Khai bút Giáp Thìn!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on February 23rd, 2024

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Ðọc báo Xuân, tui thấy bà con trong nước năm nay ăn Tết buồn nhiều hơn năm trước. Bông, kiểng bán đại hạ giá, lỗ chỏng gọng, vẫn không có ai mua. Người bán điệu đời, hiểu thiên hạ ít mua vì họ không có tiền. Không có tiền do năm rồi làm ăn không khá. Nghèo với mạt, cùng cảnh ngộ, bông cho không. Cũng có người giận cá chém thớt, đập bỏ chớ không cho ai hết ráo. Trong khi Cộng Sản vẫn vui mừng vui quá vui. Chuyện của người dân; chớ không phải chuyện của chánh quyền.

Nhà báo quốc doanh Tường Vi (tên một loài hoa) viết phóng sự: “Thuyền hoa miền Tây cập bến Sài Gòn: ‘Tết trên bến, Tết dưới thuyền”.

Thuyền hoa? Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, dân Quảng Nam, trong bài “Bến giang đầu” có viết “Gió rào rạt thưa rằng một sớm trên bến sông. Em xuống thuyền hoa pháo reo vang lướt ngược sóng.” Làng quê Quảng Nam mùa Đông ngày ấy đường sá còn rất lầy lội. Thuyền hoa được kết hoa đẹp, dùng để đưa hoặc rước cô dâu. Người yêu cũ của ông Lê Trọng Nguyễn xuống thuyền hoa, đi ngược dòng sông Thu về nhà chồng đâu đó ở Duy Xuyên, Đại Lộc.

Còn Miền Tây hằng mấy trăm năm qua, bà con mình có chiếc ghe, cái nhà di động, buôn bán; họ sống thương hồ cả đời trên sông rạch. Con trai hoặc gái tới tuổi cập kê phải dựng vợ, gả chồng. Ngày tân hôn hoặc vu quy, hai chiếc ghe thương hồ của đàng trai, đàng gái phải có thuyền hoa mới ra đám cưới.

Trên thuyền hoa có cô dâu, chú rể, bà con hai họ: “Rừng Nhum có cô Kiều Hạnh. Quán Dốc có chị Ba Bèo. Xóm Bời Lời có thím Tư Phong. Cái đầu bèo nhèo, cái đít láng mướt. Có con mà chưa có chồng. Thôi hãy vui lên cùng sống đời bên nhau! Em phải biết anh. Một thanh niên có học lại chân tình. Về xin cưới hỏi em đàng hoàng chớ anh đâu phải là đứa lang bang …”

Đôi soạn giả Kiên Giang và Quy Sắc trong “Người vợ không bao giờ cưới” cho sơn nữ Phà Ca Út Bạch Lan vừa ngâm thơ, vừa thút thít khóc khi Kiểu Mộng Long Hữu Phước đi cưới vợ: “Trăng treo thềm cổng vu quy. Ai vui trong đó sầu bi ngoài nầy”

Rõ ràng nhà báo CS Ba ke hai nút Tường Vi nầy hiểu chữ thuyền hoa trật lất. Không lẽ thuyền hoa là thuyền bán hoa. Xe hoa là xe bán hoa. Em bán hoa không phải là em bán bông mà là em bán cái vốn tự có của em?

Collège de Cantho 1920-1929 – nguồn Flickr 

Theo thiển ý của tui, những văn, thi sĩ Miền Bắc, Miền Trung phải học thêm về văn hóa phong tục của người Miền Tây. Ghe đi bán bông, bán kiểng chợ Tết chớ không phải là thuyền hoa gì hết ráo nghe không. Dùng chữ bậy bạ làm tui cười thiếu điều té ghế.

Đó là chuyện trong nước, còn chiều cuối năm quê người, không có hương vị Tết gì của quê nhà năm cũ. Nó buồn như ếch, nhái, ễnh ương, bù tọt kêu huềnh hoang trong chiều chạng vạng tối nhá nhem mà lại có mưa. Ngồi bên ly rượu đỏ, tui đọc Hạc Thành Hoa: “Chiều cuối năm trong quán bên sông nhìn lá rụng” để buồn hơn cái thân xa quê trong thời lưu lạc. “Chiều cuối năm còn ngồi trong quán. Nỗi lòng ta biết gửi về đâu? Mây đã ngừng trôi sông nước lặng Mang mang thiên địa ý xuân sầu!”

Tui nhớ trường Phan Thanh Giản Cần Thơ. Tui nhớ tui của một thời phấn bảng ở một trong những trường Trung học lớn nhứt Miền Tây. Vì Trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ có tới 112 lớp Ðệ Nhất cấp và Ðệ Nhị cấp. Điều đó nghĩa là hơn 7,000 học trò, quê tứ xứ từ các tỉnh khác đến học.

Bây giờ thì: “Học trò năm cũ giờ đâu cả? Em dạt về đâu mấy nẻo đường?” Thầy trò chúng tôi lưu lạc, tha hương ra toàn thế giới. Chúng ta ra đi mang theo quê hương, mang theo hình bóng thân thương của ngôi trường năm cũ quê nhà.

Thảo lư là lều cỏ, Lưu Bị 3 lần tam cố Khổng Minh đó mà. Thảo lư của ông bạn nhậu, quê Cần Thơ, ở lưng chừng đồi, nằm trên một thung lũng dài, Long Valley Way, vùng Doncaster East, tiểu bang Victoria, Australia. Nó cách nhà tôi Footscray, hơn 30 cây số, mất chừng 40 phút lái xe. Tui nhớ hôm đó, ông làm món gỏi khô cá sặt trộn với xoài sống. Mồi bắt quá, mấy đứa cưa vài chai rượu mạnh cạn láng chít, tui quỷnh hết dám lái xe về.

Tui nhớ thơ Cao Tần: “Bình minh tới một chàng bừng tỉnh giấc. Thấy chiến trường la liệt xác anh em. 5 tráng sĩ bị 10 chai quất gục. Đời tha hương coi bộ vẫn êm đềm. Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới: Ta làm gì cho hết nửa đời sau?”.

Trường Phan Thanh Giản Cần Thơ ngày nay – nguồn Facebook

Tui nhớ “Chiều Tây Đô” của nhạc sĩ Lam Phương, dân Rạch Giá, “Bờ sông yêu xưa tà áo thướt tha mỹ miều. Sao em không thấy về Ninh Kiều?” “Ngày xưa ta quen từng viên đá quanh sân trường. Nay nghe sao khác từ tên đường?”

Melbourne, quê người lưu lạc, bèo dạt hoa trôi, tui may mắn gặp được Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn, dân Mái Dầm, cựu học sinh College de Cantho, tiền thân của trường Trung học Phan Thanh Giản. Tui cũng được gặp Giáo sư Hiệu trưởng Nguyễn Trung Quân; Giáo sư Hiệu trưởng Trương Quang Minh, Giáo sư  Bùi Bằng Hãn, Giáo sư Nguyễn Đình Sửu, Giáo sư Trần Văn Dinh, Giáo sư Đoàn Văn Trung … để tui nhớ tui của một thời phấn bảng cách nay đã 50 năm .

Tha hương gặp cố tri! Trên 70, sống thêm được một năm nữa, là do trời thương. Giờ Trời kêu ai nấy dạ, Trời kêu đi thì mình đi vậy. Chiều chạng vạng, trước hay sau gì cánh chim trời phiêu bạt cũng về đậu trên nhánh cây ‘thương’. Chúng ta đã có một quãng đời với nhau vui như: “Cửu hạn phùng cam vũ. Tha hương ngộ cố tri”.  (Nắng hạn gặp mưa rào. Xa quê gặp bạn cũ.)

Tui nhớ Đỗ Phủ: “Áo bông gán nợ qua ngày. Quán ven sông, rượu khướt say mới rời. Vẫn thường uống chịu đấy thôi.  Xưa nay 70 tuổi đời hiếm hoi!”

Mùng Một Tết Giáp Thìn quê người khai bút, tui nhớ xưa, nghèo mạt rệp nhưng vẫn được mấy quán nhậu gần ngã ba Chợ Tham tướng Cần Thơ cho tui thiếu chịu; tụi mình nhậu vui quá xá há! Còn quê người rượu, beer giờ không thiếu; chỉ thiếu cái hồn quê.

ĐXT

Gả thiếp về rừng!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on June 29th, 2024

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Có tác giả chép câu ca dao, theo thể thơ lục bát, nhịp võng ru em, của bà cố mình truyền lại là: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau. Nhớ người áo trắng khăn quàng vắt vai”. Tui cho rằng tác giả muốn chép lại câu: “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều. Nhớ người áo trắng, khăn điều vắt vai”.

Câu lục cà lăm chữ ‘chiều chiều’ là ý em muốn nói: chiều tương tư. Em không bỏ sót chiều nào mà em không nhớ tới anh. Còn câu bát: áo trắng phải đối với khăn điều; chớ khăn quàng đâu có đối? Nhưng tại sao phải là khăn điều? Điều là đỏ. Giấy hồng điều là giấy màu đỏ. Khăn điều là khăn màu đỏ vắt vai để anh Hai chùi cổ trầu cũng màu đỏ; lúc nhai nước cốt trầu trào ra khoé miệng dính tèm lem cái áo trắng thì sao? (Hồi xưa cỡ ông bà ngoại tui, đàn ông cũng ăn trầu; đàn bà cũng ăn trầu. Ăn hết ráo. Say trầu phê phê; mặt hồng hồng; mắt em trong, tình hết biết. Và răng em nhờ vôi ăn trầu nên nó chắc. Vì nước sông đồng bằng nó không có chất ‘fluor’ miền núi.

Ý tui, rốt cuộc, hai câu thơ lục bát này tác giả chép không đúng, câu lục, câu bát không ăn khớp, chắp vá, đầu Ngô mình Sở. Người ta nhớ mẹ; em nầy lại nhớ trai?

Có người lại chép: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau. Nhìn về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Hoặc: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau. Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Hoặc: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau. Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Tui cho rằng trong cái ngữ cảnh (context) của câu ca dao nầy, những động từ “nhìn, trông, ngó”, mấy chữ này đúng nhưng không hay. Nó không diễn đạt được hết cái cảm xúc của một người con gái phải đi lấy chồng xa, xót xa khi em nhớ về quê mẹ.

Nguyễn Bính đã bày tỏ cái tâm sự đó qua những câu thơ lục bát, cũng ở điệu ru con, là: “Em ơi, em ở lại nhà, Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương.

Xuồng ba lá trên dòng sông Trẹm – nguồn genk 

Mẹ già một nắng hai sương, Chị đi một bước trăm đường xót xa…”

Theo ý tui, câu ca dao nầy đừng tam sao thất bổn, vừa đúng vừa hay phải là: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau. Ngóng về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Động từ ‘ngóng’ có vẻ sần sùi nhưng là chữ ‘thần’, chữ hay nhứt trong những chữ hay. Vì ‘ngóng’ là bồn chồn; bởi em đang muốn một điều gì đó. (Ngày lãnh lương là em ‘ngóng’ chồng về)

Muốn má ơi đừng gả con xa. Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu? Chi bằng gả con thì gả chồng gần. Có bát canh cần nó cũng đem cho. Còn bây giờ thì: sương khuya ướt đẫm giàn bầu. Bậu về Miệt Thứ bỏ sầu cho qua.

Cuộc sống của lưu dân đồng bằng sông Cửu Long mà. Mới đầu từ Miền Trung vào, ông bà mình chọn vùng đất sông sâu nước chảy để khẩn hoang lập ấp. Sau sanh con đẻ cái một bầy như giặc Tàu Ô. Con cái lớn lên là phải dựng vợ, gả chồng. Dựng là phải có đất, điền để chia cho. Nhưng người đẻ; đất đâu có đẻ. Muốn có đất phải tiến vào Miệt Trèm Trẹm, U Minh.

‘Bên dòng sông Trẹm’ tựa đề truyện dài của nhà văn Dương Hà đăng ‘phơi- dơ- tông’ (feuilleton) trên báo hồi năm nẳm. Sông Trẹm chia rừng U Minh thành U Minh Hạ thuộc Cà Mau, U Minh Thượng thuộc Rạch Giá. Còn gọi là sông Trèm Trẹm là một con sông dài chừng 42 km, từ ngã ba kinh Tân Bằng – Cán Gáo qua Thới Bình chảy về ngã ba sông Ông Đốc, tỉnh Cà Mau. Màu nước sông Trèm Trẹm có cái ngộ là đổi theo mùa. Mùa mưa, nước sông màu nâu sẫm, màu nước dớn (do lá rừng tràm rơi xuống) từ các con rạch đổ ra.

Miệt Thứ, rừng U Minh – nguồn tài nguyên môi trường

Sơn Nam chia miền Tây thành: Miệt vườn, Miệt ruộng, Miệt rẫy và Miệt Thứ. Miệt vườn Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long. Đất vườn do múc mương, vụt sình lên bồi liếp. Xáng mới xúc; gàu thì múc. Nên mới có câu: “Ăn như xáng xúc; mà làm như lục bình trôi”. Miệt ruộng Cao Lãnh, Sa Đéc, Cần Thơ. Miệt rẫy Miệt giồng, Trà Vinh, Sóc Trăng. Miệt Thứ là Miệt rừng U Minh.

Dân U Minh chèo xuồng vô rừng, xắn than bùn về chụm; lửa đượm hơn chụm củi. Xuồng ba lá vì nước kinh rạch chảy liu riu chứ không cần năm lá như miệt sông Tiền, sông Hậu nước chảy mạnh hơn.

Rừng U Minh nhiều cá lóc, cá sặc rằn, cá rô, cá trê, lươn, rùa, rắn: mồi nhậu ê hề. Nhưng kẹt cái là ở rừng, chim kêu vượn hú tối ngày, ở một mình buồn chết. Mới chạng vạng, trời chưa sập tối, muỗi đã vo ve kêu như vãi trấu. Phải hun khói vỏ dừa đuổi muỗi. Muỗi cắn ngứa; ngứa gãi tróc da thành ghẻ. Phải chui vô mùng mà trốn muỗi. Vô mùng nằm cu ki buồn chết tía nên cần người nằm chung mà đàm đạo. Vậy là phải đi về miệt vườn, kiếm nhà nào đông con gái, nhiều miệng ăn, nuôi không xuể, mình rước một đứa về để tiếp má nuôi em. Thương làm sao tấm lòng ‘đại bác’ của mấy ông chồng. Nhưng chua xót thay. Ưng thằng ‘Đực’ chịu ôm gói theo rồi nhưng cái lòng của em, em để lại ở tuốt miệt nhà em. Em giấu biệt nỗi buồn đó với anh. Vậy mà em ‘xạo xạo’ chia ngọt, sẻ bùi cái giống gì không biết nữa?

Chiều đi thăm ruộng về mệt; ngồi nhà trên; uống trà quạu, hút thuốc rê. Còn con vợ không làm mồi cho chồng nhậu sương sương để có hứng chun vô mùng dạo lại bản tình ta mà lại ra đứng cửa sau; ngóng về quê mẹ ruột đau chín chiều mới chết.

Thiệt tội nghiệp mấy anh mình hết sức. Lấy vợ là cày như trâu để lo cho vợ, cho con. Nhớ má, lâu lâu mới về thăm, cho chút đỉnh. Cho nhiều; tiền đâu có? Con vợ nó giữ hết ráo rồi? Má già cả xài hổng bao nhiêu, phần thiếu hụt đã có ba mầy lo. Cho để má an tâm là vợ chồng con không giàu có gì; nhưng không bữa đói, bữa no còn dư chút đỉnh cho má ăn trầu.

Mấy anh mình yêu vợ, thương con là số một. Có vợ rồi cho má xuống số hai. Vậy mà em lấy chồng rồi nhưng em còn nhớ má em lắm? Em chổng mông la quang quác làm vợ khổ lắm, buồn lắm. Giỏi la tầm bậy không hè. He he!

ĐXT

Cà phê bít tất?

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

July 19th, 2024

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Một bạn văn có chuyển cho tui bài: ‘Cà Phê Vớ’. Tui nghi tác giả là Ba ke hai nút, ló cọng rau muống dài thòng; vì chữ ông dùng mắc cười quá xá. Như: “nếu uống quá đậm có thể thức ba ngày không nhắm mắt”. Nhắm mắt là chết. Không nhắm mắt là không chết. Muốn nói không ngủ được thì người Sài Gòn sẽ nói là: “không chợp mắt” ông ơi!

“Sài Gòn người ta nói đi uống ‘cà phe’. Tiếng Tây là café, tiếng Anh là coffee; nhưng mấy chú Chệt Chợ Lớn thì gọi là ‘cá phé’. A Hoành, A Coón, chú Xường, chú Cảo, chủ tiệm nước chuyên bán điểm tâm hủ tiếu, bánh bao, há cảo, xíu mại và cà phê vớ. Một chiếc túi vải hình phễu được may cặp với một cọng kẽm làm vành túi và cán. Cà phê bột đổ vào túi vải (gọi là bít tất, hay vớ đều được). Vì chiếc vợt cà phê này hơi giống như chiếc vớ dùng để mang giày. Chiếc vớ chứa cà phê này sau đó được nhúng vào siêu nước đang sôi, lấy đũa khuấy khuấy vài dạo xong đậy nắp siêu lại. Tiếng lóng bình dân gọi là kho cà phê. “Kho” độ 5,10 phút mới có thể rót ra ly mang ra cho khách

Cà phê vợt  

Duy chỉ có ở Sài Gòn và Lục tỉnh miền Nam mà thôi. Dân ghiền cà phê còn gọi nó là cà phê kho bởi chỉ ngon lúc mới vừa “kho nước đầu”. Nếu ai đến chậm bị kho một hồi cà phê sẽ đắng như thuốc Bắc.

(Sic).

Nói ông đừng buồn; ông viết trật bàn đạp, trật lất. Cà phê có hai loại: bình dân cà phê vợt; sang cà phê phin. Phin gốc tiếng Pháp là ‘filtre’ nghĩa là lược”. Phin cà phê làm bằng nhôm hay inox, ở dưới đáy có những lỗ nhỏ li ti và một miếng hình tròn có quai để ém cà phê bột. Viết văn, tánh nghệ sĩ, cũng như các nhà làm văn nghệ khác, ba tui ghiền cà phê và thuốc lá; ba hút Melia vàng của hãng M.I.C. Cà phê phin do má tui pha mỗi sáng. Má làm nóng phin bằng nước sôi. Cho cà phê bột vào phin ép hơi hơi chặt. Ép chặt quá nước nhỏ xuống rất chậm, cà phê nguội không làm chín sữa. Ép lỏng quá, nước chảy re; nồng độ caffeine không đủ đậm, uống không đã. Má đổ chút nước lạnh vào cho cà phê nở ra. Chờ một chút, xong mới đổ nước sôi vào. Từng giọt cà phê rơi từ từ nhỏ xuống tách (tiếng Pháp: tasse) thơm lừng. Mấy ông nhạc sĩ màu mè gọi là giọt buồn không tên?

Cà phê phin

Má cưng cho tui nước nhì. Không phải hà tiện gì với con cái, má nói con nít uống cà phê nước nhứt đậm quá, nó đắng nghét và không tốt. Tui nhớ cái truyện ngắn ‘Hồn ma cũ’ của ông Bình-nguyên Lộc (1914-1987)… Xin chép lại một đoạn: “Hai cha con ngồi lại bàn. Người cha kêu cà-phê cho mình và sữa cho con, nhưng kêu bằng thổ ngữ Quảng Đông, nên thằng bé không hay biết. Chừng phổ ky đem món uống lại, nó mới nói: “Ba ơi, con muốn uống cà-phê như ba!”

“Ê, trẻ con không nên uống cà-phê”. Người cha vừa nói, vừa xé cái bánh tiêu, nhét xíu mại vào để làm nhưn, rồi trao cho con”

Cà phê phin là thức uống của Tây, trước khi CSBV chiếm được Sài Gòn, nhà chưa đói rách, lâu lâu có lãnh ‘rắp ben’, không uống cà phê ở nhà má pha, ba dẫn con tới nhà hàng của Pháp như: Givral trong thương xá Eden, lâu đời từ thập niên 1950. Nhà hàng La Pagode yên tĩnh và sang trọng mang đậm phong cách Paris, do kiến trúc sư Alexandre Marcel xây dựng vào năm 1896 tại góc ngã tư Lê Thánh Tôn và Tự Do. Khai trương từ năm 1948. nằm ở góc đường Tự Do –Nguyễn Thiếp, nhà hàng Brodard nổi tiếng với cà phê phin và bánh ngọt ngon tuyệt hảo.

Givral tại góc đường Tự Do và Lê Lợi

Gọi Cà phê vớ hay cà phê bít tất sai vì chuyện Sài Gòn mà ai lại xài từ của Ba ke hai nút. Kêu là cà phê vợt vì vợt đựng cà phê bằng vải tám hoặc vải may bao bột mì. Hình dạng giống như cái vợt cá lia thia nhưng đáy vợt hình phễu sâu hơn.

Cà phê kho là cà phê nóng cứ ninh hoài trên nồi nước sôi lâu nó đắng nghét do bắp trộn trong cà phê nó tiết ra. Dân ghiền uống cà phé nại hay xây chừng kho hết ngon thì mình mất khách. Khách sành điệu uống cà phê luôn luôn chọn cà phê vợt mới pha. Do đó pha một vợt để bán cà phê đen, cà phê sữa. Chưng nửa tiếng bán không hết thì đổ cà phê ra một cái bình để nguội bán cà phê đá.

Cách pha cà phê vợt là: dùng nước sôi để chần sơ cái vợt cho nóng. Múc cà phê bột đổ vào vợt. Nói cà phê bột nhưng nó chỉ có 6 phần cà phê và 4 phần bắp. Nếu toàn cà phê nguyên chất thì mắc, người bình dân ít tiền không kham nổi. Cà phê nguyên chất dành cho cà phê phin bán cho dân thượng lưu, dân giàu.

Brodard góc Tự Do và Nguyễn Thiếp

Đặt cái vợt vào cái siêu (sắc thuốc Bắc) sau đó cho bột cà phê vào vợt. Dùng đũa bếp đảo liên tục để bột cà phê thấm vào nước nóng tạo ra nước cà phê. Tiếp tục đảo đũa bếp và nhấc cái vợt lên rồi, bỏ xuống. Rót vào ly nhỏ có đường gọi là xây chừng. Có sữa ông Thọ thì gọi là xây phé nại. Ly lớn là tài chừng và tài nại. Ít cà phê thì gọi là bạc xỉu.

Trước 1975, về Kế Sách, Sóc Trăng, sáng trước giờ đi dạy, tui quất một tô hủ tiếu chơi luôn một xây chừng chẩu (cà phê đen pha rượu đế) là mặt hồng hồng sáng trong trong đẹp trai hết biết.

Sao tui rành 6 câu vọng cổ vậy? “Hỏi rằng quê tui ở đâu? Quê tui xứ Mỹ rất lâu Sài Gòn” Nên tui biết cà phê Givral, La Pagode, Brodard…

Còn cái vụ pha cà phê? Nghề của tui mà! Tui hổng có dóc tổ đâu. Chẳng qua năm 1966, bên hông rạp hát Định Tường của bà Khương Hữu, cuối đường Lý Thường Kiệt, Mỹ Tho, má tui có cái quầy bán cơm tấm để nuôi anh, em tui ăn học. Liền bên quầy cơm tấm của má là cái bàn pha cà phê của tui thì tui không rành 6 câu sao được?

Má tui đã chết lâu rồi. Tui vẫn ly hương. Nhìn hình cái siêu sắc cà phê thì kỷ niệm xưa ùa về làm tui nhớ má tui! Hu hu!

ĐXT

Dặm trường

vanviet.info/van

Văn 27 Tháng Ba, 2019

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Kỳ 5

Chương 12

Thấy đi bao thuốc lá vừa gọn nhẹ, vừa có lời, Hạnh định đi tiếp, thì sáng hôm đó, Phiệt ghé lại tìm nàng:

–     Hàng Hạnh còn không?

–     Anh muốn nói hàng gì?

–     Thì trầm chứ gì nữa.

Hạnh ngạc nhiên:

–     Bỗng dưng, anh lại hỏi chuyện trầm, lạ thật.

Phiệt giải thích:

–     Hạnh biết sao không, anh có một người bạn vừa được cử giữ chức giám đốc Công Ty Thu Mua Nông Lâm Sản một huyện dưới miền Tây. Anh ta xin được một “cô ta” nhập “xe bãi” và đồ phụ tùng Honda từ Nhật. Họ xin xuất thêm trầm hương để lấy thêm ngoại tệ. Hiện anh ta vừa thiết lập một văn phòng thu mua tại đây. Tương lai, anh ta sẽ mở một văn phòng ở Ðà Nẵng. Huyện này đang muốn làm ăn lớn. Anh ta nhờ anh liên hệ kiếm mối trầm. Hạnh thấy có thể quan hệ làm ăn với anh ta không?

Hạnh la lên mừng rỡ:

–     Vậy thì hay quá. Họ có cần hàng bây giờ không?

–     Cần mới nhờ anh đi hỏi chứ.

Nghĩ đến giá cả eo sèo trong thời gian qua, Hạnh hỏi:

–     Chẳng biết giá cả của họ như thế nào? Họ có nói gì với anh không?

Phiệt quả quyết:

–     Họ chưa nói gì rõ ràng cả, nhưng anh bảo đảm với Hạnh là họ sẽ mua được giá. Hạnh biết vì sao không? Họ cần xuất ngay một chuyến vào mùa hè này để lấy tín nhiệm.  Trước mắt, lời lỗ đối với họ chỉ là chuyện phụ.

–     Chẳng lẽ họ không cần lời?

Phiệt giải thích:

–    Sao lại không. Nhưng em nên nhớ đây là nhà nước buôn bán, chứ không phải tư nhân. Lời lỗ họ không tính như mình tính.

–    Vậy họ tính như thế nào?

–    Chuyện này thì có dính gì đến chuyện Hạnh bán hàng đâu mà lo cho mệt. Có lời thì mình bán, không thì thôi. Mà anh chắc chắn phải có. Anh đã từng làm việc với đám công ty nhà nước, anh biết mà. Vấn đề là quan hệ thật tốt với người đứng ra mua hàng.  Thế là đủ. Còn sau đó, người ta tính toán ra sao là chuyện của nhà nước, ăn nhằm gì với mình đâu, phải không?

Hạnh gật gù:

–    Nghe cũng có lý. Họ có người rành mặt hàng này không?

–    Hạnh nói đến lạ! Không rành thì sao họ dám đứng ra mở công ty.

–    Em hỏi vậy là có lý do. Hàng này khác xa các loại hàng khác. Nếu người mua không rành thì khó bán lắm.

–   Tin anh đi. Anh bảo đảm là em sẽ bán được. Vì họ phải mua được. Họ phải có hàng. Mua được hàng em không có gì quan trọng lắm đâu, họ còn muốn đi xa hơn nữa kìa. Họ muốn nối dài cánh tay ra ngoài miền Trung. Em hiểu chưa?

Thấy Hạnh vẫn còn hoài nghi, Phiệt nói tiếp:

–     Ðây là công ty của nhà nước. Người anh quen là kiểm nghiệm viên. Anh ta làm cho nhà nước. Anh ta mua cao hay mua thấp là quyền anh ta. Còn lời hay lỗ là của nhà nước, không dính dáng gì đến quyền lợi anh ta cả.

Hạnh ngắt ngang:

–     Nhưng nếu anh ta mua cho nhà nước mà bị lỗ, thì sao được?

Phiệt cười lớn:

–     Hạnh đúng là ngây thơ. Sống giữa thời đại xã hội chủ nghĩa mà không hiểu gì về cơ chế xã hội chủ nghĩa, làm sao mà sống. Nhà nước có cách tính lời lỗ riêng, không giống như mình. Bọn mình buôn lời lỗ thường tính trên giá vàng, có đúng không nào? Còn nhà nước, họ chỉ dựa trên tiền mà thôi. Nếu đầu năm, họ bỏ vốn ra 10 triệu, đến cuối năm tổng kết, họ thu vào được 15 triệu, thế là họ lời 5 triệu, đúng không? Trong lúc đối với mình, đầu năm mình bán, anh giả sử như thế, 20 cây được 10 triệu, đến cuối năm mình thu vào được 15 triệu, nhưng vì vàng cao, mua lại chỉ được 15 cây vàng, vậy là mình lỗ, phải không. Em thấy sự khác nhau chưa? Ðó là chưa kể cái chuyện người ta luôn luôn tìm cách làm cho nhà nước có lời, ít ra là trên giấy tờ. Người ta biến lỗ thành lời. Cha chung không ai khóc mà, đâu có hệ lụy gì ai.

–    Anh có vẻ rành việc nhà nước quá nhỉ?

–    Có gì lạ đâu Hạnh. Mình phải tìm hiểu để làm ăn Hạnh ạ. Biết cách nhà nước làm ăn, mình bám vào đó, dễ khá lắm. Bám được rồi, mình sẽ chẳng còn sợ công an, thuế vụ hay thằng cha căng chú kiết nào cả. Có khi, họ phải lo bảo vệ cho mình nữa. Buôn lậu mà vẫn hợp pháp. Cán bộ có ăn mà mình cũng có ăn. Nhà nước có thể lỗ. Nhưng nhà nước lỗ, em thấy không, nghĩa là không ai lỗ cả. Thành thử cái quan trọng là mình phải biết cách làm ăn như thế nào, nghĩa là cách cùng chia chác với cán bộ. Em hiểu chưa?

Hạnh cười:

–    Chưa.

*

Sáng hôm sau, Phiệt chở Hạnh mang hàng về Gò Vấp, nơi có trụ sở công ty của Xuân. Việc mua bán diễn ra như trù liệu. Hạnh bán được hàng. Từ công ty ra về, lòng Hạnh vui như hội. Lại được quý nhân phù trợ, Hạnh sung sướng nghĩ thầm. So với chuyến hàng trước, lần này lời không nhiều, nhưng vì lo lắng đợi chờ quá lâu, nên nỗi vui mừng của nàng tăng thêm gấp bội. 

Nàng ra ngay bưu điện đánh cho Lục cái điện tín ngắn gọn:

“Con đã lành. Em sẽ ra ngay”

      Nàng đi lòng vòng các chợ để hỏi mua hàng, quà, chuẩn bị ra.

      Nhưng niềm vui của nàng không kéo dài được lâu. Hàng thì đã bán, đã có lời, nhưng không nhận được tiền hai ngày sau khi bán hàng như mong đợi.  Theo lời của tay đại diện công ty, tiền mặt trả cho khách hàng bị chậm trễ vì trục trặc giấy tờ. Anh ta giải thích:

–     Đại loại, công ty có xin được “cô ta” mua hàng ngoại.  Muốn mua hàng ngoại thì phải trả bằng đô la. Vì không có đô la sẵn, nên cách duy nhất là xuất hàng quý hiếm trong nước để kiếm đô la mà thanh toán. Tương tự như một hình thức đổi hàng. Khi nhận được hàng rồi, công ty sẽ bán hàng ra thị trường để lấy tiền mặt trả cho khách hàng. Hiện nay, hàng ngoại nhập đã nằm ở trong kho, nhưng trục trặc giấy tờ chưa bán ra được nên chưa có tiền trả cho khách.

      Cuối cùng, anh ta trấn an:

–     Xin chị kiên nhẫn chờ đợi. Ðây là chuyện ngoài ý muốn. Thông thường chúng tôi chỉ bắt đầu tính toán chuyện nhập hàng khi hàng nhập đã về kho, đợi bán. Lần này cũng thế, nhưng đáng tiếc. Tôi hy vọng sẽ có nay mai thôi.

Hạnh nghe cho có nghe. Nàng không quan tâm gì đến cái việc mua bán lòng vòng của công ty, mà chỉ muốn có tiền ngay. Nàng van vỉ:

–    Anh có thể biết chắc chắn ngày có không anh. Tôi còn phải ra Huế, đâu có cứ ở Sài Gòn chầu chực mãi.

–    Tôi biết. Ðâu có phải một mình chị. Chị thấy đó, có nhiều người đang đợi. Chị cố gắng liên lạc với chúng tôi hàng ngày.

       Suốt tuần, nàng chạy lui chạy tới công ty nhiều lần.  Nhưng lần nào cũng nhận được hai chữ: chờ đợi. Nàng bắt đầu hoài nghi tính cách làm ăn của cái công ty thu mua này. Phải chăng chỉ là một công ty rởm, một công ty ma? Người ta chỉ mượn đầu heo nấu cháo? Nàng đã được cho xem giấy tờ, khuôn dấu. Một số giấy tờ có cả chữ ký và khuôn dấu của thủ tướng chính phủ. Nhưng làm sao mà biết được thực hư. Trăm dâu đổ đầu tằm. Càng sốt ruột, nàng càng dằn xé Phiệt. Tất cả chỉ tại anh chàng này. Không có anh ta thì đâu đến nổi bị lừa như thế này. Nàng hỏi Phiệt:

–     Bây giờ anh cho em biết, có âm mưu gì trong vụ này không? Em nghi quá. Họ chỉ hứa cuội. Anh phải nói cho em biết sự thật?

–     Chẳng lẽ bây giờ Hạnh nghi ngờ cả anh nữa? Anh bảo đảm với Hạnh là họ làm ăn đàng hoàng mà.

–     Thời buổi này vàng thau lẫn lộn, khó lường quá. Anh em ruột, vợ chồng mà còn lừa lẫn nhau nữa mà.

Phiệt quả quyết:

–     Anh hoàn toàn chịu trách nhiệm. Có gì anh sẽ đền tất cả cho Hạnh, được chưa?

–     Ðền? Ở đó mà đền!

Nàng chẳng còn tin ở Phiệt nữa. Tuần sau, nàng đến gặp Xuân và người đại diện công ty, hỏi thẳng:

–     Tôi không thể chờ đợi được. Xin các anh cho tôi câu trả lời ngay ngày hôm nay.

Xuân đưa mắt nhìn thủ trưởng của mình rồi ôn tồn:

–    Chúng tôi thông cảm sự sốt ruột của chị. Nhưng làm ăn với nhà nước, phải biết kiên nhẫn. Cái gì cũng phải thông qua các thủ tục. Ðôi khi chỉ cần một khâu bị trở ngại là có thể ảnh hưởng đến chuyện này chuyện nọ. Tuy nhiên, thấy tình cảnh của chị, chúng tôi có hai hướng giải quyết: một là nếu chị thích, chị có thể lấy lại lô hàng. Chúng tôi sẵn sàng giao.  Hàng còn nguyên niêm, chị có thể kiểm tra lại. Hai là, chúng tôi làm giấy tờ xác nhận để chị đích thân mang về dưới huyện lấy tiền.

Hạnh thắc mắc:

–    Nếu huyện có tiền thì sao họ không gửi lên đây mà bắt tôi phải về dưới đó?

–    Chúng tôi không bắt chị đi đâu hết. Ðây là giải pháp tạm thời chúng tôi đưa ra để giải quyết cho trường hợp này.  Nếu chị không chấp nhận thì cách duy nhất là đợi thôi. 

*

Đợi lâu quá, sốt ruột, Hạnh quyết định về lại miền Tây để lấy tiền. Nàng rủ Phiệt theo.

      Mãi đến lúc lên đường, nàng mới hối tiếc là đã không rủ Túy đi. Bận chạy theo lô hàng suốt cả mười mấy ngày, đầu óc nàng không rảnh để nhớ đến anh. Ðã thế, nàng còn quên thêm một điều hệ trọng nữa: đánh điện tín cho Lục. Như thế là mấy cha con, sau khi nhận cái điện tín cũ, chắc ngày nào cũng hong hóng đợi nàng về. Biết làm sao giờ. Thôi thì phải lấy cho được tiền đã, có gì giải thích sau, nàng tự an ủi.

      Tuy thế, ngồi trên xe, nàng thừ người, băn khoăn mãi về sự vô tình của mình. Hơn một tháng rồi, nàng vắng nhà. Ngoại trừ mấy cái điện tín, vài giòng chữ dặn dò linh tinh, một số tiền và đồ ăn, nàng quên bẳng gia đình.

Thấy Hạnh ngồi tư lự, Phiệt gợi chuyện:

–    Hạnh mệt hay sao mà trông bần thần vậy?

Như sực tỉnh, nàng quay sang Phiệt:

–    Không. Em đang băn khoăn, vì trước khi đi quên đánh điện tín báo tin cho gia đình.

–    Khéo lo. Về dưới đó đánh cũng được đâu có muộn gì.

–    Phiền nỗi là tuần rồi, em đánh một cái điện nói sẽ ra ngay.

Phiệt chợt chép miệng:

–     Hạnh sướng quá nhỉ. Còn có một gia đình để lo.

–     Anh nói lạ chưa. Ai không có gia đình để lo.

Phiệt nói:

–    Anh khác Hạnh ạ. Hạnh biết không, từ nhiều năm nay, anh mất hẳn ý niệm về gia đình.

Hạnh hỏi:

–     Vậy là thế nào?

–     Hiện giờ, anh chẳng có gia đình nào cả. 

Hạnh tò mò hỏi:

–     Chị bây giờ ở đâu anh?

–     Canada.

–     Bao giờ thì anh sang bên đó?

Phiệt nói quanh:

–     Không có cái ý tưởng nào đúng hơn ý tưởng “dzậy mà không phải dzậy” của người miền Nam. Nói thật với em, nói bà ấy là vợ anh thì cũng đúng, mà bảo rằng kkhông còn là vợ anh nữa thì cũng đúng luôn. Bà bảo lãnh anh với tư cách là một người chồng, nhưng thực sự thì bà ta không còn xem anh là chồng nữa.

–     Dzậy sao?

Phiệt im lặng. Nàng tò mò, nhưng không muốn tỏ ra săm soi vào chuyện người khác. Nàng lơ đãng nhìn ra ngoài. Xe chạy vùn vụt. Bây giờ nàng mới nhận ra cái cảm giác nhẹ nhõm bất thường của mình. Bao nhiêu năm nay, làm một chuyến đi bao giờ cũng là đi vào một cuộc phiêu lưu. Ðã lên xe, lên tàu là có hàng. Hồi hộp, lo âu, căng thẳng.  Khung cảnh chung quanh luôn luôn xao xác, bất ổn. Cái gì cũng có vẻ bất bình thường. Mọi vật đều ở trong trạng thái chơi vơi. Giờ đây, nàng cảm thấy thơ thới. Trong người nàng chỉ vỏn vẹn một tấm chi phiếu bỏ gọn trong bóp. Không có những túi xách căng phồng. Không có hàng cột dưới hai bắp vế, đeo trong bụng, nhét trong quần lót, xú chiêng. Nàng hoàn toàn được “giải phóng”. Nhìn những xách, những bao nhét dưới ghế, trên trần, nhìn những người ngồi ngay ngắn, nghiêm nghị, nàng tưởng tượng đến khung cảnh một vở kịch, trong đó, mọi thứ đều được chuẩn bị cho những bùng nổ ngoạn mục, đầy kịch tính.  Ðàng sau những xách đó, đàng sau những lớp áo quần lịch sự đó là đủ thứ hàng hóa lỉnh kỉnh mà sự tồn vong của nó dính líu đến đời sống của biết bao gia đình. Cả chiếc xe đều nặng. Chỉ riêng nàng thì nhẹ tênh.

Thấy Hạnh không hỏi tiếp, Phiệt nói:

–     Thời buổi này, nhiều cái kỳ quặc lắm. Những cái mà trước đây, chỉ mới nghĩ đến thôi là đã thấy phi lý. Thế mà giờ đây đều trở thành bình thường. Tầm thường nữa. Bà xã anh hiện ở Canada. Tuy xa xôi thế, nhưng với anh, đôi khi chỉ cần một tín hiệu nhỏ thôi là đã hiểu nhau.

Thấy Phiệt nói vòng vòng, nàng sốt ruột hỏi:

–     Tóm lại, có phải anh muốn nói giữa hai người hiện có gì trục trặc, phải không?

–     Không những trục trặc, mà còn tệ hơn nữa.  Nói cho rõ ra là: bà ta đã bỏ anh.

Hạnh thực sự ngạc nhiên, hỏi lại:

–     Chị ấy bỏ anh?

–     Vâng. Anh dùng chữ bỏ không có gì quá đáng. Khôi hài là ở chỗ: bỏ anh, nhưng vẫn gửi tiền về cho anh tiêu và vẫn làm thủ tục bảo lãnh anh qua bên ấy.

–     Chắc là có sự hiểu lầm thôi, chứ làm sao có chuyện lạ vậy. Bỏ mà không bỏ.

–     Tin anh đi. Ðấy, dzậy mà không phải dzậy. Không hiểu lầm đâu. Người ta chỉ hiểu lầm những chuyện lặt vặt, chuyện đời thường ấy mà, còn chuyện vợ chồng là chuyện cốt tử, không thể hiểu lầm được. 

–     Chị ấy nói thẳng với anh à?

–     Ấy, lại thêm một chuyện khôi hài nữa: bà ta chẳng nói gì cả.  Tóm lại, mọi sự trông có vẻ bình thường.

Hạnh sốt ruột:

–     Làm sao mà anh biết được chị ấy bỏ anh?

–     Anh căn cứ vào những lá thư. Vui đáo để lắm Hạnh ạ.  Thế này nhé. À, thế mà đã qua trạm Tân Hương rồi kìa.   Xuống xe đã. Qua trạm rồi kể tiếp. Công nhận đi chẳng có gì trong người, khỏe thật.

Hai người xuống xe, qua trạm. Vừa lên xe lại, Phiệt kể tiếp:

–    Lúc đầu, cách đây mấy năm, khi vừa đến trại tị nạn, rồi sau đó sang Mỹ, thì cứ trung bình một tuần, anh nhận được một lá thư. Nói một lá thì không đúng, một cọc thư, bỏ chung trong một phong bì. Trung bình, mỗi ngày bà ấy viết một lá.  Thôi thì đủ thứ trên đời. Nhớ nhung, khóc lóc, sợ hãi, mơ ước.  Dần dần, một tháng mới nhận được một lá. Rồi tháng rưởi.  Rồi hai tháng. Thư viết cứ ít dần, thưa dần và ngắn dần. Ðể cuối cùng chỉ còn lại có vài giòng thông báo tin tức và nói chuyện tiền nong. Nồng độ của thư cũng giảm theo độ dài.  Lúc đầu da diết, nồng nàn thế nào thì càng về sau càng lạnh lùng thờ ơ chừng ấy. Hạnh cứ tưởng tượng, nội những giòng đầu và giòng cuối thôi cũng cho ta biết vô số điều. Vì vậy, khi mở thư ra, anh đọc giòng đầu và giòng cuối trước khi đọc phần giữa. Này nhé, lúc đầu, bà ấy viết “anh yêu dấu của em”, “anh vô cùng thương mến của em”, “anh ơi”, “anh thân yêu”, “chồng thân yêu của em” vân vân và vân vân. Cuối cùng, như hiện nay chẳng hạn, chỉ còn “anh” rồi phết xuống hàng.  Nhiều khi, thư nói trổng. Còn cuối lá thư thì lúc đầu, bà ấy viết “hôn anh một triệu lần”, “thương nhớ anh da diết”, “em cầu trời khẩn Phật cho chóng đến ngày đoàn tụ”. Bây giờ thì chỉ có “chào anh”, hoặc chỉ ký tên. Ðôi lúc chẳng có gì cả.

Hạnh bật cười:

–     Nghe anh nói, em tưởng anh trở thành chuyên viên nghiên cứu tâm lý phụ nữ bằng thư. Chuyện thật mà sao nghe như anh kể chuyện đùa vậy?

–     Ðúng vậy, thật mà chẳng khác nào đùa. Còn hay hơn đùa nữa.

Hạnh nhìn ngay Phiệt:

–    Anh không buồn?

–    Lúc đầu thì có chứ. Buồn da diết, tê tái. Khủng hoảng.  Chán nản. Bây giờ thì như thường. Lì rồi.

–    Thế thì anh sẽ vẫn sang bên đó chứ?

Phiệt cười:

–     Chưa quyết định, em à. Tìm hạnh phúc cũng phải cân đo đong đếm cẩn thận. Anh đang cân đo đong đếm đây. Kìa, ham nói chuyện mà cũng gần đến bắc Mỹ Thuận rồi.

Hạnh nhìn ra ngoài. Ðường sá đầy xe cộ ngược xuôi. Hạnh hỏi:

–    Mình lại phải xuống xe qua phà sao anh?

–    Không. Mình về Kiên Giang, phải đi ngả khác. Còn qua hai cái “bắc” nữa, nhưng nhỏ thôi.

–    Anh có vẻ rành vùng dưới này vậy?

–    Anh sống ở dưới này.

–    Chẳng phải anh là dân bắc kỳ sao?

–    Bắc, nhưng mà bắc 54. Khi mới vào định cư, người ta đưa về vùng dưới này. Hồi đó còn nhỏ quá, anh không nhớ rõ.  Ở dưới này, đâu chừng hai năm gì đó thì về Biên Hoà.

*

       Xuống xe xong, Hạnh níu Phiệt đi chậm lại, để cho tay trưởng phòng thương nghiệp đi trước:

–     Anh đạo diễn giùm em. Ba cái vụ ăn nhậu này, em không rành.

–    Em đừng lo. Nghề của anh là nghề nhậu mánh. Hạnh mang theo bao nhiêu tiền mặt?

–    Cỡ vài chục.

–     Vài chục thì xem như không ăn nhằm gì. Nhưng không sao, anh có sẵn khâu đây. Có gì ta lấy khâu ra “cấn”.

–     Anh khỏi lo, em cũng có mang khâu đây.

Tiệc nhậu được tổ chức ở trong nhà của tay tài xế phục vụ ở thương nghiệp huyện. Khi Hạnh và Phiệt vào thì thấy mọi người đã đông đủ. Giám đốc thương nghiệp huyện Tư Mau, Trưởng phòng tài vụ, Giám đốc ngân hàng huyện, thủ kho Hải và ba, bốn người nữa mà nàng chưa gặp. Tư Mau chỉ ba ghế còn để trống:

–     Mời cô Hạnh và anh.

Hạnh chừa chiếc ghế trống bên cạnh người đàn ông lạ cho Phiệt, nhưng Tư Mau đưa tay cản lại, cười:

–     Ghế đó là ghế dành cho cô Hạnh. Mời cô cứ tự nhiên.

Hạnh miễn cưỡng ngồi xuống cạnh người đàn ông. Phiệt ngồi một bên nàng. Nàng mỉm cười khẽ chào mọi người trong bàn. Người đàn ông bên cạnh đưa tay ra:

–     Chào người đẹp từ miền Trung.

      Hạnh dè dặt đưa tay. Bàn tay người đàn ông chụp lấy, xiết lại. Hạnh cảm thấy nhột nhạt vì đụng phải một cái gì thô nhám. Hạnh đáp khẽ:

–    Không dám. Chào ông.

Nàng cố nhái giọng Nam cho dễ nghe, nhưng lại tạo nên một thứ giọng pha pha ngộ nghĩnh.

–    Sao cô không nói giọng Huế? Tôi thích nghe giọng Huế của người đẹp kìa. Ở đây nghe giọng Nam chán rồi.

Hạnh mím môi, im lặng. Một người đàn ông khác từ ngoài bước vào, nói nhỏ với Tư Mau:

–    Họ đã mang thức ăn tới.

–    Tốt. Nói họ mang vào.

Mấy người ở gần cửa đứng dậy, kéo ghế sang một bên, dành chỗ cho hai thanh niên vừa bưng vừa xách đồ ăn vào.  Một thanh niên khác khệ nệ ôm vào hai thùng bia chồng lên nhau. Hạnh rùng mình khi thấy chữ heineken màu xanh, tưởng tượng đến cảnh những người đàn ông say mèm cải vã lẫn nhau trong những lần nhậu. Ấy thế mà, lần này, nàng lại là chủ xị.  Một chủ xị bất đắc dĩ.. 

Ðợi cho bia và đồ ăn dọn lên hết, Tư Mau trịnh trọng nói:

–    Bữa nhậu hôm nay xuất phát từ hảo ý của một vị nữ lưu xứ thùy dương là cô Hạnh. Cô là một trong những khách hàng đến với công ty chúng ta sớm nhất khi chúng ta quyết định mở rộng địa bàn hoạt động ra miền ngoài. Nói không ngoa, cô là khách hàng đầu tiên nhập hàng cho chúng ta. Tôi tin rằng trong tương lai, cô Hạnh là hạt nhân của công ty tại miền Trung, và có thể là ở cả miền Bắc…

Tư Mau dừng lại, vì thấy người đàn ông ngồi bên cạnh Hạnh nhìn Hạnh hỏi:

–    Thùy dương? Nghe lạ thế. Thùy dương là cái gì vậy người đẹp?

–    Dạ, thùy dương là, em nghe quen quen, nhưng không nhớ rõ. Hình như là trong một bài hát…

Tư Mau nhanh nhảu:

–    Cô Hạnh nói đúng. Chữ “thùy dương” là chữ tôi lấy từ một bài hát cũ về miền Trung, thủ trưởng ạ. Nguyên câu hình như là “miền thùy dương bóng dừa ngàn thông gì đó…”

–    Nhạc của ta hay của ai vậy?

–    Không, không phải nhạc của ta. Nhạc cũ, loại nhạc trước giải phóng…

Người đàn ông cười lớn:

–     Thì nói đại là nhạc vàng. Chẳng sao. Nhạc gì hay, ta xài ráo miễn là không phạm chính sách đường lối.

Tư Mau tiếp:

–     Trước tôi hoạt động nội thành, bài hát này nghe quen từ hồi còn nhỏ. Bài hát không có nội dung xấu…

–    Ðược rồi, cho qua.

Tư Mau trông có vẻ mất hứng vì đang nói thì bị cắt ngang.  Anh ngập ngừng một lát rồi tiếp:

–     Vâng, cô Hạnh từ xa tới đây…vâng…ờ…Tôi xin hân hạnh giới thiệu với cô Hạnh và anh Phiệt, đây là thủ trưởng của chúng tôi, đồng chí Tâm, Bí thư huyện ủy. Hai đồng chí này là đồng chí Thọ và đồng chí Báu, từ tỉnh tăng phái về giúp huyện phát triển ngành ngoại thương.

Hạnh giật mình, nhìn qua người đàn ông, bối rối. Nàng cố cười thật tươi:

–    Hân hạnh được biết ông Bí thư.

Người đàn ông cười ha hả:

–    Người đẹp khách sáo rồi. Tứ hải giai huynh đệ mà. Cô ở miền Trung, tôi miền Nam. Ðâu cũng là anh em cả. Kêu anh đi cho nó thân mật. Tôi chỉ là Bí thư huyện ủy khi công tác, còn xong công tác thì là…hà hà là ai cũng huynh đệ thôi. Nào, để chào mừng người đẹp miền thùy… thùy… gì nhỉ, à thùy dương, ta dzô một trăm phần trăm đi. Ðể lâu bia nguội mất!

Ông ta lấy một lon bia, dùng ngón tay cái ấn cái chốt mở rồi nâng lên cao, đưa quanh bàn một vòng:

–    Nào, mỗi người một lon đi. Chú Biên, chú Tư, đồng chí Báu, anh Thọ, anh…anh gì nhỉ…xin lỗi tôi quên tên…cái gì, Phiệt, à anh Phiệt, và người đẹp “thùy dương”. Nâng ly lên đi, đừng ngại gì hết. Tứ hải đều là…giai huynh đệ mà. Uống vào, nói mới tin.

Mọi người mở bia. Hạnh mày mò mở lon bia, ngập ngừng nâng lên. Thoắt một cái, mấy người đàn ông trong bàn uống cạn, để xuống. Hạnh hớp một hớp rồi cũng để xuống. Giám đốc Tư Mau chồm người hướng về Hạnh:

–    Cô cũng phải cạn lon. Mới vào cuộc mà hớp một hớp vậy đâu có được. 

Bí thư Tâm cầm lon bia của Hạnh lên, ướm thử nặng hay nhẹ, rồi để xuống:

–    Ðâu có thế này được. Cô phải cạn. Cạn mới tin. Nào, mời người đẹp.

Hạnh lúng túng, năn nỉ:

–    Dạ, em cả đời mô có biết uống bia. Cho em xin…

Bí thư cười sảng khoái:

–    Trời, cô em nói giọng Trung ngọt như mía vậy đó.  Nhưng giọng gì thì giọng, tiệc tùng ở đây là phải cạn ly, cạn chén à quên, cạn lon. Không cạn, nói không thiệt lòng đâu.  Tôi đỡ cùng cô một lon nữa.

Bí thư mở thêm một lon nữa, nâng lên trước mặt Hạnh:

–     Nào, mời cô Hạnh.

Hạnh không biết làm sao, cầm lon bia, nhìn Phiệt cầu cứu.  Phiệt nói:

–     Tôi xin được đỡ cho em tôi.

Cả bàn đồng loạt la:

–     Không được. Không được. Phần ai nấy lo.

Giám đốc thương nghiệp hạ giọng:

–    Cô Hạnh à, sau rồi sao cũng được. Lon đầu, cô ráng cạn đi, đừng phụ lòng thủ trưởng và anh em bọn tôi. Không say đâu. Từ miền Trung vào đến tận đây, cô còn sợ gì.

Không biết làm sao hơn, Hạnh đành nâng lon lên uống. Bí thư vừa uống lon thứ hai vừa thúc:

–    Ấy, ấy, vào đi, nữa, nữa, thấy chưa, đâu có sao. Uống hết mới thiệt tình.

Hạnh hớp từng ngụm, nhăn mặt. Ðến chừng hai phần lon, chịu không nổi nữa, nàng phải để xuống, ho sặc sụa. Nàng lấy khăn tay bụm miệng lại.

Bí thư để lon bia xuống, cười:

–    Mới bắt đầu thế đấy. Thấm vào rồi, là bao nhiêu bia cứ đi tuốt vào bụng hết.

Bí thư nhìn giám đốc thương nghiệp:

–    Nào, ta bắt đầu đi.

Giám đốc ngơ ngác:

–    Bắt đầu cái gì, thủ trưởng?

–   Thì cái gì mà chả được. Cần cái gì thì nói mà chưa cần thì uống cái đã, khi nào nhớ ra hãy nói. Mà kệ mẹ nó, nhậu cái đã. Việc nhà nước là việc cả đời, đâu phải việc một ngày một buổi.

Quay sang người bên cạnh, Bí thư nói:

–    À, Sáu, cái vụ Tòa Án Nhân Dân đến đâu rồi?

–    Dạ, thưa chú, ngày mai xử ba vụ.

–    Vụ nào và vụ nào?

      –    Dạ, vụ thằng trung sĩ ngụy Vương Tô viết khẩu hiệu chống phá cách mạng, vụ Nguyễn Thị Thủy gian công điểm và vụ Hoàng Thanh hành hung cán bộ đang công tác.

–    Còn vụ ăn cắp vật tư thì sao?

–     Dạ, vụ này còn phức tạp. Ðồng chí chánh án nói dời lại tuần sau. Theo bộ luật hình sự mới ban hành, tội của Lợi phải đến án tù hai mươi năm lận.

Bí thư mở thêm một lon bia nữa, giọng dứt khoát:

–   Dẹp. Cái gì mà án đến hai mươi năm. Gia đình liệt sĩ mà chịu án đến hai mươi năm thì còn thể thống gì cho cách mạng nữa. Mà chuyện vật tư sẽ dính tùm lum. Ðụng tới cả mấy anh trên trển nữa. Ðưa vụ vật tư xử trước. Xử nhanh, gọn. Giơ cao đánh khẽ. Làm cho ra vẻ nghiêm trọng, nhưng còn thiếu chứng cớ, hoãn lại. Phải làm thật lớn, thật rùm beng về vụ Vương Tô về tội phản cách mạng. Bảo bên phát thanh truyền thanh trực tiếp cho đồng bào và cán bộ theo dõi. Cho hắn cái chung thân, nếu cần thì tử hình. Có gì, sau này ta sẽ tính. Nên nhớ trọng điểm của huyện bây giờ là vấn đề an ninh trật tự. Nắm vững chưa? Thôi, ta vô tiếp. Nào, vô. Xin lỗi Hạnh nhé, bọn tôi làm việc trong tinh thần huynh đệ, chuyện nọ xọ qua chuyện kia, nhanh gọn, đỡ tốn thì giờ, tiền bạc của nhân dân. Họp hành lắm mất thì giờ. Hồi còn chiến tranh cũng vậy, còn nhanh gọn hơn gấp bội lần bây giờ. Có việc, cứ hội ý mà làm. Thế mà thắng Mỹ đấy, Hạnh thấy không? Nào, dzô! Coi kìa, anh Phiệt, sao mà lửng lơ vậy?  Thằng Sáu, thằng Tư, dzô đi.

Hạnh cầm lon bia, bưng lên để xuống, thỉnh thoảng nhắp nhắp một chút lấy lệ. Người nàng bừng bừng. Trước đây, ở nhà, thỉnh thoảng, nàng cũng có uống bia với Lục, hoặc với một vài người bạn, nhưng uống một cốc nhỏ, đại khái, uống từ từ. Lần này, trong khung cảnh mánh mun quan hệ đến cả sự nghiệp như thế này, nàng không có cách nào khác hơn là phải chìu lòng quý vị quan chức, những người đang nắm sinh mệnh nàng. Hàng thì đã bán, nhưng chi tiền là quyền của họ. Họ trả ngay hay họ ngâm tôm, tùy thuộc vào từng lúc vui buồn của nhiều người khác nhau: từ ông huyện ủy, ông giám đốc đến anh tài vụ, chị ngân hàng, cô ngồi “két”. Khi đi, nàng tưởng mọi việc diễn ra bình thường, suôn sẻ. Nghĩa là cứ chìa tấm chi phiếu ra là có tiền. Ðến nơi rồi, quan hệ ở đâu cũng nghe nói toàn là trục trặc, không ở khâu này thì cũng ở khâu khác. Khuôn mặt người nào cũng thản nhiên đến lạnh lùng, y như việc này không dính dáng gì đến họ. Có trục trặc thì phải đợi.  Nhưng đợi đến bao giờ?

Chỉ cần lướt qua cái không khí và một vài mẩu đối thoại là Phiệt khẳng định ngay phải “có gì” mới xong. Hạnh bực bội, muốn gây gổ. Tiền là tiền của nàng, hàng là hàng của nàng, họ có bổn phận phải trả, thì tại sao họ làm khó làm dễ nàng. Nhưng Phiệt phân tích cho nàng thấy rằng, gây gổ cũng vô ích thôi, chỉ tổ gây thêm khó khăn. Hạnh miễn cưỡng đồng ý. Lúc đầu, nàng tưởng quyền quyết định nằm trong tay giám đốc thương nghiệp. Hóa ra, chính Bí thư huyện uỷ này mới là nhân vật then chốt. Nàng hiểu ngay tại sao, Tư Mau cố tình xếp nàng ngồi gần ông ta. 

Hạnh cố hớp cho hết lon bia. Nàng mở thêm một lon, đẩy sang cho Bí thư:

–    Mời anh.

Ðang định nói gì đó với tay cần vụ, thấy nàng đẩy lon bia qua, ông ta khoái chí:

–    Hoan hô người đẹp. Các chú thấy chưa, tôi biết là người đẹp sớm muộn gì cũng nhập cuộc với chúng ta mà. Nào, dzô!

Bí thư quay qua Hạnh cụng lon, cười rạng rỡ. Hạnh cụng ly với Bí thư, cười duyên, nói nhỏ:

–    Em thấy các anh vui quá, ráng theo các anh. Nhưng anh thông cảm cho em, đừng ép em uống một lần, tội nghiệp.  Em say rồi ói mửa tùm lum ở đây mất vui.

Bí thư ghé sát tai Hạnh:

–    Em kiếm đâu ra hai chữ “tội nghiệp” nghe hay không chịu được. Mới nghe là đã thấy thương rồi. Cái giọng miền Trung nghe ngọt như chi! Anh thông cảm em, nhưng phải uống.  Vào đây mà không uống thì khó làm ăn lắm.

Hai thùng bia hết ngay. Người phục vụ mang tiếp hai thùng nữa. Ðồ ăn vẫn còn đầy bàn, nhưng vỏ bia đã nằm ngổn ngang.  Người nào người nấy uống bia như nước lã. Họ vừa uống vừa nói chuyện nghĩa khí giang hồ lại vừa bàn luận chuyện công tác của cơ quan. Hạnh ngơ ngác, không hiểu những câu chuyện họ nêu ra trong bữa tiệc là để đùa vui hay rồi sẽ được thi hành như thi hành quyết định sau một buổi họp quan trọng.

Người nổi bật từ đầu đến cuối không ai khác hơn là ông Bí thư.  Ông thấp người. Lùn nữa là khác. Ông thấp hơn giám đốc Tư Mau gần nửa cái đầu, và chẳng cao hơn ai trong số còn lại.  Tóc hớt cao, đường rẻ chải thẳng băng. Mặt mày láng bóng. Vẻ láng bóng của một người đang phát tướng, nhưng chưa xóa hết được những dấu vết lam lũ. Nước da vẫn còn hằn nét bưng biền. Môi dày, hơi thâm. Ðôi mắt rực những tia vui và thỏa mãn, nhưng không che dấu được màu vàng nhờ nhờ bệnh hoạn.  Áo sơ mi màu mỡ gà cắt may khéo, có vẻ không hợp mấy với dáng người thô cứng. Ông chẳng khi nào chịu ngồi yên. Thân hình, tay chân luôn luôn cử động. Ðứng lên, ngồi xuống, xoay qua bên này, trở qua bên kia, ăn nói rổn rảng như viên chỉ huy giữa chốn ba quân. Ông uống nhiều và buộc người khác phải uống cho kỳ được. Có một lúc cao hứng, ông thách đàn em thi uống xem thử ai có thể uống cạn nguyên lon bia bằng một hơi duy nhất, không ngừng nghỉ. Mọi người tán thưởng trò chơi, mở lon bia mới. Sau tiếng hô “dzô dzô” của Bí thư, tất cả nhất loạt kê miệng uống ừng ực. Có người bỏ cuộc nửa chừng, có người cố gắng uống hết, nhưng bị sặc cũng phải bỏ cuộc. Cuối cùng, Bí thư thắng. Cả bàn vỗ tay reo cười ầm ĩ. Hạnh vỗ tay thật lớn, đưa cao lon bia lên cụng với Bí thư. Bí thư cười sảng khoái, mở lon khác, uống tiếp.

Hạnh reo vui như máy. Bia đã thấm. Mắt hoa, bụng cồn cào muốn nôn. Nhưng nàng cố giữ vẻ tươi tỉnh, sẵn sàng đối đáp với những lời tán tỉnh vu vơ của Bí thư, chờ đợi người ta bàn đến chuyện của nàng. Nhưng mọi người chỉ biết nhậu và nhậu.

Nàng hỏi nhỏ Phiệt:

–    Chẳng lẽ cứ ngồi nhậu miết như thế này. Hay là mình trả tiền, rồi xin phép về nghỉ. Ðầu em bây giờ như cái chong chóng xoay.

Phiệt nói:

–    Ðâu có được. Em phải ráng ngồi cho đến cuối cùng. Cái này quan hệ lắm. Bỏ đi nửa chừng, họ sẽ nói là mình coi thường họ, hỏng hết. Mà đi đâu bây giờ? Họ lo sắp xếp chỗ ngủ cho mình mà. Phải biết kiên nhẫn, Hạnh ạ.

Nghe lời Phiệt, nàng kiên nhẫn ngồi. Và uống. Ðến hồi mãn tiệc, người nàng cơ hồ nhão đi. 
*

Xuống xe, nàng mặc tình để Phiệt dìu vào phòng, đưa tới chiếc giường nhỏ. Nàng ngồi xuống, mắt hoa lên. Nàng nhìn Phiệt, thều thào:

–    Cám ơn anh.

Nói xong, nàng nằm ngã vật xuống giường hai tay buông thoảng, mắt nhắm nghiền. Phiệt ngồi xuống bên nàng:

–    Tội nghiệp cô em tôi. Mệt lắm không em? Cần anh giúp gì không?

Phiệt đưa tay sờ trán Hạnh. Nàng hâm hấp nóng, mồ hôi tươm ra nhơm nhớp. Anh vuốt dọc theo cánh tay Hạnh. Hạnh trở mình, dịch người lùi vào trong. Nàng nhướng mắt, nói:

–   Anh về đi. Em tự lo được. Lần đầu tiên em uống nhiều như thế này, nên hơi bị “sốc”, chắc không sao đâu.

Phiệt vẫn ngồi, nhìn nàng, chần chừ. Hạnh ngồi dậy:

–    Em lo vệ sinh một chút. Anh về đi, cả không nhiều khi, người ta …này nọ.

Hạnh bước xuống giường, nghiêng ngả. Phiệt muốn đỡ, nhưng nàng xua tay:

–    Ðược rồi anh, không sao đâu. Em tự lo được mà. Khi ra, anh khép cửa chặt giùm em.

Phiệt tần ngần nhìn Hạnh bước về góc phòng, thở dài, bước ra. Thấy Phiệt đã đi, Hạnh trở lại giường, ngồi xuống, dựa lưng vào tường. Phòng hẹp. Mọi thứ bày biện tương đối gọn gàng. Một cái tủ nhỏ đặt ở góc phòng, trên có để gương, lược và đồ trang điểm. Giường gỗ, có chăn bông, gối hoa. Một cái bàn nhỏ để ở cửa ra vào. Giá móc áo quần gần cửa sổ. Ngọn đèn điện nhỏ, treo lơ lửng trên trần. Rõ là căn phòng dành cho phụ nữ. Nàng cảm thấy yên tâm. 

Thấy đỡ chóng mặt, nàng đứng dậy tìm phòng vệ sinh.  Bỗng có tiếng gõ cửa. Hạnh hỏi lớn:

–    Ai vậy?

–    Tư Mau đây.

Vừa nói, anh ta vừa đẩy cửa bước vào. Anh ta đến bên giường, ngồi xuống. Hạnh nhích ra một khoảng để cho anh ta ngồi. Tư Mau nói:

–    Cô yên tâm nghỉ lại đêm nay ở đây. Phòng tuy nhỏ, nhưng là phòng của một chị cán bộ, phục vụ bên nhà khách của huyện. Ðồng chí ấy nhường phòng lại cho cô. Bên nhà khách thì rộng, thoáng đãng, nhưng kẹt nỗi là cửa ngõ không đàng hoàng.

–    Có một đêm thôi mà. Em đi đây đi đó, ngủ ngáy dễ lắm. Nhờ anh chuyển lời cám ơn ông Bí thư. Em say quá.

Tư Mau nhìn Hạnh, cười duyên:

–    Không sao. Cô càng say càng đẹp!

Hạnh trả lời mệt mỏi:

–    Không dám đâu. 

Tư Mau tiếp:

–    Khi nghe anh em trên đó báo về có Hạnh đến bán hàng, tôi nghĩ đến một phụ nữ bình thường nào đó, một con buôn, nhưng khi gặp Hạnh đây mới thấy là mình nghĩ lầm.  Hạnh vừa trẻ vừa đẹp, lại giỏi giang nữa. Công nhận người miền trung chịu khó thật. Hạnh này, liệu mình có thể hợp tác làm ăn với nhau lâu dài không?

Hạnh gật đầu:

–    Em thích lắm chứ.

–   Hạnh về thành phố ở đâu. Tôi có thể ghé thăm Hạnh không?

–   Cũng được thôi. Nhưng anh biết chỗ em ở là nhà của người quen, nên không tiện lắm. Khi anh lên có gì cần, em đến công ty thôi. Dễ mà!

–   Ðến công ty thì nói làm gì. Muốn thăm riêng Hạnh kìa.

Hạnh ngạc nhiên:

–    Ðể làm gì vậy anh?

–    Thăm chơi vậy mà… Hạnh… này!

–    Gì anh?

–    Hạnh đẹp lắm!

Tư Mau nhích người đến gần nàng. Hạnh lùi xuống phía dưới. Nàng nói:

–    Em chóng mặt quá. Hay là anh về rồi sáng mai anh em mình nói chuyện được không? Cả đời chưa hề uống bia, giờ uống vào, say quá!

Hạnh đứng dậy. Không biết làm gì hơn, Tư Mau miễn cưỡng đứng dậy. Anh ta nói, giọng buồn buồn:

–     Thôi Hạnh nghĩ. Có gì mai ta bàn tiếp.

Anh ta bước ra. Nàng mừng rỡ, tiễn Tư Mau ra cửa rồi đóng cửa, gài then lại. Nàng vào phòng tắm. Ðịnh chỉ rửa ráy qua loa, nhưng chợt thấy có thùng nước đầy để ở góc, nàng mừng quá, cởi hết áo quần, múc nước xối tràn lên thân thể.  Nước mát thấm vào cơ thể khiến người nàng nhẹ hẳn đi. Tuy thế, khi thay áo quần xong, nàng vẫn cảm thấy người bải hoải, khó chịu. Ruột gan cồn cào, muốn nôn. Nàng vào phòng tắm, đợi nôn, nhưng nàng chỉ ọe ra toàn nước, một thứ nước vàng nhờ nhờ lẫn chút ít đồ ăn chưa tiêu. Nàng trở lại giường, nằm xuống, cố nhắm mắt. Nhưng hễ nhắm mắt là đầu nàng xoay tròn, vô cùng khó chịu. Nàng đành mở mắt thao láo nhìn lên trần nhà. Khuya lắm rồi. Bên ngoài yên tĩnh. Tiếng ếch nhái nghe vọng lại từ đâu khá xa. 

Lại có tiếng gõ cửa. Ai đây nữa trời? Nàng lắng tai nghe.  Một tiếng gõ nữa, lần này nghe mạnh hơn. Một giọng ồ ồ vang lên:

–     Hạnh ơi, còn thức phải không. Vào một chút được không?

Hạnh giật mình. Giọng của ông Bí thư. Nàng nằm yên, làm bộ ngủ. Ông ta nhắc lại:

–    Thế nào, người đẹp? Không muốn tiếp phải không?  Nếu thế thì anh về nhé!

Hạnh hốt hoảng, hỏi vọng ra:

–     Ai đấy?

–     Anh. Không nhận ra giọng anh sao? Mười Giộc đây.

Cái gì lại Mười Giộc? Rõ ràng là giọng của Bí thư Tâm mà.  Hạnh vùng ngay dậy, ra mở cửa. Cửa vừa mở, hai tay Bí thư dang ra, như muốn ôm choàng lấy nàng. Nàng giật mình, bước lùi lại, loạng choạng. May mà nàng kịp níu vào cánh cửa, gượng lại. Bí thư cười, đưa tay ra bắt. Nàng cũng đưa tay ra.  Bí thư bóp chặt tay Hạnh, bàn tay nóng, chắc:

–    Tỉnh rồi, phải không. Anh đã nói mà, lúc đầu không quen, uống một hồi, cũng quen.

Hạnh hỏi:

–    Hình như ông Bí thư vừa nói…cái gì Mười Giộc?

Bí thư cười ha hả:

–    Mười Giộc là anh đấy. Tâm là Mười Giộc mà Mười Giộc là Tâm, giống nhau.

Bước vào trong, Bí thư đưa tay khép cửa, nhìn quanh:

–   Chỗ này không đến nỗi tệ, phải không Hạnh? Tiếc là em xuống muộn quá, bọn anh không tiếp đãi chu đáo. Nhưng người đẹp thùy dương thông cảm. Huyện còn nghèo, chưa có được cái nhà khách đàng hoàng. Rồi cũng sẽ có thôi. Lần sau, em có về đây, qua bảo đảm với em là em sẽ có nơi ăn chỗ ngủ đàng hoàng.

Mười Giộc đi quanh:

–     Có phòng tắm đây nữa mà. Thế là tốt! Mùng mền đủ cả chứ? Thế là tốt! Ngủ, nhớ bỏ mùng cho kỹ vào. Muỗi ở đây chúng nó xông pha lắm, không nể người quen kẻ lạ gì đâu.  Thịt da như em, chúng khoái lắm.

Hạnh lúng túng không biết phải mời ông Bí thư ngồi ở đâu.  Bí thư hiểu ý, kéo chiếc ghế nhỏ lại gần giường Hạnh, ngồi.  Hạnh ngồi ở mép giường phía dưới. Bí thư nhìn Hạnh, khen tự nhiên:

–    Hạnh càng say càng đẹp ra. Nào đến đây, người đẹp, ta làm việc một chút.

Hạnh dè dặt xích lại gần. Bí thư nói, hơi bia phả vào mặt nàng:

–    Anh biết em đã thấm bia, mệt lắm, nhưng ta giải quyết công việc chút xíu cho xong. Ngày mai, anh phải lên tỉnh công tác sớm. Không có anh ở đây, không ai giải quyết được công việc cho cưng. Gọi cưng cho nó thân mật nhé. Hiện tiền bên ngoại thương bị kẹt, hàng chưa bán được. Anh biết cưng cần tiền để về. Anh giải quyết ngay cho cưng như thế này: anh lấy tiền từ tài khoản khác ứng trước.

Hạnh run run:

–    Cám ơn ông Bí thư.

–     Bây giờ ở đây, không có ông Bí thư nào hết. Chỉ có anh và cưng thôi.

–    Dạ, cám ơn anh.

–    Có thế chứ.

Mười Giộc rút ra tâm ngân phiếu, đưa cho Hạnh:

–    Tiền hàng của cưng đó. Kiểm tra lại, xem đủ chưa?

Hạnh cầm tờ ngân phiếu, đọc. Những giòng chữ và con số nhảy múa trước mắt nàng. Một trăm chín chục ngàn. Cái gì?  Sao lại nhiều thế này? Ông ta có đề lộn không? Nàng tỉnh hẳn, ngước mắt nhìn ông Bí thư. Bí thư cười hỏi: 

–    Ðủ tiền cưng chưa?

Hạnh ngập ngừng:

–    Cái này…cái này…

–     Thế nào, không đủ sao?

–     Dạ, thừa. Tiền hàng của em chỉ có một trăm tám. Ở đây…ở đây đến một trăm chín, ông…anh…ông có lộn không?

Mười Giộc choàng tay qua vai nàng:

–    Không lộn đâu. Bí thư sao mà lộn được. Anh tính luôn cả tiền nhậu chiều nay và cả tiền ngồi với cưng bây chừ…ở đây luôn. Cưng đừng thắc mắc. Mười Giộc này đã làm là đâu vào đấy. Cất đi cưng.

Hạnh né người, lắp bắp:

–    Cái này…cái này…kỳ quá.

Mười Giộc cười:

–    Ðối với anh, không có gì là không được cả. Anh nói rồi, cưng cất đi. Cưng vào đây, anh đãi cưng. Mai kia mốt nọ, anh ra ngoài đó, mà nhất định bọn anh sẽ ra mở công ty ngoài đó, cưng đãi lại anh, là huề. Ấy, thế chứ. Thắc mắc làm gì.  Nào, xích lại đây, cưng. 

Hạnh ngồi yên, mắt hoa lên, sợ hãi nhìn. Bí thư dịch lại gần. Hạnh tránh. Nhưng Bí thư choàng tay qua vai nàng, kéo lại:

–    Cưng sợ, phải không? Hay là cưng chê người anh thô lỗ? Anh thương cưng lắm?

      Hạnh cố đẩy ra, nhưng hai cánh tay Bí thư mạnh mẽ xiết lại. Ðầu óc nàng xoay xoay. Người mềm ra. Nàng cố vùng vẫy, nhưng bất lực. Bí thư ấn nàng nằm xuống giường, rồi nhanh nhẹn đứng dậy, bước đến tắt ngọn đèn. Bóng tối sụp xuống căn phòng như một hung thần. Nàng nghe tiếng ú ớ của mình vang vang đâu đó rồi như rơi xuống vực thẳm mất hút.  Hạnh ơi, Hạnh ơi, Hạnh ơi, Hạnh ơi…

Chương 13

Hai người ngồi cạnh hàng chìa tàu, dưới bóng của cây nhãn phía bên kia con đường hẻm đổ qua. Lục dựa ngửa người sau chiếc ghế, hai chân gác trên cái rễ cây. Chiếc rễ cây nhúc nhích khiến cho tấm gỗ kê làm bàn nghiêng đi. Tân kịp thời giữ bình trà lại.

–     May không thì tách trà đổ sạch cả.

Lục rút chân lui. Tân nói:

–     Vô ý thật. Trà ngon như thế này mà đổ hết thì uổng quá.

Anh nâng chén trà lên môi, nhắp một hơi, hít hà:

–     Chát quá trời là chát! Lại chẳng thơm tho gì. Tôi tự hỏi sao người ta lại thích thứ trà đắng chát này nhỉ? Thiếu gì trà ngon ở trong này lại không uống.

Tân cười:

–     Dễ gì có thứ này mà uống. Móc câu thứ thiệt đấy!

–     Trà gì mà có thứ thiệt thứ giả? 

–     Sao không. Ða phần trà bán ở đây, tụi nó pha trộn tùm lum. Một kí thứ thiệt từ Bắc Thái mang vào, giá cả năm bảy đấy. Mang trên tàu hai ký là bị đánh thuế ngay. Công an lục trà dữ lắm, không thua gì các thứ hàng xịn khác đâu, nhất là từ ngả Hà Nội vào.

–     Hai kí trà mà đánh thuế thì lạ quá!

Tân bưng tách trà lên uống một hớp, khuôn mặt sảng khoái, rồi giải thích:

–     Trà này quý lắm. Người ta thu hoạch và chế biến công phu hơn thường. Hơn nữa chỉ có vùng ngoài đó mới có loại trà này. Ông có biết tại sao người ta gọi là móc câu không? Ông nhìn cánh trà xem, mỗi cánh trông như một cái lưỡi câu cong cong. Người ta ngắt những đọt trà này khi còn non, nghĩa là còn búp như những móc câu, rồi rang và ủ lại. Nghe nói làm theo kiểu thủ công ở nhà tốn công lắm, nhưng ngon hơn. Có được một vài ký trà thủ công thì thật tuyệt. Ở ngoài Bắc, quý lắm mới được người ta biếu cho một ký trà móc câu thủ công thứ thiệt. Ðắc là vì thế. Mà bị thuế cũng là vì thế.

–     Ông trông bộ rành trà quá chừng! Tôi thì…

       Ðúng lúc đó thì có tiếng khóc ré lên của thằng Phụng, đứa con út của Lục. Anh giật mình đứng vụt dậy, chạy ngay ra trước nhà. Nửa đường, anh gặp thằng Phụng khóc bù lu bù loa ào đến. Anh xốc tới bồng thằng nhỏ lên, lấy cánh tay áo lau nước mắt, hỏi gấp:

–     Cái gì nữa đây, bị bổ hay bị chuyện gì?

Anh xoay toàn người thằng nhỏ, nhìn xem nó có bị thương tích gì không. Phụng mếu máo:

–     Anh Ðồng đánh con.

–     Sao mà hắn đánh?

Thằng nhỏ nấc lên từng chặp:

–     Con chan thêm chút nước mắm vào cơm mà anh Ðồng…

Lục bịt miệng thằng nhỏ lại, nhìn lui, sợ Tân nghe, hỏi nhỏ:

–     Rứa thằng Ðồng mô rồi? Ðồng mô, ra đây biểu, mau lên. Anh đổi giọng gọi lớn.

Thằng Ðồng từ sân trước chạy đến. Anh hầm hầm hỏi:

–     Sao lại đánh em, thằng tê?

Ðồng mặt tái mét, nhìn thằng Phụng một cách tức tối, nói:

–     Con mới đụng nhẹ hắn một cái vào tay mà hắn la bai bải rứa đó…

Thằng Phụng vùng vằng trên tay Lục:

–     Anh kéo con anh xô con rồi đánh vào ngay đây này này…đánh đau quá trời là đau…

Ðồng nạt:

–    Mi chỉ được tài nói láo tau đánh chỗ mô mà mi nói đau?

Thằng Phụng giãy nảy:

–    Ðánh người ta rứa mà nói không đánh mạ ơi là mạ đau quá mạ ơi…

Lục nạt:

–    Im đi, cả hai đứa. Mà răng mi đánh em, thằng tê?

Thằng Ðồng nói:

–    Ba dặn nước mắm còn ít không được ăn nhiều phải để dành tới ngày mai hắn ăn cơm, con đã chan cho hắn một chút rồi rứa mà hắn cứ lục cụi lấy nước mắm đòi chan thêm, con không cho hắn cứ lấy  con tức quá con kéo hắn ra, để hắn ăn nước mắm rồi hồi ba la con, đụng vô cái chi con cũng bị la trước…

Nói đến đó, thằng Ðồng tức nghẹn không nói tiếp. Lục hiểu ra chuyện, không biết phải phân xử như thế nào. Anh thả thằng Phụng xuống đất, dỗ dành:

–    Vào đây, ba chan thêm cho một chút. Một chút thôi.  Ðợi mạ về. Lâu nay mạ đi vắng, bán hàng chưa được, ráng chịu khó. Khi mô mạ về thì tha hồ…

Thằng Phụng được thể, khóc tức tưởi:

–    Ăn cơm mà như ăn không. Anh Ðồng vẽ con có lạt thì lấy muối bỏ thêm con không ăn muối được…mạ ơi là mạ, mạ mô rồi…con không ăn muối được…

Nói đến đó, thằng Phụng rống lên. Anh bịt miệng nó lại:

–     Mai là mạ về rồi, ba nói thiệt.

–    Không con không tin ba nói mấy lần rồi ba nói láo mạ ơi là mạ…

Lục tức quá, nắm chặt tay thằng nhỏ:

–    Mi có im cái miệng không, thằng tê. Bữa mô tao cho đi luôn với mạ mi cho sướng!

Thằng nhỏ bị anh dằn tay bất ngờ, lại bị nạt, im bặt, lấm lét nhìn anh, đôi mắt ngơ ngác đảo tròn, dường như không hiểu vì sao ba mình vừa mới dỗ dành mình đó, đột nhiên lại dữ dằn như vậy! Nó lủi thủi bước đi, dáng vô cùng tội nghiệp. Lục nhìn theo, lòng bỗng nhói lên một cảm giác vừa xót thương vừa buồn vừa giận. Giận vợ. Giận mình. Giận con. Mấy đứa con chỉ biết có mẹ. Vắng Hạnh, mọi sự hoàn toàn đổi khác, từ trong ra ngoài, từ miếng ăn, giấc ngủ cho đến những sinh hoạt bình thường, lặt vặt hàng ngày. Từ mỗng nước mắm, cái quần đùi rách, lon muối, đến chuyện học hành, cái gì cũng đều trở nên bấp bênh. Nàng vắng một tuần, mười ngày, mấy cha con còn chịu đựng được. Vắng nhà cả tháng như thế này, mọi chuyện hầu như rối tung lên. Anh mất phương hướng.  Anh bối rối trong việc mượn tiền, việc chi tiêu, việc xử sự với con cái. Thì ra, anh cũng chẳng khác gì mấy đứa con, chỉ biết dựa vào Hạnh. 

Trở lại với Tân, Lục thở dài:

–     Nhà mà thiếu đàn bà thì đúng là…thiếu tất cả.

Tân xổ nho:

–     Trung niên tán thê đại bất hạnh.

Lục nhìn Tân, thắc mắc:

–     Nghĩa là gì?

–     Tôi học “thuội” của ông bác. Ðại khái thì là đàn ông lứa tuổi lỡ cỡ như bọn mình mà chết vợ thì thật là không bất hạnh nào sánh bằng.

–     Tụi mình mô đã chết vợ?

–     Tôi cho đây là một cách ví von của người Tàu. Thì chết vợ, hay mất vợ hay không có vợ bên mình có khác gì đâu. Ông thấy đó, bà Lục mới vắng nhà có mấy tuần mà ông đã than thở như thế đó, huống chi là…

Nhắp một ngụm trà, Tân tiếp:

–     Huống chi như tôi bây giờ. Vợ nằm tù năm năm, có khác gì mất vợ năm năm. Năm mà phải thành bảy, thành tám hay mười không chừng. Vì ở tù ra rồi, phải mất nhiều năm chỉnh đốn mới có thể phục hồi như cũ. Mà cũng chưa chắc nữa.

Lục nhìn Tân thương cảm:

–     Chị ở tù được mấy năm rồi nhỉ?

–     Chưa tới năm rưởi.

Lục chép miệng:

–     Cũng mau…

–     Vậy mà ông nói mau. Còn tới những ba năm rưởi.  Thật là đăng đẳng! Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Có đợi, có trông mới biết thấm thía cái mau, cái chậm của thời gian ông à. Mẹ kiếp, không có ai như tôi, trong lúc cả nước người ta đi nuôi cha nuôi chồng thì riêng tôi phải bới xách nuôi vợ.  Ông cứ tưởng tượng đi, như ông, vợ mới vắng nhà có ít hôm mà ông thấy toán loạn loạn lên. Huống chi tôi. Bốn đứa con, nghề ngỗng không có, cách mạng không ra cách mạng, ngụy chẳng ra ngụy. Ðứa này kêu đứa kia khóc, đứa nọ đòi. Những ruốc, nước mắm, muối, cơm, gạo, áo quần, ôi thôi trăm ngàn thứ rối như tơ vò. Gà trống nuôi con, mấy ông cụ xưa nói mà đúng ghê. Thà cho tôi ở tù, thân tôi đã yên mà con cái cũng còn sướng…

Lục chợt nghĩ ra một ý, bật cười. Tân hỏi:

–     Ông cười hoàn cảnh tôi?

–     Cười gì nỗi. Nghe ông nói, tôi đâm ra thấy mình còn hạnh phúc hơn ông. Vợ mình còn đó. Nhưng tôi nghĩ đến một chuyện khác.

–     Chuyện gì thế?

–     Giả sử như tất cả đàn bà đều đi học tập cải tạo hết, còn đàn ông thì ở nhà nuôi con, bới xách như ông, thì tình hình sẽ ra sao ông nhỉ?

–     Chắc loạn ông à.

–     Sao mà loạn?

–     Thì sao nữa, không nuôi con nổi, không bới xách nổi và lăng nhăng, lấy vợ khác, bỏ con bỏ cái bơ vơ thì xã hội loạn chứ sao.

Lục gật gù.  Tân tiếp:

–    Chỉ có đàn bà như Trần Tế Xương mới “quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng”. Ông tưởng tượng đi, nếu như bà xã ông đột nhiên bị vướng vào một vụ gì đó, rồi ờ…ờ…ấy là giả sử thế, chứ bà Lục đi buôn, đâu có như  như bà xã tôi, bà ấy tham vọng, lại ỷ thế…

–     Sao lại gọi là ỷ thế?

–     Thì ông xem, bà có ông chú tập kết vào, làm thì chẳng có chức gì lớn nhưng mà quen biết nhiều, nên bà ấy lợi dụng móc ngoặc đủ thứ tuồn ra ngoài. Ðến khi vỡ lở, ai cũng lo cái thân mình. Ông chú ông cũng lo cái thân ông, tránh mặt luôn.  Thế là trăm sự đổ lên đầu bà ấy. Một kinh nghiệm chua xót.  Bởi vậy mà tôi sau này…chẳng tin ai nữa.                   

       Nghe mấy đứa con reo lên đầu ngõ “mệ, mệ”, Lục biết mẹ anh vừa đến. Anh đứng dậy  nhìn Tân:

–    Ông ngồi chơi. Chắc bà nội mấy đứa vừa đến.

Tân cũng đứng dậy:

–    Tôi phải về. Lo cho mấy đứa nhỏ chút, rồi nấu nướng chuẩn bị mai đi thăm nuôi.

–     Thăm nuôi chị à?

–     Vâng, mai đến lượt thăm nuôi bà xã.

–     Ở đâu lận? Lao hay đâu?

–     Hải Cát.

–    Tận trên đó lận à? Chỗ đó dành cho ngụy quân ngụy quyền mà.

–    Ôi, ngụy quân, ngụy quyền, ngụy dân, ngụy tặc, ngụy đảng, ngụy tùm lum gì cũng nhốt với nhau hết. Mấy chả chuyển bà lên trên đó để lao động.

Lục ngậm ngùi:

–    Ông đa đoan nhỉ. Người ta bới xách cho chồng, còn ông thì khác.

–    Bởi vậy, ông biết sao không, đi giữa đường gặp mấy bà vợ đi thăm nuôi chồng, hỏi tôi bới xách cho ai, tôi ngượng quá, nói láo là bới xách cho ông già. Người ta lại hỏi, cỡ như tôi mà sao lại không đi cải tạo, tôi chẳng biết phải nói sao.  Nhiều khi tôi nghĩ lẩn thẩn, thời buổi này mà đám đàn ông như tụi mình không đi cải tạo trông nó cũng lạc điệu sao sao ấy, mới kỳ. Thôi tôi về.

Tân về. Anh vào nhà thì thấy mẹ anh đang chia đồ ăn cho mấy đứa con. Thấy ba, Ngân reo lên:

–   Ba ơi, mệ nội mang đủ thứ, bánh nậm nè, bánh bèo nè, cháo bò nè. Nội để dành phần ba trong tê tề.

Mấy đứa con, đứa nào đứa nấy, mắt mở lớn nhìn đồ ăn một cách thèm thuồng. Anh nói với mẹ:

–    Mạ mua gì mà lắm thứ thế. Tụi nó có thiếu đâu.

Mẹ anh không nói gì, chăm chú chia bánh, chia cháo cho Ngân và Phụng. Thằng Phụng xò tay định bốc cái bánh lọc, thì bà ngăn lại:

–    Tay chân mặt mày nhớp thế kia mà bốc ăn à. Ðợi cái đã. Làm gì mà như đói cơm rách áo lâu ngày vậy?

Thằng nhỏ rụt tay lại, nhưng đôi mắt thèm thuồng cứ ném vào mấy đĩa bánh. Lục nạt:

–    Thằng Ðồng đưa em đi rửa tay đi.

Mẹ anh bảo:

–    Ðể đó tau.

Mẹ anh kéo cháu đi, miệng lầm bầm:

–    Tội cháu tui. Mạ ở nhà thì đâu có đến nỗi!

Lục mím môi nhìn theo mẹ. Con Ngân nói:

–    Ba ăn không, con lấy?

Anh gắt:

–     Không. Không ai mượn.

Nhìn đồ ăn, nhìn thấy cảnh mấy đứa con thèm thuồng, thấy mẹ thinh thinh lặng lặng, nỗi bực dọc cứ lớn dần lên trong anh.  Mẹ anh không nói gì, nhưng anh hiểu hết những gì bà nghĩ trong đầu. Càng hiểu lại càng bực dọc thêm. Tức ơi là tức!  Nhưng làm sao giờ. Nói chẳng được, mà im lặng cũng chẳng xong. Tuy thế, gây gổ với mẹ là điều anh vẫn cố tránh. Mà nghĩ cho cùng, mẹ anh đâu có lỗi gì. Nhưng đụng đến vợ anh, là điều không chịu được. Ðụng đến nàng có khác gì đụng đến anh?

Rửa ráy xong cho mấy đứa nhỏ, bà cụ trở ra. Thấy con trai vẫn còn đứng tần ngần ở đó, bà nhắc:

–     Mi ăn bánh.

Anh đáp miễn cưỡng:

–     Chưa đói.

Ngừng một lát, anh nói:

–     Mạ tiền đâu mà mua lắm thứ thế?

Giọng bà nghe mềm:

–     Tau làm.

–     Lần sau mạ đừng có làm nữa.

      Bà cụ im lặng đút bánh cho thằng Phụng. Anh bỏ đi. Bà cụ vụt đứng dậy, nhìn anh, ngập ngừng:

–     Rứa…rứa…thì mạ mấy đứa khi mô mới về?

Giọng Lục trở nên khó chịu:

–     Mà mạ hỏi làm gì?

Cảm thấy có phần vô lý, anh hạ giọng:

–     Ðã mang hàng vào thì phải bán cho xong mới về chứ. 

–    Tau thấy lần này đi lâu quá, tau lo. Cũng có đến cả tháng hơn rồi. Ði từ mồng 7 tết…

–    Mạ nhớ kỹ thật. Mấy cái khác sao không nhớ mà ngày đi của con Hạnh lại nhớ kỹ thế? Tui chẳng biết ngày tháng.

Giọng bà cụ đột ngột trở nên chua chát:

–    Mi thì mi nhớ ngày nhớ tháng làm gì. Ði chẳng hay, về chẳng rõ. Vợ mình mà y như vợ ai không bằng.

Lục quắc mắt nhìn mẹ, sừng sộ:

–    Mạ nói gì mà vợ người ta? Khi nào trong đầu óc mạ cũng nghĩ xấu cho người khác.

–    Tau không nghĩ xấu cho ai hết. Nghĩ xấu thì có lợi chi cho tau. Tau chỉ sợ cho con cho cháu. Tau đàn bà, tau biết bụng dạ đàn bà. Khôn ba năm dại một giờ là thường. Sẩy một ly đi một dặm. Không ai nói con Hạnh hư, nhưng thân gái dặm trường, dài ngày không ai tài thánh gì mà tránh được mưu ma chước quỷ của bọn đàn ông. Thời buổi này, lòng dạ con người chẳng phải như xưa. Ðiêu ngoa, giả trá. Ðó, gương soi trước mặt đó, có ai nói thêm đâu!

Giọng bà cụ đều đều như thế, không có gì ghê gớm, không có gì sai. Cũng chẳng có gì sâu sắc. Bà chỉ lập đi lập lại cùng một  điều. Nhưng anh có cảm giác nuốt phải những viên thuốc đắng. Anh muốn đốp chát vào mặt mẹ cho đã tức. Nhưng lần nào cũng thế, mỗi lần định nói thì lòng anh đột nhiên chùng xuống. Vì  lẽ những điều như thế cũng đã ở trong anh, đã dằn vặt anh hàng ngày. Chúng không hiển hiện rõ ràng, nhưng lấp la lấp lửng đâu đó. Mỗi lần chúng loáng thoáng nhô lên, anh lại tìm cách dập xuống.

Thấy Lục im lặng, bà cụ tiếp tục:

–    Mi liệu lời khuyên lơn hắn. Ăn ít no lâu, ăn nhiều tức bụng. Dù có làm ra tiền muôn bạc triệu mà nay vắng nhà, mai vắng nhà thì chẳng ích lợi gì. Xa mặt thì cách lòng, đố không làm sao mà tránh khỏi chuyện.

Lục nhăn mặt:

–    Rứa mạ nói tui phải làm sao chừ? Hắn không đi buôn đi bán, thì lấy gì mà sống? Mạ thấy thân tui đây, mạ biết rồi, tui không biết làm chi mà nuôi con được. Mạ tưởng dễ nói hay sao? Con đau con ốm, con đòi cái này cái nọ, lấy đâu cho chúng?

–    Mình là chồng, mình phải có quyền. Vợ phải nghe chồng, đó là luật.

Anh gằn giọng:

–    Thời buổi này, cái thân như tui thì có quyền gì?

Thấy con trai bắt đầu sừng sộ gắt, bà im lặng. Khi Lục quay đi, anh thấy bà lấy tay áo chùi vội đôi mắt rươm rướm.

*

      Thằng Phụng ngồi trên cái ghế đẩu nhỏ gần cửa ra vào nhà trên. Cậu ta vừa đập muỗi vừa đọc ê a:

                   Bố tan ca đêm

                  Mẹ về ca sáng

                  Bố về trong nắng

                  Áo thơm mùi dầu

                 Em ra đầu cầu

                 Dang tay đón bố

Ngọn đèn dầu để trên bàn không đủ sáng, nên thỉnh thoảng quên, Phụng lại nghiêng sách về phía đèn để đọc cho rõ. Mỗi lần như vậy, thằng bé lại lên giọng đọc lớn, chừng như để cho mau thuộc. Gần đó, con Ngân cắm cúi một cách nhọc nhằn trên những bài tập toán của mình. Ở góc bàn kia, dưới ngọn đèn cầy leo lét, Ðồng lẩm nhẩm đọc bài. Chốc chốc, Ðồng lại nhìn đứa em gái, lòng băn khoăn không biết cách nào giúp em. Ngân kém toán. Ðiểm toán của nó bao giờ cũng thấp nhất so với tất cả các môn khác. Lục kèm cặp mãi mà Ngân vẫn không thấy tiến bộ được bao nhiêu.  Mỗi lần ba kèm Ngân làm toán, cả mấy đứa như lên cơn sốt.  Ba la, ba nạt, ba than thở, ba gằn giọng. Nhiều lần, ba tát tai con Ngân. Con Ngân mặt mày tái mét, run rẩy, sợ hãi. Càng sợ, cô bé lại càng trở nên đần độn không cách gì làm toán được. Những lần như thế, Ðồng đứng lấp ló ở góc cửa, xót xa nhìn đứa em gái tội nghiệp của mình. Hắn biết Ngân cố gắng hết sức rồi. Hắn muốn giúp em, nhưng bất lực. Ðồng chỉ hơn em có một lớp, làm bài mình được đã là ghê rồi, đâu có thể dạy cho ai.

       Lâu lâu, mấy đứa nhìn nhau lặng lẽ. Muỗi bay vo ve khắp nơi. Mới có tháng hai mà trời đã bắt đầu nóng bức. Mồ hôi rịn ra. Ðiện cúp liên miên. Mỗi tháng họa hoằn mới có một lần đỏ điện. Dầu hỏa cũng đắt, nên Lục bảo mấy đứa nên học bài, làm bài ban ngày, ban đêm thắp một cây đèn thôi để khỏi tốn tiền. 

Nghe tiếng động từ ngoài cửa ngõ, Đồng thì thầm:

–    Chắc ba về.

Ðồng thổi tắt ngọn đèn cầy, ngồi hí hoáy viết. Con Ngân giả bộ chăm chú làm toán.

Lục dắt xe đạp lên mái hiên. Có lẽ vì quá chén, anh vấp té ngay bậc thềm. Chiếc xe đạp ngã mạnh xuống đất kêu loảng xoảng. Cả ba đứa giật mình, chạy ra. Lục lồm cồm đứng dậy.  Thấy mấy đứa con nhìn, anh ngượng, lên tiếng la:

–          Vào nhà học cả đi. Không có chi mà đứng ngó.

Cả ba đứa vội vã chạy vào. Chân anh bị vấp vào mắt cá ở ngay bậc thềm, đau điếng. Nhưng anh nén đau, đi cà nhắc, cố gượng dắt xe vào. Thấy ba đứa ngồi im lặng mỗi đứa một góc, anh hỏi:

–    Học bài xong cả chưa?

–    Dạ rồi.

–    Mấy bài toán con Ngân làm thế nào?

Ngân ngập ngừng:

–     Dạ…dạ…mới được hai bài.

Lục rút tiền từ trong túi đưa cho Ðồng:

–    Tiền tau mới mượn từ người bạn. Mai tau bận đi với người bạn để làm ăn thử. Ngày mai đi học về, mi nhớ mua những thứ cần dùng, nhất là nước mắm, ruốc. Gạo còn ít, chỉ đủ một bữa. Mấy thứ khác hết nhẵn rồi. Nhớ mua ăn tạm, hết rồi tính. Ðợi mạ mi về.

Nghe nhắc tới mẹ, thằng Phụng đột nhiên xúc động, chạy vội tới ôm ba:

–     Mà mạ gần về chưa ba?

Lục ôm con, cười buồn:

–     Ba mô có biết. Cả mười hôm rồi không nhận được tin gì cả. Không biết sao mà lạ vậy. Hàng hóa ra sao, ba cũng không biết. Nghe họ nói hàng vẫn còn đứng.

Thằng Phụng mếu máo:

–     Mạ ơi, mạ!

Tự nhiên, không khí trầm xuống. Người nào cũng ngẩn ngơ. Hơn tháng rồi, căn nhà thiếu hẳn sinh khí. Vắng bàn tay người vợ, người mẹ, mọi thứ trở nên hoang vắng, vô nghĩa. Mọi sinh hoạt đều cầm chừng, tạm bợ. Thiếu một bữa cơm ngon. Thiếu những câu nói dịu dàng. Thiếu những cái vuốt ve.  Thiếu những nụ cười tràn đầy yêu thương, đầm ấm. Ðúng là “khi mẹ vắng nhà”. Ðối với bọn nhỏ, vắng mẹ rõ ràng là vắng tất cả.  Với Lục, vắng Hạnh, anh mất đất đứng. Tụi nhỏ sợ anh, nhưng chẳng hề tin cậy ở anh. Anh không “sản xuất” được cái gì cho chúng nó cả, ngoài những lời hăm he, đe nẹt, la mắng.  Anh thừa ra. Nhiều lần anh có cảm tưởng có anh hay không, đối với chúng, là như nhau. Biết đâu, không có anh, có lẽ còn hay hơn cho chúng. Anh đau đớn, bực dọc. Và buồn. Có Hạnh, anh dùng nàng để cột với con. Vắng Hạnh, quan hệ giữa anh và chúng nó lơi lỏng, rã rời.

Lục đẩy con ra, vào phòng. Phòng tối om. Anh rờ rẫm đầu giường tìm cái radio, mày mò vặn đài. Radio kêu “rẹt, rẹt” rồi im. Thiếu Hạnh, cả cái máy thu thanh của anh cũng trở chứng. Đơn giản chỉ vì nó hết “pin” từ mấy ngày nay! Anh dằn mạnh cái máy xuống giường, bước ra ngoài. Mấy đứa con vẫn còn quanh quẩn đâu đó. Anh ngạc nhiên hỏi:

–    Sao không đứa nào đi ngủ cả vậy? Tụi bây còn ở đó làm gì?

Ba đứa lấm lét nhìn anh, rồi nhìn nhau, không đứa nào trả lời. Anh gắt:

–    Sao cứ ngồi đó, bây điếc cả rồi sao? Ði ngủ hết đi.

Ba đứa sợ hãi, nhúc nhích, nhưng không đứa nào chịu đứng dậy. Anh lườm chúng. Bỗng nhiên, Ðồng đứng dậy, hít vào một hơi thật mạnh, rụt rè nói:

–    Thằng Phụng đòi ăn chè…

Lục chợt hiểu. Còn mấy thứ đồ ăn mẹ anh mang xuống hồi chiều, anh bảo cất vào tủ, cấm không được đứa nào đụng đến. Một cơn giận hờn vô cớ tràn lên. Anh bặm môi, lừ mắt nhìn mấy đứa con, muốn mắng một thôi dài cho đã cơn tức ứ nghẹn trong người. Nhưng anh kịp kìm lại, nuốt nước bọt. Anh bước lui bước tới, rồi ra sân, nhìn vào trong bóng tối âm u bên ngoài. Một cơn gió mát từ đâu vụt tràn tới, mát dịu.  Cơn giận nguôi ngoai. Anh nhìn vào, bảo:

–    Ăn đi!

Chỉ đợi có thế, cả ba đứa ùa nhau chạy xuống bếp. Lục nhìn theo, thấm thía một nỗi hờn tủi mênh mông. Anh bần thần nhìn trời cao chi chít sao, cảm thấy giận mẹ, giận vợ, giận con.  Giận cả mình. Chưa bao giờ, anh cảm nhận sâu xa cái bất lực của mình như lúc này. Mấy đứa con anh chỉ biết mẹ và bà nội.  Ðã thế, chuyện xung đột ngấm ngầm giữa Hạnh và mẹ mỗi ngày mỗi gia tăng. Bên nào cũng có lý. Chỉ anh là sai. Sai vì là kẻ đứng ngoài. Một người ngoại đạo. Không những đứng ngoài xã hội, mà đứng ngoài cả cuộc sống. Y như anh đang bơi trên một giòng nước ngược. Mọi việc xuất hiện trước mắt anh khi nào cũng lơ mơ như trong giấc mộng. Chúng phiêu linh, không thực.

T.D.N.

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Google photo

4. Chiếc tàu ngầm Nga và người anh hùng mặt xanh

Đến tuổi 20, sau khi học một năm rưỡi đại học, tôi đã sử dụng hết những đồng tiền cuối cùng mà khó khăn lắm tôi mới kiếm được và không còn khả năng để tiếp tục theo học. Thời điểm đó không có sẵn nhiều sự trợ giúp tài chính trong khi tôi đã cảm thấy mệt mỏi với việc giặt quần áo bằng các mẩu xà phòng thừa và không còn muốn phải tìm kiếm những đồng tiền lẻ vương vãi để có thể mua một bữa tối là món xúc xích với giá 1 đô-la 3 chiếc ở một cửa hàng gần đó. Tôi quyết định tìm đến các nhà tuyển quân tại một trung tâm mua sắm ở Brunswick, Georgia, với hy vọng có thể gia nhập quân đội để tiết kiệm đủ tiền và quay trở lại trường học. Treo bên ngoài văn phòng tuyển lính hải quân là một tấm áp phích in hình một lính thủy trong bộ đồ ướt nhẹp của lực lượng Tìm kiếm và Cứu nạn (SAR). Sau đó, tôi đăng ký dự tuyển vào lực lượng Tìm kiếm và Cứu nạn của Hải quân.

Trước khi bước chân xuống tàu, tôi quyết định cưới Laura.

Mẹ bảo tôi: “Con hãy nói với Cha Ron trước đã”.

Tôi biết Cha thuyết giáo của chúng tôi không thích Laura. Tôi biết Cha không đồng tình với tôn giáo Đa thê (Mormon) của cô ấy. “Không đâu mẹ ạ, con sẽ không làm vậy đâu. Con sẽ không nói chuyện với Cha Ron. Con yêu Laura và con sẽ cưới cô ấy.”

Dượng bước vào phòng tôi, dùng hai tay đẩy vai làm tôi lùi lại vài bước. Ông thường thích chứng tỏ sự uy quyền bằng những cử chỉ mạnh mẽ như vậy. Nếu tôi nhìn vào ông hay bước lên phía trước, ông sẽ cho rằng đó là dấu hiệu khiêu khích. Tôi đã học được cách cúi đầu và đứng yên tại chỗ. “Nếu mày không nghe lời mẹ về mỗi chuyện cỏn con ấy, mày hãy gói ghém đồ đạc và bước ra khỏi nhà tao”.

Tôi không tin vào tai mình.

“Cái gì, mày nhìn tao hả,” ông nói. “Mày muốn thách thức tao à?, thử xem. Tao sẽ bước qua mày như là bước qua liều thuốc tẩy!” Thuốc tẩy được sử dụng để chống táo bón và đó là cách người miền Nam Georgia muốn nói là: “Tao sẽ bước qua mày như bước qua đống phân ngỗng ấy.” Đó là lần cuối cùng ông ấy đe dọa tôi.

Tôi gói ghém đồ đạc vừa một chiếc va li nhỏ, bước ra cửa, xuống đường và đi đến máy điện thoại công cộng. Khi tôi gọi đến nhà Laura, bố mẹ em bảo em ra đón tôi.

Gia đình Laura cư xử rất khác gia đình tôi. Con cái và bố mẹ cùng trò chuyện cởi mở. Bố mẹ em rất chu đáo với con cái. Ông bố thậm chí còn chúc các con một buổi sáng tốt lành. Điều đó làm tôi rất xúc động. Tôi yêu những gì gia đình họ có cũng như là tôi yêu Laura vậy.

Bố mẹ Laura để tôi sống cùng gia đình họ cho đến khi tôi tìm được một công việc tạm thời trong ngành xây dựng và có một căn hộ nhỏ. Nhiều tháng sau khi tôi bỏ nhà đi, ngày 16 tháng Tư năm 1983, Laura và tôi làm lễ cưới tại nhà thờ. Bố mẹ tôi bất đắc dĩ tham dự đám cưới nhỏ ấy bởi vì ở thị trấn nơi chúng tôi sinh sống, mọi người sẽ coi thường nếu họ không đến dự. Sau khi Laura và tôi thề nguyện, bố tôi trao cho tôi một tờ 100 đô-la và bắt tay tôi mà không nói lời nào, không “Chúc mừng” cũng chẳng “Quỷ tha ma bắt mày đi”. Không cần nói bạn cũng biết, bố mẹ tôi không ở lại để chờ đến màn cắt bánh.

Chuyện gần gũi yêu đương Laura đến với tôi một cách tự nhiên như bản năng, nhưng việc nói lời yêu và nắm tay cô ấy thật là khó khăn. Tôi cứ từ thái cực này chuyển sang thái cực khác, chẳng tìm được gì dung hòa cả. Tôi thiếu hình mẫu về vai trò một người chồng và một người cha. Bố tôi không bao giờ ôm mẹ tôi hay nắm tay bà cả. Có thể là ông có làm điều đó khi tôi không ở gần, nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy. Phần lớn câu chuyện của họ chỉ là về công việc hay bọn trẻ chúng tôi mà thôi.

Ngày 6 tháng Mười một năm 1983, tôi đến một doanh trại huấn luyện tân binh của Hải quân ở Orlando, Florida. Hai ngày sau, tất cả chúng tôi đều cạo trọc đầu và người thì sặc mùi vải bông mới hồ. Khi tắt đèn đi ngủ, tôi bảo cậu bạn ở chiếc giường phía sau: “Này cậu, hôm này là sinh nhật tớ đấy.”

“Thế à, chúc mừng sinh nhật.” Rồi anh ta chẳng nói thêm lời nào. Cũng không có ai khác lên tiếng cả. Có vẻ như là mọi người còn thăm dò thái độ của nhau.

Google photo

Việc thiếu tính kỷ luật và thiếu thái độ tôn trọng của các tân binh làm tôi ngạc nhiên. Vì thế nhiều người gặp rắc rối vì quên nói “Vâng, thưa Ngài” hoặc “Không, thưa Ngài”. Tôi thì đã được dạy dỗ là không được quên phép cư xử và phải để tâm vào từng hành động nhỏ. Những anh chàng đó được giao thêm một số việc (hít đất, lau và đánh sàn) và trông họ làm như những kẻ có trí tuệ chậm phát triển ấy. Sửa soạn giường ngủ và gấp gọn đồ lót không phải là một hoạt động đòi hỏi kiến thức và sự phối hợp. Tôi đã được dạy cách sửa soạn giường ngủ và gấp đồ lót của mình.

Người chỉ huy và tôi trở nên gắn bó bởi vì anh đã từng đảm nhiệm công tác Tìm kiếm và Cứu nạn với tư cách là một thành viên đội bay − một công việc mà tôi mơ ước. Anh giao cho tôi phụ trách một nửa doanh trại. Sau khi kết thúc gần 4 tuần ở trại huấn luyện, ¼ số tân binh vẫn chưa đạt. Tôi không hiểu lý do tại sao nữa.

Những tân binh còn quá yếu kém sẽ phải trải qua kỳ Huấn luyện Tăng cường (IT). Tôi trình bày với Đại đội trưởng: “Thưa anh, tôi muốn được tham gia kỳ IT để chuẩn bị cho bài kiểm tra sức khỏe Tìm kiếm và Cứu nạn của mình.” Tôi không còn nhớ chính xác những yêu cầu của bài thi SAR thời kỳ đó, nhưng bài thi hiện nay đòi hỏi các thí sinh phải bơi 500m trong vòng 13 phút, chạy 2,5 km trong 12,5 phút, hít đất 35 lần trong 2 phút, thực hiện đứng lên − ngồi xuống 50 lần trong 2 phút và lên xuống xà 2 lần. Nếu trượt phần kiểm tra này, tôi sẽ khó có khả năng gia nhập lực lượng Tìm kiếm và Cứu nạn của Hải quân.

Đại đội trưởng nhìn tôi cứ như là đầu tôi đang mọc sừng vậy. “Wasdin, cậu có biết họ làm gì ở IT không?”

“Những tân binh chưa đạt chuẩn nói với tôi là ở đó họ luyện tập rất căng thẳng.” Anh ta cười to.

Sau bữa tối, tôi đến tham gia IT và chợt hiểu tại sao anh ấy lại cười. Kỳ IT thúc giục chúng tôi năng động hơn. Chúng tôi tập hít đất, đứng lên − ngồi xuống, giơ súng trên đầu và rất nhiều bài tập nữa. Tôi nhìn sang bên trái rồi lại quay sang bên phải và thấy những anh chàng ở cả hai bên đều đang khóc. Luyện tập khắc nghiệt thật đấy, nhưng tại sao bạn lại khóc? Tôi đã trải qua những chuyện tồi tệ hơn nhiều. Mồ hôi và nước mắt rớt xuống sàn phòng tập. Mồ hôi tôi đổ xuống, nhưng tôi không khóc. Những học viên IT khác không biết rằng tôi tình nguyện luyện tập. Sau khi xuất hiện ở đó khoảng 7, 8 hoặc 9 buổi tối, mỗi buổi một tiếng đồng hồ, họ muốn tôi thay đổi kiểu cách quái quỷ đó. Nhưng tôi không bao giờ nói điều gì khác với họ. Khi tôi rời trại huấn luyện, chắc họ cho rằng Wasdin là học viên kỳ dị nhất từng đến đây.

Tôi tham gia bài kiểm tra Tìm kiếm và Cứu nạn. Ở bể bơi, tôi gặp một người đeo một phù hiệu lạ trên ngực. Lúc đó, tôi không biết ông ấy là người thuộc Đội SEAL của Hải quân và cũng không biết một người lính SEAL là thế nào cả. Nhiều người khác cũng không biết. Khóa IT có lẽ đã giúp tôi chuẩn bị cho bài thi này, nếu không phải là về thể chất thì cũng về tinh thần. Tôi đã vượt qua. Tuy nhiên, tôi chỉ tự tin 70% là mình sẽ được chọn đi học ở trường đào tạo lính bay. Số phận của tôi nằm trong tay của Hải quân. Họ sẽ giao cho tôi việc gì đây nếu tôi không đậu kỳ thi này?

Cho đến cuối kỳ huấn luyện ba tháng tại trại huấn luyện hải quân, Đại đội trưởng mỉm cười và trao cho tôi quyết định nhập học trường đào tạo lính bay. “Hẹn gặp cậu trong lực lượng hải quân” − anh nói. Vậy là tôi đã thành công. Đó là ngày tươi đẹp nhất trong đời tôi. Laura đến Florida khi tôi tốt nghiệp khóa huấn luyện và ở lại với tôi suốt mấy ngày cuối tuần. Tôi vẫn phải mặc quân phục ngay cả khi chúng tôi ra ngoài căn cứ. Khi chúng tôi đang ăn tối trong một nhà hàng, một cặp đôi tặng chúng tôi đôi vé thăm quan Disney World và thanh toán luôn hoá đơn của chúng tôi khi họ ra về. Ngày hôm sau, chúng tôi liền chớp cơ hội khám phá Vương quốc diệu kỳ này.

Khi tôi học tại trường đạo tạo lính bay ở Pensacola, Florida, không có chỗ dành cho những người đã có gia đình để Laura có thể ở cùng tôi. Ở trường này, tôi phải mặc đồ bay, học cách triển khai các thiết bị cứu nạn ra khỏi máy bay, vượt qua chướng ngại vật và tập đấm bốc trong các trận đấu nghiệp dư của hải quân. Đến cuối khóa học 6 tuần này, tôi tham dự một tuần huấn luyện “sống còn”. Giảng viên giả định tình huống máy bay của chúng tôi bị bắn hạ và chúng tôi phải làm mọi việc để sống sót: nai nịt lại trang bị, vượt qua sông, dựng một chiếc lều bằng dù và sống chỉ với lượng thức ăn ít ỏi như vài hộp nước sốt và ít táo. Trong suốt ba ngày cuối, chúng tôi chỉ ăn những gì có thể tìm thấy và đưa vào miệng được. Tuy nhiên, tôi vẫn không ăn được những con sâu ấu trùng.

Trận đấm bốc đầu tiên diễn ra vào đêm chúng tôi trở về từ đợt huấn luyện sống còn. Tôi nói với huấn luyện viên, “Tôi vừa ở trong rừng ba ngày mà không ăn uống gì cả. Anh nghĩ tôi có ổn không?” “Chết tiệt. Tay lính thủy đánh bộ này đang thắng đậm chúng ta. Chúng tôi cần cậu đến đó và đánh bại anh ta”.

Cám ơn nhiều nhé, bạn của tôi. Các bạn của tôi là Todd Mock và Bobby Powell đến xem trận đấu và ủng hộ tinh thần cho tôi. Todd đứng ở góc của tôi. Tôi bảo cậu ta: “Giá mà tôi có thêm thời gian chuẩn bị cho trận đấu này.”

“Cậu chỉ cần đánh anh ta nhiều hơn anh ta đánh cậu thôi.”

Lời khuyên hay đấy.

Mỗi trận đấu gồm 3 vòng, mỗi vòng 3 phút. Không di chuyển nhiều, chỉ cần đánh gục đối thủ ở mỗi vòng. Trong vòng đầu tiên, tôi chịu được tay lính thủy đánh bộ và thi đấu ngang cơ. Vòng thứ hai, tôi phản ứng không đủ nhanh và bị đánh hai lần. Anh ta đang thắng thế. Tôi cảm thấy cánh tay của mình yếu đi, chiếc găng tay nặng có 0,5 kg mà tôi cảm giác như 20 kg vậy.

Vòng thứ ba, tôi đến cọ găng với anh ta, một thủ tục xã giao lặng lẽ mà những đối thủ đấm bốc thực hiện khi bắt đầu vòng đấu cuối cùng. Tôi ra tay phải và anh ta bất ngờ thoi cho tôi một quả trời giáng. Đau quá. Ôi đau quá. Tôi khuỵu xuống. Khi tôi đứng lên được thì đã bị đếm đến 8.

Tôi không phải là Rocky – tôi rất sợ lại bị dính đòn. Khi bị đếm đến 8, tôi dồn hết sức tới tấp lao vào tấn công anh ta vì sợ đến chết rằng anh ta có thể lại làm đau tôi nữa. Cuối cùng, tôi thắng. Những người ủng hộ phe hải quân phát cuồng lên. Tôi ngồi trên một ghế đẩu ở góc của mình, cảm thấy kiệt sức. Tôi nhìn Todd nói: “Cậu và Bobby sẽ phải vác mình ra ngoài thôi.”

Họ bê tôi đến bãi gửi xe và đặt vào trong ô tô. Sau khi cởi găng tay, họ lau mồ hôi và đưa tôi đến ăn ở nhà hàng Wendy. Sau đó, họ đưa tôi về doanh trại và để tôi nằm xuống giường. Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi nghĩ mình đã bị làm sao đó rồi. Mặt sưng phồng lên, một bên mắt thì híp tịt lại. Con mắt kia cũng bị híp một phần. Quái quỷ gì thế này? Thế là tôi nằm bệt mấy ngày. May là lúc đó đã gần cuối khóa học nên tôi vẫn tốt nghiệp đúng hạn. Mặc dù xa cách nhưng Laura và tôi vẫn viết thư cho nhau và thỉnh thoảng tôi gọi điện cho cô ấy. Laura đến thăm tôi vào kỳ nghỉ cuối tuần sau khi tôi tốt nghiệp. Mối quan hệ của chúng tôi có vẻ tốt

đẹp. Sau đó, Todd, Bobby và tôi lên đường để đến trường Tìm kiếm và Cứu nạn, bắt đầu khóa học 12 tuần. Nơi này thật đáng sợ: Những cái tên viết trên tường, bể bơi khổng lồ trong nhà, cánh cửa giả của chiếc trực thăng H-3 và những giảng viên SAR mặc quần đùi và áo phông xanh.

Ôi, những người này là Chúa trời đấy.

Trường SAR đã thử thách tôi. Sau khi lấy hết sức bình sinh nhảy xuống nước, chúng tôi cảm thấy dễ chịu. Chúng tôi bơi đến thang cứu nạn, gắn thiết bị hoa tiêu vào, giơ tay ra hiệu, bật pháo sáng Mark-13 và luyện tập cứu nạn.

Google photo

Cho đến cuối khóa học, trong bài thi cuối cùng, tôi phải thực hành một kịch bản cứu nạn. Một viên phi công đang ngồi trên phao cứu sinh, còn một người khác đang nằm úp mặt xuống nước. Trong khu vực bể bơi khổng lồ, tôi nhảy ra khỏi cánh cửa giả của máy bay trực thăng và lao xuống bể bơi rồi hỗ trợ cho người đàn ông đang ở tư thế úp mặt xuống nước. Viên phi công trên phao hét lên với tôi: “Anh bạn, đưa tôi ra khỏi nơi quái quỷ này thôi. Ông ta chết rồi. Đừng lo cho ông ta nữa.”

Khi tôi bơi tới và chạm được tay vào viên phi công đang úp mặt xuống nước, ông ta giật mình tỉnh lại và tóm chặt lấy tôi. Tôi lặn xuống phía dưới – đối với người sắp chết đuối thì việc làm này chẳng khác nào đang đi xuống địa ngục. Sau khi xem xét quanh người viên phi công, tôi bắt đầu kiểm tra dọc sống lưng và không phát hiện dây dù quấn quanh người ông. Ông ta có vẻ ổn và tôi bắt đầu bơi, nhưng ông ta vẫn chẳng nhúc nhích. Tôi kiểm tra lại và nhận thấy cả hai chân của ông ta đều vướng dây dù. Sau khi gỡ dây ra, tôi bơi và đưa ông ta đến phao của viên phi công kia. Viên phi công ở trên phao lúc này lại bắt đầu hét lên với viên phi công ở dưới nước: “Đó là tại anh. Anh phản ứng kém quá”.

Tôi không thể đặt viên phi công này vào cùng phao cứu nạn với gã phi công khó chịu kia. Sau khi mở thiết bị nổi cho ông ta, tôi buộc ông ta vào phao và để ông ta nổi trên mặt nước. Bước lên phao, tôi kiểm tra viên phi công khó tính. Tôi đặt ông ta lên thang của trực thăng và đưa ông ta lên trước. Ông ta đánh tôi, vì vậy tôi như phải đánh vật để đưa được ông ta lên. Sau đó tôi buộc mình với viên phi công ở dưới nước để đưa ông ta lên máy bay cùng.  Khi trở lại phòng gửi đồ, tôi thấy một số bạn cùng lớp tôi chưa trở lại. Mải suy nghĩ về bài thi cứu nạn của mình, tôi đã không nghĩ đến khả năng họ đã thi trượt. Có khoảng 5 hoặc 6 huấn luyện viên đứng quanh tôi và hỏi: “Wasdin, anh làm sai cái gì vậy?”

Quỷ thần ơi. Tôi trượt khóa SAR rồi, tôi không biết tại sao nữa.

Họ lấy ra một cái móc hình chữ J, vốn được sử dụng để cắt dây dù và cắt rời áo phông trắng của tôi.

Tôi cố gắng nghĩ xem mình đã sai sót điều gì. “Chúc mừng, Wasdin. Anh vừa tốt nghiệp trường SAR.”

Họ đưa cho tôi chiếc áo sơ mi màu xanh và ném tôi xuống bể bơi cùng với những người bạn đang bơi đứng dưới nước. Tất cả bọn họ cười sảng khoái trước vẻ mặt ngờ nghệch của tôi – bởi vì họ cũng đều vừa trải qua trạng thái tương tự.

Việc tốt nghiệp trường SAR có ý nghĩa đặc biệt hơn việc vượt qua được kỳ huấn luyện ở trại hoặc tốt nghiệp khóa huấn luyện lính bay bởi vì đào tạo SAR thực sự là thử thách đối với tôi, cả về mặt thể lực và tinh thần. Sau khóa học SAR, thậm chí tôi còn phải học thêm nhiều hơn, với môn Chiến tranh chống tàu ngầm ở Millington, Tennessee. Mặc dù ở đây cũng chẳng có nơi ở cho những người đã có gia đình, nhưng Laura và tôi đã quyết định thuê một căn hộ nhỏ ngoài căn cứ. Khi có bầu, Laura trở về sống với bố mẹ mình cho đến khi em bé ra đời.

Sau đó lực lượng Hải quân điều tôi đến một phi đội huấn luyện ở Jacksonville, Florida để thực hành tổng hợp những gì tôi đã học ở các khóa huấn luyện lính bay, khóa đào tạo SAR và khóa đào tạo Chiến tranh chống tàu ngầm. Khi còn đang ở Jacksonville, tôi nhận nhiệm vụ thực thụ đầu tiên ở Đội HS-7, hay thường được gọi là “Dusty Dogs”, thuộc biên chế của tàu sân bay USS John F.Kennedy (CV-67). Mặc dù căn cứ chính của Kennedy là ở Norfolk, Virginia, nhưng đội của tôi vẫn nằm tại Jacksonville ngoại trừ khi Kennedy được triển khai ra biển.

Sáng ngày 27 tháng Hai năm 1985, Bobby Powell đến phòng của tôi ở doanh trại và thông báo: “Vợ cậu sắp sinh đấy.” “Trời ơi”, tôi kêu lên. Từ Jacksonville phải mất hai giờ lái xe mới đến được bệnh viện quân sự ở

Fort Stewart, Georgia. Tôi gọi điện cho gia đình Laura.

Bố vợ tôi nghe điện thoại: “Vợ con sinh cháu trai rồi”, ông báo.

Vẫn mặc đồng phục bay, tôi lên xe lái hết tốc lực. Mọi việc ổn cho đến khi chỉ còn 20 phút nữa là đến bệnh viện. Đèn cảnh sát chiếu phía sau xe của tôi, đó là đội tuần tra Đường cao tốc Georgia. Tôi tấp xe vào lề đường và dừng lại. Viên sĩ quan dừng lại phía sau, bước đến cửa xe của tôi: “Đi đâu mà nhanh vậy, con trai?” Bồn chồn và lo lắng, tôi giải thích: “Thưa ông, vợ tôi vừa sinh con và tôi phải đến bệnh viện.” “Bằng lái đâu?” Tôi trình bằng lái.

Ông xem qua nó và nói: “Thế này nhé, tôi sẽ đi cùng anh đến bệnh viện. Nếu chúng ta tới đó và vợ anh thực sự mới sinh con, tôi sẽ trả lại bằng lái cho anh.” Ông ta cho tấm bằng vào túi áo: “Nếu không phải, mời anh về đồn làm việc.”

Ông ta đi cùng tôi đến khu đỗ xe của bệnh viện và cuốc bộ cùng tôi đến phòng của Laura. Trong số những người đến thăm có mẹ tôi. Mặc dù bà vẫn giận vì tôi bỏ nhà đi để cưới Laura nhưng lại rất háo hức với cháu trai của mình. Viên sĩ quan tuần tra dành thời gian trò chuyện cùng bà.

Tôi bế cậu con trai nhỏ đáng yêu của mình lần đầu tiên, tên cu cậu là Blake. Tôi rất tự hào vừa là một người cha vừa là một lính bơi SAR xuất sắc. Cuộc sống thật tốt đẹp. Một lúc sau, tôi phát hiện viên cảnh sát đã biến mất. “Ông cảnh sát đâu rồi mẹ? Con cần lấy lại bằng lái xe”.

Mẹ đưa bằng lái xe cho tôi: “Ông ấy nhờ mẹ chuyển lời chúc mừng con đấy.” Sau khi Blake đủ lớn, hai mẹ con chuyển xuống Jacksonville để ở cùng tôi. Ngày 6 tháng Mười năm 1986, một chiếc tàu ngầm hạt nhân Yankee của Nga (K-219) hoạt động ngoài khơi Bermuda bị bục ở hầm chứa tên lửa. Nước biển lọt vào và phản ứng với chất thải nhiên liệu lỏng của tên lửa gây ra một vụ nổ làm ba thủy thủ thiệt mạng. Con tàu ì ạch chạy về hướng Cuba. Lực lượng đặc nhiệm của tàu John F.Kennedy điều đội trực thăng chúng tôi theo dõi con tàu. Thường thì chúng tôi chỉ bay cách tàu sân bay khoảng 48 km nhưng vẫn được phép bay xa hơn.

Tôi đi giày, mặc một áo bơi ngắn tay được gọi là “áo ngắn” và một quần đùi cotton màu trắng (quần bó trắng). Nhiều đồng đội của tôi mặc quần bơi, nhưng tôi dự trù khả năng có thể phải cứu nạn cho ai đó nên tôi quyết định mặc quần bó màu trắng này. Ở bên ngoài, tôi mặc đồng phục bay. Chúng tôi phát hiện tàu Nga bằng thiết bị định vị tàu ngầm kích hoạt. Chúng tôi liên tục sử dụng sóng siêu âm để theo sát con tàu.

Đột nhiên, phi công nói: “Nhìn nhiệt kế trên bộ truyền lực rôtô chính kìa.”

“Ôi trời…”. Hộp số nóng đến mức biến dạng.

Phi công cố giữ cho máy bay lơ lửng cho đến khi rơi xuống. Chúng tôi không tiếp nước mạnh như tôi tưởng nhưng vẫn đủ mạnh: “Cấp cứu, cấp cứu…”

Là lính bơi đầu tiên, tôi lao tới viên phi công thứ hai để giúp anh gắn mỏ neo và đưa ra ngoài cửa sổ. Tiếp đó, tôi chờ cho hai viên phi công thoát khỏi máy bay qua cửa sổ thoát nạn phía trước rồi lao tới cuối buồng lái, nơi mà tôi thấy người lính bay đầu tiên đã thoát ra ngoài cửa sườn máy bay. Tôi cởi bộ đồ bay ra, đi chân vịt vào, đeo mặt nạ và ống thở. Cuối cùng, tôi đá tung cái phao ra, bơm căng nó lên và giúp hai viên phi công vào phao. Có một lính bơi cứu nạn khác khoảng 40 tuổi. Thay vì thổi phồng áo phao và bơi đến phao cứu nạn, ông ta lại bám chặt lấy một cái thùng ướp lạnh hòng sống sót và trôi dần ra biển. Vì vậy tôi phải bơi đến đưa ông ta trở lại phao. Một ý nghĩ lo âu xuất hiện: Tôi sẽ làm gì nếu chiếc tàu ngầm Nga nổi lên từ ngay phía dưới?

Một chiếc máy bay chống tàu ngầm S-3 Viking bay qua. Tiếng động cơ ầm ì của nó nghe như âm thanh của một cái máy hút bụi. Chiếc máy bay quay trở lại phía chúng tôi ở góc 90 độ, có lẽ là đã nhận ra vị trí của chúng tôi. Ba mươi phút sau, một chiếc trực thăng bay đến. Tôi lấy ra chất phát quang màu xanh, trông như những bánh xà phòng và thả nhanh xuống mặt nước xung quanh phao. Thế là chúng tôi trở thành một mục tiêu xanh khổng lồ phát sáng giúp máy bay phát hiện ra.

Khi chiếc trực thăng xuống thấp hơn, tôi ra dấu đề nghị họ không đưa lính bơi xuống. Tôi kéo tấm kính trên mũ sắt của các viên phi công xuống để những tia nước do cánh quạt trực thăng gây ra không làm đau họ. Sau đó tôi đưa mọi người tới thang cứu nạn và leo lên cùng với người cuối cùng.

Sau khi rơi khỏi máy bay, bơi tới những lính bơi khác và đưa họ đến thang cứu nạn, tôi đã kiệt sức. Bên trong chiếc trực thăng, bạn của tôi, Dan Rucker, cũng là một lính bơi SAR, chỉ ngón tay cái lên trời tỏ ý hoan nghênh. Chiếc trực thăng cứu nạn của chúng tôi hạ cánh trên tàu sân bay. Chúng tôi bước lên boong tàu. Mọi người hoan nghênh, vỗ vai chúc mừng tôi về vụ cứu nạn đó. Đi bộ dọc theo boong tàu, tôi vẫn đeo bộ chân vịt, trông như một vị anh hùng ngoại trừ chiếc quần bó màu trắng. Bây giờ thì đồ lót của tôi đã là quần bó màu xanh có phát quang. Toàn thân tôi bừng sáng do chất phát quang màu xanh. Điều đó làm tôi lúng túng vô cùng. Tôi sẵn sàng bỏ cả triệu đô-la để có chiếc quần bơi khác. Sau đó, chúng tôi kinh hoàng xem lại toàn bộ cảnh tượng lúc trước được ghi lại trên băng ghi hình của con tàu.

Hai tuần trước khi hợp đồng làm việc của tôi với Hải quân hết hạn, tôi chợt chú ý đến một nhóm 5 người đến từ một đơn vị mà tôi chưa từng nghe đến tên: Lực lượng SEAL. Tôi nhớ là hôm đó họ không phải là một tiểu đội 7 hoặc 8 người theo tiêu chuẩn của SEAL. Họ có vẻ giống một đội lính laze: hai người tìm kiếm mục tiêu bằng laze, hai người nhận dạng mục tiêu và một viên đại úy phụ trách, có lẽ đồng thời đảm nhiệm cả khâu liên lạc. Họ ở trong khu vực bến tàu của lực lượng Tìm kiếm và Cứu nạn chúng tôi nên tôi được tiếp cận họ và hỏi chuyện về SEAL.

Trong Chiến tranh Thế giới II, những người nhái hải quân đầu tiên được huấn luyện kỹ năng trinh thám các bãi biển cho máy bay lưỡng dụng (sử dụng được cả trên bộ và dưới nước) hạ cánh. Không lâu sau đó họ học cách phá bỏ các vật cản dưới nước và họ đã được người ta biết đến với tên gọi là Đội phá hủy dưới nước (UDT). Trong Chiến tranh Triều Tiên, UDT phát triển và tiến sâu hơn vào đất liền với nhiệm vụ cho nổ tung cầu cống và hầm ngầm.

Vài năm sau đó, khi chứng kiến sự nổi dậy của Cộng sản ở khu vực Đông Nam Á, Tổng thống John F. Kennedy − người từng phục vụ trong Hải quân thời kỳ Chiến tranh Thế giới II, và một số vị quan chức khác trong quân đội nhận thấy nhu cầu phải có lực lượng lính chiến phi truyền thống. Hải quân liền thành lập một đơn vị có thể triển khai hoạt động cả trên biển, trên không và đất liền với nhân sự chủ yếu từ UDT. Ngày 1 tháng Một năm 1962, Đội SEAL 1 (Coronado, California) và Đội SEAL 2 (Little Creek, Virginia) ra đời.

Một trong những người lính SEAL đầu tiên là Rudy Boesch, một người New York và là đội trưởng

UDT-21. Với mái tóc húi cua trọc lóc, ông hướng dẫn những người lính SEAL mới tại Đội 2 trong huấn luyện thể chất (PT). Trên tấm thẻ quân nhân của ông, phần viết về TÔN GIÁO có ghi PT. Để duy trì thể trạng, Rudy và các bạn cùng Đội chơi đá bóng trong nhiều giờ − 32 người mỗi đội. Gãy chân là chuyện thường xuyên xảy ra. Những người lính SEAL sử dụng nhiều mẹo để tránh né các hoạt động rèn luyện mà Rudy đưa ra, ví dụ như tìm lý do vắng mặt, đi vệ sinh mà không quay trở lại hay lẩn trốn vào các bụi rậm trong quá trình rèn luyện.

Rudy cũng từng đảm nhiệm chức vụ Trung đội trưởng Trung đội 10, đơn vị từng giải cứu cho Trung đội 7 ở Mỹ Tho, Việt Nam vào ngày 8 tháng Tư năm 1968.

Đến cuối cuộc chiến tranh Việt Nam, Đội SEAL 1 và 2 được trao 3 Huân chương Danh dự, 2 Bội tinh Hải quân, 42 Anh dũng bội tinh với Ngôi sao Bạc, 402 Anh dũng bội tinh với Ngôi sao Đồng (một trong số đó là của Rudy) và nhiều phần thưởng khác. Khi một người lính SEAL bị giết thì 200 kẻ thù bị tiêu diệt. Vào cuối những năm 1970, Rudy giúp thành lập Đơn vị Cơ động 6 (MOB 6) và Đơn vị chống khủng bố của Đội SEAL 2.

Những người lính SEAL trên tàu John F. Kennedy chắc là phát chán lên với tôi, nhưng họ vẫn chia sẻ một vài câu chuyện đáng sợ về Huấn luyện Phá hoại Căn bản dưới nước của SEAL (BUD/S). Họ kể cho tôi nghe về nhảy dù rơi tự do, về lặn với bình dưỡng khí, về bắn súng, cho nổ tung mọi thứ và cả việc đi bắt tôm ở đồng bằng. Họ làm việc rất vất vả và chơi cũng thật nhiệt tình. Tình cảm giữa họ thật thân thiết. Một người nói với tôi rằng chính việc cho phép tham gia BUD/S đã tạo động cơ tái ngũ cho anh. Tôi mong được như họ.

Trong đợt ra quân 6 tháng, tàu John F. Kennedy dừng lại ở Toulon, Pháp, quê hương của tàu sân bay Pháp Charles de Gaulle. Tôi nghiêm túc hỏi chuyện viên đại úy SEAL về tiêu chuẩn để trở thành một người lính SEAL. Tái ngũ hay không tái ngũ – đó chính là lá bài quan trọng không thể bỏ qua để mặc cả với Hải quân. Tôi hy vọng một điều kỳ diệu – gặp đúng người đúng lúc. Tôi đến phòng ngủ của viên chỉ huy của mình và gõ cửa.

Ông mở cánh cửa kêu răng rắc.

“Thưa Tư lệnh Christiansen, nếu được phép tham gia BUD/S trước khi hợp đồng của tôi hết hạn, tôi sẽ đăng ký tái ngũ, thưa ông.”

“Anh bạn ngốc nghếch vào đây”, ông mở to cửa và nói.

Tôi bước vào, đứng trước mặt ông. Tôi chợt nghĩ rằng có lẽ tôi đã làm ông khó chịu. Trước đó, tôi tưởng mình đã phục vụ trong một đơn vị tinh nhuệ, nhưng bây giờ tôi biết rằng có một đơn vị còn tinh nhuệ hơn thế. Tôi không thể thỏa mãn với vị trí hiện tại của mình được.

“Cậu không biết cậu đang đề nghị điều gì đâu. BUD/S không phải là điều mà cậu thật sự muốn đâu. Hãy nhận tiền, trở về nhà và học cho xong đi. Cậu không biết trở thành một người lính SEAL phải như thế nào đâu”. Ông mất hơn nửa giờ để nói với tôi rằng tôi đang đề nghị một việc điên rồ.

“Xin cám ơn ông.”

Tỗi vẫn ở lại Pháp, nhưng chỉ ba ngày trước khi tôi trở lại đời sống dân sự, viên sĩ quan điều hành (XO), người được coi là cánh tay phải của viên sĩ quan chỉ huy, cho gọi tôi vào và nói: “Anh là một thủy thủ tuyệt vời và chúng tôi muốn giữ anh lại. Chúng tôi cần làm gì để giữ anh lại trong lực lượng Hải quân?”

“Tôi đã nói với Tư lệnh Christiansen, thưa anh. Nếu anh có thể cho tôi tham gia BUD/S, tôi sẽ đăng ký tái ngũ.”

Tôi đến khách sạn, chuẩn bị bay về Mỹ quay lại cuộc sống thường dân. Hôm trước khi tôi lên chuyến bay của hãng Hàng không Pháp, anh bạn Tim xuất hiện trước cửa: “Sáng nay chúng tôi vừa nhận được một bức điện về quyết định cử cậu tham gia BUD/S.” “Bịa đặt!”

“Nghiêm túc đấy, thuyền trưởng bảo tôi đưa cậu trở lại tàu để ông ấy nói chuyện với cậu.” Họ đang lừa tôi đây. Đó chắc là một cách chia tay thú vị mà thôi. Tôi trở lại tàu và bước vào phòng trực nơi các phi công, thủy thủ đoàn và nhiều người khác đang có mặt. Các sĩ quan cấp tá ngồi trên những chiếc ghế bành có kiểu thiết kế dành cho máy bay dân dụng lớn. Một máy pha cà phê và các tạp chí đặt ở trên bàn. Trên “Bàn Cầu cơ” có mô hình các máy bay thể hiện vị trí của các máy bay trên boong tàu. Một thiết bị giám sát màu đen − trắng hiển thị các điểm hạ cánh trên boong. Viên sĩ quan chỉ huy gọi tôi đến trước mặt. Ông trao cho tôi quyết định điều đến BUD/S. Mọi người vỗ tay và tiễn tôi đi.

Quyết định đó còn phụ thuộc vào việc tôi có vượt qua được bài kiểm tra thể lực cho BUD/S ở Jacksonville hay không. Tôi bay về nhà ở Georgia và Laura lái xe đưa tôi xuống Florida. Trong suốt gần 6 tháng phục vụ trên tàu sân bay, tôi không có nhiều thời gian bơi ngoại trừ khi giải cứu đội bay của chiếc trực thăng bị rơi. Trước đó, tôi chủ yếu tập bơi với chân vịt trong khi bài thi không cho sử dụng bộ đồ này. Tôi cũng không luyện tập kiểu bơi nghiêng và bơi ếch cần thiết cho việc huấn luyện của SEAL. Mặc dù tôi không nhớ chính xác tiêu chuẩn thể lực khi những người lính SEAL kiểm tra tôi trước đây nhưng có vẻ cũng không khác lắm với yêu cầu hiện nay: bơi 500m trong 12,5 phút, nghỉ 10 phút, hít đất 42 lần trong 2 phút, nghỉ 2 phút, nằm xuống đứng lên 50 lần trong 2 phút, nghỉ 2 phút, 6 lần lên xà trước khi bỏ tay, nghỉ 10 phút, chân đi ủng và mặc quần dài, chạy trên quãng đường 2,5 km trong 11,5 phút.

12 người chúng tôi trình căn cước và các giấy tờ khác. Sau đó chúng tôi cởi quần áo bên ngoài cho đến quần bơi. Tôi thấy hồi hộp. Khi tiếng còi cất lên, chúng tôi xuất phát. Khi tôi bơi gần đến cuối đường bơi 500 m, một lính SEAL thông báo thời gian còn lại: “30 giây”. Quyết tâm tranh thủ từng giây bơi thật nhanh, cuối cùng tôi chạm đích khi chỉ còn lại 15 giây. Tuy nhiên, một thí sinh khác đã không được may mắn như vậy.

Còn lại 11 người, chúng tôi mặc áo phông, quần dài và đi ủng. Chúng tôi thực hiện phần hít đất và đứng lên nằm xuống. Một lần nữa tôi lại vượt qua. Có hai thí sinh bị trượt. Sau khi nghỉ 2 phút, tôi nhảy lên bám lấy xà. Áp lực thất bại đôi khi có thể khiến người ta muốn nổ tung. Tôi đạt và hai người khác trượt.

Chúng tôi chỉ còn lại 7 người. Từng phần kiểm tra không quá khó khăn, nhưng thực hiện liên tục, hết phần thi này lại đến phần khác thì quả là thách thức. Chúng tôi bước vào đường chạy. Người lính SEAL chúc chúng tôi may mắn. Một người khác lại trượt. Vậy là 12 người lúc đầu giờ chỉ còn lại 6.

Con số giảm không dừng lại ở đó. Một số thí sinh không đạt đủ điểm cho bài kiểm tra Tổ hợp Kỹ năng Định hướng Quân sự (ASVAB) mà tất cả các ứng viên tiềm năng phải trải qua trước khi được tuyển vào quân đội. Qua các kỳ kiểm tra nha khoa, y tế, không gian bội áp, thêm một vài người nữa phải dừng lại. Một số người lại trượt vì mắt kém hoặc bị mù màu. Một số khác thì do không vượt qua phần kiểm tra tâm lý. Có một bảng câu hỏi tâm lý lặp đi lặp lại một số câu hỏi giống nhau. Tôi không dám chắc là họ đang lưu tâm đến tính tin cậy của bài thi hay là sự kiên nhẫn của tôi. Có một câu hỏi là: “Anh có muốn trở thành một nhà thiết kế thời trang không?” Tôi không biết những người thiết kế thời trang hay là tôi điên khùng nữa bởi vì tôi không muốn là một trong số họ. Một câu hỏi khác là: “Anh có bao giờ nghĩ đến việc tự sát không?” Tôi chưa bao giờ nghĩ đến cho đến khi tham gia phần thi này. “Anh có thích Alice ở xứ sở thần tiên không?” Làm sao tôi biết được? Tôi chưa bao giờ đọc nó cả. Các nhà tiên tri Do Thái cũng sẽ trượt phần thi tâm lý này: “Anh có bị hoang tưởng không?” “Anh có khả năng đặc biệt gì không?”. Sau phần thi viết, tôi gặp nhà tâm lý học và nói với bà những gì mà bà muốn nghe. Tôi đã đạt.

Về phần kiểm tra trong không gian bội áp, căn phòng trông như là một quả ngư lôi lớn vậy. Tôi nghe kể một số người bị ngất khi đang kiểm tra do cảm giác sợ hãi hay do tác động của khí áp hoặc do cả hai. Tôi bước vào bên trong, ngồi xuống và thư giãn: hơi thở chậm, nhịp tim đều. Người sĩ quan chuyên về môn lặn đóng chặt cửa lại. Tôi đi xuống 3 m, 6 m, cảm thấy khí áp gia tăng. Đến khoảng 10 m, tôi ngáp và nuốt khan để làm giảm đôi chút áp suất dồn vào tai. Áp suất trong phòng tương tự như là khi người ta đi vào vùng nước sâu 20m và đứng yên ở đó. Không có vấn đề gì xảy ra. Sau 10 phút ở trạng thái này, viên sĩ quan điều chỉnh giảm dần áp suất cho trở lại mức bình thường.

“Tốt lắm”, ông ta nói.

Trong số 100 thí sinh, tôi là người duy nhất vượt qua tất cả các bài kiểm tra. Tôi hết sức phấn khởi. Laura và tôi về nhà vừa kịp Lễ Tạ ơn. Đầu tháng Giêng tôi mới đến nhận nhiệm vụ ở BUD/S. Tôi rất vui khi được ở nhà với Laura và Blake trong các ngày nghỉ, cười đùa, ăn món thịt gà tây ấm cùng với khoai tây nghiền nóng và nước xốt còn bốc khói.

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Google photo

3. Tuổi thơ khốn khó

Ngay từ khi còn là một đứa trẻ, tôi đã học cách chịu đựng áp lực. Mẹ sinh tôi vào ngày 08 tháng Mười một năm 1961 tại phòng khám Weems Free, bờ biển Boynton, Florida khi bà mới 16 tuổi – một bà mẹ trẻ con nuôi một đứa trẻ. Bà quá nghèo để đến viện khám thường xuyên. Vì thế tôi được sinh non trước hai tháng, và cân nặng chỉ khoảng 1,5 kg với đôi mắt màu nâu đỏ và mái tóc đen. Phòng khám nơi tôi sinh ra tồi tàn đến mức không có cả một cái lồng kính nho nhỏ cho một đứa bé sinh thiếu tháng như tôi. Tôi bé đến mức chiếc nôi trẻ em quá lớn với tôi, nên thực ra mẹ đã đưa tôi về nhà trong một chiếc hộp đựng giày. Chiếc xe đẩy ở nhà cũng quá lớn, nên mọi người sử dụng một chiếc ngăn chạn bát đĩa, lót thêm ít vải xuống dưới làm chỗ cho tôi ngủ.

Mẹ tôi tên là Millie Kirkman, người gốc Scotland. Mẹ là người lạnh lùng, bà hiếm khi thể hiện cảm xúc cũng như sự nhanh nhạy với cuộc sống, bà làm việc quần quật suốt ngày tại một xưởng may để nuôi mấy anh em tôi. Có lẽ tôi thừa hưởng tính khí lạnh lùng và bảo thủ – với quan điểm “không chấp nhận từ bỏ nếu cho rằng mình đúng” từ mẹ mình – quả thật là một sai lầm.

Khi tôi lên chín, mẹ cho tôi biết rằng cha đẻ tôi là Ben Wilbanks, ông đã ruồng rẫy và bỏ rơi chúng tôi. Đó là lý do mà tôi luôn thù ghét ông ấy. Ký ức tuổi thơ đầu tiên mà tôi có được là khi tôi bốn tuổi, tại vùng biển West Palm, Florida. Giữa đêm hôm khuya khoắt, tôi bị đánh thức bởi một gã to lớn nồng nặc mùi rượu tên là Leon – người đang hẹn hò với mẹ tôi. Mẹ tôi gặp hắn khi bà làm hầu bàn tại một trạm dừng xe tải.

Cả hai vừa trở về từ một buổi hẹn hò. Đang nằm ở giường trên cùng, Leon xốc tôi dậy, vặn vẹo tôi vì sao ngày hôm đó tôi làm sai một vài việc. Rồi sau đó hắn tát tai tôi, đấm vào mặt tôi và cả vào mồm khiến tôi chảy cả máu mồm. Đó là cách mà Leon giúp mẹ tôi dạy đứa con trai của bà sống tử tế hơn.

Nhưng đó mới chỉ là sự khởi đầu và không phải khi nào nó cũng diễn ra vào ban đêm. Bất kể khi nào về nhà, hắn ta lại cho mình cái quyền dạy dỗ tôi. Tôi sợ đến phát khiếp mỗi lần biết mẹ sắp hẹn hò, toàn thân tôi run như cầy sấy. Tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Lần này sẽ tệ thế nào đây? Nếu Leon đến nhà khi mẹ tôi sửa soạn đi đâu đó, hoặc khi mà cả hai vừa trở về từ một cuộc hẹn hò thì trận chiến có thể diễn ra. Leon khá “dễ tính” trong việc chọn thời điểm cho tôi ăn đòn. Vào một ngày sau khi tan lớp từ trường mẫu giáo, tôi chạy trốn. Tôi cố tình đi nhầm tuyến xe buýt của trường. Gã này sẽ không thể đánh ta nữa đâu, ta thoát rồi. Xe buýt đưa tôi ra khỏi làng, tới nơi mà tôi không xác định được. Lúc này chỉ còn vài đứa trẻ trên xe. Xe dừng lại và một đứa đứng lên, rồi tôi theo nó xuống xe. Thằng bé cuốc bộ trên con đường bẩn thỉu về nhà. Lúc đó tôi chẳng biết phải làm gì, tôi mới chỉ năm tuổi và không có chút hiểu biết nào. Tôi đành đi đúng theo con đường bẩn thỉu đó cho đến khi tôi giáp mặt một ngôi nhà. Tôi cứ luẩn quẩn quanh ngôi nhà mà không biết phải làm gì ngoại trừ suy nghĩ phải tránh xa con đường lớn ngoài kia. Sau khoảng 2 giờ, một người đàn ông và một người đàn bà về tới ngôi nhà và phát hiện tôi đang trốn ở hè sau để tránh bị phát hiện từ phía đường lớn. Người phụ nữ hỏi: “Cháu tên gì?”.

“Howard ạ”.

“Chắc cháu đói rồi.” Họ đưa tôi vào nhà và cho tôi ăn.

Sau khi ăn xong, người phụ nữ nói: “Này cháu, cô chú phải liên lạc với bố mẹ cháu để đưa cháu về nhà.”

Tôi hoảng sợ, “Không, không được. Xin cô chú đừng gọi mẹ cháu. Có cách nào để cháu được ở lại đây với nhà cô chú không?” Họ cùng cười ồ lên.

Tôi không hiểu việc đó có gì buồn cười, nhưng tôi không kể cho họ hoàn cảnh của mình. “Đừng, xin cố chú đừng gọi mẹ cháu. Cháu ở với cô chú được không?”

“Không được cháu yêu à. Cháu không hiểu rồi. Mẹ cháu chắc đang lo đến chết đấy. Số điện thoại nhà cháu đâu?” Thực tế là tôi không biết. “Thế cháu sống ở đâu?”

Tôi cố hướng dẫn cho họ đường đến nhà tôi ở Hồ Worth, Florida, nhưng xe đã đi qua quá nhiều đường quanh co và ngã rẽ nên tôi không thể nhớ được. Cuối cùng họ đành đưa tôi quay lại trường, tại đó họ thấy dì tôi đang tìm tôi. Kế hoạch trốn chạy của tôi thất bại. Tôi nói dối mẹ tôi là mình đi nhầm xe.

Khoảng một hai năm sau, mẹ tôi lấy Leon. Rồi thời gian ngắn sau đó, cả nhà tôi chuyển tới Screven, Georgia và chúng tôi cùng tới gặp quan tòa. Ngồi trên xe, mẹ tôi bảo: “Khi gặp quan tòa, ông ta sẽ hỏi con rằng con có muốn bác Leon làm bố của con không. Hy vọng con sẽ trả lời là có.” Trong cuộc đời tôi, Leon là điều cuối cùng trên thế giới này mà tôi muốn, nhưng tôi biết chắc là tốt nhất nên chấp nhận, vì nếu không tôi có thể sẽ bị giết khi về nhà. Do đó tôi làm theo lời mẹ nói.

Ngày hôm sau, trước khi đi học bố mẹ tôi dặn hãy “nhớ bảo với bạn bè ở trường là từ nay con không còn là Wilbanks nữa, giờ con là Wasdin.” Tôi răm rắp làm theo lời họ.

Giờ thì tôi đã là con riêng của vợ Leon và phải giáp mặt với ông ta suốt ngày. Khi một con sư tử đực chiếm được một con sư tử cái và những đứa con của nó, sư tử đực sẽ giết tất cả. Leon không giết tôi, nhưng tôi phải trả giá cho bất cứ điều gì mà tôi không thực hiện chính xác như lời hắn nói. Nhiều lúc ngay cả khi làm đúng, tôi cũng phải chịu trận.

Vườn nhà tôi trồng rất nhiều cây hồ đào và việc của tôi là phải hái quả hồ đào. Leon làm nghề lái xe tải, nên nếu mỗi khi hắn về mà nghe thấy tiếng quả hồ đào bể dưới bánh xe, thì tức là tôi phải chịu lỗi. Hắn chẳng thèm quan tâm là sau khi tôi đã lượm hết thì lỡ có quả nào rơi xuống hay không. Lỗi của tôi là không chăm chỉ và không biết việc. Khi đi học về, tôi phải tới thẳng phòng ngủ và nằm ra giường để cho Leon dùng roi da đánh tôi không thương tiếc.

Ngày tiếp theo ở trường, tôi phải cố gỡ quần lót ra khỏi lớp máu khô và đóng vảy ở mông để ngồi xuống khi đi vệ sinh. Tôi chưa bao giờ tin vào Chúa, nhưng cũng đã có lúc tôi cầu xin Người: “Xin Người hãy giết chết Leon.”

Chịu đòn quá nhiều, tôi đã đạt đến ngưỡng không còn sợ mỗi khi chiếc roi da từ tay gã đàn ông nặng hơn 100 kg quật lên lưng, lên mông và chân tôi. Hãy nằm yên. Đừng lăn lộn. Làm thế không thay đổi được gì đâu. Hãy chịu đựng nó. Tôi cứ nằm trên giường, mắt nhắm nghiền lại và hình dung tới những vết thương. Việc tôi cứ nằm chình ình như cái xác chết càng khiến Leon thêm điên tiết.

Phi vụ bắn tỉa đầu tiên của tôi là sau mùa Giáng sinh, khi tôi bảy tuổi. Một thằng to con hơn so với tuổi lên 10 của nó, tên Gary, là đầu gấu ở trường đánh một trong những đứa bạn của tôi. Chiều hôm đó, tôi tụ tập thêm bốn chiến hữu. Chúng tôi thừa biết là Gary quá to lớn nên không thể đánh lại hắn được, nhưng lúc đó chúng tôi đứa nào cũng có súng BB cho ngày Giáng sinh. Tôi bảo: “Sáng mai mang súng tới trường. Chúng mình sẽ đợi nó ở gốc cây cạnh sân trường và bắn nó khi nó đi ngang qua.” Để đến trường, Gary phải đi qua một con đường hẹp, chính việc này tạo thuận lợi cho chúng tôi chọn điểm phục kích hắn. Ngày hôm sau, cả hội chúng tôi cùng đợi hắn. Chúng tôi có lợi thế chiến thuật là đông người, có vũ khí và lại ở cao hơn. Khi Gary vừa vào khu vực nã đạn, chúng tôi nổ súng vào hắn. Có thể bạn sẽ cho rằng Gary sẽ tháo chạy ngay từ phát đạn đầu tiên, nhưng nó không chạy. Nó đứng chịu trận như đang bị một đàn ong tấn công. Nó cứ ôm lấy vai, lấy lưng và lấy đầu mình. Chúng tôi tiếp tục bắn. Lúc đó, một bà giáo ở trường tên là Waters chạy tới và quát ầm lên. Rồi một giáo viên nữa quát nạt và chúng tôi chạy tán loạn ra khỏi gốc cây. Gary nằm oằn mình dưới đất và thở dốc ra như khóc. Tôi thấy tội cho nó vì đầu nó – nơi bọn tôi nhằm vào là chủ yếu, đang chảy máu, nhưng tôi cũng thấy là nó đáng bị đánh như thế vì hôm trước nó đã đánh bạn tôi. Áo của Gary lộn cả về đằng lưng. Một thầy giáo dùng khăn tay để băng mặt cho Gary.

Cả bọn chúng tôi bị triệu tập lên phòng Hiệu trưởng. Cảnh sát địa phương cũng có mặt ở đó, cố không bật cười vì trò đùa của chúng tôi. Tôi giải thích, “bạn ấy lớn hơn tất cả bọn em, nhưng hôm qua bạn ấy đã đánh bạn Chris.” Trong suy nghĩ của mình, tôi không hiểu là chúng tôi sai ở chỗ nào. Nhà trường tịch thu súng của chúng tôi và mời bố mẹ chúng tôi tới. Hiển nhiên bố dượng đã cho tôi ăn đòn tơi tả khi về nhà.

Một vài năm sau, trước khi tham gia vào SEAL, tôi về nhà vào kỳ nghỉ phép của lính Hải quân. Tôi ngồi trên xe do Gary lái, giờ hắn là lái xe cho bố tôi. Gary hỏi tôi: “Cậu nhớ lần bắn tôi bằng súng BB không?”

Tôi gượng gạo trả lời: “Ừ, nhớ. Cậu biết đấy, lúc đó mình đều là trẻ con mà.” “Không, không, không sao mà.” Gary chỉ vào vai trái và bảo: “Chỗ này giờ cũng ổn rồi.” Tôi sờ vào vai trái của cậu ta – và tôi cảm nhận được hình viên đạn BB dưới làn da cậu ấy.

“Đôi khi những vết đạn làm tôi đau đấy”, giọng cậu ta rất thật: “Có lúc nó khiến tôi đau ở đầu, lúc lại đau ở vai”. “Ôi anh bạn! Tôi vô cùng xin lỗi!”

Sau đó chúng tôi cùng uống bia và cảm thấy buồn cười về chuyện đã xảy ra.

Khi lên tám tuổi, tôi quay lại Florida với dượng mình cùng một vài người khác để làm nghề bán rong, tức là rong ruổi khắp mọi nẻo đường bán hàng trên một chiếc xe tải nhỏ không mui. Tôi ngồi phía sau bán hàng trong khi một gã nghiện rượu cổ đỏ ửng tên là Ralph Miller lái xe. Hắn thường dừng xe ở cửa hàng rượu. “Tao dừng đây để vào mua ít nước cà chua. Mày thích uống không?”

“Chắc là có.”

Hắn vào mua một bình nước cà chua cho tôi. Tiếp đó hắn mua một ít nước cà chua màu nhạt, mùi thơm thơm trộn lẫn với hành, cần tây, vài thứ gia vị khác và một tý chút nước trái cây Mott Clamato.

Ralph thích uống loại này.

Một lần khi đang ngồi trên thùng xe tải, tôi lén nhìn vào phía trong cabin. Ralph mở khóa túi quần

và lôi ra một chai rượu vodka, rồi trộn rượu vào nước Clamato. Làm thế có gì hay ho nhỉ? Gã này lại làm hỏng thức uống Clamato ngon lành này rồi!

Chúng tôi lái xe quanh những khu vực nguy hiểm nhất của thị trấn để bán dưa hấu, dưa vàng. Một lần khi xe của chúng tôi dừng lại ở một thị trấn tên là Dania, có hai gã đến thùng xe hỏi giá dưa. Một gã lấy một quả dưa, đặt vào trong xe hắn rồi bước về phía cabin như để trả tiền cho Ralph.

Đoàng! Tôi quay lại và thấy gã đó đang hướng một khẩu súng lục ổ quay .38 vào Ralph. Chân của Ralph đang chảy máu. Ralph run rẩy đưa cho gã đó ví tiền.

Gã cầm súng hất hàm hỏi Ralph: “Mày nghĩ tao không dám bắn mày chắc?” Tôi toan chạy khỏi xe.

Tên còn lại quát tôi: “Ngồi yên”. Sau đó gã hướng súng vào tôi. Tôi nhảy qua hàng ghế trên thùng xe và giật mạnh báng súng, lo sợ bị bắn bất cứ lúc nào. Tôi chạy nhanh đến mức mà chiếc mũ cao bồi màu đỏ nho tôi mua từ cửa hàng giá rẻ Grandma Beulah bay khỏi đầu. Trong một thoáng tôi đã nghĩ tới việc quay lại nhặt mũ, song tôi quyết định không vì nếu tôi quay lại, gã kia sẽ bắn tôi.

Tôi trốn quanh hai mô đá và thấy Ralph lê người tới buồng điện thoại ở trước cửa hàng tạp hóa.

Tôi rất mừng vì Ralph vẫn còn sống. Ralph gọi một xe cứu thương.

Cảnh sát tới ngay trước khi xe cứu thương xuất hiện. Nghe cảnh sát thẩm vấn Ralph, tôi biết rằng Ralph bị hai tên cướp yêu cầu đưa tiền chứ không phải là đưa ví. Do đó Ralph mới bị bắn.

Trong khi Ralph vào viện để băng bó vết thương thì cảnh sát đưa tôi vào đồn cảnh sát Dania. Nhân viên điều tra thẩm vấn tôi, rồi đưa tôi quay lại hiện trường để nghe tôi thuật lại sự việc. Họ có chút nghi ngờ song cũng nhận thấy là tôi còn quá nhỏ và lại bị sốc vì phải chứng kiến những điều vừa xảy ra. Đó là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với những người lính chuyên nghiệp. Họ dành thời gian cho tôi, kể cho tôi nghe về công việc của một cảnh sát và cho tôi biết họ đã phải làm gì để trở thành cảnh sát. Một viên cảnh sát chống ma túy cho tôi xem những loại ma túy khác nhau mà họ thu được trên đường. Họ để tôi đi quanh đồn cảnh sát, rồi một y tá ở phòng bên chỉ tôi toàn bộ trang thiết bị. Nhân viên y tế thậm chí còn cho tôi chơi trò trượt tuyết. Tôi sẽ mãi không bao giờ quên được họ.

Đêm hôm đó, tôi được một nhân viên điều tra đưa về nhà ông ấy để ngủ lại vì họ vẫn chưa tìm ra được bố tôi. Vợ ông ta hỏi tôi: “Cháu đã ăn gì chưa?”.

Từ sau bữa sáng đến giờ tôi chưa ăn gì, vì thế tôi đáp: “Chưa, thưa bà.” “Thế cháu có đói không?”

“Hơi đói ạ.”

“Được rồi, để cô làm gì đó cho cháu ăn nhé!”

Ông cảnh sát nói: “Bọn anh đưa nó vào đồn từ chiều nay, nhưng chẳng ai nghĩ tới việc cho nó ăn cả.”

“Các anh không biết nó là một đứa bé đang tuổi ăn tuổi lớn à?” Bà ta mang ra cho tôi một đĩa đồ ăn.

Tôi ăn ngấu nghiến. Ước gì tôi có thể ở với những con người này mãi mãi… Ăn xong, tôi đi ngủ. Sáng hôm sau tôi được gọi dậy lúc 5 giờ, viên cảnh sát đưa tôi quay lại đồn. Tại đó bố dượng và bác Carroll đang chờ tôi. Hai người có một vườn dưa hấu, nơi tôi làm việc sau giờ học và trong suốt mùa hè. Hai người này chỉ biết đến công việc. Khi không làm ở nông trại, họ làm nghề lái xe tải. Kể từ khi tôi làm việc phụ thêm với gia đình, mối quan hệ của tôi và dượng (nay đã bỏ rượu) đã tốt hơn. Ở miền Nam Georgia, nơi cái nóng có thể đạt đến gần 40 độ C và độ ẩm lên đến gần 100%, tôi thường đi khắp vườn dưa để thu hoạch những quả dưa hấu nặng đến gần 15 kg, xếp tất cả thành một hàng dọc và lăn dưa qua bên kia đường, sau đó chuyển lên thùng xe tải. Một trong số những người lớn tuổi hơn tôi sẽ lùi xe tải tới một xe moóc 18 bánh và tôi giúp họ chất dưa lên xe. Sau khi chuyển hàng ngàn quả dưa lên xe, sáng sớm hôm sau tôi theo xe tải lên vùng Columbia, miền Nam Carolina để bán dưa. Tôi có khoảng hai tiếng để ngủ trước khi quay về.

Khi có vài tiếng rảnh rỗi, gia đình tôi cũng đi picnic. Từ một trong những chuyến đi như vậy, tôi đã tự học được cách bơi qua những chỗ nước lặng ở sông Little Satilla. Trước đây tôi chưa biết chút kỹ thuật bơi nào, nhưng cũng phần nào cảm nhận được khi tắm ở nhà. Cả nhà tôi tới đó vài lần vào cuối tuần để bơi, câu cá vược, cá thu, cá chim cổ đỏ và cá mang xanh.

Cũng có lúc sau khi làm việc ở vườn dưa xong, cả nhóm chúng tôi cùng tới bơi trong làn nước đen ngòm ở hồ Grace. Do tác động của axit tannic từ cây thông và các loại rau khác nên nước ở cả sông Little Satilla và hồ Grace đều đen tới mức mà vào những ngày đẹp trời, bạn cũng không thể thấy chân mình dưới nước. Vào mùa hè, chuồn chuồn bay tới đây để săn muỗi. Từ bìa rừng bao quanh hồ, tiếng kêu của sóc hòa lẫn tiếng vịt và tiếng gà tây rừng. Những dòng nước đen ngòm đó luôn ẩn chứa vẻ đẹp bí hiểm.

Khi lên 14 hay 15 tuổi, tôi điều hành nhóm công nhân vườn dưa. Tôi thường đi từ vùng người da trắng sinh sống, theo một con đường mòn tới Quarters – khu vực sinh sống của người da màu. Tôi chở từ 15 đến 20 người làm đến vườn dưa ngày hôm đó, phân công công việc và cùng làm với họ, nhưng thực chất thì họ làm việc nhiều gấp đôi tôi.

Sau một ngày làm việc, cả nhóm chúng tôi lại tới hồ Grace để tổ chức thi bơi xem ai bơi được xa nhất tính từ chân cầu. Những chuyến đi picnic của gia đình giúp tôi cải thiện được khả năng bơi lội của mình. Khi bơi dưới làn nước đen nâu, miệng tôi khép hờ và thở ra một ít. Khi tôi lên bờ, có người còn bảo: “chắc là cậu xì hơi rồi, làm sao mà cậu nín thở lâu thế được!” Những lúc như vậy là dịp hiếm hoi tôi được thoải mái và vui vẻ. Thỉnh thoảng vào buổi tối, chúng tôi đốt lửa trại và chuyện trò.

Bố dượng không ngăn cấm chúng tôi dành vài giờ đi bơi hay câu cá, nhưng chúng tôi không bao giờ được đi săn. Ông cũng có lần cho tôi bắn súng, nhưng đi săn thường phải mất cả ngày. Như vậy thì sẽ bỏ bê công việc. Ông ấy chỉ chú tâm đến công việc. Nếu tôi làm sai hay lười biếng, ông sẵn lòng cho tôi ăn đòn.

Ở trường cấp hai, một hôm, tôi bị đau chân khi chơi đá bóng trong giờ thể dục. Thầy giáo tôi bảo “Để thầy xem hông em có việc gì không!” Ông kéo quần tôi xuống để kiểm tra hông phải và ông nhìn thấy dấu vết còn lại từ trận đòn của dượng tôi, kéo từ phần dưới lưng tới phần đùi. Ông giáo há hốc mồm và thốt lên: “Ôi! Chúa ơi…” Sau khi kiểm tra xong, ông kéo quần tôi lên và không nói thêm lời nào nữa. Trong những ngày tiếp theo, cuộc sống gia đình tôi vẫn vậy. Nhưng tôi cứ có cảm giác lung túng vì đã có người phát hiện ra bí mật của mình.

Dù cho những chuyện đã xảy ra, tôi vẫn yêu bố mẹ mình. Đó không phải hoàn toàn là lỗi của họ vì họ không được học hành và không biết cách dạy dỗ trẻ con. Họ đã làm tất cả để cả gia đình đủ ăn đủ mặc. Theo Tháp nhu cầu của Maslow, chúng tôi không bao giờ đạt tới tầng tự thể hiện bản thân (tầng thứ 5 trong tháp) vì chúng tôi hiện đang ở đáy tháp – chỉ cố để có đủ cơm ăn áo mặc. Về cơ bản, bố mẹ tôi không bao giờ dùng những lời cay nghiệt. Họ là những người tin vào Chúa. Chủ nhật nào mẹ cũng đưa mấy anh em tôi tới nhà thờ. Họ thấy cách nuôi dạy con cái của mình chẳng có gì sai cả.

Là anh cả của mấy anh em, bố dượng muốn tôi chăm sóc các em gái của mình là Rebecca, Tammy và Sue Anne. Cô em Tammy nói luôn miệng và hay tác oai tác quái. Từ khi vào học cấp một, không biết đã bao nhiêu lần tôi phải bênh vực cho cái tội vạ miệng của nó. Khi tôi đang học lớp 5, cô bé chửi một cậu bé học lớp 8. Hậu quả là cậu ta đấm thẳng vào mặt tôi, tặng cho tôi một quầng đen trên mắt, một chiếc mũi gãy và một cái răng sứt. Khi về nhà, bố tôi là người tự hào nhất mà chẳng quan tâm đến việc Tammy đã làm những điều xằng bậy và gây sự đánh nhau. Tôi trông chẳng khác nào một con vật hiến tế. Tuy nhiên, tôi biết dù cho cậu bé kia có đánh tôi tàn bạo đến đâu, nhưng nếu tôi không cho cậu ta đánh, thì chắc chắn dượng tôi còn đánh tôi tàn bạo hơn nhiều. Vào một buổi chiều khi tôi 17 tuổi và đang nghỉ hè ở nhà, tôi vừa đi làm cả ngày ở vườn dưa về, tôi tắm táp, sau đó ra phòng khách ngồi, chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi. Một lát sau, Tammy đi đâu về, vừa đi vừa khóc.

Tóc vẫn còn ướt, tôi hỏi: “Có chuyện gì đấy?” “Đầu em bị đau.”

“Sao mà đầu em lại đau?” Tôi sờ đầu em nó và thấy một cục u ngay trên đỉnh đầu. Tôi hỏi: “Ở đây có đau không?”

Tammy kể: “Bọn em đang chơi bóng rổ ở nhà thờ. Khi em vừa ghi điểm, Timmy nhặt bóng lên và ném bóng vào người em nên em ném ngược vào người nó. Nó chộp được em rồi khóa đầu em lại. Sau đó nó đấm vào đầu em.”

Tôi ra ngay khỏi phòng. Giờ thì tôi như con bò tót đối mặt với màu đỏ, nhưng tôi hoàn toàn tự chủ. Tôi rời khỏi nhà, qua cổng, vọt qua hàng rào xích và chạy thẳng tời nhà thờ First Baptist. Lũ trẻ cùng cha mẹ chúng đang rời nhà thờ sau giờ học Kinh thánh mùa hè. Mấy người trợ tế đứng ở phía cửa nhà thờ. Tôi phát hiện ra Timmy – người đã đánh em gái tôi. Tôi và nó cùng tuổi. Nó quay lại đúng lúc thấy tôi đi tới. Timmy hét toáng lên “Howard, chúng ta cần nói chuyện đã.” “Không cần đâu, thằng chó chết.” Tôi giáng một cú vào má phải, rồi quật ngã nó. Tôi chụp lấy đầu và ngồi lên lưng Timmy rồi đánh nó nhừ tử, miệng văng tục liên hồi. Tất cả những gì tôi nghĩ tới lúc này là em gái của tôi đang khóc với một cục u trên đầu.

Một người trợ tế cố lôi tôi ra, song nên nhớ tôi đang 17 tuổi và luôn làm việc quần quật từ nhỏ tới giờ. Phải thêm một số người trợ tế nữa mới kéo được tôi ra. Cha Ron xuất hiện. “Howard, dừng lại.” Tôi tin và tôn trọng cha Ron. Cha giống như người anh tinh thần của cả thị trấn này vậy.

Tôi dừng tay. Cha Ron là người đã dừng được cuộc ẩu đả.

Đen đủi thay, vụ việc này lại châm ngòi cho một mối thù. Bố của Timmy là một kẻ giống như bị tâm thần, trong khi dượng tôi là người nóng tính. Ông ta không bao giờ chùn bước trước ai.

Gã tâm thần lái xe tới nhà tôi. Dượng tôi gặp gã ở trước cửa nhà.

“Tôi mà gặp thằng nhãi con ông ở đâu đó thì nó sẽ không tự về nhà được đâu.” − tâm thần dọa.

Dượng tôi đi vào nhà và chộp lấy khẩu súng ngắn. Khi ông vừa bước ra trước nhà thì gặp ông nội tôi đi cùng Cha Ron đến. Bố tôi định nhắm thẳng vào mông của gã tâm thần. Song nội tôi và Cha Ron đã ngăn ông lại.

Những tuần tiếp theo thực sự rất căng thẳng với tôi. Đi đâu tôi cũng phải để ý phía sau xem có gã nào theo mình không. Timmy cũng có hai anh trai nữa. Tôi phải tụ tập anh em lại để bảo vệ mình và không bao giờ dám đi đâu một mình. Cha Ron gặp mặt cả bố và nội tôi ở nhà thờ. Hóa ra mọi chuyện diễn ra không phải như những gì phát ra từ cái mồm láu cá của em gái tôi. Tammy đã gây chuyện gì đó với Timmy. Sau đó Timmy chỉ dùng ngón tay cốc đùa vào đầu Tammy. Tôi đã từng nghĩ đó là cú đấm vào đầu thay vì những gì diễn ra trong thực tế. Cha Ron khuyên chúng tôi nên bỏ qua vụ việc. Giờ thì tôi biết là rắc rối to rồi.

Nhưng bố tôi lại bảo: “Này con trai, nếu là bố thì bố cũng làm tương tự, ngoại trừ việc văng tục liên mồm giống như con làm trong sân nhà thờ.”

Tôi xem hành động đó như là để bảo vệ phẩm giá. Mặc dù bố tôi cũng có lỗi, song với ông, bảo vệ gia đình luôn rất quan trọng và tôi qúy trọng ước muốn bảo vệ tôi của ông. Cha Ron là người gắn kết cộng đồng này và chính cộng đồng này đã giúp hình thành tính cách của tôi.

Bên cạnh Cha Ron, một người khác cũng có ảnh hưởng đến tôi là bác Carroll – anh trai của bố. Ông ấy không phải là người nóng tính và dù không phải là người học nhiều, song ông rất thông minh, đặc biệt trong đối nhân xử thế. Bác Carroll có bạn bè ở khắp nơi. Chính bác đã dạy tôi lái xe tải vì bố Leon không đủ kiên nhẫn để dạy tôi. Bố Leon có thể nổi giận ngay cả lần đầu tôi bốc nhầm dưa, lái xe sai hay bất cứ lỗi gì. Trong khi bác Carroll lại dành thời gian để giải thích mọi thứ cho tôi. Khi tôi họclái xe 18 bánh, bác Carroll bảo: “Không, Howard à, đáng lẽ cháu không nên quay trục xe ngay lúc này. Cháu nên tăng vòng quay thêm một ít đã. Rồi bây giờ thì về số và tiếp tục đi.” Tôi học được nhiều điều từ bác Carroll. Tôi và bố Leon có thể cùng lái xe từ bờ biển West Palm, Florida tới Screven, Georgia, liên tục 8 tiếng mà chẳng mấy khi nói chuyện với nhau. Hai bố con tôi không có chuyện gì để nói với nhau hết. Nếu có, thì đó là những câu đại loại như, “Con muốn đi tắm không?”. Ngoại trừ những nhu cầu cá nhân hay ăn uống, hai cha con chẳng nói gì nữa. Bố mẹ tôi thường bảo chúng tôi là “Con cái là để ngắm, không phải để nghe.” Nhưng họ cũng không phải hoàn toàn xấu. Nếu chúng tôi ra đường và nói ra điều gì, trong khi không ai hỏi mình thì khi về nhà, chúng tôi biết điều gì sẽ dành cho mình. Bác Carroll là người duy nhất thể hiện tình thương đối với tôi. Bác thường quàng tay ôm lấy vai tôi khi biết dượng lại đánh tôi một cách tàn nhẫn vào chân. Bác luôn động viên tôi, thậm chí là chỉ bằng một lời nói yêu thương lúc cần thiết. Nếu tôi và bác cùng đi xe, hai bác cháu sẽ dừng lại để ăn sáng và ăn trưa tại nhà hàng. Trong khi với dượng, hai bố con sẽ đi vào một cửa hàng tạp hóa và mua một ít xúc xích với pho mát rồi lên xe để làm thành món bánh sandwich. Leon không muốn dừng lại lâu. Đáng quý nhất là bác Carroll luôn động viên tôi. Ảnh hưởng của bác với tôi thậm chí là còn hơn cả Cha Ron. Nếu không có họ, có lẽ tôi đã có những hành động ngu xuẩn. Thậm chí là tự kết liễu đời mình.

Những năm trung học, tôi học trở thành chuyên viên tin học tại Quân đoàn Huấn luyện Sĩ quan Dự bị Trung cấp (JROTC) của Không quân. Tôi yêu JROTC, yêu cả những quy định, cơ cấu của tổ chức này cũng như bộ quân phục đẹp đẽ. Tôi luôn là một học viên xuất sắc: cả trong xếp loại sĩ quan cũng như trên cương vị là chỉ huy tổ quân kỳ. Điều đó cho tôi công việc để làm và cũng để vượt lên trên người khác. Khi đèn được bật lên, tôi hiểu được rằng tôi có thể dễ dàng trở thành người xuất sắc nhất. Tuy nhiên khi tiếp xúc với phụ nữ, tôi lại là kẻ đến sau. Vào tháng Mười, tức là một tháng sau sinh nhật 18 tuổi của tôi, tôi hỏi bạn mình: “Hôn kiểu Pháp thì phải làm thế nào nhỉ? Cậu làm thế nào?”

“Howard, thế này nhé, sáp lại cô ta, đặt môi mình lên môi nàng, luồn lưỡi vào trong, rồi sau quấn chặt lấy nàng.”

Tôi cần phải có một bạn nhảy đi cùng đến buổi khiêu vũ của JROTC. Một anh bạn cùng đơn vị của tôi có em gái tên là Dianne, mọi người đều gọi cô ấy là Dee Dee. Tôi chẳng mấy khi nghĩ về cô ấy, nhưng giờ thì tôi đã nghĩ đến việc có thể cô ấy sẽ cùng tới buổi khiêu vũ với mình. Lo lắng và hồi hộp, tôi mời Dee Dee: “Em đi tới buổi khiêu vũ cùng anh nhé?” “Dạ vâng,” − cô ấy đáp.

Sau khi khiêu vũ xong, cô ấy bảo tôi “Mình đi tới nhà Đèn ma đi.” Tôi đưa cô ấy tới nơi người ta đồn là có bóng ma không đầu của một công nhân đường sắt lang thang trên đường ray tìm kiếm gì đó, tay cầm một chiếc đèn lồng.

Khi tôi dừng xe, người tôi như cứng lại. Khi nào thì mình nên đặt môi lên môi cô ấy? “Luồn lưỡi vào và quấn lấy cô ấy” nghĩa là cái quái gì? Mình có nên luồn lưỡi theo vòng tròn không? Mình nên làm gì? Tôi cứ cố thoát ra khỏi những suy nghĩ đó. Tôi định bảo với Dee Dee, em này, chúng ta nên về thôi. Nhưng cô ấy đã tiến sát đến gần tôi, chờ đợi. Mặt cô ấy ngay trước mặt tôi. Rồi cô ấy chủ động hôn kiểu Pháp. Chẳng cần nói gì nữa, đây rõ ràng chẳng phải là môn học Vật lý lượng tử, như thế là ổn. Chúng tôi thành một đôi cho đến mùa xuân năm sau.

Buổi hòa nhạc mùa xuân sắp diễn ra, nhưng một gã nào đó đã mời Dee Dee trước tôi rồi. Suốt giờ học môn Kinh tế học, tôi cố mời Laura, bạn của Dee Dee cùng tới buổi hòa nhạc – đó là cuộc hẹn đầu tiên của chúng tôi. Laura dáng người đẹp và nảy nở. Khi buổi hòa nhạc kết thúc, chúng tôi đã hôn nhau lần đầu tiên ngay trong ô tô. Laura hôn tôi và tôi không cưỡng lại. Bởi tôi lớn lên trong một gia đình không có sự biểu hiện của tình thương, nên sự quan tâm của Laura dành cho tôi vô cùng ý nghĩa.

Nghĩ về quãng thời gian thanh niên, tôi vẫn nhớ phi vụ trinh sát đầu tiên của mình. Khi ở Screven, Georgia, chúng tôi không phải làm gì nhiều, nên thỉnh thoảng lại tự tạo niềm vui cho mình. Có một lần vào tối thứ Sáu, Greg, Phil, Dan và tôi lái xe xuống phía bờ sông. Chúng tôi thấy một cái va li cũ có lẽ là rơi ra từ xe của ai đó. Chúng tôi mở ra và chỉ thấy một ít quần áo trong đó. Chúng tôi quẳng nó lên thùng xe tải của Greg và chẳng nghĩ gì về nó cả. Khi chúng tôi dựng trại ở bờ sông, cùng ngồi quanh đống lửa uống bia với thịt bê nướng thì một con mèo ghẻ lở và gầy nhom xuất hiện. Nó chắc là mèo hoang nên chẳng dám đến gần chúng tôi, nhưng con mèo chắc là đói lắm. Chúng tôi ném cho nó một miếng bê nướng, con mèo vồ lấy và nhai ngấu nghiến. Một người trong chúng tôi bắt chước động tác của loài mèo thì con mèo nổi quạu ngay – móng vuốt và răng nó nhe ra. Tội nghiệp con mèo. Chúng tôi dùng cái va li làm cái bẫy bắt mèo bằng cách chống nắp va li lên và cho một miếng bê nướng vào trong. Khi con mèo mò vào trong va li, chúng tôi thả nắp va li xuống và kéo khóa lại. Chúng tôi cười toáng lên, rồi khi nghe con mèo kêu như điên dại trong chiếc va li càng làm chúng tôi khoái trá hơn. Con mèo cứ kêu cho đến khi kiệt sức.

Tôi chợt nảy ra một ý kiến. “Anh em biết là khi thấy cái va li, bọn mình đã muốn mở nó ra như thế nào? Vậy nếu mình đặt cái va li dọc đường, thì ai đó bắt gặp cũng sẽ dừng lại và mở nó ra.” Thế là chúng tôi mang cái va li ra phía đường và dựng nó ở gần một cây cầu. Sau đó chúng tôi nấp ở gần đó bằng cách nằm sát mặt đất trên một con dốc ở gần đường. Chúng tôi đợi một lúc thì có một chiếc xe chạy qua. Song xe này không phát hiện ra. Đúng là lái xe không thèm quan sát gì.

Rồi chiếc xe khác tiến tới và đèn phanh sáng lên. Sau đó nó vượt qua cái va li, quay một vòng chữ U và quay lại. Nó vượt qua chỗ chúng tôi nằm và quay tiếp một vòng chữ U, cuối cùng nó dừng lại sát cái va li. Một bà béo da đen bước ra và nhặt lấy cái va li. Sau khi quay về xe và đóng cửa, chúng tôi nghe tiếng nói chuyện rất rôm rả, tưởng như họ vừa nhặt được một hòm châu báu vậy. Chiếc xe di chuyển. Đột nhiên, đèn phanh xe bật sáng và cả rung lắc như người đứt hơi. Ba trong bốn cửa xe mở tung ra, rồi ba người nhảy phốc ra khỏi xe chửi rủa ầm ĩ. Chúng tôi cố nín cười.Một người trong bọn họ vứt cái va li xuống sườn đồi. “Đuổi nó cút khỏi ghế sau đi!” một người khác hét toáng lên. Một người khác chộp lấy một cái gậy và chọc vào trong xe để đuổi con mèo ra. Cuối cùng thì con mèo cũng thoát được ra ngoài. Chúng tôi chẳng mong là họ mở cái va li ở trong xe khi xe đang chạy vì chúng tôi không ý định làm hại ai. May là không ai bị thương. Từ vụ này, chúng tôi có thêm một câu chuyện để kể cho vui vào ban đêm. Tôi dám cá là những người đó sẽ không bao giờ dám nhặt bất cứ thứ gì trên đường nữa. Đó cũng là lần đầu tiên tôi thực hiện hoạt động quan sát bí mật.

Khi tốt nghiệp trung học, tôi đã cao trên 1m80 và dành dụm đủ tiền để mua một chiếc ô tô, theo học tại một trường công giáo là Đại học Cumberland ở Williamsburg, Kentucky. Nhưng chuyện đi làm để dành tiền cho chiếc Ford LTD màu xanh đời 1970 của tôi đã xôi hỏng bỏng không vì Tammy đã ngốn hết khoản tiền mua xe của tôi trước khi tôi rời khỏi nhà, do đó tôi phải đi bằng xe buýt. Trước khi bước lên xe, mẹ tôi bảo bố: “Anh ôm Howard đi.” Sau đó bà bảo tôi: “Lại ôm dượng đi con.” Leon dang rộng hai cánh tay và hai bố con tôi gượng gạo ôm nhau. Đó là lần đầu tiên hai bố con tôi ôm nhau. Tiếp đến tôi ôm nhẹ mẹ mình. Tôi lên xe mà lòng vui sướng vì đã thoát khỏi chốn địa ngục này.

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 18

Quốc Vương Umberto II – thuộc dòng dõi Savoy – là người có bản chất tâm địa hiền hòa. Do đó, ngài được người dân Ý lúc đó cảm mến, quí trọng. Ngài chấp thuận cho thực hiện một cuộc trưng cầu dân ý, theo đó, nước Ý chọn chế độ Cộng hòa hay chế độ quân chủ trên danh nghĩa. Ngài chẳng ham làm vua khi lòng dân không thuận. Về vấn đề này, ngài cũng giống như đức tiên vương. Dòng họ Savoy chưa bao giờ là những nhà cai trị có tham vọng. Dưới các triều đại của dòng họ ấy, trên thực tế, nước Ý thực sự là một nước theo chế độ dân chủ đại nghị. Đúng hơn, đó là một chế độ đề cao quyền lực của quốc hội. Theo các chuyên viên chính trị, chắc chắn cuộc trưng cầu dân ý sẽ thuận lợi cho vương triều.
Đảo Sicily được kể trong số những vùng tuyệt đại đa số phiếu chấp thuận duy trì nguyên trạng. Tức là duy trì vương triều. Tại Sicily lúc đó có hai thế lực “đen” mạnh nhất chi phối: Một, do Guiliano kiểm soát vùng Bắc hòn đảo; một, do Ông Trùm Croce và đám “Người anh em” kiểm soát phần còn lại. Guiliano không ủng hộ phe đảng chính trị nào. Trong khi đó, Ông Trùm và đám Mafia dồn mọi nỗ lực cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo và duy trì vương triều.
Kết quả cuộc trưng cầu dân ý đã làm cho vương triều – dù là trên danh nghĩa – vào viện bảo tàng. Nước Ý trở thành một nước cộng hòa. Và thế lực cánh tả gồm phe xã hội và cộng sản tỏ ra mạnh mẽ, làm cho chính phủ của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo lúng túng, lung lay, có nguy cơ sập tiệm. Cuộc bầu cử toàn quốc sắp tới, đám lau nhau vô thần kia có thể lên chấp chính ở một nước có giáo đồ của một tôn giáo lớn nhất toàn cầu. Và trên danh nghĩa thì nước đó là công giáo toàn tòng. Một nước mà bất cứ xó xỉnh nào cũng thấy tượng Đức Thánh Nữ Đồng Trinh Mary, tượng Đức Chúa Jesus đủ kiểu, tượng các chư thánh. Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo chịu không thấu. Do đó, nó đã phải huy động toàn lực “đen” cũng như “trắng”, mọi thủ đoạn vương đạo hay bá đạo để có hy vọng thắng trong cuộc bầu cử tới. Nếu không thì ăn mày cả đám!
Trớ trêu thay, đảo Sicily lại được vinh dự ở vào cái thế quyết định. Nó nghiêng về phía nào thì phía đó có đường ăn nên làm ra và phía đối địch có đường “bị, gậy”. Trong cuộc bầu cử vừa qua, dân Sicilian sẽ đưa vào nghị viện – thượng cũng như hạ – khá nhiều dân biểu, thượng nghị sẽ thuộc phe xã hội và cộng sản tại Sicily, phe tả đang lên như diều. Vì tại đây, hoạt động công đoàn vẫn bị coi là hoạt động xấu xa của bọn “quỷ dữ”. Chủ nhân các nhà máy, xí nghiệp, điền chủ cũng không chịu nói chuyện với đại diện công nhân. “Có giỏi cứ đình công”. “Người anh em” chỉ nổ vài thằng là cả đám hết hồn, chẳng còn đứa nào dám ho he. Cứ như thế thì kết quả cuộc bầu cử như thế nào, không phải là điều không thể dự đoán.
Kết quả cuộc trưng cầu dân ý cũng như bầu cử vừa qua làm cho Ông Trùm Croce vừa lo sợ vừa tức giận phát điên lên được. Tại các thôn xóm xa xôi, Ông Trùm và đám “Người anh em” cũng làm dữ đấy chứ, cũng hăm he, đe dọa đủ cách để giành lấy phiếu cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo đấy chớ. Nhưng, rõ ràng là không kiến hiệu. Mấy thằng dân ngu khu đen vẫn “đường ta ta cứ đi”. Nghĩa là vẫn cứ bỏ phiếu cho các ứng cử viên xã hội và cộng sản.
Không phải chính quyền của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo và đám “Người anh em” mới tích cực vận động. Mà ngay cả Hội Thánh cũng vào cuộc. Trên tòa giảng, cha cố hò hét giáo dân phải bỏ phiếu chống lại bọn vô thần. Các dì phước đến từng nhà, tay cầm gói mì Spaghetti hoặc lon dầu ô – liu béo ngậy, miệng mỉm cười thân ái và tha thiết dặn dò:
– Nhớ nhé, hôm bầu cử thì nhớ bỏ phiếu cho ông này bà kia thuộc đảng Dân chủ Thiên chúa giáo nhé. Bỏ phiếu tầm bậy tầm bạ, lỡ ra bọn vô thần nó lên cầm quyền được thì Chúa với Đức Thánh Đồng Trinh dám “đi đứt” với chúng nó lắm. Báng bổ Chúa và Mẹ là cái nghề của bọn vô thần. Chúng nó mà cầm quyền thì mình sa địa ngục cho mà coi. Vì đâu còn nhà thờ nữa đâu mà đi lễ. Nhà thờ bị chúng biến thành rạp hát, thành nhà kho rồi còn đâu. Cứ gọi là sa hỏa ngục hết, nếu bỏ phiếu cho chúng nó. Sợ sa hỏa ngục không?
Đó, đại khái cây gậy và củ cà – rốt của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo là thế. Chiến thuật vận động tranh cử của họ là thế. Nhưng kết quả bầu cử ấy vẫn làm cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, các chức sắc lớn nhỏ trong Hội Thánh và các sếp lớn nhỏ trong đám “Người anh em” tức hộc máu ra được, hàng tỉ đồng lire dầu ô – liu và mì Spaghetti chứ đâu phải ít của. Mì của đảng Dân chủ Thiên chúa, cứ đớp – tội đếch gì, bỏ uổng – nhưng bỏ phiếu ủng hộ cánh tả, cứ ủng hộ.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp của Italia – Ngài Franco Trezza, dân Sicilian chứ đâu phải ai xa lạ gì – cũng giận tím mặt lại với mấy ông bà đồng hương của mình. Đúng là một lũ vô ơn, lừa lọc, tráo trở, xảo quyệt. Mẹ kiếp, nghèo rớt mùng tơi – không có lấy tấc đất cắm dùi, ngay cả cái khố mà đeo cũng đếch có nữa – Vậy mà vẫn cứ kiêu hãnh. Bảo đếch thèm nghe! Đã thế lại còn ngu ơi là ngu. Bỏ phiếu cho bọn xã hội, bọn cộng sản, có ngày phá hủy nền tảng gia đình, phá hủy các nhà thờ, thì lúc đó, hỡi ơi, đã bể mẹ nó rồi, trở tay sao kịp. Đứa nào dám há mỏ ra kêu là tụi nó khiền ngay, có khi cắt lưỡi cho mà biết! Ngài bộ trưởng bóp trán suy nghĩ. Ngài tức giận đấm tay xuống bàn đánh thình. Nhưng, bỗng chốc một tia sáng lóe lên trong đầu óc ngài. Và, mặt ngài tươi rói, thiếu điều ở truồng chạy ra đường, la làng: Eureka, Eureka, như Archimède thuở xưa. Diệu kế, diệu diệu kế. Ngài chợt nhớ ra một người. Ngài chợt nảy ra một sáng kiến. Ngài thấy rõ một giải pháp ăn chắc mà lại rẻ tiền, hầu như miễn phí nữa là khác, đã thế, lại kín đáo, bí mật, không ai nói vào đâu được. Với giải pháp này thì kỳ bầu cử toàn quốc sắp tới, bọn xã hội, bọn cộng sản đừng hòng làm mưa làm gió. Ngài lấy giấy tự tay viết thư cho Ông Trùm Croce Malo.
Đó là một trong những cảnh không hiếm hoi gì của vở kịch “sự hợp tác huynh đệ giữa người bắt cướp và kẻ cướp”.
Đám dân ngu khu đen Sicilian ngơ ngác hỏi nhau:
– Ơ hay nhỉ, việc đếch gì mà mấy nhân vật tai to mặt lớn ở Palermo cũng như ở Rome phải nổi cơn tam bành, khi tụi mình bỏ phiếu cho cánh tả và bỏ phiếu “dẹp tiệm” nhà vua.
Họ cũng ngơ ngác không hiểu tại sao các cường quốc đàn anh như Hoa Kỳ, Anh và Pháp lại lo ngay ngáy và bấn xúc – xích lên về cái chuyện Ý có thể trở thành ông bạn đồng minh với Nga Xô, cũng chẳng biết nó ra sao và ở đâu nữa.
Cách đó hai chục năm đám dân kiết xác Sicilian không được tặng cho cái món quà dân chủ. Nay, lần đầu tiên tay được cầm lá phiếu, họ nghe những nào là dân chủ, tự do… cứ như vịt nghe sấm. Có hiểu gì đâu. Lúc được cầm lá phiếu, bảo họ đi bầu thì họ cứ ngay thật mà bầu cho những ông nào bà nào hứa tranh đấu giúp họ mua lại mảnh ruộng, mảnh vườn mà từ đời ông cố hỉ cho đến thằng chắt nội đã thi nhau đổ mồ hôi xuống đó. Mua lại với cái giá rẻ rẻ một chút, chứ nào có phải ăn cướp đất của ai. Nhưng họ bỗng phát hoảng, không dè – ấy là mấy ông lớn bà lớn nói vậy mới biết vậy – không dè bỏ phiếu chọn hỏa ngục, là phá hoại nền tảng gia đình. Và động trời hơn nữa, là làm nghịch cùng Hội Thánh, là chống lại đức Thánh Nữ Đồng Trinh mà nhà nhà đều có tượng thờ, là biến nhà thờ thành rạp hát, là cho vào “bảo tàng” cả đức Giáo hoàng mà họ hằng kính ngưỡng. Cha mẹ ơi, chỉ bằng cái lá phiếu cỏn con ấy, họ đã phạm toàn tội trọng ghê gớm như vậy mà đâu có biết.
Không! Trong thâm tâm chất phác, lương thiện, dân Sicilian không đi bỏ phiếu để phá hoại nền tảng gia đình. Nhất là chống lại Đức Thánh Nữ Đồng Trinh Mary thì lại càng không. Họ chỉ bỏ phiếu mảnh đất nuôi sống bản thân, gia đình vợ con, chứ không bỏ phiếu ủng hộ đảng phái tả, hữu nào hết. Họ không thể quan niệm hoặc hình dung được niềm vui nào khác lớn hơn là cái niềm vui được làm chủ mảnh đất mà bao đời họ đổ mồ hôi trên đó, được giữ sản phẩm do chính họ làm ra để nuôi vợ con họ cho khỏi đói. Giấc mơ thiên đường của họ là có được mảnh đất để trồng lúa mì, mảnh vườn tí ti để trồng vài gốc ô – liu và chanh, cam, nho đủ để chi dùng trong gia đình. Có vậy thôi. Họ có đòi dê béo rượu nồng, nhà cao cửa rộng, áo quần lả lướt gì đâu. Nói chi đến chuyện trời trăng xa xôi dân chủ, tả, hữu. Những cái đó, đối với họ, nghe xa vời và hoang đường còn hơn cả truyện cổ tích dân gian mà họ vẫn vẽ trên những cỗ xe lừa của họ.
Ngài bộ trưởng Bộ Tư pháp trong nội các đảng Dân chủ Thiên chúa giáo – gốc gác Sicilian – vốn là một tay chống phát – xít ra trò, đã nếm cơm tù của Mussolini một thời gian. Sau vượt ngục và trốn sang nước Anh của thủ tướng Churchill. Tên cúng cơm của ngài Franco Trezza, vóc người cao lớn. Nom có dáng quý phái. Mái tóc vẫn còn đậm màu, tuy ria mép đã ngả màu muối tiêu. Là một anh hùng thứ thiệt. Nhưng ngài cũng lại là một đấng thư lại nghiệt ngã, một chính khách nham hiểm, một đầu óc tính toán rất lạnh.
Văn phòng của ngài ở Rome đặt trong một tòa lâu đài kiểu cổ. Trên tường, ngài không theo đúng nghi thức nghĩa là treo hình tổng thống mà gọi một cách đầy khinh miệt và xách mé là “lão già hủ” – mà treo ảnh “các thánh”: tổng thống Mỹ Roosevelt và thủ tướng Anh Churchill. Chứ sao! Các vị này là quan thầy bảo trợ ngài chứ đâu phải lão già hủ kia. Cửa sổ khung sắt, lắp kính chống nhiệt và có ban – công.
Ngài bộ trưởng thân hành và trịnh trọng rót rượu mời vị khách danh dự của ngài: Croce Male, chúa trùm của bọn đầu trộm đuôi cướp, ông vua không ngai của tất cả các ngành kinh doanh “đen” không vốn, nhưng có đến bốn chục lời.
Họ ngồi nhâm nhi ly rượu bách tuế thượng hảo hạng và bàn phiếm về bối cảnh chính trị ở Sicily và về cuộc bầu cử sắp tới. Họ lai rai bốn nhóm ăn chơi, trong lúc chờ bồi dọn tiệc. Tiệc đặc biệt, mà lại chỉ có một chủ, một khách. Ngài bộ trưởng rì rầm nói lên nỗi lo ngại của mình. Nếu dân Sicilian lại tiếp tục ủng hộ cánh tả thì đản Dân chủ Thiên chúa giáo có thể mất quyền kiểm soát nghị viện, nội các lọt vào tay bọn tả, đạo Thiên chúa dám mất ngôi vị quốc giáo… Vị khách chăm chú, thành kính nghe. Nhưng không nhếch mép. Không nói và cũng không cười. Trang nghiêm và nín thinh. Như tượng.
Vào đến bàn tiệc, vị khách cũng không ừ hữ, cứ ngồi đớp tì tì. Lão thầm cảm phục: mẹ kiếp, đầu bếp thủ đô có khác, nấu ăn ngon không chịu được, hơn Sicily xa. Tổ cha nó, cái xứ sở gì đâu, quê mùa, cù lần đến vậy, mà vẫn còn cứng đầu cứng cổ. Ông Trùm cúi cái đầu to tròn như cái đầu sư tử của lão gần sát đĩa mì Spaghetti xào với nấm. Cái hàm to và rộng như hàm sư tử cứ nhai như máy. Cái mũi như mỏ chim đại bàng của lão hin hin, hít lấy hít để – vừa như con chó đánh hơi xem có thuốc độc hay không, lại vừa như sợ hương vị thức ăn bốc hơi đi mất thì uổng. Đôi mắt láo liên nhìn một cách tham lam mặt bàn ê hề đồ ăn, thức uống. Ngài bộ trưởng cứ rỉ rả, tỉ tê về tình hình chính trị và về quốc vụ. Còn Ông Trùm cứ đớp, cứ ngốn. Ào ào như xẻng xúc.
Cuối cùng, đĩa trái cây và pho – mát cũng đã ngoan ngoãn nằm gọn trong bao tử Ông Trùm. Một ly cà – phê theo nghi thức. Một ly rượu tiêu thực to đùng cũng đã xong. Chiếc ghế bây giờ đã trở lên nhỏ bé đối với cái thân xác vốn dĩ đã kềnh càng của Ông Trùm. Nay, cái thân xác ấy lại nhập thêm một khối lượng thức ăn đồ sộ như vậy nữa, cho nên, cái ghế khốn khổ ấy – mặc dù xương cốt tốt – cũng không chiều được. Bởi vậy, lão ngồi mà cứ ngọ nguậy, nhấp nhỏm. Thấy vậy, ngài bộ trưởng hiểu ý nên đã mời Ông Trùm qua phòng khách. Có ghế bành đồ sộ. Tường bọc da cách âm. Ngài cũng truyền cho bồi dọn rượu. Đích thân ngài bộ trưởng Bộ Tư pháp rót cà – phê mời Chúa trùm tướng cướp, vị khách quí. Ngài mở hộp xi – gà thượng hảo hạng, mời. Ông Trùm lơ đãng nhón lấy một điếu gắn lên môi. Cũng đích thân ngài bộ trưởng bật lửa cho Ông Trùm kéo khói. Sau đó, ngài bộ trưởng khép nép, kính cẩn, chờ đợi lắng nghe những lời khôn ngoan của Ông Trùm. Bao nhiêu công lao khó nhọc của ngài là chỉ để cho phút giây này Ông Trùm kéo một hơi khói dài. Ngửa mặt lên trần, từ từ nhả khói. Cứ như một nhà thơ. Vừa lim dim thưởng thức khoái cảm của một bữa ăn ngon, của thức uống thượng hảo hạng của khói thuốc dịu, thơm. Nhà thơ đang tìm tứ thơ. Nàng thơ vẫn còn ưỡn ẹo, kiểu cách, chưa chịu nhập. Ông Trùm kéo vài ba hơi khói nữa. Ngài bộ trưởng vẫn kiên nhẫn. Hai mắt hau háu nhìn vào miệng Ông Trùm. Hong hóng chờ đợi. Cứ như sợ bất chợt, một lời nào của lão tuôn ra, mà ngài không đón kịp, thì uổng. Ông Trùm sửa lại thế ngồi cho ngay ngắn. Tưởng đâu lão mở máy nói của lão. Nhưng, chưa. Lão vẫn cứ nhìn chòng chọc vào ngài bộ trưởng, vừa nhìn chăm chú, lại vừa có vẻ mơ màng. Cái dáng dấp quí phái của ngài bộ trưởng đếch gây ấn tượng gì tốt đẹp nơi lão.

Photo edit by Sơn râu

Đối với lão khuôn mặt ngài bộ trưởng nom chẳng những không thanh tú thì chớ, trái lại, có vẻ thô, nặng và đần làm sao ấy. Và lão cũng chẳng mảy may cảm thấy sức thu hút, thuyết phục của ngài bộ trưởng. Lão còn khinh miệt bộ ria mép của ngài. Vì theo ý lão, bộ ria mép ấy càng làm cho khuôn mặt của ngài tăng thêm vẻ lưu manh, láu cá. Có thể, khuôn mặt ấy, dáng dấp, cử chỉ ấy có tác dụng nào đó đối với cái gọi là xã hội thượng lưu ở Rome. Chớ đối với dân Sicilian thì “nom dị hợm thấy mẹ”.
Tuy nhiên, con mắt lõi đời của Ông Trùm vẫn tìm được nơi ngài bộ trưởng chỗ đắc dụng cho mình. Ít nhất cũng giúp cho lão củng cố được quyền lực của Mafia chính là quyền lực của lão. Trước kia, lão mắc phải sai lầm ở chỗ là dại dột tưởng mình là anh hùng nhất khoảnh, đếch coi bọn Rome ra cái gì, kết quả là bọn Mussolini lên nắm chính quyền, làm cho lão điên đảo, lao đao và tổ chức “Người anh em” tưởng đâu đứt bóng luôn. Lão rút kinh nghiệm đó và cũng không hề có ảo tưởng đối với đảng Dân chủ Thiên chúa giáo. Tuy nhiên, dù không đi học một trường chính trị nào và cũng ít khi đọc báo, chỉ với cái bản năng của dã thú trước cạm bẫy, Ông Trùm cũng đánh hơi được mối đe dọa nghiêm trọng của một chính quyền cánh tả. Nó không hơn thì cũng không thua gì Mussolini. Những lời chúng hò hét về ruộng đất, về việc quét sạch chính quyền đen của Mafia không phải chỉ là tuyên bố huênh hoang, hứa cuội để hốt phiếu dân. Chỉ khi nào đảng Dân chủ Thiên chúa giáo nắm quyền thì Ông Trùm mới yên tâm làm ăn, và công việc của lão mới suôn sẻ. Bởi vậy, lão mới chịu lặn lội đến tận Rome. Nhưng, lão cũng đến trong tâm trạng mãn nguyện và kiêu hãnh của một ông thầy thuốc giỏi mang thần dược đến cho con bệnh ngày đêm mong mỏi. Lão biết là thuốc của lão sẽ chữa lành bệnh. Lão cũng có cái cảm khoái của một thầy thuốc giỏi: Chữa cho con bệnh khỏi bệnh thì vừa nặng túi, lại vừa được con bệnh mang ơn, trọng nể. Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo và ngay chính ngài bộ trưởng u mê đâu có hiểu rằng lão chữa bệnh cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo cũng là chữa bệnh của lão. Cái khoái ở chỗ cơm no, bò cưỡi, tiền rưỡi mang về. Lại còn được làm “Đấng cứu tinh” của đảng nữa mới hách.
Để cho ngài bộ trưởng chờ cho đến lúc mệt gần đứt hơi rồi, Ông Trùm mới mở “máy nói” của mình. Nhưng lão cũng chỉ mở chút chút để cho từng lời nói của lão rỉ rả tuôn ra:
– Kỳ bầu cử tới, tôi có thể trao thùng phiếu của toàn bộ đảo Sicily cho ngài bộ trưởng…
Sắc mặt của ngài bộ trưởng thay đổi liên tục. Đang từ nét chờ đợi khắc khoải lo âu chợt sáng lên, rạng rỡ.
– Với một điều kiện duy nhất.
Sắc mặt của ngài bộ trưởng đang sáng rỡ thoắt chốc lại tối sầm ngơ ngác. Ngài ấp úng hỏi:
– Điều kiện gì?
– Một tay súng thật ngon lành!
Bộ mặt ngơ ngác của ngài bộ trưởng trở nên “nghệt” hẳn ra.
– Tay súng nào, là ai vậy?
– Turi Guiliano! Tôi không đòi hỏi gì nhiều. Chỉ xin ngài đảm bảo với tôi là không được có bất cứ một hình thức hoạt động nào nhằm chống lại nó. Dù chỉ là giơ một ngón tay lên, cũng không.
Nét mặt “nghệt” của ngài bộ trưởng đổi thành thất vọng:
– Đó là điều tôi không thể nói được.
– Nhưng, sự nghiệp của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, sự tồn vong của nó và thậm chí sự sống chết của chính bản thân ngài là tùy thuộc vào lời hứa ấy.
Bộ ria mép của ngài bộ trưởng nháy nháy:
– Guiliano là cái thứ ba đầu sáu tay gì mà dữ vậy? Bộ ông quên chúng tôi có cả trăm ngàn quân đội và cảnh vệ, cớm chìm, cớm nổi.
– Vắn tắt là thế này: hoặc ngài chọn Guiliano, hoặc ngài chọn cộng sản.
Ngài bộ trưởng xỉu thấy rõ:
– Thằng đó còn nhỏ mà sao chơi độc thủ quá. Quá so với ngay cả tiêu chuẩn Sicilian nhà mình!
– Ấy, bậy nào, trái lại. Hắn là một thằng rất đàng hoàng và rất tốt bụng.
Ông Trùm làm như không để ý tới nụ cười mỉm chua chát, châm chọc, hoài nghi của ngài bộ trưởng. Lão chẳng thèm nói với ông ta, nhưng trong bụng rủa thầm: “Đ.m. đã gặp nó bao giờ đâu mà vội dè bỉu sớm vậy. Gặp nó, ông sẽ phải quỳ mọp, bái phục sát đất”. Ngài bộ trưởng lắc đầu:
– Tôi nghĩ không phải vậy đâu, ông bạn! Một tay đã thí khá nhiều cảnh sát của tôi như vậy thì không thể là một người đàng hoàng tốt bụng được. Bắt tôi phải coi nó là một tay đàng hoàng, tốt bụng khác gì chửi cha tôi. Tôi sẽ ăn làm sao, nói làm sao với giới cảnh sát, chưa nói đến công luận.
Ông Trùm nghĩ: quả thật là mấy năm gần đây, hình như Guiliano đã nặng tay, đã xem thường dư luận. Kể từ khi “hóa kiếp” cho “cha” Dodanna đến nay, nó chơi xả láng với kẻ thù. Cả Mafia lẫn Rome đều bị nó coi là kẻ thù. Đã thế, lại còn chơi ngông. Gởi thư cho báo chí tuyên bố rùm beng nó là một người thống trị miền Tây Bắc Sicily. Thách thức Rome có ngon, có giỏi thì làm gì được, cứ làm đi coi. Nó còn gửi thư cho báo chí, ngạo ngược tuyên bố không “đảm bảo an ninh cho cảnh sát” tại các thị trấn Motelepre, Corleorre, Monreal… Kể từ chập tối cho đến rạng sáng, nếu cảnh sát tuần tiễu ngoài đường thì sẽ bị bắn bỏ, đừng kêu oan. Nó giải thích: đó là giờ nó và các thủ hạ đi thăm viếng gia đình, bè bạn. Và rằng, nó cũng không muốn thủ hạ của nó bị bắt lúc nằm ngủ trên giường ở nhà vào giờ đó.
Báo chí đang đói tin bèn sướng như điên, cho chạy tít lớn suốt trang báo:
– Salvatore Guiliano cấm cảnh sát áp dụng nhục hình Cassetta!
– Kẻ cướp đã cấm cảnh sát tuần tiễu tại các thị trấn trên đảo Sicily!
– Nhà nước! Có giỏi thì chơi tay đôi với Guiliano đi, hắn chấp đấy!
Xấc xược đến thế là cùng. Ngạo mạn đến thế là cùng. Bộ thằng nhỏ này tưởng nó là vua Sicily, những bức tranh biếm họa rất đau: Vẽ Guiliano oai nghiêm đứng giữa quảng trường thị trấn trong khi mấy anh cớm co ro, cóm róm trong lỗ cống. Hoặc thấy bóng Guiliano, mấy anh cớm sợ té đái. Nói cho đúng, ở Montelepre, ban đêm, Maresciallo vẫn cho các toán tuần tiễu đi “Giỡn” đấy chứ. Nhưng, các toàn này quả thật là không dám đi đàng hoàng mà lúc nào cũng trong tư thế tác chiến. Và trại Bellatempo – được tăng cường thêm cả trên trăm lính cảnh vệ – lúc nào cũng canh phòng cẩn mật, vì sợ Guiliano đột kích.
Có một lần, không hiểu vì ý thức trách nhiệm cao độ, hay muốn làm người hùng hay quá ức vì bị thằng nhỏ vuốt râu chế nhạo, mà Maresciallo hùng hổ xua quân lên núi, truy lùng Guiliano. Chưa được nhìn thấy bóng của một thằng lâu la Guiliano, thì anh em cớm đã vội rút lui. Vì hỏa lực và sự chơi bạo của Guiliano. Kết quả: sáu cớm “bể gáo” và trên chục mạng khác được quyền cụt tay hoặc chống nạng trọn đời.
Rome bị mất mặt rõ. Cũng không thể giả câm giả điếc được. Và đám đối lập la lối om sòm, đòi cho nội các về vườn vì bất lực. Nhưng chính sự táo bạo, xấc xược của Guiliano lại có lợi cho Ông Trùm, nếu lão thuyết phục được nó thực hiện kế hoạch của ngài bộ trưởng. Ông Trùm nói với ngài bộ trưởng:
– Tin tôi đi, Guiliano có thể là con cờ hay của mình. Tôi sẽ xúi nó, khích nó tuyên chiến với bọn xã hội và bọn cộng sản trên toàn cõi Sicily. Nó sẽ triệt hạ bộ tham mưu của bọn này. Nó sẽ “hóa kiếp” luôn những thằng đầu não, tổ chức, khích động của bọn này. Nó sẽ là một nắm đất sét, đa năng, đa hiệu và hoạt động trên bề rộng, công khai. Đồng thời sẽ là con dê tế thần để mình trút lên tất cả những máu me, tội ác. Nó sẽ lãnh đủ. Còn tôi và đám “Người anh em” sẽ làm cái phần còn lại ở bề sâu. Ngài thấy chưa, đó là kế hoạch toàn diện, có sự phối hợp tổng lực, rộng rãi của Hội Thánh, của “Người anh em”, của Guiliano. Như vậy, bọn kia đâu còn chỗ nào mọc mũi sủi tăm lên được nữa.
Những gợi ý của Ông Trùm coi bộ vẫn không giúp cho ngài bộ trưởng hình dung được vị trí của thằng giặc non Guiliano trong cái thế trận giành chính quyền của đảng dân chủ Thiên chúa giáo. Ngài vẫn nói, bằng giọng hoài nghi:
– Nhưng, nó đã gây tai tiếng không chỉ trong nước mà cả dư luận quốc tế nữa. Trên bàn văn phòng của tôi hiện có bản kế hoạch hành quân của Bộ tổng tham mưu quân đội, phối hợp với Bộ tư lệnh tối cao cảnh vệ để tiêu diệt hắn. Rồi cũng đã có sắc lệnh treo giải thưởng cái đầu của nó mười triệu lire. Nhiều chứ ít đâu. Do đó, thiếu gì thằng ham, tranh nhau mà lao vào thử thời vận. Còn nữa, trên một ngàn cảnh vệ đã được điều đến tăng cường, chỉ riêng cho thị trấn Montelepre không lớn hơn cái bàn tay. Con muỗi cũng khó lọt. Ấy vậy, mà ông bạn đòi tôi phải ngưng. Và, phải hứa bảo vệ nó. Điều kiện của ông bạn khó nuốt đấy. Này, ông bạn Croce thân mến, ông bạn giao nạp nó cho tôi, nghe coi bộ lọt tai hơnlà yêu cầu tôi phải bảo vệ nó. Lạy Chúa, có đời thuở nào lại ngạo ngược vậy. Rồi đến lúc nuốt không vô, mà khạc cũng không ra. Cái đó còn chết lẹ nữa. Guiliano là một sự sỉ nhục cho nước Ý. Ai cũng cho rằng phải tiêu diệt hắn. Tôi sợ rằng mình chưa sử dụng được lá bài này thì bọn xã hội, bọn cộng sản nó đã biết. Và la toáng lên là mình liên minh với tội ác. Cái đó mới đúng là mình tự đút đầu vào thòng lọng, cho bọn nó siết họng mình. Vả lại, lá bài này cũng không có gì đảm bảo chắc chắn thành công trăm phần trăm.
Ông Trùm nhấp giọng bằng một hớp cà – phê, đưa ngón tay vuốt hàng ria mép. Lão đã thấy hơi “nóng mũi” với thằng cha La Mã đạo đức giả này.
Turi còn sống là rất có giá trị và rất hữu dụng cho ta. Nó đang tạo ra sự nghiệp anh hùng trên núi. Toàn thể dân Sicilian tôn thờ nó. Đêm đêm, mọi gia đình ở Sicily vẫn thêm vào bài kinh, lời cầu nguyện như sau: “Xin Đức Thánh Mẫu che chở cho Guiliano khỏi tay bọn cớm.” Không một thằng dân trên đảo nghĩ đến chuyện phản bội nó. Và bản thân nó cũng là một thằng ranh ma, xảo quyệt hơn bất cứ một tên cướp nào từ trước đến nay. Tôi đã cài gián điệp vào băng của nó. Ấy vậy mà phẩm chất của nó cải hoán luôn thằng gián điệp, đến nỗi thằng này trở thành tôi trung của nó. Nó bảo dân Sicilian nhảy vào lửa họ cũng nhảy ngay. Lúc nãy, ngài hỏi tôi Guiliano là người như thế nào. Thì đấy, nó là thế đấy. Nếu bây giờ ngài có đưa thêm cả ngàn cảnh vệ, thậm chí cả quân đội chính quy đến, tôi e nó sẽ biến ngài thành trò cười cho dân Sicilian. Và, cái đó mới là nuốt không vô, mà khạc không ra. Chưa hết. Chẳng ăn cái giải gì mà hù nhau. Nhưng, cũng phải cho ngài hay: chống lại Guiliano có nghĩa là chống lại tất cả bọn nghèo kiết xác ở Sicily. Bọn này chiếm bao nhiêu phầm trăm trên đảo thì ngài biết quá đi rồi, chứ còn gì nữa. Đó ngài đủ đảm lược chơi với lửa thì xin mời, cứ vào cuộc. Bởi vậy, mình mới phải tương kế, tựu kế. Ai ngu mới chơi trò lưỡng đầu thọ địch. Thằng Guiliano còn sống, nó làm được cái gì? Bất quá nó chỉ quậy được như mấy năm qua là cùng. Trong mấy năm qua, ngài mất những gì? Nhưng, nếu bọn xã hội, bọn cộng sản vồ được chính quyền thì ngài còn gì, mất gì. Quá rõ, thấy chưa? Ấy là chưa kể nó lại quay ra ủng hộ thằng khố hồng, khố đỏ kia nữa thì có mà trời gỡ. Mất Sicily là cái chắc. Mà mất Sicily có nghĩa là – ngài thừa biết – mất luôn cả nước Ý. Khôn cũng chỗ đó, mà dại cũng chỗ đó. Có tí xíu đó thôi. Nhưng nó là chỗ hiểm, chỗ chết người đó, thưa ngài bộ trưởng.
Lão ngưng “máy nói” một chút, liếc ngài bộ trưởng một cái thiệt lẹ. Rồi lại tiếp:
– Ngài phải làm hòa với Guiliano. Đó là cái phao cứu nguy cho ngài đó.
Ngài bộ trưởng hỏi một cách lễ phép:
– Vậy thì phải thu xếp như thế nào đây?
Ngài bộ trưởng giả bộ làm lơ, không nhìn thấy nụ cười kẻ cả của Ông Trùm. Nụ cười ấy làm cho ngài cảm thấy một cái gì đó không thể diễn tả bằng lời được. Đại khái: đó là nụ cười của một thằng La Mã, nhưng lại nở trên khuôn mặt một thằng Sicilian. Còn tệ hơn một bông hồng cắm trên đống phân trâu. Nó khinh khỉnh, mỉa mai, chua chát và đểu cáng làm sao. Ngài bộ trưởng không bỏ qua cơ hội đá gió Ông Trùm một phát, gỡ gạc:
– Những nguồn tin có thẩm quyền cho tôi biết Guiliano cũng không có cảm tình với ông bạn lắm.
Thật không hổ ngươi là một tên La Mã, nhưng lại có máu Sicilian. Chỉ bằng một câu nói nhỏ nhẹ đó, ngài bộ trưởng đã điểm đúng huyệt Ông Trùm. Lão nói lầm bầm trong miệng:
– Nếu nó không đủ khôn ngoan để quên đi mối ác cảm, hận thù thì nó đã đi đời từ ba năm qua rồi, chứ làm gì còn đến ngày nay. Tôi vẫn giữ liên lạc với nó. Tiến sĩ Hector Adonis là một trong những người của tôi, đồng thời là bố đỡ đầu của nó và rất được tin cậy. Ông ta sẽ là trung gian hòa giải giữa tôi với nó. Nhưng thôi, ta quay lại vấn đề đang bàn. Nếu ngài chấp nhận giải pháp tôi đề nghị, thì tôi phải có một vài bảo đảm với ngài về một vài vấn đề cụ thể.
Ngài bộ trưởng đáp lại, giọng điệu nửa như châm biếm, nửa như giễu cợt:
– Chớ bộ ông bạn muốn tôi ký vào một chứng thư mang lời tuyên bố: Tôi, bộ trưởng Bộ tư pháp, rất yêu thương quí mến thằng ăn cướp mà tôi đang truy lùng để bắt giam nó, hay sao?
Một trong những điểm mạnh – và đó là chỗ ăn người – của Ông Trùm là không bao giờ lão để tình cảm xen vào công việc làm ăn. Bởi vậy, ngay lúc đó lão làm như không để ý đến những cử chỉ ba que, xỏ lá, châm chọc, mỉa mai, chế giễu, thậm chí nhục mạ nữa. Lão ghim những cái đó trong lòng, chờ cho khi được việc rồi lão mới quay lại “tính sổ”. Bởi vậy, nghe cái giọng châm biếm của ngài bộ trưởng, lão vẫn tỉnh bơ. Và chỉ đáp lại một cách đơn giản thế này:
– Đâu dám làm phiền ngài đến thế. Chỉ xin ngài cho tôi bản sao kế hoạch hành quân do Bộ tổng tham mưu và Bộ tư lệnh cảnh vệ tối cao soạn thảo để nhằm tiêu diệt lực lượng Guiliano. Đồng thời, bản sao lệnh của ngài cho tăng việc một ngàn cảnh vệ sang Sicily. Tôi sẽ đưa cho nó coi. Và hứa với nó ngài không triển khai kế hoạch hành quân và rút lại lệnh tăng viện cảnh vệ, nếu nó giúp ngài “giáo dục” đám cử tri Sicilian ngu xuẩn và cứng đầu. Ngài khỏi lo những tài liệu này sẽ được dùng để buộc tội hay trách cứ ngài sau này. Có thiếu gì cách khống chế. Chẳng hạn, nói là tài liệu đó bị đánh cắp. Huề cả làng! Vì kế hoạch, sắc lệnh đó cũng chẳng phải loại an ninh quốc gia, tối mật kia mà. Hành quân tiễu phỉ, chứ đâu phải an ninh thời chiến. Và tôi cũng hứa với nó là giúp đảng Dân chủ Thiên chúa giáo thắng cử kỳ tới, thì nó sẽ được miễn xá.

Photo edit by Sơn râu

– A, cái món miễn xá thì không rồi, vì tôi đâu có quyền miễn xá.
– Nhưng lời hứa thì ngài có quyền chứ? Và đến lúc đó, nếu miễn được thì càng hay. Bằng không thì cũng thiếu gì cách nói. Ngài có thừa thông minh mà.
Ngài bộ trưởng bắt đầu nhìn ra chỗ có thể khai thông được vấn đề. Ngài cũng đã thấy – như Ông Trùm đã cố ý cho ngài thấy rằng, đến cuối cùng Guiliano cũng sẽ bị Croce loại bỏ. Bởi vì hai con cọp Croce và Guiliano không thể sống chung trong cái “chuồng” Sicily được. Và chính lão – chứ không phải ngài bộ trưởng – sẽ đảm nhiệm cái vai trò đồ tể đó. Ngài bộ trưởng khỏi lo dính dáng đến cho bẩn tay ra. Như vậy, nếu chỉ là LỜI HỨA, thì dễ thôi.
Ngài bộ trưởng cân nhắc kỹ trước khi quyết định. Ông Trùm nhè nhẹ gật gù cái đầu sư tử của mình và dịu dàng nói:
– Nếu sự miễn xá cho nó coi mà có đường làm được thì tôi sẽ cố gắng xúc tiến.
Ngài bộ trưởng đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng suy nghĩ về những rắc rối, những hệ lụy có thể có của vấn đề. Ông Trùm không thèm nhúc nhích cái đầu để theo dõi cử chỉ và thái độ của ngài bộ trưởng.
– Nhân danh cá nhân tôi mà hứa? – Ngài bộ trưởng đột nhiên lên tiếng. – Nhưng, ông có biết, nếu như vậy sẽ có những khó khăn như thế nào chứ? Tai tiếng không ít đâu. Tại sao vậy? Này, cho hay, chỉ nguyên cái vụ tôi gặp riêng ông, nếu báo chí biết, đừng tưởng về đuổi gà cho vợ là xong đâu. Nó sẽ lột da, lúc thịt. Gớm, báo chí bây giờ nó đang đói tin. Mà không đói tin thì báo chí của bọn đối lập cũng moi ra, cũng thổi lên. Thật ra, có đúng là ông cần phải có bản sao kế hoạch hành quân và lệnh tăng viện cảnh vệ… thì mới được việc không? Bộ không còn cách nào khác sao?
– Không có hai cái đó kể như công cốc!
Giọng lão ta lúc đó vừa có uy lại vừa có sức thu hút. Cứ như giọng hát của một đại danh ca. Lão nói tiếp:
– Tôi cần có bằng chứng cụ thể cho nó thấy tôi với ngài là chỗ bồ bịch. Đồng thời, cũng phải có một chút phần thưởng cho cái công lao hãn mã của nó chớ. Cả tôi và ngài kể như xong việc, khi tôi cho nó coi bản sao kế hoạch và sắc lệnh. Và cho nó biết muốn tự cứu, thì nó phải diệt bọn kia, nghĩa là tôi hứa ngài sẽ không triển khai kế hoạch và thực thi sắc lệnh nếu nó giúp mình thắng cử. Vả lại, không phải lo đối phó với các cuộc hành quân thì nó mới rảnh tay hoạt động cho mục tiêu của mình chứ. Sự kiện tôi có bản kế hoạch này không được thực thi sẽ là bằng chứng ảnh hưởng của tôi đối với Rome. Có như vậy Guiliano mới tin lời tôi chứ.
Ngài bộ trưởng rót thêm cho Ông Trùm một ly cà – phê nữa.
– Đồng ý, – Ngài bộ trưởng nói. – Tôi tin vào chỗ bè bạn giữa chúng ta. Tất nhiên là phải giữ bí mật sự giao tiếp này. Nhưng, tôi cũng lo sợ cho sự an nguy của ông đấy. Khi Guiliano đã đáp ứng yêu cầu của mình, mà nó vẫn không được miễn xá thì ông lãnh đủ.
Ông Trùm gật đầu, nhưng không nói gì. Lão nhấm nháp ly cà – phê. Ngài bộ trưởng ngắm nghía lão thật kỹ, rồi nói:
– Ông và nó không thể tồn tại trên hòn đảo đó được.
– Tôi sẽ dành cho nó một phòng, – Ông Trùm cười lớn, đáp, – Còn chán thì giờ mà, lo gì!
– Đúng, đúng! – Ngài bộ trưởng hoan hỉ nói. – Và nên nhớ điều này. Nếu tôi hứa đảm bảo với đảng của tôi về thùng phiếu của Sicily trong kỳ bầu cử sắp tới này, và, nếu tôi giải quyết thắng lợi trường hợp Guiliano, thì chưa ai có thể nói trước được đời tôi sẽ “lên hương” như thế nào. Nhưng, dù có leo lên đến đâu tôi cũng sẽ không quên ông bạn già của tôi. Có điều, ông phải nghe tôi.
Ông Trùm nhúc nhích cái thân xác đồ sộ của mình trong chiếc ghế bành cũng đồ sộ chẳng kém. Và lão trầm ngâm, cân nhắc xem những gì mình sẽ nhận được có đáng cái công mình đẩy thằng cha Sicilian có cái đầu nhọn như trái ô – liu kia lên ghế thủ tướng nước Ý không. Hắn ngu xuẩn quá! Tốt, sự ngu xuẩn của hắn lại là điểm có lợi cho mình. Vì, nếu có trở mặt thì sự ngu xuẩn của hắn càng dễ đưa hắn đến chỗ diệt vong. Bằng giọng dịu dàng và thành thật – lão ăn tiền cũng là nhờ cái giọng có vẻ chết người này đấy – Ông Trùm nói:
– Cám ơn ngài đã có nhã ý nâng tôi lên làm bạn của ngài. Và cũng xin nhân danh chỗ bạn bè đó, tôi hứa sẽ cố gắng làm những gì tôi hứa sẽ cố gắng làm những gì cần phải làm mà tôi có thể làm được để góp phần vào sự nghiệp của ngài. Vậy là ta đã thỏa thuận với nhau. Chiều mai tôi quay về Palermo. Và nếu ngài sẵn lòng, xin ngài hãy trao cho những giấy tờ vừa nói đó vào buổi sáng, tại khách sạn tôi đang ở. Còn về phần Guiliano, nếu sau khi nó đã hoàn thành nhiệm vụ mình trao, mà ngài vẫn thấy không thể xoay xở để nó được miễn xá, thì tôi sẽ thu xếp cho nó “biến” khỏi nước này. Sang Hoa Kỳ chẳng hạn, hay một nơi nào đó không thể gây cho mình những rắc rối sau này.
Hai người đã chia tay nhau như thế đó.
Trezza gốc gác Sicilian, kẻ đã chọn cái vị thế chống đỡ xã hội. Croce Malo, cũng gốc gác Sicilian, kẻ đã coi cơ cấu luật pháp xã hội – cụ thể Rome – như một thứ do quỉ dữ áp đặt lên thế gian, để nô lệ hóa lão ta. Bởi, Croce tôn thờ và tin vào một thứ tự do theo quan niệm riêng của lão. Đó là, chỉ dựa vào một thứ tự do theo quan niệm của riêng lão. Đó là, chỉ dựa vào sức mạnh của mình, chứ không vào sức mạnh của bất cứ ai khác. Sự tự do có được là do lòng trọng nể mà mọi người dân Sicilian khác dành cho mình.
Bất hạnh thay – Ông Trùm ngẫm nghĩ – Định mệnh đã tai quái, oái oăm, khi đặt lão vào cái thế phải đối nghịch với Guiliano, một người chỉ biết tuân theo tiếng nói trái tim, chứ không phải như phường đạo đức giả, kiểu ngài bộ trưởng.
Trở về Palermo, Ông trùm đã triệu thỉnh giáo sư Hector Adonis. Lão đã kể cho ông giáo sư nghe cuộc gặp gỡ giữa lão và ngài bộ trưởng. Cũng như những gì họ đã thỏa thuận, lão cũng cho ông giáo sư coi những tài liệu – Bản sao kế hoạch hành quân… nhận được từ tay ngài bộ trưởng. Con người có vóc dáng nhỏ bé kia tỏ ra lo âu. Thế là “hố” nặng rồi. Bởi vì chính đó là cái mà Ông Trùm muốn thấy. Con mồi đã bắt đầu mon men lại gần cái bẫy. Có đường rồi.
– Ngài bộ trưởng đã hứa với tôi rằng ngài sẽ không triển khai kế hoạch và sẽ rút lại lệnh tăng viện cảnh vệ sang Sicily. Nhưng, để đổi lại, thằng con đỡ đầu của ông phải vận dụng tất cả quyền lực của nó để ảnh hưởng một cách thuận lợi cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo trong kỳ bầu cử toàn quốc sắp tới này. Nó phải vững và mạnh. Điều đó tốt, rất tốt và rất cần thiết. Nhưng nó đừng quá lo lắng cho bọn khố rách áo ôm kia làm gì. Kệ cha chúng nó. Ôm rơm chi cho rặm bụng. Nó phải nghĩ, phải lo đến chính cái thân của nó ấy. Nó phải hiểu rằng liên minh với Rome, với ngài bộ trưởng Bộ tư pháp là một cơ may ngàn năm có một. Trezza nắm chóp bọn cớm, bọn cảnh vệ và luôn cả các ông tòa nữa. Và một ngày đẹp trời nào đó, rất có thể ngài ngồi chễm chệ trên ghế thủ tướng nước Ý. Và, nếu vậy, sự kiện Turi Guiliano ngang nhiên quay về, sống an toàn dưới mái ấm gia đình, đâu phải là chuyện khó. Thậm chí ngay chính bản thân nó cũng có vai vế trong chính trường nước Ý, nếu nó muốn. Dân Sicilian khoái nó dữ lắm mà. Vậy thì, nắm cái ghế dân biểu, thượng nghị sĩ, nào có phải chuyện hái sao trên trời? Nhưng muốn vậy, ngay từ bây giờ, nó phải tha thứ và phải quên. Tôi tin rằng ông có ảnh hướng lớn đối với nó.
– Nhưng làm sao nó có thể tin vào lời hứa của Rome? – Ông Adonis hỏi. – Turi đã luôn đấu tranh cho người nghèo. Nó sẽ không bao giờ làm điều gì có hại cho người nghèo.
– Nó đâu phải là cộng sản, phải vậy không nào? Ông hãy thu xếp để tôi gặp nó. Tôi sẽ thuyết phục nó. Tôi và nó đều là những người có thế lực ở Sicily này. Tại sao chúng tôi không thể hợp tác với nhau được nhỉ. Trước kia nó từ chối hợp tác với tôi. Thôi thì cũng được đi. Nhưng nay, khổ quá thời thế đã thay đổi rồi. Bây giờ sự hợp tác giữa tôi và nó là con đường giải thoát cho chính nó. Và cho cả anh em ta, nghĩa là, cho cả tôi và cả ông. Bọn cộng sản sẽ sướng rên, nếu nó nghiền nát được cả tôi lẫn nó. Bọn cộng sản đã chẳng nói rõ, chúng không dung thứ loại côn đồ, ác ôn như tôi đã đành. Mà ngay như anh hùng kiểu Guiliano, cũng không tha. Tôi sẽ đến gặp nó, ở bất cứ nơi nào nó muốn. Cứ nói với nó, thằng già Croce này đảm bảo lời hứa của Rome. Còn nữa, tôi đảm bảo sự miễn xá cho nó, nếu đảng Dân chủ Thiên chúa giáo thắng trong cuộc bầu cử toàn quốc sắp tới. Tôi xin lấy mạng sống và danh dự của tôi ra mà thề như vậy.
Hector Adonis hiểu rằng “lão già lựu đạn” này đã liều mình chấp nhận hậu quả của sự tức giận của Guiliano, nếu ngài bộ trưởng Bộ tư pháp hứa cuội.
– Tôi có thể mang các tài liệu này đến cho nó xem không?
Ông Trùm ngẫm nghĩ một lúc. Lão biết rằng một khi đã đưa thì đừng hòng lấy lại. Và, như vậy, trong tương lai, những tài liệu này trở thành vũ khí, thành sức mạnh của Guiliano.
Nguy hiểm hơn nữa, Guiliano sẽ trở thành bất khả xâm phạm đối với Rome. Nhưng lão mỉm cười với giáo sư Adonis:
– Được chứ, ông giáo sư! Dĩ nhiên là ông giáo sư có thể đem cho nó xem chứ.
Trong khi chờ đợi giáo sư Hector Adonis, Guiliano ngẫm nghĩ xem nên hành động như thế nào. Hắn biết rằng chính cuộc bầu cử sắp tới, và sự thắng lợi của cánh tả trong cuộc bầu cử vừa qua đã khiến cho Ông Trùm đến xin hắn cứu viện.
Trong vòng bốn năm vừa qua, dân Sicilian khố rách áo ôm đã được Guiliano tặng không cho cả trăm triệu lire chứ đâu phải ít. Nhưng đào đâu ra núi của đó? Tất nhiên, thì cũng đi “lượm” của bá tánh thập phương có của, nhưng không có lòng. Tuy nhiên đâu phải dễ dàng mà “lượm” được. Phải có tí ti quyền lực.
Chẳng hiểu có phải là do “đa thư” mà “loạn tâm” hay không, nhưng cứ ngốn những sách về kinh tế và chính trị do ông thầy Adonis cho mượn, Guiliano càng bối rối. Thực tế lịch sử cho hắn thấy trên khắp thế giới – có lẽ trừ nước Mỹ ra – cánh tả là hy vọng độc nhất của dân khố rách. Thương dân gnhèo thì nó rất thương. Nhưng chơi chung với mấy anh hồng hồng hay mấy anh đỏ chót thì khỏi. Kỵ tối đa là khác. Vì mấy cha này chống lại Hội Thánh và chê bai cái kiểu mẫu tổ chức gia đình của người Sicilian là những thứ mà hắn tôn thờ. Hắn cũng biết thừa đi nếu mấy cha xã hội, mấy cha cộng sản mà lên nắm chính quyền thì mấy cha không có tà tà như chính quyền của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo trong cái chuyện vì dân diệt bạo đâu. Đám côn đồ, thảo khấu bị chơi sát ván đã đành. Anh hùng Lương Sơn Bạc cũng xin miễn luôn. Đấy là cái thế tiến thóai lưỡng nan của Guiliano.
Màn đêm đã buông xuống. Guiliano bâng khuâng nhìn những đám lửa rải rác của đám lâu la chập chờn trên khắp rặng núi, tai nghe văng vẳng từ loa phóng thanh đặt ở quảng trường thị trấn theo gió vọng lên. Montelepre vừa bằng cái lòng bàn tay, lốm đốm ánh đèn. Một lát nữa, Adonis sẽ tới, bàn chuyện. Sau đó hắn sẽ cùng ông xuống núi. Trở về Montelepre thăm nhà. Và tất nhiên, La Venera tuy là hơi “cũ”, nhưng mỗi lần vẫn mỗi bốc lửa, lần sau không thua lần trước. Vẫn ngon lành. Bề gì cũng gái một con. Mấy lần sau này, Guiliano ngang nhiên trở về Montelepre. Không sợ hãi gì, vì hắn đã an toàn “kiểm soát” mọi hoạt động của thị trấn. Đám cảnh vệ ở Montelepre hết dám hó hé. Tên cớm nào to gan, bạo phổi dám đến gần nhà bà già hắn thì kể như rồi đời. Bất kể ngày đêm, các tay em của nó sẽ diệt không sót một mống.
Khi tới nơi, giáo sư Adonis được đưa vào hang. Cũng bàn, cũng ghế, cũng đèn điện. Có điều đèn do pin của nhà binh Mỹ. Thầy trò ôm hôn nhau, đủ lễ nghi, lệ bộ. Ông giáo sư trao cho nó một xấp tài liệu và nói:
– Thầy nghĩ con nên nghiên cứu ngay tài liệu này. Nội dung quan trọng và lý thú lắm đấy.
Đó là bản sao lệnh của ngài bộ trưởng Bộ tư pháp về việc tăng viện trên một ngàn cảnh vệ sang Sicily để tiễu phỉ. Bản kế hoạch hành quân của bộ tổng tham mưu đã được Guiliano chăm chú nghiên cứu một cách thích thú. Hắn không cảm thấy sợ hãi gì. Cùng lắm thì rút sâu vào trong núi. Nghỉ “chơi” một thời gian. Cả một đạo quân ăn chực nằm chờ cả một năm. Chịu nổi không? Chịu không thấu thì phải rút. Và Guiliano lại ca khúc “đường ta ta cứ đi”. Nếu cảnh vệ đủ đảm lược phiêu lưu vô núi, thì xin mời: Thiên la địa võng đang sẵn chờ. Bởi vậy, Guiliano yên trí lớn.
– Ai đưa cho bố những thứ này?
– Lão Croce! Chính bộ trưởng Bộ tư pháp trao cho lão.
Turi Guiliano tỏ ra không ngạc nhiên về sự “đi đêm” này. Nó mỉm cười:
– Bộ họ muốn hù tôi chắc? Rặng núi này coi vậy chứ sâu hiểm lắm. Đủ sức nuốt hết ráo bọn lính do họ tăng viện tới. Để rồi bố coi, con vẫn cứ nằm ngủ, ngáy o o dưới gốc cây.
– Lão Croce muốn gặp con. Lão sẵn lòng đến bất cứ nơi nào do con chọn. Lão đưa bản kế hoạch và sắc lệnh này như một bằng chứng thiện chí của lão. Cũng vẫn chỉ là một vở cũ soạn lại: ân và uy, cây gậy và củ cà – rốt. Lão có một đề nghị muốn thảo luận với con.
– Ý kiến của bố? Nên gặp lão không? – Guiliano hỏi và đăm đăm nhìn giáo sư Hector Adonis.
– Nên.
– Thế thì cứ gặp ngay tại nhà bố ở Montelepre. Cần gì phải đi đâu xa xôi. Bố có dám chắc lão dám liều cái mạng cùi của lão vậy không?
– Có gì mà dám hay không dám? Lão được bố hứa đảm bảo an ninh. Và bố cũng tin là con cũng hứa với bố như vậy. Lời hứa của con thì bố tin hơn ai hết.
– Dạ, con xin hứa. – Guiliano cầm tay ông Adonis, siết chặt. – Cám ơn bố về bản kế hoạch này. Và cả sách vở bố mang lên cho hôm nay. Trước khi ra về, bố làm ơn giải tỏa giùm con ít thắc mắc. Về vấn đề kiến thức thôi, được không ạ?
– Dĩ nhiên.
Suốt đêm đó, bằng giọng hấp dẫn, ông Adonis đã giảng giải những chỗ khó khăn trong các sách nó đã đọc mà không hiểu. Guiliano chăm chú nghe. Thỉnh thoảng nêu thắc mắc. Giống y cái cảnh đã từng diễn ra từ bao năm trước giữa thầy và trò. Và cũng chính trong đêm đó, ông Adonis đã gợi ý cho Guiliano về bản chúc thư. Tài liệu ấy sẽ ghi lại những diễn biến quan trọng xảy ra trong băng. Và những vấn đề tuyệt mật như cuộc “đi đêm” giữa Ông Trùm Croce và ngài bộ trưởng Bộ tư pháp. Các tài liệu này sẽ là bửu bối, là cái dù bảo vệ Guiliano. Bởi vì Ông Trùm và ngài Bộ trưởng giở trò phản phé thì tài liệu này sẽ được tung ra cho công luận. Chắc chắn hai tay kia thân bại danh liệt lập tức. Nghĩa là, nếu Guiliano bị chết chìm, nó sẽ kéo theo cả Croce và Trezza.
Nghe và hiểu ra, Guiliano mừng rơn. Phấn khởi rõ. Ngay cả lúc nó không có quyền lực – thậm chí có chết đi chăng nữa – thì một trăm năm sau có thể người ta sẽ tình cờ phát hiện ra tài liệu đó. Như nó và Pisciotta đã tình cờ phát hiện ra bộ xương con voi của Hannibal. Tuy nhiên điều mà nó không thấy, nhưng cáo già Croce lại thấy rõ, đó là, con voi và bộ xương con voi, khác nhau một trời một vực.

Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Google photo

13. Ngó lên sở thượng

Trong sách Trang Tử Nam Hoa kinh, có truyện Tiêu Dao Du, tạm dịch là Đi Tiêu Dao. Thoạt nghe qua, danh từ ấy đượm vẻ huyền bí, siêu hình. Nhưng suy đi gẫm lại, Tiêu Dao là thánh hiền ngày xưa cũng đồng nghĩa với “đi bát phố”, “đi phất phơ”, “thả tà tà” hoặc lêu têu kháng chiến, “cà nhổng chống xâm lăng”. Mỗi thời thế, con người đi tiêu dao tùy khả năng tài chánh và phạm vi cương tỏa của mình.

Vào năm 1948, thời kháng Pháp, tôi được dịp đi tiêu dao nhiều phen. Con người tôi bẩm sinh yếu ớt, luôn luôn có bịnh trong lục phủ ngũ tạng, hễ đến bác sĩ hoặc y tá là luôn luôn được chứng nhận… sắp ho lao đến nơi. Thật ra, tôi là người “mình dây”, ốm nhưng dẻo dai lắm, đi bộ lai rai suốt ngày cũng không thấy mệt; thuốc lá, cà phê, trà tàu là món “xăng nhớt” cần thiết hơn là cơm canh.

Tôi đến quận Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thì nghe tin mừng: Thằng Đinh, bạn đồng học ở Cần Thơ hồi thời “tiền khởi nghĩa” bây giờ sống trong cảnh sung túc, cưới vợ giàu tại làng Long Phú.

“Dịp may hiếm có, bỏ qua rất uổng. Tại sao ta chẳng đến nhà bạn, trước là thăm viếng, sau là ăn chơi vài ngày”.

Tôi dò đường đến nhà thằng Đinh, cách đồn giặc Pháp chừng ba cây số. Vừa thấy dạng nó từ xa là tôi nhận ngay: nước da đen ngòm, lỗ mũi cao và cái lưng tôm. Hồi học tại trường Phan Thanh Giản (Cần Thơ) thằng Đinh nổi danh hào hoa phong nhã, ăn xài như nước và đánh lộn rất giỏi. Nó đang lui cui… cưa cây, một khúc cây gòn quá to.

Vừa gặp tôi, thằng Đinh hò reo.

– Hay quá ta! Thời buổi này, gặp nhau là điều sung sướng. Làm chức gì rồi?

Tôi đáp:

– Ở không, chơi lai rai. Còn mày?

– Cũng vậy thôi. Miễn là không theo Tây. Vô nhà chờ!

Nhà giống như căn chòi, cất tạm nhưng bày biện khéo léo. Thằng Đinh cho biết:

– Mới dời về đây chừng hai tháng. Bề ngoài coi vậy chớ… nội dung còn bảnh lắm.

Vừa lúc ấy, một thiếu nữ xinh đẹp, mang thai bước ra chắp tay chào. Thằng Đinh giới thiệu cô vợ cưới hồi năm ngoái. Cô ta có vẻ “con nhà giàu”, đi đứng khoan thai, tay chân trắng nõn. Bỗng dưng thằng Đinh chạy ra sân, vác vô một khúc cây gòn, dựng đứng trên mặt đất:

– Tốt không? Đây là ghế ngồi, xinh đẹp vô cùng. Mình để như vầy thì cái da cây gòn xanh tươi mãi. Giống như cẩm đôn của nhà vua, phủ gấm xanh.

Tôi phục thầm sự tính toán ấy. Cây gòn thuộc vào loại dễ trồng, chặt nhánh cắm xuống là mọc nhanh. Gốc cây gòn này đặt trên nền sẽ lấy hơi thổ mà sống lai rai, tuy không châm rễ ra lá nhưng tế bào của nó lâu chết. Không sợ ai trộm cắp. Không sợ Tây đốt phá.

Chúng tôi ngồi trên hai khúc cây gòn mát rượi, uống trà “chẻo xụi”. Vợ thằng Đinh lui cui nấu cơm, bắc nước làm thịt gà. Và trong khi chờ đợi, chúng tôi uống lai rai rượu chát trắng, ăn vài con khô lóc. Đúng là kiểu “văn minh nhàn rỗi”. Rượu mua ngoài vùng tạm chiếm. Đêm ấy chúng tôi nằm gần nhau, kể chuyện hàn huyên từ thuở rời mái trường. Đại khái đứa nào cũng khoe khoang mấy lần chết hụt vì bom đạn và tự phong cho mình hai chữ trường thọ, phước đức. Mãi đến khuya, chờ khi vợ thằng Đinh ngủ say, ngáy khò khò trong buồng, tôi mới hỏi:

– Tại sao mày phiêu bạt tới xứ này? Hồi xưa, tao nhớ rõ ba mày làm đại điền chủ ở Bạc Liêu.

– Sự tích còn dài dòng lắm. Năm 1946, tao theo Thanh niên Tiền phong rồi mang bịnh tại xóm này, nhờ bà con của vợ tao bây giờ đó nuôi nấng. Họ cảm mến tao, vì tao hiền như cục bột, ăn rồi ngủ, họ ngạc nhiên vì tao là đứa nhu mì thế gian ít có.

– Mầy mà nhu mì? Ăn gởi nằm nhờ ở nhà người ta mà phách lối thì chết đói luôn. Mầy đóng kịch nhu mì tạm thời phải vậy không? Mầy sợ chết, sợ người ta điềm chỉ cho Tây bắt.

– Lẽ dĩ nhiên. Nhưng còn lý do khác.

– Sau khi nhờ bà con săn sóc, sức khỏe bình phục, tao nghĩ cách đền ơn. Nhưng đường xá xa xôi, giấy tờ không có, tao không dám đi. Tao nhờ người bà con bên vợ mang bức thư tới Bạc Liêu. Người bà con đó trở về, hoảng hồn vì cha mẹ tao giàu quá mức.

Thằng Đinh liếc buồng ngủ của vợ rồi nói khẽ:

– Giàu bằng mười ông già vợ tao bây giờ. Đúng lý ra, còn giàu hơn nữa.

Giọng nói thằng Đinh im bặt. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng nó không khoe khoang. Hồi đi học, tôi đã nghe một học sinh ở Bạc Liêu cho biết: cha của thằng Đinh nổi danh ăn chơi hào hoa phong nhã, nuôi một con cọp bên nhà để cho ai nấy xem chơi. Cọp này suýt sút chuồng mấy lần… khiến đám tá điền báo động, đánh trống đánh mõ.

Tôi hỏi:

– Ông già mầy cho bao nhiêu?

– Ông đồng ý cho tao cưới vợ nhưng tiền bạc thì ổng xiết hầu bao. Trong gia đình ai nấy phiền hà xem tao như đứa con bất hiếu nên chia dứt khoát một phần gia tài cho tao hưởng. Đó là bầy trâu ở Vĩnh Thạch. Tao lập tức tới liền, bán đổ bán tháo tất cả 250 con trâu. Mấy người tá điền hoan nghênh quá xá vì tao bán hạ giá. Ai mua ba con trâu thì được tặng thêm con trâu thứ tư. Rồi họ đãi tiệc, ca ngợi tao là “cậu út” biết giác ngộ. Tao ẵm gần 20 ngàn đồng về Long Phú cưới vợ linh đình. Tiền đó tao đưa cho vợ tao cất giữ, gọi là làm vốn. Bấy giờ bà con bên vợ thấy tao là đứa đàng hoàng nên cho tao ăn lời…

Gà gáy điểm canh ba. Thằng Đinh lồm cồm ngồi nhúm lửa nấu chè đậu xanh. Tôi ngăn cản:

– Ăn nhiều bịnh chết. Tụi mình còn lâu ngày, cứ ăn lai rai.

Thằng Đinh cười lại:

– Bậy nè! Thời giặc giã mình nên hưởng thụ trong phạm vi có thể. Sau khi làm xong phận sự thì tráng sĩ được quyền ăn uống no say!

– Thôi đi mầy ơi! Mầy làm phận sự gì?

– Bộ mầy tưởng tao làm chức nhỏ hả? Tao vừa lãnh chức trong ban giáo dục, chống nạn mù chữ hai ba làng.

Tôi lắc đầu:

– Dóc hoài! Giao một làng cho mầy, mầy làm không xong. Có lẽ nhờ mầy mà dân chúng thêm người dốt. Thí dụ như thằng con nhà mầy sắp sanh ra…

– Bậy nè! Thời thế tạo anh hùng. Giáp ranh với làng này, còn hai làng đặc biệt lắm, toàn là người Miên, làng Tài Văn, làng Liêu Tú… Tao coi sóc hai làng đó nhưng chưa biết làm sao, còn chờ kế hoạch…

Tài Văn, Liêu Tú hai địa danh nghe lạ tai quá. Tôi nằm mơ màng thử hình dung khung cảnh. Chắc là có tre xanh, cây thốt nốt, có chùa.

– Ở đó vui không?

Thằng Đinh trả lời:

– Tao chưa đi tới. Gần bót Tây, đi lang bang là nạp mạng. Ruộng trống trơn hễ mình chạy thì ngoài đồn Ngạn Rô, Tây bắn liền. Nghe nói đồn Ngạn Rô có “thằng xếp” bắn đại tài. Nó có cây súng lạ lùng, gắn ống dòm. Hễ cái bóng của mình lọt vô ống dòm là nó bóp cò, bá phát bá trúng.

Nồi chè sôi ùng ục. Thằng Đinh quạt lửa. Bỗng nhiên một tràng súng liên thanh nổ giòn gần lắm. Tiếp theo là tiếng “mọt chê”, tiếng súng “mút” rời rạc. Thằng Đinh vẫn ung dung mở tủ.

– Đường cát trắng. Nấu chè ngon một phen.

Tôi bắt đầu lo ngại:

– Súng gần quá. Tụi nó vô bất tử thì làm sao? Có ai canh phòng, đánh mõ đánh trống, thổi tù và không?

– Cần gì! Xóm này chẳng còn ai là nhân vật quan trọng trừ ra tao với mầy. Bây giờ thì ăn. Và tiếng súng hồi nãy nhắc nhở bọn mình nên ăn gấp.

Tôi cầm đũa nhắc nhở:

– Kêu vợ mầy ăn cho vui.

– Thôi. Gần sanh đẻ, nó mệt. Hơi đâu mà lo.

Nồi chè khá to, mỗi đứa ăn ba chén mà chưa cạn. Thằng Đinh vét nồi, múc cho tôi:

– Con người tử sanh hữu mạng. Trước sau gì cũng chết. Kẻ giàu sang, quyền cao tước trọng cũng như bọn mình thôi…

– Cái triết lý của mầy nghe nhàm quá rồi. Thằng Đinh cau mày:

– Tao muốn tuyên bố rằng: Tử thần viếng ta bằng một trăm nẻo đường. Nếu cẩn thận thì ta chỉ đề phòng được chín mươi chín nẻo. Luôn luôn tử thần có sẵn một nẻo trống trải để viếng thăm bất ngờ bất cứ ai.

Tây vô! Tây vô!

Vài người chạy ngang nhà thằng Đinh đánh thức nó. Tôi ngơ ngác đứng trước sân, vừa sợ sệt, vừa xấu hổ. Rủi mà bị Tây bắt sống phen này thì… nhơ danh trong sử sách! Nụ cười vẫn nở trên môi thằng Đinh. Nó chạy lại đầu xóm rồi trở về, hơ hải.

– Nguy rồi! Một cha nội ở trong này trốn ra ngoài đồn chỉ đường chỉ nẻo cho thằng Tây Ca Rê.

– Ca Rê là ai?

– Là xếp đồn Long Phú. Tụi mình nên lánh mặt, bằng không thì bị nhìn mặt.

– Mình chạy theo anh em ở đằng “cơ quan” chớ?

Sau vài phút suy nghĩ thằng Đinh nói khẽ:

– Mấy ổng là nhơn vật quan trọng mình chạy theo thì chết chùm. Chi bằng mình giả dạng thường dân, chạy cà nhỏng ra sau ruộng, chắc ăn hơn. Chẳng lẽ tụi nó kéo đại đội hùng binh ra ruộng để bắt hai đứa tay không, ốm nhom ốm nhách như tụi mình?

Rồi nó nắm tay tôi, thúc hối:

– Đi là vừa. Tụi nó gần tới rồi đó. Tụi nó bơi xuồng, chừng 20 chiếc.

– Còn vợ mầy?

– Vợ tao là dân của… đồn Tây, có lãnh giấy “lách xê”, dán hình đàng hoàng. Thời buổi giặc giã, đàn bà con nít với người già là… sướng nhất. Hơn nữa, vợ tao có chửa, bên vợ tao thiếu gì người làm việc ở tại dinh quận Long Phú của tụi nó.

Súng nổ thưa thớt. Ngoài ruộng, mấy người nông phu ung dung đánh trâu về phía “hậu cứ”, càng xa mé sông càng tốt. Họ ngoắt, mời chúng tôi hút thuốc. Nhưng sau khi nói vài câu khôi hài thằng Đinh tạm biệt họ:

– Đừng tập trung, dụm năm dụm bảy. Tụi nó thêm nghi ngờ. Nhứt là con trâu này. Tụi nó ngứa tay, bắn con trâu rồi lạc đạn làm hư giò hư cẳng bọn ta.

Chúng tôi bắt đầu chạy trên bờ ven nhỏ. Đến gốc cây tràm, thằng Đinh dừng lại, trèo lên rồi nói:

– Quá xá rồi! Nó đổ bộ kéo ra ruộng…

– Thiệt vậy sao?

– Chạy nữa! Mau lên. Cứ theo tao!

Tôi chẳng hiểu tại sao thằng Đinh lại đâm đầu về hướng đồn Ngạn Rô. Cách đồn ấy không xa, dường như còn đồn Bàu Biển. Ghê quá. Từng hàng tre xanh tươi giăng ngang trước mặt, như bức tường thành. Bên kia hàng tre là đồng trống hoang, giáp đến mé sông Hậu Giang, vùng kiểm soát của giặc Pháp.

Người ở xứ xa mới tới như tôi làm sao dám cãi về chiến thuật quân sự với thằng Đinh, ông thổ công ở vùng Long Phú? Lát sau thằng Đinh dừng lại, ngồi xuống bên bụi dứa gai, bên bờ con rạch nhỏ đầy ô rô, cóc kèn. Tôi hỏi:

– Chờ cơ hội “chém vè” hả?

Nó đáp:

– “Chém vè” làm gì, dơ quần dơ áo. Đứng đây chờ thời, được rồi. Mầy biết tại sao có danh từ đó không?

– Thì mình giả như con cua đinh, con cần đước…

– Chưa đúng. Con cua đinh với con cần đước khác nhau. Cua đinh có cái vè mềm, giống như xương sụn, ở xung quanh có mai. Nó vùi xuống bùn thật nhanh, nhờ cái vè chém bùn đó.

– Hiểu rồi. Nhưng tại sao mình không vô xóm nhà sau hàng tre đàng kia kiếm nước uống chơi. Xóm nào vậy?

– Đó là làng Liêu Tú, đằng kia là làng Tài Văn mà tao nói hồi tối đó. Tao lãnh trách nhiệm giáo dục trẻ em, người lớn. Ngặt tao chưa làm quen với bà con. Mình vô xóm đột ngột, họ nghi ngờ. Mầy biết tiếng Miên không?

– Làm sao tao biết! Thôi thì đành ở ngoài này.

Chúng tôi hút thuốc liên miên, nhìn vòng quanh. Đồn Bàu Biển. Ngạn Rô đến đồn Long Phú, rặng tre xanh và con rạch Long Phú, nhà thằng Đinh. Dường như chúng tôi bị bao vây vòng tròn. Nắng chang chang. Súng vẫn nổ. Thằng Đinh dọn một chỗ cao ráo, dưới gốc bụi dứa gai, ngắt bỏ mấy cái lá lòng thòng rồi bảo:

– Nằm xuống cho khỏe lưng. Tao canh chừng tụi nó. Sướng quá, lần đầu tiên tới thăm, mầy gặp một kỷ niệm vui vui… Tao chạy như vầy chừng vài chục bận rồi. Lần này, mình chạy… có lý. Đôi khi tao chạy “xịt” vì chẳng có Tây tà nào vô xóm. À! Ở đầu xóm, thằng cha Tư Đông nhè đặt tên con là thằng Tây cho đúng điệu Đông Tây Nam Bắc. Bữa đó, thằng chả kêu réo đứa con: “Tây ơi! Tây!” Cả xóm ngỡ là Tây vô, chạy ẩu… Rồi cả xóm bắt buộc thằng chả sửa tên con là thằng Hai…

– Ngộ quá. Chuyện khôi hài đó đáng ghi sổ tay…

Nói xong, tôi ngáp dài ngủ thiu thiu để dưỡng sức. Đêm rồi, thức đến quá canh ba. Mấy ngày trước lại phí sức lực hơi nhiều, cuốc bộ non trăm cây số, dầm mưa, đường sình lầy, nhảy qua mương…

Đến xế chiều tôi giựt mình thức giấc. Thằng Đinh đứng thẳng người, quát to:

– Nó đốt nhà. Ngay cái nhà của vợ tao! Thây kệ.

Tôi dụi mắt, hỏi nhanh:

– Tụi nó gan quá vậy? Chừng này mà chưa về đồn, lo ăn uống.

– Múa gậy vườn hoang mà. Có người điềm chỉ, cho tụi nó biết rõ xóm này ai hiền, ai dữ, ai theo kháng chiến… và tất cả đều đánh giặc với hai bàn tay không.

– Vậy tụi mình về xóm, về gần đó cho biết. Xế rồi. Đêm nay tụi nó ngủ tại đâu? Nếu muốn trú quân thì tụi nó ngu dại gì đốt cái nhà ngói ông già vợ mày?

– Trời ơi!

Tiếng kêu la phẫn nộ gọn lỏn ấy vừa phát ra khỏi cổ họng thằng Đinh là tắt nghẹn, dường như thằng Đinh còn muốn nói nhiều hơn. Nó chỉ ngón tay:

– Cháy nhà của vợ tao rồi. Vợ tao có chửa, không biết nó chạy kịp không? Bữa nay, Tây làm lộng quá. Chắc thằng đó điềm chỉ tao là trưởng ban giáo dục hai ba làng. Tao về. Về gần nhà… Hay là vợ tao thất lạc, gặp tai nạn. Mọi khi vợ tao ngồi lì tại nhà rồi trình giấy “lách xê” khi tụi nó hỏi tới. Mầy ở đây, tùy cơ ứng biến. Nhớ đi về phía nhà tao. Tối mai tao chờ.

Nếu rủ thằng Đinh ở lại thì tôi là đứa quá hèn hạ. Trời chuyển mưa. Giữa đồng không mông quạnh, còn một mình tôi. Phía rạch Long Phú, lửa cháy đen mịt, hết nhà này nối qua nhà kia. Cả xóm bị đốt rồi. Súng vẫn nổ và ngọn lửa cháy ngùn ngụt như đầu máy xe lửa chạy trên con đường sắt vô tận.

Mưa đổ hột. Tôi thấy ớn lạnh, ho vài tiếng. Hễ đói bụng thì chịu lạnh không kham. Tôi rút hai tay lên ngực. Lại mưa to. Túng thế, tôi chạy vào hàng tre xanh trước mặt, địa phận làng Liêu Tú.

Đại khái, làng này gồm chừng bốn năm giồng cát, rời rạc, như một quần đảo. Trên mỗi giồng tập trung chừng hai mươi nhà. Mỗi nhà đều có tre bao quanh, những bụi tre um tùm thiếu săn sóc. Tôi đánh bạo vào xóm. Đất khá cao ráo, trơn trợt vì mưa. Toàn là người Khơ-me. Từ nhà này qua nhà kia là đường, quanh co. Tôi dừng bước trước gian nhà ở đầu giồng. Một ông lão đang cầm búa, đập cành cạch vào cái miệng lon, lon đựng thức ăn, đồ hộp của nhà binh Pháp. “Chắc là ông ta làm quen với nhà binh Pháp nên xin mớ lon ấy về sửa lại làm ống dắt đũa, làm lư cắm nhang”. Tôi qua nhà khác, dăm ba đứa bé ngồi dưới đất, bốc cơm ăn. Thức ăn là một chén me, trái me tươi đâm nát trộn với muối ớt. Nhà kế bên rộn rịp hơn. Vài người uống rượu, đánh bài. Dường như chẳng ai quan tâm đến tôi. Họ xem tôi như là chú lái heo, một người vớ vẩn, một bóng ma.

Làm sao bây giờ? Nếu trở ra khỏi giồng liệu tôi còn nhớ phương hướng để trở về xóm nhà thằng Đinh? Đường xa, tối om. Bụng lại đói. Tôi đánh liều bước tới. Đột nhiên từ trong căn chòi, vang ra mấy tiếng lảnh lót:

– Ngó lên Sở Thượng thêm buồn.

Muốn chăm cội rễ, ngặt đường xa xôi.

Tôi dừng lại. Tại sao trong xóm Miên này lại có thể vang ra câu hát đó, câu hát của đồng bằng sông Cửu Long. Câu hát gợi tình, sang trọng thuộc vào loại chọn lọc, tuy bình dân nhưng ít ai biết. Thật vậy, Sở Thượng là con sông nhỏ, từ bờ Cửu Long chảy vô Đồng Tháp Mười, gần biên giới Việt-Miên. Sở là cá, những “lô” đồng ruộng mà từ hồi đời vua Tự Đức nhà cầm quyền cho đấu thầu khai thác nguồn lợi cá tôm. Mấy người lái rủ nhau lên Sở mà mua cá về, bán tận Sài Gòn.

Từ trong gian nhà, câu hát được lặp lại:

– Sở Thượng thêm buồn, ý a… thêm buồn…

Tôi cúi đầu, cố nhìn bên trong. Chiếc võng đưa kẽo cà kẽo kẹt. Một thiếu phụ vụt rời võng, đốt đèn. Tôi mạnh dạn bước vào.

– Thưa cô…

Thiếu phụ cúi đầu; hai bàn tay thô kệch xoa vào nhau:

– Chú đi đâu…

– Dạ tôi lỡ đường.

Thiếu phụ cười tủm tỉm, đôi mắt đen lánh:

– Ở dưới rạch Long Phú hả? Gan dữ đa! Dám đi tới đây hả?

Tôi quay mặt, sắp sửa co chân chạy trốn. Nhưng thiếu phụ nói:

– Đừng sợ. Xóm này ai nấy làm ăn vui vẻ. Đói bụng không?

Tôi gật đầu. Thiếu phụ vo gạo, nấu cơm. Tôi yêu cầu:

– Cô khép cửa lại giùm. Từ đây ra đồn…

– Hai ngàn thước. Gần mà. Nhưng lính Tây vô đây làm gì. Xóm này ai lo phận nấy. Tại sao chú dám vô nhà tôi?

Tôi đáp:

– Dạ tôi nghe câu hát. Tại sao cô biết câu hát đó?

– Chú nằm chiêm bao hả? Tôi là người “An Nam” ở Châu Đốc. Xóm này có “một mình ên” là người An Nam. Tôi lấy chồng người Khơ-me tại đây hơn bốn năm rồi. Chồng tôi ra chợ Sóc Trăng bán lúa, hai ngày nữa mới về. Lát nữa chú ngủ trên bộ ván. Tôi ngủ trong buồng, không sợ ai hết.

Súng nổ từng loạt ngoài đồn. Tôi giựt mình. Thiếu phụ cười:

– Tin tôi không?

– Dạ tin chớ. Bằng không thì tôi chạy lủi đầu vô tre gai rồi.

– Nằm xuống. Thôi, đừng nói chuyện nữa, người ta nghe.

Nói xong, thiếu phụ đóng cửa lại. Nồi cơm sôi lên, xông hơi. Lát sau tôi ăn cơm. Nhưng suốt đêm ngủ chẳng được. Buồn buồn vô cớ. Để rồi lúc hừng đông, tôi dụi mắt bước ra, trở về nhà thằng Đinh, theo hướng mà thiếu phụ chỉ.

Từ đó tôi yêu kính ca dao. Ngoài giá trị văn chương, địa lý, phong tục… nó còn là lá bùa cứu khổ cứu nạn thời kháng chiến. Vài người đã sáng tác ca dao kim thời cải cách. Trong trường hợp này, nếu thiếu phụ hát loại ca dao cải cách thì chưa ắt tôi dám vào nhà, xin tá túc. Vì biết đâu đó là cạm bẫy của bọn gián điệp.

Ca dao sống trong không khí riêng, khó tả. Dầu trí óc ta quên, nhưng nó còn đó. Như trăng sao tạm thời lu mờ chỉ vì mây mưa che phía dưới thấp.

Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Google photo

12. Ngày xưa tháng Chạp

Lẩm rẩm mà mình lưu lạc trên bốn mươi năm. Ừ! Để nhớ coi. Ấp Thiện Tâm tám năm, xuống Ba Láng, Cần Thơ hai năm. Còn lại hai mươi lăm năm, mình phá rừng ở rạch Chà Tre miệt U Minh Hạ này.

Ông Ba Hò suy nghĩ như vậy, thở dài rồi cúi mặt xuống. Mặt trời thoi thóp, gác bóng trên mé rừng tràm mà ông nào hay. Bóng đêm đổ xuống, pha màu nước rạch đen ngòm. Bầy cò trắng bay về gom lại, lượn vòng quanh mấy ngọn tràm, kêu lên “cót cót”. Ba bốn tháng rồi, ông không màng đến cảnh vật bên ngoài nữa. Mười công ruộng, lúa đà chín ngã, ông cũng không chịu khó đi thăm.

Ông chỉ nhớ rượu, đòi rượu. Mỗi cữ ít nhất cũng phải hai xị, nghĩa là nửa lít. Hỏi uống để chi, ông đáp: “Dụng tửu binh đả phá thành sầu”. Nhưng cái thành sầu của ông, thật là cao ngất, dài dằng dặc. Trời còn cho ông sống mười năm nữa là cùng: Mười năm tàn tạ ấy, với hai bàn tay run rẩy, làm sao ông hạ nổi kẻ địch thủ ẩn núp trong thành sầu kia. Đó là sáu năm lúa ruộng lấy lời nhập vốn chạy nhằm hai trăm tám chục giạ. Đó là sáu mươi lăm đồng bạc thiếu chịu ở vài tiệm tạp hóa. Mỗi năm, đến lúc năm cũ bước qua năm mới là lũ địch thủ ấy sung sức lên, công khai đánh hạ ông đúng theo phép nước lệ làng.

– Già mà làm biếng, biết ăn sao không biết trả?

– Đất này của Tây cho tao khẩn. Năm tới tao cào nhà này bỏ…

Nhưng đau đớn nhứt là:

– Tối ngày lo hò với hát chuyện trai gái huê tình. Già vậy là già sao?

Nhè cái tài hoa nghệ thuật của ông mà họ mỉa mai! Ông day mặt che giấu hai giọt nước mắt chịu thất thủ. Vì vậy mà năm nay, ông quyết bỏ xứ Chà Tre này, ra đi phiêu bạt, trước tết. Không còn mấy ngày nữa. Nửa tháng rày há chẳng có từng đàn cu ngói kêu thúc giục inh ỏi bờ tre. Lát nữa, chắc chắn thằng Tịnh, đứa học trò mến nhứt của ông sẽ đến, nghe ông dạy bảo lần chót.

Tay cầm cục mực, cây viết vàng

Vẽ phụng vẽ loan

Vẽ Tiết Đinh San

Vẽ chàng Lâm Sĩ

Vẽ bông hoa thị

Vẽ chữ Đại Tường

Đem về cắm trước đầu đường.

Kẻ đi qua thấy một chữ kim tương.

Người đi lại xem tường văn võ

Trách lòng ai chặn ngõ lấp truông,

Ngăn mây đón gió để con bạn nó thua

Buồn vì tiếng thị phi…

Tiếng hát của thằng Tịnh nghe mỗi lúc càng gần. Câu hát lạ mà quen hồi nào tới giờ ông chưa từng dạy nó.

Thằng Tịnh bước vô. Ông hỏi:

– Ở đâu vậy cháu? Của mấy người gặt ở miệt Cần Thơ đem xuống phải không?

Nó đặt chai rượu trước mặt ông:

– Ông hay quá. Con nhỏ đó gặt kế bên tôi hồi chiều, hò đối đáp một hồi, nói là ở Phong Điền mới xuống.

– Phải. Biết rồi. Câu hát đưa em trong nhà, chớ nào phải câu hát hò. Hồi nãy bác nghe cháu hò giọng lờ lợ. Ở miệt mình, riết rồi cái gì cũng trở thành buồn.

– Con nhỏ đó chê mình ở đây không có câu hò nào ngộ đó ông Ba. Ông làm ơn cho cháu một câu.

– Ừ, được. Ngày mai cháu rao lên như vầy là nó hết đường gỡ:

Anh thương em, anh sắm cho em một bộ áo dài màu cà, màu huyết. Anh đây nói thiệt chẳng phải nói càn. Anh đây sắm cho em một cây kiềng vàng chạm chữ tòng chữ bá, một bộ cà rá chạm đủ cửu long hườn. Anh sắm cho em áo lụa đủ màu, lụa Hà Đông, lục soạn. Còn anh, anh sắm cho anh chỉ có một cái nón đáng giá hai đồng xu. Ăn cơm rồi hút thuốc rê vấn lá chưng bầu. Miễn cho anh đặng tình chồng nghĩa vợ, cực khổ gì anh chẳng có than.

Nghe lần đầu thằng Tịnh đã nhớ, hát lặp lại gần đúng. Thấy nó sáng dạ, ông Ba hết sức vui. Nhưng vui thoáng qua. Mai mốt này, ông xa nó. Nói trước, e nó buồn. Không nói thì không được. Ông rót rượu ra chén, chóp một chút, nghe đắng lạ thường. Bóng dáng thằng Tịnh in dài trên vách lá. Ánh nắng xuyên nóc nhà, soi xuống thềm đất. Hai ba con thằn lằn tắc lưỡi rồi im. Ông Ba rùng mình. Ngoài sân kia hàng cây bình bát như không còn nữa. Sương xuống trắng đục hay là mắt ông yếu lòa? Cũng may là trong nhà không đốt đèn. Thằng Tịnh thấy ông ngồi cú rũ như mọi khi chớ nó nào thấy vầng trán của ông nhăn lên thêm một ngấn lớn.

– Làm sao cho họ ngán mình ông Ba?

Ông Ba giựt mình:

– Cháu nói gì?

– Dạ làm sao cho họ biết ở rạch Chà Tre này cũng có thầy hò như ở miệt trển? Con nhỏ đó coi bộ ngạo nghễ, kén chọn lắm…

Ông Ba cười:

– Ông đây hồi đó không ngạo nghễ sao? Cháu bây giờ cũng ngạo nghễ vậy. Phàm nói chuyện hát chuyện hò, người sành điệu không bao giờ căn cứ theo một, hai câu bóng bẩy nào đó mà xét đoán. Đời bây giờ, hò lộn xộn quá, chớ hồi đó, hò có lớp lang đầu đuôi. Thầy hò phải giỏi như thầy tuồng. Mới vô là câu dạo đầu. Chúc mừng lẫn nhau, chúc mừng chủ ruộng, tạ ơn Thần Nông. Điều đó ai cũng đạt được. Thiếu một hai vần, hò thiếu hơi chưa phải là dở. Thầy hò đôi bên chưa cần trổ tài. Họ để cho học trò của họ múa xem trước như tuồng hát vậy.

Bước qua chương tâm tình. Bên trai như cầm dây tơ buộc vào, bên gái phải khéo léo gỡ ra. Nhưng gỡ ra đừng cho rối, cho đứt. Rồi hai bên hẹn nhau làm đám cưới. Trước khi đó phải về hỏi ý kiến mẹ cha, cậy mai mối… Màn này có thể kéo dài. Nhưng thầy hò của đôi bên để dành tài năng của mình màn ăn thua chót. Đó là lớp nghèo.

Thằng Tịnh trố mắt:

– Vậy sao? Hồi nào tới giờ tưởng hò là để bắt duyên trai gái. Hò nghèo là sao?

– Là hò than nghèo. Một bên trai hay gái tự xưng mình là giàu có, bạc nén vàng ô, nhà lầu cửa sắt, lập tức bên kia bèn tả cái cảnh nghèo của mình cho tới mức. Trai nghèo làm sao cưới được con gái nhà giàu? Con gái nhà giàu, một khi thương con trai nhà nghèo thì có dám cãi lịnh mẹ cha chăng? Vợ nghèo chồng sinh lòng phụ rẫy. Cha mẹ già yếu, con gái làm sao xuất giá. Trả lời được là mình xứng danh thầy hò. Ông đây, hồi đó có tăm tiếng là nhờ đặt ra nhiều câu mà không ai đối ổn thỏa:

Chàng xa thiếp như cột xa kèo.

Cơm đói nghèo chẳng thấy vãng lai

Lúc túng hụt không tiền không gạo

Nàng thất vận, ôi thôi ảo não

Dạ âu sầu, ai bảo chi lo

Chàng nói gạt em rằng dưỡng nuôi săn sóc

Mấy thu chày, em bù lăn bù lóc

Nay vợ gặp chồng, ôi lỡ khóc lỡ cười

Làm gái như ai, chớ làm gái như em, dầu một hột tấm mẳn không cho sai, dầu một sợi tóc mai không cho dời đổi.

Em sợ trai như chàng ra chơi cùng anh em bạn, thấy người ta quần lãnh áo hàng, khăn bàn dọn bánh. Anh trở lộn về nhà thấy gái như em đây một người nghèo nàn cực khổ, mặc áo rách, đội cái nón rơm… anh không thương.

Còn câu nữa, nghe luôn lần chót.

Gẫm phận thiếp như thuyền kia không bánh

Thân vì muốn lập thân mà ngại nặng gánh gia đình.

Chàng ơi! Tại cảnh gia đàng em có một ông cha già đành cỡi hạc chầu tiên.

Còn bà mẹ hiền như trái chín cây trên nhành chờ khi ướm rụng:

Chàng ơi! Em ra đây, gặp chàng em hỏi thiệt:

Trai chàng tính cho em ở vậy hay là em cất bước thượng trình tòng phu.

Chàng ơi! Tại cảnh gia đàng của em, mấy ống tre ngã xiêu ngã tó.

Mấy tấm vạt cau rớt lên rớt xuống, ai ngó vào cũng chắt lưỡi lắc đầu, hỡi ôi cho phận thiếp. Anh kết nghĩa lương duyên với em tình chồng nghĩa vợ. Anh em bạn của anh đứng ngoài xa, miệng kêu, tay ngoắt. Bớ Tư ơi! Người sao không khác chi chị Thoại Khanh thuở trước khảy đờn tầm bạn mà kết nghĩa ái ân làm gì?

Ông Ba hò dứt câu. Giọng già khàn khàn nhưng còn đủ hơi để ngân dài. Nghe buồn quá! Thầy ơi! Nó đoán chừng: có lẽ ông bữa nay có tâm sự gì buồn thảm lắm. Mấy câu hò này mắc mỏ quá. Phải là người có gia thất, từng chịu bảy nổi ba chìm mới trả lời xong.

– Gặp bên gái rao như vậy; mình làm cách nào ông Ba…

– Mình tạm viện lý này lý kia. Cái thứ hò nghèo mà. Hò qua hò lại, tới rời cổng ra về mà không dứt. Cứ như vậy ngày này qua ngày kia, mùa này qua mùa khác. Không ai giỏi hơn ai mà hòng gỡ rối cho ai… Đó là cuộc đời. Người ta mượn đồng ruộng làm sân khấu, mượn sân khấu để nói chuyện trai gái. Mà chuyện tình trai gái là chuyện gay cấn vì giàu nghèo mà ra. Người hò huê tình chưa ắt là người có thói chim chuột. Chẳng qua là họ muốn nói chuyện với đời với trời đất với ngọn cỏ lá cây, từ trước đến giờ không có vị bạo chúa hôn quân nào cấm đoán họ nổi…

– Tại sao vậy ông Ba.

Ông Ba im lặng. Nhà thiếu cửa, vách nát, sương lấp đầy nhà như ngoài trời. Từ trên đầu xông nhà, một tàu lá rớt xuống kế bên ông, ông không ngó lại, không giựt mình.

– Tại sao vậy hả? Tại vì nhà nước không sợ mấy thằng cha thầy hò. Nhà nước Lang Sa có binh rồng tướng mạnh. Cháu hiểu chưa? Đánh giặc kỳ rồi, A-lơ-man còn thua Lang Sa nữa kia. Lụi hụi mấy thằng thầy hò như ông đây cũng tự nhiên nghèo mạt bỏ xứ mà đi… Nói nãy giờ như trăn trối với cháu. Kỳ hạn trong vòng tháng Chạp này ông đi trốn nợ luôn.

Thằng Tịnh giật mình nghe đau điếng trong lòng. Hồi năm ngoái năm kia, hồi tháng Sáu tháng Bảy năm nay, nó đã nghe ông Ba Hò nói cả trăm lần về chuyện bỏ nhà. Mấy lần trước, nói là nói vậy chớ không có thiệt. Nhưng đêm nay, chắc chắn rồi. Bằng cớ là nãy giờ ông bàn bạc nhiều quá về câu hò nghèo. Sáu bảy năm nay, ông dạy nó từng câu hò một chớ nào nói đến trọn cái cảnh ảo não, rộng rãi cả kiếp người. Nó thương tiếc, nhưng làm cách nào cầm chân ông Ba ở lại rạch Chà Tre này? Không lẽ nó dạy ngược lại ông là người làm ăn giỏi hơn nó, tuổi tác cao hơn cha ruột nó.

– Nán một mùa nữa nghe ông Ba. Thế nào cháu cũng gặt lúa giùm ông. Ra Giêng, cháu đốn lá lợp nhà lại, tới sa mưa, cháu hứa phát giùm ít nhất là năm công đất… Ông đi, cháu còn biết ở với ai…

Ông Ba cười:

– Đừng tài khôn! Cháu thương ông, ông biết. Nhưng mà cái gánh của ông đây nặng lắm. Người xa lạ khuyên ông như vậy, ông chửi cho một chập. Ông đâu làm biếng như người ta tưởng lầm… Nói cho cháu nghe: Cánh đồng này hồi đó là một tay ông đây khai phá. Hồi đó ông cất nhà kê táng nữa kìa. Hồi đó tới mùa hạn, mấy gốc năm sáu con rùa vàng. Mùa khô, đìa cạn nước, cá gom lại nổi đầu khít rịt như trái mù u rụng. Heo rừng nanh dài cả tấc mà ông dám cầm mác xông ra cự đương. Cọp trong rừng, có một mình ông đào hầm đặt bẫy… Ờ! Hồi đó cháu biết không, trong rừng có nhiều nhánh nhiều gốc cây ngộ lắm. Giống hình thù con nai con rồng. Ông đốn về bào chuốt lại để chưng dọn nhà cửa. Lắm khi ngồi một mình vui quá, ông hò với rừng với bụi… Hồi đó cây cỏ chim chóc như biết nghe, gật đầu đáp với mình.

Thằng Tịnh thở dài:

– Bây giờ cháu xin ông nói thiệt? Chừng bao lâu ông về đây, đi đâu? Để cháu biết chỗ tới thăm ông. Thân ông một mình, lại thêm già yếu.

– Đất nước này còn chỗ dung thân. Phận ông bây giờ tạm yên. Chỉ sợ cho phận cháu trong mai hậu.

Thằng Tịnh không hiểu:

– Cháu còn ở đây tạm sống. Còn sức lực, còn làm mướn được. Năm tới, tính làm thêm năm công…

Ông Ba Hò hớp miếng rượu cuối cùng rồi đứng dậy:

– Cháu chưa biết… Không lẽ chưa gì hết mà ông khóc trước giùm cho cháu. Giọt nước mắt đây nè! Làm thế nào lưu lại cho cháu đôi mươi năm sau mà nó không khổ. Năm nay có thể cháu làm ăn khá lắm. Rồi đây cháu vểnh râu mà khen. Đời phải đời thịnh trị, cuộc phải cuộc văn minh, như ông hồi năm nào. Nhưng mà máy tạo vần xoay. Ngày cuối tháng Chạp như vầy, một năm nọ cháu phải bỏ xứ mà đi như ông bây giờ. Chừng đó, ô hô! Cháu không còn đất để mà trốn. Đất chỗ nào cũng có người làm bá chủ rồi! Dầu là hòn đảo giữa biển, dầu là chót núi cheo leo. Chừng đó cháu quay mòng mòng như thằng say rượu ôm gốc cột mà ngao du vòng vo một chỗ. Cháu không còn tìm được, nhà cửa xập xệ, nát vách lủng nóc như nhà bác bây giờ. Chừng đó cháu thấy hột lúa của cháu làm ra không có ý nghĩa gì hết. Đời sống con người phải thay đổi.

– A ha! Lửa cháy đầy trời, cát bay mịt đất. Nhà không người ở. Ruộng thì cỏ hoang. Giếng thì có nước độc. Phật khóc giữa trời. Người sống thành xác chết. Xác chết đội mồ hóa người sống. Ở đâu cũng có hồn oan…

Vài năm sau trong vòng tháng Chạp năm xưa đó, ông Ba Hò ra đi biệt tích. Chủ đất thì mừng, vì đã mặc nhiên tống khứ được một tên tá điền cứng đầu. Chủ tiệm tạp hóa thì chửi rủa chê trách tại sao không chịu trả chút ít nợ, vài cắc vài đồng gọi là ơn nghĩa. Ba năm sau này, có kẻ bảo rằng ông đã chết bờ chết bụi vì say rượu. Kẻ thì phao tin: ông ra hòn Cổ Tron cất am, lập một môn đạo mới có kinh kệ riêng, đọc tên nghe khó hiểu nhưng giọng khi trầm khi bổng như hò như hát. Sự thật ra sao? Đến như thằng Tịnh cũng không hiểu. Nó đâm ra biếng nói biếng cười. Mãi đến một năm đó cũng vào tháng Chạp, nợ nần nhiều quá, nó trốn đi ra chợ Rạch Giá để làm cu li, vác lúa cho nhà máy xay ở ngoại ô.

Có lẽ vì vậy mà bây giờ ở rạch Chà Tre vùng U Minh Hạ tuyệt nhiên không còn ai biết hò đúng điệu có lớp lang như hồi xưa nữa.

Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Google photo

11. Ngày hội ba khía

Hồi tháng trước, Năm Hinh thua cờ bạc sạch túi. Về nhà, anh năn nỉ vợ:

– Mình đập con heo đất ra, lấy hai chục đồng bạc bỏ ống đó cho tôi đi làm vốn.

Vợ cằn nhằn:

– Đem đi đâu? Làm vốn miệt nào lận? Bộ ở đây làm ăn không được sao?

Năm Hinh trả lời:

– Đi qua Rạch Giá, xuống miệt biển Xẻo Lá, Xẻo Lúa gì đó. Tôi làm bài toán cho mình nghe. Nè, tôi mua vài thiên bánh tráng, vài yến đường, đậu phộng, dân ở biển thèm đồ ngọt. Tôi bán kẹo, bán chịu, họ cứ ăn, khi nào đánh lưới được cá gộc thì thật là nhứt bổn vạn lợi.

Vì nể uy chồng, người vợ đành trao mười tám đồng bạc. Năm Hinh xuống xuồng, cụ bị theo nào là nóp, nồi, chảo, gạo. Qua chợ Long Xuyên, mua bánh tráng, đường đậu phộng rồi bơi xuồng, quên ăn cơm. Ban đêm, anh không muốn ngừng tay. Tết trung thu ở miền đồng quê Rạch Giá nào kém phần thú vị. Lung sen, bãi sậy, bờ dứa nước, hớn hở, xao động lên, chào đón gió biển trăng rừng. Riêng con tim lữ thứ của Năm Hinh là ít nhiều khô héo! Thôi thì tạm thời buộc chặt chiếc xuồng ba lá nọ vào bến của quán chạp phô, bên dòng rạch ngoằn ngoèo. Rạch Xẻo Lá là đây rồi, đặt tên như vậy vì nhiều lá dừa nước, lá lợp nhà. Bao nhiêu người dân chài lưới đang cau mày soi mặt vào ly rượu “công xi”, để tìm hình dáng chị Hằng. Mây đen trôi qua từng chập, lững lờ. Có kẻ hờ hững nhìn trời, thử thu nhặt những sợi tơ trăng ấy, uốn nắn lại trên phím tre cho hợp với lời ca vọng cổ…

Lò kẹo của Năm Hinh bắt đầu hoạt động. Mưa tầm tã không nguôi. Nước ngọt chảy cuồn cuộn, lấn ra biển. Dân Xẻo Lá ngồi cú rũ trong nhà. Biển động, cá tôm đâu mà đánh? Họ nhìn đống lưới cao ngùn ngụt, chất trên bộ ván giữa nhà; mùi tanh của mớ lưới trộn lẫn vào hơi ẩm ướt, mốc meo của giường chiếu.

Thỉnh thoảng vài người khoác áo tơi chạy nhanh, dầm mưa, cắm đầu ngay hướng ông già Hy, nơi anh Năm Hinh ở trọ để thắng đường, làm kẹo đậu phộng. Nhờ lớp bánh tráng bên dưới nên đường thắng hơi lỏng cũng không sao.

Những ngày ra mắt thân chủ, Năm Hinh rắc thật nhiều đậu phộng lên:

– Bà con ăn thử. Ngon lắm. Ở Long Xuyên, dòng họ tôi sống bằng nghề này, cha truyền con nối từ mấy đời rồi, xưa kia ông cố tôi ở Biên Hòa lận.

Có người nói:

– Hèn chi ngon thiệt.

Đắc ý Năm Hinh nói tiếp:

– Chưa ngon đâu! Ở miệt tôi, không ai xài đậu phộng, rắc hột điều mới đúng điệu.

– Hột điều ra sao?

– Đó là hột của cây điều, tức là cây đào lộn hột. Hột đó dính dưới đít trái đào. Hình dáng như trái cật của con heo… Theo phong tục người mình thì cây đào lộn hột rủ quến ma quỷ…

Có người cười lớn:

– Chắc là ma… thứ ma ăn thiếu chịu.

Năm Hinh bình thản:

– Bà con cứ vững lòng ăn. Mai chiều đánh lưới làm cá khô trả lại cũng được. Quen biết với bác chủ nhà thì cũng như quen với tôi.

Ông già Hy mỉm cười. Thân chủ nói thêm:

– Vậy thì dễ quá. Anh đưa vài miếng kẹo nữa để tôi đem về cho sắp nhỏ nó ăn.

Ngày lại ngày, lò kẹo của Năm Hinh “nổi” lên nhanh chóng, đến mức anh phải thức đêm mà thắng kẹo. Nguyên liệu hao hụt, anh nhờ Chệt Kỵ đi chợ “bổ” hàng giùm. Ông già Hy, chủ nhà, thỉnh thoảng nhắc nhở anh:

– Ngủ sớm một bữa đi chú Năm. Làm quá cũng vậy. Cỡ này coi mòi biển động lâu lắm. Mình dưỡng sức ăn thua về lâu về dài.

Năm Hinh nói:

– Bác mệt thì ngủ trước.

Ông già Hy suy nghĩ, gật đầu:

– Mình nên làm việc gì cho đúng hơn. Nghề của chú lụm cụm như mấy ông già. Già như tôi… tôi cũng không làm như chú… Thà là dầm mưa ra mé biển đắp bờ, làm ruộng…

Rồi ông già Hy nằm xuống. Muỗi bu lại như trấu. Chập sau ông gãi chân, gãi tay, cằn nhằn vài tiếng rồi chun vô nóp… Tư bề, lạnh lẽo quá. Sóng biển gào thét triền miên. Gió lộng vào như giúp sức thổi bếp lửa. Năm Hinh hút thuốc, quơ qua quơ lại chiếc đũa bếp, rang đậu cho đều. Vài người kêu cửa, mua thêm ít miếng kẹo. Quần áo họ ướt mèm, anh nghĩ thầm:

– Dân chúng ở đây không biết lo xa, ít chịu khó. May mà mình tới đây thâu tóm mối lợi này. Thứ kẹo đậu phộng ai mà không làm được. Tại sao họ không làm? Hèn chi họ nghèo…!

Bốn mươi mấy ngày trôi qua là bốn mươi mấy ngày mưa gió, khách đến mua kẹo rất nhiều nhưng chưa ai trả tiền.

Năm Hinh đem cuốn sổ nhỏ ra, cầm cây viết chì đồ lại tên mấy người thiếu nợ: Tư Ái ba cắc, “Hai nhà mới” bốn cắc bảy, ông Tư tám cắc, Năm Chòi Mò một đồng… Tổng cộng đến chừng năm chục người, nghĩa là hầu hết xóm Xẻo Lá này. Trăm đồng bạc nợ, trị giá gần một tạ khô cá gộc, đem về Long Xuyên bán rẻ mạt cũng được hai trăm. Từ mười tám đồng bạc vốn mà gầy dựng một số tiền to gấp mười lần. Năm Hinh nghĩ mình đã lập được thành tích hiếm có. Nhưng bao giờ mới thâu được? Nhìn lưới mưa đang bủa vây khắp bầu trời, anh hút thuốc, thở dài.

Ông già Hy bơi xuồng đi thăm ruộng về, tất tả chạy lên nhà:

– Nguy quá chú Năm ơi! Nước tràn bờ ven rồi. Năm nay đói, đói…

Năm Hinh bước ra:

– Nước ngoài biển tràn vô hở bác?

– Nước từ trong ruộng tràn ra chớ! Mưa gì mưa quá đỗi. Mình tính làm ruộng chắc ăn hơn làm lưới. Dè đâu, trời báo nạn, lưới cũng chết mà ruộng cũng chết.

Năm Hinh rầu nét mặt nhớ tới món nợ không biết rồi đây chòm xóm neo số tiền ấy, đợi đến bao giờ mới trả? Anh hỏi:

– Bao lâu nữa trời mới êm, đánh lưới?

– Chú Năm giỡn sao chớ! Mai chiều tới mùa giông Nam, chú chịu khó ở tới tháng Mười Một, chờ gần tết về xứ một thể.

Bao nhiêu hình ảnh đau buồn hiện ra. Anh nhớ tới người vợ hiền Long Xuyên mà hơn tháng rồi không nhắn nhe thư từ gì được. Anh thở dài:

– Làm sao bây giờ. Hồi đó bác nói: Phải thời thì vài ngày họ trả hết. Cứ bán chịu…

Ông già Hy đáp:

– Nhưng chưa gặp thời… Ai muốn dùng dằng làm gì! Đất địa này, không bán chịu, ai mà mua. Chệt Ky bán chạp phô đàng kia dám cho bà con thiếu chịu hai ba năm mà không than phiền… Như vậy mới được.

Năm Hinh hơi bực tức:

– Chệt Ky nhà cửa ở đây. Phận tôi thì xứ xa mới tới lần đầu… Mẹ già, vợ yếu, con thì dại. Điệu này, mai mốt tôi đành bơi xuồng không mà về.

– Đừng giận chớ, chú Năm. Lúc nào dân xóm này cũng sẵn sàng trả nợ. Bây giờ, không có khô cá gộc, trả bằng thứ khác.

– Thứ gì bác?

– Ba khía chớ gì? Bá khía muối để dành ăn. Ở Long Xuyên biết ăn con đó không? Món ăn bình dân, đem về bán lẻ dễ hơn khô cá gộc. Chịu thì tối nay tụi tôi kiếm cho chú vài lu chở khẳm xuồng ăn thua. Nó là một thứ cua, dành cho nhà nghèo. Chú mượn bốn cái lu để đựng… chừng nào đem trả cũng được. Xứ này cần lu để đựng nước ngọt. Dễ dãi như vậy là tới mức rồi…

Dịp may để Năm Hinh rút lui khỏi con rạch Xẻo Lá oan nghiệt này. Anh đồng ý. Vừa chạng vạng, ông già Hy bơi xuồng lại quán Chệt Ky mua chịu chừng hai chục cây đuốc bằng dầu chai. Ông đi xuồng với Năm Hinh dài ra phía vàm biển mà kêu réo:

– Ai bắt ba khía thì đi. Bắt ba khía trừ nợ kẹo nè!

Có đèn chai sẵn rồi.

Chập sau, hàng chục xuồng bơi nhanh theo ông. Đêm ba mươi, trời tối như mực. Nước ruộng chảy tràn qua bờ ven biển. Rừng cây mắm đen ngòm trước mặt như bức tường thành. Muỗi bay vo ve. Gió thổi nhẹ. Ai nấy đốt lên, đỏ rực.

– Ba khía ở đâu sao không thấy? – Năm Hinh hỏi.

Ông già Hy kéo tay anh, chỉ ngay gốc cây mắm trước mặt, hàng trăm con ba khía bao quanh gốc cây, lúc nhúc. Ông nói:

– Mấy gốc cây mắm kế bên đó, đằng kia nữa… cũng vậy.

Năm Hinh nhìn kỹ: lũ ba khía nọ quá đông nhưng hiền hậu làm sao, không quơ càng ngẩng đầu lên để kẹp tay kẻ khác mà tự vệ. Hơn nữa, chúng phân chia từng cặp, con đi sau ráng chạy hơn con trước.

– Tụi nó đánh giặc với nhau, hở ông?

Ông già Hy cười:

– Tụi nó hội. “Hội” nghĩa là hẹn hò nhau tới đây mà bắt cặp tình tự. Cứ vài tháng một lần.

Vừa nói, ông già Hy quơ tay chụp bắt, thảy vào cái giỏ tre lớn. Ham quá, anh Năm bắt chước, mó tay vào. Ông già Hy nói:

– Chụp lẹ tay nó! Chậm là nó kẹp. Làm như thiên hạ kìa!

Năm Hinh nhìn chung quanh ánh đuốc phản chiếu dưới bãi bùn đen, chói ngời, tiếng “xạt xạt” trỗi lên như một bản nhạc lạ lùng. Hàng trăm, hàng ngàn con ba khía bị ném vào giỏ, nhịp nhàng đều đều.

Ông già Hy reo to:

– Được rồi, anh em ơi! Bắt nhiều quá mang tội.

Về nhà trên mười giỏ ba khía gom lại, ba cái lu lớn chở tới, khiêng đặt xuống xuồng của Năm Hinh. Họ để nước muối nửa chừng lu. Con ba khía sống nhăn bị nhốt vào. Đậy nắp kín.

Đêm ấy, ông già Hy thức suốt đêm làm bài toán để Năm Hinh so sánh. Với giá trung bình, bán sỉ, số ba khía này trị giá gấp hai số tiền nợ kẹo đậu phọng. Mấy cái lu thì cho mượn, ông khuyên chở về đây trả, đừng đi luôn mà mang tiếng oán.

Năm Hinh gật đầu. Hôm sau anh xuống xuồng, mượn cây chèo của ông già Hy. Giờ tạm biệt, anh vui trong lòng… Nhưng xóm Xẻo Lá trở nên buồn. Ngày mưa tháng gió, họ đành rút vào nhà mà chờ cơm rồi ngủ.

Năm bữa sau, nửa đêm, ông già Hy bỗng giật mình. Có tiếng ngoài cửa. Rõ ràng giọng Năm Hinh:

– Bác ơi!

– Gì vậy? Ủa, sao trở lại. Bán dọc đường hết rồi hả? Năm Hinh bước vào sắc mặt buồn bã:

– Dạ nó trở mùi… Tới Long Xuyên chắc là thúi hết. Cháu về đây tìm phương kế…

Ông già Hy nói:

– Bởi vì muối lạt quá. Không sao đâu. Thêm chút muối. Sáng mai, lại tiệm Chệt Ky mua vài cân đường, thắng cho gần tới rồi trộn vô… Chú chở đi gấp bán mắc bán rẻ trong vài ngày. Nghề gì làm ăn cũng khó…

– Nghề bán kẹo đậu phộng của cháu cũng vậy. Bác coi công lao từ mấy tháng nay.

Ông già Hy nói:

– Buồn mà chi. Nói thiệt, bác mới xuống xứ này cũng bán kẹo đậu phộng như chú em. Rồi làm lưới, sang qua làm ruộng. Mình vui vì muốn làm được chuyện khó hơn! Bán kẹo, bắt ba khía dễ quá, ở đây không ai làm, không phải tại làm biếng đâu. Bãi dài, biển rộng… thà chịu cực đánh lưới hoặc đắp bờ làm ruộng. Nhờ vậy rạch Xẻo Lá này lần hồi mới thành hình… Mai chiều có vui thì chú trở lại đây luôn cho ấm cúng. Biết chữ nghĩa biên chép nhiều như chú thì làm tới chức cai tuần ở xóm này.