (12$00). Ấy là quen lớn và tử tế lắm đó, chớ với mặt lạ hay mới hỏi mượn lần đầu thì phải trả tới mười ba đồng (13$00). Về tiền mướn, chỉ ăn lời mới thiệt là ác hơn nữa? Tội nghiệp kẻ nghèo không có vốn buôn bán, hoặc muốn sửa nhà, xóc nóc dột, làm ăn hay mua sách vở cho con học, trả tiền trường, đụng tới chỉ, đến hỏi tiền mướn của chỉ, thì cứ chín đồng bạc (9$00) đưa ra, mỗi ngày phải nạp cho chỉ hai cắc (0$20) tiền lời, trả như vậy tháng nầy qua tháng kia, mà vốn cũng còn nguyên vốn, chừng nào trả chín đồng (9$00) kia mới là dứt nợ “tiền mướn”. Khi nào ốm đau bịnh hoạn, làm không ra tiền và không tiền trả cho chỉ, năm mười bữa thì chỉ kê lời với vốn, tính ra mười đồng (10$00), bắt phải trả tiền lời một lớp nữa, chồng chất lên hoài, nên đúng với câu “nợ lút đầu lút cổ”.

Còn trong sòng cờ bạc, ai muốn thế chưn đồ (vàng, cà rá), thì cũng một tay chỉ ra tiền. Nếu xên sòng mà đồ thế không chuộc liền đó, thì chỉ kỳ cho nửa tháng, cứ mỗi đồng bạc cho ra, phải trả mỗi ngày là tiền rưỡi (ba su) tiền lời, đã vậy, vàng của người ta, chỉ lấy đem đi cầm nơi tiệm, lấy tiền về cho chỗ khác vay mượn, đẻ tiền lời cho chỉ nuốt! Chứng nào chủ chiếc vàng chiếc cà rá có tiền đem trả chỉ, thì chỉ mới chuộc trong tiệm ra. Còn một cách nữa là hễ vàng thế, tới kỳ không chuộc thì chỉ lấy chiếc ấy cho ai đó liệu chắc chắn, mướn đeo, tiền mướn đeo ấy, cứ một đôi vàng hay sợi dây chuyền, mỗi ngày mướn hai cắc (0$20), kiềng vàng ba cắc.

Nhiêu khi, tôi thấy người nghèo khổ tới khóc lóc năn nỉ chị chủ sự thiếu điều gãy lưỡi mà chỉ vẫn không nao núng, cứ mắng xối người ta, đòi thưa cò bỏ tù phát mãi, chỉ nghiến răng trẹo trẹo, người ấy ra về rồi, tôi trách chỉ quá độc ác không biết nương tay, khi ấy chỉ ngồi nhắc lại lúc xưa, khi còn ở với Má Tư Hớn, bán máu bán trinh, hỏi mấy ai biết thương cho chỉ? Và mấy ai biết tội nghiệp là gì? Muốn may một cái áo mới, cũng phải mua góp rồi trả từ ngày của đáng một đồng trả thành hai. Còn như cái thân cha mẹ sanh thành cực khổ, đem ra thí thân làm món đồ choi cho khách, họ trả cao trả thấp từ đồng, giằn vặt thân thể đủ mọi cách vày vò đủ kiểu, chiều lòn khách hết nước, chừng đem tiền về cho má, thì tiền đầu, tiền ngày, tiền góp, má trừ gần hết, ai biết thương cho mình. Thiệt là nghe chỉ nhắc lại chuyện cũ, tôi bắt lạnh mình rởn ốc.

Chớ chi tôi không sớm thoát thân thì ngày nay không biết nó ra tới nước nào. Nghĩ tới đâu tôi căm hờn tới đó, xã hội là dường thế, gặp cảnh nào hay cảnh nấy, không còn biết thương hại người đời là gì nữa.

Nghĩ cho đời, toàn là giả dối! Tôi bắt lỗi chị chủ sự là ác độc tôi thấy lỗi người mà không xét lỗi mình! Bỏ chồng, đoạt của, lọt nhà số đi tu bỏ rơi đành đoạn anh Lu-y (cũng khá không tìm kiếm thưa gởi), nay làm nghề nầy rồi chê má Tư Hớn là chê làm sao được? Ban đầu giận oán cô chủ sự, sau kết làm bạn, rồi xót rồi thương. Chốn ngục tù, thì lòng nát ngướu như tương, làm thân con ở phải lòng chai dạ đá. Tôi a ý khúc tùng, giúp giáo cho giặc, oán trách hăm trả thù bà Tư Hớn mà rốt lại cùng làm một nghề! Mâu thuẫn ôi là mâu thuẫn. Và đời là vậy đó!

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 20 Jun 2024

Phần 12

Bạn biết người y tá tù là ai không? Đoàn văn Toại, tác giả Goulag Vietnamien láo lếu đấy. Cái xó xỉnh đề lao Gia Định này là biểu tượng của nền ngục tù ô nhục của công sản ư? Đoàn Văn Toại chỉ quanh quẩn ở đề lao Gia Định. Anh ta bị bắt trước tôi vài tháng. Khi tôi đến đề lao, Đoàn Văn toại được ban phát ân huệ giúp việc Phòng Y Tế. Trưởng phòng Y Tế, bác sĩ Quang, y sĩ trung úy Thủy Quân Lục Chiến … nằm vùng. Sau 30-4-1975, anh ta mang quân hàm trung úy công an. Có lẽ, Quang là bí danh của anh ta. Đoàn văn Toại nghiền, tán thuốc dân tộc và phát thuộc các phòng tập thể C-1. Anh ta chưa được bén mảng ở cửa cachot. Toại hưởng quy chế ăn uống, tắm giặt thoải mái trên Phòng Y Tế. Mỗi tuần, Toại ra cổng trại, nhận thuốc của thân nhân tù nhân đăng ký. Bề ngoài nhận xét, Đoàn Văn Toại có vẻ là một cán bộ bị kỷ luật hơn một tù nhân chính trị. Lý do nào anh ta được cộng sản tin cẩn, tôi không hiểu. Toại biết thân, biết phận, không bàng nhàng với anh em. Một cách vô tư mà nhận xét, dưới mắt tôi, Đoàn văn Toai chỉ khúm núm cầu an. Anh ta chưa hề hại ai. Mà cũng chẳng ai có thể hại ai ở trong tù. Những kẻ xử dụng ngôn từ đao to búa lớn “Bước lên xác anh em, bán xác anh em” là những kẻ gian dối. Nó đã chứng tỏ kiến thức nhà tù cộng sản quá thấp. Cộng sản không bao giờ tin cả những tên họ xử dụng làm tai mắt cho họ. Hễ tên “ăng-ten” báo cáo một tù nhân nào, ít nhất, hai tù nhân khác bị gọi ra làm việc trước. Và câu hỏi như vậy: “Anh thấy anh X có khả năng làm việc đó, nói điều đó không?” Nếu hai tù nhân “chứng nhân” trả lời “không”, tù nhân bị báo cáo bình yên, và tên “ăng-ten” viết tự kiểm. Tôi đã trải qua ba nhà tù lớn nhất và hãi hùng nhất của miền Nam, tôi chưa thấy một tù nhân nào bị chết vì bị “ăng-ten” báo cáo. Tôi cũng chưa thấy một tù nhân nào được thả sớm nhờ làm “ăng -ten”. Chuyện “ăng-ten” là chuyện nhỏ nhặt đấy. Bạn còn nhớ Vũ Thành An, tác giả Những bài ca không tên chứ? Tất cả viên chức cao cấp “ngụy quyền” ở Lòng Thành đều rõ. Vũ Thành An đã sáng tác ca khúc có đoạn:

… Nay mới rõ, đế quốc Mỹ là quân xâm lược
Nay mới rõ, lũ ngụy quyền là lũ tay sai
Bao nhiêu năm mình cúc cung phục vụ miệt mài …

Nhờ ca khúc … nín thở qua câu này, Vũ Thành An ho lao đỡ phải vác cuốc, ngồi nhà làm Thông Tin Văn Hóa tù. Rốt cuộc, anh ta vẫn bị đày ra Bắc và trở về bệnh hoạn tiều tụy. Người ta có nỡ kết án Vũ Thành An làm “ăng-ten”, Vũ Thành An “bán xác anh em” không? Vẫn ở trại cải tạo Long Thành, bác sĩ N. Ng. T. (hiện đang định cư ở Mỹ) phục vụ tại bệnh xá tù, đã tình nguyện vác cả tủ lạnh, ti vi đem vào dâng Trưởng trại Ba Tô để hưởng nhàn, để tích trữ thuốc và để Chánh án Đào Minh Lượng mất nửa lá phổi, để Vũ Thành An ói máu thì sao không ai nói? Chưa đủ đê tiện, bác sĩ T. còn dụ đưa Ba Tô về Sàigòn chơi, cho Ba Tô ăn uống no say, để được ngủ với vợ. Và bầy trò khám các nữ tù trại Long Thành để bọn cai tù … coi xi nê thỏa thích 1. Sao không nghe ai nói nhỉ? Tôi sẽ bênh vực đến cùng, nếu ai bảo Đoàn Văn Toại làm “ăng-ten”. Toại, ban ngày, ở ngoài phè phỡn, ban đêm, vào phòng 7C-1. Phòng 7C-1 có phóng viên lùn Văn Chi, dũng sĩ quốc gia đã đánh hai Pháp kiều thân Cộng treo cờ Giải Phóng ở trung tâm Sàigòn trước 1975. Sau năm 1975, Văn Chi bán phở và tham gia tổ chức phản động. Anh ta đã “chào mừng” tôi bằng trái xoài nhờ Đoàn Văn Toại chuyển. Phòng 7C-1 có tỷ phú Phạm Quang Khai, vua tàu dầu, tư sản mại bản. Ông Khai có 50 chiếc tàu chuyên chở dầu chiến lược. Ông không tin thủy thủ đoàn Việt Nam, chuẩn bị một chiếc tàu với thủy thủ đoàn Đại Hàn. Chổi cùn, dế rách ở biệt thự nguy nga số lẻ đường Công Lý, đối diện trường Régina Mundi, được khuân hết xuống tàu. Vợ con ông đã đi từ khuya. Ngày 29-4-1975, ông khệnh khạng xuống tàu. Thủy thủ đoàn Đại Hàn ớn cộng sản đã chuồn rồi. Ông tỷ phú đứng khóc. Ông muốn điên. Ông lú lẫn. Ông không kiếm người khác. Ông sợ tàu… chìm. Và ông … vào tù y hệt tinh thần luân lý giáo khoa thư: “Ba quan đắt quá, thà chết còn hơn”. Phòng 7C-1 có cụ Cao Văn Diên, phản động già và cụ Trần Văn Liễu, phản động gân. Nhân vật Cao Văn Diên hiện diện trong Goulag Vietnamien của Đoàn Văn Toại như một ông già bị bắt oan và chết tại đề lao Gia Định. Sẽ đề cập sau.

Nhờ thảnh thơi ban ngày ngoài phòng giam, Đoàn văn Toại đã thoát dịch ghẻ 1976 kéo dài từ tháng 4-1976 đến tháng 10-1976. Cuối năm 1976, Toại bị tống vào phòng vì sự liên hệ lèm nhèm nào đó. Chức vụ y tá C-1 rơi vào tay Lý Sen, chủ nhà băng Đông Nam Á, tư sản mại bản Chợ Lớn. Đoàn Văn Toai bắt đầu bất mãn. Vợ anh ta, quốc tịch Pháp, con gái nhạc sĩ Võ Đức Tuyết, đã ẵm con sang Tây. Toại ở chung phòng với Đặng Giao bên khu A. “Ngày nào thành công, tôi sẽ sản xuất một loạt cầu tiêu hình đầu Hồ Chí Minh. Cái miệng lão là chỗ phân rơi xuống!” Đoàn Văn Toại tâm sự với Đặng Giao và Đặng Giao kể lại ngày chúng tôi tái ngộ ở Chí Hòa. Rồi Toại được thả, được leo lên máy bay Air France, đoàn tụ gia đình. Tôi vượt biển sang Pháp, biết Đoàn Văn Toại đã kể chuyện đề lao cho Minh Đức Hoài Trinh và Minh Đức Hoài Trinh thông dịch cho một ký giả Tây. Và Goulag Vietnamien xuất bản. Tôi lại biết Toại đã vận động định cư ở Mỹ và theo Trương Như Tảng. Tảng theo Hoàng Văn Hoan, chỉ chống tập đoàn Lê Duẩn – Trường Chinh, chứ không chống cộng sản Việt Nam. Họ đã xác định lập trường. Hồ Chí Minh vẫn là xác chết được tôn thờ. Cậu Đoàn Văn Toại từng bầy tỏ chí khí “Sản xuất một loạt cầu tiêu hình đầu Hồ Chí Minh. Cái miệng lão là chỗ phân rơi xuống”. Bây giờ, cậu Đoàn Văn Toại “phản tỉnh”, “thức tỉnh”, cậu hò hét “Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta”. Giữa Toại và tôi đã có biên giới.

Mùa thu 1985, Đoàn Văn Toại, qua Paris, với tư cách cựu tù nhân đề lao Gia Định, mời tôi ăn tối. Với tư cách cựu tù nhân đề lao Gia Định, tôi nhận lời. Chúng tôi hẹn nhau ở quán Đào Viên quận 13. Đoàn Văn Toại tặng tôi cuốn Goulag Vietnamien. Tôi nói:

– Tôi đã đọc. Sách của cậu đáng liệng vào thùng rác. Vì có những ba điều bố láo. Một: Ở đề lao Gia Định, giấy và bút bị nghiêm cấm. Công an kiểm tra hành lý tù thường xuyên, cậu đào đâu ra giấy bút mà lập kiến nghị? Rồi tù nhân bị nhốt kỹ 24 trên 24, cậu liên lạc với ai mà xin được hàng trăm chữ ký? Hai: Cụ Cao Văn Diên phản động nặng, cụ bị đầy lên Pleiku và chết tại Gia Trung, cậu bảo cụ ấy chết ở đề lao. Cậu được tha, cụ Diên vẫn còn nằm ở đề lao. Cụ Diên rời đề lao sau 2-9-1977. Ba: Cậu quả quyết tôi chết rồi. Còn rất nhiều bố láo. Ba điều thôi đã đủ liệng sách “Chứng nhân” của cậu vào thùng rác. Tôi sẽ chửi nhà xuất bản Laffort cái tội rủa tôi chết.

Đoàn văn Toại cười cầu tài:

– Tôi kể đại ông ơi!

Tôi nhìn thẳng mặt anh ta:

– Điều nầy ngoài cuốn sách. Cậu là thằng bất nhân. Đã cho tôi chết, cậu còn bảo tôi làm “ăng-ten”

Toại chối:

– Tôi thề với ông, tôi không hề bêu nhục ông. Đứa nào nói với ông vậy?

Tôi chậm rãi:

– Bạn cậu, Vũ Ngọc Yên, tạp chí Độc Lập bên Đức.

Đoàn Văn Toai câm họng. Tôi cười xòa và bốc anh ta chín từng mây. Toại khoái chí chửi Trương Như Tảng cù lần, Hoàng Văn Hoan đần độn, Nguyễn Công Hoan ngu dốt, Tô Văn cố đấm ăn xôi… Anh ta nói về đài phát thanh sẽ lập ở Tân Gia Ba, gợi ý mời tôi bằng cách than thở thiếu nhân tài. Nội tình của phe nhóm anh ta, anh ta kể vanh vách. Tôi nghĩ thầm: Mẹ kiếp, mày nhóc tì, tuổi ít hơn ông, ngu hơn bò mà cứ đòi đi mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc ông à? Ông vừa trổ đòn nhà báo, mày đã tự khai vung xích chó. Hết chai rượu đỏ, tôi nói:

– Thôi nhé, chut tình đồng tù đề lao đến đây chấm dứt. Cậu đi đường cậu, tôi đi đường tôi. Mai này tôi đánh, cậu rán mà đỡ. Tôi thích sòng phẳng.

Chúng tôi chia tay. Ít tháng sau, Toại gửi cho tôi một bức thứ từ Liễu Châu. Anh ta ba hoa: “Đã thăm mộ các liệt sĩ quốc gia, sẽ không còn sai lầm như họ”. Tôi suýt chửi thề. Đó, người y tá tù đề lao Gia Định khu C-1, nhà cách mạng lưu vong Đoàn Văn Toại, với đầy đủ tài năng và tư cách, người đang chu du thế giới bằng tiền Tàu, tranh đấu cho giấc mộng Tôn Sĩ Nghị cùng đám Hoàng Văn Hoan, Trương Như Tảng. Và tôi, tôi ngồi trên lầu 8 của cái immeuble bên bờ sông Seine, thành phố có thị trưởng Jacques Laloe, là đảng viện cộng sản, có tổng hành định của Georges Marchais, Tổng bí thư Đảng cộng sản Tây, viết sách mưu sinh. Bởi nghèo, nên bị cư trú tại Ivry Sur Seine. Bởi chống cộng, nên bị Jacques Laloe lờ tít mọi trợ cấp xã hội, y tế. Không sao, tôi đã chống cộng, tôi đang chống cộng, tôi còn chống cộng đến tối. Tôi anh dũng thấy mẹ, tôi chống cộng trong lòng địch!

Trở lại đề lao Gia Định, nơi tôi đang học môn Thống Khổ Nhập Môn. Tôi ở 6C-1 đã 2 tuần, đã quen với sinh hoạt phóng này. Tôi không còn gớm ghiếc nhìn đống mài ghẻ mà trực sinh quét gom buổi sáng. Bạn thử tưởng tượng mài ghẻ mủ và mủ ghẻ dính nhớp nhúa trên bục nằm, mỗi sáng. Người ta phát cho chúng tôi miếng bố tời, vừa để chùi chân bước lên cầu tiêu vừa để lau bục nằm. Ở đề lao, dép cất kỹ trong bị, chỉ mang khi bị gọi lên phòng chấp pháp làm việc. Làm việc, danh từ cộng sản, có nghĩa là làm việc với công an, có nghĩa là viết tự khai và chịu đựng những cuộc thẩm vấn điên đầu. Người cộng sản chơi chữ rất xảo quyệt. Một ông Ba Tàu đã phát biểu ý kiến ở phòng B, Sở Công An: “Lù má ló, pắt pỏ tù lại pảo li học tập. Lấy cung lại pảo làm việc. Nhà tù lại pảo trường học. Cai ngục lại pảo quản giáo, cán pộ!” Chữ nghĩa của cộng sản đã huyễn hoặc thế giới. Cho đến hôm nay, báo chí người và cả báo chí mình vẫn viết nhà tù, trại tập trung khổ sai lao động là Trại học tập cải tạo! Ở khắp nơi tôi đi làm chứng nhân, người ta đều hỏi tôi: “Ông được học tập ra sao?” Và tôi đã trả lời: “Tôi chẳng được dạy dỗ gì cả. Người cộng sản có một mục đích rõ rệt. Họ làm chúng tôi sợ hãi, bắt chúng tôi khổ cực và bỏ chúng tôi đói. Càng kéo dài sự sợ hãi, khổ cực và đói, chúng tôi càng sa sút tinh thần. Khi biết chúng tôi tàn lụi ý chí phấn đấu, đó là lúc họ thả chúng tôi về. Và họ đã đạt kết quả. Đa số, chúng tôi về mất trí, thành phế nhân. Có nhiều người đã được xuất ngoại chính thức theo chương trình ODP, sang Mỹ, sang Tây … vẫn chưa hết ngẩn ngơ, ngơ ngác. Chúng tôi học tập sợ hãi, khổ cực và đói. Bất cứ tù nhân nào vượt qua sợ hãi, khổ cực và đói, thì sẽ tự học ở đó những ý nghĩa rạng ngời của cuộc sống, của lý tưởng chiến đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền.” Tôi không dám nói thêm: “Nhưng không dám vượt qua sợ hãi, khổ cực và đói thì sẽ ăn vụng thịt dưới bếp, ăn cắp cơm cháy, ăn tranh phần cơm heo và tự đòng hóa mình với súc vật”. Vậy thì, làm việc là danh từ hãi hùng của tù nhân. Bạn sẽ mệt lữ cò bơ với làm việc. Làm việc ở đề lao Gia Định, là bị truy nã dĩ vãng, hiện tại; ở Chí Hòa là bị đánh học máu mồm; ở các trại tập trung là vào nhà lô, ăn đòn nhừ tử.

Tôi chưa bị ghẻ. Hồng Dương đã bắt đầu. Nhờ không biết ăn mắm ruốc và cá biển, một vài mụn ghẻ nước của tôi chịu thuốc xanh ngay. Tôi dùng mũi kim băng khều mụn, nặn đến máu chảy ra rồi thấm khô, chấm thuốc. Là mụn ghẻ mọc mài. Mỗi tù nhân đề lao đều có một cái kim băng và phải dấu kỹ. Khi bị ngứa, ngày cũng như đêm, tôi lấy bàn chải đánh răng chà lên chỗ ngứa. Nếu gãi bằng móng tay, gãi cho đã, da sẽ bị xước. Và chỉ cần da xước một tí là ghẻ mủ cấp kỳ. Ghẻ nhà tù “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” hơn xã hội chủ nghĩa. Hàng chục thứ bệnh truyền nhiễm ở phòng giam tập thể, nhưng tù nhân không được chích thuốc ngừa. Sự khôn ngoan chống ghẻ của tôi bắt tôi phải đánh răng bằng cái bàn chải tôi đã gãi khắp thân thể. Không có sự khôn ngoan nào không bị trả giá. Sự khôn lớn của con người bị trả giá đắt nhất. Phòng 6C-1, ngoài mấy tên trộm cắp vô lại, mấy tên Mafia cơm nước, mấy “chuyện buồn nhỏ nhặt”, không đáng chi phải để phòng. Tôi yêu nhóm anh em trẻ phản động Hóc Môn, Bà Điểm. Người của Mười tám thôn vườn trầu đã được hai kép hát Út Trà Ôn và Thành Được diễn tả điêu luyện và rung động trong Người ven đô như những chiến sĩ “Chống Mỹ cứu nước” phi thường lại cũng chống cộng cứu nước phi thường. Nếu tôi đã ngờ vực Trương Phiên, tôi hoàn toàn ngưỡng mộ và tin tưởng tinh thần chống cộng của nông dân trẻ miền Nam. Bắt đầu, ở phòng 6C-1, tôi suy nghĩ về cuộc tân cách mạng Tây Sơn 2. Tôi đã nói chuyện nhiều với nhóm anh em Mười tám thôn vườn trầu. 6C-1 có một người tên Nga, tâm sự na ná Moritz của Gheorghiu. Anh ta nuôi heo cho một chủ trại ở Thủ Đức. Vợ anh ta đã chết. Anh ta làm gà trống chăm sóc đứa con gái 8 tuổi. Chủ trại bị bắt. Anh Nga bị bắt theo. Người ta chụp lên đầu anh cái mũ phản động … nuôi heo để dễ ăn cướp bầy heo. Anh Nga xin đem con gái vào tủ. Người ta từ chối. Cả ngày, anh ta ngồi xổm trên thành hồ nước hết khóc lại thở dài. Này bạn chống cộng sản và bạn thân cộng sản, có bao giờ bạn thấy một người vô sản ngồi khóc nhớ con trong nhà tù cách mạng vô sản về tội nuôi heo? Chẳng bao giờ bạn thấy cả. Vì bạn không bao giờ ở tù cộng sản. Vậy bạn nên suy nghĩ về cái gọi là bản chất và hiện tượng cộng sản, xuyên qua thân phận người vô sản cùng khốn tên Nga. Chừng suy nghĩ đắn đo, chín muồi, bạn sẽ có thái độ chính trị quyết liệt, dù chống cộng hay thân cộng. Tôi vốn khinh bỉ mọi sự làm dáng chính trị. Nó không thấm khô nước mắt của anh Nga nuôi heo, nó không lau sạch mủ ghẻ trên bục xi măng nhà tù.

Tôi chưa kể chuyện người bạn tuổi nhỏ của tôi, nhà văn Từ Kế Tường, cũng bị bắt, bị đưa về đề lao Gia Định và đã tạm trú ở 7 C-1. Từ Kế Tường trốn quân dịch. Giám đốc Nha Quân Pháp của Bộ Quốc Phòng ký cho cậu ta đầy đủ giấy tờ hợp lệ như một sĩ quan. Từ Kế Tường lãnh lương và đóng thêm tiền mồ hôi nước mắt, nộp cho cai thầu lính kiểng. Cậu ta mặc quân phục, mang phù hiệu quân pháp, đeo lon thiếu úy công khai. Sau hai năm, lên trung úy. Từ Kế Tường dại dột diện quân phục về ngõ nhà mình. Khi các sĩ quan đi trình diện học tập hết, không thấy Từ Kế Tường ra đi, mấy đứa ác độc gần nhà cậu ta tố cáo cậu ta trốn học tập cải tạo. Từ Kế Tường bị bắt. Nằm đề lao chưa kịp ghẻ, nhờ ông bố tập kết bảo lãnh nên hồ sơ… lính kiểng được cứu xét lẹ. Từ Kế Tường về đời xã hội chủ nghĩa, làm tới chức Chủ nhiệm Nhà Văn Hoá quận 4. Báo Tuổi Ngọc phá kỷ lục vào tù. Chủ nhiệm Duyên Anh, chủ bút Đinh Tiến Luyện, thư ký tòa soạn Từ Kế Tường. Cuối năm 1981, được tin tôi ra trại, Từ Kế Tường, Nguyễn Thanh Trịnh, Đinh Tiến Luyện đến thăm tôi. Luyện đã phiêu lưu các trại tập trung Suối Máu, Bù Gia Mập, Tống Lê Chân và làm nghề buôn bán hạt giống, nước mắm. Trịnh làm công nhân xưởng dệt quốc doanh, cộng tác với báo Tuổi trẻ. Pham Đình Thống bán thuốc tây chợ trời. Chúng tôi vẫn dành cho nhau nguyên vẹn tình cảm nhưng tư tưởng đã tạm ngăn cách. Và đó là nỗi buồn của chúng tôi. Pham Đình Thống khấm khá nhờ những kinh nghiệm và thủ đoạn chợ trời. Trước ngày tôi bỏ Sàigòn, Thống mở hiệu bán thuốc với công ty bằng hữu ở đường Đồng Khánh. Chẳng biết hiệu thuộc của Thống còn tồn tại? Từ Kế Tường đã bị loại khỏi sinh hoạt văn nghệ. Nguyễn Thanh Trịnh mỗi năm chỉ được đăng hai truyện ngắn ca ngợi lao động sản xuất. Đinh Tiến Luyện vượt biên hoài không nổi, đành kết hôn với một nữ thuyền nhân hụt và yên phận chọn Tam Hiệp, Biên Hòa. Luyện đã có con gái đầu lòng. Cuộc đời đã đổi thay hết.

Một thứ không hề thay đổi. Là cung cách chiến đấu chống cộng sản. Một thứ dừng lại. Là tư tưởng văn chương của các tiên chỉ, lý trưởng văn nghệ. Một thứ trở về. Là lối kiếm tiền chụp giật để chóng giàu. Một thứ tiến bộ. Là tinh thần ăn cắp, ăn quỵt, chụp mũ.

Đầu tuần lễ thứ ba, sau khi điểm tâm, chúng tôi được lệnh chuyển trại cả phòng. Lệnh khẩn trương. Tù nhân hạ bị, giỏ, tháo gỡ hết giây, gom góp mọi đồ “tế nhuyễn”, đem ra xếp thứ tự thành một hàng dài ngoài hành lang. Tất cả sợ hãi và băn khoăn. Ngày mai thăm nuôi, chuyển trại đột xuất, chưa kịp báo tin, vợ con khuân quà cáp tới sẽ mất công khuân về và sẽ lo lắng không hiểu chồng, cha mình ở đâu. Như ở bên Sở, tù nhân được nhận quà của gia đình mỗi tuần một lần. Ngày này, danh từ cộng sản gọi là ngày thăm gặp. Thực ra, không có thăm, cũng chẳng có gặp. Thân nhân bỏ quà cáp (thịt khô, mì vụn, mắm ruốc, nước mắm, kẹo bánh, cà phê, thuốc lá, thuốc bệnh, thuốc rê, thuốc lào, giấy quấn, diêm quẹt, trái cây… và 10 đồng) vào bị cói hay túi vải, túi phân bón, kèm tấm giấy ghi các món quà. Công an kiểm soát các món ở sân ngoài, rồi ký tên xác nhận lên tấm giấy “danh sách quà cáp”. Món nào cấm, công an gạch xóa. Được nhận quà, thân nhân tin là tù nhân không bị kỷ luật, bèn về ngay. Những người được Sở cho phép gặp tù nhân thì ngồi chờ trong phòng khách. Các Trưởng phòng khiêng những túi quà vào một căn nhà khám xét quà cáp của khu mình. Đề lao Gia Định có ba khu, mỗi khu một ngày nhận quà. Ở căn nhà khám xét, công an chiếu cố quà cáp kỹ lưỡng. Món nào dính dáng tới nước mắm, bị đổ ra cái thau nhựa. Đũa, muổng, dĩa khoắng, quậy, gắp, rỉa xem có thư gửi lén. Rồi lại dồn vô túi ni-lông. Thịt kho ướp mắm ruốc, cá kho là vì cái thau nhựa bới tung mắm ruốc, cá kho bới tung thịt.. Đường, cà phê… bị nắn bóp. Bánh chưng bị cắt làm tư. Quà tù nghe chừng cũng đau đớn. Dưới mắt công an cộng sản, cái gì của tù nhân phản động đều … phản cách mạng cả. Thuốc lá bị xé bao, dẫu là thuốc lá cách mạng, dồn vào túi ni lông. Dồn cả 200 điếu. Vẫn thuốc lá ấy, nhà tù mua giùm tù nhân thì để nguyên trong bao! Khám xét … nát quà cáp, rồi vất bừa vô bị, vô giỏ. Lúc ấy, trưởng phòng khiêng về cửa phòng theo tên tù nhân và số phòng. Cai ngục mở cửa. Tù nhân dở đồ ra sắp xếp. Chuối là dập nát. Xoài là dập nát. Bún chả tanh mùi cá. Phở xào nặng hương vị mắm tôm. Mì vụn vương đầy thuốc rê. Thăm gặp, dùng chữ của công sản, là một thủ đoạn. Đừng tưởng cộng sản ban phát ân huệ. Thăm gặp nhằm những mục đích:

* Chính sách cải tạo của Đảng và Nhà Nước nhân đạo.

* Đỡ tốn thức ăn và thuốc men.

* Tù nhân dinh dưỡng bằng thực phẩm của gia đình mình sẽ khỏe mạnh để ở tù lâu.

* Cho tù nhân hưởng phè phỡn thành thói quen. Sẽ dọa cúp thăm gặp làm áp lực tình cảm và vật chất.

Bởi vậy, ngoài thăm gặp hàng tuần, còn cho mua hàng hóa hàng tuần. Tù nhân sợ chuyển trai, phần lớn, vì sợ mất liên lạc gia đình, ít ra, nửa tháng. Đến trại mới được gửi quà.

Sau khi tù nhân ra ngoài hết, cửa phòng khóa chặt. Mỗi tù nhân đứng cạnh hành lý của mình. Cai ngục điểm số. Chúng tôi, từng người đọc tên và số thứ tự xếp hàng.

– Số 1, Vũ Mông Long.

– Số 2, Nguyễn Thanh Chiểu.

…

– Số 52, Lâm Văn Thế.

Điểm số xong, cai ngục nói:

– Các anh nhớ số của mình.

Cửa phòng lại mở. Chúng tôi nhận lệnh trở vào. Cai ngục gọi:

– Số 1.

Tôi hô “có” và đi ra. Cai ngục bắt tôi đứng nghiêm, dơ hai tay lên. Hắn rờ nắn thân thể tôi khám xét túi quần, túi áo tôi. Những tên vệ binh đeo súng ngắn, đứng canh chừng. Khám người xong, cai ngục bảo tôi đổ từng đồ “tế nhuyễn” ở túi, bị, giỏ ra. Hắn kiểm soát từng món, cật vấn đủ điều. Thư vợ tôi gửi, cai ngục tịch thu. Ảnh vợ con tôi, hắn giữ lại “nghiên cứu”. Hành lý của tôi bừa bãi trên nền xi măng của hành lang khu C. Cai ngục hạ lệnh “Khẩn trương”. Tôi quơ vội nhét vào giỏ, bị. Nước mắm lẫn với quần áo. Tôi được đem hành lý vào phòng. Tù nhân thứ hai, Nguyễn Thanh Chiểu, bị gọi ra. Cứ vậy, tới tù nhân số 52. Một buổi tổng kiểm tra phòng. Cai ngục nói dối chuyển trại để tù nhân có cất dấu cái gì trong phòng cũng sẽ phải thu quén bỏ hết vào bị. Thêm một thủ thuật. Thủ thuật biến ảo. Nó không thành qui luật chết. Nên tù nhân mắc bẫy dài dài. Lần sau chuyển trại thật sự, tù nhân tưởng tổng kiểm tra, công kênh nhau dấu những thứ cần dấu trên những xà gỗ trần phòng. Thế là vất lại những gì đã dấu. Nửa tháng, có khi một tuần, tù nhân, tiếc rẻ món này bị tịch thu, mừng húm món kia thoát nạn. Là đầu óc bớt căng thẳng, sự nổi loạn ở phòng giam được bảo đảm. Tôi đã nhìn rõ tôi qua hình ảnh Thanh Thương Hoàng, Nguyễn Hải Chí và tất cả tù nhân đề lao ngoài ánh sáng. Mặt chúng tôi trắng bệch, ngơ ngác. Mới đứng tại hành lang khám tư trang của tù nhân đã thấy mình hèn mọn. Mọi sự hung hăng biến đâu mất. Tôi chợt nhớ bài thơ L’albatros của Beaudelaire. Con hải âu đã rơi xuống sàn tàu. Tôi chợt nhớ bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ. Con hổ đã nằm trong chuồng. Tôi chợt nhớ thiên hồi ký ngắn của Nguyễn Mạnh Côn, nhắc lại kỷ niệm ở tù Việt Minh với nhà văn Trọng Lang 3. Anh Nguyễn Mạnh Côn, viết rất thật, rất người rằng, vì thương con, Trọng Lang đã lạy cộng sản để nó đừng giết mình. Trọng Lang đã phản ứng bằng cách miệt thị Nguyễn Mạnh Côn nói láo. Tôi vừa tìm ra sự thật. Chưa có ai lạy cai ngục cả. Nhưng tất cả đều lễ phép khi bị cai ngục cật vấn, xét hành lý. Tôi lại chợt nhớ lời khuyên của Thanh Thương Hoàng bằng thơ Sông Hồ “Chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên”.

Chúng tôi ăn cơm trưa muộn. Vì bận bịu sắp xếp và treo hành lý tù. Buổi trưa, không ngủ, tôi mò sang chỗ ông Lâm Văn Thế đánh cờ tướng. Đánh cờ để tâm sự. Chúng tôi nói thật nhỏ.

– Ông Thế, ông nghĩ bao lâu họ thả chúng ta?

– Chịu. Không ai đoán nổi. Mọi suy nghĩ về cộng sản của người quốc gia đều sai hết. Ông sẽ đi lao cải, sẽ về, tùy vào sự ổn định tình hình sớm hay muộn.

– Còn ông?

– Tôi sẽ ở đây với các ông Thái Đen, Nguyễn Thiện Giai, Như Phong chờ phép lạ. Hai nơi đến và đi của chúng tôi: Sở và Đề Lao. Người ta không cho chúng tôi ra ánh sáng đâu.

– Tại sao?

– Chúng tôi là tự điển!

Tự điển, ông Lâm Văn Thế, thiếu tá cảnh sát đặc biệt giải thích:

– Tôi đặc trách một cụm tình báo. Rất nhiều cộng tác viên tình báo không có tên. Họ lãnh lương bằng hàng trăm mật danh ổi, xoài, mít… Tôi cũng không thể biết mặt họ toàn thể. Một số nào quan trọng thôi. Cơ quan của tôi, kẻ đã di tản, người trốn trình diện. Và tôi bị bắt ngay đêm 30-4. Tình báo đánh giá đúng mức tình báo. Họ dùng tôi làm tự điển.

– Họ tra … ông?

– Phải. Bắt được nhân viên của tôi trốn trình diện hay một người họ ngờ vực là cộng tác viên của tôi, trước hết, họ khai thác người bị bắt. Nếu người bị bắt chối, họ bảo người bị bắt làm tự khai danh dự, chấp nhận mọi hậu quả nếu gian dối. Rồi họ gọi tôi ra. Họ nêu tên tuổi người bị bắt, hỏi tôi có quen biết không. Tôi nói không quen, họ dẫn tôi về phòng. Rồi họ lại gọi tôi ra, cho tôi gặp mặt người mà tôi nói không quen biết. Họ quan sát mặt chúng tôi, cử chỉ của chúng tôi để tìm ra sự thật.

– Nếu ông trả lời ông quen biết?

– Thì người chối không hề quen biết tôi can tội gian dối. Và anh ta đích thị là công tác viên tình báo.

– Có trường hợp ngược?

– Có chứ. Tôi đâu biết người bị bắt khai làm việc với tôi, tôi nói không quen. Họ dí vào mặt tôi tờ tự khai và dẫn người bị bắt ra gặp tôi.

– Rồi sao?

– Tôi bắt buộc phải làm tự điển trung thực.

Ông Thế buồn bã:

– Với công ăn ở bất cứ chế độ nào ông có thể dấu diếm được tư tưởng trong đầu óc ông mà không thể dấu diếm được các sự việc đã xảy ra. Ngoài tôi, còn các cuốn tự điển khác mà tôi không biết. Có lẽ, họ cũng bị bắt sớm như tôi. Cá nhân tôi, tôi cũng chẳng rõ ai chạy thoát, ai kẹt lại, ai trình diện, ai bị bắt, ai còn lẩn trốn. Họ sợ tình báo, họ cần quét sạch tình báo, từ lính đen sĩ quan, từ gác cổng đến bưng nước văn phòng.

Tôi hỏi:

– Như Phong dính dáng tình báo?

Ông Thế đáp:

– Ông ấy là tự điển Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Tôi đã thấy Trịnh Quốc Tài tự tra … tự điển bên Sở Công An. Và tôi đã thấy ông ta tra bạn tôi, Thanh Thương Hoàng.

– Họ cũng tra tự điển tôi về các nhà văn, nhà báo. Cơ quan của tôi không phụ trách “hồ sơ” văn nghệ sĩ.

Chúng tôi ngừng cuộc cờ. Tôi trở lại chỗ của tôi, ngồi dựa lưng vào tường suy nghĩ. Có hai đối tượng cộng sản đang truy lùng: Tình báo và đảng phải. Cộng sản thù hận các đảng Đại Việt, Duy Dân, Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đó là mối thù “truyền kiếp”. Rất nhiều đảng viên của ba đảng này không trình diện và tiếp tục chống đối cộng sản. Cụ thể hóa sự sợ hãi và lòng thù hận của cộng sản là Mai Chí Thọ đã đích thân chỉ huy cuộc hành quân, vây bắt trọn vẹn đàn ông (thanh niên, phụ lão) của hai làng Sống Vinh (Bà Rịa), hai làng do Việt Nam Quốc Dân Đảng thành lập trong kế hoạch khẩn hoang lập ấp của Phan Quang Đán. Họ sợ hãi những nhân vật chìm, những con bài chưa lật tẩy. Thứ đã lật tẩy, đã om sòm tên tuổi cỡ Vũ Hồng Khanh, Hà Thúc Ký, Đặng Văn Sung, Phạm Huy Cơ, đi hay ở, chẳng có gì quan trọng. Vũ Hồng Khanh, kẻ ngang vai vế với Hồ Chí Minh (Ở bối cảnh lịch sử 1946, còn trên cơ là khác), đã lẽo đẽo đi trình diện, đã trả lời câu hỏi “Tai sao ông chống cộng?” của tên thiếu tá quân đội nhân dân như vầy: “Sống dưới chế độ miền Nam, không chống cộng là chết!” Câu trả lời bất hủ nầy phẩm định giá trị chiến đấu của đại lãnh tụ quốc gia. Ông Vũ Hồng Khanh đã già lắm, đáng lẽ, ông đã khước từ trình diện và chỉ chấp thuận trả lời Phạm Văn Đồng, Trương Chinh. Ông đã sợ … chết già. Ông ta ham sống như bọn lãnh tụ già bất tài vô tướng ham sống vậy. Câu trả lời bằng tiếng nói đích thực của Vũ Hồng Khanh đã được truyền thanh khắp nước, ròng rã hàng tháng. Biểu tượng quốc gia bị bêu nhục. Ông giáo Giản 4 đã tiêu diệt các đảng phải quốc gia nhỏ để Việt Nam Quốc Dân Đảng của ông chiếm đa số ghế trong Quốc Hội bịp 1946. Ông giáo Giản suýt thủ tiêu Nguyễn Mạnh Côn (Việt Nam Phục Quốc Đảng), nếu Nguyễn Tường Tam không kịp can thiệp 5. Nhà lãnh tủ đa sát này đã đứng giữa hoàng hôn giăng giối: “Sống dưới chế độ miền Nam, không chống cộng là chết!” Chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Nguyễn Tú (ký giả nhật báo Chính luận, tên thật Nguyễn Ngọc Tú, nhân vật quan trọng của Đại Việt quan lai, từng chấp chính giữ ghế Tổng Giám đốc Nha Thanh Niên thời Tổng Trưởng Nguyễn Văn Kiểu) bị bắt ngay đêm 30-4-75 mà Phan Huy Quát, cựu Thủ tướng, Chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng vẫn đạp xe mini suốt tháng 5-1975, Tự điển người! Ghê gớm thay thủ đoạn cộng sản. Tôi bắt đầu lo ngại cho Thanh Thương Hoàng.

Anh ta đã thức giấc đúng lúc nước sôi buổi chiều vào. Thanh Thương Hoàng pha cà phê mời tôi uống.

– Vụ ấy, mày không nhận là may. Anh em bảo mày OK.

Tôi ngẩn tò te.

– Vụ nào?

Thanh Thương Hoàng cười ruồi:

– Vụ anh em đưa vợ con mày đi.

Tôi nhớ rồi.

– Bị bắt hết. Bị Mai Chí Thọ cài người gài bẫy bắt hết.

– Có chuyến đi?

– Có. Chuyến đi dính lưới toàn bộ.

– Có chiến khu?

– Có. Một nhóm sĩ quan, một nhóm lính. Đang nằm trong tay Quân Báo bên Tô Hiến Thành.

– Sao mày biết?

– Tao không dám ta-pi. Tao từ chối. Một người quen thoát lưới chuyến đi, nhờ hối lộ tên công an Phước Tỉnh hai lạng vàng, cho tao rõ. Mấy hôm sau, người ấy báo cáo thêm cả tổ chức bị sa lưới.

– Không phải là tao không nhận. Vợ tao đau nặng hôm đó.

– Vận may. Đàn bà con nít không nên vào tủ. Họ phải ở ngoài tiếp tế cho bọn mình.

Thanh Thương Hoàng thở dài:

– Bốn phương mù mịt cả. Tổ chức nào cũng dính lưới. Có tổ chức cài người vào Phường, khi bị công an bảo vệ chính trị bắt, Phường trưởng không tin người bị bắt là phản động. Trước hôm mày vô 6C-1, thằng Chín bị đổi phòng. Nó được cài vào huyện đội công an Thủ Đức. Nó chửi Mỹ tổ chức chống cộng rồi xúi cộng sản bắt!

Tôi bỗng nhớ Trương Phiên. Người Mỹ âm mưu gì nữa? Tôi hoàn toàn mù tịt. Vỗ vai Thanh Thương Hoàng, tôi hỏi:

– Mày thận trọng nhé! Tao thấy thằng Trịnh Quốc Tài viết báo cáo có tên mày, Trịnh Viết Thành, Tô Ngọc. Mày dính dáng Phủ Đặc Ủy Trung ương Tình báo hả?

Thanh Thương Hoàng giật mình:

– Không, không…

Tô Ngọc phục vụ cảnh sát đặc biệt để trốn lính như Y Vân. Trịnh Viết Thành làm báo Quật Cường của Trung ương Tình báo với Anh Quân. Còn Thanh Thương Hoàng chỉ tai tiếng vụ Làng Báo Chí. Anh ta có dính liếu với Trung ương Tình báo hay không, tôi không biết. Nhưng khi tôi nhắc nhở anh ta có tên trong báo cáo của Trịnh Quốc Tài, anh ta rầu rĩ vô cùng. Sáng hôm sau, cai ngục đến 6C-1 trước giờ phát nước sôi. Tên hắn là Sáu, dân Sàigòn, vì bị lé nên tù nhân tặng hắn biệt danh Sáu lé.

– Nguyễn Thanh Chiểu.

– Có

– Mặc quần áo ra làm việc.

Thanh Thương Hoàng vội vàng mặc bộ bà ba vải mỏng, mầu gụ. Anh ta cầm đôi giép Nhựt bước tới cửa phòng. Tù nhân ra làm việc, bất kể làm gì, đều phải ăn mặc tươm tất, đi giép. Đầu tóc có thể rối bù. Râu ria có thể rậm rạp. Quần áo không thể thiếu nghiêm chỉnh. Ở đề lao, hàng tháng, tù nhân được cắt tóc, cạo râu một lần. Tù cắt tóc cho tù. Cai ngục đứng giám sát. Cuối khu C-1, người ta dựng cột lợp tôn làm cái chái. Do đó, phòng 7C-1 thiếu ánh sáng. Tù nhân khu C-1 ra cắt tóc ở cái chái nầy. Buổi sáng một phòng. Buổi chiều một phòng. Ba thợ cắt tóc tù làm việc khẩn trương. Cai ngục mở cửa. Ba tù nhân ra một lượt. Cửa khép chặt, ấn khóa. Không có khăn quàng. Không có dao cạo. Không có kéo. Không có gương. Tông-đơ Trung quốc lưỡi thưa, thứ tông đơ cắt lông ngựa liếm tóc tù nhân. Giáo điều cắt tóc của cách mạng vô sản:

– Cắt dài là thiếu nếp sống văn hóa mới.

– Cắt trọc là chống đối.

Bởi thế, tông-đơ đẩy lưng chừng. Đẩy xong những đường tóc, tông-đơ đẩy râu ria. Tông-đơ chấm bát luôn. Năm phút một cái đầu. Cằm bị chảy máu, mép bị chảy máu, ráng chịu. Tông-đơ nhai tóc, đừng kêu ca. Ba anh này vào, ba anh kia ra. Anh nọ soi gương bằng cách nhìn đầu anh kia. Thấy mình giống quái vật. Cắt tóc xong thì bước vô phòng tắm, dùng khăn khô phủi tóc cho nhau, đợi sáng mai hãy tắm (nếu cắt tóc chiều). Ngủ một đêm với tóc vụn dính mồ hôi có sao. Ngứa thì gãi chung với gãi ghẻ cho tiến bộ, đuổi kịp nếp sống văn hóa mới.

Đầu tóc, râu ria Thanh Thương Hoàng khiếp lắm. Rõ là thằng tù! Sáu lé mở cửa. Hắn khóa lại. Tù nhân đi trước, cai ngục đi sau, đề phòng đánh lén. Cách mạng luôn luôn cảnh giác cao. Sau bữa ăn sáng, Thanh Thương Hoàng trở về. Anh ta mệt mỏi, bỏ cơm. Kẻng tù báo thức giấc trưa, anh ta ra làm việc. Cứ vậy, sự làm việc của Thanh Thương Hoàng kéo dài cả tuần. Trong khi ấy, Chóe, Hồng Dương, Thân Trọng Kỳ, Cao Sơn và tôi chưa bị gọi ra. Một buổi tối, chúng tôi ngồi bên nhau hút thuốc lá, chuyện gẫu. Thanh Thương Hoàng nói :

– Tao đã kết thúc tự khai.

Anh ta kể:

– Tao viết một câu rất hòa giải dân tộc.

Thanh Thương Hoàng đọc:

– “Chúng tôi sẵn sàng bắt tay với các anh xây dựng lại đất nước”.

Hồng Dương dẫy nẩy:

– Hỏng rồi.

Thanh Thương Hoàng vốn phục Hồng Dương thông minh, đọc nhiều. Anh ta hỏi.

– Hỏng sao?

Tôi nhanh miệng đáp:

– Mày bỏ tù nó, mày viết thế là mày cao thượng, quốc gia cao thượng. Nó bỏ tù mày, mày nói thế là mày xấc. Nó sẽ hành mày. Nó ví chúng ta là thú vật. Mày hiểu chưa? Nó đòi cắt đuôi chúng ta để chúng ta làm người. Sức mấy nó chìa tay cho mày bắt. Xấc thì hay đấy nhưng thiếu lô-gích. Thằng nào chấp pháp mày?

– Hai Nghiêm.

– Dân gì?

– Quảng Bình.

– Nó đọc chưa?

– Rồi.

– Phát biểu?

– Tốt.

Hồng Dương lắc đầu. Hôm sau, Thanh Thương Hoàng lại lên làm việc. Lúc về, anh ta uể oải:

– Chúng mày đúng. Nó bảo tay tao chưa sạch tội ác. Tao chuẩn bị vào cachot. Nó bảo vậy.

Thanh Thương Hoàng sửa soạn hành lý. Ngay buổi chiều, anh ta rời phòng 6C-1 vào cachot số 4 của khu C. Thanh Thương Hoàng nằm cachot một tuần thì bị đưa trở lại Sở Công An. Từ đó, tôi mất tin anh. Tháng 9 năm 1981, về đời, tôi biết anh bị lưu đày lên Pleiku cùng chuyến đi với Doãn Quốc Sĩ. Gặp Sĩ, anh nói tác giả Cánh chim mỏi rã rượi lắm. Anh ta rụng hết răng, tê liệt. Người vợ thứ nhất của Thanh Thương Hoàng là con gái của Lê Khải Trạch đã không còn ở với anh từ lâu. Mọi sự nuôi anh trong tù do người vợ thứ hai. Người nầy tiếp tế anh đầy đủ. Nhưng chị ấy đã vượt biên. Người vợ thứ nhất lo việc tiếp tế. Chị ta nghèo, thiếu phương tiện thăm chồng xa xôi. Thanh Thương Hoàng trở thành “con bà phước” ở rừng núi Gia Trung 6. Anh ta hào sảng lắm, ở Sở Công An, ở đề lao Gia Định. Trên Pleiku có ai hào sảng với anh? Tất cả đã là tù nhân. Tất cả đều là bạn tù. Bạn tù trong danh ngôn nghiệt ngã “Bạn tù, tình nhà thổ”. Khi nỗi khổ kéo dài mòn mỏi, khi sự phú quý đi giật lùi, con người đâm ra bần tiện, chỉ còn biết nghĩ đến mình. Mọi thù hận lẫn nhau phát xuất từ đó. Anh em nguyền rủa lẫn nhau, nói xấu lẫn nhau. Ra khỏi tù, anh em không quên thù hận, vẫn nguyền rủa nhau, nói xấu nhau, gặp nhau không thèm nhìn mặt. Đó là mục đích trong những mục đích của học tập cải tạo tư tưởng!

——————————–

1Đọc Sỏi Đá Ngậm Ngùi, cùng một tác giả, Nam Á Paris xuất bản 1985.
2Trong bộ tiểu thuyết Hồn Say Phấn Lạ, tôi khai triển tư tưởng cách mạng Tây Sơn.
3Đã đăng trên tạp chí Bách Khoa, tôi quên số và tháng, năm phát hành.
4Vũ Hồng Khanh, xuất thân là giáo làng.
5Đọc Hồi Ký Nguyễn Mạnh Côn, tạp chí Bách Khoa.
6Nghe nói anh đã được tha vào năm 1986.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 20 Jun 2024

Phần 11

Quá khuya, sương trải thật nhiều. Những giọt sương, đọng trên lá cây bên sân Tòa Tỉnh Trưởng Gia Định, rơi xuống mái tôn nhà tù như những giọt buồn ray rứt. Khu C-1 xây dài theo bức tường biên giới đề lao và tòa tỉnh – đã trở thành Trụ sở Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh. Nếu tính phòng 7 C-1 là đầu, thì đầu khu C-1 sát khít vỉa hè đường Phan Đăng Lưu. Tôi nhớ thuở Bùi Thế Cầu làm Tỉnh trưởng Gia Định, hay ghé đây thăm bạn … tổng đốc Gia Định Thành. Và tôi không quên những cây vú sữa chung quanh sân. Bây giờ, những giọt sương, đọng trên lá vú sữa, não nề rơi xuống mái tôn nhà tù. Và tôi ngồi giữa cái hoang vu của kiếp người, nghe điệu sáo thấm vào hồn mình. Nguyễn Vĩ đã diễn tả.

Sương rơi
… Lạnh lùng
Hiu hắt
Thấm vào
Em ơi
Trong lòng
Hạt sương
Thành một
Vết thương
Rồi hạt
Sương trong
Tan tác
Trong lòng
Tả tơi
Em ơi
Từng giọt
Thánh thót
Từng giọt
Điêu tàn
Trên nấm
Mồ hoang …

Những giọt sương của Nguyễn Vĩ đã rơi vào năm 1935, năm tôi “mang tiếng khóc ban đầu mà ra” đời. Vẫn là hạt sương của 40 năm trước, 40 năm sau nó tuyệt tích âm điệu thánh thót. Nó không còn là vết thương của một người nữa. Nó đã ngậm oan khiên của lịch sử giống nòi. Nó đã rơi xuống xác hai triệu người Việt Nam chết đói, một triệu rưỡi người Việt Nam chết Cải Cách Ruộng Đất, bao nhiêu triệu người Việt Nam chết thủ tiêu – bom đạn chiến tranh. Hôm nay, nó rơi xuống roi gạo mác xít, rơi xuống thuyền gỗ lênh đênh vượt biển, rơi xuống các trại tị nạn ô nhục, rơi xuống nhà tù, trại tập trung. Giọt sương theo nỗi đổi đời, đã thành giọt nước mắt. “Nếu cột đèn biết đi, nó sẽ đi tìm tự do”. Thuyền nhân nào đó đã trả lời phóng viên một đài phát thanh ngoại quốc thế. Sự ví von thật hay. Cột đèn không biết đi. Con người biết đi. Nhưng con người đã dừng lại sau chuyến đi dài. Người Việt Nam không thích nhớ những gì đáng nhớ, phải nhớ; không thích quên những gì cần quên, nên quên. Cái truyền thống hẩm hiu nhất của dân tộc ta là nhớ thù vặt và ham trả thù vặt. Triều đại này lật đổ triều đại kia, tiêu hủy mọi công trình xây dựng tốt đẹp, kể luôn công trình kiến trúc. Cao Miên còn hãnh diện có Đế Thiện Đế Thích, chúng ta còn gì? Phải cám ơn ông thực dân Pháp một tí. Nhờ ông chiếm đất nước tôi nên chúng tôi còn chút xíu lăng tẩm, thành quách triều đại Nguyễn Phúc Ánh. Ông sang muộn, những kẻ phục Lê lật đổ Nguyễn sẽ san bằng những lăng tẩm, bia mộ, đền đài ở Huế! Nhưng mà những kẻ nhớ thù vặt, trả thù vặt tận tình nhất vẫn là cộng sản Việt Nam. Mắt mờ thù hận, óc ủng thù hận, cộng sản Việt Nam đã dẫm nát báu vật và giam nhốt tài năng của dân tộc. Còn chúng ta, chúng ta bảo vệ báu vật và tài năng ra sao? Chúng ta hất hủi, hờ hững, kèn cựa. Và với triết lý thoát là tới, chúng ta đã quên những oan khiên mà giọt sương vẫn ngậm, vẫn rơi đều đặn xuống thân phận Việt Nam. Dân tộc đang kiên nhẫn bước trên sầu đạo để chiến đấu, để tìm ý nghĩa rạng ngời cho lịch sử. Quê hương đang cựa quậy. Chúng ta dừng lại, dầu chúng ta khác hẳn cột đèn. À, chúng ta cũng đi chứ! Chúng ta đi giật lùi. Đã nhiều dâu biển trong kẻ thù của chúng ta. Chưa có dấu hiệu sắp dâu biển trong cung cách chiến đấu để chiến thắng kẻ thù của chúng ta. Mọi lãnh vực, chúng ta đứng. Rồi nằm. Và nhai lại. Khi đó, những giọt sương đã “đổi đời” và không ngừng rơi xuống những xót xa, nghẹn ngào bắt thức tỉnh, suy tư.

Sự suy tư của tôi gần gũi nhất. Là cái “nội các” của ông Đinh Xuân Cầu. Trực giác của tôi cho tôi biết mục sư Trương Phiên đã bịp chúng tôi. Tôi chợt nẩy sự ngờ vực từ hôm Trương Phiên dọa tôi rằng công an mật đã bao vây nhà tôi. Hắn muốn cắt đứt đường về của tôi. Rồi hắn bảo tôi cho tổ chức mượn mấy lạng vàng. Tôi viết thư về nhà. Con gái tôi trả lời thay vợ tôi. Tôi đọc thư, lòng dạ tan nát. Con tôi viết: “Mẹ bị mù rồi hay sao ấy, bố ạ! Mẹ chẳng còn nhìn rõ cái gì”. Có lần, vợ tôi đã không đọc rõ chữ và tôi phải cầu cứu Bùi Duy Tâm. Tôi tin ngay. “Nhà cạn tiền rồi, bố về lo cho các con”. Tôi chưa về, vì nghĩ vợ con tôi chưa biết công an mật lởn vởn trước nhà tôi. Trương Phiên chở em vợ hắn đến An Đông lấy vàng. Hắn đã thất vọng. Hắn vẫn quả quyết ông tướng Ngô Quang Trưởng còn ở trong “bưng”. Đặng Xuân Côn đề nghị: “Chỉ cần đưa ông Trưởng về Sàigòn, dẫn ông tướng này gặp vài người là thừa vàng chiến đấu”. Trương Phiên nồng nhiệt hứa hẹn thực hiện kế hoạch Đặng Xuân Côn. Những chuyến “ra đi” của “nội các” cứ bị hoãn lại. Lần thì Nguyễn Cao Kỳ bay về bưng bắt Bùi Thế Lân, gây áp lực với Hội Đồng Bảo Quốc. Lần thì địch “báo động đỏ”, giăng lưới các cửa biển. Vân vân . Trương Phiên có tài nói và diễn xuất. Mục sư mà. Hắn phô bày chí lớn của hắn bằng bí danh Trương Mộng Hoàng. Họ Trương ôm giấc mộng trở thành hoàng đế! Hắn nói, ngay cả tôi nghe, cứ tưởng hắn dốc tâm can vì nước. Có nhiều lúc, kẻ khôn ngoan bỗng ngu xuẩn một cách tội nghiệp. May cho tôi, khi qua nhà số chẵn đường Tăng Bạt Hổ, nhân xem ti vi, tôi đã ngỡ ngàng. Báo chí Mỹ thân Cộng đã chụp đầy mặt tướng lãnh lưu vong tặng Việt cộng. Ông thì đang rót rượu, ông thì đang lau bàn… Việt cộng thuyết minh thêm. Mỗi chân dung tướng lãnh hiện rõ trên màn ảnh nhỏ. Có ông Kỳ, ông Trưởng … Tôi quyết định trở về sau vài tuần lưu lạc ở Hòa Hưng, Bảy Hiền. Thoạt tiên, tôi đến nhà bà Nguyễn Đình Vượng, địa chỉ tạp chí Văn. Tôi nhờ bà liên lạc với vợ tôi. Vợ tôi lên đón tôi chập tối. Sáng tỉnh mơ hôm sau, tôi đến Phú Nhuận. Tôi lại về nhà. Rồi tôi ở nhà luôn. Rồi tôi đi về lung tung. Chẳng thấy bóng dáng công an nào. Ông Đinh Xuân Cầu và Sao giò bị bắt trong tháng 1-1976. Tôi bình yên. Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Thiện Ngọ … bình yên. Chúng tôi vẫn gặp nhau ở một tiệm thợ may trong chung cư Nguyễn Thiện Thuật. Trương Phiên tuyệt tích.

Tôi không đánh giá Trương Phiên như một công an cộng sản lùa chúng tôi vào lưới. Thấp hơn, tôi đánh giá hắn như một tên lợi dụng tinh thần chống cộng của mọi người. Hắn khôn khéo đạo diễn, thảy cái bè chuối xuống nước đúng lúc. Sau 30-4-75, rất nhiều tên làm tiền và làm tình bằng những thủ thuật phục quốc và rất nhiều người mất vàng, mất trinh, rồi vào tù. Hoàng hôn của miền Nam nó thảm thiết vậy đó. Tôi sẽ viết ở những trang sắp tới. Ông Đinh Xuân Cầu nghĩ rằng Trương Phiên là gián điệp Mỹ. Năm 19 tuổi, lòng chứa chan mộng ước, tôi theo Duy Dân lên rừng Ban Mê Thuột làm cách mạng. Trở lại Sàigòn thất học, bơ vơ, tôi thù hận chính trị, cách mạng. Và tôi đã diễn tả sự khinh miệt lãnh tụ trong tiểu thuyết Ảo vọng tuổi trẻ. Năm 1975, lòng chứa chan uất ức, tôi đi chống cộng sản. Và tôi cũng trở về, chán nản, bơ vơ. Rốt cuộc thì tôi vào tù, mất toi một lạng vàng cho sự nghiệp chống cộng đến chiều. Ít ra, tôi đã trung thành với khẩu hiệu Chống cộng đến chiều đầy hệ lụy mà tôi đã viết từ thuở tôi cầm bút chống cộng. Nhưng sự bẽ bàng chống cộng tàn mùa của tôi, một mình tôi chịu. Và tiếp tục nói dối cả với vợ con tôi, với Đặng Xuân Côn: “Tôi đã vào chiến khu, đã gặp Ngô Quang Trưởng, đã gặp Mỹ với khí giới tối tân!” Ở tù, tôi quen bao nhiêu con người chống công tâm huyết, trẻ có, già có. Họ cũng bị bịp như tôi. Bạn đã hiểu tại sao tôi khinh bỉ những tên lái buôn chống cộng, những công ty đấu thầu chống cộng. Tôi chưa cháy niềm tin chống cộng. Tôi vẫn chống cộng. Vì dân tộc, chắc chắn, là viễn vông. Vì những con người đã dấu diếm tôi, đã săn sóc tôi, đã kỳ vọng nơi tôi, ở các căn nhà hẽm phố Trần Quý Cáp, phố An Đông, phố Tăng Bạt Hổ, phố Tô Hiến Thành, Bảy Hiền, Xóm Mới. Chính xác, tôi chống cộng với tuổi trẻ, với các bạn Pháp và Việt của tôi. Tôi không chống cộng với lãnh tụ ghẻ lở, với cây mục vô tích sự, với lái buôn, cai thầu. Và tôi tin vào sự quật khởi của dân tộc tôi, không tin vào các thế lực ngoại bang.

Kẻng tù báo thức làm sự suy tư của tôi ngừng lại. Tù nhân bắt đầu ồn ào. Hãy tưởng tượng đống sơ mít, nhặng bu đầy, bị đụng khẽ. Tù nhân đã vo ve như thế từ lúc kẻng báo thức đến lúc kẻng báo ngủ. Sự tranh chỗ tiểu tiện, đại tiện, đánh răng, rửa mặt náo nhiệt vô cùng. Không có nhường nhịn ở nhà tù. Luật đời và luật tù giống hệt nhau. Thằng nào manh, thằng ấy chủ động. Những thằng mạnh, cộng sản biết dùng người lắm, là những thằng cảnh sát đặc biệt, an ninh quân đội, du đãng được sử dụng vào các chức Trưởng phòng và Trật tự viên. Những thằng này, bất cứ hoàn cảnh nào, đều biết cách đàn áp anh em để thủ lợi. Dưới chế độ cộng sản, các vua tù bị thoái vị. Trưởng phòng mất quyền bóc lột, hà hiếp tù nhân. Ở đề lao Gia Định, cộng sản ban phát cho Trưởng phòng ân huệ ra ngoài khiêng đồ tiếp tế của thân nhân tù nhân, mỗi tuần lễ. Ra khiêng đồ sẽ được gặp vợ con trong năm phút. Để bảo vệ quyền lợi khốn kiếp này, Trưởng phòng đã ghi những câu nói mỉa mai của tù nhân, báo cáo Trưởng khu hay Cán bộ giáo dục. Tùy theo mức “phản động” nặng hay nhẹ, tù nhân sẽ bị viết tự kiểm, sẽ bị cấm viết thư, sẽ bị cấm nhận quà tiếp tế, sẽ bị nằm cachot. Không phải Trưởng phòng nào cũng đê tiện. Cộng sản chọn người xứng đáng cho công việc xứng đáng. Khi nó đã chọn, đừng hòng từ chối. Từ chối là chồng đối chế độ. Chống đối chế đó ở nhà tù là mút chỉ ăn cơm hẩm. Đừng hòng tình nguyện. Tình nguyện là có ý đồ. Có ý đồ là bị điều tra. Ở bất cứ nhà tù nào, dưới bất cứ một chế độ nào, trên bất cứ một quốc gia nào, bạn đừng đòi hỏi tự do. Bạn chỉ được đòi ân huệ và chớ dại dột yêu sách. Yêu sách, bạn sẽ được nâng quan điểm lên bất mãn. Mỗi nhà tù một quy chế. Cái hợp lý ở đề lao Gia Định sẽ là cái vô lý ở khám Chí Hòa. Chính sách nhà tù cộng sản thả nổi. Ở đề lao Gia Định, bạn có quyền tuyệt thực. Sang khám Chí Hòa, bạn tuyệt thực thì bụng bạn đói mà thân bạn no đòn. Những kẻ chỉ loanh quanh các trại cải tạo không nên lạm bàn về nhà tù. Trại cải tạo là động. Nhà tù là tỉnh. Trại cải tạo là ánh sáng. Nhà tù là bóng tối. Ở trại cải tạo, cộng sản gọi bạn là trại viên. Nhà tù, cộng sản gọi bạn là can phạm. Ở trại cải tạo, bạn sống chung với các chiến hữu. Ở nhà tù, bán sống chung ô hợp với đủ mọi thành phần xã hội. Ân huệ của Trưởng phòng là ra ngoài khiêng đồ, gặp vợ con, hít no dưỡng khí, tắm nắng thỏa thuê, tuy còng lưng, mỏi tay. Ân huệ của Trật tự viện là đi đổ rác, phơi quần áo, tha hồ liếc nhìn các phòng, các cachots và gặp gỡ “anh em” ở đống rác, ở chỗ phơi quần áo. Ấy, ân huệ nhỏ mọn thế thôi, mà cộng sản dư khả năng tạo ra mọi ngờ vực, mọi phôi pha tình người. Trưởng phòng Lâm Văn Thế không thuộc loại đê tiện. Ít nhất, ông ta cũng là sĩ quan. Dzũng quan tài không tệ, nhưng đám mafia 6 C-1 cậy thế nó để tác yêu, tác quái ở hồ nước.

Không một tù nhân nào được tắm bằng nước chứa trong hồ. Nước này chỉ dùng xối cầu tiêu, rửa chén, rửa mặt, đánh răng và rửa … đít. Tù nhân bị cấm sử dụng giấy vệ sinh. Mafia 6C-1 bất chấp luật lệ. Nửa đêm, chúng thay phiên nhau tắm để ngủ ngon. Mỗi ngày, vòi nước lùa qua ô cửa gió 2 lần. Nước đầy hồ, tù nhân mới được tắm. Tù nhân trần truồng đứng xếp hàng. Mafia cầm vòi nước. Tôi đếm thử những cái tích tắc, tính ra mỗi tù nhân hưởng 10 giây đồng hồ tắm gội. Bị mafia ăn cắp một giây. 520 giây tắm cho 52 tù nhân đa số bị ghẻ lở! Không thể sát xà phòng. Ngôn ngữ tục tĩu nhất đã phóng ra ở sân tắm vào giờ nước vào. Những ngày Sáu Cầu làm Trưởng khu, không có điểm danh. Trưởng phòng đếm tù, rồi báo cáo cán bộ là xong. Những ngày này, tù nhận được nhận cà phê và trà. Mỗi ông tù có một cái vợt vải nhỏ. Màn tắm táp sáng nay đã xong. Tù nhân ngồi chờ nước sôi và nghe nhạc cách mạng oang oang từ cái ô-pạc-lơ gắn trên nóc phòng 7C-1. Tôi thích nhất bài Tình em biển nhớ của Nguyễn Đức Toàn. Có lẽ, tôi thích nhất hai câu đầu. Ở cái lúc chui rúc trong chuồng gà kỹ nghệ, sự nghiệp tiêu tan, thân thể lênh đênh, vợ đau con dại mà thưởng thức giọng hát Đỗ Dậu nỉ non: Chưa có hôm nào đẹp như hôm nay, đất nước thanh bình, lòng ta mê say… thì dẫu là Khổng Tử, vẫn cần thiết chửi thầm. Thân phận tù cộng sản nó cay đắng khôn cùng. Nó không bị xét xử. Nó không có án. Nó không biết ngày về. Ba cái không chưa đủ làm điên, còn sáng, trưa, tôi nghe hát chưa có hôm nào đẹp như hôm nay!

Nhưng mà nước sôi đã tới. Cai ngục mở cửa. Trật tự viên xách xô nhựa ra. Tù nhân tín cẩn gánh nước từ bếp khu A sang, múc đầy xô. Trật tự viên xách vào. Chỗ chia cơm nước lại sinh động. 52 cái ca nhựa bầy sẵn. Tù nhân đứng hết dậy. 104 con mắt nhìn Trật tự viên chia nước sôi. Ăn thua từng giọt. Cãi nhau vì mì đã bỏ sẵn vô ca mà không ưu tiên chia nước trước. Phân bì ca nhỏ sao nước bằng mức ca lớn. Vân vân … Nước chia xong, tù nhân đem về chỗ của mình. Anh không có cà phê thì đổi nửa phần nước cho anh có cà phê lấy chút đường và… cái bã. Những anh ăn chung thì vừa ngâm mì vụn vừa pha cà phê. Mì ăn dứt, ta nhâm nhi cà phê, hút thuốc rê, thuốc lá, thuốc lào. Các anh máu mì, máu cà phê, thì pha bột Bích Chi, bột đậu xanh… Cách mạng kể ra tốt chán. Tù nhân điểm tâm bằng sự… nhịn ăn uống của vợ con mình! Chấm dứt điểm tâm là màn rửa ca, rửa muỗng. Bụng đã có tí sinh tố, tù nhân thay phiên nhau đi cầu. Và đây mới là hoạt cảnh. Anh tù lên giàn bắn. Anh ta chơi ra-phan. Những anh tù khác vừa nghe đạn nổ, vừa ngửi thuốc súng. Hàng tràng chửi thề tới tấp. “Xối nước đi”! Ngôn ngữ cách mạng phong phú. “Xối khẩn trương. Xối tối đa. Xối thoải mái. Xối nhanh. Xối mạnh. Xối vững chắc”! Anh tù cứ thản nhiên … rặn. Hòa bình rồi. Thống nhất tổ quốc rồi. Đi đâu mà vội. “Khẩn trương cho người khác tiếp quản cầu tiêu chứ”? 52 tù nhân xếp hàng đi cầu. Thì đâu vào đó cả. Cách mạng không sai lầm. Đảng ta luôn luôn sáng suốt. “Khắc phục ỉa đi!” “Khắc phục cái củ cà-rốt, đi cầu chứ đi sang Liên Xô sao?” “Mẹ anh, nhân dân làm chủ cái cầu hay anh làm chủ? Đầu óc tư hữu lạc hậu!”

Cuối cùng, mọi việc đều tốt. Tù nhân chơi cờ tướng, chơi đô-mi-nô. Khích bác nhau một chặp, chơi văng bậy và suýt chơi chân tay. Ông Thế say sưa học chữ Tàu. Ông hiểu trưởng Tàu say sưa học tiếng Việt. Các ông Tàu Chợ Lớn bị xử ức. Cộng sản nó bảo: “Anh ở nước tôi mấy đời rồi, anh không hoc nổi tiếng nước tôi, học viết chữ nước tôi, chúng tôi không làm việc với anh qua thông ngôn. Học đi, chừng biết viết Tự khai hãy nghĩ chuyện về sum họp gia đình.” Các ông Tàu thộn mặt. Và tự giác mình đã láo lếu mấy đời. Tù nhân chia từng nhóm. Nhóm ngồi hút thuốc tâm sự. Nhóm ngồi gãi ghẻ. Nhóm ngồi nặn trứng cá, nhổ tóc sâu. Chuyện tù sao mà nhiều thế! Nói hoài nói hủy. Thuốc rê đốt um khói. Thuốc lào rít liên hồi. Ở 6C-1, tôi yêu nhất hai chú bé phản động mà tôi quên tên. Hai chú bé dưới 18 tuổi, không tranh giành cơm nước, không chửi thề nói bậy. Hai chú bé nằm dưới sàn chia cơm và bắt được hai con dế chui vô phòng. Thế là hai chú bé đá dế, cười nói hồn nhiên. Tôi biết chắc hai chú bé không hề nuôi một tham vọng nào khi đi làm phản động. Không thích cộng sản, các chủ bé chống cộng sản. Đi chiến đấu hồn nhiên, vào tù hồn nhiên, đau khổ hồn nhiên và chiến thắng vẫn hồn nhiên. Đất nước cần những tâm hồn chiến đấu không thèm toan tính ấy. Hai chú bé con nhà nghèo, không một ai tiếp tế. Chỉ sống bằng cơm tù, ai cho gì cũng từ chối. Cuộc chiến đấu của tôi còn vì những chú bé như hai chú bé này. Tôi bị lừa gạt niềm tin hai lần. Lần thứ nhất, tôi 20 tuổi. Lần thứ hai, tôi 40 tuổi. Tôi không muốn những chú bé Việt Nam bị lừa gạt niềm tin chiến đấu. 20 tuổi, tôi viết:

Tổ quốc mình đó em
Anh đi làm lịch sử
Với bọn cò mồi hèn
Thấy thiên đường đổ vỡ
Anh còn gì đâu em
Anh còn gì cho em

Từ niềm tin đầu đời bị lừa gạt, tôi chở sự phẫn nộ vào cuộc sống. Và rồi tôi bơ vơ, lạc lõng. Tôi trở thành kẻ quá khích của điều thiện, một thứ cuồng sỉ khó ai dung dưỡng nối. Kẻ quá khích của điều thiện chỉ đem về cho nó những thù ghét cay đắng, những ngộ nhận nghiệt ngã, những săn đuổi không thương xót. Không phải bất cứ ai cũng có thể giải tỏa nỗi ẩn ức của mình bằng chữ nghĩa. Tôi nghĩ tới những tác động phá phách của tuổi trẻ mất niềm tin và cả những bất động nữa. Cả hai điều thiệt thòi cho quê hương. Bọn buôn bán tuổi trẻ đã không hề nghĩ đến sự thiệt thòi ấy. Chúng nó chỉ biết làm lợi cho chúng nó. Và tôi lên tiếng. Tiếng nói của tôi chìm vào hư vô bởi những khỏa lấp của quyền lực và tài lực. Thêm nữa là sự rút đầu xuống cát của đà điểu văn nghệ. Chẳng ai ngu si đi tìm những oan khiên cho mình. Ai cũng biết khôn ngoan sống chiều lòng người, vừa lòng người, đẹp lòng người, khen luôn những cái không đáng khen của người, suốt đời ngậm miệng không chê người… Cái triết lý sống bần tiện này không nên có ở những người cầm bút trong thời đại hôm nay. Anh đừng nói anh chuyên viết và bình luận văn học, không dính dáng chính trị. Chúng ta đang sống ở kỷ nguyên mà con người khó thoát khỏi quỹ đạo chính trị. Anh không làm chính trị, anh cũng không có thái độ chính trị nữa sao? Vậy sự từ bỏ Việt Nam sang Mỹ của anh là thái độ gì? Kỷ nguyên nghệ thuật vị nghệ thuật đã chấm dứt và nó rất lạc hậu đối với hiện cảnh và thảm cảnh Việt Nam. Người cộng sản chỉ mong anh không có thái độ chính trị, chỉ mong anh bàn về ăn mặc, uống trà, để khen anh. Họ đã khen anh. Và rồi họ sẽ nuốt anh. Như họ đã nuốt anh em của anh, dẫu có người chưa hề có thái độ chính trị. Thế Viên chẳng hạn. Vũ Hoàng Chương chẳng hạn. Anh khôn lõi. Tôi dại dột. Nếu các hào kiệt Nhân văn giai phẩm đã khôn lõi, chắc chắn, đã không có dấy động tuyệt vời của chữ nghĩa. Anh khôn lõi, anh được tôn sùng. Tôi dại dột, tôi bị ghét bỏ. Nhưng tôi hãnh diện về sự dại dột của tôi. Và tôi ngạo nghễ khinh thường thơ văn không chính kiến của anh hôm nay là:

Thứ thơ văn nghìn năm không dấy động
Thơ văn cột rỗng
Lớp son mầu mè tỉa tót công phu
Thứ thơ văn tửu hậu trà dư
Thơ văn chết khi cuộc đời căng nhựa sống
Thơ văn ngồi khi Việt Nam khốn quẫn
Thơ văn nằm khi bạo lực diễn hành
Thơ văn tô móng tay khi dân tộc đói nhăn răng
Thơ văn nhẫy nhụa môi son vênh vang trưng diện

Tôi viết văn, làm thơ chẳng hề đeo tham vọng đi vào văn học sử hay bất tử. Với tôi, đó là chuyện hề kệch cỡm. Trước năm 1975, rất nhiều lần, tôi thành thật nói tôi viết văn để mưu sinh. Không biết làm nghề gì cả, tôi làm nghề viết văn. Và tôi đã sống bằng nghề viết văn, hoàn toàn sống bằng nghề viết văn. Không có thiên chức hay sứ mạng gì trong văn chương của tôi cả. Chưa từng ngửa tay nhận tiền của cơ quan ngoại quốc nào để vừa viết văn vừa ăn vừa lo nộp sách. Cũng chưa từng ngửa tay nhận tiền của Mạnh Thường Quân nào. Tôi bán chữ nghĩa của tôi thẳng cho nhà xuất bản. Tôi là công nhân chữ nghĩa, nếu anh muốn gọi thế. Tôi bắt đầu có tham vọng văn chương từ hôm Huỳnh Bá Thành, bí danh Ba Trung, tác giả Vụ án hồ con rùa, đại diện đảng Cộng sản Việt Nam, nói với tôi một câu đầy miệt thị: “Thế giới đâu đã đọc sách của các anh.” Rồi trải qua ba nhà tù, hai trại tập trung ròng rã 6 năm. Rồi nhìn lại một Sàigòn bán máu đỏ mua gạo đen, nhìn lại một sản phụ không sữa nuôi con bị vắt vú ba lần mới được mua sữa bò giá chính thức, nhìn lại cảnh chó và người mưu sinh chung ở đống rác, nhìn lại vô số … Rồi tôi vượt biển và nhìn đồng bào tôi bị ngược đãi tại quán trọ trước cổng thiên đường. Tôi càng thấy tôi nên có tham vọng văn chương. Tham vọng văn chương của tôi sẽ không bao giờ đi vào văn học sử. Tôi nghĩ chúng ta cần có tổ quốc đã. Thiếu tổ quốc, hình như, không có lịch sử và mọi chuyện đều vá víu tạm bợ. Vậy thì tham vọng văn chương của tôi, bây giờ, là ngày mai của tổ quốc tôi. Muốn có ngày mai của tổ quốc, tôi phải chiến đấu. Văn chương của tôi là văn chương chiến đấu, là tư tưởng dấy động, là chữ nghĩa lên đường; không thể là văn chương chết, là tư tưởng ngồi, là chữ nghĩa nằm. Văn chương ấy phải làm thế giới xúc động mà cảm thông nỗi khổ của dân tộc tôi. Tôi đã sung sướng thực hiện được một bước trong ngàn bước tham vọng văn chương của tôi, dẫu tôi cô đơn, âm thầm làm một mình, dẫu tôi bị móng vuốt của đố kỵ hèn mọn cào cấu chảy máu, dẫu tôi bị bạo lực cộng sản bức tử. Nói tóm lại, tôi thích được gọi là người viết văn có chính kiến và chấp nhận mọi thiệt thòi, vật chất và tinh thần, cho kẻ ham bày tỏ chính kiến rõ rệt, dứt khoát. Tôi đọc ở Remarque câu này: “Khi thế giới còn những bọn hung tàn vô nhận đạo mà mình biết mình đủ khả năng chống đối, lại không dám chống đối, là mang tội ác.” Tội ác trên cả tội lỗi, ghê gớm lắm. Tôi sợ mang tội ác nên tôi tiếp tục chống đối, sau thêm một phen bị lừa gạt niềm tin ở tuổi 40. Tôi đã chiến đấu ngoài đời và trong văn chương. Ở hoàn cảnh tôi năm 1975, anh không dám phản động đâu. Chưa ai lãng mạn hơn tôi. Với tôi, tất cả đều trực diện chiến đấu, không phục kích, chiến đấu công khai. Cuộc chiến đấu của tôi rất trẻ nên tôi cần dẹp bỏ bọn lái buôn lý tưởng của tuổi trẻ.

Tôi ngồi suy nghĩ vẩn vơ một chặp thì đến giờ phát thuốc. Mọi sinh hoạt ngừng hẳn. Tù nhân chen nhau ở chỗ chia cơm nước. Vì cửa phòng mở rộng, ai cũng thèm đứng gần cửa để hít dưỡng khí. Y tá tù bê một khay thuốc.

– Ai bệnh cảm cúm?

Tù nhân bị cảm cúm dơ tay. Mỗi người cầm sẵn một ca nước. Y tá múc thuốc bột bằng muỗng cà phê từ cái hủ thủy tinh. Thuốc cảm giống màu xi măng nên tù nhân đặt tên nó là thuốc xi măng. Tù nhân uống thuốc trước mặt y tá.

– Ai cảm sốt?

Tù nhân cảm sốt dơ tay. Thuốc cảm sốt y hệt thuốc cảm cúm. Nghĩa là thuốc xi măng ở cùng cái hủ.

– Ai đau bao tử?

Đau bao tử được uống xi rô màu hồng.

– Ai đau tim?

Bệnh tim tương tự bệnh bao tử, nên trị bằng … xi-rô màu hồng luôn.

– Ai tiêu chảy? Ai ghẻ mủ? Ai kiết lỵ?

Ba bệnh nầy chung một triệu chứng. Và bệnh nhân uống Xuyên Tâm Liên, món thuốc trị bá bệnh, trị cả ung thư nữa. Tù nhân đau bao tử và đau tim… giả vờ đông hơn cả tù nhân đau thật sự. Vì xi-rô có đường. Tù nhân cần chất đường, thêm chất đường cho đỡ hại cơ thể! Cách mạng nắm vững vấn đề. Do đó, đau tim và đau bao tử chỉ được phát một muỗng cà phê xi-rô hồng. Các thứ bệnh “điều trị” xong, y tá phát thuốc tư. Thuốc tư là thuốc của thân nhân gởi vào nhà tù cho tù nhân. Thuốc phải đăng ký ở Phòng Y Tế của đề lao. Muốn xử dụng hôm nay, tù nhân phải thông báo y tá từ hôm qua. Y tá ghi vào sổ. Tù nhân đăng ký thuốc tư có số riêng. Trừ thuốc bổ, các thứ thuốc bệnh phải uống trước mặt y tá. Khi tù nhân bị bệnh đột xuất, thí dụ trúng gió, ngộp thở, bất kể ngày đêm, trưởng phòng ghé miệng sát cửa gió, nói lớn: “Báo cáo cán bộ, phòng … có người bệnh nặng.” Bác sĩ nhà tù sẽ đến cấp cứu. Bệnh nguy kịch, tù nhận được chở qua bệnh viện Nguyễn Văn Học.

Màn phát thuốc chấm dứt. Cửa phòng khép lại, khóa kỹ. Y tá sang 7C-1. Thời khoá biểu đề lao được áp dụng trúng phóc. Đến giờ cơm trưa. Cơm trưa đề lao ăn lúc mười giờ. Cửa phòng mở. Trật tự viên và hai “trực sinh” ra khiêng cơm và thức ăn vào. Tù nhân thay phiên nhau, hàng ngày, hai người chịu trách nhiệm quét phòng, lau sàn phòng, bục ngủ, chà rửa sàn nước, cầu tiêu, khiêng cơm. Cơm nước chia xong, phải lau sàn và rửa thùng đựng cơm, thùng đựng thức ăn sạch sẽ. Một ngày làm công việc này gọi là trực nhật, và người làm gọi là trực sinh! Theo luật nhà tù xã hội chủ nghĩa, phòng giam tập thể chia thành nhiều tổ, mỗi tổ 10 tù nhân lãnh đạo bởi Tổ trưởng và Tổ phó. Vậy một phòng giam có Trưởng phòng (chủ tịch nhà nước), Phó phòng (phó chủ tịch nhà nước), Trật tự viên (Tổng Bí thư), Thư ký (ban bí thư trung ương đảng), các Tổ trưởng, Tổ phó (uỷ viên trung ương đảng). Mỗi tối thứ sáu họp phòng, kiểm điểm … thành tích tù. Biên bản ghi một câu đúng chỉ tiêu đặt ra: “Các can phạm triệt để tin tưởng vào sự khoan hồng nhân đạo của Đảng và Nhà Nước, quyết tâm học tập cải tạo tốt để sớm được về sum họp gia đình. Trước khi bế mạc, các can phẩm hồ hởi, phấn khởi liên hoan văn nghệ bằng hợp ca bản Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Biên bản này được đọc lớn cho cả phòng nghe. Mọi người nhất trí.” Trực sinh do Tổ trưởng chỉ định từng cấp thuộc tổ mình. Trưởng phòng, trật tự viên, thư ký được miễn trực nhật.

104 cái ca nhựa được bày thứ tự thẳng hàng. Trật tự viên phân phối cơm và thức ăn. Cơm gạo hẩm, đầy cả cỏ ngọn. Thức ăn bữa thì hai miếng đậu kho, bữa thì su su kho, bữa thì cá ngừ hay cá đuối kho, bữa thì canh rau muống già, canh bí rợ. Kho và nấu canh bằng muối. Đậu kho tuyệt tích từ tháng 8-1976. Muốn ăn miếng thịt cà ri hay thịt khô, phải đợi mấy ngày lễ lớn. Thường xuyên là cá biển ươn kho. Ươn phát thối thì cà-ri cá. Cá biển lừng danh đến nỗi tù nhân đặt cho những tên mỹ miều như: Trần Thị Lệ Đuối, Lệ Ngừ… Cuối cùng, các loại cá biển nhà tù mang chung tên của một ca khúc cách mạng: Đàn Ta-Lư. Bởi vì, tù nhân bị ghẻ mà ăn cá ngừ, cá đuối thì gãi bằng thích. Khi gãi ghẻ, tù nhân bảo gẩy đàn Ta-Lư! Tính tính tính tính tang tính tình … Đàn em reo vang, đàn Ta-Lư. Vừa gãi ghẻ, vừa nghe danh ca hạng nhất Hà Nội là em Tường vi hát Đàn Ta-Lư, sẽ giật giật tuyệt cú mèo. Chia cơm ồn ào gấp bội chia nước sôi. Đôi khi, đấm đá xảy ra giữa các ông tù trộm cướp với các ông tù mafia. Trưởng phòng giả vờ đui điếc. Báo cáo cán bộ, đêm nó nấu bao ni-lông, nó đổ vào mắt là mù.

Bữa cơm trưa vừa dứt là kẻng báo ngủ trưa. Cả phòng im lặng. Không ngủ thì ngồi im lặng. Bây giờ, phòng giam mới là cái lò nướng bánh mì đúng nghĩa. Nắng hừng hực trên mái tôn. Sức nóng hầm da thịt. Tù nhân mình trần, quần xà lỏn nằm nghiêng, nằm ngửa trên bục xi-măng. Mồ hôi tuôn xối xả. Nguyễn Hải Chí thấm ướt cái khăn tắm đặt lên ngực cho mát mà ngủ. Chừng thức giấc, cái khăn khô rom. Mồ hôi không ra ở ngực, nó ra ở lưng. Vài tù nhân quên Nội qui, cởi truồng nằm ngửa tênh hênh, ngáy pho pho. Thân phận con người như những con heo cạo lông phơi bày trên sạp bán thịt. Không hiểu tại sao tù túng thế, khổ cực thế mà tính dục vẫn chưa bị diệt. Kìa tù nhân cởi truồng nằm ngửa, khẩu đại bác đang dựng đứng. Và trong giấc mơ hoa ở lò nướng bánh, hắn đã bắn máy bay, đạn phọt lên! Hắn cựa quậy. Rồi hắn vội lấy khăn che dấu khẩu đại bác. Tôi ngồi dựa lưng vào tường quan sát. Chẳng biết một mai sống sót về, tôi có đủ khá năng diễn tả một buổi trưa hè trong một phong giam ở đề lao Gia Định? Tôi viết về những cuốn sách dính dáng tới nhà tù. Tôi tưởng tượng. Tôi viết mò. Tôi gian dối với độc giả. Tôi vừa tìm ra cái lý do văn học của chúng ta thiếu tác phẩm lớn, tác phẩm tầm vóc quốc tế, dù quê hương chúng ta đầy dẫy đề tài kích thước, để cống hiến cho các nhà vẫn thống lĩnh đỉnh núi trong suốt ba thập niên cách mạng, thù hận, chiến tranh, giải phóng, chia lìa, đổ vỡ, lưu đày, đói khổ, ngục tù… Nhà văn lỗi lạc của chúng ta ở miền Bắc đã bị cưỡng bức sa đọa hóa tư tưởng. Họ đã bị hoàn toàn tê liệt sự rung động và sáng tạo. Nhà văn lỗi lạc của chúng ta ở miền Nam thì ít sống, sợ sống, lười sống. Hãy đọc Sống chỉ một lần xem Mai Thảo sống ra sao. Sống loanh quanh thành phố, lang thang phòng trà, tửu điếm, hộp đêm. Sau một kinh qua vỡ núi lấp sông của dân tộc, Mai Thảo cứ nhởn nhơ sống theo phong cách đó và thản nhiên tái bản Sống chỉ một lần. Những tài năng đoạt giải nhất, giải nhì khác? Chưa có biến chuyển khác lạ. Vẫn nhai lại. Tôi xác định thêm một lần nữa: Tôi chỉ là người viết tiểu thuyết mưu sinh tầm thường, không đáng kể. Tôi kỳ vọng những tác phẩm lớn ở những nhà văn lỗi lạc của chúng ta. Không có, vì họ sợ sống. Thế Phong đã đưa ra một đề nghị lạ lùng: “Muốn có tác phẩm lớn, phải nhờ bọn thống trị lôi các nhà văn ra bùng binh Chợ Bến Thành, quất roi xuống thân phận họ, họ sẽ viết.” Có vẻ sa-đích. Mà đúng. Nhà văn của chúng ta thiếu phẫn nộ bởi lánh xa mọi phẫn nộ của dân tộc. Có kẻ đã thể nghiệm sự phẫn nộ, sự thống khổ của quê hương đấy. Kẻ ấy giương danh nhà văn chân chính, chê tư tưởng thiên hạ “Cao hơn giép râu cộng sản”, viết pho sách ngót nghét nghìn trang để chỉ phô diễn sự “Ăn vụng, ăn cắp, ăn tranh phần cơm heo”. Chẳng nên làm nổi danh kẻ này bằng cách nêu tên ông ta và tên “tác phẩm để đời” của ông ta. Tôi vừa vỡ lòng cay đắng, đang nhập môn thống khổ, nhưng tài còm của tôi vẫn khó hứa hẹn diễn tả nổi một buổi trưa hè trong một phòng giam của đề lao Gia Định. Thật sự mà nói, muốn có tác phẩm văn học lớn, chúng ta phải chờ đợi các nhà văn trẻ thế hệ sau 1975.

Kẻng báo thức lại khua. Tù nhân lại ồn ào. Vòi nước đã chuyển qua ô cửa gió. Như buổi sáng, nước đầy hồ rồi thì mỗi tù nhân có 10 giây tắm, gội không sát xà phòng. Cuộc tắm hà tiện nước của cách mạng chấm dứt khi vòi nước kéo mạnh ra. Người ta đã nhìn đồng hồ mà ban ân huệ tắm. Y tá xuất hiện với hai chai thuốc ghẻ xanh và vàng. Xanh là Bleu de méthylène. Vàng là gì, tôi không rõ. Vàng, nếu tôi đúng, là môn thuốc ghẻ cổ lỗ sĩ chế bằng diêm sinh và lưu hoàng, mùi hôi khó tả và xức ghẻ thì xót điếng người. Y tá rót thuốc xanh và vàng vô hai cái lọ thủy tinh mà Trật tự viên có bổn phận bảo quản. (Nhà tù sợ tù nhân tự sát hoặc sát hại nhau bằng mảnh thủy tinh). Thêm một hoạt cảnh đề lao. Ghẻ mủ, ghẻ nước, hắc lào đều bôi thuốc xanh, thuốc vàng. Hai tù nhân bôi thuốc cho nhau. Ghẻ đề lao ranh mãnh lắm. Nó cứ nhè “của quý’ mà lập chiến khu. Tù nhân nầy cởi truồng, chổng mông để tù nhân nọ bôi thuốc. Thuốc vừa bồi xong, tù nhân nọ vội lấy quạt quạt lia lịa. Vì thuốc xót vô cùng. Tù nhân bị bôi thuốc dẩy nẩy. Kẻ nhảy tăng tăng, kẻ quạt lia chia. Một vũ điệu ngoạn mục của đề lao Gia Định. Chừng hết xót, tù nhân đã được bạn bôi thuốc sẽ bôi thuốc trả nợ bạn. Và quạt. Bục tù biến thành sân khấu nhảy múa. Mà người biên soạn vũ điệu ghẻ là cách mạng, là Đảng quang vinh! Có tù nhân ghẻ tứ tung bèn sơn thuốc xanh khắp mình mẩy và được phong làm chim xanh, mang tên Mỹ: Mr. Blue Bird. Ông Thế kể đã có tù nhân chết vì … ghẻ, tháng trước, tại 6C-1. Tù nhân tên Tuấn, trung úy cảnh sát đặc biệt. Anh ta vốn mắc bệnh phong tình. Vô đề lao, anh bị ghẻ mủ. Anh ta tuyệt vọng, khước từ uống và bôi thuốc của vợ gửi vào. Anh ta khước từ tắm luôn. Ghẻ ăn chung quanh mắt anh. Nhà tù mời vợ anh vô thuyết phục anh. Anh vẫn khước từ. Người ta đưa anh vô bệnh viện Nguyễn Văn Học. Anh chết. Bởi anh tình nguyện chết.

Hoạt cảnh ghẻ hạ màn. Cơm chiều đến. Cơm chiều giống cơm sáng. Chia chác, ăn uống, rửa ca muỗng xong, tù nhân chơi đô-mi-nô, cờ tướng, chuyện trò, hút thuốc, nhớ vợ con, mong đợi thả về và chờ kẻng báo ngủ. Thế đó, trừ những hôm thăm nuôi, mua hàng, họp cuối tuần, sinh hoạt ở các phòng giam đề lao Gia Định giống hệt nhau. Một ngày như mọi ngày. Cô đơn trong thống khổ. Rã rượi trong tủi nhục.

Kiều Chinh – Việt Nữ Hữu “Tri Vong Quốc Hận”

baotreonline.com

Đặng Phú Phong

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Lời Giới Thiệu: Giữa lúc thị trường sách báo như buổi chợ chiều, các nhà sách, nhà xuất bản lần lượt đóng cửa thì sự kiện ra mắt cuốn hồi ký “Kiều Chinh, Nghệ sĩ lưu vong” của nữ tài tử Kiều Chinh tại vùng Hoa Thịnh Đốn, Houston, Westminster lại rất sôi nổi. Bài viết của nhà thơ Đặng Phú Phong dưới đây sẽ cho ta lời giải thích.

Ngày 30 tháng 10 sắp tới đây, chị sẽ đến Dallas để ra mắt hồi ký này. (Trẻ)

Tài tử Kiều Chinh. Nguồn: mubi.com

Kiều Chinh xuất thân từ một dòng tộc thế giá, hàm dưỡng được một nền đạo đức hòa lẫn giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo, kiến thức, học vấn pha trộn giữa Ðông, Tây. Cuộc đời của chị là chuỗi kết nối của những biến động. Từ một thân lạc lõng ở cuộc di cư 1954, có một người bố tuyệt vời phải đành xa cách. Rồi làm vợ một người mà do sự sắp xếp của hai bên gia đình. Rồi bi kịch tan vỡ.

Trong hoàn cảnh phôi thai của nền điện ảnh VNCH, Kiều Chinh xuất hiện, sáng chói ngay những ngày đầu. Chị đã liên tiếp thành công trong những cuốn phim từng là kinh điển của điện ảnh. Như là: Hồi Chuông Thiên Mụ. Người Tình Không Chân Dung… vang bóng một thời. Chị nổi tiếng được nhiều người hâm mộ không chỉ ở Việt Nam mà tên tuổi còn vang vọng cả Ðông Nam Á. Chị được nhiều hãng phim từ các nước như Philippines, Hồng Kông, Singapore… mời tham gia những cuốn phim nổi tiếng. Từ năm 1964 chị cũng được mời làm tài tử chính trong những cuốn phim do đạo diễn Mỹ lựa chọn. Như phim Operation CIA hay sau đó là phim Leopoldo King Salsedo…

Cuối tháng 4/75 Kiều Chinh đã cứ bay từ Á sang Âu loanh quanh trong bầu trời mênh mông, trên các chuyến phi cơ không nơi đến. Chị phải chờ đợi tình hình chính trị VN cho rõ ràng mới được đáp xuống phi trường nào đó để được xin tị nạn. Và, ngày 1.5.75 Kiều Chinh là người VN đầu tiên được tị nạn chính trị tại Canada. Rồi may mắn được người bạn là tài tử người Mỹ từng đóng phim chung ở Saigon bảo lãnh qua Mỹ. Nhờ sự tận tình giúp đỡ của Tippi Hedren, Kiều Chinh được qua Mỹ, bắt đầu cho một cuộc sống mới đầy cam go thử thách. Con đường nghệ thuật chênh vênh trước mắt nên dù gì cũng phải sống; chấp nhận đi làm sạch chuồng gà, tạm thời có tiền để mưu sinh, để lo sum họp với chồng con. Ðịnh mệnh một lần nữa đã mỉm cười với Kiều Chinh. Chị đã được mời đóng vai chính trong loạt phim truyền hình ăn khách thời bấy giờ của nước Mỹ. Ðó là M*A*S*H* của Hollywood sau khi được casting đóng một vai phụ, vai một người đàn bà Trung Hoa bán thuốc lá, nói chỉ vỏn vẹn 2 chữ: Yes, Sir. Và chị đã khóc nghẹn ngào sau khi diễn xuất. Với vai diễn chính trong phim M*A*S*H*. Kiều Chinh là một thiếu nữ Ðại Hàn, yêu thương một quân nhân Mỹ. Mối tình đang tuyệt đẹp thì nàng phải rơi vào một lựa chọn xé lòng: Ở lại với người yêu hay quay về quê hương. Cuối cùng nàng quyết định gạt lệ chia tay người yêu quay về cố quốc. Kiều Chinh vui mừng nhận vai diễn này vì một phần trong lòng chị vẫn luôn canh cánh mối tình với Việt Nam đang nghìn trùng xa cách.

Tập phim này mở rộng cho cánh cửa bước vào Hollywood, một đất hứa, nơi danh giá cho tất cả các tài tử trên thế giới hướng về. Tên tuổi Kiều Chinh đã được khẳng định trong giới điện ảnh sau những cuốn phim tiếp theo, nhất là với cuốn phim The Joy Luck Club đứng thứ 22 trong 50 phim của Mỹ lấy nhiều nước mắt khán giả nhất. Trong phim này Kiều Chinh đóng vai chính một bà mẹ người Trung Hoa tên Suyuan bỏ rơi hai con nhỏ trên đường chạy loạn.

Nhưng bên cạnh những hạnh phúc, số mệnh cũng gieo cho nàng những khổ đau xót tim, nát lòng. Ông chồng đẹp trai hào hoa ấy lại một lần nữa đành lòng từ bỏ chị; đứa con út bị tai nạn xe khốc liệt. Ðôi vai vốn gầy của trâm anh đài các đã muốn làm khuỵu đôi chân mảnh dẻ của Kiều Chinh, nhưng với một ý chí kiên quyết, với một tấm lòng chân thành vì tha nhân, chị vẫn đứng dậy để tiếp bước, như trong một chương của tập hồi ký “Ðứng dậy. Ðứng thẳng. Ði tới” chị đã trụ cứ vững vàng, từng bước thành công. Và, chị đã luôn luôn nghĩ đến quê nhà muốn làm điều gì đó để chia sẻ với cảnh khốn khổ của đồng bào ruột thịt.

Với mục đích “Làm điều gì đó để vinh danh trên hai triệu người Việt đã chết trong chiến tranh Việt Nam” Kiều Chinh đã cùng các bạn Lewis Puller, Tery Anderson, Jack Wheeler, Marcia Landau thành lập hội The Vietnamese Children’s Fund (VCF) xây dựng hơn 50 trường học và những thiện nguyện khác tại Việt Nam. Công việc này chị cũng đã bị phản ứng gay gắt của một số người Việt hải ngoại khiến cho công việc làm ăn của chị bị bế tắc. Nhưng rồi, cũng qua.

Kiều Chinh được mời đọc diễn văn tại buổi lễ Tưởng Niệm Thương Phế Binh Hoa Kỳ (Veteran Day), buổi lễ có xướng một số tên tử sĩ, chị đã không khỏi rơi lệ khi đọc bài diễn văn đầy tình nghĩa của mình. Với những đọan văn thật hàm súc tinh thần nhân ái vị tha và xót đau thân phận làm người trong thời buổi chiến tranh độc ác. “Hơn 58,000 quân nhân Hoa Kỳ gục ngã, và hơn hai triệu người – quân nhân, thường dân, già cũng như trẻ- chết trên cái đất nước không may mắn bị lịch sử chọn làm bãi chiến trường. Vết thương này ngày nay vẫn còn đau nhức khôn nguôi cho hằng triệu người, cả nhiều thập niên sau khi những họng súng đã ngưng bắn”… “ Lịch sử cho thấy tất cả những bức tường dựng lên để ngăn chia và làm hại con người đều sụp đổ. Bức Tường Ðá Ðen đem con người lại gần nhau để hàn gắn vết thương, ở ý nghĩa đó, bức tường kỷ niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam sẽ đứng vững muôn đời bởi vì nó không hẳn làm bằng đá mà bằng cả tinh thần, nó ngự trị không hẳn trên mặt đất mà còn trong trái tim con người”…

Kiều Chinh. Nguồn Một thế giới

Tôi không gần gũi, thân thiết với Kiều Chinh để có thể hiểu có phải chị giống như những người quá thành đạt rồi bỗng nhiên tự tử như tỉ phú Ðức Adolf Merckle, Chef Cook tài danh thế giới Anthony Bourdain, tài tử nổi tiếng Robin Williams. Có thể hiểu những người này bị trầm cảm. Nhưng Kiều Chinh liệu có thật sự trầm cảm, sau khi hoàn thành bổn phận làm mẹ – xây dựng gia đình cho 3 người con thân yêu quý mến. Sự nghiệp ở mức độ thành công khá vẻ vang. Chị đã thở phào nhẹ nhõm. Thế mà chỉ một thời gian ngắn sau đó chị cảm thấy mệt mỏi vì không còn gì để phải làm, rồi trong một phút mất kiểm soát chị đã uống thuốc tự tử! Có thể chị đã cảm thấy thừa thãi, một mình ôm lấy cái trống vắng chết người và lại là một người hết sức là nhạy cảm nên dùng cái chết để từ chối chăng? Triết lý bi đát có ảnh hưởng nặng đến chị? Giống như người đàn bà thấy mình chết trong mưa? Câu hỏi xin được bỏ ngỏ.

Trải qua bao thăng trầm trôi nổi Kiều Chinh hiện nay đã ngoài tuổi 80 mà từ khi mới bước chân vào điện ảnh chị đã không quá tô hồng chuốt lục, không công nghệ sắc hương cho đến bây giờ Kiều Chinh vẫn biểu hiện một nét đẹp quý phái tinh khôi. Tính tình vẫn một mực nhẹ nhàng thân thiện trong một tính cách trầm ấm sẻ chia với mọi người. Kiều Chinh xứng đáng cho chúng ta ngưỡng mộ.

Hôm nay, Kiều Chinh ra mắt cuốn hồi ký sau nhiều năm ấp ủ tự hồi sinh tiền của nhà văn Mai Thảo, người bạn, người anh tốt của chị đã luôn luôn khuyến khích chị hoàn thành một cuốn hồi ký để đời. Tôi đến tham dự cùng với đông đảo người ái mộ chị, số tham dự có đến hơn 200 xếp hàng rồng rắn vì tiệm sách Tự Lực không đủ rộng, chỉ đến để mua sách và chờ ký tên. Trong suốt hơn 2 tiếng đồng hồ Kiều Chinh ngồi ký tặng trong khi khách hâm mộ kiên nhẫn chờ đợi. Việc này không riêng ở Nam California mà ở những nơi chị vừa cho ra mắt như Washington DC., Texas, Bắc California … nơi nào cũng được hoan nghênh nhiệt liệt, số sách luôn luôn cháy hơn số dự trù. Trong dòng người chờ chị ký tên tôi không khỏi nhớ và cảm ơn đến lòng yêu thương văn nghệ sĩ của chị đối với tôi trong dịp ra mắt một cuốn sách của tôi vào một ngày mưa to gió lớn chị đã phải vượt con đường xa gần một trăm dặm để đến cho được buổi hôm ấy.  Cầm cuốn hồi ký “Kiều Chinh, Nghệ Sĩ Lưu Vong” trên tay tôi chợt nhớ đến ông Ðỗ Mục, thi sĩ đời Ðường của Trung Hoa, tác giả hai câu thơ được rất nhiều sách vở Việt Nam từ xưa xửa trích dẫn, bình luận.

“Thương nữ bất tri vong quốc hận,

Cách giang, do xướng Hậu Ðình Hoa”

Trần Trọng Kim dịch:

“Gái ca đâu nghĩ nước nhà,

Cách sông vẫn hát khúc ca “Hậu đình”.

Theo trithucvn.org. “Thương nhân” là người thuộc chủng tộc Ân, những người đã lập nên một nước, có triều đại gọi là Nhà Thương. Do đó, lúc đầu, “Thương nhân” có nghĩa là “Dân của nước Thương, của Triều đại Nhà Thương”.Nhưng sau lại có nghĩa là người lái buôn

Người Nước Thương, đã phát triển văn hóa nông nghiệp tức là định cư và khai thác ruộng đất. Thế kỷ 11 trước Tây Lịch, họ bị người Chu là dân du mục từ Thiểm Tây tràn vào, cướp nước, họ phải bỏ chạy. Ðể sinh tồn đàn ông Thương ngược xuôi buôn bán, công việc không đủ sống nên đàn bà con gái đi ca hát ở mấy tiệm rượu, để kiếm thêm.

Ðỗ Mục, tác giả bài Ðường thi kể trên dùng chữ “Thương nữ” với nghĩa “Cô gái thuộc chủng tộc Thương”. Ông có ý chê mấy cô không nhớ nhục mất nước, và lòng hận thù người Chu, nỡ mang nhan sắc và giọng ca, hát, vào những bài ẻo lả như bài Hậu Ðình Hoa để mua vui cho mấy chú Hán tộc, con cháu người Chu cướp nước. Ðỗ Mục chỉ nhìn vào sự kiện người phụ nữ đời Thương làm những công việc hạ cấp mà chê mấy cô đã quên «vong quốc hận”.

Sau này, tự điển Tàu chỉ giảng Thương nhân là “lái buôn”, bỏ hẳn nghĩa “Thương nhân là người thuộc chủng tộc Thương”, vì họ muốn xóa đi cái tội cướp nước, và tàn sát người Thương của người Hán. Do đó người đời sau, cả những nhà nho học của Việt Nam đều bị lừa, hiểu nghĩa Thương nữ là người thiếu nữ làm những nghề hạ lưu, như “xướng ca vô loại”.

Tuy nữ tài tử Kiều Chinh không làm nghề ca hát, nhưng với nghệ thuật thứ bảy, nơi dung nạp, nơi là đài danh vọng của chị, giả như đã xuất hiện thời đó thì cũng được ông Ðỗ cho vào một lứa cá mè, hưởng hai câu tán thán rất ư là đau đớn của ông. Và nhìn vào cuộc đời của nữ tài tử Kiều Chinh, nếu ông Ðỗ sống lại ắt ông không khỏi cau mày ngượng chín. Thế thì tôi xin phép “lẩy Kiều” câu thơ của ông Ðỗ một chút vậy, xin ông xá tội:

“Việt nữ hữu tri vong quốc hận

Bạch đầu kỷ độ tư cố hương”

Và, cũng dùng hai câu này để tặng chị Kiều Chinh thân quý.

ĐPP (Little Saigon 10.10.21)

Thể thao điện tử

baotreonline.com

Bảy Bụi

Post on December 3rd, 2018

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Thành phố Arlington (TX) vừa cắt băng khánh thành vận động trường thể thao điện tử lớn nhất Bắc Mỹ. Họ hy vọng nơi đây sẽ là địa điểm thu hút các giải esports lớn trên thế giới. Chuyện có thiệt mà nghe như đùa.

Esports là nói tắt của “electronic sports”, tạm dịch là “thể thao điện tử”. Tuy khởi đầu chỉ là các trò chơi video game trên mạng, esports đang dần trở thành một kỹ nghệ đầy tiềm năng, có thể qua mặt những bộ môn thể thao truyền thống như football, baseball về doanh thu. Tuy nhiên thị trường esports ở Mỹ vẫn còn khá non trẻ, chưa phát triển bằng các nước Á Châu. Làng thể thao điện tử chuyên nghiệp đầu tiên ra đời cách nay gần hai thập niên ở Nam Hàn. Phải mất gần mười năm sau đó các nước Á Châu, Âu Châu và Mỹ Châu mới có những Esport League tương tự. Nam Hàn là quốc gia đầu tiên xây vận động trường dành riêng cho esports, với đầy đủ các thiết bị và chức năng kỹ thuật cần thiết.

Thị trưởng Arlington cắt băng khánh thành Esports Stadium Arlington. nguồn: cBsdfw

Giống như thể thao truyền thống, các game-thủ trong esports cũng lập đội để thi đấu với các đội khác. Lúc ban đầu các đội esports chỉ đấu lẫn nhau trong môi trường tự phát, không có tổ chức nhất định. Nhưng càng về sau những hãng sản xuất game nhận ra đây là một thị trường khá béo bở nên một số đã đứng ra tổ chức những giải đấu dành riêng cho game của mình. Thí dụ như hãng EA Sports có giải cho Madden (football); hãng Blizzard có giải cho Warcraft; Microsoft có giải cho Halo v.v. Nhưng ngoài ra còn có những công ty tuy không phải là nhà xuất bản game nhưng cũng đứng ra tổ chức những giải thi đấu cho game đủ loại, bất kể là sản phẩm của ai. Một trong những công ty lớn nhất hiện nay thuộc loại đó là FACEIT, thành lập tại London năm 2011.

FACEIT là chủ của giải Esports Championship Series (ECS), năm nay đã vào mùa thứ 6. Tuần lễ Thanksgiving 2018 FACEIT đã có giải chung kết ECS VI cho game “Counter Strike: Global Offensive”, tổ chức tại “sân vận động” Esports Stadium Arlington ở Texas. Tạm gọi là sân vận động mặc dù các đội tham gia chẳng có “vận động” gì nhiều; họ chỉ ngồi trước các máy computer và chơi video game với nhau. Tất cả hướng mặt về phía khán giả, sau lưng là những màn ảnh lớn chiếu những cảnh đấu đá đang diễn ra. Mỗi đấu thủ đều đeo headset có microphone, bịt tai lại để chỉ có thể nghe lẫn nhau. Họ hoàn toàn không thể nghe tiếng khán giả hò hét hay tiếng phụ đề của các tường thuật viên huyên thuyên không thua gì Huyền Vũ.

Võ đài ESA, nơi các đội thể thao điện tử hàng đầu thế giới sẽ tranh tài. nguồn: cbsdfw

Thoạt đầu không ai nghĩ video game có năng lực ghê gớm đến độ một thành phố như Arlington phải tốn cả $10 triệu đô la để sửa sang Convention Center lại và biến nó thành sân vận động cho esports. Thế nhưng hiện nay chủ các đội banh chuyên nghiệp như Jerry Jones của đội Dallas Cowboys (football), Mark Cuban của Dallas Mavericks (basketball) đều đầu tư vào esports. Ý tưởng xây sân thể thao điện tử tại Arlington lúc đầu bị nhiều người ngờ vực. Nhưng sau khi hội đồng thành phố có cơ hội nghiên cứu những số liệu về mức tăng trưởng hàng năm của esports, ai cũng đồng ý rằng thể thao điện tử là hướng đi mới và sẽ là một nguồn lợi tức đáng kể cho thành phố trong tương lai.

Hiện nay số người trên thế giới theo dõi các trận đấu esport online hàng tháng đã ngang ngửa số người xem các trận football của NFL ở Mỹ. Nhiều nguồn nghiên cứu cho rằng NFL sẽ bị esports qua mặt một ngày không xa. Công ty Deloitte tiên đoán thị trường esports sẽ trị giá chừng $1.5 tỉ đô la vào năm 2020, với tổng số khán giả khoảng 600 triệu người, tuổi trung bình là 26, và hơn 70% là Nam. Nói chung, fan của esports khá trẻ nên tương lai của kỹ nghệ này hết sức sáng sủa.

Quan khách tham dự buổi khai mạc Esports Stadium Arlington. nguồn: cbsdfw

Mặc dù sân Esports Stadium Arlington (ESA) chỉ có thể chứa từ 250 đến 2,500 khán giả, tuỳ theo giải nhỏ hay lớn, nhưng con số đó không phản ảnh tổng số người xem các trận đấu online, có thể lên đến nhiều triệu. Khác với thể thao truyền thống, esports được phát hình trên internet, qua các hệ thống livestream như Youtube, Twitch v.v. Ðiều này có nghĩa là khán giả không phải bỏ tiền mua những gói cable TV có các đài thể thao như ESPN, Golf Channel… mà có thể coi thẳng trên PC, smartphone, iPad, smart TV v.v.. Thêm vào đó, họ có thể lên internet để xem lại bất cứ trận nào họ thích miễn là nó được lưu giữ, chẳng hạn như trên Youtube. Nhờ vậy esports mới dễ dàng đến với người xem khắp nơi. Vấn đề còn lại là làm sao biến số khán giả đó thành nguồn doanh thu thường trực, đủ nuôi sống các làng esports chuyên nghiệp.

Chưa kể là trong thế giới esports hiện nay, ngoài những đội nhà nghề còn có các đội amateur từ đại học. Thí dụ như tại giải Counter Strike của ECS năm nay, trận chung kết đại học đã diễn ra giữa hai đội Louisiana State University (LSU) ở Baton Rouge và University of Texas ở Arlington (UTA). Ðội UTA lần này coi như gà nhà, được dân UTA đến cho nước rất xôm tụ; họ ngồi chật sân, vé bán sạch từ cả tuần trước. Rất tiếc UTA đã bị LSU hạ gục khiến fan của UTA phải “nuốt hờn” chờ sang năm tới. Nhưng dù đội nhà có về nhì chăng nữa, hội đồng thành phố và doanh nghiệp quanh vùng vẫn lạc quan tin tưởng rằng rồi đây sân ESA sẽ mang đến cho Arlington nhiều lợi nhuận đường dài. Trước mắt là chưa chi tên thành phố đã được gắn liền với sân esports lớn nhất nước Mỹ. Mọi người đang chờ một công ty lớn nào đó sẽ đứng ra bảo trợ bằng cách gán tên mình lên Esports Stadium Arlington như “AT&T” cho sân football của Dallas Cowboys, hay “Globe Life” cho sân baseball của Texas Rangers — cả hai đều gần kề sân ESA. Nếu như giấc mơ của thành phố trở thành hiện thực, ngày nào lượng khán giả tăng lên cao đủ thì Arlington sẽ dư sức tổ chức những giải quốc tế tại một trong hai sân banh lớn kia, không thua gì những giải quy mô tại Hàn Quốc bấy lâu nay.

Khách chơi game tại các máy đặt trong sảnh đường của Esports Stadium Arlington. nguồn: CBSDFW

Sắp tới đây, ngày 8/12 ESA sẽ có trận thư hùng game “Rocket League” đang rất thịnh hành, để xem có cháy vé nữa hay không. Những ai còn nghi ngờ về tương lai của esports chỉ cần nhìn vào số lượng khán giả mà xét. Chẳng hạn như trận chung kết giữa hai đội Astralis (Denmark) và MIBR (Brazil) hôm 24/11 tại Arlington đã thu hút hơn 1 triệu người xem online, và cả ngàn người coi trực tiếp trong đấu trường. Trận đấu hết sức gay cấn này đã phải chơi thêm giờ (overtime) hai lần mới ngã ngũ. Cuối cùng thì Astralis (hiện là đội hạng nhất thế giới) cũng đoạt chiếc cúp vô địch thứ ba trong vòng sáu năm qua. Nghe nói bên thắng cuộc lãnh $1 triệu đô la; chia cho 5 người trong đội thì mỗi người cũng được $200,000. Và đây mới chỉ là những bước tiên khởi; không ai biết mai sau tiền thưởng sẽ lên cao tới cỡ nào.

Thời nay chỉ chơi video game thôi mà cũng làm ra bộn tiền. Ðà này biết đâu các trường trung học ở Mỹ sẽ có thi đấu esports? Rồi thì các trường đại học sẽ có học bổng cho các học sinh chơi game giỏi? Nói nghe tức cười, nhưng Mỹ mà; bất cứ chuyện gì làm ra tiền đều có thể xảy ra cả…

Một cảnh trong game Counter Strike: Global Offensive. nguồn Valve

BB

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Phần 4

Hãy coi như đã chết

“Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi.”

(Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ-Nguyễn Ðức Quang)

Người dân ở ngoài những trại tù cải tạo ít khi được thấy chúng tôi chuyển trại như thế nào. Lý do là tất cả những cuộc chuyển trại mà chúng tôi phải trải qua đều diễn ra vào lúc nửa khuya hay trước hừng đông. Trên lộ trình dẫn tới trại mới, thông thường tù nhân phải tiểu tiện ngay trên xe chứ ít khi đoàn xe dừng lại. Ðể đề phòng bất trắc, toán công an trại giam thường sử dụng khoảng 2 trung đội công an vũ trang với ít nhất là 4 khẩu thượng liên đi kèm đoàn xe chở tù cải tạo di chuyển. Buổi sáng sau khi chúng tôi bị dẫn lên ban quản trại để làm việc, những người nằm trong danh sách chuyển trại được “biên chế” thành hai đội 42 và 43 và dọn vào ở chung nhà 2 tức là láng thứ hai từ ngoài cổng trại trở vào. Tôi loan báo nội dung của buổi làm việc và kết luận: “Chúng ta có nhiều phần bị chuyển trại vào nửa đêm nay”. Tôi và anh Huỳnh Cự cũng khuyên mọi người là ai còn thực phẩm thăm nuôi thì đem ra dùng hết đi chứ đến trại mới có thể bị tịch thu căn cứ theo kinh nghiệm những lần chuyển trại trước mà hai chúng tôi phải trải qua. Vào khoảng 10 giờ đêm, thêm nhiều vệ binh súng dài vác CKC (súng trường do Tiệp Khắc hay Trung Cộng sản xuất) vào tăng cường tuần tiễu trong trại. Họ bắt chúng tôi phải tắt đèn đi ngủ đúng 10 giờ đêm như nội qui, trái với bình thường có khi họ để chúng tôi tắt đèn trong buồng giam khoảng 12 giờ đêm, khiến nhiều buồng giam khác lo ngại vì tình trạng bất thường này.
Nhưng làm thế nào mà ngủ được vì mọi người đều lo lắng không biết tương lai sẽ về đâu. Một số anh em leo lên chỗ tôi nằm để hỏi xem qua buổi “làm việc” tôi có thể đoán biết trại sẽ tới là trại nào không. Tôi nói: “Nếu hắn mà cho biết trại sẽ tới thì cần gì họ phải đặt ra cán bộ an ninh, nhưng theo chiều hướng này chúng ta có nhiều phần trăm bị đưa đi an trí vĩnh viễn đấy, các bạn cũng nên chuẩn bị tinh thần trước, chấp nhận phần xấu nhất về phần mình, như thế mới mong sống tự do trong những cái cũi như thế này được. Ở Bắc, ở Trung, ở Nam đâu cũng chỉ có cũi và lồng cho chúng ta mà thôi”. Tôi nói như vậy cũng vì cho rằng khi chấp nhận cùng lắm là ra “đồi thông” (từ ngữ chúng tôi dùng để chỉ nghĩa trang dành cho cải tạo) thì mọi chuyện trở nên nhẹ nhàng và không còn sợ hãi bất cứ một điều gì. Khi không còn sợ hãi, người tù sẽ cảm thấy thanh thản và tự do.
Tuy mới tù đày được 4 năm, nhưng do trải qua khá nhiều sóng gió kể cả lối tra tấn bằng không cho ngủ và chiếu đèn điện cực sáng vào mặt tôi ở khu thẩm vấn của trại B-5 Tân Hiệp, Biên Hòa, tôi hiểu lý do tại sao mà người Cộng Sản phải thoát ly gia đình khi dấn thân vào con đường tranh đấu chỉ để họ không bị vướng bận gì về gia đình. Nhiều người có cách nhìn khác nhau về điểm này. Cá nhân, tôi có nhiều lý do để tin rằng những vướng bận gia đình có thể trở thành áp lực mà cán bộ trại giam sử dụng để hành hạ mình. Trong biết bao nhiêu cuộc thẩm vấn, tôi không còn sợ bị đánh đập nữa (ở khu biệt giam trại B-5 chuyện cai tù Việt Cộng đánh đập, lên gối tù nhân đến lòi cả cơm ra ngoài là chuyện thường xảy ra), mà điều tôi sợ nhất là nhân viên thẩm vấn vui vẻ mời tôi thuốc hút và nói: “Tôi vừa gặp anh Minh, anh cả của anh và cụ Bôi mẹ anh. Nói chung là gia đình anh vẫn bình yên và dù khó khăn họ cũng muốn anh đừng giấu chuyện gì, cải tạo tốt để sớm trở về với gia đình”. Ðây không phải là một thông tin thông thường tình cảm mà ngược lại vào giai đoạn đó, nó là một lời đe dọa. Bởi vì thông tin này cho tôi hiểu là gia đình tôi không an toàn và có thể họ đã đưa ông anh cả tôi vào tù rồi không chừng. Người anh cả của tôi đang dạy học ở trường trung học Trưng Vương thì bị gọi động viên khóa 16 trường Bộ Binh Thủ Ðức. Ra trường, anh nhận đơn vị tại tiểu khu Long Khánh, sau đó anh bị đổi đi Phước Long phục vụ trong ủy ban yểm trợ Xây Dựng Nông Thôn tỉnh. Sau lần bị du kích Việt Cộng phục kích ở Phước Quả bị thương ở lưng nên sau đó được giải ngũ và trở lại bục giảng ở trường cũ. Thực ra, nếu điều không may ấy xảy ra với người anh cả tôi thì mẹ tôi là sẽ là người bị thử thách nặng nhất. Lúc ấy gia đình tôi sẽ là một gia đình mà 3 con trai đều đi tù hết và mẹ tôi sẽ là người mẹ sống cô độc với mấy đứa cháu nội. Em tôi, Quang, trung úy dược sĩ bị đưa ra trại cải tạo ở đảo Phú Quốc. Nó cùng với một số sĩ quan khác tổ chức cướp tàu đánh cá để trốn trại. Xuống được tàu rồi, các cậu đề máy nhưng máy không nổ. Lý do: Sau một ngày đánh bắt cá các chủ tàu được lệnh phải hút hết dầu ra để sáng hôm sau đổ vào lại để ra biển. Chỉ vì không nghiên cứu và không biết được chi tiết đó, nên vụ cướp tàu thất bại. Cả đám chạy lên núi. Công an bao vây mấy tuần lễ, đói quá họ phải xuống núi đầu hàng. Nó bị đưa về Hàm Tân Z-30D và bị cùm trong connex bằng sắt cả năm trời, sau đó được đưa ra trại lao động và được thả sau 8 năm tù.
Những tin tức vừa kể tôi chỉ được biết khi được thả và trở về với gia đình cuối năm 1988, chứ còn thời gian 4 năm đầu tôi hoàn toàn như sống trong một thế giới khác cách biệt hẳn với bên ngoài vì nhà cầm quyền không cho phép mẹ tôi lên thăm và nếu có được lên thăm thì trại cũng không cho phép tôi ra gặp. Tôi không biết đây có phải là điều may mắn hay bất hạnh cho tôi, nhưng rõ ràng việc phải đối phó với những áp lực nhà tù khiến tôi còn rất ít thời giờ dành cho tình cảm gia đình. Chỉ những giây phút vào giữa đêm khuya thanh vắng, không ngủ được bởi bị dằn vặt bởi cái đói và sự lo nghĩ hành hạ, những kỷ niệm về gia đình về bố mẹ tôi, về anh tôi và đứa con trai mới xuất hiện trở lại trong tâm tưởng và đó là những giây phút tôi khổ sở nhất. Những giây phút chùng lòng như thế đã dẫn tôi tới một quyết định không liên lạc gì với gia đình nữa. Vả lại, mỗi lần trại cho tù nhân viết thư cho gia đình thì phần đông do đói quá, cho nên ai cũng đều kê khai một danh sách dài những thứ họ cần mà không hề biết được ở xã hội bên ngoài, gia đình mình có đủ điều kiện cung cấp không. Nếu gia đình mình nghèo thì những bức thư ấy sẽ chỉ làm cho những người thân của mình áy náy thêm trong khi hàng ngày họ cũng phải đối phó một cách khó khăn lo cho miếng ăn của những người còn lại bên ngoài. Cho nên, tôi nghĩ rằng thà để cho gia đình coi như mình đã chết có lẽ là phương thức hay nhất giúp cho những người ruột thịt còn lại tập trung vào việc bươn chải giữa một xã hội đầy những kỳ thị, đói khổ để kiếm kế nuôi nhau.
Khoảng 1 giờ đêm, trực trại Tống Ðăng Cứ và khoảng 10 vệ binh súng dài đốt đuốc vào trại đập cửa nhà 2 rầm rầm. Giọng anh ta làm ra vẻ khẩn cấp hô lớn: “Tất cả dậy, thu vén tư trang, điểm số và ra xếp hàng ngoài sân để chuyển trại”. Khi trật tự mở cửa buồng giam chúng tôi thấy Tống Ðăng Cứ lăm lăm khẩu K-54 ra lệnh: “Các anh có 10 phút chuẩn bị, bỏ lại hết ca cóng, chỉ mang theo quần áo mùng mền, tuyệt đối không mang theo vật bén nhọn. Anh nào vi phạm, tôi cùm cho mọt gông. Sau khi chuẩn bị tất cả ngồi yên nghe gọi tên. Gọi đến ai thì người đó sẽ hô to có mặt sau đó mang tư trang bước ra ngoài sân xếp thành hàng một, cán bộ sẽ kiểm tra tư trang. Tuyệt đối mọi hành vi đều phải theo lệnh cán bộ, anh nào ngược lại sẽ bị bắn bỏ”. Chúng tôi lần lượt bước ra cửa buồng giam. Sân trại rực sáng và ánh đuốc bập bùng lung linh trong những đôi mắt tù nhân như những ngọn lửa căm hờn. Ðám vệ binh súng dài thỉnh thoảng lại lên cò súng lách cách như một tín hiệu đe dọa là họ sẵn sàng hành động.
Sau khi chúng tôi bị kêu tên điểm số lần thứ hai, một trật tự viên đẩy vào một xe cải tiến trên có chất đầy những cục cơm nắm tròn, mỗi cục bằng gần hai nắm tay. Sau đó một vệ binh cũng đẩy vào một xe cải tiến khác trên đó đầy những sợi dây xích và khóa. Sau khi mỗi người được phát một cục cơm và một ít muối bọt, cán bộ giáo dục trại, một trung sĩ công an chừng khoảng 21-22 tuổi luôn luôn khoe mình đã học hết lớp 10 và đang học tiếng Nga, nói cho chúng tôi biết rằng nắm cơm được phát là dùng cho hai buổi trưa và chiều, đến trại mới chưa có khẩu phần ngay đâu. Sau đó anh hướng dẫn cho các trật tự viên xích tay chúng tôi cứ hai người một sợi dây xích và khóa cứng lại bằng một còng số 8 (loại còng CSQG dùng để còng tay những tội phạm). Tôi bị xích chung với Linh Mục Phan Văn Trọng. Xong xuôi, chúng tôi cứ người một bước ra khỏi cổng trại. Một hàng năm sáu chiếc xe đò nối đuôi nhau trên con đường trước cổng trại cùng với những chiếc “commando car” có bố trí súng thượng liên. Tôi nói với linh mục: “Lần này chúng ta được ngồi xe đò chứ không bị xếp lên motolova trùm kín nữa”. Chúng tôi bước tới những chiếc xe đò này theo lệnh của trực trại. Tiếng xích chạm vào nhau kêu loảng xoảng. Thời chiến tranh, tôi đã từng nghe tranh luận một đề nghị của Hạ Viện là thay đổi quốc ca VNCH bằng một trong hai ca khúc “Việt Nam, Việt Nam” của Phạm Duy và “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của Nguyễn Ðức Quang, nhưng chuyện thay đổi này không thành vì nhiều lý do. Tôi thích bài của Nguyễn Ðức Quang nên vào lúc nghe tiếng dây xích sắt chạm nhau kêu loảng xoảng trong lần chuyển trại ấy, tôi chợt nhớ lại khúc đầu của lời nhạc mà tôi cho là kiệt tác của Quang. Tôi nhẩm trong đầu:“Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Ðường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng cuộc đời xa xăm
Ðôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang!
Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian!”
Khoảng 3 giờ sáng đoàn xe mới lăn bánh ra khỏi trại Hàm Tân Z-30C.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 19 Jun 2024

Phần 3

Diễn tiến của việc công an trại giam thực hiện “Phương Án 4”

Cả đội 41 phân trại A, trại cải tạo Z-30C Hàm Tân nhốn nháo khi Tống Ðăng Cứ từ ngoài cổng trại bước vào trong sân trại nơi mấy chục đội lao động của tù cải tạo ngồi sẵn để chờ điểm số xuất trại ra bãi lao động. Ði theo Tống Ðăng Cứ, cán bộ trực trại, là một trật tự viên khệ nệ vác một chiếc bàn nhỏ. Cứ cầm một lọ hoa gồm những bông cúc vàng ngắt ở bồn hoa trước cổng trại đặt lên một góc bàn. Cả trại đang ồn ào vì chia nhau những điếu thuốc lào hay trao đổi “hot news,” một loại tin trời ơi đất hỡi chẳng cần chứng cớ, nói ra cho nhau nghe để nuôi hy vọng trong cuộc lưu đầy lúc nào cũng đói khát và căng thẳng… bỗng im bặt. Tù cải tạo chúng tôi thấy trực trại mang bàn “hương án” (chúng tôi gọi chiếc bàn trên có để lọ hoa cúc là bàn hương án) thì chỉ có hai điều xảy ra: Một là có thể một vài anh nào đó được kêu tên thả, hai là có thể có một số đông vào “chuồng cọp” nằm “nghỉ mát”.
Tống Ðăng Cứ rút trong túi áo ra một tờ giấy, có thể là một danh sách. Người đầu tiên ông gọi tên là tôi. Tôi đứng lên. Có tiếng xì xào: “Tên nó mà được gọi đầu tiên thì không có chuyện thả rồi, chắc lại sang chuồng cọp khu nhà đỏ.” (Các buồng giam ở khu đất bên cạnh các buồng giam lợp lá, vách bằng cót, nền bằng đất nện được xây cất thêm, cũng do tù cải tạo xây. Sở dĩ gọi là khu nhà đỏ vì các dãy nhà dùng làm buồng giam được xây bằng gạch, lợp ngói đỏ au, các chuồng cọp, tức xà lim cá nhân, được đổ bê tông và cửa bằng sắt dầy).
Những người tiếp theo là Linh Mục Phan Văn Trọng, vị linh mục thường cử hành lễ riêng cho Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ở Dinh Gia Long thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, rồi đến Huỳnh Cự (hồi chánh viên cao cấp và làm tham nghị của Bộ Chiêu Hồi), Ðoàn Bá Phụ (cựu đại đội trưởng Tiểu Ðoàn 7 Nhảy Dù), Vũ Trọng Khải (đại úy cảnh sát, trưởng Phòng Căn Cước, Ty Cảnh Sát Ðà Lạt), Trần Bửu Ngọc tự Ngọc “đen” (cựu biệt kích), Nguyễn Văn Học tự Học “thiện xạ” (sĩ quan Biệt Ðộng Quân), chưởng môn Việt Võ Ðạo Lê Sáng, Giáo Sư Châu Sáng Thế (giáo sĩ đạo Hồi), cựu Dân Biểu VNCH Khúc Thừa Văn (bí thư tỉnh ủy Việt Nam Quốc Dân Ðảng Quảng Nam)… và cứ như thế trực trại Tống Ðăng Cứ tiếp tục gọi tên những khuôn mặt được mô tả là “cứng đầu” nhất từng ra vào chuồng cọp như cơm bữa bước khỏi đội và xếp thành hai hàng khác ở góc sân. Ðến lúc này thì anh em không còn bàn tán nữa. Cả một khoảng sân trở nên yên lặng vì họ cảm nhận được đang có một kế hoạch bất thường chỉ hai tháng sau khi Trung Cộng xua quân đánh chiếm sáu tỉnh miền Bắc Việt Nam đầu năm 1979. Cá nhân, tôi không ngạc nhiên vì trước đó cán bộ Lâm, quản giáo đội lao cải mà tôi đang lao động, đã báo cho tôi biết trước tin rằng tôi sẽ bị chuyển trại.
Lâm, người Hải Dương, miền Bắc Việt Nam, là một trong số rất hiếm quản giáo thuộc hàng sĩ quan công an học hết trung học. Anh là người nói năng nhỏ nhẹ, không thấy bắt đội phải kiểm điểm hay dùng chỉ tiêu lao động để đàn áp tù trong suốt thời gian coi đội 41. Có lần không biết lấy thông tin từ đâu, Lâm kêu tôi vào nhà lô (lều dựng tạm để dụng cụ lao động của đội) chìa ra cuốn “English for Today” tập I dành cho những người mới học Anh ngữ và nói: “Chuyện này cũng tùy thuộc anh thôi. Tôi được anh đội trưởng cho biết quá trình của anh cho nên tôi muốn nhờ anh chỉ bảo cho ít tiếng Anh. Nói thật, tôi đang muốn chuyển ngành sang Hải Quan. Ở trong rừng như thế này, tôi không thể nào có cơ hội lên Sài Gòn để học và chi phí lại đắt quá.” Lập tức Lâm đưa tôi vào một thử thách khó vượt qua mà anh không biết.
Trước hết, chỉ nội chuyện hàng ngày không phải cuốc đất trồng khoai mì dưới cái nắng chang chang, bụng đói, nay được vào ngồi trong nhà lô với quản giáo, anh em trong đội sẽ nghĩ không biết là dạy Anh ngữ hay lại “to, nhỏ” gì với cán bộ, với quản giáo, là “chết cả một đời” tôi rồi. Dư luận trong tù mà. Sống trong tình trạng đói khổ hành hạ, con người ta có khi không kiểm soát được mình nữa để bản năng làm chủ ý chí nên chuyện bé thì xé ra to là lẽ thường tình.Thêm nữa, nội qui trại là cấm nói và học tiếng nước ngoài ngay cả tiếng Nga và Trung Hoa. Ngồi mát dạy tiếng Anh cho cán bộ, đỡ phải cuốc là tốt cho cá nhân mình ai mà không muốn? Nhưng đổi lại tôi phải gánh cái gánh nặng điều tiếng này nọ chẳng bõ, thành thử cuối cùng tôi phải dùng đủ mọi lý lẽ để từ chối và sẵn sàng đón nhận những cú “đì” của Lâm. Nhưng cho đến ngày tôi rời khỏi Z-30C, điều này chưa xảy ra. Trái lại, hai ngày trước một giai đoạn khác của cuộc lưu đầy, Lâm còn cho biết tôi sẽ phải đối đầu với một vụ chuyển trại quan trọng.
Tôi được xác nhận cuộc chuyển trại lần này là dưới ảnh hưởng của “Phương Án 4”. Người xác nhận chính là cán bộ Tý, an ninh trại. Sau khi gọi tên ra khỏi đội 41, tôi và khoảng sáu bảy người khác, trong đó có anh Huỳnh Cự, chờ để lên “làm việc” trên ban quản trại, những người khác trở về đội của mình dọn dẹp tư trang để được “biên chế” (chuyển sang đội khác hay thành lập đội mới). Tôi bị dẫn vào phòng an ninh của Tý. Bị gọi đi thẩm cung với ông này là điều tôi mừng rơn. Lý do dễ hiểu: Tý nói nhiều, nói huyên thuyên về chủ nghĩa xã hội mà tôi nghĩ rằng ông cũng không biết nhiều. Viên cán bộ an ninh này ít hỏi mà ngược lại khoái giảng. Kinh nghiệm nhiều lần bị hỏi cung giúp cho tôi chiêm nghiệm một điều. Ðó là, nhân viên thẩm vấn nào của công an mà hỏi nhiều, hỏi liên tiếp, hỏi nhiều câu tưởng như vớ vẩn tức là tay đó có trình độ chuyên môn cao phải coi chừng. Và ngược lại cái tật nói nhiều, hay giảng giải, thích nâng quan điểm là những yếu tố để lộ ra trình độ yếu kém của nghiệp vụ thẩm cung, cho nên việc tránh né những mũi tên ông này bắn ra không khó khăn lắm.
Chẳng hạn như buổi sáng hôm đó, Tý nói với tôi như thế này, về việc chuyển trại, nghe như chọc vào lỗ tai: “Chắc các anh không biết rằng cho tới nay, dân chúng ở ngoài người ta vẫn còn thâm thù cách anh, họ chưa nguôi cơn giận. Nhưng vì lòng nhân đạo, chính quyền nhân dân có bổn phận phải bảo vệ các anh. Gần đây tình hình khá bề bộn sau khi Trung Quốc tấn công chúng ta. Chuyện vẫn chưa yên đâu, phức tạp lắm. Lẽ ra, nhà nước đã phải đem các anh đi bắn hết rồi nhưng chúng tôi khoan hồng cho các anh đi cải tạo, chừng nào tốt thì cho về. Nhưng trước mắt, chúng tôi phải bảo vệ các anh, đưa các anh đến một nơi khác an toàn hơn, cũng ở trong Nam thôi, nhưng có đủ điều kiện an ninh để cải tạo tốt...” Thế là cán bộ Tý, như người bị đồng nhập, bắt đầu “giảng” lý thuyết cộng sản theo đó thì “nhân dân ta mỗi người làm việc bằng hai, của cải sẽ dư thừa và đó là lúc chúng ta hưởng theo nhu cầu”. Tôi không hiểu Tý diễn kịch hay mê thứ chủ nghĩa không tưởng này thật, nhưng phải nhìn ông, một con người thấp bé, da đen sạm, gầy như bơi trong bộ đồng phục vàng của công an, hai cầu vai màu đỏ, giữa có bốn ngôi sao vàng và một gạch vàng ở dưới (cấp bậc đại úy công an) cứ chồm lên khỏi ghế ngồi nói văng cả nước miếng trước mặt một tù cải tạo gầy như xác ve, quần áo tù mới có bốn năm thôi mà đã vá chằng đụp, da xanh mét vì thiếu ăn mới nhận ra được đủ những nét thê thảm của một đất nước khi nó rơi vào tay những con người như Tý.
Trong suốt buổi thẩm cung, tôi chỉ bị cán bộ Tý hỏi có một câu mà tôi cho rằng nó lãng nhách, buồn cười pha nhiều bi phẫn: “Anh thấy tôi nói có đúng không hay lại như nước đổ đầu vịt?” Viên cán bộ an ninh này lại đặt ra cho tôi một thử thách nữa. Ông này, với tư cách là sĩ quan thẩm vấn của công an, đặt ra một cái mốc tốt đẹp cho một thứ chủ nghĩa mà có lẽ đến ngày xuống lỗ chắc cũng không thể tin hay theo được, rồi hỏi tôi nghĩ thế nào. Một người tù như tôi, nếu khen cán bộ là nói hay quá, tôi “quán triệt” được hết thì hóa ra tôi cũng đã tự lừa dối và tự biến mình thành một đứa mất nhân cách nhất, nhưng nếu nói thẳng ra rằng cán bộ là một tên đang bị đồng nhập thì sẽ bị nâng quan điểm là không tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội, mà đã không tin tưởng thì sẽ không an tâm cải tạo, mà không an tâm cải tạo là bị “cùm” rồi. Cuối cùng, trong đầu tôi lóe ra một hình ảnh và tôi trả lời: “Tôi bị cho ăn đói quá, làm việc nặng, lại bị cấm thăm gặp triền miên nên đầu óc mụ đi, cán bộ nói sao thì tôi nghe vậy thôi.” Tý đập bàn gọi vệ binh dẫn tôi về đội chứ không mang đi cùm. Cứ nhìn vào những gì đang xảy ra, cuộc chuyển trại sẽ diễn ra nội nửa đêm hôm đó cho nên nếu Tý có cùm tôi thì cũng chỉ cùm được vài giờ là phải thả tôi ra. Tôi hiểu rất rõ rằng, khi người tù đã nằm xong danh sách chuyển trại, trại mới sẽ không nhận số tù đã được thông báo nếu thiếu một người. Dù sao buổi thẩm cung này cũng là buổi bị thẩm cung ngắn nhất trong đời tù của tôi. Nửa đêm hôm đó, những tù nhân cải tạo bị kêu tên ra khỏi đội hồi sáng bị chuyển trại.