Bay về phía ngọn thác thiên đường

baotreonline.com

Tim Nguyễn

Post on August 10th, 2021

Post by Sơn râu 17 Jun 2024

Giữa cơn đại dịch với bầy quỷ áo đỏ đang lộng hành khắp nơi, gây chết chóc căng thẳng, người viết muốn tìm về không khí nhẹ nhàng của tuổi thơ với những mẩu chuyện thần tiên bên bếp lửa. Sau đây là một câu chuyện vừa vui vừa cảm động xin được cùng chia sẻ.

Bạn ấu thơ,

Nhớ không, thời thơ dại ấy, không có điện thoại và cellphone như bây giờ, chúng ta nói chuyện với nhau bằng “điện thoại ống bơ”. Ôi, thô sơ là thế, mà cũng vui đáo để. Và rồi, tới lúc tôi đưa bạn đi xem phim Le Ballon Rouge (Quả bóng màu), tới đoạn cuối phim, khi thấy cậu bé bay lên cùng chùm bong bóng đủ màu dưới bầu trời thành phố Paris, thì cả bạn cùng tôi đều mơ ước một ngày chúng ta sẽ được bay cùng với những quả bóng như cậu bé kia.

Tất cả chỉ là chuyện trong mơ thôi, nhưng nó làm cho cuộc sống này vui hơn và có ý nghĩa hơn. Cũng như trong câu chuyện cảm động và vui nhộn sau đây từ cuốn phim UP của đạo diễn Pete Docter, bạn và tôi sẽ theo Carl và Russell cùng với ngôi nhà bay theo chùm bong bóng màu khổng lồ về hướng Ngọn Thác Thiên Ðường.

Carl Fredricksen là một cậu bé hay e thẹn và ít nói. Cậu thường mơ ước bay vòng quanh thế giới với quả bóng bay của mình. Một hôm, Carl tình cờ lạc vào căn nhà hoang của cô bé sún răng và nghịch như con trai tên Ellie, và rồi phát hiện ra rằng cả hai đứa cùng có chung mơ ước đi khám phá thế giới như thần tượng của chúng là nhà thám hiểm lừng danh Charles F. Muntz. Căn nhà hoang cô bé biến thành “câu lạc bộ phiêu lưu” của hai đứa. Cô gắn cho cậu chiếc huy hiệu câu lạc bộ làm bằng nắp chai nước ngọt, và cô khoe với cậu cuốn «My adventure book», quyển sách phiêu lưu mạo hiểm của cô, trong đó cô dành hẳn phần lớn, vẫn còn để trắng, để ghi lại những “chiến công” cô sẽ thực hiện sau này. Trang đầu tiên là bức vẽ ngôi nhà nhỏ bên đỉnh Ngọn Thác Thiên ở vùng rừng Nam Mỹ, một giấc mơ lớn. Và cô bắt Carl giữ lời hứa đi đến nơi đó cùng với cô.

Bay về phía ngọn thác thiên đường – cảnh phim Up – nguồn wallpapercave.com

Thời gian trôi qua, hai đứa cùng chơi đùa hồn nhiên bên nhau. Ðuổi bắt. Nói chuyện bằng ống bơ. Và rồi lớn lên, họ kết hôn thành vợ thành chồng. Căn nhà hoang câu lạc bộ ngày xưa nay trở thành ngôi nhà của họ. Chỉ trong một vài năm, họ dựng được tổ ấm riêng cho mình. “In a couple of years they have built a home sweet home”. Cô gái nắn nót viết tên hai người lên thùng thư, Carl & Ellie, nhưng chàng trai Carl vụng về để lại nguyên dấu một bàn tay trên thùng thư mới sơn, thế là Ellie lập tức quét sơn vào tay in ngay bàn tay mình lên cạnh bàn tay chàng.

Với nghề bán bong bóng và gác sở thú, hai người sống những năm tháng vui vẻ hạnh phúc bên nhau. Dưới tán cây cổ thụ trên đồi, họ cùng gửi mơ ước của mình qua những đám mây. Tối đến, trên 2 chiếc ghế bành kê sát, anh và cô cùng nắm tay nhau đọc sách.

Năm tháng qua… Tóc hai người dần bạc. Cho đến một hôm, ôi buồn biết bao bạn nhỏ ơi, Ellie không còn bước nổi lên ngọn đồi ngày xưa nữa. Ellie yếu đi và rồi qua đời. Quyển sách “My Adventure Book” còn đó với những trang để trắng. Thỉnh thoảng Carl vẫn mở ra xem và buông xuống ngậm ngùi. Trong phòng, hai chiếc ghế ngày xưa, giờ một chiếc để trống, trên đó còn vắt chiếc khăn quàng cổ của Ellie. Chiếc bàn cà phê bây giờ chỉ có một cái tách, đầu bàn bên kia không người ngồi.

Với Carl, thời gian như lá rụng dần… Thành phố bây giờ đổi khác, với những ngôi nhà cao tầng mọc lên chung quanh, nhưng Carl nhất định không chịu rời đi. Cho đến một hôm xảy ra cuộc đánh nhau với một công nhân xây cất vì người này cho xe tới làm gãy thùng thư kỷ niệm của Carl và Ellie, chính quyền thành phố nhân vụ này ra lệnh cho Carl phải về ở tại nhà hưu trí Shady Oaks Retirement Home. Carl lúc này đã 78 tuổi, chợt nhớ lại giấc mơ của Ellie là đem ngôi nhà hai người tới Ngọn Thác Thiên Ðường, ông bèn dùng hàng ngàn quả bóng bay để kéo ngôi nhà lên, bắt đầu cuộc hành trình về miền hoang dã xứ Nam Mỹ. Tháp tùng theo ông, bất ngờ có thêm cậu bé Russell, cũng là một nhà thám hiểm vùng đất hoang dã, đang cố gắng đi tìm chiếc huy chương cuối cùng qua công tác giúp đỡ những người già lão.

Căn nhà của Carl và Ellie giờ đang bay dưới chùm bong bóng khổng lồ. Bay qua thành phố, qua rừng, qua suối. Bỗng cơn bão ầm ầm kéo tới làm ngôi nhà với Carl và Russell trên đó suýt lâm nguy. Nhưng rồi bão qua đi. Lúc này, Carl và Russell đã có thể nhìn thấy Ngọn Thác Thiên Ðường từ xa. Họ đang ở trên bờ một con vực lớn. Cả hai bước xuống và kéo ngôi nhà đi theo, hy vọng sẽ tới được Thác Nước lúc những quả bóng còn hơi. Ðang đi, Russell bỗng thấy một con chim cao lớn, màu sắc rực rỡ như Công, bèn kết bạn và đặt tên cho nó là Kevin. Sau đó, họ gặp con chó Dug. Cả hai con đều biết nói tiếng người nhờ một bộ máy đeo ở cổ. Chủ của Dug chính là nhà thám hiểm Charles Muntz, ông vẫn còn lưu lại vùng Nam Mỹ qua nhiều thập niên với hy vọng  bắt được giống chim lạ còn sống (chính là Kevin) mang về làm chiến tích riêng.

Lúc đầu, Carl vui mừng vì gặp được thần tượng, nhưng rồi khám phá ra rằng Muntz sẵn sàng làm bất cứ điều gì dẫu tàn ác để bắt cho được Kevin. Do đó, Carl muốn cứu Kevin và chạy trốn khỏi Muntz. Nhờ Kevin và Dug, Carl thoát khỏi đàn chó ngao hung dữ của Muntz, nhưng Kevin không may bị thương. Trong khi giúp Kevin thì Muntz cùng đàn chó ngao kéo tới, phóng lửa đốt ngôi nhà của Carl. Ngôi nhà sau đó được cứu khỏi ngọn lửa nhưng Kevin bị bắt và Muntz cùng đàn chó cao chạy xa bay.

Và rồi Carl cũng đã đưa được ngôi nhà của Ellie đến bờ Ngọn Thác đúng với ý nguyện của nàng. Trong ngôi nhà kỷ niệm, Carl lại gặp cuốn sách hình của Ellie và tìm thấy lại những kỷ niệm của hai người và lời ghi cuối cùng của Ellie cám ơn Carl đã thực hiện ý nguyện của nàng và giờ đây Carl hãy lên đường một mình. Phấn khởi vì ý nguyện của Ellie đã thành hiện thực, Carl bước ra trước nhà và đưa mắt nhìn trời mây. Lúc này, Russell đã bỏ đi và đang bị Muntz rượt đuổi. Carl quăng hết đồ đạc trong nhà đi để cho ngôi nhà có thể tiếp tục bay, đuổi theo Muntz -lúc này ông có Dug bên cạnh. Russell nhờ sợi dây buộc vào người đã lao vào phi thuyền của Muntz nhưng bị đàn chó vây bắt. Lúc này Carl và Dug cũng đã cặp vào phi thuyền. Cuộc rượt đuổi náo động và vui nhộn tiếp diễn cho đến khi phe của Carl toàn thắng, trở về trái đất.

Trong cuộc lễ tiếp đón lúc trở về, Carl gắn huy chương tưởng thưởng công lao và tấm lòng của Russell. Bạn nhỏ ơi, đó là chiếc huy chương nắp phéng ngày xưa Ellie đã gắn cho Carl buổi đầu hai người gặp nhau. Chỉ một vật nhỏ bé đó thôi (chiếc nắp phéng) đã khuấy động không gian và thời gian, đem quá khứ nối liền hiện tại, khiến trái tim đau ai đó rung lên như ngọn lá cuối cùng trước gió. Kết thúc như vậy là đẹp. Ngôi nhà của Ellie đã đến được Ngọn Thác Thiên Ðường. Uớc nguyện ngày xưa đã trở thành sự thật. Nhưng sao nghĩ tới Ellie và mối tình thơ dại của hai người, lòng Nguyễn này lại cảm thấy bồi hồi. Họ chỉ là những hình họa bằng máy computer chứ có phải người thật đâu, vậy mà cũng gây xúc động. Thương cho Ellie. Và thương cho Carl đã một mình thực hiện cuộc hành trình tới Ngọn Thác Thiên Ðường. Carl hay chính là Nguyễn này. Ôi, nhân sinh huyễn huyễn…

TN

Bird Photographer of the Year 2020 Winners

http://www.birdpoty.com

Post by Sơn râu 17 Jun 2024

Category Highly Commended Images

Rainbow Ballet- Christian Spencer, Australia- Birds in Flight

Refection-Jian Huang China-Black and White

Reign Forest- Adam Stunkel, USA-Birds in the Environment

Snake Bird-Wanchanok Suvaenakara-Thailand-Best Portrait

Spot the Bird- Swayamsiddha Mohapatra, India- Best Portrait

Stealing Back- David Pattyn-Netherlands-Gatden and Urban Birds

Torda- Jean-Marie Ville, France-Black and White

Trails at Dusk- Kathryn Cooper, United Kingdom- Creative Imagery

Tranquil Morning- Guang Hua Chen, USA- Birds in the Environment

Underwater Check-Greg Lecoeur France-Best Portrait

Commended Images

Attention to Detail

Bad hair day- Brad James, Canada- Attention to Detail

Eye of the Razorbill- Alan Murphy, USA-Attention to Detail

Red-Throated Diver-Rear view of neck- Conrad Dickinson, United Kingdom-Attention to Detail

Regurgitate-Feeding- Kwok Wai Ng, Hongkong-Attention to Detail

Staredown- Sunil Gopalan, USA-Attention to Detail

Sword-Bill- Tim Hopwood, Canada- Attention to Detail

Bố Già

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch Ngọc Thứ Lang

Post by Sơn râu 17 Jun 2024

Google photos

Chương 8

NGÀY HÔM SAU GIA ĐÌNH CORLEONE BẬN TÍU TÍT. Michael ngồi ôm máy điện thoại suốt ngày giùm Sonny và Hagen thì lo kiếm cho ra một thằng trung gian mà Sollozzo chịu tiếp tế để chuẩn bị cho hai bên gặp nhau. Công việc đâu phải dễ vì Sollozzo đa nghi hơn bao giờ hết: chỗ nào cũng thấy đầy những người của Tessio và Clemenza nghe ngóng dò xét tin tức nó. Dĩ nhiên nó “lặn” rất kỹ, cũng như bọn chủ chốt cánh Tattaglia dại gì thò mặt ra cho bọn Sonny làm thịt?
Clemenza đảm trách thằng Paulie còn Tessio phải lo tìm cho bằng được Luca Brasi vì đêm Ông Trùm bị ám sát nó cũng không về nhà. Vậy ắt có chuyện chẳng lành nhưng Sonny vẫn không tin bọn Sollozzo có thể mua được hay chơi được nó bất ngờ. 
Bà Trùm lên hẳn New York ở đậu nhà bà con ít hôm để vô nhà thương chăm sóc cho tiện. Cậu rể Carlo cũng xung phong xin giúp đỡ “việc nhà” nhưng được nhắn lời hãy cứ lo làm tròn vụ làm ăn hàng ngày là phụ trách biên đề, biên xổ số trọn một khu có nhiều dân Ý ở trung tâm Manhattan. Trong khi đó Connie ở chung với Bà Trùm để phụ giúp công việc. 
Còn Fred vẫn phải nằm tĩnh dưỡng ở nhà, vẫn phải chích thuốc an thần. Có lần đến thăm nó tận giường, cả Sonny và Michael cùng ngạc nhiên, không ngờ người Fred xanh lè, bết bát đến vậy: “Coi nó còn tệ hơn Ông Già nữa!” 
Thấy Sonny chê Fred quá, Michael nhún vai. Ngoài mặt trận nó từng thấy thiếu gì thằng vì quá sợ mà mất tinh thần tệ hại nhưng không ngờ ông anh thứ hai hồi nhỏ đô con, khoẻ mạnh là vậy mà xuống mau đến thế. Ai chẳng biết thằng Fred coi bố nó như trời, dù ổng chê nó yếu, nhát gan nên không có mảy may hy vọng làm lớn? 
Xế chiều có phôn của Johnny Fontane từ Hollywood gọi sang. Sonny la lối: “Đâu được? Mày về thăm ổng không tiện chút nào đâu. Ổng còn mệt lắm, vả lại thấy mày đến là bọn nhà báo sẽ làm ào ào chắc chắn bất lợi cho mày, ổng không chịu đâu. Chừng nào ổng về nhà mày tới thăm có phải hơn không? Được thế nào tao cũng nói lại”. 
Sonny gác máy, quay sang Michael: “Bố mà biết thằng Johnny đòi từ Hollywood bay về thăm thì bố khoái lắm”. 
Lát nữa có thằng thủ hạ Clemenza kêu Michael xuống bếp nghe phôn, máy riêng của gia đình xài. Thì ra Kay gọi tới hỏi thăm. Nghe giọng nàng thiếu tự nhiên, có phần giả tạo. Không lẽ nàng không tin là “bố anh Mike” lại có thể là một tướng cướp, một Ông Trùm vừa bị đối phương thanh toán? 
– Ông già bệnh tình thế nào, anh? 
– Ông sẽ qua khỏi. 
– Lúc anh vô nhà thương thăm ông già cho em vô theo với nghe? 
Michael cười xoà gạt đi. Có lẽ Kay nhớ lại có lần nghe nó kể đối với người Ý những vụ thăm viếng đi lại như vậy quan trọng lắm. 
– Nhưng trường hợp này lại khác! Em mà lò dò vô với anh đụng đầu cha nhà báo nào tới săn tin thì dám có tên trong “Tin Trong Nước” tờ Daily News lắm đó. Đại để sẽ có tin “cô con gái một dòng họ danh giá Huê Kỳ mê con lão tướng cướp “Bàn Tay Đen” đấy! Liệu ông già bà già em có chịu không? 
– Ba má em đâu có đọc Daily News! Nhưng được rồi… Anh bình yên chớ? Anh không có gì nguy hiểm chớ? 
– Ô, anh thì ăn nhậu gì ở trong nhà? Thứ gà chết mà tụi nó theo dõi, đe doạ làm chi cho mất công! Nhưng em yên chí đi, mọi việc xong đâu vào đấy cả rồi. Khỏi có chuyện gì nữa đâu. Bất quá chỉ như một tai nạn vậy mà? Chừng nào gặp nhau anh sẽ nói sau. 
– Nhưng bao giờ gặp mới được chớ? 
– Thì tối nay nghe? Anh sẽ tới phòng em rồi tụi mình đi chơi trước khi anh vô bệnh viện thăm ông già. Nói thiệt là anh chán cảnh ngồi nhà canh tê lê phôn lắm rồi. Anh sẽ tới em… nhưng chớ có cho ai hay nghe? Khi không đụng một thằng phó nháy chặn đường, chụp hình cả hai đứa mình đăng báo là phiền lắm đấy. Bộ anh giỡn sao? Phiền nhất là đối với ba má em kìa! 
– Yên chí! Em đợi anh. Mà anh có cần mua quà Giáng sinh gì không? 
– Không. Mình em đợi… và sẵn sàng là đủ. 
Trong máy tiếng Kay cười nghe khanh khách. 
– Thì… sẵn sàng! Có bao giờ em không sẵn sàng với anh nào? 
– Có vậy mình mới là bồ bịch chớ? 
– Bồ lắm! Em yêu anh lắm! Anh thử nói yêu em coi nào? 
Michael lúng túng đưa mắt ngó 4 thằng cô hồn đang ngồi lù lù, ngồi đầy cả bếp. Nói “yêu em” thế nào được? Đành “ô kê” rồi gác máy. 
Trở về văn phòng, Michael gật đầu chào Clemenza lúc lão đang dở tay nấu một nồi xốt cà chua khổng lồ. Vừa bước vô nghe Sonny hỏi đến lão, nó cười đáp: “Đang o bế một thùng spaghetti… làm như thứ cho lính ăn vậy!”. Sonny gắt lên: 
– Bảo lão ấy làm ơn vô đây gấp, liệng mấy thứ vớ vẩn ấy đi! Bao nhiêu chuyện cần quá mà? Bảo cả Tessio nữa… 
Vài phút sau, đông đủ mọi người Sonny hỏi vắn tắt: “Xong cái vụ đó chưa?”. Clemenza gật đầu: “Rồi! Khỏi thấy nó nữa…”. Họ đối đáp vắn tắt, giản dị có vậy mà Michael nghe như có luồng điện chạy qua! Vậy là Paulie Gatto không còn nữa! Thằng Paulie người nhà đã bị ông thầy Clemenza bụng bự thủ tiêu êm rồi! 
Đưa mắt qua Hagen, Sonny hỏi: “Vụ tiếp xúc Sollozzo mày tiến hành đến đâu rồi?”. Nó lắc đầu giải thích: 
– Thằng này coi bộ nguội cái vụ điều đình. In hình nó cũng không có vẻ lo ngại nữa. Có thể chỉ vì nó chơi rất kỹ để mấy thằng đàn em của mình mất hút nó luôn. Nó không tin bất cứ sứ giả nào mình nhờ làm trung gian. Nó phải hiểu là nó bắt buộc phải điều đình chớ? Nó liều chơi ông già mà ổng còn sống sót là nó xui tận mạng rồi! 
– Thằng Sollozzo quả thực chì. Có lẽ nó là đối thủ chì nhất mà cánh mình đụng độ hồi nào đến giờ! Nó nghi tụi mình chơi trò kiên trì đợi ông già bình phục… hay nó sợ tụi mình giàn xếp chơi nó? 
– Đương nhiên nó phải nghĩ vậy… nhưng nó vẫn chẳng có cách khác hơn là điều đình. Tao đã đưa ra hạn định nội ngày mai. 
Một đàn em Clemenza gõ cửa bước vô báo cáo: “Ra đi ô loan tin cớm vừa tìm ra xác thằng Paulie. Chết gục trong xe”.
Clemenza gật đầu: “Biết rồi. Bỏ vụ đó đi…”. Thằng đàn em trợn tròn mắt ngạc nhiên nhưng nhìn xếp một cái là biết ngay. Nó thản nhiên như không có chuyện gì, lật đật bước ra. 
Công việc lại tiếp tục. Sonny hỏi bệnh tình ông già thì Hagen đáp: 
– Ổng không có gì đáng ngại… nhưng phải mấy bữa nữa mới nói được. Ổng bị cú này nặng lắm, phải mổ nên còn lâu mới lại sức. Bà già và Connie chầu chực săn sóc tối ngày. Chung quanh phòng ổng đầy những cớm chìm và giàn ngoài là bọn đàn em Tessio nằm phòng hờ. Ít hôm nữa ổng bình phục, lúc bấy giờ ổng muốn gì sẽ ra lệnh. Trong khi đó mình vẫn phải kềm Sollozzo, không cho nó là hoảng. Vậy tao mới đề nghị mình thử điều đình. 
– Trong khi chờ đợi thì Clemenza và Tessio vẫn tiếp tục “chiếu cố” nó. Biết đâu chừng may mắn một chút là mình giải quyết mọi vấn đề cái rụp? 
– Không có vụ may mắn đó đâu, Sonny! Sollozzo là thằng khôn lắm. Nó biết chấp nhận điều đình là nó ở thế kém làm sao trên chân mình nổi? Nên nó cố kéo dài thì giờ. Theo tao nghĩ để kéo mấy cánh New York về phe nó đấy. Để tụi mình không dám làm hoảng, dù sao cũng phải đợi Ông Già đích thân ra lệnh! 
– Ủa, sao mấy cánh kia lại làm vậy nhỉ? 
– Thì họ không muốn có đổ máu lớn. Đổ máu lớn thì cánh nào cũng lãnh đủ. Báo chí, chánh quyền sẽ nhảy vô. Vả lại họ cũng đói nữa và Sollozzo mang mối lợi tận miệng mà? Cánh nào cũng được chia phần hết! Mình chưa cần đến mối lợi ma túy vì mình có sòng bạc nhưng những cánh khác đâu có gì? Họ biết khả năng Sollozzo lắm chớ? Nó là “cây tiền cây bạc” của họ… thì tại sao họ lại để cho nó chết lãng vậy kìa? 
Chưa bao giờ Michael thấy mặt Sonny lì lợm đến thế! Cặp môi nó trề ra, da mặt nó xám ngoét. Nó gằn giọng : “Đói no gì thây kệ tụi nó. Xía vô chuyện này là không xong với tao!” 
Nghe giọng hằn học của Sonny, cả Tessio và Clemenza cũng đứng ngồi không yên. Hai lão nhấp nhổm không khác gì mấy thằng chỉ huy đơn vị xung kích nghe ông tướng đòi cương quyết triệt một trận căn cứ quá hiểm, hy sinh bao nhiêu cũng cứ đành vậy! Hagen đành phải lên tiếng: 
– Coi, cái lối giải quyết của mày ông già đâu có chịu? Ông sẽ hạ một câu: “Không đáng, chẳng bõ” liền! Đồng ý là nếu ông già ra lệnh thịt thằng Sollozzo thì thằng nào xía vô mình cũng chơi hết! Nhưng đây đâu phải vấn đề trả thù… mà thuần túy chỉ là chuyện làm ăn. 
Nếu mình nhất quyết chơi Sollozzo mà cánh khác nhào vô can thiệp thì sẽ có một vụ giàn xếp. Chằng hạn họ sẽ né đi… để mình sẽ đền bù họ cách khác sau này. Phải đặt vấn đề bình tĩnh, tỉnh táo như vậy chớ đừng nóng lòng làm hoảng. 
– Đồng ý! Tao cũng hiểu vậy chớ? Chỉ cần lúc mình nhất quyết chơi nó thì đừng thằng nào xen vô… 
Sonny nói vậy nhưng mắt nó vẫn quắc lên dễ sợ. Nó quay sang hỏi Tessio: 
– Có tin gì về Luca chưa? 
– Có thể. Vì một thằng khôn như nó không thể không e ngại thằng Luca. Nó cóc thèm để ý đến nữa thì rất có thể nó đã nắm được rồi. 
– Coi, nếu thật vậy thì tao ngán quá. Tao ngán nhất vụ Luca chơi lại mình. Về vụ này ý kiến hai ông caporegime thế nào? 
Clemenza vẫn cái điệu chậm rãi: 
– Chuyện phản bội thì xét ra thằng nào cũng có thể phản lắm. Như thằng Paulie đấy? Nhưng riêng thằng Luca Brasi thì khỏi lo. Nó là týp chỉ đi một chiều, xưa nay nó chỉ biết có một mình Ông Trùm, nó chỉ sợ có một mình ổng. Làm như trên đời không còn một ai khác khả dĩ nó có thể nể vì đôi phần vậy. Tao nhất quyết Luca không làm phản. Mà khôn như nó, đa nghi như nó thì Sollozzo sức mấy cho vào bẫy nổi? Thằng Luca có tin ai bao giờ? Nó cái gì cũng nghi hết… bao giờ cũng cảnh giác tối đa. Khỏi có vụ nó bị lừa! Theo tao thì nó đi đâu xa ít ngày đó. Mai mốt sẽ có tin chắc… 
Sonny ngó qua Tessio. Lão caporegime cáo già nhún vai: 
– Thằng nào chẳng có thể phản? Tính thằng Luca kỳ cục lắm. Biết đâu chừng Ông Trùm không làm nó bất mãn điều gì? Có thể vẫn bị như thường chớ? Theo tao thì Tom nói đúng: mình phải phòng bị cả trường hợp cùng mạt nhất! 
– Thôi được. Bây giờ chắc chắn Sollozzo biết vụ Paulie rồi. Nó sẽ phản ứng gì đây? 
Clemenza nghiêm giọng: 
– Chắc chắn nó phải suy nghĩ để hiểu rằng cánh Corleone mình đâu có dễ chơi! Cũng hên cho nó hôm nó chơi trộm Ông Trùm đấy… 
– Đâu phải chuyện hên xui? Nó phải sắp đặt cả mấy tuần lễ trước. Nó phải rình ông già ở văn phòng hàng ngày, theo dõi từng tí một. Rồi nó mới mua đứt thằng Paulie, dám cả Luca Brasi luôn. Nó vồ thằng Tom đâu có hụt? Nghĩa là cái gì nó cũng sắp đặt ngon lành cả. Phải nói nó không hên… mà xui tận mạng! Phải nhìn nhận là hai thằng cô hồn của nó chơi chưa tới, vả lại Ông Già phản ứng quá lẹ đi. Bằng không thì mạng ổng còn gì và thế nào tôi chẳng phải cộng tác với nó làm ăn chung? Vậy là nó thắng rõ, thấy không? Có muốn chơi được nó, trả thù cũng phải đợi 5 hay 10 năm sau! Chú mày phải nhớ rằng mình trót chủ quan khinh địch, nên mới đánh giá nó thấp như vậy… 
Một đàn em bưng thức ăn vô. Một dĩa spaghetti bự, mấy chai rượu chát. Michael lặng lẽ ngó họ vừa ăn vừa bàn tính. Nó chịu. Ăn không vô. Hagen cũng vậy. Song Sonny và hai lão caporegime đớp ào ào, vét nước xốt kỹ. Đúng là một trò hề! 
Theo Tessio thì Sollozzo đâu thèm quan tâm đến mạng thằng Paulie? Nó biết trước chắc và dám nó còn chịu vậy là khác. Chẳng gì cũng phải đỡ chi thêm một mạng thừa! Còn sợ thì khỏi! “Ở trường hợp mình, mình sợ không nào?” 
Michael cũng bàn góp và lý luận như sau: 
– Về cái vụ này tôi chỉ amatơ. Như căn cứ vào con người Sollozzo như mấy ông vừa nói và cộng thêm sự kiện đột nhiên nó dãn ra không chịu tiếp xúc với người của mình thì tôi tin chắc nó đang âm thầm tính một cú gì tuyệt lắm. Một đòn độc mình không thể ngờ tới và chừng nó tung ra là ăn chắc, mình hết đỡ. Phần thắng về nó, mình chỉ có khóc. Ngược lại, nếu mình phăng ra trước thì nó mạt! 
Sonny miễn cưỡng đồng ý: 
– Cái đòn độc mày nói tao đã nghĩ rồi. Tao vẫn nghi là giờ chót nó sẽ đưa Luca Brasi ra để chơi mình. Nên tao đã có tối hậu thư để Luca phải xuất hiện, buộc lòng phải xuất hiện. Cũng có thể thằng Sollozzo đã ngấm ngầm liên kết được tất cả mọi phe, mọi cánh New York để bất thình lình tụi nó hè nhau ra mặt chính thức chơi lại mình. Thế là mình buộc lòng phải cộng tác, phải vậy không Tom? 
– Quan điểm của tao cũng vậy. Chúng nó ra mặt liên kết thì mình đành đợi ông già có thái độ sau vậy chớ đâu dám vọng động? Chơi lại tất cả mọi phe mọi cánh thì chỉ có mình ổng. Vì ổng có cái mà chúng nó thiếu, chúng nó ham số một là… thế lực chính trị. Ổng sẽ phải hoá giải bằng những móc nối với các cấp thẩm quyền. 
– Có một điều tao biết chắc là thằng Sollozzo khỏi dám héo lánh đến đây, đến cái nhà này… 
Clemenza tuyên bố nghe ngon thật nhưng có điều hơi việt vị: cái thằng phản bội đầu tiên chẳng phải học trò ruột của lão sao? Sonny giương mắt ngó rồi quay sang hỏi Tessio: 
– Ở bệnh viện chú cho canh chừng kỹ đấy chứ? 
Tiếng “dĩ nhiên” Tessio buông ra nghe chắc ăn quá! Nãy giờ lão có ngỏ lời hay cho biết ý kiến của một cách rõ ràng, chắc chắn vậy đâu? Lần này lão “nắm vững vấn đề” thiệt tình: 
– Tao cắt cử tụi nó chia nhau canh chừng từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài và thường trực 24 trên 24! Ngoài ra bọn cớm cũng bao gắt lắm chớ bộ? Mấy thằng cớm chìm lúc nào lại chẳng chầu chực ngay cửa phòng bệnh để chờ ổng tỉnh táo là vô thấm vấn liền? Ấy là ổng còn bất tỉnh, thở còn phải đút ống dưỡng khí, ăn uống còn toàn bằng ống đấy! Cũng may là khỏi phải đề phòng nạn đầu độc bằng miếng ăn thức uống vì bọn Thổ Nhĩ Kỳ thiện nghệ này làm! Tóm lại, tụi nó vô phương chơi ổng ở đây! 
Sonny ngả người ra chiếc ghế xoay: 
– Nếu vậy hay! Còn tôi… tôi chẳng sợ rồi. Vì lẽ giản dị là cho tôi “đi” thì tụi nó làm ăn với ai… trong cái nhà này? Hay nó chơi thằng Michael? Thằng Sollozzo dám vồ mày làm con tin để điều đình lắm chớ? 
Michael nghe nói vậy đã chán hết hy vọng gặp em bé tối nay. Đời nào Sonny cho nó mò ra khỏi nhà? Nhưng Hagen không đồng ý: 
– Đâu có cái vụ đó! Vồ thằng Michael thì tụi nó làm lúc nào chẳng được? Có điều thằng Michael đâu có dính vô công chuyện nhà này. Đụng đến một thằng vô can như nó là trái luật giang hồ, đứa chủ xướng sẽ bị tẩy chay ngay. Thằng Sollozzo mà làm thằng Michael thì ngay cánh Tattaglias cũng chơi lại nó! Tao chỉ sợ ngày mai đây các cánh New York sẽ cử một thằng đại diện chung đến ép mình phải chấp nhận đề nghị của thằng Sollozzo mới là mệt. Đấy mới là đường độc của thằng đường Thổ… chớ vồ thằng Michael thì nó vồ làm gì! 
Michael nghe nói bèn thở ra nhẹ nhõm: “Nếu vậy may quá! Tối nay tao định lên New York có chút chuyện”. Sonny cật vấn liền: “Chi vậy?” 
– Ủa, tôi vô thăm bố không được sao? Có nhiều chuyện phải làm lắm chớ? 
Hệt như tính ông già, Michael chẳng nói toạc sự thật bao giờ! Chẳng bao giờ mấy người biết cái vụ nó hẹn hò với Kay. Nó cũng chẳng nói cho Sonny. Nó không dấu mà không muốn nói, không thích nói vậy thôi. 
Giữa lúc đó, bên ngoài coi có tiếng người bàn tán xôn xao. Clemenza đứng dậy bước ra ngoài coi có chuyện gì. Lúc trở lại “văn phòng”, tay lão xách theo một vật lạ. Một áo lót chắn mà mọi người nhận ra ngay của Luca Brasi. Bên trong áo gói nguyên một con cá chết thật bự. 
Lão cất tiếng chua chát: “thằng đường Thổ thế là đã biết tin Paulie Gatto”. Cũng không kém chua chát, Tessio nói như than: 
– Và Luca Brasi ra sao thì giờ đây tụi mình cũng chẳng lạ gì! 
Sonny lặng lẽ đi làm một hơi uýtky và đốt một điếu xì gà. Không biết vụ con cá chết này có ý nghĩa quái gì, nó cất tiếng hỏi. Người đáp là Thomas Hagen, gã Consigliori gốc Ái Nhĩ Lan: 
– À, đấy là một lối đưa tin đúng truyền thống Sicile. Luca Brasi giờ đây cũng là một con cá chết nằm đâu đó dưới đáy biển sâu.

Bố Già

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Ngọc Thứ Lang

Post by Sơn râu 17 Jun 2024

Google photos

Chương 7

KHÔNG ĐẦY HAI MƯƠI BỐN GIỜ ĐỒNG HỒ TRƯỚC KHI Ông Trùm bị ám sát, thằng người nhà thân tín nhất, dễ nể nhất chuẩn bị tiếp xúc đối phương. Dĩ nhiên phải là đêm tối và dĩ nhiên phải do Ông Trùm sắp đặt chớ? Luca Brasi đã được lệnh ngầm tiếp xúc và bắt tay vô việc nầy cả tháng trước. Nó la cà đi nhậu ở mấy quán rượu của nhà Tattaglia, lại bắt bồ với một con điếm có cỡ nữa. Nó chán đời, nó bất mãn… Bao nhiêu năm phục vụ gia đình Corleone mà cứ lẹt đẹt mãi. 
Cỡ một tuần sau khi xì tin ra thì ông chủ quán tức cậu út Bruno bèn tới gặp liền. Trong gia đình Tattaglia thì Bruno bề ngoài không hề làm việc nhà, tức nuôi đĩ. Có điều quán của cậu út rất đông “nghệ sĩ trình diễn” và chiêu đãi cẳng dài. Nhiều em bé deluxe New York xuất thân từ quán này. 
Cuộc tiếp xúc rất mau lẹ, thẳng thắn. Bất mãn với cánh Corleone thì sẽ có việc làm ngay, một chân “giám sát” thì làm gì chẳng có? Vì mê em bé quá, muốn gần gụi nên Luca Brasi cũng muốn làm lắm chớ? Những mục dò dẫm cứ thế mà tiến hành. 
Tuy nhiên Luca chỉ nhận làm với một điều kiện rõ ràng: không đả động tới, không chống lại Bố Già Corleone cổ kính. 
Cậu út Bruno thuộc đám mới lên, tối kỵ “mấy anh già vớ vấn, nhà quê” kiểu Luca Brasi nhưng cũng ráng tiếp xúc thử. Đến Vito Corleone hay ông thân sinh cậu cũng là cái thá gì kia mà? “Ô hay sao ông già tôi lại muốn ông chống lại Ông Trùm Corleone nhỉ? Thời buổi này đường ai nấy đi chớ chống đối nhau như ngày xưa thì ăn giải gì. Nếu ông cần một chỗ làm ngon lành thì tôi sẵn lòng giới thiệu với ông già. Công việc của ổng bao giờ chẳng cần những người biết làm và dám làm như ông? Nếu muốn thì ông cứ việc đến. 
Luca Brasi nhún vai: “Tôi hiện giờ cũng chưa đến nỗi phải đi tìm việc”. 
Theo đúng kế hoạch, Luca làm ra vẻ muốn làm và từng có ít nhiều kinh nghiệm ma túy nên nếu có làm thì phải cũng có tí gì làm ăn riêng. Chỉ cốt để “đánh hơi” xem đứng sau lưng nhà Tattaglia, thằng Sollozzo có tính toán gì không, có định chơi cánh Corleone không. Việc cứ dây dưa tới 2 tháng mà vẫn chưa thâu thập được tin tức gì nên Luca báo cáo lại là không nghe nói Sollozzo có mưu toan. Tuy nhiên Ông Trùm ra lệnh tiếp tục giữ đường dây, không đi đâu mà vội. 
Ngay buổi chiều hôm trước Ông Trùm bị sát hại Luca Brasi cũng mò lại quán và được Bruno tới ghé tai cho biết: 
– Tôi có người bạn muốn tiếp xúc với ông. 
– Rất sẵn sàng… Biểu hắn tới đây… 
– Đâu được. Hắn muốn gặp riêng kia. 
– Ai vậy? 
– Một người bạn. Hắn có một đề nghị muốn nói với ông khuya nay được không? 
– Được. Lúc nào, ở đâu?… 
Bruno Tattaglias ngẫm nghĩ rồi nói: 
– Quán sẽ đóng cửa 4 giờ sáng. Tại sao không hẹn gặp ở đây ngay giờ ấy… lúc tụi nó sắp công tác dọn dẹp? 
Nó hẹn gặp lúc 4 giờ sáng là nó đã điều tra kỹ về lối sống của mình rồi. Luca Brasi nghĩ vậy. 
Vì Luca Brasi khác người ở chỗ quen lệ 4 giờ chiều mới ngủ dậy, rồi giải trí bằng cách đánh bạc cò con với mấy anh em nhà hay “dắt” một em nào đó. Thỉnh thoảng đi coi hát, vô bar nhậu một mách và không bao giờ chịu ngủ trước tờ mờ sáng. Như vậy cái hẹn 4 giờ khuya đâu có gì ngược đời? 
Chiều hôm đó, sau khi y hẹn Luca trở về nhà, một căn phòng ở trọ trong gia đình một bà con có họ xa ở trong khu nhà ga Đại lộ số 10. Nó ở riêng một mình hai phòng nhưng muốn vô phòng nó thì bắt buộc phải đi qua nhà ngoài nên Luca Brasi khoái địa điểm này. Vừa có không khí gia đình lại vừa an ninh bảo đảm. Muốn thịt Luca Brasi ở nhà đâu phải dễ?
Nó biết “người bạn” của Bruno lắm chớ? Khuya nay thế nào thằng đường Thổ chẳng ló đuôi chồn? Nếu nó hé cho biết điều gì thì tốt quá. Còn món quà mừng Giáng sinh nào Ông Trùm khoái bằng? 
Luca Brasi sửa soạn kỹ. Giường nó phía dưới có một ngăn kín, nó kéo ra lấy chiếc “áo lót”. Thứ áo đỡ đạn dày cộm, nặng kinh khủng. Mặc vô rồi mới đến sơ mi, vét tông. Mấy lần đã định phôn về Ông Trùm thông báo gấp cái hẹn khuya nay nhưng không dám. Bố Già tuyệt đối ít chịu xài điện thoại. Ổng lại giao công tác này cho một mình nó, ngay đến Tom Hagen và cậu cả Sonny cũng không được quyền biết đến thì thông báo với ai? 
Luca Brasi lúc nào chẳng kè kè khẩu súng trong người? Đâu phải súng lậu mà súng có giấy tờ đàng hoàng. Cái giấy phép mang súng của nó có lẽ mắc nhất thế giới vì khó cấp nhất. Mười ngàn đô la, thần thế lắm mới có. Nhưng vẫn phải có vì không lẽ tay súng số 1 của gia đình Corleone lại không có súng hay xài súng lậu để rớ tới là ở tù? 
Khuya nay nếu mọi việc xong hết và cần đến súng thì Luca Brasi phải xài một khẩu khác, thứ súng “an toàn” nghĩa là không có gốc nào để phăng ra kìa! Nhưng mới lần sơ ngộ thì có lẽ chưa cần nổ. Cứ lắng nghe và kể lại cho Ông Trùm là tốt rồi. 
Luca Brasi trở lại quán nhưng không nhậu nữa. Một mình nó thả bộ đến đường số 48, chén một bữa ở Pasy, nhà hàng chuyên bán toàn món Ý. Nơi đây bán suốt đêm, ông khách quen có quyền kề cà đến sáng! Gần đến giờ hẹn Luca Brasi mới mò tới, lúc quán vừa đóng cửa người làm bắt đầu về. 
Chủ quán Bruno đích thân ra đón, đưa nó vô cái bar vắng ngắt bên cạnh phòng ăn. Luca Brasi đưa mắt nhìn ra cả một khoảng mông mênh bàn ghế để lổng chổng và ở giữa là sàn nhảy đánh si bóng láng. Giàn nhạc trống trơn, mấy cái micrô đứng trơ trụi. 
Luca tới ngồi quầy rượu, ông chủ Bruno ngồi phía trong bồi tiếp. Nó nhất định từ chối, không chịu uống mà chỉ đốt thuốc hút. Biết đâu lỡ người hẹn gặp không phải Sollozzo thì sao? 
Đúng lúc đó nó đề cao cảnh giác thì từ bóng tối đầu phòng đằng kia Sollozzo thủng thỉnh bước tới. Nó ngồi cạnh Luca. Thằng Bruno bưng rượu lại. Sollozzo gật đầu rồi lên tiếng: “Chắc ông bạn biết tôi là ai rồi?” 

Luca gật đầu cười lạnh. Tao biết mày là con chồn ở hang và bây giờ con chồn ló ra. Tao biết mày là thằng dễ nễ và chơi với mày là phải coi chừng kịch liệt… nhưng có vậy mới thú! 
– Ông biết tôi sắp thưa chuyện gì không? 
Luca Brasi lắc đầu. 
– Tôi đề nghị một chuyện làm ăn, làm ăn lớn… làm ăn bạc triệu. Ngay chuyến đầu phần ông đảm bảo là 50 ngàn đô la. Tôi muốn nói ma túy chỉ có ma túy mới ngon ăn như vậy! 
– Ủa, sao lại đề nghị với tôi? Chắc ông muốn nhờ chuyển lời lên Ông Trùm? 
– Không, Ông Trùm tôi đã nói rồi nhưng ổng không chịu nghe. Ổng từ chối thẳng. Dĩ nhiên không có ông tôi cũng vẫn làm và làm được chớ? Nhưng tôi cần một tay chì, rất chì để đứng đằng sau yểm trợ cho công việc làm ăn. Tôi biết ông có chỗ không hài lòng với gia đình Corleone và có thể bỏ đi làm ăn nơi khác. 
– Nếu quyền lợi đúng mức. 
Cặp mắt Sollozzo nãy giờ nhìn nó chòng chọc. Hình như nó đã có quyết định rồi. 
– Quyền lợi thì cứ như con số tôi vừa nói. Ông suy nghĩ vài ba bữa cho chín chắn rồi ta sẽ gặp nhau sau. 
Nói dứt là Sollozzo chìa tay ra bắt nhưng Luca lờ đi, làm như không thấy mà cứ chăm chú vào điếu thuốc vừa gắn lên môi. Bên kia quầy rượu, Bruno bèn mau mắn chìa bật lửa ra. Coi, bật lửa chưa tới đã rớt cái độp. Ra nó cố tình buông để nắm cứng lấy tay mặt Luca Brasi. Hai tay giữ một, kềm cho chặt. 
Luca có phản ứng ngay. Người nó tuột ra khỏi ghế và vặn mình một cái là vượt. Nhưng hai tay Sollozzo lập tức kẹp cứng tay trái, đúng chỗ cổ tay. Hai thằng 4 tay giữ nó cũng khó quá! Nó vùng vẫy và chắc sẽ sút cái một nếu đúng lúc đó nhân vật thứ 3 không xuất hiện. 
Từ khoảng tối phía sau lưng Luca một thằng vọt ra, cấp tốc “đi một đường dây lụa” quanh cổ hung thần. Sợi dây lẹ làng xiết lại, xiết gọn. Còn thở sao nổi? 
Mặt Luca tím, tím bầm. Sức vùng vẫy ở hai bên tay đi đâu mất. Sollozzo và Bruno Tattaglias hai thằng nắm hai bên bỗng nhàn nhã quá. Gần như khỏi cần xuất lực mà chỉ đứng yên, đứng ngay người ngó thằng cô hồn phía sau nghiến răng xiết cứng sợi dây, xiết cứng nữa. 
Đột nhiên mặt sàn ướt sũng nước và cả phòng bỗng thối hoăng. Cứt đái văng tứ tung. Người Luca Brasi nhũn ra, gối lỏng và sụm xuống. Bruno và Sollozzo vội buông nó ra gấp để một mình thằng em ghì chặt lấy và hạ người thấp dần theo cái thân xác nặng nề. Nó xiết chặt đến nỗi sợi dây lụa văn tuốt luốt vô cần cổ, không trông thấy đâu nữa kia mà? Đôi mắt Luca lồi ra, như muốn nhảy khỏi tròng. Làm như nó ngạc nhiên, ngạc nhiên lắm và vừa kịp ngạc nhiên là chết.
– Phải thủ tiêu nó gấp. Bây giờ tuyệt đối chưa thể lộ tí gì về nó. 
Buông xong khẩu lệnh vắn tắt, Sollozzo quay phắt đi, biến vào bóng tối.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 17 Jun 2024

Google photos

Phần 21

Đáo đầu trở về Sài Gòn

Ở Tây Ninh tôi có quen một ông thợ bạc, tên Tự, nhưng vì phạm huý ông vua Tự Đức, nên anh em đổi gọi Chữ, và bác Tư Chữ có người vợ thật khéo, làm nghề may, bác đột tay mà đều hơn đột máy và mấy hàng “chỉ rận” đột trên nhiễu xuyến đen, trông thật đều nhìn kiếm chỗ nào sơ sót kiếm không ra. Bác Tư Chữ gái vừa may cho tôi xong hai mớ áo với hàng ông kiểm mua hôm trước, chưa chi ông nhà tôi thúc hối cùng đi với ông xuống Sài Gòn trả lễ vợ chồng quan hai. Lúc đó tôi lại bịn rịn vì biết chim sổ lồng không trông mong trở lại, ngày thường soi kiếng, thấy bề nhan sắc như vầy quyết không thua ai, lúc còn con gái, tôi hơi gầy, nay xông pha trận mạc như tập thể thao, lại nở nang hơn xưa, hơi có da có thịt hơn trước một đôi chút, nhưng lằn cong nét thẳng như tô đậm thêm, còn cái đẹp tự nhiên là mắt liếc ngọt như dao, cạnh mũi luôn luôn như khóc vừa rồi, tôi không cần thoa dầu gió và chỉ cô đọng tinh thần là mi mắt có giọt luỵ gần rơi, giết anh hùng dễ ợt môi tôi luôn đỏ thắm, chắc da săn thịt, một hôm ông kiểm là Tây mà biết nói: “Tôi muốn ăn thịt chị Hai mới sướng!”. Tôi nghĩ nếu gặp dịp nầy mà không thừa thế tung hoành, thì biết đời thuở nào vẽ mày vẽ mặt với thế gian nầy cho đặng? Vậy tôi lén tom góp vàng bạc của cải từ hồi đụng thằng Tư trời đánh, với số tiền chia được của anh Tiều Châu, nay thêm được mó hàng giẻ vừa cắt xong, tôi nói với ổng sẵn dịp nầy cho tôi mang về Sài Gòn may thêm được khéo hơn. Cơ khổ! Thiệt tại cái bụng mình tẹo, tính chuyện gian hùng rồi tự nhiên nó bắt sợ phập phồng phải bày điều nói láo, chớ đời nào mà ông ở nhà tôi biết nghi kỵ cho tôi chuyện gì?

Xe đò tới đậu trước nhà dây thép chánh đối diện với nhà thờ nhà nước đầu đường Catinat, ông kiểm chưa vội đi nhà quan hai và tay xách va li, hai đứa lên xe kéo cho chạy thẳng lại khách sạn lớn của Pháp là nhà hàng Rotonde, ở mé sông đầu đường Catinat, sắp đặt cho ổng xong rồi, tôi mới xin ông cho tôi đem ba món đồ cho thợ nó may liền cho lợi thì giờ tôi lại dặn ổng tới bữa cơm trưa thì cứ dùng đi đừng chờ tôi vì còn ghé thăm chị em bạn, chắc sao người ta cũng cầm ở lại và có lẽ chứng ba bốn giờ, trễ lắm là năm giờ tôi mới gặp lại ổng được. Tội nghiệp quá! Nghe tôi nói mướn thợ may, ổng lật đật móc bốp-phơi rút ra một tờ giấy xăng (một trăm), biểu trả tiền thợ, còn dư bao nhiêu hãy bỏ túi để xài vặt. tôi hun ổng vào hai má, không dám nói là lần chót, ổng lại căn dặn xứ Sài Gòn nắng nôi độc địa, chị Hai phải đi xe kéo hoài hoài, chị Hai đừng hà tiện đi bộ, đau, không nên. Nói cho có hai bên vai vác, thấy cái tính ông Tây nầy ở với tôi như vậy, tôi muốn biểu quay xe trở lại, không may vá làm gì và cũng không tính chuyện phong trần làm chi, nhưng mà còn nỗi đời nham hiểm mị thường nó đày nó đoạ cái thân tôi từ trong trắng nhận xuống sình nhơ mới mượn tay ai mà rửa mối thù hằn nầy cho thoả dạ được. Ông ở với tôi rất tốt, tôi ghi vào lòng. Ông giữ đạo Thiên Chúa, ông không tin luật luân hồi, tôi theo đạo Phật, kiếp nầy gây nợ, nếu kiếp sau còn gặp, tôi sẽ báo đáp tận tình. Nghĩ tới đây, bị cái xe khi không vùng ngửng lại, tôi giựt mình nhìn kỹ mới hay gặp cổng xe lửa Mỹ Tho, tôi ngồi trên xe đợi cho chuyến xe Mỹ Tho qua kế có xe điện trong Chợ Lớn vừa ra, tôi trực nhớ ông thầy tưởng số Vi Kỉnh Trang mà lúc nhỏ mình đã từng nghe nói việc tương lai của mình hay quá, nay ngụ ý, tôi biểu xe ghé ga, tôi mua kịp vé vô Chợ Lớn tốn có một cắc bạc, ngồi toa hạng nhứt, xe ngừng đầu đường Jaccaréo (nay là Tản Đà), tìm được gác ông Vi, trên lầu căn phố toán mì chiên tôm ngon nhứt đất nầy, ý cái ông thầy tướng nầy, thật là danh bất hư truyền, làm sao mà ổng coi sơ tướng vóc rồi nói trúng phong phóc trúng bon việc cũ in như chuyện ổng thấy trước mắt, mấy việc qua ổng thuật không sai một nét, làm cho mình thêm vững tin, hỏi phăng về hậu nhựt. Ông thầy tưởng ngó tôi vừa thở ra mà rằng:

– Kiếp đời cô đây là kiếp đoạn trưởng, nay chưa dừng chơn lại được”. Ông tiếp: “Cái tướng, cái tuổi, cái số của cộ, đương còn bay nhảy lắm, trụ lại chưa được. Nếu cô lấy chồng, chồng có bao nhiêu của, cực cô phải chịu cùng cực. Còn cô mà ra đi chơi bời, thì khỏi sợ thua sút ai, sung sướng nhứt trên đời. Bước qua cái tháng tám lại có tài lợi. Tiền của đến như không.

Tôi nghe ổng nói thích quá, tặng ổng năm đồng, nhưng ông chỉ nhận năm cắc bạc như mọi người. Ngồi xe ra về, tôi suy nghĩ hoài, chồng tôi ăn ở có nghĩa có tình đủ điều, đáng thương đáng mến là phải. Song số mình còn lưu lạc, chưa trụ được, và không phép dám cải trời hay sao? Ấy, sự bói toán lợi hại là vậy.

Tôi đâu dám đổ thừa tại cụ Vi mà tôi bỏ chồng, song phần đông các bốc sư không phải hết thảy đều đoán giỏi như Vi Kỉnh Trang hoặc sau nầy là thầy Tư Nên, nhưng các cha kéo dài câu chuyện, chuyện không nói có chuyện có nói không, việc đi coi bói và đàn bà đinh ninh phải thay chồng, lỗi phần nào cũng tại mấy thằng thầy bày điều đặt chuyện. Tôi với Lu-y, đến đây, mối tình đã đoạn, thì a-dơ (adieu) và ông đừng kiếm tôi, thất công. Xưa ông cha ông qua đây làm cho ông cha chúng tôi nước mất nhà tan, nay ông khóe một lần cho biết.

Từ đó tôi an phận sống ẩn dật, tôi ra vô Chợ Lớn thường thường, cũng hay gặp lại những người quen lớn với tôi hồi trước, mà không có ai nhìn ra hết. Tưởng tôi đã thay đổi, không còn vẻ nai tơ hồi đó.

Có một bữa nọ, vào chiều thứ bảy, tôi ở Chợ lớn về, cắc cớ đi xe lửa điện mé sông để đổi không khí, tới Chợ Quán, thình lình tôi đụng đầu với cô chủ sự năm xưa, con mẹ đã làm cho tôi hư hồi đó đó. Cô ngồi đối diện tôi trên xe điện, xe lắc lư như thầy pháp lên đồng, mụ chủ sự nhìn tôi liền nhắm tôi tứ cách ăn mặc và cử chỉ, rồi bỗng xề qua bên tôi vì chỗ ấy băng còn trống. Mụ làm quen, mời tôi hút thuốc, và bắt qua chuyện chồng con, gia thế hỏi thăm.

Tôi đáp tỉnh bơ dường như tâm sự cùng một bạn lâu năm chợt gặp:

– Chồng tôi là người Ăng-lê, làm chủ hãng tàu chạy đường Hương Cảng, vừa rồi bị đau ruột nặng, quan thầy bắt buộc phải về xứ điều trị, mới đi hôm kỳ tàu đầu tháng giao hết sự nghiệp tại Sài Gòn cho tôi quản thủ, và tiền mặt không có bao nhiêu, độ mươi, mười lăm ngàn đủ xây xài, vả tôi lo quá vì sợ chồng tôi không qua được nữa.

Cô chủ sự nghe nói chuyện muốn bạc vạn, coi bộ thích lắm, ân cần ra mặt, vừa mau mắn vừa niềm nở đủ điều. Xe điện tới chợ Bến Thành, cổ một hai mời tôi thế nào cũng phải vô nhà cổ chơi một chuyến.

Nhà cổ ở xóm Tân Định, đường Monceaux trải đá đỏ (trước đây mang tên đường Huỳnh Tịnh Của), ở độc thân mà mướn đến hai căn phố có vẻ kín đáo lắm và chưng dọn thật là sang trọng sạch sẽ. Vừa vô cố hối trẻ dọn đãi tôi một bữa cơm trưa, long trọng hơn đám giỗ trong làng. Tôi từ chối, rằng đã dùng bữa trưa ở nhà rồi mới đi đây, nhưng cổ không nghe, nài ép: “Chị em tuy môi quen biết chưa được mấy ngày, song nó hạp nhãn làm sao tôi không biết, mà tôi thấy cô tôi thương tất tình”. Thấy cổ ép quá tôi mới chịu cầm đũa ăn sơ sài, trong bữa cơm cô thổ lộ tâm tình rằng cổ cũng ở một mình đơn chiếc như tôi, chồng là chủ sự đoan, tới kỳ nghỉ nên xuống tàu về Pháp đã gần hai tháng rưỡi nay, nhờ ky cóp tiện căn, giấu đút cũng đặng trót ngàn đồng, mà đất Sài Gòn củi cao gạo kém, định ở vầy cho tiền mướn đắp đỗi qua tháng ngày, miễn cơm tẻ ngày hai, đất nước ông bà cho mạnh giỏi là hơn, chớ không trông mong gì khác!” Mẹ ôi! Tôi nghe mụ chủ sự bán máu ăn tiền nầy nói chuyện hiền từ đạo đức mà tôi lạnh xương sống: Cơm nước xong, tôi bước ra ngoài ngắm cảnh.

Tôi ước với cô chủ sự, chớ chi xóm nầy có nhà ai cất sẵn và muốn bán, bao nhiêu tôi cũng mua, đặng chị em gần gũi nhau hôm sớm. Cô chủ sự liền nói: “Tưởng là cô ao ước chuyện gì khó, chớ việc nầy, dễ như chơi. Để lát nữa, cô đi chơi với tôi, chị em mình sẽ tính”.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com    

Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 17 Jun 2024

Google photos

Phần 20

Kế mọn đầu tay

Có một bữa kia ổng lấy từ bi-rô (bureau) một cái đây thép đem về đọc và cắt nghĩa cho tôi nghe, nói chiều ngày đó, có người bạn thiết làm quan hai ở Sài Gòn sẽ đưa vợ An Nam lên thăm ổng và dùng cơm tối ở nghỉ đêm qua sáng hôm sau mới về. Ông tưởng tôi chưa biết, chớ anh Tư bồi hồi nãy ổng sai lên biểu hỏi tôi tiền chợ, đã học với tôi hay hết rồi. Nên kế tôi đã sắp đặt an bài, mặc tình kiến cơ nhi tác.

Ổng đọc dây thép rồi khoe với tôi rằng người vợ ông quan hai là con nhà giàu có tử tế lắm, và căn dặn tôi nên kết làm chị em bạn. Tôi mới trách ổng:

– Sê-ri (chéri) bậy bạ quá! Nói với ông hai rằng có vợ An Nam làm chi?

Ông trả lời:

– Không! Tôi chưa có nói. Chừng nào quan hai nó lại tôi mới nói. Nó thấy chị Hai xinh tốt nó mừng lắm chớ! Nó bằng lòng cho tôi lắm chớ!

Tôi năn nỉ, biểu ông cứ để cho tôi ở dưới bếp, săn sóc ba món đồ ăn như vậy tốt hơn là cho người ta biết tôi. Khi ấy ổng giận đỏ mặt (mới thấy ổng giận tôi lần thứ nhứt), trợn mắt hỏi:

– Làm sao không cho biết chị Hai? Làm sao tốt?

Tôi giả đò sợ và nói hơi thiệt thà rằng: “Đối với người Nam với nhau, khi không quen lớn với người ta thì khó chuyện vãn lắm” và một hai tôi đòi lánh mặt. Ông vừa nghe tới đó phát nghi, lấy ngón tay điểm mặt tôi mà rằng:

– À, chị Hai không thương tôi, chị Hai nói láo, muốn vợ chồng quan hai nó cười tôi!

Thiệt tôi nghe một người Tây mà biết đặng lời nhân đạo mà nói với vợ như vậy, tôi bắt mũi lòng, nghẹn ngào rưng rưng nước mắt. Ông hiểu được trong thâm tâm tôi, lật đật lại gần vuốt ve dỗ ngọt tất tình, biểu tôi đừng buồn đừng sợ, có chuyện chi, tỏ thiệt cho ổng nghe. Tôi thỏ thẻ nói:

– Đàn bà An Nam hay sánh của lắm. Nhứt là mấy cô vợ Tây: một năm chí tối, chỉ có so sánh đọ nhau từ vòng vàng chuỗi hột cà rá dây chuyền, xem ai là bực giàu bực sang hơn ai. Còn hạng hèn hèn cũng vẫn biếm nhau từ màu quần sắc áo, đâu tới hộp phấn ve dầu, họ nhún trề họ khinh bỉ nhau đến xích mích.

Lúc đó ổng để tôi ngồi trên bắp vế, tôi vuốt ve ông mấy sợi râu mép ngạnh trê, tôi vừa cười vừa hun môi vào má chàng mà nói nho nhỏ:

– Nè! Còn sê-ri biểu tôi làm quen làm lớn với người ta, mà tôi ăn mặc như vầy, sê-ri không sợ mắc cỡ sao?

Ông làm thinh gãi đầu, ngồi suy nghĩ một hồi, khi hiểu được vùng đứng dậy, lấy tay vỗ trán la lên một tiếng “bon” (tốt), rồi đi ngay xuống bếp nói giống gì với vợ chồng Tư bồi, tôi không biết. Tôi có chứng thức giấc trưa, ổng nghĩ, rồi nói với tôi:

– Thôi! Tôi nghe chị Hai, để quan hai nó lại, tôi nói láo chị Hai mắc về thăm nhà má má đau, ba bốn bữa nữa tôi dắt chị Hai đi Sài Gòn lại cái nhà của nó.

Khi vợ chồng quan hai lên chơi tối về, ông ở nhà tôi theo đưa cho tới Sài Gòn. Tôi hỏi Tư bồi, y nói ổng có dặn chiều mai thắng xe đến bến đò rước ổng. Nhớ vậy tôi thăm hơi biết chú chàng bận nầy trúng thuốc mê của tôi rồi. Quả thiệt chiều bữa sau ổng về, đồ đạc chất đầy một xe hai bánh: nào hộp lớn hộp nhỏ, nào hộp vắn hộp dài, đựng những là dù, khăn lục soạn, tố, nhiễu, hàng Cachemire, đều là thứ sang của tiệm Bom bay, Tây mà lựa đồ đàn bà dùng như vầy, giỏi quá, ổng lại mua cho tôi dầu, phấn, xà bông thơm, áo sơ mi kiểu đầm, giày thêu kim tuyến, guốc ngù ngà, quạt bỏ xách tay, vợ chồng Tư bồi khuân vô bày chật một bàn ăn. Còn ổng ngoài cửa bước vô, tội nghiệp dan nắng có một bữa mà mặt mày đỏ như tôm luộc, bộ mệt dừ mà khi thấy tôi, la lên: “Chị Hai ở đâu? Ở đâu chị Hai?”. tôi nghe gọi, lật đật chạy lại, ổng nắm tay mừng rỡ, hun tôi bên má bên nầy rồi bên kia, tuồng như vợ chồng xa cách nhau ba bốn năm trường chưa bằng. Ông choàng tay qua cổ tôi dắt tay tôi lại bàn, khoe đủ hết. Tôi ngó thoáng qua, liền ủ mặt. Ông mới hỏi:

– Chị Hai kiếm không thấy vàng, chị Hai buồn nhiều lắm hả?

Trời ơi! Ổng hỏi chơi chơi mà trúng thóc tim đen! Phải tôi không lẹ trí, thì lòi chành hư kế hết.

Đều dễ không “Người ta” sẵn mặt buồn, bèn làm giận luôn (chớ nghe giọng ổng nói, tôi biết chắc ba bó một giạ, rằng có vàng rồi). tôi vọt miệng nhiếc yêu:

– Lu-y (Louis, tên ông kiểm), Lu-y nè! Mày làm phách lắm, mà biết không? Làm việc cực khổ gần trối chết, sắm một đống đồ như vậy đây, chưa đủ mặc hay sao? Còn làm phách muốn sắm vàng mắc tiền nữa?

Ông tôi cười lỏn lẻn, móc túi lấy ra ra bốn cái hộp giấy cái lớn cái nhỏ, đưa hết cho tôi mà rằng:

– Lu-y làm phách lỡ rồi, chị Hai!

Ông dắt tôi lại kiếng mặt tủ áo, biểu tôi đeo vào mình hết cho ổng coi. Thiệt anh nầy ít khi cho, mà một lần cho thiệt là thích đáng! Không biết nhờ tay ai mua giúp mà biết lựa quá chừng? Nội đó hai sợi dây chuyền vàng Tây, một cái bông ghim cổ áo, hai tay chuỗi hột trút lượng, một đôi neo đặc, một chiếc dứa vàng và một chiếc vòng bằng đồng thoa, đều vừa ý tôi thảy thảy. Đeo vô rồi, ồng đứng dang ra xa, nhìn tôi mà cười một cách hân hoan thắm thiết. (Sau nầy tôi rõ lại, nội những đồ vi kiếng ông kiểm lâm sắm cho tôi đó, là tiền mồ hôi xót mắt ổng tiện căn ngót gần bốn năm trời!)

Cha chả là ác! Ác không chỗ nói! Thủng thẳng chị em cô bác xem lần tới lớp sau coi còn có ai nỡ dạ nào đoạn lìa cái một, cái gánh ân tình tuy Pháp-Nam nhưng thâm nặng làm vầy. Rõ là tôi không biết điều. Nhưng, thưa ông kiểm sê-ri, tôi xuống núi quyết báo thù, ai biểu ông tìm tôi cho mang khổ?

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 17 Jun 2024

Phần 8

– Anh đã suy nghĩ kỹ chưa?

– Rồi.

– Anh suy nghĩ cái gì?

– Sự viết lại.

– Không, tôi muốn, trước hết, anh suy nghĩ về gia đình anh, cha mẹ anh, ông bà anh, giai cấp anh, ấu thơ anh, niên thiếu anh. Ông nội anh là nhà nho nghèo nàn, khí tiết. Cha anh là một tiểu thương lận đận. Ấu thơ anh ảm đạm. Niên thiếu ánh khốn khổ. Anh, đáng lẽ, phải là vô sản. Tại sao anh phản bội giai cấp của anh? Tại sao anh chống cộng sản? Ngụy quyền cho anh gì? Nó thường xuyên đe dọa anh, ghét bỏ anh, bắt anh đi lính. Anh trốn chui trốn lủi. Anh tưởng nó tạo cơ hội để anh mua villa, tậu xe hơi à? Không, anh đã lao động khó nhọc bằng tài và sức của anh. Anh còn xứng đáng hưởng ngàn lần hơn nữa cơ.

Chẳng còn gì đau đớn, nhục nhã hơn bị một thằng mình khinh bỉ nó mà đành ngồi im nghe nó “lên lớp” mình. Tất cả đều cam đành như tôi. Hãy nói cho tôi biết vị anh hùng nào dám cãi lại, dám to tiếng với công an chấp pháp ở Sở Công An, ở đề lao Gia Định, ở khám Chí Hòa hay ở bất cứ trại tập trung nào! Sự can đảm, tinh thần bất khuất chỉ tìm thấy ở các buổi diễn thuyết của các ngục sĩ khi đã thực sự thoát khỏi móng vuốt của kẻ thù. Và cũng chỉ tìm thấy trong đòi hỏi của những anh không hề bị tù, không hề biết 90 ngày “tự khai” liên tiếp ra sao! Có nhiều kẻ đã bỏ qua cái tuổi “tri thiên mệnh”, tóc bạc phơ, răng rụng hết rồi mà vẫn khoái huyễn hoặc người khác bằng sự gian dối với chính mình. Tôi muốn thí dụ một ông trung tá đã giải ngũ từ lâu. Tôi sẽ không nêu tên ông ta để ông ta yên tâm nhắm mắt mà đi về với đất … Mỹ. Cộng sản không hề bắt sĩ quan giải ngũ đi trình diện học tập (Mãi đến khi Trung Quốc đánh phá miền Bắc, họ mới đến tận nhà còng sĩ quan giải ngũ vào tù). Vị trung tá nọ sợ quýnh lên, khăn gói đi trình diện, nghĩ rằng “đi sớm về sớm”. Cộng sản đưa vị ấy đi hơi xa và hơi lâu. Khi về, thoát nanh vuốt kẻ thù, vị ấy làm thơ ví mình như anh hùng, vì sự “đi sớm về sớm” như mối thù nặng nghìn cân. Và dọa nạt lung tung. Và làm phán quan xét tội những người mà vì ấy không hề ở chung với họ ngày nào. Vị ấy quên sờ gáy để nhớ bức chân dung Hồ Chí Minh và lời tự khai thành khẩn: “Đây là họa phẩm đắc ý nhất trong sự nghiệp của tôi”! Nhớ chưa, phán quan. Hay phải nhắc bức chân dung vẽ ở trại nào?

– Anh đã suy nghĩ bản chất giai cấp của anh chưa?

– Tôi ít nghĩ tới tôi.

– Anh không phải trí thức chứ?

– Đúng thế.

– Anh không phải địa chủ chứ?

– Đúng.

– Anh không phải tư sản chứ?

– Đúng.

– Anh không phải cường hào ác bá chứ?

– Đúng.

– Anh chưa nợ máu với nhân dân chứ?

– Chưa hề.

– Vậy anh tự quyết định thành phần giai cấp của anh đi.

– Tôi là tiểu tư sản.

– Sai rồi. Anh là vô sản. Anh là người vô sản đã quên bản chất của mình, rồi phản bội giai cấp mình. Anh nên tỉnh ngộ trở về với giai cấp.

– Muộn rồi, anh ạ.

– Tại sao muộn?

– Vì tôi luôn luôn nhận tôi là con người phi giai cấp. Con người lương thiện là đủ, cần gì khoác ao giai cấp cho nó?

– Anh hơn Nguyễn Mạnh Tường và Trần Văn Giàu không?

– Tôi không dám ví với ai cả.

– Đầu hàng giai cấp mới khó. Trở về giai cấp của mình thật dễ.

– Với tôi tất cả đều khó. Tôi mệt mỏi rồi, tôi chán nản rồi. Tôi không thiết gì nữa.

– Anh mệt thật à?

– Phải, tôi mệt!

– Vậy anh về nghỉ, hôm khác chúng ta làm việc.

Ba Trung nhận chỉ thị của ông Mai Chí Thọ, quay tôi như quay chong chóng. Nó bảo tôi suy nghĩ một chuyện, rồi nó xoáy vào tâm thần bấn loạn của tôi một chuyện khác. Nó bắt tôi nhận thuộc thành phần giai cấp vô sản để làm gì chứ? Quả thật, tôi cũng chẳng hiểu tôi thuộc thành phần nào, giai cấp nào trong xã hội loài người. Giai cấp là cái con mẹ gì? Đứa khốn nạn nào trên trái đất này đặt ra thành phần giai cấp? Thượng Đế sinh ra con người có bảo nó mày thuộc giai cấp nào đâu. Con người tự gây khó khăn cho con người. Không, chủ nghĩa ép buộc con người phải nhận rõ thành phần, giai cấp của mình. Đề thù hận thành phần, giai cấp khác. Điều khác lạ, đối với tôi, là người cộng sản không bắt tôi nhận bất cứ một tội gì khác, ở cái địa chỉ chung của chủ nghĩa nầy, ngoài giai cấp tôi. Họ bắt tôi truy nã thân phận tôi. Tôi đã truy nã. Không, nhất định, không bao giờ tôi là vô sản hay tư sản, trí thức hay công nhân. Tôi là một người bình đẳng với mọi người trên trái đất, đúng ý Thượng Đế. Nếu Thượng Đế – Thượng Đế là tôi trong ý nghĩ tôi sắp nói – phán: “Duyên Anh, mày thuộc giai cấp vô sản đấy!”, tôi sẽ bằng lòng khoác nhãn hiệu vô sản lên con người tôi. Ngoài ra, đừng ai nên qui định thành phần, giai cấp con người. Bởi vì, nó sẽ tương tự chủ trại chăn nuôi phân loại súc vật: Bò gầy, bò mập, bò nhiều sữa, bò ít sữa, bò đắt tiền, bò rẻ tiền, bò giống nọ, bò giống kia … Chủ nghĩa đâu phải chủ chăn nuôi. Có lẽ, chủ nghĩa cộng sản đã là chủ chăn nuôi từ lâu mà loài người chưa biết chăng. Chủ nghĩa đê tiện đó đã đánh dấu giai cấp bằng thù hận, như chủ trại chăn nuôi đã đánh dấu súc vật bằng sắt nung đỏ. Tôi không hiểu nổi cộng sản, không ai đoán nổi mưu đồ của cộng sản. Trò chơi của họ biến đổi khôn lường. Nhưng có một kiểu chơi của họ tôi đã hiểu và chỉ hiểu bằng kinh nghiệm rạc rài. Đó là cung cách đối xử, ngôn ngữ đối thoại của lãnh tụ. Đại lãnh tụ của họ, Phật hơn cả Phật, Chúa hơn cả Chúa. Nghiên cứu những danh ngôn Hồ Chí Minh sẽ thấy. Còn họ, luôn luôn cao thượng, lịch sự. Mỗi ông Ủy Viên Bộ Chính Trị Trung Ương là mỗi thi sĩ hiếu hỉ. Họ không làm mất lòng anh khi anh được gặp họ, dù anh là … nhà văn, nhà thơ, nhà báo phản động. Những gì anh muốn – dĩ nhiên đừng muốn tự do ra khỏi nhà tù – họ giải quyết liền, hiệu quả tức khắc. Anh đừng quên, sau khi chia tay anh, ho phủi tay bằng chỉ thị cấp thừa hành. Và họ sẽ sẵn sàng phê bình nghiêm khắc kẻ thừa hành chỉ thị của họ trước mặt anh. Cộng sản có một câu rửa tội tuyệt diệu: Hiện tượng chứ không phải bản chất. Hiện tượng bắt buộc khác bản chất. Bản chất của chủ nghĩa – của chế độ – tốt đẹp, lý tưởng. Hiện tượng của cán bộ – của đảng viên – sai lầm. Bản chất của Đảng quang vinh, rực rỡ. Đảng họp bàn, quyết định thủ tiêu trên 1 triệu 500 ngàn dân, mùa Cải Cách Ruộng Đất năm 1956. Lãnh tụ Hồ Chí Minh vẫn vĩ đại. Chỉ có hiện tượng Trường Chinh sai lầm, tạm mất chức Tổng Bí Thư, để Đảng … sửa sai. Vậy đối tượng chiến đấu của anh là ai? Là mấy cậu công an vênh váo, là mấy chú bộ đội khờ khạo, là mấy anh cán bộ ngớ ngẩn? Không, phải là lãnh tụ và thủ thuật của họ. Từ 30 năm nay, chúng ta chỉ nói cộng sản gian ác và cộng sản ngọng nghịu, ngu đần. Chúng ta quên không chứng mình cái gì, đứa nào biến con người thành ngọng nghịu, ngu đần. Để chúng ta chạy bán sống, bán chết. Bây giờ chúng ta vẫn tiếp tục mỉa mai những nạn nhân của chủ nghĩa, của lãnh tụ. Chúng ta dồn nạn nhân của chủ nghĩa, của những kẻ bị bóc lột tàn bạo nhất – của những kẻ chưa kịp sống, chưa biết mùi vị ái tình, của những kẻ tưởng hy sinh cho tổ quốc mà hóa ra đã hy sinh cho sự sống lâu của lãnh tụ. Mấy thế hệ bộ đội, công an chết rồi. Trường Chinh, Lê Duẩn, Tố Hữu, Phạm Văn Đồng, và toàn bộ gánh hát già nua Cộng Sản Việt Nam cứ sống nhe răng giả, cứ diện tuồng tích cũ mèm, cứ phì nộn tươi thịt thấm da, hồng môi, sáng mắt. Trong khi bộ đội gian khổ chiến trường Kampuchia, ăn rau muống nhiều quá, môi thâm sì, hốc hác, thảm hại. Anh muốn tiêu diệt chủ nghĩa và lãnh tụ hay muốn tiêu diệt con người? Tiêu diệt con người thì anh không có khả năng đâu, anh chỉ hò hét, lạc quyên, tranh giành. Anh sẽ là hiện tượng. Mà tiêu diệt chủ nghĩa, lãnh tụ thì anh phải cần con người. Anh phải vận dụng khả năng của anh nói cho con người thấm thía. Rằng, con người là công cụ thù hận của chủ nghĩa và lãnh tụ, con người ăn cỏ khô thành sữa để lãnh tụ vắt mà uống. Kế thượng sách để tiêu diệt cộng sản Việt Nam – tôi muốn nói với đồng bào của tôi thôi – là biết hoán chuyển vị thế của hiện tượng và bản chất, là biết phơi bày chính xác thủ thuật và tâm địa của lãnh tụ, là biết lôi ra cái đốn mạt của chủ nghĩa, là biết tạo thế cho âm binh vây hãm phù thủy, là biết gây chia rẽ tan nát trong những “giai cấp cộng sản” – ít nhất, cộng sản Việt Nam có đến chín giai cấp hưởng thụ khác nhau và giai cấp đông nhất, hy sinh kỹ nhất, không được hưởng thụ là giai cấp bộ đội, chưa kể giai cấp giải phóng quân bị đào thải tức tưởi. Kế hạ sách là đem quân ít của mình đánh quân đông của kẻ thù. Còn thứ kế đem quân tưởng tượng đánh cộng sản và hô hoán những chiến công chiêm bao thì miễn bàn. Bởi đó là kế mưu sinh ô nhục như kẻ làm băng nhạc giả, in sách lậu của bọn gian manh.

Không để tôi nghĩ lâu, sáng hôm sau, Ba Trung gọi tôi ra. Vẫn gói Nông Nghiệp và ly cà phê đen trên bàn. Bên ngoài, mưa xối xả, hất cả vào chỗ tôi ngồi. Ba Trung không đóng cửa. Nguyên tắc làm việc của công an không đóng kín cửa phòng khi đối diện can phạm tay không bị còng. Nó sợ can phạm, bất chợt, hạ nó, áp đảo để vượt ngục.

– Anh Duyên Anh, người ta bảo anh khôn lắm.

– Người ta hay các anh?

– Bạn anh. Có những điều tôi kể ra sẽ làm anh sửng sốt. Bây giờ là phút nói thật, bởi vì, bây giờ, anh đã nằm gọn trong lưới cách mạng. Mọi người trong các anh, từ Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Mai Thảo … đều có hai cán bộ văn hóa của chúng tôi, ở cục R, nghiên cứu. Chúng tôi nghiên cứu các anh ở nội thành, ở R, ở Hà Nội. Anh có bao nhiêu bút hiệu, chúng tôi nắm hết. Kể cả những bút hiệu anh ký ở mục Nhìn xuống cuộc đời trên báo Tuổi Ngọc. Chúng tôi nghiên cứu bút pháp của các anh, diễn biến tư tưởng của các anh; chúng tôi theo dõi sinh hoạt của các anh, liên hệ giữa các anh. Tại sao chúng tôi dành nhiều công sức cho các anh thế? Vì chúng tôi sợ các anh, muốn có các anh. Vì các anh nguy hiểm, vì các anh bị ngụy quyền bạc đãi. Nghĩ thử coi, anh Duyên Anh, trong các anh, đã có ai được ngụy quyền dịch tác phẩm phổ biến ra nước ngoài? Ai trong các anh đi họp Văn Bút Quốc Tế được Nguyên Văn Thiệu trả tiền vé máy bay và tiền tiêu vặt? Cái ngu xuẩn của ngụy quyền là nó không biết kết hợp các anh thành một chiến tuyến văn hóa. Nếu nó kết hợp được, và các anh đừng chia rẽ nhóm, chửi bới lẫn nhau, chiến tranh còn kéo dài bất phân thắng bại và, có thể, chỗ anh đang nằm là chỗ của tôi. Nguyễn Khánh tuyên dương các anh làm chúng tôi hoảng hốt. Nó là thằng duy nhất biết sức mạnh của mỗi ngòi bút là một sư đoàn. Nó mới nói ngòi bút của nhà báo, chưa đề cập đến sức mạnh của nhà văn, của những người làm tư tưởng cuốn hút nhân dân.

Ba Trung dẫn tôi vào ngơ ngác mới. Lãnh đạo của nó đã dạy bảo nó huyễn hoặc tôi. Tôi sửng sốt thiệt tình. Tôi đâu dám tưởng tượng cộng sản đánh giá chúng tôi ghê gớm thế. Từ khởi sự cuộc đời văn chương, tôi đã nghĩ mình viết văn mua vui cho độc giả để mưu sinh. Hoàn toàn tôi không có tham vọng gì vào văn chương. Tôi thấy Nguyễn Du vĩ đại đã khép Truyện Kiều bằng hai câu bình dị và khiêm tốn:

Lời quê góp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh

Tiền bối vĩ đại không hề “phi lộ” đao to búa lớn. Rằng, ta, Tố Như, làm văn chương vì mục đích này nọ. Hậu bối ễnh ương xem chừng khoái làm con bò văn học nghệ thuật. Đâu ngờ, cái sự mưu sinh bằng chữ nghĩa của mình lại được cả cộng sản lẫn quốc gia rình rập kỹ vậy. Cộng sản thì tôi đã biết ở Sở Công An. Quốc gia thì vừa biết khi sang Paris và gặp anh Phương Linh Châu. Ở Sàigòn, tôi chưa được quen anh Châu. Anh ta làm việc cho Trung Ương Tình Báo và đặc biệt theo rõi tôi. Anh cho biết, trong thân tình và việc đã qua rồi, anh quán triệt cá tính của tôi, từ cách ngồi viết ở tòa soạn đến cách ngồi uống cà phê ở vỉa hè, giờ giấc sinh hoạt, liên hệ bạn bè… Người được anh chị thỉ theo dõi tôi là chủ bút tuần báo Tuổi Ngọc. Tôi giật mình. Giật mình hơn, Trung Ương Tình Báo định bắt tôi và gài tôi vào cái thế phải làm việc cho họ với tư cách chủ bút một tờ báo của họ. Nhờ một sĩ quan già lục hồ sơ của tôi, đoán tử vi và nói chưa đến lúc bắt tôi, nên tôi thoát. Ông Thiệu trị nước có thầy bói bên cạnh! Trung Ương Tình Báo cũng có thầy tử vi! Anh kể rất nhiều kỷ niệm theo rõi tôi. Tóm tắt, quốc gia rình rập tôi mà tôi không hay. Hôm nay, nhờ cộng sản, nhờ quốc gia tiết lộ, tôi bỗng thấy nhà văn chúng tôi phi thường quá. Ôi, cuộc mưu sinh của tôi sao mà lận đận, sao lắm kẻ rình mò, hãm hại thế! Vẫn chẳng có gì đáng để tôi kiêu hãnh. Ta vẫn phải đi trên sầu đạo dằng dặc hệ lụy. Cái gì ta để lại ở cuối sầu đạo mới đáng để ta kiêu hãnh. Và ta chỉ bằng lòng chịu phán xét, lúc ấy.

– Thế giới biết nhiều về nhà văn, nhà thơ của chúng tôi hơn biết các anh. Tác phẩm của nhà văn, nhà thơ chúng tôi đã dịch mười thứ tiếng. Còn các anh, chạy vạy xuất bản đã khó, thu tiền về còn nhục. Đã nhà văn nào của các anh diễn thuyết ở Hoa Thịnh Đốn, Đông Kinh, Ba Lê? Nhà văn của chúng tôi xách va li đi khắp thế giới. Các anh đều làm lợi cho ngụy quyền, cho Mỹ mà cả Mỹ lẫn ngụy quyền đều bạc đãi các anh. Đàn áp các anh. Bỏ rơi các anh. Anh nghĩ sao?

– Tôi nghĩ chính nhờ bị bạc đãi, bị đàn áp, bị bỏ rơi mà chúng tôi đã trở thành chúng tôi.

– Thành tội phạm?

– Vâng, tội phạm của chiến thắng của các anh.

– Kỳ-Thiệu về, giả sử thế, chúng nó có cứu các anh chăng?

– Không. Chúng sẽ giết tôi hoặc nhốt tôi mãi mãi.

– Anh đã làm lợi cho chúng nó?

– Tôi ích kỷ để nói với các anh rằng tôi chỉ làm lợi cho tôi, cho vợ con tôi. Nếu anh thích, và như nhận xét của anh, tôi làm lợi cho quê hương.

– Anh sẽ làm lợi cho quê hương chứ chưa làm lợi cho quê hương. Anh quyết định đi. Tôi nhắc lại, người ta bảo anh khôn lắm. Dễ hiểu thôi, anh là mẫu người thân lập thân, anh phải khôn anh mới là Duyên Anh. Anh đã dự định bán tuần báo Người để lách thoát cái thế tranh chấp của Thiệu-Kỳ-Minh, thoát sự trả thù của Đặng Văn Quang, Hoàng Đức Nhã. Anh làm Tuổi Ngọc để thoát ký quỹ mười triệu đồng. Anh hô hoán những “đêm của lính” để được động viên tại chỗ. Anh lợi dụng Trần Hữu Thanh để viết hịch tham nhũng, chửi Thiệu qua miệng người khác. Anh lợi dụng diễn đàn Quốc Hội để viết diễn văn cho nghị sĩ, dân biểu đối lập phát biểu tư tưởng đối kháng của anh, trong khi, anh giả vờ làm báo con nít. Anh đã khôn, anh nên khôn thêm một lần cuối.

Cộng sản nó đi guốc trong bụng tôi. Nó biết tôi ngàn lần hơn tôi biết nó. Và tôi thua nó là hợp lý.

– Sự khôn của tôi đã là tai họa. Tôi không muốn khôn nữa.

– Anh lại khôn rồi đấy. Đừng khôn với cách mạng. Tôi hỏi anh, bị chúng tôi bắt, anh biết chắc Thiệu-Kỳ sẽ nhốt mãi mãi hoặc giết ngay, nếu chúng “giải phóng dân tộc”, anh tin ai cứu anh? Quốc tế à? Với quốc tế, anh vô danh tiểu tốt. Quốc tế đâu đã đọc sách của các anh mà can thiệp cho các anh. Anh chỉ có một hy vọng cuối cùng. Chúng tôi tha anh. Muốn được tha, là người khôn, anh tự hiểu anh nên làm gì.

Ba Trung nâng tôi lên, rồi đap tôi ngã chúi. Nó không bắt tôi nhận tôi là vô sản nữa. Hôm nay, nó “mạn đàm” với tôi về sự khôn của tôi và sự nắm linh hồn tôi của cộng sản và kích thích tự ái của tôi và nói rõ ẩn ức của tôi với chế độ cũ. Tôi không ngần ngại gì mà không nói những ẩn ức của tôi với chế độ cũ, từ sau 1-11-1963. Trước hết, tôi bất bình cái thái độ du côn của Nguyễn Cao Kỳ. Ông ta là thứ thủ tướng bất xứng về mọi phương diện. Vì bài phiếm luận của tôi đăng trên nhật báo Tin Báo, đụng chạm tới Đô trưởng Văn Văn Của (Đô trưởng say rượu, bắn súng loạn cào cào, quân cảnh Mỹ còng tay nộp cho Ty Cảnh Sát quận 1, Sàigòn), ông ta họp báo bỏ túi, gọi tôi là côn đồ, đòi đánh nhau tay đôi nếu là Văn Văn Của và đóng cửa Tin Báo. Gọi tôi là côn đồ tức là đồng hóa tôi với “Việt Cộng ác ôn côn đồ”. Tôi chưa bỏ theo Việt Cộng đấy. Tôi ngậm trái thù, trả đũa liên tiếp Nguyễn Cao Kỳ và tay chân. Hôm nay vẫn chưa nguôi hận. Đáng lẽ, không bao giờ có tuần báo Con Ong, tuần báo Người, nếu Đinh Trình Chính, đầy tớ của Kỳ, cho tôi xuất bản tuần báo Búp Bê. Chính ghét tôi, chấp nhận truyện tranh nhảm nhí “charlot Nguyễn Thọ” và chỉ “lưu tình” khi ông sắp mất chức Tổng trưởng Thông Tin. Tôi làm báo nhi đồng trong hoàn cảnh khó khăn. Và Búp Bê đình bản sau năm số. Trở về nhật báo, tôi hung hăng, tôi tàn bạo, tôi sa lầy, tôi đầy ngất ân oán giang hồ. Từ đó là Thương Sinh dẫm lên tất cả. Kỳ và Chính đã không để tôi làm Duyên Anh viết truyện mơ mộng. Chúng nó dồn tôi vào con đường bất mãn, tôi đi hết sai lầm này đến sai lầm khác, và tôi bị chụp bủa bởi cái lưới ngộ nhận oan nghiệt. Tôi rất muốn làm công việc nhỏ mọn có ý nghĩa cho đời sống. Và tôi chỉ gặp bọn quyền bính bỏ lửa vào tay mình. Một lần nữa, tôi xuất bản tuần báo Tuổi Ngoc khổ lớn, tôi cố giã từ nhật báo, tuần báo nham nhở. Bấy giờ là triều đại của Thiệu và Tổng trưởng Giáo dục Lê Minh Liên. Ông Châu Kim Nhân giới thiệu tôi với Liên. Tôi trình bày sự cần thiết phải có một tờ báo cho thiếu niên trong cái sa mạc sách báo tuổi trẻ. Ông Liên đồng ý. Ông hứa yểm trợ Tuổi Ngọc mỗi kỳ 500 số cho tới khi nó vững. Tôi mừng quá, hí hửng tính 500 số x 20 đồng bằng 10,000 đồng x 4 kỳ bằng 40,000 đồng, vừa đủ tiền bìa và công in offset cho 4 số báo. Chừng báo ra mắt, tôi gọi dây nói cho văn phòng của ông Liên. Tôi được viên bí thư trả lời:

– Ông Tổng trường chỉ thị rằng mỗi kỳ báo, ông cho tùy phái đem lên Bộ 10 số báo, và Bộ sẽ trả bằng mandat mỗi tam cá nguyệt!

Tôi định chửi cha cái bộ … vô giáo dục đó một câu. Lại thôi, bèn đáp:

– Báo tôi nghèo không có tùy phái và không bán cho Bộ nữa. Ông thưa với ngài Tổng trưởng giùm, nếu ngài ấy rảnh, ghé tòa soạn, tôi cho 500 số, về đọc, rồi bán ký tính giá đồng nát.

Bực quá, tôi viết Ngựa chứng trong sân trường để mở mắt bọn ngu xuẩn ở Bộ Giáo Dục, viết tiếp Bò sữa gặm có cháy, dạy lũ Thiệu cách huấn luyện nhi đồng. Đổng lý của Tổng trưởng Thông Tin Trương Bửu Điện mời tôi đến Bộ … thông cảm. Bò sữa chuyển vào phủ tổng thống. Sáu tháng không trả lời cho hay không cho xuất bản. Nhà Nguyễn Đình Vượng đã in xong xuôi, chỉ còn chờ giấy phép. Cuối cùng, vì thương cụ Vượng, tôi phải “xin được tự ý xóa bỏ hai chương phê bình tổng thống” để Bò sữa gặm cỏ cháy nhởn nhơ gặm cỏ cháy. Tôi đã khốn đốn vì cuốn sách này khi làm việc với công an cộng sản.

– Thế nào, anh Duyên Anh?

– Anh muốn thế nào?

– Muốn anh tiếp tục nghề viết của anh. Trước hết, anh phải kiểm điểm toàn bộ sai lầm của anh trong vòng 15 năm, kiểm điểm toàn bộ quá trình viết lách của anh.

– Tôi sẽ viết trong tự khai.

– Không, anh sẽ viết trên báo Đảng, viết ở nhà anh.

– Tôi viết trong tù cũng được chứ.

– Anh viết trong tù, nhân dân sẽ nói công an cưỡng ép anh viết. Anh viết ở nhà anh, nhân dân tin anh thành khẩn.

Một phút thôi, một sợi tóc như Thạch Lam viết, sau những dồn nén không tài nào nhịn nổi, tôi nhìn thẳng vào đối mắt liến láu của Ba Trung:

– Anh không đủ tư cách tha tôi. Anh cũng không đủ tư cách cưỡng ép tôi viết.

– Đảng thừa tư cách.

– Anh không phải là Đảng.

– Ai là Đảng?

– Tố Hữu.

– Tố Hữu không phải công an.

– Vậy công an biết gì về văn chương mà luận bàn.

Ba Trung đập bàn. Nó đứng dậy, đôi mắt ánh lên thù hận. Tôi tưởng nó sắp đấm vỡ mặt tôi. Nó lại ngồi xuống:

– Anh mệt rồi. Hôm nay làm việc hơi căng.

Tôi lặng thinh. Nó đưa tay bóp trán:

– Anh về phòng nghĩ. Cầm gói thuốc về hút.

– Cám ơn. Tôi không hút thuốc nữa.

– Tại sao?

– Vì ở tù có nhiều thứ cần phải nhịn.

Nó thông mình lắm, hiểu ý câu nói của tôi. Nó mỉm cười rồi đưa tôi về phòng. Tôi không biết Ba Trung đã làm việc với Hoàng Anh Tuấn ra sao. Nó có gợi ý cho Tuấn kiểm điểm quả trình viết lách và hứa hẹn gì không. Tuấn đã chuyển trại, tôi mất dịp rút kinh nghiệm để đối phó với Ba Trung. Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu chưa hề bị gọi ra. Luôn luôn, tôi cô đơn. Tôi nhớ, cuối năm 1950, sau khi quy định thành phần giai cấp, loại bỏ toàn bộ trí thức và đảng phái ra khỏi kháng chiến, cộng sản tổ chức một khóa chỉnh huấn cho văn nghệ sĩ. Những Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Tuân … sau khóa hoc, đã ỉa lên tác phẩm cũ của mình những bài tự kiểm gớm ghiếc. Thơ thơ, Gửi hưởng cho gió chỉ còn là hai đống phân trong nhãn quan vô sản. Thế Lữ tha hồ mà chửi Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn. Nguyễn Tuân coi Tàn đèn dầu lạc, Chiếc lư đồng mắt cua là sản phẩm của bồi tiêm thuốc phiện (tạp chí Văn Nghệ, liên tiếp 3 số, đầu 1951). Vẫn trò chơi bắt nghệ sĩ phóng uế lên sự nghiệp mình, Trịnh Công Sơn đã tự kiểm để được làm ở Sở Thông Tin Văn Hóa thành phố. Loại bài tự kiểm của Trịnh Công Sơn đã làm ngao ngán tuổi trẻ ngưỡng mộ nhạc của Sơn. Từ đó, Sơn say mèm. Bố già Á Nam Trần Tuấn Khải tự kiểm trên tờ Văn Nghệ Giải Phóng mới nản chứ! Người nản nhất, xấu hổ nhất là Trần Việt Hoài. Anh đã uất ức làm bốn câu thơ trước khi chết:

Đầy tớ Mỹ ngã gục
Bồi Tàu, Nga reo vui
Riêng cháu con nòi Việt
Ôi, xiết bao ngậm ngùi

Tôi đã thấy nghệ sĩ tự kiểm thuở chưa làm văn chương. Tôi vừa thấy nghệ sĩ tự kiểm khi đã làm văn chương. Tốt nhất, tôi nên tự khai trong tù. Dương Nghiễm Mậu hoàn toàn đúng. Chúng tôi không có tội với nhân dân. Chúng tôi cứ nhận phứa phựa có tội với chế độ. Lẽ phải ở bất cứ không gian, thời gian nào, đều nằm gọn trong tay kẻ mạnh. Điều đó đã thành chân lý muôn thuở. Để tự vệ, để tồn tại, tổ tiên ta đã có di chúc “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Buổi chiều, Ba Trung gọi tôi ra. Lần này, ở phòng của nó còn thêm một người mà Ba Trung giới thiệu là nhà văn cách mạng. Nó không nói bút hiệu nhà văn đó và tôi cũng chẳng buồn hỏi. Một lần, Trần Kim Thanh, nhà văn Hà Nội, đã nói với tôi: “Ở miền Bắc của chúng tôi có công an văn nghệ”. Nhà văn vừa gật đầu chào tôi, chắc chắn là nhà công an văn nghệ, thứ lính kín của văn học nghệ thuật.

– Buổi sáng căng quá, chiều nay chúng ta nói chuyện văn chương, Ba Trung giáo đầu.

Nhà công an văn nghệ hỏi tôi:

– Anh hiểu thế nào là một nghệ sĩ?

Tôi nói:

– Anh muốn có một định nghĩa chính xác về hai tiếng nghệ sĩ?

Nhà công an văn nghệ đáp:

– Phải.

– Anh có phải công an không?

– Tại sao anh hỏi thế?

– Tôi có hai lối trả lời. Một lối cho công an và một lối cho nghệ sĩ.

– Tôi là nhà văn.

– Hân hạnh cho tôi lắm lắm. Anh có đọc thơ cũ, thơ mà Xuân Diệu phủ nhận không?

– Không.

– Vậy tôi đọc cho anh nghe Xuân Diệu định nghĩa nghệ sĩ và tôi rất chịu.

Và tôi anh dũng đọc thơ đồi trụy, thơ vàng cho cộng sản nghe.

Tôi là con chim
Tới từ núi lạ
Ngứa cổ hót chơi
Khi ánh sáng vào reo um khom lá
Khi trăng khuya lên ủ mộng xanh tươi
Chim ngắm suối đậu trên cành bịn rịn
Hót tự nhiên nào biết bởi sao ca
Tiếng to nhỏ chẳng xui chùm trái chín
Khúc huy hoàng không giúp nở bông hoa
Cứ hót mãi thế mà chim vỡ cổ
Héo tim non cho quá độ tài tình
Cả ánh sáng bảo lần giây màu đỏ
Rồi một ngày sa rụng giữa bình minh
Tôi rả rích chẳng qua trời bắt vậy
Chiếc thuyền lòng nước chảy phải trôi mau
Gió đã nổi cho nên buồm phải dậy
Hồn vu vơ lời ấy bởi mây đào…

Đoạn kết, tôi nhìn Ba Trung, đọc một cách say sưa:

Tôi là con chim
Tới từ núi lạ
Ngứa cổ hót chơi
Hãy nghe lấy còn như sao rỉ rả
Nói làm chi tôi không biết trả lời!

Ba Trung cười:

– Con chim Xuân Diệu vô tội vì nó lãng mạn. Con chim Duyên Anh khác xa.

Nhà văn nghệ công an đưa sang vấn đề khác:

– Tôi thấy văn nghệ Sàigòn không chuyên nghiệp.

Nó vừa mới bảo tôi định nghĩa người nghệ sĩ, chẳng tỏ thái độ đúng hay sai, đã vội vàng chuyển mục.

– Ý anh muốn nói văn nghệ Sàigòn không tốt nghiệp ở một trường chuyên nghiệp nào ra, phải không? Tôi hỏi.

– Đúng.

– Tôi công nhận đúng, song chỉ đúng với nghệ sĩ trình diễn, đa số, họ đã không ở trường ca nhạc, kịch nghệ nào ra cả. Nhưng, theo tôi, nghệ sĩ Sàigòn thì chuyên nghiệp đúng nghĩa. Tất nhiên, nghệ sĩ Hà Nội không thể có cái đúng nghĩa ấy.

– Tôi cần được giải thích.

– Câu giải thích thật đơn sơ: Các anh không ôm một nỗi cô đơn nào cả.

– Các anh ôm nỗi cô đơn? Các anh cô đơn bằng hưởng thụ.

– Anh còn muốn nghe nữa không?

– Còn chứ.

– Đừng mỉa mai vội. Tôi tin anh là nhà văn, dù anh có phục vụ ở ngành công an.

– Xin lỗi.

– Anh đừng xin lỗi tôi, vì sự xin lỗi của anh càng tăng thêm vẻ mỉa mai.

Ba Trung giả vờ có việc đột xuất, rời khỏi phòng. Người nhà văn công an, dân miền Bắc chính cống, hình như, nhiều quyền hành hơn Ba Trung nằm vùng. Nó dục tôi:

– Ta tiếp tục.

– Tôi xin phép được hỏi anh và anh trả lời chính xác, thành khẩn, rồi từ những câu vấn đáp sẽ có kết luận chuyên và không chuyên.

– Đồng ý.

– Có bao giờ anh thấy, ở rạp hát nào đó, tại Hà Nộihay bất cứ tỉnh huyện nào ở miền Bắc, dù mưa hay nắng, dù bão to hãy yên lặng, khi đến giờ bắt buộc phải kéo màn mà chỉ có vài khán giả không?

– Không, không bao giờ. Nhà hát của chúng tôi luôn luôn đông nghịt, bất kể giông bão.

– Có bao giờ anh thấy, ở vỉa hè Hà Nội, tác phẩm và tên tác giả nằm ngổn ngang không?

– Không, không bao giờ. Chúng tôi có mấy trăm ngàn xã, mỗi xã một thư viện. Tác phẩm của nhà văn của chúng tôi được xuất bản, ít nhất, cả 100 ngàn cuốn, chưa đáp ứng yêu cầu.

– Chúng tôi khác các anh, khác ghê gớm. Ở Sàigòn, sân khấu cải lương vẫn phải kéo màn đêm mưa đột xuất dù khán giả vài chục người. Nghệ sĩ vẫn đông đủ. Tuồng tích không bị cắt xén. Giọng ca ngọt bùi hơn, tiếng đàn tha thiết hơn trong nỗi hoang vắng ấy. Ở những phòng trà, gặp đêm giông tố, khách thưởng ngoạn vỏn vẹn một người thôi, ca sĩ của chúng tôi vẫn trình diễn, và đã diễn tả hết cái cô đơn của con người trong quạnh hiu, trống trải. Mỗi tác phẩm văn học nghệ thuật là mỗi cuộc phiêu lưu. Nó đi từ nhà xuất bản đến nhà phát hành. Nó được xếp vào chỗ quan trọng của hàng sách hay bị xuống vỉa hè thì nó vẫn có linh hồn. Tóm lại, chúng tôi thường xuyên trực diện nỗi cô đơn, uống từng giọt cô đơn trong đời sống. Còn các anh, các anh được người ta lùa khán giả cho kín rạp để ca múa, các anh được người ta chỉ thị vỗ tay hoan hô, các anh được người ta khuân sách về xã ấp mà ra lệnh độc giả … học tập. Các anh không có nỗi cô đơn. Các anh chỉ là nghệ công hay nghệ nhân. Các anh chưa từng là nghệ sĩ. Như tôi mới là nghệ sĩ. Vì trọn đời tôi, tôi lạc lõng trong sương mù cô đơn; trọn đời tôi, tôi bị truy nã, săn đuổi; trọn đời tôi, tôi bị đố kỵ, ghen ghét; trọn đời tôi, tôi bị ngộ nhận, phản phúc. Bằng những cái đó, tôi trở nên chuyên nghiệp, tôi tồn tại và tôi có những cái mà người khác không có. Không có so sánh trong tác phẩm nghệ thuật, không có chối bỏ trong tác phẩm nghệ thuật. Anh có cái mà người khác không có, mà tôi không thể có vì anh không phải là người khác, không phải là tôi, không thích đồng hoa, đồng dạng, đồng hành. Tôi xin nhắc lại: Những gì đã được quần chúng công nhận thì không thể chối bỏ. Sự chối bỏ chỉ có tính cách nhất thời và gian dối. Nhiều chế độ đã bị xóa bỏ, tác phẩm nghệ thuật và nghệ sĩ vẫn tồn tại. Đã không thể chối bỏ được tác phẩm nghệ thuật thì cũng không thể bắt nghệ sĩ chối bỏ nghệ thuật của nó bằng bá đạo.

– Anh kiêu ngạo qua, anh Duyên Anh ạ! Mỗi nhà văn nổi tiếng ở Saigon là một cái rốn của vũ trụ. Đã Vũ Khắc Khoan kiêu ngạo, Mai Thảo kiêu ngạo, Nguyễn Mạnh Côn kiêu ngạo… lại cả đến Dương Hùng Cường, Hoàng Hải Thủy cũng kiêu ngạo.

– Theo tôi, kiêu ngạo là tự do, dân chủ là nhận đường phấn đấu. Anh phải là cái gì mới được quyền kiêu ngạo chứ? Và kiêu ngạo của nghệ sĩ vô tội. Nó khiến anh khó chịu nhưng nó không bỏ tù được anh, không bắt anh nhịn đói, không cưỡng ép anh tự khai…

– Anh ám chỉ tôi?

– Anh là nhà văn mà…

– Phải, tôi là nhà văn.

– Tôi đang biểu dương anh. Tại sao anh không thích tôi kiêu ngạo? Anh nên nghiên cứu kỹ lưỡng về trường hợp tôi. Trong một xã hội phân hóa toàn diện, băng hoại từ gốc rễ, một mình tôi cô đơn với mớ kiến thức còm cõi, đòi làm lại cuộc đời xum họp, bình yên, yêu thương và chia xẻ; một mình tôi viết 50 cuốn sách, làm 200 số báo đẹp, tôi rất xứng danh kiêu ngạo. Sự lao động chân chính của tôi hơn các anh. Đã ai trong các anh viết nhiều bằng tôi?

– Anh có thể khắc phục sự kiêu ngạo được không?

– Anh bảo tôi kiêu ngạo thì tôi kiêu ngạo. Anh đừng có định kiến gì về tôi, anh sẽ thấy tôi chả kiêu ngạo tí nào. Độc giả tuổi nhỏ của tôi có bảo tôi kiêu ngạo đâu. Chỉ những kẻ tự ti mặc cảm mới bảo tôi kiêu ngạo, chỉ những đứa thù ghét tôi mới bảo tôi kiêu ngạo.

– Tôi khuyên anh nên truy nã bản thân hiện tại của anh, anh nên tự hỏi anh nên ở đâu, nói chuyện với ai. Câu trả lời của anh cho chính anh sẽ giúp anh toàn diện.

– Cảm ơn anh. Tôi trả lời luôn: Tôi là nhà văn độc lập bị khép tội phản động, đang ở tù và làm việc với … nhà văn chiến thắng. Tôi không dám chết anh hùng vì tôi sợ làm anh hùng, nhưng tôi tình nguyện chết dần chết mòn theo cung cách chết bình thường của những tù nhân bình thường.

Tôi nhìn nhà văn công an:

– Anh còn gì hỏi thêm tôi nữa không?

Nhà văn công an móc thêm gói thuốc đen Tam Đảo, bốc ra, mời tôi:

– Anh nhớ Hà Nội chứ?

Tôi nhả khói thuốc:

– Nhớ.

– Hà Nội vẫn y nguyên như thời niên thiếu của anh. Căn nhà số 13 đường Ngô Thời Nhiệm chưa bị bom Mỹ san bằng. Chỉ có con ngõ Lệnh Cư ở Khâm Thiên đã bị B52 xoá bỏ dấu tích kỷ niệm của anh và căn nhà số 42 Cửa Bắc của “bác nhà” bị sập đổ. Bác gái chết vì bom Mỹ năm 1969, anh biết chứ?

– Bố tôi đã kể.

– Anh còn yêu Hà Nội không?

– Tại sao không? Hà Nội hay Sàigòn đều là thành phố của quê hương chúng ta.

– Anh muốn về Hà Nội?

– Dĩ nhiên, tôi để lại Hà Nội muôn vàn kỷ niệm.

– Bạn cũ của anh còn nguyên vẹn. Anh Nguyễn Thịnh giữ chức vụ quan trọng trong ngành xuất bản âm nhạc. Anh Đàm Việt Minh ở trong hội nghiên cứu văn học. Anh Lê Huy Luyến dạy ở đại học. Anh còn người em út tên là Vũ Hổ.

– Vâng, nó bị bắt vì trốn lính và đang nằm ở Lào Kay.

– Bác trai cho anh biết?

– Vâng.

– Vũ Hổ là thứ Trần Đại của Hà Nội. Anh đã viết truyện du đãng về em anh đấy.

– Vinh dự quá.

– Tôi đến thăm anh với tư cách đồng nghiệp. Tôi thành thật nói với anh điều này để anh suy nghĩ: Nhạc sĩ Hoàng Dương, tác giả bài Hướng về Hà Nội, đã mang giày của giặc, về với cách mạng, vẫn được trọng dụng. Hiện nay, anh Hoàng Dương dạy nghệ thuật ở Viện Kịch Nghệ Âm Nhạc Hà Nội.

– Cám ơn anh.

– Điều này nữa: Anh không thể kiên trì bằng người cộng sản. Với cộng sản, nhiều người muốn chết mà cứ bị sống khi họ đã bị đánh dấu.

– Cám ơn anh. Tôi duy tâm và tôi tin sống chết có số.

Người nhà văn công an cho tôi một túi thuốc là Sông Cầu và gói kẹo Hà Nội. Tôi nhận một gói tượng trưng và vài cái kẹo mềm. Ba Trung trở về đúng lúc. Người nhà văn công an bắt tay tôi, tạm biệt. Tôi về phòng, ân hận vì mình quá … kiêu ngạo, không thèm hỏi bút hiệu của nhà văn công an. Ít ra, nó đã đọc tôi, đọc kỹ Trường cũ và Ngày xưa còn bé của tôi. Nó biết nhiều về gia đình tôi, bạn bè tôi, kỷ niệm Hà Nội của tôi. Nó chịu khó nghe tôi mà không đập bàn, dù tôi là can phạm. Tôi không nghĩ tất cả đảng viên trung cấp đều mất hết lương tâm. Người cộng sản đáng tội nghiệp. Họ bị chính đồng chí của họ rình rập, soi mói. Sự ám ảnh bị rình rập trở thành thói quen, thành lý tưởng nên họ đi rình rập lẫn nhau. Lãnh tụ cộng sản muốn có một phút sống thực với lòng mình mà cũng không được. Còn những đảng viên nhỏ, những viên chức đối tượng đảng viên thì phải đeo hai cuộc đời khốn khổ trên một cuộc đời hệ lụy. Cuộc đời khốn khổ thứ nhất là cuộc đời với tiếng nói giả dối, xu phụ, phét lác. Cuộc đời khốn khổ thứ hai là cuộc đời với tiếng nói thành khẩn chỉ dám nói thầm với mình và đầy mặc cảm không ai thèm tin mình. Xuân Thiều, nhà văn quân đội miền Bắc, người Vinh, đảng viên trung kiên của đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh đã dặn chúng tôi nên giữ kín những vụ liên hệ ăn uống, chơi bời với anh ta. Người đảng viên ấy mở miệng nói một câu xót xa: “Ngoài Marxisme, tôi còn thờ chủ nghĩa Marimite và bảo vệ nó tới cùng.” Lý tưởng nào rồi cũng ở cái nồi cơm, niêu cá!” Nếu xưa có kẻ si tình than thở: “Than ôi, chí lớn trong thiên hạ không đầy đôi mắt mỹ nhân” thì nay, những đảng viên cộng sản trung cấp và trung kiên than thở: “Than ôi, lý tưởng cộng sản và chủ nghĩa Mác-Lê không đầy cái nồi cơm”! Xin có lời chia buồn muộn màng với Marx, với Engels dưới lòng đất; với Lenine, với Hồ Chí Minh trong hòm kính đìu hiu.

“Với cộng sản, nhiều người muốn chết mà cứ bị sống khi họ đã bị đánh dấu.” Tôi không biết nên tin câu này như lời dọa nạt sinh tử hay lời căn dặn chân tình. Thôi, đành tin Trời Đất khi đã hết dám tin ai. “Trong tù, tuyệt đối không tin ai”. Người công an già miền Nam bắt tôi luôn luôn nhớ thế. Tôi vốn ham ngạo báng cả thần thánh lẫn ma quỷ. Trên đường mưu sinh, ở đoạn nào đó, người ta chỉ gặp may mắn và may mắn, người ta bỗng quên số phận mà chỉ tin vào tài năng. Đến lúc tuột dốc, người ta chợt tỉnh ngộ và người ta ngây thơ bấu víu lấy cái thiêng liêng vô hình để hy vọng. Buổi sáng ngày 8-4-1976, tôi đi tìm thấy bói Kim ở đường Chị Lăng, Phú Nhuận một lần nữa. Ông thầy bói mù gieo quẻ dịch. Đồng tiền bắn ra khỏi đĩa. Gieo lại. Bấm. Đoán.

– Trốn đi!

– Cụ đã bảo mệnh vững?

– Mệnh vẫn vững nhưng hôm nay nhằm ngày rất xấu của Mậu Dần tức là vợ ông. Trốn đi chừng ba tháng sẽ thoát tù tội.

– Nếu không trốn?

– Sẽ bị bắt trong ngày hôm nay!

– Rồi sao?

– Cũng sẽ về thôi. Vài năm đấy.

– Mấy năm?

– Không thể rõ. Đừng lo chết trong tù, bảo đảm mệnh vững. Ông Mạnh Côn mới nguy.

– Chắc chắn mệnh vững?

– Chắc chắn. Bị bắt thì đừng quên Thường Tung: “Mềm còn, cứng mất”!

– Cám ơn cụ.

Buổi chiều 8-4-1976, đánh đu với số mệnh và cũng chẳng vất vợ con cho ai, tôi nằm nhà. Và bị bắt. Đúng quẻ Dịch của thầy bói Kim. Đã tin cụ Kim, tôi càng tin mệnh mình vững. Mà nó không vững thì cũng đành như tên một cuốn sách của Dương Nghiễm Mậu: Cũng đành. Tôi lại thở than với Nguyễn Du:

Cũng đành nhắm mắt đưa chân
Thử xem con tạo xoay vần ra sao.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 17 Jun 2024

Phần 7

Để tôi đếm lại cho chính xác những nhà văn, nhà thơ bị bắt trong chiến dịch 2-4-1976.

Doãn Quốc Sĩ
Dương Nghiễm Mậu
Lê Xuyên
Nguyễn Mạnh Côn
Mặc Thu
Nhã Ca
Trần Dạ Từ
Thái Thủy
Hoàng Anh Tuấn
Thế Viên
Duyên Anh
Vũ Hoàng Chương

Chỉ có từng ấy người bị còng tay dẫn vào tù, bị nhốt chung với ăn trộm, ăn cắp, vượt biên, tư sản mại bản và đảng phái trốn trình diện. Chỉ từng ấy người bị công an chấp pháp quần thảo tơi tả và bị Hai Phận vĩ đại dạy học ở Sở Công An. Trong số những người ấy, tội nghiệp nhất Thế Viên. Anh ta chẳng có tội tình gì cả. Anh ta làm nghề dạy học và làm thơ ca ngợi tình yêu. Từ Nha Trang, anh ta mò vô Sàigòn thăm Doãn Quốc Sĩ, ăn cơm trưa nhà Sĩ. Đừng níu bạn lại uống cà phê, nghe nhạc thì bạn thoát6 năm tù lãng nhách. Vì Sĩ hiếu khách quá, Thế Viên đã gặp lại học trò cũ của mình đến bắt Sĩ và lũ học trò đốn mạt đó đã sẵn còng, còng luôn thầy mình. Cách mạng 1945, học trò của nhà văn Lan Khai bỏ thầy vào cái bao tải, buộc đá, liệng thầy xuống sông. Cách mạng 1975, học trò của thi sĩ Thế Viên còng tay thầy đẩy vào tù! Vẫn thứ cách mạng tồi tệ đó. Nó đã anh dũng sát hại một nhà thơ tài hoa của dân tộc là Vũ Hoàng Chương. Ôi! Vũ Hoàng Chương, người thi sĩ gió thổi mạnh là bay theo gió, người thi sĩ mình hạt vóc mai, mà cả Đảng Cộng Sản Việt Nam cộng với “chủ nghĩa bách chiến bách thắng” mới giết nổi khi đã còng tay đưa vào tù thì thi ca của họ Vũ phải vinh tồn bằng trăng sao vạn kỷ. Và chủ nghĩa cộng sản phải dùng danh từ gì để cực tả lòng khinh bỉ? Hai tiếng chó đẻ, có lẽ, đắc ý nhất. Tôi nghĩ những người cộng sản sẽ không phản đối. Bởi vì, tự bản chất họ đã bộc lộ niềm khao khát làm người. Hãy nghe họ mơ ước.

Nếu là chim, tôi sẽ là loại bồ câu trắng.
Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương.
Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm.
Nếu là người, tôi sẽ chết cho quê hương.

Họ chưa là người. Họ đang mong làm người. Bảo họ là chó đẻ, có khi họ rất hồ hởi, phấn khởi! Nhưng đừng nói thật với Hai Phận vĩ đại. Những ngày tạm ngụ tại địa chỉ của chủ nghĩa, các bạn sang đề lao Gia Định gần hết, chúng tôi buồn lắm. Cửa sắt là chỗ ngồi “rửa mắt” của Dương Nghiễm Mậu và tôi. Tôi đã gặp Nguyễn Sĩ Tế mặc quần xà lỏn, cởi trần, ngồi hớt tóc. Anh ta gầy ốm, hom hem. Nằm cachot riết, nước da anh xanh tái. Tên tập truyện Chờ sáng đã vận vào người anh. Anh nằm trong cachot tối tăm như cuộc đời tối tăm mà chờ sáng. Nguyễn Sĩ Tế bị bắt trước tháng 4-1976. Bị bắt cùng ngày, cùng vụ với anh còn có Đặng Lê Kim, giám thị trường Trường Sơn, quản lý tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa. Anh Nguyễn Sĩ Tế dính líu vào một tổ chức chống cộng sản sau 30-4-1975. Không biết anh có mời ông “nhà văn” nọ tham gia tổ chức của anh không mà, vì ông ta là thầy giảng dạy triết học ở trường của anh, em vợ Hưởng Triều Trần Bạch Đằng, được Trần Bạch Đằng cho “nằm vùng” báo Tin Sáng của bọn Ngô Công Đức, đi Bắc về Nam như … đảng viên, nên người ta nghi ngờ ông “nhà văn” nọ đã gài bẫy anh. Y hệt trường hợp luật sư nằm vùng Đỗ Hữu Cảnh đã gài bẫy đưa bạn cũ của mình là Dương Đức Dũng, Đoàn Kế Tường cùng cô Phan Vô Kỵ vào tủ. Ít nhất, Đỗ Hữu Cảnh, bí danh Ba Sơn, đã chỉ điểm cộng sản bắt gần một ngàn sinh viên, học sinh phản động. Anh Tế rất phờ phạc, buồn bã. Anh thấy chúng tôi, lắc đầu chán nản. Chúng tôi gặp Nhã Ca đi tắm, cười toe toét.

Tôi tưởng Ba Trung quên hẳn tôi. Không dè nó lại gọi tôi ra.

– Hôm nay anh gặp lãnh đạo của tôi, đồng chí Giám đốc.

Ông Mai Chí Thọ, con cháu ngài Tổng Đốc Nam Định Phan Đình Hòe, em ruột ông Lê Đức Thọ, gặp tôi! Chỗ ông ta ngồi là chỗ của Trang Sĩ Tấn ngày xưa. Chức Giám đốc Sở Công An của Mai Chí Thọ là chức nổi, ông ta nắm toàn bộ lực lượng vũ trang miền Nam. Ông ta niềm nở mời tôi ngồi, sai cán vụ bưng nước, mang thuốc lá Thăng Long chiêu đãi tôi. Ông ta thân mật khiến tôi sửng sờ.

– Thế nào, Duyên Anh?

– Bình thường, thưa ông Giám Đốc.

– Giam giữ anh em nhà văn là khuyết điểm của anh em chúng tôi nhưng bắt buộc phải làm vậy. Duyên Anh có buồn không?

– Thưa ông, tôi không được phép buồn.

– Đừng khách khí, Duyên Anh. Tôi đọc Duyên Anh nhiều. Mây mùa thu tình tự dân tộc lắm. Luật hè phố rất hay. Tại sao không viết như thế mãi mãi?

– Vì độc giả của tôi cần thay đổi. Và tôi cũng cần thay đổi.

– Đáng tiếc. Trước đây, Duyên Anh định viết 10 cuốn truyện căn cứ vào “10 điều tâm niệm của học sinh tiểu học”, bây giờ, liệu có cảm hứng viết 5 cuốn truyện nhi đồng, căn cứ vào “5 điều dạy học sinh” của Hồ chủ tịch không?

– Tôi sợ viết văn rồi.

– Tại sao?

– Viết văn đã gây ra tại họa cho tôi.

– Đáng tiếc. Duyên Anh muốn làm gì?

– Thưa ông, tôi thật chưa biết sẽ nên làm gì.

– Anh em trong phòng ra sao?

– Bình thường cả.

Mai Chí Thọ thăm hỏi anh em tôi ngoài Bắc và vợ con tôi trong Nam. Câu chuyện kéo dài gần một tiếng. Và chỉ có thế. Ông ta tỏ ra hết sức lịch sử và kẻ cả. Ông ta hơn tôi tuổi tác, kinh nghiệm chiến đấu và kiến thức chính trị. Ông ta thua tôi nghệ thuật viết văn. Cái mà ông ta đang hơn tôi rõ rệt là ông ta có quyền giam nhốt tôi. Chưa chắc ông ta đã có quyền tha tôi. Về phòng, tôi kể cho Dương Nghiễm Mậu nghe.

– Thằng ấy cáo già thật, Mẫu nói. Nếu nó gọi tôi, tôi cũng không thể trả lời khéo hơn ông. Mình cứ tùy cơ ứng biến. Ông mà nhận lời viết, nó sẽ khinh ông. Cộng sản gộc, nó cao ngạo lắm. Mình ở vào cái thế hết lạy nó được rồi. Tôi và ông thống nhất điểm này: Mình sẽ nhận hết tội với Đảng và cách mạng, không nhận tội với nhân dân. Với nhân dân, chúng ta vô tội. Nhân dân đâu có kết tội chúng ta. Và nữa, chúng ta chống Đảng, chống cách mạng, không chống nhân dân. Chúng nó bị thực dân bắt cũng nhận tội hết. Sự tồn tại là cần thiết, tiểu tiết bỏ đi. Tồn tại để viết, nhẫn nhục để viết. Chết ngu là bất trí.

– Nó chiếu cố mình thì hơi phiền.

– Phiền gì? Nó hiểu ông có ảnh hưởng sâu rộng với tuổi trẻ hơn nhiều anh em khác. Nó sẽ làm ông điêu đứng về mọi mặt. Có vinh quang nào không phải trả giá bằng xương máu? Tôi xin ông một điều.

– Chi?

– Ông bớt nóng tính đi. Bữa nọ tôi thấy ông chửi thằng tư sản mại bản Chợ Lớn thật đúng vì quyền lợi tập thể. Ông còn tiếp tục vì quyền lợi tập thể, ông sẽ hố. Tôi nhắc để ông nhớ châm ngôn tù mà ông đã từng viết “Bạn tù, tình nhà thổ. Trong tù thấy chuyện bất bình thì câm”. Ông ưa bầy tỏ chính kiến quá. Cái chính của ông sẽ bị cái at át giọng. Về tư tưởng bất đồng, người ta có thể giết nhau, huống chị nói xấu lẫn nhau.

– Cám ơn ông.

Dương Nghiễm Mậu ít tuổi hơn tôi, ít học ở nhà trường như tôi, nhưng Mậu điềm đạm hơn tôi. Một nhà văn thuần túy thì chỉ có người thích và người không thích. Một nhà văn đi làm nhật báo ồn ào, đụng chạm tứ tung, thì nhiều người yêu và lắm kẻ ghét. Dương Nghiễm Mậu hạnh phúc hơn tôi. Vì không ai ghét Mậu cả. Vì Mậu đã không làm nhật báo ồn ào. Ở đời, có những điều mình muốn mà chẳng được, có những điều mình chẳng muốn mà bị muốn, bị cuốn hút vào quỹ đạo mong muốn của người khác. Tôi đã không muốn làm báo, viết báo. Thuở còn ngồi tiểu học, thầy giáo cho bài luận: “Lớn lên anh làm gì?”, tôi đã khước từ chọn lựa nghề nghiệp vì tôi lười, tôi dốt, tôi không thể làm bài luận hóc búa ấy. Lớn lên, theo Duy Dân, được biết phái xuống Long Xuyên dạy học bất đắc dĩ, tôi bỗng yêu nghề dạy học. Sự yếu mến nồng nàn này tôi đã diễn tả trong Ngựa chứng trong sân trường. Rất tiếc, tôi còn quá trẻ và cần mảnh bằng tú tài. Tôi trở về Sàigòn học thi tú tài. Định mệnh xui tôi đến cái lớp chuyện dạy Việt văn của giáo sư Lữ Hồ Nguyễn Minh Hiền, sau này là biên tập viên ở những báo tôi làm chủ bút. Tôi đứng ngoài, nghe Lữ Hồ nói phét câu giờ dễ sợ. Lữ Hồ hơn tôi vài tuổi. Anh có thêm tài vẽ. Anh vừa vẽ vừa giảng văn chương. Tôi nghĩ không nên có anh chàng nầy làm thầy mình. Và tôi bỏ mộng thi tú tài, bỏ mộng làm thầy giáo. Nếu tôi có tú tài, tôi sẽ vào trường Bộ Binh Thủ Đức, chẳng hiểu đời mình sẽ là cái gì! Loay hoay ít lâu, tôi viết truyện ngắn. Nhờ truyện ngắn, tôi thành anh công chức. Nhờ đảo chính 1-11-1963, tôi thành anh nhà báo và thành người sửa bài, viết giùm giáo sư văn chương Lữ Hồ. Giáo sư viết yếu quá. Tôi tưởng tôi sẽ chỉ viết những truyện hiền hòa như Hoa thiên lý, dễ thương như Thằng Vũ, nồng nhiệt như Bồn Lừa, êm đềm như Mây mùa thu. Ai ngờ tôi lại phải viết Điệu ru nước mắt, Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang, Trần Thị Diễm Châu. Và, theo đà cuốn hút của thời đại, của những đòi hỏi của chủ nhiệm nhật báo, tôi biến thành cha đẻ của loại phóng sự chính trị nham nhở, sống sượng. Cuộc mưu sinh của tôi thật khó khăn. Tôi phải tự lắp sừng nhọn vào đầu tôi mà húc, mà tranh đấu với cuộc sống vốn chẳng tử tế gì. Sách của tôi xuất bản, không ai thèm nhắc tới. Thỉnh thoảng cũng có người phê bình thì cũng khen chê kiểu “bình thường hiện thân”. Bọn sa-đích phê bình văn nghệ rẻ tiền – chữ của Nguyên Sa – không dám đụng đến tôi. Vì tôi có sừng nhọn Thương Sinh của nhiều nhật báo. Châm ngôn của tôi hồi đó: “Thằng nào cắn ông một miếng, ông cắn lại đủ 26 miếng nhân với 4!” Khi sách của tôi bán chạy nhất nước, tôi làm nhà xuất bản, tôi là con “cưng” của các nhà phát hành, tôi khá giả, bọn sa-đích văn nghệ quên làm tính nhân, quên luôn 50 tác phẩm bán chạy ròng rã 10 năm, tác phẩm tôi thức đêm viết, hút cả tấn khói vào phổi mà viết, dài tay ra mà viết. Tính vất đi, mỗi cuốn tôi hưởng lợi nhuận 500,000 đồng quốc gia, tôi đã có 25 triệu đồng rồi. 25 triệu nhỏ quá. 25 triệu tính bằng 1 tỉ chữ, càng nhỏ hơn. Tại sao chúng nó không dám thị phi những thằng thầu đổ rác, những thằng tham nhũng, những thằng thầu khoán chiến tranh? Mà lại chỉa mũi dùi bẩn đâm lén một thằng viết văn khá hơn chúng nó. Tôi phải tự võ trang sừng nhọn, vì thế. Sa-đích văn nghệ chơi tôi đủ kiểu. Chúng nó thấy các trường trung học trần thuyết sách của tôi, các trường đại học nghiên cứu sách của tôi, chúng nó điên lên, xếp tôi vào loại những nhà văn “không có gì để phê bình”. Sa-đích văn nghệ tự bào chữa cho chúng nó: “Sách của các ông bán ế vì độc giả ngu, không đủ kiến thức thưởng ngoạn!” Quý vị nhà văn tự cho mình lớn, tự cho mình là hàng đầu, đã giả vờ quên tôi, mặc dù, quý vị ấy chán tôi lắm, tại tôi đã “đánh đu văn chương”, tôi đã “thao túng văn nghệ” và đẩy quý vị ấy vào bóng tối. Tôi cần thiết có nhiều bút hiệu để viết báo. Để viết văn. Để quảng cáo tôi. Để bảo vệ tôi. Người như Cao thế Dung và Nguyên Sa thật hiếm. Lúc ấy, Cao Thế Dung viết: “Thằng Vũ là giải lụa đào trong văn học Việt Nam. Chỉ cần một Thằng Vũ thôi, Duyên Anh đã xứng đáng là nhà văn hàng đầu của văn học hiện đại”. Nguyên Sa viết: “Thằng Vũ là vàng mười của văn chương Việt Nam”. Trước khi sa cơ còn được đọc những lời tuyên dương lên mấy chém, tưởng cũng nên bằng lòng. Tôi giải thích tại sao lại có Thương Sinh: Vì cuộc sống nhiều sa-đích văn nghệ. Tôi trả lời bạn hữu tôi, sẽ còn Thương Sinh nữa không: Còn chứ, vì sa-đích văn nghệ vẫn rình rập tôi, sa-đích mà Nguyên Sa đặt tên mới là Thiện Mông Cổ. Tôi bằng lòng hơn khi biết mình đã có nhiều đồ chơi lạ mà sa-đích văn nghệ thì cứ đếm nút khoen và đẩy lon sữa bò! Tôi bằng lòng hơn nữa, khi thấy hàng tỉ chữ cộng sản dùng để chửi bới nhà văn, nhà thơ lừng lẫy Sàigòn, đã chẳng có chữ nào họ bố thí cho sa-đích văn nghệ. Cuối cùng, tôi rút một kinh nghiệm: Ở nước tôi, càng nổi tiếng bao nhiêu, càng tai họa bấy nhiêu, bất cứ lãnh vực nào. Riêng lãnh vực báo chí, văn nghệ là tồi tệ nhất.

Và tôi đã tiếc không chịu ẩn dật như Dương Nghiễm Mậu, không vô vi như Dương Nghiễm Mậu, Ôi! Định mệnh đã an bài! Cái triết lý mất vợ của ông Tý Con thật tuyệt diệu. Nguyễn Mạnh Côn, hai tháng trước khi bị bắt, tâm sự với tôi hết sức tỉnh táo:

– Tôi rất tiếc trường hợp câu.

– Anh tiếc cái gì?

– Khi không cậu chống chính quyền rồi cậu chống cộng sản.

– Anh hối hận đã chống cộng sản à?

– Tôi chỉ nói cậu thôi.

– Tôi đâu có ân hận.

– Nếu cậu không chống chính quyền, chống cộng sản, chỉ riêng những sách viết về tuổi thơ, cậu là nhà văn của dân tộc, hoàn toàn thuộc về dân tộc. Cậu tin tôi đi, cộng sản không ngu đâu, nó sẽ dùng cậu viết về tuổi thơ.

– Tuổi thơ của Bác?

– Cậu cứ đùa cợt hoài.

Trên vỉa hè Tự Do, ở một quán cà phê lề đường, Cao Dao gặp Mai Thảo và tôi. Anh nói:

– Nghề nghiệp của các cậu chấm dứt rồi. Họ có cho viết, anh nào ham viết sẽ nhục với chữ nghĩa. Bởi các cậu không viết theo kiểu của họ nói. Họ không có tiểu thuyết. Trừ Duyên Anh, nếu Duyên Anh viết thuần túy về tuổi thơ loại Thằng Vũ, Bồn lừa.

Tôi có thể nói Hà Nội thèm một người việt truyện trẻ con như tôi mà không sợ lộng ngôn. Ba mươi năm xã hội chủ nghĩa ưu việt, tính đến tận hôm nay, nhà xuất bản Kim Đồng, với sự hỗ trợ của Đảng và Nhà Nước, đã cung cấp rất nhiều sách cho thiếu niên, nhi đồng nhưng chỉ là loại sách mỏng và không làm say mê độc giả tuổi nhỏ. Những người viết tung ra hàng nghìn mẫu dũng sĩ tẻ nhạt, không một cá tính riêng biệt mà chỉ có … đảng tính (Đảng tính là yếu tố cần thiết trong văn học Mác xít). Do đó, độc giả tuổi nhỏ không thấy một chút gì về họ. Họ không tìm ra họ trong xã hội truyện của nhà Kim Đồng. Đừng tưởng những người viết cho Kim Đồng hay các nhà xuất bản sách thiếu nhi khác không được tự do viết. Họ không thể viết được truyện tuổi nhỏ. Chẳng tin, cứ bảo Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ thử viết truyện Dzũng Dakao thôi, xem nó ra sao. Viết truyện tuổi thơ rất khó. Đẩy nhân vật tuổi thơ vào vũ trụ tiểu thuyết với thời tiết, sân chơi, trò chơi, ngôn ngữ của tuổi thơ càng khó. Bởi vậy, cả nước Mỹ chỉ có Mark Twain với Tom Sawyer bất hủ. Trước 1945, chúng ta có ba nhà văn viết truyện tuổi thơ: Tô Hoài, Nguyễn Đức Quỳnh và Lê Văn Trương. Tô Hoài đã làm say mê thiếu niên thời đó với những truyện loài vật và sâu bọ. Từ O Chuột đến Chuột thành phố, Dế mèn, Dế mèn phiêu lưu ký, Tráng sĩ bọ ngựa, Tô Hoài vẫn chỉ là người biết nhân cách hoá loài vật, sâu bọ một cách tài tình, duyên dáng, vẫn chỉ là người viết cho tuổi thơ. Đúng nghĩa: những truyện kể trên viết cho độc giả tuổi nhỏ giải trí. Nguyễn Đức Quỳnh là nhà văn đầu tiên ở Việt nam muốn đưa tuổi thơ vào tiểu thuyết như những nhân vật đầy đủ yếu tố nhân vật tiểu thuyết. Những Thằng Kình, Thằng Cu So của ông chưa thật sự sống đúng với tuổi thơ của nó vì ngôn ngữ và sự suy nghĩ của chúng nó còn đầy dáng dấp người lớn. Cái khó của người viết về tuổi thơ là thiếu một vùng ánh sáng soi rõ lối về của quá khứ mình và không thể sống lại tuổi thơ của mình như nhân vật đang vùng vẫy trong tiểu thuyết của chính mình. Lê Văn Trương với Anh em thằng Việt, Thằng Việt nghỉ hè thì nặng nề triết lý người hùng, tuy đã hấp dẫn và cảm động. Những người viết truyện tuổi thơ đều quên rằng độc giả tuổi nhỏ của họ thích sang trang, sang trang và khoái đối thoại. Chi tiết rườm rà, ý nghĩ triền miên làm họ chán nản vì họ phải đậu lâu một chỗ, trong khi, như con chim mới ra ràng, họ thèm chuyền nhảy liên miên. Nhưng Thằng Kìnhvà Anh em thằng Việt, với riêng tôi, đã là cảm hứng tuyệt vời để có Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy, Thằng Khoa, Thằng Vọng … Sau đó, chúng ta có Nhật Tiến. Những truyện về trẻ em mồ côi, Chim hót trong lòng, chẳng hạn, rất hay nhưng rất sầu thảm. Mà tuổi thơ cần thiết sân trường, sân cỏ, bóng nắng, tiếng cười hơn là khung cảnh cô nhi viện buồn bã. Chúng ta còn thêm Lê Tất Điều thổi cảm xúc vào đồ vật khá tinh tế và đầy nghệ thuật. Và chỉ có thế, về những người viết truyện cho tuổi thơ. Tôi rất tự hào về nhà xuất bản Tuổi Ngọc của tôi, với vốn liêng của cá nhân tôi, với khả năng làm việc của riêng tôi, không có Nhà Nước, không có Đảng tung tiền “trồng người”, chỉ có Bộ Văn Hóa Giáo Dục với các ngài Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa, ngoài hát bội ca cải lương thì chẳng còn biết văn học nghệ thuật là cái gì, ngoài cái Trung tâm Học Liệu chỉ biết ấn loát sách dịch của Sartre, của Daudet thì chẳng còn biết in thứ gì thêm, mà tôi đã một mình một ngựa, vừa chống bọn sa-đích văn nghệ, vừa chống bọn “phối hợp nghệ thuật”, vừa chịu sự lạnh nhạt của các nhà văn tư tưởng, triết học, siêu hình, cô đơn, hiểm hóc, khều mặt trời “Tôi có thể đến giòng sông, bà ta có thể đến giòng sông; chưa chắc tôi đã đến giòng sông, chưa chắc bà ta đã đến giòng sông, bởi vì, chưa chắc đã có giòng sông!” để hạ gục bảng hiệu Kim Đồng và 30 năm hoạt động của nó. Cộng sản Việt Nam có Hồ Chí Minh vĩ đại, có chiến thắng Điện Biên Phủ, có đại thắng mùa xuân, nhưng đã không có nổi một Bồn Lừa.

Nguyễn Thanh Trịnh, giải thưởng văn học nghệ thuật về bộ môn kịch, tác giả Ví dụ ta yêu nhau, mà tôi viết tựa, sau nầy hợp tác với tuần báo Tuổi Trẻ, cơ quan ngôn luận của Thành Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, đã gặp tôi khi tôi rời trại tập trung. Trịnh có bút hiệu mới: Đoàn Thạch Biền. Dù hợp tác với Tuổi Trẻ, Trịnh vẫn quý mến tôi như thuở tôi “lăng xê’ Nguyễn Thanh Trịnh trên Tuổi Ngọc. Trịnh cho tôi biết, nhà xuất bản Tuổi Trẻ đã thuê Hoàng Ngọc Tuấn viết một truyện tương tự Bồn Lừa. Tuấn đẻ ra nhân vật Hoàng keo, bắt bóng dính hơn Chương còm. Cuốn sách đã xuất bản và chìm trong sự rửng rưng của độc giả cũ và mới. Trịnh còn cho biết, trong phiên họp kiểm điểm cuối năm 1981 của Tuổi Trẻ, đồng chí Bí thư Thành Đoàn thanh niên đã nêu một thắc mắc:

– Tại sao giải phóng đã sáu năm rồi, ảnh hưởng văn nghệ của bọn nhà văn cũ đã bị tận diệt rồi, chúng ta đầy đủ cơ hội thuận lợi, mà vẫn chưa tạo nổi một người viết làm say mê tuổi trẻ, tuổi thơ như thằng Duyên Anh?

Một câu tương tự, chính mắt tôi được nhìn người nói và nghe ông ta trên ti vi, hồi tôi ở Z30D và ở đội vệ sinh chuyên nghề xúc phân ở bệnh xá. Người nói là ông Thứ trưởng Bộ Văn Hóa:

– Tôi không hiểu tại sao, ngót sáu năm hết bóng quân thù rồi, mà ở Sàigòn và các tinh phía Nam, các thầy cô vẫn để hoc sinh viết lưu bút, lưu niệm cuối năm bằng thứ văn chương lãng mạn, tiêu cực, ảnh hưởng nặng nề văn nghệ đồi trụy Mỹ Ngụy? Không riêng gì học sinh cấp ba và đại học, chính một số các thầy cô vẫn còn say mê đọc tiểu thuyết của bọn nhà văn phản động như Duyên Anh, Mai Thảo, Nhã Ca …

Nhiều anh em được nghe, hôm ấy, đã lo sợ giùm tôi. Nhiều anh em tuyên dương:

– Duyên Anh, sáu năm bốc cứt mà vẫn còn thơm!

Tôi hiểu vì đâu Nguyễn Mạnh Côn “rất tiếc” trường hợp của tôi, vì đâu Ba Trung nhận lệnh lãnh đạo của nó gợi ý cho tôi “Đảng không bắt anh phải phục vụ Đảng, Đảng muốn anh đem tài năng của anh phục vụ quê hương, đất nước”. Vì đâu Mai Chí Thọ “đáng tiếc” là tôi đã không chỉ viết Mây mùa thu, Luật hè phố. Tự tôi, tôi cũng đáng tiếc cho tôi. Đáng tiếc tôi đã bước vào nghề văn chương một cách bất đắc dĩ. Đáng tiếc cái đáng tiếc của Nguyễn Mạnh Côn và Mai Chí Thọ. Ở quê nhà, tôi đã không viết truyện về tuổi thơ (sở trường của tôi, mọi thứ khác là sở đoản, là những thứ tôi thua kém tất cả) cho độc giả tuổi nhỏ của tôi đọc mà say mê, mà tung tăng theo nhân vật của tôi trong không gian hoa ngàn cỏ nội. Tôi đã tưởng, chút tài năng cuối mùa của tôi còn được phục vụ độc giả tuổi nhỏ của tôi ở quê người. Và tôi đã đánh đu với sự chết, xuống thuyền gỗ vượt biên. Tôi thấy gì bên kia dốc mơ? Toàn bộ tác phẩm của tôi bị ăn cướp. Bọn xuất bản gian manh “đồng bào”của tôi đã kiếm cả triệu đô la bằng 15 năm thao thức suy tư, bằng 6 năm quằn quại tù ngục của tôi mà không trả tôi cắc nào, không hỏi tôi nửa lời. Tôi thấy gì nữa? Tác phẩm của tôi, bày bên cạnh nước mắm, rau cỏ ở các tiệm chạp phô! Tôi thấy gì nữa? Văn hữu của tôi phải làm các nghề vớ vấn để mưu sinh. Và, đau đớn nhất, tôi chẳng còn độc giả nhỏ để chăm chút văn chương bồng bế cho họ nữa. Họ đã quên hết tiếng và chữ Việt Nam rồi! Tôi sẽ viết thẳng John, thằng Bob hay thằng Mít ngọng? Ai đọc tôi? Tôi là một nhà văn tội đồ ở quê nhà, một nhà văn cùng đồ ở quê người. Một nhà văn bị cấm viết thì đáng kiêu hãnh. Một nhà văn không bị cấm viết mà không viết được vì không ai đọc cả thì đau đớn khôn cùng. Bởi thế, những nhà văn lừng lẫy của chúng ta đã không có gì đáng kể sau mười năm xa xứ. Bởi thế, những nhà thơ nồng nàn của chúng ta không có gì đáng kể sau mười năm xa xứ. Và nhân danh “bảo tồn văn hóa”, nền văn hóa Việt Nam được tha thiết bảo tồn ở hải ngoại chỉ còn ông Kim Dung và bà Quỳnh Dao, người Trung Hoa! Và những thứ tiểu thuyết nhảm nhí mà chính chúng ta đã muốn khu trừ khi chúng ta chưa mất Sàigòn. Và lại ‘tiền chiến” với thơ Xuân Diệu, kẻ hàng ngày chửi rủa chúng ta, kẻ to tiếng miệt thi “ngụy quân, ngụy quyền” xấc láo. Tôi lại hiểu tại sao Boris Pasternak phải van lạy Khroutchev để xin khỏi bị trục xuất, tại sao Soljenitsyne chỉ rời nước Nga khi bị đuổi đi. Tôi đã quên lời linh mục dòng Tên ở Đắc Lộ, người Basques, an ủi tôi và khích lệ tôi sau 30-4-75: “ Hãy can đảm như những nhà văn Xô Viết!” Tôi hoàn toàn thiếu can đảm, không dám ở lại Việt Nam. Vì tôi thương vợ con tôi lưu lạc xứ người. Vì tôi sợ bị bắt nữa.

Mỗi hoàng hôn của một thời đại đều có những nghịch cảnh não nùng cho những người làm văn chương. Đã thấy một Tản Đà coi bói và “nhận viết quảng cáo vui buồn trong xã hội” mưu sinh. Lại thấy Lê Xuyên đạp xe cà-là-dỉ đi bỏ bánh mì ngọt rẻ tiền khắp vỉa hè Sàigòn. Nguyễn Thụy Long bán phụ tùng xe đạp. Dương Nghiễm Mậu mài tranh. Trần Lê Nguyễn, Đỗ Tấn bán báo. Nhã Ca bán cà phê. Hoàng Hải Thủy làm hoa vải. Trần Tuấn Kiệt viết thư thuê ở Bưu Điện! Ở Sàigòn đấy. Những người khác đang làm gì bên Mỹ, tôi không biết. Riêng tôi, ở Paris, định xin chân gác dan ban đêm, bằng hữu thương quá cho một chân đánh máy chữ. Mắt đã mờ vì tù và già, đánh máy chữ hết nổi, bằng hữu bảo nằm nhà viết truyện. Tôi đã vừa hết một năm ăn lương thất nghiệp của nước Pháp. Sự giúp đỡ của bằng hữu không đủ chi dùng. Bèn vẽ thêm nghề viết quảng cáo cho nhà sản xuất băng nhạc kiếm rượu, soạn nhạc kiếm gạo, diễn thuyết kiếm vé du lịch, vân vân và vân vân …

Hình như tôi mộng du quá tường nhà tù. Tôi trở lại với Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Hồng Dương và một người bạn mới gia nhập làng xuất bản là ông Đặng Hải Sơn. A, tôi có thêm ông Khai Trí. Tại sao ông Khai Trí mà cũng bị bắt? Giản dị lắm, vì ông ta giàu. Với cộng sản, giàu lương thiện hay giàu bất lương đều chung một tội: Tư sản. Xuất thân, ông Khai Trí rất nghèo. Phong trào di cư 1954 và sự mở mang giáo dục, sau đó, đã đưa nghề bán sách của ông phát đạt. Ông xây nhà cao lớn. Ông xuất bản tự điển, sách giáo khoa và đủ mặt sách. Ông có 9 kho sách vĩ đại. Mỗi kho là một ngân hàng, vốn lời vô tả. Khác với những người bán sách, xuất bản, ông Khai Trí theo chủ nghĩa snobisme, tỏ ra thích sưu tầm sách báo cũ. Ông đã từng lặn lội xuống lục tỉnh mua sách báo cũ nếu có người gởi thư đòi bán. Tầng thứ ba của tòa nhà Khai Trí, đại lộ Lê Lợi, là thư viên Khai Trí đầy đủ Nam Phong, Tri Tân, Đông Dương tạp chí, Phong Hóa, Ngày Nay, Tiểu thuyết thứ bảy… từ số ra mắt đến số đình bản. Sách thì vô kể. Ông có cả sách ấn loát giấy bán của “phường” nầy, “phường” nọ … Tóm lại, thư viện của ông chỉ thua lượng, chứ không thua phẩm Thư Viện Quốc Gia. Nhưng ông chỉ ngắm sách cho sướng mắt, riêng ông, không cho ai đến mượn đọc cả. Ông cũng ít thiện cảm với nhà văn và tỏ ra hep hòi chi tác quyền. Thường thì ông mua bản thảo vì cảm tình, vì tội nghiệp, rồi không xuất bản. Vào tù, mất hết cả, ông mới hối hận cung cách sống chỉ biết đếm bạc của ông. Sự tình đưa ông Khai Tri vào nhà tù và mất nốt nhà sách Khai trí chỉ tại cái thư viện riêng và chủ nghĩa snobisme. Thứ trưởng Văn Hóa Lâm Thời Miền Nam Thanh Nghị thèm rinh thư viện Khai Trí. Giám đốc Sở Thông Tin Văn Hoá cũng thèm. Nhiều đứa thèm. Không đứa nào dám ăn mảnh. Rốt cuộc, chúng nó chụp mũ “tư sản mại bản” lên đầu người bán sách cần kiệm. Và đám côn quang văn hóa đã xông vào thư viện Khai Trí, lượm mỗi đứa một mớ đem về làm … tư hữu. Quân vô sản thèm tư hữu. Chúng nó đã ỉa lên chủ nghĩa của chúng. Chúng đã, với riêng ông Khai Tri, làm tan nát công trình sưu tầm sách báo ròng rã 40 năm của ông. Khai Trí vào tù mang theo bịnh trị và vỏn vẹn 10 đồng bạc. Tôi không hiểu kinh nghiệm Khai Trí có làm sáng tâm hồn những người đang kèn cựa, tàn sát đồng hương ở Mỹ, ở Pháp, ở Úc để làm giàu? Cuộc đời thật phù ảo. Hữu đấy rồi vô đấy. Sắc đấy rồi không đấy. Hạnh phúc và niềm vui cá nhân xem chừng mỏng manh quá. Cái tiểu ngã phải nhập vào cái đại ngã thì mới hạnh phúc vĩnh cửu. Khi tôi thấm cái triết ly sống đẹp đẽ đó, tôi đã thành kẻ lưu đầy, lo tiền nhà, tiền gạo, tiền điện, tiền gaz, tiền vé metro chưa xong, nói chi đến sự đóng góp hoặc chia xẻ hạnh phúc của mình cho mọi người.

– Tôi chỉ còn tiếc cái thư viện của tôi, ông Khai Trí nói.

– Tiếc làm gì, ông Khai Trí, tôi nói.

– Làm sao có lại nó?

– Ồ, người ta làm ra sách, sách đâu có làm ra người. Quý hồ ông còn sống để lập thư viện.

– Tôi sẽ lập thư viện công cộng.

– Nếu như thư viện của ông đã là thư viện công cộng, ông không mất nó, không bao giờ mất nó.

– Tôi hiểu ý ông rồi, ông Duyên Anh ạ!

– Tôi cũng mới hiểu cái ý của tôi, từ khi vào tủ. Mỗi chúng ta cần nhiều suy nghĩ. Điều duy nhất để tôi yêu ông, tâm sự với ông hôm nay là, sau 30-4-75, tôi thấy ông đi trên vỉa hè Saigon, mua tất cả các tạp chí Văn đóng bộ, tuần báo Tuổi Ngọc đóng bộ, tạp chí Bách Khoa đóng bộ… Khi chữ nghĩa của 20 năm văn học nghệ thuật Sàigòn bị dẫm nát bằng dép râu hỗn xược, còn một người biết đau đớn đi nhặt nhạnh, nâng niu, cất dấu, dù không đọc, hỏi sao tôi không xúc động.

– Trước đây, ông ghét tôi?

– Ông cũng chẳng yêu gì tôi.

– Chúng ta không hiểu nhau.

– Có thể.

– Tại sao ông ghét tôi?

– Vì ông giàu. Tôi ghét hết bọn nhà giàu. Tôi cho bọn giàu là bọn bất lương, ích kỷ.

– Nay tôi nghèo rồi.

– Ông nghèo, tôi có giúp nổi ông đâu. Ông giàu tôi có xin được ông đâu.

– Tại sao ngày xưa ông không năng đến tôi?

– Tôi đã nói.

– Vì ông không đến tôi, ông kiêu ngạo nên tôi không ưa ông.

– Ông chẳng yêu ai cả.

– Bây giờ tôi yêu mọi người.

– Vẫn còn sớm.

– Tôi kết nghĩa anh em với ông được chứ?

– Được. Nhà tù kết nghĩa!

Tôi và Khai Trí thành anh em. Và tôi gọi ông là anh, xưng em. Tự nhiên, Khai Trí hỏi tôi:

– Theo chú, một người làm tuyên truyền giỏi phải như thế nào?

Hồi tôi làm Biên tập viên của Tổng Nha Thanh Niên, biệt phái ra làm báo Chiến Đấu, người ta bắt tôi nghiên cứu các phong trào thanh niên phát xit, cộng sản, Do Thái, vệ binh đỏ, thanh niên cứu quốc và những bài nói chuyện với thanh niên cộng hòa của ông Ngô Đình Nhu. Nhân đó, tôi phải nghiên cứu nghệ thuật tuyên truyền phát xít, cộng sản. Cộng thêm những điều tôi nhớ ở Cổ Học Tinh Hoa, Đông Chu Liệt Quốc và những “sáng tạo” của riêng tôi, tôi thao thao nói với chủ nhà sách Khai Trí. Câu kết luận, tôi mượn ý của ông Quản Trọng:

– Sáng chính nghĩa ở nước mình chưa đủ, phải chế chính nghĩa ra bốn phương. Người biết làm tuyên truyền còn làm được đạo diễn, đạo diễn từ tổng thống đến các bộ trưởng. Nữa, phải biết viết và biết thưởng ngoạn cái hay của người viết; phải biết nói trước quần chúng mà không cần mang kính đọc bài!

Chợt nhớ “nỗi sợ” của mình, tôi hỏi:

– Anh muốn biết làm gì?

Khai Trí đưa tay vỗ trán:

– Anh em họ muốn biết. Tiếc là hỏng hết rồi! Giả biết sớm hơn 1.

Tôi không tin Khai Trí dám dính líu đến một tổ chức nào. Có thể, trước năm 1975, Khai Trí được thăm dò bởi một người bạn nào muốn tham chính chăng? Nhưng, tôi nhớ không sai, một tháng sau 30-4-75, tôi nhận được một cú điện thoại. Người gọi cho tôi là giáo sư toán nổi tiếng, người miền Nam:

– Tạm chia buồn với ông. Hiện tại, ông không thể viết gì được, nhưng ông có nghĩ đến kinh nghiệm viết của ông dạy cho các bạn trẻ miền Nam không?

– Tại sao chỉ bạn trẻ miền Nam?

– Vì chỉ họ mới cần ông. Vì ông đã là người miền Nam, vợ con ông người miền Nam.

– Người miền Nam thiếu gì?

– Họ không hấp dẫn tuổi trẻ thành phố bằng ông. Họ không biết mở phong trào.

Thú thật, lúc ấy, tôi cần đề phòng. Mỗi ngày, người ta gọi dây nói mỉa mai hỏi tôi “Còn chống Cộng nữa không?”. Đến nỗi tôi muốn cắt dây điện thoại.

– Tôi mệt mỏi rồi. Tôi không thể làm gì được.

– Sẽ liên lạc với ông sau.

Tôi không hiểu người miền Nam này sẽ làm gì. Chỉ biết, buổi chiều 30-4-75, nón tai béo (giải phóng miền Nam) va nón cối (bộ đội miền Bắc) tranh nhau lượm súng đạn trên đường phố Sàigòn, mạnh ai nấy gom … chiến lợi phẩm. Và, ít ngày sau, một thông cáo ra lịnh cho bất cứ ai giữ vũ khí của “ngụy quân’ phải đem ra nộp, dù là quân giải phóng. Chưa có gì ổn định cả, cho đến nay, ở miền Nam. Hà Nội đã gài người của họ xuống tận cấp huyện. Rồi sẽ cấp xã. Bài hát “giải phóng miền Nam” đã bị cấm. Ngày kỷ niệm thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã bị xóa. Cả bài “Tiến về Sàigòn ta quét sạch giặc thù” cũng bị tiêu diệt luôn! Nhưng những người lính nón tai bèo lượm vũ khí Mỹ, đem đi đâu, họ đang ở đâu, thì vẫn còn là niềm bí ẩn. Rõ rệt nhất, ở các trại tập trung phía Nam, không hề tìm ra một công an cai ngục nào người miền Nam cả.

Chúng tôi có tin mừng: Trịnh Quới Tài chuyển trại. Một số can phạm hình sự chuyển trại. Thay vào là những can phạm phản động, trẻ có, già có, vị thành niên có. Sở Công An có một phòng nhốt đàn bà, con gái. Phòng quá hẹp nên mỗi ngày đều có chuyển tù nhân. Phòng A, cạnh chúng tôi, Trịnh Viết Thành, Anh Quân, Lê Xuyên đã đổi chỗ. Đinh Xuân Cầu và Nguyễn Văn Sao đi luôn. Nhã Ca rời bỏ cachot cùng Nguyễn Mạnh Côn. Còn một Nguyễn Sĩ Tế, bút hiệu Người Sông Thương, côi cút ở khu cachot heo hút, ghê rợn. Chúng tôi đã hết cảm giác khi nghe chìa khóa tra vào ổ ban đêm. Cũng chẳng còn buồn cười khi nghe Hai Phận vĩ đại giáo dục. Đây là bài học thứ ba của Hai Phận, chuyên viên cai tù từ năm 17 đến năm 50 tuổi. Y đếm niên đảng của y bằng những năm quằn quại, rã rượi của tù nhân.

– Hôm nay, tôi dạy các anh một bài học, về bước tiến bộ mới của cách mạng. Cuộc kiểm kê dân số sau bầu cử thành công vĩ đại, cho ta một sự so sánh vẻ vang: Dân tộc ta bằng dân tộc Pháp!

Ngừng lại một giây, Hai Phận nói:

– Dân số nước ta bằng dân Pháp rồi. Hơn 50 triệu đấy nhé!

Hai Phận rất tốt bụng. Ý muốn chúng tôi cười cho đỡ buồn. Tiếc rằng y chọc cười khiếp đảm quá nên chúng tôi tê dại cảm giác. Câu “mặt trơ trán bóng” phải dùng cho cộng sản mới đúng. Lãnh tụ mặt trơ một kiểu, cán bộ trán bóng một lối. Cái dũng sĩ, anh hùng; cái vĩ đại, vẻ vang của cộng sản là họ chẳng cần biết họ ngu hay không ngu. Họ cứ bắt dân chúng phải nghe, phải tin những gì họ nói. Và họ bảo đó là giáo dục của Đảng. Trên đời này, từ cổ chí kim, chỉ có những người cộng sản, mà Hai Phận là biểu tượng, là dấu ấn của thời đại, mới dám giáo dục sư tổ của y bằng những bài học buồn mửa. Nỗi nhục của con người khi bị thống tri bởi con vật là thế.

Bẵng vài bữa, Ba Trung lại gọi tôi.

– Đồng chí lãnh đạo của tôi rất có cảm tình với anh.

Tôi nhả khói thuốc:

– Ông ấy lịch sự lắm.

– Theo ý tôi, anh nên viết lại.

Chắc chắn, ông Mai Chí Thọ đã chỉ thị cho Ba Trung truy nã tư tưởng của tôi.

– Tôi đã thưa với ông giám đốc, tôi sợ viết văn rồi.

– Không viết văn, ra ngoài làm gì?

– Buôn bán lằng nhằng.

– Chế độ này rất ghét trung gian tiêu thụ. Anh đã biết, tất cả là quốc doanh mậu dịch.

– Thì về quê vợ làm ruộng.

– Ai cho anh ruộng? Ông già vợ của anh đâu còn là điền chủ nữa.

– Về vùng kinh tế mới.

– Nói thật đi, anh Duyên Anh, ra ngoài anh sẽ vượt biên, sẽ viết nguyền rủa chúng tôi.

Ba Trung không muốn tôi chột dạ vì câu nói trúng tim đen của nó. Nó rót thêm nước trà vào ly của tôi.

– Chuyện này anh cần biết.

– Tôi nghe.

– Nó thuộc về dĩ vãng. Từ năm 1972, Đảng đã muốn anh suy nghĩ lại. Miền Bắc đánh giá cao cuốn Mây mùa thu của anh, trong khi Bộ Thông Tin ngụy quyền kiểm duyệt và tịch thu. Anh có nghe ông Nguyễn Ngọc Lan diễn thuyết ở đại học Văn Khoa không?

Tôi không đi, nhưng tôi được đọc bài tường thuật. Linh mục Nguyễn Ngọc Lan (Hồi ấy, chưa có cởi áo dòng lấy vợ, hồi ấy, cùng với linh mục Chân Tín và tạp chí Đối Diện, là đối tượng thù nghịch của tôi vì lập trường hòa bình thiên vị; sau này, cảm nhận nỗi cô đơn của 2 người, hiểu chính xác rằng Nguyễn Ngọc Lan và Chân Tín không bao giờ là cộng sản, cám ơn đã chăm sóc, bênh vực, giúp đỡ vợ con tôi rời Việt Nam trong khi tôi còn trong tù, nên tôi đã trở thành bạn thân của hai người) tỏ thái độ khó chịu về những bài tôi đả kích ông ký bút hiệu Thương Sinh, tuy nhiên, vẫn nồng nhiệt ca ngợi Mây mùa thu là tác phẩm thể hiện tình nghĩa dân tộc, tình thương yêu Nam Bắc . Cuốn sách tôi bị Bộ Thông Tin kiểm duyệt một trang tôi viết về tuổi trẻ miền Bắc tình nguyện vào Nam, đáp theo “Tiếng súng Nam Bộ” vì sự nghiệp đánh đuổi thực dân Pháp năm 1946. Nhà xuất bản không chịu bôi bỏ trang ấy và Bộ Thông Tin đi tịch thu.

– Không.

– Ông Lan khen anh tận tình. Miền Bắc khen anh tận tình. Nếu không bị Mỹ dội bom trở lại, Hà Nội sẽ diễn vở Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan và phát một giải thưởng văn học cho Mây mùa thu. Anh có thể tiếp tục viết như Mây mùa thu chứ?

– Tôi cùn rồi.

– Thành khẩn một chút, anh Duyên Anh! Sau hòa bình có hàng nghìn đề tài cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè cảm động rất hợp với lối viết của anh.

– Nhà văn Bắc thiếu gì?

– Tôi nói thẳng với anh: Theo báo cáo của Vũ Hạnh và Nguyễn Mai 2, lãnh đạo của tôi muốn xử dụng anh làm nam châm cuốn hút người khác và chinh phục độc giả cũ của anh.

– Lãnh đạo của anh đánh giá tôi cao quá. Tôi là bông hoa đã tàn rồi.

– Anh về phòng suy nghĩ hai ngày.

Tôi không thể suy nghĩ, cũng không thể nói với Dương Nghiễm Mậu vì Mậu sẽ bảo tùy tôi lựa chọn. Mai Thảo đã tâm sự với tôi: “Tôi có một ông thầy, ông ta nói với tôi rằng, con người sống đến 50 tuổi là quá đủ. Tôi năm nay 50, tôi thấy tôi đã sống quá đủ, không còn gì để tiếc nữa. Nhưng tôi sẽ không để chúng nó bắt, trừ khi dí súng vào gáy, dao chĩa sát bụng”. Tôi kém Mai Thảo 9 tuổi. Cuộc đời tôi, có lẽ trầy trụa, nhọc nhằn hơn Mai Thảo. Vậy cũng kể là đã 50 tuổi. Tôi không cần suy nghĩ. Và sự không cần suy nghĩ của tôi thật đúng dù tôi phải trải dài nỗi đau đớn của mình ngót sáu năm tù ngục, lưu đày. Thật đúng vì, khi trở về, tôi nhìn rõ Thái Bạch bệ rạc nằm ở sòng hút thuốc phiện, xin xỏ từng điếu. Nó đã bị đá ra khỏi sinh hoạt văn nghệ. Cái hiệu sách Giải Phóng của nó ở đường Gia Long đã biến thành trụ sở công an phường. Quần áo nó lếch thếch, hôi hám. Cái chất nhễ nhãi vênh vang trên khuôn mặt đắc thời của nó giữa tháng 5-1975 đã khô rom. Nó bắt đầu chửi cộng sản chỉ để bấu một điếu thuốc phiện rẻ rề. Thế Nguyên thì tuyệt tích. Vũ Hạnh phải làm xà phòng lậu, bị công an phường gây khó dễ. Sơn Nam, quần ống thấp, ống cao, lang thang hè phố. Em rể Trần Bạch Đằng nằm ấp Chí Hòa một ngày, vợ nhận hết tội “áp-phe” xuất cảnh, nằm thế chồng ba tháng, nhà cửa bị khám xét, đồ tế nhuyễn bị tịch thu. Lệ Hằng hết mon men tới Hội Nhà Văn sau vở kịch chửi vượt biên, rồi vượt biên bị bắt. Từ Kế Tường mất chức chủ nhiệm nhà Văn Hoá quận 4. Nguyễn Thanh Trịnh, Ngụy Ngữ, Hoàng Ngọc Tuấn, một năm chỉ được đăng hai truyện ngắn. Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận mất Tin Sáng, mất luôn tổ hợp tranh sơn mài, đi buôn bán tre và sẽ bị bắt. Vân vân … Suy nghĩ chi nữa. Biết chắc làm anh hèn cũng chẳng xong, thì tội gì không làm anh bình thường. Với tôi, cái bình đã vỡ. Và ngậm ngùi nhớ Nguyễn Du.

Bây giờ bình đã vỡ rồi,
Lấy thân mà trả nợ đời cho xong…

——————————–

1Năm 1982, tôi gặp Khai Trí, anh ta đã thật sự mất trí vì mất hết tài sản, con cái lưu lạc. Anh ta như Thạch Sùng, ngơ ngơ ngẩn ngẩn, tội nghiệp lắm.
2Nguyễn Mai từng làm thầy cò cho tuần báo Người và Tuổi Ngọc của tôi.



Thi sĩ Huyền Chi & bóng thuyền viễn xứ muôn phương

baotreonline.com

Tám Vạn

June 14th, 2024

Post by Sơn râu 17 Jun 2024

Huyền Chi, 1952

Thi sĩ Huyền Chi (còn có bút danh Khánh Ngọc) tên thật là Hồ Thị Ngọc Bút, gốc gác ở Bắc-Ninh nhưng được sinh ra tại Sài-Gòn năm 1934. Bà làm thơ rất sớm và là thư ký tòa soạn, phụ trách mục thi ca cho tạp chí “Phụ nữ” của bà Nguyễn Thị Lan Phương. “Thuyền Viễn Xứ” là một trong 22 bài thơ trong thi phẩm “Cởi mở” xuất bản năm 1952. Tại nhà in, bà tình cờ gặp và có nhã ý gửi tặng nhạc sĩ Phạm Duy tập thơ vừa in chưa ráo mực.

Vài năm sau đó, bà từ giã văn đàn, lập gia đình và dọn ra Phan-Thiết. Sau năm 1975, gia đình bà chuyển vào Sài-Gòn sinh sống cho đến nay. Năm 2019, bà phát hành tác phẩm thứ nhì “Huyền Chi và Thuyền viễn xứ” với mong mỏi để lại chút ít kỷ niệm cho gia đình con, cháu và bè bạn.

Thuyền viễn xứ

Vào thập niên 50, do hoàn cảnh đất nước chiến tranh và gia đình bị chia cắt, thi sĩ Huyền Chi đã tưởng tượng ra một cuộc chia ly trên quê hương qua bài thơ “Thuyền viễn xứ”. Tác giả mượn hình ảnh con thuyền rời bến sông Đà-Giang tiêu điều với hàng dương liễu rũ và ngập ngừng ra khơi giữa buổi chiều pha màu ráng lụa hồng để nói lên nỗi niềm ly biệt, kẻ ở người đi …

Ra khơi sương khói một chiều

Thuỳ dương rũ bến tiêu điều ven sông

Lơ thơ rớt nhẹ men lòng

Mây trời pha ráng lụa hồng giăng ngang

Thuyền tách bến và dạt theo lau lách ven bờ mang theo bao tâm sự nhưng chiến tranh, ly loạn triền miên trên đất nước, nào ai biết được ngày trở về nơi cố quận. “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, giống như người xưa ra trận mạc không hẹn buổi sum vầy vì gươm đao vốn dĩ vô tình…

Hai bờ sông cách biệt rồi

Tần Yên đã nổi bốn trời đao binh

Ngàn câu hát buổi quân hành

Dặm trường vó ngựa đăng trình nẻo xưa

Huyền Chi, 1950

Thuyền đi xa, xa mãi để lại bến sông vắng vẻ, buồn tênh. Người mẹ già nơi làng cũ vẫn ngày đêm mong ngóng, tóc bạc như sương, lệ nhòa vương vấn. Chiều rơi hờ hững nơi bến lạ trời xa, lòng rộn ràng niềm nhớ cố hương nhưng phương ấy vẫn mịt mờ khuất bóng. Con thuyền viễn xứ vẫn mải miết trên bước đường run rủi…

Biết bao thương nhớ cho vừa

Gửi về phương ấy mịt mờ quê hương

Chiều nay trên bến muôn phương

Có thuyền viễn xứ lên đường … lại đi

Tập thơ 1952

Bài thơ lục bát chứa đựng nỗi buồn man mác như gợi niềm đồng cảm với nhạc sĩ Phạm Duy vì ông cũng mới vừa rời xa xứ Bắc, chọn đất Sài-Gòn làm chốn dung thân. Ông đã phổ thành nhạc phẩm cùng tên trong khoảnh khắc ngắn ngủi và làm rung động hàng triệu con tim. Với tài hoa sẵn có, ông giữ lại một số chữ, câu trong bài thơ, điểm tô, thêm thắt và viết nên một nhạc phẩm để đời…

Chiều nay sương khói lên khơi

Thùy dương rũ bến tơi bời

Làn mây hồng pha ráng trời

Sóng Đà-Giang thuyền qua xứ người

Thuyền ơi, viễn xứ xa xưa

Một lần qua dạt bến lau thưa

Hò ơi, giọng hát thiên thu

Suối nguồn xa vắng, chiều mưa ngàn về

Tập thơ 2019

Mấy mươi năm biển cả hóa nương dâu, nền hòa bình vẫn chưa về lại trên một quê hương tan nát. Người dân lìa quê rồi bỏ nước, hết di cư rồi di tản và gần nhất là thảm trạng vượt biển, vượt biên hay bán rẻ sức lao động nơi xứ người. “Thuyền viễn xứ” vẫn là một thi phẩm, một nhạc phẩm chứa chan lòng thương nhớ quê nhà dù thời gian đã mịt mù xa và không gian không còn là chốn cũ. Trên bến muôn phương, người ra đi vẫn ngậm ngùi khi bóng thuyền viễn xứ một thuở âm thầm tách bến và ra đi không hẹn ngày về.

Mịt mờ sương khói lên hương

Lũ thùy dương rũ bóng ven sông

Chiều nay trên bến muôn phương

Có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường

TV (14.04.2024)

Incredibly Intricate Hand-Cut Paper Art by Maude White

www.boredpanda.com

Dovas

Post on 14 Aug 2014

Post by Sơn râu 17 Jun 2024

If you’ve ever cut a simple snowflake out of a sheet of paper, you should be able to appreciate this incredibly intricate paper art by U.S.-based artist Maude White. The painstaking detail with which she cuts her beautiful artworks out of paper is absolutely stunning.

Incredibly enough, White does her detailed art by hand, using a craft knife to cut tiny lines and draw images with the paper’s empty negative space. “I have great respect for paper. When I cut, the thin membranous material reveals its strength to me,” the artist explains on her website. “White paper is everywhere and it has been telling stories for centuries.”

White is also the owner of the Brave Bird Paperwork And Jewelry company, so she does more unique artworks than just cut out amazing paper illustrations. She sells her cuttings, as well as felt jewelry and other works of art, in her online shop.