Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 28 Jun 2024

Chương 5.

Sài gòn ăn uống

Cháo cá Chợ Cũ

Người nào, năm nay 1985, khi đi đường Võ Di Nguy, trước khỉ quẹo qua đường ở bên hông Nha Ngân khố ngày xưa, chưa tới bốn năm căn gì đó, gọi ty thuế vụ của cái chế độ tiêu tùng ông Thiệu, nơi bên phố tay trái, có một căn lụp xụp, chủ nó đã dông mất từ lâu nhưng cảnh nhà không đổi, vẫn cũ xì cũ xọp, ban đêm đóng vài miếng ván ọp ẹp, lối ra vào tối gài bằng mảnh cửa thông xám đen vì lâu năm, nay người chủ mới lại ở, vẫn để y không đổi, người khách qua đường tôi nói trên đây, nào biết căn nhà bề ngoài coi xập xệ này, lại là nơi khách phong lưu trước đây chiều chiều hay sáng sáng, vẫn tấp nập nơi đây và giành nhau từng tô cháo vừa ngon, vừa bổ vừa rẻ tiền, tôi muốn nói tô cháo cá Chợ Cũ, danh bất hư truyền, từ ngày tôi lên học (1919), đến ngày dẹp tiệm (1975), đã cha truyền con nối, suốt bốn năm thế hệ, trót trăm năm chớ không phải chơi, vì trước khi tôi lên đây ăn học, thì quán kia đã có vẫn y một chỗ, vẫn không thay đổi mặt tiền bề ngoài, và món cháo, hương vị vẫn không đổi và vẫn cung phụng cho khách kén ăn trải trăm năm danh tiếng.

Tôi đã biết chủ của cái quán ấy, từ một ông già Quảng Đông, ốm cao nhưng lưng thẳng như chữ I, đứng nấu từng tô cháo cho mọi người, qua thằng chệc con chủ tiệm, vần đứng bán làm đầu bếp nấu cháo như cha, vẫn áo thun trắng thật sạch, cụt tay, vẫn ốm và cao như ông già Quảng lỏng khỏng không khác, kế tiếp đến thằng Tàu, cháu nội ông già “cháo cá”, cũng vẫn y như một: áo thun, ốm và lưng ngay chò bất khuất, xuống đến thằng chắt nội, ba mươi cái xuân, một cây lưng thẳng, một tay cầm muỗng cán dài, một tay cầm tô hứng cháo nóng sôi sục sục, không một giọt rớt rơi, khách nào muốn ăn sang, nó đập cái thụp, bỏ vào tô một hột gà tươi đỏ rói, tiếp đến thằng chít nội thửa kế, vẫn áo thun, vẫn ốm thon thon, kế đến tháng tư năm 1975, nồi cháo không ai chụm lửa, gia quyến anh Ba Tàu bán cháo đã rút lui về xứ, bỏ lại đây bao nhiêu khách đô thành đã mất một món ăn không thay thế, và tô cháo, còn chăng là trong bài tưởng niệm vô duyên này. Nhớ ai như nhớ thuốc lào, mới chôn điếu trước lại đào điếu sau (muốn hát “điếu trước điếu sau” hay hát “điếu xuống điếu lên” chi cũng mặc, và đó là câu hát xưa ngoài nớ, nay có thể nhại lại, rằng: “Nhớ ai như nhớ tô cháo cá năm nào, sáu xu (0$06) một chén, ngọt ngào ăn thêm, ăn thêm, muốn ăn thêm, thì hãy hô to: “thiêm xức” tức đã nói được hai tiếng Quảng: thiêm (thêm lên) và “xức” là thực, ôi có khó gì tiếng Quảng Đông ấy. Khi nghe hai tiếng “thiểm xức” thì bỗng chốc có tô khác bưng lại, hơi lên nghi ngút, ăn chẳng thấy no, mà no làm sao được vì lỏng bỏng toàn nước ngọt cá thịt, xương heo và thịt tôm hùm làm bổ, nói rằng cháo Quảng, mà mò không thấy một hột gạo, họ nấu toàn bằng tấm mắn, nói đó là tấm cũng chưa được đúng, cháo Quảng rõ là hồ sệt sệt, người mới mạnh dùng không trúng thực người mệt mỏi ăn vào nhẹ bụng mau tiêu, tô cháo cá Chợ Cũ, quả là một tô thuốc tráng thần, mất tô cháo là mất đi một món ăn ngon bổ khỏe, chưa có món rẻ tiền nào thay thế.

Một tô “bột gạo nát nấu thật nhừ”, thả vào một mớ đu đủ ngâm nước cam thảo, gừng xắt vụn, ít lá hành, ít bụi tiêu cà, đĩa cá tươi để riêng đặt trên ăn bàn chờ khách tự tay cho cá vào tô, muốn ăn tái hay thật chín tuỳ sở thích, giá một cắc bạc (0$10) thời đó; khách nào muốn ăn thêm cá, gọi thêm một đĩa tính bốn xu (0$04), kẻ nào muốn ăn sang, gọi một tô cá trộn gỏi riêng, giá mười xu (0$10), muốn dằn bụng thật no, kêu thêm bánh “dầu cha quảy”, mỗi cái bánh một xu (0$01), vị chi xài chưa tới một cắc ngoài, mà vừa xong một bữa vĩ vèo, vừa nhẹ nhàng thơ thới, lại thêm bổ khỏe. Thật là giang san không đổi! Viết đến đây, nhớ câu “Giang san tận thuộc hoàng trào Tống, mãi thủ Hoa sơn lão đạo manh” 1 không biết thế đúng hay chăng nguyên văn của ông Trần Đoàn, chỉ nhớ đó là tích vua Tống sai đòi thuế, Trần Đoàn, xưng là lão đạo manh, trả lời hòn Hoa Sơn, năm trước vua Khuông Dẫn, đánh cờ thua, đã ký bán núi cho ông dứt khoát lâu rồi! Sướng vậy thay thời thái bình, phong lưu vừa tầm tay với tính từ xu, từ cắc. Nhưng quên nói quán xệch xạc, lôi thôi, nền lót gạch Tàu đỏ bụi giày đóng từng lớp dày ít năng chà rửa, nhưng vẫn thật sạch, không xả rác, bàn ghế bằng cây thông thao lao đã lòn cạch vì lâu năm, quán tuy xấu bề ngoài, thượng khách toàn là lựa chọn, hoa khôi công tử, không kén mặt, miễn ngon là được, một hôm tôi đưa vợ chồng ông Đoàn Quân Tấn cùng đi với phu nhơn là chị Nguyễn Thanh Long, đến quán thưởng thức món cháo cá, ông là cử nhân Pháp Sorbonne, chuyên về văn phạm và có tiếng là khó tánh, bà là bằng cấp đầy mình,, giỏi Pháp văn, nói tiếng Anh như lặt rau, kể về tánh khó và kỹ, không thua chồng, sức bực bánh mì mua cho chó ăn mà bà vẫn lấy bàn chải chải tro bụi rồi mới dâng cho cẩu xức, hai ông bà vào quán, dùng xong bữa, đưa nhau ra đường, ông phê bình: “Chớ chi quán biết dọn dẹp trang trí, gạch bông trắng trẻo, bàn ghế tân thời, thì hay biết mấy!”. Chị Long đi giữa, tôi cung kính nói với: “Thưa bộ trưởng, nếu như vậy, thì đã hết xính xái Ba Tàu!” (Viết 19-10-1983).

– Cùng một loại với cháo này, trong Chợ Lớn, đường Thuỷ binh cũ đêm khuya hay sáng tinh sương mới bán, là gánh “bạc của chúc” của mấy xẩm già gánh bán, cháo sơ sài, mỗi chén hai xu (0$02), vài ba “bạch quá” thả lỏng lẻo trong chén cháo trắng “bột hồ”, không thêm thắt, không mời mọc, khách đứng húp hay ngồi xề bên lề xẩm ta không cần biết, cháo thanh đạm nêm chút muối vào măn mẳn, cắn bạch quả bùi bùi, bao nhiêu mệt nhọc canh bài, buổi trác táng với mấy con phì phà chảy (tỳ bà ca nhi) đều tiêu tan, muốn bồi bổ thêm, thì đường Nguyễn Trãi, đường Đồng Khánh, qua khỏi ngã tư đại lộ Tổng đốc Phương, có quán bán cháo Quảng Đông nấu với lòng heo, đây là cháo thập cẩm có đủ bao tử, gan, dồi trường và phèo, bao nhiêu ấy chưa đủ tẩm bổ khách làng chơi đàn đúm, lại còn thêm một hột gà tươi để lấy sức phung phí từ đêm hôm, rõ là cháo Tàu, cháo Ngô, tướng dịch chữ của Pháp: “C est le chao” (hỗn độn, hỗn mang), nếu dịch “đó là nồi cháo ngô” cũng nên thông qua và cho là được được!

Người Tàu, cũng như chúng ta đây, rất khác người Tây phương, ở chỗ ăn và uống. Người phương Tây Âu Mỹ, quá văn minh tân tiến, đến hoá ra mấy món, ăn chỉ lo ăn vào được mấy calori (nhiệt lượng), sợ ăn quá nhiều sẽ chết về “ăn” (nhẹ là trúng thực, nặng là dư đường, dư mỡ), tránh cho lắm, chung quy lại chết nhiều hơn chúng ta “ăn cố xác”, miễn sướng miệng cái đã, và “chết no hơn sống thèm, người Tây, ăn cơm tối rồi thì tập đi bộ cho mau tiêu để bụng trống dễ ngủ, trái lại ta vẫn tối tối kiếm thêm chêm thêm một món gì dằn bụng mới ngủ ngon, bụng trống khó dỗ giấc ngủ cho êm thấm. Ăn đếm từng nhiệt lượng, cân đủ, số calorie, lớp sợ thức ăn cứng làm hư răng, lớp e thức ăn chậm tiêu sẽ làm đau dạ dày, đề phòng cẩn thận quá, ăn không biết ngon, thua xa đứa học trò như chúng tôi, lúc nhỏ lượm hột điệp khô, cắn nghiến cả mấy giờ mới bể, hột sen khô cũng vậy, và khi cắn bể, thì một mùi nhẹ nhẹ thơm thơm, một chất cứng cứng giòn giòn đủ là phần thưởng đứa trẻ không tiền mua quà mua bánh. Lớn lên, ăn phở thì đòi mỡ gầu, ăn thịt bò kho, thì lựa miếng có gân thật giòn, và giòn nhứt là “ngầu pín” (ngưu bím, bím hay bì bi là cái đuôi thằng chệc ngày xưa), nói cho văn hoa đỡ xấu, té ra sự thật là tranh giành nhau “ăn cặc bò”, lại hãnh diện khoe: “Chỉ có tao mới được vậy, ông Diệm hay ông gì gì nữa, đâu dễ gì có c. để xơi. Câu phá đề hơi dài, tóm lại tôi muốn nói kể về thức ăn, nhứt là món điểm tâm buổi sáng, tôi không nói chuyện xa vời những nơi tôi chưa bước tới, và chỉ nói chuyện gần đây, vùng đô thành Sài Gòn Chợ Lớn cũ, khách ăn nhậu, không thiếu chỗ để lót lòng trước khi vô sở.

Kể về mì, có ba thứ: a) mì chánh danh là món ăn của Quảng Đông b) mì soạ (ta gọi mì sợi, nhỏ như sợi thì, nên cũng gọi “mì chỉ” là mì nấu theo Phước kiến, còn c) mì Tiều, tức mì nấu theo Triều Châu là của dân chệc cải chệc trồng rau, sau ta chế ra “mì Quảng” nấu theo điệu ngũ Quảng, và xin chớ lầm với mì Quảng của cháu con Mã Viện. Năm xưa, tôi có nếm mì Đài Bắc, dở ẹt, vì Đài Bắc xưa kia là thuộc địa của Nhựt Bổn, lối 1945, Nhựt dẫn qua đây bọn gọi Nhựt lô canh là chính bọn dân Đài Loan này, cha ông là Phước Kiến lai nhiều đời, mì cũng lai ăn luôn, cọng mì là mì Quảng, nhưng nấu dọn theo dân cù lao, gia vị thêm đường, bắt chước quan thầy Phù tang, nên tôi phê hai chữ “ẹt e”. (Marco Polo đem mì về xứ, hoá ra nước Ý biết ăn spaghetti). Chợ Lớn, góc ngã tư Tổng Đốc Phương, trên đường Nguyễn Trãi, những tiệm nước nơi đây, làm bánh và thức ăn rất khéo: “há cẩu” (chả cá vò viên), bánh xếp nước, thịt bò vò viên, và nhứt là “xíu mại” (thiểu mại), thịt bằm nát vò viên bao một lớp bột mì, nhưng có nhiều thứ, thứ thịt nhão, ăn mau ngán, và ngon tuyệt là “xíu mại” khô, nhét vào ổ bánh mì, ăn khoái khẩu hơn ăn sandwich, và xíu mại khô, chỉ có vài chỗ ngon hơn chỗ khác, nhưng nay nhắc lại làm gì, vì đã tiêu tùng, tiệm dẹp, chủ tha phương đào ty, còn đâu nữa mà kiếm mà ăn!

Chúng ta chỉ giành được món phở ngon và lấn hủ tíu văng ra ngoài lề “món ăn sáng”, chớ những món kia, như “thịt vò viên” vẫn còn phải tìm thằng Tiều thằng Hẹ. (Hẹ là người Tàu dân hakas (khách gia), bọn này cũng gọi Hải Nam, chuyên nấu bếp cho Tây và trong ngôn ngữ, nhĩ ngã (mày, tao), họ nói “hoà lù”, nên cũng gọi thằng Lù).

Ngày nay, “bánh bao Cá Cần”, đã chạy sang Mỹ, sang Paris, cũng gọi đây là “mèo khen mèo dài đuôi”, cũng gọi bánh bao bà Năm Sa Đéc, hại tới ngày nay còn nhiều thiếu nữ đến xin thọ giáo học nghề bánh bao, kỳ thật, bột bao nhờ tay chệc nhồi, còn nhân (nhân, nhuận, ruột bánh) vẫn là nhân pâté, mình lấy của Tây, gia vị ngày nay thêm nửa hột vịt để tăng giá từ 2$ nay leo thang mười hai, mười tám và còn leo nữa nữa, nhưng giá thì leo cắt cổ, mà kể về thơm ngon, làm sao bằng cái bánh hai đồng xu (0$02) năm trước, và trước đây, Chợ Cũ Sài Gòn cũng như các quán ở Chợ Lớn, quán nào nơi nào cũng “dễ ăn”, Gò Vấp đâu đâu cũng gần như một thứ: bánh bao bình dân một đồng xu (0$01) một cái, bánh có thêm một miếng lạp xường hoặc một miếng gan heo là tiền xu (0$02), thêm có bánh nhân đậu xanh, bánh nhân đậu đen (ngon hơn đậu xanh), bánh nhân thịt, vân vân.

Trưa trưa, có tục ra ngồi tiệm nước, gọi “đi quảnh xủi” là đi ăn bánh uống trà Tàu giấc trưa, ăn khuya gọi “xíu vệ” (thiểu vị, tức ăn thêm nên cũng dịch “thiêm vị”, khách sành ăn phải phân biệt, tỷ dụ trong Chợ Lớn những năm trước giải phóng, có:

– Cao lầu Thoại Quỳnh Lâm, chỗ Đèn Năm ngọn, là tiệm ăn nấu theo Quảng Đông.

Tiên lầu Đại La Thiên, trong một hẻm đường Thuỷ binh, là tiệm nấu theo Triều Châu.

– Tửu lầu Ái Huê, đường Nguyễn Trãi, tôi quên nay không ắt Quảng Đông hay Phước Kiến.

Cao lầu “Ngọc Lan Đình”, tên đặt rất sang và rất nên thơ, của bọn mại bản triệu phú bán lúa gốc người Phước Kiến, cách nấu rất cầu kỳ sang trọng, nửa ngon như Quảng, nửa dùng nhiều hải vị (vì là dân xứ cá) nên nhiều món lạ: bào ngư, hào, hến và hoa thảo…

Trường trai, ăn lại có quán “Phật hữu duyên”, đường Thuỷ binh, dọn lên mâm, khách chưa từng, vẫn lầm với thức mặn, lấy nấm Đông cô thế thịt heo, và mì Phật hữu duyên, vị thơm ngon, Lỗ Trí Thâm tái sanh cũng lầm, tưởng lạc lối còn ăn quán Thuỷ Hử, nhân thịt người, thịt thú.

Không phải đợi đến quán sang đắt giá mới có thức ngon, khi ngon mấy gánh dạo bán “hủ tíu cá gà”, một cắc (0$10) một tô, ăn vẫn thích thú, và còn nhớ lúc nhỏ, ít xu, một tô thịt bò kho hai xu, ăn ngon đáo để, có một ổ bánh mì Tây bốn xu (0$04) là khỏi trở về trường ăn cơm với hột vịt dầm nước mắm năm này qua năm kia của lão chánh giám thị (surveillant général) tên Nicolai (Xí-cô-lại) lãnh nấu cơm cho chúng tôi nơi trường Chanseloup ngót những năm 1919 đến 1922, và nói gì khi chỉ còn hai xu (0$02) mà đang thời kiến cắn bụng, cầm hai xu lo le chờ chị bán cà ri vịt đang lúc vui, đưa chị hai xu, mua hai xu bánh mì, một khúc dài bằng một gang tay, liếc liếc mơn trớn, xin chị vui tình chị nháy mắt ưng lòng, và để cho mình nhúng trọn khúc bánh vào nồi ca-ri đang sôi, chị bán dễ dãi, nhúng được lâu lâu, khi lấy bánh ra, nước ngọt và cay ca-ri thấm vào, vừa thè lưỡi không cho một giọt nào rớt xuống đất, vữa cắn nhính nhúc, ăn mau sợ hết, thật là ngon thấu trời xanh, ngày nay chị bán ca-ri đã ra người thiên cỏ, cầu xin chị đầu thai đừng trở lại đây, chi đã mất mà mùi ca-ri chị nấu nay cỏn phảng phất trước mũi, tôi đã từng “ăn muối nhiều hơn cơm”, sống đến hôm nay là tám mươi hai tuổi trên đầu mà chưa có ca-ri hay bữa cơm nào ngon hơn hai xu bánh nhúng ca-ri độ ấy (20-10-1983).

Google photos

Nãy giờ tôi kể nhưng còn thiếu nhiều, các món ăn theo điệu Tàu, còn ở Sài Gòn nơi các nhà hàng quán cơm Tây: Quảng Thạp ở Chợ Mới, đường Espagne, Yên Yên đọc “Yên Vân”, nguyên Hán tự là “An An”, Hiệu Hiệu, kém hơn hai quán đã kể, và trong Chợ Lớn, nơi đường Thuỷ binh, ngay chỗ ga xe điện, quán này nay còn tồn tại hiệu “Ôn Lộc Yên” (An Lạc Viên), những quán này, sáng nào vẫn có bán món ăn dư lại đêm rồi, gọi “đồ lâm vô” nhại tiếng Pháp “rabiot” là tiếng nhà binh (rabiot: argot militaire, – vivres restant en excédent après la distribution), lâm vố bán lẻ từ một cắc (0$10), hai cắc (0$20), vẫn một đĩa đầy thêm có khúc bánh mì cũ dư lại của khách ăn không hết, và nếu mua đến nửa đồng (gọi một cà-rô-bi (roupie)) thì bốn người ăn no nê mà còn dư, và toàn là thực phẩm mình đây vẫn thèm: ra-gu bò, lòng bò nấu kiểu gọi “tripe à la mo de Caen” (nấu theo xứ Caen), gà rô ti, bít tết dư lại, và khách thích ăn lâm vố không ai khác hơn là phu kéo xe, hùn vốn bỏ ra mỗi người một cắc rưỡi, bảnh lắm là hai mươi xu, sẽ được một bữa nhậu ngon lành say tuý luý, vì rượu trắng một cắc sáu (0$16) một lít, chia ra bốn người, mỗi người uống một xị chớ không chơi!

Tôi mãi ham nói mà quên món quốc tuý là món bò bún, sẽ kể nơi sau:

Bò tín, bún bò, tín bung.

Ngày nay, người trong này khỏi cần đi đâu xa, vẫn có thức ngon kề miệng: phở như phở Hà Nội, bún bò ngon như ở Gia Nội, nhưng tôi nhớ đây là bò bún của ông già bò bún. Ngoài Bắc có “bún bung”, món nay tôi từng nếm, trước ở hè đường Lê Thánh Tôn, ngó qua Chợ Mới, gần gần hiệu giày Bata. Người bán là một mụ Bắc, mụ thường ngồi trước nồi bung nên tôi chưa rõ mụ cao bao cao, duy nhớ câu “… một người bước ra, thoát trông lờn lợt màu da, ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao” (Kiều). Lấy câu Kiều mà ví, thì cũng tội cho mụ, và vẫn chưa đúng hình thức của mụ. Tiếng rằng “bún bung” nhưng bung đâu không thấy, chỉ thấy một cái nồi nhôm to tố nái, kêu một tô, thấy bưng lại quả một tô, đĩa bún để riêng, trong tô có vài miếng thịt heo còn dính với xương cho khách gặm, năm ba miếng chuiối non còn để vỏ cắt khúc, năm ba miếng xắt sẵn dai dai mềm mềm, – chết tôi rồi, vì không nói được đây là cọng bạc hà hay cọng khoai môn (?), học giả cái con khỉ gì, biết ăn mà không biết đã ăn thứ gì, nhưng thôi, để đó nhờ người khác sau này sẽ dạy, một tô như vậy luôn và bún, chầl xưa là mười đồng (1982), nay có lẽ gần hai chục hay sẽ hơn, khi thả bún vào, và lùa vào miệng nghe sồn sột, nước cốt thật ngơn và vừa khẩu vừa miệng – “tôi khoái mụ này” (chữ khoái tôi dùng với nghĩa trong sạch, ai hiểu lầm thì tội cho tôi) – khoái mụ ở chỗ tuy tôi ít năng đến quán, nhưng vì mớ tóc trắng, mỗi lần thấy tôi, mụ đảo cái vá vào vung bằng allminium, lựa cho tôi toàn thịt thật mềm thêm có chút gân non, tuy đã hết răng, nhưng thật là khoái khẩu.

Mấy lần sau, đầu tháng năm tháng sáu 1983, lần chót tôi đến đó, xin nhớ đây là đường Thủ Khoa Huân, không phải mụ ngồi bán bún bung, và món này chỉ bán ngày thứ hai và thứ năm trong tuần nhựt, (ngày thường bán thịt nướng), bán bún bung bữa ấy là một cô nhỏ mỹ miều, cháu hay người trong thân không cần tọc mạch, duy biết mụ “to lớn đẫy đà” (chưa đến tuổi về hưu đâu) mụ hưu một bữa xa hơi, nhưng vắng mụ, riêng tôi đã thấy tô bún kém ngon đi nhiều.

Bún bung là thế ấy, đến bún bò xứ Huế, nay cũng đã biết chạy vào đây quán danh tiếng ở đường Gia Hội (Huế) những năm xưa, nay chễm chệ dời quán về Sài Gòn, đường Trần Quang Diệu từ một tô mười đồng (bạc Thiệu), hôm gần đây tôi ăn, trả hai chục đồng (tiền mới), nhưng vị kém hơn lúc còn tại Huế khá nhiều, vẫn bún to sợi xương heo, giò heo, cho khách gặm, gặm xong đã có con cẩu chực sẵn dưới bàn, vẫn có vài miếng thịt bò, để đúng danh gọi “bún bò”, nước cốt thật dịu, xưa là xương heo thịt bò làm ngọt, nay là bột ngọt, mà ngọt thua, gia vị phải có ớt băm nhỏ phơi khô, nêm ớt đỏ vô càng cay sặc mới đủng là món ăn xứ Huế, tràng rau sống để trên bàn, khách tự ý cứ lựa, để chêm vào bún cho mau đầy bụng, nào rau thơm rau muống xắt và chẻ nhỏ sợi đều có đủ, duy thiếu mấy lát trái vả là món rau đặc biệt đất Thần Kinh, vừa chát như trái chuối sứ, chuối hột non gọi chuối chát, vữa giòn và ngon hơn chuối chát ấy rất nhiều – không có vả chưa phải đúng là món ngon xứ Huế, nhưng miễn có xương gặm là đủ, cũng không nên kén ăn cho lắm buổi này, và nếu thật người cầu kỳ kén ăn, thì phải nhớ bún bung xứ Bắc, bún bò xứ Huế, đều là món ăn mùa rét lạnh, khi nhập đất Sài Gòn mà không đem cái mát lạnh hai xứ kia vào, thì quả muốn khoe “thú vị” thì đã là “một thú”.

– Hai tiếng “bún bò” đã làm cho tôi đi xa đề tài và xuýt lạc đề, sở dĩ tôi viết bải này, cốt ý của tôi là để ca tụng tô “bò bún” đã thưởng thức khi còn đầu xanh tuổi trẻ, đặc biệt đây là “bò bún của ông già bò bún”, người quê đất Thủ Đức, nhưng chuyên bán bò bún, bánh hỏi thịt bò nướng” nội con đường La Grandière và Espagne luôn Taberd cũ, tức khu phố hội đồng Trạch gần chợ Mới Sài Gòn, những năm tiền đệ nhị thế chiến, lối 1920 và trước 1945. Như đã nói, ông là người Thủ Đức, mỗi sáng ông trả 0$16, một cắc sáu tiền xe đáp chuyến xe từ Phan Thiết vào, đến ga Sài Gòn độ chín, mười giờ sáng, xe đến bến, ông rút gánh ra khỏi nhà ga, và từ ấy, gánh gánh trên vai, ông bắt đầu rao, tiếng lảnh lót khắp xóm đều nghe: “Bò bún bánh hỏi hao”, vì ông ăn trầu không ngớt, mặc dầu tiếng rất trong, nhưng câu nguyên chữ “Ai ăn bò bún bánh hỏi hay không” vọng từ xa, tôi đã để lọt vào tai, còn lại như trên đã viết, hay không biến thành hheeoo, nghe hao mà thật ra ông bán thịt bò. Những năm ấy tôi còn độc thân, và chính khi đã có bạn rồi, tôi vẫn ít ăn cơm nhà và trưa trưa chỉ thích làm một bụng bánh hỏi thế cơm, vì tôi vẫn mắc nợ ông già bò bún này, mỗi lần nghè tiếng ông rao, tôi đều rạo rực bỏ cơm chợ xơi bánh hỏi thịt bò nướng. Thuở ấy, món ăn này, bò bún bánh hỏi, chưa phải duy một mình ông bán độc quyền, vì những năm 1920 đến trước 1945, trọn con đường Nguyễn An Ninh, (xưa gọi đường Amiral Courbet) vẫn có nhiều quán Ba Tàu, chuyên bán thịt bò nướng ăn với bánh hỏi. Khi ăn thức ăn này thì nước chấm là nước mắm của ta, thế mà Ba Tàu vẫn giành nghề và chuyên bán cứ mỗi tràng bánh ăn no thế cơm được, giá là hai cắc (0$20), nhưng kể về vị, làm sao ăn qua thịt nướng do ông già Thủ Đức này được? Lúc nhỏ tôi ở Sốc Trăng, tôi đã từng ăn “bò bún” do một ông già khác họ Tăng, gánh gánh bán, lối những năm 1915-1919, vẫn thơm ngon, mỗi tô sáu xu (0$06), ăn một tô vẫn chưa thấm tháp nhưng tiền đâu còn nữa hầu muốn ăn thêm, vẫn có đậu phộng rang đâm nhỏ, thơm bùi, bún Sốc Trăng to sợi hơn và theo tôi vẫn ngon hơn bún và bánh hỏi nhỏ sợi đất Sài Gòn Gia Định, nhưng Sốc Trăng bán với giá đậu xanh luộc chín, còn thịt bò vẫn xào trên soon nhỏ, vị rất khác, và theo tôi, có thể nói kém và thua món thịt nướng đặc biệt của ông già Thủ Đức này. Nay tôi có tuổi và nghiệm ra, món ăn này không phải của ông tự chế, có lẽ ông là người ngoài kia vào đây lập nghiệp, và món thịt nướng này nay vẫn thiếu gì chỗ bán thật ngon, tỷ như “thịt nướng” xóm Chơ Sài Gòn, gốc người Bắc, của bà Bụng bán bún bung là một, lại nữa như thịt nướng đất Huế nơi chợ Âm Phủ, lối sang gánh bán dạo xóm bán sách chợ trời thành phố Bác Hồ ngày nay (1983), truy ra có lẽ cùng chung một gốc “thịt nướng Việt Nam” vậy. Đi lên đất Mọi ăn mắm con gián đất, thịt con chàng hiu, bù tọt, nướng để nguyên da không cần làm sạch, trèo qua đất Kam-pu-chia, phải học ăn mắm bò hóc bún rau, lên xứ Lào ăn mắm Lào, rồi nào xa tê bà lai chanh xứ Xiêm xứ Mã Lai, ca-ri Chà cay xé miệng, ra gu bít tết, trứng cá Caviar của Nga, thịt súc xích, jambon, chúng ta đều xực tự do thong thả, duy tội nghiệp thay cho dân nước thờ đạo Hồi, phải chính con vật tự mình cắt cổ mới được nếm mới được dùng, và còn chi cái thú phong lưu của người Việt bất cứ tiệm nào Tây-miên-chà-chệc đều đánh tửu và tha hồ gắp, nhậu! Nhưng giang hồ càng nhiều, vẫn nhớ món ăn quê hương xứ sở, mắm tôm đất Bắc, mắm tép trong Nam, và món rẻ tiền ăn chung thuở “hai mươi cái xuân” hát câu “j’ai vingt ans, ét cest le printemps” (hai mươi tuổi đầu, một mùa xuân rực rỡ), ông già bò bún năm xưa đâu còn, em Sáu Ngọc Anh đâu còn, tuổi hai mươi đâu còn, dư giả tiền đây thừa bứa, nhưng đâu còn cái xuân hơ hớ, và không nên quá tham lam, hãy biết nhường cho kẻ khác (viết 21-10-1983). Ông già bò bún, bán đến chiều là sạch gánh, ghé chợ Bến Thành mua thịt tươi và đón xe lửa trở về Thủ Đức tiền xe một cắc đã không còn.

Cũng đường Trần Quang Diệu nơi có quán “bún bò Huế” từ Gia Hội di cư vào, ở mé tay phải cùng một con đường, cách ngã tư Trương Minh Giảng một trạm bán xăng, năm 1982, có một quán vừa pha cà phê thật ngon, cứ mỗi chiều vừa xế bóng là bay mùi thịt nướng nhột mũi: đó là quán “bún chả Bắc” của nhóm cầm bút thường tựu hội để “ủng hộ” Kim Dung, hiền nội trợ của lão làm thơ “một vạn lần an”, có mặt quen gặp nào “Sông Trình”, nào “Chim Linh”, nào “người kéo xe Chàng Ba”, nào “Mây mùa Thu, nữ sĩ” thịt chả thật ngon, nước chấm pha thật khéo, nhưng thi sĩ đều lên ruột, “ẵm hộ” mãi không kham, quán kia đã dẹp không đợi thuế tăng, lý do vì quán ở quá xa, thêm chỉ bán vào chiều, bụng nào thưởng thức “bún chà”, bụng nào về nhà “thời cơm” “xực phàn” 2 .

Cũng từ đường Trần Quang Diệu, nhảy lên xe buýt vô Chợ Lớn, đường Nguyễn Trãi gần ngã tư Triệu Quang Phục, có quán Tàu bán “cà ri vịt”, thuở nay cà-ri là “độc quyền Ấn Độ”, nhưng lão Cố Lũ (Cao Lão) Tàu nầy đã đoạt nghề, nay lão ta đã đi Tây phương tìm thánh Gandhi, vợ và con gái lão kế nghiệp, cà ri vịt ăn với bún Việt, ba nước đề huề “Ấn-Trung-Việt”, bún lạnh, xẩm ta đặt vào tô, giội nước sôi cho bún nóng, xong rồi mới múc thịt và huyết vịt đông đặc, vài miếng thịt, ai muốn ăn thức gì phải dặn trước, ké khoái lòng, người thích phao câu, kẻ khác ham gặm đầu và cẳng, mỗi tô răng rắc ba chục đồng (30 bạc ngày nay 1983), nhưng vừa no vừa khoái khẩu, vào giấc ngọ, có thêm m ón ruột vịt thật giòn, giờ khác chưa có và không hiếu xẩm ta làm thế nào mà ruột vịt vữa trắng, vừa giòn, và không mùi tanh, ngon thật và khó bắt chước.

Muốn nếm cà ri Ấn Độ chính cống, trước giải phóng, nơi đường Tôn Thất Thiệp, nơi đường Lý Tự Trọng gần rạp Long Phung, và gần đây nơi đường Trần Bình Trọng, vẫn có quán người Ấn bán thức ăn của họ, trước kia giao thông thuận tiện, họ mua được ngũ vị hạt thơm từ Ấn Độ gởi qua, gọi tắt là “bột cà ri”, đem về đây, mỗi lần nấu là họ “cà ca-ri” trước, phân biệt rành rẽ, nấu với thịt dê, gà, vịt, chim rừng, cá, nấu khô hoặc nấu có nước, nấu chay không cá thịt, vân vân, mỗi mỗi đều cà hột khác khi dùng, mùi vị vẫn khác, có thứ cà ri dê là sang trọng, ca-ri nấu chim mỏ nhát nấu khô để đem ăn khi đi đường xa, là ngon đặc biệt, nhưng nay tàu thuyền máy bay không đem qua nữa, và món ca-ri bản xứ đã chế biến tạm, nhiều nghệ và nhiều dầu hột điều pha thêm ngũ vị hương (đinh hương, quế vụn) và thêm ớt thật nhiều, không phải là ca-ri Ấn Độ nữa.

– Phở lai, nay có phở gà, bánh ăn sáng nay có nhiều, danh xưng bánh cuốn Thanh Trì, bánh đúc, bánh khoái, kẹo kiếng đất Quảng, rươi, mắm tôm, gói, chả cá, thịt cây, tiết canh, cháo lòng, khách trải mùi muốn chi đều có nấy, nghiệt nỗi không chính cống. Đời đã tạm bợ, cà phê không cần quán sang, ngồi chồm hổm giùm năm ba, góc đường, mé chợ, lính càng đuôi càng dời chỗ khác, không biết khách có chuyện gì mà nói hoài không hết, kêu một ly nhó, uống cạn cà phê gọi một bình trà, ngồi uống đến trà hoá trắng bạch mà chuyện chưa hết chuyện… Đường Lý Tự Trọng có quán lề đường của chị Mai, cà phê thơm không chỗ nào bì, đường Cách Mạng Tháng Tám có quán “Gió Bắc”, Đakao trước đây có quán của nữ thi sĩ Ngân Giang, nhưng nay đã hoàn cựu vị Hà thành, và xiết bao quán lành mạnh mọc như nấm mà cũng tan như nấm.

Ra khỏi vòng Sài Gòn, khỏng vô Chợ Lớn thì lên Thủ Đức, Thủ Đức năm canh thức đủ”, xứ ăn chơi, quán nem: nem nướng, nem cuốn, nem bún, thêm có món “nem o” là nem đã gần hư, đã quá thời, nay o bế lại, sửa lại bằng cách chiên mỡ trên chảo nóng, làm cho mất mùi “nem hư” và gọi “nem chiên ăn bánh hỏi” cháo khuya có cháo gà, cháo đầu cá hấp, có chè giò, gỏi cuốn, bánh đập, bánh nghệ, nhưng trước ngày giải phóng, bác sĩ Nguyễn Ngọc Minh (đã mất năm 1982), có mở ra một quán chuyên bán “gà quay” theo Ma-ní, ăn với xôi, là một món kể lạ miệng phải kể luôn lạ cảnh”, thửa dịp trăng trong gió mát, thả xe một vòng tiêu khiển, thưởng thức một bữa xôi “gà quay”, đúng là phong lưu, nhưng sau khi dẹp quán, bác sĩ ta chưa hết phương lược sanh nhai, lăng xê (lancer) thú thưởng thức “hột gà lộn trái vải”, ấp được mười hay mười một ngày, “vừa úp mề”, bổ không gì bằng, thêm được khoái khẩu. Minh là bạn cũ đồng song, học nghề thú y kể rằng trên đời có bốn món là “bổ bực nhứt”: 1) Mộng lúa mạch lúa mì, chữ gọi “mạch nha”, 2) óc tươi khỉ sống, 3) Mật ong do ong tạo chế để biến con ong thường ra con ong chúa tể (reine) và 4) là “hột gà lộn trái vải”, nhưng lấy gì có hột gà ấp kịp, nay thay thế bằng hột vịt lộn, vừa to vừa béo, và bổ không thua hột gà, nhưng phải nói cho sửa, “hột vịt lộn” mà dấu nặng nghe ra dấu huyền thì khiếm nhã!

Bốn lạc thú trên đời, thú “ăn” đứng đầu. Cho phép múa rìu chút chơi, có câu: “Nhứt ẩm nhứt trác, giai do tiền định”, mà cũng có câu “bịnh tùng khẩu nhập, hoạ tùng khẩu xuất”, vì ham ăn mà nuốt vi trùng vào thân, cũng như vì cố ham nói, nói mãi ắt có khi lầm vấp, cố nhiên mua chuốc hoạ vào mình. ăn phải có chừng độ, nói phải có chốn dừng, là nói phải có ngăn nắp. Có câu ví: “Chim khôn tránh bẫy tránh dò, người khôn ăn nói dặn dò trước sau”. Phép tiết thực, kiêng ăn (diététique) sống lâu nhờ đó. (Viết ngày 22-10-1983).

Chuyện cũ nhắc lại đây: trong quyến “Chuyện cười cổ nhân”, mở trang đầu, thấy chuyện ông Ký Viên, một hôm ra đồng gặp ba ông lão trên bảy tám mươi còn làm việc đồng áng khỏe như trai tơ lấy làm lạ hỏi về khoa cấp dưỡng, ba ông dạy:

Ông thứ nhất: Thất nội cơ thô xứ (vợ nhà thô kém);

Ông nhì: “Vãn phạn giảm sổ khẩu” (cơm chiều bớt và miếng);

Ông ba: “Dĩ ngoạ bất phúc thủ” (đêm nằm chẳng úp đầu) (nghĩa tục, chữ rất thanh);

Ký Viên tóm tắt lại: “Chỉ tai tam tẩu ngôn, sở dĩ thọ trường cửu” (ý chỉ thay lời ba ông già, chỗ do sống sâu xa). Chính là lởi dạy Á Đông có thua gì khoa học phương Tây; và vẫn hợp với lởi xưa. Tiền Kiên ca rằng: “Thương sĩ di phòng, trung sĩ dị bị phục dược bách loả, bất như độc ngoạ”, (kẻ thượng sĩ riêng phòng, kẻ trung sĩ riêng mền, uống thuốc trăm viên, chẳng bằng nằm riêng), muốn vui lâu ép buộc ba điều: già không nên có vợ đẹp, không nên ráng ăn quá sức, vào buổi tối, và không nên nằm sấp mặt, tức cữ cái kia kia, áp dụng đủ ba phương pháp ấy, tránh khỏi đau lưng, khỏi đau dạ dày và không cỡi gió. Xấu mặt hơn hết là bún nấu theo Thổ nêm mắm đồng, trước gần đình Minh Phụng (Chợ Lớn) có bán. Ăn để nhớ quê nhà Sốc Trăng.

Sài Gòn ăn và uống (tiếp)

Bài “Cháo cá Chợ Lớn” là để nhắc lại về miếng ăn món uống. Nay xin bàn tiếp vài hàng. Mỗi nước có một phong tục riêng, chưa châu lưu chưa giang hồ, xin miễn bàn.

Người Trung Hoa có câu: “Tao ăn muối nhiều hơn mày ăn cơm”, ý nói sống lâu hơn, nhiều hơn.

Người Pháp, người Âu, phép lịch sự của họ là ăn uống thật vén khéo ăn không cho hở môi, không cho có tiếng nhai trong miệng, uống rượu, uống trà đều hớp miếng nhỏ, rượu nồng thế nào, cũng nín hơi, nuốt nhẹ, vừa thanh vừa khéo, ăn cá giấu xương, ăn bún ăn mì (spaghetti, macaroni), đều khéo; không để bung thùa, thật là khó bắt chước.

Trái lại ta ăn sừng sực, nuốt nghe ửng ực và như vậy mới cho là khoái khẩu, phải khè như rắn, càng nghe lớn tiếng, không khéo lời khen kẻ nấu, người bán đều khen; uống ồng ộc uống tu tu, không là thô lỗ, và kể là mạnh uống như nhà tướng.

Anh Bảy Chà, vì tôn giáo nhà Phật, cấm rượu, đạo Hồi, uống ăn không cho rượu, cơm đụng môi, rồi làm sao nốc rượu mạnh (whisky, đế bọt, mai quế lộ, vodka) mà khỏi sặc? Anh Ả-rập giữ đạo Hồi, là khổ tâm nhứt, muốn ăn phải tự cắt cổ, ăn vật sanh cầm, rỏi làm sao vào tiệm lạ đánh chén, hạ cờ tây? Chi bằng làm dân Việt là sướng nhứt đời, lên Lào ăn mắm gián hôi, qua xứ Miên ăn bò hóc (prahoc), sang Pháp nếm thịt nửa chín sống Chateaubriant, xuống miền Dưới (Java, Ấn Độ) nếm ca-ri sang Tàu qua Nhựt, đều vô ky và vô bất cấm, thật là khoái khẩu

Người Pháp lập tiệm ăn, bếp giấu sau nhà. Chú Ba Tàu, bếp dọn trước cửa, vừa chiêu hàng, vừa khoe con cá tươi, cọng rau vui mắt, trái ớt thấy bắt thèm, tao nhã xưa, ai cho bằng cụ Tam Nguyên, thế mà thưởng hoa trà, vẫn:

“Có đếch mùi thơm, một tiếng khà” (nói chữ chơi là Liêu vô hương khí, phát kha kha”), còn “nhắp chén khà”, “một tiếng khà”, vân vân, khà là khè, chứ gì?

Thật là thú vị thay, người dân Việt, vô cùng phóng khoáng, có của làm chi thêm mệt giữ, miễn sao có rượu và cũng không cần nhiều, vừa xem trời nửa mắt là được ông vua Miên đời trước, cỡ Norodom, Sisovath, tức nội tổ, ngoại tổ của Miên thái tử Sihanouk, khi thời cơm, vẫn ăn bốc bằng tay và vãi bừa, hột cơm miếng cá văng tứ tung. Một người mũi lõ năm xưa đã khôi hài: “Ở Sài Gòn khách lịch duyệt có ba lối ngồi bàn ăn, lịch sự: ăn theo Pháp, để xương trên đĩa, ăn theo Tàu, bày xương trên mặt bàn, ăn theo Nam, xương đã có con cẩu chực hở thủ tiêu không thấy xác; lời nói độc địa, giả ngộ mà cay. Ấy là họ chưa biết có nhà, cẩu không ăn xương lại còn có phận sự làm mất chất dơ mỗi lần trẻ nhỏ xổ đồ dơ từ trong dạ dày khỏi rơi khỏi mất. Xin người Pháp ấy khoan khoe lề lối, sách Tây đã nói rõ, ngày xưa ông cha họ nào có khăn lau tay và khi dự tiệc vẫn lau tay trên lông đầu chó. Và có tục gặp món nào vừa miệng, ông hoàng, ông hầu tước vẫn bọc trọn món ấy vào khăn thật to cho trẻ tớ mang về nhà cùng vợ con thưởng thức. (Viết ngày 9-11-1983).

Chuyện tôi vừa nhắc nơi trên, chùi tay vào đầu con cẩu vẫn có trong sách, và bạn nào muốn sành về rượu ngon thì nên mua quyển “les víns de Rourgogne” của hai ông Piere Poupon ét Pierre Forgeot (Presse Universitaires de France), còn muốn hiểu phép lịch sự khi ngồi vào bàn ăn, thì nên tìm quyển: “L’Art de la Tabe” của Pierre Andrieu (Editions Albin Michel), đọc được hai cuốn sách nhỏ ấy mới mở tầm con mắt được nhiều. Nhưng như đã nói “đáo xứ tuỳ dân”, và mỗi nước có phong tục riêng, không dễ gì biết đủ. Nghe nói năm xưa, một ông vua Cao Miên, khi sang Pháp, ra đường mắc tiểu, ông vạch chăn gấm, xổ bầu tâm sự vào gốc cây, khoan nói là khiếm nhã, và lúc quốc trưởng Pháp đãi yến, quan khách mỹ nhơn đủ mặt, đến tuần mãn tiệc, kẻ hầu bưng cho mỗi vị tân khách một tô nước để rửa tay (rince doigts), ngờ đâu đế Miên quen tục xứ nhà, bèn bưng tô nước uống cạn, như vậy xin hỏi các mạng phụ đài các phải đối xử như thê nào? Nếu đưa tay vào tô thì phạm tội khi quân, bằng uống theo vua thì biết nước ấy dơ hay sạch? Bà hoàng nước Anh, khi qua viếng Ấn độ là thuộc địa cũ, phái tập ăn ớt và tập làm quen với món quốc gia dân tộc tính của Ấn, bằng không tập trước và từ chối không nếm món cay xé miệng ấy thì còn gì việc ngoại giao quốc sự? Làm vua là khổ chớ sướng ích gì? Muốn nói một lời nào cũng phải chờ Nội các phê y chấp thuận, kẻo lậu ca mưu quốc gia đại sự, hèn chi lời nói xưa nay của vua chúa, thường ngớ ngẩn “trễ tàu”. Trở lại miếng ăn, như chúng ta có món “mắm và rau” tức “mắm kho rau sống”, bông súng nguyên sợi, rau dừa nguyên cọng, nếu xắt nhỏ thì mất ngon, và phải tự tay nắm cả nùi rau, vò lại và ngắt đứt bằng tay, dồn tất cá vào tô, chan ngập nước (mắm), và lua vào mồm, nhai nghe sồn sột, má phùng ra, nín thở, miệng mồm chàm ngoàm, đến không thốt được lời nào, và như vậy mới thật là khoái khẩu, cái “món ăn nhà nghèo, ấy nếu ăn kinh kiệu, rau xắt nhỏ, và miếng nhỏ, vân vân, thanh bai có thật, mà quốc hồn đã mất từ lâu. ăn bánh xèo, ăn mắm sống, tay xé mắm, tay bốc cơm nguội thì mới là thú vị, chớ mắm sống gắp bằng đũa ngà, thì không còn gì gọi là “ăn mắm xé cơm nguội” được nữa. Chúng ta có nhiều bữa cơm, tỷ như “đánh chén thịt rùa xé phay”, “cơm rau”, “cá nướng trụi”, theo tôi, thì ăn trên nền đất, trên chiếu bằng, hoặc ở trần, hoặc vận chăn, đêm có trăng, hay giữa trưa, khi làm việc đồng áng vừa xong, bụng đang đói, và “ăn bát kể quần thần” thì nới hứng thú, cũng như món ăn gọi “bò giá tréo” (bê thui, nướng trên đòn bắc trên lửa chụm nguyên gốc, than cây…) (tôi đã kể trong Hơn nửa đời hư như tôi đã thấy núi Đất Sét (Sa Đéc), thịt nướng một nơi, rau sống, bánh tráng, nước chấm, rượu, mỗi mỗi đều đặt khác chỗ, khi ăn, phải tự mình đi từng chỗ, lựa rau, lấy bánh, tự tay cắt thịt, rồi phải tự đến nơi có nước mắm và rượu ngon, vân vân, món nầy ăn như vậy mới thật là “thịt giá tréo” và không thể ngồi bàn một chỗ được. Ăn con hàu (huftre), cua nướng, sò huyết, thì ăn bốc bằng tay, theo tôi người Âu dùng muỗng nĩa, sang thì vẫn sang, nhưng làm sao ngon bằng tay bốc!

Ta lại có món ăn gọi “chí quách” (chữ là trư cốt), tức gặm xương nấu nhừ, lấy nước ngọt nêm mì, còn lại trơ xương, bợm nhậu gặm mút, “mồm môi đánh chén”, thì làm sao dùng đũa nĩa? Ngoài Huế, có món “ăn cá sanh cầm” (tôi chưa nếm lần nào), và nay xin lấy bài thơ xưa làm chứng:

ĂN GỎI CÁ SANH CẦM CẦM THI:

Giăng tay bắt đặng cá con con,

Ăn gỏi sanh cầm quá rất ngon;

Chanh chua hoà với rau mơ núi

Mắm nục lộn cùng chuối chát non

Đập dà trên tay tươi roi rói,

Đưa ngay vào miệng cắn giòn giòn.

Mầy đã sa cơ về kiếp ấy,

Tao đưa một chén rỗi linh hồn!

(Khuyết danh tác giả, theo “Ca trù thê cách, văn nôm, quốc âm thi tập” Huỳnh Tịnh Của, bản nhà in Imprimerie Commereale Marcelin Rey (C.Aroin, Sài gòn, năm 1907). Vả chăng cá còn sống nhảy soi sói, không làm vảy (cá nhỏ quá làm gì có vảy) cái nhớt cá biến thành chất béo, ông bà ta bất chấp vệ sinh và đã lấy rượu mạnh làm nư, kể gì sạch dơ, và thưởng thức món “hàu tươi” lại mấy rửa và khử vi trùng, vi khuẩn? 3

Người Pháp có món “chim di săn bắn được đem về, treo vừa lông lá để rủ buông xuống đến thịt rũ có giòi (viande faisandée), tôi đọc trong sách thấy ké thì hoan nghênh, người thì chê bai, phân vân bất nhứt, đến như phổ mát (fromage) mùi vẫn nặng như mắm của ta, và nghe đâu phô mát vẫn có giòi, và họ có người vẫn ăn, duy tôi chưa thấy.

Trong từ ngữ Pháp, có tiếng “salière” là đồ đựng muối, cũng vừa có nghĩa cái khuyết sâu trên Mí ngựa già (enfoncement au dessus des yeux des vieux chevaux), cũng vừa là khuyết ăn sâu trên chả vai người ốm (creux en arrière des clavieules chez les personnes maigtes), lại cũng vừa là hỏm sâu chỗ dưới ngón cái của bàn tay, theo tôi cổ nhơn đặt tên như vậy vì ngày xưa có lẽ đó là chỗ đựng muối hay tro mặn, lúc còn ăn lông ở lỗ. Trong tuồng phim Nhựt “Rhasomen”, người phu xe vẫn đặt muối trên lưng bàn tay, khi ăn vẫn ồn ào và thè lưỡi liếm muối trên tay như vậy, lại nữa người La Mã, người Tàu xưa, ông cha ta khi đi rừng làm củi, vẫn ăn bốc, bọn vua tướng Romein, vẫn ăn thịt nguyên đùi, lấy răng cắn xé thịt đưa ngay vào mồm, chỉ từ học đòi văn minh, bày đũa nĩa, mà xét ra, đũa là hai ngón cái và trỏ, nĩa là bốn ngón tay (không ngón cái) chĩa ra, người Miên, người Chà, đồng bào Thượng vẫn giữ tục ăn bốc, nay họ dùng đũa là bắt chước Tàu, Việt, dùng nĩa muỗng là nhiễm phong tục Tây phương, chớ gì? (viết ngày 10-9-1983).

Ibn Séoltd, sanh lối năm 1880 và mất năm 1953, làm vua nước sản xuất nhiều dầu lửa nhứt Arabis Saoudlte từ năm 1932, mình cao đến 2 thước lẻ 12 phân, khi được nước Anh mời qua Londres ký giao kèo về cung cấp dầu đốt cho Ăng Lê, trước khi đáp tàu thuỷ, sai người đầu bếp chở ra tàu ba trăm con cừu để đem theo dùng, viên chủ thuyền, tức giận, chỉ cho hoả đầu quân những tủ lạnh trên tàu và hỏi bao nhiêu thịt cá vật thực trong ấy, không đủ cho vua dùng hay sao, nhưng viên đầu bếp Ả-rập lạnh lùng đáp: “Những thứ ấy đều là thây ma thúi, vua tao nào dùng”, viên thuyền trưởng Anh ép lòng nhịn nhục, vừa nhận xong ba trăm con thú kia, kế lại có thuyền chở tới ba trăm mỹ nữ da đen, nhờ chở đem theo giúp vua sớm tối, viên thuyền trưởng nhịn nữa không kham, hỏi: “Nước tôi lại không có đủ đờn bà cho vua của anh chọn hay sao?”, nhưng phen nầy, viên quan hộ tống Ả-rập cũng vẫn thản nhiên trả lời: “Vua của nước tôi không quen dùng vật gì đã có xài rồi, và xin chịu khó rán chở các tân nhơn nầy lên tàu không vậy thì vua tôi chả đi đâu cả.” Cũng vị vua Ibn Séoud ấy, nước Anh tặng một xe hơi tối tân, thật đất tiền, tưởng làm vui lòng vua, té ra ông không dùng đến và vẫn bỏ ủ rũ trong ga ra vô dụng, người Anh tức quá, hỏi duyên cớ nhà vua lạnh lùng đáp: “Vì tay lái đặt bên hữu, té ra khi ta ngồi lên thì thuộc bên tả của tên lái xe, hoá ra ta nhỏ hơn nó sao?” Rõ là nước nào vẫn có phong tục của nước ấy, và một lần nữa như ông vua nầy, khi dự yến, hoặc khi ngự giá tha phương, làm sao nếm được món ngon nước ngoài?

Ngon không phải cần là trân tu mỹ vị hào soạn đắt tiền, một khi ngon, miếng cơm cháy, lúc bụng đang đói, văn ngon hơn yến sào khi no bụng, và lúc khát, cần chi mỹ tửu trà thơm, một tô nước lã giữa mùa hạn nắng cháy da, lại quí bằng mười những chén trà đài các Vũ Di, Trám Mã!

Vì quá giàu sang, quen thói lên xe xuống ngựa, ăn quá no, ngũ quá kỹ, chỉ dọn đường mau bước cẳng xuống mồ. Có câu: đào mả chôn mình bằng miếng ăn, tự giết mình bằng trác táng. Người Tàu rất khác người Tây phương. Người Tây phương để bụng đói, ngủ ngon giấc, chú Ba Tàu, mỗi khi đánh vợt hay chơi túc cầu, lại dằn bụng bằng bánh bao “cái nầy qua cái khác”. Người Tây gớm nhờn nhứt là “ợ ngược ợ xuôi” trước mặt họ, nhưng tôi đã chứng kiến năm xưa cháu mấy mươi đời ông Khổng tử, khi qua đây, vẫn ợ trước mặt ông bộ trưởng giáo dục, để tỏ “mình được trọng đãi yến tiệc vĩ vèo”.

Một lẽ nữa, ăn đói ăn thiếu, có khi là vị thuốc giúp cho lành bịnh. Một người đau bịnh nước tiểu có đường, vì bị giam cầm ăn không no bữa, ăn toàn cơm gạo lức, mà khi được tha về nhà, cái bịnh sưng chưn đã để lại nơi khám giam quên lấy về. Hoá ra, giam cầm, mất tự do, nên cám ơn hay là tức giận. Mấy anh lái tảu bay Mỹ, sa cơ bị bắt bị cho ngồi tù nhờ ăn cơm vắt tuy ốm người mà không chết, trái lại khi được phóng thích về xứ, hỏi ra mấy bạn đồng liêu, vì tẩm bổ quá mức: phần đông đã đi bán muối, chầu Diềm trong đã nhiều (viết ngày11-9-1983)

Kết luận: cái câu trong “Chuyện cười cô nhân”: “Ván phạn giảm sổ khẩu”. Năm chữ ấy vốn là món thuốc “trường sanh”, ta chẳng nên khinh thường.

——————————–

1Hôm nay thuật lại đây đã khác trong mấy tập trước, nhứt là không y trong Phi Long, bản dịch Huỳnh Công Giác 1914, cuốn 3, trang 123, bản nào là sưu tập phẩm ít ai có
2Trình Xuyên, Linh Điểu, Tam Lanh Thu Vân, Nguyễn Vạn An…
3Rõ lại ở đây là một món ăn theo danh từ nay là “sadique” (có tính cách bạo dâm)

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 28 Jun 2024

Chương 4.

Sài gòn sinh hoạt

Tôi trải đến nay bảy tám chục năm, tai nghe mắt thấy, từ lúc ấu thơ đầu còn chửa chóp, lối 1910, học trường tỉnh ở Sốc trăng, tại chợ, còn thấy đồng tiền điếu trào Pháp gọi sapèque, phải năm đồng điếu, cột bằng sợi dây lác, 5 điếu ăn một đồng xu (0$01), nhưng với một xu ấy, vẫn mua được một cái bánh xầy lót dạ, bánh nhưn đậu xanh, chiên mỡ heo, trên mặt có kèm một con tép vàng cháy ngọt bùi, tép nhỏ thì mỗi bánh có hai con tép, bánh ấy, ở Sốc trăng gọi “bánh xầy”, qua Châu đốc, Trì Tôn, gọi “bánh xà cón”, khi lên Chợ Lớn, Sài Gòn thì gọi bánh “giá” (nhân giá đậu xanh) hoặc “bánh tôm khô chiên”, vì bánh vẫn nhân đậu nguyên hột, và bánh nào như bánh nấy, chưn giá hay chưn đậu, vẫn có con tôm khô làm màu, thế cho con tép tươi ở nhà quê (Sóc trăng, Tri Tôn), ngày nay cái bánh tầm thường nhưng thơm ngon đặc biệt ấy, cách nay mấy tháng, xóm rạp hát Đất Hộ (Dakao), gần ciné Văn Hoa, đường Trần Quang Khải, có người bày bán, giá bốn đồng (hai ngàn bạc đời Thiệu), nhưng bán được vài tuần chưa được mấy tháng đã dẹp, vì bán không đủ lời đú sống, gạo đậu giá, dầu phộng để chiên (chớ không chiên mỡ vì cao giá!), thứ gì cũng mắc, thêm thuế tiền chỗ mỗi tháng mỗi tăng, nay còn lại hay chăng là trong câu hát Bảnh tôm khô chiên, dầu cha quảy chiên, nó là đồ bên Tàu, các chú đem qua”…, câu hát ấy hát theo điệu “Khổng Minh toạ lầu”, gánh thầy Năm Tú ở Mỹ Tho khởi xướng, buổi Cải lương vua phôi thai, và phải nơi miệng kép Ba Du trong vai “Mạnh Lương hạ nhạn”, tuồng Dương văn Quảng Bình Nam, mới thật là dí dỏm; đào Năm Phỉ còn nhà quê trân, kép Tư Út, Năm Châu còn thanh niên, trai trẻ, vừa mới bỏ trường, bỏ chữ nghĩa Tây u, để chọn nghề mới cải lương, cải cách, dễ hốt bạc. Những đồng điếu thời Tây ấy, lối năm 1919, 1920 không còn thấy nữa; và thời đó, giá sinh hoạt đã cất nhắc tăng lên một bực, nhưng bực ấy còn nhỏ chưa thấm vào đâu, và đồng vạc con Đầm (bạc nhà băng Đông Dương đúc hình con Đầm thay mặt cho “Mẫu quốc Pháp”) vẫn còn giá trị xứng đáng của nó. Tỷ dụ năm 1930-1932, Miền Nam kinh tế khủng hoảng, lúa xuống giá còn chưa tới hai đồng (2$00) một tạ (68 ki-lo), đi học bên Tây, đậu bằng tú tài Pháp, trở về, được bổ làm thơ ký chánh phủ (secrétaire du Gouvernement de la Cochinchine) miễn thi, nhưng lương tháng chỉ có hai mươi lăm đồng (25$00), và khoan vội nói 25 đồng là thấp, vì tính ra tương đương tám chỉ vàng ròng (30$ mỗi lạng), sánh với ngày nay, vàng sáu chục ngàn mỗi lượng (lối tháng 10 năm 1983), thì quá xá quả xa chớ không chơi. Cách nay không lâu, người dân thị thành quen bắt chước Ăng Lê và Tây tà, vẫn năm sáu bữa mới xách xe đi chợ mua thức ăn một lần, vì nhà sẵn tủ lạnh để chứa; nào gà, vịt, nào thịt tươi heo bò trừu, vân vân. Trước kia, dân Miền Nam quen mỗi ngày bà chủ nhà hay cô gái xách rổ đi chợ, thậm chí nhiều nhà lam lũ và gần chợ búa, vẫn đi chợ buổi sáng mua một vài thức ăn và buổi chiều sẽ lo mua buổi chiều, đi một ngày hai lượt như vậy, gọi “dễ trở bữa” và món ăn không nhứt định trước, chừng nào ra tới chợ, thấy món gì vừa mắt liệu chồng con ăn ngon miệng sẽ mua không vội vàng lại được món ăn cá thịt vẫn tươi, vì ba bốn chục năm trước Miền Nam chưa có tủ lạnh (frigidaire), những nhà sang trọng sống theo người Pháp, thì sắm tủ cây, thường đóng bằng gỗ giá ty có bọc kẽm kín, gọi “glacière” trong chứa nước đá cục, và tủ ấy mỗi ngày phải mỗi thay nước đá mới giữ được lạnh hoài hoài. Nhà ba tôi, củi lục lam lũ, má tôi đi chợ, sớm một cắc rưỡi bạc, chiều nào cũng bao nhiêu ấy, khi một cắc khi thì hai, nhưng vẫn vĩ vèo cá thịt, mùa tôm, ăn tôm càng còn nhảy soi sói, mùa có cá cháy, từ chợ Vàm Tấn đem vô, vẫn có cá cháy kho mắm, nước cá chan vào bún, lùa chén nầy qua chén kia quên thôi, thế mà có tốn hao bao nhiêu đâu: một đồng bạc, đi chợ được ba ngày, một gà mái tơ, đồng giá với vịt sen cổ lùn, tám chín cắc là cùng; gà trống thiến, mập lù và mỡ vàng khè, giá mỗi con một đồng hai bạc (1$20) đã là xa xỉ phẩm của mâm son nhà giàu, hay ngày cúng vía Ông mới thấy mặt; thịt bò, thịt ngỗng ít ai ăn vì chê là “ăn độc”…

Trong một cuốn sách Pháp nói về bối cảnh bên Trung Quốc hiện thời, có đưa ra một chi tiết xin ghi lại đây cho biết: “Chỉ sinh hoạt 100 (năm 1937) trở nên 75.000 (năm 1944), 625.210 (khoảng cuối 1946), và 10.340.000 (cuối 1948)” (pour ùn indice des prix de 100 fin 1937, ăn aboutit à lindice 75.000 en 1944, 625.210 en fin 1946, 10.340.000, fin 1948). Ngày trước, người dân còn tiền, đi chợ, phải gánh một gánh bạc giấy hai giỏ đầy mới đủ mua một bữa ăn, tỷ như một đôi giày cao su thứ Bata bên mình, phải đến mấy chục ngày đồng “yen” giấy, lúc đó tôi đọc báo vẫn cười và bán tín bán nghi, nay có lẽ đang trở nên sự thật bên nước mình rồi đó. Khi vui, ăn một cục muối vẫn thấy ngon lành, khi có việc lọ rầu, ngồi trên đống vàng vẫn mếu, không nói việc ẩm thực, người đem thiệp mời đám cưới, xưa người cha tên Nai, trên thiệp, thấy viết tên Mai, cho thêm xinh thêm đẹp, tôi nhớ lại tên mình xấu xí Sển nầy, Sển kia, xin chớ trách tôi vì sao không dự tiệc tân hôn hôm ấy. Phàm có tên thì gọi, có chữ thì đặt, không chữ nào nhục, tội gì phải cải đanh diệt tánh, biết chưa? Nay có ít câu về tô phở. Khi tôi từ Sốc Trang năm 1947, chạy lên trên nầy, tôi không được mục kích cảnh sống trên đất Sài gòn nầy, những năm tao loạn 1945-1946, và khi tôi có được một mụn con trai, lối những năm chung quanh 1950, vợ chồng tôi luôn và con ngồi xe xích lô máy từ chợ Bà Chiểu, xuống Sài Gòn, nếm ba tô phở đường Turc, rồi đưa nhau đi xem xi nê, rồi trở về nhà cũng bằng xích lô mà vẫn chưa xài hết một trăm bạc (100$00). Năm đó, tôi làm công nhựt nơi viện bảo tàng trong vườn bách thảo, lãnh lương công nhựt 2.745$ mỗi tháng, thế mà đủ chi dụng, thêm có dư mua sắm đồ cổ ngoạn theo sở thích. Tô phở đường Turc, anh Ba Bò bán mỗi tô 10$, gọi thêm một chén thịt- 5$ là ê hề, thịt cục nào cục nấy lớn bằng một tô thịt vụn ngày nay, đã thơm ngon thêm thật nới tiền, ngày nay còn nhớ và cúng nhớ luôn nhớ thịt anh Ba Bò bán rẻ vì lả thịt “của Chùa”, chùa nầy không phải chùa Phật mà vốn là “thịt sở Thuỷ binh của Pháp”, – người ta “chọt” và để nới giá cho anh Ba! Cùng một lúc ấy, từ 1950 cho đến trào ông Diệm, khi quán cóc trước cửa Thảo cầm viên chưa bị trục xuất để chỉnh trang vườn bách thảo và đô thành, lúc ấy nơi trước cứa vườn, mé bên Ba Son, có một quán nhỏ bán cà phê, người chủ quán, vì tai nạn chiến tranh, bị cắt mất một giò, nên co biệt danh là “quán thằng Cụt”. Cụt ta đi nạng chống và mỗi lần xê dịch vẫn nhảy cà thọt, còn mau lẹ hơn chim nắc nước, và Cụt sở trường pha cà phê rất đậm rất ngon, cà phê buổi sáng lên hơi nghi ngút, giá chỉ có một đồng rưỡi (1$50) một tách (không sữa), và ngày nay tôi thèm và tiếc nhứt, viết đến đây, đổ bọt oáp đầy họng, tôi thèm nhứt là ổ bánh mì có nhét fromage, giá năm đồng (5$00) mỗi ổ, đài cỡ một gang tay, bánh mập như ổ 20 bạc hiện thời (1983), cắt hai ra, Cụt nhét fromage gruyre tràn tới ngoài, chêm hai cọng hành lá xanh tươi, buổi ấy tôi còn răng, bánh giòn, fromage thơm thủm thủm (xin đừng chê hôi mà tội cho miếng sandwich au fromage của Cụt sở thú) ngày nay bánh giá đáng 50$ (25.000 cũ) không bì mà vẫn kiếm đố nơi nào có? Bánh ngon, răng còn, cắn miếng nào là nuốt ọt miếng nấy, ngày nay nhớ lại, fromage, bánh mì, thịt bò phở đường Turc, đều do Sở nhà binh Tây cung cấp theo điệu của Chùa”, thảo nào phở và fromage sandwich vừa ngon vừa rẻ. Ngày nào, bây giờ, còn phở để thưởng thức xin đừng tiếc tiền và đừng chê mắc, còn nếm phở được là còn sức khỏe, hơn một ngày nào đây, các quán phở dẹp lần, ngầu pín lù (phở dậu bò nấu nhừ) và phờ tái giá. Một tô phở tái, vừa ngon vừa bổ, viên thuốc có sâm nhung không đổi, và hoan hô phở Turc, phở chị Mai đường La Grandiere cũ, sau nầy hoan hô phở 79, phở Hoà ngang nhà thương thuốc chó, phở Tàu Bay, phở Huỳnh, phở Quỳnh ngã tư Phú Nhuận, và gần đây hơn hết, 15$ một tô “ăn được lắm”, là phở của vợ chồng anh quán đường Lê Quang Định, chợ Bà Chiểu của tôi.

Phở Hoà, ngang nhà thương Pasteur, có đến hai quán, Hoà lớn ngon hơn Hòa nhỏ, Hòa lớn có món vú bò, ngầu pín ngon đáo để. Lúc ấy chỉ có 15 đồng bạc cũ (ba đồng ngày nay) mỗi tô, ngon không hơn phở hai quán nơi ngã tư Phú Nhuận, Huỳnh có trước, Huỳnh và mấy cô con gái đứng dọn ăn, mỹ miều như mấy cành lai-dơn (glaieul) từ Đà Lạt di cư về đây, phở Huỳnh có hương vị nửa pha Tây, vì nước lèo là nước xúp, nửa pha Tàu, vì để nhiều hương liệu thơm tho.

Lại nhắc đến tô hủ tíu của chú Ba Tàu. Hỏi chú chệc Tiều (Triều Châu), chú sửa cục thuốc xỉa qua bên môi, và cắt nghĩa: Củi viết ra Hán tự là “Quế”, “tíu” muốn dịch là “tiểu” hoặc “thiểu” (nhỏ) đều nghe không thông, nhưng không dám đảm bảo là chắc, và “củi tíu” là bánh bột cọng nhỏ, nấu theo điệu Tiều, gia vị tôm tươi, chả cá, gan heo, bao tử luộc ram lại gọi là “phá lấu”, chút ít thịt gà, thì gọi “củi tíu cá gà”, hoặc vài miếng thịt heo thì gọi “củi tíu thịt” nhưng đó là “củi tíu” Tiều, sau đó ta chế lại, và gọi “củi tíu Nam Vang” hoặc “củi tíu Mỹ Tho”, tuỳ nơi bày chế, và nay có thêm có “mì Quảng” (không nên lầm với tô “mì Quảng Đông” vì đây là mì bình dân do dân Ngũ Quảng của ta nhập cảng vào Sài gòn cũng gần đây thôi, và đã nhắc thì phải nói luôn, củi tíu Tiều, khi do tay bếp Quảng Đông nấu, thì đã thay hương vị và đổi luôn danh từ để gọi, hủ tíu, cắt nghĩa như trên, tức: “hủ” (nát ra, tỷ dụ tàu hủ = đậu hủ) “tíu” đã giải nghĩa rồi, và tô hủ tiếu Quảng Đông” chỉ thay thế chả cá bằng miếng bánh chiên tép tươi, và “hủ tíu”, theo ông bạn quá cố Lê Ngọc Trụ là “hủ mộc phấn thổ”, “hủ tíu” người Quảng Đông cũng gọi “phanh” và danh từ nầy, khi lọt về tay đồng bào Bắc Việt, “ngầu dục phanh” (ngưu nhục phấn), tao không thèm gọi như chúng mi nữa, và biến ra “ngưu nhục phở”, kêu tắt “phở” lại càng thêm gọn. Từ cái mùi “Ba Tàu” hủ tíu. ba xu xưa, một tô nhỏ, sáu xu (0$06) một tô trộng trộng, vừa có ít sợi mì vàng, ít sợi bún “phanh” (bột mục nát), bước một bước qua ranh Bắc Việt “phở” đã mất mùi “chắc” và vẫn thơm ngon béo bổ hơn “hủ tíu” Tàu nhiều, phở nấu và ăn với nước cốt thịt bò, vitamin giàu hơn, nhứt là cách nay mấy tháng, khi phở Huỳnh Phú Nhuận còn mở cửa, trời sáng lạnh lạnh, tô phở bay hơi nghi ngút, tay cầm đũa, vít miếng thịt mềm nhừ, hay miếng “mỡ gầu” vừa giòn, vừa dai, gion gion giòn giòn, chấm một chút tương cay, mắt liếc tay ngọc bưng tô cho bàn bên cạnh, tưởng đâu chừng mình đã theo Lưu Nguyễn lạc lối Thiên Thai, với mười bảy đồng hay hai chục đồng mà nếm tô phở Huỳnh buổi ấy, hơn Lưu Nguyễn bội phần vì hai chàng lạc lối cảnh ăn đào thiếu bổ!

Thứ hỏi tại sao các người bỏ chạy, qua Tây gặp nếu một khi kia có chiến tranh, sẽ bị dồn trú trại tạp trung (cam de concentration), bị phát “thẻ cấp phát từ giọt” (carte de ravitaillement. a còmptegoutte), bằng như qua Mỹ hay nơi khác, làm sao có phở ngon bì phở nơi quê nhà, nhiều khi thanh đạm mà thú vị hơn nếm cao lương mỹ vị mà nhớ nhà nhớ quê hương xứ sở. Hạnh phúc là đâu? Chẳng qua tuỳ nơi lòng mình, xây dựng cõi xa, sao bằng “an phận “tuỳ duyên”, người ta sao thì mình vậy, cũng có ngày ráo tạnh, tôi chỉ sợ và trách quán mì quán phở thiếu vệ sinh, tôi sợ bịnh lây, nhưng vẫn không sợ “trời mưa”, vì mưa thét cũng có khi dứt hột, nắng thét cũng có lúc dịu mát, và nói thêm nữa là thừa.

(Viết ngày 3-10-1983).

Nhớ lại chuyện cũ ngày nào lúc chạy loạn tại tỉnh Sốc Trăng, trời đã nhá nhem sắp tối, con sông mù mịt, hai bên bò toàn là rừng xanh, “khỉ ho cò gáy”, chiếc ghe cà vòm của anh chủ Lỹ (Trần Đắc Lợi), chở vợ chồng mình đi chung với dì Tư là thân mẫu anh chủ, chiếc ghe đang thả bình bồng khúc sông Lá Hanh Chắt Đốt, bỗng nghe mùi mỡ chiên có tỏi rán thơm phứt, ghe phăng lần tới trước thoạt thấy một chiếc xuồng nhỏ, một cô gái Miên trẻ bâng đang chiên trong chảo, miệng mời mọc: “diệc ra ràn, một đồng bạc ba con”, đã có vài ba chiếc ghe tỵ nạn như mình đậu đó từ hồi nào, sẵn bụng đói, ghé lại ăn thử, vừa rẻ vừa nóng, nó ngon làm sao, có thể nói “còn ngon hơn bồ câu ra ràn cao lâu Chợ Lớn”. Buổi ấy tuổi chưa đến bốn mươi, quên mất cả chuyện chạy loạn – của không vốn, chùm diệc con đẻ trên cây, gió làm rớt chim, cô gái lượm về, mỡ heo không làm gì cho hết, vì lúc ấy heo hoang, chúng hạ sát không cần biết chủ heo là ai, ăn bất ngờ mà ngon vô tận, quả đúng “cơn nguy hưởng lộc trời dành”. (3-10-83)

Sinh kế, sinh hoạt (tiếp theo)

Năm nay 1984, tôi được làm một việc hữu ích cho con cháu của tôi, là tôi đã lục và gom góp thảnh tập và giao cho một nhà đóng sách ở Xóm Gà (Gia Định), đóng lại thành một cuốn 22×15, dày cỡ 7 phân Tây, là những thơ tín của ba tôi và của tôi gởi cho nhau từ buổi tôi lên học trường Chasseloup (Sài gòn) cho đến những năm sáu nầy, tức từ năm 1919 cho đến là thư chót có thủ bút của cố phụ thân tôi đề ngày 5 janvier 1950, và từ sau đó, muốn nhắn tôi tin tức gì, thì ba tôi sai con hay người khác viết chớ không bổn thân viết nữa. Ngày nay, cách ngót năm sáu chục năm, lấy đọc lại mà khôn cầm giọt luỵ, đúng là quả báo, con trai tôi nay đối xử với tôi ra sao, thì tôi đã đối xử với ba tôi y hệt không khác và ngày nay tôi nghĩ lại biết thương cha mẹ thì cha mẹ đã không còn, và Báo, mầy, nếu đọc mấy hàng nầy có hiểu cho tao chăng.

Google photos

Ba tôi và chính tôi đây, năm 1919, viết không đúng chính tả, và thơ để lại, vì vậy, lại thấy có vẻ tự nhiên và thêm làm cho tôi ngậm ngùi thêm hơn.

Một tỷ dụ nhỏ, nhắc lại giúp vui, là giá vàng thời ấy: Tháng 7-1919, ba tôi dắt tôi từ Sốc Trăng lên Sài gòn để xin vô học có trả tiền nơi trường Chasseloup, ba tôi có đem theo 3.000$ để vô Chợ lớn nơi tiệm vàng “Đồng Thạnh” lã hãng mua bán vàng lán nhứt, – vàng thật “y”, tức không pha, là bởi ham mua đủ số 50 lượng (mỗi lượng 37gr:50), để hãng giao vàng, mỗi lượng cán ra mỏng, cân đủ số đồng cân, gói lại hai lớp giấy, lớp trong giấy “hồng đơn” (đỏ), lớp ngoài giấy bạch (giấy dó) và năm chục lượng ấy, chứa trong một hộp gỗ bằng cây trắc, tôi nói dong dài, mà năm chục lượng vàng ấy, luôn và hộp đựng, giá mua chỉ có 60$x50 là ba ngàn bạc (3.000$) mà thôi. Có ngờ đâu vì ham cái hộp mà ba tôi mất vốn luôn và gia đình ba tôi cũng sa sút luôn từ thuở ấy, vì có ai dè trước được, từ ngày mua (độ tháng Juillet 1919) rồi vàng cứ tuột giá lần lần, và tuột rất mau, tỷ như, khi tôi lên Sài gòn học tập, tôi có bổn phận phải theo dõi giá vàng và gởi thơ về thông tin cho ba tôi biết, thì thơ ngày 22-9-1919 vàng Đông Thạnh, tại Chợ lớn, giá 33đ mỗi lượng, (hai hiệu vàng khác, thì hiệu Tường Thạnh giữ y giá 33$, còn hiệu Nam Sang (Nam Thạnh), chỉ có 28$20. Ba tôi coi theo thơ tôi mà bán vàng lại cho thân chủ đến đặt làm vàng, mỗi lượng tính thêm một đồng bạc (nếu vàng do thân chủ đem lại, thì thân chủ ấy mua ở tiệm khác, nhưng vẫn trả cho lò thợ bạc 0$50 mỗi lượng, và phần đông thân chủ ưng trả 1$ ngay nơi lò thợ bạc vì tin rằng như vậy thợ hay chủ lò lựa vàng tốt vàng y, làm ra món nữ trang cho mình). Nghĩ mà tội nghiệp cho ba tôi, ham cái hộp trắc, giá không tới 10$ mà lỗ lã mãi và vì không biết, không thông thạo về thương trường, không biết “nhồi vốn nuôi heo”, tiếp tục giữ y số vàng đã mua, thì tuy vẫn lỗ, nhưng giữ đủ số đồng cân, đàng nầy ba tôi vừa bán vừa chịu mất, và chẳng bao lâu số vốn cụt luôn, và vàng cứ sụt giá mãi, thậm chí, có một năm đó vàng thấp giá nhứt, đến cực điểm, thì mỗi lượng giá chỉ còn 19$50. Nhưng dầu vàng rẻ, mà không có ai mua, vì đó là những năm kinh tế khủng hoảng tột độ, lúa mỗi tạ (68 ki lô, tính luôn bao bố), giá lối 9 cắc bạc và mỗi lon gạo trắng lối 9 xu (lúc ấy 100$ giá trị hơn mấy ngàn đồng nay, áo quần rẻ mạt, mà dân lao động vẫn đói rách dài dài, tại điền dân ruộng sản xuất ra hột lúa mà vẫn không đủ cơm nuôi vợ nuôi con, vẫn trần truồng, vợ và chồng chia nhau chỉ có một cái quần, ai có việc đi ra chợ búa mua lấy mà mặc che thân, một cuốc xe kéo giá 5 xu, một bao thuốc vấn giá 1 cắc bạc (00$10) mà trong gói thêm có một đót ống điếu bằng trúc rất đẹp để dụ khách mua, và một thơ ký chánh ngạch, có bằng tú tài Pháp tuỳ thân, nhưng đồng lương mỗi tháng chỉ có 25$, vì chủ Tây, không dại, đã tính tiền lương ấy tương đương xấp xỉ với giá một lượng vàng hồi ấy, chớ không phải nhỏ! Một chị giang hồ đi khách, một đêm chỉ có ba miếng (3$) nếu là người đẹp ăn sương thỉnh thoảng, còn hạng gái nhà số, giá chỉ có hai cắc, ba cắc mà thôi, và có 20$ là đủ nuôi tháng một vợ nhỏ mơn mởn đào tơ dòn như bánh cốm.

Tôi năm nay gặp lại con tôi từ Hà Nội về đây ăn Tết, tôi than thở với con tôi ân cần đặn đừng ăn xài lớn, đừng đánh đôi đánh đọ ráng học và chăm chỉ học cho mau mau thành tài, và mỗi câu nói của tôi là văng ra bạc mới số ngàn nầy qua ngàn kia, tôi nói đó là “quả báo” vì năm xưa tôi đã bất hiếu với cha tôi, mỗi tháng ở trường Chasseloup đều gởi thơ về năn nỉ ỷ ôi, xin 8$ tiền ăn, 4$ tiền sắm đôi giày “các chú” Đất hộ Dakao đóng, và xin thêm 13$ để mua một đôi giày đế da sản xuất bên Pháp, gọi tắt là “da Tây”, giày có cuống bằng nỉ, gọi soulier tige – drap của hiệu Bắc Nguyễn Chí Hoà (thân phụ dược sĩ Nguyễn Chí Mai) đường Catinat, giày 13$ nầy để dành những ngày lễ ra trường đón mấy cô trường áo tím, nay trả lại, con tôi xin tiền sắm áo manteau, áo choàng mùa đông, xe đạp đem theo bốn tháng trước (tháng 9-1983), con tôi đem ra Bắc thì đã bán rồi.

– Sau đây, tôi sao lục lại lá thư ba tôi gởi cho tôi:

Sóc Trăng le 5 janvier 1950.

Ba có lãnh đặng số bạc 4.000$ của con gởi rồi, sau nầy ba cho con hay rằng: số là vợ chồng thằng Quan bị bắt, là tội con Bảy Lán. Trong khi bắt nửa đêm, xét đặng giấy tờ quan hệ cho nên nó buộc trong anh em Xã Lớn, trai cho tới gái, đều là Việt Minh hết, đều có liên lạc với trong khu hết cho nên bị nhốt trong khám tối hết, còn vụ bắt bờ nầy là tại có đứa phản, nó đem giấy tờ nộp cho sở lính kín hết, nửa đêm nó bắt ông chủ Tó, và cai tổng Xỉa, và lên chìa bắt ông Lục Can là người hôm trước có ghé nhà ba đó và bắt nhiều người nữa, còn thằng Quan, sáu ngày mới bị bắt, vụ nầy lấy làm rắc rối lắm, thế bào cũng bị giải toà tội nghiệp cho gia đình mình lắm, như ba đây, ăn cái tuổi nầy mà mắc cái nạn nầy, chắc không còn chịu thấu cùng không? Có con mà cũng như không. Trong đời không ai vô phước cho bằng ba đó thôi nói ít con cũng biết nhiều: không hơi đâu mà kể cho hết. Nay thơ

Ký tên: Vương Kim Hưng.

(Trong bức thơ ngày 25-12-1949, về vụ em tôi bị Tây bắt, có câu nầy nơi sau thơ, nay xin ghi lại đây cho đủ: “… thằng Quan bị bắt luôn “hai vợ chồng, hôm qua nầy ba và Sáu Đực cậy cậu Hai Tường nói với “Xếp cà lăm” lo cho nó ba ngàn đồng đã đưa tới tay, biểu nó đừng đánh “khảo chi hết, bằng nó có quyền tha, thời cho thêm nữa, nguyên số bạc “nầy là của Huyện Bảy, con ông Phán Sáng ra cho mượn mà lo đó,”)

Việc đã rồi và đã nguội từ lâu, lẽ đáng không nhắc lại làm gì, nhưng đây là một lối tôi sám hối, rõ tôi không làm tròn phận sự làm con trong lúc ba tôi còn sanh tiền, tôi là con bất hiếu. Trước khi ba tôi mãn phần, tôi có trúng số được 100.000$ tôi chỉ dâng ba tôi được 10.000$, và khi ba tôi nhắm mắt, số tiền nầy còn dư được hơn 7.000$ đủ lo việc tống táng, và sau nãy tôi có được về nằm gần ba và má tôi nơi đất mộ ở Sốc Trăng chăng, việc ấy sau nầy sẽ hay, nay lo chi cho nhọc mắt người đọc. (8-2-84).

Luật im lặng

vietmessenger.com

Mario Puzo

Lương Lê Giang dịch

Post by Sơn râu 28 Jun 2024

Chương 8

Ở Sicily những tháng năm ấy Astorre được huấn luyện thành một NGƯỜI CÓ NĂNG LỰC. Có lần chàng còn chỉ huy một nhóm sáu người của cosca Bianco xông vào cosca Corleone hạ tên chuyên gia đánh bom hàng đầu của chúng. Chính tên này đã dùng bom giết một đại tướng Italy và hai trong số những thẩm phán chống Mafia năng nổ nhất ở Sicily. Cuộc đột kích táo bạo này đã củng cố tiếng tăm của chàng ở đẳng cấp cao của cosca Bianco. 
Astorre còn là một người giao thiệp rộng rãi. Chàng thường lui tới các quán cà phê và các hộp đêm của Palermo – chủ yếu để gặp gỡ những phụ nữ đẹp. Palermo đầy rẫy Mafia picciotti trẻ tuổi hoặc đám đàn em vô số của những cosca khác nhau. Tất cả đều muốn khẳng định lòng can đảm của mình, đều cầu kỳ làm dáng bằng những bộ đồ cắt may đẹp, bằng việc tỉa tót móng tay và chải tóc bóng mượt. Tất cả đều muốn được nổi tiếng – để được nể sợ và được yêu. Những đứa trẻ nhất trong bọn chúng chỉ ở tuổi vị thành niên, ria mép xén kỹ, môi đỏ như san hô. Chúng chẳng coi những người đàn ông khác ra gì. Chúng là những đứa liều lĩnh, sẵn sàng giết cả những người có địa vị cao trong thế giới của chúng và vì vậy bảo đảm chúng ta đã cầm chắc cái chết. Giết một thành viên Mafia cũng như chim chuột vợ gã là bị xử tội chết. Để hạn chế tính ngạo mạn của đám picciotti này, Astorre luôn tỏ ra tôn trọng chúng. Và chàng được chúng yêu mến. Thế là chàng nửa thì phải lòng một cô vũ nữ có tên Buji, nửa kia lại phải xoa dịu lòng ganh ghét của các tình địch để vẫn có thể sử dụng chúng trong những vấn đề quan trọng. 
Mấy năm liền Astorre là cánh tay phải của Bianco trong cuộc chiến chống cosca Corleone. Theo định kỳ chàng vẫn nhận được chỉ thị của Trùm Aprile. Lão sắp thực hiện chuyến viếng thăm hàng năm của mình tới Sicily. 
Vấn đề chiến lược là sự tranh chấp nghiêm trọng giữa cosca của Bianco và của Corleone. Cosca của Corleone đã quyết định chọn khủng bố để chống lại nhà chức trách. Chúng ám sát các thẩm phán đang thụ lý các vụ án, chúng đánh bom các tướng lĩnh được điều về trán áp Mafia ở Sicily. Còn Bianco tin rằng bất chấp những lợi ích trước mắt, việc này về lâu về dài là có hại. Thế nhưng những phản đối chỉ dẫn tới kết cục là những bạn bè của chính lão bị giết. Bianco trả đũa, và cuộc tàn sát lan rộng đến nỗi cả hai bên lại phải tìm kiếm một cuộc hưu chiến. 
Những năm sống ở Sicily Astorre có một người bạn thân. Nello Sparra lớn hơn Astorre năm tuổi và chơi cho một ban nhạc tại một hộp đêm Palermo, nơi có các tiếp viên cực kỳ xinh đẹp và một số gái điếm cao cấp. 
Nello không thiếu tiền – dường như y có những nguồn thu dồi dào. Y diện rất bảnh theo phong cách Mafioso xứ Palermo. Y lúc nào cũng vui và sẵn sàng phiêu lưu. Đám con gái ở hộp đêm khoái y vì hay được y tặng những món quà nhỏ nhân dịp sinh nhật hay những kỳ nghỉ của họ. Và còn bởi họ ngờ rằng y là một trong số những chủ nhân bí mật của hộp đêm – một nơi làm việc tuyệt vời và an toàn nhờ sự bảo vệ nghiêm ngặt của cosca Palermo. Cosca này kiểm soát toàn bộ lĩnh vực giải trí trong tỉnh. Đám con gái sướng rơn khi được đàn đúm với Nello và Astorre trong những buổi tiệc tùng hay những chuyến đi dã ngoại về vùng nông thôn. 
Buji là một cô gái tóc nâu sẫm, làn da ngăm đen, cao, hấp dẫn và khêu gợi. Cô ả là gái nhảy tại hộp đêm cảu Nello Spara. Ả có tiếng là nóng tính và độc lập trong việc chọn bạn tình. Ả không bao giờ ve vãn một picciotto: Người đàn ông cặp với ả phải có tiền và quyền lực. Ả nổi đình nổi đám ở kiểu đòi tiền thẳng thắn và công khai chỉ có ở Mafioso. Ả đòi những món quà đắt tiền, nhưng sắc đẹp và vẻ đam mê của ả luôn làm cho những người đàn ông giàu có ở Palermo háo hức thỏa mãn những đòi hỏi đó. 
Trong nhiều năm Buji và Astorre đã thiết lập một mối quan hệ già nhân ngãi, non vợ chồng bên giới hạn nguy hiểm của một tình yêu thật sự. Tuy rất yêu Astorre nhưng ả không hề lưỡng lự dứt bỏ chàng để đi nghỉ cuối tuần với một thương gia giàu có ở Palermo. Khi ả làm việc đó lần đầu Astorre đã chỉ trích ả, nhưng bằng lý lẽ của mình ả đã áp đảo chàng. 
– Em đã hai mươi mốt là vàng rơi, ả nói. Sắc đẹp là vốn liếng của em. Khi ba mươi tuổi em có thể làm một bà nội trợ với một bầy con hoặc cũng được mở mày mở mặt với một cửa hiệu nho nhỏ của riêng mình. Ừ, chúng mình có một thời vui vẻ, nhưng anh sẽ chuồn về Mỹ, nơi em chẳng hề muốn tới – và cũng là nơi anh chẳng hề muốn đưa em tới. Ngay bây giờ cứ vui vẻ với nhau như những kẻ không có gì ràng buộc. Bất chấp mọi cái, anh sẽ nhận được những gì tốt đẹp nhất của em trước khi em chán anh. Vậy thì chấm dứt những điều nhảm nhí này đi. Em phải tạo dựng cuộc sống cho riêng mình. Rồi ả ranh mãnh nói thêm, hơn nữa, em không thể trông cậy vào anh vì anh có một nghề quá nguy hiểm. 
Nello sở hữu một biệt thự đồ sộ ở ngoại ô Palermo, nằm ngay trên bờ biển. Với mười phòng ngủ, nó dễ dàng đáp ứng các buổi tiệc tùng. Dưới sân có một bể bơi hình dạng giống đảo Sicily và hai sân tennis bằng đất nện rất ít khi được sử dụng. 
Vào những ngày nghỉ cuối tuần đại gia đình Nello từ nông thôn lại đổ về ngôi biệt thự. Những đứa trẻ không biết bơi bị nhốt vào sân tennis cùng những món đồ chơi của chúng, những cây vợt cũ và những trái banh tennis màu vàng nhỏ bé. Lũ trẻ chơi bóng đá bằng những trái banh tennis cho đến khi chúng rải la liệt trên mặt sân những con chim vàng nhỏ xíu. 
Astorre cũng tham gia vào sinh hoạt của gia đình này và được đón nhận như một đứa cháu yêu. Nello thì coi chàng như đứa em vậy. Ban đêm Nello còn mời chàng tham gia một sàn diễn ngoài trời và họ hát những bản ballard trữ tình Italy cho một đám đông khán giả nhiệt tình cổ vũ họ, đồng thời làm vui lòng đám nữ tiếp viên. 
“Sư tử xứ Palermo”, vị quan tòa hủ bại, một lần nữa lại dành căn nhà và sự hiện diện của y cho một cuộc hội kiến giữa Bianco và Limona. Một lần nữa họ được phép mang theo mỗi người bốn vệ sĩ. Bianco thậm chí còn sẵn lòng từ bỏ một phần nhỏ đế chế xây dựng Palermo của lão để bảo đảm hòa bình. 
Astorre không hề khinh suất. Chàng và ba vệ sĩ của chàng vũ trang đầy đủ để đi dự cuộc hội kiến. 
Khi Bianco, Astorre và các vệ sĩ tới nơi, Limona và tùy tùng đang chờ họ tại nhà vị thẩm phán. Một bữa tối thịnh soạn đã được chuẩn bị. Không ai trong số vệ sĩ ngồi vào bàn ăn, chỉ có thẩm phán – mái tóc trắng của y được cột chặt ra phía sau bằng một sợi nơ hồng; Bianco và Limona. Limona ăn rất ít nhưng tỏ ra vô cùng thân thiện và nhanh chóng tiếp thu những lời nói thân thiện của Bianco. Lão hứa sẽ không còn bất kỳ một vụ ám sát các quan chức nào nữa, đặc biệt là người của Bianco. 
Cuối bữa ăn, khi họ chuẩn bị sang phòng khách để thảo luận lần cuối, “Sư tử” xin lỗi và nói rằng y sẽ quay lại trong vòng năm phút nữa. Y nói vậy với một nụ cười bối rối làm họ tưởng rằng y cần đi tiểu hay đại tiện. 
Limona mở một chai rượu nữa và rót đầy ly của Bianco. Astorre đi tới bên cửa sổ và nhìn xuống con đường lớn cho xe đi trong khuôn viên. Có một chiếc xe đang tới, và cái đầu trắng to tướng của “Sư tử xứ Palermo” xuất hiện trên đường. Vị thẩm phán lên xe và nó nhanh chóng lao vút đi. 
Astorre không lưỡng lự một giây. Đầu óc chàng ngay lập tức chắp nối các sự kiện lại với nhau. Thậm chí không kịp suy nghĩ, khẩu súng đã nằm trong tay chàng. Limona và Bianco khoác tay nhau và đang uống. Astorre bước lại gần họ, nâng khẩu súng lên và bắn vào mặt Limona. Viên đạn trúng chiếc ly trước khi chui vào mồm hắn, và những mảnh ly như những viên kim cương rơi tung tóe đầy bàn. Astorre quay súng cấp kỳ về phía bốn tên vệ sĩ và khai hỏa. Người của chàng cũng nổ súng. Những xác người đổ xuống sàn nhà. 
Bianco nhìn chàng sửng sốt. 
Astorre nói 
– Lão Sư tử đã rời biệt thự, và Bianco ngay tức khắc hiểu rằng đây là một cái bẫy. 
– Cậu phải cẩn thận, Bianco bảo Astorre, hất đầu về phía xác Limona. Bạn bè nó sẽ đeo theo cậu đấy. 
Một kẻ cứng đầu có thể là một kẻ trung thành, nhưng để giữ mình khỏi những rắc rối lại không dễ dàng như vậy đối với y. Và điều này lại đúng với Pietro Fissolini. Sau khi được Don Raymonde chiếu cố tha mạng, Fissolini không khi nào phản bội ông Trùm, nhưng y lại phản bội chính gia đình mình. Y đã ve vãn vợ của Aldo Monza, cháu y. Và chuyện này xảy ra nhiều năm sau ngày y hứa với ông Trùm, khi y đã sáu mươi tuổi. 
Đây là một việc làm vô cùng khinh suất. Khi Fissolini tằng tịu với vợ của đứa cháu, y đã hủy hoại vai trò thủ lĩnh của mình trong cosca. Bởi vì trong các băng nhóm Mafia, để duy trì quyền lực, người ta phải đặt gia đình lên trên hết. Việc cô vợ kia lại là cháu gái Bianco càng làm cho tình hình trở nên nguy hiểm hơn. Bianco sẽ không cho phép bất kỳ hành động trả thù nào của người chồng nhằm vào cháu lão. Đức ông chồng tất yếu phải giết Fissolini, người bác thân yêu của hắn và là thủ lĩnh của cosca. Hai lãnh địa sẽ rơi vào một cuộc xung đột đẫm máu và nó sẽ tàn phá cả một miền quê. Astorre nhắn tin đến ông Trùm xin lão chỉ giáo. 
Câu trả lời được gửi đến 
– Cháu đã cứu nó một lần; một lần nữa cháu phải tự quyết định. 
Aldo Monza là một trong những thành viên đáng giá nhất của cosca và của đại gia đình. Hắn là một trong số những kẻ đã được ông Trùm tha chết nhiều năm trước. Vì vậy khi được Astorre triệu tập, hắn đã đến một cách hăm hở. Astorre ngăn không cho Bianco tới cuộc thương lượng với bảo đảm rằng chàng sẽ bảo vệ cháu gái lão. 
Monza là kẻ cao lớn so với người Sicily, hắn cao gần sáu bộ. Và có một thân hình đẹp. Cơ thể hắn được tôi luyện bởi lao động nặng nhọc từ thời thơ ấu. Nhưng đôi mắt hắn sâu hoắm và mặt hắn chỉ được thịt phủ qua loa nên đầu hắn trông giống một hộp sọ. Nó làm cho hắn có vẻ không được hấp dẫn – và, theo một cách hiểu nào đấy, thê thảm. Monza là kẻ thông minh nhất, có học thức nhất của cosca Fissolini. Hắn đã học ở Palermo để trở thành một nhân viên thú y và hắn luôn luôn mang chiếc túi chuyên dụng của mình. Hắn có mối thiện cảm tự nhiên với động vật và luôn luôn được mọi người cần đến. Monza trung thành cao độ với luật danh dự của Sicily, như một nông dân. Sau Fissolini, hắn là người có quyền lực nhất cosca. 
Astorre đưa ra quyết định của mình. 
– Tôi đến đây không phải để cầu xin tha mạng cho Fissolini. Tôi biết cosca của anh đã đồng ý cho anh báo thù. Tôi hiểu nỗi buồn của anh. Tuy nhiên, tôi đến đây để xin tha cho người mẹ của các con anh. 
Monza nhìn chàng chằm chằm. 
– Nó là đứa phản bội tôi và các con tôi. Tôi không thể để nó sống. 
– Hãy nghe tôi, Astorre nói. Sẽ không có ai trả thù Fissolini. Nhưng con vợ anh lại là cháu Bianco. Ông ấy sẽ báo thù cho cái chết của nó. Cosca của ông ấy mạnh hơn của anh. Đó sẽ là một cuộc chiến đẫm máu. Hãy nghĩ về các con anh. 
Monza phẩy ta tỏ ý coi thường. 
– Ai mà biết được chứ? Nó là con đàn bà lang chạ. Mặt hắn đằng đằng sát khí. Hắn đang lên cơn thịnh nộ. Hắn sẵn lòng hủy diệt cả thế giới. 
Astorre cố hình dung cuộc sống của hắn chốn quê nhà, một mình nuôi con, nhân phẩm bị ông bác và vợ hắn chà đạp. 
– Hãy nghe cho kỹ đây, Astorre tiếp tục. Nhiều năm trước đây Don Aprile đã tha mạng cho anh. Bây giờ ông ấy đòi hỏi ân huệ này. Hãy mang sự báo thù của anh đến với Fissolini như chúng tôi biết anh phải báo thù. Nhưng hãy tha cho vợ anh, rồi Bianco sẽ thu xếp cho nó và lũ nhóc sang Brazil ở với họ hàng. Còn với riêng anh, tôi có lời đề nghị đã được ông Trùm chấp thuận. Hãy đi cùng với tôi, với tư cách là trợ lý riêng của tôi, một người bạn của tôi. Anh sẽ có một cuộc sống giàu sang. Và anh sẽ tránh được nỗi nhục sống ở quê mình. Thêm vào đó anh sẽ an toàn không lo đám bồ bịch của Fissolini trả thù. Việc Aldo Monza không có biểu hiện tức giận hay ngạc nhiên làm cho Astorre vui mừng. Chàng giữ im lặng và suy nghĩ cẩn thận trong năm phút. Sau đó Monza nói 
– Cậu sẽ chi tiền cho cosca của tôi chứ? Em tôi sẽ điều hành nó. 
– Nhất định rồi, Astorre trả lời. Nó quý giá với chúng ta mà. 
– Vậy thì sau khi tôi khử Fissolini, tôi sẽ đi với cậu. Bất luận thế nào cả cậu và Bianco đều không được can thiệp. Con vợ tôi sẽ không đi Brazil chừng nào nó chưa nhìn thấy xác thằng bác tôi. 
– Đồng ý, Astorre nói. Và chàng nhớ khuôn mặt vui vẻ, hưng phấn và nụ cười tinh quái của Fissolini, chàng cảm thấy day dứt vì tiếc nuối. Khi nào điều đó xảy ra? 
– Chủ nhật, Monza đáp. Tôi sẽ đến với cậu vào thứ hai. Cầu Chúa thiêu cháy Sicily và con vợ tôi dưới một nghìn tấng địa ngục. 
– Tôi sẽ đi cùng anh về quê anh, Astorre nói. Tôi sẽ đặt vợ anh dưới sự bảo vệ của tôi. Tôi sợ rằng anh có thể đổi ý. 
Monza nhún vai. 
– Tôi không thể để cái mà một con đàn bà nhét vào trôn. Nó định đoạt số phận của tôi. 
Sáng sớm chủ nhật đó cosca của Fissolini họp mặt. Các cháu trai và con rể phải quyết định có giết luôn cả em trai của Fissolini để trừ hậu họa hay không. Đương nhiên, ông em hẳn phải biết chuyện gian díu, song bằng thái độ im lặng, y đã cho qua việc đó. Astorre không hề tham gia vào cuộc tranh luận. Chàng đơn giản chỉ cần biết rõ con vợ và lũ trẻ không bị hại. Sự tức giận của những người xem ra không bị xúc phạm nghiêm trọng lắm làm chàng tê tái. Bây giờ chàng mới hiểu rằng ông Trùm đã nhân từ với Fissolini biết bao. 
Chàng hiểu đây không chỉ là vấn đề tình dục. Khi con vợ phản bội chồng đến với nhân tình, ả sẽ đặt một con ngựa thành Troa vào cơ cấu chính trị của cosca. Ả có thể để lộ bí mật và làm suy yếu khả năng phòng thủ, ả giúp cho nhân tình mạnh hơn gia đình chồng ả. Ả là gián điệp trong một cuộc chiến. Tình yêu không thể bào chữa cho một hành động phản trắc như vậy. 
Thế rồi cả cosca tụ tập vào sáng chủ nhật để ăn sáng ở nhà Aldo Monza, và sau đó đám đàn bà đi tập hợp lũ trẻ. Ba người đàn ông của cosca dẫn em trai của Fissolini ra ngoài – đi vào chỗ chết. Những người khác lắng nghe Fissolini. Chỉ có Aldo Monza kông cười những câu chuyện tếu táo của y. Astorre với tư cách khách mời danh dự, ngồi cạnh Fissolini. 
– Aldo này, Fissolini nói với nụ cười kẻ cả. Nom mày khó chịu quá. 
Monza lườm lại bác hắn. Tôi không thể vui như bác được, thưa bác. Suy cho cùng, tôi đếch sài chung vợ bác, phải không nào? 
Đúng lúc ấy, ba người đàn ông của cosca túm lấy Fissolini và ấn y xuống ghế. Monza vào trong bếp rồi quay ra với cái túi đựng dụng cụ hành nghề thú y của hắn. 
– Này bác, hắn nói. Tôi sẽ dạy bác những gì bác quên. 
Astorre quay mặt đi. 
Dưới ánh nắng chói chang của sáng chủ nhật, trên con đường bẩn thỉu dẫn đến nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh một con ngựa bạch đang đi nước kiệu nhỏ. Trên lưng ngựa là Fissolini. Y bị trói chặt vào yên ngựa, và một cây thánh giá bằng gỗ to tướng đỡ lưng y. Nom y như còn sống. Nhưng trên đầu y, giống như chiếc mão gai trên đầu Chúa, là một cái tổ kết bằng nhánh cây được nhồi thêm cỏ xanh để tạo thành một cái ổ. Dương vật và hai hòn dái của y được đặt trên cái tổ ấy. Những dòng máu nhỏ vẫn đang chảy từ trên ổ xuống trán y. 
Aldo Monza và cô vợ trẻ đẹp của hắn đứng bên thềm nhà thờ trông ra. Cô ả bắt đầu làm dấu thánh giá trên ngực, nhưng Monza ấn vai ả xuống và giữ chặt đầu ả, bắt nhìn thẳng. Rồi hắn đẩy ả ra đường để đi theo cái thây ma. 
Astorre đi theo ả và dẫn ả tới chiếc xe của chàng để đưa ả đi an toàn về Palermo. 
Monza tiến một bước về phía chàng và ả đàn bà, mặt hắn đầy thù hận. Astorre im lặng nhìn hắn chằm chằn rồi giơ một ngón tay cảnh cáo. Monza để hai người ra đi. 
Sáu tháng sau ngày giết Limona, Nello mời Astorre đến biệt thự của y nghỉ cuối tuần. Họ sẽ chơi tennis và tắm biển. Họ sẽ thưởng thức món cá ngon nổi tiếng của địa phương, và họ sẽ đàn đúm với hai trong số các nữ tiếp viên kháu khỉnh nhất hộp đêm, Buji và Stella. Ngôi biệt thự sẽ không có một bóng họ hàng: Tất cả đang đi dự một đám cưới linh đình trong họ ở chốn quê nhà. 
Thời tiết hôm đó thật đẹp. Astorre và Nello chơi tennis cùng hai ả – những kẻ trước đó chưa từng nhìn thấy cây vợt, nhưng vụt khá mạnh và cũng đánh được banh qua lưới. Cuối cùng Nello đề nghị cả bọn cùng đi dạo trên bãi biển, rồi đi bơi. 
Bốn vệ sĩ đang giải trí trong bóng mát của hàng hiên. Đám gia nhân đang mang đến cho chúng đồ ăn và thức uống. Nhưng điều đó cũng không làm chúng mất cảnh giác. Có điều là, chúng khoái chí ngắm nghía thân hình uyển chuyển của hai ả đàn bà trong bộ đồ tắm và đoán xem ả nào cừ hơn ở trên giường, rồi tất cả nhất trí chọn Buji. Tiếng cười và cách ăn nói hoạt bát của ả là bằng chứng về một khả năng khêu gợi rất cao. Thế rồi chúng vui vẻ sửa soạn để theo chủ đi dạo trên bãi biển, chúng đang sắn ống quần. 
Nhưng Astorre ra hiệu cho chúng. 
– Bọn này sẽ ở trong tầm nhìn, chàng nói với chúng. Cứ uống thoải mái. 
Bốn đứa bước xuống bãi biển, chỉ cách bãi tắm một con sóng. Astorre và Nello ở phía trước, hai ả ở sau lưng họ. Khi ra xa được năm mươi bộ, hai ả cởi bỏ bộ đồ tắm. Buji gỡ chiếc áo đầm có dây đeo của ả để phô ra cặp vú rồi lấy tay che chúng lại như để chống ánh mặt trời. 
Tất cả bọn họ nhảy qua con sóng lăn tăn. Nello là tay bơi siêu hạng. Y lặn xuống và ngoi lên giữa hai chân Stella để khi y đứng lên cô ả đã ngồi chễm chệ trên vai mình. Y gọi Astorre 
– Ra ngoài này đi nào! Astorre làm theo. Buji đeo cứng lấy chàng từ phía sau. Chàng nhấn ả xuống nước rồi ngụp xuống cùng ả, nhưng thay vì sợ hãi, Buji chộp lấy quần bơi của chàng và lột truồng chàng từ phía sau. 
Ở dưới mặt nước, chàng cảm thấy có tiếng rung đều đều bên tai. Cùng lúc đó chàng nhìn thấy cặp vú nõn nà của Buji lộ ra lơ lửng trong làn nước xanh và khuôn mặt đang tươi cười của ả ở rất gần chàng. Sau đó tiếng rung đều đều bên tai chàng biến thành tiếng gầm rú, và chàng ngoi lên mặt nước, Buji bấu vào hai bên hông trần của chàng. 
Cái đầu tiên đập vào mắt chàng là một chiếc thuyền cao tốc đang vun vút lao tới. Động cơ của nó như một cơn giông khuấy tung bầu không khí và mặt nước. Nello và Stella đã ở trên bờ. Làm sao họ lên được bờ nhanh thế nhỉ? Xa hơn, chàng thấy các vệ sĩ của mình, quần sắn cao đang bắt đầu từ biệt thự chạy về phía biển. Chàng đẩy Buji xuống nước và ra xa mình rồi cố lội vào bờ. Nhưng đã quá muộn. Chiếc thuyền cao tốc đến rất gần, và chàng thấy một người đàn ông giương súng ngắm rất cẩn thận. Tiếng súng bị động cơ át đi. 
Viên đạn thứ nhất quất Astorre xoay tròn, thế là chàng trở thành một mục tiêu lớn cho tên sát thủ. Cơ thể chàng dường như bị hất tung lên khỏi mặt nước rồi chìm xuống. Chàng mơ màng nghe thấy con thuyền đang tăng tốc, và rồi chàng cảm thấy Buji đang giật mạnh chàng, kéo lê chàng, và đang cố gắng đưa chàng vào bờ. Khi các vệ sĩ tới nơi, chúng thấy Astorre nằm sấp trên mặt sóng, một viên đạn trúng gần cổ họng, và bên chàng Buji đang thổn thức. 
Phải mất sáu tháng Astorre mới bình phục. Bianco đã đem giấu chàng vào một bệnh viện tư nhỏ bé ở Palermo, nơi chàng được bảo vệ và chữa trị tốt nhất. Ngày nào Bianco cũng tới thăm chàng, còn Buji chỉ đến được vào những ngày không làm ở hộp đêm. 
Gần cuối thời gian điều trị Buji mang cho chàng một dải ruy băng rộng hai inch bằng vàng. Ở giữa là tấm huy hiệu khắc hình Đức Mẹ Đồng Trinh. Ả đeo dải ruy băng vào cổ chàng. Chiếc huy hiệu che đi vết thương. Nó đã được thay bằng keo để kính chặt vào da. Không to hơn đồng một đôla bạc, chiếc huy hiệu che được vết thương và trông như một vật trang điểm. 
– Ổn rồi, Buji trìu mến nói. Em không thể chịu nổi cảnh nhìn thấy nó. Ả âu yếm hôn chàng. 
– Một ngày nào đó cậu chỉ việc rửa sạch chất keo là được, Bianco nói. 
– Rồi một kẻ ham vàng sẽ cắt cổ tôi mất, Astorre giễu cợt. Có thực cần thiết phải làm như thế không? 
– Cần chứ, Bianco nói. Một người đáng kính không thể khoe khoang một vết thương do kẻ thù gây ra. Hơn nữa, Buji nói đúng. Không ai có thể chịu đựng nổi nhìn thấy nó. 
Cái duy nhất làm chàng chú ý là Bianco đã gọi chàng là một người đáng kính. Octavious Bianco, một Mafioso cao cấp, đã ban cho chàng vinh dự này. Chàng rất ngạc nhiên và lấy làm hãnh diện. 

Google photos

Sau khi Buji ra đi – đi nghỉ cuối tuần cùng một tay buôn rượu giàu có nhất Palermo – Bianco mang đến cho chàng một chiếc gương soi. Dải ruy băng bằng vàng được làm rất đẹp. Đức Mẹ Đồng Trinh, Astorre nghĩ, có mặt ở khắp Sicily, tại các điện thờ bên đường, trên ô tô và ở nhà, trên đồ chơi con trẻ. 
Chàng bảo Bianco 
– Tại sao người Sicily lại thờ Đức Mẹ Đồng Trinh thay cho Chúa Cứu Thế? 
Bianco nhún vai 
– Chúa Jesus, trước hết, là một người đàn ông, và vì vậy không thể tin tưởng hoàn toàn được. Mà thôi, quên tất cả những cái đó đi. Nó đã an bài. Trước khi quay về Mỹ, cậu sẽ sống một năm ở London với ngài Pryor để nghiên cứu nghiệp vụ quản lý nhà băng. Lệnh của bác cậu đấy. Còn một việc nữa. Thằng Nello phải bị khử. 
Astorre đã rà soát kỹ càng toàn bộ sự cố rất nhiều lần trong đầu và biết rõ Nello có tội. Nhưng cái gì là nguyên nhân đây? Họ đã là bạn bè tốt của nhau lâu như thế, và đó là một tình bạn chân chính. Nhưng rồi kẻ giết người của bọn Corleone xuất hiện. Hẳn Nello đã có mối liên hệ nào đó với cosca Corleone và y không có quyền lựa chọn. 
Còn một thực tế nữa, Nello không đến bệnh viện thăm chàng. Thực ra, y đã biến khỏi Palermo. Y không còn chơi ở hộp đêm nữa. Tuy vậy, Astorre vẫn hy vọng chàng có thể nhầm. 
– Ngài có chắc thằng Nello phản thùng không? Astorre hỏi. Nó là đứa bạn thân nhất của tôi đấy. 
– Thế chúng còn sử dụng được đứa nào? Bianco bẻ lại. Kẻ thù không đội trời chung của cậu ư? Đương nhiên là bạn cậu rồi. Trong bất kỳ trường hợp nào cậu cũng sẽ phải tự mình xử nó như một người được kính trọng. Vậy thì cứ làm cho tốt. 
Vào lần đến thăm sau đó của Bianco, Astorre nói với lão 
– Chúng ta chẳng có bằng chứng nào chống lại Nello. Thôi, cứ gác việc này lại đã, ngài phải giữ hòa khí với bọn Corleone. Đừng để ý đến chuyện đó nữa, tôi chết cũng đâu có sao. 
Lúc đầu Bianco điên tiết phản đối, nhưng sau đó lão nhất trí với sự khôn ngoan trong lời khuyên của Astorre và thừa nhận chàng là người thông minh. Lão có thể giảng hòa với nhà Corleone và điểm số sẽ cân bằng. Còn về phần thằng Nello, nó chỉ là con tốt, có đáng kể gì. Cứ để nó cho một dịp khác, ngày khác. 
Những việc phải thu xếp ngốn mất một tuần. Astorre sẽ trở về Hoa Kỳ qua ngả London để được ông Pryor hướng dẫn chi tiết. Bianco bảo Astorre rằng Aldo Monza sẽ được gửi thẳng sang Mỹ ở với Trùm Aprile và sẽ đợi chàng tại New York. 
Astorre sống một năm ở London cùng Pryor. Đó là khoảng thời gian vô cùng bổ ích. 
Trong phòng riêng của Pryor còn một bình rượu, điều đó chứng tỏ rằng ở đây có quá nhiều việc dành cho chàng. Việc chàng đến Sicily là một phần trong kế hoạch đặc biệt của ông Trùm nhằm chuẩn bị cho chàng một vai trò thực sự quan trọng. 
Astorre hỏi Pryor về Rosie. Chàng vẫn luôn nhớ tới nàng – vẻ khả ái, niềm vui thuần khiết trong lối sống, tính hào phóng của nàng trong mọi phương diện, kể cả làm tình. Chàng nhớ nàng da diết. 
Ông Pryor nhướng cặp lông mày. 
– Cô gái Mafioso đó chứ gì, ông nói. Tôi biết cậu không quên cô ấy mà. 
– Bác có biết cô ấy ở đâu không? Astorre hỏi. 
– Nhất định rồi, ông Pryor đáp. Ở New York. 
Astorre rụt rè nói 
– Tôi cứ nghĩ mãi về cô ấy. Xét cho cùng, tôi thì đi biền biệt, cô ấy lại còn trẻ. Những gì xảy ra cũng là đương nhiên. Tôi đang hy vọng sẽ gặp lại cô ấy. 
– Tất nhiên, sao lại không chứ? Sau bữa tối tôi sẽ cho cậu tất cả những thông tin cậu cần. 
Thế là đêm hôm đó, trong phòng riêng của Pryor, Astorre đã biết tất cả tin tức về Rosie. Ông ta mở cuốn băng những cuộc điện đàm của Rosie. Nó phơi bày những cuộc gặp gỡ riêng tư với những người đàn ông khác trong căn hộ của nàng. Những cuốn băng cho thấy rằng nàng đã tằng tịu với họ, rằng họ đã tặng nàng những món quà đắt giá và tiền bạc. Quả là một cú sốc đối với Astorre khi nghe giọng nói của nàng, cái âm điệu mà chàng nghĩ chỉ dành cho mình – tiếng cười trong trẻo, những lời nhận xét dí dỏm thông mình và đầy yêu thương. Nàng vô cùng quyến rũ và không hề thô tục hay tầm thường. Nàng như một nữ học sinh trung học đang đến dự một buổi khiêu vũ. Vẻ ngây thơ của nàng là một tác phẩm thiên tài. 
Ông Pryor đội chiếc mũ lưỡi trai sùm sụp ngay trên đôi măt, không ngừng quan sát Astorre. 
Chàng hỏi:

– Cô ấy rất tốt phải không ạ? 
– Một phụ nữ lý tưởng, ông Pryor nói. 
– Có phải những cuốn băng này được thu khi tôi đang cặp với cô ấy không? Astorre hỏi. 
Ông Pryor làm một cử chỉ phản đối. 
– Tôi có trách nhiệm phải bảo vệ cậu. Đúng thế đấy. 
– Vậy mà bác không nói gì hay sao? 
– Cậu thực sự điên cuồng trong yêu đương. Tại sao tôi lại phải làm hỏng niềm vui của cậu chứ? Cô ấy không tham lam, cô ấy đối xử với cậu chu đáo. Tôi cũng có thời trai trẻ nên hãy tin tôi, trong tình yêu sự thật không có ý nghĩa gì. Và bất chấp mọi cái, cô ấy là một cô gái tuyệt vời. 
– Một gái điếm hạng sang ư? Astorre cay đắng nói. 
– Không hẳn thế, ông Pryor nói. Cô ấy phải sống bằng trí thông minh của mình. Cô ấy đã xa gia đình từ năm mười bốn tuổi, rất thông minh và ham muốn học hành. Cô ấy muốn sống một cuộc đời sung sướng. Và rất biết cách làm cho cánh đàn ông sung sướng, một tài năng hiếm có. Việc người ta phải trả giá cũng là công bằng thôi. 
Astorre bật cười. 
– Bác là người Sicily văn minh. Nhưng còn hai mươi tư tiếng đồng hồ ở bên xác người tình thì sao? 
Ông Pryor cười vui vẻ. 
– Nhưng đấy lại là phần tốt nhất của cô ấy. Một Mafioso thực sự. Cô ấy có trái tim nóng hổi và cái đầu băng giá. Một sự kết hợp tuyệt vời. Nhưng cậu phải hết sức cảnh giác với cô ấy. Một người như thế luôn luôn nguy hiểm. 
– Thế còn Amil Nitrate? Astorre hỏi. 
– Về cái đó cô ấy vô tội. Người ta đã đi lại với ông giáo sư trước khi gặp cậu, và ông ấy cứ khăng khăng đòi chơi ma túy cho bằng được. Không, cái chúng ta có ở đây là một cô gái thẳng thắn tìm kiếm hạnh phúc của riêng mình bất chấp mọi thứ. Cô gái này không bị ràng buộc. Lời khuyên của tôi dành cho cậu là phải duy trì mối quan hệ. Có thể cậu cần tận dụng một số khả năng của cô ấy đấy. 
– Đồng ý, Astorre nói. Chàng ngạc nhiên vì không thấy giận Rosie. Vẻ quyến rũ của nàng đủ để nàng cần được tha thứ. Chàng nói với ông Pryor rằng chàng sẽ cho qua. 
– Tốt lắm, ông Pryor nói. Cậu ở đây một năm rồi sẽ về với Don Aprile. 
– Chuyện gì sẽ xảy ra với Bianco? Astorre hỏi. 
Ông Pryor lắc đầu rồi thở dài. 
– Bianco phải nhượng bộ thôi. Cosca của Corleone quá mạnh. Họ sẽ thôi không truy lùng cậu nữa. Don Aprile đã hòa giải rồi. Thực ra thì thành công của Bianco đã làm ông ấy quá lịch sự đấy thôi.
Astorre giữ được mối liên lạc với Rosie. Chàng biết rằng nàng đã trở lại trường và đang cố đoạt học vị tiến sĩ tâm lý tại Đại học New York và nàng đang sống trong một căn hộ chung cư kiên cố ngay gần đó. Tại đây rốt cuộc nàng đã trở nên lão luyện hơn với những gã đàn ông già hơn và giàu có hơn. 
Nàng rất khôn ngoan. Nàng tằng tịu với ba người cùng một lúc và nhận được những món quà đắt tiền, đồ nữ trang và những chuyến du hý đến những nơi nghỉ mát sang trọng của đám nhà giàu. Không ai có thể bảo nàng là một gái gọi chuyên nghiệp, vì nàng không đòi hỏi bất cứ thứ gì, nhưng nàng chưa hề từ chối một món quà tặng nào. 
Việc đám đàn ông phải lòng nàng là một kết cục tất yếu. Tuy nhiên nàng đời nào chấp nhận những lời cầu hôn của họ. Nàng một mực cho rằng họ là chỗ bạn bè, rằng hôn nhân không phù hợp với nàng và với cả họ. Phần lớn đám đàn ông chấp nhận quyết định của nàng với một tiếng thở phào nhẹ nhõm. Nàng không phải là kẻ đào mỏ; nàng không vòi vĩnh tiền bạc, và chứng tỏ mình không có tính tham lam. Nhưng nàng có thói quen cất tiền để phòng ngày khốn khó. Nàng có năm tài khoản ở nhà băng và thuê hai két an toàn. 
Vài tháng sau cái chết của ông Trùm, Astorre quyết định gặp lại Rosie. Chàng tin chắc cuộc gặp này chỉ nhằm giành được sự giúp đỡ của nàng cho các kế hoạch của mình. Chàng tự nhủ chàng biết các bí mật của nàng và nàng không thể lòe chàng lần nữa. Nàng mắc nợ chàng, và chàng đang nắm giữ một bí mật chết người của nàng. 
Chàng còn biết chắc nàng là một người trụy lạc. Với nàng, lạc thú có sức hút như một tín ngưỡng. Bằng cả trái tim mình, nàng tin rằng nàng có quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền đó phải được ưu tiên hàng đầu. 
Nhưng hơn hết, chàng muốn gặp lại nàng. 
Như phần lớn đám đàn ông, thời gian trôi qua góp phần làm giảm đi những vụ phản bội và tôn vinh nét quyến rũ của nàng. Giờ đây những tội lỗi của nàng xem ra gần với tính bất cẩn của giới trẻ hơn, không có cơ sở nào cho thấy nàng không yêu chàng. Chàng nhớ cặp vú của nàng, khi nàng làm tình chúng nổi rõ những đốm hồng. Cái cách nàng cúi đầu e lệ, vẻ hoạt bát và tính tình vui vẻ của nàng. Cách nàng đi đứng khoan thai với đôi chân thon dài và cái nóng đến khó tin của miệng nàng vẫn còn lưu lại trên môi chàng. Dẫu vậy, Astorre tự nhủ chuyến thăm này chỉ thuần túy bàn công việc. 
Nàng đang sắp đi vào căn hộ chung cư của mình thì chàng dừng trước mặt nàng, mỉm cười và cất tiếng chào. Cánh tay phải của nàng đang ôm một chồng sách và nàng thả chúng rớt xuống vỉa hè. Khuôn mặt nàng rạng rõ niềm vui, đôi mắt nàng long lanh. Nàng vòng tay ôm lấy chàng và hôn lên miệng chàng. 
– Em biết sẽ gặp lại anh mà, nàng nói. Em biết anh sẽ tha thứ cho em. Rồi nàng kéo chàng vào tòa chung cư, dẫn chàng leo một dãy cầu thang lên căn hộ của nàng. 
Ở đó nàng rót rượu cho cả hai, rượu vang cho nàng, rượu mạnh cho chàng. Nàng ngồi xuống bên chàng trên ghế sô pha. Căn phòng bài trí xa hoa và chàng biết tiền này từ đâu đến. 
– Sao anh đi lâu thế? Rosie hỏi đồng thời nàng tháo những chiếc nhẫn ra khỏi tay, gỡ hoa tai, thả ba chiếc vòng ra khỏi cổ tay trái. Tất cả đều bằng vàng và đều nạm kim cương. 
– Anh bận, Astorrre nói. Và anh tìm em khá lâu. 
Rosie nhìn chàng dịu dàng, âu yếm. 
– Anh vẫn còn hát chứ? Anh vẫn mặc bộ đồ màu đỏ ngộ nghĩnh ấy để đi cưỡi ngựa chứ? Nàng hôn chàng lần nữa, và Astorre cảm thấy một luồng hơn ấm sộc lên óc chàng. 
– Không, chàng đáp. Rosie này, chúng mình không thể quay lại được. 
Rosie làm chàng hụt hẫng. 
– Đấy là thời gian hạnh phúc nhất của đời em, nàng nói. Sau đó họ vào phòng ngủ, và vài giây sau cả hai đã trần truồng. 
Rosie lấy ra một lọ nước hoa từ bàn trang điểm rồi xịt lên người mình trước, sau đó cho Astorre. 
– Không còn thời gian để tắm nữa, nàng vừa nói vừa cười. Rồi họ cùng lên giường và chàng thấy những đốm màu hồng từ từ nổi lên trên khắp cặp vú của nàng. 
Với Astorre, đây là một kinh nghiệm quái đản. Chàng khoái làm tình nhưng không thể khoái Rosie. Hình ảnh nàng canh chừng xác chết của ông giáo sư suốt một ngày một đêm cứ cộm lên trong tâm trí chàng. Nếu ông ta chưa chết liệu ông ta có được cứu sống không? Một mình nàng có liên quan gì đến cái chết và ông giáo sư? 
Đang nằm ngửa, Rosie với tay sờ vào má chàng. Nàng cúi đầu xuống và thỏ thẻ 
– Cái phép thuật cũ ấy chẳng còn mầu nhiệm nữa rồi. Đang mân mê chiếc huy hiệu bằng vàng trên cổ chàng nàng bỗng nhìn thấy một vết thương khủng khiếp. Nàng đặt lên đó một nụ hôn. 
– Nó lành rồi, Astorre nói. 
Rosie ngồi dậy, phần thân và cặp vú để trần của nàng lơ lửng bên trên chàng. 
– Anh không thể tha thứ cho em vì ông giáo sư, vì em đã để ông ấy chết rồi cứ ở lại cùng ông ấy. Có đúng thế không? 
Astorre không trả lời. Chàng sẽ chẳng bao giờ nói cho nàng hay chàng đã biết những gì về nàng. Nàng vẫn thế, ngựa quen đường cũ. 
Rosie rời khỏi giường và bắt đầu mặc quần áo, chàng cũng làm như vậy. 
– Anh là một người kinh khủng hơn nhiều, Rosie nói. Cháu nuôi của Don Aprile cơ mà. Cả ông bạn anh ở London nữa, người đã dọn giùm cái mớ bòng bong của em. Ông ta làm việc rất chuyên nghiệp, với tư cách một chủ nhà băng người Anh, nhưng không hẳn thế nếu anh biết ông ta đến từ Italy. Chẳng khó gì mà không hiểu ra. 
Họ sang phòng khách và lại uống nữa. Nàng nghiêm trang nhìn vào mắt chàng. 
– Em biết anh là người như thế nào. Và em không thắc mắc, không hề. Chúng mình thực sự là những người bạn chí cốt. Điều đó chẳng hoàn hảo hay sao? 
Astorre cười. 
– Cái cuối cùng anh muốn tìm là một người bạn chí cốt, chàng nói. Nhưng anh tới gặp em vì công việc. 
Rosie trở nên lạnh lùng. Tất cả nét quyến rũ biến khỏi khuôn mặt nàng. Nàng bắt đầu đeo những chiếc nhẫn vào lại các ngón tay. 
– Giá của em cho một chuyến tàu nhanh là năm trăm đô, nàng nói. Em có thể nhận séc. Nàng cười tinh nghịch – đây là một câu nói đùa. Chàng biết nàng chỉ nhận những món quà vào những kỳ nghỉ hay ngày sinh nhật, và những thứ đó có giá hơn nhiều. Thực tế, căn hộ này là một món quá sinh nhật của một gã si tình. 
– Không giỡn đâu, việc nghiêm túc đấy, rồi chàng nói về anh em Sturzo và những gì chàng muốn nàng làm. Bây giờ anh sẽ gửi em hai mươi nghìn đô cho các khoản chi phí, chàng nói. Và một trăm ngàn nữa khi em hoàn thành công việc. 
Rosie trầm tư nhìn chàng. 
– Và chuyện gì sẽ xảy ra sau đó? Nàng hỏi. 
– Em không cần phải lo. 
– Rõ rồi. Nếu em từ chối thì sao? 
Astorre nhún vai. Chàng không muốn nghĩ về điều đó. Chẳng sao cả, chàng nói. 
– Anh không nộp em cho nhà chức trách Anh quốc đấy chứ? 
– Anh không đời nào làm thế với em, Astorre nói và nàng không thể nghi ngờ tính trung thực trong giọng nói của chàng. 
Rosie thở dài. 
– OK. Và rồi chàng thấy mắt nàng long lanh. Nàng toét miệng cười. Lại một cuộc phiêu lưu nữa, nàng nói. 
Khi xe chạy qua Weschester, Aldo Monza hích vào chân Astorre lôi chàng ra khỏi những hồi tưởng của mình. Monza nói 
– Còn đi nửa tiếng nữa. Cậu phải chuẩn bị cho anh em Sturzo. 
Astorre nhìn những bông tuyết tinh khôi đang rơi bên ngoài cửa xe. Nếu không có rừng cây to trụi lá với đám cành sống động thò ra như những chiếc gậy thần màu nhiệm thì họ đang đi trên một vùng nông thôn cằn cỗi. Lớp tuyết phát quang làm cho những khối đá bị vụi lấp trông giống như những ngôi sao sáng. Vào thời điểm đó, Astorre cảm thấy một nỗi buồn tê tái trong lòng. Qua đêm nay thế giới của chàng sẽ thay đổi, chàng sẽ thay đổi, và trong một chừng mực nào đấy cuộc sống thực của chàng sẽ bắt đầu. 
Ba giờ sáng Astorre tới nơi. Khi đó cảnh vật trắng toát một vẻ ma quái, tuyết ùn thành từng đống lớn. 
Trong nhà, anh em Sturzo bị còng tay, xích chân và những chiếc áo bó đặc biệt được lồng vào người chúng. Chúng đang nằm trên sàn của một phòng ngủ, được hai người đàn ông mang vũ khí canh gác. 
Astorre nhìn chúng đầy thông cảm.
– Đáng khen lắm, chàng bảo chúng. Bọn tao đánh giá cao sự nguy hiểm của chúng mày. 
Thái độ của hai anh em Sturzo hoàn toàn khác nhau. Stace có vẻ bình tĩnh và cam chịu, nhưng Franky nhìn họ trừng trừng với một nỗi căm hờn làm bộ mặt bình thường vốn dễ coi của gã biến dạng thành kỳ dị. 
Astore ngồi lên giường. 
– Tao đoán hai đứa chúng mày đã hiểu ra vấn đề rồi, chàng nói. 
Stace lí nhí trả lời: 
– Rosie là con mồi. Cô nàng ngon lành lắm, đúng không Franky? 
– Hết sảy, Franky đáp. Gã đang cố giữ cho giọng mình không vang lên cuồng loạn. 
– Ấy là vì nàng thực sự thích chúng mày, Astorre nói. Nàng điên lên vì chúng mày, đặc biệt là thằng Franky. Thật xui xẻo cho nàng. 
Franky khinh bỉ hỏi 
– Vậy tại sao cô nàng lại làm thế hả? 
– Vì tao cho nàng nhiều tiền, Astorre nói. Nhiều tiền lắm. Mày có biết bao nhiêu không hả Franky? 
– Không, tao cóc biết. 
– Tao nghĩ phải trả một giá rất cao cho hai đứa thông minh như chúng mày để thực hiện hợp đồng vụ ông Trùm Aprile, Astorre nói. Một triệu phải không? Hay hai triệu? 
Stace nói 
– Mày nhầm rồi. Tụi tao không làm vụ đó. Tụi tao đâu có ngu như vậy. 
Astorre nói 
– Tao biết chúng mày là xạ thủ. Chúng mày sẽ bị trừng phạt vì tội to gan. Tao đã kiểm tra kỹ chúng mày. Bây giờ, cái tao muốn ở chúng mày là tên đứa môi giới. 
– Mày nhầm, Stace nói. Chẳng có cơ sở nào để mày có thể gán vụ đó cho tụi tao cả. Mà mày là thằng quái nào chứ? 
– Tao là cháu ông Trùm, Astorre đáp. Tao là người bọc lót hàng đầu của ông ấy. Và tao đã kiểm tra chúng mày suốt gần sáu tháng nay. Vào lúc xảy ra vụ ám sát chúng mày không có mặt ở Los Angeles. Hơn một tuần lễ chúng mày không xuất hiện. Franky, mày đã bỏ hai buổi huấn luyện lũ nhóc. Stace, mày không hề bén mảng tới xem cửa hiệu làm ăn ra sao. Ngay cả điện thoại chúng mày cũng không gọi. Vậy, hãy trả lời tao chúng mày đi đâu? 
– Lúc đó tao đang đánh bạc ở Vegas, Franky nói. Mà chúng ta có thể nói chuyện thoải mái hơn nếu mày nới mấy cái áo bó này ra một chút. Tụi tao có đang đéo nhau ở Houdinis đâu. 
Astorre tặng cho gã một nụ cười thông cảm. 
– Chờ chút nữa, chàng nói. Stace này, còn mày thì sao? 
– Tao với con bồ của tao đi Tahoe, Stace trả lời. Nhưng thằng chó nào nhớ được chứ? 
Astorre bảo bọn chúng 
– Có lẽ tao sẽ có phước hơn nếu nói chuyện riêng rẽ với chúng mày. 
Chàng bỏ chúng lại rồi đi xuống bếp. Ở đó Monza đã pha cà phê và đang đợi chàng. Chàng bảo Monza đưa anh em Sturzo đến những phòng khác nhau và cắt hai người liên tục canh chừng mỗi đứa. Aldo đang phụ trách một nhóm sáu người. 
– Cậu có chắc chúng là thủ phạm không? Monza hỏi. 
– Tôi cho là đúng, Astorre đáp. Nếu không phải chúng, thì đây chỉ là cái vận đen của chúng. Aldo này, tôi không muốn yêu cầu anh, nhưng có lẽ anh phải giúp chúng mở miệng. 
– Thì có phải lúc nào người ta cũng mở miệng đâu. Monza nói. Thật khó tin, nhưng con người vốn ương ngạnh. Và hai thằng này nom có vẻ chì đấy? 
– Tôi không thích cậu mềm yếu vậy, Astorre nói. 
Chàng đợi nửa tiếng đồng hồ rồi mới lên căn phòng giam giữ Franky. Màn đêm đã buông, nhưng trong ánh đèn phản chiếu chàng có thể nhìn thấy những bông tuyết đang xoay vòng từ từ rơi xuống ở bên ngoài. Chàng thấy Franky bị trói chặt đang nằm trên sàn nhà. 
– Thật đơn giản, Astorre bảo gã. Cho bọn tao biết tên đứa môi giới rồi chúng mày có thể sống mà ra khỏi đây. 
Franky phẫn nộ nhìn chàng. 
– Tao đéo nói gì với mày cả, đồ cà chớn. Mày tóm nhầm người rồi. Tao nhớ cái mặt mày, cả con khốn Rosie nữa. 
– Nói thế hoàn toàn sai, Astorre bảo gã. 
– Mày cũng đéo con nhỏ mãi rồi phải không? 
Franky nói. 
– Mày là thằng ma cô à? 
Astorre hiểu. Franky sẽ không bao giờ tha thứ sự phản bội của Rosie. Thật là một phản ứng ngu ngốc trong một tình huống nghiêm trọng thế này. 
– Tao nghĩ chúng mày ngu quá, Astorre nói. Và chúng mày sẽ bị trừng phạt thôi. 
– Tao đéo quan tâm đến những gì mày nghĩ, Franky nói. Mày chẳng thể làm gì nếu không có bằng chứng. 
– Vậy sao? Thế là tao đang phí thì giờ với mày. Tao đi tâm sự với thằng Stace vậy. 
Astorre xuống bếp uống thêm cà phê trước khi lên gặp Stace. Chàng cân nhắc kỹ một thực tế là trong một giới hạn nguy hiểm như thế mà Franky ngó bộ vẫn tự tin và ăn nói hỗn xược. Với Stace chàng có lẽ thu được kết quả khả quan hơn. Chàng bắt gặp Stace đang chống đỡ một cách bất lực ở trên giường. 
– Cởi áo trùm ra cho nó, Astorre ra lệnh. Nhưng kiểm tra lại khoá tay và xích. 
– Tao nghĩ ra rồi, Stace bình tĩnh nói. Mày biết chúng tao giấu tiền. Tao có thể thu xếp để mày đến lấy rồi chấm dứt cái trò nhảm nhí này. 
– Tao vừa trao đổi với thằng Franky, Astorre nói. Tao thất vọng về nó quá. Mày và em mày lẽ ra phải khôn ngoan chứ. Bây giờ mày nói với tao về tiền bạc, và mày thừa biết nó liên quan đến việc chúng mày giết ông Trùm Aprile. 
– Mày nhầm rồi, Stace nói. 
Astorre vẫn nhẹ nhàng 
– Tao biết mày không có mặt ở San Francisco, tao cũng biết thằng Franky không mò tới Vegas. Và chúng mày là hai nghệ sĩ tự do duy nhất có lá gan đủ to để nhận nhiệm vụ này. Hai thằng xạ thủ cũng thuận tay trái như mày và Franky. Vì vậy, tất cả những gì tao muốn là ai thuê chúng mày. 
– Tại sao tao phải nói vơi mày chứ? Stace nói. Tao biết câu chuyện đã đến hồi kết thúc. Tụi mày không đeo mặt nạ, mày đã làm lộ con nhỏ Rosie, vì thế tụi mày sẽ không đời nào để tụi tao sống sót mà rời khỏi đây, bất kể mày có hứa hẹn những gì đi chăng nữa. 
Astorre thở dài. 
– Tao không muốn lừa mày. Kết cục là như vậy. Nhưng mày vẫn có cái để mà mặc cả. Nhẹ nhàng hay đau đớn. Tao có mang theo một đứa rất thạo việc. Khi nói điều này, Astorre vẫn cảm thấy trong người nôn nao. Chàng nhớ lại cảnh Aldo Monza hành hạ Fissolini. 
– Mày đang phí thì giờ đấy, Stace nói. Franky sẽ không nói đâu. 
– Có thể không, Astorre đồng tình. Nhưng nó sẽ bị xẻ thành từng miếng, và từng miếng một sẽ được mang đến cho mày kiểm tra. Tao nghĩ mày nên nói để cứu nó khỏi cảnh đó. Nhưng tại sao lại phải đi con đường đó? Stace, tại sao mày muốn bảo vệ thằng môi giới ấy? Lẽ ra nó phải che chở cho chúng mày, vậy mà nó đã không làm. 
Stace không trả lời. Sau đó gã nói 
– Sao mày không thả thằng Franky ra? 
Astorre trả lời 
– Mày biết rõ mà. 
– Làm sao mày biết tao sẽ không lừa mày? Stace hỏi. 
– Vì cái chết tiệt gì mày phải làm thế hả? Mày được gì nào? Stace, mày có thể giữ cho thằng Franky không phải trải qua những điều thực sự khủng khiếp. Mày sẽ phải chứng kiến tận mắt đấy. 
– Tụi tao chỉ là những tay súng làm công việc của mình, Stace nói. Thằng cha mày cần có địa vị cao hơn chứ. Tại sao mày không thả tụi tao ra? 
Astorre vẫn kiên nhẫn. 
– Stace, anh em mày đã nhận nhiệm vụ giết một người quan trọng. Tiền nào thì của nấy, điều đó đã khuyến khích chúng mày. Chúng mày chỉ việc bắn rồi lặn một hơi, và bây giờ chúng mày phải trả giá nếu không hoá ra thế giới này bị nghiêng à. Bây giờ, tất cả những gì mày có là lựa chọn, nhẹ nhàng hay đau đớn. Trong vòng một tiếng đồng hồ nữa kể từ lúc này, mày sẽ được thấy một bộ phận rất quan trọng của thằng Franky trên chiếc bàn kia. Tin tao đi. Tao không muốn làm điều đó. Thực thế đấy. 
Stace nói 
– Làm sao tao biết được bụng mày không đầy cứt chứ? 
Mày nghĩ xem làm sao tao lừa được chúng mày đến với Rosie hả. Mất rất nhiều thời gian và lòng kiên nhẫn đấy. Tao đã đưa được chúng mày đến đây và tao có tới tám tay súng. Chi phí nhiều và rắc rối cũng lắm. Mà lại ngay trước đêm Giáng sinh nữa chứ. Tao là thằng nghiêm túc, mày thấy rồi đấy. Tao cho mày một tiếng đồng hồ để nghĩ kỹ về đề nghị của tao. Tao hứa nếu mày nói, thằng Franky sẽ không biết gì hết. 
Astorre lại xuống bếp. Monza đang đợi chàng. 
– Sao hả? Monza hỏi. 
– Tôi không biết. Nhưng ngày mai tôi phải có mặt tại bữa tiệc Giáng sinh của Nicole, vì vậy chúng ta phải kết thúc việc này đêm nay. 
– Tôi sẽ không mất đến hơn một giờ, Monza nói. Nó sẽ mở miệng hoặc chết. 
Astorre thư giãn một lát bên chiếc lò sưởi rồi lại lên lầu gặp Stace. Gã nom có vẻ cam chịu và mệt mỏi. Gã đã nghĩ kỹ rồi. Gã biết Franky sẽ không hề hé răng – nó vẫn còn hy vọng. Stace tin rằng Astorre đã đặt tất cả các quân bài lên bàn. Và bây giờ Stace mới hiểu nỗi sợ hãi của những người gã đã giết, những hy vọng hão huyền và không kết quả của họ vào một phép màu nào đó cứu giúp họ. Bấu víu vào mọi khả năng. Và gã không muốn Franky chết như thế – bị xẻo từng miếng một. Gã nghiên cứu khuôn mặt Astorre. Nó cứng rắn, lạnh tanh bất chấp tuổi đời còn trẻ của người mang nó. Chàng có cái uy của một viên chánh án toàn thượng thẩm. 
Tuyết rơi dầy bám đầy cửa kính giống như một lớp lông trắng mịn màng. Trong căn phòng của mình Franky đang mơ tưởng về chuyến đi châu Âu cùng Rosie, tuyết đang phủ kín những đại lộ của Paris, tuyết đang rơi đầy xuống những con kênh xứ Venice. Tuyết như có phép lạ – Rome lung linh diệu kỳ. 
Stace nằm trên giường lo lắng cho Franky. Chúng đã gây chuyện và phải trả giá. Và đây là đoạn kết của câu chuyện. Nhưng gã có thể giúp Franky nghĩ rằng chúng vẫn còn cơ hội. 
– Tao chấp nhận, Stace nói. Mày phải bảo đảm Franky không biết cái gì đang diễn ra, được chứ? 
– Tao hứa, Astorre nói. Nhưng tao sẽ biết ngay nếu mày nói dối. 
– Không, Stace đáp. Bắt đầu từ cái gì nhỉ? Thằng môi giới tên là Heskow, nó sống ở một thị trấn có tên Brightwaters, qua Babylon một chút. Nó đã ly dị, hiện sống một mình và có một thằng con mười sáu tuổi, cao lớn. Thằng nhỏ là một cầu thủ bóng rổ xuất sắc. Thằng Heskow đã thuê tụi tao vài vụ qua nhiều năm nay. Giá cả là một triệu, nhưng tao và Franky vẫn nghi ngờ về việc nhận số tiền này. Nó quá lớn. Tụi tao nhận nhiệm vụ này vì nó nói tụi tao đếch phải lo về đám FBI, cũng đếch phải lo cớm. Nó nói rằng đây là một vụ sắp xếp lớn. Nó còn nói với tụi tao ông Trùm đếch còn các mối quan hệ đầy quyền lực nữa. Nhưng rõ ràng nó đã nhầm. Tụi mày đang ở đây đấy thôi. Thế là công toi. 
– Quả là nhiều thông tin để cung cấp cho người mày nghĩ là đầy bụng cứt, Astorre nói. 
– Tao muốn mày tin rằng tao đang nói sự thật. Tao hiểu rõ, câu chuyện đến hồi kết. Tao không muốn Franky biết điều này. 
– Đừng lo, Astorre nói. Tao tin mày. 
Chàng rời căn phòng rồi đi xuống bếp để ra chỉ thị cho Monza. Chàng cần thẻ căn cước, bằng lái xe, thẻ tín dụng và những đồ lặt vặt của chúng. Chàng giữ lời với Stace: Franky sẽ bị bắn vào gáy mà không được báo trước. Và Stace cũng sẽ bị hành quyết không đau đớn. 
Astorre rời khỏi căn nhà lái xe về New York. Tuyết ngừng rơi và chuyển thành một cơn mưa, rửa sạch cả miền quê tuyết phủ. 
Rất ít khi Monza trái lệnh, nhưng với tư cách là một đao phủ hắn cảm thấy hắn có quyền bảo vệ mình và người của hắn. Sẽ không dùng súng. Hắn sẽ sử dụng dây thừng. 
Trước hết hắn nhờ bốn vệ sĩ giúp hắn xiết cổ Stace. Stace thậm chí không hề kháng cự. Nhưng với Franky thì khác. Suốt hai mươi phút gã cố thoát khỏi sợi dây thừng. Suốt hai mươi phút kinh hoàng ấy Franky Sturzo biết rằng gã đang bị hành hình. 
Sau đó hai xác chết được cuốn trong vải trải giường và được khiêng qua những chỗ trống lầy lội trong rừng khi cơn mưa đã tạnh và tuyết lại rơi dày đặc. Xác chúng được bỏ trong rừng phía sau nhà. Một cái hang nằm trong một bụi cây rậm rạp là nơi cất giấu. Chắc chắn cho đến mùa xuân chúng sẽ không bị phát hiện. Đến lúc đó cơ thể chúng sẽ bị thiên nhiên huỷ hoại đến mức, Monza hy vọng, nguyên nhân gây tử vong sẽ không thể xác định được. 
Monza không tuân lệnh sếp không hẳn chỉ vì thực tế đó. Vì cũng giống như ôngTrùm Aprile, hắn cảm nhận sâu sắc rằng lòng nhân từ chỉ có thể đến từ đức Chúa. Hắn ghét cay ghét đắng bất kỳ một hình thức nhân từ nào dành cho những kẻ sát nhân. Đấy là việc của Chúa. Đối với con người, nại cớ nhân từ chỉ là thói kiêu hãnh vô giá trị và thiếu hẳn lòng tôn kính. Hắn chẳng muốn bất kỳ một hình thức nhân từ nào như vậy cho bản thân mình.

Luật im lặng

vietmessenger.com

Mario Puzo

Lương Lê Giang dịch

Post by Sơn râu 28 Jun 2024

Chương 7

Đêm trước Giáng sinh Astorre đến dự buổi dạ tiệc do Nicole tổ chức. Khách mời là các đồng nghiệp, thành viên của nhóm pro bono và “Phong Trào Chống Án Tử Hình” yêu quý của nàng. 
Astorre thích các buổi tiệc tùng. Chàng khóai tán dóc với những người khác biệt với chàng. Thỉnh thoảng chàng gặp những người đàn bà thú vị và có những cuộc tình ngắn ngủi với họ. Mỗi lần chàng hy vọng được yêu là một lần chàng thất bại. Đêm nay, không rụt rè hay bỡn cợt mà với một thái độ vui vẻ Nicole đã nhắc chàng nhớ lại chuyện tình lãng mạn tuổi hoa niên của hai người. 
– Anh đã làm tan nát trái tim tôi khi nghe lời cha tôi rồi sang châu Âu, nàng nói. 
– Chắc thế, Astorre xác nhận. Nhưng nó cũng không ngăn được chị gặp gỡ những anh chàng khác. 
Vì lý do nào đó đêm nay Nicole rất quan tâm dến chàng. Nàng cầm tay chàng tình tứ, nàng hôn lên môi chàng, quấn quýt bên chàng như thể nàng biết rằng chàng sắp sửa thoát khỏi nàng lần nữa. 
Điều đó làm chàng bối rối bởi lẽ con người mềm yếu năm xưa của chàng lại được đánh thức. Nhưng chàng hiểu, quay lại với Nicole sẽ là một sai lầm khủng khiếp tại giao lộ này của đời chàng. Với những quyết định phải thực hiện chàng không thẻ quay lại với nàng được nữa. Cuối cùng nàng dẫn chàng đến với một nhóm người và giới thiệu chàng với họ. 
Đêm nay ở đây có cả một ban nhạc sống và Nicole mời chàng thể hiện chất giọng nay đã khàn nhưng vẫn trầm ấm của chàng. Họ cùng hát một bản ballad trữ tình Italy. 
Khi chàng hát đoạn dạ khúc, Nicole đứng sát vào chàng và nhìn sâu vào mắt chàng tìm kiếm một điều gì đó trong tâm hồn chàng. Rồi, với một nụ hôn buồn chung cuộc, nàng để chàng đi. 
Sau đó, Nicole dành cho chàng một sự ngạc nhiên. Nàng dẫn chàng tới bên một phụ nữ có vẻ đẹp kín đáo cùng đôi mắt xám thông minh. 
– Astorre à, nàng nói, Đây là Georgette Cilke, chủ tịch Phong Trào Chống Án Tử Hình. Chúng tôi thường cộng tác với nhau. 
Georgette bắt tay chàng và khen ngợi giọng hát của chàng. 
– Anh làm tôi nhớ tới một Sinatra còn trẻ. 
Astorre lộ vẻ vui mừng. 
– Cảm ơn, chàng nói. Ông ấy là thần tượng của tôi. Tôi thuộc lòng toàn bộ những bài hát của ông. 
– Chồng tôi cũng là một người rất hâm mộ Sinatra, Georgette nói. Tôi cũng thích âm nhạc của ông ta, nhưng tôi không thích cách ông ta xử sự với mọi người. 
Astorre thở dài vì biết rằng chàng đang ở thế bất lợi trong một cuộc tranh luận, nhưng dù sao chăng nữa, giống như một người lính, chàng không được bỏ cuộc. 
– Vâng, nhưng chúng ta phải tách bạch giữa một nghệ sỹ và một con người. 
Việc Astorre dũng cảm tự vệ làm Georgette kinh ngạc. 
– Chúng ta phải làm vậy sao? Chị hỏi, mắt ánh lên tinh nghịch. Tôi không cho rằng chúng ta phải tha thứ cho thái độ vô ý thức và thô lỗ như vậy. Về bạo lực thì không còn gì để nói. 
Astorre nhận thấy Georgette sẽ không chịu thua trong vấn đề này nên tất cả những gì chàng có thể làm là cất giọng ngâm nga vài đoạn của một trong những bản tình ca nổi tiếng nhất của Chaiman. Chàng nhìn sâu vào đôi mắt chị trong khi vẫn lắc lư theo điệu nhạc, và chàng thấy chị bắt đầu nở nụ cười. 
– Tuyệt lắm, chị nói. Tôi phải công nhận rằng bài hát rất hay. Nhưng tôi vẫn không thể tha cho ông ta được. Chị âu yếm đặt tay lên vai chàng trước khi bị cuốn đi. Từ lúc đó Astorre luôn quan sát chị. Vẻ đẹp tự nhiên và tấm lòng nhân hậu của chị loại trừ bất kỳ hiểm họa nào mà sắc đẹp mang lại. Như tất cả mọi người ở trong phòng, Astorre cũng phải lòng chị chút ít. Tuy nhiên chị dường như thực sự chẳng biết gì về ảnh hưởng mình gây ra cho mọi người. Chị hoàn toàn không phải là loại phụ nữ thích được tán tỉnh. 
Trước đó Astorre đã đọc những tài liệu của Marcantonio về Cilke, một thám tử bướng bỉnh trong việc truy lùng tội phạm, một người có năng lực trong công tác. Chàng cũng đọc được rằng vợ Cilke thực sự yêu ông. Quả là bí ẩn. 
Giữa chừng buổi dạ tiệc Nicole tới bên chàng và nói nhỏ rằng Aldo Monza đang có mặt trong phòng lễ tân. 
– Tôi xin lỗi, Nicole. Astorre nói. Tôi phải đi rồi. 
– Ok, Nicole đáp. Tôi đang hy vọng anh sẽ tìm hiểu Georgette kỹ hơn. Chị ấy là một phụ nữ thông minh nhất và tốt nhất mà tôi từng gặp. 
– Ừ, nàng đẹp thật, Astorre nói, và chàng thầm nghĩ chàng vẫn còn dại gái làm sao – mới chỉ một lần gặp gỡ mà đã mơ mộng như thế rồi. 
Khi Astorre vào phòng lễ tân, chàng thấy Aldo Monza đang ngồi không yên trên một trong những chiếc ghế bành mảnh dẻ nhưng rất đẹp và quý giá của Nicole. Monza nhổm dậy và thì thầm với chàng: 
– Chúng tôi đã tóm được hai thằng anh em sinh đôi. Bọn nó đang chờ cậu. 
Astorre cảm thấy chán nản. Việc đó bắt đầu rồi đây. Thế là chàng một lần nữa được thử thách. 
– Mất bao lâu mới lên tới đó? Chàng hỏi. 
– Ít nhất là ba tiếng. Chúng mình gặp bão tuyết đấy. 
Astorre nhìn đồng hồ. Đã mười rưỡi đêm. 
– Ta đi thôi, chàng nói. 
Khi họ rời tòa nhà tuyết rơi đầy trời, những chiếc ô tô bị tuyết vùi phân nửa. Chiếc xe Buick đen to đùng của Monza đang nằm đợi. 
Monza cầm lái, Astorre ngồi cạnh hắn. Trời rất lạnh, và Monza bật hệ thống sưởi. Dần dần chiếc xe biến thành một cái lò nướng sặc mùi thuốc lá và rượu. 
– Ngủ đi, Monza bảo Astorre. Chúng mình có một chuyến đi dài phía trước và một đêm bận rộn đấy. 
Astorre để mặc thể xác chàng thư giãn và tâm trí chàng chìm vào những giấc mơ. Tuyết che mờ con đường. Chàng nhớ cái nóng như thiêu như đốt của Sicily và khoảng thời gian mười một năm ông Trùm đã chuẩn bị chàng cho nhiệm vụ cuối cùng này. Chàng biết rằng định mệnh của chàng là bất khả kháng. 
Khi Astorre Viola mười sáu tuổi, ông Trùm Aprile thu xếp cho cậu đến London học tập. Astorre không hề ngạc nhiên. Lão đã gửi tất cả con cái mình tới các trường tư và để chúng lớn lên trong trường đại học. Làm như thế không chỉ vì lão tin vào hệ thống giáo dục mà còn vì lão muốn giữ chúng cách ly với việc làm và lối sống của riêng lão. 
Ở London, Astorre sống cùng một đôi vợ chồng khá giả. Họ từ Sicily di cư đến và hình như có một cuộc sống rất dễ chịu ở Anh quốc. Họ ở độ tuổi trung niên và khong có con cái. Họ đã đổi tên mình từ Priola thành Pryor. Trông họ cực kỳ giống người Anh. Khí hậu Anh quốc đã làm nước da họ trở nên trắng trẻo. Cách ăn mặc và đi đứng của họ không còn dáng dấp Sicily. Khi đi làm ông Pryor đội chiếc mũ quả dưa và mang theo chiếc ô gấp, bà Pryor mặc những bộ đầm hoa và đội mũ trùm như những phụ nữ Anh mộc mạc. 
Riêng ở nhà mình họ lại trở về với gốc gác của mình. Ông Pryor mặc những chiếc quần vá víu rộng thùng thình và những chiếc sơ mi đen cổ lọ, trong khi bà Pryor mặc một bộ váy áo đen rất rộng và nấu ăn theo kiểu Italy. Ông gọi bà là Marizza và bà gọi ông là Zu. 
Ông Pryor là chủ tịch hội đồng quản trị của một nhà băng tư nhân, chi nhánh của nhà băng khổng lồ Palermo. Ông đối xử với Astorre như một đứa cháu họ yêu quý của mình nhưng vẫn giữ khoảng cách với cậu. Bà Pryor cho cậu ăn uống thỏa thuê và dành cho cậu tình yêu thương như thể cậu là thằng cháu đích tôn của bà vậy. 
Ông Pryor giao cho Astorre một chiếc xe và một khoản sinh hoạt phí hậu hĩnh. Việc học hành đã được ấn định tại một ngôi trường nhỏ tối tăm gần London chẳng những nổi tiếng về đào tạo các chuyên ngành kinh doanh và ngân hàng mà còn cả trong lĩnh vực nghệ thuật. Astorre ghi tên vào chương trình bắt buộc nhưng niềm say mê đích thực của cậu là học hát và diễn xuất. Cậu hoàn thiện thời khóa biẻu của mình với hai môn tự chọn là âm nhạc và lịch sử. Trong thời gian ở London, cậu quay ra say mê hình tượng môn thể thao săn cáo – không phải cậu mê việc bắn giết hay rượt đuổi mà là vẻ lộng lẫy của nó – những chiếc áo choàng đỏ, những con chó nâu và những chú ngựa ô. 
Tại một trong các lớp diễn xuất, Astorre quen một cô gái trạc tuổi cậu, Rosie Connor. Nàng cực kỳ xinh xắn với một dáng vẻ ngây thơ có thể hủy diệt những chàng trai trẻ và khích động cả những người có tuổi. Nàng là người thông minh và đóng vài vai chính trong các vở diễn do lớp dàn dựng. Astorre ngược lại được phân những vai nhỏ hơn. Cậu cũng khá điển trai nhưng có cái gì đó trong cá tính ngăn cậu giãi bày cùng khán giả. Rosie không hề có vấn đề như vậy. Nàng diễn cứ như đang mời gọi từng khán giả quyến rũ nàng. 
Họ còn học cùng tại các lớp xướng âm, và Rosie ngưỡng mộ giọng hát của Astorre. Hiển nhiên tay giáo viên không được nàng để ý đến, thế là y khuyên Astorre bỏ các khóa học nhạc lý. Ngoài giọng nói dễ chịu ra y chẳng có gì, tệ hại hơn, y chẳng hiểu quái gì về âm nhạc. 
Chỉ sau hai tuần Astorre và Rosie đã là một cặp tình nhân. Trong việc này nàng có phần chủ động hơn cậu, dù lúc đó cậu yêu nàng điên cuồng – yêu điên cuồng như mọi chàng trai mười sáu tuổi. Cậu hoàn toàn quên Nicole. Rosie xem ra ngạc nhiên nhiều hơn là vui mừng. Nhưng vốn là một người tràn đầy sức sống, nàng vẫn thích cậu mỗi khi hai người bên nhau; ở trên giường nàng rất nồng nàn và luôn luôn hào phóng. Một tuần sau khi đã cặp với nhau nàng mua cho cậu một món quà tặng đắt tiền. Một chiếc áo khoác đi săn màu đỏ cùng một chiếc mũ da mềm màu đen và một chiếc roi da rất đẹp. Nàng tặng chúng phần nào cũng chỉ để rỡn chơi. 
Như những cặp tình nhân trẻ vẫn làm, họ kể cho nhau những chuyện đời mình. Rosie kể với cậu rằng cha mẹ nàng sở hữu một khu nhà lớn ở Nam Dacota, rằng nàng đã trải qua thời thơ ấu tại thị trấn Plains tẻ nhạt. Cuối cùng nàng phải năn nỉ xin đi học kịch nghệ ở Anh quốc để thoát khỏi nơi đó. Tuy nhiên tuổi ấu thơ của nàng không hoàn toàn chỉ là mất mát. Nàng đã học cưỡi ngựa, đi săn và trượt tuyết, và ở trường trun học nàng là một ngôi sao của câu lạc bộ kịch nghệ cũng như sân quần vợt. 
Astorre mở lòng mình ra với nàng. Cậu nói cậu muốn trở thành ca sỹ, cậu yêu lối sống Anh với những kiến trúc thời trung cổ, với quang cảnh tráng lệ huy hoàng của nó, với những trận đấu polo 1 và săn cáo. Nhưng cậu không hề hé răng với nàng về ông bác của mình, Trùm Raymonde Aprile, và những lần viếng thăm Sicily của cậu thời thơ ấu. 
Nàng bắt cậu mặc bộ đồ đi săn và rồi lại cởi đồ của cậu ra. 
– Anh đẹp quá, nàng nói. Có lẽ anh là một nam tước người Anh thuở trước cũng nên. 
Đây là vai diễn duy nhất của nàng làm Astorre khó chịu. Nàng thực tâm tin vào sự đầu thai. Nhưng rồi khi làm tình với cậu nàng quên hết sự đời. Có vẻ như cậu chưa bào giờ hạnh phúc đến thế, trừ quãng thời gian sống ở Sicily. 
Nhưng rồi cuối năm ông Pryor gọi Astorre vào phòng riêng để báo cho cậu vài tin xấu. Ông mặc quần dài và áo khoác của nông dân, đội một chiếc mũ lưỡi trai kẻ ca rô kéo trễ xuống tận mắt. 

Ông bảo Astorre: 
– Chúng tôi rất vui được có cậu ở cùng. Bà nhà tôi thích nghe cậu hát. Nhưng bây giờ rất tiếc chúng tôi phải nói lời từ biệt. Ngài Raymonde đẽ yêu cầu cậu phải đến Sicily sống cùng người bạn tốt Bianco của ngài. Có vài việc cậu phải học ở đó. Ngài muốn cậu trở thành một người Sicily. Cậu biết việc đó có ý nghĩa như thế nào rồi. 
Tin này làm Astorre bị sốc nhưng cậu không bao giờ thắc mắc về những gì cậu phải chấp hành và mặc dù mong mỏi được trở lại Sicily, cậu vẫn không thể nào chịu đựng nỗi ý nghĩ sẽ không bao giờ gặp lại Rosie. Cậu hỏi ông Pryor: 
– Nếu như mỗi tháng tôi đến London một lần, liệu tôi có thể về ở cùng hai bác? 
– Tôi sẽ bị mếch lòng nếu cậu không làm thế, ông Pryor nói. Nhưng tại sao hả? 
Astorre kể về Rosie, bày tỏ tình yêu của cậu với nàng. 
– À, ông Pryor buông một tiếng thở dài nhẹ nhõm. Cậu thật may mắn được chia tay với người mình yêu. Sướng thật. Còn cô bé đáng thương đó, làm sao cô ấy sẽ chịu đựng được đây. Nhưng cứ đi đi, đừng lo lắng gì. Cứ để lại cho tôi tên và địa chỉ, tôi sẽ trông nom cô ấy. 
Astorre và Rosie có một cuộc chia tay đầy nước mắt. Cậu hứa mỗi tháng sẽ bay về London một lần để gặp nàng. Nàng hứa sẽ không bao giờ nhìn một người đàn ông nào nữa. Đó là một cuộc chia xa đầy thú vị. Astorre lo lắng về nàng. Ngoại hình của nàng, tính tình nhí nhảnh của nàng, nụ cười của nàng luôn luôn mời chào quyến rũ. Chính những phẩm chất mà vì chúng cậu đã yêu nàng lại luôn luôn là một mối nguy hiểm. Cậu đã thấy nó nhiều lần. Như những người đang yêu khác, cậu tin rằng tất cả đàn ông trên đời đều thèm muốn người đàn bà cậu yêu, rằng họ cũng bị sắc đẹp, trí thông minh và vẻ hoạt bát của nàng hấp dẫn. 
Ngay ngày hôm sau Astorre đáp máy bay đi Palermo. Bianco đón cậu. Lão đã thay đổi nhiều. Người đàn ông to lớn bây giờ mặc bộ đồ vét bằng lanh cắt may và đội một chiếc mũ trắng rộng vành. Lão ăn mặc như vậy cho hợp với địa vị của mình vì bây giờ cosca của Bianco thống lĩnh phần lớn công cuộc xây dựng tại chiến địa Palermo. Mảnh đất này đã khấm khá lên nhưng lại phức tạp hơn nhiều so với ngày xưa. Lão phải mua chuộc cá quan chức thành phố và cả ở Rome, đồng thời phải bảo vệ lãnh thổi của mình trước các cosca thù địch như cosca hùng mạnh Corleone. 
Octavious Bianco làm Astorre bối rối. Lão nhắc lại vụ bắt cóc nhiều năm trước rồi nói về chỉ thị của ông Trùm Raymonde. Astorre phải được huấn luyện thành vệ sỹ của Bianco và phải học các hợp đồng kinh doanh. Việc này sẽ kéo dài ít nhất năm năm, đến lúc đó Astorre hẳn đã trở thành một người Sicily chính cống, hoàn toàn xứng đáng với niềm tin của ông bác cậu. Cậu có một lợi thế ban đầu: Vì đã tới đây hồi nhỏ nên cậu có thể nói thổ ngữ Sicily như tiếng mẹ đẻ. 
Bianco sống trong một biệt thự khang trang ngay tại ngoại ô Palermo cùng những người hầu và một đội bảo vệ suốt ngày đêm. Nhờ giàu sang và đầy quyền lực, giờ đây lão có quan hệ gần gũi với tầng lớp thượng lưu Palermo. Ban ngày Astorre được học bắn súng và chất nổ, được hướng dẫn cách giết người bằng dây thừng. Tối tối Bianco đưa cậu đi gặp gỡ bạn bè tại tư gia của họ và tại các quán cà phê. Thỉnh thoảng họ tới dự các vũ hội nơi Bianco là bồ bịch của những bà góa giàu có và Astorre hát những bản tình ca mượt mà cho đám con gái họ. 
Cái làm Astorre ngạc nhiên nhất là một vụ hối lộ công khai các quan chức cấp cao ở Rome. 
Vào một ngày chủ nhật, bộ trưởng bộ Tái thiết đến thăm và vui vẻ, không hề có một biểu hiện ngượng ngập nào, cầm lấy chiếc cặp đựng đầy tiền mặt. Ông ta cảm on Bianco hết lời. Bằng một giọng đầy hối lỗi ông ta giải thích rằng một nửa số tiền phải nộp cho đích thân ngài thủ tướng Italy. Sau đó, khi Astorre và Bianco trở về nhà, Astorre thắc mắc liệu chuyện đó có thực hay không. 
Bianco nhún vai. 
– Một nửa thì không, nhưng ta hy vọng cũng có chút ít. Âu cũng là vinh dự được biếu ĐỨC ÔNG một ít tiền tiêu vặt. 

Google photos

Năm sau Astorre thường tới London thăm Rosie, mỗi lần cả đi lẫn về hết một ngày đêm. Đó là những đêm tràn đầy hạnh phúc đối với cậu. 
Cũng năm đó cậu lần đầu tiên được thử lửa. Một cuộc ngưng chiến được sắp đặt giữa Bianco và cosca Corleone. Thủ lĩnh đám Corleone tên là Tosci Limona, một người mắc bệnh ho nặng. Limona có cái nhìn dữ tợn và cặp mắt sâu. Ngay cả Bianco cũng ít nhiều e sợ lão.
Cuộc hội kiến giữa hai thủ lĩnh phải diễn ra trên phần đất trung lập và có sự góp mặt của một trong những thẩm phán cấp cao nhất Sicily. 
Vị thẩm phán, được gọi là “Sư tử xứ Palermo” rất tự hào về những việc làm đồi bại của mình. Y giảm án cho những tên mafia phạm tội và từ chối cho phép các cuộc điều tra được tiếp tục. Y không hề giấu diếm tình bạn của y với cosca Corleone và Bianco. Y có một khu dinh thự đồ sộ nằm cách Palermo mười dặm. Và cuộc hội kiến được trù tính sẽ diễn ra ở đó nhằm bảo đảm rằng bạo lực sẽ không được sử dụng. 
Hai thủ lĩnh được phép mang theo mỗi người bốn vệ sỹ. Đồng thời họ phải trả lệ phí cho “Sư tử” vì đã thu xếp cuộc hội kiếm và phải chịu trách nhiệm về việc đó, và đương nhiên cả vì phải thuê nhà y. 
Với bờm tóc trắng rậm rịt gần như che kín khuôn mặt, “Sư tử” quả là hình ảnh về ngành luật đáng tôn kính. 
Astorre chỉ huy nhóm vệ sỹ của Bianco, và mối thịnh tình giữa hai thủ lĩnh đã gây ấn tượng với cậu. Limona và Bianco dành cho nhau những cái ôm hôn và bắt tay rõ chặt. Họ cười và thì thầm thân mật trong suốt bữa tối thịnh soạn mà “Sư tử” đã khoản đãi họ. 
Vì thế cậu rất ngạc nhiên khi bữa tiệc kết thúc, chỉ còn Bianco và cậu bên nhau, Bianco bỗng nói với cậu, 
– Chúng ta phải hết sức cẩn thận. Thằng con hoang Limona này đang tính hạ tất cả chúng ta đấy. 
Và hóa ra Bianco đã đúng. 
Một tuần sau, một thanh tra cảnh sát có tên trong danh sách trả lương của Bianco bị ám sát khi rời nhà cô bồ của mình. Hai tuần sau vụ đó, một trong những nhân vật nổi bật của xã hội ở Palermo, một khách hàng trong lĩnh vực xây dựng của Bianco, bị giết bởi một nhóm người đeo mặt nạ. Bọn người này xông vào nhà và hạ thủ y bằng nhiều phát đạn. 
Bianco đáp lại bằng việc tăng cường thêm vệ sỹ và áp dụng những biện pháp đặc biệt để bảo vệ những chiếc xe lão thường sử dụng. Cánh Corleone nổi tiếng về kỹ năng sử dụng thuốc nổ nên cuối cùng Bianco cũng chẳng muốn đi đâu xa, chỉ quanh quẩn nơi biệt thự của lão. 
Nhưng rồi một ngày Bianco phải đi Palermo để hối lộ hai viên chức cấp cao của thành phố và lão quyết định ăn tối tại một nhà hàng yêu thích của mình. Lão chọn một chiếc Mercedes và một lái xe kiêm vệ sỹ hàng đầy. Astorre ngồi ở băng sau cùng lão. Một chiếc xe chạy trước, một chiếc chạy sau, mỗi xe ngoài tài xế còn có hai người đàn ông có vũ trang. 
Khi họ đang đi trên con đường rộng rãi có trồng cây ở giữa thì bất thình lình một chiếc xe mô tô chở hai người từ một lề đường lao rút ra. Tên ngồi sau cầm khẩu súng trường Kalashnikov nhả đạn về phía chiếc xe Mercedes. Nhưng Astorre đã kịp đẩy Bianco xuống sàn xe và bắn trả khi chiếc môtô lao vút qua. Nó lăn xuống phía bên kia đường rồi biến mất. 
Ba tuần sau, một đêm tối trời, năm gã đàn ông đã bị bắt và đưa về biệt thự của Bianco, ở đây chúng bị trói chặt và tống vào hầm chứa. 
– Chúng là bọn Corleone đấy, Bianco bảo Astorre. Hãy xuống hầm chứa cùng ta. 
Những kẻ xấu số bị trói theo kiểu nông dân của Bianco, chân tay bị khóa chặt. Những người gác có vũ trang đứng bên trên chúng. Bianco giật lấy một trong những khẩu súng của đám lính gác rồi không nói không rằng bắn vào gáy cả năm. 
– Ném chúng ra đường phố Palermo, lão ra lệnh. Sau đó lão quay sang Astorre, khi cậu đã quyết định giết người thì không được nói năng gì với chúng. Điều đó sẽ làm cho cả hai bên đều bối rối. 
– Họ có phải là bọn đi mô tô không? Astorre hỏi. 
– Không, Bianco trả lời. Nhưng chúng sẽ được việc đấy. 
Và đúng như vậy. Từ đó trở đi hòa bình đã ngự trị giữa hai cosca Palermo và Corleone. 
Đã hai tháng rồi Astorre chưa quay lại London thăm Rosie. Một sớm cậu nhận được điện thoại của nàng. Cậu đã cho nàng số điện thoại chỉ để sử dụng trong trường hợp khẩn cấp. 
– Astorre, giọng nói của nàng rất bình tĩnh. Anh có thể về ngay được không? 
– Nói anh nghe có chuyện gì vậy? Astorre hỏi. 
– Em không thể nói qua điện thoại được. Rosie đáp. Nhưng nếu anh thực sự yêu em, anh sẽ về. 
Khi Astorre xin phép Bianco cho cậu lên đường, lão nói, mang tiền đi. Rồi lão đưa cho cậu một gói tiền bảng to tướng. 
Khi Astorre gõ cửa căn hộ của Rosie, nàng cho cậu vào rất nhanh rồi cẩn thận khóa cửa lại. Mặt nàng trắng bệch, nàng khoác một chiếc áo choàng rộng thùng thình trước đây cậu chưa từng nhìn thấy. Nàng trao cho cậu một nụ hôn chứa đựng lòng biết ơn. 
– Anh sẽ giận em mất thôi, nàng buồn rầu nói. 
Lúc đó Astorre nghĩ rằng nàng có mang, và cậu nói nhanh. 
– Em yêu, anh không bao giờ giận em cả. 
Nàng ôm chặt lấy cậu. 
– Anh đi biền biệt hơn một năm. Em đã cố gắng chờ đợi. Nhưng anh đi lâu quá. 
Ngay lập tức Astorre hiểu ra vấn đề. Cậu như bị dội một gáo nước lạnh. Một lần nữa lại là sự phản bội. Nhưng ở đây còn có gì hơn thế nữa. Tại sao nàng lại muốn cậu về ngay như vậy chứ? 
– Được rồi, cậu nói, tại sao anh lại phải về? 
– Anh phải giúp em, Rosie nói, rồi nàng dẫn cậu vào phòng ngủ. 
Có một cái gì đó trên giường. Astorre lật tấm khăn trải giường ra và thấy một người đàn ông trung niên đang nằm ngửa, hoàn toàn trần truồng nhưng với một dáng vẻ trang nghiêm, một phần là bởi chòm râu dê bạc trăng, nhưng hơn cả có lẽ bởi những đường nét tao nhã trên mặt ông ta. Cơ thể ông ta gầy gò, có một mớ lông rậm rì vắt ngang trên ngực, và lạ lùng hơn cả, ông ta đeo một chiếc kính mạ vàng và trên đôi mắt vẫn mở trừng trừng. Mặc dù cái đầu quá to so với thân hình nhưng ông ta vẫn là người điển trai. Ông ta hình như đã chết tuy trên người không hề có thương tích. Chiếc kính bị cong và Astorre cầm lên nắn lại cho thẳng. 
Rosie thì thầm 
– Chúng em đang làm tình thì anh ấy lên cơn co thắt dữ dội. Hẳn là anh ấy bị bệnh tim. 
– Chuyện xảy ra khi nào? Astorre hỏi. Cậu hơi bị choáng. 
– Đêm qua, Rosie trả lời. 
– Sao em không gọi cấp cứu? Astorre hỏi. Đó có phải là lỗi của em đâu? 
– Anh ấy đã có vợ và có lẽ em cũng có lỗi. Bọn em xài amyl nitrate. Anh ấy có trục trặc trong việc đạt khoái cảm. Nàng nói ra điều đó mà không hề bối rối. 
Sự bình tĩnh của nàng làm Astorre kinh ngạc. Nhìn vào xác chết, cậu có một niềm thương cảm kỳ lạ, bống thấy cần phải mặc đồ cho nó. Ông ta quá già để mà trần truồng, ít nhất cũng năm mươi – cứ để thế này thật không phải. Cậu hỏi Rosie với một thái độ ngờ vực của giới trẻ. 
– Em cần cái gì ở thằng cha này? 
– Anh ấy là giáo sư sử học của em, Rosie nói. Anh ấy thực ngọt ngào và tốt bụng. Đây chỉ là một việc bốc đồng. Mà cũng chỉ mới là lần thứ hai. Em cô đơn quá. Nàng ngừng lại, rồi nhìn thẳng vào mắt cậu, anh phải giúp em. 
– Có ai biết lão ta hú hý với em không? Astorre hỏi. 
– Không. 
– Anh vẫn nghĩ chúng mình phải gọi cho cảnh sát. 
– Không được. Nếu anh sợ em sẽ tự lo liệu việc này. 
– Thay đồ đi, Astorre nói với một cái nhìn nghiêm khắc. Cậu kéo tấm ra đắp lên xác người đàn ông. 
Một tiếng sau họ có mặt tại nhà Pryor, đích thân ông ra mở cửa. Không nói một lời, ông dẫn họ vào phòng riêng và chăm chú lắng nghe câu chuyện của họ. Ông rất có cảm tình với Rosie. Ông vỗ nhẹ tay nàng an ủi, và thế là Rosie òa khóc. Pryor bỏ mũ ra rồi tắc lưỡi thông cảm. 
– Đưa chìa khóa căn hộ của cháu cho ta, ông bảo Rosie. Đêm nay ở lại đây. Ngày mai cháu có thể về nhà và mọi thứ sẽ đâu vào đấy như cũ. Người bạn của cháu lúc đó đã biến mất. Cháu sẽ ở lại đây một tuần trước khi về Mỹ. 
Ông chỉ phòng ngủ cho họ cứ như thể ông cho rằng những gì vừa xảy ra chẳng hề làm hoen ố cuộc tình của họ. Và rồi ông bỏ họ lại để đi lo công việc của mình. 
Astorre nhớ mãi đêm hôm đó. Cậu nằm trên giường với Rosie, an ủi nàng, lau nước mắt cho nàng. 
– Đấy mới chỉ là lần thứ hai, nàng thì thầm với cậu. Em chẳng cần gì cả. Chúng mình thân thiết với nhau thế cơ mà. Em nhớ anh. Em chỉ ngưỡng mộ trí tuệ của anh ấy, và rồi một đêm chuyện đó xảy ra. Anh ấy không đạt được khoái cảm, mà em ghét phải nói điều này về anh ấy, nhưng anh ấy thậm chí không thể duy trì tình trạng cương cứng. Thế là anh ấy đòi dùng nitrate. 
Nàng tỏ ra quá tổn thương, quá đau khổ, quá suy sụp tinh thần bởi toàn bộ tấn bi kịch này. Astorre chỉ còn nước an ủi nàng. Nhưng có một cái gì đó kẹt lại trong tâm trí cậu. Nàng đã ở trong nhà cùng một xác chết hơn hai mươi tư tiếng đồng hồ cho đến khi cậu tới. Đấy là một điều bí ẩn, và nếu đã có một điều bí ẩn thì có thể còn những bí ẩn khác. Nhưng rồi cậu vẫn lau sạch nước mắt nàng, hôn lên má nàng để làm nàng yên lòng. 
– Anh có còn gặp lại em không? Nàng hỏi cậu, đồng thời nàng áp mặt vào vai cậu, làm cho cậu cảm nhận được cơ thể mềm mại của nàng. 
– Tất nhiên anh sẽ gặp lại em, Astorre đáp. Nhưng trong thâm tâm cậu không dám chắc lắm. 
Sáng hôm sau ông Pryor lại xuất hiện và bảo Rosie rằng đã có thể trở về căn hộ của nàng. Ông nồng nhiệt nhận cái ôm tỏ lòng biết ơn của Rosie. Một chiếc xe của ông đang chờ nàng. 
Sau khi nàng đi rồi, ông Pryor, đường hoàng với chiếc mũ quả dưa và cây dù xếp, đưa Astorre ra sân bay. 
– Đừng lo lắng về cô gái, ông Pryor nói. Chúng tôi sẽ quan tâm đến tất cả mọi cái. 
– Cho tôi biết đi, Astorre đề nghị. 
– Tất nhiên rồi. Đây là một cô gái tuyệt vời. Một nữ Mafiso. Cậu phải tha thứ cho chút tội lỗi của cô ấy.

——————————–

1Polo: Môn thể thao người chơi ngồi trên ngựa sử dụng những câu sào dài để đưa banh vào gôn.


Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 27 Jun 2024

Phần 2.

Chúng tôi sống chung nhà với các đội cảnh-sát đặc-biệt và trung-ương tình-báo. Chiều qua, Đằng Giao và tôi đã chứng-kiến sinh-hoạt ca-cóng ở bếp ngoài trời sát hàng rào kẽm gai. Thấy anh em xào nấu thức ăn, chiên lạp-xưởng thật hấp-dẫn. Chúng tôi ra đi, kể như giỏ thực-phẩm đã xác-xơ, đành đứng xem mà học-tập kinh-nghiệm ca-cóng. Ở TH6, lửa chỉ được phép nổi buổi chiều khi các đội tan lao 1 về trại. Tù-nhân, mỗi người một bếp, nhóm lửa vội-vàng, nấu-nướng thật lẹ để kịp đem vào nhà. Rồi rửa mặt rửa tay chờ điểm danh. Một tiếng đồng-hồ cho các dịch-vụ lấy cơm, chia cơm,ca-cóng. Những tù-nhân không ca-cóng thì ăn cơm ngoài sân, ca-cóng thì đem vô, đợi cửa tù khóa sau lúc điểm danh mới thong-thả ăn uống. Chủ nhật được nghỉ, tù-nhân sinh-hoạt ca-cóng hai lần. Tha hồ nấu chè, nướng bánh và tụ tập enioy, đàn sáo, nhạc vàng…
 Ca là cái ca, ai cũng biết. Ca nhôm, ca sắt, ca nhựa vẫn là ca. Cóng người miền Nam gọi là lon. Kỳ thủy, hộp sữa bò đặc uống hết mở nắp vất đi, người miền Bắc gọi là cái ống bơ. Có nơi gọi là ống bơ. Ống bơ dùng để đong gạo. Riết rồi, bất cứ một hộp sắt, hộp thiếc nào to nhỏ, đều được gọi là ống bơ. Ống bơ rỉ thì chán lắm. Hát như ống bơ rỉ! Cái lon sữa bột Guigoz cũng là…ống bơ, là cóng bơ. Dưới chế-độ cộng-sản, vì toàn dân đói nên thiếu hơi, nhiều danh-từ được giản-lược half and half. Cóng bơ còn một tiếng cóng. Bơ ở thiên đường mù-mịt, bỏ bơ đi là đúng. Bỏ bơ là loại bỏ tư-bản, là chống đế-quốc, là vô-sản khoai sắn “cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau”… Cái cóng đa-dụng và đa-năng ở trại lao-cải là cóng Guigoz.
 Hãng chế-tạo sữa bột Guigoz đã đi vào lịch-sử đấu-tranh của hai miền Nam-Bắc. Trên thế-giới, có lẽ, chỉ có nước Việt Nam bốn nghìn năm văn-hiến giầu và nghèo bình-đẳng… lon Guigoz. Nhà nào cũng có lon Guigoz. Vì lon Guigoz bán ngoài thị-trường vỉa hè. Đựng đường, đựng mỡ, đựng bột thật an toàn. Đựng cà-phê thì khỏi lo bay mất hương thơm. Thuở ta học đòi Mỹ, công-chức làm việc thông-tằm, lon Guigoz biến thành thứ gà-mèn lý-tưởng, đủ bữa cơm trưa ăn ngay tại cơ- quan. Sau 30-4-1975, lon Guigoz đắt giá. Một cái trị-giá hai lá cờ đỏ sao vàng tặng thêm chân-dung Bác, Mác và Lê. Lần đầu tiên trong lịch-sử cộng-sản, lon Guigoz hạ chủ-nghĩa và lãnh-tụ. Vì chủ-nghĩa và lãnh-tụ bắt quá nhiều tù. Và tù-nhân cần lon Guigoz làm cóng. Ca cóng, tôi không hiểu chính-xác xuất-xứ của nó. Người nói: Anh em cải-tạo miền Bắc đem về Nam. Kẻ bảo: Việt cộng nó gọi vậy mình hài hước gọi theo, riết đâm quen. Điều buồn cười là, khi nổi lửa nấu bếp: đa-số tù-nhân nấu bằng nồi. Vậy thì ca-cóng là một bí số- như TH6- là bí danh của Nấu Nướng, như Lý Thụy, Anh Ba, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh, Nguyễn Tất Thành, là bí danh của Nguyễn Sanh Cuông.
 Tù-nhân kiếm giây kẽm làm cái quai cho cóng. Tùy theo sự khéo tay của mỗi người. Dở nhất là đục lỗ luồn giây rồi bẻ quặp lại. Ra hiện-trường lao-động, mỗi tù-nhân xách một cái cóng đựng nước đun sôi. Ở TH6, cóng không được phép nấu ngoài bãi. Tù-nhân nấu bằng cóng thường là tù-nhân ăn một mình. Ăn chung thì vui nhưng nếu trong đám bạn ăn chung có người trốn trại, sẽ gặp cơ-man rắc rối, sẽ tự kiểm, tự khai mệt phờ. Cóng nấu nướng, nắp phải đục vài cái lỗ bốc hơi. Buổi chiều, anh em vất-vả kiếm củi, nổi lửa, ta chỉ việc đổ lưng cóng nước, bỏ vô dúm tôm khô, chút bột ngọt, tí nước mắm và thả vài lá mồng tơi, nếu ta kiếm được, rồi đậy chặt nắp, ta dùng sợi giây kẽm dài móc cái quai lon, nấu nhờ ngọn lửa tạt ra của thiên hạ. Đợi nó sôi tan nhừ tôm, ta mở nắp cóng, thẩy nắm mì vụn vào. Thế lả ta có cóng mì cải-thiện bữa ăn.
 Sinh-hoạt ca cóng thật sinh-động ở những chiều tù. Tôi sẽ quan-sát kỹ-lưỡng hơn. Để sáng-tạo một phương-pháp nấu-nướng thích-ứng với thời-gian hạn-hẹp của trại. Sáng nay, chúng tôi được dẫn đi tắm. Rồi về nhận quần áo tù, viết lý-lịch. Lại lý-lịch! Mỗi tù-nhân viết một lý-lịch mới. Lý-lịch này đầy đủ chi tiết. Buổi chiều, chúng tôi lên hội-trường học-tập Nội-quy trại, Bốn tiêu-chuẩn cải-tạo và hai mươi nếp sống văn-hoá mới. Nhờ học-tập, tôi biết TH6 có hai khu. Khu A là nơi tôi đang ở 2. Khu B chả rõ nơi nào. Nội-quy trại có nhiều điều khác hẳn Nội-quy nhà tù. Một điều đáng suy-nghĩ: “Cán-bộ không được phép đánh đập trại viên và cấm-chỉ trại viên nịnh hót, mua chuộc cán-bộ”. Người lên lớp chúng tôi là Trưởng trại A (Phó giám-thị TH6) Nguyễn Xuân Bến. Chúng tôi học-tập hai ngày liên tiếp. Học xong, chúng tôi sẽ được biên-chế đội và sẽ cuốc xẻng, dao búa lao-động trả nợ… đời ngụy! Nhưng, buổi chiều ngày thứ tư của trại-viên mới, xẩy ra một vụ trốn trại ngoạn-mục. Bốn sĩ-quan cảnh-sát đặc-biệt đã biến dạng khi đội điểm danh về suối tắm. Súng nổ báo động. Vệ-binh toàn trại súng ngắn, súng dài lao vào cuộc săn đuổi. Các đội tan lao về sớm đang nổi lửa ca-cóng bị dập tắt lửa, xua hết vô nhà. Người ta nhắm hướng núi Mây Tào mà truy-lùng kẻ trốn trại.
 Lần đầu tiên, từ thành-lập TH6, tù-nhân chính-trị trốn trại. Chỉ có hai loại tù, ở trại cải-tạo: Tù chính-trị và tù hình-sự. Tù chính-trị gồm sĩ-quan quân-đội và cảnh-sát, hạ-sĩ-quan Trung-ương Tình-báo, an-ninh quân-đội, công-chức cao cấp, nghị-sĩ, dân-biểu, nghị-viên, thẩm-phán, phản-động, vượt biên, nhà văn, nhà báo. Tù hình-sự gồm lưu manh, trộm cắp, lường gạt, hiếp-dâm và tiền-án bất hảo. Đã xẩy nhiều vụ trốn trại thành-công ở TH6 A và những kẻ liều mạng đều là du-đảng. Có một vụ hi-hữu được tù kể lại như huyền-thoại. Một tên du-đãng trốn trại khác đời. Nó tới chuồng gà bóp cổ hai con, vào bếp trại nhóm lửa đun nước làm lông rồi luộc cả hai con gà. Nó ăn hết một con, vất lại cái đầu và cặp chân. Nó ra vườn rau xanh nhổ thêm ba cây cải bẹ rồi mới dông tuốt. Nhưng hình-sự trốn trại không quan-trọng bằng chính-trị trốn trại. Lực-lượng võ-trang TH6 truy-lùng suốt đêm. Chúng tôi chưa biết kết-quả thì, ngay sáng hôm sau, chúng tôi nhận lệnh tập-trung ngoài sân với tất cả hành-lý.
 Và chúng tôi rời TH6 A. Người ta không muốn chúng tôi dao-động chuyện trốn trại. Ra ngoài cổng trại, có hai lối. Rẽ trái thì về Bà Rịa. Rẽ phải thì sang Long Khánh. Chúng tôi xếp hàng đôi, rẽ phải. TH6 B nằm trên đường qua Long Khánh. Người ta bảo chúng tôi vào khu B. Qua chiếc cầu gỗ bắc ngang dòng suối, chúng tôi đi lung-tung. Vệ-binh áp tải và quản-giáo dẫn độ không chú-ý đến sự vô trật-tự của tù-nhân. Chúng tôi không bị còng tay vì đi bộ và lưng đeo nặng ba-lô, tay xách trĩu giỏ. Tôi chợt nhớ bài hát Sơn La của Đỗ Nhuận diễn tả cảnh tù-nhân bị phát-vãng thời nô-lệ Pháp. “Sơn La âm-u, núi khuất trong sương mù. Lá rơi xuống suối, gió đưa vù….Đoàn tù tha-hương, cất bước đi trên đường…” Chúng tôi đang là “đoàn tù tha-hương, cất bước đi trên đường, đi trên đường cách-mạng vô-sản thành-công, đi trên đường giải-phóng nô-lệ, đi trên đường ưu-việt của chủ-nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng, đi trên đường dẫn đến đỉnh cao của trí-tuệ, dẫn đến cái nôi của loài người.
 Đã tới khúc cổ-thụ bị chôn mìn, nổ bật gốc, cây lớn bị cưa gãy nằm rạp chắn lối. Chúng tôi phải gỡ cành, dọn đường rồi leo qua các thân cây mà đi. Mỗi quãng bị khai quang, chúng tôi tháo bỏ hành-lý. Khai quang xong, lại mang hành-lý lên đường . Xuyên Mộc mang một ý-nghĩa nào? Nếu là xuyên qua gỗ, chúng tôi đã xuyên qua gỗ. Bài học lao-động thứ nhất toát mồ-hôi, rời tay, rã cẳng . Hai cây số rừng 3 cho tù-nhân Chí Hoà thật thấm-thía. Khi mặt trời cao gần đỉnh đầu, chúng tôi ra khỏi quãng đường thử-thách lao-cải đầu tiên. Và đi một khúc đường quang, chúng tôi đến TH6 B.
 TH6 B là mật-khu của Việt cộng suốt cuộc chiến-tranh xâm-lăng miền Nam. Người dân thiểu-số đã có sẵn cái tên cho vùng này: Sa Ác. Sa Ác là rơi vào chỗ ác độc, rơi vào chỗ chết. Trần Bạch Đằng, tên cúng cơm Trương Gia Triều (đã bỏ Kỳ, thực ra là Trương Gia Kỳ Triều), bí danh Tư Ánh, tác giả Chân dung một quản-đốc, ký bút hiệu Nguyễn Hiểu Trường (Hưởng Triều đó), đăng theo kiểu feuilleton trên nhật-báo Sàigòn Giải Phóng, đã hồi tưởng khá nhiều về những tháng ngày chuyên chở vũ-khí từ Vũng Rô vào Nam, qua các nhánh sông để ghé sông Ray. Sông Ray nằm sát Sa Ác, TH6 B. Nó là biên-giới Xuyên Mộc – Long Khánh. Tôi không biết chính-xác nó bắt nguồn từ đâu. Có người bảo nó là nhánh nhỏ của sông La Ngà. Có người bảo nó khởi nguồn từ chân núi Mây Tào. Chắc chắn nhất, nó chẩy qua Sa Ác TH6 B. Mà TH6 B là mật-khu an-toàn của Việt cộng. Vũ-khí Hà-nội tiếp tế cho các lực-lượng võ-trang miền Đông đã đổ vào mật-khu này. Do đó, TH6 B đã là vùng oanh-kích tự-do của không-lực Việt Nam Cộng-hoà và Mỹ. Quân-đội Úc-đại-lợi đặc-trách an-ninh tỉnh Phước Tuy đã thả vô TH6 B những toán biệt-kích thám-báo. Dấu chân của Kangourou vẫn còn khi tôi tới (xin đọc những trang sau).
 Sông Ray đầy vơi theo hai mùa mưa nắng. Mùa mưa, nước đỏ ngầu, chẩy xiết và dâng cao mấp-mé sân trại. Mùa nắng, nước trong vắt, chỗ sâu nhất khoảng nửa thước, chỗ nông nhất xe hơi có thể vượt qua. Trại lao-cải TH6 B bên bờ sông Ray, chung-quanh chằng chịt hố bom lớn và những trái bom chưa kịp nổ. Nhiều cánh rừng xơ-xác vì bom lửa. TH6 B “kiến-trúc” sơ-sài hơn TH6 A. Có hai khu-vực. Khu của công-an coi tù và khu của tù-nhân. Biên-giới hai khu là con đường chạy thẳng sang Long Khánh. Khu của công-an gồm ba dẫy: Dẫy của vệ-binh, dẫy của quản-giáo và dẫy của các chức-sắc lãnh-đạo trại và văn-phòng hành-chính. Sau ba dẫy là nhà bếp, nhà kho và nhà ăn của toàn bộ cai tù lớn nhỏ. Khu của tù-nhân mới lèo-tèo ba căn nhà và một căn đang xây cất. Hàng rào kẽm gai vây quanh khu này còn thấp và thưa. Tù-nhân vỏn-vẹn bốn đội, một rau xanh, một nông-nghiệp, một lâm-sản, một xây cất. Tất cả thuộc tù hình-sự. Chúng tôi là tù chính-trị trước tiên của TH6 B. Tôi nhớ ở Chí Hoà ra đi, tôi đếm đúng 5 chiếc xe chở heo. Đến TH6 A chỉ còn 2 chiếc. Vậy thì, chúng tôi, 100 tù-nhân chính-trị “tiền-phong” của trại TH6 đã được dẫn qua cổng đoạn-trường có cái biển gỗ nền đỏ chữ vàng treo cao, bên ngoài viết: Không có gì quý hơn độc-lập tự-do, bên trong viết: Lao-động là vinh-quang!
 Chúng tôi bị tách thành hai nhóm, ngồi xếp hàng đôi giữa sân nắng, hành-lý để một bên. Lại khai sơ-yếu lý-lịch. Thủ-tục nhập trại mới mà. Tôi đã quá quen thủ-tục này. Quen đến độ, có thể, thuộc lòng lý-lịch của mình cả trong chiêm-bao. Phơi nắng gần say nắng thì chúng tôi “khăn gói quả mướp nối nhau vào một căn nhà…mới. Từ nắng chói chang vào bóng râm, tôi không nhìn thấy gì, ít nhất, một phút. Tôi hiểu cơ-thể tôi đã hao mòn tháng năm tĩnh ở nhà tù. Tôi nhà văn 42 ký lô, được độc-giả yêu mến tặng biệt danh Tăm Tre Việt Nam, đã trải tấm thân còm-cõi của mình trên những tuyến đường Nhà Mình – Sở Công An, Sở Công An – Đề-lao Gia Định. Đề-lao Gia Định – Chí Hòa ngót nghét ba năm. Ba năm- đường rầy – tôi nằm bất-động chịu đựng từng chuyến xe lửa oan-nghiệt kéo dằng-dặc những toa thù-hận nghiến lên. Chưa chết, dĩ-nhiên. Cái hình hài xơ-xác, bấy nát, lỗ-chỗ những vết đâm ấy, tôi lết vào cái động của trại tập-trung Sa Ác. Mắt tôi bị quáng tưởng chừng đã bị mù. Không, không nên mù, không thể mù. Cần sáng, cần rực sáng để chiếu rọi những tia lửa tím vào cái bóng tối âm-u của thù-hận với ước-mơ khám-phá niềm bí-ẩn của đời sống.
 Tôi đã hết hoa mắt. Căn nhà tôi vừa vào tiến-bộ hơn các căn nhà ngoài TH6 A. Cũng hai tầng, nhưng sàn bằng gỗ xẻ ghép khít và cột lớn cách các khoang đục những bậc thang để lên xuống dễ dàng. Lối “kiến-trúc” y hệt nhà khu A. Giữa là hành-lang trống, nền đất. Tường nhà khu B đan bằng tre và trét đất đỏ trộn mạt-cưa. Cầu tiêu chưa…tiến bộ. Nghĩa là, nó đứng riêng rẽ với ba nguồn thác cách-mạng văn-hóa, nông-nghiệp và khoa-học kỹ-thuật. Chúng tôi “hồ-hởi phấn-khởi” khắc-phục” bữa bo-bo buổi trưa. Nhà bếp đã không được báo trước có tù mới. TH6 B chưa có Đội cấp-dưỡng. Tù-nhân phụ-trách bếp-núc hơn 10 người hợp thành một tổ. Thêm Tổ vệ-sinh và Tổ thông-tin văn-hóa. Tổ thông-tin văn-hóa vỏn-vẹn hai mạng, kiêm-nhiệm cả trật-tự. Vậy văn-hóa là Sanh, trật-tự là Hoa, hỗn danh Hoa-nẫu. Cả hai đều can tội trộm cắp.
 “Nhà” thông-tin văn-hóa Sanh (tôi không biết họ của nó) nhỏ thó. Khuôn mặt nó gồ-ghề, lồi-lõm. Cặp mắt nó sâu hoắm, trắng rã. Đằng Giao ví bọn công-an coi tù là quân dữ. Gặp thằng văn-hoá Sanh, Đằng Giao lại ví công-an coi tù là phát-xít Đức để gọi thằng văn-hoá Sanh là Pháp-gian. Nó giống hệt bất cứ một tên Pháp-gian nào trong các phim diễn-tả thời Đức chiếm đóng Pháp. Trông nó gian-manh ra mặt. Nó chỉ-huy Hoa-nẫu (dân Quảng Ngãi). Sanh-gian và Hoa-nẫu đại-diện cán-bộ trực trại giáo-dục chúng tôi bài học “nhập gia tùy tục”. Chúng tôi được hân-hạnh sống chung phòng với Đội rau xanh mà đội trưởng là Hoàng xì coọc, đội phó là Hoàng nham, những hỗn danh bụi đời. Đội rau xanh khá đông du-đãng có tiền-án và bị đi cải-tạo vì tiền-án. Tôi bỗng trở thành “nhân-vật hàng đầu của tù-nhân hình-sự TH6 B. Ở đây, có nhiều đàn em của “tứ-linh” Đại, Tì, Cái, Thế. Đại Ca-thay đã chết năm 1968. Huỳnh Tì (James Dean Hùng trong Điệu ru nước mắt của tôi) còn nằm ở Phước Long. Cái và Thế đã chết thảm tại Bù-gia-mập. Đại-bàng gẫy cánh hết. Còn mỗi Hùng-phốc, đàn em Huỳnh Tì, sống-sót về Sa Ác. Và Hùng-phốc lãnh đạo đám bụi đời nhỏ tản-mạn khắp các đội của khu B.
 Những công-chức cao cấp, dân-biểu, thẩm-phán đã từng “cải-tạo” ở Long Thành đều biết và đều có thể làm nhân-chứng về những chuyến xe chở tù-nhân từ Bù-gia-mập về Long Thành. Đó là tù-nhân can tội tiền-án du-đãng trộm cắp Những người này đã trả nợ cho những tội-lỗi và tội-ác của họ. Và chế-độ mới, họ chưa hề gây một tội-lỗi tội- ác nào mà họ vẫn bị bắt nhốt và bị đầy-đọa thê-thảm. Con người, dẫu con người tiền-án, con người vô-án, con người hình-sự hay con người chính-trị vẫn là con người và phải được đối xử như con người sống hay chết, tù đầy hay tự-do. Nhưng, nhân-danh chủ-nghĩa ưu-việt của mình, người cộng-sản đã hạ giá những người mang tiền-án xuống quá hàng súc-vật đã đánh đập họ đã bắt họ lao-động quá mức, đã cho họ ăn ít, đã mặc họ chết bệnh-hoạn. Cuối cùng, 1000 tù-nhân còn có 100 được di-chuyển từ Bù-gia-mập về Long Thành và được mô-tả như “những bộ xương biết đi”! Bồi-dưỡng một thời gian, đám tù-nhân sống sót này được liệng vào Sa Ác. Họ đã cùng những tù-nhân mang tiền-án dưới chế độ cũ, đến từ khắp nơi, hợp thành “thế-hệ tiên-phong” xây dựng trại tập-trung khổ-sai lao-động TH6 B. Hùng-phốc ở trong đám Bù-gia-mập sống sót.
 Mấy ngày ở khu A, tôi đã được “giang-hồ” chiêu-đãi tận-tình. Tôi giao-du với vài tay du-đãng gộc thôi song Điệu ru nước mắt, Vết thù trên lưng con ngựa hoang của tôi đã giao-du thân-mật với du-đãng cả nước. Ở đâu có du-đãng đọc sách tôi, ở đó tôi được đền ơn như một luật-sư biện-hộ vô-vụ-lợi cho những kẻ bị xã-hội khinh-bỉ, bị luật-pháp đánh dấu. Hiển-nhiên, tôi ca-ngợi du-đãng hào-hiệp. Bởi vì tôi thấy Đại Cathay cao-cả hơn Nguyễn văn Thiệu; bởi vì tôi thấy những tay anh chị đẹp-đẽ hơn bọn tướng-lãnh, bộ-trưởng, nghị-sĩ; bởi vì du-đãng nhận mình là du-đãng còn bọn Nguyễn Văn Thiệu, thì ăn cắp, bịp bợm mà cứ nhận mình là ái-quốc? Kể cho tôi nghe, ai ở cái xã-hội miền Nam cũ đã xứng đáng được ví với nhân-vật tiểu-thuyết thần tượng Trần Đại? Cao văn Viên hay Đặng văn Quang. Phạm văn Đang hay Nguyễn Cao Kỳ? Hoàng Đức Nhã hay Nguyễn Ngọc Nghĩa? Thẩm-phán sạch-sẽ Đào Minh Lượng, người đã ghê tởm một số tù-nhân thư-lại Long Thành nói với tôi ở TH6 A: “Tôi thèm được sống chung với đám hình-sự. Họ không bần-tiện, ích-kỷ như tù-nhân chính trị thư-lại”… Chưa một nhà chống cộng nào chào mừng tôi một ly bia ở Paris, nhưng du-đãng đã nồng-nhiệt chúc tụng tôi còn sống bằng những chai champagne tình-nghĩa. Những người du-đãng không chụp mũ tôi vì không đố-kỵ tài-năng với tôi. Muốn hiểu du-đãng để ngưỡng-mộ họ và để tin-tưởng một cuộc cách-mạng Tây Sơn mới sắp xẩy ra ở Việt Nam, hãy tìm đọc Hồn say phấn lạ . Đó là trường-thiên tiểu-thuyết vinh-tôn trước những Nguyễn Nhạc mới. Nguyễn Nhạc cũ, tay du-đãng bất hủ đất Bình Khê. Kẻ nào dám làm cách-mạng chuyển-vần thời-cuộc, nước non bằng cách liều-lĩnh chui vào cũi nạp mạng cho kẻ thù? Khi tâm-hồn du-đãng dậy bất-bình vì dân-tộc, vì tổ-quốc, họ sẽ thành anh-hùng. Không ai dám nhắc đến dĩ-vãng du-thủ du-thực của tên đình-trưởng đất Cối Kê. Vì hắn diệt Tần Thủy Hoàng. Không ai dám nhắc đến dĩ-vãng rượu chè bê- bết của biện Nhạc. Vì ông ta gây cảm-hứng cho Nguyễn Huệ.
 Tôi nên trở về TH6 B. Sanh-gian bảo chúng tôi tạm cất hành-lý ở những khoảng trống, đợi biên-chế đội xong cán-bộ trực trại sẽ chỉ-định chỗ nằm riêng biệt. Trước khi kẻng điểm tan lao, chúng tôi được lệnh ra tập-họp tại sân ngay cạnh nhà. Sự tổ-chức của TH6 B như sau:
1 Phó giám-thị, còn gọi là Trưởng trại B. Nhiệm-vụ của y bao quát cả tư-tưởng của công-an coi từ lẫn thực-thi chính-sách học-tập cải-tạo.
2. Chính-ủy. Nhiệm-vụ của y điều-hành công-an trách-nhiệm vấn-đề giáo-dục tư-tưởng tù-nhân.
3. Công-an trực trại. Nhiệm-vụ của y là điểm số tù-nhân xuất trại lao-động và nhập trại tan lao cùng kiểm-soát an-ninh toàn trại ban ngày. Có hai công-an trực trại.
4. Vệ-binh. Nhiệm-vụ của vệ-binh là canh gác trại ban đêm, canh chừng tù-nhân ngoài hiện-trường lao-động.
5. Quản-giáo. Nhiệm-vụ của quản-giáo là theo dõi đội về lao-động và tư-tưởng.
6. Giáo-dục. Nhiệm-vụ của công-an giáo-dục là. . .dạy dỗ tù-nhân và đưa tù-nhân ra gặp thân-nhân ở phòng thăm nuôi.
7. An-ninh. Nhiệm-vụ của công-an an-ninh là…đánh tù-nhân!

Google photos

Còn có công-an đặc-trách hồ sơ tù-nhân, công-an nấu bếp. . . Bất kể công-an già hay trẻ, cấp bậc hạ-sĩ hay đại-úy, giám-thị hay coi kho, tù-nhân đều phải gọi là cán-bộ. Vậy thì cán-bộ trực trại, cán-bộ quản-giáo, cán-bộ giáo-dục đã đến làm việc với chúng tôi.
 – Theo quyết-định của Ban giám-thị, hôm nay các anh được chính-thức biên-chế thành hai đội. Tôi gọi tên anh nào anh ấy hô có rõ-ràng và đứng dậy ngồi ra góc sân.
 Cán-bộ giáo-dục nói xong thì nhìn danh-sách mà đọc.
 – Trần Duy Cát.
 – Có
 – Đặng Hải Sơn.
 – Có.
 -Nguyễn mạnh Côn.
 – Có.
 Đọc đủ tên 50 tù-nhân, cán-bộ giáo-dục ngưng lại. Hắn nói:
 – Những anh còn lại ở chung một đội.
 Hắn ra lệnh hai đội tập-họp gần nhau.
 – Theo quyết-định của Ban giám-thị, Trần Duy Cát làm Đội trưởng; Đặng Hải Sơn, Đội phó; Nguyễn văn Thương, Thư ký. Anh Cát đâu?
 Đẳng Giao dơ tay:
 – Có tôi
 Cán-bộ giáo-dục gật đầu:
 – Tốt. Đội của anh là Đội 21 nông-nghiệp.
 Bước sang đội của tôi,cán-bộ giáo-dục hỏi:
 – Anh Vũ Mộng Long đâu?
 – Có.
 – Theo quyết-định của Ban giám-thị, anh là Đội trưởng, Nguyễn văn Thạch, Đội phó, Phạm Kim Sơn, Thư-ký. Đội của các anh là Đội 17 rau xanh. Ai thắc-mắc gì không?
 Đằng Giao dơ tay:
 – Thưa cán-bộ, tôi không biết làm Đội trưởng.
 Cán-bộ giáo-dục nghiêm nét mặt:
 – Anh khước-từ sự chiếu-cố của Ban giám-thị hả? Học tập sẽ làm được. Làm sĩ-quan ngụy tiêu-diệt Việt cộng chắc anh làm giỏi đấy nhi?
 Đằng Giao nín thinh. Tôi tưởng Đằng Giao thành-công, sẽ bắt chước theo. Ai ngờ…
 – Khước-từ sự chiếu-cố của Ban giám thị là khước-từ sự khoan-hồng của cách-mạng, là chống Đảng và nhân-dân.
 Hoạ sĩ Đùa Dzai 4 vừa thấy bị đùa dai một trò đùa nâng cao quan-điểm. Dằn mặt thế gọi là giáo-dục. Ông thầy của chúng tôi tên Đương. Thầy Đương đeo quân-hàm chuẩn-úy. Thầy xoa dịu trò Đằng Giao:
 – Phấn-đấu lên, anh Cát. Không dễ gì ai cũng được làm Đội trưởng đâu.
 Thầy Đương ngó thầy Hưng, cán-bộ trực trại:
 – Dạy họ báo-cáo xuất trại, nhập trại.
 Thầy Hưng, đeo quân-hàm trung-sĩ, dạy Đằng Giao và tôi bài học báo-cáo quân-số và dạy toàn thể anh em cách đi đứn, cầm nón mũ chào kính vân vân…
 –Nàm thử xem sao, anh Cát!
 Đội trưởng Đằng Giao vẫy tay bảo đội ngồi xuống. Anh ta đếm số đội viên một lượt rồi bước lên cách đội ba bước. Anh ta hô “Đứng dậy , nón mũ bỏ ra. Nón mũ cầm tay phải, lật ngửa. Chú ý: Nghiêm! Hai hàng dọc nhìn đằng trước…thẳng? Thôi…” Đằng Giao bước xuống, đứng cạnh hàng đầu, quay mặt về phía điếm canh tưởng tượng, dõng dạc báo-cáo:
 – Báo-cáo cán-bộ, Đội 21 nông-nghiệp tổng số 50, lao-động 50, hiện-diện đủ, chờ lệnh cán-bộ.
 Thầy Hưng vẫy tay:
 – Cho đi!
 Trò Đằng Giao đáp:
 – Rõ.
 Tôi muốn cười quá mà không dám cười. Giá tôi được tự-do cười tôi đã cười một trận nghiêng-ngửa nhất đời tôi. Đến lượt tôi “nàm thử”, thầy Hưng ra lệnh cho 4 đội-viên của tôi bước khỏi hàng. Tôi cũng “nàm” như Đằng Giao đã “nàm”. Cám ơn tổ-tiên tôi đã khóa cái sự thèm cười của tôi đúng lúc diễn-xuất…căng.
 – Báo-cáo cán-bộ. Đội 17 rau xanh tổng số 50, lao-động 46, 4 bệnh nằm nhà, chờ lệnh cán-bộ.
 – Cho đi!
 Thầy Hưng khen:
 – Được Nhưng đó là xuất trại. Còn nhập trại thế lào?
 Tôi biểu-diễn:
 – Báo-cáo cán-bộ, Đội 17 rau xanh lao-động 46, về đủ, xin nhập trại, chờ lệnh cán-bộ.
 Thầy Hưng tấm-tắc:
 – Chính-trị dễ tiếp thu hơn nà hình-sự
 Cái sự vô-phúc thiếu âm-đức của tôi không dừng ở chức-vụ Đội trưởng. Màn thực-tập vừa dứt, thầy Đương thăng thêm cho tôi chức Nhà trưởng “theo quyết-định của Ban giám-thị”. Tôi phải học bài học nhân-danh Nhà trưởng báo-cáo thầy trực trại buổi sáng mở cửa nhà và buổi chiều đóng cửa nhà và điều khiển tù-nhân cả nhà tập thể-dục. Kệ mẹ nó, đến đâu hay đó. Ít ra, tôi đã hách hơn Hồ Chí Minh. Vì, Ngục trung nhật ký Hồ chủ-tịch không được khoe mình làm Đội trưởng, Nhà trưởng trong tù. Chúng tôi nhận lệnh giải-tán rồi vào nhà nhận chỗ nằm theo sự chỉ-định của cán-bộ trực trại. Đội của tôi ở 5 khoang đầu nhà. Thu xếp hành-lý, tranh nhau nằm trên nằm dưới, dàn xếp ổn-thỏa xong thì các đội cũ tan lao nhập trại. Tôi cắt cử người xuống bếp lấy cơm canh, chia cơm canh. Ấm lòng ngay lập tức nhờ các cháu du-đãng hình-sự tặng “hai chú” Đằng Giao và Duyên Anh, cháu thì tô mì vụn nấu tôm khô rau cải xanh, cháu thì miếng thịt vừa nhận thăm nuôi, cháu thì con cá kho câu dưới sông…
 Thi-sĩ Trần Tuấn Kiệt, trong cuốn sách viết về nhà văn nhà thơ Việt Nam, có nhã-ý viết về tôi. Anh ta kể lại kỷ-niệm ở quân-lao. Vì anh ta khoe là bạn của Nguyễn Thụy Long và Duyên Anh nên anh ta được tù-nhân du-đãng chiều-chuộng hết mình. Anh ta bảo, nếu tôi vào tù, tôi sẽ sướng hơn vua! Tôi đã vào tù, không thấy sướng hơn vua mà chỉ thấy khổ như chó. Nhưng nếu tình-cảm là cái gì quý nhất, tôi đã được hưởng cái quý nhất của những độc-giả, đặc-biệt những độc-giả bụi đời dành cho tôi.
 Cơm nước xong chúng tôi ngồi tán gẫu chờ điểm danh buổi chiều. Kẻng vừa điểm, tù-nhân vội-vã xếp hàng mười trước của nhà, ngồi ngay ngắn. Tôi đã hỏi quân số Đội 3 rau xanh của Hoàng xì coọc. Tôi phải đếm lại cẩn-thận. Tù-nhân nào ốm không ra điểm danh, phải báo-cáo và trật-tự Hoa-nẫu vô nhà kiểm-soát rồi xác- nhận với cán-bộ trực trại. Nhà của tôi mang số 1. Đáng lẽ, đội của tôi số 5 hoặc số 6, vì TH6 B mới có 4 đội. Chắc chắn, trại sẽ tiếp-nhận thêm nhiều tù-nhân những tháng sắp tới. Thầy trực trại Hưng đã đến, theo sau là Sanh- gian và Hoa-nẫu. Tôi thực-hành bài học báo-cáo…nhà.
 ~ Anh em chú ý…im lặng! Báo-cáo cán-bộ, Nhà 1 tổng-số 150, tập-họp đủ, chờ lệnh cán-bộ.
 Thầy Hưng đếm hàng. Thầy hất tay:
 – Cho vào.
 – Rõ.
 Từng hàng đôi, tù-nhân vô nhà. Tôi sau chót. Hoa-nẫu cài thanh gỗ lớn chắn ngang cửa và khóa lại. Sinh-hoạt ồn-ào thả-giàn cho tới khi kẻng báo ngủ. Lúc đó là 9 giờ.

° ° °

 TH6 B chưa có điện. Trại tân-lập mà. Mỗi nhà thắp hai ngọn đèn dầu chế bằng keo thủy tinh không có bóng. Một ngọn để ở sà trên cửa ra vào, một ngọn trên lối vào cầu-tiêu. Điểm danh xong trực trại giao trách-nhiệm cho vệ-binh. Hai vệ-binh canh một nhà suốt đêm. Súng AK sẵn sàng khạc đạn vào kẻ trốn trại. Hai ngọn đèn lù-mù, có khi tắt một, có khi tắt hết nên vệ-binh khó kiểm-soát sinh-hoạt của tù-nhân. Bèn thêm mệnh lệnh không ghi ở Nội-quy, Tiêu-chuẩn cải-tạo và Nếp- sống văn-hoá mới: Đi ỉa, đi đái phải báo-cáo! Thế là tù-nhân sáng-tạo chuyện hài-hước đen.
 – Báo-cáo cán-bộ, tôi đi đái.
 – Báo-cáo cán-bộ, tôi đi đái xong rồi, tôi về chỗ ngủ.
 – Báo-cáo cán-bộ, tôi đi ỉa.
 – Báo-cáo cán-bộ, tôi đi ỉa xong rồi, tôi về chỗ ngủ.
 – Báo-cáo cán-bộ, tôi đi ỉa nữa.
 Có tù-nhân chơi bạo:
 – Báo-cáo đái!
 hoặc:
 – Cán-bộ ỉa!
 Nếu vệ-binh tìm chỗ ngồi đốt lửa sưởi lạnh với nhau, không nghe thấy thì không sao cả. Nó đi tuần, nghe thấy là réo Nhà trưởng, đánh thức cả nhà dậy nghe nó giáo-dục sỉ-vả hoặc nó bắt tìm ra ai…lạc-hậu, đầu óc nặng tư-tưởng đồi-trụy và ảnh-hưởng văn-hoá Mỹ-Ngụy sâu đậm. Giả đò không báo-cáo nó nghe tiếng chân đi, nó cũng hô-hoán ầm-ỹ. Cái chức Nhà trưởng coi bộ nguy-hiểm. Ngủ chỉ sợ có bố nào cao-hứng đạp tường mò về sum-họp gia-đình, nó sẽ đổ vạ mình đồng-lõa, mình làm ngơ và sẽ còng tay xích chân mình. Khổ nhất vẫn là màn nửa đêm bị vệ-binh thèm thuốc gọi dậy xin một điếu. Nhưng khổ hơn cả mọi nỗi khổ là Nhà trưởng phải thắp đèn và bảo-quản bình dầu. Trật-tự Hoa-nẫu đã tính-toán kỹ-lưỡng. Nó phát dầu đủ thắp một tuần: hết dầu ráng mà chịu bị vệ-binh “lên lớp”. Tù-nhân nghiện thuốc lào thường thích có đèn riêng cho đỡ tốn xăng đá lửa. Quý vị ấy che đèn và xin dầu kiểu “thông-cảm”. Nhà trưởng không dám cho, sợ hết dầu và sợ bị “nâng quan-điểm” giúp tù-nhân phương-tiện trốn trại hay đốt trại! Thì bị quý vị ấy chửi bới. Quý vị ấy công khai sớt dầu ở đèn tập thể. Nằn nì quý vị ấy thông- cảm, quý vị ấy không thông-cảm. Cấm-đoán, ngại quý vị ấy xỏ xiên “giữ 1. cho chúa”. Từ cái nhỏ hóa thành cái lớn . Nhà trưởng biến thành cái đích của thị-phi. Chỉ vì sợ hết dầu trước hạn kỳ. Chỉ vì anh em tiếc rẻ xăng, đá lửa. Chỉ vì anh em lười châm lửa ở đèn tập thể. Chỉ vì anh em khoái đèn cá nhân.
 Đêm đầu tiên nhậm chức Nhà trưởng của tôi thật não-nùng. Tôi không ngờ nổi. Những tiếng báo-cáo “đi đái, đi ỉa” liên tục đến gần sáng. Tôi bắt đầu chán ngán cái động của trại tập-trung. Dường như, cái động hứa hẹn vang vọng một niềm bất-hạnh. Đêm cuối năm ở rừng già Sa Ác lạnh vô cùng. Tôi đã quên cái lạnh mùa đông miền Bắc hơn hai mươi năm nay nhớ lại và thấm rét mướt. Sự rét mướt chẳng còn ở ngoài da nữa. Nó đã thấm buốt cả thân-phận tôi. Tôi xoayngười úp bụng xuống sàn gỗ, ngẩng đầu nhìn qua chấn song gỗ của khung cửa ọp-ẹp. Đêm tối. Thân-phận. Đất nước. Dân-tộc. Thân-phận tôi là đồ bỏ. Nhưng đất nước tôi, dân-tộc tôi? Trong cuộc chạy đua việt-dã mấy chục năm giữa bọn ăn cướp và bọn ăn cắp, sự thắng bại đã rõ rệt. Chính-nghĩa của bọn ăn cắp là đào-ngũ, đào-nhiệm chạy dài. Chính-nghĩa của bọn ăn cướp là hồ-hởi phấn-khởi trả thù vặt. Ba mươi năm chính-nghĩa thổ-phỉ và chánh nghĩa “phi-lu” nhân danh hai chủ-nghĩa ưu-việt nhất của loài người, vô-sản và tư-bản; nhân danh hai quyền-lực vĩ-đại nhất và thô-bạo nhất của loài người, Liên xô và Hoa kỳ, đấm đá và tranh giành sự-nghiệp nô-bộc, đất nước tôi rách mướp, dân-tộc tôi đói rách, ngu dốt, lạc-hậu. Chiến-tranh bẩn thỉu toa rập giữa tư-bản Hoa kỳ và vô-sản Liên xô đã tàn-sát đến cả cây cỏ, muông thú của quê-hương tôi, đã đẩy dân-tộc tôi vào cuộc phiêu-lưu thù-hận, đã tạo dựng bọn tướng cướp bản-xứ khát máu và bọn trùm trộm cắp hèn-mọn, trơ-tráo. Hạnh-phúc mà vô-sản chủ-nghĩa đem từ thiên-đường Liên xô sang đất nước tôi là gì? Hỏa-tiễn, súng đạn, giáo-điều mác-xít, lê-nin lỗi thời. Chủ-nghĩa cộng-sản có khả-năng tiêu-diệt 1 triệu 500 ngàn dân Việt Nam mùa cải-cách ruộng đất năm 1956, có khả-năng nướng thiêu 1 triệu thanh niên miền Bắc dọc đường mòn Hồ Chí Minh và các chiến trường miền Nam. Chủ-nghĩa cộng-sản có khả-năng làm bé nhỏ cả dạ-dầy lẫn tim óc của dân miền Bắc. Nhưng, chủ-nghĩa bách-chiến bách-thắng ấy chưa giải-phóng nổi chế độ đổ thùng ở riêng thủ-đô Hà-nội “thủ-đô của phẩm-cách con người”. Khi còn công-nhân vệ-sinh đặc-trách đổ thùng, còn phu đổ thùng, còn con người tăm-tối chui rúc vào cầu-tiêu vác những thùng phân đổi miếng cơm hẩm, chủ-nghĩa cộng-sản chỉ được định giá như một thùng phân lúc nhúc ròi bọ.
 Hạnh-phúc mà tư bản chủ-nghĩa đem từ thiên-đường Hoa-kỳ sang đất nước tôi là gì? Bom lửa, xe tăng, thuốc khai quang, phi-tiễn, lựu đạn cay và lý-tưởng khai- phóng tự-do, dân-chủ chó đẻ. Chủ-nghĩa tư-bản có khả-năng đẩy hai thế-hệ thanh-niên miền Nam xuống vực thẳm chiến-tranh cho tham-vọng khốn-kiếp của nó, có khả-năng làm đảo tung đạo-nghĩa và tình-nghĩa Việt Nam; có khả-năng xúi dục đảo-chính, chỉnh-lý; có khả-năng giật giây tôn-giáo thù nghịch lẫn nhau; có khả-năng đưa những thằng vô-lại lên ngôi tổng-thống, thủ-tướng, bộ trưởng, tướng tá, nghị-sĩ, dân-biểu. Chủ-nghĩa ấy còn có khả-năng mầu-nhiệm tạo đĩ điểm thành mệnh-phụ phu-nhân, ma-cô thành lãnh-tụ dân-tộc và biến con người thành công-cụ của đô-la, nô-lệ của vật-chất; biến con người thành ký-sinh-trùng ăn bám, ươn- hèn, vọng ngoại. Nhưng, chủ-nghĩa chói-chang ấy chưa tẩy xóa nổi dấu-tích ô-nhục của phản-bội đê-tiện. Khi còn còng made in USA còng tay những người Việt Nam chân-chính chống đối chủ-nghĩa cộng-sản phi nhân ở Việt Nam sau 1975, chủ-nghĩa tư-bản Hoa Kỳ cũng chỉ được định giá như một thùng phân lúc nhúc ròi bọ.
 Rốt cuộc, quá độ chiến-tranh ý-thức-hệ thùng phân là đất nước héo úa, dân-tộc chia lìa, tổ-quốc gầy mòn. Những thằng ăn cắp bỏ chạy không quên mang theo tài-sản ăn cắp. Và chúng nó đang phè phỡn ở Hoa kỳ, miền đất hứa có chủ-nghĩa được định giá như một thùng phân. Chủ-nghĩa này tạo ra những nhà lãnh-đạo lỗi-lạc để thi-triển những chính-sách đối với các nước nhỏ và các nước dưới quyền…viện-trợ. Những thằng ăn cướp được dịp tuyên-bố chiến-thắng những thằng phản-bội và những thằng ăn cắp. Và chúng nó bảo cách-mạng thành-công. Và chúng nó lùa những người Việt Nam vào nhà tù, trại tập trung. Tôi cũng bị lùa vào nhà tù 3 năm. Bây giờ, tôi bị ném ra trại tập-trung. Tôi mang cái tội gì nhỉ?
 Thoạt đầu, phỉ-quyền (bọn ăn cướp) chụp lên đầu tôi cái tội ngớ-ngẩn: Nhà văn chế-độ cũ. Tôi không phải là người của chế-độ nào cả. Tôi là người của tôi, của gia-đình tôi, của bằng-hữu tôi, của độc-giả tôi và lộng ngôn một tí tôi là người của dân-tộc tôi. Không một chế-độ nào chấp-nhận những người nghệ-sĩ phản-kháng cả. Tôi là nhà văn, nhà báo phản-kháng, và có chính-kiến rõ rệt. Tôi đứng về phía những người bị trị chống đối kẻ thống-trị. Sự chống đối của tôi, tùy theo cường-độ chính-trị của thống-trị. Khi thống-trị bình-thường, sự chống đối của tôi hiểu theo nghĩa đối-lập. Khi thống-trị đàn áp, sự chống đối của tôi là phản-kháng quyết-liệt. Bằng văn-chương và tư-tưởng. Tôi đã thường xuyên quyết-liệt phản-kháng bọn thống-trị Sàigòn vì tôi muốn không còn, không có nữa phỉ-quyền hiện diện ở Hànội và âm-mưu thôn-tính quê-hương tôi. Phỉ-quyền lên án tôi từ năm 1970. Hẳn nhiên, phỉ-quyền Hà nội thù hận tôi. Nhưng ngụy-quyền Sàigòn (bọn ăn cắp) ưa gì tôi? Nó cũng thù hận tôi. Tôi thực sự sống bằng ngòi bút từ tháng 1-1964. Tôi viết nhật-báo từ đó. Và từ đó, tôi tuyên-chiến với bọn thống-trị Sàigòn, đứng hẳn về phía bị trị vì những người bị đàn áp bị bóc lột; vì những người nghèo khổ nhất miền Nam; vì những người lính hy-sinh nhất miền Nam, bị bạc đãi nhất miền Nam; vì cô-nhi, quả-phụ; vì danh-dự của tổ-quốc mà lên tiếng. Ngụy-quyền Nguyễn Văn Thiệu chưa dám bắt tôi bỏ tù. Nó tin tử-vi. Và nó sợ phản-ứng độc-giả tuổi trẻ của tôi. Nó sợ cộng-sản lợi-dụng cơ-hội nhập cuộc. Nếu quốc-gia là những ai phò Nguyễn văn Thiệu, suy-tôn nó, ủng-hộ nó, còn kỳ vọng nhiều ở nó; nếu quốc-gia là Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang, Cao văn Viên…và các vệ-tinh, tôi khước-từ thứ quốc- gia đó. Và tôi thẳng-thắn nói: Tôi là người cộng-sản không tha, quốc-gia không dung.
 Không thể là quốc-gia ăn cắp, lừa bịp, tôi phải chấp-nhận mọi hệ-lụy ngoài đời, trong tù; trong nước, ngoài nước . Tôi hiên-ngang chấp-nhận. Để tôi là quốc-gia của tôi. Chỗ “tựa vào” của tôi chỉ là dân-tộc Việt Nam đau-khổ. Tôi đã “tựa vào”, đang “tựa vào” và “tựa vào” đến khi nhắm mắt.
 Quốc-gia của tôi là quốc-gia chân-chính, quốc-gia của những người lương-thiện sáng chói. Tôi phủ nhận ngụy-quyền, phỉ quyền. Với tôi, ròng rã ba mươi năm, đất nước ta chưa có chính-quyền. Dân-tộc ta đang mơ ước một chính-quyền tạo dựng bởi người quốc-gia chân-chính trong và ngoài nước. Chỉ khi nào đất nước ta có chính-quyền, dân-tộc ta mới có ấm no, hạnh-phúc, đoàn-tụ, thương yêu, tự-do là dân-chủ thực sự. Phỉ-quyền Hà-nội và ngụy-quyền Sàigòn đã bất lực mưu cầu hạnh-phúc cho dân-tộc. Phỉ-quyền chỉ biết ăn cướp. Ngụy-quyền chỉ biết ăn cắp. Thổ-phỉ và đạo-tặc đều thờ chủ riêng. Phỉ là đầy-tớ Liên xô. Ngụy là đầy-tớ Hoa Kỳ. Bây giờ, thêm bốn hạng ngụy nữa: Ngụy kháng-chiến bịp-bợm, ngụy giải-phóng đội đít Tầu, ngụy cứu quốc bám chân Tây, ngụy phục-quốc chờ đèn xanh ảo tưởng Mỹ.
 Từ hơn 100 năm rồi, tinh-thần dân-tộc đã bị các thứ giáo-hội đè nặng trĩu, đè ngóc đầu lên không nổi. Các thứ giáo-hội đã chi-phối tinh-thần dân-tộc một cách nghiệt-ngã. Đất nước lạc-hậu của chúng ta có tới hai chục giáo-hội. Giáo-hội và tổ-quốc chứ không tổ-quốc và giáo-hội. Thứ giáo-hội mạnh nhất, thô-bạo nhất hôm nay là giáo-hội cộng-sản. Dân-tộc ta đã ủ-ê vì các giáo-hội, đang ủ-ê vì các thứ ngụy. Vậy làm cách nào phục-hưng tinh-thần dân-tộc và tinh-thần quốc-gia, dĩ nhiên, quốc-gia chân-chính? Vấn đề này nhà văn không đủ tư-cách giải-quyết. Bổn phận của y chỉ nhằm gợi ý.
 Tôi đã trải qua một đêm TH6 B.

——————————–

1Tan lao: Tan lao-động.
Vào lao: Vào giờ lao-động.
Giải lao: Nghỉ lao-động
2Khu A có xưởng cưa máy. Đầu năm 1979, các Nhà cũ bị phá để xây cất Nhà mới khang-trang, cầu-tiêu xối nước. Dĩ nhiên, Nhà nhiều hơon vì tù nhiều hơn và sự quản-lý chặt-chẽ hơn. Sĩ-quan quân-đội từ các trại miền Tây dồn hết lên miền Đông.
3Về sau, chính Đằng Giao đặt mốc cho đoạn đường…vào Ba Thục này.
4Vẽ tranh hí-hoạ, Đằng Giao ký tên Đùa Dzai.


Trại tập trung

vietmessenger.com

Duyên Anh
Post by Sơn râu 27 Jun 2024

Vàng Ửng Ngậm Ngùi

(Sa Ác TH6)

Phần thứ nhất

1.

Yêu thương tặng con tôi,

Thiên Hương và Thiên Sơn,

đã lặn lội vào rừng già Sa-Ác

và rừng lá Hàm-Tân thăm nuôi bố tù.

Duyên Anh

Có kẻ mê giang-hồ đến độ thèm được lột da mình bọc ngoài chiếc va-ly của một lãng-tử nào đó, khi mình chết. Để mãi mãi ngày tháng là những chuyến đi. Nếu ông ta tiên-tri cuộc đời sẽ còn những tuyến đường Moscou – Goulag Sibérie, Suối Máu – Phước Long, Kà-Tum- Bù-gia-mập, Long Giao – Sơn Ca, Trảng Lớn – Hà Nam Ninh,Gia Lai – Vĩnh Phú, Washington – Hà-nội Hilton, Nhà Mình – Sở Công An, Đề-lao Gia Định – Chí Hòa…. di chúc của ông ta sẽ khác hẳn. Và nếu ông ta biết cuộc đời sẽ còn những chuyến xe lửa ngừng lại chẳng cần kéo còi, chẳng cần đợi đến ga nhỏ, lãng-tử chạy xuống vũng trâu đầm, múc nước uống ừng-ực ngang họng súng AK canh chừng, ông ta, chắc chắn, sẽ chán chuyện lãng-du. Ở thời đại tôi và trên quê-hương tôi có những chuyến đi đã trùm lấp định-nghĩa vô-định và thống-khổ mà tôi không sợ lộng-ngôn bảo rằng đó là những chuyến đi định-nghĩa làm người. Rồi sẽ có hồi-ký của một tù-nhân viết chính-xác về chuyến đi Sài gòn – Hà nội được chào mừng bằng những trận mưa máu đá củ đậu củ khoai. Rồi sẽ có hồi-ký của một tù-nhân viết chính-xác về chuyến đi Sài gòn – Phú Quốc trên chiếc tầu HQ 501 khởi hành từ bến Tân Cảng.

Chẳng bao giờ anh được đi chiếc 501

Ba nghìn tù-nhân bó gối dưới hầm ngồi

Chuyến tàu đi Phú Quốc

Chuyến tàu đi theo định-mệnh nổi trôi

Chẳng bao giờ anh được đi chiếc 501

Ba nghìn tù-nhân một nắp nhỏ thông hơi

Chuyến tầu đi Phú Quốc

Chuyến tàu đi thám-hiểm vực đời

Chẳng bao giờ anh được đi chiếc 501

Ba nghìn tù-nhân ba triệu tấn mồ-hôi

Chuyến tầu đi Phú Quốc

Chuyến tầu đi rúng-động đất trời

Chẳng bao giờ anh được đi chiếc 501

Ba nghìn tù-nhân chờ từng giọt nước rơi

Chuyến tầu đi Phú Quốc

Chuyến tầu đi cháy tiếng khô lời

Chẳng bao giờ anh được đi chiếc 501

Ba nghìn tù-nhân ba nghìn thú vật rã rời

Chuyến tầu đi Phú Quốc

Chuyến tàu đi định-nghĩa con người

Duyên Anh, (Thơ Tù, Nam Á Paris-1984)

Thơ không đủ định-nghĩa con người và sức chịu đựng phi thưởng của nó 2 ngày 3 đêm bó gối nhịn đói, nhịn khát dưới hầm tầu há mõm. Hãy hình tưởng một nắp thông hơi thường xuyên những họng súng chúc xuống đe-dọa. Hãy hình tưởng tù-nhân chen lẩn cầm ca đi hứng nước nhỏ giọt ăn bao nhiêu đấm đá của “chiến-hữu” – vì xô đạp lên người ngồi – mới đến “nguồn hạnh phúc”, và uống một hơi, không dám uống hết đem về. Về chỗ khốn-khổ như rời chỗ, nước đã bị tung-tóe hết. Hãy hình tưởngg 2 ngày 3 đêm ỉa đái không tụt quần. Và, hãy hình tưởng, khi ghé bờ, cái tầu há mõm ra, phân tiểu cũng ùa ra. Tù-nhân “đổ bộ” theo phân; có người ngụp lặn cho sướng, ngoi đầu lên phân cả đống! Đó là sự thật rực-rỡ dưới ánh mặt trời mà bất cứ người tù Việt Nam nào tham dự chuyến đi trên hai chiếc tầu HQ 501 và HQ 503 đều không phủ-nhận. Có lẽ, người ta sẽ đính chính. Rằng, nó còn thê-thảm gấp bội. Nỗi đau đớn chưa ngưng ở đó.

Hai ngày ba đêm dưới hầm tầu

Mắt còn thèm ngủ bụng đói lả

Thân xác còn như cái mền tã

Sáng sớm vác xẻng đào giếng khơi

Đất biển không chìu theo ý người

Càng sâu bao nhiêu càng lún rã

Mấy nghìn tù-nhân khát khô cổ

Nhìn nhau muốn nói chẳng nên lời

Hạnh-phúc bây giờ là nước lã

Đội đá, lên núi hề đội đá

Đường đi- về ba cây số ngàn

Năm trăm tù-nhân xếp thành hàng

Đi thì hồn khói hun bốc toả

Về thì hồn cháy thiêu tàn-tạ

Chuyến đầu cố gắng vượt gian-nan

Chuyến sau gối mỏi đầu đau ran…

Duyên Anh, (Thơ Tù, Nam Á Paris-1984)

Những kẻ chịu đựng hình phạt của thù hận một cách can-đảm và kiên- nhẫn, khinh-thường hình-phạt của thù-hận, bước qua nó mà đi mà tồn-tại để tặng nhân-loại một định-nghĩa làm người, nhân-loại đã không thấy hình ảnh tuyệt-vời của những kẻ ấy ở những cuốn sách viết về họ, nói về họ. May mắn, nhân-loại không đọc nổi chữ Việt Nam, thành ra, họ chưa nhăn mặt biết tù-nhân chính-trị của chúng ta “ăn giun, ăn cắp cháy, ăn vụng thịt, ăn tranh cơm với heo”! Hơn mười năm nghẹn-ngào của dân-tộc, của tù-nhân lao-cải, nhân-loại đã được mở mắt những điều gì? Một cái xó xỉnh đề lao Gia Định khu Cl của Đoàn văn Toại chưa biết ghẻ tù thêu dệt ngu-xuẩn, bịa đặt gian-dối đã rằng “Goulag Vietnamien” ư? Muốn viết quần-đảo tù-ngục cộng-sản ở Việt Nam sau 1975, phải viết những trại tập-trung lao-động khổ-sai tại Sông Bé. Những đảo Bù Nho, Bù-gia-mập, Phú Văn, Phước Long, Hớn Quản, Đồng Xoài đã tạo thành một quần đảo biểu tượng. Có trại lao-cải của đàn bà tư-sản, vượt biên, phản-động. Có trại lao-cải của vũ-nữ, gái điếm. Có trại lao-cải của thanh-niên xì-ke, ma-túy. Có trại lao-cải của con nít. Có trại lao-cải của phế-binh. Có trại lao-cải của sĩ-quan chế-độ cũ. Có trại lao-cải của trộm cướp… Chỉ cần một cuốn sách viết chính xác về Quần-đảo Sông Bé, thế-giới sẽ thẩm-định giá trị phát triển của nền tù ngục cộng-sản Việt Nam. Nhưng chúng ta rất thờ-ơ trong sứ-mạng gây xúc-động và phẫn-nộ cho thế-giới. Chúng ta có nhiều tù-nhân khắp miền đất nước đang hiện diện ở Mỹ, ở Pháp, ở Úc. Chúng ta, thay vì có nhiều người viết hồi-ký tù ngục, càng nhiều càng tốt – để các nhà văn lớn cô- đọng, tổng-hợp, nhuận-sắc văn-chương thành một Goulag Vietnamien vĩ-đại, đúng nghĩa, làm bàng hoàng thế-giới – thì chúng ta lại chỉ có vài cuốn. Thành thử, Goulag Vietnamien mới là cái đống rác Đoàn văn Toại, nơi đó, tù-nhân đầy đủ tự-do lập kiến-nghị và ký tên vào kiến-nghị! Thành thử, đại-diện của tù-nhân cải-tạo tư-tưởng ở Việt Nam, nhân danh tù-nhân đi họp-hành, kiện-cáo, tranh-đấu cho tù-nhân, toàn các vị ở Tây 30 năm, các vị di-tản sang Mỹ trước 30-4-1975. Bọn cai-thầu nỗi khổ này chịu khó vác bị gậy đi ăn mày sự hứa hẹn của thiên hạ. Chúng nó đã trúng mối, cả danh lẫn lợi. Và tù-nhân của chúng ta vẫn vô-vọng ngày về. Thể thì tiếng nói đích-thực của thống-khổ đâu? Tiếng nói không ai dám ngờ-vực của các ngục-sĩ đâu? Họ đã bị chụp mũ “ăng ten” cả rồi. Bị chụp mũ từ chân ướt chân ráo đặt lên đất quê người. Họ chán nản, im lặng. Để mặc cai thầu độc-quyền đấu thầu nỗi khổ. Như bọn thống trị luồn cúi đã loại bỏ những người yêu nước chân-tình để độc-quyền làm đầy-tớ cho ngoại-bang, ở đất nước chúng ta. Cho nên tôi nghĩ: những chuyến đi của tù-nhân Việt Nam trên quê-hương mình, những chuyến đi định-nghĩa con người: định-nghĩa làm người như chuyến đi Sài gòn – Phú Quốc, ngay cả trong chúng ta, vẫn còn mơ hồ, xa lạ.

Chuyến đi của tôi tầm thường. Năm mươi tù-nhân công-kênh hành-lý nhồi nhét trên chiếc xe vận-tải chuyên chở heo, bò. Không ai dám ngồi. Tất cả đứng. Bạn tù của tôi báo cáo lộ trình. Xe đã qua cầu xa-lộ. Qua ngã tư Thủ Đức – Trường Võ Bị. Nhiều anh em hồi -hộp chờ qua cầu sông Đồng Nai. Không, nó rẽ lối đi Vũng Tầu. Qua Long Thành, nó chạy thẳng. Một anh mau miệng:

– Mình vào Xuyên Mộc đất đỏ, các ông ạ!

Chúng tôi bắt đầu khó chịu vì con đường này đã bị lồi-lõm nhiều, không kịp tu sửa. Sau ngày 30-4-1975, đường-xá kể như không tu sửa. Nhà nước xã-hội chủ-nghĩa đẻ ra chính-sách “dưỡng đường”nhưng ngay ở thành-phố Hồ Chí Minh “rực rỡ tên Người”, chính sách “dưỡng đường” đã trở thành “chuyện tiếu lâm Việt- cộng”. Người ta múc nhựa đun sôi đổ đầy ổ gà rồi rắc cát lên. Xe hơi chạy qua, lôi luôn cả tảng nhựa’! Có nhiều con đường được “dưỡng” bằng cát xịt nước. Nắng Sài gòn đã làm cát bay tung mù phố-phường. Đường thành-phố đã “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã-hội chủ-nghĩa”, quốc-lộ và tỉnh-lộ còn tiến vọt theo “ba luồng sóng cách-mạng” bạo hơn.

Xe tới thị-xã Bà Rịa thì rẽ vô con đường đất. Tốc-độ giảm xuống. Nó ì ạch nuốt những bậc thang. Chúng tôi dồn lên, xô xuống liên tục. Nằm chuồng gà lâu ngày, chúng tôi đâm ra yếu ớt. Lục phủ ngũ tạng đảo lộn với đường-xá gập-ghềnh. Nhiều anh em ói mửa. Bụi đỏ luồn qua những khe bạt hở khiến chúng tôi ngộp thở. Cộng thêm mùi ói mửa chua lòm. Chúng tôi choáng-váng mặt mày. Chẳng ai bảo ai, cả làng ngồi hết. Ngồi lên cả hành-lý. Ngồi lên cả những bãi nôn mửa mà chịu đựng xe nhồi. Khi sức nóng hấp chúng tôi, bắt mồ-hôi chúng tôi tuôn chảy ướt nhèm quần áo, xe qua Bầu Lâm, Bà Tô. Hai địa danh này, ít nhất, có bốn trại lao-cải dành cho các ông trong ủy-ban xã, ấp, khóm, phường của chế-độ cũ, dành cho những người vượt biên thiếu may-mắn, dành cho tù-nhân hình-sự chế-độ cũ và “đệ-tử tiên nâu tiên trắng”. Ngọc Thứ Lang, tên cúng cơm Nguyễn Ngọc Tú, hỗn-danh Tú Lệch, dịch giả Bố Già tài tình, đã chết nơi đây vì can tội “chống chủ-nghĩa mác-xít bằng chủ-nghĩa choác-hít”.

Đúng trưa, xe chở sức-vật tới đích. Nó ngừng ở sân phía ngoài trại. Tấm vải bố che kín phía sau được lột lên và cửa sắt mở tung. Chúng tôi đứng dậy chờ lệnh.

– Tôi gọi tên anh nào, anh ấy hô có rồi nhẩy xuống khẩn-trương. Rõ chưa?

Chúng tôi đồng thanh đáp:

– Rõ.

Ba lô may ở Chí Hòa máng hai vai, tay xách giỏ thực-phẩm, chúng tôi chuẩn bị một “saut tù”, chắc chắn, lâm ly hơn “saut đêm” của thi sĩ Hà Huyền Chi.

– Trần Duy Cát.

Đằng Giao len ra và nhẩy…dù! Người lính nhẩy dù bất-đắc-dĩ ngã chúi . Vệ-binh ôm súng cười khoái-chí. Gã công-an dục:

– Ngồi dậy khẩn-trương! Ra xếp hàng chỗ kia!

Đằng Giao đứng dậy thật nhanh, sửa lại hành-lý và bước đến chỗ ngồi chỉ-định.

– Nguyễn Mạnh Côn.

Tác-giả Ba người lính nhẩy dù lâm nạn… lâm nạn thật sự. Đằng Vân Hầu 1 không thề đằng vân giá vũ. Cái tước hầu của anh đã bị xóa bỏ. Anh ta ném hai cái bị xuống trước rồi “bông nhông” sau. Như vậy, anh ta chỉ bị…khuỵu.

– Vũ Mộng Long.

Tôi nhẩy… kiểu thế vận hội lao-cải! Kiểu này khác Tango, Rumba, Valse. Càng khác Twist, Disco. Có lẽ nó là kiểu à gâu gâu. Nhưng mà vẫn ngã bổ nhoài. Tôi ngậm-ngùi đứng dậy và lặng-lẽ bước đến ngồi cạnh Đằng Giao. Huyết-thống tổ-tiên tôi không có “anh-hùng-tính” và tôi đã không có tinh-thần “uy-vũ bất-năng- khuất”. Phải chi tôi di-tản qua Mỹ trước 30-4-1 975 hay chẳng hề bị tù-đầy, tôi sẽ viết báo chửi tôi khiếp-nhược đầu-hàng cộng-sản”. Phải hét lớn: “Bố quốc-gia đây, bố đếch nhẩy, các con cộng-sản làm gì bố thì làm”, rồi có bị bọn chăn trâu cắt cỏ, bị đục sưng phổi, dập lá lách, tôi sẽ phong tôi làm anh-hùng tù ngục. Tuy nhiên, sẽ không anh nào gửi về an-ủi tôi một lọ dầu cù-là… Mỹ! Vậy thì tôi hèn và tôi khước-từ làm anh-hùng đào-ngũ ngồi viết sử đấu-tranh.

– Ông thầy, ngậm ngùi quá hả? – Đằng Giao thầm-thì hỏi tôi.

– Hãy còn xanh, nó sẽ chín vàng, chín vàng ửng, vàng như ước mơ.

Cái động đầu tiên của trại tập-trung đấy. Nó là tiếng ngã huỳnh-huỵch. Chúng tôi đã biến thành chìa khóa mở một kho cười no-nê cho đám công-an coi tù. Trẻ nhẩy. Già nhẩy. Màn nhẩy dù kéo dài cả tiếng đồng-hồ. Chúng tôi ngồi giữa nắng chang-chang, đầu trần. Nô-lệ thời Trung-cổ còn sướng hơn chúng tôi. Công-an thì tà-tà. Công việc tiếp-nhận tù có chi gấp-gáp. Nắng làm chúng tôi hoa mắt và khát khô họng. Chúng tôi há hốc miệng, chứ chưa thè lưỡi thôi. Lệnh bắt chúng tôi ngồi yên tại chỗ. Tôi bỗng tương-tư Chí Hòa. Châm ngôn của tù-nhân cộng-sản là “Nơi sắp đến khốn nạn hơn nơi đã đến. Ngày mai thê thảm hơn hôm nay”. Biết thế mà vẫn thèm thay chỗ, đổi không khí và rồi chán ngán.

– Ông thầy!

– Gì?

– Mình bỏ xác tại đây mất.

– Bậy nào.

– Mình tù lâu quá rồi.

– Một vụ nghỉ hè trong đời sống. Vài tháng nữa, mình về. Hè của học trò ba tháng. Hè của tù-nhân ba năm.

– Ông lại tin nó.

– Tôi tin tôi. Vẽ ra niềm tin mà sống chứ.

Công-an đã kê bàn trước mặt chúng tôi. Họ bắt chúng tôi kê-khai lý-lịch. Từng người lên bàn. Đứng nghiêm và đứng cách xa cán-bộ ba thước. Luôn luôn, cộng-sản cảnh-giác cao độ. Lớn cảnh-giác lớn. Bé cảnh-giác bé. Cảnh-giác mọi lãnh-vực. Cảnh-giác làm việc và cảnh-giác rong chơi. Bài học cảnh-giác được thi-hành triệt-để. Từ trên xuống dưới. Học tập dài dài. Thời chiến và thời bình. Cảnh-giác địch và cảnh-giác ta.

Chúng tôi lại phải làm công việc kê khai tên tuổi, chỗ sinh, chỗ sống, nghề-nghiệp cũ: can tội gì, bị bắt ngày nào, cơ-quan nào bắt vân vân… Tôi đã khai đến nát bét lý-lịch. Có một lần, ở khu Cl đề-lao Gia Định, Hai Phận đã làm tôi sửng-sốt về tội-trạng của tôi. Họ cầm tờ khai lý-lịch của tôi đứng ngoài cửa phòng gọi tôi:

– Vũ Mộng Long.

– Tôi là Trưởng khu, anh phải dạ vâng.

– Dạ.

– Anh can tội gì?

– Nhà văn chế-độ cũ.

– Sai. Anh viết lại đi.

– Thưa ông Trưởng khu, viết thế nào ạ?

– Vũ MộngLong can tội Duyên Anh!

Hai Phận vĩ-đại đã tặng cả phòng một trận cười khi hắn khuất dạng. Tôi cũng cười ra nước mắt. Về sau, suy nghĩ kỹ tôi mới thấy Hai Phận vĩ-đại hơn Hồ Chí Minh. Vũ Mộng Long có tội gì đâu. Duyên Anh gây ra đủ thứ tội. Thế nên, tôi đã yêu Vũ Mộng Long mà ghét Duyên Anh thậm tệ. Ở đây, ở cái trại tập-trung khổ-sai lao-động tôi chưa biết tên này. Người ta chấp nhận Vũ Mộng Long, bút hiệu Duyên Anh, can tội nhà văn phản-động, dẫu hồ-sơ Trung-ương ghi rõ tôi can tội “Đảng viên Duy Dân trốn trình-diện học-tập, trong tổ-chức chống phá cách-mạng hiện-hành”.

Phải mất thêm hai tiếng đồng-hồ phơi nắng nữa thủ-tục nhập trại mới của chúng tôi mới xong. Rồi chúng tôi được tách thành hai nhóm và được dẫn vào trại, chỉ-định nơi ăn chốn ở.

° ° °

Trại tập-trung khổ-sai lao-động này có Hòm-thư mang bí số TH6 Xuyên Mộc, Đồng Nai. Nghĩa là trại TH6 thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Đồng Nai. Riêng huyện Xuyên Mộc đã vượt chỉ tiêu 6 trại lao-cải. Cả tỉnh Đồng Nai nhân lên bao nhiêu lần?

TH6, khi tôi tới, chưa nhốt tù-nhân sĩ-quan Quân-lực Việt Nam Cộng-hòa. Mà chỉ toàn sĩ-quan cảnh-sát đặc biệt, cảnh-sát tư-pháp, sĩ-quan, hạ sĩ-quan Phủ đặc-ủy Trung-ương tình-báo, vài ông thẩm-phán và tù-nhân hình-sự đa-số mang tiền-án du-thủ du-thực dưới chế-độ cũ. Khoảng mười dẫy nhà mái tôn, nền đất, tường ghép bằng cây dài, to cỡ cánh tay, chôn sâu chẳng mấy hứa hẹn an-ninh cho những tay thích trốn trại. Mỗi dẫy nhà chứa trên dưới 150 tù-nhân gồm 3 đội. Nhà “kiến trúc” hai tầng, do tù-nhân xây cất.

Tầng dưới phải khom lưng, đứng thẳng người sẽ đụng đầu. “Sàn gác” cũng ghép bằng cây nhỏ còn nguyên vỏ, nằm ê ẩm mình mẩy. Một cái cầu tiêu ba chỗ ngồi đại-tiện phía sau và ở ngay trong nhà. Cầu tiêu “kiến trúc” rất ly-kỳ xứng đáng đoạt giải Roma, nếu dự thi như kiến-trúc-sư Ngô Viết Thụ. Ngó xuống lỗ cầu sẽ thấy cái máng gỗ chứa phân. Không nên để nước tiểu và nước rửa đít chảy vào máng chứa phân. Như thế, nước tiểu sẽ ngấm qua phân, rỉ xuống đất qua kẽ hở của máng chứa phân và tạo thành mùi thối… trường-kỳ. Trường-kỳ kháng-chiến nhất-định thắng-lợi nhưng trường-kỳ thối sẽ hủy diệt khứu-giác. Do đó, “kiến-trúc-sư” tù của Đội xây cất mới dùng tôn mỏng sáng-chế một kiểu ống máng rất hiện-thực xã-hội chủ-nghĩa. Ống máng nầy nghiên-cứu kỹ-lưỡng trước khi thiết-kế. Nó vừa đúng tầm phóng ngắn của “vòi nước”. Nhỡ phóng mạnh: văng ra ngoài không sao, đừng ào ào xuống máng chứa phân là hợp tiêu chuẩn cải tạo. Ống máng chạy về phía sau lưng tù-nhân ngồi đại tiện thì rộng ra để tù-nhân thiếu giấy chùi, có thể, đem bình nước, ca nước lết lùi vài bước mà rửa hậu-môn. Nước rửa và nước tiểu trôi qua cái ống mà tuôn vào cái hồ chứa có nắp đậy, bên ngoài bức tường cây ghép. Nước tiểu sẽ dùng để tưới rau xanh. Đội rau xanh sẽ lo múc gánh đi, mỗi sáng. Và, mỗi sáng. khi các đội đi lao-động hết, trừ những ai khai ốm nằm nhà, tù-nhân thuộc Tổ vệ-sinh kéo các thùng phân đã đầy có ngọn ra, xếp lên xe cải-tiến. Xe cải-tiến là thứ xe ba-gác, lốp đặc. Miền Nam đã chê bỏ từ lâu. Nhưng, ở miền Bắc, xe cải-tiến là cuộc cách-mạng vĩ-đại nhằm giải-phóng đôi vai phụ-nữ nông- thôn. Phụ-nữ nông-thôn miền Bắc gánh gồng vất-vả. Đảng sáng-tạo xe cải-tiến. Thay vì gánh, phụ-nữ kéo xe cải-tiến oằn vai như bò, như ngựa vậy. Để hợp nếp- sống văn-hóa mới, tù-nhân đậy lá chuối kín các máng chứa phân. Rồi anh ta xối nước rửa máng tiểu, rửa phân dính quanh lỗ cầu, rửa sàn cầu. Anh ta lại kê máng chứa phân mới đã lót sẵn mạt-cưa. Trại có xưởng cưa, tha hồ nhiều mạt. Công việc xong xuôi, anh ta kéo xe phân tới kho phân của đội rau xanh mà đổ. Rồi kiếm suối rửa xe, rửa máng. Rồi chọn khúc suối trên nước chảy róc-rách mà tắm gội, xát xà-phòng thơm vài lần. Rồi kéo xe về trại. Rồi nghỉ ngơi. Rồi lo ca cóng cải- thiện bữa ăn. Một ngày lao-động có một giờ, nhàn quá.

Tù-nhân đặc-trách vệ-sinh nhà-cầu nhiều đặc-quyền, đặc-lợi. Có quyền đi vung-vít trong, ngoài trại. Có quyền nhận riêng thực-phẩm của nhà bếp để nấu nướng riêng. Có quyền nấu nướng hai bữa. Có thể xin rau của Đội rau xanh và câu cá, mò cua, xúc tép . Có thể nuôi gà nữa. Chỉ thiệt thòi một tí là mũi sẽ điếc, sẽ hết đánh hơi thấy “thoảng hương thơm một da thịt đàn bà!.

Hai tù-nhân tình-nguyện làm công việc phu đổ thùng là hai vị thẩm-phán của Tòa Thượng-thẩm Sài gòn. Nhưng phu đổ thùng, bạn biết chưa? Lịch-sử đổ thùng như vầy: Trước cách-mạng 19-8-1945 , dân chúng Hà nội 2 đã chơi cái trò đại-tiện kiểu đại-tiện của tù-nhân ở các trại lao-cải. Dĩ nhiên, nhà xí thuộc phạm vi gia đình nên nó văn-minh hơn. Năm giờ sáng, các ông phu đổ thùng chở thùng mới vào thành phổ bằng đôi bồ có nắp đậy và gánh hai thùng phân ra tận ngoại-ô bán cho nông-dân. Thuở ấy, làm nghề thầu phân béo bổ, lại không thất đức như thầu vé chợ. Nhà thầu thuê phu đổ thùng. Phân bắc quý lắm. Bởi vậy, có khối bà địa-chủ, khuyên vàng, xà-tích rủng-rỉnh mà dám xắn ống tay áo lên cao, đưa cánh tay trần chạm đáy thùng xia khoắng kỹ xem thùng xia nhiều giấy hay ít để định giá. Sau cách-mạng 19-8-1945, phu đổ thùng vẫn đeo nhãn hiệu phu đổ thùng. Mãi sau cuộc cải-cách ruộng đất 1956, vô-sản vùng lên dữ-dội thì phu đổ thùng hóa kiếp “công-nhân vệ-sinh đặc-trách” đổ thùng. Phùng Quán tả sự ghê rợn của đổ thùng:

Tôi đã gặp

Chị em công-nhân đổ thùng

Yếm rách chân trần

Quần xăn quá gối

Run lây-bẩy chui vào hầm xia tối

Vác những thùng phân

Ta thuê một vạn một thùng

Có người không dám vác

Hà-nội từ 1973 đã được mệnh-danh là “thủ-đô của phẩm-cách con người”. Và, mặc dù, chủ-tịch Hồ Chí Minh ba-hoa “Đánh xong giặc Mỹ ta sẽ xây-dựng bằng mười năm xưa”, bi-cảnh đổ thùng còn tiếp diễn và muôn đời tiếp nối. Sự nghiệp đổ thùng của nhân-dân sống mãi trong chủ-nghĩa cộng-sản Việt Nam như “Bác Hồ vĩ-đại sống mãi trong sự-nghiệp” đổ thùng của nhân-dân vậy.

Tôi không hiểu tại sao hai vị thẩm-phán của Toà Thượng-thẩm Sàigòn 3 lại dám làm công-việc mà, đói rã họng “Ta thuê một vạn một thùng, Có người không dám vác”? Nghe một vị thẩm-phán có vợ bác-sĩ y-khoa thuyết-trình công-tác lao-động đổ thùng, Đằng Giao khoái quá, hỏi tôi:

– Hay là ông thầy và tôi tình nguyện đổ thùng nhé!

– Cảm hứng nào thế?

– Mình ngu, ở lại để đi tù là đáng ăn một thùng cứt.Mình không dám ăn thì đi đổ vậy.

– Rất đúng.

Vị thẩm-phán nói tình-nguyện đổ thùng sẽ bị nghi ngờ. Phải phấn-đấu cam-go vô cùng. Nhờ đó, tôi tìm được câu trả-lời tại sao hai vị thẩm-phán anh-dũng đổ thùng. Ông Trưởng Công Cừu thuyết trình về “triết học” Tam- túc cộng với Tam-giác cộng với Tam-nhân thành Nhân-vị ở một khoá học-tập Ấp Chiến Lược năm 1962 đã phán một câu chí-lý: “Người trí -thức muốn làm đẹp xã -hội, cần phải xông vào những nơi nhơ bẩn nhất để làm cho nó sạch-sẽ, thơm tho”. Đã chẳng một trí-thức nào xông vào những nơi nhơ-bẩn mà chỉ thấy trí-thức xông vào những nơi ăn-bẩn! Trí-thức, nhất là trí-thức khoa-bảng, vốn sợ khó, sợ khổ. Hôm nay bị cộng-sản nó cưỡng-bức lao-động, vẫn cố cách xoay sở chỗ nhàn-hạ, dẫu có bị ngửi phân tiểu đến điếc mũi hết ngửi nổi mùi da thịt của vợ mình.

– Anh ạ, vợ tôi sợ tôi chết khứu giác, đã mua cái mặt nạ chống hơi ngạt gửi cho tôi.

– Ông có đeo mặt nạ đổ thùng không?

– Có!

– Rồi sao?

– Cán-bộ tịch thu.

– Vô lý!

– Vâng, thật vô lý. Cán-bộ bảo tôi thiếu thiện-chí…đổ thùng, chưa tiến-bộ còn nặng đầu óc tiểu-tư-sản trí-thức.

Thôi, tôi quên cái cầu tiêu và sự tiến-bộ đổ thùng của hai vị thẩm phán mà những ai đã ở TH6A trước và sau tôi đều thuộc tên nhớ mặt.

Tôi tả tiếp sinh-hoạt của “cái nhà”. Ở trại tập-trung, người ta không gọi “phòng” mà gọi “nhà”. Tù-nhân chịu trách-nhiệm vệ-sinh, trật-tự toàn nhà gọi là Nhà-trưởng! Nhà-trưởng bắt buộc phải làm Đội-trưởng. Vì nhà có hai tầng nên thường xuyên xẩy ra cãi-cọ. Thí-dụ trên gác vô ý đánh đổ nước uống, nước mắm, lau nước điếu xuống dưới. Thí dụ quét bụi, giũ bụi không báo trước.Vân vân.

Sinh-hoạt của các trại lao-cải rập theo một chính-sách, một tổ-chức. Mỗi trại, thông thuờng có bây nhiêu đội:

1- Đội cấp dưỡng: Phụ-trách công-tác ăn uống cho tù-nhân toàn trại.

2. Đội xây cất: Phụ-trách xây dựng nhà cửa cho tù-nhân và các công-trình xây cất của trại.

3. Đội lâm-sản: Phụ-trách công-tác chặt cây, chặt tre, cung-cấp cho đội xây dựng và chặt củi cho đội cấp dưỡng.

4. Đội vận-chuyển: Phụ-trách kéo, đẩy xe cải-tiến chuyên-chở thực-phẩm, hàng-hóa.

5. Đội rau xanh: Phụ trách trồng rau cung-cấp cho nhà bếp.

6. Đội nông-nghiệp: Phụ-trách trồng khoai, sắn, bắp, lúa…

7. Đội chăn nuôi: Phụ-trách nuôi heo, nuôi bò.

8. Đội văn-nghệ: Phụ trách ca múa, đàn sáo…

9. Đội linh-tinh: Đội này gồm nhiều tổ như Tổ y-tế, Tổ vệ-sinh, Tổ thiết-kế, Tổ trật-tự, Tổ thông-tin văn-hóa, Tổ thăm nuôi…

Nếu trại chứa 1000 tù-nhân, ít nhất, có 4 Đội rau xanh, 3 Đội lâm sản. Đội nông nghiệp thì trại nào cũng đông cả. Một đội không quá 50 người. Đội trưởng, Đội phó, Thư-ký do Ban giám-thị chỉ-định. Tổ trưởng do cán-bộ quản-giáo chỉ-định. Đội trưởng được miễn lao-động 100 phần 100. Đội phó được miễn 50 phần 100. Thư-ký lao-động huỳnh-huỵch. Quản-giáo là ông thầy của lớp học lao-cải. Ông thầy săn sóc cả phần tư-tưởng lẫn phần lao-động. Khi dẫn đội ra hiện-trường lao-động, ông thầy quản-giáo đeo súng ngắn. Hai vệ-binh đeo súng AK. Đội trưởng là một chức vụ não-nề nhất của thân-phận tù. Chỉ những thẳng ngu-si, đần-độn mới ham làm Đội trưởng và chức-sắc trong tù. Miễn lao-động nhưng Đội trưởng phải đôn-đốc tù-nhân của đội lao-động tích-cực. Nội cái khoản đôn-đốc lao-động đã bị chửi xéo, chửi thầm mục mả rồi. Chưa kể, Đội trưởng “phải thay mặt cán-bộ kiểm-soát tư-tưởng của đội khi không ở hiện-trường lao-động, phải báo cáo cán-bộ mọi diễn-biến tư-tưởng của đội”. Cái khoản này hãi-hùng cao độ, dễ đưa nhau vào thù hận. Hai khoản cộng lại, dồn Đội trưởng vào thế trên đe dưới búa. Ù-lỳ thì bị quản-giáo “giáo-dục” tơi-bời, bị làm tự kiểm, bị gọi lên Ban giám-thị. Tích cực thì bị anh em thù ghét, nguyền-rủa. Đó là thân-phận Đội trưởng. Đổ thùng yên ổn nhất, không ai thích hít phân nên chẳng ai thèm chú ý thằng đổ thùng. Khổ nỗi, ở tù là phi-ní tự-do, không có quyền chọn lựa công-tác lao-động. Muốn đổ phân lại bị làm…văn-nghệ! Không muốn làm Đội trưởng mà Ban giám-thị chỉ-định làm Đội trưởng, Nhà trưởng vẫn cứ đau khổ “hồ-hởi phấn-khởi”. Từ-chối đồng nghĩa với chống đối cách-mạng. Quan-điểm chính-trị bị nâng cao vút. Anh khinh-nhờn sự chiếu-cố của cách-mạng là anh không thích tiến-bộ, là anh nuôi dưỡng tư-tưởng phản-động, là anh cầm chắc sự khốn-nạn suốt quá-trình lao-cải.

Người cộng-sản dùng câu Tư-Tưởng Thể-Hiện Hành-Động làm khuôn vàng thước ngọc đề đo tâm-hồn con người. Khuôn vàng này là bảo-sinh-viện của gian dối. Con người cộng-sản và con người trong chế-độ cộng-sản suốt đời đóng kịch giả vờ. Buồn phải giả vờ vui. Đói phải giả vờ no. Đau khổ phải giả vờ hạnh-phúc. Chổng-đối phải giả vờ ủng-hộ. Đả-đảo phải giả vờ hoan-hô. Ghét phải nói yêu. Tí-hon phải nói vĩ-đại. Thua phải nói thắng. Vân vân. Chân-lý là xa-xỉ-phẩm dưới vòm trời cộng-sản. Thi-sĩ Phùng Quán đã khao-khát sự chân-thật. Ông tuyên-chiến với chủ-nghĩa cộng-sản chỉ vì “Tôi muốn làm nhà văn chân-thật, chân-thật trọn đời”. Những kẻ chân-thật trọn đời không có đất sống dưới ánh mặt trời Đảng. Họ sẽ bị hủy-diệt hoặc sẽ bị tẩy não để đồng-hóa với gian dối.

Ở trại cải-tạo, giáo điều Tư-Tưởng Thể-Hiện Hành-Động được các bậc thẩy quản-giáo ranh con suy-diễn thêm: “Hành-động tốt thì tư-tưởng tốt. Tư-tưởng tốt do lao-động tích-cực. Lao-động chính là thước đo giá-trị con người. Nhưng muốn tư-tưởng tốt, cần triệt-để thi-hành đúng Nội- quy, Tiêu-chuẩn cải-tạo và Nếp sống văn-hóa mới”. Những tù-nhân khôn ngoan nhất, thông-minh nhất là những tù-nhân quán-triệt cái võ-đạo của nhà Mộ Dung. Mày muốn tư-tưởng thể-hiện hành-động thì ông thể-hiện hành-động. Ông giả vờ khiếp-nhược, ông nín thở qua cầu. Tâm-sự của ông, ông dấu kỹ đáy tim, mày sao biết nổi. Những tù-nhân thích chân-thật, thích khoe móng vuốt thích thể-hiện sự chống đối, đều bị rơi vào bẫy…cải-tạo. Hiển nhiên, họ bị chặt hết nanh vuốt, bị đầy đoạ tới mức bị cô- lập. Cuối cùng, họ trở thành những người khiếp-nhược hơn cả những kẻ đã bị họ miệt thị khiếp-nhược.

Cộng-sản độc-quyền anh-hùng. Phải nhớ kỹ điều đó ! Họ tự nhận họ ưu-việt, ”cái nôi của loài người đỉnh cao của trí tuệ”. Sự ngạo-mạn phát-xít đó không cho phép những kẻ chống đối họ làm anh-hùng trong thế-giới của họ. Cộng-sản lại không ngu-si đần-độn như đa số những người chống họ tưởng-tượng. Họ rất giỏi sự quản-lý con người và kiêu-ngạo.

Cho những anh trung-sĩ giáo-dục đại-tá, nhà văn, nghệ-sĩ, thẩm-phán, bộ trưởng, bác-sĩ của chúng ta, họ quả là kiêu-ngạo xấc-xược, thứ kiêu-ngạo đầy mặc-cảm. Vị đại-tá Quân-lực Việt Nam Cộng-hoà có nên anh-dũng chống đối thằng trung-sĩ chăn trâu cắt cỏ về tư tưởng không nhỉ? Thế thì giả vờ và gian dối là triết-lý sống tuyệt hảo ở trại lao-cải cộng-sản. Tiếc thay, người ta đã không đủ kiến-thức cộng-sản, không có kinh-nghiệm cộng-sản để đương đầu cộng-sản trong nghịch-cảnh. Nhưng trách chi? Hai mươi năm chống cộng-sản, chúng ta có nghiên-cứu chủ-nghĩa cộng-sản đâu? Chúng ta chỉ hô to một khẩu-hiệu “Đả đảo cộng-sản”!

——————————–

  1. Một bút hiệu ký ở mục Bẩy Ngày Đêm Tính Quẩn Chuyện Đời trên tuần-báo VNTP của Nguyễn Mạnh Côn.
  2. Và các thành phố, các thị-xã miền Bắc luôn.
  3. Xin miễn nêu tên.

Cho Người nằm xuống

baotreonline.com

Nguyễn Sinh

Post on April 27th, 2023

Post by Sơn râu 27 Jun 2024

Ông Lý Văn Lang xưa cũng là lính Biệt động quân trong quân đội VNCH (KBC 4822). Khoảng chục năm trở lại đây, ông tìm đến Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa xin làm công việc tạp vụ, nhổ cỏ, quét dọn, hương khói…cho mộ phần các tử sĩ VNCH…

Căn nhà cuối cùng

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa (cũ) thành lập ngày 17-6-1968 theo sáng kiến của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với dự trù chứa 30 nghìn mộ phần. Mộ phần đầu tiên tại nghĩa trang được ghi nhận là của một người lính vô danh ở Gò Vấp. Tiếp theo, các trận Mậu Thân 1968, mùa Hè đỏ lửa 1972 đưa về thêm trên 10 nghìn tử sĩ. Tới hết tháng 3/1975 tổng cộng có trên 16 nghìn tử sĩ chôn cất tại đây và tồn tại đến giờ. Ðược biết nghĩa trang này xưa không chỉ dành chôn cất các chiến binh, sĩ quan, tướng lãnh mà còn làm nơi yên nghỉ cho các thành viên chính phủ VNCH. Trước năm 1970, nghĩa trang đã hoàn tất một số đường nội bộ, tượng đài Thương Tiếc, cổng Tam Quan, đài Tử sĩ… Sau sự kiện “tháng 4 đen”, nghĩa trang được Cộng sản tiếp quản rồi bàn giao cho Quân khu 7. Tháng 11/2006, chính quyền Cộng sản quyết định chuyển khu nghĩa trang này sang sử dụng dân sự. Hiện nay Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa đổi tên là Nghĩa trang Nhân dân Bình An (Công ty công trình công cộng tỉnh Bình Dương quản lý). Qua hơn 47 năm “thi gan cùng tuế nguyệt”, nhiều khu mộ các tử sĩ VNCH tại đây (nhất là những ngôi mộ vô thừa nhận) đang xuống cấp trầm trọng. Nếu không được chăm sóc, tu bồi, chẳng bao lâu nữa những nấm mộ này sẽ thành đất bằng, không còn vết tích. Rất may có một người đàn ông đã tự nguyện tìm đến làm những công việc này. Ðó là ông Lý Văn Lang, năm nay 72 tuổi, hiện sống tại đường Hậu Giang (quận 6, Sài Gòn)

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa xưa đã đổi tên

Từ một căn duyên

Ông Lý Văn Lang xưa cũng là lính Biệt động quân trong quân đội VNCH (KBC 4822). Khoảng chục năm trở lại đây, ông tìm đến Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa xin làm công việc tạp vụ, nhổ cỏ, quét dọn, hương khói…cho mộ phần các tử sĩ VNCH (dĩ nhiên không có lương!). Ông Lang tâm sự kể nguyên do: “Một lần tôi thấy người ta đưa cỗ quan tài trên đường mà không có thân nhân đi theo. Hỏi mới biết anh này vừa chết trận mà cũng không ai rõ tên tuổi là gì. Nên tôi “xung phong” làm người tiễn anh về nơi an nghỉ sau cùng. Mấy chục năm sau, tôi vẫn luôn trăn trở, băn khoăn về các mộ phần tử sĩ VNCH ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, nơi ngày càng xuống cấp, chẳng ai quan tâm. Tôi biết có những ngôi mộ được xây lúc đầu còn có bia ghi tên tuổi rõ ràng, song càng gần thời điểm tháng 4/1975 đa số là dựng vội, đôi khi chỉ đắp một nấm đất tạm bợ…”.

Ông Lang chào kính trước những mộ phần tử sĩ ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa

Từ năm 2013, hàng tuần ông Lang dành ít nhất 1-2 ngày tìm tới nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, xin Ban quản trị cho làm công việc tạp dịch, chăm sóc các ngôi mộ tử sĩ VNCH và được cho phép. Bằng số tiền túi khiêm tốn của mình, ông mua nhang, những phẩm vật mang đến cúng tế các mộ phần nhất là trong những dịp tháng 7 âm lịch, ngày Chiến sĩ trận vong, ngày Giáng sinh, Tết nhất…Ông cảm thấy đau lòng khi chứng kiến những phần mộ bị cây rễ mọc xâm lấn, bị rong rêu, lá mục che phủ, những tấm mộ bia nứt vỡ, những gương mặt chiến hữu năm xưa cứ rạn vỡ, phai mờ theo năm tháng…Một lần nữa ông xin Ban quản trị nghĩa trang cho ông được phục hồi những tấm bia mộ bị hư hại, bằng tiền riêng “có nhiêu làm bấy nhiêu”.

Rất nhiều mộ bia tử sĩ VNCH bị hư hỏng, nứt vỡ, cây cối mọc um tùm xâm lấn

Đồng đội không lìa

Mãi đầu năm 2022, người ta mới đồng ý “phê duyệt” công việc của ông. Ông nói thêm: “Họ cho phép mình phục hồi lại những tấm bia bị gãy vỡ. Bởi tôi nghĩ chỉ vậy tên tuổi các anh sẽ rõ ràng và gìn giữ được lâu. Ban quản trị cũng đề nghị nếu muốn phục hồi lại bia mộ nào thì chụp hình lại để họ làm theo mẫu có sẵn. Bên cạnh dựng bia mới, những tấm bia cũ vẫn giữ lại để sau này thuận tiện cho thân nhân, chiến hữu tử sĩ (nếu có) về đây tìm kiếm dễ dàng nhận diện. Ðến tháng 5/2022, Ban quản trị nghĩa trang báo thêm tin vui sẽ cho đào bỏ, cưa cắt những gốc cây to có rễ ăn sâu xuống lòng đất, xuyên qua các mộ phần cũng như sửa chữa, xây lại những mộ phần bị sập lún cũng như cho phép dán gạch men các ngôi mộ này để bảo quản lâu dài…”.

Ông Lang hàng ngày không quản công chăm sóc, hương khói cho các mộ phần

Ðược biết, nghĩa trang hiện có khoảng 8,000/16,050 ngôi mộ mất bia do nhiều nguyên nhân. Ông Lang cho biết để phục hồi những tấm bia, dán gạch các mộ phần này khá tốn kém. Cụ thể 1 tấm bia đá ghi tên tử sĩ đặt trước mộ giá 100 – 500 nghìn VNÐ (tùy loại,  dán gạch men toàn phần giá đến 2 triệu VNÐ/ngôi mộ. Trước mắt, ông Lang hợp đồng cùng Ban quản trị tiến hành phục dựng 1,000 tấm bia, dán gạch men toàn phần cho 400 ngôi mộ hư hại nặng cũng như đặt nhà thầu đào bỏ những gốc cây xâm lấn các mộ phần. Tới cuối tháng 10/2022, khoảng 75% công việc này được ông phối hợp cùng Ban quản trị đã hoàn thành xong.

Làm lễ cúng và an vị cho các mộ phần đã được sửa chữa

 Món nợ nghĩa tình

Ông Lang tâm sự: “Bản thân tôi luôn hoài niệm về một thời mà bản thân mình từng dự phần trong cuộc chiến năm xưa dù đã qua gần nửa thế kỷ. Với món nợ nghĩa tình ấy, tôi nguyện đem hết sức mình làm được gì thì làm, để vong linh các tử sĩ cảm thấy ấm áp và ước sao khoảng 10% số mộ phần trong nghĩa trang được tu sửa như đang làm hiện nay là tôi quá mãn nguyện. Tôi nghĩ đây cũng là một món “quà” Xuân dành cho các anh em tử sĩ đã nằm xuống nhất là dịp Tết Quý Mão sắp đến. Tới nay tôi cũng nhận được khoảng 100 nghìn USD của các vị, phần lớn ở hải ngoại gửi về với tấm lòng nhân ái tưởng nhớ đến những người cùng thời đã nằm xuống cho một vùng miền đất nước, nay phải chịu cảnh mồ hoang mả lạnh. Thay mặt vong linh anh em tử sĩ VNCH tôi vô cùng cảm ơn.

…hương khói cho các mộ phần

Nếu quý vị quan tâm thêm về công việc của tôi,

có thể vào trang:

http://facebook.com/vanlang.ly.585

hoặc

email: lyvanlang2019gmail.com.

Về phần đóng góp (nếu được) xin gửi vào tài khoản báo Trẻ Weekly

Tre Magazine

3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044

Check xin ghi:

Tre Magazine

Memo: Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

hoặc gởi trực tiếp cho:

Huỳnh Thị Thùy Dung

Số tài khoản: 037 100 390 2522, Ngân hàng Vietcombank, chi nhánh Tân Định, Sài Gòn.

Swift Code: BFTVVNVX.

Đây là số tài khoản cháu gái tôi, vì tôi lớn tuổi không sử dụng tài khoản ngân hàng riêng

Đầu nguồn cuối sông

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted 14 Mar 2020

Post by 27 Jun 2024

Google photos

Kỳ 3

Gần trưa hôm sau chúng tôi lại lên đường, sau khi cho người đem “quà tặng” cho Hoàng Mai và Thẩm Quyền 12, tức là anh sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn.

Nhận được con gà trống và cái đùi heo, ông tiểu đoàn trưởng và anh sĩ quan Ban 3 cám ơn rối rít.

Năm mươi năm sau, người nhận được con gà đang cư ngụ ở Massachusetts, USA còn nhớ chuyện này, còn người nhận được cái đùi heo, đang ở California, USA thì quên mất rồi!

Thiếu úy Duyên và Trung đội 1 làm công tác đoạn hậu, có nhiệm vụ đốt trụi ba cái nhà tranh của toán dân quân tăng gia sản xuất Việt-Cộng trước khi rời vị trí. Chúng tôi vẫn đi theo đường xe thồ cặp bờ sông. Bên phải đường là dòng nước đục ngầu, bên trái đường là rừng tre rậm rạp. Thêm hai cây số về hướng Tây Nam, tới chỗ ghềnh đá, nước chảy xiết, sùi bọt trắng xóa, khoảng cách giữa đôi bờ bị hẹp lại thì xuất hiện một cái cầu treo.

Cầu có bốn dây bện bằng mây. Cầu được cột chặt vào thân bốn cây cổ thụ loại gỗ mộc nơi hai bờ. Sàn cầu được đan bằng nẹp tre đực, nên rất vững chắc, xe đạp thồ có thể qua cầu không khó khăn.

Tôi tính ra lệnh chặt dây cầu, xong kịp nghĩ lại:

“Mình cứ phục ở đây. Biết đâu lại gặp món hời!”

Ngay lập tức tôi cho chốt chặn hai đầu trục tiến quân. Sau đó tôi đặt một khẩu đại liên M 60 đạn lên nòng sẵn sàng, nhắm ngay giữa lòng cầu; bất cứ ai bước lên sàn cầu chắc chắn sẽ chết.

Gần ba giờ chiều, tôi nghe bờ đối diện có tiếng tù và, “Ù! U! Ù! U! …” cùng bóng người ẩn hiện.

Không biết trả lời cách nào, tôi đành ra dấu cho anh em ngồi im.

Năm phút sau, có lẽ không nghe bờ bên này đáp trả, bờ bên kia lại phát ra ba tiếng súng, “Tóc! Tóc! Tóc!”

Chúng tôi vẫn ngồi im.

Hình như bên kia suối có người bắt đầu đi lên cầu. Có bóng một người, rồi hai, rồi ba… Phút sau chúng tôi nhìn thấy rõ, ba người đi đầu mặc đồ xanh bộ đội, thủ súng ngang hông. Theo sau ba tên bộ đội một quãng là một chiếc xe đạp thồ chất hàng cao nghệu, với một người dắt đằng trước và một người đẩy đằng sau. Sau lưng chiếc xe thồ còn hai người súng vác vai.

Khi đoàn người tới đoạn giữa của cây cầu, sức nặng và gió lộng khiến cho cây cầu chao qua chao lại giống như con đò gặp sóng trên sông.

Tôi vỗ tay vào nón sắt của Hạ sĩ Lưu Sanh ra hiệu khai hỏa, “Cành! Cành! Cành!”

Những khẩu M16 của tiểu đội cận vệ đại đội trưởng cũng “Ðùng! Ðùng! Ðùng!” bắn tiếp tay.

Tất cả cán binh đang di chuyển trên sàn cầu đều trúng đạn gục xuống, chắc chắn có vài tên đã bị bắn xuyên táo. Không lâu sau từ bờ bên kia có nhiều tràng AK bắn trả lại.

Một hỏa tập pháo binh đã sẵn sàng bắn phủ trùm khu rừng sát đầu cầu, bên kia sông.

Tôi gọi ông Thượng sĩ thường vụ đại đội lên, giao việc cho ông ấy nhanh chóng chặt đứt bốn sợi dây cầu.

Chỉ một phút sau, một đầu cầu rớt xuống lòng thác cuồn cuộn. Những vật nặng trên mặt cầu lập tức bị nước cuốn đi. Cây cầu cứ tưng tưng nhảy trên mặt sóng rồi đập vào ghềnh đá. Mặt trời lặn xuống từ từ…

Sáng ngày thứ mười của cuộc hành quân, tôi nhận lệnh tìm bãi để trực thăng Hoa-Kỳ sẽ tới bốc đại đội tôi về Di-Linh.

Chúng tôi ngồi chờ dài người tới trưa mới nghe tiếng máy bay “Bạch! Bạch! Bạch!”

Trên máy truyền tin là giọng một người lạ,

-Thái Sơn đây Phong Vũ.

-Thái Sơn nghe! Phong Vũ là ai vậy?

– Vũ Bình Chính đây! Có lệnh của Bạch Mai cho cả gia đình bạn nhổ neo về sân vận động Di-Linh nhận tái tiếp tế rồi ứng chiến tại đó!

Thì ra người vừa gọi tôi là Trung úy Vũ Bình Chính. Anh Chính là bạn cùng Khóa 20 Võ-Bị của tôi, anh ta mới đáo nhậm liên đoàn, giữ chức sĩ quan không trợ.

Chừng mười phút sau, một hợp đoàn trực thăng Mỹ tới bốc chúng tôi rời vùng. Tôi đi trên chiếc trực thăng chót, với toán lính sau cùng.

Vừa đạp chân xuống đất Di-Linh, tôi lại nghe,

-Thái Sơn chờ trên bãi, tôi sẽ đón bạn đi gặp Bạch Mai ngay.

Tôi chưa kịp dặn dò Thiếu úy Duyên những công việc cần phải làm thì chiếc C&C đã đáp; tôi leo lên; con tàu bay ngược vào rừng.

Thì ra bộ chỉ huy liên đoàn cũng đang ở trong rừng, nhưng đóng quân với một pháo đội Hoa-Kỳ trên ngọn đồi nhỏ nằm sát Tỉnh Lộ 8 B.

Nơi đây cách xa bến phà Kinh-Ðà chừng bốn cây số.

Vì tiếng động cơ máy bay rất ồn nên Chính phải ghé sát tai tôi,

– Không Kỵ Hoa-Kỳ vừa bốc được hai thằng lính đi lạc của bạn rồi thả ở căn cứ hỏa lực. Bạch Mai muốn bạn về xác nhận xem có phải tụi nó là người của Ðại Ðội 1/11 không?

Tôi thắc mắc,

– Không Kỵ vớt được tụi nó lúc nào vậy?

–  Mờ sáng ngày hôm nay Không Kỵ Mỹ bay qua vị trí mà đại đội của Long đáp xuống mấy hôm trước thì phát hiện dấu hiệu S.O.S vẽ trên cát, đồng thời có hai người quơ tay cầu cứu. Họ đã liên lạc với ban Cố Vấn của liên đoàn. Cố Vấn liên đoàn xác nhận rằng mình có hai người lính bị thất lạc mấy ngày nay, nên họ xuống bốc hai tên đó về căn cứ pháo binh, giao cho Ban An Ninh.

Xuống máy bay tôi thấy giữa sân cỏ, có hai người cởi trần, trên thân chỉ có cái quần đùi, ngồi chồm hổm trên nền đất.

Hai người này bị bịt mắt bằng vuông vải đen, hai tay bị trói quặt đàng sau.

Chính đưa tay ra dấu cho tôi đừng lên tiếng, rồi ghé tai tôi,

– Có phải hai thằng này là lính của Long không?

Vừa nhìn thoáng qua, tôi đã nhận ra, hai người trước mắt tôi chính là Binh 2 Phan Ðông và Binh 2 Lê Văn Hậu. Thằng Hậu thì lùn nhưng tròn quay, còn thằng Ðông lại vừa cao vừa gầy.

Thằng Ðông cao nhứt Trung đội 3, mỗi khi tập họp nó đều đứng ở đầu hàng, ngày nào mà tôi không thấy nó!

Vì thế, không cần phải tháo cái khăn đen bịt mặt thằng Ðông ra, tôi vẫn hình dung được một cái sẹo màu đen to bằng ngón tay cái nhìn giống như một miếng vá nằm ngay dưới con mắt trái của nó. Vết sẹo này nếu ai đã thấy một lần rồi thì sẽ khó quên.

Tôi gật đầu, rồi hỏi,

– Vậy mình phải làm thủ tục gì để nhận chúng nó về lại đơn vị?

– Long vào gặp Trung tá thì biết! An Ninh đã thẩm vấn hai thằng này rồi! Có một thằng là Việt-Cộng!

Dứt lời, Chính kéo tôi vào lều hành quân.

Trung tá Bùi Văn Sâm liên đoàn trưởng đang ngồi chờ tôi,

– Ông Long xem bản cung từ của An Ninh đi! Mấy cái Trung Tâm Tuyển Mộ Nhập Ngũ làm ăn tắc trách quá! Bổ sung cả cán bộ Việt-Cộng cho mình. Nếu đơn vị nào cũng làm việc ỡm ờ vô trách nhiệm như thế, thì theo cái đà này sớm muộn gì mình cũng mất nước thôi!

Trung tá Sâm vừa dứt lời, Thượng sĩ Mân, hạ sĩ quan An Ninh liên đoàn liền trao cho tôi một xấp giấy viết tay; đây là cung từ sơ khởi ghi lời khai của hai anh lính đào ngũ.

Trong hồ sơ của Binh 2 Phan Ðông, tôi đọc được:

Họ và tên: Phan Ðông

Năm sinh: 1950

Họ và tên cha: Vô danh

Họ và tên mẹ: Phan Thị Quý

Quê quán: Tân-Uyên, Biên-Hòa

Ðảng phái: Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam

Tham gia: 1965 (mười lăm tuổi)

Vai trò phụ trách: Ủy viên thanh niên học sinh Biên-Hòa

Trong một cuộc hành quân cảnh sát sau Tết Mậu Thân, tên Phan Ðông bị Tuần Cảnh Hỗn Hợp Quân Trấn Biên- Hòa bắt đưa vào Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ rồi chuyển sang Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Ðộng Quân Dục-Mỹ.

Ðầu tháng 6 năm 1968 đương sự được bổ sung cho Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.

Hai lần mưu toan đào ngũ, bất thành.

Tháng Sáu năm 1968, chỉ hai ngày sau khi đáo nhậm đơn vị, Ðông đã đeo theo sau chiếc xe đò Blao, Ðịnh-Quán định trốn thì bị Quân Cảnh Lâm-Ðồng bắt nhốt một tuần rồi trao trả cho Biệt Ðộng Quân.

Sau ngày lãnh lương cuối tháng Bảy, Phan Ðông đã dụ dỗ được Binh 2 Lê Văn Hậu cùng bỏ đơn vị ra đi từ Ðức-Trọng, Ðà-Lạt nhưng bị bạn bè phát giác phải bỏ cuộc.

Lần này, là lần thứ ba, Phan Ðông đã cùng Lê Văn Hậu đem theo vũ khí cá nhân và mười ngày lương khô, đào ngũ tại mặt trận.

Cả hai tên này dự trù sẽ men theo bờ sông Ðồng Nai Thượng (Da Dung) xuôi Nam, về Chiến Khu D.

Ngay buổi chiều, sau khi rời bãi trực thăng, hai tên đào ngũ đã rơi vào tay một đơn vị tăng gia sản xuất của Việt-Cộng. Ðơn vị Việt-Cộng này không có phương tiện vô tuyến truyền tin, nên lưu giữ chúng dưới hình thức giam lỏng.

Nương theo tin tức của Ðông và Hậu cung cấp, Việt-Cộng đã dùng quân phục rằn ri của hai đào binh này để giả trang, rồi tập kích các đơn vị Biệt Ðộng Quân đang có mặt trong vùng.

Sau khi hai cán binh Việt-Cộng giả dạng Biệt Ðộng Quân bị giết thì Ðông và Hậu bị cùm, kiên giam trong hầm, chờ huyện đội Di-Linh của Cộng-Sản xử trí.

Rồi huyện đội ra chỉ thị cho phép hai tên lính đào ngũ này sung vào đội tăng gia sản xuất của địa phương.

Tên Phan Ðông nại cớ mình là cán bộ trí vận của tỉnh Ðồng-Nai, không chịu ở lại xứ này, y cứ nài nỉ xin huyện đội Di-Linh cho người hộ tống y xuôi Nam.

Cũng trong thời gian này, Binh 2 Lê Văn Hậu khóc lóc suốt ngày, luôn mồm chửi bới tên Ðông đã rủ rê y vào con đường chết.

Tám ngày sau, Ðông và Hậu bị Việt-Cộng bắt cởi bỏ hết y phục, trên thân chỉ còn cái quần đùi, rồi bị bịt mắt dẫn ra bờ sông bỏ lại với lời dặn:

“Cứ theo dấu giày mà tìm về với đơn vị của chúng mày!”

Sáng ngày thứ mười của cuộc hành quân thì Ðông và Hậu được Không Kỵ Hoa-Kỳ cứu sống.

Khi bị nhân viên An-Ninh liên đoàn hỏi rằng:

“Có phải anh nhận lệnh của Việt-Cộng trở về đơn vị tiếp tục làm nội tuyến hay không?”

thì Phan Ðông đã chối đây đẩy:

“Dạ không! Em còn mẹ già ở dưới quê. Quê em là vùng mất an ninh nên em mới tham gia Mặt Trận Giải Phóng. Từ khi đi lính em căm thù Việt-Cộng lắm. Em không thèm nghe lời dụ dỗ của chúng nó nữa đâu.”

Cung từ của Binh 2 Lê Văn Hậu không có gì đáng nghi.

Ðương sự thuần túy là một học sinh ngây thơ bị bắt đi quân dịch xa nhà.

Cũng vì quá ngây thơ, quá nhớ nhà, Hậu đã nghe theo lời rủ rê của Ðông mà đào ngũ.

Hậu cũng tiết lộ rằng trong thời gian bị Việt-Cộng giam giữ, nó thường nghe thằng Ðông và bọn cán binh gọi nhau là “Ðồng chí”

Nó khai thêm, trước lúc bị bịt mắt dẫn đi, nó còn thấy thằng Ðông ngồi bàn chuyện riêng với tên chỉ huy Việt-Cộng một thời gian khá lâu.

Ban An Ninh liên đoàn đề nghị giải giao Phan Ðông và Lê Văn Hậu cho Ty An Ninh Quân Ðội Tuyên-Ðức hay Lâm-Ðồng để có biện pháp thích nghi.

Với tư cách là cấp chỉ huy trực tiếp của hai phạm nhân, tôi phải ký giấy xác nhận tình trạng vi phạm của hai tên này.

Ðồng thời tôi phải cho ý kiến đề nghị giải giao chúng cho cơ quan hữu trách.

Chờ tôi xem xong xấp giấy ghi khẩu cung của hai tên đào ngũ và ký tên xác nhận, Trung tá Sâm kéo tay tôi ra sân, hướng về phía hai tên đào binh đang bị trói.

Nghe tiếng chân người đi tới gần, hai tên bị bịt mắt vội ngửa mặt lên nghe ngóng, đợi chờ.

Tôi nói,

-Trung tá để tôi cởi trói và mở khăn che mắt cho chúng nó nhe!

Trung tá Sâm xua tay,

– Khỏi! Ông chỉ cho tôi, thằng nào là thằng Ðông?

Tôi đưa tay chỉ tên đào binh cao và gầy,

– Thằng ngồi bên phải, cao và gầy là Phan Ðông.

Trung tá Sâm chống hai tay vào cạnh sườn, đôi mắt lừ lừ, từ từ đi một vòng xung quanh, nghiêng người dòm vào mặt hai kẻ phạm tội.

Rồi bất thình lình ông dừng lại, co chân đá tới tấp vào mặt Phan Ðông,

– “Ðủ mẻ” đồ ăn cơm Quốc-Gia, thờ ma Cộng-Sản!

Tôi thấy máu miệng, máu mũi của Phan Ðông phun ra ào ào, y ú ớ,

– Trung tá tha cho em! Em trót dại! Lần sau em không dám làm thế nữa!

“Bịch! Bịch! Bịch!” vừa tiếp tục đá vào đầu, vào mặt, vào ngực Phan Ðông, ông Sâm vừa nghiến răng,

– Lần sau à? Mi còn muốn có lần sau nữa à?

Thấy ông liên đoàn trưởng xuống tay quá nặng, tôi vội can ngăn,

– Thôi! Kệ cha nó Trung tá! Nó ngu xuẩn đi theo giặc thì cứ để cho nó chết. Theo đúng quân luật thì tội đào ngũ trước địch quân của nó phải bị xử tử hình. Mình cứ giải giao nó cho An-Ninh Quân-Ðội là xong.

Ngồi bên Phan Ðông, Binh 2 Lê Văn Hậu run lên như cầy sấy,

-Trung tá đừng đánh em! Tại thằng Ðông nó rủ rê em, em mới đi trốn! Trung tá đừng đánh em! Em biết lỗi của em rồi!

Tôi nghĩ bụng:

“Cái thằng Hậu này đúng là quá khù khờ! Ông Trung tá đang xả cơn giận lên đầu thằng Ðông, tự nhiên nó lên tiếng, không khác gì mời ông ta quất cho một trận!”

Quả nhiên, mũi giầy của ông liên đoàn trưởng liền quay qua, nện một cú móc ngay hàm anh lính ngố!

– Mày là thứ đồ ngu! Mày là thứ đồ đần!

Bị hai cú đá như trời giáng, “thằng ngu” câm họng luôn!

Nó sợ rồi! Không dám khóc! Nó biết, nếu khóc sẽ làm cho ông liên đoàn trưởng thêm giận, nó sẽ lãnh đòn nữa.

Hình như sau khi vận lực tung mấy cú đá vào mặt hai tên “ăn cơm Quốc-Gia, thờ ma Cộng-Sản” ông liên đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân đã nguôi ngoai cơn giận. Ông kéo tay tôi đi về cuối bãi,

– Phải công nhận! Ông thật là cao số! Nếu hai đứa nó mà lựa lúc ban đêm mọi người ơ hờ, hè vô trói ông lại, bắt ông ra lệnh cho cả đại đội nộp súng đầu hàng thì đại họa! Một là mình ông chết, hai là cả trăm người thành tù binh! Hên lắm rồi! Hết kỳ hành quân này ông nhớ ăn chay ít lâu để tạ ơn Trời Phật!

Nghe ông Sâm nói, tôi cũng rùng mình, tán đồng,

– Ðúng rồi! Tôi phải cám ơn Trời Phật!

Ông Trung sĩ thông dịch viên chui ra khỏi lều truyền tin, dáo dác một lúc, rồi chạy tới,

-Trình Trung tá! Mười phút nữa có trực thăng đưa Trung úy Long về Di Linh và đưa hai đào binh về Ðà-Lạt.

Chúng tôi trở lại lều. Trung tá Sâm nhắc nhở Thượng sĩ Mân,

– Từ đây về tới ty An Ninh Quân Ðội, dọc đường, ông nhớ cẩn thận, coi chừng tụi nó giựt súng rồi bỏ chạy đó!

Sau khi chào từ biệt Trung tá liên đoàn trưởng, tôi ghé Ban 4 liên đoàn, xin được hai bộ quần áo cũ để cho Ðông và Hậu.

Dưới họng súng canh gác của một người lính, hai đào binh nhanh chóng khoác vào người bộ quần áo hoa đã cũ.

Sau đó Thượng sĩ Mân mở ba lô lấy ra một cái còng số 8 móc một đầu vào cổ tay phải của Phan Ðông, đầu kia móc vào cổ tay trái của Lê Văn Hậu.

Trong thời gian gần hai chục phút chờ máy bay, B2 Lê Văn Hậu cứ nhìn tôi rồi khóc rấm rứt.

-Thái Sơn tha lỗi cho em! Trung úy tha lỗi cho em!

Bên cạnh đó, Binh 2 Phan Ðông ngồi cúi đầu, một tay bụm miệng, không nói tiếng nào, miệng nó còn ra máu.

Leo lên tàu, tôi chợt thấy mắt của Phan Ðông long lên sòng sọc. Ánh mắt của nó như chứa đựng điều gì đó dị kỳ, bí hiểm. Thay vì ngồi xẹp xuống sàn tàu, Ðông lại ngồi một chân co, một chân duỗi như thủ thế.

Tôi nghĩ tới trường hợp nó nổi cơn điên vào lúc máy bay đã lên cao thì nó có thể kéo theo một hai người cùng lao ra khỏi cửa máy bay để chết chung!

Tôi vội ra lệnh cho Thượng sĩ Mân lấy thêm một cái còng số 8 thứ hai, móc tay trái của Phan Ðông vào cái khoen tròn kim loại trên sàn máy bay, khiến cho tên đào binh này hết cơ hội manh động.

Sau ngày ấy, chuyện hai tên đào binh của Ðại Ðội 1/11 cũng đi vào lãng quên.

Cho tới một ngày cuối năm 1973, tôi ghé Quận Thanh-An để thu hồi một toán Viễn Thám trở về từ núi Chi Kara.

Thanh-An là nơi Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân đặt Bộ Chỉ Huy Nhẹ.

Giữa sân Quận Thanh-An, tôi đang đứng nói chuyện với Trung tá Hoàng Thọ Nhu, liên đoàn trưởng, thì ông liên đoàn phó xuất hiện,

– Long có thằng đàn em nào mới từ quân lao mãn án, ra Biệt Ðộng Quân không?

Nghe Trung tá Lê Quý Dậu, liên đoàn phó hỏi, tôi ngạc nhiên,

-Tôi chẳng quen ai đang bị tù cả. Chắc có người lầm tôi với ông Long nào đó chăng?

Ông Dậu gọi một hạ sĩ quan đứng gần đấy,

-Mày đi tìm thằng Hậu lên đây!

Anh Trung sĩ Ban 3 liên đoàn chạy đi, lúc anh ta quay lại thì sau lưng anh ta là một người lính.

Bất ngờ bị áp tải lên trình diện hai ông tá chánh và phó của liên đoàn cùng một người lạ, anh lính vừa tới có vẻ lo lắng lắm. Anh ta đứng trong thế nghiêm, hai chân run run.

Đầu nguồn cuối sông

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted 29 Feb 2020

Post by Sơn râu 27 Jun 2024

Google photos

Kỳ 2

Tới đầu dốc, đột nhiên tên khinh binh ngừng lại, dò dẫm từng bước. Rồi nó thận trọng ngồi xuống, giơ tay ra dấu cho toán Việt-Cộng đi sau đừng vội tiến lên.

Mặt trời mùa này nằm chếch về hướng Tây Nam, tên địch cũng tiến tới từ hướng Tây Nam, mặt trời ở sau lưng nó.

Thằng Việt-Cộng đi mở đường đã nhìn thấy một sợi dây cước phản chiếu ánh mặt trời, sáng lấp lánh căng ngang đường. Sợi dây cước này nối chốt nổ của hai cái bẫy sáng do Hạ sĩ Lác đã gài!

Chắc thằng Việt-Cộng rất ngạc nhiên khi thấy giữa rừng già có một sợi cước câu cá!

Chắc nó dừng lại vì nghi ngại trước mặt nó có một cái bẫy mìn hay lựu đạn.

“Ðoàng! Ðoàng!”

Tên Việt-Cộng đang lom khom, bị hai viên đạn bắn vỡ đầu, ngã ngửa về đằng sau.

Những tên đi sau vội ù té chạy.

“Ðùng! Ðùng! Ðùng!”

Ba khẩu M16 đua nhau bắn. Góc bắn hơi cao, nên không có tên địch nào chết thêm. Trên đường mòn có hai cái ba lô bị rớt lại…

Tôi có sẵn một hỏa tập tiên liệu ngay cái khe giữa hai đỉnh đồi hướng Nam.

Thời gian này đạn dược thừa mứa, muốn bắn bao nhiêu cũng có. Một pháo đội Hoa Kỳ nhanh chóng đáp lời tôi yêu cầu, tưới gần một trăm trái đạn đại bác 105 ly trên tọa độ.

Tôi nghĩ rằng, đang chạy bán sống, bán chết, mà bị một trận mưa pháo dội lên đầu thì những tên giặc dù có thoát chết thì cũng sợ tới ướt quần mất!

Tôi bắt đầu buổi chiều ngày thứ nhì ở Bích-Khê bằng một cơn sốt cao.

Trên cái nền nhà cũ, tôi ngồi thu mình trong chiếc poncho line, cả người nóng bừng bừng. Xưa nay tôi cứ cho rằng khi đau đớn mà phát ra tiếng rên thì mắc cỡ lắm. Ðau mà rên là hèn, là thỏ đế.

Ngày Mùng Một Tết Mậu Thân, dù bị Việt-Cộng bắn lủng ngực, tôi cũng không rên.

Ấy vậy mà hôm nay, tôi giơ cả hai tay bịt miệng, bịt mũi lại, mà vẫn không ngăn được những tiếng “Hừ! Hừ! Hừ!”

Bệnh sốt rét rừng quả là vô cùng lợi hại! Tôi thường tự hào là một tay đi rừng cự phách mà cũng bị mấy con vi trùng nhỏ tí ti, nhỏ hơn cả cái đầu kim, quật ngã phải nằm run bần bật.

Trung đội 3 của Thượng sĩ Lược trấn giữ mặt Bắc, đồng thời chốt ngay đầu cây cầu khỉ bắc ngang con suối.

Mặt trời vừa gác núi thì ông Lược lò dò từ dưới dốc leo lên, tay xách một con cá lóc dài cỡ hai gang tay.

Ông ta giao con cá cho Hạ sĩ Thọ, người nấu cơm cho tôi,

– Tụi nó cắm câu được con cá lóc này. Mày đem nấu cháo để Thái Sơn ăn cho dã cảm. Nhớ cho nhiều tiêu vào! Cho ổng ăn cháo thật nóng để ra mồ hôi mới bớt được.   

Sau khi gắng ăn một bát cháo nóng, tôi trùm thêm cái poncho đi mưa che kín từ đầu tới chân. Chỉ vài phút sau thì cả người tôi ướt đẫm mồ hôi giống như người đang tắm hơi.

Những tưởng mồ hôi thông thương thì bệnh tình của tôi sẽ bớt, nào ngờ vừa lau người xong, tôi bỗng lạnh run; tôi không bị cơn sốt nóng hành hạ nữa, mà ngược lại, tôi khốn khổ vì bị rét.

Y tá Ðào của Trung đội 3 mon men tới bên tôi, anh ta rụt rè,

– Thái Sơn bị lờn thuốc ký ninh rồi! “Chích” hoài không khỏi thì Thái Sơn cho em “châm” cho ông thầy, thử xem có khá không nhé!

Tôi thắc mắc,

– Châm là cái gì vậy?

– Dạ! Châm cứu ấy mà! Em biết châm cứu! Ðể em châm cho Thái Sơn nhé!

Lúc này thì tai tôi đã bị ù, mắt tôi nhìn chỗ nào cũng thấy sao sáng nhấp nháy, chớp chớp.

Thôi thì, cũng đành liều…

Tôi nằm sấp trên cái poncho, để mặc cho chú Ðào tự do thoải mái dùng kim muốn châm chỗ nào thì châm.

Tiếp theo màn châm cứu, chú Ðào quay qua nghề giác hơi.

Sau màn giác hơi là mục xoa dầu Nhị Thiên Ðường. Hạ sĩ Ðào vận hết sức vào hai bàn tay, vừa xoa vừa véo trên da lưng tôi liên tục.

Tôi thấy da lưng mình có vẻ còn dày hơn da trâu! Mặc cho Y tá Ðào bấu, véo, vặn vẹo, cách nào tôi cũng không thấy đau.

Kỳ diệu thay! Sau khi xoa hết hai chai dầu Nhị Thiên Ðường thì tôi…hết sốt rét!

Còn anh Y tá Ðào thì ngồi phờ người, như đã kiệt lực.

Ông Lược ngồi cạnh Y tá Ðào, chợt phát thanh,

-Thằng Ðào giỏi quá ta! Nếu biết nó chữa được sốt rét thì Chuẩn úy Biện đâu cần đi nằm nhà thương, tui đâu có phải vất vả chỉ huy trung đội!

Hạ sĩ Thọ cười,

– “Thượng sĩ Tía” nhớ con rể rồi hả?

Nghe Hạ sĩ Thọ chọc quê, ông già cự liền,

– Cái thằng này chỉ hay nói bậy!

Tôi nghe ông Lược mạnh miệng nói vậy nhưng tôi nghĩ rằng, có lẽ lúc này trong lòng ông già cũng đang nhớ người chỉ huy trẻ tuổi của ông lắm.

Chuyện nhớ nhung này duyên cớ cũng bình thường…

Vào một ngày tháng Sáu vừa qua, có chiếc xe đò chạy đường Sài-Gòn Ðà-Lạt ngừng bên phía đối diện xưởng cưa Ðức-Trọng. Một cô nữ sinh áo dài trắng, tay xách cái giỏ mây, bước xuống, nhìn trước, nhìn sau, rồi băng qua lộ.

Tới vọng gác bên cổng, cô nhỏ nhẹ hỏi hai ông lính,

– Hai chú làm ơn cho hỏi, có phải Ðại Ðội 1/11 đóng quân ở đây không?

– Phải! Cô cần gì?

– Dạ! Em muốn gặp ông chỉ huy ở đây để xin phép thăm người nhà.

Anh lính gác gọi lớn,

– Chuẩn úy ơi có người cần gặp!

Trung đội 3 là đơn vị trực gác ngày hôm đó, Chuẩn úy trung đội trưởng Ðinh Quang Biện vội chui ra khỏi lều,

– Thưa cô cần gặp ai?

– Dạ! Em muốn gặp “Tía”!

– Ðể tôi gọi ổng ra cho cô nhé!

– Dạ!

Anh sĩ quan trẻ quay mặt về hướng mấy cái bếp lộ thiên đang bốc khói nghi ngút bên rào rồi bắc loa tay gọi,

– Ông Tía ơi! Ông Tía ơi!

Cô bé vội níu tay anh chuẩn úy người Bắc,

– Tía là bố đó! Bố em tên là Lược!

– Vậy là Thượng sĩ Lược! Ðại đội này chỉ có một ông tên là Lược!

Lại bắc loa tay,

– Ông Lược ơi! Ra đây ngay! Có người nhà tới thăm!

Thượng sĩ Lược đang ngồi đánh cờ tướng với Hạ sĩ Ðào, ông đang ở vào thế hạ phong, nghe tiếng người gọi tên, ông mừng quá, vội vàng xóa bàn cờ đứng lên,

– Chuẩn úy chờ chút! Tôi ra liền!

Y tá Ðào cằn nhằn,

– Ông già sắp bị chiếu bí rồi! Sao không để xong việc tiếp người nhà, thì mình đánh tiếp, mà lại xóa bàn cờ đi! Bộ ông tính ăn gian sao?

Trưa hôm đó, trong cái nhà kho lớn, có mái lợp tôn, nhưng không có vách, dùng để chứa ván, nơi ông chủ xưởng cưa dành cho gia đình binh sĩ của Ðại Ðội 1/11 tới thăm chồng con ở nhờ, có ba người ngồi ăn cơm bên nhau, trông họ giống như gia đình một nhà, gồm ông bố và hai đứa con, một trai, một gái.

Ðại đội tôi thời gian này có bốn sĩ quan, vậy mà ông Thượng sĩ Nguyễn Lược chỉ mời một mình Chuẩn úy Ðinh Quang Biện ngồi ăn cơm chung với ái nữ của ông ấy. Thật là chẳng công bằng chút nào!

Cơm nước xong, ông Lược lên ban chỉ huy mời tôi và Thiếu úy Duyên xuống nhà kho uống nước trà và giới thiệu cô con gái của ông,

– Nhỏ này là bé Hai trong nhà tôi. Năm nay nó học Ðệ Nhị. Nó nhớ tía quá nên vội chạy lên đây thăm tôi, chiều nó về lại Sài-Gòn.

Sau khi rót đầy hai bát trà để trên bàn, cô gái nhỏ nhẹ,

– Cháu mời hai chú uống trà.

Chỉ qua vài phút tiếp xúc, tôi đã nhận ra rằng, cô con gái của ông Lược có thể coi như đại diện cho nét đẹp của gái Hậu-Giang. Cô ấy ăn nói thật nhẹ nhàng, và thật dịu dàng. Cô có mái tóc thề ngang vai, đôi mắt nhung huyền. Cô có nụ cười hiền hòa, đôn hậu, trên khuôn mặt trái xoan với làn da trắng hồng đặc biệt của những người con gái xứ Nha-Mân.

Vì nghe ông Lược nói rằng cô bé chỉ có vài giờ thăm cha rồi phải về Sài-Gòn ngay, nên tôi và anh Duyên giữ ý, chỉ ngồi chơi một lúc cho có lệ, rồi rút lui cho cha con người ta tâm sự với nhau.

Cô nữ sinh con ông trung đội phó Trung đội 3 cứ bịn rịn mãi bên ông bố tới chiều mới chịu lên chuyến xe đò cuối cùng trong ngày để xuôi Nam.

Trước khi lên xe, cô nhắn ông bố,

– Tía cho con gửi lời cám ơn anh chuẩn úy người Bắc ở cùng trung đội với Tía nhé! Trông mặt anh ấy thấy ngồ ngộ quá Tía à!

Từ ấy, ông Thượng sĩ trung đội phó Trung đội 3 mang thêm cái tên phụ là “Thượng sĩ Tía” của Ðại Ðội 1/11 Biệt Ðộng Quân.

Từ ấy trong đơn vị, ông thượng sĩ già được nhiều người thương hơn, nhiều người kính nể hơn, đặc biệt là các chàng trẻ tuổi độc thân.

Tôi nghe anh em bàn tán rằng, người được Thượng sĩ Tía có cảm tình nhứt chính là anh chuẩn úy người Bắc mặt trông “ngồ ngộ” tên là Ðinh Quang Biện.

Trú quân trong Bích-Khê Thôn được hai ngày thì tôi nhận lệnh chuyển quân sang một bãi đáp khác.

Chúng tôi lên tàu ở cuối làng Bích-Khê và nhảy xuống một bãi trống cách bến Kinh Ðà nửa cây số về hướng Tây.

Kinh-Ðà là tên Thượng, tên chữ của làng này là Kinh-Ðức, nơi đây chỉ cách làng Bích-Khê hơn mười cây số.

Ðại Ðội 4 và bộ chỉ huy tiểu đoàn đã xuống bãi này trước tôi nửa giờ. Họ sẽ đóng tại đây giữ lưng cho tôi tiến lên phía trước.

Ông tiểu đoàn trưởng trao cho tôi cái phóng đồ mới và lệnh hành quân mới. Ðại khái nhiệm vụ của tôi vẫn là tìm và triệt phá các khu sản xuất và trạm giao liên của địch.

Ngay trên bãi đáp là một đường voi thồ rộng cỡ hai thước, dấu xe đạp chở hàng đè lên nhau chằng chịt còn rất mới trên mặt đường.

Rời bãi, tôi dẫn quân xuống một cái thông thủy cạn.

Theo đường xe thồ, chúng tôi tiến về bờ sông.

Chúng tôi rời điểm đổ bộ được một đoạn đường xa chừng hai cây số thì chợt trước mặt tôi có tiếng gà gáy “Te! Te! Te!”

Thiếu úy Duyên đi sau, vội nhấn bước tới, hớn hở kéo áo tôi,

– Thái Sơn ơi! Có tiếng gà rừng gáy! Anh cho phép tôi bắn một con làm nồi cháo nghen!

Tôi lắc đầu,

–Khoan đã! Gà rừng gáy thì mình chỉ nghe “Te! Te!” ngắn ngủn thôi!  Còn tiếng gáy của đàn gà này vừa thanh, vừa cao, vừa dài, chắc là gà nhà, gà nuôi, không phải gà rừng.

Tôi ra lệnh cho đơn vị ngừng lại, bố trí hai bên đường chờ.

Một toán thám sát được gửi lên phía trước, toán phát giác bên trái đường có một khu vườn, với hai ba mái tranh và một sân đất rộng.

Nhiệm vụ tấn kích được giao cho Thiếu úy Duyên và Trung đội 1.

“Ðùng! Ðùng! Ðùng!” – “Ðoàng!  Ðoàng! Ðoàng!” Hơn hai chục tay súng dàn hàng ngang vừa bắn vừa phóng vào sân cỏ.

Bảy, tám cán binh Việt-Cộng từ trong căn nhà tranh lớn nhất chạy ra, bốn tên bị hạ, một tên nhanh chân phóng qua đường xe be rồi nhảy ùm xuống sông, những tên còn lại lao vào rừng, biến mất.

Căn nhà tranh này là khu nhà bếp và nhà ăn tập thể. Giờ này bọn chúng đang quây quần chuẩn bị ăn cơm trưa nên cổng trước, cổng sau không có người canh gác.

Ðàn gà đang ăn trong sân vung cánh bay loạn xạ, cùng với tiếng gà kêu “Quang quác!”

Trong rừng hình như có tiếng “Éc! Éc!” của mấy con heo đang cắm đầu chạy trốn.

Chiến lợi phẩm tịch thu được hôm đó là ba khẩu súng trường Mas 36, bốn khẩu AK 47 cùng năm sáu quả lựu đạn chày. Ngoài ra chúng tôi còn nhặt được một quyển sổ ghi số lượng chi thu lúa gạo, đạn dược của huyện đội Di-Linh Việt-Cộng.

Toán quân xung phong cũng hạ được chín, mười con gà. Thượng sĩ Ngọ dành cho tôi và Thiếu úy Duyên con gà trống to nhất.

Tôi báo cáo cho tiểu đoàn biết kết quả cuộc tấn kích, đồng thời đề nghị tiểu đoàn chấp thuận cho đại đội tôi ngủ qua đêm tại đây sau khi mở rộng vùng kiểm soát để truy kích những tên địch đang đào thoát.

Chưa tới nửa giờ sau, qua máy vô tuyến tôi đã nhận được lời nhắn, “Bạch Mai gửi lời khen ngợi Thái Sơn và các anh em chiến sĩ thuộc Ðại Ðội 1/11” (Bạch Mai: Trung tá liên đoàn trưởng)

Ðể đề phòng những tên địch sống sót có thể quay về dọ thám tình hình, tôi cho các trung đội luân phiên tuần tra vòng quanh khu vực một cách liên tục từ trưa cho tới chiều.

Tới chiều, tôi cho đóng năm cái chốt chặn với bẫy sáng và lựu đạn gài đầy đủ để bảo đảm an ninh cho vị trí đóng quân đêm của đơn vị.

Nắng chiều xế tà, mấy con gà mon men về sân. Chưa có lệnh của tôi, không ai dám bắn chúng.

Thượng sĩ Ngọ đề nghị với tôi,

-Thái Sơn đừng cho ai bắn. Cứ để đó, tối nay tôi sẽ bắt hết tụi gà này!

Sau đó ông Ngọ xúc hai ba ca thóc trong kho của địch ra, rồi vãi thóc đầy sân.

Ðàn gà ngây thơ, vô tội “Cục! Cục! Cục!” lớn tiếng gọi nhau về tụ họp trong vườn.

Anh chàng Hạ sĩ 1 Lác tìm được hũ rượu mà tụi cán binh đang ủ, anh ta lôi ra chắt hết rượu vào cái nón sắt, sau đó anh đem bỗng rượu (bã rượu) đổ vào cái nồi nấu cám heo.

Lác cho thêm vào nồi hai gói cơm sấy và một rổ thân cây chuối xắt lát rồi nổi lửa, hì hục nấu cám heo.

Cám heo được đổ vào cái máng đan bằng tre để trong chuồng. Mùi cám heo bốc lên thơm lừng bay trong rừng. Hai con heo đánh hơi thấy mùi cám nóng thì ủn ỉn rủ nhau về chuồng.

Thế rồi đêm đen buông xuống, cùng với tiếng heo kêu, rồi tiếng gà kêu.

Không rõ ông Ngọ và anh Lác làm cách gì mà bắt gà, bắt heo, gọn gàng, nhanh nhẹn thế!

Hai con heo to bị trói nằm trên sàn bếp kêu “Eng éc!”

Gần hai chục con gà vừa trống vừa mái cũng bị trói chặt nằm bên nhau, con này chúi đầu vào dưới cánh của con kia rồi há mỏ, “Ục! Ục! Ục!” chờ người ta cắt cổ.

Vài phút sau thì hai bó đuốc bằng nứa khô được đốt lên giữa sân cỏ soi sáng liên tục.

Trong bếp có tiếng mài dao, rồi có tiếng heo rít lên, “É! É! É” thật là thảm thiết vì bị thọc huyết; những con gà thì chết nhanh hơn và âm thầm hơn.

Chưa tới mười giờ khuya thì các trung đội đã chia nhau đồng đều số gà và những miếng thịt heo.

Tôi nói Thiếu úy Duyên dành ra một cái đùi heo tặng ông tiểu đoàn trưởng, và một con gà trống đã làm lông sạch sẽ để dành cho thằng bạn cùng khóa của tôi đang là sĩ quan Ban 3 của tiểu đoàn.

Ðúng là “Buồn ngủ mà gặp chiếu manh!” Còn hai ngày nữa mới tới kỳ tái tiếp tế, chúng tôi đã hết đồ ăn, hết thuốc lá. Cái nông trại này của Việt-Cộng có đủ cả, gạo lức, heo, gà, chuối, ổi, ớt và rau cỏ, lại thêm ba bốn giàn treo thuốc lá phơi khô trên nóc bếp.

Sau này, nhân lúc rảnh rỗi tôi có thắc mắc hỏi ông Thượng sĩ Ngọ,

– Bác có bí quyết gì bắt heo, bắt gà, mà chúng nó không kêu?

Tôi ngẩn người, ngạc nhiên khi nghe ông Ngọ tình thực trả lời,

– Nào có gì khó đâu Trung úy! Ban đêm, chỉ cần một cục mắm tôm hay mắm ruốc to bằng đầu ngón chân cái, bóp nát ra, thêm chút nước, rồi xoa mắm cho kín hai bàn tay tới khuỷu tay là mấy con gà, con heo không đánh hơi được mình, mình nắm cẳng, nắm cổ nó là xong.  

Ông Ngọ còn cho tôi hay, nếu dùng mắm tôm, mắm ruốc trải trên đường, ta có thể làm cho những con chó săn mất thính giác để theo dõi.

Nghe xong tôi cũng tin, nhưng chưa có dịp nào thí nghiệm xem kết quả thực tế sẽ như thế nào.

Đầu nguồn cuối sông

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted 29 Feb 2020

post by Sơn râu 27 Jun 2024

Google photos

Kỳ 1

Chuyện ở đầu nguồn Đa Dung…

Tôi ngồi chen vai cùng bảy người lính Biệt Ðộng Quân khác trên sàn chiếc trực thăng thứ nhì trong đội hình của mười hai chiếc UH1 D chở quân tham chiến ngày hôm đó.

Dưới bụng con tàu là một dải bạt ngàn, tre nứa màu xanh.

Chúng tôi đang bay trên vùng rừng già của Cao Nguyên Bảo-Lộc. Dưới kia là con sông Da Dung (Ðọc là: Ða Dung) uốn mình qua một khúc quanh.

Ðoàn tàu lượn vòng vòng trong khi trực thăng võ trang bắn phá ầm ầm để dọn bãi.

Từ tọa độ của bãi đáp này, con sông bắt đầu có thêm cái tên mới là Ðồng Nai nằm kế cái tên Da Dung. Tên Ðồng Nai còn đóng trong ngoặc đơn (Ðồng Nai).

Hai cái tên Da Dung và Ðồng Nai còn đeo theo nhau trên một đoạn đường dài, tới địa phận ranh giới Trung Phần và Nam Phần thì địa danh Da Dung biến mất, chỉ còn lại tên Ðồng Nai thôi.

Chúng tôi đổ bộ trên một bãi cát ven bờ Bắc.

Trên bản đồ thì đây là một vạt cát trắng bất di dịch, nhưng trên thực tế thì vào mùa mưa, bãi hẹp hơn mùa khô.

Hôm ấy là một ngày đầu tháng Tám, giữa mùa mưa năm 1968, mực nước sông dâng cao, sắp tràn bờ.

Bên hướng Ðông bãi đáp là một dãy đồi cao, rừng tre, dốc đứng.

Ðoàn quân 96 người dàn hàng ngang tiến lên ngọn đồi gần nhất.

Tôi cứ leo lên được hai bước, thì lại bị tụt xuống một bước; đường trơn như mỡ, đất đỏ quánh như hồ.

Chúng tôi yên tâm leo, vì tin tưởng vào hỏa lực hùng hậu của bốn chiếc trực thăng vũ trang Cobras đang “Bập! Bùng! Oành! Oành!” nổ ngay trước mặt.

Không lâu sau, chúng tôi làm chủ ngọn đồi; trên đồi không có địch!

Chiếm xong ngọn đồi, để bảo đảm an ninh, tôi liền cho một toán tiền sát thăm dò dấu vết địch dưới con suối và ngọn đồi trước mặt. Vì nếu không mở rộng vòng đai an ninh xa, có nhiều khi quân ta và quân địch nằm cách nhau chỉ vài chục thước mà ta không hay.

Có những cấp chỉ huy ơ hờ không đề phòng, cứ ngừng quân là hạ trại qua đêm liền, đâu ngờ trước đó, địch đã ở sẵn sát bên. Tới khi bị địch tập kích bất ngờ thì không tài nào trở tay kịp.

Sau khi ra lệnh cho Thiếu úy Ðặng Hữu Duyên lo việc kiểm quân, tôi mồi một điếu thuốc Lucky rồi ngồi xuống nghỉ.

Chợt từ phía hậu quân, tôi nghe léo nhéo, “Ông cho đếm lại đi!” tiếng Thiếu úy Duyên ra lệnh cho một vị trung đội trưởng.

Rồi tiếp đó, “Tụi mày ngồi im tại chỗ để tau đếm. Một, hai, ba, bốn, năm… Trình Thiếu úy mới có hăm ba, thiếu hai đứa!” 

tiếng Thượng sĩ Nguyễn Lược, Trung đội phó, Trung đội 3.

Một phút sau, “Thiếu úy ơi! Thiếu thằng Ðông và thằng Hậu.” tiếng ông Lược.

“Ông cho anh em khói lửa đi! Tôi sẽ trình với Trung úy phái người xuống kiếm hai thằng này.” tiếng ông Duyên. (Khói lửa: nấu cơm, nấu bếp)

Anh Duyên trở về ban chỉ huy, nói nhỏ với tôi,

– Tôi kiểm quân rồi, cả đại đội thiếu hai người, là thằng Ðông và thằng Hậu của Trung đội 3. 

Tôi ra lệnh,

– Ông cho toàn bộ Trung đội 3 quay lại bãi đáp tìm hai thằng đó ngay!

Nhận lệnh của tôi, cả Trung đội 3 vội dẹp bếp núc, nồi niêu, nhanh chóng xuống đồi.

Mười phút sau trong máy truyền tin có tiếng Thượng sĩ Lược,

– Lạ quá! Thái Sơn xuống mà coi! 

– Gì vậy?

– Thái Sơn xuống coi đi! Hình như hai thằng này bỏ trốn chứ không phải đi lạc!

– Ủa? Chờ đó đi! Tôi xuống ngay!

Ðội mưa, tụt xuống dốc, chỉ mấy phút sau tôi và ba anh lính hộ tống đã tới bờ sông.

Trung đội 3 đang bố quân hướng cuối nguồn. Thượng sĩ Lược đưa tay vẫy,

–Trung úy ơi! Lại đây!

Tôi tiến nhanh về phía ông Lược.

Vì có rừng cây cao che chở, nên mưa chưa xóa mờ dấu chân giày in trên cát. Rõ ràng có hai dấu giày đi rừng, một lớn, một nhỏ, đè lên nhau nhắm hướng một ngọn đồi hướng Tây Bắc của bãi đổ quân. Trong khi đó thì dấu chân của đơn vị tôi lại quần nát cả một vùng rộng lớn trải dài từ bãi đáp trực thăng tới chân ngọn đồi hướng Ðông Bắc.

Chắc chắn hai anh lính này đã bỏ ngũ giữa rừng già. Họ đi ngược đường của đơn vị.

Tôi ra dấu cho Trung đội 3 chia hai cánh theo sát dấu giày phía trước. Tới chỗ chân dốc, tôi cho quân ngừng lại.

Nơi này còn cách Liên Tỉnh Lộ 8 B gần hai cây số.

Muốn tới Gia-Nghĩa, Quảng-Ðức, phải đi qua một đoạn đường dài hơn hai chục cây số nữa.

Con đường Liên Tỉnh Lộ 8 B từ Gia-Nghĩa, Quảng- Ðức đến Di-Linh, Lâm-Ðồng đã bị bỏ hoang lâu lắm rồi. Nếu hai anh lính này mà mò ra đường chắc chắn sẽ gặp Việt-Cộng.

Tuy trong bụng tôi nghi hai anh tân binh này đã trốn đi, nhưng bắt buộc tôi phải cho Trung đội 3 ém quân bên bãi đáp, phòng khi hai anh này quay trở lại.

Trung đội 3 vào vùng kỳ này không có trung đội trưởng, Chuẩn úy Ðinh Quang Biện bị sốt rét phải nằm bệnh viện Ðà-Lạt.

Ông Thượng sĩ già đành phải thay ông Chuẩn úy trẻ để đảm nhận chức vụ chỉ huy.

Tôi nói với Thượng sĩ Lược,

– Ông cho anh em nằm trong bìa rừng. Nếu có động tĩnh gì thì cho tôi hay.

Leo lên đồi, tôi báo chuyện này cho Ðại úy tiểu đoàn trưởng. Tôi xin ông cho phép tôi tiến quân chậm lại một vài ngày.

Sáng hôm sau, tôi cho lệnh Trung đội 3 bắn cầm chừng, vài ba phút một viên về hướng Tây Bắc, hy vọng nghe tiếng súng, hai anh tân binh sẽ quay lại.

Một ngày dài qua đi, tôi không có tin tức gì về hai người lính mất tích.

Ngày tiếp theo, để bảo đảm an ninh vị trí đóng quân, tôi ra lệnh cho Thiếu úy Duyên dẫn Trung đội 1 của Thượng sĩ Ngọ và Trung đội 2 của Thiếu úy Vi tiến về hướng chính Bắc để thăm dò tình hình địch trên hai ngọn đồi cao trước mặt.

Trung đội 1 và Trung đội 2 đi rồi, Trung đội 3 còn ở dưới suối, nên trên đồi hiện giờ chỉ còn Trung đội chỉ huy, với khẩu đội cối 60 ly và hai khẩu đội đại liên M60.

Phút chốc tôi cảm thấy ngọn đồi như rộng thêm ra, tiếng thác đổ từ dưới chân đồi vọng lại nghe như rõ hơn, gần hơn.

Tôi ngồi bên một bếp lửa hồng, mặt tôi nóng bừng bừng, nhưng lưng tôi lại lạnh toát như đang có một cục nước đá trượt qua, trượt lại dọc theo xương sống.

Suốt hai ngày dầm mưa, thêm một đêm thức trắng, có lẽ tôi đã bị cảm mạo mất rồi!

Bỗng tôi nghe dưới bãi đáp có tiếng súng nổ ran, rồi tiếng Thượng sĩ Lược trên tần số,

-Trình Thái Sơn! Tụi nó giả trang làm Biệt Ðộng Quân! Thái Sơn coi chừng cẩn thận!

Nghe ông Lược nói, tôi chẳng hiểu gì cả, nên gặng lại,

– Cái gì? Ai giả dạng? Có gì mà bắn phá tùm lum dưới đó vậy?

– Dạ! Việt-Cộng nó giả dạng Biệt Ðộng Quân! Chúng nó chui ra khỏi rừng bắn nhau với tụi tui mấy viên rồi chạy mất!

– Kết quả ra sao?

– Dạ! Bên ta vô sự! Bên địch cũng … vô sự!

– Thôi! Cuốn gói về đây!

– Dạ!

Tôi gọi Y tá Ðức lên, xin mấy viên thuốc cảm, rồi ngồi chờ ông Lược.

Chừng mười lăm phút sau thì Trung đội 3 về tới vị trí trú quân.

Thượng sĩ Lược vừa thở, vừa tóm lược chuyện xảy ra cho tôi nghe.

Thì ra sáng nay lính gác thấy thấp thoáng bóng người xuất hiện nơi bìa rừng Tây Bắc bèn cho lệnh báo động. Sau đó có tiếng la:

“Ðừng bắn! Tôi đi lạc, trở về! Ðừng bắn!”

Cũng may là, lúc đó Thượng sĩ Lược có mặt ở phòng tuyến ngoài, ông Lược nhìn thấy hai người mặc quần áo rằn ri, nhưng tay lại thủ súng AK47, tiếng nói lại là giọng Bắc.

Ông Lược biết chắc chắn rằng, hai anh tân binh thất lạc là người Nam, không thể đổi thành giọng Bắc rặt như thế được!

Rồi ông đã có phản ứng thật nhanh. Tay ông bóp cò khẩu M 16, miệng ông la lớn,

-Việt-Cộng! Bắn đi! Bắn đi! Anh em ơi!

Mấy anh lính trong trung đội, nghe người chỉ huy la thất thanh ra lệnh bắn, nên vội ôm súng tác xạ văng mạng, miệng cũng thét vang,

– Việt-Cộng! Việt-Cộng! Bắn! Bắn!

Hai mươi ba khẩu M 16 liên thanh đua nhau nổ rền.

Tiếc thay! Quân của ông thượng sĩ già phản ứng nhanh như vậy mà địch cũng chẳng chết thằng nào!

Ngày kế đó tôi cho Trung đội 2 của Thiếu úy Vi thay thế Trung đội 3, tiếp tục phục kích các ngã đường dẫn về bãi đáp, nhưng không phát giác động tĩnh gì.

Tôi báo cho tiểu đoàn biết chuyện địch giả trang người của ta để đánh ta, và đề nghị ông tiểu đoàn trưởng thông báo chuyện này cho các đơn vị bạn để đề phòng.

Quả nhiên hai ngày sau, đại đội của Trung úy Nguyễn Văn Cơ thuộc Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân hoạt động cách tôi ba cây số về hướng Tây cũng bị địch giả dạng Biệt Ðộng Quân để đột kích.

Vì đã được thông báo đề phòng, nên quân bạn đã bắn chết ngay hai tên Việt-Cộng mặc quân phục rằn ri đi đầu, còn bọn giặc núp theo sau cũng phải ùa nhau chạy bán mạng.

Kỳ hành quân này nhiệm vụ của đại đội tôi là tìm và phá hủy các căn cứ tăng gia sản xuất của địch trong rừng núi vùng ba mươi cây số Ðông Nam thị trấn Gia-Nghĩa tỉnh Quảng-Ðức. Vì chuyện hai người lính thất lạc mà mấy ngày nay, chúng tôi cứ loanh quanh gần khu vực bãi đáp, không tiến lên được bước nào.

Tới ngày thứ năm tôi cho đơn vị nhổ neo nhắm hướng chính Ðông.

Mục tiêu chúng tôi phải tới ngày hôm đó có tên là “Bravo” điểm xa nhất trên phóng đồ hành quân trong tay tôi. Bravo là làng Bích-Khê nằm cách nơi tôi đạp đất gần năm cây số.

Qua một cái thông thủy, chúng tôi leo lên một ngọn đồi, mặt đất thoai thoải về Ðông Bắc, tre rừng đã bị phát quang, dọn thành từng đống, sẵn sàng đốt để làm nương lúa lốc.

Như vậy những người chặt nương, phát rẫy ở cách đây không xa. Vùng này không có dân, người khai nương phải là cán binh trực thuộc một đơn vị tăng gia của địch.

Tôi bị cơn sốt rét rừng hành hạ gần bốn ngày rồi. Mặt tôi thì nóng phừng phừng, còn hai chân tôi lại nặng như đeo chì. Tôi phải nhờ vào một cái gậy chống để bước đi không bị lảo đảo.

Ngày nào Y tá Ðức cũng phải chích cho tôi một liều thuốc ký ninh chống sốt rét cùng một mũi Calcium cho ấm phổi. Dù đã cố gắng hết sức để chữa trị cho tôi, nhưng chú Ðức bắt đầu nản lòng rồi; Ðức khuyên tôi xin máy bay tải thương để về Bệnh Viện Ðà-Lạt chữa bệnh.

Bình thường thì tôi đã nghe lời chú Ðức rồi, nhưng với tình hình hiện giờ, đơn vị tôi có thể chạm trận bất cứ lúc nào, nên tôi không dám xin tản thương mà để đại đội lại cho người khác chỉ huy. Tôi hy vọng không có gì bất trắc xảy ra trên đoạn đường từ đây cho tới Bravo. Tới Bravo sẽ không còn bị rừng già che phủ, bớt sơn lam, chướng khí thì người bệnh sẽ dễ thở hơn.

Chúng tôi ẩn mình trong rừng để di chuyển.

Tới cuối dốc, tai tôi bỗng nghe tiếng tre uốn, “Ken két! Rào rào!” như có bão.

Tiếng động không ào lên như cơn gió lốc, mà di chuyển thành luồng, giống như có con trăn hay con giồng khổng lồ đang uốn khúc lượn qua các ngọn tre.

Tôi cho anh em dừng lại, ghìm súng chờ. Lần đầu thuộc cấp của tôi thấy tôi làm điều mà ít khi họ thấy, tôi rút cây Colt 45 ra, quỳ gối, thủ thế sẵn sàng bóp cò!

Rồi thì, “Vèo! Vèo! Ào! Ào!” trên ngọn tre có những vật đen bay từ cây này sang cây khác.

Mỗi vật đen to bằng cái balô mang vai của lính.

Hóa ra đó là một đàn vượn rừng. Chúng di chuyển bằng cách đu mình theo đà nhún của những cây tre.

Thân tre oằn xuống, rồi tưng lên, cành tre đập vào nhau nghe, “Ken két! Rào! Rào!” từng đợt.

Khi đu mình ngang chỗ đoàn quân đang núp dưới gốc tre, lũ vượn phát giác ra sự hiện diện của con người, chúng kêu lên, “Khẹc! Khẹc! Chí! Chí! Oé! Oé!” báo động cho nhau, rồi rẽ sang hướng khác.

Bất thình lình, từ ống liên hợp của máy truyền tin PRC 25 phát ra tiếng kêu,

“Thái Sơn đây Linh Hồ gọi!”

Trong máy, ai đó tự nhiên xuống giọng ở cuối câu, khiến cho hai tiếng “Linh Hồ” nghe giống như “Linh Hồn”

“Thái Sơn! Ðây Linh Hồn gọi!”

Tôi thót bụng.

Trời đất!

Bộ chỉ huy tiểu đoàn gọi tôi vào đúng lúc tôi đang “lên ruột”

Những khi tinh thần căng thẳng như thế này mà nghe ba tiếng “Linh Hồn gọi!” thấy ớn quá!

Mấy ông thảo ra đặc lệnh truyền tin không chịu để ý tới ảnh hưởng tâm lý khi người nghe đang ở trong vị thế chuẩn bị đánh nhau.

Sắp sửa đánh nhau, sắp sửa nổ súng, mà nghe “Linh Hồn gọi” thì sợ lắm!

Sao các ông ấy không đặt cho tiểu đoàn tôi cái tên “Giao Linh” hay “Chế Linh” có phải là dễ nghe hơn, đỡ sợ hơn không?

Khi biết người đầu máy bên kia là sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn; anh bạn này cùng khóa với tôi; tôi cằn nhằn,

– Mày nói với Hoàng Mai bỏ cái tên “Linh Hồ” đi! Tao nghe “Linh Hồ gọi” mà cứ tưởng là “Linh Hồn gọi” tao ớn quá!

(Hoàng Mai là danh hiệu của ông tiểu đoàn trưởng)

Anh bạn tôi cười hì hì,

– Ừ! Ðể tao nói với Hoàng Mai cho đổi tên ngay tối nay theo yêu cầu của mày. Còn bây giờ thì nghe đây: Nội nhật ngày mai mày phải có mặt trên Bravo. Mày trễ mất ba ngày rồi đó!

Tôi nói,

– Yên chí đi! Chiều nay tao sẽ có mặt trên mục tiêu.

– Mày có cần tiền oanh kích thì tao xin cho mày ngay.

– Không cần! Tao biết, chỉ mười lăm, hai mươi phút sau khi chạm địch, mình đã có Cobra rồi.

Sau khi vượt qua một con suối sâu tới bụng và một cái dốc đứng, chúng tôi đặt chân lên một bình nguyên cỏ tranh. Cuối bãi, dưới dốc là một buôn Thượng đã bỏ hoang nằm bên phải cây cầu gãy trên Liên Tỉnh Lộ 8B.

Từ buôn Thượng này đi theo liên tỉnh lộ chừng một cây số nữa về hướng Ðông Nam thì tới Bích-Khê.

Tôi dàn quân trên cao, sẵn sàng yểm trợ cho Trung đội 2 thám sát cái buôn Thượng.

Sau khi lục soát kỹ buôn Thượng này, tôi cho lệnh Trung đội 2 chốt giữ nơi đó luôn, nhưng tuyệt đối cấm đốt khói và gây tiếng động.

Thành phần còn lại của đại đội lập tức dàn hàng tiến theo trục lộ. Ðường Liên Tỉnh 8B đi xuyên qua thôn Bích-Khê.

Khi họp hành quân chúng tôi được Ban 2 liên đoàn cho biết, thời Cụ Diệm làng Bích-Khê là một khu dinh điền trù phú, nay thì nó đã bị bỏ hoang lâu rồi.

Làng Bích-Khê này tọa lạc trên đỉnh một ngọn đồi. Từ đỉnh đồi, tôi có thể nhìn bao quát một vùng xa. Phong cảnh ở đây thật là tuyệt đẹp!

Hướng Ðông, con đường đổ xuống một thung lũng rộng; hướng Nam là dốc đứng; hướng Bắc có con suối lớn và sâu bao quanh.

Nhìn con suối xanh biếc chảy xiết trong cái thung lũng cũng là một đồng cỏ xanh bạt ngàn, tôi chợt hiểu, vì sao người ta đặt tên cho cái làng này là “Bích Khê”. Bích Khê có nghĩa là “Suối Biếc”.

Dưới kia, suối biếc bắt nguồn từ một cái hồ ngợp bóng chim đang săn cá. Mặt hồ gợn sóng lăn tăn.

Nhìn qua cấu trúc của làng Bích-Khê, tôi đoán chừng xưa kia làng này là một Ấp Chiến Lược 5 cạnh có hàng rào bằng tre đực.

Nay Bích-Khê đã thực sự điêu tàn. Di tích văn minh thời Ðệ Nhất Cộng-Hoà còn lại là dăm gốc xoài, gốc ổi bên mấy cái nền nhà cũ.

Không những vườn tược trong thôn đã thành rừng um tùm, trên mặt liên tỉnh lộ cũng đã có nhiều cây loại thân mộc mọc cao.

Ðáng ngại nhất là con đường mòn chạy từ Tây Nam lên Ðông Bắc, xuyên qua ngay giữa làng. Ðường mòn này đang được sử dụng thường xuyên nên cỏ không mọc nổi.

Vô tình, con đường mòn này và đường Liên Tỉnh 8B đã giao nhau, cắt Bích-Khê Thôn thành bốn mảnh.

Về hướng Bắc thì con đường đâm xuống suối.

Về hướng Nam, con đường chui vào cái khe giữa hai ngọn đồi có cao độ tương đương với cao độ của làng Bích-Khê; hướng Tây của hai ngọn đồi đó là một vùng ao hồ và đầm lầy.

Nhìn địa thế này, tôi chợt nảy ra một ý định mới, thay vì cho đặt một toán tiền đồn báo động trên ngọn đồi hướng Nam, tôi thay bằng một ổ phục kích ngay chân con dốc ngoài rào ấp chiến lược Bích-Khê.

Ba người được tôi giao trọng trách làm công tác phục kích ngày hôm đó là ba tay súng cự phách của đại đội: Hạ sĩ 1 Nguyễn Lác, người nấu cơm của Thiếu úy Duyên, cùng hai anh lính cật ruột của tôi là Hạ sĩ Nguyễn Phượng Hoàng và Binh 1 Phạm Công Cường.

Tôi đã đích thân đi cùng một tiểu đội hộ tống ba người này vào vị trí tác chiến xong xuôi rồi chúng tôi mới rút về.

Thế rồi, xế trưa hôm sau súng nổ, và chuyện được ba anh lính đi phục kích về kể lại…

Ðịch có khoảng mười tên. Một khinh binh ôm AK47 đi đầu. Phía dưới dốc, đằng sau nó là một đoàn bộ đội vừa đi vừa trò chuyện râm ran.