This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thì tương lai của kết hôn là ly hôn… Và có rất nhiều chuyện rất hết hồn.
Ôi nhớ xưa hồi đôi ta mới ‘mết’ nhau. Bắp tay anh cuồn cuộn nổi lên hai con chuột. Bụng sáu múi đàng hoàng vì mỗi ngày anh đi tập tạ.
Còn bây giờ hai con chuột đã chui xuống hang trốn mất; bụng sáu múi giờ thành bụng sáu túi để đựng beer.
Còn em yêu rất chịu khó đi tập thể dục thể hình, tức đi ‘gym’, thành quả là treo lủng lẳng trước ngực hai trái bưởi Biên Hòa, mà ai nhìn thấy cũng đòi xin muối ớt.
Còn bây giờ hai trái bưởi Biên Hòa của em, năm dài chày tháng đã biến thành hai trái dưa leo, mà dưa leo ‘Lebanese’ nữa, dài thòng, thì con đường tình ta đi đã tới lúc ‘cáo chung’ .
Ðám đàn ông đúng là một lũ háo sắc mà! (Em yêu nói chớ hổng phải tui nói đâu nhe quý anh mình).
Tuy nhiên theo thời gian năm tháng, mái đầu đã bạc trắng phong trần, tế bào não trong bộ nhớ dần dần tắt thở nên niềm đau về nhan sắc của em đã gây ra cho chàng nhìn thấy chán, mà chàng quên hết ráo. Thiệt là báo!
Thế là thôi rồi lại cưới chỉ mình một em, chàng lại xài đồ ‘recycle’, đồ tái chế.
Ôi đàn bà là niềm đau lớn nhứt của những niềm đau. Con chim bị nhốt cả hàng mấy chục năm, đã can đảm tháo cũi sổ lồng. Mà giờ vì tánh hay quên, nên lẩn thẩn chui đầu vô ‘gặm’ lại hai trái dưa leo mới chết!
o O o
Thiên hạ, người ta, hở cái là đòi thôi chớ tui: “Không! Nhứt định là không!” Tui yêu em vì lòng em chung thủy, yêu dai như con đỉa đói, bám được chàng rồi là nhứt định không chịu nhả ra cho đến chừng nào chàng khô máu mới thôi!
Giống như em Caroline, người Cincinati, bên Mỹ nộp đơn ra Tòa xin ly hôn với anh yêu vào năm 1949, sau 32 năm.
Lý do là bị ảnh bỏ bê, chẳng chăm sóc, dòm ngó gì hết trơn, để rêu mọc trắng thềm xưa.
“Ngày Lễ Ðộc Lập của Hoa Kỳ, July 4th, năm 1917, ảnh nói ra pub, tức quán rượu, làm vài chai beer để ăn mừng. Rồi từ đó đến nay ảnh không chịu trở về nhà.”
Ôi một Hòn Vọng Phu kiểu Mỹ! Vậy mà có người xấu miệng chê mấy em ‘đầm’ hở một cái là đòi thôi chồng để được chia con và chia của.
Còn khen nức nở là người phụ nữ Việt Nam mình chung thủy lắm nhe. Bị chồng bỏ, chỉ biết khóc thôi hè. “Lỡ mai tình có dở dang. Thì xin cho thiếp đò ngang thiếp về.”
Cái truyền thống tốt đẹp đó xưa trong ca dao còn mãi tới bây giờ.
Nên vừa rồi có ông ở Hà Nội, thủ đô ngàn năm văn vật, đã 91 tuổi xuân nhưng nhứt định đòi thôi con vợ nhỏ hơn mình tới 16 tuổi.
Cụ bà mếu máo rằng: “Em không chịu ly hôn vì em không có tội tình gì cả.
Em chỉ là “người đàn bà ngu ngốc”, biết anh kiên quyết đòi ly hôn mà vẫn yêu thương”. Hỏi vậy “Anh ghét em cái gì mà muốn bỏ?”
Ông Tòa khuyên: “Thôi già rồi! Ly hôn làm gì? Ðạo vợ chồng một ngày cũng nghĩa; huống hồ sống với nhau đã tới 70 mươi năm! Vợ chồng là yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, từ miếng ăn giấc ngủ, tối lửa tắt đèn có nhau khỏi cần hộp quẹt! “
“Rồi sao lúc trước hổng thôi; giờ gần đất xa Trời mới dở chứng hả ông thần?”
Thì Cụ ông trả lời là: “Tui cũng tính thôi nhiều lần rồi đó chớ! Tui phải ẩn nhẫn chờ đám con mình chết hết ráo mới được. Bằng không, biết Bố Mẹ ly dị… sợ chúng nó buồn!”
Còn tui, suốt hơn bốn mươi năm nay, chính xác là 41 năm, về để em yêu nâng khăn móc túi, tui chưa hề có ý định bỏ em chạy theo con bồ nhí nào cả nhưng em yêu lại có ý định bỏ tui ‘côi cút’ một mình.
“Em muốn thôi anh vì tín ngưỡng của đôi lứa ta sao khác nhau quá xá?! Anh luôn nghĩ anh là ông Trời mà em thì lại không nghĩ vậy!”
Sau nầy qua đây rồi, tui mới biết là Úc đứa nào cũng ít nhứt là hai ba đời vợ.
Nghèo chừng nào tụi nó thôi nhau nhiều chừng nấy.
Chẳng qua là hai đứa có cái ‘đít’ không, con cái cũng không, thôi nhau cái rụp dễ ợt hè. Không phải chia nhà, chia con, chia của gì đâu cho nhức đầu và lâu lắc! Chỉ cần chia một con chó. Nhứt định ăn thua tới bến, hai đứa đưa nhau ra Tòa!?
Luật sư của em yêu cãi rất hay. Quan Tòa phán em yêu được quyền nuôi con chó. Bất ngờ thay, sau khi nghe phán quyết, con chó cắn viên Luật sư của em nhém chết. Vì con chó sự thực khoái ở với anh để được anh dắt đi ‘pub’, nhậu mỗi cuối tuần!
Ðó là chuyện ly hôn của đám nghèo đám mạt; còn Úc hay ‘Mít’ giàu chừng nào là ít thôi nhau chừng nấy mới lạ chớ?!
Giàu, tiền bạc rủng rỉnh, cò xanh trong túi, xài giấy trăm đô không hè thì biết bao nhiêu em đẹp đang chực chờ nhào vô ‘vớt’, mà chàng bộ ngu sao cứ một lòng chung thủy với bà xã nó ở nhà?!
Chẳng qua thôi nhau, phận làm chồng có căn nhà trả xong là giống như bị bão tố, lốc xoáy, hay cháy rừng vậy. Vì ba thứ đó và ly hôn cùng có một điểm chung là anh sẽ bay hết một căn nhà.
Thiên hạ thường nói: Vợ mình là ‘housekeeper’ tức là người giữ nhà. Ly hôn xong, vợ cũng còn là người giữ căn nhà! Còn phần mình, mình ở ngoài sân.
Chính vì vậy mà người Do Thái giàu, do mần ăn chí thú và hà tiện hà tặn, ít khi ly hôn với vợ lắm.
Chuyện rằng: Ðể ăn mừng sinh nhựt thứ 40 của em yêu, hai vợ chồng đi ăn tối ở một nhà hàng sang trọng nhứt trong thành phố Melbourne.
“Nè em yêu! Em muốn gì nào? Một chiếc Jaguar? Một chiếc áo ‘lông chồn cái’ hay một sợi dây chuyền bằng bạch kim có gắn hột xoàn chừng chục carat, đeo cho trặc luôn cái cần cổ của em?”
“Em muốn tụi mình ly dị!” “À cái chuyện đó hả? Anh chưa lên kế hoạch để phải chi một khoản tiền quá lớn đó em.”
Bên Úc nầy đây, ly hôn mà hai vợ chồng không tự thỏa thuận được thì luật sư bên chồng sẽ được căn nhà. Luật sư bên vợ sẽ được chiếc Mercedes. Còn phần hai vợ chồng là một đống nợ.
Bên Anh cũng rứa! Một ông tòa gia đình ở London, đã ‘quở’ ông Michael Parker, 54 tuổi và bà Barbara Cooke, 57 tuổi, là ‘điên rồ’ vì họ đã chi đến 1.5 triệu bảng Anh cho luật sư trong một vụ kiện tranh chấp tài sản sau ly hôn.
Ông Tòa nói: “Phải chi có 100 triệu bảng mà tranh chấp tốn 1.5 triệu bảng thì hổng nói làm chi.
Còn hai đứa bây chỉ có 10 triệu bảng Anh hè. Ăn thua đủ như vậy là đám luật sư nó lủm hết… cho tụi bây chết!
o O o
Người Úc nói chung thường coi chuyện ly hôn trong cuộc đời vốn chỉ là một chương trong cuốn sách có nhiều chương.
Tân hôn có tiệc mừng gọi là ‘hôn yến’! Ly hôn cũng có tiệc mừng gọi là ‘ly hôn yến’, đãi bạn bè, bà con chòm xóm giống hịt như hồi đôi trẻ cưới nhau vậy. Cũng ăn nhậu, nhảy nhót tưng bừng, mừng lễ bế mạc của 20 năm trời dài đăng đẳng đôi ta chịu đựng nhau.
Nhưng vợ Việt Nam thì khác! “Bà ngưng xơi… nhưng bà còn để đấy!”
Anh bạn tên Ðào Hoa của tui vừa ly hôn với người vợ cũ. Em đồng ý chia nhà, chia của, chia con. Tưởng chừng cây đã lặng; gió đã ngừng cho hai bên phi đường xa, ngựa ai nấy cỡi! Nào ngờ!
Chuyện rằng: “Anh Ðào Hoa bịt mũi, giả giọng ồm ồm của người khác gọi cho người vợ cũ: “Tôi muốn nói chuyện với Ông họ Ðào tên Hoa, chồng của bà Chung Thủy!”
“Xin lỗi! Ông Ðào Hoa không còn ở đây nữa! Chúng tôi đã ly dị!”
Ngày kế rồi suốt cả tuần, anh Ðào Hoa vẫn lặp đi lặp lại cái điệp khúc nầy, vợ cũ của ảnh cuối cùng cũng phát hiện ra giọng nói đó là của ai, bèn gay gắt trả lời:
“Nghe nè anh Ðào Hoa! Chúng ta đã ly dị! ‘Finito’! Là chấm hết! Nghe rõ chưa đồ tai lừa?!”
“Ờ tui cũng muốn nhắc để bà nhớ là chúng ta đã ly dị, là ‘finito’, để bà đừng có lên Facebook mà đòi xởn tóc, đòi lột quần xát muối ớt con nhỏ tui mới vừa quen nhe!”
Báo quốc doanh CS chép câu ca dao của quê mình: ‘Rủ nhau lên đất bảy ngàn. Hái rau choại chột, nhổ bàng về đương. Choại chột thì chấm nước tương. Bàng thì đương nóp người thương tôi nằm’ Là một địa danh, theo tui, đất Bảy Ngàn nó phải được viết hoa.
Tờ báo nầy chép: “Bàng thì đương nóp…”. Tờ kia thì đươn nóp (không ‘g’). Thầy cò ‘cò’ loạn cả lên. Không biết đường đâu mà rờ? Tui bèn đi lục trang 504 Việt Nam Tự-Điển của Lê Văn Đức: “Đương động từ, xong ổng dẫn tui về chữ Đan trang 406. Ổng giải nghĩa vầy nè: “Đan cũng gọi Đương, kết dính thành tấm rộng bằng cách xỏ luồn sợi ngang sợi dọc: Đan áo, đan vớ. Xong ông Lê Văn Đức dẫn ca dao: “Tiếc công chẻ nứa đan lờ, Để cho con cá vượt bờ lóc đi.” Tui thấy sau dấu phẩy chữ ‘để’ phải viết thường mới đúng chớ? Cá vượt bờ lóc đi là con cá lóc. Dân Bắc gọi con cá lóc là con cá quả. Thì ca dao nầy của dân Nam Kỳ thì phải viết là đương. Sao ổng lại dùng ‘đan’ là tiếng Bắc? Nghe ‘hòa đồng tôn giáo’ của ông Đạo Dừa quá xá?
Câu hỏi kế tiếp: “Đất Bảy Ngàn ở đâu vậy? Sông Cần Thơ chảy cong quẹo tới quận Phong Điền. Đầu thế kỷ XX, Pháp cho xáng đào kinh Xà No. (Dân Cần Thơ gọi Kinh Xà No. Bắc kỳ hai nút mới gọi là kênh).
Chỗ ngã ba thuộc làng Nhơn Nghĩa gọi là ngã ba Vàm Xáng. Miệt Ngàn là đất dọc Kinh Xà No từ Vàm Xáng tới Vị Thủy. Tiếp đó, qua Vị Thanh, tỉnh Chương Thiện kinh Xà No tới ngã ba sông Ba Voi nhập vào sông Cái Lớn chảy ra biển Rạch Giá.
Kinh Xà No – nguồn gody.vn
Pháp tiếp tục đào xẻ ngang hơn 20 kinh sườn. Cứ một ngàn thước thì đào một kinh lớn. Giữa hai kinh lớn, cách 500 m lại đào một kinh nhỏ dẫn nước ngọt vô đồng rửa phèn và đem phù sa nước sông Hậu vào, làm màu mỡ những cánh đồng hoang thành ruộng lúa. Thế nên dân đồng ruộng; dân ruộng rẫy. Đừng nói ngược ‘dân ruộng đồng, dân rẫy ruộng’ nghe không thuận cái lỗ tai.
Đất Miệt Ngàn đẹp nhờ lúa bạt ngàn; đẹp nhờ hai bên lộ có hàng cây hoa hoàng yến vàng rực. Vậy mà lâu nay tui cứ tưởng Hoàng Yến là tên một loài chim chớ? Sao cái đầu của tui lúc nào cũng tơ tưởng tới ‘chim’ không vậy trời?
Chợ Một Ngàn, Bảy Ngàn, Mười Bốn Ngàn không có sạp. Người bán ngồi trên ghế lùn xịt hoặc ngồi chồm hổm; người mua đứng lom khom hoặc cũng ngồi chồm hổm để lựa cá, lựa rau. Người bán người mua đối diện nhau, ngồi ‘cười’ kiểu Hồ Xuân Hương: “Chành ra ba góc da còn thiếu. Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa”.
Chợ chồm hổm là vậy đó. Cũng như chợ Bưng, chợ của đồng bưng, nước ngập lé đé nên đồ bán ai cũng phải bưng hết ráo.
Một, hai giờ sáng, chợ chồm hổm đã họp, trong bóng đèn hột vịt. Cá, tôm, lươn, ếch… Mùa nước nổi thì có cá cơm, cá linh, cá hủn hỉn, chuột đồng, rùa, rắn.
Rau, dân ruộng trồng được gì mang bán nấy. Không thì đi cắt bông lục bình, bông điên điển, bông súng, đọt choại, đọt nhãn lồng, rau trai, rau nhút, rau sam, rau muống tím, đựng trong thúng, rổ, nia hay đổ trên tấm nilon.
Nhổ rau choại chột – nguồn Znews
“Hái rau choại chột, nhổ bàng về đương”. Rau choại chột? Gọi tắt là rau choại hay là đọt chạy, đọt non xoăn tít cong vòng như con cuốn chiếu, thân mọc tới đâu thì bám rễ tới đó. Rau choại có loại mọc hoang trong rừng. Có loại mọc ở vườn những gần bờ mương, lũy tre.
Đọt non hơi đắng, nhưng nhai kỹ hậu ngọt. Ông bà mình hay nói: “đói ăn rau; đau uống thuốc”. Rau choại là một vị thuốc Nam theo mấy ông ở chùa Tịnh Độ.
Ngắt đọt choại vào buổi mai, vì qua đêm mưa ẩm, đọt non mát rười rượi; không héo queo như lúc chiều tà. Mùa mưa, chột hay ngó đều ngon, không có vị chát như những lúc trời nắng nóng.
Dài 10 tới 20 mét, thân cây choại rất dai, dùng bện đăng, nò, lộp đánh cá và dây thừng. Ngoài ra, còn làm nuột lạt lợp nhà, buộc lại cái kèo, đòn tay.
“Nhổ bàng về đương?” Cỏ bàng thường mọc ở nơi chưa được khai hoang, xa xóm làng, xa nhà cửa của người dân. Một chiếc xuồng ba lá, cái cà ràng và cái nóp bàng. Chèo xuồng cả ngày sâu vào đồng tăm tối, muỗi bay kêu vo ve như vãi trấu mới gặp được đồng cỏ bàng xanh tốt. Cặm xuồng lại, mình trầm xuống nước, nắm bụi cỏ thật chặt, rồi giật mạnh bàng sẽ trốc gốc lên dễ dàng. Nếu khi giật mạnh mà nắm không chặt thì thân bàng bị dập ra rất bén, sẽ cứa vào tay chảy máu.
Nhổ cỏ bàng – nguồn Huong sac Mien Tay
Có một ông Quảng Nam (hay cãi) hỏi: “Tại sao không cắt bàng mà phải nhổ. Nhổ dễ hơn chớ!” Tui trả lời ổng như vầy: “Bàng là cỏ. Nhổ, bàng không mọc lại. Đồng mùa nước nổi cỏ bàng không giành chỗ với lúa ma, không ai gieo cũng mọc. Nhổ hết bàng lại có lúa ma không đã hay sao?
Nhổ bảy đến mười lần thì dùng bàng vụn bó hai nuột lại thành từng bó, mỗi bó bự bằng bắp vế, gọi là ‘neo bàng’. Neo bàng để dễ đội chất xuống xuồng chở về bán, được tính bằng chục neo, tại chợ Mộc Hóa, Thủ Thừa, Bến Lức… (Long An), Chợ Bưng, Tân Hiệp, Phú Mỹ… (Tiền Giang), Sóc Xoài, Hòn Đất, Phú Mỹ… (Kiên Giang), Xà Tón, Nhà Bàng… (An Giang).
“Choại chột thì chấm nước tương”. Được lên men từ hột đậu nành, nước tương gốc Tàu nên còn có tên gọi khác là xì dầu hay tàu vị yểu.
Nghe nói Miệt Ba Chúc, Tri Tôn, Châu Đốc bây giờ vẫn còn có đương đệm bàng. Chiếu mắc tiền, đệm bàng trải xuống đất cho một bầy ngồi nhậu. Đệm đắp mùa lạnh. Bàng làm giỏ đệm cho má đi chợ, làm bao cà ròn đựng than đước Cà Mau; làm tụng đựng mận hồng đào từ Trung Lương chở lên bán ở Chợ An Đông.
Bàng còn dùng đương nóp. Nóp là bao đệm dài cỡ 2 thước, may kín, chừa miệng theo chiều dọc, ban đêm chui vào ngủ. Nóp là túi ngủ, là ‘sleeping bag’ của người xứ muỗi kêu như sáo thổi. “Bàng thì đương nóp người thương tôi nằm”. Người thương tôi và cũng là người tôi thương. Tức người thương của tui. Thôi mình chui vô nóp đi em! Ở ngoài muỗi nó cắn em! He he!
Từ đường Trần Quang Khải, Tân Định đi thẳng vô đường Nguyễn Hữu Cảnh, cuối đường có mũi tàu chia ra hai nhánh: nhánh bên phải là xóm lớn dẫn ra bờ kinh Nhiêu Lộc, có chùa Vạn Thọ; nhánh bên trái là xóm nhỏ 10 căn, có chùa Quảng Thành rất nhỏ. Chỉ một khu xóm mà có đến 2 ngôi chùa nên được gọi là Xóm Chùa. Ở Xóm Chùa, nhưng anh bạn văn của tui lại theo đạo Công giáo, vì quê của ba ảnh ngoài tỉnh Quảng Bình.
Anh bạn văn của tui có ghi lại một hồi ức, một câu thương tâm, của chính anh là: “Chạm cửa thiên đường”
“Tháng 6, năm 1982, sau một chuyến hải hành gian nan đã đến được Kuku, Nam Dương. Mừng vì đến được bến bờ tự do chưa thỏa thì đau đớn thay chỉ 2 tháng sau, cơn sốt rừng ác tính đã mang vợ tôi đi mãi mãi!
Mộ em trên sườn đồi, cạnh bãi đáp trực thăng, là một vùng đất sét pha cát, khá xốp, chứ không phải đá núi nên chiếc quan tài của Cao ủy trong đó xác bọc bằng một tấm nilon lúc hạ huyệt cũng sâu tới 2 thước đất. Một chiếc thánh giá bằng gỗ đơn sơ, tên em và ngày mất được khắc lên trên đó. Tôi đã chôn theo em gương, lược, áo quần! Chiếc nhẫn cưới em vẫn còn đeo trên ngón tay áp út!”
Năm 2009, từ Footscray, thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria. Úc Châu, lại vượt trùng dương, tôi trở lại bán đảo Ku Ku hầu mang tro cốt của vợ tôi về lại nhà thờ Tân Định. Giờ khai quật, cẩn trọng đào xuống gần 2 tiếng đồng hồ, chiếc áo quan hiện ra, nắp ván thiên đã mục rã thành cát bụi sau thời gian dài đăng đẳng. Trên nền xi-măng của bãi trực thăng ngày cũ, dưới cơn mưa rừng nhiệt đới Nam Dương nặng hạt, (Mưa rừng ơi mưa rừng! Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên?), tôi thu lượm di vật: gương lược, chiếc nhẫn cưới đã từng chôn theo em. Tất cả được bỏ trong chiếc bọc nilon. Hài cốt được hỏa thiêu dần dần biến thành tro trắng! Cát bụi đã trở về cát bụi!
Nhìn lên đỉnh đồi phủ mờ mây trắng như một dải khăn tang nghìn trùng xa cách. Xin tạ ơn đất trời Kuku, dẫu quê người, vẫn rộng lượng cho xác thân em tạm nương suốt 27 năm qua. Ngày xưa, khi chiếc tàu Cao ủy xa dần Kuku, tôi đã thầm hẹn với em ngày trở lại. Bây giờ tôi đã trở lại vì ai nỡ bỏ em mồ hoang cỏ lạnh cho đành! Trời Kuku bỗng đổ một cơn mưa rừng nhiệt đới! Cơn mưa rừng nhiệt đới ngày xưa phân ly, tôi đi, em ở! Và cơn mưa rừng nhiệt đới chiều nay tôi trở về Ku Ku để tìm lại em”. Xin hãy rót xuống một giọt rượu để giải oan cho những cái chết tức tưởi trong cuộc biển dâu nầy!
Bài hồi ức nầy là lời tố cáo đanh thép; chính vì sự cai trị tàn ác, hà khắc của CSBV sau khi chiếm được Miền Nam đã đẩy hàng triệu bà con mình vượt biển tìm tự do. Chen chúc trên những con thuyền mỏng manh, thuyền nhân trở thành con mồi ngon cho bọn cướp biển Thái Lan. Nhiều người đã bị chết khát, chết đói và chết đuối.
Thế giới rúng động trong niềm thương cảm. Từ điển tiếng Anh có thêm chữ ‘boat people’ là thuyền nhân, người tị nạn chạy trốn CS bằng thuyền.
Trước hồi ức vô cùng đau xót của anh làm biết bao nhiêu người Việt quốc gia rơi lệ, bị chạm nọc, CS sai một bầy dư luận viên dốt nát ra sủa rân nhằm mục đích lấp liếm cái tội ác tày trời này do chính bọn chúng đã gây ra với dân tộc Việt Nam. Chúng trâng tráo cho rằng câu chuyện đau lòng nầy không có thiệt. Chúng lu loa rằng dùng chữ ‘sốt rừng ác tính’ là không trúng… bla bla… Một con khỉ đít đỏ dám bố láo như vầy: “Tớ cũng sắp đi theo ông bà ông vải. Tớ cũng đã từng lặn lội rừng sâu, từ Bắc vào giải phóng Miền Nam, nên tớ rành: chỉ có ‘sốt rét ngã nước’ (nhẹ) và ‘sốt rét ác tính’ (chết như chơi). Nhưng chưa bao giờ nghe ai nói cái ‘vụ sốt rừng ác tính’. Chắc bệnh này mới xuất hiện ở Melbourne, Úc?”
Anh bạn văn gọi đám dư luận viên, an ninh mạng CS, là bọn khỉ đít đỏ. Tui hỏi tại sao anh gọi như thế? Thì ảnh cắt nghĩa: “Là người có đạo, tôi tin Chúa, tôi là người hữu thần. Tin tổ tiên con người là khỉ, CS là người vô thần, chúng lại phát xuất từ rừng Trường Sơn, nên chúng là khỉ đít đỏ (màu cờ máu của CS).
Trại tỵ nạn Kuku, Nam Dương năm 1981. photo Gaylord Barr.
Ảnh ‘bụp’ lại con khỉ đít đỏ Trường Sơn đó như vầy: “Sốt là nóng. Nên mới có chữ nóng sốt. Thân nhiệt trên 37 độ rưỡi là sốt. Sốt cho biết cơ thể đang bị nhiễm trùng. Rét là cơ thể bị lạnh run. Nên mới có chữ giá rét, hoặc rét mướt. Trong bài ‘Đôi bờ, Quang Dũng có viết: “Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự. Kinh thành em có nhớ bên tê? Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến. Hiu hắt chiều sông lạnh bến tề.”
Sốt rừng, rét rừng hay sốt rét rừng là sốt do muỗi cái trong rừng chích. Bọn CSBV xâm nhập VNCH qua đường mòn HCM đứa nào mà không bị vi trùng sốt rét giết hồng huyết cầu; nên da nó xanh bủng màu chì như thằng hút á phiện. Bọn khỉ đít đỏ nầy lùn không thấy núi, không biết sốt rừng (jungle fever) tiếng dân dã để chỉ sốt rét (malaria), sốt xuất huyết (dengue fever), sốt vàng da (yellow fever) trong rừng đầy sơn lam chướng khí. Ác tính vì những căn bệnh nầy làm bịnh nhân bị thiếu máu, suy thận, và tổn thương não, co giật rồi chết.
(Theo báo cáo của Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn (UNHCR), những thuyền nhân Việt Nam tị nạn CS trong các trại ở Indonesia, bao gồm cả ở Kuku vào năm 1979, có 1,433 ca bệnh sốt rét trong số những người tị nạn ở Kuku, với tỷ lệ tử vong là 10.5%.)
Cuối cùng không có cách nào để làm cho những con khỉ đít đỏ Trường Sơn, lùn không thấy núi nầy, hiểu được tiếng người; nên tui khuyên anh: “Ối hơi đâu? Anh nên áp dụng câu châm ngôn tiếng Anh là “The dogs bark, but the caravan goes on’ (Chó cứ sủa đoàn lữ hành cứ đi). Nhưng ảnh cứ khăng khăng không chịu nghe tui, cứ tiếp tục đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Châm điếu thuốc xong ngậm lên môi, anh đạp riết không định hướng. Qua cầu Trường Tiền, vòng lại cầu Sông Hương, vào Thành Nội, xuống đường Ðinh Tiên Hoàng, ra cửa Ðông Ba, lên Cầu Ðen, qua cầu Gia Hội. Anh ngơ ngẩn nhìn phố xá, người qua lại ngược xuôi. Gặp một người quen, anh vẫy tay chào, rồi không đợi người ta chào lại, anh đạp đi. Ngang phố, anh đạp chậm lại. Phố xá càng về chiều càng rộn rịp. Ðám xe thồ đạp đứng ràng ràng từ đầu chợ đến cuối chợ, lan ra cả ngoài đường lộ. Dọc theo lề đường bên dãy phố, những bà, những cô mánh mun vàng bạc tụm năm tụm ba bàn tán, trao đổi, giắm giúi vàng, giắm giúi tiền vừa liếc quanh canh chừng công an. Phía góc đường gần chân cầu, một người công an đường phố đang chậm rãi bước, tay cầm cuốn sổ, tay kia kẹp điếu thuốc “có cán”. Anh ta đi đến đâu thì đám hàng rong và dân mánh mun vội vã dạt ra. Kẻ chạy tạt qua bên kia đường, kẻ nhanh chân tiến về trước, tấp đại vào một căn phố nào đó cho qua lườn. Giữa khung cảnh phố xá muôn màu, bóng chiếc áo vàng công an di chuyển đĩnh đạc, vững chãi như một ông tướng đang duyệt binh. Chiếc áo vàng đến đâu thì lập tức những bóng khác dạt ra, tạo thành một khoảng trống. Rốt cuộc, chính cái khoảng trống đó di động dọc theo đường phố.
Bao giờ cũng thế, cảm giác của anh khi đi qua phố vẫn là cảm giác lạc lõng dai dẳng. Thì cũng chợ, cũng nhà, cũng người. Cũng bạn bè bà con chòm xóm. Cũng những người quen biết. Cũng là những cư dân trong thành phố nhỏ bé thân yêu này. Họ ngày ngày đổ tụ về làm ăn, như từ bao giờ, nhưng anh vẫn thấy xa lạ y như thể chẳng dính dáng gì mấy đến mình. Có phải vì anh dị ứng với bóng dáng của bà giáo viên trường Ðồng Khánh bỏ dạy ra chạy chợ? Có phải vì cái anh xe thồ trong bộ áo quần tơi tả, mặt mày đăm chiêu, lơ láo đợi khách ở góc đường kia, đã từng là hiệu trưởng một trường trung học? Hay anh đạp xe xích lô đang gò lưng đạp kia đã từng là một trung đội trưởng khét tiếng trên chiến trường? Có lẽ tất cả thế và còn nhiều hơn thế. Cái xã hội vốn như một toàn thể trước đây, sau cơn sóng gió lịch sử, vỡ ra từng mảnh vụn, như cái ly thủy tinh vỡ, bây giờ ráp lại với nhau, cái khớp, cái không, lơ láo, tạm bợ. Lạ thật, tại sao người ta lại không có cảm giác như anh nhỉ? Tại sao người ta vẫn vui vẻ thế? Tại sao người ta vẫn nói nói cười cười, lăng xăng bận rộn thế? Tại sao họ vẫn miệt mài bon chen mà không như anh, nhận ra rằng tất cả đã khác, tất cả không còn như xưa nữa? Tại sao? Những câu hỏi vu vơ đó khiến anh tự bứt ra khỏi cái xã hội mới đang thành hình ngoài kia. Trong tận cùng tâm khảm, anh thấy mình là kẻ xa lạ.
Ði ngang qua bến xe lam, Lục thấy một đám đông người xô xát, cãi vã bên lề đường, ngay trước cổng chính vào bến xe. Anh dừng lại, tò mò nhìn. Một vụ xe thồ đạp giành khách. Bốn, năm người xe thồ cố sức trì kéo hai người đàn bà có lẽ vừa xuống xe hay từ chợ về. Một chị vừa ngồi lên yên xe của cậu thanh niên, thì lập tức người đàn ông dùng xe đạp ngáng truớc mặt, không cho đi. Một người đàn ông khác cố đẩy người đàn bà lên yên xe mình. Còn chị đàn bà kia ôm cái xách, chịu trận đứng một chỗ vì có đến ba chiếc xe thồ khác đang bao quanh, mời mọc, không ai chịu nhường ai. Ai nấy mặt mày đỏ gay, không ngớt văng tục vào nhau. Vòng ngoài còn năm, sáu xe thồ khác đang đứng đợi. Người nào người nấy đều trong tư thế sẵn sàng xông trận. Nếu không vì bận bịu với chiếc xe đạp “làm ăn” của mình, thì chắc chắn họ đã lao vào ẩu đả với nhau. Trong số người đang tham dự cuộc tranh chấp khách, Lục nhận ra khuôn mặt một người quen. Anh ta là sĩ quan một đơn vị tác chiến nào đó đóng trong Nam, cùng đi trình diện với anh ở trường Luật ngày nào. Nhìn khuôn mặt đen đúa, ốm o của anh ta trong bộ quần áo lính cũ tả tơi, đang ngoác miệng ra đôi chối với cậu thanh niên, Lục cảm thấy lòng nhói lên đau đớn.
Anh quay mặt đạp xe đi. Qua khỏi cầu Trường Tiền một lần nữa, anh phân vân một chút, rồi đạp thẳng lên phía ga. Con đường Lê Lợi trông hiền lành, yên ả hơn đường Trần Hưng Ðạo bên kia. Ðây là con đường duy nhất cho Lục cái cảm giác gần gũi. Có lẽ nhờ cái vắng vẻ, lịch lãm muôn đời của nó. Chỉ trừ mấy câu khẩu hiệu nền đỏ chữ vàng bắt mắt treo ngang phía trên, mọi thứ ở con đường này tương đối không mấy khác xưa. Gần tới bệnh viện, anh thấy bóng một người con gái đạp xe trước mặt dáng dấp thon gọn quen quen. Anh cố đạp nhanh thêm một chút để xem thử ai. Té ra là Hồng. Hồng không đội nón, để lộ ra mái tóc cắt ngắn ôm sát hai bên má, trông như một thiếu nữ vừa mới lớn. Anh gọi nhỏ:
– Chào cô…b…é…é!
Hồng giật mình quay lui, nhận ra Lục, cười dòn tan. Ðợi xe anh tiến lên ngang hàng, Hồng nói:
– Tưởng ai, té ra anh. Hồng đang sực nghĩ đến anh đây. Mà bữa nay, dám gọi Hồng là cô bé hả?
– Tôi tưởng là một cô bé nào đó mới lớn. Thiệt tình là vậy. Không phải thì xin lỗi thôi.
– Anh đừng có mà làm Hồng vui lên quá, rồi chết bất đắc kỳ tử thì phiền đó nha. Anh đi mô mà lang thang rứa?
– Ðã gọi là lang thang thì hỏi đi mô làm gì nữa?
Hồng cười ngặt nghẽo làm chiếc xe đạp loạng choạng suýt tông vô lề đường. Lục giật mình, la lên:
– Coi chừng, cô Hồng.
– Anh khỏi lo.
Hồng nhanh chóng chỉnh tay lái. Hai người đạp song song. Ngang trường Ðồng Khánh, Hồng đạp chậm lại, nói:
– Hồng ghé vào trường Ðồng Khánh có tí việc. Anh có muốn theo Hồng vào nhìn lại ngôi trường cũ của Hồng một chút cho vui không?
– Hồng đi đi. Tự dưng tôi vào đó mà làm gì.
Hồng đổi giọng năn nỉ:
– Ði vào với Hồng một chút đi anh. Hồng đang muốn có bạn thì may mắn gặp anh, Hồng đâu có dễ để cho anh đi thế. Anh nói anh đang đi lang thang, thì nên theo Hồng. Không có nơi nào lang thang mà đẹp bằng vào trường Ðồng Khánh. Ngôi trường kỷ niệm của mọi người con Huế. Ði anh.
Lục bật cười:
– Tôi chẳng có kỷ niệm gì với ngôi trường này cả.
– Anh xạo! Hồng đoan chắc một trăm phần trăm là mỗi người Huế, ít nhất, phải có mười kỷ niệm với trường Ðồng Khánh của Hồng.
Lục quả quyết:
– Tôi thì tuyệt nhiên không.
Hồng nhìn Lục, thắc mắc:
– Bộ anh không có cô người yêu nào học ở trường Ðồng Khánh hả?
– Không.
– Cho là thế đi. Vậy bộ anh không để ý một cô nào ở trường Ðồng Khánh?
– Cũng không.
– Vậy anh chưa từng đứng trước trường Ðồng Khánh để ngắm bất cứ cô nào vào giờ tan trường?
– Ờ…, cái này thì, cái này thì…làm sao tránh khỏi.
– Thấy chưa. Hồng đoán tệ lắm, anh đã phải đứng trước ngôi trường này cả ngàn lần. Ðúng không?
Thấy Hồng vui, Lục vui theo. Anh tếu:
– Không đến một ngàn lần đâu. Ðể tôi nhớ xem, hình như chỉ khoảng có tám trăm bảy chục lần thôi.
– Hèn gì!
– Hèn gì sao?
– Hèn gì không chớp được một em nào của trường cả.
– Sao Hồng biết?
Hồng không trả lời, chỉ cười. Mải theo câu chuyện, Lục đã theo Hồng vào hẳn trong ngồi trường lúc nào không biết.
Tạt vào văn phòng, văn phòng đã đóng cửa. Hồng lững thững trở ra chỗ dựng xe đạp. Lục thắc mắc:
– Cần liên hệ gì, sao Hồng lại chọn giờ bãi trường mà vào?
– Cũng chẳng có gì quan trọng. Lục cái phiếu điểm học kỳ cho đứa con gái. Hồng đang trên đường về nhà, nên tiện ghé luôn.
Lục thắc mắc:
– Hồng nói về nhà, sao đi ngã này?
– Ừ. Về nhà thiệt. Rứa anh không biết nhà Hồng sao?
– Thì biết Hồng ở Bạch Ðằng.
– Ðó là nhà thuê. Nhà Hồng ở trên núi kia.
– Vậy làm sao tôi biết được.
– Anh biết ngả lên lăng Tự Ðức không? Biết há? Anh có biết chùa Châu Lâm không? Ðấy, qua khỏi chùa một đoạn, rẽ vào một con đường núi. Nhà vườn. Vô cùng yên tĩnh. Nếu anh thích, khi nào mời anh lên chơi cho biết.
Anh gật đầu. Nhưng chợt hỏi:
– Bỗng không, sao mà lên nhà Hồng chơi được?
– Có sao đâu. Hồng mời mà. Nhà vắng vẻ lắm. Chỉ có bà vú với Hồng thôi.
Anh nói:
– Thôi tôi dông nhé.
Hồng dựng xe lại, nhìn anh:
– Anh làm gì mà vội thế? Ðã vào đây, ta hãy đi dạo quanh, ngắm lại ngôi trường cũ một tí đi đã nào.
Lục nói:
– Thì đấy, tôi nhìn quanh quất nãy giờ rồi. Ðại loại cũng như bất cứ cái sân trường nào thôi. Cũng cây phượng, cây vông, cây nhãn, các lớp học quét vôi vàng, mái ngói đỏ, sân chơi, cột cờ…
Hồng bật cười:
– Nói như anh thì hai chữ Ðồng Khánh đâu có đi vào lịch sử, đi vào kỷ niệm của bao nhiêu thế hệ, đâu có trở thành một nét độc đáo của riêng xứ Huế mình. Này nhé, anh xem, không có nơi nào có cái màu tường vừa cổ vừa duyên dáng, vừa gợi nhớ như màu tường Ðồng Khánh. Nó hồng hồng, đà đà, cũ cũ. Nội mấy cái cột trụ, cái cửa sổ, những tầng cấp đi lên lầu bằng gỗ. Những bức tường rêu, anh xem, cũng vô cùng đặc biệt. Còn cái sân trường, anh xem, vừa rộng vừa thoáng, với những lối đi, lặng lẽ và thơ mộng. Anh phải tưởng tượng trên những lối đi đó, đã hàng ngàn, hàng chục ngàn nữ sinh của bao nhiêu thế hệ bước qua. Khung cảnh này chỉ có một nơi có thể so sánh được thôi.
– Ðâu vậy?
– Thì sân trường Quốc Học chứ đâu nữa? Anh đồng ý không? Anh học ở đó bao lâu?
Lục giật mình, nói ỡm ờ:
– Cũng không lâu lắm, một hai năm gì đó.
– Một hai năm thôi à? À, mà mô có nhiều hơn được nhỉ, vì trường Quốc Học chỉ có cấp ba thôi. Hồng học ở đây đến bảy năm cả thảy, từ đệ thất lên đệ nhất. Trời, anh làm sao tưởng tượng nỗi, Hồng đã có hằng hà sa số kỷ niệm vui buồn ở đây.
Hồng say sưa nói về trường Ðồng Khánh của nàng, kéo Lục đạp xe đi theo vòng vòng quanh sân. Hồng chỉ cho anh nơi nào là nơi nàng học đệ thất, đệ lục rồi đệ tam, đệ nhị, đệ nhất. Ðâu là nơi nàng ăn kem, ngồi học bài, gây lộn với mấy con bạn, mất cặp đi học. Nơi nào ngã té trên sân, nơi nào nàng và mấy con bạn chui vào trường khi trễ học. Ðến một cây phượng già, Hồng dừng lại. Nàng dựng xe đạp vào lề, rủ anh:
– Ðể xe đó anh Lục. Tới đây Hồng chỉ cho anh xem cái này.
Lục nghe lời, dựng xe, bước theo Hồng. Hồng đến gốc cây phượng già, lom khom rờ rẫm khoảng thân gần gốc.
Lục đứng nhìn quanh. Sân trường đẹp thật. Ðây là lần đầu tiên anh đi quanh sân trường Ðồng Khánh. Trước đây, anh chỉ đứng ngoài hoặc đi ngang nhìn vào. Với anh, trường này cũng như trường Quốc Học, là một thế giới riêng biệt dành cho ai đó, chẳng dính dáng gì đến anh. Anh mê cái tên trường, mê những cô nữ sinh Ðồng Khánh, đã từng bao lần đứng đợi, đứng ngắm mấy cô giờ đi học, giờ tan trường với vô vàn ao ước. Ấy thế, mà rốt cuộc, cả hai tên Ðồng Khánh và Quốc Học anh không có dính dáng một chút nào. Anh không học trường Quốc Học, mà Hạnh thì lại chẳng bao giờ là nữ sinh Ðồng Khánh. Đó cũng là một trong những điều thiếu hụt trong đời anh. Bởi thế, mỗi lần nghe ai đề cập đến những mối tình Quốc Học-Ðồng Khánh, lòng anh không mấy vui. Anh làm lơ, lòng ân hận y như thể mình đã làm một chuyện gì không phải. Cũng đáng ngậm ngùi!
Hồng chợt reo lên:
– Anh Lục, tới xem nè.
Lục chạy tới, khom người nhìn theo ngón tay chỉ của Hồng.
– Anh nhìn thấy chưa, này trên Hồng này, chữ H chữ Ô còn hai chữ N,G bị đứa nào vạch chồng lên. Ðồ quỷ! Còn anh xem thử năm nào này. Ðây này, dưới cái tên của con, con nhỏ nào đây, phải rồi, con Túy Lự, con Túy Lự, đệ tam C. Ðúng rồi, năm 1964, năm Hồng học đệ tam.
Lục lơ đãng nhìn một khoảng thân cây chi chít những chữ, mà do nhiều người khắc vào quá, nên chẳng còn tên nào thấy được rõ ràng. Lục chép miệng:
– 1964. Cũng lâu quá nhỉ! Ngót hai chục năm.
Hồng kể:
– Hồng còn nhớ, cũng dưới cây phượng này, về mùa đông chuyển qua xuân, hình như sau tết thì phải, sâu ơi là sâu. Mà toàn là sâu đo. Chúng rớt xuống áo, dính cả vào tóc. Hồi nhỏ, sợ muốn chết. Người ta dọa là nếu để cho con sâu đo, đo từ đầu đến chân là chết. Thôi, mình đi ra phía sau này thăm một chút đi anh.
Hai người lấy xe đạp, đạp về phía hội trường. Hồng nói như sáo:
– Nhớ cái hội trường này dễ sợ. Anh biết không, có lần, Hồng lên sân khấu múa nhân dịp trường tổ chức văn nghệ Tết. Trời ơi là dị, dị muốn chết. Hồi đó, Hồng học đâu lớp đệ lục hay đệ ngũ gì đó. Còn kia là nhà ông cai. Không có ngày nào là tụi Hồng không ghé đến nhà ông cai mua quà: kẹo, bánh ram, cà rem, chè, có khi có cả bánh lọc, bánh nậm nữa. Mà lạ, anh biết không, ăn cái gì ở nhà ông cai cũng ngon cả, ngon dễ sợ, ngon hơn ở nhà nhiều, không hiểu tại sao. Vừa ra chơi một cái là tuôn nhau chạy về nhà ông cai, sợ hết…
Cứ thế, Lục bị cô cựu học sinh Ðồng Khánh kéo dài về những ngày tháng kỷ niệm của riêng cô. Anh miễn cưỡng lắng nghe, nhưng rồi không biết lúc nào, cũng vui lây niềm vui của một người đàn bà dường như lúc nào cũng chỉ muốn sống bằng kỷ niệm. Có lẽ nhờ thế mà những cảm giác tiêu cực về anh, về gia đình như tan biến hẳn đi.
Chương 15
Tàu đến Huế lúc hai giờ sáng. Hạnh không mua hàng ra, nên tàu dừng, nàng thênh thang đi thẳng một mạch ra cửa. Nàng nhảy ngay lên chiếc xe đạp thồ, không cần hỏi giá. Ðêm yên tĩnh lạ thường. Trời khuya ngây ngấy lạnh. Vài chiếc xe đạp thồ chở khách lặng lẽ đạp dồn trên đường vắng. Một chị công nhân đẩy chiếc xe rác đi dọc bên lề đường gần bệnh viện. Huế êm đềm trong giấc ngủ mùa xuân. Khi nàng ra đi, Huế còn vương mùi Tết. Bây giờ đã tháng hai rồi. Bao nhiêu lần, xa nhà một tuần, mười ngày, Hạnh quay quắt. Trên đường về, nàng hăm hở, nghĩ đến những khuôn mặt tràn trề niềm vui đang đợi ở nhà. Nàng tưởng tượng đến giây phút được nằm trong vòng tay ấm cúng, vững chãi của Lục. Nàng tưởng tượng đến mấy đứa con ríu ra ríu rít vây quanh.
Lần này hơn một tháng xa nhà, nhưng lạ thật, nàng không nôn nao được trở lại. Nàng dửng dưng. Xe qua cầu Sông Hương, quẹo vào cửa Thượng Tứ, chạy dưới những con đường rậm rì cây lá. Trời không trăng, âm u, đường đi càng thêm âm thầm, bí ẩn. Ðêm Thành Nội tịch lặng lạ thường. Nàng tưởng như nghe rõ cả những giọt sương đêm khe khẽ rụng đâu đó. Tiếng xe đạp nghe cọc cạch buồn nản phóng tới trên đường khuya. Nhà kia rồi! Ðến lúc này Hạnh mới bắt đầu cảm thấy gợn lên chút nôn nao bất thường. Chưa đến cửa ngõ, nàng đã vỗ vai anh xe thồ dừng lại, trả tiền, quàng hai cái xách lên vai, bước nhanh.
Lối vào nhà tối om vì hàng chìa tàu lóng ngóng vươn cao, chưa kịp cắt. Lục làm gì mà để cao như thế này? Vào sân rồi, nhìn thấy cánh cửa, bỗng nhiên, Hạnh dừng lại. Bước chân lấn cấn bất thường. Chút nôn nao hiếm hoi chợt tan biến. Nàng không vội vào, đứng lẩn thẩn nhìn quanh. Vẫn thế. Mãi mãi chúng vẫn thế. Trong góc sân lù lù một đống cao. Chắc là đống củi Lục đã bửa ra, dồn đống lại. Dưới hiên nhà, cái lu nước nằm đó. Nó nằm đó bao nhiêu năm rồi? Hình như từ cả trước ngày giải phóng lận. Kia là cái gì nhỉ? À, chiếc ghế gãy, thằng cu Tơ vẫn thường dùng để cột con mèo. Còn kia là cái gì? Cái máng xối hư mới thay mùa đông rồi. Cây trứng gà, cây cam, bụi chuối sứ vẫn còn đó. Trong bóng đêm, tất cả chỉ là những khối đen hòa lẫn với nhau im lìm say ngủ. Chúng ẩn nhẫn, chịu đựng. Lặng lẽ và buồn bã đến thế này sao! Một khác xa vời vợi với Sài Gòn. Nàng nhìn lui ra phía cửa ngõ. Khẽ thở dài. Ra khỏi đó là khung trời rộng mở. Là mênh mông. Là một thế giới khác. Nàng quay lại, ngơ ngác đứng sững nhìn ngôi nhà thân quen của mình. Sao mà nó lạ hoắc thế này! Nơi đây, nàng chẳng đã từng sống, từng vui đùa, từng sinh con, từng vui hưởng đời sống vợ chồng, từng vân vân và vân vân đó sao!?
Bước chân lên thềm, nàng thấy lạnh ở cổ. Gió khuya liu riu từ bên kia khu vườn lướt tới, mơn man. Nàng kéo áo ấm sít lại, bâng khuâng dừng lại trước cánh cửa. Một ý nghĩ kỳ lạ chợt đột nhập vào trong trí tưởng hoang mang của nàng: đừng vào nữa. Hãy trở ra cửa ngõ và đi, đi mãi, không quay lại. Hình ảnh Lục và mấy đứa con hiện ra nhạt nhẽo, vô hồn. Ngày lại ngày, chừng ấy! Ôi chao! Những khuôn mặt mong ngóng, khát khao, chờ đợi. Chồng và con! Chừng ấy! Cứ thế, mãi mãi. Không có gì khác.
Hạnh vuốt tóc, cố xua tan đi những ý nghĩ bất thường vụt đến, nhẹ nhàng đút chiếc chìa khóa, mở cửa. Cánh cửa lay nhẹ, âm thầm kêu lên một tiếng “kẹt”. Nàng đẩy tới. Tối, tối mù. Bóng tối trào ra, ngột ngạt. Ngực nghe tưng tức. Nàng kép nhẹ cửa, bước vào, để hai cái xách xuống. Lặng lẽ như tờ. Nàng mở cánh cửa sổ bên hông, lấy chút ánh sáng nhờ nhờ từ ngoài hắt vào, đứng lặng lẽ thay áo quần.
Nàng lần mò vào phòng mấy đứa con, nhẹ nhàng vén mùng, rờ quanh. Thằng Phụng và thằng Ðồng say sưa ngủ. Phía bên chiếc giường nhỏ kia là tiếng thở đều của Ngân. Nàng cúi xuống hôn nhẹ lên đầu Phụng. Chợt giật mình, nhăn mặt. Mùi khét nắng và mùi hôi bốc ra từ thân thể đứa con khiến nàng dội lại. Mấy ngày rồi, thằng nhỏ không tắm rửa? Nàng bước xuống bếp, vào phòng tắm, bật lửa lên soi, tắt, rồi sờ soạng rửa ráy trong bóng tối.
Bước nhẹ về phòng, nàng dừng lại lắng nghe. Tiếng thở Lục đứt quảng từng hồi, chen vào tiếng khò khè như nghẹt thở. Lục đây rồi. Nàng chỉ có việc vén mùng, nằm xuống, đưa hay tay ôm choàng lấy thân hình anh, yên lặng nghe mùi mồ hôi thân quen, nao nức đợi lúc anh quay mình lại, ôm xiết lấy nàng và cứ thế, tuần tự, anh sẽ…, anh sẽ…Nàng bất giác cảm thấy ơn ớn. Như ăn mãi một thứ gì nhiều lần quá. Chẳng có gì vui. Nàng rón rén bước ra, đi thẳng vào phòng mấy đứa con, tới giường con Ngân, nằm vội xuống.
Hạnh tưởng là ngủ được ngay, nhưng mà lạ, nằm trằn trọc mãi.
Lần đầu tiên trong đời, nàng kinh qua một cảm giác lạ lùng: trở lại nhà của mình mà như đến trọ ở nhà một người lạ.
*
– Mạ về!
– Mạ về!
– Mạ về rồi!
Tiếng reo hò ầm ĩ của mấy đứa con kéo Lục ra khỏi giấc ngủ mê man. Anh vùng dậy, ngơ ngác nhìn quanh, lắng nghe. Thằng Phụng reo lên:
– Mạ về khi mô mà con không biết.
Con Ngân:
– Ðồ ăn mô mạ? Có áo quần chi không? Kẹo Sài Gòn mô?
Anh leo xuống giường, không kịp xỏ dép, chạy xuống phòng mấy đứa con. Thấy Hạnh đang bồng thằng Phụng trên giường, anh hỏi:
– Em mới về à?
– Không. Em về hồi khuya.
– Hồi khuya?
Hạnh cúi xuống hôn Phụng để tránh cái nhìn ngạc nhiên của Lục:
– Dạ.
Giọng Lục khô:
– Hồi khuya là khi nào? Mấy giờ?
Hạnh xẵng giọng:
– Thì khuya là khuya. Làm sao em biết mấy giờ được. Này, Thằng Ðồng chạy ra ngoài lấy mấy cái xách cho mạ nghe chưa? Con Ngân thì lo đi rửa mặt đi. Xem áo quần kìa, cái ống quần toe tua như vậy mà cũng mặc. Còn thân hình thì hôi ôi thôi là hôi. Ngày hôm qua không tắm à?
Hai đứa nhỏ nghe lời quay đi. Hạnh loay hoay lục soạn đồ đạc. Nàng lớn tiếng:
– Thằng Ðồng mô mà lâu vậy? Mau lên. Nào đưa đây. Ờ mà sao không thấy cái bì bột ngọt ở đâu cả kìa? Nhớ là đã bỏ vào trong xách rồi. Ðồng, rứa thì có thấy có cái gì rơi lại ở ngoài đó không? Thôi, để mạ ra. Ði rửa mặt đi.
– Tức ơi là tức. Ðã bỏ vô rồi mà giờ ở đâu không biết. Cả hai cái áo lót nữa. Thằng Phụng mô rồi. Ờ mặc thử cái quần này coi có vừa không. Mà khoan, đi tắm đi đã. Mấy ngày rồi không tắm hay sao mà hôi như cú. Thằng Phụng mô?
Thằng Phụng chạy vào. Hạnh lấy cái áo mới ra vứt xuống giường, lôi tuốt thằng nhỏ ra nhà sau:
– Ra đây mạ tắm cho cái đã. Ngó mặt mày áo quần kìa, trông chẳng khác nào một thằng đứng đường. Thằng Ðồng làm chi mô mà không tắm rửa, thay áo quần cho em. Ði mau lên, thằng tê.
Tắm xong, Hạnh kéo thằøng Phụng ra lau chùi:
– Trời ơi, răng mà sẹo nhiều ri. Mi chạy đi chơi ở mô? Mạ đã dặn rồi, đừng có chạy nhảy, leo trèo bậy bạ, bổ té khổ thân. Cái chi? Ðạp mẻ chai à? Trời ơi là trời? Ai biểu mi chạy ra ngoài vườn làm chi? Con Ngân tắm xong chưa, ra mạ biểu? Ðồng, em học hành ra răng con? Có làm toán được không? Ừ, đó, đó, đưa cái đó cho mạ coi. Ðúng rồi, bì bột ngọt. Mang xuống bếp lấy cái chi bỏ vô, nhớ lấy cái chai nhỏ để gần lon tiêu ấy, ừ xé bì ra, trút từ từ vô, đừng để đổ lung tung nghe chưa. Bột ngọt thứ tốt đó. Con Ngân có cái áo cánh đằng kia kìa, đó đó, cái xách xanh ấy, không phải, ừ đúng rồi, vô mặc thử đi. Cái thằng, đứng yên cho mạ coi nào, làm chi mà nhảy nhảy như con khỉ vậy, đứng lại, mạ xem thử có vừa chưa. Ngó cũng được rồi, không biết giặt rồi có go không…
Hạnh mặc xong chiếc áo, xô Phụng ra, đứng ngắm nghía, xuýt xoa. Nàng lăng xăng, hết soạn đồ ra lại kêu con tới xem cái này cái nọ. Lục nhìn chăm vợ, muốn nói một câu gì thật thấm thía để Hạnh hiểu hết tâm trạng phức tạp của anh khi thấy Hạnh đột nhiên trở về sau một thời gian dài đợi chờ khắc khoải. Nhưng thủy chung, nàng vẫn không nhìn anh. Mất kiên nhẫn, Lục ấm ức quay trở lại phòng.
Vắng anh, mấy mẹ con tíu tít chuyện trò, ăn uống. Anh lắng nghe. Hạnh hỏi mấy đứa con chuyện ăn mặc, học hành, nhắc nhở chúng chuyện này chuyện nọ, tuyệt nhiên không đề cập gì đến anh. Mấy đứa con anh cũng vậy. Anh bồi hồi, giận dỗi, quyết tâm nằm lì trong phòng cho đến lúc thiếp đi.
Khi tỉnh dậy, anh nghe nhà yên lặng bất thường. Có lẽ mấy đứa con đã đi học hết. Anh nhỏm dậy, cảm thấy có cái gì nằng nặng đè lên người. Anh đưa tay gạt đi. Một vật gì mềm mại níu tay anh lại. Anh nghe mùi thơm phảng phất cùng với mùi mồ hôi quen thuộc. Hạnh. Anh hờn dỗi gỡ cánh ta vợ ra. Nàng không buông. Anh xoay mặt vào tường, hai chân co lại. Nàng xích lại gần, tựa trên vai anh, xoa má, rờ rẫm hai dái tai, vuốt xuống cổ, luồn nhẹ vào ngực. Anh nhột. Người rờn rợn nóng. Cử chỉ chủ động bất thường của Hạnh khiến anh cảm động. Anh thụ hưởng cảm giác của một đứa trẻ con được mẹ mơn trớn. Nhưng anh vẫn nằm yên, làm nư. Ðể cho cô ta biết tay!
Có lẽ thấy anh không hưởng ứng trước những cử chỉ làm lành của mình, Hạnh lơi tay, quay ra ngoài. Anh chờ đợi một cử chỉ làm lành khác. Nhưng Hạnh nằm yên. Anh hụt hẫng, cảm thấy hối hận. Anh xoay người lại, nhẹ nhàng luồn tay xuống cổ vợ, kéo vào người, nhẫn nha rờ rịt. Hạnh nói nhỏ:
– Cửa chưa đóng kìa.
Lục với tay khép cửa phòng lại, ôm vợ, miệt mài day dở.
Sau cơn ân ái, Lục hôn phớt lên tóc vợ, ngồi dậy. Khi ra ngồi hút thuốc ở ngoài hiên nhà, anh cảm thấy buồn buồn. Và thất vọng. Cả một tháng trời xa nhau, tưởng gặp lại, cả Hạnh và anh sẽ dạt dào hưng phấn, hân hoan thụ hưởng lẫn nhau, tíu tít chuyện trò để bù lại những ngày chờ đợi. Ấy thế mà không. Anh cảm nhận một cái gì khang khác. Thiêu thiếu, vương vướng, trục trặc. Ðôi môi Hạnh không nóng bỏng. Lại lạnh. Nàng ôm anh chừng mực. Ðôi mắt mở lớn nhìn lên trần nhà. Hơi thở nàng vẫn bình thường, không dồn dập. Nàng như miễn cưỡng chịu đựng cho xong chuyện. Anh hăm hở được khoảng thời gian đầu, rồi dịu xuống. Anh nản chí. Những động tác trở nên đều đặn, lấy lệ.
Rít một hơi thuốc thật dài, anh vứt tàn thuốc ra ngoài sân, vào lại phòng. Thử một lần nữa xem. Biết đâu, anh nghĩ bụng. Nhưng Hạnh không còn đó. Nàng đi đâu? Sao không đợi anh? Tạt ngang phòng mấy đứa nhỏ, anh thấy nàng nằm quay vào phía trong, cong người trong một dáng nằm tội nghiệp. Chiếc chăn mỏng đắp ngang không che kín hết người. Tà áo cánh ngắn trễ tràng để lộ một khoảng da lưng trắng. Tóc lòa xòa rủ bừa bộn xuống gối. Tại sao nàng vào nằm đây? Anh bước đến giường, ngồi xuống, lay vai vợ:
– Em!
Hạnh cựa mình, mắt lờ đờ nhìn lên:
– Em buồn ngủ quá.
Lục chờ đợi Hạnh với tay anh kéo xuống, đặt lên má anh một nụ hôn nồng nàn, rồi nũng nịu như mọi lần: “để cho em ngủ một chút đã nha anh, rồi hẳn hay”. Không. Hạnh nói xong, nhắm mắt lại. Cơn giận dỗi đột ngột bùng lên. Anh gằn giọng:
– Ði cho đã rồi về ngủ!
Lục ấm ức trở về phòng. Ðang nằm gậm nhấm nỗi buồn thì Hạnh vào. Nàng rón rén ngồi xuống:
– Không ngủ à?
Anh đáp cộc lốc:
– Không. Còn cô? Cô không ngủ nữa sao?
Nàng bóp miệng anh lại:
– Cô? Học tiếng cô từ bao giờ vậy?
– Không có thì bà. Bà không ngủ nữa đi?
Rồi xoay mặt úp xuống gối, anh nhắc lại:
– Ði, đi cho đã rồi về ngủ.
Hạnh giận dữ đứng dậy:
– Ừ, tui đi cho tui đó. Tui băng rừng vượt suối, lên xe xuống tàu là để cho tui đó. Tui ăn, tui chơi, tui thui thủi một mình, cơm hàng cháo chợ, tui…tui…
Giọng Hạnh mỗi lúc một đẫm ướt. Nàng bù lu bù loa kể lể, than van, khóc lóc. Nhưng anh vẫn nằm yên, làm như không nghe không biết. Khóc kể chán, Hạnh về phòng mấy đứa con, đóng cửa lại.
Hai vợ chồng hờn qua dỗi lại suốt cả buổi sáng. Khi Lục muốn đến làm lành với vợ thì Hạnh tỏ thái độ bất cần. Khi Hạnh đến làm lành với chồng, thì Lục lại nói xiên nói xỏ. Người này đợi người kia xuống nước thêm một chút, nhưng người nào cũng ỡm ờ, không ai chịu nhường ai. Lục hết vào giường nằm, rồi lại ra sân, đi vòng quanh nhà. Hạnh thì dọn dẹp áo quần, nhà cửa, xuống bếp rửa chén bát, nấu ăn. Thấy Lục, nàng cúi mặt cắm cúi làm. Lục giả bộ đi, chợt quay lại thì thấy Hạnh ngước nhìn. Hai đôi mắt gặp nhau. Lục nhìn thẳng, nhíu mày. Ðôi mắt Hạnh thì lườm lườm. Ðến trưa, đói bụng, Lục xuống bếp, hỏi trổng:
– Có gì ăn không?
Hạnh đang sửa soạn đồ ăn, nghe hỏi, liếc xéo anh một cái, rồi cúi xuống, tiếp tục công việc của mình. Lục lên ngồi ở bàn, đợi, tự hỏi không biết khi ngồi ăn, anh sẽ làm lành với vợ bằng cách nào. Khi Hạnh bưng mâm cơm lên, anh nhìn đi chỗ khác. Hạnh để mâm cơm xuống, ngập ngừng ngồi. Lục vừa đói bụng, vừa mệt, cắm cúi ăn. Hạnh ăn cầm chừng. Im lặng ngột ngạt. Có lẽ hai người sẽ vẫn im lặng cho đến khi bữa ăn chấm dứt, nếu như Hạnh không kéo cái bàn, vô ý để chân bàn trật miếng chêm. Ðĩa đồ xào rơi xuống đất, nước văng tung tóe, ướt cả chiếc quần pi-ja-ma của Lục. Lục để chén cơm xuống, không nói gì. Hạnh xuýt xoa, đi xúc tro rải trên nền nhà. Nàng lấy cái khăn lau chén chùi chỗ quần bị đồ ăn dính của Lục. Ðợi Hạnh đứng lên, anh níu Hạnh kéo xuống, để nàng ngồi lên chân, ôm ghì, đặt một nụ hôn hòa giải. Hạnh la nhỏ:
– Coi đồ ăn dính cả tóc.
Giọng nàng vẫn còn gắt, nhưng nghe ra đã có phần nũng nịu. *
Hạnh đẩy cái giấy tính tiền ra trước mặt chồng:
– Hàng bán được hai cây tám, như thế là lời tất cả bảy chỉ. Tiêu pha cả tháng cộng với tiền bù vàng, cũng còn lời được mấy chỉ. Mấy thứ đồ ăn lỉnh kỉnh mua ra là từ tiền lời do hai chuyến đi về miền Tây…
Lục liếc nhìn mấy tấm giấy tính tiền, tự hỏi không biết sao bữa nay Hạnh lại làm cái việc bất thường này. Anh nhìn theo khói thuốc, lơ đãng lắng nghe vợ nói tiếp:
– …Hơn một tháng trời xa nhà, lòng cứ như lửa đốt hàng ngày, nhấp nha nhấp nhỏm, đứng ngồi không yên. Biết là ai cũng trông, nhưng làm sao giờ. Bán hàng không được thì có ra, cũng chỉ mang ra cái mạng không, rồi làm gì.
Lục hỏi:
– Nhưng tiếc chi cái điện tín?
– Thì có đánh, có nhắn rồi.
– Ðó là lúc đầu, còn sau này thì sao. Bặt vô âm tín. Không nói chuyện thiếu thốn. Cả nhà ai cũng muốn có tin để yên tâm.
– Là vì, ngày nào cũng định ra, rồi không ra được. Cứ nghĩ là mai ra, mai ra. Mai ra thì cần gì mà đánh điện tín, cần gì nhắn.
Lục lấy ra điếu thuốc khác. Hạnh nói:
– Bữa này hút thuốc dữ hè. Thuốc gì vậy? Ðà Lạt phải không? Còn mấy điếu ba số trong xách thì phải.
Hạnh lục xách lấy ra gói thuốc trong còn lại mấy điếu:
– Thuốc ngoại giao đấy!
Lục cầm gói thuốc ngắm nghía rồi để xuống:
– Hút hết điếu này đã. Sao, lần này định ở nhà bao lâu thì đi lại?
Hạnh tỏ vẻ ngạc nhiên:
– Sao lại “định ở nhà bao lâu”. Làm sao mà định được. Tùy tình hình hàng hóa. Cũng như đâu có định ở Sài Gòn đến một tháng.
Sợ Hạnh hiểu lầm, Lục nói tiếp:
– Hỏi vậy là vì…là vì…tôi cũng định làm ăn.
Hạnh chồm người về phía Lục:
– Làm ăn? Anh định làm ăn cái gì? Ði dán áo mưa hay bán bong bóng? Không. Không đời nào.
Lục nhìn thẳng mặt vợ:
– Ði buôn.
– Anh mà đi buôn. Buôn gì?
– Thuốc tây.
Hạnh ngạc nhiên thật sự:
– Buôn thuốc tây? Ai bày cho anh cái ý nghĩ tầm phào vậy?
Anh hỏi gắt:
– Cái gì gọi là tầm phào. Không ai bày cả. Không thể sống kiểu như thế này được.
Hạnh nhìn chăm chú quan sát chồng, xem thử anh nói thật đến mức nào. Thấy vợ đang còn lưỡng lự, anh nói tiếp:
– Ðịnh đi Khe Sanh bữa nay, nhưng hoãn lại. Chết cha! Quên lên nhà thằng Tân nói cho hắn biết là hôm nay chưa đi được. Ðành phải mai đi.
Hạnh hỏi:
– Vốn đâu mà anh đi?
– Lần đầu đi thử, không cần vốn liếng chi hết.
Hạnh lên giọng:
– Cho là thế đi. Nhưng rồi khi đi buôn thật, anh lấy vốn đâu?
– Tự xoay sở được. Sẽ không đụng gì đến tiền bạc của… em.
– Nói nghe tức cười chưa. Anh làm như không đụng đến tiền bạc của em là không dính dáng chi đến em cả, không dính gì đến cái gia đình này cả. Thế ngộ nhỡ anh lỗ, nhỡ bị tịch thu, bay hết vốn, anh lấy tiền đâu mà bù vào?
Lục ngập ngừng:
– Ừ…thì là …đừng lo. Coi như…em không biết gì đến việc này cả.
Anh ngừng lại, rồi tiếp, giọng đầy vẻ cương quyết:
– Mà không thể lỗ được. Tụi bạn đi cả mấy năm trời, không bao giờ lỗ.
– Anh đừng có nghe miệng mồm mấy người bạn vàng của anh. Em đi buôn bao nhiêu năm, em không biết sao? Có trăm cách lỗ. Hàng gì cũng vậy hết. Này nhé, lỗ vàng này, hàng đứng này, bị đánh thuế này, bị hàng giả này…Chưa kể, nếu bị tịch thu, hết sạch vốn. Anh cũng đã từng biết em bị mất hàng như thế nào rồi.
Lục cãi:
– Trầm khác. Hàng này khác. Trầm là loại hàng quốc cấm, lại chỉ có một thứ. Còn hàng đi Lào, có nhiều loại, thuốc tây này, dép Lào này, áo quần NATO này, mỹ phẩm này, áo quần Thái này. Hàng này đứng, ta đi hàng khác.
– Nói như anh thì con buôn người ta đi đường Lào cho khỏe hết thảy rồi chứ đâu đợi đến phiên anh. Em nói cho mà nghe, bọn bạn em chạy hàng Lào lỗ lên lỗ xuống, xấc bấc xang bang vì công an, thuế vụ. Chưa kể cái vụ hàng giả, hàng rởm. Anh đâu có lường được hết mưu ma chước quỷ của đám con buôn. Không ai hiền lành gì đâu. Ai cũng lo nồi cơm của mình trước hết. Cái kiểu ngơ ngơ ngác ngác của anh chỉ tổ cho họ lừa.
Ðợi cho Lục tiếp thu hết lời mình nói, Hạnh tiếp:
– Anh bảo chỉ có trầm là hàng quốc cấm. Anh không biết gì cả. Hàng nào cũng bị xem là hàng quốc cấm hết thảy. Gạo cơm, mắm muối, gà vịt…cái gì mà không bị đánh thuế, bị tịch thu. Không tịch thu mà đánh thuế một trăm phần trăm hay để mãi trong kho, không chịu giải quyết cho người ta thì có khác gì tịch thu. Nói cho anh biết, loại mặt hàng NATO như áo field jacket lại còn “quốc cấm” hơn trầm nữa. Ðồ NATOlà đồ phản động, anh biết không?
Lục cười gượng:
– Anh thấy chúng bán đầy ngoài chợ.
– Thì đồ gì mà không đầy chợ. Nhưng họ bày ra là họ có ăn có chịu, có này nọ với công an, thuế vụ, quản lý chợ cả rồi. Chứ anh tưởng họ muốn là họ bày ra cả đó à. Ðút lót rồi mà họ thích họ vẫn cứ tịch thu như thường, vẫn cứ đưa ra tòa như thường. Anh có biết bà Trang đi xích lô bị bắt mấy bịch thuốc “xã hội chủ nghĩa”, mà họ về nhà họ lục tung cả nhà để tìm thuốc Tây chưa?
Lục hỏi lại:
– Em nói kiểu đó thì bộ người ta ở nhà hết mà chịu đói cả hay sao. Người ta đi buôn rầm rầm, cả em nữa, sao em lại cản anh?
– Không cản sao được. Anh làm sao bì với họ được. Họ chạy chợ bao nhiêu năm, kinh nghiệm đầy mình. Họ biết cách luồn lọt, tránh trút. Anh ra ngoài chợ ngơ ngơ ngác ngác y như chú học trò đi học lớp một mà so sánh sao được.
– Thì vạn sự khởi đầu nan. Có ai bắt tay vô cái là làm được liền đâu. Cũng phải chịu thất bại này nọ. Thất bại là mẹ thành công mà.
Hạnh gằn giọng, cương quyết:
– Người ta khác, mình khác. Nhà này, đi buôn một mình em cũng đã đa đoan lắm rồi. Anh đi nữa, vốn đâu. Lại còn con cái, ai coi sóc.
Lục nhìn Hạnh:
– Bộ anh đàn ông mà cứ lệ thuộc vào vợ mãi như thế này sao?
Nghe nói thế, Hạnh lớn tiếng:
– Cái gì mà anh nói lệ thuộc với không lệ thuộc? Em bắt anh lệ thuộc cái gì nào…
Nàng đổi giọng bù lu bù loa:
– Trời ơi, chồng con ăn nói như thế có được không. Tui làm lụng cực nhọc, vất vả như thế này, lo nuôi chồng nuôi con mà còn bị nói này nói nọ.
Mặt mày Hạnh đỏ gay, nước mắt ràn rụa, vừa khóc vừa than thở.
Lục chán nản bỏ ra ngoài.
Chương 16
Trầm đứng hẳn. Cả thành phố vốn vẫn rộn ràng nhờ dân buôn trầm, bỗng chìm xuống. Trầm đứng, các mặt hàng khác cũng đứng theo. Thị trường vàng khựng lại. Các quán nhậu vắng khách. Chợ búa vắng vẻ. Thậm chí các gánh bún bò, các bàn bán thuốc lẻ dọc lề đường cũng ế. Cứ tưởng tượng, đội ngũ dân buôn trầm, chạy mánh trầm, đi rừng làm trầm lên đến hàng chục nghìn người, ngày nào cũng mua bán vàng, nhậu nhẹt, chạy tới chạy lui thuốc men trà lá, đột nhiên nằm nhà cả thì thị trường trở nên hiu quạnh biết chừng nào! Riêng Hạnh, nỗi hăm hở buôn bán hoàn toàn lắng xuống. Khác với những lần trước, trầm đứng lần này, Hạnh không mấy buồn. Một tháng lo âu, căng thẳng vừa qua với nhiều đột biến trong cuộc đời khiến nàng khựng lại. Mọi thứ trong cuộc sống bỗng mang dáng vẻ khác. Người khác. Vật khác. Và ngay chính nàng, dường như có cái gì cũng khác. Ngẫm nghĩ lại, Hạnh cảm thấy có lẽ chưa bao giờ, trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, nàng đã sống qua những trạng huống tình cảm phức tạp, mâu thuẫn như thế. Nó tạo nên những chấn động mà tì vết của nó có lẽ sẽ chi phối nàng đến tận cuối cuộc đời.
Buổi sáng thức dậy, nàng cảm thấy trống rỗng. Làm gì đây hôm nay? Nghĩ lui nghĩ tới, nàng vẫn không tìm ra việc gì để làm. Không có chuyện buôn bán thôi thúc, nàng như mất sinh lực. Đã thế, nhớ đến chuyện Lục đòi đi buôn, nàng càng bực mình, không muốn nhìn thấy chồng. Làm vệ sinh sáng xong, nhìn vào phòng, thấy Lục và mấy đứa con vẫn còn ngủ, nàng thay áo quần, dắt xe, đạp máy nổ chạy ra đường.
Đi đâu?
Cứ đi đã, tính sau.
*
Ra khỏi cửa thành, Hạnh chạy bâng quơ về phía Bao Vinh, rú xe vượt chiếc cầu Mỹ khá cao bằng gỗ để vào Bãi Dâu. Con đường nhựa thênh thang vạch một đường thẳng băng giữa những cánh đồng lúa và các thửa ruộng trồng rau màu rộn ràng lớn dậy. Gió mùa xuân nhè nhẹ mơn man trên da thịt. Hoa cải nở vàng rực. Những đàn bướm chập chờn trững giỡn. Trong một thoáng, nàng cảm thấy tâm hồn mình nhẹ hẫng đi. Quảng đời êm đềm của những ngày còn đi học sống lại. Ôi, một thời hoa niên mộng mị! Tâm hồn tươi mươi như tờ giấy trắng. Mơ ước đó và hiện thực đây, cái gì còn cái gì mất?
Tới một khu nhà vườn cây cối xanh um tách hẳn khỏi khoảng đồng trống gió, Hạnh bỗng nhiên nhớ đến Loan, cô bạn học cũ, bèn quẹo vào con đường đất chạy vòng theo khu trồng bắp lớn. Gần cuối đường là nhà Loan, nằm không xa khúc rẽ của giòng sông Hương ở chỗ tách nhánh. Có lần chạy đi săn hàng vùng này, Hạnh có tạt vào thăm Loan, nhưng chẳng ở lâu.
Thấy Hạnh vào, Loan đang loay hoay bón đất cho mấy vồng cải, reo lên:
– Hạnh đấy à? Có hàng mới về hay sao mà ghé lại vậy?
Hạnh cười:
– Tôi lại thăm bà đây. Hàng hóa đứng ngắt cả tháng rồi.
– Hay nhỉ! Tôi vừa nằm mơ thấy bà tuần trước. Ngồi đó chơi. Tôi vào thay áo quần cái đã. Nhớp nhúa quá.
Loan vừa nói vừa chạy le te vào nhà trong. Hạnh nhìn theo, ngậm ngùi. Loan “nông dân” đến khiếp! Chiếc quần đen bạc màu xắn quá gối, trơ ra đôi ống chân khô gầy, đen đủi. Chiếc áo vải thô màu đà với hột nút trên cùng quên gài để lộ một phần ngực lép, nhăn nhúm buồn bã. Tóc rối, không chải, sợi đen sợi bạc chen chúc. Chân tay lấm lem cả đất lẫn bùn.
Loan trở ra. Trong bộ đồ hồng nhạt, trông Loan có vẻ bớt đi nét lam lũ mà khi mới vào, Hạnh tưởng như Loan đã từng là thế tự bao đời. Hạnh ngắm nghía cô bạn cũ, đùa:
– Trông cũng còn xuân thì chán.
– Thôi đừng có xuân với thì nữa. Mình chỉ thấy toàn là mùa đông mà thôi. Bà xem, mình đã trốn về đây vui với vườn rau, gốc cải, an phận.
– Bà vẫn còn bỏ mối đậu phụng da cá chứ?
– Còn. Nghề thu nhập chính mà. Bà xem, đất đai, rau cỏ thế kia đòi hỏi nhiều công lắm.
– Ðủ sống không?
– Không đủ thì cũng phải đủ. Nhưng, bà biết, nhọc nhằn lắm. Phần nuôi ba đứa con đi học, phần bới xách cho anh ấy. Thấy bà chạy đây chạy đó long nhong, tôi thèm, phát ghen.
Nghe nhắc đến chuyện bới xách, Hạnh mới sực nhớ đến chồng Loan. Nàng hỏi:
– Anh ấy thế nào rồi? Liệu có sắp về được chưa?
Loan chép miệng:
– Cỡ thiếu tá trở lên chưa có chút hy vọng nào.
– Bao nhiêu năm rồi nhỉ?
– Ngót nghét cũng gần chín năm tròn rồi đấy.
Hạnh có cảm giác sau câu nói đó sẽ tiếp theo một tiếng thở dài. Nhưng không, Loan tỏ ra vẫn bình thường. Trời, chín năm đằng đẵng xa nhau. Nhìn những cô bạn có chồng đi cải tạo như Loan, Hạnh không hiểu nỗi đau của họ lớn đến mức nào. Vợ chồng nàng mới xa nhau có một tháng, thậm chí có một tuần thôi mà đôi lúc, nếu không vì chuyện mua bán lời lỗ, nàng còn muốn không chịu nỗi. Vậy mà trông mấy bà có chồng đi cải tạo vẫn nhơn nhơ cười nói, làm ăn chẳng khác chi nàng. Họ không thương chồng hay đã chai lì vì chờ đợi quá lâu?
Hạnh nhìn vào mắt Loan:
– Bà có nhớ anh ấy 1ắm không?
– Lúc đầu thì lắm lắm, nhưng riết rồi cũng vậy thôi. Bây giờ chỉ còn chờ đợi. Ngó tình thế này thì có mong ngóng cho lắm cũng chỉ khổ mình, nên khi nào anh ấy về thì về, mình cũng chẳng buồn trông nữa.
Hạnh đến ngồi sát bên Loan, vuốt lưng bạn, thì thầm:
– Tội nghiệp bà thật. Bạn bè tôi hỏi thiệt, xa nhau lâu vậy mà bà có…có…thấy thiếu thiếu gì không? Ðừng nói tôi tò mò, tôi hỏi nghiêm chỉnh đấy. Cho biết thôi mà. Nếu không muốn nói thì đừng trách nghe bạn, tội nghiệp.
Loan cười buồn:
– Thì có thiếu gì thì cũng đành chịu vậy, chứ biết làm sao. Bộ bà bảo tôi phải làm sao? Vả lại, tôi tu rồi.
– Cái đó thì tùy. Tôi thấy nhiều bà có chồng đi cải tạo, ở nhà cũng nhập nhằng lắm.
Loan cười gằn:
– Khối ra đấy! Ðứa khôn thì giấu giếm được, còn đứa không khôn thì trơ cái mặt ra, ai muốn nói gì thì nói. Bà biết con Viện không? Viện làm ngân hàng đấy, nạp đơn xin ly dị với chồng đang ở trại cải tạo. Tòa mới gọi thằng chồng từ trại cải tạo về ra tòa tuần rồi. Bà ta công giáo mà còn thế đấy.
– Thế ly dị rồi à?
– Thằng chồng không muốn ký mà đành phải ký.
Hạnh rủa:
– Cái thứ đàn bà tởm. Nhẫn tâm đến thế là cùng. Thế bà ta có bồ khác à?
– Ai mà biết! Nghe người ta đồn, đi buôn, cặp với thằng lái buôn hay tài xế gì đó.
Hạnh lại rủa:
– Ðúng là đàn bà mất nết! Khôn ba năm dại một giờ.
Loan góp ý:
– Ðàn bà mà đi buôn đường dài đa phần là thế đấy. Hết cặp tài xế đến kiểm soát viên, không thì cũng thuế vụ. Còn con cái nhỏ, vợ thằng cha trung tá gì đó, nghe nói lấy luôn tài xế cũ của chồng nữa, bà có nghe không?
– Hình như nghe lảng vảng.
– Nói thật với bà, đói thì đói, thiếu thì thiếu, chứ kiểu làm trái đạo, lăng loàn là tôi không chịu được. Tôi không hiểu tại sao có thứ đàn bà lại có thể vừa ngủ với chồng lại vừa ngủ với trai được, thì cũng lạ. Người ta cứ nại ra hoàn cảnh. Không hoàn cảnh chi hết. Tại mình thôi. Trăm phần trăm là tại mình thôi, phải không Hạnh? Ðó, như bà đó, đi buôn đi bán, đố thằng nào dụ được coi, phải không?
– Ừ…ừ…
– Cái loại đó là tôi chẳng bao giờ giao du đâu. Bà biết không, tôi cũng cô đơn chứ, cũng đau khổ chứ, đôi lúc, nói thiệt tình, cũng…cũng …thèm chứ, nhưng mình nghĩ mình là đàn bà…dù sao thì…
Hạnh cảm thấy khó chịu, không muốn nghe tiếp, cắt ngang lời Loan:
– Thôi, thôi, chuyện người ta…Này, bà trồng cải nhiều nhỉ. Ai làm đất cho bà?
– Mẹ con tôi tự làm lấy, chứ tiền đâu mà thuê.
Hạnh chuyển qua chuyện khác:
– Lâu nay có gặp lại đám bạn bè cũ, đám học lớp 11,12 hồi đó không?
– Có. Gặp Hằng. Chồng Hằng cũng đi cải tạo, nhưng về rồi. Bà này thì chính chuyên ra phết. Có tay cán bộ giàu lắm, tới dụ khị hắn hoài, nhưng hắn cương quyết không chịu. Ðấy, phải như vậy chứ, dù sao mình cũng là…
Hạnh lại cắt ngang:
– Mà này, bà còn nhớ ông Túy, à thầy Túy không nhỉ?
– Nhớ chứ. Cái ông thầy khó tính ấy phải không? Sao, bà có gặp lại à?
Hạnh ỡm ờ:
– Có.
– Sao? Ðộ này ông ấy ở đâu? Lâu lắm rồi, e cũng 13, 14 năm gì rồi. Hồi đó ông đổi đi mô nhỉ?
Hạnh nhìn Loan cười:
– Bà còn nhớ chuyện hồi đó không nhỉ?
– Nhiều chuyện quá nhớ sao cho xiết. Trải qua trăm cay nghìn đắng, nhớ lại thấy hồi đó, mình trẻ con đến khiếp. Cái gì cũng tưởng tượng. Cái gì cũng mơ mộng. Rốt cuộc, chẳng có giấc mộng nào thành.
– Sao lại không thành?
Loan đứng dậy, xòe bàn tay ra:
– Ðây, bà xem, có cái gì nào, ngoài hai bàn tay đã nhiều dấu chai này.
Hạnh nhìn, thấy lòng bàn tay Loan đen đủi, với những cục chai nhô lên, sần sùi. Ngón nào cũng chai. Nàng cảm thấy khó chịu, quay mặt đi. Ngoài góc vườn, trên đám cải, những cánh bướm chập chờn bay lượn.
*
Rời nhà Loan, Hạnh chạy tới nhà Ngọc.
Nhà Ngọc ở khu An Lăng. Hạnh tìm nhà cô bạn này cũng không khó khăn mấy, dù phải đi quanh co qua nhiều con hẻm nhỏ chằng chịt. Vì lẽ nàng đã đi qua vùng này nhiều lần để đi săn hàng.
Thấy Hạnh, Ngọc reo lên:
– A ha, rồng đến nhà tôm.
– Trái lại, tôm đến nhà rồng đấy.
– Thôi thì cũng được. Bà làm ăn quá trời. Tôi thấy bà chạy vòng vòng ngang qua đây mấy lần, chẳng thèm gọi vì biết bà bận.
– Bà nghĩ xem, thời buổi này, không chạy tất bật thì lấy gì nuôi con.
Vừa dẫn Hạnh vào phòng khách, Ngọc vừa nói:
– Bộ như tôi thì chết hết cả rồi phải không. Tôi cũng có con như bà, lại phải nuôi chồng ở tù nữa, thế mà xem…tôi phây phây ra đây này. Ðâu có được như bà có chồng một bên, vừa đỡ lo, lại vừa ấm.
– So sánh với bà sao được. Bà có tiền nước ngoài viện trợ. Gia đình có của ăn của để. Bà xem tôi có chồng cũng như không. Anh ấy chỉ biết nằm nhà lo nội trợ. Chuyện trong chuyện ngoài mình tôi gánh vác.
– Thôi, bà ơi. Than thân trách phận làm gì. Kẻ đáng than thân trách phận là tôi đây này. Chồng một nơi, vợ một nẻo. Thấy đó mà cũng như không.
Hạnh hạ giọng:
– Nghe đồn bà có bồ, phải không?
Ngọc cười giòn giã:
– Rồi. Lại thêm một người hỏi nữa. Bà muốn tôi trả lời sao? Có hay không?
– Thì nghe người ta nói, tôi hỏi bà cho biết vậy mà. Bà có hay không thì chẳng ăn nhằm gì đến tôi.
– Tôi trả lời nhé: có và không. Có, có nghĩa là tôi có đi chơi với một vài người quen. Không, vì tôi vẫn bới xách đều đặn cho anh ấy, chẳng bỏ sót một kỳ thăm nuôi nào cả. Tôi cũng nghe người ta nói nhăng nói cuội gì đó, nhưng nói thật với bà, tôi xem như không. Kể cả bên nhà chồng tôi. Bên đó, họ thấy tôi có chồng đi cải tạo, mà cứ phây phây như thế này, họ không thích. Họ muốn tôi phải buồn, phải lo, phải rầu rĩ rầu ri, não nùng ai oán cho ra vẻ “hình ảnh người chinh phu trong lòng người cô phụ”. Này, nói cho bà hay, có nhiều bà, bên ngoài thì có vẻ trung thành lắm, nhưng âm thầm ăn vụng, ai mà biết. Ðến khi đổ bể ra rồi thì…, bà biết đấy.
– Cái hạng đó mà nói làm gì. Thấy chồng sa cơ thất thế là bèn thay lòng đổi dạ. Nói vậy chứ cũng thiểu số thôi.
– Ðồng ý là thiểu số. Nhưng thiểu số không có nghĩa là ít đâu nhé. Nhất là mấy con mẹ đi buôn chuyến. Mười con đi buôn chuyến, hết chín con hư. Vì sao, bà biết không? Vì đi buôn thì phải chìu lụy người ta, ôi thôi thì đủ thứ, công an này thuế vụ này tài xế này kiểm soát viên này. Chìu lụy thì người lợi dụng thôi. Lúc đầu thì giả, rồi thành thiệt mấy hồi. Ai chứ bà…à mà bà hình chưa có đi buôn chuyến. Có không?
– Thì lâu lâu cũng đi.
– Ðấy, bà đi buôn là bà biết ngay, tôi nói thế đâu có sai, phải không. Bởi thế, thấy mấy con mẹ…à, tôi quên, nói thế chứ cũng tùy người…Tôi hỏi thật nhé, bà đi buôn thế mà có khi nào…có khi nào…không, tôi giả sử thế, nghĩa là có khi nào…
– Ờ…ờ…ba cái con mệ tầm phào đó mà bà nói làm gì cho thêm…bẩn…À, mà lâu nay có gặp lại ai bạn cũ không?
– Nhiều. Con Phước này. Con Hằng này. Con Vũ này. Bà bận bịu, chứ bọn tôi hay gặp nhau lắm. Còn con Ngải thì vượt biên rồi, nghe đâu ở Úc.
– Này, bà còn nhớ ông Túy không nhỉ?
– Túy nào, nghe tên quen quen.
– Thì thầy Túy chứ Túy nào nữa.
Ngọc vỗ vai Hạnh thật mạnh:
– Ðúng rồi, thầy Túy. Hôm trước, có đứa nào cũng nhắc. Lâu lắm rồi nhỉ. Ông biệt tăm từ hồi nảo hồi nào.
– Tôi mới gặp ông ấy.
– Thế à? Ở đây hay ở Sài Gòn?
– Sài Gòn.
– Giờ mà gặp lại ông ấy chắc vui lắm nhỉ. Chọc cho ông ấy quê luôn. Tôi chưa thấy ai làm bộ làm tịch như cái ông thầy Túy này.
– Có nhớ cái lần ông ấy mang thư bà ra đọc giữa lớp không?
– Sao không nhớ. Hồi đó tôi giận run lên, tưởng như nếu mình có phép gì mà biến mất trên cõi đời, hay phép gì mà giày vò ông ta một cái cho hả giận.
– Mày còn giận à?
– Giận cái gì mà giận. Hồi còn con gái, mình ngây thơ quá, mà ông ta cũng chẳng hơn gì. Sau này ra đời, nghĩ lại, không thấy giận mà thấy tội nghiệp ông ta. Ðúng là ngớ ngẩn, cái ông Túy này. Còn quê nữa chứ. Ông ta tưởng làm như vậy là tỏ ra đứng đắn, là đàng hoàng. Ðàn ông, cha nào cũng như cha nấy, làm bộ làm tịch hết. Gặp ở hoàn cảnh khác xem, gặp mình là sẽ vồ như hổ vồ con nai tơ.
– Ông có hỏi thăm mày.
– Thế à? Mà ông ta đâu có biết tao viết lá thư đó nhỉ. Mà hình như hồi đó bà cũng yêu thầm nhớ trộm ông ta phải không?
Hạnh chối:
– Ðâu có!
Ngọc nhìn vào mắt Hạnh:
– Có thì nói có, có mất mát gì đâu mà chối. Tình học trò mà. Tôi có nghe tụi nó to nhỏ với nhau là bà có thư từ gì với ông ta đó.
– Không có đâu. Mấy bà tinh ranh, cứ ưa chinh phục thầy cho oai. Chứ tôi yếu bóng vía lắm.
– Thôi bà ơi. Rim rím một vịm troi. Ở đó mà yếu bóng vía. Có gì mà yếu bóng vía. Cuộc đời cho tôi biết, mấy bà rim rím là ghê lắm. Này, bà để ý nhé, những đứa hoang nghịch như tôi, con Tâm, con Ðoàn…thì mô có gì. Mấy bà bỏ chồng, ngoại tình, lăng nhăng toàn là đám rim rím cả. Con Hằng này, con Lan, con gì nữa nhỉ, cái con gì có cái mũi cao cao, ngồi ở cuối lớp đó. Ðấy, cái con ấy lăng nhăng tợn. Này, nói cho tôi hay, gặp ông Túy rồi hai người có đi chơi với nhau không đấy?
– Tầm bậy. Người ta có vợ, mình thì có chồng.
Ngọc cười lớn:
– Nhằm nhò gì. Văn nghệ cho vui mà. Tôi mà gặp ông ta là tôi rủ đi chơi ngay. Mà này, độ này, ông ta có vẻ khá hơn trước không? Nghĩa là không còn lẩm cẩm, đạo đức giả như kiểu đọc thư giữa lớp, chẳng hạn…
– Ai mà biết. Ông bảo ông cũng đi cải tạo về. Hình như vợ bỏ.
– Sao lại hình như?
– Thì nghe ông ta nói sơ sơ. Tôi cũng chẳng hỏi thêm làm gì.
– Nếu vợ bỏ thì thật tuyệt!
– Sao vậy?
– Thì mình có rủ đi chơi cũng khỏi lo.
– Cái bà này!
*
Sau Ngọc, Hạnh đi tìm thăm Gái. Rồi Nậm Ngân. Rồi Hằng. Vân vân.
Hơn tuần lễ, nàng được sống lại những giờ phút sôi động, thơ ngây của tuổi học trò. Bạn bè, người này nhắc một chuyện, người kia nhắc một chuyện, cuối cùng dựng lại trong trí tưởng nàng những năm tháng hồn nhiên tưởng chừng như đã tiêu tan vào cõi hư vô từ lâu. Các bạn Hạnh và Hạnh làm một bản tổng kết về nhóm bạn chơi với nhau hai năm cuối trung học:
– Không ai chết, không ai độc thân, không ai có chồng cách mạng.
– Mười một cô lấy lính. Cấp bậc thấp nhất là trung úy, cao nhất là trung tá.
– Một cô bỏ chồng khi chồng đi cải tạo. Một cô ngoại tình bị chồng bỏ. Một cô vượt biên an toàn.
– Bốn cô còn cô đơn vì chồng cải tạo chưa về.
– Một cô có chồng không đi cải tạo
Nậm Ngân còn tổng kết những cô mê thầy:
– Có hai cô mê thầy toán.
– Một cô mê thầy công dân
– Sáu cô mê thầy Tuý
– Tuy vậy, không có cô nào lấy thầy làm chồng cả.
Hạnh được xếp vào loại không mê thầy nào hết. Mặc dầu trong hầu hết các câu chuyện, nàng là người luôn luôn nhắc đến mấy ông thầy. Tất nhiên, nhiều nhất vẫn là thầy Túy.
Sau đợt huấn luyện đường không, tôi đến nhận nhiệm vụ ở Đội SEAL của mình. Các đội số lẻ (1,
3, 5) đóng ở Bờ Tây, Coronado, California và các đội số chẵn (2, 4, 8) đóng ở Bờ Đông tại Little Creek, Virginia. Mặc dù còn có sự tồn tại của Đội SEAL tuyệt mật mang số hiệu Đội SEAL số 6, nhưng tôi chưa biết gì về nó cả. Tôi nhận công tác tại Đội SEAL số 2 ở Little Creek.
Trong một buổi tập chạy vượt chướng ngại vật vào thứ Tư, một lính SEAL gần 60 tuổi tên là Rudy Boesch chạy cùng chúng tôi. Tôi nghĩ mình có thể thư thả vì không có huấn luyện viên nào bên cạnh hò hét chúng tôi cả. Cuối buổi tập, Rudy kéo tất cả chúng tôi − những người về đích sau ông − qua một bên và nói: “Gặp tôi ở đây chiều nay nhé.”
Chiều hôm đó, những người về chậm hơn ông, trong đó có tôi, chạy lại vòng vượt chướng ngại vật. Đó thực sự là tiếng chuông cảnh tỉnh. Ngay cả khi đã ở trong các Đội, bạn cũng phải nỗ lực để trở thành người chiến thắng. Sau đó, tôi đã trở thành một trong số những người chạy vượt chướng ngại vật nhanh nhất ở Đội 2.
Không lâu sau, Rudy trở thành cố vấn cao cấp đầu tiên của Bộ Tư lệnh Tác chiến Đặc biệt Mỹ (USSOCOM) mới được thành lập, chỉ huy các đơn vị tác chiến đặc biệt Hải, Lục, Không quân và Lính thủy đánh bộ, trong đó có các đơn vị ở JSOC như Đội SEAL số 6 và Delta. Sau hơn 45 năm phục vụ trong Hải quân, phần lớn thời gian với tư cách là lính SEAL, Rudy nghỉ hưu. Ở tuổi 70, ông tiếp tục thử sức trong chương trình truyền hình Người Sống sót.
Một vài người trong Đội 2 trở về từ một chiếc tàu chở dầu tên là Hercules, một trong hai chiếc có mặt tại vùng vịnh Pec-xích. Họ là một phần trong Chiến dịch Praying Mantis. Khi tàu khu trục Samuel B.Roberts của Mỹ dính ngư lôi của Iran, một trong những nhiệm vụ của SEAL là đánh chiếm giàn khoan của Iran được sử dụng để thực hiện những cuộc tấn công tàu bè trong vùng Vịnh. Theo kế hoạch của SEAL, một chiếc tàu khu trục hải quân sẽ bắn vào giàn khoan bằng đạn chống tăng để tiêu diệt quân Iran, sau đó lính SEAL sẽ đáp xuống sân bay dành cho trực thăng và chiếm giàn khoan. Đen đủi là lính trên tàu khu trục lại nạp đạn cháy và đạn hỏa lực cao. Khi chiếc tàu khu trục khai hỏa, quả thực đó là “khai hỏa.” Thay vì án binh bất động, quân Iran lại nhanh chóng nhảy ra khỏi giàn khoan đang bốc cháy. Giàn khoan dầu cháy nóng đến mức lính SEAL không thể đáp máy bay trực thăng xuống. Rồi con tàu từ từ chìm xuống biển. Chúa ơi!
Dick, Mike H., Rob và tôi không tham gia chiến dịch đó vì chúng tôi vẫn phải huấn luyện thêm, nhưng điều đó không ngăn chúng tôi muốn chào mừng những người bạn trở về an toàn. Sau giờ huấn luyện, chúng tôi ra khỏi doanh trại Đội SEAL số 2 qua Cổng số 5 của căn cứ Little Creek và đi đến một câu lạc bộ múa thoát y nhỏ có tên là Body Shop. Vì Body Shop rất gần doanh trại Đội SEAL số 2 nên nhiều người chúng tôi thường tiêu khiển ở đó. Nhân viên bảo vệ là một người mới đang ngồi đợi Bob − một thành viên của SEAL. Một người trong nhóm chúng tôi bảo với anh ta: “Một số người chúng tôi vừa trở về từ vịnh Pec-xích. Anh có thể chúc mừng họ không?” Anh ta làm ngay: “Chúng ta hãy nói lời cảm ơn sâu sắc với những người lính Mỹ vừa trở vì từ vùng Vịnh Pec-xích.” Tiếng vỗ tay hoan hô tràn ngập căn phòng.
Chúng tôi hân hoan đập tay nhau chúc mừng và uống bia. Ở chiếc bàn phía cuối căn phòng có bốn người Tuynidi, một người nói trôi chảy tiếng Anh: “Tại sao đám người Mỹ lại không quan tâm đến việc của chính họ đi đã?”Dick không vòng theo lối đi mà tiến thẳng đến chiếc bàn đó qua chỗ các cô gái đang khiêu vũ. Tôi thì đi vòng và khi đến được chiếc bàn đó thì đã thấy Dick đang siết chặt cổ của kẻ lắm mồm đó. Khi chúng tôi đang gây lộn, ba người đi cùng gã lắm mồm lại quay ra chửi rủa hắn. Bốn người chúng tôi bỏ đi trong khi bốn người bọn họ chất thành một đống.
Khi chúng tôi tìm cách ra ngoài, người bảo vệ ngăn lại: “Các anh vừa đánh nhau ở đây. Các anh không thể đi đâu cả.” Chúng tôi đánh anh ta ngã xuống quầy rượu.Khi đến cửa trước, một sĩ quan cảnh sát xuất hiện. Chắc anh ta ở đâu đó trong câu lạc bộ vì trận ẩu đả chỉ mới bắt đầu có năm phút. “Thôi nào, các quý ông, chúng ta hãy ngồi xuống với nhau một phút đi.” Chúng tôi làm theo. Anh bạn này có vẻ điềm đạm đây.
Người bảo vệ đứng dậy và xen vào: “Các anh này là lính SEAL Hải quân. Họ vừa mới vào đây và phá phách nơi này.”
Ồ không. Hắn ta nhắc đến từ có chữ S rồi.
Viên sĩ quan hoảng sợ, gọi vào máy điện đàm: “Những người lính SEAL đang phá phách ở đây, tôi cần hỗ trợ!” Chúng tôi đã ngồi xuống bình tĩnh nói chuyện với anh ta. Vậy là đủ rồi. Chúng tôi đứng dậy để đi. “Đợi đã, các anh không thể đi đâu cả.” Phớt lờ anh ta, chúng tôi đi ra cửa trước. Ở bên ngoài, một quầng sáng xanh chiếu vào chúng tôi từ điểm đỗ xe. Đội yểm trợ gồm một xe tải cảnh sát lớn có ghi đơn vị K-9 ở bên sườn. Những sĩ quan đầu tiên bước ra khỏi xe. Chúng tôi bắt đầu giải thích.
Viên cảnh sát từ trong nhà bước ra bất ngờ trở nên dũng cảm, cắt ngang lời giải thích của chúng tôi: “Xin lỗi, nhưng các anh phải đi với tôi.” Anh ta túm lấy ống tay áo của Mike.
Dick tung một cú đấm trời giáng vào cằm viên cảnh sát làm hắn ta ngã phịch xuống.
Thế là các sĩ quan cảnh sát cầm dùi cui đối đầu với bốn người tay trần chúng tôi. Chúng tôi đánh nhau trong khoảng 10 – 15 phút. Trên tivi, những chiếc dùi cui có thể đập người ta ngã xuống vỉa hè, nhưng với chúng tôi, chúng chỉ đập vào rồi lại nảy ra. Một con chó nghiệp vụ của cảnh sát nhảy lên cắn Dick.Anh túm đầu con chó, bẻ quặt nó, đè nó xuống và thụi cho một cú đấm. Con chó kêu ăng ẳng và bỏ chạy.
Khi đang đánh nhau với hai viên cảnh sát ở trước mặt, tôi cảm nhận được một cú phang vào lưng mình. Quay người lại, giơ nắm đấm ra, tôi nhận ra người vừa dùng dùi cui tấn công tôi là một nữ sĩ quan cảnh sát nhỏ bé. Tôi cảm thấy cú đánh của cô ta chỉ như là muỗi cắn so với những cú đánh của các cảnh sát khác. Vì đó là phụ nữ, thay vì tẩn cho một trận, tôi nhấc bổng cô ta lên và giúi cô ta lên trên mui xe.
Lúc này đã có gần 30 cảnh sát đánh nhau với 4 người chúng tôi. Cuối cùng chúng tôi thua và bị còng tay. Chúng tôi kể cho họ nghe chuyện xảy ra. Những gã Tuynidi bước ra khỏi Body Shop và lại nói những lời lăng mạ Mỹ. Thế là nhóm cảnh sát phát bực với viên sĩ quan trong câu lạc bộ: “Anh nghĩ gì vậy? Anh có điên không?”
Việc gì đến thì đã đến rồi. Chúng tôi đã tấn công cảnh sát. Họ tách chúng tôi ra và đưa lên hàng ghế phía sau xe tuần tra. Nữ cảnh sát nhét số điện thoại của cô vào túi áo tôi và nói: “Này, lúc nào đó gọi tôi nhé.”
Ở đồn cảnh sát, họ giải quyết sự việc và hẹn chúng tôi ngày ra tòa. Họ liên lạc với chỉ huy của chúng tôi ở
Đội SEAL số 2 và không thả chúng tôi cho đến khi Đội SEAL số 2 cho xe đến đón.
Đến ngày ra toà, tôi cảm thấy lo cho công việc của mình. Tất cả chúng tôi đều mới đến Đội SEAL và sự nghiệp có nguy cơ bị hủy hoại. Trên hàng đầu của phòng xét xử là những viên cảnh sát đang đeo nẹp cổ. Một người bị bó bột ở tay. Một người khác thì chống gậy. Họ trông thật thiểu não. Còn chúng tôi trông tươi tỉnh trong bộ đồng phục màu xanh. Được các bạn đồng đội cử trình bày, tôi tường thuật lại câu chuyện. Mọi người trong phòng xét xử có vẻ thông cảm với chúng tôi bởi vì những gì đã xảy ra và cách mà chúng diễn ra. Vị thẩm phán hỏi: “Tại sao ba người này bị bắt và được thả ngay, còn viên hạ sĩ (Dick) lại được thả muộn hơn?”
Viên sĩ quan K-9 giải thích: “Anh ta bị chó cắn và chúng tôi phải đưa anh ta đi kiểm tra.” “Làm kiểm tra mất bao lâu?” − Vị thẩm phán hỏi. “Thưa Ngài, con chó của tôi cắn phải anh ta, vì vậy tôi cũng phải đưa con chó của tôi đến bác sĩ thú y để kiểm tra.” Cả phòng xét xử phía sau tôi phá lên cười. Viên sĩ quan K-9 giải thích: “Thưa Ngài, thật sự không có gì buồn cười cả. Tôi đã phải mất nhiều tháng để huấn luyện nó và đến giờ vẫn phải dành 16 giờ mỗi tháng để huấn luyện. Nhưng do bị hạ sĩ (Dick) đánh nên con chó không làm việc được nữa.” Tiếng cười càng ầm ĩ hơn.
Vị thẩm phán gõ búa: “Trật tự. Giữ trật tự tại Tòa!”
Ngoại trừ đôi ba tiếng cười khúc khích ở cuối phòng, tiếng ồn đã lắng lại. “Bây giờ xin mời bốn anh bước lên bục”, vị thẩm phán nói. Chúa ơi. Mất việc rồi. Bước thẳng vào tù. Không kiếm được 200 đô-la nữa. Chúng tôi lo sợ. Vị thẩm phán hơi rướn người về phía trước và nghị án một cách nhẹ nhàng và điềm tĩnh:
“Thưa quý vị, tôi sẽ bác vụ này do nhiệt tình tuổi trẻ và lòng yêu nước của các anh, nhưng đừng bao giờ để tôi gặp lại các anh trong phòng xét xử này nữa.”
Tôi nghe thấy tiếng vỗ tay ở phía sau.
Quay người lại, tôi nhìn những viên cảnh sát ngồi hàng đầu. Họ trông như là vừa bị trộm đột nhập vào nhà vậy. Trên đường về, tôi đi ngang qua viên cảnh sát đeo nẹp cổ và viên cảnh sát chống gậy. Tôi nháy mắt với viên cảnh sát bị bó bột ở tay. Chúng tôi rời khỏi phòng xét xử.
Trở lại Đội SEAL số 2, chúng tôi báo cáo những gì xảy ra với Norm Carley, đội trưởng Đội 2, một người Công giáo Ai-len thấp lùn đến từ Philadelphia, tốt nghiệp Học viện Hải quân và là đội phó thứ nhất (chỉ đứng sau đội trưởng) của Đội SEAL số 6. Norm Carley vừa trở về từ Chiến dịch Praying Mantis ở vịnh Pec-xích. Ông nhìn chúng tôi một lát: “Đã từng có thời chúng ta rất hay ra ngoài và gây lộn với cảnh sát. Nhưng giai đoạn đó kết thúc rất nhanh. Quân đội đang thay đổi.”
Ông để chúng tôi đi và lời tiên tri của ông đã thành sự thực − quân đội hiện đại đã thay đổi. Ngày 31 tháng Ba năm 2004, Ahmed Hashim Abed, tên khủng bố thuộc nhóm Hồi giáo Al-Qaeda người Iraq, bố trí một trận mai phục các xe tải rỗng đang đi nhận đồ dùng nhà bếp ở sư đoàn không quân 82 của Lục quân Mỹ. Nhóm khủng bố của Abed đã giết chết bốn nhân viên hộ tống xe, rồi đốt xác, phanh thây, kéo lê họ trên đường phố và treo hai thi thể lên cầu Euphrates. Một trong số bốn người đó là Scott Helvenston − một cựu lính SEAL. Ngày 1 tháng Chín năm 2009, SEAL đã tóm được Abed. Ba người lính SEAL bị đưa ra tòa án quân sự với cáo buộc là làm chảy máu lưỡi của hắn. Mặc dù cuối cùng họ vẫn được xác nhận là vô tội nhưng người ta cho rằng lẽ ra không bao giờ nên đưa những cáo buộc kiểu như vậy ra tòa quân sự. Nếu đơn giản là những người lính SEAL đã giết chết Abed thì không còn gì để nói nữa. Bạn khó mà có thể kiện ai ra tòa nếu như bạn đã chết.
Trong cùng một tòa nhà với Body Shop có cửa hàng bán lẻ 7−Eleven. Nhà tôi cách đó hơn 3 km. Một lần sau bữa tối, khi đó Blake đã 4 tuổi, tôi lái xe đưa con đến cửa hàng 7−Eleven để mua sữa và bánh mì. Ngay lúc đó, Smudge lái chiếc xe tải nhỏ Ford Bronco với những bánh xe và bộ phận giảm xóc kềnh càng vượt qua xe tôi. Chúng tôi làm bạn sau khi tôi cùng cậu ấy phục vụ trong trung đội Foxtrot ở Đội SEAL Số 2. Smudge bước đến và như thường lệ, nhấc bổng Blake lên và ôm lấy cu cậu.
Khi Smudge đang bế Blake, tôi bảo Smudge: “Mình chạy vào mua ít sữa và bánh mì. Mình sẽ ra ngay.” Khi tôi quay lại với đống thực phẩm trên tay, hai người đã biến mất. Tôi nhìn vào trong Body Shop. Bạn gái của Smudge là một vũ nữ ở đó. Ồ không, không được. Khi tôi lao vào, người bảo vệ chào: “Xin chào Howard.”
“Bob này”, tôi nói, “tôi muốn xem con trai tôi có ở đây không.” Anh ta mỉm cười, cho tôi đi qua mà không phải trả phí vào cửa. Đi vào trong, câu lạc bộ gần như tối đen ngoại trừ ánh sáng từ sân khấu trung tâm nơi một vũ nữ đang lắc lư người. Smudge đang ngồi bên một chiếc bàn, đặt một chân lên sân khấu trong khi Blake ngồi trong lòng cậu ta. Cô bạn gái ngực trần của Smudge đứng cạnh họ, khom người, vuốt tóc của Blake và xoa cằm của cháu: “Con thật là kháu khỉnh quá.” Bộ ngực của cô ta thật khổng lồ, tôi ngạc nhiên là cô đã không làm mắt của con trai tôi lồi ra.
Tôi túm lấy Blake và hét lên với Smudge khi bỏ đi: “Ôi trời, cậu điên à? Cậu sẽ khiến tôi bị giết đấy.” Cậu ta không thể hiểu có chuyện gì xảy ra: “Tôi chỉ muốn giới thiệu bé với Cassandra thôi mà.”
Tôi đưa Blake vào xe và hỏi han con trên đường về nhà. Chuyện là thế này. Smudge là một trong những người bạn tốt của tôi và cậu ta yêu Blake − nhưng nếu Laura phát hiện ra, tôi sẽ không bao giờ được phép cho Smudge đến gần cậu con trai của mình nữa.
Đến nhà, thật may là Laura đang bận bịu trong bếp. Tôi đưa Blake về phòng và để cho con say sưa với trò chơi Nintendo Duck Hunt. Sau đó tôi cất gọn chỗ sữa và bánh mì mà tôi chọn mua ở 7-Eleven. Tôi vào phòng khách và như thường lệ nghiên cứu một số chiến thuật hoạt động và các tài liệu huấn luyện SEAL, nhưng mắt tôi cứ canh chừng chiếc đồng hồ, chờ đến giờ đi ngủ của Blake. Nếu tôi là người đưa con đi ngủ, tôi sẽ không bị nghi ngờ ít nhất là đến sáng mai. Thông thường thì tôi vẫn là người đưa con trai lên giường và tối hôm đó khi đến giờ đi ngủ của con, tôi chủ động vào phòng và đưa con đi ngủ. Sau đó ít hôm, Laura, Blake và tôi lái xe ngang qua Body Shop trên đường đến Đội SEAL Số 2. Quỷ thần ơi, liệu nhìn thấy nơi này Blake có nhớ lại và kể gì với Laura không đây? “Mẹ này, con gặp mấy người ở đó buồn cười lắm đấy.” Đến cả mấy tuần sau, tôi vẫn lo lắng. May là Blake đã không kể gì cho đến khi thằng bé 12 hoặc 13 tuổi. Và tôi không bao giờ quay trở lại Body Shop nữa.
Blake uống ngụm bia đầu tiên khi một anh bạn trong Đội của tôi mời nó. Khi Blake lớn hơn, tất cả chúng tôi cùng chơi golf với nhau. Bài học lái xe đầu tiên của Blake là trên một chiếc xe golf với một trong số những người bạn say ngất ngưởng của tôi, một bài học vô cùng thú vị với cậu nhóc. Sau này Blake tâm sự với tôi rằng: “Những điều con nhớ nhất về Virginia là được đi chơi lang thang với nhiều chú bác khác nhau.” Đó là những người bác, người chú của Blake ở Đội SEAL, những người thích nghe bài “The Boys Are Back in Town” (Những chàng trai trở lại thị trấn) của Thin Lizzy và thỉnh thoảng cho phép cậu làm những điều mà lẽ ra không nên làm.
Sau vài tháng làm mấy việc vặt vãnh ở doanh trại Đội SEAL Số 2, cuối cùng tôi đã được phép tham gia khóa huấn luyện chuyên sâu về tác chiến trên biển, trên không và trên đất liền, được gọi chung là Huấn luyện Chiến thuật SEAL (STT). Trong khi BUD/S tập trung vào sàng lọc và huấn luyện sinh tồn thì STT tập trung chủ yếu vào huấn luyện. Trong 6 tháng STT, chỉ có 2 người bị loại vì tập không đạt. Chúng tôi học lặn và chiến đấu trên đất liền theo cấp độ tăng cường, trong đó có kỹ thuật cận chiến (CQC).
Khi tôi hoàn thành STT, đội trưởng Đội SEAL Số 2, Norm Carley, mang đến các phù hiệu và gắn một cái cho tôi. Tấm phù hiệu có hình một con đại bàng đang giữ chặt một cái mỏ neo, đinh ba và súng lục của Hải quân Mỹ. Vì nó trông giống một con đại bàng giống Budweiser già nua nên chúng tôi thường gọi phù hiệu của mình là “Budweiser.” Không theo thông lệ của Hải quân là tân binh thì đeo phù hiệu màu bạc, cả sĩ quan và tân binh SEAL đều đeo phù hiệu màu vàng. Phù hiệu này vẫn là một trong những loại to nhất, lòe loẹt nhất của Hải quân. Người chỉ huy giúi mạnh nắm đấm tay lên tấm phù hiệu trên ngực tôi. Sau đó từng thành viên trong trung đội tôi bước đến và đeo phù hiệu vào. Tấm phù hiệu lún sâu vào da ngực tôi, đến mức viên hạ sĩ trưởng nhóm phải giật nó ra khỏi da cho tôi. Những vết hằn vẫn còn sau đó nhiều tuần trời. Bây giờ tôi có thể chính thức chơi với các “bậc tiền bối” rồi.
Trung đội trưởng đầu tiên của tôi là Burt. Trong Hải quân, một “người cha biển cả” có trách nhiệm hướng dẫn cho thủy thủ. Mặc dù tôi chưa bao giờ thực sự cần một “người cha biển cả” vì tôi luôn nghe theo lời chỉ dạy của một số người, cả trong công việc và các vấn đề cá nhân, nhưng tôi biết ơn Burt vì ông đã nhận tôi vào trung đội tác chiến mùa đông của ông ngay sau khi tôi rời STT. Thông thường, lính SEAL phải phục vụ ở các trung đội chính quy trước khi tham gia một trung đội tác chiến mùa đông, nhưng Burt đã sớm tin tưởng tôi.
Giống như gần 50% các sĩ quan SEAL − một tỷ lệ rất cao trong quân đội, Burt đã từng là một binh nhì trước khi trở thành sĩ quan, điều mà chúng tôi gọi là “sĩ quan gốc lính.” Có lẽ đây là điều khiến tôi rất có cảm tình với ông. Ông không bao giờ đề nghị chúng tôi làm điều gì mà chính ông sẽ không làm. Ông rất giỏi lập, đánh giá kế hoạch và kết quả thực hiện các chiến dịch. Ông thực sự là người luôn giúp đỡ người khác và một nhà ngoại giao khéo léo. Burt yêu mùa đông − trượt băng, trượt tuyết và nhiều hoạt động khác – và hướng dẫn các Đội sử dụng các thiết bị chiến tranh mùa đông công nghệ cao. Ví dụ, chúng tôi thử nghiệm và đánh giá chất lượng các trang bị viễn chinh của Gore-Tex.*
Nhân vật thứ hai sau Burt là Mark, người có chiều cao hơn 1m80. Bố mẹ của Mark di cư từ một nước vệ tinh của Nga. Là người không phô trương, ông không kể cho mọi người về việc ông đã tốt nghiệp MIT, nói được tiếng Nga, tiếng Séc, tiếng Ba Lan và cả tiếng Đức. Mặc dù rất thông minh và biết nhiều ngoại ngữ, ông không bao giờ lên giọng kẻ cả với chúng tôi. Mark xây dựng những kế hoạch lớn và có thể giải trình chúng một cách đơn giản và rõ ràng, đủ để mọi người ai cũng hiểu được. Tuy nhiên, ông nói hơi ngọng và chúng tôi nhại giọng của ông trong khi ông tóm tắt nhiệm vụ. Sau khi công việc xong xuôi, chỉ cần đưa cho ông vài cốc rượu và mỗi bên một cô gái xinh đẹp thì sẽ không thể hiểu được Mark nói gì nữa.
Ở Đội SEAL Số 2, chúng tôi thực hành huấn luyện thể lực mỗi ngày một tuần và tập chạy vượt chướng
ngại vật vào thứ Tư. Còn những ngày khác, chúng tôi chạy bền (PT). Một số người dành thời gian này để chơi bóng rổ hoặc sa vào những trò tiêu khiển vô bổ, nhưng Mark khuyến khích chúng tôi tập đến mệt bã người với những bài tập chạy-bơi-chạy cự ly dài hoặc nhiều bài cực hình khác. Ông có khả năng chạy như linh dương và bơi như cá, làm cho những người trong số chúng tôi ức chế vì không thể đuổi kịp ông, mặc dù chúng tôi vẫn thích làm việc cùng với Mark.
Ở Đội SEAL Số 2, chúng tôi bắt đầu nghe tiếng đồn về Đội SEAL tuyệt mật số 6. Sau thất bại năm
1980 trong nỗ lực giải cứu các con tin Mỹ tại Đại sứ quán Mỹ ở Iran, Hải quân yêu cầu Richard Marcinko thành lập một đội chống khủng bố chuyên nghiệp. Là sĩ quan chỉ huy đầu tiên, Marcinko đặt tên cho đơn vị mới là Đội SEAL Số 6. Ông tuyển nhân sự chủ yếu từ hai đơn vị chống khủng bố của SEAL là Đội cơ động 6 (MOB 6) của Đội SEAL Số 2 ở bờ Đông và Trung đội Tiếng vang (Echo) ở Đội SEAL 1 ở bờ Tây. Họ mặc thường phục, không phải tuân theo quy định lễ tiết khi để tóc dài và râu ria. Các sĩ quan và binh sĩ gọi nhau bằng tên thường và biệt danh, không chào kiểu quân sự. Họ chuyên giải cứu con tin từ tàu, giàn khoan dầu và các vị trí khác trên biển. Bên cạnh đó, họ hỗ trợ an ninh cho các sứ quán và căn cứ quân sự. Trên hết, Đội 6 cũng yểm trợ các chiến dịch của CIA.
Cuộc thử lửa đầu tiên của Đội 6 là vào năm 1983. Sau khi những người Cộng sản liên minh với Cuba và Liên Xô lật đổ chính quyền Grenada trong một cuộc đảo chính đẫm máu, Mỹ phát động Chiến dịch Urgent Fury để khôi phục chính quyền Grenada. Nhằm hỗ trợ Chiến dịch, 12 tay súng của Đội SEAL Số 6 sẽ nhảy dù vào bờ biển của Grenada. Nhiệm vụ đầu tiên này quả là một thách thức lớn ít nhất vì ba lý do. Một là, mặc dù Đội SEAL Số 6 đã được huấn luyện tăng cường về một số chiến thuật chống khủng bố nhưng họ chưa được huấn luyện kỹ năng xuống nước vào ban đêm, một kỹ năng mà nếu dùng thuyền thì thậm chí còn khó hơn nữa. Sứ mệnh này đáng lẽ nên được giao cho Đội SEAL Số 2, những người đã sẵn sàng chiến đấu, nhưng thay vào đó lại được giao cho Đội SEAL Số 6. Hai là, thông tin tình báo còn rối mù. Nhiệm vụ này được vạch ra mà không xem xét đến việc quy ước giờ mùa hè (DST). (Quy ước này thường được thực hiện tại các nước ôn đới hay gần cực, nơi mà vào mùa hè, ban ngày bắt đầu sớm hơn so với mùa đông vài tiếng đồng hồ. Nó có ý nghĩa thực tiễn là giúp tiết kiệm năng lượngchiếu sáng và sưởi ấm, khi tận dụng ánh sángban ngày của ngày làm việc từ sớm, giảm chiếu sáng ban đêm nhờ ngủ sớm), hậu quả là sai lệch hàng giờ khiến cho việc nhảy dù xuống nước vào ban ngày trở thành nhảy vào ban đêm. Ngay cả ánh trăng cũng không có. Không ai thông báo cho người của Đội 6 về những cơn sóng biển cao hơn 3 m, về gió lớn và mưa to. Ba là, có lẽ do các phi công của Không quân không có kinh nghiệm nhảy dù xuống nước nên chiếc máy bay thứ hai đã thả lính SEAL sai địa điểm và xa những người khác.
Kết quả là khi 12 người lính chạm nước, gió tiếp tục thổi bay những chiếc dù và kéo họ theo. Vì mang theo quá nhiều thiết bị và không đủ lực nổi, một vài người chìm dần. Mặc dù khi luyện tập họ sử dụng dù công nghệ cao, nhưng lúc này họ lại dùng loại dù MC-1 cũ. Những người lính tuyệt vọng giữ cho dù khỏi kéo họ tới những địa ngục đại dương. Không có đèn, việc tập hợp mọi người trở nên bất khả thi. Một lính SEAL không ngừng gào thét và nổ ba phát súng vào bóng đêm nhưng không ai đến được với anh. Có tất cả bốn người lính SEAL mất tích. Những người sống sót tìm kiếm nhưng không bao giờ tìm thấy đồng đội của họ là Kenneth Butcher, Kevin Lundberg, Stephen Morris và Robert Schamberger. Vô cùng đau đớn, nhưng những người lính còn lại vẫn triển khai thực hiện nhiệm vụ của mình.
Trực thăng Black Hawk bay một tiếng đồng hồ trong bóng tối rạng sáng để tới giải cứu Toàn quyền
Paul Scoon trong khu biệt thự của ông. Không quân Liên Xô vạch thành những đường sáng xanh trên bầu trời. Trên một trong những chiếc trực thăng, 15 người lính SEAL vẫn bình tĩnh cho đến khi đạn pháo của Liên Xô bắt đầu khoan thủng máy bay. Denny “Snake” Chalker và những người chưa bao giờ tham chiến đã không còn bộ mặt phớt lờ nữa. Viên sĩ quan chỉ huy SEAL Wellington T. “Duke” Leonard − một cựu chiến binh Việt Nam, Bobby L., Timmy P. và JJ mỉm cười: “Trúng đạn thì sao nào?”. Sau một hồi căng thẳng, Denny và những người khác mỉm cười − họ còn có thể làm gì khác được? Chiếc trực thăng chở đội trưởng Đội SEAL Số 6 Bob Gormly (người thay cho Dick Marcinko) bị trúng đạn nặng nhất, buộc phải tách ra để cố gắng quay về tàu sân bay trước khi nó rơi khỏi bầu trời.
Chiếc máy bay của Duke và Denny chếch đầu lên tới điểm dừng cao 30m trên không phía trước khu biệt thự trong khi một chiếc khác vòng lại phía sân quần vợt. Một phi công trúng đạn nhưng vẫn tiếp tục lái. Hỏa lực AK-47 từ khu biệt thự dội vào họ. Một người lính SEAL ngả người ra và bắn trả.Rich cũng đã trúng đạn nhưng anh căng thẳng đến mức không nhận thấy điều đó. Denny tung cuộn thang dây ra và lao nhanh qua những cành thông xuống phía sau khu biệt thự. Duke và những người khác theo sát phía sau, lao qua những cành cây mà Denny chưa làm gãy.
Khi Denny tiếp cận khu biệt thự, từ một cánh cửa, một khẩu AK-47 chĩa nòng vào hướng đi của anh. Denny khai hỏa khẩu súng trường CAR-15 (nguyên mẫu của M-4) cho đến khi anh xác định được mục tiêu − viên toàn quyền Scoon. Duke, mang theo một khẩu súng ngắn giao cho toàn quyền Scoon. Những người lính tiếp quản được tòa biệt thự, nhưng chỉ có viên toàn quyền, gia đình ông và các nhân viên ở bên trong. Họ thiết lập một vành đai bảo vệ. Đạn súng chống tăng (RPG) bay qua đỉnh mái mà không phát nổ.
Đài truyền thông vệ tinh (SATCOM) của họ đã chung số phận với chiếc máy bay chỉ huy bị trúng đạn, khiến họ bị hạn chế về thông tin liên lạc, vì vậy họ phải tiết kiệm pin của các điện đài cầm tay của mình.
Duke nói với mọi người: “Đừng thách thức ai trừ khi họ vào trong khu vực này.” Họ không muốn bắt đầu một cuộc chiến mà họ không thể kết thúc. Giải cứu vị Toàn quyền là ưu tiên hàng đầu.
Khi màn đêm buông xuống, 30 lính và 4 xe thiết giáp tám bánh chở quân của Liên Xô (BTR- 60PB) bao vây khu biệt thự. Duke dùng điện đàm cầm tay MX-360 nhỏ của mình để liên lạc với hạ sĩ Dennis Johnson ở sân bay Port Salines. Viên hạ sĩ chuyển thông điệp của Duke tới một chiếc máy bay chiến đấu AC-130 đang bay phía trên: “Nổ súng 360 độ quanh lâu đài.” Chiếc Spectre cho khẩu súng 40 mm phát hỏa, tiếng nổ khủng khiếp vang lên: bùm, bùm. Kết quả là cuộc tiến công đã tiêu diệt hết đối thủ đang bao vây xung quanh, ngoại trừ hai tên chạy trốn. Không lâu sau chiếc điện đàm MX-360 nhỏ hết điện. Duke dùng điện thoại của viên toàn quyền để duy trì liên lạc.
Hai người Cuba trang bị AK từ ngoài đường tiến vào. Họ nâng vũ khí lên. Thế là những người lính nổ súng: súng ngắn, CAR-15, súng máy nhẹ Heckler & Koch 21, súng máy M-60 và một khẩu súng bắn tỉa a .50 RAI 500. Một người Cuba cố gắng leo qua tường, nhưng anh ta và người đồng đội đều bị hạ gục.
Sáng hôm sau, Lực lượng Viễn chinh của Thuỷ Quân Lục Chiến giúp lính SEAL, viên Toàn quyền và gia
đình ông ta thoát ra. Họ thấy tro tàn của xe tải, vũ khí và máu bị đốt cháy ở nơi mà máy bay Spectre tấn công và nhận thấy có ai đó đã thu gom thi thể. Trên đường thoát ra, những người lính SEAL tìm thấy một lá cờ Grenada, thế là họ thay vào đó một lá cờ Đội SEAL Số 6, lá cờ luôn được mang theo để dự phòng cho những dịp như vậy. Sau đó, lính SEAL sẽ treo cờ Grenada ở Đội SEAL Số 6 khi họ quay về. Cả đoàn tiến đến khu vực đậu trực thăng. Tại đó một chiếc trực thăng đón tất cả mọi người.
Để thực hiện một nhiệm vụ khác ở Grenada, 12 lính SEAL, dẫn đầu là Trung úy Donald Kim Erskine, đi trực thăng đến một trạm phát thanh để đảm bảo an ninh cho khu vực này cho đến khi Toàn quyền Scoon vào và phát đi một thông điệp tới cư dân trên đảo. Khi đang bay trên bầu trời, lác đác một vài phát súng từ các khẩu súng cầm tay bắn về phía họ, nhưng khi họ tiếp đất, đối phương đã bỏ trống trạm phát thanh. Điện đàm của nhóm Erskine bị trục trặc, không thể liên lạc được với đài chỉ huy − ai đó đã thay đổi tần số mà không thông báo cho lính SEAL biết.
Một lúc lâu sau khi lính SEAL triển khai xong vành đai phòng vệ, một chiếc xe tải chở 20 lính Cuba tiến đến. Lính SEAL lệnh cho họ bỏ vũ khí, nhưng họ không làm theo. Vì vậy những người lính SEAL nổ súng, hết khoảng 1/3 số đạn và tiêu diệt được 10 người. Họ bắt 10 người còn lại làm tù binh và sử dụng gần như tất cả các dụng cụ sơ cứu để băng bó cho những đám tù binh này. Không người lính SEAL nào bị thương.
Một chiếc xe thiết giáp BTR-60PB và ba xe tải leo lên đồi tiến đến trạm phát thanh. Khoảng 40 đến
50 tên địch lao ra. Viên sĩ quan người Cuba quất cây gậy chỉ huy vào mông lính của mình và ra lệnh: “Tấn công”. Erskine và đồng đội phòng thủ trong nhà. Kẻ địch cố gắng đánh thọc sườn họ trong khi chiếc BTR lăn bánh đến cửa trước và khai hỏa pháo 20 mm. Khẩu pháo khoan thủng các bức tường bê tông cứ như là tòa nhà làm bằng giấy vậy.
Một người lính SEAL nạp một viên đạn hỏa tiễn vào nòng súng CAR-15 của mình và giật chốt an toàn. Anh nhằm vào chiếc BTR và bóp cò, phóng quả đạn đi. 1 kg thuốc nổ có sức công phá lớn đánh thẳng vào chiếc BTR.Tránh né đạn hỏa lực vượt trội của đối phương, Erskine và những người lính SEAL khác đặt thuốc nổ tại trạm phát thanh và mau chóng chạy ra cửa sau. Đối phương cho rằng lính SEAL chết hết rồi, nhưng họ đã lao qua đồng cỏ phía sau trạm. Đối phương tiến đến gần từ phía sau và từ cả hai sườn. Erskine bình tĩnh dẫn người của mình rút lui theo cách nhảy ếch qua khu vực phòng ngự để tới bãi biển. Anh và một nửa số đồng đội nằm xuống và nổ súng vào đối phương trong khi những người khác rút về phía sau. Sau đó những người phía sau lại nằm xuống và bắn đối phương để Erskine và số người trước rút chạy. Đạn pháo trút xuống đầu họ, một viên thổi bay bi-đông của Erskine; mặc dù Erskine cao hơn 1m80 và nặng hơn 100 kg nhưng viên đạn vẫn khiến anh ngã lăn xuống đất. Những người trong nhóm của anh ngay lập tức nằm rạp xuống. Họ quay lại và nổ súng trong khi nhóm kia rút lui. Khi họ tiếp tục nhảy ếch như vậy, một viên đạn khác xé toạc gót giày của Erskine làm anh gục xuống đất. Khi anh đứng dậy và chạy, một viên đạn nữa trúng vào ổ đạn ở thắt lưng của anh và bật ra, anh lại ngã xuống. Viên đạn thứ tư đáng sợ hơn. Nó xé toạc một phần thịt khuỷu tay phải của Erskine, làm anh bật lên khỏi mặt đất trước khi rơi xuống trong bụi mịt mù. Anh có cảm giác toàn bộ cánh tay đã bị thổi bay. Đến cuối đồng cỏ, lính SEAL cắt một hàng rào mắt cáo và bò qua. Khi Erskine đếm người của mình, anh gặp phải một cơn ác mộng tồi tệ nhất của một người chỉ huy SEAL − thiếu mất một người. Rồi họ phát hiện ra đồng đội − một nhân viện điện đàm – bị lạc. Erskine và đồng đội nổ súng vào đối phương trong khi cậu nhân viên điện đàm đang kéo lê chiếc đài
SATCOM vô dụng qua cánh đồng. “Vứt cái của nợ ấy đi!” − Erskine hét lên. Nhân viên điện đài tháo bỏ chiếc đài ra và dùng khẩu SIG SAUER 9mm đeo bên sườn bắn vài phát vào các bộ phận mã của chiếc đài. Sau đó anh lao theo các đồng đội của mình.
Họ trốn chạy đến một rừng cây. Mặc dù đã hạ được vài người của đối phương, nhưng quân số lính SEAL vẫn ít hơn và cũng gần hết đạn. Họ tiếp tục lần theo một lối mòn và hướng ra biển. Bơi thẳng ra biển có thể khiến họ trở thành mục tiêu cho đối phương. Erskine ra lệnh: “Bỏ tất cả đi, chỉ để lại các dụng cụ cần thiết và bơi dọc bờ biển.” Họ ném súng, ba lô và gần như mọi thứ trừ súng ngắn, đạn súng ngắn và bộ dụng cụ dùng để đào thoát và lẩn trốn. Họ bơi dọc bờ biển và ẩn nấp dưới những vách đá nhô ra biển để tránh đối phương ở bên trên.Các lực lượng đồng minh, không biết rằng họ vẫn còn sống, đã nổ súng thổi tung người của đối phương gần nơi họ ẩn nấp. Những người lính SEAL đợi cho đến khi đối phương rút đi hết, rồi mới bơi ra biển. Họ trôi nổi trên biển sáu tiếng đồng hồ cho đến khi được một chiếc máy bay cứu nạn phát hiện và gọi một chiếc tàu hải quân đến đón. Tính đến thời điểm đó, họ đã không ngủ liên tục trong 48 giờ. Sau khi chắc chắn rằng tất cả đồng đội đã lên tàu, Erskine bất tỉnh. Sau đó anh đã hồi phục. Hải quân trao cho anh Huân chương Anh dũng bội tinh với Ngôi sao bạc.
Năm 1985, những tên khủng bố của Tổ chức giải phóng Palestine (PLO) cướp tàu tuần tra Achille Lauro và sát hại hành khách Leon Klinghoffer. Chúng lẩn trốn ở Ai Cập. Khi Ai Cập bí mật đưa chúng lên một chuyến bay đến đại bản doanh của PLO ở Tuynidi, các máy bay chiến đấu của Hải quân Mỹ buộc chiếc máy bay này phải hạ cánh xuống căn cứ của NATO ở Italia. Đội SEAL Số 6 bao vây bọn khủng bố trên đường băng, nhưng phía Italia không cho phép SEAL tiếp cận chiếc máy bay và yêu cầu chuyển 5 tên khủng bố đó cho họ. Sau một hồi thương thảo với quân đội và lực lượng thực thi pháp luật Italia, phía Mỹ đồng ý chuyển những kẻ khủng bố cho phía Italia. Không may là sau đó chính quyền Italia đã trả tự do cho tên cầm đầu Abu Abbas (người sau này bị bắt ở Iraq năm 2003). Mặc dù những tên khủng bố khác phải vào tù nhưng một tên trong số đó được ban cho một vài ngày nghỉ và đã trốn thoát (hắn bị bắt lại ở Tây Ban Nha). Một tên khác đã trốn khỏi Italia khi được phóng thích với cam kết là sẽ không chạy trốn.
Năm 1989, Đội SEAL Số 6 đến Panama để truy bắt ông trùm buôn bán ma tuý Manuel Noriega. Noriega trốn trong một nhà thờ Công giáo, nhưng vì không có đường vượt biên, cuối cùng ông ta đã phải đầu hàng.
Grenada, Achille Lauro và Panama chỉ là ba trong số nhiều chiến dịch mà Đội SEAL Số 6 tiến hành trước khi tôi gia nhập.Tôi tham gia hoạt động đầu tiên với Đội SEAL số 2 ở Machrihanish, Scotland − vùng đất tổ tiên Kirkland (quê hương của mẹ tôi), những người đã đổi tên thành Kirkman khi nhập cư vào Mỹ. Người dân địa phương Scotland đặt cho Smudge một biệt danh theo tên của một cầu thủ bóng đá nổi tiếng người Anh. Chúng tôi đi cùng với một vài người tới Bảo tàng Tartan ở Edinburgh. Ở đó, tôi phát hiện
ra rằng gia tộc của tôi đến từ vùng cao nguyên.
Smudge trêu chọc việc tôi tìm thấy nguồn gốc Tartan của mình: “Ồ, Howard là người cao nguyên.” “Tuyệt không, chỉ có một người như vậy mà thôi!” Tôi kêu lên.Ở Scotland, chúng tôi cùng huấn luyện hoặc phối hợp với một số đơn vị tác chiến đặc biệt của nước ngoài như: Lực lượng đặc công nước của Anh, Đơn vị Đặc công Hubert của Pháp, Đơn vị đặc công nước của Đức, Cảnh sát biển Thụy Điển, Bộ Tư lệnh biệt động Hải quân Na Uy và nhiều lực lượng khác. Trong một buổi diễn tập thâm nhập cảng biển ở Đức, tôi đổi một túi MRE lấy khẩu phần ăn của một đặc công Hubert. Đơn vị người nhái đặc công của anh ta khi thành lập đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn của một sĩ quan hải quân từng tham gia Chiến tranh Thế giới II tên là Jacques-Yves Cousteau, người nổi tiếng với chương trình tivi của mình về thế giới dưới nước. Khẩu phần ăn của người Pháp gồm có rượu, pho mát và patê. Tôi thấy ngạc nhiên khi họ rất thích thức ăn khô lạnh và món cà phê Maxwell House − chỉ cần thêm nước vào − của chúng tôi. Khi tôi quay về doanh trại ở Scotland, gần như ai cũng xin tôi chút rượu, pho mát và patê đó.
Trong đợt huấn luyện tác chiến mùa đông, tôi có một tháng vui vẻ với các cảnh sát biển Thụy Điển, những người đảm nhiệm trinh thám tầm xa, phá hoại và tấn công kẻ địch xâm phạm bờ biển Thụy Điển. Mặc dù tất cả thanh niên Thụy Điển đều phải đi lính nghĩa vụ một năm nhưng vẫn có nhiều người mong muốn trở thành cảnh sát biển. Burt, DJ, Steve và tôi bay tới Stockholm, thủ đô của Thụy Điển. Các nhà thờ, cung điện và lâu đài lịch sử cùng với những công viên xanh và các con lạch làm cho Stockholm trở thành một Venice của Bắc Âu. Còn các tòa nhà mới hơn thì có sự kết hợp của thiết kế sinh thái với công nghệ cao và thuyết chức năng. Những người đón tiếp, sắp xếp cho chúng tôi nghỉ tại một khách sạn tuyệt đẹp. Một buổi tối, sau khi huấn luyện, chúng tôi thấy một người đàn ông thấp lùn, gầy guộc, tóc bông xù đang ngồi ở tiền sảnh với hai “chân dài” ngồi trên hai đùi và một phụ nữ khác ngồi trong lòng. Ai vậy? Hai chúng tôi bước lại gần hơn để xem đó là ai: đó là Rod Stewart. Những gã xấu xí ở nơi nào cũng vậy, đều có thể nuôi hy vọng trở thành một ngôi sao nhạc rock.
Buổi sáng, Burt lái chiếc xe thuê đưa chúng tôi qua một con phà đến căn cứ của Cảnh sát biển thuộc Quân đoàn đổ bộ Thụy Điển có tên hiệu là Trung đoàn Lính thủy đánh bộ 1 tại Berga. Các chiến dịch đầu tiên của chúng tôi bắt đầu ở quần đảo Stockholm. Trong số hàng nghìn hòn đảo ở biển Baltic, đây là một trong những quần đảo lớn nhất. Tôi và bạn chiến đấu khởi hành trên một chiếc thuyền gấp kayak nhẹ hai chỗ ngồi và không có kim loại để tìm kiếm tàu ngầm Liên Xô. Tôi đeo kính Vuarnet − tên được đặt theo vận động viên trượt tuyết người Pháp đạt huy chương vàng Olympic An-pơ − để chống nắng. Chúng tôi đi lên các đảo và tìm kiếm các dấu vết của con người − một trò chơi mèo bắt chuột với người Liên Xô. Đi xuồng kayak từ đảo này tới đảo khác trong khi phải đem theo tất cả các trang thiết bị là một công việc tẻ nhạt và vất vả.
Gần một tuần sau, chúng tôi đi cùng với vài viên cảnh sát biển bằng mấy chiếc xe buýt thuê. Họ mang các túi thức ăn lên xe. “Chúng ta sẽ lại đi bao xa nữa?” – tôi hỏi. “61 dặm.” Những Cảnh sát biển nói tiếng Anh rất tốt. “Tại sao lại phải mang tất cả thức ăn?” “Chuyến đi dài mà.” Chỉ có 61 dặm thôi mà – tôi có trồng cây chuối cũng đi được.Sau 3 tiếng trên đường, tôi nói với một cảnh sát khác: “Tôi nghĩ chỉ như vậy đã là 61 dặm rồi.” “Vâng, 61 dặm.” “Chúng ta đã đi quá 61 dặm rồi.”
Một cảnh sát khác mỉm cười: “61 dặm Thụy Điển.” Tôi nhăn mặt: “Là bao xa vậy?”
“Ồ…! Khoảng ba trăm tám mươi dặm Mỹ.”
Các anh chơi khăm tôi rồi. Tôi thấy vui mừng vì đã không đề nghị thi chạy 4 dặm với họ.
Chúng tôi đi qua một biển chỉ dẫn “Có nai băng qua” trước khi đến một thị trấn nhỏ đầy tuyết có tên là Messlingin, gần hồ Messlingin đang bị đóng băng. Không thể tìm thấy bất kỳ tấm bản đồ du lịch nào, Messlingin nằm ở khoảng 200 km về phía tây nam của Östersund, miền trung Thụy Điển. Bốn người chúng tôi làm thủ tục nhận phòng tại một khách sạn bằng gỗ có mái nghiêng và những mái hiên nhô ra trông như một biệt thự nhỏ. Một lát sau, những viên cảnh sát đưa chúng tôi đi dầm mình xuống một hố băng. Mặc dù không bắt buộc nhưng mọi người đều nhảy xuống dòng nước gần như sắp đóng băng. Chúng tôi phải gương mẫu. Đó là truyền thống ngớ ngẩn kiểu “Tôi có thể chịu được kể cả khi có bị sút vào hạ bộ” của Đội SEAL. Chúng tôi quấn dây vào cổ để đeo một dụng cụ phá băng hạ xuống tầm ngang ngực. Tay cầm của dụng cụ này làm bằng gỗ, vừa một nắm tay, còn mũi nhọn của nó dài khoảng 2,5 cm. Chúng tôi phải nhảy xuống hố băng, giữ nguyên tình trạng và xin phép ra khỏi nước. Nếu được phép, chúng tôi sẽ tiến lên, dùng dụng cụ để phá băng và thoát ra. Lần thử đầu tiên, thanh quản của tôi thậm chí không hoạt động được, nó quá lạnh − tôi liền nhảy phắt ra. Đến lần thứ ba, tôi trấn tĩnh hơn để cho thanh quản đủ thời gian hồi phục chức năng. Tôi rít lên: “Xin phép cho tôi ra”. Sau khi ra khỏi nước, việc cấp thiết đầu tiên là phải làm ấm người.
Tôi nhớ lại thời gian huấn luyện tác chiến mùa đông ở Alaska. Kevin và tôi trở thành bạn chiến đấu của nhau. Anh là một lính SEAL to con, dễ chịu với mái tóc và đôi mắt đen. Được đào tạo để trở thành một y tá quân y, anh có thể đảm nhiệm nhiều tình huống y tế khẩn cấp trong chiến đấu cho đến khi người bị thương được chuyển tới bệnh viện (sau đó, tôi nghe nói anh rời SEAL và trở thành một bác sĩ hải quân đóng ở Tây Ban Nha). Kevin và tôi chọn một con đường khôn ngoan để đi trượt tuyết, đó là con đường qua khu vực mà chúng tôi cắm trại. Sau đó chúng tôi đi đường vòng quay lại trại. Bằng cách này chúng tôi có thể phát hiện từ xa những người đến chỗ chúng tôi. Chúng tôi dựng một cái lều của hãng North Face dành cho hai người, đặt ba lô xuống trước lều, đánh tuyết thành đống bên ngoài lối vào để có thể rã đông thành nước uống, trong đó có cả nước uống cho buổi trượt tuyết ngày hôm sau. Người ta cần uống nhiều nước hơn vào mùa đông vì phổi dùng nhiều hơi ẩm để làm ấm hơi thở. Chúng tôi cũng dùng nước uống cho các bữa ăn khô lạnh của mình. Khi qua cửa, chúng tôi cởi bỏ quần áo ướt ra, chỉ để lại quần áo lót polypro, rồi nhóm lò MSR WhisperLite để đun nước. Nhiệt độ tỏa ra từ chiếc lò nhanh chóng làm chiếc lều ấm lên. Kevin có đôi chân khổng lồ − đôi giầy ngoại cỡ của anh không vừa với giày trượt tuyết. Trong khi chúng tôi chờ tuyết tan, Kevin tháo giày và tôi kẹp các ngón chân của anh vào nách mình cho ấm. Những người khác chỉ mong được vào lều, nhưng tôi thì không. Suốt mười đêm, tôi giúp ủ ấm những ngón chân lạnh như đá đó trong nách của mình trước khi nằm đất ngủ trong chiếc túi ngủ.
Thật may là ở Thụy Điển, cách hố băng chỉ khoảng 50m có một phòng tắm hơi và có cả bia nữa. Cũng ở Thụy Điển, lần đầu tiên tôi được biết đến xe ủi tuyết − một chiếc xe bọc thép chở người chạy
theo các lối mòn trên tuyết. Từ bên trong, những người lính có thể nhằm bắn kẻ địch. Họ gắn một dây
thừng ở phía sau xe để kéo theo 10 hoặc 12 người lính đi trên ván trượt tuyết. Móc một cây gậy trượt tuyết vào dây thừng, tôi giữ lấy tay cầm khi chiếc xe kéo tôi đi. Nhiều cảnh sát biển nhờ đó đã trượt tuyết rất thành thạo. Trong số họ có một vận động viên Olympic môn nhảy xa trên tuyết. Dĩ nhiên ở quê hương Nam Georgia của tôi không có dốc trượt tuyết. Thế là tôi bị ngã. Các viên cảnh sát biển trượt phía sau tôi phải cố gắng di chuyển qua tôi. Bốn người trong số họ cuối cùng cũng vấp ngã chồng lên tôi. Sau một hồi, họ bắt đầu tranh luận. Tôi không hiểu hết các từ, nhưng tôi biết họ đang cãi nhau xem ai sẽ phải trượt phía sau tôi. Ba người bạn trong đội của tôi và tôi ngã quá nhiều, làm cho những cảnh sát biển cũng bị ngã theo như những quân bài domino vậy, vì vậy họ chuyển chúng tôi xuống cuối đoạn dây thừng. Nếu có thể quay phim những người lính SEAL trong buổi trình diễn trên băng đó cho chương trình Các đoạn phim tự chuyện hài hước nhất của Mỹ thì có lẽ chúng tôi sẽ chiến thắng.
Do chúng tôi đến đó với tư cách là thành viên hỗ trợ huấn luyện lính nghĩa vụ trẻ nên họ phục vụ chúng tôi như là các sĩ quan, lau và đánh bóng ván trượt tuyết trong khi chúng tôi ăn tối. Vào buổi tối, nếu chúng tôi để giày ngoài cửa, họ sẽ lau và đánh bóng xong trước buổi sớm ngày hôm sau. Họ thậm chí còn lau cả vũ khí cho chúng tôi nữa.
Một điều thú vị nữa là chúng tôi đã học được cách đào hang tuyết. Đối tác cảnh sát biển của tôi là người cao dong dỏng. Anh ta có thể dễ dàng trượt vòng quanh tôi. Chúng tôi đào thẳng vào một đống tuyết, mở rộng lên phía trên và sâu vào trong, tạo một khoảng trần lớn để hơi ấm bốc lên đó khi nhiệt độ giảm xuống. Viên cảnh sát biển và tôi đặt ba lô ở lối vào để ngăn gió nhưng đưa rìu vào bên trong đề phòng trường hợp phải đào tuyết thoát ra ngoài. Từ khoảng trần đó, chúng tôi tạo một mái hình vòm để nước không nhỏ giọt thẳng xuống người.
Chúng tôi cởi đôi ủng bên ngoài trước khi bước vào bên trong. Vì chỉ có bốn lính SEAL nên đối tác của tôi có vẻ thấy hân hạnh khi được làm việc cùng tôi. Anh ta cố gắng lau sạch đôi ủng giúp tôi. “Không, nó không sao đâu. Tôi làm được mà,” tôi nói. Anh ta nhìn tôi lạ lùng. Sau đó, anh ta có vẻ vui vì không phải phục vụ tôi.
Chỉ cần một hoặc hai cây nến cũng đủ làm cái hang ấm lên. Bên ngoài, nhiệt độ là -41oC. Ở bên trong, tôi ngồi trên một cái túi ngủ, chỉ mặc quần áo lót dài polypro xanh của Hải quân. Chúng tôi không để
cho nhiệt độ trong hang cao hơn 0oC, nếu không cái hang có thể tan chảy, trút nước xuống và sau đó đổ sập lên đầu chúng tôi. Chênh lệch giữa nhiệt độ bên ngoài và bên trong hang khoảng hơn 40 độ làm cho người ta cảm thấy như đang sống ở Bahamas vậy. Nhiệt độ trong hang làm mềm tường và trần hang, vì vậy chúng tôi phải vỗ nện cho đến khi chúng cứng trở lại.
Sau khi sống trong cái hang tuyết đó hai tuần, dùng nơi này để triển khai các hoạt động, chúng tôi đã vỗ tường và trần nhà nhiều đến mức bên trong hang dường như sắp trở thành một ngôi nhà tuyết vậy. Người Thụy Điển rất biết cách đương đầu trong một cuộc chiến − khẩu phần ăn của họ bao gồm rượu cô nhắc và hỗn hợp socola nóng ngon nhất mà tôi từng được ăn cùng với các món như mì Bolognese
và bánh mì lúa mạnh đen. Thấy tôi ngạc nhiên, đối tác Thụy Điển đề nghị đổi khẩu phần ăn của anh lấy món MRE của tôi. Tôi đoán là anh đã phát chán vì lúc nào cũng ăn những món đó. Chúng tôi sung sướng thưởng thức đồ ăn của nhau trong cái hang tuyết của mình.
Thực ra một điều thú vị khi huấn luyện với các đơn vị tác chiến đặc biệt nước ngoài là được trao đổi đồ dùng. Từ Mỹ, tôi mang theo nhiều thanh thịt bò lớn không có gia vị để cắt lát và bổ sung năng lượng cho khẩu phần ăn của mình trong thời tiết lạnh giá. Các chàng cảnh sát biển rất thích món đó.
Tôi cũng mang theo một chiếc bật lửa Zippo và một viên cảnh sát biển đổi con dao Laplander xinh xắn của mình để lấy nó. Con dao có một tay cầm bằng gỗ, lưỡi dao hơi cong, vỏ dao làm bằng da có hai dây bằng da sống để buộc vào ba lô của tôi. Trong giá lạnh, chiếc bật lửa Zippo sẽ tiện dụng hơn so với chiếc bật lửa Butan, nhưng tôi thích con dao hơn.
Vào ngày cuối cùng, hai chúng tôi dùng sơn bôi mặt để sơn trắng những điểm nhô ra trên khuôn mặt, nơi có thể tạo ra điểm tối và bóng xám trên mặt như trán, má, mũi, lông mày và cằm. Tất cả chúng tôi rời hang tuyết để tham gia một chiến dịch lớn. Khoảng 100 đến 150 người chúng tôi móc gậy vào dây kéo phía sau các xe ủi tuyết để được kéo tới khu vực mục tiêu của mình. Chúng tôi trượt tuyết đến nơi xa nhất có thể, rồi cởi bỏ ván trượt và ba lô bên trong hàng cây. Chúng tôi ở cách mục tiêu khoảng 300m.
Tôi đi đôi giày đi tuyết NATO được thiết kế cồng kềnh và vụng về. Còn cảnh sát biển có giày đi tuyết nhỏ gọn làm bằng kim loại tổng hợp nên họ vẫn chạy được. Ồ, trang thiết bị tác chiến mùa đông của các anh hiện đại hơn chúng tôi. Để lấy một đôi giày như thế, tôi đổi bộ dao đa năng Swiss Army cũ và cái vòng đeo bằng da đã rách mà tôi thường dùng để gài bộ dao vào thắt lưng (vì để nó trong túi quần rất vướng víu). Một cạnh bằng nhựa của bộ dao đã bị vỡ nhưng vẫn còn chiếc cưa, dụng cụ đánh vảy cá và gỡ lưỡi câu, cái kìm bằng da có lỗ xâu kim, kính lúp, lưỡi dao dài, lưỡi dao ngắn, kéo, kìm nhỏ, cái mở nút chai, tăm và nhíp. Có người cho rằng vì Thụy Điển gần Thụy Sỹ hơn Mỹ nên con dao Swiss Army không phải là thứ đáng giá lắm, nhưng thực tế không phải vậy. Cùng với đôi giày đi tuyết, viên cảnh sát biển thậm chí còn cho tôi thêm một chai rượu sơ-náp. Anh ta rất vui sướng, có vẻ rất quý tôi vì đã đổi chác như vậy. Sau đó anh mang đi khoe với bạn bè. Bạn bè chỉ trích là anh đã lợi dụng tôi. Nếu anh ấy mang cho tôi đôi giày đi tuyết đó khi tôi đang huấn luyện tác chiến mùa đông ở Alaska, chắc tôi sẽ đổi cả 5 con dao Swiss Army để lấy nó. Khi trở lại Mỹ, tôi sẽ mua một con dao mới.
Chúng tôi tiến lên theo đội hình chữ V ngược với một người ở giữa phía trước và những người còn lại ở hai bên cánh. Một đơn vị khác tiến đến khu vực mục tiêu từ sườn trái. Vừa bắn vào đích, sườn trái và đội hình chữ V phía trước chúng tôi vừa tấn công một công sự giả gồm 10 tòa nhà. Một đơn vị SEAL cơ sở thường giống như một đội thủy thủ với 7 hoặc 8 người. Trong cuộc tấn công quy mô đại đội với hơn 100 lính này, chúng tôi chỉ phải đi theo đội hình.
Cảnh sát biển Thụy Điển và các đơn vị Bắc Âu khác, trong đó có Biệt đội Hải quân Na Uy, dành nhiều thời gian tập trượt tuyết và tác chiến trong môi trường mùa đông hơn lính Mỹ, vì vậy họ vượt trội hơn chúng tôi. Tuy nhiên, công nghệ Mỹ giúp cân bằng thế trận. Bạn có giỏi trượt tuyết thế nào cũng không quan trọng nếu tôi phát hiện ra bạn bằng kính ngắm ban đêm từ khoảng cách 400m. Bạn cứ trượt mà xem.
Tôi nghe kể lại rằng khi tôi đang huấn luyện ở Thụy Điển, nhiều đêm Laura đã đi chơi đến khuya và tiệc tùng với một vài người vợ lính SEAL khác. Khi tôi hỏi, Laura trả lời: “Ồ, chỉ là một hoặc hai lần thôi mà. Em chẳng thấy thích gì.” Tôi tin lời Laura bởi vì tôi tin tưởng cô ấy − tôi không muốn tin vào điều gì khác. Chúng tôi tới nhà thờ vào các ngày Chủ nhật và mọi thứ dường như đều ổn cả.
Con trai Blake của tôi rất thích lang thang với những người lính trong Đội SEAL và họ cũng yêu quý nó, nhất là sau một sự kiện đặc biệt khi Blake 4 tuổi. Một hôm, sau buổi làm việc, tôi trở về nhà, thấy Laura ở trong bếp đang vô cùng hốt hoảng. “Chuyện gì vậy em?” − tôi hỏi.
“Con nhỏ Debbie sang đây chơi và chúng cùng vào bể lội của Blake. Trần truồng!” Debbie bé nhỏ là cô con gái 6 tuổi của người hàng xóm.
“Vậy đấy.” “Em đã gọi mẹ con bé và kể cho cô ấy. Cô ấy nghĩ điều đó buồn cười. Anh nên nói chuyện với con đi.” Tôi liền đi xuống hành lang vào phòng con.Blake đang chơi trò Săn Vịt trên máy Nintendo, bắn những con vịt đang bay bằng khẩu Nintendo Zapper Light Gun.
“Con trai, hôm nay con thế nào?” “Tốt ạ,” thằng bé trả lời. “Hôm nay con làm gì?” “Chơi ạ.”
Tôi để thằng bé chơi tiếp và quay trở lại với Laura trong bếp: “Thằng bé ổn mà. Thậm chí còn không thèm nói đến chuyện đó. Đó không phải là chuyện gì to tát đâu.”
“Ồ không. Anh phải nói chuyện với con. Có lẽ thằng bé cảm thấy khó chịu đấy.”
Tôi liền quay trở lại phòng của Blake. Trên màn hình, một con chó phát hiện những con vịt chết trên cỏ và chúc mừng Blake.
Tôi hỏi trực tiếp hơn: “Hôm nay con có đi bơi không?” “Có ạ.”
“Vậy à, có ai đi cùng con không?” “Có ạ, Debbie đi bơi cùng với con.”
“Con và Debbie cởi hết quần áo ra khi ở trong bể à?”
“Debbie cởi quần áo bơi của mình và bảo con cởi quần áo bơi của con ra.” “Con có biết là con không nên để mọi người nhìn thấy chim của con không?” “Có ạ, mẹ bảo con là không để cho mọi người nhìn thấy chim của con.” “Ồ, vậy Debbie có nhìn thấy con chim của con không?” “Có ạ, Debbie nhìn thấy chim của con.” Thằng bé cười to. “Con có nhìn thấy chim của Debbie không?”
Thằng bé ngừng chơi và đặt khẩu súng xuống, giọng nói có âm sắc lo lắng: “Bố biết gì không? Debbie không có chim.” Thằng bé có vẻ lấy làm tội nghiệp cho Debbie: “Bạn ấy có mông ở đằng trước.”
Tôi cố nhịn để không cười đến nổ tung đầu ra. Tôi gọi kể cho Smudge và cậu ta cười suýt nữa thì vỡ cả ruột.
Ngày hôm sau, vào buổi chiều, Blake cùng tôi đến phòng nghỉ của Trung đội Foxtrot, Đội SEAL Số 2.
Chúng tôi nói về câu chuyện ‘mông phía trước,’ và mọi người đều cười như pháo.
Những năm sau đó vẫn có người lính bông đùa: “Anh bạn, anh có biết gì không? Tối nay tôi sẽ vào thị trấn, hãy tìm cho tôi một cái “mông phía trước” nhỏ bé nào đó đi.” Con trai tôi đã trở thành một giai thoại của Đội.
Khi tôi đang công tác ở Đội SEAL Số 2, bác Carroll của tôi qua đời vì một cơn đột quỵ khi đang câu cá. Tôi vô cùng đau đớn khi trở về nhà dự đám tang ở nhà thờ First Baptist, nơi tôi đã đánh Timmy tơi bời trước đây. Họ hàng, bạn bè và nhiều người tôi không biết đã có mặt bên trong nhà thờ. Bác Carroll đã yên nghỉ trong quan tài. Ông luôn yêu thương tôi, dành thời gian cho tôi và giúp tôi trưởng thành.Tôi không rành thủ tục của đám tang lắm: hát Thánh ca, cầu nguyện, đọc Kinh thánh, nghe lời tiễn biệt của Cha Ron và một bài ca ngợi. Tôi thấy không thể kiềm chế được. Tôi đứng lên và nặng nề bước ra cửa trước. Tôi đứng trên bậc cửa và khóc nức nở. Đây là lần tôi khóc nhiều nhất. Ai đó vòng tay qua người và ôm lấy tôi. Tôi ngước lên nghĩ rằng mình sẽ thấy gương mặt của Cha Ron, nhưng người đang ôm tôi không phải là Cha. Đó là bố tôi. Đây là lần thứ hai ông ôm tôi, không giống như cái ôm miễn cưỡng trước khi tôi lên xe buýt đi học chuyên nghiệp: “Howard à, bố cũng sẽ nhớ bác ấy lắm. Bác ấy luôn dành thời gian chơi với con bởi vì bác ấy biết cách dạy dỗ con hơn bố. Bác ấy kiên nhẫn hơn. Vì vậy bác Carroll luôn dành thời gian với con.”
Sau đó, tôi cố gắng tĩnh tâm trở lại và theo đoàn xe tang đến nghĩa trang an táng bác Carroll. Ngày 6 tháng Sáu năm 1990, con gái tôi, Rachel, chào đời tại một bệnh viện dân sự ở bờ biển Virginia. Mẹ vợ tôi từ Nam Georgia đến. Tôi đang ở đồi Fort A.P., Virginia − một trong số những trường bắn đạn thật lớn nhất Bờ Tây. Tôi lái 224 km theo hướng đông nam để gặp Laura và con gái nhỏ. Tôi vô cùng hạnh phúc khi nhìn thấy Rachel. Mặc dù vậy, thời gian tôi gắn bó cùng Đội cũng nhiều như tình yêu của tôi dành cho con gái tôi vậy. Một số người lính SEAL có thể cân bằng giữa Chúa, gia đình và các Đội. Tôi thì không thể. Các Đội là tất cả. Sau khi ở bệnh viện một hoặc hai ngày, tôi lại đi.
Nhưng bất cứ khi nào trở về nhà, Rachel lại quấn quýt bên tôi. Con bé thích ở cùng tôi và tôi thích được gần con bé. Một lần, khi Rachel lớn hơn một chút, Blake đẩy ngã con bé ở sân sau nhà.
“Blake, vào tủ và lấy thắt lưng ra đây!”
Thằng bé biến vào trong tủ rồi quay lại, trên tay cầm chiếc thắt lưng da lớn nhất của tôi. “Con trai, tại sao con mang cái thắt lưng to nhất mà con tìm thấy?” Thằng bé nhìn vào mắt tôi: “Bố, con đã làm một việc tồi tệ. Vì thế con nghĩ con đáng bị tét bằng cái dây lưng to này.”
Có lẽ là thằng bé chỉ đang đùa với tôi. Nhưng tôi không đánh Blake lần đó và cũng không đánh bất cứ lần nào khác sau đó. Nếu có gì không ổn thì đó là việc tôi đã quá nuông chiều Blake. Có lẽ số lần tôi bắt thằng bé nằm lên giường và tét cho một cái thắt lưng chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Tôi để cho Rachel đi chơi với Blake nhiều hơn. Con bé là cục cưng của tôi, còn thằng bé là bạn thân của tôi.
Tôi tiếp tục nghe nhiều hơn về Đội SEAL Số 6, đơn vị chống khủng bố bí mật. Mọi người nói rằng Đội 6 là Đội Mơ ước. Số hiệu 6 là đơn vị bậc nhất, chỉ tuyển những người lính SEAL ưu tú nhất − như Pro Bowl của Liên đoàn bóng đá Quốc gia vậy. Họ làm nhiệm vụ giải cứu con tin và được trả rất
nhiều tiền. Lính của họ có thể đến học ở bất cứ trường nào họ muốn. Tiêu hàng nghìn đô-la để tham gia khóa đào tạo lái xe hai tuần ư? Không vấn đề gì. Muốn đi đến trường đào tạo bắn súng của Bill Roger ư? Lại nữa à? Được thôi. Họ sử dụng những trang thiết bị tiên tiến nhất. Họ được yểm trợ cao nhất − một trung đội toàn trực thăng được giao cho họ. Không phải suy nghĩ, tôi muốn được tham gia Đội SEAL Số 6. Khi có điều gì xảy ra, tôi sẽ là người được ra chiến trường đầu tiên.
Khi có mặt ở Trung tâm Chiến tranh Đặc biệt của Hải quân ở Coronado, California, tôi đi qua một con đường cát và lần đầu tiên tôi nhìn thấy Thái Bình Dương. Những con sóng khổng lồ lao mải miết vào bờ. Ôi Chúa tôi. Tôi nhảy vào dòng nước California thơm mát. Không, không thơm mát tý nào, nhất là so với nước ở vùng vịnh Florida nơi tôi từng được huấn luyện. Nó lạnh cóng. Tôi nhảy vọt lên khỏi mặt nước còn nhanh hơn cả khi nhảy xuống. Tôi tự hỏi chúng tôi sẽ phải bơi trong dòng nước đó bao lâu đây.
Trong những ngày chờ tới giai đoạn huấn luyện, thượng sĩ Rick Knepper thuộc SEAL giúp chúng tôi chuẩn bị bằng cách đi bơi vào sáng sớm ở bể bơi và tập các bài thể dục dẻo dai vào chiều muộn trên bãi biển. Ở độ tuổi 40, thượng sĩ có vẻ ngoài của một người trung niên bình thường. Ông lúc nào cũng bình tĩnh luyện tập trong khi chúng tôi thì cằn nhằn và kêu ca. Hình như ông không đổ giọt mồ hôi nào cả.
Thượng sĩ không kể cho chúng tôi nghe về trải nghiệm của ông ở Việt Nam nên chúng tôi phải tìm hiểu thông qua những người khác. Ông đã phục vụ trong Đội SEAL số 1, Trung đội Delta, Đại đội 2. Đại đội ông cho rằng họ hiểu biết về Hòn Tài, một đảo lớn ở vịnh Nha Trang. Nhìn từ xa, hòn đảo dường như chỉ là một hòn đá lớn trên biển làm nơi cho chim làm tổ mà thôi. Nhưng có hai VC, mệt mỏi vì phải chiến đấu và sống xa gia đình, đã đào ngũ, trốn khỏi hòn đảo này và báo cho tình báo Mỹ về cái trại đầy VC phía sau họ. Được bóng tối che chở, nhóm 7 lính SEAL của thượng sĩ Knepper đi thuyền cập đảo. Bầu trời thậm chí không có một ánh trăng le lói. Cả nhóm leo tự do lên một vách đá cao 120m. Sau khi lên tới đỉnh, họ bò tiến vào một trại VC.
Google photo
Nhóm 7 người được chia thành hai tổ hỏa lực, tháo giày và đi chân trần để tìm bắt một chỉ huy của VC. Đi chân trần là nhằm để không lưu lại dấu giày Mỹ lộ liễu trên đất, giúp phát hiện các bẫy mìn dễ dàng hơn và dễ rút chân ra khỏi bùn hơn. Mặc dù vậy khi vào đến trại, lính VC đã khiến những người lính SEAL ngạc nhiên. Một quả lựu đạn lăn đến chân của trung úy Bob Kerrey và phát nổ, thổi tung ông về phía các tảng đá và phá nát nửa chân dưới của ông. Trung úy Kerrey liền thông báo qua điện đài cho tổ hỏa lực kia. Khi tổ này tiến đến, họ bắt được một lính VC trong một trận giao tranh ác liệt. 4 lính VC tìm cách trốn chạy nhưng lính SEAL đã hạ gục họ. 3 người khác chống cự và cũng bị tiêu diệt.
Một y tá SEAL bị hỏng một bên mắt. Một trong số những người lính SEAL băng bó chân cho Kerrey. Nhóm SEAL bắt được một vài chỉ huy VC, thu được ba túi tài liệu lớn (bao gồm danh sách lính VC trong thành phố), vũ khí và các trang thiết bị khác. Trung úy Kerrey tiếp tục chỉ huy thượng sỹ Knepper và những người khác trong đại đội cho đến khi họ được giải tán. Tin tức thu thập được từ các tài liệu và các chỉ huy VC cung cấp những thông tin quan trọng cho các lực lượng Đồng minh ở Việt Nam. Trung úy Kerrey nhận Huân chương Danh dự. Sau đó ông trở thành Thống đốc và thượng nghị sĩ Nebraska.
Các thầy giáo của chúng tôi nằm trong số những người giỏi nhất trong sự kiện này.
Buổi sáng đầu tiên huấn luyện ở BUD/S, chúng tôi lại phải thực hiện bài kiểm tra thể lực. Sau khi tắm nước lạnh và thực hiện vài động tác hít đất, chúng tôi bắt đầu. Vì sợ trượt phần thi bơi nên tôi xuất phát và sải tay bơi hết tốc lực. Cuối cùng tôi hoàn thành phần thi vừa kịp thời gian. Tiếp theo chúng tôi thi phần hít đất, đứng lên nằm xuống, hít xà đơn và chạy. Một người bị trượt; cậu ta cúi gằm mặt khi giáo viên đề nghị cậu ta đi gói ghém hành lý.
Tối hôm đó, các huấn luyện viên SEAL đứng trước chúng tôi và tự giới thiệu. Cuối cùng, đại úy Moore cho chúng tôi biết rằng chúng tôi có thể bỏ cuộc (nếu muốn) bằng cách đứng sang một bên và rung chuông ba lần. “Tôi sẽ chờ”, đại úy Moore nói. Tôi nghĩ đại úy đang đùa nhưng một số bạn học của tôi bắt đầu rung chuông.
Một số bạn học còn lại của tôi là những người thật ấn tượng: một vận động viên ba môn phối hợp có biệt danh là Người Sắt, một cầu thủ bóng bầu dục ở trường đại học Alabama và vài người khác. Một buổi tối nọ khi ở trong doanh trại, tôi soi gương và nghĩ: Những gã này như thể ngựa đua ấy. Mình đang làm cái quái gì ở đây vậy?
Ngày hôm sau, Người Sắt rung chuông. Tôi không thể hiểu tại sao.
Một trong những nội dung huấn luyện tăng cường đầu tiên của chúng tôi là Khóa vượt chướng ngại vật. Một đêm, một lính SEAL phải thoát ra khỏi một chiếc tàu ngầm bị chìm, bám chặt lấy phao cứu sinh vượt qua các con sóng, leo lên vách đá, vượt qua lãnh thổ địch để tới mục tiêu, leo lên một tòa nhà ba tầng, thực hiện nhiệm vụ và thoát ra ngoài. Khóa vượt chướng ngại vật nhằm giúp chuẩn bị cho loại nhiệm vụ đó. Ít nhất một học viên đã bị gãy cổ hoặc lưng trong khi tập luyện − leo lên đỉnh một con tàu chở hàng cao hơn 20m cũng là lúc bạn kiệt sức. Nhiều hoạt động huấn luyện của chúng tôi rất nguy hiểm, việc bị thương là chuyện cơm bữa.
Chúng tôi xếp hàng theo thứ tự họ tên trên bảng chữ cái. Tôi đứng gần cuối hàng, quan sát mọi người xuất phát trước tôi. Khi đến lượt tôi, tôi lao đi như một tên lửa hành trình. Tôi không thể hiểu nổi tại sao tôi lại vượt qua được nhiều người như vậy.
Chạy được một đoạn đường, tôi tới chân một tháp 3 tầng. Tôi nhảy lên, bám theo gờ tường để lên tầng
2 rồi tung hai chân lên. Tôi nhảy lên, bám vào gờ tường để lên tầng 3 rồi lại tung hai chân lên. Sau đó tôi trở xuống. Khi tôi tiếp tục hành trình tới các chướng ngại vật khác, tôi nhận ra có người đang bị kẹt lại trong cái tháp 3 tầng đó. Mike W., cầu thủ bóng bầu dục của trường Đại học Alabama đứng ở đó. Những giọt nước mắt thất vọng chảy tràn trên khuôn mặt vì cậu ấy không thể lên được tầng 3.
Với chất giọng vùng Georgia, huấn luyện viên Stoneclam hét lên: “Cậu có thể chạy đi chạy lại ở sân bóng của trường đại học, nhưng lại không thể vượt lên đỉnh của một chướng ngại vật. Đồ ẻo lả!”
Tôi băn khoăn không biết Mike W. gặp vấn đề gì. Cậu ấy thường sung sức hơn tôi. Đúng thế mà? (Lưng của Mike đã bị chấn thương nặng, nhưng đại úy Bailey vẫn giữ cậu ở lại điều trị trong gần một năm. Sau này cậu trở thành một sĩ quan SEAL xuất sắc).
Một số chàng vốn như ngựa đua lại là những người khóc to nhất. Họ có lẽ đã luôn là số một trong phần lớn cuộc đời, nhưng lúc này, khi lần đầu tiên nếm trải nghịch cảnh – kiểu của BUD/S – thì họ không thể kiểm soát được nữa. Những con người tự phụ này gặp vấn đề quái quỷ gì vậy nhỉ?
Mặc dù tôi luôn thấy chạy và bơi thật khó khăn, nhưng khóa vượt chướng ngại vật hoá ra lại là một trong những môn tôi ưa thích. Bobby H. và tôi thay nhau chiếm vị trí số một. Huấn luyện viên Stoneclam khuyên một học viên: “Cậu hãy xem Wasdin hạ gục các chướng ngại vật như thế nào đi.”
Tôi thà làm những việc này còn hơn là đi thu hoạch dưa hấu.
Nguy hiểm đã trở thành bạn đồng hành trung thành của chúng tôi. Dù nguy hiểm hay không, các huấn luyện viên của chúng tôi vẫn cất giọng đều đều giảng bài. Tại một lớp học ở Trung tâm Chiến tranh Đặc biệt Hải quân, huấn luyện viên Blah bước lên một chiếc thuyền cao su màu đen dài gần 5m đặt trước lớp tôi: “Hôm nay, tôi sẽ giới thiệu với các anh về bài vượt sóng. Đây là IBS. Một số người gọi đó là Tàu thủy Tí hon (Itty-Bitty Ship), còn các anh có lẽ sẽ đặt biệt danh khác, nhưng Hải quân gọi đó là Thuyền Hơi Nhỏ. 6 đến 8 người các anh có cùng chiều cao sẽ lên một chiếc thuyền. Nhóm cùng thuyền sẽ thành một đội thủy thủ.”
Google photo
Ông phác lên bảng một bức vẽ đơn giản về bãi biển, đại đương và một vài thủy thủ rải rác quanh chiếc
IBS: “Đây là các anh ngay sau khi bị một con sóng tấn công.”
Ông vẽ một thủy thủ trên bãi biển. “Đây là một trong số các anh sau khi bị sóng xô vào bờ. Hãy đoán xem còn gì nữa? Vật tiếp theo sẽ bị xô vào bờ chính là con thuyền.”
Ông Blah dùng tấm lau bảng để mô phỏng con thuyền: “Bây giờ chiếc IBS nặng 60 kg đã đầy nước và có trọng lượng tương đương một chiếc ô tô nhỏ đang tiến thẳng về phía anh trên bãi biển. Các anh sẽ làm gì? Nếu các anh đang đứng trên đường và một chiếc ô tô nhỏ lao ầm ầm về phía các anh, các anh sẽ làm gì? Cố gắng chạy nhanh hơn nó? Dĩ nhiên là không. Các anh sẽ chạy ra khỏi đường. Tương tự khi con thuyền lao về phía các anh, các anh sẽ phải thoát khỏi đường chạy của nó. Hãy chạy song song với nó đến bãi biển.”
“Một số người có vẻ buồn ngủ nhỉ. Tất cả các anh hãy nằm xuống và hít đất cho tỉnh táo đi.”
Sau khi hít đất và học thêm một chút nữa, chúng tôi đi ra ngoài khi ánh mặt trời đang nhạt dần. Chúng tôi nhanh chóng đến đứng cạnh các con thuyền của mình và hướng mặt ra biển. Những chiếc áo phao vàng to kềnh càng làm bằng sợi bông gòn bọc ngoài các bộ đồng phục chiến đấu (BDU) của chúng tôi. Chúng tôi buộc mũ vào khuyết áo trên cùng bằng một dây nhỏ màu vàng. Mỗi người chúng tôi giữ mái chèo giống như giữ súng trường trong tư thế đứng nghiêm và đợi nhóm trưởng quay lại sau khi nghe giáo viên tóm tắt nhiệm vụ.
Google photo
Không lâu sau đó, nhóm trưởng quay trở lại và ra lệnh cho chúng tôi. Một tay giữ thuyền và một tay
giữ mái chèo, tất cả các đội lao xuống nước. Người thua sẽ phải trả giá bằng chính tính mạng của mình
– bạn phải trả giá để có thể trở thành người thắng cuộc.
“Mọi người lên thuyền!”, thuyền trưởng Mike H. của thuyền tôi hô. Hai người hàng đầu nhảy lên thuyền và bắt đầu chèo. Tôi chạy xuống biển, nước gần ngập đến đầu gối. “Hai người lên thuyền!”
Hai người nữa nhảy lên và bắt đầu chèo. “Ba người lên thuyền!” Tôi và người bên cạnh nhảy lên chèo thuyền. Mike nhảy lên sau cùng, dùng mái chèo điều khiển phía đuôi thuyền: “Khoát chèo, khoát chèo!” anh ra lệnh.
Trước mặt chúng tôi, một con sóng cao hơn 2m nổi lên. Tôi dận sâu mái chèo và lấy hết sức đẩy về phía sau.
“Dấn sâu xuống, dấn xuống, dấn xuống”, Mike ra lệnh. Con thuyền của chúng tôi vượt lên con sóng. Tôi nhìn thấy một chiếc thuyền khác đã né được đỉnh sóng. Nhưng chúng tôi không may mắn như vậy. Con sóng nhấc tung chúng tôi lên và ném xuống, làm chúng tôi kẹt giữa thuyền và nước.
Khi biển nuốt gọn chúng tôi, tôi đụng phải những chiếc ủng, mái chèo và uống phải nước biển lạnh lẽo.
Tôi nhận ra rằng, điều này có thể giết chết tôi.
Cuối cùng, sóng biển đẩy chúng tôi lên bãi biển cùng với phần lớn các thủy thủ khác. Những huấn luyện viên chào đón bằng cách bỏ mặc chúng tôi. Đặt chân đi ủng trên thuyền, đặt tay trên cát để cho trọng lực Trái đất hút lấy người, chúng tôi tập hít đất.
Sau đó chúng tôi tập trung trở lại tiếp tục tập luyện với quyết tâm cao hơn và phối hợp tốt hơn. Lần này, chúng tôi đã vượt qua được tất cả những con sóng lớn đó.
Trở lại bờ, có một học viên với khuôn mặt trẻ măng ở đội khác nhặt mái chèo của mình trên bãi biển. Khi cậu ta quay mặt về hướng biển, một con thuyền không ngập đầy nước biển đang lao vào cậu ta từ hướng bên cạnh. Huấn luyện viên Blah hét vào loa: “Tránh khỏi đó ngay!”.
Anh chàng chạy trốn khỏi chiếc thuyền đúng như cách mà các huấn luyện viên khuyên chúng tôi không nên làm. Nỗi sợ hãi có thể biến những nhà thông thái thành thằng ngốc.
“Chạy song song vào bờ! Chạy song song vào bờ!”
Cậu học viên tiếp tục cố gắng chạy đọ sức với chiếc thuyền đang lao vùn vụt. Con thuyền lao ra khỏi nước và trượt như một chiếc tàu đệm khí trên nền cát ướt và cứng. Khi ra khỏi vùng cát đó, theo đà con thuyền lao sang vùng cát khô và mềm cho đến khi nó đâm mạnh vào cậu ta, khiến cậu ta gục xuống. Huấn luyện viên Blah, những huấn luyện viên khác và đội cứu thương lao về phía anh chàng bị thương.
Doc, một trong những huấn luyện viên của SEAL, bắt đầu sơ cứu. Không ai nghe thấy “mặt trẻ con” kêu la vì đau. Con thuyền đã làm gãy xương đùi của cậu ta.
Khi chương trình huấn luyện tiếp tục, các mối nguy hiểm càng tăng. Trong nội dung huấn luyện sau, thay vì đưa các con thuyền vào bờ cát khi trời còn sáng, chúng tôi đưa thuyền vào bãi đá cuội phía trước khách sạn del Coronado vào ban đêm, khi những tầng nước biển dội vào chúng tôi từ hai hướng. Có truyền thuyết rằng bãi đá này trước đây vốn chỉ là một tảng đá cho đến khi những cái đầu của các học viên BUD/S “ghè vụn” nó ra.
Mặt trời khuất sau phía chân trời khi chúng tôi hành quân cấp tốc qua Căn cứ Đổ bộ Hải quân bên kia đường. Trên mình là những bộ quân phục xanh giống nhau, chúng tôi hát theo nhịp chân đi, nhìn qua thì có vẻ tự tin nhưng thực ra hết sức căng thẳng. Nếu ai đó sắp phải chết thì quả thực thời khắc đó sắp điểm rồi.
Chúng tôi đến một bể bơi ở tòa nhà 164, cởi quần áo ngoài và để lại quần bơi UDT. Một huấn luyện viên nói: “Các anh sẽ thích nội dung này. Thử thách Đuối nước là một trong những nội dung ưa thích của tôi. Chìm hay bơi, tùy các bạn thân yêu.” Tôi trói hai chân lại với nhau còn bạn bơi của tôi thì buộc quặt hai bàn tay của tôi ra sau lưng. “Khi tôi phát lệnh, người bị trói sẽ nhảy xuống chỗ sâu nhất đáy bể”, huấn luyện viên Stoneclam nói. “Các anh phải nhô lên và chìm xuống 20 lần, nổi trong 5 phút, rồi bơi đến phần nông ở cuối bể đằng kia, quay lại mà không được chạm vào đáy, bơi trở lại phần sâu ở cuối bể đằng này, thực hiện một động tác nhào lộn tiến và lùi dưới nước và nhặt chiếc mặt nạ ở đáy bể bằng răng của mình”.
Phần khó nhất đối với tôi là bơi theo chiều dài của bể và quay trở lại khi hai chân bị trói và tay thì bị buộc quặt ra sau lưng. Tôi phải quẫy như một chú cá heo. Ngay cả như vậy thì tôi thà làm điều đó còn hơn là tỉnh dậy sau khi bị đuối nước và bị xung quanh dè bỉu.
Mặc dù tôi hoàn thành nhiệm vụ nhưng một số người khác thì không. Chúng tôi mất một học viên da đen vạm vỡ bởi vì thân thể của cậu ta nặng đến mức ngay lập tức chìm như một hòn đá xuống đáy bể. Một y tá gầy gò có mái tóc đỏ nhảy xuống nước, nhưng thay vì bơi thẳng, anh ta bơi theo hình móng ngựa. Một huấn luyện viên nhắc: “Bơi thẳng đi. Anh làm sao vậy?” Sau đó các huấn luyện viên phát hiện ra rằng Tóc đỏ gần như bị mù. Anh ta đã giả mạo chứng nhận sức khỏe để được nhận vào BUD/S.
Trong số những anh chàng nỗ lực hết sức để được vào đây, có người có tư tưởng bỏ cuộc. Tuy nhiên
Stoneclam sẽ không để họ làm vậy.
“Các anh không thể bỏ cuộc lúc này!”, giảng viên Stoneclam kêu lên, “Đây mới chỉ là phần lý thuyết.
Quá trình huấn luyện còn chưa bắt đầu đâu!” Chúng ta vẫn chỉ đang trong giai đoạn học lý thuyết mà thôi.
Sau 3 tuần học lý thuyết, chúng tôi bắt đầu bước vào Giai đoạn I − Thích nghi Cơ bản. Quân số lớp tôi tiếp tục giảm do có những người không hoàn thành được nội dung, bị thương và bỏ học. Tôi tự hỏi tôi có thể trụ được bao lâu nữa mà không bị loại vì không hoàn thành nội dung hoặc bị thương. Dĩ nhiên, hình phạt thông dụng nhất là đá đít. Đối với học viên để lộ sự đau đớn lên mặt khi nhận hình phạt, huấn luyện viên sẽ nói: “Anh không thích điều đó à? Được, vậy thêm vài cái nữa.” Đối với học viên không tỏ ra đau đớn cũng vậy: “Anh thích thế à? Thêm một cú nữa này.” Sự nhọc nhằn tiếp tục: hít đất, chạy, hít đất, thể dục mềm dẻo, hít đất, bơi, hít đất, vượt chướng ngại vật… ngày này qua ngày khác, tuần này qua tuần khác. Chúng tôi chạy liền 1,6 km chỉ để ăn một bữa cơm. Hai lượt đi và về nhân với 3 bữa là thành gần 10 km mỗi ngày chỉ để ăn! Chúng tôi dường như không bao giờ có đủ thời gian để hồi sức trước khi đến phần huấn luyện tiếp theo. Nặng nề nhất là việc các huấn luyện viên thường đổ thêm dầu vào lửa bằng những lời lẽ xúc phạm. Nhiều người trong số họ không cần phải cao giọng lên để nói với chúng tôi: “Bà ngoại lề mề nhưng vì bà già rồi.”
Mỗi chúng tôi dường như đều có gót chân Asin và các huấn luyện viên rất giỏi phát hiện điều đó. Nội dung huấn luyện khó nhất đối với tôi là chạy bấm giờ 6,5 km trên bãi biển khi đang mặc quần dài và xỏ giày đi rừng. Tôi thấy khiếp sợ. Cát mềm hút hết năng lượng khỏi chân của tôi và những con sóng tấn công tôi khi tôi cố gắng chạy trên nền cát cứng. Một số người vượt lên trước, một số người chạy giữa và những người khác như tôi chạy đằng sau. Gần như lần nào cũng vậy, ở điểm đánh dấu 3,2 km ở hàng rào Đảo Bắc (North Island) sẽ có một huấn luyện viên cảnh cáo: “Wasdin, cậu đang bị tụt lại đấy. Cậu sẽ phải chạy bù trên đường về.” Sau mỗi lần, yêu cầu thời gian càng phải ngắn hơn.
Tôi trượt một vòng chạy 6,5 km, chỉ chậm một vài giây thôi. Trong khi những người khác quay trở lại doanh trại, khoảng 4 – 5 người cũng bị trượt cùng với tôi hợp thành một nhóm tội đồ. Sau khi đã cố gắng hết sức trên đường chạy, tôi biết rằng điều này sẽ vô cùng khó chịu. Chúng tôi chạy nước rút lên và xuống con đường cát, nhảy vào nước lạnh, rồi cuộn lên và lăn xuống con đường cát cho đến khi thân thể ướt đẫm của chúng tôi trông như những viên kẹo đường. Cát chui vào mắt, vào mũi, vào tai và vào mồm tôi. Chúng tôi tập thể dục mềm dẻo, thể dục thể hình và tất cả các động tác nhào lộn cho đến khi cát cào xước da, chảy máu và mọi cơ bắp đều rã rời. Đó là lần đầu tiên và cũng là duy nhất tôi phải làm tội đồ. Tôi có thể mệt đến chết trong vòng chạy tới nhưng nhất định không để điều đó xảy ra nữa. Một học viên có tài bơi như rái cá nhưng lại tham gia nhóm tội đồ hết lần này đến lần khác vì không hoàn thành được bài tập chạy này. Tôi băn khoăn không biết làm thế nào mà anh ấy trụ được tất cả những lần làm tội đồ.
Trong Giai đoạn I, có một nội dung còn kinh khủng hơn cả việc chạy bấm giờ trong 6,5 km, đó là Tuần Địa ngục (Hell Week) – phần huấn luyện tối ưu nhất trong huấn luyện những người tốt nhất, loại bỏ những người còn lại. Tuần Địa ngục bắt đầu từ đêm Chủ nhật với cái gọi là “thoát ra bằng vũ lực”. Các khẩu súng máy M-60 xé toạc không khí. Sau khi một huấn luyện viên truyền khẩu lệnh: “Di chuyển, di chuyển, di chuyển!”, chúng tôi bò ra khỏi doanh trại.
Ở bên ngoài, trên khoảng sân trải nhựa đường có diện tích tương đương một bãi đậu xe nhỏ, các khẩu pháo giả phát hỏa, tiếng kêu thét vang lên và sau đó là tiếng bom nổ. Các khẩu M-60 tiếp tục lên nòng. Chiếc máy phun khói tạo ra một màn khói bao phủ toàn khu vực. Những thanh nhựa phát quang xanh bừng sáng cả khu vực ngoài doanh trại. Vòi nước nhằm thẳng người chúng tôi. Mùi thuốc nổ ngột ngạt trong không khí. Loa phóng thanh phát bài “Con đường tới địa ngục” của nhóm nhạc AC/DC.
Nỗi khiếp sợ trùm lên khuôn mặt của nhiều người. Cặp mắt họ thật hốt hoảng. Chỉ khoảng vài phút sau, chuông bắt đầu kêu − có người bỏ cuộc. Bạn không thể nghiêm túc được. Có vấn đề gì đâu? À, các huấn luyện viên đang chạy vòng quanh bắn các khẩu súng máy và làm mọi thứ khác, nhưng không ai tát vào mặt hay dùng dây thắt lưng để đánh tôi cả. Tôi không thể hiểu tại sao có người đã bỏ cuộc rồi. Tất nhiên là tuổi thơ khắc nghiệt của tôi đã giúp tôi chuẩn bị cho thời điểm này. Không chỉ về thể chất, tôi biết rằng về tinh thần mình cũng chế ngự được nỗi đau và công việc nặng nhọc và tôi có thể làm được nhiều hơn thế. Việc bố tôi đặt kỳ vọng lớn vào tôi khiến tôi cũng phải đặt kỳ vọng cho chính mình. Trong tâm trí, tôi có niềm tin vững chắc mình sẽ không bỏ cuộc. Tôi không nhất thiết phải bày tỏ niềm tin đó bằng lời − lời nói rất rẻ mạt. Niềm tin của tôi là thực. Nếu không có niềm tin mạnh mẽ ấy, hẳn tôi đã thất bại rồi.
Tuần Địa ngục huyền thoại có một sự kiện đáng nhớ diễn ra trên một bến tàu − nơi neo đậu những con thuyền nhỏ của lực lượng Hải quân. Chúng tôi cởi giày rồi nhét tất và thắt lưng vào trong. Các ngón tay của tôi tê cóng và run rẩy đến mức vất vả lắm tôi mới cởi được giày ra.
Mặc bộ quân phục màu xanh xám ô liu, chúng tôi nhảy xuống vịnh mà không có áo phao, giày hay tất. Tôi nằm theo tư thế của một người chết trong khi tìm cách cởi cúc quần. Những lúc cần không khí tôi nhô mặt ra khỏi làn nước lạnh, nhanh chóng hít đầy oxy rồi lại úp mặt xuống nước. Khi bắt đầu chìm quá nhanh, tôi sải bơi hai nhịp và rút quần ra khỏi người. Sau đó tôi kéo khóa quần lại.
Google photo
Tôi thắt một nút kép ở chiếc quần đã cởi để buộc hai gấu lại với nhau. Sau đó tôi dùng hai tay giữ hông và đạp nước cho đến khi toàn thân đứng thẳng lên. Tôi giơ chiếc quần lên, ném ra phía trước và để nó rơi xuống mặt nước cho không khí ập vào trong các ống quần.
Khi nửa người bên trên của tôi đã được giữ ở chỗ lõm của chiếc phao tự tạo bằng quần hình chữ V của mình, tôi thấy nhẹ nhõm. Tôi đã sợ bị đuối nước đến mức quên mất nước biển lạnh thế nào. Còn bây giờ, khi không còn sợ đuối nước nữa, tôi bắt đầu cảm nhận được cái lạnh.
Một vài người trong chúng tôi đang bơi trở lại bến tàu. Chúng tôi cố gọi họ quay trở lại, nhưng với họ như vậy đã đủ rồi! Rinh, rinh, rinh.
Huấn luyện viên Stoneclam nói: “Nếu có thêm một người nữa trong số các anh rung chuông thì số người còn lại cũng có thể lên bờ. Bên trong xe cấp cứu chúng tôi có chăn ấm và một bình café nóng đấy.”
Sau khi một người nữa rung chuông, Stoneclam nói: “Tất cả mọi người lên đi!”. “Hu-a!”
Chúng tôi rời khỏi mặt nước và lên bến tàu. Huấn luyện viên Stoneclam nói: “Bây giờ hãy cởi hết đồ và nằm xuống bến tàu. Nếu không có quần đùi, nằm khỏa thân cũng tốt.”
Google photo
Tôi cởi hết quần áo và nằm xuống. Các huấn luyện viên đã xả nước làm sạch bến tàu. Còn Mẹ Thiên nhiên lại thổi những cơn gió lạnh buốt. Tôi cảm thấy như đang nằm trên một khối băng. Sau đó các huấn luyện viên xịt nước lạnh lên người chúng tôi. Cơ bắp của chúng tôi co cứng lại. Sự co thắt này không thể kiểm soát được. Chúng tôi đập người vào sàn thép như những chú cá mắc cạn.
Các huấn luyện viên đang giúp đưa chúng tôi đến những giai đoạn đầu của việc giảm thân nhiệt. Tôi sẽ làm bất cứ việc gì để thấy ấm hơn. Mike nói: “Xin lỗi anh bạn nhé, tôi sắp tè đây”.
“Được, anh tè đi.”
Anh ta tè lên hai bàn tay tôi.
“Ôi, cảm ơn anh bạn”. Cảm giác ấm áp thật là tuyệt.
Nhiều người sẽ cho rằng điều đó thật là gớm ghiếc, bởi vì họ rõ ràng chưa bao giờ biết cái lạnh thực sự là như thế nào. Đêm thứ Tư, khi đã đi qua được nửa Tuần Địa ngục, tôi nghĩ đến việc bỏ cuộc. Các huấn luyện viên không lãng phí thời gian mà bắt đầu cho chúng tôi bài tập Bước nhảy của Lyon (tên một người lính SEAL ở Việt Nam). Chúng tôi chèo con thuyền bơm hơi màu đen của mình khoảng 250m ra các tháp cao ở vịnh San Diego, lật úp thuyền lại, dựng sườn bên phải lên (gọi là “đổ thuyền”, chèo trở lại bờ, cầm mái chèo chạy 0,8 km, ném mái chèo vào thùng một chiếc xe tải, ngồi theo hình một con rết ở trên vịnh, chèo bằng tay không khoảng 400 m, chạy 600 m, nắm lấy mái chèo để chèo theo hình chân rết 400 m, lên thuyền và chèo ra các tháp cao rồi lại quay vào bờ. Tất cả chúng tôi đã trải qua nội dung Giảm thể nhiệt Giai đoạn II. Giai đoạn I là run rẩy từ mức nhẹ đến mạnh với những ngón tay tê cóng – nhiều người đã trải qua mức giảm thể nhiệt này. Giai đoạn II là run khủng khiếp với mức rối loạn nhẹ. Trong Giai đoạn III, thân nhiệt trung tâm giảm xuống dưới 90 độ F (tương đương khoảng 32,2o C), trạng thái run rẩy dừng lại và bạn trở thành một thằng ngốc lập cà lập cập. Không có Giai đoạn IV – chỉ có cái chết mà thôi. Các huấn luyện viên tính toán nhiệt độ không khí và nước cùng với độ dài thời gian chúng tôi ở dưới nước để làm cho chúng tôi lạnh hết mức mà không gây ra tổn thương lâu dài hay giết chết chúng tôi.
Chúng tôi chỉ được vào phòng khi nhấn chuông. Những người cùng lớp tôi bấm chuông cứ như là Coronado bị hỏa hoạn vậy. Huấn luyện viên đến từ phía sau xe cứu thương và mở cửa. Ở bên trong, các bạn học cũ của tôi đang cuộn người trong những chiếc chăn len và uống socola nóng. Huấn luyện viên Stoneclam nói: “Đến đây, Wasdin. Cậu kết hôn rồi đúng không?”
“Vâng”. Các cơ bắp của tôi kiệt sức không thể di chuyển được nữa, nhưng chúng lại run rẩy khủng khiếp.
“Anh không cần cái này. Lại đây.”
Ông đi cùng tôi đến đuôi mấy xe cứu thương để tôi có thể cảm thấy hơi ấm của chúng phả vào mặt mình: “Hãy uống cốc socola nóng này đi.” Tôi giữ nó trong tay. Quả là ấm áp.
“Nếu chúng tôi muốn cậu có vợ, chúng tôi sẽ cấp cho cậu một người.” Ông giải thích: “Hãy đi ra phía đằng kia và rung cái chuông quái quỷ đó đi. Hãy kết thúc chuyện này đi. Tôi sẽ để cho cậu uống chỗ socola nóng đó. Đặt cậu vào trong chiếc xe ấm áp này. Bọc cậu trong một chiếc chăn dày và cậu không phải chịu đựng điều này nữa”.
Tôi nhìn vào cái chuông. Điều đó dễ thôi mà. Tất cả những gì tôi cần làm là kéo cái dây đó 3 lần. Tôi nghĩ về những chiếc xe cứu thương ấm áp có chăn và socola nóng. Sau đó tôi chợt nhận ra. Đợi chút đã. Tôi suy nghĩ chưa kỹ càng. Đó chính là sự bỏ cuộc. “Hu-a, thầy Stoneclam!” Tôi trả lại cốc socola nóng cho ông.
“Trở lại lớp của cậu đi.”
Đưa trả lại cho ông cốc socola nóng đó quả là điều khó khăn nhất mà tôi từng làm. Hãy để tôi trở lại và rét cóng dù cho bộ hạ của tôi có bị sút thêm vài lần nữa.
Đội thủy thủ của Mike H. và tôi có 6 người, trước khi 4 người khác bỏ cuộc. Bây giờ chỉ còn có hai chúng tôi cố gắng kéo con thuyền nặng gần 100 kg trở về trại của BUD/S trong khi các huấn luyện viên la mắng chúng tôi vì quá chậm chạp. Chúng tôi chửi bới mấy người bỏ cuộc: “Các anh là đồ chết tiệt.” Sự tức giận của chúng tôi kéo dài ngay cả khi đã về tới trại.
Từ chỗ coi họ là bạn, Mike và tôi quay sang nguyền rủa họ vì đã bỏ mặc chúng tôi. Đó là lý do vì sao việc huấn luyện lại khắc nghiệt đến vậy. Để tìm ra ai sẽ là người trợ giúp bạn trong những điều kiện khắc nghiệt nhất. Sau đêm thứ Tư, tôi không nhớ có ai khác bỏ cuộc nữa không.
Sáng sớm thứ Năm, tôi ngồi trong phòng ăn. Họ sắp giết mình đây. Sau tất cả những gì mà tôi đã trải qua, họ sẽ cắt tôi thành từng mảnh và đóng gói gửi bưu chính về Hạt Wayne, Georgia bởi vì bây giờ tôi không bỏ cuộc nữa. Ở bên trong tôi, có gì đó như sự bừng tỉnh. Những gì chúng tôi làm tiếp theo không còn quan trọng nữa. Tôi không quan tâm. Chuyện này rồi cũng phải đến lúc kết thúc thôi.
Thiếu sự trợ giúp của những người xung quanh và sự đáp ứng của chính cơ thể mình, điều duy nhất nâng đỡ chúng tôi là niềm tin sẽ hoàn thành nhiệm vụ − hoàn tất Tuần Địa ngục. Trong tâm lý học, niềm tin này được gọi là “hiệu quả tự thân”. Ngay cả khi nhiệm vụ có vẻ bất khả thi nhưng chính sức mạnh niềm tin của chúng ta sẽ giúp chúng ta đạt được thành công. Nếu thiếu niềm tin đó, thất bại là tất yếu. Một niềm tin mạnh mẽ vào nhiệm vụ kích thích khả năng tập trung, tăng cường các nỗ lực, tính bền bỉ và sự quyết tâm. Sự tin tưởng giúp chúng ta nhận thức được mục tiêu (hoàn thành Tuần Địa ngục) và giảm mục tiêu đó xuống thành các mục tiêu khả thi hơn (hoàn thành từng nội dung). Nếu nội dung đó là một cuộc đua thuyền, có thể giảm thành các mục tiêu nhỏ hơn nữa, ví dụ như chèo được thuyền. Sự tin tưởng giúp chúng ta tìm ra cách thức để đạt được mục tiêu, ví dụ như dùng cơ vai to khỏe để chèo thuyền thay vì dùng các cơ cẳng tay bé nhỏ. Sau đó, khi cuộc đua đã xong, chuyển sang nội dung tiếp theo. Nghĩ ngợi quá nhiều về những gì đã và sẽ xảy ra chỉ làm bạn mòn mỏi. Hãy sống với hiện tại và tiến lên từng bước một.
Kể từ tối Chủ nhật cho đến đêm thứ Năm, chúng tôi chỉ ngủ tổng cộng khoảng 3 – 4 tiếng. Thế giới trong mơ bắt đầu lẫn lộn với thế giới thực và chúng tôi bị ảo giác. Tại phòng ăn, trong khi những cái đầu đang gật gù bên đồ ăn và mắt thì trũng sâu vì thiếu ngủ, một huấn luyện viên nói: “Wasdin, tôi muốn cậu cầm lấy con dao cắt bơ này, đi qua đằng kia và giết con hươu ở góc đó.”
Chậm chạp ngẩng đầu lên khỏi bát yến mạch, tôi nhìn sang phía đó và quái quỷ thật, có một chú hươu đứng trong phòng ăn. Tôi không thể nghĩ ra được tại sao con hươu lại ở đây hay là nó vào bằng cách nào nữa. Lúc này tôi được giao nhiệm vụ. Tôi bước đến bên nó với con dao Rambo trên tay và sẵn sàng thực hiện động tác chém giết của mình.
Huấn luyện viên Stoneclam hét lên: “Wasdin, anh làm gì vậy?” “Chuẩn bị giết chú hươu này, thưa thầy Stoneclam.” “Nhìn xem, đó là bàn đựng khay thức ăn. Là dụng cụ để đưa và nhắc khay thức ăn ra khỏi bếp.” “Cái…gì? Sao nó lại biến thành một cái bàn đựng khay thức ăn được nhỉ?”
“Hãy đặt cái mông ngu ngốc của cậu xuống và ăn cho xong đi” − huấn luyện viên Stoneclam nói.
Mọi người được một tràng cười lớn.
Google photo
Sau đó, Mike H., Bobby H. và những người còn lại trong đội chúng tôi chèo thuyền từ Trung tâm Chiến tranh Đặc biệt Hải quân theo hướng Nam đến Công viên Silver Strand. Chặng đường chỉ gần 10 km mà như thể chúng tôi đang chèo tới Mexico vậy. Chèo, ngủ gục, chèo, ngủ gục… Đột nhiên, Bobby gõ vào đáy thuyền và hét lên: “A a a…”
“Cái quái gì vậy?” – Tôi hỏi. “Con rắn to quá!” − Bobby kêu lên.
Chúng tôi giúp cậu ta giết con rắn. “Rắn!”
Một người dừng lại: “Đó là cái nút thừng.” Chúng tôi đang đánh cái dây thừng dùng để giữ chặt mũi thuyền.
Tất cả chúng tôi nhìn vào chiếc dây thừng và trở lại bình thường.
Năm phút sau, Mike hét lên: “A a a..!” “Con rắn quay lại à?” − Tôi hỏi.
Ánh sáng từ thành phố chiếu sáng bầu trời.
“Tôi vừa nhìn thấy gương mặt của ba tôi trên những đám mây”, Mike nói. Tôi ngước lên. Đúng là tôi nhìn thấy gương mặt của cha cậu ấy trên những đám mây. Tôi chưa bao giờ gặp cha cậu ấy và không biết ông trông thế nào, nhưng tôi nhìn thấy gương mặt người cha của Mike trên những đám mây.
Một người khác trong lớp chúng tôi, Randy Clendening, bị hói. Mọi chỗ: đầu, lông mày, lông mi, nách và cả bẹn nữa – đều nhẵn nhụi. Khi còn nhỏ, cậu ta ăn một vài quả dâu đỏ và sốt cao đến mức tất cả các nang lông đều bị triệt hẳn. (Khi cậu ta tới Đội SEAL 2, có người gọi cậu ta là Kemo − cách gọi tắt của Hoá trị. Cái biệt danh ấy gắn mãi với cậu ta). Trong suốt Tuần Địa ngục, Randy thở khò khè và nói năng lắp bắp.
“Cậu có ổn không, Randy?” − Tôi hỏi.
“Các huấn luyện viên vừa bảo là ‘cái bộ chế hòa khí’ của tôi bị bẩn”.
“Ôi, có bộ chế hòa khí bẩn chắc khiếp lắm.” Tôi đã không nghĩ rằng Randy có dịch ở trong phổi. Các huấn luyện viên đã tính đến việc cho cậu ta tham gia khóa học sau để cậu ta có thể hồi phục nhưng điều đó có nghĩa là cậu ta sẽ lại phải tham gia Tuần Địa ngục từ đầu trong khi chúng tôi sắp xong đến nơi rồi.
Vào thứ Sáu, các huấn luyện viên đưa chúng tôi ra khu vực lướt sóng. Chúng tôi khoanh tay ngồi trong giá lạnh hướng ánh nhìn ra biển, cố gắng ở lại cùng nhau. Huấn luyện viên Stoneclam đứng trên bãi biển nói từ phía sau lưng chúng tôi. “Đây là lớp học đáng tiếc nhất mà chúng tôi từng biết. Lớp các anh thậm chí còn không giữ lại được một học viên sĩ quan nào”. Các sĩ quan và tân binh được huấn luyện cùng nhau. “Các anh không ủng hộ họ. Các anh không hỗ trợ họ. Chính do các anh mà không còn sĩ quan nào ở lại. Bài tập cuối cùng này các anh làm chậm nhất từ trước tới giờ. Chúng tôi vừa nhận được chấp thuận của đại úy Bailey cho phép kéo dài Tuần Địa ngục thêm một ngày nữa.”
Tôi nhìn sang Rodney, bạn bơi của mình. Cậu ta dường như đang nghĩ giống tôi: Chết tiệt, chúng ta lại phải làm việc này thêm một ngày nữa. Được thôi, các ông đã quay chúng tôi lâu như vậy, vậy hãy cho chúng tôi làm cái trò ngu ngốc này thêm một ngày nữa đi.
Có một người, tôi không nhớ là ai, không định tham gia thêm một ngày nữa. Cậu ấy muốn bỏ cuộc.
May mắn là cậu ấy đã không làm như vậy.
“Quay lại và nhìn vào tôi khi tôi đang nói chuyện với các anh!” − Huấn luyện viên Stoneclam nói.
Cứng đờ như những thây ma, chúng tôi quay lại.
Viên sĩ quan chỉ huy của chúng tôi đứng đó, đại úy Larry Bailey. Ông đã từng lãnh đạo một trong những trung đội đầu tiên của Đội SEAL 2 ở Việt Nam. Ông cũng từng hỗ trợ việc xây dựng Đội thuyền Đột kích của SEAL. “Chúc mừng các anh. Tôi tuyên bố các anh đã hoàn thành Tuần Địa ngục.”Một vài người nhảy lên vì vui sướng, nhưng tôi cảm thấy tổn thương ghê gớm với kiểu chúc mừng như vậy. Randy Clendening trào nước mắt nhẹ nhõm; cậu ấy đã vượt qua mặc kệ căn bệnh viêm phổi thường trực trong người. Tôi đứng đó với một cái nhìn câm lặng. Tôi đang làm gì ở đây vậy? Tôi nhìn quanh. Mọi người đi đâu hết rồi? Chúng tôi khởi đầu với 10 hoặc 12 đội thuyền, 6 đến 8 người mỗi đội. Bây giờ chúng tôi chỉ còn 4 hoặc 5 đội thuyền. Tại sao những người đó bắt đầu Tuần Địa ngục nếu họ biết rằng họ không muốn nó? Họ không biết rằng họ không cần nó.
Các nhân viên y tế đưa Randy thẳng đến bệnh xá để kiểm tra sức khỏe. Họ cũng kiểm tra những người còn lại. Một vài người bị viêm da do nhiễm trùng từ các vết cắt ăn sâu vào trong da. Một số người khác thì bị giãn dây chằng ở khung xương chậu, trên hông, đầu gối, gây ra hội chứng đau buốt ở khớp (ITBS). Tất cả chúng tôi đều bị các vết sưng. Bác sĩ kiểm tra xuống bắp chân của tôi và bóp mạnh. Khi ông bỏ tay ra, tôi thấy vệt lõm hình bàn tay của ông hằn lên. Họ cũng kiểm tra “vi khuẩn ăn-thịt”(thật ra là vi khuẩn tiết độc tố hủy hoại da và cơ chứ không phải là vi khuẩn ăn thịt). Do chấn thương ở khắp người, từ đầu tới chân, nên chúng tôi là những món ăn ngon cho cái bọn vi khuẩn giết người ấy.
Tôi đi tắm, sau đó uống chút Gatorade. Trong doanh trại, trên đỉnh giá đựng đồ dùng cá nhân gắn với chiếc giường đôi có đặt chiếc áo phông màu nâu. Một người bạn đã tặng món quà đó cho tôi sau Tuần Địa ngục. Chúng tôi dùng tiền trợ cấp để tự mua đồ lót, nhưng chỉ những học viên đã hoàn thành Tuần Địa ngục mới được phép mặc áo phông màu nâu. Tôi vô cùng hạnh phúc khi có chiếc áo đó. Tôi nằm xuống và chìm vào giấc ngủ. Mọi người theo dõi chúng tôi trong khi chúng tôi ngủ để chúng tôi không bị ngạt thở, sặc nước bọt hay đơn giản là ngừng thở do quá mệt.
Ngày hôm sau, như mọi hôm, tôi lại trườn qua đỉnh cái giá đựng đồ dùng và nhảy ra khỏi giường, tuy nhiên những cái chân không nghe lời tôi. Tôi đập mặt vào bàn, máu từ mồm và mũi chảy ra. Tôi cố gắng gọi điện cho Laura (cuộc gọi do người nhận điện thoại trả tiền) để thông báo với cô ấy là tôi đã qua được Tuần Địa ngục nhưng khi người trực tổng đài bắt máy thì tôi nói không thành tiếng. Phải mấy giờ sau thì giọng nói của tôi mới hồi lại.
Một người lái xe đưa chúng tôi đến phòng ăn bằng một chiếc xe tải nhỏ. Mọi người giúp chúng tôi ra khỏi xe. Khi chúng tôi tập tễnh bước vào phòng, tất cả các con mắt dường như đổ dồn vào chúng tôi. Chúng tôi là những người vừa mới vượt qua “tuần đó”. Đó là tuần lễ lạnh nhất trong 23 năm: có những lúc mưa đá cứ rơi tới tấp xuống chúng tôi. Trong khi ăn, tôi nhìn sang bàn của những người đã bỏ cuộc trong Tuần Địa ngục. Họ tránh ánh mắt của chúng tôi.
Tôi đã van xin một trong số họ đừng rung chuông, nhưng cậu ta đã bỏ mặc Mike và tôi kéo chiếc thuyền đó. Ít nhất thì cậu ta cũng có thể chờ cho đến khi chúng tôi đã đưa được chiếc thuyền đó về doanh trại. Cậu ta bước đến bàn tôi và nói: “Mình xin lỗi. Mình biết mình đã làm cậu thất vọng nhưng chỉ vì mình không thể chịu đựng thêm được một chút nào nữa.”
Tôi nhìn cậu ta: “Biến đi cho khuất mắt tôi.”
Việc huấn luyện tiếp tục một cách chậm chạp, bắt đầu bằng rất nhiều bài tập thể dục mềm dẻo. Sau đó tăng dần tốc độ, giới hạn thời gian chặt chẽ hơn, gia tăng các khoảng cách, bơi dài hơn, chạy xa hơn và thử nghiệm các bài tập vượt chướng ngại vật. Các bài kiểm tra lý thuyết cũng được tiếp tục. Trước Tuần Địa ngục, chúng tôi đã tập trung vào các chủ đề như sơ cứu và chèo thuyền. Bây giờ chúng tôi tập trung vào trinh sát thủy văn. Các tân binh như tôi phải đạt 70% trở lên. Mặc dù chúng tôi đã mất tất cả các sĩ quan, nhưng tiêu chuẩn với các sĩ quan là từ 80% trở lên. Một bài tập mới mà chúng tôi phải đạt là bơi 50 mét dưới nước. Ở bể bơi, huấn luyện viên Stoneclam nói: “Tất cả các anh phải bơi 50m dưới nước. Các anh sẽ thực hiện một cú nhảy lộn nhào xuống bể, vì thế không được bắt đầu bằng việc lặn mà phải bơi ngang 25m. Chạm tay vào đích và bơi 25m quay trở lại. Nếu các anh nổi lên mặt nước dù chỉ một lần, các anh sẽ trượt. Đừng quên bơi dọc theo đáy bể.Áp lực gia tăng lên phổi sẽ giúp các anh nín thở được lâu hơn, nhờ đó có thể bơi được xa hơn.”
Tôi xếp hàng cùng với nhóm thứ hai gồm 4 học viên. Chúng tôi hoan hô khi nhóm thứ nhất bắt đầu. “Đạt đến sự vô thức tạm thời nhé”, một vài người chúng tôi nói. Đó là một cách tư duy mới ảnh hưởng đến các hoạt động trong tương lai – đẩy thân thể đến trạng thái vô thức.
Đến lượt mình, tôi thở nhanh để làm giảm lượng carbon dioxide trong người và làm thông mạch thở. Trong khi lộn nhào xuống bể, tôi mất vài hơi. Tôi tự định hướng và bơi chậm hết mức. Sau khi bơi 25 m, tôi đã gần tới phía bên kia. Khi quay lại, chân tôi chạm vào bức tường nhưng bị bật lại không mạnh lắm.Cổ họng tôi bắt đầu co giật vì phổi cần thêm oxy. Đạt đến sự vô thức. Tôi bơi nhanh hết sức nhưng toàn thân chậm lại. Đường nhìn của tôi bắt đầu xám đi cho đến khi tôi nhận thấy mình đang nhìn về đích qua một đường hầm tối đen. Khi bản thân bắt đầu như mê đi, tôi thực sự cảm thấy thanh bình. Nếu tôi từng có ý nghĩ thoáng qua nào đó chuyện đuối nước thì chúng quả là đã biến mất rồi. Tôi cố gắng tập trung vào bức tường. Cuối cùng, tay tôi đã chạm vào nó. Huấn luyện viên Stoneclam chộp lấy dây thắt lưng của tôi và giúp tôi ra ngoài. Tôi đã đạt. Những người khác không may mắn như thế. Hai người đã bị trượt lần thứ hai và bị loại khỏi đợt huấn luyện. (Xin lưu ý là đừng thực hành bơi dưới nước hoặc nín thở ở nhà bởi vì nó sẽ giết chết bạn đấy).
Một bài tập quan trọng khác sau Tuần Địa ngục là thắt nút dây ở dưới nước. Chỉ mặc những chiếc quần soóc UDT, lớp tôi leo cầu thang bên ngoài lên đỉnh tháp lặn và bước vào trong. Ở bên trong, tôi đi xuống vùng nước ấm. Độ sâu là khoảng 20m. Tôi sẽ phải lặn xuống 5m và thắt 5 nút: nút thợ dệt, nút ghế đơn, nút cọc chèo, nút thắt góc vuông và nút kép đối xứng. Những nút thắt này nằm trong số những nút thắt mà chúng tôi phải sử dụng để thực hiện các hoạt động phá hoại. Ví dụ, nút thợ dệt và nút thắt góc vuông có thể dùng để nối phần đuôi của dây nổ. Chúng tôi đã thực hành những nút này vài tuần rồi, vì vậy tôi không thấy khó khăn, nhưng đây là lần đầu tiên tôi làm ở độ sâu 5m dưới nước.
Chúng tôi có thể buộc mỗi nút trong một lần lặn, nhưng tôi nghĩ lặn năm lần thì mệt quá. Chúng tôi cũng có thể lặn một lần để thắt 5 nút, tuy nhiên tôi không cho rằng phổi của tôi chịu được. Chúng tôi có thể làm bất kỳ cách nào mình muốn. Tôi chào huấn viên Stoneclam, người đang đeo bình khí nén: “Xin phép thắt nút thợ dệt, nút ghế đơn và nút cọc chèo.” Ông chỉ ngón tay cái xuống đất, lệnh cho tôi lặn xuống. Tôi cũng chỉ ngón tay xuống, cho ông ấy biết rằng tôi đã hiểu. Stoneclam ra dấu một lần nữa và tôi đi xuống 5 m, nơi tôi phải buộc một đường dây điện vào tường. Tôi buộc 3 nút, sau đó ra dấu “xong” với huấn luyện viên. Ông kiểm tra các nút thắt và ra dấu “được”. Tôi tháo chúng ra và ra dấu với ông. Ông xác nhận, chỉ ngón tay cái lên trời − cho phép tôi lên bờ.
Trong lần lặn thứ hai, tôi buộc hai nút cuối và ra dấu “xong”. Huấn luyện viên Stoneclam thậm chí không nhìn vào các nút thắt mà nhìn chằm chằm vào mắt tôi. Tôi nghĩ mình sắp gặp rắc rồi gì đây. Tôi chỉ ngón tay cái lên trời để đề nghị được đi lên, nhưng ông cứ nhìn chằm chằm. Độ sâu gây áp lực lên ngực tôi và cơ thể tôi thèm không khí. Tôi biết ông ấy đang chờ đợi điều gì và tôi sẽ không cho ông ấy thỏa mãn. Các huấn luyện viên SEAL đã dạy tôi rất rõ. Tôi có thể tự nổi lên hoặc là cơ thể tôi được kéo lên mặt nước khi tôi đã bất tỉnh. Cách nào cũng được. Ông mỉm cười và ra dấu “lên” trước khi tôi gần như sắp bất tỉnh. Tôi muốn phóng ngay lên trên, nhưng tôi không thể tỏ ra sợ hãi vì lao ngay lên mặt nước không phải là khôn ngoan. Tôi chậm chạp nhô lên. Đạt. Không phải tất cả các bạn lớp tôi đều may mắn nhưng họ sẽ có cơ hội thứ hai.
Trong Giai đoạn II, Chiến tranh Trên bộ, chúng tôi học chiến thuật thâm nhập bí mật, thủ tiêu lính gác, chỉ huy mật vụ/người dẫn đường, thu thập thông tin, bắt giữ địch, tìm kiếm, quản lý tù nhân, bắn súng, gây nổ… Khi còn nhỏ, tôi đã học cách chú ý tới các chi tiết để chắc chắn rằng không còn quả hồ đào nào dưới đất khi ba tôi về nhà để cái mông của tôi không bị quất roi. Lúc này cũng vậy, sự tập trung vào tiểu tiết sẽ giúp cái mông của tôi không bị bắn trúng hay nổ tung lên. Khả năng chú ý đến tiểu tiết đã giúp tôi chưa bao giờ gặp trục trặc trong nhảy dù.
Chúng tôi trở thành những thành viên đầu tiên sống tại doanh trại mới ở ngay phía dưới bãi biển gần khu Coronado giàu có. Một chiều thứ Bảy, tôi ngồi trong phòng mình, đánh bóng đôi giày tác chiến trong rừng với Calisto, một trong hai sĩ quan Peru được huấn luyện BUD/S với lớp tôi. Họ cũng được huấn luyện theo lịch trình của chúng tôi, đúng theo ngày giờ. Cả hai người họ đều đã trải qua BUD/S của Peru, chương trình mô phỏng khóa huấn luyện của chúng tôi. Calisto và bạn mình đã phục vụ gần 10 năm với tư cách lính SEAL, trong đó có cả tác chiến thực. Qua họ, chúng tôi nắm được nhiều thông tin về chương trình huấn luyện.
Tôi hỏi anh ta: “Anh đã là một người lính SEAL của Peru rồi, tại sao anh vẫn tham gia lại khóa học này?”
“Phải đến đây mới trở thành một huấn luyện viên SEAL của Peru được.” “Tôi hiểu anh sẽ được kính trọng hơn và tất cả…”“Không phải kính trọng hơn. Nhiều tiền hơn.” Anh ta đi cùng gia đình và cuối tuần anh về với họ trong một căn hộ ở trung tâm. Họ mua nhiều quần Jean màu xanh và gửi về nhà. Anh ta giải thích rằng số tiền mà họ nhận được sẽ làm thay đổi cuộc sống của họ. Họ là những sĩ quan duy nhất còn lại trong lớp tôi nhưng vì không phải là người Mỹ nên họ không thể chỉ huy chúng tôi. Mike H., binh sĩ hàm E-5, đứng đầu lớp tôi. Anh ấy và tôi cùng cấp hàm nhưng có thâm niên cao hơn. Chúng tôi không có “người ăn bánh” (sĩ quan từ cấp úy trở lên) nào. Các huấn luyện viên cấp hàm thấp có vẻ thích điều đó.
Ở Đảo San Clemente, tôi làm tổ trưởng và một lần đã dẫn tổ của tôi tấn công sai mục tiêu. Calisto chỉ huy chúng tôi lần tiếp theo. Anh ta quả là một hoa tiêu xuất sắc. Chúng tôi tấn công các huấn luyện viên trong khi họ vẫn đang ngồi quanh đám lửa trại mải mê trò chuyện. Tổ chúng tôi tấn công nhanh đến mức họ thậm chí còn chưa chuẩn bị được các khẩu M-60. Họ không vui. Họ thay đổi lộ trình thâm nhập của chúng tôi, bắt chúng tôi phải đi qua một cánh đồng xương rồng. Sau đó, các y tá phải cầm kìm đến để rút những cái gai ra khỏi chân chúng tôi.
Khi bị chất vấn, các huấn luyện viên giải thích: “Rất tiếc là chúng tôi phải phái các anh đi đường khác, nhưng lộ trình xâm nhập đã bị mất tác dụng”. Các huấn luyện viên luôn là người cười sau cùng.
Chúng tôi chạy trước khi ăn vào các ngày chẵn. Vào ngày lẻ, chúng tôi tập xà. Một hôm, số lần lên xà vừa thay đổi từ 19 lên 20. Tôi nghĩ mình mất trí rồi vì tụt khỏi xà sau khi đã đu được 19 lần.
“Wasdin, anh làm cái quái gì vậy?” – Một huấn luyện viên hỏi. “Mới có 19 thôi.” Tôi không hiểu ông ấy đang hỏi tôi điều gì. “Phải đạt 20 lần. Anh phải chắc chắn là anh biết đếm đến 20, nằm xuống và hít đất 20 lần cho tôi”. Tôi hít đất 20 lần.
“Bây giờ lên lại xà và đu 20 lần.”
Điều đó đã không xảy ra. Ông có lẽ đã có thêm 3-4 lần đếm nữa trước khi cánh tay tôi rời khỏi xà. “Nhận xuất MRE của anh và ra ngồi với sóng đi.” Tôi ngồi trong nước biển lạnh giá và ăn một gói MRE (bữa ăn sẵn của quân nhân) lạnh ngắt. Randy Clendening và một vài người khác đến ngồi cùng tôi. Chúng tôi rét tím ngắt người lại.
Gương mặt của Randy vẫn tươi cười.
“Cậu cười cái quái gì vậy?” − Tôi hỏi. “Chúng ta đang ăn bữa MRE lạnh ngắt trong làn nước buốt giá ngập đến tận ngực.”
“Cố gắng làm như vậy mỗi ngày.” Randy luôn chạy kịp giờ nhưng lại trượt các bài tập đu xà. Mỗi ngày cậu ta đều ngồi trong nước biển ngập lên đến ngực và ăn món MRE lạnh ngắt vào mỗi bữa sáng, bữa trưa và bữa tối. Cậu ấy thích phương pháp huấn luyện này hơn tôi.
Sau đó, dù có thể gặp rắc rối với các huấn luyện viên nhưng tôi vẫn đánh liều đưa thức ăn vào doanh trại cho cậu ta vào những ngày lẻ. Những bạn khác cũng lén lấy thức ăn cho cậu ta. Tôi vô cùng kính trọng những người như Randy, người làm việc nghiêm túc hơn tất cả mọi người và bằng cách nào đó đã hoàn thành được BUD/S. Hơn cả những con linh dương đang chạy hàng đầu, hơn cả nhưng con cá đang bơi đầu đàn, hơn cả những chú khỉ đang đánh đu vượt qua chướng ngại vật – những người tưởng như yếm thế này lại tỏ ra rất cứng rắn.
Một trong những người yếm thế nổi tiếng nhất là Thomas Norris, lớp BUD/S 45. Norris muốn gia nhập FBI nhưng lại bị gọi đi quân dịch. Anh tham gia hải quân với mong muốn trở thành một hoa tiêu nhưng thị lực của anh không đạt. Vì vậy anh tự nguyện huấn luyện SEAL, nơi anh thường chạy và bơi ở nhóm chậm nhất. Các huấn luyện viên đã tính đến chuyện loại anh khỏi chương trình huấn luyện nhưng Norris không bỏ cuộc và đã trở thành một người lính SEAL ở Đội 2.
Tại Việt Nam, tháng Tư năm 1972, một máy bay do thám đi sâu vào vùng đối phương nơi có hơn 30
nghìn NVA (lính miền Bắc Việt Nam) đang chuẩn bị cho một cuộc tấn công dịp lễ Phục sinh. Chỉ có một thành viên phi hành đoàn còn sống sót. Nỗ lực giải cứu viên phi công này là phi vụ giải cứu tổn hại lớn nhất trong Chiến tranh Việt Nam với 14 người hy sinh, 8 máy bay bị bắn hạ, 2 người bị bắt và hai người khác bị kẹt lại trong vùng địch. Vì vậy người ta xác định rằng giải cứu đường không là không khả thi.
Trung úy Norris dẫn đầu một nhóm tuần tra SEAL Việt Nam Cộng hòa gồm 5 người, tìm được viên phi công trinh thám và đưa anh này trở về căn cứ tiền tiêu (FOB). NVA trả đũa bằng một cuộc tấn công bằng rocket vào FOB, giết hai lính SEAL Việt Nam Cộng hòa và một số người khác.
Norris và ba lính SEAL Việt Nam Cộng hòa còn lại thất bại trong nỗ lực giải cứu viên phi công thứ hai. Do tình hình bất đắc dĩ, hai người trong số họ không tình nguyện thực hiện nỗ lực giải cứu lần tiếp theo. Norris quyết định cùng người lính thứ ba tên Nguyễn Văn Kiệt. Họ làm điều đó nhưng thất bại.
Ngày 12 tháng Tư, khoảng 10 ngày sau khi máy bay đó bị bắn hạ, Norris nhận được một thông tin về địa điểm của viên phi công. Vào một đêm đầy sương, Norris và Kiệt cải trang thành ngư dân và chèo một chiếc thuyền tam bản trên sông. Bình minh lên, họ tìm thấy viên phi công bị giấu dưới những đám rau. Họ giúp anh ta lên thuyền, giấu anh ta dưới lượt lá tre và chuối. Một nhóm lính đối phương trên bờ phát hiện ra, nhưng họ không thể băng qua rừng rậm nhanh như việc di chuyển bằng thuyền trên sông của Norris và cộng sự. Khi ba người tới gần FOB, một nhóm tuần tra NVA phát hiện ra họ và trút những đợt súng máy hạng nặng xuống họ. Norris yêu cầu tiếp viện một cuộc tấn công đường không để chặn đứng kẻ thù và tạo màn khói che mắt họ. Norris và Kiệt đưa viên phi công vào FOB. Ở đó Norris sơ cứu cho đến khi anh ta có thể được chuyển đi. Trung úy Thomas Norris được nhận Huân chương Danh dự. Kiệt nhận được Bội tinh Hải quân, danh hiệu cao nhất mà Hải quân có thể trao cho một người quốc tịch nước ngoài. Tuy nhiên câu chuyện về Norris vẫn chưa kết thúc.
Khoảng 6 tháng sau, anh lâm vào một tình huống khó khăn khác. Trung úy Norris chọn hạ sĩ Michael Thornton (Đội SEAL 1) để thực hiện một nhiệm vụ. Thornton chọn hai người lính SEAL Việt Nam, Đăng và Quân. Một sĩ quan Nam Việt Nam ốm yếu tên là Tài cũng đăng ký tham gia nhóm này. Họ mặc quần áo màu đen như VC và mang theo AK-47 với rất nhiều đạn. Cả đội lái một chiếc ghe của Hải quân Nam Việt Nam (không có tàu của Hải quân Mỹ) ra Biển Đông, mở một chiếc thuyền cao su từ chiếc ghe rồi đi vào đất liền để nghe ngóng tin tức. Norris đi đầu, Thornton bảo vệ phía sau và những người lính SEAL Nam Việt Nam đi giữa. Chiếc ghe đã đưa họ đi rất xa về phía Bắc và trong khi trinh thám, họ nhận ra mình đang ở miền Bắc Việt Nam. Đang ẩn nấp, viên sĩ quan người Việt không hỏi ý kiến Norris hay Thornton mà tự ý ra lệnh cho hai người lính SEAL Việt Nam Cộng hòa đánh úp và tóm hai lính VC trong khi chưa chuẩn bị thật tốt. Những người lính này vật lộn với hai lính Bắc Việt. Thornton lao vào và hạ gục một người bằng báng súng để anh ta không thể báo động cho ngôi làng gần đó. Người thứ hai thoát được và báo cho khoảng 60 bộ đội NVA. Thornton kêu lên: “Chúng ta gặp rắc rối rồi”. Những người lính SEAL băng bó cho người lính Bắc Việt bị hạ gục, sau đó bảo Đăng thẩm vấn khi anh ta tỉnh lại.
Norris và Đăng nổ súng bắn vào đối phương đang tiến đến gần. Giữa những lần bắn, Norris sử dụng điện đài trên lưng Đăng để gọi yểm trợ hỏa lực hải quân: xác định tọa độ, định vị, phát hỏa khi cần… Người trực tổng đài hải quân ở đầu dây bên kia (tàu của anh cũng đang nằm dưới hỏa lực của địch trong một trận chiến khác) hình như mới nhận việc nên không quen xử lý tình huống yểm trợ hỏa lực cho các lực lượng mặt đất. Norris gác điện thoại để nổ súng tiêu diệt thêm đối phương. Khi anh quay lại điện đài, cuộc gọi của anh đã được chuyển cho một chiếc tàu khác cũng đang nằm dưới hỏa lực của địch và không thể giúp đỡ. Norris và Đăng vừa rút lui vừa bắn về phía đối phương.
Thornton cử viên trung úy Việt Nam đi đằng sau trong khi anh và Quân bảo vệ hai bên sườn. Thornton bắn hạ thêm một vài NVA, ẩn nấp rồi di chuyển sang vị trí khác và bắn thêm vài phát súng nữa. Thornton biết đối phương ở đâu vì họ nhô ra từ cùng một địa điểm, tuy nhiên đối phương thì không đoán được Thornton sẽ xuất hiện từ đâu và có bao nhiêu người cùng chiến đấu với anh. Vừa di chuyển về phía sau, Thornton vừa nổ súng và tiêu diệt những lính Bắc Việt chúi đầu xuống sau những đụn cát.
Sau khoảng 5 giờ chiến đấu, Norris liên lạc được với một con tàu có thể giúp được họ: Tàu Newport
News.
Đối phương ném một trái lựu đạn vào Thornton. Thornton ném lại. Đối phương cũng ném trở lại. Thornton lại ném trả. Khi trái lựu đạn quay lại lần tiếp theo, Thornton quay người tránh. Lựu đạn phát nổ. Sáu mảnh đạn cắm vào lưng của Thornton. Anh nghe thấy Norris gọi: “Mike, Mike ơi!” Thornton lăn xuống giả chết. Bốn lính Bắc Việt chạy đến chỗ Thornton. Anh nổ súng vào cả bốn – hai người ngã xuống trước mặt anh, hai người khác ngã rạp về phía sau. “Mình ổn,” Thornton kêu lên: “Chỉ là mấy mảnh đạn thôi mà!”
Những người lính Bắc Việt bỗng yên lặng. Phía họ có tiểu đoàn NVA 283 giúp đánh thọc sườn những người lính SEAL.Những người lính SEAL bắt đầu nhảy ếch để yểm trợ lẫn nhau. Norris nằm xuống trút hỏa lực để Thornton, Quân và Tài rút lui. Sau đó, Thornton và đội của anh làm tương tự để Norris và Đăng lùi ra phía sau. Khi Norris vừa nâng một khẩu súng chống tăng LAW lên để bắn thì một khẩu AK-47 của NVA bắn trúng mặt anh, làm anh bật tung khỏi đụn cát. Norris cố đứng dậy để phát hỏa nhưng đã ngất đi.
Đăng chạy lại phía Thornton. Hai phát đạn bắn trúng vào chiếc điện đài mà Đăng đang đeo trên lưng. “Tommy đâu?” − Thornton hỏi.
“Anh ấy chết rồi.” “Anh chắc không?”
“Anh ấy bị bắn vào đầu.” “Có chắc không?”
“Nhìn thấy anh ấy gục xuống rồi.”
“Hãy ở lại đây. Tôi sẽ trở lại chỗ Tommy”.
“Không, Mike. Anh ấy chết rồi. NVA đang đến đấy.”
“Tất cả các cậu ở đây.” Thornton chạy 500m dưới làn mưa đạn để đến chỗ Norris. Có một vài NVA đang ở gần thi thể của Norris. Thornton nổ súng tiêu diệt họ. Khi đến bên Norris, anh nhận thấy viên đạn đã xuyên qua trán của Norris. Anh ấy đã chết. Thornton vác thi thể của Norris lên vai và chộp lấy khẩu AK. Thornton đã dùng hết tám quả lựu đạn, tất cả số rocket LAW của mình và chỉ còn một hoặc hai ổ đạn. Có vẻ như với anh mọi chuyện cũng sắp kết thúc rồi.
Đột nhiên, một loạt đạn từ tàu Newport News xé toạc không khí và lao đến như một chiếc Volkswagen nhỏ. Khi phát nổ, nó thổi tung Thornton xuống một đụn cát cao hơn 10m. Người của Norris bay qua người Thornton. Thornton đứng dậy và bước tới để nhấc Norris lên.
“Mike, Mike à,” − Norris thì thào. “Đồ chết tiệt. Cậu vẫn sống à!”
Thornton cảm thấy luồng sinh lực mới bừng lên. Anh nhấc Norris, đặt lên vai và bắt đầu chạy. Đăng và Quân nổ súng yểm trợ. Pháo của tàu Newport News cho họ chút thời gian, nhưng hết mất rồi. Những loạt đạn của đối phương lại dội xuống họ.
Thornton chạy tới chỗ của Đăng và Quân: “Tài đâu rồi?” Khi Thornton quay trở lại để đón Norris, viên trung úy Việt Nam ốm yếu đã biến vào dòng nước. Thornton nhìn 2 người lính SEAL Việt Nam Cộng hòa: “Khi tôi kêu một, Quân bắn một loạt đạn. Khi tôi kêu hai, Đăng bắn một loạt đạn. Ba, tôi sẽ nổ một loạt. Rồi chúng ta sẽ nhảy ếch để yểm trợ nhau rút ra biển.”
Vừa bắn vừa rút lui, khi Thornton đến bờ sông, anh ngã xuống mà không nhận thấy rằng bắp chân của mình đã bị trúng đạn. Anh nhấc Norris lên và đưa Norris theo dưới cánh tay của mình. Ở trong nước, anh cảm thấy Norris cử động loạng choạng, thì ra anh đã để đầu của Norris ở dưới nước. Thornton nhấc đầu bạn mình lên. Áo phao của Norris được buộc vào chân theo cách hoạt động của Đội 2. Vì vậy, Thornton cởi áo phao của mình ra và mặc cho Norris, để giữ cả hai người họ nổi lên.
Quân run rẩy trong nước, hông bên phải của cậu ta bị trúng đạn. Thornton túm lấy cậu ta. Quân bám vào áo phao của Norris. Đăng giúp họ đạp nước tiến ra biển. Thornton thấy những viên đạn xuyên qua làn nước. Anh cầu nguyện: Chúa ơi, đừng để viên nào trúng vào con.
Norris tỉnh dậy. Anh không nhìn thấy viên sĩ quan người Việt: “Chúng ta có đủ người không?”. Tì vào người Thornton, Norris nhỏm lên và thấy viên sĩ quan người Việt đang bơi phía xa ngoài biển. Anh lại ngất đi.
Sau khi bơi đủ xa thoát khỏi tầm đạn của địch, Thornton và hai người lính Việt Nam Cộng hòa nhìn
thấy tàu Newport News nhưng nó đã lướt đi vì nghĩ rằng những người lính SEAL đã chết.
“Bơi về phía nam,” Thornton nói. Anh băng đầu cho Norris bằng băng 10×10 cm nhưng không băng được toàn bộ vết thương. Norris đang bị sốc.
Một nhóm lính SEAL khác đi trên một chiếc ghe để tìm kiếm đồng đội. Họ đã tìm thấy viên trung úy người Việt và chất vấn anh ta. Sau đó họ tìm thấy Thornton, Norris, Đăng và Quân. Thornton điện cho tàu Newport News đến đón.
Khi lên được tàu, Thornton đưa Norris tới phòng y tế. Đội y tế đã làm hết mình để cứu Norris, nhưng cuối cùng các bác sĩ nhận định: “Cậu ấy sẽ không thể hồi phục được nữa.” Norris được đưa đi cấp cứu ở Đà Nẵng. Từ đó, anh ta được đưa sang Philippines bằng máy bay. Với hành động đó, Thornton được trao Huân chương Danh dự. Đây là trường hợp duy nhất khi một người được thưởng Huân chương Danh dự vì đã cứu được một người được thưởng Huân chương Danh dự. Những năm sau đó, Thornton giúp thành lập Đội SEAL 6 và trở thành một trong số những người chỉ huy của Đội.
Việc Norris sống sót chứng minh các bác sĩ đã sai. Anh được chuyển tới Bệnh viện Hải quân Bethesda, Maryland. Mấy năm sau đó, anh phải trải qua một vài cuộc đại phẫu khi đã mất một phần sọ và một mắt. Hải quân cho Norris nghỉ hưu, nhưng chỉ có ngày hôm qua là dễ thở thôi. Norris trở về với giấc mơ thời thơ ấu của mình: trở thành một nhân viên FBI. Năm 1979, anh đề nghị được cấp giấy chứng nhận không thương tật. Giám đốc FBI, William Webster nói: “Nếu anh vượt qua được bài kiểm tra như những người xin vào tổ chức này, tôi sẽ chứng nhận xóa hết thương tật cho anh.” Dĩ nhiên là Norris vượt qua. Sau đó, khi phục vụ trong FBI, Norris cố gắng trở thành một thành viên của Đội Giải cứu Con tin (HRT) mới được thành lập nhưng những viên công chức bàn giấy của FBI không muốn có một người một-mắt ở trong Đội. Danny Coulson, người thành lập HRT, nói: “Có lẽ chúng ta sẽ phải nhận thêm một người một-mắt được trao Huân chương Danh dự của Quốc hội nữa nếu cậu ấy xin vào nhưng tôi chấp nhận rủi ro.” Norris trở thành đội trưởng một đội đột kích. Sau 20 năm làm việc cho FBI, anh về hưu. Norris là người về đích cuối cùng khi tập chạy và tập bơi ở BUD/S, và chỉ có một mắt khi đến với FBI, nhưng anh luôn giữ lửa ở trong tim.
Những huyền thoại về Norris đã lan đến lớp học viên tham gia huấn luyện BUD/S, tuy nhiên tôi chỉ được biết anh khi tôi đã là một người lính SEAL. Trong một cộng đồng nhỏ và gắn bó như vậy thì tiếng tăm của một người lính SEAL, dù tốt hay xấu, cũng truyền đi rất nhanh. Danh tiếng đó bắt đầu ở BUD/S. Norris vẫn là một người yếm thế trong suốt quá trình phục vụ ở các đội SEAL và FBI. Bây giờ là lúc tôi phải gây dựng thanh danh của mình.
Trong một bài tập chạy đường dài, khi chương trình huấn luyện trên đảo của chúng tôi đã được nửa chặng đường, chúng tôi phải chạy sau một chiếc xe tải có mở nhạc. Tôi mường tượng thấy mình đang đeo phù hiệu SEAL. Hoặc là tôi về nhà trong một chiếc quan tài, hoặc là về nhà khi đeo phù hiệu ấy. Tôi sẽ vượt qua được đợt huấn luyện. Dường như hình ảnh đó đã giúp đầu óc tôi trở nên minh mẫn. Đó là lần đầu tiên và lần duy nhất tôi đạt điểm tối đa môn chạy. Có một số bạn thường xuyên nhận được mức điểm đó. Điều đó ám ảnh tôi mỗi lần tập chạy. Trong Giai đoạn III, Giai đoạn Lặn, chúng tôi học định hướng dưới nước và các kỹ thuật phá hoại tàu. Một số bạn lớp tôi gặp khó khăn khi học lặn và các kỹ năng bơi ở bể. Tôi thì gặp khó khăn với kỹ thuật bơi đứng với két nước và giữ ngón tay nổi trên mặt nước trong 5 phút. Thế nào cũng sẽ có một huấn luyện viên ra lệnh: “Giơ ngón tay kia lên, Wasdin.” Và tôi sẽ làm theo.
BUD/S tạo cho chúng tôi niềm tin rằng chúng tôi có thể hoàn thành nhiệm vụ và không bao giờ được đầu hàng. Chưa có người lính SEAL nào từng bị bắt làm tù nhân chiến tranh cả. Thông điệp huấn luyện rõ ràng nhất mà chúng tôi nhận được từ BUD/S là phải quan tâm đến nhau − không được để đồng đội lại phía sau. Chúng tôi được học nhiều nội dung huấn luyện chiến thuật liên quan đến rút lui, tẩu thoát và lấn trốn. Chúng tôi được dạy phải cứng rắn về tinh thần. Việc huấn luyện được lặp đi lặp lại cho đến khi các cơ bắp có thể tự động phản ứng. Bây giờ ngẫm lại, tôi nhận thấy chúng tôi được rèn luyện thần kinh thép ngay từ đầu giai đoạn huấn luyện. Kế hoạch huấn luyện của chúng tôi rất tỉ mỉ, thể hiện rõ trong các chỉ dẫn. Khi được tiếp xúc với lực lượng Lục quân, Hải quân, Không quân và Lính thủy đánh bộ, tôi nhận thấy chỉ có Lực lượng Delta là có chỉ dẫn tường tận như chúng tôi.
Niềm tin vào khả năng hoàn thành nhiệm vụ giúp người lính SEAL vượt qua được những rào cản về môi trường và thể chất, vốn có thể khiến anh thất bại. Chúng tôi thường nghĩ mình không thể bị tiêu diệt. Luôn lạc quan, ngay cả khi đối phương đông hơn và nhiều súng đạn hơn, chúng tôi vẫn tin rằng mình có cơ hội thoát ra, sống sót và trở về nhà để kịp dùng bữa tối.
Tuy nhiên, có những khi người lính SEAL không tìm được đường quay trở lại với Mẹ Đại dương và phải lựa chọn giữa việc chiến đấu tới cùng hoặc đầu hàng. Đối với nhiều chiến binh dũng cảm, tốt hơn là nên lựa chọn đầu hàng để được sống và chiến đấu tiếp − những người lính SEAL rất kính trọng các tù binh chiến tranh đó. Tuy nhiên, là lính SEAL, chúng tôi tin rằng đầu hàng sẽ là chịu thua, mà chịu thua thì không bao giờ là một lựa chọn cả. Tôi không muốn trở thành một dạng con bài mặc cả chính trị để chống lại nước Mỹ. Tôi không muốn chết đói trong trại giam hoặc bị chém và đưa hình lên Internet cho cả thế giới thấy. Quan điểm của tôi là nếu kẻ địch muốn giết tôi, họ sẽ phải giết tôi ngay. Chúng tôi khinh bỉ những tên độc tài muốn điều khiển chúng tôi – những người lính SEAL tự quyết định số phận của mình. Thế giới của chúng tôi là chế độ nhân trị, nơi mà chúng tôi được tự do rời đi bất cứ lúc nào. Nhiệm vụ của chúng tôi là tự nguyện; tôi không thể nghĩ đến một nhiệm vụ nào khác không phải như vậy. Chúng tôi nguyện chiến đấu đến tận hơi thở cuối cùng và cố gắng tiêu diệt càng nhiều sinh lực địch càng tốt.
Laura và con trai Blake − giờ đã biết đi, đến dự lễ tốt nghiệp của tôi. Blake rung chuông cho tôi. Tôi bảo con: “Con sẽ không bao giờ phải tham gia BUD/S bởi vì con đã rung chuông rồi.” Khi đến tuổi thiếu niên, Blake có thể sẽ muốn trở thành một người lính SEAL, nhưng tôi khuyên con không nên làm như vậy. Hàng chục người trong thành phố quê hương tôi có thể sẽ có những đứa con muốn tham gia BUD/S nhưng tôi sẽ khuyên từng người một đừng chấp nhận điều đó. Nếu tôi khuyên được ai đó thì có nghĩa là tôi đã giúp họ tiết kiệm thời gian bởi vì họ không thực sự mong muốn điều đó. Còn nếu tôi không khuyên được họ đừng tham gia BUD/S thì có lẽ là họ thực sự mong muốn điều đó.
Sau BUD/S, chúng tôi lập tức tham gia huấn luyện đường không ở Fort Benning, Georgia, khu vực tập trung nhiều trường không quân và lục quân. Mùa hè nóng đến mức mà họ phải cho chúng tôi chạy qua vòi phun nước 3 lần mỗi ngày để làm mát người. Mặc dù vậy nhiều người vẫn gục xuống vì sốc nhiệt và mất nước. Một số người lính nói chuyện như thể khóa huấn luyện này là thứ khó khăn nhất thế giới. Họ nghĩ mình sẽ trở thành thành viên của lực lượng lính chiến tinh nhuệ nào đó. Tuy nhiên, với những người đến từ BUD/S thì khóa huấn luyện đường không này chỉ là chuyện nhỏ mà thôi. “Việc này không khó đâu”, tôi nói, “Ở đây các anh được chị em động viên tinh thần vượt qua kỳ huấn luyện mà”. Tôi cảm thấy cứ như thể chúng tôi có thể hoàn thành hai tuần “huấn luyện tăng cường” của họ chỉ trong hai ngày.
Quy định của Lục quân không cho phép các huấn luyện viên để ai tập hít đất hơn 10 lần. Một huấn luyện viên đường không là một “anh già tốt bụng”, người luôn nhai thuốc lá Red Man trong miệng.
Chúng tôi quây quần quanh ông, đề nghị ông cho tập hít đất nhiều hơn. “Tập 10 cái, các anh hải quân”, ông nói. Chúng tôi hít đất mười lần rồi đứng dậy. “Chết tiệt.” Ông nhổ miếng thuốc lá: “Quá dễ.” Chúng tôi nằm xuống và hít đất thêm mười lần nữa. “Chết tiệt. Quá dễ.” Chúng tôi tập thêm 10 lần nữa.
Đến đêm, chúng tôi ra ngoài uống nước cho đến khuya. Đối với chúng tôi, huấn luyện không quân đúng là một kỳ nghỉ. West Point cho phép các học viên sắp tốt nghiệp lựa chọn trường học trong mùa hè. Một số sĩ quan dự bị chọn trường Không quân. Có những người sẵn sàng đánh giày cho chúng tôi nếu chúng tôi kể cho họ nghe những câu chuyện về BUD/S. Tôi thấy mình như một người nổi tiếng vậy. Bây giờ nghĩ lại chuyện đó tôi thấy buồn cười. Họ là những sĩ quan dự bị từ một trường danh thế nhất của quân đội và họ đang đánh bóng đôi giày binh nhì E-5 của tôi để được nghe tôi kể về BUD/S. Tôi thậm chí còn chưa phải là lính SEAL và chưa từng tham gia trận chiến nào. Những người bạn ở West Point bị những câu chuyện của chúng tôi mê hoặc. Không lâu sau chúng tôi phải rời phòng để đến một nơi rộng rãi hơn bởi vì có quá nhiều người muốn nghe chuyện của chúng tôi. Đến cuối kỳ huấn luyện không quân, chúng tôi đã hoàn thành năm lần nhảy “người treo trên dây” với dây mở dù tự động, nghĩa là dù tự động mở ra ngay sau khi chúng tôi rời khỏi máy bay mà không cần phải kéo dây dù. Đó là sự thật và còn rất vui nữa − nhưng niềm vui thật sự bây giờ mới bắt đầu.
Cuộc gặp gỡ lịch sử diễn ra hai ngày sau đó. Ở thị trấn Montelepre có tin đồn ầm lên là Ông Trùm Croce – dáng điệu co ro cóm róm – đến xin yết kiến Guiliano. Bằng cách nào bí mật ấy bị lọt ra ngoài? Có lẽ do sự bố phòng rất cẩn mật của Guiliano cho cuộc hội kiến này. Không vậy, lỡ có thành phần thứ ba nhúng tay vô phá đám, Ông Trùm sẽ có cớ vin vào đó để đổ riệt cho Turi. Không lãnh đủ, thì tiếng tăm “bất tín”, “chơi bẩn” cũng chẳng thơm tho gì. Gia chủ đón khách kiểu chơi bẩn coi sao tiện. Còn sĩ diện ông thầy Adonis nữa chớ. Bởi vậy, những toán tuần tiễu của Guiliano được đặt ở những vị trí then chốt, rải suốt con đường từ Palermo đến Montelepre. Hung thần Passatempo và đám bộ hạ của hắn được phái đến trấn ngay cửa trại Bellatempo, cô lập đám cớm này, không cho phiêu lưu tuần tiễu ngoài phố. Terranova và đám bộ hạ của hắn kiểm soát con đường từ Castellammarre đến trại Trapani. Thầy cai Sylvestro cùng với năm tay súng thượng thặng thủ ngay trên nóc nhà ông Adonis. Khẩu đại liên hạng nặng được ngụy trang dưới tấm phên mà dân địa phương dùng để phơi cà chua. Một số khác ở lại thủ trại. Bố phòng như vậy là tuyệt vời. Khỏi lo đột kích bất ngờ. Ngay từ sáng sớm. Phái đoàn của Ông Trùm đã tới trên chiếc Alfa Roméo. Tuy là kiểu xe du lịch, nhưng chiếc Alfa này khá đồ sộ, kềnh càng, máy rất mạnh, vỏ thép dày, có kính chống đạn. Đến và đậu xịch trước cửa nhà ông Adonis. Phái đoàn đi phó hội chỉ có bản thân Ông Trùm và em ruột của lão, cha Benjamino cùng với tài xế và hai vệ sĩ. Để bày tỏ thiện chí hòa hội, tài xế và vệ sĩ đều ở ngoài đường. Chỉ có Ông Trùm và cha Benjamino đi vào nhà. Ăn vận ngày thường đã bảnh, nhưng hôm nay giáo sư còn diện bảnh hơn. Áo sơ – mi lụa trắng muốt, cà – vạt đỏ sọc đen, bộ com – lê xám nhạt đặt may tại Luân Đôn, giáo sư Adonis đứng ngay ở cửa đón khách. Thật quá trái ngược với chủ nhà, hai ông khách coi bộ ăn mặc lùi xùi hơn ngày thường, nhất là Ông Trùm. Cái quần rộng thùng thình của lão – với sự trợ lực rất tích cực của sợi dây lưng bằng da to bản – đã hết sức cố gắng để ôm lấy cái bụng trống chầu của lão. Nhưng vẫn cứ tụt ra, nếu không được hai sợi dây to bản kéo ngược lên vai. Cái áo vét màu đen, may bằng thứ hàng thô, rộng thùng thình không đóng cúc, hầu che kín cái “thùng nước lèo” của lão. Hai tà áo vét được thả lỏng, xòe ra như cặp cánh, cùng với dáng đi lạch bạch, nom lão không khác một con ngỗng đang chạy. Tà áo vét mở rộng để lộ dây đeo quần và cái áo sơ – mi nhàu nát, không cà vạt. Chân xỏ cẩu thả vào đôi dép dùng để đi trong nhà. Cha Benjamino thì vẫn bộ đồ truyền thống hàng ngày: cái áo thụng đen tàng tàng, bạc phếch. Chiếc mũ đen dính đầy bụi chụp sát trên đầu nom như một vành khăn. Đến cửa, cha đứng lại, đưa tay làm dấu thánh giá vừa để “trừ quỉ” vừa để chúc lành cho ngôi nhà, miệng lẩm bẩm cái gì đó. Có lẽ là một bài kinh. Sau đó, cùng ông anh bước qua cổng, vào nhà. Ngôi nhà của ông Hector Adonis là một ngôi nhà đẹp nhất Montelepre. Ông rất lấy làm hãnh diện về ngôi nhà này. Bởi vậy, tuy rất ít khi ông lưu lại đây – vì dạy đại học Palermo nên ông thường ở lại đó – nhưng ông cũng trang trí ngôi nhà một cách thanh lịch, tuyển chọn và giàu tính thẩm mỹ, sang trọng nhưng sành sỏi, chớ không như mấy anh trọc phú, nhà giàu mới phất. Đồ đạc trong nhà đều là của Pháp. Các bức tranh – tuy không phải danh họa – cũng là những bức họa của các họa sĩ có tầm cỡ của Ý. Chén đĩa, ly toàn là đồ sứ, đồ pha lê của Đức, và đặc biệt, người hầu là một mụ tuổi trung niên, đã được học nghề tại nước Anh từ trước chiến tranh. Nghĩa là, người hầu có bằng cấp quốc tế, chứ không phải chị năm, chị bảy, quê từ đầu đến chân, nhảy đại ra làm người hầu. Trong khi chờ đợi Guiliano, mụ dọn cà – phê cho cả ba người tại phòng khách. Ông Trùm cảm thấy hết sức an tâm, lão còn thấy “phởn” khi hình dung ra cái tiền đồ huy hoàng. Bởi vì cho đến giờ phút này mọi sự diễn ra đúng như lão dự đoán, xếp đặt và mong muốn. Nếu cứ đưa vào nguyên lý “đầu xuôi, đuôi lọt” thì sự khởi đầu đã là tốt đẹp quá rồi. Chút nữa lão được gặp và tận mắt đánh giá về ngôi sao đang lên này. Tuy vậy, lão cũng hơi giật mình, vì Guiliano thình lình và lặng lẽ xuất hiện ngay ở cửa. Không nghe thấy tiếng bước chân lạo xạo trên sỏi. Chỉ thấy – như thể do một phép mầu nhiệm – Guiliano thình lình hiện ra ở cửa phòng. Vẻ đẹp trai của Guiliano làm cho ngay cả hắn cũng phải xúc động. Cuộc sống và không khí trong lành trên núi đã làm cho ngực của hắn nở nang và khuôn mặt hắn thon thon, thanh tú. Vẫn khuôn mặt trái xoan, vẫn đôi gò má cạo nhẵn nhụi, vẫn cái cằm hơi nhọn, vẫn đôi mắt lim dim mơ màng như đôi mắt các bức tượng. Kỳ lạ nhất là cái vòng bạc quanh tròng mắt màu nâu vàng như hai hòn bi ve linh động trong hố mắt. Chiếc quần nhung bó sát, áo sơ- mi trắng tinh ủi thẳng tắp như vừa lấy ở tiệm giặt ra. Bên ngoài áo sơ – mi, chiếc ja – két màu đỏ boóc – đô. Bên trong áo, lủng lẳng chỗ thắt lưng một khẩu súng lục. Với khuôn mặt ấy – nom hắn trẻ như một cậu thiếu niên mới lớn, mặc dù lúc ấy hắn đã 24 tuổi – người ta có cảm tưởng khẩu súng lục lủng lẳng ở thắt lưng hắn chỉ là một món đồ chơi. Ai dám tin một cậu thanh niên như vậy đã dám đánh thức chính phủ trung ương ở Rome? Đã dám vờn tổ chức “Người anh em” – mà người người ở Sicily nếu không khiếp đảm thì cũng e sợ – như mèo vờn chuột. Đã khiến cho những tên ma đầu hung thần ác sát cỡ Stefan Andolini phải tùng phục và trung thành? Đã kềm chế và sai khiến được những đồ tể khát máu và dã thú như Pasatempo? Đã nghênh ngang tung hoành trên một phần hòn đảo đầy rẫy những tay chơi, trong tay chỉ có khẩu lupara mà đã dám coi trời bằng vung? Và, trên hết, đã được toàn thể dân Sicilian – và có lẽ không ít dân lục địa yêu mến, kính nể, khâm phục? Tuy nhiên, lịch sử Sicily có thiếu gì người hùng như vậy đã vội vã tìm nơi an nghỉ trong nghĩa địa. Bởi vì, lịch sử của Sicily đã là lịch sử của những cuộc bội phản, lừa lọc. Guiliano đâu có ưa gì Ông Trùm Croce. Nhưng hắn vẫn có cử chỉ khiến lão quái này không thể không hài lòng. Lão cảm thấy nỗi sảng khoái của một người đắc ý và tự hào vì con mắt tinh đời của mình đã tìm thấy cục vàng trong đống than hổ lốn. Lão tự cảm phục mình vì thấy mình quá có lý khi chọn Guiliano làm đồng minh. Guiliano đi vào phòng, tiến thẳng đến chỗ Ông Trùm, đầu hơi cúi xuống và nói: “Xin được hôn tay tôn huynh”. Đó là một kiểu chào truyền thống của dân Sicilian dùng để tỏ lòng tôn kính bậc trưởng thượng hay tôn quí như cha sở, nhà quí tộc. Lời chào trân trọng ấy lại được điểm bằng nụ cười như hoa. Lời chào ấy, nụ cười ấy làm cho Ông Trùm dù không muốn, cũng không thể không hởi lòng hởi dạ. Mặc dù, lão thừa biết tại sao Guiliano lại chào như vậy. Lời chào ấy chẳng phải là cách Guiliano bày tỏ sự thần phục hay lòng tôn kính đối với tuổi tác hay phẩm cách của lão. Mà chỉ có nghĩa lão tự đặt mình vào quyền lực của hắn và tin cậy hắn. Sự tin cậy có nghĩa là lão không thể phủ nhận quyền lực của hắn. Ông Trùm từ từ đứng dậy, ôm hôn Guiliano không phải như một nghi thức giao tế, mà còn ôm hôn hắn trong cái tâm trạng được vinh hạnh ôm hôn một chàng thanh niên quí phái, can trường mà lão vừa mến mộ, vừa cảm phục. Khi ôm hôn Guiliano Ông Trùm cũng thấy nét mặt giáo sư Adonis rạng rỡ hẳn lên với niềm kiêu hãnh: đứa con đỡ đầu của ông đúng là một con người phong lưu, mã thượng. Pisciotta bước qua cửa, vào phòng. Nhìn hai người ôm hôn nhau, khuôn mặt thần chết của Pisciotta nở nụ cười mỉm bí hiểm. Thật ra, đâu phải Pisciotta xấu trai. Chẳng những không xấu, mà phải nói, y đẹp trai nữa là khác. Có điều cái vẻ đẹp trai của Pisciotta khác xa, nếu không phải là trái ngược hẳn với vẻ đẹp trai của Guiliano. Bệnh phổi đã khiến cho thân thể y quắt queo. Cử chỉ dường như lờ đờ. Nước da xanh mét như dán chặt vào khuôn mặt nó. Mái tóc màu đậm chải đầu láng bóng. Nom rất chải chuốt đỏm dáng, trong khi sự chải chuốt đỏm dáng của Guiliano lại dường như cố ý cẩu thả một cách nghệ sĩ. Turi Guiliano cố ý làm Ông Trùm ngạc nhiên bằng lối chào của nó. Nhưng nó lại bị lão làm cho ngạc nhiên bằng cái vẻ thân mật, tự nhiên của lão. Nhìn cái đầu tròn và đồ sộ của cái đầu sư tử của lão, Guiliano tự nhủ: “Phải cảnh giác cao độ đối với “lão già lựu đạn” này. Lão còn hơn rắn độc”. Guiliano cảm thấy phải cảnh giác không những vì cái tiếng tăm nham hiểm, mà vì cái hào quang quyền lực bao quanh con rắn này. Thân xác kềnh càng, sồ sề – có thể nói là thô kệch của lão như thể một lò lửa nóng bỏng. Ấy vậy mà khi cất tiếng nói, giọng của Ông Trùm nghe như có sức mê hoặc của một ban nhạc nổi tiếng tài ba. Giọng nói ấy bắt buộc người ta phải hiểu nó xuất phát từ sự kết hợp của lòng thành thực với sự cởi mở. – Đã bao năm nay tôi trông chờ một ngày như ngày hôm nay, – lão nói, – Và ngày ấy đã đến. Thật thỏa lòng tôi mong đợi. – Tôn huynh nói quá, – Guiliano nói, trong lòng đắn đo không hiểu lão mong đợi cái gì nơi mình. – Tôi cũng luôn luôn hy vọng giữa tôi và tôn huynh có và giữ mãi được tình hữu nghị với nhau. Ông Trùm gật nhè nhẹ cái đầu to và tròn như cái đầu sư tử của lão. Giọng rỉ rả, tỉ tê, và nhất là tỏ ra rất quan tâm lo lắng đến sự an nguy của Guiliano, tỏ ra cảm phục lòng hào hiệp lý tưởng cao đẹp của nó. Thủ thuật “bốc thơm” và “khích” của lão thật cao cường. – Ai nấy ở Sicily này mà lại không biết và cảm phục lòng quan hoài của anh đối với người nghèo. Những kẻ thiển cận, ấu trĩ mới cho là anh ủng hộ cánh tả. Nhưng tôi, tôi biết anh là người Sicilian tinh ròng, anh tin có Chúa, anh kính yêu đức Thánh Mẫu. Và, ai ở Sicily này lại không biết và cảm phục lòng hiếu thảo của anh với ông bà cụ, nhất là với cụ bà nhà ta? Cứ như vậy thì chắc chắn không khi nào anh chịu để cho bọn cộng sản cai trị nước Ý này. Bởi vì, nếu cộng sản cai trị nước Ý thì Hội Thánh sẽ ra sao, nền tảng truyền thống gia đình kiểu Sicilian sẽ ra sao, anh biết thừa đi rồi. Trong lúc chiến tranh, mấy cái thằng thanh niên Ý và vài thằng nhãi ranh Sicilian tham chiến về, bị tuyên truyền bậy bạ, bị nhiễm ba cái lý thuyết ngoại lai lăng nhăng, ba xằng đế gì đó. Ăn không nên đọi, nói không nên lời, mà cũng bày đặt ăn nói ậm ọe, quàng xiên. Ở đâu, chớ ở cái xứ Sicily nhà mình thì mấy cái “chính trị chính em” vớ vẩn ấy là không có đất đứng. Người Sicilian có đường lối riêng để cải thiện vận mệnh của mình, để cai trị xứ sở mình. Bộ anh nghĩ mấy cái chính thể độc tài nó lại để cho người dân chống đối lại nó à. Sợ chưa há họng nó đã khớp mỏ rồi ấy chớ lị. Nói đâu xa, mấy thằng hồng, thằng đỏ mà nắm được chính quyền thì cái gì, chứ cái chiến dịch để tiễu trừ những người như tôi và anh sẽ là cái chúng nó làm trước nhất. Bởi vì, chúng nó đâu có chịu để ai chia sẻ quyền hành với chúng nó? Mà trên thực tế, người thực sự cai trị đất Sicily là anh em mình đây, chứ đâu phải bọn ở Rome? Nếu cánh tả mà nắm được chính quyền trong cuộc bầu cử tới này, chúng sẽ ới bọn Nga Xô vô đến tận từng thôn xóm, từng nhà để quyết định giùm, xem ai được đi nhà thờ. Và ở trường học thì con em mình chỉ được học ba cái thứ độc địa chẳng hạn như là tổ quốc trên hết, nhà nước có quyền hơn cả cha mẹ. Bởi vậy, không thể có chuyện một người Sicilian chính gốc lại chịu được cái cảnh mình phải nể trọng một thằng cớm hơn ông bố bà mẹ đẻ ra mình. Bởi vậy, bây giờ là lúc mọi người Sicilian có tâm huyết với truyền thống, với đất Sicily phải đoàn kết với nhau bảo vệ gia đình, danh dự của mình trước sự lấn át của thằng nhà nước chứ? Thằng nhà nước nó có nuôi mình được bữa nào không mà đòi có quyền hơn ông bố bà mẹ mình? Dù ông bố bà mẹ mình có là người ngu si, mạt hạng đi chăng nữa, thì cũng vẫn là bố mẹ mình, nghĩa là vẫn hơn thằng nhà nước. Anh đồng ý thế không nào? Nãy giờ, Pisciotta vẫn đứng tựa lưng ở cửa. Bất thình lình nó xía ngang vô một câu châm chọc, ba bứa: – Nhưng có lẽ bọn Nga nó sẽ miễn xá cho anh em mình. Ông Trùm cảm thấy như có một cơn gió lạnh thổi lướt qua trong trí não. Nhưng lão tỏ ra không ngạc nhiên và nhất là không bực tức vì câu nói leo ba bứa, hỗn xược của thằng nhóc, mới một tí tuổi đầu đã bày đặt để ria mép và đỏm dáng như một thằng đĩ đực kia. Lão ngắm nghĩa kỹ thằng đó. Không phải y ngu si đần độn, bạ cái gì nói đại cái đó. Cũng không phải y hỗ xược, xấc láo. Y chỉ muốn người ta chú ý đến?
Photo edit by Sơn râu
Ông Trùm tự hỏi mình có thể xài thằng này vào việc gì. Như một tia chớp lóe lên trong bộ óc lõi đời và nham hiểm của lão, lão thấy ngay chỗ chết của Guiliano chính là cái thằng đĩ đực này đây. Một tay tin cẩn nhất của Guiliano cũng chính là yếu huyệt của Guiliano. Chỉ cần làm sao điểm đúng yếu huyệt này là xong. Có thể do bệnh phổi, cũng có thể do tính đa nghi quỉ quyệt, Pisciotta không bao giờ hoàn toàn tin cậy một ai. Và cũng chẳng ai dám hoàn toàn tin tưởng vào y. Ông Trùm suy đi tính lại những điều đó một lúc thật lâu, rồi lão mới tiếp tục nói: – Đã khi nào anh thấy một nước khác lại chịu giúp đỡ một cách vô tư xứ Sicily của anh em mình chưa nào? Chưa nhé! Đã khi nào anh thấy một thằng ngoại quốc đối xử công bằng – hãy cứ nói ở mức công bằng thôi, chứ chưa nói đến mức nhân hậu – với bà con Sicilian của anh em mình chưa nào? Chưa nhé! Và Ông Trùm quay ra phía Pisciotta như thể muốn nói thẳng, nói riêng với y: – Một thanh niên Sicilian như anh – vừa can trường vừa tinh khôn, mà lại biết trọng danh dự nữa – là hy vọng độc nhất của Sicily. Từ hàng ngàn năm qua, những thanh niên như vậy đều kết nghĩa anh em với nhau mà hình thành tổ chức “Người anh em”, đặng chống lại mọi ách áp bức, và thiết lập sự công bằng cho người Sicilian. Đó là lý tưởng anh và Turi Guiliano đang theo đuổi. Cao cả thay! Hào hùng thay! Nghĩa khí thay! Đảm lược thay! Thì bây giờ – chứ bao giờ – là lúc anh em mình phải nhất tề đứng lên để bảo vệ Sicily, chống lại bọn hồng, bọn đỏ! Guiliano trơ trơ trước những lời “bốc” và “khích” của Ông Trùm. Hắn lạ gì cái hậu ý của lão. Làm càn làm bậy, cũng lão. Ăn ngang nói ngược, cũng lão. Đi đêm, phản phúc, cũng lão. Đạo đức giả, bịp bợm, thì cũng vẫn cái lưỡi rắn độc ấy. Bởi vậy, không cần úp mở gì ráo, Guiliano nói huỵch toẹt vào mặt Ông Trùm, chẳng nể nang gì nữa: – Thì lúc nào tụi này chẳng chống lại kẻ thù của Sicily – cụ thể ngay bây giờ là bọn Rome, chứ đâu phải cha căng chú kiết nước ngòai nào – để bảo vệ bà con Sicilian nghèo khổ của mình. Bọn Rome và tất cả những kẻ được phái tới đây để cai trị mình, đè đầu cưỡi cổ mình, không là kẻ thù của mình thì nó là cái gì? Bộ nó là ân nhân của mình chắc? Vậy mà tôn huynh lại bảo mình phải cộng tác với chúng, phải giúp chúng, phải tin cậy chúng. Nghĩa là làm sao? Lúc này chính là lúc thuận tiện để bắt buộc lợi ích của kẻ thù phải phù hợp với lợi ích của người Sicilian mình, – Ông Trùm đáp lại một cách thận trọng. – Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo sẽ ít nguy hại và ít nguy hiểm cho anh em mình hơn là bọn hồng, bọn đỏ, nếu nó thắng cử. Trong chiến lược, chiến thuật thì bao giờ cũng phải chọn những cái ít nguy hiểm nhất trong số những cái nguy hiểm – mà vẫn được việc – thì mới là người khôn ngoan. Trong cuộc đời vốn dĩ ô trọc này, thì mình cũng phải tùy nơi tùy thời mà chọn lấy cái ít bẩn nhất trong số những cái bẩn – để mà sống còn – thì mới thoải mái sung sướng. Mục đích của anh em mình là gì nếu chẳng phải như vậy? Và nếu như thế thì còn gì đơn giản hơn? Lão ngưng một chút, trầm ngâm nói tiếp: – Chẳng đời nào bọn cánh tả lại chịu miễn xá cho các anh. Cứ tin thế đi. Đối với chúng, anh hùng kiểu Lương Sơn Bạc cũng chẳng hơn gì bọn lục lâm, thảo khấu, có khi còn tệ hơn, nguy hiểm hơn. Vì bọn này có cái vở cứu nhân độ thế, lừa bịp được nhiều người. Mà lừa bịp và thù dai thì bọn hồng, bọn đỏ là bậc thầy. Đời nào chúng hiểu – và chúng cũng không muốn hiểu – cái nề nếp, truyền thống Sicilian của anh em mình, ừ thì người cày có ruộng. Nhưng, người cày có thực sự giữ được ruộng của mình không? Hay lại là vào hợp tác xã? Anh cứ thử tưởng tượng, nông dân Sicilian nhà mình mà lại hợp tác với nhau được à. Chỉ nội có mỗi cái chuyện cỏn con là nên mặc áo trắng hay áo xanh cho tượng của Đức Nữ Đồng Trinh Mary trong lúc rước kiệu, mà họ còn cãi nhau như mổ bò, thì làm sao hợp tác nông nghiệp với nhau cho được. Làm gì mà bọn hồng, bọn đỏ không biết điều đó. Nó biết quá ấy chứ. Nhưng, nó vẫn cứ ra rả tuyên truyền. Bịp, đại bịp. Nói cho đúng, mẹ kiếp, đang không có một tấc đất cắm dùi mà bây giờ có thằng bảo sẽ cho năm ba công ruộng, lại chẳng mất cái gì khác ngoài lá phiếu, thì thằng nghèo nào lại không ham? Không rần rần hoan hô? Và cứ thế, chúng cưỡi lên đầu lên cổ, nhong nhong lên nắm chính quyền. Sau đó, quay lại siết họng cho le lưỡi cả đám. Lúc đó, có quỳ mọp, lạy lục, khóc lóc đến tóe máu mắt ra, nó cũng có thương. Khi biết khôn thì… đã lủng. Lão nói ra những điều đó với một giọng mỉa mai, khinh miệt của một người đã ê hề kinh nghiệm trong chuyện hợp tác. Và lão muốn cho người nghe hiểu là lão cường điệu thật đấy. Nhưng là sự cường điệu không quá xa sự thật. Guiliano lắng nghe và mỉm cười. Hắn biết, không sớm thì muộn, thế nào cũng phải “hóa kiếp” thằng “già lựu đạn” này. Nhưng cái vẻ dễ nể toát ra từ sự hiện diện của lão, cái uy ngầm từ cái bản lĩnh cá nhân của lão đã khiến cho Guiliano phần nào do dự trong ý nghĩ một cái gì đó ngược với ông bố đẻ ra hắn. Hắn phải quyết định. Và đó là quyết định quan trọng nhất hắn phải có, kể từ ngày hắn sống ngoài vòng pháp luật. – Tôi đồng ý với tôn huynh về vấn đề phe tả: bọn đó không hợp với khẩu vị của người Sicilian mình. Nói xong câu đó, hắn vừa tiếc vừa hy vọng. Và hồi hộp như vừa lật cây bài tẩy trong canh xì phé quyết định sản nghiệp và vận mạng của mình. Hắn cảm thấy đây là lúc phải khiến cho Ông Trùm chiều theo ý của hắn. – Nhưng, nếu tôi làm cho bọn Rome cái công việc bẩn thỉu ấy, thì tất nhiên phải có đi có lại chứ? Vậy, bọn Rome sẽ đáp ứng tụi tôi như thế nào? Chúng tôi sẽ chẳng hẹp hòi gì với anh. Trước hết, để khóa mõm mấy thằng báo chí và mấy thằng đối lập, thì những cuộc điều động quân đội và cảnh vệ vẫn có. Những cuộc hành quân tảo thanh, vẫn có. Nhưng chỉ có ông Trời là đau. Vì đạn bắn chỉ thiên cả. Đồng thời, Andonlini sẽ báo trước cho anh biết mọi cuộc hành quân, để anh kịp thời lỉnh đi chỗ khác chơi. Chúng nó sẽ không làm ráo riết để bứng các anh khỏi dãy núi ấy. Và cũng chẳng tìm mọi cách để ngăn chặn công việc làm ăn của anh. Nhưng tôi biết, bấy nhiêu đó là không đủ và không đáng với công của các anh. Bởi vậy, cho phép tôi cái hân hạnh được giúp các anh đem lại niềm vui cho các cụ nhà ta, nhất là cụ bà. Trước mặt ông bố của anh đây, trước mặt anh bạn chí thiết của anh đây, tôi long trọng hứa: dù có phải bay lên trời hay chui xuống địa ngục để giành cho bằng được sự miễn xá cho anh – và tất nhiên luôn cả tay chân bộ hạ của anh – tôi cũng không quản ngại, làm hết mình. Guiliano quyết định rồi. Nhưng, hắn muốn “đóng đinh” lời hứa của cái “lưỡi rắn” ấy, để sau này nó khỏi ăn ngang nói ngược. – Tôi đồng ý gần hết những gì tôn huynh nói. Tôi yêu đất Sicily, yêu người dân Sicilian. Và, dù chỉ là một thằng ăn cướp, tôi vẫn tin vào công lý. Tôi sẵn sàng làm tất cả những gì giúp tôi quay trở lại đời sống bình thường với ông bà già tôi. Nhưng tôn huynh làm thế nào để đảm bảo được là Rome sẽ không hứa cuội. Mấu chốt là ở chỗ đó, điều mà tôn huynh yêu cầu tôi làm – xin lỗi – vừa bẩn lại vừa nguy hiểm. Bởi vậy phải có sự trả công xứng đáng. Ông Trùm trầm ngâm suy tính. Rồi, chậm rãi, đắn đo, lão nói: – Anh cẩn thận như thế là phải. Nhưng anh đã có kế hoạch hành quân mà tôi nhờ ông giáo đâu đưa anh coi. Anh cứ giữ lấy. Coi như bằng chứng là ngài bộ trưởng Bộ tư pháp đã có liên hệ với anh. Tôi sẽ cố gắng cung cấp thêm cho anh những tài liệu khác nữa. Vừa dễ dùng, vừa dễ bắt chẹt Rome. Nếu Rome trổ mòi lật lọng thì chỉ cần hé chút xíu cho công luận thấy là đủ để cả lò đảng Dân chủ Thiên chúa giáo thắng cử, tôi đảm bảo sự miễn xá cho anh. Ngài bộ trưởng Trezza rất nể trọng tôi, không khi nào dám nuốt lời hứa với tôi. Bằng chứng đầu tiên để anh thấy ảnh hưởng của tôi đối với Rome là qua Andolini, anh sẽ có đủ mọi tin tức cần thiết, để vô hiệu hóa các cuộc hành quân của cảnh vệ. Ông Adonis phấn khởi và mãn nguyện ra mặt. Cứ hình dung nét mặt rạng rỡ, sung sướng của bà Maria Lombardo, khi con trai khỏi trốn chui trốn nhủi nữa, thì làm bất cứ cái gì xét ra cũng đúng cả. Adonis cũng biết chẳng qua hoàn cảnh đưa đẩy, chớ bản chất thằng Turi là tốt, đâu phải nó có căn cốt dao búa. Ông cũng nghĩ rằng sự liên minh giữa Guiliano và Ông Trùm Croce chỉ là bước đầu trong quá trình của một tình hữu nghị bền chặt giữa đôi bên. Sự kiện Ông Trùm đảm bảo sự miễn xá làm cho ngay cả thằng dịch vật Pisciotta cũng phát ham. Nhưng, Guiliano đâu có ngu gì mà không thấy cái bẫy có thể có trong đề nghị và cam kết của ông Trùm. Hắn nghĩ: biết đâu thằng già dịch này thuổng được bản kế hoạch rồi “bốc” vung vít, hứa cuội. Mai mốt, thằng cha bộ trưởng cứ cứ xua quân uýnh túi bụi. Có chìa bản kế hoạch này ra, nó sẽ tỉnh bơ nói: “Ai biết Croce là thằng cha căng chú kiết nào, ai hứa hẹn gì, hồi nào, bản kế hoạch đó bị đánh cắp…” Thế là nó cho mình vuốt đuôi luôn. Vỡ nợ là cái chắc, bởi vậy, phải gặp trực tiếp thằng cha bộ trưởng, cho chắc ăn. – Tôn huynh lúc nào cũng tốt bụng. Tôi biết. Cũng do tốt bụng mà tôn huynh hứa, đảm bảo với tôi này nọ. Tôi không dám phủ nhận lòng tốt của tôn huynh. Dân Sicilian đặt cho tôn huynh cái biệt hiệu “ông Địa”, tôi thấy quá đúng đi. Nhưng tôn huynh cũng thừa biết bọn Rome nổi tiếng là lường gạt, lừa lọc, bịp bợm, tráo trở, lật lọng, xảo quyệt, xạo. Miệng lưỡi bọn chính khách còn tệ hơn cái trôn con đĩ. Nói láo, hứa cuội là cái nghề của bọn nó mà. Bằng chứng là mỗi ngài chính khách chỉ cần thực hiện mười phần trăm lời hứa lúc tranh cử, thì đất nước này đã trở thành chốn bồng lai từ lâu rồi. Nếu lời hứa chỉ ràng buộc giữa tôi và tôn huynh thì còn nói gì. Đằng này, nó lại liên can đến bọn Rome. Bởi vậy, tôi muốn, tôi – hoặc ít ra một người mà tôi tin cậy được nghe thấy chính miệng ngài bộ trưởng hứa, và nhận được một tài liệu nào đó mà chính tay ngài bộ trưởng đưa. Ông Trùm sững sờ. Thế là hắn chẳng coi lão ra cái đếch gì. Vậy mà, nãy giờ ngồi nói chuyện, lão thấy khoái thằng nhỏ này quá rồi, lão mường tượng sẽ làm gì nếu thằng nhỏ này là con trai lão. Ôi, hai cha con này mà cai trị Sicily, thì phải biết. Hết sảy. Lúc hắn cúi đầu chào “xin được hôn tay tôn huynh” sao mà dễ thương đến thế. Trong đời, chẳng mấy khi Ông Trùm tỏ ra dễ thương như hôm nay. Nhưng bây giờ, lão ngớ người ra. Hắn xổ toẹt cả lời hứa lẫn sự đảm bảo của lão. Vậy mà lão cứ tưởng mình ngon. Vậy mà vội hí hửng mừng thầm. Dè đâu, lão bị cho leo cây. Thế bao nhiêu cảm tình tốt đẹp nãy giờ lão dành cho hắn bèn tan biến cái rụp. Đau! Chẳng cần nhìn vào mặt hắn, lão cũng thấy hắn đang lim dim nhìn lão, chờ đợi những bằng chứng cụ thể hơn, những bảo đảm chắc hơn. Có nghĩa là lời hứa, đảm bảo của lão chẳng có sức nặng nào hết. Ai nấy trong phòng nín thinh. Ông Trùm đắn đo xem phải ăn nói làm sao đây. Ông Adonis có vẻ thất vọng vì sự bướng bỉnh của Guiliano và sợ Ông Trùm phản ứng bất lợi. Khuôn mặt phúng phính, trắng bóc của cha Benjamino thộn ra. Cuối cùng, Ông Trùm lên tiếng trấn an ông giáo sư. Lão nói toẹt ra, cứ như đọc được những gì Guiliano đang nghĩ trong đầu: – Có lẽ vì quá quan tâm mong muốn anh nhận lời, nên tôi đã nói một cách nồng nhiệt, khiến anh thấy tôi có vẻ nói quá khả năng và sự thật chăng. Nhưng, để giúp anh dễ quyết định, tôi xin vắn tắt, rõ ràng như thế này: sẽ không bao giờ có chuyện ngài bộ trưởng tự tay trao cho anh một tài liệu gì. Quá nguy hiểm đã đành, mà còn vấn đề “noblesse oblige” (1), nhưng ngài sẽ nói đúng lời hứa như tôi đã nói với anh. Tôi sẽ xoay xở cho anh một cái thư của hoàng thân Ollorto – một nhân vật uy tín và đầy quyền thế của đám quý tộc – một người rất quan tâm đến lợi ích của anh. Và có lẽ còn hơn thế nữa. Tôi có một người bạn mà chắc chắn anh rất tin cậy. Đó là Hội Thánh, và Hội Thánh đảm bảo sự miễn xá cho anh. Tôi sẽ trình Hồng y giáo chủ Palermo vấn đề này. Chắc chắn ngài thuận lời ngay thôi. Sau khi anh diện kiến ngài bộ trưởng, tôi sẽ thu xếp để anh được Hồng y giáo chủ tiếp kiến. Ngài sẽ trực tiếp hứa với anh. Tóm lại, và phía thế lực chính trị thì có ngài hoàng thân. Về phía chính quyền thì có ngài bộ trưởng Bộ tư pháp. Về phía Hội Thánh thì có ngài Hồng y – biết đâu chẳng có ngày ngài lên ngôi Giáo Hoàng? – Và của chính tôi nữa. Như thế, còn chắc hơn đinh đóng cột. Chẳng còn sai chạy đi đâu được nữa. Thật khó mà tả được cái cách Ông Trùm nói ra câu “và của chính tôi nữa”. Cái giọng ồm ồm của lão được cố kìm lại cho có vẻ khiêm nhường. Ra cái điều không dám ghép mình đứng ngang các vị kia. Nhưng chỉ có ai ngu mới không thấy Ông Trùm nhấn mạnh tầm quan trọng của mình.
Photo edit by Sơn râu
Đại khái cũng kiểu kín kín hở hở của mấy em chiêu đãi trong quán rượu. Nhưng, Guiliano cười thành tiếng: – Tôi đâu có thể nào đi đến Rome được? Ông Trùm rủa thầm trong bụng: “Chà, thằng này đểu và xấc đến thế là cùng. Bộ mày đòi các vị này đến tận cái xó kẹt này để năn nỉ mày chắc? Con ơi, già néo đứt dây đó, nghe con. Đ.m., mày sẽ phải trả giá nặng cho cái tội xấc này đó”. Còn tài tình hơn một cầu thủ thượng thặng lừa và cướp được trái banh của một danh tài cũng thượng thặng khác, Ông Trùm đã khôn khéo đưa Guiliano vào bẫy mà nó đâu có hay. – Vậy thì anh hãy phái một người tin cẩn nhất của anh đại diện cho anh. Đích thân tôi sẽ đưa người ấy đến diện kiến các vị vừa nói. Guiliano đăm đăm nhìn Ông Trùm. Một dấu hiệu báo động nảy trong óc Guiliano “Quái nhỉ, sao thằng cha già lựu đạn” này lại tha thiết giúp đỡ mình đến thế này nhỉ. Chắc chắn là thằng cha dư biết – cho dù có một ngàn bộ trưởng và hồng y bảo đảm cũng vậy – chắc chắn mình không thể đi Rome. (Ai ngu gì mà liều mạng ẩu vậy?). Vậy ai là người thằng già dịch này mong làm đại diện cho mình?” – Không có ai được tôi tin cậy hơn ngài phó tướng của tôi đây. Tôn huynh hãy đưa Aspanu Pisciotta đi Palermo và đi Rome. Y cũng thích ngao du những kinh thành lớn. Và không chừng y còn được ngài Hồng y ban phép bí tích giải tội cho. Được chính ngài Hồng y giải tội cho, thì tội gì mà chẳng được miễn xá. Guiliano cười đắc ý về câu nói dí dỏm hai nghĩa của mình. Nhưng cái hắn đắc ý chính là ở chỗ hắn tưởng là làm cho Ông Trùm hẫng giò. Hắn đinh ninh là Ông Trùm mong hắn chọn giáo sư Adonis làm đại diện cho hắn. Không dè hắn lại chọn Aspanu. Ông Trùm ngả người ra lưng ghế, tay chìa ly cho ông Adonis rót thêm ly cà – phê. Lão làm như đó là cử chỉ kín đáo bày tỏ nỗi ngạc nhiên và thất vọng. Nhưng, không dè đó lại là một thủ thuật Ông Trùm thường dùng để che đậy sự mãn ý và thắng lợi bất ngờ và cả sự mong muốn của lão. Tuy nhiên, lão che được mắt ai, chứ làm sao che được mắt Guiliano. Bậc thầy về du kích chiến, lại được thêm cái trực giác bén nhạy “đọc” được ý nghĩ trong đầu óc người khác làm gì mà Guiliano chẳng nhìn ra sự đắc chí đó. Nhưng Guiliano cho rằng lão mãn ý, đắc chí vì đã đạt được mục tiêu mà chính hắn cho là không quan trọng. Tuy nhiên, hắn đâu có ngờ được cái mục tiêu quan trọng nhất mà lão nhằm là được một mình cặp kè với Pisciotta, cái yếu huyệt của Guiliano. Hai ngày sau, Aspanu Pisciotta theo Ông Trùm đi Rome và Palermo. Pisciotta đã được lão già trọng vọng còn hơn ông hoàng. Thật ra, cái nét mặt của Pisciotta cũng hao hao nét mặt của Cabsare Borgia, con trai của Giáo hoàng Alexandre VI, một bậc cao thủ về âm mưu quỉ quyệt, lật lọng và tàn bạo. Cái mặt lưỡi cày, hàng ria con kiến, nước da vàng ệch, mét mét như nước da dân châu Á. Đôi mắt, vừa xấc vừa dữ tợn, vừa quyến rũ lại vừa đa nghi, lúc nào cũng láo liên như mắt thằng ăn cắp. Tại Palermo, họ ngủ trong khách sạn Umberto do Ông Trùm làm chủ. Đó là dinh lũy thì có, chứ khách sạn gì mà kỳ cục vậy. Bồi bếp thằng nào cũng vũ trang đến tận răng. Từ ngoài vườn cho đến tận cầu thang chỗ nào cũng có vệ sĩ võ trang, canh phòng cẩn mật, đến con kiến chui vào cũng không lọt. Nắm vững ưu, nhược điểm của Pisciotta: ham ăn, khoái diện và cái khoản kia. Dễ quá. Ăn thì cứ nhà hàng hách nhất Palermo. Còn cái khoản kia muốn bao nhiêu có bấy nhiêu. Chỉ sợ không đủ sức. Toàn thứ gà “đờ luých”, muốn “gin” có “gin”, không thèm sài đồ giả. Tha hồ. Chọi bằng thích. Mặc thì khỏi chê. Bề gì cũng là một “phó tướng” đi phó hội với ngài bộ trưởng, chớ đâu phải thằng cướp đường đi gặp đồng đảng mà ăn mặc nhếch nhác. Tại Palermo, đích thân Ông Trùm dẫn Pisciotta đến yết kiến Hồng y giáo chủ. Cũng lạ. Khi bước vào đại sảnh của tòa Hồng y giáo chủ, dù là nhân vật nào đi nữa cũng cảm thấy e dè, khép nép. Chứ sao? Nơi đây, gần như chốn thiên nhiên. Vì nó là hiện thân vật chất siêu nhiên. Chớ đâu phải cái quán nhậu mà đòi nghênh ngang, ăn tục nói phét quậy phá tầm bậy? Nhưng, với Pisciotta thì khỏi. Vẫn cứ coi trời bằng vung. Chẳng thấy ngợp, chẳng e dè, dù chỉ là một thằng nhóc mới lớn, ở một thị trấn khỉ ho cò gáy tít tắp trong cái thung lũng hẻm núi nào đó. Bản thân, từ lâu, y cũng chẳng biết Chúa, biết Mẹ là cái quái gì, mặc dù lúc lọt lòng y cũng được bà mẹ y ẵm đến nhà thời chịu phép Bap – têm đàng hoàng. Thậm chí, lúc chín mười tuổi, y còn là chú bé tiểu lễ sinh trả lễ nữa cơ đấy. Vậy mà, bước vào tòa Hồng y giáo chủ, y cứ nhơn nhơn. Khi Đức Hồng y xuất hiện, Ông Trùm cung kính quỳ gối hôn nhẫn của ngài, thì thằng dịch vật này cứ đứng kiêu hãnh và trân trân nhìn thẳng vào mặt ông hoàng của giáo hội(2).
Đức Hồng y giáo chủ vóc dáng cao lớn. Đầu đội mũ thóp đỏ. Áo thụng và áo phủ vai đỏ tía. Mặt hơi rỗ huê. Cử chỉ không bệ vệ mà còn có phần hơi chậm chạp, nặng nề. Có lẽ, để tăng cường uy tín của mình – “ngài Bộ trưởng, ngài hoàng thân, đức ngài Hồng y và … chính tôi” oai chưa? – Ông Trùm đã “bốc phét” là vị Hồng y này có nhiều cơ may vồ được cái ngai Giáo Hoàng. Nhưng, cứ bộ dạng của ngài thì còn khuya mới ngấp nghé ngôi Giáo hoàng. Tuy nhiên, nói ngài là một tay mưu mô sâu hiểm thì đúng quá. Dân Sicilian chính gốc, mà lại thuộc loại tinh ròng, thượng hảo hạng Sicilian, chứ bộ Sicilian thứ quê thứ ruộng à? Sau nghi thức thường lệ, để tỏ lòng chiếu cố, Hồng y giáo chủ bèn giở ngay thổ ngữ Sicilian với giọng đặc sệt thổ âm để quay ra hỏi Pisciotta về phần hồn của y hiện nay ra sao. Ngài cũng nhắc nhở y rằng, trên thế gian này, dù có phạm đến tội gì đi chăng nữa, thì Chúa lòng lành và lân tuất vô cùng cũng vẫn xí xóa cho hết, nếu biết sống như một tín đồ thuần thành. Có lẽ là do không có nhiều thì giờ – chứ chẳng phải ngài tiếc công – nên ngài đã không giải thích cho nó thế nào là một tín đồ thuần thành, theo ngài. Bởi vậy, sau khi nhân danh chúa cả trên trời để đảm bảo phần miễn xá thiêng liêng cho nó. Đức Hồng y bèn trở lại cõi tục, đề cập đến hiểm họa sinh tử mà Hội Thánh đang phải đương đầu ở Sicily. Thì vẫn cái đĩa hát cũ. Có điều do chính đức ngài Hồng y phát thanh, cho nên nó không rè rè như Ông Trùm: “Sự gì sẽ xảy ra – nếu trong cuộc bầu cử sắp tới bọn xã hội và bọn cộng sản lên nắm chính quyền – thì chẳng cần phải nói thì ai cũng biết. Nhà thờ chánh tào, nếu không bị biến thành rạp hát hay viện bảo tàng thì cũng thành một nhà máy chế tạo vũ khí. Tượng Chúa Jesus, tượng đức Thánh Nữ Đồng Trinh, tượng các chư thánh sẽ bị đập phá, rồi quăng xuống biển. Các giáo sĩ bị tàn sát. Các nữ tu bị hãm hiếp…” Nghe vậy, thằng khốn Pisciotta chẳng những không làm bộ lo toan thì chớ, nó lại còn cười tủm. Nó nghĩ trong bụng: “Chẳng đời thuở nào, một thằng Sicilian thứ thiệt – kể cả khi nó trở thành cộng sản – lại nghĩ đến chuyện đi hãm hiếp mấy con quạ cái đó”. Làm gì mà đức ngài Hồng y chẳng thấy nụ cười tủm xỏ lá của thằng khốn đó. Nhưng, vốn rộng lượng, đức ngài tảng lờ một cách rất kẻ cả. Ngài phán tiếp, đại khái: nếu Guiliano dẹp được cái vụ tuyên truyền của cộng sản trong cuộc bầu cử sắp tới, thì chính vào ngày lễ Phục Sinh, đích thân ngài sẽ lên tòa giảng tại nhà thờ chánh tòa Palermo để ca ngợi đức hạnh và công lao của Guiliano, và đòi nhà cầm quyền ở Rome phải miễn xá cho nó. Và khi có dịp gặp ngài bộ trưởng Bộ tư pháp, đích thân Hồng y sẽ can thiệp để xúc tiến sự miễn xá đó. Phán bấy nhiêu xong, đức ngài ra dấu chấm dứt buổi yết kiến. Ngài ban phép lành cho Pisciotta. Trước khi ra về, Pisciotta đã xin ngài Hồng y ban cho nó ít chữ làm bằng, để nó về trình lại cho Guiliano, cái bằng chứng là nó đã thực sự được yết kiến đức ngài. Đức Hồng y “ô – kê” liền và hí hoáy viết. Ông Trùm đớ người ra vì sự khờ khạo của ông này. Nhưng, lão không can ngăn. Cuộc gặp gỡ của Pisciotta với ngài bộ trưởng Bộ tư pháp còn đặc sắc và độc đáo hơn nữa. Tất nhiên, ngài bộ trưởng đâu có thuyết giáo như vị Hồng y. Trái lại, còn xử sự “một cách rất là phương diện quốc gia”. Chứ sao? Bề gì đi nữa thì cũng đường đường là một đấng bộ trưởng, lương đống triều đình? Còn sứ giả trước sau gì cũng chỉ là thằng lục lâm. Bởi vậy, mở màn, ngài bộ trưởng uýnh phủ đầu y một phát bằng cách đem lực lượng ra hù y. Sau đó, vẫn cứ vở cũ soạn lại, vẫn cứ đĩa hát “ò è”. Nếu kỳ này đảng Dân chủ Thiên chúa giáo bị thất cả, bọn cộng sản lên nắm chính quyền, chúng sẽ không nương tay cho bọn ăn cướp ở Sicily: tụi bay hết đường mần ăn. Đúng là sau này, dù khi đã thắng cử, đảng Dân chủ Thiên chúa giáo vẫn đưa cảnh vệ đến mở các chiến dịch càn quét. Nhưng chỉ lấy lệ để báo chí và cánh tả khỏi la ó nhặng xị lên thôi. Pisciotta ngắt ngang: – Xin ngài bộ trưởng cho biết có phải là ngay cả trường hợp đảng của ngài thắng cử thì cũng vẫn không thể nào miễn xá cho Guiliano được sao? – Khó đấy! Nhưng không phải là không có thể. Nếu Guiliano giúp chúng tôi thắng cuộc bầu cử này. Nếu anh ta chịu ở yên một thời gian, đừng có những cuộc bắt cóc hoặc cướp bóc ồn ào quá. Nếu anh ta đừng làm cho tên tuổi nổi bật lên quá. Có lẽ anh ta nên sang Mỹ “làm ăn” một thời gian. Đến lúc nào tình hình cánh tả bên nhà êm êm đi, tai tiếng anh ta lắng chìm đi thì hãy quay về. Lúc đó thì chắc chắn là miễn xá được. Nhưng, tôi có thể đảm bảo được điều này là nếu có thắng cử thì chính phủ của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo cũng không làm ráo riết để truy nã anh ta. Và nếu anh ta muốn sang Mỹ thì chính phủ Ý cũng không riết ráo đòi nhà cầm quyền Mỹ trả lại anh ta. Ngài bộ trưởng ngưng nói. Như thể đợi cho lời của ngài ngấm dần vào cái đầu óc chai sạn của Pisciotta. Rồi ngài mới nhỏ nhẹ nói tiếp: – Cá nhân tôi sẽ làm hết sức để thủ tướng, tổng thống cộng hòa Ý đặc miễn cho anh ta. Lại một nụ cười ruồi, Pisciotta đá nhẹ một câu rất đểu: – Sống như một thằng dân thường à? Nếu vậy, tụi này lấy cám mà ăn chắc? Rất tiếc, thưa ngài bộ trưởng, tụi này tuy vậy, chứ đâu đã làm heo được. Bởi vậy, chính phủ cũng phải có một khoản chi nào đó, nếu muốn cho tụi này làm lại cuộc đời, nhất là sau khi hoàn thành cho ngài cái công việc chẳng lấy gì làm sạch sẽ, thơm tho này. Trong lúc ngài bộ trưởng và Pisciotta đối đáp nhau, Ông Trùm ngồi lặng thinh, nghe. Hai mắt lơ mơ, lim dim như mắt rắn đang ngủ. Nhưng, khi nghe thằng quỉ dịch vật Aspanu đặt điều kiện ngược ngạo vậy, lão mở bừng con mắt thô lố và nói chen ngay vào, để ngăn cơn lôi đình của ngài bộ trưởng. Thằng khốn Pisciotta kia ơi, bộ mày điếc hay sao mà không biết sợ súng? Thân danh là một thằng ăn cướp mà lại dám há họng bắt chẹn, tống tiền cả ông nhà nước nữa thì đúng là coi trời bằng vung rồi. – Thưa ngài bộ trưởng, chú em đây vui miệng nói vậy mà. Anh ta còn trẻ, lần đầu tiên đặt chân đến thủ đô, nên đâu có biết gì về lễ phép thế giới bên ngòai. Ngài bộ trưởng chẳng liên can gì đến sinh nhai của họ. Để vấn đề đó cho tôi. Lườm Pisciotta một phát, lão ra hiệu nó khép mỏ lại. Nhưng nét mặt hầm hầm tức giận của ngài bộ trưởng bỗng tan biến, nhường chỗ cho một nụ cười rất chi là “La Mã”! – Thôi được! Tôi rất sung sướng vì thanh niên Sicilian mình coi vậy, chớ cũng không thay đổi gì nhiều, đã có thời, chính tôi cũng giống y vậy đó. Chẳng việc gì phải sợ mà không đòi cái phần chính đáng của mình. Phải không, anh bạn trẻ? có lẽ anh bạn muốn một cái gì làm bằng chứng cụ thể cho lời hứa chứ gì? Ngài đi lại phía bàn giấy, rút từ ngăn kéo ra tấm thẻ thông hành đặc biệt có sọc đỏ, trao cho Pisciotta và nói: – Đây là giấy thông hành tối ưu, tối đặc biệt do chính tôi ký. Với giấy thông hành này, bất kể ngày đêm, anh bạn có thể đi bất cứ nơi nào trên đảo Sicily, kể cả nước Ý mà không có một giới chức cảnh sát nào làm phiền. Trái lại, còn tích cực giúp đỡ, cung cấp phương tiện, nếu anh cần. Đáng giá còn hơn ngàn vàng. Cái gì còn có thể dùng tiền mua được, chứ cái này bạc tỷ cũng xin miễn. Pisciotta cúi đầu cám ơn. Cẩn thận nhét tấm giấy thông hành đặc biệt và quí hóa đó vào túi áo trong. Lúc đến Rome, y đã thấy chính Ông Trùm cũng có tấm giấy thông hành tương tự. Y biết, vậy là y nhận được một cái gì đó có giá trị lớn lắm. Nhưng đầu óc quỉ quyệt của y cũng nảy ra những câu hỏi: nếu y bị bắt với tấm thông hành đặc biệt này thì sao? Rất có thể sẽ là một vụ tai tiếng làm rung chuyển cả nước Ý. Chính quyền bắt tay với kẻ cướp. Nhưng uy tín của Guiliano đối với đám khố rách cũng bị sứt mẻ nặng, đám khố rách xưa nay có bao giờ ưa nhà nước. Vì nhà nước là kẻ áp bức, bóc lột họ. Vậy mà kẻ bảo trợ đám khố rách lại đi đêm với nhà nước, thì chẳng hóa ra Guiliano cũng là cò mồi, là đối lập cuội sao? Với bằng chứng rành rành: phó tướng của Guiliano lại có tấm giấy thông hành đặc biệt. Mà chỉ những mật thám cao cấp mới có, thì còn trời đất nào nữa? Phải thông minh, xảo quyệt như Pisciotta mới tìm ra cái manh mối lắt léo trong sự đãi ngộ đặc biệt này. Thì cứ coi tấm thông hành này như một món quà, một cái “lễ ra mắt”, đồng thời là bằng chứng cho sự tin cậy và thiện chí của ngài bộ trưởng, cùng với những đón tiếp, đãi đằng cứ như ông hoàng mà lão Croce đã dành cho Pisciotta. Nhưng bấy nhiêu cũng chưa đủ sức thuyết phục y. Trước khi cáo từ ngài bộ trưởng, y cũng lại giở cái mánh – như nó đã làm với đức Hồng y – là xin ít chữ làm bằng để nói với Guiliano. Nhưng, ngài bộ trưởng “con cái của thế gian, của bóng tối” dứt khoát là phải khôn khéo hơn đức Hồng y, “con cái của ánh sáng” chứ. Sức mấy ngài bộ trưởng bị hố như ngài Hồng y giáo chủ. Ngài bộ trưởng cười thầm: “Thằng láu cá khốn nạn. Bố mày không thèm bẫy mày thì thôi, chớ hạng mày đòi bẫy bố mày sao nổi. Mày có điếm thì điếm địa phương, còn bố mày đây, chính khứa tầm cỡ quốc gia và nếu có điếm thì cũng điếm quốc tế, chứ đâu ít”. Ngài bộ trưởng mỉm cười rất “La Mã”! Tại sào huyệt trên núi, Guiliano bắt Pisciotta thuật lại từng lời Đức Hồng y, ngài bộ trưởng và nó đã nói với nhau. Pisciotta chìa cái thẻ thông hành có sọc đỏ ra và nói với Guiliano là y không hiểu được cái ý đồ sâu hiểm, lắt léo trong việc cấp cho y cái thẻ, và làm thế nào để khai thác thẻ này một cách có lợi nhất. Guiliano vui vẻ vỗ vai nó: – Mày đúng là thằng em tao. Tao đã là thằng chúa đa nghi mà mày còn hơn tao nữa. Ý đồ của chúng khi cấp cho mày cái giấy thông hành đặc biệt – theo tao – chẳng có gì đáng gọi là sâu hiểm, lắt léo. Có điều vì mày quá trung thành với tao, nên mày không thấy. Chứ nó hiển nhiên, lồ lộ ra đó. Cấp cho mày giấy thông hành đặc biệt này, tất nhiên mày sẽ có những chuyến đi Rome. Lần lần, nó sẽ dụ mày làm mật thám cho nó. Mày cứ tưởng thình lình thằng cha bộ trưởng nổi hứng bất tử, rút ngăn kéo ra đưa cho mày cái giấy đó hả. Mẹ kiếp, hai đứa chúng nó kịch với mày đó. Chúng nó đã bàn với nhau nát nước ra chứ bộ. – Đ.m. mấy thằng điếm, – Pisciotta tức giận gầm lên. – Mẹ kiếp, tao sẽ dùng giấy này, quay lại cắt họng tụi nó. – Ấy, chớ! Chớ nổi nóng, cứ giữ cái giấy ấy. Có chỗ xài, chứ đâu phải không. Cho mày hay, còn cái này nữa mà mày không để ý nên không biết. Cái chữ ký của thằng cha bộ trưởng. Có thể là chữ ký thật. Cũng có thể là chữ ký giả. Miệng lưỡi rắn độc mà mày. Nếu được việc cho chúng, thì chúng bảo là thật. Đếch được việc cho chúng, thì dù có thật chúng bảo là giả. Mày cãi với nó được à? Và nó bảo ấn chỉ đó bị ăn cắp, chứ nó đếch cấp phát cho thứ hạng mình. Miệng người sang có gang có thép. Cái giấy ấy bị vô hiệu hóa, mấy hồi? Hiểu ra, Pisciotta “á” lên một tiếng. Vừa tức giận, vừa ngạc nhiên, và y lại càng phục thằng Guiliano. Coi bộ thằng Guiliano khơi khơi, vô tâm, cả tin đến độ như khờ khạo, ngốc nghếch. Thế mà Guiliano lại thấy ngay được cái y đồ lắt léo hiểm hóc của bọn kia. Một cái bẫy che giấu cực kỳ tinh vi mà bị hắn phăng ra một cái. Vậy mà cứ tưởng hắn lãng mạn, viển vông hời hợt, không thực tế đến độ hoang tưởng. Đứa nào tưởng Guiliano là ngây thơ, đứa đó chết không kịp ngáp có ngày. Pisciotta hỏi: – Như vậy thì mình tin thế nào được lời hứa của chúng nó? Và nếu thế, giúp tụi nó thì được cái gì? Tao đã nói với mày là mình đừng có thèm dính vô mấy cái vụ “chính chị chính em” làm đếch gì. Mệt mà còn thêm rắc rối. Và cũng chẳng ăn cái giải gì. Guiliano đã suy nghĩ về vấn đề này. Aspanu là một thằng có thói ưa mỉa mai cay độc và có chút máu tham lam nữa. Đã mấy lần, sau cuộc “ăn hàng”, y đã cằn nhằn, so bì phần hơn phần kém trong lúc phân chia “chiến lợi phẩm”. Trích ra, chia cho dân nghèo, Aspanu không ưng. Nhưng không dám phản đối ra mặt. – Mình không có cách nào khác, Aspanu! – Guiliano nói: – Bọn cộng sản mà cầm quyền thì dứt khoát, không đời nào chúng nó để yên cho bọn mình, chứ nói gì đến miễn xá. Bọn nào chớ bọn hồng, bọn đỏ thì còn khuya mới có cái vụ miễn xá. Bởi vậy, ngay lúc này, đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, đức Hồng y giáo chủ và cả cái thằng già dịch vật Croce đều cùng đứng chung trận tuyến với mình, để chơi lại bọn kia. Mục tiêu trước mắt là vô hiệu hóa thằng cộng sản, và nói chung bọn tả cái đã. Quan trọng nhất. Sinh tử đấy. Khi bọn cộng sản bị quất sụm rồi, mình tính sổ với bọn Dân chủ Thiên chúa giáo và thằng già Croce, mấy hồi? Cùng lắm thì lại “đường ta ta cứ đi” như từ trước đến giờ, bọn Dân chủ Thiên chúa giáo làm gì được mình. – Đ.m, mình đi hốt cứt cho chúng nó, rút cục, chúng nó vẫn bắt mình ăn mày sự miễn xá của chúng nó. Mà chắc gì đã được? Tao đếch tin tụi chúng nó, chúng nó làm như chúng nó là những thằng đực, còn tụi mình như mấy con cái khờ khạo. Để dụ mấy con cái lên giường, thì lúc đó dù phải hứa đào mồ bố nó lên, thằng đực cũng “ô – kê” gấp gấp. Nhưng, xong rồi ấy hả, không đá đít đã là may cho em rồi. Tao sợ nó còn vừa đá đít vừa chọc quê nữa. “Ai bảo ngu?” Tao đã nói với mày nhiều lần là tụi mình có “đánh đấm” cũng là vì tụi mình, cho tụi mình. Kiếm chác được bao nhiêu cứ giữ lấy, đếch có san sẻ cho thằng nào con nào hết. Chúng nó nghèo, chúng nó khổ, kệ cha chúng nó. Chúng nó mới có đổ mồ hôi, còn tụi mình còn đổ cả máu. Mẹ kiếp, tao nghĩ bọn mình cứ kiếm dăm ba mối bẫm nữa, gom được món kha khá, rồi tếch sang Mỹ, sang Brazil, sống như ông hoàng. Miễn xá hay không miễn xá, tao cũng đếch cần. – Aspanu, lúc cần thì cũng phải đánh đu với tinh chứ mày. Thắng rồi, được miễn xá rồi, mình ra ứng cử. Cái gì chớ phiếu cả dân Sicilian mình hốt chắc. Lúc mình đã là dân biểu, thượng nghị sĩ muốn gì chả được. Nếu tụi nó chơi đểu, chơi trò lật gọng, thì cả mày lẫn tao có đứa nào chết giấc vì bị đánh bất ngờ đâu. Mình vẫn chuẩn bị sẵn để chơi lại, chơi đến nơi đến chốn, nếu chúng lật gọng, không miễn xá cho mình… Chơi bọn Dân chủ Thiên chúa giáo dễ chơi hơn bọn hồng, bọn đỏ. Tóm lại, trong mọi trường hợp, mình phải đánh gục thằng cộng sản đã, cho nó tiêu tùng đã. Thôi, mày cứ nghe tao. Tao với mày đều nghĩ giống nhau. Cho mày hay, trận chiến cuối cùng của mình không phải là cộng sản mà là bè lũ ở Rome, là thằng già “lựu đạn” Croce và đám “Người anh em” của nó. Cái đích cuối cùng phải là chỉ còn lại tụi mình “độc quyền”. Pisciotta nhún vai: – Coi chừng, tao sợ mày sai lầm. Mặc dù đang mỉm cười, trong bụng Guiliano đăm chiêu. Hắn biết là Pisciotta chỉ muốn sống đời giang hồ. Lối sống ấy hợp với y. Y thông minh, nhanh trí khôn, quỉ quyệt, thâm hiểm. Nhưng óc tưởng tượng của y nghèo nàn. Y không biết nhảy vào tương lai. Y cũng không thể thấy được kết cuộc không thể tránh khỏi của bất cứ thằng ăn cướp nào. Mãi đến khuya, Pisciotta vẫn ngồi kéo khói một mình trên mỏm đá. Cơn đau ngực nhói lên. Y phải dụi điếu thuốc và cất vào túi. Y biết bệnh lao của y ngày càng nặng. Nhưng y biết chỉ cần sống vài tuần lễ liền trên núi này thì bệnh sẽ đỡ ngay. Điều làm cho y băn khoăn chính là điều mà y không tiết lộ cho Guiliano. Trong suốt hành trình đi gặp Hồng y giáo chủ và ngài bộ trưởng Bộ tư pháp, Ông Trùm là bạn đồng hành khăng khít không rời y nửa bước. Thường xuyên, lão bàn với y và bày tỏ cho y quan điểm của lão về tương lai của Sicily, về những xáo trộn trong thời sắp tới. Y hiểu là lão muốn “ve vãn” y. Lão kín đáo, dè dặt và khôn khéo hé mở cho y thấy cái viễn tưởng và địa vị của y trong tổ chức “Người anh em”. Đi với lão, cuộc đời y sẽ “lên hương” hơn là đi với Guiliano bội phần. Pisciotta biết lão chiêu hồi y. Nhưng y vẫn làm bộ, không cho lão thấy là y đã hiểu được ngầm ý của lão. Y không tảng lờ, không trốn tránh trả lời. Mà chỉ làm bộ như ngốc nghếch không hiểu cái thâm ý của lão. Tuy nhiên, qua tiếp xúc với lão, y phát hiện ra một điều mà trước đây y chưa biết. Đó là cái thế lực và cái oai ngầm của lão. Từ trước tới giờ, có lẽ ngoại trừ Guiliano, thằng Pisciotta cảm thấy sợ là thằng “già lựu đạn” này. Chẳng riêng gì y, ngay cả những sếp Mafia sừng sỏ nhất Sicily cũng phải ngán thằng già này. Một đời gian hồ vùng vẫy của lão đã gây cho Pisciotta cảm thấy rờn rợn. Cái mà cho đến lúc này – ngồi trên mỏm đá tại sào huyệt – y mới nhìn ra: đó là y sợ lão vì lão nham hiểm quá. Và lão có thể lật y. Một ngày nào đó rất có thể – với những âm mưu thâm độc của lão – y sẽ bị cớm, thậm chí bị ngay đồng đảng của y bắn chết. Như một con chó ngoài đường.
Ông hoàng của giáo hội (prince of Church): mỗi khi một vị Hồng y nhân danh Hội Thánh để công du chính thức một quốc gia khác, thì tập tục ngoại giao Tây phương thường dành nghi thức đón ông hoàng của triều đại đương quyền để đón vị Hồng y này (ND).
Từ bảy tháng qua, Bạch lấy làm thỏa mãn vì đã được đổi nghề. Chàng nghỉ dạy học, đến làm thơ ký cho nhà máy xay lúa gạo Hiệp Hưng, cách tỉnh lỵ chừng hai mươi cây số. Nghề ghi chép lặt vặt ấy giúp Bạch rảnh rang thời giờ, tuy nhiều khi bận rộn suốt chúa nhật. Chàng ngồi bàn “bua rô”, đón nhận những thân chủ từ thôn quê chở lúa đến xay. Lúc nhà máy nghỉ chạy, chàng tha hồ đi tới lui, hút thuốc nhìn khung cảnh quá nhàm: vài gốc me cổ thụ, con đường mòn và dòng rạch hiền hòa. Lẽ dĩ nhiên, khung cảnh ấy lắm khi tươi hẳn lên nhờ bóng dáng mấy thiếu nữ. Bạch mở hộc tủ, đem ra bộ truyện Phong Thần và quyển sách coi chỉ tay. Chàng lựa chọn rồi quyết định:
– Trong lúc chờ cơm trưa, mình nên trau dồi nghệ thuật coi chỉ tay. Đó là một khoa học. Nhiều nhà bác học tỏ vẻ tin tưởng khoa coi chỉ tay. Đến như ở Pháp Quốc, ông hàn lâm Mô-roa đã xác nhận giá trị thực tiễn của khoa này. Người biết coi chỉ tay thì nghiễm nhiên trở thành “giáo sư”, sang trọng hơn mấy thầy coi quẻ mai rùa.
Chàng cầm quyển sách, gật đầu hứng thú:
– Sách coi chỉ tay với truyện Phong Thần đều giống nhau ở điểm: mơ hồ, vu vơ nhưng kẻ phàm phu thất học đến giới trí thức thượng lưu, ai cũng thích.
Chàng ôn lại chương thứ nhất, nói về hình dáng bàn tay. Đúng quá, loại bàn tay vuông tiêu biểu cho tánh khí khái, cộc cằn. Mấy hôm trước, chàng đã chứng minh điều ấy khi xem cho thầy hương quản! Đây này chương thứ hai nói về đường sanh đạo hoặc mạng đạo. Trên mạng đạo, cái ô hình vuông là điềm chết bất đắc kỳ tử. Ơi! Tuyệt diệu. Hồi năm ngoái, Bạch gặp dịp may mắn lạ thường. Một ông lão bị chết đâm vì ghen tuông. Bạch đến gần ông ta rồi xem chỉ tay thử cho biết: Đường mạng đạo ghi rõ hình vuông tiền định.
Bạch mỉm cười một mình. Có lẽ một ngày nào đó, lúc thất nghiệp chàng sẽ dùng khoa học coi chỉ tay làm kế sinh nhai. Cứ đến nơi đám tiệc, đám giỗ, chàng giả vờ xem chơi cho vài người, tán tỉnh vớ vẩn. Họ sẽ năn nỉ chàng xem giùm rồi đền ơn bằng một số tiền đủ ăn cơm hoặc uống cà phê cho tới ngày hôm sau. Nghe đâu nhiều người chuyển nghề coi chỉ tay đã sống dư dả, mua nhà cưới vợ hoặc hút thuốc phiện.
Ngoài cửa bỗng có tiếng cười khanh khách. Bà chủ Hiệp Hưng nói một hơi:
– Cha chả, tới đây hồi nào vậy? Có chồng chưa vậy? Ờ hai cháu.
Bạch giật mình, đem bộ Phong Thần và sách khoa học huyền bí bỏ vào hộc tủ. Mỗi khi bà chủ “Hiệp Hưng” gặp khách quý, Bạch hiểu mình nên đi nơi khác để bà tiếp chuyện riêng. Trước khi quay mặt, Bạch liếc nhìn: Đẹp quá! Tất cả ba mẹ con. Người mẹ tuổi non bốn mươi, hai cô gái cỡ 17, 18 xuân xanh. Lạ thay, người mẹ vẫn trẻ về hình thức, thoạt trông qua ngỡ là ba chị em. Ban nãy bà chủ Hiệp Hưng lên tiếng hỏi “có chồng chưa vậy?”. Điều ấy khiến Bạch vui mừng khôn xiết. Rõ là người mẹ ấy đã có chồng nhưng giờ phút này sống ly thân, Bạch được quyền yêu thầm, chiêm ngưỡng người bạn của bà chủ.
Người mẹ bước vào với hai cô con gái. Bạch vẫn đứng lấp ló xem.
Bà khách chào hỏi vài câu qua loa:
– Mới tới hồi nãy và tôi tới đây thăm chị. Sao? Hổm rày làm ăn thế nào?
Bà chủ Hiệp Hưng đáp:
– Ngày mưa tháng gió, công việc nhà máy cũng nhờ trời mà phát đạt hơn mọi năm.
Rồi hai người bàn bạc rất lâu về những người bạn riêng của họ. Bạch bực bội vô cùng. Nàng tên gì? Đã có ai ghé gắm chưa? Chàng thả hồn theo giấc mơ riêng tư, quả tim nhảy thình thịch trong lồng ngực. Môi nàng đỏ lợt màu hoa anh đào, lúc nói cũng như lúc cười, đôi má để lộ hai lúm đồng tiền xinh xắn. Chàng giả vờ đi qua đi lại phía sau nhà để ngắm kỹ hơn. Tuy đê mê, chàng vẫn đủ trầm tĩnh để làm bài toán:
– Con gái lớn chừng mười bảy hoặc mười tám tuổi, nghĩa là người mẹ vào khoảng tuổi ba mươi sáu, thí dụ như nàng có chồng vào tuổi mười tám. Mười tám cộng với mười tám là ba mươi sáu.
Chàng mỉm cười, nhủ thầm rằng năm nay mình ba mươi bốn tuổi, nhỏ hơn nàng hai tuổi. Gái hơn hai trai hơn một. Cô khách của bà chủ Hiệp Hưng bỗng nghiêm mặt, nhìn vào phía Bạch.
Hoảng hốt, chàng day một bên. Cô khách hé môi. Trong một thoáng Bạch nín thở. Trông chờ cho nàng hỏi là chàng ló mặt ra để làm quen với người đẹp.
Hỡi ôi! Làn môi xinh xắn và đôi má đồng tiền ấy lại nói qua chuyện khác:
– Hồi nãy, ghé nhà cô X. vui ghê. Lâu lâu tới đây một lần, ai cũng quở sao tôi chưa chồng.
Bà chủ Hiệp Hưng nói:
– Bền gan như chị, giỏi thật. Nhớ hồi nào, mình học chung một trường.
Bạch thở dài, vì cô nọ quá đầy đủ bản lãnh. Nàng đã từng gặp quả tang hàng trăm chàng trai rình trộm như vầy. Nàng biết đè nén sự hãnh diện. Nhờ vậy vẻ đẹp của tuổi xuân muộn càng lộng lẫy, bí mật hơn.
Bạch hơi thất vọng vì người đẹp đã xem chàng như một kẻ nhảm nhí, chẳng có tí gì đáng chú ý hết. Chàng tự an ủi:
– Mình đừng đòi hỏi nhiều. Thôi thì mình rút lui phía sau nhà. Nãy giờ mình đứng nơi sáng sủa mà người đẹp chẳng đoái hoài tới. Yêu được nàng, chuyện xa xôi quá. Nhưng bỏ qua cơ hội hi hữu này, liệu năm bảy năm nữa, còn gặp người khác đẹp như vầy không? Như một thi sĩ thời tiền chiến đã cúi đầu mô tả một người đẹp trong cõi xuân muộn: “Bèo nổi nước trôi, em vẫn trẻ. Cái già như sợ cái hồng nhan”. Hai chữ “cái” tuy thô kệch nhưng được dùng đúng nơi, đúng lúc.
Phía trước, bà chủ Hiệp Hưng đứng dậy đưa tiễn cô khách.
Tan vỡ giấc mộng rồi!
Bạch chạy theo, người đẹp và hai cô gái đã khuất ngoài cổng.
Bà chủ Hiệp Hưng đến bên cạnh:
– Ủa! Thầy làm gì mà ngơ ngẩn vậy?
Như kẻ trộm bị bắt quả tang, Bạch bẽn lẽn:
– Dạ, ai vậy bà?
– Bạn của tôi. Hồi nhỏ, học trường bà xơ ở Sài Gòn chung một lớp.
– Dạ, cổ ở đâu? Chồng của cổ, sao tôi không thấy? Cổ tên gì?
Bà chủ Hiệp Hưng hơi bực mình:
– Cái thầy này, bữa nay sao rắc rối quá.
Bạch yên lặng, trở ra đứng bên bàn “bua rô”. Bà chủ như hối hận vì trót nặng lời với người làm công. Từ hồi lãnh việc đến giờ Bạch tỏ ra siêng năng, tận tụy, chẳng gian lận tiền bạc lần nào cả. Bà cau mày, chợt cười giòn khi bắt gặp lần thứ nhì gương mặt thiểu não của kẻ si tình vặt. Bạch đứng tần ngần mất cả tinh thần, thở nhè nhẹ, im lặng như tiếc nuối chút hương thừa thoang thoảng, mà mái tóc cô khách còn lưu lại.
– À! Tôi quên trả lời. Cô bạn đó tên Thêu, làm giáo viên ở Gò Quao. Cổ vui lắm.
Bạch sáng mắt lên, nói thẳng những ý nghĩ ấp ủ tự nãy giờ. Chẳng lẽ chàng bị đuổi vì chuyện cô giáo Thêu: Bà chủ Hiệp Hưng xưa nay thường tỏ ra độ lượng khi thấy Bạch chọc ghẹo những bạn hàng đến xay lúa.
Chàng nói nhanh:
– Trời! Phải hồi nãy bà chủ giới thiệu với tôi.
– Giới thiệu để làm gì? Tôi đâu dè thầy “tệ” quá vậy. Thầy thiệt là… túi tham không đáy.
Bạch muốn cãi lại. Bản chất của tình yêu là sâu thẳm, không bao giờ có đáy nhưng ngại làm phật ý bà chủ, chàng nín thinh.
Bà chủ nói, an ủi:
– Tôi biết làm sao bây giờ. Cô Thêu khó tánh lắm. Lát nữa cổ trở lại.
Tình yêu khiến con người chủ quan, u mê trong cái thế giới bé bỏng nhưng nó làm cho kẻ si tình vô cùng sáng suốt. Bạch chợt nhớ sở trường của mình, khoa coi chỉ tay. Chàng mở lời:
– Tôi muốn xem chỉ tay cho cô Thêu. Tôi mong bà chủ tạo hoàn cảnh. Được vậy, tôi…
– Thôi đừng nói nữa. Được rồi. Bữa nay tôi mới biết thầy là ma quỷ hiện chân tướng.
Bạch nhận những lời trách mắng thân mật ấy. Chàng hỏi tiếp:
– Dạ, chừng nào cổ trở lại? Lát nữa là chừng nào? Thưa bà.
– Chừng nửa giờ. Thiệt, cái thầy này dở hơi quá.
Nói xong bà chủ vào phòng. Ngoài này Bạch ngồi hút liên tiếp ba bốn điếu thuốc. Hạnh phúc biết bao! Lát nữa, nửa giờ nữa thôi, chàng sẽ có diễm phúc nắm tay người đẹp. Chàng khen lấy mình:
– Quả là một thời gian kỷ lục. Vừa gặp mặt là mình đã hưởng cái vui sướng, thơ mộng như có thi sĩ giãi bày: “Với bàn tay ấy ở trong tay, anh muốn quên đi hận tháng ngày”. Lắm kẻ si tình đa mưu túc trí mà vẫn chưa nắm được bàn tay người mình yêu. Mặc dù đã tốn công theo đuổi tán tỉnh suốt mấy tháng trời ròng rã. Vạn tuế khoa học coi chỉ tay!
Hơn mười năm qua, từ khi ly dị, Thêu vẫn ở vậy nuôi con. Đã nhiều nơi đến dạm hỏi, ngặt nàng chán ghét bọn đàn ông. Dường như bọn đàn ông lớn tuổi chẳng bao giờ nói thật, họ chỉ thành thật khiêm tốn, tỏ vẻ đạo đức trong phút giây nào đó để hòng chiếm đoạt quả tim nàng. Chừng xem kỹ, toàn là kẻ xấu. Nhất là bọn có vợ con đùm đề rồi mà còn đóng kịch “ta đây trẻ trung”, công khai ca ngợi luân lý phong kiến. Thêu nhớ lần nọ nàng gặp vị Đốc phủ sứ tuổi gần lục tuần, chống gậy. Ông ta nhắc lại câu ca dao để bào chữa trường hợp của mình:
– Thú thật với em, anh đã có vợ nhà. Vợ thì mặc vợ anh xử hòa thì thôi.
Cách đây chừng hai tháng. Thêu lại gặp một ông Phán góa vợ chưa con. Ông ta hứa bảo đảm hạnh phúc cho Thêu và lập tờ chúc ngôn để chia sẵn ruộng đất. Thêu chưa dứt khoát nhận lời. Đôi khi soi gương mỉm cười với bóng, nàng chưa dám tin nơi nét “hường nhan” của mình, “người đẹp vẫn thường hay chết yểu”. Nàng chưa chết, còn yêu đời, lúc này chưa yêu thì đợi lúc nào nữa. Đêm đêm nằm lạnh một mình, nàng chợt nhận ra, sống kiêu hãnh với tuổi xuân là khờ dại. Kiêu hãnh trong cô độc có sung sướng gì? Chẳng khác bức tranh tố nữ chết cứng! Người đời ngắm xem bức tranh thiếu máu nóng.
Ban nãy, Thêu đến thăm bà chủ Hiệp Hưng để thăm dò về cuộc chấp nối sắp tới. Bà chủ đáp:
– Tôi còn khổ hơn chị nhiều. Chồng tôi thường đi mua bán phương xa, mỗi tháng về không được một lần. Tôi hứa giúp ý kiến thêm. Chúng ta vẫn xem nhau là bạn thiết như từ hồi còn đi học kia mà!
Thêu trở lại thăm bạn.
Nàng bước vào cửa, theo sau là hai đứa con gái. Bà chủ Hiệp Hưng đón chào, đưa sang phòng khách cho có vẻ trịnh trọng:
– Này chị Thêu, ở đây có người xem chỉ tay hay lắm. Thêu nghĩ ngay: Tại sao không nhờ người đó tiên đoán cuộc tình duyên của ta với ông Phán như thế nào?
Nàng nói khẽ:
– Ờ ai vậy? Coi trúng không?
Vì thương xót kẻ làm công, bà chủ cố tình nói hơi sai sự thực:
– Người em họ của tôi. Nó nghiên cứu dữ lắm. Sách coi chỉ tay nó đọc hàng chục cuốn. Nó ít khi chịu coi cho ai lắm. Bà con vùng này khen nó vì thỉnh thoảng nó nói rất đúng chuyện quá khứ vị lai.
Thêu mừng thầm. Bấy lâu, nàng dang dở tình duyên chỉ vì thời vận chớ đâu vì kém “hường nhan”. Nhiều cô bạn xấu xí, học dở nhưng họ gặp ông chồng giàu sang, sống trong nhung lụa, trở thành “mệnh phụ phu nhân”. Nhiều bà vợ bác sĩ, vợ quan chủ quận kém nhan sắc hơn nàng! Nên gặp ngay ông thầy coi chỉ tay để giải đáp điều đó.
Bà chủ bước ra ngoài phòng, gọi nhanh:
– Mời, ông thầy vô!
Nhưng Bạch đâu rồi? Bà chủ hơi giận: rõ chàng thư ký si tình này là kẻ khôn nhà dại chợ.
– Cô này kiêu hãnh, chẳng thèm chào hỏi hoặc cười duyên với mình. Hai núm đồng tiền trên má cô ta để dành cười với kẻ khác. Mình đã có cách.
Chàng nắm tay Thêu và khéo léo đè mạnh ngón tay cái vào lòng bàn tay nàng. Mấy ngón tay búp măng bỗng co lại vì nhột. Thêu trợn mắt:
– Coi tay này hay tay kia cậu?
Bạch cười thầm. Nàng gọi mình bằng cậu, xem mình như đứa em khờ dại. Được rồi! Mình sẽ trổ tài đem bao nhiêu kinh nghiệm ra để nói, nói thật đúng. Không cần đến sách vở, mình phải “lòe” để nàng xem mình là kẻ đủ tư cách để yêu nàng.
Bạch nói, nghiêm giọng:
– Dạ coi đủ hai tay. Theo sách ra thì nữ hữu. Theo phương pháp Bắc Nam của giáo sư người Đức thì tay trái thuộc về thiên mạng, tay mặt thuộc về nhân định. À! Cô là người nhát, sợ ma.
Thêu giật mình. Thầy xem đúng. Bạch tuôn ra mớ lý luận:
– Người sợ ma thì lòng bàn tay nhạy cảm. Hồi nãy tôi đã thí nghiệm.
Bà chủ Hiệp Hưng cau mày: cái tật ưa nói nhiều của Bạch có thể làm mất lòng người bạn. Nhưng bà chủ quá lo xa. Chàng giả vờ nhìn từng lằn nét trong lòng bàn tay của người đẹp lấy lệ. Người đẹp cúi đầu xuống, chờ phán quyết. Chàng vội ngẩng mặt lên:
– Hồi thuở nhỏ cô thường đau yếu, nhờ phước đức ông bà, cô thoát nạn dễ dàng.
Bà chủ Hiệp Hưng nhắc nhở khéo léo:
– Chừng nào cô Thêu khá giả?
Bạch nói qua nẻo khác để chứng tỏ là thầy coi chỉ tay theo lương tâm nhà nghề, tôn trọng khoa học:
– Xin lỗi cô năm nay bao nhiêu tuổi?
Thêu đáp:
– Ba mươi chín.
– Từ bốn mươi tuổi trở lên cô mới khá được. Cô có tài mà chưa gặp thời. Giờ đây hạnh phúc sắp tới kề.
Thêu nghĩ đến cuộc tình yêu vụng của ông Phán góa vợ. Nàng nhờ “thầy”:
– Cậu xem thử tôi sắp có hạnh phúc gia đình không?
Bàn tay nàng xoay trở trong lòng bàn tay Bạch. Chàng như bay bổng tận cung trăng, nhìn thẳng vào mắt Thêu. Nàng thẹn thùng vì chuyện ông Phán già nhưng chàng thì ngỡ nàng có lẽ bắt đầu yêu…
Chàng nói:
– Hạnh phúc gia đình, rõ rệt quá. Dưới chân ngón trỏ của cô nổi lên chữ thập.
– Chắc không ông?
– Chắc lắm, bảo đảm đúng chín mươi chín phần trăm. Thí dụ như bàn tay tôi. Cái chữ thập đã hiện từ lâu. Tôi đang chờ một thứ hạnh phúc tương tự, cô xem thử.
Thêu trở bàn tay để đóng vai thầy bói. Bạch cảm thấy nóng bừng khi người đẹp sờ vào tay chàng.
– Hiện giờ, đã gần rồi. Người ta yêu cô ngặt cô quên họ đó thôi.
Câu trả lời lạc đề ấy khiến bà chủ Hiệp Hưng sốt ruột. Thầy ký Bạch đang si mê. Nên đánh thức cho chàng ta trở về nhiệm vụ. Ngoài sân, bạn hàng xay lúa tới tấp nập. Họ đứng lóng ngóng chờ nạp tiền cho nhà máy Hiệp Hưng mà chàng thư ký còn coi quẻ.
Bạch nói mơ màng.
– Người ấy yêu cô, cô quên người ấy. Cô thấy mặt người ấy sơ qua, cô không để ý. Người ấy khổ tâm vì cô. Thêu mỉm cười, nghĩ đến cuộc chắp nối với ông Phán. Nụ cười ngọt ngào quá. Bạch thấy người đẹp chánh thức dành riêng nụ cười ấy cho chàng. Không thể kéo dài tình trạng bất lợi ấy, bà chủ Hiệp Hưng liếc nhìn hai đứa con gái của Thêu, hai cô bé ấy như cười như giận.
Bà chủ hạ một câu:
– Cậu Bạch à! Cô Thêu sắp về nhà ông Phán X đó! Nãy giờ cậu đoán đúng quá.
Như bị sét đánh, Bạch buông tay Thêu ra:
– Thiệt vậy hả cô?
Thêu cười bí mật:
– Đời này thiệt cũng như giả, giả cũng như thiệt.
Rồi nàng đứng dậy, cám ơn Bạch. Bà chủ Hiệp Hưng đưa Thêu đến tận ngoài cổng. Hai người nói chuyện rất lâu, vỗ vai nhau, cười từng chập, giọng cười trong trẻo như của hai nữ sinh thuở nào. Bây giờ Bạch mới thấy chua chát. Té ra lúc nãy người đẹp không có cảm giác gì ráo khi đặt bàn tay vào lòng bàn tay chàng! Tình yêu chẳng bao giờ nở được khi bên này rung động nhưng bên kia thì lạnh nhạt. Nàng xem chàng như một tên thầy bói. Cũng giống như nàng đưa bàn chân để cho thợ đóng giày. Thế thôi! Bỗng dưng, Bạch nảy ra ý tưởng:
– Phải dẹp nghề, đốt tất cả sách coi chỉ tay, khoa học ấy giả dối! Trong lòng bàn tay người đẹp, đã có đường trí đạo khá dài chạy xuống phía cườm tay! Đó là dấu hiệu của kẻ rộng lượng, nhiều tình cảm. Căn cứ vào đường chỉ ấy, chàng đánh bạo dò xét tim nàng. Nhưng trật rồi. Nàng quá ác nghiệt.
Bạch đi tới đi lui, mắc cỡ thầm. Ván bài xem chỉ tay này quả là do mình bày để gây khổ cho mình. Chẳng hiểu người nào xưa kia bày ra xem chỉ tay. Vô lý quá. Chàng đã xem lòng bàn tay của nhiều con khỉ. Nó cũng có đủ tâm đạo, trí đạo và chữ thập hình tam giác, con ốc tay, đường du lịch…
Kìa! người đẹp sắp sửa rời cổng. Nàng cười, day lại như cúi đầu – cúi rất khẽ – để chào Bạch. Bạch thở dài. Mơ hồ quá. Vẻ đẹp sắc bén của nàng đã vượt thời gian như bức tranh tố nữ. Nàng tố nữ ban bố đồng đều nụ cười cho tất cả mọi người.
Ý nghĩ lẩm cẩm ấy vẫn chưa đem lại sự bình thản cho Bạch.
Cái máy xay ở bên cạnh chạy ầm lên. Bà chủ Hiệp Hưng nói át tiếng động cơ:
– Thầy lo làm việc đi chớ! Máy chạy rồi. Thủng thẳng rồi tôi định liệu cho. Dường như thầy giận ai điều gì!
Bạch ngoan ngoãn cầm viết. Chàng muốn trả lời với bà chủ một câu nhưng chưa dám thốt ra. Sợ mất sở làm:
– Tức quá! Quả tim tôi là cái máy cũ sét nhưng nó vẫn chạy rầm rầm. Tiếc cho cái máy yêu đương của ai kia còn tốt quá, đủ xăng nhớt mà chết im một chỗ.
Thi sĩ và kẻ trộm có một điểm giống nhau: ở bất cứ nơi nào, họ cũng tưởng như là đang ở nhà của họ.
(Honoré de Balzac)
Như thường lệ, sáng hôm ấy Huệ đến trước cửa hiệu sách Hoa Hồng từ hồi bảy giờ năm chục phút.
Đúng bảy giờ năm mươi lăm ống khóa bắt đầu khua động. Cánh cửa sắt rít lên, xếp lại, chừa đủ khoảng nhỏ để thân hình mảnh mai của Huệ lách vào trong. Suốt đêm mấy ngọn đèn nê ông vẫn để sáng, giữa tủ kiếng mấy bộ sách bách khoa in màu, chiếu ngời đủ ánh xanh, đỏ, tím, vàng. Trên bìa sách láng bóng, hình mấy con cọp, sư tử… linh động, nhe răng suốt đêm. Các nữ minh tinh vẫn cười duyên, không bao giờ ngủ, ở bìa trước và mặt sau tạp chí điện ảnh.
Chiếc đồng hồ trên vách ghi bảy giờ năm mươi tám phút. Chị lao công lau chùi nền gạch đã xong. Bà chủ hiệu Hoa Hồng đi dép xuống thang lầu tỏ vẻ hài lòng vì Huệ đã đến đúng giờ. Trong khi bà đi rảo một vòng quan sát các tủ kiếng, Huệ cố sức bình sanh đẩy mạnh cho hai cánh cửa sắp xếp gọn gàng. Bà chủ ngồi trên chiếc ghế nhỏ, ngay tủ tiền rồi gắt giọng với người lao công:
– Này chị bếp.
– Dạ, thưa bà…
– Lên bảo cô Hai xuống đây coi chừng trộm. Chừng giờ này đã quá tám giờ rồi mà còn ngồi trang điểm! Mùa tựu trường, lát nữa khách đông lắm, mỗi năm có một tháng tựu trường…
Huệ cầm cây chổi lông gà, tới lui quét bụi ngoài tủ. Thỉnh thoảng, nàng liếc nhìn ra đường. Người qua kẻ lại còn thưa thớt trên hè phố.
Đúng tám giờ, cô Hai mặc áo dài tím, đi chậm rãi đến tủ tiền, ngồi thay thế cho mẹ đang ăn điểm tâm.
– Con thức từ nãy giỡ, lúc chị bếp lên gọi, con đang ăn sáng.
Trước khi trở về từng lầu trên, bà chủ căn dặn lần chót:
– Con phải cẩn thận. Thừa lúc đông khách, bọn bất lương ưa lẻn vào ăn cắp sách. Hồi hôm qua, ở tiệm X, có đứa bị bắt quả tang đang đánh cắp bộ sách giá hai trăm đồng.
Cô Hai ngạc nhiên:
– Rồi giải nó ra tòa chớ? Bọn đó là ai vậy mẹ? Hèn chi hồi tháng trước, thỉnh thoảng tiệm mình cũng mất vài quyển sách, vô lý. Thôi mẹ yên tâm. Ở dưới này, con và Huệ cố gắng xem trong xem ngoài.
Sau khi bà chủ đi khuất, bầu không khí trở nên thân mật, dễ chịu. Huệ và cô Hai vốn là bạn thân hồi còn học trường Gia Long, giữa hai người tuy là kẻ chủ, người làm công nhưng mối tình bạn ngày xưa còn thắm thiết.
Huệ hỏi cô Hai:
– Làm thế nào mình nhận ra kẻ ăn cắp sách được? Mỗi ngày, hàng ngàn người ta vào lựa chọn, một mình em đâu đủ sức theo dõi… Hơn nữa đó là vấn đề xã giao, mình cần chiêu hàng.
Cô Hai đáp:
– Nghe cô Y thuật lại thì chúng nó ăn mặc sạch sẽ, còn sạch sẽ hơn đa số học sinh. Lúc vào tiệm chúng mang theo một cái “classeur” bìa cứng bên trong để sẵn vài quyển sách. Chúng giả vờ chọn lựa, rồi thừa lúc người trong tiệm không chú ý, đưa một vài quyển sách vào trong “classeur”. Đâu đó xong xuôi, chúng bình thản bước ra.
Đôi mắt Huệ sáng lên:
– Tài thật, nhứt định là chúng đánh cắp những quyển sách đặt trên kệ, cao ngang ngực… Vậy thì từ nay về sau em chú ý những chàng mang “classeur” vào tiệm…
– Em đã có ý nghĩ không tốt rồi đó. Suy luận như em, tiệm mình sẽ bị ế khách. Cứ để họ tự do lựa chọn.
– Em chưa hiểu làm cách nào. Em mới tập tành nghề này.
– Còn nữa… Lắm khi chúng vào tiệm với một quyển sách trơn, cầm trên tay. Tức quá! Phen đó chị nghi nhưng rốt cuộc chị vẫn bắt không được… Hắn tỏ vẻ lương thiện, mới bước vào tiệm là đặt quyển sách của hắn ở kệ sách phía ngoài, rồi với tay không, hắn vào mấy tủ kiếng phía trong, lựa chọn đôi ba phút hoặc lâu hơn nữa, lúc ấy chị quên chú ý. Thế rồi hắn trở ra, liếc nhìn chị rồi xin lại quyển sách mà hắn gởi khi mới bước vào. Chập sau, thì chị mới biết là hắn đã ăn cắp một quyển sách. Huệ biết hắn làm cách nào không?
Huệ ngạc nhiên:
– Hắn là một tay ảo thuật em chịu thua.
– Thì hắn lấy luôn quyển sách đặt dưới quyển sách của hắn. Thay vì lấy một cuốn, hắn nhanh tay kèm thêm một cuốn nữa rồi bước ra khỏi cửa, đi lẫn vào đám đông lập tức.
Câu chuyện đang vui vẻ, sôi nổi bỗng nhiên cô Hai dịu giọng… Năm ba khách hàng lần lượt bước vào, kẻ tìm sách học, người lật mấy tờ tạp chí Âu Mỹ để xem hình. Không muốn lợi dụng tình bạn, Huệ trở lại địa vị người làm công: nàng định áp dụng những lời chỉ dạy của cô Hai. Nhưng khi nàng vừa quay mình, cô Hai cản lại:
– Ở đây nói chuyện chơi. Mình đừng quá theo dõi khách hàng, họ không thích, cho rằng lối tiếp đãi của chúng mình kém nhã nhặn. Để họ tự do lựa chọn mà! Nên tránh cái thái độ tò mò… Mình đâu là thám tử, phải không Huệ? Nhưng kìa… Huệ xem ra đường, cái anh thắt cà vạt tím…
Đúng như lời cô Hai. Huệ thấy một người trạc bốn mươi tuổi đang đứng ở sạp bán thuốc lá, ngoài vỉa hè, sát gốc me, cách cửa tiệm chừng vài thước. Trong số người hơi đông đảo, chỉ riêng hắn là thắt cà vạt. Hắn móc trong túi áo một đồng để mua hai điếu thuốc lá.
Cô Hai nói khẽ:
– Huệ hãy xem, nhứt định hắn vào đây, chị đoán không sai mà!
Nhưng sau khi cầm cây nhang đốt thuốc, người nọ đi thẳng.
– Chị đoán sai rồi. – Huệ nói.
Cô Hai mỉm cười:
– Nhứt định ông ta trở lại đây! Chắc là đi qua “coi cọp” ở tiệm sách kế bên.
Huệ vào trong gói sách, ghi phiếu cho vài ông khách, rồi sắp mớ sách cho ngay ngắn. Nàng đang chăm chú lựa vài quyển quốc văn cho khách hàng, bỗng nhiên thấy chiếc cà vạt màu tím bay phất phơ trước mặt… Nàng nực cười, khen thầm sự dự đoán của cô Hai khi nãy. Khi gói xong quyển quốc văn, nàng đem đến tủ tiền. Cô Hai thối tiền, chờ khách bước ra khỏi tiệm rồi nói:
– Đổ đồng mỗi tuần lễ, ông ấy đến “điểm sách” ở tiệm mình chừng mười bốn lần!
Một bài toán hiện ra trong trí của Huệ. Nàng vẫn thắc mắc:
– Mình mở cửa suốt tuần, trừ chiều chúa nhật, tất cả chỉ mười ba buổi thôi.
Cô Hai vẫn cười:
– Ngặt nhiều buổi, ông ta đến viếng hai lần liên tiếp. Huệ hơi khó chịu. Nàng nhận thấy câu nói của cô Hai ngụ ý mỉa mai, tàn nhẫn đối với ông khách vô tội.
– Nếu vậy thì ông ta viếng cả mười lăm, mười sáu! Biết đâu buổi chiều chúa nhựt hoặc lúc hừng sáng, đêm khuya, lắm khi, ông ta đi ngang Hoa Hồng thư quán này, dừng lại đôi phút trước cánh cửa sắt đã khép lại, để “coi cọp” trong tưởng tượng, phải không chị?
Nhờ bản chất ít nhiều thông minh, giàu lòng nhân đạo nên cô Hai cau mày chợt hối hận trong phút giây. Huệ vừa cảm thấy mình vừa đắc thắng, thắng một trận nhỏ. Nàng đã gợi ý cô chủ, gợi khéo léo vài ý niệm luân lý mà cả hai hấp thụ ở nhà trường về sự công bình và lòng nhân đạo. Để cô Hai khỏi nhột nhạt, Huệ quay mặt, đi vào phía trong với sự hãnh diện cỏn con: nàng vừa bênh vực một kẻ vô danh! Rồi với tinh thần vô tư, nàng bắt đầu theo dõi ông khách không bao giờ mua sách nọ. Tuổi của ông cũng tạm xứng đáng cho nàng gọi bằng chú, bằng bác. Ông ta đọc chăm chú tất cả các loại sách Pháp, sách Việt, thơ, tiểu thuyết đến các sách mỹ thuật, hội họa… Sau khi xem vài trang, ông ta cẩn thận xếp sách, sắp đặt ngay ngắn đúng vị trí cũ. Đối với những quyển sách quý, bọc giấy bông, dán kín mít bốn phía, ông ta cũng tỏ ra nhã nhặn, tuyệt nhiên không mó tay vào, nghĩa là chỉ nhìn nó bằng đôi mắt tò mò…
Ngày qua ngày, hình dáng ông khách “coi cọp” trở nên quen thuộc với Huệ, nàng thấy rằng những lời nhận xét của cô Hai đối với ông ta nào có gì quá đáng! Bắt đầu, Huệ bực mình vì con người gan lì, mặt chai mày đá nọ. Nhứt là những buổi sáng vừa mở cửa tiệm là ông ta đã “xông đất”, mở hàng trước. Có lẽ để bù trừ lại, nên nhiều hôm đến tám giờ tối, lúc tiệm gần đóng cửa, ông ta vẫn đứng lầm lì xem nán một trang quảng cáo diễn huyền về dầu thơm hoặc “quần áo phụ tùng” của phái yếu đăng ở trang gần chót các tạp chí Âu Mỹ. Đôi khi, ông vào chớp nhoáng, như giông, như gió, tìm quyển tự điển, lật nhanh, tra vài chữ rồi xếp lại, trở ra, sau khi nói bâng quơ mà không nhìn thẳng vào mặt Huệ hoặc cô Hai: “Cám ơn”. Phiền nhất là buổi sáng chúa nhật, thân chủ quá đông, người ra kẻ vào chen chân khó lọt, vậy mà ông ta cứ đứng mãi mê xem liên tiếp năm sáu trang sách triết học. Thỉnh thoảng ông sờ vào túi, đem thuốc ra hút, phun khói, rồi cau mày suy tư khiến người lân cận ho hen, sặc mũi. Mỗi lần đi qua lại, Huệ đành nói khẽ:”Xin lỗi ông” rồi nàng bĩu môi. Ông thấy lạnh lùng dường như câm, điếc và mù đối với riêng nàng! Quá bực tức, nàng muốn nguyền rủa lên thật to: “Ông nên coi cọp quyển “Phép tắc xã giao” hoặc quyển “Đắc nhân tâm” là hơn. Loại sách ấy, chữ Pháp chữ Việt đều có: “Nhưng rồi thôi, ông khách ra đi tự bao giờ, Huệ nào hay! Quá mười hai giờ trưa hôm ấy, trên đường về, Huệ gặp ông ta lần nữa, đứng lóm thóm chờ xe ô tô buýt, tay cặp mớ sách khá nhiều nhưng mua ở lề đường, gói kỹ lưỡng với thứ giấy báo cũ chớ nào phải loại giấy đặc biệt in rõ ràng nhãn hiệu của một thư quán tăm tiếng…
Mưa gió lê thê từ giữa tháng đến cuối tháng. Mùa bán sách tựu trường hầu như chấm dứt. Ông khách cố cựu vắng bóng ba hôm liên tiếp. Lúc rảnh rang, Huệ đến bên cạnh cô Hai để tán nhảm:
– Chắc ổng bịnh rồi! Cả nhà tôi, già trẻ bé lớn đều bị bịnh cúm, huống hồ là ổng…
Cô Hai như sực nhớ điều gì:
– Hồi hôm qua, lúc Huệ ra nhà sau, ổng lại đến, mua của tiệm mình hai quyển “Phép trị bịnh gà toi”. Nhứt định ổng về quê nuôi gà! Mô Phật! Vái trời cho ổng về luôn.
“Người bê tha lêu lổng như thế ấy mà nuôi gà!” Huệ toan cãi lại nhưng chưa tìm ra lập luận nào cụ thể, vững chắc. Ngoài lề phố, bỗng nhiên, nàng thấy ông ta xuất hiện với chiếc áo sơ mi ca-rô:
– Cô Hai? Ổng kìa! Trời ơi! Bữa nay ổng theo “đợt sống mới”.
Trố mắt, cô Hai buột miệng nói nhanh:
– Ủa ổng thiệt. Ổng đi song song với con Ti bán sách đằng tiệm Hoa Lý. Hay là con Ti cưới ổng mà chưa cho đằng mình hay biết.
Vừa đến tiệm, ông khách cũ đi xăm xăm vào kệ phía trong, lật tới lật lui từng quyển sách mới phát hành và xem qua tất cả các loại tập san, như người đời lâu ngày gặp miếng ăn ngon.
Tại tủ tiền, cô Hai hỏi nhanh, giọng hài hước:
– Cô Ti đi đâu vậy? Có chồng rồi ư?
Ti ngạc nhiên:
– Nói giỡn hoài! Có chồng thì mình gởi thiệp mời đàng hoàng chớ. Để tôi nói phứt rồi trở về tiệm liền bây giờ.
Huệ sốt ruột:
– Chuyện gì?
– Ông khách đó nhứt định đòi mua cho kỳ được mấy bộ Địa Tạng kinh, Phật thuyết A di đà kinh, thêm hai bộ Cao ly đầu hình, Diễn cầm tam thế, sách coi quẻ, coi tử vi.
Cô Hai nói nhanh:
– Ở đằng Hoa Lý hết rồi sao Ti?
Ti trả lời:
– Nhưng ổng đòi mấy bộ kinh in lần thứ nhất do hòa thượng Trí Huệ phát hành đâu từ hồi Bảo Đại mới lên ngôi! Tôi nhớ chắc chắn đằng này còn vài bộ kinh xưa đó, nghe bà chủ nói rằng năm xưa có dự trữ trên lầu chừng hai mươi bộ. Cô tìm thử.
Cô Hai vội vã lên lầu. Dưới này Huệ chăm chú nhìn ông khách… Bất chấp thế sự, ông ta mải mê khảo sát…
Nàng trêu ghẹo Ti:
– Chị có quen ông đó hả?
– Đâu có. Ổng là anh em bạn cũ của ông chủ tiệm tôi, bạn học hồi hai mươi năm trước, hôm nay họ mới nhìn ra được tung tích. Ổng khoe với ông chủ tôi rằng bây giờ ổng nhàn rỗi lắm, ăn no rồi thì đi chơi tối ngày để đọc sách của thiên hạ. Ổng khen với ông chủ tôi về cách tiếp đãi lịch sự, vô cùng nhã nhặn của các cô bán hàng ở tất cả tiệm sách to, nhỏ thuộc đất Sài Gòn! Đó là… “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc”.
– Chị Ti bữa nay nói chữ nho nghe điếc con ráy…
– Ổng nói chớ đâu phải tôi. Theo lời ổng thì câu đó nghĩa là “trong sách vở thánh hiền có người con gái tuyệt đẹp”, tức là tinh hoa của tư tưởng nhân loại, hoa thơm cỏ lạ gì gì đó. Nhưng chập sau, ổng nói khẽ với ông chủ tôi: “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc” cũng ám chỉ rằng… ở bất cứ tiệm sách nào cũng có nhiều cô bán hàng đẹp như ngọc, dễ yêu.
Huệ mỉm cười:
– Ổng ghé đây hoài… Té ra ổng… ba mươi lăm, tuổi mùi!
Ti cười còn day lại che miệng, dòm chừng ông khách rồi nói khẽ với Huệ:
– Huệ cưới ổng đi. Tớ gả cho đó! Coi bộ ổng là người biết điều.
Huệ cau mày, đôi má đỏ ửng vì giận dỗi, vì tức cười. Trao thân gởi phận cho con người đáng chú bác kia, thà tự tử còn hơn. Cả bốn điều kiện: đẹp trai, con nhà giàu, sạch sẽ, không ăn cắp vặt… ông ta đều thiếu bảo đảm cả. Nàng nghe ớn lạnh trong xương sống! Một mai, thí dụ như chuyện đời éo le đến mức ấy, chắc Huệ sẽ khổ tâm gấp ngàn lần hơn khi công chúa Huyền Trân nằm chung chăn chung gối với Chế Mân. Dầu sao đi nữa là người đàn ông thì cũng phải lo làm ra tiền săn sóc vợ con. Ai lại như ông ấy! Lười biếng quá!
Cô Hai từ trên lầu vừa xuống thang vừa thổi mạnh vào lớp bụi phủ dày lên bộ Địa tạng kinh. Biết rằng nhiệm vụ trung gian của mình đã làm xong, cô Ti bước nhanh về Hoa Lý thư quán.
Sách đã gói để trên bàn tủ tiền. Ông khách đến hỏi về tiền phải trả. Trong đôi ba phút, mặt của ông và mặt của cô Hai, của Huệ gần kề nhau hơn bao giờ hết.
Hơi ngượng cô Hai nói nhanh:
– Cám ơn ông. Ông mua mấy bộ kinh này làm gì? Toàn là chữ nho không có giảng nghĩa thì làm sao mà hiểu đạo lý?
Ông khách cười mỉm môi rồi nói một hơi dài:
– Tôi mà tu hành gì! Tôi mua dùm người bà con ở lục tỉnh. Tôi nào làm điều gì quá tội lỗi với ai đâu mà cần đi tu sớm! Về già họa chăng đi tu.
Huệ và cô Hai trố mắt, nào dè ông khách “coi cọp” nọ lý sự quá giỏi! Nhưng ông khách ngỡ rằng hai người đẹp đang hiểu lầm.
Ông tiếp tục thanh minh:
– Thời giờ rảnh rang, tôi đi dạo đó đây, hết ngồi quán cà phê thì đi rảo từ tiệm sách này qua tiệm sách nọ. Âu cũng là một cách giải trí lành mạnh.
Cô Hai nghĩ thầm: “Ông này quên rằng tiệm Hoa Hồng do tư nhân sáng lập, hàng tháng phải trả tiền đèn, tiền phố, tiền nhân công”. Như thông cảm nỗi thắc mắc chính đáng của cô, ông ta giải đáp:
– Ở thư viện công cộng được ngồi ghế, sách nhiều thật nhưng mình có cảm giác sống trong tháp ngà. Coi sách ở tiệm mặc dầu đứng mỏi chân nhưng mình thấy ấm áp, gần hơi thở của cuộc đời, của nam thanh nữ tú.
Ông ta tiếp tục nói, công khai thú nhận rằng việc xem sách cọp ở tiệm là phương pháp luyện chí rất sống động – đó là một nghề nghiệp của ông. Rồi đặt vào địa vị của một chủ tiệm sách, ông ta không ngượng miệng dạy bảo cô Hai và Huệ như dạy bảo người làm công mới tập sự cho ông ta:
– Bán sách là chức vụ cao quý. Lúc rảnh rang cô hãy đọc sách, ít nhứt là đọc qua tựa sách. Xin lỗi, bứt mây động rừng, tôi xin kể lại câu chuyện: Hôm đó, tôi vào tiệm sách đó, chợt nghe một thân chủ bước vào hỏi cô bán sách để tìm quyển “Mái Tây”. Cô bán sách vào trong, lục lạo suốt năm ba phút rồi trở ra nói thản nhiên: ở đây không có “Mái Tây”chỉ có quyển sách dạy về “Mái dầu cặn”, “Mái trăn-si-to”.
Cô Hai chận lời:
– Dạ tôi biết quyển Mái Tây tức là Tây Sương Ký do Nhượng Tống dịch, áng văn bất hủ của Trung Hoa.
– Thật vậy à? – Ông khách hỏi nghiêm nghị.
– Dạ thật chớ, trong Mái Tây có nàng Thôi Oanh Oanh yêu chàng Trương Quân Thụy – Cô Hai đáp.
Đằng kia bà chủ bước xuống thang. Bỗng dưng bà đứng lại cau có chưa hiểu vì sao Huệ đứng bên tủ tiền với ông khách nọ trong khi hàng chục thân chủ khác đang ngơ ngác tìm kiếm người trong tiệm để hỏi han về các loại sách mà họ chưa tìm ra.
Biết giờ phút nguy ngập đã đến, Huệ nói nhanh:
– Cảm ơn ông. Thỉnh thoảng mời ông ghé viếng chúng tôi.
Huệ bước nhanh vào trong. Tuy cầm quyển Địa Tạng kinh, Cao ly đầu hình… đã gói xong, đã trả tiền xong nhưng ông khách vẫn nói mơ màng với cô Hai:
– Thì tôi ghé viếng tiệm Hoa Hồng này hoài, quý cô cần gì mời! Tự cổ chí kim, ở nước văn minh nào cũng vậy, bán sách vốn là nghề tao nhã, tôn trọng sự tự do của thân chủ. Đuổi khéo chưa chắc người ta đi. Mời duyên chưa chắc người ta đến. Phức tạp lắm, cô ơi! Tôi biết suy nghĩ lắm. Đây cô còn trẻ quá mà.
Giọng của ông khách ngậm ngùi như giọng đọc bài văn tế. Khách ra đi từ lâu rồi mà nỗi bực dọc của cô Hai, của Huệ vẫn kéo dài như một cơn mưa dai dẳng. Đôi ba ngày sau, năm bảy ngày sau, tiệm Hoa Hồng vắng bóng ông khách nọ, mặc dầu thỉnh thoảng cô Hai và Huệ còn thấy ông ta đi ngang qua, lúc cửa tiệm đang mở thật rộng. Theo dõi thì cô Hai mới hiểu dạo này ông ta ưa lân la đằng tiệm Hoa Lý, nơi cô Ti đứng bán. Đôi khi đi cặp kè với người bạn nào đó, ông để cho người bạn vào tiệm Hoa Hồng một mình. Riêng ông thì đứng ngoài lề phố mà chờ, mặc cho trời mưa lớt phớt ướt áo, thắm xuống đôi vai gầy yếu.
Cô Hai thở dài, lần đầu tiên cảm thấy mình hơi vô duyên, phàm tục, không còn là đề tài đối với một kẻ khác. Kẻ ấy đã gan lì để giữ vững niềm tin bé bỏng riêng tư trong thời khói lửa. Hiệu bán sách có thể là nơi ẩn náu cuối cùng của nhân nghĩa, của tình người.
Tôi đến chợ Vĩnh Hưng để thăm người cậu ruột. Từ ba năm qua, vì bận sinh kế nên người một nơi kẻ một ngả. Cậu đón tiếp niềm nở, cầm tôi ở lại:
– Cháu ăn cơm? Tối nay, ngủ đây cho vui. Hổm rày, có chuyện buồn.
Tôi hỏi:
– Dạ, chuyện gì?
Cậu tôi im lặng hút thuốc liên tiếp. Lát sau mâm cơm dọn lên. Tôi ngồi ăn. Cậu cầm đũa gắp cái chân gà, nhậu rượu đế.
Đồng hồ trên vách thong thả điểm chín tiếng. Bỗng dưng Ngọc – con gái của cậu tôi – từ nhà bếp đi rón rén tới kéo ghế ngồi bên cạnh tôi rồi run run cầm đũa.
Cậu tôi lườm Ngọc:
– Mới ăn hồi chiều, bây giờ còn đói nữa sao?
Ngọc bẽn lẽn, giọng uất ức:
– Dạ, chín giờ rồi.
Cậu tôi thở dài:
– Mọi khi chừng này nhà cậu đóng cửa ngủ. Chợ Vĩnh Hưng buồn lắm. Cháu tới thăm cậu dịp này…
Ngọc cúi mặt như muốn giải thích điều gì.
Nàng liếc nhìn lên chiếc đồng hồ, kéo ghế đến sát cạnh tôi rồi gục đầu, đưa hai tay che mặt.
Cậu tôi gắt:
– Ngọc “điên” rồi hả? Riết rồi nhà này chẳng còn thể diện gì hết.
Rồi day qua tôi:
– Lát nữa cháu thấy.
– Dạ, chuyện gì vậy cậu?
– Khó cắt nghĩa lắm.
Ngoài sân có tiếng nói lao xao. Tôi muốn tìm hiểu sự thật Ngọc sợ nỗi gì? Đây là chợ Vĩnh Hưng, tuy là chợ làng nhưng tấp nập, có an ninh trật tự. Trong bóng tối, đôi ba chục người sắp hàng dài dọc theo bờ kinh xáng. Họ ở trần, mặc quần ngắn. Lại còn thêm những ông già bà cả gần đất xa trời. Một ông lão khoát tay. Bọn người nhìn nhau rồi đồng hè ngồi xuống.
Tôi hỏi cậu tôi:
– Họ làm gì, như là bao vây nhà mình vậy?
Cậu tôi vặn tim đèn xuống rồi nói:
– Ngọc! Con dọn cơm xuống bếp. Rần rật như vầy, ăn uống làm sao được?
Tôi hỏi:
– Ai rần rật? Họ toan hành hung đập phá à! Để cháu ra sân xem thử.
– Úy, không nên.
Ngoài sân tiếng xôn xao nổi lên, bàn cãi qua lại:
– Thẩy tới kìa!
– Đừng lớn tiếng. Rủi bề gì, thường nhơn mạng!
Không kiên nhẫn được nữa, tôi chạy ra đường cái. Từ xa, một người tiến tới. Hắn che cây dù, đi khoan thai dưới bầu trời không có mưa, kỳ dị hơn nữa là hắn ở trần, mặc quần đùi. Tôi chợt hiểu:
– Thằng điên!
Nhưng mấy người ngồi sắp hàng bên lề đường vội vã khoát tay như ra lệnh cho tôi giữ im lặng:
– Nó không điên đâu!
Tôi vào nhà, nói với cậu tôi:
– Tại sao lại sợ thằng điên đó? Nó xách cây dù chớ nào phải súng ống dao búa. Cậu đóng cửa lại là xong.
Vẻ sầu thảm hiện trên gương mặt cậu tôi. Cậu nói:
– Mọi lần cậu đóng cửa. Nó không thèm ghé nhà khác mà chỉ muốn ghé nhà này thôi.
– Ngọc ơi! Đêm nay em ngủ yên không? Trời lạnh lắm. Em có đắp mền cho kín không? Coi chừng ho đó em. Em đành lòng nào im hơi lặng tiếng? Anh thề ở đây hoài, chờ em cho đến xế chiều.
Nghe qua, tôi tự cho rằng mình đã am hiểu tình thế. “Hắn” mang bệnh thần kinh, gọi nôm na là bệnh “mị” theo khoa học gọi là “mộng du”. Thay vì nằm chiêm bao trên giường thì hắn đi, mắt mở trao tráo nhưng chẳng thấy chung quanh, cứ sống trong thế giới riêng. Hắn tưởng là hừng sáng nên chờ khi xế chiều. Như vậy có nghĩa là hắn ngồi chầu chực trước sân suốt đêm nay!
Tôi nói với cậu:
– Mình đóng cửa lại là xong.
Cậu tôi lắc đầu:
– Khó lắm, hắn sẽ tự tử, nhảy xuống rạch!
– Dễ quá! Mình nhờ bà con coi chừng, đưa hắn hoặc bắt trói, khiêng hắn đem về nhà.
Hắn vào nhà. Lần này tôi lắng tai nghe kỹ: Hắn ngáy ngủ đều đều. Mắt hắn cứng ngắc như đôi mắt vẽ trên pho tượng bằng cây mà bọn phù thủy dùng làm ông tướng.
Tôi kéo ghế:
– Anh bạn ngồi đây cho khỏe!
Cậu tôi lắc đầu:
– Nó đâu có nghe mà hòng nói chuyện với nó?
– Đừng la lớn. Nó té sấp rồi nhập hơi thổ, mắc nhân mạng cả đám bây giờ.
Đúng như lời, hắn chép miệng, đôi mắt mơ màng, rồi trong một thoáng liếc vào phía cửa buồng.
– Ngọc ơi! Vì em mà anh xông pha nơi mưa gió.
Vừa nói hắn vừa đặt chân lên bộ ván gỗ đi tới đi lui, tưởng như bộ ván là mặt đất.
Người hiếu kỳ bao vây quanh nhà. Họ đưa ý kiến:
– Sao cô Ngọc không ra cho hắn gặp mặt?
Bây giờ tôi mới vận dụng tất cả sự hiểu biết của mình để tìm ra một lối thoát cho gia đình. Ngọc đã lớn tuổi, nếu nàng ra ăn nói, giả vờ đóng vai người tình nhân của thằng điên thì dư luận sẽ ra sao? Đời Ngọc kể như tàn tạ, ai dám hỏi nàng làm vợ? Tôi nói to:
– Ờ, anh về đi. Cám ơn anh có lòng tốt tới thăm viếng em.
Hắn nhảy nhót như đứa trẻ:
– Ngọc đoái tưởng đến anh rồi hả?
Khách bên ngoài cười ầm lên vì chàng điên si tình kia chẳng phân biệt được giọng nói ồ ề của tôi với giọng dịu dàng của Ngọc! Và hắn chẳng buồn, day lại trách mắng cử tọa.
Được trớn tôi nói tiếp:
– Anh về đi. Sáng mai em đến thăm anh.
Ngọc nói khẽ:
– Hắn tên là Thuận. Tại sao sáng mai? Anh nên nói ngược lại chớ!
Tôi nói to:
– Anh Thuận đừng buồn, tối này tôi đến thăm anh.
Hắn múa tay:
– Nếu vậy thì đời anh hạnh phúc như kẻ lên trên mây rồi hả em? Nhớ tối nay. Anh chờ.
Tôi đáp:
– Chào anh. Anh về cho sớm kẻo trời mưa.
Hắn mỉm cười, rút trong túi đem ra một cái lược, chải đầu, trợn trợn mắt nhìn vào tấm kiếng bên vách.
Xong xuôi hắn đáp vơ vẩn:
– Đời ta như trên mây.
Đến cửa hắn cầm cây dù giương lên để che trận mưa trong tưởng tượng. Bây giờ ai nấy bước ra xa như để nhường bước cho kẻ anh hùng.
Tôi nói khẽ với cậu tôi:
– Đuổi nó ra kiểu đó được không cậu? Cậu nên đóng cửa lại, kẻo nó trở lại một lần nữa. Tôi đóng kịch không quá tệ.
Ngọc chạy tới bên tôi ngỏ lời trách mắng:
– Anh nói bậy nói bạ quá!
– Nhưng thiên hạ hiểu hoàn cảnh của em. Chuyện rõ như ban ngày. Chính anh tình tứ với hắn mà!
Cậu tôi chẳng đưa ra ý kiến nào hết. Người ngoài đường xì xào:
– Hồi nãy nó thấy trời mưa, nó vui sướng như kẻ “lên mây”. Chết cha. Phen này mới lên ruột, mới có “nhơn mạng”.
Cậu tôi ra sân thay vì đóng cửa. Tôi đứng ngơ ngác, chưa hiểu tài ngoại giao của mình thất bại ở điểm nào? Ngọc cũng ra sân. Bóng tối lan tràn. Đám người hiếu kỳ trở lại bờ rạch rồi ngồi xuống như tuân theo một hiệu lệnh chung.
Họ ngóng lên nóc nhà của cậu tôi.
Bây giờ tôi mới rởn tóc gáy, hiểu rõ hai tiếng “lên mây” của hắn. Hắn trèo lên ngay đỉnh nóc nhà từ bao giờ, tay này nắm cây dù che khỏi đầu, tay kia đánh “đồng xa”, hai chân chạy thoăn thoắt. Đến gần đầu tường, hắn dừng lại đưa một chân ra ngoài khoảng không tưởng chừng như hắn sắp té tan xương nát thịt. Nhưng hắn vẫn đứng vững như trồng, đưa tay lên sập cây dù, đặt xuống nóc nhà.
Rồi như pho tượng bằng đồng đen, đen hơn nền trời không trăng, hắn co tay, làm động tác hô hấp kiểu Tây phương. Ghê quá! Bây giờ tôi thấy hắn tài tình hơn kẻ đi dây trong buổi hát xiệc. Hắn đứng rất lâu, cười ha hả, rồi tuột xuống, ra mé rạch.
Tôi nhanh chân chạy theo, cậu tôi cản lại:
– Để cho nó về ngủ, đêm nào nó cũng hát xiệc một trận như vầy! Nhàm lắm rồi! Để nó về ngủ cho gia đình này khỏi mang tai tiếng.
Tôi đáp:
– Thưa cậu, tại vì nó “ngủ” nên mình mang tai tiếng. Cháu phải theo dõi để trừng trị khéo léo, cho nó “thức, thức mãi mãi”!
Hừng sáng hôm sau, tôi tìm hiểu thêm về lý lịch người điên ấy. Hắn tên là Lý, làm giáo viên tư thục, học đến sơ học, gia đình khá giả nhờ của phụ ấm, còn sống độc thân. Khi tôi đến thăm thì hắn còn ngủ dưới gầm giường. Đứa ở nói:
– Lát nữa, thầy tôi mới thức.
Tôi ngồi uống nước trà. Hồi lâu, nghe đồng hồ gõ chín tiếng.
Có tiếng ngáp dài như khoái trá. Tôi hỏi đứa ở:
– Thầy giáo thức rồi đó. Em mời thầy ra đây nói chuyện chơi!
Đứa ở trố mắt:
– Khó lắm. Bây giờ thầy tôi chẳng muốn nói chuyện với ai cả!
Cửa phòng vụt mở, giáo Lý ra nhà bếp, sau khi chào tôi. Hắn chải tóc, rửa mặt, thay quần áo rồi đi vụt ra ngoài cổng.
Tôi nhắc chừng đứa ở:
– Mời thầy vô đây!
Nó lắc đầu:
– Tôi không dám. Vì thầy ưa làm công chuyện riêng. Mà ông theo dõi thầy tôi làm gì? Thầy tôi hiền lắm. Tội nghiệp! Thầy làm toàn những chuyện hiền từ.
Tôi thuật lại chuyện thầy giáo Lý đến thăm Ngọc đêm rồi và trò hát xiệc của thầy trên nóc nhà.
Đứa ở mỉm cười:
– Thầy tôi chưa làm việc gì hại cho ai cả.
Rồi đứa ở kể thao thao bất tuyệt cho nghe vài thành tích lẫy lừng, thơ mộng của thầy Lý: Phen đó thầy ôm sách vở, nói là để vào lớp học nhưng đi biền biệt đến sáng hôm sau chưa thấy về. Cả vùng chợ Vĩnh Hưng náo động lên. Học trò tha hồ trửng giỡn. Ông giám đốc tư thục bèn “cớ” cho nhà cầm quyền hay biết. Cha thầy giáo bèn mướn mấy anh thợ chài để bủa lưới, lặn hụp dưới rạch Vĩnh Hưng, họ gặp toàn là cá, tôm. Mấy ông chủ tàu đò lắc đầu. “Chẳng bao giờ thấy thầy giáo Lý xuống tàu cả”. Dè đâu lúc đó thầy ngồi ngủ trong một bụi tre gai tận ngoài bờ ruộng.
Tôi chận lời:
– Bị ma giấu chớ gì? Thầy ta giả bộ điên khùng để che mắt thiên hạ.
Đứa ở vội thanh minh:
– Xin ông đừng nghĩ oan cho thầy tôi. Thấy tại trận một lần ông mới hiểu rõ. Thầy tôi ngồi ở tuốt chính giữa bụi tre gai. Ai nấy xúm lại coi, chẳng hiểu thầy tôi làm cách nào chui vào cho được trừ phi có thánh thần giúp đỡ. Phải dùng dao búa và câu liêm chặt gai rồi mời thầy tôi về. Gần đây, thầy tôi ưa thức đêm, tới lui thăm viếng cô Ngọc như ông thấy.
Tôi hỏi gắt:
– Thầy Lý si tình hay mang chứng bịnh đặc biệt! Có lẽ thầy nằm chiêm bao, thấy người bạn mời du lịch.
Đứa ở lấy tay che miệng:
– Ban đêm thầy đọc sách rồi viết sách. Tôi là đứa ở làm sao dám hỏi công việc riêng của chủ. Có bận đó, thầy tôi trốn biệt suốt hai ngày ở ngoài bãi tha ma đói rã ruột, thầy tôi vẫn cười mà nhai suốt từng cục đất sét. Có lẽ ai rủ thầy tôi đi ăn giỗ.
Cậu tôi đi ngang qua, lên tiếng:
– Cháu về nhà nghỉ, lát nữa ăn cơm. Hơi đâu mà lo chuyện thiên hạ. Thằng nhỏ này đâu phải thầy bùa hoặc bác sĩ?
Tôi cáo từ, hẹn trở lại. Cậu tôi nói:
– Cháu về trước đi, cậu đi chợ mua thêm miếng thịt quay.
Ngọc đứng sẵn ngoài ngưỡng cửa, vui tươi hơn bao giờ hết. Nàng hỏi:
– Anh ở nhà thầy Lý?
– Ờ, khó hiểu quá. Thầy ta khéo sắm một đứa ở. Thằng nhỏ đó cũng bí mật như thầy ta. Không khéo hai thầy trò phát điên.
Ngọc vào nhà:
– Anh vô đây.
Rồi nghiêm mặt:
– Chừng nào anh về? Anh có gặp ba tôi ngoài chợ không?
Tôi đáp:
– Đúng ra lát nữa tôi về nhưng tối nay tôi phải ở lại theo sát thầy Lý.
Ngọc thở dài:
– Anh nên về là hơn, đừng làm khổ những người đã khổ.
Tôi nói gắt:
– Ai khổ? Thầy Lý à? Hắn gieo nỗi khổ cho bao nhiêu người khác. Ngọc chẳng nghe dư luận bên ngoài sao?
Ngọc cúi đầu:
– Người khổ là thầy Lý mà cũng là em.
Rồi nàng cúi đầu, vào phòng, ngoắt tay như bảo tôi vào. Nàng mở cái hộp bằng thiếc, trong hộp có ba bốn phong thư rồi mỉm cười.
Như chợt tỉnh giấc mơ, tôi hỏi nhanh:
– Thế là Ngọc yêu thầy ta?
Ngọc đáp:
– Yêu thì không hoàn toàn yêu nhưng anh Lý làm thơ giỏi lắm. Thơ lục bát, thơ bát cú có vần có điệu. Rất tiếc em khó lòng cho anh xem.
Tôi giựt một phong thư màu xanh trong tay Ngọc, Ngọc toan chận lại nhưng lẩm bẩm:
– Anh đọc thử. Đừng cười, tội nghiệp ảnh.
Trong phong bì có miếng giấy màu tím và mấy chữ:
“Em Ngọc! Sáng nay anh bận rộn quá không biết viết gì hơn. Anh xin tặng em hai câu này, tuy là thơ xưa nhưng hay lắm. “Ngọc xem trang trọng khác vời, khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”.”
Ngọc chụp bức thơ, giành lại:
– Anh Lý đâu phải điên khùng như thiên hạ lầm tưởng. Anh mắc bịnh mộng du, thiên hạ nói vậy nhưng em chưa tin. Ảnh thỉnh thoảng đến đây, che dù, rồi bí mật nhét lá thư ở dưới chậu kiểng, chỉ riêng em mới thấy. Đó là mưu trí.
Tôi đáp:
– Cô này lẩn thẩn quá. Không chừng cô bị truyền nhiễm tật mộng du của hắn!
Ngọc chạy xuống nhà bếp vừa chiên cá vừa nói:
– Em thì chắc ắt lẩn thẩn. Như anh, như tất cả xóm này mới là kẻ bị truyền nhiễm.
Rồi Ngọc trợn mắt. Trong một thoáng, tôi thấy đôi mắt nàng trợn trắng, đứng tròng giống hệt mắt của giáo Lý. Nàng nói:
– Người ta làm gì thây kệ người ta. Mấy người sao cứ tò mò hoài? Xóm này, có mấy thằng con trai nó mê tôi, nó không biết làm cách nào để gởi thơ cho lọt. Tụi nó ức rồi nói xấu, gẫm đi gẫm lại, tụi nó dại dột hơn anh Lý.
Vài năm sau tôi trở lại. Ngọc và Lý đã thành chồng vợ và sanh được một con. Cha mẹ thầy Lý giúp tiền bạc, xây cho ngôi nhà ngói. Lý vẫn ngâm thơ. Ngọc nói cho tôi rõ: Chồng nàng đã hết chứng mộng du nhờ đi nhà thương Chợ Quán, bác sĩ cho uống thuốc đặc biệt. Trước đó có rước mấy ông đạo ở Bảy Núi tới, điều trị không xong. Nhưng tôi nghi ngờ quá. Giáo Lý đi guốc, hai chiếc hai thứ quai khác nhau, một chiếc của anh ta, một chiếc của Ngọc. Lâu lâu anh ta vỗ về thằng bé: nó ngủ mơ màng nhưng đôi mắt mở trao tráo, để thách thức những kẻ ngủ nhắm mắt, khác với nó.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.