Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 21 Jun 2024

Google photos

Phần 29

Câu chuyện bán ruộng giữa nhà giàu Sài Gòn và chủ điền lớn Sóc Trăng

Trước đây lối đầu thế kỷ 20, khoảng 1920-1950, nơi mé sông Chợ Quán, có một nhà lầu, nay vẩn còn, và lúc đó là hãng dệt lụa lãnh Lê Phát (manufacture de tissage Lê Phát), chủ nhà là một đại điền chủ tân thời, dòng ông Lê Phát Đạt (nay còn để lại dấu tích là nhà thờ huyện Sĩ), ông nầy tên Vĩnh, có ruộng lớn ở Tân An và có một sở ruộng thật lớn ở Sốc Trăng, làng Phụng Hiệp (ném về tỉnh Cần Thơ) nhưng về địa thế đi chợ Sốc Trăng gần hơn, nên ông chọn địa chỉ ở Sốc Trăng. Ông Vĩnh là người rời rộng, lịch duyệt tình đời, xử thế rất được lòng người tá điền của ông và khi chết (sau 1945) vẫn để tiếng thơm hơn là tiếng xấu. Ông biết chữ Nho và học lực chữ Pháp đến bực tú tài, người như ông, lớp xưa, thiệt là hiếm có. Ông lại rất rành về hát bội, và có một gánh hát, nhớ như là lấy hiệu Kim Thành. Khi ông học ở Pháp thành tài về nước, ông có thiện chí muốn đem phương pháp tân tiến Âu Mỹ áp dụng cho xứ sở. Nhờ ông có Pháp tịch, nên ông xin khẩn đất dễ dàng. Ông xuống Phụng Hiệp khi con kinh xàng nầy vừa đào, nối liền sông Cần Thơ (Hậu giang) với sông Sốc Trăng (Ba xuyên), ông mua lại của điền chủ sạt nghiệp bán rẻ và ông khẩn thêm vùng hậu bối là đất mới trước là rừng tràm, sở ruộng của ông lớn không ruộng ai ví bằng, rộng lối một ngàn mẫu tây (1.000 ha) liền lạc một miếng vuông vức, đặc biệt là ruộng không có bờ mẫu, khiến nên khi có gió lớn, đánh ngọn lúa dợn sóng, trông như biển xanh ba đào sóng dậy. Khi làm đất mới, ông cho dân đốt rừng sạch cỏ năn và lác sậy, còn lại gốc tràm và cây khác cháy chưa sạch, ông có máy trục nhổ bứng không chửa một gốc rễ, sạch bót như bàn cờ. Nhưng ông làm ruộng liên tiếp mấy mùa đều hoàn toàn thất bại. Sau rõ lại chung qui vì ông đi trước thời gian quá sớm, vì ông chỉ có một mình dùng phương pháp ấy, khiến nên ông làm không lại ông trời già. Muốn chiến thắng luật thiên nhiên, chỉ có lối áp dụng phương pháp làm tập thể, mà lúc ấy chưa ai biết để cùng ông thực hành. Bởi ông cô thân lấy tải chánh và sức lực một người mà khai hoang đến ngàn mẫu ruộng giữa rừng tràm còn cây cối cỏ rậm chứa nào chuột bọ nào chim chóc, và như vậy ông làm sao chống nổi thiên tai liên tiếp năm dài… Năm nào cấy lúa sớm thì chuột đồng ra cả bầy muôn thiên cắn ăn hết lúa vừa trồ mộng và mạ non vừa cấy. Đến khi lúa vừa ra lá xanh tươi, chiều ra xem mừng chưa kịp no, đến sáng ngày ra thấy mà thảm não, vì thừa đêm tối trời cua đồng ra cắn nát không chừa một cọng lúa non, và nếu rán giữ khỏi nạn chuột nạn cua, tránh được cá không ăn, đến lúc lúa trổ đòng đòng, bắt lần đến lúc lúa có hột… vừa mừng một đỗi như vầy năm nay thế nào cũng có tiền trang trải xởi bớt nợ thiếu, ngờ đâu giấc chiêm bao của chị bán sữa hiện ra. Ngủ một đêm sáng ngày ra xem ruộng thì hỡi ôi, chim trích và chim mỏ nhát và đủ thứ chim phá hoại khác (sẻ sẻ, óc, cau, chàng nghịch) từ rừng U Minh và chỗ khác bay lại, vì đánh hơi một ngàn mẫu của cậu Hai Vĩnh có lúa chín, sẵn đang đói, bèn làm một đêm, sáng ngày sạch bách không còn một hột trên cọng hôm qua dịu oằn đầy hột. Như đã nói, vì cậu Hai tiến bộ quá sớm, làm ruộng khác hơn người ta, ỷ sức mình biết dùng cày máy trục máy nhổ gốc cây và có nhiều tiền, nên tưởng như vậy là đủ thắng thiên, không ngờ trồng lúa cô lập trong một vùng còn nhiều rừng bụi chuột chim, thì chim chóc và thú rừng vì đói nên chúng đến cắn phá không chừa hột nào, lối làm tập thể chỉ có hiệu nghiệm là phải làm thật đông người, đồng hè một lòng khai hoang cùng làm một lúc, thì khi lúa trổ hoặc khi lúa chín, dầu có bị chim chuột phá phách, chúng cũng không ăn hết được và làm gì cũng có dư cho chủ ruộng ít nữa thu hồi vốn liếng lại được đúng với danh từ “đủ ăn đủ xài”.

Tôi nghe đến đây, buồn ngủ quá, ngắt lời chị chủ sự rằng việc cậu Hai nầy có dính dấp gì với cậu công tử kia chăng, và có ăn nhậu gì vào đời tôi mà chỉ kể dài dòng chán quá. Chị ta không để tôi nói hết câu lại kể tiếp rằng hãy nghe cho đủ ngọn ngành rồi sẽ hiểu. Số là cậu Hai biết nhiều phương pháp hay ho, ngặt nổi nói cách mấy cũng không ai làm theo, tỷ như muốn trừ chuột, cậu khuyên đừng bỏ đất hoang, và khi không còn chỗ trốn thì số chuột đồng sẽ bớt. Muốn trừ nạn cua còng, thì nên nuôi vịt, vịt con kiếm ăn ngoài đồng sẽ rỉa từ cọng lúa ăn hết trứng mén luôn và con rầy con sâu phá hoại, còn như chim trích và mỏ nhát thì nên sắm súng vân vân, tóm lại phương pháp làm ruộng tập thể như vậy, không lo gì thất bại. Khi cậu Hai thấy nói mà không có người hưởng ứng nghe theo lời, cậu day qua kế khác là rủ ren những người vô tích sự và thất nghiệp xuống Phụng Hiệp với cậu, sẽ có phương thế làm ăn lành mạnh, như làm “tằng khạo” 1 giữ ruộng, trừ nạn cướp trộm, ăn cắp vặt. Nội cái biết làm và siêng năng thiếu chi cách làm ra tiền: nuôi heo, nuôi vịt, mót lúa, rau muống mọc tràn trề không làm gì cho hết, và cái luật thiên nhiên con thú nầy nuốt con thú kia, nhỏ hiếp bé, bé làm mồi cho con lớn là luật trời sanh coi vậy mà hay hơn thuốc hoá học, tuy có lợi mà vẫn có hại, lâu ngày sanh nhiều bịnh bất ngờ và ô nhiễm bộ máy tiêu hoá, v. v. Không mời rủ được bằng cách làm ăn lương thiện, thì cậu nhem thèm trai chưa vợ bằng gái dư thừa, giỏi việc tề gia: “Hãy xuống dưới tha hồ mà lựa vợ. Thiệt thà như đất cục, biết tiện tằn giữ của không ăn xài như gái Sài Gòn”.

Tội nghiệp cho cậu Hai Vĩnh, làm ruộng ên thì thất bại, cho hoá đất thì lỗ lã đến phải xuất tiền nhà đóng thuế điền. Rốt cuộc, cậu ngã lòng, nên treo bảng bán: “Bán một sở đất nguyên miếng, diện tích 1.000 ha, trị giá 80.000$00. Ruộng tốt, gần chợ Phụng Hiệp, trên quốc lộ số 4 đường Cần Thơ đi Sốc Trăng. (Hỏi ông Lê Văn Phát, nhà số… đường mé sông Cầu Kho (Sài Gòn)”.

Bảng treo khá lâu mà trong xứ đang hồi kinh tế khủng hoảng, một trăm đồng bạc kiếm gần đỏ con mắt không ra, dễ gì có tìm chục ngàn đồng hầu mua đất nầy, lại còn tiền trước bạ, cầu chứng là khác. (Nên nhớ một trăm triệu ngày nay còn dễ kiếm hơn một trăm ngàn hồi đó).

Cậu Hai rao trong nhựt trình bán ruộng, rồi từ ấy cậu lên lên xuống xuống ở Cầu kho nửa tháng, hai mươi ngày, thì đi xe hơi nhà xuống Sốc Trăng vài bữa để tìm người bán đất. Cũng lạ, cậu từng sống lâu bên Pháp, và ngày thường vẫn ăn ở phong lưu theo Pháp, nhưng khi xuống Sốc Trăng, cậu không khi nào ghé băng-ga-lô (bungalow) có đủ tiện nghi và vẫn thích trú ngụ nơi khách sạn An Nam của ông Ba Hùng vì ở đây dễ bày mâm hút giỡn cợt với ả Phù dung thêm có tẩm quất (đấm lưng) mỗi khi mỏi mệt. Khách sạn nầy nằm trên một con đường hẻo lánh, yên tịnh lại được gần chợ búa, đêm khuya mì cháo đều gần. Một khi nọ, cậu xuống nhằm mùa mưa, tiếng ảnh ương đòi bắt cặp khiến cảnh thêm buồn, và để giải cơn sầu, cậu đốt cây đèn dầu lạc bày trên bộ ván trong phòng, rồi sai anh bồi đi mời cô Sáu C. mà cậu nghe tiếng đồn và nay cậu muốn làm quen. (Đoạn nầy, trong tập hồi ký bà V.A. viết tên S.C. khiến tôi nhớ đến hình dung cô nầy, hiện lên trú ngụ và lấy chồng ở khu Chợ Vườn Chuối, đường Phan Đình Phùng và Cao Thắng, tôi có ý muốn gặp lại, nhưng suốt mấy phen tìm mãi chưa gặp nhà. Những ai như tôi từng ở Châu thành Sốc Trăng, lối bốn mươi năm về trước, khoảng 1935-1936, đều biết mặt biết danh cô Sáu C., nếu gọi là hoa khôi thì hơi quá đáng, vì cô có đấu sắc đẹp trong cuộc nào đâu, nhưng những trai tuy đã có vợ (như tôi) mà lòng còn khao khát món lạ, và luôn luôn “xôi chợ ngon hơn cơm nếp nhà”, đã sẵn máu 35, thì ai như nấy, đều nhìn nhận cô Sáu có đôi hàm răng trong trắng và đều đặn như bắp non, như ngà mới, như hột dưa, mỗi lần cô cười thật là quyến rủ. Gương mặt cô không xinh lắm, nhưng nhìn lâu tựa hồ có một ma lực khuyến mới lạ lùng, nhứt là tướng cô đi như thách đố, mỗi sáng cô đi dùng điểm tâm ở góc đường Đại ngãi và thả một vòng thành phố thì bao nhiêu khách trong quán trong tiệm buôn, đứa quên băm thịt xíu mại, đứa quên lắc bàn toán cầu tài, cặp đùi ếch dính sát vào quần lãnh mới vừa láng mướt vừa no tròn, cô Sáu không to không bé, vẫn vừa vặn theo thể cách con người mình dây, trời ơi, ngày nay cách đã trên ba bốn mươi năm, tuổi đà gần xuống lỗ, thế mà làm sso tả lại cho đúng, mỗi bước uyển chuyển của cô nó khiêu gợi làm sao và bắt nhớ và thèm thuồng. Ngực của cô chu choa, ngực của cô, tuy năm đó cô đã trên hai mươi cái xuân đang độ, và gió sương tắm gội đã nhiều, nhưng phong độ vẫn đầy đủ hơ hớ còn y, hoặc nói cho đúng điệu, còn nở nang “thấy bắt thèm”, còn sáng như cặp đèn pha xe Hốckích (Hotchkiss) (thuật y lời S.C nói). Cô Sáu từng nói với tôi, một cách vô tội vạ, rằng: “Ngày nào cặp đèn pha (nhũ hoa) của cô còn, thì cô vẫn còn”. Câu nầy có nhiều nghĩa, và cô đã xưng tên cô rồi đó Sáu Còn. Thêm cô đã dí dỏm sánh ngực cô với cặp đèn xe hơi thuở ấy và hiệu xe Hotchkiss, là hiệu đắc khách nhứt của thời 1935-1940 nầy. Tuy ít học, nhưng cô ăn nói rất có duyên, tuy cô không đẹp hơn ai, nhưng trong giới yêu hoa chợ Sốc Trăng, cô ăn khách vào bậc nhứt.

Kể về bụng dạ và cách cư xử ở đời, cô là người sáng suốt. Đầu buổi kháng chiến 1945-1946, cô nhập ban cứu thương để chống Pháp.

Lúc vận đảo bên ta thất cơ rút lui, cô bị quân đội Pháp bắt trên một chiếc tam bản cô cùng đi với hai du kích, Tây xuống xét tam bản, gặp một cây súng lục chôn trong nồi thịt kho, nếu nói của hai thanh niên kia thì mấy mạng cũng không còn, cô có can đảm nhìn nhận là của cô, toà Pháp chỉ phạt cô ba tháng tù… Ấy con người cô Sáu C. là thế đó, tuy trong giới ăn sương, nhưng lòng thương nước ít ai bì kịp.

Khi hôm ấy bồi phòng đến mời cô “đi khách”, cô ngồi xe kéo, đến nơi, bước vào phòng, thấy một ông già khô đét mặc bộ áo ngủ nhục nhục, trông dáng điệu “hết xài”, cô chào hỏi lơ là, ngồi chưa nóng đít, đã xin về không ở lại.

Cậu Hai thấm mật, hiểu cô chê mình, nên vội sai bồi trở lại nhà cô Sáu, gọi cho được một ả khác, không cần xinh hay không.

Nằm nốt đêm với cậu, chỉ tiêm thuốc cho cậu xơi, trò chuyện ít tiếng, suốt đêm hoàn toàn cậu không đá động đến, và rạng ngày, như thường lệ, cậu hỏi: “Em muốn mấy miếng?”

Như đắng thì khỏi hỏi, cô ả đáp. Tà-líp của chúng tôi đã định, suốt đêm là hai miếng (cô ta hiểu miếng là một đồng bạc giấy thuở ấy). Còn như ngọt, thì hơn số đó bao nhiêu cũng tốt!

– Chà! Chà! Biết sao mới là ngọt? Cho là đắng đi? Và hai miếng là vừa!

Rút ra hai miếng trao tận tay cô ả, cười tình, nựng cằm cô gái rồi đưa ra cửa phòng. Cô ả lầm lì không nói gì, lên xe kéo về thẳng, chừng ấy xem lại mới biết lúc nãy ông già nói hai miếng đã vừa, nay hai miếng là hại trăm bạc (200$00) và hai trăm thuở ấy giá trị sánh với bạc năm 1982, đáng bạc ngàn chớ chẳng chơi.

Cô ả mừng quá đỗi mừng, vội vã chạy kiếm cô Sáu C. để khoe!

– Lão già coi vậy mà ngọt ghê, đi với lão một đêm, lão bê đơ xăng (deux cénts) đây nè!

Cô Sáu cười gượng nhưng không nói lời nào.

Qua đêm kế cậu Hai cho mời ả ấy nữa và đêm thứ ba cũng vậy, cũng đòi cho được ả ấy, vẫn không rờ đốn một chút da, và cứ mỗi sáng bê hai tờ, theo tà-líp cô ả nói. Ba đêm đếm đủ sáu trăm đồng. Từ ấy danh cô Sáu vẫn còn, tuy có mất một mối ngon, và cô ả vô danh kia được tặng cái tên ngộ nghĩnh “Cô Hai Xít xăng” để kỷ niệm ba đêm đi khách được sáu trăm đồng tức six cents piastres (600$00) ngon lành nhứt hạng. Tiền trong hộp Bó-ti-bơ (Petit beurre) là tiền cậu Hai bán sở ruộng Phụng Hiệp. Bán cũng cam go lắm chớ không vừa. Cậu Hai dùng thì giờ đi thăm và mời các nơi làm ăn lớn từ Cần thơ đến Sốc Trăng, Bạc Liêu, sâm banh cơm Tàu đêu nếm, đâu đâu cũng tiếp đãi tử tế nhưng thảy đều than muốn thâu gọn sự nghiệp lại, chớ không muốn kinh dinh ra lớn, kinh tế khủng hoảng quá, lúa bán không chạy.

Sau đó có người mở hơi muốn mua nhưng trả sụt còn 60.000$00 thay vì 80.000$00 cậu Hai chê người ấy chưa đáng mặt đại tư bản, tuy khích thì giận nhưng rốt cuộc cậu Hai đấu trí không lại người ấy. Đi đòn thẳng thắn không xong, cậu Hai trở qua dùng kế độc. Cậu Hai trở về Cầu Kho, đọ hai tháng sau, một buổi trưa nọ, người trả giá 60.000$00 đang nằm hút tại nhà, bỗng có một ông Pháp ăn mặc sang trọng, đi xe mới hiệu Alpha-Roméo ghé trước nhà, trao danh thiếp xin ra mắt:

Robert Grémieux

Représentant de la Société Rizicole d Transbassac

C/o Hôtel Continantal (Sai gon)

Siège social N…, boulevard Haussmann, Paris

Google photos

dịch là:

Ông Robert Grémieux, đại lý hãng ruộng Hậu Giang, tạm ngụ nhà Đại lục ở Sài Gòn, trụ sở chánh, nhà số… đại lộ Haussmann, Paris.

Chủ nhà ra tiếp, khách bày tỏ mình là đại diện hãng đề trong danh thiếp, nay hãng tính mở một đồn điền lớn ở Hậu giang, hôm trước coi theo báo đã tiếp xúc với cậu Hai nơi nhà ở Cầu Kho, nhưng cậu Hai cho hay sở đất đã thương lượng với chính ông mà tôi đang nói chuyện đây, và dặn tôi hỏi ý ông nhứt quyết thế nào, rồi cậu Hai mới định đặng. Như nay ông đây sẵn lòng nhượng quyền mua sở ruộng cho hãng Pháp thì khách ký liền một ngân phiếu mười ngàn (10.000$00) gọi tiền thế chưn, lời giao hãng Pháp ưng mua 1.000 ha ruộng Phụng Hiệp với giá bạc là 100.000$ hạn kỳ nội trong sáu chục ngày, sẽ xuống làm giấy tờ dứt khoát và 10.000 nầy là tiền cọc, quá sáu chục ngày không thực hiện tờ đoạn mãi thì kể như mất luôn.

Nói dứt lời, khách ký một ngân phiếu một muôn bạc để trên bàn, bắt tay chủ nhà từ giã lên xe đi thẳng.

Sáng hôm sau, chủ nhà lấy xe nhà trực chỉ lên Cần Thơ, nhà băng trả đủ 10.000$ theo ngân phiếu, ông ghé sở bưu điện đánh dây thép mời cậu Hai xuống gấp ông bằng lòng mua sở đất y giá 80.000$. Vì vậy cậu Hai hả hê mới có tiền bê cho cô ả tứ thời sáu trăm, trong khi ông mua ruộng về nhà nằm chờ mãi mà không thấy bóng hình lão Tây đi xe Alpha-Roméo tháng trước. Chuyện kể đến đây, ai ai cũng tin chắc ông nhà giàu ở Sốc Trăng bị ông nhà giàu ở Sài Gòn xuống gạt. Nhưng ông Sốc Trăng đáp tỉnh bơ: “Tôi lấy vốn trong nhà là 40.000$ thêm 10.000 của tên Tây nọ là 50.000$, nên chi tôi chỉ hỏi bạc chà 50.000$ là đủ cuộc tiệc. Nếu trời cho tôi trúng mùa, nội ba năm tôi đủ sức dứt nợ chà, và có thêm sở ruộng Phụng Hiệp nầy là đất tương lai còn phát nữa, hoa lợi còn lớn nữa, có sao mà sợ!”. Quả thật, ông ấy kinh nghiệm có thừa. Sau ba năm cần cù, ông trả dứt nợ chà và gọi em về giao cho coi sóc. Và mầy biết nãy giờ tao kế lễ dài dòng làm cho mầy sốt ruột và người mua ruộng cậu Hai Vĩnh là ai, mầy đoán đi: Đó là ông Như Gia, anh ruột thằng Như Phước của mầy. Bây giờ cho tao từ giả theo chồng xuống công ty rượu nếp Bãi Xàu dưỡng cái thân già. Mầy cũng nên cải tạo lấy thằng Như Phước cho yên thân! Cái già sồng sộc nó thì theo sau. Đã ba mươi tuổi đầu, còn kén chọn gì nữa. Gái nửa sạc vở được ông hoàng đòn như công tử Như Phước, tao mà ở địa vị mầy thì đã từ lâu không cho đám con Sáu Cúi Ên (Quế Anh) cướp nước nhứt. Nay cũng chưa muộn và không nên để dịp tốt trôi qua. Ngày nào trái đất còn xoay, đường đi vẫn còn dài và lo chi chị em mình không có ngày trùng phùng lại nữa. Thôi, văn hay chằng luận nói dài, au revoir, em nhé!.

Tới đây, tôi cũng tạm chấm dứt thiên ký sự nầy và hẹn hồi sau phân giải. Dứt như vầy đột ngột thật, nhưng tóm tắt lại, bước đường lưu lạc khoảng đầu, anh nghe đã đủ, đến khoảng sau nầy, nhớ câu tái hồi đầu “thị bách niên xuân”, nay tôi tu bỉ, và gặp cảnh ngộ éo le, vừa sám hối thì người chồng trẻ, anh Như Phước vội tách đi trước bỏ tôi gãy gánh nửa đường và chỉ còn chút kỷ niệm mỏng manh chưa muốn cho người ngoại cuộc biết. Khoảng đời sau của tôi, xin cho tôi niêm phong và giữ lại: tôi còn sống ngơ ngờ nói ra thì chua chát quá. Ngày nào tôi buông xuôi hai tay trong ván sáu tấm, khi ấy mặc tình sẽ phanh phui. Vả lại đoạn sau đã hết hấp dẫn rồi, vì tôi đã thôi việc cướp của bỏ chồng… Người tốt trong xã hội nay kể ra vẫn có, nhưng đều lụt lụt thường tài, biết cho mình và không biết xây dựng cho chung, cho nên việc nắng mưa phong vũ khó tránh, chúng ta ngày nay phải chịu. Biết đời nào trở lại cảnh thuở xưa, coi vậy mà sướng hơn nay rất nhiều. Nơi đoạn mở đầu tôi có nhắc hai câu chót bài thơ ông Phủ Ba Tưởng. Ngày nay ít ai thuộc thơ ông vì có người chỉ trích ông là Việt gian phạm tội bán nước. Tôi đây là gái từng bị xé giấy không có quyền đính chính việc của đàn ông hiểu, nhưng tôi có quyền biểu biết theo tôi và tôn sùng Phủ Ba. Bài “Lão ky qui y” xin chép lại đây, gọi kết thúc đường đời một người như tôi nay trở về đường chánh! bài thơ ấy nguyên văn như vầy:

LÃO QUỴ QUY Y THƠ

Chày kình gióng tỉnh giấc Vu san,

Mái tóc kim sinh nửa trắng vàng!

Đài kính biếng soi màu phấn lợt,

Cửa không đành gởi cái xuân tàn

Chạnh niềm hoa liễu vài câu kệ,

An cảnh tang du một chữ nhàn!

Ngảnh lại lầu xanh thương những tre,

Trầm luân chưa thoát nợ hồng nhan”

(theo Khuông Việt “Tôn Thọ Tường” do nhà in Ngày Nay Hà nội xuất bản 1942, trang 92).

Mấy người chê ông, làm thơ hay hơn ông không mà dám chê kia nọ? Tôi là đàn bà không phép đứng ra kêu oan cho Phủ Ba, nhưng tôi vẫn tôn sùng ông trong lòng.

Chào ông tác giả quyển “Sài Gòn năm xưa”.

Ký tên: Mme V.A.

(chép làm tập II “Sài Gòn năm xưa” ngày 23 tháng sáu dương lịch 1982).

——————————–

1Tằng khạo: tiếng Tiều châu, viết Hán tự là “đồng khảo” người coi ruộng thí cho chủ

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 21 Jun 2024

Google photos

Phần 28

Mánh lời nhà giàu Sài Gòn chọi với phương pháp làm giàu dân Sóc Trăng

Thiệt là ở đời không nên liệu trước, và việc đời qua mau còn hơn mây bay trên trời. Tôi chưa kịp ân báo, oán đền, bỗng đột ngột hay tin má Tư Hớn chết. Còn gì nói chuyện trả thù, vả lại bà Hớn đã lìa đời, thì mối oan nghiệt kia đã tiêu tan, tôi từng ăn cơm nhà Phật, lẽ nào nhỏ vặt. Lại phải sắm sanh lễ vật, cùng chị chủ sự đến nhà cũ, chỗ người ta bán máu mình lấy bẻ tiền phá trinh, nhỏ vài giọt nước mắt cá sấu khóc người má cũ. Nghe thuật lại chuyện cũng trớ trêu. Má có nuôi một tay tứ chiếng già, để gọi là chồng. Mỗi lần má đi vắng, bọn em nuôi trong nhà, để trả thù má một cách gián tiếp, bèn dụ lão già dịch, chồng của má, cho lão tê lê mê và nhơn dịp ấy, bọn nó trút lọp của lão hết trọi, tức là làm cái việc trong truyện Phản ường, trong trận giao chiến đầu tiên, Hồ Nguyệt Cô thâu hết tinh lực của tướng Đường là Tiết Giao, khiến đến chừng má về, rảnh rang biểu lão lấy xe chạy chơi, thì xe đã hết xăng, còn chạy đâu được, má tức ấm ách, lâu ngày hoá ra đứt gân máu, nên chết thình lình. Và nghĩ đâu lão già nầy đã kiệt quệ hết sinh lực, nay định bán hết sự nghiệp, để vào chùa, nghe kinh gõ mõ niệm mấy câu sám hối chờ ngày xuống âm cung tìm má Hớn.

Chuyện chưa hết, là kế đó, chị chủ sự lại nhà, từ giã, báo tin chồng là Tây đoan tào cáo, nay ở Pháp trở qua, được thuyên chuyển về Bãi Xàu, cho coi thâu thuế lò nấu rượu Tàu, gọi công xi (công ty) rượu nếp Sốc Trăng, chỉ nói nay đã già, bay nhảy không lại ai, thà theo chồng, lấy hèm công-xi nuôi heo sướng hơn cho tiền góp bị em út giựt. Tôi hỡi ôi, như chim gãy cánh, chị nầy đi rồi là vi kiếng không còn, không khác ông trời cảnh cáo tôi nên cải ác tùng thiện là hơn. Vả chăng thằng lính kiểm tục gì đó, năm xưa, cho mình lọt nhà số, thì mình không biết tên họ nó là gì. Nhớ đến anh hạch giữ cửa nhà máy Chợ Lớn, rồi thầy hội đồng bán xoàn, nhớ thằng Tư “trời đánh” mà khiếp oai của nó, nhớ anh Tiều, vân vân, bỗng rùng mình rợn ốc, nếu luật nhơn quả là có, thì cái gông chờ mình dưới địa ngục âu cũng nặng to lắm rồi, thôi, hãy quên hết chuyện cũ, vả có cây sào Như Phước, mau mau vớ lấy lúc nầy là thượng sách.-

Trong khi tôi hồi tâm trông chờ cậu công tử trở lên, xin thuật lại đây kỷ niệm chị chủ sự, và sự tích sau nầy là viết theo lời thuật lại của chị nầy khi đi điếu tang tía chàng công tử trở về.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 21 Jun 2024

Phần 14

Không tính những tên quản giáo hạch hỏi lý lịch, tôi đã qua tay 5 chấp pháp và gã này là 6. Thân phận Kiều tiếp khách chơi hoa không khổ bằng thân phận nhà văn tiếp khách chấp pháp.

Xưa sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dầy dạn phong sương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân.

Có phải Nguyễn Du đã tiên tri thân phận những Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền, Phan Nhật Nam, thân phận những nhà văn, nhà thơ trong ngục tù cộng sản? Ôi, biết bao câu Kiều nó vận vào cái “đoạn đường ai có qua cầu mới hay” của chúng tôi.

Bây giờ bình đã vỡ rồi
Lấy thân mà trả nợ đời cho xong

Nợ đời, soạn giả tuồng cải lương Mộc Linh đã diễn tả 5 câu vọng cổ ở khu A. 5 câu thôi, anh bị ho ói máu nên phải dang dở. Trong 5 câu ấy có đoạn:

….”Than ôi, trời đất bao là mà sao ta không có chỗ đứng, lại phải xui chi tới cảnh đoạn trường…Nợ chẳng vay ai mà nay phải trả cho đời”. (Văn chương là cái nợ. Nghệ thuật là cái nợ. Nợ văn chương trả ở nhà tù! Và nhà nghệ sĩ biến thành nàng Kiều, dạt trôi đề-lao, khám lớn, trại tập trung. Cuộc sống vốn hiếm Từ Hải, hiếm cả đến Thúc Sinh. Chỉ rặt lũ chấp pháp cộng sản chở chất thù vặt. Chúng dập vùi tới cả phẩm cách con người. Chủ nghĩa nào ưu việt? Đâu là đỉnh cao trí tuệ? Nơi mô là cái nôi của loài người? Bạn ơi, nhân loại ơi, cái nôi của loài người, đỉnh cao trí tuệ, chủ nghĩa ưu việt tập trung ở nhà tù giam nhốt, đầy đoạ các nhà văn, nhà thơ. Nhà văn, nhà thơ là những kẻ chung thân bất mãn với hiện tại. Trần Dần viết:

Chẳng thể rúc kèn cũ rích
Vác loa mồm kêu:
“Hiện tại rất thiên đường
không
thiên đường chúng ta
là nối đuôi nhau
vô tận thiên đường
đi mãi
chẳng bao giờ thoả

Không có hiện tại nào là thiên đường cả. Và cả khi hiện tại đã là thiên đường, vẫn cần thiết có thiên đường khác rực rỡ hơn. Bổn phận của nhà văn là không ngừng phản kháng hiện hữu. Để thiên đường không đứng lại. Để thiên đường không chết. Để thiên đường tiến lên một thiên đường khác tuyệt vời gấp bội. Sự phản kháng hiện hữu của nhà văn đã bị xã hội cộng sản chụp mũ chống cộng sản. Nhà văn chống mọi bất công, mọi độc tài, mọi áp bức, mọi bóc lột, mọi sự xúc phạm quyền sống của con người. Nhà văn đòi hỏi tự do, dân chủ, công bình, hạnh phúc tuyệt đối cho con người. Bản chất của nhà văn là phản động. Nó phản động trong bất cứ xã hội nào, dưới bất cứ chủ nghĩa nào, ở bất cứ nơi nào nhân quyền bị tước đoạt, nhân phẩm bị chà đạp. Sự phản kháng của nhà văn là ước mơ của loài người. Nó làm thăng hoa cuộc sống. Nó gây cảm hứng leo lên ngọn đỉnh chân thiện mỹ. Chỉ những kẻ ngu xuẩn, bịp bợm và bệnh hoạn nghĩ rằng hiện tại què quặt của mình đã là thiên đường vĩnh cửu mới dùng quyền lực khỏa lấp sự phản kháng của nhà văn. Chỉ có cộng sản mới hèn mọn chụp mũ nhà văn, kết tội nhà văn và giam nhốt nhà văn. Phải vinh tôn những nhà văn phản động và phải bỏ tù bọn bồi bút nịnh bợ “rúc kèn cũ rích, vác loa mồm kêu: hiện tại rất thiên đường”. Đó mới là ưu việt, đỉnh cao trí tuệ. Tại sao? Vì bằng phản kháng hiện tại, nhà văn đã thắp ước mơ như ngọn đèn dẫn đến tương lai, dẫn đến những tương lai vô tận, những thiên đường đích thực của loài người. Vì bằng bồi bút nịnh bợ, bằng yên phận hòn bi, nhà văn đã rúc đầu xuống vực thẳm tội ác. Hà Nội định nghĩa bồi bút:”Bồi bút là kẻ viết sách báo làm tôi tớ cho thực dân đế quốc” – Văn Tân, Từ điển Việt Nam, 1976 – Cộng sản Việt Nam ở Paris đề nghị một định nghĩa:”Bồi bút là kẻ viết sách báo làm tôi tớ cho bọn cường quyền” – Nguyễn Trọng Nghĩa, Đoàn kết 4-1987. Bọn cường quyền hiện hữu ở Việt Nam là cái gì? Cộng Sản! Có lẽ, nên định nghĩa: “Bồi bút là kẻ viết sách báo làm tôi tớ cho thực dân, đế quốc và cộng sản”. Nhưng định nghĩa chính xác nhất là: Bồi bút là đám viết sách báo đứng về phía bọn thống trị. Với nhà văn chân chính, thống trị là đối tượng phản kháng hàng đầu. Nơi nào không có đối lập chính trị, thống trị man rợ, ghê tởm, cần thiết trừ khử. Việt Nam đang là nơi ấy. Và người ta dễ dàng tìm ra sự bồi bút ở hai câu định nghĩa của bồi bút. Họ không dám đụng đến cộng sản và giai cấp thống trị mới ở xã hội cộng sản. Xã hội cộng sản chấp nhận bồi bút, nuôi dưỡng bồi bút và bỏ tù cả nhà văn phản kháng lẫn thi sĩ chỉ viết thơ tình.

Tên công an chấp pháp số 6 dẫn tôi sang khu B, chỗ tôi đã mạn đàm với tên chấp pháp rỗ hoa. Tôi không muốn chế diễu họ. Rẻ tiền lắm. Nhưng bạn cần hiểu rằng, chẳng có tên công an chấp pháp nào giới thiệu tên thật hay bí danh với bạn cả. . Trừ Ba Trung là thằng nằm vùng vây co. Nên tôi đành phải lấy “đặc điểm” của họ mà đặt biệt danh để dễ so sánh. Công an chấp pháp số 6, dân miền Bắc, mặt mũi sáng sủa, người vừa phải. Hắn ta có nụ cười dễ gây cảm tình. Câu mở đầu của hắn:

– Anh có vẻ thất vọng về chúng tôi, phải không, anh Duyên Anh?

Tôi thản nhiên:

– Tôi không thất vọng, cũng chẳng hy vọng gì các anh.

Hắn cười.

– Tại sao?

Tôi đáp:

– Tôi đã hiểu tôi không còn quyền thất vọng và hy vọng.

Hắn khẽ lắc đầu:

– Đừng cay đắng, anh Duyên Anh.

Hắn mời tôi hút thuốc Điện Biên. Nhả nạm khói, hắn nhìn tôi bằng cặp mắt chan chứa cảm thông:

– Với tôi, anh muốn ngồi kiểu nào, tùy ý.

Tôi khựng lại. Chúng nó đã trao đổi với nhau về tôi. Thằng số 5 đấm tôi. Thằng số 6 xoa bóp.

– Anh bớt ghẻ chưa?

– Chưa, anh ạ!

– Nó sẽ phá tung một lượt. Rồi khỏi hẳn. Chị ấy tiếp tế bình thường chứ?

– Cám ơn anh.

– Trường hợp của anh thật oan nghiệt. Anh chống Mỹ, chống Ngụy rồi sợ Mỹ Ngụy trả thù, anh phải chống cộng sản.

Tôi không muốn cãi. Tôi đã chống cộng sản bằng Hoa thiên lý trước khi chống chính sách Mỹ ở Việt Nam và bọn thống trị bù nhìn.

– Tại sao anh chống lung tung thế? Chống tứ phía, phía nào anh sống?

– Tôi vẫn sống.

– Thực tế một chút, anh Duyên Anh. Giá anh đừng chống cộng, anh đã được biểu dương rồi.

Tôi đã nghe Ba Trung, đã nghe tên chấp pháp xứ Nghệ nói cái luận điệu này. Vẫn luận điệu gai góc mà buồn tẻ ấy, chấp pháp số 6 nhai lại. La raison du plus fort est toujours la meilleure. Thi hào La Fontaine đã để lại cho loài người một câu thơ trở thành chân lý vĩnh cửu. Khi trái đất còn quyền lực, còn ngục tù; còn lệnh bắt, còn cai ngục và còn tù nhân, chân lý đó không thay đổi. Ông Hồ Chí Minh là người cảm thầm “lý lẽ của kẻ mạnh nhất”. Ổng ta hiểu “vĩ nhân có thể chết bởi cái gai”, ông ta hiểu “anh hùng có thể chết ở cái lỗ chân trâu”. Và ông ta có triết lý sống đời tù bình thường: Để chúng dắt đi tựa trâu bò. Hạnh phúc cho ông Hồ Chí Minh là ông đã không được sống đời tù cộng sản. Nếu đã nằm nhà tù cộng sản, ông không trở thành “cha già dân tộc”, không trở thành “vĩ nhân”. Cộng sản đã là vĩ nhân, đã là anh hùng. Họ độc quyền anh hùng vĩ nhân. Bạn khó lòng thành vĩ nhân, anh hùng tù ngục cộng sản. Ở nhà tù cộng sản, nhất là nhà tù dành cho tù nhân của tư tưởng, của lương tâm, bạn sẽ bị đối xử tồi tệ hơn trâu bò. Bởi vì, ngoan ngoãn “tựa trâu bò” rồi sẽ thành lãnh tụ vĩ đại. Kinh nghiệm ở tù của Hồ Chí Minh là ánh sáng quang vinh chiếu rọi khắp nhà tù cộng sản. Phải bắt tù nhân lửng lơ giữa người và thú vật. Phải diệt nhân tính của tù nhân. Và, như thế, sự đọa đày mà tù nhân cam chịu không hun đúc nó nên anh hùng. Nó sẽ chỉ  loay hoay quanh nỗi đói, nỗi khổ, nỗi nhớ nhà. Nó sẽ  chỉ loay hoay quanh niềm sợ hãi, niềm mong đợi ngày được tha. Trong những loay hoay bi thảm của nó, thẩy cho nó chút ân huệ toan tính, bơm cho nó chút hy vọng gian dối, nó sẽ níu lấy ân huệ và hy vọng đê tiện đó, bảo vệ ân huệ và hy vọng đó một cách rất đê tiện. Từ cái ân huệ toan tính, cái hy vọng gian dối ban cho một tù nhân tạo thành những ngờ vực, những thù hận, những đề phòng giữa các tù nhân. Cai ngục mỉm cười, rao giảng phúc âm: “Các anh không thương các anh thì ai thương các anh”. Tù nhân ghét bỏ tù nhân hơn cả cai ngục ghét bỏ tù nhân. Riết rồi, tù nhân “thương yêu” cai ngục! Bản chất và hiện tượng. Hai tuyệt chiêu nằm trong bí kíp cộng sản đã, chẳng những cấy sinh tử phù vào tế bào tù nhân, mà còn cấy vào cả tim phổi quần chúng. Hiện tượng lúc nào cũng bị nghiêm khắc phê bình. Hiện tượng thủ tiêu tập thể 1 triệu 500 ngàn dân lành bị sửa sai. Tổng bí thư Trường Chinh tạm sang nắm ghế Chủ tịch Quốc hội, vẫn là ủy viên Bộ chính trị. Để bản chất đúng và tốt và chân lý. Hiện tượng và bản chất hư hư thật thật. Đảng nhân đạo, khoan dung. Đảng là bản chắt. Cán bộ vô nhân đạo, khắc nghiệt. Cán bộ là hiện tượng. Chấp pháp số 5 là hiện tượng. Chấp pháp số 6 là bản chất. Hiện tượng dọa nạt. Bản chất vuốt ve. Cả hai kết hợp lừa bịp loài người. Bản chất hay hiện tượng thì cũng cứ là cộng sản và do họ nói và đều là lý lẽ của kẻ mạnh. Dẫu có gai góc buồn tẻ một nhịp điệu nhai lại, chớ dại dột bịt tai. Càng không nên nổi giận. “Tư tưởng thể hiện hành động”. Móng vuốt chịu khó dấu đi. Chìa ra là bị chặt đứt liền. Mà chìa móng vuốt với ai?

Tù nhân ở các nhà tù cộng sản có hai lần bầy tỏ thái độ anh hùng. Lần thứ nhất: Làm việc với công an chấp pháp. Bạn sẽ ngồi trong căn phòng chỉ có bạn với chấp pháp. Đừng ngại, không có máy ghi âm bí mật đâu. Chấp pháp sẽ hạch hỏi bạn, sẽ mắng mỏ bạn, sẽ chửi bới bạn, sẽ đập bàn la lối. Bạn nổi máu anh hùng, bạn dậy lòng bất khuất, bạn ăn thua đủ chấp pháp. Nó tống bạn vào cachot, còng bạn đủ kiểu. Nó cho bạn ăn uống theo tiêu chuẩn kỷ luật. Nó cấm vợ con bạn thư từ, tiếp tế. Bạn sẽ chết thảm ở cachot. Lịch sử không hề biết nên sẽ chẳng bao giờ viết. Bạn chết rồi thì chỉ còn một người biết. Là chấp pháp. Nó không ngu gọi bạn là anh hùng. Biên bản… chết của bạn sẽ ghi: Chết bệnh. Nếu bạn không chết, bạn trở về phòng, bạn cũng không dám khoe thành tích. Bạn tù thương bạn lắm. Ngàv thăm nuôi, bạn mỏi mắt đợi quà. Bạn đã bị cúp dài hạn. Anh em ngưỡng mộ vị anh hùng, một dúm mì, một trái chuối, một miếng thịt. Một lần thôi nhé! Chỉ một lần. Nếu bạn xuống máu anh hèn, bạn lạy lục chấp pháp, khóc lóc thảm thê, vẫn chỉ bạn và chấp pháp biết. Chẳng ai chứng kiến cả. Không có chứng nhân ở phòng chấp pháp. Anh hùng và anh hèn đồng hạng. Lần thứ hai: Bạn ra tù, bạn vượt biên hay đi chính thức qua Mỹ qua Ảu, bạn sẽ viết hồi ký. Lúc ấy bạn phong bạn làm anh hùng, bất khuất. Những thằng hèn trong hồi ký của bạn là những thằng đã không cho bạn cục đường, muỗng nước mắm hay trái chuối, dúm mì. Những thằng hèn trong hồi ký của bạn còn là những thằng bạn ghét dù bạn chưa hề sống chung với nó ở tù. Bạn sẽ “nghe kể, nghe đồn” vô tội vạ. Yên ổn nói cái ta anh hùng và cái người anh hèn. Vì rằng, chỉ có ta với chấp pháp biết rõ cái ta. ít khi ta dám lôi cái ta hèn hạ ra phỉ báng. Ta lôi cái người hèn hạ ra phỉ báng để khoả lấp cái ta hèn hạ thì rất nhiều khi. Sự ấu trĩ, dần dà, bị khám phá. Và cái ta vô lại hiện nguvên hình.

Tôi biết có thằng vô liêm sỉ, một bồi bút trơ trẽn là Thanh Vân, tác giả cuốn sách vỏ tôm, nhan đề Sống như anh, diễn tả cuộc đời “anh hùng” Nguyễn Văn Trỗi. 1 Bồi bút Thanh Vân ngu xuẩn và hạ cấp đến độ cho Trỗi chửi nhau tay đôi với thẩm vấn viên của Cảnh Sát Đặc Biệt. Và vợ y, “chị Quyên trung hậu đảm đang” cũng vào Tổng Nha sa sả nguyền rủa “tay sai Mỹ Ngụy”! Chúng ta có thể viết lại Sống như anh, diễn tả trung thực, rất trung thực đoạn anh hèn Văn Trỗi ở phòng thẩm vấn. Anh Trỗi đã chết. Người thẩm vấn anh, có thể, đã chết hay đang nằm tù. Chứng nhân tuyệt tích, cần diệt nhân chứng. Hoá cho nên, anh hùng và anh hèn trên sách vở và trong cả lịch sử đều tùỵ thuộc lòng yêu mến và sự thù hận, tùy thuộc mục đích tuyên truyền chính trị và tham vọng đè hèn. Và luôn luôn cần xét lại cả lịch sử, nhất là lịch sử viết bởi những anh thiếu tư cách.

Đến anh hùng Nguyễn văn Bé mới tức cười. Anh bị bắt ở một trận đánh tại Định Tường, xin hồi chánh, phục vụ Cảnh sát quốc gia. Hà Nội suy tôn Nguyễn Văn Bé là anh hùng, truy điệu liệt sĩ Bé rỉ rả trên Đài Tíếng Nói Việt Nam. Anh Bé nghe đài. Anh Bé hoảng sợ. Anh Bé yêu cầu Cảnh sát quốc gia đổi họ thay tên và tạo lý lịch mới!

Ôi, anh hùng và anh hèn của thời đại khốn kiếp hôm nay, nghĩ mà buồn nôn. Càng buồn nôn hơn khi thấy anh nhanh chân tình nguyện đóng tiền trình diện học tập cải tạo luận anh hùng, anh hèn bị công an ập vào tư gia, còng tay, bịt mắt dẫn đi. Nếu bỏ anh hùng để chỉ luận anh hèn thì anh chưa đến lượt mình (sĩ quan giải ngũ mà) đã nhanh chân nộp tiền xin trình diện học tập cải tạo tư tưởng với triết lý sống đơn giản “nhanh chân có lời” thì anh này hèn rõ rệt. Nhưng anh này âm mưu xóa dấu vết hèn hạ của mình bằng cách luận tội người khác hèn hạ. Rốt cuộc, sự hèn hạ của anh ta cứ ám ảnh anh ta. Và cái cường độ của sự phô diễn anh hùng tự phong, rốt cuộc, là một tự khai thành khẩn “ăn vụng thịt nhà bếp, ăn cắp cơm cháy, ăn tranh phần cám heo” và ngồi nhà “vẽ chân dung Hồ chủ tịch” để trốn tránh lao động! Bạn đã từng biết anh này là ai không? Tôi sẽ định không nêu tên anh ta vì sợ anh ta nổi tiếng. Như vậy, tôi mang tội đố kỵ tài năng. Vậy để anh ta nổi tiếng. Thế thì anh ta là Tạ Tỵ đấy. Anh ta đã “nghe đồn” mà bảo tôi làm “ăng-ten” trong tù. Tôi không nghe ai đồn cả. Tôi viết đúng lời tự thú công khai của anh ta. 2 Và anh Tạ Tỵ đã công khai tự nhận rằng, ở trại cải tạo, anh ta đã “ăn vụng” và “ăn cắp.” Có lẽ, anh ta sẽ nổi tiếng, sẽ đi vào lịch sử văn học, không phải do tài năng hội họa, văn chương, thi ca. Mà do “ăn cắp” và “ăn vụng.”

Tôi không là anh hùng, không bao giờ là anh hùng. Cũng chẳng dám ôm mộng anh hùng. Làm anh hùng khổ lắm. Thường thì anh hùng chết rất đẹp và rất thảm. Và chết xong, anh hùng bị khai thác triệt để. Đó là anh hùng đích thực. Anh hùng giả vờ khổ hơn.

Anh hùng là anh hùng rơm
Cho một mồi lửa hết cơn anh hùng

Tôi chưa là anh hèn. Nhưng để bị bắt bỏ tù, ghẻ kềnh ghẻ càng, xin ngồi nghiêng chấp pháp từ chối, bắt ngồi nghiêm chỉnh, bị tống vào cachot không dám cãi, mạn đàm không ương ngạnh, lý luận… là hèn. Thì tôi đã hèn. Tiền nhân đã thông cảm tuyệt đối với những kẻ sa cơ thất thế.

Anh hùng như thể khúc lươn
Khi cuộn thì ngắn, khi vươn thì dài.

Biết dấu nanh vuốt lúc nào, biết chìa nanh vuốt lúc nào, đó là cái trí của anh hùng. Cựu ước kinh ghi chép: “Có một thời lên tiếng và một thời im lặng”. Khi không thể lên tiếng nói dõng dạc, nên im lặng hơn là nói lảm nhảm. Tân ước, Jésus dạy: “Đừng chống cự kẻ ác”. Phải, đừng chống cự kẻ ác khi mình nằm trong tay nó..

Tôi rất thích những câu ca dao miền Nam này:

Phượng hoàng gẫy cánh hẩm hiu
Sa cơ thất thể phải theo đàn gà
Bao giờ mưa thuận gió hoà
Thay lông trổ mã lại ra phượng hoàng.

Tiền nhân đã an ủi “chim quyên xuống đất ăn trùn”. Người đời xưa thương người đời sau là vậy. Theo tôi, người ta nên luận về lẽ sống chết hơn là luận anh hùng trong thời đại không hề có anh hùng. Hồ Chí Minh là anh hùng của Việt Nam cộng sản, lại là gian hùng của Việt Nam quốc gia. Ngô Đình Diệm là anh hùng của Việt Nam Thiên Chúa giáo, lại là anh hèn của Việt Nam Phật giáo, anh tay sai đế quốc của Việt Nam cộng sản. Trần Văn Bá là anh hùng của ông Lê Quốc Túy, lại là anh thường của ông Hoàng Cơ Minh. Vân vân… Ở tù cộng sản, khôn chết sớm, dại chết muộn, biết thì sống ngất ngư. Sống dễ hay chết dễ? Chết khó hay sống khó? Đông Chu Liệt Quốc có đoạn luận về lẽ sống chết như vầy:

Trình Anh và Công Tôn Cửu Chử cùng là gia nhân nhà họ Triệu. Khi Đỗ Ngạn Giả nắm quyền, xui vua Tấn diệt trung thần. Gia đình họ Triệu (Triệu Thuẫn phò Trùng Nhĩ phục quốc) bị giết hết. Một nàng dâu họ Triệu là công chúa, mang bầu chạy về cung trốn cuộc tàn sát. Công chúa hạ sinh một hài nhi đặt tên là Triệu Vũ. Đỗ Ngạn Giả hay tin, nhưng còn nể vua, chưa dám xông vào cung. Trình Anh và Công Tôn Cửu Chử bàn nhau cứu giòng máu cuối cùng của họ Triệu, vị thầy thuốc tín cẩn được mời vào thăm bệnh cho công chúa rồi bỏ hài nhí vào giỏ xách ra.

Công Tôn Cửu Chử hỏi Trình Anh:

– Sống để nuôi con chủ chờ ngày trả hận khó hay chết để tỏ lòng trung thành với chủ khó?

Trình Anh đáp:

– Sống khó.

Công Tôn Cửu Chử nói:

– Vậy nhà ngươi sống, còn ta chết.

Bèn lập mưu sống và chết. Đúng lúc công chúa hạ sinh cậu bé Triệu Vũ, vợ Công Tôn Cửu Chủ cũng hạ sinh một nhóc tì. Trình Anh làm “ăng ten” đi báo Đỗ Ngạn Giả rằng Công Tôn Cửu Chử dấu hài nhi họ Triệu. Đỗ Ngạn Giả vây nhà Công Tôn Cửu Chử. Công Tôn chỉ mặt Trình Anh nguyền rủa tội lừa thầy, phản bạn, “ăng ten”. Đỗ Ngạn Giả đâm chết Công Tôn Cửu Chử, quật nát hài nhi, giết cả nhà Công Tôn Cửu Chử. Nhở đó, Trình Anh mới đem Triệu Vũ xa kinh thành, nuôi dưỡng, chỉ dạy. Sau này, Triệu Vũ diệt Đỗ Ngạn Giả, khôi phục họ Triệu.

Lẽ sống chết ở đây. Tôi không nuôi tham vọng trả thù ai. Tham vọng của tôi là viết một cuốn sách có ý nghĩa cho đời mình và trả lời câu nói miệt thị của cộng sản “thế giới đâu đã đọc sách của các anh”. Và tôi cần sống. Giá nào tôi cũng phải sống. Cách nào tôi cũng phải sống. Và tôi vẫn sống.

Tôi dập điếu thuốc:

– Ở tù khó mơ mộng lắm, anh ạ!

Chấp pháp số 6 gật gù:

– Tại anh không thích mơ mộng thứ anh mơ mộng. Anh mơ mộng viển vông nên anh thiếu thực tế.

Hắn gợi ý:

– Bồn Lừa là nhân vật lý tưởng của giai cấp. Bố nó là công nhân. Nó thông minh trùm lấp bọn con cái tư sản. Nó tài năng xuất chúng. Bồn Lừa, cuốn truyện tốt. Đổì mầu cờ. Không, viết rõ rệt cờ tổ quốc là cờ tổ quốc của chúng ta, thêm giai cấp tính cho Bồn lừa, cuốn sách hoàn toàn. Chúng ta cần nhân vật tuổi thơ vô sản thần tượng..

Hắn nhìn tôi:

– Liệu anh còn viết nổi những cuốn như Bồn Lừa?

Không thèm nghe tôi trả lời, hắn ngó đồng hồ, đứng dậy:

– Tôi sẽ làm việc với anh sau.

Thế đó, chấp pháp số 6 làm việc với tôi thật ngắn ngủi. Hắn đưa tôi về 1 C-1 và không tống tôi vào cachot.

——————————–

1Xin đọc thêm Thời của đàn bà. cùng tác giả. Nam Á Paris xuất bản.
2Tạp chí Ngày Nay, xuất bản ở Wichita, Hoa Kỳ, số 46, thảng 5-1985.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 21 Jun 2024

Phần 13

Cùng buổi chiều Thanh Thương Hoàng vào cachot, Hồ Văn Đông, Trịnh Viết Thành, Như Phong, Doãn Quốc Sĩ cũng túi bị vào cachot. Chủ nhiệm nhật báo Quyết tiến trụ trì cachot số 6. Chủ bút nhật báo Quật Cường trụ trì cachot số 3. Tác giả Sầu mây chiếm cachot số 11. Tác giả Khói Sóng 1, cuốn tự điển Việt Nam Quốc Dân Đảng, cắm dùi ở cachot số C-2. Những cachots còn lại của C-1 dành cho quý vị đại đức Ấn Quang. Thượng tọa Thích Quảng Độ trụ trì cachot số 7. Được đúng tuần lễ, kể từ hôm Thanh Thương Hoàng giã từ 6C-1, ba chúng tôi, Hồng Dương, Nguyễn Hải Chí, Duyên Anh, nhận lệnh rời phòng. Người công an chấp pháp nói: “Các anh cần đổi nước”. Chúng tôi đã tưởng đi xa. Cuối cùng thì Nguyễn Hải Chí sang khu A; Hồng Dương và tôi vào 1C-1, cái phòng bẩn cả nội dung lần hình thức. Thời gian này, cửa nhà giam đã trổ rộng một nửa gần chấn song và ống nước đã vô phòng. 1C-1 hưởng dưỡng khí và ánh sáng 24/24 đầu tiên. Trưởng phòng 1C-1 tên là Nguyễn Hữu Trí. Hắn vốn làm tài xế tắc xi sau khi giải ngũ. Ở quân đội, hắn đeo lon thượng sĩ. Hồng Dương miệt thị hắn là Trá xế. Trí cấu kết với Viên và Quang. Về sau ba đứa tách rời. Cả ba cùng vượt biên đường bộ, bị bắt ngay tại bến xe đò Pleiku. Phó phòng tên Đảm, quen biết chúng tôi bên Sở Công An. Đa số tù nhân bên 1C-1 là những người tuổi trẻ, đủ thành phần, vượt biên đường bộ, từ Pleiku, Bạn Mê Thuột chuyển về.

Chế độ nhà tù ở Pleiku, Ban Mê Thuộc hết sức tồi tệ. Tù nhân bị tịch thu hết, chỉ còn bộ quần áo dính thân thể. Họ không được tắm gội cả tháng nên ghẻ lỡ kềnh càng, chấy rận lổn ngổn. Ở mấy nhà tù cao nguyên, nhóm tù nhân này đã hục hặc nhau, chia bè kết đảng. Và bộ ba Trí-Viên-Quang bị bọn trẻ thù ghét. Trở về đề lao Gia Định, Nguyễn Hữu Trí vẫn làm trưởng phòng. Giữa hắn và phó phòng Đảm không ưa nhau. Thêm thư ký Miên coi thường hắn nên hắn bám chặt cai ngục. Hắn chỉ sợ mất chức trưởng phòng. 1C-1 ngoài Nguyễn Hữu Trí nham hiểm, còn có “nghệ sĩ” Ngô Văn Sự. Tên này bị gù, có tài về trang trí. Sử nói phét thánh trời. Hắn tự nhận hắn là Chóe, quen thân với Nhã Ca, Duyên Anh, Doãn Quốc Sĩ… Bất ngờ chúng tôi vào 1C-1, Ngô Văn Sử bị anh em lột mặt nạ. Đó là sự bất hạnh của hai chúng tôi. Sử được ra ngoài sơn cửa các phòng tù. Hắn cấu kết với Trí. Hồng Dương và tôi là hai đối tượng báo cáo của hai đứa. “Chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên”. Tôi không quan tâm hai thằng vô lại này mà rất quan tâm chấy rận vượt biên xâm lăng tôi.

Tôi bắt đầu ghẻ nhiều ở 1C-1. Chúng tôi vẫn chưa được gặp vợ con. Đúng lúc ghẻ hành hạ tôi, vợ tôi viết thư báo tin buồn: “Ông ngoại đã chết. Em mặt áo tang đến xin gặp bố, người ta từ chối”. Thật sự, tôi muốn quên chuyện gia đình. Nhưng muốn quên thật khó. Mà nhớ thì lòng dạ như bị xát muối. Nhìn khuôn mặt hốc hác của Trịnh Viết Thành dán chặt vào ô cửa gió cachot số 3, Hồng Dương bảo tôi:

– Sắp đến lượt mình.

Tôi không sợ cachot. Tôi thèm nằm cachot. Rất giản dị, ở cachot, tôi chẳng cần đề phòng ai. Cachot đề lao Gia Định lý tưởng lắm, nếu không bị còng tay chéo chân để ngủ ngồi. Nhờ ghẻ nặng, tôi loay hoay với ghẻ cả ngày. Khởi sự là ghẻ nước. Ghẻ mọc từng cụm trên mu bàn chân. Vừa khều nặn xong vài mụn, vài mụn khác đã mọc quanh. Chuyện khó tin mà có thật. Cả 1C-1 ghẻ. Ngót 50 tù nhân ngồi nặn ghẻ mủ, ghẻ nước. Tất cả bị nấm tấn công “hạ bộ”. Đàn Ta-Lư gẩy liên miên. Cơ thể tôi thiếu sinh tố.. Da khô và mỏng. Chất nhờn trên mặt da không bài tiết nữa. Ở 6C-1, tôi nặn hết nước, nặn ra máu, thấm khô rồi bôi thuốc xanh, mụn ghẻ chịu ngay. Ở 1C-1, nặn hết nước, bôi thuốc, nước cứ đùn ra. Nước đùn rạ, ghẻ mọc thêm. Ghẻ mọc cả trên mụn ghẻ mới khỏi. Ghẻ tấn công ngược. Bắt đầu ở chân, rồi lên đùi, háng, mông. Ghẻ nước lỡ toét bị nhiễm trùng thành ghẻ mủ. 1C-1 có mấy “dũng sĩ” ghẻ. Hai cẳng ghẻ cơ hồ cơm cháy đắp lên. Nước vàng ri rỉ cả ngày. Bục xi-măng nhớp nhúa. Manh chiếu khô cứng máu mủ, nước vàng. Mùi vị tanh tưởi nồng nặc. Tôi đã ăn, ngủ, hít thở cùng mùi vị tanh tưởi mủ ghẻ ấy. Khi ghẻ mủ mọc khắp cẳng, đùi và đầy mông, tôi mất ngủ. Nằm nghiêng hằng đêm, tôi thao thức. Các bạn trẻ của tôi nhờ dễ ngủ mà bớt ngứa, bớt đau. Nhức ghẻ mủ, ngứa nấm ăn “hạ bộ”, hai cái thái cực quái đản nầy tưởng xa mà gần, tưởng mơ hồ mà hiện thực. Tôi vốn khổ từ niên thiếu. Những nỗi khổ tôi đem vào đời, những nỗi khổ tôi làm cuộc đời tôi, tôi ngỡ đã ghê gớm lắm. Vất đi tại đề lao Gia Định. Vất hết đi. Tôi nằm nghiêng trên hai gang chiếu của phòng 1C-1, ngửi mùi tanh mủ ghẻ, nuốt đắng cay, nghiến răng chịu nhức nhối. Để nhập môn thống khổ.

Sau khi đi học tập viết tự khai và sau khi viết tự khai tại phòng, người ta tách Hồng Dương khỏi tôi. Hồng Dương từ giã tôi. Từ đó tới nay, tôi chưa gặp lại. Tôi không tin tên Nguyễn Hữu Trí báo cáo Hồng Dương. Thời gian chuẩn bị thẩm vấn, người ta cách ly chúng tôi. Để tránh trao đổi ý kiến. Hồng Dương đi, 1C-1 có thay đổi. Anh em vượt biên được gia đình tiếp tế. Xà phòng tắm gội. Quần áo cũ loại bỏ. Phòng bớt tanh và chấy rận bớt dần. Viên đi. Quang đi. Đảm đi. Nguyễn Hữu Trí hòa hoãn với thư ký Nguyễn Hữu Miên và mọi người. Vợ hắn không nuôi hắn. Hắn chợt hiểu cai ngục không cho hắn mì vụn và uống cà phê. Hắn bám anh em. Ngô Văn Sự chuyển trại. Mọi việc bình thường. Tôi bình yên nằm nghiêng nghe mủ mưng trên cơ thể. Lãng mạn một chút, tôi bảo thống khổ mưng giữa nỗi đời cơ cực của tôi.

Tháng 7, 1976, đề lao Gia Định tiếp nhận hàng ngàn tù nhân phản động bình dân. Gọi là phản động bình dân để phân loại. Ngày 30-4-75, các nhà tù thành phố được giải phóng hết. Nhưng 1-5, nhà tù mở cửa đón khách mới. Lâm Văn Thế là khách khai trương. Từ tháng 6-1975 đến tháng 5-1976, đề lao tiếp nhận tù nhân phản động trí thức. Thời điểm rực rỡ này là thời điểm của sinh viên, học sinh, luật sư, giáo sư chống phá cách mạng. Bây giờ là thời điểm của nông dân, công nhân, phu nhà đòn, lơ xe đò, du đãng… Những nhà nghiên cứu Mác xít sẽ nhức đầu về hiện tượng phản động bình dân. Ngoài tù nhân phản động bình dân, tháng 7-1976, đề lao cũng tiếp nhận hàng ngàn tù nhân vượt biên bị bắt. Người ta sắp xây thêm các khu D, E… 1C-1 phải chứa 60 tù nhân! Tôi đã phiêu bạt khá nhiều phòng giam của đề lao Gia Định. Và tôi có một nhận xét: Tỷ lệ đại đức thượng tọa vượt biên 1%, linh mục 99%; tỷ lệ đại đức thượng tọa phản động 99%, linh mục 1%. Những người vượt biên thuộc đủ mọi thành phần xã hội. Vượt biên đường biển thì bị chặn bắt ngay tại Phú Lâm. Vượt biên đường bộ thì bị chặn bắt ngay khi vừa bước xuống các bến xe đò Pleiku, Ban Mê Thuột. Hài hước của vượt biên đường bộ có ông giáo sư họ Mai là biểu tượng. Ông này mang theo ba đôi giày deluxe, hai bộ complet, chục cái cà-vạt, chuẩn bị họp báo ở Vọng Các. Bi thảm thì có cậu cháu anh thợ hàn xì lạc rừng mây ba ngày, đói quá, bẻ trộm bắp, bị mọi cộng bắt trói đem giao nộp Việt cộng. Đúng lúc 1C-1 đông nghẹt, tôi được gọi ra làm việc. Người ta dẫn tôi sang phòng chấp pháp khu B. Tôi cặm cụi đi, không nhìn ngang nhìn dọc. Công an chấp pháp ngồi đối diện tôi. Hắn ta cao lớn, mặt rỗ hoa mè, mặc áo sơ-mi mầu trứng sáo. Chỉ cái ghế trước bàn giấy, hắn bảo tôi ngồi.

– Tôi xin anh một ân huệ?

– Gì?

– Tôi bị ghẻ mủ đầy mông, anh cho tôi ngồi nghiêng.

– Không. Anh phải ngồi ngay ngắn. Vì anh làm việc với đại diện của Đảng (Hắn dân Bắc kỳ, giọng nói miền biển Tiền Hải)

– Hiểu chưa?

– Tôi hiểu.

Tôi đã đụng độ ba thằng việt cộng đằng đằng thù hận. Thằng thứ nhất bên Sở Công An, phòng lý lịch. Nó quát tháo khi thấy tôi ngồi gác chân. Nó bắt tôi ngồi nghiêm túc và mang tội thiếu… văn hóa. Thằng thứ hai ở đề lao. Nó đến cửa 6C-1 ghi lý lịch tôi. Nó mắng tôi nói láo vì tôi khai tôi là nhà văn chế độ cũ. Nó muốn tôi khai tôi là tay sai chế độ cũ. Thằng thứ ba đang đứng trước mặt tôi. Hắn nhìn tôi, hất hàm:

– Khi các anh bắt cộng sản, các anh đối xử thế nào?

Tôi chưa ngồi, tôi vẫn đứng.

– Chúng tôi không bắt ai. Chúng tôi không có quyền bắt ai. Chúng tôi không thích bắt ai.

Tôi nói thêm:

– Nhà văn không phải là nhà cầm quyền.

Phản ứng của tên chấp pháp Bác Kỳ là nụ cười nửa miệng.

– Anh không phải là ngụy quyền?

Tôi đáp:

– Phải.

Hắn dập điếu thuốc lá:

– Nhưng anh là tay sai của ngụy quyền, các anh là tay sai của ngụy quyền, bọn nhà văn Sàigòn là tay sai của ngụy quyền.

Tôi nói:

– Đó là ý nghĩ của anh.

Hắn gằn giọng;

– Của nhân dân. Các anh nhận tiền của Mỹ, của Ngụy chống phá cách mạng, tạo ra chiến tranh tâm lý. Anh muốn tôi kể tên những thằng chống cộng ăn lương Mỹ Ngụy không?

– Anh đừng kể.

– Anh xấu hổ à?

– Tôi đã biết. Chính chúng tôi đã công kích chúng nó công khai.

Chúng nó. Chỉ có vài thằng thôi! Đứa lấy tiền của Juspao, của Usis qua trung gian Lý Trung Dũng. Đứa lấy tiền của Ngô Đỉnh Diệm qua trung gian Bùi Kiến Tín. Đứa lấy tiền của Sở Nghiên Cứu Chính Trị. Đứa lấy tiền của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Đứa lấy tiền của Asian Foundation… Toàn những khuôn mặt khoa bảng và văn nghệ hàng đầu cả. Hai ba đứa làm tôi mọi cho đài phát thanh chiến lược Mỹ. Những thằng nhà văn “for rent” này đã chuồn hết. Chúng tôi ở lại chịu nhục. Chịu nhục với công sản chưa đủ, còn bị chúng nó bêu nhục trên đất Mỹ. Tôi đã cố dằn phẫn nộ để im lặng về thái độ bần tiện của chúng nó khi chúng nó toa rập nhận chìm tôi xuống bùn nhơ. Rõ rệt, chúng nó đã “bắt nạt tôi những ngày đầu lưu vong của tôi”.

– Anh công kích?

– Người khác.

– Ai?

– Anh có đọc một bài báo của Nguyên Sa không?

Hắn bảo tôi:

– Anh ngồi xuống.

Tôi hỏi:

– Ngồi nghiêng?

Hắn lắc đầu:

– Ngồi ngay ngắn, ngồi nghiêm túc.

Tôi ngồi ngay ngắn. Nỗi đau khác đã làm bớt nỗi đau ghẻ mủ. Tôi biết sức nặng của phần trên thân thể đã bắt những mụn ghẻ mủ ở mông tôi vỡ ra. Tên công an chấp pháp biết rõ hơn. Hắn thích vậy. Hắn muốn nhìn tôi đau đớn. Bao thuốc chìa ra, hắn mời:

– Anh hút thuốc.

Tôi rút một điều thuốc Vàm Cỏ. Hắn quẹt diêm cho tôi mồi thuốc.

– Tôi gọi anh ra để mạn đàm.

Hắn nhả khói thuốc.

– Mạn đàm cũng là làm việc đấy.

Cuộc mạn đàm bắt đầu.

– Anh xa nhà mấy tháng rồi, anh Duyên Anh, thần tượng của tuổi trẻ?

Giọng mỉa mai, hắn bĩu môi nói hai tiếng “thần tượng”. Mạn đàm với hắn là vấn nạn, đối với tôi, với chúng tôi, những nhà văn, nhà thơ bị bỏ tù.

– Tôi không là thần tượng của ai cả. Tôi đã viết điều này. Làm thần tượng có hai điều khổ. Một, trở thành nô lệ của những kẻ phong tước vị cho mình. Hai, sẽ bị đạp đổ.

– Anh đã được coi là thần tượng?

– Tôi thành thật khước từ.

– Tại sao?

– Tôi thích tự do làm theo ý của tôi. Thần tượng, tôi phải làm theo ý của người khác. Khác ý họ, tôi bị đạp đổ nhục nhã. Nhưng thần tượng là cái gì? Theo tôi, thần tượng là đất nung, gỗ đẻo.

– Anh ám chỉ ai?

– Tôi nói tôi.

– Mà anh mà là thần tượng à?

– Anh vừa bảo tôi là thần tượng.

– Anh tin tôi thành thật ư?

– Cách mạng không bao giờ gian dối.

Hắn nhìn thẳng mặt tôi, đôi mắt hắn long xồng xộc:

– Lũ các anh là thần tượng móc méo, xỏ xiên. Tôi hỏi anh xa nhà mấy tháng rồi?

Hắn chuyển đoạn cau có. Tôi chậm rãi đáp:

– Tôi vào tù từ 8-4.

– Ai bảo anh vào tù?

– Cán bộ Ba Trung bên Sở.

– Anh đi học tập cải tạo tư tưởng.

– Tôi xa nhà.

– Anh xa nhà đi hoc.

– Vâng, tôi xa nhà đi học được bốn tháng rồi.

– Thấy thế nào?

– Nhớ vợ, thương con.

– Có vậy thôi?

– Phải, có vậy.

– Không thấm thía à?

– Không.

– Thế là chưa tiến bộ, chưa có chuyển biến tư tưởng. Anh cần học tập lâu hơn.

– Tùy anh.

– Tùy ở chính bản thân anh đấy.

Thằng rỗ mặt hoa nầy coi bộ đã nhận chỉ thị áp đảo tinh thần tôi. Tất cả những nhà văn, nhà thơ làm việc, bị mạn đàm đều bị làm khán giả xem kịch sĩ công an thủ các vai Ác và Thiên. Hễ hôm nào bị Ác át giong, ngày mai sẽ được Thiện vuốt ve. Ác bít lối, Thiện mở đường. Thiện thỏa mãn yêu sách chưa được thực hiện, Ác đã xoá bỏ ngay tức thì. Thằng mặt rỗ hoa mè mặc áo sơ mi mầu trứng sáo, tháng 6 năm 1977, gặp Doãn Quốc Sĩ ở 3C-1, kể lại cuộc mạn đàm, anh Sĩ nhận ra “cố nhân” liền. Anh Sĩ nói: “Nó đã dọa chặt tôi ra làm ba khúc xem thân thể tôi có là kim cương. Chính nó tống tôi vào cachot.”

– Anh Duyên Anh.

– Tôi nghe.

– Đồng chí Ba Trung bảo anh vào tù là đúng.

– Tôi không xa nhà đi học?

– Anh nằm tù.

– Anh vừa nói …

– Bây giờ là chân ly, anh nằm tù. Anh nằm tù suy nghĩ tội ác. Các anh nằm tù suy nghĩ tội ác.

Bổng hắn hất hàm:

– Thằng Doãn Quốc Sĩ thế nào?

Tôi thừa hiểu, khi chúng nó nói chuyện với nhau, khi chúng nó nói với anh em của tôi, chúng nó cũng gọi tôi là thằng Duyên Anh, như lãnh tụ của chúng nó mở miệng là thằng Diệm, thằng Nhu…

– Đó là thằng được nhiều người kính trọng.

– Thằng Doãn Quốc Sĩ được nhiều người kính trọng? Nó ví Hồ Chủ Tịch là chồn tinh chín đuôi. Vũ Hạnh báo cáo thằng Sĩ thường nhục mạ Bác. Sàigòn có ba thằng đáng tội chém. Thằng Doãn Quốc Sĩ viết cổ tích lăng mạ lãnh tụ Hồ Chí Minh. Thằng Chóe vẽ cờ tổ quốc cắm lên cán chổi. Còn anh, anh ví cờ tổ quốc với xì-líp đàn bà có kinh. May cho các anh, Biệt đôi bận việc khác, chứ không, các anh đã ăn đạn như thằng Chu Tử.

Chu Tử viết Ao thả vịt của nhật báo Sống, chê “Hồ chủ tịt làm thơ như cục kít”. Tôi xin phép được nói rõ về trường hợp Chu Tử và sau đó, một vài trường hợp ngộ nhận quốc gia sát hai quốc gia. Thuở báo Sống chống đối sự thừa thắng xông lên của các ông sư chính trị, nhóm Phật giáo quá khích đã đốt tòa soạn Sống, đốt luôn chiếc xe Vespa mới toanh của nhân viên trị sự tên là Vũ Hải Vân. Chu Tử nổi giận. Nhật báo Sống đánh sư chính trị, sư thành phố thả giàn. Chu Tử bị mưu sát. Chúng tôi quả quyết thủ phạm là thượng tọa Thích Thiên Minh. Báo chí Sàigòn tỏ thái độ với Phật tử ồn ào xuống đường và lãnh tụ của họ. Tự nhiên, nhà cầm quyền hưởng lợi. Chẳng cần thuê mà báo chí xúm nhau “mần thit” những kẻ chống đối mình. Rồi thượng tọa Thích Thiên Minh bị mưu sát. Phật giáo Ấn Quang đổ riết tội cho nhà nước. Nhà nước, nhà chùa, nhà báo chơi nhau lung tung beng. Nhà báo bảo nhà chùa … dàn cảnh. Đến khi chết giữa biển và chết trên quê hương, Chu Tử vẫn tưởng Thích Thiên Minh bắn mình và Thích Thiện Minh vẫn tường nhà nước hại nhà chùa. Tôi, nhờ nhà tù, tai nghe rõ cộng sản xác nhận họ bắn Chu Tử. Họ gây xáo trộn tình hình Sàigòn. Từ đó, tôi nhận diện thủ phạm ám sát Nguyễn Văn Bông và Trần Văn Văn. Tôi vốn không ưa ông Kỳ và không hưởng bổng lộc gì của ông Loan, nhưng tôi muốn đóng góp một chút sự thật vào sự thật của lịch sử. Trong cuốn Một người tên là Trần Văn Bá, tôi viết ông Nguyễn Cao Kỳ và ông Nguyễn Ngọc Loan không hề ám hại nhà chính khách đối lập Trần Văn Văn. Thủ phạm vẫn chỉ là việt cộng, tác giả các vụ Chu Tử, Thích Thiện Minh, Nguyễn Văn Bông, Trần Văn Văn,… Phản ứng của bà Trần Văn Văn là, căn cứ vào một tờ báo lưu vong xuất bản tại Úc Đại Lợi, ký tên một tác giả không ai biết, vẫn khẳng định Kỳ, Loan giết chồng bà. Những ngộ nhận tại hai điển hình vừa kể, cần phải chấm dứt. Còn ngộ nhận là còn chơi trò chơi tạo mâu thuẫn của cộng sản.

– Tại sao anh dám ví cờ tổ quốc với xì-líp đàn bà có kinh?

– Tôi không biết trả lời.

Trả lời thế nào? Trả lời hôm nay, khi ngồi viết hồi ký ở Ivry Sur Seine rằng, tôi ví cờ tổ quốc của anh với xì-líp đàn bà có kinh vì tôi ghê tởm cờ tổ quốc anh. Tôi không ham nói phét, dẫu nói phét không bị đánh thuế và dẫu có thể được coi như ngục sĩ anh hùng. Cuộc đời đã thừa thãi những anh Rambo, chẳng nên thêm tôi. Ở cuốn Đàn bà, người đàn ông bị vợ từ chối không cho làm tình, gã hỏi “Hôm nay em kéo cờ cộng sản hả?”. Tôi dám ví cờ đỏ sao vàng với xì-líp đàn bà có kinh? Cộng sản chụp mũ tôi. Họ ví chứ tôi không ví.

– Anh chỉ biết viết?

– Tôi không biết trả lời.

– Anh không trả lời?

– Anh hiểu tôi khó trả lời mà.

– Anh cần suy nghĩ.

– Phải.

Hắn tống tôi vào cachot khu B, khóa chặt cửa gió, không cho tôi về 1C-1 thu dọn hành lý, không phát chiếu, không còng tay. Cuộc mạn đàm kết thúc như vậy. Tôi có dịp biết cachot. Và tôi bằng lòng ở cachot. Cachot là phòng lý tưởng của khách sạn quốc doanh đề lao. Đang nằm nghiêng trên hai gang chiếu ở cái phòng tập thể nhung nhúc tù nhân, nồng nặc mùi mồ hôi, hôi nách, ghẻ mủ, được nằm thoải mái một bục xi-măng láng coóng, yên tĩnh, cầu tiêu, vòi nước riêng, tôi cảm giác mình được cách mạng đãi ngộ. Đối diện dãy cachot nhốt tôi là các phòng tập thể khu B dành riêng cho nữ tù nhân. Tôi không nhìn thấy ai cả. Thú thật, lúc ấy tôi quên sợ hãi. Càng ở tù lâu, hai chữ cũng đành càng lớn và cảm giác sợ hãi nhỏ dần. Ngồi mạn đàm với đại diện của đảng cộng sản quang vinh, những mụn ghẻ mủ ở mông tôi vỡ ra, ướt nhẫy đít quần. Bây giờ, quần bám chặt vào mụn ghẻ tạo thành mảng mài lớn, khô cứng. Tôi không dám gỡ ra, sỡ máu sẽ chảy và lại thành mảng mài lớn. Với riêng nỗi khổ ghẻ mủ, tôi đã muốn ngồi lên mặt những đứa bịa đặt chuyện bêu nhục tôi ở tù bằng cái đũng quần cứng khô máu mủ. Nhưng mà tôi đã ngồi lên mặt chủ nghĩa cộng sản. Như thế hách hơn.

Người ta không cho tôi ăn cơm trưa, không cho cả nước sôi. Tôi ghé miệng vào vòi nước, vặn rô-bi-nê uống nước phông tên. Rồi tôi nằm duỗi chân, dang chân thoải mái mà ngủ. Cơn mưa lớn đã ru tôi ngủ ngon. Khi tôi thức giấc, mưa đã tạnh và ngọn đèn vàng trong cachot đã bật. Mụ cai ngục lùn, mắt lé mở khóa. Tên công an chấp pháp mặt rỗ huê đợi tôi bước ra. Hắn hỏi tôi:

– Anh suy nghĩ chưa?

Tôi nói:

– Đói quá, tôi không suy nghĩ được.

Hắn nín thinh dẫn tôi về khu C-1, giao tôi cho cai ngục. Tôi trở lại 1C-1 ồn ào và tiếc rẻ cachot khu B. Sáng sớm hôm sau, trước cả giờ báo thức, cai ngục gọi tôi ra làm việc. Tên công an rỗ hoa dẫn tôi ra khu A, tống tôi vào cachot. Nhờ ví cờ cộng sản với xì-líp đàn bà có kinh, tôi biết thêm cachot khu A, khu sát khít trường Hồ Ngọc Cẩn. Hôm nay tôi bị còng tay chéo sau lưng. Vẫn bị cúp bữa cơm trưa, cúp nước sôi. Chập tối, tên công an rỗ hoa lại dẫn tôi về khu C-1. Một tuần liền, sáng sớm tinh mơ tôi vào cachot, chập tối tôi ra cachot với vài kiểu còng tay, còng chân. Bố tôi, tháng 9-1975, đi lẻn vào Sàigòn, dạy tôi kinh nghiệm ngục tù: “Ăn ít, dù gia đình tiếp tế đầy đủ. Tập thắt dạ dày, vì, sẽ bị nhịn vài ngày”. Nhờ kinh nghiệm của bố, được … học tập ăn một bữa suốt tuần, tôi đã tồn tại.

Trò chơi của tên công an chấp pháp rỗ hoa đến đó là chấm dứt. Hắn không cho tôi ngủ đêm ở cachot. Hắn cũng quên hỏi tôi “Suy nghĩ chưa”. Tôi bị bỏ rơi ba ngày liền. Lúc này, Doãn Quốc Sĩ đã từ cachot 12 chuyển về cachot số 1 đối diện phòng tập thể của tôi. Trịnh Viết Thành, Hồ Văn Đông bị sang Sở Công An. Chuyến đi này có thêm Nguyễn Mạnh Côn. Bên cachot C-2, Như Phong vẫn khước từ viết tự khai. Bệnh ghẻ mủ của tôi không thuyên giảm. Có mòi tăng triển. Ghẻ báo động … đỏ. Mỗi tuần, vào buổi trưa nắng, đề lao cho tù nhân ra phơi nắng 10 phút. Phòng này vào, phòng kia ra. Tù nhân ngồi nguyên chỗ của mình. Các cửa gió của cachot đóng kín, đề phòng liên lạc bằng dấu hiệu. Mười phút nắng chỉ làm ghẻ buồn cười. Hôm tắm nắng, đồ đạc treo lên hết. Trực sinh rửa phòng và y tế xịt thuốc trừ chấy rận. Tôi khám phá ra sự thiếu máu. Ở ngoài nắng bước vô, mắt tôi mờ đi mấy phút. Tôi ôm mặt đứng. Cứ ngỡ mình đã bị lòa. Tôi thèm nói chuyện mắt với Doãn Quốc Sĩ. Anh ta không hề dán mặt vào ô gió cachot như những tù nhân khác. Sáng sớm, Sĩ chạy tại chỗ. Rồi thiền và ngủ. Vợ tôi vẫn tiếp tế đều đặn. Qua ba ngày không thấy tên công an chấp pháp rỗ hoa gọi ra, tôi ngỡ đã yên thân. Tôi nhầm. Cai ngục lại réo tên cúng cơm của tôi.

– Vũ Mộng Long.

– Có.

– Mặc quần áo ra làm việc.

——————————–

1Viết tiểu thuyết, Như Phong ký Lý Thắng. Trường thiên tiểu thuyết Khói Sóng đăng dang dở trên nhật báo Tự Do trước 1963.

Giới nghiêm  

Sangtao.org

Hồ đình Nghiêm
Post by Sơn râu 20 Jun 2024

Một

 Trời nhiều sương khi chúng tôi ra khỏi rạp chiếu bóng. Cuốn phim không mấy hay nhưng tôi vẫn tiếc rẻ chỗ ngồi ấm cúng. Phim chẳng dài vì cái kết thúc có hơi đột ngột. Tại sao người ta không kéo thêm giờ mà lại nỡ lòng buộc hai nhân vật chính phải diễn tuồng lià xa?

 Tôi đưa Nga về. Nhà Nga ở đường Phan Đình Phùng, xuống khỏi dốc Minh Mạng thấy những ngọn đèn vàng còn đong đưa sáng cảnh chè cháo xì xụp ở mỗi hàng quán, tôi hỏi Nga có đói bụng không? Nga lắc đầu. Gió lạnh đi quanh chúng tôi, tôi ưa ôm vai Nga nhưng lại sợ hãi điều gì, mơ hồ, vô cớ. Tôi luôn là đứa vụng về ở mỗi một biểu tỏ. Nga ít nói, gần như câm nín suốt cả con đường loang lỗ bóng cây. Những ngọn đèn cũng thế, có vẻ lúng túng khi cháy đỏ, rót xuống không đều khoảng sáng tối. Cuốn phim như để lại trong Nga nỗi ám ảnh và Nga yếu đuối không thấy được đâu là sự khác biệt giữa phim ảnh và cuộc đời, giữa những hoang tưởng và sự thật trần trụi.

 Đã mười giờ, tôi biết sắp tới giờ giới nghiêm của riêng Nga. Nga như một người lính về lại đồn bót đúng giờ và người lính đó mãi tin rằng kỷ luật luôn là sức mạnh của quân đội. Đồn bót? Có thể gọi căn nhà Nga ở bằng hai chữ đáng ghét ấy không? Căn nhà có lối đi trải sỏi, có cánh cổng gỗ và những cọc nhọn dùng làm hàng rào thảy đều sơn trắng. Tôi chưa gặp mặt ba má Nga nhưng cảnh trí bày biện ở mặt tiền căn nhà khiến tôi mường tượng ra vẻ nghiêm khắc luôn có trên gương mặt lãnh đạm của họ. Tôi nghe bạn bè trong lớp thông tin là họ có phần hùn với một công ty xuất nhập khẩu nào lớn lắm, và chính điều này dường như khiến tôi co quắp không ưa đụng đầu họ. Tôi hình dung ra cảnh một đứa con trai buông thỏng hai tay, đứng không cục cựa trước những gạn hỏi của “qúy vị phụ huynh” luân phiên tra khảo. Tôi ghét hình ảnh những hòn đạn bay ra và ghim đầy lỗ thủng trên một tấm bia. Còn Nga? Tôi không quả đoán được khi ấy cô có nhỏ nhẹ thành tâm khai báo với song thân là hắn ta ở Huế lưu lạc vào trọ học thuê nhà ọp ẹp lạnh lẽo bên đường Hai Bà Trưng; và giả như thất tình, ai kia khi rẻ thì hắn chẳng còn hồn viá nào mà lo việc sôi kinh nấu sử. Hắn xuống tóc và trái ngược với thầy tu, hắn chui đầu đi làm lính thú ở một tiền đồn khuất mắt xa xăm cho bỏ ghét.

 Cổng không treo bảng “Coi chừng chó dữ” nhưng luôn luôn nó là giới hạn cuối của chân đứng. Đứng ở đó để thấy hối hận dồn lên tự muôn phiá và sự tiếc nuối làm dằn vặt đủ điều, biến mình thành kẻ ngu ngơ thật lộ liễu. Những cọc nhọn hàng rào cao chỉ tới ngang rốn nhưng mang ngầm vẻ răn đe “vô phận sự cấm vào”. Nó là thứ vĩ tuyến rạch ròi mà chúng tôi chưa được ai trao sức mạnh để vi phạm “lấn đất dành dân”. Nó không bày biện ra đó một chậu hoa rậm lá như hoạt cảnh trong phim mà chúng tôi vừa mãn nhãn vãn tuồng, nơi thu dấu chiếc chià khóa riêng lẻ để “anh” mở được lãnh cung giữa đêm hôm khuya khoắt gió táp mưa mù.

 Con đường thật ngắn. Bao giờ cũng vậy, nó chỉ dài lê thê cho ai đó chở vợ đang đau bụng đẻ thôi. Nó luôn hà tiện cho những đôi tình nhân. Nó bắt người ta sớm đụng đầu với những gì khó nói nhất trong ngày. Thôi, về đi. Về? Còn sớm mà. Phải hai tiếng nữa thành phố mới tới giờ giới nghiêm. Đừng giỡn. Ngủ ngon… Gió nói lời thầm thì với đám lá cây trên đầu. Hơi lạnh mơn trớn vào da thịt nổi hột tái tê. Mặt đất chao đi trong thứ đèn đường quét những đường chổi vằn vện sáng tối xuống chân đứng. Một đôi chân kiệt sức. Buông tay Nga ra. Những ngón mãi mê cầm vùng vằng trườn thoát. Rùng mình, như thể bàn tay ấy đã rút về, mang tất thảy những nhiệt lượng theo nó. Như cắt tất cả những mạch điện trở khiến cỗ máy phải chết khựng lại. Đứt phim! Ăn mặc kiểu gì phong phanh quá, coi chừng bị cảm đó. Nga nói, giọng dễ thương chở đầy nỗi quan tâm, quan hoài, quan ngại ở nơi… quan san có nhiều quan sát. Nga cởi chiếc áo len đang mặc ra. Chiếc áo ấm, mềm mại, dịu dàng lan truyền nhanh vào xúc giác. Hương thơm ấp ủ ở đó nồng nàn hơn thảy những loài hoa nở ngát trong đêm mật ngọt. Và rồi cái nụ hoa rời cành, quay lưng, nhòa nhạt trên lối đi vào nhà xào xạc những viên sỏi trở mình thao thức. Tôi ôm chiếc áo như thằng ăn trộm sững sốt với thành quả đạo chích. Tôi mặc cái báu vật ấy vào người, một ngọn đuốc nóng cháy hừng hực bập bùng tỏa lan, ấm vô hạn. Sao tuyết không đời nào đổ xuống Đà Lạt để cho tôi có cớ dầm thân trong đêm, cho tôi chứng thực một điều thế nào là sức mạnh kỳ diệu của một chiếc áo ngự hàn vừa được cởi ra, bưng bít thân nhiệt của người tình ngây ngất.

 Hai

 Người đàn bà bước xuống xe. Trời mưa nhỏ hạt. Cây dù đen bung ra, gương mặt người đàn bà lưu giữ một vùng bóng tối. Bờ vai tròn, chiếc váy mỏng lay động những nụ hoa tím. Thứ màu mà có thi sĩ đã thảng thốt bôi lên cả một chiều hoang biền biệt. Buổi chiều hôm nay mưa trở về đột ngột, con đường nhão dưới bánh những chiếc xe chạy vụt ngang. Ở đây vẫn luôn có những chiếc xe kỳ cục, rộn ràng, hốt hoảng. Chẳng biết họ phóng tới đâu và rồi thất thanh rượt đuổi tán loạn về một hướng nào? Cấp bách và bất an. Giữa dòng chảy chẳng mệt mỏi kia vừa có một chiếc thắng đứng lại, bỏ quên hết mọi thứ, từ tốn đậu bên lề, chả thèm dòm những tín hiệu xem chỗ đậu ấy có hợp lệ không. Cây dù đen bung ra che nửa diện mạo. Và rồi người ấy băng qua đường. Mặt lộ có đoạn trông như một tấm gương soi, loang loáng đọng vào đấy những hình ảnh huyễn hoặc, của một quá khứ xa xăm, của một trùng lai bất khả.

 Quán cà phê tuy đông người nhưng chiếc bàn kê gần cửa kính vẫn luôn còn đó một ghế trống. Trước khi ngồi xuống, người ấy đưa tay níu cổ tôi lại gần để hôn. Nụ hôn mát rượi nước mưa, đâu đó gần sát môi, ngạt thở. Nga tới trễ vì ngoài đường 15 xảy ra tai nạn. Như chưa đủ, người ấy thêm thắt. Có lẽ cô ta sẽ chết mất. Chưa già lắm, chắc cỡ tuổi Nga. Mặt kiếng vỡ toang, máu bện một vạt tóc mai và xe cứu thương tới với tất cả sự chậm lụt. Tôi nhìn vào đôi môi vừa khép, nghĩ tới những tai nạn đã từng xảy tới cho hai đứa. Máu không đổ bởi đó là thứ nội thương. Trầm trọng, dai dẳng, rối loạn kinh mạch. Bác sĩ sẽ bảo: Hừ, chưa điên là may!

 Nga cần ăn uống chút gì không? Thôi khỏi, tụi mình luôn chẳng có nhiều thời giờ, phải không? Người ấy uống chút cà phê còn sót trong tách rồi đặt trả nó về lại vị trí cũ, nằm giữa hai tay tôi. Bên tay trái có ngón đeo chiếc nhẫn vàng, người ấy nói khi nhìn thấy nó: Nga vẫn tưởng mình là kẻ thong dong. Là kẻ đến sớm và ngồi chờ đợi. Hoá ra lại khác. Bệnh viện nằm đâu? Không xa, cách một con đường cắt ngang ngoài kia. Nga sẽ đứng đợi sau cửa, hoặc Nga sẽ đi nhìn mặt đứa bé. Tùy ở Nga. Trai hay gái? Có điểm nào đặc biệt để dễ phân biệt? Nôi con trai sơn màu xanh, nôi con gái thì màu hồng. Có bốn cái nôi màu hồng nhưng hết ba đứa nằm trong đó là tóc vàng rồi. Đã đặt tên chưa? Liên-xô thì nghe kỳ cục quá, nên baby đành phải mang tên Nga. Cả gan! Vợ chẳng có ý kiến gì sao?

 Gió gửi xuống những giọt nước, khi mà lá cây bỗng dưng rung động. Những con chữ bằng đồng gắn nơi cổng bệnh viện sạch bóng và lá cờ tiểu bang gầm cuốn chẳng bay được cùng gió. Tên Nga không hay sao? Ít ra cũng hay hơn Nancy, Stephanie hoặc Cindy chứ?

 Cửa tự động mở, bày ra thứ thế giới của sự hồi sinh, thương tật, dị dạng. Của sống, chết, hấp hối. Nhắm khép võng mô lìa xa dương thế hoặc mở mắt nai ngơ ngác chào cuộc đời chất chồng lớp lang bài bản định mệnh. Người đàn bà dừng chân ở gian hàng bán quà lưu niệm. Khi trở ra, tay ôm bó hoa gói trong giấy kiếng. Cầm lấy đi, cho hợp lệ… Và cái này nữa, Nga vừa đan xong hồi hôm. Lấy từ xách tay ra một hộp giấy, người ấy mở hé cho thấy có chiếc áo len màu xanh nhỏ nhít nằm gọn bên trong. Nó hệt như chiếc áo ngày tháng cũ đã tuyệt mệnh và thời gian đằng đằng ấy đã làm nó co thắt lại để vừa kích cho một trẻ sơ sinh. Hãy nói láo là mua ở một cửa hàng thủ công nào đó. Muốn hạnh phúc đôi khi người ta phải tập dối gian. Nga có tin không, là chiếc áo Nga trao cho hồi xưa vẫn còn lành lặn nằm trong ngăn tủ. Nga tin, giống như Nga vẫn còn treo bức chân dung màu nước kia. Nó ngấm nước biển, nó hoen ố bạc màu nhưng chẳng hề chi. Mình phải nên có một nguyên cớ để hồi ức về những thơ mộng cũ.

 Hành lang bệnh viện sáng loáng sạch như lau ly, như bụi trần là thứ không tài nào len lỏi vào được. Mất bao lâu cho việc thăm viếng? Khoảng mười lăm phút. Được, có gì xuống tìm Nga ở cafeteria. Nga không muốn vào nhìn chân dung một người vừa sinh con? Có gì lạ? Nga ghét nhìn một người nằm trên giường hồi sức. Vã lại Nga chẳng thích đóng kịch. Người ấy nhăn mũi khi nói. Một hai cánh cửa phòng mở hé, có lẽ là chốn phát sinh thứ mùi sát trùng khó ngửi. Bao giờ xuất viện? Ngày mốt, hình như thế. Điều đó có nghĩa là hai ngày nữa sẽ tới giờ giới nghiêm? Dường như lúc nào Nga cũng xem tôi như một kẻ yếu đuối, sợ hãi mọi chuyện. Làm cha rồi đó ông. Ông phải lu bu những thứ mà người ta gọi là bổn phận. Nga đóng vai y tá tới nhà giả bộ xem chừng tình trạng sức khỏe đứa nhỏ… Không, đã nói là Nga chẳng thích đóng kịch. Nga ghét con nít. Kể cả một đứa ngây thơ vô tội mang trùng tên mình? Thôi vào đi kẻo bà xã đợi. Nga đi tìm mua chai nước suối uống cho trôi nỗi nghẹn.

 Người ấy bước lại chỗ có gắn thang máy. Đoạn đường không cắm hàng rào sơn trắng nhưng bước chân đầy vấp váp, như thể đang dẫm lên những viên sỏi xào xạc, cựa mình đớn đau ở những buổi chia tay về đêm. Đêm của mọi bưng bít, chẳng tìm được lối thoát cho cuộc tình vụng trộm, dấu nhẹm song thân.

 Ba

 Gõ đến tiếng thứ hai thì cửa mở. Căn phòng đồn trú nhiều bóng tối, những kệ sách im lìm, những bức tranh câm lặng và có đôi mắt ngây dại mở lớn nén chặt tiếng kêu. Người ấy lách mình vào, nhìn quanh, khuôn mặt không buồn chẳng vui. Ngày mai Nga đi, bây giờ đến từ giã, không tiện gọi điện thoại. Giọng nói nhỏ, có gì chận giữ trong cổ, một vụn trái táo lỡ cắn, nhai nuốt chẳng trôi. Nga vào ngồi một lát có được không? Phòng khách cách phòng ngủ bằng hành lang hẹp, dài khoảng tám thước. Ánh đèn mờ chui qua cánh cửa khép hờ, cắt lát lem nhem lên sàn gỗ trầy trụa vẹc-ni. Nếu đường sáng ấy nới rộng phạm vi, có lẽ người ấy sẽ tìm được ngay lối giải thích ổn thỏa. Hồi nào tới giờ Nga vẫn thông minh, cô luôn là người biết cách làm chủ tình hình hoặc giả Nga là người lính thông hiểu đường đi của một viên đạn, bất quá nó chỉ gây sây sướt chút đỉnh, làm tổn thương chút ít chứ chẳng thể mang cô tới miền cực lạc, tôi tin thế. Tôi đóng cửa bằng tất cả sự nhẹ nhàng, cẩn trọng. Từ ngày ẳm con về, tôi vẫn tập cách làm lụng, xoay trở, đi đứng mà đừng tạo ra tiếng động. Giật mình thì luôn có hại cho sức khỏe, nó làm yếu tim mất. Tôi chưa suy tim, tim tôi vẫn đập cà rịch cà tang, có điều nó đang ở một vị trí khác trong cơ thể. Chuyển dịch nặng nề, co thắt trong việc đổi dời kia. Tôi cà lăm: Từ giã? Nga đi đâu? Tôi nắm đôi bàn tay lạnh kéo vào chiếc ghế nằm gần cửa nhất. Thời tiết thật thất thường, mới đó mà chuyển rét tự bao giờ? Người ấy hơi run rẩy khi ngồi xuống. Tuyết rơi bên ngoài rồi sao? Nga về thăm lại Đà Lạt. Tôi ngó người ấy, mê đuối như muốn thu cất một hình ảnh sau cùng, thật trọn vẹn. Để mà làm gì? Còn ai thân thích ở chốn vắng kia? Người ấy cười. Để mà làm gì? Ừ, để được cái giải gì chứ! Nga không biết nữa. Tìm kiếm một người chồng? Hừ, đáng ngờ vực quá hả! Tôi đề nghị: Mình đi tìm một quán nước ngồi nói chuyện cho ra lẽ nhé? Một lắc đầu, một mái tóc nhiều sợi rối, lạc đường ngôi. Không, lôi kéo một người rời khỏi chăn ấm nệm êm? Nga chẳng được phép làm vậy. Chị ấy ngủ rồi à? Có thể, đang còn yếu, ít khi xuống giường và ăn ngủ như mèo đang cảm. Chị ấy cần bạn hơn. Còn Nga, Nga là cái thá gì, đúng không? Những ngón tay đan lấy nhau, cuống quýt. Bốn mắt nhìn chăm lấy nhau, đọng tận đáy, mù lòa. Làm cha mệt lắm phải không? Nhìn rõ sự xuống sắc. Mệt, nhưng vui thú, vã lại trước sau trong đời sao tránh đi khỏi con đường này. Một sự khổ lụy dịu dàng. Hãy cho Nga hôn sâu, ngày ấy có biết bao điều răn làm tổn hại tới đức hạnh của chúng ta. So bì, cấm đoán, tước đoạt hết những hạnh phúc hèn mọn. Chiếc ghế không nhẹ nhưng buộc lòng nó phải xê dịch bởi người ấy chồm người qua. Một cọng một bằng hai, nên chi bốn chân ghế phải phát biểu cảm tưởng bằng tiếng kêu nặng nhọc khi bị ức hiếp. Nga không ốm nhưng sau lưng chẳng có nhiều thịt. Sờ thấy bả vai, đường lõm khuyết ở giữa chạy dọc xuống. Ôm chặt Nga đi, tưởng tượng một cuộc di tản sẽ lắm tai ương làm thất lạc nhau.

 Vọng ra từ phòng ngủ là tiếng ho khan. Tiếng rời đi của một cuốn sách từ giường va xuống nền gỗ. Thôi Nga đi. Về Đà Lạt sẽ chụp một lô ảnh, những nơi từng có dấu chân tụi mình. Sẽ bày trò đố vui để học nếu nó hoán đổi hình tướng sau bao thăng trầm. Người ấy tự mở cửa, tự đóng lại. Cứng rắn hoặc không muốn kẻ khác nhìn thấu vẻ yếu lòng của mình. Căn phòng thảng thốt với tiếng gỗ lót nền vừa vặn mình ta thán. Chỉ có hương thơm phảng phất còn sót như một chứng thực, ngoài ra tất cả hệt chuyện hoang đường. Diện tích vuông vắn ấy giam tôi chết cứng trên ghế bải hoải tứ chi. Anh trò chuyện với ai mà thì thào ở ngoài đó? Tôi đi đến cuối hàng lang hẹp, vùng thoát những hoài nghi. Em dậy từ hồi nào? Có ngủ nghê gì đâu. Mắt mỏi, đọc sách không rõ, nằm lơ mơ như bị vật gì đè nặng. Ai vậy anh? À, một người đi rao giảng kinh thánh. Cũng cái bà hôm trước nữa sao? Mặt trơ như thạch cao, lúc nào cũng một câu: Tôi đến báo tin mừng, rằng Chúa… Không phải bà ấy đâu. Giờ này chẳng nhắc tới Chúa. Kỳ cục, họ không thấy cái bàn thờ mình bắt trên vách có thờ Phật bà Quan âm sao? Em đừng nói vậy, có nhiều người muốn nghe họ ngôn mình phải xuất tiền túi. Nghe những điều hữu ích mà khỏi tốn tiền thì đâu có gì đáng phàn nàn. Mệt anh lắm, ngang như cua. Bây giờ việc hữu ích của anh là khuấy giùm cho bé Nga một bình sữa, ngâm sẵn trong nước ấm và giặt hộ em đống đồ dơ trong thau.

 Tôi nghe lời vợ. Vợ tôi cũng là dân Hoàng triều cương thổ. Ở cách nhà Nga một con hẽm vậy mà hai bà chẳng biết nhau. Rất đỗi lạ lùng! Kỳ quái như thể sang tới xứ người mênh mông chi xứ, vậy mà người ta nhận ra nhau trong siêu thị, bắt tay trong quán phở và nếu cần, vất tăm tre xuống để rãnh mồm kể thấu suốt tới ba đời nhà anh ra. Chi li ngọn ngành tựa một cuốn truyện khoa học giả tưởng.

 Khuấy sữa cho bé Nga xong, tôi lôi cái máy giặt ở góc bếp ra, chất đồ dơ từ thau nhựa qua, lần lượt có thứ lớp. Áo quần hai mẹ con thay ra khá nhiều, phía dưới thau là cái drap trải giường nhăn nhàu dấu diếm với nhiều vết ố. Tôi ôm lên mũi hôn. Bần thần, trong trí hiện ra vùng da thịt trắng ngần, chiếc thánh giá rơi xuống dưới trũng ngực đầy… Trên sứa vải ẩm còn lưu giữ thứ mùi ngai ngái, nồng, ngọt và đôi ba sợi tóc Nga còn vấn vương. Tôi đổ bột giặt vào, mở máy. Tiếng nước chảy và rồi thì dấu tích được gội xóa. Tôi nói thầm, chùng vụng: Lạy Chúa, con là người có tội! Tiếng khóc ré bất ngờ làm điếng hồn. Ằng ặc. Trời! Mới đó, Nga đã vùng thoát giấc điệp. Oh, my baby! Tới ngay, tới ngay!

Hồ Đình Nghiêm

Chất xám

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 22/12/2013 

Post by Sơn râu 20 Jun 2024

năm 1978
con tôi
giải không ra đề toán:
“chín thằng lính ngụy
bị bộ đội ta giết mất năm
hỏi em còn lại mấy đứa?”.
năm 2013
cháu tôi ngác ngơ
trước câu hỏi in trong sách giáo khoa:
“năm ngón tay bị chặt mất ba
đố em
bàn tay còn lại mấy ngón?”

anh tôi luôn động viên:
hy sinh đời bố củng cố đời con
tôi tự hỏi:
con như vậy
cháu như thế
sớm bị nhồi nhét bạo lực giết, chặt
thì thà đi rửa bát nhà hàng giống tôi
còn hơn tốn tiền cho tới trường học chữ, nhỉ!

làm đứa mất dạy
mà e giữ được nhân cách
hơn hẳn ông thạc sỹ nguyễn tuấn anh
sinh năm 1981
du học tận bên san jose về
cơm cha áo mẹ chữ thầy
ngày 8 tháng 12
ra công viên 23/9
trắng trợn cướp giật
xấp giấy in bản tuyên ngôn nhân quyền
xô ngã phụ nữ rồi bỏ chạy
em sang đế quốc mỹ
bao năm dùi mài kinh sử
để đóng vai thạc sỹ
vậy đố em: nhân quyền là gì?
hẳn là em á khẩu
y như con tôi ngày xưa, cháu tôi ngày nay
thui chột trước đề toán hóc hiểm

ậy, đừng nên trách móc nhau
“tại người mình nó vốn thế”
thử hỏi mấy quan đầu tỉnh:
“rừng có ba vạn cây gỗ quý
lâm tặc siêng đốn còn lưa lại sáu ngàn
thưa quan, vậy “đại gia sân sau”
đã xơi mất bao nhiêu cổ thụ?
khó thế?
có phải bổ đề rút dây động rừng đó chăng?
tao hổng đủ chất xám đâu
toán mí lị đố!
thà nói: ngay cả đường tăng
đi thỉnh kinh
cũng phải biết đút lót chuyện bôi trơn
thì nghe thông thoáng
dễ hiểu hơn nhiều
nhỉ?

Hồ Đình Nghiêm

Kịch bản

Sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 13/08/2013  

Post by Sơn râu 20 Jun 2024

Cháu bé con của anh Nguyễn văn Tin được Bệnh viện
Đa khoa Quảng Nam chuẩn đoán là tử vong, nhưng vẫn còn
sống hiện đang được điều trị tại Bệnh viện Nhi Quảng Nam
.

Mình xem trong phim ảnh, thường bắt gặp cảnh này: Vào đi. Tiếng hiệu lệnh khô, sắc. Tay thôi gõ, đưa xuống vặn nắm cửa, đứa thuộc cấp bước vào. Đóng cửa lại. Sếp ngồi trên ghế, đằng sau bàn làm việc đầy xấp giấy tờ cong góc, điện thoại, máy vi tính, rắc rối những đồ vật linh tinh đứng chen nhau. Ông hất hàm, khuôn mặt béo, trì độn, nhăn nhó thường trực. Sao? Dạ, có hai tin tức cần phải loan báo. Một xấu một tốt. Ông thích đón nghe cái nào trước? Tùy tâm cảm mỗi nhân vật, có khi nghe: Cứ nói tin xấu trước, tốt sau. Đôi lúc: Tao ưa nghe cái gì đó tựa như một sự tưởng thưởng. Tin tốt cỡ nào, nói đi.

Dĩ nhiên là kịch bản ấy nằm trong thước phim ngoại quốc. Việt-nam hả? Đậm đà bản sắc dân tộc nên có hơi khác. Cửa đóng thì chỉ việc mở ra, chả thèm gõ lấy lệ, nhân viên xớn xác đổ người tới. Lời thoại đại loại sẽ như thế này: Báo cáo thủ trưởng, tin buồn từ a tới z, sếp biết rồi. Vậy sếp ưa nghe ảo não từ a tới m hay cực sốc từ n tới cuối bảng chữ cái (nước ta không có z)? Thủ trưởng cơ quan vọt miệng: Đù má (thực tế, nhưng người chịu trách nhiệm xuất xưởng sẽ kiểm duyệt cắt xẻo hai chữ bình dân này đi, loại bỏ) mày cho tao sống với chớ. Buồn sương sương thôi chớ buồn quá mạng e tao giảm thọ mất, lấy ai trông coi cơ quan mậy?

Cũng cần bổ sung cụm chữ “từ a tới z”. Thuật ngữ ấy không dành riêng cho giai cấp nào cả, dân văn phòng sử dụng, sinh viên học sinh sử dụng, phu phen lao động… và ấn tượng khi nằm trên môi chị em ta: Thư giãn đi nào, em nguyện sẽ mang anh phiêu vào bến mơ từ a tới z. Từ nhạt tới đậm, từ ấm tới cực nóng, từ xìu xìu ển ển tới… đến hẹn lại lên.

Trong một triệu tin buồn choáng (không phải chán) thường bày hàng trên màn ảnh lớn, nhỏ; đạo diễn buộc phải cực lòng bỏ quên hai triệu hoàn cảnh bức xúc khác. Tỉ lệ là bao nhiêu, nếu từ con số hai triệu cô lại chỉ còn có hai? Và đây là hai trường hợp đã xảy ra, mới vừa hiện tới. Mình chỉ là đứa cóp nhặt lại từ nguồn chủ, không thay đổi một dấu chấm phết, bởi có những sự việc mà óc sáng tạo của bạn sẽ phải chịu đầu hàng. Nói theo ngôn ngữ phim nước lạ: Có nằm mộng cũng không tưởng được!

Nhân vật một: Nguyễn thị Bích Hạnh, nữ giáo viên bị đuổi việc vì đứng trên bục giảng đã gợi ý cho học sinh nên chịu khó truy cập vào mạng để kiếm thêm những thông tin bổ sung cho môn học. Tuyên giáo của chính quyền đã phẫn nộ khi nghe chuyện, lên án hành động này “đã vi phạm nghiêm trọng việc xuyên tạc đạo đức nhà giáo, sử dụng bục giảng nhà trường làm nơi tuyên truyền những nội dung trái với quan điểm nhà nước, truyền bá những trang web phản động”. Cô giáo trẻ Nguyễn thị Bích Hạnh đã vượt bao gian khó, quyết chí học hành đỗ bằng thạc sĩ, sau “tai nạn” kia đã khăn gói từ Quảng Nam về quê Nghệ An đổi đời chăm lo ruộng vườn cùng mẹ…(nguồn: Người Buôn Gió)

Nhân vật hai: Nguyễn văn Tin, trú quán ở Núi Thành, Quảng Nam. 35 tuổi, làm nghề bốc vác thuê. Chiều ngày 4 tháng 8 năm 2013 nhận được tin nhắn vợ mình đang phải vào viện cấp cứu, anh Tin hối hả chạy tới nhà thương kịp lúc nữ hộ sinh bế đứa bé ra bảo người cha khốn khổ “mang về lo hậu sự”. Nguyễn văn Tin mua vội một chiếc khăn để quấn lấy đứa bé. Một người hảo tâm trao cho anh vỏ thùng mì Tôm để đựng tử thi. Về nhà, người cha tắm rửa lo “hậu sự” thì phát hiện con tím tái dong cả hai tay lên trời. Nếu gia đình không cẩn thận mang cháu đi tắm rửa trước khi nhập quan, thì chính tôi là kẻ mang con mình đi chôn sống. “Nghe con khóc một tiếng mà lòng tôi nát tan!” Anh Nguyễn văn Tin nói, không phẫn nộ. “Trả về” một đứa trẻ còn sống, bác sĩ phụ trách ca đó có 30 năm kinh nghiệm! (nguồn: Blog Đào Tuấn).

Râu ria, ngoài lề của chuyện buồn nọ là ở Quảng Trị có 3 đứa bé chết vì lỗi vaccine mà quan chức của ngành y tế nói “không rõ nguyên nhân”.

Mình cũng “không rõ nguyên nhân” cớ sao buồn tay ngồi gõ bài này. Nếu mình nuôi mộng làm phim, mình sẽ xin phép anh Nguyễn văn Tin để quay lại cái phân cảnh khi anh nhận xác cháu bé, bởi nó ám mình quá. Sẽ “đắt” biết mấy nếu thu hình vỏ thùng mì ăn liền đang đựng xác trẻ thơ. Sẽ zoom ống kính để cận cảnh, sẽ cắt tất cả mọi nguồn âm thanh, ngay cả giọt lệ đổ trên gương mặt gãy góc rám nắng kia cũng chỉ rơi trong âm thầm. Tất cả dồn đẩy vào một khoảng lặng, chết sững. Những chộn rộn hậu cảnh sẽ làm chúng nhòa đi, chiếc khăn mới mua gói kín thây sẽ tương phản với y phục nhàu nát phong trần bọc thân người cha hành nghề bốc vác thuê đầy gian khổ. Hãy để thước phim trôi đi trong câm lặng với những hoang đường nó chuyển tải.

Lúc bé học chữ, thầy cô luôn mang tích trong cuốn “Cổ học tinh hoa” ra rao giảng. Chuyện một người đi nhiều được dân làng xúm quanh hỏi chuyện. Người “đi một ngày đàng học một sàng khôn” nở mặt: “Không có chốn nào đẹp cho bằng quê ta!”. Mình hạnh phúc so với những cô cậu “đương đại” thế kỷ này. Bởi có những cô cậu du học sinh từng rộng cẳng đi đây đi đó, than thở: Cầm trong tay cái hộ chiếu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thật đáng tủi, chỉ biết gầm đầu thôi chú ạ!

Mình câm lặng, không đòi giải thích. Mình đủ “chất xám” để tự hiểu mọi vấn nạn. Một quán ăn ở Nhật ghi tiếng Việt trên tấm bìa cứng: Lấy vừa đủ ăn, đừng phung phí kẻo bị phạt tiền. Câu hỏi đặt ra: Ta bà thế giới qua lại hà rầm, sao ưu ái sử dụng riêng tiếng Việt thôi? Cái đất nước mà “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”! Coi khinh chúng tớ cũng vừa phải thôi chớ! Ừ, con gì nhúc nhích là bọn tớ xơi hết ráo, làm gì nhau nào!

Nhân viên lao vào phòng. Sếp hỏi: Mày tính nói gì? Cấm loan tin buồn, chỉ được phép đề đạt tin hồ hởi phấn khởi thôi. Dạ, em biết điều lệ chứ. Báo cáo đại ca, bà đại gia ngành địa ốc đề ra hai phương án. A: Một phong bì chứa 1000 đô bôi trơn. B: Có con chân dài chưa mất trinh sẽ vào nhà nghỉ với đại ca tối nay. Thằng này giỏi chạy việc, tao hứa sẽ để mắt cất nhắc mày. Chỉ chọn một trong hai thôi à? Chơi khó nhỉ? Căng thế! Mày tính sao? Nếu sếp chọn phương án B thì chiều nay em kỉnh sếp chai rượu rắn thượng hảo hạng. Hàng nóng từ Trung quốc ấy. Mẹ rượt! Mày tính thêm dầu vào lửa sao con? Hehehe…

Nói tình ngay, ở Việt-nam không cứ phải đụng chuyện buồn. Hình ảnh trên là một ví dụ. Mình xem đó là chuyện vui, giảm căng thẳng trong giao tiếp hàng ngày. Nhưng người nào gối đầu bằng sách Cổ học tinh hoa e sẽ cau mày: Than ôi! Bốn ngàn năm văn hiến đã trôi mất theo triều cường úng thủy!

Ai đã gây ra họa diệt vong?

Xin được buông màn, đứt phim.

Hồ Đình Nghiêm

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

15/03/2014

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 20 Jun 2024

Phần 6

Món ăn cay đắng đầu tiên ở A-20

Những lời trách cứ của người dân đối với chúng tôi tuy nhẹ nhàng và đầy xót thương là những điều làm chúng tôi buồn nhất. Và có lẽ trong đời tù biết bao nhiêu lần chuyển trại, biết bao nhiêu lần nhìn thấy người dân Miền Nam đang cố gắng tồn tại sau thảm kịch, nhưng lần chuyển trại đến A-20 Xuân Phước là lần chuyển trại buồn nhất. Trước khi chúng tôi được lệnh lên xe tiếp tục hành trình, anh Huỳnh Cự nói với Linh Mục Trọng: “Người cựu binh ấy nói đúng đấy bố ạ. Ðúng là chúng ta làm ăn chẳng ra sao cả nên mới có ngày bị xiềng xích như hôm nay. Không những thế chúng ta còn làm cho hàng triệu người dân ở Miền Nam Việt Nam cũng khổ lây. Dân thì không trách họ được, nhưng chúng ta nên tự trách mình trước.”
Trong số anh em tù cải tạo chúng tôi, không có nhiều người nghĩ như người cựu binh chúng tôi gặp trên đường chuyển trại. Bốn năm sau thất bại 30 tháng 4, 1975 vẫn còn không ít những người trong số anh em chúng tôi rúng động. Trong những cuộc tranh luận trong trại giam nhiều người vẫn tin tưởng rằng những nhà lãnh đạo cũ của VNCH đã quay trở lại Miền Nam ẩn náu trong những khu rừng rậm chiêu mộ nghĩa quân để dựng lại cơ đồ. Có anh em còn nói một cách chắc nịch rằng Tướng Ngô Quang Trưởng đã về lập chiến khu ở Bà Rịa, Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã về lập căn cứ ở Utapao, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã lập chính phủ VNCH lưu vong ở Cao Hùng (Ðài Loan)… Trong bối cảnh tuyệt vọng sau ngày thất trận và bị đẩy vào môi trường tù đày, ở vào độ tuổi hừng hực lý tưởng của thanh niên, chúng tôi chỉ còn bám vào những hy vọng đó để mà sống. Cho nên điều không ngạc nhiên khi ngay chính bản thân tôi, dù đã ngụp lặn trong 11 năm trời cái thế giới đầu nguồn của tin tức thời sự trong đó những tin tức thật cũng nhiều, tin tức dởm, tin được chế biến theo chiều hướng thuận lợi cho cá nhân một ai đó cũng lắm thế mà đến khi vào tù cải tạo cũng đã có thời gian phải bám vào những “hot news” ấy để vượt qua những khó khăn và giữ vững tinh thần của mình, dù biết chắc chắn một điều đó là những tin tức không thể kiểm chứng được. Tôi đã được những người thầy dạy ở những khóa học, những khóa huấn luyện hay tu nghiệp luôn luôn khuyến cáo rằng loại tin không thể kiểm chứng được, những loại tin dùng một sự kiện có thật mà ai cũng biết rồi lồng vào đó những “vật liệu tự chế,” những loại tin đồn, những bài viết, những bài bình luận không có “dẫn chứng với những luận cứ vu vơ theo sự tưởng tượng của mình” thì tốt nhất nên liệng chúng vào sọt rác và không nghĩ tới nữa.
Nhưng khi phải đối đầu với một thực tế phũ phàng sau một trận thua không còn hy vọng có cơ hội gỡ lại được, sau sự sụp đổ mà người trong cuộc ở VNCH từng nghĩ rằng sẽ chẳng bao giờ họ phải đối đầu với thảm kịch to lớn nhường ấy, chúng tôi đã phải bám vào tên tuổi của những nhà lãnh đạo chính trị và quân đội VNCH đã nhanh chân thoát được ra hải ngoại và tránh được cảnh cá chậu chim lồng như chúng tôi để đốt lên đốm lửa hy vọng cho một tương lai phục quốc. Còn gì thê thảm hơn bối cảnh mà chúng tôi phải sống, phải đương đầu và phải giữ nhân cách, đứng thẳng lưng trước kẻ thù như thế không?
“Anh phải sống, dù gì anh cũng phải sống…” Một người bạn cũng khá thân của tôi ở trong những năm còn bị cấm cố ở nhà tù Chí Hòa biết rất rõ rằng cô vợ trẻ 25 tuổi của anh đã lập gia đình khác chỉ 2 năm sau khi anh vào tù cải tạo, nhưng khi chúng tôi được mở cửa phòng giam để có thể đi dạo quanh cái sân nhỏ ở phía trước, anh vẫn tha thiết nhắc tới những lời cô vợ vào thăm anh lần chót nói với anh như tôi trích thuật ở trên. Những lần như thế, tôi không dám khuyên anh một lời nào dù tôi hiểu trong cuộc đổi đời sau 30 tháng 4, 1975 bất cứ một điều gì cũng có thể xảy ra được và xảy ra với bất cứ ai. Tuy nhiên, nếu tôi mở miệng để nói về một cuộc chung sống nào đó tan vỡ vì nhiều lý do khác nhau và nếu lại “ngứa miệng” biện minh bằng một câu mà tôi hay sử dụng trong chốn lao tù: “Chồng chết 3 năm thì người ta có quyền đi lấy chồng khác, còn bọn mình đi mút chỉ cà tha không có ngày về thì coi như chết mà chưa chôn, họ đi lấy chồng khác cũng là thường thôi” chắc chắn tôi sẽ bị nâng quan điểm ngay: “Mày nói như vậy là quá đáng, đâu phải ai cũng thế, tùy theo giáo dục gia đình chứ.”
Trong chốn lưu đày vẫn có những chuyện lẩm cẩm như thế, nhưng nó rất quan trọng bởi vì nhiều bạn đồng tù với tôi vẫn quan niệm rằng sự chung thủy của người vợ của mình vẫn là bức tường thành cuối cùng của niềm tin. Cho nên sau những cánh cổng của những trại cải tạo, chúng tôi dù có sống đoàn kết với nhau, dù lúc nào cũng phải nắm tay nhau để khỏi bị đổ xuống, phần đông đều cố tránh những sự thật có thể làm đổ vỡ niềm tin của mình. Tôi đã từng thấy, từng nghe các cuộc tranh cãi giữa một số anh em sĩ quan trẻ trong quân đội VNCH và những anh em đồng tù trong lực lượng Phục Quốc tại trại B-5 Tân Hiệp, tại nhà tù Chí Hòa và ngay tại trại Hàm Tân Z-30C. Tôi cho rằng nội dung các cuộc tranh cãi nhiều khi dẫn đến bất hòa này cũng chỉ là biểu hiện của sự thiếu thông cảm lẫn nhau và không chấp nhận một thực tế phũ phàng đến từ sự thất bại. Câu chuyện bắt nguồn từ việc anh em Phục Quốc khi khai lý lịch trích trang họ khai cấp bậc và chức vụ của họ trước khi bị bắt. Họ hãnh diện cho biết trong Lực Lượng Vũ Trang của Phục Quốc, họ mang cấp bậc sĩ quan, có người mang đến cả cấp bậc trung tá. Nhìn nét mặt của họ non choẹt, kiến thức quân sự non nớt, một số anh em sĩ quan quân đội VNCH “nóng gà” vặn hỏi họ tại sao lại có chuyện phong chức cho nhau quá lố đến không thể chấp nhận được như vậy. Thế là cuộc tranh cãi nổ ra vì câu hỏi đó.
Bên Phục Quốc lập luận đại khái là khi “các anh tan hàng và bị lừa khi bị gọi trình diện nhà cầm quyền quân quản thì đâu còn người nào ở ngoài để chúng tôi tìm đến. Mà nếu chúng tôi có tìm đến các anh được thì liệu các anh có theo chúng tôi không. Ðồng ý các anh là người được huấn luyện quân sự rất kỹ và dày dạn kinh nghiệm chiến trường nhưng thử hỏi các anh làm gì được khi đã ở trong các trại cải tạo. Cho nên theo tiếng gọi của những nhà lãnh đạo Phục Quốc, quay đi quay lại chỉ còn chúng tôi ở ngoài xã hội, cho nên ai biết ai thì rủ lập chiến khu, lập chiến khu thì phải có tổ chức, có tổ chức thì phải có cấp bậc, có người chỉ huy. Các anh nên nhớ, chúng tôi mang cấp bậc không những đã không lời lộc gì cho cá nhân chúng tôi mà ngược lại khi bị bắt chúng chúng tôi phải trả giá với những năm tù lâu dài. Những người theo lực lượng Phục Quốc đã có những người mang án chung thân hoặc án tù 25 năm.”
Tôi cũng đã chứng kiến có người trong lực lượng Phục Quốc nói một cách thẳng thắn trong các cuộc tranh luận về ảnh hưởng của tổ chức Phục Quốc: “Chúng tôi nhìn nhận rằng mình ô hợp, không được huấn luyện. Ðiều này đang làm chúng tôi thất bại chỉ vì những người chủ trương không nhìn xa và chưa bao giờ làm những gì mà người cộng sản đã làm từ nhiều thập niên trước. Nhưng ít ra chúng tôi cũng đã bày tỏ được lòng yêu tha thiết quê hương Miền Nam Việt Nam.” Cuộc tranh luận đại loại như vậy chẳng bao giờ có kết thúc. Nhưng điều đáng mừng nhất là cho tới khi chúng tôi rời Hàm Tân Z-30C, tuy những cuộc cãi vã về lực lượng Phục Quốc vẫn còn gay gắt và gây ra bất hòa, nhưng không bao giờ chúng tạo ra được những bất đồng về mục tiêu chung: chống lại chế độ cộng sản!
Ðoàn xe chạy qua ga Lahaye, vượt qua một khu chợ nhỏ để bắt đầu “bò” chầm chậm trên một con đường mòn nhưng hài hun hút vượt qua khoảng 16 con suối mà vào mùa này đều khô cạn. Khi đến gần khu trại mới, vượt qua một xóm kinh tế mới để vào một thung lũng nằm dưới chân một dãy núi đá vôi, chúng tôi mới ý thức được rằng đây là con đường độc đạo từ Lahaye vào trại. Ðoàn xe vượt qua một đoạn đường ngắn nữa thì vào tới sân Bộ Chỉ Huy của một tiểu đoàn công an trại giam. Từ khoảng sân này vào tới phân trại E của A-20 Xuân Phước dài khoảng 300 thước. Trước mặt chúng tôi là những mái ngói đỏ au và những hàng dừa thẳng tắp có cây đang ra hoa. Trước cổng trại là một vạt ruộng trồng lúa nước.
Một ao lớn có hàng rào dây thép gai vây bọc và một bảng gỗ viết bằng sơn đập vào mắt người mới tới: “Tài sản xã hội chủ nghĩa – Ao thả cá trắm cỏ.” Cổng vào trại giam được xây dựng mang hình thức một cổng tam quan ở các ngôi chùa miền Bắc khi xưa. Khi chúng tôi xếp hàng chờ được mở xiềng, Linh Mục Phan Văn Trọng nói nhỏ với tôi: “Tau cảm thấy có điều bất thường. Trại trông như một nơi nghỉ mát để đi săn bắn. Nhưng chúng đưa chúng ta lên đây không phải để cho mình dưỡng sức đâu.” Linh Mục Trọng nói chưa hết lời thì việc chuyển giao tù nhân đã xong. Một cán bộ (sau này chúng tôi biết tên anh ta là Trung Sĩ Luật, trực trại) đi cùng với một trật tự viên da đen bóng, tóc xoắn tít như bất cứ một người Phi Châu nào mà chúng tôi từng biết. Ở vào tuổi của anh ta, chắc chắn trật tự viên này phải là sản phẩm những người lính Mỹ gốc Phi Châu trong đội quân viễn chinh Hoa Kỳ suốt trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Trật tự viên tự giới thiệu anh ta tên là Quí thuộc đội tự giác, nhưng được cán bộ trực trại “chiếu cố” để làm trưởng trật tự trại giam này. Sau đó, anh ta thay mặt cán bộ trực trại nói sơ lược về nội qui trại với một lời lẽ dọa nạt: “Các anh nên nhớ và phải quán triệt đây là trại cải tạo khác những trại cải tạo mà các anh đã đi qua. Tội ác của các anh đối với nhân dân như thế nào thì các anh cũng biết rồi, nhưng chính phủ khoan hồng cho các anh đến đây để xem các anh có thể trở thành các công dân tốt được không. Nếu cải tạo không được thì cũng không phải lỗi chính phủ mà do lỗi của các anh. Tuy nhiên, cán bộ quản giáo ở đây đều nhất trí khẳng định: các anh phải cải tạo tốt, không tốt không được vì đây là trại cải tạo chót dành cho mấy anh.” Chỉ vài ngày sau khi đến trại, chúng tôi có ngay tiểu sử của Quí “đen.” Quí “đen” là tù hình sự. Anh ta bị bắt ở Biên Hòa vì tội cướp có súng và hiếp dâm. Ra tòa án nhân dân mở ngay trước rạp chiếu bóng Biên Hùng cũ, Quí “đen” bị kết án 15 năm tù, bị đưa đi lao cải ở Tống Lê Chân một thời gian rồi bị chuyển trại cùng với những tù hình sự khác lên đây để lập đội lao động tự giác. Viên cán bộ trực trại tên Luật không hề đứng nói về nội qui. Hắn cho một người có thành tích từ một xã hội đen thời VNCH mang mức án 15 năm để khẳng định chính sách cải tạo của chế độ mới, không cải tạo không được. Ðây món ăn cay đắng thứ nhất mà trại A-20 Xuân Phước dành để “đón tiếp” chúng tôi.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 20 Jun 2024

Phần 5

Vụ chuyển trại vui buồn nhất đời tù
Trời mùa hè cho nên mới có 4 giờ sáng, chúng tôi đã có thể nhìn thấy Rừng Lá Bình Tuy đang “chạy” ngược lại qua cánh cửa chiếc xe đò. Mọi người vui như Tết, nói cười ồn ào như quên hết những thử thách và đe dọa sẽ đến với mình trong năm sáu giờ đồng hồ nữa. Dường như mọi người cũng quên cả đói. Khi lên xe đò, chúng tôi còn bị xiềng chân vào ghế ngồi của mình. Nhưng chẳng có ai buồn quan tâm đến điều đó, cũng không ai cần biết liệu xe đò chạy với tốc độ này, liệu cái túi mà trại gọi là tư trang của chúng tôi gồm vài bộ quần áo, chăn, mùng mề rách để trên nóc xe có bay xuống đường hay không. Tuy thế, dù cười đùa chọc phá nhau nhưng không anh nào quên cầm chắc nắm cơm và ít muối bọt. Lần đầu tiên trong 4 năm tù, chúng tôi được phát một nắm cơm trắng không có độn khoai mì khô. Linh Mục Phan Văn Trọng đang vui vẻ nói chuyện tiếu lâm với những anh em ngồi tại các ghế bên cạnh quay sang tôi hỏi: “Biết chuyện tiếu lâm kể cho vui?” Tôi nói: “Không, thưa bố.” Ngài cười khà khà: “Như thế là mi để mất đi nửa cuộc đời rồi, nhưng tao nói cho mi nhớ nếu sau này có ra khỏi tù gặp nhau thì chớ gọi tao là bố đấy nhé.” Linh Mục Trọng là một trong những linh mục chúng tôi kính mến trong suốt đời tù không phải vì cùng tôn giáo hay vì ông là linh mục mà vì tư cách của ngài, tính tình hiền hòa, vui vẻ, có óc hài hước, suy nghĩ cởi mở với các tôn giáo bạn, nhất là cái tính thẳng thắn, thành thật ngay cả khi trả lời những câu hỏi liên quan đến cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hay các nhân vật có tiếng thời Ðệ Nhất Cộng Hòa như các ông Võ Văn Hải, Trương Vĩnh Lễ, Phạm Văn Nhu, Trần Chánh Thành, Trần Trung Dung, các bác sĩ Lý Trung Dung, Trần Kim Tuyến và ông Nguyễn Ðình Thuần.
Chúng tôi có tập quán là gặp những tu sĩ thuộc bất cứ tôn giáo nào trong tù, anh em chúng tôi bất kể mình theo tôn giáo nào không ai bảo ai đều gọi họ là “bố” và xưng “con,” bởi vì cách xưng hô này giúp để bảo vệ những nhà tu. Nội qui của trại không cho phép gọi những tu sĩ này theo chức danh tôn giáo. Bọn cán bộ nhà tù nghe được, họ lờ đi thì không sao, nhưng gặp người khó khăn và lòng đầy thù hận thì không những các vị tu sĩ “bị” chúng tôi gọi bằng chức danh tôn giáo mà chính ngay chúng tôi cũng đi “nằm ấp” có khi rất dài hạn. (Nằm ấp = vô xà lim cá nhân, ấp đồng nghĩa với hộp nhỏ, chuồng cọp, cũi, tiểu biệt thự là những ngôn ngữ chúng tôi dùng với nhau trong tù cải tạo). Cán bộ thẩm vấn (thường là an ninh trại) sẽ không ngần ngại nâng quan điểm xưng hô với các tu sĩ thành tội “truyền đạo.” Nâng quan điểm nghĩa là bé xé ra to để trừng phạt tù nhân. Chẳng hạn như tù nhân do đói không kiểm soát được mình bẻ trộm một trái bắp non bị bắp gặp sẽ bị cáo thành tội: “Tàn dư của tay sai đế quốc Mỹ phá hoại kinh tế xã hội chủ nghĩa.”
Thời gian ở trại Z-30C Hàm Tân, ít nhất đã có hai tu sĩ, một Phật Giáo và một Công Giáo nhận những hậu quả của việc nâng quan điểm. Người thứ nhất là Linh Mục Nguyễn Văn Bộ của nhà thờ Fatima. Ngài cũng được anh em tù cải tạo quí mến vì tính tình hài hòa nhưng cương quyết. Linh Mục Bộ thường hay lén làm lễ vào sáng Chủ Nhật cho những anh em tù nhân có đức tin Công Giáo, nhưng ngài đã bị ngay một “ông” con chiên đạo dòng và gia đình có người đi tu báo cáo chuyện này lên an ninh trại. Linh Mục Bộ bị cán bộ an ninh Tý gọi đi làm việc và bắt viết kiểm điểm. Cái khẩu hiệu mà tù nhân nào khi bị làm kiểm điểm cũng phải viết trên đầu tờ giấy, đó là: “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Ðộc Lập-Tự Do-Hạnh Phúc” thì Linh Mục Bộ viết thành “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, không Ðộc Lập-không Tự Do-không Hạnh Phúc.” Lần thẩm vấn nào linh mục cũng viết như vậy và cuối cùng bọn cán bộ trại giam phải giở hết thủ đoạn đánh đập, o ép tinh thần, không cho nhà thờ lên thăm gặp để tiếp tế cho ngài. Cuối cùng trại Hàm Tân thất bại trong việc ép cung và phải chuyển ngài về lại nhà tù Chí Hòa. Theo tin tức của anh em từ Chí Hòa được chuyển lên trại trừng giới A-20 Xuân Phước vào năm 1982 thì Linh Mục Nguyễn Văn Bộ được thả về một năm trước đó. Cuối 1988 tôi được thả nhưng bị quản chế cho nên mãi năm 1991 mới tìm dịp lên thăm ngài ở nhà thờ Fatima, nhưng nơi đây cho biết ngài qua đời đã lâu.
Người thứ hai mà tôi nhắc tới là Thượng Tọa Thích Huệ Ðăng, một tu sĩ Phật Giáo rất trẻ xuất thân từ một ngôi chùa nhỏ ở Nha Trang. Ngài là người tổ chức qui y cho một số tín đồ, chọn pháp danh cho họ ngay trong nhà tù và trong đó có cả tôi và đổi lại ngài đã phải khăn gói quả mướp vào nằm ấp cùm 2 chân mất 3 tháng. Còn trẻ tuổi, người cao lớn, tiếng nói như lệnh vỡ, vào những ngày rằm, mồng Một Âm Lịch ngồi thiền từ sáng đến tối không ăn, Thượng Tọa Huệ Ðăng trở thành người mà không cán bộ trại giam nào là không “để ý” đến. Nhưng thái độ thong dong, nói năng ôn tồn, trôi chảy như người viết văn với viên chính ủy trại tên là Phan Quang khiến anh em chúng tôi rất quí mến ngài. Trong trại giam mà báo nghỉ không lao động vào ngày rằm và mồng một Âm Lịch hay những ngày lễ trọng của Phật Giáo để ngồi thiền từ sáng đến chiều thì không thể tránh được bị đám an ninh trại giam cáo buộc là hành động thách thức và nặng hơn: phá hoại kỷ luật và trật tự trại giam. Buổi sáng rằm Tháng Bẩy Âm Lịch 1978, Thượng Tọa Huệ Ðăng từ trên sàn ngủ trên leo xuống đất đến báo cho đội trưởng biết là hôm nay rằm Tháng Bẩy ngài xin nghỉ lao động để hành đạo. Ðội trưởng nói: “Thầy nhớ lên bệnh xá khai bệnh cho hợp lệ.” Người tu sĩ Phật Giáo này trả lời tỉnh bơ: “Tôi có bệnh gì đâu mà khai, anh cứ báo cáo cán bộ quản giáo là hôm nay tôi xin nghỉ lao động và sẽ làm bù lại cho trại.” Thế là ngài leo lên bắt đầu ngồi thiền. Khi đội trở về từ bãi lao động, tôi thấy thượng tọa không còn ngồi thiền trên sàn trên nữa. Người bạn tù trực nhà báo cho anh em biết ngay: “Các ông đi lao động rồi, thằng chính ủy Quang nó xuống.” Hắn hỏi thầy Huệ Ðăng: “Bệnh gì mà nghỉ?”
Thầy nói: “Không có bệnh gì cả, nhưng hôm nay là lễ trọng của Phật Giáo trong mùa Vu Lan, tôi cần tịnh tâm để nghĩ về công đức của đất nước, tổ tiên, cha mẹ. Nghỉ hôm nay, nhưng ngày mai tôi sẽ làm bù lại nếu trại cần. Dĩ nhiên cán bộ không chấp nhận chuyện này và sẽ kỷ luật tôi. Nếu như thế thì tôi phải cám ơn cán bộ vì trong biệt giam tôi có điều kiện tốt hơn để tịnh tâm. Ổng đi nằm hộp rồi, còn hẹn mấy tháng nữa sẽ gặp lại chúng ta.” Tuy nhiên, lần này họ chỉ cùm Thượng Tọa Huệ Ðăng đúng 2 tuần lễ thì cho về lại đội. Có lẽ họ cũng bắt đầu nản ông thầy tu vào ra “chuồng cọp” như cơm bữa này rồi chăng? Thượng Tọa Thích Huệ Ðăng được thả trước tôi một năm, và Tết 1989, ngài đến thăm tôi tại nhà. 
Thầy trò nói chuyện và ăn với gia đình tôi bữa cơm chay. Ðó là bữa cơm đầu tiên và cũng là bữa cơm cuối cùng vì năm 1990, ngài bị nhà cầm quyền bắt lại và “bóc” thêm gần chục cuốn lịch khác. Ðược tha về lần thứ hai, ngài chỉ sống đạo được một thời gian ngắn thì viên tịch.
Ðoàn xe chạy với tốc độ nhanh trên Quốc Lộ 1 qua Phan Rang, rồi sau đó vào địa phận Nha Trang. Các xe phía trước đều dạt vào bên đường. Nhìn thấy đoàn xe công an trang bị cả súng thượng liên, các xe trên đường đều biết công an đang giải giao tù cải tạo nên nhường đường. Những người đi xe gắn máy khi dừng xe đều vẫn tay hay nón chào chúng tôi. Khi gần đến địa phận Sông Cầu, đoàn xe phải đổ xuống hết một con dốc và sau đó ngừng lại. Nắng lúc này đã lên cao và chói chang. Xe ngừng hẳn, toán công an giải giao nhảy ra khỏi các xe áp tải, lên đạn các khẩu tiểu liên AK-47. Họ đứng ở dưới mỗi cửa xe đò nói lớn: “Cho các anh xuống xe tạm nghỉ cơm nước, tiểu tiện. Tôi nhắc lại kỷ luật: các anh phải ngồi yên, sẽ có cán bộ đi mở xích chân.” Sau đó mọi người lần lượt xuống xe đến bãi tập trung phía trước, sẽ có cán bộ chỉ dẫn nội qui khi di chuyển ra khỏi bãi để tiểu tiện. Bãi trước mặt chỉ là một đồi cỏ thấp bên cạnh quốc lộ, không có quán sá gì.
Phía bên kia quốc lộ trước mặt chúng tôi là một cánh đồng khoai mì đã thu hoạch rồi, còn trơ lại những gốc khô. Sau khi điểm số, cứ mỗi cặp như vậy lại bị xích chung với nhau thành một chùm 4 người. Cặp xích chung với tôi và Linh Mục Trọng là anh Huỳnh Cự và Ðoàn Bá Phụ. Chúng tôi ngồi xuống cỏ và bắt đầu ăn những nắm cơm chấm với chút muối bọt. Sau đó, cứ một chùm 4 người đứng lên báo cáo cán bộ uống nước. Toán giải giao mang theo hai thùng nước và 4 cái gáo dừa. Cứ 4 người uống xong lại đến 4 người khác. Nếu một trong 4 người mắc tiểu thì cả 4 người phải đứng ra cách vị trí của vệ binh súng dài khoảng từ 8 đến 10 bước nói lớn: “Xin cán bộ cho đi tiểu.” Nếu được chấp thuận thì cả 3 người kia phải đi theo người bạn tù của mình đến bãi đất cách đó khoảng 20 chục thước. Bao giờ cũng có khuyến cáo từ phía sau: “Ðừng có mà chạy đấy nhé, không thoát đâu, chúng tôi sẽ bắn ngay sau lưng đấy.” Có chùm im lặng, nhưng cũng có chùm phản ứng nhẹ nhàng: “Cán bộ ơi, yên trí đi, xích chung hai người một còn không trốn được huống chỉ bây giờ 4 người, bốn người mà bỏ chạy 4 hướng khác nhau có khi trở thành tứ mã phanh thây nhau không chừng.” Vậy mà cũng có vệ binh đáp lại: “Ấy thì tôi nói thế thôi, chứ lơ đà để một anh trốn là đời tôi khốn nạn rồi.”
Chúng tôi ăn chưa hết nắm cơm thì thấp thoáng trên đường lộ, những người bán hàng rong xuất hiện. Có lẽ đây là đội quân hàng rong bán cho khách xe đò như những ngày trước 30 tháng 4, 1975 chúng tôi thường thấy gần bến phà Trung Lương với những lời rao hàng ơi ới, ồn ào như vỡ chợ. Những người bán hàng rong này mới đầu đứng cách xa chúng tôi chừng 30 thước. Họ ngập ngừng như muốn tiến tới chào hàng với chúng tôi, nhưng có thể do nhìn thấy người nào cũng bị xiềng hoặc có thể sợ vệ binh súng dài đuổi nên cứ đứng chỉ trỏ, rồi nói với nhau những gì chúng tôi không nghe rõ. Nhưng rồi một người đàn ông đứng tuổi mặc một bộ quần áo cho công nhân mầu xanh dương tiến tới trước hai vệ binh đang canh gác chúng tôi và nói: “Anh vui lòng cho phép chúng tôi giúp các anh em tù nhân ít thực phẩm, chẳng đáng gì đâu chỉ gồm bánh trái và khoai mì thôi.” Một trong hai vệ binh này trả lời: “Chúng tôi phải bảo vệ họ, anh đi vào kia hỏi thủ trưởng của chúng tôi.” Người đàn ông đi theo hướng chỉ của vệ binh. Ông nói chuyện với một sĩ quan công an dáng chừng cũng mất đến 5 phút, sau đó ra nói với đám đông: “Họ không cho bọn bay tới gần đâu, đứng ngoài thẩy vô cho anh em cũng được.” Những chiếc bánh ú, bánh tét nhỏ, những củ khoai lang, khoai mì, những ổ bánh mì trên nhũng cái thúng đội trên đầu những người hàng rong vơi dần. Thúng hàng mà họ đội ra khỏi nhà có khi mang theo cả hy vọng nếu bán được hết thì ít ra cũng có được bữa cơm thịnh soạn cho gia đình trong ngày. Có lẽ những suy nghĩ đó đã khiến cho dù chúng tôi còn đang đói và đã ăn hết cục cơm với mối đe dọa khi đến trại mới không có phần ăn chiều, ít người trong chúng tôi nghĩ tới chuyện ngay những thứ mà dân vừa cho chúng tôi. Có lẽ xúc động đã chặn đứng được sự thèm khát lâu ngày của chúng tôi? Thứ tình cảm đó chúng tôi vẫn còn tìm lại được 10 năm sau khi được thả ra khỏi trại cải tạo: trên đường từ trại Z-30A về tới nhà, những tài xế xe đò đón chúng tôi lên xe, không những không lấy tiền vé mà còn dừng lại dọc đường để đãi chúng tôi chầu phở hay mì. Người tài xế tự giới thiệu là Tiếng còn khá trẻ nói với tôi: “Em có thể bảo đảm với các anh là quán này cũng như một số quán khác họ không lấy tiền các anh đâu khi thấy da dẻ các anh xanh mét, gầy trơ xương như vầy. Họ biết các anh là những cựu sĩ quan chế độ trước cải tạo mới về. Tình cảm của dân chúng đối với các anh vẫn thế nhưng tình hình xã hội bây giờ đã khác. Người có việc làm kiếm được miếng ăn thì không sao, nhưng người nghèo ngày một nghèo thêm họ trách các anh làm ăn cái gì mà để mất phần đất khiến họ khổ quá.”
Tiếng tự giới thiệu mình là cựu trung sĩ quân vận thuộc Quân Ðoàn III tan hàng vào sáng 30 tháng 4, 1975. Nhưng lời lẽ của anh làm tôi suy nghĩ mãi cho đến sau này.

Bố Già

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Ngọc Thứ Lang
Post by Sơn râu 20 Jun 2024

Google photos

Chương 12 “Mai tới nghe …” Johnny Fontane ngoắc tay ra hiệu cho gã quản gia . Gã da đen cúi đầu chào, rút lui khỏi căn phòng ăn rộng mênh mông ngó thẳng ra Thái Bình Dương. Hiệu lệnh không có vẻ chủ tớ mà thân mật, đại để tối nay mắc khách về sớm đi. 
Khách tối nay là Sharon Moore, một con nhỏ týp chịu chơi khu bụi đời Greenwich Nữu Ước qua Hollywood đóng một vai nho nhỏ trong cuốn phim do một tên tuổi lớn sản xuất . Nó đi thăm phim trường và bắt gặp Johnny đang đóng phim cho lão Woltz. Con nhỏ dễ thương, duyên dáng và láu lỉnh nên được anh Johnny mời về nhà chơi, dùng cơm tối . Johnny Fontane mời về nhà chơi thì còn hân hạnh nào bằng! 
Nghe danh Johnny hào hoa, em Sharon cứ tưởng đâu đàn anh phải tấn công hăng lắm nào ngờ đàn anh kỵ món thuế thịt Hollywood. Con mồi phải có điểm gì hạp nhãn , trừ khi nhậu say vô thấy gái lại khác . Huống hồ 35 tuổi, một đời vợ ly dị, một đời vợ ngoại tình và em bé bám theo cả đàn thì Johnny còn tha thiết gì ? Thấy em Sharon hay hay thì gạ vậy thôi … 
Trên bàn đầy thức ăn . Johnny còn lạ gì mấy em quen bóp bụng để dành tiền ăn diện , có dịp đớp thả dàn là phải biết! Rượu cũng sẵn, đủ thứ. Sâm banh ướp lạnh, huytky, cô-nhắc, và bao nhiêu thứ khai vị . Món ăn sắp sẵn, Johnny chỉ việc rót rượu. 
Ăn xong, nó đưa em bé sang phòng khách: một phòng thênh thang, có tấm vách thuỷ tinh trong suốt nhìn ra biển . Nó lấy cả chồng đĩa Ella Fitzgerald đặt lên chiếc hi-fi rồi ra nệm ngả người cạnh em . Hai đứa nói chuyện tâm tình, chuyện lăng nhăng … toàn những chuyện ngày xưa chuyện xấu đẹp, vui buồn …. Lẩm cẩm thật, nhưng với Johnny như vậy mới gợi hứng. 
Nằm dài ra bên nhau, êm ái thú vị biết mấy! Johnny khe khẽ hôn môi. Em nhận cái hôn nhưng không thích tiến thêm thì tạm thời cứ sơ sơ mé ngoài vậy đó . Xa xa ngoài kia mặt Thái Bình Dương êm ả gờn gợn ánh trăng. “Sao không chơi dĩa của anh?” Giọng nó nũng nịu, vuốt ve lạ. “Đâu cần khoe, em?” Nhưng Sharon nài nỉ. 
– Thì không khoe … nhưng dành riêng cho em nghe được không? Hay anh hát cho em nghe … như trên xi-nê anh cất tiếng ca làm bao nhiêu cô rạo rực lên, chết mê chết mệt đó! 
Johnny bật cười. Hồi còn trai trẻ … cái mục “anh hát em nghe” này nó biểu diễn biết bao nhiêu lần! Giọng cao cất lên là các em rạo rực bằng thích, giở hết điệu bộ màu mè con gái, mắt sáng lên như đâu đây có sẵn mấy quay phim. Bây giờ thì hết ham. Cả tháng nay sợ thử giọng. Vả lại cóc ở trong nghề các em đâu biết … kỹ thuật phụ hoạ nó quan trọng như thế nào , có phải muốn ca lúc nào cũng được ? Giờ nghe lại dĩa mình, nghe giọng lả lướt quyến rũ , làn hơi phong phú, trẻ trung ngày nào quả có thê thảm, khác gì anh kép già sói đầu, bụng bự cho chiếu lại những hình ảnh hào hùng của buổi thiếu thời? 
Johnny thú thật: “Giọng anh bây giờ dở lắm. Nghe mình hát chán không thể tưởng tương.” 
– Nghe nói cuốn phim đang đóng anh hy sinh mọi quyền lợi … Anh đóng không lấy tiền phải không? 
– Đúng. Cát – xê tượng trưng, danh dự thôi! 
Nó đứng dậy rót rượu thêm cho em, đưa điếu thuốc chữ vàng bật lửa cho em mồi. Sharon thong thả kéo khói, lót từng ngụm brandy. Johnny ngồi bên, ly của nó rõ ràng đậm hơn . Nó cần nhiều chất men cho máu chảy phừng phừng, cho bùng lên … 
Đó là một sự ngược đời. Thông thường phải cho em say để mình tỉnh táo. Cần phải cho người đẹp bốc . Nhưng người cần bốc lại là Johnny! 
Vì hai năm nay nó quá phung phí sức lực, cần có hơi men hỗ trợ. Hai năm nay cứ thấy em nào vừa mắt là mời đi ăn nhậu du dương vài hôm, rồi tặng em món quà đích đáng để… cho em de cái một, khỏi lộn xộn. Thiếu gì em tự an ủi được sống những giây phút thần tiên với Johnny Fontane? Gái đẹp nhiều như vậy thì yêu đương gì? Nhưng chối bỏ sao nổi, một khi các em duyên dáng, mặn mà và tự nguyện đông như vậy? 
Johnny tối kỵ những týp núi lửa chỉ chờ “cơ hội” gần gụi một lần để mấy ngày sau kháo ầm lên: “Johnny Fontane hả? Tao vừa ngủ với nó xong. Yếu xèo. Còn thua tao xa.” Lại có những thằng chồng không lạ gì con vợ ngủ với nó mà mặt vẫn cứ nhơn nhơn ra được, thiếu điều muốn bảo thằng nó rằng ai chớ ông đại tài tử đại ca sĩ Johnny Fontane thì chấp nhận được! Đó là những vụ lạ nhất trong đời nó. 
Nó khoái nghe giọng ca Ella Fitzgerald. Rõ ràng, chắc nịch. Ca ra ca, nó hiểu giọng ca rành mạch của ca sĩ này hơn hết mọi thứ và cảm thông thì còn ai cảm thông bằng? Nằm dài ra nệm nghe hơi rượu bốc hừng hực, rõ ràng Johnny muốn cất tiếng ca theo Ella, khỏi cần nhịp điệu gì hết… nhưng có mặt người lạ làm sao thử thách? Một tay nâng ly rượu, một tay nó vuốt ve đùi con nhỏ, luồn dưới lụa tìm đến sự ấm áp, mềm dịu của lớp đùi non. Làn da nõn nà vẫn có mãnh lực khêu gợi thiệt sự! Chán chê thừa mứa đàn bà đến như nó vẫn không khỏi rùng mình rạo rực. Cũng may mà nó còn rạo rực… chớ cứ như giọng ca khi không đi đâu mất biệt thì hỏng! 
Johnny khẽ đặt ly rượu xuống bàn, quay mặt lại đối diện Sharon. Mục vuốt ve, tiếp tục nhưng nó tiến hành chậm rãi, chững chạc… Chắc chắn nhưng vẫn nhẹ nhàng, êm dịu. Tuyệt không hối hả, hăm hở. Môi vẫn gắn môi, tay Johnny lần tìm lên khoảng ngực có làn da vô cùng mềm mại, dịu mát như tơ. Con nhỏ có hôn trả những cái hôn vừa đủ thân tình nhưng chưa đến độ mê say. Johnny cũng vậy. Nó ghét những týp đàn bà con gái sớm bốc như kiểu chiếc mô-tơ điện! Chỉ cần một nháng lửa xẹt đúng chỗ là máy chạy vo vo, rung lên từng bộ phận một. 
Bàn tay Johnny tự động chạy theo đường cũ, quen lệ rồi… 
Dĩ nhiên phản ứng mỗi đứa mỗi khác. Có đứa làm như không hề hay biết, chẳng hề cảm thấy có sự đụng chạm giữa lúc đang hôn mải miết đam mê. Có đứa giật mình, uốn cong người. Có đứa vùng cho anh vài cái tát tai, nhất là hồi Johnny còn chưa có tên! Đó là cả một công trình, cả một kỹ thuật. 
Phản ứng của Sharon thật bất thường. Phải nói là kỳ dị. Cái gì nó cũng chấp nhận, cho phép hết. Không hề phản đối, chống cự. Có điều gỡ nụ hôn ra là nó khẽ ngã người về phía sau để nhẹ nhàng đưa tay ra bắt ly rượu làm một hơi dài. Thản nhiên như vậy nhưng rõ ràng một yêu cầu tốp. Johnny biết điệu. Vụ này đã từng có mà? Nó cũng nâng ly rượu, đốt thuốc hút. 
Giọng Sharon thật ngoan và dễ thương: 
– Không phải tại em không thích anh đâu. Anh dễ thương hơn em tưởng nhiều! Cũng không phải em sợ hay chưa thử, nói thực đấy. Em phải bốc mới thấy hứng, còn không thì…
– Và anh không làm em bốc? 
Johnny mỉm cười hỏi, coi bộ chẳng có gì buồn hết làm con nhỏ lúng túng… 
– Sự thực thì hồi anh lên… em còn nhỏ xíu. Em mê giọng ca, mê anh đóng phim lắm chớ? Mê lắm lắm … nhưng có điều mình không cùng một thế hệ. Phải chi mình cùng một trang lứa thì xong ngay. 
Nghe nó nói, Johnny không thấy ham mấy nữa. Con nhỏ duyên dáng, láu lỉnh thật. Nó không mê anh Johnny đến độ hiến dâng hay sẵn sàng nạp thuế thịt để tiến thân sau này. Nó là thứ đàng hoàng. Nó không như con nhỏ hồi nào, đi với nhau lu bù nhưng đã nuôi sẵn định ý. Có ham đến mấy cũng từ chối để tự hào với mình hay với chúng bạn: “Biết sao không? Johnny Fontane mê tao, gạ tao quá xá … nhưng tao thèm vào!” 
Có lẽ vì cảm thấy già rồi nên Johnny không bực bội. Không ham thì càng đỡ mệt. Nó tỉnh bơ uống rượu nhìn trời. Sharon thỏ thẻ: 
– Anh đừng buồn em nhe, Johnny? Tại em hơi quê, em chưa hạp cái lối sống Hollywood. 
Nó mỉm cười vuốt má con nhỏ. Đưa tay kéo cái váy lụa xuống cho nó trùm quá đầu gối, nó nói dịu dàng: 
– Buồn gì mà buồn? Lâu lâu cũng phải có vụ yêu đương chay tịnh lành mạnh một chút chứ! 
Sự thực Johnny có cảm thấy thoải mái sau vụ “làm ăn” thất bại chính bởi vì nó khỏi phải hùng hục đóng vai trò si tình đòi yêu, đã nhập trận là phải gạ gẫm yêu bằng được. Phải chiến thắng đàn bà con gái bằng được như trên màn ảnh. Cái lối yêu thật mệt mỏi! 
Sau một tua rượu và một chầu hôn sơ sài nữa là Sharon đứng dậy đòi về. Lịch sự như thường lệ, Johnny hỏi: “Lần khác mình sẽ gặp lại nhau nghe em” thì con nhỏ đáp thẳng băng, thành thực: 
– Thôi, mất thì giờ của anh … và chẳng đi đến đâu hết! Cảm ơn anh! Mai sau về già iết đâu chừng em chẳng có quyền kể lại cho đám con cháu nghe rằng ngày xưa đã có lần tao và Johnny Fontane hai đứa ở với nhau một phòng gần trọn đêm và chẳng có gì xảy ra. 
– … Chẳng có gì xảy ra vì tao nhất định không chịu. 
– Nhất định… là chúng nó khỏi tin! 
Hứng chí Johnny khôi hài: 
– Không tin thì để anh cấp cho em cái giấy chứng nhận? Viết tay đàng hoàng. 
Con nhỏ lắc đầu cười. Johnny tiếp: 
– … Hay có thằng nào dám nghi ngờ lời em thì em phôn cho anh một cú? Anh sẽ vạch mặt chúng! Anh sẽ bảo rằng anh đã rượt bắt em cả đêm trong phòng mà em nhất định không chịu là không chịu. 
Đùa quá hoá ác thật! Con nhỏ hơi nhăn mặt khiến Johnny biết ngay là đã đi quá lố. Nói như vậy có khác nào bảo thẳng nó rằng tại tao không muốn nên không thèm gạ gẫm tới, bằng không mà phải bị rơi? Hay vì mày người ngợm chẳng ra gì nên tao không them? Nghĩa là nếu có kể lại con cháu nghe thì phải thêm vô: “Tao còn giữ gìn được hôm đó vì Johnny coi bộ không tha thiết lắm.” 
Cảm thấy hơi thương hại, nó vỗ về con nhỏ: 
– Đùa đấy thôi em! Có phải cứ đụng gặp cô nào là làm cô ấy đâu? Có chuyện gì cần đến em cứ phôn cho anh một cú. 
Sharon chỉ “Dạ” rồi rút lui. 
Đêm còn dài quá biết làm gì cho hết? Dĩ nhiên Johhny có quyền sử dụng cái mà lão Woltz gọi là xưởng thịt, đám đào non-Hollywood lúc nào chẳng sẵn sàng gật? Nó muốn một bạn chung chăn gối và tâm tình kia! Tự nhiên nó nghĩ đến con vợ đầu tiên Virginia. Phim quay sắp xong, nó sẽ rảnh rang nhiều. Có quyền về thăm, săn sóc mấy đứa nhỏ chớ? 
Sự thực nó cũng e ngại Virginia. Nó đâu đã đủ tư cách đối phó với những quân săn gái, mấy thằng bảnh bao cố đeo bằng được để tán tỉnh gạ gẫm? Tụi này làm được là dám khoe ầm lên “Tao vừa quất con vợ thằng Johnny Fontane, con vợ chính của nó.” Tuy nhiên dù sao Virginia cho đến giờ vẫn còn giữ gìn được, chưa thằng nào dám ấm ớ. Còn con Margot thì thôi… khỏi nói! 
Johnny bèn nhấc phôn lên. Tiếng Ginny nó nhận ra ngay. Nó đã nhận ra từ năm lên 10, từ năm hai đứa cùng học lớp Nhì với nhau kia mà? 
– Ginny hả? Có bận gì không? Về thăm bây giờ được không? 
– Được. Bọn nhỏ ngủ cả rồi… tôi không muốn đánh thức. 
– Không sao, tôi muốn nói chuyện với cô kia. 
Đầu dây đằng kia có chút ngập ngừng. Làm như nó cố trấn tĩnh để giữ giọng bình thản, không cần quan tâm cho lắm. 
– Có chuyện gì đấy? Có quan trọng không? 
– Không, bữa nay phim vừa quay xong. Tôi muốn về thăm cô và tụi nhỏ một chút. Có chắc tụi nó ngủ hết chưa? 
– Anh muốn về thì về. Tôi cũng mừng cho anh đóng được phim đó. 
– Cám ơn. Nửa giờ nữa tôi sẽ tới. 
Ngồi trong tắc-xi ngó vô căn nhà xưa ở Beverly Hills, nó ngẫm nghĩ lời Bố-Già. Thằng đàn ông có quyền sống theo ý mình muốn. Cái khó là biết mình muốn gì. Nó muốn gì, chẳng hạn. 

Google photos

Ginny đón nó ngoài cửa. Người nó nhỏ nhắn, xinh đẹp, mớ tóc nâu nâu rõ ràng gái Ý. Đúng týp nội trợ và vợ hiền, khỏi có anh nào chàng màng. Đối với Johnny đó là điều quan trọng. Dù tình yêu không còn nữa! Nó không còn thấy khoái cảm gì trong vụ ăn nằm với vợ cũ. Có lẽ vì chán chường nhau quá. Giữa hai đứa bây giờ tuy chưa phải kẻ thù nhưng Ginny vẫn hận, chẳng bao giờ tha thứ. 
Ginny pha cà phê, dọn mấy cái bánh nhà làm. Johnny cởi áo, cởi giầy nằm dài ra đi-văng, mệt mỏi quá. Ginny ngồi trước mặt, cười ngỏn ngoẻn: “Lạ quá!” 
– Cái gì lạ? 
– Johnny Fontane mà chịu “thất nghiệp” một đêm, không có em nào mà không lạ sao? 
– … Thì Johnny Fontane cũng phải có lúc mệt mỏi, hết hứng chớ? Có một em lúc nãy, nhưng bị em đá đít còn mừng nữa! 
Ít khi Johnny nói thẳng thừng như vậy. Nó cũng ngạc nhiên thấy vợ cũ có vẻ tức tối: “Không biết chừng nó làm bộ màu mè vậy để anh kết thêm!” Ginny làm như còn ghen tức nữa mới lạ! 
– Kết cái gì! Chán đến mang tai rồi, mệt mỏi quá. Bây giờ mất giọng ca rồi làm sao mà bừa bãi mãi được? Cũng phải giữ sức khoẻ. 
– Thảo nào! Trông anh hồi này đỏ da thắm thịt đấy. Hơn hình chụp nhiều. 
– Đâu có? Thêm nhiều mỡ, sói đầu thêm mới đúng. Chỉ còn trông cậy ở cuốn phim này, nếu không lên nổi thì giải nghệ về nhà mở quán ăn mất. Có cô đỏ da thắm thịt thì có. Không chừng cô đi đóng phim lại hay!
Johnny nói vậy thôi chớ làm gì nó chẳng biết vợ cũ 35 tuổi và ở đất Hollywood này đàn bà tuổi 35 có giữ gìn đến đâu cũng vẫn bị liệt vào hạng “lão bà”. Chỉ vì mấy con nhãi con xinh như mộng đổ về đây nhiều quá, đứa nào cũng trẻ đẹp, căng nhựa sống chỉ cần một năm hai năm thử thời vận. Có đứa lộng lẫy đến đứng tim đàn ông, nếu đừng mở miệng, nếu đừng để sự thèm khát tên tuổi làm nhạt nhoà đôi mắt đẹp như nhung. 
Một trung niên thiếu phụ làm sao cạnh tranh cho nổi? Có duyên dáng, lịch thiệp, thông minh đến đâu cũng đành phải chịu thua tuổi trời, nghĩa là đầu hàng tuổi thanh xuân mơn mởn. Phải chi những thứ gái non không nhan nhản thì một thiếu phụ xinh xắn như Ginny cũng có nhiều hy vọng lắm chớ? Nhưng với anh Johnny Fontane thì chúng sẵn sàng quá, đâu đến lượt Ginny đóng phim? 
Vì vậy, nghe Johnny Fontane nói chuyện “đi đóng phim”, Ginny làm gì không biết nó nói lấy lòng? Bản chất của Johnny là vậy, dù lên bao nhiêu, dù bao nhiêu nàng chạy theo, nó vẫn quý trọng đàn bà. Lúc nào cũng sẵn sàng khen đẹp, khen duyên dáng, mau mắn bật lửa cho người đẹp hút thuốc, mở cửa nhường đi trước. Với bất kỳ cô nào, dù không biết đến tên, dù chỉ tình nghĩa một đêm Johnny cũng thực lòng quý mến. Chìu chuộng khéo đến như vậy thì làm sao không nhiều cô chết mê chết mệt? 
Còn lạ gì tính nết nó nên Ginny mỉm cười: 
– Thôi, cho tôi xin đi ông! Ông “ngọt” với tôi 12 năm nay… tôi còn lạ gì mà phải bốc? 
– Không, tôi nói thực đấy! Tôi chỉ mong được như cô hồi này… 
Johnny gật gù nằm dài ra đi-văn trông có vẻ mệt mỏi thật nên Ginny không cãi nữa… mà hỏi một câu an ủi: 
– Cuốn phim có khá không? Liệu có mang lại cho anh cái gì không? 
– Nhất định có chớ? Nhờ nó tôi có thể lên trở lại cái một. Nếu bắt được một Oscar và chịu khó vận động thì có thể chẳng cần phải ca hát, tôi cũng có thể thành công lớn. Nghĩa là có thể chu cấp cho cô và các con thêm chút nữa. 
– Mẹ con tôi đủ rồi. Thừa là khác! 
– Tôi cũng muốn săn sóc tụi nhỏ nhiều hơn nữa. Nghỉ ngơi một chút cũng là vừa. Chẳng hạn mỗi thứ Sáu mỗi về nhà ăn cơm với tụi nó, xa đến đâu, bận bao nhiêu cũng về. Rồi mấy ngày nghỉ cuối tuần bố con đi chơi với nhau, rồi nghỉ hè nữa… 
Ginny bước tới đặt cái gạt tàn lên trên ngực cho nó gạt tàn thuốc. “Vụ đó tôi đồng ý. Anh biết không, sở dĩ tôi không đi lấy chồng là vì tôi muốn anh còn được làm cha chúng nó.” 
Ginny nói thật tỉnh táo, tuyệt không xúc động nhưng nằm ngó nhìn lên trần nhà. Johnny cảm thấy hết nỗi cay đắng chất chứa, sự oán hận giằn vặt đã có lần nó đổ lên đầu thằng chồng bỏ vợ bỏ con xé giấy giá thú để chạy theo một con điếm… để rồi sự nghiệp bắt đầu suy sụp theo. 
Để lảng sang chuyện khác, bất thần Ginny hỏi: “Có người vừa điện thoại cho tôi… đố anh biết ai đây?” Cái trò đố biết, úp mở là Johnny không khoái. Nó nằm yên, không trả lời, không đoán. Rốt cuộc Ginny phải xì ra: “Bố-Già anh đấy!” 
Johnny ngồi nhỏm dậy: 
– Bố-Già? Quái lạ, ổng có xài phôn bao giờ? Mà ổng nói gì? 
– Ổng biểu tôi phải giúp anh. Là anh có thể lên trở lại, anh đang lên… anh cần phải có người trọn tin anh. Tôi có hỏi tại sao tôi phải làm vậy thì ổng nói… vì anh là cha sắp nhỏ, có vậy thôi. Ổng nói nghe dễ thương hết sức vậy mà báo chí đăng những chuyện ghê gớm gì đâu không! 
Ginny cũng thuộc týp ghét tê-lê-phôn. Trong nhà bắt buộc phải có thì chỉ để dưới bếp một, trong phòng ngủ một còn bao nhiêu cho gỡ hết. Chợt nghe điện thoại reo dưới bếp. Nó chạy xuống nghe, và trở lại liền, vẻ ngạc nhiên còn hiện rõ trên khuôn mặt: 
– Điện thoại của anh mới lạ! Tom Hagen kêu… biểu có chuyện quan trọng lắm. 
Johnny lật đật chạy xuống bếp nhấc phôn lên: 
– Johnny nghe đây, Tom. 
– Ông già muốn tao gặp mày, thu xếp vài công chuyện cho mày khi cuốn phim vừa quay xong. Ổng biểu tao phải đáp phi cơ sang Los Angeles ngay sáng mai. Mày ra phi trường đón tao được chớ? Rồi tao phải trở về Nữu-Ước liền, mày khỏi phải sợ uổng một đêm vui vẻ vì có mặt tao… 
– Bậy nào, Tom! Cái gì mà uổng một đêm vui vẻ! Mày ở lại đêm tao còn mừng chớ! Tao sẽ tổ chức một chầu gặp mặt vui vẻ và giới thiệu vài nhân vật có cỡ Hollywood…
Johnny muốn vậy thực tình. Hắn chỉ sợ Bố-Già trách hay bà con phàn nàn lên chân rồi không thèm nhớ đến ai, có gặp chỉ sợ mất mặt với khách sang… nhưng Hagen từ chối: 
– Tao phải lên phi cơ về ngay thật. Sáng sớm cũng phải về. Mày nhớ ra phi trường đón tao chuyến 11 giờ 30 từ Nữu-Ước sang nghe? 
– Chắc chắn tao sẽ ra. 
– Mày cứ ngồi nguyên trên xe. Nhớ cho thằng nào ra đón. Lúc thấy tao ra khỏi máy bay nó sẽ đưa đến xe mày. 
Johnny OK rồi gác phôn, đi ra phòng khách. Ginny ngước nhìn muốn biết chuyện gì xảy ra. “Ông Già muốn giúp tôi một vài việc nữa. Cái vụ đóng phim này cũng ổng lo giùm mới được… mà chẳng hiểu ổng làm cách nào hay tuyệt! Nhưng sự thực mình chẳng muốn ổng dính dáng thêm vô nữa.” 
Johnny ngả người ra đi-văn. Mệt mỏi thiệt tình. Ginny bèn đề nghị: 
– Khuya rồi, nếu mệt anh chẳng cần về nhà mất công. Anh có thể ngủ đỡ ở phòng vẫn dành cho bạn bè được mà? Sáng mai anh có thể ăn sáng với bọn nhỏ. Về bây giờ thật buồn. Anh không thấy sợ cô đơn hả? Tôi không muốn anh phải cô độc… một mình một nhà ở đằng ấy. 
– Tôi có ở nhà bao nhiêu đâu mà sợ? 
– Cái đó tôi biết, anh khỏi nói! Để tôi đi dọn phòng cho anh. 
– Ủa, mình không cùng phòng được sao? 
Ginny đỏ mặt “không”. Cả hai đứa cùng cười, không hận nhau nữa dù không ngủ chung phòng. 
Sáng mai Johnny ngủ dậy quá trễ. Có lẽ gần trưa rồi, nếu không ánh nắng đâu có chiếu xuyên qua mành cái điệu kia? Nó đánh tiếng lớn: “Ginny… dậy rồi! Có còn được điểm tâm không đây?” Có tiếng vọng vào “Chờ chút… Có ngay!” 
Mà có ngay thật. Có lẽ Ginny đã sửa soạn chu đáo sẵn, chỉ đợi nó dậy là mang vô. Nó vừa châm hút điếu thuốc đầu tiên trong ngày thì cửa phòng bật mở, hai đứa con gái tà tà đẩy cái xe vô. 
Chao, hai đứa con gái lớn! Johnny ngồi sững sờ cảm động. Tụi nó lớn khiếp, mà càng lớn càng xinh. Những con mắt mở lớn sáng long lanh, ngạc nhiên… chỉ chờ một hiệu lệnh là nhảy vô ôm lấy bố. Tóc chúng để dài, cột đuôi ngựa vắt vẻo. Dép da trắng, quấn ngang người tấm khăn làm bếp lối các bà già ngày xưa thấy dễ thương hết sức! Hai đứa đẩy xe tới, đợi bố kêu. Johnny vội dụi điếu thuốc, mở rộng vòng tay là chúng reo lên, nhảy vào lòng. 
Johnny ôm chặt hai con, áp má vào những cái má mũm mĩm hồng hào và cà bộ râu chưa cạo lởm chởm vô cho chúng nhột. Lúc bấy giờ Ginny mới vô đẩy tiếp cái xe tới tận giường. Nó chỉ việc nhích người lên chút xíu mọi việc đã có người hầu. Ginny ngồi mép giường đổ cà-phê, trét bơ vô bánh… 
Hai đứa nhỏ ngồi sang một bên ngó bố ăn. Coi, tụi nó lớn bộn rồi, hết chơi trò ném gối mà bố cũng hết tung lên đỡ nổi! Chóng quá, mới ngày nào… Sắp sửa đến cái tuổi ra ngoài đường có thằng chọc ghẹo, phá phách rồi đây! 
Tụi nó há mồm để bố đút từng miếng bánh, sì sụp hút cà-phê của bố! Hệt như ngày nào Johnny còn theo ban nhạc đi ca, bận rộn tối ngày nên ăn uống chẳng có giờ giấc . Mò được về nhà lúc nào là Johnny khoái mấy bố con ăn chung. Hồi đó tụi nhỏ thích dẫu 7 giờ sáng được ăn bít-tết khoai chiên, chiều tối mới trứng gà chiên thịt muối thì lạ lùng quá, không thích sao được? 
Johnny cưng con lắm. Đó là một vụ chỉ mẹ chúng nó và mấy anh em thân thích biết. Đó là nỗi khổ tâm cực độ khi phải ly dị nhau và rời khỏi mái nhà này. Johnny đã tranh chấp kịch liệt để giữ nguyên vẹn quyền làm cha và đã làm đủ mọi cách để Ginny phải chấp nhận sự thực này: Tôi không muốn thấy cô đi lấy chồng khác chẳng phải vì ghen hoặc không muốn cô sung sướng. Mà chỉ vì mấy đứa con tôi, tôi không muốn thằng nào làm cha chúng nó. 
Chính vì lẽ đó tờ cam kết cấp dưỡng đã gài Ginny vào điều kiện tài chính: còn ở vậy nuôi con thì còn thừa tiền mà đi lấy chồng là khỏi. Có quyền hiểu ngầm rằng bắt bồ ở một chỗ nào khác cũng vẫn được, miễn đừng chính thức vác một thằng nào về nhà bắt mấy đứa nhỏ gọi bằng cha! Về khoản “bồ” thì còn lạ gì tính nết Ginny? Mấy thằng đĩ đực Hollywood có đánh hơi thấy bà vợ lớn Johnny Fontane là cả một mỏ vàng kếch sù chạy theo tán tỉnh chắc chắn chỉ có lỗ vốn. Nó thuộc týp ái tình lạc hậu, như mấy bà già xưa! 
Ấy thế mà nối lại duyên xưa thì khỏi có. Hai đứa cùng không muốn vì không lạ gì nhau. Ginny chịu sao nổi tính nết hoang đàng đĩ bợm của một thằng chồng cứ thấy con nào trẻ đẹp hơn vợ mình là mê? Còn ai lạ gì đóng phim với cô nào là Johnny quất cô ấy, ít nhất cũng một lần? Nếu nó chạy theo sắc đẹp như điên thì mấy cô cũng chịu anh chàng bô trai bằng thích! 
Ginny xua mấy đứa nhỏ đi, hối thúc “Anh mặc quần áo lên phi trường đón Tom là vừa.” Johnny đợi đến lúc này mới cho biết: “Cô biết sao không? Tôi đang làm thủ tục ly dị. Lại sắp độc thân.” 
Johnny mặc quần áo vô. Từ hôm đám cưới Connie, hai đứa chẳng đồng ý là nó có quyền để ở nhà này mấy bộ đồ để những lúc cần là có ngay hay sao? Ginny ngó nó mặc quần áo, không buồn để ý vấn đề ly dị mà chỉ hỏi: “Còn hai tuần nữa đến Giáng Sinh rồi. Anh có về nhà không… để tôi còn lo sửa soạn?”
Nghe nó hỏi, Johnny ngẫm nghĩ. Từ hồi nào đến giờ, Giáng Sinh đối với nó là mùa làm ăn, được mời đi ca hát liên miên. Nhưng đúng ngày lễ là bao giờ cũng ở nhà với vợ con. Năm ngoái nó đã mắc sang Tây-Ban-Nha đeo theo con đào hát bóng nên xa nhà rồi. Nếu năm nay không về thì lại phải đợi đến sang năm chắc? 
“Được, tôi sẽ về nhà đêm Giáng Sinh và trọn ngày hôm sau.” Johnny không nhắc đến đêm Giao Thừa vì đã có thông lệ. Khoảng thời gian ngắn ngủi giữa năm cũ và năm mới dành để đi lông bông, ăn nhậu thả giàn với mấy thằng bạn thân. Đâu thể để vợ con dính vô những vụ đi hoang này? 
Lúc Johnny khoác áo vét vô, Ginny đứng bên vuốt áo, phủi bụi dùm. Nó thích ăn diện chững chạc. Ginny để ý thấy nó hơi cau mặt khi thấy cổ sơ-mi ủi không đúng ý thích mà cặp khuy măng-xết để ở nhà từ hồi đó nay xài đỡ chẳng hài lòng chút nào. Bộ khuy có vẻ “ăn diện”, bây giờ không đúng mốt Johnny nữa. Ginny cười mỉm: “Anh đừng ngại. Ai chứ Tom không để ý đến những cái vụ này đâu!” 

Google photos

Johnny được ba mẹ con đưa ra tận xe. Hai đứa con gái đi hai bên, mỗi đứa nắm một tay bố vung vẩy, mẹ tà tà đi sau. Ginny lấy làm mừng vì nó có vẻ hạnh phúc tràn trề. Johnny nhấc bổng từng đứa lên, hôn mỗi đứa một cái. Hôn phớt vợ cũ một cái tạm biệt, nó nhảy vào xe. Xưa nay Johnny đâu có chịu những màn từ biệt bịn rịn, lẩm cẩm? 

oOo 

Vụ ra đón Hagen ở phi trường đã có thằng bí thư phụ trách báo chí của nó lo liệu trước. Johnny về nhà đã thấy chiếc xe cho mướn với tài xế chờ sẵn. Cùng với một gã đàn em nữa, cả bọn lên xe ra phi trường. 
Đúng như Hagen đã dặn, vừa thấy dạng nó là Johnny sai thằng bí thư chạy ra đón. Hagen bước vô xe, sai một cái bắt tay là lo chạy một mạch về nhà. 
Chỉ còn hai đứa ở phòng khách. Tuy có thân thiện đến mấy thì giữa hai đứa vẫn có một cái gì lạnh nhạt. Johnny vẫn không quên hồi còn bị Bố-Già giận, chính thằng Tom đã chận đầu nó mấy lần. Mà Tom dù biết vậy cũng lờ đi, coi như đó là một trong những bổn phận chính đáng của một thằng consigliori. Vẫn biết là chỗ bà con thân thuộc song có phải muốn phá khuấy Ông Trùm lúc nào cũng được đâu? 
– Ông già sai tao qua đây để giúp mày một vài việc. Tao muốn làm cho xong, trước Giáng Sinh. 
– Phim xong rồi. Thằng cha đạo diễn người đứng đắn, đối với tao tử tế. Nó quay đàng hoàng và tao là vai chánh… không lẽ cắt hết cả, vứt đi cho lão Woltz và hãng đốt bỏ 10 triệu đô-la? Bây giờ phim thành công hay thất bại ăn thua ở khán giả coi tao đóng có khoái hay không mà thôi. 
Hagen nhóng hỏi: 
– Đối với một thằng diễn viên thì giải Oscar có quan hệ tối yếu cho tương lai, sự nghiệp thiệt sự… hay chỉ là một trò quảng cáo, nghĩa là có hay không cũng chẳng ăn thua gì? Tao không nói đến vấn đề vinh quang, tên tuổi. Cái đó ai chả ham! 
Johnny cười lớn: 
– Ai chẳng ham có tên tuổi thật, trừ Bố-Già! Và mày nữa. Một cái Oscar đâu phải trò quảng cáo, mày? Nó ghê gớm lắm chớ? Bắt được Oscar là kể như lên trong vòng 10 năm đi, tha hồ kén chọn vai trò với hãng mà quần chúng cứ thấy tên là đi coi ào ào. Dĩ nhiên không phải có Oscar là có đủ mọi thứ, nhưng nó quan trọng nhất trong sự nghiệp diễn viên. Năm nay tao cũng dám bắt một cái lắm, chẳng phải tao diễn xuất hay ho gì… nhưng vì xưa nay quần chúng chỉ coi tao như ca sĩ mà cuốn phim này tao đóng cũng có nét lắm. 
– … Nhưng ông già biểu tao rằng cứ như hiện tình thì mày cóc có tí ti hy vọng gì! 
Johnny Fontane gân cổ cãi: 
– Mày nói thế đâu được? Phim đã chiếu đâu… cắt xét còn chưa xong mà? Ông-Già đâu có ở trong nghề mà biết? Bộ ổng sai mày đi 5 ngàn cây số sang đây chỉ để nói với tao có vậy? 
Nó uất ức thật sự nên giọng nói nghe như muốn khóc. Hagen phải lựa lời giải thích: 
– Johnny, tao đâu biết quái gì về điện ảnh? Tao chỉ nhắc lại lời ổng, mày nhớ vậy! Ổng có mang vụ làm ăn, nghề nghiệp của mày ra thảo luận với tao nhiều lần, coi bộ ổng lo cho mày, cho tương lai mày. Theo ổng thì mày còn phải cần ổng giúp nên ổng muốn lo cho mày một lần cho xong. Đó là lý do tao được cử sang đây. Ông già muốn mày với cao lên, chớ đừng nghĩ mình chỉ là một ca-sĩ, chỉ là một diễn viên. Mày phải coi như mình là chủ, mình có thế lực thử coi? 
Johnny rót rượu ra ly cười hề hề: 
– Thế lực! Nếu tao hụt cái Oscar năm nay thì thế lực dám bằng hai đứa con gái tao lắm. Giọng ca tao đâu còn nữa? Phải chi còn thì còn xoay sở đỡ được! Nhưng tại sao ông già biết chắc tao cần? Trời đất, ổng phải biết nên ổng mới nói chớ? Có bao giờ ổng lầm đâu mà không tin? 
Hagen đốt một điếu xì gà nhỏ: 
– Có tin Jack Woltz không chịu chi tiền để vận động Oscar cho mày. Đúng hơn là lão rỉ tai những thằng có thẩm quyền bỏ phiếu lờ mày đi. Thay vì vận động cho mày, lão chỉ tung tiền quảng cáo phim. Cho dù phim có kém vì mày hụt giải lão cũng chỉ thua thiệt phần nào. Chỉ chết mày! Nghe nói lão còn sắp xếp để mày không hy vọng được đề nghị tranh giải nữa kia! Bằng đủ mọi thủ đoạn hối lộ: tiền, gái, hứa hẹn cho việc… 
Johnny nhún vai. Nó rót ồng ộc huýt-ky vào ly nốc một hơi. “Nếu vậy thì tao chết chắc!” Hagen nhếch mép, chán chường ngó nó: “Mày uống làm gì nhiều thế? Rượu đâu có chữa lại được giọng mày?” Tự nhiên Johnny bật một câu: “Thôi… đi cha mày đi!” 
Khuôn mặt Hagen thoáng lạnh tanh. Nó không nổi giận mà chỉ nhỏ nhẹ: “Thôi được… Tao chỉ nói chuyện công việc thôi vậy!” 
Biết quá lỡ lời, Johnny bèn cầm ly rượu đứng dậy ra trước mặt Hagen: 
– Xin lỗi mày, Tom. Tao không định nói thế… tao cáu mày lãng xẹt. Tại tao… ức thằng khốn nạn Jack Woltz quá. Tao chỉ muốn giết nó mà tao không dám nói với ông già. Nên tao sủa bậy với mày… 
Không hiểu có kịch không mà giọng Johnny nghẹn ngào có nước mắt cẩn thận. Nó cầm ly huýt-ky liệng vô vách nhưng vì đuối sức và phần vì gặp thứ ly dầy tổ bố nên không những đụng vô tường đã không bể mà còn tà tà lăn trở ra vừa vặn tới chân cu cậu. Nó bực bội há miệng ngó rồi la “Trời đất” và phát cười ha hả. 
Nó chậm rãi đi sang bên kia ngồi xuống ghế, đối diện với Hagen. 
– Mày biết không, đời tao đã lên hương một thời! Tao bỏ vợ bỏ con đâm xuống dốc ngang. Giọng mất, dĩa bán ế, mất việc ở hãng phim. Bố-Già buồn… tao phôn không thèm nghe, xin gặp không thèm tiếp. Tao bực bội, giận hờn mày là thằng kỳ đà cản mũi, dầu tao biết là mày chỉ làm theo lệnh ổng. Tao không thể giận ổng… nên trút bậy sang mày. Nhưng mày vẫn lẳng lặng được thì tao phục. Tao xin lỗi mày, tao chuộc lỗi bằng cách nghe lời mày. Từ nay tao không nhậu nữa. Cho tới ngày tìm lại được giọng ca. O.K. chứ? 
Nghe Johnny năn nỉ hứa chừa rượu, tự nhiên Hagen hết giận. Vì nó thành thực. Một thằng đàn ông 35 tuổi như nó phải có một điểm gì được nên Ông Già mới thương như vậy chớ! Nó làm như sợ mất lòng Hagen là thế nào cũng có chầu kẻ vạch với Bố-Già và Bố-Già mà ghét thì nó chết luôn nên Johnny sợ cuống cuồng. Điều đó làm Hagen bực mình. Ông Trùm đâu phải thứ người nghe kẻ vạch, đang thương hoá ghét vì một lời của đệ tam nhân? 
– Bỏ chuyện ấy đi! Sao mày phải ngán thằng cha Woltz phá? Nó phá cách nào Ông Già cũng đỡ cho mày được hết, tin tao đi. Năm nay Oscar sẽ về mày, nhưng ổng biểu mày cần phải làm lớn hơn lên cao hơn chớ một cái giải mà làm gì! Mày có đủ tư cách, đủ năng lực tự mình đứng ra làm phim, từ đầu đến cuối hoàn toàn độc lập! 
– Mày nói là ổng sẽ lo cho tao bằng được một giải Oscar? 
– Ô hay, nếu mày tin là thằng cha Woltz phá mày được thì tại sao Ông Già lại không làm ngược lại nổi kia? Để cho mày vững lòng tin tưởng làm ăn, tao cho mày hay một điều chớ tiết lộ với ai. Ông Già mạnh hơn Jack Woltz nhiều lắm. Mày muốn biết ổng làm cách nào bắt cho mày Oscar hả? Ổng nắm hết mọi nghiệp đoàn trong ngành điện ảnh, trực tiếp hay gián tiếp. Ổng nắm đầu gần hết những thằng giám khảo chớ có gì lạ? Dĩ nhiên nghề nghiệp mày cũng phải vào hạng xuất sắc mới được. Mưu trí của ổng thì lão Woltz sánh sao nổi? Ổng đâu cần dí súng vào đầu người ta… hay dọa đuổi sở để buộc họ phải bỏ phiếu cho mày. Vì ổng, họ sẽ bỏ phiếu cho mày. Như vậy mày đã tin là có Oscar chắc chưa? 
– Tin chớ, mày nói là tao tin. Còn vụ làm phim thì sự thực tư cách, năng lực tao có chớ… nhưng tiền đâu? Nhà băng nào cho vay? Mỗi cuốn phim là bạc triệu chớ đâu ít? 
Hagen nói vắn tắt: 
– Bắt được Oscar rồi là mày phải có kế hoạch sản xuất 3 cuốn phim đi. Đào kép, chuyên viên phải là nhất nước, xuất sắc nhất. Mày toàn quyền và tha hồ tuyển chọn, bất cứ ai. Mày cứ tính từ 3 đến 5 cuốn đi… 
– Mày nói dữ quá! Làm bằng ấy phim là 20 triệu đô-la nghe? 
– Đồng ý. Chừng cần tiền, mày tiếp xúc với tao. Tao sẽ cho tên một nhà băng California để mày đến mượn vốn. Đừng thắc mắc, cho mượn vốn làm phim là nghề của họ mà! Mày cứ hỏi tiền theo đúng thủ tục thông thường, đúng nguyên tắc làm ăn. Họ sẽ chấp thuận. Nhưng trước lúc đó mày phải tới tao, cho tao biết qua con số và kế hoạch đã. OK? 

Google photos

Johnny ngẫm nghĩ lúc lâu rồi rụt rè hỏi: 
– Còn gì nữa không? 
– Mày muốn nói… còn phải làm gì để đền đáp cái sự cho mượn vốn 20 triệu ấy phải không? Dĩ nhiên còn chớ! 
Không thấy Johnny thắc mắc hỏi tới, Hagen nói rõ: 
– … Mày còn phải làm cái điều mà Ông Già muốn mày làm cho ổng. Dĩ nhiên lúc ấy chính ổng sẽ nói với mày. 
– Đúng vậy, phải chính ổng nói ra mới được. Chớ mày hay thằng Sonny biểu tao, bắt tao làm là không được á! 
Hagen mỉm cười. Thằng Johnny coi vậy mà khôn đáo để. Nó dư biết Bố-Già thương nó, đời nào đích thân đòi hỏi nó phải làm một điều vô lý hay nguy hiểm? Không khi nào! Nhưng nếu Sonny thì lại khác. Biết vậy Hagen nói ngay: 
– Cho mày hay trước là Ông Già đã cấm tao và thằng Sonny triệt để không được chen vô công việc của mày dưới bất cứ hình thức nào… để mày có thể bị liên lụy hay mang tai tiếng. Còn ổng thì dĩ nhiên là không rồi! Mày yên chí đi… tao đảm bảo rằng nếu ổng muốn nhờ vả mày điều gì thì ổng chưa nói ra mày đã xin làm trước kia! 
Johnny OK. Nếu vậy thì hay quá! 
– Mày phải nhớ điều này. Sở dĩ Ông Già giúp mày là vì ổng tin tưởng, ổng biết mày làm ăn được. Nhà băng bỏ tiền ra cho mày làm phim thì họ sẽ có lời và ổng cũng có lời luôn. Tiền bỏ ra là tiền đầu tư, tiền làm ăn chớ chẳng phải tiền cho mày ăn chơi vung vít. Mày là con đỡ đầu ổng thương nhất thật… nhưng 20 triệu bỏ ra đâu phải chuyện chơi? Đó là điều ổng cần lưu ý mày nhất. 
– Mày nói lại là ổng đừng e ngại. Lão Jack Woltz mà làm phim được mà lại còn chủ nhân ông có cỡ nữa… thì ai làm cũng phải được. 
– Ông Già cũng nghĩ vậy đó! Bây giờ mày có sẵn xe cho tao ra phi trường được chưa? Những gì cần nói tao đã nói hết rồi. Nhớ là lúc làm giao kèo thì phải lo mướn luật sư. Tao không rành địa hạt này nhưng trước khi ký kết hãy cho tao coi qua xem có gì trở ngại cho mày không. Về vụ thợ thuyền, nhân viên đình công mày cũng khỏi lo. Đỡ tốn lắm lắm cho ngân quỹ sản xuất đấy! Nếu thằng kế toán ghi cái vụ chi phí chống đình công thì mày có quyền gạch bỏ cái một. 
– Tao có cần đưa mày kiểm soát trước cái gì khác nữa không? Như chuyện phim, đạo diễn, tài tử chẳng hạn? 
– Đâu có! Những cái đó mày toàn quyền mà? Chỉ có một người có thẩm quyền phản đối một vụ gì, đó la Bố-Già. Nếu có thì ổng sẽ nói thẳng với mày. Nhưng tao không tinh là ổng sẽ đặt vấn đề! Ổng không rành về điện ảnh, vả lại chẳng bao giờ xía vô công chuyện một khi đã tin và giao cho ai. 
– Tốt lắm. Để tao lái xe đưa mày ra máy bay. Mày nhớ cám ơn Ông Già dùm tao. Tao cũng muốn phôn lại hỏi thăm và cảm ơn ông lắm nhưng ổng có xài điện thoại bao giờ đâu? Tại sao kỳ vậy nhỉ? 
Hagen nhún vai: 
– Đúng, tê-lê-phôn thì ổng khỏi xài! Cũng bất đắc dĩ lắm mới rờ tới. Tại ổng không muốn bị chúng thâu tiếng nói và dùng kỹ thuật “pha trộn” tối tân để một câu chuyện tầm thường có thể biến thể thành một tang chứng gây phiền phức sau này vậy mà? Biết đâu đấy? Xưa nay ổng không muốn để lộ bất cứ một sơ hở nhỏ nhặt nào để bằng vào đó bọn cớm có thể làm khó. 
Lúc hai đứa ngồi xe ra phi trường, Hagen mới nhận ra rằng thằng Johnny khôn hơn nó tưởng nhiều! Nội cái vụ đích thân lái xe đưa đi cũng đủ là một bằng chứng. Nó đã biết sử dụng chiến thuật mua lòng người, chiến thuật “ruột” của Bố-Già! Nó còn là một thằng dám phục thiện và thành thực nữa. Johnny đâu phải týp vì sợ hãi mà phải ngỏ lời xin lỗi ai? Khỏi có! Nó là thằng ngang tàng xưa nay và cũng chỉ vì nết ngang mà luôn luôn có chuyện với các ông chủ hãng và cả các em nữa. Hình như ngay Ông Trùm là Bố-Già nó, nó cũng cóc sợ. Chỉ có nó và thằng Michael là dám không sợ ổng! 
Hagen thấy gần gụi nó hơn. Bề nào hai đứa cũng còn phải gần gụi nhau, làm ăn với nhau trong mấy năm tới. Tội gì mà lạnh nhạt? Rồi đây nó còn phải làm một vụ nào đó để trả ơn Bố-Già, một vụ chắc chắn ổng sẽ không nói ra, không ép buộc nhưng không hiểu Johnny có đủ thông minh để đoán ý ổng, làm cho ổng hài lòng không? 
Ở phi trường Hagen không bằng lòng để Johnny cùng ngồi đợi máy bay nên nó lo về trước. Về nhà cũ để còn rộng thì giờ sắp đặt công việc. Thấy nó trở về Ginny lạ lắm. Johnny biết là kế hoạch Hagen vừa nói có tính cách vô cùng quan trọng, thay đổi cả cuộc đời nó. Từng là tài tử lớn thật nhưng mới 35 tuổi đầu đã xuống chân, xuống thật sự. Dù có bắt được Oscar thì cũng có nghĩa lý gì, nếu giọng ca mất đứt? Một thứ tài tử hạng nhì, không thực quyền, không tiền! 
Giả thử nó là chủ nhân ông thực sự thì con nhỏ duyên dáng láu lỉnh, phóng túng hồi hôm đâu có cho nó de nửa vời? Bây giờ nhờ thế Bố-Già nó có thể mượn tiền làm ăn, làm chủ lớn như bất cứ thằng chủ hãng phim nào ở Hollywood. Nó dám làm vua Hollywood luôn, làm một thứ ông Trùm cũng không chừng. Johnny mỉm cười hài lòng. 
Dĩ nhiên nó có quyền ở lại nhà này vài tuần, hay hơn nữa. Hàng ngày tà tà dẫn con đi chơi, rủ mấy thằng bạn về. Không rượu không thuốc lá và giữ sức thử coi. Biết đâu có giọng trở lại? Nếu vậy thì sung sướng quá! Có tiền của Bố-Già giúp nữa thì Johnny sẽ là chúa ở đất Mỹ này. Nó sẽ không phải lo còn giọng mất giọng mà khán giả khoái hay không cũng chẳng cần. Vì sự nghiệp của nó dựng bằng tiền sẽ mọc rễ chắc chắn. Nó sẽ có quyền và có thế của một thằng có nhiều tiền. 
Ginny dọn cho nó căn phòng bên, hai đứa sống chung nhà như bạn chớ vợ chồng thì khỏi. Không bao giờ! Mấy tên nhà báo kịch trường điện ảnh cũng như đám quần chúng hâm mộ cứ trút tội bỏ vợ bỏ con lên đầu Johnny. Họ đâu biết, vì dĩ nhiên chỉ hai đứa biết với nhau, là trong vụ ly dị chính Ginny mới là đáng trách. 
Vì cho đến khi tên tuổi sáng chói ở bộ môn ca nhạc cũng như điện ảnh, Johnny đâu dám nghĩ đến việc bỏ phế gia đình? Nó người Ý chính gốc, cổ hủ là khác. Trăng gió, đĩ bợm là chuyện dĩ nhiên nghề của nó bắt buộc phải vậy nhưng bỏ vợ thì không! Johnny người mình dây, đẹp trai thật nhưng không phải týp cứ thấy đàn bà là nhào vô. Nó tìm đến đàn bà như một khám phá mới, bất ngờ. 
Xưa nay Johnny vẫn thích đi với những em bề ngoài hiền hậu, ngoan ngoãn, làm như chưa hề biết đàn ông là gì. Trái lại, nó cũng thích những týp bề ngoài nổg ngáo dạn dầy làm như từng ngủ với trăm thằng nhưng thực sự lại nhát nhúa, sợ đàn ông hơn cái gì hết. Mấy em này ưa có điệu bộ thật sếch-xy thật văm cứ như chơi bóng rổ vậy, nhưng chừng nhập trận là phải tấn công cả mấy giờ, mất bao nhiêu công phu khó nhọc mới chịu và chừng đó mới khám phá ra em còn con gái! 
Các đàn anh Hollywood ưa chê Johnny quê mùa hủ lậu, thời buổi này mà còn có thói ham những em còn con gái. Họ chơi nhiều trò ma mãnh mà một dứa con gái hăng đến đâu cũng chẳng thể bằng một thợ thổi chuyên nghiệp. Song Johnny thì khác, nó khoái hướng dẫn một con nhỏ chưa biết gì trong vụ hưởng thụ mùi đời. Phải đi đúng cách thì còn gì tràn trề cho bằng niềm sung sướng hưởng thụ đầu đời. Và thằng hướng dẫn cũng sung sướng biết mấy! 
Đối với Johnny thì còn niềm khoái trá nào bằng được một em quýnh quíu níu chặt! Có em nào giống em nào đâu, mỗi người một vẻ từ chân cẳng đến thân hình và cả nước da nữa! Em trắng toát, em ngăm ngăm, em nâu hồng, em đen bóng. Có bao giờ Johnny quên nổi con bé da đen, người từng mang lại cho nó khoái cảm một đời người chỉ gặp đôi lần? Em là gái nhà lành, con gái của thằng ca sĩ đen hát chung với nó một phòng trà Detroit. 
Chao ôi, môi nó ngọt mùi mật ong pha lẫn chất hồ-tiêu nóng bỏng. Làn da đen mới dịu mát, ướt rượt làm sao. Toàn thân nó mang lại trọn vẹn sự khoái cảm trời dành cho đàn ông và nó lại còn… con gái nữa. 
Johnny quả không khoái những kiểu cách yêu đương ma mãnh hiện đang là mốt trong giới ăn chơi Hollywood. Một em đẹp đến đâu mà tự nguyện hạ mình hầu hạ quá đáng thì nó cũng hết hứng! Cũng chỉ vì những lối yêu kiểu cách mà nó và con vợ thứ nhì Margot cắn đắng nhau hoài. Một đằng chịu cổ điển còn một đằng thì phải ngược đời, gần như Johnny phải vật lộn với nó mới yêu theo lối thông thường được! Có lẽ vì vậy Margot mới chê nó quê một cục và cả Hollywood kháo nhau “đàn anh Johnny coi vậy mà làm ăn như con nít!” 
Không khéo vì vậy mà con nhãi hồi hôm mới cho anh Johnny rơi. Nhưng bây giờ thì cóc cần em nữa. Sự thực nếu nó không hứng thì chẳng bõ công. Johnny xưa nay vẫn kinh nghiệm là chỉ cảm thấy sung sướng với những em thích yêu thật sự. Vừa bén mùi đời còn tuyệt! Kỵ nhất là những týp gái mới nứt mắt ra đã bừa bãi: 15 tuổi đã biết đàn ông và 20 tuổi thì nghiễm nhiên cao thủ. Theo Johnny thì mấy em đào hát Hollywood đều thuộc týp này và nhiều em còn có nhan sắc kia! 
Lúc Ginny mang cà-phê bánh ngọt vô Johnny kể sơ sơ cho nghe công việc làm phim độc lập với vốn nhà băng cho mượn. Nó mừng ra mặt, không ngờ Bố-Già thế lực mạnh đến thế. Công việc làm ăn quan trọng như vậy mà chỉ cử Tom Hagen sang nói khơi khơi một buổi là xong hết. Mà Tom còn giúp đỡ về mặt pháp lý sau này nữa. 
Vậy là Johnny Fontane sắp có dịp lên nữa mà lần này lên mạnh, lên làm chủ lớn. Ginny xăng xái dọn dẹp và cảm động thiệt tình khi nghe nó nói: “Tôi cần làm việc tối nay, phải phôn đi nhiều chỗ, lo tiến hành gấp công việc. Cô nên nhớ là tôi sẽ dành phân nửa quyền lợi trong vụ này cho sắp nhỏ, đứng tên chúng nó.” 
Trên bàn viết của nó để sẵn hai thứ thuốc: Một hộp thủy tinh tròn, đầy thuốc lá chữ vàng đặc biệt và một hộp đựng xì-gà, thứ xì-gà đen nhỏ điếu dài dài của Cuba. Johnny ngồi bật ngửa ra ghế xoay, sử dụng phôn như máy. Trước hết phải có truyện phim. Nó kêu một thằng nhà văn cũng trạc tuổi, khởi sự viết thật chật vật nhưng bây giờ cả nước biết tên. Thằng này cũng mon men sang Hollywood thử thời vận, tưởng đâu có tác phẩm lớn là có thể làm cha nào ngờ bị coi rẻ rề, như bất cứ thằng viết truyện phim nào! Đến các em đào hát cũng đá là hết hy vọng. Johnny từng chứng kiến một màn mất mặt thê thảm của nó và nhớ mãi. Chẳng là nó bắt được một em đào non văm nổi tiếng, đưa em đi coi cá ngựa và chắc chắn sắp có một đêm vui. Nào ngờ đang ngồi nhà hàng có thằng diễn viên đưa tay ngoắc là em bé cho đại-văn-hào rơi tức thì. Một thằng hề giễu hạng bét mới là đau! Thì ra cái xã hội Hollywood vốn nặng trình diễn: với các em thì nhà văn có tác phẩm lớn, được chủ nhân ông Jack Woltz mua bản quyền làm phim cũng chẳng bằng một anh hề sân khấu. 
Sau cú đá đít đau điếng ông nhà văn đau khổ trở về Nữu-Ước. Nay Johnny Fontane phôn qua thăm hỏi, cảm ơn đã dựng một nhân vật thật cừ cho nó biểu diễn tài nghệ. Luôn thể nó cho ông nhà văn đi tàu bay một phát rồi mới hỏi thăm đang viết gì, tác phẩm đang thành hình ra sao. Được ông tài tử lớn Hollywood bốc tận tình nên nhà văn bèn hứng chí đi một đường giới thiệu dài. Johnny đốt điếu xì-gà ngồi nghe, gật gù thưởng thức và đưa đề nghị: 
– Truyện khá đấy chứ? Chừng nào xong… cho coi một bản được không? Thì cứ gởi qua đây. Biết đâu chừng bạn còn lãnh một mớ ngon lành hơn bạn phát bản quyền cho lão Woltz nhiều! 
Nghe giọng hối hả của nó Johnny biết ngay là cu cậu đã bị Jack Woltz bóc lột đầu, tiền bản quyền tiếng là nhiều song ăn chẳng bao nhiêu. Johnny hứa sau lễ Giáng Sinh sẽ qua Nữu-Ước bàn thêm công việc làm ăn. Dĩ nhiên hai đứa sẽ có chầu ăn nhậu và sẽ có vài em rất hách. Còn muốn gì hơn, nhà văn bèn OK gấp. 
Sau đó Johnny phôn đến ông đạo diễn, ông cameraman (người quay phim) cuốn phim vừa hoàn thành để cảm ơn. Đại khái biết lão Woltz rất kỵ nó mà họ còn tận tình giúp đỡ thì quý hoá quá. Bây giờ nó sắp có chuyện làm ăn riêng, nếu họ muốn “anh em giúp đỡ nhau” thì cứ việc phôn tới. 
Khó nhất là vụ đối phó với Jack Woltz. Áp dụng chiến thuật mua lòng, Johnny cảm ơn lão cho đóng cuốn phim vừa rồi và hứa sẵn sàng làm ăn nữa, nếu muốn chỉ một cú phôn là sẽ chạy tới ngay. Hãy để lão yên chí vậy, xưa nay Johnny Fontane là người có sao nói vậy, có môi miếng bao giờ? Lão đâu ngờ nó cũng có thể làm chủ được, nó đang chuẩn bị làm ăn riêng và chừng biết rõ sự thực thì chắc chắn lão sẽ có chầu bật ngửa! 
Xong gần ấy công việc, Johnny ngồi thong thả kéo khói. Ở bàn bên cạnh có chai huýt-ky nhưng lỡ hứa với Hagen, lỡ hứa tự kiềm chế rồi nên nó không muốn uống. Còn phải tốp cả khói nữa kìa. Đâu phải cứ tốp hết rượu chè, thuốc lá là giọng ca trở lại? Chưa chắc. Nhưng dù sao nhịn đi vẫn hơn, nhất là lại sắp có cơ hội làm ăn lớn. 

Google photos

Cả nhà yên lặng quá. Vợ con nó ngủ say hết rồi. Ngồi trầm ngâm suy nghĩ, Johnny nhớ lại những ngày thê thảm bỏ vợ bỏ con để chạy theo một con điếm hạng bét là con vợ bây giờ. Một con đàn bà thật tệ, nhưng xét lại nó cũng còn được ở một vài điểm khác. Johnny mỉm cười một mình. Cuộc đời nó đỡ khổ chính ở điểm này. Đối với đàn bà con gái không bao giờ nó ghét hận. Đúng hơn là chẳng thể hận được họ, dù là con vợ cũ, con vợ điếm hay những ả nhân tình. Chẳng việc gì mà hận, ngay cả con bé nhãi con Sharon Moore từng cho nó rớt hồi hôm qua để ra cái điều “thèm vào ngủ với thằng Johnny Fontane!” 
oOo 

Đời nó từng theo ban nhạc đi ca hát mọi nơi, từng là danh ca radio, sân khấu và nhảy sang địa hạt điện ảnh cũng thành công. Nó quả đã sống tuỳ sở thích, đàn bà con gái hạp nhãn là bắt những vẫn có một đời sống riêng, hoàn toàn riêng. Cho đến ngày nó mê đào Margot Ashton, hoàn toàn điên đầu vì nó. Cả một sự nghiệp sụp đổ, giọng ca mất, gia đình vợ con cũng tiêu. Mất hết, mất không còn gì cả. 
Xưa nay, Johnny vẫn là người hiểu biết, hào phóng. Lúc ly dị Ginny nó đã cho hết, có từ chối gì đâu? Để cấp dưỡng hai đứa con gái, nó đã chia hẳn một phần lợi tức. Bất cứ một số tiền nào nó kiếm được, các con cũng phải có một phần. Hồi còn ở với con vợ cũ, làm ra tiền như vậy nó đã làm quá bổn phận làm chồng: họ hàng bên vợ cần gì là giúp hết, giúp tận tình. Ngay cả bạn bè cùng đi học với con vợ hồi nhỏ nó cũng chẳng từ chối bao giờ. Nó không hề lên mặt đại danh ca đại tài tử. Kỵ nhất là “lên ca cho bà con nghe chơi” mà hồi hai con em vợ đi lấy chồng nó cũng phải hát dùm đám cưới. Có thể nói đối với vợ cũ, Johnny chẳng từ chối điều gì, trừ cái khoản để cho vợ sỏ mũi! 
Khi cuộc đời xuống dốc về đủ mọi phương diện thì Johnny bò về sống ít ngày với vợ con. Chán chường đến cùng độ. Nhưng ngày nào tình cờ phát giác giọng ca mất, nghe thử dĩa hát vừa thâu thấy tồi tệ quá cứ đổ tội cho bọn chuyên viên thâu âm cố tình phá hoại. Hôm đó nó đã đập dĩa cái thề không ca hát nữa, trừ hôm đi ăn đám cưới Connie. Cái đêm biết nó mất giọng, nét mặt vợ cũ đột nhiên sáng lên thật tàn nhẫn. Vỏn vẹn có một giây thôi những rõ ràng Ginny sung sướng, hả hê lắm. Làm gì Johnny không biết và nhầm thế nào được? Ginny bỏ thái độ đó ngay nhưng chẳng làm gì hơn là thương hại một cách lơ là. 
Johnny làm thinh chấp nhận. Nói gì con vợ chính thức, đến mấy con nhân tình “ruột” xưa nay, thỉnh thoảng vẫn còn đi lại thân mật mà nghe tin Johnny mất giọng chúng còn hả dạ, vui mừng in hệt kia mà? Nó có thử lần lượt đến với 3 con thì cả 3 đứa cùng tàn nhẫn in nhau, dù Johnny vẫn bồ-bịch và mới đây thôi em nào chẳng nhờ cậy, xin xỏ, nhận quà tặng tính ra đâu có dưới cả trăm ngàn đô-la mỗi đứa? 
Đó là khoảng thời gian Johnny phải suy nghĩ và có một thái độ về lòng dạ đàn bà. Một là vẫn trọn tin nơi các em, khỏi oán hờn thù ghét. Hai là phải làm như hầu hết những thằng tai to mặt lớn ở Hollywood này, thấy gái đẹp là gạ gẫm bắt liền. Phải lợi dụng quyền thế, tiền bạc để săn gái bằng được nhưng đá đít các em cũng sẵn sàng, khỏi chung thuỷ tình cảm. Vì đàn bà là vậy. 
Tâm hồn Johnny vốn đặc biệt ở chỗ biết vậy nhưng vẫn không thể không yêu. Biết lòng dạ các em phản trắc nhưng nếu không có các em, Johnny nghe như có gì thiếu thốn, mất mát vậy. Ngay những người đàn bà mà nó yêu thương nhất, thấy đời nó sắp tàn còn ngấm ngầm cầu mong sao cho nó khốn khổ khốn nạn nữa chớ nói gì đến trung thành, thương xót? Nhưng biết sao hơn, đàn bà là vậy thì Johnny đành phải chấp nhận như vậy. Đành phải lời đi để tiếp tục yêu đương, chìu chuộng. Bề nào còn được đền bù lại ở chỗ tự do, không bị ràng buộc một đứa nào mà còn hưởng thụ đàn bà ở giữa thời xuân sắc nhất. Và có phóng đãng, không trung thành cũng chẳng hề thắc mắc, chẳng cảm thấy tệ bạc gì hết ngay với Ginny, dù đã không bao giờ chắp nối trở lại. Trong cuộc xuống dốc thê thảm của đời nó, Johnny rốt cuộc chỉ còn lại một điểm: nó đâm ra lì lợm, chai cứng trước sự đau khổ của các em, dó chính nó gây ra. 
Mệt mỏi, buồn ngủ quá nó tính đi ngủ thì chợt một ý nghĩ sáng loé lên. Nó nhớ đến Nino Valenti. Phải nâng đỡ thằng bạn nghèo hèn này: đó chính là điều Bố-Già khoái nhất, muốn nó làm nhất. Lập tức Johnny nhấc phôn gọi Nữu-Ước, hỏi Sonny số máy Nino Valenti. Dĩ nhiên giọng thằng Nino vẫn nhừa nhựa rượu như bất cứ lúc nào. 
– Nino hả? Mày có thể tính chuyện sang đây làm ăn với tao không? Tao cần một thằng như mày, một thằng bạn có thể tin được. 
Nino cà rỡn: 
– Làm ăn với mày hả? Liệu mày trả tao nổi không? Mày nhớ là tao đang làm ở đây cuối tuần bắt 150 đô ngon lành, chỉ có việc tà tà lái xe, dọc đường có quyền bắt bò lạc lu bù đấy nhé? 
– Tạm thời lương mày 5 trăm đô một tuần. Các em đào chịu chơi ở đây thiếu gì? Nếu có thể… mày còn hát cặp với tao. 
– Vậy hả? Nếu có thể… để tao suy nghĩ lại coi. Tao còn phải hỏi ý kiến luật sư của tao, còn phải hỏi thằng cha kế toán và thằng cha chủ xe nữa chớ? 
– Đừng cà rỡn mày! Tao cần mày sang đây thật. Sáng mốt mày đáp phi cơ qua ký giao kèo một năm đã, mỗi tuần 500 đô-la. Nếu mày chớp của tao một em nào, tao bắt buộc phải đuổi thì mày sẽ có một năm tiền bồi thường đuổi sở. OK không? 
Nino ngẫm nghĩ một lúc lâu, giọng nó tỉnh rượu: 
– Johnny, mày nói thực hay chơi đó? 
– Ủa, sao lại nói chơi? Mày chỉ việc đến văn phòng đại diện của tao ở Nữu-Ước. Sẽ có giấy máy bay và tí tiền lẻ cho mày. Sáng mai tao phôn cho tụi nó sớm, chiều mày tới là vừa. Sẽ có người ra đón mày ở phi trường đưa về nhà tao. 
Không thấy nó trả lời ngay nhưng lúc nó lên tiếng thì chẳng thấy hơi rượu đâu nữa. Nino “OK… Johnny” nhưng giọng nó vẫn có vẻ gì nghi ngờ, không tin tưởng chút nào. Johnny gác phôn đi ngủ. Nó cảm thấy thư thái, hân hoan. Từ ngày đập bể dĩa cái, chưa bao giờ nó sung sướng vậy.