This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Không xứ nào nhiều quan liêu cho bằng xứ Huế: không phò mã đô uý thì cũng Hường nầy Hường kia, cùng cực cũng phải mua chức Nghè (tuy không từng đi thi), chức Khoá (tuy chưa biết thế nào là trường ốc), và tệ lắm cũng có chức “ấm” để dễ bề xưng hô.
Trái lại trong Nam, không xứ nào có nhiều đốc phủ sứ thiệt thọ về hưu hoặc đốc phủ sứ danh dự mà tục gọi “hàm” (tuồng của Lê Hoài Nở: quan Huyện hàm hàm, vị răng rụng sạch chỉ còn hai cái hàm trơ trơ, nên cũng gọi tri huyện Mâchoire: tri huyện hàm hàm hay hàm tri huyện danh dự tuy vẫn là “huyện móc (ưa móc ưa khều gái tân), huyện móm (vì mất răng trọn bộ), huyện nói, vì mỗi lần chơi bài ưu lo le cái bóp lớn bằng chiếc nóp của bạn ghe chài.
Ông đốc phủ cho con trai là Lê Văn Phước sang Pháp du học và cho một em của người thiếp theo hầu cậu và học ké. Người nầy cần mẫn chăm học, chẳng mấy năm đậu bằng tú tài Pháp, trở về xứ được tuyển làm commis lên lần tới tuyệt đích đốc phủ sứ, những năm lộn xộn trong nước ông sớm lánh nạn bên Pháp và đã từ trần. Con trai quan đốc phủ chẳng học hành gì nên thân, quan giận bắt về, và đe dạy con chuộc tội bê tha, bắt con phải gánh hồ cho thợ xây nhà, nhưng thay vì ăn năn người con tức giận, sau quan mất, người con ăn chơi phóng túng. Lúc ấy có phong trào tập ca tập hát lập gánh cải lương ở Mỹ Tho, nói chí đáng, cậu (bây giờ được các bạn tôn làm cậu) cậu bụng dạ rất rộng rãi và dối xử với bọn nghèo đã không khinh khi mà còn giúp đỡ nhiều bề. Thiếu nón đội, cậu cho, đến nón Fléchet mới và đắt tiền cậu không tiếc, thiếu tiền xài, cậu giúp, và khi gánh hát diễn tuồng trên sân khấu, cậu cho mượn bộ ghế sa lon của cha để lại và diễn xong cậu không đòi lại và chẳng bao nhiêu năm ruộng vườn nhà cửa đều theo ngón hào hiệp của cậu mà bay tứ tán… Cậu chỉ được danh là dám ăn dám xài, cậu trắng trẻo thanh bai, được giới phong lưu tặng mỹ danh “Bạch công tử” cậu có một tiểu tật ít người để ý là có vảy cá một mắt (không nhớ mắt nào), ngoài ra ăn nói nhỏ nhẹ thanh nhã, đẹp trai, (trong Nam gọi lịch sự trai), gái nào gần cũng thích và cậu có nhơn tình rất nhiều, phần đông trong giới ca kịch, khi cậu mất chỉ để lại một gái tên Ly Ly, là kỷ niệm với danh ca Sáu Ngọc Sương đã nói nơi đoạn trước.
Lúc ấy chưa dùng danh từ Hậu giang và Tiền giang nên nay chỉ còn nhắc danh Bạch công tử hay cậu Tư Phước Georges.
Nhớ bác hôm nay là quá muộn màng, nhưng lòng thành kính của cháu đối với bác luôn luôn không đổi. Sở dĩ xưng hô làm vậy, tuy về tuổi bác lớn hơn độ mươi ngoài hai mươi, là vì bác là người đã chứng kiến sự chào đời tại nhà thương Sốc Trăng của Tuyết người bạn mười chín năm chung sống và nay đã đường ai nấy đi, tuy dầu sao tơ lòng còn vưởng vít chưa quên. Năm cháu còn mãi ở tận Paris để học hỏi về khoa khảo cổ, hay tin bác mất trên giường bịnh dưỡng đường Grall, thi hài (ngày từ trần 10 Mai, 1963) chở lên an táng trên cao nguyên Đà Lạt là nơi bác lựa, nhưng mỗi người mỗi số kiếp, vừa hương bát nước ai lo, và người dưỡng nữ duy nhứt của hai bác đã bay về Pháp địa, ai ở bên nầy coi sóc hai nấm mồ, có lẽ lạnh lắm trên đất xa lạ và nay ít người lên tới: Đà Lạt. Nếu bác sống đến giờ nầy mới lâm chung, thì bác cũng khổ với phong tục mới: hoả táng để tay gói tay xách dễ mang theo ra nước ngoài. Trừ cái việc nằm lẻ loi trên xứ lạnh, bác là người hưởng đầy đủ nhứt trên đời nầy. Trẻ tuổi thi đậu sớm, bác là người sớm được học khoá nhứt nhì trường thuốc Hà nội, bác coi sóc sanh cô Tư Tuyết năm 1912 thì cháu còn học lớp tư lớp ba trường tỉnh, còn nhớ một buổi trưa chúa nhựt, cháu cùng chúng bạn, hái xoài chua sân toà và uống nước lạnh trong lu bố thí ngoài đường, bị bác lúc ấy đổi về dưỡng đường Sốc Trăng ngồi xe kéo đi ngang bắt gặp dạy rằng không nên uống nước ấy, vì nước không tinh khiết, chứa nhiều vi trùng bịnh thổ tả. Chúng cháu sợ, bỏ chạy và nhớ danh bác từ ấy là “thầy thuốc Trần Ngọc Án”. Lớn lên, có đôi bạn, đổi về Sài Gòn lối 1942-43, phố ở ngang nhà bác đường Aviateur Garros, nào dám nhắc chuyện xưa uống nước lu ngoài đường mà chưa chết và ăn toàn xoài sống mà không sao? Sau nầy trở vô lâm ăn tiền ngay nơi viện bảo tàng trong vườn bách thảo, thỉnh thoảng vẫn được bác không quên và mời cùng bạn mới, Năm Sa Đéc, dự nhiều bữa tiệc, khi ăn lục tuần bác gái (bà Song Thanh), khi khác ăn thất tuần của bác, lúc ấy hai bác vẫn hồng hào tươi tắn, nào hay đâu ăn sung mặc sướng như vậy mà phút chốc đều ra người thiên cổ, té ra phải ăn cực sống khổ mới là sống dai như hai đứa nầy hay sao? Cái gì bác cũng hưởng nước nhứt? Ba Trà, nói ra cho đúng một phần nào nhờ bác lăng xê. Trong mấy trang trước cháu viết Ba Trà ngồi độc chiếc trên xe hơi có hai tài xế mặc đồng phục, ấy là cháu nói hở, lấy đuôi làm đầu, kỳ trung lúc ngồi xe có tài xế phụ là sau nầy khi Trà trúng me, chọn Thìn làm chồng, còn lúc chiều chiều Trà ngồi xe “nhạn” trên đường phố Sài Gòn là ngồi xe của bác, khi cu ky khi có bác ngồi song song, và cháu dám trách bác, có của quí không giấu trong nhà lại lộ liễu đem khoe trước mắt cả trăm ngàn người, thảo nào hai dê một non một xờm, Tư Phước, Ba Huy, chẳng cuỗm của bác, thì ai vô đây mà cấm cản.
Hay là nhà đã sẵn người ngọc, bác gái của cháu hèn hỏi gì, thêm giỏi thi thơ giỏi tề gia nội trợ, bác đành gởi Trà cho cô Tư Ăng lê giữ than ôi? “Gởi trứng cho ác” thì làm sao trứng khỏi bị ăn xén ăn xớt phần nào, hai bợm bãi Phước và Huy, chúng trút lọp quyết phỗng tay trên, chúng trẻ tuổi hơn, sức lực đều là của trâu tơ dậy mẩy, chúng giàu tiền và phóng túng hơn, một đứa bán gia tài ông cha để lại lấy tiền nuôi gái, một đứa ăn cắp lúa bồ và lúa đong từng ghe chài một, hai thằng phá sản, bác làm sao lại chúng? Cô Tư Ăng lê, vì trước có chồng là người Hồng mao tóc đỏ, báo Tiếng Dội để tránh phiền phức, gọi cô là Tư Lê và bỏ dấu sai, đọc là Tu Lê, thì cháu biết đường đâu mà rờ! Mấy hàng nầy nếu lọt dưới mắt bác lúc còn sanh tiền, ắt cháu không trông gì trở lại góc đường Nguyễn Du và Thủ Khoa Huân, mỗi lần bác tổ chức tiệc và yến.
Nhưng nay bác đã nằm yên một giấc ngàn thu, Trà cũng đã ra người thiên cổ, bác giận cháu làm chi và hãy để cho cháu viết, không phải để cười bác đâu, ai dám, sự thật là để cho nhiều người biết tấm lòng của bác, đáng làm gương cho những ai đã có hiền thê tại nhà mà còn chưa chừa tánh tham muốn “kim ốc trữ chi”? Nhà cô Tư Ăng lê lúc đó ở có lẽ đường Richaud, sao “động ô” bác dọn riêng cho Trà một căn phố trệt góc Richaud và Lareynière, còn cô Tư Ăng lê dọn về đường Trương Định (nay) và vẫn chứa bài cóc ken, nên Tuyết, khi chúng cháu dọn về đường Taberd, Tuyết thường đến nhà cô Tư Lê xạc bài cào hoặc đổ con mèo, mà bây giờ cháu mới truy ra manh mối, cái tật ăn không ngồi rồi, đàn bà chị nào như chị nấy, không cầm lá bài, không lấy tiền chồng nuôi me ngồi me đứng thì đâu có ra nông nỗi bác bị cắm sừng mà cháu cũng mọc sừng!
Bác gái luôn luôn nói nói cười cười và Trà, vẫn yêu vì kính nể kiêng dè bác trai bác gái như hai lượng cả thường được che chở bao dung và có lẽ vì thấy chặt chịa quá khó nuốt trôi, nên Trà mới nửa đường thay gánh! Cháu há dám bàn mô ranh với bác, chớ gái như Trà, họ muốn đổi làm vai đàn ông để có chồng bé chồng xơ cua, chớ đâu khứng phu xưởng phụ tuỳ, bỏ tiền nuôi chúng chỉ mất tiền thêm đeo sầu thảm. Cháu muốn học gương bác mà không học được. Cháu cũng vì tỵ hiềm mình đi trễ tàu, và Trà cơm đen nặng quá, nếu không thì cháu đã lỗi với bác nhiều nhiều. Cháu mới nghe có người vừa rỉ tai với cháu rằng Trà thất thân để cho “cây cột cháy” Amadou nó xúc phạm, nhưng cháu đã cải chính tin vịt và bịa đặt nầy vì cháu biết dư thằng hắc quảy ấy, lúc cháu ở đường d’Espagne, mỗi tháng đến ngày lính sơn đá xuất thành, thằng đen nầy đi tìm gái thì bao nhiêu em nuôi của động Giác đôn hẻm d’Espagne đều bỏ ổ tìm đường chạy trốn vì thằng dịch vật này tay dài như tay vượn nên đã từng cho đo ván võ sĩ Ba lan Pzysko tại võ đài Charner năm nọ, cặp giò dài fến yên xe đạp tháp cao thêm hai ba tấc mà chơn nó còn phết đất sà sà. Đã biết như vậy, tôi quả quyết, một người mình hạc xương mai như Trà, lại nữa là chủ mướn “cột nhà cháy” làm “gác cửa” nơi nguyệt tiên cũng sẽ nói sau nầy, dại gì thử lửa cho phỏng tay và hết xài trọn kiếp!
Thuở ấy, lối 1925, bọn võ sĩ ngoài việc lên vô đài kiếm tiền xúp, đều sính tài làm hộ vệ vai vế cho các cậu công tử để kiếm chác thêm: như Antoine Cường cho cô Ba Pho, Puncher manh lai Tàu, Kid Demsey cho cậu Tư Phước (Georges) và Batandier, lính Tây thành Ilè R.I.C. làm bộ hạ cho Ba Qui, v.v…
Bác tôi, phong lưu rất mực, trước khi chịu phép vì quá già đành viết sách (thành ngữ điển tích, sách dạy làm thi, v.v…) lúc thanh xuân ngày chúa nhật cũng như ngày lễ, không cho xe lửa đụng nhau (chơi bài chemin de fer), thì cũng tứ sắc và chơi có điều lệ đành rành, hoặc thiên cửu (thín cẩu) hoặc xì phè và me (vì me mà quen Tư Ăng lê, Ba Trà, Ba Huy, Sáu Nhiều, Sáu Ngọ, v.v… Các bác sĩ lục tỉnh, cỡ thầy thuốc Ngỡi, trường tiền Mỹ, vân vân đều có ký quĩ không bao giờ lãnh nơi nhà bác tôi bộn bộn).
Ăn nói có duyên, mặt hồng hào, cử chỉ hoà hoãn, chết không tai tiếng, ở với Trà như bát nước đầy, khi chia tay không một lời nặng nhẹ, Trà luôn luôn nể đôi vợ chồng nầy, vào ngạch bác sĩ ngang hàng với Pháp đầu tiên, mề đay điều, mà không nhập tịch Pháp, kể là mọt nhơn vật là trong Nam cũng xứng. Hiềm vì không con nối hậu, khi nằm xuống, tủ sách toàn sách xưa sách quí, cũng không còn, đáng tiếc vậy thay! Chỗ nhà cũ sau dinh Tổng thống nay đã xây lầu, đi ngang vẫn ngùi ngùi nbở cuộc biến thiên mau quá!
Con người ta lúc nhục lúc vinh không mấy hồi, và suốt một đời thi đậu có vợ sanh con nên nhà, nên cửa rồi “hoàn cốt khỉ” phủi tay sạch không, chỉ trong giấc mộng, gọi là mộng cháo kê cháo ngô gì cũng được. Xét cho cô Ba Trà: 9 tuổi chưa đi học, 14 tuổi bán cho Tây y sĩ mua làm vật tiêu khiển nhục dục, 15 tuổi lấy thằng chồng ích kỷ, lận đận lao đao đến năm 17 tuổi sống tạm bợ giữa hai chữ “hiếu với mẹ”, “trung trinh với chồng”, bỗng bước sang tuổi mười tám, tung hoành một cõi, “vảy may” ấy nhờ ai?
Nhờ một ông lương y giàu, trước học trường thuốc Hà nội, bổ làm lương y phụ tá (médecin aưxiliaire) ở nhà thương cấp cứu đô thành Pháp gọi là Clinique Hui Bon Hoa (vì ông nầy ra tiền xây cất và xưa chức bác sĩ chỉ dành cho thầy thuốc Lang sa mà thôi). Lương y nầy giầu tiền, lại giàu tình, và khi gặp được cô Ba, ông cưng chỉ thiếu đúc nhà vàng để chứa. Lương y vừa là thi sĩ, bút hiệu là Diên Lương, tôi không hài tên mà nhiều người vẫn biết. Ông đã mất năm 1963 (còn cô Ba mất năm nào, tôi hỏi chưa ra), nhà ông trước khi dời về Đà Lạt, ở ngay góc đường Nguyễn Du và Thủ Khoa Huân và người đàn bà ông ký thác giữ chừng cô Ba là bà Tư Lê, bà nầy tốt lòng thì có thật mà có tật ưa chơi me, và cũng vì ở chung bà nầy mà cô Ba lây tật chơi me, chơi cho đổ quán xiêu đình, chơi cho ngả luôn gia tài công tử và cho sập thần vì chính phủ đô hộ Pháp!
33. Nhớ bác Diên Hương
Nhớ bác hôm nay là quá muộn màng, nhưng lòng thành kính của cháu đối với bác luôn luôn không đổi. Sở dĩ xưng hô làm vậy, tuy về tuổi bác lớn hơn độ mươi ngoài hai mươi, là vì bác là người đã chứng kiến sự chào đời tại nhà thương Sốc Trăng của Tuyết người bạn mười chín năm chung sống và nay đã đường ai nấy đi, tuy dầu sao tơ lòng còn vưởng vít chưa quên. Năm cháu còn mãi ở tận Paris để học hỏi về khoa khảo cổ, hay tin bác mất trên giường bịnh dưỡng đường Grall, thi hài (ngày từ trần 10 Mai, 1963) chở lên an táng trên cao nguyên Đà Lạt là nơi bác lựa, nhưng mỗi người mỗi số kiếp, vừa hương bát nước ai lo, và người dưỡng nữ duy nhứt của hai bác đã bay về Pháp địa, ai ở bên nầy coi sóc hai nấm mồ, có lẽ lạnh lắm trên đất xa lạ và nay ít người lên tới: Đà Lạt. Nếu bác sống đến giờ nầy mới lâm chung, thì bác cũng khổ với phong tục mới: hoả táng để tay gói tay xách dễ mang theo ra nước ngoài. Trừ cái việc nằm lẻ loi trên xứ lạnh, bác là người hưởng đầy đủ nhứt trên đời nầy. Trẻ tuổi thi đậu sớm, bác là người sớm được học khoá nhứt nhì trường thuốc Hà nội, bác coi sóc sanh cô Tư Tuyết năm 1912 thì cháu còn học lớp tư lớp ba trường tỉnh, còn nhớ một buổi trưa chúa nhựt, cháu cùng chúng bạn, hái xoài chua sân toà và uống nước lạnh trong lu bố thí ngoài đường, bị bác lúc ấy đổi về dưỡng đường Sốc Trăng ngồi xe kéo đi ngang bắt gặp dạy rằng không nên uống nước ấy, vì nước không tinh khiết, chứa nhiều vi trùng bịnh thổ tả. Chúng cháu sợ, bỏ chạy và nhớ danh bác từ ấy là “thầy thuốc Trần Ngọc Án”. Lớn lên, có đôi bạn, đổi về Sài Gòn lối 1942-43, phố ở ngang nhà bác đường Aviateur Garros, nào dám nhắc chuyện xưa uống nước lu ngoài đường mà chưa chết và ăn toàn xoài sống mà không sao? Sau nầy trở vô lâm ăn tiền ngay nơi viện bảo tàng trong vườn bách thảo, thỉnh thoảng vẫn được bác không quên và mời cùng bạn mới, Năm Sa Đéc, dự nhiều bữa tiệc, khi ăn lục tuần bác gái (bà Song Thanh), khi khác ăn thất tuần của bác, lúc ấy hai bác vẫn hồng hào tươi tắn, nào hay đâu ăn sung mặc sướng như vậy mà phút chốc đều ra người thiên cổ, té ra phải ăn cực sống khổ mới là sống dai như hai đứa nầy hay sao? Cái gì bác cũng hưởng nước nhứt? Ba Trà, nói ra cho đúng một phần nào nhờ bác lăng xê. Trong mấy trang trước cháu viết Ba Trà ngồi độc chiếc trên xe hơi có hai tài xế mặc đồng phục, ấy là cháu nói hở, lấy đuôi làm đầu, kỳ trung lúc ngồi xe có tài xế phụ là sau nầy khi Trà trúng me, chọn Thìn làm chồng, còn lúc chiều chiều Trà ngồi xe “nhạn” trên đường phố Sài Gòn là ngồi xe của bác, khi cu ky khi có bác ngồi song song, và cháu dám trách bác, có của quí không giấu trong nhà lại lộ liễu đem khoe trước mắt cả trăm ngàn người, thảo nào hai dê một non một xờm, Tư Phước, Ba Huy, chẳng cuỗm của bác, thì ai vô đây mà cấm cản.
Hay là nhà đã sẵn người ngọc, bác gái của cháu hèn hỏi gì, thêm giỏi thi thơ giỏi tề gia nội trợ, bác đành gởi Trà cho cô Tư Ăng lê giữ than ôi? “Gởi trứng cho ác” thì làm sao trứng khỏi bị ăn xén ăn xớt phần nào, hai bợm bãi Phước và Huy, chúng trút lọp quyết phỗng tay trên, chúng trẻ tuổi hơn, sức lực đều là của trâu tơ dậy mẩy, chúng giàu tiền và phóng túng hơn, một đứa bán gia tài ông cha để lại lấy tiền nuôi gái, một đứa ăn cắp lúa bồ và lúa đong từng ghe chài một, hai thằng phá sản, bác làm sao lại chúng? Cô Tư Ăng lê, vì trước có chồng là người Hồng mao tóc đỏ, báo Tiếng Dội để tránh phiền phức, gọi cô là Tư Lê và bỏ dấu sai, đọc là Tu Lê, thì cháu biết đường đâu mà rờ! Mấy hàng nầy nếu lọt dưới mắt bác lúc còn sanh tiền, ắt cháu không trông gì trở lại góc đường Nguyễn Du và Thủ Khoa Huân, mỗi lần bác tổ chức tiệc và yến.
Nhưng nay bác đã nằm yên một giấc ngàn thu, Trà cũng đã ra người thiên cổ, bác giận cháu làm chi và hãy để cho cháu viết, không phải để cười bác đâu, ai dám, sự thật là để cho nhiều người biết tấm lòng của bác, đáng làm gương cho những ai đã có hiền thê tại nhà mà còn chưa chừa tánh tham muốn “kim ốc trữ chi”? Nhà cô Tư Ăng lê lúc đó ở có lẽ đường Richaud, sao “động ô” bác dọn riêng cho Trà một căn phố trệt góc Richaud và Lareynière, còn cô Tư Ăng lê dọn về đường Trương Định (nay) và vẫn chứa bài cóc ken, nên Tuyết, khi chúng cháu dọn về đường Taberd, Tuyết thường đến nhà cô Tư Lê xạc bài cào hoặc đổ con mèo, mà bây giờ cháu mới truy ra manh mối, cái tật ăn không ngồi rồi, đàn bà chị nào như chị nấy, không cầm lá bài, không lấy tiền chồng nuôi me ngồi me đứng thì đâu có ra nông nỗi bác bị cắm sừng mà cháu cũng mọc sừng!
Bác gái luôn luôn nói nói cười cười và Trà, vẫn yêu vì kính nể kiêng dè bác trai bác gái như hai lượng cả thường được che chở bao dung và có lẽ vì thấy chặt chịa quá khó nuốt trôi, nên Trà mới nửa đường thay gánh! Cháu há dám bàn mô ranh với bác, chớ gái như Trà, họ muốn đổi làm vai đàn ông để có chồng bé chồng xơ cua, chớ đâu khứng phu xưởng phụ tuỳ, bỏ tiền nuôi chúng chỉ mất tiền thêm đeo sầu thảm. Cháu muốn học gương bác mà không học được. Cháu cũng vì tỵ hiềm mình đi trễ tàu, và Trà cơm đen nặng quá, nếu không thì cháu đã lỗi với bác nhiều nhiều. Cháu mới nghe có người vừa rỉ tai với cháu rằng Trà thất thân để cho “cây cột cháy” Amadou nó xúc phạm, nhưng cháu đã cải chính tin vịt và bịa đặt nầy vì cháu biết dư thằng hắc quảy ấy, lúc cháu ở đường d’Espagne, mỗi tháng đến ngày lính sơn đá xuất thành, thằng đen nầy đi tìm gái thì bao nhiêu em nuôi của động Giác đôn hẻm d’Espagne đều bỏ ổ tìm đường chạy trốn vì thằng dịch vật này tay dài như tay vượn nên đã từng cho đo ván võ sĩ Ba lan Pzysko tại võ đài Charner năm nọ, cặp giò dài fến yên xe đạp tháp cao thêm hai ba tấc mà chơn nó còn phết đất sà sà. Đã biết như vậy, tôi quả quyết, một người mình hạc xương mai như Trà, lại nữa là chủ mướn “cột nhà cháy” làm “gác cửa” nơi nguyệt tiên cũng sẽ nói sau nầy, dại gì thử lửa cho phỏng tay và hết xài trọn kiếp!
Thuở ấy, lối 1925, bọn võ sĩ ngoài việc lên vô đài kiếm tiền xúp, đều sính tài làm hộ vệ vai vế cho các cậu công tử để kiếm chác thêm: như Antoine Cường cho cô Ba Pho, Puncher manh lai Tàu, Kid Demsey cho cậu Tư Phước (Georges) và Batandier, lính Tây thành Ilè R.I.C. làm bộ hạ cho Ba Qui, v.v…
Bác tôi, phong lưu rất mực, trước khi chịu phép vì quá già đành viết sách (thành ngữ điển tích, sách dạy làm thi, v.v…) lúc thanh xuân ngày chúa nhật cũng như ngày lễ, không cho xe lửa đụng nhau (chơi bài chemin de fer), thì cũng tứ sắc và chơi có điều lệ đành rành, hoặc thiên cửu (thín cẩu) hoặc xì phè và me (vì me mà quen Tư Ăng lê, Ba Trà, Ba Huy, Sáu Nhiều, Sáu Ngọ, v.v… Các bác sĩ lục tỉnh, cỡ thầy thuốc Ngỡi, trường tiền Mỹ, vân vân đều có ký quĩ không bao giờ lãnh nơi nhà bác tôi bộn bộn).
Ăn nói có duyên, mặt hồng hào, cử chỉ hoà hoãn, chết không tai tiếng, ở với Trà như bát nước đầy, khi chia tay không một lời nặng nhẹ, Trà luôn luôn nể đôi vợ chồng nầy, vào ngạch bác sĩ ngang hàng với Pháp đầu tiên, mề đay điều, mà không nhập tịch Pháp, kể là mọt nhơn vật là trong Nam cũng xứng. Hiềm vì không con nối hậu, khi nằm xuống, tủ sách toàn sách xưa sách quí, cũng không còn, đáng tiếc vậy thay! Chỗ nhà cũ sau dinh Tổng thống nay đã xây lầu, đi ngang vẫn ngùi ngùi nbở cuộc biến thiên mau quá!
Tôi không muốn gặp mặt vợ con một tí nào cả. Bởi vì, sau một lần gặp gỡ, tôi mềm yếu và đau khổ vô cùng. Tôi đã ao ước vợ con tôi vượt biên. Cứ vượt biên, sống chết ra sao không cần biết, miễn là đừng bị bắt vào tù. Tôi đã ao ước thô bạo hơn, vợ con tôi cùng chết một lúc và chết ngon lành. Và rồi, tôi ao ước tôi chết cho vợ con tôi khỏi bận bịu, tìm đường ra đi. Tôi cũng sợ hãi đọc thư nhà. Những bức thư ngô nghê của thằng con trai út thường làm tôi khóc. Mỗi khi thư loan tin bác này về vùng kinh tế mới, bác kia hồi hương, 1 tôi muốn điên lên. Bằng hữu tôi lần lượt ra đi, bỏ rơi vợ con tôi. “Bố ơi, chẳng ai thèm lại nhà mình, thấy mình họ ngoảnh mặt”. Tai họa còn là cái sàng đãi lọc tình nghĩa. “Bố ráng học tập cải tạo tốt để được Nhà Nước khoan hồng sớm về sum họp gia đình dạy dỗ chúng con”. Câu cuối của từng bức thư tù đó. Khuôn mẫu của chế độ giải phóng con người. Tôi ghét bị kiểm duyệt tình cảm, nên thư về của tôi chỉ là cái danh sách xin gửi những món cần thiết. Vợ tôi không hiểu, đã trách móc tôi. Và tôi im lặng. Tôi đã viết nhiều về nỗi cô đơn. Rất hời hợt. Một đêm ở 1C-1, hồi tôi bị ghẻ mủ nặng, nằm nghiêng trên hai gang chiếu. Tôi ngủ lúc nào không rõ. Và tôi có giấc chiêm bao. Vợ chồng tôi cãi nhau quyết liệt. Hai chúng tôi giận nhau, mỗi đứa nằm một mép giường, xoay lưng đấu nhau. Tôi thấy mình vô lý quá. Tại sao không nhường nhịn vợ? Tại sao không xin lỗi vợ? Bèn lăn một vòng ôm chặt vợ. Bị cái thúc cùi chõ vào bụng. Tỉnh giấc mới hay mình ôm bạn tù ghẻ. Phòng giam sáng trưng đèn nê-ông, Tất cả đều ngủ. 1C-1 nhỏ bé, bốn bức tường kín mít. Mà tôi mơ hồ tưởng bờ bãi mênh mông. Và nỗi cô đơn dàn trải vô tận. Tôi đã thiếu khả năng viết bài thơ diễn tả nỗi cô đơn của tôi.
Và thế đấy, tôi không muốn gặp mặt vợ con một tí nào cả. Nhưng mà tôi lại gặp mặt vợ con lần thứ hai. Quản giáo Bàng dẫn tôi ra phòng tiếp khách gần cổng trại. Hắn bỏ ra ngoài để chúng tôi trò chuyện tự do. Con trai lớn của tôi, Vũ Nguyễn Thiên Chương, tức Chương còm, tức cu Tý, mất trường Taberd sang trường Marie Curie học. Bị Cờ Đỏ của trường nhốt một đêm, đánh đập tàn nhẫn. Bị ra phiên tòa của giáo viên thành phố, bị kết tội con của nhà văn phản động, bị đuổi học. Không thầy giáo… ngụy nào bênh vực nửa lời, dù phiên tòa có nhiều thầy giáo bạn của tôi. Con gái tôi, Vũ Nguyễn Thiên Hương, tức con Ki, vẫn học Régina Mundi (đổi tên Lê Thị Hồng Gấm), giỏi môn văn, được đề nghị ra Hà Nội thi văn, đậu cao sẽ sang Moscou, thương bố bị tù, thương anh bị đuổi học đã xin nghỉ học luôn. Con trai út tôi, Vũ Nguyễn Thiên Sơn, tức thằng Đốm, bị cấm đến trường. Vợ tôi bệnh hoạn dài dài, bị lừa gạt vượt biên, bị hăm dọa thủ tiêu nếu không rời căn nhà đường Công Lý. Thư hăm dọa trình công an. Công an lờ tít. Vợ con tôi bỏ nhà… lưu vong. Con chim đại bàng đã không đến ăn khế vườn nhà tôi. Và cổ tích của thằng Đốm là thất học.
Tôi vác bị quà về phòng giam, lòng rã rời, tan nát. Xưa, viết truyện, tôi đã chỉ xin làm cây leo lên hạnh phúc của con tôi. Giờ, nằm tù, tôi không được leo lên cả bất hạnh của con tôi. Và cả niềm bất hạnh của tôi, của gia đình tôi, cho đến hôm nay, vẫn còn bị đâm thêm những ngọn dáo phi nhân, vẫn còn bị phì thêm nọc rắn ác độc. Nhưng mặt trời chiếu cho mọi người. Và Chúa Jesus đã dạy: “Phúc cho kẻ chịu bắt bớ bởi sự công nghĩa. Vì nước Trời là của kẻ ấy. Phúc cho kẻ bị lăng nhục và vu cho mọi điều ác. Hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng trên Trời là lớn”. Cho nên, tôi vẫn đi, tôi mãi đi không mỏi, nhân danh niềm bất hạnh của tôi. Phần thưởng trên Trời tôi chưa thấy. Phần thưởng dưới thế tôi đã thấy: Tôi đã viết thêm 20 cuốn sách từ khi ra khỏi nhà tù. Tôi còn trẻ măng, còn dồi dào phong độ, còn tràn trề sinh lực và năng lực. Nếu nước Trời là Sáng Tạo, nước ấy của tôi. Cứ phì nọc độc vào tôi đi rồi lùi lại, nhỏ bé. Cứ chấp nọc độc, tôi phóng xa về phía trước, cao lớn, sừng sững. Đó là tín hiệu của bất cứ ai sáng tạo.
Tháng 7-1977, Doãn Quốc Sĩ từ 6C-1 qua 3C-1.Tác giả Dòng sông định mệnh tỏ vẻ mừng rỡ gặp tôi. Anh Sĩ vẫn khoẻ mạnh. Doãn Quốc Sĩ chuẩn bị áo len, bí-tất găng tay. Anh tiên đoán một chuyến đi xa về phương Bắc. Thường xuyên lạc quan, đó là thái độ ở tù của anh.
Chúng tôi hàn huyên… chấp pháp.
– Thằng rỗ huê mặc áo sơ-mi trứng sáo chửi tôi khiếp lắm. Nó đòi chặt tôi làm ba khúc xem thân thể tôi có là kim cương. Doãn Quốc Sĩ nói.
– Anh trả lời sao? Tôi hỏi.
– Im lặng.
– Anh thiền à?
Doãn Quốc Sĩ cười.
– Thằng Vũ Hạnh báo cáo hết về anh em mình. Nó viết tôi thường xuyên lăng nhục Bác của chúng nó.
– Tôi biết.
– Duyên Anh cũng làm việc với thằng rỗ huê?
– Và bị nó chửi tưng bừng hoa lá. Nó chơi xỏ, tống tôi vào cachot buổi sáng, buổi tối đuổi về. Mình đang ghẻ thèm ở riêng, nó chỉ cho “bán trú”.
Chúng tôi cùng cười.
– Khi cụ Tú Mỡ chết, anh đang nằm cachot.
– Nhà báo tin.
– Cáo phó đăng báo Nhân Dân.
– Nhà đã gửi vào.
Doãn Quốc Sĩ là con rể Tú Mỡ, tác giả Dòng nước ngược, thủ quỹ Hội Nhà Văn Việt Nam. Nghịch cảnh của tác giả Khu rừng lau là anh có người em ruột, Doãn Nho, nhạc sĩ, con cưng của Đảng, được sang Moscou học sáng tác nhạc hòa tấu cổ điển. Doãn Nho cũng là con cưng của Công An vì anh sáng tác vài ca khúc ngợi ca công an. Thế mà mấy lần Doãn Nho xin gặp Doãn Quốc Sĩ đều bị từ chối, bắt tội thân mẫu Doãn Quốc Sĩ từ Hà Nội vào đợi thăm con hoài. Hoàng Mạnh Hùng đã hỏi lý do nào Doãn Quốc Sĩ chống Cộng mãnh liệt thế. Họ Doãn đáp gọn:
– Tuổi trẻ tôi bị lừa gạt.
Anh Sĩ hơn tôi một con giáp, cùng tuổi Hợi. Năm nay anh 65. Thế hệ anh, người ta khao khát độc lập, khao khát cách mạng. Nguyễn Ái Quốc đã là kỳ vọng của trí thức trẻ hồi ấy. Anh Sĩ không ngại ngần nói rằng anh đã chỉ sợ Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc. Rốt cuộc, Hồ Chí Minh vẫn là Nguyễn Ái Quốc nhưng không phải Nguyễn Ái Quốc lý tưởng của Doãn Quốc Sĩ. Anh đã, nói theo Nguyễn Mạnh Côn, lạc đường vào lịch sử. Những vụ thủ tiêu Lan Khai, Khái Hưng và, lần lượt, các đảng phái quốc gia cùng với những cuộc đấu tố mở màn ở trung du khiến anh thức tỉnh. Anh coi như mình bị lừa gạt. Khi niềm tin của tuổi trẻ bị lừa gạt thì phản ứng của nó dữ dội lắm. Phản ứng ấy dàn trải cùng khắp tác phẩm của anh. ‘‘Mỗi dòng chữ của Doãn Quốc Sĩ là một viên đạn bắn cộng sản”. Nguyễn Đình Toàn đã viết thế. Anh Sĩ chống Cộng cả bằng cổ tích, bằng thiền. Doãn Quốc Sĩ chống Cộng tự nguyện, khác hẳn loại bồi bút chống Cộng, loại đánh đĩ văn chương giá rẻ cho Juspao, Usis. Ngọn đuốc Doãn Quốc Sĩ lúc nào cũng sáng, lúc nào cũng soi tỏ cho tuổi trẻ bị lừa gạt niềm tin. Chỉ tiếc tuổi trẻ hôm nay thiếu chất phẫn nộ của tuổi trẻ Doãn Quốc Sĩ. Và người ta lặng thinh sau những lần bị bịp, bị làm guốc cho lãnh tụ giẻ rách. Người ta hờ hững để mặc bạo lực của quyền uy ảo tưởng diễn hành. Ngọn đuốc Doãn Quốc Sĩ vẫn rực rỡ ở quốc nội. Buồn thay, ở quốc ngoại, có kẻ gục mặt nhận mình là ngọn hải đăng mù. Mà nó mù thật sự. Nó mù vì sự phản phúc, vì sự ích kỷ, vì sự tự mãn với cái chẳng ra gì của nó. Hơn cả mù, nó đã chết.
Tôi có một kỷ niệm nhỏ với anh Sĩ ở 3C-1. Một hôm, Đặng Hải Sơn “vô thất”, anh Sĩ hỏi.
– Cậu bắt chước Bá Di, Thúc Tề à?
Sơn đáp:
– Không, em muốn bao tử nghỉ mệt.
Anh Sĩ nói:
– Bá Di, Thúc Tề ở Đông Chu.
Tôi nói:
– Ở Phong Thần, thề không ăn thóc nhà Chu.
Có thế thôi mà thằng Đoan báo cáo. Anh Sĩ và tôi bị cúp thăm nuôi. Hai Phận gọi tôi ra “giáo dục”
– Cấm vợ anh tiếp tế cho anh xem anh có chê cơm cách mạng không?
Doãn Quốc Sĩ cũng bị gọi ra nghe Hai Phận vĩ đại sỉ vả. Chúng tôi “phèo” chất tươi nửa tháng. Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Mạnh Hùng và tôi bị Hai Phận “đánh dấu”. Giờ học báo Đảng, anh Sĩ ngồi thiền. Anh dễ ăn và dễ ngủ. Tôi phong anh biệt danh Dị Miên Sư Tổ. Khi 3C-1 thêm Lý Thành Cầu, anh Sĩ có tri kỷ chữ Nho. Lý Thành Cầu người Trung Hoa, nói tiếng Việt rất giỏi. Ông ta thuộc Kiều và thơ Đường vanh vách, vốn là đại tá tình báo của Lư Hán, ông theo Tiêu Văn sang Việt Nam tước khí giới Nhật. Ông ta kể chính ông ta dẫn Hồ Chí Minh vào yết kiến Tiêu Văn. Ông Cầu ở lại Việt Nam, lấy vợ Việt Nam bỏ vợ Tầu. Năm 1954, ông di cư và làm quản lý cho hãng tầu vị yểu Hai Con Bướm ở Gò vấp. Chỉ vì ngứa miệng khoe mình quen Hồ Chí Minh mà ông bị vào tù, may là cộng sản chưa thủ tiêu ông. Lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh không thể quen biết anh Tầu già bán xì dầu. Ông Cầu nằm cachot mà Doãn Quốc Sĩ đã nằm. Ra cachot, ông vào 3C-1. Thấy cái bị viết tên Doãn Quốc Sĩ, ông ngạc nhiên hỏi tôi:
– Doãn Quốc Sĩ còn sống à?
– Còn.
Tôi giới thiệu ông ta với anh Sĩ. Ông ta ôm chặt anh Sĩ, nước mắt ròng ròng:
– Tôi đọc tên ông khắc ở tường cachot, tưởng ông chết, xì xụp lạy ông phù hộ tôi. Ai ngờ gặp ông.
Doãn Quốc Sĩ cảm động lắm. Ông Lý Thành Cầu đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Hải Thần, khen thơ Nguyễn Hải Thần hay hơn thơ Hồ Chí Minh, ông ta nói oang oang. Bị chấp pháp gọi ra bắt câm miệng, ông ta phê bình Nguyễn Hải Thần mê thơ quên việc nước.
– Tưởng Giới Thạch rất bận, tiếp khách có mười phút. Mỗi lần xin yết kiến Tưởng khó vô cùng. Vậy mà gặp Tưởng, cụ Nguyễn đem thơ ra khoe và bình mất hết thì giờ, chẳng nói chuyện nước non chi cả.
Ông Lý Thành Cầu trên 70, tóc bạc phơ. Ông ta bình Đường thi, Doãn Quốc Sĩ mê mẩn. Ở với chúng tôi hai tuần, ông bị chuyển trại. Chúng tôi đón Nguyễn Ngọc Tân, người biết hơn cả người biết quá nhiều. Doãn Quốc Sĩ có tri kỷ mới. Nguyễn Ngọc Tân cận nặng, một chân nhỏ tót, đi khập khiễng. Anh ta bắt chước Tôn Tẩn, ăn mặc như thằng điên. Mỗi ngày anh bị gọi ra một lần… tra tự điển Đại Việt. Kiến thức của Nguyễn Ngọc Tân mênh mông. Chuyện gì anh biết cũng đến nơi đến chốn. Anh kể cho chúng tôi nghe chiến khu Nam Ngãi, những ngày lưu vong bên Nam Vang. Chuyện của anh hấp dẫn vô tả. Thời huy hoàng của anh là thời Đại Việt nắm quyền bính. Ngày Nguyễn Hữu Trí làm thủ hiến Bắc Việt, anh ra Hà Nội với tư cách Xứ ủy miền Nam. Tính tình cởi mở, anh giúp đỡ mọi người bằng khoa chữa bệnh điểm huyệt. Ngày thăm nuôi, anh đem quà cho hết đám “con bà phước”. Ít ai hào sảng trong tù như Bẩy Bốp, Phạm Thái, Nguyễn Ngọc Tân. Ngoài đời, tôi tưởng anh cũng thường như Nguyễn Ngọc Huy thôi. Gặp anh mới thấy anh là nguời đáng kính trọng. Cụ Đỗ Văn Lựu ra làm việc luôn luôn ăn mặc bảnh bao. Và cụ chê anh Tân “mất mặt quốc gia” vì anh dùng giây thắt lưng. Cụ đâu hiểu anh Tân giả khùng.
Doãn Quốc Sĩ ở với chúng tôi hai tháng. Đầu tháng 9-1977, anh bị tập trung với các tù nhân khắp nơi tại hai phòng C-1 và C-2. Anh ngủ một đêm rồi đi lao động cải tạo ở Pleiku. Chuyến đi này có Trịnh Viết Thành, Tô Ngọc, Trần Dạ Từ, Nguyễn Hải Chí, Hồ Văn Đồng, Thái Thủy, Mặc Thu, Thanh Thương Hoàng, Mộc Linh, Thế Viên, Nguyễn Sĩ Tế, Nguyễn Viết Khánh. Doãn Quốc Sĩ bị canh chừng một thời gian, mỗi tuần phải “mạn đàm” với chức sắc Sở Công An một lần, phải kể đã gặp gỡ những ai, nói chuyện gì… Ra tù, tôi đi chơi với Doãn Quốc Sĩ nhiều lần, rủ anh vượt biên, anh không dám. Có lẽ, anh tin cộng sản sẽ cho anh đi chính thức. Nếu vậy, anh đã sai lầm. Sự sai lầm của anh đã bị trả giá thêm ở nhà tù. Cộng sản không bao giờ cho “biệt kích văn nghệ” đi chính thức cả.
Nguyễn Đức Đạt, Bùi Xuân Bật khu A sang “làm mới” 3C-1. Trưởng phòng Nguyễn Đức Đạt, dân làng Nghi Tàm, từ Hà Nội vào Saigon giữ chức Đồn trưởng công an Cầu Kho. Thành ủy Hà Nội cử người vô Saigon mua xe hơi, tủ lạnh, tivi… Đồ đạc nhiều món gửi tạm ở Đồn công an Cầu Kho vì người mua đồ là đồng chí, là bạn của Nguyễn Đức Đạt. Thành ủy Saigon “chơi” thành ủy Hà Nội. Sở công an khám xét hàng hóa và đòi chứng minh biên lai. Không có. Bị kết tội mua đồ ăn cắp và tiếp quản trái phép. Những kẻ chứa đồ bị truy tố. Nguyễn Đức Đạt bị lột quân hàm trung úy công an, bị tịch thu hết đồng phục, bị mất luôn chiếc Honda tiền túi, tiền của bao nhiêu năm dành dụm. Và vào tù, bị khai trừ khỏi Đảng.
Thư ký Bùi Xuân Bật, con trai út của cụ Bùi Xuân Học, chủ nhiệm nhật báo Loa Hà Nội trước 1940. Gia đình Bùi Xuân Bật có vai vế tiền chiến và hậu chiến. Anh trai Bật học ở Pháp, theo Hồ Chí Minh về nước làm thông dịch. Người anh này lấy cô vợ Quảng Ngãi. Cụ Học, nhân dịp xuân về cảm tác bài thơ trách móc chế độ. Bị cô con dâu tố cáo. Cụ Học nằm tù ở Lào Kay chết ở đó. Bùi Xuân Bật lên rừng bốc xương cha về Hà Nội. Từ đó, Bật lách mà sống, mà học. Tốt nghiệp kỹ sư luyện kim, Bật cộng tác tại Thái Nguyên. Bật có người chị di cư năm 1954, lấy chồng Tầu, rất giầu. Năm 1976, Bật công tác ở Saigon, được chị cho căn nhà và chiếc xe Mustang. Đẹp trai, trắng trẻo, mũi cao và tóc bồng bênh như Tây lai lại vốn con nhà giòng dõi, Bật thích ứng ngay nếp sống Saigon, ăn diện như công tử. Thế là bị chụp mũ liên hệ với phản động, Bùi Xuân Bật vào đề lao Gia Định.
“Triều đại” Nguyễn Đức Đạt, 3 C-1 trầm lặng. Cụ già đông hơn thanh niên, cụ già ho, cụ già hen, cụ già khạc nhổ đầy nắp cống. Cực hình đề lao, đối với tôi, là những ngày trực bị mở nắp cống xối nước chà sạch những bãi đờm như những con thạch thùng chết. Với Nguyễn Đức Đạt, mục học báo Đảng dẹp bỏ và ngủ tự do. Chính anh ta cần ngủ quên đời. Hễ nhắm mắt, bất kể ngày đêm, anh ta mớ. Chuyện dặn con khoá kỹ xe đạp, dặn vợ đừng chặt bụi tre. Và trách móc Đảng tước đoạt công lao của anh ta. Đạt bị phong thấp, có thể tê bại. Đang là con Đảng biến ra “con bà phước”. Anh ta xin chúng tôi vitamine A. Chúng tôi cho. Tù phản động giúp tù cộng sản bị khu trừ. Tôi nghĩ anh ta đã hiểu quốc gia và tình nghĩa của người quốc gia. Bùi Xuân Bật chửi Đảng ra mặt. Anh ta chưa được kết nạp vào Đảng, vì là con tư sản. Câu nói bất hủ của Bùi Xuân Bật: “Lãnh tụ vĩ đại của tôi là củ cà rốt của tôi. Bởi chỉ củ cà rốt của tôi mới làm tôi sướng và làm vợ tôi sướng”.
Thời gian này, cachot C-1 “đói” khách sộp. Còn mỗi Đinh Xuân Cầu tóc bạc phơ, râu bạc phơ, ria bạc phơ, lông mày bạc phơ, chân đeo xích, tay mang còng bước từng bước ngắn đi làm việc. Tôi nhìn ông ta liên tưởng tới nền tù ngục quê hương tôi ngót nửa thế kỷ. Người chiến sĩ Đại Việt này chế độ nào cũng nằm tù. Những tài năng của đất nước tôi cứ bị lưu đầy, cứ bị giam nhốt, cứ bị hủy diệt. Và tổ quốc tôi gầy mòn với bộ lòng lổn nhổn sán sơ mít. Như thế vẫn chưa đủ, sự thù hận trải dài vô tận. Thù hận trong hạnh phúc và thù hận cả trong thống khổ. Người ta hay nói đến cảm thông đến khoan dung, đến đại lượng. Nhưng ba món hàng xa xỉ này không bầy bán. Định nghĩa và cách xử dụng phải tra tự điển. Rốt cuộc, con người Việt Nam đành phải ước mơ cổ tích. “Bà tiên hoá phép, đứa nào hay nói những danh từ cảm thông, khoan dung, đại lượng thì hễ dứt lời là phọt ra cóc, nhái, rắn, rết”… Hình như, người quốc gia của chúng ta đã lạm dụng hai khẩu hiệu ngắn: Đại nghĩa thắng tà đạo, thương yêu xoá căm thù. Đôi khi, tôi thấy, một số người quốc gia tà đạo hơn cả cái tà đạo họ muốn thắng, căm thù hơn cả cái căm thù họ muốn xoá. Một điều lúc nào cũng có thể thấy là người quốc gia căm thù bạn đối lập hơn cả căm thù kẻ thù đối nghịch. Như vậy có hò hét nghìn năm, chẳng bao giờ chúng ta có dân chủ, tự do và hạnh phúc thực sự. Vương đạo của Vệ Ương mãi mãi ế ẩm, dẫu đã rao bán mấy ngàn năm. Trong mọi lãnh vực, bá đạo cứ thích ứng, thích ứng luôn cho trò chơi văn nghệ. Điều sai lầm căn bản của người quốc gia lưu vong hôm nay là chúng ta không chịu nhìn nhận cái đã có của chúng ta chưa ra ngô ra khoai gì cả. Do đó, khi mất nó, chúng ta mê mải đấu tranh tìm lại nó. Cuộc đấu tranh cho hư ảo là cuộc đấu tranh phục hồi quá khứ. Chúng ta không dám bắt đầu cho tương lai. Chúng ta sợ hãi tương lai. Vì hiện tại chúng ta rách bươm. Và, vì bắt đầu, chúng ta không có vốn, không thể tạo nổi vốn ngoạn mục. Vốn liếng cũ, những lãnh tụ đảng phái gỗ mục, những tướng tá tham nhũng chạy dài, những ngọn giả sơn văn học cạn trương mục rồi. Giá trị của nó không đủ mua gói khô mực. Bất hạnh thay cho dân tộc, gỗ mục và giả sơn ngổn ngang chất đống dọc đường phóng lên phía trước của tuổi trẻ. Và tuổi trẻ vẫn ngại ngần, vẫn chần chừ. Người ta trông đợi tuổi trẻ hào sảng đầu tư nhiệt tình và lòng tự phụ cho tương lai trong cuộc chiến đấu mới, thái độ mới, tư tưởng mới. Chỉ tuổi trẻ mới đủ khả năng thiêu hủy phép tích của bà tiên và sau mỗi cảm thông, mỗi khoan dung, mỗi đại lượng là hoa nhân ái nở, trái hạnh phúc kết. Và, khi ấy, không còn tù ngục xích chân còng tay con người. Khi ấy, không còn thù hận trên quê hương khốn khó Việt Nam, không còn thù hận giữa người Việt Nam với người Việt Nam, không còn những thằng điên cưỡng bức đồng bào mình tung hô mình muôn năm vĩ đại, không còn những thằng ễnh ương ham làm bò lãnh tụ, không còn những thằng thảo khấu chính trị lạc quyên xổ số, không còn những thằng hề cách mạng rẻ tiền, không còn những thằng ngu đòi thống lĩnh đỉnh núi văn học. Khi ấy, cả dân tộc lương thiện được lãnh đạo bởi những tài năng lương thiện. Khi ấy, mọi việc công khai ngoài ánh sáng, chấm dứt phục kích đánh lén. Khi ấy là nghệ thuật, cáo chung thủ thuật. Khi ấy là chung thủy, loại trừ phản phúc. Khi ấy, “mọi người là anh em”. Và khi ấy, là thời lên tiếng sau thời im lặng. Khi ấy mới quyết định cái gì còn để lại.
Đinh Xuân Cầu là tù nhân duy nhất của đề lao Gia Định bị xích chân, còng tay dẫn đi làm việc. Phong sương của tù ngục không làm trán ông thấp xuống và mắt ông mờ đi.
Có ba vị tiên phong đạo cốt của đề lao Gia Định.
Một: Thượng tọa Thích Quảng Độ. Quản giáo Sáu lé đặc trách dẫn thượng tọa đi làm. Gã cai ngục này tuân hành Nội quy triệt để. Nó gọi thượng toạ bằng anh, đọc tên khai sinh của ngài.
– Sao lâu dữ, khẩn trương lên! Nó dục sau khi mở khóa.
– Anh mở cửa ra. Thượng tọa nói.
– Mở rồi, anh ra đi!
– Mở rộng ra.
Sáu lé mở tung cánh cửa thượng tọa mới chịu bước ra. Ngài mặc quần áo nhà chùa chỉnh tề. Ngài ngẩng mặt, bước thong dong. Ở nhà tù cộng sản, các thượng tọa, đại đức Ấn Quang phản động là tù nhân de luxe. Các ngài đòi ăn chay và gọt đầu nhẵn. Và được chấp thuận. Những vị sư khác bị để tóc và ngả mặn. Làm việc xong, Sáu lé dẫn thượng tọa Quảng Độ về cachot.
– Vô đi chứ?
– Anh mở cửa rộng ra.
Cửa mở rộng tù nhân Thích Quảng Độ mới chịu ra vào.
Hai: Nhà phản động già Phan Vô Kỵ quắc thước, bình thản, coi nhà tù như công viên.
Ba: Đinh Xuân Cầu.
Những người này nằm cachot không lên tiếng, không thèm yêu sách một ân huệ nào. Doãn Quốc Sĩ cũng vậy. Đời sống ở cachot C-1 thú vị ra phết. Tù nhân già biến thành con nít. Người ta có thể trao đổi quà cáp và tin tức cho nhau từ cachot đầu dẫy đến cachot cuối dẫy.
– Số 2 nghe rõ không?
– Rõ.
– Nhắn số 11. Mặt trời đã lặn. Số 1 thông tin.
– Rõ.
– Số 3 nghe rõ không?
– Rõ.
– Số 1 nhắn số 11. Mặt trời đã lặn.
– Rõ.
– Số 4 nghe rõ không?
Đó là thông tin. Còn gửi quà cho nhau thì tù nhân cachot rút giây ni-lông ở túi phân bón (gia đình dùng túi này đựng quà gửi vào), se thành sợi giây dài buộc chặt món quà muốn gửi. Rồi luồn tay qua cửa gió tung sang cachot bên cạnh. Cachot bên cạnh cũng luồn tay qua cửa gió đợi chụp sau khi được thông báo. Thường phải chụp mấy lần mới trúng. Cứ vậy, quà chuyền đi… Màn phòng tập thể tặng thuốc lá cachot vất vả nhất. Nếu điếu thuốc mồi lửa rồi thẩy sát cửa cachot, tù nhân thò tay qua chân cửa là được ngay. Nếu điếu thuốc xa bàn tay thò qua chân cửa, tù nhân cachot bèn cởi quần áo, nối lại, luồn qua ô cửa gió tung xuống khều điếu thuốc. Nhìn tù nhân cachot hút thuốc, nhả khói, bạn sẽ thấy rõ chân dung của hạnh phúc, hạnh phúc chỉ khám phá ra trong niềm bất hạnh. Tôi có thú vui đứng sát cửa phòng, giả vờ hít thở quan sát sinh hoạt cachot. Nhờ Dương Đức Dũng, Đoàn Kế Tường, Hoàng Mạnh Hùng, Nguyễn Ngọc Tân, Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Sơn Trường tả đầy đủ chi tiết các cachots các khu của đề lao mà họ đã nằm, tôi biết hết cachots đề lao Gia Định. Hoàng Mạnh Hùng còn kể cho tôi nghe các phòng giam ở quận 3, quận 1 sau 1975. Ở đó mới là địa ngục. Và chế độ vua phòng vẫn tồn tại.
Thú tiêu khiển giết thì giờ của tôi ở 3C-1 là tham dự cuộc chơi đô-mi-nô uống nước lạnh từ sáng đến tối. Chúng tôi say sưa chơi. Chơi quên nhớ nhà, quên gãi ghẻ. Chúng tôi uống nước căng rốn. Ai rồi cũng thua và thua mỗi bàn uống hai ca nước. Bốc bài xong, vội bỏ vào túi, đi tiểu ào ào cái đã. Đô-mi-nô uống nước là môn thuốc xổ và lọc nước tiểu diệu kỳ.
Bất ngờ, 3C-1 đón tiếp Trần Anh Linh. Cả phòng sôi nổi. Trần Anh Linh, giáo viên tiểu học Phương Lâm. Hè 1977, anh ta đưa vợ và đứa con nhỏ xuống Rạch Giá thăm bà dì. Anh ta mua vé máy bay Saigon-Rạch Giá. Chuvến máy bay này bị không tặc trấn áp sau hai mươi phút bay. Không tặc có bốn người.
– Họ dưới 30 tuổi, đẹp trai và hào hoa lắm.
Trần Anh Linh kể lớn.
– Trên máy bay có hai công an an ninh. To con và gồ ghề. Một tên định động thủ, một không tặc phóng lưỡi dao trúng tim tên công an. Hắn gục ngay. Không tặc mỉm cười. Người thứ hai rút khẩu rouleau, quay nhanh và đẹp như cao bồi. Tên công an còn sống ngồi bất động. Hắn bị tước khí giới. Hai không tặc khác lên phòng của phi hành đoàn. Hấp dẫn hơn phim gián điệp.
– Rồi sao? Tù nhân nóng ruột hỏi.
– Phi cơ chao lộn vài giây. Người không tặc hạ tên công an trấn an hành khách “Đồng bào bình tĩnh, nếu chết, chúng tôi cũng chết, nhưng không chết đâu. Chúng tôi không phải là không tặc, chúng tôi ra đi có sứ mạng”. Trong khi ấy, người không tặc thứ hai vẫn quay súng và cười rất tươi.
Linh kể tiếp: Phi cơ đáp xuống căn cứ Utapao. An ninh Thái Lan xua đuổi, phi cơ dọa lao vào phá hủy căn cứ. Thái Lan bằng lòng đổ đầy xăng, sạc no bình điện và tiếp tế mỗi hành khách một hộp bánh xăng-uých, nước uống. “Họ nói tiếng Anh quá hay”, Linh bình luận. Rồi máy bay đáp xuống phi trường Tân Gia Ba. Không tặc chào tạm biệt đồng bào, bảo ai muốn chọn tự do tùy ý.
– Một nửa chọn tự do. Một nửa xin về. Tân Gia Ba sửa sang máy bay, tặng xác chết một quan tài. Thời gian đi hay về chỉ có 3 ngày.
– Cậu xin về à?
– Báo chí, phát thanh, truyền hình phỏng vấn tôi. Tôi ở khách sạn sang lắm. Tôi chần chừ chọn nước định cư. Chưa kịp chọn, vì mình không chủ ý tìm tự do, thì quá hạn. Tân Gia Ba bắt ném lên máy bay đuổi về.
– Vào tù?
– Phải, tất cả hành khách và phi hành đoàn bị bắt ở Tân Sơn Nhất.
Một tù nhân tuổi trẻ phán:
– Bạn xứng đáng ăn một thùng cứt. Cơ hội ngàn năm một thuở lại bồng bế vợ con vào tù. Thiên đường chê, ham địa ngục!
Trần Anh Linh ca ngợi bốn không tặc hết ngôn ngữ. Anh ta bị tống vào cachot để khỏi “tuyên truyền xuyên tạc”. Nhưng mà vụ cướp máy bay này đã trở thành huyền thoại ở đề lao. Hoàng Mạnh Hùng cũng có một “đệ tử” tên Nhân. Cậu sinh viên làm giấy tờ công dân Phi Luật Tân giả, leo máy bay tới Vọng Các lại nhớ mẹ đòi về… vào tù. Thế là 3C-1 có hai tù nhân tình nguyện vào tù, hai tù nhân chê bai ân sủng của Thượng Đế. Trần Anh Linh rời 3C-1 để lại một đề tài cho tù nhân trẻ già bàn luận, suy diễn, vai trò và sứ mạng của bốn không tặc. Trong không khí bàn luận sôi nổi vụ không tặc, tôi bị gọi ra làm việc.
Chấp pháp số 12 ăn mặc bảnh bao. Hắn dân Hà Nội chính cống nói giọng y hệt giọng Bùi Xuân Bật.
– Anh khoẻ chứ, anh Duyên Anh?
– Cám ơn anh, tôi vẫn bình thường.
– Hết ghẻ chưa?
– Còn lai rai.
Hắn mời tôi uống trà, hút thuốc.
– Anh đã suy nghĩ kỹ?
– Thưa anh, suy nghĩ gì?
– Cái gốc vô sản của anh.
– Tôi chỉ biết tôi là con nhà nghèo.
– Cái gốc vô sản của anh sẽ cứu anh đấy.
Tại sao tôi phải vô sản? Ồng nội tôi là thầy đồ nho. Ông nội tôi chết, gia sản của bà tôi có một mẫu ruộng (một mẫu 3600 mét vuông). Bố tôi lưu lạc buôn bán khắp nơi. Năm 1956, bà nội tôi bị quy vào thành phần trung nộng, thoát cảnh đấu tố nhưng bị truy thuế nhiều năm. Bà tôi không có thóc, không có tiền nộp thuế. Bố tôi nằm tù hai năm thay thế mẹ già. Bố tôi phải chăn bò bên bờ sông Trà Lý, ở đợ cho Đảng và Nhà Nước thế tiền thuế. Tại sao tôi phải vô sản? Những kẻ khoe khoang mình vô hay tư sản, bần cố nông hay địa chủ đều là những kẻ đần độn. Là người tôi khước từ mọi giai cấp chụp lên đầu tôi.
– Tôi không vô sản đâu anh ạ.
– Đó là sự bất lợi cho anh. Anh muốn làm kẻ phiêu lưu vô định trong đời sống mãi ư? Phải có nơi chốn trở về chứ? Nghiên cứu anh, chúng tôi chung một nhận định: Anh chỉ là người bất mãn nhằng, chống đối tiêu khiển, chính trị giải phiền. Anh không có gì nguy hiểm cả. Đừng tưởng anh nguy hiểm. Giam giữ anh chẳng phải vì anh nguy hiểm mà nhằm mục đích soi sáng lối về cho anh. Anh ngây thơ lắm. Anh biết chúng tôi thả Trương Phiên rồi chứ? Bọn miền Nam đã bịp anh từ cuối năm 1954.
Tôi im lặng nghe chấp pháp số 12 “mắng mỏ”
– Với chúng tôi, Nguyễn Văn Sao quan trọng hơn anh nhiều. Trí thức, văn nghệ sĩ các anh sợ khó, sợ khổ, ham vui, chóng chán. Cỡ anh, nếu các anh có mật khu, anh sống hai tuần là bỏ cuộc.
Thằng này khinh thường tôi quá. Nhưng đã “đi khách” cả chục bận, “vành ngoài, vành trong” tôi hiểu hết. Tôi kệ hắn nói cho sướng miệng. Mình nằm trong tay nó, tranh luận vô ích.
– Anh biết tình hình bên ngoài không?
– Không.
– Lung tung lắm. Bạn bè anh công kích chế độ gửi lén bài ra ngoại quốc.
Hắn cười nhạt.
– Không có Nhân Văn giai phẩm ở Saigon đâu. Anh Hoàng Hải Thủy chẳng biết điều tí nào. Đã tha không bắt, lại viết phóng sự Đen như mõm chó riễu cợt chế độ.
Hắn rút ngăn kéo lôi ra tập bản thảo của Hoàng Hải Thủy đặt giữa bàn. Tôi nhận liền thủ bút của Gã Thâm, tác giả những phóng sự sôi nổi trước 1963. Hoàng Hải Thủy là nhà văn ăn diện nhất trong số các nhà văn Việt Nam. Có nhiều nhà văn, nhà thơ mà diện kiến họ, bạn sẽ thất vọng. Hoàng Hải Thủy thì không. Đẹp trai, bảnh bao, lịch sự. Một vài kẻ không thích công nhận Hoàng Hải Thủy như một nhà văn. Chẳng hạn kẻ Trần Phong Giao, kẻ Nguyễn Quốc Trụ. Điều này không quan trọng. Quan trọng là Trần Phong Giao, Nguyễn Quốc Trụ cũng chưa được công nhận như những nhà văn. Vậy mà đã mất công Nguyễn Mạnh Côn viết tựa tiểu thuyết của Thủy bênh vực Thủy. Nhà văn là cái gì nhỉ? Hễ ai viết chữ, người đó là nhà văn. Há những người viết đơn thuê trước cửa Toà Án, viết thư mướn trước cửa Bưu Điện chẳng được gọi là nhà văn công cộng đó sao? Những tên viết văn chuyên nghiệp, những tên đổi chữ nghĩa lấy cơm áo sống trọn đời mình như chúng tôi, không lấy làm thích thú cái tước vị nhà văn. Hoàng Anh Tuấn đã chế… chữ nôm đặt tên nghề nghiệp vô cùng hữu lý. Viết văn mưu sinh là thợ viết. Vẽ mưu sinh là thợ vẽ. Hát mưu sinh là thợ hát. Đánh đàn mưu sinh là thợ đàn. Lái phi cơ là tài xế tầu bay. Vân vân… Chúng ta nên dành các tước vị nhà văn, nhà thơ cho quý vị viết văn tài tử, sống bằng nghề khác, không sống bằng ngòi bút. Nhưng còn một hạng quý vị lạy lục xin xỏ quỹ trợ cấp ngoại quốc, viết sách xuất bản bán vung vít, chúng ta gọi quý vị ấy là nhà gì? Nhà thầu, nhà buôn, nhà mồ, nhà đòn hay… nhà thổ? Tôi thấy có những thi sĩ hì hục làm thơ suốt đời, ấn loát cả chục pho mà gom lại vẫn không hay bằng một bài thơ hạng bét của thợ thơ Hoàng Anh Tuấn. Cá nhân tôi, tôi , nói thật, học dốt và yếu sức, không thể làm ông thông, ông phán, ông phu xích lô, tôi viết văn nuôi vợ con. Tôi là thợ viết. Tôi không ham đi vào văn học sử hôm nay, vì hôm nav không anh nào đáng viết văn học sử. Tôi không đợi đi vào văn học mai sau, vì mai sau tôi chết rồi. Vậy thì xin cho phép chúng tôi làm thợ viết như thợ đóng giầy, thợ hồ, thợ mộc, thợ dệt, thợ may… Hãy là người thợ chăm chỉ làm việc, nỗ lực sáng tạo, có lương tâm nghề nghiệp, có chính kiến rõ rệt hơn là nhà văn lười biếng, gặm sứ mạng như chuột nhắt gặm sắt, rúc đầu xuống cát như đà điểu hèn mọn. Người ta không muốn bạn tôi là nhà văn thì bạn tôi là thợ viết.
Thợ viết Hoàng Hải Thủy là tấm gương lớn cho những người tự học. Tiếng Pháp tự học. Tiếng Anh tự học. Tiếng Tầu tự học. Rồi dịch và phóng tác truyện Pháp, truyện Anh, truyện Tầu. Thủy đọc nhiều, nhớ kỹ. Thông minh và sâu sắc. Chỉ mắc một tội, lụy vợ. (Các bà sẽ hài lòng lắm). Vợ mà giận bỏ đi, Thủy buông xuôi mọi việc. Vợ mà trở về, Thủy viết lách hăng say. Cô đào xi-nê-ma Dạ Yến mê Thủy đến bỏ chồng Mỹ. Ân ái gần đêm thì bò về với vợ. Thủy đã đi lính trước 1954, đeo lon trung sĩ, từng coi tù ở Phú Quốc. Anh đã viết một truyện ngắn về tháng ngày coi tù, kể một kỷ niệm viết thư giùm anh tù binh cộng sản gửi vào đất liền cho vợ anh ta. Anh tù binh, hơn hai mươi năm sau, ở cục R về giải phóng Saigon và làm chủ nhiệm nhật báo Giải Phóng3. Anh tù binh mang ơn trung sĩ Hoàng Hải Thủy. Nhờ vậy, Thủy thoát chiến dịch 2-4-1976. Anh tù binh bảo Hoàng Hải Thủy chôn chết tên Hoàng Hải Thủv đi rồi viết cho cách mạng.
– Bút hiệu cửa tôi gắn liền với đời sống của tôi. Hoặc tôi viết ký Hoàng Hải Thủv hoặc tôi không bao giờ viết nữa.
Đó là câu trả lời quyết liệt của Thủy trong bữa rượu tái ngộ cố nhân. Sau 30-4-1975, Hoàng Hải Thủy đến nhà tôi một lần, chờ tôi cả tiếng đồng hồ để báo tin con trai Vũ Trọng Phụng, bậc thầy phóng sự Việt Nam, đã gặp Thủy và muốn gặp tôi. Năm 1977, Thủy bị bắt về tội gửi bài ra nước ngoài. Anh nằm đề lao Gia Định, về Tổng nha cảnh sát cũ rồi được tha, ngót hai năm tù ngục. Tôi ra tù, Thủy đến thăm ngay. Chúng tôi có nhiều ngày đi chơi với nhau. Buổi chiều, trước đêm vượt biên, tôi mời Hoàng Hải Thủy “phê” một bữa với ông Ký già tại toà soạn Văn.
– Mày nói rằng, đứa nào vượt biên dấu mày, đều bị bắt. Vậỵ tao cho mày hay, đêm nay tao phú lĩnh.
– Thoát không?
– Chưa biết.
– Làm sao tao có tin mày?
– Tao đánh điện cho cô Tuấn.
Chúng tôi chia tay nhau ở bùng binh cửa rạp Khải Hoàn. Tôi đã thoát. Thoát chưa phải là đến. Ở trại tiếp cư Achères, tôi gửi cho Thủv tấm bưu thư. Thủy viết thư nhờ một ni cô chuvển cho tôi. Thủy nói, tôi đi rồi thì Thủy bị khủng hoảng, muốn “noi gương” tôi. Anh cảm giác bị đe dọa thường xuyên. Cảm giác ấy đă hiện thực. Hoàng Hải Thủy bị bắt lại vào tháng 4 năm 1984.
– Các anh vẫn tiếp tục chống phá cách mạng.
Hắn bỏ tập bản thảo của Hoàng Hải Thủy vào ngăn kéo.
– Anh nghĩ thế nào?
– Tôi nằm đây biết gì chuyện bên ngoài.
– Bên ngoài ảnh hưởng bên trong. Các anh sẽ khó về đấy.
Cuộc mạn đàm ngắn ngủi. Như thể người ta không quên tôi. Tôi về phòng. Tuần lễ sau, Hoàng Mạnh Hùng và tôi chuyển phòng. Chúng tôi cùng sang 4C-2.
Vụ này, các đài ngoại quốc có thuật. Sau 1975, một số phi công của Hàng Không dân sự được xử dụng cho Hàng Không dân dụng nhưng xăng chỉ cấp đủ lộ trình đến. Từ nơi đến đổ xăng đủ về. Người phi công chuyến bay này là bố của Vinh nhí, bạn Chương còm. Theo Linh kể, máy bay chỉ chở về một quan tài Việt Cộng loan tin không tặc sát hại phi công. Tôi cho rằng Việt Cộng đã thủ tiêu phi công. Phi công của Hàng Không dân sự cũ bị sa thải hết, sau vụ này, và sự bán vé được kiểm soát chặt chẽ.
Ba ngày Tết, các tù nhân nguy hiểm ở cachot được “giải phóng” xiềng xích. Nguyễn Việt Hưng, tướng Phục Quốc Nguyễn Việt Hưng, thường đứng dán mặt vào ô cửa nói chuyện với chúng tôi. Các bạn trẻ của 1C-1 đấu ào ào, bất chấp Nội quy. Ổng Hưng hỏi thăm tôi chuyện “nội các” Đinh Xuân Cầu khiến tôi tê tái. Ở đề lao Gia Định, tất cả can phạm phản động đều quý mến ông Đinh Xuân Cầu. Chuyện Hai Nghiêm mỉa mai ông “Mặt anh mà đòi làm thủ tướng à?” đã thành giai thoại ở đề lao. Ông Cầu đang nằm tại 7C-2, vào cachot vì Sao giò trốn trại. Sau ba ngày Tết, Nguyễn Việt Hưng bị máng chân vào cùm ở ngay tường, ông ta phải nằm ngửa suốt ngày đêm, trừ hai bữa ăn. Tù nhân vụ Vinh Sơn có người nhái AIi Hùng thổi sáo tuyệt diệu. Về khuya, Ali Hùng trổ tài Trương Lương. Tiếng sáo của anh ta buồn não nuột. Cả khu C-1 thức nghe anh ta thổi sáo. Trong hơi sáo sầu của Ali Hùng, chợt nổi lên một giọng nữ gai góc từ khu B vọng sang “Báo cáo cán bộ phòng 4 có người bệnh nặng”, tưởng chừng nhạc thiều âm ty. Tôi đã sống những phút giây hãi hùng và kỳ ảo đó. Nghĩa đời không phải ở đấy. Nhưng ở đấy, người ta tìm thấy nghĩa đời.
Hạ tuần tháng 2-1977, Toà án Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh xử vụ Vinh Sơn. Sáng sớm, mỗi tù nhân được phát một ổ bánh mì rồi bị xích chân còng tay đưa tới Tòa án. Buổi chiều được dẫn về. Nguyễn Việt Hưng, Ali Hùng, linh mục Nguyễn Vãn Nghị, linh mục Nguyễn Văn Chức, thiếu tá Tiếp và hai người tôi không biết tên ở cachot 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 đã hầu toà ba ngày liên tiếp. Buổi chiều cuối cùng của phiên tòa chung thẩm, khi trở lại cachot Nguyễn Việt Hưng dơ ba ngón tay rồi dùng gan bàn tay chặt lên gáy mình, ông ta báo tin có ba tù nhân bị xử tử. Vài hôm sau, bẩy tù nhân vụ Vinh Sơn chuyển cachot. Chúng tôi hết được nghe Ali Hùng huýt sáo đêm khuya. Bẩy cái cachots dành cho tù nhân mới mà hai cái là nơi “ngự trị” của hai nữ hoàng cachot Hoàng Thị Nga và Ngô Thị Lan. Doãn Quốc Sĩ, hình như, ở cachot số 9. Tôi lại bị gọi sang khu A làm việc với chấp pháp số 11, người Thanh Hoá.
Chấp pháp số 11 yêu cầu tôi bổ sung bản tự khai liên hệ với văn nghệ sĩ Hà Nội. Hắn muốn biết ngoài tôi còn anh em nào thù tạc văn nghệ sĩ Hà Nội không và tôi nghe thấy gì do anh em khác kể lại. Bản tự khai bổ sung rất ngắn. Vì tôi không biết, không nghe, không thấy. Chấp pháp số 11 nhã nhận. Hắn không hạch hỏi. Tôi viết buổi sáng là xong. Buổi chiều hắn mạn đàm:
– Anh Duyên Anh, tại sao anh giao du nhiều mà chỉ khai có một bạn thân.
– Tôi ít bạn.
– Tại sao?
– Vì tôi ưa viết báo công kích, không ai thích thân với tôi.
Câu trả lời của tôi hợp lý quá. Chẳng còn gì nhảm hơn là khai hết tên bạn bè để làm phiền họ, nhỡ họ bị công an chiếu cố. Mà thực ra, bạn thân đúng nghĩa trước 1975, tôi chỉ có một người. Là Đặng Xuân Côn. Ngày Đặng Xuân Côn vượt biên, tôi bị hạch hỏi, bị quay chóng mặt- Như ngày Nhật Tiến vượt biên, dù đã được tha, Nguyễn Đình Toàn vẫn bị gọi lên Sở Công An viết… tự khai.
Chấp pháp số 11 không yêu cầu gì thêm, hỏi vẩn vơ hai ba câu rồi nói chuyện văn nghệ… tiền chiến. Tôi làm việc với hắn vỏn vẹn một ngày. Bất thình lình, 1C-1 bị giải tán. Từng nhóm, từng nhóm, tù nhân khăn gói quả mướp chuyển tới các phòng ở khắp đề lao. Tôi vào tuốt 7C-1, phòng giam tăm tối và hôi hám. Vì cần tiến nhanh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa nên ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh đã xây cái chuồng heo tại góc sân sát vỉa hè Phan Đăng Lưu, sát tường sau 7C-1. Tù nhân tha hồ hít thở phân tiểu heo cách mạng, hương thơm của chủ nghĩa ưu việt. Tôi “tái ngộ” vua cachot Đoàn Kế Tường ở đây. Ở đây, đầy đủ mặt phản động. Già có cụ Cao Văn Diên, cụ Trần Văn Liễu, cụ Nguyễn Văn Thông. Trẻ có Hoàng Sơn Trường, Đinh Cường, Nguyễn Hữu Trí. Tư sản mại bản có Đỗ Bá Thúc đã từng làm Thứ trưởng thời Diệm và dạy ở trường Luật. Linh mục Phạm Minh Thiện cũng về 7C-1 “họp đàn”. Ngoài phản động còn có vài tù nhân vượt biên, vài cảnh sát đặc biệt trốn trình diện. Sĩ quan mới phải trình diện. Riêng an ninh quân đội, cảnh sát đặc biệt, hạ sĩ quan cũng phải trình diện học tập cải tạo. Và Phủ trung ương tình báo thì anh gác cổng, anh bưng nước đều… tình báo hết. Ra đi lâu về. Hoặc ra đi không về. Trưởng phòng tên Nguyễn Văn Mâu do Hai Phận chỉ định. Tôi đã có tí chức tước: Thư ký tù, chuyên viết biên bản các buổi họp cuối tuần và lập danh sách mua hàng chợ.
Hai Phận sáng tạo kiểu điểm danh mới. Ngày hai lần, sáng và chiều, hắn bắt tù nhân ra xếp hàng đôi ngay ngắn. Trưởng phòng hô “nghiêm” rồi báo cáo:
– Báo cáo ông Trưởng khu, phòng 7 hiện diện 56 người đủ.
Hai Phận vĩ đại hất tay:
– Được.
Chúng tôi lần lượt dơ tay đọc số, đọc tên và vào phòng. Hai Phận mở cuộc thi đua vệ sinh, ngăn nắp cho tù nhân. Khẩu hiệu của hắn: “Bỏ cờ trắng, vượt cờ xanh, giành cờ đỏ”. Điểm danh cũng được tính điểm thi đua. Tù nhân thi đua ở tù! Nhờ màn thi đua nên có cuộc họp trưởng phòng toàn khu. Thư ký đi ghi chép biên bản. Tôi được gặp Mặc Thu Nguyễn Viết Khánh, Thanh Thương Hoàng và được biết anh em của tôi đã “họp đàn” hết tại đề lao Gia Định, Đủ mặt. Lúc này, Hai Phận vĩ đại thống lãnh lưỡng khu C-1, C-2. Chúng tôi có một tháng thi đua. Phái đoàn trưởng phòng tham quan các phòng và… chấm điểm. Tù chấm điểm tù. 7C-1 cầm cờ trắng hạng bét vì toàn mùi phân heo và mùi ghẻ mủ. Hai Phận chửi chúng tôi ăn ở bẩn thỉu. Hắn ví chúng tôi với heo và ra lệnh cho chúng tôi “phải khắc phục mùi phân heo”!
Năm 1977 có hai biến cố. Biến cố thứ nhất: Toàn dân ăn độn. Biến cố này được dân gian đánh dấu bằng lời ca số 2 của ca khúc Miền Đông đất đỏ:
Ai đã qua miền Đông đất đỏ Xem xe chở vào thành phố khoai mì Cả khoai lang và rồi thì khoai bí Dân mình xếp hàng mua kí về ăn
……
Tổ quốc ơi! Ăn khoai mì ngán quá Từ giải phóng đến nay Ta ăn độn dài dài Từ giải phóng đến nay Ta ăn độn bằng khoai…
Hai Phận “triệu tập” một phiên họp “đột xuất”. Các trưởng phòng và thư ký đi phó hội. Hai Phận buồn bã nói:
– Trung Quốc nó đòi nợ, ta phải trả nợ nó, ta không thèm khất nợ, ta trả hết, trả khẩn trương. Do đó, từ mai, các anh sẽ ăn độn. Các anh khắc phục ăn khoai, ăn sắn nhé! Cũng đầy đủ vi-ta-min. Đấy, gà nó ăn ngô béo ra phết. Lợn nó ăn khoai thịt vẫn ngon.
Chúng tôi không dám cười. Hai Phận đau đớn:
– Người ta cứ bảo đất miền Nam tốt, làm không ăn có, ném thóc giống rồi nhắm mắt chờ mùa gặt. Thế mà từ giải phóng, hết hạn hán lại lụt lội…
Hai Phận vò đầu bứt tóc.
– Trời hại ta, trời cũng theo đế quốc Mỹ!
Tôi thấy Hai Phận đích thực vĩ đại hơn Hồ Chí Minh vĩ đại. Hắn trấn an chúng tôi:
– Nhưng ta đã có mỏ dầu hỏa ở Tiền Hải, Thái Bình. Mỏ ngay trên đất, không cần giàn khoan, không cần nhà máy lọc…
Biết rồi, khổ lắm, nói mãi. Hai Phận đã dạy bài này bên Sở Công An. Hắn dạy lại.
Hai Phận, tinh hoa của cộng sản đấy. Chúng tôi đã được học tập cải tạo tư tưởng như thế với những ông thầy như thế. Sau buổi họp “chuẩn bị tư tưởng” ăn sắn, ăn khoai, chúng tôi ăn sắn, ăn khoai thay cơm. Tại sao Hai Phận phải “triệu tập” cuộc họp “đột xuất”? Vì đề lao Gia Định là đề lao kiểu mẫu của thành phố. Chế độ muốn làm dáng dân chủ trong nhà tù. Đã xẩy ra một lần cơm đầy thóc, nhiều phòng… tuyệt thực. Tù nhân phản đối: Chúng tôi không giống gà. Chấp pháp phê bình quản giáo, thay đổi một trưởng khu. Họ sợ giữa thành phố, tù nhân nổi loạn sẽ tạo tiếng xấu cho cách mạng.
Biến cố thứ hai: Nổ kho đạn ở Long Bình. Tù nhân sung sướng, tưởng chừng sắp xô gục cửa ngục mà ra. Cả buổi chiều, hành lang vắng bóng công an. Đạn nổ ầm ầm. Nhưng đâu lại vào đó. Đạn ngưng nổ, ước mơ của tù nhân tắt lịm. Ngoài đời, dân gian cũng tuyệt vọng không kém. Những tù nhân “to tiếng bàn luận” vụ nổ bị làm kiểm điểm, bị cúp thăm nuôi. 7 C-1 bình yên nhờ “lãnh tụ” Đoàn Kế Tường bảo anh em “im lặng” nghe đạn nổ. Sinh hoạt đề lao bình thường.
Thêm một sáng tạo ăn. Nghe đồn Đức Giáo Hoàng bán đấu giá vương miện lấy tiền mua bột mì tặng tù nhân chính trị Việt Nam. Đề lao xây lò bánh mì. Bánh mì đề lao thiếu bột nổi. Ăn nóng thì rát họng, ăn nguội thì mỏi răng. Để đến ngày mai thì y hệt cái giầy tã. Bèn đề xuất bánh tầm bì không bì heo. Rồi bánh cuốn. Rồi mì sợi nấu với nước muối. Mì sợi bị chê, đề lao trở về cơm hẩm. Tiêu chuẩn ca đầy ngọn chì còn lưng ca.
Đúng dịp cơm tù bị bớt để trả nợ chiến tranh giải phóng, Doãn Quốc Sĩ ra cachot sau 11 tháng “thiền” trong bóng tối. Anh về 6C-1 ở chung với Thái Thủy. Tôi bị đuổi qua 3C-1. Thời gian ở 7C-1, Đoàn Kế Tường tả cho tôi nghe các cachots anh đã nằm, các hình phạt anh đã chịu. Hồi ở 5C-2, tôi đã chứng kiến Đoàn Kế Tường chửi quản giáo Hùng kẽm gai. (Hùng mở cửa cho cơm vào phòng. Một tù nhân thấy thùng canh rau muống già, ngao ngán nói: “Lại canh kẽm gai”. Hùng bắt bẻ. Tù nhân tặng nó biệt danh Hùng kẽm gai). Hùng kẽm gai báo cáo Hai Phận. Hai Phận đến tận phòng hỏi:
– Đứa nào dám chửi cán bộ cách mạng dã man?
Đoàn Kế Tường đáp:
– Không có đứa nào cả. Tôi đây. Nội quy cấm ông ăn nói lỗ mãng.
Hai Phận nổi giận:
– Nội quy của ai?
– Của nhà tù. Tôi đọc cho ông nghe: “Can phạm gọi cán bộ là anh xưng tôi. Cán bộ gọi can phạm là anh xưng tôi”.
– Anh dám chửi cán bộ.
-Tôi chửi luôn chế độ dã man!
Hai Phận bắt Đoàn Kế Tường ra làm việc. Vị anh hùng đề lao Gia Định, người nằm cachot bị ra phòng tập đã đập cửa hò hét xin trở lại cachot, đâu ngán cachot.
Tù nhân ở C-2 phục chàng quá. Hai Phận làm việc xong, đưa chàng về. Hắn cho chàng gặp vợ con. Hắn cho chàng khiêng đồ ngày thăm nuôi. Hắn cho chàng chế thuốc ở Y Tế. Chàng nóng tính đánh nhau với ai, kẻ bị chàng đánh đi kỷ luật, chàng bình yên.
– Đang là anh hùng, em trở thành “ăng-ten” anh ạ! Cộng sản thâm hiểm thật.
Cộng sản thâm hiểm, dĩ nhiên. Hạ gục uy tín vị anh hùng, tạo mâu thuẫn để tín đồ bôi bẩn thần tượng rồi bỏ rơi thần tượng. Lúc ấy, thần tượng đã nhào, anh hùng đã hèn mọn! Thay vì người ta “học tập” thủ đoạn cộng sản, người ta chỉ nghị luận “ăng-ten”. Người ta khó mà khôn lớn, dẫu nằm tù cộng sản suốt đời.
Đến 3C-1, tôi gặp cụ Đỗ Văn Lựu, nhạc phụ của tướng Phạm Văn Phú. Vị đại tá Ngự Lâm Quân này, thời còn đeo lon trung úy, đã đóng ở tô giới Thượng Hải, đã có những trang tình sử với các kiều nữ Tô Châu. Trung thành với Bảo Đại, cụ Lựu chống Ngô Đình Diệm, bị Diệm bỏ tù. Hôm nay, cụ vào tù cộng sản về tội phản động, về tội phó thủ tướng chính phủ Liên Bang Đông Dương. 1 Tôi gặp Hoàng Mạnh Hùng, tiến sĩ, giáo sư đại học Bách Khoa. Tôi gặp Ngô Tỵ, Nguyễn Khánh Long. Tôi gặp Tổng giám đốc nhà phát hành Nam Cường. Tôi gặp Đặng Hải Sơn. Tôi gặp nhóm bạn trẻ Song Vĩnh. Tôi gặp cụ Nguyễn Đồng chăn bò làng Song Vĩnh bỗng trở thành đại phản động. Trưởng phòng 3C-1 là gã Việt cộng gốc Quảng Nam. Tôi quên họ của hắn, chỉ nhớ hắn tên Đoan. Hắn vào tù vì tội tham nhũng. Đoan tập kết trở về. Trong số các trưởng phòng tôi biết, Đoan là thằng khốn nạn nhất. Giữa hắn và tù nhân có một sự cách ly ngấm ngầm. Chúng tôi không nói chuyện với hắn. Đoan cấu kết với tên Ba, can tội vượt biên. Không khí 3C-1 căng thẳng. Hắn bắt chúng tôi thay phiên nhau đọc báo Nhân Dân và phát biểu cảm tưởng những gì mình thu hoạch. Giờ đọc báo, Đoan quan sát các tù nhân có ngủ gục. Hắn yêu cầu ngồi nghiêm chỉnh nghe báo Đảng. Những giờ hành chính, tù nhân không được nằm.
Các bạn trẻ 3C-1 thường tụ tập quanh tôi nghe “quay phim” Đông Chu Liệt Quốc, Hán Sở Tranh Hùng. Và tôi bị Đoan báo cáo là tuyên truyền phản cách mạng, bị Hai Phận gọi ra nạo dũa tơi bời. Không sao, bù lại tôi gặp Nguyễn Văn Quả, 2 binh nhì Thủy quân Lục chiến, hiền như đất, nói ngọng níu lưỡi mà dám làm phản động có đại liên, có tổ chức. Tôi yêu những người như Quả biết mấy. Đi chiến đấu là để chiến đấu. Thế thôi. Khác hẳn những ông sư đoàn trưởng Phục Quốc Quân vốn đeo lon hạ sĩ, trung sĩ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. A, tôi còn gặp Quang dù (anh ta bảo anh ta là đại úy), người thấp, ngực đầy lông, chân mang thương tích, nắm chức vụ Tư lệnh Lực Lượng Kháng Chiến thủ đô. Anh em quen gọi đùa Quang dù là ông Đô trưởng. Đô trưởng rất ham nói, dẫu nói nhăng nói cuội, và rất dễ chọc giận. Anh ta bị quân báo bắt, bị nhốt ở Tô Hiến Thành, bị đánh sưng phổi. Vài hôm quen với 3C-1, Hoàng Mạnh Hùng 3 sang chỗ tôi tâm sự còm:
– Trước ngày bị bắt, tôi định đi gặp ông?
– Làm gì?
– Mời ông xuất ngoại với chúng tôi.
– Để làm gì?
– Chiến đấu!
A, lại thêm một người mời tôi chống cộng vào lúc “trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn.”
– Chừng đi gặp ông thì hay tin ông đã bị bắt.
– Và ông cũng bị bắt.
– Không ngờ gặp ông tại phòng này.
Hoàng Mạnh Hùng du học ở Mỹ về. Anh ta đã từ chối không nhận chức thứ trưởng Văn hóa Giáo dục của chính phủ Thiệu. Quốc gia cực đoan như Duy Dân, anh ta xếp các chính phủ Việt Nam từ sau 1945 là ngụy quyền. Để tiện phân biệt, anh ta chia hai: Hà Nội phỉ quyền, Saigon ngụy quyền. Anh ta muốn chiến đấu cho một chính quyền. Và như thế, cần thiết cuộc chiến đấu phải mới, thật mới với tư tưởng mới và lãnh đạo mới. Tôi đồng ý. Chúng tôi trở thành thân. Tôi bắt đầu sống bằng ước mơ ở 3C-1. ít nhất còn một người hiểu giá trị tung hoành của ngòi bút của tôi. Tôi kể cho Hoàng Mạnh Hùng nghe “nội các” Đinh Xuân cầu. Anh ta nói:
– Cộng sản đã lưu manh hoá thị dân miền Bắc và cả nông dân miền Bắc nữa. Mỹ và ngụy quyền đã lưu manh hóa thị dân miền Nam, bây giờ, thêm cộng sản. Chúng ta phải nghĩ đến nông dân miền Nam còn chân thật mà chiến đấu. Và phải quên những thứ Trương Phiên, Bùi Ngọc Phương nhan nhản cuộc sống hôm qua, hôm nay. Tôi chỉ còn tin đám trẻ. Ông đã đi nhiều phòng giam, chắc ông đã rõ, đám trẻ hào sảng và nhiệt tình vô cùng. Họ không biết thở đài.
Tôi ghi nhận điểm son chói lọi này.
– Tại sao trước 1975 ông không tìm tôi.
– Tôi ngại!
– Ngại gì?
– Ông cao ngạo bỏ mẹ đi ấy, tìm ông sợ bị ông đồng hoá với bọn bẩn, ông chửi mất mặt. Nhiều người ghét ông vì ông cao ngạo!
– Ngộ nhận cả, ông ạ!
Chưa ai gặp tôi nói chuyện có ý nghĩa cho cuộc đời phải thất vọng về tôi hết. Người ta không gặp tôi rồi bảo tôi cao ngạo! Một lần, người ta đề nghị tôi vào ban giám khảo văn chương toàn quốc, tổng trưởng Ngô Khắc Tinh nói: “Đừng đừng, ông ta nhận không sao nhưng ông ta từ chối, ông ta sẽ chửi bới um sùm.” Toàn tưởng tượng rồi ghim thành kiến xấu. Lại một lần, có ông tướng hồi hưu muốn ra nhật báo, nhờ người kiếm tôi làm chủ bút. Tôi đặt vấn đề lương: 200 ngàn một tháng. Đáng lẽ 150 ngàn thôi. Chủ nhiệm một tuần báo đi làm thuê cho chủ nhiệm một nhật báo phải 200 ngàn. Ông tướng đồng ý. Tôi đòi trả trước 5 tháng lương. Tại sao? Vì nhỡ báo ông xuất bản được hai tháng, cao hứng ông dẹp tiệm hay cạn vốn ông dẹp tiệm, tôi mất tiếng cần gỡ tiền. Làm báo phải chịu đựng, ít nhất, sáu tháng. Ông tướng lắc đầu và bảo tôi cao ngạo. Quyền lợi hợp lý mà cũng cao ngạo à? Thêm lần nữa, ông Nguyễn Văn Bé xuất bản nhật báo Thách Đố mời tôi viết vài mục. Tôi đòi 200 ngàn một tháng, đưa trước một tháng và sẽ viết từ số 2 nếu báo của ông ta đúng lập trường tôi đã đồng ý với ông ta. Ông Bé lôi tên tôi quảng cáo om sòm. Báo Thách Đố ra số 1. Đó là nhật báo đốn mạt, tôi không viết. Đem tên tuổi tôi quảng cáo đã đủ 200 ngàn. Chưa kể tôi sẽ kiện Thách Đố để Tô Văn viết bài ký tên tôi. Có gì đâu mà cao ngạo?
– Tôi nghĩ thế.
– Bây giờ ông còn thấy tôi cao ngạo không?
– Không, với tôi.
– Dĩ nhiên là với những người đừng để tôi coi thường, bất cứ nơi chốn nào. Tôi yêu và phục tất cả những người tài năng, những người có tâm hồn. Tôi ít học, có dốt nhưng không ngu. Nói chuyện với tôi vài câu là, hoặc tôi yêu mến, hoặc tôi khinh bỉ. Tôi không cao ngạo. Ai sống có chính kiến cũng đều giống tôi. Tôi không thích làm hòn bi với triết lý ba phải. Tôi chỉ có thể là nghệ sĩ là chiến sĩ mà không thể là chính khách hay chính trị gia. Tôi không thích làm vừa lòng mọi người. Với tôi, thiện và ác rõ rệt, xấu và đẹp phân minh, dối và thật sáng tỏ. Sự lầm lẫn của tôi là yêu ai thì yêu hết mình, ghét ai thì ghét hết mình. Tôi bằng lòng sự lầm lẫn đó và trung thành suốt đời với sự lầm lẫn đó. Bởi tôi không cần ai bỏ phiếu cho tôi.
– Người ta sẽ dùng ông như một kẻ châm lửa cho một phong trào.
– Ai là người ta?
– Tuổi trẻ có tâm hồn.
– Tôi rất mong được hầu hạ những người ấy. Những người ấy có quyền cưỡi lên lưng tôi. Tôi tình nguyện làm con ngựa già nhẫn nại. Những thằng lãnh tụ khụ khị thì đừng hòng. Chúng nó có gì hơn tôi? Và chúng nó cứ ghét tôi, cứ bảo tôi cao ngạo. Tôi phục vụ cho tương lai, không cho dĩ vãng.
Tháng 6-1977, một số bạn trẻ rời đề lao đi lao động cải tạo, một số bị chuyển phòng vì chống tên Đoan. 3C-1tiếp nhận người mới, có Nguyễn Văn Mẫn bộ đội đào ngũ (anh này đã ở với tôi tại 6C-1, 7C-1) và Lê Văn Nhân, trưởng phòng thương nghiệp. Anh Nhân “30 năm đời ta có Đảng,” tập kết năm 1954, về Nam năm 1975. Anh quê Rạch Giá, hồi hương giữ chức trưởng phòng thương nghiệp thành phố Hồ Chí Minh. Vợ anh người Hà Nội, cháu nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Muốn loại bỏ thành phần tập kết, chế độ lấy lý do anh ở nhà lầu, đi xe Fiat (của gia đình ở Saigon cho), chụp lên đầu anh ta cái mũ “mất phẩm chất cách mạng”, tịch thu thẻ Đảng, khai trừ anh ta ra khỏi Đảng rồi tống anh vào nhà tù. Khi khép cửa phòng lại, Hai Phận nói với anh ta:
– Bây giờ anh đã trở thành kẻ thù của Đảng, của nhân dân, anh hết là đồng chí của chúng tôi. Anh được đối xử như mọi can phạm.
Tình nghĩa và tình cảm cộng sản đó. Những anh chị cộng sản làm dáng, làm cảnh, vừa tích cực hoạt động Hội vừa nhẩy đầm nên suy nghĩ. “Ba mươi năm đời ta có Đảng” vẫn nằm tù. Thì cái thứ cộng sản dây máu ăn phần… về quê thăm nước ra cái gì nhì? Anh Nhân có vẻ khoái tôi. Tôi thì méo mó nghề nghiệp cứ thích “phỏng vấn” can phạm Việt cộng.
– Thật sự anh can tội chi?
– Chiến chinh đã tàn, cung nỏ đốt cháy. Đấy, tội của tôi. Chúng nó muốn người Bắc nắm mọi chức vụ.
– Bác Hồ dạy “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” mà?
– Ổng nằm hòm kính rồi.
– Anh tin ai nữa?
– Hết, tôi không tin ai nữa. Có mỗi thứ để tin là Đảng, Đảng chơi quá nặng tin ai bây giờ?
Cùng với anh Nhân, một đảng viên trung kiên cũng vô cachot đối diện 3C-1. Anh này tối ngày chỉ hát hai bài và mỗi bài hai câu:
Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng Lời bác nay thành chiến thắng huy hoàng…
……..
Chưa có hôm nào đẹp như hôm nay Đất nước thanh bình lòng ta mê say
– Thằng ấy dân tập kết như tôi, anh Nhân nói.
Dân tập kết, giám đốc công ty xuất khẩu thảm Trương Văn Loan nằm ở 5 C-l, chủ nhiệm công ty ăn uống quốc doanh nằm ở 4C-1, vân vân. Anh Nhân thường để dành miếng cháy bữa chiều làm điểm tâm sáng sau. Lúc anh nhai cháy, anh nhìn tôi, nghẹn ngào hát: Chưa có hôm nào đẹp như hôm nay. Hoàng Mạnh Hùng bảo, cuộc chiến đấu mới cần mở rộng cho những Lê Văn Nhân tham dự. Họ đã thấm đòn cộng sản, họ sẽ phóng lên tuyến đầu. Tôi đồng ý. Nhưng sự đồng ý của tôi, sự gần gũi những người cộng sản đã “trở thành kẻ thù của Đảng, của nhân dân” đã làm khó chịu những người quá khích. Họ không muốn nhìn kẻ bị cộng sản khu trừ như một con người, con người đang khốn khổ như những con người trong ngục tù cộng sản, con người đang khao khát chiến đấu phục hận. Cái nhìn xa không giống cái nhìn gần. Cận thị và viễn thị khác nhau. Không giống và khác nhau tạo thành bất đồng quan điểm. Khi quan điểm bị nâng lên, sự bất đồng thay đổi triệu chứng. Cái triệu chứng khốn kiếp nhất là bôi bẩn nếu chưa quyền bính, là tàn sát nếu có quyền bính, Con người muốn sống đích thực với lòng mình thật khó. Nó sẽ cô đơn khôn cùng. Để thoát khỏi cô đơn, nó phải toa rập với đám đông thường là mê muội, độc đoán, ngu xuẩn. Thế thì con người chọn cái đích thực phải căng ra mà hứng những mũi tên tẩm thuốc độc. Hơn bất cứ ai, nghệ sĩ sáng tạo cần thiết cô đơn. Bởi vì, từ trong nỗi cô đơn, anh sẽ soi sáng được chân lý, anh sẽ dâng hiến cho đời sống những ý nghĩa mầu nhiệm về con người, về cuộc đời. Tôi bắt đầu chê bỏ thứ tiểu thuyết mua vui của các chuyên viên phơi-ơ-tông. Loại penilletonistes rỗng tuếch tư tưởng xem chừng đã lạc hậu ỏ cái thế lưu vong của chúng ta. Không thể réo gọi thời đại bằng nước mắt những cuộc tình lẩm cẩm. Cũng dễ hiểu thôi, loại này trăm năm chưa biết cô đơn là cái gì. Những kẻ ồn ào dễ a dua, toa rập. Họ cần có im lặng và bóng tối để truy nã bản thân mình.
3C-1 cho tôi nhiều suy nghĩ. Một trong những suy nghĩ của tôi là trường hợp ông Nam Cường. Vợ ông nằm vùng làm tới chức Phường trưởng. Ông vẫn đi tù. Trường hợp thứ hai không đáng suy nghĩ nhưng cũng nên nhắc: Ông Tư Bôn, giám đốc Việt Nam tổng phát hành, cậu ruột của Mai Văn Bộ, tê liệt ở đề lao Gia Định. Bộ vào thăm mà không thể xin cho cậu mình được tha. Bạn sẽ có một định nghĩa nào về tình cảm cộng sản?
Hai lạng cà-phê của chấp pháp Hà Nội tặng, uống vừa hết thì quản giáo gọi ra làm việc. Tôi chưa hết làm việc. Hồ sơ của tôi chưa kết thúc. Tôi có nhiều hồ sơ. Mỗi chấp pháp là một hồ sơ chăng? Và mỗi hồ sơ là một thời gian lao động cải tạo chăng? Chấp pháp số 10 đón tôi ở đầu khu C-1 và dẫn tôi sang khu B. Hắn ta dân Bắc kỳ, khuôn mặt lạnh lùng. Gói thuốc Vàm Cỏ và hộp quẹt đẩy sát chỗ tôi, chấp pháp số 10 nói:
– Anh hút thuốc đi rồi chúng ta làm việc.
– Tôi tưởng hồ sơ đã kết thúc.
– Bổ sung hồ sơ.
Hắn cười:
– Một sự làm việc hoàn toàn mới. Anh cần đổi không khí. Không viết tự khai nữa. Anh chán viết tự khai hả?
Tôi đáp:
– Anh thừa hiểu điều này.
Hắn nhìn tôi ranh mãnh:
– Anh có trí nhớ tốt lắm. Bản tự khai nào của anh cũng giống nhau, không sai từng dấu chấm. Anh viết… hấp dẫn vô cùng!
Nỗi khổ tự khai của một nhà văn bị còng tay vào tù ngục đã làm người Cộng sản thích thú. Tạp chí Nghệ Thuật Công An, số ra tháng 4-1981, cùng chiến dịch tái tổng càn quét ảnh hưởng văn hoá Mỹ Ngụy trên các đài truyền thanh, truyền hình, báo chí nhà nước và các buổi học tập ở đại học, trung học, phường, khóm, đã rao rêu: “Duyên Anh viết tự khai nhiều nhất. Nó viết tốn cả bó bút Bic và hàng ngàn tờ giấy”. Người Cộng sản bắt tôi viết ngày viết đêm, viết đói, viết mệt lả, dại khờ về quá trình 50 tác phẩm của tôi. Họ bắt tôi tóm tắt cốt truyện, ghi lại các nhân vật tiểu thuyết, nói rõ cá tính của nhân vật. Rồi bắt tôi phê bình tôi. Phê bình xong, họ bắt tôi trung thực tự kiểm viết theo cảm hứng nào, nhằm mục đích gì, nhận tiền Mỹ bao nhiêu. Một mặt, họ bảo tôi nguy hiểm, chống cộng tự nguyện. Một mặt, họ bảo tôi viết ăn lương CIA. Nghĩ mà bẽ bàng cho cái thân phận tôi. Bẽ bàng hơn, hôm nay, Cộng sản chưa ngớt nhục mạ tôi, có phần họ còn nhục mạ nghiệt ngã gấp bội, sau khi, tôi đã trả lời họ, trả lời một cách ngạo nghễ “Thế giới đã đọc sách của tôi”. Nhưng khi ấy không ít những thằng ngu, những con tôm, mắt mờ vì đố kỵ, hồn đục vì ganh ghét, nhận mình là quốc gia, chụp mũ Cộng sản lên đầu tôi. Tôi chiến đấu bằng chữ nghĩa. Chữ nghĩa sừng sững không thèm chối cãi. Những kẻ chiến đấu bằng mồm dễ chối cãi nhất. Những tên núp xó tối sủa bậy càng dễ chối cãi. Chúng sẽ cúi mặt: Tôi đâu có chữ để viết. Những tên núp xó tối sủa bậy đó đây, vẫn nhiều. Chúng tiếp tay Cộng sản hạ gục uy tín của những tài năng chống Cộng sản, những thủ đoạn vặt của ngụy quốc gia, đã hết hiệu quả. Tôi đã dẫm lên những hèn mọn của chúng, đi mãi không bao giờ mệt mỏi, cùng dân tộc tôi chiến đấu cho ngày mai hạnh phúc đoàn tụ, thương yêu, tự do, dân chủ.
– Chúng ta bắt đầu nhé?
– Tùy anh.
– Tôi hỏi, anh trả lời.
– Được.
– Trả lời thôi.
– Được.
– Nguyễn Cao Kỳ gọi anh làm chủ bút báo Chí Trai của Bộ Thanh Niên Ngụy?
– Không.
– Ai?
– Đỗ Tiến Đức.
Đố Tiến Đức là bạn hàn vi của tôi thuở di cư Nhà Hát Tây, Saigon. Năm 1964 cãi nhau với Tổng giám đốc Nguyễn Ngọc Tú, tôi bỏ Bộ Thanh Niên. Thời Nguyễn Tấn Hồng làm tổng trưởng, Đỗ Tiến Đức làm Giám đốc. Anh ta mời tôi giữ chức chủ bút tạp chí Chí Trai. Bị một ông nhà văn công cán ủy viên “bỏ nhỏ” chi đó, Đổng lý Trần Đỗ Cung, “vua cơm heo” gọi về Bộ trách báo ra chậm và hỏi tôi “có nghiện thuốc phiện” không. Tôi nổi giận trả lời: Tôi làm việc với Đỗ Tiến Đức và chỉ cần biết Đỗ Tiến Đức. Và tôi trả lại chức chủ bút cho Đỗ Tiến Đức. Từ đó, tôi không thèm dính dáng đến nhà nước nữa. Nhà nước động đến tài của tôi, phải chi thật nặng. Tôi lấy tác quyền của Nguyễn Văn Hảo 2 triệu viết vẩn vơ trong Hình ảnh kỉnh tế Việt Nam, còn đòi trả lại tiền lấy lại bài xé đi vì cố vấn Nguyễn Cao Hách ghi nhận xét lên bài của tôi. Tôi lấy tác quyền 2 triệu làm đặc san Cách Mạng Xanh cho Nguyễn Văn Hảo. Chính Nguyễn Xuân Nghĩa trả trước 1 triệu. Vì chưa kịp phát hành Cách Mạng Xanh thì Ban Mê Thuột thất thủ, Ngày Nông Dân bị hủy bỏ, nên Nguyễn Văn Hảo vẫn nợ tôi 1 triệu.Tôi đã trả tác quyền một bản nhạc in báo cho Phạm Duy 50 ngàn, một bài thơ cũ của Hà Huyền Chi 5 ngàn, một bài tạp ghi cũ của ký giả Lô-Răng 40 ngàn. Vân vân… Thời kỳ này, giá biểu viết phơi-ơ-tông nhật báo một tháng 15 ngàn. Ông nhà văn công cán ủy viên huyết thống cách mạng tưởng là gì ghê gớm. Cải tạo ở Kà Tum về sớm, ông ta viết một bài “vĩ đại” trên tạp chí Đứng Dậy của Nguyễn Ngọc Lan ca ngợi cách mạng tưng bừng, ông ta sắp sang Mỹ đấy. Chắc chắn, ông ta sẽ quên “Giáng sinh ở Kà Tum”.
– Chủng tôi sẽ hỏi Đỗ Tiến Đức.
– Anh cứ hỏi.
– Minh Vồ khai anh nắm hết tuần báo Con Ong. Đúng chứ?
– Đúng.
– Anh viết bài ký tên nó?
– Đúng.
– Nhất định đúng, văn của anh dễ nhận và Minh Vồ viết lý lịch mình không nổi. Miền Nam có nhiều chủ báo lạ nhi? Tự do thật, tự do ngu dốt.
– Anh hỏi và tôi trả lời.
– Tôi được bình luận, anh thì không.
– Anh có đủ quyền hành.
– Anh thích thi sĩ nào?
– Hoàng Anh Tuấn.
– Tại sao?
– Vì nó làm thơ xong là vất đi.
– Anh đã viết trong cuốn Lứa tuổi thích ô mai. Anh không thích thi sĩ cách mạng?
– Tôi chưa đọc.
– CIA đỡ đầu anh viết cuốn Điệu ru nước mắt hả?
– Không ai đỡ đầu cả.
– Không có CIA đỡ đầu mà anh dám viết bạo và được xuất bản à?
– Do Sở Phối Hợp Nghệ Thuật cho phép.
– Do CIA
– Cũng được, tùy anh.
– Anh nhận tiền của ai viết Bò sữa gặm cỏ cháy?
– Của nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng.
– Anh âm mưu “trồng người” chống chúng tôi. Cuốn này nguy hiểm nhất, ác độc nhất.
Nguy hiểm nhất, ác độc nhất đối với Cộng sản, Bò sữa gặm cỏ cháy của tôi. Thế mà nó đã bị om ở Phủ tổng thống mấy tháng, bị tự ý kiểm duyệt. Và chẳng đứa nào của chính phủ Nguyễn Văn Thiệu đọc cả. Tôi nhớ buổi tiếp tân của Nhã Ca ở Trung tâm Văn Bút Việt Nam nói về cuốn Vi ơi, bước tới mà Barry Hilton sẽ dịch sang Anh Ngữ. Bấy giở, Phủ đặc trách văn hóa được trao vào tay nhà khuyến lệ cổ ca Đỗ Văn Rỡ. Linh mục Thanh Lãng đã nồng nhiệt giới thiệu tôi với ông già Đỗ Văn Rỡ. Ông ta đưa cho tôi tấm danh thiếp, mời tôi ghé Phủ của ông ta đàm đạo văn hóa. Tôi bèn hỏi: “Thế ngài đã đọc cuốn sách nào của tôi chưa”? Rất thành thật, nhà văn hóa đáp: “Chưa!” Tôi bèn gửi lại nhà văn hóa cái danh thiếp của ông ta. Làm văn hóa mà chỉ biết khuyến lệ cổ ca Nam phần thì hỏng quá! Rốt cuộc, nhà văn vào tù. Và tôi viết Bò sữa gặm cỏ cháy cho… Cộng sản đọc. Để họ kết án tôi nặng nề.
– Anh yên tâm, Nguyễn Văn Thiệu không đọc đâu.
– May là nó không đọc. May là nó coi thường tác dụng mãnh liệt của văn nghệ. Nếu không, chúng tôi còn phải hy sinh nhiều nữa, gian khổ nhiều nữa. Thằng Thiệu ngu. Anh cũng ngu. Anh giai cấp vô sản lại viết sách dạy ngụy quyền huấn luyện nhi đồng thành giai cấp tiểu tư sản.
Một sự làm việc hoàn toàn mới của chấp pháp số 10 đấy. Nó chửi rủa tôi ngu. Mà tôi không dám chửi lại nó. Mà ai dám chửi lại nó, ở địa vị một tù nhân như tôi? Tôi có thể viết, hôm nay, những trang rất hào hùng của người quốc gia trong ngục tù Cộng sản. Ở tiểu thuyết thôi và chỉ xẩy ra với bầy sư tử lãng mạn. Cá nhân tôi, lặng thinh nghe chúa ngục Cộng sản chửi mình, không lạy nó đừng chửi mình, đã khá rồi. Cứ ba hoa nói phét mình chửi lại, mình ăn thua đủ thì không khá. Và mình sẽ xấu hổ, nếu mình còn liêm sỉ. Lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh đã thú nhận ở tù, ông bị dắt đi như trâu bò. Tôi đã hân hạnh gặp những người Cộng sản trung kiên bị nhốt tại quân lao Nha Trang, hồi ông Lê Khánh làm tỉnh trướng Khánh Hòa. Nhân vụ giáo sư Trần Vinh Anh bị một thí sinh tú tài đâm chết. Tôi phải đóng vai ủy viên Quân đoàn 2 vào thăm quân lao để phỏng vấn mấy cậu học trò tạm nhốt ở đây. Vậy thì ông ủy viên rởm thăm một phòng nhốt Cộng sản. Tù nhân Cộng sản đứng nghiêm răm rắp. Ủy viên rởm vẫy tay chào. “Anh em ngồi xuống”. Cộng sản ngoan ngoãn ngồi. “Anh em đang làm gì vậy”? Lãnh tụ tù Cộng sản đáp: “Thưa, chúng tôi đang học tập chính nghĩa quốc gia ạ”! Phải biết sau 30-4-75, vị lãnh tụ tù này sẽ nói phét đấu tranh trong ngục tù Mỹ Ngụy dường nào. Tôi là nhà văn. Tôi trung thực. Tôi viết đúng vì, có lần, theo sự đổi đời, tôi đã đứng nghiêm trong một nhà giam chào đón một cán bộ trung ương. Và Trưởng phòng của tôi đã nói: “Thưa chúng tôi đang học tập cái thế tất thắng của cách mạng ạ”! Bạn ơi, ở tù nào cũng khổ. Ở tù Cộng sản khổ hơn, dĩ nhiên. Bạn phải nhịn nhục cả những đứa không đáng gì. Theo tôi, biết nhịn những kẻ mạt hạng mới là thái độ anh hùng, thái độ kẻ cả. Bạn đừng hy vọng, ở tù Cộng sản, bạn được bầy tỏ lòng can đảm với Trường Chinh, Phạm Văn Đồng. Ở tù Cộng sản chỉ có một cách chết là chết dưới lỗ chân trâu. Những ai muốn tìm cho mình một cách chết xứng đáng với sự chịu đựng thống khổ, đều khước từ cái chết ở lỗ chân trâu. Và muốn thế, người ta phải thẩm thấu triết lý sống chết, phải soi sáng trí tuệ vào oan khiên, phải hiểu tận cùng rằng “có một thời im lặng và một thời lên tiếng”, phải biết “xếp tàn y lại để dành hơi”.
Chấp pháp số 10 khoái “bình luận”. Hắn chuyên chế… bình luận.Thằng này ham chửi rủa.
– Anh đã gài mìn?
– Tôi đâu biết gài mìn.
– Chính anh gài mìn khúc đường Trung Lương – Cai Lậy. Anh bịa đặt, đổ vạ cho Cộng sản hại dân lành.
Hắn muốn đề cập cuốn Hưng Mập.
– Anh đầu độc tâm hồn thiếu nhi nông thôn.
Tôi nhiều tội quá. Mỗi cuốn sách của tôi là một trọng tội. Tôi có cảm tướng, chấp pháp số 10 bổ xung chấp pháp số 7. Một đứa bắt tôi viết, một đứa bắt tôi nói. Tôi bị chấp pháp số 10 quần thảo năm ngày về sách rồi về báo. Hắn chửi tôi kỹ nhất thời gỉan tôi cộng tác với nhật báo Xây Dựng.
– Những tờ báo có tiếng nói là những tờ báo chống cộng có trọng lượng. Xây Dựng có hậu thuẫn rõ rệt. Nó đã tạo đoàn kết thiên chúa giáo vụ Đặng Sĩ. Nó đã lãnh đạo vụ đuổi cổ thằng Cabot Lodge. Rồi nó cấu kết với hết Kỳ Loan lại cấu kết với Thiệu Bình.
Tôi không tin nhật báo Xây Dựng có trọng lượng ghê gớm thế. Nhưng cá nhân ông chủ nhiệm của nó, linh mục Nguyễn Quang Lãm, là người thích bám nhà cầm quyền. Như một số linh mục Bùi Chu, Phát Diệm, kẻ khoái làm giầu như ông Trần Đức Huynh, kẻ ham chính trị như ông Hoàng Quỳnh, ông Lãm mê giật giây thống trị và làm đảo điên thống trị. Bước đầu mon men làm quen nhà cầm quyền của ông Lãm là mấy chai rượu lễ nhờ ông Minh Vồ biếu ông Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia Phạm Văn Liễu. Ông Liễu không ưa cần Lao nhân vị cách mạng đảng, không ưa cố đạo, ông đã cho tôi uống hết. Ông Lãm chống ông Liễu, ông Thi và nhờ vậy, rất thân với ông Loan, ông Kỳ. Vụ Mậu Thân 1968, nhà ông Lãm có máy truyền tin do ông Loan cấp để theo rõi báo cáo tình hình. Ông Kỳ, ông Loan thất thế, ông Lãm tìm đường đến ông Thiệu, ông Bình. Bị chê, ông ta chống Thiệu dữ dội. Ông Lãm đã xúi dục hàng Giáo Phẩm chống ông Phan Huy Quát, ông Bùi Diễm, ông Lãm đã gài Mặc Giao vào quốc hội. Vân vân…. Không oanh liệt như linh mục Thanh Lãng có quyền chỉ định Tổng trưởng, nhưng ông Lãm đã là con lươn của chính trường Saigon một thuở. 1-5-1975, ông xuất bản nhật báo Xây Dựng 2 trang chửi gỡ Nguyễn Văn Thiệu lập công với Cộng sản. Bị cấm ngay, cả hai ông Lãng và Lãm đều không bị Cộng sản bắt. Chỉ có bọn đã viết báo Xây Dựng bị nằm tù, bị viết tự khai, bị hạch hỏi về báo của ông Nguyễn Quang Lãm.
– Báo Xây Dựng trả anh nhiều tiền lắm, phải không?
– Báo nhà chùa và báo nhà chúa bóc lột nhất nước.
– Tôi không tin nó bóc lột anh.
– Tùy anh. Tôi đã từng bỏ Xây Dựng sau một lần tranh đấu lương tháng 13 cho anh em thất bại.
– Anh đã lĩnh lương tháng… 14?
– Tháng 20. Không có nhà văn nào “ăn khách” mà không biết yêu sách chủ báo. Tôi yêu sách đúng công lao của tôi, tôi không để bị bóc lột.
– Báo nào anh lĩnh lương nhiều nhất?
– Công Luận.
– Bao nhiêu mỗi tháng?
– Hai trăm ngàn, tiền giá năm 1968.
– Cả công viết hồi ký bố láo cho thằng Đính?
– Phải.
Quay tôi tít con mòng mòng về văn, về báo, hắn hỏi tội tôi viết bình luận ở Đài Saigon giáo dục Cảnh Sát công lộ thời Phạm Văn Liễu.
– Bao nhiêu tiền một bài đọc 5 phút?
– Năm ngàn.
– Anh viết bao nhiêu bài?
– Bốn.
– Tại sao nghỉ?
– Vì ông Phạm Văn Liễu kêu đắt và vì tôi không chịu ký tên Ổi, tên Xoài lĩnh tiền.
– Tại sao?
– Tôi bán bài đọc trên đài phát thanh, không bán tin tức mật.
– Liễu cho anh những gì?
– Cái máy đánh chữ Remington trước khi ông ta tử chức.
Vụ giao du với Phạm Văn Liễu, Phạm Huy sảnh, Nguyễn Hoàng Đạt, tôi không khai mà chấp pháp số 10 biết rõ ngọn ngành. Tôi biết người khác đã khai. Cho nên, những gì đã trở thành sự kiện, bạn đừng hòng dấu diếm công an, bất cứ công an của chế độ nào. Bạn chỉ có thể dấu kỹ tư tưởng và ước mơ của bạn.
Sau mười ba ngày làm cái chong chóng trước gió chấp pháp số 10, tôi bị bỏ rơi. Hai Phận thay đổi vài sinh hoạt ở các phòng giam C-1. Hắn bắt tù nhân điểm danh hai lần một ngày. Có hàng ngàn chuyện xẩy ra giữa các tù nhân. Vì khốn quẫn. Vì tù túng. Vì dồn nén. Vì bệnh hoạn. Vì tuyệt vọng. Toàn là những “chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên”. Tù nhân “con bà phước” – những người không được thân nhân tiếp tế thực phẩm, thuốc men – được phát một bộ quần áo tù may bằng vải sô và… một cái hột gà tươi duy nhất! Thế thôi, đã đủ kèn cựa và bóng gió sỉ nhục nhau.
Thấm thoát, tôi nằm đề lao Gia Định đã 6 tháng. Đầu năm 1977, hai phần ba văn nghệ sĩ và ký giả giam nhốt rải rác các phòng bốn khu được tập trung tại khu A học tập một tháng để được thả về ăn Tết. Vào thời gian này, tự nhiên, điều tôi mong muốn đã tới: Tôi bị tống vào cachot khu B không lý do báo trước. Tôi thích được biệt giam. Tôi chán sống chung đụng với tù nhân ô hợp đủ tội trạng. Nhưng hạnh phúc đời tù thật ngắn ngủi với tôi. Được đúng hai tuần, tôi ra phòng tập thể 5 C-2. Ở đây, tôi gặp Đoàn Kế Tường và linh mục Thiên, Dòng Chúa Cứu Thế. Ở đây, tôi biết, đối diện phòng tôi là cachot nhốt luật sư Vũ Đăng Dung, thủ lãnh luật sư đoàn Huế. Cạnh luật sư Dung là cachot nhốt một tử tù vụ đánh cướp nhà băng quốc doanh gây sôi nổi ở đại lộ Hàm Nghi. Ở đây, tôi biết Võ Long Triều, Nguyễn Ngọc Tân (Bẩy Bốp, Phạm Thái) học tập cải tạo trở về đã bị bắt lại và đang nằm chung với hai cuốn tự điến Như Phong, Lâm Văn Thế. Nguyễn Ngọc Tân cũng là… tự điển Đại Việt, người Xứ ủy miền Nam này đã ra Hà Nội làm việc ở căn nhà phố Hàng Quạt, nơi Hồ Chí Minh viết Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945; người Xứ ủy này đã chiến đấu tại chiến khu Nam Ngãi, đã bị lưu đầy thời ông Diệm. Tôi ở 5 C-2 có bốn ngày, được Hai Phận vĩ đại “giáo dục” một bài học nhân vụ linh mục Phạm Minh Thiện “làm lễ” trưa chủ nhật với đám con chiên bị ngay con chiên ghẻ tố cáo.
– Trong tù không có thánh, chẳng có thần. Thần tượng của các anh là chấp pháp. Nói cho các anh rõ, Chúa Giêsu nằm tù, tôi cũng còng tay tống cổ vào cachot.
Hai Phận biểu diễn quyền uy Cộng sản. Bạn cần suy nghĩ câu nói của Hai Phận vĩ đại. Và bạn sẽ nhận diện những vị anh hùng tù ngục Cộng sản thoát ra ngoại quốc ồn ào. Một trong những vị anh hùng phét lác ấy là Đoàn Văn Toại, người đã làm… kiến nghị và lấy chữ ký của hàng trăm tù nhân!
Bốn ngày ở 5 C-2 chưa quen hết tù nhân, tôi bị trở lại 1 C-1. Rồi vừa mới treo xong hành lý, tôi lại được gọi: “Vũ Mộng Long, chuẩn bị rời phòng. Khẩn trương”. Tôi sang 3 C-2 với Nguyễn Hữu Miên. Ở đây, tôi gặp nhóm Trịnh Hùng Dần, Thịnh, Dũng cận và Mai Viết Dũng vượt biên đường bộ bị bắt tại Quảng Trị. Các bạn trẻ kể tôi nghe những nhà tù dọc quốc lộ số 1. Ở đây tôi gặp người anh kết nghĩa Khai Trí. Ở đây, thú vị nhất, tôi gặp Lê Xuyên và Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh. Chức sắc của 3 C-2 nghiêm chỉnh, đúng ý Nội quy. 3 C-2 không có can phạm hình sự. Đa số là can phạm vượt biên. Khu C-2 bí hơn C-1. Tường xây sát khít mái tôn, bít kín lối vào của dưỡng khí. Thời gian này, đề lao tiếp nhận thêm can phạm từ các quận gửi tới. Con số tù nhân ở mỗi phòng trên 50. 50 ổ bánh mì trong lò. 50 con cá mòi trong hộp sắt.
Tôi được an ủi nhiều nhờ nằm cạnh Lê Xuyên. Tác giả Rặng trâm bầu đã nằm đề lao Gia Định thời cách mang Nhân Vị. Anh bị ông Diệm bắt về tội Đại Việt và tuần báo Tự Quyết. Người quốc gia bắt nhốt người quốc gia. Cần Lao bắt nhốt Đại Việt. Bây giờ, Cộng sản bắt nhốt hết. Ra tù cách mạng Nhân Vị, Lê Xuyên viết Chú Tư Cầu trên nhật báo Saigon Mai sau chính biến 1960. Anh nổi tiếng từ đó. Và từ đó, anh mưu sinh bằng nghề văn, nghề báo, rời bỏ chính trị. Lê Xuyên hiền lành, thành thật, ít nói và… nhút nhát, khác hẳn những sôi nổi tình dục trong tiểu thuyết của anh. “Văn là người”, câu này không đúng với trường hợp Lê Xuyên. Nó đã chẳng đúng với trường hợp Vũ Trọng Phụng. Nó không đúng với nhiều nhà văn Việt Nam. Lê Xuyên dạy tôi bài học này: “Công việc là công việc. Bất cứ công việc nào, ở bất cứ đâu, một là không thèm làm, khước từ nó đến nơi đến chốn hoặc là làm việc đến nơi đến chốn. Đứng nghĩ ai giao phó công việc, hãy nghĩ việc làm. Việc nhỏ, việc bị cưỡng bức làm chu đáo sẽ làm nổi những việc lớn, những việc tự nguyện”. Lê Xuyên đã trung thành với lời anh nói. Anh là người thư ký toà soạn mẫn cán nhất, gương mẫu nhất Việt Nam: Đến sớm, về muộn, bám sát toà soạn. Anh là người tù biết sống đời tù: Thà ngồi bó gối dựa lưng, không nằm ngủ; trực sinh lau rửa cầu tiêu sạch nhất phòng. Kẻng báo thức sáng, Lê Xuyên dậy giũ chiếu đợi trực sinh quét bục nằm. Rồi anh tắm gội. Và ngồi bó gối. Lê Xuyên chỉ nằm vào giờ ngủ, dẫu không ai bắt anh ngồi- Anh vấn thuốc rê bằng giấy báo, hút liên miên. Người tù thản nhiên Lê Xuyên không bao giờ thở dài, không hề nôn nóng ngày thăm nuôi. Nhận quà sớm, anh bảo “Vợ tôi thắng bài bữa nay”. Nhận quà muộn, anh bảo “Vợ tôi thua bài bữa nay”. Luôn luôn, chú Tư Cầu nhận quà vào giờ chót.
– Nó bắt anh làm việc chưa, Lê Xuyên?
– Nó quên tôi rồi.
Tôi kể cho Lê Xuyên nghe chuyện làm việc của tôi. Anh lắc đầu:
– Ông bị… sao vàng chiếu kỹ. Từ ngày bị bắt, nó chưa gọi tôi lần nào.
– Tự khai?
– Chưa.
– Chụp hình, lăn tay?
– Một lần, bên Sở. Nó bảo tôi viết lý lịch. Thế thôi.
Lê Xuyên không thắc mắc. Cuối tháng 1-1977, tôi tạm biệt anh, chuyển phòng. Cuối tháng 9- 1981, hay tin tôi được tha, vợ chồng Lê Xuyên đến thăm tôi. Hỏi chuyện cũ, anh kể:
– Ngày các ông sang Chí Hoà, tôi biết. Sau ngày đó, Hai Nghiêm gọi tôi ra. Nó hỏi tôi: “Anh viết bao nhiêu cuốn sách”? Tôi nói tổng số. Nó dọa tôi: “Mỗi cuốn sách của anh là 2 năm tù, anh về suy nghĩ đi”! Tôi về. Hôm sau, tôi nhận Giấy ra trại. Ông thấy ly kỳ chưa?
Ly kỳ thật. Nhưng đó là chuyện 1981. Chúng tôi đang ở 3C-2 tháng 1 năm 1977. Người buồn bã đến rã rượi là Nguyễn Viết Khánh, nguyên Tổng thư ký Việt Tấn Xã, chuyên viên bình luận thời sự quốc tế. Anh ta đã cai thuốc phiện từ lâu và hút lại từ 1-5-1975 và yêu cô học trò báo chí. Anh giã từ cả Phù Dung tiên nữ lẫn người tình cuối đời mà vào tù cởi trần mặc xà lỏn, ăn cơm hẩm với canh rau muống già nấu với muối. Nguyễn Viết Khánh người không bao giờ sang được nước Mỹ, vẫn cay cú cái danh sách nhà văn, nhà báo xin di tản lập tại Usis Saigon đã lọt vào tay Sở Công An. Và Hai Nghiêm đã cầm danh sách đó, chỉ mặt từng nhà văn nhà báo mà hắn làm việc mà kết tội tay sai của CIA. Để quên rã rượi, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh “quay phim” cho anh em nghe. Nghề này của Hoàng Anh Tuấn 1. Anh Khánh đọc nhiều truyện khoa học giả tưởng, anh kể rất hấp dẫn. Với tôi, anh thuật những kỷ niệm, những cuộc tình của anh ở Nhật, ở Saigon.
Người sầu não vẫn là Khai Trí Nguyễn Văn Trương. Anh ta gửi mua cả quầy chuối treo sát tường. Vốn cao lớn và hơi hơi gù, anh ta giống con gấu. Khai Trí dựa lưng vào tường, quầy chuối trên đầu anh, chân anh duỗi dài, tav anh chống bục nằm. Sức nóng của phòng giam làm chuối mau chín. Và chuối đã lần lượt rụng xuống bụng anh khi anh nhắm mắt. Cái nghĩa của phù ảo được sáng tỏ ở đây. Chuối rụng mà trái sầu vẫn xanh. Vương Khải vào tù. Thạch Sùng vào tù. Thiên hạ còn kèn cựa nhau, còn bước qua xác nhau làm giầu, chẳng bao giờ nghĩ cái bất ngờ 30-4-1975 không hứa hẹn chỉ một lần trong đời sống.
Người ta đã thả hai phần ba nhà văn, nhà báo bị bắt trong chiến dịch 2-4-1976 về ăn Tết Giải Phóng năm thứ hai. Những người còn nằm lại:
Doãn Quốc Sĩ Như Phong Lê Xuyên Nguyễn Mạnh Côn Trịnh Viết Thành Tô Ngọc Đằng Giao Trần Dạ Từ Nguyễn Hải Chí Hồ Văn Đồng Thái Thủy Mặc Thu Thanh Thương Hoàng Mộc Linh Duyên Anh Thế Viên Nguyễn Sĩ Tế Nguyễn Viết Khánh Mai Đức Khôi
Cùng với tin vui này, nhóm Trịnh Hùng Dần và Nguyễn Hữu Miên đi lao động cải tạo. Chế độ bắt thêm Hoàng Hải Thủy, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thụy Long. Thủy có mặt ở cachot khu B. Toàn có mặt ở 4 C-2. Long bị nhốt ở nơi khác. Tôi lại bị tống về 1 C-1. Bây giờ, 1 C-1 hoàn toàn mới với các tù nhân mới tôi chưa từng ở chung phòng. I C-1 với tôi nhiều duyên nợ. Về 1 C-1 lần này, tôi gặp gỡ nhiều khuôn mặt. Hoàng tử cachot đề lao là Dương Đức Dũng, trung úy, sĩ quan báo chí Quân đoàn 4, khước từ diện học tập cải tạo, thành lập nhóm chống cách mạng với Đoàn Kế Tường, Lương Việt Cương, có cụ Phan Vô Kỵ cố vấn. Nhóm bị Đỗ Hữu Cảnh, luật sư, bạn thân của Dương Đức Dũng lùa vào với Mai Chí Thọ trọn ổ.
Dũng kể cho tôi nghe những cachots, những kiểu còng anh ta đã chịu đựng. Anh ta biết” tôi là… Bộ trưởng (!) của “nội các” Đinh Xuân Cầu”. Tôi không muốn làm anh ta thất vọng nên im lặng chuyện tôi bị Trương Phiên bịp. Ngoài Dương Đức Dũng là vô số sinh viên, học sinh can tội phản động. Được sống với họ rất thú vị. Tôi chợt nẩy mầm mơ ước viết về họ, mai này. Những Đặng Cơ Bản, Ngô Tỵ, Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Khánh Long, Hoàng Sơn Trường, Đinh Cường… Tôi nằm cạnh nhà tỷ phú Phạm Quang Khai với ông cháu không thích ông bác chúa tầu. Có thêm “giáo sư” hồi chánh Phạm Thành Tài và người Cộng sản nằm vùng mất phẩm chất Nguyễn Văn Nha ở 1 C-1.
Thời gian này, Doãn Quốc Sĩ đã chuyển cachot. Cachot số 1 khu C-l nhốt Nguyễn Việt Hưng. Từ cachot 1 đến cachot 7 dành riêng cho can phạm vụ Vinh Sơn. Ali Hùng nằm cachot số 3. Đinh Xuân Cầu bị xích chân, còng tay “trụ trì” cahot số 8.
Tôi ăn Tết Giải Phóng năm thứ hai tại 1C-1. Năm ngoái, các bạn trẻ kể, ngày mồng một, đề lao cho phép tù nhân đi các khu chúc tụng nhau. Các bạn trẻ đã ôm đàn guitare hát những bản chính huấn 2 nuôi chí phục hận. Rút kinh nghiệm, năm nay, khu nào gặp khu ấy và cấm đàn, cấm hát, cấm chào cờ… Cửa gió cachot mở hết. Vệ binh ôm súng canh ở đầu khu. Tù nhân được tự do trò chuyện 10 phút. Tôi đã lợi dụng lúc ồn ào, tấp nập, “mừng tuổi” ông Đinh Xuân Cầu 10 đồng và cho ông ta biết tôi đã gặp mặt Trương Phiên, ông Cầu xin lỗi tôi. Ông bảo Trương Phiên đã được thả và quả là nó đã bịp nhiều người. Tôi lại có phen đi chống Cộng với một anh ngây thơ và một thằng bịp trong hoàng hôn chống Cộng. Từ đấy, tôi nghi ngờ tất cả những hạng lãnh tụ chống Cộng già nua. Ở bất cứ nơi nào họ tá túc trên trái đất, họ nên chấm dứt cái “sứ mạng” của họ đi. Họ đã trải dài cái “sứ mạng” mọc rêu của họ ròng rã mấy chục năm, rốt cuộc, Đất đã ủng và Nước đã tù. Họ đầy rẫy mặc cảm thua kém Cộng sản và đầy rẫy tội lỗi, tội ác với dân tộc, nên rút vào bóng tối. Cuộc chiến đấu tiêu diệt chủ nghĩa Cộng sản giải thoát quê hương hôm nay phải là của tuổi trẻ, của sư tử sừng sững, không mảy may tự tị mặc cảm khi đương đầu kẻ thù, không mảy may tội lỗi với tổ quốc. Phải để mặt trời tuổi trẻ đốt cháy dĩ vãng bệnh hoạn, mở đường tương lai cho dân tộc. Và tuổi trẻ cần phóng lên phía trước, cần nắm chặt vận mệnh đất nước mình. Giờ cáo chung của lãnh tụ già đã điểm hồi 10 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tuổi trẻ không đuợc phép để bị lãnh tụ khốn kiếp lửa gạt niềm tin, bịp bợm thiện chí. Tuổi trẻ phải biết phóng lên bầu trời những tín hiệu chống Cộng mới. 1986 năm trước, Jesus đã phán: “Cỏ dại chỉ phá hại mùa màng. Thì nhổ hết lên mà đốt để có mùa gặt hái tốt”. Cỏ dại chính là bọn lãnh tù già nua chống Cộng của nước Việt Nam. Họ không có kinh nghiệm gì cả. Kinh nghiệm của họ là chạy dài chạy dài, chạy dài từ 1945 đến 1975. Những kẻ chưa một lần thắng, không có quyền nói kinh nghiệm thua, Nhưng có một thứ kinh nghiệm bịp! Đã đến lúc tuổi trẻ làm mũ đội lên đầu mình chưa? Hay vẫn cứ thích làm guốc cho lãnh tụ cỏ dại?
Tôi về phòng nằm dài suy nghĩ về sự “xin lỗi” của ông Đinh Xuân cầu. Tôi bỗng khen tôi có mấy câu thơ hay trong bài thơ dài mà tôi không nhớ hết. Đại ỷ của bài thơ 3 “Thằng bé tôi nhà quê, mong Tết để có nhiều tiền mừng tuổi. Thằng bé mặc quần áo mới lên đình chơi xuân. Gặp chiếu bầu cua tôm cá. Nhập cuộc. Bị cò mồi dụ vào cửa của nó. Thằng nhỏ rồi cháy túi. Thằng bé lớn lên, học đòi làm chính trị. Bị cò mồi vét cạn niềm tin. Tôi khen tôi để vỗ về tôi:
Tổ guốc mình đó em Anh đi làm lịch sử Với bọn cò mồi hèn Thấy thiên đường đổ vỡ Anh còn gì đâu em Anh còn gì cho em
Cái “Còn gì” chỉ là niềm bất mãn chung thân tạo ra những ngộ nhận khiến vàng vọt tâm sự, hắt hiu đời mình.
Cái chết của Sonny Corleone làm giới giang hồ Mỹ rúng động. Nghe tin Ông Trùm Corleone bình phục, đích thân điều khiển công việc và mấy thằng đi đám tang về báo cáo lại là ổng hoàn toàn khoẻ mạnh thì các thủ lãnh Ngũ đại gia đình cuống quýt lo thủ thế sẵn. Thế nào Vito Corleone chẳng trả thù, cho đổ máu lớn? Làm sao dám coi thường một tay bản lãnh ghê gớm cả đời chỉ lầm lỡ vài lần mà mỗi lần đều là một dịp học tập kinh nghiệm. Riêng mình Hagen hiểu ổng nên chẳng lấy làm ngạc nhiên khi thấy ổng cử sứ giả đi cầu hoà. Không những chấm dứt chiến tranh mà thôi, ổng còn đề nghị một buổi gặp gỡ tất cả các Ông Trùm Nữu-Ước, có đại diện các phe nhóm anh em toàn quốc về dự họp và chứng kiến. Vụ chiến hay hoà của các cánh Nữu-Ước có ảnh hưởng đến sinh hoạt chung của giới giang hồ toàn quốc nhiều lắm chớ? Mới đầu thiên hạ nghi ngờ: Vito Corleone dám giương bẫy lớn, hốt một lần trọn ổ… để tàn sát tập thể báo thù cho con lắm chớ? Hay lão cố tình làm cho mọi người lơ là thế thủ? Nhưng không lâu, họ biết cánh Corleone thành tâm. Triệu tập hội nghị toàn quốc đã dành, họ không chuẩn bị thuộc hạ mà cũng không kiếm thêm đồng-minh nữa. Chừng có tin Ông Trùm Corleone chính thức đánh tiếng nhờ cánh Bocchicchio đứng ra bảo đảm và phe này hoan hỉ nhận lời thì không một ai dám nghi ngờ, hó hé gì hết. Cầu hoà mà có cánh Bocchicchio đứng ra chịu trách nhiệm thì thiện chí hẳn phải có chắc rồi! Vì đứng trung gian hoà giải là nghề của gia đình Bocchicchio. Hồi còn ở Sicily, cánh này dữ nhất, đáng sợ nhất. Xưa làm ăn dữ bao nhiêu giờ đây sang Mỹ họ làm lành bấy nhiêu. Xưa giết người ăn tiền bây giờ họ sống về nghề hoà giải. Cánh Bocchicchio thì trăm người như một, đụng đến một đứa là cả trăm mạng vì tình máu mủ nhâu nhâu xông tới, ăn thua đủ. Cổ lệ của cánh này là trai gái lấy người trong họ, thừa ra mới đến người ngoài mà? Hồi nghèo mạt, ba đời nhà Bocchicchio có lúc đã có tới gần hai trăm tay súng, ngự trị một khoảnh đất nho nhỏ miền Nam Sicily. Ngần ấy con người chỉ trông vào bốn năm lò xay bột, nhưng được cái không lo thất nghiệp, không lo đói. Ở giang sơn của họ có thằng nào được phép mở lò xay bột? Đào giếng đổi nước cũng là độc quyền của dòng họ Bocchicchio luôn. Có lần một lão địa chủ thần thế, giòng họ quý phái ỷ của đắp đập mở một lò xay bột nho nhỏ chỉ để nhà xài. Lập tức lò bị thiêu rụi. Nhà địa chủ ức quá mang việc đến cửa công, quan trên bèn tống giam 3 thằng Bocchicchio một lượt. Coi, phiên toà chưa lập án chưa xử thì cả một toà nhà hương hoả đã ra tro. Còn thưa kiện gì nữa? Sau đó ít lâu, dân Sicily kêu ca nước uống quá hiếm hoi nên nhà cầm quyền trung ương La Mã cử một chuyên viên cấp tối cao đến nghiên cứu tình hình tại chỗ. Đắp một cái đập thật lớn để ngăn nước, chứa nước thì đẹp quá, dân đảo tha hồ có nước xài! Làm gì chính quyền trung ương chẳng biết dân sở tại thuộc loại quá dữ, đầu bò đầu bướu hơn đâu hết? Cánh nhà Bocchicchio chớ ai? Chúng ngó lom lom mấy ông kỹ sư nghiên cứu địa thế và lập hoạ đồ. Mấy ông nhà nước rét quá, trung ương lại phải cử mấy đội sen đầm sang cắm trại tại chỗ để bảo vệ an ninh. Công việc tiến hành đều. Thế nào chẳng xây đập nay mai, bao nhiêu dụng cụ từ tàu rỡ xuống đã chất đầy bến Parlermo mà? Nhưng dụng cụ chở tới thì dụng cụ nằm đấy! Cánh Bocchicchio đã kêu gọi các anh em Mafia địa phương giúp đỡ: dụng cụ nặng thì phá hoại, nhẹ thì “thổi” bay không còn một món: Bọn dân biểu Quốc hội gốc Mafia đổ xô vào công kích, cản trở, phá hoại dự án. Nhất định không thông qua. Cứ dai dẳng bao nhiêu năm cho đến ngày Mussolini lên cầm quyền. Nhà độc tài tuyên bố hách: phải tiến hành công tác xây đập, phải thực hiện xong với bất cứ giá nào. Sức mấy! Mussolini biết dung túng Mafia là chế độ dám lâm nguy, quyết thanh toán tận gốc. Bèn trao đặc quyền cho một tay tổ Cảnh sát, để duy trì an ninh trật tự trên đảo có toàn quyền bắt giam giữ bất cứ ai, cứ khả nghi là có quyền tống vô trại lao công cưỡng bách, cho đi đập đá ngoài đảo chết bỏ! Quả nhiên chỉ mấy năm là Mafia hết đất sống… vì cứ tình nghi mafioso cũng đủ tù nát xương. Biết bao nhiêu gia đình lương thiện bị hại lây vì đợt khủng bố liên miên đó! Để chơi lại Mussolini, cánh Bocchicchio quyết định lấy trứng chọi đá. Chết hết cũng chọi. Không chết hết, nhưng ngã gục tại trận cỡ một nửa. Còn một nửa dĩ nhiên… đi đập đá. Tụi nó chơi hăng đến nỗi còn ít thằng sống sót, các phe nhóm anh em phải thu xếp đưa bằng được qua Mỹ lánh nạn lập nghiệp, nhờ đường dây chở lậu di-dân ngả Gia-Nã-Đại. Sang được đất Mỹ thì cánh Bocchicchio vỏn vẹn lớn nhỏ còn cỡ 20 mạng. Bèn gom vào một chỗ, cắm dùi trong một thị trấn nhỏ, khoảng thung lũng Hudson gần Nữu-Ước. Nghèo đói khốn khổ đến như cảnh này là hết mức. Có ai ngờ tà tà làm một cái nghề không ai thèm làm là đổ rác mà cánh Bocchicchio lên hồi nào không hay. Cả một cơ sở thầu hốt rác, chế biến rác và xe đổ rác có hàng toán! Thấy nghề ngon ăn dĩ nhiên nhiều thằng nhào vô. Chừng ra xe nào bị đốt tiêu xe ấy mới rét hết và rút lui lẹ lẹ. Có một thằng ngon nhất dám đương đầu, dám hạ giá thầu rác thì một hôm biến đâu mất tích. Tìm mãi mới ra một đống thịt băm vùi trong đống rác mà nạn nhân vừa thầu về. Làm ăn được thì họ Bocchicchio trai dựng vợ gái gả chồng. Cứ gốc Sicily là xong chớ… đào đâu ra đủ số Bocchicchio? Ít năm sau nhân số tăng gia, nghề rác tuy vẫn dư ăn nhưng theo đà phát triển, theo nếp sống văn minh cũng phải lo kiếm ăn nhiều ngành khác chớ? Tại sao không làm một cái nghề vừa ra tiền vừa giúp các phe phái anh em? Tụi nó đánh nhau ắt phải cần đến sứ giả, cần liên lạc viên, cần người làm con tin lắm chớ? Làm được đủ việc thì tụi nó tiếc gì tiền mà không chi nặng? Không hiểu vì biết thân phận dốt nát hay quá tôn trọng luật chơi mà cánh Bocchicchio luôn luôn thâu hẹp hoạt động, thấy các phe nhóm anh em tranh cướp nhau như điên để dành đủ mọi thứ làm ăn hấp dẫn, văn minh, không bao giờ họ nhảy vô ăn có. Cờ bạc, mãi dâm, ma tuý, buôn lậu, hối lộ là không có cánh Bocchicchio. Họ tự nhận quê mùa thô lỗ, đút tiền cho thầy chú ăn thì còn làm được. Lân la quen biết các ông lớn thì không dám. Cánh Bocchicchio tuy vậy vẫn được trọng nể ở hai điểm: danh dự và tàn bạo. Họ nhà Bocchicchio có thằng nào nói láo, phản bội bao giờ? Vì bản chất quê mùa, mấy thứ đó rắc rối, lôi thôi quá! Nhưng bị ai chơi một đòn thì không thể quên, có chết ngay cũng rửa hận. Chính vì những đặc tính đó cánh Bocchicchio mới vô nghề hoà giải. Bắt được mối nào là Ông Trùm lo sắp đặt từ địa điểm họp đến cử người “nằm” làm con tin. Ngay đêm Sollozzo yêu cầu Michael tới gặp, nó cũng phải mướn một thằng Bocchicchio để “nạp” cho họ Corleone giữ làm con tin. Nếu nó trở mặt chơi Michael thì con tin sống sao nổi? Cả họ nhà nó sẽ cứ Sollozzo mà đòi mạng thì chạy đâu cho thoát? Đụng chạm nhỏ mà cả họ nhà nó còn đòi ăn thua đủ. Huống hồ xô một thằng vào đất chết, làm mất thanh danh mà còn đổ nồi cơm của cả họ Bocchicchio. Bây giờ đích thân Ông Trùm Corleone chính thức nhờ các đàn anh tổ chức buổi họp, mỗi phe phái cử một người đều có một thằng Bocchicchio tới tận nhà “nằm” làm con tin thì còn ai dám nghi ngờ? Vậy họp là họp thật, khỏi sợ bẫy, khỏi sợ trở mặt… an toàn như đi ăn đám cưới chắc! Đám con tin đi “nằm” xong là chuẩn bị địa điểm: họp ngay trong phòng họp của một nhà băng thì chắc quá! Lão Chủ tịch ngân hàng chẳng là người chịu ơn Ông Trùm mà cổ phần của nhà Corleone cũng đâu có ít, dù toàn đứng tên Ông Chủ tịch. Cho nên đối với lão, trên đời này còn ai bằng Vito Corleone? Bỏ tiền mua bao nhiêu cổ phần, mượn đứng tên luôn mà khỏi cần mảnh giấy nhỏ làm bằng. Lão cảm động nhất là lúc vừa đề nghị giấy tờ làm tin thì Ông Trùm gạt phắt. – Ô hay, đã tin nhau thì cần quái gì mấy thứ đó? Gia tài sự nghiệp của tôi và kể cả tương lai đám con tôi đặt trọn trong tay bạn còn được… chớ mới bấy nhiêu đó có nghĩa gì? Không tin bạn thì tin ai bây giờ? Mà ví dụ bạn có đá tôi thì cái mà tôi mất mát nặng nhất là niềm tin, là hết dám tin ai trên cõi đời này nữa. Dĩ nhiên tôi phải ghi trong sổ riêng của tôi để có mệnh hệ nào các cháu còn biết bạn giữ dùm tụi nó một số cổ phần chớ?
Google photos
Dù có nhắm mắt tôi cũng biết thế nào bạn cũng bảo vệ quyền lợi tụi nó, giúp đỡ tụi nó… Ông Chủ tịch ngân hàng hiểu ngay. Chẳng phải cùng gốc Sicily nhưng cũng biết người biết của lắm chứ bộ? Vừa nghe Ông Trùm Corleone ngỏ lời mượn trụ sở họp một nửa buổi thì OK gấp. Đối với ân nhân, tri kỷ như vậy thì mượn trọn phòng họp một buổi chiều thứ Bảy nào có đáng gì? Do đó, cả phòng khai hội đầy đủ tiện nghi của nhà băng được đặt dưới quyền sử dụng trọn vẹn của Ông Trùm Corleone để các tay tổ Mafia Nữu-Ước và toàn quốc có chỗ khai hội. Dĩ nhiên vấn đề an ninh được đặt hàng đầu. Cả tiểu đội gác-dan có mặt, mặc đồng phục của nhà băng… nhưng toàn Mafia không! Cỡ 10 giờ sáng bà con bắt đầu vô phòng hội. Ngũ đại gia đình có mặt mà đại diện của 10 phe nhóm toàn quốc cũng kéo về chứng kiến. Chỉ trừ mỗi một mình cánh “Chó điên” Chicago! Mấy thằng ngu ngốc ai thèm chơi với, mà dạy dỗ tụi nó mất công. Một buổi họp quan trọng như thế này thì cho tụi khốn kiếp dây dưa vô làm chi? Có họp là có rượu, có săng-uých. Mỗi ông đại diện được quyền xách theo một đàn em phụ tá. Phần đông mang consigliori theo nên cả phòng họp đâu có mấy mặt trẻ? Cỡ tuổi Tom Hagen hiếm quá và chỉ một mình nó không phải gốc Sicily. Vì vậy là mặt lạ, là người ngoài… Hagen là thằng biết điệu. Muôn mắt đang nhòm ngó nên nó chững chạc không nói không cười mà chỉ lo săn sóc Ông Trùm đúng mức: mang ly nước, đốt điếu xì-gà, đặt lại cái gạt tàn cho ngay… Săn sóc chớ không hầu hạ. Có lẽ ngoài nó chẳng còn ai trong phòng họp này biết mặt mấy đấng vĩ nhân có hình treo trên vách. Toàn những tay tổ kinh tài, có cả Bộ-Trưởng Ngân-khố Hamilton! Bố Hamilton đâu có dè giới giang hồ Mỹ có ngày khai hội đàng hoàng ngay trong phòng họp của một nhà băng? Mà có biết.. chắc ông Bộ Ngân khố cũng hài lòng. Họ họp hoà bình, thảo luận đứng đắn toàn chuyện làm ăn đâu có thua gì giới kinh doanh? Giờ đến được ấn định từ 9 giờ 30 đến 10 giờ. Là người đứng ra tổ chức và cũng để chứng tỏ thiện chí, Ông Trùm Corleone phải có mặt trước mọi người. Và đúng hẹn thì không ai bằng ổng! Có mặt đầu tiên là Carlo Tramonti, người đang nắm giữ một mảnh “giang sơn” miền Nam nước Mỹ. Trung niên nhưng rất đẹp trai, hào hùng. Gốc Sicily vậy là bự con. Da phơi nắng nâu hồng, ăn mặc kỹ, móng tay cũng o bết nhẵn nhụi. Trông chẳng có vẻ gì tướng cướp gốc Sicily mà cứ như triệu phú Mỹ có tiền, có du thuyền đi câu cá chơi vậy! Cánh Carlo Tramonti chuyên làm sòng bạc và trông mặt Ông Trùm công tử như vậy ai dám ngờ từng chơi hung bạo quá cỡ? Hắn đâu có thân thích gì? Ở Sicily sang còn nhỏ tí xíu và lấy Florida làm quê hương luôn. Lớn lên được mấy ông chánh khứa chủ sòng miền Nam thâu dụng. Mấy ông chủ này chơi dữ có tiếng lại được đám thầy chú rất có cô hồn che chở. Họ đâu ngờ có ngày bị thằng ranh ăn nhờ ở đậu hạ bệ? Chỉ vì mình đã dữ nó còn dữ gấp mấy, lại sẵn sàng thí mạng vì một vụ vớ vẩn không đáng đổ máu nữa! Hồi đó mấy ông chính khứa chủ sòng đã chịu chi cho cớm lắm. Nhưng Tramonti lại cho ăn quá nhiều, cho hùn hạp ăn chia nữa nên hắn làm cái rụp là mấy ông chủ văng hết, mất sở đến đít không hay! Nắm chắc mấy sòng Florida, Tramonti mới liên lạc với Batista để đổ tiền vào Cuba làm ăn lớn, lùa du khách Mỹ sang Havana chơi bằng thích. Sòng bạc, ổ điếm lớn bên đó là Tramonti có “ăn chia” trong khi cơ sở chính của hắn là một lữ quán tối tân, hách nhất Miami! Lúc Carlo Tramonti bước vô có thằng consigliori người cũng phơi nắng đen xạm theo bén gót, hắn đã mau mắn tới ôm hôn Ông Trùm Corleone còn làm mặt buồn buồn để có ý chia sẻ cái tang đau đớn. Mấy Ông Trùm lục đục đến. Chỗ quen biết từ bao năm nay không chơi bời giao thiệp thì buôn bán làm ăn… mà giúp đỡ nhau cũng từng có nhiều phen mà? Ông Trùm thứ hai xuất hiện là Joseph Zaluchi, chiếm cứ vùng Detroit và nửa kín nửa hở làm chủ một trường đua ngựa lớn, những sòng nhỏ thì khỏi nói. Zaluchi mặt tròn xoe và là chủ nhân một toà nhà trị giá 100 ngàn đô-la, giữa nơi thị tứ. Hắn thuộc týp văn minh, tiến bộ và thông gia với một gia đình Mỹ rất hách. Cũng như Corleone, hắn rất kỵ ma tuý và “giang sơn” của hắn yên ổn nhất: 3 năm nay mới phải xử có 2 mạng là quá ít còn gì? Lúc mới vô, cả Zaluchi cùng gã consigliori đều tới ôm hôn Ông Trùm Corleone. Hắn còn oang oang “Chỉ có đàn anh mới kêu được đệ tới đấy nhé!” Dĩ nhiên là hắn bồ bịch, coi bề ngoài cũng biết. Hắn ăn mặc đứng đắn và làm ăn vô cùng chừng mực. Sau đó đến hai Ông Trùm ào vô một lượt vì cả hai cùng gốc miền Tây, cùng làm ăn với nhau, sang Nữu-Ước dự hội cũng đi cùng một xe cho tiện. Frank Falcone và Anthony Molinari cùng ngoài 40 tuổi, còn trẻ nên dễ thân thiện. Dân miền Tây có khác, trông họ vẫn có vẻ gì nhắng nhít mà ăn mặc cũng trẻ trung, rõ ra có chất Hollywood. Đàn anh Falcone nắm nghiệp đoàn điện ảnh và mở sòng luôn trong các phim trường, lại còn lãnh thêm đường dây cung cấp gái cho những động lớn miền Tây. Thủ lãnh Mafia có bao giờ đi dính vô nghề bầu ca nhạc kịch, phòng trà nên đàn anh bị mấy đồng nghiệp lớn coi kém trọng vọng rõ. Anthony Molinari là vua bến tàu Cựu-Kim-Sơn, vua đánh cá thể thao luôn. Gốc gác con nhà chài lưới nên sang Mỹ làm giàu lớn, hắn bỏ tiền mở một nhà hàng lớn, chuyên bán đồ biển danh tiếng nhất Cựu-Kim-Sơn. Tiếng đồn hắn yêu nghề và khoái ăn ngon nên mở nhà hàng lấy tiếng, quanh năm không chịu lời mà còn chịu lỗ đều vì nhiều món đặc sản quá tốn kém, không biết tính bao nhiêu tiền cho vừa! Nét mặt hắn tỉnh bơ như dân cao thủ cờ bạc và làm ăn nhờ đường dây ma tuý từ Mễ-Tây-Cơ qua, từ Á-Đông sang. Đi dự họp ở Nữu-Ước, hai Ông Trùm miền Tây không mang consigliori theo mà mang cả cặp gạt-đờ-co lực lưỡng. Vô họp chúng đâu dám xách súng theo nhưng rõ ràng cả hai cùng cao thủ karaté, dư sức giết người bằng cạnh bàn tay! Nhìn bốn thầy trò, cử toạ chỉ thấy tức cười chớ sợ hãi thì không. Tiếp đến một Ông Trùm đang nắm một địa phương rất lớn là Boston nhưng xem ra chỉ có một mình hắn là bị hầu hết anh em coi rẻ. Hắn không có oai chỉ huy lại tham lam, bóc lột đàn em quá lố. Bóc lột là quyền của hắn nhưng phải nắm được kỷ luật, trật tự kìa! Ở Boston có nạn tranh cướp quyền lợi lu bù, bắn giết nhau loạn, nhiều thằng bất phục nhảy ra làm lẻ không đếm xỉa gì kỷ luật nên ngang nhiên ngồi lên pháp luật. Nếu trong giới anh em, đám Chicago bị coi là “chó điên” thì cánh Boston bị liệt vào hạng “đầu trộm đuôi cướp” nghĩa là vô tư cách. Ngay “Ông Trùm” Domenick Panza trông còn thô bỉ hùng hục, thiếu thước tấc và bần tiện như một thằng ăn cắp vậy! Cầm đầu nhóm Cleveland, chuyên khai thác cờ bạc và tổ chức sòng cừ nhất nước là một ông già tóc bạc, dáng nhút nhát mặt tinh khôn. Biệt danh “Do Thái” chẳng phải vì bề ngoài mà thôi. Lão xài một số tay chân thân cận người Do Thái, chớ không trọng dụng bọn Sicily. Nếu cử được một tay consigliori người Do Thái thì Ông Trùm “Do Thái” Vincent Forlenza cũng dám cử rồi, chớ chẳng phải như vì một mình Tom Hagen mà cánh Corleone bị mang tiếng oan là “cánh Ái-Nhĩ-Lan”. Cánh “Do Thái” tổ chức rất chặt chẽ, làm ăn rất cừ vì Ông Trùm Forlenza có nghệ thuật cai trị bằng quả đấm sắt bọc nhung và đặc biệt là bề ngoài hiền khô nhút nhát nhưng chưa hề thấy má mà run bao giờ! Buổi họp hôm ấy nhóm đại diện Ngũ đại gia đình Nữu-Ước đến chậm hơn cả và dưới mắt Hagen thì dân Nữu-Ước có khác… cả 5 người đều oai vệ, chững chạc dễ nể hơn các đành anh tỉnh lẻ nhiều. Cả 5 đều có truyền thống bụng bự đặc biệt Sicily, làm như có tiền bạc, quyền thế và có gan nên bụng phải bự cho bệ vệ vậy. (Xưa nay có Ông Trùm “chính quốc” nào không có bụng?) Sự thực 5 Ông Trùm Nữu-Ước gần giống nhau ở khổ người đồ sộ, mặt to, tai lớn, tóc muối tiêu và mỡ thừa nhiều ở cổ, ở cằm, ở cặp má. Họ ăn mặc sang nhưng không cầu kỳ và cái lối tóc tai sửa tỉ mỉ, móng tay dũa gọt kỹ càng là không có! Người làm ăn bận rộn ai thừa thì giờ làm những việc vặt, vớ vẩn đó? Kiểm soát toàn vùng New Jersey và bến tàu miền Tây Manhattan là Anthony Stracci. Chuyên làm sòng bạc và rất có thế lực với các chánh khứa đảng Dân Chủ. Hắn có một cơ sở xe vận tải nặng chở hàng mướn, chỉ nhờ tha hồ chở nặng không ai cấm cản và đánh thuế nên hốt bạc như điên. Xe chở quá nặng hư hết đường xá cầu cống thì đàn anh càng khá vì đàn anh còn có hãng thầu chuyên làm ăn với Công Chánh. Càng chở nhiều hàng đường xá càng mau hư mà đường xá càng mau hư càng trúng mối lớn. Thực ra Stracci cũng không muốn dính vô ăn bẩn. Đĩ điếm hắn kỵ lắm nhưng vì làm ăn ở bến tàu nên không thể không dính đến ma-tuý. Trong Ngũ đại gia đình thì cánh Stracci yếu thế hơn cả nhưng lại có máu mặt nhất. Cánh Ottilia Cuneo nắm trọn vùng phía bắc tiểu bang Nữu-Ước, bao tất cả các sòng bạc và thừa thế lực để phủ quyết, không cho phép tiểu bang khai thác trường đua. Dân Ý di cư sang Mỹ phần đông do cánh này đưa lậu vô qua ngả Gia-Nã-Đại. Trong tất cả các thủ lãnh Mafia, Cuneo ngon nhất ở chỗ cả nước cứ tưởng đâu hắn là một nhà doanh nghiệp hiền lành, chủ nhân một công ty sản xuất sữa lớn. Hắn chưa hề bị rắc rối với pháp luật, chẳng ai biết hắn làm những cái gì. Đối với dân địa phương, hắn đàng hoàng và chịu khó làm công tác xã hội đến nỗi đã có lần được Phòng Thương Mại bầu làm “Nhà doanh thương Nữu-Ước số 1 trong năm”. Thiên hạ lầm Cuneo là phải vì trông bề ngoài rõ ràng một anh chủ tiệm bánh nhà quê, mặt tròn xoe như ông địa, đội nón nỉ còn kéo xụp hết vành xuống trông như nón phơi nắng của đàn bà con gái thật tức cười. Mặt hắn luôn luôn tươi tỉnh và trong túi bao giờ cũng có cả nắm kẹo để phân phát cho đám con nít con cháu bọn thuộc hạ. Sát cánh nhất với phe Tattaglia là một tay tổ tên Emilio Barzini. Chuyên làm ăn dữ, tổ chức sòng bài và nuôi điếm ở Brooklyn và Queens. Cả cù-lao Staten là của hắn mà ở Bronx, Westchester hắn có nhiều trạm đánh cá thể thao. Buôn bán ma tuý cũng có hắn. Barzini quen biết lớn, chơi thân với cánh Cleveland và các cánh miền Tây. Hắn đang ngấp nghé làm ăn thêm ở hai trung tâm du hý còn bỏ ngỏ là Las Vegas, Reno… dù đã có hùn hạp ở Miami và Cuba. Xét thực lực thì sau cánh Corleone là đến Barzini vì ở Sicily hắn có nhiều ảnh hưởng mà ngay trong giới tài phiệt Wall Street cũng có móc nối làm ăn. Nói chung là cái gì làm ra tiền là có mặt. Chính Barzini đã đứng sau lưng cánh Tattaglia ngay từ đầu, viện trợ cả tiền bạc lẫn thần thế vì xưa nay hắn vẫn nuôi tham vọng hạ bệ Ông Trùm Corleone, nhảy lên làm Ông Trùm số 1 Nữu-Ước, mạnh nhất nước luôn. Hắn đúng týp người của Corleone nhưng trẻ hơn, tiến bộ văn minh hơn, có cảm tình của đám giang hồ mới nổi. Xét ra Barzini cũng hùng như Corleone nhưng có vẻ lạnh chớ không “tình cảm” lẩm cẩm nên thực sự là nhân vật đáng gờm nhất trong cánh Ngũ đại gia đình. Đến dự họp chót hết là Ông Trùm đối thủ số 1 của Corleone, người cả nước biết là từng ra mặt bênh Sollozzo để công khai gây chiến với cánh Corleone và đã suýt thành công. Đó là Philip Tattaglia. Dám chơi ngon như vậy không hiểu tại sao lão không được anh em giang hồ kính nể? Có lẽ họ coi thường lão ở chỗ thân danh một Ông Trùm có hạng mà đi nghe lời và để cho một thằng thủ đoạn như Sollozzo sỏ mũi dẫn đi. Có thể họ cho rằng nếu không có Tattaglia gây chuyện thì ngày giờ này giới giang hồ Mỹ quốc đâu có lâm nạn? Cũng có thể vì năm nay 62 tuổi mà lão còn hảo ngọt, thấy đàn bà con gái là chạy theo như điên. Một týp người như vậy mà lại nắm gần trọn ngành nuôi điếm thì tha hồ mà hủ hoá! Lại còn là ông chủ lớn, nắm hầu hết các hộp đêm toàn quốc, muốn gài mầm non nào trình diễn ở đâu chẳng được? Mấy hãng dĩa lớn, cơ sở xuất bản nhạc và mấy ông bầu ca nhạc là phải nghe lệnh lão răm rắp, bằng không là có chuyện lộn xộn. Philip Tattaglia còn bị giới giang hồ chê kém tư cách, cái gì cũng muốn nuốt trọn và bó buộc phải chi ra một khoản gì là kêu ầm lên như trời sập. Khốn nạn, làm chủ hộp đêm chủ động lớn như vậy mà cứ luôn miệng kêu tiền phí tổn giặt ủi quá tốn kém, dù hãng giặt ủi máy cũng của lão bỏ vốn ra khai thác sanh lời thêm. Còn mấy con em thì lão luôn miệng than nào lười biếng, nào nay làm mai nghỉ, đứa bỏ trốn, đứa chán đời tự tự… còn đám ma cô thì chẳng thằng nào không lừa lọc, bất lương, muốn kiếm một thằng tử tế không ra! Làm sao lão kiếm cho ra một thằng tử tế, một thằng gốc Sicily dám chơi ngon lành và tận tuỵ? Chúng đâu có phải týp bịt mũi, quên danh dự để sống trên lưng đàn bà, con gái? Phải nói là chúng dám miệng hát tay nhấc một đường dao cạo cứa cổ người khơi khơi và lật áo ra không biết chừng dám có dấu thánh thêu ở vạt trong thật… nhưng buôn người thì nhất định không có chúng nó. Xưa nay với anh em, Philip Tattaglia quen giở lối hống hách, tham lam thật dễ ghét. Ăn được của lão chỉ có mấy thằng có thẩm quyền cấp giấy phép hay đóng cửa các hộp đêm, nhà hàng. Lão đã phải chi rất nhiều nên những lúc tiếc tiền lão tru tréo ầm lên, chửi mấy thằng ăn cắp chỉ nhờ mấy con dấu mà đớp bạc triệu ngon lành! Lão vỗ ngực tự nhận là một tay từng nặn ra nhiều triệu phú, không thua gì Wall Street. Trên thực tế thì cánh Tattaglia đã quất được đối phương mấy cú thật đau, chút xíu nữa là đè bẹp luôn nhưng vẫn không được giới giang hồ kính nể, trọng vọng. Họ biết lão chỉ là bù nhìn, lợi hại là Sollozzo và cánh Barzini đứng sau lưng kìa! Chơi chủ động, ra đòn thình lình mà không quất sụm được đối phương là yếu rồi, yếu thấy rõ! Nếu có bản lĩnh thật sự, chơi tới một chút xíu nữa thì vấn đề đã giải quyết xong từ lâu, đâu phải rắc rối lôi thôi đến thế này? Chỉ cần chiều hôm đó Vito Corleone quỵ luôn là xong hết mọi việc, chẳng phải đánh đấm gì nữa.
Google photos
Khách đến chủ tiếp mà chỉ nhìn nhau lạnh nhạt gật đầu một phát thì… kém xã giao thật. Nhưng cử toạ chấp nhận vì khách cũng như chủ, mỗi người đều mất một đứa con trong trận chiến này. Ông Trùm Corleone quả là cái đích cho mọi người nhòm ngó vì bà con chỉ muốn biết coi người ngợm, cử động ra sao sau khi bị bắn gần chết. Họ còn ngạc nhiên, thắc mắc không hiểu sao một tay sừng sỏ cỡ Corleone lại cầu hoà khi thằng con trai lớn vừa bị chơi dữ dội như vậy? Chấp nhận thua chịu xuống dốc sao? Chỉ gắng chờ coi là biết hết. Bà con chào đón, hỏi han, cụng ly với nhau một hồi có tới nửa giờ nữa Ông Trùm Corleone mới thong thả ngồi vô bàn họp. Rất kín đáo, Hagen ngồi xuống chiếc ghế phía sau, bên trái Ông Trùm một chút. Đó là lịnh khai hội, mấy Ông Trùm khác bèn lục tục ai ngồi chỗ nấy, sau lưng có các cố vấn ngồi nép một bên để sẵn sàng góp ý kiến. Ông Trùm Corleone ngồi vào bàn lên tiếng khai mạc. Giọng thản nhiên như không có chuyện gì. Làm như bản thân không hề bị bắn gần chết, thằng con lớn vừa bỏ mạng, thằng con thứ phải lánh nạn sang miền Tây nhờ cánh Molinari, thằng con út phải lưu lạc miền đất hoang Sicily. Làm như cả “giang sơn” vẫn bình an công việc làm ăn không hề hấn gì vậy. Ông bình tĩnh mở lời bằng thổ ngữ Sicily: – Cảm ơn quý bạn vui lòng hạ cố dự họp, đáp lời mời của chúng tôi ngày hôm nay. Kể như quý bạn đã cho chúng tôi một ân huệ mà chúng tôi mãi mãi không quên. Xin thưa ngay là chúng tôi không có ý mời quý bạn tới để tranh luận hay thuyết phục mà chỉ cốt để nói phải quấy với nhau, giải quyết công việc cho êm đẹp, thuận thảo với nhau. Đó là lời chí thành, tưởng bạn nào từng biết rõ chúng tôi đều nhận thấy xưa nay chúng tôi chẳng phải người coi rẻ lời nói. Vậy xin vào đề ngay và giữa chúng ta là người lớn với nhau chỉ một lời là đủ, khỏi có chuyện cam kết, bảo đảm như mấy ông thầy kiện. Ông Trùm Corleone nghỉ một lát. Cử toạ lặng yên, kẻ hút thuốc, kẻ nâng ly nước uống và tất cả sẵn sàng ngồi nghe nữa, không hề nôn nóng. Đàn anh trong giới giang hồ là như vậy. Họ là những người luật pháp không giới hạn được, quyền thế không khuất phục nổi. Họ là nhưng người nhất định cứ ý mình mà làm, dù phải dùng mưu kế hay nhúng tay vào máu. Chẳng có gì bắt buộc được họ, trừ cái chết. Hay một cái lý nào vững lắm lắm kìa! Ông Trùm Corleone cao giọng: – Tại sao sự tình biến chuyển đến nỗi này? Phải nói là điên đầu hết. Không cần phải làm vậy. Không đến nỗi phải làm như vậy. Sự việc theo ý riêng tôi… thì như sau. Tôi xin trình bày quý bạn rõ. Ông Trùm Corleone ngừng lại chút nữa. Làm như để coi có ai lên tiếng phản đối mình trình bày chủ quan không đã… – Nhờ trời tôi đã hồi phục và may ra có thể góp phần giải quyết êm đẹp. Có thể thằng con tôi đã quá hăng, quá dữ . Tôi nhìn nhận chớ? Nhưng phải mở đầu thế này: Sollozzo đã tới tôi đề nghị làm ăn, nói cần mượn vốn mượn thế lực. Hắn nói có liên hệ với gia đình Tattaglia. Vụ làm ăn là ma tuý, một địa hạt tôi không hề có liên hệ. Vả lại tính tôi thì cầu an mà ngành này đối với tôi quả vượt quá khả năng. Tôi có giải thích để Sollozzo rõ như vậy, với cả một lòng thành. Tôi buộc lòng từ chối, nhưng từ chối rất tế nhị. Tôi nói là đường ai nấy đi, ma tuý không phải ngành làm ăn của tôi nên tôi hoàn toàn không có ý kiến, tôi không khi nào xen vào địa hạt của hắn. Ai ngờ Sollozzo lấy thế làm thù và gây ra biết bao nhiêu tai hoạ, cho tất cả mọi người! Đời là vậy đó… biết làm sao được? Trong chúng ta đây ai chẳng một lần nếm mùi tai hoạ? Đó là điều tôi quả thực không muốn chút nào… Có lẽ thấy cần thấm giọng, Ông Trùm Corleone ngừng lại, ra hiệu cho Hagen. Nó nhanh nhẩu bưng tới một ly nước lạnh. Uống vài hớp, ổng nói tiếp: – Quả thực tôi muốn bình an. Bên Tattaglia mất một đứa con, phía tôi mất một. Kể như huề. Thử hỏi nếu ai nấy cùng nhắm mắt đòi ăn miếng trả miếng nhau mãi… thì thế giới này sẽ ra sao? Dám tái diễn cái thảm cảnh quê nhà mình ngày nào: Cứ hùng hục tranh chấp bắn giết nhau hoài, quên cả vợ con chết đói. Đúng là cả một sự điên khùng! Vậy tôi đề nghị trước sao bây giờ cứ thế. Tôi bỏ, tôi không tra xét, truy cứu kẻ giết con tôi. Hoà là bỏ hết. Tôi có thằng con hiện còn phải bỏ đi xa. Tôi phải thu xếp để đưa nó về, với điều kiện chắc chắn không ai bới móc làm khó. Xong vụ đó ta mới có thể bàn nhiều chuyện làm ăn với nhau để tất cả cùng có miếng ăn. Thực sự tôi chỉ muốn có vậy, có bấy nhiêu đó thôi. Phải nhìn nhận mở lời vậy là tuyệt khéo. Nhất là cử chỉ phác hoạ của hai bàn tay đưa lên thật là an-phận, cầu hoà… Đúng hệt con người của Vito Corleone ngày nào! Biết điều, nhỏ nhẹ, mềm dẻo. Nhưng rõ ràng bên trong sự nhỏ nhẹ là cả một sức mạnh tiềm tàng, chịu đựng tới mức như vậy đó, nhưng chớ hòng giỡn mặt. Mềm dẻo như vậy đó nhưng vẫn đặt điều kiện rõ phải giải quyết cái mà Corleone đòi hỏi đã… rồi mới có thể bàn tính đến những chuyện khác. Biết điều như vậy đó song rõ ràng Corleone đòi hỏi tất cả phải trở về tình trạng cũ, nghĩa là ngôi vị số 1 vẫn là của cánh Corleone, họ không mất mát gì sau gần 1 năm lao đao tưởng gần gục luôn. Ai cũng tưởng người lên tiếng kế tiếp phải là Philip Tattaglia. Nào ngờ Barzini đứng lên nói dõng dạc, giọng bình dân một cách cứng cỏi: – Ông bạn Corleone vừa nói đúng, nhưng còn thiếu. Phải thêm vô một điều mà, có lẽ vì khiêm tốn ông bạn không muốn nhắc tới là Sollozzo và cánh Tattaglia không thể làm ăn được, nếu cánh Corleone không nhận yểm trợ. Dĩ nhiên đó chẳng phải lỗi ông bạn… nhưng sự từ chối của ông bạn làm họ bất mãn. Sự thực là mấy chỗ quen biết mà cánh Corleone vẫn ăn chịu xưa nay vẫn có thể nhờ vả được, kể cả ma-tuý. Nhưng bất cứ cánh nào khác chạy đến lo lót thì vừa nói đến ma-tuý là họ chạy ngay rồi. Sollozzo làm sao dám làm ăn, khi bọn đàn em không được một sự che chở tối thiểu, điều đó chúng ta biết hết, không biết chỉ có nước đói! Đụng đến ma tuý là mệt, luật mới xử gắt gao thì mấy ông lớn lại có dịp đòi nặng. Bằng không thì 20 năm khổ sai. Mà hai mươi năm khổ sai thì một thằng ngon đến đâu cũng chẳng thể omerta được. Phải khai, khai hết. Làm sao dám làm ăn? Mấy ông lớn đó thực sự ông bạn Corleone nắm hết mà ông bạn nhất định không chịu làm ăn. Như vậy là cư xử không đẹp với anh em, là có miếng ăn mà buộc anh em đói còn gì? Thời buổi này đâu còn vụ đường ai nấy đi như ngày xưa. Thời buổi này không cho phép riêng rẽ. Ông bạn Corleone không thể giữ mấy ông Toà quen biết làm của riêng… mà có điều kiện là phải giúp anh em, phải lo dùm anh em với chớ. Khỏi nói là một khi ông bạn cho anh em chia chác cái thế lực đó thì anh em đâu dám để thiệt? Tụi mình đâu phải Cộng-sản? Nói gọn lại thời buổi này giếng là giếng chung, phải cho anh em múc nước với chớ? Đó là một sự thực giản dị quá mà? Barzini dứt lời một lúc lâu cử toạ vẫn làm thinh. Cứ như lời hắn vừa phát biểu là tình thế đã ngả ngũ, khỏi có vấn đề trở lại tình trạng cũ. Điều quan trọng hơn nữa là nếu không giải quyết xong xuôi thì lần này hắn đứng hẳn về phe Tattaglia công khai chơi nhóm Corleone. Hắn vừa thắng một điểm rõ: trong giới giang hồ hai chữ “anh em” nặng lắm! Từ sinh mạng đến cơ nghiệp phải nhờ cậy lẫn nhau thì có đủ điều kiện giúp được mà từ chối đã là một xúc phạm lớn rồi. Nếu nhờ vả đã là chuyện bất đắc dĩ thì từ chối một sự nhờ vả cũng là một vấn đề. Đáp lời Barzini, Ông Trùm Corleone ngồi nguyên chỗ, ngước mắt lên hỏi cử toạ: – Xin anh em cho tôi biết xưa nay tôi có phải là người quen từ chối, có một vấn đề gì sức tôi làm được… mà tôi từ chối một anh em nào một lần nào không? Nếu tôi phải từ chối chẳng qua là bắt buộc. Tôi không muốn đụng vô ngành ma-tuý vì tôi biết không thể làm được, đụng vô là hư hết cơ nghiệp gây dựng bấy lâu nay. Đó làm thứ cấm kỵ, cả nước này cùng tối kỵ. Không như rượu, không như cờ bạc, hoặc đĩ điếm là những thứ nhiều người thích nhưng bị cấm chỉ vì một số người muốn cấm… Nhà nước hay mấy ông nhà tu chẳng hạn. Nhưng ma-tuý khác, bất cứ ai dây dưa tới cũng nguy hiểm hết. Xin nói là tôi cảm thấy rất hãnh diện về vụ được coi như là có thế lực đối với các ông lớn. Phải chi được vậy thì hay quá! Tôi có quen biết nhiều thật… nhưng quen là một chuyện, dính vô ma-tuý là hết quen. Chắc chắn vậy: Vì họ sợ dính vô, họ tối kỵ ma-tuý. Mấy thầy chú xưa nay từng ăn chịu thì cái gì họ chẳng giúp được mình? Ma-tuý họ không dám. Tôi biết rõ như vậy thì giúp dùm anh em thế nào được? Nhờ vả tôi như vậy khác nào hại tôi? Tuy nhiên sẵn sàng làm cả cái việc đó nữa nếu tất cả anh em đây xét thấy cần phải làm, cần phải làm để có thể tiếp tục những vụ làm ăn khác…
Google photos
Những lời Corleone vừa nói làm bà con nhẹ thở hẳn. Lúc bấy giờ mới dám rì rầm to nhỏ. Nói vậy là phe Corleone đã nhượng bộ điểm quan trọng nhất, điểm mà Sollozzo đòi không được, là sẵn sàng đứng ra “lo” dùm vụ buôn bán ma-tuý, với điều kiện tất cả anh em có mặt ở đây đòi hỏi phải làm vậy. Dĩ nhiên họ không bỏ vốn, không dính vô bất cứ chuyện gì, ngoài việc vận động, lo lót mấy ông lớn… nhưng bấy nhiêu đó cũng đã là nhân nhượng quá rồi. Kế đó Ông Trùm Los Angeles Frank Falcone đứng lên cho biết ý kiến: – Vấn đề là một khi các anh em nhất định nhào vô làm ngành ma-tuý thì mình đâu có cản nổi? Họ biết nguy hiểm nhưng tiền nhiều quá, họ phải lao vô. Mình không đi cùng, sợ còn nguy hiểm thật đấy… nhưng mình có cơ sở, mình có tổ chức, mình lại che dấu được và còn có chỗ dựa những khi sơ sẩy thì dù sao cũng vẫn còn hơn chớ? Thà là vô để nắm quyền kiểm soát đặt thành hệ thống đàng hoàng còn hơn là để chúng tự ý làm loạn, mạnh thằng nào thằng ấy nhào vô đớp lia, mất trật tự hết! Đồng minh số 1 của cánh Corleone là Ông Trùm Detroit cũng phải đi ngược lại chủ trương của bồ bịch để hùa theo cái lý của đa số: – Như trường hợp của tôi… tôi biết. Tôi nhất định không dính vô, tôi đã phải trả thêm một số phụ cấp để mấy thằng thủ hạ khỏi dính dấp đến ma-tuý. Có thể nói là tôi đã hy sinh nhiều nhưng rút cuộc vẫn vô ích. Tụi nó vẫn bị lôi cuốn như thường! Thử hỏi có thằng đến rỉ tai tụi nó: “Tao có thứ trắng. Mày có 3 ngàn… 4 ngàn vốn không? Bỏ ra, mày sẽ thâu vô 50 ngàn cấp kỳ.” Quả nhiên có 50 ngàn thiệt, nhấp nháy. Cho nên tụi nó ham bắt lẻ đến nỗi vứt cả công tác đi để chạy theo chất trắng, không cản nổi! Ma-tuý làm ra tiền thực sư, càng ngày càng nhiều. Mình không vô nhà tụi nó vẫn cứ làm mạnh. Vậy thì tại sao không vô để nắm lấy quyền kiểm soát, để cố giảm bớt sự tai hại trắng trợn, nếu không thể cấm cản nổi. Mình có thể không cho phép tụi nó bầy chình ình ra gần mấy trường học, dụ dỗ đám con nít. Đồi bại quá! Ở địa phương của tôi, tôi chỉ cho phép tụi nó làm ăn trong các khu đen. Ma-tuý để mấy thằng da màu xài: chúng chịu chi nhất, xài nhiều nhất lại không bao giờ gây chuyện lộn xộn! Bọn đen chúng nó chẳng cần vợ con, gia đình gì hết… mà bản thân chúng cũng kể bỏ. Vậy cho chúng tiêu thụ ma-tuý để… kể bỏ luôn cho rồi! Nói tóm lại mình vẫn phải đứng ra làm, không thể để cho bọn vô kỷ luật làm bừa và làm hại cho tất cả mọi người. Bà con rầm rầm hoan hô Ông Trùm Detroit. Hắn đã đánh đúng yếu điểm: Bằng lòng trả phụ cấp cho bọn đàn em để tụi nó đừng dính vô ma-tuý còn không được mà? Về đám con nít và ma-tuý hắn nói đúng quá, xưa nay Zaluchi vẫn được tiếng yêu trẻ, hiền lành… nhưng có điều ai mang ma-tuý đi bán cho con nít bao giờ, mà chúng lấy đâu ra tiền? Ngay vụ bọn đen tiêu thụ ma-tuý cũng chưa nghe nói. Thứ người đó kể làm chi, chúng có nghĩa gì đâu? Chúng có để cho thiên hạ nghiền ra thành bột thì bà con ở đây cũng cóc cần. Chỉ có những đầu óc lẩm cẩm như ông nội Zaluchi mới mang bọn đen ra nhắc ở đây! Lần lượt tất cả mọi Ông Trùm đều phát biểu ý kiến! Tất cả đều chê ma-tuý, đều thấy dính vô là có chuyện… nhưng cùng đi đến kết luận một kho tiền như vậy thì cấm làm sao được bọn đàn em đánh liều bất chấp mọi thứ nhảy vô? Chịu, tiền ai chẳng ham! Sau cùng mọi người thoả thuận: bà con được quyền làm ăn ngành ma-tuý và cánh Corleone phải đảm bảo việc lo lót với chức quyền miền Đông. Dĩ nhiên hai cánh Barzini – Tattaglia đảm trách hầu hết việc kinh doanh. Có giải quyết xong vấn đề gay cấn này bà con mới có thể bàn rộng ra các vấn đề hữu ích khác chớ? Nhiều việc lắm…! Chấp nhận Las Vegas và Miami là đô thị bỏ ngỏ, cánh nào tới làm ăn cũng được mà triển vọng thì phải biết là sáng. Cùng thoả thuận ở hai đất mới cấm không được chơi dữ, mấy thằng trộm cướp lặt vặt cấm bén mảng. Tuy nhiên nhưng vụ bắt buộc phải xuống tay thủ tiêu chẳng hạn, nhưng sợ dư luận quần chúng la ó bất bình thì phải có “hội đồng” thông qua. “Hội đồng” còn khuyến cáo những tay chủ chốt và đám thuộc hạ tuyệt đối tránh chơi rừng, tránh tầm thù để giải quyết chuyện cá nhân. Ngoài ra mọi phe nhóm toàn quốc đồng ý có bà con nhờ vả đến là phải tương trợ. Chẳng hạn mượn người trợ lực, mượn thần thế để làm ăn dễ dàng. Dĩ nhiên dân giang hồ khai hội cần gì chương trình nghị sự… mà cứ nói nôm na, gặp đâu bàn đấy cho tiện, giữa những người lớn cấp thủ lãnh với nhau. Vậy mà thảo luận cũng mất khối thì giờ, còn thì giờ ăn nhậu nữa chớ! Người đưa hội nghị đến kết thúc là Ông Trùm Barzini. Hắn đứng lên dõng dạc: – Việc lớn đại khái như vậy là xong. Bây giờ mình hoà bình, không bắn nhau nữa. Tôi xin ngỏ lời ngưỡng mộ ông bạn Corleone, người mà bà con bao nhiêu năm nay đều công nhận là thủ tín. Nếu mình không có mâu thuẫn, tranh chấp thì tội gì điên đầu thêm một lần nữa? Riêng phần tôi, xin nói ngay là đường mở rộng thênh thang. Việc giải quyết êm đẹp là mừng rồi. Đó cũng là cảm giác chung của hội nghị. Người duy nhất còn thắc mắc, nghĩa là còn rét… còn ai ngoài Philip Tattaglia? Sau vụ phục kích Sonny Corleone nếu có đánh lớn chắc chắn cánh Tattaglia sẽ lãnh trước. Vì vậy Ông Trùm Philip phải lên tiếng cho chắc ăn: – Mọi chuyện hội nghị giải quyết ở đây tôi đồng ý hết. Tôi đồng ý quên sự bất hạnh của chính mình. Nhưng tôi muốn được nghe một lời cam kết cụ thể của ông bạn Corleone. Tôi muốn biết ông bạn có tìm cách trả thù nữa không, một khi phục hồi lực lượng ông bạn có quên lời cam kết bữa nay không? Biết đâu chừng vài ba năm nữa ông bạn cảm thấy bữa nay bị bó buộc phải hoà rồi tự cho mình quyền xé rào đánh lớn, đánh nữa? Tôi muốn biết chúng mình có hoà bình thật sự, nghĩa là khỏi phải đề phòng chơi lén thực không? Liệu ông bạn Corleone có chịu cam kết với anh em một lời… như tôi sẵn sàng cam kết không? Ông Trùm Corleone làm như chỉ chờ có vậy để mình định lập trường. Một lập trường mà anh em giang hồ ghi nhớ mãi và công nhận người thủ lãnh phe Corleone quả là tay trông rộng thấy xa. Vito Corleone đã công bố lập trường bằng lời lẽ chững chạc = biết điều phát xuất tự tâm can, đánh trúng tim đen và trong dịp này đã nặn ra một vài câu mà 10 năm sau quần chúng mới được nghe và phục lăn. In như danh từ Bức Màn Sắt của Churchill vậy! Cho đến lúc bấy giờ bà con mới thấy Corleone đứng lên ngỏ lời. Người tầm thước, coi bộ gầy yếu sau những ngày nằm dưỡng “bịnh”, đúng là ông lão sáu mươi. Nhưng rõ ràng sức mạnh tinh thần, cơ trí của ngày nào vẫn còn trẻ chán. – Nếu chúng ta đây mà không có lý trí thì còn ra thể thống gì? Đúng là dã thú ở rừng cả đám! Có lý trí ta mới nói chuyện phải quấy với nhau, với bản thân ta nữa. Tôi có lý trí, thử hỏi tôi gây xáo trộn đổ máu một lần nữa để làm cái gì? Con tôi chết, tôi đau khổ và tôi gánh chịu. Lẽ nào bắt người vô can chung quanh tôi phải chia sớt đau khổ? Vậy nên tôi mang danh dự ra cam kết với các anh em, không tầm thù không truy vấn tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ. Cho qua luôn để bữa nay ra về thanh thản. Chúng ta là những người đặt nặng vấn đề quyền lợi, chẳng ai điên, chẳng ai chịu để thiên hạ sỏ mũi sai khiến. Chúng ta là những người được xứ sở này hậu đãi, con cái hầu hết đều có ăn học đàng hoàng. Đứa giáo sư, đứa chuyên viên khoa học, đứa nhạc sĩ… Sang đến đời con chúng nó thành giai cấp ông lớn mới cũng nên. Chúng ta không muốn con cái nối nghiệp mình vì cái nghề này cực quá, cực suốt đời. Chúng ta đã cực khổ để tụi nó có thể tiến thân cách khác, tiến thân như người ta. Tôi đã có cháu gọi bằng ông, biết đâu chừng con cái chúng sau này không Thống-đốc, Tổng-Thống? Ở xứ sở này có cái gì không được? Chúng ta phải ăn ở theo thời. Thời buổi dao đâm súng nổ đã hết rồi. Chúng ta phải sáng suốt đi vào đường kinh doanh như bất cứ một nhà doanh nghiệp nào. Tiền bạc nhiều hơn, con cháu đỡ khổ hơn. Chúng ta là những người mình làm cho mình, chẳng để cho bọn to-đầu cấu kết nhau lợi dụng buộc mình làm cho nó hưởng, chúng gây chiến và mình uổng mạng vì bảo vệ quyền lợi cho chúng. Có thằng nào buộc được chúng ta phải tuân theo thứ pháp luật do chính chúng nặn ra để quyền lợi chúng hưởng và đau khổ tụi mình nhận lãnh? Chúng là cái thá gì mà xía vô, kêu chúng ta nhất định bảo vệ quyền lợi của mình? Trước cử toạ lặng thinh, Vito Corleone dằn giọng: – Đó là công việc riêng của chúng ta. Sonna cosa nostra! Đó là việc riêng, trong “giang sơn” riêng của chúng ta. Cosa nostra! Chúng ta phải đoàn kết với nhau, không cho phép chúng nhào vô “giang sơn” của mình. Bằng không, chúng nó sẽ sỏ mũi mình dẫn đi… như chúng nó từng làm mấy đàn anh Ý trên xứ sở này! Vì lẽ đoàn kết, vì đại cuộc tôi bằng lòng bỏ qua, không trả thù vụ thằng con tôi. Tôi xin thề là ngày nào còn nắm quyền chỉ huy trong gia đình Corleone thì không có chuyện đụng chạm đến móng tay một anh em nào có mặt nơi đây, trừ trường hợp bảo vệ chánh đảng hoặc bị khiêu khích cùng độ. Vì đại cuộc, tôi sẵn sàng hy sinh đến cả quyền lợi trong việc làm ăn. Đó là một lời thề, một vấn đề danh dự trong số bà con anh em ở đây, nhiều người biết tôi hằng coi trọng như thế nào. Dĩ nhiên tôi phải có chút tư tâm. Thằng con út tôi như anh em biết, hiện phải bỏ xứ vì bị nghi là thủ phạm vụ hạ sát Sollozzo và một ông Đại uý Cảnh sát. Bây giờ tôi phải lo thu xếp để nó yên ổn trở về, không sợ bị dính oan vào vụ đó. Tôi sẽ có cách thu xếp. Hoặc là kiếm cho ra những thằng đích thực thủ phạm, hoặc chứng minh cho nhà nước thấy rõ con tôi hoàn toàn vô tội… hay làm sao cho những nhân chứng, những người tố cáo con tôi rút lại những lời khai dối láo trước đây. Xin nói rõ đây là việc riêng của tôi mà tôi tin là có thể làm được. Có điều phải thú nhận tôi là người mê tín dị đoan. Thật kỳ cục nhưng đúng vậy! Nếu thằng con tôi chẳng may có mệnh hệ nào thì tôi không thể không nghĩ, không thể không nghi ngờ một vài anh em có mặt ở đây còn nuôi ác ý, còn căm thù tôi. Chẳng hạn một thầy chú nào lỡ tay bắn trúng nó… hay nó bị bắt và treo cổ trong xà-lim… hoặc một vài kẻ nhảy ra tố cáo… Nói xa hơn chút nữa, tôi vẫn cứ dị đoan tin rằng thế nào cũng phải có một vài người hiện có mặt ở đây trù ẻo thậm tệ nên nó mới chết, dù nó bị sét đánh, đi máy bay máy bay rớt, đi tàu tàu chìm… hoặc vì đụng xe hoặc lâm bệnh ngặt cũng vậy. Nói thực với các anh em, mấy sự trù ẻo dị đoan mê tín đó tôi không thể nào bỏ qua! Ngoài vụ đó ra, tôi thề trên đầu đám con cháu tôi là sẽ không bao giờ xé rào nổ bậy. Bề nào anh em chúng mình cũng đâu đến nỗi tàn tệ như mấy thằng to-đầu từng cướp sinh mạng cả triệu con người phải không? Vừa dứt lời là Ông Trùm Corleone biểu diễn một màn đoàn kết vô cùng ngoạn mục: rất hoan hỷ, ông bước tới tận bàn Philip Tattaglia. Kẻ đối đầu số 1 đứng dậy chào đón và hai Ông Trùm ôm nhau hôn. Bà con hoan nghênh rần rần : bao nhiêu Ông Trùm có mặt trong phòng đều đứng cả dậy… bắt tay nhau loạn để chào mừng tinh thần cao đẹp của Corleone – Tattaglia. Dĩ nhiên chẳng phải hai người ôm nhau hôn một cái mà đã là thân thiện nhất thế giới hay lễ Giáng-Sinh sẽ gởi thiếp chúc mừng nhau. Có điều đã biểu diễn vậy là họ không giết nhau nữa, và trong giới giang hồ thì còn có gì hơn? Sau đó “hội nghị” bế mạc, tiễn chân hết anh em Ông Trùm Corleone giữ riêng người anh em Molinari ở lại để tâm tình đôi câu, xét vì người anh em từng có lòng thương cho thằng thứ nương náu đỡ bấy lâu nau. Cứ như lời Molinari thì thằng Fred tuy lánh nạn mà hạnh phúc tràn trề vì nó nhảy vô nghề mở hô-ten coi bộ quá hạp, khoái chí nhất là mấy bà mấy cô thích như điên. Ông bố lắc đầu ngạc nhiên không ngờ thằng con hiền lành lại nhiều tài lạ vậy. Hay “hoạ trung hữu phúc” đây? Hai người cùng gật gù và nhân thể Ông Trùm Corleonecó ý cho người anh em biết “ơn nghĩa sẽ có ngày đền đáp”. Làm gì không can thiệp được dùm cho Molinari vài ba việc hữu ích, chẳng hạn như bảo đảm dùm công việc truyền tin mau lẹ kết quả đua ngựa, đua xe dùm cho người anh em Cựu-Kim-Sơn, dù tình hình chính trị có thay đổi hay cánh “chó điên” Chicago có nhào vô phá hoại. Đối với một tay khai thác trường đua, bao cá ngựa, cá thể thao thì còn bảo đảm nào quý giá bằng? Mãi chiều tối Tom Hagen mới hộ tống ông già về tới nhà bên Long Beach, dĩ nhiên lái xe phải là thằng em tin cẩn Rocco Lampone. Vô trong nhà ổng ghé tai consigliori: “Thằng Rocco này xài được. Bấy lâu nay tao cứ đánh giá nó hơi thấp. Mi nhớ để ý?” Lời căn dặn làm Hagen ngạc nhiên quá. Quái lạ suốt ngày nó lầm lỳ có nói tiếng nào đâu? Lái xe cũng không liếc nhìn xuống một lần. Chạy xe hay mở cửa xe – chỉ mở một lần và đóng một lần – Rocco cũng chỉ làm như mấy thằng tài xế chuyên nghiệp. Vậy thì ông già đã nhìn ra một điểm gì mới có lời căn dặn cất nhắc?
Google photos
Ngay buổi tối có “hội nghị gia đình” nên Hagen lo về nhà riêng để ổng có chút thì giờ nghỉ ngơi. Cơm xong lối 10 giờ họp đến khuya, có cả hai caporegime tham dự. Hagen có bổn phận cho họ biết tất cả sự tình về cuộc đại hội. Đúng 10 giờ Ông Trùm chỉ thị hai thủ hạ cao cấp, thân tín nhất: – Hôm nay tôi đã đề nghị hoà bình. Tôi đã lấy danh dự cam kết không đánh, không trả thù nhưng xét vì có mấy người anh em chẳng đáng tin lắm nên hai người cứ phải ra lệnh cho thuộc cấp thủ thế sẵn, chớ để chúng đánh úp. Thế nào… đã cho mấy thằng con tin về chưa? Hagen xác nhận: “Về nhà là cháu phôn liền cho Clemenza.” Ông Trùm quay sang lão mập thì lão cho hay: – Tôi đã để chúng về rồi. Coi, tôi vẫn thắc mắc dân Sicily mình đâu có những týp đần độn, ù lỳ như mấy thằng Bocchicchio này? Chúng thực vậy… hay làm bộ? – Chúng vậy đó… ù lỳ mới ăn tiền chớ? Miễn có tiền là ngon… chớ không đần đồn, ù lỳ có hơn gì đâu? Thực ra cánh Bocchicchio cũng chơi được, không gây chuyện lộn xộn. Nhưng máu Sicily thì bọn chúng… hết sạch rồi! Buổi họp tối gần như để nói chuyện chơi. Hết bắn nhau thì đỡ lo rõ, mọi người cũng nhẹ thở. Ông Trùm đích thân rót rượu, pha rượu cho từng người và đốt điếu xì-gà… – Tôi muốn chúng mình quên luôn vụ thằng Sonny, kể như qua hẳn rồi, không bới móc ra nữa. Mình sẽ làm ăn thân thiện với bọn chúng, nếu họ có tham lam một chút, chia phần mình ít một chút cũng lờ đi. Dù có bị khiêu khích mình cũng thủ thế, nhất định không xé rào cho đến ngày Michael an toàn trở về đã. Vấn đề Michael phải đặt hàng đầu, nếu nó về là phải an toàn tối đa, không có gì có thể gây phiền phức. Mình lo là lo bọn cớm kiếm chuyện… chớ Tattaglia, Barzini đâu có gì đáng sợ? Đáng ngại nhất là bọn cớm không chịu bỏ qua vì tất cả mật báo viên đều đồng tình xác nhận chính Michael bắn. Hồ sơ nào cũng ghi rành rẽ như vậy thì ai dám thay đổi… biến có thành không? Đã chắc chắn vậy thì không nhân chứng họ cũng làm. Bằng không mình thủ tiêu nhân chứng thì quá dễ rồi. Chỉ có thằng bồi bàn và một thằng ngồi bàn bên, có thể là thực khách hay là người của Sollozzo. Dĩ nhiên mình sẽ nhờ Ngũ đại gia đình cùng vận động để bọn cớm đổi ý định bằng cách bảo mấy thằng mật báo viên cho tin… bẻ lái sự việc hay dựng ra một cốt chuyện khác. Mấy người anh em mình sẽ làm dùm… nhưng vẫn chưa đủ. Mình phải tạo dựng một cái gì đó để không bao giờ Michael bị dính dấp trở lại vụ Sollozzo – Mc Closkey nữa kìa. Phải tính xong hẳn… bằng không Michael trở về bất lợi. Anh em thì nghĩ coi có cách gì hiệu nghiệm không? Con người ta ai chẳng một lần lầm lỡ? Tôi cũng vậy. Bây giờ tôi muốn sống biệt lập, tôi không muốn bị ai mở cửa sổ ra ngó sang sân nhà mình, dù xa cả cây số. Tôi phải mua hết số đất quanh cư xá này rào kín lại canh gác thường trực, kể cả chòi canh nữa. Cư xá này sẽ được bảo vệ như một pháo đài, xin thông báo anh em hay từ giờ tôi không ra văn phòng làm, kể như bán-hưu-trí. Thà làm vườn trồng nho chơi đến mùa cất rượu. Tôi ở hẳn trong nhà, chỉ gặp dịp quan trọng lắm lắm mới phải bước chân ra… mà ra dĩ nhiên phải đề phòng, hộ tống cẩn thận. Anh em nhớ rằng tôi không chuẩn bị, âm mưu gì hết. Tôi chỉ thận trọng, vì trên đời này tôi kỵ nhất ẩu tả, bừa bãi. Đàn bà con nít làm bừa còn được, đàn ông không thể! Nói gọn lại những gì phải làm ta cứ việc tiến hành đều đặn, từ từ để khỏi kinh động đối phương mất công. Về công việc thì Tessio, Clemenza, Hagen… ba người sẽ lần lượt mỗi người mỗi việc làm thay tôi. Giải tán băng Sonny, cho nhập vào hai băng còn lại, các cánh khác biết ngay mình thực lòng muốn hoà. Công việc của Tom là chọn vài ba đứa cử đi Las Vegas điều tra tình hình dưới đó. Chính mi cũng xuống coi thằng Fred làm ăn ra sao mà thiên hạ đồn là tao có gặp nó dám không nhận ra. Nghe nói hồi này nó làm đầu bếp được rồi và mê gái tối ngày chạy theo mấy con nhãi non. Thực ra hồi ở nhà nó đứng đắn, đàng hoàng lắm nhưng thằng Fred không thể làm ăn nghề này. Không bao giờ! Hagen thử đưa ý kiến: – Hay là mình đưa Carlo xuống dưới đó? Bề nào nó cũng dân Nevada thì ở Las Vegas nó phải là thổ công. – Không được. Phải có một đứa ở lại gần gũi bà ấy chớ? Có mấy đứa con ở xa hết sao? Tao muốn cho vợ chồng tụi nó một căn ở hẳn trong cư xá để Constanzia gần gũi mẹ nó. Thằng Carlo có thể cho một việc gì kha khá hơn. Có lẽ lâu nay tao hơi khe khắt với nó. Nhà này bây giờ đâm hiếm con trai quá. Mi xách thằng Carlo ra khỏi ngành cờ bạc, thảy nó vô làm nghiệp đoàn thử coi. Công việc toàn giấy tờ, chỉ cần cái miệng. Mà thằng Carlo thì nói hay lắm. – Dạ được, cháu với Clemenza sẽ lo cử người đi Las Vegas ngay. Bác có muốn cháu kêu thằng Fred về chơi một vài ngày? Ông Trùm lắc đầu quầy quậy. Nói về Carlo ổng chỉ có ý mỉa mai nhưng vừa nhắc đến tên Fred là quắc mắc lên: – Ủa, gọi cái thằng ấy về làm gì? Nhà đâu có cần một thằng nấu bếp, bà vợ tao còn làm được mà? Để nó y chỗ! Thấy Ông nổi sùng, cả ba người đâm nhột nhat. Không thể ngờ Fred bị bố ghét tới cỡ đó. Tất nhiên phải có một lý do gì họ chưa biết đấy thôi. Ông Trùm gật gù: – Năm nay tôi có ý trồng thêm ít luống cà-tô-mát, ít gốc ớt xanh để nhà ăn không hết biếu anh em lấy thảo. Tuổi tôi bây giờ cần nghỉ ngơi thật. Công việc kể như xong, cứ thế mà làm… anh em uống rượu nữa không? Biết hiệu tiễn khách họ đứng dậy hết. Hagen đích thân đưa hai lão caporegime ra xe, hẹn ngày giờ gặp nhau để thanh toán công việc. Nó lập tức trở lại văn phòng vì biết thế nào ông già cũng có một vài điều muốn dặn riêng. Quả nhiên lúc nó vô ổng đã tháo ca-vát, cởi áo vét nằm dài ra đi-văn. Khuôn mặt đanh thép giờ mệt mỏi rõ. Ổng đưa tay trỏ chiếc ghế: – Nào, mi là consigliori của tao. Mi thấy tao xử sự bữa nay thế nào, có gì mi thấy cần phản đối không? Suy nghĩ một lát Hagen đáp: – Phản đối thì không… nhưng cháu vẫn thấy có một cái gì gượng gạo, không hạp với chủ trương đường lối của bác xưa nay. Bác nói bỏ qua không truy vấn đến cái chết của Sonny, không trả thù nhưng cháu không tin. Bác lấy danh dự cam kết hoà bình, cháu biết bác sẽ giữ lời. Nhưng cháu không thể tin là bác cho phép bọn chúng toạ hưởng chiến thắng như chúng tưởng bở sáng nay. Vở kịch bác dựng từ đầu đến đuôi cháu không đoán biết nổi thì làm sao đồng ý hay phản đối? Nét mặt Ông Trùm tươi tỉnh, hể hả: – Khá lắm! Mi hiểu tao hơn bất cứ một người nào thật! Mi không có máu Sicily nhưng tao quả đã không uổng công dạy dỗ. Mi Sicily chính cống! Mi nhận xét đúng, giải pháp tao đã có và tao tin mi sẽ hiểu trước khi vở kịch hạ màn. Mi thấy không, bọn chúng phải tin lời tao, tao sẽ giữ đúng y lời nghĩa là hoàn toàn không gây sự. Vấn đề quan trọng là làm sao đưa được Michael về gấp. Mi đặt trọng tâm công tác, hết sức chú ý một việc gì đó. Ráng tìm đủ mọi khía cạnh hợp lý hợp pháp để làm bằng được, tiền bạc không thành vấn đề. Tuyệt đối không thể chấp nhận sơ sót. Mi thử tiếp xúc những tay cừ nhất về hình luật coi? Để tao nói với vài ông toà quen lớn mi tới gặp riêng họ. Điều cần nhất là phải cảnh giác, chớ để bị lọt vào tròng. – Đúng vậy. Mình không ngại vụ nhân chứng, dù thứ thiệt… hay thứ nặn ra. Mà phải tính trước bọn Cảnh sát chơi ngang. Chúng dư sức bắt rồi lỡ tay nổ súng hay sắp đặt một vụ vượt ngục. Một vụ tự sát trong xà-lim… hay tù giết tù thì dễ quá! Do đó, nếu để Michael về thì không thể có vấn đề câu lưu hay tình nghi… – Vậy đó. Tao biết chớ? Khó khăn lắm… nhưng mình phải ráng làm ngay. Chần chờ nguy hiểm vì tình hình bên Sicily cũng gay cấn lắm. Đám trẻ mới lên đâu chịu để mấy đàn anh lớn nắm đầu mãi? Mấy Ông Trùm già cũng chịu không nổi bọn dân chơi mới bị trục xuất từ Mỹ về. Họ găng nhau lắm nên Michael dám kẹt ở giữa. Tao đã lo sắp đặt trước để nó tạm thời không lo ngại nhưng tình hình này làm sao kéo dài mãi? Đó là một trong những lý do tao phải cầu hoà. Thằng Barzini có bồ bịch ở bên ấy và bọn chúng đã đánh hơi ra Michael. Tao phải cầu hoà lẹ lẹ để đảm bảo sinh mạng thằng con tao chớ? Chắc mi hiểu chẳng có cách nào khác, phải không? Có thế chớ! Phải có chỗ kẹt này Bố-Già mới phải ra công dựng vở. Bây giờ Hagen hết thắc mắc, nhưng nó vẫn không hỏi ổng lấy tin tức đâu ra, ai cho biết. Nó quay sang vấn đề khác: – Chừng gặp cánh Tattaglia sắp đặt công việc làm ăn… cháu có phải đặt điều kiện là đám đàn em trung gian của tụi nó phải hoàn toàn không có “phích”? Sơ sẩy ra toà mà “phích” cả đống thì làm sao mà xử nhẹ được? Ai dám? – Nếu chúng biết điều thì phải tính trước vụ đó. Mi nêu ra nhưng không đặt điều kiện. Nếu chúng xài một thằng án tích đầy mình thì ra toà lãnh đủ ráng chịu. Mình trợ giúp tối đa thật nhưng gặp ca này thì khỏi kêu ca, oán trách. Làm gì thằng Barzini chẳng biết, khỏi cần nói! Mi thấy có cá nhân nó dính vô vụ này không? Hoàn toàn zê-rô, hoàn toàn vô can! Nó là týp người có ăn mới nhào vô, tuyệt đối khỏi may rủi. Barzini có theo phe thua bao giờ? – Ra nó đứng sau lưng Sollozzo và Tattaglia từ hồi nào đến giờ? Ông Trùm gật đầu: – Mi nhớ Tattaglia chỉ là lão điếm già, ma cô. Sức mấy dám chơi thằng Santino? Tao biết vậy nên không cần biết thêm nữa. Biết có thằng Barzini đằng sau cũng đủ. Hagen lập tâm ghi nhớ điều này. Quả tình Bố-Già vừa mở mắt cho nó thấy nhiều điều nhưng trên hết vẫn còn một cái gì ổng không nói, nó có thể đoán biết nhưng không thể hỏi. Hagen lên tiếng chào, tính quay ra thì Ông Trùm dặn thêm: – Ngoài vụ Michael mi phải để hết tâm trí lo cho nó còn một vụ này nữa. Mi liên lạc với người của mình đằng Bưu-điện, yêu cầu tháng tháng gởi cho mình một bản thống kê tất cả mọi liên lạc điện thoại, gọi tới gọi đi của Tessio, Clemenza nghe? Tao không nghi kỵ gì, có đời nào 2 lão ấy phản mà lo? Nhưng mình biết trước được một chuyện gì trước khi nó xảy tới đâu có hại? Hagen gật đầu đi ra. Gớm thật, không hiểu Bố-Già có cử người bí mật giám thị chính nó, ngay cả nó nữa không? Có đời nào! Có ý nghĩ vậy là nó đã bậy quá! Điều Hagen biết chắc chắn nhất là trong bộ óc ghê gớm của ổng phải có cả một kế hoạch tinh vi đang dàn sẵn để chờ tất cả những gì phải xảy ra. Một sự sắp xếp lâu dài, một cuộc rút lui “chiến thuật” nhàn nhã. Tất cả đều nhằm vào một ngày nào đó, một ngày nói chuyện phải quấy lần chót và cái một. Có một điểm đen lấp ló chẳng ai biết, chẳng ai nghi. Bố-Già lờ như không, ngay Tom Hagen cũng đâu dám hỏi?
Sonny có thể nói tự tìm đến cái chết vì nó hùng hục lao đầu vào cuộc quần đả, vì nóng máu đánh lớn đánh hăng không ai kiềm chế nổi. Trọn nửa năm xung đột nó cứ cơ sở của đối phương mà nhào vô bắn giết. Mấy thằng ma cô dẫn mối cho các ổ điếm nhà Tattaglias ở Harlem nó cũng thịt, mấy thằng cai phu bến tàu nó cũng không tha. Cán bộ nghiệp đoàn theo phe Ngũ đại gia đình là bị cảnh cáo phải đứng trung lập. Bọn chủ sòng, bọn cá mập bị phe địch cấm vô bến tàu làm ăn thì nó và Clemenza dẫn đàn em xông vô bắn tán loạn. Trong thế đối đầu thì bắn giết là ngu. Có phải nổ đùng đùng mà thắng trận đâu? Về chiến thuật thì Sonny ngon lắm nhưng muốn dứt trận thì phải có một chiến lược toàn bộ của một tay lãnh đạo cỡ Bố-Già kìa! Bắn mãi, thủ thế và phục kích mãi có đi đến đâu? Chỉ tổ mất người mất của. Cả hai bên cùng tốn và cùng ngất ngư. Cánh Corleone buộc lòng phải đóng cửa một số “tổng hành dinh” làm ăn ra tiền nhất mà ngay cái ổ bao đề ranh con để Carlo Rizzi kiếm cơm ăn hàng ngày cũng phải dẹp luôn. Cậu rể càng dư dả thì giờ nhậu nhẹt, và chơi bời đĩ điếm làm Connie khổ thêm. Từ hôm bị Sonny dằn mặt một trận, quả nhiên nó không dám rớ tới con vợ nữa. Nó không thèm rớ. Nó lơ là, “vợ chồng thật nhưng tao không ngủ với mày, nhất định vậy”. Con Connie mê quá đâm luỵ vì nó. Lạy lục, năn nỉ,… nó cũng không thèm. Carlo hả hê ra mặt, bảo thẳng: “Thằng anh mày ngon lắm… mày về mách nó đi. Mách nó là tao không ngủ với mày để coi nó có bắt được tao phải ngủ không?” Sau buổi sáng Chúa nhựt kinh hoàng đó, hai thằng gặp nhau vẫn chào hỏi qua loa nhưng Carlo có linh cảm Sonny tạm thời nhẫn nhục để chờ cơ hội “thịt” nó. Với týp người như Sonny thì giết người là một công việc quá dễ, chẳng cần suy nghĩ, chẳng phải làm gan. Nhấn cò là rồi! Nhưng Carlo thì có liều, có nổi giận chưa chắc đã dám. Trớ trêu ở chỗ Carlo không hề nghĩ rằng chính vì chỗ khác nhau đó mà nó người hơn thằng anh vợ. Nó lại hận không được như Sonny ở nghề giết người tỉnh táo. Dĩ nhiên consigliori Tom Hagen không chấp nhận chiến thuật Sonny nhưng không muốn báo cáo với Ông Trùm chỉ vì lẽ giản dị là cho đến một mức độ nào đó thì phải đánh hăng như thế mới được việc? Dường như chỉ vì thế mà cả 5 cánh kia đâm rét, tấn công không hăng mà phản công cũng cứ lơi dần, yếu dần. Rồi đứng sững hẳn. Làm sao tin nổi tinh thần làm ra vẻ chủ hoà của đối phương? Hagen nghi ngờ lắm nhưng Sonny lạc quan hơn bao giờ hết: “Tao cứ đập hoài đập nữa thì bọn nó chỉ có lạy mà xin hoà!” Kỳ cục là đánh lớn đối phương Sonny không ngán nhưng việc nhà lại làm nó điên đầu. Mụ vợ hành hạ đủ điều chỉ vì nghe đồn nó ăn phải bùa mê của con Lucy. Sự thực mụ cứ nói ra miệng là kinh sợ mỗi khi gần gụi chồng… nhưng không có vẫn không xong. Mụ không chịu nhịn. Bị cho nghỉ dài hạn mụ đâm hậm hực, kiếm đủ mọi chuyện làm tình làm tội thằng chồng. Đã vậy Sonny còn vô cùng mệt mỏi vì bị đối phương nhằm sát-sạt. Đi ra một bước cũng phải lo đề phòng cẩn mật, lâu lâu “nhảy dù” thăm em Lucy cũng bị chúng canh. Thông thường nhà mấy con nhân tình là nơi dễ bị chúng quất nhất nên nó lo thủ kinh khủng. Phòng của Lucy ở hô-ten bao giờ chẳng có một thằng đàn em tin cẩn nhất canh kín? Ngay người bị canh cũng không hề hay biết! Cùng một tầng lầu có một căn trống bất cứ lúc nào là có người của caporegime Sonny mướn trám ngay. Trong khi đó Ông Trùm hồi phục dần, sắp đích thân nắm lại quyền chỉ huy và phe Corleone thực sự đang thắng thế. Điều này Sonny còn tin tưởng hơn ai hết. Nó thực sự có đường lên sau khi cho thấy khả năng gìn giữ “giang sơn” và được lòng tin của Bố-Già. Dù chẳng phải cha truyền con nối như ngôi vua song chức Ông Trùm rồi đây không phải của nó thì còn của ai? Có điều dù ở thế bại thì các nhóm đối đầu với cánh Corleone cũng phải nghiên cứu tình hình, sắp đặt kế hoạch. Bọn họ đi đến kết luận là để tránh một thảm bại trước mắt chỉ còn một đòn giờ chót là “thịt” bằng được Sonny. Phải không có nó mới có hy vọng điều đình. Ông Trùm dù sao cũng còn có thể tính toán, nhân nhượng. Đối phương ngán Sonny bao nhiêu thì hận nó bấy nhiêu. Nó chơi quá tàn nhẫn và không có một tí gì gọi là đầu óc kinh doanh hết. Thời buổi này có phe nhóm nào muốn chơi dữ, muốn gây xáo trộn như những ngày xưa? Một hôm vào khoảng chiều tối Connie đang nằm nhà bỗng nhận được cú phôn bí mật. Giọng đàn bà, hỏi thăm Carlo lại còn trêu chọc, cười cợt đểu giả. Nó giận quá, chửi um lên rồi cúp máy. Buổi chiều Carlo đi trường đua và thua đậm. Nó bực bội bò về nhà, say rượu ngất ngư mà còn vác theo nửa chai huýt-ky đang nhậu dở. Vì cú phôn vừa rồi nên thấy mặt nó ló vô là Connie chửi xa xả. Carlo tỉnh bơ đi tắm, lúc trở ra còn chọc giận bằng cách nghênh ngang đứng giữa nhà lau khô người để mặc quần áo vô tính đi chơi nữa. Chịu không nổi, Conni tức lồng lộn, đứng chống nạnh quai miệng ra gây gổ: “Không đi đâu hết! Mày đi với con điếm vừa phôn lại đây chớ gì? Nó nói đêm nay không có mày nó ngủ không được đấy! Mày dám cho con điếm số phôn để nó chọc tao thì tao giết mày!” Giận tái người, Connie xông tới la lối, cấu xé. Nó đưa một cánh tay gạt bắn ra. “Đừng có điên đầu, ai quen biết con nào? Đứa nào chọc quê mày đó!” Vẻ lạnh lùng của Carlo càng làm Connie tin là nó có gian díu hẹn hò với con kia thật. Do đó nó càng làm dữ, cào rách mặt, chảy máu tùm lum. Carlo vẫn cứ gạt đi, làm như không dám đụng mạnh vì cái bầu quá lớn vậy. Được thể Connie càng làm tới. Sự thực thì chính sự đụng chạm với cơ thể thằng chồng mà nó mê lên mê xuống làm Connie bỗng thấy háo hức. Cả tháng nay nó bắt nhịn ức muốn điên lên được. Mà cái bầu thì 7 tháng rồi, chỉ còn hai tháng nữa sanh. Từ tháng thứ 8 trở đi bác sĩ cấm luôn thì nhịn nữa, nhịn mãi hả? Carlo chạy vô phòng ngủ nó cũng rượt theo cào cấu, đấm thùm thụp, miệng la lối cái điệu nửa thúc hối nửa giận lẫy: “Mày không đi đâu hết… Tối nay không có đi đâu hết!” Carlo lửng khửng “OK… OK… không đi thì thôi”. Nó đã mặc quần áo vô đâu? Mới chỉ mặc quần xà lỏn và cởi trần trùng trục coi lực sĩ quá. Càng hấp dẫn nữa! Đòn ruột của nó xưa nay mà? Biết con vợ chết mê chết mệt, nó cố tình biểu diễn khơi khơi trước mặt, lúc nào cũng sẵn sàng mặc quần xà lỏn làm vài động tác thể dục để khoe thân hình chữ “V”, làn da nâu bóng, bắp thịt săn cứng… Thấy bộ dạng Connie nó biết con này muốn gì nên Carlo giễu tỉnh bơ: “Coi, không đi thì ở nhà. Ở nhà thì mày phải có tí gì cho tao ăn chớ?” Nó đòi ăn còn đánh tủ nữa! Xưa nay Connie chẳng khoe tài nấu bếp, ít ra cũng học được của mẹ một vài phần sao? Vả lại còn là vấn đề bổn phận của một con vợ mà? Nó ngoe nguẩy đi trở ra, xuống bếp làm cho xong món bi-tết bò con, xà-lách. Đủ mọi mùi vị béo bổ, cay, chua, ngọt… Carlo vô giường nằm bật ngửa ra chờ cơm, vừa coi báo mục bàn cá ngựa ngày mai vừa nhâm nhi một ly huýt-ky tổ bố để trên bàn đầu giường. Connie bước vô nhưng làm điệu bộ tránh né làm như đứng gần cái giường dám bị nó hút dính cứng vậy. Nó nói trống: – Đó, cơm xong rồi đó. – Tao chưa đói, chờ chút coi! – Tao nói cơm tao để trên bàn rồi đó. Thấy con vợ lằng nhằng dễ ghét quá, Carlo sẵng giọng: – Để cha mày ở đâu thì để! Nó cầm ly huýt-ky uống một hơi rồi nghiêng chai rót nữa, không thèm để ý đến! Bị chửi lên đầu Connie vùng vằng chạy xuống bếp liệng hết mấy dĩa đồ ăn nóng hổi vào chậu rửa bát. Tiếng rổn rảng làm Carlo vùng chạy ra. Thấy sàn bếp, vách tường văng đầy những nước sốt thịt bò Carlo nổi sùng: – Con điếm… Mày không cho tao ăn mày đổ đi hả? Mày không lau sạch ngay bây giờ tao đá mày chết cha. – Có lau cái cứt tao đây này!
Google photos
Buông xong câu ăn miếng trả miếng. Connie đứng hầm hè, nhưng Carlo không nói không rằng đi vô phòng ngủ. Lúc trở ra tay nó ve vẩy chiếc thắt lưng da chập đôi, miệng ra lệnh thật ông tướng: “Mày có lau không?” Connie đứng bướng là nó quất. “Đét” một phát vào đít, tiếng dây lưng da nghe ghê lắm nhưng đâu có đau đớn bao nhiêu? Bị vụt mấy roi, Connie chạy lủi vô bếp, mở ngăn kéo lấy con dao dài sắt bánh mì cầm tay. Carlo cười ha hả: “Ghê nhỉ! Con gái Ông Trùm có khác”. Nó bèn liệng dây lưng trên mặt bàn, tay không xáp lại. Connie thình lình xỉa một nhát nhằm bụng dưới… nhưng trúng sao nổi? Vướng cái bầu lặc-lè chậm rề rề. Nó chỉ nhích người, vươn tay ra cái một là bị tước võ khí liền. Một màn tát phải và tát trái được Carlo biểu diễn. Nó canh đúng độ đúng tầm, vung tay ra là xáng đúp hai phát qua lại “Bốp bốp… bốp bốp”. Không đau lắm, không thấy máu nữa nhưng rát quá lắm và hạ nhục vô cùng. Chạy quanh bếp, rút vào phòng ngủ cũng vẫn lãnh đủ. Connie toan giở võ miệng thì bị đè ngửa ra giường. Một tay nắm tóc, một tay Carlo tiếp tục bốp bốp. Uất ức quá và không sao gỡ nổi, Connie khóc ầm lên như con nít. Carlo cười ha hả liệng nó xuống giường, quơ chai huýt-ky còn một ít đưa lên tu ừng ực. Cặp mắt xanh lơ của nó bây giờ đỏ sọng dễ sợ coi bộ ngấm rượu rồi nên Connie hoảng quá nằm im thin thít. Nó làm hết chỗ rượu rồi cười hề hề, trừng trị Connie bằng một chầu ngắt đùi non. Ôi cha… Đau tê tái, đau ngất người, đau kinh khủng… tay nó lực sĩ mà? Nó bắt lạy cũng phải lạy! Carlo cười khoái chí và dằn mặt: “Mày mập như heo. Tao nhéo mà còn thấy tởm quá.” Bị dượt một trận nên thân, nó ra nhà ngoài rồi mà Connie còn hoảng sợ hết hồn, nằm lì một chỗ không dám nhúc nhích, không dám bước ra coi Carlo làm những gì ở phòng ngoài. Mãi sau thu hết can đảm mới dám ló đầu ra thấy nó khui chai rượu mới, nằm bật ngửa ra đi-văn. Nó say rượu là thế nào cũng ngủ vùi. Lát nữa phải mò xuống bếp phôn về Long Beach cầu cứu. Cầu cứu bà già cho thằng nào đưa xe đón về nhà… chớ vụ này không thể cho anh Sonny biết. Phải phôn cho anh Tom hay bà già. Cỡ gần 10 giờ đêm chuông điện thoại reo ở dưới bếp nhà Ông Trùm. Gã cận vệ nhấc máy, vô mời Bà Trùm gấp. Bà cầm máy nghe mà có hiểu gì đâu? Nó nói cuống quýt, nó nói như sảng lại phải bịt ống nghe sợ thằng chồng nằm nhà ngoài nghe thay. Vả lại mồm miệng sưng vù Connie lắp bắp nói thật khó. Bà Trùm bèn ra hiệu gọi thằng Sonny ra nghe dùm, nó đang ở trong phòng giấy với Tom. Ôi chao, vừa nghe: “Anh Sonny đây… Có chuyện gì đấy em?” là Connie sợ phát rụng rời tay tay chân. Sợ chồng biết thì ít nhưng sợ ông anh làm hoảng quá! Nó ấp úng mãi mới nghe được đại để: “Anh… em muốn về nhà, ngay bây giờ. Anh cho xe lại đón. Không, không có gì đâu… Để về nhà em nói… Coi, anh đừng đi. Em không muốn anh đi. Bảo Tom hay ai cũng được. Không, nhất định không có chuyện gì đâu!” Lúc bấy giờ Ông Trùm đã được uống ít thuốc ngủ cho yên giấc. Canh chừng từ cử động của Sonny chỉ còn mình Tom Hagen. Ở nhà bếp có Tom và hai thằng cận vệ thì cả 3 người cùng trừng trừng ngó Sonny nghe phôn. Không để ý không được vì cả con người của nó là sự hung dữ hiện hình. Bản chất nó đã tàn bạo giờ như có thêm luồng điện nóng chạy ào vô: những sợi gân máu ở cổ nó căng phồng lên chạy rậm rật, mắt muốn toé khói, khuôn mặt đanh lại hầm hầm. Cơn giận còn làm nó run rẩy tay chân. Nhưng giọng nó tỉnh quá, làm như Sonny gắng trầm xuống: “OK… Em đợi chút… Em ráng đợi chút…” Nó buông phôn ra, đứng như trời trồng làm như không hiểu tại sao giận dữ đến vậy. Nó gầm lên: “Thằng chó đẻ… Thằng chó đẻ…” rồi vùng chạy. Hagen đứng đấy biết hết. Nhưng đành đứng ngó bất lực vì Sonny đã giận tím mặt, giân run người thì chẳng thể nói qua nói lại gì hết. Trời cũng không cản nổi nó bây giờ! May ra lái xe một hồi cơn gió lạnh nửa đêm có thể thổi nó nguội bớt. Sonny người giận thì đáng ngại hơn nhiều, nguy hiểm lắm là khác… nhưng dù sao cũng còn hơn! Ít ra nó cũng tự vệ được. Đứng trong nhà, Hagen nghe máy xe gầm lên rồi vụt biến. Chỉ kịp bảo hai thằng cận vệ xách xe chạy theo gấp. Hagen chạy vô văn phòng phôn cho mấy thằng đàn em toán Sonny hiện ở Nữu-Ước phải chạy ngay tới nhà Carlo Rizzi đưa thằng em rể đi gấp để ông anh vợ tới là hụt cẳng. Sonny sẽ bực nó lắm nhưng ông già chắc chắn sẽ đồng ý là không thể để nó nổi sùng hạ sát Carlo có người chứng kiến. Bắn chết người có nhân chứng là hết gỡ! Vả lại Hagen cũng không muốn nó gây sự với đối phương vì hiện giờ Ngũ đại gia đình quả cũng muốn xếp súng, điều đình cho xong. Lúc cho chiếc Buick vọt ra khỏi cư xá là Sonny đã bình tĩnh lại phần nào. Nó còn biết hai thằng cận vệ xách xe chạy theo mà? Cũng được, dù nó chẳng thấy gì nguy hiểm. Phe địch đã thực sự rút vào thế thủ, sức mấy tụi nó dám tấn công, nhất là tấn công nhằm ngay nó? Rắc rối với cớm cũng chẳng ngại. Dù trong xe có súng, ở ngay trong hộc táp-lô nhưng xe đứng tên thằng đàn em chớ đâu phải tên nó? Súng mang đi cho có thôi chớ đối phó với một thằng Carlo Rizzi thì cần quái gì? Mà bắn nó cũng không khó. Có dịp suy nghĩ Sonny mới thấy có giận dữ bao nhiêu cũng chẳng thể hạ sát Carlo ngay bây giờ. Con Connie goá chồng đã đành mà đứa nhỏ chưa ra khỏi bụng mẹ đã mồ côi cha đâu được? Nhất là chỉ vì chuyện vợ chồng chúng nó đập lộn! Vì một lẽ gì khác thì Sonny có lẽ không ngần ngại vì nó biết chắc thằng Carlo là một thằng khốn và nhất là thằng khốn đó vì quen biết nó, tới chơi với nó mới lọt vô gia đình và chớp được con Connie. Mâu thuẫn trớ trêu trong con người hung dữ của Sonny là xưa nay nó không nỡ, nó không thể chơi người-dưới-tay. Đàn bà con nít cấm dám rớ tới. Một thằng đã chịu chấp nhận thua là bao nhiêu hung dữ của nó vụt biến. Thằng Carlo bữa đó đứng xuôi tay chịu trận nên Sonny đâu dám nổ? Hồi còn nhỏ nó là một thằng hiền lành, tốt bụng. Chẳng qua cũng vì số mệnh mà Sonny mới thành một kẻ sát nhân. Vụ thằng Carlo phải giải quyết lần một cho xong. Đầu óc Sonny sắp xếp một giải pháp thích ứng khi nó phóng xe băng băng trên con đường-nổi nằm vắt ngang qua vũng biển. Con đường quen thuộc quá rồi, lần nào từ Long Beach sang Nữu-Ước nó chẳng đi ngả này cho đỡ kẹt xe? Được rồi, lát nữa cho bọn cận vệ áp tải Connie về để mình nó nói phải quấy với Carlo. Chưa biết đối xử cách nào. Nếu nó đánh Connie đến mang thương tích thì bẻ gãy cha nó một cánh tay, cho nó què luôn. Gió biển mằn mặn lùa vào trong xe làm Sonny bớt nóng hẳn. Nó xập cửa xuống cho đỡ lạnh. Sonny khoái chạy xe trên đường-nổi vì ban đêm bao giờ cũng vắng, mùa này còn vắng nữa. Tha hồ chạy, qua đến phía Nữu-Ước cũng vẫn còn vắng! Phải lao xe thế này đầu óc mới bớt căng thẳng. Phía sau xe chẳng thấy xe bọn cận vệ. Mà xe thiên hạ cũng chẳng có một cái, đèn đường chỉ mập mờ. Xa xa thấy dạng một trạm thâu thuế xe, nóc sơn trắng bóc. Sonny rà rà thắng chiếc Buick cho xe chậm bớt, một tay thọc vô túi kiếm tiền lẻ để trả tiền thuế sử dụng đường nổi. Không có. Đành mở ví lấy ra một tờ bạc giấy. Chiếc Buick ngừng sát trạm thuế sáng ánh đèn. Sonny bực bội ngó phía trước: quái lạ, xe thằng nào ngừng chướng thế kia, bộ nó tính chặn đường chắc? Nó nhận kèn um sùm thì nó mới chạy tới, nép sang bên. Hạ kiếng xe xuống, Sonny chìa đồng đô-la ra cho thằng thâu thuế. Thằng khốn nạn, cầm tiền rồi móc bạc cắc ra thối nhè lóng ngóng thế nào để rớt loảng xoảng. Nó cúi xuống tìm mãi. Bộ nó bắt đợi đến bao giờ kia? Gió lộng vô lạnh quá, Sonny tính quay kiếng xuống mà cứ phải đợi. Nó cằn nhằn. Sonny chợt để ý. Ô hay, chiếc xe trên lại lách ra. Ở trạm thâu thuế lù lù một thằng. Đáng ngại quá, hai thằng ở trên xe lại nhảy ra tiến về phía nó. Không nghi ngờ gì nữa, chắc chết rồi! Trong một chớp mắt, cơn giận dữ vụt biến như bị hoá giải tức khắc bởi cả một sự kinh hoàng chết chóc! Linh tính Sonny như một luồng điện đẩy bắn thân hình đồ sộ của nó ép sát cửa chiếc Buick. Nó vùng mạnh quá làm sút khoá cửa. Thằng nấp trong trạm thuế nổ mấy phát: đạn ghim vô đầu vô cổ Sonny, đẩy nó văng xuống đường. Hai thằng kia rút súng thì thằng đồng bọn mới tốp, chân Sonny vẫn vướng cửa xe. Lúc bấy giờ chúng nó mới liên tiếp đặt đạn, khỏi cần nhắm và xông tới đá như điên vào mặt Sonny. Chỉ mấy giây sau cả 4 thằng thong thả lên xe. Ra thằng thâu thuế cũng là thứ giả! Chúng phóng tuốt trên con đường vắng ngắt, vô cùng an toàn vì chiếc Buick của Sonny đã nằm chắn hết lối, có muốn rượt theo cũng vô phương. Cũng chỉ mấy phút sau xe hai thằng cận vệ trờ tới. Thấy cảnh hãi hùng quá chúng quay xe về luôn, sức mấy dám đuổi. Đến trạm điện thoại đầu tiên sau khi ra khỏi đường-nổi, một thằng hấp tấp nhảy xuống, gọi về Long Beach báo cáo gấp lên consigliori: – Sonny bị bắn chết. Chúng chơi khoảng giữa đường-nổi… Nghe tin dữ, Hagen tỉnh như không. “Mày tới Clemenza đưa lão về đây ngay. Sau đó sẽ có chỉ thị.” Phải công nhận là Hagen trầm tĩnh. Nó nghe phôn lúc Bà Già vẫn quanh quẩn bên cạnh, lo làm sẵn mấy miếng săng-uých để lát nữa Connie ăn đỡ. Bà Trùm có biết chuyện gì xảy ra đâu? Nếu để ý thì biết ngay chớ, nhưng cả chục năm bầu bạn với Ông Trùm, bà chỉ học được một điều: phận đàn bà chớ có xía vô công chuyện của chồng, của con. Nếu chuyện cần phải biết thì trước sau cũng được họ cho biết. Một tin buồn, một chuyện đau khổ biết cũng không ích gì thì biết làm chi cho mệt? “Chuyện của mấy người ấy thì họ lo… chớ chuyện của chị em mình họ có lo đâu nào?” Bà Trùm nấu cà-phê, dọn bàn ăn. Lo buồn, sợ sệt thì đói vẫn đói. No bụng có khi còn đỡ hơn là khác. Không hiểu mấy ông bác sĩ cho uống thuốc an thần, thuốc chỉ thống để làm gì? Một mẩu bánh, một ly cà-phê nóng dám hay hơn nhiều. Nghe cú phôn, Hagen đóng kịch thật cừ… nhưng bước qua văn phòng thì bao nhiêu sợ sêt, hốt hoảng chợt kéo đến đùng đùng. Đứng không nổi, sợ run bần bật sợ long đầu gối. Ngồi vững trên ghế mà tự nhiên nó co chân, rụt cổ, hai tay chắp lại. Coi, như vậy đó thì consigliori thời chiến sao nổi! Ra nó bị đối phương bịp, qua mặt cái vù. Tụi nó làm bộ yếu xìu, xuống chân để phục kích một cú động trời. Có khiêu khích tụi nó cũng nằm lỳ, chuẩn bị kỹ và đợi đúng lúc để cho ra một đòn. Một đòn thôi… nhưng một đòng thật xính vính! Genco Abbandando có bao giờ chịu hố thảm hại thế này? Chúng mày có bẫy thế chứ bẫy nữa cũng đánh hơi ra cái một. Cảnh giác gấp 3 lần và xông khói ngay boong cho chúng mày lòi mặt chuột. Sonny sập bẫy bỏ mạng làm Hagen đau lòng quá. Không cùng máu mủ nhưng anh em ruột không bằng. Không có nó làm sao được như ngày nay? Sonny vừa là cứu tinh vừa là tấm gương anh hùng thời thơ dại. Ngay hồi nhỏ có bao giờ nó lên mặt hay bắt nạt thằng bạn mồ côi? Nó thương yêu Tom thực tình, hôm được Sollozzo thả ra nó chẳng nhào tới, ôm thật chặt đó sao? Một thằng bạn như vậy mà lớn lên giết người như chơi, thành danh đao phủ thủ cực kỳ tàn ác là cả một sự vô lý mà Hagen vẫn chưa hiểu nổi. Làm sao Hagen có thể thông báo cho Bà Trùm là Sonny bị bắn chết? Thực ra nó không gần gụi, không thể coi bà như ông già hoặc Sonny. Bà Trùm cũng như Fred, như Michael, như Connie, nó cũng thương lắm. Người một nhà mà? Tuy nhiên nó chỉ thương mến… chớ không thương xót, như đối với ông già và Sonny! Nỡ lòng nào Hagen cho bà hay? Mới có mấy tháng bà lần lượt phải xa cả 3 thằng con: Fred sang Nevada chạy nạn. Michael về Sicily trốn tránh và giờ đây Sonny bị bắn chết tươi… thì lòng mẹ thương con làm sao chịu nổi? Hagen bàng hoàng, kinh sợ đến năm, mười phút rồi gắng gượng nhấc phôn, quay số Connie. Chuông reo mãi mới thấy tiếng nó thì thào bèn thong thả nói “Connie đấy hả? Tom đây. Em gọi Carlo dậy đi. Anh có chuyện cần nói gấp!” Giọng Connie hoảng hốt: “Anh đấy hả? Bộ anh Sonny sắp tới nhà em hả?” Phải trấn an nó: – Không có đâu! Sonny không tới đâu em! Đừng có bắn lên chớ? Em đánh thức Carlo dậy… bảo anh có chuyện rất quan trọng nói với nó… – Anh… nó vừa đập em xong. Em sợ nó biết em phôn về nhà… nó dám đánh em nữa… – Đừng sợ hoảng. Bộ anh nói nó không nghe sao? Em cứ việc kêu nó dậy… anh có chuyện nói nó phải nghe. Chuyện rất quan trọng… Mãi 5 phút sau mới nhận ra giọng lè nhè buồn ngủ, say rượu của Carlo. Hagen phải nói dứt khoát, mạnh mẽ cho nó mau tỉnh rượu… – Nghe kỹ tao nói đây Carlo. Tao sắp cho mày hay một tin vô cùng quan trọng nhưng mày nghe máy… mày phải coi như không có chuyện gì, đừng để cho Connie biết. Thế nào nó cũng hỏi… mày nhớ biểu rằng tao vừa cho mày hay tin ông-già cho tụi bây một căn nhà trong cư-xá, tụi bay sẽ dọn vô ở và mày còn được một chân kha khá để có tiền thêm, hai đứa đỡ khổ một chút nghe? Mày hiểu chưa nào? – Hiểu chớ… Tôi hiểu rồi – Carlo coi bộ xăng xái lắm… – Lát nữa sẽ có mấy thằng tao cử đến nhà mày… để đón mày đi nơi khác. Tụi nó đến thì mày bảo phôn gấp cho tao, chỉ nói thế thôi, đừng nói một điều gì khác. Tao sẽ biểu tụi nó để vợ chồng mày ở nhà, hiểu chưa? Carlo lại “OK… Hiểu rồi” rất lẹ. Nghe giọng hối hả của nó cũng biết cu cậu đang nóng lòng muốn biết cái tin vô cùng quan trọng lắm lắm.
Google photos
Cho nên Hagen không vòng vo nữa mà nói thẳng ngay: – Sonny vừa bị chúng bắn chết. Mày biết vậy… chớ nói gì hết. Tuyệt đối cấm. Lúc mày ngủ, Connie phôn về và nó lồng lộn xách xe qua mày. Giữa đường nó bị… Mày chớ để Connie biết hay đoán biết vì cú phôn của nó gọi về mà Sonny mất mạng. Mày làm như không biết gì hết, đêm nay mày phải ở bên cạnh nó, mày làm lành với nó để nó khỏi xúc động. Ít ra cũng đến lúc nó sanh xong, nhớ chưa? Tao nhắc lại mày đừng nói gì hết. Ngày mai sẽ có người cho Connie hay, nhưng bây giờ mày phải nghe lời tao… ở bên cạnh nó, dỗ dành nó. Tao hứa rồi đây mày muốn gì tao cũng giúp cho. Mày hiểu rõ chưa? Giọng Carlo lần này run run: – Dạ hiểu. Tôi sẽ làm đúng như lời anh dặn. Chỗ anh với tôi xưa nay mình vẫn đẹp với nhau. Anh giúp tôi là tôi không quên ơn. Điều đó chắc anh biết? – Tao biết chớ. Mày yên chí… sẽ không ai trách móc gì mày về vụ vợ chồng mày đập lộn rồi mới ra nông nỗi. Cái đó có tao lo cho. Sẽ không có chuyện gì hết… OK? Bây giờ mày lo làm lành với Connie đi là vừa… Hagen cúp máy. Doạ dẫm làm chi, ông già chẳng từng dạy nó biết bao nhiêu lần? Chỉ cần nói lửng lơ như vậy mà chắc chắn thằng Carlo hiểu rồi. Nó phải hiểu là nó đã gây chuyện gì và sinh mạng của nó kể như ngàn cân treo sợi tóc. Sau đó nó nhấc máy gọi Tessio. Kêu lão tới gấp, không nói lý do mà lão cũng chẳng hỏi. Lão chỉ OK và sẽ tới Long Beach liền. Bây giờ mới đến một pha gay cấn, một cực hình mà Hagen sợ nhất, không muốn lãnh chút nào nhưng nó không làm thì còn ai vô đó? Phải báo tin cho Ông Trùm chớ! Bây giờ là nửa đêm, phải gọi một người uống thuốc ngủ dậy, người ấy là người nó yêu kính nhất đời… để thú nhận sự bất lực của nó. Nó đã phụ lòng, không trông nom nổi “việc nhà”, không giữ lại được thằng con đầu lòng cho ổng. Phải thú nhận luôn là sắp thảm bại nếu người vừa gần chết không đứng lên nhập trận. Hagen đâu có lạc quan bậy? Nó hằng nghĩ chỉ có Bố-Già mới đủ tư cách quân bằng tình thế mà? Lệnh cấm của bác sĩ thì ăn nhằm gì? Dù có nguy hiểm, dù Ông Trùm có mệnh hệ nào… nó cũng phải gọi ổng dậy báo tin để sẵn sàng chờ chỉ thị. Ổng quyết định gì cũng chẳng thành vấn đề. Tình hình này lệnh bác sĩ chẳng thích hợp quái gì… mà cái gì cũng đâm vô nghĩa tuốt! Phải cho ổng biết tin ngay để đích thân ổng đứng lên chỉ huy hay ra lệnh cho Hagen đầu hàng cho rồi. Hagen khổ tâm lắm. Biết nói sao bây giờ… nó định tội phân minh, chính mình phải nhận tội là đúng. Nhưng tự thú nhận bất lực và nhận tội lại chỉ làm ông già thêm đau khổ. Vậy mới kẹt. Thú nhận mình không đủ tài làm một thằng consigliori thời chiến chỉ làm Ông Trùm đau lòng thêm vì chính lỗi ổng đã chọn lầm người. Nó sẽ báo tin, nó sẽ phải đưa một bản phân tích tình hình phải làm những gì để gỡ thế kẹt rồi nín lặng. Để Ông Trùm quyết định và chỉ việc tuân hành. Nếu ổng cho là lỗi ở nó, Hagen sẽ nhận tội ngay. Nếu ổng muốn nó đau khổ thì còn hỏi, sự đau khổ của nó sẽ bộc lộ liền! Hagen ngửng đầu lắng tai nghe. Có tiếng xe chạy vô cư xá. Các caporegime đã tới. Nó sẽ cho họ biết vắn tắt rồi lên thông báo cho ông già sau. Hagen đứng dậy đi tới tủ rượu. Nó lấy rượu, lấy ly ra nhưng đứng ngẩn ngơ một lát như người mất hồn, không biết đường rót rượu ra ly nữa! Bỗng đâu có tiếng cửa mở rồi khép lại nhẹ nhàng ở sau lưng nó: Hagen quay lại thấy Bố-Già. Ổng mặc đồ lớn đàng hoàng! Lần đầu tiên Ông Trùm mặc lại bộ đồ lớn, kể từ sau ngày bị bắn. Ổng thong thả bước tới chiếc ghế da bự mọi lần và ngồi xuống. Dáng đi có hơi cứng, bộ quần áo có hơi thùng thình nhưng Hagen thấy rõ ràng ổng in hệt như trước. Làm như ổng đã mang hết nghị lực ra để chứng tỏ không gầy, không yếu chút nào. Khuôn mặt vẫn là khuôn mặt ngày xưa, cương nghị có thừa. Ổng ngồi ngay ngắn cất tiếng: “Mi cho tao chút anisette.” Hagen vội đổi lấy chai anisette rồi rót mỗi người một ly. Thứ này nặng, ngọt ngào hương vị đại hồi… loại nhà cất lấy, nhà quê nhưng thứ bán ở tiệm đâu sánh nổi? Năm nào ông bạn già chẳng chở đến cho Ông Trùm Corleone cả xe anisette? – Tao thấy bà ấy khóc một hơi rồi mới ngủ… Rồi nửa đêm mấy thằng caporegime kéo tới. Vậy hẳn có chuyện gì… vậy thì mi là consigliori… mi phải cho Ông Trùm của mi biết cái chuyện mà mọi người đã biết hết chớ? – Con đâu có nói với bác gái chuyện gì? Con tính lên đánh thức bác, cho bác hay thì bác xuống đấy chớ? – Mi tính làm xong ly rượu rồi mới lên gọi tao dậy? – Dạ… – Vậy thì… rượu mi uống rồi đó. Nói đi… cho tao hay đi chớ? Giọng ông già thoáng chút trách móc. Ổng có ý muốn nói consigliori gì mà yếu thế đấy… Hagen bèn cho ổng hay: – Tụi nó bắn thằng Sonny ở khúc đường nổi. Bắn chết ngay… Ông Trùm chớp mắt. Chỉ trong một phần nào đó, chưa đến một giây đồng hồ… lớp vỏ nghị lực của ổng vụt biến, khuôn mặt lộ nguyên vẻ chán chường, mệt mỏi… nhưng gượng lại ngay. Hai bàn tay xoắn vào nhau đặt trên mặt bàn, ổng ngó ngay Hagen: – Kể tao nghe đầu đuôi câu chuyện… À, mà thôi… đợi Tessio, Clemenza chút xíu… khỏi mất công kể lại. Ngay sau đó có tiếng người phía ngoài. Hai lão caporegime được gã cận vệ đưa vô. Thấy Ông Trùm ngồi đấy và đứng dậy đón là họ biết ngay ổng đã hay tin dữ. Chỗ anh em thân thiết, họ ôm lấy Ông Trùm rồi mỗi người một ly rượu do tự tay Hagen rót, họ ngồi chờ nghe kể lại từ đầu câu chuyện. Trước sau Ông Trùm chỉ hỏi vỏn vẹn một câu: – Chắc chắn là nó chết? Người xác nhận là Clemenza. Lão nói: – Chết rồi. Mấy thằng cận vệ thuộc toán Sonny nhưng toàn do tôi tuyển lựa. Lúc tụi nó đến cho hay… tôi đã cật vấn kỹ. Chỗ trạm thâu thuế xe có ánh đèn mà? Tụi nó bắn vậy thì sống sao nổi! Nghe lão mập xác nhận chắc như đinh đóng cột, Ông Trùm tuyệt nhiên không xúc động mà chỉ nín thinh một hồi. Sau đó ổng ra lệnh rành rẽ: – Mấy người hãy nghe đây. Việc này tuyệt không được dính vô, không được trả thù… mà không được điều tra truy tầm thủ phạm nữa, nếu không có lệnh của tôi. Nếu tôi không có lệnh, không được quyền gây sự thêm với bọn họ. Chúng ta ngừng hết mọi hoạt động, kể cả việc bảo vệ mấy chỗ làm ăn… cho đến ngày chôn thằng con tôi xong. Tạm thời cứ như thế, chúng ta sẽ họp bàn và sẽ có quyết định sau. Chúng ta cứ lo chôn cất thằng Sonny cho đàng hoàng đã, tôi sẽ nhờ bạn bè can thiệp dùm với Cảnh sát và các cơ quan về vụ này… Clemenza ở sát bên tôi làm cận vệ, cùng với đông đủ thuộc hạ. Còn Tessio lo đôn đốc các anh em bảo vệ gia đình này. Còn Tom, mi gọi ngay Bonasera nhờ lão lo dùm việc khâm liệm tối nay. Bảo hắn chờ ở cửa hàng, tao sẽ lại. Có thể lâu vài ba giờ… Nào, mọi người hiểu cả chưa? Cả 3 người cùng gật đầu. Ông Trùm nói tiếp: – Clemenza sửa soạn sẵn xe và mấy anh em chờ tôi xong là đi liền. Còn Tom, mi làm đúng. Sáng mai cho người đón Connie về ở với má nó. Dọn cho vợ chồng nó một căn trong cư xá. Mi kiếm mấy con bạn của Sandra, nhờ tụi nó tới an ủi. Vợ chồng tao sẽ qua sáng mai và bà ấy sẽ cho nó hay tin rồi sau đó lo làm lễ cầu hồn cho nó ở nhà thờ. Nói xong Ông Trùm đứng lên. Ba người đứng lên theo. Tessio, Clemenza bước lại ôm chầm lấy ổng lần nữa. Hagen mở cửa sẵn để ổng bước ra nhưng ổng ngừng lại, đưa tay xoa má nó, nói khe khẽ: “Mi là đứa con có hiếu. Tao cảm thấy an ủi nhiều.” Ông muốn nói tình hình nguy ngập làm như nó là được rồi, chẳng sao hơn. Ổng chậm chạp lên lầu báo tin buồn cho vợ trong khi Hagen nhấc phôn quay số của chủ nhà đòn Amerigo Bonasera…
Cửa hàng xe đòn của Bonasera ở đường Mulberry nhà riêng lão chỉ cách vài dãy nhà. Lão có lệ về nhà ăn cơm chiều nhưng chập tối thế nào cũng phải trở ra cửa hàng để xăng xái góp mặt với quý vị tang chủ có người nhà nằm lại. Bonasera đã chọn nghề chôn người làm kế sinh nhai nên tối kỵ những quân ưa đặt điều nhạo báng cái nghề đòi hỏi nhiều tiểu tiết tưởng là không quan trọng này. Dĩ nhiên bà con quen biết hay láng giềng của lão chẳng bao giờ dám láo lếu vậy vì nghề nào chẳng là nghề, miễn có đổ mồ hôi là khả kính rồi! Nhà riêng của Bonasera trang hoàng đúng điệu, chỗ nào cũng có tượng Đức Mẹ, bàn thờ Chúa bóng đèn màu nhấp nháy. Lão ngồi đợi vợ con dọn cơm chiều nhâm nhi ly huýt-ky, hút mấy hơi Camel. Mụ vợ bưng mấy dĩa súp nóng lên, hai vợ chồng húp sì sụp. Trơ trọi hai vợ chồng già, đứa con gái phải gởi tạm lên Boston ở với dì nó, mong nó sớm quên đi những kỷ niệm hãi hùng do hai thằng súc vật gây nên hồi đó. Giữa bữa cơm mụ vợ hỏi: “Tối nay ông có ra cửa hàng không?” Lão gật đầu. Sao lại không nhỉ? Mụ coi trọng nghề nghiệp của chồng thật… nhưng chẳng hiểu quái gì hết. Mụ cũng như mấy người ngoài cứ tưởng đâu trong nghề này quan trọng nhất là vấn đề kỹ thuật, nghĩa là phải lo rửa ráy, tô điểm làm sao cho người nằm trong hòm mặt mũi tươi tỉnh như lúc còn sống. Về vụ này thì Bonasera nhất. Nổi tiếng quá rồi. Họ đâu biết chính sự hiện diện của ông chủ nhà đòn mới là vô cùng cần thiết. Tang gia đòi hỏi Bonasera phải có mặt trong đêm chót hết, lúc người thân của họ còn quàn lại cửa hàng, đợi bà con tới phúng điếu. Con người của Bonasera quả có hạp với sự chết chóc. Khuôn mặt rầu rầu, trang nghiêm là cả một sự ai-điếu, giọng lão ề à đều đều đúng như giọng đám ma. Lão có nghệ thuật trấn áp sự khóc lóc bi thương quá lố cũng như dọa dẫm con nít quấy nhiễu những lúc tang gia bối rối. Nhất định không xen vô công việc gia chủ nhưng cần đến là Bonasera có mặt ngay. Vì vậy đã nhờ vả cửa hàng lão một lần là nhà “có việc” không thể quên nổi… cũng như Bonasera không bao giờ để “thân chủ” nằm trơ một mình trong một đêm cuối cùng của cuộc đời. Trên phương diện nghề nghiệp, Bonasera coi trọng đêm vĩnh biệt lắm. Cơm nước xong lo chợp mắt một lúc cho tỉnh táo, dậy rửa mặt cạo râu đàng hoàng, thoa phấn nhiều nhiều cho trơn tru và không quên súc miệng nước thuốc cho thơm tho. Quần áo dĩ nhiên là phải mới thay, giặt ủi thẳng nếp, sơ mi trắng bong, ca vát đen, bộ đồ nỉ đen, vớ đen giày cổ đen kinh . Ngay mớ tóc lão cũng phải đen, chẳng phải nhuộm cho trẻ trung như mấy lão người đồng hương mà hoàn toàn vì lý do nghề nghiệp. Một mái tóc muối tiêu coi bộ kém trang trọng! Xong đĩa súp, mụ vợ dọn đĩa bít-tết sà-lát và ly cà-phê đen là xong bữa. Ngồi nhấm nháp cà-phê lót khói Camel lão nghĩ đến đứa con gái, mụn con độc nhất vừa trải qua một cơn đại nạn. Khuôn mặt xinh xắn của nó nhờ giải phẩu thẩm mỹ hoàn toàn không để lại vết tích nhưng ánh mắt con nhỏ vẫn nguyên vẹn sự hãi hùng làm lão không dám ngó. Phải cho nó một dịp sống xa nhà để thời gian và khung cảnh mới may ra hàn gắn được nỗi bi thương. Chỉ có chết mới hết… chớ đau khổ, hãi hùng có bao giờ vĩnh viễn? Chính nghề chôn người khiến Bonasera luôn luôn lạc quan! Bỗng đâu chuông điện thoại ở phòng khách reo vang. Có lão ở nhà mụ vợ có bao giờ nghe phôn? Bonasera tợp hết ly cà-phê, dụi tàn thuốc và vừa đi lại máy vừa nới cà vạt, cởi nút sơ mi sẵn để nghe xong chỉ việc ngả người nghỉ lưng giây lát. Nhấc phôn lên Bonasera “Hello” thật lịch sự và nghe đầu dây đằng kia có một giọng nói sẵng: “Tom Hagen đây. Tôi gọi nhân danh Ông Trùm, theo lời ổng yêu cầu.” Bonasera nghe nhói một phát nơi bụng, choáng váng cả người, ông Trùm Corleone! Vậy là sắp có chuyện rồi! Hơn một năm nay mối nợ canh cánh bên lòng nghe chừng đã nhạt. Hồi mới đầu thấy hai thằng súc sinh khốn khổ khốn nạn, bị một trận gần chết vì dám đụng đến con cưng của bạn Ông Trùm Corleone, lão quả thực dám làm bất cứ điều gì ông bạn nhờ vả lại lắm. Nhưng bây giờ thì… Xưa nay lòng biết ơn còn đi mau hơn nhan sắc nữa! Giọng lão thốt nhiên rụng rời: “Vâng, tôi hiểu rồi. Tôi nghe đây…” Bonasera ngạc nhiên quá! Xưa nay nghe nói Tom Hagen ăn nói lịch sự, đàng hoàng lắm sao bữa nay ông consigliori lại mệt mỏi cộc cằn đến thế này? Hắn nói không úp mở: – Ông còn nợ Ông Trùm một việc. Chắc ông vui lòng làm trả chớ? Cỡ một giờ nữa, không sớm hơn mà có thể chậm chút đỉnh… đích thân Ông Trùm sẽ tới đằng cửa hàng để nhờ ông một việc. Xin ông tới cửa hàng, đừng để người làm ở lại. Nếu được xin cho hay mà không thì để Ông Trùm còn đi nhờ người khác. – Ủa, sao ông nói vậy? Bố-Già của con bé cháu mà có chuyện cần đến thì làm sao tôi từ chối được? Tôi sẽ tới ngay bây giờ, tôi đi liền. Ở đầu giây, giọng nói có vẻ hòa dịu nhưng vẫn có chút kỳ lạ mà Bonasera đoán không ra. – Tốt lắm, Ông Trùm cũng tin vậy. Thắc mắc là tôi thắc mắc đó thôi. Vậy ông ráng làm dùm việc này, rồi ra có việc gì cần đến tôi, ông có thể kể như tôi là bạn. – Ông vừa nói đích thân Ông Trùm sắp đến cửa hàng? – Đúng thế. – Nếu vậy Ông Trùm khỏi hẳn bệnh rồi ạ? Lạy Chúa tôi… Bonasera chỉ nghe một tiếng “Phải” là máy cúp. Mồ hôi ở đâu ra mà nhiều vậy? Lão vô thay quần áo, xúc miệng. Chỉ kịp thay chiếc sơ mi mới. Phôn lại cửa hàng, ra lệnh cho thằng phụ tá ở lại với tang gia ở đằng trước, phía sau là “phòng làm việc” phải để trống cho lão. Nó lấy làm lạ tính hỏi lại thì Bonasera gắt lên: “Tao bảo sao cứ làm vậy, khỏi hỏi!” Mụ vợ ăn cơm chưa xong thấy chồng mặc đồ, hấp tấp ra “cửa hàng” cũng lấy làm lạ nhưng không dám hỏi. Bữa nay Bonasera có vẻ nghiêm trọng quá. Lão chỉ nói “Tôi có chút việc làm gấp” rồi lật đật bỏ đi ngay. Cửa hàng Bonasera là cả một tòa nhà đứng sừng sững trên một khu đất rộng chung quanh có hàng rào trắng toát. Từ cửa ngoài vô “phòng làm việc” ở phía sau có một con đường nhỏ vừa đủ rộng cho xe Hồng-thập-tự, xe tang ra vô. Lão đích thân mở cửa sắt lớn, đi vòng ra đằng sau và thấy ở cửa hàng phía ngoài tang gia đang đứng lố nhố. Cả cơ sở nhà đòn bây giờ Bonasera mua lại của một đồng nghiệp già giải nghệ mấy năm trước. Hồi đó ông chủ cũ cất cửa hàng không tính toán gì hết, muốn lên tiền đình căn nhà phải bước cả 10 bực thang, người già yếu hay tàn tật làm sao leo nổi? Thành thử họ phải “đi” nhờ cái thang máy đặt ở góc nhà, xưa nay chỉ dùng để lên xuống người chết hay quan tài. Vô cùng bất tiện. Về tay Bonasera, lão cho sửa lại gấp. Tang chủ hay người đi phúng điếu có lối lên thoai thoải, lên thẳng tiền đình, khỏi phải sử dụng thứ thang máy chỉ để dùng cho người chết. Cửa hàng Bonasera chia hẳn ra làm 2 khu riêng biệt, có vách dầy ngăn, âm thanh qua cũng không lọt. Phía ngoài chia từng ngăn cho từng tang chủ để họ cử hành lễ tống táng theo nghi thức tôn giáo họ muốn. Phía sau là “lãnh vực chuyên môn” của nhà đòn. Có văn phòng, có nhà kho bày đủ kiểu quan tài lớn nhỏ, có “phòng làm việc” để sửa soạn, khâm liệm. Ngay cạnh “Phòng làm việc” là gian nhỏ khóa cứng, bên trong để những hóa chất những “đồ nghề” cần thiết để cải sửa dung mạo người quá cố. Bonasera nhanh nhẹn mở khóa bước vô văn phòng. Lão ra ngồi buya-rô đợi “cố nhân” Vito Corleone. Có mấy khi lão hút thuốc ở buya-rô nhưng tối nay Bonasera cần đốt một điếu Camel. Cứ nghĩ đến vụ Ông Trùm sắp tới nhờ vả, lão đã rầu muốn thúi ruột. Lão hoảng thiệt tình. Không làm thì không xong mà làm thì… Phải có chuyện gì quan trọng lắm lắm lão Corleone mới phải đích thân tới hẹn giờ đàng hoàng mà như lời Hagen nói… còn phải đuổi hết người làm công về, một mình ông chủ ở lại!
Google photos
Cố nhân sắp nhờ vả gì Bonasera biết chớ? Chôn người là nghề, là lãnh vực chuyên môn xuất xắc của Bonasera thì lão còn được nhờ vả chuyện gì ngoài vụ lo cho xác chết! Mấy tháng nay cánh Corleone đổ máu lớn, một mình chơi lại cả Ngũ đại gia đình Nữu-Ước. Các báo ngày nào chẳng đăng tin… đại để cả hai bên đều lãnh đủ, người chết cứ như ngã rạ! Hôm nay chắc cánh Corleone vừa quất được một mạng nào đó của đối phương, một tay cực kỳ quan trọng phải thủ tiêu cấp tốc trong vòng bí mật hoàn toàn chớ gì? Có một ông bạn thân-chủ nhà đòn đám ma thì tiện nghi quá cỡ rồi: Nhờ một thằng có môn bài chôn người thủ tiêu một xác chết thì kín quá, tuyệt quá! Vậy là đời lão sắp khốn nạn. Tiếp tay chôn xác chết dùm cho mấy ông ăn cướp còn là gì, nếu chẳng phải tòng phạm sát nhân? Ra tòa là ở tù hàng năm sắp lên mà tù khổ sai, cấm cố chớ chẳng phải tù thường! Ôi, chủ nhà đòn danh tiếng mấy chục năm Amegiro Bonasera mà tù tội vì dính líu vào vụ giết người của mấy thằng Mafia thì còn gì là mặt mũi? Vợ con ông chủ còn xấu mặt lây là cái chắc! Chết đến nơi rồi. Bonasera phải đốt thêm điếu Camel. Coi, tù tội đâu đã nguy hiểm? Bất quá chỉ bôi đen tên tuổi, tiêu ma danh dự. Còn cái vụ này… cái vụ sắp sửa phải dính vô dám mất mạng! Lão tiếp tay cho Corleone, tức đứng hẳn về cánh Corleone thì nhất định là kẻ thù chung của Ngũ đại gia đình Mafia. Tụi nó biết… mà dĩ nhiên thế nào tụi nó chẳng biết… thì ôi thôi còn gì cái mạng của ông chủ nhà đòn? Chết chắc! Lão hối hận đầy mình. Ôi, nhờ vả làm chi cho khốn khổ? Mụ vợ lão quen biết con mụ trùm Corleone làm chi cho mang vạ thế này? Mà cả con nhóc con nữa. Quen biết, chơi bời làm gì… để bị hành hạ, để bố phải đi cầu cạnh người ta giờ mới ra nông nỗi! Mà cả cái nước Mỹ này nữa, ăn nên làm ra được, giàu có được cũng khổ. Bonasera hận quá! Hận người, hận đời chán chê thì Bonasera bỗng thấy lóe lên một tia sáng lạc quan. Ô hay, sự tình đâu đã đến nỗi bi thảm đến thế mà đã vội bấn lên? Mọi việc dám xuôi chèo mát mái lắm chớ? Xưa nay Vito Corleone đâu phải người không khôn ngoan? Xưa nay lão nổi tiếng thận trọng, đa mưu túc kế. Cần phải giữ bí mật, lão còn giữ hơn ai hết! Như vậy hoảng hốt làm gì… sao bằng bình tĩnh chờ coi. Mà bây giờ làm mất lòng Vito Corleone không nguy hiểm sao? Sợ còn mau chết nữa! Có tiếng bánh xe nghiến lạo xạo. Quen quá rồi, Bonasera biết ngay có xe tới khúc đường trải đá sỏi, đi vòng cửa sau. Lão vội mở cửa sau đón khách. Clemenza hùng hục ào vô theo sau là hai gã cận vệ coi bặm trợn quá. Cùng xếp mập, hai thằng chia nhau đi kiểm soát một vòng, không thèm chào hỏi, xin phép mà nhào bừa vô như nhà tụi nó vậy. Hai thằng “xét nhà” xong chia nhau đứng hai góc, một mình Clemenza bước ra. Lát sau có xe nữa tới, xe Hồng-thập-tự. Tai Bonasera nghe lầm sao nổi? Lão mập lại trở vô, theo sau có hai thằng khiêng cáng. Thôi đúng rồi! Đúng như Bonasera đoán trước… trên cáng có một thân hình người, che tới mấy lớp mền nhưng hai bàn chân vẫn thò ra, da vàng như sáp. Clemenza đưa tay trỏ để hai thằng khiêng cáng vào “Phòng làm việc”. Có tiếng chân bước từ ngoài sân tối thui vô căn phòng sáng ánh đèn, Ông Trùm Corleone chớ còn ai? Quái, nằm dưỡng thương cả mấy tháng, ổng gầy yếu là phải song dáng đi sao… cứng nhắc, khó khăn thế kia? Chiếc nón nỉ lấy ra cầm tay, mớ tóc trên cái đầu bự coi bộ thưa thớt quá. Coi già nua, gầy yếu hơn bữa gả con nhiều… nhưng oai phong vẫn còn, thế mới lạ! Úp nón vô ngực, ổng cất tiếng: “Thế nào cố nhân? Chỗ anh em có chút việc nhờ nhau được chớ?” Bonasera gật đầu. Ông Trùm Corleone theo chiếc cáng bước vô phòng khâm liệm, lão tò tò đi sau. Chiếc cáng được đặt lên bàn cao. Ổng khẽ đưa cái nón ra hiệu để mấy người kia ra hết. Lúc bấy giờ Bonasera mới lí nhí: ” Nào, bạn cần tôi làm gì nào?” Ông Trùm ngưng thần hướng vô chiếc cáng thong thả đáp: – Bạn… nếu bạn thương tôi nhờ bạn ráng hết sức, bạn mang hết kinh nghiệm nhà nghề lo dùm cho thằng cháu. Tôi… tôi không dám để mẹ nó nhìn cảnh tượng này… Chậm chạp nhích tới bên cạnh bàn, Ông Trùm mạnh tay lật chiếc mền lên. Ôi chao, Bonasera không thể nén nổi một tiếng rú kinh hoàng… dù chôn người liệm xác là nghề từ mấy chục năm nay. Ghê rợn quá! Khuôn mặt bự của Sonny Corleone hiện ra, nát bấy những vết đạn. Mắt bên trái là cả một hố máu bầm, tròng mắt bể vụn. Một mớ thịt bầy nhầy, nát ngướu thay cho sống mũi và gò má trái. Có dễ đến gần một giây đồng hồ Bonasera cảm thấy bàn tay Ông Trùm Corleone đặt trên vai lão, có ý tìm một thế dựa. – Bạn thấy chưa? Bạn thấy thằng con tôi bị chúng chơi dã man chưa?
Trận đại chiến 1947 giữa cánh Corleone và Ngũ đại gia đình Mafia Nữu-Ước quả tình quá tốn kém cho cả đôi bên. Lo bắn giết nhau lại phải lo áp lực cớm buộc phải nạp thằng khốn đã bắn đại úy Mc Closkey. Có được làm ăn gì đâu? Xưa nay có mấy khi thầy chú dám mích lòng mấy ông lớn quen che chở cho giới giang hồ làm ăn? Có vụ Mc Closkey thì sức mấy dám che chở… mà có muốn che chở cũng không nổi. Cùng không được che chở nhưng mấy phe khác “lãnh” nặng hơn phe Corleone nhiều. Nguồn lợi chính của phe này là cờ bạc, nhất là đánh đề, đánh cá. Cảnh sát tung lưới ra quơ một số chủ sòng, sau khi đàn áp qua loa. Tụi này khai ra nên lâu lâu một “Tổng hành dinh” cũng bị vồ một mẻ lớn. Mấy thằng có tiền mở “Tổng hành dinh” lỗ nặng là phải yêu cầu các caporegime can thiệp. Caporegime phải đưa ra Hội đồng gia đình, song vấn đề quả vô phương giải quyết. Tạm thời “lặn” ít lâu vậy. Trao lại mối cho bọn hành nghề tự do để bọn này phân tán mỏng cho đàn em. Như ở Harlem, khu ưa đánh đề, đánh cá nhất, từng thằng đàn em tạm thời được chia từng phố một. Cớm có biết cũng vô phương: chơi ổ này ổ kia mọc ra lập tức. Chỉ ít lâu sau, nhiều tờ báo Nữu-Ước lần lượt rọi tia sáng vào bí mật Mc Closkey, điều tra sâu rộng mối liên hệ làm ăn giữa ông Đại úy Cảnh sát và tay tổ ma túy Sollozzo. Có tờ còn đưa hẳn bằng chứng cụ thể là Mc Closkey đã nhận được nhiều số tiền lớn trước khi bị bắn chết. Đó là kế hoạch vận động báo chí, tài liệu toàn do Hagen kín đáo cung cấp. Những loạt bài nổ, cố tình làm xôn xao dư luận, ngay trong hang ngũ cớm càng nảy nhiều nghi vấn. Giới thẩm quyền cảnh sát không xác nhận những tin trên nhưng phủ nhận cũng không được. Trong khi đó đám mật báo viên và các thầy chủ “ăn lương” nhà Corleone bắt đầu xì những tin hoàn toàn bất lợi cho Mc Closkey. Xưa nay cớm đâu có chê những món tiền lo lót của giới làm ăn? Nhưng móc nối với bọn đầu xỏ ma túy thì không dám. Nhận tiền của chúng để âm mưu ám hại một mạng người như Mc Closkey từng làm thì không thể chấp nhận! Một con nhà luật tinh ranh như Tom Hagen còn lạ gì tâm lý thầy chú? Dân tin tưởng ở pháp luật một thì lính phải tin mười. Có pháp luật, trật tự thì mới hành xử được quyền làm Cảnh sát chớ? Đối với Cảnh sát, đám dân là con dao hai lưỡi! Khi cần đến thì phải biết là chiêu-đãi-ông-bế, có nuốt được cũng còn khó! Nhưng xong việc rồi thì còn nói gì ơn nghĩa? Một khi đập được thì tội vạ gì không đập thẳng tay, đó là tâm lý chung thầy chú. Dân giang hồ cần vận động lo lót là thiếu gì ông lớn? Côn đồ thứ dữ ra tòa lãnh án treo như không! Luật pháp Mỹ còn cho mấy ông Thống Đốc và ngay cả ngài Tổng Thống đặc quyền ân xá hẳn những tội nhân mà mấy ông Tòa không thể tha bổng nổi kia mà? Hành nghề một thời gian là thầy chú biết hết. Bọn du đãng bất lương chịu chi thì tại sao không vồ kìa? Bản thân cần tiền, con cái phải cho ăn học đàng hoàng và không lẽ bắt vợ con nhịn ăn, nhịn mặc? Tại sao không vồ ngay để lâu lâu có quyền du hí một phát? Công việc phải mang sinh mạng ra hàng ngày mà không đáng được hưởng sao? Có điều không phải vì vậy mà thầy chú có quyền ăn bẩn. Ăn tiền sòng bạc được. Đút túi tiền phạt vạ cũng được, thiếu gì thằng không thích đi nộp phạt đậu xe trái phép, chạy quá tốc lực? Bắt tiền mấy động mãi dâm hay lờ đi cho các em bổ-lẻ làm ăn cũng vẫn còn được. Đó là những thứ tiền ăn được. Nhưng có những địa hạt phải kiêng nể, đụng đến là bôi bẩn ngay nghề lính, do đó không thể nhân nhượng được. Chẳng hạn buôn lậu ma túy, hiếp dâm, ăn cướp, sát nhân… Một ông Đại úy bị sát hại thì cả ngành bắt buộc phải có phản ứng quyết liệt. Nhưng khi hiểu ra rằng Đại úy Mc Closkey đã bị bắn cùng với một gốc ma túy cả nước biết, lại bị tình nghi dính vào vụ mưu sát thì phản ứng sẽ phải yếu dần. Huống hồ còn bao nhiêu thứ thiếu thốn, nào công nợ nào xe trả góp chưa xong, vợ sắp bể bầu… Bao nhiêu thứ chi tiêu chỉ trông vào độc một khoản lương lính sao nổi? Mấy đứa bán hàng trái phép chỉ đủ tiền ăn nhậu, phạt vạ là tiền túi… nhiều vị túng bấn quá đã phải nã tiền nghi can ngay trong bót. Cuối cùng tình hình hết căng thẳng. Giới giang hồ lại đựơc bật đèn xanh, với điều kiện phải chi nặng hơn. Vị đại diện quận lại sẽ có một “lít” phải chi hằng tháng: ông nào, việc nào, và lãnh bao nhiêu. “Trật tự xã hội” được tái lập bình thường. Ông Trùm Corleone còn nằm bệnh viện là còn phải canh gác chặt chẽ. Đám thám tử tư do Hagen mướn tới vẫn được bọn đàn em Tessio yểm trợ cật lực. Nhưng Sonny vẫn không yên tâm; khoảng giữa tháng Hai, có thể xuât viện được là Ông Trùm được đưa gấp về Long Beach nằm tĩnh dưỡng. Phòng ngủ biến thành phòng bệnh, với đầy đủ dụng cụ cấp cứu. Y tá tuyển riêng, thay phiên gác bệnh 24 trên 24 và phải trả thật đắt để mời bằng được bác sĩ Kennedy về nhà làm y sĩ thường trú, lo điều trị riêng một mình Ông Trùm. Cư xá được phòng thủ nghiêm mật. Mấy căn nhà cho mướn bây giờ toàn dân có súng ở, bao nhiêu phí tổn đi về Sicily do gia đình Corleone tình nguyện đài thọ hết. Cùng lúc đó Fred được gởi sang Las Vegas dưỡng bệnh. Vấn đề an ninh khỏi lo, cánh Las Vegas đã bằng lòng bảo đảm cho nó thì sức mấy các đàn anh Nữu-Ước dám rượt theo để sinh sự với anh em miền Tây cho đến lúc bấy giờ vẫn trung lập? Chơi cánh Corleone ở Nữu-Ước còn mệt, đâu dám viễn chinh tầm thù? Ở Las Vegas, Fred Corleone còn có nhiệm vụ dò đường để chuẩn bị đầu tư vào kỹ nghệ cất khách sạn, mở sòng bạc. Theo nghiêm lệnh của bác sĩ Kennedy thì tuyệt đối cấm nhắc đến chuyện làm ăn trước mặt Ông Trùm. Có ai nghe đâu? Ngay bữa đầu tiên nằm dưỡng bệnh ở nhà, ổng đã yêu cầu bộ tham mưu họp bàn ngay trong phòng bệnh, có đủ mặt Sonny, Hagen, Clemenza, Tessio. Còn yếu quá chưa nói được thì Bố-Già ngồi nghe rồi lắc đầu hay gật đầu. Nghe báo cáo Fred đã được cử sang Las Vegas học nghề làm sòng bạc ổng gật đầu lẹ lẹ. Nghe bọn đàn em bắn bỏ Bruno Tattaglia ổng khẽ lắc đầu, đưa tay làm dấu. Nhưng buồn nhất là vụ Michael hạ sát Sollozzo và Mc Closkey phải trốn về Sicily. Không nói không rằng, Ông Trùm xua tay cho mọi nguời ra hết, ra văn phòng nói chuyện với nhau, ổng không muốn nghe nữa. Sonny ngồi chễm chệ sau buya-rô ngỏ ý: – Để ông già nghỉ đỡ vài tuần cho đến lúc bác sĩ bảo khỏe hẳn đã. Công việc cứ tiến hành đều chớ, bọn cớm đã bật đèn xanh rồi mà? Phải lo trước tiên mấy cái “tổng hành dinh” khu Harlem. Lâu nay mấy thằng đen tọa hưởng, giờ mình phải lấy lại. Bọn khốn này làm đâu hỏng đấy. Tao nghe có mấy thằng bọn nó chơi điếm, cho bọn đàn em ăn giựt tiền đồ, tiền cả lu bù. Đ. M., đi thì đi Cadillac mà mở miệng là than nghèo, than lỗ! Người ta trúng không chịu chung ngay cứ trốn mặt, khất lần và muốn lãnh đủ đòi chia phân nữa! Mấy thằng bao đề nhà mình phải tuyệt đối cấm chúng nó se sua, cấm lên mặt nhà giàu, xe hơi mới, ăn diện và giở trò lật lọng không chịu chung cho bà con trúng. Những thằng bao đề lậu làm ăn riêng là bắt tốp hết. Tụi nó làm mình mang tiếng lây. Bây giờ Tom lo bật đèn xanh cho chúng nó khởi sự là một thời gian sau sẽ đâu vào đấy như cũ hết. – Mày đừng quên là mấy thằng đen bên Harlen cũng chì lắm nghe Sonny? Hồi này tụi nó làm “tổng hành dinh” quen rồi, quen đớp lớn rồi. Sức mấy tụi nó chịu trở lại cửa con? – Vụ đó mày khỏi lo. Cứ đưa “danh sách” cho Clemenza là xong. Cho tụi nó “đi’ là công việc Clemenza xưa nay. Clemenza xác nhận: “Việc đó để tao. Xong ngay”. Nhưng vấn đề Tessio nêu ra mới quan trọng. Lão cho biết rành rẽ: – Mình sắp đặt làm ăn đương nhiên 5 cánh kia sẽ nhào vô phá liền. Tụi nó sẽ “làm thịt” từ các tổng hành dinh bên Harlem… đến các ổ bao đề mặt đông Nữu-Ước. Tụi nó dám kiếm chuyện xô xát, đụng độ ngay trong ngành may cắt của mình. Nghĩa là nhiều chuyện sẽ xảy ra, tốn kém bằng thích. – Tụi nó dám không? Mấy thằng tao cử ra ngoài nghe ngóng đều cho hay tình hình này mình vẫn có thể giải quyết êm đẹp được, miễn chịu bồi thường sinh mạng thằng Bruno. Nghe Sonny lạc quan, Hagen phân tích ngay: – Bây giờ có dễ gì thương thuyết? Mấy tháng vừa qua cánh nào ở Nữu-Ước chẳng mất đứt nhiều lợi tức và đổ tội cho mình? Sự thực là vậy. Bản tâm tụi nó muốn gì? Chỉ muốn mình đứng ra và ngoại giao mua chuộc thẩm quyền để cùng làm ăn lớn ngành ma túy, nghĩa là đi đúng kế hoạch Sollozzo. Có vậy thôi. Nhưng tụi nó phải liên kết nhau quần cho mình mệt đã, mình xuống chắc đã, thì họa chăng mình mới đổi ý, chịu đi với tụi nó. – Ma túy thì khỏi nói. Ông già đã biểu không… thì phải là không. Chừng nào ổng đổi ý là vấn đề khác. – Như vậy thì hiển nhiên mình kẹt, kẹt vấn đề chiến thuật. Lợi tức của mình phần lớn do sòng bạc, bao đề, bao đánh cá… nghĩa là tiền hở, tiền lúc nào cũng có thể mất, nếu chúng phá. Còn cánh Tattaglias chẳng hạn, lợi tức của chúng ở địa hạt khai thác mãi dâm, bóc lột bọn phu bến tàu. Mình làm sao phá nổi? Mấy cánh khác cũng có ít nhiều quyền lợi ở sòng bạc, nhưng lợi tức chính của tụi nó nằm ở ngành xây cất, cho vay lời, làm áp-phe nghiệp đoàn và đấu thầu với nhà nước. Tụi nó có đánh đấm, có dọa người ta lấy tiền… nhưng cũng có nhiều công việc làm ăn hợp pháp. Nói chung, tiền của tụi nó không phải tiền hở, tiền nằm ngoài đường. Chẳng hạn mình muốn chơi cái hộp đêm của cánh Tattaglias là quá nhiều nguy hiểm. Ông già còn chưa dậy nổi thì thế của bọn nó đâu có thua gì mình? Đó là chỗ kẹt của bọn mình. – Để cái chỗ kẹt đó… tao lo cho, Tom! Tao sẽ có giải pháp. Phần mày cứ lo mở đường thương thuyết chử coi? Còn làm ăn được thì mình vẫn cứ tiến hành… rồi chuyện tới đâu thì tới chớ? Tụi nó biết phá, bộ tụi mình không biết trả đòn? Mình cứ dàn sẵn, Tessio và Clemenza không thiếu đàn em. Cần đấu súng một-chọi-một… mình vẫn đủ người để chơi với cả 5 cánh tụi nó họp lại. Nếu tụi nó muốn chơi thật thì mình sẳn sàng trải nệm. Quét mấy thằng đen lập “Tổng hành dinh” thì quá dễ. Nhờ mấy ông cớm vồ, chiếu cố mạnh tay hơn thường lệ một chút là xong. Hồi đó bọn đen còn bị kỳ thị nặng đến đó vác tiền lo lót thầy chú hoặc ông lớn, chịu chi bao nhiêu cũng cứ bị gạt phắt. Vụ Harlem đâu có thành vấn đề? Năm cánh Nữu-Ước họp nhau đánh mạnh ở một ngả ít đề phòng nhất. Hai cán bộ cao cấp Nghiệp-đoàn May-Cắt có liên hệ với cánh Corleone thình lình bị quất sụm. Bọn cá mập mon men ra bến tàu làm ăn bị đuổi cổ. Mấy thằng đầu não nghiệp đoàn phu bến tàu trở cờ. Bất cứ thằng nào bao đề, chủ sòng nào cũng bị đe dọa, muốn tiếp tục làm ăn phải cắt đứt liên hệ với cánh Corleone. Cánh này có tay chủ sòng làm ăn lớn nhất Harlem và trung thành nhất thì chính hắn bị hạ sát một cách thảm thương. Chẳng biết làm sao hơn, Sonny đành ra lệnh cho hai ông caporegime cấp tốc trải nệm. Hai căn cứ mật được dựng lên đầy đủ súng ống, chăn nệm, thực phẩm cho bọn đàn em “cấm trại” mỗi ông caporegime phụ trách một căn cứ. Chủ sòng ló mặt ra đường là phải có cận vệ. Mấy thằng ở Harlem trở cờ tạm thời hãy cứ để đấy. Đánh lớn nên chi phí lớn… trong khi tiền thâu dzô kể như zêro. Có mấy tháng trời mà bao nhiêu biến cố. Biến cố lớn nhất là cánh Corleone đâm hụt hơi vì xuất lực quá nhiều và thực lực không ghê gớm như họ tưởng! Trước hết vì Ông Trùm còn phải nằm dưỡng thương, một phần thế lực bị vô hiệu hóa, mất chỗ dựa. Rồi 10 năm bình an, xếp súng một xó làm cả hai ông caporegime lu mờ, đánh đấm hết hay, hết dữ. Clemenza bắn vẫn ngon, quản trị vẫn cừ nhưng điều khiển đàn em, nhảy lên dẫn dắt chúng xung phong thì yếu rõ. Tessio bây giờ hết gân, hết dám xuống tay rùng rợn như hồi đó. Còn Tom Hagen khả năng có thừa song “trí thức” quá, chẳng phải là một consigliori thời chiến. Không phải gốc Sicily cũng đã yếu quá rồi. Một thằng chiến trận quen như Sonny thì còn lạ gì những nhược điểm cốt yếu trên? Nó biết hết và công nhận ngay chỗ yếu của mình… Nhưng làm được gì? Nó bó tay vì nó đâu phải Ông Trùm? Chỉ một mình Ông Trùm mới đủ thẩm quyền thay thế consigliori và các caporegime! Mà đã lâm chiến thì thay người là cả một vấn đề, thay cho một cấp lãnh đạo như caporegime còn dám đưa đến chỗ sụm luôn chỉ vì đã không được việc còn sớm đưa đẩy con người ta đến chỗ phải trở cờ. Mới đầu Sonny chỉ tính đánh cầm chừng, đợi ông già bình phục là đích thân ổng sẽ lo đối phó. Nhưng chủ sòng lờn trở cờ, chủ sòng nhỏ bị khủng bố liên miên cánh Corleone quả đã bị đẩy đến chân tường, Sonny không thể không đánh lớn. Chiến lược của nó là đánh mạnh, đánh thẳng ngay vô đầu não phe địch. Kế hoạch hành quân của Sonny đã được vạch sẵn và có tính cách nhất tề, đại quy mô… chừng phát động là cả 5 Ông Trùm của 5 cánh đối địch phải nạp mạng chắc. Bộ phận theo dõi của nó đã trải rộng ra để nắm vững từng đường đi nước bước của từng mạng, không sai chạy. Nhưng mới nhập trận có một tuần thì cả 5 ông Trùm cùng “lặn” cái rụp, hết dám thò mặt ra ngoài. Do đó, cánh Corleone đành gồng mình quần thảo liên miên với cả 5 địch thủ liên kết.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.