Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 22 Jun 2024

Phần 16

Đầu tháng 10, tôi bị gọi ra. Thời gian này, đề lao chỉ còn cho nhận quà hai tuần một lần. 1 C- 1 đã nhiều thay đổi. Người cũ đổi phòng. Người mới nhập phòng. Vài anh được thả, lệnh tha đọc tại chỗ. Nhân vật của 1 C-1 bây giờ là Bí thư của thủ tướng Trần Văn Hương. Thêm ông giáo sư trường nữ Sương Nguyệt Ánh bị học trò tố cáo phản động. Đám tư sản mại bản Chợ Lớn đã từ các nhà tù thành phố về tập trung tại 2 C-1. Có mặt vua kẽm gai Hoàng Kim Quy. Tôi được đưa vào phòng chấp pháp đầu khu C-l. Công an chấp pháp số 8 tự giới thiệu.

– Gọi tôi là Hai Nghiêm.

Lần đầu tiên một chấp pháp xưng bí danh. Bí danh Hai Nghiêm, một bí danh hãi hùng. Hai Nghiêm đã cho nhiều anh em của tôi vào cachot nếm các kiểu còng, xích. Hai Nghiêm đang chiếu cố tôi. Hắn ta dân Quảng Bình, ăn mặc luộm thuộm, có cái xe đạp cũ rích dựng trước cửa phòng. Kinh nghiệm nhà tù Cộng sản dạy tôi bài học này.

Một công an miền Bắc vào Saigon vẫn giữ tác phong miền Bắc là một công an còn nguyên “phẩm chất cách mạng”. Và tù nhân nên lo sợ. Bài học này nữa: Tất cả công an ở những vùng bị không lực Mỹ oanh tạc, đều trút thù hận xuống tù nhân tư tưởng, tù nhân chính trị miền Nam. Hai Nghiêm hội đủ hai bài học của chính sách học tập cải tạo của Cộng sản.

– Hôm nay, anh làm việc với tôi.

Tôi đã bẽ bàng nghe hai tiếng làm việc. Thôi rồi, tôi sắp viết tự khai. Hai Nghiêm pha ấm trà Thái Nguyên. Hắn ta hút thuốc rê. Móc gói thuốc và giấy vấn, hắn hỏi tôi:

– Anh biết hút thuốc rê chứ?

– Biết

– Vậy tự do vấn mà hút.

Tôi vấn thuốc. Hai Nghiêm đã rót trà. Nâng ly của mình trước, hắn bảo tôi:

– Uống đi, anh Duyên Anh.

Sau tuần trà tù, Hai Nghiêm nhìn tôi, gật gù:

– Trường hợp của anh là trường hợp đáng nghiên cứu.

Hai Nghiêm đặt lên bàn tờ Chỉ Đạo do Bộ quốc phòng xuất bản năm 1960 số đăng truyện ngắn đầu tay của tôi: Hoa thiên lý. Hắn lật từng trang và ngưng lại dí ngón tay xuống cái slogan đóng khung “Tố Cộng là yêu nước”. Rồi lật tiếp đến trang Hoa thiên lý.

– Giàn thiên lý của mẹ anh còn nguyên ở làng Trường An. Mẹ anh đã chết, không phải chết vì héo hắt thương nhớ anh. Mà chết vì bom Mỹ năm 1969, anh biết chứ?

– Tôi biết, bố tôi cho tôi biết.

– Thằng Mai Thảo viết bài cổ võ dội bom lên miền Bắc. Nó hò hét “dội bom lên đầu chúng nó”. Anh cũng cổ võ dội bom xuống đầu mẹ anh.

– Tôi không cổ võ.

– Anh chống Cộng sản. Các anh ăn lương Mỹ chống Cộng sản. Thằng Nguyễn Mạnh Côn đã công khai viết mỗi bài viết thuê nó nhận bao nhiêu tiền. (Anh Côn đã viết, đã đăng báo trước 1975. Anh ta rất hãnh diện nói thật, tất cả những điều cần dấu điếm, những điều người khác sợ hãi. Thí dụ anh ấy hiên ngang viết anh ấy nghiện thuốc phiện. Cộng sản đã dầy công nghiên cứu văn học Sàigòn. Họ rõ chúng tôi từng chi tiết vụn vặt).

– Tôi không ăn lương chống Cộng.

– Thế anh mới nguy hiểm. Những thằng chống Cộng tự nguyện như thằng Dương Nghiễm Mậu, thằng Phan Nhật Nam, thằng Thanh Tâm Tuyền, thằng Doãn Quốc Sĩ và anh toàn là những thằng nguy hiểm. Các anh đã phá hại Đảng, đã huyễn hoặc nhân dân bằng sự tự nguyện của các anh. Nhân dân không tin bọn chống Cộng lãnh lương nhưng tin các anh. Các anh đầu độc tư tưởng nhân dân.

Tôi là thằng chống Cộng nguy hiểm? Thế mà, trước 1975 thiếu gì đứa làm nghề viết báo miệt thị tôi chống Cộng thô bỉ vì ngôn ngữ sống sượng của tôi đã lố bịch Bác của chúng nó. Tôi nhớ năm 1969, năm Hồ Chí Minh “băng hà”, trên mục Phù Thế của báo Công Luận, tôi định viết loạt bài dài, nhan đề Cây đại thụ đổ gục , bọn Lê Hiền nói nhỏ nói to: Thằng Duyên Anh mà dám viết về chủ tịch Hồ Chí Minh ư? Tôi chán quá, cúp ngang loạt bài này.

– Cái giọng hài hước đểu cáng của anh đã khiến nhân dân khinh nhờn lãnh tụ. Anh sâu sắc lắm, anh chia đối tượng mà tuyên truyền. Bình dân thì anh trào phúng. Trí thức thì anh nghiêm chỉnh. Con nít thì anh đá giò lái, phục kích những câu đối thoại ác độc.

Hai Nghiêm kết tội tôi nặng quá. Tôi đã “đi” chấp pháp bẩy lần, “bẩy chữ” của ‘Vành ngoài” đã quen, mặc kệ Hai Nghiêm nguyền rủa. Hắn ta có quyền. Vì hắn ta chiến thắng. Tôi chiến bại. Tự nhiên, tôi nhớ nhân vật Trần Cung của La Quán Trung. Bạn đọc Tam Quốc Chí chứ? Trần Cung chê Tào Tháo gian ác, bỏ lỡ cơ hội giết Tào Tháo, ra đi. Tưởng phò ai, lại phò Lã Bố là thằng chỉ ham rượu và gái, và phản thầy. Rốt cuộc, Trần Cung bị Tào Tháo sát hại. Chuyện có khác nhiều với chúng tôi. Những Lã Bố di tản qua Mỹ phè phỡn. Chúng tôi chống Cộng ở lại vào tù, nghe Cộng sản chửi rủa.

– Anh vô sản mà ngu dốt chống giai cấp của anh. Anh chống bố anh, chống các em của anh.

Chán chưa? Cộng sản cứ nằng nặc gắn lên tôi nhãn hiệu vô sản. Như tất cả những tên công an, chấp pháp đầy thủ thuật, Hai Nghiêm châm thêm nước cho tôi và chuyển đoạn:

– Anh biết Mai Thảo ở đâu không?

– Không!

– Nó nằm ở Chí Hòa. 1 Vì nó trốn nên nó không được hưởng quy chế như các anh.

Câu này rất thấm thía về mặt khôi hài đen.

– Anh Duyên Anh.

– Tôi nghe rõ.

– Anh nói thật nhé?

– Tôi nói thật.

– Ở miền Nam anh phục nhất ai?

Đang nói về Mai Thảo, Hai Nghiêm rẽ sang chuyện khác cái rụp. Tôi chới với, phải thú nhận là tôi không kịp chuẩn bị câu trả lời:

– Tôi không phục ai cả.

– Anh có thể trả lời anh phục một người.

– Không, tôi không phục ai.

– Có.

– Không.

– Đinh Xuân Cầu!

Hai Nghiêm mỉm cười:

– Thần tượng của anh.

Tôi lặng người. Hai Nghiêm nhả khói thuốc:

– Kể ra, Đinh Xuân cầu xứng đáng là mẫu người hùng của anh. Thằng này bị bắt cứ ngoan cố khai cái tên giả. Chúng tôi biết tỏng, mặc kệ xem nó đóng kịch bao lâu. Chúng tôi còng tay, xích chân nó cho đến hôm chúng tôi mời đồng chí Trưởng trại Lý Bá Sơ vào thăm nó. Lúc ấy nó mới chịu nhận nó là Đinh Xuân cầu, thần tượng chống Cộng của anh.

Tôí nín thinh.

– Thằng Đinh Xuân Cầu ngạo mạn lắm. Tôi làm việc với nó. Bị bắt mà còn xấc láo nói: “Tôi không làm thủ tướng thì ai làm thủ tướng”! Cái mặt thằng Cầu mà đòi làm thủ tướng à? Anh Duyên Anh này, thằng Trương Phiên đang nằm ở khu B.

Hắn hất hàm:

– Lá cờ Bảo Quốc nó ra sao?

Tôi đáp:

– Tôi chưa hề thấy.

Hai Nghiêm gằn giọng:

– Đó là cờ bịp. Cả lũ các anh bị bịp. Từ Đinh Xuân Cầu, Nguyễn Thiện Ngọ, Hà Tường Các, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Tiến Hỷ bị bịp.

Hai Nghiêm dẫn tôi sang khu B. Đến trước cửa một phòng giam, hắn gọi:

– Trương Phiên.

Trương Phiên “có” thật lớn. Ông ta chạy ra cưa. Tôi đã nhận diện Trương Phiên. Tôi còn thấy Nguyễn Mạnh Côn nữa. Anh ta đã lại từ Sở Công An về đề lao Gia Định. Gặp tôi, Trương Phiên giật mình. Quả nhiên, Trương Phiên là tên bịp, một đạo diễn tài ba của vở kịch Chống Cộng cuối mùa. Tôi đau điếng. Những gì tôi cố dấu đã bị lật tẩy. Hai Nghiêm đưa tôi về khu C. Tôi phải làm lại tự khai từ năm mười tuổi đến ngày tôi bị bắt. Hai Nghiêm chỉ yêu cầu thế. Hai Nghiêm không hành hạ tôi như chấp pháp số 7. Tôi viết tự khai tại phòng của Hai Nghiêm đúng giờ giấc hành chính. Mất nửa tháng mới xong. Vào ngày chấm dứt tự khai, Hai Nghiêm cho vợ tôi gặp tôi ở phòng của hắn. Hắn ngồi giám sát. Thấy tôi hốc hác, hai tay ghẻ lở kềnh càng, vợ tôi đã khóc. Tôi bảo đừng khóc, vợ tôi vẫn khóc. Các con tôỉ ngồi đợi ngoài cổng. Vợ tôi xin Hai Nghiêm “cho các cháu gặp bố chúng”, Hai Nghiêm từ chổi. Hắn nói hắn mời vợ tôi đến làm việc. Đây không phải là chỗ thăm nuôi và hắn không dám qua mặt lãnh đạo của hắn. Hai Nghiêm chỉ cho tôi nhận thuốc lá và không được đem về phòng. Tôi gặp vợ tôi hơn mười phút. Mười phút ngắm nghía dung nhan tiều tụy của vợ để mường tượng sự ngơ ngác của ba đứa con mất bố, tôi muốn điên lên. Tôi không được cầm tay vợ tôi và quên hỏi nồi cháo thịt chiều 8-4 có bị khét. Sự chống Cộng tự nguyện của tôi đã phải trả giá não nề. Tại sao tôi phải chống Cộng nhỉ? Vì tôi chống Cộng, tôi đã chống đủ thứ để chính nghĩa chống Cộng sáng tỏ. Và vì thế, Cộng sản không tha quốc gia không dung. Tội nghiệp thay là người cầm bút có chính kiến!

Tôi về phòng, tâm hồn bấn loạn. Cái đòn tình cảm của Hai Nghiêm đã xoáy vào tim tôi những mũi kiếm nhọn hoắt. Buổi chiều, Hai Nghiêm đem cho tôi ba gói thuốc Vàm Cỏ. Hắn chia ra đưa dần. Ngay sáng hôm sau hắn gọi tôi ra, pha trà mời tôi uống, lấy thuốc của vợ tôi cho tôi hút.

– Anh có vẻ trách tôi? Hắn mở đầu câu chuyện.

– Tôi không có quyền trách móc ai. Có lẽ, tôi đã trách móc tôi làm phiền vợ con tôi. Nhưng tôi tin rằng vợ con tôi sẽ hiểu sự vinh nhục trong đời sống.

– Anh nên nhớ là chỉ có Trưởng phòng chấp pháp của Sở mới đủ khả năng cho phép vợ con anh thăm anh khi anh đang làm việc. Tôi mời vợ anh tới với tư cách nhân chứng để anh gặp vợ anh.

– Cám ơn anh.

– Tôi hứa với anh, làm việc xong, tôi cho anh gặp vợ con anh thoải mái.

– Cám ơn anh.

– Anh tin tôi chứ?

– Tôi sẽ tin.

– Phải, anh sẽ tin.

Hai Nghiêm đưa tôi về phòng. Câu chuyện buổi sáng ngắn ngủi. Buổi trưa, hắn gọi tôi ra, mời tôi uống trà và ăn kẹo Hà Nội.

– Cần kết thúc hồ sơ của anh.

Hắn nói và căn cứ vào những câu, những đoạn trong Tự khai ngót 30 trang vắn tắt cuộc đời tôi từ năm mười tuổi đến ngày tôi bị bắt mà hẳn đã gạch dưới đỏ chói, Hai Nghiêm thẩm vấn tôi. Hẳn bắt đầu ở đoạn tôi lưu lạc Saigon. Hai Nghiêm hỏi thật kỹ chuỗi ngày tôi hoạt động với Duy Dân trên Ban Mê Thuột. Tôi thú thật tôi chưa tuyên thệ, mới chỉ là cảm tình viên. Tuy nhiên tôi rất mê thơ của Lý Đông A, những bài tùy bút chan chứa tình yêu nước. Hai Nghiêm không ngắt lời tôi. Hắn cũng chẳng thèm ghi chép. Sau đó là đoạn đời văn chương báo chí. Và kết thúc ở những ngày tôi theo Đinh Xuân Cầu chống Cộng hoàng hôn. Hai Nghiêm không truy nã những nơi và những người dung dưỡng tôi. Đúng một tuần lễ, tôi trả lời hàng trăm câu hỏi của Hai Nghiêm. Tôi đợi hắn tống tôi vào cachot. Nhưng hắn bỏ rơi tôi. Cuối tháng 10, Hai Nghiêm gọi tôi ra.

– Bản tự khai anh làm việc với tôi là bản tự khai quyết định thời gian anh cải tạo, anh thấy cần bổ sung không?

– Không.

– Anh không ân hận chứ?

– Không,

Hai Nghiêm đọc cho tôi nghe những trang hắn thẩm vấn tôi. Tôi ngạc nhiên vô cùng. Hắn đã chửi tôi như tát nước vào mặt. Hắn lừng danh cứng rắn với anh em tôi. Và hắn đã lập một cái hồ sơ thật nhẹ nhàng về tội trạng của tôi. Đảng của Hai Nghiêm chỉ thị hắn hay Thượng Đế của tôi đã nhập vào linh hồn Hai Nghiêm? Hắn đề nghị cho tôi đi lao động cải tạo một thời gian. Hai Nghiêm đưa tôi đọc lại. Rồi bảo tôi ký tên vào mỗi trang hắn viết. Cuối cùng, hắn ghi ngày, tháng, năm và ký tên hắn. Bạn biết không, với tù nhân, chấp pháp là Thượng Đế. Hai Phận nói thế. Chấp pháp đủ quyền hành đề nghị bạn nằm tù dài hạn hay ngắn hạn, tống bạn vào cachot hay lôi bạn ra, còng bạn hay không còng bạn. Chấp pháp còn có quyền nhốt cả quản giáo và cai ngục. Ở đề lao Gia Định, cai ngục không dám đánh tù nhân vì sợ chấp pháp.

– Anh không phải làm việc nữa. Hồ sơ của anh đã kết thúc. Chúng ta có thể mạn đàm thoải mái.

Hai Nghiệm pha ấm trà mới.

– Những kẻ chống Cộng quả quyết rằng người Cộng sản thiếu lương tâm. Điều này không tuyệt đối đâu. Bởi vì cả những kẻ chống Cộng sản cũng vẫn thiếu lương tâm. Tôi có chút cảm tình với anh nhờ tôi đã đọc truyện Đại dương trong lòng con ốc nhỏ của anh. Tôi vốn con nhà nghèo, bố tôi giống hệt người bố ở truyện của anh. Giá anh chi viết loại truyện đó. Anh còn cơ hội làm lại.

Mạn đàm trời trăng mây gió chán, Hai Nghiêm nói:

– Nếu đề nghị của tôi được lãnh đạo chấp thuận, anh sẽ đi lao động 3 năm tính từ hôm anh bị bắt.

Hai Nghiêm cười:

– Ba năm không dài chứ?

Tôi đáp:

– Vâng, không dài nếu thật sự chỉ là ba năm.

Hai Nghiêm nhìn tôi:

– Cái nguyện vọng anh viết cuối tự khai không thể thoả mãn.

Tôi đã viết: Nếu được tha sớm, tôi xin viết cuốn sách tố cáo những tổ chức, những lãnh tụ phản động bịp để khỏi còn ai vào tù vì tội phản động, mất tiền, mất tình 2

– Tại sao?

– Anh ngây thơ lắm. Chúng tôi cần những thằng chống Cộng bịp để bắt những thằng chống Cộng lương thiện, những thằng như Nguyễn Thiện Ngọ, Nguyễn Đan Quế, Phan Vô Kỵ và bọn sinh viên, học sinh bất mãn chế độ…

° ° °

Nhưng hồ sơ chưa kết thúc. Trung tuần tháng 11, tôi bị gọi ra làm việc. Lại làm việc. Ở phòng Haỉ Nghiêm.

Hai nhân vật đợi tôi. Một người đeo kính trắng gọng vàng, cao ráo, mặt mũi sáng sủa. Rất trí thức. Hắn ăn mặc như dân Saigon. Hai Nghiêm giới thiệu: “Đây là đồng chí Phó Giám Đốc ở sở Công An thành phố”. Một người tóc hoa râm, khuôn mặt phong trần, trán cao, mắt sáng, ăn mặc giản dị. Hai Nghiêm giới thiệu: “Đây là đồng chí ở Viện Kiểm Sát Nhân Dân, từ Hà Nội vào”. Tôi đụng độ thứ dữ. Hai Nghiêm cung kính chào hai đồng chí lãnh đạo và rời phòng. Phó giám đốc Sở Công An nói:

– Anh sẽ làm việc với cán bộ trung ương một thời gian.

Tôi nói:

– Hồ sơ của tôi đã kết thúc.

Phó giám đốc nói:

– Vụ này ngoài hồ sơ.

Phó giám đốc bắt tay cán bộ trung ương ra về. Còn tôi với… trung ương và tôi gọi hắn là chấp pháp Hà Nội.Tôi mơ hồ thấy chuyện gì bất ổn cho tôi. Chấp pháp Hà Nộí mời tôi ngồi.

– Tôi công tác lưu động, sẽ chỉ làm phiền anh vài ngày thôi.

A, chấp pháp Hà Nội nhã nhặn quá. Chức tước càng lớn càng lịch sự.

– Đảng và Nhà Nước có khuyết điểm là giam giữ các anh. Chuyện này ngoài ý muốn, sẽ giải quyết nhanh. Mong anh thông cảm.

Tôi im lặng. Ông ta – tôi không thể thiếu nhã nhặn với người nhã nhặn – hỏi tôi:

– Anh điểm tâm chưa?

– Thưa ông chưa.

– Gọi tôi bằng anh,

– Nếu ông cho phép.

– Tại sao không? Rồi anh sẽ trở về và chúng ta sẽ gặp nhau.

– Cám ơn anh.

– Sao điểm tâm muộn thế?

– Vì phải chờ nước sôi.

Tôi kể tình trạng sinh hoạt của tù nbân. Ông ta bảo tôi về phòng đem mì ra. Quản giáo khúm núm trước mặt cán bộ trung ương. Tôi mang ca nhựa đựng mì vụn và cái muỗng nhựa, ông ta lôi từ ba-lô cái ấm nấu nước cắm điện và gói trà. Ăn mì xong, tôi được quản giáo dẫn đi rửa ca muỗng, rửa mặt, rửa tay. Tôi… de luxe quá.

– Nhà không gửi đồ nhôm à?

– Đề lao cấm kim khí.

Sau tuần trà, chấp pháp Hà Nội vào việc:

– Yêu cầu của tôi là anh viết tất cả những lần anh tiếp xúc với anh em văn nghệ Hà Nội vào. Các anh đã đến đâu, ăn uống chỗ nào, trao đổi chuyện chi. Vân vân… Anh không chịu bất cứ một trách nhiệm gì về những lời khai của anh cả.

Tôi hỏi:

– Tại sao anh chọn tôi?

Chấp pháp Hà Nội đáp:

– Vì anh em văn nghệ Hà Nội vào Saigon, khi về đều viết tự kiểm. Họ nhắc tên anh và nhiều anh em khác. Tôi được giao công tác này. Và tôi đã làm phiền các anh em văn nghệ Saigon ngoài đời, bây giờ, tới lượt làm phiền anh em bị tạm giữ. Mong anh giúp đỡ tôi.

Chấp pháp Hà Nội, cán bộ gộc của Viện Kiểm Sát Trung Ương, một cơ quan ngồi trên công an, muốn tôi viết tự khai. Ông ta đã tế nhị “làm phiền” tôi. Văn Nghệ chế độ miền Nam hay văn nghệ chế độ miền Bắc đều không khá, kể cả những anh đã “lột người” như Xuân Diệu. Nó bắt tự khai, ta đành tự khai. Nó không tin tự kiểm “phe ta”. Nó muốn đối chiếu tự khai “phe địch”. Tự khai hay tự kiểm đều bố láo cả, với nhà văn. Huỳnh Bá Thành nhận xét đúng: “Bọn nhà văn là bọn biết dấu diếm những gì cần dấu diếm trong đầu óc chúng”. Anh em chẳng dại gì khai thật. Ta ngu sao khai thật. Vậy thì tôi đã viết những lần gặp gỡ một số nhà văn trẻ Hà Nội tìm gặp tôi, những buổi ăn uống và nhứng câu chuyện văn chương. Tuyệt nhiên không đả động gì đến chính trị, bất mãn hay phản kháng. Chấp pháp Hà Nội khác hẳn tên chấp pháp sổ 7. Ông ta hỏi tôi mấy giờ ăn cơm trưa, mấy giờ ăn cơm chiều. Luôn luôn, ông ta dục tôi về phòng trước bữa ăn và luôn luôn, pha tặng tôi ấm trà đổ vào ca nhựa cho tôi mang về. Sang hôm thứ hai, ông ta hỏi:

– Anh muốn nhờ tôi việc gì không?

– Việc gì, thưa anh?

– Việc thuộc phạm vi tình cảm.

– Trại đã cấm cà-phê. Nếu có thể, anh ghé qua nhà tôi ở sổ 225 Bis đường Công Lý cũ, bảo vợ tôi mua cho nửa kỷ cà-phê.

– Dễ thôi.

Buổi sáng ngày thứ ba, ông ta đưa tôi gói cà-phê:

– Tôi đã qua nhà anh rồi ngại không dám vào. Một cán bộ vào nhà một nhà văn bị tạm giữ sẽ xẩy ra nhiều dị nghị cho cả hai. Tôi mua tặng anh hai lạng.

Tôi nói:

– Tôi xin phép gửi lại tiền anh.

Ông ta lắc đầu:

– Anh quên tôi là cán bộ và anh là người bị tạm giữ. Trên tất cả vẫn là con người.

Tôi đã làm việc với ông Mai Chí Thọ. Bây giờ, với cán bộ Viện Kiểm Sát Nhân Dân. Tôi thấy cả hai đều ngọt ngào. Và tôi cũng hiểu, càng ngọt ngào càng đáng sợ. Nhưng tôi bằng lòng sự ngọt ngào. Ít ra, tôi đỡ phải khinh bỉ họ đã cậy quyền bắt tôi và át giọng tôi. Người chấp pháp miền Nam đã dạy tôi rằng, ở tù không tin ai cả.

– Cám ơn anh.

Lúc quản giáo dẫn tôi về phòng, ông ta chỉ thị: “Tôi cho phép anh Vũ Mộng Long đem cà-phê vào”. Buổi chiều, tôi chấm dứt bản tự khai. Ông ta không đọc, không chấp pháp mà cất vào ba-lô.

– Thế là xong rồi, anh Duyên Anh ạ!

Ông ta bưng ly trà mời tôi:

– Anh tin tôi đi, mọi việc sẽ tốt đẹp.

Giọng ông ta trầm xuống.

– Đất nước ta còn thiếu nhiều nhân tài, mọi mặt. Anh là một nhân tài của đất nước. Anh cố gắng giữ gìn súc khỏe để mai này phục vụ đất nước.

Ông ta đứng dậy, bắt tay tôi:

– Giữ gìn sức khoẻ.

Tôi bắt tay ông ta. Lần đầu tiên và là lần duy nhất người của Đảng bắt tay tù nhân, chúc sức khoẻ tù nhân. Tôi nói:

– Cám ơn anh câu nói “Trên tất cả là tình người”. Cám ơn anh câu chúc “‘Cố gắng giữ gìn sức khoẻ để mai này phục vụ đất nước”. Tôi rất mong, rất thèm phục vụ đất nước, mai này…

Ông ta chào từ biệt tôi lần cuối. Từ đó, trên đường tù, tôi không còn được gặp người nào như ông ta nữa.

——————————–

1Mai Thảo vẫn trốn cho tới ngày vượt biên. Hai Nghiêm tung hỏa mù. Tôi bán tín bán nghi.
2Ở cuốn Trại Tập Trung, độc giả sẽ biết rõ tên tuổi những lãnh tụ bịp này và sẽ ngậm ngùi cho sự nghiệp chống Cộng.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 22 Jun 2024

Phần 15

Hôm sau, vẫn ở phòng chấp pháp khu B, tôi làm việc với chấp pháp số 7. Tôi… đi khách lần thứ bẩy. Chấp pháp số 7 giống hệt tên lái buôn thô lỗ. Mà tôi, nàng Kiều chưa thể chuyên nghiệp.

– Hôm nay anh viết tự khai.

– Tôì đã viết bên Sở hai lần.

– Sở là sở, Trại là trại. Với Trại, mọi chuyện bắt đầu.

– Tôi đã viết thêm một lần ở Trại.

– Anh chưa làm việc với tôi.

Chấp pháp số 7 móc thuốc Vàm Cỏ và hộp diêm Samasa đặt trên bàn:

– Anh tự do hút thuốc. Hết thì sẽ có thêm. Anh được uống cà-phê. Lát nữa, quản giáo đem tới.

Từ nửa tháng nay, đề lao cấm chỉ cà-phê, trà. Vì có phòng bị phát hiện nấu nước sôi bằng lon sữa bò và túi ni lông bện lại nhóm lửa. Cà-phê, trà bị cấm. Sữa đặc bị khui ra đổ vào keo nhựa hay túi ni-lông rồi mới cho vô phòng. Ở tù phiền lắm. Một người vi phạm nội quy, ngàn người vạ lây. Cách mạng có dịp diễn tả sự tử tế: “Chúng tôi không cấm đoán các anh, mọi khó khăn do chính các anh tạo ra”.

Chấp pháp số 7 chưa phát giấy bút. Hắn… mạn đàm:

– Tôi nhắc lại: Anh viết tự khai.

– Tôi hiểu.

– Tốt. Trong các anh, nhiều người chướng lắm. Lố lăng nhất là thằng Trần Dạ Từ. Bảo viết tự khai, nó làm thơ chéo.

Tôi chưa biết thơ chéo ra sao.

– Nó đòi làm việc với nhà văn miền Bắc! Công an bắt nó mà nó mơ mộng. Cuối cùng, nó vẫn làm tự khai.

Chấp pháp số 7 dằn mặt tôi. Hắn lôi người không ở chung phòng tôi ra dẫn chứng. Đây là đòn công an. Như gã chấp pháp xứ Nghệ đã “bỏ nhỏ” Nguyễn Mạnh Côn khai về tôi “không lấy gì làm đẹp”. Cộng sản dùng kế ly gián để chúng tôi bôi lẫn nhau cả những chuyện không liên can tới văn nghệ phản động. Tôi biết chắc họ đã đem tôi ra “bỏ nhỏ” với người này, người kia. Công an chế độ nào cũng giống nhau. Công an và an ninh quân đội. Đòn ly gián rất ếp-phê. “Nhà văn hoá” Trần Tam Tiệp đã áp dụng thủ thuật khốn kiếp này. Muốn bêu tôi, ông ta gửi về tặng Dương Hùng Cường gói thuốc tây, kèm theo cái thư có đoạn “bỏ nhỏ”: Này, thằng Duyên Anh đang ở Paris, nó uống rượu tối ngày, nó chửi mày dữ quá! Dương Hùng Cường sẽ nổi điên, nghĩ rằng thật, nó sang Pháp sung sướng còn nỡ chửi anh em. Bèn hài tội Duyên Anh, thêu dệt đủ tội. Khi người ta phẫn nộ thì ghê lắm, “Nhà văn hoá” Trần Tam Tiệp, gốc an ninh quân đội, chớp được thư nhà, phô-tô cóp-pi vung vít mà gửi khắp quần hào. Cái tác phong ngụy tiểu nhân của cớm sớm muộn nó cũng lòi ra. Bọn bất tài vô tướng thường chơi thủ thuật. Chừng thủ thuật hết thiêng, chúng nó lêu bêu như lũ chó ghẻ già nua.

Chấp pháp số 7 nói tiếp:

– Cái thằng Như Phong Lê Văn Tiến vẫn ngoan cố. Bầy đặt tuyệt thực. Thời đại của Thiệu đã cáo chung. Đứa nào muốn chết cháv, cứ tự nhiên. Gia đình nó sẽ đóng thuế ngu cho nó. Rốt cuộc, Như Phong đành tự khai. Các anh không kiên trì bằng người cộng sản. Các anh là đá, chúng tôi là nước. Nước chảy đá mòn. Các anh là sắt, chúng tôi là át-xít. Át-xít gặm mòn sắt. Chúng tôi có giai đoạn rõ rệt. Kiên trì rồi kiên quyết. Khoan hồng rồi trấn áp. Các anh thích làm anh hùng, chúng tôi biến thành anh hèn ngay. Khẩn trương, đột xuất.

Hắn đánh phủ đầu tới tấp. Nhờ hắn tiết lộ, tôi tin chuyện Như Phong đã khước từ cơm tù 41 ngày mà anh em C-2 kể cho tôi nghe khi anh em chuyển sang C-l, chung phòng tôi, mấy tháng sau. Như Phong “yoga” ở cachot. Anh không viết tự khai, không làm tự điển Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nhà quân sự Phải Gió uống nước chanh đường mà yoga. Mức yoga của Như Phong đến bậc thượng thừa. Đề lao biết anh… tuyệt thực, cứ giả vờ như không biết. Ô cửa gió mở. Quản giáo thường xuyên theo rõi. Bấy giờ, Trưởng trại T-20 tức Giám thị đề lao Gia Định là thiếu tá công an Tuấn, Phó trại là Tư Long, tên nằm vùng bán vé xe đò bến Saigon – Đà Lạt cho hãng xe Minh Trung. Tư Long đeo quân hàm đại úy. Ngày thứ 41, Tư Long cúp ống dẫn nước vào cachot. Quân sư Như Phong kềnh ngay lập tức. Người ta khuân anh ra Phòng Y Tế. Người ta chích nước biển. Như Phong còn đủ sức co tay, Tư Long xỉ vả anh. Như Phong thều thào: “Anh nên lễ độ, tôi chấp nhận cái chết”. Bác sĩ Quang năn nỉ Như Phong: “Xin anh cho tôi làm bổn phận y sĩ”. Người ta đè anh, trói chân anh, tay anh trên giường. Và vào nước biển tiếp sức. Như Phong được đề lao bồi dưỡng một thùng sữa đặc, trở thành tù nhân de luxe của đề lao. Anh ra phòng tập thể C-2, ngày ngày đi mạn đàm với chấp pháp. Rồi anh viết tự khai…

Chấp pháp số 7 đã đưa giấy bút cho tôi.

– Anh viết khẩn trương vì tôi sẽ về Hà Nội công tác đột xuất. Tự khai lần này khác.

Tôi hỏi:

– Tôi sẽ viết thế nào?

Hắn đáp:

– Cuộc đời anh từ năm anh 10 tuổi đến ngày anh bị bắt. Thật chi tiết. Chính xác ngày, tháng, năm.

– Làm sao tôi nhớ ngày tháng?

– Cố nhớ đến đâu hay đến đó. Anh hay khoe anh có trí nhớ tốt mà.

– Chỉ vậy?

– Anh tóm tắt mỗi cuốn sách của anh, khai rõ cảm hứng nào anh viết, anh viết nhằm mục đích gì, ai thuê anh viết, mỗi cuốn giá bao nhiêu… Anh đừng quên những bài báo của anh trên những tờ báo anh cộng tác.

– Tôi viết cả 10 ngàn bài dài ngắn.

– Cố nhớ.

Bạn thấy hệ lụy văn chương của những nhà văn ở lại bị bắt chưa? Tôi muốn ông “nhà xuất bản” Đại Nam và các ông “nhà báo” viết thuê cho ông Đại Nam chửi bới tôi đọc Nhà Tù. Hy vọng lương tri các ông ấy thức tỉnh. Tôi cũng muốn độc giả thân mến của tôi tỏ thái độ quyết liệt với những kẻ sống trên lưng nhà văn, sống trên nỗi thống khổ mà nhà văn phải chịu đựng vì hệ lụy văn chương của mình. Cái công trình mồ hôi, nước mắt, tim óc của chúng tôi đã bị chà đạp ở quê nhà, còn bị ăn cướp ở quê người. Và những kẻ cướp đó lại là người Việt Nam, nạn nhân của cộng sản như chúng tôi, nhưng may mắn hơn chúng tôi. Tôi sắp chịu cực hình, đau đớn trên mọi tra tấn. Là tóm tắt 50 cuốn sách của tôi. Và phát biểu cảm tưởng về chữ nghĩa dĩ vãng. Và bôi nhục nó. Và nguyền rủa nó. Ôi, văn chương, nó đã đưa tôi lên và nó đã dìm tôi xuống. Không, cộng sản đã dìm tôi và văn chương của tôi. Hai chúng tôi đang “chết đuối trên cạn”, đang sặc sụa, đang đạp dẫy.

– Tôi nói để anh chuẩn bị tư tưởng: Anh phải tranh thủ thời gian.

Gã quản giáo đã đem ca cà-phê đá tới. Tôi bắt đầu viết tự khai, bắt đầu chơi lại một trò chơi quái đản của ý thức hệ. Trò chơi khốn kiếp này, tôi đã chơi và đã thể hiện ở một tiểu thuyết mới nhất của tôi. 1 Xin trích một đoạn:

– “Tôi đã viết ba lần.

– Ba lần anh viết khác nhau. Tôi chỉ yêu cầu hai lần giống nhau là đủ. Anh viết ba lần ba cuộc đời của ba con người!

– Cô cho phép tôi đọc cả ba bản để cô so sánh.

– James, anh đã biết điều, nên tiếp tục biết điều. Tù nhân không được quyền yêu sách. Anh được đọc nội quy nhà tù chưa?

– Chưa.

– “Triệt để thi hành mệnh lệnh của cán bộ”. Anh viết lại tự khai.

– Bắt đầu?

– Phải, từ năm anh mười tuổi đến khi anh bị bắt.

James viết tự khai lần thứ tư. James viết tự khai lần thứ năm. Lần thứ sáu. Lần thứ bảy. Lần thứ tám. Lần thứ chín. Lần thứ mười, về cuộc đời chàng từ năm chàng mười tuổi đến khi chàng bị bắt. Đến lần thứ ba mươi, ấu thơ chàng, niên thiếu chàng, thanh xuân chàng, kỷ niệm chàng, tình yêu chàng, mơ ước chàng, hạnh phúc chàng, gia đình chàng, trường lớp chàng, thầy cô chàng, bạn bè chàng, nơi chôn rau cắt rốn chàng, dòng sông chàng, cánh đồng chàng, khu rừng chàng, ngọn núi chàng, sân cỏ chàng … ngậm ngùi lếch thếch dắt díu nhau lên trên những trang tự khai quái đản. Dĩ vãng đi. Dĩ vãng về. Dĩ vãng bò. Dĩ vãng lết. Dĩ vãng nhẩy. Dĩ văng chạy. Dĩ vãng vấp. Dĩ vãng ngã. Dĩ vãng tới. Dĩ vãng lui. Dĩ vãng nằm nghiêng. Dĩ vãng nằm ngửa. Tuổi hồng của James bị bầm vặp. Tháng ngày đẹp nhất đời người của James bị đâm chém. James sợ hãi, James kinh hoàng viết về dĩ vãng, về ấu thơ, về gia đình, về trường lớp, về tình yêu. Người lính Mỹ tên là James Fisher tâm hồn thánh thiện, biểu tượng sáng chói của cái thật, cái tốt, cái đẹp của dân tộc Mỹ, tham dự chiến tranh ở Việt Nam không hề mang theo ý thức hệ, không hề nhân danh chủ nghĩa tư bản, chỉ đáp theo tiếng gọi của tổ quốc yếu dấu, đang bị quay chóng mặt trong trò chơi của ý thức hệ. Và trò chơi mang tên tự khai, một kiểu tra tấn tinh thần tinh vi nhất, độc ác nhất trong thời đại mà bóng tối đã phủ kín lương trí loài người.

James Fisher bơ phờ, hốc hác. Chúa Jesus không bị viết tự khai như James Fisher nên ngài mới bình thản nói: “Đừng lo lắng chi về ngày mai, vì ngày mai sẽ tự lo lắng cho ngày mai”, James đã thấm đòn tự khai. Chàng lo lắng ngày mai vô cùng. Chàng sợ hãi ngày mai. Ngày mai quằn quại hơn hôm nay. Ngày mai, chàng nhìn rõ móng vuốt nó nhọn hoắt cào cấu đầu óc chàng; chàng nhìn rõ răng nó sắc bén gậm nhắm thần kinh chàng. Trên những trang giấy hãi hùng. Một cây bút, một xấp giấy. Nhỏ bé và êm ái. Thế mà bút và giấy đã khiến chàng bấn loạn điên khùng. James chỉ muốn chết để khỏi viết tự khai. Bây giờ chàng mới hiểu nhà tù cộng sản và sự khoan hồng, nhân đạo cộng sản. Tám năm chịu đựng thống khổ dưới hầm đá, trong các cachots, James đã chịu đựng nổi và sẽ chịu đựng hoài cho tới ngày nhận “phần thưởng trên trời”. Nhưng tự khai, chàng không hứa hẹn lần “no đủ sự công nghĩa”, dẫu tự khai cuộc đời chàng từ năm chàng mười tuổi đến khi chàng bị bắt.

Nàng Chi Mai chẳng thèm xúc động. Chàng viết tự khai lần thứ năm mươi thì ba mươi trang giấy thừa quá nhiều. “Tôi rất tiếc James ạ”! James không thể viết tự khai nữa. Thần kinh của chàng căng thẳng. Chi Mai không tha chàng, không mảy may trắc ẩn. Nàng bày thêm chi tiết của trò chơi. James sắp ăn, nàng gọi lên viết tự khai. James đang ngủ, nàng gọi lên viết tự khai. James mệt mỏi, nàng gọi lên viết tự khai. James ốm đau, nàng gọi lên viết tự khai. Rồi James hết thèm ăn, chán ngủ, James gầy gò, xanh xao. Mắt James thâm quầng. Râu ria James tua tủa. James chẳng còn biết chàng đã viết gì. James mất tự chủ. James hôn mê khi viết tự khai. James viết bậy bạ. James viết thư cho cha mẹ. James viết những lời thương nhớ Susan McCareen. James viết lời quốc ca. James vẽ bản đồ nước Mỹ. James làm thơ. James gọi Thượng Đế. James cầu cứu Chúa Jésus. Vào đúng lúc James tê liệt dễ sai khiến nhất, bảo sao làm vậy miễn là đừng bắt viết tự khai cuộc đời mình từ năm mười tuổi đến ngày bị bắt thì Chi Mai gọi chàng lên văn phòng của nàng.

– James, anh viết bao nhiêu lần rồi, nhớ không?

– Bẩy mươi.

– Sai.

– Sáu mươi.

– Sai. Cố nhớ đi!

– Tôi không nhớ.

– Một trăm mười hai lần!

Chi Mai nhoẻn miệng cười:

– Chưa phải là kỷ lục tự khai.

James hồi hộp chờ đợi một câu nói mà chàng sợ hãi nghe. Nàng cố tình nín thinh. Nàng khoái kéo dài sự lo lắng của James Fisher. Con sói cái muốn vờn con cừu non mềm nhũn, ngã qụy rồi mới rút ruột.

– James!

– Tôi nghe.

– Tôi rất tiếc James ạ!

James Fisher choáng váng.

– Tôi rất tiếc những lần sau cùng anh viết lung tung. Anh mệt mỏi, anh rã rượi rồi, hả?

Chàng thành thật:

– Phải, tôi rã rượi rồi.”

……

Thật sự, nhân vật tiểu thuyết của tôi chưa rã rượi bằng tôi. Tôi đã nói tôi sợ tôi không đủ khả năng diễn tả một buổi trưa hè trong một phòng giam của đề lao Gia Định. Thì làm sao tôi viết hết nổi cảm giác nhục nhằn của tự khai. Nhân vật tiếu thuyết của tôi chi phải tự khai từ năm 10 tuổi đến ngày bị bắt. Còn tôi, tôi phải truy nã hồi tưởng mà tự khai 50 cuốn sách và 10 ngàn bài báo của 15 năm viết lách mưu sinh. Năm 1937, Nguyễn Vĩ than vãn:

Thời thế bây giờ vẫn thấy khó
Nhà văn An nam khổ như chó
Mỗi lần cầm bủt viết văn chương
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương
Rồi nhìn chúng mình hì hục viết
Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết.

Nỗi khổ “kiết vẫn kiết” thấm gì với nỗi khổ tự khai của nhà văn Việt Nam năm 1976. Không có hình phạt nào thảm thê bằng hình phạt tự khai. Mọi thống khổ ngục tù trại tập trung là cỏ hèn dưới chân đại thụ tự khai sừng sững. Tự khai của các nhà văn, cuộc truy nã thân phận mình, sự nghiệp mình và kết tội mình. Tự khai của các nhà văn, niềm đau đớn tổng hợp niềm đau đớn của chữ nghĩa cổ kim, Đông Tây. Đó là một tra tấn tổng hợp những tra tấn của loài người ác độc. Tôi đã cố gắng ghi chép:

Người ta đưa cho anh một sấp giấy trắng
đã kiểm soát số trang
anh có thể gạch xóa nhiều hàng
nhưng cấm anh xé bỏ
tư tưởng anh bị soi kính hiển vi từng cái chấm nhỏ
Viết gì
Tự khai
Tự khai gì
Cuộc đời anh từ lên mười đến ngày anh vào rọ

Người ta đưa thêm cho anh một sấp giấy trắng
đã kiểm soát số trang
Viết gì
Tự khai
Tôi viết rồi
Viết nữa
Khai gì
Cuộc đời anh từ lên mười đến ngày anh vào rọ

Người ta lại đưa cho anh một sấp giấy trắng
đã kiểm soát số trang
Viết gì
Tự khai
Tôi đã viết hai lần
Viết thêm nữa
Khai gì
Cuộc đời anh từ lên mười đến ngày anh vào rọ

Anh phải viết ngày này qua tháng nọ
viết đến khi anh phờ phạc dại khờ
dĩ vãng hiện tại anh đảo lộn mập mờ
Viết đến khi anh đớn đau chết ngất
Đó là lúc người ta tìm ra sự thật
để kết án anh dù anh chẳng có tội chi

Này bạn
Bạn sẽ chép lại được mấy lần bức thư tình đã viết
Riêng tôi rất oanh liệt
Viết bốn trăm lần một bản tự khai
 2

Những nhà văn bị nhốt ở Sở Công An, ở đề lao Gia Định đều bị tra tấn theo cung cách này. Tất cả đều chóng mặt. Tất cả đều rã rượi. Tất cả đều bị chữ nghĩa tự khai xoáy mòn xương thịt. Ở những giây phút hôn mê ấy, chỉ có tù nhân và chấp pháp. Đôi khi, chỉ có một tù nhân trong căn phòng nhỏ. Nhà văn cô đơn sáng tạo. Nhà văn cô đơn tự khai. Chắc chắn, không có lão Toan Ánh đứng ngoài nhìn trộm và nghe lén qua khe cửa để bịa đặt tin bẩn, thứ tin chó dại ngoạm vào nỗi thống khổ của người oan khổ dưới bút hiệu Lã Vi. Và, chắc chắn, chỉ một gã chủ báo chưa vỡ nghĩa “người đi đường và con chó” của Quốc văn giáo khoa thư lớp sơ đẳng mới tự phóng uế lên lương tâm mình mà toa rập với “người đi đường” khốn kiếp và ác độc. Không ai biết được nỗi đau đớn, không ai biết được lòng quả cảm và sự hèn mọn ở không gian tự khai cả. Người cộng sản tim thép không xúc động. Họ lại có thú vui nhìn con người quằn quại. Người nhà văn viết tự khai “phờ phạc dại khờ”, “dĩ vãng hiện tại đảo lộn”, chẳng còn hiểu nổi cả sự hiện hữu của bản thân mình. Nhưng tôi, tôi dám thách thức cộng sản Việt Nam xuất bản Tự Khai dầy ngót 2000 trang viết tay giòng thưa của tôi. Tôi thách thức cộng sản Việt Nam công bố một sự thật về tôi có dấu tích thủ bút của tôi ở đề lao Gia Định, nơi tôi đã viết tự khai ròng rã 40 ngày đêm, nếu họ can đảm bằng không, họ nên chấm dứt cái điệp vụ văn hoá rẻ tiền nhằm hạ uy tín chống cộng của tôi, nhằm làm tê liệt sự phản kháng của tôi, nhằm cô lập tôi với đồng bào của tôi. Trò chơi này đã quê kệch và mất ép-phê. Ép-phê ngược là đằng khác. Sau ba năm trở lại nghề viết và hiên ngang sống bằng chữ nghĩa, tính từ tháng 4-1984 đến tháng 4-1987 tôi được phép ngạo mạn ngồi lên mặt cộng sản và những kẻ a dua cộng sản bêu nhục tôi. Tôi đã không chết. Tôi đã không cúi mặt. Tôi vẫn ngẩng mặt. Tôi mãi mãi phong phú sinh lực sáng tạo. Để chiến đấu và để góp phần tạo hạnh phúc cho cả cộng sản lam lũ, bần hàn.

Như nhân vật James Fisher, trong tiểu thuyết mới nhất mang nhan đề tiếng Việt Một định nghĩa tình yêu của tôi mà nhà xuất bản Belford muốn đặt là Un prisonnier américain au Vietnam, tôi đã viết tự khai vào những giờ giấc toan tính của chấp pháp số 7. Hắn chỉ thị quản giáo rình mò tôi. Buổi sáng, nước sôi vào phòng, tôi pha mì vụn điểm tâm, chưa kịp ăn, hắn đã gọi tôi ra viết tự khai. Tôi ngồi viết một chập, hắn cho về ăn lót dạ. Mì chương đầy ca, tôi không muốn ăn. Hắn lại gọi ra. Qua bữa ăn trưa, hắn cho về. Tôi nhấm nhá cầm hơi. Nằm nghỉ chưa kịp nhắm mắt, hắn gọi ra. Tối hắn gọi ra. Đêm hắn gọi ra. Tranh thủ thời gian.Viết ngày không đủ, tranh thủ viết đêm. Tôi mất ăn, mất ngủ. Tôi ngẩn ngơ quên cả ghẻ nước, ghẻ mủ. Phép lạ hay niềm tin đã giúp tôi đủ sức cầm cự đòn tra tấn thần kinh tự khai? Tôi chẳng biết anh em có bị tra tấn như tôi. Nhà văn, nhà báo đã bị cách ly . Nhà văn còn bị cách ly với cả các tù nhân cùng phòng, thời gian viết tự khai. Tại tôi mệt lử cò bọ, về phòng là nằm bất động, các bạn trẻ không thích quấy rầy tôi hay họ bị ra lệnh cấm liên hệ với tôi? Đêm thứ 40, tôi nhớ rõ, tôi đánh số trang 1780, sang phần tự khai những tờ báo tôi viết thuê, tôi làm chủ bút, chủ nhiệm và những bài báo tôi đã ký một lô bút hiệu Thương Sinh, Thập Nguyên, Mõ Báo, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ… Hạnh phúc cho tôi là tôi được ngưng ở trang 1780.

– Anh tạm nghi. Sáng mai tôi về Hà Nội.

Chấp pháp số 7 nói:

– Chúng ta sẽ tiếp tục làm việc. Có một dấu hiệu chứng tỏ anh thiếu thành khẩn.

Hắn giải thich ngay:

– Năm trang tự khai của anh mới bằng một trang bản thảo tiểu thuyết của anh. Anh viết ngoài thói quen viết sít hàng, chữ nhỏ li ti của anh. Ngoài thói quen là ngoài ý muốn. Tư tưởng thể hiện hành động. Anh thiếu thiện chí cải tạo.

Thiện chí cải tạo! Bạn hiểu chưa? Ở xã hội cộng sản, xã hội ưu việt của loài người, con người còn cần biểu lộ thiện chí vào tù, thiện chí chịu đựng đau khổ, thiện chí lãnh đòn tra tấn tinh thần.

Chấp pháp số 7 lôi từ xặc-cột của hắn ra một trang bản thảo tiểu thuyết Người con gái ngồi đợi mộí chuyến tàu về 3 mà đám côn quang đã lục xét, tịch thu tại nhà tôi đêm 8-4-1976. Bản thảo của tôi sạch, đẹp, ít bôi chữa, viết chữ thật nhỏ, dòng thật khít. Đó là thói quen. Tôi lại thích viết bằng giấy in nhật báo. Vì nó mềm và thấm mực bút nguyên tử. Ở tòa soạn, tôi thường viết những bài báo đằng sau bản tin Việt Tấn Xã in một mặt. Tôi không hiểu tại sao chấp pháp số 7 chọn trang thứ nhất của bản thảo Người con gái ngồi đợi một chuyến tầu về là trang tôi viết nhỏ nhất, sít dòng nhất mà so sánh. Hắn đã cho tôi viết tự khai trên pelure mỏng, thứ giấy pelure sản xuất tại Việt Trì mầu như mầu giấy dầu.

– Với cách mạng, anh không thể dấu diếm nổi tư tưởng thầm kín của anh đâu, cách hành văn tự khai của anh như người mới tập viết. Anh bẻ dừa bẻ ngô, râu ria thừa thãi.

Phê bình văn chương tự khai của tôi một lúc, hắn đưa tôi về phòng I C-1. Tôi có những ngày ăn ngủ điều hòa. Cộng sản đã tính sức chịu đựng của tôi. Thêm nữa, tôi sẽ chết gục trên tự khai. Họ chỉ cần hành hạ tôi chứ cần gì tôi tóm tắt toàn bộ tác phẩm của tôi. Họ đã đọc hết, đọc từ lâu. Tôi chờ đợi chấp pháp số 7 trở lại Sàigòn.

——————————–

1Un prisonnier Americain au Vietnam, cuốn thứ ba của Duyên Anh viết cho nhà Belfond. Giao kèo của Belfond yêu cầu Duyên Anh viết cho họ 5 cuốn.
2La Torture (Tra Tấn) trong tập Poèmes de prison do Les Éditions de Caux, Thụy Sĩ xuất bản.
3Tiểu thuyết này đăng được 10 chương trên tạp chí Tuổi Ngọc thì dang dở vì cộng sản thôn thính miền Nam.

Hát U Ê Huê, Sắc

gio-o.com

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 21 Jun 2024

Những ngày cạn kiệt của năm, trời Montréal vần vũ tuyết. Trắng, xám, đen. Chỉ ngần ấy màu sắc rơi xuống, chận bít, vây bọc. Thành phố thắp đèn sớm, nhưng những đốm lửa giả tưởng kia đã không cứu vớt được. Người ta lạnh, người ta buồn. Người ta co ro, người ta nghe giá băng nhiễm lạnh tự trong lòng. Ra đường, nheo mắt bởi sắc tuyết trắng. Và hàn khí cũng khiến đôi mắt tuôn lệ. Lạnh tới độ phải khóc! 

Những ngày tháng tận năm cùng lòng luôn nhớ chốn xưa. Nhớ Cha nhớ Mạ nhớ hồ Mưng nhớ Tĩnh tâm nhớ Thượng tứ nhớ Trường tiền nhớ Gia hội… nhớ mông lung nhớ thất tán. Nỗi nhớ, đã là cái gì gần như tượng hình, tựa vết trũng trên tấm nệm, kề cận chỗ nằm. Trăn trở, thò tay ra chăn mền, chạm phài chỗ khuyết lạnh. Và rồi giấc ngủ khó tìm gặp. Phài dỗ dành, phài nương nhờ vô thuốc thang, để biết rõ mười mươi sau đó là mộng dữ đón đường. Thảng hoặc lòng dấy lên nhiễu sự hồ đồ: Mộng dữ do đâu? Pha một cốc cà phê đen vào lúc hai giờ sáng mong xua đuổi niềm nghi hoặc. 

Báo mạng đưa tin: Cô bé sinh năm 1995, bán áo quần thuê ở chợ Đông ba bị một người đàn bà lừa “đi một lúc sẽ được 20 triệu” dắt vào quán uống nước rồi giao cho gã đàn ông mang tới nhà nghỉ phá trinh. Hình chụp cô bé mặt mày hoảng hốt, mắt sưng vì khóc nhiều, thân hình nhỏ nhắn đang như muốn co quắp để độn thổ. Người mạ giải thích: Hắn vẫn còn đau đớn ốt dột hổ ngươi… Trời ơi là trời con ơi là con, ác hè ác hè! Dại hè dại hè! Lại tin đưa từ lưới Cố đô: Hết Đại nội tới lăng Minh Mạng, chừ thì tới phiên lăng Khải Định báu vật bị cạy, thùng phước sương bị cuỗm. Đạo chích là ai? Công an đang cố phá án. Căng hè căng hè!  Vietnamnet thì thông tin như ri: Bà con có hơn 200 mạng đổ xô tới dưới chân núi Ngự bình cong lưng đào đất tìm đá tổ ong về làm hòn non bộ hoặc bán, rất có giá, làm náo động một vùng. Cực hè cực hè! 

Tự dưng giữa canh khuya nhớ sực lại bài thơ “Người đàn ông 43 tuổi nói về mình” của Trần Vàng Sao làm vào tháng 9, 1984. Bài thơ rất Huế. Bài thơ từng gây chấn động một thời. Bài thơ được xem là một trong những bài cực hay của thi ca “đương đại”. Giữa canh khuya, tôi thắp đèn ngồi chép lại cho nhẹ nỗi nhớ đang làm phiền tôi. Bạn đọc lượng thứ cho nếu gặp thêm một bi kịch. Bài thơ dài, một bức tranh hiện thực được vẽ bởi một “họa sĩ tài hoa”:

1.

tôi tuổi Tỵ

năm nay bốn mươi ba tuổi

thường không có một đồng trong túi

buổi sáng buổi chiều

thứ hai thứ ba thứ bảy chủ nhật

trong nhà ngoài sân với hai đứa con

cây cà cây ớt

con chó con mèo

cái đầu gãy cái tai gãy của con búp bê

cọng cỏ ngọn lá vú sữa khô

thúng mủng chai chén sách vở quần áo mũ nón

cuốc rựa trên ghế dưới bàn

hai ba ngày một tuần một tháng có khi

không đi đâu hết

một hai ba giờ sáng thức dậy ngồi vác mặt

ngó trời nghe chó sủa

miếng nước trà mốc nguội có mùi bông lài

rát cổ

cũng không có chi phiền

vấn một điếu thuốc hút

hai ba lần tắt đỏ

rồi nửa chừng rách giấy

bạn bè gặp nhau

cho uống một ly cà phê

một lần

qua hai lần phải tránh

không phải ai cũng nghĩ như mình

nhiều đứa vui gặp nhau cho năm ba đồng

một chục

đưa tay cầm lấy

miệng nói không được

2.

tôi thấy tôi như người tù được thả rông

lang thang giữa đường giữa phố

nhìn hết mọi người

xem mình lâu ngày mặt mũi có khác người không

tôi đi lui

tôi đi tới

phố phường đông chật

tiếng cười tiếng la tiếng nói tiếng xe cộ

chẳng có ai quen thử nói chào tôi một tiếng

tôi đưa hai tay lên đầu vuốt tóc

lấy chân hất một hòn đá

cúi xuống nhìn mấy bao thuốc không bên lề đường

rồi đi về

qua cầu dép sút một quai

tôi không muốn nhớ gì hết

3.

tôi ngồi trên hòn đá trước nhà

buổi chiều không có một con chim đậu trên cây

đám trẻ con chia phe bắn nhau cười la ngoài sân

đứa sống đứa chết cãi nhau ăn gian chưởi thề

những đứa đi bán về nói chuyện to

hai đứa nhỏ nhà bên cạnh cầm đèn che miếng lá chuối

qua xin lửa hỏi tôi nấu cơm chưa

tôi cười lắc đầu muốn đi ngủ

trong gió có mùi rơm cháy

tôi không biết làm gì hết

tôi bỏ hai chân ra khỏi dép cho mát

đám trẻ con bỏ chơi chạy theo phá đàn trâu bò đi qua

tôi bước vào nhà mở rộng hai cánh cửa lớn

thắp một cây đèn để lên bàn thờ

hai đứa con ra ngoài đường chờ mẹ chưa về

trời còn lâu mới tối

tôi đi gánh một đôi nước uống

4.

tôi sống yên ổn với những việc làm hàng ngày của mình

không định được ngày mai

có một đồng để mua cho con nửa cái bánh tráng

hay hai cái kẹo gừng

có hai đồng cất dưới chân đèn trên bàn thờ

lỡ khi hết dầu thắp tới bữa thiếu ruốc

hết bột ngọt

mả cha cuộc đời quá vô hậu

cơm không có mà ăn

ngó lui ngó tới không biết thù ai

những thằng có thịt ăn thì chẳng bao giờ ỉa vất

5.

lâu ngày tôi thấy quen đi

như quen thân thể của mình

tiếng ho gà nửa đêm của những đứa bé chưa đầy hai tuổi

buổi chiều không có cơm ăn

những con ruồi ăn nước mũi khô trên má

những đứa đau quan sát những con chuột

chết lòi ruột ở bến xe đò

những tiếng cha mẹ vợ chồng anh em

con cái chưởi bới la hét trong bữa ăn

người điên ở trần đứng làm thinh

giữa trời mưa ngoài chợ

những ngày hết gạo hết tiền hết củi

muối sống không còn một hột của tôi

những trách canh rau khoai tháng năm không có bột ngọt

hai mắt tôi mở to

đầu tôi cúi thấp

miệng tôi há ra

những lá khoai nhám và rít mắc vài hột cơm

dồn cứng chật cuống họng

nói thật lúc này tôi muốn được say rượu

họa may thấy một đồng thành ba bốn đồng

6.

nhiều khi tôi quá chán

chân tay rã rời

đầu óc đau nhức

không muốn làm gì hết

mấy đứa nhỏ chơi buôn bán bỏ đi đâu không biết

để đất đá lá cây đầy nhà

tôi dựa cửa ngồi yên một chỗ

dụi mắt nghĩ hết chuyện này tới chuyện khác

nói chi tới những đứa đã chết trên rừng giữa phố

bạn bè có đứa giàu đứa nghèo

đứa ngụy đứa cách mạng

đứa của tiền ăn tiêu mấy không hết

đứa không có được một cái áo lành

đứa đi kinh tế mới ba bốn bảy tám năm

trở về xách một cái bị lát

mặt cắt không có một hột máu

đứa đạp xe thồ ngồi vắt chân ăn củ sắn

chờ khách ở bến xe

đứa vô tích sự ở nhà không có việc chi làm

có đứa râu tóc dài che kín mặt

có đứa tàn không nhớ mình tên chi

có đứa chịu không nổi dắt vợ con vào nam

ăn chợ ngủ đường

mỗi lần gặp nhau mở to mắt cười hút một điếu thuốc

hết chuyện nói 

hai đứa con đi chơi về cười nói

đứa nhỏ bắt tôi đánh trống

cho nó làm ông địa múa thiên cẩu

7.

cái trống lon mặt ni lông và hai chiếc đũa tre

tôi đánh

múa đi các con

này đây cái nón gãy vành làm đầu thiên cẩu

và sợi dây chuối treo ngọn lá làm tiền

múa đi các con

cái bụng ông địa to tròn giơ lỗ rún gài nút áo không được

ông địa chống tay vỗ bụng ngửa mặt lên trời cười ha ha

tôi vỗ tay hoan hô

và không biết mình có nhớ ra được

cái mặt ông địa không. 

Bạn tôi, có người còn ở Huế, vẫn thỉnh thoảng liên lạc, gửi email. Bạn có chồng từ hồi tôi mang tội phản bội tô quốc, ra biển Thuận-an, chồng bốn cây vàng để được phong tước: Thuyền nhân. Bạn có hai đứa con và như chẳng muốn nói gì thêm về gia đạo mình. Bù trất! Bạn cũng chẳng hề hỏi han tôi có được hạnh phúc không? Bởi in tuồng bạn hiểu rằng chữ hạnh phúc là thứ đã bị loại ra khỏi từ điển. Tôi yêu bạn tôi, đến nỗi tôi van nài bạn ấy đừng gửi ảnh cho tôi xem dung nhan “đương đại”. Tôi là kẻ hoài cổ, muốn cất giữ trọn vẹn hình bóng cũ trong tâm tưởng. Như lời một bài hát: “đừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh”. Ngược lại, bạn đã nhiều bận nhìn ngó mặt mày tôi, bạn luôn xem gio-o, và bạn trách cứ: Viết buồn quá và… phản động quá. Chán hè chán hè! Chúng tôi tránh né nhiều vấn đề mỗi khi bút đàm, bởi tiên khởi, chúng tôi không còn là của nhau như ngày xưa, và sau rốt, mỗi người có riêng, biệt lập một cái nhìn về thực tại. Bạn ngạc nhiên sao ngần ấy năm lưu xứ tôi vẫn chưa “tranh thủ” về “tham quan” một chuyến cho biết sự tình. Bạn ấy “động viên” thêm: Bây giờ đổi thay dữ lắm, ở cái mặt tốt đẹp hơn xưa. Tôi hỏi: Mình về thăm bạn, muốn tá túc nhà bạn, có trở ngại không? Sao lại dùng chữ trở ngại? Mình chỉ ra đồn công an khai báo nhà có khách phương xa là xong. Vẫn còn chuyện ấy à? Lạ hè, lạ hè! Ậy, cũng tốt thôi, làm rứa là để giữ an ninh trật tự phường khóm, đề phòng kẻ lạ… Tôi đùa: Mình chưa theo đạo Hồi. Mình chưa được theo khóa huấn luyện ôm bom tự sát, và nhỡ như có dại kamikaze thì ngàn đời Huế của chúng mình sẽ vĩnh viễn nằm ngoài mục tiêu. Lặng lẽ, âm thầm vẫn thích hơn. Răng lại vác mạng đi khai báo hè? 

Rứa đó, giữa chúng tôi luôn có một hố ngăn. (Quên hỏi Huế đã có hố tử thần chờ chực trên đường đi chưa). Nhiều khi, nặn óc cố viết một cái gì vui cho bạn ấy đọc, cố viết một cái gì “diễn tiến hòa bình” cho bạn ấy khỏi mắng phản động nhưng nghĩ mãi vẫn chưa ra. “Em nói chi, tiếng thâm trầm. Đêm nằm nghĩ lại nát bầm lá gan!” (ca dao). 

Huế. Vùng đất mưa nhiều, đất úng thủy. Nhắc tới Huế e hiếm muộn chuyện vui. Trong thơ của Hoàng Xuân Sơn cũng sụt sùi ướt át: “em lên tới bợt em ngồi, tới bờ em đứng khóc mùi mẩn em”. 

Những ngày cuối năm, đất trời Montréal vần vũ tuyết băng. Mở vi tính, truy cập tin bên nhà ngóng đợi một luồng gió nhiệt đới thổi về nhưng bặt tăm. Nhìn ảnh cô bé xứ Huế bị lừa mang đi cho người ta phá trinh lòng tôi nhăn nhúm. Nó không khác là ngọn gió chướng làm cho vùng đất xa xứ này thêm lạnh căm. Buồn hè, buồn hè! 

Thử vui một tẹo coi nào, cái này cóp nhặt trên net: 

“Luật sư an ủi bị càn (can)

Mi làm phản động nỏ oan chút mồ (mô)

Thẩm vân (vấn) khi dẹt (yes) khi nô (no)

Công an hắn giạm (giam) mi vô là đùng (đúng)”. 

Vui hè, vui hè!

Hồ Đình Nghiêm

© gio-o.com 2010

Chó vá

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted on 25/07/2014  

Post by Sơn râu 21 Jun 2024

Phan Bội Châu
làm mộ cho chó
nó mang tên Vá
chết năm một chín ba tư
bia đá khắc ghi:
“vì có dũng nên liều chết phấn đấu
vì có nghĩa nên trung thành với chủ
nói thời dễ, làm thiệt khó
người còn vậy, huống gì chó
ôi con Vá này
đủ hai đức đó
há như ai kia
mặt người lòng thú
nghĩ thế mà đau
dựng bia mộ nó”. (1)

trước năm một chín bẩy nhăm
thầy Lê Thành Nhơn ra Huế
lui tới cổng Hiển Nhơn
tạc tượng cụ Phan Bội Châu (2)
nói thời dễ mà xem chừng làm cũng dễ
tác phẩm bề thế ngự
hiển lộng tràn uy nghi

bao trang sử lật vội
lật tới mùa hạn về
tượng hoang phế bỏ mặc
lạnh căm một khối đồng (3)
buổi binh đao đã qua
lắm mặt người lòng thú
nghĩ thế mà đau
ơn tiền nhân trôi sông đắm bể
tượng không lời chú giải
sạch trắng một ghi công
đọc bia mộ con Vá
mà tủi phận làm người

bạn mình giòng họ Phan
còn trú thân Bến Ngự
bắt chước ôn mệ xưa
bày đặc nuôi Vá mới
chó chưa kịp lớn khôn
bày tỏ dạ yêu chủ
khuyển tặc chui lỗ chó
vườn khuya trăng ngoảnh mặt
Vá biến dạng cờ tây
đang sống chuyển sang từ trần
thương chó mà á khẩu
ra soi bóng dòng Hương
sủa vào mặt gợn sóng:
Nước dơ lấy gì rửa?! (4)
ôi Thần Kinh thần kinh!

Hồ Đình Nghiêm

(1) Mộ bia chó Vá vẫn còn nguyên dạng, chữ vẫn thắm màu, nằm trong khuôn viên từ đường cụ Phan Bội Châu, ở Huế.
(2) Phan Bội Châu (1867-1940).
(3) Sau 37 năm thi gan cùng tuế nguyệt bởi lãnh đạo mãi tranh cãi, thầm thà thậm thụt, cuối cùng họ mới nhất trí tìm được nơi đặt tượng.
(4) Vua Duy Tân ta thán: “Tay dơ thì lấy nước mà kỳ cọ, nước dơ thì lấy gì mà rửa sạch đây!”.

Bóng Đè

hopluu.net

Đỗ Hoàng Diệu

26 Tháng Chín 2008

Post by Sơn râu 21 Jun 2024

LTS: Tuy mới xuất hiện gần đây và duy nhất trên tập san Hợp Lưu, Đỗ Hoàng Diệu (sinh 1976) sau 3 truyện ngắn Tình chuột, Những sợi tóc màu tang lễ, Cô gái điếm và 5 người đàn ông đã gây chú ý. Với Bóng đè, một truyện ngắn hoán dụ vực thẳm, Đỗ Hoàng Diệu đã bắt gặp một trạng thái truyền kiếp của dân tộc. Bóng đè biểu hiện bứt phá, sức truyền đạt của một giọng văn cùng phong cách nổi loạn tràn lấp nhục cảm ở tác giả này.

Tôi có bàn tay nhỏ nhắn và mềm mại hiếm thấy. Bàn tay không thay đổi theo mùa hay béo gầy cơ thể. Thụ bảo bàn tay tôi không tuổi tác trọng lượng. Hồi hai mươi tuổi, mới ra trường nằm nhà ba tháng, chỉ ăn và ngủ, cơ thể trồi lên những múi thịt, nhưng bàn tay tôi vẫn mảnh dẻ. Thụ hay mân mê bàn tay tôi. Bàn tay thể hiện tâm hồn con người, dù em mập đến mấy ngón tay em vẫn chỉ là cọng cỏ chao lượn dưới gió xuân. Tôi đưa ngón dài nhất mơn quanh môi chồng. Cọng cỏ thường dai, chỉ liềm sắc mới cắt nổi anh biết không? Mắt Thụ cụp xuống tìm câu trả lời. Có khi chỉ một con kiến cũng làm ngọn cỏ tan gãy. Có thể. Tôi chìa bàn tay ra trước nắng, nhìn như nhìn bàn tay một kẻ khác. Giông gió, bão lũ, nắng hạn, tôi có thể chết đi rồi mà bàn tay vẫn nguyên vẹn với năm ngón ngắn dài, làn da mỏng tanh không trọng lượng. Chỉ có tôi hiểu vì sao bàn tay tôi tách rời ra khỏi thể xác mình. Chỉ có tôi hiểu vì sao tôi hay trốn những vách dựng loang loáng một chiếc bóng. Thụ không hiểu. Chính tôi đôi khi cũng thấy mình là lạ.

Quê Thụ cách thành phố khoảng ba giờ tàu hoả. Tôi không ngờ đồng quê khác biệt đến thế. Một vùng đất vẫn giữ được nét cổ xưa hiếm hoi thời cuộc. Ngồi trên tàu Thụ dặn dò tôi kỹ lưỡng về những nghi lễ phải làm trong ngày giỗ cha. Chồng tôi mồ côi cha từ năm lên chín. Căn nhà mái ngói vốn là nhà gỗ ba gian được bao tường ẩn náu phía đáy làng. Đằng sau ngôi nhà, phơi mình trong nắng, ruộng ngô đang ra bắp xanh mướt. Kéo dài tầm mắt một chút, ẩn hiện giữa đám ngô, bãi tha ma thênh thang còn giữ nguyên được mồ mả đắp đất cỏ mọc xanh tươi tốt. Lần về trước bận bịu khách khứa tôi đã chẳng có thời gian đẩy đưa con mắt. Thụ bảo lần này phải ở lâu lâu một chút cho mẹ chồng tôi vui. Tôi dạ vâng ngoan ngoãn. Thụ véo mũi tôi: sao trên giường em chẳng ngoan hiền như thế cho anh được yên thân? Tôi lơ đãng trước câu nói đầy hàm ý. Tôi không thể ngoan hiền. Tôi hay chồm lên người Thụ nuốt lấy anh vồ vập. Tôi ưa kéo Thụ lên chà xát. Tôi bắt đôi tay Thụ bóp nắn liên tục. Tôi muốn đã cơn khát thèm từ buổi trưa ấy, một buổi trưa nắng bình thường như bất kỳ một ngày hè nào nhưng với tôi là bỏng rát, là bước ngoặt. Tôi cất giữ bí mật riêng mình. Thụ nào biết. Thụ cứ hay van xin tôi đừng hực lên như hổ cái. Tôi chẳng thể đặng đừng. Anh bị tôi co rút lôi đi. Đôi lúc thấy anh kinh khiếp tôi đành phải dè dặt. Nhưng rồi đến cơn khát tôi vung vấp hết. Mỗi sáng thức giấc trông Thụ thật tội nghiệp.

Bàn thờ nhà chồng tôi to dài quá cỡ. Chưa bao giờ tôi nhìn chiếc bàn thờ nào lớn như vậy. Có rất nhiều bát nhang và những bức trướng chữ Tàu. Mẹ chồng tôi nói bâng quơ mà tựa căn dặn: “Nhà ta mỗi năm cúng mười sáu đám giỗ. Sau này anh Thụ cúng tôi nữa là mười bảy, sẽ vất vả đấy.” Tưởng tượng ra viễn cảnh mỗi năm còng lưng làm cơm cúng mười bảy đám giỗ cho đến ngày Thụ qua đời, tôi không khỏi ngao ngán.

Khi Thụ quần áo tề chỉnh chắp hai tay trước ngực khấu đầu làm lễ, rèm vải hai bên bàn thờ lay động lươn lướt, màu đỏ nhức nhối trong nhang khói. Nép mình cúi đầu cùng mấy phụ nữ trong góc nhà, tôi cố giỏng tai xem chồng mình đang khấn những gì. Nhưng chỉ là ập è âm thanh xin xít nơi đầu lưỡi. Thụ không nói mà cũng không hát. Tựa tiếng kêu của loài bò sát. Tôi nhướng trí tưởng tượng phong phú của mình xem qua lời khấn của Thụ những ai đang về. Hồi sáng hai vợ chồng ra nghĩa địa dọn dẹp khu mồ mả tôi mới biết tổ tiên nhà Thụ cũng nhiều oan khuất. Mười một ngôi mộ dàn trải xưa cũ trong vùng đất trũng sâu dáng hình thung lũng. Thụ nói sau cơn động đất tự nhiên khu mộ nhà mình thụt xuống thành trũng như vậy và một ngôi mộ thì biến mất. Tôi băn khoăn về chuyện mười sáu đám giỗ sao chỉ mười một mộ phần? Giọng Thụ có vẻ buồn, tay anh đưa liềm cắt cỏ chuẩn xác.

“Cô em gái bố do hận tình nên trẫm mình xuống sông sâu năm vừa tròn mười tám không tìm thấy xác. Hai ông cố trẻ làm thầy phù thủy đi khắp nơi cùng chốn rồi không quay trở về, nhà lấy ngày hai ông bỏ đi làm ngày giỗ. Hai ông khác, một liệt sĩ Điện Biên, một liệt sĩ đường 9 Nam Lào, xương hốt về bằng đầu đũa chôn chung một mộ.”

Thụ im lặng đột ngột, tiếng liềm xén cỏ mạnh hơn.

“Thế còn một ngôi mộ nữa đâu anh?”

“Ông nội bị đấu tố hồi cải cách ruộng đất chết thảm trên tổ kiến lửa. Sáng mai bà nội chỉ tìm thấy vài cọng tóc ở nơi cột trói, xác không biết đi đường nào.”

Giọng chồng tôi nghèn ngẹn. Tôi thấy lạnh sống lưng. Tưởng như cũ xưa nào vừa lướt qua mình. Bây giờ quỳ trước bàn thờ tôi cũng lạnh sống lưng. Lẫn trong âm hưởng xin xít buồn thảm khấn vái của Thụ một tiếng nhẹ như gió lướt lụa bay trơn lọn. Đã có lần tôi nghe đâu đó rắn là loài vật linh thiêng dẫn dắt người chết về trần. Tôi ngẩng phắt lên thanh đà treo ngang bàn thờ. Thanh gỗ bóng nhẵn không vết bụi, trống rỗng. Cô em chồng cấu mạnh. “Chị cúi đầu xuống đi, anh tôi không dạy chị à?” Khi đầu tôi lại cúi xuống, một cái gì láng nhẫy bay qua. Linh cảm đôi khi chỉ là linh cảm nhiều khi.

Và Thụ đứng lên húng hắng báo hiệu. Chồng tôi đã cúng xong. Cỗ được dọn xuống trong tiếng đũa lanh canh lũ trẻ háu đói. Suốt cả bữa ăn trong đầu tôi cứ lảng vảng hình ảnh mười sáu bóng ma tổ tiên theo lời khấn của Thụ trườn về, bay về thế nào. Thảng hoặc lại lành lạnh buôn buốt như gió cũ xưa nào lượt qua mình. Những cây nhang cháy hết cuộn thành vòng đầy ắp bát hương to màu đồng và những bát hương nhỏ màu trắng vẽ long phượng. Ai đó reo vui: “Hương cháy đẹp quá, nhà này năm nay chắc nhiều may mắn.” Mẹ chồng tôi thỏa mãn. “Anh chị Thụ thể nào chẳng sinh một thằng cháu đích tôn nay mai.” Thụ tay cầm cánh gà xoay xuống tôi đỏ mặt. Tôi thừa biết anh nghĩ hổ cái như tôi sẽ nhanh chóng kết nhuỵ sinh hổ nhỏ cho nhà anh nay mai. Đàn bà như tôi có lẽ sinh năm một, anh chẳng từng nói thế. Miệng tôi cười mà lòng trống trải. Ông trẻ mặt xanh men rượu ngoắc cánh tay xuống mâm dưới, tôi để ý đàn ông nhà Thụ tay thường dài chạm gối. Có lần tôi đùa Thụ tay dài như tay vượn, anh sa sầm nét mặt. Em chẳng biết gì cả, những người tay dài thường dòng dõi đế vương, thiên tử. Có lẽ ông tổ anh từng là vua chúa vương giả Trung Hoa gặp nạn nên chạy loạn sang đây. Tôi thấy Thụ thật ngây thơ nhưng không dám nói. Dòng họ nào ở miền bắc này mà không chạy loạn hay đội trên đầu xứ Trung Hoa?

“Nhân thể cháu dâu trưởng thắp nén nhang lên bàn thờ khấn xin cha thằng Thụ phù hộ cho sớm sớm được thằng cu. Cha chồng cô mất vào ngày trồng, linh thiêng lắm.”

Tôi không biết ngày trồng ông trẻ nói là ngày gì nhưng đoán chắc rất thiêng. Len lén luồn qua mâm trên, kính cẩn lấy ba nén nhang châm lửa cắm lên bát hương đặt cạnh khung ảnh một người đàn ông trung niên có hàm răng hơi nhô với tia nhìn sắc lạnh, tôi khấn lạy ba lần. Vừa thụt lùi vừa liếc trộm khung ảnh cha chồng, ống chân tôi đau tấy lan dần. Một khắc, tôi nghĩ đến ám dấu cơ thể biết báo hiệu trước những chuyện bất thường. Chưa kịp định thần, bỗng dưng mái tóc, thân thể tôi nóng hực và tiếng cô út hét lên: “Bát hương cháy rồi.” Thụ xô ngã tôi, quỳ mọp trước bàn thờ dập đầu lia lịa. Bát hương ngùn ngụt cháy. Tôi hoảng loạn nghĩ thế nào tia lửa cũng lan rộng thiêu cháy bàn thờ, thiêu cháy ngôi nhà, thiêu cháy bãi ngô, đốt rụi mồ mả. Tôi muốn tìm xô xách nước dập lửa nhưng chân tay tôi cứng đơ tựa khúc gỗ, cơn đau nhức oại oằn trí não. Giọng nói đon đả mẹ chồng cất lên như vệt điện chạy dọc sống lưng. “Mời các bác, các ông xơi tiếp. Tôi nghĩ ông nhà tôi hoá bát hương vui mừng đón cháu đích tôn đấy.” Mọi người ồ lên đồng thanh. Nhưng cái liếc xéo của bà về phía tôi lại đầy cay nghiệt. Bát hương cháy tận gốc, tro dầy lên hình thù ngôi mả mới đắp. Tôi biết ngôi mả mới đắp bằng tro nung này sẽ thiêu cháy cuộc đời tôi nay mai. Thụ nhìn tôi không biểu lộ cảm xúc. Da thịt tôi rần rần kiến bò. Cảm giác ơn ớn, trơn lọn bóng nhẫy.

Tám giờ tối bãi ngô ngủ im. Thụ im lặng kéo tôi vào nhà. Sau buổi chiều hoá bát hương tro đắp hình ngôi mộ, Thụ nhìn tôi khang khác. Tôi chỉ cảm nhận khang khác trong một trực giác mơ hồ không bằng chứng.

“Anh chị Thụ vào buồng mà ngủ. Trong ấy ban đêm chuột hay thọc mạch, dém màn vào chiếu cho chặt kẻo nó vào giường.”

Sống lưng tôi dựng đứng. Viễn cảnh một bầy chuột chui vào giường bò lên thân thể khi tôi đang say giấc chẳng lãng mạn yên bình đồng quê chút nào. Tôi đưa bàn tay thon mảnh của mình ghì chặt Thụ, anh nhăn mặt nhìn tôi, bắt gặp ánh mắt thảng thốt của vợ, anh thẽ thọt nhìn mẹ:

“Mẹ cứ ngủ trong buồng với con Thắm để vợ chồng con ngủ ngoài này. Ban đêm gió máy mẹ không nên ngủ trên phản. Với lại con hay dậy đi ra đi vào sợ mẹ mất giấc.”

Mẹ chồng tôi loét quét đôi guốc vào buồng. Âm thanh roạc ngắn từng cơn. Con Thắm sang làng bên chưa về. Thụ bỏ tôi đứng trước cửa ra nằm chườn lên tấm phản kê gian ngoài cùng. Trước mặt tôi, bàn thờ chính giữa đã to giờ trương lên kỳ lạ. Hình ảnh nó phình nở trong đầu tôi. Bức màn đỏ lừ loang rộng. Hốt hoảng tôi chạy nhào vào Thụ. Chiếc quạt tai voi Liên Xô không rào rỉ sét ọc ạch quay tiếng một. Người Thụ đẫm mồ hôi. Giọng anh đừng đững.

“Em ngủ đi đừng làm ồn, mẹ không nghỉ ngơi được.”

Thụ là lạ thế nào. Thường ngày chưa bao giờ Thụ lên giường trước mười hai giờ khuya. Một lần Thụ bị ốm, tôi bắt anh ngủ sớm, anh nói đấy là cực hình. Sao Thụ có thể ngủ vào tám giờ tối hôm nay? Tôi tỏ vẻ quan tâm.

“Anh có nóng không, em quay quạt lại chỗ anh nhé?”

“Anh nằm phản thấy mát rượi, mấy phút nữa là ngáy, ngủ đi em.”

Thụ lại đùa. Từ ngày làm vợ Thụ tôi nào nghe anh ngáy nửa giây? Chiếc áo ba lỗ trắng tinh trên lưng Thụ xoay về tôi vẻ cấm đoán. Tôi cười thầm sự cẩn thận ngăn ngừa của anh. Cửa giả mở toang, bàn thờ linh thiêng ngay cạnh, mẹ chồng có thể đi ra đi vào bất cứ khi nào. Dù thèm chồng đến mấy tôi cũng phải gò mình trong bộ đồ ngủ kín đáo mà hậm hực. Tôi cũng không buồn thắc mắc về việc trái khoáy khi anh nói mát rượi mà người cứ đầm đìa mồ hôi. Thụ giờ khắc này sao quá đỗi xa lạ, không còn là Thụ buổi chiều đổ bóng xuống mình tôi. Anh lặng câm yên vị trong ngôi nhà bao tường cũ kỹ. Còn tôi lại muốn vách tường nhà anh rạn nứt để tôi cùng Thụ trốn ra ngoài. Ba cánh quạt tai voi vẫn ì ạch quay rít. Trước lúc thiếp đi tôi mơ hồ nghe lại cái giọng ngột ngạt, nhừa nhựa ập è xin xít nơi đầu lưỡi lúc Thụ cúng lễ. Rồi tôi rơi vào mê man. Loang loáng bãi ngô im lìm hứng sương không gió nào thãng thột. Trăng khuya phổng đứng chiếu ánh sáng sữa đục. Thoắt một cái, bóng tối ngập oà. Tôi thấy mình bừng tỉnh. Cảm nhận không khí ngột ngạt, hãm bức, chật chội vây quanh. Môi miệng khát cháy, toàn thân căng cứng. Nực nồng, oi bức như sắp đổ cơn giông. Ba cánh quạt tai voi ngừng phắt xê dịch. Không một tiếng gió nhưng tấm màn đỏ che bàn thờ cứ chốc chốc lay động khẽ khàng, chỉ mình nó đang chuyển động đỏ lừ trong thời gian lẫn không gian ngưng bặt. Tôi sợ, tôi muốn quay sang ôm Thụ để anh che chở cho mình. Song tôi không thể nào cử động, màu áo ba lỗ trắng tinh chồng tôi nằm sát ngay cạnh như trêu ngươi mà tôi chẳng thể nào nhúc nhích. Không khí mỗi lúc một ẩm thấp, nực nồng khoá cứng lấy tôi trên mặt phản.

Tiếng ho đứt đoạn từ trong căn buồng mẹ chồng lôi tôi khỏi đêm đen. Tứ chi rã rời, đầu váng vất, mồ hôi tôi rịn rạn dính bết. Bộ đồ ngủ tự nhiên mở khuy trễ nải lạ lùng. Tôi nhìn hàng cúc nhàu nát lạ lẫm, giống Thụ vừa vò nát chiếc áo và tôi vừa bận lên mình chưa kịp cài khuy. Cạnh tôi, Thụ vẫn ngủ im bằng bặt, ngoan hiền trẻ thơ, đôi má phụng phịu ninh nính. Tôi đâm nghi hoặc, kín đáo luồn tay xuống dưới. Chất lỏng đẫm ướt sền sệt ngầy ngậy mông đùi, thấm nhầy chiếc quần lót mỏng. Thụ trở mình ú ớ giữa giấc mơ. Tôi hoang mang nhìn chồng, cơ thể anh vẫn đầm đìa mồ hôi.

*

Ngày gặp Thụ tôi không còn con gái. Cơ thể săn chắc mượt mà vun đầy hai mươi rúc lên hồi còi dài khi chiếc bóng của anh đổ ập xuống mình. Một buổi chiều, bóng tôi lọt thỏm giữa bốn vách nhà rông trong khuôn viên Bảo tàng Dân Tộc. Bàn chân ai lào xào sỏi đá sau lưng. Náu lặng tôi giữa hồi còi không ngừng rúc lên thúc bách trong da thịt. Chiếc bóng chồm lên chút nữa. Vách nhà rông nuốt chửng ngực tôi nhoi nhói từng hồi còi riết róng. Tôi chăm chú nhìn chiếc bóng đang hắt thẫm mảng sỏi đến gần, chiếc bóng như tạo ra tiếng động trên sỏi bị đè nghiến. Nghe có vẻ khác thường nhưng tôi tin chiếc bóng có thể đè nghiến được cả thế gian này, riêng gì sỏi đá. Chỉ có tôi mới biết điều ấy. Tôi muốn chạy trốn, khi trước mặt bóng đen lừng lững dịch chuyển. Giọng nói cất lên trước lúc cổ họng tôi bật ra tiếng kêu.

“Em bị chói mắt phải không?”

Gương mặt người đàn ông phúng phính hiện ra dưới chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ làm yên hoảng hốt trong tôi. Lúc anh đưa tay sửa vành mũ, tôi nhận ra cánh tay anh dài chạm gối. Tôi biết gương mặt này, cánh tay này, giọng nói này sẽ đóng đinh vào giữa vùng khuất lấp của mình. Vách nhà rông oặn ẹo vặn mình nứt khe. Tôi sẽ chui qua khe nứt ấy, tay tôi sẽ dắt anh cùng đi, chỉ cho anh thấy tôi thuộc về anh từ thuở nào. Anh rồi sẽ ngoan ngoãn nhập vào tôi như một gẫy gập định mệnh. Nhập vào tôi -hẫng hụt tôi- ngạc nhiên anh đêm tân hôn sau đó chẳng là bao. Làm sao để Thụ hiểu vì chính tôi cũng chỉ là người mù trong cõi tối tăm? Một cõi không Thụ, không mặt trời, không cả âm thanh giữa buổi trưa kỳ lạ. Tôi khám phá ra những chiếc bóng trên tường không chỉ đơn thuần là những chiếc bóng. Chúng cũng sống động như thân thể tôi khát thèm một vực thẳm. Chúng vờn vượt trên da thịt non tơ hứng háo của tôi. Về sau tôi biết mình đã đánh mất điều quý giá nhất buổi trưa hôm ấy. Chúng đã cướp mất cuộc đời con gái khi vừa chớm đến, khi tôi vừa mới biết xỏ tay thành thạo vào chiếc su chiêng. Chúng cho tôi biết nỗi sợ hãi khôn cùng, sự ngừng đập trái tim. Và cả khát thèm, chờ trông suốt những năm thiếu nữ khi chúng không còn quay lại. Mọi người nói tôi bị bóng đè, chẳng có gì đáng sợ. Tôi không thể ngờ đó chỉ là số phận. Thứ số phận đã đẩy đưa cho tôi gặp Thụ và làm vợ anh vội vàng, giống một linh ứng mà cơ thể tôi đã ám hiệu rúc còi.

Sau đám giỗ, chúng tôi đáp tàu trở lên thành phố. Trên đường về, Thụ luồn tay vào vùng ngực hồng hào của vợ xoa xoa bầu vú, miệng lấm lét cười. Tôi rất thích cử chỉ này của Thụ. Cả điệu cười tươi của anh. Dưới quê Thụ không cười với tôi như vậy, lúc nào cũng ra vẻ lạnh lùng.

“Vợ tôi thoát nạn nhà quê rồi, tiểu thư thôi không phải nằm phản mồ hôi nhễ nhại như đêm qua. Sướng nhé.”

Tôi không sướng, không thoát nạn như Thụ tưởng. Cảm giác như tiếc, như nhớ chiếc phản và bàn thờ với màn đỏ che đậy. Cảm giác lạ lùng mà chính tôi cũng không hiểu. Tôi vẫn không thể nào giải thích được những gì đã xảy ra trên tấm phản. Lẫn lộn tất cả. Nhưng có điều chắc chắn tôi không mơ cũng như Thụ không hề đụng chạm vào người vợ. Ban sáng anh đã giãy lên như đỉa phải vôi khi tôi dọ hỏi. “Về quê có một buổi không được làm hổ cái với anh mà em đã cuồng lên rồi tơ tưởng lung tung. Em thật là..!”. Tôi lại mơn nhẹ ngón tay dịu dàng của mình lên môi chồng. Như thế anh sẽ không còn giận dỗi. Bàn tay tôi thật kỳ diệu. Năm ngón ngắn dài với làn da mỏng tanh, như bàn tay của một người khác, có thể làm mọi việc mà tôi không có khả năng. Giá thân thể tôi cũng không trọng lượng như bàn tay đang xoè ra trước mặt. Giá thân thể tôi không có những đòi hỏi cảm xúc như bàn tay đang giơ lên trước nắng. Nhưng bàn tay ấy, của tôi hay của ai, chẳng thể nào phá tan được sự hoài nghi bí mật. Cảm giác trưa hè ngốt ngát năm nao đang trở lại. Chiếc bàn thờ to dài quá cỡ, tấm phản láng bóng thời gian, thung lũng mười một ngôi mộ, tiếng ho khúng khắng trong căn buồng mẹ chồng có liên quan gì đến nỗi hãi sợ mà kích động hứng háo đang chảy xuyên suốt huyết mạch đàn bà trong tôi?

Gương mặt Thụ ngó lơ những cánh đồng. Tôi nhìn Thụ đăm đăm. Mùi đất ràn rạt trên cần cổ anh. Tôi nghiện cái mùi ngai ngái trên ngực Thụ mỗi khi nằm sấp trên mình anh hôn tẩn mẩn đầu lưỡi có vị cỏ đắng. Bất giác tôi lại nghĩ đến cái đầu lưỡi đã phát thứ tiếng động ập è xin xít khi Thụ khấn vái.

Trở về thành phố, thân thể Thụ trở lại khô ráo thôi đầm đìa mồ hôi. Mỗi bận Thụ cởi trần, tôi ngắm tấm lưng anh nâu om khô ran tựa một mảnh ngói. Khô đến nỗi giá tôi đặt nụ hôn lên lưng anh khi ấy, đôi môi tôi sẽ bốc hơi khô cháy trong khoảnh khắc. Giống như thân thể Thụ đã trút hết nước ở vùng quê hoặc cái buổi tối Thụ nhễ nhại mồ hôi chưa bao giờ xảy đến. Chồng tôi trở lại làm một người đàn ông ưa nghịch ngợm, hay mân mê bàn tay vợ rồi khen dù mập ốm em vẫn giữ được bàn tay của một thiếu nữ. Tôi sung sướng mỗi khi nghe Thụ khen bàn tay mình không thay đổi. Thi thoảng tôi cũng nghĩ đến cái bàn thờ đỏ quạch và tự hỏi có phải mình nằm mơ? Đôi lúc thắc mắc khiến tôi mất ngủ. Nhiều lúc tôi nhíu mắt trước gương tự hỏi mình là ai và cố tìm một trả lời. Thụ trả lời thay tôi bằng cách bồng ẳm tôi lên giường biến tôi thành hổ cái, đánh thức những rực rào của hai bầu ngực tôi liên tục rúc lên những hồi còi dài. Tôi kẹp cứng Thụ không cho anh xổng thoát về với bãi tha ma. Tôi chỉ giật thót mình sau vung vấp nhận ra bãi tha ma vẫn còn ở đó.

*

Đám giỗ ông nội Thụ sau đấy một tháng. Hai vợ chồng lại thu xếp nhảy tàu lụi hụi về ngôi nhà mái ngói ba gian chất chứa bí mật dòng dõi đế vương. Thụ im lặng suốt quãng đường, mắt trống trải khi tàu vào ga. Tôi nghe tiếng rao bán hàng rong vọng lại thập thòm lẫn tiếng nghiến đường ray. Tâm trạng tôi lẫn lộn. Mơ hồ kinh sợ, mơ hồ mong chờ.

Sau cúng lễ, y như lần trước, Thụ đi ngủ sớm. Tôi níu kéo.

“Đêm nay anh ôm em ngủ được không? Hôm trước em thấy sợ.”

“Em lại tính giở trò gì đây? Trời thiêu lửa mà ôm nhau ngủ?”

Giọng Thụ cục cằn, ánh mắt liếc xéo chẳng mấy yêu thương. Tôi trơ hẫng trước thái độ của chồng, ở thành phố Thụ chưa khi nào nói với tôi bằng giọng như vậy. Ngón tay tôi rụt vội. Hình như làn da mỏng tanh bị bỏng.

Mẹ chồng tôi không mấy vồn vã. Bỏm bẻm trầu cau, gương mặt tôi tối, bà vấn lại khăn trên đầu, mắt nhìn đâu đâu. Làm như mẹ chồng tôi cố tình thức khuya để canh chừng con dâu. Tôi ngó ngón cái tím bầm của mẹ chồng rồi lại ngó lên bàn thờ, vẫn ngôi mộ bằng tro nung và những tấm hình phủ mặt. Tôi cẩn thận đi tắm trước khi lên phản. Phòng tắm tuềnh toàng được quây chiếu lệ bởi những tàu dừa, dưới ánh trăng non vệt ra hình thù kỳ quái. Lớp trăng non lướt mỏng đến tấm phản soi lờ mờ gương mặt Thụ. Trong bóng tối nhìn gương mặt chồng có nét an bình đủ đầy, tôi bớt sợ. Mẹ chồng tôi đã tắt nến. Cơn buồn ngủ đến thản nhiên, một cách thanh bình tựa như nỗi hãi sợ và thân thể tôi là hai tách biệt không liên hệ. Tôi ríu mắt chìm ỉm vào giấc ngủ.

Thức giấc, tôi thấy mình khát cháy cổ họng. Làn môi khét khô căng rạn và mồ hôi lấm tấm trên trán, tôi nghĩ mình bị sốt. Người tôi ơn ởn. Mặt phản ẩm rít. Ngoài sân cửa nhà mở toang và ánh trăng vẫn đang rọi những mảng sáng cuối cùng. Đúng lúc tôi chống tay định nhỏm dậy thì tấm màn đỏ nhúc nhích và tứ chi nặng trĩu. Từ sau tấm màn đỏ, những chiếc bóng bay ra lũ lượt tích tụ thành mảng đen lớn. Trái tim tôi muốn nhảy dựng khỏi lồng ngực, tôi nhắm chặt hai mắt trong kinh sợ tột cùng, nhưng vẫn cảm giác rõ rệt trước mặt khối đen đang lẩn nhẩn về phía mình. Tựa quả đất đang nặng nề đè nghiến tấm phản. Trời ơi, tôi phải gọi Thụ, mảng áo trắng ba lỗ chồng tôi loá rực như con mắt anh mở thao láo trong đen đặc ám mờ. Chỉ cần khẽ nhích cánh tay là tôi có thể đụng vào Thụ nhờ anh cứu giúp. Hình như chồng tôi còn thức, hai tròng trắng ươn ướt trừng trừng. Anh nằm ngửa, hai tay xếp trước bụng ngay ngắn như một xác chết mở mắt. Một thoáng tôi nghĩ chồng tôi đang nhìn lên trần. Một lúc tôi nghe hơi thở Thụ đều đều vung vãi. Làm sao anh lại có thể ngủ ngon đến vậy? Chưa bao giờ tôi ghét cái khuôn mặt phinh phính bình lặng của Thụ như lúc này, anh bỏ mặc tôi đơn độc, nhoài nhã. Khí quyển mỗi phút một nực nồng, rít ẩm, ngột ngạt. Thời gian như bất tận, tôi không dám ngoái lại nhìn mảng đen đã rất gần, chỉ tích tắc nữa sẽ ập xuống mình. Tay chân tê cứng mà lạ thay, hai con ngươi tôi mở to chưa từng thấy, sáng xuyên thủng màn đêm, đến nỗi tôi nhìn được cả những sợi lông mi của chính mình đang vòng cung lên vầng trán căng rát, xót rạn mồ hôi. Dường như Thụ vừa dịch lưng. Anh lăn sát vào tôi hơn, một chút nữa thôi là anh chạm vào người tôi, nhưng Thụ bất động ở ranh giới ma mãnh ấy, bây giờ tôi nhìn rõ hai mắt anh không nhắm tý nào, thậm chí mở to hơn thường ngày. Mảng đen đã thôi uốn lượn trên mền vải, nó thò hẳn vào lùng sục từng bộ phận thân thể tôi. Bàn tay lần rờ trọn đường viền môi, nắn từng chiếc răng xinh xắn, hệt như khi Thụ trườn lên tôi thổi khúc dạo đầu. Đến hai núm vú bàn tay đang lạnh lẽo chợt nóng rẫy. Mỗi ngón thiêu rụi tôi như lửa. Màn đen rẫy rùng khi có tiếng giầy rón rén trên sân gạch và bóng áo cánh khen khét mùi đàn ông hiện ra. Cô út về tới. Bàn tay vẫn lẩn nhẩn nơi êm ái mượt mà làn da bụng con gái. Tôi đinh ninh em chồng mình sẽ nhìn thấy, sẽ tri hô lên và mọi người nhào tới hất mảng đen, chặt bàn tay vô liêm sỉ khỏi người mình. Nhưng Thắm chỉ trân trân ngưỡng cửa nhìn ngắm, hai hàm răng bít chặt, bước những bước ngắn vội vào buồng. Tôi nghe tiếng cười đắc ý sát gần. Bàn tay bắt đầu mạnh bạo hơn gỡ lớp vải kết mồ hôi, bóc tách thuần thục. Mồ hôi tướp ướt đùi non, rãi rà rề xuống mặt phản trơn rít. Rồi khi bàn tay túm trọn lụa nhiễu đen óng, mảng đen bỗng tan loãng hiện rõ hình dáng một con người nghênh ngáo. Tôi hiểu mình phải im lặng, im lặng trong sợ hãi tột tận đời người. Khói đen tan biến hết. Tôi hét lên, tôi thấy mình hét lên một tiếng sập trời khi lờ mờ nhận ra đường nét trên gương mặt đang đè mình. Tia nhìn xéo sắc lạnh, hàm răng hơi nhô đanh ác đầy quen thuộc. Chưa kịp định thần, chiếc quần tôi đã bị kéo phăng bằng một động tác như ảo thuật. Mồ hôi rìn rịn bức bối hai đùi, đúng khi tôi cảm được sự cương cứng thúc lên bụng thì cánh cửa buồng mở toang và mẹ chồng tôi hiện ra với chiếc bật lửa. Tôi muốn vùng chạy khỏi nỗi nhục nhã ê chề. Bóng đen vẫn nhịch, từng phân nhịch xuống. Đôi mắt mẹ chồng nhìn vào phản làm tôi hãi hùng hơn tất cả những gì đang chịu đựng. Tia nhìn sòng sọc, hằn học, cay nghiệt bổ tát mỗi phân vuông cơ thể tôi loã lồ. Ánh mắt ấy như muốn thiêu cháy mỗi sợi lông măng hình hài tôi. Cố vùng vẫy, cằn đạp thoát cái nhìn của bà, tôi quên cả bóng đen đang nhinh nhích đã gần kề cửa sông con gái. Bóng tối tan chảy, lửa bùng lên loang khét tấm màn đỏ. Mẹ chồng tôi phẩy lia phẩy lịa nắm nhang khắp bàn thờ như điên dại. Bóng đen rít lên một tiếng man rợ xoẹt ngang lửa nhang. Bụng tôi kéo một vật gì dài cứng thép. Hụt hẫng rơi tòm tôi xuống đâu đâu. Tôi thấy có làn gió thổi mát sợi tóc, những làn gió làm ngả rạp bãi ngô lao xao. Dưới ánh sáng nhập nhoàng bó nhang toả khói, mẹ chồng tôi lê bước chậm chạp về buồng. Và Thụ khịt khịt mũi đạp chân vào đùi trần của vợ. “Sao nửa đêm ai lại thắp nhang thế này?” Lưng Thụ thẳng đứng như bị điện giật khi anh mở mắt. “Em.. em.. em cởi truồng?” Đập mạnh cánh tay xuống phản trong nỗi cứu sinh, tôi choàng tỉnh, biết mình vẫn nguyên vẹn hình hài. Kéo quần lên, tôi quay lưng lại Thụ không giải thích một lời. Giấc ngủ đến ngon tuyệt diệu trong đời. Tôi không biết mắt Thụ hằn lên những tia đỏ dại cuồng.

Tôi thức sớm không phải bởi tiếng gà gáy, không bởi ánh nắng chói loá xuyên tấm liếp cứa da cứa thịt. Tôi thức dậy bởi giọng nói mỉa mai kéo dài đu đượi chua đôi môi hóng hớt của Thắm xỉa xuống tấm phản, đầy tiêu ớt cay xé đã làm tôi choàng tỉnh. “Làm dâu thời buổi này kể ra cũng sướng thật.” Lảng ánh mắt của Thắm, tôi thấy mẹ chồng đang ngồi ngoài hè, trông bà nhỏ thó như một đứa trẻ. Bà ngó lơ vườn tược cây cối trong im lặng lâng láo của loài rắn. Im lặng u ám như đêm qua mẹ chồng tôi không thấy con dâu cởi truồng tênh hênh trên mặt phản, đã không phẩy lia lịa bó nhang trước bàn thờ. Dưới bếp Thụ quần đùi bên rổ khoai lang tím. Anh ngừng nhai nhìn tôi không biểu lộ cảm xúc nào. Đôi mắt Thụ vô hồn, tròng mắt anh quạnh quẽ rờn rợn.

“Đêm qua anh ngủ có ngon không?”

Tôi hỏi gắng gượng. Dường như tôi không hỏi Thụ, nhưng tự vấn chính mình. Tôi không biết chồng mình có nhìn thấy những gì đêm qua trên tấm phản, có nghe tiếng hét mà tôi đã thét lên? Thụ vẫn nhai, khoai lang thì đâu cần nhai nhiều thế, hở Thụ? Miệng anh nhều nhào chất bột chẳng đẹp chút nào.

“Em dậy muộn quá đấy.”

Thụ không trả lời tôi. Câu nói của anh tôi biết hiểu thế nào. Tôi phải tự trả lời cho nghi hoặc của mình, phải tự mình chèo chống qua vùng lũ xoáy. Nhưng tôi biết hỏi ai, tìm ai bây giờ? Bàn tay thon ơi, bàn tay diệu kỳ ơi, bàn tay có biết không, trả lời tôi đi. Tôi thay áo quần, bỏ ra bộ đồ ẩm rít mồ hôi nhàu nhĩ, quần lót đặc quánh thứ chất nhầy ngà tôi chẳng biết gọi tên.

Khi trở lên nhà, mẹ chồng tôi không còn ngồi trước hiên. Cả Thụ và cô Thắm cũng lảng lờ nơi nào. Tôi bỗng thấy mình như được cởi dây trói vô hình. Bàn tay ngón dài sáng nay càng thanh tao lạ lùng. Không xui khiến, nó kéo roạc tấm màn đỏ trước bàn thờ, tựa muốn cho tôi thấy điều gì. Quả thực chưa bao giờ tôi nhìn kỹ bàn thờ tổ tiên nhà Thụ. Bây giờ đập ngay vào mắt tôi là hai huân chương liệt sĩ, một Điện Biên, một đường 9 Nam Lào. Hai tấm ảnh truyền thần dương cặp mắt dài dại song vẫn là tia nhìn lạnh lẽo đầy hãnh tiến. Thụ chưa kể tôi nghe về những tấm huân chương này bao giờ. Sống lưng tôi lại ởn sốt. Những đôi mắt đang chằm chằm hắt tia nhìn sắc lạnh lên thân thể. Đôi mắt liếc xéo của những người đàn ông dòng dõi đế vương chết rồi vẫn đội lên đầu xứ sở Trung Hoa. Tôi quay lưng trước đôi mắt đêm qua đã vờn rượt lên tấm thân nóng ẩm kích động đàn bà của mình. Tôi chạy ra sân, chạy xuyên cánh đồng ngô đã vàng trĩu, bóng nhẫy những quả bắp căng rửng hạt tròn. Gió đượm mùi đất ẩm, mùi khô quánh trộn với nước sông tù hãm miết hơi dần dật vừa vuốt ve vừa sờ soạn chiếc áo cánh thêu cành hoa đỏ đậm vắt ngang hai bầu ngực tôi đang thở gấp. Bên trong chúng chẳng có gì mà vẫn bị kềm hãm. Tôi muốn thân thể tôi được giải phóng, tôi muốn bầu ngực mình núng nẩy tự nhiên reo hát. Chúng đang kêu lớn lên rằng đêm qua trí óc tôi không mơ, chúng đã bị vầy vò, bị liếm láp, bị nát nghiền. Tia nhìn xéo sắc lạnh, hàm răng hơi nhô của những tấm hình trên mộ bia thản nhiên, tráo trơ hãnh tiến một cách bình lặng. Bình thường như tôi đã bị cưỡng hiếp. Nhưng sao tôi không chống cự? Phải chăng tôi đồng loã, phải chăng tôi đã ưỡn người lên chờ đón? Phải chăng vòng quay đã được sắp đặt từ buổi trưa ngốt ngát bất thường tuổi thơ đến buổi chiều Bảo tàng Dân Tộc Thụ đổ bóng xuống đời tôi? Nhưng suốt những năm thiếu nữ tôi đã mong chờ, tôi đã khát cháy, giờ đây nó hiện hình sao tôi hoang mang? Vòng quay số phận cuộc đời tôi không phải vòng quay yêu thương. Tôi là ai, từ đâu đến? Tổ tiên đế vương Trung Hoa tay dài chạm gối nhà Thụ muốn gì?

Bãi tha ma thênh thang trước mặt. Gió sớm từ sông rì rào đổ thốc qua quần bò áo cánh đen. Thân xác tôi buôn buốt, nhưng nhức từng cơn, nhưng là sự nhưng nhức kích động, hỏi đòi và đau đớn. Tôi sợ chính mình. Cành hoa thẫm đỏ vắt ngang hai bầu ngực vẫn chỉ chực vểnh lên đĩ thoả. Nó đang mơn trớn, dỗ dành hoang đàng. Thung lũng mồ mả mười một ngôi mộ đẫm rượt sương đêm. Những cọng cỏ chà cứa vào chân tôi hay chân tôi lướt lên chúng mời mọc? Mười một ngôi mộ yên bình, sự yên bình thái quá một u mê. Tôi muốn những ngôi mộ nứt đất chui ra từng bóng ma, từng oan hồn liệt sĩ xéo sắc, tay dài chạm gối. Tôi nghĩ mình sẽ không sợ hãi. Tôi muốn họ trả lời tôi họ muốn gì ở đứa con gái nhiều xúc cảm này và có gan hãy hãm hiếp tôi giữa ban ngày ban mặt. Vẫn chỉ là im lặng. Má tôi nóng hực, miệng tôi lại khát cháy. Giật tung hàng khuy áo, cành hoa đỏ thẫm đứt đôi, tôi xoay vòng quanh mười một ngôi mộ. Vú tôi rứng tràn không khí. Vú tôi là đời sống, là hơi thở, là khí quyển. Mồ mả là quá khứ, là huân chương, là tổ quốc. Tôi chạy giữa bãi tha ma thênh thang hoang dại. Tôi múa điệu múa da thịt tươi tốt, thách thức thần linh, thách thức âm hồn dòng dõi Trung Hoa nhà Thụ. Tôi tung tăng thể xác, đôi bầu vú tự do khiêu khích cho đến lúc bàn tay xa lạ có năm ngón thuôn mềm đưa lên cài lại hàng khuy áo ngay ngắn. Tôi đứng nhìn bàn tay của chính mình như nhìn bàn tay của một kẻ chất phác quả quyết giắt tay tôi lầm lũi trở về. Có phải bàn tay của kẻ nào đó còn dính vào cườm tay tôi đã hiểu không thể nào chống cự nổi chiếc bàn thờ to dài quá cỡ với tấm màn đỏ nhức nhối chất chứa cả một quá khứ phi phàm?

*

Thụ mang ánh nhìn lạnh lẽo trên suốt chuyến tàu xuôi về thành phố. Tôi có cảm giác anh giống một pho tượng ai đặt cạnh mình. Anh náu lặng, làn da chỗ đỏ ửng chỗ nhợt nhạt. Những cánh đồng trơ hoác gốc rạ chạy tăm tắp trong nhập nhoạng hoàng hôn. Tôi không dám nhìn thẳng mặt chồng, chỉ len lén chăm chú lên đôi tay Thụ dường như dài hơn, bất động hơn, khoanh vòng nhiều hơn trước vùng ngực phẳng. Tôi muốn tự mình mân mê bầu vú, để tìm lại cử chỉ âu yếm của chồng. Nhưng tàu cứ tiếp tục rì rì, nhởn nhơ trên con đường dài trơ trẻn. Tôi muốn Thụ hét lên, chửi rủa thành lời những gì đang khoét rỗng đầu anh. Không còn nghi ngờ gì, Thụ đã nhìn thấy cảnh đêm qua, Thụ biết tất cả. Nhưng sao anh không cứu tôi, anh không thiêu cháy bóng đen man rợ bảo vệ vợ mình. Hay Thụ đồng loã, bán tôi cho những bài vị liệt sĩ khát đói? Tôi đâm hận anh vô cùng. Hận lây sang những ngày sau đó khi đã yên ấm nơi thị thành náo nhiệt, khi chiếc bàn thờ bỏ mặc bụi phủ nhà quê. Mà không là giận nữa, một nỗi hoài nghi thường trực ngày đêm.

Cuộc sống vợ chồng dần dà ngường ngượng. Thụ vẫn chăm chút tôi nhưng sự chăm chút đượm mùi sầu thảm. Chẳng còn lửa cháy, chẳng còn nồng nàn. Tôi thôi không hực lên hổ cái mỗi đêm trên người Thụ. Tôi không vồ nuốt lấy anh, hối hả rúc mặt vào trong nách anh tìm hương vách nhà rông của buổi trưa nào ở Bảo tàng Dân Tộc. Thụ cũng chẳng mấy mặn mà chuyện ái ân. Bàn tay anh thôi vuốt ve bóp nắn. Tôi cũng thôi cắn đầu lưỡi Thụ có mùi cỏ đắng. Mỗi sáng sớm thức giấc, tôi không còn cảm giác tội nghiệp nào cho Thụ. Và anh cũng không còn véo mũi tôi cảnh cáo đêm qua. Chúng tôi lặng im, không la hét, không dọ hỏi để tìm nguyên nhân, không một giải thích nào. Ngầm hiểu với nhau. Như đã cài trong đầu tôi và Thụ chuyện phải xảy ra để mà chấp nhận. Đời sống bình lặng, trong bình lặng giấu giếm giằng xé với những mẩu đối thoại đều đều như kinh nhật tụng.

“Hôm nay anh đi làm mệt lắm không?”

…

“Em trông mắt anh trũng sâu, đừng gắng sức nữa.”

…

Nhưng thân thể tôi thì không im lặng. Đêm khuya, khi đèn đường nguội lạnh, cạnh mình Thụ xoay lưng thin thít thì làn da tôi lại hực hội khát thèm. Tôi thấy vú tôi nở ra trong đêm tối, nở lớn như một đoá vạn thọ bất chợt bung cánh, to bằng một cái bát. Thân thể tôi giống một quả mít tố nữ ngậy thơm đợi bổ đôi. Lẫn trong thao thức, tôi nhớ tấm huân chương liệt sĩ Điện Biên lấp lánh, huân chương Đường 9 Nam Lào sáng choang động đậy. Đùi tôi thèm được rát rẫy mồ hôi, bụng thèm cảm giác cứng cáp quệt ngang đâm vào. Tôi biết như thế là tội lỗi, nhưng rồi lại tự nhủ đó là một thứ tội tổ tông mà chẳng ai có quyền chê trách.

Tôi biết phải chấp nhận để tồn tại. Tôi yêu Thụ và anh cũng yêu tôi thực lòng. Sống trên đời ai chẳng có nỗi khổ, đâu riêng gì vợ chồng tôi. Nhưng rồi giỗ tổ lại đến và tôi không thể giấu diếm khoác lên mình bộ mặt bình lặng được nữa. Thụ cũng vậy, sau sự việc, đôi má anh hóp sâu chẳng còn phúng phính. Ngày oi nồng khi hai vợ chồng nhìn tờ lịch, thu xếp cặm cụi về quê. Nếu là những lần trước, tôi sẽ liến thoắng hỏi Thụ giỗ ai mà về. Giờ đây như một lẽ thường tình, tôi chẳng cần phải hỏi. Một năm mười sáu đám giỗ, cứ thế mà ngược tàu. Tôi lại mơ hồ kinh sợ, mơ hồ mong chờ, phập phồng theo tiếng nghiến đường ray với bãi tha ma chập chùng. Mọi chuyện vẫn diễn ra như bất kỳ đám giỗ nào nhà Thụ với nhang khói, với âm thanh khấn vái xin xít, ập è nơi đầu lưỡi Thụ. Chỉ khác một điều, lần cúng giỗ này vào buổi trưa. Mẹ chồng tôi bảo các cụ báo mộng cho bà làm như thế. Tất nhiên các cụ đã nói thì phải nghe. Ai nào dám cãi nửa lời. Còn nhớ ngày cưới, mẹ Thụ gọi tôi ra góc riêng, giọng bà nhỏ quá mức mà làm tôi run rẩy. “Chị về làm dâu trưởng nhà này trách nhiệm nặng nề. Lấy chồng theo thói nhà chồng, mọi thứ đều có lễ nghi, trên dưới, cứ thế mà làm. Chị làm khác sẽ rước hoạ vào thân, tôi nói trước.” Hân hoan hạnh phúc tôi quên mất giọng nói sắc ngọt của mẹ chồng hôm ấy. Trưa nay nó vọng rõ mồn một, thấu tim óc đứa con gái đang nuôi những vực thẳm khổng lồ trong mình chẳng khác nền trời không xanh lồng lộng cũng đang nuôi những tảng mây tối sáng lừ đừ. Thụ đi nhanh qua khoảng sân rát nắng, phịch lưng xuống phản nặng nề.

“Sáng nay dậy sớm đi tàu mệt quá, nghỉ trưa cho lại sức. Em thần người ra đấy làm gì, nghỉ đi.”

Thụ nói với tôi bực bõ. Làm như tôi cản trở gia tộc anh chuyện gì đó, làm như tôi chưa phục tòng khuôn phép gia đình anh đúng mức hay tôi phá đám giỗ nhà này. Tôi băn khoăn thắc mắc vì sao Thụ phải đổi giọng mỗi khi có sự hiện diện của chiếc bàn thờ? Thụ nói với tôi hay xin phép mẹ? Anh không nhìn tôi mà cũng chẳng nhìn mẹ đang ngấp nghé cửa buồng. Anh nhìn tấm màn đỏ bất động đang rang lửa. Bao nhiêu nhang thắp lúc nãy cháy cằn, tàn tro giữ nguyên dựng đứng như hình chĩa ngọn chông, trơ khấc tàn bạo. Thốt nhiên tôi muốn sập màn che giấu. Nhang cháy không cuộn thành vòng, không có điều tốt. Tia liếc xéo từ căn buồng mẹ chồng tôi bùng rát khuôn mặt, tôi ngoái đầu, chỉ là hai cánh cửa khép im lìm. Dạo này mẹ Thụ không còn nhìn thẳng mặt tôi nữa. Những cái liếc xéo lởm chởm nguyền rủa của bà hơn một hôn mê, một thôi miên hoà lẫn tiếng xoong chảo cô út vùng vằng ném đập ngoài giếng dìm xuống nước chìm ỉm trong nhiệt độ tăng cao và chiếc quạt tai voi xoay lấc láo. Tôi ỉm mình trong bỏng rát chật chội, hãm bức mê man. Tôi nói thầm nhà quê là thế ấy, lập đi lập lại cho đến khi giấc ngủ đến, rồi vô cớ thức giấc. Lại khát. Thụ dang rộng tay, một chân gác lên đùi tôi như kềm giữ. Ngạc nhiên chưa! Thụ không có thói quen này. Vừa lúc tôi gượng mình vươn vai thì lặng phắc đất trời. Trong tư thế ưỡn ngửa, tôi trơ cứng bất động. Đám mây nằng nặng trôi qua khoảnh sân làm tối sầm gian nhà, tối sầm bức màn đỏ tôi đã kéo che những nén nhang cháy quằn quại. Sau bức màn đỏ, bóng đen thản nhiên bước ra. Lần này hiện rõ hình hài con người. Tôi không còn sợ hãi mà nghênh mặt ngắm nhìn. Nó mang trong mình dáng hình của một lão già Trung Quốc nào đó đầy quyền uy chập chờn trên cái nền lát gạch tàu. Lão Tàu xa xăm, bí ẩn, vừa đen tối vừa có sức hút lạ kỳ, quyến rũ khác thường, vừa giông giống bố chồng tôi. Tôi chăm chăm theo dõi mà vẫn phân định bên ngoài mây xám đã quệt qua khoảng sân, hắt thứ ánh sáng âm âm xuống lũ cây cối, và chỉ cách vài thước, mặt trời đang hực nắng nhựa đường. Cơn khát gắt gỏng nhức nhối trong cuống họng làm mặt mũi tay chân tôi chìm sâu trong nỗi hoảng loạn của thể xác dù phần trí não vẫn tỉnh táo. Khát mỗi sợi tóc. Khát từng nếp gấp làn da. Khát mỗi đốt xương. Khát từ hàng mày. Khát xuống viền môi. Khát trên đồi cao vươn ưỡn. Khát xuống thảo nguyên dang rộng. Khát như chờ đợi bóng đen nhịch nhịch, đến gần tưới nước. Mồ hôi tướp xót mi mắt. Mồ hôi rịn rạn da thịt đùi non. Nhỏ giọt giọt xuống mặt phản đen bóng. Phản này Thụ nói có từ lâu lắm, dễ đã bảy tám đời ngủ nghê, ăn uống, sinh con đẻ cái và khâm liệm. Tấm phản mang quá khứ của gia đình Thụ, xa xôi, chất chồng. Còn tôi, hiện tại, một đứa con dâu đĩ thoả đang ưỡn ngửa căng rát đón chờ. Bóng đen đã đứng ở khoảng giữa hai chân tôi tách rộng. Từng đường nét trên gương mặt lạnh lùng không hề xa lạ hiện rõ. Sao mà giống Thụ đến thế. Rõ ràng là Thụ. Chân Thụ đã rơi khỏi đùi tôi tự lúc nào giống thả cho tôi tự do đối mặt bóng đè. Anh vẫn nằm nghiêng, quay hai con mắt nửa nhắm nửa mở, như muốn chứng kiến. Lúc đôi tay quờ xuống rà rẫm, tôi biết trước chiếc bóng muốn gì, thứ mà mọi đàn bà trên thế gian khi nằm ngữa đều biết. Tôi dang rộng chân lúc nghe tiếng ho buồng trong dội lại. Tiếng ho càng lớn tôi càng dang rộng chân như muốn thách thức. Chính tôi cũng không hiểu vì sao mình có thể dang chân trong lúc tứ chi bất động, muốn vùng dậy mà không được. Cơ thể tôi không vâng phục trí não nhưng vâng phục thèm khát của cái bàn thờ. Những tiếng ho đứt rời, cằn cộc, tiếp tục cay thét, làm như mẹ chồng tôi muốn biểu lộ ganh ghét với chỗ tôi đang nằm. Hai bàn tay thả xuống mạnh bạo, riết róng, hơi thở dập dồn. Nó luồn sâu bóp từng mạch máu chảy sôi huyết quản con gái đôi mươi. Gương mặt sà sát vùng cổ như muốn hút sức sống tôi căng rứng. Rồi lồng ngực bỏng rát, tôi vỡ vụn. Nó đang banh trái tim tôi ra. Tôi hét, tôi vùng vẫy, tôi van xin, hổn hển, oằn oại rên rỉ. Ông muốn gì ở tôi. Tôi biết phận dâu con, tôi sẽ làm tròn bổn phận. Mỗi năm tôi sẽ làm cơm cúng mười sáu đám giỗ. Tôi sẽ dọn sạch thung lũng mồ mả, sẽ lau bóng nhoáng bàn thờ. Sẽ sinh mười một đứa cháu trai cho ông. Bóng đen tảng lờ. Hai bàn tay bạo lực hung hãn khoét sâu, ngoáy vòng. Tôi điên đảo, đau đớn, nộ cuồng rồi tôi cười gằn thỏa mãn với ý nghĩ mẹ chồng tôi cũng đã nằm trên tấm phản này cũng đã dang chân cho nó ngoáy vòng. Sáng tối lẫn lộn. Tôi nhắm mắt cho trăm đời dòng dõi đế vương quần thảo, cho đến lúc đỉnh đầu nhức buốt, tôi bật nức nở man dại. Tiếng ho buồng trong lúc ấy hộc từng cơn xé phổi. Gần như Thụ bị bắn tung vào góc nhà, tôi có cảm giác thế, đôi mắt anh trừng trừng căm hận. Tiếng càu nhàu của Thụ cắt đứt giấc ngủ tôi mề mệt.

“Em thấy tháng sao không mang băng vệ sinh? Con gái mà đoảng quá. Mau dậy thay áo quần, lau chùi tấm phản đi.”

Vẫn bàn tay mảnh dẻ đập xuống phản giúp tôi dậy. Tôi nhìn Thụ rười rượi uất ức. Anh mở mắt, anh chứng kiến, anh vờ như không có chuyện gì. Anh cũng không còn để ý chu kỳ của vợ. Tôi chỉ vừa sạch vài ngày làm sao thấy tháng? Vả lại thứ máu loang áo Thụ, thứ máu đen đặc mặt phản, thứ máu quện bệt đùi tôi không phải máu đàn bà mỗi tháng. Mà là máu tươi chảy róc từ vết thương rách toác bị đâm sâu hung bạo. Mọi người bảo tôi bị bóng đè, nhưng bóng đè chỉ là giấc mơ khi đang ngủ, còn tôi rã rời, hai đùi nhớp nháp máu trộn nước con gái.

“Em còn ngồi ỳ ra đấy, làm nhanh lên, mẹ dậy bây giờ?”

Thụ chưa hết câu thì cửa buồng kẹt mở. Khuôn mặt mẹ chồng tôi đỏ gắt, tay lóc xóc quạt nan. Dừng cái nhìn nơi mảng áo đỏ con trai, nơi mặt phản ướt đen, bà ngẩng đầu bước thẳng đến bàn thờ kéo roạc tấm màn đỏ sang bên, châm lửa đốt nhang. Trưa chuyển về chiều, không ngọn gió nào chạy loạn. Tôi ngồi chết lặng. Vợ anh bị hiếp nhưng Thụ chỉ sợ mẹ dậy. Thụ tốc áo qua đầu ra giếng dội ào ào như muốn dội chất hờn căm trên mình anh hay muốn rửa ráy những dơ bẩn thay cho vợ. Tắm xong, anh trở thành một người khác.

*

Chúng tôi không đủ sức lực, can đảm mang trên mình bộ mặt bình thản thường nhật cố dối lừa bản thân được nữa. Thụ ít nói hẳn đi, gần như là im lặng. Hiếm hoi mới thấy nụ cười của anh, có chăng là trong một vài lần xã giao bắt buộc. Đôi má anh hóp, ngày một sâu hơn. Tôi thường lén nhìn chồng, nhưng Thụ đã vĩnh viễn không còn sờ nắn bàn tay tôi mà khen ốm mập, ngắn dài. Ngôi nhà của chúng tôi ở thành phố giống một am thờ. Đôi khi tôi hận anh. Vì lấy anh tôi mới về căn nhà xưa cũ đó, mới nằm trên tấm phản ấy, mới ra nỗi đoạ đầy bây giờ. Nhưng Thụ không còn nhìn thẳng mặt tôi. Hình như anh không muốn nhìn bất cứ cái gì, không muốn nghe bất cứ điều gì. Có bận, tôi bắt gặp anh ngồi câm điếc trong buồng tắm cả buổi chiều, ánh mắt vô hồn. Tôi thương chồng và thương chính mình. Thụ đau đớn một tôi đau đớn mười. Tôi là đứa hư hỏng. Tôi biết mình bị hãm hiếp trước bàn thờ tổ tiên nhà chồng, trước mặt chồng, nhưng tôi lại bồn chồn, mong nhớ, thậm chí khát thèm cảm giác ấy. Tôi đạp quẫy, nội chiến, tâm linh héo rũ. Tôi thay rèm cửa màu đỏ, khăn trải giường màu đỏ, bao gối màu đỏ, cố trang trí căn nhà hao hao giống một trang thờ với nhiều tấm màn đỏ. Thụ không phản ứng gì.

Đêm này qua đêm khác, khi tấm rèm cửa trong ngôi nhà thành phố bắt đầu phai màu nhức nhối, tôi và Thụ lại ngược tàu về ngôi nhà mang nhiều oan khuất. Trước hôm đi tôi bị lên một chiếc nhọt ở chỗ thật tai hại. Nó nằm gần cái đàn bà ê ẩm, đỏ tấy. Thụ thấy tôi nhăn nhó tỏ vẻ thông cảm, anh bảo tôi nếu đau quá không về cũng được, anh sẽ thưa lại với mẹ. Nhưng tôi đời nào bằng lòng, đời nào để chiếc phản trống trơn mình Thụ đêm dài. Chỗ của tôi là ở đấy. Không hiểu sao tôi thấy mình khoẻ mạnh, háo hức lạ thường. Tôi ngượng ngùng tự thừa nhận với mình nghiện mười sáu đám giỗ, mười một ngôi mộ, tấm phản đen bóng, cả tiếng ho cục thét buồng trong. Tôi phê cảm giác khát cháy, nhào nhoẽ mồ hôi. Chiếc bóng đen đúa làm tôi mê hoặc, xô đẩy tôi trong gầm thét cuộn trào. Thụ đau đáu trước thái độ phấn khích của tôi, dường như anh biết từ trước tôi sẽ phản ứng ra sao. Nhìn mặt anh lạnh lẽo, tôi hiểu. Cẩn thận, Thụ bắt tôi trần truồng dạng chân, chống tay trong phòng tắm, ghé sát cặp kính cận xem xét. Tôi sướng run lên vì cử chỉ thân mật này của chồng. Từ ngày ở quê lên, chưa khi nào anh ân cần đến thế. Tôi thầm cảm ơn chiếc nhọt, biết đâu nhờ nó, tất cả sẽ thay đổi. Ngón tay anh ve vuốt dịu dàng, người tôi mềm nhũn. Nhưng anh dịu dàng lâu quá, dịu dàng tôi không chịu nổi. Tôi muốn anh bóp nát, bục vỡ, tan oà chiếc nhọt. Một lần chồng vợ đã đời để quên hết. Ngón cái của Thụ cứ chờm hỡm trước cánh cửa dang rộng ẩm sâu. Tự nhiên tôi muốn buông một câu chửi thề, chửi thề một lần trong đời. Cánh cửa tự động cài khoá. Sao Thụ không cứ thế mà làm? Cứ thế cắm phập xuống. Cứ thế khoan sâu. Sao cứ chờm hỡm đấy mà dịu với chả dàng? Tôi bật khóc, nghĩ rằng nỗ lực cứu sông, cứu thuyền thế là hết.

Nhưng khi đêm xuống trên tấm phản, tôi nằm sấp, cánh cửa lại mở tanh bành. Sông ngập nước. Tỳ ép mắt mũi xuống mặt phản, tôi không ngờ bóng đen nhanh đến vậy. Không rà rẫm xoa xuê, không hít hà rờ ngửi. Vừa kịp hiện ra sau tấm màn đỏ đã thẳng thừng cắm trên cắm dưới vào lòng sông. Lần đầu tiên tôi không khát nước. Gẫy gập, cắt khúc tôi trong cơn xoáy liệt. Bốc cao, phịch hạ, chèn lấp, tọng đầy, thả hút mê man. Thân thể tôi ngầy ngậy, nước tràn miệng. Lần đầu tiên tôi hưởng thú đau đớn mà thoả mãn. Tiếng ho ngừng lặng sau cao trào. Thụ ấm ớ giữa cơn mê lãng nhoẹt nào, trừng trừng mở mắt, bọt mép nhoè môi. Lúc cử động được chân tay tôi thấy mình hẫng nhẹ. Có gì khang khác. Sực nhớ tới mụn nhọt tôi đưa tay xuống dưới. Trời ơi. Xẹp nhép. Khô cong. Không còn mủ vàng, không còn đau tấy. Lao mình ra sân, dưới ánh trăng già tôi gào thét điên dại với hai hàm răng nghiến chặt. Trăng lạnh tanh, vàng võ. Tôi quỵ gục hoàn toàn. Tôi thương tôi và tôi ghét tôi. Tôi đã đồng loã, đã kiễng chân lên rên rỉ rồi sau đấy lại nghĩ mình bị hãm hiếp, lại căm oán bóng đen tổ tiên nhà Thụ. Rồi lại mong chờ, lại hứng háo thèm thuồng. Bóng đen ấy hiểu tôi thích gì, nó tràn lấp dục vọng trong tôi và đẩy Thụ xa cách. Hai bàn tay tôi dưới trăng xanh trắng, bấu chặt, xiết nhau. Tôi hiểu những ám dấu của cơ thể, hiểu mười ngón tay kỳ diệu đang mưu tính điều gì.

Bàn tay da mỏng tanh của tôi bắt đầu động đậy. Bàn tay diệu kỳ không trọng lượng và cũng không chấp nhận, không đồng loã, không thoả hiệp mọi chuyện. Nó muốn tôi thoát khỏi mê man. Những ngón dài trắng xanh đầy kiên quyết tỳ ép ngòi bút trên tờ giấy. Nó thúc bách tôi phải ly hôn với Thụ. Bàn tay ký lên trang giấy, nhưng thân thể tôi ù lỳ không nhúc nhích, không muốn cử động mà ngồi yên vít chắc vào mặt phản, nhất quyết không đi đâu. Thân thể tôi đã u mê trong nhang khói bấy lâu, cưỡng lại bàn tay với tất cả sức lực của nhung nhớ những phập mạnh, đâm sâu. Bàn tay mảnh dẻ cầm bút, bất lực với tự do đã nắm được ở đầu ngón tay nhưng bị trọng lượng thân thể buộc trói.

Rồi máu không còn nhỏ xuống chân tôi nữa. Cơ thể thoả mãn trong im lặng. Cái thai trong bụng tôi, không phải của Thụ, không của bất kỳ người đàn ông nào cứ lớn dần. Thụ thay đổi, xoay sang vỗ về, chăm sóc vợ từng ly từng tý. Anh thường xoa xoa bụng vợ, thường xuyên nhìn lên vách như anh muốn báo cáo với những chiếc bóng đang canh chừng cẩn mật, tiến trình tăng trưởng của đứa bé. Con tôi sẽ tiếp nối truyền thống Trung Quốc, sẽ tiếp tục thờ cúng bóng tối, sẽ tiếp tục banh dạng trên phản cho các liệt sĩ thoả mãn. Nếu là bé trai, con trai tôi sẽ bảo vệ cái bàn thờ, nếu là bé gái, con gái tôi sẽ tiếp tục hiến dâng cho những tấm huân chương. Tôi đã khinh ghét cái thai, đã tính đến chuyện giết nó đi nhưng ý nghĩ chỉ thoáng qua nhanh như một cơn gió độc làm nổi gai khắp cùng châu thân. Tôi thương giọt máu của mình.Tôi thương đứa bé vô tội cũng bất lực như tôi đã bất lực, đã khép mình làm bổn phận sinh nở, di truyền một quyền lực. Mỗi ngày tôi ra ngồi trước sân, đưa bàn tay nhẹ hẫng ra trước mắt, ngắm xem làn da mỏng tanh đang óng ánh dưới nắng, rồi lấy bàn tay ấy vuốt ve đứa trẻ đang quẫy nhè nhẹ, thấy yêu thương vô hạn hòn máu tôi đang mang trong mình, yêu thương tràn lấp tâm hồn đến chẳng nói thành lời. Không biết có người mẹ nào yêu thương bào thai của cha chồng cấy vào bụng như tôi? Không biết có người mẹ nào yêu thương di sản của tăm tối như tôi? Thi thoảng tôi cũng nhìn lên vách, đoán tìm những chiếc bóng mà tôi biết đang rình rập sau bức tường, đã lao xuống mình tôi cướp mất phần trinh trắng tuổi thơ một buổi trưa hè nào và sẽ còn lao xuống cướp nốt thai nhi tôi đang mang. Thi thoảng tôi nói với những oan hồn chuyên hành nghề bòng đè, tôi đã sẵn sàng và con tôi cũng sẵn sàng, chúng tôi sẵn sàng như những người nghèo sẵn sàng bán máu. Chúng tôi không biết chọn lựa vì cơ thể chúng tôi đòi hỏi những nhục cảm mà bóng tối ban phát. Chúng tôi bất lực, chỉ còn những ước mơ mà không chiếc bóng nào có thể tước đoạt. Tôi đưa tay mình ra sáng. Nắng lung linh trên năm ngón dài ngắn thanh tao lạ thường. Chiến tranh, giông gió, bão lũ, hán hạn, tôi có thể chết đi rồi mà bàn tay vẫn nguyên vẹn. Tôi đinh ninh điều ấy. Con tôi sẽ có bàn tay của mẹ. Một bàn tay không béo gầy, không trọng lượng, chỉ có làn da mỏng tanh nhưng biết níu giữ tự do cho dù bị thân thể buộc trói. Nắng tắt, mà bàn tay vẫn óng ánh diệu kỳ.

ĐỖ HOÀNG DIỆU (Hà nội, 6/2004)

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

15/03/2014

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 21 Jun 2024

Phần 8

Tìm công danh chốn lao tù

Ngay sau bài hát, Thân Yên nói một vài lời. Ông nói ngắn gọn, nhưng đầy đe dọa và thách thức. Thân Yên nói thẳng ra rằng những người nào bị lựa chọn lên đây tức là cải tạo chưa tốt, nhưng sẽ phải cải tạo tốt dù có phải “giam giữ các anh lâu dài.” Theo ông, khi đã vào trại này thì đến thép cũng phải chảy chứ đừng nói đến con người bằng da bằng thịt. Ngay sau đó, những tù cải tạo đã đến trước chúng tôi được trở về phòng giam, còn chúng tôi phải ngồi lại để phải trải qua món ăn chơi đầu tiên: khám tư trang.
Cuộc khám xét diễn ra hơn hai tiếng đồng hồ. Theo lệnh của trực trại, các anh em tù hình sự cẩn thận nắn từng gấu quần, gấu áo, từng nếp may trên chiếc ba lô đã bạc màu và đã vá chằng đụp như bộ quần áo chúng tôi đang mặc, rồi cuối cùng mọi thứ thực phẩm của những anh em có gia đình thăm nuôi mang lên từ Hàm Tân Z-30C đều bị ném vào mấy chiếc cần xé lớn. Viên cán bộ trực trại ra lệnh cho tù hình sự mang xuống nhà bếp của tù nhân với lệnh: “Ngày mai đem nấu để phát cho trại viên ăn chung.” Và đúng như lời ông ta, nhà bếp của tù nhân phải bóp bụng tuân lệnh nấu một thứ thực phẩm chè không ra chè, cháo cũng chẳng ra cháo. Mỗi người được phát một nửa tô bằng nhựa một loại thực phẩm loãng gồm cơm khô, bột, lẫn vào đó là những cộng mì ăn liền. Thực ra, bình thường người dễ tính nhất cũng khó ăn, nhưng tù cải tạo đã 4 năm, đói khát triền miên chúng tôi cũng vui vẻ “thưởng thức” món ăn mà trong đời chúng tôi chưa bao giờ được thấy này.
Vừa ăn, chúng tôi vừa kháo nhau là múc mãi không thấy hình bóng của những hũ thịt ram mặn, những gói lạp xưởng hay thịt muối kiểu Tầu cũng bị ném vào cần xé. Một vài bạn tôi khôi hài: “Những thứ đó là để dùng cho tiểu táo chứ đâu phải là đại táo như lũ chúng mình.” Tiểu táo (bữa ăn theo nghĩa Hán tự, thường được dùng từ thời Hồng quân Trung Hoa tức quân đội Trung Cộng) chỉ dọn cho một hay hai người ăn (trưởng, phó trại và an ninh), còn trung táo là từ 4 cho đến 10 người (quản giáo), đại táo là ăn tập thể nhiều người (vệ binh súng dài). Những từ ngữ nghe lạ tai này tới nay không còn được sử dụng ở Việt Nam nữa.
Ngày hôm sau, tất cả số tù cải tạo bị “tuyển lựa” từ Z-30C lên được “biên chế” (chúng tôi gọi diễu với nhau động từ này thành “biến chế”) thành 2 đội, mỗi đội dọn sang ở một nhà khác nhau đồng thời mỗi đội cũng tạm cử ra một đội trưởng.
Những anh đội trưởng tạm này chỉ làm một “nhiệm kỳ” ngắn ngủi, vì trong trại cải tạo nhất là ở các trại lao cải, việc cử nhiệm những đội trưởng là một công tác rất quan trọng, thường do cán bộ an ninh trại quyết định. Nghiên cứu một cách nghiêm túc, chúng tôi có thể rút ra một điểm như thế này: do các đội lao cải được gọi là các đội tự quản cho nên cần phải có người làm đội trưởng và đội trưởng trên nguyên tắc là người thay mặt cán bộ quản giáo để điều hành đội lao cải sau giờ lao động. Bù lại, trại dành một số các ưu quyền cho những đội trưởng, chẳng hạn như có thể thăm gặp gia đình 24 tiếng, 48 tiếng hay có khi 72 tiếng, tiêu chuẩn lượng thực cao hơn, có thể 16 kg/tháng, trong khi các đội viên thường nếu không bị ghi “sổ đen” (đì) thì chỉ được hưởng 12 kg/tháng. Ðối với những tù nhân cải tạo bị nhốt trong biệt giam cá nhân hay còn gọi là xà lim (phiên âm từ chữ cell) hay “chuồng cọp” (từ ngữ mà nhà báo Mỹ Don Luce dùng để chỉ những xà lim mà ông nhìn thấy ở nhà tù Côn Sơn, thời Pháp gọi là Côn Ðảo, khẩu phần có thể thay đổi từ 6 kg đến 9 kg thực phẩm/tháng.
Ðây là những xà lim xây từ thời Pháp mà nhà cầm quyền thuộc địa dùng để nhốt cả thành phần người Việt quốc gia, Việt Minh và sau này là thành phần tù binh phiến Cộng dưới chế độ VNCH. Do cách thiết kế với những song sắt giống như những chuồng cọp ở sở thú nên Don Luce gọi những xà lim ở nhà tù Côn Sơn dưới thời VNCH là những chuồng cọp). Tôi sẽ đề cập thêm những chi tiết về chuồng cọp tại những trại lao cải của Cộng Sản ở phần sau và bây giờ tôi xin tiếp tục trình bày về vai trò đội trưởng của các đội lao cải.
Thực ra thì khi đã xây dựng các đội lao cải thành đội tự quản, lẽ ra các đội trưởng phải được chính người trong đội bầu ra, nhưng trại cải tạo nhất là những trại lao cải được lập ra đâu phải là để cho những tù nhân học tập dân chủ. Ai cũng hiểu như vậy cho nên khi những người cai tù tập họp đội để chính thức “bầu” ra những đội trưởng và khi họ hỏi “có ai xung phong không” cũng như “có ai đề cử người nào không” thì thường chỉ nhận được sự im lặng. Chỉ khi nào tù cải tạo bị thúc ép lắm thì mới chịu đề cử. Trong nhiều trường hợp, anh em chúng tôi chỉ đề cử những người mà chúng tôi tin rằng khi “bị” làm đội trưởng sẽ không lập công làm hại anh em. Nhưng phần đông những người bị đề cử làm đội trưởng cũng chỉ ngồi ở vị trí “chức sắc” này một thời gian rất ngắn vì những quản giáo sẽ nhìn ra vấn đề và họ thay ngay bằng những đội trưởng do chính họ chỉ định. Theo cách nhìn riêng của tôi, không phải cán bộ quản giáo đội nào cũng muốn o ép các tù nhân cải tạo vào chân tường khiến cho chúng tôi phải phản ứng lại bằng những hành động chống đối. Phần đông các quản giáo đội đều muốn có biên giới mà cả tù nhân cải tạo lẫn quản giáo đều có thể chấp nhận được để tránh gây ra không khí căng thẳng, bởi trong hàng ngũ công an có trách nhiệm điều hành một trại cải tạo, quyền lợi tốt hơn dành riêng cho quản giáo đã khiến cho chung quanh anh ta có rất nhiều “ứng viên” tay cầm những cái cưa rất bén chỉ chờ cơ hội anh quản giáo đương chức có sơ hở là nhảy lên thay thế ngay. Trong hoàn cảnh ấy, các đội trưởng giữ vai trò quan trọng trong việc thương lượng các chỉ tiêu hay kỷ luật lao động với cán bộ quản giáo, giảm được gánh nặng lao động hoặc kỷ luật lao động trên vai anh em. Tại sao?
Ðội trưởng thật ra cũng chỉ người trong số những anh em chúng tôi, cùng là bạn tù, cùng hoàn cảnh thua trận và bị bắt giữ. Nhưng mỗi người một hoàn cảnh và có những suy nghĩ khác nhau. Có người chỉ muốn cắn răng chịu đựng cho qua truông để khi được thả ra có thể thực hiện kế hoạch của họ hoặc là vượt biển hoặc là làm một điều gì đó cho gia đình họ. Cho nên, những đội trưởng này không muốn trại “ghim” họ vì nhận ra những hành động quá ngả theo anh em khiến có thể bị phiền hà trong khi họ cũng không muốn anh em bạn tù trong đội ghét và cô lập họ. Phải thẳng thắn mà nói rằng, kỹ thuật đu dây giữa quản giáo và anh em trong đội của những đội trưởng này phải nói là rất khéo. Họ biết giữ được sự vừa phải trong việc dùng ưu quyền trại dành cho các đội trưởng, không có những hành động khúm núm trước quản giáo hay bất cứ chuyện gì cũng chỉ một điều quản giáo dặn, hai điều quản giáo ra lệnh. Chẳng hạn như khi một đội trưởng được quyền thăm gặp gia đình 24 tiếng hay 48 tiếng đồng hồ thì anh chỉ gặp một thời gian vừa phải độ 4 hay 5 tiếng rồi vào trại hoặc giữa trưa hè nắng gắt, anh xin phép quản giáo cho anh em nghỉ tránh nắng, rồi sẽ bù lại chỉ tiêu ở nhiều buổi lao động khác thời tiết thuận lợi hơn, hay hơn nữa là xin phép cho anh em nghỉ lao động sớm để có đủ thời gian “rau rác linh tinh” ở quanh bãi lao động. Nhưng cái khó nhất của một đội trưởng muốn đu dây là làm sao thuyết phục các đội viên mà mình điều hành. Phần đông anh em tù cải tạo chúng tôi, do trong quá trình họ gặp phải những đội trưởng tồi chỉ biết sống cho cá nhân mình và sẵn sàng thi hành lệnh của quản giáo và trong rất nhiều trường hợp những người đội trưởng này còn “bảo hoàng hơn vua,” cho nên anh em thường bị đẩy vào cách nhìn khe khắt đối với các đội trưởng khi bị chuyển trại sang một trại lao cải khác. Hơn nữa, đôi khi trong đội lại lọt vào một vài người sẵn sàng hay đã làm ăng ten không phải cho quản giáo mà cho an ninh trại.
Trong nhà tù, chúng tôi không bao giờ sợ những loại ăng ten mà chúng tôi gọi là những “tên giặc cỏ” hay những “cần lá lúa.” Những người nào từng mặc áo lính chắc chắn cũng biết là chiếc máy truyền tin dành cho các trung đội trưởng là loại PRC nhỏ và ăn ten tiếp sóng mảnh và ngắn như lá lúa. Tầm hoạt động của loại máy này rất giới hạn chứ không giống như máy PRC-25 dành cho từ cấp đại đội trưởng trở lên, tầm hoạt động rộng rãi. Những ăng ten “lá lúa” dùng để chỉ những anh cam nhận làm điểm chỉ cò con cho quản giáo hay cho trại bằng cách tố cáo anh em đồng tù với mình vi phạm kỷ luật trại như nấu nướng trong phòng giam, tụ tập “trà lá” để nói xấu chế độ, học hay dạy ngoại ngữ cho nhau, bàn kế hoạch chống lại chỉ tiêu lao động, bí mật nhận những “hot news” từ người trong gia đình thăm nuôi, kể chuyện kiếm hiệp phản động của Kim Dung, vân vân và vân vân. Tôi nhớ rằng khoảng độ cuối năm 1978, nghĩa là vài tháng trước khi chúng tôi bị chuyển trại, tại Hàm Tân Z-30C, Ngọc “đen” đã kêu một “cần lá lúa” ra sau nhà và nói thẳng: “Chúng tao biết mày là cần ăng ten từ lâu rồi, nhưng tao hiểu những báo cáo của mày về chuyện linh tinh của anh em trong buồng giam để lấy điểm kiếm ăn, tao không chú ý tới. Nhưng lần này mày báo cáo anh em giấu lưỡi câu trong ba lô làm chúng tao bị an ninh khám tịch thu tất cả mọi thứ mà không tìm ra cái lưỡi câu nào. Ðúng là mày làm hại anh em. Mày sống với cán bộ bao nhiều giờ trong ngày và sống với anh em bao nhiêu giờ? Bỏ trò láo lếu ấy đi, lần sau còn kiểu đó, chúng tao bắt quì xuống và đánh cho mày một trận cảnh cáo. Cho mày đi báo cáo là tao đe dọa trừng phạt mày hôm nay, nghe chưa.” Cái “lá lúa” này bị chúng tôi cắt đi rồi, nhưng trực trại Tống Ðăng Cứ vẫn tin dùng và cho anh ta theo anh em chúng tôi tới A-20 Xuân Phước rồi về Xuân Lộc Z-30A. Ðến Xuân Lộc được một thời gian, anh ta trốn trại bị bắt lại và bị đưa về một trại giam hình sự tỉnh Long Khánh và tại đây anh ta bị căng nọc, bị đánh cho tới chết. (Tôi xin miễn được nêu tên người tù này vì chuyện này qua đi từ gần 3 thập niên và vì không muốn làm thương tổn đến những người còn lại trong gia đình anh).
Nói như trên có nghĩa là, trong những trại tù cải tạo, không thiếu những người cùng là bạn đồng tù nhưng sẵn sàng phản bội anh em. Những kẻ phản bội mà chúng tôi cho rằng nguy hiểm nhất chính là những người được mô tả là những “cần ăng ten” của máy PRC-25. Những báo cáo của họ thường thâm độc hơn và mục tiêu của những cây cần này nhắm vào những thành phần những tù cải tạo có uy tín trong trại, những người mà lời nói của họ được phần đông những anh em tù nhân cải tạo khác nghe theo. Những cần ăng ten này thường rơi vào trường hợp những sĩ quan trung cấp đến cao cấp hay những thành phần được coi là trí thức. Họ báo cáo qua những “hộp thư chết” với cán bộ an ninh trại, phó và trưởng trại giam các vấn đề “lớn” của trại giam chẳng hạn như âm mưu trốn trại (kế hoạch và sự chuẩn bị của những tù cải tạo trốn trại, thí dụ như giấu lưỡi câu, tích trữ thực phẩm khô, chuẩn bị các phương tiện đi rừng hoặc âm mưu phá trại giam, bắt cai tù làm con tin, bí mật liên lạc với các tổ chức phản động đánh vào trại giam, âm mưu kích động nổi loạn hay âm mưu nổi dậy trong trại giam trong đánh ra ngoài đánh vào. Toàn là những chuyện trên trời dưới nước cả, nhưng người ngoài nghe thì ghê gớm lắm. Kỹ thuật báo cáo của họ là dùng những sự kiện có thật (trong thời gian chiến tranh như một vài đồn địa phương quân và nghĩa quân VNCH bị nội ứng để bên ngoài du kích mở cuộc tấn công) lồng vào những điều tưởng tượng của các cần ăng ten PRC-25 này. Những điều có thật dù là cái thật ấy chỉ là quá khứ xa xưa trộn lẫn với phần tin giả sẽ có tác dụng kích thích mối hoài nghi của cán bộ an ninh trại giam khiến cho chúng nhìn đâu cũng thấy kẻ thù và từ đó dồn chúng tôi vào chân tường. Tôi đã từng là một trong những mục tiêu của những cần ăng ten PRC-25 này và hậu quả là đã bị cùm trong chuồng cọp suốt 5 năm liên tiếp. Và tôi cũng sẽ tường thuật tỉ mỉ giai đoạn mà sinh mạng tôi như chỉ mành treo chuông vào những phần sau.
Sở dĩ tôi phải phân tích rõ vai trò của đội trưởng đội lao cải để chúng ta có một cái nhìn bao dung và công bằng hơn là kiểu dư luận cứ ai làm đội trưởng là tay sai cho cán bộ trại giam, dù rằng trên thực tế đội trưởng tốt biết dung hòa giới hạn giữa quản giáo và tù cải tạo để tránh sự căng thẳng vốn đã có của đời tù khổ sai được tăng lên mức độ phải nổi loạn trong tù, chỉ là thiểu số, còn đa số các đội trưởng lao cải đều là những “ông trời con” đi tìm công danh trong chốn lao tù.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 21 Jun 2024

Phần 7

Có phải nhạc cách mạng thật không đấy..?

Sau một lần điểm số nữa, chúng tôi lần lượt mang túi tư trang bước qua cổng một nhà tù chỉ vẻn vẹn có 3 dãy nhà: một ở ngoài cùng vẫn là dãy nhà lợp lá, nhưng tường được dựng lên bằng đất sét và rơm, ngoài tráng xi măng và quét vôi, còn hai dãy nhà kia xây bằng gạch, mái lợp ngói đỏ au, đường đi có những hàng dừa thẳng tắp. Chúng tôi bị dẫn đi dọc theo những vườn rau cải xanh um thường do phân Bắc tức phân người mang lại để đến một hội trường được xây dựng trên một nền đất nện, cột gỗ, mái lợp lá gồi. Nếu nhìn mặt ngoài thì không người nào nghĩ rằng đây là một trại cải tạo thuộc loại trại trừng giới kiểu Lý Bá Sơ hay Ðầm Ðùn. Anh Huỳnh Cự đi sát tôi ở phía trước nói nhỏ: “Chúng ta sẽ có thể chết vì cái vẻ khang trang của trại này, chỉ những ai sống lâu dưới chế độ này mới nhìn ra được mà thôi.” Khí bước vào hội trường, chúng tôi đã thấy những người bạn tù khác đến trước chúng tôi xếp thành hàng mười ngồi dưới sàn đất nện, trước họ là một dãy bàn dài trên có trưng một vài bình hoa. Ngồi sau bàn là những cán bộ công an trại giam mặc sắc phục làm việc, nhưng trên vai người nào cũng mang cấp hiệu dành cho bộ lễ phục. Ở giữa dãy bàn là hai ghế trống mà tôi đoán là để cho trưởng trại và người phó của ông ta kiêm chính ủy. Trật tự viên Quý “đen” chỉ chỗ để chúng tôi bỏ hết tư trang ở phía dưới và lên ngồi cũng xếp thành hàng mười ngang với các bạn tù đã đến trước. Ngồi yên chỗ và vừa bắt đầu “liên hệ linh tinh” với những bạn tù đến trước, thì một cán bộ công an đứng ra loan báo trưởng trại giam A-20 Xuân Phước đến để nói chuyện về tình hình đất nước với các “trại viên.”
Sau này chúng tôi mới khám phá ra rằng nội qui của trại này là các tù cải tạo phải dùng từ ngữ “trại viên” chứ không được dùng chữ “tù cải tạo” và phải gọi các giám thị (cai tù) là “cán bộ” và xưng “tôi” chứ không được dùng những từ như ông, anh hay gọi họ cấp bậc. Nhưng có thể gọi cán bộ là “ban,” chẳng hạn như “ban cho phép tôi đi tiểu.” Tôi không hiểu “ban” ở đây có nghĩa gì nhưng tôi đoán chữ “ban” là đến từ nhóm từ ban quản trị hoặc ban quản lý trại.
Từ ngày bị giải giao qua nhiều trại giam và nhiều lần bị “ngồi đồng” trong những vụ “lên lớp” (từ ngữ để chỉ hành động lên hội trường ngồi nghe cán bộ trại giam giải thích điều này điều nọ) hoặc để nghe trưởng trại hay chính ủy của trại nói chuyện, không bao giờ thấy cán bộ trại giam buộc tù cải tạo phải đứng chào lá cờ đỏ sao vàng. Hồi ở trại Hàm Tân, có lần tôi tò mò thắc mắc với cán bộ Lâm quản giáo đội lao cải nơi tôi phải lao động trước khi chuyển trại, anh ta trả lời: “Họ đâu có dại, vì sợ nếu bên trên cử bài Tiến Quân Ca thì bên dưới các anh lại hát tướng lên bài Tiếng Gọi Thanh Niên thì cũng phiền (quốc ca VNCH được sửa lại lời một chút từ bài Tiếng Gọi Thanh Niên của Lưu Hữu Phước, một đảng viên cộng sản giữ vai trò là bộ trưởng văn hóa trong chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam). Vả lại họ cho rằng các anh chưa có quyền công dân nên không thể thực hiện nghi thức chào cờ được.” Nghe Lâm giải thích, tôi nghĩ thầm trong bụng: “Mẹ kiếp, nếu bọn mày bắt buộc các tù cải tạo phải đứng nghiêm hát bài Tiến Quân Ca dưới lá cờ đỏ sao vàng thì trại phải xây thêm hàng trăm căn chuồng cọp nữa để nhốt những tù nhân chống đối việc này.”
Những kỷ niệm cũ vừa mới quay trở về thì Thân Yên (trại trưởng), Lê Ðồng Vũ (trại phó) bước vào hội trường. Vào thời điểm ấy, Thân Yên mang cấp bậc trung tá công an và Lê Ðồng Vũ thiếu tá. Thân Yên dáng nhỏ thó, thấp bé, nước da đen sạm vẫn chưa xóa hết dấu vết của sốt rét rừng. Tuy nhiên, ông nói năng vừa phải vơi giọng Tuy Hòa đặc sệt. Vừa để chiếc mũ lưỡi trai xuống bàn, Thân Yên đã hỏi:
– Anh nào làm quản ca ở đây?
Mọi người ngớ ra thì viên trung tá công an này cười và nói:
– Như thế là chưa cải tạo tốt, phải có quản ca các anh ạ. Tôi còn tính tổ chức một ban văn nghệ nữa. Nào, nếu chưa có quản ca thì anh nào xung phong làm quản ca nào. Cải tạo bao nhiêu lâu nay không lẽ các anh không thuộc một bài ca cách mạng nào sao? (nhạc cách mạng tức là nhạc đỏ)
Gần 800 tù cải tạo trong hội trường im phăng phắc. Họ ngồi bất động trong không khí căng thẳng. Chưa có một vụ chuyển trại nào trong đời tù của chúng tôi lại căng thẳng như vụ chuyển đến A-20 chỉ vì không ai trong chúng tôi muốn đứng ra làm quản ca hát nhạc đỏ cả vì người nào đó muốn đứng ra hy sinh để giải quyết bế tắc cũng không dám làm vì sẽ lãnh búa rìu dư luận của một số anh em thiếu thông cảm. Họ thuộc lớp người không biết sức chịu đựng trong chuồng cọp được bao nhiêu, nhưng lúc nào cũng sẵn sàng chỉ trích hay thúc bách những anh em khác phải hành động, nhưng hành động gì, hành động như thế nào thì họ không biết và không bao giờ dám nói rõ. Trong khi ấy đám cán bộ quản giáo ngồi bên cạnh Thân Yên luôn luôn buông ra lời đe dọa nếu không hát một bài cho “khí thế” thì thái độ này đã vị phạm nội qui trại.
Dường như ý thức được sự bế tắc nếu không hướng dẫn anh em hát một bài nên Phạm Ðức Nhì, một cựu thiếu ủy Nhảy Dù phục vụ trong ngành Chính Huấn bị chuyển từ Z-30D đã giơ tay:
– Tôi tình nguyện làm quản ca, cán bộ!
Phía bên dưới có tiếng xì xào. Mặc kệ, Nhì nói rất rõ:
– Tôi sẽ hướng dẫn các bạn hát bài “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” nhé, các bạn nghe rõ không, hát thật lớn và vỗ tay.
Thân Yên có vẻ hơi nghi ngờ. Ông vội hỏi:
– Thế anh quản ca có biết bản nhạc cách mạng này ở đâu mà ra, mà có phải là nhạc cách mạng thật không đấy?
– Chắc chắn cán bộ. Các cán bộ cứ nghe đi, không phải là nhạc cách mạng các cán bộ cứ đem đầu tôi đi mà chặt.
Phạm Ðức Nhì hâm nóng lại lời nhạc của ca khúc “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của du ca Nguyễn Ðức Quang và dặn dò:
– Các bạn nào thuộc bài thì vừa hát vừa vỗ tay cầm nhịp, bạn nào không thuộc lời thì cứ vỗ tay cho thật to. Hát thật to nghe các anh. Nào tiếng hát bừng sáng nào, một, hai, ba…
Thế là không ai bảo ai, chúng tôi hát lớn hòa cùng tiếng vỗ tay. Không khi hội trường đang căng thẳng, đang bế tắc thì như có một luồng gió mới thổi vào. Chúng tôi hát và vỗ tay bằng tất cả tấm lòng, giống như biết bao nhiều lần chúng tôi tập hợp hát tù ca và sau đó sẵn sàng đi cùm ở những trại trước. Và khi sang lời 2, chúng tôi như muốn điên lên và lao tới những cái bàn trước mặt:

“Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi
Ôm vết thương rỉ máu, ta cười dưới ánh mặt trời
Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống trỗi dậy hùng cường đi lên!”

(Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ – Nguyễn Ðức Quang)

Có lẽ đến lúc xuôi tay, không bao giờ tôi có thể quên được cái giây phút khi chúng tôi bắt sang lời 2 của ca khúc “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.” Có nhiều người không thuộc lời, nhưng tôi nghe trong âm thanh của tiếng vỗ tay cầm nhịp có những tiếng hét và chung quanh những ánh mắt sáng lên như sao băng từ những khuôn mặt hốc hác vì thiếu ăn và phải làm việc khổ sai. Có lẽ Phạm Ðức Nhì cũng nhìn thấy sự kích động khi lên tới cùng cực có thể xảy ra chuyện không hay cho anh em tù cải tạo, nên anh kết thúc ca khúc ở lời 2 mà không quay lại phiên khúc hoặc có thể là Nhì đã nhìn thấy ngoài hội trường đám công an súng dài kéo vào ngày càng nhiều vì những âm thanh vang dội của lời ca. Trên dãy bàn dài trước mặt chúng tôi, ngay cả Thân Yên cũng vỗ tay nhịp theo. Thói quen hễ cứ nghe thấy những chữ như Việt Nam, Quê Hương hay Ngạo Nghễ trong lời ca lọt vào tai thì vội vã cho đó là nhạc cách mạng rồi (nhạc đỏ) được thể hiện rất rõ trong nét mặt của Thân Yên. Ngược lại, Lê Ðồng Vũ, Lý “lé” an ninh trại và một số cán bộ quản giáo đội thì có vẻ hơi nghi ngờ, có thể là chưa bao giờ họ thấy một đám tù cải tạo lại hát nhạc “cách mạng” một cách nồng nhiệt như thế.

Bố Già

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Ngọc Thứ Lang

Post by Sơn râu 21 Jun 2024

Google photos

Chương 14 Năm 12 tuổi, Ông Trùm trông đã người lớn bộn. Người dong dỏng, nước da ngăm đen. Corleone vốn là tên làng, một làng quê nghèo đảo Sicily coi na ná một làng châu Phi. Tên cha mẹ đặt là Vito Andolini nhưng vì có chuyện phải bỏ quê hương, thay tên đổi họ sang Mỹ làm ăn nên giữ lại tên làng cho khỏi mất gốc. Cả đời Vito Corleone rất hiếm chuyện tình cảm như vậy. 
Thời buổi đó, vào khoảng sắp bước qua thế kỷ 20, dân Sicily quả có hai chính phủ: nhà nước La Mã ở xa nên yếu xèo, trên đảo mấy ông Mafia mạnh hơn nhiều. Ông bố củaVito có việc tranh chấp với một dân làng. Hắn mang ra nhờ mấy ông Mafia phân xử. Bị xử ép, bố Vito đâu có chịu và sau một chầu gây gổ, lỡ tay đập chết gã đại diện Mafia địa phương. 
Cỡ tuần lễ sau thì ổng đền mạng, người nát ra vì đạn lupara [thứ súng thô sơ bắn phát một, đạn ghém thông thường là chì; kiểu shotgun có thể làm lấy được]. Một tháng sau ngày đưa đám ma bố thì đến lượt Vito bị “hỏi thăm sức khoẻ”. Nó sắp lớn đến nơi, không lo triệt trước đi thì chắc chắn có hậu hoạ. Mấy năm nữa thế nào nó chẳng kiếm cách trả thù cha? May cho Vito là nó được họ hàng bà con che chở rồi kiếm cách gởi tuốt sang Mỹ lánh nạn. 
Sang đất Mỹ, Vito nương náu trong gia đình Abbandando và để đổi lấy cơm ăn nhà ở, thằng bé 12 tuổi phải làm công việc nhà trong cái quán chạp phô đại lộ số 9, khu chợ Địa Ngục cũ. 
Năm 18 tuổi Vito lấy vợ, một cô bé cùng gốc Sicily vừa sang đến đất Mỹ mới 16 tuổi đầu nhưng đã có tài quán xuyến, tề gia nội trợ rất khá. Hai vợ chồng son đi ở phòng mướn ở xóm lao động đại lộ số 10, xế đường số 15 cho gần chỗ làm. Hai năm sau, đứa con trai đầu lòng là thằng Santino ra đời. 
Hồi đó trong xóm có một đàn anh tên Fanucci. Gã to con, trông rõ ra dân chơi người Ý, quanh năm bận đồ lớn thứ mắc tiền màu nhạt, nón phải là nón nỉ màu mỡ gà. Thấy mặt Fanucci là bà con ngán hết: nghe nói gã có chân trong Bàn Tay Đen, thối thân của Mafia, một tổ chức chuyên doạ nạt những dân có máu mặt để bắt địa. Tuy nhiên vì dân xóm toàn gốc Ý và coi bộ hung dữ không vừa nên Fanucci chỉ bắt nạt được mấy ông già bà cả không có con lớn trong nhà. Mấy chủ tiệm thỉnh thoảng cũng phải chi cho gã chút đỉnh để khỏi có chuyện lộn xộn. Mối làm ăn chính của Fanucci là những dân chơi có thành tích, mấy ổ bao đề và sòng bạc nhỏ chứa bài lấy xâu. Lâu lâu gã cũng tới bắt địa còm quán chạp phô Abbandando làm thằng Genco sùng lắm, mấy lần nằng nặc đòi để nó giải quyết nhưng đều bị cha mẹ cấm triệt để. Những chuyện đó Vito Corleone biết hết nhưng lờ đi, kể như chuyện thiên hạ, dây dưa tới làm chi? 
Có lần Vito tình cờ chứng kiến một vụ để thẹo mà Fanucci là nạn nhân. Có 3 thằng mới lớn lập mưu cho gã vào bẫy, lấy dao rạch một đường “quai nón” từ tai bên này sang tai bên kia. Dĩ nhiên mũi dao vô không sâu lắm, chết sao được… nhưng đau gần chết và máu tuôn có vòi. Vito thấy Fanucci ôm mặt máu chạy về và nó quên sao được cảnh đàn anh lấy cái nón nỉ mỡ gà vừa chạy vừa bưng cằm, làm như gã phải hứng thật đàng hoàng cho máu khỏi tuôn xuống ướt bộ đồ lớn hay văng ra đầy đường vậy. 
Tưởng đâu vụ để thẹo sẽ làm gã mất mặt, nào ngờ cuộc đời Fanucci lại lên mới lạ! Số là 3 thằng kia là thứ trai mới lớn, ức gã bóc lột quá đáng nên nổi máu anh hùng, cảnh cáo dữ dằn vậy cho gã sợ chứ chúng đâu đã dám giết người? Fanucci mới là thằng dám. Vì mấy tuần sau chính thằng nhóc cầm dao rạch cổ gã bị bắn chết làm gia đình hai thằng kia hoảng hồn, mau mau chạy tới năn nỉ gã bỏ qua và họ bằng lòng chung một số tiền bồi thường miễn Fanucci hứa không trả thù nữa. Sau vụ này Fanucci có quyền bắt địa nặng hơn và sòng bạc nào trong xóm cũng phải cho gã ăn chia răng rắc! Những vụ này Vito Corleone cũng biết cả nhưng… vẫn là chuyện thiên hạ. 
Hồi Đệ Nhất thế chiến, kẹt đường tiếp tế nên dầu ô-liu bỗng khan hiếm, quán chạp phô Abbandando phải nhờ cậy Fanucci mới có dầu ăn bán chợ đen. Còn cả Salami, dăm-bông, phó mát chính cống Ý nữa. Nghiễm nhiên gã trở thành có phần hùn trong tiệm và kéo ngay một thằng cháu vô làm, cho Vito Corleone nếm mùi thất nghiệp. Một thằng cần cù, kiêu hãnh, nhẫn nhục như Vito cũng bị đá đít! 
Năm đó vợ Vito lại vừa sanh thêm thằng con thứ hai, thằn Frederico thành thử nhà 4 miệng ăn, không có việc làm thì đói đến nơi. Dù Genco là bạn thân nhất, Vito cũng phải lên tiếng chửi: “ông già mày đối với tao tệ quá”. Genco thẹn đỏ mặt nhưng long trọng hứa với bạn là đừng lo đói, thế nào nó cũng có cách xoay của ông già một mớ thực phẩm mang tới cho. Vậy mà Vito khẳng khái từ chối, chê bẩn. Con mà ăn cắp của cha mẹ đâu được? 
Nhưng đối với đàn anh Fanucci thì Vito hầm lắm: mọi sự đều do thằng này mà ra. Vậy thì tạm thời nán giận đã, rồi mày biết tao. Vito xoay sở mãi mới được vô làm phu hoả xa. Chỉ được ít tháng lại chết đói dở: hết chiến tranh, công việc ít mà người thất nghiệp đông, có tháng nào làm được quá vài ba ngày? Mấy thằng cai người Mỹ, người Ái-Nhĩ-Lan có coi dân phu ra gì? Mở miệng nói là chửi lên đầu nhưng Vito cố làm mặt lạnh, làm như không biết tiếng Anh dù nói đơ đớ và hiểu chẳng sót một tiếng. 
Một buổi tối đang ngồi ăn cơm trong nhà Vito nghe có tiếng gõ cửa cấp bách. Có ai gọi ở cửa sổ phía trong, ở chỗ trông ra dẫy nhà sau cách nhau có một khoảng trống thông hơi. Kéo tấm màn qua một bên, nó ngẩn người khi thấy thằng cha hàng xóm Peter Clemenza đang vươn người khỏi cửa sổ, chìa ra một gói dài dài bọc vải trắng. Giọng nó hối hả, hấp tấp: 
– Ê, nhà quê! Cầm dùm ta cái này chút… chừng tao hỏi hãy đưa trả. Lẹ lên mày? 
Vito nhanh nhẩu đưa tay ra đỡ. Mặt thằng Clemenza lúc bấy giờ bấn quá, sợ sệt quá nên Vito chạnh lòng, không nỡ từ chối. Nhưng lúc mang xuống bếp mở ra coi mới rụng rời: 5 khẩu súng mới toanh, còn dầu mỡ đàng hoàng. Vito bèn dấu tuốt vô kẹt tủ trong phòng ngủ. Sau này mới biết tối hôm đó nhà Clemenza bị cớm bao vây, lúc chúng gọi cửa ầm ầm vô xét nhà mới gõ cửa sổ nhờ thằng cha nhà quê hàng xóm giữ dùm “gói đồ”. 
Dĩ nhiên Vito ngậm miệng mà con vợ cũng chẳng dám hó hé sợ lộ ra là chồng có chầu ở tù lây. Hai bữa sau mới thấy mặt Clemenza. Nó vừa được cớm thả ra. Nó thản nhiên hỏi: “Gói đồ của tao mày còn giữ dùm đàng hoàng không?” Vito gật đầu. Tính nó ít nói, lạnh lùng vậy đó. Clemenza được nó mời lên nhà chơi, lôi ra nguyên vẹn bọc đồ và uống ly rượu chát. Nó thong thả làm từng ngụm một, thản nhiên ngó Vito hỏi: “Mày có mở ra coi không?” Vito điềm nhiên lắc đầu: “Tôi chẳng để ý chuyện người.” 
Hai đứa ngồi uống với nhau tối hôm đó, hạp chuyện quá. Một thằng phục phịch ngó đã tức cười mà kể chuyện có duyên. Một thằng lầm lì ít nói nhưng nghe bao nhiêu cũng được. Vậy là chuyện dứt không ra! Mấy hôm sau Clemenza nói nếu chị thích một cái thảm trải nhà thì anh ấy đi theo tôi về lấy. Nó đưa Vito vô một căn nhà hách quá, có cột đá bực cửa đàng hoàng. Lấy chìa khoá mở cửa ra bên trong nhà trang hoàng còn hách hơn. Mỗi thằng một đầu cuốn cái thảm lên. Chao ôi, cái thảm len đỏ quý quá, không ngờ anh bạn mới tốt bụng như vậy! Mỗi đứa một đầu khiêng ra cửa còn nặng… 
Lúc ra về thì chuông reo. Clemenza đang lom khom khiêng một đầu bèn liệng ngay xuống, chạy ra cửa sổ ngó và… rút súng nhét trong bụng ra. Bấy giờ Vito mới chưng hửng là đang khiêng cái thảm của người khác, nghĩa là vô nhà người ta ăn trộm đồ. Chuông cửa lại reo lên, nó chạy ra đứng sát bên Clemenza. Ngó ra thì thấy một bố cớm mặc sắc phục đàng hoàng. Hai thằng cứ đứng yên nhìn ra. Vị cảnh sát nhận chuông thêm một phát nữa rồi mới nhún vai, lắc đầu trước khi tà tà bước mấy bực thang đi xuống. Clemenza khoái chí: “Nào, bây giờ tụi mình về”. Thế là mỗi đứa lại xách một đầu, bình tĩnh đi ra theo. Vị cớm vừa khuất dạng ở góc đường là hai thằng hì hục đẩy cánh cửa nặng tổ mẹ, tà tà khiêng tấm thảm về nhà Vito. Cỡ nửa giờ sau thì tấm thảm đã được cắt xén lại cho vừa khít khao với căn phòng khách nhỏ xíu. Trải luôn cả phòng ngủ cũng còn đủ. Vụ cắt xén này anh bạn Clemenza nghề quá: nó móc túi lấy ra lỉnh kỉnh đủ thứ dao kéo… đồ nào việc đó! (Cả đời Clemenza chỉ thích mặc quần áo rộng thùng thình, sờ chỗ nào cũng thấy túi để đủ chỗ chứa đồ nghề!) 
Thời gian qua… gia đình Corleone càng ngày càng đói. Tấm thảm quý vẫn nằm đó nhưng cắt ra ăn đâu được? Công việc không có để mà làm nữa. Để vợ con khỏi chết đói, Vito thỉnh thoảng đã phải ngửa tay nhận mấy gói đồ ăn của thằng Genco kia mà? 
Một hôm, Clemenza đưa lại giới thiệu bạn Tessio, người cùng xứ sở, cùng xóm chớ phải đâu xa? Hai đứa cùng nói quý mến nết Vito lắm, chịu tư cách của nó lắm và còn thông cảm rằng cả nhà Vito đói đến nơi. Họ đề nghị Vito nhập băng “làm ăn” chung với nhau cho vui! Công việc cũng nhẹ nhàng, chẳng có gì khó khăn vì mối làm ăn xưa nay mà? Có cái xưởng may đồ phụ nữ thật lớn ở đường số 31. Những xe vận tải tới đó “ăn hàng”, toàn là đồ tơ lụa len dạ phụ nữ mắc tiền không! Băng Clemenza, Tessio chuyên đưa súng vào họng tài xế, đuổi tụi nó xuống để “lái dùm” nguyên xe tới một địa điểm nào đó để từ từ “xuống hàng”. Thông thường là một nhà kho bồ bịch. 
Công việc giản dị có thế vì mấy thằng tài xế chết nhát vừa thấy họng súng đã run như cầy sấy, khỏi đuổi cũng nhảy ra lẹ lẹ. Bây giờ có Vito lãnh chân lái xe thì đẹp quá, khỏi phải mất công đi kiếm mà có khi kiếm không ra. Năm 1919 đã có mấy đứa có bằng lái xe vận tải, mà Vito từng cầm tay bánh chiếc xe giao hàng cho nhà Abbandando mà? 
Theo tụi nó nói thì có hàng là có mối bao gần hết. Còn ít hàng lẻ thì tiêu thụ lấy, đi bán dạo, đi hết nhà này sang nhà khác ở những khu có nhiều người xứ sở mình. Đại lộ Arthur vùng Bronx, đường Mulberry hay xóm Chelsea ở Brooklyn… chẳng hạn. Chẳng bao giờ ế cả, mấy bà mấy cô nhà nghèo lấy tiền đâu ra may những món sang trọng này ở ngoài tiệm? 
Ngẫm nghĩ một lát Vito đành nhận lời. Vợ đói con đói mình thất nghiệp… chỉ cần lái một cuốc xe kiếm ra một lúc những một ngàn đô-la, phần riêng của nó? Tuy bó buộc phải vô băng, Vito cũng nhận ra bọn Clemenza, Tessio làm ăn cái lối này coi bộ sinh tử quá, kế hoạch tổ chức vớ vẩn và lối tiêu thụ hàng hoá thì điên khùng! Nghĩa là làm ẩu, làm đại… nhưng cả hai xem ra cùng đàng hoàng. Thằng Clemenza mập mạp có thể tin được còn Tessio người nhỏ thó thì khôn ngoan phải biết! 
Vụ ăn hàng xuôi rót. Lạ quá, Vito chẳng thấy sợ sệt gì khi hai thằng bạn dí súng đuổi tài xế xuống để chính nó lên thay tay. Không ngờ Tessio, Clemenza tỉnh táo đến thế. Không vội vàng nóng nảy mà còn cà rỡn thằng lái xe là nếu biết điều, ngoan ngoãn sẽ gởi biếu con vợ nó vài món đồ mặc chơi! Sau cú làm ăn này, phần Vito đáng lẽ 1 ngàn chỉ còn có 7 trăm. Đi bán dạo từng nhà coi bộ kỳ cục quá, thà bán rẻ nhưng bán phứt một lần cho xong. Năm 1919 thì 700 đô cũng làm một sản nghiệp. 
Sáng hôm sau Vito đụng đầu đàn anh Fanucci. Vẫn bộ đồ vía, vẫn nón nỉ mỡ gà! Cái thẹo “quai nón” không thèm dấu còn cố tình chìa ra cho thiên hạ thấy cả một đường bán nguyệt trắng hếu dễ sợ. Cặp lông mày chổi xể, mặt mũi thô bỉ nó cười trông vừa bẩn vừa giễu. 
Giọng nó đặc sệt dân Sicily: 
– À, chú mày. Bà con nói chú mày vừa phất lớn, cả hai thằng nhóc kia nữa! Chú mày chơi vậy mà coi được? Đất này là đất của tao, tụi bay không cho tao liếm láp chút nào? Phải chi chác đi chớ? 
Làm gì nó không biết ý định chấm mút của đàn anh! Tính Vito ít nói nên đợi đàn anh cho biết cụ thể hơn. Fanucci cười nhe bộ răng vàng, chìa luôn cái thẹo thòng lọng quanh cổ và lam như nực nội lắm, nó lấy khăn tay lau mặt, mở banh nút áo vét cho thấy khẩu súng nhét cạp quần rồi mới gật gù cho biết: 
– Mấy thằng nhãi hồi này lộng quá. Riêng chú mày muốn biết điều thì nạp 500 đô đi… tao hứa bỏ qua. 
Vito vẫn mỉm cười. Nụ cười ngây thơ, chân chất làm đàn anh Fanucci ơn ớn lạnh. Đàn anh bèn nạt thêm: 
– Bằng không thì chú mày sẽ bị cớm vồ tức thời, mình tù tội vợ con chết đói hết! Thôi, cứ kể như mày vớ ít hơn đi. Lần đầu đưa tao 3 trăm đủ rồi, những ba trăm là ba trăm, khỏi lộn xộn đấy! 
Lúc bấy giờ Vito Corleone mới ra tiếng. Điềm đạm, lễ độ đúng mức, thưa gởi đàng hoàng với bậc trên trước… chớ đâu dám cáu giận vô phép? 
– Sự thật tiền là tiền chung của cả 3 đứa. Để tôi nói lại với hai thằng kia. 

Google photos

– Ừ nhỉ, còn hai thằng kia! Chú mày cứ nói thẳng với tụi nó rằng tao muốn vậy đó… Thằng Clemenza biết điều lắm. Chỗ quen biết cả, chắc chắn nó sẽ hiểu ngay. Chú mày theo Clemenza làm ăn được đấy. 
Vito làm bộ lúng túng: 
– Cái nghề này tôi mới vô… chưa biết gì hết. Nếu có sơ sót ông là bề trên, ông chỉ bảo cho. 
– Tốt lắm, chú mày nghĩ vậy là phải. Chớ bọn nhãi bây giờ không biết trên trước gì hết! Lần sau có gì hay hay nhớ đến ta nghe? Làm gì tao chẳng giúp được một tay? 
Đàn anh Fanucci coi bộ chịu lắm, nắm tay chú em Vito thật thân thiết. Sau này Vito mới biết sở dĩ hôm ấy nó chịu nhẫn nhục nổi, không phát khùng lên khi đàn anh tính lột một phần số tiền mà nó phải liều mang sinh mạng và tự do ra đổi là vì nó nhớ đến cái chết thê thảm của ông bố ở quê nhà ngày nào. Nóng giận không đi đến đâu hết, chỉ mau chết! Đâu phải nó ngán đàn anh Fanucci? Trong thâm tâm nó còn muốn cười vào mặt cái thằng già ngu muội. Một thằng ngon như Clemenza đời nào chịu nạp cho nó một xu? Bộ nó tưởng dễ ăn? Có một tấm thảm bữa đó mà nó còn rút súng ra sẵn sàng nổ thằng cớm mà! Còn thằng Tessio nữa: nhỏ người song là týp rắn độc chớ đồ bỏ? 
Ngay tối hôm đó gặp nhau đằng nhà Clemenza, dân-mới-vô-nghề Vito Corleone được thêm một bài học “nghề nghiệp.” Thằng Clemenza chửi thề um lên. Tessio cằn nhằn quá xá nhưng ngay sau đó hai thằng đã bàn nhau mỗi thằng hai trăm đô không hiểu đàn anh Fanucci có chịu nhận không? Tessio bảo chắc được nhưng thằng mập gạt đi ngay: 
– Không xong đâu! Thằng khốn nạn đó làm gì không biết mỗi thằng mình kiếm bao nhiêu, chính thằng mua đồ của tụi mình cho nó con số chớ ai? Nó không chịu dưới 3 giấy đâu, tin tao đi. Thôi thì tụi mình chi cha cho nó cho xong! 
Dĩ nhiên là Vito ngạc nhiên lắm nhưng làm ra vẻ thản nhiên hỏi lại: 
– Ô hay, sao tụi mình phải chi? Hắn có làm gì cho mình, trong vụ này? Tiền mình kiếm ra sao lại chia vô lý vậy? Mình mạnh hơn nó… mình có súng mà? 
Clemenza ôn tồn quay qua thằng nhà quê giải thích: 
– Thằng Fanucci có bồ bịch thứ dữ, gốc bự lắm. Nó lại quen nhiều cớm, lúc nào nó chẳng có thể tố mình để lấy điểm? Có vậy nó mới là xếp sòng khu này. Vả lại đất này là của nó, Maranzalla OK rồi. 
Hồi đó nhắc đến tên Maranzalla là phải biết! Báo chí đăng dài dài, đàn anh là tay tổ, là thủ lãnh một nhóm giang hồ dao búa chẳng cái gì không dám làm, từ mở sòng, bắt địa đến ăn hàng lớn… Clemenza rót ra mấy ly rượu chát nhà làm. Vợ nó bưng lên nào bánh mì, nào trái ô-liu, xúc-xích, salami rồi nhắc ghế ra nhà sau góp chuyện với mấy mụ hàng xóm. Nó mới ở quê nhà sang vài năm nay, đâu đã biết tiếng Anh tiếng Mỹ? 
Ba thằng ngồi uống rượu nói chuyện. Mãi đến lúc bấy giờ Vito Corleone mới có cảm giác trời cho nó một bộ óc vô cùng thông minh mà nó chưa bao giờ dùng tới. Nó không ngờ mình sáng suốt, tính toán nhanh và đúng đến thế! Những sự kiện về con người đàn anh Fanucci liên tiếp diễn ra, khỏi sót một chi tiết nhỏ… 
Bữa đó đàn anh bị ba thằng rạch cổ, vùng chạy lẹ lẹ. Vừa chạy vừa lấy cái nón nỉ úp chặt vào cằm, cố chặn không cho máu tuôn ra. Thằng cầm dao bị bắn bỏ nhưng hai thằng kia chung tiền chuộc mạng nên đàn anh vui lòng bỏ qua… Vậy là đàn anh bịp, đàn anh cóc có gốc mà chưa chắc đã dám bồ với cớm! Dân chơi ngon đời nào ngửa tay nhận tiền chuộc mạng? Tui bay đã dám đụng đến tao thì cả 3 thằng phải đi luôn. Vậy mới là Bàn Tay Đen! Đúng là nuốt không trôi tha làm phúc chớ dễ gì hạ thêm hai mạng nữa khi tụi nó đã phòng bị? Fanucci biết chơi, láu cá ở chỗ đó. Nó cậy khoẻ và liều mạng thì làm gì không bắt địa được mấy gã chủ tiệm chết nhát, mấy sòng bạc chơi cò con trong xóm lấy xâu? Có một sòng thằng chủ nhất định không chi một xu cho nó mà hồi nào đến giờ có hề hấn gì đâu?
Vậy là Fanucci chỉ một mình. Bè cánh khỏi có. Hoặc cùng lắm chỉ quen biết mấy thằng bắn mướn, có chuyện nhờ vả phải xì tiền ra, tiền mặt. Nhận định chắc như vậy nên cuộc đời Vito Corleone mới rẽ qua một ngã khác. Đó là phần số, là con đường định mạng. 
Cái vụ phần số này Vito Corleone từng nhắc lại hoài. Ai cũng có mà muốn làm khác cũng không được. Phải chi đêm hôm ấy Vito chịu đóng 300 đô cho Fanucci thì lại đến đi làm thư ký hãng buôn và ngày giờ này không hơn gì một chủ tiệm chạp phô. Nhưng phần số của nó là Ông Trùm Mafia nên một sự tình cờ nào đó đã đưa đẩy, dẫn dắt đàn anh Fanucci tới đúng lúc để Vito Corleone lao đầu vào đúng con đường định mạng.
Ba thằng làm xong chai rượu chát thì Vito mới ngập ngừng nói: 
– Nếu phải chung cho Fanucci thì… tại sao không đưa tôi để tôi nạp cho hắn một thể? Hai anh chỉ phải chi mỗi người 200 đô thôi… mà tôi cam đoan là tôi đưa hắn sẽ nhận… nhận một cách vui vẻ. Tôi cam kết làm xong vụ này mà các anh sẽ hài lòng chắc. 
Clemenza đưa mắt ngó, loáng lên một tia ngờ vực. Làm Vito phải lạnh lùng xác nhận: 
– Đã là chỗ bạn bè tin cậy… tôi không bao giờ nói láo. Mai anh gặp Fanucci thử hỏi coi? Thế nào hắn chẳng đòi nhưng chớ có đưa tiền ra… mà anh đừng gây gổ. Cứ nói đã đưa cho tôi và tôi sẽ tự tay nạp lại đủ số! Bao nhiêu cũng gật, chịu hết. Đừng nằn nì xin bớt… tôi cũng chẳng ra giá với Fanucci đâu! Tội gì mình chọc giận một kẻ có thể hại mình như chơi, phải không? 
Sáng mai Clemenza hỏi Fanucci để biết đàn anh muốn ăn thật chớ chẳng phải thằng em Vito dám bịa chuyện nói láo. Sau đó mới tới tận nhà, đưa cho nó 200 đô. Rồi vừa ngó lom lom vừa hỏi: 
– Nó bắt tao nạp đủ 300 đô… mà mày làm cách nào để nó chịu xuống giá hay vậy? 
– Cái đó anh khỏi lo. Đã có tôi lo dùm anh… còn e ngại gì? 
Lát sau Tessio cũng tới. Nó yếu hơn Clemenza nhưng khôn hơn, bén hơn và đa nghi hơn thấy rõ. Nó đánh hơi ra bên trong vụ này phải có một cái gì, nhất định có cái gì không ổn những chưa biết rõ nên e ngại ra mặt. Nó e dè ngỏ ý: 
– Mày ỷ y với thằng khốn Bàn Tay Đen ấy là chết với nó lúc nào không biết nghe? Nó điếm lắm, tin không được đâu! Nếu mày muốn lúc đưa tiền tao tình nguyện ở bên cạnh mày để sau này có gì còn ra toà làm chứng. 
Vito khỏi cần. Khỏi trả lời mà chỉ lắc đầu gọn. Nó nó với Tessio thật chững chạc: 
– Anh nhắn Fanucci tôi sẽ đưa đủ tiền cho hắn, tối mai 9 giờ ở nhà tôi. Mình phải tiếp khách ở nhà, phải có cái gì mời mọc ăn nhậu mới có cảm tình, xin hạ giá mới được chớ? 
– Không ăn thua gì đâu! Thằng Fanucci chỉ tiền. Khỏi bớt một xu… 
– Tôi sẽ nói chuyện phải quấy với hắn. 
Bốn chữ nói chuyện phải quấy sau này thường được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong đời Vito Corleone. Nó như một khẩu lệnh chuẩn bị đánh lớn, ăn thua đủ. Vì với Ông Trùm Corleone thì nói phải quấy không xong là tất nhiên phải đổ máu và đổ máu lớn chớ còn gì nữa? 
Chập tối hôm đó, Vito biểu vợ cơm nước xong dẫn hai thằng con nhỏ đi lối xóm chơi, cấm chúng nó về nhà còn nó thì phải ngồi canh cửa. Chừng nào kêu mới được về. Nó sắp có câu chuyện cần nói riêng với ông Fanucci, không ai được nửa chừng phá khuấy! 
Con vợ sợ xanh mặt thì Vito quắc mắt lên. Nó tính la nhưng không nỡ. Chỉ nói nhẹ nhàng rằng bộ cô lấy một thằng chồng khùng hả? Con vợ im thin thít vì sợ quá, sợ thằng chồng chớ sợ gì Fanucci! Mới có từ sáng đến giờ mà coi Vito ghê quá, làm như nó đang lột xác từng giờ để biến thành một người khác, hoàn toàn khác. Một con người nguy hiểm, đụng phải là chết . Xưa nay Vito ít nói thật nhưng dịu dàng, biết điều chớ đâu có hùng hổ như đàn ông con trai Sicily? Chỉ mới một ngày mà nó đã lột xác, bỏ lại thằng đàn ông hiền lành để choàng vô bộ áo giáp an toàn vô cùng kinh khủng. Năm ấy Vito đã 25, vô giới giang hồ thì tuổi đó là trễ rồi nhưng bù lại nó tiến mau, tiến mạnh đến độ không ngờ.
Hôm đó Vito Corleone đi tới một quyết định ghê gớm: phải hạ thằng Fanucci. Bắn bỏ nó là thấy dư ra 700 đô-la, đã không tốn 300 đô phải nộp mà còn lời 400 của hai thằng Clemenza, Tessio. Bằng không thì 700 đô-la này nhảy sang túi nó. Cái mạng thằng Fanucci có ra gì mà đáng 700 đô? Giả thử đưa ra 7 tờ giấy trăm mà cứu được mạng nó, bằng không Fanucci chết chắc thì Vito cũng lắc đầu kia mà? Không ơn nghĩa, không bà con ruột thịt mà một tí cảm tình với nó cũng không thì tại sao lại phải thòi ra một lúc những 700 đô cho Fanucci kia? 
Nó không muốn đưa mà thằng khốn nhất định dùng áp lực cưỡng đoạt số 700 đô đó thì để thằng Fanucci sống làm gì? Thiếu một thằng người như nó xã hội có hề hấn gì đâu? 
Dĩ nhiên đó là cả một vấn đề. Anh em, bè cánh nó trả thù. Nó cũng nguy hiểm không vừa và còn cảnh sát và ghế điện nữa chớ? Nhưng đời Vito Corleone có xa lạ gì với cái chết! Mạng nó đã kể bỏ từ năm 12 tuổi, ông bố bị bắn chết là nó phải bỏ nhà trốn biệt sang đây lánh nạn, tên họ cũng phải đổi luôn. Những năm cơ cực, câm lặng nhìn đời đã cho Vito thấy rõ một điều. Nó thực sự trội hơn người ở mưu trí và can trường mà chưa sử dụng đấy thôi. 
Lần đầu tiên sử dụng ưu điểm đó, nó do dự lắm. Nó lấy ra 700, đếm đàng hoàng nhét kỹ trong bóp và đút cẩn thận vô túi quần bên trái. Túi quần bên mặt thủ khẩu súng lục mà Clemenza đưa cho hôm cùng đi ăn hàng. 
Đúng 9 giờ tối Fanucci mò tới. Vito xách ra hũ rượu chát cũng của Clemenza cho. Đàn anh đặt chiếc nón nỉ trắng lên bàn, nới ca-vát cho mát, chiếc ca-vát màu cà chua hoa sặc sỡ. Tối nay nóng quá, đèn hơi lù mù và nhà im lặng như tờ. Nhưng khuôn mặt Vito lạnh tanh. Để tỏ thiện chí nó lấy mớ bạc ra đưa trước, ngó đàn anh đếm kỹ và nhét tuốt vô chiếc ví da bự. Đút túi quần xong, Fanucci làm hớp rượu, nói tỉnh khô: “Mới có 700 đô. Còn thiếu tao 200 nghe chú mày?” 
Vito trình bày hoàn cảnh túng thiếu, thất nghiệp và thật sự là kẹt quá mới xin đàn anh cho khất vài tuần. Đàn anh thế nào chẳng bằng lòng. Vớ một lúc 700 đô rồi thì còn 200 nữa trước sau cũng có, còn chạy đi đâu? Vito đã tính trước như vậy và nói ra là đàn anh cười ha hả: “Chú mày láu quá! Chú mày làm ăn kín đến nỗi ở xóm này bao lâu mà tao đâu biết? Bảnh đấy! Tao có thể bắt áp phe cho chú mày, tha hồ ngon…” 
Nghe đàn anh hứa hẹn, Vito gật đầu vâng dạ, cung kính rót rượu thêm. Nhưng đàn anh đâu thể nói chuyện dông dài mãi, Funucci đứng lên vỗ vai chú em: “Tao về đây, không có gì buồn chớ chú em? Nói cho chú em mừng là nhờ vụ này anh en mình biết nhau, tao có thể làm nhiều thứ dùm chú em lắm đấy!” 
Vito đứng lên tiễn chân đàn anh, đưa ra tận ngoài đường cho ai nấy cùng thấy rõ là giờ này ông Funucci đã về đàng hoàng. Lên trên nhà hé cửa sổ nhìn ra, nó thấy đàn anh đi tà tà quẹo qua đại lộ số 21, nghĩa là sắp ghé về nhà cất tiền cho chắc ăn. Hay cất khẩu súng cũng nên. Nhanh như cắt, Vito trèo lên gác thượng rồi cứ truyền mấy nóc nhà kề nhau mò xuống. Đẩy bung cánh cửa sau ra, nó nhanh chân ra cửa trước. Bên kia đường là khu nhà đàn anh Funucci. 
Đó là một cư xá toàn nhà hai ba tầng thứ rẻ tiền cất biệt lập. Cỡ vài chục căn trên khoảng đất trống mênh mông của Sở Hoả xa, trông hoang vắng rờn rợn nên người tử tế hay nhát gan đâu dám ở chỗ này? Chỉ có mấy ông làm Hoả xa độc thân, mấy dân phu hay các em điếm bình dân. Mấy người này chập tối là ra quán nhậu hoặc chui vô nhà ngủ chớ đâu có lối xách ghế ra trước cửa ngồi nói dóc với nhau như mấy mụ nội trợ Ý bên đại lộ số 10? Từ bên nhà lầu băng qua đường, Vito xô cửa đi tuốt vào tới hành lang nhà Funucci mà có đụng đầu ai… hoặc có ai thấy? 
Nấp sát vách, nó rút súng đợi. Từ hàng ba, Vito ngó chăm chăm về đại lộ số 10 qua khe cửa và nhẹ nhàng mở chốt an toàn, cho đạn lên nòng. Chưa bắn thử thứ này lần nào nhưng súng thì nó quen xài từ năm lên 9, từng theo bố xách lupara vô rừng săn thú. Nó phải xài lupara ngon thế nào nên mấy cha Mafia hồi đó mới ngán, mới tìm cách diệt trước thằng nhỏ 12 tuổi chớ? Trong hành lang tối thui nhìn ra, Vito nhác thấy chiếc nón nỉ trắng đang băng qua đường sắp vô nhà. Nó bèn rời cánh cửa, lùi lại vài ba bước. 
Cho chắc ăn, Vito tựa vai vào cầu thang, chĩa súng sẵn ra cửa. Nó đẩy cửa vô là nổ. Cánh cửa bật mở, cả khuôn người Funucci đồ sộ, trắng toát, nồng nặc hơi rượu lọt vào đúng tầm. Nó nhấn cò. Cánh cửa mở, tiếng nổ thoát được ra ngoài mà còn rung rinh cả nhà. Funucci lặng người, một tay níu cánh cửa, một tay vùng rút súng. Nó vùng mạnh quá khiến sút nút áo vét để lộ khẩu súng nằm cạp quần, mà cũng cho thấy luôn một vết đỏ loè trên ngực áo sơ-mi trắng máu tuôn ồng ộc. Rất cẩn thận như y tá luồn kim vào gân máu, Vito nhắm đúng chỗ đo đỏ đẩy tới phát nữa. 

Google photos

Funucci lập tức ngã khuỵu xuống đẩy cánh cửa bật mở. Nó gào một tiếng rùng rợn như kép giễu trên sân khấu. Ít nhất Vito cũng nghe 3 tiếng gào dễ sợ như vậy trước khi nó xích tới, kê sát màng tang đàn anh đẩy phát kết thúc bể óc. Từ lúc Funucci đẩy cửa ra đến lúc thân hình đồ sộ của nó nằm một đống chận ngang cánh cửa vỏn vẹn 5 giây đồng hồ. 
Rất cẩn thận, Vito móc túi Funucci lấy chiếc ví da nhét trong sơ-mi rồi đi trở ra, băng ngang đường. Leo tới nóc nhà nó ngó xuống thấy cái xác vẫn còn nằm chắn cửa, chưa có ai tới. Từ trên lầu có hai cánh cửa sổ mở ra, mấy cái đầu ngó xuống rồi thụt mau vô. Tối mò ai nhìn thấy mà lo? Vả lại dân xóm này đâu phải thứ nhiều chuyện mỗi chút mỗi đi thưa cảnh sát? 
Chỉ lấy lời khai, đi làm chứng cũng quá mất công! Họ sẽ đóng chặt cửa, làm như không nghe tiếng súng, để mặc Funucci nằm đến sáng mai, nếu tình cờ tuần cảnh không đi ngang. 
Vito theo đường cũ truyền nóc nhà, tới đúng nhà mình từ từ leo xuống. Vô nhà đóng cứng cửa lại mới lấy cái bóp da ra kiểm soát. Bảy trăm đô còn nguyên, thêm tờ giấy 5 và vài tờ 1 đô-la. Trong một ngăn còn có đồng 5 đô-la tiền vàng rất có thể Funucci mang trong người lấy hên. Nhưng Vito đoán đúng: đàn anh chỉ là týp dân chơi hạng bét. Găng-tơ thứ bảnh có bao giờ mang tiền theo trong người? 
Phải thủ tiêu ngay khẩu súng và cái bóp da. Ngay từ hồi đó Vito cũng đã biết để trả lại đồng tiền vàng, không ham những thứ có thể gây họa đó! Nó leo lên sân thượng, liệng chiếc ví da thật xa cho nó rớt xuống khe hốc nào đó. Khẩu súng cũng bị đập bể làm mấy mảnh, quăng mỗi mảnh một nơi. Từ tầng lầu 5 liệng xuống, chúng rớt êm và lăn vô mấy đống rác rến mỗi ngày mỗi đầy thêm thì có trời kiếm! 
Sự thực tay chân Vito có hơi run song nó bình tĩnh lắm. Sợ quần áo dính máu, nó chạy vô phòng tắm ngâm bộ đồ một hồi trong bồn nước rồi đổ xà-bông bột, thuốc giặt đồ vô chà xát một hồi. Xả nước bộ đồ xong nó còn chà xà-bông cả bồn giặt cho kỹ luôn! Sau khi liệng bộ đồ vô mớ quần áo vợ vừa giặt xong để mai phơi, Vito thay đồ sạch sẽ mở cửa xuống nói chuyện tầm phào với vợ con và bà con lối xóm. 
Vito Corleone đã sắp đặt kỹ như vậy đấy… nhưng xét ra quá thừa! Xác Funucci mãi sáng hôm sau cảnh sát mới phát giác và có ai hỏi gì tới Vito đâu? Nó đã lo dựng vở tiễn chân ông Funucci để bà con cùng thấy rành rành nhưng rốt cuộc có ma nào đả động tới vụ nạn nhân lên nhà Vito Corleone chơi tối hôm đó? Mãi sau này mới biết bọn cớm đâu có ưa đàn anh Funucci, nó bị bắn bỏ còn mừng nữa! Hồ sơ hình cảnh được ghi như một vụ thanh toán nội bộ giữa bọn côn đồ nên mấy gã dân chơi có thành tích trong vùng bị gọi lên hỏi qua loa cho xong… chớ ai dám nghi kẻ xuống tay hạ sát Funucci lại có thể là Vito Corleone? 
Vito qua mặt cớm dễ ợt nhưng làm sao dấu nổi hai người anh em Clemenza và Tessio? Cả tuần sau hai đứa cùng lánh mặt. Đúng hai tuần sau nữa mới dám đến nhà… hai đứa rủ nhau cùng đến và cùng ngán rõ! Vito vẫn tỉnh bơ như không có chuyện gì, rót rượu chát mời. 
Mãi sau, Clemenza rụt rè mở lời: 
– Ít bữa nay mấy thằng chủ tiệm đại lộ số 9 khỏi đóng tiền… Không biết đóng cho ai nữa! Mà mấy sòng bạc xóm này cũng vậy. 
Vito Corleone giương mắt ngó, không hé răng. Tessio đành phải ra lời: “Tụi mình có thể lãnh mấy mối đó. Họ sẽ chi cho tụi mình…” Vito nhún vai “Ô hay, sao lại tụi mình? Tôi không muốn biết đến những vụ đó.” 
Đột nhiên, Clemenza cất tiếng cười ha hả. Hồi đó chưa có bụng giọng cười của nó cũng có vẻ “mập” lắm rồi. Nó vặn thằng nhà quê Vito: “Tụi mày không muốn biết đến… thì cho tao xin lại khẩu súng hôm nọ đi? Mày có cần đến đâu mà giữ?” 
Vito đứng lên, móc túi lấy bạc bó đếm 5 giấy 5 đô đưa cho Clemenza và mỉm cười nói: “Tôi liệng bỏ từ hôm đó! Đây, bồi thường bạn…” 
Nụ cười mỉm của Vito vốn dễ sợ ở chỗ nó lạnh tanh, không đe doạ gì nhưng ai nấy đều rởn ốc. Chỉ có một mình Vito là hiểu được cái cười đó, vả lại chỉ mỉm miệng cười trong những vụ hung hiểm ghê gớm, có cười là có chuyện! Vì cả đời Vito có mấy khi cười đâu, lúc nào cũng chỉ lì lì, trầm lặng. Vả lại ai chẳng thấy miệng nó cười nhưng mắt nó có cười bao giờ? Nhưng hồi đó chính Vito cũng chưa hiểu tác dụng nụ cười của nó khủng khiếp thế nào. 
Hôm đó Vito cười cười và móc tiền ra bồi thường khẩu súng mà Clemenza ngán, cóc dám nhận. Không nhận thì Vito lấy lại đút tút, không nói không rằng. Hiểu nhau quá rồi, chẳng cần nói gì. Nó không hạ Funucci thì còn ai? Có ai dám hé răng mà mấy tuần sau lối xóm còn ai không biết? Vì biết nên bà con ngán Vito Corleone, ngán quá! Nó lại không thèm lãnh mối của Funucci để lại nên càng rét nữa. 
Bỗng một hôm con vợ Vito dẫn về nhà một bà hàng xóm, một người cùng xứ sở mẹ goá con mồ côi, một bà mẹ ở vậy nuôi con vô cùng gương mẫu! Tháng tháng thằng con trai 16 tuổi đưa nguyên phong bì lương về cho mẹ, con bé gái thợ may 17 tuổi cũng vậy. Cả nhà còn phải lãnh nút về đơm mướn suốt đêm với giá rẻ mạt mới mong khỏi đói. Bà goá phụ Colombo gặp một chuyện khó khăn không giải quyết nổi nên phải chạy tới ông Vito Corleone cầu cứu. 
Con vợ nó có lời nói trước nên Vito cứ tưởng đâu và Colombo sang hỏi vay tiền. Nếu vậy có ngay nhưng không phải. Chỉ vì một con chó, con chó cưng của thằng con nhỏ, ông chủ phố than phiền đêm hôm nó sủa dữ quá, cả xóm bực bội. Vậy phải liệng đi bằng không thì kiếm nhà khác mướn. Vì tiếc con vật và thương con nên cứ dấu lén nuôi khiến mất lòng ông chủ phố. Nên đuổi chó rồi vẫn cứ bị đuổi nhà, nếu không dọn ra đã có cảnh sát xúc. 
– Nhưng tại sao bà lại đến nhờ tôi? 
– Tại bà nhà biểu tôi cứ thử nói với ông! 
Ra con vợ nó ghê thật. Nó làm như chẳng để ý gì đến công việc của chồng mà cũng chẳng hề hỏi đang thất nghiệp mà tiền lấy đâu ra nhiều thế. Mặt nó lúc nào cũng lặng ngắt! Vito thử đề nghị: 
– Nếu bà cần chút ít tiền thì tôi giúp. 
– Không… Tôi đâu cần tiền? Tôi chỉ muốn khỏi bị đuổi nhà. Ở đây bà con hàng xóm quen rồi, toàn người xứ sở mình. Nếu dọn đi chỗ khác thì mẹ con tôi khó sống quá! Chỉ xin ông Corleone nói dùm một tiếng, ông chủ phố thế nào cũng chịu. 
Nếu nói một tiếng mà cả gia đình Colombo được ở lại vì ông chủ thế nào cũng chịu thì Vito có tiếc gì một lời nói? 
– Được, sáng mai tôi nói với ông chủ phố… 
Vito liếc nhìn thấy con vợ mỉm cười, làm như sung sướng lắm. Nó biết nhưng lờ đi. “Chủ phố là ông Roberto phải không? Nếu vậy chắc được vì ông Roberto cũng là người tốt. Hoàn cảnh bà đáng giúp lắm chớ? Vậy bà yên tâm về làm ăn nuôi con đi. Sáng mai gặp ông Roberto… tôi sẽ nói chuyện phải quấy với ổng!” 
Chủ phố Roberto ngày nào chẳng tới ngó qua 5 dãy nhà cho mướn xóm này? Nhưng là người tốt thì chưa chắc vì nghe nói tiền cất từng dãy nhà cho mướn toàn do áp-phe mộ phu mà có. Nghĩa là ông chủ từng đi khắp miền quê mộ dân phu cung cấp cho các đồn điền, xí nghiệp. Ông chủ là người miền Bắc lại có học thức thì đám cù lần mù chữ, thất học miền Nam có coi ra gì? Nhất là bọn đầu bò đầu bướu ở Naples, ở Sicily! 
Đối với ông chủ thì chúng chỉ là thứ con sâu cái kiến, thứ vô trách nhiệm ăn đâu ỉa đấy, sân trước sân sau là để liệng rác tuốt và có thấy gián phá chuột gặm cả dãy nhà cũng làm lơ đừng ngó! Thực ra Roberto đâu phải người xấu mà là chồng tốt cha hiền. Có điều đầu óc lúc nào cũng điên lên vì tiền. Tiền kiếm được sợ ít, tiền bỏ ra làm ăn sợ mất và tiền tiêu ra sợ uổng. Tối ngày chỉ có lo tiền mà quạu quọ. 
Vì vậy, đang đi đường bị Vito Corleone lễ phép chặn hỏi chút chuyện, ông chủ bực lắm. Nhưng với đám dân miền Nam thì tụi nó có hỏi gì chẳng nên làm chúng mất mặt ngang có ngày ăn dao oan. Ông chủ biết vậy nên dù thằng cha này coi bộ hiền lành cũng không dám để lộ bực bội mà chỉ dừng lại nghe một cách khó chịu. 
– Bà hàng xóm Colombo bên cạnh nhà tôi là người đàng hoàng, hoàn cảnh mẹ goá con côi chật vật, tội nghiệp lắm. Chỉ vì con cho sủa bậy mà mất lòng ông chủ nên vừa bị đuổi nhà. Bây giờ phải dọn tới xóm lạ thì khó sống lắm nên bà ấy nhờ tôi thưa lại với ông chủ nhủ lòng thương cho ở lại. Ông chủ là người nhân đức xưa nay chắc phải có chuyện hiểu lầm mới ra nông nỗi vì con chó đã phải cho đi rồi. Vậy người cùng xứ sở với nhau, mong ông nghĩ lại… 
Ông chủ Roberto ngó thằng người cùng xứ sở. Nó người tầm thước, rắn rỏi. Coi không đến nồi đầu trộm đuôi cướp, chỉ phải cái nhà quê rõ. Vậy mà cũng dám xưng cùng xứ sở! Ben nhún vai: 
– Căn nhà của mụ Colombo hả? Tôi bằng lòng cho người khác mướn rồi, tiền nhà cao hơn… đâu thể vừa sai lời với người ta vừa mỗi tháng chịu mất với mụ một số tiền? 
– Mỗi tháng bao nhiêu đô? 
Thấy nó gật gù coi bộ hiểu biết và hỏi vậy ông chủ phố đáp gọn “5 đô-la”. Bịp, thứ nhà ọp-ẹp ở khu đất nhà ga này mồi căn 1 tháng 12 đô-la đã là cao. Ai điên trả thêm 5 đô 1 tháng? 
Vậy mà Vito Corleone móc túi lấy ra bó bạc đếm đủ 6 tờ giấy 5 đô: 
– Đây ông cầm lấy 30 đô, 6 tháng tiền phụ trội. Ông khỏi nói với bà Colombo, hết 6 tháng cứ tôi mà đòi. Mà nếu trả thêm tiền nhà thì nuôi chó được chớ? 
– Không được! Mà anh là thằng nào mà lớn lối dữ. Coi chừng, đối với tôi mà giỡn mặt là nát xương! 
– Ô hay, cái này là tôi năn nỉ ông chủ mà? Ông làm ơn cầm dùm tôi số tiền này, như tôi đề nghị đi. Tôi đâu dám lớn lối? Chỉ mong ông ra ơn nhận tiền dùm. Chừng được thì tốt lắm, bằng không ông nhất định đuổi nhà thì sáng mai ông cho xin lại tiền. Nhà ông thì ông toàn quyền muốn cho ở hay không tôi đâu dám nói? Còn ông thích cho ai nuôi chó … thì tôi cũng ghét chó như ông vậy! 
Thấy ông chủ chưa chịu, Vito cố nhét tiền tận tay. Còn vỗ vai rất thân mật cho hay thêm: 
– Ông chủ chưa biết tôi đấy thôi! Tôi là người ơn nghĩa phân minh, nhờ ông làm việc này không bao giờ quên. Ông cứ hỏi mấy người quanh đây là biết … 
Sự thực ngay lúc bấy giờ ông chủ Roberto cũng đã đoán biết phần nào. Nên buổi chiều đi hỏi thăm lối xóm về thằng cha Vito Corleone xong là không đợi sáng mai mà ngay buổi tối hôm đó đã tới gõ cửa liền. Ông chủ xin lỗi đêm hôm còn tới quấy rầy và được bà Corleone mời ly rượu lo cảm ơn rối rít. Sau đó mới xin ông Corleone vui lòng bỏ qua cái vụ hiểu lầm đuổi nhà. Dĩ nhiên mẹ con bà Colombo có quyền ở lại và muốn nuôi chó cứ việc nuôi. Mấy bà con lối xóm cũng dân-ở-mướn chớ là cái thá gì dám phàn nàn nó sủa bậy? Sau cùng ông móc ra 30 đô ban sáng, đặt lên bàn. Và đi đến kết luận là: 
– Thấy ông khi không còn dám bỏ tiền ra giúp bà ta … tôi thấy mắc cỡ quá. Tôi người Công giáo, tôi cũng có lương tâm chớ! Thôi, tiền nhà tôi đề nghị giữ nguyên vậy, khỏi tăng nữa! 
Ông chủ đóng kịch khéo quá nên Vito Corleone cũng phải đáp lễ. Vở kịch tử tế diễn ra thật hay. Vito thét gọi lấy thêm rượu thêm bánh và nắm tay ông Roberto khen tốt bụng. Còn ông chủ thì nhờ biết ông bạn Vito Corleone mới hay thế gian này vẫn còn người tử tế! 
Chuyện vãn một lúc ông chủ phố Roberto cung kính xin phép ra về. Ra khỏi nhà rét run cầm cập vì hú vía, suýt chết! Lên xe điện về nhà, leo lên giường ngủ liền và 3 hôm sau mới dám thò mặt xuống dưới mấy dãy nhà cho mướn. 
Kể từ hôm đó Vito Corleone nghiễm nhiên được lối xóm kể như một “nhân vật” phải kính nể! Lại có tin đồn nó có gốc Mafia bự, ở tuốt bên Sicily! Một thằng chủ sòng bài lá gần đó mau mắn tới thăm, đề nghị nạp tiền tuần 20 đô-la, kể như tiền “quen biết”. Mỗi tuần Vito chỉ cần tà tà tới sòng một hai lần cho bà con thấy mặt. Có thấy mặt họ mới yên chí chơi vì đã có Vito “bảo vệ” còn ai dám phá? 
Mấy ông chủ tiệm bị du đãng phá phách cũng tới nhờ Vito can thiệp. Có can thiệp là có tiền mà thời buổi đó ở Nữu-Ước mỗi tuần kiếm 100 đô-la là quá rồi. Clemenza, Tessio vì là anh em và cộng sự viên nên cũng được Vito Corleone tự ý chia cho một phần. 

Google photos

Sau đó mới tới vụ nhập cảng dầu ăn, làm chung với Genco Abbandando. Đàn anh Genco ở trong nghề đã lâu nên lo việc chọn hàng nhập cảng, giá cả và tồn trữ. Tìm mối tiêu thụ là phần việc Tessio, Clemenza. Hai đàn anh chia nhau đến từng tiệm chạp phô, thực phẩm người Ý mời mua dầu ô-liu nhãn hiệu Genco Pura (Có bao giờ Vito Corleone chịu mang tên ra làm nhãn hiệu dầu?) Hết vùng Manhattan sang Brooklyn, sang Bronx … Vì bỏ ra nhiều vốn hơn cả nên Vito phải là chủ lớn, với một nhiệm vụ gay go. Chủ tiệm nào chê không chịu lấy hàng của Tessio, Clemenza thì Vito đích thân xuất hiện để chinh phục bằng tình cảm. 
Mấy năm sau Vito Corleone lo khuếch trương công việc làm ăn và hài lòng thấy cơ sở mỗi ngày mỗi phát triển lớn. Nhãn hiệu Genco Pura có hồi đã bán chạy nhất trong số các thứ dầu ăn của Ý kia mà? Vì vậy dù có thương vợ con Vito cũng chẳng có thời giờ rảnh chăm sóc. Công việc bận bù đầu: phải cạnh tranh với các đối thủ bằng đủ mánh lới: hạ giá, chiếm mối tiêu thụ, nuốt dần thằng yếu để hạ thằng khoẻ. Muốn loại bằng hết đối thủ để độc chiếm thị trường ở một nước tự do tranh thương như nước Mỹ thì dùng những thủ đoạn thông thường đâu có được? Hãng Genco Pura mới ra sau, vốn không nhiều, không chịu tốn tiền quảng cáo (ông chủ Vito chủ trương chẳng có thứ quảng cáo nào hiệu nghiệm bằng lối cổ điển quảng cáo mồm, rỉ tai) và sự thực là dầu cũng chẳng hơn gì các nhãn hiệu khác thì làm sao bán một mình một chợ nổi? 
Đó là lý do Vito Corleone phải tận dụng cái mác “nhân vật phải kính nể” để phụ hoạ cho chủ trương “ruột” là biết điều trong công việc làm ăn. 
Ngay từ hồi còn trẻ Vito Corleone đã nổi tiếng “con người biết điều”. Không đe doạ mà chỉ đưa ra những lý lẽ không thể cãi chối, cưỡng lại. Và cho thấy ngay ai nấy cùng có ăn, khỏi người nào thua thiệt. Nhưng để phát triển làm ăn, Vito nhất định không chấp nhận cạnh tranh mà chủ trương độc quyền. 
Chẳng hạn ở Brooklyn có mấy thằng lái buôn dầu có cỡ nhưng cứng đầu, không chịu chấp nhận ý kiến Vito, kiên nhẫn thuyết phục mọi lẽ lợi hại cũng vô ích. Đành giơ tay lên “đầu hàng” vậy. Nhưng nếu tao nói mày không nghe thì để chú em Tessio nói… bằng những thứ khác! 
Lập tức Tessio sang Brooklyn lập tổng hành dinh và giải quyết vấn đề cái một. Dầu của nó chất trong kho thì đốt, di chuyển thì đổ bỏ. Dầu từ tàu chất lên xe hơi thì cho chảy lênh láng, biến mấy con đường bến tàu thành hồ, thành ao. 
Một thằng gốc người Milan tin ở pháp luật như bổn đạo tin Chúa bèn đi thưa cảnh sát. Người cùng xứ sở mà làm vậy là vi phạm luật omerta. Cảnh sát chưa thấy đâu thì thằng đi thưa đã biến mất để lại 1 vợ 3 con. Mấy thằng con lớn lên đành phải sáp nhập vào hãng Genco Pura vậy. 
Cứ phát triển làm ăn như thế đó thì mấy lúc mà khá? Khi nước Mỹ bắt đầu cho bán rượu líp thì từ một công thương gia tầm thường, Vito Corleone nhảy cái một thành Ông Trùm trong giới giang hồ, nghiễm nhiên thủ lãnh cánh Corleone. Chỉ giập gầy trong khoảng thời gian vài năm. 
Tất cả khởi đầu rất khơi khơi. Hồi đó hãng dầu ô-liu Genco Pura mới vỏn vẹn 6 chiếc xe chở dầu. Một bọn buôn rượu lậu nhờ Clemenza giới thiệu với Vito Corleone bàn việc chở huýt-ky từ Gia-Nã-Đại sang phân phối trong vùng Nữu-Ước. Dĩ nhiên mấy thằng lãnh công tác phân phối phải là thứ tin cậy, kín đáo và dám chơi dữ. Họ muốn Vito Corleone bao cả xe lẫn người và chịu trả giá cao đến độ ông chủ hãng dầu ra lệnh tốp chở dầu ăn để lãnh hết vụ chuyên chở rượu. Họ trả giá thật hậu nhưng vẫn không quên hù nhẹ một phát. Với con người như Vito thì có đe doạ thẳng thừng hay chửi vào mặt cũng chẳng vì vậy mà bỏ qua mối lợi. Hắn mổ xẻ và thấy ngay chỉ đe doạ láo, do đó coi nhẹ hẳn cả bọn. 
Làm ăn đã ra tiền Vito Corleone còn hiểu biết thêm, kinh nghiệm thêm và giao thiệp rộng thêm. Nếu nhà băng lo làm giàu thì hắn lo thâu ơn nghĩa để một mai có ngày cần đến. Một thứ đại ân nhân của những gia đình Ý nghèo nàn, lãnh rượu về nhà bán kiếm thêm chút lời, huýt-ky cứ 15 cents một ly. Đứa con út của goá phụ Colombo chịu lễ thêm sức thì nhận ngay làm con đỡ đầu, cho hẳn một món đồ vàng 20 đô-la. 
Chuyên chở rượu lậu thì tránh sao khỏi đụng đầu cớm? Để thủ thế sẵn, Genco được lệnh mướn ngay một ông thầy kiện bồ bịch với rất nhiều cò và thẩm phán. Tổ chức Corleone bắt đầu có cả một danh sách những viên chức phải lo lót tiền tháng. Khi thấy cái “lít” lo lót này quá dài, ông thầy kiện sợ thân chủ tốn tiền đề nghị cúp bớt thì Vito Corleone lắc đầu: “Khỏi. Cứ người nào đáng lo là mình lo, bây giờ họ chưa giúp thì sau này họ sẽ giúp. Tôi tin ở tình bạn và bổn phận mình là phải biểu lộ tình bạn trước.” 
Với thời gian cơ sở Vito Corleone lớn dần: nhiều xe hơn, “lít” lo lót dài hơn và bọn đành em của Tessio, Clemenza dĩ nhiên phải đông hơn nữa. Người đông thì làm ăn lộn xộn, nếu ông chủ không phân chia hệ thống đàng hoàng. Do đó, Tessio và Clemenza mới chính thức lãnh chức caporegime, mỗi đứa chỉ huy một toán và Genco Abbandando được phong consigliori. Giữa Vito Corleone và đám đàn em là nhiều trái độn để Ông Trùm chỉ phải ra lệnh cho Genco hoặc một trong hai caporegime, khỏi ai trông thấy nghe thấy để làm nhân chứng! 
Ngay caporegime Tessio cũng được lệnh tổ chức biệt lập, chịu trách nhiệm trọn vùng Brooklyn. Rõ ràng Vito Corleone muốn tách rời hai đàn em, nếu không có gì cấp thiết thì gặp nhau cũng kỵ nữa. Tessio được giải thích là sự tách rời không ngoài vấn đề bảo vệ an ninh cho tổ chức nhưng một người thông minh như hắn làm gì không hiểu ngầm rằng Ông Trùm phòng ngừa trước nạn hai thằng đàn em mạnh nhất liên kết nhau để hạ bệ đàn anh hay đặt vấn đề yêu sách! Tessio được toàn quyền hoạt động trong vùng Brooklyn nhưng vùng Bronx của Clemenza còn phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Ông Trùm. Clemenza bề ngoài vui nhộn thật nhưng Tessio hơn ở khoản liều, độc và vô kỷ luật nên lúc nào cũng phải kềm cho chặt! 
Thời buổi kinh tế khủng hoảng còn giúp Vito Corleone lên nữa, nghiễm nhiên có quyền xưng danh Ông Trùm từ đấy. Dân Nữu-Ước đói cả đám, người tử tế kiếm việc lương thiêng không ra. Nhiều đấng tai to mặt lớn đành muối mặt lãnh đồ cứu trợ của nhà nước, miễn vợ con khỏi đói. Nhưng người của Ông Trùm Corleone khỏi lo đói đã đành mà lúc nào cũng tiền đầy túi lại khỏi lo mất sở! Nhũn nhặn đến như Vito cũng không thể không kiêu hãnh: thằng nào làm cho ta, làm đàng hoàng và phục vụ tận tình không kể đến bản thân thì chắc chắn sẽ no ấm. Có lỡ kẹt trong vòng lao lý thì vợ con cũng có người chu cấp đàng hoàng, không phải bố thí bữa no bữa đói mà ở tù cũng lãnh lương đủ! 
Vito Corleone nổi tiếng nhân đạo đâu phải vì lòng thương người khơi khơi? Nếu vậy đã thánh thiện! Phải thế nào mới được. Lỡ đi hàng bị cớm vồ quả tang phải câm họng. Không cung khai tùm lum thì tức khắc vợ con có người chiếu cố. Ra tù còn có người đón, đặt tiệc tẩy trần tại nhà muốn gì có nấy và bà con bè bạn còn xúm lại chia vui. Rất có thể nửa đêm ông consigliori hay đích thân Ông Trùm – bất thình lình hạ cố tới nâng ly rượu danh dự để chào mừng người hùng trở lại. Sau đó người hùng sẽ có tấm xéc hay món tiền còm đủ để đưa vợ con đi du hý cỡ nửa tháng ăn chơi cho bỏ lúc gian khổ. Rồi mới bắt tay vào công việc như xưa. Đó, muốn được hưởng lòng nhân đạo của Ông Trùm là phải như vậy. 
Lúc bấy giờ Ông Trùm Corleone mới nảy ý tưởng so sánh. Mình chơi ngon vậy mà mấy thằng lớn đầu thế lực bảnh hơn nhiều nhưng xử sự thì dở ẹt. Chúng lại còn cản đầu nhiều phen. Nếu không ngon sao bà con lối xóm đổ xô tới nhờ vả hoài hoài? Khi nhờ xin sổ cứu trợ, khi năn nỉ gắp một thằng con khỏi tù hay cho nó công việc làm. Người năn nỉ giựt tiền lửa, người xin can thiệp chủ phố bớt tiền nhà. 
Có người nào tới mà Ông Trùm Corleone không giúp đỡ? Rất tận tình và con lựa lời an ủi cho khỏi tủi lòng vì ngửa tay xin xỏ, vay mượn. Nhờ đức độ hào hùng ấy Ông Trùm được tôn xưng Bố-Già, nghiễm nhiên là một thứ cố vấn có việc thắc mắc gì không giải quyết nổi là chạy tới hỏi. Ngay những dịp bầu cử hội đồng, viên chức hay dân biểu nghị sĩ đám dân Ý dốt nát không biết bầu cho ai thường tới hỏi Ông Trùm. Nắm một số phiếu đáng kể trong tay làm gì Vito Corleone không được các đảng, các ông thủ lãnh ve vuốt? Cùng lúc đó Vito Corleone còn nhìn xa trông rộng để lo đầu tư lớp tuổi trẻ: gia đình nghèo có con học xuất sắc là thế nào cũng trợ cấp cho học lên Đại học. Mấy năm sau thiếu gì thứ con cháu nhà luật sư, thẩm phán và cả biện lý, chánh án? Lối chuẩn bị tương lai như vậy thì có thua gì một nhà lãnh đạo quốc gia cỡ lớn? 
Chẳng hạn như đang làm giàu nhờ rượu lậu mà khi không nhà nước ban hành luật sản xuất huýt-ky tự do thì một tay nào khác hẳn sẽ chới với. Nhưng Vito Corleone thì khỏi. Tính toán sẵn cả rồi! Năm 1933 sứ giả của Ông Trùm đã tiếp xúc với vua cờ bạc Manhattan, Harlem là tay tổ Maranzano. 
Hồi đó Salvatore Maranzano làm trời trong giới giang hồ nhờ 2 nguồn lợi vĩ đại là sòng bạc và cho vay lời cắt cổ. Có sòng bài lập tức có một đàn cá mập bu quanh, sòng càng sống càng béo cá. Con môi trường nào béo bở cho bọn xét-ty bằng chiếu bạc? Đám lao động phu phen càng ít tiền càng hăng thử thời vận và càng ham tiền góp tiền đứng! Thôi thì đủ mọi hình thức cờ bạc. Từ xì-phé, già-dách đến cá ngựa, cá xe, cá banh. Số đề, xổ số lậu còn đông nữa! 
Lợi tức nhiều nhất nên thế lực Maranzano mạnh nhất. Đời nào hắn chấp nhận chia hai quyền lợi như Vito Corleone đề nghị dù thêm cánh Corleone là có quyền thêm đất Brooklyn, Bronx lại rõ ràng có thêm vây cánh, thế lực đáng kể! Đã từ chối hắn lại coi Ông Trùm không ra gì nữa. 
Một phần Maranzano ỷ ở bồ Al Capone, vua găng-tơ Chicago. Một phần cánh hắn tổ chức sẵn đàn em đông, sẵn súng sẵn tiền quá. Hắn đâu thể nhượng bộ một thằng lái buôn láu cá chỉ cậy thần thế đám nghị sĩ, dân biểu? Một thằng mới lên… phải chi nó có gốc Mafia đi! Đó là nguyên nhân phát động trận đại chiến năm 1933, biến cố làm đảo lộn giới giang hồ Nữu-Ước. 
Ai cũng thấy ngay lực lượng đôi bên chênh lệch quá. Cánh Maranzano đã mạnh còn có những tay súng dữ ác. Nó bồ với Al Capone, đánh tiếng là có viện trợ ngay. Nó đi hẳn với cánh Tattaglias, đương kim vua đĩ Nữu-Ước, vua ma tuý! Tư bản, tài phiệt là nó nắm hết: mấy ông to đầu hai ngành xây cất và sản xuất quần áo còn phải mướn người của nó để ra tay đàn áp bọn đầu sỏ nghiệp đoàn người Do Thái, người Ý. 
Lực lượng đánh đấm của Vito Corleone có gì ngoài hai toán “dũng sĩ” của Tessio, Clemenza? Tổ chức ngon thật nhưng người ít quá! Thế lực dân biểu, nghị sĩ thì có nghĩa lý gì so với bọn tài phiệt, tư bản đứng hẳn về phe Maranzano? Nhưng Vito Corleone có một ưu thế lợi hại. Đó là tổ chức rất bí mật, núp trong bóng tối đánh ra. Thực lực phe Corleone ra sao giới giang hồ có ai hay mảy may? Nhiều cha cứ tưởng Tessio là một cánh riêng, không liên quan gì đến Corleone. Tuy nhiên ưu điểm này có lợi hại đến mấy thì vẫn còn thua quá xa, nên bất thình lình Vito không bung ra một đòn tuyệt vời. Chỉ một đòn mà quân bằng hẳn tình thế mới thần sầu! 
Số là để hạ thằng mới nhảy vô nghề, Maranzano nhờ đàn anh Al Capone cho mượn nguyên cặp hung thần từ Chicago sang. Bạn bè Corleone và bọn đàn em nằm vùng bèn cho Nữu-Ước hay và phi báo đích xác chúng sẽ đáp chuyến xe lửa mấy giờ. Ông Trùm cử thằng người nhà Luca Brasi lo tổ chức “đón tiếp”. Còn gì đáng mừng cho Luca bằng, có dịp xả hết thú tính tích lũy trong con người ác ôn của nó! 
Luca mang 3 đàn em ra ga. Một thằng lái tắc-xi hờm bên ngoài, một thằng làm phu khuân vác hành lý dùm hai ông khách ra xe. Hai ông khách vừa nhảy lên tắc-xi thì Luca và thằng em cũng lên theo, súng đi trước để mời hai bạn Chicago xuống sàn xe nằm. Chiếc tắc-xi vọt tới một nhà kho ngoài bến tàu, địa điểm chọn sẵn. Xuống xe phải khiêng hai ông khách chân tay bị trói ké, họng la hết nổi vì nhét cứng những khăn lông. 
Brasi xách cái rìu để sẵn một bên hỏi thăm một ông trước. Chặt hai phát rồi 2 bàn chân đã. Rồi chặt rụng đầu gối, tiếp theo mới băm thêm vài nhát cho đùi rời thân mình. Hồi đó Luca còn sức trai mạnh lắm nhưng có phải vung cú nào cũng một nhát đứt đâu? Cũng đỡ là xong phần đùi khỏi mất công chặt thêm vì không cần nữa. Vậy mà sàn nhà đã lênh láng máu và bầy nhầy những thịt vụn. 
Ông khách thứ hai Luca khỏi phải xuống tay. Trước cảnh chặt thịt, vị hung thần của Al Capone chết khiếp ráng nuốt chiếc khăn lông cho chết nghẹt còn nhẹ nhàng hơn. Xét ra nuốt sao nổi… nhưng rõ ràng cảnh sát mổ tử thi giảo nghiệm đã tìm thấy chiếc khăn lông nằm trong bao tử. 
Ít hôm sau có mấy hàng Vito Corleone gửi sang Chicago cho người anh em Al Capone, đại khái nói: “Người anh em chắc đã thấy chúng tôi tiếp đón kẻ thù như thế nào. Hà, cỡ một thằng người Naples lại xía vô vụ tranh chấp giữa hai thằng Sicily? Nếu là bạn thì xin ghi dùm món nợ ân tình, cần đến tụi tôi sẽ có cách đền đáp. Một tay chơi như người anh em hẳn phải nhận ra lợi điểm có một thằng bạn – thay vì kêu gọi người anh em giúp đỡ, thì tự lo lấy phận mình để rồi một buổi khó khăn nào đó có thể sẵn sàng đứng ra giúp dùm người anh em chớ? Nếu người anh em chẳng thèm coi tụi tôi là bạn thì thà vậy đi. Có điều phải cho hay trước là thời tiết thành phố bầy hầy không hạp với người Naples, người anh em chớ có léo hánh tới.” 

Google photos

Nội dung “văn thư” xấc vậy đó vì sự thực Ông Trùm Corleone vẫn liệt cánh Al Capone không hơn một phường hiếu sát ngốc nghếch. Mật vụ nằm vùng cho hay đàn anh đã mất tay ngôi chính khách phần vì thái độ côn đồ lộ liễu, phần vì đã có mùi làm giàu phi pháp. Đúng thế, quan điểm của Ông Trùm xưa nay vẫn là Al Capone hay phe nào đi nữa mà không có thế lực chính trị làm hậu thuẫn, không được bà con che đậy, thì cũng bị triệt như bỡn. Đúng là Al Capone đang đi vào con đường chết. Và cứ cho rằng lực lượng phe hắn có ghê gớm thực sự thì cũng chỉ ghê gớm quanh quẩn vùng Chicago chớ không hơn. 
Đòn chiến thuật của Vito Corleone thần hiệu! Không hẳn thiên hạ ngán ở chỗ chơi quá dữ mà vì phản ứng thật cấp kỳ, ổng làm cái rụp dễ sợ quá. Nếu mật vụ của Corleone ghê gớm như vậy thì giở đòn gì ra còn dám rước thêm tai hoạ nữa! Thôi thì tốt hơn là biết điều kết bạn cho rồi, còn có chút nợ ơn nghĩa. Sau đó phe Al Capone bèn có lời phúc đáp bất can thiệp. 
Thế là quân bình lực lượng! Toàn thể giới giang hồ dao búa Mỹ quốc sững sờ và đâm nể mặt Vito Corleone quá xá chỉ vì dám hạ nhục cả phe Al Capone. Sáu tháng liền cánh Corleone đánh lớn và Maranzano cứ chạy dài. Sòng già-dách chỗ nào cũng bị cướp. Thằng bao đề số 1 của Maranzano toàn khu Harlem bị hốt nguyên một ngày thâu, vồ hết tiền còn mượn luôn tập cuống biên lai giấy biên đề nữa. Mọi cơ sở, mọi ngành đều bị phá tan hoang. Đàn em Maranzano ăn tiền chủ nhân đàn áp cán bộ nghiệp đoàn cắt may thì người của Clemenza nhảy vô binh công nhân làm thịt bằng thích. 
Làm sao đỡ nổi, cú nào Maranzano cũng lãnh đủ vì bộ óc Ông Trùm Corleone siêu việt quá, tổ chức cừ quá! Nết hung dữ giết người như chơi của ông địa Clemenza được sử dụng đích đáng vào việc lật ngược tình thế. Chừng đó mới thảy trọn lực lượng phòng hờ của caporegime Tessio vào dứt trận, nghĩa là thanh toán “mấu chốt” Maranzano. 
Dĩ nhiên trước đó vua cờ bạc cuống quýt cử người đi năn nỉ xin hoà song bao nhiêu sứ giả đều chẳng có cách nào gặp Vito Corleone. Bọn đàn em thấy cơ nguy, không muốn thí mạng bèn rủ nhau lỉnh hết. Đám bao đề, đám xét-ty trở cờ vác tiền chung cho phe Corleone. Trận chiến kể như dứt. 
Nhưng Maranzano còn thì còn việc làm cho Tessio. Gã caporegime rắn độc bèn sắp đặt để mấy thằng đàn em thân tín nhất của nó bán đứng thủ lãnh, mang thủ lãnh nạp mạng cho rồi còn làm ăn nữa! Mấy ông đàn em chọn đúng đêm Giao thừa, hết năm 1933 bước qua 1934 để “giao hàng”: chúng bịa chuyện Vito Corleone bằng lòng gặp đàn anh ở một nhà hàng lớn khu Brooklyn, còn tình nguyện làm cận vệ đưa Maranzano đi phó hội. Chúng hướng dẫn đàn anh vô ngồi bàn nhấm nháp mẩu bánh rồi nhanh chân biến gấp để nhường chỗ cho Tessio dẫn 4 thằng đàn em bước vô. Vụ lấy mạng diễn ra quá gọn: đàn anh Maranzano ăn đạn chì nát người miệng vẫn còn mẩu bánh đang nhai dở. 
Lúc bấy giờ mới dứt hẳn. Bao nhiêu mối làm ăn của người quá cố bèn lẹ làng nhập một với tổ chức Vito Corleone. Người nào việc ấy in như cũ, khỏi thay đổi. Ông Trùm còn đoạt thêm một chiến lợi phẩm “bên lề” là nắm được nghiệp đoàn công nhân may cắt Nữu-Ước. 
Công việc làm ăn lên như thế nhưng việc nhà mới làm điên đầu Ông Trùm. Thằng Santino Corleone, đứa con trai đầu lòng chứ ai? Sonny mới 16 tuổi nhưng ngực nở vai rộng, cao đúng thước tám đáng ngại quá rồi. Thằng Fred ngoan ngoãn, Michael vừa chập chững biết đi. Chỉ có mình nó, mình thằng Sonny luôn luôn gây vạ. Chẳng học hành gì, tối ngày lo đánh lộn làm Bố-Già Clemenza ngán quá. Một hôm ông bố đỡ đầu buộc lòng phải cho ông bố đẻ hay một vụ động trời của ông con Sonny: Nó ngu quá, vác súng rủ hai thằng bồ bịch đi ăn cướp, trời đất! 
Ông Trùm đùng đùng nổi giận. Cả đời chỉ giận dữ vài lần. Bèn hỏi có thằng Tom mấy năm nay nuôi trong nhà có dính vô không thì Clemenza lắc đầu. Một chiếc xe được cử đi lôi đầu thằng Sonny tới văn phòng hãng dầu Genco Pura gấp. 
Nhưng chịu, đành bó tay không làm gì được nó. Có hai cha con, trong phòng, Vito Corleone đã phải giở thổ ngữ Sicily ra chửi, chửi một mách tàn tệ, mất mặt. Rồi hỏi gặng: “Mày có quyền gì làm cái việc ngu xuẩn đến như vậy? Mà tại sao làm vậy mới được chớ?” 
Sonny nín thinh, lại làm mặt cáu giận. “Sao mày ngu vậy? Được bao nhiêu mà làm? Hai mươi… hay năm mươi đô? Mày thí thân mày vì bấy nhiêu đó hở thằng khốn?” 
Nó không trả lời. Nó làm như không nghe. Sonny buông đúng một câu: “Con thấy bố hạ Fanucci.” 
Giơ hai tay kêu “Trời” một tiếng… rồi “À… à… à” gieo mình xuống ghế, Ông Trùm ngồi chết lặng. 
– Lúc Fanucci về… mẹ bảo con về nhà được. Con thấy bố lên tuốt nóc nhà. Con đi theo. Bố làm gì con thấy hết. Con núp một chỗ, bố thảy cái ví liệng khẩu súng con cũng biết nữa! 
Ông Trùm cất tiếng thở dài. “Nếu vậy thì tao hết nói được mày thực. Bây giờ mày hết muốn học, mày không muốn làm luật sư? Mày không biết một thằng luật sư ôm cạc-táp “làm ăn” còn mạnh hơn cả ngàn thằng bịt mặt có súng?” 
Sonny nhe răng cười: “Thôi… Con làm việc nhà.” Thấy nó cười mà bố không nói không rằng, không la mắng mà cũng không cười theo, Sonny thêm vô một câu: “Con dư sức học bán dầu ô-liu chứ bộ?” 
Ông Trùm ngồi yên. Chừng lên tiếng chỉ triết lý một câu: “Thôi thì mỗi người mỗi phần số hết.” Có ý ám chỉ định mệnh đã run rủi thằng con cả vô nghề này nên mới cho nó thấy vụ thằng Fanucci. Vito quay mặt đi, thẫn thờ nói: “Sáng mai 9 giờ đúng, mày tới đây. Genco sẽ giao công việc.” 
Một tay consigliori ngon như Genco làm gì không biết thâm ý ông xếp? Nên công việc của Sonny chỉ là ngày ngày đeo theo bố làm cận vệ, lúc nào cũng có một bên Ông Trùm để vểnh tai nghe “lời vàng tiếng ngọc”. Cứ ngồi ngoài nghe cũng lãnh hội thiếu gì kinh nghiệm làm ăn? Rõ ràng Genco đã sắp đặt cho Sonny có cơ hội gần gụi để đích thân ông bố gián tiếp truyền nghề. 
Có ngày nào Vito Corleone không cảnh cáo thằng con lớn về tật dễ nổi nóng? “Mở miệng ra là đe doạ” là sơ hở lớn nhất, điên khùng nhất. Không suy nghĩ, nổi khùng lên cái gì cũng “dám làm” là dễ mất mạng nhất. Con người Vito Corleone không thể như vậy, tuyệt đối cả đời chẳng đe doạ ai, chẳng nổi sùng ẩu. Ông bố muốn nhét thằng con lớn vào khuôn khổ kỷ luật đó nên luôn miệng nhắc nhở: “Trên đời không có cái gì lợi cho bằng mình lỗi một đối phương cứ tưởng mười… và mình bảnh mười mà anh em bồ bịch vẫn đinh ninh mới có một”. 
Về phương pháp, kỹ thuật làm ăn Sonny được danh sư Clemenza uốn nắn chỉ vẽ, từ sử dụng súng đến xiết cổ bằng dây. Vì lo dạy dỗ thật tận tình nên ông thầy lấy làm buồn trò Sonny chê xài dây lối Ý xưa quá, chơi súng như Mỹ gọn hơn, giản dị hơn nhiều. Sonny đi với bố đều đặn, chăm chỉ lái xe và bao nhiêu việc vặt cũng một tay nó làm đỡ. Hai năm liền nó là một týp cậu cả con ông chủ, làm ăn tà tà, chẳng cần hăng hái, sốt sắng. Trong khi đó thằng bạn mồ côi Tom Hagen nó dẫn về từ dạo đó vẫn học tiếp lên Đại học. Thằng Fred chưa xong trung học và Michael đang ngồi tiểu học, con bé Connie mới lên 4. Nhà đã dọn sang một căn lầu rộng vùng Bronx nhưng Ông Trùm có ý mua trọn khu đất ở bên Long Beach cất nhà, năm ba căn quây quần nhau như dự tính bấy lâu nay. 
Vito Corleone là người nhìn xa. Giới giang hồ làm ăn ngoài lề pháp luật ở Mỹ quả năm bè bảy mối. Đô thị nào chẳng có vài ba cánh tranh ăn đụng độ liên miên? Mấy đàn anh lên được là đòi chia đất, lấn đất. Một giang sơn như của Vito Corleone mà không lo thủ kỹ thế nào cũng có thằng nhảy vô phá. Tranh ăn, đâm chém nhau nhiều bao nhiêu chỉ mau chết. Báo chí chánh quyền sẽ vịn vào đó yêu cầu pháp luật thẳng tay trừng trị, cảnh sát sẽ đàn áp mạnh. Dư luận mà phẫn uất quá độ ắt tự do dân chủ gì cũng tạm thời cúp hết và giới giang hồ sẽ chết nhe răng với nhau. 
Đó là lý do lo xong công việc nội bộ, Ông Trùm Corleone muốn đứng ra hoà giải các nhóm đương chiến ở Nữu-Ước và sau đó trên toàn quốc. 
Đối với Vito Corleone, đó là một sứ mạng và chẳng nguy hiểm gì mà phải ngại. Bèn để ra một năm trời để dọ dẫm, tiếp xúc đủ mặt thủ lãnh Nữu-Ước để cùng thử vạch kế hoạch chia đất, chia ảnh hưởng. Sẽ tiến tới một liên hiệp, một tổ hợp… nhưng liên kết sao nổi bằng ấy phe nhóm, quyền lợi đụng chạm nhau rầm rầm? Như bất cứ một vị lãnh chúa nào từng đặt để ra luật pháp và trật tự cho xã hội, Ông Trùm Corleone đi đến một quyết định: phải chặt bớt, triệt bỏ bằng hết những phe nhóm không ra hồn. Chỉ một số vừa vặn được quyền tồn tại và lúc ấy mới có thể nói chuyện trật tự, kỷ luật. 
Được tồn tại vỏn vẹn năm sáu cánh, năm sáu “họ” có thực lực. Còn bao nhiêu bắt buộc phải giải nghệ. Mấy thằng Bàn Tay Đen bắn mướn cắc-ké, bọn cá-mập không gốc, bọn bao đề, xổ số không có thầy chú che chở để làm ăn đàng hoàng là phải “đi” hết. Chậm chạp là bị cánh Corleone coi như có nhiệm vụ quét liền. 
Vito Corleone đã tung tối đa lực lượng vào vụ tổng càn quét Nữu-Ước. Vậy mà cũng phải mất 3 năm… và cũng hung hiểm ra gì? 
Lần gay go nhất tưởng đâu Ông Trùm suýt đi luôn. Mấy thằng chuyên viên đánh đấm gốc Ái-Nhĩ-Lan xưa nay cứng đầu quen làm ăn lẻ nghe nói bị cánh Corleone bôi tên bèn liều chết xông tới nổ, một ăn hai mất mạng. Hàng rào an ninh của Vito Corleone đốn bằng hết, nhưng vẫn lọt lưới một thằng. Trước khi ăn đạn nát thây nó cố để bằng được một phát vào giữa ngực tay tổ! 
Ông bố nằm dưỡng thương, cậu-cả-con-ông-chủ Sonny Corleone thừa dịp ra tay, lựa người lập một toán đánh đấm riêng. Caporegime Sonny lầm lỳ chứng tỏ biệt tài đánh đường phố. 
Nó không tính toán như bố mà bắn là bắn tàn nhẫn. Vỏn vẹn 3 năm 1935-36-37 Sonny thành danh đao-phủ-thủ, tay súng khôn nhất, đáng gờm nhất trong giới giang hồ Mỹ quốc, chỉ nhường Luca Brasi ở khoản tàn độc. 
Hồi đó còn thằng dân chơi thứ dữ Ái-Nhĩ-Lan nào lọt sổ là một tay Luca Brasi sục sạo rượt theo “bôi sổ” bằng hết. Có mỗi mình nó xách súng đi làm ăn mà bọn làm-ăn-lẻ bị quất tơi bời, thảm hại quá nên một Ông Trùm có tiếng trong 6 họ lớn Nữu-Ước phải lên tiếng can thiệp. Vừa có ý đứng ra bảo vệ, Luca cảnh cáo, bắn chết tươi! Cũng may là sau đó Ông Trùm Corleone bình phục, kịp thời dàn xếp cho yên. 
Từ năm 1937 giới giang hồ Nữu-Ước hết sóng gió, lâu lâu mới có một vụ hiểu lầm nho nhỏ, một vụ nổ súng lẻ tẻ, dù cũng có người chết. 
Gặp buổi bình thời Ông Trùm Corleone vẫn không ngừng cảnh giác, như lãnh chúa lo bảo vệ thành trì không cho bọn rợ xâm phạm giang sơn. Cũng phải nhìn ra thế giới bên ngoài để biết Hitler đang lên, Tây-Ban-Nha mất và Ăng-Lê chạy mặt Đức ở Munich. Điệu này phải đại chiến thế giới mà chiến tranh dám gây ra rất nhiều phiền toái. Nhưng vững vàng như giang sơn nhà Corleone thì khỏi sợ. Biết nhìn xa thì chiến tranh còn là dịp làm giàu mau, tha hồ bốc lớn nữa. Miễn là mình thái bình! 
Là người viễn biến, Vito Corleone làm một cuộc du thuyết, vận động toàn quốc. Sứ giả hoà bình trong giới giang hồ giữa năm 1939 đã có công lập bản thỏa ước giữa tất cả các phe nhóm anh em. In hệt như Hiến-Pháp Hiệp-Chủng-Quốc, bản thoả ước nhìn nhận “chủ quyền” từng phe, từng nhóm… chia đất, chia ảnh hưởng để duy trì hoà bình trong giới giang hồ. 
Thế chiến II bùng nổ và năm 1941 Hoa-Kỳ tham chiến thì rúng động cả nước nhưng giang sơn biệt lập của Corleone còn thái bình hơn bao giờ hết để lợi dụng thời cơ hốt bạc như bất cứ ngành kỹ nghệ sản xuất nào. Bông thực phẩm, bông xăng cũng là tiền, mà giấy phép xuất ngoại cũng ăn có không ít. Cánh Corleone bắt áp-phe đấu thầu cung cấp cho Bộ Quốc Phòng và tha hồ phát bông mua vải cho các hãng cắt may không đủ vải làm. Ông Trùm còn lo cho bọn thủ hạ đang phục vụ cho mình đúng tuổi quân dịch khỏi phải đi lính đánh nhau ở mãi tận đâu đâu. Thông lưng với bọn quân-y-sĩ, trước khi khám sức khoẻ uống bậy vô một thứ thuốc nào đó… hoặc gài bằng được tên nó vào danh sách những thằng được quyền hoãn dịch vì cần thiết cho kỹ nghệ quốc phòng. 
Dĩ nhiên Ông Trùm Corleone có quyền vênh mặt: tụi bay người của tao, ở trong giang sơn của tao, phục vụ cho tao thì đại chiến cũng có sao đâu? Tin tưởng ở luật pháp, trật tự xã hội như chúng nó thử coi? Cả triệu thằng chết mất xác! Kẹt có chút xíu là giữa lúc đó cậu út Michael bỗng xung phong nhập ngũ để phục vụ tổ quốc. Mấy thằng nhãi con cái nhà lạ quá, cũng rầm rầm tình nguyện. Có thằng dám trả lời ông caporegime rằng “Xứ sở này ban ơn cho tôi nhiều quá”. Nghe thuật lại, Ông Trùm Corleone quắc mắt: Còn tao đây… tao không ban, tao không tốt? Lẽ ra là bọn nó phải mệt rồi… nhưng không lẽ con mình cũng làm vậy không trừng phạt mà nhè hỏi tội bọn nó? Đành phải bỏ qua. 
Thế chiến II chấm dứt là Ông Trùm Corleone biết đã đến lúc giang sơn mình phải đặt lại vấn đề làm ăn lần nữa cho thích hợp với thế giới bên ngoài. Ổng tự tin làm được, khỏi sợ thua thiệt vì từng có kinh nghiệm sống: ít ra cũng có 2 vụ làm Ông Trùm mở mắt! 

Google photos

Trước hết là vụ cướp ngày mà vợ chồng thằng Nazorine là nạn nhân. Lâu rồi hồi đó tụi nó mới cưới nhau, lo đi mướn nhà ở riêng và dám để ra hẳn 300 đô-la tiền mồ hồi nước mắt để sắm đủ thứ bàn ghế giường tủ cần thiết cho tổ ấm. Ông nhà thầu cung cấp đồ gỗ chớp tiền lẹ lẹ, hẹn tuần sau giao đồ. Nhưng đồ làm sao có, khí cũng ngay tuần sau hãng bị tuyên bố khánh tận tài sản, kho hàng niêm phong lại chờ bán đấu giá trả cho chủ nợ. Dĩ nhiên bao nhiêu chủ nợ bu lại nhưng con nợ biệt luôn để khỏi nghe chửi. Đau quá, vợ chồng Nazorine đi hỏi luật sư mới hay cứ việc vô đơn kiện đòi nợ, toà xử tới xử lui cỡ vài ba năm sau thì hy vọng được hoàn lại tiền và may nhất được cỡ 1 phần 10! 
Nghe chuyện Ông Trùm Corleone ngạc nhiên: vậy là nó ma giáo, lách qua pháp luật rồi. Chủ nợ làm gì được? Vila, xe hơi deluxe toàn đứng tên vợ, việc làm ăn là của công ty mà nó chỉ là một trong những người có phần hùn, nghĩa là trách nhiêm cũng có chớ… nhưng vô cùng hữu hạn! Luật pháp là như vậy, nhưng có lẽ nào vợ chồng thằng thợ làm bánh Nazorine nạp tiền xương máu cho ông nhà thầu nuôi con ăn học Đại học? Nó sắp bị tuyên bố khánh tận mà còn tỉnh khô nhận 300 đô mà? Việc giải quyết quá dễ: ông consigliori Genco chỉ đến tận nơi nói phải quấy mấy phút là ông nhà thầu láu cá biết nguy nuốt không nổi… bèn nhả ra đủ số đồ đạc cho riêng vợ chồng chủ nợ Nazorine! 
Sau đó là một vụ có hậu quả nặng hơn nhiều. Khoảng 1939, Vito Corleone đã tính dọn nhà ra Nữu-Ước chọn một vùng ngoại ô hay tỉnh lỵ nào đó cho thanh vắng và chẳng ai biết đến mình. Con cái cũng muốn cho học trường lớn cùng với những con nhà đàng hoàng. Bèn mua luôn cư xá Long Beach nhà có sẵn 4 căn và đất còn nhiều . Năm đó Sonny sắp lấy vợ, vậy vợ chồng nó một căn, ông bà Trùm một, nhà Genco Abbandando một và một căn để trống. 
Mới dọn nhà được tuần lễ thì có 3 ông thợ đi cam-nhông đến viếng, tự xưng có bổn phận xem xét ống lò khắp thị xã. Thằng cận vệ của Ông Trùm dẫn vô, đưa xuống nhà dưới xét lò sưởi trong khi ông bà Trùm và Sonny ngồi hứng gió biển ngoài vườn. Ông Trùm Corleone đã có vẻ bất mãn khi bị thằng cận vệ mời vô coi 3 công nhân nhà nước khi không hùng hục giở cái lò bất hợp lệ, làm nát cả cái nền xi-măng. Cả 3 ông cùng bự con, hung hăng. Ông xếp còn la: 
– Lò nhà này hư hết! Muốn sửa chữa, đặt lại cho đúng luật thành phố thì ông chủ cho xin 150 đô tiền mua các bộ phận thay thế và nhân công. Bằng không Ty Vệ-sinh sẽ không cho phép xài. Đây, có cái giấy này của tụi tôi dán lên thì chẳng ai đòi xét nữa. 
Hắn vừa nói vừa nham nhở chìa ra một “lá bùa” đo đỏ. Ông Trùm lấy làm thú vị. Cả tuần nay bỏ bê công chuyện làm ăn, chỉ lo nhà cửa cho xong đã có ý chán ngấy. Bèn cố tình sửa giọng thật là nhà quê. 
– Nếu tôi không đưa tiền cho mấy ông… thì cái lò này sẽ ra sao? 

– Thì nó cứ nằm y nguyên thế này! 
Hắn điểm một cái nhún vai, đưa tay chỉ đống bộ phận lò sưởi vừa gỡ ra nằm la liệt dưới đất. Ông Trùm bèn hẹn “Chờ tôi đi lấy tiền” rồi trở ra vườn bảo Sonny: “Mày vô coi mấy ông thợ làm lò. Họ nói gì tao chẳng hiểu. Mày vô tính cho xong chuyện…” Dĩ nhiên đâu phải trò đùa mà thôi? Còn là dịp tốt để thử thách chân cẳng Sonny, xem cậu-cả-con-ông-chủ xử trí thế nào… 
Lối xử trí của Sonny chẳng hạp với ông bố chút nào. Nó phũ quá, thiếu chất tế nhị truyền thống Sicily. Nó la bủa giọng ào ào, thiếu cái bén nhọn của một mũi dùi nhọn hoắc. 
Vì vừa nghe hiểu ý ông xếp muốn gì là Sonny rút súng ra, quát bọn cận vệ tẩm quất cho 3 ông một mách mở hàng. Rồi bắt đặt lại lò ngay ngắn, thu xếp cái nền cho gạch. Xét người té ra ba ông chẳng phải người nhà nước mà là thợ làm công cho một hãng sửa chữa nhà cửa quận Suffolk. Nó lấy địa chỉ, tên tuổi ông chủ đoạn thảy 3 ông lên cam-nhông doạ: “Chớ có để tao thấy mặt ở vùng này. Tao mà gặp thì tụi bay dế nằm trên cổ!” 
Hồi đó Santino Corleone có lối xử trí công việc gọn gàng như vậy, hiền hơn sau này nhiều và ưa “lành mạnh hoá” địa phương nó sống. Ông chủ hãng sửa nhà phố được Sonny ghét hăm, yêu cầu chớ gởi nhân viên đi xét lò ở Long Beach mà mang hoạ. Sau khi bắt bồ với ông cò địa phương thì cứ có án mạng, cướp của giết người có dân chuyên nghiệp dính vô là Sonny có ngay bản sao tờ trình. Chưa đầy một năm mà Long Beach đâm hiền nhất nước Mỹ! Mấy dân ăn hồ ăn chĩa hay côn đồ anh chị đều được cảnh cáo đi nơi khác làm ăn. Bướng bỉnh nấn ná làm một cú thì được. Tái phạm cú nữa là kể như tuyệt tích! Mấy thằng bịp đi bán đồ giá hay đóng kịch vờ vẫn vô dọn đồ ở phương khác tới Long Beach là được khuyến cáo đi chỗ khác chơi thật lịch sự. Cứ ở lại làm càn thì rồi cũng phải đi… nhưng chắc chắn sẽ đi bằng xe Hồng-thập-tự. 
Ngay mấy thằng con ông cháu cha nổi chứng côn đồ tụ họp phá làng phá xóm còn bị mời gấp đi phương khác, đừng ở lại làm dơ Long Beach! Làm gì mà không đô-thị gương mẫu? 
Vụ “cướp ngày” của những thằng bề ngoài kinh doanh hoàn toàn hợp pháp nhưng bên trong lợi dụng từng sơ hở nhỏ của luật pháp để cướp-cơm-chim khiến Ông Trùm Corleone mở mắt. Một người tài trí như ổng phải có đất sống chính thức, có địa vị ngon lành ở ngay trong xã hội lương thiện, hợp pháp mà cậu Vito Corleone ngày nào từng bị cấm cửa. Phải chuẩn bị đủ điều kiện… 
Đó là những ngày Vito Corleone sống yên vui trong cư xá Long Beach, tà tà ngự trị và mở rộng phạm vi hoạt động của giang sơn nhà cho đến ngày thằng đường-Thổ Sollozzo xuất hiện. Vì nó mà gia đình Corleone lại một phen lâm chiến và lần này vừa nổ súng là Ông Trùm gục đầu tiên để vật lộn với Tử thần trên giường bệnh viện.





Bố Già

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Ngọc Thứ Lang

Post by Sơn râu 21 Jun 2024

Google photos

Chương 13

Ngồi trong phòng vi âm lớn, Johnny Fontane cầm cuốn sổ thử tính chi phí. Mấy thằng nhạc sĩ lục tục bước vô, toàn những mặt cũ, quen biết từ ngày nó mới tập-toẹ bước vào làng ca nhạc. Lão nhạc trưởng dặn dò từng đứa, phát mỗi đứa một tập nhạc. Nhạc trưởng Eddie Neils đứng số 1 về trình diễn nhạc pop và những lúc Johnny xuống chân, lão đối xử rất tử tế. Ngay vụ làm ăn với Johnny bữa nay cũng là nể nang, cảm tình lắm chớ Eddie đâu có rảnh rang mấy khi? 
Nino Valenti ngồi trước dương cầm gõ phím dượt loạn. Một ly huýt-ky hạng nặng to tổ bố để bên cạnh. Thây kệ cho nó nhậu, giọng thằng Nino tỉnh hay say cũng vậy mà bữa nay đâu đã cần nó trổ tài? 
Thể theo lời yêu cầu của Johnny, nhạc trưởng Eddie Neils nhận viết phần hoà âm cho mấy bản tình ca cổ của dàn Ý và Sicily, đặc biệt chú trọng đến bài hò đối đáp, mục trình diễn “ruột” của cặp Johnny-Nino. Hai đứa đã “đấu khẩu” tuyệt diệu hôm đám cưới và tặng Bố-Già dĩa hát này làm quà Giáng Sinh thì ổng khoái nhất! Bán trên thị trường cũng chạy phải biết, dù chẳng thể tới số triệu. Nhưng điều làm Johnny khoái chí nhất là nó đoán ra thâm ý Bố-Già. “Nếu mày muốn trả ơn tao thì dễ quá! Mày thử giúp thằng Nino một lần coi? Nó cũng con-đỡ-đầu của tao như mày vậy.” 
Johnny để xấp giấy tờ trên ghế, ra đứng cạnh cây dương cầm. Nó nháy Nino, “Ê, thằng nhà quê.” Nino ngửng lên nhìn, cố tạo một nụ cười nhưng coi nó mệt mỏi thế nào ấy. Johnny bèn vỗ vai cổ võ: “Bữa nay ráng nghe mày? Tao hứa bắt cho mày một em hách nhất nước.” 
Nino nốc một hơi huýt-ky hỏi lại: 
– Em này? Vằn hay vện? 
– Bậy nào! Deanna Dunn đàng hoàng. Bảo đảm tuyệt diệu. 
Cu cậu chịu bằng thích nhưng còn vờ vịt hỏi lại, “Chớ vằn, vện không có hả?” Đúng lúc đó ban nhạc bắt đầu dạo đoạn mở đầu bản hò đối đáp. Johnny lắng tai nghe. Eddie Neils cho ban nhạc chơi phần hoà âm đặc biệt xong mới bắt vô hò. Johnny chăm chú theo dõi từng câu, từng đoạn để sắp xếp sẵn trong óc lát nữa phải uốn éo, gò gẫm những chỗ nào. Nó cẩn thận vậy thôi chớ bữa nay gần như một mình Nino trình diễn, nó chỉ phụ hoạ theo. 
Nó kéo Nino dậy, hai đứa ra đứng trước máy vi âm. Đúng lúc phải bắt vô nó ra dấu nhưng Nino vô hụt. Chơi lại vẫn cứ hụt! Cu cậu lúng túng đỏ cả mặt làm Johnny phải giễu: 
– Bộ mày tính kéo dài thì giờ để bắt thêm tiền phụ trội hả? 
– Tao quen đệm mandoline… không có ngường ngượng thế nào ấy! 
– Mày thử cầm ly rượu đi. Làm như vừa hát vừa nhậu coi? 
Không ngờ ly rượu được việc quá! Nino vừa hát vừa nhậu thiệt và giọng ca nó cất lên dễ dàng mà lại hay nữa. Johnny chỉ cần hoà theo, phụ hoạ cho nổi bật giọng cao chính, chẳng khó nhọc gì. Có thằng ca sĩ nào thích phụ hoạ bao giờ, nhưng Johnny không ngờ nó đeo theo và nâng giọng Nino lên điệu nghệ thế. Mười năm kinh nghiệm có khác! 
Đến phần điệp khúc, Johnny mới cất giọng. Cũng may vừa hát xong là nó nghe đau nhói chỗ cổ họng. Đoạn điệp khúc hấp dẫn đến nỗi toàn ban bỗng nổi hứng. Mấy bố nhạc công nhà nghề này dễ gì còn nổi hứng được vì một đoạn nhạc? Nhưng bữa nay bắt vô điệp khúc tự nhiên họ hăng lên chơi lia lịa và chân bố nào cũng giập nhịp rầm rầm. Gã chơi trống gõ một hồi kết thúc tuyệt diệu. 
Chơi hết bài này qua bài khác, vừa hội ý vừa nghỉ ngơi họ làm 4 giờ liên tiếp. Eddie tới bảo Johnny, “Giọng chú mày nghe đỡ lắm rồi. Có thể chuẩn bị vô dĩa đấy. Tao có sẵn một bài mới toanh chú mày chơi thật tuyệt.” 
Johnny lắc đầu: “Coi vậy mà không được đâu! Chỉ lát nữa đây là cất tiếng nói còn khó huống hồ gân cổ hát! Liệu mình bữa nay có phải sửa nhiều chỗ không?” 
– Có, sáng mai Nino phải tới phòng vi âm sửa lại vài chỗ. Nó vấp vài lỗi nhưng tao không ngờ giọng nó cừ đến thế. Còn những đoạn mày ca tao thấy chỗ nào không được tao sẽ bảo bọn chuyên viên lo dùm cho. OK? 
– Chừng nào nghe thử được? 
– Tối mai. Mang tới nhà chú mày? 
Johnny OK và khoác tay Nino bước ra khỏi phòng vi âm. Đi về nhà nhưng nhà nó, không phải nhà vợ. Đã xế chiều rồi, nó buộc Nino phải đi xối nước và ngủ đỡ một phát cho hết say rượu. Mười một giờ tối nay phải tỉnh táo, còn có mục hấp dẫn mà? 
Đó là buổi gặp gỡ đặc biệt của Hội Những Tâm Hồn Cô Đơn. Trong đám hội viên thiếu gì những đệ nhất nữ minh tinh cả triệu khán giả ái mộ? Họ cô đơn nên phải có những buổi họp mặt đặc biệt để kiếm những tâm hồn bạn. Mấy mụ này đâu còn trẻ trung lại có địa vị đàng hoàng đâu dám cặp bậy bạ? Có cần đến mấy cũng phải tạo những cơ hội đặc biệt như thế này. 
Nino cứ thắc mắc về giọng ca Johnny còn hay mất mà Johnny thì chỉ mong nó thật tỉnh táo tới họp mặt để cho những tâm hồn cô đơn ấy biết rằng thằng bạn nhà quê của Johnny Fontane đâu phải đồ bỏ? Không biết chừng nó còn hứng nhiều, nó làm mấy mụ chịu quá, sẵn sàng giới thiệu đi đóng phim cũng nên! Tội gì… vừa được người vừa được việc? 
Nói sao thì nói, Nino vẫn cứ rót một ly làm cạn rồi mới hỏi lại: “Bao giờ tao không hứng? Nhưng mày liệu có giới thiệu được Deanna Dunn cho tao thiệt không?” Về vụ này, Johnny xác nhận: “Sao lại không kia? Mày khỏi lo!” 
Hội Những Tâm Hồn Cô Đơn là một hội có thiệt, một thứ câu lạc bộ riêng của đào kép Hollywood, thứ lớn. Đâu phải của con nít? Hội họp bạn mỗi tuần một lần, vào tối thứ Sáu ở tư thất của Roy Mc Elroy, tuỳ viên báo chí, đúng hơn là cố vấn giao tế của công ty điện ảnh quốc tế Jack Woltz. 
Nhà là nhà của Roy thật nhưng ý kiến tổ chức phải nói là của chính lão Woltz. Một số đào kép “cây tiền” của lão đâu còn trẻ trung gì? Không có mấy thằng chuyên viên ánh sáng và mấy thằng làm mặt lành nghề o bế thì đến già khú đế cả đám mất! Có tuổi là có chuyện, mấy ông kép, bà đào đâm hết bén nhạy, đóng phim hết linh. Cỡ tuổi họ làm sao nói chuyện yêu đương thơ mộng nữa? Làm sao những bà đào thủ nổi những vai lẳng lơ, quyến rũ để bắt đàn ông chạy theo? Thực tế là bố thằng nào dám săn một em đào khi em sắp sồn sồn, em lại có danh, có tiền nghĩa là em thực sự lớn? 
Để cho những cô đào sồn sồn đỡ mất công đi kiếm “bạn” tùm lum, ông chủ Jack Woltz có sáng kiến mỗi tối thứ sáu tạo cơ hội cho những tâm hồm cô đơn xáp lại gần nhau. Hãy cứ thử gặp gỡ một đêm đã, có duyên với nhau và hạp nhau thì “bạn đời” mấy hồi? Rút kinh nghiệm là những đêm họp bạn dễ biến thành đập phá và “liên hoan” tập thể khiến cớm phải nhào vô làm biên bản ê mặt nên ông chủ Woltz trao cho cố vấn giao tế Mc Elroy phụ trách vụ tổ chức ở nhà riêng để có chuyện lộn xộn là áp dụng chủ nghĩa lo lót ngay tại chỗ. 
Tội nghiệp nhất là những gã kép trẻ người ngợm ngon lành nhưng chưa tạo được tên tuổi, chưa từng được đóng vai nào xứng đáng. Đi họp bạn vui chơi tối thứ Sáu cho đỡ cô đơn mà nhiều khi thành cực hình méo mặt. Nhưng không dự cũng không xong vì bao giờ hãng cũng nhân dịp cho chiếu cuốn phim mới ra lò nhất để người nhà dự khán trước. Đành phải đi coi phim mới ra sao! Mấy em đào non không được dự và có cho phép dự chưa chắc đã dám. 
Hội có cổ lệ đúng nửa khuya là chiếu phim. Nino Valenti được bồ Johnny Fontane đưa lại đúng 11 giờ khuya. 
Mới thoạt trông cố vấn giao tế Mc Elroy hớn hở đứng bên cửa đón tiếp bà con ai chẳng khoái. Đồ sộ, ăn diện chững chạc, hoạt bát đến như hắn là cùng. Thấy mặt Johnny ló vô, Mc Elroy trợn mắt ngạc nhiên: “Ô hay …mày hả? Mày mà tới đây làm gì?” Sau cú bắt tay, Johnny vô đề: “Tao đưa thằng bạn nhà quê ghé coi chơi cho biết. Xin giới thiệu Nino.” Ông cố vấn giao tế bèn xiết chặt tay, ngắm Nino từ đầu đến chân: “Chết mất… Người ngợm thế này đến bị tụi nó nuốt sống thôi!” 
Hai đứa được hướng dẫn ngay vô sân sau. Gọi là sân sau nhưng thực sự là cả một dãy phòng riêng có cửa kính nhìn ra vườn và hồ tắm. Bà con hiện diện đến trăm mạng, đứa nào cũng ly rượu cầm tay. Cả khu sân sau ánh sáng đã được mấy thằng chuyên viên canh rất điệu nghệ để nịnh da, tôn thêm nhan sắc quý bà. Nino để ý thấy thấp thoáng mấy cô đào già danh nổi như cồn lúc hắn còn bé tí. Những thần tượng quyến rũ của một thời thơ dại! Chao ôi, khi thần tượng xuất hiện bằng xương bằng thịt thì còn gì thê thảm cho bằng. Mớ tuổi đời chồng chất đã biến họ thành những món đồ cổ. Giở điệu bộ uốn éo càng để lòi của giả, chẳng hấp dẫn nổi ai. Nino đã làm hai ly rồi nhưng vẫn mon men tới một cái bàn rượu chất như núi. Johnny luôn luôn theo sát một bên. Cho tới lúc sau lưng hai đứa cất lên giọng oanh vàng thỏ thẻ của đào Deanna Dunn. 
Giọng vàng Deanna thì Nino có bao giờ quên được mà cả triệu thằng đàn ông phải nhớ như in. Hai lần bắt Oscar, đắt khứa nhất trong hàng ngũ đại minh tinh Hollywood chớ phải chơi sao? Trên màn bạc Deanna diễn xuất độc như vậy thì có thằng đàn ông nào cưỡng lại nổi! Nino bỗng hết hồn vì chưa từng nghe người đẹp đối thoại lạ lùng như vậy, trong bất cứ một cuốn phim nào. 
– Ê, Johnny sao mày kỳ thế? Sao mày cho tao làm có mỗi một lần… làm tao phải mất công đi ông thầy trị bệnh thần kinh đấy. Sao không lại cho tao bis cái coi, Johnny? 
Deanna chìa má ra cho Johnny hôn. Nó than thở: “Coi đêm ấy về đàn em đau đúng một tháng đấy! Đã có đàn anh Nino đây, anh em họ đấy. Dân miền quê, mạnh mẽ lắm bà chị. Mong bà chị không thất vọng.” 
Deanna Dunn lạnh lùng ngó qua: “Mà hắn có thích coi thứ phim mới ra lò của tụi mình không đã?” Johnny được dịp cười ha hả: “Hắn đã được coi bao giờ đâu mà thích hay không? Sao bà chị không cho hắn nhập môn?” 
Lúc Johnny bỏ đi, một mình ở lại với người đẹp, Nino phải lo làm một ly đúp cho đỡ lóng ngóng. Định chơi dơ lơ là làm cao nhưng sao khó quá! Khuôn mặt Deanna Dunn sắc nét, đúng là tiêu biểu cho vẻ đẹp đặc biệt Mỹ. Nhân dáng ấy muốn quên cũng không nổi vì đã quen quá nhiều, qua đủ thứ vai trò trên màn bạc. Khi cười khóc, lúc giận hờn nũng nịu, đau khổ nhục nhã cũng có mà kênh kiệu cao kỳ cũng nhiều. Chỉ có vai điếm là nàng không thèm đóng nên chưa biết ra thế nào! Run rẩy trong vòng tay của người tình đầu hay nhắm mắt thở hơi cuối cùng thì Nino từng coi Deanna Dunn biểu diễn tới năm bảy lần năm bảy cách khác nhau. Cứ nhắm mắt tưởng tượng cũng biết nàng làm gì, nói gì thật… nhưng không thể ngờ câu đầu tiên của Deanna ở ngoài đời, nói riêng cho một mình nó nghe lại có thể là: 
– Cậu biết không, cả cái Hollywood này chỉ có một vài thằng như Johnny. Còn lại toàn thứ người ngợm ù lì, bết bát chẳng làm ăn gì nổi. Có bơm vô cả xe thuốc tráng tinh bổ thận cũng cứ ỳ ra. 
Deanna nắm tay Nino kéo phắt qua một góc phòng cho khỏi đụng chạm, cho hết giành giưt. Nàng thỏ thẻ gợi chuyện tâm tình gạn hỏi từng câu, làm như chú ý lắm nhưng rõ ra vẫn giữ cung cách của một bề trên ban phát ái tình cho kẻ dưới. Một tiểu thư khuê các yêu gã chăn bò hay tài xế chẳng hạn! Điệu này cứ như nàng từng biểu diễn thì chắc chắn gã tình nhân sẽ bị đá đít đau khổ nếu hắn là Spencer Tracy. Nhưng ngược lại nếu là Clark Gable thì sẽ có một chầu “em bỏ hết mọi thứ để đánh đổi lấy một mình anh.” 
Có hơi rượu vô thì Nino cần quái gì. Nàng hỏi thì nó kể. Kể hết, kể tùm lum chuyện bạn bè thân thiết giữa nó và Johnny, hai đứa chơi với nhau thế nào, ca hát hội hè ra sao… Coi bộ Deanna khoái chí lắm. Nhưng khi nàng tỉnh bơ hỏi: “Cậu có biết thằng Johnny làm cách nào mà lão già Woltz phải cho nó đóng cuốn phim vừa rồi” thì Nino nhăn mặt, lắc đầu quầy quậy. 

Google photos

Đã đến giờ chiếu phim mới ra lò, cuốn phim mới nhất của hãng Woltz rồi. Deanna nhanh nhẹn dắt Nino vào phòng chiếu rộng mênh mông như một đại sảnh đường bít bùng. Rải rác có tới 50 tấm nệm thứ hai người nằm, trải lối biệt lập riêng rẽ không ai nhòm ngó dính dáng tới ai. Bên cạnh mỗi cái nệm là một chiếc bàn con thấp bày rượu khai vị, nước đá, gạt tàn thuốc… Nino mồi cho người đẹp điếu thuốc và pha hai ly rượu. Hai đứa ngồi im. Đèn bỗng tắt ngấm. 
Trong bóng tối lù mù, Nino có ý chờ đợi một cái gì ghê gớm, đồi bại lắm lắm… như tin đồn đại. Vậy mà đâm hoảng vì Deanna bỗng khởi sự yêu nó dữ dằn quá, tởm quá mà không hề đánh tiếng, hỏi han gì hết! Sau phút bàng hoàng, Nino ngồi uống rượu, coi phim. Có thấy gì đâu, hơi rượu cũng khỏi có! Quả thực nó thấy hứng thú hơn bao giờ hết nhưng phải nhìn nhận rằng chỉ vì cảm giác được hầu hạ bởi người đẹp thần tượng ngày nào. 
Tuy nhiên thằng đàn ông bên trong nó vẫn bị xúc phạm. Khi cô đào lừng danh thế giới Deanna Dunn yêu nó xong, khoan khoái dọn dẹp dùm nó thì Nino thủng thỉnh đưa ly rượu và điếu thuốc mồi sẵn. Sau đó có ý kiến: Cái thứ phim mới ra lò này coi cũng hay đấy chớ? 
Nino nghe thân hình nàng đụng phải nó trên nệm. Người đẹp không hó hé, bộ định bắt nó ngợi khen chắc? Khỏi. Nó vớ đại chai rượu, không cần biết thứ rượu gì, rót ra làm một ly. Điệu này nó dám bị coi như một thứ đĩ đực, đĩ đực thụ động còn gì? Thứ đàn bà này tởm quá! Nó cố coi xi-nê cỡ 15 phút rồi nó sang bên, không muốn đụng chạm đến người mụ nữa. 
Sau cùng mới nghe giọng Deanna ồ ề, thầm thì: “Coi, điệu bộ làm quái gì? Cậu bé sướng rơn mà. Gớm thật!” Làm xong ngụm rượu, Nino mới giở giọng ngang tàng thường lệ: “Thế mà đã gớm à? Tình trạng bình thường đó. Còn gớm nữa kìa!” Bấy giờ mới nghe tiếng cô đào cười khanh khách. 
Họ im lặng cho đến lúc đèn bật sáng. Nino không thể dằn nổi tò mò đưa mắt nhìn quanh. Cứ như mấy khuôn mặt mà hắn ngó thấy thì nhất định nơi đây phải vừa có một chầu khiêu vũ âm thầm và quái lạ Nino không trông thấy mà cũng chẳng nghe thấy gì. Mấy con mẹ ngồi gần đấy Nino để ý thấy mắt như sáng rực cả lên. 
Bà con lục tục rời phòng chiếu. Không nói một tiếng Deanna lẳng lặng chạy tới một lão già mà Nino biết ngay là một kịch sĩ nổi tiếng. Nhưng gặp hắn nơi đây chỉ thấy toàn những nét giả tạo! Nino nâng ly rượu lên ngẫm nghĩ. Đúng lúc đó Johnny xề lại. 
– Vui thú không mày? Khá chớ! 
– Cũng cóc biết. Nhưng nó lạ lắm. Nó khác hẳn. Vậy là từ nay tao có quyền khoe ầm lên với bà con mình là tao từng bị Deanna Dunn yêu kinh khủng. Phải không? 
– Về nhà mụ còn kinh khủng nữa kìa! Mụ có mời mày về nhà chơi không? 
– Không, có lẽ tao mải coi ciné quá? 
Nino không thấy Johnny cười. Nó có vẻ đứng đắn. Nó cho biết: 
– Mày cóc biết làm ăn gì hết. Uổng quá! Được bà chị Deanna giới thiệu cho một tiếng thì đỡ khổ biết mấy? Mày biết không, ngay tao đây này, nhiều khi cứ tưởng tượng ra nhớ lại những con mẹ bẩn đến phát tởm mà tao vẫn phải gần… tao còn hết hồn kia mà! 
Nino giơ cao ly lên múa, cái giọng nhừa nhựa rượu gần như hét toáng lên: 
– Họ bẩn thật nhưng họ là đàn bà, họ làm đàn bà! 
Đứng tuốt góc đằng kia, Deanna nhận ra tiếng nó, và quay lại ngó hai đứa. Nino bèn cất cao ly rượu lên chào. Bực bội Johnny phải sủa: 
– Mày vẫn cứ nhà quê nhà mùa như thường! 
– Vậy đó… mà nhất định không đổi… 
Nó nhoẻn miệng cười, cái cười dễ thương của một thằng nát rượu. Nhưng Johnny không lạ gì nó giả vờ say, mượn rượu để có thể oé lên những gì lúc tỉnh không thể nói được trước mặt “ông chủ” mới. Nó bá cổ thằng Nino, thân mật nói: “Mày là thằng khôn chúa! Mày bắt được của tao cái giao kèo một năm chắc nên mày muốn nói gì, muốn làm gì tao cũng không thể đuổi mày chớ gì?” 
– Mày không đuổi được tao? 
– Không! 
– Vậy thì cút cha mày đi! 
Johnny ngạc nhiên và phát cáu lên khi thấy Nino há họng cười. Nhưng nó ráng nhịn, mấy năm nay nó đã khôn ngoan hơn và từ ngày xuống chân đã tế nhị, biết điều hơn. Nó hiểu tại sao thằng Nino không lên nổi, tại sao nó phá hỏng những dịp làm ăn của chính nó. Nó là thằng không thiết gì đến thành công, ai giúp đỡ còn cho là mất mặt. 
Johnny nắm tay Nino lôi ra khỏi “hội quán”. Chân nó đi không vững nên phải ghé tai dỗ dành : “OK… Thế thì mày hát để để cho tao bắt bạc vậy. Tao không làm xếp mày nữa, mày muốn làm gì thì làm vậy? Đồng ý không, đồ nhà quê! Tao mất giọng thì mày ca dùm tao để cho tao kiếm ăn vậy. Chịu chưa?” 
Nino tỉnh táo liền nhưng cố tình líu lưỡi như còn say: “Tao hát dùm mày, Johnny… Ngày giờ này tao ca ngon hơn mày. Mà bao giờ tao ca không ngon hơn mày hả Johnny?” 
Johhny đứng lại ngẫm nghĩ. Thì ra là thế. Thằng Nino vẫn cho là nó ca ngon hơn. Sự thực nếu nó còn giọng ca thì thăng nhà quê này sánh sao nổi. Ngay từ hồi nhỏ hai thằng còn đi ca chung cũng vậy. Dưới ánh trăng, nó nhìn thằng bạn cũ, buột miệng chửi thề: “ĐM. Đi cha mày đi!” Hai đứa cùng cười rũ rượi, in hệt hồi xưa còn nhỏ. 
Nghe tin Ông Trùm bị bắn Johnny vừa lo cho sinh mạng Bố-Già vừa sợ công việc quay phim đột ngột bỏ dở. Muốn sang Nữu-Ước thăm không được, ông già không muốn nó bị dây dưa mang tiếng. Đành phải đợi. Cỡ một tuần sau mới có người của Hagen đến cho hay công việc cứ tiến hành, nhưng làm mỗi lần một phim thôi. 
Johnny cứ để Nino sống tuỳ ý thích, muốn làm gì thì làm. Nó giao du tốt đẹp với cả đám đào non Hollywood. Thỉng thoảng Johnny có rủ đi chơi đêm tay đôi nhưng nhòm ngó và đời sống của nó thì tuyệt không. Lúc hai thằng bàn nhau vụ Bố-Già bị bắn, Nino mới cho Johnny hay: “Có lần lái xe chán quá, mệt quá tao đã mở miệng xin Bố-Già cho làm một chân gì trong việc nhà để kiếm nhiều tiền một chút. Mày biết Bố-Già biểu tao sao không? Ổng biểu mỗi người mỗi phần số và phần số của tao là làm nghệ sĩ. Nghĩa là tao không thể làm găng-tơ được.” 
Johnny ngẫm nghĩ, công nhận ngay Bố-Già quả biết người biết của. Thằng Nino mà dính vô bất cứ công việc gì trong giới giang hồ thì có chuyện quanh năm và sớm muộn cũng đến bỏ mạng. Chỉ vạ miệng mà bỏ mạng chắc. Nhưng phần số Nino mà nghệ sĩ là thế nào? Đúng là Bố-Già muốn mình nâng đỡ, dẫn dắt nó vô nghề. Ổng muốn mình, ổng buộc mình trả ơn cách đó mà không nói ra thôi. Đúng vậy, đúng là điều ổng mong muốn nhất. Nhưng giờ này ổng bị bắn gục, cả nhà đang có chuyện lộn xộn thì sức mấy Johnny chơi lại Jack Woltz để bắt Oscar năm nay? Phải có ổng vận động làm áp lực mới xong mà ngày giờ này cánh Corleone còn bao nhiêu việc cấp bách! 
Trong khi đó phải bắt tay làm phim. Thằng nhà văn đúng lời hẹn đã vác bản thảo sang Hollywood và hai đứa đã mang ra bàn bạc kín với nhau. Một truyện phim tuyệt hảo, Johnny không mong gì hơn. Trong phim nó không phải hát. Một chuyện tình ướt át với những bóng hồng thấp thoáng rất sếch-xy. Lại có một vai trò “cắt may” sẵn cho thằng Nino, giống hệt như Nino từ nhân dáng đến hành động, ngôn ngữ. Lãnh vai trò này có lẽ Nino khỏi cần diễn xuất. 
Johnny tiến hành công việc thật mạnh. Nó không ngờ mình cũng rành rẽ công việc sản xuất phim như vậy nhưng vẫn phải mướn một thằng giám đốc sản xuất rất cừ nhưng cóc ai dám mướn chỉ vì có tên trong sổ đen. Nó không lợi dụng điểm này để bắt bí mà trả lương đúng mức với lời căn dặn: “Nếu anh là người biết điều thì làm ơn tiết kiệm ngân sách dùm.” 
Đã căn dặn vậy nên lão giám đốc đề nghị một khoản chỉ làm Johnny ngạc nhiên. Lão đề nghị phải lo lót thằng đại diện nghiệp đoàn. Đằng nào cũng phải chi, ai cũng phải chi bằng không sẽ có không biết bao nhiêu chuyện lộn xộn về vấn đề tuyển mộ và giờ phụ trội. Biết chắc lão không xoay xoả, Johnny mới yêu cầu lão mời ông đại diện nghiệp đoàn tới nói chuyện. 
Lúc Billy Goff tới, Johnny nói ngay: 
– Tôi cứ nghĩ rằng nghiệp đoàn có liên hệ với mấy người bạn tôi đấy. Họ biểu tôi khỏi lo bất cứ chuyện gì về nghiệp đoàn. 
– Ai biểu ông như vậy? 
– Ai biểu thì ông bạn biết rõ quá mà! Tôi không nói tên rất nhưng chắc chắn tôi đã nghe như vậy. 
– Tình hình thay đổi. Trước khác giờ khác… Bạn ông đâu còn ảnh hưởng quái gì ở miền Tây này nữa mà nói? 
Johnny nhún vai: 
– Thế đợi tôi vài ngày được không? OK? 
– Được chớ! Làm gì không được, Johnny! Có điều điện thoại Nữu-Ước can thiệp không ăn thua gì đâu, tôi cho hay trước. 
Đó là ý kiến Billy Goff. Sự thực diễn ra khác hẳn. Johnny phôn cho Hagen biết… và nó trả lời không được chi, một xu cũng không chi. “Ông già mà hay mày chi cho nó một xu thôi thì mày biết đấy. Mày làm vậy là làm ổng mất mặt… ổng không chịu đâu. Bây giờ cũng vậy.” 
– Mày cho tao nói chuyện với ổng chút được không? Không được hả? Hay mày nói lại dùm tao vậy? Để tao còn bắt tay vô việc liền chớ? 
– Bây giờ chẳng ai nói được hết. Ổng còn mệt! Nếu cần làm gì thì tao sẽ biểu thằng Sonny làm dùm mày. Chớ có thí một xu cho thằng láu cá đó. Có gì thay đổi tao sẽ cho mày hay liền! 
Johnny gác phôn lên. Không yên tâm chút nào hết. Không giải quyết được vụ nghiệp đoàn thì tốn tiền kinh khủng và công việc còn bê trễ ghê gớm. Đã có lúc nó đã tính chi ngầm cho thằng Goff 50 ngàn đô cho xong. Hagen nói là một chuyện và Bố-Già ra lệnh lại là một chuyện. Về vụ này nó có toàn quyền mà? Tuy nhiên Johnny quyết định đợi vài ngày coi. 
Mấy ngày chờ đợi khỏi tốn 50 ngàn đô-la. Hai đêm sau, đại diện nghiệp đoàn Billy Goff bị kẻ lạ mặt bắn chết queo trong nhà riêng ở Glendale. Vậy là hết rắc rối. Khỏi sợ nghiệp đoàn tranh chấp! Cái chết của Billy làm Johnny lạnh mình. Đây là lần đầu tiên Bố-Già ra tay gần gụi nó nhất, dễ sợ nhất. 
Trong mấy tuần lễ liền sau đó vì bận bù đầu về việc phân cảnh, sắp đặt công việc cho máy chạy, Johnny quên phứt vụ mất giọng. Nghe nói trong danh sách các diễn viên được đề nghị tranh Oscar có tên nó, Johnny lấy làm buồn vì không được mời trình diễn bài ca bắt Oscar trong buổi dạ hội phát giải truyền hình. Nhưng rồi nó nhún vai, khỏi cần. Bố-Già còn nằm đấy thì bắt Oscar sao nổi. Có tên trong danh sách tranh giải cũng ngon rồi. 
Dĩa hát của nó và Nino vừa thâu bán chạy không ngờ, vượt xa những dĩa mới của nó nên Johnny biết phần lớn là công của Nino. Nó đành phải nghỉ hát một thời gian. Đúng như ước định mỗi tuần nó về nhà một lần với Ginny và các con, không bao giờ sai hẹn nhưng dĩ nhiên vẫn chỉ là bạn. Trong khi đó con vợ đào hát đã sang Mễ-Tây-Cơ xoay được bản án ly dị, do đó Johnny lại độc thân. 
Kỳ cục nhất là hồi này các em đào non nhiều quá, dễ quá mà Johnny không ham. Nó chỉ khoái mấy con đang lên vù vù nhưng mấy em này không rớ tới được nên nó cảm thấy ê mặt. Làm việc nhiều cũng có cái hay: xong việc về nhà một mình làm một ly rượu, đặt mấy cái dĩa cũ lên nghe lại giọng mình và ca theo vài đoạn. Giọng nó hồi ấy hay thiệt tình, nghệ sĩ thiệt tình và không ngờ quyến rũ tới cỡ đó. Vậy mà nó đã làm hư cái giọng vàng chỉ vì rượu, vì khói thuốc và vì gái. 
Lâu lâu Nino cũng ghé chơi để làm ly rượu, cùng nghe lại giọng ca Johnny ngày xưa. Nó sẽ vênh mặt lên: “Coi, tao đó! Liệu mày có hát được như vậy không?” Lúc bấy giờ Nino sẽ nở nụ cười tình, lắc đầu và thành thực chấp nhận: “Làm sao bằng nổi? Không bao giờ bằng nổi!” 
Một tuần lễ trước khi Johnny khởi sự quay phim là Đêm Dạ hội phát giải Oscar. Nó ngỏ ý mời Nino cùng đi dự. Nino nhất định lắc đầu. Johnny phải nài nỉ: “Chỗ anh em với nhau tao đã nhờ cậy mày điều gì bao giờ? Yêu cầu mày đi cùng với tao. Có lẽ chỉ mình mày là còn thực sự thương hại tao nếu tao hụt giải. Nên tao mới tha thiết…” 

Google photos

Nino ngẩn người ra một lát mới gật gù: 
– Được, nếu vậy tao đi với mày. Cho mày hay là nếu hụt giải thì mày phải lờ đi, phải nhậu say cho quên hết. Mày phải nhậu. Còn tao, tao sẽ không rớ tới một giọt để tỉnh táo ở bên cạnh mày, có gì tao sẽ khiêng mày về. Yên chí đi! Vậy là bồ bịch chớ còn gì? 
– Đúng, bồ bịch là phải vậy! 
Giữ đúng lời hưá, đêm Dạ hội Nino tới đưa Johnny đi. Nó tỉnh táo, không nhậu một giọt thật. Không hiểu tại sao dịp long trọng này Johnny lại không mời một con nhân tình nào đi cùng? Hay con vợ Ginny? Không lẽ con này cũng không còn tha thiết gì đến nó? Nino thấy thèm rượu quá! 
Đối với Nino thì cả đêm dạ hội chỉ là một sự nhàm chán, cho đến lúc ban tổ chức loan báo tên nam diễn viên bắt giải xuất sắc năm nay. Nghe tên Johnny Fontane là nó vỗ tay loạn, nhảy càng lên. Johnny đưa tay ra là nó nắm thật chặt. Nó biết thằng bạn đang cần một bàn tay bạn, một người thật sự thân thiết trong giây phút vinh quang này. Chỉ buồn tại sao Johnny không có một thằng nào hơn nó! 
Sau đó là cả một cơn ác mộng. Cuốn phim của Jack Woltz đoạt tất cả mọi giải lớn nên buổi tiếp tân do hãng tổ chức đầy nghẹt những nhà báo săn tin và những quân săn người, cả đực lẫn cái. Nino vẫn giữ lời hứa tỉnh táo để lúc nào cũng có mặt bên cạnh Johnny. Nhưng đi đến đâu cũng bị các bà các cô vồ lấy, kéo đi một lát nên Johnny rút cục cũng say mèm. Con đào bắt giải cũng bị chiếu cố in hệt nhưng coi bộ nó khoái chí nên làm ngon lắm, tỉnh táo hơn Johnny nhiều. Chỉ có một thằng đàn ông không thèm để ý đến nó. Đó là Nino. 
Vào giờ chót, có thằng nào đó thình lình đưa ra một đề nghị độc đáo. Tại sao đệ nhất nam diễn viên và đệ nhất nữ diễn viên năm nay không “cá cặp” với nhau ngay tại chỗ cho bà con làm khán giả coi chơi? Bà con hoan nghênh rần rần. Con đào bị lột tức khắc và mấy mụ sồn sồn hè nhau xông tới Johnny Fontane. Nhưng Johnny đã có bồ Nino Valenti bên cạnh. Tụi nó say cả rồi, đâu chơi lại đàn anh Nino tỉnh như sáo người duy nhất không nhậu trong đêm đó? Lập tức Nino giành lấy Johnny lúc bấy giờ đã nửa kín nửa hở để vác bừa lên vai, chạy như bay như biến ra xe hơi. Lái xe đưa Johnny về nhà Nino không khỏi ngậm ngùi: Nếu thành công là như vậy đó thì nó không ham thành công chút nào hết.



Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 21 Jun 2024

Google photos

Phần 30

Lời dẫn bắc cầu qua chuyện II nói về sự tích cô Ba Trà

Tục ngữ Pháp, nịnh đầm, có câu: “Ce que femme veut, Dieu le veut” phải dịch sao cho vừa ý mọi người, vừa thấu thoát vừa không trái nguyên văn:

a) dịch: đàn bà muốn cái gì, ông trời muốn theo cái nấy. Câu chữ Tây thâm trầm dịch như vậy, nôm na quá, lại mắc tội bỏ rơi Chúa.

b) dịch “Nữ nguyện như thử như thử, thiên tùng vị nhiên vị nhiên!” dịch thế ấy mắc tội nhại văn Tam quốc chí, nói Nho ba rọi,

c) dịch: “Đàn bà muốn sao, Đức Chúa trời muốn theo”? dịch thế nầy, cho đi du lịch La mã khỏi tiền, nhưng cũng trở lại câu (a) không khác mấy.

Thôi đành chịu và xin chừa cho các cử tân khoa.

Ký sự của và V.A, chấm dứt tức và đột ngột làm sao. Không khác cỡi xe đạp, bánh vá, đường gồ ghề, từ làng ra tới chợ, thấy đó mà không vô được, tại bà V.A. muốn. Tôi không có quyền đặt chuyện viết thêm, vì làm như vậy là tiếu thuyết hoá một sự tích có thật.