Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 24 Jun 2024


Phần thứ ba

Đau Thương Chín Rấm
(Khám Chí Hòa)

Phần 21

– Đi đâu các ông?

– Không xa đâu.

– Tại sao ông biết?

– Đi xa nó phải phát thực phẩm ăn dọc đường chứ. Loanh quanh thành phố thôi. Chưa biết chừng, lát nữa, chúng ta lại trở về đề lao.

Có thể lắm. Với người Cộng sản chẳng có gì không có thể. Và, với tù nhân luôn luôn chuẩn bị chờ đợi cái có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Dương Nghiêm Mậu đến Sở Công An sớm hơn tôi năm ngày. Anh kể một chuyện toát mồ hôi lạnh của tù con so 1. Nửa đêm, cai ngục mở khoá, kéo cửa ken két, đọc tên anh và bảo anh “khẩn trương thu dọn tư trang”. Mậu hoảng sợ. Một mình anh bị gọi. Anh rời phòng, lên xe bít bùng. Xe chạy những đường phố nào, Mậu không biết. Gần sáng, xe đậu một chỗ. Anh nghe những lời đối thoại. “Đem nó đi chỗ khác”.

“Chỗ nào”? “Rừng cao su hay khúc sông vắng”! Dương Nghiễm Mậu, tác giả Cũng đành quên mất triết lý sống cũng đành. Thần kinh anh căng thẳng. Anh cầm bằng cái chết đau đớn dai dẳng. Cảm giác hãi hùng ấy kéo dài tới khi anh nhìn rõ Sở Công An. Và nó còn tê tê khi anh đã vào phòng, gặp lại anh em. Đó là trò chơi khủng bố tinh thần. Là sự tẩy não bằng ám ảnh một sự thực sẽ tới. Hoàng Mạnh Hùng kể một chuyện ghê gớm hơn chuyện của Dương Nghiễm Mậu. Anh bị bịt mắt, còng chéo tay ném lên xe. Xe đưa anh đến một biệt thự hoang vắng ngoại ô, anh đoán thế. Người ta kéo anh xuống và đẩy anh vào căn phòng, bỏ rơi anh. Muỗi bu lại đốt anh. Chuột rúc đe dọa anh. Anh nghe chim hót, biết trời đã sáng. Người ta mặc anh đói, khát, hoang mang… Cuối cùng, người ta lôi anh ra, ném anh lên xe và trả anh về cachot đề lao Gia Định nửa đêm. Sáng sau, người ta bắt anh viết Tự khai. Đó là trò chơi tra tấn tinh thần. Hồi ở 3C-2, tôi cũng trải qua một đêm gọi ra làm việc bịt mắt dẫn đi.

– Ai có dao?

Dao của tù nhân là nắp lon sữa bò gấp đôi bẻ gẫy rồi mài nhẵn, dấu thật kỹ để thái bắp cải, dưa leo, gọt xoài…. và cắt móng tay. Ở đề lao, đồ cắt móng tay phải đăng ký. Không đăng ký sẽ bị tịch thu nếu bị phát hiện và sẽ bị nâng quan điểm… âm mưu trốn trại, âm mưu ám sát cán bộ. Mỗi lần tổng kiểm tra, vô số dao tù bị tịch thu. Nhưng rồi vẫn có. Do anh em ra làm việc, ra phơi quần áo, ra khiêng quà ngày thăm nuôi lượm vào. Bạn biết ở kỷ nguyên vệ tinh nhân tạo, kỷ nguyên mà Cộng sản kết tội tư bản “đưa chúng ta trở về thời kỳ đồ đá” chúng tôi cắt móng tay bằng cách nào không? Chúng tôi mài móng tay trên bục xi-măng lổn nhổn cát hoặc, tắm gội xong, chúng tôi gặm móng tay! Móng chân không thể mài và gặm, chúng tôi cắt bằng nắp lon sữa bò.

– Tôi có dao.

– Cho mượn tí.

– Làm gì?

– Rạch vải bố ngó đường.

Tù nhân đầy sáng kiến này thuyết minh như người chỉ dẫn khách du lịch.

– Qua cầu Bông các ông ạ! À, rẽ phải. Hiền Vương. Ngã ba ĐinhTiên Hoàng- Hiền Vương. Phố xá đìu hiu quá.

Anh ta dán mắt vô kẽ vải bố rạch một đường đủ móc ngón tay nhìn ra.

– Đến đâu rồi?

– Ngã tư Hai Bà Trưng – Hiền Vương.

Tù nhân sốt ruột biết nơi chốn mới.

– Đến đâu rồi?

– Công Lý – Hiền Vương.

Im lặng một lúc khá lâu.

– Đến đâu rồi?

– Bà Huyện Thanh Quan – Hiền Vương, sắp đến cái bùng binh đường tầu Lê Văn Duyệt. Đi thẳng sẽ vô Tế Bần. Quẹo phải là…

Anh tù thuyết minh bỏ lửng.

– Quẹo phải, các ông ơi! Chẳng lẽ…

– Chẳng lẽ chi?

– Đợi chút, các ông… Quẹo trái. Hà hà, chúng ta vào đại khách sạn quốc doanh của thành phố mang tên Bác.

– Chí Hòa hả?

– Chí Hòa.

° ° °

Chúng tôi đến khám Chí Hoà, đến Trại Cải Tạo Trường Kỳ ghi rõ ở tấm bảng treo ngang cổng. Bí danh của Chí Hoà là T-30. Những nhà tù mang bí danh đều là những nhà tù lớn. Không kể các phòng tạm giam tại các quận, các phường, thành phố Hồ Chí Minh, ít ra, đã có 52 nhà tù, nếu căn cứ nhà tù Tô Hiến Thành đánh số T-52. Bin-đinh Đại Nam Saigon, bin-đinh Đại Lợi Tân Bình đã là nhà tù. Ngoài ra các vi-la ngụy trang nhà tù ít ai biết. Người giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh đã nâng tỷ số nhà tù nhốt dân tộc lên mức kỷ lục khó chế độ nào vượt nổi. Do đó, cái ca khúc Thành phố mang tên Bác có câu:

… Thành phố Hồ Chí Minh, đời đời rực sáng tương lai. Trong mỗi trái tim, trong mỗi ước mơ, trong mỗi cuộc đời ta đều có Bác.

Đã được dân gian sửa đổi:

… Thành phố Hồ Chí Minh, nhà tù mọc khắp nơi nơi. Trong mỗi vi-la, trong mỗi bin-đinh, trong mỗi quận phường, chỗ nào cũng nhốt.

Đến câu này:

… Lời Bác thiết tha, dìu dắt chúng ta. Sáng mãi tên Người, thành phố Hồ Chí Minh…

Được sửa bất hủ:

… Lời Bác thiết tha: Tù mãi không ra. Sáng mãi tên Mày, thành phố Hồ Chí Minh…

Bạn biết khám Chí Hòa không? Tục truyền rằng, người Pháp chiếm nước ta đã khai sáng văn minh một cái nhà tù mà dân miền Nam gọi đơn giản là Khám Lớn. Khám Lớn được bao quanh bởi những khúc đường Lê Thánh Tôn, Nguyễn Trung Trực, Gia Long, Công Lý. Người Nhật da vàng chủ trương đoàn kết Đại Đông Á một cái nhà tù vĩ đại hơn Khám Lớn gọi là Chí Hòa. Da vàng đối xử với da vàng thô bạo hơn da trắng đối xử với da vàng. Bởi vậy mà những 2 triệu dân Việt Nam chết đói năm Ất Dậu 1945. Người Nhật vẽ họa đồ, chưa kịp thiết kế thì ăn bom nguyên tử Mỹ. Rồi mổ bụng tự sát lung tung. Rồi đầu hàng. Quân cướp nước xâm lăng thô bỉ và thô bạo cũng học đòi tuẫn tiết. Và thế giới ngu dốt lại ca ngợi như thái độ can đảm của người anh hùng Nhật Bản! Cách mạng mùa thu 8-1945, dân Saigon phá Khám Lớn. Dân Hà Nội quên phá Hỏa Lò. Khám Lớn hay Hỏa Lò đều gần Toà Án. Hình phạt và Công lý gần gũi nhau. Vì gần gũi nhau, Công lý đã lem nhem. Nhưng chỉ có Công lý cho Hình phạt, không hề có Hình phạt cho Công lý. Công lý là chân lý, thứ chân lý chó đẻ ở đất nước chúng ta, dưới bất cứ chế độ nào từ trên một thế kỷ. Người Pháp lại chiếm nước ta. Người Pháp xây dựng Chí Hòa theo hoạ đồ của người Nhật. Đó là văn minh và văn hoá ngoại quốc cấy trồng ở Việt Nam. Cách mạng nhân vị duy trì khám Chí Hòa. Cách mạng… Mỹ giật giây duy trì khám Chí Hòa nhưng xây cái Thư viện quốc gia trên mồ Khám Lớn. Cách mạng vô sản giải phóng tù nhân Chí Hòa một ngày, hôm sau gom lại và tháng sau thì đông hơn tù nhân thời Mỹ ngụy, Cách mạng vô sản cách mạng… cái bảng. Sơn đỏ phết mờ “Trại Cải Huấn Chí Hoà” và chữ vàng viết lên Trại Cải Tạo Trường Kỳ.

Tôi đã vào khám Chí Hòa một lần. Ngày nào, tháng nào, tôi không nhớ, vào năm 1964. Buổi sáng, Nguyễn Khánh – Đỗ Mậu xử tử Phan Quang Đông ở Huế. Buổi chiều, Nguyễn Khánh – Đỗ Mậu xử tử Ngô Đình cẩn ở Chí Hòa. Tôi chứng kiến cả hai vụ. Tôi còn nhớ, sân bắn đối diện một ngôi chùa. Chí Hòa có chùa, nhà thờ Thiên Chúa giáo, nhà thờ Tin Lành cho tù nhân tham dự lễ. Đó là thời… ngụy, tù nhân tự do đi lại ban ngày, ban đêm mới vào phòng giam. Năm 1964, tôi vào khám Chí Hòa với tư cách phái viên báo chí. Năm 1976, tôi vào khám Chí Hòa với tư cách tù nhân. Dĩ nhiên, kiến thức Chí Hòa của tôi vỡ ra nhiều. Chí Hòa rộng mênh mông. Vòng đai thứ nhất của nó là những lớp rào giây thép gai có gài mìn xa tận sát trường đua Phú Thọ. Rất nhiều chòi canh đặt máy truyền tin quanh vòng đai nàv. Vòng đai thứ nhất nằm ngoài tường khám cao, dầy, công-xẹc-ti-na giăng đầy trên ngọn và đèn chi chít sáng rực ban đêm. Vòng đai thứ hai bên trong tường tù. Sân đậu xe, nhà chùa, nhà thờ, bãi bắn nằm ở vòng đai thứ haỉ. Vòng đai thứ ba là khu vực hành chính. Vòng đai thứ tư là khu vực của cai ngục, nhà bếp. Tù nhân đóng đô chính giữa bốn vòng đai. Lối ra vào khám Chí Hòa duy nhất con đường Hoà Hưng.

Khám Chí Hòa xây hình bát giác ABCDEFGH. Hai cạnh là một khu. Có bốn khu: HA, BC, DE, FG. Muốn gọi là AH, CB, ED, GF cũng được. Cửa tù hướng hết ra sân. Trung tâm sân là cái château d’eau. Tục truyền rằng, Nhật nó cắm kiếm ếm. Cho nên cái château d’eau y hệt mũi kiếm mà bồn nuớc cao là cái chuôi. Mỗỉ khu có một hồ nước, một miếng sân bóng chuyền. Thời… ngụy, tù nhân được chơi thể thao, được tắm giặt thả giàn. Thời cách mạng, dưới ánh sáng quang vinh của Đảng, tù nhân bị nhốt như gà kỹ nghệ nên sân bóng chuyền biến thành ruộng rau muống, vườn rau cải. Giữa ED, một con đường hầm dẫn tới château d’eau sơn đen thui trông cơ hồ con bọ hung, con đường dưới âm ty. Giữa AH, một cái hành lang từ lầu 2 kéo dài tận giữa sân làm nơi trình diễn văn nghệ cho tù nhân giải trí. Đó cũng là chuyện thời… ngụy. Chí Hòa có ba tầng. Tầng sát đất gọi là những phòng ô. Tất cả khoảng 60 phòng. Mỗi phòng chứa 40 tù nhân. Cách mạng tiến bộ nhốt 65 tù nhân, cao điểm là 80. Không còn chế độ nhà thầu nữa, đã chấm dứt cảnh “người bóc lột người”, nhà nước quản lý và lo cơm nước phục vụ tù nhân. Ban cấp dưỡng do những tù đã thành án phụ trách. Đám trật tự ngoài phòng đều là công an can tội tham nhũng, hiếp dâm, ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa. Chúng tàn bạo hơn cai ngục chính cống, được quyền mở và khoá cửa phòng. Phòng giam ở Chí Hòa cao, trần xi măng cốt sắt. Cánh cửa ra vào nặng cả tạ, ba ô khoá lớn. Cửa sổ rộng, ngang cổ tù nhân chấn song sắt lớn, đầu chui không lọt. Tường phía sau có cửa gió cao vút, bít kín giây kẽm gai. Từ khu này sang khu kia phải qua một lần cửa sắt luôn luôn khoá chặt. OSS-1177 Hubert hay 007 James Bond vào phòng giam Chí Hòa cũng hết cựa quậy. Tướng cướp Điền Khắc Kim nổi tiếng nhờ vượt ngục Chí Hòa. Sức mấy! Hắn đã “mua” chúa ngục. Người ta xâv cái bể nước dưới chân château d’eau. Nhà bếp nấu nước sôi đổ ra máng. Máng chẩy vào bể. Bể có bốn cái rô-bi-nê để trật tự lấy nước phân phối cho các phòng. Đại khái, vài nét đan thanh về “lịch sử” Chí Hoà phần hình thức.

Đã vào Chí Hòa, vào Trại Cải Tạo Trường Kỳ thì kể như khó về gặp vợ con. Tôi thiếu may mắn trên đường tù. “Biệt kích văn nghệ” Nhã Ca được tha sớm. “Biệt kích văn nghệ” Dương Nghiễm Mậu được tha sớm. “Biệt kích văn-nghệ” Doãn Quốc Sĩ đi lao động. Tôi nằm Chí Hòa. Thượng đế xa lắc của tôi ơi, có phải Ngài thử thách sức chịu đựng gian khổ của tôi đến mức nào sẽ ban tặng tôi ân sủng mức ấy không? 17 tháng ở đề lao Gia Định tôi đã rã rượi, đã bi quan, đã chẳng còn thiết tin tưởng gì nữa. Tôi ngỡ tôi biết ước mơ từ 3C-1. Không đâu, tôi chưa biết ước mơ. Tôi chán luôn cái tham vọng văn chương cần thiết trả lời Cộng sản một câu nói khinh miệt “Thế giới đâu đã đọc sách của các anh”. Ý của họ muốn nói: Thế giới đâu thèm đọc sách của chúng tôi. Nhìn Chí Hòa là không thể nghĩ gì nữa. Nhìn Chí Hòa là nhìn cay đắng dàn trải, là nhìn tủi nhục mênh mông, là nhìn nỗi chết chờ đợi.

Chúng tôi ngồi giữa sân nắng chang chang. Người ta bắt chúng tôi phơi nắng cả tiếng đồng hồ. Ở tối quen, ra nắng lâu, tôi chuếnh choáng. Tôi biết say nắng. Và tôi độc quyền dùng chữ say đau khổ. Đầy đọa chúng tôi chán chê, người ta chia chúng tôi thành hai nhóm. Khám xét giỏ bị lung tung, người ta lùa chúng tôi vào lò bát quái. Mỗi nhóm một phòng, chúng tôi lên lầu 1 khu FG, khu hắc ám nhất của Chí Hòa. Lúc ấy, kẻng tù báo trưa. Cai ngục, một tên ngoài hai mươi tuổi, mặt mày dữ tợn. Khóa ba lần khóa cửa xong, hắn thị uy:

– Tên tôi là Phách. Trưa nay khắc phục dạ dầy, chiều tính. Có gì đề xuất không?

Đoàn Kế Tường nhanh miệng:

– Cho xin cái chổi và cấp chiếu cá nhân.

Cai ngục Phách nói:

– Khắc phục chờ đợi.

Ở đề lao, chúng tôi được cấp chén nhựa, ca nhựa, muỗng nhựa và chiếu. Chuyển trại, đề lao đòi lại hết. Chúng tôi cần chiếu, ca chén gia đình đã gửi. Cai ngục Phách quan sát khắp lượt rồi chỉ tôi.

– Anh kia!

Tôi nhìn cai ngục:

– Cán bộ gọi tôi?

Hắn gật đầu.

– Lại đây.

Tôi bước ra.

– Tên gì?

– Vũ Mộng Long.

– Tù bao lâu?

– 17 tháng.

– Tốt, cho làm trưởng phòng tạm thời.

Tôi “được” phong chức trưởng phòng lâm thời, các khu ở Chí Hòa không có số phòng chỉ có số lầu. Phòng của tôi đông anh em trẻ. Tôi bớt buồn vì gặp lại Đoàn Kế Tường, Dương Đức Dũng, Đặng Hải Sơn. Thêm nghị viên Hoè và ông phó tỉnh Đà Nẳng. Đằng Giao và Nguyễn Mạnh Côn ở phòng bên cạnh. Nhờ tài vẽ, ở đề lao Gia Định, Đằng Giao được trang trí phòng cưới khi có đám cưới của cai ngục và minh họa bích báo… Sang Chí Hòa, Đằng Giao trúng số phát cơm cho cachot ngay lập tức. Ở tù, được ra ngoài làm những công việc vẽ vời, sơn phết, gánh nước, cắt tóc, quét dọn, nuôi heo, thì khuây khỏa và biết nhiều chuyện. Chẳng hạn gánh nước sôi hay gánh cơm cho các phòng sẽ dễ dàng “kiếm” và “nhìn mặt” bằng hữu. Nhưng cái khuây khỏa và cái biết nhiều chuyện kéo theo những hệ lụy. Một trong những hệ lụy là bị nghi nghờ làm “ăng-ten”. Ai cũng thích ra ngoài, không được ra thì cay cú người được ra. Lữ Hồ Nguyễn Minh Hiền, giáo sư triết học và văn chương tức họa sỉ Bố vẽ cho tưần báo Con Ong, tưần báo Người, đã bị nguyền rủa, bị đánh đập ở khu A đề lao Gia Định chỉ vì được gọi ra ngoài vẽ số các phòng tù, trang trí vở chép bài ca cho công an quản giáo. Chỉ có một Lữ Hồ biết Lữ Hồ nói gì với công an thôi. Vậy mà tù nhân trong phòng quả quyết với nhau đã nghe rõ Lữ Hồ “chửi bới anh em Phục Quốc”! Và, nhân danh những người không biết vẽ, không được ra, người ta xúm nhau kết án Lữ Hồ, hành hạ Lữ Hồ, xúc phạm thân thể Lữ Hồ. Người ta bất lương ở điểm thành khẩn nói với người khác rằng chính mắt người ta trông thấy rõ, nghe rõ. Và người khác lại nói với người khác ghê gớm hơn. Ở tù, một người phán xét một người làm “ăng-ten”, hình như, được coi là yêu nước, kiên cường, bất khuất. Cho nên, bị chuyển sang phòng mới, từ lời buộc tội “chửi bới anh em Phục Quốc”, Lữ Hồ được tăng thêm tội “chỉ điểm công an bắt Phục Quốc”. Vân vân. Cả đề lao Gia Định gớm ghiếc Lữ Hồ. Anh ta có tội gì đâu? Nếu có, chỉ là tội biết vẽ. Mà ở tù, Hồ Chí Minh đã tự thú “Mỗi lời mỗi việc không tự chủ, để chúng đắt đi tựa trâu bò” 2. Chưa bao giờ tôi thấy triết lý sống Ngu si hưởng thái bình rực rỡ ở nhà tù. Không ai đàm tiếu, thị phi thằng Ổi, thằng Xoài, thằng Mít ra ngoài làm việc và báo cáo chuyện trong phòng với công an cả. Người ta chỉ thị phi Lữ Hồ, Đằng Giao. Nhà Phật dạy đúng. “Hơn người khác là một cái tội”. Tôi không biết Lữ Hồ đã sang Mỹ gặp vợ con chưa. Những dòng này viết cho vợ con anh. Tôi khẳng định, nhân danh những gì tôi biết, Lữ Hồ không bần tiện như người ta kết án anh. Cái tội của anh do khẩu nghiệp. Anh đã không biết giữ miệng, oang oang bầy tỏ lòng khinh bỉ những ông trí thức khoa bảng cùng bị nhốt chung một phòng với anh. Bọn hèn mọn này đã trả đòn anh một cách đê tiện. Và đó là sự cao thượng, sự bao dung của quốc gia. Và đó còn có thể gọi là chính nghĩa quốc gia được chăng?

Cai ngục Phách, sau khi phong chức trưởng phòng lâm thời cho tôi, bèn hỏi:

– Thuộc Nội quy chưa?

Tôi đáp:

– Rồi.

Hắn quát:

– Đứng nghiêm chỉnh. Anh chưa thuộc Nội quy. Cán bộ hỏi phải lễ độ trả lời, thưa dạ cung kính.

– Dạ.

– Trách nhiệm phòng này thuộc về anh. Rõ chưa?

– Thưa cán bộ, rõ.

Vậy là tôi “bị” làm trưởng phòng lâm thời, “bị” dồn vào cái thế trên đe dưới búa. Trưởng phòng tù, phòng của tù nhân sẵn sàng cho mình ăn đòn và đưa mình ra ngoài cho cai ngục đánh đòn.

– Thưa cán bộ…

– Gì?

– Cán bộ chọn người khác.

– Anh dám chống đối chỉ thị của cán bộ à? Chống chỉ thị của cán bộ là chống cách mạng, chống Đảng, chống Nhà Nước, chống Nhân Dân. Tôi bắt anh làm trưởng phòng.

Cai ngục Phách bỏ đi. Nửa tiếng đòng hồ sau hắn trở lại mang cho chúng tôi một cái chổi chà và ba cái thau nhôm. Một vài anh em đã lượm được những đoạn giây thép lớn. Thế là chế tạo bếp, bắc thau nhôm lên, dùng túi ni-lông quấn chặt mà nấu nước sôi pha mì, pha bột… Tôi rét run, sợ cai ngục Phách đến “đột xuất”. Nổi lửa trong phòng giam là vi phạm Nội quy nặng nề. Tôi không dám hé miệng, ngại anh em sỉ vả. Ôi, trưởng phòng tù, cái “địa vị” nhục nhằn của tôi. Anh em biết điều, nấu nướng xong, chà rửa đít thau láng coóng. Có thau nhôm là lý tưởng, anh em nấu mì suốt đêm, thay phiên nhau nấu. Mì nấu nóng hổi chưa đã, anh em chơi mì xào lạp xưởng, tôm khô.

Lệ ở Chí Hoà là tù nhân được tắm hai lần một tuần lễ. Trật tự viên cho chúng tôi biết phòng của chúng tôi tắm vào thứ tư và thứ bẩy. Mỗi ngày, buổi sáng, phòng được đổ đầy một phuy nước. Nước này chỉ dùng để xối cầu tiêu, rửa chén muỗng, rửa mặt đánh răng. Phòng cử người xuống hồ múc nước vác lên. Cái phòng của tôi có vẻ… lâm thời quá.

Sống ở Chí Hòa mới đủ hai ngàv đã tới thứ bẩy. Sự bi thảm xẩy ra vào đúng thứ bẩy. Tù nhân chờ đợi đi tắm. Đợi xế trưa vẫn không được tắm, tù nhân “quen thói” đề lao Gia Định, thay phiên réo gọi um sùm.

– Báo cáo cán bộ, phòng mới xin đi tắm!

Réo gọi vô ích. Chừng không thèm réo gọi nữa, cai ngục Phách dẫn xác đến.

– Đứa nào vừa réo đấy?

Nghị Hoè đáp:

– Không có đứa nào cả, chúng tôi xin đi tắm.

Cai ngục Phách nghiến răng:

– Mày dám hỗn à?

Nghị Hoè nói:

– Nảy, cán bộ đừng có mày tao. Nội quy không cho phép cán bộ gọi tù nhân bằng mày.

Cả phòng nhao nhao: “Cán bộ mất dậy. Cách mạng vô giáo đục…” Đoàn Kế Tường hét:

– Đ.M. cán bộ. Đ.M. cách mạng!

Cai ngục Phách lĩnh vội. Phòng của chúng tôi reo hò chiến thắng. Nhưng Chí Hòa không phải Gia Định. Không có chấp pháp ở đây. Càng không có sự làm dáng dân chủ cho nền cộng hòa xã hội chủ nghĩa ở đây. Ở đây là Chí Hòa, là Trại cải Tạo Trường Kỳ, là nơi tôi nhìn cay đẳng dàn trải, nhìn tủi nhục mênh mông, là nơi tôi nhìn nỗi chết. Cai ngục Phách đã trở lại. Hắn trở lại với lũ đầu trâu mặt ngựa trật tự. Hắn hách dịch:

– Đứa nào đòi đi tắm?

Nghị Hòe hiên ngang:

– Tôi.

Cửa phòng mở. Cai ngục bảo Nghị Hoè bước ra. Cửa phòng khép lại, gài chốt liền.

– Còn đứa nào nữa?

Dương Đức Dũng dơ tay.

-Tôi.

Đoàn Kế Tường sợ bạn đi một mình bị úm, vội vàng dơ tay. Thêm ông Phó tỉnh hành chánh Đà Nẳng và vài anh em trẻ nữa. Tất cả bị dẫn tới một chỗ nào đó của khám Chí Hòa. Tới giờ cơm chiều, chẳng có ai về cả. Phòng họp. Hoàng Mạnh Hùng và Đặng Hải Sơn đề nghị anh em chia làm hai nhóm tranh đấu. Nhóm thứ nhất “đánh” trước, nếu “thua”, nhóm sau tiếp tục. Cả phòng tuyệt thực. Bấy giờ, Tư Long đã sang Chí Hòa nắm chức vụ trưởng khu FG. Chí Hòa có bốn khu, như tôi đã tả. Đáng lẽ, nó hoàn toàn thuộc về sở Công An thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng có sự tranh chấp giữa Mai Chí Thọ và Cao Đăng Chiếm nên khu ED do Cục Quản Lý Các Trại Giam của bộ Nội Vụ quản lý. Cao Đăng Chiếm chơi Mai Chí Thọ, cho khu ED hưởng quy chế đặc biệt. Với ba khu AH, BC, FG, khu ED là thiên đàng của Chí Hòa. ED là nơi dừng bước cải tạo của sĩ quan cảnh sát đặc biệt. Lần lượt, người ta rời rừng già về đây, rồi người ta lại ra đi. Thời gian ở đây, người ta sống thoải mái. Cửa phòng giam mở từ sau lúc điểm số. Người ta kéo nhau xuống sân đánh bóng chuyền, đọc báo, tắm giặt, tán gẫu giữa các phòng. Chiều tối, người ta trở lên phòng ăn cơm. Rồi ngủ.

Tư Long, hung thần của đề lao Gia Định, được báo cáo phòng của chúng tôi tuyệt thực, kéo “binh mã” ồn ào tới. Hắn xăn tay áo, nổi giận vì sẽ phải tự kiểm với lãnh đạo của hắn vụ này.

– Những anh nào tuyệt thực?

Hoàng Mạnh Hùng đứng lên. Đặng Hải Sơn đứng lên. Nhiều anh em khác đứng lên.Đợi không còn ai đứng lên nữa, Tư Long ra lệnh mở cửa. Những người tuyệt thực tay không kéo nhau ra khỏi phòng. Cơm canh chưa chia bị khuân về bếp. Chập tối, cai ngục Phách xuất hiện. Hắn gọi tôi:

– Vũ Mộng Long.

– Có.

– Ra đây.

Tôi bước sát tường có chấn song sắt.

– Mày làm Trưởng phòng mà để chúng nó gây loạn hả?

Tôi cãi:

– Thưa cán bộ, giữ trật tự phòng không phải nhiệm vụ của tôi. Vả lại, tôi chẳng có quyền gì với anh em cả.

Hắn mím môi:

– Bố láo. Mày là đại diện cách mạng, tại sao không có quyền? Tao đã cho mày quyền mà.

Và hắn thò tay qua chấn song, tát tôi một cái đau điếng. Nó “dám” tát vị… đại diện cách mạng.

– Mày hết là Trưởng phòng. Cút về chỗ.

Hắn gọi Trật tự viên của phòng do hắn chỉ định, hạch hỏi:

– Đứa nào chửi cách mạng?

Trật tự viên lắc đầu:

– Thưa cán bộ, tôi không biết.

– Thật chứ?

– Thật.

– Theo tao.

Hắn mở cửa phòng dẫn anh Trật tự phòng đi “làm việc.” Phòng của chúng tôi không còn Trưởng phòng nữa. Khi anh Trật tự phòng trở về, mặt mày sưng vù, môi toét ra, ròng ròng máu. Thế đấy, cái định nghĩa sơ khởi của Chí Hòa triều đại Lê Duẩn. Anh tù nhân bị chỉ định làm Trật tự viên của phòng no đòn nằm một xó trên nền xi-măng nhớp nhúa. Cai ngục bắt chúng tôi ngủ ngay, dù chưa nghe kẻng báo ngủ. Hắn cảnh cáo:

– Dở trò đêm không ngủ là ốm đòn. Đây là nhà tù, hiểu chưa?

Tử ngày đi “học tập cải tạo,” lần đầu tiên tôi bị ăn cái tát tai. Kể ra thì vẫn may mắn. Cái “danh vọng” chỉ định nó chua xót thế, cái “danh vọng” bon chen nó còn chua xót dường nào! Ở đời, có danh là có họa. Ở tù, có danh là khốn nạn. Tất cả, nhắm vào cái danh của con người mà săn đuổi, mà buông cung, mà phóng dao, mà bêu nhục. Nghĩ cũng bẽ bàng cho cả những ai rắp ranh “có danh gì với núi sông.”

° ° °

Trưa hôm sau, tất cả những người tuyệt thực trở lại phòng. Anh nào anh nấy mặt méo xệch, khát nước rã họng. Hung thần Tư Long dẫn họ lên lầu, bắt họ ngồi ngoài hành lang, cấm nói chuyện, cấm ngủ, cấm nằm. Tư Long không cho họ uống nước. Mỗi người đều phải viết Tự kiểm nhận lỗi và cam kết không tái phạm. Chưa đủ, cai ngục thứ hai tên Quỳnh, bắt chúng tôi xếp hàng ngồi nghe hắn “lên lớp.” Hắn chửi chúng tôi là ký sinh trùng của xã hội, là những kẻ hèn mọn hung hăng nhanh và đầu hàng lẹ, những kẻ chửi lén cách mạng và không dám đương đầu và đổ lỗi cho nhau. Và đây là những câu thấm thía:

– Các anh sợ khó, sợ khổ mà cũng học đòi chiến đấu ư? Chiến đấu cho lý tưởng cao cả hay chiến đấu cho sự tắm rửa? Chưa từng thấy ai chết vì thiếu tắm cả. Mà chiến đấu hoặc bằng tư tưởng hoặc bằng súng đạn, không ai chiến đấu bằng chửi lén. Các anh cứ tự hào quốc gia các anh cao cả mà tôi nhận xét các anh chẳng cao cả chút nào. Các anh vừa ngu vừa dốt. Ngu nên không biết thân phận tù đầy. Với cách mạng không có yêu sách mà chỉ ngồi chờ ban phát mọi ân huệ. Đã là tù thì mất hết tự do, hiểu chưa? Các anh chì còn tự do hít thở vì cách mạng không quản lý nổi khí trời. Dốt nên bầy trò tuyệt thực tranh đấu cho đứa ngu. Người Cộng sản dám chiến đấu trong tù thực dân, đế quốc vì các đồng chí đang chiến đấu bên ngoài. Các anh rã đám, chủ Mỹ cút, đầy tớ Ngụy nhào rồi, chiến đấu vô vọng. Muốn chiến đấu, các anh phải học tập người Cộng sản. Người Cộng sản vào tù, không thèm thăm nuôi, không bắt tội vợ con mình nhịn ăn uống tiếp tế quà bánh cho mình. Các anh mừng rỡ nhận quà, sung sướng ăn uống khi con các anh đói. Thư từ gởi về không tỏ tình cảm với gia đình, hết xin món này lại xin món nọ. Thế thì chiến đấu cái gì? Cả nước đói khổ, chúng tôi cũng đói khổ, riêng gì các anh mà than vãn. Chiến đấu từ đau khổ, cố mà học nếu muốn chiến đấu chống Cộng sản.

Tôi không hiểu tại sao cai ngục Quỳnh dám dạy chúng tôi bài học chống Cộng sản sâu sắc thế? Có lẽ, hắn kiêu ngạo, hắn khinh chúng tôi. Cộng sản lớn kiêu ngạo lớn, Cộng sản nhỏ kiêu ngạo nhỏ. Lần thứ nhất tôi thấy một tên cai ngục đánh trúng tâm huyệt tù nhân quốc gia. Cái trò thăm gặp của Cộng sản đã làm tù nhân vốn sợ khó, sợ khổ càng sợ khó, sợ khổ. Nó nuôi dưỡng tinh thần hưởng thụ và ỷ lại của tù nhân. Nó tạo ra một ám ảnh: luôn luôn sợ hãi bị cúp tiếp tế thực phẩm. Nó gây chia rẽ giữa tù nhân: tiếp tế nhiều, tiếp tế ít và không ai tiếp tế. Tôi dám nói rằng, nếu Cộng sản cấm tù nhân gặp mặt thân nhân, khước từ quà bánh, thuốc men gia đình tiếp tế, chúng ta sẽ có khá nhiều anh hùng tù ngục. Cộng sản hiểu thấu thủ thuật làm hư đốn những kẻ chống đối họ. Tù nhân của chúng ta quên mất điều này. Người ta dễ dàng ngủ yên bằng mọi thỏa mãn của kẻ thù. Cái làm người ta thức, người ta tỉnh, người ta nuôi chí phục hận là sự ngược đãi của kẻ thù. Bởi vậy, thay vì cảm ơn Cộng sản đầy đọa mình, tù nhân của chúng ta thường oán thán họ. Tư tưởng này đã trở thành tai họa cho tôi khi tôi bị đầy tới trại tập trung khổ sai lao động 3.Tôi bị ép giữa hai gọng kìm tù nhân và cai ngục.

Cai ngục Quỳnh “lên lớp” về Nội quy:

– Quốc gia các anh cũng có Nội quy đấy. Nội quy của nhà tù, của trại lính, của trường học, của các lớp huấn luyện, của các trại hè… Ở chỗ nào có sinh hoạt tập thể là phải có Nội quy. Các anh đa số là trí thức thì phải hiểu rõ ý nghĩa của Nội quy. Tù binh chiến tranh gặp kẻ chiến thắng phải chào kính. Quốc tế quy định vậy. Cấm nổi loạn, cấm trốn trại. Nội quy của cách mạng có bắt các anh hoan hô cách mạng, có bắt các anh bò đâu? Chỉ bắt các anh tuân lệnh cán bộ, giữ trật tự, vệ sinh phòng, ăn ngủ đúng giờ giấc, đừng cãi cọ, đánh nhau, mua bán, đổi chác, tuyên truyền nhảm nhí… Vệ sinh là giữ sức khỏe cho các anh.

Hắn nói toàn những điều nhân đức. Cuối cùng, hắn bắt những người tuyệt thực đứng dậy. Hắn nhìn anh em, nhếch mép cười rồi bỏ đi. Buổi chiều, những người “đòi đi tắm” trở lại phòng hết, trừ Đoàn Kế Tường. Họ bị cai ngục Phách dẫn đến một phòng trống. Bọn trật tự cầy cáo trói tay họ lại và đấm đá hội đồng. Người nào cũng tím bầm mắt, máu khô còn ứa trên mép. Rồi họ bị tống vào cachot khu FG. Không chịu nổi cachot Chí Hòa, họ đành làm Tự kiểm nhận lỗi. Riêng Đoàn Kế Tường kiên trì. Tất cả lắc đầu, thở dài:

– Chí Hòa không phải là đề lao Gia Định.

Qua một tuần gạn lọc thành phần, chúng tôi nhập phòng bên cạnh. Ở đây, tỷ phú Phạm Quang Khai làm trưởng phòng. Tôi sống chung với tư sản mại bản Chợ Lớn như Trần Thành, Đào Mậu, Tăng Tài; với tư sản mại bản Saigon như Nguyễn Công Kha, Bùi Kim Bảng, Nguyễn văn Trương (Khai Trí), Nguyễn văn Trương (bột giặt Viso); với Đằng Giao (bị vào phòng), Nguyễn Mạnh Côn, Đỗ văn Lựu và những khuôn mặt cũ của đề lao Gia Định. Và với cả du đãng, sát nhân… Đời tù lại có nhiều chuyện mới.

——————————–

1Những người lần đầu tiên bị tù gọi là tù con so
2Ngục Trung Nhật Ký, thơ Hồ Chi Minh
3Đọc Trại Tập Trung, cùng một tác giả và nhà xuất bản.

Nhà Tù

vietmessenger.com

Hồi ký của Duyên Anh

Post by Sơn râu 24 Jun 2024


Phần 20

Tôi bắt đầu suy nghĩ về những chiếc còng made in USA mà người Mỹ bỏ lại quê hương tôi. Người Mỹ chạy trốn vội vàng không kịp di tản còng khóa hay người Mỹ cố tình tặng còng khóa made in USA cho Cộng sản? Tại sao sự khai phóng tự do, dân chủ cần thiết còng, khoá, khiên, ma-trắc, lựu đạn khói nhỉ? Câu hỏi tôi tự đặt ra rồi tôi tự trả lời bằng bài thơ tù:

Nhân danh chủ nghĩa tư bản
nước Mỹ chế tạo còng
và viện trợ cho những tên độc tài ở Sài Gòn
để bảo vệ tự do dân chủ
và xây dựng hạnh phúc con người nước nhỏ

Nhân danh tự do dân chủ
thi sĩ chống đối chế độ độc tài
và bị còng nhãn hiệu USA siết chặt tay
tống vào ngục

Nhân danh chủ nghĩa vô sản
Liên Xô giải phóng Việt Nam
tiêu diệt ảnh hưởng chủ nghĩa tư bản tan hoang
nhưng vẫn sử dụng hàng triệu chiếc còng
mà Mỹ quên di tản

Nhân danh quyền sống
và không nhân danh gì cả
thi sĩ phản kháng và bất động
đều bị Liên Xô dùng còng Mỹ siết chặt tay
tống vào ngục

Tôi nằm tù sáu năm
tìm hoài chưa thấy một định nghĩa chính xác
về cái còng ở thời đại của chúng ta

Chúng ta có nhiều cái nếu sau nhiều lần can thiệp của Tây phương trên đất nước chúng ta. Nếu người Anh không can thiệp vấn đề Việt Nam, không dâng hiến cơ hội và khích lệ người Pháp trở lại gây chiến tranh 10 năm tạo thanh thế và chính nghĩa cho Cộng sản, lịch sử đã như thế nào? Chắc chắn, Cộng sản đã bị quốc gia nghiền nát. Người Pháp đã vội quên thân phận bị trị của mình, vội quên những giọt nước mắt mừng rỡ giải phóng dân tộc thoát ách phát-xít Đức để cố tình dẫm bước chân thống trị lên nỗi mừng rỡ độc lập của Việt Nam. Khác hẳn thực dân Pháp của thế kỷ trước, người Pháp năm 1946 là người Pháp vừa trải qua sự nhục nhằn mất nước, vừa trải qua cuộc kháng chiến chống xâm lăng hào hùng. Họ đem cái hào hùng đó xâm lăng nước ta. Tinh thần và tác phong của người Pháp dân chủ xâm lăng còn thô bạo gấp ngàn lần tinh thần và tác phong của người Pháp thực dân xâm lăng. Đó chính là dịp may ngàn năm một thuở để Cộng sản phát tín hiệu đoàn kết dân tộc rồi đẩy dân tộc lên tuyến đầu. Năm năm sau, đảng phái quốc gia bị tiêu diệt dần mòn. Năm năm sau nữa, Cộng sản chế ngự và chuyên chế. Cái tham vọng mù lòa của người Pháp đã nuôi dưỡng Cộng sản khôn lớn bằng máu xương và nước mắt dân tộc Việt Nam.

Nếu người Mỹ không can thiệp vấn đề Việt Nam từ 1954, lịch sử đã như thế nào? Họ đến, họ làm đảo tung đạo lý Việt Nam, họ mang chiến tranh, ngục tù, còng xích họ viện trợ bọn độc tài bù nhìn, họ phá hủy, họ nuôi dưỡng Cộng sản rồi họ bỏ đi. Cái còn lại là gì? Là Cộng sản. Là ngục tù và còng xích made in USA. Bất cứ nơi nào người Mỹ can thiệp, mọi diễn biến sẽ giống hệt Việt Nam. Bọn cầy cáo tay sai ôm hàng tỷ đô-la cuốn gói về nước chủ. Dân chúng ở lại quằn quại, rên xiết. Nguyễn Văn Thiệu đó. Cao Văn Viên đó. Trần Thiện Khiêm đó. Marcos đó. Câu ca dao dưới đây diễn tả thật đúng tâm sự bẽ bàng của dân tộc Việt Nam.

Mỹ đưa Khiêm Thiệu đi rồi
Dân ta ở lại chịu đời đắng cay
.

Thời đại chúng ta, cách mạng làm bằng phương tiện Mỹ. Lãnh tụ cách mạng chết vì âm mưu Mỹ. Chiến tranh bởi súng đạn Mỹ. Mất nước do… thiếu viện trợ Mỹ. Thế mà vẫn còn đứa ngu xuẩn trưng bằng cớ Mỹ nuốt lời hứa. Nước mình mình không lo, lo ăn cắp máu lính, lo ăn cướp xương dân, đem cái kiến thức tiến sĩ tôi đòi mà đổ vạ ông Nixon. Lại lắm kẻ mê muội cố bám lấv lòng trắc ẩn chẳng bao giờ có của Mỹ để mưu đồ giải phóng dân tộc. Xây dựng hạnh phúc giống nòi ở California, ở Paris chẳng khác chi xây lâu đài trên cát. Bởi vì chưa nhìn còng made in USA còng tay người quốc gia chống Cộng tống vào tù Cộng sản.

Suy nghĩ về còng Mỹ bỏ lại tặng Cộng sản, tôi đâm ra ngao ngán và bi quan. Người giầu có thể thương người nghèo, nhưng nước lớn không đời nào tử tế với nước nhỏ. Sự phũ phàng là, chúng ta đang sống ở kỷ nguyên nước nhỏ không được phép quyết định thân phận mình. Tinh thần quốc gia cực đoan trở thành không tưởng. Tôi bế tắc. Tôi bế tắc vì tôi mệt mỏi, rã rượi. Giữa tháng 12-1977, Hoàng Mạnh Hùng và tôi được lệnh “chuẩn bị tư trang khẩn trương”

– Mình đi lao động chăng? Hùng hỏi.

– Càng hay. Tôi thèm khí trời. Tôi nói.

Tính ra tôi đã trọ ở khách sạn quốc doanh Đề Lao Gia Định ngót 18 tháng, cổ nhân phán: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Nếu vậy tôi đã ở đề lao 540 ngàn năm. Có nên so sánh một ngày tù của cổ nhân và một ngày tù Cộng sản để nhân thêm số năm không nhỉ? Có nhiều tù nhân và nhiều chuyện đáng nhớ tôi lại quên. Có nhiều tù nhân và nhiều chuyện đáng quên tôi lại nhớ. “Chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên”. Và tôi đã quên hết khi viết về đề lao Gia Định. Những chuyện đáng quên ấy không làm tôi khôn lớn.

– Hoàng Mạnh Hùng!

– Có.

– Vũ Mộng Long!

– Có.

– Xong chưa?

– Rồi.

Cai ngục mở cửa. Các bạn tù 4C-2 chúc chúng tôi thượng lộ bình an. Tôi đeo cái túi đựng phân bón đã khâu hai cái quai trên lưng, tay xách giỏ ni-lông chứa các chai hũ nước mắm, thịt kho, cá kho…, tay xách cái bị cói chứa mì vụn, bột đậu xanh, bột sữa, đường… Tôi không giống bất cứ ai ở xã hội loài người. Tôi là tù nhân của chủ nghĩa Cộng sản, đỉnh cao của trí tuệ nhân loại. Tôi vừa nhận tôi là tù nhân? Sai. Chủ nghĩa Cộng sản không có nhà tù. Tôi là sinh viên nội trú của Đại Học Đề Lao Gia Định. Năm ngoái, tôi học ở Đại Học sở Công An Thành Phố. Tốt nghiệp chứng chi Vỡ Lòng Cay Đắng, tôi ghi danh học Thống Khổ Nhập Môn 18 tháng. Tốt nghiệp chứng chỉ Thống Khổ Nhập Môn tôi ghi danh học tiếp Thương Đau Chín Rấm. Lát nữa tôi mới biết Đại Học nào nhận tôi, Bây giờ, các giáo sư Đề Lao Gia Định bảo tôi xếp hàng chung với các sinh viên khác. Tôi thấy Nguyễn Mạnh Côn, Đằng Giao, Đặng Hải San, Phạm Quang Khai, Đỗ Văn Lựu và vô số bằng hữu các phòng học cũ. Như Phong học dốt bị đúp ở lại Đại Học Đề Lao.

Giáo sư Quản Giáo cầm danh sách đọc tên chúng tôi. Sợ chúng tôi ham vui nhẩy xuống xe đi lạc, giáo sư còng hai sinh viên một còng số 8 made in USA, tay phải sinh viên này dính sát tay trái sinh viên kia và ra lệnh cho chúng tôi lên xe. Xe trùm vải bố kín mít. Tôi giã từ Đại Học Đề Lao Gia Định với bao nuối tiếc. Giã từ các vị giáo sư Chấp Pháp khả kính. Giã từ các vị giáo sư Quản Giáo khả ái. Giã tử lò bánh mì nung nấu cuộc đời. Tôi đi đây. Tôi đi học một mình chẳng cần “mẹ tôi nắm tay tôi dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp.” Ấy quên, giã từ Viện trưởng Hai Phận bất hủ và những cái ống cắm mỏ dầu hỏa ở Tiền Hải.

Nhưng mà xe bít bùng tối tăm, tôi không thể vẫy tay chào tạm biệt ai. Một giọng nói đùa nghịch hỏi vu vơ:

– Tu tủ tù tu đố mấy thằng tù?

Tôi bàng hoàng. Thì ra tôi đích thị tù nhân…

15-2-1987

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

15/03/2014

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 23 Jun 2024

Phần 12

Những quyết định khó khăn nhất trong đời tù

Ăn đói, làm việc nặng, nhưng khi đau ốm thì cũng chỉ có “xuyên tâm liên,” một loại lá thuốc nam sơ chế được cấp phát cho tất cả mọi tù nhân cải tạo khai bệnh tại bệnh xá từ nhức đầu, đau bụng, cao máu cho tới thổ tả, kiết lỵ, nhiễm trùng đường ruột, lao phổi. Chúng tôi châm biếm cái loại thuốc viên từ lá cây xuyên tâm liên nghiền nát đóng thành viên này là thuốc “cải sinh thành tử” hoặc là thuốc “cải tiến thành lùi” lấy từ ý tưởng chiếc xe cút-kít hay chiếc xe bò do người kéo thì được người Cộng sản gọi là “xe cải tiến.” Sự lộng ngôn này quả thực là một sự lăng mạ vào nền văn minh của nhân loại. Và một điều mỉa mai và cay đắng đối với chúng tôi chính những người chủ trương lăng mạ nền văn minh kỹ thuật của thế giới lại là những người chiến thắng, những người nói gì chúng tôi cũng phải nghe chỉ vì thuộc vào phe thất trận. Nhưng chưa hết, ở mỗi trại cải tạo có một bản nội qui, một văn kiện pháp qui rừng rú được đặt ra chỉ nhằm sỉ nhục những người đã ngã ngựa như chúng tôi. Một số tác giả khi viết lại hồi ức về thảm kịch thường gọi những người người Cộng sản là “thằng ngu thắng trận.” Dùng thứ ngôn ngữ này trong các hồi ức của mình hay trong những chuyện dân gian châm biếm sẽ phản tác dụng. Bởi vì nếu bảo rằng những người Cộng sản ngu dốt nhưng vẫn thắng trận thì rõ ràng “đối thủ” của họ còn ngu hơn !

Trở lại câu chuyện, tôi muốn nói tới “8 Ðiều Lệnh Nếp Sống Văn Hóa Mới” buộc các tù nhân trong các trại cải tạo phải “sống một cuộc sống văn minh, ăn ở phải sạch sẽ, dùng các thức ăn nấu chín, giữ trật tự và tự giác giữ an ninh trại giam.”

Nhớ lại thời gian ở Hàm Tân Z-30C, láng trại dù là nhà tranh vách đất, sàn ngủ hai tầng bằng gỗ nhưng sạch sẽ không thấy một cọng rác cũng đều là do công tù. Trại nào mà các tù nhân cải tạo không phải thành lập còn một đội vệ sinh trong trại.

Do nhìn thấy môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của anh em trong trại, nên các tù nhân trong đội vệ sinh trong trại làm việc rất tích cực. Tuy nhiên, sức người có hạn nên ở các khe ván gỗ, một đội quân rệp hùng hậu vẫn núp trong chiếu mùng, con nào con nấy no kềnh vì hút máu tù đến nỗi không bò được, cầu tiêu trong nhà thuộc loại cầu tiêu thùng được kiến thiết theo kiểu cầu tiêu thùng năm 1940 ở ngoài Bắc, nước giội cầu thì ít, giấy vệ sinh là giấy báo hay giấy bao xi-măng do tù tự kiếm lấy, mùa gió lùa vào trong cầu luồn vào láng mùi hôi thối và khai của phân và nước tiểu, buổi sáng, các anh em trong đội rau xanh phải gánh các thùng gỗ chui vào hầm cầu mang những thùng cầu đổ vào một thùng gỗ lớn rồi cứ hai người một khênh ra ngoài bãi lao động hòa với nước và tưới lên các luống rau cải. Cải bẹ xanh lớn như thổi, nhưng đội thu hoặc về chỉ gánh vào nhà bếp cán bộ. Họ gánh ra suối nhúng sơ sơ rồi đem về luộc chín. Ấy vậy mà nhiều lần dịch thổ tả lây lan suốt tiểu đoàn công an vệ binh. Vào những dịp ấy, do sợ bệnh dịch nên một số lượng rau cải mới được đưa xuống nhà bếp tù. Tuy nhiên, những lần tù cải tạo được phát canh cải bẹ xanh, một số anh em tuy đói và thèm rau cũng vẫn không dám dùng. Lý do là sợ bị kiết lỵ và khi tù bị dịch tả xuống bệnh xá khai bệnh mà chỉ được cấp những viên xuyên tâm liên có khi cái chết đến còn mau hơn. Nhưng quyết định không ăn rau cải dù đã nấu chín với muối trong khi bụng đang rỗng cũng trở thành một quyết định rất khó khăn. Cái khó khăn và thử thách ấy cũng giống như tình trạng suốt cả năm chỉ vào ngày Tết mỗi tù nhân mới được một miếng thịt nhỏ, làm thế nào mà một tu sĩ Phật giáo trong chốn lao tù không phá giới nếu các vị tu sĩ ấy không đủ ý chí để vượt thắng chính bản thân mình.

Sự ngược ngạo của cái gọi là “nếp sống văn hóa mới” trong các trại cải tạo của Cộng sản còn nằm ở một điểm, đó là cứ vào mỗi sáng Chủ Nhật kéo dài đến chiều, trại Hàm Tân Z-30C mở nhạc cổ điển Tây phương diễn giải được khuếch đại qua một cái loa lớn treo trên cái cột gần bệnh xá cho chúng tôi nghe trong lúc chúng tôi hì hục suốt cả buổi chỉ để chế biến khoai mì lát, bo bo, bắp hay rau rác tập tàng cho dễ ăn hơn! Một vài bạn đồng tù với tôi không chịu được sự ngược ngạo như thế bực quá văng tục: “Ðm… đáng lẽ thằng Cứ (Tống Ðăng Cứ, một thượng sĩ công an người Tầu lai ở khu Ðông Kinh, Hải Phòng, cán bộ trực trại) phải đem bàn trải khăn trắng rồi đốt nến cho chúng ông xơi khoai mì lát mới là nếp sống văn hóa mới.” Một bạn tù khác, Luật Sư Ngô Quốc Việt chen vào: “Thôi, tôi lạy các ông. Thà cố gắng làm quen với các bác Mozart, Chopin, Beethoven, Brahms… còn hơn nó tra tấn mình bằng cái giọng eo éo của Tầu qua các bài tụng như ‘Bác cùng chúng cháu hành quân’, “Mùa hoa likima nở’, ‘Tiểu đoàn 307’… thì điên mẹ nó lên mất.” Ðại khái cái nếp sống văn hóa mới của xã hội chủ nghĩa là như thế ở trong các nhà tù nhỏ cũng như trong các nhà tù lớn hơn tại Việt Nam, chưa kể đến cuộc sống đói khát đến nỗi ra bãi lao động, con gì mà nhúc nhích được cũng bắt đem nướng ăn. Giáo Sư Joe Brinkley, một giáo sư dạy về môi trường ở Ðại Học UC Berkely trước đây từng thăm Việt Nam và cáo buộc người Việt Nam “ngả” hết chó để ăn thịt cho nên ông không còn thấy chúng chạy ngoài đường nữa. Ông đã từng bị phản ứng gay gắt về những lời lẽ quá đáng này. Nhưng chắc ông còn ngạc nhiên hơn nếu vào năm của các thập niên 70, 80 và 90 ông đến thăm các trại cải tạo và lúc đó tôi tin rằng lúc đó ông sẽ mau mắn “phán” ngay: môi trường ở các trại cải tạo Việt Nam sạch đến nỗi không còn một con chuột cống hay chuột chù nào còn có thể sống được!

“Nếp sống văn hóa mới” xã hội chủ nghĩa ở tại A-20 Xuân Phước cũng có những điểm tương đồng như các trại khác, nhưng mức độ “lên gân” gay gắt hơn. Ðói khát như thế, nhưng tù nhân cải tạo nào kiếm được rau rác hay bắt được ếch nhái phải làm cách nào tiêu thụ ngay ở bãi lao động chứ nếu mang về trại là bị khám xét rất kỹ, bị tịch thu và tù cải tạo bị phạt, nhẹ thì kiểm điểm và nặng thì vào cùm, đúng nội qui thì thời hạn trừng phạt là 7 ngày nhưng cũng có thể “nghi can” nằm trong cũi vài ba tháng, một năm không chừng tùy theo đối tượng có thuộc thành phần bị ghi sổ đen hay không. Trong thời gian nghi can bị cùm, cán bộ an ninh trại giam thường gọi các tù nhân bị kỷ luật ra làm việc. Hắn không hỏi tù nhân về tội vi phạm “8 Ðiều Lệnh Nếp Sống Văn Hóa Mới” mà áp lực tù cải tạo phải khai báo về những chuyện khác lớn lao hơn trong đội hay trong nhà giam như âm mưu trốn trại, gởi thư chui ra ngoài, hô hào nổi dậy, tổ chức hát tù ca, tổ chức các lễ trọng của VNCH: Ngày Quân Lực 19-6 và Quốc Khánh 1-11, họp khóa trong số những cựu sĩ quan và cựu công chức. “Nói KHÔNG” hay “Nói CÓ” đều bị nhốt lâu và bị thẩm cung liên miên nếu tù cải tạo bị bị liệt vào danh sách “cứng đầu” trong trại.

Ở trong điều kiện của đời sống như hiện nay tại Hoa Kỳ, đề cập đến chuyện “nói KHÔNG” trong tù thì dễ nhưng trong điều kiện của trại trừng giới A-20 Xuân Phước vào thời điểm từ 1979 đến 1987, việc phủ nhận các lời cáo buộc hay nâng quan điểm của bọn cán bộ trại giam bao giờ cũng trở thành một thử thách với tù nhân. Người tù cải tạo ở những trại không phải là loại trại “A” sẽ rất ngạc nhiên nếu họ nghe thấy một tù nhân nào từ A-20 Xuân Phước nói là mình bị cùm một tháng chỉ vì đem rau rác từ bãi lao động nhập trại hay nấu nướng trong phòng giam. Nhưng tôi có thể giải thích điều này: ở trại A-20, việc một tù nhân bị cùm một vài tháng hay cả năm trời vì “tội phát biểu linh tinh,” “vi phạm điều lệnh nếp sống văn hóa mới” là một án nhẹ so với mức trừng phạt cùm hai chân từ 3 năm tới 5 năm trong xà lim hay chuồng cọp cá nhân.

Nhưng khi quyết định đưa một tù cải tạo vào chuồng cọp thì không phải là bọn an ninh trại giam muốn anh ta phải nhận tội cho chính anh ta mà thôi. Chúng muốn dùng áp lực để người tù nhận tội, nhưng sau khi nhận tội anh ta sẽ phải khai ra tổ chức của mình trong trại giam. Trong khi, điểm quan trọng nhất là một người tù còn nhân cách và không hèn nhát, phản bội anh em thì phải biết “nói KHÔNG” với điều sau này. Nhưng muốn làm một tù nhân cải tạo thật đàng hoàng cần phải hiểu một thực tế: dù mình có nhận tội hay không nhận tội thì vẫn bị cùm như thế. Vậy thì tội vạ gì mà phải nhận tội và khai gian cho anh em. Nằm trong cùm bị bớt khẩu phần và nước uống nhưng không phải lao động khổ sai để đổi lại 300 grams thực phẩm mỗi ngày. Nằm cùm dù bị cắt bớt khẩu phần có đói đến lả đi nhưng sẽ không chết trừ phi bị nhiễm kiết lỵ.

Ngược lại ở ngoài trại, lao động nặng lại ăn uống thiếu thốn kiểu đó, bị lao phổi có khi lại chết mau hơn không chừng. Cuối cùng muốn giữ nhân phẩm, duy trì nhân cách và khí tiết, một người tù cải tạo phải biết chấp nhận phần xấu nhất cho đời tù của mình, đó là sẵn sàng ra nằm ở Ðồi Thông (nghĩa địa của tù nhân cải tạo). Sự chấp nhận ấy là chiếc chìa khóa hóa giải bất cứ sự sợ hãi nào.

Phân tích và quyết định như thế khiến tôi yên tâm và coi việc nằm chuồng cọp là một hình thức nghỉ ngơi. Ðó cũng là lý do tại sao giữa vòng vây của an ninh trại giam và những nội gián trong số bạn đồng tù với mình, tôi gấp rút chuẩn bị cùng với một số anh em khác đồng chí hướng cho ấn hành một nguyệt san lấy tên là “Hợp Ðoàn,” một nguyệt san chỉ có một ấn bản viết tay duy nhất và bí mật lưu hành trong trại, nhưng lúc nào chúng tôi cũng chuẩn bị nếu có cơ hội là gởi qua nước ngoài. Việc lưu hành tờ báo kéo dài tới khi tôi bị đưa vào chuồng cọp vài ngày trước 30 tháng 4, 1981. Sau đó, một vài anh em khác cộng tác với tôi còn ở bên ngoài cố gắng duy trì tờ báo, nhưng sau đó anh em tính toán rằng tôi có thể bị cùm lâu năm nên họ tự động ngưng không hoạt động nữa theo lời yêu cầu trước của tôi mà trong phiên họp đầu tiên của tòa soạn bí mật đã đồng ý với mục đích để bảo đảm an toàn sinh mạng chính trị cho anh em. Bởi vì vào thời điểm ấy chúng khám phá ra được sự việc, bọn an ninh trại giam đem chúng tôi ra bắn ngay.

Thời gian, chúng tôi chuẩn bị ra báo thì trong trại có nhiều biến động. Trước hết là vụ “No Eat, No Work” tức là không cho ăn uống đàng hoàng thì không lao động, một phản ứng của các tù cải tạo mang “án cao su,” mỗi án tập trung là 3 năm lao cải, nhưng người tuyên án thường “cà lăm” khi ra án quyết. Chúng tôi thường nói đùa nhau như thế, nhưng sự thực tất nặng nề hơn nhiều. Về bản án “cao su” mà chúng tôi đang phải mang trên vai, có một câu chuyện cười rất lạ lùng nhưng có thật trong trại A-20 Xuân Phước. MhR là một thanh niên nông dân ở Tân Châu. Anh chỉ là một binh nhì quân dịch thuộc Trung Ðoàn 31 Sư Ðoàn 21 Bộ Binh/VNCH. Sau 30 tháng 4, 1975, anh tham dự Mặt Trận Phục Quốc và bị bắt tại Ðồng Tháp tháng 10 năm 1976 trên đường đi họp tổ kháng chiến. MhR không bị đưa ra tòa mà chỉ bị tập trung cải tạo ở một trại tên là trại cải tạo Kinh 5, sau đó bị đưa lên Z-30D và bị “thanh lọc” rồi bị đưa đi trừng giới ở A-20 Xuân Phước.

Là nông dân chính gốc, MhR hay lui cui tìm những chỗ đất trống nhưng khuất để gieo xuống những hạt cải, đậu bắp hay rau muống. Một hôm, vào khoảng trước tết năm 1980, không biết MhR xin ở đâu được một hạt sầu riêng. Ðang lui cui trên bờ rãnh thoát nước trên bờ giếng nhà giam số 1 thì một vệ binh súng dài đi ngang. Thấy MhR đang chôn giấu gì, anh ta lên tiếng: “Ê, cái anh này, chôn giấu gì đó, moi lên coi.” MhR cúi xuống moi lên một hạt sầu riêng. Anh chàng Vệ binh súng dài mặt non choẹt hỏi: “Hạt gì mà trồng ở đây, chỗ đó đâu phải chỗ để canh tác?” MhR thành thật trả lời: “Thưa cán bộ, tôi trồng sầu riêng.” “Bao lâu cây sầu riêng mới ra trái? Vệ binh súng dài thắc mắc. MhR cười cười rồi nói: “Trồng bằng hạt thì 15 năm mới có trái.” Anh chàng vệ binh cũng bật cười rồi nói trước khi bỏ đi: “Vậy thì anh ở đây chờ ăn trái sầu riêng đầu tiên rồi hãy về nhé.” MhR không phải chờ đến mùa ra trái đầu tiên của cây sầu riêng mới được thả, nhưng anh cũng phải bóc tới 10 cuốn lịch.

Vụ “No Eat, No Work” thất bại vì nói chung là thiếu sự đoàn kết đồng lòng và là một trong những bài học cụ thể cho thấy “nói KHÔNG” đối với người tù không phải là một quyết định dễ dàng dù người tù lúc đó đang bị đẩy vào chân tường. Sau vụ này, những người chủ trương như PđN, NtC, NvL tự “LBô,” CtT và một số anh em lên từ Z-30D bị đẩy vào chuồng cọp dễ cũng đến nửa năm. Họ bị cùm hai chân và là những người đầu tiên phải đối phó với chế độ thực phẩm được họ gọi là “hai muỗng cơm, hai muỗng nước,” một mức độ trừng phạt có thể nói rằng khắt khe nhất trong số những chuồng cọp được xây dựng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Cơm được chan nước muối mặn chát, nhưng nước uống thì một bữa 2 muỗng. Lối nhục hình ấy khiến người tù phải đối phó một cách tuyệt vọng bởi những cơn khát cháy cổ đến nỗi phải giải quyết bằng cách liều lĩnh uống nước tiểu của nhau. Nhưng nếu không muốn bị lả đi và rơi vào tình trạng hôn mê vì mức độ khát gia tăng thì phải chọn lựa, hoặc là hy sinh chút nước rửa cơm cho bớt mặn hoặc muốn uống cả hai muỗng nước thì chỉ nên ăn một nửa muỗng cơm. Sự lựa chọn này cũng rất khó khăn, hầu như khó vượt qua.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 23 Jun 2024

Phần 11

Miếng bánh bẹp bị cắt: Trò lũng đoạn thâm độc nhưng hiệu quả!

Ðói quá thì không còn sức để lao động nên ra ngoài bãi lao động nhiều anh em tù cải tạo phản ứng bằng cách “chống cuốc,” nghĩa là làm tà tà hoặc không làm, không hoàn tất chỉ tiêu. Khi không hoàn tất chỉ tiêu thì vào những ngày cuối tháng, đội trưởng phải tổ chức các buổi “góp ý, phê và tự phê” rồi “bình bầu” mức ăn hàng tháng cho mỗi tù nhân cải tạo.
Trên nguyên tắc, mỗi đội phải bình bầu mức ăn theo 4 hạng: A, B, C, D. Nhưng thực tế đội trưởng phải giao nộp danh sách bình bầu chỉ 3 hạng: lao động xuất sắc (hạng A), lao động trung bình (hạng B) và lao động chây lười (hạng C) còn hạng D dành cho những người nằm trong xà lim (chuồng cọp). Về hậu quả, những người bị bình bầu mức ăn hạng C tức “chây lười lao động, khai ốm nhiều lần trong tháng” bị bớt phần ăn vốn một con mèo ăn đã không no của mình để thêm vào phần của những người được xếp vào hạng “lao động xuất sắc.”

Những ai từng sống và từng bị đi tù dưới chế độ Cộng sản đều hiểu rằng cái kiểu “góp ý, phê, tự phê” mà nhà cầm quyền chủ trương vào những năm sau 30 tháng 4, 1975 chỉ là phương thức mà họ dùng để lũng đoạn, bóp bao tử, gây chia rẽ trong khối dân chúng để dễ bề cai trị họ (từ ngữ mà chế độ mới dùng để thay thế cho việc cai trị là từ quản lý). Cho nên, khi ban quản trại A-20 Xuân Phước bày ra trò định mức ăn cho tù cải tạo cũng chỉ với mục đích tạo ra mâu thuẫn để chia rẽ, trừng phạt và hạ nhục anh em chúng tôi mà thôi. Phản ứng của một số những anh em còn sáng suốt và tỉnh táo trong đội lao cải mà tôi đang phải làm công việc khổ sai vào thời điểm đó là giơ tay trong buổi tối sinh hoạt đội khoảng nửa năm sau khi bị đày lên A-20 và nói: “Thôi anh đội trưởng ơi tụi này đồng ý chỉ nhận mức ăn chây lười lao động tức là ăn cái súng lục để đỡ phải bình bầu, gấu ó nhau cho thêm nhục. Các cụ ta đã nói miếng ăn là miếng nhục mà anh đội trưởng, nhưng trong trường hợp chúng ta, miếng ăn là cần thiết. Những ai lao động nhiều hơn thì phải ăn nhiều là hợp lý rồi. Bọn tôi lao động chây lười thì phải ăn ít hơn là lẽ đương nhiên.”

Khi đội trưởng ÐVL, một đại úy thuộc tiểu khu Quảng Trị theo lời khai lý lịch trích ngang của anh ta, còn đang lúng túng chưa biết giải quyết ra sao vì rõ ràng đây là phản ứng chống đối và thách thức trại thì Ðỗ Khắc Minh mà chúng tôi thường gọi anh theo biệt danh thân mật là Minh “cà chua” tương ra thêm: “Ê, tao tình nguyện mức D luôn. Mẹ kiếp, đã đói rồi đói thêm cũng chẳng chết thằng Tây nào chứ tao thấy cứ ngồi mà bình với bầu cấu xé nhau nhục lắm. Ghi vào biên bản ý kiến của tao.” Dĩ nhiên, đội trưởng mà ghi những lời của Minh “cà chua” vào biên bản thì chính đội trưởng cũng mất chức ngay và những ưu quyền được gặp mặt và nhận quà của gia đình của anh ta cũng sẽ thành mây khói. Anh chàng này thì lại thuộc loại ăn khỏe và làm việc hùng hục như trâu để làm sao “vượt chỉ tiêu.” Không biết thời còn phục vụ ở tiểu khu Quảng Trị anh có làm việc xuất sắc như thời tù trong trại lao cải này không, nhưng nếu thấy anh em nào chống cuốc anh cũng xăng xái đến cuốc đất giùm cho đạt và vượt chỉ tiêu quản giáo giao.

Anh em ghét anh ta ở chỗ khúm núm trước cán bộ quản giáo một cách không cần thiết, thứ đến cứ “vượt chỉ tiêu” theo kiểu của anh ta thì chết những anh em kém sức khỏe vì phải ăn đói và phải làm việc nặng. Trong hoàn cảnh bị lưu đày, ai cũng hiểu rằng mình ở cái thế rất yếu nên cũng muốn tìm một giải pháp để không làm “kẹt” anh ÐVL và tương đối dễ thở hơn một chút cho đội. Có hai lý do: Thứ nhất, là những bạn đồng tù sống chết với nhau đã nhiều năm trong trại cải tạo, những người được bình bầu mức ăn hạng A nhận thấy không thể nào muối mặt nhận thêm phần chia được cắt bớt đi của những người bị bình bầu mức ăn hạng C được. Thứ hai, cái đói vẫn có khả năng làm cho một người tù có thể không thấy việc mà một số anh em đồng tù lên án “cướp cơm chim” là muối mặt nữa. Và vụ bớt khẩu phần của những người “chống cuốc” vẫn tiếp tục diễn ra cho đến khi các cựu sĩ quan trẻ tuổi trong đội vận động và áp lực những người nhận thêm miếng ăn của người bị cắt bớt khẩu không nên tiếp tục hành động không xứng đáng với tư cách của một sĩ quan quân đội VNCH. Nhớ lại chuyện này và viết ra, tôi hiểu rằng nhiều người sẽ thắc mắc: “Thế viết ra chuyện nhỏ nhặt này làm gì?”

Và nếu có ai thắc mắc thì đây là lời giải thích của cá nhân tôi:

Thời điểm xảy ra chuyện bình bầu mức ăn, mọi người đã trải qua gần 5 năm đói khổ rồi. Người nào cũng thấy bắp thịt của mình mỗi ngày một teo đi, trong khi hàng ngày mỗi người lãnh được 3 miếng bánh bẹp và nước muối, quanh năm không thấy hơi thịt, cá trừ vào chiều 30 Tết hàng năm mỗi người được phát cho một miếng thịt heo bằng hai ngón tay. Nhiều anh em ngậm miếng thịt vào trong bữa cơm chiều 30 mà không dám suốt, sợ hết. Bánh bẹp là bánh gì? Theo lời những anh em làm nhà bếp, không hiểu sao vào những tháng giữa năm 1980, nhà bếp tù được lệnh đi lãnh bột mì do Canada viện trợ nhân đạo. Bột mì lãnh về, họ cho nước vào nhào thành bánh, cán dẹp xuống, bề dầy hơn nữa phân, diện tích mỗi chiếc bánh bằng lòng bàn tay hình chữ nhật rồi đem luộc chín. Buổi sáng chúng tôi được phát một miếng bằng phân nửa buổi trưa và chiều cùng với một chén nước muối thật mặn.

Những người được bình bầu lao động xuất sắc ngoài phần mình có, họ còn có thêm phần cắt đi từ những miếng bánh của người bị bình bầu mức ăn hạng C. Khi miếng bánh bẹp bị cắt đi một phần thành thử nó biến thành hình của cây súng lục gỗ mà trẻ em Việt Nam được hay chơi. Chỉ có người nào từng qua những trại cải tạo của Cộng sản thuộc kiểu trại Lý Bá Sơ hay Ðầm Ðùn mới thấy được toàn bộ nỗi đau mất nước, nỗi đau của cảnh tan hàng, sụp đổ. Cuối cùng bao nhiêu hy sinh xương máu của thế hệ chúng tôi đã có một kết quả là ngồi trong nhà tù Cộng sản và phải ngồi để tìm cách bớt phần ăn nhỏ nhoi của nhau.

Cái ngạc nhiên nhất của tôi là trong đội vẫn có một số anh em khiếu nại đội trưởng là sao phần bánh của anh ta hôm nay không có phần bánh dành cho người lao động xuất sắc. Còn có nỗi buồn nào, nỗi nhục nào hơn hơn thế không, nhưng đó là thực tế mà tôi thấy những hồi ký về cuộc lưu đày sau 30 tháng 4, 1975 đều không nhắc tới và thay vào đó là những trang sách toàn những gương anh hùng trong trại giam. Tôi cho rằng gương anh hùng cũng nhiều thật, nhưng nó không nhiều bằng những tấm gương của cả một khối người, tuy thất trận, tuy gãy súng như Cao Xuân Huy mô tả đã cắn răng chịu đựng sự hành hạ của cái bao tử lúc nào cũng lép kẹp, trống rỗng để giữ cho mình thẳng lưng trước kẻ thù và chung thủy với anh em. Sự lựa chọn giữa cái đói cào cấu và sự giữ thẳng lưng cũng như nhân cách là một sự chọn lựa khó khăn!

Cuối cùng chỉ có một số rất nhỏ cứ hay nhì nhằng về cái “phần thưởng” hớt từ bát cơm của chính anh em khác. Nhưng chỉ nội chuyện này không đã làm cho kẻ địch cười vào mũi chúng tôi, nên phải có một thái độ. Những anh em sĩ quan trẻ tuổi nhất lãnh đạo kế hoạch “bình định” này: Phạm Ðức Nhì, Nhàn “cụt,” Ngọc “đen, Hải “Bầu, Tú Cường, Minh “cà chua,” Hải “cà”… vốn là những người lúc nào cũng sẵn sàng dùng bạo lực với những kẻ không biết điều và sống với anh em hàng ngày nhưng lúc nào cũng tơ tưởng ngoài trại.

Các anh em này liên lạc với các đội khác và nhà giam khác để cùng thi hành một lúc kế hoạch chung: cứ để cho mọi chuyện diễn ra như bình thường, nhưng sau khi được chia khẩu phần, số đông tự nguyện mang trả lại những anh em bị cắt bớt khẩu phần. Thành phần còn lại anh nào mở miệng ra khiếu nại với đội trưởng về phần thưởng lao động xuất sắc bị cảnh cáo ngay, “Tiếp tục thực hiện tình huynh để chi binh và đoàn kết, ai chống lại thì chỉ có cách ôm mền chiếu ra ngủ ngoài trại với cán bộ thì mới an toàn tính mệnh. Các anh không biết nhục mà không nhìn thấy cảnh mỗi khi chúng ta bị chuyển trại được dân chúng giúp đỡ đầy tình quân dân cá nước hay sao.”

Thông điệp này có kết quả nhờ vào sự cương quyết của phần đông những sĩ quan quân đội trẻ tuổi vẫn còn hừng hực lý tưởng. Cũng chính vì thế mà chúng tôi dù vẫn phải bình bầu mức ăn, dù danh sách bình bầu vẫn được đội trưởng gởi đi, nhưng trên thực tế, chẳng bao giờ nó được thực thi cả. Có những đội sau này vẫn bình bầu mức ăn nhưng anh em nào được cử chia khẩu phần mỗi ngày vẫn chia đồng đều như bình thường, không cần A, B, C nữa và cũng chẳng có cần ăng-ten nào dám giương ra riêng đối với vụ bình bầu mức ăn và chia khẩu phần tại trại A-20 Xuân Phước. Tuy nhiên, nói đi thì cũng nên nói lại cho cân bằng. Dĩ nhiên, khi đọc đến đây có một số độc giả sẽ cho rằng tôi nói quá chứ trong tù chia sớt công bằng khẩu phần với những bạn đồng tù là nghĩa vụ tự nhiên chứ có gì gọi là can đảm. Tôi không phản đối nếu người nào có ý kiến này, nhưng tôi cũng thấy có bổn phận phải giải thích thêm: nghĩa vụ chia sẻ đồng đều và công bằng không phải là một ý thức tự nhiên giữa những người dân sống với nhau trong một xã hội bình thường.

Trong môi trường đói khổ và bị đàn áp, trong môi trường tù đày không thấy có ngày ra, trong điều kiện lao động khổ sai để trả nợ áo cơm hàng ngày bằng cái khẩu phần ít ỏi nói trên, một lát khoai mì, một hạt cơm quí vô cùng. Cho nên, vào hoàn cảnh này phải có một ý thức còn trong sáng về nhân cách, lòng trắc ẩn và sự can đảm mới có thể đối xử được tử tế với các anh em bạn tù chung quanh mình. Hơn thế nữa, bọn cán bộ trại giam Cộng sản sẽ tìm cách triệt hạ bất cứ một người tù nào bằng cách này hay cách khác nếu thấy người tù ấy còn đủ sáng suốt để làm cho những âm mưu hạ nhục và nhất là âm mưu dùng sự kiểm soát bao tử để làm tê liệt suy nghĩ chính đáng của tù cải tạo không thành công.

Một người bạn tù có thể sẵn sàng không lấy phần chia thêm bằng cách bớt khẩu phần của người bạn của mình, nhưng mặt khác anh có thể không thích phần chia của anh ít hơn của người khác. Ðó là lý do tại sao đã có nhiều cảnh diễn ra không được đẹp trong nhũng buổi chia khẩu phần ăn tại một số trại cải tạo. Phải mất nhiều năm sau, hình ảnh này mới không còn tiếp diễn nhờ vào nỗ lực của khối tù nhân cải tạo, không ai bảo ai, đã mở cuộc vận động giữ gìn “đói cho sạch rách cho thơm” chứ không phải nó đến một cách tự nhiên ở một môi trường rất dễ diễn ra cảnh giậu đổ bìm leo như mội trường ở đằng sau các cánh cổng nhà tù dưới chế độ Cộng sản. Từ thuở học vỡ lòng cho đến khi trưởng thành trong một đất nước nội chiến dài dặc, ai cũng thấy ngạn ngữ được rao giảng “đói cho sạch rách cho thơm” nói ra để cho người khác một bài học luân lý đạo đức thì dễ, nhưng thực hiện thì khó muôn trùng.

Cho nên nói những chuyện to tát như chống Cộng, diệt Cộng không có gì khó khăn đối với những người có cái loa miệng, ai cũng có thể nói được. Nhưng không phải ai cũng làm được. Do vậy, trong trại giam cũng có những thành phần không bao giờ hành động nào gọi là chống đối chế độ cả, nhưng họ sẵn sàng lên án người khác “đầu hàng kẻ địch,” “chao đảo,” “không giữ vững lý tưởng quốc gia”… Họ không thể hiểu rằng muốn đứng thẳng lưng trước kẻ thù, ai cũng phải trả cái giá để bảo vệ nó. Rút cục nhân cách, lý tưởng, lập trường chống Cộng đều phải đổi lại bằng những năm tù đầy lâu dài lắm dưới chế độ Cộng sản.

Bird Photographer of the Year 2020 Winners

http://www.birdpoty.com

Post by Sơn râu 23 Jun 2024

Best portrait

A Double Portrait- Marcel Bukhardt, Switzerland- Best Portrait

A Loon of Many Colours- Joshua Galicki, USA- Best Portrait

Alien Loon- Joshua Galicki, USA-Best Portrait

All Colours- Carlos Cifuentes Torres, Spain- Best Portrait

Allen’s Hummingbird- Mitch Walters, USA- Best Portrait

An Orthodox Plover – Tristan Stringer, Australia – Best Portrait

Angry Bird- Laukasz Jablonski, Poland-Best Portrait

Arctic Tern- Renato Granieri, United Kingdom- Best Portrait

Avocet at Dawn – Tim Hopwood, Canada – Best Portrait

Big-Small- Manuel Enrique Gonzalez Carmona, Spain-Best Portrait

Black and White and orange- Glenn Pure, Australia-Best Portrait

Viết ở quán cà phê

baotreonline.com

Tim Nguyễn

Post on November 17th, 2022

Post by Sơn râu 23 Jun 2024

Quán cà phê Mr. Tulk Melbourne – nguồn weekendNote 

Viết ở quán cà phê là một cái thú thời thượng chăng hay một đam mê? Nguyễn tôi muốn hỏi các bạn văn thân quen của mình. Như Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Xuân Hoàng, Đinh Cường, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn… Nhưng hỡi ơi, các anh đã rong chơi sang những miền khác, chỉ còn Nguyễn Đình Toàn thì giờ này đang nằm một chỗ trên căn gác lãng quên, không tiếp xúc với ai. Thôi đành tự nói chuyện với mình và những trang văn trên lưới.

Nhớ lại, Tim Nguyễn cũng có lần ngồi viết ở một quán Starbucks trong Barnes & Noble vùng Hoa Thịnh Ðốn. Lúc bấy giờ mưa phùn bay bay qua đường phố và những mái nhà. Bài thơ Phố Cổ được nghĩ và viết ra ở đây. Ôi, bây giờ đã quá xa. Nguyễn vì lý do tuổi tác và sức khỏe, cộng thêm mối liên hệ đã dần nhạt phai, sẽ không bao giờ còn có dịp đặt chân tới quán sách và quán cà phê ấy nữa. Thôi thì hãy bằng lòng sống với hoài niệm quá khứ qua sách báo.

Ðã lâu lắm rồi, tại Melbourne, thủ phủ cà phê của Australia, người ta tổ chức hẳn các đợt sáng tác tại quán cà phê. Trung tâm thơ ca Australia đã công bố chương trình “Cà phê thơ ca”, nơi các nhà thơ tiêu biểu từ nhiều vùng khác nhau được chọn làm khách trong các quán cà phê tại thành phố trong vòng 6 tháng. Họ được cung cấp trà và cà phê miễn phí để sáng tác. Chương trình đã nhận được 100 đơn xin tham dự của các tác giả trên khắp Australia. Và mặc dù Mr. Tulk là quán cà phê chính được lựa chọn nhưng hiệu quả của sáng kiến này đã lan sang cả các hàng cà phê khác trong và ngoài thành phố.

Nhưng liệu quán cà phê có phải là một nơi quá ồn ào, nhộn nhạo để sáng tác? Liệu các nhà văn có bị phân tâm? Ðó chính là vấn đề chủ yếu. Nhưng nhiều nhà văn thực sự thích những nhân tố gây gián đoạn, kiểu như vai trò của cô gái xinh đẹp đối với Hemingway. Beauvoir cũng thường xuyên thoải mái, vui vẻ với các cô gái điếm tại quán Cafe de Flore.

Viết ở quán cà phê là một tiểu xảo ít tốn kém, Julia Cameron, tác giả cuốn The Right to Write, nói: “Với tôi, tiểu xảo ở đây chính là tìm được một nơi nào đó vừa đủ không khí bận rộn để viết vừa đủ thái độ tôn trọng lẫn nhau để mình vẫn có thể làm việc”. Nghĩa là nhà văn cảm thấy mình là một phần của thế giới bận rộn chứ không bị cô lập.

Bạn còn có thể sử dụng sức hấp dẫn của các quán cà phê để dụ mình ngồi vào bàn viết. Nhà văn Natalie Goldberg, tác giả cuốn Writing Down the Bones, chia sẻ kinh nghiệm. Bà lấy ví dụ, bạn đến một quán cà phê có món bánh chocolate rất ngon. Hôm sau bạn tự nhủ với mình rằng, nếu mình tiếp tục đến đó để viết, mình sẽ được ăn hai cái bánh. Cứ như vậy, nếu viết, bạn sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng.

Bất cứ lúc nào nhìn thấy một người trẻ tuổi vào quán cà phê với một cuốn sổ, phổ biến hơn ngày nay là chiếc laptop, tôi đều hy vọng, mình đang được chứng kiến một Helen Garner hoặc Tim Winton tương lai. Tất nhiên là có thể họ chỉ vào đó để cập nhật thông tin trên Facebook. Nhưng ai mà biết được.

Hemingway đã làm được rất nhiều thứ tại quán cà phê ở Place St Michel. Ông không chỉ viết truyện ngắn mà còn viết cả một đoạn về việc sáng tác ở quán cà phê trong cuốn tiểu thuyết A Moveable Feast.

Cafe de Flore. Photo: Getty Images

Và ở Caffe Trieste…

Caffe Trieste có một lịch sử. Lịch sử ấy bắt đầu từ đâu, không quan trọng: từ cái anh chàng thanh niên ngư dân nghèo Giovanni Gianni của vùng Trieste ở Ý, mười lăm tuổi đi học hát opera, hay từ gã lau chùi cửa kính ở San Francisco những ngày đầu di cư qua Mỹ… Cái tên lịch sử này toạ lạc ở số 601, trên góc phố Vallejo/Grant, là tiệm cafe espresso & cappuccino đầu tiên mở ở bờ biển phía Tây California năm 1956 (nay vẫn còn hơi ấm hồi tưởng của cái bàn nơi Francis Ford Coppola ngồi nhiều tháng trời đẽo gọt kịch bản The Godfather, cũng là nơi một thời từng trở thành “phòng khách” của Jack Kerouac, Allen Ginsberg và những nhà thơ beatniks bạn bè, nói cách khác, của cả một Beat Generation). Từ khi khai trương cách nay hơn nửa thế kỷ, Caffe Trieste đã nổi tiếng với cách kết hợp từ phong vị nước Ý cổ xưa, đến thơ ca Bohemien, âm nhạc và nghệ thuật. Caffe Trieste đã đi vào nhiều tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ danh tiếng thế giới như Czeslaw Milosz, Joseph Brodsky… Sau đây là Brodsky và Caffe Trieste:

Tôi đã trở lại góc phố Vallejo

và Grant như một tiếng dội

với đôi môi giờ đây

thích nụ hôn hơn chữ nghĩa

Ở đây chẳng có gì thay đổi.

Kể cả bàn ghế kể cả thời tiết… (Joseph Brodsky-Café Trieste: San Francisco, 1980).

Cafe Trieste nguồn indie on the move

Caffe Trieste… Ông chủ Papa Gianni nay không còn nữa. Caffe Trieste đã 65 tuổi. Tất cả những nhà thơ danh tiếng (Tutti poeti -theo cách nói pha tiếng Ý của Papa) ngày xưa thường ngồi đây, trong những đêm đọc thơ, trình diễn nhạc jazz và nhạc cổ điển… Xưa vốn thế và bây giờ e vẫn thế… Ngồi ở đây, trong hơi gió biển từ vịnh San Francisco thổi về mà như nghe những tiếng động của nhịp bước thời gian. Ôi, tiếng đàn thùng… Tim tôi những ước mong một ngày kia được ngồi ở đó và viết bài thơ Caffe Trieste, tiếp nối Brodsky… Cũng là lãng du dưới trời lưu xứ.

TN – Tổng hợp

Đà Nẳng 1966

Vương Mộng Long

baotreonline

Posted 6 Feb 2019

Post by Sơn râu 23 Jun 2024

Hồi ký 7 kỳ – Kỳ 7

Sau Tết Mậu-Thân 1968, da non còn chưa che kín vết thương trên ngực, tôi về Hội-An thăm thầy Chơn Phát lần đầu.

Thầy mừng vui, không ngăn được dòng lệ tuôn rơi. Thầy trao cho tôi tờ giấy bạc 20 đồng “Cá Chép Hóa Long” màu xanh lá cây của Ngân Hàng Quốc-Gia Việt-Nam,

– Ðây là tiền thầy trích từ quỹ bán rau cỏ và hoa quả trong vườn. Thầy mừng tuổi cho con. Thầy chúc con mau vượt qua tai ách!

Tới nay thằng con trai út của tôi còn cất giữ tờ giấy 20 đồng ấy trong bộ sưu tập tiền của nó.

Tôi về thăm Hội-An lần cuối cùng, vào mùa Hè năm 1973, nhân kỳ nghỉ phép thường niên. Dịp ấy tôi dự trù sẽ dành ra tròn một ngày thăm thầy Chơn Phát, lúc này thầy tôi đã lên chức Thượng Tọa.

Vì tình hình an ninh quanh thị xã thời gian đó không sáng sủa lắm, nên tôi chọn giờ đi vào buổi giữa trưa, và trở về thành phố trước lúc mặt trời xế bóng.

Ðể giấu đi cái lý lịch quân nhân của mình, tôi đã phải mặc áo quần dân sự và dùng xe đạp làm phương tiện tới chùa. Gặp lại tôi, thầy tôi mừng vui ra mặt.

Thầy trò tôi ngồi đối diện nhau nơi đầu bàn ăn, nói hết chuyện này sang chuyện khác.

Vẫn tấm áo nâu sồng, vẫn đôi guốc mộc, vẫn cặp kính cận dày cộm, thầy tôi lúc nào cũng là một người giản dị, chân thật, và hy vọng.

Mắt thầy trìu mến, miệng thầy tíu tít hỏi thăm tôi binh nghiệp thế nào? Ðã bảy năm, sau vụ “Phật Giáo Miền Trung 1966” tôi có còn bị treo lon, trù ếm nữa không?

Giọng nói Quảng-Nam quê mùa của thầy, tôi đã nghe quen, tôi đã yêu thương. Tôi ngồi yên, lắng nghe từng lời từ miệng một vị chân tu, mà cảm thấy mình như đứa bé đang được vuốt ve, an ủi. Thầy nhắc lại cái “điệp khúc” ngày xưa tôi thường nghe, khi còn tá túc trong chùa:

“Chú Tùng phải nhớ lời thầy, ở hiền thì gặp lành, nhân tốt thì quả tốt.”

Cũng như dịp về thăm gặp thầy trước đây, tôi ngồi ngây, nghe thầy thao thao không dứt:

“Dù bất cứ hoàn cảnh nào, người quân nhân Phật Tử cũng phải lấy từ bi làm trọng. Ðành rằng, nơi chiến trường, mình không giết người, thì người sẽ giết mình. Nhưng người chiến sĩ chiến đấu hăng say không bắt buộc phải là một người hiếu sát. Vào lúc nào đó, nếu con có thể tha mạng cho kẻ địch mà thấy không hại gì tới mình, hay đơn vị mình, thì hãy gắng mà làm.”

Im lặng ngồi nghe, tôi thấm nhuần từng lời khuyên, câu răn của thầy tôi. Rồi tôi tự yên trí rằng, suốt bao năm chinh chiến, tôi chưa bao giờ phải áy náy về những việc mình đã làm.

Thầy cười giòn tan, khi nghe tôi khoe đã lập gia đình, có vợ và hai con. Thầy nói đùa:

“Nếu ngày đó chú Tùng mà đi tu luôn, thì nay đã thành một tỳ kheo có vai, có vế rồi!”

Có tiếng chim cu gáy trên ngọn cau. Tôi đảo mắt nhìn ra cửa, sân chùa vắng ngắt nhưng chan hòa nắng ấm. Cổng trước, vườn sau, rộn rã tiếng ve sầu. Hôm ấy nhằm ngày đầu tuần, các sa di đi học, thầy Như Luận vắng nhà, thiện nam tín nữ không có ai vãng lai vì bận công việc làm ăn.

Trưa Hè, giữa cồn cát nóng cháy, Long Tuyền Tự ẩn mình sau hàng rào cây xanh, nhìn xa như một ốc đảo bình yên.

Giờ chia tay, thầy tôi lại dặn với:

“Chú Tùng phải nhớ lời thầy, ở hiền thì gặp lành, nhân tốt thì quả tốt.”

Cuối năm 1973 tôi lên Thiếu tá, vào trấn giữ tiền đồn Plei Me và chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân/ Biên Phòng. Tháng 9 năm 1974, sau khi thắng trận Plei Me, tôi đem quân đi Quảng-Ðức.

Ðầu tháng 4 năm 1975 Vùng 2 mất, tôi rút về Vùng 3, tiếp tay với Sư Ðoàn 18 Bộ Binh phòng thủ Xuân-Lộc, Long-Khánh. Chiến thắng Xuân-Lộc là chiến thắng sau cùng của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Ngày 20 tháng 4 năm 1975 quân ta bỏ Long-Khánh, tôi đem quân về bảo vệ Thủ Ðô Sài-Gòn.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi thua trận. Mười một ngày sau (11 tháng 5 năm 1975) tôi bắt đầu cuộc sống tù đày từ trại này sang trại khác, và từ Nam ra Bắc.

Ngày đó, trong trại tù cải tạo, người chiến thắng đã hỏi tôi, vì sao vào những giờ phút Miền Nam đang quằn quại giãy chết, trong tuyệt vọng, mà chúng tôi vẫn còn chiến đấu?

Tôi đã thay mặt đồng ngũ của tôi mà trả lời họ rằng:

“Chúng tôi đã chiến đấu tới giờ phút cuối cùng, cũng chỉ vì chúng tôi muốn bảo vệ cái danh dự của một người lính Việt-Nam Cộng-Hòa!  Chúng tôi đã thua trận, nhưng chúng tôi không xấu hổ!”

o O o

Năm 1988 ra khỏi trại tù cải tạo, tôi trở thành người không tôn giáo, không đi chùa, mà cũng chẳng thiết tới nhà thờ. Tôi vật lộn với cuộc sống mới bằng đủ thứ nghề lương thiện, nhưng thật là lầm than. Niềm vui của tôi thời gian đó thật nhỏ, thật đơn giản: manh áo lành, bát cơm đầy hàng ngày cho vợ cho con.

Tháng 4 năm 1993 tôi đem gia đình đi Mỹ định cư theo chương trình H.O, làm lại cuộc đời. Tôi cất kỹ dĩ vãng để lần mò bước vào tương lai, và chưa hề nghĩ tới chuyện quay về.

Ngay từ những ngày đầu đặt chân lên đất Mỹ, nhiều tổ chức, hội đoàn, ngỏ ý muốn tôi tham gia. Tôi tìm cách chối từ, nại cớ phải đi làm kiếm sống, nuôi vợ, nuôi con.

Nhưng thật ra thì, không phải tôi đã quên Việt-Nam, không phải tôi đã quên đồng đội, không phải vì thời gian này lương tâm tôi chỉ chứa toàn thực phẩm; mà chính vì, với tuổi năm mươi, đã là quá muộn để đi tìm lãnh tụ.

Cuối tháng 5 năm 2016, vợ chồng tôi có dịp bay sang Texas thăm bạn bè vài ngày. Tôi đã gặp lại một người bạn thân là thầy Lê Thái Bình, cựu Tuyên-úy Phật-Giáo Tiểu-Khu Phú-Bổn. Trong lúc chuyện trò, thầy Bình cho tôi hay, hằng ngày ông đều lên làm công quả vài ba tiếng đồng hồ cho một ngôi chùa của người Việt trong vùng ngoại ô Arlington, Texas.

Nhân cơ hội này, vợ chồng tôi cũng theo chân thầy Bình lên thăm chùa cho biết cảnh trí và sinh hoạt của một ngôi chùa Việt-Nam ở xứ Mỹ này ra sao?

Trưa hôm đó, khi thầy Bình phụ giúp những người khác làm Phật sự, vợ tôi lên Chánh điện thắp nhang, thì tôi lang thang trong vườn sau. Ngôi chùa này khá khang trang, có cả tượng Phật Bà đứng trên vách đá, bên chân Phật Bà là dòng suối nhỏ, nước trong veo và chảy không ngừng.

Trong cái tĩnh lặng của không gian, chợt tiếng chuông báo Ngọ ngân vang. Tiếng chuông len lách trên lối mòn vườn sau. Tiếng chuông khuấy động những kỷ niệm xa xưa trong tâm hồn tôi. Tôi chợt nhớ ra, đã lâu lắm rồi, tôi từng có một lần vào chùa, xuống tóc, thọ tỳ kheo…

Trở về Seattle, tôi nhờ anh đại diện Cựu Học Sinh Trần Quý Cáp ở Việt-Nam liên lạc với chùa Long Tuyền để chuyển lời thăm hỏi của tôi tới thầy Chơn Phát cùng chư Tăng mà tôi đã quen biết ngày xưa.

Không lâu sau, tôi nhận được tin thầy Chơn Phát, thầy Như Luận cùng chú Quý, chú Hạnh đều đã qua đời, riêng chú Quýt thì hoàn tục sau năm 1975. Người trụ trì hiện nay là Hòa Thượng Thích Như Phẩm, tức là chú Chín ngày xưa.

Anh đại diện cũng gửi cho tôi xem cái ảnh của Hòa Thượng Thích Như Phẩm đứng trước bàn thờ thầy Chơn Phát.

Như vậy là thầy Chơn Phát đã ra đi. Thầy đã vượt qua một kiếp nhân sinh trần ai đầy khổ ải. Giờ đây, chắc linh hồn thầy tôi đang thênh thang phiêu du nơi xứ Phật. Và chú sa di đầu còn miếng vá chưa được cạo hẳn, khép nép đứng hầu sau lưng thầy ngày nào, nay đã thành một Hòa Thượng, tân trụ trì Long Tuyền Tự.

Qua bao nhiêu đổi thay, giờ này chỉ còn một mình chú Chín là có Phật duyên. Chú Chín xứng đáng là truyền nhân đệ tử của thầy tôi.

Thầy tôi đã khuất núi, nhưng lời thầy khuyên răn tôi vẫn còn đây:

“Cây tùng hay cây thông là biểu tượng của người quân tử.” 

Mới đó mà nửa thế kỷ đã trôi qua, kể từ biến cố Miền Trung.

Nay hình ảnh chú Chín đứng hầu bên bàn thờ thầy Chơn Phát đã khơi dậy trong tôi những kỷ niệm đắng cay của một đoạn đường đời đầy sóng gió của chính mình.

Tôi chợt như vừa sống lại cái tuổi hai mươi chập chững bước vào đời.

Tôi vào đời với hoài bão dời non lấp biển.

Nhưng tôi có biết đâu? Ðời chỉ là cơn mộng mà thôi!   

VML-k20

Seattle, U.S.A tháng 11 năm 2018

Đà Nẵng 1966

baotreonline.com

Posted on 23 Jan 2019

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 23 Jun 2024

manh hai flickr

Hồi ký 7 kỳ – Kỳ 6

Một hôm đang lang thang trong sân nhà thờ Pleiku, tôi tình cờ gặp lại anh cựu Trưởng ban 5 Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân là Hồ Văn Hữu. Anh Hữu đã lên thiếu úy, và đang mang trên người bộ quần áo của Cảnh-Sát Dã-Chiến. Hữu ngỏ ý xin tôi một bộ đồ hoa. Tôi ngạc nhiên,

– Anh đã sang Cảnh-Sát rồi còn xin đồ rằn ri Biệt Ðộng làm gì?

– Mình xin ra khỏi Cảnh-Sát rồi.

– Lý do gì vậy?

– Không hợp với mình, nếu ở vào trường hợp mình, Long cũng làm như mình mà thôi.

Tôi về Biển-Hồ lấy một bộ đồ hoa, đem ra cho Hữu. Hữu đang tá túc trong nhà cô bạn gái tên là Trang. Cô Trang là ca ve của Hội Quán Phượng-Hoàng. Vài ngày sau, Hữu lên đường đáo nhậm đơn vị mới. Ðơn vị mới của anh là Biệt Khu 24 trú đóng trên Kontum. Năm 1974 anh Hữu đã thành một Thiếu tá tiểu đoàn trưởng của Trung Ðoàn 41 Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.

Trước lúc ra đi, Hữu tâm sự với tôi,

– Ở Cảnh-Sát người ta nhìn mình với con mắt khinh khi. Thấy mình, họ cứ xầm xì với nhau rằng, tụi Biệt Ðộng Quân Tiểu Ðoàn 11 là bọn lừa thầy phản bạn, sớm đầu, tối đánh. Mình định xin về lại Tiểu Ðoàn 11, nhưng ngại anh em binh sĩ còn oán hận mình, vì ngày đó mình đi theo ông Dzu. Cuối cùng, mình đành chọn Biệt Khu 24.

Thời gian ở Pleiku tôi cũng phát hiện ra, ngoài những quân nhân của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, còn nhiều người trực thuộc những đơn vị khác của Vùng 1 cũng bị đổi lên Cao Nguyên như chúng tôi, với cùng tội trạng là đã tham gia phong trào ly khai chống chính phủ.

Trong khi hồ sơ quân bạ của tôi còn bay lang thang đâu đó thì cái giấy phạt thứ nhì đã tới Ban 1 của Chiến Ðoàn. Giấy phạt lần này là 60 ngày trọng cấm do Tướng Cao Văn Viên ký, tội trạng được sao lại nguyên văn từ giấy phạt của Tướng Hoàng Xuân Lãm: “Sĩ quan vô kỷ luật. Tự ý dẫn đơn vị tham gia Phong Trào Phản Loạn Miền Trung”

Tướng Cao Văn Viên và Tư lệnh Sư đoàn 7 Nguyễn Bảo Trị. sites.google.com

Như vậy là cùng một tội trạng, tôi đã lãnh 90 ngày trọng cấm. Nhận cái giấy phạt dưới hình thức “gia tăng tối đa” của Trung tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, lòng tôi không chút mảy may lo sợ hay buồn phiền gì cả; tôi như đứa bé chịu nhiều roi vọt quá, đã trở thành chai đá, lì đòn mất rồi!

Trung tá Ninh, trong các buổi họp tham mưu, đã nhiều lần áy náy cho tình trạng của tôi:

“Tội nghiệp thằng bé! Cấp chỉ huy đều trở giáo hết, nên tội lớn, tội nhỏ đều đổ lên đầu nó cả!”

Trước Noel 1966 Chiến Ðoàn 2 phải đi hành quân vùng Ðức-Cơ. Thiếu tá Phạm Văn Toán, Chiến Ðoàn Phó chỉ huy cuộc hành quân này. Tôi ở lại hậu cứ với Trung tá Nguyễn Ðức Ninh Chiến Ðoàn Trưởng.

Ở nhà, bất ngờ tôi nhận được một trát đòi của Tòa Án Quân Sự Nha-Trang do Thượng sĩ Linh, Tiểu Ðội Trưởng Quân Cảnh Tư Pháp Pleiku chuyển tiếp. Lý do ra tòa của tôi là can tội: “Dùng vũ khí tấn công, gây thiệt hại nghiêm trọng về vật chất và nhân mạng cho lực lượng Ðồng Minh trú đóng trong phi trường Ðà-Nẵng”.

Trung tá Ninh thương tình, du di cho tôi thoải mái vài ngày, sau Tết Dương Lịch, ông mới cấp sự vụ lệnh cho tôi ra đi.

Tới Nha-Trang tôi được Quân-Cảnh Tư Pháp gửi tạm trú trong Ðơn Vị 2 Quản Trị Ðịa Phương chờ ngày ra tòa.

Cuối cùng, vì không nhận được đơn khởi tố của Không Quân Hoa-Kỳ ở Ðà-Nẵng, tòa không đủ yếu tố buộc tội, đành chuyển tôi sang cho Hội Ðồng Kỷ Luật xét xử. Chỉ sau vài chục phút hội họp, Hội Ðồng Kỷ Luật Nha-Trang do ông Ðại tá Cách chủ tọa đã ra quyết định:

“Nay giáng cấp Thiếu úy hiện dịch Vương Mộng Long xuống thành Trung sĩ hiện dịch Vương Mộng Long.”

Nhớ lại, đầu năm 1966 mới ra đơn vị được mười hai ngày, tôi đã lên chức đại đội trưởng, được đề nghị đặc cách trung úy. Tôi khấp khởi mừng vì thấy con đường binh nghiệp của mình thật quá xán lạn, quá hanh thông.

Không ngờ chỉ một năm sau, cũng đúng dịp Tết Âm Lịch (1967) tôi bị sao quả tạ chiếu tướng, từ thiếu úy thực thụ, bỗng chốc bị đặc cách lên… trung sĩ thực thụ!  Ðời tôi xuống dốc không phanh.

Xuống trung sĩ rồi, tôi còn bị nhốt thêm 60 ngày trong Quân Lao Nha-Trang để trả nợ cái án phạt của Trung tướng Cao Văn Viên.

Hết hạn phạt giam, tôi về trình diện Khối Thặng Số của Ðơn Vị 2 Quản-Trị Ðịa Phương chờ ra đơn vị mới. Trong gần bốn tháng đầu năm 1967, tôi làm việc dưới quyền ông Chuẩn úy Thành, một sĩ quan mới ra trường. Ông Thành này là cựu trung sĩ Biệt Ðộng Quân, thuộc cấp cũ của tôi. Tháng 2 năm 1966, tôi đã ký giấy cho phép Trung sĩ Thành theo học khóa Sĩ-Quan Ðặc-Biệt Thủ-Ðức.

Mỗi đêm, sau giờ giới nghiêm, tôi chỉ có việc leo lên xe ngồi bên Chuẩn úy Thành, đi một vòng, quanh Quân-Trấn Nha-Trang, kiểm tra một số yếu điểm rồi trở về doanh trại.

Ban ngày được nghỉ, tôi lang thang trong phố, mặt trời đứng bóng thì quay về Ga ăn cơm trưa. Cơm trưa xong, tôi leo lên lưng chừng ngọn núi đằng sau Trường Bồ-Ðề, chui vào cái cốc (chùa nhỏ) của một cư sĩ Phật Giáo để nghỉ trưa và đọc sách. Tới chiều, tôi tụt xuống phố, thả bộ tàng tàng trên bãi biển, hôm nào siêng thì nhào xuống nước, bơi lội một hồi rồi trở về Ga Nha Trang, ăn cơm chiều xong là trở về đồn, làm công tác tuần tra đêm.

Một buổi trưa có hai thanh niên leo lên núi gõ cửa hỏi ông cư sĩ rằng:

“Có ai là Thiếu úy Vương Mộng Long đang ở đây không?”

Tôi ra mặt, xưng tên, thì hai anh này đưa tay ra dấu cho tôi theo họ ra vườn sau. Họ vắn tắt cho tôi biết họ là Mật Vụ của Ðại tá Nguyễn Ngọc Loan. Ðại tá Loan phái họ ra để thâu nạp tôi về Cảnh-Sát. Họ nói Ðại tá hứa sẽ cho tôi lên trung úy do công lao thắng trận Kỳ-Lam, rồi cho tôi chỉ huy một đơn vị Cảnh-Sát Dã-Chiến dưới quyền trực tiếp của Ðại tá. Hai anh này cũng nói rằng sĩ quan của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân có dính dáng tới vụ lộn xộn năm 1966 đều được ân xá. Ông Nguyễn Thừa Dzu được lên thiếu tá, các anh khác như Tôn Thất Trực, Nguyễn Văn Lẹ, Nguyễn Văn Vinh, Thái Văn Nghiệp, Lê Bá Ngọ, đều được Ðại tá trọng dụng, trao cho những chức vụ có quyền hành trong các cơ quan Bài Trừ Du Ðãng hay Cảnh-Sát Dã-Chiến.

Tôi chưa biết quyết định ra sao thì hai anh Mật Vụ móc túi chìa cho tôi xem Thẻ Hành Sự của họ để chứng minh họ không là thứ giả. Tôi trì hoãn bằng cách nói, để suy nghĩ lại, sau ba ngày tôi sẽ trả lời.

Hai ngày kế tiếp tôi không lên núi ngủ trưa. Tôi cứ ngồi ở đầu giường, suy nghĩ đắn đo, quên cả cơm trưa, cơm chiều. Nếu về với ông Loan, tôi sẽ bị đánh giá cá mè một lứa với bọn sớm đầu tối đánh, phản bạn phản thầy; mà không về với ông Loan thì đành ôm cái lon trung sĩ biết lúc nào mới ngóc đầu lên được?

Nhớ ngày lên đường vào Trường Võ-Bị, bạn tôi, ai ai cũng mang theo va li hoặc xách tay, tôi là người độc nhất không có hành lý. Trên tay tôi là hai quyển sách, quyển thứ nhất là “Tôn Ngô Binh Pháp” in từ năm 1952 bằng chữ Việt, quyển sách thứ hai có tên “L’Art de Commander” của Tướng De Lattre De Tassigny xuất bản năm 1960 bằng chữ Pháp.

Bây giờ muối mặt về với ông Loan, tôi sẽ thành một tên “hàng thần lơ láo” chịu ơn người ta, quỵ lụy người ta suốt đời. Với tình hình chính trị loạn xà ngầu như những năm qua, biết đâu về đầu quân cho ông Loan rồi, lại xảy ra chính biến, chỉnh lý, nhỡ ông Loan thua, chẳng lẽ tôi bỏ ông ấy hay sao?

Mặt khác, nếu không theo ông Loan thì với cái lon trung sĩ, tôi sẽ làm gì ích quốc lợi dân với cái bụng chứa đầy “Nghệ Thuật Chỉ Huy” của Tướng De Lattre De Tassigny cùng những”Binh Pháp” thần sầu, quỷ khốc của Tôn Tướng Quân và Ngô Tướng Quân?

Từ ngày còn rất nhỏ tôi đã đọc những truyện dã sử Tàu; lớn lên tôi cũng nghiền ngẫm những quyển sách chứa các giai thoại về sự nghiệp, công danh của các danh tướng cổ kim như: Tôn Võ Tử, Ngô Khởi, Gia Cát, Từ Thứ, Alexander Ðại Ðế, Napoleon Ðại Ðế, Quang Trung Ðại Ðế, Rommel, Patton…

Tôi mê cách hành binh xuất quỷ nhập thần của Rommel, tôi thích những lá thư tình của Napoleon gửi cho Joséphine.

Với tôi, không phải gương xưa nào cũng đáng noi theo đâu!  Ði lính rồi, tôi học và làm theo gương sống hòa đồng cùng thuộc cấp của Ngô Khởi, nhưng tôi chê cái cách tiến thân của vị danh tướng này; giết vợ cầu vinh, thay thầy, đổi chúa là điều đại kỵ đối với một đệ tử của Khổng, Mạnh. Cũng như truyện Câu Tiễn nếm phân mưu đồ phục quốc, truyện Hàn Tín luồn trôn để sau này thành đại tướng, chỉ là những cái gương xú uế lưu truyền trăm nghìn năm về sau mà thôi!

Tôi ngồi ở đầu giường, bộ quần áo hoa của tôi treo trên cọc mùng nơi cuối giường. Nhìn bộ rằn ri, tôi chợt nhớ lại lời tâm sự của anh Hồ Văn Hữu lúc chia tay, rồi tôi quyết định sẽ chọn câu trả lời “Không”.

Ðúng ngày hẹn, hai ông Mật Vụ quay trở lại, tôi nói:

“Không!”

Hai vị này trợn mắt, ngạc nhiên rồi bùi ngùi,

– Thật đáng tiếc! Một ngày nào đó anh sẽ hối hận!

Tôi chưa kịp hối hận thì thêm hai vị khác từ Phủ Thủ Tướng tới tìm gặp. Hai vị này ngỏ ý muốn chiêu dụ tôi về phục vụ dưới trướng Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Lần này thì không cần suy nghĩ lâu la, tôi dứt khoát:

“Không!”

Thời gian chính biến Miền Trung 1966 xảy ra, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tướng Nguyễn Văn Thiệu, chỉ là những “Sứ Quân”, còn Tướng Nguyễn Chánh Thi, cũng chỉ là một “Sứ Quân”. Kẻ thắng làm vua, người thua là “Phản loạn”

Tướng Nguyễn Chánh Thi và Tướng Nguyễn Cao Kỳ

Trong một đất nước có quá nhiều “Sứ Quân”, biết ai sẽ là người chiến thắng sau cùng? Biết ai sẽ làm vua? Biết ai sẽ là “Minh Chúa” mà theo?

Thật tình mà nói, tôi chưa hề phù trợ cá nhân Tướng Nguyễn Chánh Thi. Tôi chỉ giáp mặt ông Tướng này chưa đầy năm phút trên chiến địa, khi ông ta đáp xuống thăm đại đội tôi sau khi trận Tháp Bằng An vừa kết thúc, làm sao tôi có dịp ở bên ông ta, biết ông ta là con người như thế nào mà phải sống chết theo ông ta?

Giả sử ngày đó ông ta được người Mỹ giúp đỡ, loại hết địch thủ, trở thành lãnh tụ, thì chắc gì ông ta còn nhớ tới tôi?

Tôi đã suy tính rất đắn đo khi quyết định không phò tá bất cứ ai, không suy tôn bất cứ ai, không nợ nần ai. Cho dù có bị giáng cấp như hiện thời, tôi vẫn thấy không mảy may xấu hổ hay hối hận vì những gì mình đã làm. Tôi làm, tôi chịu, tôi không than van, tôi không đổ lỗi cho ai. Việc tôi làm, dù đúng, dù sai, đã có trời cao chứng giám.

Thời gian sống ở Nha-Trang thật là quá an nhàn và vô vị. Thong dong suốt ngày mà tôi vẫn thấy như lúc nào cũng chồn cẳng, chồn chân.

Cũng may, nửa năm sau tôi có dịp gửi thư cho Ðại tá Trần Văn Hai, Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng Biệt Ðộng Quân để xin về phục vụ đơn vị cũ.

Ngay sau khi nhận thư của tôi, Ðại tá Chỉ Huy Trưởng đã đích thân đọc hết bản cung từ mà tôi đã khai khi bị giam giữ ở Ty An–Ninh Quân- Ðội Quảng-Nam.

Bản cung từ này chỉ cần đọc qua một lần là đã thấy bao chuyện vô lý và khôi hài: tỷ như tôi đã bị kết tội, cùng một ngày, cùng một giờ, vừa chận đánh một đoàn xe chở quân của Sư Ðoàn 2 Bộ Binh ở Tam-Kỳ, vừa đặt súng ở chùa Phổ- Ðà, pháo kích vào phi trường Ðà-Nẵng, lại vừa bắn nhau với Thủy Quân Lục Chiến ở Ngã Ba Cây Lan! Cứ như thể là, tôi có phép phân thân, đằng vân, giá võ, thần thông quảng đại, giống con khỉ Tôn Ngộ Không!

Ðại tá Chỉ Huy Trưởng cho rằng tôi vì bị khảo đả đau quá, không chịu nổi, nên đã nhận bừa những tội danh mà mình không hề gây nên, do đó, ông đã đề nghị Nha Quân Pháp cho tôi phục hồi cấp bậc thiếu úy, chỉ bị phạt treo lon trung úy trong thời hạn hai năm mà thôi.

Sau này, lâu lâu nhớ lại chuyện xuống cấp, lên lon, tôi lại thầm cám ơn ông Công Ðại Việt. Chính nhờ ông gán ghép cho tôi toàn những tội danh tày đình trên bản cung từ mà tôi và ông ký tên bên nhau, nên tôi mới được Nha Quân Pháp bóc đi cái lon trung sĩ đã mang trên cánh tay áo gần nửa năm trời.

Tuổi hai mươi vào đời, tâm hồn tôi như tờ giấy trắng tinh. Vậy mà chỉ qua một năm thăng trầm, tôi đã nhận ra rằng, biển đời rộng mênh mông, không thiếu những gương sáng tiết liệt, trung kiên, nhưng cũng ngập tràn phản phúc, lọc lừa.

Giữa tháng 6 năm 1967 tôi trở về đơn vị cũ, cần cù bám đất Pleiku, làm lại từ đầu. Vàng ròng đâu sợ lửa? Rồi cũng có ngày đất nước cần tới bàn tay đóng góp của tôi.

Tôi đã ngoi lên từ từ, nhưng thật là vất vả.  Nhiều chiến công của tôi đã bị người ta cướp đi mất. Nhiều công lao, thành tích của tôi đã bị thượng cấp cố tình quên. Mãi bốn mươi năm sau, thượng cấp của tôi mới nói được lời hối lỗi, thì đã quá muộn màng!

Nhưng tôi vẫn là tôi, vẫn là một cây tùng lúc nào cũng đứng thẳng.

Tất cả những tấm huy chương trên ngực tôi đều đẫm máu, tất cả những bông mai vàng, mai bạc trên cổ áo tôi đều đẫm máu, máu của chính tôi và máu của những người lính dưới quyền tôi.

Thế rồi, cuối năm 1967 Miền Nam đã có tuyển cử.

Ông Kỳ đắng cay thoái lui, làm nhân vật số 2, đứng sau lưng ông Thiệu. Lúc ấy chỉ còn có một mình “Sứ Quân” Nguyễn Văn Thiệu tồn tại; ông Thiệu trở thành lãnh tụ, lên ngôi, lãnh đạo nền Ðệ Nhị Cộng-Hòa.

Nhìn lại thì, trong cuộc “Chính biến Miền Trung năm 1966” những người cầm đầu quân đội như Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tướng Nguyễn Văn Chuân, Tướng Tôn Thất Ðính, Tướng Huỳnh Văn Cao, Tướng Phan Xuân Nhuận, Ðại tá Ðàm Quang Yêu, cùng các vị cầm đầu Phật Giáo Ðà-Nẵng như Ðại Ðức Thích Minh Chiếu, Chánh Sở Tuyên úy Phật Giáo Vùng 1 Chiến Thuật, Ðại Ðức Thích Như Huệ, Tuyên úy Phật Giáo của Trung đoàn 51 Bộ Binh chỉ bị giải ngũ, chẳng có vị nào bị bắt bớ, giam hãm tù đày cả.

Hiến pháp của Việt-Nam Cộng-Hòa có quy định rõ ràng rằng: Ðặt Cộng- Sản ra ngoài vòng pháp luật! Nếu những người cầm đầu này là Việt-Cộng, thì họ đã bị bỏ tù rồi!

Trong khi đó thì những người đi theo họ, nghe lệnh họ, lại bị tù, bị theo dõi, bị trù ếm, bị coi là theo chân Cộng-Sản!

Đà Nẵng 1966

baotreonline.com

Posted on 6 Jan 2019

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 23 Ju8n 2024

Bàn thờ Phật xuống đường cản trở sự di chuyển của quân đội – nguồn Flickr.com

Hồi ký 7 kỳ – Kỳ 5

Một tuần lễ trôi qua, tội trạng của tôi được đúc kết và ghi chép lại thành một tập dày trên hai chục tờ giấy đánh máy. Thẩm vấn viên Công đọc lại cho tôi nghe một lần, rồi yêu cầu tôi ký tên cạnh tên ông ta nơi trang cuối cùng. Tôi nhanh nhẹn ký liền. Thế là xong việc!

Cũng từ hôm kết thúc hồ sơ, tôi không còn dịp gặp riêng ông Công lần nào nữa. Năm sau tôi được tin ông Công ra ứng cử chức dân biểu quốc hội, đại diện cho khu vực Hội-An nhưng không được dân tín nhiệm.

Ít bữa sau, hồ sơ của tôi được chuyển ra Sở 1 An-Ninh Quân-Ðội ngoài Ðà-Nẵng.

Tôi thấy các ông Trung úy Cư, Thiếu úy Nồng, Trung sĩ 1 Ru cùng nhiều vị khác bị giam ở đây đã lâu, vậy mà hồ sơ của họ vẫn chưa thụ lý xong mới lạ!

Nghe tôi nói hồ sơ của tôi đã hoàn tất, ông Cư tò mò hỏi,

– Có chạy chọt hay sao mà lẹ vậy?

– Chạy chọt là sao?

– Thì dấm dúi tiền cho họ, họ bớt tội cho, đề nghị giảm khinh rồi gửi hồ sơ đi chứ gì nữa! Giả bộ ngây thơ hả?

Tôi nổi tam bành,

– Này! Ðừng có nói bá láp! Ông đánh bể mỏ bây giờ! Cái gì mà dúi tiền? Cái gì mà giảm khinh?

Thấy tôi sửng cồ, ông trung úy già vội làm hòa,

– Thì thấy cậu kết thúc hồ sơ nhanh quá, anh nghi, nên nói vậy. Thôi! Không phải thì bỏ qua nghe!

Sau đó chúng tôi hòa. Ông Cư cho tôi biết không phải ai cũng được đối xử nhân đạo như tôi đã được đối xử đâu. Ông Thiếu úy Cao Xuân Hương, hai ông hạ sĩ quan và ông đảng viên Ðại-Việt không phải là những người tiếc những cú đấm ngàn cân giáng vào hàm, vào mặt quân ly khai, mà còn tận lực sử dụng nó một cách hăng say nữa! Quân ly khai nào ngoan cố, cứ chối tội hoài, thì biết tay các vị đó ngay.

Qua những lần tiếp xúc với các vị “đồng phạm” khác, tôi phát giác ra một điều: Khi bị hỏi cung, mọi người sợ bị phạt, cố tìm cách chối tội, đổ lỗi cho cấp chỉ huy đã ra lệnh cho họ tham gia lực lượng ly khai, chứ cá nhân họ không muốn như vậy.

Khổ một điều là cấp chỉ huy của họ giờ chót đã trở cờ, nên họ càng chối càng bị đánh; có người còn bị  trấn nước, đội đá, quay điện, cho tới khi chịu nhận tội, ký vào bản tự tường trình họ mới được yên.

Hóa ra tội gì cũng nhận như tôi mà lại hay; vừa được an thân vừa giúp đỡ các thẩm vấn viên khỏi vận công vận sức.

Anh Thiếu úy Nồng và một thiếu úy khác, bạn cùng đơn vị với anh ta cứ luôn mồm oán thán cấp chỉ huy trực tiếp của hai anh là ông Ðại úy Kỳ, chi khu trưởng hay chi khu phó gì đó.

Sĩ quan và hạ sĩ quan tuy bị nhốt trong nhà giam của An-Ninh Quân-Ðội nhưng ẩm thực lại do gia đình lo liệu. Ngày ngày cứ vào giờ quân nhân của tiểu khu nghỉ trưa, nghỉ chiều, chúng tôi lại ai về nhà nấy ăn cơm, hai giờ sau quay lại, cứ như là công chức!

Ông Trung úy Cư có cô con gái lớn tên là Mai mười sáu tuổi. Sau giờ học, cô Mai làm việc thêu thùa để tăng thêm thu nhập cho gia đình. Ngày ngày cô Mai đều ghé nhà giam đưa cơm cho bố một lần vào buổi trưa. Cô cũng đem cho bố những mẩu vải cắt sẵn để ông giúp cô, thêu phù hiệu, huy hiệu, hay lon đen, lon trắng của quân đội Hoa-Kỳ. Ðêm đêm, dưới ánh điện mờ, ông Cư cặm cụi kim chỉ cho tới khuya mới đi ngủ. Những lúc ngồi buồn, ông Cư hỏi tôi đủ điều, về gia thế, tuổi tác, vợ con. Tôi tình thực kể chuyện đời mình cho ông bạn già đồng cảnh này nghe. Biết tôi chưa có gia đình, ông Cư nói đùa,

– Ngày mai con Mai tới đưa cơm, cậu thích nó thì gắng làm quen với nó. Nó cũng dễ coi, nhưng hiền lắm, chưa có bồ.

Tôi đã nhiều lần nhìn tận mặt cô gái Huế này rồi. Ngày nào cô ấy chẳng ghé đây? Cô ấy có thể gọi là đẹp, vừa ngây thơ, vừa dịu dàng.

Hôm sau tôi được một cô bạn gái vào thăm. Ông Cư lịch sự tránh mặt bằng cách ra sân tản bộ.

Cô Hối, bạn tôi, vốn là người tôi quen từ trước ngày đi lính; Hối là học trò Trường Trung Học Tư Thục Diên-Hồng, nhà cô ấy ở trước trại Tây Hồ. Mẹ tôi không có cảm tình với cô này, chỉ vì Hối không phải là con nhà dòng dõi Bắc-Kỳ Di Cư.

Hối mang cho tôi một giỏ quà gồm bánh tét, giò, chả, bánh ngọt và thuốc lá. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau gần một tiếng đồng hồ thì ông trung sĩ trực văn phòng tới gõ cửa, báo cho biết đã hết giờ.

Cô Hối vừa khuất dạng, hậu quả của vụ thăm nuôi đã ập tới ngay: Ông Trung úy Cư không còn nhắc tới tên cô Mai nữa; ông cũng quên luôn chuyện khuyên tôi tìm cách làm quen với ái nữ của ông.

Cũng nhân vụ chính biến 1966 này mẹ tôi mới nhìn ra, gần chục gia đình Bắc-Kỳ Di Cư mà mẹ tôi nhắm hỏi con gái nhà họ về làm dâu, gặp cơn hoạn nạn, chẳng có ma nào đoái hoài tới gia đình tôi cả. Thậm chí có nhà còn vội vàng gả chồng cho con gái, đám cưới xảy ra nhanh như đám cưới chạy tang. Chỉ có một “con bé Quảng-Nam” mà mẹ tôi không ưa nhất lại liều mạng vào nơi tù tội thăm hỏi con bà. Sau này vì tôi ở Pleiku, Vùng 2, xa xôi cách trở, nên tôi và Hối không còn liên lạc với nhau.

Cuối tháng 8 năm 1966 tôi ra Ðà-Nẵng trình diện Sở 1 An–Ninh Quân Ðội. Trung tá Chánh sở 1 dẫn tôi lên trình diện Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm tân Tư Lệnh Quân Ðoàn I và Vùng 1 Chiến Thuật. Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm, là nguyên Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh. Ông này đã đứng trung lập trong thời gian đầu của cuộc chính biến Miền Trung. Sau đó ông Lãm chỉ xác định lập trường ủng hộ Tướng Kỳ vài ngày trước khi Không Quân Mỹ đổ quân của chính phủ trung ương xuống phi trường Ðà-Nẵng. Người mà Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm đã thay thế là Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. Thiếu tướng Cao nhậm chức thay Tướng Ðính sau khi tôi giải tán tiểu đoàn vài ngày. Vì lập trường của Tướng Cao cũng chao đảo, không dứt khoát, nên ông ta bị bốc chức ngay.

Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm – nguồn flickriver.com

Tôi đứng nghiêm giữa phòng. Sau bàn giấy, ông Tướng Thiết Giáp ngồi dựa lưng trên ghế, trước mặt ông là chồng hồ sơ ghi tội trạng của tôi. Ông từ tốn nói,

– Mi anh hùng dữ hí! Tau cũng nể mi luôn! Tau phạt cho mi nhớ hí! Sau này có làm việc gì cũng phải suy tính thiệt hơn, đừng hồ đồ mà mang họa vào thân!

Ðầu tháng 9 năm 1966 tôi ra trình diện Quân Lao Mang-Cá, Huế, sau khi lãnh cái giấy phạt 30 ngày trọng cấm với tội danh “Sĩ quan vô kỷ luật. Tự ý dẫn đơn vị tham gia Phong Trào Phản Loạn Miền Trung”

May mắn là, lúc nhận sự vụ lệnh của tôi, Trung úy Ưng Dung, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm 1 Quản Trị Ðịa Phương đã kịp nhận ra tôi là đứa bạn thân của thằng cháu ông, nên ông không tống tôi vào giam trong quân lao. Ông cho phép tôi được về ở trong nhà trọ sát chùa Báo Quốc, cấm lang thang trong thành phố. Mỗi ngày tôi phải vào văn phòng trình diện ký tên trong sổ điểm danh một lần.

Thời gian này tôi thấy người bạn cùng bị giam ở Hội-An là anh Thiếu úy Nồng, mặt mày xanh xao, thất thểu trong đoàn lao công có lính canh dẫn đi làm tạp dịch. Tôi không rõ tương lai đời anh thiếu úy kém may mắn đó đi về đâu.

Ngày 1 tháng 10 năm 1966 tôi được tự do lang thang bên bờ Hương Giang để chuẩn bị hôm sau sẽ từ giã Huế.

Thời gian này Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân đã bị đưa vào Pleiku thay cho Tiểu Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân di chuyển ra Ðà-Nẵng. Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân đã có người chỉ huy mới là Ðại úy Nguyễn Kim Biên.

Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu đã đi luôn, theo nghề Cảnh-Sát, không một lần quay lại thăm đơn vị cũ. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 ông Dzu đã trở thành một trong số những người Việt-Nam tị nạn đầu tiên có mặt trên xứ Hoa-Kỳ.

Tôi được trả về đơn vị gốc là Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, nên phải trình diện Bộ Chỉ Huy Chiến Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân ở Biển Hồ. Vì tôi không mang theo hồ sơ quân bạ, nên Trung tá Nguyễn Ðức Ninh, Chiến Ðoàn Trưởng Chiến Ðoàn 2, cho tôi làm một công việc làng nhàng là chức vụ phụ tá hành quân cho Ðại úy Nguyễn Văn Huân.

Nghe tin tôi trở về, anh em binh sĩ của Ðại Ðội 3/11 ùn ùn kéo nhau tới tụ hội trong căn gia binh của Trung sĩ Cẩn, mở tiệc nhậu mừng tái ngộ. Thầy trò chúng tôi ngồi bên nhau chuyện trò om sòm cho tới khuya.

Trưa hôm sau thì Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân có lệnh lên đường vào vùng. Trước giờ vào sân tập họp, đàn em để lại cho tôi một bao cát gạo trắng, một chai tàu vị yểu con mèo, một cái nồi nấu cơm cá nhân, và một bó củi. Binh 1 Trần Ðược trao cho tôi một túi chứa bạc cắc và dặn tôi nếu đi Pleiku thì dùng nó để trả tiền xe Lamb.

Thời gian này đang là giữa mùa Ðông, mà ban đêm thì Pleiku lạnh lắm. Mấy chú đàn em lại quên không kiếm cho tôi một cái mền hay poncho để đắp khi đi ngủ, nên tôi phải đốt một bếp lửa giữa nhà, rồi ngồi bó gối hong cho đỡ rét. Tới khi mệt quá, tôi lăn quay ra chiếu, ngủ chưa được hai tiếng đồng hồ thì trời đã sáng rồi.  Hôm sau tôi vào bộ chỉ huy kể chuyện này cho Ðại úy Kính nghe. Ông Kính vội ra lệnh cho anh thủ kho phát cho tôi một cái mền nhà binh và một cái poncho.

Trong hai ngày kế tiếp tôi chỉ loanh quanh trong hậu cứ của Tiểu Ðoàn 11 và Chiến Ðoàn 2 rồi về căn cuối cùng của trại gia binh, nằm bên lề đường vào sở trà Biển Hồ, nấu cơm rồi ngồi ăn với xì dầu.

Trưa ngày thứ tư thì tôi lên xe Lamb ra phố tìm đường tới chùa Tỉnh Hội Pleiku.

Tôi vào chùa xin gặp mặt thầy trụ trì để trao một cái thư tay của Ðại đức Thích Chơn Phát. Người tiếp tôi trước khi được giáp mặt thầy trụ trì là ông trung úy đặc trách Phật Vụ của Quân Ðoàn II. Ông trung úy này tên là Nghiêm, tốt nghiệp khóa 14 Võ-Bị. Trung úy Nghiêm bảo tôi ngồi chờ trong văn phòng ông rồi nhanh nhảu mang cái thư tay đi tìm thầy trụ trì.  Chừng năm phút sau tôi được đưa lên phòng khách của chùa. Thầy trụ trì đã đọc những lời gửi gắm nhờ vả của thầy tôi, ông nhìn tôi rồi nói thật nhỏ,

– Con đừng tới đây thường xuyên. Chùa đang bị theo dõi. Tới đây thường sẽ bất lợi cho con.

Nói xong thầy trao cho tôi một cái bì thư khá dày. Tôi được Trung úy Nghiêm dẫn ra cổng rồi bắt tay từ biệt. Năm 1979 tôi gặp lại ông Nghiêm trong trại tù Nam-Hà A. Tôi nhắc lại chuyện xưa, thì ông đã quên.

Về tới Biển Hồ, tôi bóc cái bì thư, thấy năm ngàn đồng nằm trong đó. Mấy tháng rồi tôi không có lương, nên nhận được sự giúp đỡ này, tôi cảm động vô cùng.

Cũng nhân cái cớ tôi không có hồ sơ quân bạ, nên Trung tá Ninh dễ dãi cho tôi miễn hành quân, cứ nhởn nhơ, lang thang trong phố, đôi khi cả tuần lễ tôi không ghé về Biển Hồ.

Các ông Trung sĩ Hai, Trung sĩ Nghiễm trong ban Biệt Cảnh, tuần tra của Biệt Ðộng Quân trong thành phố Pleiku đều biết tôi là sĩ quan phụ tá của ông Ðại úy Huân, nên chẳng làm khó dễ gì nếu gặp tôi nửa đêm, nửa hôm còn lang thang trong phố. Ngày qua ngày, tôi sống như một lãng tử bất cần đời.

Có một thời gian tôi tá túc trong nhà vợ chồng Trung úy Trọng, Trưởng ban 1 Chiến Ðoàn. Nhà này nằm trên đường Phan Ðình Phùng, Pleiku. Bên kia đường là một dinh cơ ba tầng lầu mới xây. Dinh cơ này có một cô tóc thề ngang vai, ngày ngày cắp cặp đi về. Tôi đã đôi lần cố tình đi ngược chiều gật đầu chào cô với tư cách là người hàng xóm lịch sự, nhưng cô ta làm lơ không thèm để ý.

Không ngờ, giữa trưa một hôm, chắc là ngày lành, tháng tốt (!) tôi nghe trên sân thượng nhà cô có tiếng gọi,

– Ông thầy ơi! Ông thầy ơi!

Ngẩng mặt lên, tôi nhận ra người đứng trên gác là Binh 1 Lê Hữu Hường, thuộc cấp cũ của tôi ở Ðại Ðội 3/11. Hường là một trong những người chứng kiến hình ảnh một thiếu úy Võ-Bị mới ra trường, chiều ngày 10 tháng 2 năm 1966 đáo nhậm đơn vị bằng cách đeo bám cửa sau một chiếc xe đò đầy khách chạy đường Hội-An, Ðà-Nẵng; Hường cũng là một trong hai mươi ba người của Trung Ðội 1, Ðại Ðội 3 đã tập họp trên Gò Phật, Thanh-Quýt, Ðiện-Bàn, Quảng-Nam để chào đón tôi về làm người chỉ huy. Từ sau trận Tháp Bằng An, Ðiện Bàn, Quảng-Nam, ngày 22 tháng 2 năm 1966, tôi trở thành sĩ quan đại đội trưởng của Hường cho tới sáng 20 tháng 5 năm 1966 là ngày thầy trò chia tay nhau nơi sân sau chùa Phổ- Ðà, Ðà-Nẵng.

Từ trái: Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tướng Cao Văn Viên, Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, ngày 18 tháng 5, 1966 tại Đà Nẵng – photo © Bettmann / CORBIS

Hường vui mừng, rối rít mời,

– Ông thầy qua đây chơi!

Tôi qua đường, Hường cũng vừa mở cửa. Quay vào trong nhà, anh ra lệnh,

– Con Lê đâu? Pha trà! Pha trà mau! Nhà có khách!

Cô hàng xóm của tôi ló đầu sau cầu thang,

– Thưa cậu, con đây, có trà ngay!

Tôi ngồi chơi với Hường chừng nửa giờ sau thì cáo thoái.

Hường tiễn tôi ra cửa, vừa cười, vừa nói oang oang,

– Nhà này là nhà chị tôi. Lâu lâu tôi ghé thăm. Còn con Lê là cháu gọi tôi bằng cậu. Nó tuy ngổ ngáo nhưng dễ thương lắm. Ðể hôm nào tôi giới thiệu Thiếu úy cho nó nhe!

Về tới cửa nhà mình, tôi lần túi lấy bao thuốc lá. Chợt nhớ ra mình vừa bỏ quên chiếc bật lửa Zippo trên bàn nhà chú Hường đành quay lại tìm.

Tới cửa, tôi nghe hai cậu cháu anh Hường đang trò chuyện với nhau.

Tiếng cô cháu trách móc ông cậu,

– Cậu quen cái ông lính kiểng này hả? Cháu thấy ông ấy chẳng làm ăn gì cả. Chắc ổng là dân chuyên môn trốn hành quân, suốt ngày lang thang đi đếm cột đèn. Cậu lánh xa ông ta đi! Cậu ơi!

Tiếng ông cậu nạt cô cháu,

– Mi đừng có nói bá xàm, bá láp! Im cái mồm đi! Không biết cái gì mà cũng léo nhéo, tầm bậy, tầm bạ!

Nghe thấy thế, tôi quay lưng biến nhanh.

Lúc sau Hường qua gõ cửa,

– Ông thầy bỏ quên cái bật lửa.

– Ừ! Tôi cũng mới biết, nhưng chưa kịp chạy qua thì chú đã đem nó sang đây.

Hường chào tôi rồi hẹn,

– Lần tới, về nghỉ dưỡng quân, tôi sẽ dẫn ông thầy và con Lê vào rạp Thanh Bình coi ciné. Ði chơi chung vài lần là ông thầy và nó sẽ quen nhau.

Ngờ đâu, chỉ ít lâu sau, tôi biết tin Hường tử trận khi xác nó đã được đưa về tới quê nhà Hội-An rồi. Nó đền nợ nước trong lúc xung phong chiếm một mục tiêu trong vùng Tây Bắc quận Dak-Tô.

Đà Nẵng 1966

baotrdeonline.com

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 23 Jun 2024

manh hai flickr

Bàn thờ Phật xuống đường cản trở sự di chuyển của quân đội – nguồn Flickr

Kỳ 4

Ðầu tháng 6, Quân Trấn Hội-An mở một đợt hành quân hỗn hợp, bao vây và lục soát Long Tuyền Tự. Tôi tránh mặt bằng cách chui vào nằm trong cái rương dùng làm giường trong liêu tỳ kheo.

Buổi lục soát chấm dứt bằng vụ bắt bớ những người tình nghi phá rối trị an. Ba sư tăng lớn tuổi là Thích Như Sơn, Thích Như Quý và Thích Như Luận đã bị Cảnh Sát bắt về Quân Trấn để thanh lọc.

Lúc này trong chùa chỉ còn lại tôi, thầy Thích Chơn Phát, chú Thích Như Hạnh cùng hai chú tiểu bé con, đầu còn mang miếng vá, tôi không biết pháp danh, đó là chú Quýt và chú Chín.

Thấy tình hình không yên, sợ những người bị bắt sẽ khai tên tôi ra, nên mờ sáng hôm sau, tôi và sa di Như Hạnh ra đầu tỉnh đón xe đi Ðà-Nẵng lánh nạn.

Ít ngày sau, núp bên cửa sổ nhà người bạn, tôi xót xa chứng kiến hình ảnh anh Tôn Thất Trực, dưới bộ dạng của một nhà sư, áo lam, đầu trọc, bị trói ngoặt cánh khuỷu, đứng gục đầu trên xe Jeep mui trần, chạy chầm chậm trên đường Phan Chu Trinh Ðà-Nẵng. Người ta chở Tôn Thất Trực diễu quanh thành phố nhiều vòng để làm nhục anh. Tôi không rõ số phận Thích Như Huệ ra sao.

Như vậy, Thủy Quân Lục Chiến đã chiếm xong chùa Tỉnh Hội, Hội–An. Nếu tôi không thoát khỏi vụ lục soát ngày hôm trước, chắc số phận cũng không hơn gì anh Tôn Thất Trực.

Tuần sau, thấy tình hình đã tạm yên, tôi bèn rời Ðà-Nẵng, trở lại Hội-An. Về tới chùa tôi mới hay, ngay chiều ngày tôi và chú Hạnh đi Ðà-Nẵng, những chư tăng bị bắt ngày hôm trước đã được tha. Chú Phong về chùa không gặp tôi nên đã bỏ chùa đi mất rồi.

Tôi nghĩ bụng, gia đình chú Phong ở ngoài Quảng-Trị, nếu Phong về được với gia đình thì không còn điều gì phải lo lắng cả.

Thời gian dài sau đó, tôi quen với nếp sống tu hành đạm bạc. Tôi ngủ trong liêu tỳ kheo cùng thầy Thích Như Luận. Như Luận lớn hơn tôi vài tuổi và là đệ tử lớn nhất của Ðại đức Thích Chơn Phát.

Ngày qua ngày, tôi chuyên tâm đọc những sách nghiên cứu về triết lý Phật Giáo. Rồi tôi say mê cái triết lý thoát tục này lúc nào không hay. Tôi đã có ý định rũ bỏ nợ đời, theo đuổi đường tu cứu vớt chúng sinh. Thầy Chơn Phát đặc biệt theo dõi chuyện học tập của tôi. Qua nhiều lần đàm đạo, thầy nhận xét rằng,

– Chú Tùng có thiên tư hơn người. Nếu chuyên tâm, chỉ một thời gian rất ngắn, chú có thể trở thành một thiền sư đi thuyết giảng được rồi.

Vậy là, như người “thi băng, nhảy lớp” tôi mặc nhiên trở thành đệ tử thứ nhì của thầy trụ trì, chỉ đứng sau tỳ kheo Thích Như Luận.

Tôi vốn là người quen nhẫn nhục, siêng năng từ nhỏ, không từ nan bất cứ công việc nặng nhọc nào. Từ cuốc đất, tưới rau, bổ củi, tới quét sơn, quét vôi, rào vườn, đào mương…việc gì tôi cũng làm được cả. Tôi làm việc tất bật suốt ngày, nên quên cả thời gian, quên hết muộn phiền. Gặp lúc rảnh rỗi thì tôi và các chú sa di lại quây quần bên nhau xung quanh bàn cờ tướng hay cùng nhau ngâm nga những câu thơ Tản Ðà.

Từ ngày quân chính phủ trung ương chiếm cứ chùa Tỉnh Hội thì người đi lễ Phật dồn về Long Tuyền Tự ngày càng đông. Các chú sa di cứ phải luân phiên leo lên cây chay sau cổng chính hái những chùm chay chín đỏ xuống cho các cô nữ sinh thăm viếng chùa.

Trong số bốn, năm chú tiểu thường leo cây hái chay tặng khách có một anh chàng leo nhanh như khỉ, lúc nào cũng nhe răng cười, nhưng không hề mở miệng nói chuyện với ai. Các cô tưởng nhà sư trẻ tuổi, mặt mày sáng rỡ này bị câm, nên ánh mắt nhìn chàng ta có chứa chất chút gì áy náy xót thương. Các cô đâu có biết chàng ta không mở miệng được chỉ vì chàng không “thông thạo” tiếng Quảng (Nam), chàng là người Hải-Dương. Các cô cũng chẳng ngờ được rằng dưới bộ quần áo tu hành màu lam, cái cốt giấu bên trong của chàng lại là cốt lính.

Thời gian như thoi đưa. Ngày nào cũng thế, buổi sáng, mặt trời dịu dàng, e dè, khép nép, chầm chậm ngoi lên từ cồn cát hướng Ðông; buổi chiều, mặt trời sưng vù, đỏ lừ lừ như mặt anh chàng say rượu, vội vàng lủi xuống núp sau lưng hàng phi lao nơi cồn cát hướng Tây. Hàng sầu đông vườn sau vẫn còn tiếng chim cu xanh gáy “gù! gù! gù!” để dụ dỗ nhau, nhưng tiếng ve sầu thì mỗi ngày một thưa đi, nhỏ dần… chắc tụi ve sầu mải mê ca hát quên ăn quên uống, nên bị cái nắng cháy da của mùa Hè thiêu chết dần mòn hết rồi! Chồng sách nghiên cứu và chỉ dẫn con đường về xứ Phật trên đầu giường của tôi mỗi ngày mỗi cao hơn.

Một hôm có hai người khách lạ tới vãn cảnh chùa. Họ đi loanh quanh dò xét khắp nơi, dáng điệu thật đáng nghi. Khuya hôm đó có tiếng chó sủa vang từ ngoài cồn cát về tới xóm lá bên đường sát Long Tuyền Tự. Rồi có tiếng người đập cửa ầm ầm,

– Mở cổng! Mở cổng ra mau!

Thì ra đó là một toán du kích Việt-Cộng địa phương. Trước đây họ vẫn lâu lâu ghé về thu thuế một lần. Nhưng từ thời có sự hiện diện của Quân-Ðội Ðồng-Minh thì họ không dám bén mảng gần vùng này nữa.

Thầy Như Luận khuyên tôi ẩn mình trong rương để đề phòng bất trắc.

Cái rương đa năng này tháng trước là nơi tôi ẩn núp trốn lánh một cú bố ráp của người Quốc-Gia, hôm nay tôi lại chui vào rương để trốn tránh người Cộng-Sản.

Tôi nghe tiếng cánh cổng chùa kêu ken két, rồi có tiếng người ra lệnh,

– Mời tất cả sư sãi trong chùa này ra tập trung trước sân cho tôi kiểm tra. Mau lên!

Sau đó là tiếng lên cò súng “lách! cách!” cùng tiếng dép guốc “lộc cộc!” rộn rịp của chư tăng.

Tên chỉ huy Việt-Cộng ra lệnh,

– Tất cả ngồi xuống đây! Không ai được đi đứng lộn xộn! Sư trụ trì nghe tôi hỏi đây: Chùa đang chứa chấp một tên chỉ huy Biệt Ðộng Ngụy có đánh trận Kỳ-Lam hồi tháng 2, mau giao nó ra đây!

Thầy Chơn Phát trả lời,

– Tất cả mọi người trong chùa này đều có mặt ở đây. Toàn là sư sãi cả, làm gì có lính Ngụy mà giao? Các ông muốn bắt ai thì bắt đi!

Bọn du kích chia nhau đi lùng sục khắp nơi. Từ điện thờ tới nhà bếp, gác chuông, bể nước, nơi nào cũng bị ánh đèn pin rà xét kỹ càng. Chúng không ngờ hai cái giường trong liêu tỳ kheo, có chiếu trải ở trên, bên dưới lại là hai cái rương có thể chứa người nằm duỗi chân thoải mái.

Chừng nửa giờ sau bọn du kích rút đi.

Chờ cho tiếng chó sủa xa dần rồi im bặt, thầy Như Luận mới về phòng kêu tôi chui ra khỏi chỗ trú ẩn. Tình trạng an ninh của tôi thời gian này đúng là đang nằm trong thế trên đe, dưới búa. Ban ngày thì sợ quân Quốc-Gia, ban đêm lại sợ quân Cộng-Sản, lúc nào cũng nơm nớp, bồn chồn.

Không rõ ai đã tiết lộ tin Việt-Cộng nửa đêm đột nhập Long Tuyền Tự tìm bắt một sĩ quan Biệt Ðộng Quân, mà hai ngày sau ông Ðại úy trưởng đồn Quân-Cảnh đã đích thân lái xe ra hạch hỏi thầy trụ trì rằng có sĩ quan “phản loạn” nào còn đang trốn trong chùa không?

Thấy tình hình có vẻ không yên, thầy Chơn Phát tính chuyện cho tôi rời chùa đi tá túc nhà bạn bè một thời gian, sau đó tìm đường vào Sài-Gòn đổi tên họ rồi vào chùa tu luôn.

manh hai flickr

Sinh viên Phật tử Huế của Nguyễn Đắc Xuân biểu tình xé cờ Mỹ, đốt Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ trên đường Đống Đa

Hai ngày sau tôi từ giã thầy tôi rồi khăn gói lên đường.

Lựa lúc mặt trời đứng bóng, trạm gác Cảnh-Sát trước quán tạp hóa của nhà cô Hòa không có ai, tôi vội băng qua bãi cát nóng cháy lẩn vào khu xóm nhà bên Bến Xe Hội-An, Ðà-Nẵng.

Còn cách bến xe chừng vài nhà, tôi đụng đầu Ðỗ Khế, một anh bạn bảy năm cùng lớp Trung Học Trần Quý Cáp. Khế đang nghỉ Hè. Nó không đi lính như tôi mà thi vào Sư Phạm Toán. Nó dúi cho tôi ít tiền và khuyên tôi xuống nhà thằng bạn Huỳnh Ngọc Thành ở ngoại ô mà trốn.

Tôi nghĩ, nhà thằng Thành nằm trên đường đi Cửa Ðại, xa trung tâm Hội-An, nhưng lại sát rào nhà thằng bạn Ngô Rân, mà bố thằng Ngô Rân lại làm Cảnh-Sát. Trốn trong nhà thằng Thành chắc cũng không ổn.

Cuối cùng, tôi tính chuyện đi bộ ra Lai Nghi, rồi quá giang xe lên Vĩnh-Ðiện vào nhà thằng bạn Ðặng Xuân Nghĩa tá túc ít lâu. Nhà thằng Nghĩa nằm trên Quốc lộ 1, ngày nào cũng có xe tốc hành Sài-Gòn chạy qua.

Ra khỏi thành phố, tôi thủng thỉnh theo lề quốc lộ mà đi. Bất chợt, một chiếc xe tuần cảnh từ trong khu đóng quân của Thiết Giáp chạy ra quẹo về thành phố. Tôi đi bên lề trái đường nên tôi và chiếc xe chỉ cách nhau chừng hai thước khi gặp mặt. Xe tuần cảnh chạy được vài chục thước đột nhiên quay ngược lại dừng sau lưng tôi. Một người ngồi trên xe lên tiếng gọi,

-Cậu Long! Cậu Long ơi!

Thế là tôi bị bắt!

Trung sĩ Quân Cảnh Lê Danh Ba nhảy xuống xe cười hì hì,

– Ðã có kế hoạch sáng sớm mai đột nhập chùa Long Tuyền để bắt cậu rồi, không ngờ lại gặp mặt cậu ở đây! Thôi! Cậu lên xe về Quân Trấn đi!

Trung sĩ Lê Danh Ba gốc Bảo An Ðoàn là dân Bắc-Kỳ Di Cư. Những gia đình Bắc-Kỳ Di Cư ở Hội-An đều quen biết nhau hết. Với một số gia đình, tôi được coi là cái gương tốt cho lớp đàn em, con cái của họ noi theo.

Trung sĩ Lê Danh Ba là người bạn lâu đời của gia đình tôi. Ông chứng kiến tôi lớn lên từ tuổi mười bốn cho tới khi tôi trưởng thành. Năm mười tám tuổi, trong một lần tập quay xà ngang, tôi bị ngã dập ngực, ông đã bỏ ra nửa tháng trời vất vả, ngày ngày tới nhà tôi đắp thuốc cho tôi lành bệnh. Cuối năm 1963, ông cũng ra tận sân ga Ðà-Nẵng để tiễn tôi lên đường tòng quân.

Trung sĩ Ba nhường ghế trưởng xa cho tôi rồi nhảy sang thay chỗ cho tài xế. Ông nói,

– Hồi tháng trước, chúng tôi vây chùa, bắt được thằng cận vệ của cậu, nhưng tôi đã lén thả nó ra. Những tưởng cậu đã đi đâu mất rồi, không ngờ cậu vẫn còn loanh quanh ở Hội-An.

Tôi chán nản,

– Quốc, Cộng đều truy nã tôi, tôi biết đi đâu bây giờ?

– Cậu có còn nhớ chuyện Việt-Cộng nó treo giá cái đầu của cậu một vạn đồng sau trận Tháp Bằng-An, Kỳ-Lam không? Nay cậu bị Quốc-Gia bắt còn may mắn trăm lần hơn là bị Cộng-Sản bắt.

Xe chạy tới ngã ba, một đường về Chùa Cầu, một đường về tiểu khu. Thời gian này, nhà tôi ở cách Chùa Cầu hơn trăm thước. Trung sĩ Ba dừng xe, rồi nói,

– Hay tôi thả cậu về nhà, tắm rửa, nghỉ ngơi, mai tôi tới đón cậu vào tiểu khu trình diện. Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không trốn đi, làm cho tôi bị liên lụy.

Tôi cảm động,

– Chắc chắn tôi không làm bác bị vạ lây đâu! Cám ơn bác nhiều.

Trung sĩ Ba thả tôi xuống trước cửa nhà rồi lái xe đi.

Mẹ tôi thấy con mình bình an trở về, mừng quá khóc òa.

Tám giờ sáng hôm sau xe tuần cảnh tới đón tôi vào tiểu khu. Trung sĩ Ba giao tôi cho Ban Thẩm Vấn của Ty An-Ninh Quân-Ðội Quảng-Nam. Ông Thiếu úy Cao Xuân Hương, dân Quảng-Bình, là trưởng ban thẩm vấn, phụ tá cho ông là hai hạ sĩ quan và một đảng viên Ðại-Việt tên là Công người Quảng-Nam.

Trong thời gian bị giam giữ trong Ty An-Ninh Quân-Ðội Quảng-Nam tôi chỉ giáp mặt Thiếu úy Cao Xuân Hương ba lần. Lần đầu là ngày Trung sĩ Lê Danh Ba giao tôi cho ông ta. Lần thứ nhì là ngày hồ sơ của tôi hoàn tất. Lần thứ ba là ngày tôi từ giã ông ta để lên đường trình diện Sở 1 An-Ninh Quân-Ðội ngoài Ðà-Nẵng. Hai lần đầu ông Hương còn đeo lon thiếu úy, lần thứ ba, cuối tháng 8 năm 1966, tôi gặp ông để chào từ giã thì ông đã lên trung úy. Mãi mười sáu năm sau (1982) tôi mới gặp lại ông ở Trại Cải Tạo Z30C Hàm -Tân. Tôi và ông Hương bị giam trong cùng một nhà, nhưng khác đội sản xuất. Tôi làm công việc cuốc đất trồng rau. Còn ông Hương làm công tác đổ thùng. Ông Hương được Việt-Cộng tha ra khỏi trại cải tạo trước tôi năm năm.

Ban thẩm vấn chiếm hai dãy nhà trong tiểu khu để giam giữ những quân nhân phạm tội tham gia lực lượng ly khai. Tôi bị đưa vào căn nhà chứa sĩ quan và hạ sĩ quan. Căn nhà này có nhiều phòng, cứ hai người ở một phòng. Có khoảng mười sĩ quan và hạ sĩ quan đang bị giam. Tôi ở chung phòng với ông Trung úy Cư, Sĩ quan Hành Chánh Quân Y của tiểu khu. Trừ Trung sĩ 1 Lê Văn Ru ra, tôi chỉ biết mặt anh Thiếu úy Nồng của Chi Khu Hiếu-Nhơn; anh này học ngang lớp với tôi và đi lính trước tôi vài năm.

Bên nhà giam thứ hai thì nhốt những quân nhân ly khai hàng binh sĩ. Anh lính được phân công đi nhặt rác trong sân ngày hôm đó là một Binh nhì Biệt Ðộng Quân. Vừa thấy mặt tôi, anh ta đã nhào tới, ôm tôi, rồi khóc rưng rức,

– Trời ơi! Thẩm quyền cũng bị bắt vào đây ư? Ðại úy Trực đã bị họ còng tay dẫn đi mất tiêu từ lâu rồi! Còn em và anh Pha nằm ấp ở đây mấy tháng nay, ngày nào cũng bị đánh. Khổ lắm! Thẩm quyền ơi!

Tôi chẳng biết nói gì để an ủi người đàn em này. Nó chỉ là một binh nhì nấu cơm cho Ðại úy Tôn Thất Trực; thầy nó hết thời, nó cũng bị vạ lây. Tôi bèn an ủi thằng em,

– Chú đừng lo! Chú là binh nhì, quá lắm người ta nhốt chú ít lâu, rồi cho chú giải ngũ, càng sướng.

Nghe tôi nói có lý, thằng em cũng bớt buồn phiền. Nó chỉ cho tôi một người đang bị quỳ gối trước sân, hai tay cố giữ một tảng đá khá nặng đặt trên đầu, rồi nói,

– Hạ sĩ Pha đó thẩm quyền! Ngày nào anh Pha cũng bị phạt đội đá hai tiếng đồng hồ, tội nghiệp lắm thẩm quyền ơi!

Người đang quỳ gối, đầu đội đá đã nhìn thấy tôi, anh ta hơi nghiêng đầu, chớp chớp hai mắt để chào tôi.

Tôi gật đầu chào lại và giơ tay vẫy vẫy vài cái an ủi anh ta. Hạ sĩ Pha là tài xế của Ðại úy Tôn Thất Trực. Pha ra dấu cho tôi tới gần, nó thì thào,

– Thầy ơi! Thầy có biết số phận thầy Trực của em bây giờ ra sao không? Em lo lắng quá! Em sợ người ta xử tử thầy em! Tội nghiệp thầy em!

Nghe chú Pha hỏi, tôi chợt nhìn ra cái giá trị cao vời trong con người của một anh tài xế đang quỳ gối giữa sân kia! Trong hoàn cảnh khốn cùng như hiện nay mà người lính ấy còn lo lắng tới sự an nguy của thầy mình; đây quả là một tấm gương hiếm thấy, đáng cho tôi cảm phục.

Tôi trấn an Pha,

– Em yên tâm, anh Trực không sao cả, anh Trực còn sống.

Tôi thấy mắt Hạ sĩ Pha chợt đỏ, hai hàng lệ từ từ lăn trên má nó.

Ðầu tháng 8 tôi bị gọi lên văn phòng gặp ông đảng viên Ðại-Việt tên Công để thụ lý tội trạng.

Ngay phút đầu tiên ông tra tấn viên lành nghề này đã áp đảo tinh thần đối phương bằng cách la lối ồn ào, đập bàn, quát tháo, hăm he,

– Anh phải khai thật rõ ràng, thật chi tiết tội trạng của anh, nếu không, đừng trách tôi nặng tay!

Chờ ông ta dứt lời, tôi tỉnh bơ,

– Chắc chắn anh đã biết, tôi lớn lên ở thành phố này, là một sĩ quan Võ-Bị, một đại đội trưởng Biệt Ðộng Quân. Chỉ cần anh không kết tội tôi là Việt-Cộng, còn bất cứ tội gì, tôi cũng nhận hết, khỏi dài dòng mất công.

Miệng nói, mắt tôi nhìn chằm chặp vào mặt ông ta. Ông ta quay mặt sang hướng khác.

Kể ra thì cái ông Công này cũng biết điều, hay là ông ta thuộc loại cáo già, nên nghe tôi thẳng thừng ra điều kiện, ông ta không thèm lớn tiếng dọa nạt nữa, mà chỉ đưa ra một đống câu hỏi trên giấy, bắt tôi đọc, rồi viết trả lời. Trả lời xong, phải ký tên. Ðúng là “giấy trắng mực đen”, sau này tôi hết đường phản cung.