This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Bàn thờ Phật xuống đường cản trở sự di chuyển của quân đội – nguồn Flickr.com
Kỳ 3
Trưa 18 tháng 5 một đơn vị Dù tiến chiếm đoạn đường từ Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn tới ngã ba Chu Văn An, Hoàng Diệu. Binh lính Dù bố trí sau những gốc cây keo hai bên đường. Từ lỗ châu mai, chúng tôi nhìn thấy họ rất rõ. Quân Dù bắc loa yêu cầu cấp chỉ huy Biệt Ðộng Quân ra tiếp xúc với cấp chỉ huy của họ. Thiếu úy Lê Trực được chỉ định làm đại diện Biệt Ðộng Quân.
Với khẩu P.38 giắt bên hông, Thiếu úy Trực cùng một cận vệ tiến ra giữa ngã ba để tiếp chuyện cùng một Ðại úy Nhảy Dù. Dù và Biệt Ðộng Quân thỏa thuận với nhau rằng sẽ giữ nguyên tình trạng án binh bất động như hiện thời.
Chiều 19 tháng 5 tôi nhận lệnh phải về dự một phiên họp khẩn cấp. Tôi đem theo Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong cùng Hạ sĩ Trần Quy và một máy PRC 10, rồi men theo đường làng về Chùa Tỉnh Hội.
“Hội Ðồng Chính Phủ Cách Mạng” gồm năm, sáu vị đang đứng vây quanh một cái kệ thờ lập lòe hương khói. Dưới ánh nến chập chờn tôi chỉ nhận ra ông Bác sĩ Tâm, Tổng trưởng Xã Hội, và ông Phụ tá Tổng trưởng Quốc Phòng là Thiếu tá Tôn Thất Trai. Ông Thủ tướng không đứng như những vị bộ trưởng mà nằm bò dưới kệ thờ. Ông gọi:
– Anh Long tới rồi hả? Lại đây! Lại đây!
Tiến tới sát kệ thờ, tôi lên tiếng:
-Chào Bác sĩ, tôi có mặt.
Ông Mẫn nhoài người nắm ống quần tôi giựt vài cái:
– Cúi xuống đây, tôi có ý kiến này với anh.
Tôi khom mình cúi xuống.
Ông Thủ tướng nghiêm nghị nói:
– Với tình hình khẩn trương như hiện nay…
Vừa nghe được nửa chừng câu nói của Thủ tướng, tôi phải đứng bật dậy. Có lẽ từ hôm có tiếng súng đầu tiên nổ trên thành phố này, Thủ tướng đã chui vào núp dưới gầm kệ thờ, không rửa mặt, đánh răng, súc miệng cũng nên?
Thủ tướng hình như biết lý do tại sao tôi không chịu cúi người nghe ông nói nữa, nên ông đưa tay che miệng rồi nói tiếp,
– Tôi đề nghị Biệt Ðộng Quân hộ tống “Hội Ðồng Chính Phủ” di chuyển ra Huế, ngoài đó mình còn Sư Ðoàn 1.
Vài vị bộ trưởng cũng phụ họa theo:
– Có Biệt Ðộng Quân hộ tống thì chúng ta yên tâm rồi!
Tôi thở dài ngán ngẩm. Ðường từ Ðà-Nẵng ra Huế dài cả trăm cây số, bình thường đi bằng xe cũng mất cả nửa ngày. Một đơn vị quân đội tinh nhuệ muốn hoàn thành công tác di chuyển bằng chân cũng mất vài ngày. Nếu đi một mình, chắc tiểu đoàn tôi cũng rơi rớt dọc đường ít nhứt là một phần ba quân số. Những ông chính trị gia trói gà không chặt này theo chúng tôi giỏi lắm cũng chỉ được dăm cây số là cùng. Sau đó các ông phồng chân, lọi cẳng, bong gân, ai khiêng, ai vác các ông đi cho hết đoạn đường còn lại đây? Ðó là chưa kể tới vấn đề liên lạc, có đụng độ giao tranh, tản thương, tiếp tế lương thực, hay những rủi ro khác xảy ra dọc đường.
Tuy nghĩ thế nhưng tôi vẫn bình tĩnh:
– Xin quý vị cho tôi biết, hiện giờ quý vị có cách nào liên lạc với Sư Ðoàn 1 không? Trước khi quyết định có nhận lời hộ tống quý vị ra Huế hay không, tôi yêu cầu quý vị phải để tôi đích thân nói chuyện với giới chức có thẩm quyền của Sư Ðoàn 1 cái đã.
Ông Thủ tướng liếc qua ông Thiếu tá Trai, ông Trai ấp úng:
– Trong chùa này chúng ta chỉ có một cái máy PRC 10 để liên lạc với Trung tướng Ðính. Hai ngày nay tôi gọi hoài mà không có ai bắt máy.
Tôi hiểu ra ngay rằng, Tướng Tôn Thất Ðính đã bị người Mỹ bỏ rơi, ông ta đã trở thành một con cờ bị loại rồi.
Trong vụ chính biến này, rõ ràng người Mỹ chơi trò hai mặt, mặt này đỡ lưng Tướng Thi, Tướng Chuân, rồi Tướng Ðính; mặt kia phù trợ Tướng Thiệu, Tướng Kỳ.
Tôi chỉ là một sĩ quan thừa hành, lúc nào cũng làm việc theo lệnh người chỉ huy trực tiếp của mình. Trong thời gian vừa rồi, tôi đã bị chuyền tay dưới quyền ông Dzu, ông Ðính rồi sang tay ông Mẫn, ông Trai. Giờ đây chính ông Mẫn ông Trai còn không biết làm gì để tự cứu mình; nếu tôi cứ tiếp tục đi theo các ông ấy thì không chết sớm cũng chết muộn.
Tôi là một quân nhân luôn luôn coi trọng kỷ luật, nhưng trong tình cảnh này, cứ khư khư ôm trách nhiệm một cách mù quáng thì tôi đúng là một thằng ngu. Tôi ngu, tôi chết đã đành, tôi còn làm cho cả trăm người phải chết theo.
Chỉ một phút sau, tôi đã có quyết định là, bằng mọi cách, tôi phải đưa đơn vị mình thoát ra khỏi cuộc đấu đá chính trị này càng nhanh càng tốt.
Tôi lùi lại hai bước, giơ tay quơ một vòng, điểm mặt từng chính khách:
– Thôi! Quý vị hãy tự lo liệu! Từ giờ này, Biệt Ðộng Quân không hợp tác với quý vị nữa!
Không đợi xem hội đồng chính phủ phản ứng ra sao, tôi khoát tay cho lệnh Hạ sĩ Phong và Hạ sĩ Quy quay lưng.
Ra tới sân, tôi khó khăn lắm mới thoát khỏi đám đông đồng bào Phật Tử bao vây, níu kéo, xúm xít hỏi han. Tội nghiệp cho đồng bào tôi, và tội nghiệp cho tôi! Tôi đau buồn cúi đầu bước đi.
Về tới ngã ba Hoàng Diệu, Chu Văn An tôi bị một nhóm quân Dù chận lại, không cho tiến vào khu vực Biệt Ðộng Quân chiếm cứ.
Ngay lúc đó, từ những lỗ châu mai trong nhà bên đường, nhiều họng súng của Biệt Ðộng Quân đồng loạt chĩa ra, cùng với tiếng lên cò “lách! cách!”
Tôi nói với anh sĩ quan Dù:
– Tôi là người chỉ huy Biệt Ðộng Quân. Tôi hứa với các anh rằng, ngày mai Biệt Ðộng Quân sẽ không còn hiện diện ở đây nữa.
Nghe tôi nói thế, lính Dù bèn kéo kẽm gai sang lề đường để cho tôi đi qua.
Tôi đã thức trắng đêm 19 tháng 5 để suy tính sẽ phải làm gì trong những ngày sắp tới. Với tình thế hiện thời, tôi chỉ còn ba con đường để chọn.
Thứ nhất là, đem quân ra Huế bắt tay với Sư Ðoàn 1: Ðường ra vào Ðà-Nẵng đều bị quân chính phủ chốt giữ, muốn vượt qua, khó tránh đụng độ. Nếu phải đánh nhau, quân lính đôi bên sẽ chết không biết bao nhiêu mà lường. Vả lại, không biết Sư Ðoàn 1 tọa lạc ở nơi đâu thì làm sao mà tìm?
Thứ hai là, đầu hàng quân chính phủ: Nếu làm điều này thì, vừa mở miệng ra lệnh, chắc chắn tôi sẽ bị giết chết ngay bởi những thuộc hạ thân thiết nhất của mình. Mà cho dù binh sĩ trong tiểu đoàn không nỡ giết tôi, chắc chắn tôi cũng sẽ bị ông Dzu làm nhục để trả thù.
Thứ ba là, vứt bỏ vũ khí, giải tán tiểu đoàn: Cách này giữ được an toàn sinh mạng cho anh em, giữ được sĩ diện cho đơn vị, thuộc cấp sẽ không oán trách tôi là người đã bỏ rơi anh em.
Cuối cùng, tôi chọn con đường thứ ba.
Mờ sáng ngày 20 tháng 5 tôi đi vào từng nhà báo cho anh em biết rằng cấp chỉ huy đã bỏ chúng ta rồi. Nếu chúng ta tiếp tục ở đây, chúng ta không biết sẽ theo lệnh ai. Lính Dù không phải là kẻ thù. Nếu có nổ súng, chúng ta và lính Dù đều chết; chết như thế thì thực là vô ích. Vì thế, tôi cho lệnh giải tán tiểu đoàn, anh em nên trở về với gia đình là tốt hơn cả.
Anh em nghe lệnh này buồn bã lắm, nhưng biết làm sao bây giờ?
Lúc này trong vườn nhà số 5 Chu Văn An chợt có tiếng người bàn tán, ồn ào. Thấy lạ, tôi lách qua hàng rào, bước sang xem có gì xảy ra không?
Nhà số 5 rất rộng, có sân vườn, giếng nước, củi đóm dồi dào. Chủ nhà cũng rất hiếu khách. Hình như chủ nhà có bà con với ông Nguyễn Tấn Ðời, chủ nhân của Tín-Nghĩa Ngân-Hàng (?) Vài gia đình binh sĩ đi theo đơn vị đã được tôi gửi gắm trong nhà này. Tôi lên tiếng:
– Có chuyện gì vậy?
Một người lính nói:
– Dạ trình thẩm quyền, vợ anh Sửu chuyển bụng đẻ. Anh em không biết tìm đâu ra Bà Mụ cho chị ấy.
Trong lúc túng thế, tôi đành nói với mấy chị vợ lính:
-Các chị đỡ bà đẻ này ra ngã ba Chu Văn An, Hoàng Diệu, nhờ Nhảy Dù cho xe cứu thương chở đi bệnh viện, chắc họ sẽ không từ chối đâu.
Quả đúng như tôi nghĩ, Quân Y Nhảy Dù đã sốt sắng thi hành công tác nhân đạo này ngay.
Giải quyết xong vụ sinh đẻ của bà vợ lính, tôi chỉ chỗ cho anh em xếp súng ống, đạn dược thành một đống trước sân chùa.
Sau đó, anh em chia tay nhau, túa ra đường Phan Châu Trinh, hướng này không có quân của chính phủ trung ương. Hạ sĩ Phong tìm được hai bộ quần áo dân sự cho thầy trò tôi. Tôi xin được cái mũ phớt đội lên đầu để tránh người quen nhận diện. Hai người theo con đường vòng đai hướng Ðông của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I hướng về Cầu Ðỏ.
Tới Cầu Ðỏ chúng tôi chạm phải một trạm kiểm soát an ninh do Biệt Ðộng Quân phụ trách. Ðơn vị Biệt Ðộng Quân này mới được điều động từ trong Nam ra.
Hai bên cầu dành cho bộ hành có hai người kiểm soát. Bên trái là một sĩ quan dáng cao cao, giọng nói Miền Nam. Tôi kéo vành nón quan sát, thì nhận ra anh ta là Thiếu úy Châu Văn Út, bạn cùng Khóa 20, cùng Ðại Ðội B Sinh Viên Sĩ Quan Võ-Bị của tôi. Anh là bạn rất thân của tôi, nhưng để anh nhận ra tôi trong tình thế này thì kẹt quá! Nhân lúc anh Út đang bận hỏi han người thanh niên đi trước, tôi lanh tay đẩy chú Phong về phía anh ta. Tôi lẻn sang bên phải đứng nối đuôi một người đi trước; một thượng sĩ kiểm tra phía bên này. Tôi nghe Út hỏi Phong:
– Anh là lính phải không?
– Dạ phải! Trình Thiếu úy em là lính của tiểu khu, đi phép về thăm nhà nên bị kẹt, hôm nay mới ra khỏi nhà tìm về đơn vị.
– Ðược rồi! Anh đi đi!
Bên này, ông thượng sĩ cũng hỏi câu như trên, tôi cũng trả lời như chú Phong.
Qua khỏi Cầu Ðỏ thì không còn trạm gác nào nữa.
Tới Thanh Quýt, thầy trò tôi ghé quán bên đường ăn mỗi người một tô mì Quảng, rồi lại tiếp tục đi.
Nơi đầu bến xe Hội-An cũng có một trạm kiểm soát hỗn hợp của Quân-Cảnh và Cảnh-Sát. Quân-Cảnh và Cảnh-Sát ở đây thì chẳng lạ mặt tôi tí nào, đành phải tránh thôi.
Vùng đất này của Hội-An thì tôi thuộc từng li, từng tấc. Tôi dự trù cứ ra chùa Long Tuyền xin tá túc ít lâu rồi sẽ tính.
Sau một hồi đi vòng vo, tôi dẫn Phong băng qua vạt ruộng sát vòng rào sân bay Hội-An để leo lên con lộ đất dẫn về Long Tuyền Tự.
manh hai flickr
Long Tuyền tự, Hội An
Cổng chùa mở rộng. Một chú tiểu đang ngồi chẻ củi trước sân, thấy chúng tôi, chú ngừng tay, ngẩng mặt lên quan sát. Tôi đến bên chú tiểu nói nhỏ:
– Hai đứa tôi là lính của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân. Ðà-Nẵng bị quân Thiệu Kỳ chiếm rồi, chúng tôi chạy về đây. Nhờ chú trình với thầy trụ trì cho chúng tôi tá túc ít lâu.
Chú tiểu đảo mắt, nhìn trước, nhìn sau, rồi kéo tay tôi dẫn vào trai phòng. Nơi đây đã có một nhà sư lớn tuổi với đôi mắt kiếng cận dày cộm đang ngồi đọc sách trên một cái ghế dựa.
Chú tiểu chỉ tay về phía chúng tôi rồi ghé tai vị sư già nói nhỏ một câu. Vị sư già nhổm khỏi ghế rồi tiến lại phía tôi vồn vã:
– Lính của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân hả? Ðà-Nẵng ra sao rồi? Sao lại phải chạy về đây?
Tôi tóm lược chuyện xảy ra tại Ðà-Nẵng cho vị sư già nghe. Nghe xong, vị sư già từ tốn:
– Cửa từ bi lúc nào cũng rộng mở. Hai anh có thể nương nhờ ở đây không có gì trở ngại cả. Nhưng từ xưa tới nay chùa không có lệ chứa đệ tử tục gia. Muốn cho người ngoài không nghi ngờ chắc hai anh phải xuống tóc đóng vai tăng, hai anh nghĩ thế nào? Tôi gật đầu. Thầy chỉ cho tôi bể nước mưa ở giữa sân. Hai chúng tôi ra đó gội đầu. Thầy ra lệnh cho anh sa di đang đứng hầu bên cạnh:
– Chú Quý xuống tóc cho hai anh này đi!
Chú tiểu có tên là Quý vội tất tả đi vào phòng trong, lúc trở ra, trên tay chú có con dao cạo râu của thợ hớt tóc.
Lưỡi dao cạo sắc như nước, rà sát da đầu, từ từ đi từ trán tới đỉnh đầu. Nhìn những chùm tóc lả tả rơi trên nền gạch sân chùa, lòng tôi chợt lâng lâng một cảm giác buồn buồn khôn tả. Ngày đầu bước chân vào Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam tôi đã được ông thợ hớt tóc của trường húi cho một cái đầu “cua” tóc ngắn, để biến tôi từ một thư sinh dân chính với mái tóc bồng bềnh, thành một người lính nhà nghề. Vậy mà chưa tới ba năm sau, sóng đời xô đẩy, tôi đành ngậm ngùi giã từ mái tóc nhà binh để trở thành một nam tăng.
Vài phút sau, khi hai Biệt Ðộng Quân đã trở thành hai ông sư, đầu trọc lóc, thầy trụ trì mới bắt đầu hỏi tên tôi và tên chú Phong. Thầy ngồi ngẫm nghĩ một hồi, rồi chậm rãi:
– Con tên là Long, vậy ta cho con chữ Tùng: Pháp danh của con sẽ là Thích Như Tùng. Cây tùng hay cây thông là biểu tượng của người quân tử.
Quay sang chú Phong thầy tiếp:
– Còn con tên là Phong, ta cho con chữ Sơn: Pháp danh của con sẽ là Thích Như Sơn; con sẽ mãi mãi vững vàng như núi.
Thế là từ chiều 20 tháng 5 năm 1966, Thiếu úy Biệt Ðộng Quân Vương Mộng Long biến thành tỳ kheo Thích Như Tùng, ngày ngày chay tịnh, tu tâm dưới chân Phật Tổ.
Mấy ngày đầu, cứ mặt trời lên tới đọt cau, tôi và Như Sơn lại rủ nhau ra vườn sau phơi nắng bên chân cái tháp cổ. Chúng tôi phơi cho da đầu sạm đi, tránh người lạ tò mò phát giác ra cái đầu vừa xuống tóc.
Thời gian này Chùa Tỉnh Hội Quảng-Nam đang bị Thủy Quân Lục Chiến cô lập. Sa di Thích Như Hạnh giữ vai trò liên lạc viên giữa chùa Tỉnh Hội và chùa Long Tuyền.
Một hôm chú Hạnh từ chùa Tỉnh Hội trở về, mặt rầu rầu:
– Năm nay gặp pháp nạn, Phật Ðản không có lễ cung nghinh Ðức Phật như mọi năm, buồn quá!
Nghe nói vậy tôi pha trò:
– Phật Ðản mà Hội-An không có rước đèn thì người người được nghỉ, nhà nhà được nghỉ. Phật Thích Ca cũng được nghỉ, khỏi phải đứng trên tòa sen đặt trong lòng những chiếc ô tô treo cờ kết hoa chạy rong trong phố. Ðứng lâu trên xe, xe chạy rề rề, Phật bị chóng mặt và mỏi chân lắm.
Mọi người cùng cười, nhưng lòng không vui.
Như Hạnh trao cho tôi một cái thư tay của Ðại úy Tôn Thất Trực nhắn rằng anh ta đang trong tình trạng nguy ngập, chưa biết làm cách nào để thoát ra ngoài. Cùng chung cảnh ngộ với Tôn Thất Trực còn có Ðại đức Thích Như Huệ, Trung úy Tuyên Úy Phật Giáo của Trung Ðoàn 51 Biệt Lập cũng đang bị kẹt ở đây…
Xế trưa, bỗng có một đoàn xe vận tải của Quân Vận chạy tới. Ông Ðại úy trưởng đoàn chìa cái sự vụ lệnh cho tôi xem (tôi không nhớ ai đã ký) ghi rằng, đoàn xe sẽ chở Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân về phòng thủ Chùa Tỉnh Hội Ðà-Nẵng.
Tưởng Ðại úy tiểu đoàn trưởng đang ở Chùa Tỉnh Hội. Tôi cho ba chiếc GMC về dinh của Tướng Ðính để bốc Ðại Ðội 3/11, rồi ra lệnh cho tất cả quân nhân hiện có mặt trong sân leo lên những chiếc GMC còn lại.
Ðoàn xe chạy qua Chợ Cồn rồi quẹo sang đường Ông Ích Khiêm hướng về Chùa Tỉnh Hội. Hai bên đường dân chúng đứng chật như nêm. Người người hoan hỉ, nói cười, vẫy tay, hoan hô ầm ĩ.
Xuống xe, tôi cho quân bố trí phòng thủ quanh vòng rào của Chùa Tỉnh Hội.
Tôi bước vào chính điện để hỏi xem ông tiểu đoàn trưởng của tôi có mặt nơi đây không. Nào ngờ, người tôi chạm mặt đầu tiên lại là Thiếu tá Tôn Thất Trai. Thấy mặt tôi, ông Trai la oang oang,
– Thằng Dzu phản rồi! Nó chạy vào phi trường đầu hàng và đi theo cha Loan rồi!
Tin này làm cho tôi tá hỏa. Mới vài hôm trước, trong phòng họp các sĩ quan, Ðại úy tiểu đoàn trưởng dọa sẽ nghiêm trị những ai có tư tưởng hay hành động chống đối phong trào ly khai của Quân Dân Miền Trung.
Cái điệp khúc: “Ý dân là ý trời! Chống lại ý dân tức là chống lại ý trời!” hầu như trong cuộc họp nào, chúng tôi cũng phải nghe. Vậy mà hôm nay trắng đen lộn mặt, không ai ngờ được.
Ông Trai móc túi áo lấy ra cái lon đại úy ba mai vàng sáng chói rồi nắm ngực áo tôi định gắn cái lon ấy vào.
– “Toa” đeo cái lon này lên ngực để mà chỉ huy. Giấy tờ sẽ điều chỉnh sau. Bây giờ nhiệm vụ đầu tiên của “toa” là đem tiểu đoàn về phòng thủ Chùa Phổ Ðà.
Tôi bất bình, gạt tay ông ta ra,
– Không được! Thứ nhất là, không ai ở đây có quyền gắn lon thăng cấp cho tôi. Thứ hai là Ðại úy Dzu đi rồi, bây giờ tôi chỉ nghe lệnh của Tướng Vùng mà thôi! Tôi muốn biết Tư Lệnh Vùng bây giờ ở đâu?
Thiếu tá Trai giơ tay vỗ vỗ vài cái vào hông tôi rồi ôn tồn,
– Chờ chút! Chờ chút nhé!
Ông Trai lanh lẹ quay người đi vào chánh điện. Chừng một phút sau ông ta quay ra,
– Thủ tướng ra lệnh cho Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân về án ngữ tại Chùa Phổ Ðà để ngăn chặn quân chính phủ từ phi trường tiến ra.
Tôi thắc mắc,
– Thủ tướng nào? Ai là Thủ tướng ở đây?
– Thì Bác sĩ Mẫn, Thị trưởng Ðà-Nẵng chứ ai?
– Tôi không dưới quyền Thị trưởng hay Thủ tướng nào cả, tôi cần gặp Trung tướng Tư Lệnh ngay bây giờ!
Ông Trai kèo nài,
– Thì “toa” cứ làm theo sự phân công của Thủ tướng đi. Chiều nay Trung tướng Ðính sẽ nói chuyện với “toa” sau.
Không biết làm gì hơn, tôi đành miễn cưỡng chấp thuận,
– Vậy cũng tạm được!
Bỗng nhiên đạn đại liên từ hướng Ðông “Toác! toác!!Chíu! chíu!” bay sang như mưa.
Quay qua quay lại không thấy bóng ông Thiếu tá Trai đâu cả, tôi vội phóng mình ra ngoài sân. Mái chùa bể, vụn ngói bay tung tóe, bụi khói mịt mù. Con rồng bằng sứ nằm trên nóc chùa bị bắn vỡ đầu. Chiếc xe bồn đựng nước đậu trước cổng chùa cũng trúng đạn, nước phun có vòi. Có tiếng la thất thanh:
“Chết! Có người chết! Cứu thương! Cứu thương đâu! Có người đổ ruột đây nè!”
Sân chùa trở thành một nơi hỗn loạn cùng cực, với đủ mọi thứ âm thanh. Tiếng đạn bay, tiếng người kêu gọi tên nhau, tiếng la hét đau đớn của người bị trúng đạn cùng với tiếng khóc ré từng chặp của con nít tạo thành một không khí hỗn độn chưa từng thấy.
Tôi leo lên bờ tường, đứng dựa hàng rào sắt, mặt quay về sân chùa. Mặc cho đạn đại liên đang như mưa rào trên mái ngói, tôi hét to:
– Ðồng bào đừng sợ! Ðồng bào đừng sợ! Biệt Ðộng Quân sẽ bảo vệ đồng bào! Ðồng bào đừng sợ!
Nghe tiếng tôi oang oang trấn an, bà con bớt sợ, bớt ồn ào ngay. Ðồng bào tôi nằm rạp đất, nằm đè lên nhau, ngổn ngang trong sân. Họ đang nhìn tôi, ánh mắt đầy tin tưởng lẫn lo âu. Ngay sát chân tường, dưới chân tôi, nhiều đồng bào tôi đang khóc.
Ðứng trên cao, tôi thấy được vị trí khẩu đại liên trên một sân thượng hướng Ðông. Khẩu súng sát nhân ấy đang khạc đạn vào đồng bào tôi một cách không thương tiếc.
– Tính đâu! Tính đâu!
– Em đây Thẩm Quyền!
Khẩu 57 ly được vác tới. Tôi đỡ vai cho Hạ sĩ Tính. Hai người leo lên tháp chuông trước cổng. Tính kê súng lên vai.
Tôi nạp một viên đạn, khóa nòng, rồi vỗ tay lên nón sắt của Tính. Tính bóp cò.
“Oành!” Ðạn bay đi.
“Ùm!” Ðạn nổ! Lửa chói lóa trên mục tiêu. Khói và bụi bay lên cuồn cuộn.
Tôi nạp một viên đạn nữa, rồi lại khóa nòng, vỗ tay lên nón sắt của Tính. Tính bóp cò.
Oành!” Ðạn bay đi. “Ùm!” Khẩu đại liên hết hoạt động.
Dẹp xong ổ đại liên, tôi nhảy xuống sân kiểm tra tình hình. Sân chùa đang trong tình trạng vô cùng lộn xộn. Có hai người chết — một bà già và một thanh niên Phật Tử. Còn cả chục người khác bị vỡ đầu, đổ ruột, đang nằm kêu khóc rên la. Những thanh niên Phật Tử trong đội cứu thương chỉ biết băng bó cứu cấp những vết thương xoàng xĩnh, gặp trường hợp vỡ đầu phọt óc, ruột đổ lòng thòng, họ luống cuống, không biết xử trí ra sao.
Tôi gọi to,
– Quân Y đâu! Quân Y đâu!
Chỉ có hai anh y tá của tiểu đoàn chạy lại nhận lệnh băng bó cho người trúng đạn.
Tôi hỏi anh y tá,
– Thiếu úy Lẹ đâu?
– Dạ em không thấy ông ấy đâu cả!
Sau này tôi được biết ông Thiếu úy Lẹ, Trưởng ban Quân Y của tiểu đoàn, đã đi theo ông tiểu đoàn trưởng vào phi trường đầu hàng Ðại tá Nguyễn Ngọc Loan từ những ngày trước.
Một chiếc xe GMC được điều động để chuyển những người bị thương về Bệnh Viện Dân Y bên đường Hùng Vương.
Từ hướng cuối đường Nguyễn Duy Dương, nơi hai chiếc xe Jeep đậu sát bên hàng phi lao có tiếng loa oang oang:
“Yêu cầu toàn thể quân nhân các cấp thuộc Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân buông vũ khí và ra trình diện gấp!”
Tôi nghĩ cái loa tay này cũng cùng phe nhóm với khẩu đại liên 30 trên căn gác kia, nên sẵn súng đạn, tôi ra lệnh cho Hạ sĩ Tính nhắm gốc cây keo giữa hai chiếc xe, bắn thị uy một quả 57 ly. Ðạn rơi hơi ngắn, chạm mặt đường, nổ tung, và hất một chiếc Jeep lộn mèo xuống mương thoát nước bên hàng phi lao.
Tôi không cố ý giết những người ngồi trên hai chiếc Jeep đó, mà chỉ muốn bắn dọa để đuổi họ đi thôi. Không rõ có ai bị thương vong không, nhưng sau đó thì cái loa tay đã im tiếng.
Sau này tôi được biết, chiếc Jeep bị bắn lộn cổ xuống mương là xe của Trung tá Trần Văn Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa! Cũng may, lúc đó không có ai ngồi trên xe cả!
Trong khi tôi chuẩn bị dẫn quân đi thì có bàn tay ai nắm áo tôi giựt lại,
– Ê! Long! Bây giờ mày định đem lính đi đâu vậy?
Quay lại, tôi nhận ra đó là Thiếu úy Nguyễn Xuân Hồng Chân của Trung Ðoàn 51 Biệt Lập. Thiếu úy Chân là bạn cùng Khóa 20 Võ-Bị của tôi. Tôi không rõ bạn tôi tự ý tham gia phong trào ly khai hay đã tham gia cùng với đơn vị của anh.
– Tao đem quân về giữ Chùa Phổ Ðà. Thôi! Tao phải đi ngay. Hẹn ngày gặp lại!
Bắt tay bạn xong, tôi khoát tay cho lệnh tiểu đoàn di chuyển.
Chúng tôi không đi trong phố mà len lỏi trong đường làng. Qua một vạt ruộng thì tới đường Hoàng Diệu. Tôi xua quân lên chiếm giữ hai đầu đường Chu Văn An để giữ an ninh cho toàn bộ tiểu đoàn tiến vào khu nhà dân xung quanh Chùa Phổ Ðà.
Bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng trước sân chùa hướng Phan Châu Trinh. Các đại đội thì ém quân trong nhà dân. Những nhà dân bên đường đều bị đục tường làm lỗ châu mai, sẵn sàng cho một cuộc tác chiến trong đường phố. Nếu có giao tranh, trăm phần lợi thế sẽ nằm trong tay chúng tôi vì quân chính phủ sẽ nằm khơi khơi trên phố không có gì che giấu.
Tối hôm đó Tướng Tôn Thất Ðính vào máy truyền tin gọi tôi và ra lệnh cho tôi từ nay phải nghe lệnh ông Bác sĩ Mẫn và ông Thiếu tá Trai. Ông Thiếu tá Trai sẽ liên lạc trực tiếp với tôi.
Sáng hôm sau có tin đánh nhau vùng Ngã Ba Cây Lan. Trên trời, hai chiếc máy bay AD 6 bay lượn và bắn xuống khu tranh chấp để yểm trợ cho quân chính phủ.
Nhớ lại cảnh tượng xảy ra ngày hôm trước, chỉ có một khẩu đại liên 30 bắn vãi một dây đạn vào sân chùa Tỉnh Hội mà đã có cả chục nhân mạng thương vong; nay hai chiếc oanh tạc cơ trang bị đầy bom, đầy đạn dưới cánh kia sẽ giết chết bao nhiêu người dân vô tội đây? Tôi nghĩ rằng, muốn chận đứng cảnh chết chóc, chỉ có cách bắn vào phi trường, không cho máy bay cất cánh. Nghĩ là làm ngay. Tôi cho khẩu đội cối 81 ly “phang” 6 quả đạn nổ vào phi trường.
Rồi sau một cái phất tay của tôi, súng lớn, súng nhỏ, trung liên, đại liên, garand, carbine, đua nhau khạc đạn lên trời, nhắm hướng hai chiếc AD6. Chúng tôi nghiến răng siết cò súng, hy vọng ngăn chặn được những quả bom, làn đạn, đang tưới xuống đầu người dân Ðà-Nẵng, trong đó có thân nhân của chúng tôi, và có thể, có cả thân nhân của những vị phi công đang lái hai chiếc AD6 kia. Lúc này tôi chỉ hành động theo phản xạ, không suy tính thiệt hơn, không nghĩ tới hậu quả của việc mình làm.
Chỉ vài phút sau trên trời đã thấy xuất hiện hai chiếc chiến đấu cơ khác. Hai chiếc phản lực này bay kè hai chiếc AD 6 không cho bắn phá nữa. Một lúc sau thì cả bốn chiếc máy bay biến mất.
Tôi kiểm điểm lại thì thấy chỉ còn 14 trái đạn cối 81 ly nữa là hết số đạn mang theo. Tôi cho lột vỏ hết 14 viên đạn còn lại này, sẵn sàng phóng đi. Chỉ cần thấy bóng dáng những chiếc oanh tạc cơ tái xuất hiện trên bầu trời thì 14 viên 81 ly đó sẽ theo nhau bay vào phi trường ngay.
Rồi thì, thật bất ngờ, đại liên 12.7 ly trên đường Phan Châu Trinh từ phía Bắc bắn như mưa về hướng Phổ Ðà. Một đoàn chiến xa M41 vừa tác xạ vừa ào ào chạy tới. Khẩu 57 ly của Hạ sĩ Tính đặt trên tháp chuông mới bắn được một viên thì cái nóc tháp chuông đã bị đại bác trên xe tank bắn bay mất. Hạ sĩ Tính sợ quá, nhảy vội xuống đất núp sau bệ đá. Ðoàn chiến xa này là một đơn vị thiết kỵ Hoa-Kỳ. Tôi chẳng hiểu tại sao Tướng Tư Lệnh Vùng của tôi đang tỵ nạn trong Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ mà chiến xa Mỹ lại tấn công chúng tôi?
Có điều là quân Mỹ không có ý giết chúng tôi, đạn của họ dù bắn như mưa, nhưng bắn rất cao. Khi những chiến xa Hoa-Kỳ đã bao vây sát bờ tường Chùa Phổ Ðà, tôi liều mạng bước ra cổng xem người Mỹ muốn gì.
Một Ðại úy Hoa-Kỳ nhảy xuống đất, ngỏ ý muốn gặp cấp chỉ huy của Biệt Ðộng Quân. Tôi nói với ông ta rằng, tôi là người chỉ huy ở đây. Ông Ðại úy Mỹ nói, người Mỹ đã đứng ngoài vụ tranh chấp này. Nhưng 6 viên cối 81 ly của tôi đã không rơi trên khu Không Quân Việt-Nam mà rơi trên khu đậu máy bay của Mỹ nên quân đội Mỹ phải can thiệp.
Tôi phân bua với người sĩ quan Mỹ rằng, trong một nước dân chủ, việc dùng vũ lực để đàn áp lực lượng chính trị đối lập là một hành động man rợ, thô bạo và vô nhân đạo, không chấp nhận được. Chính quyền trung ương đã dùng tới không quân để tiêu diệt chúng tôi thì, để tự vệ, tôi sẽ làm tất cả những điều có thể làm, sử dụng bất cứ phương tiện gì mà tôi có trong tay để đánh trả. Nếu người Mỹ thấy cần giết chúng tôi thì cứ ra tay, chúng tôi không hề sợ chết. Tôi chỉ cho ông Ðại úy Hoa-Kỳ nhìn thấy đống đạn 81 ly đã lột vỏ, rồi nói với ông ta,
– Nếu máy bay tiếp tục bắn phá, tôi sẽ gửi số đạn kia vào phi trường ngay lập tức.
Tôi vừa dứt tiếng thì vị sĩ quan Hoa-Kỳ tiến lên ôm ngang hông tôi tỏ vẻ thân thiện, rồi thông báo cho tôi biết rằng, giờ này Không Quân Mỹ đã kiểm soát toàn bộ phi trường và tạm thời không cho máy bay Việt-Nam cất cánh nữa. Ðể đổi lại, ông ta đề nghị tôi phải ngưng ngay hành động pháo kích. Nếu tôi không làm theo lời yêu cầu của ông ta, ông ta đành phải san bằng chùa Phổ Ðà.
Sau khi nghe tôi hứa sẽ không nã pháo vào phi trường nữa thì đoàn chiến xa Mỹ mới chịu kéo nhau đi.
Ðêm hôm đó chiếc Jeep của Ðại úy Tiểu đoàn trưởng trở về đậu trước cổng chùa trên đường Chu Văn An. Ông Ðại úy đi cùng anh Chuẩn úy Hồ Văn Hữu, sĩ quan ban 5 Tiểu đoàn, và người tài xế. Dưới ánh điện đường tôi thấy dáng dấp của ông thật là tiều tuỵ. Râu tóc bờm xờm, áo quần xốc xếch, ông ngồi xẹp trên mặt đất trước đầu xe. Tôi tới đứng nghiêm trước mặt ông, rồi giơ tay chào ông theo đúng quân cách.
– Ðại úy trở về rồi ư? Anh em đang chờ Ðại úy.
Ðại úy Dzu không bắt tay tôi. Ông cúi mặt nhìn xuống mặt đường. Những ngón tay ông cào cào vô thức trên mặt lộ. Rồi mặt vẫn không ngẩng lên, ông nói nhỏ,
– Long bỏ tiểu đoàn rồi theo “moa” vào phi trường theo ông Kỳ có được không?
– Còn anh em?
– Bỏ tụi nó đó! Không có người chỉ huy, tụi nó sẽ tự giải tán thôi!
Tôi bất mãn, lớn tiếng,
– Ðại úy đem con bỏ chợ. Nay còn vác mặt về rủ rê tôi làm điều tồi tệ này nữa sao?
– Long à! Mình có còn con đường nào khác nữa đâu?
Ðại úy thều thào phân bua.
Từ lúc chiếc xe ngừng trước cổng, đã có nhiều binh sĩ chạy ra vây quanh ông Tiểu đoàn trưởng. Họ đã nghe rõ những lời ông nói. Vài người tỏ vẻ bất mãn quay lưng bỏ đi; vài người tức giận buột miệng chửi thề. Bốn năm khẩu súng lên cò chĩa vào đầu ông Ðại úy và ông Chuẩn úy làm cho hai vị này hoảng hồn nhìn tôi cầu cứu. Hạ sĩ Trần Quy vừa khóc vừa gào lên:
“Ðại úy là đồ tồi! Ðại úy là thằng phản bội! Ðại úy là thằng hèn!… Hu! Hu! Hu!…”
Tôi sợ tình trạng này kéo dài, sẽ khích động anh em khiến tính mạng của ông Ðại úy khó được bảo toàn, nên vội giơ tay ngăn cản anh em lại,
– Anh em bình tĩnh! Việc gì cũng có thể giải quyết ổn thỏa.
Sau đó tôi cúi xuống nói nhỏ vào tai ông Dzu,
– Ðại úy nhồi nhét cái tư tưởng “ý dân là ý trời” vào đầu óc anh em. Anh em đã răm rắp tuân theo lời Ðại úy. Nay Ðại úy bỏ dân chúng, bỏ anh em, thì Ðại úy cũng đừng trách anh em nặng lời với Ðại úy. Tôi nghĩ rằng, giờ này Ðại úy nên đi khỏi nơi đây là tốt nhất!
Tôi hất hàm ra dấu cho Chuẩn úy Hồ Văn Hữu; anh Hữu lật đật xốc nách ông Dzu dìu ông lên xe. Chiếc Jeep Willy rồ ga, nhắm hướng phi trường.
Thì ra 6 viên đạn súng cối 81 ly rơi trên khu đậu máy bay của Mỹ, cùng những tràng súng nổ rền trời, rền đất một góc thành phố buổi sáng ngày hôm đó đã khiến những người chỉ huy mới của ông Dzu lo ngại, rồi ra lệnh cho ông ta phải quay về chiêu dụ tôi theo họ.
Đôi lời của người post bài: Tôi sẽ post lại tất cả các bài viết của Vương Mộng Long cho những ai chưa có dịp đọc qua nay sẽ biết đến qua các bài viết về cuộc đời thực đầy chất lính của ông. / Sơn râu
Hồi Ký
Kỳ 1
Bao năm đã trôi qua, nhiều người Việt-Nam vẫn còn cho rằng Tăng Ni Phật Giáo Miền Trung phát động vụ “Bàn thờ Phật xuống đường năm 1966” là Cộng-Sản. Những quân nhân Phật Tử và dân chúng đã vào chùa ủng hộ cuộc chính biến đó cũng bị kết tội là mắc mưu Cộng-Sản xúi giục, phá rối trị an. Thực tế không phải như vậy đâu!
Bất cứ chuyện gì xảy ra trên thế gian này đều có nguyên ủy của nó. Nếu không phải là một người đã từng tham gia, dính líu tới cuộc chính biến năm 1966 đó, thì sẽ không thể có một kết luận chính xác cho những gì đã xảy ra.
Nhớ lại thời 1963, Việt-Nam Cộng-Hòa có lãnh tụ là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Vụ đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 dưới sự dàn dựng của Hoa-Kỳ, cùng sự tham gia của Phật Giáo và quân đội chỉ nhằm mục tiêu là lật đổ một lãnh tụ. Sau khi Tổng Thống Diệm bị giết thì đất nước ta lâm vào tình trạng lạm phát lãnh tụ. Ðất nước có quá nhiều lãnh tụ xuất hiện, cũng có nghĩa là đất nước không có ai đủ tài, đủ đức cho dân chúng tôn thờ. Một phe phái chính trị vừa giành được quyền bính thì không lâu sau đã bị phe khác lật đổ, Miền Nam bước sang thời kỳ vô cùng nhiễu nhương, tạo cơ hội cho quân đội đứng lên, nắm giữ chính quyền.
Quân đội một mặt bảo vệ biên cương, đồng thời quân đội cũng cầm đầu chính phủ, nắm vận mệnh quốc gia. Có điều những tướng lãnh cầm quyền không do dân bầu mà là do phe phái đặt để sau những lần đảo chánh, chỉnh lý, hay biểu dương lực lượng. Thêm vào đó, quân đội cũng không còn là một khối thuần nhất nữa; tướng lãnh tranh giành quyền hành, đấu đá nhau liên miên. Không có lãnh tụ chân chính, nên thầy trò, dù là trong quân đội, cũng bỏ nhau, phản nhau là chuyện bình thường.
Năm 1966 Tướng Thiệu, Tướng Kỳ ngự trị ở trung ương. Miền Trung thì Tướng Thi hùng cứ một phương. Thời gian này đất nước ta nằm trong tay các “Sứ quân” tướng lãnh của quân đội. Nhưng Việt-Nam Cộng-Hòa lại là đất nước của dân chủ và tự do, nên dân chúng Việt-Nam Cộng-Hòa luôn luôn khát khao, đòi hỏi phải có một chính quyền dân cử. Nhân cơ hội này, người Mỹ đã đứng sau lưng, dàn dựng và sắp xếp cho các “Sứ Quân” loại bỏ lẫn nhau từ từ. Ðể rồi vụ binh biến Miền Trung xảy ra. Trâu bò húc nhau thì ruồi muỗi chết! Chỉ có lính tráng và dân chúng Miền Trung như chúng tôi là gánh lấy cái khổ. Quân nhân thuộc Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân cũng chỉ là những nạn nhân của cuộc binh biến năm 1966 này.
Thời hậu đảo chánh, Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam lâm vào tình trạng chia rẽ trầm trọng, Ấn-Quang đi theo một đường, Việt-Nam Quốc Tự đi theo một nẻo. Phật Giáo Miền Trung hầu như hoàn toàn chịu sự chi phối và chỉ đạo của phe Ấn-Quang. Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Ðoàn I và Vùng 1 Chiến Thuật là một con cờ của Ấn-Quang. Tháng 2 năm 1966 Trung tướng Nguyễn Chánh Thi công khai ủng hộ “Phong Trào Nhân Dân Tranh Thủ Cách Mạng” của Phật Giáo, chủ trương ly khai và đòi tách Miền Trung ra khỏi Việt-Nam Cộng-Hòa để thành lập Miền Trung Tự Trị.
Dân chúng từ nông thôn, nghe lời kêu gọi của Giáo Hội Phật Giáo Miền Trung theo chân nhau, ào ào tuôn vào thành phố ủng hộ và tham gia phong trào tranh đấu. Huế, Ðà-Nẵng, chùa chiền nào cũng đầy người và người. Vào Hè, Ðà-Nẵng hừng hực nắng. Thành phố chói lòa vì mái nhà nào cũng lợp tôn. Nắng nung mặt lộ, đường phố bốc hơi. Trong lòng người dân Ðà Nẵng “lửa cách mạng” cũng bừng bừng cháy. Biểu ngữ giăng khắp nơi: “Hoan hô hội đồng nhân dân tranh thủ cách mạng!” – “Một quốc hội dân cử…”- “Ðả đảo chế độ độc tài quân phiệt!” …
Ðầu tháng 3 năm 1966, Trung tướng Nguyễn Chánh Thi bị giải nhiệm, thay thế bằng Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân. Từ đó dấy lên phong trào tranh đấu đòi phục quyền cho Tướng Thi. Giữa tháng 3, Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân bị điều động từ Hội-An ra Ðà-Nẵng cũng nhằm mục đích hỗ trợ cho phong trào này. Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu, Tiểu Ðoàn Trưởng 11 Biệt Ðộng Quân, vốn là đàn em thân tín của Trung tướng Nguyễn Chánh Thi nên ông dẫn tiểu đoàn về Ðà-Nẵng để ủng hộ Tướng Thi cũng là lẽ đương nhiên. Thời gian này, tôi, Thiếu úy Vương Mộng Long, là đại đội trưởng Ðại Ðội 3 của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.
Dưới cái nắng như thiêu, ba quân trong hàng, im phăng phắc nghe Ðại úy Tiểu đoàn trưởng ban lệnh: “Dân chúng muốn Miền Trung tự trị, và sẽ tiếp tục tranh đấu để Việt-Nam có một chính quyền do dân bầu lên, làm việc cho dân, làm việc vì dân. Ý dân là ý trời! Dân chúng đòi ly khai, chúng ta ly khai. Từ giờ phút này, chúng ta đứng về phía nhân dân, chống lại chính quyền Thiệu, Kỳ.”
Trong tiểu đoàn này, Ðại úy Tiểu đoàn trưởng là cấp chỉ huy tối cao. Cấp chỉ huy nói gì, chúng tôi tin nấy, cấp chỉ huy muốn sao, chúng tôi làm vậy, vì kỷ luật là sức mạnh của quân đội. Vả lại, chúng tôi là con dân Miền Trung, dân chúng Miền Trung đòi ly khai, chúng tôi ly khai theo dân là đúng với ý trời rồi còn gì?
Tiểu đoàn chỉ có ba đại đội 1, 3, và 4 kéo về đây, vì Ðại Ðội 2/11 của Ðại úy Tôn Thất Trực còn nằm trong Hội-An. Tôi nghe nói anh Trực đang chỉ huy Ðại Ðội 2/11 cùng một nửa Tiểu Ðoàn 39 Biệt Ðộng Quân giữ nhiệm vụ phòng thủ Chùa Tỉnh Hội Quảng-Nam nhận lệnh trực tiếp từ Ðại tá Ðàm Quang Yêu, Tư Lệnh Biệt-Khu Quảng-Ðà.
Chúng tôi đóng quân trong sân vận động Chi-Lăng. Cứ cách vài hôm đại đội tôi lại tới phiên trực, phải leo lên lưng thiết vận xa M113 hành quân tùng thiết; đi, về trong ngày để tảo thanh du kích Việt-Cộng lẩn quất quanh vùng Non Nước, Cầu Ðỏ, Lăng-Cô ngoại ô Ðà-Nẵng…
Ðóng quân ở sân vận động cùng hai đại đội bạn (1 và 4) được ít lâu, Ðại Ðội 3/11 nhận được lệnh di chuyển về chốt giữ nhà máy đèn Ðà-Nẵng để kiểm soát con đường dẫn vào Quân Y Viện Duy Tân và phi trường Ðà-Nẵng.
Cuối tháng 3 năm 1966, đại đội tôi được tăng cường một khẩu đội SKZ 57 ly và một khẩu đội cối 81 ly. Thời gian này, tôi phải trực máy truyền tin 24/24 để sẵn sàng thi hành một nhiệm vụ đặc biệt do Ðại úy Tiểu đoàn trưởng giao phó.
Một đêm, trong giờ giới nghiêm, Ðại úy Tiểu đoàn trưởng với một xe Dodge có 6 Biệt Ðộng Quân vũ trang hộ tống tới gặp tôi. Ông chỉ thị cho tôi ngày hôm sau phải chận đoàn xe từ phi trường ra, và bắt cho được vị tướng ngồi trong chiếc xe Falcon đen.
Chẳng hiểu ất giáp gì cả, nhưng tôi cứ im lặng thi hành lệnh này. Tôi cho căng một cuộn thép gai vòng chận ngang con đường từ phi trường về Bộ tư lệnh quân đoàn rồi cho quân bố phòng chờ đợi. Suốt hai ngày không có chuyện gì xảy ra. Tới ngày thứ ba thì Ðại úy ghé thăm và cho phép đại đội tôi sinh hoạt bình thường trở lại.
Nhà tôi ở trong Hội-An, cả tháng rồi tôi chưa ghé thăm nhà. Ðược dịp ông Tiểu đoàn trưởng giải tỏa lệnh trực 24/24 thì ngay trưa hôm đó, như sáo sổ lồng, tôi giao đại đội cho Thiếu úy Ðạt rồi cùng Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong leo lên chiếc Dodge 4 phóng đi ngay.
Thiếu úy Vương Mộng Long -1966
Ngày đầu đáo nhậm đơn vị (10 tháng 2 năm 1966) tôi đã được cấp chiếc Dodge 4 này nên lái nó cũng quen rồi. Ðúng ra thì Ðại đội trưởng Biệt Ðộng Quân phải có một xe Jeep, nhưng tôi lại chưa từng được “sờ” tới cái xe Jeep lần nào. Chiếc xe này đã theo ông cựu Ðại đội trưởng từ lúc ông ta bị thương, rồi tiếp tục bị biệt phái theo ông ta khi ông ta xuất viện về làm sĩ quan Ban 3.
Thực tình thì tôi cũng chẳng màng tới chuyện xe cộ. Miễn là được làm Ðại đội trưởng, có quân, có quyền, hành quân thì đi riêng một cánh, chẳng dưới quyền ai là thích lắm rồi. Tôi về nhà thăm mẹ tôi một buổi. Tới chiều, tôi sang nhà anh bạn Trần Ngọc Lợi bên bờ sông Thu Bồn ngồi nhâm nhi mấy chai bia cổ cao. Tôi ngủ qua đêm ở nhà thằng bạn, dự trù sáng hôm sau sẽ trở về đơn vị.
Sáng hôm sau, “đề” hoài mà chiếc Dodge thổ tả cứ ì ra không chịu nổ máy. Tôi phải mượn cái Honda hai bánh của anh bạn, chạy vào tiểu khu nhờ ông trưởng ban quân xa của đại đội yểm trợ tiếp vận tiểu khu giúp đỡ. Quân xa của tiểu khu kéo được chiếc Dodge của tôi về tới công xưởng thì xế chiều rồi. Hai ông thợ máy phải làm việc hì hục tới mười giờ đêm mới sửa xong xe cho tôi.
Mười giờ sáng ngày sau nữa tôi mới về tới đại đội. Hạ sĩ Phụng, người mang máy truyền tin đại đội hớt hải chạy ra nắm áo tôi,
– Nguy rồi thẩm quyền! Ðại bàng tìm thẩm quyền hai ngày nay. Không gặp thẩm quyền, ổng nổi tam bành! Chửi thề luôn miệng!
Tôi chột dạ,
– Ủa! Chứ Thiếu úy Ðạt đâu?
– Thẩm quyền vừa đi khỏi thì Thiếu úy Ðạt cũng đi mất. Chắc ổng “dù” về Huế thăm nhà rồi!
Tới trưa hôm đó thì xe của Ðại úy xuất hiện. Mặt ông lầm lì, ông không hé môi. Ông ngoắc tay cho tôi lên ghế sau rồi ra dấu cho tài xế chạy thẳng về sân vận động.
Ông nhảy xuống xe, liếc mắt ra dấu cho tôi đi theo. Vào phòng, đóng cửa lại xong xuôi, ông mới trợn mắt,
– Mấy ngày nay ông bỏ đơn vị đi đâu?
– Tôi ghé thăm nhà trong Hội-An.
– “Ð! Má!” Ông có biết ông đã làm hỏng hết kế hoạch hành quân của người ta rồi không?
Tôi ngớ người, ú ớ,
-Có chuyện gì vậy đại bàng?
– “Ð! Má!” Hôm qua phái đoàn của thằng cha Có [Trung Tướng Nguyễn Hữu Có] từ Sài-Gòn ra. Tôi gọi ông để thi hành mật lệnh, ông không có nhà, thằng phụ tá của ông cũng vắng mặt. Không túm được cha Có thì làm sao gây áp lực với tụi trung ương để phục hồi chức vụ cho “Ông Thầy” đây? Ông làm hỏng hết kế hoạch của “Mặt Trận” rồi, ông có biết không?
Vì thường nghe Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu gọi Trung tướng Nguyễn Chánh Thi là “Ông Thầy” nên tôi hiểu ra liền: Kế hoạch của phe ly khai là bắt sứ giả của chính phủ trung ương (Trung tướng Nguyễn Hữu Có) để mặc cả chuyện phục hồi chức vụ cho Trung tướng Nguyễn Chánh Thi!
Tôi đành lí nhí,
– Tôi nhận lỗi! Tùy Ðại úy xử phạt. Tôi sẽ không khiếu nại.
Mặc tôi đứng trơ giữa phòng, Ðại úy chắp tay sau đít, hậm hực đi đi, lại lại loanh quanh cả chục vòng rồi tiến ra mở cửa,
– Ði đi!
Tôi bước ra khỏi phòng, sau lưng tôi Ðại úy ra lệnh cho anh tài xế,
– Ðưa anh ta về đại đội!
Từ hôm xảy ra vụ bắt hụt sứ giả của chính phủ trung ương, tôi bị ông Tiểu đoàn trưởng liệt vào loại “lừng khừng chống cách mạng.” Tuần lễ sau tôi được lệnh đem Ðại Ðội 3/11 về đường Bạch-Ðằng, canh gác tư dinh của tướng Tân Tư Lệnh Vùng. Tư Lệnh Vùng 1 bây giờ đã là Trung tướng Tôn Thất Ðính. Tôi chỉ giáp mặt Tướng Ðính có một lần. Hầu như mọi việc trong nhà đều do ông Thiếu tá Tôn Thất Trai, Chánh Văn Phòng của Tướng Ðính quán xuyến.
Cũng từ đó, đại đội tôi được miễn hành quân. Tôi và Thiếu úy Ðạt, đại đội phó, cứ luân phiên lang thang trên phố. Vào một buổi chiều, Ðại úy Tiểu đoàn trưởng gọi tôi về trình diện. Ông đưa cho tôi một danh sách thăng thưởng những quân nhân hữu công của đại đội tôi rồi nói,
– Ngày mai có xe đón các anh về Hội-An dự lễ gắn huy chương trận Tháp Bằng-An.
Trận Tháp Bằng-An xảy ra ngày 22 tháng 2 năm 1966, khi đó tôi chỉ là một thiếu úy trung đội trưởng với thâm niên mười hai ngày công vụ. Nhưng vài phút trước trận đánh, tôi đã được đảm nhiệm chức vụ Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 3/11 thay thế Trung úy Lê Bá Ngọ bị thương.
Trong trận đánh này, đại đội tôi lập công đầu, hạ sát trên một trăm địch quân, tịch thu được 105 vũ khí cá nhân và cộng đồng. Ðại úy tiểu đoàn trưởng nói rằng Trung tướng Nguyễn Chánh Thi đã đề nghị thăng cấp trung úy đặc cách mặt trận cho tôi rồi, ráng chờ ít lâu nữa, có nghị định của Bộ Tổng Tham Mưu, ông sẽ gắn lon mới cho tôi.
Buổi lễ tuyên dương công trạng đã diễn ra trong sân cờ của Tiểu Khu Quảng Nam. Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu Tiểu Ðoàn Trưởng 11 Biệt Ðộng Quân được Trung tướng Tôn Thất Ðính gắn cho một Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương; Ðại úy Nguyễn Văn Của, Chi Ðoàn Trưởng 3/4 Thiết Vận Xa được vinh thăng Thiếu tá.
Tôi được ông Ðại tá tên là Mô gắn cho một Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liễu. Ngoài ra, tôi còn được một ông tướng Mỹ gắn cho một huy chương Silver Star của Hoa-Kỳ. Gần hai chục quân nhân hữu công khác thuộc Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân và Chi Ðoàn 3/4 Thiết Quân Vận cũng được ban thưởng huy chương và thăng cấp.
Dịp này tôi mới biết Trung tướng Nguyễn Chánh Thi đã lên đường xuất ngoại để chữa bệnh hay giữ chức Ðại sứ ở nước nào đó bên trời Tây. Trung tá Trần Văn Hai đã về giữ chức Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân-Lực Việt -Nam Cộng-Hòa thay thế Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận. Tướng Nhuận được điều động ra Huế đảm trách chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh thay Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân. Tướng Chuân vào Ðà-Nẵng làm Tư Lệnh Quân Ðoàn I và Vùng 1 Chiến Thuật, chưa đầy một tháng thì từ chức, trao quyền cho Trung tướng Tôn Thất Ðính.
Tôi cũng nghe rằng, Tướng Ðính tuy là người của trung ương phái ra, nhưng lại công khai ngả theo phe ly khai của Phật Giáo (?) Trong tư dinh của Tướng Vùng không có chỗ cho binh lính nấu cơm, nấu nước, vì thế, trong thời gian này thầy trò tôi cứ cơm đường cháo chợ qua ngày.
Một đêm trong khi ngủ say, võng đứt, Thiếu úy Ðạt bị một cái tủ đè vỡ đầu, gãy tay, phải đi nằm nhà thương. Ðại Ðội 3/11 chỉ còn mình tôi là sĩ quan, nên tôi hết dịp lang thang trên phố. Rồi sáng sớm 15 tháng 5 Thiếu tá Trai báo cho tôi biết rằng, Thủy Quân Lục Chiến từ sân bay tiến ra, đã đánh chiếm Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I. Trung tướng Tôn Thất Ðính phải bỏ chạy sang Sơn-Trà tá túc trong Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Thiếu tá Trai cũng chuyển lời nhắn của Trung tướng Tư lệnh cho tôi là:
“Nếu Thủy Quân Lục Chiến đến chiếm tư dinh của ông, thì tôi cứ giao cơ ngơi này cho họ. Nếu họ muốn tôi giải giới, thì tôi giao nạp vũ khí cho họ để tránh đổ máu.”
Một đoàn xe chở Thủy Quân Lục Chiến chạy ngang qua dinh Tướng Ðính, nhưng không dừng lại. Họ hướng về phía Ðài Phát Thanh Ðà-Nẵng. Sau đó thì súng nổ đùng đùng kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ rồi im. Tới trưa thì quân chính phủ chiếm được Ðài Phát Thanh. Tôi nhặt chiếc xe đạp của ai đó vứt bên lề đường, đạp về sân vận động xem tiểu đoàn ra sao.
Giờ này, dân chúng đang tụ tập đông như kiến quanh cổng sân Chi-Lăng. Dân chúng khóc lóc thật thảm thiết. Nhiều bà con ai oán gào lên:
“Các con ơi! Sao các con dửng dưng đứng nhìn quân Thiệu, Kỳ chiếm Ðà-Nẵng mà không dám làm gì sao? Các con ơi!”
Xen kẽ là những tiếng hô: “Dân quân Ðà-Nẵng thà chết không đầu hàng bọn Thiệu, Kỳ, Có!”- “Ðả đảo quân phiệt!”-Miền Trung Tự Trị!”
Nhìn cảnh tượng bừng bừng khí thế này, tôi thấy lời Ðại úy tiểu đoàn trưởng thật là chí lý:
“Ý dân là ý trời! Dân chúng đòi ly khai, chúng ta ly khai.”
Tôi nghĩ bụng, dân chúng thà chết không đầu hàng. Là con dân Ðà-Nẵng, chúng tôi sẽ theo ý dân, quyết không đầu hàng! Ðại úy quả là người chỉ huy sáng suốt, quyết tâm trung thành với lãnh tụ của ông, trung thành với dân chúng Miền Trung. Chúng tôi may mắn lắm mới có Ðại úy là con chim đầu đàn dẫn dắt…
Tội “phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa” trong tù cải tạo!
Cho đến nay, nhiều người còn thắc mắc rằng Miền Nam Việt Nam là một vựa lúa ở Ðông Nam Á và thời kỳ chiến tranh, nhiều vùng đất canh tác lúa trở thành hoang hóa, Miền Nam Việt Nam không đến nỗi thiếu gạo trầm trọng mà tại sao những năm tháng sau biến cố chính trị và quân sự 30 tháng 4, 1975, đất nước thống nhất và hòa bình rồi người dân kiếm ra một hạt gao sao trần ai đến thế? Những tháng cuối năm 1978, khi còn bị cải tạo lao động tại trại Hàm Tân Z-30C, Ban Văn Hóa Thi Ðua do một tù cải tạo vốn là cựu ký giả cho một tờ tuần báo của quân đội VNCH được trại cử làm Trưởng Ban điều hành đã có “sáng kiến” tổ chức một tủ sách (dĩ nhiên gồm toàn là những sách được xuất bản dưới chế độ cộng sản) cho tù cải tạo mượn đọc. Trong một lần anh trưởng ban thi đua để sách vào xe cải tiến đến từng nhà giam rao “hàng” và dĩ nhiên là “hàng” của anh thường “ế độ,” ngoại trừ những tờ tạp chí cộng sản dù nó cũ nhiều so với thời điểm lúc đó. Thời làm phóng viên chiến tranh, Cơ quan đánh giá tình hình an ninh xã ấp và tình hình của đảng Cộng Sản Bắc Việt gọi tắt là HES của Hoa Kỳ, tôi thường xuyên được cho phép đọc những tài liệu này, trong đó những nhà nghiên cứu Mỹ rất hay trích dẫn tờ tạp chí Học Tập. Cho nên có thể nói, tờ Tạp chí Cộng Sản chính là hậu thân của tờ Học Tập, một loại nguyệt san phát hành hạn chế chỉ dành cho hàng ngũ cán bộ thuộc loại khá cao cấp đọc vì trong đó những bài viết của giới lãnh dạo đảng và họ không ngại ngùng bộc lộ những khó khăn nội bộ tong đảng CSVN. Ở Hàm Tân, tôi thường mượn tờ nguyệt san này. Lúc đầu, những tù cải tạo nào mượn tờ Tạp chí Cộng Sản thường bị các anh em khác chỉ trích nên họ đều bỏ vì chẳng ai muốn anh em làm phiền mình. Cá nhân, tôi giải thích rất rõ ràng tại sao tôi muốn đọc tờ tạp chí đó bởi vì đọc chúng, tôi có thể biết đại khái bối cảnh thực của Việt Nam sau khi người Cộng sản chiến thắng ngày 30 tháng 4, 1975. Tôi nói thẳng ra rằng, dù là bạn đồng tù với nhau, nhưng suy nghĩ không nhất thiết phải là điều gì cũng giống nhau. Ðói khổ và bị hành hạ về vật chất cũng như về tinh thần đã đẩy một số anh em đồng tù đến chỗ cố chấp và hay cắng đắng nhau vì những chuyện nhỏ nhặt. Với những anh em này, tôi nói thẳng với họ rằng trước đây do làm trong hệ thống truyền thông của chính phủ VNCH cho tới sáng 30 tháng 4, 1975, tôi tin mình đủ khả năng để luận đoán những sự việc công khai và những gì đằng sau nó. Ðó là một thứ quyền của người làm truyền thông dù là làm với tư nhân hay với chính phủ. Vả lại, dù đói khổ và bị đàn áp, tôi vẫn còn đủ sáng suốt để hiểu bằng đầu óc của mình rằng không phải bất cứ người nào đọc một vài bài báo, một số tác phẩm của Cộng sản là trở thành người cộng sản ngay. Nếu thế thì những viên chức nam nữ cầm đầu phái đoàn VNCH tại cuộc hòa đàm Paris biến thành cộng sản hết hay sao? Một trong những số ấn hành từ năm 1977, xuất hiện một bài báo khá dài của tác giả ký bút hiệu là Cửu Long (dường như bút hiệu này được dành riêng cho những nhà lãnh đạo cộng sản sử dụng khi họ viết trên tờ Nhân Dân hay tạp chí Cộng Sản), trong đó tác giả này đã đề cập đến kế hoạch được mệnh danh là kế hoạch đẩy mạnh việc trồng loại khoai mì tapioca lấy giống từ Ấn Ðộ “cho năng suất cao” tại cao nguyên Trung Phần và Miền Ðông Nam Bộ” vì “trong vòng hai kế hoạch 5 năm người dân Việt Nam vẫn còn phải ăn độn từ 40% tới 60%. Gạo sản xuất sẽ phải dùng để xuất cảng, một phần là để trả nợ chiến tranh, phần khác để thu vào ngoại tệ.” Cũng trong bài báo tác giả Cửu Long còn “cảnh báo” rằng đang có tệ trạng những cán bộ địa phương lạm dụng việc đưa dân vào hợp tác xã để “chiếm đất vun quén cho cá nhân mình.” Lúc đó, điều này là một điều mới nhưng ngày nay thực tế rất bê bối của vấn đề đất đai ở Việt Nam là điều không còn gì phải bàn luận nữa. Cũng trong số các sách cho chúng tôi mượn có một cuốn làm tôi chú ý của tác giả Trần Văn Ðiển, một kỹ sư nông nghiệp nói về các loại củ của một số cây công nghệ như khoai mì, sắn dây, hoành tinh, củ năn, nghệ, gừng… có thể chế biến thành các loại thực phẩm “cứu đói” hay có dược tính chữa bệnh. Tác giả phân tích rất kỹ thành phần các chất trong khoai mì là thứ tù cải tạo chúng tôi đang phải ăn hàng ngày. Theo tác giả này, khoai mì chỉ là một trong những loại củ cho người dùng nguồn chính của carbohydrat và không có gluten, chứ không hề có protein. Vì thế, nếu sử dụng khoai mì với tỷ lệ chế ngự so với gạo trong khẩu phần hàng ngày thì sẽ khiến cho con người bị đẩy vào trong tình trạng thiếu dinh dưỡng, phù thũng hay ốm còi. Hơn nữa, vẫn theo tác giả trên, khoai mì chứa một vài chất độc như cyanide nhất là ở lớp vỏ bọc ngoài, có thể gây nguy hiểm cho người dùng nếu họ không chế biến cẩn thận. Cho nên, ở ngoài xã hội cũng như trong phần lớn nhà bếp của những trại lao cải tạo hay ở địa điểm lao động tập thể, khoai mì được nhổ lên lấy củ. Muốn luộc ăn, khoai mì phải được ngâm nước ít nhất là hai ngày trước khi chế biến. Nếu là khoai mì lát phơi khô rồi cũng phải ngâm với nước vo gạo ít nhất là một ngày trước khi nấu chín. Có một lần, nhà bếp của phân trại E đem đổ nước đã ngâm khoai mì xắt lát phơi khô xuống hào chung quanh trại có thả cá rô phi, ngày hôm sau những con cá rô phi này chết nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Theo nhiều tài liệu khoa học, trong củ khoai mì không có một chút protein nào, ngược lại trong lá cây khoai mì lại có nhiều protein thực vật. Vì thế, trong trại A-20 Xuân Phước, có một vài anh em vì đói và muốn mưu sinh thoát hiểm nên đã thử ăn đọt lá khoai mì luộc, nhưng họ cho biết rất khó ăn và hơi bị say. Phước “Moshe Dayan” là người giới thiệu với tôi loại lá cây khác mà theo anh cũng có nhiều chất đạm. Ðó là đọt lá của “cây hoa cứt lợn” luộc chín. Tôi đã được Phước cho ăn thử một đọt, nhưng do cảm thấy có mùi hắc và nham nhám không thể nuốt được, nhưng Phước “Moshe Dayan” tiếp tục cho đến khi anh lên cơn đau bụng dữ dội. Anh em dìu Phước lên bệnh xá, nơi có một số bác sĩ quân y VNCH (BS Châu và BS Lộc) vốn là những tù cải tạo như chúng tôi được trại đưa lên làm việc ở bệnh xá. Trưởng bệnh xá là một trung úy y sĩ Việt Cộng (ở trong quân đội cộng sản vào thời đó, bác sĩ là từ ngữ để gọi những người tốt nghiệp trường đại học y khoa, còn y sĩ dùng để gọi những người tốt nghiệp trường huấn luyện y tá) và cũng may anh ta còn chút lương tri nên đã chấp thuận đưa Phước “Moshe Dayan” ra bệnh viện Tuy Hòa theo đề nghị của Bác Sĩ Châu và Bác Sĩ Lộc tiếp theo sau cuộc chẩn đoán của họ. Các bác sĩ tại bệnh viện Tuy Hòa đã thực hiện cuộc phẫu thuật và khám phá ra là phân có lẫn bã lá “cây cứt lợn” không đẩy xuống hậu môn để thải ra được làm cho ruột già của Phước bị sưng lên. Ngay chính Phước “Moshe Dayan” khi được đưa trở lại trại đã xác nhận anh sống được là nhờ phép lạ. Phước nói: “Chỉ chậm một chút thôi là chết chắc.” Phước là nông dân miền đồng bằng sông Cửu Long còn giữ nguyên được những đặc tính của miệt vườn: chịu đựng nắng mưa bền bỉ, không sờn lòng trước đói khổ, ngay thẳng và hào phóng. Anh từng là một đảng viên của lực lượng vũ trang của Hòa Hảo. Sở dĩ anh em trong trại gọi anh là Phước “Moshe Dayan” do anh chỉ còn một con mắt. Là một nông dân còn nguyên chất, thông hiểu những loại “rau rác” (từ ngữ của chính anh) có thể kiếm được ngoài đồng hay ở bìa rừng, nên Phước “Moshe Dayan” chỉ cho những anh em bạn tù cách mưu sinh thoát hiểm, nghĩa là chỉ cho biết loài rau dại nào có thể ăn được, loại nào không ăn được, từ rau diệu, cho đến đọt lá khoai mì, rau sam mọc hoang, đọt cỏ thài lài… Mọi điều anh chỉ dẫn đều đúng, nhưng Phước “Moshe Dayan” lầm ở vụ ăn đọt cây hoa “cứt lợn,” vì không phải bất cứ loại lá cây nào có chất đạm là con người có thể ăn được. Nhưng chỉ ít tháng sau khi đi mổ ruột về, Phước bị vào nằm trong cùm mất gần 1 tháng trời vì tội “phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa.” Ở Xuân Phước thường có những cơn mưa lớn hàng năm vào cuối tháng 10. Mưa cũng hay gây ra lũ, nước dâng lên tới bậc thềm buồng giam. Tù cải tạo được nghỉ lao động, nhưng nếu nghỉ lao động thì không thể “cải thiện” rau rác linh tinh ở ngoài bãi lao động được ngõ hầu có thể thêm cặp vào số lượng thực phẩm quá ít hàng ngày. Phước “Moshe Dayan” là người khám phá ra là lá cây cỏ kiểng (hình thù giống lá mồng tơi nhưng chỉ nhỏ bằng móng tay, mầu hơi đỏ trồng dọc theo những hàng gạch trên lối đi từ cổng dẫn vào trại, dọc theo hội trường, nhà văn hóa và quanh các nhà giam). Phước cắt trộm những lá ấy và cho vào lon gô nấu, cho vào tí nước muối thành canh, rồi hô hoán: “Anh em ơi, cỏ kiểng mà nấu canh ăn hệt như canh mồng tơi.” Một số anh em ăn thử và thấy cũng giống canh mồng tơi thiệt, nhưng cái hậu hơi ngứa ở cổ. Vì cái hậu hơi ngứa ở cổ này nên mới đầu chỉ có một sốt ít anh em hái trộm thôi. Nhưng cái đói Tháng Mười ở Xuân Phước khiến càng ngày càng có đông anh em nấu canh bằng cỏ kiểng. Như một vài anh em tù cải tạo đã mô tả cái đói của chúng tôi bằng cách ví von chúng tôi như một đoàn quân Mông Cổ, đi đến đâu cỏ không kịp mọc. Cỏ kiểng ở trại A-20 không kịp mọc thật! Vì thế ăng-ten mật báo với trực trại và Phước “Moshe Dayan” bị kêu đi làm việc và sau đó vào nằm chuồng cọp với tội danh do bị “nâng quan điểm” từ việc đói quá cắt trộm cỏ kiểng nấu ăn thành tội “phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa!” Kiểu nâng quan điểm sau những cánh cổng nhà tù cộng sản cùng lắm chỉ mang lại hậu quả là người tù phải vô nằm trong chuồng cọp, nhưng ở ngoài đời mà nhiều người coi chỉ là cái chuồng lớn hơn, người bị nâng quan điểm có khi phải đương đầu với hậu quả là chung thân tù đày, gia đình tan nát.
Ôi tapioca H-34 có chất độc cyanide lên ngôi thực phẩm chính của tù cải tạo! Cú ra tay đầu tiên tại phân trại E của A-20 Xuân Phước đối với chúng tôi chính là tiêu chuẩn ăn uống hàng ngày. Quanh năm suốt tháng chúng tôi được cấp phát một khẩu phần được tiếng là “ăn độn” giữa khoai mì xắt lát nấu chung với gạo. Nhưng trên thực tế, từ lần lãnh thực phẩm đầu tiên tại nhà tù Xuân Phước cho đến lần chót trước khi chúng tôi bị chuyển trại một lần nữa vào năm 1985, tôi chỉ thấy một loại khoai mì xắt lát, trên mỗi lát khoai mì ấy, tôi có thể đếm được bao nhiêu hạt cơm. Thức ăn chỉ có nước muối và canh “đại dương.” Ðã có lần tôi kiên nhẫn ngồi đếm xem cả bữa trưa và tối, khẩu phần của tôi có bao nhiêu hạt cơm. Tôi nghĩ rằng con số mà tôi đưa ra sau đây có thể gây ngạc nhiên cho nhiều người và ngay cả cho nhiều anh em từng là đồng tù với tôi ở những trại khác: khẩu phần buổi trưa, tôi đếm được trong cái tô nhựa được khoảng 7 lát khoai mì khô luộc và số hạt cơm bám trên những lát khoai mì khoảng từ 200 đến 300 hột! Khẩu phần buổi chiều y hệt không có gì thay đổi. Như vậy trung bình một bữa ăn chúng tôi được cấp khoảng 150-gram thực phẩm. Phần buổi sáng thường là 5 lát khoai mì khô luộc chín trước khi đi lao động. Một ngày, cả ba bữa “đình huỳnh,” mỗi tù cải tạo được cấp khoảng từ 300 gram đến 320 gram thực phẩm, trong khi chỉ tiêu một ngày lao động cho mỗi người chúng tôi là đào và di chuyển một khối đất đến đổ ở nơi cách xa hiện trường lao động từ 300 đến 500 thước, hoặc một người phải phát quang 200 thước vuông đất, làm cỏ và đánh luống trồng rau, hoặc phải đóng 250 chục viên gạch nếu đội làm ở lò gạch, hoặc phải vào rừng chặt 10 cây tre mỗi cây dài 15 thước mang về trại. (Ở đây, tôi phải để phần ghi chú về loại khoai mì mà chúng tôi được nuôi ăn trong suốt những năm dài tù đầy dưới chế độ cộng sản trong mở và đóng ngoặc đơn. Nhắc đến khoai mì, chắc nhiều độc giả sẽ tưởng tượng ra những tô khoai mì luộc trắng muốt nhiều bột, ở trên mặt, người bán rắc một ít cùi dừa khô nạo, chút mỡ hành, chút muối mè trộn đường và đậu phọng thơm nhức mũi mà quí vị thường mua ở những quán hàng rong hay tự tay mình chế biến ở nhà cho gia đình dùng. Không làm gì chúng tôi có được loại thực phẩm chế biến mà chúng tôi gọi là thực phẩm thượng đẳng ấy. Ðó là loại khoai mì mà người tiêu dùng ở miền Nam trước đây gọi là khoai mì gòn có lẽ vì nó trắng như bông gòn, còn người miền Bắc gọi là sắn tầu vì gốc mang sang từ Trung Quốc. Tù cải tạo chúng tôi dù ở trại nào cũng phải đi trồng loại khoai mì gòn này, nhưng khi thu hoạch chỉ được nhà bếp tập thể cán bộ luộc chín và cung cấp cho những cán bộ. Còn loại khoai mì mà chúng tôi dùng hàng ngày là loại khoai mì lấy giống từ Ấn Ðộ. Tù cải tạo chúng tôi dùng số hiệu nông nghiệp cho giống khoai mì Ấn Ðộ này là H-34, trùng với số hiệu của loại máy bay trực thăng kiểu H-34 do công ty Sikorsky của Mỹ chế tạo, một loại trực thăng cánh quạt dùng để đổ quân, tản thương hay cấp cứu rất tốt và bền do Hoa Kỳ viện trợ cho Không Quân VNCH từ những năm đầu của thập niên 1960. Cho nên, trong thời tù, anh nào bị say khi khoai mì H-34 do có quá nhiều chất độc đến mức bị chóng mặt ói mửa thường bị chúng tôi đùa cợt là phi công trực thăng H-34 bị Việt Cộng bắn gãy cánh quạt đuôi. Khoai mì tiếng Anh gọi chung là cassava, tên khoa học là Manihot Esculenta thuộc họ Euphorbiaceae, nhưng khoai mì còn có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo từng loại từng vùng, chẳng hạn như manioc, yuca, balinghoy, mogo, mandioca, kamoteng kahoy, tapioca thường được trồng nhiều tại Ấn Ðộ. Tapioca là khoai mì Ấn Ðộ có nhiều giống khác nhau và năng suất khác nhau. H-34 là một trong vài loại được trồng nhiều tại lục địa này và tại những vùng canh tác của trại cải tạo ở Việt Nam sau ngày 30-4-1975. Theo nhiều tài liệu khác nhau, nhất là các tài liệu xuất xứ từ viện bảo tàng Larco tại thủ đô Lima của Peru, một viện bảo tàng đồ gốm trong đó có bộ sưu tập gốm mô tả cây nông nghiệp quan trọng của dân tộc này là cây yuca (khoai mì) thì cây khoai mì xuất hiện trong những cánh rừng hoang dại từ 6,600 năm trước Tây lịch ở đồng bằng vùng vịnh Mexico và bắt đầu được canh tác cách đây hơn 1,400 năm cũng ở Trung Mỹ, Nam Mỹ chứ không phải xuất nguồn từ Phi châu như mọi người thường lầm. Nó trở thành thứ thực phẩm chính cho nhiều dân tộc ở Trung và Nam Mỹ, sau đó loại rễ phát triển thành củ có bột này mới lan sang Phi Châu cũng như các châu khác. Khoai mì là loại rễ phát triển thành củ có bột cho một năng suất cao, một củ khoai mì phát triển bình thường ở vùng đất khô cằn, ít mưa có đường kính khoảng 5 phân, chiều dài khoảng 15 phân. Ở những vùng đất tương đối tốt, một củ khoai mì phát triển có đường kính khoảng 10 phân và có khi dài đến 30 phân. Riêng loại tapioca H-34 của Ấn Ðộ có thể phát triển mạnh ở vùng đất cằn cỗi và ít mưa, trung bình một củ khoai mì Ấn Ðộ có thể có đường kính lên tới 12 phân và chiều dài có khi tới 35 phân. Theo Cơ quan Lương Nông Quốc Tế, cho đến năm 2005, Thái Lan là nước xuất cảng khoai mì dưới dạng tinh bột lớn nhất thế giới chiếm 77% và tiếp theo là Việt Nam với gần 14%. Trên thực tế, khoai mì đã trở thành cây kỹ nghệ, nhưng đã có một thời kỳ kéo dài khoảng hơn một thập niên nó trở thành cây thực phẩm chính tại Việt Nam đối với người dân Việt Nam chứ không phải chỉ đối với tù cải tạo chúng tôi.
Carlo Rizzi hận đời lắm. Làm rể nhà Corleone đã tưởng bở, nào ngờ bị lờ tuốt, chỉ được thí một chân bao đề, bao đánh cá hạng bét ở miền Đông Manhattan. Bên cư xá Long Beach còn thiếu gì nhà ở, nếu ông bố vợ muốn cấp cho một căn thì dễ quá đi! Chỉ cần ổng nói một tiếng là có quyền chiếm một căn. Phải có chân đứng trong cư xá thì mới mong có một việc gì kha khá trong nhà này chớ? Rõ ràng là ông bố vợ coi nó rẻ mạt. Hừ, Ông Trùm Corleone… Bố-Già Corleone! Tưởng Bố-Già ghê gớm thế nào hóa ra cũng bị chúng quất nằm ngay đơ ra đường như một dân chơi hạng bét! Phải chi lão ngủm thì đỡ khổ quá. Thằng Sonny lên là nó có đường vì bề nào cũng bồ bịch một thời gian. Carlo ngó con vợ rót cà-phê. Trông tởm quá đi mất! Mới lấy chồng có 5 tháng mà người nó bề bộn, lại vác cái bụng chình ình rõ ra thứ gái xề. Mấy con gốc Ý ở Nữu-Ước vậy hết. Nó đưa tay rờ cái bầu của Connie. Con nhỏ mỉm cười thì nó giộng một câu: “Cô chắc nhiều dăm-bông hơn heo nái!” Xỏ xiên, chửi bới được là Carlo làm liền vì thấy Connie nhăn mặt hoặc rơm rớm nước mắt là nó khoái chí lắm. Mày có là con gái cưng Ông Trùm, bố mày có mạnh thì mày cũng là vợ tao, cũng ở trong tay tao, tao muốn hành sao thì hành. Mày có là con nhà Corleone cũng vẫn bị hành! Carlo đã hành hạ ngay từ đêm tân hôn. Connie nhất định không chịu nạp cái túi tiền mừng đám cưới thì nó đập thâm tím mặt mũi, giựt phăng và xài hết tiền, chẳng thèm nói một lời. Cứ kể ra cũng hơi quá đáng vì 15 ngàn đô đâu phải ít mà nướng hết ở trường đua và bao gái lu bù! Nó biết con vợ đang đứng sau lưng nó “chiêm ngưỡng” cơ người lực sĩ nên vươn tay ra lấy cái đĩa ở đầu bàn, Carlo cũng kín đáo gồng mấy bắp thịt ở vai ở lưng cho hách. Nó lực sĩ thì ăn đớp cũng phải lực sĩ chớ? Thật nhiều và thật bổ dưỡng! Con nhãi con Connie không mê nó sao được kia chứ! Nó đâu phải týp chồng bệu những mỡ như mấy thằng gốc Ý ở đây. Tóc vàng cắt ngắn, lông tay lông chân thật khỏe, ngực nở bụng thon như thế này thì nhất. Đám thanh niên quen biết nhà Corleone có thằng nào bảnh bằng nó? Kể sức khỏe đấm đá thì bọn Clemenza, Rocco Lampone, Paulie… nó coi như đồ bỏ hết. Ủa, thằng Paulie không biết vừa bị thằng nào chơi? Nhưng Carlo ngán Sonny. Cứ lấy sức ra chọi thì thằng anh vợ này có nặng hơn, bự con hơn, Carlo cũng chơi dư sức. Nhưng nghe danh “Đao phủ thủ” đâm rét. Nghe đồn nó giết người như ngóe sao lúc nào cũng chỉ thấy Sonny cà rỡn, cười hề hề kìa? Hắn lên thay Ông già thì đỡ quá! Carlo uống cà-phê; bực bội vì nhà cửa gì mà chật hẹp quá. Nó quen ở miền Tây, rộng chân rộng cẳng xưa nay. Lát nữa phải lái xe “bua-rô”, làm ăn, từ đầu thành phố đến cuối thành phố, cho kịp giấc đánh cá trưa. Hôm nay chủ nhật, thiên hạ đổ xô đến đánh cá thể thao, baseball, bóng rổ… món nào cũng đông hết! Carlo quay lại nhìn Connie đang mặc quần áo “ăn diện” đi chơi chúa nhật. Nó diện tởm hết chỗ nói: Váy lụa in hoa sặc sỡ, thắt lưng, vai bồng.. lại còn vòng vàng, bông tai thật quê! Ít nhất cũng già đi 20 tuổi! – Ủa, tính đi đâu đấy? – Về Long Beach thăm ông già coi bịnh tình thế nào? – Vậy là hồi này Sonny vẫn làm xếp sòng cả đám hả? Connie trợn mắt bắt bẻ: “Ủa, cái gì mà xếp sòng cả đám?”. Nó gầm lên: “Con khốn nạn, mày còn nói với tao cái điệu ấy là coi chừng tao đá sút con ra ngoài!” Nó hoảng hồn thì Carlo càng muốn điên lên, nhảy tới giộng một tát trời giáng. Môt… hai… ba… trở qua trở lại. Cặp môi bật máu, bè ra và sưng vù lên. Carlo ngừng tay. Vậy là quá đủ… hơi quá giới hạn là khác vì nó không muốn để lại vết tích, bằng chứng. Connie chạy vào phòng đóng cứng lại, khóa cửa. Thây kệ, nó cười ha hả ngồi uống nốt chỗ cà phê bỏ dở. Ngồi hút thuốc chán Connie vẫn chưa trở ra. Nó bèn giộng cửa đùng đùng: “Mở ra cho tao vô lấy đồ thay”. Phải dọa đạp văng cửa nó mới chịu mở và còn dấu mặt, quay lưng đi. Nó nằm úp mặt vào vách, cởi đồ ra từ hồi nào. Vậy là nó không muốn đi nữa. Thà nó đi về còn có chút đỉnh tin tức nội bộ cánh Corleone. – Mới có bấy nhiêu đó mà đã hết hứng, hết muốn đi? – Tôi không đi nữa! Giọng nó vùng vằng đầy những nước mắt nghe vụng về ngường ngượng. Carlo bèn xà xuống giường, kéo nó bắt quay lại coi mặt. Đúng rồi, nó không muốn đi là phải. Mặt mũi sưng vù, bầm tím thế kia thì đi sao? Không ngờ mới có mấy cái tát mà nặng thế? Gò má bể, môi trên rách, sưng vù lên trông ghê quá. “Thôi được. Hôm nay tao về trễ nghe!” Carlo đi xuống, ra xe hơi đậu ngoài đường. Coi, đã có một giấy phạt đậu xe trái phép gắn ở kính trước… mà lại là thứ dữ, phạt 15 đô-la lận! Thây kệ, Carlo thảy đại nó vô hộc táp-lô xe. Nó cảm thấy hứng thú. Lần nào cũng vậy, dượt được con vợ một mách là thấy hả hê, trả hận được phần nào! Hôm cho nó ăn đòn lần đầu tiên, Carlo cũng ngại lắm chớ? Nó chạy ngay về Long Beach, đưa cái mắt thâm tím ra mách mẹ, mách cha làm Carlo đã teo một ngày hôm đó. Nhưng chập tối thấy mặt nó mò về và tự nhiên lại ngoan ngoãn hơn bao giờ hết! Carlo thấy thương hại, định bụng phải ăn ở tử tế một chút, đối xử nó đàng hoàng. Ăn nói lịch sự, cưng chiều và yêu cũng cố giữ cho đúng mực, ngày một đêm một đều đặn. Thấy Carlo có vẻ hối hận, Connie mới thực thà kể lại… Thì ra thấy con gái bị chồng đánh mặt mũi tím bầm, khóc lóc chạy về mách, Bà Trùm cũng nóng lòng, yêu cầu ổng la thằng Carlo một tiếng. Cả hai người cùng không hài lòng cái vụ này chút nào nhưng Ông Trùm thản nhiên: – Nó là con mình thật… nhưng lấy chồng là phải theo chồng. Thằng chồng nó có quyền và có bổn phận. Ngay ông vua nước Ý cũng chẳng dám xen vô chuyện riêng của vợ chồng nhà người ta. Mày về đi, ráng học cách ăn ở, chiều chuộng sao cho nó không đánh mày đuợc kìa! Thấy bố không bênh, ỷ là con cưng xưa nay Connie bèn làm mặt hờn, hỏi lại: “Thế bố có đập mẹ bao giờ đâu nào?” Ông Trùm nhìn bà vợ: “Ô hay, mẹ mày có làm gì mà bố phải đập?” Bà Trùm gật đầu cười mỉm. Khi Connie mách đến vụ Carlo giựt túi tiền thì Ông Trùm nhún vai: “Tao cũng làm như vậy… nếu vợ tao có thái độ láo lếu, dễ ghét như mày!” Bị xử ép quá, Connie đành phải trở về nhà và đâm hoảng. Không hiểu tại sao ông già, bà già lại lạnh nhạt với nó đến như thế? Nó ngơ ngác, sợ hãi vì xưa nay vẫn được bố cưng chìu nhất nhà. Sự thực Ông Trùm đâu thể lạnh nhạt với đứa con gái cưng duy nhất như nó tưởng? Ông không nói nhưng cho lệnh cấp tốc điều tra và biết ngay số tiền mừng đám cưới Carlo đã đem xài vào những mục gì. Ổng còn trao cho Tom Hagen mật lệnh gài người bên cạnh, coi thằng Carlo hàng ngày làm ăn ra sao. Từ nhất cử, nhất động của Carlo đều bị theo dõi, báo cáo đầy đủ từng ngày từng giờ. Ông Trùm biết hết. Nhưng biết để biết vậy thôi. Làm gì được? Đâu thể dùng áp lực ép nó, bắt buộc mày phải làm chồng con tao cho đàng hoàng. Đó là vụ không thể can thiệp, chớ có dây dưa vào. Ông Trùm đã dứt kkhoát nên khi Connie có bầu thì ổng càng tin là mình làm đúng, dù con nhỏ mấy lần bò về nhà khóc lóc với mẹ và bà Trùm chịu không nổi đành lại phải cho chồng hay. Nó còn nói ly dị thì ly dị cũng được. Xưa nay Connie chưa hề bị bố la. Nhưng vừa nghe nó nói ly dị cũng được là Ông Trùm nổi trận lôi đình “Đồ khốn! Con thì phải có cha. Mày ly dị để con mày ra đời mồ côi cha hả? Mới ra đời mà không cha… liệu có được không?” Nắm được chỗ đó, Carlo Rizzi được thể lừng dẫu. Nó khoái chí tả lại trận dượt võ sáng nay cho hai thầy ký nghe. Có bầu cũng đập. Con gái cưng của Ông Trùm cũng cứ ăn đòn như thường! Sally và Coach coi bộ phục quá. Dám làm vậy mới hùng. Sự thực Carlo Rizzi chẳng dại gì làm người hùng nếu có biết Sonny Corleone nghe chuyện con em gái bị chồng hành hạ đã lồng lộn, quát tháo đòi “bắn chết cha thằng khốn”. Ông Trùm phải đích thân ngăn cản, dùng quyền làm cha để cấm nó và giọng ổng cương quyết đến nỗi hung hăng như thằng Sonny cũng phải ngán. Nó không thể và không dám trái lệnh bố nên đành… không dám gặp mặt Carlo Rizzi vậy. Chỉ sợ thấy nó là không dằn nổi cơn nóng giận! Cho nên Carlo Rizzi vẫn lừng, vẫn cho là chẳng ai làm gì nổi. Buổi sáng Chúa nhựt, nó vừa trút được nỗi uất hận nhà Corleone bằng mấy cái tát sưng mặt con Connie nên lấy làm khoái chí, tà tà lái xe đến bua-rô. Nó đâu biết có một người cũng sắp phóng xe đến chỗ nó làm ăn và người đó là ông anh vợ Sonny Corleone. Thực ra Sonny đâu có ý xía vô công chuyện Carlo Rizzi? Đêm thứ Bảy, nhớ con nhỏ Lucy Mancini quá nên nó “nhảy dù” đại khỏi cư xá, mò về Nữu-Ước hú hí với em một đêm. Để phòng thân, mình nó phải có 4 thằng đi theo. Đêm thứ Bảy, hai thằng một phòng, chặn hai đầu để xếp Sonny chiếm phòng giữa mới yên chí. Đi đường Sonny đâu cần cận vệ đi chung xe cho vướng tay vướng chân? “Đao phủ thủ mà” không tự bảo vệ được sao? Nó lái một mình, hai thằng lái xe chạy trước, hai thằng đi xe sau đoạn hậu. Như là quá bảo đảm, nếu lâu lâu mới “dù” về Nữu-Ước một lần. Bữa nay Chủ nhật, Sonny tiện xe muốn ghé lại Connie, đưa nó về thăm ông già một lượt. Thắng Carlo sức mấy để xe cho nó đi và giờ này nó còn phải tới “bua-rô” mần ăn chớ? Quả nhiên nó vừa vọt xe đi thì Sonny tới. Sonny để hai gã đàn em lên trước. Chừng xe sau tới, hai thằng nhảy ra coi chừng đường đàng hoàng thì nó mới xuống, mắt trước mắt sau đi vô bin-đinh. Chỉ có 1 phần triệu nguy hiểm nhưng Sonny vẫn lo đề phòng. Nhưng cú hung hiểm ngày đó đã dạy nó chớ có coi thường bất cứ chuyện gì. Chẳng hạn như thang máy là Sonny không bao giờ xài. Tội gì đâm đầu vào cái bẫy-điện đó để nạp mạng oan? Dù có phải hùng hục leo lên từng thứ 8 nó cũng chê thang máy! Nó vừa thấy tận mắt thằng Carlo vọt xe đi, vậy chỉ có mình con Connie ở nhà chắc. Nhưng sao kêu cửa vẫn lặng ngắt thế này? Khi Sonny giộng mạnh, xưng tên đàng hoàng mới nghe trong nhà tiếng yếu ớt. “Ai đó?” Tiếng Connie rõ… nhưng sao nó có vẻ sợ sệt, hoảng hốt, ngập ngừng thế này? Nó xưa nay đâu phải đứa nhõng nhẽo, nhút nhát? Chuyện gì ghê gớm vậy? “Connie, mở cửa mau. Anh Sonny đây”. Có tiếng chân chạy, tiếng khóa mở lật bật rồi cửa bật mở, Connie nhảy xổ vào lòng anh, khóc nức nở. Ngạc nhiên quá, Sonny đứng ngây người… Nhưng khẽ đẩy Connie ra và liếc nhìn mặt con em là Sonny biết liền. Mặt nó sưng vù, sưng húp híp. Sonny khẽ gỡ tay em. Nó nhăn mặt, hùng hổ quay ngoắt ra toan rượt theo “bắn chết cha thằng khốn”. Nó giận sùi bọt mép, nhưng chạy đi đâu được? Connie níu cứng lấy anh, nhất định không chịu buông mà khóc lóc, van vỉ kéo vô trong nhà bằng được. Tính nết ông anh cả nó còn lạ gì? Nó đâu dám hé môi về vụ bị chồng ăn hiếp? Phải ráng đeo cứng, níu chặt lại. Connie ép anh ngồi xuống ghế, đóng cửa lại rồi kể lể: – Anh ơi, tại em gây chuyện… em đòi đập trước nên Carlo mới lỡ tay đó. Tại em hết! Ảnh không tính đập nhưng em thách thức, em nhào vô nên mới vậy đó! Mặt Sonny dịu lại chút đỉnh: – Sáng nay em tính về thăm bố hả? Anh đoán vậy nên tiện xe anh ghé đón em… chớ có hay chuyện gì đâu? Connie tủi thân, khóc thút thít: – Thôi anh ơi… Mặt mũi em thế này về nhà đâu được? – OK… Để anh phôn gấp, kêu thằng bác sĩ quen lại đây săn sóc chỗ sưng cho em nghe? Em có bầu lần thứ nhất cần phải giữ sức lắm. Mà còn mấy tháng nữa sanh? – Chi vậy? Đừng nghe anh, em sợ lắm… anh đừng làm gì hết nghe? Sonny phát cười ha hả. Mặt nó thật độc, nó lừng khừng đáp: – Yên chí. Anh không để cho con em mới sanh ra đã không có cha đâu! Đời nào anh làm vậy? Nó gằn giọng đi trở ra sau khi khe khẽ hôn lên trên má Connie chỗ không sưng. Sáng Chúa nhật ở bua-rô làm ăn của Carlo Rizzi, ngụy trang tiệm bán bánh kẹo, đường số 112 phía Đông Nữu-Ước thiên hạ đã bắt đầu bu đông. Từng dãy xe đậu dài dài. Vỉa hè trước tiệm đông nghẹt những bố-con-nít giỡn chơi với con-nít trong khi chờ đợi vô mua số đề, mua giấy cá banh. Mấy bố dẫn con đi chơi sáng Chúa nhật nhác thấy xe ông chủ tới là lo mua cà-rem dỗ cho chúng chơi để rảnh rang tính toán. Thằng nào cũng cặp kè tờ báo bàn cá banh, đội hay đội dở.
Google photos
Ông chủ Carlo tà tà vô phòng. Hai gã “thư ký” lo sắp đặt giấy bút, sổ sách sẵn sàng chờ thân chủ vô đánh cá. Một thằng gầy gò tên Sally và thằng Coach bự con như đô vật. Có cái bảng đen lớn đặt trên giá, viết bằng phấn rõ ràng tên 16 đội banh lớn, chia hai cột cho thấy ngay hôm nay đội nào đấu với đội nào. Cứ hai đội chiếm một hàng, bên cạnh là ô vuông để trống để ghi tỷ lệ hơn thua giữa 2 đội. Carlo quay phôn về “tổng hành dinh” để lấy tin giờ chót đặng loan báo trên bảng tỷ lệ hơn thua ước định để dân đánh cá-banh căn cứ vào đó mà mua giấy. Tuy không nhìn lên mà cả hai gã “thư ký” cùng chẳng bỏ sót một cử chỉ nào của ông chủ. Đấy là công tác ngầm nhưng vô cùng quan trọng: Ông chủ Carlo sơ sẩy một chút là consigliori Hagen có báo cáo ngay. Vì ông chủ ghi lầm có mỗi một lần – chẳng hiểu vô tình hay cố ý – mà một ngày hôm Chúa nhật đã hụt hết 6 ngàn đô. Đó là lý do Ông Trùm Corleone đánh giá thấp cậu con rể: “Khốn nạn.. đến bao đề, bao đánh cá, vốn có người cung cấp, cơ sở có sẵn mà còn hụt vốn thì đúng là một thằng ăn hại!” (Thông thường có bao giờ một ổ bao đề, đánh cá hạng bét như vậy được hân hạnh theo dõi đến thế? Muốn có chuyện báo cáo lên cấp trung ương của cánh Corleone còn phải qua 5 lớp “nút chặn” là ít. Nhưng ổ đề đường số 112 thì đích thân consigliori phải giám sát ngầm, theo dõi hàng ngày vì đây là đất thí nghiệm chân cẳng cậu rể Carlo Rizzi.) Ông chủ viết bảng xong là dân chơi lục tục kéo vô phòng trong, bàn tán om xòm từng độ, so sánh với lời bàn trong báo để đánh cá đội thắng đội thua. Kẻ trước người sau sắp hàng trước “bàn giấy” của hai thầy ký Sally và Coach. Biên xong một tờ giấy nào, thầy ký xé khỏi tập cuống, một mảnh đưa khách, một mảnh bọc số tiền đưa cho ông chủ. Carlo đi ngay lên lầu, nhấc phôn, gọi về “tổng hành dinh” để đằng đó “vô sổ”. Số tiền đánh cá nó nhét vô một cái két đặt ngầm trong một khung cửa sổ giả. Mảnh giấy biên số lập tức được thủ tiêu thành than, trút vô la-va-bô cho phi tang. Xong việc là Carlo lại đi trở xuống, chờ hai thầy ký đưa tiếp. Suốt ngày công việc của nó chỉ có bấy nhiêu… nhưng hôm nay Chúa nhựt con bạc đông hơn, chơi dữ hơn nên ông chủ hơi mệt một chút. Độ thứ nhất chơi đúng 2 giờ chiều. Cỡ 1 giờ 30 đã vắng khách nên hai thầy ký ra ngoài cửa ngồi chơi đỡ mệt, ngó đám trẻ ngoài phố vụt base-ball. Một xe tuần tiễu chạy ngang. Cả hai cùng ngó lơ, chẳng buồn để ý. Sức mấy dám vô hốt? Ổ để này thuộc loại được “bảo vệ” vững như thành. Cớm cấp địa phương là khỏi dám đụng. Muốn vô tảo thanh ít nhất phải cấp Nha hay Tổng Nha có lệnh Biện-lý đàng hoàng, nhưng trước đó dĩ nhiên phải có một cú phôn bí mật rất kịp thời để bà con chuẩn bị. Lát sau ông chủ Carlo cũng mò ra tán gẫu. Toàn chuyện base-ball và đàn bà không! Nó cười hềnh hệch khoe: – Hôm nay tao lại phải xáng cho con vợ khốn nạn một trận ra gì! Phải đập cho nó biết… thế nào là một thằng chồng chớ! – In hình bả có bầu lớn lắm? – Tao chơi năm bảy cái tát vô mặt, đâu có làm sao? Con khốn nạn, ưa lên mặt lắm nhưng gặp tao chỉ có ăn đòn. Lúc bấy giờ trước cửa còn vài dân cờ bạc ngồi xáp lại nói chuyện dông dài. Đột nhiên đám con nít chơi baseball dưới đường phát la lên, chạy rạt vô lề. Có chiếc xe hơi đen bự qua cua gấp, thắng đứng trước cửa tiệm. Nó thắng gấp quá, vỏ xe nghiến ken két. Xe chưa kịp ngừng thì cửa trên đã bung ra, thằng tài xế vọt như bay xuống làm mọi người kinh ngạc sững sờ. Đó là Sonny Corleone. Bộ mặt bình thường đã bự của Sonny bấy giờ như một cái mâm, hầm hầm dễ sợ. Nó chỉ nhảy vài bước đã tới và tay đưa lên nắm cứng cổ Carlo. Sonny câu cổ, tính kéo nó xuống đường dợt nhưng ông em rể đã gồng cứng hai cánh tay, bám chặt lấy cửa sắt. Một cánh tay nó lên gân đeo cứng để rụt đầu vô, đưa vai đưa cánh tay ra lo đỡ cái mặt. Sonny kéo hụt vì sơ mi Carlo rách cái rẹt. Nó liệng mảnh vải đi rồi biểu diển một màn đấm bị cát thật tàn nhẫn. Miệng chửi rủa tàn tệ, nó dượt Carlo bằng cả hai tay, đấm cú nào cú nấy ra gì. Vở kịch thê thảm ở chỗ một thằng lực sĩ bự con, hách như Carlo mà khi không bị đòn ráng che đầu chịu trận, tuyệt không dám trả đòn. La lối hay xin xỏ cũng không dám. Cả hai thầy ký hoảng hồn, xuôi tay đứng một bên. Tụi nó còn lạ gì cậu cả Sonny và đinh ninh thế nào thằng Carlo phen này cũng ăn đạn nên tội vạ gì can thiệp? Mấy thằng nhóc đánh baseball vừa bị chiếc xe phá đám đã toan xông tới “hỏi thăm” tài xế nhưng thấy màn đánh đấm dữ dội quá chỉ còn cách đứng giương mắt ngó. Thấy điệu bộ Sonny hùng hổ, hung dữ quá chẳng thằng nào dám hó hé, dù con nít xóm này đâu có vừa? Chiếc xe sau bây giờ mới tới. Hai thằng cận vệ nhảy xuống thấy xếp đập Carlo mạnh tay quá cũng cóc dám vô can. Chúng đứng thủ thế sẵn, đợi thằng nào nổi máu anh hùng binh Carlo nhào vô lãnh thay cho xếp Sonny. Có lẽ vì hèn hạ, một mực ôm đầu chịu trận nên nhục thì có nhục nhưng Carlo bảo toàn được sinh mạng. Nó biết đánh trả một cái là mất mạng nên nhất định không chống. Miễn là níu cứng được cửa sắt, không để đàn anh lôi đi, cố che đầu che mặt một hồi thì Sonny đánh chán tay cũng phải thôi. Quả nhiên Sonny thở hồng hộc, dừng tay lại quát tháo: – Thằng khốn… Tao mà nghe nói mày đụng tới con em tao một lần nữa là tao giết mày! Nghe Sonny gầm lên dọa giết mấy người chung quanh thở phào nhẹ nhõm. Nó còn dọa tức là nó chưa giết ngay bây giờ, chưa thể giết hay chưa dám giết nên uất quá phải chửi cho hả dạ. Nhưng Carlo vẫn lo ôm cứng cửa sắt, che mặt đi, hết dám ngó lên. Xe Sonny vọt đi rồi mà thằng Coach phải chạy tới gỡ ra, ngỏ lời an ủi nó mới dám buông. “Thôi đi lên để tôi coi qua có làm sao không”. Carlo lảo đảo đứng thẳng, mắt hoa lên mãi mới nhận ra đám con nít đang ngó nó một cách thương hại. Nếu kể đòn thì Sonny đấm khá mạnh nhưng nó che kín, ít lãnh những cú đau nên gượng gạo chịu được. Có điều sợ quá, sợ bủn rủn tay chân. Có người đỡ một bên còn đi không muốn nổi. Lên lầu, nó được Coach rửa qua loa chỗ sưng, đắp nước đá. Không có máu, không xây xát nhưng mặt Carlo bầm tím, sưng lên nhiều chỗ thấy ghê! Sợ thất thần lại bị hạ nhục quá xá. Carlo cúi mặt xuống la-va-bô nôn mửa. Coach phải dìu nó, cho vòi nước chảy xối trên đầu cho tỉnh táo rồi dẫn tới giường nằm nghỉ. Nó đâu còn hồn vía để ý đến sự vắng mặt của thằng Sally? Vì vở dượt võ vừa hạ màn là Sally lo lỉnh qua đại lộ số 3, chui vô phòng điện thoại công cộng, phi báo xếp Rocco Lampone. Tay “chủ chốt”. Rocco đón nhận tin dữ và báo cáo gấp caporegime Clemenza. Lão mập vừa nghe tin đã hết hồn, buột miệng rủa… nhưng lẹ tay nhận máy, không để đàn em nghe lọt: “Cái thằng khốn kiếp! Khi không lại gây chuyện lộn xộn rồi!” Clemenza phải phôn cho consigliori Hagen gấp để coi Long Beach quyết định thế nào. Suy nghĩ một lát, Tom ra chỉ thị: – Cho vài xe của mình phóng gấp về ngả Long Beach coi trên đường về nó có bị cản trở… hay làm sao không. Với thằng Sonny thì cơn giận bốc lên cái gì nó chẳng dám làm? Biết đâu chừng mấy người anh em bên kia bắt được tuy-ô chẳng cho người đi “mần” nó? Phải đề phòng trước. – Cái đó mi yên chí. Tao cho tụi nó đi liền. Mấy thằng khốn Tattaglias cũng chỉ được tin nhanh như mình là cùng. Chừng đó thằng Sonny đã phây phây ở nhà rồi! – Nhưng biết đâu có chuyện bất khả kháng phải dừng lại dọc đường? Dám lắm chớ? Một vụ đụng xe chẳng hạn? Chú cứ lo trước dùm. Clemenza bất đắc dĩ phải kêu Lampone sai bọn đàn em chia nhiều toán chạy xe dài dài ngả Long Beach đón Sonny. Đích thân lão lái chiếc Cadillac cưng, xách 3 thằng đang nằm sẵn trong nhà dông tuốt về ngả Nữu-Ước. Gần như cùng một lúc với Sall, một thằng điểm-chỉ-viên hạng bét của cánh Tattaglias đến mua giấy cá banh tình cờ chứng kiến cũng mau mau phôn về cho “người nhà”. Có điều tin của nó đi trễ, phải qua mấy tầng trung gian, vả lại cánh Tattaglias đâu đã chuẩn bị kịp để chiến? Qua mấy cấp mới tơi caporegime và ông này còn phải trình lên Ông Trùm xin chỉ thị. Có được chỉ thị thì Sonny Corleone đã phây phây nằm trong cư xá Long Beach.
Một thị trấn nhỏ, hiền hoà như New Hampshire thì có cái gì lạ lạ một chút mà thoát khỏi cặp mắt những bà nội trợ tối ngày lo hé cửa sổ nhìn ra và những ông bà chủ tiệm ngồi trông hàng mà mắt để ngoài đường? Chiếc xe đen mang bảng số Nữu-Ước vừa tốp trước nhà ông bà mục sư Adams có vài phút mà “cả thành phố đều hay”. Cô sinh viên Kay Adams đang gạo bài thi trong phòng, tính xuống nhà ăn cơm trưa cũng lấy làm lạ, hé màn coi. Thấy nó tốp trước sân nhà mình nàng hiểu ngay. Lại thấy mặt hai gã bặm trợn trông cứ như găng-tơ trong xi-nê trong xe nhảy ra là Kay phải bay ngay xuống, đích thân ra mở cửa. Chắc người nhà Michael nên phải lo chặn đầu, chớ để đụng đầu ông già bà già trước. Chẳng xấu xa hèn kém gì mà phải mắc cỡ, chẳng qua ba má nàng hơi cổ một chút, đúng týp trí thức chính hiệu miền Đông, sợ không hiểu sao cô con cưng lại quen biết cả hạng người này. Chuông vừa reo là Kay đã chấn ngay trước cửa còn nói vọng vào cho bà già hay “Có con mở rồi!” Hai gã đứng lù lù, một thằng đưa bàn tay mặt vô nách áo làm như găng-tơ rút súng làm Kay há mồm ngạc nhiên, nhưng hắn ta chỉ lôi ra chiếc ví, mở bật cho thấy tấm thẻ hành sự. “Tôi là thanh tra Công an John Philips. Và đây là bạn đồng sự Siriani. Nếu tôi không lầm, cô là Kay Adams?” Kay gật đầu ngó “ông đồng sự” mặt đen thui, lông mày chổi xể rậm đen. “Chúng tôi muốn hầu chuyện cô vài phút. Về vụ Michael Corleone”. Nàng bèn mời họ bước vô, liếc lên trên lầu thấy ông già thò đầu ra ngó: “Cái gì đấy con?” Mục sư Adams là cha sở họ Baptist mà còn nổi tiếng học giả. Tóc bạc xám, người gầy gò trông thật trang nghiêm, đạo đức và hiền triết đến độ chính con gái cũng không hiểu nổi bố. Làm như ổng lờ là không buồn để ý đến nhưng thực sự yêu thương con ghê gớm nên Kay tội gì phải dấu diếm vụ này? – Thưa cha, hai ông công an muốn hỏi con về một người bạn trai. – Sao con không mời vô phòng việc của cha? – Thưa ông có lẽ để chúng tôi nói riêng với cô Kay tiện hơn. Thanh tra Philips tưởng đâu ổng muốn nghe nên lo chặn trước. Nào ngờ ông già cứ thản nhiên coi như chẳng có chuyện gì mà còn trả lời rất lịch sự: – Cái đó còn tuỳ con tôi… Nếu nó muốn… Kay, con muốn nói riêng với họ… hay muốn có cha ở cạnh con? Hay để má con? – Thôi cha – Con nói riêng được mà? – Vậy xin mời vô phòng làm việc của tôi tiện hơn. Nếu cần nói lâu thì tiện bữa dùng cơm trưa luôn. Sau khi nhã nhặn từ chối, họ đi theo Kay vô văn phòng. Nàng ngồi chững chạc trên chiếc ghế da bự của ông già làm cả hai ông công an cùng ngượng ngùng ngồi ghé mép đi-văn. Khó vô đề quá! Sau cùng thanh tra Philips đặt câu hỏi: – Cô Kay, xin cô cho biết sự thực. Nội 3 tuần vừa qua, cô có gặp Michael Corleone hay nghe nói hắn ta ở đâu không? Chỉ một câu hỏi đó là Kay gần biết hết sự việc. Mấy tờ báo lớn Boston chẳng chạy những hàng tít lớn về vụ một Đại-uý Cảnh sát và một thằng cha buôn lậu ma tuý tên Virgil Sollozzo vừa bị hạ sát cùng một lúc đó sao? Có tờ còn cho rằng vụ này thế nào cũng dây dưa đến trận đánh lớn của cánh Corleone. Kay rất tỉnh táo lắc đầu: – Không. Lần cuối cùng tụi tôi gặp nhau là đêm Michael vô nhà thương thăm ông già. Có lẽ đến một tháng rồi. – Cái vụ gặp gỡ đó tụi tôi có biết hết. Tôi muốn biết sau đó kia… Dĩ nhiên Kay lắc đầu “Không”. Thanh tra Philips lên tiếng dặn hờ: “Nếu có gặp Michael xin cho tụi tôi hay gấp. Có chuyện vô cùng quan trọng liên quan đến hắn. Xin cho cô hay là cô có thể bị “kẹt” nếu tiếp tục tiếp xúc. Còn giúp đỡ hắn dưới bất kỳ hình thức nào thì nguy hiểm không để đâu cho hết.” Kay ngồi thẳng lên, dõng dạc: – Coi, sao lại không giúp đỡ kìa? Tụi tôi sắp làm đám cưới, tình nghĩa vợ chồng mà? Thanh tra Siriani giải thích: – Nếu giúp, cô sẽ bị coi như tòng phạm sát nhân. Hắn đã hạ sát cả ông Đại-uý Cảnh sát lẫn thằng cha điểm-chỉ-viên tối hôm đó. Chúng tôi biết rõ Michael bắn. Kay bỗng cười phá lên. Giọng cười ha hả vô tâm quá, tự tin quá làm hai ông công an ngồi ngẩn ngơ. Nàng nói một hơi: – Đời nào có chuyện đó! Michael không bao giờ dính vô mấy cái vụ đó, các ông tin tôi đi! Công chuyện trong nhà hắn còn không hề đụng tới. Tận mắt tôi nhìn thấy bữa cùng về ăn cưới con bé em là Michael rõ ràng bị coi như người ngoài, chẳng hơn gì tôi. Nếu các ông phải lùng tìm… có thể vì hắn muốn lánh mặt ít lâu, sợ tên tuổi dính vô phiền phức đó thôi! Mấy ông, hay bất cứ ai đi nữa… hiểu hắn sao bằng tôi? Michael không găng-tơ chút nào, trái lại tôi chưa hề thấy một người nào kính trọng pháp luật đến như hắn. Đến nói dối một câu còn không, huống hồ giết người! – Cô quen biết Michael cỡ bao lâu? – Ngoài một năm… Cả hai cùng cười làm Kay chới với. Giọng Philips có vẻ thương hại: – Còn nhiều chuyện cô không thể biết về Michael. Cô có biết cái đêm nó vô nhà thương thăm ông già ra đụng đầu một sĩ quan cảnh sát có mặt ở đấy vì công vụ nó đã làm gì không? Nó xông tới hành hung ông đại uý mà hậu quả là chính nó lãnh đủ! Bể hàm, gãy mấy cái răng. Nó được người nhà đưa về Long Beach. Ngay đêm hôm sau chính ông Đại uý Cảnh sát đó bị hạ sát và Michael thì biệt tăm. Biến luôn! Nghề nghiệp tụi tôi là phải có a-giăng, mật-báo-viên. Đứa nào cũng chỉ đích danh Michael Corleone! Còn bằng chứng để đưa ra toà buộc tội thì sức mấy có? Gã hầu bàn có mặt ở phạm trường không nhận ra hình Michael nhưng nó cam đoan thấy người sẽ nhận diện lập tức. Còn thằng tài xế của Sollozzo nữa. Nó không khai. Nhưng nếu tụi tôi vồ được Michael thì đương nhiên nó chịu làm chứng liền. Mong cô hiểu điều này để giúp tụi tôi phần nào. Là trước sau thế nào nó cũng bị vồ, chạy đâu khỏi? Tụi tôi lo truy tầm ráo riết đã đành. Bên FBI cũng cử a-giăng đi và cơ quan nào cũng được lệnh truy nã. Bắn chết một sĩ quan Cảnh sát giữa Nữu-Ước đâu phải chuyện đùa? – Tôi không tin chút nào hết! Kay thản nhiên đáp vậy nhưng quả thực là Michael có bị đánh bể hàm đêm hôm đó. Nàng phân vân, khó chịu. Có lẽ nào chỉ vì vậy mà một con người như Michael can tội sát nhân? Đúng lúc ấy Philips hỏi tới: – Trường hợp Michael sẽ tiếp xúc với cô… liệu cô có thể cho tụi tôi hay liền? Kay lắc đầu là Siriani đốp luôn: – Những liên lạc giữa Michael và cô tụi tôi biết không sót. Ngày giờ, địa điểm đủ cả! Cô nhớ rằng cuốn sổ hô-ten còn đó, nhân chứng thì quá nhiều. Để lọt ra cho nhà báo là chúng đăng liền và ông già bà già cô chắc chắn sẽ mất mặt. Người đứng đắn tên tuổi như các cụ chịu sao nổi khi cả nước biết cô con cưng đi bắt bồ với một tên găng-tơ? Nếu cô không chịu… thì liền bây giờ tôi sẽ mời ông già vô, cho ổng biết sự thực tức khắc. Kay ngó hắn một lát rồi thong thả đứng lên, đi ra mở cửa. Ông già đang ngậm pít đứng ngó cửa sổ. Nàng gọi “Cha ơi, cha vô đây chút xíu được không?” Ông già quay lại mỉm cười, đi vô liền. Âu yếm khoác tay con, ổng đi ngay tới trước mặt hai ông khách. “Có chuyện chi, quý vị?” Cả hai làm thinh nên Kay dục: “Đây, cha tôi đây, ông cho biết sự thực đi.” Siriani đỏ mặt nói: – Xin ông Adams hiểu cho là vì muốn gíup cô Kay nên tụi tôi phải nói rõ vụ này. Cô ấy dính líu tình cảm với một gã bất lương mà tụi tôi có thể quả quyết là thủ phạm vừa hạ sát một sĩ-quan Cảnh sát. Tôi vừa cho cô ấy hay là nếu không nghe lời tụi tôi thì chắc chắn sẽ gặp nhiều chuyện phiền phức, lôi thôi lắm. Hình như cô ấy chưa rõ tầm quan trọng của vụ này nên nhờ cụ nói lại cho cô ấy hiểu dùm. – Chuyện khó tin nhỉ! – Thì cô ấy và Michael Corleone đi lại với nhau cả năm nay. Ở hô-ten nào chẳng ghi ông bà Michael Corleone? Cái ông Michael Corleone đó hiện đang có lệnh truy nã liên quan đến vụ hạ sát một sĩ-quan Cảnh sát. Cô ấy không chịu cho tụi tôi biết một tin tức gì… Sự thực là như vậy. Ông có thể cho là chuyện khó tin… nhưng bằng cớ thì tụi tôi có đủ. – Không, ông Thanh Tra hiểu lầm ý tôi mất rồi. Tôi muốn nói khó tin con bé nhà tôi sẽ gặp phiền phức, lôi thôi lắm ấy chớ? Còn cái vụ kia thì… Trường hợp các ông nhất định cho nó là một thứ… ủa danh từ giang hồ gọi là gì nhỉ… phải rồi… một thứ gái chơi. Ngạc nhiên Kay ngước nhìn cha. Ổng vừa biểu lộ cả một sự băn khoăn, ngờ vực về danh từ một cách thật… học giả và tuyệt vời. Rõ ràng ông muốn cho thấy sự chịu chơi. Quả thực nàng không ngờ ông già dám chấp nhận sự việc giản dị tới cỡ đó. Nhưng ổng kết thúc rất đột ngột: – Tuy nhiên các ông vững tin rằng nếu thằng đó mà ló mặt vô nhà này thì chắc chắn tôi sẽ cấp báo nhà chức trách liền. Con nhỏ nhà tôi cũng làm vậy. Bây giờ xin hai ông tha lỗi cho, cơm nước nãy giờ nguội cả rồi! Sau đó ổng tiễn khách rất lịch sự, đóng cửa không đến nỗi giộng mạnh nhưng khép một cách cả quyết rồi mới cầm tay Kay đi xuống bếp ăn cơm. Kay vừa đi vừa tấm tức khóc, có phần tủi vì sự thương yêu kín đáo của cha. Ngồi vào bàn ăn thấy mẹ không hỏi han đến cái vụ khóc là biết chắc ổng đã nói rồi. Trong khi đó ổng cúi đầu cầu kinh. Bà mục sư Adams thuộc týp người mập, bệ vệ quần áo chững chạc, mớ tóc gỡ chải đàng hoàng. Chẳng bao giờ Kay thấy mẹ đầu bù áo quần luộm thuộm cũng như chẳng bao giờ bà có chủ ý theo dõi con gái tò tò. Như bữa nay một lát sau bà mới nói: – Làm gì mà khóc lóc con? Chắc chẳng có chuyện gì mà bọn họ làm ra vẻ ghê gớm vậy thôi. Bề nào thằng ấy cũng dân Dartmouth, có lẽ nào nó làm những chuyện ghê tởm như thế bao giờ? – Ô hay, sao mẹ biết hắn học Dartmouth? Thấy Kay giương mắt ngó ngạc nhiên, bà già không trả lời thẳng mà chỉ trách yêu, sửa lưng nhẹ nhàng: – Mấy cô, mấy cậu bây giờ ưa bí bí mật mật, cứ tưởng đâu mình khôn lắm! Dĩ nhiên phải biết chớ, biết từ lâu rồi… nhưng không lẽ con không nói mà cha mẹ gợi trước? – Nhưng làm sao cha mẹ biết? Kay vẫn muốn biết điều đó. Nàng không dám nhìn thẳng, nhìn ngay mặt cha. Ổng biết rồi, biết hết, cả vụ hai đứa ngủ với nhau. Nên nãy giờ ổng có cười nữa đâu? Ổng lại trả lời thay bà già: “Coi, cứ việc mở thư của con ra coi là biết chớ gì?” Kay sững sờ, bực bội. Nàng ngửng lên nhìn. Lại có cả vụ lén coi thư riêng, mở thư riêng ra coi trước nữa sao? Một tội trọng! Không lẽ một người như cha nàng mà có thể mở lén thư từ của con ra coi? Không thể được! – Cha, không lẽ cha mở lén thư từ của con? – Có gì đâu mà lạ, con? Một tội trọng thật nhưng cha đã cân nhắc rồi. Thà cha mẹ phạm tội mở thư con coi lén còn hơn là mắc cái tội ù lì bưng bít, có mỗi đứa con gái cưng độc nhất mà sa ngã hồi nào không hay. Đó là một chọn lựa đạo đức! Đang lúng búng đầy một mồm thịt gà luộc, bà già cất tiếng phụ hoạ: – Vả lại con của mẹ lớn đầu mà còn ngây thơ quá! Cha mẹ phải biết chớ? Con không nói gì về hắn thì cha mẹ lại cần phải biết nữa… Ôi chao, may quá! May cho nàng là Michael không có lối viết thơ dài lê thê những yêu đương, nồng nàn. Nếu đọc những lá thư nàng viết thì cha mẹ Kay đến ngất xỉu mất. Cũng may những lá thư nàng viết không bại lộ! – Con không dám nói gì về Michael… tại con sợ cha mẹ ngán gia đình anh ấy. – Đúng, cha mẹ ngán quá xá! Nhưng gần đây con có gặp Michael, sau cái vụ đó không?
Google photos
– Không. Con chắc chắn Michael không bao giờ làm những chuyện ấy, không bao giờ phạm tội! Kay khẽ đưa mắt thấy mẹ nàng gật gù rồi hai ông bà thình lình trao đổi một cái nhìn đầy ý nghĩa, một sự biểu đồng tình. Ông bà khoan thai nói: – Nếu nó không phạm tội mà nó lại biến mất, tìm không ra thì chỉ e nó gặp một chuyện gì, chuyện gì đó rồi. Mới đầu Kay có hiểu gì? Chừng hiểu ý ông già thì nàng vùng đứng dậy, chạy miết lên trên phòng. Ba ngày hôm sau Kay đi tắc-xi tận nhà Michael bên Long Beach. Đã gọi điện thoại trước nên Tom Hagen ra đón trước cửa. Nhè gặp cha này thì chán quá, hắn đời nào chịu nói thực! Kay vô phòng khách đợi, có nhiều người đàn ông đi lại nhưng không thấy Sonny. Nàng hỏi Hagen: “Anh biết Michael hiện ở đâu và có cách nào gặp được không?” Nó cho hay: – Ở đâu thì chúng tôi không hay… nhưng an toàn, mạnh khoẻ thì chắc chắn. Nghe tên ông đại uý Cảnh sát đó bị bắn, nó sợ bị nghi ngờ, bị câu lưu oan… nên quyết định lánh mặt ít lâu. Nó có dặn tôi trước là trong mấy tháng thế nào cũng có tin về. Làm sao mà tin nổi thứ tin “chế tạo”, cố tình muốn lái sang một ngả như thế này? – Nhưng có phải ông đại uý đó đánh Michael bể hàm? – Có chuyện đó thật… nhưng Michael đâu phải người hung hãn, thích ân oán? Tôi cam đoan nó không dính gì tới những vụ vừa xảy ra. Kay mở bóp lấy lá thư “Chừng nào có liên lạc… anh có thể chuyển dùm cái này cho Michael?” Hagen không nhận, lắc đầu quầy quậy: – Tôi tiếc không thể nhận lá thư này. Nếu tôi nhận và nếu có chuyện ra Toà, cô xác nhận như vậy đó… thì bằng vào sự kiện này Toà có thể suy diễn là tôi phải biết chỗ nó lẩn tránh, cô thấy không? Sao cô không nén lòng chờ ít lâu nữa? Thế nào cũng có tin Michael nhắn về. Kay uống hết ly nước, đứng dậy từ biệt. Hagen đưa nàng ra nhưng cửa vừa mở là đụng đầu một người bước vô. Một bà già mập tròn, bận đồ đen mà Kay nhân ra là má Michael, nên vui vẻ đưa tay ra: “Chào bà Corleone…” Cặp mắt nhỏ xíu giương lên ngó Kay một lát rồi khuôn mặt nhăn nheo, rúm ró màu da ô-liu mỉm cười với nàng, một nụ cười thật kỳ cục mà thật là thân thiện. Bà nói líu tíu như reo lên mà giọng Ý nhà quê đặc sệt nghe chẳng hiểu gì hết. “À, cô là bạn của Michael! Tôi nhớ ra rồi! Mà cô ăn gì chưa? Chưa hả?” Kay lắc đầu, ý nói không muốn ăn nhưng bà hiểu khác nên quay sang Hagen la một mách ào ào bằng tiếng Ý và sau cùng chêm vô một câu tiếng Anh đại khái: “Cái thằng tệ quá! Khách của em đến nhà mà ly cà-phê không có…” Lập tức bàn tay ấm áp nắm lấy tay Kay, lôi tuốt vô tận bếp: “Cháu vô đây… Ngồi xuống uống cà-phê, ăn một cái gì đi. Rồi bác bảo một thằng đánh xe đưa cháu về tận nhà chớ con gái như thế này đi xe lửa một mình đâu được!” Kay rụt rè nói: “Cháu tới hỏi thăm tin Michael, lâu quá chẳng thấy tin gì nhưng ông Hagen cho hay ở nhà cũng chẳng biết gì hơn, có điều thế nào cũng sắp có tin…” Bà Trùm Corleone chưa nói gì thì Hagen mau mau gài một câu chặn đầu: “Bác à… hiện giờ chỉ có thể cho hay bấy nhiêu đó thôi.” Bà quắc mắt lên nạt lớn: – Ra bây giờ đến mày phải dạy tao làm cái này, không làm cái kia hở thằng Tom? Bác trai mày còn chưa dạy tao mà? – Thưa bà bệnh tình Ông Trùm thế nào? – Đỡ rồi… Bây giờ đỡ nhiều. Ổng hồi này có tuổi… làm ăn lẩm cẩm, điên đầu nên mới bị như vậy chớ? Bà hết làm dấu thánh đến đập tay lên trán làm như bắt buộc phải nói xấu tới ông chồng. Kay bị ép uống cà-phê, ép ăn chút bánh mì, phó mát. Bà Trùm cũng uống luôn cho vui rồi sau đó hai tay nắm chặt lấy bàn tay Kay: – Cháu ạ, bác nói thực… Cháu đừng chờ, thằng Michael sẽ không có thư từ, tin tức gì cho cháu đâu. Nó phải đi trốn hai năm ba năm. Có khi lâu hơn, lâu lắm! Cháu về nhà, cháu quên nó đi. Gặp thằng nào kha khá là lập gia đình đại đi cho xong, bác nói thật đó. Kay không trả lời mà móc bóp lấy ra phong thư: “Nhờ bác chuyển đến Michael dùm cháu.” Bà già cầm ngay, không ngần ngại. Tom Hagen vừa ấp úng toan lên tiếng đã bị mắng át đi bằng một tràng tiếng Ý. Sau đó bà dắt tay Kay đi ra cửa, thân mật vỗ vai, xoa má… Lúc ôm hôn chia tay khẽ rỉ tai: “Quên thằng Michael đi, con ạ! Bác nói thực… nó không còn là người của con nữa đâu!” Lúc Kay đi ra đã thấy một chiếc xe chờ sẵn. Hai thằng ngồi băng trên lầm lì không nói. Cửa xe vừa đóng lại là phóng thẳng một mạch về Nữu-Ước. Kay cũng ngồi im lặng, cố trấn áp tinh thần để tập cho quen với ý nghĩ con người mà nàng thương yêu bấy lâu nay đã thực sự nhúng tay vào máu. Đúng thế, chính bà mẹ đẻ, người đã sinh thành ra nó nói thì còn sai lầm thế nào được!
Cái ông Tây quan ba thầy thuốc tôi không nhớ! Cho đến nay, tôi gặp không biết bao nhiêu mà đếm, nhưng anh Toàn, tôi còn nhớ mãi không quên. Một buổi chiều nọ, xe Phan Thiết về, từ Hoà Hừng đã kéo còi vang rân, cho bạn hàng chợ Bến Thành biết mà đón xe lãnh hàng.
Như thường lệ, trong bộ áo bà ba “vải san đầm” đen, vắn gọn cắt khéo, may khéo và vừa vặn, – giàu thì mớ bảy mớ ba, – tôi chỉ có duy nhứt bộ áo bà ba nầy, áo quần bó sát căng thẳng vóc mình như con chim óc cau mùa lúa trổ – mông von von, vú tròn tròn, đùi dài, cẳng son, gói ghém như cô học trò trưởng áo tím chưa nếm mùi đời, nào ai thấu hiểu năm mười bốn tuổi đã bị Tây đè – mặt trái xoan, má hồng môi đỏ, mũi dọc dừa, chang mày đều đặn, lông mi dài luôn luôn ướt và cặp mắt ngây thơ của con chim bồ câu khát tình, vóc mình không béo có hơi gầy, không cao cũng không thấp, đi đứng khoan thai, tôi đâu có dè: như vậy là đẹp! Đẹp là vậy đó sao? Trời ôi! Nghèo rách mùng tơi, sát giường sát chiếu, nghe rao bột khoai, tàu hủ, thèm chảy nước miếng mà trong mình không có một đồng xu, bổ dưỡng ngày ngày toàn tương chao rau muống, bữa nảo có dưa leo là thịnh soạn trên đời, như vậy mà đỏ da thắm thịt.., trên toa xe cũng như ở sân ga, đâu đâu củng dừng lại nhìn ngắm, trâm trồ: nào Tây Thi xuất thế, nào nhan sắc phi thường! Cơ khổ! Hôm ấy tôi mãi lo đề phòng bọn lăn dưa, sợ bọn chúng chọt mất một món là củi tre lên đầu, tôi quên đề phòng cặp mắt thèm muốn của một thanh niên con cháu họ Bùi, đã theo tôi từ chút! Toàn, mối tình đầu, con cháu khách, cha Tàu mẹ người Qui Nhơn, sanh bốn con, Toàn là con cưng nhứt. Cha của Toàn là tỷ phú xứ Phan Rang, Toàn vô ra Sài Gòn như ăn cơm bữa, nhưng anh Toàn hôm ấy thần tình mê mẩn đã bị tôi thu hồn sanh cho vào túi áo ngắn từ lúc xe dừng bánh! Toàn là tay ăn chơi, biết mùi gái từ tuổi dậy thì, hôm ấy Toàn gặp chị Mười Ên (Anh) hất hàm hỏi:
– Con nhà ai đó, chị Mười?
– Ba Trà, con của chị Tám ở đằng kia kìa, chớ con ai mà hỏi?
– Chị làm mai nó cho tôi đi, tôi cho chị tiền. Chị o nó cho tôi mau mau đi!
– Trời đất! Thì ít ra cậu cũng phải bắt tình với nó trước đã chớ? Cậu viết thơ tỏ tình cho thật muồi, tôi lãnh đưa cho.
Năm đó tôi đã được mười lăm tuổi mà còn khờ ịch. Bao nhiêu thơ dài thơ vắn tôi đều đem về cho má tôi không sót thơ nào.
Nhưng quả là duyên nợ, vì má tôi không giận, có lẽ bả đã hỏi thăm gia thế của Toàn rồi, cho nên chấp nhận cho anh bước tới! Và mười lăm hôm sau, là có cha mẹ Toàn, chiều ý con, dẫn Toàn vô Sài gòn làm lễ cưới. Với mười lăm tuổi đầu, tôi theo chồng ra Phan Rang, vào làm dâu cho một gia đình Tàu, ăn ở theo phong tục Tàu. Cha chồng tôi là người Hải Nam, đã có vợ chánh để lại bên Tàu, và qua đây lập nghiệp, có đến ba bà vợ lẻ, má của Toàn, kể như chánh, ở Phan Rang, hai bà kia gìn giữ mỗi người một hiệu buôn lớn, không ai đầu phục ai, và chuyên mua bán hải vật: vi cá, khô cá mặn, bào ngư, tôm hùm ổ yến, và chi nhánh lớn đặt tại Chợ Lớn cho nên Toàn ra vô hoài hoài là vì vậy. Tôi chỉ làm dâu cho bà ở Phan Rang, và mẹ chồng tôi là người nhơn đức, đối xử với tôi rất biết điều, duy bắt buộc tôi phải ăn vận theo Tàu, – chiếc áo xẩm bó ngực lòi cánh tay càng tăng thêm vẻ đẹp: cái đẹp lộng lẫy của một phụ nữ Việt mặc áo Tàu, một nhánh hoa với nước biển thanh nhẹ hay nhờ phong thổ miền nầy có núi xanh tía, bãi cát phau phau hoà với nước biển xanh biếc, mà về đây nhan sắc tôi càng thêm mặn mòi, nước da càng tươi thắm, bộ đồ xẩm khi tôi ra đứng trước ngõ là mẹ chồng tôi kêu trở vô, vì khách ngoài đường đều dừng chân xì xồ: hoa lạ nào đây, gái Tàu hay Việt?
Tội nghiệp cho thân tôi, ngây thơ dường ấy và lộng lẫy dường ấy mà kềm không nổi Toàn. Toàn được cha mẹ cưng, cho sống theo phong tục Tàu: vợ nhà, vợ bé, mèo chuột liền liền, khi tôi khởi sự biết ghen thì Toàn càng buông lung. Một hôm tôi nổi cơn sùng, làm trận gấu ó với một nữ phạm nhe (điều dưỡng, y tá) giữa chợ đông, Toàn đã không binh vực tôi lại tỏ ra lạnh lùng vô trách nhiệm. Toàn quả là một con ong ham hoa mới, một con bướm chuộng bông lạ bông thơm, vợ nhà cũ kỹ phải chiều ý chồng, không thì chồng cũng cứ đường trường cho ngựa chạy Cái thí nghiệm của tôi với mụ y tá bòng chanh đã làm cho tôi quá thất vọng và bực quá tôi lén trốn lên xe lửa toan về với má tôi ở Sài Gòn, nhưng nhà bên chồng hay kịp, bắt về, tuy không quở phạt đánh đập, nhưng “cấm cung” không cho tôi nơi ra khỏi cửa.
Được hai năm đầu âu yếm, đeo khít bên đít không rời nửa tấc, và khi chán chê rồi, cái thứ đàn ông bọn anh mười người như một, đều như vậy hết.
Khi ấy tôi hết muốn sống trong cảnh giam cầm như vầy, dầu không thiếu món ngon vật lạ đổi thay, khi ấy tôi lén anh Toàn, viết thơ về cho má tôi, và má tôi hay tin tôi như vầy sốt ruột gởi thơ ra than nhớ con và quả anh Toàn trúng kế đưa tôi về Sài Gòn.
Chuyến về, tôi cho ảnh về không, tôi ở lại với má tôi, tưởng làm sao, té ra nhẹ nhàng chỉ chưa được nửa tháng, và sau đó tuy tôi đã có chồng, vẫn bổn cũ soạn lại, má tôi cho tôi hưởng nhiều trận đòn đau điếng. Và như vầy, thôi thì trở lại với anh Toàn mà còn hơn, và nhờ một chị bạn xót tình mua cho tôi một vé hạng ba, và chuyến “vinh qui” nầy tôi nếm được mùi ngon ngọt không bao giờ nếm lại là năm đồng xu dưa leo ăn nhín với đường táng “ăn trừ cơm” mà sau tôi nếm lại không bao giờ ngon ngọt như thuở ấy. Nay tôi đã trải xiết bao cảnh ngộ, tôi có chút triết lý là hạnh phúc không phải ngồi trên đống vàng, hạnh phúc là năm đồng xu dưa leo khi nhớ chồng bụng đói?
Vinh qui mà không chồng đi theo, tôi lừng khừng thấy xe ngừng lật đật xuống xe tưởng đã tới nhà, chừng xe chạy tôi chạy theo không kịp, đành bơ vơ nơi ga Mường Mán, may thời gặp lại người mai mối hai năm trước là chị Mười Anh, mừng quá, tôi được chị nầy đưa tôi trở lại Phan Thiết, nơi nhà một người tài phú Tàu coi chi nhánh hãng của cha chồng. Hôm sau tin đồn tôi té giếng sau nhà hoặc tôi tự tử…, sự thật tôi ra sau xách nước và trật chân xuýt bỏ mạng chốn nầy.
Bỗng anh Toàn lù lù ra kiếm tôi, bốn mắt nhìn nhau, tám hàng lệ thảm: mừng của chàng trai ăn năn vì thấy vợ tiều tuỵ làm sao đổi được cái mừng của tôi khỏi ăn củi đòn của người mẹ oán đàn ông ở đoản, mà nhè đầu tôi cho nếm củi nguyên cây? Hồn mẹ có linh? Con nói làm vầy, có đúng hay không, mẹ biết!
Những công việc tôi làm buổi ấy, nay nhớ lại, đều “trật chìa” tưởng vô Sài Gòn cho mẹ khuyên can cho chồng bớt bỏ bê gia đình, té ra mẹ tôi thẳng tay phân ly cặp oan ương không cho nối cánh, Toàn, anh Toàn về Phan Rang định ra lấy nữ trang cho tôi rồi sẽ trở vô rước vợ. Trước khi ra đi, ảnh dắt tôi ra chợ cho ăn mì, ngon quá rồi để tỏ vẻ ăn năn chuộc tội, ảnh mua cho tôi một lần đó đến mười cây lãnh đen, mặc sức cho tôi may! Và có lẽ từ đó bất ngờ tôi đã lăng xê cái mốt (lancer la mode) y phục ngắn quần áo lãnh cắt cùng một thứ hàng, vì với nước da trắng trẻo, vóc dáng thanh lại, bộ quần lãnh áo lãnh cắt cho vừa vặn, làm tăng vẻ đẹp người phụ nữ son trẻ Việt, không mốt nào dám bì, dẫu cắt trong hàng gì quý gia cách mấy cũng thế!
Trời đất ôi! Đất bằng sóng dậy! Hai tôi vô nhà lạy mẹ xin lỗi, nhưng má tôi nhứt quyết không cho tôi trở lại với anh Toàn: “Mầy còn trở lại với nó, tao giết mầy!”. Không phải má tôi nhẫn tâm hay ác tâm đến thế, nhưng tình mẹ thương con của má tôi biểu rằng bọn đàn ông đều vậy, và cho con trở về với chồng là để con đi trên con đường lầm lạc của mình buổi trước hay sao? Hại cho chưa khi mẹ thương con nhưng thiếu học! Báo hại nhứt cho tôi là ngày ngày ngóng trông anh Toàn trở vô, năn nỉ mẹ lại nữa, mong bả hồi tâm cho vợ chồng tôi sum hiệp, nhưng ngày qua ngày hết sớm rồi lại tối, bặt âm vô tín người thương.
Đã mười bảy tuổi đầu mà mọi việc đều trái ý, và để tránh điều cay nghiệt củi đòn củi chẻ, chỉ còn một nước bỏ nhà mẹ ra đi: “Thử xem con tạo xoay vần đến đâu”.
Trong mình tôi lúc ấy có sẵn nữ trang của anh Toàn để lại gồm một đôi bông tai vàng có nhẫn hột xoàn trị giá lúc đỏ chừng bốn trăm đồng, vì với 400$ lúc đó có thể mua sáu bảy lượng vàng như chơi (vàng 60$ mỗi lượng). Còn thêm mớ áo quần mới may, vi kiếng bao nhiêu ấy, chưa bay nhảy còn đợi chừng nào?
Con chim sổ lồng tập bay sập sận tự cánh mình, tôi trốn mẹ tôi hôm ấy sau khi khóc hết nước mắt, và chỗ tôi tạm trốn lả nhà chị Sáu Mão, từng quen biết, trong một hẻm nhỏ đường Paul Blanchy.
Quên nói chị Mão có chồng hút, chuyên nấu cơm tháng nuôi mấy thầy chưa vợ, cảnh nhà chật hẹp ồn ào còn hơn nhà chay bội, đình đám to. Mỗi đêm đều có tổ chức một cái đám cưới “chồng giờ vợ buổi”, không đám cưới thì cũng mai mối cột anh nầy với chị kia căn rứt cấu xé nhau sáng đêm Tôi gởi thân vào khốn nầy, không khác con nai tơ trong một hang hùm đầy hổ đói!
Khốn nạn nhứt là nhè lúc nầy tôi lại đau mắt. Cũng vì nhớ và khóc nhớ ảnh Toàn và khóc chồng bặt vô âm tín. Ba xôi nhồi một chõ: Ngoài việc bếp núc, phụ lực chị Mão xách nước rửa chén, ngô đâu bụng dạ đàn bà không độ được, chị Mão a ý với chồng, thấy tôi nhặm mắt, bày cách để cho anh Sáu Mão lấy lưỡi rà nụ mắt cho hết nhặm, và một đêm khuya, anh Mão không rà lưỡi lại nhè má tôi mà hôn. Tôi la lên mét cô ấy, chủ tỉnh bơ: “Anh Sáu mầy đã nói với tao rồi! Chịu đại cho êm!”
Thiệt là hết chỗ nói? Một lần thứ nhứt, tôi mới thấy một người đàn bà thương chồng kiểu nầy! Mà gẫm lại cũng không lạ. Phần đông gái sa ngã cũng vì lỡ bị anh nuôi đè với sự cho phép của chị nuôi.
Bây giờ để thoát nạn rà lưỡi, vả lại mắt tôi đã bớt, chỉ còn cách sấn thân cất bước ra đi một phen nữa, tức là trốn vợ chồng chị Mão. Nghiệt nỗi, bao nhiêu vốn liếng hồi sanh tôi đều gởi cho chỉ giữ nay hỏi, chỉ lại hăm he, doạ mét với má tôi. Hỏi nữa chị Sáu đâm liều lĩnh, rằng đồ đạc đã câm cố mới có tiền nuôi tôi hổm rày.
Ức lòng quá tôi chạy qua khai thiệt hết tự sự cho chị Ba là người quen ở cách chị Sáu vài căn nhà. Chị Ba mới chỉ vẽ tôi về nói lại với chị Sáu rằng Trà đã gặp mẹ và mẹ dạy nếu chị không trả mây món đồ gởi, má tôi sẽ xuống bót thưa. Nấn ná được vài hôm kế xảy ra vụ “chồng hôn em nuôi mà vợ bằng lòng”, – đến đây “kế cùng lực tận” qua học với chị Ba, chị nầy bàn nên bỏ hết vàng xoàn, và hãy qua ở với chị Ba cho yên thân, tôi lại còn dụ dự, hỏi “Rồi chị Sáu ganh, thì chị mới làm sao đây?”. Nhưng hễ con người ngay thì lời nói cũng thật, chị Ba đáp tỉnh bơ: “Còn đồ còn đạc thì chị ta mới ganh, hết đồ hết đạc, còn ganh chỗ nào?”.
Nghe có lý, tôi tức thì trở về nhà chị Sáu, tứ giã hết thảy, ra đi mình không qua ở tạm trú nhà chị Ba nghĩa hiệp. Nay việc đã qua lâu rồi, gẫm lại đầu dây mối nhợ tôi hư thân, cũng vì đôi bông xoàn và lòng nham hiểm của chị Sáu Mão, muốn nuốt cho trôi đôi bông và nuốt cho trơn số tiền anh Toàn cho, mà làm cho thân tôi ra cớ đỗi, lìa mẹ, xa chồng, và dấn thân vào đường truỵ lạc, cũng vì tiền.
Trớ trêu nhứt là buổi sáng tôi từ giã nhà chị Sáu Mão qua ở nhà chỉ Ba, thì đúng buổi chiều hôm ấy, anh Toàn lót tót từ Phan vào Sài Gòn tìm vợ. Phải là trời đất sắp đặt làm cho tôi hư chồng. Số là tôi có gởi thơ cho anh Toàn cho hay hiện tôi ở nhà chi Mão, nên hôm ấy anh Toàn đi ngay lại nhà chị ấy để tìm tôi.
Vừa thấy Toàn, rằng vào nhà nầy tìm vợ, chị Mão đóng tuồng thật khéo, và bụm mặt khóc oà:
– Trời đất quỉ thần ơi! Dượng Ba (nghe ngọt quá?) dượng vào đây đã trễ rồi! Cô Ba đau mắt tưởng đã không xong! May nhờ người khuất mặt che chở, nên nay đã bớt. Dượng tính coi vợ chồng tôi thì nghèo, thấy cổ đau, làm ngơ không đành, nên chạy thuốc chạy thầy, công lao khổ cực không kể, nay đổ nợ vợ chồng tôi phải lo cho đủ tiền ngày tiền góp, tiền đứng tiền ngồi, tính ra trên bảy trăm đồng, không biết phải làm sao đây? Thiệt là khổ quá chừng!
Cái khổ của vợ chồng chị Mão, làm cho anh Toàn phải lòi ra năm trăm đồng mới êm tạm tạm, nhưng Toàn nóng nảy vụt hỏi:
– Mà bây giờ vợ tôi ở đâu?
– Tôi đã đem cô ấy giấu trên kia kìa, vì sợ chị Tám bắt về đang đau thêm khốn!
– Giấu ở đâu, chỉ cho tôi biết đặng tôi rước về Nha Trang.
– Uý! Không nên! Chưa đặng đâu! Chỗ đó khó vô lắm! Để tôi nhắn cho cô Ba đến đây cho vợ chồng gặp mặt.
Google photos
Cho hay, sự đời éo le, không ai biết được. Trông vợ, nhớ chồng, vợ chồng cách nhau trong gang tấc, cách nhau vài căn nhà, mà chỉ vì vàng xoàn và mở áo quần chị Mão muốn nuốt cho trọn mà đành ngăn cách vợ chồng nầy bằng muôn dặm quan san. Dám khuyên các cô nhỏ sau nầy, trước khi bỏ nhà chồng ra đi để tìm tự do, nên suy nghĩ lại cho chín chắn trước đã!
Bây giờ mọi sự đều trễ tràng. Mối tơ mãnh mành giữa Toàn và Trà đã dứt, muốn nối lại làm sao được. Trái đất cứ lăn, bánh xe cứ chạy, con chim một lòng với mẹ, hiếu đễ nhịn nhục vẹn bề, con chim ấy cũng một lòng với bạn, chung tình trinh thục có đủ, nhưng dịp tốt đã qua, con chim ấy bỗng bị gió thổi lọt ra khỏi ổ và cặp cánh tự nhiên biết dùng, “tung bay như cánh hồng cánh hộc”, chỉ có ông trời mà cản! Cản làm sao được khi nước vỡ bờ! Nói theo nhả Phật, cái “căn” cái “quả” đã gieo, “thì gieo đưa hái dưa, gieo đậu hái đậu”.
Sau hơn hai tháng đùm đậu nhà chị Mão, ngày cô lìa nơi nầy, cô Ba Trà không khác một nạn nhơn bị đắm thuyền, của cải sạch sành sanh, còn lại chăng là nhan sắc trời dành, nhưng với mớ nhan sắc có một không hồi ấy, số vốn ai nào dám gánh?
Năm 1923, tôi ra trường, chân ướt chân ráo tập ăn chơi, thì cô Ba đã là một nàng tiên trên dương thế. Từ 1923 đến 1928, tôi đổi về toà bố Sa Đéc, cô Ba lên như diều gặp gió, chiều chiều ngồi một mình trên chiếc ô tô mui trần lộng lẫy, xe êm nệm tốt, áo nệm trắng toanh, trước có hai người tài xế ăn vận lộng lẫy, cổ áo một màu với y phục cô Ba mặc, trắng toàn trắng, tím nâu toàn tím nâu một tài xế chánh để lái xe, một tài xế phụ để mở cửa xe, Ba Trà sang trọng sánh không thua thống đốc Nam kỳ vì chỉ có ông cầm đầu xứ nầy dùng hai tài xế cho chiếc xe chánh phủ mang số hiệu đặc biệt “C.20” (buổi ấy toàn vùng Sài Gòn công xa chỉ có một trăm chiếc, và chiếc xe của ông Nam trường máy Rosel là số 33, hiệu Ioraine – Dietrich, trong khi xe thống đốc hiệu Delage six cylindres và cô Ba ngồi “độc chiếc” trên xe có hai chauffeurs, ai nào dám ngó cô cho chán chường, chỉ vì sợ bà móc nhãn!
32. Gặp ông Diên Hương.
Con người ta lúc nhục lúc vinh không mấy hồi, và suốt một đời thi đậu có vợ sanh con nên nhà, nên cửa rồi “hoàn cốt khỉ” phủi tay sạch không, chỉ trong giấc mộng, gọi là mộng cháo kê cháo ngô gì cũng được. Xét cho cô Ba Trà: 9 tuổi chưa đi học, 14 tuổi bán cho Tây y sĩ mua làm vật tiêu khiển nhục dục, 15 tuổi lấy thằng chồng ích kỷ, lận đận lao đao đến năm 17 tuổi sống tạm bợ giữa hai chữ “hiếu với mẹ”, “trung trinh với chồng”, bỗng bước sang tuổi mười tám, tung hoành một cõi, “vảy may” ấy nhờ ai?
Nhờ một ông lương y giàu, trước học trường thuốc Hà nội, bổ làm lương y phụ tá (médecin aưxiliaire) ở nhà thương cấp cứu đô thành Pháp gọi là Clinique Hui Bon Hoa (vì ông nầy ra tiền xây cất và xưa chức bác sĩ chỉ dành cho thầy thuốc Lang sa mà thôi). Lương y nầy giầu tiền, lại giàu tình, và khi gặp được cô Ba, ông cưng chỉ thiếu đúc nhà vàng để chứa. Lương y vừa là thi sĩ, bút hiệu là Diên Lương, tôi không hài tên mà nhiều người vẫn biết. Ông đã mất năm 1963 (còn cô Ba mất năm nào, tôi hỏi chưa ra), nhà ông trước khi dời về Đà Lạt, ở ngay góc đường Nguyễn Du và Thủ Khoa Huân và người đàn bà ông ký thác giữ chừng cô Ba là bà Tư Lê, bà nầy tốt lòng thì có thật mà có tật ưa chơi me, và cũng vì ở chung bà nầy mà cô Ba lây tật chơi me, chơi cho đổ quán xiêu đình, chơi cho ngả luôn gia tài công tử và cho sập thần vì chính phủ đô hộ Pháp!
33. Nhớ bác Diên Hương
Nhớ bác hôm nay là quá muộn màng, nhưng lòng thành kính của cháu đối với bác luôn luôn không đổi. Sở dĩ xưng hô làm vậy, tuy về tuổi bác lớn hơn độ mươi ngoài hai mươi, là vì bác là người đã chứng kiến sự chào đời tại nhà thương Sốc Trăng của Tuyết người bạn mười chín năm chung sống và nay đã đường ai nấy đi, tuy dầu sao tơ lòng còn vưởng vít chưa quên. Năm cháu còn mãi ở tận Paris để học hỏi về khoa khảo cổ, hay tin bác mất trên giường bịnh dưỡng đường Grall, thi hài (ngày từ trần 10 Mai, 1963) chở lên an táng trên cao nguyên Đà Lạt là nơi bác lựa, nhưng mỗi người mỗi số kiếp, vừa hương bát nước ai lo, và người dưỡng nữ duy nhứt của hai bác đã bay về Pháp địa, ai ở bên nầy coi sóc hai nấm mồ, có lẽ lạnh lắm trên đất xa lạ và nay ít người lên tới: Đà Lạt. Nếu bác sống đến giờ nầy mới lâm chung, thì bác cũng khổ với phong tục mới: hoả táng để tay gói tay xách dễ mang theo ra nước ngoài. Trừ cái việc nằm lẻ loi trên xứ lạnh, bác là người hưởng đầy đủ nhứt trên đời nầy. Trẻ tuổi thi đậu sớm, bác là người sớm được học khoá nhứt nhì trường thuốc Hà nội, bác coi sóc sanh cô Tư Tuyết năm 1912 thì cháu còn học lớp tư lớp ba trường tỉnh, còn nhớ một buổi trưa chúa nhựt, cháu cùng chúng bạn, hái xoài chua sân toà và uống nước lạnh trong lu bố thí ngoài đường, bị bác lúc ấy đổi về dưỡng đường Sốc Trăng ngồi xe kéo đi ngang bắt gặp dạy rằng không nên uống nước ấy, vì nước không tinh khiết, chứa nhiều vi trùng bịnh thổ tả. Chúng cháu sợ, bỏ chạy và nhớ danh bác từ ấy là “thầy thuốc Trần Ngọc Án”. Lớn lên, có đôi bạn, đổi về Sài Gòn lối 1942-43, phố ở ngang nhà bác đường Aviateur Garros, nào dám nhắc chuyện xưa uống nước lu ngoài đường mà chưa chết và ăn toàn xoài sống mà không sao? Sau nầy trở vô lâm ăn tiền ngay nơi viện bảo tàng trong vườn bách thảo, thỉnh thoảng vẫn được bác không quên và mời cùng bạn mới, Năm Sa Đéc, dự nhiều bữa tiệc, khi ăn lục tuần bác gái (bà Song Thanh), khi khác ăn thất tuần của bác, lúc ấy hai bác vẫn hồng hào tươi tắn, nào hay đâu ăn sung mặc sướng như vậy mà phút chốc đều ra người thiên cổ, té ra phải ăn cực sống khổ mới là sống dai như hai đứa nầy hay sao? Cái gì bác cũng hưởng nước nhứt? Ba Trà, nói ra cho đúng một phần nào nhờ bác lăng xê. Trong mấy trang trước cháu viết Ba Trà ngồi độc chiếc trên xe hơi có hai tài xế mặc đồng phục, ấy là cháu nói hở, lấy đuôi làm đầu, kỳ trung lúc ngồi xe có tài xế phụ là sau nầy khi Trà trúng me, chọn Thìn làm chồng, còn lúc chiều chiều Trà ngồi xe “nhạn” trên đường phố Sài Gòn là ngồi xe của bác, khi cu ky khi có bác ngồi song song, và cháu dám trách bác, có của quí không giấu trong nhà lại lộ liễu đem khoe trước mắt cả trăm ngàn người, thảo nào hai dê một non một xờm, Tư Phước, Ba Huy, chẳng cuỗm của bác, thì ai vô đây mà cấm cản.
Hay là nhà đã sẵn người ngọc, bác gái của cháu hèn hỏi gì, thêm giỏi thi thơ giỏi tề gia nội trợ, bác đành gởi Trà cho cô Tư Ăng lê giữ than ôi? “Gởi trứng cho ác” thì làm sao trứng khỏi bị ăn xén ăn xớt phần nào, hai bợm bãi Phước và Huy, chúng trút lọp quyết phỗng tay trên, chúng trẻ tuổi hơn, sức lực đều là của trâu tơ dậy mẩy, chúng giàu tiền và phóng túng hơn, một đứa bán gia tài ông cha để lại lấy tiền nuôi gái, một đứa ăn cắp lúa bồ và lúa đong từng ghe chài một, hai thằng phá sản, bác làm sao lại chúng? Cô Tư Ăng lê, vì trước có chồng là người Hồng mao tóc đỏ, báo Tiếng Dội để tránh phiền phức, gọi cô là Tư Lê và bỏ dấu sai, đọc là Tu Lê, thì cháu biết đường đâu mà rờ! Mấy hàng nầy nếu lọt dưới mắt bác lúc còn sanh tiền, ắt cháu không trông gì trở lại góc đường Nguyễn Du và Thủ Khoa Huân, mỗi lần bác tổ chức tiệc và yến.
Nhưng nay bác đã nằm yên một giấc ngàn thu, Trà cũng đã ra người thiên cổ, bác giận cháu làm chi và hãy để cho cháu viết, không phải để cười bác đâu, ai dám, sự thật là để cho nhiều người biết tấm lòng của bác, đáng làm gương cho những ai đã có hiền thê tại nhà mà còn chưa chừa tánh tham muốn “kim ốc trữ chi”? Nhà cô Tư Ăng lê lúc đó ở có lẽ đường Richaud, sao “động ô” bác dọn riêng cho Trà một căn phố trệt góc Richaud và Lareynière, còn cô Tư Ăng lê dọn về đường Trương Định (nay) và vẫn chứa bài cóc ken, nên Tuyết, khi chúng cháu dọn về đường Taberd, Tuyết thường đến nhà cô Tư Lê xạc bài cào hoặc đổ con mèo, mà bây giờ cháu mới truy ra manh mối, cái tật ăn không ngồi rồi, đàn bà chị nào như chị nấy, không cầm lá bài, không lấy tiền chồng nuôi me ngồi me đứng thì đâu có ra nông nỗi bác bị cắm sừng mà cháu cũng mọc sừng!
Bác gái luôn luôn nói nói cười cười và Trà, vẫn yêu vì kính nể kiêng dè bác trai bác gái như hai lượng cả thường được che chở bao dung và có lẽ vì thấy chặt chịa quá khó nuốt trôi, nên Trà mới nửa đường thay gánh! Cháu há dám bàn mô ranh với bác, chớ gái như Trà, họ muốn đổi làm vai đàn ông để có chồng bé chồng xơ cua, chớ đâu khứng phu xưởng phụ tuỳ, bỏ tiền nuôi chúng chỉ mất tiền thêm đeo sầu thảm. Cháu muốn học gương bác mà không học được. Cháu cũng vì tỵ hiềm mình đi trễ tàu, và Trà cơm đen nặng quá, nếu không thì cháu đã lỗi với bác nhiều nhiều. Cháu mới nghe có người vừa rỉ tai với cháu rằng Trà thất thân để cho “cây cột cháy” Amadou nó xúc phạm, nhưng cháu đã cải chính tin vịt và bịa đặt nầy vì cháu biết dư thằng hắc quảy ấy, lúc cháu ở đường d’Espagne, mỗi tháng đến ngày lính sơn đá xuất thành, thằng đen nầy đi tìm gái thì bao nhiêu em nuôi của động Giác đôn hẻm d’Espagne đều bỏ ổ tìm đường chạy trốn vì thằng dịch vật này tay dài như tay vượn nên đã từng cho đo ván võ sĩ Ba lan Pzysko tại võ đài Charner năm nọ, cặp giò dài fến yên xe đạp tháp cao thêm hai ba tấc mà chơn nó còn phết đất sà sà. Đã biết như vậy, tôi quả quyết, một người mình hạc xương mai như Trà, lại nữa là chủ mướn “cột nhà cháy” làm “gác cửa” nơi nguyệt tiên cũng sẽ nói sau nầy, dại gì thử lửa cho phỏng tay và hết xài trọn kiếp!
Thuở ấy, lối 1925, bọn võ sĩ ngoài việc lên vô đài kiếm tiền xúp, đều sính tài làm hộ vệ vai vế cho các cậu công tử để kiếm chác thêm: như Antoine Cường cho cô Ba Pho, Puncher manh lai Tàu, Kid Demsey cho cậu Tư Phước (Georges) và Batandier, lính Tây thành Ilè R.I.C. làm bộ hạ cho Ba Qui, v.v…
Bác tôi, phong lưu rất mực, trước khi chịu phép vì quá già đành viết sách (thành ngữ điển tích, sách dạy làm thi, v.v…) lúc thanh xuân ngày chúa nhật cũng như ngày lễ, không cho xe lửa đụng nhau (chơi bài chemin de fer), thì cũng tứ sắc và chơi có điều lệ đành rành, hoặc thiên cửu (thín cẩu) hoặc xì phè và me (vì me mà quen Tư Ăng lê, Ba Trà, Ba Huy, Sáu Nhiều, Sáu Ngọ, v.v… Các bác sĩ lục tỉnh, cỡ thầy thuốc Ngỡi, trường tiền Mỹ, vân vân đều có ký quĩ không bao giờ lãnh nơi nhà bác tôi bộn bộn).
Ăn nói có duyên, mặt hồng hào, cử chỉ hoà hoãn, chết không tai tiếng, ở với Trà như bát nước đầy, khi chia tay không một lời nặng nhẹ, Trà luôn luôn nể đôi vợ chồng nầy, vào ngạch bác sĩ ngang hàng với Pháp đầu tiên, mề đay điều, mà không nhập tịch Pháp, kể là mọt nhơn vật là trong Nam cũng xứng. Hiềm vì không con nối hậu, khi nằm xuống, tủ sách toàn sách xưa sách quí, cũng không còn, đáng tiếc vậy thay! Chỗ nhà cũ sau dinh Tổng thống nay đã xây lầu, đi ngang vẫn ngùi ngùi nbở cuộc biến thiên mau quá!
Dẫn: Tôi còn nhớ rành rành như chuyện vừa xảy ra hôm qua hôm kia đây, là bữa đầu tôi gặp cô Ba trong Đại Thế Giới là lúc tôi đang đeo theo kỹ sư Phạm Kim Bảng để xin một miếng đất của đô thành, hầu như dựng lên vuông nhà hiện nay tôi đang ở, còn cô Ba khi ấy gần như thường trực đêm nào như đêm ấy cô vẫn có mặt tại các sòng me, để canh chừng khi thuận chiều “ké vô vài chén chạy gạo”, hoặc khi nào các công tử quen xưa hết vốn, cô sẽ chuyển vận lương thảo cho các cậu gỡ gạc với điều kiện “tiền viện trợ cấp thời” nầy đẻ mỗi ngày là mười phân trăm số vốn, tỷ dụ cho mượn 2.000 đồng thì mỗi ngày tiền lời là 200, bạc vốn vẫn còn nguyên, khi trả phải chìa ra đủ 2.000 răng rắc. (Mấy lúc sau đó, khi tôi hay được cô làm nghề mà tôi cho là quá mạo hiểm và phân tâm với cô rằng cô “không sợ chúng giựt hay sao?”, cô đã trở lời mấy tiếng cụt ngủn làm cho tôi toát mồ hôi vì quá thiết thực: “Các cậu bao giờ đi giựt tiền một con đĩ như tôi làm vầy?”) Tôi thuở nay đâu có ưa cờ bạc và tôi vào Đại Thế Giới hằng bữa để làm gì?
Nhưng như đã nói, lúc đó tôi đang theo sát kỹ sư Bảng, và Bảng là con sâu cờ bạc, khiến nên tôi gặp lại cô Ba cũng nhờ Bảng. Hai tôi cô Ba và tôi, vẫn không xa lạ. Lúc tôi ở trọ nhà 108 đường Bonard, lối năm 1925-1926, thì cô có đến đây mỗi khi trong nhà có tổ chức “hốt me chạy”. Lúc đó một bữa nọ không biết ai đã chọt mất của tôi một sợi dây chuyền vàng đeo đồng hồ bỏ túi mà tôi để quên trên lầu, trong khi tôi đang kiếm, cô hay được, cô thốt ra một lời bộc trực mà khi ấy tôi cho là “chạm nhiều vào lòng tự ái” là “Đi lấy làm chi của người ta? Người ta ăn lương một tháng không bằng mình đặt một tụ con con. Thiệt, ai đó, lấy làm chi của người ta như vậy?” Ngày nay tôi đã trên tám mươi và đã có nhà có cửa đàng hoàng, thì tôi xét ra câu nói của cô tỏ lòng thương hại hơn là khinh khi, nhưng lúc nhỏ háo thắng, “mình ước ao muốn nó mà nó đành lòng nói một câu như vậy, lúc đó tôi cho là “tổn đức” và định tâm phải làm sao cho có phương cách trả thù một phen mới nghe cho!” Bảng làm kỹ sư coi về đất địa đô thành, lúc đó ông đô trưởng Nẫm họ Lê, có hứa cho tôi một miếng đất nơi vườn Tao đàn để cất “nhà xưa” với điều kiện khi tôi chết, nhà cho về đô thành vĩnh viễn và cuộc cắt đất cắm ranh tuỳ nơi Bảng, nên tôi đeo theo là vậy. Không biết hôm gặp, cô vui bực nào, mà trò truyện với tôi không ngớt. Rất may cho tôi là khiến thần khẩu thốt ra một câu “nịnh đầm” quá xá, làm cho cô xúc động tâm tình rồi keo sơn gắn bó từ đây cũng nhờ câu nầy. Cô hỏi nhỏ tôi, từ ngày xa nhau, sau lúc cô dự đám cưới của tôi và cô Tư Tuyết, con của bà Kính (ông bô tôi là thông ngôn toà thượng thẩm, một tay chơi nức tiếng thời ấy), và sau nầy căn phố lầu số 260 đường Richaud (sau là đường Phan Đình Phùng) trở nên cảnh “Nguyệt tiên cung” của cô v.v…, tôi trả lời một cách rất tự nhiên cho câu cô hỏi: “Nay cô đã hương phai phấn lạt, còn săn đón cô làm gì?”, tôi khi ấy ngó ngay mặt cô rồi cúi đầu đáp nhỏ nhẹ: “Thưa cô Ba, tối không cần biết cô nay ra thế nào, sa sút đến bực nào tôi không cần biết, trong mắt tôi, trong hồn tôi, đối với tôi, cô luôn luôn vẫn là người đẹp, tôi không hiểu thành ngĩr “khuynh quốc khuynh thành” là người ra thế nào, tôi chỉ biết cô qua bức ảnh chụp treo trong tủ kiềng nơi trước nhà nhiếp ảnh “Khánh Ký” năm xưa ở đường Bonard, hình cô mặc một bộ y phục trắng, che cây dù cũng trắng và đứng thướt tha nhìn ngắm xa xăm, hại cho tôi chủ nhựt nào dầu trong túi không tiền cũng lội bộ từ trường Chasseloup ra ngắm dung nhan cho được mới nghe, mặc dầu trời mưa trời gió, và hại tôi đêm nào như đêm nấy, tiếng rằng cha mẹ cho tôi lên đây ở nội trú để xôi kinh nấu sử, mà xôi và nấu đâu không thấy, đêm nào như đêm nấy, tôi chỉ mơ mộng tưởng nhớ hình dung cô!
Lời nói không suy nghĩ mà tựa như sắp đặt trước, khiến nên gây được cảm tình. Một bữa tôi đang xỏ giày vào chưn, cô bỗng giựt mình mở mắt ngồi nhỏm dậy mà rằng:
– Anh hãy yên tâm, rồi thong thả tôi sẽ kể lại đời sóng gió của tôi cho anh viết. Nói thiệt, tôi mê cảm anh nên mới làm như vậy. Nhưng tôi đã suy xét rồi. Tôi thích chị Năm diễn kịch khéo, nhứt là vai “bà Phán Lợi, mẹ thằng Thân (Việt Hùng) trong tuồng Đoạn Tuyệt. Tôi đã phá gia cang biết bao nhiêu người! Tôi không muốn làm khổ cho chị Năm, anh hãy về nói lại: tôi tha cho đó! Thôi, về hè!
Và nhờ vậy mà có thiên bút ký nầy cất kỹ suốt ba chục năm, nay xin chép lại đây có lẽ ngày nào tôi ra đi tìm gặp cô Ba, và có gặp lại cũng chẳng chưa biết, khi ấy sẽ cho đăng báo hoặc sẽ cho in thành tập, tiếp theo tập “Sài Gòn năm xưa” gọi để bổ túc.
(Anh linh cô nếu còn, xin chứng minh lời nầy.)
Và kể từ hàng nầy, là “Lời tự thuật của cô Ba Trà”:
Anh từng đọc Tiếng Dội. Anh còn để dành được nguyên xấp, anh cứ dở ra xem: nơi tờ số 15-5-1952, báo ấy có in lại mấy hàng như sau, chính chữ tôi viết huếch hoác như vầy (chữ tôi xấu lắm, vì tôi nào có được học tới nơi tới chốn!)
Chứng chắc
“Tôi, Trần Ngọc Trà, tự Cô Ba Trà, bằng lòng cho báo “Tiếng Dội” đăng về cuộc đời của tôi, từ buổi thiếu thời đến nay, chính tôi thuật cho người đại diện báo “Tiếng Dội” nghe chuyện của tôi để đăng báo”.
Sài Gòn, le 9-5-1952. Ký tên: Trần Ngọc Trà”
Như vậy tạm đủ rồi, còn tên cha mẹ và lý lịch tưởng không cần ghi lại đây, vả lại nói ra không ích gì, chỉ làm đau lòng người nơi chín suối. Năm nay 1952 gặp lại nhau, thì anh đã 48 tuổi, tôi nhỏ hơn sáu tuổi và lớn hơn bà trước, cô Tư Tuyết ba bốn tuổi, trễ rồi bất thành duyên, hoạ may đổi tình cầm sắt ra cầm cờ, không chừng được lâu bền hơn, làm bạn này tới đâu hay tới đó như vậy mà tốt hơn.
Anh cứ yên tâm và vui lòng cứ viết, tôi lần lượt sẽ kể anh nghe cuộc đời bảy nổi ba chìm của tôi, như ruột thiên sám hối… Tôi đã kể như vậy cho một ông không nói tên ra mà đđối với anh không xa lạ gì, nhưng với đó là vì miếng cơm đen cầm thực, khác với anh là vì chút lòng cảm mến chưa phải là “tình” nhưng cũng gần gần như vậy anh không nên ngần ngại, không ai cướp công ai đâu, cũng như tôi có quyền thuật lại cho một người thứ ba viết nữa nào có hại gì, vì đây là bầu tâm sự, tôi vui tôi trút, mạnh ai nấy muốn hốt thì nhào vô của đồng công chợ, con tôm con cá, tranh giành nhau cái thứ “chim trời cá nước” ấy mà.
Tôi nói sơ cho anh biết, Ba tôi là người kén vợ hơn ai hết thảy. Mà nghĩ cho cùng, nói ra thì mắc tội với đức sinh thành, chớ đàn ông đều ích kỷ mười người như một, chỉ biết có mình nào biết có ai. Sáu lần chọn lựa rồi đều đường ai nấy đi, đến khi gặp má tôi người làng Tân An (Cần Đước), quên nói ba tôi là người làng Phước Khánh, thuộc quận Cần Giuộc, hai người xứng đôi vừa lứa, mới sanh ra tôi, mà sanh làm gì để gánh chịu bao nhiêu khổ cực nói ra càng thêm đau lòng, và chưa biết chừng nào mới dứt. Ban nãy tôi nói đàn ông ích kỷ, vì nhớ lại tôi nào biết ba tôi có nựng nịu tôi không, chỉ biết khi tôi được lên năm, ba tôi ghen cho má tôi không một lòng một dạ, đến thổ huyết lâm ly mà thác. Quan tài vừa liệm, nắp đậy vừa xong, còn để ngờ ngờ giữa nhà, kế ngày sau bà nội tôi, mẹ của ba tôi, vì quá thương con, bỗng chết theo, và hai cái hòm đặt song song giữa nhà mới là hệ. Chôn cất vừa xong, bác trai tôi nhẫn tâm gọi mẹ tôi bồng tôi lại, rồi lột cái mũ mấn không cho tôi đội, rằng “Ba tôi lúc lâm chung trối lại không nhìn tôi là con” và đành lòng nào bác đuổi mẹ con tôi ra khỏi nhà, rằng bất xứng dâu con họ Trần. Cơ khổ, có bắt được quả tang đâu mà đề án tử cho mẹ tôi, khiến cho lúc nào tôi cũng được bà nội cưng, thậm chí khi tôi biết đứng chựng, bà lấy vạt áo lót trên ván trên gạch trước khi đặt chân tôi đứng lên trên, vì sợ cát bụi sạn sỏi làm đau chơn Trà, nay cha mất bà nội cũng nằm xuống, hai nấm mồ cỏ chưa mọc xanh, mẹ tôi bồng tôi lui về quê ngoại, phải bồng tôi không cũng khá, lại bồng theo một bụng bất mãn cành hông, và từ ấy, giận ai không biết mà mẹ tôi cứ tôi mà cho đòn, từ củi đòn củi chẻ, tôi đều nếm đủ thay vì lòng thương con con côi con cút! Chín tuổi, lớn chồng ngồng cái đầu, mẹ tôi chưa cho tôi đi học. Trẻ lối xóm chiều chiều cắp sách ở trưởng về, cười nói huyên thuyên mà tôi còn chớ: khi mé vui thì ban bố bánh trái ăn không hết, khi khắc nổi cơn khùng thì roi vọt đấm đá gần mềm xương với một câu đả đớt mà cho đến ngày hôm nay tôi chưa hiểu cho tường tận: “Tao đánh mầy cho tiệt nòi tiệt giống quân “đoản hậu”! Mà ai đoản ai, có ông Trời mà biết? Ba tôi ư? Thì hãy chớ về dưới ấy sẽ hay! Mẹ tôi ư? Mà sao lại nhè tôi mà cho ăn đòn? Và oán ai mà để cho tôi chịu dốt? Thành thử tôi nay hư đốn, nào phải tội tại tôi! Thiếu tình cảm của cha, thiếu yêu thương của mẹ, thiếu hết, thiếu tất cả: không học không hành, và chỉ được một gia tải duy nhứt của trời cho là sắc đẹp! Mà đẹp làm chi để vừa mười bốn tuổi tuổi chưa biết gì, mẹ tôi đã đưa tôi vào vòng tay một quan thầy thuốc người Pháp, nói gả không xong, nói “bán” là phải hơn, và mười bốn tuổi đầu phải chịu nhiều cơn gió phũ phàng của một người dị tộc, sau nầy tôi như lá môn, nước xối hao nhiêu đều trơn trợt tuột ngoài da, cũng vì nạn tảo hôn “bán tôi cho thằng Tây có tiền chỉ mua nhục dục”! Nói chí đáng, ông nầy, một trai trên ba mươi, cũng có chút động lòng, cho tôi đi học nơi trường nữ chung lớp với trẻ đầu còn chứa chóp, ở lớp năm, lớp sáu, sớm chiều tụng A B C và tập đồ mấy hàng chữ quốc ngữ “Bờ A: BA, v.v”. Trong lớp học tôi có hai đứa cháu, tôi thuộc vai “dì của chúng” mà chúng nào nhìn nhận tôi là thân thuộc cũng vì tôi nghèo và sớm mồ côi cha. Ngày bà ngoại tôi mất, mẹ của mẹ tôi, thế mà trong gia đình sai người vô trường lãnh hai đứa kia về chịu tang của bà cố của chúng, còn tôi, nhớ ơn bà, khi lóng mía cho lén, khi củ khoai giấu giếm không cho các cháu trai kia biết, nhớ ơn bà, tôi phải bỏ trường mất học hay là thất học luôn từ đây và tôi phải leo rào về tới quê mẹ thì hòm đã đậy nắp, nào thấy mặt bà. Lớn lên tôi hoá ra chai đá cõi lòng, vì lúc nhỏ, ai thương cho mà biết thương lại? Những ai kia từng làm bạn với tôi, xin nhớ cho tôi điều này!
Tử tôi năm tuổi, mẹ tôi giao tôi cho bà ngoại nuôi dưỡng, đến khi tôi được chín tuổi má tôi mới nhớ rằng có một đứa con, sẵn nay bà ngoại mất, má tôi mới bắt tôi theo lên Sài Gòn. Quên nói, trong khi bỏ con cho mẹ là bà ngoại tôi săn sóc, má tôi đầu tắt mặt tối, tảo tần chạy đầu này đầu kia để sinh sống, và nói ra thêm tủi thẹn, một người còn trẻ và có nhan sắc như má tôi, mà sao nhè làm bạn, “đụng” một chủ tiệm bán á phiện ở chợ Xóm Chiếu? Đến nước trẻ đẹp mà “lấy chệc” là cùng đường! Có lẽ một duyên cớ không nói ra, là má tôi thù thâm xương người cùng một giống dòng “toàn là quân đoản hậu”.
Cũng may má tôi thắng vụ kiện chia gia tài bên Ba tôi được mớ nhắm, nhờ đó làm vốn liếng nên thôi ở Xóm Chiếu, đem tôi ra ở gần Chợ Bến Thành, đường d’Espagne, mà trong hẻm nhỏ mút đường gần ga xe lửa Mỹ Tho, chỗ mấy căn nhà lụp sụp phố huyện Cần, nay còn nhìn được…
Ba tôi mất được năm năm, má tôi mới về một lần viếng mộ chồng, thì lớp bị trâu bò leo ăn cỏ đạp nhầu, lớp không ai giẫy mã nên núm mồ sụt lì gần bằng mặt đất. Mười bốn tuổi, tôi vừa trổ mã con gái, chịu tang bà ngoại thì ông chồng quan ba thầy thuốc Pháp, mãn giao kèo, cút luôn về xứ không một tiếng giã từ, một đồng một chữ cũng quên cho? Khỏi ở ăn, khỏi nằm chung với chồng ngoại quốc, về nương náu với mẹ, tưởng chi, chỉ để trở lại lãnh đòn bọng như khi chưa chồng. Nhưng khỏi bỡ ngỡ lạ lùng trong vòng tay lông lá kia, bù trừ còn sướng. Lúc ở hẻm d’ Espagne, tôi đã biết làm dáng. Có người đặt biệt hiệu lúc nhỏ tôi bán chả giò, nên thỉnh thoảng tôi còn danh hiệu “Cô Ba chả giò”. Sự thật má tôi bán đủ thứ hàng theo trên xe lửa chạy đường Sài Gòn ra Phan Thiết lúc ấy đường xuyên Đông Dương chưa thông thương như hiện giờ. Tôi đã biết làm dáng, nhờ dành dụm chắt mót từ xu, từ cắc, tôi sắm được một chiếc áo bà ba xuyến đen, khi mặt lén lúc má đi vắng, hai bên phố ai ai cũng trầm trồ “con chị Tám” nay đã coi được đến! Lúc ấy tôi thấy hạnh phúc tràn trề, là nài được một đôi guốc “ngù ngà”. Ngày nay các cô tân thời đi guốc “Phi mã”, guốc cao gót để dễ ẹo bên nầy ẹo bên kia cho đúng mốt, chớ mốt thời đó là guốc ngù ngà nầy. Nguồn gốc do các ỷ, các vợ khách giàu trong Chợ Lớn từng qua Hạ châu và Tân gia ba mang về theo kiểu đàn bà Bà lai du” (Malais(e), chà và javanais(e) đề xướng. Guốc vẫn guốc gỗ vông cho nhẹ, không quai da hòng sợ đứt, chỉ ngại đường trơn trợt, đi guốc ngù ngà, rủi trật chín thì đau thấu mây xanh, nhưng khi mang vào chơn thấy tăng vẻ đẹp thì đau cách mấy cũng rán chịu! Ngà nầy tiện trong ngà voi, càng lớn chột càng sang, và đi lâu năm ngà lên nước thì đẹp hết chỗ nói. Mặc áo xuyến và diện đôi guốc ngù ngà, là chờ má đi vắng hay má nghỉ, Trà lúc ấu thơ, hạnh phúc đòi hỏi có bấy nhiêu mà ai biết cho Trà?
Google photos
Tôi nói nãy giờ cho anh ghi chép, mà quên nói sau khi quan ba thầy thuốc, ông chồng tạm bợ của tôi về Tây, tôi giúp mẹ tôi đỡ đần công việc chạy hàng dọn từ toa xe gánh mang về nhà hoặc theo xe ra Phan Thiết tải hàng về cho má. Đi bán trên xe lửa vui lắm. Tôi không may mắn học ở trường, mà tha hồ học trên xe, nào tiếng lóng tiếng lái, tiếng éo le, tiếng đôi ba nghĩa. “Lái dúm” là gì? anh là thầy lái, anh biết chớ? Trà cấm anh nói xuôi lại trước mặt Trà? Và nhờ học trên xe mà Trà bỏ túi được đôi ba tiếng Hải Nam, sau nầy có dịp sửa lưng mấy thằng Tàu con bên Xiêm mới sướng? Trà còn nhớ anh bán bánh mì chả lụa lúc ấy. Sáng sáng, xe bắt đầu lăn bánh là anh bắt đầu bày thúng bánh mì còn nóng hổi và rổ thịt giò chả lụa chả quế đủ thứ xuống sàn xe. Chẳng lành mà chớ, anh cũng bày ra cái điếu tre hút thuốc lào lên nước láng bóng. Xe lửa chạy cà rụp cà tang nghe êm tai buồn ngủ, anh lấy thuốc nhồi vào điếu, bật lửa mồi và kéo ro ro… Anh kéo một hơi dài, rồi lơ tơ mơ ngả đầu quẹo qua một bên say thuốc anh ngủ gà ngủ vịt, trong khi ấy bọn đá cá lăn dưa chực sẵn hồi nào, đứa rút bánh đứa ăn cắp thịt, anh vừa mở mắt thì mọi việc an bài, có ông Trời mà biết. Thiệt tài tình hết sức, chớ chi Trà học được nghề của chúng thì sau nầy vào sòng me Trà không thua đậm bao giờ…
n nhớ rành rành như chuyện vừa xảy ra hôm qua hôm kia đây, là bữa đầu tôi gặp cô Ba trong Đại Thế Giới là lúc tôi đang đeo theo kỹ sư Phạm Kim Bảng để xin một miếng đất của đô thành, hầu như dựng lên vuông nhà hiện nay tôi đang ở, còn cô Ba khi ấy gần như thường trực đêm nào như đêm ấy cô vẫn có mặt tại các sòng me, để canh chừng khi thuận chiều “ké vô vài chén chạy gạo”, hoặc khi nào các công tử quen xưa hết vốn, cô sẽ chuyển vận lương thảo cho các cậu gỡ gạc với điều kiện “tiền viện trợ cấp thời” nầy đẻ mỗi ngày là mười phân trăm số vốn, tỷ dụ cho mượn 2.000 đồng thì mỗi ngày tiền lời là 200, bạc vốn vẫn còn nguyên, khi trả phải chìa ra đủ 2.000 răng rắc. (Mấy lúc sau đó, khi tôi hay được cô làm nghề mà tôi cho là quá mạo hiểm và phân tâm với cô rằng cô “không sợ chúng giựt hay sao?”, cô đã trở lời mấy tiếng cụt ngủn làm cho tôi toát mồ hôi vì quá thiết thực: “Các cậu bao giờ đi giựt tiền một con đĩ như tôi làm vầy?”) Tôi thuở nay đâu có ưa cờ bạc và tôi vào Đại Thế Giới hằng bữa để làm gì?
Nhưng như đã nói, lúc đó tôi đang theo sát kỹ sư Bảng, và Bảng là con sâu cờ bạc, khiến nên tôi gặp lại cô Ba cũng nhờ Bảng. Hai tôi cô Ba và tôi, vẫn không xa lạ. Lúc tôi ở trọ nhà 108 đường Bonard, lối năm 1925-1926, thì cô có đến đây mỗi khi trong nhà có tổ chức “hốt me chạy”. Lúc đó một bữa nọ không biết ai đã chọt mất của tôi một sợi dây chuyền vàng đeo đồng hồ bỏ túi mà tôi để quên trên lầu, trong khi tôi đang kiếm, cô hay được, cô thốt ra một lời bộc trực mà khi ấy tôi cho là “chạm nhiều vào lòng tự ái” là “Đi lấy làm chi của người ta? Người ta ăn lương một tháng không bằng mình đặt một tụ con con. Thiệt, ai đó, lấy làm chi của người ta như vậy?” Ngày nay tôi đã trên tám mươi và đã có nhà có cửa đàng hoàng, thì tôi xét ra câu nói của cô tỏ lòng thương hại hơn là khinh khi, nhưng lúc nhỏ háo thắng, “mình ước ao muốn nó mà nó đành lòng nói một câu như vậy, lúc đó tôi cho là “tổn đức” và định tâm phải làm sao cho có phương cách trả thù một phen mới nghe cho!” Bảng làm kỹ sư coi về đất địa đô thành, lúc đó ông đô trưởng Nẫm họ Lê, có hứa cho tôi một miếng đất nơi vườn Tao đàn để cất “nhà xưa” với điều kiện khi tôi chết, nhà cho về đô thành vĩnh viễn và cuộc cắt đất cắm ranh tuỳ nơi Bảng, nên tôi đeo theo là vậy. Không biết hôm gặp, cô vui bực nào, mà trò truyện với tôi không ngớt. Rất may cho tôi là khiến thần khẩu thốt ra một câu “nịnh đầm” quá xá, làm cho cô xúc động tâm tình rồi keo sơn gắn bó từ đây cũng nhờ câu nầy. Cô hỏi nhỏ tôi, từ ngày xa nhau, sau lúc cô dự đám cưới của tôi và cô Tư Tuyết, con của bà Kính (ông bô tôi là thông ngôn toà thượng thẩm, một tay chơi nức tiếng thời ấy), và sau nầy căn phố lầu số 260 đường Richaud (sau là đường Phan Đình Phùng) trở nên cảnh “Nguyệt tiên cung” của cô v.v…, tôi trả lời một cách rất tự nhiên cho câu cô hỏi: “Nay cô đã hương phai phấn lạt, còn săn đón cô làm gì?”, tôi khi ấy ngó ngay mặt cô rồi cúi đầu đáp nhỏ nhẹ: “Thưa cô Ba, tối không cần biết cô nay ra thế nào, sa sút đến bực nào tôi không cần biết, trong mắt tôi, trong hồn tôi, đối với tôi, cô luôn luôn vẫn là người đẹp, tôi không hiểu thành ngĩr “khuynh quốc khuynh thành” là người ra thế nào, tôi chỉ biết cô qua bức ảnh chụp treo trong tủ kiềng nơi trước nhà nhiếp ảnh “Khánh Ký” năm xưa ở đường Bonard, hình cô mặc một bộ y phục trắng, che cây dù cũng trắng và đứng thướt tha nhìn ngắm xa xăm, hại cho tôi chủ nhựt nào dầu trong túi không tiền cũng lội bộ từ trường Chasseloup ra ngắm dung nhan cho được mới nghe, mặc dầu trời mưa trời gió, và hại tôi đêm nào như đêm nấy, tiếng rằng cha mẹ cho tôi lên đây ở nội trú để xôi kinh nấu sử, mà xôi và nấu đâu không thấy, đêm nào như đêm nấy, tôi chỉ mơ mộng tưởng nhớ hình dung cô!
Lời nói không suy nghĩ mà tựa như sắp đặt trước, khiến nên gây được cảm tình. Một bữa tôi đang xỏ giày vào chưn, cô bỗng giựt mình mở mắt ngồi nhỏm dậy mà rằng:
– Anh hãy yên tâm, rồi thong thả tôi sẽ kể lại đời sóng gió của tôi cho anh viết. Nói thiệt, tôi mê cảm anh nên mới làm như vậy. Nhưng tôi đã suy xét rồi. Tôi thích chị Năm diễn kịch khéo, nhứt là vai “bà Phán Lợi, mẹ thằng Thân (Việt Hùng) trong tuồng Đoạn Tuyệt. Tôi đã phá gia cang biết bao nhiêu người! Tôi không muốn làm khổ cho chị Năm, anh hãy về nói lại: tôi tha cho đó! Thôi, về hè!
Và nhờ vậy mà có thiên bút ký nầy cất kỹ suốt ba chục năm, nay xin chép lại đây có lẽ ngày nào tôi ra đi tìm gặp cô Ba, và có gặp lại cũng chẳng chưa biết, khi ấy sẽ cho đăng báo hoặc sẽ cho in thành tập, tiếp theo tập “Sài Gòn năm xưa” gọi để bổ túc.
(Anh linh cô nếu còn, xin chứng minh lời nầy.)
Và kể từ hàng nầy, là “Lời tự thuật của cô Ba Trà”:
Anh từng đọc Tiếng Dội. Anh còn để dành được nguyên xấp, anh cứ dở ra xem: nơi tờ số 15-5-1952, báo ấy có in lại mấy hàng như sau, chính chữ tôi viết huếch hoác như vầy (chữ tôi xấu lắm, vì tôi nào có được học tới nơi tới chốn!)
Chứng chắc
“Tôi, Trần Ngọc Trà, tự Cô Ba Trà, bằng lòng cho báo “Tiếng Dội” đăng về cuộc đời của tôi, từ buổi thiếu thời đến nay, chính tôi thuật cho người đại diện báo “Tiếng Dội” nghe chuyện của tôi để đăng báo”.
Sài Gòn, le 9-5-1952. Ký tên: Trần Ngọc Trà”
Như vậy tạm đủ rồi, còn tên cha mẹ và lý lịch tưởng không cần ghi lại đây, vả lại nói ra không ích gì, chỉ làm đau lòng người nơi chín suối. Năm nay 1952 gặp lại nhau, thì anh đã 48 tuổi, tôi nhỏ hơn sáu tuổi và lớn hơn bà trước, cô Tư Tuyết ba bốn tuổi, trễ rồi bất thành duyên, hoạ may đổi tình cầm sắt ra cầm cờ, không chừng được lâu bền hơn, làm bạn này tới đâu hay tới đó như vậy mà tốt hơn.
Anh cứ yên tâm và vui lòng cứ viết, tôi lần lượt sẽ kể anh nghe cuộc đời bảy nổi ba chìm của tôi, như ruột thiên sám hối… Tôi đã kể như vậy cho một ông không nói tên ra mà đđối với anh không xa lạ gì, nhưng với đó là vì miếng cơm đen cầm thực, khác với anh là vì chút lòng cảm mến chưa phải là “tình” nhưng cũng gần gần như vậy anh không nên ngần ngại, không ai cướp công ai đâu, cũng như tôi có quyền thuật lại cho một người thứ ba viết nữa nào có hại gì, vì đây là bầu tâm sự, tôi vui tôi trút, mạnh ai nấy muốn hốt thì nhào vô của đồng công chợ, con tôm con cá, tranh giành nhau cái thứ “chim trời cá nước” ấy mà.
Tôi nói sơ cho anh biết, Ba tôi là người kén vợ hơn ai hết thảy. Mà nghĩ cho cùng, nói ra thì mắc tội với đức sinh thành, chớ đàn ông đều ích kỷ mười người như một, chỉ biết có mình nào biết có ai. Sáu lần chọn lựa rồi đều đường ai nấy đi, đến khi gặp má tôi người làng Tân An (Cần Đước), quên nói ba tôi là người làng Phước Khánh, thuộc quận Cần Giuộc, hai người xứng đôi vừa lứa, mới sanh ra tôi, mà sanh làm gì để gánh chịu bao nhiêu khổ cực nói ra càng thêm đau lòng, và chưa biết chừng nào mới dứt. Ban nãy tôi nói đàn ông ích kỷ, vì nhớ lại tôi nào biết ba tôi có nựng nịu tôi không, chỉ biết khi tôi được lên năm, ba tôi ghen cho má tôi không một lòng một dạ, đến thổ huyết lâm ly mà thác. Quan tài vừa liệm, nắp đậy vừa xong, còn để ngờ ngờ giữa nhà, kế ngày sau bà nội tôi, mẹ của ba tôi, vì quá thương con, bỗng chết theo, và hai cái hòm đặt song song giữa nhà mới là hệ. Chôn cất vừa xong, bác trai tôi nhẫn tâm gọi mẹ tôi bồng tôi lại, rồi lột cái mũ mấn không cho tôi đội, rằng “Ba tôi lúc lâm chung trối lại không nhìn tôi là con” và đành lòng nào bác đuổi mẹ con tôi ra khỏi nhà, rằng bất xứng dâu con họ Trần. Cơ khổ, có bắt được quả tang đâu mà đề án tử cho mẹ tôi, khiến cho lúc nào tôi cũng được bà nội cưng, thậm chí khi tôi biết đứng chựng, bà lấy vạt áo lót trên ván trên gạch trước khi đặt chân tôi đứng lên trên, vì sợ cát bụi sạn sỏi làm đau chơn Trà, nay cha mất bà nội cũng nằm xuống, hai nấm mồ cỏ chưa mọc xanh, mẹ tôi bồng tôi lui về quê ngoại, phải bồng tôi không cũng khá, lại bồng theo một bụng bất mãn cành hông, và từ ấy, giận ai không biết mà mẹ tôi cứ tôi mà cho đòn, từ củi đòn củi chẻ, tôi đều nếm đủ thay vì lòng thương con con côi con cút! Chín tuổi, lớn chồng ngồng cái đầu, mẹ tôi chưa cho tôi đi học. Trẻ lối xóm chiều chiều cắp sách ở trưởng về, cười nói huyên thuyên mà tôi còn chớ: khi mé vui thì ban bố bánh trái ăn không hết, khi khắc nổi cơn khùng thì roi vọt đấm đá gần mềm xương với một câu đả đớt mà cho đến ngày hôm nay tôi chưa hiểu cho tường tận: “Tao đánh mầy cho tiệt nòi tiệt giống quân “đoản hậu”! Mà ai đoản ai, có ông Trời mà biết? Ba tôi ư? Thì hãy chớ về dưới ấy sẽ hay! Mẹ tôi ư? Mà sao lại nhè tôi mà cho ăn đòn? Và oán ai mà để cho tôi chịu dốt? Thành thử tôi nay hư đốn, nào phải tội tại tôi! Thiếu tình cảm của cha, thiếu yêu thương của mẹ, thiếu hết, thiếu tất cả: không học không hành, và chỉ được một gia tải duy nhứt của trời cho là sắc đẹp! Mà đẹp làm chi để vừa mười bốn tuổi tuổi chưa biết gì, mẹ tôi đã đưa tôi vào vòng tay một quan thầy thuốc người Pháp, nói gả không xong, nói “bán” là phải hơn, và mười bốn tuổi đầu phải chịu nhiều cơn gió phũ phàng của một người dị tộc, sau nầy tôi như lá môn, nước xối hao nhiêu đều trơn trợt tuột ngoài da, cũng vì nạn tảo hôn “bán tôi cho thằng Tây có tiền chỉ mua nhục dục”! Nói chí đáng, ông nầy, một trai trên ba mươi, cũng có chút động lòng, cho tôi đi học nơi trường nữ chung lớp với trẻ đầu còn chứa chóp, ở lớp năm, lớp sáu, sớm chiều tụng A B C và tập đồ mấy hàng chữ quốc ngữ “Bờ A: BA, v.v”. Trong lớp học tôi có hai đứa cháu, tôi thuộc vai “dì của chúng” mà chúng nào nhìn nhận tôi là thân thuộc cũng vì tôi nghèo và sớm mồ côi cha. Ngày bà ngoại tôi mất, mẹ của mẹ tôi, thế mà trong gia đình sai người vô trường lãnh hai đứa kia về chịu tang của bà cố của chúng, còn tôi, nhớ ơn bà, khi lóng mía cho lén, khi củ khoai giấu giếm không cho các cháu trai kia biết, nhớ ơn bà, tôi phải bỏ trường mất học hay là thất học luôn từ đây và tôi phải leo rào về tới quê mẹ thì hòm đã đậy nắp, nào thấy mặt bà. Lớn lên tôi hoá ra chai đá cõi lòng, vì lúc nhỏ, ai thương cho mà biết thương lại? Những ai kia từng làm bạn với tôi, xin nhớ cho tôi điều này!
Tử tôi năm tuổi, mẹ tôi giao tôi cho bà ngoại nuôi dưỡng, đến khi tôi được chín tuổi má tôi mới nhớ rằng có một đứa con, sẵn nay bà ngoại mất, má tôi mới bắt tôi theo lên Sài Gòn. Quên nói, trong khi bỏ con cho mẹ là bà ngoại tôi săn sóc, má tôi đầu tắt mặt tối, tảo tần chạy đầu này đầu kia để sinh sống, và nói ra thêm tủi thẹn, một người còn trẻ và có nhan sắc như má tôi, mà sao nhè làm bạn, “đụng” một chủ tiệm bán á phiện ở chợ Xóm Chiếu? Đến nước trẻ đẹp mà “lấy chệc” là cùng đường! Có lẽ một duyên cớ không nói ra, là má tôi thù thâm xương người cùng một giống dòng “toàn là quân đoản hậu”.
Cũng may má tôi thắng vụ kiện chia gia tài bên Ba tôi được mớ nhắm, nhờ đó làm vốn liếng nên thôi ở Xóm Chiếu, đem tôi ra ở gần Chợ Bến Thành, đường d’Espagne, mà trong hẻm nhỏ mút đường gần ga xe lửa Mỹ Tho, chỗ mấy căn nhà lụp sụp phố huyện Cần, nay còn nhìn được…
Ba tôi mất được năm năm, má tôi mới về một lần viếng mộ chồng, thì lớp bị trâu bò leo ăn cỏ đạp nhầu, lớp không ai giẫy mã nên núm mồ sụt lì gần bằng mặt đất. Mười bốn tuổi, tôi vừa trổ mã con gái, chịu tang bà ngoại thì ông chồng quan ba thầy thuốc Pháp, mãn giao kèo, cút luôn về xứ không một tiếng giã từ, một đồng một chữ cũng quên cho? Khỏi ở ăn, khỏi nằm chung với chồng ngoại quốc, về nương náu với mẹ, tưởng chi, chỉ để trở lại lãnh đòn bọng như khi chưa chồng. Nhưng khỏi bỡ ngỡ lạ lùng trong vòng tay lông lá kia, bù trừ còn sướng. Lúc ở hẻm d’ Espagne, tôi đã biết làm dáng. Có người đặt biệt hiệu lúc nhỏ tôi bán chả giò, nên thỉnh thoảng tôi còn danh hiệu “Cô Ba chả giò”. Sự thật má tôi bán đủ thứ hàng theo trên xe lửa chạy đường Sài Gòn ra Phan Thiết lúc ấy đường xuyên Đông Dương chưa thông thương như hiện giờ. Tôi đã biết làm dáng, nhờ dành dụm chắt mót từ xu, từ cắc, tôi sắm được một chiếc áo bà ba xuyến đen, khi mặt lén lúc má đi vắng, hai bên phố ai ai cũng trầm trồ “con chị Tám” nay đã coi được đến! Lúc ấy tôi thấy hạnh phúc tràn trề, là nài được một đôi guốc “ngù ngà”. Ngày nay các cô tân thời đi guốc “Phi mã”, guốc cao gót để dễ ẹo bên nầy ẹo bên kia cho đúng mốt, chớ mốt thời đó là guốc ngù ngà nầy. Nguồn gốc do các ỷ, các vợ khách giàu trong Chợ Lớn từng qua Hạ châu và Tân gia ba mang về theo kiểu đàn bà Bà lai du” (Malais(e), chà và javanais(e) đề xướng. Guốc vẫn guốc gỗ vông cho nhẹ, không quai da hòng sợ đứt, chỉ ngại đường trơn trợt, đi guốc ngù ngà, rủi trật chín thì đau thấu mây xanh, nhưng khi mang vào chơn thấy tăng vẻ đẹp thì đau cách mấy cũng rán chịu! Ngà nầy tiện trong ngà voi, càng lớn chột càng sang, và đi lâu năm ngà lên nước thì đẹp hết chỗ nói. Mặc áo xuyến và diện đôi guốc ngù ngà, là chờ má đi vắng hay má nghỉ, Trà lúc ấu thơ, hạnh phúc đòi hỏi có bấy nhiêu mà ai biết cho Trà?
Google photos
Tôi nói nãy giờ cho anh ghi chép, mà quên nói sau khi quan ba thầy thuốc, ông chồng tạm bợ của tôi về Tây, tôi giúp mẹ tôi đỡ đần công việc chạy hàng dọn từ toa xe gánh mang về nhà hoặc theo xe ra Phan Thiết tải hàng về cho má. Đi bán trên xe lửa vui lắm. Tôi không may mắn học ở trường, mà tha hồ học trên xe, nào tiếng lóng tiếng lái, tiếng éo le, tiếng đôi ba nghĩa. “Lái dúm” là gì? anh là thầy lái, anh biết chớ? Trà cấm anh nói xuôi lại trước mặt Trà? Và nhờ học trên xe mà Trà bỏ túi được đôi ba tiếng Hải Nam, sau nầy có dịp sửa lưng mấy thằng Tàu con bên Xiêm mới sướng? Trà còn nhớ anh bán bánh mì chả lụa lúc ấy. Sáng sáng, xe bắt đầu lăn bánh là anh bắt đầu bày thúng bánh mì còn nóng hổi và rổ thịt giò chả lụa chả quế đủ thứ xuống sàn xe. Chẳng lành mà chớ, anh cũng bày ra cái điếu tre hút thuốc lào lên nước láng bóng. Xe lửa chạy cà rụp cà tang nghe êm tai buồn ngủ, anh lấy thuốc nhồi vào điếu, bật lửa mồi và kéo ro ro… Anh kéo một hơi dài, rồi lơ tơ mơ ngả đầu quẹo qua một bên say thuốc anh ngủ gà ngủ vịt, trong khi ấy bọn đá cá lăn dưa chực sẵn hồi nào, đứa rút bánh đứa ăn cắp thịt, anh vừa mở mắt thì mọi việc an bài, có ông Trời mà biết. Thiệt tài tình hết sức, chớ chi Trà học được nghề của chúng thì sau nầy vào sòng me Trà không thua đậm bao giờ…
Những gì tôi biết về cô BA TRÀ, tức TRẦN NGỌC TRÀ, huê khôi số Một ở Sài Gòn, khoảng 1920 -1935
Trong quyến “Hồi ký 50 năm mê hát” xuất bản năm 1968 (nhà xuất bản, Phạm Quang Khải, 29 Yên Đổ, Sài Gòn, nơi trương 109, có mấy hàng như sau:
“Để thấy cái ngông cái gàn của kẻ nầy, xin nhắc một việc cũ nay -nhớ mà còn thẹn thẹn. Quả không có cái gì mà tôi không muốn không ham. Thậm chí, tiền không có, bề thế cũng không, mà đèo bòng nhiều việc lếu. Ngày mồng một tháng ba dương lịch 1924 đĩ xem hát cải lương tại rạp MODERN, đường d’Espagne (Sài Gòn). Lá lay tôi được ngồi gần cô Ba Trà, lúc ấy đang sáng chói trong tiền, trong nhan sắc, và sắm xe hơi có tài xế phụ, để dành mở cửa. Cô Ba ngồi một dãy ghế thượng hạng với bản sĩ Lê Quan Trinh ông toà Trần Văn Tỷ và thầy Sáu Ngọ, tức Paul Daroll, “vua cờ bạc lừng danh thuở ấy”. Trớ trêu thay, bên tay mặt và sát ghế cô 1 là ghế của kẻ nầy. Cô ngồi xem mà mùi nước hoa làm tôi ngây ngất và khi nửa chừng cô ra về, tôi hết biết trên sân khấu hát ca những gì. Cô Ba Trà vụt vụt lên như diều gặp gió lên xe xuống ngựa mấy chục năm trường tôi thì một rương sách, một túi áo quần, để sau còn đùm đề thêm ba cái đồ sành cũ ưa bể và nứt rạn… Bỗng mấy chục năm sau, y như trong giấc chiêm bao, cô Ba Trà và tôi, tình cô gặp lại, nơi một sòng tài xỉu ở nhà xét Đại thế giới Chợ Lớn, sau trận phong ba 1945. Tôi thì đầu đã điểm sương, nhưng rắn rỏi phong trần già giặn. Cô thì đã mất phong độ năm nào nhưng sau khi tay bắt mặt mừng, cô hỏi nhỏ tôi nhan sắc cô nay kém hơn trước tới bực nào. Tôi đáp tỉnh bơ: “Đối với tôi, tôi chỉ biết cô là người y như hình chụp treo trong tủ kiếng trước cửa nhà “photo Khánh Ký” đường Bonard, lúc tôi còn học trường Chasseloup mà mặc trời mưa trời gió, chúa nhựt nào tôi cũng phải ra trường đến ngắm tiên dung rối mới trở về trường ăn ngủ được “và” đã khiến tôi thành thi sĩ, xin lỗi, thành thợ thơ nọ”. Nhờ câu ấy, cô cười, hai hàm răng vẫn trắng đẹp như xưa, và cũng từ đó, cô thâu dụng tôi làm “bí thư không nhận lương” suốt một thời gian khá lâu, khi thì nhơn danh cô, viết thư cho bà toà T.V. Tỷ, khi thì mượn danh bà trị bịnh trĩ Lê Minh Đường, cũng gởi thơ khẩn thiết nhắc việc cũ, tiền ân cựu ngởi, khi thì gởi cho đôi ba người khác, thơ đi thì tôi viết, thơ trả lời thì cô nhận mà không bao giờ cho viên bí thư nầy biết, nhưng có lẽ kết quả làm cho cô vừa lòng, nên tuy không trả lương nhưng thoảng cô cũng ban bố huệ ân mưa móc đủ mát lòng đây! Nếu tính sơ sơ theo cuốn nhựt ký hằng ngày năm q952, tôi gặp cô những lần sau đây:
– chiều chúa nhật 4 mai đến 5 giờ sáng, nằm tiệm X…
– đến chiều thứ tư 14-5, chờ mãi ở viện bảo tàng, cô hẹn mà không đến.
– thứ hai 19-5, năm giờ chiều cô lại musée lấy bức đánh máy thơ viết ký L.M.Đ gởi bà Tỷ,
– thứ sáu 23-5, cô ghé V.B.T. nhờ đánh máy lại bức thơ riêng…
– sau đó, suốt bốn năm tháng, vẫn gặp thường thường trước ở sòng Đại Thế Giới, cùng với kỹ sư Phạm Kim Bảng, rồi bộ ba chạy xe vô động hút khu đất thánh nhà, nằm nghe cô vừa kéo ống ro ro vừa kể tâm sự, tỷ tê… rồi đến lượt tôi kể vài đoạn éo le trong Tam Quốc Chí, đến một hai giờ khuya, Bảng mới lái xe đưa ai về nhà nấy, nhưng cô vẫn xuống xe góc Trần Hưng Đạo khu Hoà Bình, không cho biết nhà…
Cô thuật tiểu sử cho tôi lấy notes, vừa thấy hay hay, kế cô cho biết vì không tiền mua cơm đen, cô đã bán thiên tài liệu về cuộc đời cô cho một ông bạn nhà văn (cố giao Trần Tấn Quốc lấy viết trong báo TIẾNG DỘI từ tháng 5-1952 (dương lịch), làm 70 bài dài lần lượt tôi sẽ ghi lại nơi sau. Nghe vậy, tôi dửng dưng xin chép chuyện “Tiểu sử nhơi bã mía, và chỉ giữ lại cho đến hôm nay hình bóng một người tuyệt sắc từng vãi bừa bạc trăm bạc ngàn qua cửa sổ, hại sạt nghiệp không biết bao nhiêu tim can…, nay không còn một xu ten “để cạo gió” và vẫn nuốt cơm trắng cơm đen kéo dài cái kiếp sống thừa, không biết cho đến ngày nào? 2
Đây là mật cách nịnh đầm: Họ nhường cô Ba ngồi sát tôi, vì như vậy cô ngó ngay lên sân khấu, thầy Sáu là anh cả nên ngồi bìa, Trinh và Tỷ là tình địch đang tranh thủ trái tim nàng đẹp
Mấy năm sau, tôi gặp Ba Lưu, một bạn cố tri quen nhau từ ở Sốc Trăng, lên đứng đầu phòng cho luật sư Nguyễn Văn Lúc, rồi Đoàn Ý Lưu cho tôi hay Trà mất đã lâu, chết trong tăm tối, Đạm Tiên không khác. Tôi không có một nén hương tiễn biệt, nay có chút hương lòng, xin cô nơi chín suối nhận cho
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.