This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Nhà văn Nguyễn Thụy Long (1938-2009) là một cây bút nổi tiếng trong nền văn học tự do Việt Nam. Người ta vẫn nói nếu viết kiểu “giang hồ”, Sài Gòn không thể không nhắc đến Duyên Anh và Nguyễn Thụy Long. Sau 1975, cuộc đời của nhà văn Nguyễn Thụy Long là một chuỗi khổ lụy triền miên. Không hiểu sao, trong hoàn cảnh đó ông vẫn cho ra nhiều tác phẩm mô tả đầy đủ cuộc đời mình và chung quanh.
Nguyễn Thụy Long kể lại như sau trong bài Tựa cuốn Hồi Ký của mình: “Tôi viết trên căn gác cũ ở căn nhà xưa của tôi ở ấp Ðông Ba Gia Ðịnh. Nay là khu giải tỏa Rạch Miễu. Tôi đã ở đó từ hơn bốn chục năm nay, từ ngày khởi nghiệp viết văn làm báo tuổi còn trẻ măng, đến nay tôi đã là một lão già hơi lẩm cẩm, ưa giận hờn, cáu kỉnh lo chuyện trời sập. Nhà tôi thuộc khu giải tỏa, chắc chắn sẽ bị ủi sập, căn gác kia phải được kéo đổ. Vì lo chuyện trời sập mà sau nhiều năm gác bút nay tôi lại cầm bút lên viết hồi ký “trối già” trên căn gác bút. Cầm cây bút lên bây giờ nặng nề lắm, nhất là viết hồi ký. Hồi ký tất nhiên nằm trong một đời người. Ðời tôi, một người viết văn, sống bằng nghề viết cả nửa đời người ở trên quê hương mình. Một đời cầm bút của tôi, tôi chưa hề viết nổi một truyện ngắn, truyện dài trữ tình nào. Cái chất trong văn chương của tôi từ xưa tới nay vẫn là những bão táp cuộc đời, đời sống. Nay viết hồi ký, hẳn nhiên là hồi ký của tôi, đời tôi. Tôi nhặt ra những mẩu đời sống của mình hẳn nhiên chẳng mấy đẹp đẽ. Viết hồi ký, là sự thật, không thể hư cấu để đánh bóng cho đẹp đẽ, đọc lên nghe du dương cho tâm hồn bay bổng. Không có điều đó trong tập hồi ký này. Tôi giới hạn tập hồi ký này từ năm 1975 đến hôm nay, cuối năm 1997. Viết tất nhiên có người đọc đến bị ngộ nhận, tôi không muốn hồi ký của mình mang màu sắc chính trị. Ngộ nhận đến bị xuyên tạc không mấy xa. Tôi hiểu điều đó, vẫn cố tránh khi viết. Ðể nói rõ hơn, tôi chỉ muốn nói đến con người, vấn đề nhân bản. Trong đời sống và quanh bằng hữu, tốt, xấu, đau khổ hay vui cười. Hoặc đau khổ quá mà bật ra tiếng cười. Từ xưa đến nay tính chất của tôi vẫn là tưng tửng trong đời sống. Theo chủ nghĩa Mackênô (tức là Mặc kệ nó). Muốn đến đâu thì đến.”
Hồi Ký Viết Trên Gác Bút như ta biết, được viết từ năm 1997 từ căn gác nơi ông ở Gia Ðịnh, được nhà Văn Nghệ ở Cali xuất bản năm 1999. Theo nhà xuất bản, đây mới là 2 tập đầu trong bộ hồi ký nhiều tập.
Ðiều ghi nhận đầu tiên là giọng văn trong “Hồi Ký Viết Trên Gác Bút” điềm tĩnh, đúng là của một người đã cao tuổi và nhìn lại đời mình, một cách điềm tĩnh lạnh lùng nhưng đầy lôi cuốn.
Trong tập hồi ký, bạn đọc sẽ thấy lại hình ảnh của nhiều văn nghệ sĩ Miền Nam trong thời nhà nước CSVN bủa lưới vây bắt — của Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Hồ Thành Ðức, Hoàng Hải Thủy, Phạm Ðình Chương… — nghĩa là cả chuyện tù, chuyện thất nghiệp, chuyện loay hoay trong một xã hội mất định hướng, và cả sau này tới thời nhà nước cởi mở, đón mừng Việt Kiều…
Tập hồi ký viết rất buồn, cũng hệt như chuyện nước mình. (theo Việt Báo)
Trước hết, tác giả Nguyễn Thụy Long kể về những đổ vỡ của gia đình mình:
“Vợ tôi, người vợ đã có một thời đầu gối tay ấp của tôi, lấy nhau vì tình. Quả nhiên dũng cảm đến độ “tàn bạo”. Nàng quất tôi tơi bời tá lả. Rụng như lá mùa thu… Tôi thua sau trận bị bôi tro trát trấu vào mặt, bị ỉa lên đầu. Nhưng ỉa lên đầu của cải tôi trong căn nhà này. Tôi tự an ủi, cũng chẳng sao, tôi có phải ra đi con tôi cũng hưởng. Bây giờ thì tôi biết con tôi chẳng hưởng gì, chúng bị bỏ trong viện mồ côi cho mấy bà sơ đói rách trách nhiệm. Nhưng đầy tình người bác ái. Ðó là sự thật. Sau phiên tòa, bị cáo (tôi) được tự bào chữa, cũng là nói lời cuối cùng. Lời nói bây giờ yếu xìu, không hiệu quả. Tôi nói như thế này:
– Tôi lấy vợ do hai bên cùng ưng thuận, có tí ti tình yêu. Vợ tôi mồ côi cả cha lẫn mẹ sống với ông chú là công chức bưu điện. Sau này bà ta là con nuôi ông Chu Tử, chủ nhiệm tờ báo Sống. Chúng tôi lấy nhau, thời gian đó tôi đang làm ký giả cho báo Sống. Việc chúng tôi lấy nhau cũng do ông Chu Tử giúp đỡ. Vợ tôi chưa từng có của cải hay đồng xu teng hồi môn mang về. Gia đình tôi có tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, kẻ ăn người làm cũng do một bàn tay tôi gây dựng, bằng công việc làm của tôi, nghề cầm bút. Bây giờ khép tội tôi là kẻ ăn cắp tiền bạc thì tôi ăn cắp của ai? Các ông các bà hãy nhìn xem bộ quần áo bà ta đang mặc trên người cũng do tiền tôi mua sắm..
Còn nguyên nhân tôi lộn xộn đòi ly dị không phải mới có đây, có từ khi miền Nam này còn thịnh trị, quân đội Mỹ còn ở miền Nam kia. Người vợ tôi có mộng đi ra nước ngoài để mở tầm mắt nhìn thế giới, nhìn văn minh loài người không phải người Việt Nam. Vợ tôi đưa ra một đề nghị mà người chồng Việt Nam nào cũng phải thất kinh. Bắt chồng phải ly dị, để làm hôn thú với ngoại kiều, chẳng biết một anh lính Mỹ, anh Tây hay anh thợ điện Phi Luật Tân nào đó. Ðể ra đi hợp pháp. Dĩ nhiên tôi không thể chấp nhận đề nghị đó, một đề nghị tàn nhẫn, vô nhân đạo, cạn tàu ráo máng, bôi cứt vào mặt chồng. Thuở đó miền Nam này việc đi lấy Mỹ, lấy ngoại kiều là điều không tốt đẹp gì, một việc bần cùng bất đắc dĩ, việc làm vì hoàn cảnh. Gia đình tôi không đến đỗi ở trong hoàn cảnh đó. Ông Chu Tử, chủ nhiệm của tôi, người bố nuôi của vợ tôi, ông là nhà văn, tâm hồn phóng khoáng. Ông phải la vào mặt tôi:
– Anh nên nhớ rằng người ta lấy đĩ về làm vợ, không ai lấy vợ về cho đi làm đĩ. Nếu anh chiều theo ý cô ấy, tôi không biết anh là con người gì. Anh bôi cứt vào mặt anh, vào liêm sỉ của anh mà sống được à? Chuyện này không thể được!
Ngày 30-4 dịp may đến. Quân miền Nam bại trận. Gia đình tôi trốn đi mà đi không thoát. Hôm nay tôi còn ngồi đây… Tôi biết còn nhiều hoàn cảnh bi thảm khác, hơn hoàn cảnh của tôi nhiều mà người ta vẫn còn chịu đựng được. Tôi linh cảm thấy sắp có những chuyện xấu tồi tệ xảy ra cho tôi. Tôi sẵn sàng đón nhận nó.
Tôi trở thành một tên ngoan cố, ngụy biện. Tôi bị điệu lên phường rồi ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng. Tôi không gặp hai đứa con tôi. Nhưng tôi cố nhẫn nại chịu đựng, rồi cũng có ngày nhìn lại được chúng. Tôi chỉ không ngờ khi nhìn lại hai đứa trẻ trong hoàn cảnh thảm hại như thế. Trong ai oán, trong nước mắt.
Tôi ngồi mãi ở thềm nhà xưa nhìn lên cây thập tự trên tháp chuông nhà thờ Tân Ðịnh. Bộ quần áo cải tạo bạc màu có nhiều miếng vá vụng về, cái túi xách nghèo nàn chứa vài món đồ kỷ niệm con con, lương thực không còn đến một củ khoai. Tôi nhớ con, nhớ những người bạn tù còn ở trong trại, giờ này kẻng đã đánh vang, tất cả đã phải vào lán trại. Niềm vui cuối cùng của kẻ tù tội được ngồi bên nhau. Có lẽ bạn tôi đang nghĩ đến tôi, tôi mang những lời nhắn nhe về cho gia đình họ. Những đứa trẻ xa lạ, con bạn tôi gọi tôi bằng chú hoặc bác. Còn con tôi, chúng ở phương trời nào? Bây giờ cuối năm hơi lành lạnh.
Trong căn nhà của tôi có tiếng đàn bà:
– Con ra xem ai ngồi ngoài cửa kia!
Có tiếng mở cửa sắt, rồi một cái đầu cô gái ló ra hỏi tôi:
– Ngồi chi vậy, đi đi, không có gì đâu.
Thân phận tôi bị hạ thấp xuống thêm một bậc nữa. Tôi giải thích làm gì, tôi đứng dậy và uể oải đi. Bà Tàu, hàng xóm nhà tôi, nhìn tôi, có lẽ nhận ra, bà ta lên tiếng:
– Ông về đó à, sao gầy ốm thế, cô ấy đi rồi, bây giờ nhà ông có chủ khác.
– Cám ơn, tôi biết cả, tôi chỉ về nhìn lại căn nhà xưa một lần cuối.
– Mời ông vào nhà tôi uống ly nước.
– Xin cảm ơn!
Nhiều năm sau tôi không về lại căn nhà xưa, con đường quen thuộc xưa. Tôi giữ tiếng reo cười của con tôi vang mãi trong đầu tôi, tôi không muốn tiếng cười trong sáng ấy lẫn trong những lời rủa sả cay nghiệt của cuộc đời.
Tôi thất thểu đi trên con đường Nguyễn Phi Khanh, dời xa dần ngôi nhà mang số 100. Ngôi nhà mà trước đây nổi tiếng Ô Mai Mơ Bắc Việt. Con đường cũng nổi tiếng theo là con đường ô mai cho lứa tuổi mộng mơ, mà một thời nhà văn Duyên Anh đã phong cho nó qua những tác phẩm trong sáng viết cho tuổi thơ ngọc ngà. Bây giờ chính anh ta cũng đang nằm trong trại học tập cải tạo, trại Gia Trung. Chúng tôi biết tin nhau qua những buổi được đi thăm nuôi.
Ði hết con đường Nguyễn Phi Khanh, băng qua ngã tư Trần Quang Khải, tôi đi vào đường Trần Khắc Chân. Leo qua hai cây cầu gỗ bắc ngang kinh Nhiêu Lộc xuống cù lao địa phận ấp Ðông Ba, nay là Phường 6 quận Phú Nhuận. Tôi trở về ngôi nhà xưa thuở đầu đời. Nay mẹ tôi đang sống. Trời tối mịt tôi mới về đến nhà. Mẹ tôi mừng rỡ:
– Mẹ biết con về, hôm qua mẹ đi họp người ta nói con được tha, chỉ về trong nay mai. Ngày hôm nay mắt mẹ nháy nhiều.
Mẹ tôi vét thùng gạo, toan nấu cho tôi một chút cơm. Nhưng tôi từ chối, tôi xin mẹ tôi đi thăm hàng xóm, những người đã gửi cho tôi nải chuối, củ khoai hoặc tán đường trong những lần mẹ tôi đi thăm nuôi tôi trong trại học tập cải tạo.
Sau đây là trang Nguyễn Thụy Long viết về đời sống gia đình, tình yêu của một số văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày đổi đời:
“Nguyễn Nghiệp Nhượng, chồng của ca sĩ Hồng Vân phải ký tên vào đơn xin ly dị với vợ, không ký cũng không được. Hồng Vân có một người chồng cán bộ khác, cũng làm văn hóa văn nghệ gì đó, so với Nguyễn Nghiệp Nhượng bây giờ, thằng thợ ngồi sửa xe đạp lề đường thì một trời một vực. Buổi trưa tôi thấy thằng cu Bi, con của Nhượng và Hồng Vân, mang đồ ăn ra cho bố. Mở ngăn gà-men ra tôi thấy mấy củ khoai luộc, loại lương thực bán ở tổ dân phố, củ khoai nào cũng bị sâu ăn đắng nghét đến hai phần ba.
Ngồi ở dốc cầu Bông, tôi nhìn thấy người vợ đầu gối tay ấp của tôi, ngồi sau xe của một thằng Tây lai mặt đầy trứng cá chở đi. Nàng làm thủ tục kết hôn, dĩ nhiên nàng được xuất cảnh ra đi theo chồng diện con lai.
Bên cạnh người ngồi lề đường là một quán cóc bán mấy thứ rượu, đồ mồi lèo tèo và chắc chắn là những thứ hạng bét. Buổi sáng tôi bán được mấy cái bù loong kiếm được mấy hào.
Tôi mua được một xị rượu cùng uống giải sầu. Nhượng góp một con cá khô nướng làm mồi đưa cay.
Tôi nhạy cảm nên muốn uống rượu rồi khóc như diễn viên điện ảnh Huy Cường. Nhưng khi nhìn mặt Nhượng sắc lại. Ðôi mắt dõi dõi nhìn xuống giòng kinh Nhiêu Lộc đục ngầu, bốc mùi hôi thối đến lợm giọng.
Tôi và Nguyễn Nghiệp Nhượng nói với nhau những câu vô nghĩa.
– Tao không bao giờ tắm ở con kinh này.
– Tao gác bút, tạm thời gác bút.
– Ðúng thôi, mày nên làm phụ tá đặc biệt cho tao để kiếm khoai sống qua ngày. Chưa biết sửa xe thì mày giữ nhiệm vụ bơm xe, bỏ tí sức lao động ra, mỗi chiếc bánh xe cũng được một hào đấy, rồi học vá xe, từ vá tay đến vá ép mấy hồi… Máy móc xe đạp cũng đơn giản thôi, khó nhất là rút căm xe đạp.
Tôi rất phục Nguyễn Nghiệp Nhượng vì anh ta có năng khiếu khoa học kỹ thuật về xe đạp. Hồi xưa tôi đã thấy anh ta tháo tung cả chiếc máy chữ lau dầu rồi sửa chữa tốt lại. Thì ngày nay cái xe đạp, xe honda cũ rích có nhằm nhò gì.
– Tao gác bút!
– Ai cho mày viết văn mà chẳng gác. Coi chừng bị đếm lịch. Học lấy một nghề mà kiếm ăn, không phải nuôi vợ con thì nuôi mẹ già mày. Tao có phúc hơn mày vì còn được nuôi mẹ nuôi con. Thôi câm miệng đi rồi uống rượu. Ngồi trên con kinh nước đen này chẳng nên thơ tí nào.
– Ừ thì câm nhưng tao là thằng Trâu nước lội dưới kinh nước đen.
– Tốt, tốt. Nhưng rượu chưa đủ đâu. A, mày nghe gì về Dương Nghiễm Mậu không?
– Nó ở tù, mới ra, bây giờ nó làm nghề sơn mài. Ngồi uống cà phê cứ có ba người là nó đứng dậy biến, nó cảnh giác cao như sống trong thời Thương Ưởng phò Tần Hiến Công thuở Ðông Chu Liệt Quốc.
– Phải thôi, nhưng mình cũng nên câm miệng lại. Trâu nước, tao biết mày có bệnh vạ miệng. Có miệng thì cắp, có nắp thì đậy…”
Hồi Ký Viết Trên Gác Bút còn phản ảnh nhiều mẩu đời, nhiều hoàn cảnh đen tối, bi thảm, cười ra nước mắt xảy ra dưới thời Cộng Sản toàn trị. Nó đúng là một xã hội không phải của người nữa.
Sau lần cãi vã với nhau, Hạnh nghĩ rồi ra mọi chuyện sẽ qua đi. Nhưng không đơn giản như vậy. Giữa hai người lửng lơ một cái gì bất bình thường. Nó không hiển lộ ra rõ ràng, nhưng Hạnh cảm thấy nó cứ lảng vảng đâu đó. Lục ít nói hẳn đi. Anh thường tránh đề cập đến ý định của mình. Nhưng nhìn bộ dạng của chồng, Hạnh biết chắc rằng chồng vẫn còn nuôi mộng đi buôn. Biết thế, nàng cố tránh không nhắc nhở gì. Hai người đã ngủ chung với nhau, nhưng mùi vị ân ái trở nên nhạt nhẽo. Những nụ hôn thiếu hẳn nồng nàn. Vòng tay lơi lỏng. Lục của nàng như khác đi. Bướng bỉnh mà vụng về. Nhiều lúc, thụ động và ngờ nghệch. Còn nàng, không hiểu sao, nàng cảm thấy ngơ ngác và lạ lẫm. Cảm giác đó đeo đẳng theo nàng trong sinh hoạt hàng ngày cũng như khi nằm bên cạnh Lục. Cái gì thế nhỉ?
Sáng hôm đó, thức dậy, nàng chợt nghe ân hận. Bèn bỏ ý định đi thăm bạn. Thấy anh vừa đánh răng xong, nàng nói:
– Mình đi ăn sáng đi anh.
Lục không trả lời nàng, mà hỏi:
– Em đã lên thăm bà nội mấy đứa chưa?
Nghe nhắc đến mẹ chồng, Hạnh hơi bực. Nàng trả lời mà như ném chữ vào mặt anh:
– Chưa!
Nhận ra giọng mình hơi xẵng, nàng dịu giọng:
– Lu bu chuyện này chuyện nọ, em quên mất. Hay chốc nữa hai vợ chồng lên thăm luôn.
Lục dứt khoát:
– Em đi một mình đi.
Hạnh biết giữa chồng và mẹ chồng đã từng cãi vã nhau khi nàng vắng mặt, nên khi nghe chồng nói vậy, nàng im lặng, tự nhủ thôi thì hôm nay ráng ghé thăm bà nội một chút cho phải lẽ. Nàng nói:
– Mình đi ăn sáng trước đi anh. Ghé quán bún mụ gì ở Ðập Ðá đó. Lâu quá mình chưa ăn bún dưới đó. Ði anh!
Lục không nói gì, lẳng lặng thay áo quần.
Hai vợ chồng chở nhau ra đầu ngõ, đúng lúc một chiếc xe con Liên Xô chạy tới. Lục dừng xe, nhường đường. Nhưng ngang trước nhà, chiếc xe con chạy chậm, dừng lại. Người tài xế nhảy xuống, nhìn lui nhìn tới, rồi hỏi anh:
– Cho tôi hỏi chút xíu. Ðây có phải là nhà bà Hạnh không ạ?
Hạnh nhảy xuống xe, ngạc nhiên:
– Tôi là Hạnh đây. Anh tìm tôi có việc gì?
Cậu tài xế không nói gì, rút ra tấm thiệp nhỏ, đưa cho Hạnh. Thấy cái tên trên tấm cạc, tim Hạnh đập thình thịch. Mặt nàng tái đi, hai tay run run. May mà Lục đứng sau lưng, nên không biết gì. Nàng đọc xong mấy chữ viết nguệch ngoạc sau tấm cạc, yên tâm. Nàng định tĩnh lại, đưa tấm cạc cho chồng. Lục đọc xong, hỏi:
– Em quen với ông này à?
– Thì Công Ty Xuất Nhập Khẩu Nông Lâm Sản mà em nói với anh đó. Nhưng ông ở trên tấm cạc này là Bí thư huyện uỷ, cấp trên của ông giám đốc nữa. Chính ông này ký ngân phiếu trả tiền cho em đấy.
Lục gật gù ra vẻ hiểu, đưa trả tấm cạc lại cho Hạnh. Hạnh cám ơn cậu tài xế, nói:
– Em về nói lại với ông Bí thư là hai vợ chồng anh chị sẽ ghé thăm ông.
Quay sang Lục, nàng nói:
– Cũng may là gặp ngay tại đây. Lát nữa, ăn sáng xong, anh với em qua đó thăm ông ấy một chút. Em muốn giới thiệu anh với ông ta. À, này em, em có biết rõ khi nào ông Bí thư có mặt ở nhà khách không? Chắc ông mới ra, bận lắm nhỉ?
– Bận thì bận quá đi rồi. Ði công tác xa như thế này, em gần như trực trăm phần trăm. Sai đâu đi đó, không có giờ giấc rõ ràng. Ông bảo đi là đi, chẳng hề báo trước. Nhưng em biết chắc giờ này ông đang có mặt bên đó, lý do là vì em đang ở đây.
– Thôi được. Em về trước nói với ông là tụi chị sẽ qua chào ông bây giờ. Mình qua bên đó trước đã, anh thấy sao?
Lục ngần gừ, không muốn đi. Hạnh giục:
– Ði anh. Gặp một chút, rồi đi ăn sáng sau. Người Nam họ dễ tính lắm. Gặp thăm hỏi năm điều ba chuyện xong là chào đi thôi, không có thủ tục rườm rà như người Huế mình.
– Nếu vậy để anh vào thay áo quần lại. Ăn mặc thế này chướng lắm.
Hạnh cản:
– Ôi, hơi đâu mà lo. Ðâu có sao. Tính ông này xuề xòa lắm. Mình ăn mặc “ra vẻ” quá đôi khi không hay.
Ðúng như Hạnh nói, Mười Giộc ăn mặc xuề xòa. Chân đi dép nhựa cán bộ. Áo trắng bỏ ngoài quần. Ông tiếp hai vợ chồng Hạnh ngay trong phòng khách của nhà khách tỉnh nằm trên đường Lê Lợi. Phòng khách lớn, sang trọng, trang trí theo kiểu tây. Một bộ xa lông gỗ rộng, kiểu cổ đặt ngay chính giữa. Lưng dựa và chỗ tì tay đẽo thành hình rồng phượng. Bên cạnh là một cặp ngà voi thật lớn, dựng trên một cái giá gỗ lên nước sáng bóng. Xưa nay đi ngang đi lại nhà này nhiều lần, Hạnh không ngờ bên trong lớn và sang như thế này.
Thấy hai vợ chồng Hạnh vào, ông ta đưa tay ra bắt Lục, nắm chặt bàn tay lắc lắc một hồi lâu:
– Hân hạnh, hân hạnh!
Xong, ông ta đưa tay ra bắt tay Hạnh. Hạnh thấy kỳ kỳ, nhưng nàng cũng lịch sự đưa tay, lòng ngượng nghịu với chồng. Ông lắc lắc bàn tay Hạnh một hồi nữa, miệng lập đi lập lại hai chữ “hân hạnh”. Lục tức cười nhưng cố nhịn. Hạnh cảm thấy khó chịu và quê với chồng, nhưng ráng giữ khuôn mặt bình thường. Cả ba ngồi xuống. Bộ xa lông lớn quá khiến người này ngồi cách người kia khá xa. Vừa ngồi xuống cái ghế lớn đối diện với hai vợ chồng, Mười Giộc đứng ngay dậy, kéo chiếc ghế nhỏ đặt một bên cặp ngà voi đến gần bàn:
– Ghế lớn, ngồi nhìn nhau trông nhạt quá, phải không anh chị?
Hạnh gật đầu. Móc túi không thấy thuốc, ông ta kêu chú tài xế đang đứng lấp ló ngoài hành lang đi tìm cái cặp, đem vào. Ông mở cặp, rút gói craven A, mở ra lấy một điếu, rồi ném xuống giữa bàn, đẩy tới mời Lục:
– Anh hút thuốc.
Lục hờ hững rút một điếu, cầm trong tay. Ðợi Mười Giộc châm thuốc xong, Hạnh nói:
– Sao, anh à… ông Bí thư có khỏe không? Ông ra khi nào vậy?
Bí thư cười rổn rảng, không trả lời thẳng vào câu hỏi của Hạnh:
– Huế đẹp thật! Cảnh đẹp mà người cũng đẹp, nhất là mấy bà, mấy cô. Vùng tôi, cảnh đã không mà người thì xoàng xoàng.
Hạnh dè dặt:
– Ông mới ra đây lần đầu?
– Nói thế cũng không có gì sai. Thường mỗi khi đi công tác Hà Nội, tôi chỉ dùng máy bay. Có lần đi xe con, có ngang qua đây. Có ghé chợ, nhưng vội quá, chẳng ở lâu. Thế nào, chị có khỏe không? Còn anh? Ðây là chồng chị phải không? Anh tên gì nhỉ? Anh cũng người Trung đấy nhỉ? Giờ công tác đâu?
Lục nói đùa:
– Tôi làm anh nuôi.
– Thế à? Hay nhỉ. Ðơn vị nào vậy?
– Anh nuôi tại gia, ông Bí thư ạ.
– Cái gì mà gọi là anh nuôi tại gia? Ðơn vị nào lạ vậy kìa. Tôi chưa bao giờ nghe nói đến.
Hạnh cười xòa:
– Anh đùa đấy, ông Bí thư ạ. Anh nuôi tại gia là làm việc nhà đấy. Tôi đi đây đi đó hoài, anh ở nhà lo chăm sóc con cái.
Bí thư cười sảng khoái:
– Cũng thú nhỉ. Thế nào, cô Hạnh có định vào lại thành phố Hồ Chí Minh không?
Hạnh tránh không nhìn thẳng vào mặt Mười Giộc. Nàng sợ rằng ông ta vui miệng sẽ nói lung tung. Nàng đáp nhỏ:
– Dạ, chưa có định gì hết. Mới ra mà ông Bí thư.
Như để đánh tan nỗi lo ngại của nàng, ông ta nhìn Lục, nói:
– Tôi gặp cô Hạnh, à bà nhà đây trên trụ sở công ty ở Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Bà là một trong những khách hàng đầu tiên của công ty huyện chúng tôi. Bọn tôi định mở rộng địa bàn hoạt động ra ngoài này đó anh. Vùng tôi không thiếu gì lúa gạo, nhưng thiếu nhiều thứ khác.
Lục cố tỏ ra chăm chú lắng nghe. Hạnh hỏi:
– Thế ông Bí thư có định ra đây làm ăn không?
– Ðấy, đấy, cái này phải cần đến những người ở tại địa phương, như cô chẳng hạn. Lần này, tôi đi tham quan một chuyến cho biết. Nhưng nhất định sẽ phải đặt một trạm thu mua ở ngoài này. Có lẽ ở Ðà Nẳng cho tiện. Rảnh, ta sẽ ngồi lại bàn với nhau phương thức làm ăn. Tôi có hỏi dò bên thương nghiệp thành phố rồi. Họ cho biết, không trở ngại gì. Chỉ có cái khâu nhân sự thì…hơi phiền. Tất nhiên là phải dùng người địa phương. Nhưng kiếm người tin cậy thì không dễ. Phải vừa rành việc, vừa lanh, nhưng cũng phải, như cô biết đó, cũng phải…biết điều nữa. Không biết điều thì gay lắm. Với dân Nam bộ như tôi, xứ này còn mới quá. Tính tôi ngang phè, nghĩ sao nói vậy. Ở đây, người ta ít người nói thẳng những gì họ nghĩ trong đầu. Gay là ở khâu này. Biết người ta thích cái gì là rất dễ cho việc của mình.
Bí thư vứt đi điếu thuốc mới hút một nửa, đứng dậy, rút một điếu khác, mồi tiếp. Nhìn quanh không thấy cái gạt tàn, ông đi thẳng tới chậu kiểng đặt sát tường, dí vào gốc cây cho tắt rồi trở lại ghế ngồi.
– Chiều nay, tôi đi Hà Nội. Ra Bộ lo cho xong mấy cái giấy tờ, nhân thể gặp đồng chí Thứ trưởng Ngoại thương để xin ý kiến. Trở lại đây, tôi sẽ làm việc với các đồng chí địa phương, cả đây, cả ở Ðà Nẳng.
Nhìn Lục, Bí thư giải thích:
– Làm ăn bây giờ, khâu nào cũng phải thông, anh biết không. Hễ khâu nào có vấn đề, có sự cố là không ổn đâu. Phải tính đủ trong, ngoài, trên, dưới mới có thể tiến hành công việc được.
Quay sang Hạnh, ông tiếp:
– Khi vào lại, tôi ở đây một thời gian để làm việc với bên tỉnh và thương nghiệp. Giờ ở tạm nhà khách này, sau ở dài ngày chắc phải về đóng quân tại khách sạn Hương Giang. Cô Hạnh thấy có ai chịu làm ăn với dân Nam bộ chúng tôi thì giới thiệu nhé.
Thấy bộ tịch của Mười Giộc, Hạnh đoán ông ta muốn chấm dứt câu chuyện ở đây, nên bấm Lục đứng dậy:
– Thôi, xin chào ông Bí thư. Khi nào trở lại, nếu ông Bí thư cần gì, vợ chồng tôi sẵn sàng tiếp một tay.
– Vâng, có gì tôi sẽ báo cho anh chị rõ.
Vừa nói, Mười Giộc vừa đứng dậy, đi ra phía cửa. Hạnh và Lục bước theo sau. Ðến cửa, Lục đi nhanh ra phía bên hông nhà khách lấy xe. Hạnh rảo bước xuống tầng cấp. Bỗng Mười Giộc gọi nhỏ:
– Hạnh, Hạnh!
Hạnh dừng lại, ngoái đầu lui nhìn. Ông ta bước nhanh xuống bên cạnh, nói nhỏ:
– Anh nhớ em thiệt tình. Anh nói đùa vậy chứ sáng mai anh mới đi Hà Nội. Chiều nay, đi chơi với anh nhé.
Nghe nói, Hạnh bẽn lẽn cúi đầu xuống, tim đập mạnh. Nàng hít một hơi thật mạnh, nói mà không nhìn lui:
– Không được đâu, ông Bí thư.
Nói xong, nàng bước vội xuống tầng cấp. Giọng Mười Giộc đuổi theo nghe thoang thoảng như từ đâu tới:
– Anh đợi đây lúc ba giờ chiều. Ði Ðà Nẵng chơi, tối về. Nhớ nghe cưng, anh đợi.
*
Ăn cơm trưa, dọn dẹp xong, Hạnh nói với chồng nàng đi thăm bà nội mấy đứa nhỏ. Biết Lục không muốn đi, nhưng nàng vẫn hỏi:
– Anh đi với em chứ?
– Anh đã nói rồi, em đi một mình đi.
Hạnh rú xe ra đến cửa ngõ, dừng lại, quay lui, nói lớn:
– Ghé mạ xong, em đi Kim Long thăm đứa bạn với lại tạt sang nhà mấy bạn hàng xem thử hàng hóa ra sao. Nếu em không về kịp, có đồ ăn em nấu sẵn, chỉ hâm lại rồi mấy cha con ăn.
Nhìn vào tấm gương chiếu hậu, thấy khuôn mặt mình nhợt nhạt, Hạnh mới sực nhớ là chưa đánh phấn và thoa son. Nàng dựng xe lại, cứ để máy nổ, chạy vội vào nhà đánh một lớp phấn mỏng lên má, lấy tấm vải xoa nhẹ, nghiêng khuôn mặt qua lại để chắc chắn là má không quá hồng. Xong dùng thỏi son môi xoa lên môi một lớp. Thấy quá đậm, nàng lấy tay chùi bớt, rồi cẩn thận thoa lại. Ngắm nghía cẩn thận, thấy khuôn mặt bây giờ có phần tươi trẻ hơn, lại không có vẻ gì quá đỏm đáng, nàng yên tâm ra xe.
Ði thăm mẹ chồng, nàng trông đợi một khuôn mặt lạnh lẽo, những câu chào hỏi lấy lệ, những cái nhíu mày, bĩu môi vừa cố tỏ ra lịch sự nhưng đồng thời cũng muốn cho kẻ đối diện biết rằng tôi chẳng ưa gì cô. Mối liên hệ bà gia-con dâu vốn không bao giờ tốt đẹp lại càng tệ hơn khi Hạnh đi buôn chuyến, thường xuyên vắng nhà. Hạnh biết mẹ chồng lo ngại là điều có lý. Nhưng nàng không thể chấp nhận bà mẹ chồng xem chuyện nàng đi buôn đường xa để nuôi chồng nuôi con là một hành vi không đứng đắn. Trong cái nhìn của bà, Hạnh biết, bà đã có một phán đoán dứt khoát về cô con dâu: nàng đã hư hỏng. Mặc! Bà nghĩ gì là quyền của bà. Nàng có hư hỏng hay không là quyền của nàng. Nàng không mất công cãi lại bà, và cũng chẳng muốn “người ta” xâm phạm đến quyền của mình.
Trái với dự đoán của Hạnh, mẹ Lục đón tiếp con dâu một cách vui vẻ, thoải mái. Bà cụ hỏi thăm sức khỏe của nàng, sức khoẻ của ba mẹ nàng, các ông chú, ông bác, bà dì và cuối cùng nói về mấy đứa cháu nội. Bà khen đứa này, trách nhẹ đứa kia. Hạnh cũng hỏi thăm sơ sơ, rồi gục gặc đầu lắng nghe. Hai người tuyệt nhiên không đề cập gì đến chuyện đi buôn của Hạnh. Lại chẳng nhắc gì đến chuyến đi quá dài ngày vừa rồi. Bà mẹ chồng ra vẻ một bà già dễ tính còn Hạnh thì cố tỏ ra nhu mì, hiếu đạo.
Trước khi ra về, Hạnh thưa:
– Còn mấy chỉ hôm trước mạ cho tụi con mượn, mạ đã cần lấy lại chưa?
Bà cụ xua tay:
– Cứ giữ đó. Khi nào mạ cần, mạ hỏi.
– Dạ, vợ chồng con cám ơn mạ.
Ra đến đường, Hạnh thở phào, tự nhủ thế là xong bổn phận. Nhìn đồng hồ, thấy gần hai giờ, nàng chạy ra cửa Chánh Tây, lên Kim Long, tìm đến nhà Tùy. Rủi thay, Tùy vắng nhà. Vậy thì đi đâu bây giờ? Bỗng nhiên, Hạnh bối rối. Về nhà? Không. Dắt chiếc xe xuống mấy tầng cấp bằng gạch trước cửa ngõ nhà Tùy, Hạnh dừng lại, suy nghĩ. Nàng cố nhớ chỗ của một số bạn hàng buôn trầm vùng này. Bà Hoa. Bà Ðợi. Ông Vàng. Thằng Chiến. Họ ở vùng này thật, nhưng khu Kim Long đường ngang ngõ dọc, làm sao nàng biết được nhà người này người kia ở đâu. Nhà nào trông cũng từa tựa nhau, vườn rộng, cây cối sum suê. Lúc đi mua hàng, nàng thường chạy theo người cò, từ nhà này len lỏi qua nhà khác, không cách gì nhớ ra nổi.
Ðành rú xe chạy vòng vòng. Những vườn cây Kim Long um tùm như rừng. Nàng chạy lung tung, hết đường này rẽ qua đường khác, lòng hoang mang bất định. Cuối cùng, không hiểu sao nàng ra được đến đường cái. Không lẽ vòng trở lại, nàng đành chạy chầm chậm về hướng phố. Gió từ bờ sông thổi vào lạnh. Bây giờ nàng mới nhớ ra nàng chỉ mặc một bộ đồ phong thanh. Trời mùa xuân nắng ráo, nhưng về chiều, vẫn còn ngây ngấy, phảng phất cái rét kéo dài của mùa đông. Ðến gần cầu Sông Hương, nàng ngập ngừng một chút rồi quyết định chạy qua cầu. Mới có hai giờ rưởi. Nàng chạy thật nhanh trên đường Lê Lợi, hướng thẳng về phía ga. Ðến ga, nàng dừng xe ngay trước cửa, bước vào trong, nhìn quanh. Không thấy ai quen. Cũng chẳng thấy gì. Lại trở ra, rú xe chạy tiếp. Ðến ngang nhà khách tỉnh, nàng càng bối rối hơn. Thấy một chiếc xe bán nước mía nằm phía bên kia đường, chênh chếch một chút về phía trên so với cái cổng chính vào nhà khách, nàng bèn vòng xe lại, ghé vào. Nàng ngồi xây mặt về phía ga, gọi ly nước mía.
Thời gian lặng lẽ trôi qua. Nàng cố uống. Nhưng mùi nước mía nghe nhạt thếch. Ðầu óc rỗng không. Lòng cồn cào. Nàng bắt gặp chính nỗi sợ hãi của mình. Lâu lâu, nàng liếc nhìn cánh cổng nhà khách. Chẳng có gì. Tự dưng, nàng tuyệt vọng. Thế thì về thôi. Nàng cố núc một hơi cho hết ly nước mía, đứng dậy trả tiền, lấy xe chạy như người mất hồn. Ði ngang trước cổng nhà khách, nàng rú thật nhanh. Ðang ngon trớn, đột nhiên một chiếc xe con từ đâu phía sau vượt qua nàng, rồi chạy thật chậm trước đầu xe. Nàng bực mình, lách sang một bên, vượt lên. Khi qua khỏi chiếc xe, nàng nghe có tiếng ai gọi:
– Hạnh, Hạnh!
Hình như giọng của Mười Giộc. Nàng tảng lờ, rú xe chạy nhanh hơn nữa, len lách qua nhiều hàng xe trước mặt, quẹo qua cầu, về nhà. Ðến trước cửa ngõ, nàng hồi hộp nhìn lui. Ðường vắng tanh.
Hú hồn!
Chương 18
Dù sao, chuyện Mười Giộc ra làm ăn ở ngoài này cũng đem lại cho Hạnh nhiều hy vọng. Làm ăn với một công ty giàu có, lại là công ty nhà nước sẽ khiến cho Hạnh yên tâm hơn. Khỏi lo sợ hàng bị mất, bị bắt. Khỏi chạy vạy phương tiện chuyên chở. Khỏi lo hàng đứng, hàng chạy. Khỏi lo cả vốn liếng nữa. Tuy ông ta có làm cho nàng bối rối thật đấy, nhưng nghĩ cho cùng, nàng tin là mình sẽ giải quyết êm đẹp. Lần gặp sau, nàng sẽ nói thẳng với ông ta về tình hình của nàng, về dư luận địa phương, về sự tôn trọng lẫn nhau cần thiết để cho mọi việc êm xuôi. Nàng sẽ nói cho ông ta biết rõ rằng những gì xảy ra đêm đó chỉ là chuyện qua đường. Một kỷ niệm vui. Một kỷ niệm văn nghệ. Hay nếu cần, nói thẳng cho ông ta hay, đó chỉ là một hình thức đổi chác không hơn không kém. Không có gì để phải vướng bận lẫn nhau.
Vả lại, ở đây, có Lục. Nàng sẽ đi cùng với Lục khi có việc gì giao dịch với Mười Giộc. Hay tốt hơn hết, đẩy mọi chuyện cho chồng. Ðúng rồi, đang lúc Lục đang nảy ra ý định đi buôn, tại sao không kéo anh dính líu vào chuyện giao dịch với công ty mới này. Anh vừa giúp nàng vừa học hỏi, lại vừa làm cho có tiền. Cả hai vợ chồng cùng làm.
Hạnh đem ý tưởng đó ra bàn với chồng. Nàng nói:
– Anh này, nhân đám trong Nam ra làm ăn ngoài này, em nghĩ là mình nên kiếm một chỗ.
– Anh không hiểu ý em. Kiếm một chỗ là thế nào?
Hạnh thú nhận:
– Em cũng chưa biết. Em chỉ đoán là họ lập trạm ở đây, họ cần phải có nhiều người địa phương hợp tác. Những người đó chắc chắn là phải rành về trầm, giỏi giao dịch.
Lục cười:
– Nói rành về trầm, với giỏi giao dịch thời buổi này thì không phải là ứng vào anh rồi, phải không?
– Em nói chưa hết. Ngoài những người đó ra, thế nào họ cũng cần phải có người thư ký chẳng hạn, cần người thủ kho, cần người làm hàng vân vân. Ðây là em hình dung vậy.
– Ðây là một công ty nhà nước, phải không?
– Thì là nhà nước chứ ai nữa. Cái ông mình gặp hôm trước là Bí thư huyện ủy đấy. Chính em tận mắt thấy ông ta ký giấy tờ ở trong trụ sở Ủy ban nhân dân huyện à không…không phải, em nói lộn…ở trên trạm thu mua ở Gò Vấp. Ðó là nơi em đến bán hàng. Ông ta xởi lởi…lại rộng rãi nữa…à không, tính người Nam họ ít chi li như người Trung mình. Họ nhập hàng dễ lắm.
– Vậy em muốn anh vô làm cho công ty chứ gì. Anh chắc chắn là họ không cần anh đâu. Mà lại, lý lịch của anh đâu có hay ho gì.
Hạnh bực:
– Thì em đã nói hết đâu. Chưa chi anh đã nói lui. Em bàn tới anh lại cứ bàn lui. Vậy chẳng phải anh thích có một cơ hội gì để làm ăn à? Giờ có cơ hội, anh lại lừng khừng.
– Anh lừng khừng cái gì? Mình chưa rõ mô tê ất giáp gì cả, nghĩa là chẳng biết họ có thực muốn làm không, làm như thế nào, họ cần ai? Bỗng không, từ trong Nam ra, địa bàn của họ họ không làm, lại mò ra đây. Vậy chắc phải có chuyện gì đây.
– Anh không nghe ông ta nói à? Ông ra Hà Nội gặp ông Thứ trưởng, rồi mới vào liên hệ địa phương. Người ta tốn công tốn tiền từ trong Nam ra đấy, đâu phải chuyện chơi.
Lục cười:
– Nói thật với em, thấy cái cung cách ông ta, anh có cảm tưởng như là một tay giang hồ nào đó, chứ không ra vẻ gì là một viên chức nhà nước đàng hoàng. Nhất định có cái gì không bình thường. Em có nghe ông ta nói không, ông phải chạy vạy cho khâu nào cũng thông. Thế nghĩa là thế nào?
Hạnh kiên nhẫn:
– Thì em bàn vậy thôi, chứ có phải dứt khoát là mình làm việc cho ông ta đâu. Em chỉ muốn tìm cho anh một chỗ…
Lục xua tay:
– Làm gì chứ làm với cái đám răng đen mã tấu đó, anh không mấy ưa. Nghe cái kiểu nói ngang ngang của đám cán bộ là anh đã dị ứng rồi. Dù sao, anh cũng là sĩ quan…
– Thôi, thôi, anh làm ơn xin im cái miệng lại giùm em. Ðừng có sĩ quan với không sĩ quan. Sĩ quan mà thua thì có khác gì, có khác gì…Mà lại, thời buổi này phải sống trước đã. Anh không muốn làm thì thôi, nhưng đừng có kỳ đà cản mũi.
*
Tuần sau, Muời Giộc vào lại Huế và cho người qua nhắn Hạnh. Hạnh phân vân. Lục đã nói rồi, anh không chịu đi gặp. Mà đi một mình đến gặp ông ta tại khách sạn là điều nàng không muốn tí nào. Nàng bối rối, lừng khừng và nôn nao. Nửa muốn biết công việc làm ăn của công ty đến đâu rồi, nhưng nửa lại ngại ngần, vì chắc chắn là Mười Giộc sẽ hiểu lầm ý định của nàng. Nhưng bỏ qua một cơ hội như thế này thì quá uổng. Nàng ướm thử Lục một lần nữa. Lục nói, giọng cương quyết:
– Anh đã nói rồi, anh không thể thích nghi với cái giọng cán bộ. Mà chuyện làm ăn, anh chẳng rành. Có anh vào, càng thêm khó cho em, chứ ích gì.
Năn nỉ mãi không được, Hạnh đành phải tự quyết định. Thế là hôm sau, Hạnh đi. Dừng xe phía bên kia đường, nàng bảo Lục cùng vào, ngồi đợi nàng ở phòng khách, để nàng nói chuyện với tay giám đốc xong, thì chở nàng về. Nhưng Lục vẫn không chịu, nói vào đó, ngồi như thằng nhà quê mới lên phố, anh không thích, để anh đi vòng vòng chơi một hồi rồi quay trở lại, đợi ngoài đường. Hạnh bực tức, vùng vằng bỏ đi, lầm bầm đúng là anh chàng vô tích sự.
Đã từng đi qua đi lại hàng bao nhiêu lần trước khách sạn này kể từ khi nó mới được xây dựng, nhưng lần đầu tiên bước vào đây như bước vào một thế giới khác. Nàng lúng túng bước đi trên cái hành lang láng bóng đầy ánh sáng từ ngoài hắt vào qua cửa kính và ánh đèn điện từ trên trần nhà đổ xuống. Nàng có cảm giác như những bước đi của nàng đều được mọi người thấy rõ. Ngồi ở quầy tiếp tân là một cô gái mà mới nhìn qua, nàng biết ngay là một phụ nữ chi viện từ ngoài Băc. Hỏi tên Mười Giộc, cô ta kiểm tra không thấy. Hỏi tên Công Ty Thu Mua Nông Lâm Sản, cũng không có. Cuối cùng, khi cô gái dò tên những người từ miền Tây đến đăng ký, mới hay Mười Giộc là ông Tâm, Hoàng Tâm, cái tên nàng nghe nhắc một vài lần mà quên mất.
Cô gái nhìn bảng số phòng treo thật lớn ở vách tường bên cạnh, rồi gọi điện thoại lên phòng. Xong, cô nhìn Hạnh:
– Ðồng chí cho tôi mượn “Chứng minh nhân dân”.
Hạnh giật mình. Lại phải đưa “Chứng minh nhân dân” sao? Nàng lúng túng, định từ chối. Nhưng nghĩ lại, đã vào đến đây mà không theo quy luật tại đây thì làm sao được. Rút lui cũng không xong. Nàng đành móc bóp, đưa “Chứng minh nhân dân” ra. Cô ta cầm lấy, nhìn mặt truớc mặt sau, rồi nhìn Hạnh nhiều lần. Hạnh hồi hộp chờ đợi. Nàng vừa sốt ruột vừa ngượng. Cô ta hỏi:
– Ðồng chí vẫn còn ở địa chỉ này chứ?
– Vâng.
– Hình của đồng chí cũ quá, trông không khớp với người. Có dịp đồng chí nên đi đổi lại giấy mới cho tiện. Chắc đồng chí cũng quan hệ với nhiều cơ quan, phải không?
Hạnh gật đại cho xong chuyện. Cô gái chỉ tay về phía trong nói:
– Ðồng chí theo cầu thang đàng kia lên tầng hai, ngồi đợi ở phòng khách, chỗ có bộ xa lông lớn.
Hạnh thoát nợ, lí nhí cám ơn rồi vội vã đi nhanh tới phía cầu thang. Leo lên lầu đến chỗ phòng khách, nàng tần ngần không biết làm gì. Thấy sông nước chợ búa hiện ra ngoài khung cửa kính, nàng bước tới sát cửa đứng nhìn. Toàn cảnh chợ Ðông Ba trải dài phía bên kia, trông gọn gàng, nhỏ nhắn như một khu dân cư. Trên sông, thuyền đò lênh đênh, chập chùng. Bỗng có tiếng động sau lưng. Nàng giật mình quay lại. Một người đàn bà đang bước lại gần, tay lắc lắc chùm chìa khóa kêu leng keng. Thấy Hạnh, chị ta dừng lại ngắm nghía một lát, rồi hỏi:
– Có phải cô là người muốn gặp khách ở phòng 203 phải không?
Nàng lúng túng, vì thật sự khi lên đây, nàng quên hỏi Mười Giộc ở phòng số mấy. Nàng nhìn người đàn bà, hỏi:
– Chị phục vụ ở đây à?
– Không. Tôi hỏi lại, có phải cô muốn gặp khách ở phòng số 203 không?
– Tôi muốn gặp ông Tâm, Công Ty Thu Mua Nông Lâm Sản Tân Hiệp.
Người đàn bà cao giọng:
– Ở đây không có ông Tâm nào của Công Ty Thu Mua Nông Lâm Sản cả. Chỉ có ông Tâm, Bí thư huyện ủy.
Hạnh vui mừng:
– Vâng, đúng là ông ấy, ông vừa là Bí thư huyện vừa là…là…
– Không vừa là gì hết. Bí thư là Bí thư thôi.
Nói xong, người đàn bà ngồi xuống ghế, đồng thời chỉ cái ghế đối diện:
– Cô ngồi xuống đó.
Nàng lẳng lặng ngồi, nhìn thẳng vào người đàn bà. Chị ta mặc một bộ đồ màu xanh, vải láng bóng, ngang trước ngực có thêu hai bên hai bông hoa màu mè rực rỡ. Có lẽ vì thế mà bộ áo quần khá rộng so với khổ người. Không thấy ngực đâu cả. Khuôn mặt ốm, dài, hai lưỡng quyền cao, đôi môi hơi thâm, khuôn mặt tai tái, dù có đánh phấn. Tóc bới ngược ra sau thành một lọn, để lộ hai đôi bông tai màu ngọc xanh, lủng lẳng.
Chị ta đặt chùm chìa khóa trên mặt bàn, nhìn Hạnh, nghiêm giọng:
– Cô đến quan hệ với ông Tâm có việc gì?
– Việc làm ăn.
Thấy chưa rõ ràng lắm, nàng nói thêm:
– Việc làm ăn của Công Ty Thu Mua Nông Lâm Sản.
Không lưu ý đến điều vừa nói, chị ta nhìn ngay mặt nàng, hỏi:
– Cô quen với ông Tâm như thế nào?
Hạnh bắt đầu thấy khó chịu vì cái lối hỏi đầy vẻ soi mói của người đàn bà. Nàng nhìn mặt chị ta, cố giữ giọng thật lịch sự, hỏi:
– Xin lỗi, chị là nhân viên của công ty hay sao ạ?
Giọng người đàn bà bỗng trở nên gay gắt:
– Cô chưa trả lời câu hỏi của tôi. Cô quen với ông Tâm như thế nào?
Nàng định trả lời đốp chác để đáp lại thái độ bất lịch sự của người đàn bà, thì bỗng nhiên trong đầu óc nàng lóe lên một ý nghĩ: hay bà này là vợ của ông Bí thư. Hạnh hỏi ngay:
– Xin lỗi, có phải chị là vợ của ông Tâm?
Người đàn bà cười khô khan:
– Nếu là vợ thì sao?
Hạnh gượng cười, che dấu vẻ bối rối:
– Xin lỗi chị, em không rõ.
– Không sao. Nào, cô có thể cho tôi biết, cô đến quan hệ với ông nhà tôi có việc gì?
– Xin thưa rõ với chị, em là khách hàng của công ty. Em đã nhập một lô hàng cho Công ty ở Gò Vấp mấy tuần trước. Em có gặp ông Bí thư ở Sài Gòn và ở đây.
Người đàn bà ngắt ngang:
– Cô có gặp ở đây? Khi nào?
Hạnh lúng túng thực sự, nhưng kịp thời trấn tĩnh:
– Em thường hay nhập hàng cho Thương nghiệp thành phố Huế, nghe anh em bên đó báo có ông Bí thư ra, hai vợ chồng em có đến thăm ông ở nhà khách. Em giới thiệu ông xã em với ông Bí thư, để nếu công ty có hoạt động ngoài này, ông xã em có thể có một chỗ làm ăn. Còn em thì chạy ngoài.
Người đàn bà gật gù:
– Ra thế!
Chị ta quan sát Hạnh một chút rồi hỏi tiếp:
– Thế cô đã từng về Tân Hiệp chưa nhỉ?
Hạnh làm ra vẻ ngạc nhiên:
– Tân Hiệp? Tân Hiệp là đâu vậy chị?
Người đàn bà cười:
– Cô bảo là cô làm ăn với công ty mà cô không biết Tân Hiệp là thế nào.
Thấy Hạnh có vẻ ngơ ngác, chị ta giải thích:
– Tân Hiệp là tên huyện, là trụ sở của công ty đấy.
– Em chỉ biết Gò Vấp.
– Gò Vấp là nơi đặt chi nhánh, ta gọi là trạm đấy. Vậy cô vẫn thường đi hàng vào thành phố?
Hạnh hỏi:
– Dạ, thành phố nào ạ?
– Thì thành phố Hồ Chí Minh chứ thành phố nào nữa.
Hạnh cười xòa:
– Tụi em quen gọi là Sài Gòn.
– Ờ, thì Sài Gòn. Sài Gòn là tên cũ. Ta có tên mới rồi thì gọi tên mới cho tiện.
Hạnh dè dặt hỏi:
– Vậy thưa chị, ông nhà đi vắng ạ?
– Vâng, ổng đi hoài. Mà này, cô là dân buôn phải không?
– Dạ, em có đi buôn, nhưng mà, nhưng mà…
– Ði buôn thì gọi là đi buôn chứ nhưng mà gì nữa. Vùng tôi cũng có nhiều cô nhiều bà đi buôn, nhất là cái đám vợ con ngụy quân ngụy quyền. Họ chẳng ưa đi lao động sản xuất tí nào. Trước giải phóng cô phục vụ ở cơ quan nào của Mỹ Ngụy?
– Dạ, em làm ở Nông Nghiệp.
– Còn chồng?
– Ði dạy.
Người đàn bà gục gặc đầu, thỉnh thoảng cúi về phía trước, rồi lại ưỡn người ra phía sau. Ðôi mắt luôn nhìn thẳng vào Hạnh như muốn hiểu thật rõ Hạnh là hạng người nào. Hiếm khi chị ta cười. Chỉ thỉnh thoảng mới thấy chị ta nhếch môi để lộ mấy cái răng hơi vẩu, có vết thâm đen giữa các kẽ răng.
Thấy ngồi lâu với người đàn bà này cũng chẳng ích gì, Hạnh tìm cách cáo từ. Nàng đứng dậy. Người đàn bà hỏi ngay:
– Cô đi đâu?
– Em về. Em có chút việc phải sang chợ.
– Thế gọi là chạy chợ đấy nhỉ.
– Không ạ. Em đi chợ mua đồ ăn.
Người đàn bà nhìn lên:
– Này, cô ngồi xuống đây.
– Thôi, em phải về. Cám ơn chị, em về.
– Cô ngồi lại, tôi có chút chuyện muốn bàn.
Hạnh bực mình, nói xẵng:
– Không được đâu, chị.
Thấy Hạnh có vẻ cương quyết, người đàn bà bèn đứng dậy:
– Không thích ở lại thì thôi.
Nhìn Hạnh từ đầu đến chân, giọng chị ta đột ngột đanh lại:
– Tôi nói cho cô hay, ông Tâm nhà tôi không có làm thu nhập thu nhiếc gì cả. Ảnh chỉ lo chỉ đạo thôi. Ảnh có trăm công ngàn việc phải lo, việc huyện bề bộn lắm, không hơi đâu cáng đáng thêm việc buôn bán linh tinh. Cái công ty đó ảnh giao cho chú Tư Mau lo rồi. Cần liên hệ gì với công ty là liên hệ với chú Tư Mau.
Ngừng một lát, chị ta nhìn Hạnh cười:
– Ảnh hay quan hệ linh tinh lắm. Công tác thì tốt thôi, nhưng ưa quan hệ linh tinh lắm. Cô hiểu rõ chứ.
Hạnh bật cười:
– Em không hiểu. Có phải là quan hệ làm ăn với các cơ quan xí nghiệp không ạ?
– Quan hệ với cơ quan xí nghiệp thì nói làm gì. Quan hệ linh tinh là ưa bao gái ấy, cô rõ chưa. Ði đâu ảnh cũng ưa lăng nhăng với mấy con đĩ ngựa. Mà cũng chỉ tại vì mấy con đĩ ngựa ấy, đi đâu chúng nó cũng bám theo y như là…y như là…
Giọng chị ta đột ngột nghe như rít lên qua kẽ răng:
– Tôi mà bắt được con nào thì …thì …phải biết mặt con Út Vực này.
Hạnh ra về mà như chạy trốn. Phải chi có Lục?
Nàng giận mình. Giận Lục. Và giận cả cuộc đời.
Chương 19
Có những cuộc gặp gỡ bắt đầu từ những chi tiết tình cờ. Ðôi khi đó là những chi tiết thật nhỏ, thật vô nghĩa, thật phù du, tưởng chừng như chẳng hề có một chút dính dáng gì đến những bất trắc, vinh nhục của mỗi một đời người. Hôm đó, trời đột ngột đổ cơn mưa, khiến Hồng phải dọn hàng sớm. Nàng trùm vội chiếc áo mưa dã chiến, thu dọn hết đồ đạc vào trong cái xách, cột cái bàn đã xếp lại sau poóc-ba-ga xe đạp, chuẩn bị về. Nàng đợi ngớt xe để băng qua đường. Từ bên kia đường, một chiếc xe bộ đội chạy lại, chiếu hai ngọn đèn pha sáng rực về phía nàng. Nàng chói mắt, nhìn sang một bên để tránh. Chợt thấy trên chiếc ghế đá hư hỏng cách chỗ nàng ngồi bán thuốc lẻ khá xa, một thân hình người nằm vắt vẻo. Ai thế nhỉ? Chắc là một kẻ ăn mày. Chiếc xe chạy qua. Cả khu công viên chìm vào bóng tối. Mưa nặng hột dần. Không suy nghĩ lâu lắc, Hồng dựng vội chiếc xe bên gốc cây, kéo tấm ni lông chạy lại. Một người đàn ông nằm đó. Nàng trùm vội tấm ni lông lên, cẩn thận nhét hai bên, sợ gió thổi bay đi mất. Mùi rượu nồng bốc lên khiến nàng lợm giọng, bước lùi lại. Người đàn ông dường như không hay biết gì, vẫn đắm chìm trong cơn say.
Sáng hôm sau, khi Hồng đang lúi húi bày hàng ra bán thì nghe một giọng đàn ông hỏi:
– Chị cho tôi hỏi…
Hồng ngẩng đầu lên nhìn, thấy một thanh niên đang cầm tấm ni lông. Anh ta hỏi:
– Có phải tấm ni lông này của chị không?
Nàng gật đầu, lúng túng vì không biết phải xưng hô kiểu nào với người thanh niên trước mặt. Nàng nói trổng:
– Có phải là người…nằm trên chiếc ghế kia hồi hôm không?
Thanh niên nhếch mép cười, chòm râu lởm chởm trên mép động đậy:
– Ðúng! Thằng này mà còn có kẻ quan tâm thì thật là chuyện lạ.
Hồng hơi phật ý khi nghe cái giọng đầy vẻ khinh bạc, bất cần đời của thanh niên. Nàng im lặng bày bàn, dựng ghế, lấy thuốc, kẹo, bánh, hộp quẹt ga, đậu phụng da cá…bày lên trên. Thanh niên theo dõi nàng làm việc, không nói gì. Khi thấy Hồng xong việc, thanh niên nói:
– Cám ơn chị đã cho tôi mượn tấm ni lông. Nhờ vậy mà tôi ngủ qua đêm. Tôi trên Thuận, ba mươi hai tuổi.
Nghe thanh niên tự nhiên khai tên khai tuổi, nàng cười thầm trong bụng, nhưng đồng thời cũng nghĩ ra cách xưng hô hợp lý:
– Vậy là Thuận trẻ hơn tôi…à hơn Hồng à…hơn chị bốn tuổi.
– Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ.
– Ờ…đúng thế. Thuận có hút thuốc không?
– Sao lại không? Một điếu đi.
– Ðà Lạt hay Hoa Mai hay Ðồ Sơn?
– Một điếu “No Một” [1] đi.
Thuận rút mấy đồng bạc lẻ nhầu nát ra trả. Hồng xua tay:
– Thôi được. Chị mời Thuận.
Thuận châm điếu thuốc, hít một hơi, xong nói “cám ơn” và bỏ đi.
Từ đó, Thuận trở thành khách hàng thường xuyên của Hồng. Ngày nào, anh ta cũng ghé lại sạp thuốc lẻ của Hồng, khi thì mua gói Ðà Lạt, khi thì mua điếu thuốc ngoại “No Một” hay Samit, khi thì gói đậu phụng, khi thì cái kẹo. Tuy không dị ứng lắm, nhưng Hồng cố giữ một khoảng cách khá xa với người thanh niên này. Phải nói là nàng vừa thương hại vừa sợ. Toàn bộ dáng ấp cử chỉ, lời ăn tiếng nói của anh ta toát ra cái chất du thủ du thực thứ thiệt, không giấu giếm. Có thể còn hơn thế nữa. Dường như anh ta cũng cố tỏ ra như vậy. Thân hình to, cao. Khuôn mặt sần sùi, lồi lõm có lẽ vì mụn quá nhiều thời mới lớn. Cằm bạnh, lông mày rậm, xếch ngược. Ðã thế, Thuận lại để hàm râu trên lởm chởm, sợi dài sợi ngắn không đều, có sợi cong xuống tận môi. Nhìn bộ râu, Hồng rùng mình khi nghĩ đến đồ ăn dính vào đó mỗi khi ăn. Hôi hám biết bao! Giọng nói ồm ồm, cộc lốc. Cách ăn mặc rất bụi. Đúng ra, phải nói là nhớp, bẩn.
Một hôm Hồng hỏi:
– Thuận làm gì, ở đâu?
– Thợ đụng.
– Sao lại gọi là thợ đụng?
– Nghĩa là đụng đâu làm đó. Từ lơ xe đến bốc vác, chạy cò, chở thuê và đâm thuê chém mướn. Ai thuê gì, làm nấy.
Lần khác, nàng hỏi:
– Thuận ở đâu nhỉ?
– Bạch Ðằng.
– Mô có xa nhà chị. Vậy sao chị không hề biết hè.
– Hạng người như Hồng (Thuận xưng tên Hồng chứ không xưng chị từ lúc nào mà nàng cũng chẳng để ý) làm gì mà biết đến tôi, thằng Thuận du đãng này.
Hồng nhăn mặt, làm ra vẻ giận:
– Thuận đừng nói thế. Thuận có biết chị phải không?
– Biết. Sơ sơ.
Ðại loại như thế. Cứ mỗi lần Thuận ghé là có một cuộc đối thoại ngắn gọn. Hồng không muốn hỏi thêm. Thuận cũng chẳng muốn nói thêm. Nhưng lượng thông tin ít ỏi hàng ngày đó chồng chất lên giúp Hồng hình dung ra được lai lịch của người khách hàng khá đặc biệt này. Trước năm 1975, Thuận trốn lính, nhờ ba Thuận có quen lớn. Sở dĩ thế là vì nghề của ông ta là nghề chứa bạc cho các quan lớn tới giải trí hàng tuần. Sau giải phóng, nhà cửa bị tịch thu. Anh ta lang thang kiếm ăn khắp nơi từ Ðà Nẵng đến Sài Gòn, có khi ra tận ga Vinh. Lấy vợ. Có hai đứa con. Vợ chồng gây gổ, Thuận bỏ đi. Vợ con vượt biên lọt, qua định cư ở một nước nào đó, bặt tin. Thuận cũng tìm cách vượt biên, nhưng thất bại. Lại trở thành kẻ lang thang, không nhà không cửa, không vợ con. Tay làm hàm nhai.
Một hôm, trời mưa rả rích suốt ngày. Hồng lại cảm. Nàng quyết định nghỉ ở nhà một bữa. Nàng nằm đọc sách, thú vị lắng nghe tiếng mưa rơi êm đềm trên mái tôn. Bỗng có tiếng gõ cửa. Hồng ra mở. Cửa vừa hé, một người đàn ông cao lớn tuôn vội vào. Nàng giật nẩy mình, kinh hoảng lùi vào trong. Hóa ra là Thuận. Áo quần anh ta ướt đẫm. Ðầu tóc ướt nước, rũ rượi. Nước nhỏ giọt ròng ròng xuống nền nhà. Thuận dợm chân bước lui. Hồng hỏi:
– Trời ơi, làm gì mà Thuận đội mưa đi ướt dữ vậy? Áo mưa đâu? Làm sao mà biết nhà đây?
– Không sao. Mưa mát.
– Hay vào trong này lau nước đi đã. Có việc gì không?
Hồng dẫn Thuận xuống nhà sau, đưa khăn cho anh ta bảo lau đi. Lau xong, Thuận trở lại phòng khách. Hồng chỉ ghế bảo anh ta ngồi, nhưng Thuận lắc đầu:
– Không. Ướt thế này không ngồi được. Cho điếu thuốc đi.
Hồng vội lấy cho anh ta điếu thuốc.
– Có lạnh không? Hồng hỏi lại.
– Ðã nói là không lạnh mà.
Anh ta châm thuốc, thân hình run run. Hồng nói:
– Người run vậy mà bảo không lạnh.
– Nhằm nhò gì!
– Thuận đi đâu vậy?
– Mua thuốc chứ đi đâu nữa.
Hồng la lên:
– Ði mua thuốc? Cái ông này kỳ thật. Thuốc thì ở đâu không có lại phải tìm về đây. Ðừng xạo. Có chuyện gì cần không?
Thuận cười rổn rảng:
– Thuốc của Hồng ngon hơn.
– Lại xạo nữa. Thuốc đâu cũng là thuốc.
– Thuốc Hồng có mùi gì đặc biệt, hút một lần là ưng hút mãi.
Hồng đưa tay véo anh ta một cái vào vai:
– Chị không ưa cái kiểu nói xạo đó nghe.
– Tôi nói thật. Thuốc Hồng có mùi gì đặc biệt, chỗ khác không có.
Tự nhiên nàng cảm thấy thú. Thuận rít liên tiếp mấy hơi liền, nói:
– Ðã thật!
Nhìn Hồng, anh ta nhận xét:
– Hồng đẹp như một con mèo nhỏ.
Hồng co người lại, hai bàn tay chắp lại giữa hai đầu gối, cười khanh khách:
– Tầm bậy! Ðẹp như một con mèo thì đẹp gì.
Hồng nghiêng đầu qua lại, nhìn Thuận:
– Thuận thì giống…giống cái gì nhỉ…đúng rồi, giống một con cọp lớn.
– Một con cọp lớn. Nghe cũng được. Con cọp sẵn sàng vồ mồi, đúng không?
Nói xong, Thuận dang hai tay ra, khuỳnh lại, bước tới phía Hồng làm như sắp ôm choàng lấy thân hình mảnh mai của nàng. Hồng sợ hãi nép mình sát vào ghế, xoay một bên vai ra ngoài trong một tư thế tự vệ rất thụ động. Thuận bỏ tay xuống, cười vang:
– Tưởng con cọp vồ thật à? Không đâu. Vồ mồi cũng đợi lúc. Thôi, tôi đi đây.
Hồng nhỏm dậy:
– Ði à? Ướt thế kia mà đi đâu. Trời còn mưa mà.
– Nhằm nhò gì.
Vừa nói Thuận vừa quay lưng bước ra cửa. Bóng dáng cao lớn của anh ta gần như choáng hết khung cửa nhỏ, tạo nên một khoảng tối ngay lối vào. Ra khỏi cửa, Thuận quay lại, nói “cám ơn” và đi mất. Hồng chạy đến cửa nhìn ra đường, thấy Thuận bước đi mạnh khỏe dưới cơn mưa. Nàng khép cửa lại, mỉm cười vu vơ.
*
Khuya. Hồng đang dọn dẹp đồ đạc để về như thường lệ, thì Thuận không biết từ đâu, đạp xe tới. Sau khi mua điếu thuốc, anh ta nói:
– Ðêm nay dọn sớm hơn thường lệ năm phút. Sao vậy?
– Mình cảm thấy mệt trong người.
– Mệt thì về thôi.
Rít xong hơi thuốc, Thuận nhìn ngay mặt Hồng:
– Chốc nữa, tôi sẽ về nhà Hồng.
– Tầm bậy! Ai cho Thuận vào nhà giờ này.
– Không cho cũng vào.
Thuận đạp xe đi. Hồng nhìn theo, cảm thấy da thịt rờn rợn. Một cảm giác kỳ lạ chạy khắp cơ thể khiến nàng bất giác sợ hãi. Trên đường về, nàng cố đạp thật nhanh. Ðến nhà, nhìn quanh nhìn quất không thấy ai, nàng mở cửa dắt vội xe vào nhà. Khi vừa đưa tay khép cửa thì một bàn tay chận lại. Thuận từ bên ngoài lướt vào như một cơn gió. Anh ta khép cửa, nói:
– Bật đèn lên!
Hồng khiếp đảm, run rẩy tìm cái nút, bật đèn. Ðiện cúp. Nàng lần mò tìm cây đèn, thắp lên. Nàng thấy Thuận đứng dựa lưng vào cửa, hai tay vòng trước ngực, nhìn nàng, mỉm cười. Trong ánh sáng mờ ảo, lập lòe, Thuận đứng đó trông chẳng khác gì một hung thần. Nàng bước giật lùi. Nàng muốn nói, muốn la lên, nhưng không được, cứ đứng nhìn sững Thuận không chớp. Mãi vài phút sau, khi thấy Thuận vẫn đứng yên một chỗ, chưa tỏ ra có hành động gì ẩu tả, đôi mắt lại chứa đựng một tia nhìn có vẻ giễu cợt, Hồng cảm thấy bình tĩnh lại. Thuận nhếch môi cười:
– Ðừng sợ, con mèo nhỏ. Ðây không phải là kẻ cướp. Chỉ là một con cọp trong sở thú.
Thuận rút ra một điếu thuốc từ trong túi, châm hút.
– Mấy đứa nhỏ đâu?
– Chắc ngủ cả. Hồng đáp nhỏ nghe như hơi thở nhẹ. Nàng nhìn quanh cố tìm một cái gì để chống đỡ với nỗi sợ hãi và bất lực của mình. Nhưng vô ích. Chẳng có gì.
Hút xong điều thuốc, Thuận ném tàn xuống nền nhà, dùng ngón chân chà nát. Anh nhìn Hồng tủm tỉm:
– Tôi về. Ngủ đi, con mèo nhỏ.
*
Bẵng đi mấy hôm, không thấy Thuận ghé lại sạp. Hồng ngong ngóng. Thỉnh thoảng, nàng nhìn xuôi nhìn ngược. À, té ra mình đang tìm bóng dáng của anh ta. Chợt cảm thấy ngượng nghịu với chính mình.
Tối đó, anh ta ghé lại. Không nói gì, chỉ nhìn Hồng. Lại cười tủm tỉm. Như đêm nọ. Hàm râu trên động đậy trông ngộ nghĩnh như một tay làm xiếc. Hồng che tay lên ngực mình, nói:
– Thuận làm mình sợ quá!
– Ðừng sợ. Sẽ ghé nữa. Khuya nay, chưa biết chừng.
– Ðừng, Thuận. Không nên chút nào. Ðừng làm mình sợ.
Thuận im lặng, bỏ đi.
Ðến khuya, Hồng dẹp hàng sớm, về nhà đóng cửa thật kỹ. Nàng nằm trên giường thao thức, lắng nghe, chờ đợi. Hồi lâu, không thấy gì, nàng thiếp ngủ. Trong cơn mơ màng, nàng nghe tiếng gõ cửa. Nàng vùng dậy, nghe ngóng, rồi bước ra phía cửa, lắng nghe động tĩnh. Tiếng gõ lại vang lên. Nàng hồi hộp hỏi nhỏ:
– Ai?
– Thuận. Thích thì mở mà không thì thôi, tôi đi.
Hồng đứng thừ người ra suy nghĩ. Một lúc lâu sau, nàng thở dài, nói nhỏ:
– Thôi, Thuận về đi.
Không nghe tiếng trả lời. Nàng áp tai vào cửa, lắng nghe. Bên ngoài hoàn toàn im lặng. Chắc anh ta đã bỏ đi. Thế thì tốt. Nàng tháo chốt, hé cửa nhìn ra ngoài. Bỗng Thuận từ đâu không biết lách vào chẳng khác gì một cơn gió mạnh. Hồng chưa kịp phản ứng thì hai vòng tay anh ta đã ôm xiết lấy nàng như hai gọng kìm, nâng lên. Con mèo nhỏ la ú ớ. Tiếng Thuận thì thào:
– Ðừng sợ, con mèo nhỏ.
Hồng vùng vẫy, cấu xé dữ. Mặc! Thuận ôm xốc nàng đi vào, lần mò trong bóng tối tìm chiếc ghế. Anh để nàng xuống, hai tay mạnh mẽ bứt nút áo. Tiếng Hồng nghe đứt quãng:
– Thuận, Thuận, đừng, đừng, Thuận.
Thuận bịt miệng nàng lại. Nàng ú ớ một lát rồi im bặt. Sau đó, nàng kêu tên Thuận nhiều lần. Trong bóng tối, tiếng kêu lúc nhỏ lúc lớn rơi tản mác trong một đêm mùa thu lặng lẽ.
*
Không lâu sau đó, con cọp lớn về ở với con mèo nhỏ.
Một cuộc tình? Có lẽ là không. Trong thâm tâm, Hồng chẳng thấy mình có chút gì gọi là tình yêu với Thuận. Nàng cần Thuận hơn là tình yêu. Không tỏ tình. Không hẹn hò. Không có những chiều sóng đôi lãng đãng ngoài công viên, dọc bờ sông. Không có những giòng thư tình chan chứa nỗi niềm. Không có chiều vàng, nắng thu hay chiếc lá rơi âm thầm bên hiên. Không có những nhớ nhung khắc khoải, những đợi chờ mềm cả trái tim.
Chỉ là những đối thoại ngắn ngủi. Những ôm. Những xiết chặc. Những bồng ẵm. Những hùng hổ, ham hố, cuồng bạo. Không trau chuốt, sửa soạn, dò dẫm. Không trung gian. Không màu mè. Gọn. Khỏe. Lập tức. Trong những giây phút đó, Thuận như một con thú say mồi. Một tên lính lê dương. Toàn bộ bản năng của anh ta bộc lộ. Nó hữu hiệu, tràn trề, tự nhiên. Luôn luôn là một cuộc hiếp dâm không hơn không kém. Mọi nơi. Ðâu cũng có thể là chỗ của Thuận. Giường. Bàn. Ghế. Trên sàn nhà. Trong phòng tắm. Ngoài sân sau. Khi đang làm bếp. Khi rửa chén. Khuya, sáng, trưa, chiều, tối. Anh ta hâm nóng căn nhà từ lâu vốn lặng lẽ, buồn nản. Anh ta đẩy nàng lặn sâu xuống một biển cuồng điên chất ngất. Cuộc sống của nàng bị bật tung ra, tuênh toang, hừng hực. Nàng không kịp ghê tởm, không kịp suy gẫm, không kịp phản ứng. Cho đến một lúc, bỗng nhiên nàng tìm thấy có cái gì nồng nàn trong sự hung bạo, có cái gì thiết tha trong cơn dã man, có cái gì phấn khích trong sự thô bỉ, tục tằn. Nàng khám phá ra một con người khác trong mình. Một phía khác của đời sống. Sức mạnh dã thú của Thuận đánh thức con dã thú trong nàng sống dậy. Như triều dâng thác đổ. Mãnh liệt. Tàn bạo. Trần trụi. Nàng cắn. Nàng bấu xé, hành hạ Thuận không thương tiếc.
Ngẫm nghĩ lại những ngày yêu nhau và những tháng ngày chung sống với Thiết, nàng kinh ngạc nhận thấy hai cuộc sống khác xa nhau ghê gớm. Một bên thì chừng mực, từ tốn. Một bên thì cuồng bạo, bứt phá. Một bên thì sống trong bóng sắc của chữ nghĩa, lãng mạn, đạo lý, danh tiếng. Một bên thì sống đến tận cùng ham muốn. Những ngày yêu Thiết, sống với Thiết đẹp thật, lãng mạn thật, nhưng dường như có gì không thật, không đủ. Sau 1975, mọi sự càng rối rắm hơn. Trong cơn lốc lịch sử, cả nàng cả Thiết đều mất đất đứng, trở thành mong manh, chới với. Cả hai tuyệt vọng lẫn nhau, đưa đến sự đỗ vỡ của một cuộc tình thuộc loại đẹp nhất thành phố. Trong thời buổi mà những chất thơ không còn cơ sở để tồn tại, đường phố chỉ dành cho khẩu hiệu, buôn bán trở thành gian dối, vô đạo đức, học thức trở thành phù phiếm và lãng mạn trở thành xa xỉ, quả thật Thuận là một lá chắn hữu hiệu. Qua Thuận, nàng có một chỗ để vịn, để đứng trong khi toàn thể xã hội chòng chành, chao đảo. Thế thì đã sao!
Ðó là tất cả sức mạnh giúp nàng đương đầu với dư luận xã hội, với gia đình. Lúc đầu, đi với Thuận ra ngoài, nàng tưởng tượng cả rừng mắt vây quanh đàm tiếu, chưởi rủa. Nàng bối rối, ngượng ngập như bị bắt quả tang đang làm một điều gì xấu xa. Nhiều lần, nàng tủi nhục, chán nản. Nhưng tự nhủ lòng: phải tập cho người ta quen. Và người ta quen thật. Cặp Hồng-Thuận trở thành bình thường trong cuộc sống như những người miền Nam quen dần với màu áo công an và lá cờ đỏ sao vàng.
Cuối cùng, Hồng hiên ngang, đĩnh đạc và kiêu hãnh đi bên cạnh Thuận như ngày nào mười bảy năm về trước, nàng đã hiên ngang, đĩnh đạc, kiêu hãnh và hạnh phúc khi đi bên cạnh Thiết trước con mắt ngưỡng mộ, thèm muốn của mọi người.
Giữa chàng thư sinh Thiết và Thuận đứng bến, nào có gì khác nhau?
Chúng tôi bước vào huấn luyện ở đội Em út Xanh lục. Đây là khóa tuyển chọn vào Đội số 6. Sau khóa huấn luyện, một số người sẽ bị loại. Đa số chúng tôi đều đã ở tuổi ba mươi. Khi đó, tôi vừa tròn ba mươi tuổi. Các huấn luyện viên bấm thời gian ghi thành tích chạy và bơi của chúng tôi. Chúng tôi thực hành huấn luyện tác chiến trên bộ, nhảy dù và lặn. Tất cả các khoa mục này đều ở mức độ khó hơn trước. Chẳng hạn, với khoa mục nhảy dù, chúng tôi phải thực hiện khoảng 150 lần nhảy trong bốn tuần, gồm các nội dung: rơi tự do, mở dù ở độ cao thấp (HAHO), nhảy dù xếp chồng… Chương trình huấn luyện của chúng tôi còn có các nội dung: trèo bằng tay không, chiến đấu tay bo, lái xe phòng thủ và tấn công, nội dung học cách tồn tại, lẩn trốn, rèn luyện khả năng chịu đựng và tẩu thoát (SERE). Mặc dù chúng tôi dành khá ít thời gian học các kỹ năng như làm thế nào để đột nhập vào ô tô và khởi động động cơ chỉ bằng một chiếc tuốc nơ vít nhưng chúng tôi lại dành khá nhiều thời gian học cách điều khiển xe và bắn súng trong quá trình xe chạy. Các huấn luyện viên sẽ đánh giá và xếp hạng mỗi nội dung huấn luyện. Cuối cùng là đưa ra tổng số điểm và thứ hạng của mỗi cá nhân.
Với tôi, dễ nhất là khóa huấn luyện vượt vật cản, còn khó nhất là khóa huấn luyện cận chiến trong thành phố do huấn luyện viên John Shaw phụ trách. Không chỉ dừng ở việc học cách mở khóa, chúng tôi còn phải học cách phá các bản lề cửa. Mỗi ngày, số lượng đạn chúng tôi tập bắn lên tới hàng nghìn viên. Theo tôi biết, chỉ riêng số tiền mua đạn loại 9 ly dành cho Đội đặc nhiệm SEAL số 6 hàng năm còn nhiều hơn số tiền mua đạn dành cho toàn bộ Lực lượng lính thủy đánh bộ cộng lại.
Tôi trải qua khóa huấn luyện cận chiến trong thành phố ở một cấp độ khó hơn rất nhiều so với trước đó. Mặc dù đã là thành viên của đặc nhiệm SEAL nhưng tôi không áp dụng được nhiều kiến thức đã học trước đó. Trong một bài huấn luyện, chúng tôi phải đột nhập vào một căn phòng, bắn đón đầu mục tiêu, vừa di chuyển zíc zắc vừa bắn, chạy nước rút và bắn hạ mục tiêu cản đường. Các huấn luyện viên liên tục thay đổi cấu trúc của căn phòng. Khi thì là phòng lớn, lúc lại phòng bé; khi là phòng hình vuông, lúc lại hình tam giác và bố trí địch ta lẫn lộn. Thậm chí họ còn thay đổi cả nội thất của căn phòng. Chúng tôi luôn luôn phải cẩn thận và tỉ mỉ. Kết thúc khóa huấn luyện, các huấn luyện viên cho chúng tôi xem lại đoạn ghi hình của mỗi học viên.
Tôi luôn sát cánh bên cạnh Bobby Z, một chàng trai cao lớn có mái tóc màu đồng. Đôi khi, chúng tôi gần nhau đến mức tôi cảm nhận được cả luồng gió phát ra từ nòng súng của Bobby Z thổi vào tóc tôi mỗi khi bắn. Chúng tôi đã tạo ra khoảng cách rất lớn với những người còn lại. Sau khi xem lại đoạn ghi hình, chúng tôi thấy cả Bobby và tôi đều không giảm tốc độ khi bắn chạy đổi bên. Đa số mọi người đều di chuyển chậm lại để đón đầu mục tiêu nhưng chúng tôi thì không. Trong nội dung chạy và bơi, Bobby về đích ngay sau tôi. Trong khóa huấn luyện tại Đội Em út Xanh lục, Bobby và tôi luôn thay nhau dẫn đầu. Kết thúc khóa huấn luyện, tôi xếp vị trí thứ hai. Khi chúng tôi ở trường bắn của John Shaw, một số thành viên của đội Anh cả Đỏ, đội Anh hai Vàng và Đội Anh ba Xanh của Đội đặc nhiệm SEAL số 6 đến xem chúng tôi tập. Lính SEAL liên tục phải hoạt động trong môi trường nguy hiểm, nhưng Đội đặc nhiệm SEAL số 6 còn hoạt động trong môi trường nguy hiểm hơn nhiều. Năm đầu tiên sau khi thành lập Đội số 6, trong quá trình huấn luyện khoa mục cận chiến trong thành phố, một thành viên của đội đã vô tình bóp cò và trúng vào lưng Roger Cheuy. Sau đó, Cheuy chết trong bệnh viện do nhiễm khuẩn cầu chùm, loại khuẩn tạo ra các độc tố giống với những độc tố có trong những người bị ngộ độc thực phẩm. Thành viên này không chỉ bị đuổi khỏi Đội số 6 mà còn bị đuổi khỏi SEAL. Trong một sự cố khác, cũng trong quá trình huấn luyện khoa mục cận chiến trong thành phố, một viên đạn xuyên qua vách ngăn của nhà tập bắn và trúng vào chỗ nối trong chiếc áo chống đạn của Rich Horn. Viên đạn đã giết chết Horn. Trong một tai nạn ở mục nhảy dù, Gary Hershey cũng đã thiệt mạng.
Google photo
Sau sáu tháng huấn luyện, khoảng bốn đến năm người bị loại trong tổng số ba mươi người tham gia. Mặc dù chúng tôi bị một số chấn thương, nhưng không ai thiệt mạng cả. Đội Anh cả Đỏ nhặt tôi ngay từ vòng đầu. Logo của Đội Anh cả Đỏ là hình một người Mỹ da đỏ. Một số nhà hoạt động xã hội coi logo này là hình ảnh xúc phạm nước Mỹ. Nhưng căn nguyên của việc lựa chọn logo này là biểu lộ ý muốn mọi người trong đội phát huy lòng gan dạ và kỹ năng chiến đấu của những người Mỹ da đỏ.
Bây giờ tôi là người của một tổ chức bình phong có cấp trên, có địa chỉ và có cả trợ lý trả lời điện thoại. Khi điền những thông tin để xin cấp thẻ tín dụng, tôi không thể công khai với họ tôi làm việc cho Đội đặc nhiệm SEAL số 6. Thay vào đó, tôi phải cung cấp cho họ thông tin về tổ chức bình phong của mình. Khi công tác, tôi phải mặc quần áo dân sự thay vì quân phục. Từ “Đội đặc nhiệm SEAL số 6” không còn được nhắc đến nữa. Ngay cả sau khi hoàn thành khóa huấn luyện có quân xanh và được nhận vào Đội số 6, chúng tôi vẫn tiếp tục trau dồi kỹ năng bắn súng tại Học viện Bắn súng tự vệ Mid South ở Mississippi do John Shaw huấn luyện. Trường bắn ở đây rất rộng, các mục tiêu ở cả bên trái, bên phải, có mục tiêu ẩn hiện và nhiều loại mục tiêu khác nữa. Tám chúng tôi rời Đội Anh cả Đỏ đến đó huấn luyện. Đêm thứ Sáu, đêm đầu tiên ở đó, cả tám chúng tôi rủ nhau đến câu lạc bộ thoát y bên kia sông ở Tennessee để xem biểu diễn. Chúng tôi có lái xe riêng. Người lái xe này không phải là người của SEAL, vóc dáng thấp bé và rất thích nghe đài phát thanh. Anh ta tên là Willie nhưng chúng tôi đùa vui gọi anh ta là Wee Wee. Anh ta thích đọc mọi thứ nhưng lại là người ít nói. Wee Wee không vào trong với chúng tôi mà ngồi trong xe đọc sách đợi ở bên ngoài. Chiếc xe tải nhỏ chở chúng tôi có màu đen và các cánh cửa cũng màu đen. Chiếc xe mang biển số của Virginia và các nhíp xe vừa được thay mới. Ghế ngồi được lắp theo yêu cầu của khách hàng, đủ thoải mái cho tám người ngồi.
Google photo
Đội số 6 thường đi những chiếc xe có cửa kính chống đạn, có khả năng chạy khi bánh xe hết hơi, có lắp đèn và còi hú của cảnh sát và có các ngăn đựng vũ khí trong xe. Tuy nhiên, chiếc xe này chỉ đơn thuần là một chiếc xe tải chở người và thiết bị ở Mỹ. Sau khi rời khỏi quán, Wee Wee lái xe đưa chúng tôi về.
Tại một cột đèn giao thông, ba tên đi chiếc xe con bốn bánh, hai ống xả dừng ngay cạnh xe chúng tôi. Chúng thấy Wee Wee đeo kính Clark Kent khi anh kéo cửa kính xuống nhưng lại không nhìn thấy tám chúng tôi ngồi trong xe. Một trong ba tên gào lên: “Này tên khốn da đỏ. Lái xe về nhà ngay! Đừng bao giờ lái chiếc xe mang biển số của Virginia, cái bang chết tiệt đã từng gây chiến với các bang miền Nam trong cuộc Nội chiến. Đây là vùng đất của Tướng Robert E. Lee”.
Một người trong nhóm chúng tôi hét to: “Mẹ kiếp, bọn khốn này!”
Đèn giao thông chuyển sang màu xanh. Wee Wee lái xe tiến lên phía trước đến cột đèn đỏ tiếp theo và dừng lại. Ba gã đó cũng dừng xe lại cạnh chúng tôi. “Này, cái thằng nhỏ thó kia. Mày vừa chửi đổng phải không?”. Chúng tưởng Wee Wee chửi chúng. Một người trong số chúng tôi đáp trả: “Này, bọn khốn. Chúng mày cảm thấy như thế nào khi biết bố mẹ chúng mày là anh em của nhau?”.
Lúc này, ba tên đó vô cùng tức giận và hét lên: “Táp vào lề đường ngay, chúng tao phải dạy cho mày một bài học mới được”. Mồ hôi trên trán Wee Wee bắt đầu túa ra. Anh kéo kính xe lên cao quá mũi. Chúng tôi cố nín thở để khỏi cười phá lên làm ba tên khốn này sợ và biết chúng tôi ngồi sau xe. Một người trong nhóm nói nhỏ với anh lái xe “Wee Wee, hãy lái xe vào bên đường và dừng xe lại.”
Wee Wee lái xe thêm khoảng hai, ba cây số nữa và dừng lại trước khi đến điểm nút giao các đường cao tốc giữa các bang. Ba tên khốn cứ lặng lẽ bám theo và dừng cạnh xe chúng tôi. Chúng nhạo báng để Wee Wee tức giận ra khỏi xe. Chúng tôi đứng ngay sát chiếc cửa đẩy bên hông xe sẵn sàng nhảy ra ngoài tiếp chiến. Tôi để tay lên tay nắm cửa. Ngay khi tôi mở cửa, ba người sẽ nhảy ra chặn bên trái, ba người khác sẽ nhảy ra chặn bên phải. Sau khi bố trí xong, chúng tôi bảo: “Wee Wee, dụ bọn chúng đến cửa hông đi”. Wee Wee đã thuyết phục được bọn khốn ra cửa hông để tránh ảnh hưởng đến giao thông.
Bọn khốn đi một vòng quanh xe đến bên cửa chúng tôi đang nấp. Ngay khi chúng vừa đến, tôi mở bung cửa ra. Như một phép lạ, sáu người trong chúng tôi đã đứng thành một vòng tròn vây ba tên khốn vào giữa. Mắt bọn chúng trợn trừng lên cứ như con ngươi sắp lòi ra khỏi mắt đến nơi vậy.
Một trong ba tên khốn nhổ miếng thuốc lá đang nhai trong miệng ra và nói: “Thấy chưa John, tao đã bảo mày rồi. Có ngày cái mồm của mày sẽ làm hại bọn tao. Tao nói có sai đâu.”
Trước tiên tôi dạy chúng bài học về lịch sử, “Này, câm mồm ngay! Thứ nhất, bọn tao không phải là những người da đỏ. Thứ hai, Virginia không phải là một bang của người da đỏ. Thứ ba, Tướng Robert E. Lee là người đến từ Virginia.”
Ba tên khốn đã bình tĩnh trở lại và tên John bắt đầu lớn tiếng. Chúng tôi quyết định dạy cho chúng bài học về cách cư xử, không ỷ mạnh bắt nạt yếu. Nói chung, chúng tôi đã đánh cho chúng một trận thừa sống thiếu chết. Để cho chúng nhớ, một người trong số chúng tôi ra lệnh “Cởi quần ngoài ra ngay”.
Bọn chúng nhìn chúng tôi đầy vẻ ngỡ ngàng. Tuy nhiên, để không bị đánh nữa, chúng ngoan ngoãn tụt quần ra.
Chúng tôi lấy chìa khóa, khóa cửa xe của chúng lại, ném chìa khóa xe vào bụi cây và thu hết quần và giày dép của chúng. “Hãy đến lối ra phía trước, dừng xe tại cửa hiệu 7–Eleven ở bên tay phải và chúng mày sẽ tìm thấy đồ của chúng mày trong phòng tắm.”
Sáng hôm sau, chúng tôi đang ngồi ở thao trường bắn của huấn luyện viên Shaw nhâm nhi ly cà phê trước khi bắt đầu buổi tập bắn thì một sĩ quan cảnh sát, vốn là một trợ lý huấn luyện của Shaw, lái xe đến và bước ra khỏi xe cảnh sát. Ông đi đến phía chúng tôi. Chúng tôi biết rõ ông vì chúng tôi thường xuyên huấn luyện cùng nên chúng tôi ra đó uống cà phê cùng ông. Ông cũng là một tay đua của dòng xe Harley-Davidson, rất giống chúng tôi. Ông nói: “Lúc một giờ ba mươi sáng nay, tôi nghe được một câu chuyện buồn cười nhất từ trước tới nay”.
Chúng tôi ngây thơ hỏi: “Chuyện gì vậy?”.
“Tôi nhận được một cuộc gọi từ cửa hiệu 7–Eleven báo có ba thanh niên mặc quần đùi đi bộ đến cửa hiệu. Người thu ngân đã khóa cửa lại không cho họ vào. Ba thanh niên này nói họ phải vào bên trong để lấy quần áo của họ. Khi chúng tôi đến, một nửa số cảnh sát trong đồn cũng đi cùng. Tôi thề đấy, đúng là có ba thanh niên mặc quần đùi đang đứng ở đó. Chúng tôi nghe hết câu chuyện lạ kỳ của họ. Chuyện là thế này: có một chiếc xe tải màu đen mang biển số Virginia, loại xe trông giống chiếc xe đang đậu đằng kia kìa – ông giơ tay chỉ vào chiếc xe tải của chúng tôi – đậu bên cạnh xe của họ. Bất thình lình, tám gã khốn, giống hệt các cậu, vây lấy họ và đánh cho họ thừa sống thiếu chết mà không nói lý do. Nghe xong chuyện, chúng tôi để ba thanh niên này ở trong cửa hiệu 7–Eleven và tìm đồ cho họ khoảng chừng hai mươi phút nhưng chúng tôi chẳng tìm thấy quần áo của họ ở đâu cả. Đêm hôm đó, chúng tôi buồn cười quá nên đã quên béng chuyện dừng lại ở cửa hiệu 7–Eleven. Quần áo và giầy dép của chúng vẫn còn nguyên trong xe của chúng tôi.
Viên cảnh sát tiếp tục: “Trước khi tôi ra về, một trong ba thanh niên đó nói: ‘John, thấy chưa. Tao đã bảo mà. Cái mồm của mày thể nào cũng có lúc hại bọn tao mà.’ Sau đó, hai tên trong bọn còn đấm tên John ngay trước trạm xăng. Chúng tôi ra can họ và hỏi: “Cái mồm gây ra rắc rối” có nghĩa là gì thì bọn chúng đều im lặng. Viên cảnh sát lắc lắc đầu và hỏi: “Các cậu có tin vào câu chuyện điên rồ này không?”
Tất cả chúng tôi đều im lặng. Sau một phút bối rối, chúng tôi cùng đứng dậy và bắt đầu buổi tập bắn. Cuối buổi chiều hôm đó, viên cảnh sát nói: “Đối với những kẻ mất dạy đó, cũng cần người đánh cho một trận. Cho dù những người đi trên xe là ai đi chăng nữa thì họ đã cứu ba tên mất dạy đó khỏi những
người không giữ được bình tĩnh với những lời nói của chúng.”
Chúng tôi gật đầu đồng tình. Mặc dù chưa có kinh nghiệm thực tiễn, tôi luôn để tâm vào mục tiêu tiếp theo: trở thành lính bắn tỉa. Theo quy định, phải là thành viên của Đội số 6 ít nhất ba năm thì mới được nộp đơn đăng ký thành lính bắn tỉa.
Google photo
Mùa thu năm 1992, tôi nộp đơn xin học tại Trường đào tạo lính bắn tỉa. Chỉ huy trưởng của Đội Anh cả Đỏ Denny Chalker bảo tôi: “Cậu là một đặc nhiệm giỏi nhưng thời gian công tác chưa đủ. Cậu phải phục vụ ở đây ba năm trước khi vào học tại Trường đào tạo lính bắn tỉa, đó là luật bất thành văn. Hơn
nữa, chỉ huy nhóm của cậu không muốn mất cậu.”
Mặc dù Đội Anh cả Đỏ phải cần từ bốn đến sáu lính bắn tỉa nhưng hiện tại mới chỉ có hai lính bắn tỉa. Một tuần sau đó, Denny nói: “Cậu đã biết tin gì chưa? Chúng tôi thay đổi quyết định rồi − cậu có thể đi học. Chúng tôi sẽ cử cậu và Casanova đến học ở Trường đạo tạo lính bắn tỉa.”
Mặc dù chúng tôi vẫn ở Đội Anh cả Đỏ nhưng chúng tôi cũng trở thành thành viên của Đội Áo đen (Black Team) bao gồm các tay lính bắn tỉa. Casanova và tôi có quyền lựa chọn theo học ở một trong ba trường. Đặc nhiệm SEAL bắt đầu mở trường đào tạo bắn tỉa riêng. Lục quân có tổ chức Khóa học đánh chặn mục tiêu trong các chiến dịch đặc biệt ở Fort Bragg, Bắc Carolina. Lực lượng Lính thủy đánh bộ có trường đào tạo bắn tỉa ở thành phố Quantico, Virginia. Tôi biết học ở trường của Lính thủy đánh bộ là rất vất vả nhưng đây là trường có truyền thống lâu đời nhất, uy tín nhất và quan trọng hơn cả là trường danh giá nhất trên toàn thế giới.
Do vậy, tôi quyết định đến Căn cứ của Thủy Quân Lục Chiến ở thành phố Quantico để theo học chuyên ngành bắn tỉa. Căn cứ này có diện tích gần 160 km², ngay gần con sông Potomac, Virginia. Học viện Quốc gia FBI và Học viện Phòng chống Ma túy cũng đặt trụ sở tại đây. Nằm ở góc của căn cứ, cạnh đường cao tốc Carlos Hathcock là Trường đào tạo lính bắn tỉa, một trường có những yêu cầu cao nhất. Trong số rất ít những người được nhận vào học thì chỉ có 50% số họ được tốt nghiệp.
Khóa học kéo dài 10 tuần, chia thành ba giai đoạn. Ngày đầu tiên của giai đoạn I: Thiện xạ và các kỹ năng cơ bản trên chiến trường, chúng tôi phải trải qua đợt kiểm tra thể lực. Những ai không vượt qua lần kiểm tra này đều bị trả về đơn vị chủ quản ngay lập tức mà không có cơ hội kiểm tra lại lần hai.
Sau khi các cán bộ đưa ra danh sách những học viên đỗ, chúng tôi vào ngồi trong tòa nhà màu đen với các cửa sổ bị bịt kín được gọi là nhà trường. Ở đây, chúng tôi được phổ biến những nội dung chính của khóa học. Ngày hôm sau, một Trung sĩ lên lớp cho chúng tôi. Trông anh ta độ ngoài bốn mươi với mái tóc cắt ngắn. Anh ta là thành viên trong Hiệp hội các xạ thủ hàng đầu nước Mỹ. Đây là tổ chức gồm 100 xạ thủ có điểm số cao nhất trong cuộc thi bắn súng trường và súng lục được tổ chức hàng năm. Các huấn luyện viên của chúng tôi gồm cả các cựu chiến binh, các chuyên viên hàng đầu và các nhân viên có năng lực nhất.
Trung Sĩ nhấn mạnh: “Lính bắn tỉa có hai nhiệm vụ. Thứ nhất là hỗ trợ các hoạt động tác chiến bằng cách bắn chính xác, hạ gục các mục tiêu đảm nhận từ vị trí ẩn nấp. Lính bắn tỉa không được phép rời vị trí ẩn nấp để bắn mục tiêu. Việc hạ gục các mục tiêu đảm nhận sẽ góp phần quan trọng vào chiến thắng của cuộc chiến. Nhiệm vụ thứ hai là quan sát và thu thập tin tức. Đây là nhiệm vụ tốn nhiều thời gian.”
Trên trường bắn, Casanova và tôi là một cặp huấn luyện cùng nhau. Chúng tôi luân phiên thay đổi vai trò làm tay súng bắn tỉa và người chỉ thị mục tiêu (tính toán tốc độ gió). Đối với súng trường, chúng tôi buộc phải sử dụng loại súng M-40 của lực lượng lính thủy đánh bộ, súng bắn tỉa Remington 700 cỡ nòng 0,308 caliber với băng đạn năm viên. Gắn trên khẩu súng trường này là chiếc kính ngắm loại Unertl 10. Tôi là người bắn trước nên cẩn thận chỉnh thước ngắm. Sau đó, tôi chỉnh độ bù đường đạn do ảnh hưởng của lực hút trái đất ở cự ly bắn 300m. Nếu thay đổi cự ly bắn, tôi sẽ phải chỉnh lại độ bù của đường đạn.
Casanova nhìn qua kính ngắm điểm loại M-49 được đặt trên giá đỡ ba chân. Nếu không có giá đỡ, độ lệch có thể sẽ lớn do tay cầm kính ngắm bị rung. Casanova sử dụng kính ngắm điểm để đo tốc độ gió. Đây thường được xem là thách thức lớn nhất của các tay súng bắn tỉa.
Thông thường, các tay súng bắn tỉa thông qua lá cờ để tính toán tốc độ của gió dựa vào góc bay. Nếu một lá cờ có góc bay 80 độ, lấy con số đó chia cho hằng số 4 thì sẽ ra tốc độ gió là 20 dặm/h (32 km/h). Tương tự, nếu góc là 40 độ thì lấy 40 chia cho 4 ra tốc độ gió là 10 dặm/h (16 km/h).
Trong trường hợp không có cờ, lính bắn tỉa phải dựa vào kỹ năng quan sát. Nếu người lính bắn tỉa chỉ cảm nhận là có gió thổi và gió có thể làm làn khói chuyển động thì tốc độ gió dưới 3 dặm/h (4,8 km/h). Nếu gió thổi nhẹ thì tốc độ từ 3 – 5 dặm/h (4,8 – 8 km/h). Nếu gió thổi làm lá rung rinh thì tốc độ từ 5 – 8 dặm/h (8 – 12,8 km/h). Nếu bụi và rác bị thổi bay lên thì tốc độ gió từ 8 – 12 dặm/h (12,8– 19,2 km/h). Nếu các cây lắc lư thì tốc độ gió từ 12 – 15 dặm/h (19,2 – 24 km/h).
Google photo
Một lính bắn tỉa cũng có thể sử dụng phương pháp dùng kính ngắm điểm. Khi mặt trời đốt nóng trái đất, không khí gần bề mặt trái đất gợn lên thành các làn sóng. Gió đẩy các làn sóng nóng này di chuyển theo hướng gió. Để thấy được các làn sóng nóng này, các tay súng bắn tỉa cần tập trung vào một vật gần mục tiêu. Xoay ống kính một góc 45 độ theo chiều ngược kim đồng hồ, rồi tập trung vào vùng phía trước vùng mục tiêu để có thể nhìn thấy làn sóng nóng. Gió thổi với tốc độ chậm sẽ tạo ra các làn sóng nóng lớn, còn gió thổi nhanh mạnh sẽ làm tan các làn sóng nóng. Phương pháp xác định tốc độ gió kiểu này đã được áp dụng vào thực tiễn.
Gió thổi trực tiếp từ trái sang phải hoặc phải sang trái có ảnh hưởng lớn nhất đối với đường đạn. Loại gió này được gọi là gió ảnh hưởng trực tiếp. Gió thổi xiên từ trái qua phải hoặc từ phải qua trái được gọi là gió ảnh hưởng gián tiếp. Gió thổi từ trước về sau hoặc từ sau lên trước thì ít ảnh hưởng nhất.
Casanova thông báo cho tôi tốc độ gió: “5 dặm/h (8 km/h), ảnh hưởng trực tiếp, từ trái qua phải”. Cự ly 300m nhân với 5 dặm/h bằng 15; 15 chia cho hằng số 15 bằng 1. Tôi điều chỉnh ô kẻ ngang trên kính ngắm sang trái một khấc. Nếu trong trường hợp số chia là hai từ bên phải thì tôi phải chỉnh sang phải hai khấc trên kính ngắm.
Tôi bắn phát đầu tiên vào bia cố định – trúng. Sau khi bắn tiếp hai bia cố định và hai bia di động nữa, tôi đổi vai trò sang làm người tính tốc độ gió còn Casanova sang vai trò bắn. Sau đó chúng tôi thu gọn trang bị và chạy lùi lại vạch bắn ở cự ly 500m. Tại cự ly bắn này, chúng tôi tiếp tục lần lượt thay nhau bắn ba bia cố định và hai bia di động. Sau đó chúng tôi lùi xuống bắn ở cự ly 600m. Thật khó khăn để giữ hơi thở và nhịp tim chậm lại sau mỗi lần chuyển vị trí. Tại cự ly bắn 700 m, chúng tôi một lần nữa bắn ba bia cố định nhưng hai bia di động không chuyển động liên tục mà lúc chuyển động, lúc lại đứng im. Tại cự ly 800 m, hai bia di động không di chuyển nữa mà lắc từ trái sang phải và ngược lại ở một vị trí cố định. Tại cự ly 900m và 1.000 m, cả năm bia đều cố định. Với tổng cơ số đạn là 35 viên thì ít nhất phải có 28 viên trúng bia mới đạt yêu cầu. Ở nội dung này, rất nhiều người không đạt yêu cầu và bị loại. Sau khi kết thúc nội dung bắn trên thao trường, chúng tôi trở về nhà bắn và lau chùi, vệ sinh vũ khí trước khi bước vào nội dung vẽ phác thảo địa hình. Các huấn luyện viên đưa chúng tôi đến một khu vực và nói: “Hãy phác thảo địa hình khu vực từ mép rừng phía bên trái đến tháp nước phía bên phải. Các anh có 30 phút để thực hiện nhiệm vụ.” Chúng tôi cố vẽ cho bằng hết các chi tiết quan trọng trong khả năng của mình theo thứ tự từ gần đến xa: các vật ở gần phải to hơn các vật ở xa. Ở phía dưới bản phác họa, chúng tôi ghi rõ những thứ chúng tôi nhìn thấy. Các huấn luyện viên xếp hạng chúng tôi dựa vào sự rõ ràng, chính xác và giá trị tình báo của bản phác họa. Cứ đạt được 70% trở lên thì đỗ. Sau đó, họ rút ngắn thời gian của chúng tôi xuống còn 15 phút thay vì 30 phút.
Lính bắn tỉa cũng luôn giữ bên mình một cuốn sổ ghi chép để sử dụng cùng với bản phác họa. Điều này có nghĩa là người lính bắn tỉa phải ghi chép những thông tin cần thiết về địa hình, tọa độ, bụi cây, vật cản và đường cơ động để bổ sung cho bản phác họa.
Chúng tôi cũng tham gia nội dung Ghi nhớ nhanh. Huấn luyện viên đặt lên trên bàn từ 10 đến 12 đồ vật: vỏ đạn 9 ly, đèn hiệu, túi đựng đồ loại Ziploc, bút mực, một chiếc kính hỏng, ảnh của một ai đó và một số đồ vật khác nữa. Trong vòng từ 10 đến 15 giây, chúng tôi phải ghi nhớ được mọi thứ ở đúng vị trí đặt trên bàn. Sau đó, chúng tôi vào lớp học, lấy một mảnh giấy và vẽ những thứ chúng tôi nhìn thấy. Cuối cùng, chúng tôi phải mô tả bằng lời những đồ vật này. Đôi khi, chúng tôi phải nói chính xác kích thước đồ vật mà chỉ nhìn chúng bằng kính ngắm hoặc ống nhòm. Nếu tôi không thể nhớ được 70% số đồ vật này thì sẽ bị loại. Chúng tôi cũng phải chui rúc trong các bụi cây, bụi cỏ − tìm một vị trí quan sát trong tình trạng các bụi cây làm cản tầm nhìn của chúng tôi − sử dụng cây cối để che dấu khỏi bị phát hiện.
Trong Giai đoạn II “Trinh sát mục tiêu và bắn súng không biết trước cự ly”, những người đã vượt qua Giai đoạn I có nhiệm vụ bắn hạ 100 mục tiêu ở khoảng cách từ 300m đến 800m. Do chúng tôi không biết chính xác khoảng cách từ vị trí đứng đến mục tiêu nên chúng tôi phải ước lượng. Nếu bắn trúng bia mục tiêu ở viên đạn thứ nhất thì được 10 điểm, ở viên đạn thứ hai được 8 điểm. Chúng tôi không được phép bắn ba viên cho một mục tiêu. Khi khi hoàn thành, Casanova và tôi sắp xếp lại các mục tiêu và thực hiện lại một lần nữa sau khi đổi vai cho nhau. Chúng tôi phải đạt được trên 70% số mục tiêu cần bắn hạ thì mới đạt điểm chuẩn để được ở lại trường.
Ngoài kỹ năng bắn súng, trường đào tạo lính bắn tỉa cũng dạy chúng tôi nghệ thuật ngụy trang. Chúng tôi phải tự chế tác trang phục ngụy trang cho riêng mình. Trước tiên, chúng tôi chuẩn bị quần áo: chỉ lấy phần trên và phần dưới của bộ quần áo dã chiến. Tiếp theo, sử dụng loại dây chỉ bền như loại cước câu cá lớn nặng hơn 5kg, chúng tôi buộc bộ lưới (chẳng hạn như: võng quân sự hoặc lưới đánh cá) vào lưng và khuỷu tay của bộ quần áo dã chiến. Sử dụng keo dán giày Shoe Goo dễ dàng hơn sử dụng kim chỉ rất nhiều. Tiếp theo chúng tôi cắt một vài miếng vải rộng khoảng 2,54 cm, dài 22,8 cm và buộc vào điểm nút ở phần trên của chiếc áo dã chiến buộc với lưới. Chúng tôi kéo theo chiều dọc từ dưới lên trên để cọ miếng vải sờn đi. Dùng một bình sơn phụt, sơn màu cho miếng vải. Casanova và tôi buộc lá cây từ phần đầu gối trở xuống, đây là bộ phận lính bắn tỉa phải di chuyển. Lá cây xòe ra trong quá trình người lính bắn tỉa bò trên mặt đất. Chúng tôi rất cẩn thận không buộc bất kỳ một vật nào quá dài vào để tránh nó lắc lư sẽ dễ bị phát hiện. Lá cây là tốt nhất vì chúng bền màu. Cỏ bị úa nhanh nhất − chỉ trong vòng khoảng 4 giờ đồng hồ. Xung quanh báng súng trường, chúng tôi quấn vải màu vàng và buộc thắt nút vuông. Chúng tôi cũng làm tương tự như vậy với phần nòng súng và kính ngắm. Sau đó, chúng tôi dán miếng vải màu xanh đậm đã được cắt trước đó ra bên ngoài. Tương tự, chúng tôi cũng làm như vậy với khẩu M-49, ống nhòm và các trang bị khác. Vào cuối tuần, lúc được nghỉ, Casanova và tôi tập luyện nghệ thuật giấu mình. Chúng tôi làm các bộ quần áo ngụy trang. Sau đó, mặc vào và nằm ở các địa hình khác nhau, thử tìm cách phát hiện ra nhau. Hầu hết thời gian rỗi, chúng tôi chỉ thực hành kỹ năng giấu mình này.
Google photo
Phần Trinh sát mục tiêu làm nhiều học viên bị loại nhất. Vị trí của mỗi lần Trinh sát mục tiêu đều khác nhau và chúng tôi phải thay đổi bố cục màu sắc và kết cấu quần áo ngụy trang để hòa lẫn với môi trường xung quanh. Lúc nào trong tay cũng phải cầm theo kính ngắm quang học. Mắt thường được sử dụng để nhìn bao quát địa hình. Ống nhòm được sử dụng để nhìn các vật cận cảnh hơn, tuy nhiên vẫn giúp có được cái nhìn bao quát. Kính ngắm của lính bắn tỉa cho phép quan sát kỹ năng nhất các vật nhưng lại không nhìn bao quát được.
Càng tiếp cận gần mục tiêu, lính bắn tỉa càng phải di chuyển chậm. Khi cách mục tiêu khoảng 3 km, lính bắn tỉa cần di chuyển nhanh nhưng phải êm. Sau khoảng 1 km phải cẩn thận hơn, phải điều chỉnh lớp ngụy trang cho phù hợp với địa hình. Khi còn cách mục tiêu chưa đầy 1 km, lính bắn tỉa phải chú trọng khi di chuyển – bò sát xuống mặt đất. Mỗi lần tay chỉ di chuyển về phía trước khoảng 30 cm và cứ 30 giây mới thực hiện một hành động này. Đôi khi người đi trinh sát phía trước đánh dấu đường đi. Việc làm này tạo khá nhiều thuận lợi cho người đi sau.
Trong vòng ba đến bốn giờ, chúng tôi phải vượt qua chặng đường từ 800 đến 1.200 m, đến cách vị trí quan sát khoảng 200m. Nếu người ở đài quan sát phát hiện ra chúng tôi trước khi chúng tôi đến cách vị trí quan sát 200 m, chúng tôi chỉ được 40 điểm trên thang điểm 100. Với kết quả như vậy, chúng tôi trượt.
Nếu người Quan sát nhìn thấy bụi cây chuyển động, anh ta sẽ dùng vô tuyến điện gọi báo cho giám sát viên (Walker): “Giám sát viên, sang trái 3 thước. Dừng lại. Sang phải 1 thước. Dừng lại. Một lính bắn tỉa ở ngay dưới chân”. Bất kỳ lính bắn tỉa nào ở trong vòng bán kính 30 cm đều bị bắt giữ. Những người bị bắt giữ thường là chưa đến được vị trí cách người Quan sát 200m. Lính bắn tỉa bị lộ sẽ đứng dậy và đi bộ về xe buýt, đạt 50 điểm và trượt. Khi đến vị trí bắn, cách người Quan sát trong vòng 200 m, chúng tôi phải lấy súng ra và bắn vào một khoảng trống ở chỗ người Quan sát. Nếu người lính bắn tỉa không phát hiện ra người Quan sát, không đưa ra tốc độ gió hoặc độ cao chính xác hay không bắn từ bệ bắn chắc chắn, sẽ chỉ đạt được 60 điểm và bị đánh trượt.
Nếu chúng tôi làm được tất cả những điều trên nhưng lại để người Quan sát phát hiện ra tiếng nổ, anh ta sẽ chỉ cho giám sát viên vị trí của chúng tôi và đến bắt chúng tôi. Trường hợp này được 70 điểm và đỗ vớt.
Nếu người Quan sát không phát hiện ra tiếng súng từ đâu, giám sát viên sẽ hô vang ở nơi anh ta nghi ngờ có lính bắn tỉa: “Hãy bắn phát thứ hai!” Đa số học viên đều bị lộ bởi người Quan sát đã nhìn thấy bụi cây di chuyển từ phát nổ thứ hai. Trường hợp này được 80 điểm. Phần cuối cùng của nội dung trinh sát mục tiêu là kiểm tra xem lính bắn tỉa có nhìn thấy tín hiệu từ người Quan sát hay không. Nếu lính bắn tỉa không bị phát hiện ở phát bắn thứ hai nhưng vẫn không quan sát được tín hiệu phát ra từ người Quan sát thì được 90 điểm.
Giám sát viên nói qua vô tuyến điện với người Quan sát “Các lính bắn tỉa nói anh đang đập tay xuống đỉnh đầu.”
“Đúng, rất tốt. Đứng lên. Tới xe buýt. ‘Trinh sát mục tiêu chính xác, được 100 điểm’. Chúng tôi cần ít nhất hai lần trinh sát chính xác trong tổng số 10 lần ngoài việc đạt được mức điểm trung bình từ 70 trở lên.
Ngay cả vào mùa thu, nhiệt độ là 21 độ C, nhưng Quantico vẫn nóng như địa ngục khi chúng tôi phải khoác trên người bộ quần áo ngụy trang, kéo theo túi đựng trang thiết bị và bò sát mặt đất. Mọi người đều bị mất nước. Sau khi kết thúc nội dung Trinh sát mục tiêu, chúng tôi phải quay trở lại và sục sạo các bụi cây tìm những người bị ngất để đưa họ trở về doanh trại.
Casanova và tôi ở tại một khách sạn bên ngoài căn cứ trong khi lực lượng lính thủy đánh bộ ở trong doanh trại đối diện Trường đào tạo lính bắn tỉa phía bên kia đường. Chúng tôi vẫn đang trong chế độ trực chiến. Nếu máy nhắn tin của chúng tôi đổ chuông và phải thực thi nhiệm vụ, chúng tôi sẽ phải kín đáo rời khỏi nơi ở đi thực hiện nhiệm vụ mà không được phép để cho nhiều người biết điều gì đang diễn ra. Chúng tôi được hưởng những dịch vụ tốt nhất – đi máy bay hạng nhất và thuê xe ô tô chỉ dành cho hai người. Sau mỗi lần thực hành nội dung Trinh sát mục tiêu tại phòng khách sạn, tôi phải giúp kiểm tra một số vùng trên cơ thể của Casanova mà anh ấy không thể tự xem xét, xem có con bọ chét nào không để phòng tránh bệnh Lyme. Nếu không được chữa trị, bệnh Lyme sẽ tấn công vào hệ thần kinh trung ương. Casanova cũng làm tương tự như vậy với tôi. Không có việc nào tế nhị và thân mật hơn việc dùng chiếc nhíp để gắp bọ chét ra khỏi hậu môn của đồng đội mình.
Phải sau ba hay bốn lần thực hành nội dung trinh sát mục tiêu, tôi mới hiểu hàm ý sâu xa của việc làm trên: Giờ đây tôi hiểu điều họ muốn tôi làm là nhằm mục đích gì. Đó là để giúp chúng tôi không được để hoàn cảnh tác động, không giận dữ và mờ mắt vì ánh hào quang. Trong một lần trinh sát mục tiêu trước đó, tôi bò qua một cánh đồng lúa mạch. Một cậu lính trẻ bò ngang qua tôi rất nhanh.
Tôi thầm thì: “Này, cậu đang di chuyển quá nhanh đấy.” “Qua ống nhòm, tôi đã nhìn thấy người Quan sát. Anh ta vẫn chưa chuẩn bị xong. Tôi đang chuẩn bị hoàn tất phần thi trước khi người Quan sát tìm kiếm chúng ta.” Đồ ngu.
Cậu lính trẻ di chuyển quá nhanh cắt qua mặt tôi trong tư thế bò thấp. Chó chết thật.
Một giám sát viên hét to: “Tất cả các tay súng, nằm im!” Chúng tôi nằm im.
Người Quan sát nói với giám sát viên đứng ngay trước mặt tôi 30 cm. Lúc này, cậu lính trẻ ở phía trước tôi 1,5m vì cậu ta bò quá nhanh. Người Quan sát nói qua vô tuyến điện với giám sát viên “Có một lính bắn tỉa ngay dưới chân”. “Chính xác. Nào Wasdin, đứng dậy”. Chó chết thật. Liệu tôi có thể làm gì trong tình huống này? Chẳng nhẽ tôi lại quay trở lại nói với huấn luyện viên rằng “Đó thực sự không phải là tôi mà là cậu lính trẻ”.
Bốn mươi điểm. Điều này làm tôi tổn thương ghê gớm, đặc biệt trong những lần trinh sát mục tiêu đầu tiên. Điểm số là vấn đề rất quan trọng. Tôi đã nghĩ đến khả năng tôi có thể trượt vì điểm lần này. Trở về đơn vị ở Dam Neck, Virginia và nói với mọi người rằng tôi vừa bị loại khỏi Trường đào tạo lính bắn tỉa thì thật xấu hổ biết chừng nào.
Mặc dù về mặt lý thuyết, chiến thuật của cậu lính trẻ hoàn toàn ổn nhưng làm tôi phải chịu trận thay là không chấp nhận được. Không cần thanh minh gì với huấn luyện viên, tôi gặp riêng cậu ta ở sau doanh trại và nói: “Cậu có thể nghĩ đó là chiến thuật tốt bởi cậu thấy người Quan sát vẫn chưa chuẩn bị xong, cậu tranh thủ tiến nhanh. Nhưng nhớ đừng bao giờ bò sát bên tôi hoặc trước mặt tôi như thế. Nếu cậu làm tôi trượt một lần nữa, chúng ta sẽ nói chuyện kiểu khác chứ không phải nhẹ nhàng như lần này đâu.”
Cậu ta không bao giờ mắc lại lỗi đó nữa và tốt nghiệp Trường đào tạo lính bắn tỉa cùng khóa với tôi. Ngay cả sau khi đã đủ điểm đỗ nhưng nếu một lính bắn tỉa lặp lại lỗi đã phạm trước đó, các huấn
luyện viên sẽ đánh trượt mà không cần xét đến điểm số. Một số lính bắn tỉa bị trượt bởi họ không làm
được những bộ quần áo ngụy trang hòa vào môi trường xung quanh.
Này, chúng ta đã bắt đầu nội dung này được một tháng. Chúng ta đã học cách làm các bộ quần áo ngụy trang từ trước khi bắt đầu nội dung này. Tại sao các cậu không chịu ra ngoài quan sát địa hình và làm những bộ quần áo có thể hòa lẫn vào địa hình ở đó?
Một số học viên có thể làm được các bộ quần áo rất giống với môi trường xung quanh nhưng lại không nằm im được. Tôi thấy nhiều bụi bay lên ở những nơi họ ẩn nấp. Những học viên này bò đến cạnh một cái cây nào đó và nghĩ chiếc cây sẽ giúp họ không bị phát hiện. Các huấn luyện viên gọi đó là “các khối u của cây”. Các huấn luyện viên sẽ đưa mắt nhìn các cây từ trên xuống dưới. Khi phát hiện thấy gốc cây có một khối u. Tất nhiên, tay lính bắn tỉa đó trượt.
Một lính bắn tỉa không chỉ đơn thuần khả năng bắn súng cự ly xa. Một vận động viên bắn súng ở Thế
vận hội Olympic có thể bắn súng chính xác ở cự ly xa nhưng không biết cách trinh sát mục tiêu thì cũng không thể trở thành lính bắn tỉa. Ở lần trinh sát mục tiêu thứ bảy, tám và chín, các huấn luyện viên gọi tên một học viên bất kỳ. Nếu các học viên này không đạt điểm tối đa, họ sẽ không đủ điểm để tốt nghiệp. Chúng tôi không bao giờ được gặp lại họ nữa.
Tôi đã kết thúc nội dung này với tổng số điểm là 800 hay 850 gì đó, tính cả lần tôi bị 40 điểm do sự thiếu kiên nhẫn của cậu lính trẻ tuổi.
Giai đoạn III: Các kỹ năng nâng cao ngoài thực địa và thực thi nhiệm vụ, bao gồm cả phần thực hành chiến đấu. Không cần biết chúng tôi đã hoàn thành tốt như thế nào ở các nội dung: bắn súng các cự ly, phác họa địa hình, ghi nhớ nhanh, trinh sát mục tiêu, chúng tôi buộc phải vượt qua phần thực hành chiến đấu kéo dài ba ngày. Ở nội dung này, các huấn luyện viên kỳ vọng ở chúng tôi sự chín chắn và khả năng độc lập tác chiến. Lính bắn tỉa thường hành động theo cặp đôi mà không nhận được chỉ dẫn trực tiếp. Lính bắn tỉa phải có khả năng tự ra quyết định, bao gồm cả quyết định tự điều chỉnh để thích nghi với môi trường xung quanh.
Lợi dụng màn đêm, trong nội dung thực hành chiến đấu, Casanova và tôi tiếp cận thành công vị trí ẩn nấp. Trước tiên, chúng tôi đào sâu khoảng 10 đến 15 m, cẩn thận đánh cỏ và lớp đất bề mặt thành những mảng to rồi đặt sang một bên. Tiếp theo, chúng tôi đào một chiếc hầm hình vuông có kích thước 6 x 6m và sâu 5m. Ở đáy hầm, Casanova và tôi đào một hố để đi vệ sinh dài khoảng 2 m, rộng 1,5m và sâu 1 m, dốc 45 độ để thoát nước mưa và phòng khi lựu đạn rơi vào thì cả hai vẫn lăn được ra ngoài. Cũng để tránh nước mưa làm sập lở hầm, chúng tôi cố định phần mái hầm bằng các bao cát. Tiếp theo, chúng tôi dọn sạch khu vực trước hố bắn để tì khuỷu tay trong khi ngắm bắn. Sau đó, chúng tôi dùng các thanh gỗ, áo mưa, đá, đất, các mảng cỏ (chúng tôi vừa đánh lúc trước) che chắn phía ngoài hố bắn. Cuối cùng, chúng tôi làm một lỗ thoát hiểm phía sau, được ngụy trang bằng các cành cây. Phía trong lỗ thoát hiểm, chúng tôi gài một quả mìn sát thương phòng khi có người đột nhập.
Chúng tôi ghi chép mọi diễn biến xảy ra ở khu vực mục tiêu, một ngôi nhà nằm trơ trọi với những xe chiến đấu bao bọc xung quanh. Một người tuần tra đi ngay trên đầu chúng tôi nhưng không phát hiện ra chúng tôi. Cứ sau một giờ, Casanova và tôi đổi vai bắn tỉa và chỉ thị mục tiêu cho nhau. Chúng tôi ăn uống, ngủ nghỉ và vệ sinh cá nhân ngay trong hầm. Khó khăn đối với chúng tôi là phần một người gác để người còn lại ngủ. Vào ban đêm, chúng tôi phải ra ngoài và quan sát diễn biến ở ngôi nhà mục tiêu. Qua bộ đàm, chúng tôi nhận được mệnh lệnh tiêu diệt mục tiêu bên cửa sổ: “Một người đàn ông đội mũ đỏ sẽ xuất hiện bên cửa sổ ngôi nhà vào ngày 8 tháng Mười một. Hạ gục mục tiêu.” Nếu người đàn ông đội mũ xanh xuất hiện. Không được bắn.
Trước khi bước vào nội dung này, Casanova và tôi đã chuẩn bị một chiếc thẻ ghi khoảng cách. Khi đến vị trí trú ẩn, chúng tôi thêm vào thẻ một số chi tiết như đặc điểm địa hình và các địa vật khác. Chúng tôi chia thẻ ra thành ba khu vực: A, B và C. Dùng cánh tay và bàn tay đã quy ước từ trước, Casanova ra hiệu mục tiêu của chúng tôi đã đến khu vực B, kim đồng hồ chỉ 12 giờ, cách 500m. Sau đó, Casanova chỉ vị trí ở trên thẻ.
Tôi giơ ngón cái lên hàm ý đã chỉnh thước ngắm vào mục tiêu. Điểm cắt ngang trên kính ngắm nằm đúng ngực mục tiêu đội mũ đỏ đứng bên cửa sổ. Nếu bắn trượt, tôi sẽ không tốt nghiệp. Casanova vẫn còn cơ hội để hạ gục mục tiêu nhưng tôi thì sẽ trượt. Tôi cẩn thận bóp cò. Trúng mục tiêu. Sau khi bắn,
chúng tôi bí mật rút lui ra điểm đón. Quá trình rút lui này chỉ cho phép sử dụng bản đồ và la bàn để xác định hướng, chứ không được sử dụng hệ thống định vị GPS.
Khi trở lại nhà bắn, Casanova và tôi thuyết trình lại những gì chúng tôi thấy trên đường vào và trên đường rút lui và cả thời điểm chúng tôi nhìn thấy. Chúng tôi sử dụng hình ảnh và bản phác họa địa hình trong quá trình thuyết trình. Nguy cơ bị trượt vẫn lơ lửng trên đầu chúng tôi.
Huấn luyện viên mang quân hàm Thiếu tá nói với chúng tôi: “Hai cậu đã có bài thuyết trình hoàn hảo. Hầm ẩn nấp của các cậu rất tốt. Đích thân tôi đã đi bộ phía trên hầm ẩn nấp đó. Kỹ năng thuyết trình của các cậu thật tuyệt vời.” Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Tất nhiên, kỹ năng thuyết trình của chúng tôi rất tốt bởi chúng tôi đã từng thuyết trình khi còn theo học ở Trường đào tạo các kỹ năng cơ bản dưới nước – BUD/S.
Thật không may cho các học viên bắn tỉa khác, chúng tôi là cặp thuyết trình đầu tiên và bài thuyết trình của chúng tôi lại quá tốt. Tôi đưa mắt nhìn quanh căn phòng và các học viên thuộc lực lượng lính thủy đánh bộ không hào hứng lắm với bài thuyết trình của mình. Một cậu lính khá trẻ thuộc lực lượng lính thủy đánh bộ có khả năng bắn súng tuyệt hảo nhưng người thiếu tá chỉ trích họ rất gay gắt và tôi thấy cậu lính thật đáng thương. Cả cậu và đối tác của cậu đều bị bắt sống khi đang ngủ trong khi lẽ ra một người phải thức canh cho người kia ngủ. Quá trình rút lui ra điểm đón họ cũng để bị lộ. Kỹ năng thuyết trình của họ thật tồi. Nếu một lính bắn tỉa không thể nói rõ được cái anh ta nhìn thấy, thông tin anh ta đưa ra không có giá trị. Trong giới bắn tỉa, chúng tôi gọi hai cậu lính trẻ này là “những người bóp cò giỏi”. Nhiều người có khả năng bắn súng giỏi nhưng như thế chưa đủ để trở thành lính bắn tỉa. Tất nhiên, chúng tôi không gặp lại họ ở buổi lễ trao bằng tốt nghiệp.
Sau khi tốt nghiệp, tôi trở về Đội Anh cả Đỏ nhưng chỉ có rất ít thời gian ghé thăm gia đình. Tại đơn vị, tôi nhanh chóng bắt tay vào học cách bắn súng bắn tỉa 300 Win Mag với kính ngắm Leupold. Việc chuyển từ bắn loại súng bắn tỉa cỡ nòng 7,62 ly của lính thủy đánh bộ sang loại súng Win Mag của Đội Đặc nhiệm SEAL số 6 chẳng khác gì việc chuyển từ đua xe buýt sang đua xe Ferrari.
Chúng tôi vẫn sử dụng loại kính nhìn đêm KN-250. Kính nhìn đêm khuếch đại ánh sáng có sẵn từ mặt trăng và các vì sao, chuyển hình ảnh thành màu xanh và xanh trắng thay vì màu đen trắng. Nhờ đó, lính bắn tỉa có thể nhìn được vào ban đêm.
Sau đó, chúng tôi được đưa đến Fort Bragg, Bắc Carolina học cách sử dụng súng bắn tỉa có lắp ống giảm thanh CAR-15 trong khi vẫn ngồi trên trực thăng.
Casanova, Gã Mập lùn, Sourpuss và tôi còn bay sang Australia tập huấn cùng đơn vị đặc biệt của Lực lượng Không quân (SAS) nước này. Chúng tôi mua vé máy bay hạng nhất và đi hàng không dân dụng từ bờ Đông nước Mỹ đến bờ Tây nước Mỹ. Sau đó, chúng tôi bay đến Hawaii. Từ Hawaii, chúng tôi hạ cánh xuống sân bay Sydney ở bờ phía Đông của Australia. Từ đó, chúng tôi bay qua lục địa để đến Perth, nằm trên bờ phía Tây. Đó là chuyến bay dài nhất trong đời tôi.Tại Perth, phía ngoài trụ sở chính của đơn vị đặc biệt thuộc lực lượng Không quân Australia có một tượng đài vinh danh những binh lính của đơn vị này thiệt mạng trong quá trình huấn luyện hoặc chiến đấu. Có khoảng 40 lính được vinh danh ở đây, chủ yếu là thiệt mạng trong quá trình huấn luyện. Sau khi vào doanh trại, chúng tôi để vũ khí vào kho và họ đưa chúng tôi đi tham quan đơn vị. Buổi tối, chúng tôi nghỉ tại một khách sạn bên bờ sông Swan. Perth không nổi tiếng như Sydney, nhưng chi phí rẻ hơn và phong cảnh ở đây đẹp hơn.
Việc thành lập lực lượng SAS của Australia và Anh đều chịu ảnh hưởng của lực lượng SEAL và Delta. SAS có nhiệm vụ chống khủng bố và do thám cả trên biển, trên không và trên bộ. SEAL bắt đầu hợp tác với SAS của Australia từ thời chiến tranh Việt Nam.
Khi chúng tôi ra thao trường tập bắn, lính Australia chủ yếu được huấn luyện hạ gục các mục tiêu di chuyển nhanh ở cự ly 200m. Chúng tôi được huấn luyện hạ gục các mục tiêu cố định ở cự ly xa hơn. Lính Australia sử dụng súng bắn tỉa bán tự động còn chúng tôi sử dụng súng bắn tỉa phát một Win Mag. Khi bộ bốn mục tiêu bay qua, chúng tôi vận hành bằng tay khẩu Win Mag phát một cho mỗi mục tiêu và kết quả chúng tôi chỉ hạ gục được một nửa số mục tiêu cần tiêu diệt. Trong khi đó, lực lượng SAS liên tục bóp cò và hạ gục tất cả các mục tiêu. Chúng tôi đã rút ra bài học quý báu ở nội dung này. Tôi nhận ra rằng, trong môi trường phải cơ động nhanh như tác chiến trong thành phố, tốt nhất nên sử dụng loại súng bán tự động đối với các cự ly từ 200 đến 400m. Khẩu CAR-15 tự động của chúng tôi chỉ bắn chính xác tối đa ở cự ly 200m.
Khi chúng tôi đi ra bắn mục tiêu ở cự ly 500m và 700 m, lực lượng SAS lại rút ra bài học quý giá cho mình. Bởi khẩu súng trường bán tự động của họ không còn chính xác ở cự ly xa hơn 200 m, trong khi đó những khẩu súng trường bắn phát một của chúng tôi vẫn bảo đảm được độ chính xác cao.
Tôi thử bắn mục tiêu ở cự ly 725m. Một lính SAS gọi qua vô tuyến điện: “Phát đó, anh ta bắn có trúng không?”.
“Có.”
Tôi bắn thêm một lần nữa. “Anh ta bắn có trúng không?” “Có”.
Quá trình này lặp đi lặp lại thêm một vài lần nữa và kết quả đều giống những lần trước đó. Tay lính này lắc đầu thè lưỡi tỏ vẻ thán phục. Tối hôm đó, chúng tôi đến một quán bar, cậu lính này mua cho tôi một chai bia Red Back. Đây là loại bia làm từ lúa mạch của Australia. Loại bia này được đặt tên theo tên loài nhện độc ở Australia. Nhện cái ăn thịt nhện đực sau khi giao phối. Loài nhện này còn cắn người và tiêm nọc độc gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương của người. Đây là loại bia được lực lượng SAS rất ưa dùng. “Một lính bắn tỉa cừ khôi, anh bạn”, anh ta nói với tôi trong sự ngưỡng mộ.
Vài ngày sau, mang theo súng CAR-15, chúng tôi đi thám hiểm vùng xa xôi hẻo lánh ở Australia khoảng 10 ngày. Một đêm, tại một trang trại rộng 8.000 héc ta, chúng tôi leo lên xe tấn công Rang Rover của lực lượng SAS. Mỗi chiếc xe có một chiếc pít tông đặc biệt ở phía trước lưới tản nhiệt. Ở đó, người ta gắn một gói thuốc nổ để sẵn sàng cho nổ tung chiếc cửa khi cần. Sau đó, các đặc nhiệm có thể nhảy ra khỏi xe và tấn công tòa nhà − một cách thức tấn công thật ấn tượng. Chiếc xe Rang Rover còn có thể phụt khói ra phía sau để cản đối tượng đuổi theo trên đường rút chạy. Trong quá trình lái xe, chúng tôi bắn các mục tiêu di động: các con chuột túi. Chuột túi thường ăn cỏ trên vùng đất ở các nông trang, đe dọa sẽ làm hỏng cây trồng và chỉ để lại rất ít thức ăn cho gia súc và còn lây lan bệnh dịch. Ngược lại với hình ảnh một chú chuột túi nhồi bông, đặc biệt khi bị chọc tức hoặc bị dồn vào đường cùng, một con chuột túi hoang dã có thể vồ người bằng bộ móng vuốt trước và phanh bụng kẻ xấu số bằng bộ móng sau cứng chắc.
Casanova, Gã Mập lùn, Sourpuss và tôi đều sử dụng thiết bị cảm quang nhìn đêm và thiết bị laze gắn trên khẩu CAR-15. Bắn mục tiêu di động trên xe đang chạy vô cùng khó khăn. Tôi di tia laze vào những con chuột túi. Trên xe chở các đặc nhiệm SEAL, súng của chúng tôi nổ pằng-pằng-pằng-pằng- pằng-pằng.
Bốn lính thuộc lực lượng SAS đi trên xe của họ chỉ nổ có một phát súng duy nhất: Pằng. Cứ mỗi lần chúng tôi bắn sáu phát, phía lính Australia chỉ bắn một phát. Lực lượng SAS nghĩ rằng chúng tôi đã quá lãng phí đạn khi bắn sáu viên đạn cho một con chuột túi. Chỉ đến khi đi kiểm tra số chuột túi chết và khi họ nhìn thấy xác chuột túi nằm ngổn ngang quanh chúng tôi, họ mới hiểu số chuột túi chúng tôi bắn chết nhiều gấp sáu lần họ. Họ thốt lên: “Chà, các anh có các thiết bị hỗ trợ xịn thật.”
Ngày hôm sau, chủ trang trại đi ra và nhìn thấy xác chết của đám chuột túi, họ tỏ vẻ biết ơn: “Các anh đã làm một công việc vô cùng hữu ích. Cám ơn các anh!”
Trở về doanh trại, chúng tôi ngồi trong một phòng họp khang trang. Các đặc nhiệm rót cho chúng tôi một loại rượu dán nhãn của Trung đoàn SAS lấy từ dưới hầm rượu lên. Khi đã ngà ngà, một người lính thuộc lực lượng SAS nói với chúng tôi anh ta từng tham gia cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất với nhiệm vụ giống đơn vị Bravo 20 thuộc lực lượng SAS của Anh. Nhóm Bravo 20 là một nhóm gồm tám người được phái đến hoạt động trong lãnh thổ đối phương, có nhiệm vụ phát hiện, báo cáo các vị trí đồn trú của đối phương, phá hủy các mục tiêu như các tuyến thông tin liên lạc cáp quang. Ngày thứ hai của chiến dịch, một người nông dân lái chiếc xe ủi đã phát hiện ra họ. Nhóm này đã để cho người nông dân đi thay vì bắt giữ hay giết chết ông ta.
Một vài ngày sau, nhóm Bravo 20 sống sót sau một vài cuộc giao tranh trước khi tan rã. Lực lượng dân quân của Iraq giết chết Robert Consiglio. Vincent Phillips và Steven Lane chết vì bị hạ thân nhiệt. Binh lính Iraq bắt giữ Andy McNab, Ian Pring, Malcolm MacGown và Mike Coburn (lực lượng SAS của New Zealand), người sau này được trả tự do. Chris Ryan lẩn trốn quân Iraq khoảng tám ngày, đi bộ chặng đường hơn 300 km để đến Syria. Sau 30 phút nói chuyện, các đặc nhiệm SAS rơm rớm nước mắt. Thông điệp họ gửi tới chúng tôi là “Nếu bạn bị lộ, tốt nhất hãy giết hoặc bắt giữ người đã nhìn thấy bạn chứ đừng để người đó đi.”
Binh lính SAS đối xử với chúng tôi rất tốt. Họ dạy chúng tôi cách sử dụng một số trang thiết bị và chúng tôi cũng làm vậy với họ. Chúng tôi đều tiến bộ hơn nhiều sau đợt huấn luyện này. Tướng George Patton từng nói: “Chuẩn bị kỹ lưỡng chính là tự mang lại may mắn cho mình.”
Khi nền kinh tế Iraq suy thoái, Tổng thống Saddam Hussein đổ lỗi cho Kuwait. Iraq tiến hành xâm lược Kuwait ngày 2 tháng Tám năm 1990, và bắt giữ các con tin phương Tây. Liên Hợp Quốc lên án hành động này, yêu cầu Iraq rút quân, áp đặt lệnh trừng phạt kinh tế đối với Iraq và tiến hành cấm vận nước này. Tuy nhiên, dường như mục tiêu xâm lược tiếp theo của Hussein là Ả Rập Xê-út.
Ngày 7 tháng Tám, Chiến dịch Lá chắn sa mạc bắt đầu. Tàu sân bay và tàu chiến Mỹ tiến vào vùng vịnh Péc-xích. Quân đội được gửi tới Ả Rập Xê-út. Liên Hợp Quốc ra tối hậu thư yêu cầu Iraq rút khỏi Kuwait trước ngày 15 tháng Một năm 1991, nếu không sẽ sử dụng bạo lực để buộc họ rút quân. Mỹ thành lập một liên minh gồm 34 nước với sự hậu thuẫn về tài chính của Đức và Nhật.
Trung đội của tôi chuẩn bị trang thiết bị sẵn sàng triển khai tới Machrihanish, Scotland. Khi biết Lá chắn sa mạc sắp trở thành Bão táp sa mạc, chúng tôi bay tới Sigonella, Sicily. Trạm đường không Hải quân của chúng tôi đặt ở căn cứ của NATO, có vai trò là một trục dẫn ra Địa Trung Hải. Ở đó, chúng tôi đợi tàu đến.
Trong khi chờ đợi, tôi thường đi ăn ở một cửa hàng gần căn cứ. Món mì ống cuốn thịt của họ đặc biệt thơm ngon. Một buổi tối, tôi hỏi cô phục vụ cách chế biến món đó. Cô ấy quay vào trong bếp hỏi, sau đó đi ra và hướng dẫn cho tôi. Sau khi ăn ở đó thêm vài lần nữa và lần nào cũng hỏi cách nấu món này, cô nói: “Anh và bếp trưởng nói chuyện nhé.” Cô đưa tôi vào bếp. Tôi nhận ra rằng một gia đình đang điều hành nơi này. Bếp trưởng và tôi uống Chianti (rượu vang đỏ vùng Tuscany) trong khi ông chỉ cho tôi cách chuẩn bị thực phẩm và sau một vài lần viếng thăm, ông dạy tôi cách nấu món Sicilian với thịt viên, xúc xích, mì ống nướng và mì ống cuốn thịt tại gia. Ông có vẻ vui khi tôi thích giúp ông nấu nướng. Phần việc quan trọng nhất trong việc chế biến các món Italia là chế nước sốt, thứ nước chấm có thể phải mất vài ngày mới xong. Trước tiên phải băm nhỏ ớt, hành, tỏi, cà chua và nấm. Sau đó xào chúng lên. Dùng sốt cà chua để nấu một vài loại rau thơm cho sôi lên, sau đó giảm nhiệt và cho thêm rau. Thêm rượu vang. Việc này có thể mất cả ngày. Làm thịt viên và xúc xích trong khi món nước sốt đang được đun liu riu. Sau đó cho thêm thịt vào nước sốt. Nửa đêm phải thức dậy để cho nước sốt vào tủ lạnh. Hôm sau, bao giờ ăn thì lấy ra khỏi tủ lạnh. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn nấu món Sicilian. Vợ chồng tôi thường mời bạn bè và hàng xóm đến thưởng thức món này và hồi tưởng lại không khí mà tôi rất thích khi ở Sicily. Thỉnh thoảng khi tôi dắt chó đi dạo ở ngoài đường, một người hàng xóm lại hỏi tôi: “Howard này, khi nào anh sẽ lại nấu cái món Italia đó vậy?”.
Một buổi tối vài tuần sau đó, tôi từ quán ăn trở về và dừng lại đài không lưu để xem vài chương trình ti vi. Trên CNN, họ chiếu hình ảnh những phát súng đầu tiên của chiến dịch Bão táp sa mạc. Tôi chạy ào tới Kho xử lý chất nổ, nơi trung đội của tôi đang ngủ trong các túi ngủ và đánh thức họ dậy: “Này, cuộc chiến bắt đầu rồi.” Mọi người bật dậy, sẵn sàng chiến đấu. Nhưng rồi chúng tôi nhận ra một điều, Tất cả chúng ta đang háo hức cái quái gì nhỉ? Còn chưa có ai nói chúng ta phải làm gì mà. Thế là tôi túm lấy một cái túi ngủ và chui tọt vào trong. Sáng hôm sau, chúng tôi nhận được thông báo rằng chúng tôi sẽ đến tàu sân bay John F. Kennedy, nơi tôi đã trải qua kỳ huấn luyện Tìm kiếm và Cứu nạn. Khi con tàu từ biển Địa Trung Hải tới, chúng tôi chuyển trang thiết bị lên tàu: các thùng đạn chống tăng nhẹ bắn phát một 84mm (AT-4), mìn định hướng, đạn dược… nhiều đến mức tưởng như không bao giờ có thể chất hết lên tàu được. Vì không biết mình được giao nhiệm vụ cụ thể nào, chúng tôi đem theo đủ mọi thứ.
Tàu John F. Kennedy dài 320m và cao 60m tính từ mớn nước đến đỉnh cột buồm. Nó có thể chở theo
5.000 nhân viên và chạy với tốc độ 34 hải lý một giờ. Ngoài hơn 80 máy bay, con tàu còn được trang bị hai hệ thống phóng tên lửa có điều khiển Mark-29 dùng tên lửa Sea Sparrow, hai hệ thống vũ khí cận chiến Phalanx để phá hủy tên lửa tấn công của đối phương và hai thiết bị phóng tên lửa Rolling Airframe Missile dùng để phóng đi các tên lửa đất đối không điều khiển bằng tia hồng ngoại.
Tôi gặp lại nhiều bạn cũ của mình ở trên tàu. Thậm chí có cả các phi công nữa. John F. Kennedy đi qua kênh đào Suez tới Biển Đỏ, hướng ra vịnh Péc-xích. Hầu hết mọi tàu đều không bố trí khu vực riêng cho đội SEAL. Chúng tôi ngủ và nhóm họp ở bất cứ chỗ trống nào mà chúng tôi có thể tìm thấy. May là chúng tôi có quan hệ rất tốt với nhân viên của tàu. Bất cứ khi nào họ nhìn thấy chúng tôi mặc đồng phục ngụy trang và đeo phù hiệu SEAL đi qua hành lang, họ đều nói: “Tránh đường nào, SEAL đang đi qua đấy.” Chúng tôi cảm thấy mình như là những người nổi tiếng vậy. Chúng tôi cũng cố gắng tôn trọng họ.
Ban đầu không có ai đến chỗ chúng tôi ở trong phòng ăn. Một vài lần sau, mọi người bắt đầu đến ngồi cạnh. Họ hỏi chuyện về BUD/S và những việc khác. Trong ngôi nhà nổi chứa máy bay khổng lồ này, chúng tôi rèn luyện thể lực vào mỗi buổi sáng. Một số nhân viên của tàu cũng đến và tham gia cùng chúng tôi.
Chúng tôi không theo trường phái Dick Marcinko kiêu ngạo và xa lánh mọi người. Marcinko là người thành lập Đội SEAL Số 6, từng ngồi tù vì tội lừa đảo chính phủ, từng viết cuốn tự truyện Rogue Warrior (tạm dịch: Chiến binh ma cà bông) và sản xuất một trò chơi video. Mặc dù tôi kính trọng ông vì đã thành lập ra Đội 6, nhưng Marcinko khiến chúng tôi coi thường vì ông không tôn trọng những người không phải là thành viên SEAL và những người SEAL không cùng nhóm với ông. Một lần đi máy bay, tôi thấy một viên phi công ngạc nhiên trước thái độ của chúng tôi khi so sánh với thái độ ồn ào, khó chịu, hợm hĩnh của những người lính SEAL của Marcinko. Tồi tệ hơn, Marcinko lừa rút tiền của chính phủ, đặt Đội 6 dưới đám mây u ám của sự nghi ngờ. Ông bị ngồi tù vì đồng lõa âm mưu với một nhà thầu dân sự tính giá cao các loại chất nổ cho chính phủ và bỏ túi số tiền đó. Trong nhiều năm sau đó, chúng tôi phải tìm cách thoát khỏi tai tiếng này. Đặc biệt là ở Đội SEAL Số 6, các chỉ huy kế nhiệm đã làm việc cật lực để xóa sạch những vết nhơ mà Marcinko để lại.
Trên con tàu John F. Kennedy, chúng tôi là khách ở nhà người khác. Họ là những người có trách nhiệm, chăm lo cho con tàu có thể làm cho chuyến đi của chúng tôi trở nên thú vị hay tồi tệ nếu họ muốn. Nếu con tàu bị rò rỉ, chúng tôi phải nhớ vào nhân viên của tàu để bít lỗ rò đó lại. Chúng tôi cư xử với thủy thủ đoàn rất tốt và họ coi chúng tôi như những thành viên của hoàng tộc vậy.
Tôi không có ý rằng chúng tôi phải nịnh bợ nhau, nhưng tất cả chúng tôi ở cùng một đội. Những người lính không thuộc lực lượng SEAL cũng cùng tuyên thệ lời thề Hải quân rằng “bảo vệ Hiến pháp của nước Mỹ trước tất cả mọi kẻ thù, trong và ngoài nước.” Đối xử với những người đồng ngũ như rác rưởi sẽ phải trả giá vì họ có thể quay lại tấn công mình. Nếu gặp Marcinko trên phố, tôi sẽ tỏ lòng kính trọng vì ông đã thành lập Đội SEAL số 6, nhưng nếu ông thể hiện rằng mọi việc tốt đẹp hơn khi ông còn là sĩ quan chỉ huy thì tôi sẽ nói với ông: “Ông hãy về chơi trò chơi video của mình và tiếp tục ảo tưởng đi.”
Trong suốt hơn một tuần, các phi công từ tàu chúng tôi cất cánh với máy bay chở đầy bom, bỏ lại chúng tôi ngồi xem bom của họ nổ trên CNN. Sau đó chúng tôi đứng lép một bên khi họ trở về với máy bay trống rỗng. Chúng tôi đã tập luyện và tập luyện cho thời khắc này. Đặc biệt là trong đợt tác chiến mùa đông, chúng tôi trượt tuyết hướng đến mục tiêu và dựng đèn hiệu để phi công trên máy bay quan sát được vị trí của chúng tôi. Sau đó chúng tôi sẽ “quét sơn” cho mục tiêu bằng tia laze để những trái bom tìm được điểm đến. Chúng tôi đang mất cơ hội đây. Đeo cặp kính phi công Ray-Ban, tôi đứng trên boong tàu cảm nhận luồng gió nhẹ thoảng qua và hướng mắt về phía đại dương tĩnh lặng, lung linh, nhìn về phía Iraq. Tôi nhìn thấy tàu USS San Jacinto (CG-56), một chiếc tàu tuần dương được trang bị tên lửa Tomahawk. Tàu USS America (CV-66) và tàu USS Philippine Sea (CG-58) cũng trong nhóm chiến đấu của chúng tôi. Tôi được trang bị đầy đủ mà không biết để làm gì cả. Các thành viên thuộc trung đội tôi không phải là những người duy nhất như vậy. Mặc dù Tướng Norman Schawarzkopf đã sử dụng lực lượng đặc nhiệm Anh, Quân chủng Không quân Đặc biệt (SAS), nhưng vào lúc bắt đầu cuộc chiến, ông không sử dụng lực lượng đặc nhiệm của Mỹ. Rõ ràng là ông thiên vị các lực lượng thông thường của Mỹ hơn là các lực lượng đặc biệt như SEAL hay Delta. Thật tệ quá!
Một chuyện bên lề khác, mặc dù SEAL đã luyện tập cẩn thận cách bảo vệ các giếng dầu ở Kuwait, Schwarzkopf vẫn không dùng chúng tôi. Sau đó, khi các lực lượng quân sự liên minh đánh đuổi quân đội Iraq khỏi Kuwait, quân đội của Saddam thực hiện chính sách tiêu thổ, phá hủy tất cả những gì có thể, trong đó có cả việc đốt hơn 600 giếng dầu của Kuwait. Kuwait mất chừng 5 đến 6 triệu thùng dầu mỗi ngày. Phần dầu chưa cháy hết tạo thành hàng trăm hồ dầu, làm ô nhiễm hàng ngàn hecta đất. Cát trộn lẫn với dầu tạo thành lớp “tarcrete” bao phủ 5% diện tích của Kuwait. Chỉ riêng việc dập tắt những ngọn lửa Kuwait cũng tiêu tốn đến 1,5 tỷ đô-la. Chúng cháy âm ỉ suốt hơn 8 tháng, làm ô nhiễm mặt đất và không khí. Nhiều người dân Kuwait và quân Liên minh mắc các chứng bệnh về đường hô hấp. Những cuộn khói đen dày đặc bao phủ vịnh Péc-xích và các khu vực lân cận. Gió thổi khói về phía đông bán đảo Ả Rập. Trong nhiều ngày, bầu trời đầy khói và những trận mưa đen trút xuống các nước láng giềng. Cho đến nay người ta vẫn còn chứng kiến những tổn thất về môi trường và con người do các đám cháy gây ra. Nếu không phải là do Schwarzkopf đã đánh giá thấp khả năng người Iraq phóng hỏa các giếng dầu, Đội chúng tôi tin rằng mình đã có thể tiêu diệt những tên xấu xa đó trước khi chúng tiếp cận được 600 giếng dầu, làm giảm mức thiệt hại mà chúng gây ra. Một hôm, vào khoảng nửa đêm, chúng tôi được đánh thức tập trung tại một trong những phòng chờ bên một cánh của chiếc máy bay phản lực. Tình báo cho biết một chiếc tàu hàng cải trang cắm cờ Hy Lạp đang đặt mìn ở Biển Đỏ. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải đánh chiếm con tàu đó. Đội SEAL số 6 đã thực hiện kiểu nhiệm vụ này với trực thăng Black Hawk và các thiết bị tiên tiến nhất. Đội SEAL số 2 chúng tôi phải thực hiện nhiệm vụ với những chú ong Sea King SH-3 và tài xoay xở của mình.
Chúng tôi bắt đầu lên kế hoạch thực hiện nhiệm vụ. Cần bao nhiêu trực thăng? Ai lên máy bay? Ai ngồi ở đâu? Chiếc trực thăng nào sẽ bay tới chiếc tàu đó trước tiên? Chiếc nào thứ hai? Chúng tôi bố trí vị trí bắn tỉa như thế nào? Kế hoạch rút lui và lẩn trốn nếu chúng tôi phải thoát ra? Trong khi chúng tôi tiếp tục tiếp nhận thông tin mới, chiếc tàu sân bay đưa chúng tôi gần tới vị trí tấn công hơn. Tiếng còi tàu vang lên − đã đến giờ ăn trưa. Chúng tôi ăn như thể không biết đến khi nào mời lại có cơ hội ăn nữa. Sau đó chúng tôi đi đến trung tâm thông tin để cập nhật tình hình và tìm hiểu chi tiết của con tàu chở hàng mà chúng tôi sẽ đánh chiếm. Có bao nhiêu tầng? Bao nhiêu phòng? Bao nhiêu thủy thủ? Lượng thông tin cần thiết để lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ là rất lớn.
Khi ở trên không, tôi chuẩn bị các thang cuốn thoát hiểm xách tay để leo trở lại trực thăng khi cần, chuẩn bị cuộn dây thừng bền chắc và các thiết bị khác liên quan đến hoạt động trên không. Tôi thắt một dây nylon dài 30m vào một cái chốt hình chữ U trên một thanh chắn cài vào trần bên trong của máy bay SH-3 − một chiếc trực thăng tác chiến chống ngầm hai động cơ. Do vốn không được thiết kế để thực hiện loại nhiệm vụ này, sau này nó được thay thế bằng Sea Hawk SH-60 − phiên bản hàng hải của Black Hawk. Đội SEAL số 6 có Black Hawk, nhưng chúng tôi, đội SEAL nước sâu, phải thực hiện nhiệm vụ với bất kể thứ gì có được. Tôi đặt một đoạn dây thừng ra gần cửa chiếc trực thăng.
Chúng tôi phân công nhiệm vụ. Là người đảm nhiệm vai trò dẫn đầu đội quản lý tù nhân, tôi phải mang thêm mười chiếc còng tay nhựa trong ba lô ngoài hai chiếc ban đầu theo quy định và xác định địa điểm giữ tù nhân khi chúng tôi đánh chiếm con tàu. Chúng tôi chuẩn bị trang thiết bị và mặc trang phục đen BDU. Chúng tôi đi giày chiến adidas GSG9 đế mềm và đế bám chắc như giày tennis vậy. Ngay cả khi bị ướt, bạn cũng có thể xỏ giày vào. Cho đến giờ đó vẫn là loại giày ưa thích của tôi. Chúng tôi bịt mũ đen kín đầu và ngụy trang phần người bị lộ. Còn với đôi tay, chúng tôi sửa những đôi găng tay hàng không màu xanh của mình bằng cách nhuộm đen rồi cắt đi hai trong số các ngón của chiếc găng tay bên phải: ngón bóp cò cắt đến đốt thứ hai và ngón cái cắt đến đốt thứ nhất. Cắt đi những ngón này sẽ dễ dàng hơn khi bóp cò, thay băng đạn, kéo chốt lựu đạn hơi cay… Những chiếc đồng hồ đeo tay giúp chúng tôi theo dõi thời gian. Ở dây thắt lưng chỗ eo gắn một chiếc mặt nạ phòng độc. Trong chiến dịch Bão táp sa mạc, mọi người đều chuẩn bị sẵn sàng để ứng phó với hơi độc và vũ khí sinh học; thông tin cho biết Hussein vẫn sở hữu vũ khí hoá học và sẽ không ngần ngại sử dụng chúng. Tôi cũng mang theo 2 hoặc 3 quả lựu đạn hơi cay.
Tôi mang theo súng tiểu liên Heckler và Koch MP-5 cùng với một khẩu SIG SAUER 9mm bên hông phải. Tôi để một băng đạn 30 viên trong khẩu MP-5. Một số người muốn mang hai băng, nhưng theo kinh nghiệm của tôi thì có hai băng đạn sẽ làm hạn chế khả năng cơ động và khó khăn hơn khi thay băng đạn mới. Tôi đem theo 3 băng đạn bên đùi trái và 3 băng nữa trong ba lô. Chúng tôi thử vũ khí ở khu vực phía sau đuôi tàu. Mặc dù trung đội chúng tôi có 16 người nhưng vẫn sẽ để lại lính bắn tỉa trên hai chiếc trực thăng lượn vòng bên trên. Như vậy chỉ có 14 người chúng tôi đánh chiếm toàn bộ con tàu − hai chiếc trực thăng với 7 lính tấn công ở mỗi chiếc. Máy bay của tôi sẽ là chiếc dẫn đầu.
Google photo
Các thành viên trong đội bay trên chiếc trực thăng đó là những gương mặt quen thuộc – tôi đã làm việc cùng với đội SH-7, trong những ngày đầu tiên khi tôi là một lính bơi SAR. Là người phụ trách những sợi dây, tôi ngồi bên trong cửa chiếc trực thăng, ở giữa những cuộn dây, đặt tay trái lên phần dây dẫn đến đỉnh cần trục và thò ra ngoài chiếc trực thăng. Khi ở trên không, tôi cảm thấy gió ở bên ngoài đang giằng kéo sợi dây ra khỏi tay tôi. Tôi nhắm mắt lại và nghỉ ngơi một chút. “15 phút”, giọng một thành viên phi hành đoàn vẳng đến tai nghe của tôi, truyền đi thông tin từ viên phi công.
Tôi mở mắt và chuyển thông điệp đó cho các thành viên trong Đội. “15 phút!” và tôi lại nhắm mắt lại. “10 phút.” Tôi đã quen với quy trình này. “5 phút.”
Đã đến gần rồi đấy. “3 phút.” Chúng tôi chầm chậm tiếp cận con tàu từ phía sau, từ 100 rồi 50 hải lý. “1 phút.” Chếch mũi chiếc trực thăng lên một góc, viên phi công kéo phanh. Khi chúng tôi bay là là lượn qua con tàu, ánh sáng còn lại của ngày đủ để tôi quan sát boong tàu. Chúng tôi vào vị trí. Tôi đá chiếc dây dài 30m ra ngoài cửa và hô: “Dây!” Chiếc dây chạm vào phần đuôi tàu – một khoảng trống không đủ lớn để trực thăng hạ cánh. “Đi!” Đeo đôi găng tay có những miếng đệm len dày dặn, tôi túm lấy chiếc dây thừng và tụt xuống như trượt trên một cây cột của lính cứu hỏa. Với hơn 50 kg quân tư trang trên lưng, tôi phải nắm thật chắc để không bị rơi bộp xuống boong tàu. Dĩ nhiên, với 6 người sau tôi đang đợi trong chiếc trực thăng, một mục tiêu lớn đang bay, tôi không muốn xuống quá chậm. Đôi găng tay của tôi quả thực đã “bốc khói” trong khi tôi tụt xuống. Thật may là tôi đã tiếp đất an toàn.
Nhưng không may là viên phi công không giữ yên được máy bay ở vị trí phía trên con tàu khi biển động dữ dội, bóng tối ập xuống và gió rít từng cơn. Khó khăn hơn nữa là vì những viên phi công thường không quen với việc bay lượn trên một mục tiêu trong khi một người nặng 100 kg với 50 kg quân trang của anh ta đang leo dây ra ngoài. Thế là chiếc trực thăng đột ngột bay lên cao. Viên phi công phải sửa sai bằng cách hạ thấp trực thăng cho từng người một tụt dây xuống. Mặc dù trước đó chúng tôi đã luyện tập với các phi công nhưng đó vẫn là một thao tác khó khăn. Nếu phi công không điều chỉnh được thì người đầu tiên sẽ tụt khỏi dây với khoảng 1m dây trên boong tàu, người thứ hai sẽ chỉ còn 1m và sợi dây của người thứ ba sẽ ở ngoài boong tàu. Rồi cũng chẳng mất nhiều thời gian để một anh chàng tội nghiệp rơi tự do không có chỗ bám từ độ cao 3m xuống sàn tàu chẳng lấy gì làm êm ái. Ngay cả đối với các viên phi công Black Hawk giàu kinh nghiệm hơn, đó vẫn là một thao tác khó khăn. Chiếc trực thăng lao đi. Chết tiệt. Tôi ở đó, giữa cuộc chiến, giữa Biển Đỏ, một mình trên con tàu địch xa lạ. Tôi cảm thấy trơ trọi. Nếu tình hình thật sự tồi tệ, tôi có thể chiến đấu theo cách của mình để vượt qua. Nếu tình hình thật sự, thật sự tồi tệ thì Mẹ Đại dương ngay ở đó. Nhảy xuống, sải nhịp bơi và lướt đi. Chiếc trực thăng phải bay vòng, xác lập lại tầm quan sát, tìm cách tiếp cận mục tiêu lần nữa và bay lơ lửng phía trên con tàu. Có lẽ việc đó chỉ mất hai phút thôi nhưng tôi cảm giác
cứ như là đã hai giờ trôi qua vậy.
Tôi đưa họng súng MP-5 quét xung quanh trong khi trung đội của tôi nhanh chóng tụt dây xuống. Khi tất cả đã cùng có mặt, chúng tôi vào đội hình chiến đấu. Đội trưởng Mark của chúng tôi, và thông tín viên DJ, dẫn một nhóm đi đến buồng lái để chế ngự và kiểm soát con tàu. Hai tay súng khác đi đến khu vực phía sau buồng lái để làm chết máy tàu – giữ cho nó bập bềnh trong làn nước. Đội của tôi đến cabin để bắt giữ thủy thủ đoàn.
Bên trong con tàu, chúng tôi tới cabin đầu tiên. Bạn cần mềm trước cứng sau. Giữ im lặng càng lâu càng tốt. Nếu nghe tiếng súng nổ hoặc tiếng một quả lựu đạn hơi cay, tôi sẽ phải hành động. A, khỉ thật. Bắt đầu nào. Và từ đó tôi sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Tung chân đá vào các cánh cửa và ném lựu đạn choáng vào các phòng. Kiểm soát mọi người. Sử dụng bạo lực thật nhanh và mạnh. Chúng tôi sẽ cố gắng để mức độ bạo lực phù hợp với tình huống. Không hơn, không kém.
Tôi mở cửa và bốn người chúng tôi bước vào trong thật lẹ khi hai người khác ở lại hành lang yểm trợ phía sau. Tốc độ là yếu tố quan trọng khi di chuyển cùng nhau. Hai chúng tôi đánh chiếm bên trái còn hai người kia đánh chiếm bên phải. Hai thủy thủ ở bên trong bị vô hiệu hoá. Chúng tôi đã chiếm được chỗ này. Họ không nói được tiếng Anh nhưng chúng tôi biết một ít tiếng Ả Rập: Xuống.Họ muốn nói đến vị trí.
Tôi và một đồng đội đứng nép vào tường để yểm trợ trong khi hai đồng đội khác thông báo: “Đi được không?” “Đi,” tôi trả lời, kiểm soát toàn bộ căn phòng.
Họ tóm được hai thủy thủ trên boong tàu. Tôi hét to, yêu cầu cho biết liệu phòng lớn bên ngoài có an toàn cho chúng tôi đi ra không: “Ra được không?”
“Ra đi,” một giọng đáp lại từ căn phòng.
Chúng tôi đưa các tù nhân qua hành lang và sang phòng bên cạnh. Đa số mỗi phòng có hai thủy thủ.
Một số phòng không có ai. Chúng tôi bước vào một phòng và bắt giữ các thủy thủ. Tôi hỏi: “Ra ngoài được không?” “Không,” hai tay súng trong hội trường trả lời. Bốn người chúng tôi ở lại với hai tù nhân và chờ đợi. Tôi nghe thấy tiếng tranh cãi trong hội trường. “Wasdin,” một người trong hội trường gọi.
Tôi men theo hành lang và thấy một thủy thủ đang đứng ở lối rẽ phía cuối căn phòng. Trong tay anh ta
là một bình cứu hỏa. Một lính bắn tỉa của chúng tôi định tóm lấy vì anh ta không phục tùng. “Chuyện gì vậy?” − tôi hỏi. “Gã này không nghe lời,” – Anh lính bắn tỉa nói.
Có thể anh ta nghĩ là chúng tôi đang phá hoại con tàu. “Bỏ xuống đi,” – tôi nói bằng tiếng Arập.
Viên thủy thủ đáp bằng tiếng Arập: “Không.” Tôi nhìn vào mắt anh ta. Dường như anh ta bối rối, có vẻ không phải anh ta tỏ ra thù địch chỉ vì muốn thù địch. Cho rằng việc này đơn giản là sự hiểu lầm, tôi hạ thấp khẩu tiểu liên MP-5 một chút. Anh ta ném thẳng chiếc bình cứu hỏa vào tôi. Chết tiệt.
Tôi né người sang một bên vừa khi chiếc bình cứu hỏa sượt qua đầu tôi. Ngày đó chúng tôi không đội mũ sắt. Nếu tôi không né được thì chiếc bình cứu hỏa đó đã lao thẳng vào mặt tôi rồi.
A, gã này suýt nữa thì đã giết chết tôi bằng một cái bình cứu hỏa. Lúc đó trông sẽ thế nào nhỉ? Tôi đã cố tử tế nhưng đổi lại thì bị đáp trả bằng cái bình cứu hỏa ấy. Tôi vô cùng tức giận. Tôi túm lấy gã và dí nòng súng MP-5 vào dưới tai phải, đẩy gã lùi lại rồi sút vào mông gã một cú cho bõ tức.
Người bạn của “Ngài Bình cứu hỏa”, một gã nhỏ bé gầy gò, giơ tay lên như định đánh tôi.
Một đồng đội của tôi định túm lấy hắn. “Không, tớ làm được.” Tôi dùng tay trái giáng cho người bạn của Bình Cứu hỏa một cú đấm ngay dưới mũi làm hắn lùi lại. Lực của cú đập đó đủ làm cho hắn phải đi nẹp lại răng. Gã nhanh chóng trở nên phục tùng, không dám ngo nghoe thêm gì nữa.
Ngay sau đó, Bình Cứu hỏa nhận được một cú đánh trời giáng: tôi vặn cánh tay gã ra sau gáy, túm tóc, khóa tay và nhấc lên cho đến khi cánh tay của gã suýt tuột khỏi khuỷu rồi đá đít gã xuống hành lang. Đồng đội của chúng tôi đưa gã và những tù nhân khác tới nơi giam giữ.
Máu chảy nhỏ giọt từ đầu xuống tai tôi. Bây giờ tôi mới ngấm mệt. Tôi đã cố gắng tử tế và mọi thứ diễn ra như vậy đó. Ngẫm lại, Bình Cứu hỏa lẽ ra phải nhận được hai cú vào người và một cú vào đầu. Xem ra tên đáng ghét này vẫn còn chút may mắn. Chúng tôi thấy nhiều người trên mạn tàu – khu vực rộng gấp hai lần phòng ăn và sự xuất hiện của chúng tôi làm gián đoạn tuần trà Thổ Nhĩ Kỳ và điếu thuốc của họ.
Chúng tôi rà soát con tàu gần như từng centimet, từ đỉnh tới đáy, từ đuôi đến mũi. Đội SEAL số 6 thường dùng 30 lính chiến để đánh chiếm một con tàu tương tự. Vì chúng tôi có ít người hơn và không
được chuyên môn hoá như Đội 6, chúng tôi phải mất đến 2 giờ. Nhóm của tôi ở lại mũi tàu trong bóng tối cùng với các tù nhân. Từ buồng lái, Mark truyền lệnh cho trung đội chúng tôi. Cậu DJ phụ trách thông tin ở cạnh ông. Không ai bị thương ngoại trừ cái tên ngu ngốc là tôi. Bây giờ con tàu thuộc về chúng tôi. Các tàu chiến vây quanh khi chúng tôi đứng bập bềnh trên biển. Những chiếc xuồng cao tốc RHIB dập dềnh bên cạnh chúng tôi chở theo Biệt đội Thực thi Pháp luật bảo vệ bờ biển (LEDET), một đơn vị huyền thoại nổi danh về truy bắt tội phạm buôn lậu ma túy tại các vùng biển xa. Xét về tổng thể thì giai đoạn nguy hiểm đã qua.
Chúng tôi gom các tù nhân lại. Thuyền trưởng của con tàu, ở trên buồng lái với Mark, cử người phụ trách kỷ luật xuống để đếm người. Chúng tôi phát hiện ra mình còn bỏ sót một thủy thủ. Có người đang lẩn trốn.
Chúng tôi hỏi các tù nhân xem họ có biết anh ta ở đâu không. Không ai biết gì cả.
Vì thế chúng tôi phải rà soát lại toàn bộ con tàu chết tiệt. Để lại bốn người canh giữ tù nhân, chúng tôi quay trở lại khu vực phía sau buồng lái và bắt đầu rà soát. Chúng tôi quá mệt khi phải quần thảo lại từng centimet của con tàu mà chúng tôi tưởng rằng đã kiểm soát được. Khi đang tìm kiếm, tôi nhận được điện thoại thông báo đã tìm thấy người kia. Anh ta đang rúc đầu vào giữa các ống dẫn của khoang động cơ để trốn và rất sợ hãi.
Chúng tôi đưa anh ta đến chỗ các bạn của mình ở mũi tàu và tháo còng tay cho tất cả các tù nhân, ngoại trừ Bình Cứu hỏa. Tôi bắt anh ta ngồi trên cái tời, trông giống như một ống cuộn cước có động cơ khổng lồ, một chỗ ngồi khó chịu nhất trên mũi tàu. Trong khi đó, Mark nói chuyện qua bộ đàm với một phiên dịch viên trên một trong những con tàu để trao đổi với viên thuyền trưởng đứng bên cạnh Mark.
“Các anh đang đặt mìn phải không? Đặt ở đâu? Các anh đang đi đâu? Các anh từ đâu tới?” “Chúng tôi không đặt mìn.”
“Nếu không, tại sao các anh lại không chở theo loại hàng hoá nào? Tại sao các anh đang trên hành trình rời khỏi Ai Cập trong khi lẽ ra các anh phải trở về nhà chứ?”
Những người này không cho chúng tôi câu trả lời xác đáng. Rõ ràng có điều gì đó rất khả nghi.
Bình Cứu hỏa than phiền: “Mông tôi bị đau.”
Đầu tôi vẫn đau nhức. Tên đáng ghét, may mắn là ngươi vẫn có cảm giác đấy. Một tù nhân trên mũi tàu luồn tay vào trong áo khoác tìm khẩu súng trong bao súng khoác vai. Các tay súng trên trực thăng chĩa tia laze cảm ứng hồng ngoại vào anh ta khi chúng tôi ấn nút an toàn của các khẩu MP-5, sẵn sàng bắn tung anh ta. Tuy nhiên không có khẩu súng hay bao súng nào cả, đó chỉ là một gói thuốc lá trắng mà thôi.
“Không, không, không, không,” người tù van vỉ. Mắt anh ta nhìn như hai quả trứng rán vậy. Anh ta may mắn vì chúng tôi có nguyên tắc nổ súng rất chặt chẽ, không giống như bốn viên cảnh sát ở New York, những tay đã bắn Amadou Diallo 41 lần khi anh này tìm kiếm chiếc ví của mình.
Một thủy thủ nói được tiếng Anh và chúng tôi trao đổi thông qua anh ta: “Không được di chuyển đột ngột. Không được đưa tay vào trong người vì bất cứ điều gì.”
Bình Cứu hỏa lại rên rỉ: “Mông tôi đau quá.” Tao đang mong mày cho tao cái cớ để nổ súng đây.
Lát sau, một thiếu niên chạy xồng xộc vào mũi tàu. Chúng tôi ngay lập tức quật ngã cậu ta. Sau khi gọi cho Mark, chúng tôi biết rằng cậu bé là người thuyền trưởng cử đến để lấy chìa khóa làm gì đó. Có lẽ là bất cứ khi nào thuyền trưởng ra lệnh, cậu ta đều vội vã làm ngay, nhưng chúng tôi nói rõ với cậu ta: “Không di chuyển nhanh và không chạy.” Tôi thấy thương cậu bé tội nghiệp bởi vì chúng tôi đã đánh cậu ta quá đau.
Thuyền trưởng và thủy thủ vẫn không cho chúng tôi câu trả lời đúng, vì thế những người lính LEDET, được trang bị súng bắn đạn ghém, lên tàu chào chúng tôi, rồi chúng tôi chuyển giao con tàu và tù nhân cho họ. Họ sẽ lái tàu cập bến ở một cảng biển phù hợp nào đó tại Biển Đỏ, nơi mà câu chuyện về những tù nhân này vẫn chưa kết thúc.
Bình Cứu hỏa vẫn bị còng tay khi LEDET tiếp quản. Tôi mong cho đến tận bây giờ anh ta vẫn cứ bị như vậy. Công việc của chúng tôi đã xong. Thời tiết trở nên xấu hơn, vì vậy chúng tôi không thể về bằng trực thăng. Thay vào đó, chúng tôi dùng các thang cuốn thoát hiểm để rời con tàu và xuống các xuồng cao tốc RHIB của LEDET. Các xuồng này đưa chúng tôi đến con tàu đổ bộ của LEDET.
Chúng tôi lên tàu vào buổi sớm, như vậy chúng tôi đã thức hơn 24 giờ liền. Lần cuối cùng chúng tôi ăn là bữa trưa ngày hôm trước. Không chỉ căng thẳng về thể xác và giảm lượng adrenaline, chúng tôi còn đói gần chết. Trong phòng ăn, mặc dù chưa đến giờ ăn sáng, họ đã mang cho 16 người chúng tôi một bữa ăn khổng lồ. Tôi không nhớ chính xác họ cho chúng tôi ăn những gì, nhưng có vẻ như họ cho chúng tôi ăn cả bữa sáng và bữa tối cùng một lúc: bánh trứng, thịt dăm bông xay, bánh kếp bơ sữa, nước cam, cafe nóng, bít tết, súp măng tây có kem, bắp cải luộc, khoai tây nghiền và bánh táo nóng.
Đầu bếp trưởng bước ra và bắt tay từng người chúng tôi: “Tôi vừa chế biến một số món ăn đặc biệt cho các cậu đấy. Hy vọng là các cậu thích nó.”
“Tuyệt quá,” tôi nói.
“Chúng tôi vừa mới biết là các cậu đến nên chỉ kịp làm thế này thôi.”
Cuộc trò chuyện diễn ra khi chúng tôi ăn. Hình như tất cả các sĩ quan trên tàu đều có mặt. Họ đối đãi với chúng tôi như là những ông hoàng vậy. Dường như tất cả những ai có thể vào được phòng ăn thì
đều đến cả. Mọi người muốn gặp gỡ, nói chuyện và trở thành một phần của đội chúng tôi. Sự thân thiện
của mọi người có ý nghĩa rất lớn đối với tôi, làm cho tôi cảm thấy mình thật quan trọng.
Gần đầu giờ chiều, những chú chim sắt đến đón chúng tôi hạ cánh xuống phần đuôi chiếc tàu lưỡng cư, chúng tôi vẫy chào tạm biệt và bay trở về tàu Kennedy.
Sau đó, tôi nhận được Bằng khen của Hải quân, trong đó ghi:
Bộ trưởng Quốc phòng hân hạnh trao Bằng khen cho Kỹ thuật viên Tàu thủy Hạng 1 Howard E. Wasdin, Hải quân Mỹ, vì kết quả công tác như sau: Có thành tích tốt trong thực hiện nhiệm vụ của một chuyên gia chiến dịch đường không của Trung đội SEAL số 2 Foxtrot khi được triển khai đến Biển Đỏ yểm trợ cho Chiến dịch Bão táp sa mạc từ ngày 17 tháng Một đến 28 tháng Hai năm 1991. Trong thời gian này, Hạ sĩ quan Wasdin đã không ngừng thực hiện nhiệm vụ khó khăn của mình với một thái độ mẫu mực và có tính chuyên nghiệp cao. Là một chuyên gia chiến dịch đường không chịu trách nhiệm tất cả các hoạt động sử dụng thang dây trên trực thăng của SEAL, nỗ lực làm việc không mệt mỏi của anh đã giúp Đội đột kích duy trì khả năng xâm nhập nhanh chóng và hiệu quả các mục tiêu được xác định. Trong một sứ mệnh của SEAL, anh đã khéo léo chỉ đạo một cuộc xâm nhập và là người đầu tiên đáp xuống tàu để yểm trợ hiệu quả cho đồng đội. Anh tiếp tục là người dẫn đầu nhóm canh giữ tù nhân và đã thể hiện kỹ năng chiến đấu giỏi, góp phần quan trọng vào thành công của sứ mệnh. Kỹ năng nghề nghiệp phi thường, sáng kiến và sự cống hiến hết mình cho nhiệm vụ của Hạ sĩ quan Wasdin thể hiện sự tín nhiệm cao đối với bản thân anh và với Quân chủng Hải quân Mỹ.
“Tôi nhận được yêu cầu chọn ba người cho một chiến dịch bí mật, nhưng tình báo không cho tôi biết chiến dịch đó là gì cho đến khi tôi chọn được người,” Mark nói.
Bên ngoài Trung tâm thông tin tàu sân bay (CVIC), Smudge, DJ và tôi đứng ở lối đi khi Mark đi khuất vào bên trong, một lát sau quay trở lại và nói: “Được rồi.”
Chúng tôi bước vào. Có một phòng nghỉ nhỏ bên phải, trong đó có một máy pha café và một tủ lạnh. Cửa bên trái mở ra căn phòng chính có một bàn họp và các ghế xếp xung quanh. Trên một bức tường treo một tấm bảng trắng và phía trước một bức tường khác đặt một chiếc ti vi và đầu video. Hai chiếc ghế dài bằng da màu đen đặt ở bên cạnh. Một viên sĩ quan thông tin của tàu đang đứng ở giữa phòng. Bên cạnh ông là một người mà chúng tôi chưa bao giờ gặp. Tôi không biết ông ta là ma hay quỷ nữa.
Không giới thiệu về mình, người đàn ông chào: “Chúc các qúy ông một buổi sáng tốt lành.”
“Xin chào Ngài.” Chúng tôi không biết chức vụ của ông, nhưng thà lịch sự quá mức còn tốt hơn là có thái độ bất kính.
Google photo
“Một tên lửa Tomahawk được phóng đi nhưng không trúng mục tiêu và không nổ. Nó rơi xuống lãnh thổ của một nước bạn, nhưng lại có các lực lượng thù địch ở đó. Chúng tôi cần các anh phát nổ quả tên lửa để quân Iraq không thể lấy được công nghệ vô giá đó. Đồng thời, chúng tôi cũng không muốn họ chuyển số thuốc nổ đó thành các thiết bị nổ cải tiến (IED).”
Chúng tôi trở lại phòng ngủ, nơi đặt giường, tủ cùng một chiếc ghế dài và bắt đầu chuẩn bị quân trang. “Chuyện gì vậy?” Những đồng đội háo hức hỏi chúng tôi.
“Bốn người bọn tớ sẽ tham gia một chiến dịch. Thật tiếc là không thể kể chi tiết cho mọi người được.” Sự háo hức của mọi người giảm xuống khi họ biết rằng 12 người còn lại không được cùng tham gia.
Tôi dùng khẩu CAR-15 có báng nhỏ và ổ đạn 30 viên 5,56 mm. Bên trong tất, tôi đút vài tờ một trăm đô-la. Trong túi đựng đồ ở đùi trái, tôi để bộ đồ E&E: đèn pin, đồng hồ chống nước, com-pa, bản đồ, đèn chiếu thấu kính đỏ, chăn giữ nhiệt và khẩu phần ăn MRE. Trong túi bên phải, tôi để bộ dụng cụ sơ cứu: băng gạc 10 x 10 cm có dây buộc, một mảnh vải lụa và một cuộn băng gạc có vaseline dùng để băng các vết thương nhỏ trên ngực − tất cả đều được bọc trong túi nhựa hút chân không để chống thấm nước. Đây là bộ nhỏ nhất, chủ yếu dùng cho vết thương chảy máu do dính đạn. Mặc dù lính SEAL thường có trang phục khác biệt và đem theo nhiều vũ khí nhưng chỗ để bộ sơ cứu thì cũng giống như những lính khác. Như vậy, nếu một tay súng ngã xuống, chúng tôi sẽ không phải chơi trò phỏng đoán nơi để bộ sơ cứu đó để tiến hành băng bó cho anh ta. Dĩ nhiên là tôi cũng có thể dùng bộ của mình để băng bó cho đồng đội bị thương, nhưng sau đó nếu tôi cần cho chính mình thì không còn dụng cụ để làm nữa.
Bốn người chúng tôi lên chiếc máy bay SH-3 Sea King với khuôn mặt được ngụy trang bằng vệt kẻ và nốt chấm màu cát nâu nhạt. Smudge mang theo 2 kg thứ giống như đất sét màu trắng nhạt có mùi nhựa đường nóng − chất nổ dẻo C-4. Tôi mang theo các ngòi nổ chậm, kíp nổ và bộ phận kích nổ. C-4 không thể nổ tung nếu không phát hỏa một ngòi nổ chậm, đó là lý do tại sao chúng tôi tách biệt hai thiết bị này. Thiết bị mà Smudge mang theo an toàn hơn. Mặc dù chỉ riêng các ngòi nổ chậm thôi thì không đủ để làm nổ tung một bàn tay, nhưng chúng đã từng làm nổ tung một hoặc hai ngón tay bất cẩn rồi.
Chúng tôi mang theo ít trang thiết bị bởi vì đây sẽ là nhiệm vụ chớp nhoáng. Chiếc trực thăng bay một vài cây số trước khi giảm tốc độ xuống còn 10 hải lý khi ở độ cao 3m so với mặt nước. Tôi bước ra cạnh máy bay, để bộ chân vịt hướng thẳng xuống dưới rồi rơi xuống xuyên qua những tia nước sắc buốt do cánh trực thăng khuấy lên. Tôi không nghe được tiếng rơi tõm của mình trong tiếng ồn ào của lưỡi cánh quạt chém vào không khí trên đầu.
Từng người một trong số chúng tôi nhảy qua cửa bên sườn máy bay xuống biển. Tương tự như việc tụt dây xuống, mỗi người nhảy xuống sẽ làm giảm trọng tải của trực thăng, khiến chiếc trực thăng vút lên cao − và phi công phải chú ý điều chỉnh lại. Người lính SEAL cuối cùng hy sinh tại chiến trường Việt Nam là trung úy Spence Dry. Anh nhảy từ trực thăng xuống, chiếc trực thăng đang bay với tốc độ hơn
20 hải lý một giờ bỗng bốc vút lên cao hơn 10m và làm gãy cổ Dry.
Vừa bơi tôi vừa nhìn xung quanh. Mọi người có vẻ đều ổn cả. Một ánh sáng nhấp nháy từ bờ biển − tín hiệu của chúng tôi. Tôi bắt đầu cảm thấy lạnh. Chúng tôi xếp thành một hàng và hướng mặt về phía tín hiệu. Tôi bơi nghiêng, đạp nước dài, sâu và chậm để đẩy thân mình đi thật nhanh, cố gắng duy trì hàng ngũ với những người khác. Động tác bơi làm tôi ấm áp hơn. Khi đến vùng nước nông có thể đứng được, chúng tôi dừng lại quan sát bờ biển. Chưa có dấu hiệu nguy hiểm. Tôi gỡ chân vịt ra và móc vào một dây thun buộc quanh lưng. Sau đó chúng tôi trườn vào bờ biển. Smudge và DJ tản ra cánh trái và cánh phải. Tôi yểm trợ cho Mark bằng khẩu CAR-15 khi anh tiến đến chỗ ánh sáng, ở đó là một người Ả Rập có thân hình quả lê. Anh ta là người của chúng tôi. Họ trao đổi theo quy ước. Mark kéo tai trái. Viên mật vụ xoa xoa bụng bằng tay trái. Cho đến nay mọi việc vẫn tốt. Xoay lưng nhân viên này lại, tôi khóa tay anh ta và kiểm tra khắp người để tìm vũ khí, điện đài hay bất cứ thứ gì không thuộc về anh ta. Có vẻ như không có gì nghi vấn cả. Tôi mở khóa tay cho anh ta.
Mark ra dấu hiệu gọi Smudge và DJ đi vào. Sau khi họ vào cùng chúng tôi, tôi chú ý đến viên mật vụ trong khi chúng tôi di chuyển vào bên trong. Nếu anh ta tỏ ra bồn chồn một cách không bình thường khi chúng tôi đến gần mục tiêu, tôi sẽ biết liệu anh ta có thể đưa chúng tôi vào một trận địa mai phục nào đó không. Nếu anh ta đưa chúng tôi đến một vị trí mai phục, tôi sẽ là người đầu tiên găm một viên đạn vào đầu anh ta. Tôi chưa từng nghe thấy một điệp viên hai mang nào sống được khi dẫn lính SEAL vào trận địa mai phục. Trưởng nhóm Mark bám theo tôi và nhân viên mật vụ, tiếp đó là DJ cùng với chiếc điện đài. Smudge đi sau cùng.
Sau khi di chuyển thận trọng 800m trên cát, chúng tôi dừng lại ở một địa điểm cách một con đường đất
100m và nằm sấp xuống trong khi nhân viên mật vụ nhặt một hòn đá to, bước lên phía trước và đặt bên cạnh con đường. Sau đó anh quay trở lại và cùng nằm sấp xuống với nhóm của chúng tôi. Thân thể ướt sũng của tôi bắt đầu run rẩy. Sa mạc nóng vào ban ngày nhưng lạnh vào ban đêm và nếu bị ướt thì vấn đề càng thêm tồi tệ. Tôi muốn đi tiếp, nhưng không thích thú gì việc bị ăn đạn vì di chuyển quá sớm.
15 phút sau, một chiếc xe địa phương dừng lại bên lề đường (gần tảng đá). Chúng tôi chĩa các khẩu CAR-15 giảm thanh vào chiếc xe. Một người đàn ông mặc áo choàng trắng bước ra khỏi chiếc xe tải và bước đi 100m về phía chúng tôi.
“Dừng lại,” Tôi nói bằng tiếng Anh. “Quay đầu lại.” Anh ta làm theo.
“Bước lùi về hướng tôi.”
Khi anh ta đến chỗ chúng tôi, chúng tôi tóm lấy, trói lại và lục soát. Sau đó chúng tôi đi cùng người lái xe đến chỗ chiếc xe của anh ta và lục soát nó. Anh ta lái xe 20 phút đưa chúng tôi đến mục tiêu ở đâu đó giữa sa mạc. Anh ta dừng xe lại và đi bộ đoạn đường còn lại cùng với chúng tôi. Quả tên lửa nằm ở đó. Mặc dù nó đã tiếp đất rất mạnh, nhưng trông vẫn như còn nguyên. Chúng tôi lập một vòng cảnh giới bảo vệ trong khi Smudge chuẩn bị hai túi C-4. Mỗi túi vải xanh lớn đó chứa 1kg C-4 ở đáy. Cậu đặt một túi trùm lên đầu tên lửa và luồn dây khâu miệng chiếc túi vào một cái móc ở đầu túi, thít chặt lại. Cuối cùng, Smudge làm tương tự như vậy với đầu kia của quả tên lửa.
Cậu vỗ vai tôi rồi thế vào vị trí cảnh giới trong khi tôi ấn một ngòi nổ chậm vào mỗi khối C-4. Không kịp nghĩ ngợi điều gì, tôi chỉ cố gắng không giải quyết kém tình huống này. Tôi đút hai ngòi nổ chậm vào hai kíp nổ hẹn giờ, giữ cho chúng thẳng lên. Sau đó, tôi vặn chặt hai bộ phận kích nổ (M-60) vào hai kíp nổ. Một tay giữ bộ phận kích nổ, một tay tôi kéo đồng thời cả hai dây giật. Pop! “Sắp nổ rồi.” Tôi có thể ngửi thấy mùi cordite (một loại thuốc nổ không khói) khi các kíp nổ cháy. Có khoảng trên dưới 3 phút trước khi chiếc tên lửa nổ tung.
Tôi cùng đồng đội lao đi. Rất khẩn trương. Chúng tôi nấp sau một gờ cát tự nhiên trông giống như một con lươn giảm tốc khổng lồ. Bùm! Cát trút xuống đầu chúng tôi. Chúng tôi quay lại chỗ quả tên lửa để chắc chắn rằng nó đã biến thành những mảnh vụn. Mark ra dấu OK và chúng tôi trở lại xe.
Người lái xe đưa chúng tôi trở lại điểm dừng bên con đường có hòn đá, nhưng Mark bảo anh ta đưa chúng tôi đi xa hơn để tránh khả năng dừng lại ở trước một trận địa mai phục. Sau khi người lái xe cho chúng tôi xuống, đợi cho anh ta và viên mật vụ rời đi, chúng tôi quay trở lại bờ biển. Trên bờ biển, DJ gọi trực thăng vì biết chúng tôi đang trên đường về. Chúng tôi đeo chân vịt và xuống nước. Tôi thấy vui vì đã ra khỏi khu vực nguy hiểm và bơi rất nhanh. Ai cũng bơi nhanh. Bơi nhanh làm cơ thể chúng tôi ấm lên. Những gì chúng tôi được dạy ở BUD/S thật chính xác: Mẹ Đại dương là nguồn an ủi và là sự an toàn của bạn.
Khi trực thăng đến gần, chúng tôi xếp hàng cách nhau 5 m, để lộ ra tia thiết bị hồng ngoại được gắn vào các áo phao bơm phồng. Chiếc trực thăng lượn trên đầu, cánh quạt khuấy tung bọt biển. Nước biển mặn táp vào mặt nạ của tôi. Một chiếc thang cuốn được thả xuống, tôi móc khuỷu tay vào một thanh ngang leo lên. Khi chân tôi đặt lên chiếc thang, tôi chân đẩy người lên chứ không dùng cánh tay để
kéo, như vậy sẽ không làm cánh tay tôi rã rời. Khi lên đến đỉnh thang, tôi dùng tay đu người lên chiếc trực thăng.
Khi tất cả chúng tôi đã lên máy bay an toàn, một thành viên đội bay kéo chiếc thang lên và chiếc trực thăng đưa chúng tôi đi. Bên trong máy bay, chúng tôi vỗ lưng nhau và thở phào nhẹ nhõm. Chắc là do con tàu Kennedy đã đi gần chúng tôi hơn nên chuyến trở về không lâu như trước nữa. Chúng tôi đã hoàn thành một nhiệm vụ bí mật mà có người cho rằng vô cùng quan trọng.
Một vài ngày sau, tôi lại đứng ở bên ngoài CVIC. Lần này chỉ có DJ và tôi. Mark gọi chúng tôi vào và một lần nữa, chúng tôi gặp Người Không Tên.
Ông bắt tay chúng tôi và không lãng phí thời gian, ông nói: “Chúng ta vào chuyện luôn nhé?”.
Chúng tôi gật đầu.
Ông giải thích: “PLO lên tiếng ủng hộ cuộc xâm lược Kuwait của Saddam Hussein. Hiện họ đã bắt đầu làm ăn ở Iraq. Người Iran đang hợp tác với PLO để huấn luyện khủng bố tấn công các lực lượng liên minh. Gần đây, họ đã gài một thiết bị IED ven đường và một xe của ta đã vấp phải. Chúng tôi muốn các anh định hướng cho một tên lửa dẫn đường tấn công mục tiêu doanh trại PLO-Iran ở Đông Nam Iraq, sau đó gửi cho chúng tôi một Báo cáo đánh giá thiệt hại chiến trường (BDA).”
Mark thảo luận kế hoạch của ông với chúng tôi, sau đó DJ và tôi ra ngoài để chuẩn bị quân trang. Như mọi lần, chúng tôi phải chắc chắn rằng mình không có gì bắt sáng hoặc gây ra tiếng ồn trên người, do đó chỉ cần một lớp sơn hay một cuộn băng màu cát là mọi việc sẽ ổn. Sau khi chuẩn bị xong hành trang, cuối buổi chiều, chúng tôi lên chiếc máy bay Sea King từ sân bay của tàu John F.Kennedy. Tôi ngủ suốt và tỉnh dậy khi máy bay hạ cánh xuống căn cứ tiền tiêu. Trời đã tối hơn – thời khắc sắp điểm rồi. Một người dân tên là Tom với gương mặt chất phác, mặc quần bò xanh và áo phông xám đưa cho chúng tôi chìa khóa của chiếc Humvee: “Tôi vừa rửa xe bóng loáng rồi đấy.” Tôi nhìn chiếc xe cáu bẩn và mỉm cười. Tuyệt.Vì trời không mây và có trăng khuyết, DJ và tôi có thể quan sát được trong bóng tối. Kẻ thù chắc cũng nhìn thuận lợi, nhưng bầu trời trong sẽ giúp tên lửa tìm được mục tiêu. Sau khi lái 48 km qua sa mạc
để tránh đường sá, nhà cửa, các khu vực đông dân cư và các bốt điện thoại, chúng tôi tới một địa điểm có địa hình hơi trũng xuống, khoảng 3m giống y như những gì chúng tôi đã thấy trên bản đồ vệ tinh ở CVIC. Sau khi tạo các dấu vết giả quanh vị trí của mình, chúng tôi dừng lại ở chỗ trũng và xóa dấu vết xâm nhập. Tiếp theo, chúng tôi bọc chiếc xe bằng lưới ngụy trang sa mạc. Chúng tôi nằm cạnh nhau dưới đất, mặt hướng ra các phía khác nhau, lặng lẽ quan sát và lắng nghe để phát hiện khi có người đến. Những phút đầu trôi qua thật căng thẳng. Đó có đúng là bụi rậm không? Có thể họ đang theo dõi chúng tôi. Họ có bao nhiêu người? Liệu chiếc Humvee có khởi động lại được không nếu chúng tôi cần thoát ra? Liệu chúng tôi có chạy kịp không? 30 phút sau, tôi lấy lại bình tĩnh và tiến về phía trước, sử dụng GPS để định hướng. Vì chỉ có hai người, hỏa lực của chúng tôi sẽ yếu hơn so với một thủy thủ đoàn và chúng tôi cần cẩn trọng hơn để không bị phát hiện. Thính giác của tôi trở nên nhạy bén với từng âm thanh nhẹ nhất. Chúng tôi cúi mình khi bước đi, chậm chạp và lặng lẽ, tránh khu đất cao có thể khiến bóng của mình nổi lên.
Sau gần 5 km, tới chân một quả đồi. Doanh trại PLO-Iran nằm ở phía bên kia. Tôi đi trước DJ và chúng tôi leo gần 200m cho đến khi tới gần một cái dốc. Khi đến gần đỉnh đồi, chúng tôi bò thấp người vòng sang phía bên kia đồi. Cách đó khoảng 1,6 km, tôi nhìn thấy bức tường của một doanh trại hình tam giác có tháp canh ở các góc bao quanh ba tòa nhà lớn bên trong. Tôi cũng nhìn thấy một người lính đối phương đang ngồi cách 60m về phía bên phải của quả đồi với ống nhòm quanh cổ và trên lưng là khẩu súng trường.
Tôi dừng lại và ra hiệu cho DJ bằng một nắm đấm giơ lên: Dừng lại. DJ dừng lại. Người lính gác vẫn ngồi im.
Sau khi chỉ hai ngón tay vào mắt mình rồi chỉ về hướng người lính gác, tôi bò trở lại. DJ cũng rút ra. Chúng tôi đi vòng lại sau lưng đồi cho đến khi tìm thấy một cái dốc khác. Lần này khi đi ngang qua, chúng tôi thấy rõ mục tiêu không có lính gác ở gần đó. Mắt chúng tôi tìm kiếm khu vực xung quanh rồi nhìn ra xa hơn cho đến khi trại lính lọt vào tầm mắt. Chúng tôi chỉ có thể nhìn thấy duy nhất những người lính bảo vệ trên các tháp canh.
Trong khi tôi cảnh giới, DJ gửi đi một thông điệp mã hóa qua chiếc đài mang theo để báo cho USS San Jacinto biết vị trí của chúng tôi. Chắc là có một thông điệp khẩn được hồi đáp vì DJ gật đầu, ra hiệu “tiếp tục” cho tôi.
Tôi lấy ra thiết bị chỉ thị mục tiêu hạng nhẹ (AN/PED-1 LLDR) (thực ra cũng không nhẹ lắm) và giá đỡ của nó trong khi DJ bảo vệ vòng ngoài. Sau khi đánh dấu vị trí của mình bằng một đèn hiệu, tôi vẽ tòa nhà giữa trong doanh trại PLO-Iran, đánh dấu nó bằng các nhịp ánh sáng vô hình đã được mã hóa của đèn laze. Ánh sáng này sẽ phản vào mục tiêu và chiếu lên trời để tên lửa Tomahawk phát hiện được.
Tên lửa hành trình dường như bay song song với mặt đất. Một vệt khói trắng vờn quanh cái đuôi đang cháy của nó. Tomahawk dần dần hạ xuống cho đến khi nó đánh trúng vào tòa nhà trung tâm, và 500 kg thuốc nổ phát nổ thành một quả cầu lửa kéo theo những đám khói đen mịt mù. Cơn chấn động và các mảnh vỡ rơi xuống làm vỡ toác tường của hai tòa nhà khác gần đó, gây ra vụ nổ thứ phát ở một tòa nhà − có lẽ là nơi chứa các chất nổ dùng để sản xuất thiết bị IED. Hai trong số ba tháp canh bị vỡ tung. Qua ống nhòm, tôi nhìn thấy rõ một lính canh văng ra khỏi tháp và bay trong không khí như một con búp bê bằng bông. Bức tường của trại lính chỉ còn là một đống đổ nát. Tôi không thấy ai chạy ra từ doanh trại. Từ ngọn đồi của chúng tôi, người lính gác chạy bổ về phía doanh trại, hy vọng tìm thấy người sống sót trong số bạn bè của anh ta.
Chúng tôi thu dọn và đi theo đường khác đến chỗ để xe. Người ta thường dễ trở nên thỏa mãn trên đường về, vì vậy quan trọng là chúng tôi phải thận trọng hơn. Sau khi gỡ bỏ lưới ngụy trang, chúng tôi nhảy lên xe và lái đi. Một lần nữa chúng tôi lại đi đường khác với đường vào lúc ban đầu.
Trên đường lái xe về nhà, tôi phát hiện một vị trí giống như một nửa boongke của địch trồi trên mặt đất. Tôi đi vòng để tránh nó và chiếc Humvee bị sa xuống cát. Khi tôi cố gắng tăng ga để đưa chiếc xe thoát ra thì bánh xe càng lún sâu xuống làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn.
Đúng lúc đó, một đám lính Iraq đi ra ngoài boongke.
DJ và tôi chĩa súng CAR-15 vào họ.
14 người bọn họ giơ tay lên trời và bước về phía chúng tôi. Tôi không nhìn thấy sự đe dọa trên gương mặt của họ. Họ bẩn thỉu và hôi hám. Da của họ như dính chặt vào xương; không biết là họ đã nhịn đói bao lâu rồi. Họ đặt tay lên miệng, cử chỉ thông dụng quốc tế biểu thị hành động muốn xin thức ăn. Trong cuộc chiến, một số lính Iraq thậm chí còn đầu hàng cả những nhóm quay phim, họ rất sẵn sàng đầu hàng và không muốn chiến đấu.
Trên mặt đất, những tấm vải rách được họ dùng để nút chặt các đầu súng trường nhằm ngăn cát lọt vào. Chúng tôi bước ra khỏi xe và yêu cầu họ dùng tay đào một cái hố. Sau đó chúng tôi ra lệnh thả vũ khí vào đó. Trong khi làm, dường như họ càng sợ hãi hơn, chắc là họ tưởng chúng tôi sẽ hành hình họ ngay sau đó. Chúng tôi ra hiệu cho họ phủ đất lên cái hố. Họ bớt sợ hãi hơn và tuân lời. Có lẽ trong số đó có những người đã có vợ con. Đa số họ đều tầm tuổi tôi. Sự sống chết của họ hoàn toàn nằm trong tay tôi. Họ nhìn tôi như thể tôi là Chúa Trời vậy.
Lòng trắc ẩn dâng trào, tôi đưa cho họ hai khẩu phần MRE mà tôi đã chuẩn bị để làm khẩu phần ăn khẩn cấp trong trường hợp phải đào thoát và lẩn trốn. Với 14 người thì số thức ăn đó không phải là nhiều, nhưng họ chia đều cho tất cả. Một người thậm chí còn ăn cả Chiclets. Ồ, bạn biết đấy, đó thực sự là kẹo cao su bọc đường, nhưng ăn đi. Không sao đâu, cứ ăn đi. Chúng tôi cho họ gần hết số nước uống của mình. Họ khoanh tay và cúi đầu thành kính để cảm ơn chúng tôi. Họ đã rất khôn ngoan không tìm cách chạm vào người chúng tôi hoặc xâm phạm vào không gian cá nhân của chúng tôi.
Những tia nắng đầu tiên xuất hiện phía chân trời. Đã đến lúc phải đi. Chúng tôi yêu cầu đám tù binh đặt tay lên đầu. Tôi đánh dấu vị trí chiếc Humvee trên GPS và đi bộ phía trước trong khi DJ bám theo để bảo vệ phía sau. Nếu có viên phi công nào đó bay qua và phát hiện ra chúng tôi, anh ta sẽ rất ngạc nhiên khi thấy cảnh chỉ có hai người Mỹ cùng 14 tù binh bị bắt giữ đang đồng hành ở giữa sa mạc. Chúng tôi trông như là những vị thần chiến tranh vậy. Hai lính SEAL Hải quân bắt giữ 14 lính Iraq.
Khi chúng tôi tới căn cứ, Tom cự nự: “Các anh đem cho chúng tôi những gã này làm cái quái gì vậy?” “Ồ, thế anh muốn chúng tôi làm gì với họ?”
“Giữ họ lại.”
“Chúng tôi không thể giữ họ được.”
Không lâu sau trực thăng đến và chúng tôi để đám tù nhân của mình ở đó. Họ vẫn khoanh tay cúi đầu và cảm ơn chúng tôi. Chiếc trực thăng cất cánh đưa chúng tôi trở lại tàu John F. Kennedy.
Hồi ở BUD/S và cho đến tận lúc đó, tôi cứ nghĩ rằng tất cả những người mà chúng tôi chống lại đều là người xấu. Rằng chúng tôi đạo đức hơn họ. Tôi dùng ngôn ngữ để làm cho việc giết chóc trở nên đáng trân trọng hơn: “tàn phá”, “loại trừ”, “trừ khử”, “kết liễu”, “tống khứ”… Trong quân đội, đánh bom được gọi là “tấn công nhanh gọn mục tiêu quân sự” còn dân thường thiệt mạng thì gọi là “tổn thất phụ”. Thực hiện mệnh lệnh là lý lẽ giúp gỡ bỏ trách nhiệm giết chóc khỏi vai tôi và đặt nó vào một cấp độ cao hơn. Khi tôi ném bom khu doanh trại, tôi càng giảm tránh trách nhiệm của mình bằng việc chia sẻ nhiệm vụ: Tôi đánh dấu mục tiêu, DJ thông báo cho tàu và ai đó thì nhấn nút phóng tên lửa. Không có gì lạ khi những người lính chiến thường “vô nhân đạo hoá” kẻ thù − miệt thị những người Iraq thành “những cái đầu giẻ rách” và “những kẻ ngu dốt cưỡi lạc đà”. Trong văn hoá chiến tranh, ranh giới giữa nạn nhân và kẻ chiến rất mong manh. Tất cả những điều này giúp tôi thực hiện nhiệm vụ, nhưng cũng có thể bịt mắt không cho tôi thấy được nhân tính của đối phương.Dĩ nhiên SEAL đã huấn luyện chúng tôi phải xác định mức độ bạo lực phù hợp với yêu cầu của tình huống, phải được điều chỉnh tăng và giảm giống như điều chỉnh một công tắc đèn vậy. Không phải lúc nào bạn cũng muốn chùm đèn sáng lên. Nhưng đôi khi bạn lại muốn làm vậy. Cái công tắc đó vẫn ở trong tôi. Tôi không muốn, nhưng có thể bật nó lên khi cần. Tuy nhiên, việc huấn luyện không chuẩn bị cho tôi cách thức đánh giá nhân tính trong 14 con người cụ thể đó. Đó là điều mà bạn phải trực tiếp chiến đấu mới có thể cảm nhận được. Không thể là đánh trận giả. Có thể tôi nên găm một viên đạn vào đầu của mỗi người bọn họ và khoe khoang về việc tôi đã tiêu diệt được bao nhiêu tên. Một số người nghĩ về lính SEAL chỉ như là những cỗ máy kích động và giết người không cần suy nghĩ: “Ồ, anh là một kẻ ám sát.” Tôi không thích điều đó. Tôi không tán thành chuyện đó. Nhiều người lính SEAL hiểu rằng nếu bạn có thể thực hiện một chiến dịch mà không gây tổn thất về nhân mạng thì đó là một chiến dịch tuyệt vời.
Nhìn thấy 14 người đó, tôi nhận ra rằng họ không phải là kẻ xấu. Họ chỉ là những kẻ bần cùng gần như chết đói, thiếu trang thiết bị, không có súng, không có tư tưởng, đi theo kẻ người điên rồ nào đó, kẻ đã quyết định xâm lược một nước khác. Nếu họ không đi theo kẻ điên rồ đó thì Vệ binh Cộng hòa sẽ hành quyết họ. Tôi cho rằng họ đã mất ý chí chiến đấu. Và có lẽ họ thậm chí chưa bao giờ có ý chí chiến đấu ngay từ giây phút đầu tiên.
Họ cũng là chỉ là những con người giống tôi. Tôi khám phá nhân tính của mình và nhân tính của những người khác nữa. Đó là một bước ngoặt đối với tôi − đó là lúc tôi trưởng thành. Chuẩn mực của tôi về phải và trái trong chiến đấu trở nên rõ ràng hơn, được xác định bằng những gì tôi làm và không làm. Tôi đã cho 14 người lính Iraq thức ăn và đưa họ tới một nơi an toàn hơn. Tôi không giết họ. Bất kể bạn thắng trận hay thất trận thì chiến tranh vẫn là địa ngục.
Quay trở lại tàu Kennedy, trí óc tôi như đã sáng hơn. Mặc quần soóc và áo phông ngồi trên ghế lau súng, tôi suy nghĩ về cách mình đã gặp kẻ địch gần đến thế. Tôi biết rằng mình có thể đối chọi và đánh bại họ ở một mức độ bạo lực nhất định. Hơn nữa, tôi nhận ra rằng quan trọng là phải hiểu kẻ địch của chúng ta cũng là con người.
Chiến dịch Bão táp sa mạc chỉ diễn ra trong 40 ngày. Chúng tôi giận dữ vì không được đến Baghdad để tham gia kết thúc chiến dịch. Tàu Kennedy dừng lại ở Ai Cập, nơi chúng tôi đưa tất cả trang thiết bị khỏi tàu và nhận phòng một khách sạn năm sao ở Hurghada. Vì không phải là mùa du lịch và chiến tranh mới xảy ra nên chúng tôi là nhóm khách duy nhất. Khi chúng tôi đang ăn tối, trung đội trưởng bước vào và vỗ vào lưng tôi: “Chúc mừng, Wasdin, cậu đã lên Hạng.” Tôi đã được thăng từ E-5 lên E-6. Với Howard, cuộc đời mới thật thú vị làm sao! Chúng tôi đợi hai tuần để được bay trở lại Machrihanish, Scotland, kết thúc 6 tháng tham chiến.
Tôi không hồi tưởng, không gặp ác mộng, không khó ngủ, không mất khả năng tập trung, không suy nhược và cũng không tự coi thường bản thân vì đã tham gia vào một cuộc giết chóc lần đầu tiên − nhìn thấy người lính bị thổi bay khỏi tháp canh của PLO và rơi xuống đất tử vong. Những cảm xúc đó dường như ít bắt gặp hơn trong số binh sĩ các lực lượng đặc biệt. Có thể là do phần lớn những người nhạy cảm với trạng thái căng thẳng đó đã bị loại ra trong quá trình huấn luyện BUD/S và việc huấn luyện căng thẳng đã giúp binh sĩ sẵn sàng hoạt động với cường độ cao trong chiến tranh. Tôi bắt đầu lập cách kiểm soát suy nghĩ, cảm xúc và nỗi đau của mình từ rất sớm − đó là vấn đề sống còn − và điều đó đã giúp tôi ứng phó được với những thách thức trong các đội. Tôi đã chịu đựng được những đau đớn từ sự ác nghiệt của bố dượng tôi, từ Tuần Địa ngục và các kinh nghiệm khác và đặc biệt, tôi đã trải qua chiến tranh.
Mặc dù vậy, thực ra thâm tâm tôi rất lo lắng khi lần đầu tiên giết chóc. Tôi lo lắng không biết liệu mình có làm đúng không. Trên ti vi hay các trò chơi video, dường như giết chóc không phải là chuyện gì to tát cả. Tuy nhiên, tôi đã buộc phải ra quyết định kết thúc sự sống của ai đó. Những người mà tôi giết sẽ không bao giờ gặp lại gia đình họ nữa. Sẽ không bao giờ được ăn hay sử dụng nhà vệ sinh nữa. Không bao giờ thở nữa. Tôi lấy đi mọi thứ mà họ có hoặc sẽ có. Đối với tôi, đó là một chuyện lớn. Tôi không thể coi nhẹ điều đó được. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không coi nhẹ nó. Trong một chuyến về thăm nhà, tôi nói chuyện với Cha Ron: “Khi chiến đấu, lần đầu tiên con đã giết người. Con làm có đúng không, thưa Cha?”.
“Con đã phụng sự đất nước đúng theo luật pháp.”
“Chuyện này sẽ ảnh hưởng như thế nào tới con khi thời gian qua đi thưa Cha?” “Điều đó sẽ không thể có tác động tiêu cực đến tiếng tăm của con đâu.” Lời lẽ của Cha đã an ủi tôi. Em gái út của tôi, Sue Anne, một nhà trị liệu tâm lý cho rằng tôi có gì đó không ổn. Tôi không thể xử sự bình thường được nếu không kìm nén điều gì đó. Sue chỉ không hiểu thực tế rằng tôi thực sự thoải mái với quyết định của mình và ổn định về tinh thần.Có một vài bí mật giữa những người lính SEAL với nhau. Chúng tôi thường xuyên quanh quẩn bên nhau và hiểu rất rõ nhau. Tôi biết màu tóc con gái của một người bạn, cỡ giầy của vợ anh ta và mọi việc đang diễn ra. Tôi biết chi tiết về bạn bè của mình nhiều hơn những gì mà tôi muốn biết. Tôi cũng biết ai muốn thử sức sang Đội SEAL số 6.
Smudge, DJ, 4 người khác từ các lực lượng SEAL ở trung đội Foxtrot và tôi nộp đơn xin gia nhập Đội SEAL số 6. Smudge, DJ và tôi vượt qua được vòng xét duyệt hồ sơ, nhưng những người khác thì không được chọn. Một người tỏ ra rất tức giận vì anh là lính SEAL thâm niên hơn tôi. Đơn xin gia nhập của chúng tôi đã được chấp nhận, và khi Chỉ huy trưởng của Đội 6 đến thăm đơn vị chúng tôi, ông phỏng vấn chúng tôi. Trớ trêu là lẽ ra đơn vị chúng tôi chỉ có một người được chấm qua vòng phỏng vấn và cạnh tranh cho vòng tiếp theo, nhưng cả ba chúng tôi đều đạt, điều đó có nghĩa là Đội nào đó khác sẽ có tỷ lệ trượt cao hơn.
Đơn vị cho chúng tôi một khoảng thời gian để tham gia cuộc phỏng vấn vào Đội 6 vốn thường chỉ diễn ra mỗi năm một lần. Tháng Năm năm đó, tôi được tham gia kỳ kiểm tra chính ở Dam Neck, Virginia, mặc dù Đội 6 thường yêu cầu những người xin gia nhập phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm ở SEAL. Những người lính SEAL xếp hàng để được phỏng vấn trông như những đứa trẻ hồi hộp chờ đợi được cưỡi xe trên Đỉnh Vũ trụ ở Disneyland. Những người như chúng tôi bay đến từ Scotland. Những người khác từ California, Puerto Rico, Phillippines và nhiều nơi khác. Đối với một vài người, đây không phải là lần đầu tiên họ được phỏng vấn.
Bên trong phòng kiểm tra, những người phỏng vấn tôi hầu hết đều là lính SEAL có thâm niên − những người lính SEAL thực thụ. Họ thể hiện phong cách rất chuyên nghiệp. Những người phỏng vấn hỏi tôi nhiều về nhận thức các sự vật. Về những trận đánh mà tôi đã tham gia. “Nhược điểm của anh là gì? Anh cần làm việc ở đâu?” Với một người lính SEAL trẻ, thật khó mà có câu trả lời rõ ràng. Nếu bạn không nhận thức được những điều đó và không có ý chí thực hiện chúng thì làm sao bạn có thể tiến bộ được?
Một người thử làm tôi bối rối một chút: “Anh có uống nhiều rượu không?” “Không.”
“Nhưng anh có đi ra ngoài uống rượu với bạn bè chứ?” “Vâng.”
“Và anh uống hết mình?” “Không?”
“Anh có uống nhiều không?”
“Tôi không biết trả lời câu hỏi đó thế nào. Có điều tôi muốn nói rằng tôi không uống đến mức để lại hậu quả.” Tôi không uống đến mức đau đầu, chóng mặt hay say mèm. “Nếu bạn bè của tôi vào thị trấn và uống rượu, 99% là tôi đi với họ. Nếu có việc phải làm, chúng tôi không uống. Vì thế tôi không biết trả lời lại thế nào. Tôi không uống đến mức nguy hại. Tôi uống vì tình bạn.”
Ông ấy mỉm cười: “Tốt.”
Tôi rời khỏi phòng, băn khoăn không biết mình đã làm thế nào. Tiến trình kiểm tra và phỏng vấn là một kinh nghiệm lạ lẫm đối với tôi. Lát sau, một lãnh đạo cao cấp bước ra và bảo tôi: “Đó là cuộc phỏng vấn tốt nhất mà tôi từng tham dự.”
“Nhưng tôi mới chỉ phục vụ ở SEAL được hai năm rưỡi.”
“Anh đã có đủ kinh nghiệm thực tế. Tôi chắc là điều đó sẽ có ích đấy.”
Nếu tôi không tham gia chiến dịch Bão táp sa mạc, có lẽ tôi sẽ phải đợi hai năm rưỡi nữa.
Hai tuần sau, Chỉ huy trưởng Norm Carley gọi Smudge, DJ và tôi vào văn phòng của mình. Ông cho chúng tôi biết thời điểm trở thành người của Đội Em út Xanh lục (Green Team), việc chúng tôi được tuyển chọn và sẽ được huấn luyện để trở thành binh sĩ Đội SEAL Số 6. “Chúc mừng các anh! Tôi không muốn thấy các anh rời bỏ chúng tôi, nhưng ở Đội SEAL số 6 các anh sẽ gặp rất nhiều điều thú vị đấy.”
Cuộc bầu cử các hội đồng tỉnh hạt địa phương – một cuộc tổng dượt cho cuộc bầu cử toàn quốc cấp quốc gia sắp tới – tại Sicily, năm 1948, đã là một thất bại nặng nề cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo. “Khối nhân dân” – tức là liên minh cánh tả, gồm phe cộng sản và phe xã hội – đã giành được sáu trăm ngàn phiếu. Trong khi đó đảng Dân chủ Thiên chúa giáo chỉ được có 330000 phiếu. Còn lại năm trăm ngàn phiếu chia cho các đảng phái lôm côm khác, kể cả phe bảo hoàng. Rome kinh hoàng. Phải làm gì đó quyết liệt tại Sicily, – một xứ lạc hậu nhất nước, nhưng oái ăm thay lại ở vào cái vị thế quyết định – cả nước Ý sẽ bị nhuộm đỏ hay ít ra cũng bị hồng hồng. Mấy tháng trước ngày bầu cử các hội đồng địa phương Sicily đã có một cuộc “hưu chiến” âm thầm giữa chính quyền Rome và Guiliano. Đám đàn em của hắn được phái đi xé truyền đơn, biểu ngữ vận động của các đảng đối lập, càn quét trụ sở của cánh tả, quấy phá các cuộc biểu tình ủng hộ bọn này ở các thị trấn như Motelepre, Castellammare, Partinico, Piani dei Greci, San Giuseppe Jato và đô thị lớn Monreal. Tại tất cả các thị xã, lâu la của Guiliano đã dán các áp phích có hàng chữ lớn, in màu đen: “đập chết bọn cộng sản”. Một vài trụ sở của đảng xã hội cũng bị các tay anh em của Guiliano phá phách. Trụ sở của lực lượng công nhân xã hội cũng chung số phận. Tuy nhiên, chiến dịch phá rối ấy phát động quá trễ nên không mang lại kết quả mong muốn. Và cũng vì Guiliano không chịu thi hành chính biện pháp khủng bố, ám sát. Các sứ giả chạy đi tới tấp như con thoi giữa ngài bộ trưởng và đức ngài Hồng y, Ông Trùm Croce và Guiliano. Tất nhiên, Guiliano không tránh khỏi sự phiền trách. Hắn bị hối thức và đẩy mạnh hoạt động hơn nữa, bạo hơn nữa, khát máu hơn nữa, để lật ngược tình thế trong cuộc bầu cử toàn quốc sắp tới, một cuộc bầu cử cực kỳ quan trọng, có tính chất sinh tử với đảng Dân chủ Thiên chúa giáo. Guiliano cũng cẩn thận giữ lại các thư từ, điện tín để làm tài liệu cho bản chúc thư của hắn thêm sức nặng. Cần phải chơi một đòn thật nặng mới mong cứu vãn được tình hình. Đầu óc quái quỉ của Ông Trùm thiếu gì những ngón đòn hiểm. Thông qua “sứ giả” Andolini, Guiliano đã được gợi ý thực hiện ngón đòn độc này nhằm hạ một lúc hai đối thủ của Croce. Một trong hai dĩ nhiên là cánh tả. Đối thủ kia lại chính là kẻ thực hiện ngón đòn độc này, tức chính là Guiliano. Độc và tài tình là ở chỗ đó. Ở Sicily, hai thị trấn làm phản và ủng hộ cánh tả mạnh nhất là Piani del Greci và San Giuseppe Jato. Từ nhiều năm qua, ngay cả dưới thời phát – xít còn thống trị đảo Sicily, hai thị trấn này cũng đã lấy ngày 1 tháng 5 làm ngày cách mạng. Ngày này cũng là ngày lễ kinh thánh Giuseppe, thánh bổn mạng của thị xã. Bọn phát – xít ức lắm mà không làm gì được. Dưới chế độ cộng hòa, ngày cách mạng không còn cần phải núp bóng thánh bổn mạng nữa. Nó đã được công khai biến thành một cuộc biểu tình với cờ đỏ và những bài diễn văn sấm sét, nảy lửa của phe tả. Ngày 1 tháng 5 sắp tới sẽ là một ngày quan trọng trong lịch sử của hai thị trấn. Theo thông lệ, hai thị trấn phố hợp với nhau để tổ chức mừng chung. Dân của hai thị trấn này – dù đi làm ăn xa xôi, dù gặp khó khăn đến đâu đi nữa – cũng kéo về quê hương bản quán để mừng thắng lợi trong cuộc bầu cử các hội đồng địa phương vừa rồi. Ông L.O. Causi – một nghị sĩ cộng sản, một diễn giả nổi tiếng với tài diễn thuyết hùng hồn, nảy lửa, sẽ có mặt để đọc bài diễn văn vạch trần những hành động xấu xa bẩn thỉu của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo và lên án các bất công xã hội mà nhân dân lao động đang phải gánh chịu, nhằm chuẩn bị cho cuộc bầu cử toàn quốc sắp tới. Theo kế hoạch của Ông Trùm, băng của Guiliano sẽ tấn công phá vỡ cuộc biểu tình này. Không cần giết, mà chỉ cần bắn đại liên cho đạn bay chíu chíu trên đầu cũng đã khiến cho bọn biểu tình sợ chết khiếp. Đó là bước thứ nhứt có tánh chất hăm dọa sơ sơ, để cảnh cáo. Đồng thời, qua đó, nghị sĩ L.O. Causi phải hiểu là kỳ bầu cử tới, ông ta phải “đi chỗ khác chơi”, chớ có bén mảng tới đây ứng cử mà dại. Guiliano đồng ý và chỉ thị cho các sếp Pisiciotta, Terranova, Passatempo, Sylvestro và Andolini chuẩn bị và thực hiện kế hoạch hù dọa này. San Giuseppe Jato và Piani del Greci là hai thị trấn nghèo mạt, nhà cửa cũ kỹ, tồi tàn. Phương pháp canh tác cổ lỗ. Phong tục hủ lậu: đàn bà bao giờ cũng phải nhìn nghiêng, không được để cho thằng đàn ông nhìn thẳng vào mặt mình. Ấy thế nhưng về chính trị thì hai thị trấn này lại giật giải quán quân về lập trường cấp tiến. Và phản loạn chống chính quyền thì vô địch. Hai thị trấn này có lịch sử lâu đời lâu lắm rồi. Nhà cửa ở đây toàn bằng đá. Vài nhà không có cửa sổ, mà chỉ có cái cửa tò vò, cũng chỉ lớn bằng cái đĩa bàn. Nhiều gia đình còn sống chung với gia súc trong nhà. Lò bánh mì của thị trấn cũng là cái chuồng để nhốt dê, nhốt bò, nhốt lừa. Vô ý làm rớt một ổ bánh mì mới ra lò thì chắc chắn nếu không dính phân cũng chấm nước đái bò đọng thành vũng dưới đất. Dân thị trấn hầu như không ai có ruộng đất. Chỉ có mỗi một nghề làm mướn cho các chủ đất trong vùng. Ngày công nhiều lắm được khoảng một dollar. Có khi còn ít hơn. Không đủ để nuôi gia đình. Khi các con quạ đen – một từ khinh miệt, chế nhạo dùng để gọi mấy ông cha, mấy dì phước – đem quần áo cũ và mì ống đến để vận động bầu cử, thì dân làng vui vẻ nhận và thề sống chết sẽ bỏ phiếu cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo. Nhưng, trong cuộc bầu cử hội đồng địa phương, bao nhiêu phiếu của hai thị trấn này đều dồn cho cánh tả hết ráo. Ông Trùm tức điên lên được, quay ra “ghè” mấy sếp Mafia địa phương làm ăn không nên trò trống gì. Nhưng, ở chỗ công khai, lão lại xoen xoét tuyên bố là khi bỏ phiếu cho cánh tả, hai thị trấn này tỏ ra bất kính Hội Thánh. Và điều đó làm cho lão buồn lòng. Bởi vì, theo lão, một người Sicilian ngoan đạo có bao giờ nỡ làm các dì phước thất vọng khi – vì lòng bác ái của Chúa – các dì đã đem bánh mì đến tận miệng con cháu họ? Đức Hồng y giáo chủ cũng nổi xung. Trước ngày bầu cử, đích thân ngài đến tận hai thị trấn này để dâng thánh lễ, làm phép Báp – têm và ban bí tích “Kiền thành” cho. Gớm đâu có phải mỗi chốc lại có vị Hồng y giáo chủ làm phép Báp – têm cho. Ngài cũng không quên cảnh cáo họ về cái họa cộng sản. Để họ đừng bỏ phiếu cho bọn đó. Ấy vậy mà đến lúc bỏ phiếu, bọn giáo dân ngu muội này vẫn cứ u mê, cứ bỏ phiếu cho bọn cộng sản. Có ức không kia chứ. Ngài bèn triệu các cha sở của hai thị trấn này về tận Palermo, chà xà phòng, cạo sát các vị này. Nhưng trước khi cho các vị này về nhiệm sở, ngài cũng nhủ lòng thương, tha thứ và ban giáo chỉ phải đới tội lập công bằng cách tăng cường nỗ lực hoạt động trong cuộc bầu cử toàn quốc sắp tới. “Không phải chỉ vì lợi ích chính trị của Hội Thánh mà còn vị sự cứu rỗi linh hồn của các con chiên hồn đạo của hai thị trấn này”. Đó, giáo chỉ của Hồng y giáo chủ Palermo khôn ngoan như vậy đó. Ngài bộ trưởng Bộ tư pháp Franco Trezza thì không ngạc nhiên về kết quả bầu cử cấp địa phương. Là dân Sicilian thứ thiệt, ngài còn lạ gì lịch sử của đảo này, và nhất là của hai thị trấn này từ lâu vẫn nổi tiếng kiêu hãnh – mặc dù nghèo kiết xác – và là những chiến sĩ hăng say, dữ tợn nhất trong việc chống bọn nhà giàu ở Sicily và bọn bạo chúa ở Rome. Họ là những người đầu tiên đi theo Garibaldi. Và trước cả Garibaldi, họ đã chống bọn Pháp, bọn Maure… từng thống trị đảo này. Nhất là dân thị trấn Piani dei Greci. Vốn là con cháu những người Hy Lạp. Nói tiếng Hy Lạp. Theo lịch Hy Lạp. Áo quần cũng kiểu Hy Lạp cổ. Nhưng đó cũng là dinh lũy của Mafia theo truyền thống cổ điển: chống bất cứ kẻ áp bức xâm lược ngoại bang nào. Ngài bộ trưởng chỉ thất vọng về những kết quả và cái cách làm ăn của Ông Trùm trong cuộc bầu cử cấp địa phương này. Trong cuộc bầu cử địa phương mà làm ăn bết bát như vậy, thì cuộc bầu cử cấp quốc gia sẽ như thế nào? Đau nhất là phiếu của hai thị trấn này và các vùng xung quanh lại bị một thằng nhãi ranh Silvio Ferra, theo phe xã hội lèo lái. Sivio Ferra là một quân nhân được trao huy chương cao quí nhất của quân đội Ý, trong đại chiến vừa rồi. Hắn đoạt huy chương ấy trong chiến dịch Châu Phi. Sau đó hắn bị quân đội Mỹ bắt được. Trong trại tù binh của Mỹ, hắn được giáo dục chính trị. Cái nào phát – xít được chà rửa kỹ và thay vào đó bằng học thuyết dân chủ kiểu Mỹ. Thực ra hắn đâu có tin gì vào những điều mà người ta nhồi nhét vào đầu óc hắn. Cho đến khi được đưa ra làm việc tại một lò bánh mì ở ngoài trại, hắn đâm ra mê cái lối tự do kiểu Mỹ, mê sự linh động của các giai tầng xã hội Mỹ. Ở bên Mỹ, nếu chịu khó và biết cách làm ăn thì cu – li, nghèo kiết xác cũng vẫn có thể trở nên trung lưu, giàu có, sang trọng. Ở Sicily hả? Khỏi. Một thằng Sicilian mà đã trót nghèo thì dù có xoay xở, biết cách làm ăn và chịu thương chịu khó làm đến đổ mồ hôi, sôi nước mắt cũng không có hy vọng kiếm đủ để nuôi vợ con. Trọn đời là ăn bữa sáng lo bữa tối. Cái nghèo của người Sicilian là thứ nghèo kinh niên, nghèo truyền kiếp từ đời ông đến đời cháu. Khỏi nhúc nhích cục cựa, đừng hòng ngoi lên tầng lớp trung lưu. Khi trở về Sicily, Silvio Fera trở thành một người nhiệt tình tuyên truyền không công cho Mỹ. Nhưng, rồi hắn cũng sớm nhận ra đảng Dân chủ Thiên chúa giáo chỉ là một công cụ của bọn nhà giàu, tiếp tay cho bọn áp bức, bóc lột. Thế là, hắn gia nhập câu lạc bộ “Công nhân xã hội” ở Palermo. Hắn say mê học hỏi và đọc sách. Hắn trệu trạo nhai, rồi nuốt lý thuyết của Marx – Engels. Và, hắn gia nhập đảng xã hội. Hắn được trao nhiệm vụ tổ chức một câu lạc bộ tương tự tại San Giuseppe Jato. Trong bốn năm trời, hắn đã làm ăn ngon lành không thua gì mấy đàn anh hoạt động cho đảng ở miền Bắc nước Ý. Hắn có biệt tài diễn đạt cái lý thuyết cao siêu và viển vông của bọn xã hội bằng thứ ngôn ngữ nôm na, cụ thể, khiến cho mấy thằng cùn mằn, vô học ở cái xó kẹt San Giuseppe ấy hiểu được và mê mẩn. Thế mới hay chớ. Chẳng hạn, khẩu hiệu vận động bầu cử của hắn chỉ đơn giản thế này: muốn có ruộng thì hãy bỏ phiếu cho đảng xã hội. Hắn đặt ra một lô những câu hỏi và những khẳng định, toàn là những thứ đụng đến bao tử của mấy thằng khố rách. Chẳng hạn: tại sao những chúa đất để ruộng hoang, trong khi ấy, dân cày chết đói? Tại sao thằng dân làm hùng hục như con lừa, lúa mì mọc lên tươi tốt mà con mình vẫn đói? Hắn khẳng định: nếu đảng xã hội lên nắm chính quyền thì dứt khoát không có cảnh mấy anh nhà nước lớn nhỏ thi nhau nặn hầu bóp cổ dân nghèo để đòi ăn của đút. Xin miễn luôn cái chuyện phải xỉa ra mấy lire mới được anh phát thư trao cho cái thư có dán tem đàng hoàng của bà con mình gởi cho mình, khỏi có cái chuyện phải đem mấy chục trứng gà biếu ông cha sở để ông đọc giùm một cái thơ của người bà con gửi cho mình. Chấm dứt cái cảnh phải bán sức lao động cho mấy ông quận công, bá tước để lấy mấy đồng tiền chết đói. Công chức nhà nước không phải là cha thằng dân. Đó, là vốn lý thuyết xã hội của hắn chỉ có bấy nhiêu đó. Vậy mà mấy thằng khố rách mê mẩn và rần rần biểu nhau dồn phiếu cho đảng xã hội. Tác hại hơn nữa là Silvio Ferra đã dẫn những chương trong kinh sách của Hội Thánh để chứng minh Hội Thánh đã bênh vực những thằng nhà giàu bóc lột, đê tiện. Nhưng hắn quá khôn ngoan để không bao giờ đả động đến đức Chúa Jesus, đến các chư Thánh “hữu dụng” và nhất là Đức Thánh Nữ Đồng Trinh Marie. Sáng hôm lễ Phục Sinh, hắn cũng chào bà con bằng lối chào truyền thống “Mừng Chúa đã sống lại”. Nếu có ai chào hắn như vậy, hắn cũng vui vẻ đáp lễ bằng câu cũng truyền thống không kém: “Vinh danh Chúa cả trên trời”. Ngày chủ nhật, hắn cũng đi nhà thờ như ai. Vợ con hắn tuân thủ rất kỹ mọi phong tục tập quán tốt lành của dân Sicilian. Hắn là người rất sùng kính những giá trị truyền thống. Vợ con hắn hết lòng thảo hiếu với mẹ cha, và có nhân có nghĩa với anh em, bà con, bè bạn, lối xóm. Khi đám “người anh em” ở San Giuseppe Jato nhắc nhở, cảnh cáo là hắn đã đi “quá xa”, hắn đã mỉm cười thân mật đáp lại là lúc nào hắn cũng muốn giao hảo với “Người anh em”, mặc dù, trong thâm tâm, trận chiến đấu cuối cùng và gay go sẽ là trận chiến đấu chống lại Mafia. Ngay cả những đặc phái viên của Ông Trùm Croce cũng được hắn tiếp đãi rất nhã nhặn, lịch sự, nhưng cũng rất kiên định. Với cái danh là một anh hùng thời chiến, hắn được mọi người trong thị trấn trọng nể.
Photo edit by Sơn râu
Có những dấu hiệu cho thấy hắn cũng đối đãi “phải phép” với đám “Người anh em”. Vì thế, Ông Trùm cũng đành phải kiên nhẫn chờ, không dám “sực” hắn liền. Vả lại, lão yên trí là với ngón đòn hiểm của lão, chắc chắn thế nào đảng xã hội cũng rớt đài trong cuộc bầu cử sắp tới. Nhưng, điểm nổi bật hơn hết là Silvio Ferra rất được cảm tình với đám đông dân nghèo. Đó là một điều hiếm có. Mà không có cảm tình sao được khi một anh hàng xóm nghèo, bị bệnh, không đi làm được thì hắn đã bẻ cái bánh hắn đang ăn mà cho. Một bà già không con không cháu bị đau yếu là hắn đến để làm giùm những công việc lặt vặt. Hắn an ủi khuyến khích những người túng đói và lo sợ trước tương lai. Hắn tuyên bố đảng xã hội là bình minh của hy vọng. Hắn thường dùng những câu chuyện cổ tích dân gian mà nông dân Sicilian rất khóai để diễn giải những vấn đề chính trị khúc mắc. Hắn không bao giờ nói về lý thuyết kinh tế cao siêu của Marx. Hắn chỉ nói đến những căm hờn, những mối thù, những áp bức, những uất ức mà từ bao đời nay nông dân phải chịu. “Bánh mì đối với người nghèo chúng ta ngon, ngọt, béo, bổ như thế nào thì máu dân nghèo cũng ngon, ngọt, béo, bổ đối với bọn nhà giàu như vậy”. Cứ cái kiểu như vậy, hắn đã làm cho nông dân Sicilian sẵn sàng nhảy vào lửa, cũng “ô – kê”, chứ nói gì đến dồn phiếu cho đảng xã hội. Chính Silvio cũng lập ra một thứ công đoàn gồm những người làm thuê, làm mướn. Hắn xui những người này đồng lòng không chịu làm thuê với giá rẻ mạt, đến ngày mùa, các địa chủ bắt buộc phải điều đình với hắn. Nếu không hoa màu cứ chín rụng ngoài vườn, ngoài ruộng. Cứ như vậy, Silvio dần dần trở thành một tay cầm đầu. Bên cạnh cái uy tín tự tạo đó, Silvio còn được cái dù bự của Guiliano che cho nữa. Đó là một trong những lý do chính khiến lão Croce chưa dám xuống tay hạ sát Silvio. Vì lão ngại đụng với Guiliano trong lúc dầu sôi lửa bỏng này. Silvio Ferra – cũng quê quán ở Monteleppre, cũng giống như Guiliano – nổi tiếng ngay từ lúc nhỏ. Từ trước hai người không phải là bạn của nhau – Sivio hơn Guiliano bốn tuổi – nhưng Guiliano cũng ngưỡng mộ bậc đàn anh. Khi Guiliano lớn lên thì Silvio đã thành người hùng ngoài mặt trận. Trở về trong hào quang của một anh hùng, huy chương đầy ngực, Silvio cưới một em ở San Giuseppre và ở rể đó luôn. Cả Guiliano và Silvio đều đã nổi tiếng: Sivio về uy tín chính trị, Guiliano về nghĩa cử hào hùng – nhưng không vì khác biệt chính kiến mà cả hai chàng trai hiên ngang ấy coi nhau như tử thù. Ngay cả khi thực hiện “giáo dục chính trị” cho cử tri ở Sicily để bọn này biết cách bỏ phiếu cho “phải phép”, Guiliano cũng vẫn ra lệnh cho thủ hạ của mình không được có hành vi nào phương hại đến thị trấn San Giuseppe và bản thân Silvio. Biết được hảo ý của Guiliano, chính khách màu hồng Silvio – khôn khéo có thừa, – đã lịch sự gửi một bức thư qua cám ơn và hứa giúp đỡ Guilano trong những trường hợp có thể. Lịch sử nhưng đồng thời cũng là đòn ly gián. Với ý đồ tách Guiliano ra khỏi phe hữu và Croce, để nếu không kéo được về phía mình thì ít ra cũng trung lập hóa Guiliano. Thủ đoạn khôn khéo đã chứng tỏ Silvio là một tay có bản lãnh chính trị già dặn, chứ đâu phải tay mơ, tài tử. Bức thư được chuyển qua tay ông bà già của Silvio lúc đó đang cư ngụ tại Monteleppre. Một trong những dứa em của Sivilo lại chính là Justina – lúc đó mười lăm tuổi – đem qua trao lại cho ông già Guiliano. May mắn làm sao, lúc cô bé mang thư qua thì Guiliano đang có mặt ở nhà và đích thân Guiliano nhận bức thư ấy. Với tuổi mười lăm, con “bé” Sicilian đã phổng phao rực rỡ, đã biết kẻ mắt thoa môi rồi, thấy chàng Guiliano, cô gái trăng rằm Justina “mết” liền. Làm sao khỏi kia chớ. Guilano thân thể cường tráng, phong thái, cử chỉ rất hùng! Mết là phải. Turi cùng với ông bà già và cả La Venera đang ngồi uống cà – phê. – Được hỏi có muốn làm một ly không, Justina từ chối, cứ đăm đăm nhìn chàng say đắm, khỏi cần e lệ, giấu giếm, coi sự có mặt của ông bà già và của La Vennera như không. La Venera cũng chú ý ngay đến sắc đẹp sức hấp dẫn của cô bé. Guiliano đâu có nhận ra Justina là chính cô bé mấy năm trước ngồi khóc hu hu ngoài đường vì bị cớm chớp mất từ bạc 5 lire, và đã được Guiliano “thưởng” cho gấp mấy chục lần để về nhà khỏi bị ông bà già cho ăn roi. Guiliano nói với cô bé: – Cho tôi gửi lời cám ơn anh cô. Và nhờ cô nói giùm anh ấy đừng lo lắng nhiều đến hai ông bà già. Tôi sẽ bảo vệ cho. Justina vội vã chạy biến về nhà. Từ hôm ấy trở đi, lúc nào cô nàng cũng mơ tưởng đến Guiliano như mơ đến một người yêu lý tưởng của mình. Cô nàng cũng rất hãnh diện vì tình cảm mà Guiliano đã dành cho anh ruột của mình. Trước khi phá đám buổi mít – tinh biểu tình ở Portella del Ginestra, Guiliano đã báo cho Silvio và khuyên anh chàng này đừng tham dự. Hắn cũng đảm bảo là, tuy phá đám, nhưng sẽ không có một người dân nào bị hại. Nhưng, chính bản thân Silvio có thể gặp nguy hiểm, nếu hắn ta cứ tiếp tục nhất định theo phe xã hội. Bản thân Guiliano không làm gì hại hắn, nhưng đám “Người anh em” quyết đè bẹp phe tả ở Sicily. Do đó, chắc chắn Silvio sẽ là một trong các mục tiêu của chúng. Nhận được tin đó, Silvio Ferra cho rằng, một lần nữa thằng già dịch Croce tìm cách hù hắn, nên không tin, không quan tâm. Đảng xã hội đang trên đà thắng phom phom. Dễ gì hắn bỏ qua không tham gia đại lễ mừng thắng lợi mà đảng vừa đoạt được. Năm 1948, ngày một tháng năm tức là ngày lễ Lao Động. Dân chúng hai thị trấn Piani del Creci và San Giuseppe Jato dậy từ sáng sớm để lên đường, cuốc bộ qua đèo Portella del Ginestra đặng tới địa điểm mít – tinh. Dẫn đầu đoàn biểu tình là một ban nhạc được mướn từ Palermo tới. Cùng với vợ con hắn, Silvio Ferra hãnh diện vác lá cờ đỏ to đoàng dẫn đầu đoàn biểu tình của thị trấn San Giuseppe. Theo sau đoàn biểu tình là những chú lừa hoặc ngựa. Bữa nay bọn này cũng trang trí bằng chùm lông đỏ, lưng phủ những tấm mền sặc sỡ. Những chiếc xe chở lỉnh kỉnh nào thức ăn, nào rượu, nào củi, kèm theo một con bê để làm thức ăn tươi. Trẻ con nhảy múa, đá banh. Người lớn cưỡi ngựa chạy thử để tập dượt chuẩn bị cho cuộc đua buổi chiểu. Cuộc đua ngựa sẽ là cái đinh của lễ bế mạc buổi mít – tinh cắm trại. Khi đoàn biểu tình của thị trấn San Giuseppe vừa tới chân đèo thì phía đầu đàng kia, đoàn biểu tình của thị trấn Piani del Greci cũng vừa đi đến nơi. Ngọn cờ đỏ của đảng Xã hội được giương cao. Hai đoàn nhập một, reo hò ầm ĩ, vui vẻ chào đón nhau. Rồi tiếp tục vừa đi vừa cười, nói, bàn tán về những vụ xì – căng đan chính trị mới nhất, về cuộc bầu cử toàn quốc sắp tới, về những khó khăn mà đảng phải đương đầu. Tất nhiên, không thể thiếu cái màn thi đua tố khổ và sỉ vả đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, chửi bới mấy thằng nhà giầu biển lận. Có vị còn cao hứng thề rằng khi đảng Xã hội lên nắm quyền, họ sẽ bắt mấy thằng cha trong đảng Dân chủ Thiên chúa giáo và mấy thằng nhà giàu quen thói hút máu, phải rửa đít mấy con lừa của mình cho bõ ghét. Mặc dù có tiếng đồn rì rầm là đối phương sẽ tìm cách phá đám buổi mít – tinh cắm trại hôm nay, nhưng chẳng ai tỏ ra e ngại, sợ sệt. Họ coi các chính khách ở Rome chẳng là cái gì hết. Đám Mafia thì họ sợ thiệt, nhưng không chịu khuất phục. Trong cuộc bầu cử hội đồng địa phương vừa rồi, Mafia cũng hầm hè dữ lắm. Nhưng họ vẫn bỏ phiếu cho đảng Xã hội. “Người anh em” đâu có dám làm hỗn. Nghĩa là, nói cho cùng, chỉ là trò “mềm nắn, rắn buông, rung cây nhát khỉ” vậy thôi. Đến khoảng gần trưa, toàn thể dân cư của hai thị trấn tham gia mít – tinh cắm trại đã tập trung trên khoảng đất trống dưới thung lũng. Đàn bà con gái líu tíu làm thức ăn. Trẻ con thì thả diều. Những con diều gặp gió khe núi bốc lên cao vút, lơ lửng trên không nom như những con diều hâu. Ông L.O.Causi, thượng nghị sĩ cộng sản đang ngồi trầm ngâm thảo bài diễn văn sắp đọc. Đám thanh niên – dưới sự hướng dẫn của Silvio – lăng xăng làm khán đài để lát nữa hắn và các bậc vị vọng trong thị trấn đứng cho bà con hai thị trấn chiêm ngưỡng dung nhan. Silvio cũng được yêu cầu có vài lời giới thiệu ông thượng nghị sĩ cho bà con hay, để mai mốt, bà con dồn phiếu cho. Loay hoay vậy mà lũ nhóc đã quanh quẩn bên mấy mẹ, mấy chị. Dễ hiểu quá, Kiến bò bụng rồi! Đúng lúc đó có tiếng nổ giòn. Silvio Ferra mỉm cười và lấy làm thú vị: “Mấy ông nhóc chưa gì đã đốt pháo”. Hắn quay ra nhìn. Cũng sáng hôm đó, nhưng ngay từ lúc sớm tinh mơ, hai toán mỗi toán mười hai người, xuất phát từ “tổng hành dinh” của Guiliano, cũng đi về phía đèo Portella del Ginestra. Một toán do Pasatempo chỉ huy. Toán kia do Terranova thống lĩnh. Ngoài súng cá nhân, mỗi toán có khẩu liên thanh hạng nặng. Passatempo dẫn quân của mình trấn phía sườn núi Cumeta. Hắn lựa chọn cẩn thận vị trí đặt đại liên. Bốn tên kia được phân tán bố trí xung quanh phòng ngừa bị tấn công bất ngờ. Terranova và các thủ hạ của hắn ở phía bên kia sườn núi Pizzuta. Từ các vị trí cao điểm đó, đại liên của chúng dễ dàng chế ngự đám biểu tình ở phía dưới. Ngoài nhiệm vụ bắn hù đám mít – tinh, Terranova có nhiệm vụ ngăn chặn bọn cảnh vệ, nếu chúng dám phiêu lưu đến để “làm phiền” Terranova và đồng bọn. Từ sườn núi hai phía, đám thủ hạ của Guiliano nhìn dân chúng hai thị trấn San Giuseppe và Piani del Greci lũ lượt kéo nhau qua đèo Portella del Ginestra để vào địa điểm tập trung. Trong đám thủ hạ, một vài đứa cũng có anh em trong đám biểu tình. Nhưng chẳng đứa nào cảm thấy lương tâm áy náy. Bởi vì chỉ thị của Guiliano rất rõ ràng: súng bắn chỉ thiên cho đạn bay “chíu chíu” trên đầu đám biểu tình đặng hù cho họ sợ, chạy toán loạn, giải tán, kéo nhau chạy về nhà. Cấm ngặt gây thương tích cho ai. Guiliano cũng định đi đến địa điểm Portella và đích thân chỉ huy. Nhưng bảy ngày trước đó, bất ngờ, Pisciotta bị ho thổ huyết. Trong khi đang lên núi để tới “Bộ tư lệnh”, Pisciotta ói ra máu, nằm vật xuống ngay chỗ dốc, nên y lăn lông lốc trở xuống. Đi phía sau, Guiliano tưởng Pisciotta giỡn chơi. Nhưng khi nhìn thấy mặt mày và áo sơ – mi của Pisciotta bê bết máu, Guiliano tưởng Pisciotta bị bắn sẻ, nhưng vì hắn không để ý nên không nghe thấy tiếng nổ. Guiliano vội ẵm Piciotta chạy ngược trở lên. Nhưng, lúc đó Pisciotta còn tỉnh. Y thều thào nói với Guiliano: “Cứ để tao nằm xuống, cứ để tao nằm xuống!”. Lúc đó Guiliano mới biết là y không phải bị trúng đạn. Vì giọng nói đó không phải của người bị trúng thương hay bị gãy bể một bộ phận nào trọng yếu nào. Pisciotta được đặt lên cáng do mười bộ hạ hộ tống đến một bác sĩ ở Monreal. Ông bác sĩ này thường trị thương cho người của Guiliano. Lão bác sĩ là người biết kín mồm kín miệng và được Guiliano tin cậy. Nhưng chính Guiliano lại không biết là lão cũng phải báo cáo bệnh tình, thương tích của đám người trong băng Guiliano đến chữa trị cho Croce Male. Một phần vì sợ Ông Trùm, một phần vì lão cũng ngấp nghé cái ghế giám đốc bệnh viện Palermo. Lão biết, nếu không có bàn tay phù thủy vạn năng của Ông Trùm thì trọn đời, cái ghế giám đốc ấy vẫn chỉ là giấc mơ hão huyền đối với lão. Lão bác sĩ đưa Pisciotta vào bệnh viện của thị trấn Moreal để tiến hành các thủ nghiệm. Lão hỏi Guiliano có ở lại chờ kết quả không? – Ngày mai tôi sẽ trở lại. Hắn chỉ thị cho bốn thuộc hạ ở lại canh gác Pisciotta. Hắn và những tên khác quay về ẩn náu tại nhà một thuộc hạ khác. Ngày hôm sau, lão bác sĩ nói Pisciotta cần thứ thuốc gọi là Streptomycin mà chỉ bên Mỹ mới có. Guiliano cũng đã nghĩ đến điều này. Hắn đã nhờ ông già nó và Stefan Andolini viết thư cho Ông Trùm Corleone bên Mỹ gửi qua. Hắn cho bác sĩ biết điều đó và hỏi xem Pisciotta có thể xuất viện được không?
Google photo
– Được, bác sĩ đáp. – Có điều anh ta phải nằm tĩnh dưỡng nhiều tuần lễ. Thế là Guiliano phải ở lại Monreal săn sóc Pisciotta. Trong khi đó xảy vụ Portella. Khi Silvio quay nhìn về phía tiếng nổ, thì hắn ghi nhận cùng một lúc ba sự kiện: Một, một cháu bé giơ tay lên cao, chới với kinh ngạc. Sợi dây diều vuột khỏi bàn tay máu chảy ròng ròng. Con diều đứt dây rơi xuống sườn núi. Hai, tiếng nổ không phải là tiếng pháo và không xuất phát từ trong đám đông mà là tiếng súng đại liên từ phía sườn núi vọng lại. Ba, con ngựa ô máu chảy ròng ròng, bứt dây cương chạy nháo nhào như điên giữa đám đông kinh hoàng. Silvio chạy len lỏi qua đám đông tìm vợ con. Từ sườn núi Pizzuta, qua ống nhòm, Terranova quan sát những diễn biến trên khoảng đất trống dưới thung lũng phía dưới. Lúc đầu hắn thấy thiên hạ nằm rạp xuống đất vì sợ. Sau đó, hắn thấy vài người giãy giụa như người bị thương giãy chết, rồi nằm xuội lơ. Hắn ra lệnh ngừng bắn. Nhưng phía sườn núi bên kia, chỗ Pasatempo trấn giữ, súng vẫn nổ giòn. Terranova nghĩ có lẽ Pasatempo không biết là mình đã hạ quá thấp giác độ nòng súng nên đạn đã trúng đám đông. Ít phút sau, sườn núi đó cũng im tiếng súng. Sự im lặng chết chóc đè nặng trên cả vùng núi và thung lũng. Rồi, bỗng chốc, tiếng la hét kinh hoàng, đau đớn, tiếng khóc lóc thảm thiết vang lên trên khoảng đất trống trong thung lũng. Terranova ra lệnh cho thủ hạ lần theo sườn núi! Terranova vò đầu bứt tai không biết rồi sẽ ăn nói ra sao với Guiliano. Hắn sợ rằng Guiliano sẽ xử tử hắn và các thủ hạ đã tham gia thực hiện. Tuy vậy, hắn cũng biết chắc chắn Guiliano rất công minh, biết lắng nghe và phân biệt phải, quấy. Hắn và đám thủ hạ thành thật thề chúng đã không hạ thấp nòng súng bắn vào đám đông. Hắn tự hỏi không hiểu Passatempo sẽ ăn nói ra sao. Súng ngừng bắn một lúc lâu Silvio Ferra mới tìm thấy vợ con. Gia đình hắn không có ai bị thương. Nghe súng nổ, mọi người nằm úp mặt xuống đất, nay lục tục nhỏm dậy. Silvio bảo mọi người tiếp tục nằm xuống. Cho đến khi thấy một người cưỡi ngựa chạy ra phía đèo – xem chừng đi báo cho cảnh vệ – và súng không còn nổ nữa, Silvio hiểu là cuộc khủng bố đã chấm dứt. Hắn đứng dậy. Từ trên khoảng đất trống trong thung lũng, hàng ngàn người, đàn ông, đàn bà, trẻ con hốt hoảng, sợ hãi cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng về phía đèo. Lúc đến thì cờ giong trống giục oai hùng là thế, bây giờ, “chém vè” hỗn độn, thảm hại là thế. Tiếng gào thét, gọi nhau ơi ới. Tiếng khóc như ri của con nít gọi cha mẹ thất thanh, thảm thiết, nên khoảng đất trống chỉ còn lại rải rác những người chết và bị thương cùng với gia đình họ lăn lộn, khóc lóc gào thét, rên la. Ngọn cờ đỏ oai phong sáng nay giờ đây nằm chỏng chơ, nhàu nát bừa bộn trên mặt đất lẫn lộn với thức ăn tung tóe khắp nơi. Mặt trời rực rỡ chói chang. Những vũng máu đỏ tươi. Đám cỏ xanh nhàu nát vì bị giày đạp! Nồi niêu xoong chảo lăn lóc bừa bãi. Những bếp lửa, củi cháy dở dang còn nghi ngút khói. Silvio để gia đình đứng đó và đến giúp những người bị thương. Hắn chặn mấy người đang hốt hoảng bỏ chạy, nhờ họ làm cáng tải người bị thương. Hắn kinh hoàng khi thấy trong số người chết và bị thương có cả mấy em nhỏ. Hắn không cầm được nước mắt. Bây giờ hắn mới hiểu rằng những ông thầy của hắn, những kẻ tin vào biện pháp đấu tranh hòa bình, đấu tranh bạo động cũng có thể cải tạo được xã hội, tất cả đều sai lầm, không tưởng. Ở Sicily, chỉ có những thằng khùng mới nghĩ rằng lá phiếu có thể làm Sicily thay đổi. Ở xứ này, thằng nào giết người giỏi, thằng đó có quyền. Silvio nghiến chặt hai hàm răng, trân cứng mình để nén cảm xúc. Trước mắt, hắn chỉ thấy lửa hận thù ngút trời và lấp loáng ánh thép của vũ khí. Lỗ tai hắn lùng bùng tiếng súng, tiếng bom và những tiếng thét man rợ: “Giết, giết, giết”. Chính giáo sư Hector Adonis đem tin dữ đến cho Guiliano, lúc đó đang ngồi bên giường bệnh của Pisciotta. Lập tức, Guiliano trở về “Bộ tư lệnh”, để Pisciotta trơ trọi, không ai canh gác. Về đến nơi, lập tức hắn gọi Terranova và Passatempo tới: – Trước khi nghe chúng bay nói, chúng bay hãy nghe tao cảnh cáo trước. Dù mất bao nhiêu thời gian, tốn báo nhiêu công để tìm ra kẻ có trách nhiệm trong vụ này, tao không ngần ngại. Phải tìm cho ra. Sẽ tìm ra. Càng lâu thì sự trừng phạt càng nặng. Nếu là do sai lầm kỹ thuật, ngoài ý muốn, chúng bay cũng phải thú thật, tao sẽ tha chết cho! Chưa bao giờ Terranova và Passatempo thấy Guiliano giận dữ như lúc này. Chúng đứng ngay đơ không dám nhúc nhích khi bị nó tra hỏi. Chúng thề là đã bắn bổng lên đầu đám đông. Khi thấy có người bị thương, chúng đã ngưng bắn. Guiliano gạn hỏi từng thủ hạ tham gia cuộc hù dọa ấy. Nó phân tích từng chi tiết. Terranova bắn năm phút, rồi ngưng. Passatempo bắn mười phút. Tất cả đám thủ hạ đều thề rằng chúng đã bắn bổng lên trên đầu đám đông. Không một đứa nào nhận là có thể có sai lầm nào hoặc đã hạ nòng súng xuống. Cho chúng ra ngoài, Guiliano ngồi một mình thừ ra. Lần đầu tiên, từ ngày sống ngoài vòng pháp luật, chưa bao giờ Guiliano cảm thấy nhục nhã ê chề như bây giờ. Không tìm được một lý do để có thể biện hộ, bào chữa. Suốt bốn năm qua, nó thường tự hào không bao giờ làm hại dân nghèo. Bây giờ niềm tự hào ấy tiêu tan. Nó đã tàn sát dân nghèo vô tội. Tự đáy lòng, nó cảm thấy mình không còn là vị anh hùng nữa. Nghĩ tới nghĩ lui, mọi giả thuyết đều không đứng vững, ngoại trừ đám thuộc hạ của nó chỉ quen sử dụng súng săn lupara. Nay sử dụng đại liên nên điều chỉnh giác độ sai. Nhất là từ trên cao bắn xuống. Nó không tin Terranova và Passatempo dám chơi qua mặt nó. Nhưng cũng rất có thể một trong hai thằng bị mua chuộc để gây đổ máu. Nó cũng nghe phong phanh một nguồn tin có cuộc phục kích của một phe nhóm khác. Cũng may trước khi ra quân nó đã căn dặn kỹ càng như vậy, chớ nếu không, dám có tắm máu. Guiliano ngẫm nghĩ: ngòai mục đích khủng bố, cuộc tàn sát này còn nhằm mục đích làm ô danh nó trước mặt dân nghèo. Nếu vậy thì đầu óc nào có thể nghĩ ra ngón đòn hiểm độc này? Không thể là ai khác ngoài cái đầu nham hiểm, độc ác và quỉ quyệt của thằng già lựu đạn Croce Malo!
Hồi cuối năm 1949, tôi tản cư ra chợ Rạch Giá, ăn nhờ ở đậu tại xóm Sân banh, sát mé biển. Ở tỉnh nhỏ, thật khó kiếm một chân giáo viên tư thục hoặc thơ ký hãng buôn, vì vậy suốt ba bốn tháng trường, tôi cứ nằm nhà mà tập tành việc văn chương, gởi những bài thơ thuộc loại “đồng quê” cho hầu hết các nhựt báo, tuần báo ở Sài Gòn với hy vọng sẽ được các nhân viên tòa soạn lưu ý nâng đỡ. Đôi ba lần tên tôi được nêu trong mục Cánh nhạn bốn phương với kiểu trả lời: “Bạn Hoài Hương: nhận được tác phẩm của bạn. Rất tiếc vì nội dung cưỡng ép, kỹ thuật hơi vụng… nên chúng tôi hy vọng vào những sáng tác về sau. Chúc bạn cố gắng”. Có bạn phụ trách mục Cánh Nhạn, Thư Tín vô tình hay cố ý gọi tôi là cô Hoài Hương và (điều này chắc họ vô tình) đã loan tin nhận được một thiên tiểu thuyết của tôi với nhan đề quá lạ vì chưa bao giờ tôi gởi đến báo ấy thiên tiểu thuyết nào cả. Thế rồi “hết cơn bĩ cực tới hồi thới lai”, đến bài thơ thứ mười lăm, tôi hân hạnh được giới thiệu trong mục Vườn Hoa. Họ trích đăng vài câu, kèm theo đôi hàng bình luận, liệt nó vào xu hướng “tiến bộ, lành mạnh” – những danh từ quá khái quát mà tôi chưa hiểu rõ nghĩa. Tháng sau, vài bài thơ của tôi được đăng trọn, đóng khung, bên góc lại thêm bức tranh con trâu ăn cỏ, cô gái gặt lúa. Trong làng thơ, tôi tự nhận rằng mình đã bắt đầu có chỗ ngồi. Những bài ấy tôi cắt ra, dán kỹ vào quyển Nhựt ký. Đêm đêm, tôi thao thức, sáng tác thật nhiều, hy vọng đến năm sau sẽ hoàn thành một tập thơ khá dày chứa đựng nhiều đề tài độc đáo, phong phú. Vài người bàn cận đã quở trách:
– Cỡ này sao chú hút thuốc vàng móng tay, đầu tóc rối nuồi, quần áo ít giặt. Coi chừng bịnh đa. Xóm Biển này nhiều âm binh khuấy rối.
Tôi khoe khoang công trình làm thơ của mình, trình bày những kết quả cụ thể đăng trên báo. Ai nấy tỏ thái độ nghi ngờ. Hai chữ Hoài Hương có gì bảo đảm đó là bút hiệu của chính tôi. Tôi quyết trả lời cụ thể cho họ biết. Tuần sau, bài thơ nhan đề “Một trăm thiếu một” in rành rành trên mặt báo “Tiến” trước khi vào bài có hàng chữ xiên: Gởi về các bạn Xóm Biển và dưới bút hiệu Hoài Hương còn ghi chú thêm: 137, lô A Xóm Biển, Châu Thành, Rạch Giá, địa chỉ căn nhà mà tôi đang ăn đùm ở đậu.
Nhờ địa chỉ ấy, người trong xóm nể trọng ra mặt, gọi tôi là thầy Hai thi sĩ. Họ thúc hối tôi gởi thơ đăng báo để họ hưởng lây chút danh dự. Hỡi ôi! Dường như nguồn cảm hứng cạn dần, loại thơ “đồng quê” của tôi quanh đi quẩn lại chỉ nói về “mồ hôi thấm luống cày”, “máu thắm chan hòa mạch đất”, “lúa xanh vươn lên” rồi “lúa vàng vàng, lúa chín giữa ngày mùa thơm ngát”. Hoặc cô lái đò hờn duyên tủi phận, ông lão buông câu bên gốc dừa, dưới ánh trăng thanh. Sáng hôm nọ, tôi viết liên tiếp trên hai mươi câu thơ rồi xé bỏ, lơ đãng nhìn ra khung cửa. Trong ngõ hẹp này, ai hay là cả một bầu trời thơ mộng! Vài ông chủ nhà thiếu công ăn việc làm đang rủ nhau đánh đáo lạc, người thua cuộc phải cõng kẻ thắng trên lưng. Vài người tuổi hơn bốn mươi, có cháu nội, cháu ngoại mà vẫn đam mê vùi đầu vào trò chơi trẻ con ấy một cách hồn nhiên. Bên cạnh họ, trong khi chờ đợi mẹ đi chợ về, lũ trẻ xúm nhau bên đống rác, rình rập bắt từng con ruồi như hồi nào trước khi tản cư, chúng bắt chuồn chuồn, bươm bướm ở miền quê. Vài đứa tinh nghịch hơn, tìm dây nhợ, tìm giấy bìa để tẩn liệm rồi cử hành đám táng của một con chuột sình dưới đường mương. Có tiếng nói thơ Vân Tiên vang ra não nuột từ căn nhà của lão Tư Hiếm. Tôi qua đó. Lão gật đầu chào trước:
– À! Cỡ nào rảnh, thầy dạy cho tôi cách thức làm thi phú.
Tôi đáp:
– Dạ, bác cứ lựa những chữ có hơi lên hơi xuống giống như câu hát đưa em, như thơ Vân Tiên là được.
– Nhưng còn vài điệu ngâm khác ngộ hơn. Ngày xưa, tôi đờn cò, vỗ trống cơm cho họ lên xác ông, xác bà. Lâu lâu nghe vài câu tứ cú, bát cú gì đó. Vui lắm. Hồi đó tôi làm ăn khá, nhà rộng, bàn thờ to lắm, đâu như bây giờ.
Giữa nhà lão, cái thùng thông lơ lửng, mí trên đóng đinh sát vào cây đòn dông sần sùi. Mái nhà quá thấp, chỉ cần đứng trên bộ ván để vói tay lên cắm nhang vào cái lon sữa bò đã sét vì mưa tạt. Tấm giấy hồng đơn dán trên trang có bốn chữ Thái Thượng Lão Quân, nhưng nét mực đã nhòa rồi.
Lão nói tiếp:
– Hồi đó, ở nhà tôi thờ hơn mười nơi: Thái Thượng Lão Quân, Ông Quan Đế, Bà Cữu, Thổ Chủ, Tài Thần, Ông Táo… chưa nói đến ông bà và các bài vị khác của thân chủ. Bây giờ, giảm bớt chỉ còn trang thờ trên kia. Điều quan trọng là mình nên tôn kính; lư nhang tuy thô kệch nhưng mình cần giữ đúng nghĩa: trong cái lon sữa bò, tôi đổ gạo lức để cắm chân nhang cho chắc. Gạo là nền móng…
Nói xong, lão vói tay kéo từ nẹp vách đem ra một cái ống điếu dài, có u có nần – kiểu ống điếu bằng cây ớt hiểm rừng, dài cỡ bảy tấc tây, bóng láng vì xài quá lâu năm. Lúc châm thuốc, lão để một đầu ống điếu chỏi sát mặt ván, lưng lão thẳng, đầu hơi cúi xuống, giống như người hút thuốc lào. Chòm râu bạc, mái tóc bạc, hàng chân mày bạc lẫn lộn khuất lấp trong màn khói thuốc mù mịt. Dáng điệu lão giống như một nho sĩ ngồi dưới cội tùng, trong bức tranh cổ Trung Hoa, nếu lão còn giữ cái búi tóc như hồi bốn tháng trước. Và nếu tấm vách lá đừng quá rách loang lổ như từng cánh cửa sổ khép hờ, để lộ bối cảnh ngoài kia: không là núi nhưng là biển – mặt biển xanh như chàm lấp loáng nắng, Hòn Tre nổi lên như con rùa rút cổ, đôi ba chiếc tàu sắt trắng bạc như vôi, treo cờ tam sắc.
– Mau đi! Vợ tôi về rồi kia! Khòm lưng xuống cho tôi cõng! Anh còn thiếu tôi hai cõng. – Một người nói ngoài sân.
Đối phương của anh ta đáp nhanh:
– Tôi khòm lưng đây. Hai cõng kia, anh cho tôi đình lại. Coi như huề. Hồi chiều hôm qua, anh thua tôi liên tiếp hai bàn cờ tướng, nhớ không?
– Để đó! Đáo lạc tính theo đáo lạc. Cờ tính theo cờ. Tôi đánh cờ tướng quá dở. Nếu gặp cờ gánh hoặc cờ chó, tôi hạ anh sát ván. Tụi mình còn ở không ăn chơi nhiều ngày mà. Mai hãy tính.
Hai người đàn ông giải tán cuộc chơi, chạy ngang cửa. Lão hút điếu thuốc thứ nhì, phun khói rồi thở dài:
– Ngao ngán quá!
Tôi hỏi:
– Ngao ngán nỗi gì? Vài năm nữa, thế nào cũng hết giặc. Nhưng tại sao họ giỡn hoài như vậy hả bác! Rồi họ lấy gì làm tiền mà mua gạo hàng bữa? Hăng hái lên mới được chớ!
– Ở tỉnh nhỏ khó kiếm công việc làm. Lóng trước họ vác lúa cho nhà máy Tư Đài. Bây giờ cặp rằng bảo họ tạm nghỉ, chừng có việc làm hãy hay. Họ mới bắt đầu chơi giỡn từ nửa tháng nay, cam phần giữ nhà để cho vợ đi mua bán tần tảo. Hồi mới nghỉ việc, họ siêng năng bươn bả, tối ngày trông mong kiếm sở làm. Tối về, họ khuyên vợ con nên tiện tặn rút bớt việc chi tiêu.
“Nhưng thầy ơi! Có giỏi cắn hột muối ra làm hai làm ba, hoặc làm tư thì lụi hụi hai ngày hoặc bốn ngày cũng ăn hết hột muối. Tiết kiệm nỗi gì! Rầy rà khuyên răn vợ con làm gì? Điều quan trọng là làm sao tạo thêm năm mười hột muối… Tôi thấy vợ con họ bây giờ giống như mấy bà hồi xưa thắt lưng buộc bụng, gánh gạo đường xa để nuôi mấy ‘ông đồ’ cho dài lưng tốn vải. Thôi! Đèn nhà ai nấy sáng. Thầy làm thơ đăng báo, còn có ngày bay nhảy xa xuôi tới Sài Gòn, Chợ Lớn. Phần tôi thì nói thơ Vân Tiên chờ ngày về xứ như họ. Chán ngán quá!”
– Xin lỗi, quê quán của bác ở đâu?
Ngần ngại lắm tôi mới dám hở môi hỏi ông Tư Hiếm một câu mất lịch sự như vậy. Quân đội viễn chinh Pháp còn đồn trú khá nhiều tại chợ Rạch Giá. Nhiều người từ thôn quê tản cư ra chợ, họ giấu giếm tên tuổi, họ hàng và quê quán vì lý do này hoặc lý do khác.
Ông Tư Hiếm mỉm cười:
– Tôi xin giấy “lách xê” rồi. Tôi ở làng Mỹ Lâm.
– Gần núi Ba Thê?
– Sao thầy biết?
– Tôi thấy trên bản đồ. Hồi xưa đi dạo Hà Tiên, tôi có qua ngang đó. Xứ coi bộ buồn quá. Bùn lầy nê địa…
– Nhưng là xứ lâu đời! Nhà tôi ở xóm Mốp Giăng. Cây mốp mọc giăng ngang xanh um, tứ thời mát mẻ, đào xuống đất là gặp mạch nước ngọt. Hàng cây mốp thiên niên đó chính là bờ biển ngày xưa. Bây giờ cày ruộng lâu lâu người ta gặp tượng Phật bằng đá, hột chuỗi hổ phách, chén đá, lưỡi tầm sét hoặc chiếc ghe biển có chèo, cột buồm, đặc biệt là dây đỏi ghe, sợi lớn hơn cườm tay, mục như bùn nhưng còn thấy từng thớ gai xe lại… Người ta nói hồi ngàn năm trước, xóm tôi vui như chợ Rạch Giá bây giờ: cũng ở sát mé biển, tàu bè tứ xứ ra vào mua bán tấp nập. Rồi gặp thiên tai đại họa gì đó, bãi biển bồi lan ra xa, năm này qua năm khác hơn chục cây số.
Tôi phụ họa vào để kéo dài câu chuyện, chờ buổi cơm trưa:
– Đại khái, xóm Mốp Giăng của bác văn minh hơn chợ Rạch Giá ngày nay. Nó ở sát mé biển. Ngặt vì năm tháng trôi qua…
Ông Tư Hiếm đắc ý, vói lấy ống điếu kê xuống ván nhồi thuốc rồi trở bộ xếp bằng, đánh diêm quẹt:
– Bãi biển hóa ruộng dâu… Chừng vài trăm năm nữa, đất bồi lấp cái eo biển sau lưng mình, nối liền đường bộ ra tới ngoài Hòn Tre kia.
Thật ra, tôi ít tin tưởng vào những dự tưởng như vậy. Hồi cuối thế kỷ thứ XIX, nhiều thuyền trưởng Pháp đã tiên đoán thế nào rồi đây mũi Cà Mau cũng nối liền tới Côn Nôn, Tân Gia Ba, căn cứ vào số lượng đất phù sa do sông Cửu Long tuôn ra biển. Nhưng đến nay, chưa xảy ra điều gì quan trọng về mặt địa lý.
Tôi đáp:
– Cách đây tám mươi năm, ông Nguyễn Trung Trực đổ bộ ngay chỗ xóm mình để đánh đồn Kiên Giang. Từ đó tới giờ, dường như đất chưa bồi ra thêm được mấy thước. Biển vẫn còn là biển, thưa bác.
Lão Tư Hiếm cười khì:
– Nhưng đất vẫn bồi. Xứ mình như vậy đó. Nếu trời đất không bồi thì mình bồi để mà sống. Thầy chưa hay rằng…
Lão tạm ngưng câu nói. Tôi nhìn dáo dác, e rằng lão muốn ám chỉ chuyện “quốc sự”, “vá trời lấp biển” kháng Pháp. Nhưng lão gật gù:
– Xóm Biển của mình đây hồi năm ngoái còn là bãi bùn; cây bần, cây vẹt mọc um tùm. Tuy sát bên chợ nhưng ban đêm vẫn nghe tiếng âm binh kêu rú, Mới hôm qua, một cái xác chết trôi tấp vô, thối om rã xương mà ông Cò chẳng thèm hay biết.
Bỗng nhiên, phía trước nhà tôi, dường như thấp thoáng bóng người trạm đưa thư. Tôi phập phồng, liên tưởng đến số tiền nhuận bút của nhà báo từ Sài Gòn gởi xuống, theo địa chỉ.
Tôi đứng dậy nói vói lại:
– Có ai kiếm tôi kia… À, chắc ông Cò biết chuyện thây ma chết trôi đó chớ, nhưng ổng bỏ qua. Ở bót mé sông, hằng đêm Tây giết người rồi thả xuống.
Lão Tư Hiếm giựt mình:
– Điều đó, tôi nghe dân chài lưới nói lại chớ tôi nào dám đề quyết, vu oan cho Tây… Thôi, thầy về ăn cơm hả? Đừng nhắc tới nhắc lui chuyện đó cho người khác nghe, tội nghiệp tôi. Tôi đâu dám kích bác ai… Nói mà nghe vậy thôi.
Ngồi trong quán cà phê tôi liếc nhìn chiếc đồng hồ: 11 giờ thiếu 25, rồi mở bốp ra, đem bức thơ đọc lại, vừa vui sướng, vừa hồi hộp:
Kính gởi thi sĩ Hoài Hương,
Hân hạnh được thưởng thức tài nghệ của ông qua những vần thơ điêu luyện trên tuần báo X. Thấy địa chỉ của ông đăng ở cuối bài thơ Một trăm thiếu một, tôi vội vã viết thơ này, hy vọng nó sẽ đến tận tay ông. Mong ông nhín chút thời giờ đến biệt xá của tôi, số 23 đường Mé Sông vào khoảng 11 giờ sáng, trong tuần này càng sớm càng hay vì vợ chồng tôi đang có việc cần ông hợp tác về mặt văn nghệ. Xin ông chớ từ chối.
Ông Bà Henri Nguyễn văn Nhan.
Kim đồng hồ chỉ 11 giờ thiếu 15. Tôi nghĩ thầm: “Mình lên đường là vừa”. Từ quán cà phê đến nhà ông Henri Nguyễn văn Nhan, khoảng đường dài chừng hơn năm trăm thước. Đến đấy quá trễ, e ông bà hiểu lầm cho tôi lập dị hoặc thiếu đứng đắn. Đến quá sớm, biết đâu họ đánh giá tôi quá thấp. Tôi rảo bước, con đường quá quen thuộc, hơn nữa hồi hôm qua tôi đã tìm biết rõ số 23 đường Mé Sông này một lần rồi. Một ngôi biệt thự, xung quanh có sân rộng. Điều đáng chú ý: cách đó chừng bốn căn nhà là tới đồn Pháp, đa số gồm lính Lê dương, canh gác cẩn thận. Ít ai dám đi ngang qua cái đồn Lê dương nổi tiếng hung dữ ấy. Thời buổi loạn lạc, sống chết bất thường. Lính Lê dương đi tới lui, tốp ra chợ, tốp về đồn, mặt mày hầm hừ đỏ khé vì nắng, vì rượu. Tôi yên tâm hơn bao giờ hết, với tấm giấy “lách xê” trong túi và nhứt là với bức thơ của ông bà Henri Nhan, một tài liệu cho phép tôi bén mảng đến gần đồn vì lý do chánh đáng, theo lời mời của một nhân vật tăm tiếng có quốc tịch Pháp.
Tiên đoán những câu hỏi sắp tới của ông bà Henri Nhan, tôi chuẩn bị sẵn những câu trả lời. “Hợp tác về mặt văn nghệ”. Mơ hồ quá, biết đâu ông bà muốn bỏ vốn ra để xuất bản thơ. Hoặc cùng hợp soạn một tuyển tập.
Nhìn kỹ tấm bảng ghi số 23 trước biệt thự, tôi mạnh dạn bấm chuông. Chị ở trong nhà chạy ra:
– Ông kiếm ai?
– Tôi muốn gặp mặt ông bà.
– Ông đi vắng rồi.
– Chị cứ nói có khách đến, chuyện cần.
– Dạ tôi không dám, hay là ông đợi lát nữa.
Tôi nhanh trí, đưa bức thơ hôm nọ và luôn cả phong bì cho chị ở:
– Chị mang vào cho bà. Tôi đứng chờ ngoài này.
Chị ở ngạc nhiên, vừa đi vừa liếc phong thơ đã xé. Chập sau, chị kéo nhẹ cánh cửa sắt:
– Mời ông vô.
Qua một cái sân khá rộng trải đá mịn, tôi đứng ngượng ngùng trước bực tam cấp. Phòng khách vắng hoe.
– Mời ông ngồi. Bà tôi lát nữa ra bây giờ.
Tiếng dép kéo nghe lẹp xẹp, ngày càng gần. Một thiếu phụ nhanh nhẹn khoát màn:
– À! Ông là Hoài Hương.
Tôi đứng dậy cúi đầu chào:
– Thưa phải…
– Ông cứ ngồi.
Ngồi xong, tôi cảm thấy lúng túng lạ thường vì bà chủ nhà vẫn đứng dựa lưng vào vách, bên khung cửa sổ. Tuổi bà trạc ba mươi, vóc dáng cao ráo, hai bàn tay ngón thuôn, móng thoa màu hồng dịu; cườm tay no tròn lộ ra thảnh thơi trong tay áo lụa quá rộng phủ xuống vừa khỏi cùi chỏ. Bà day lại, mỉm cười để lộ hai núm đồng tiền và một cái răng vàng:
– Nhà tôi vừa đi khỏi, chừng nửa giờ nữa mới về. Thôi, chắc ổng mừng lắm, ông đến đây thiệt hợp thời.
Chị ở bưng ra một tách nước trà hơi nguội. Bà nói tiếp:
– Ông cứ uống tự nhiên một mình. Chẳng mấy khi… thi sĩ đến nhà. Một thi sĩ hữu danh.
Tôi cúi mặt, đưa tay vói tách nước.
– À, này ông…
Giựt mình, tôi buông tay xuống. Cũng may tôi chưa nâng tách nước. Bằng không chắc chắn nó sẽ rơi xuống nền gạch bông quá bóng láng.
– Ông uống tự nhiên đi. Tôi đứng đây, luôn thể… chờ nhà tôi về. Tôi muốn nói điều gì bây giờ. À… quê quán của ông ở quận An Biên, nếu tôi không lầm.
Photo edit by Sơn râu
Tôi trố mắt ngạc nhiên, phục thầm tài nhận xét của bà Henri:
– Dạ, sao bà biết? Hay là quê của bà…
Bà vội cướp lời tôi:
– Xin lỗi để tôi nói trước. Qua lời thơ của ông, tôi chú ý câu: “Mười con sông nhỏ song song, Chảy về một biển mà không giao đầu”, tôi quả quyết ông là người Miệt Thứ, nơi có mười con rạch nhỏ, từ rạch Thứ Nhứt đến rạch Thứ Mười, giáp rừng Cán Gáo. Với lại “Lòng đất sục sôi, hoa trắng soi mình trong màu đỏ”! Mới nghe qua thì ghê rợn xương máu, nhắc nhở chiến tranh.
Tôi sượng sùng, toan thanh minh trường hợp “tình ngay lý gian” ấy. Nhưng bà Henri lại khéo biện hộ giùm tôi:
– Thật khiêm tốn, hiền lành, cái miền quê An Biên! Ông tả đúng quá. Đất xốp, mưa thấm xuống, cứ đào là gặp mạch nước chảy tuôn. Thứ nước chát, đỏ bầm vì nhuộm màu vỏ tràm, dây choại, dây dớn; bông trắng, màu bông cây tràm.
Bên đồn, lính Lê dương bỗng rộ lên cười hát ỏm tỏi… Tôi liếc qua cửa sổ bên trái: hai họng súng “ô buýt” vừa ló ra cách nhà chừng hai chục thước.
Bà chép miệng:
– Chừng này sao nhà tôi chưa về? Ông quan tư Ca Rê là bạn của nhà tôi. Họ đang uống rượu bên đồn. Ông ráng chờ vài phút. Tới giờ lính ăn cơm rồi. Ông Ca Rê học giỏi lắm, xuất thân trường Thuộc địa, rành về tâm lý các dân tộc Đông Phương, nhứt là Ấn Độ. Ổng thích tìm bạn Việt Nam… để điều tra thêm… Vì vậy, nhà tôi cần gặp một thi sĩ Việt Nam để tiếp tay.
Nỗi lo âu hiện lên. Tôi ngồi im, cố gắng che giấu sự thất vọng. Tâm lý các dân tộc Đông Phương, Ấn Độ, Việt Nam? Những môn mà tôi chưa từng chú ý. Ông bà Henri Nhan quả thật đã gõ lầm cửa khi biên thơ cho tôi. Chẳng khác nào ông bà xúi biểu một ngư ông ở đồng bằng đi săn cọp tận đỉnh Hy Mã Lạp Sơn! Những bức hoành phi cẩn xa cừ, cái lục bình cao hơn tám tấc ở bàn giữa, cái ghế bành lót nệm màu xanh dương, đôi chim hoàng yến treo ngoài cửa cái, không khí mát mẻ trong phòng khách, pho tượng Phật Quan Âm trên bàn thờ riêng biệt, tất cả như mai mỉa sự có mặt của tôi tại đây. Tôi toan đứng dậy, cáo từ bà chủ nhà để trở về gian nhà Xóm Biển rồi nằm trên bộ vạc tre, kê đầu lên chiếc gối bằng cây mốp, tìm nàng thơ đang đi lởn vởn bên cạnh những em bé bắt ruồi, hoặc lão Tư Hiếm với chiếc ống điếu cổ lỗ.
Bà chủ nhà nói nhanh:
– Ý mà quên! Nãy giờ tôi quên mời ông hút thuốc. Thuốc điếu, ống quẹt… ở trong cái hộp cây sơn mài trước mặt ông đó. Ông cứ tự tiện mở ra.
– Dạ tôi… không ghiền thuốc.
– Không ghiền thuốc, làm sao cảm hứng được? Kìa! Nhà tôi về.
Rồi bà đổi giọng, day ra ngoài cửa sổ:
– Ông có mượn giùm tôi mấy cuốn Paris Match đó hả? Nãy giờ, thi sĩ tới chờ đợi ông rã ruột.
Ông Henri Nguyễn văn Nhan bước nhanh vào:
– A! Chào thi sĩ.
Tuổi ông trạc năm mươi, da mặt hồng hào. Tuy mặc bộ quần áo kaki vàng nhưng chân ông mang dép săn-đan với đôi vớ trắng.
Ông bắt tay tôi rồi trao xấp báo cho bà vợ trẻ:
– Bà à, ông Còm-măn-đăn Ca Rê hứa giải quyết gấp cái “áp phe” điền đất của mình ở Mỹ Lâm. Báo thì tôi mượn về mấy tờ đây cho bà.
– Ậy, lần này tôi nói gắt với ổng. Ổng hứa sẽ thi hành gấp trong tuần này, với điều kiện là tôi giúp ổng tài liệu… Chẳng biết người mình kêu bằng cái gì… cái monographie vùng phụ cận núi Ba Thê, từ khi người Pháp mới sang và những phong tục hồi xưa còn sót lại trong dân chúng.
Day qua tôi, ông tiếp:
– Ông giúp tôi phần ấy được chớ! Viết bằng chữ Việt Nam để tôi căn cứ vào đó dịch ra chữ Pháp. Văn chương của ông được đăng báo. Theo ý kiến của nhà tôi thì ông thuộc vào hàng trên mức trung bình. Nhà cửa, quê quán ông ở đâu? Học lực tới lớp nào? Từ mấy năm nay ông đã làm gì?
Cơn giận lại nổi lên ngấm ngầm. Tay tôi hơi run run. Tôi quên rằng thời chiến tranh mỗi chủ nhân cần điều tra lý lịch của bất cứ người làm công nào, nhứt là trường hợp ngôi nhà của chủ lại ở sát đồn bót. Tôi đứng dậy, nói lập vập:
– Thưa ông, tôi chưa từng soạn thảo những quyển địa phương chí lần nào cả. Viết tổng quát về lịch sử, địa lý, thói ăn nết ở, nguồn lợi kinh tế của một vùng… tưởng việc ấy dành riêng cho những nhà chuyên môn, học cao hơn. Rất tiếc vì tài mọn, tôi khó làm vừa lòng được. Xin…
Mấy tiếng “kiếu từ ông” chưa thốt ra khỏi miệng tôi là ông Henri Nhan đã chận ngay:
– Đừng ngại, chuyện cần gấp lắm. Tôi sẽ chỉ biểu rành mạch đầu đuôi gốc ngọn tất cả công việc; ông cứ noi theo lời tôi mà thi hành. Tôi đã trình bày với ông quan tư Ca Rê: Lịch sử vùng Mỹ Lâm tức là lịch sử của tôi! Tôi ra công khai phá vùng ấy hơn ba chục năm trường, lập đình chùa, làng xóm. Tôi hiểu từng cọng cỏ. Tôi đã gặp nhiều di tích xưa, trước khi người Pháp đến đào xới kho tàng Óc Eo ở núi Ba Thê mà họ cho rằng quan trọng, đánh dấu sự gặp gỡ với Tây Phương từ đời Thượng cổ ở Đông Nam Á. Chung qui công việc mà ông thi sĩ sắp làm chỉ là viết tiểu sử của tôi, theo kiểu tiểu sử các bực danh nhân, công thần trong quốc sử.
Tôi giữ thái độ im lặng mặc dầu tôi biết lão Tư Hiếm có thể giúp tôi nhiều tài liệu về phần đất ở Mỹ Lâm. Nhưng tôi cố tìm lời lẽ để rút lui vĩnh viễn, thề chẳng bao giờ đặt bước trở lại căn nhà khó thở này. Bà Henri Nhan như nóng nảy, nháy mắt, khoát nhẹ bàn tay búp măng, ra dấu hiệu bảo tôi cứ gật đầu.
Tôi đáp:
– Thưa ông, tôi suy nghĩ lại, trả lời sau.
Bà Henri Nhan cười giòn, bước tới vịn vai chồng:
– Dường như thi sĩ đồng ý rồi đó. Thôi bây giờ cũng đã trưa, để ông ấy về nghỉ rồi sáng mai trở lại nhận việc.
Ông Henri Nhan lẩm bẩm, nhìn tôi:
– Được, tôi nhức hai bàn chân quá. Chịu phiền nghe ông bạn. Tối nay tôi thảo kế hoạch để công việc tiến hành gấp rút. Tâm lý người Âu Châu… kỳ lắm.
Ông ta vào phòng.
Tôi đứng dậy, cúi đầu chào bà chủ. Bà đi trước.
– Để tôi mở cổng cho ông về.
Tiễn tôi đến khỏi bực tam cấp, bà nói khẽ:
– Công việc chẳng long trọng, to tát như ổng nói đâu! Cứ nhận lãnh đi, ông đừng quá khiêm tốn. Ban nãy, dường như ông hơi phật ý.
Cơn buồn giận của tôi đã bắt đầu dịu xuống:
– Dạ, tôi đâu dám phiền ai.
– Một hai ổng muốn trở về điền đất cũ ở Mỹ Lâm. Thật là khuấy nước giỡn trăng! Tôi khuyên ổng nên bỏ hết, vợ chồng đi lên Sài Gòn tìm huê lợi khác. Rầu quá. À, ban nãy tôi quên hỏi…
– Thưa bà…
– Ông ở Miệt Thứ, thuộc xóm nào? Chú ruột tôi là ông hội đồng X, chắc ông biết.
– Dạ ông hội đồng là bạn của ông dượng tôi.
Bà Henri tiếp:
– Tôi ít về quê lắm. Đi học Sài Gòn từ nhỏ tới lớn.
Đến cổng rào, bà kéo nhẹ cánh cửa sắt, đứng nép một bên, sờ vào túi:
– Đây, tôi gởi sở phí ông về xe. Ngày mai nhớ trở lại nghe. Chừng một tuần lễ thôi. Về tiền bạc, tôi lo liệu để ông được bề rộng rãi.
– Nhớ trở lại, dịp may cho ông đó. Đừng buồn điều gì ráo!
Đến chiều hôm ấy, tấm giấy một trăm đã tan manh mún, chỉ còn chừng mươi đồng: năm chục đồng đền ơn cho bà chủ nhà, mười đồng gói thuốc thơm, mười đồng mớ thuốc Gò Vấp. Và tôi xài linh tinh. Giấy trắng, mực, viết chì tôi mua dự trữ sẵn để dành làm thơ. Hơi gió biển thổi mát rười rượi. Tôi hút thuốc, tưởng đến dung nhan quý phái của bà Henri Nhan. Hồi còn ở quê nhà, cha tôi nhiều lần nhắc đến ông hội đồng X. mà bà chủ Nhan bảo là chú ruột. Tôi tin rằng bà không nói dối. Cha tôi thuật lại: Ông hội đồng X. ăn xài sang trọng như Tây, phòng khách của ông trưng bày nhiều thứ lạ, thí dụ như pho tượng cẩm thạch tạc kiểu người đàn bà khỏa thân đang giương cung bắn con nai, hoặc chàng lực sĩ Tây Phương đánh sư tử; ông hội đồng gởi thơ qua tận bên Pháp mua một cái đồng hồ đặc biệt, cứ đúng mười lăm phút một đứa bé bằng đồng bước ra cầm dùi nhỏ, gõ tự động vào cái chuông. Tóm lại, những kỳ quan – so với cách sống của đa số điền chủ quê mùa khác ở vùng U Minh. Ông nhận một đứa cháu gái đem về làm con nuôi. Cô này nghe đâu học ở Sài Gòn, sau khi rời nhà trường về chợ Cần Thơ, kết nhân tình với một ông y khoa bác sĩ trẻ tuổi. Rồi cuộc hôn nhơn bất thành, ông bác sĩ tự tử bằng thuốc ngủ. Phải chăng vì lẽ ấy mà cô ta chẳng muốn nói rõ lý lịch cho tôi nghe? Và cuộc gặp gỡ giữa cô ta với ông Henri Nhan chỉ là do tình thế loạn lạc đưa đẩy?
Tôi qua nhà lão Tư Hiếm. Lão lồm cồm ngồi dậy, quét bộ ván.
– Hồi sáng thầy đi đâu quá sớm?
– Sao bác biết?
– Thì tôi qua mời thầy uống rượu, chẳng gặp ai.
Nghĩ rằng trước sau gì mình cũng cần nói thật với lão, tôi bắt đầu vào chuyện:
– Số là vợ chồng ông chủ Henri Nhan đọc báo thấy mấy bài thơ của tôi, ổng bả hâm mộ tài nghệ, mời tôi tới, nhờ vài việc.
Lão Hiếm sửng sốt:
– À, ông chủ Nhan, đại điền chủ ở Mỹ Lâm phải không?
– Dạ phải.
– Ổng nhờ thầy làm công việc gì?
– Ổng muốn tôi viết lại những sự tích ngày xưa ở Mỹ Lâm, để… in thành sách cho quan Tây đọc chơi. Ổng kể câu chuyện, tôi viết lại cho có đầu có đuôi.
– Thầy nhận lời chưa?
– Chưa dứt khoát. Tôi muốn nhờ những người sống cố cựu ở Mỹ Lâm như bác giúp tôi tài liệu. Nhà bác hồi xưa chắc ở trong điền ổng?
Đôi mắt lão Tư Hiếm mấp máy. Lão gãi đầu rồi vói tay vào vách, tìm cái ống điếu… Sự bối rối hiện rõ rệt quá! Ngón tay của lão cầm que diêm, run run châm đôi ba lần mà vẫn không cháy điếu thuốc. Đóm lửa tắt. Lão đánh cây diêm thứ nhì, cố nín hơn hồi lâu rồi mới kéo thẳng một hơi, nhưng đứt đoạn.
– Ruộng ổng cò bay thẳng kiếng, trên ba ngàn mẫu. Tôi ở đất ổng trên bốn chục năm. Tá điền ổng hồi xưa trên hai trăm gia đình. Bây giờ còn chừng hai chục, phần lớn thất lạc như tôi đây chẳng hạn.
Ngừng một chập, ông nói nhỏ:
– Ổng có hỏi tên tôi không? Bà vợ của ổng hiền lắm. Vợ chấp nối.
Tôi hơi ngạc nhiên:
– Ổng nào biết bác ở Xóm Biển gần nhà tôi.
– May lắm. Giữa tôi với ổng, tôi muốn đừng ai nhắc tới tên ai nữa. Tôi già rồi. Tôi chẳng thiếu nợ ổng đồng bạc nào, hột lúa nào. Tôi chẳng hề ở ác với ổng. Quê xứ tôi buồn lắm. Ai làm ruộng đâu mà góp lúa ruộng? Nhà binh Tây chê xứ tôi, chẳng thèm đóng đồn bót. Mấy “ông” Việt Minh thì ở đâu xa xa. Tận trong núi Ba Thê.
– Hồi nãy bác nói còn chừng hai chục gia đình tại đó.
– Thì họ ở lấy lệ nhưng suốt ngày ra đồng sống bằng nghề khác như hái lá sen, bắt ốc, câu cá, gài bẫy chim chớ đâu làm ruộng như xưa. Để tôi nhớ coi… chắc chắn là mười sáu gia đình, trong đó có gia đình một bà già mù, một gia đình cùi. Nghĩa là còn mười bốn. Với một cái miễu thờ Chúa Ngung, Ma Nương.
– Chúa Ngung, Ma Nương là vị thần gì? Tôi ít nghe nói tới.
– À, điều đó ông chủ Nhan rành hơn tôi, ổng bày ra cái miễu đó. Thôi để thầy ngủ sớm, sáng mai đi làm.
Tôi lững thững ra cửa, hơi buồn vì lão dường như muốn đuổi khách. Lão bước xuống bộ ván, gọi theo giọng nhỏ rí:
– Xin lỗi thầy… tôi muốn…
Vì tôn kính người lớn tuổi, tôi vui vẻ trở lại, lão lẩm bẩm:
– Đối với chủ Nhan, thầy nên cẩn thận trong công việc làm. Nhứt là đừng bao giờ nói có bất cứ người tá điền nào của ổng ở xóm này. Tội nghiệp tôi.
– Bác khỏi lo. Tôi hứa điều đó. Tối mai tôi qua gặp bác. Tôi chỉ muốn làm thơ. Thời buổi giặc giã…
Đêm ấy, tôi lại suy nghĩ liên miên. Thái độ lão Tư Hiếm làm cho tôi ái ngại. Dường như lão quá sợ. lần thứ nhứt lão nài nỉ tôi đừng tiết lộ chuyện lão nói xấu Tây. Phen này, lão hốt hoảng khi nghe đến chuyện ông đại điền chủ Henri Nhan muốn sưu tầm chuyện cổ tích. Nỗi lo sợ đó thật khó hiểu. Trong phút giây, tôi muốn từ khước công việc làm mà ông Henri Nhan sắp giao phó. Nhưng tôi cần tiền, chẳng lẽ tôi bắt buộc ông chủ nhà phải nai lưng đạp xe ba bánh từ tháng này qua tháng kia để nuôi dưỡng một thanh niên tay chân đầy đủ như tôi. Nàng Thơ sống chẳng cần cơm áo, nhưng muốn tao ngộ với nàng, kẻ phàm tục cần sống nhiều năm bằng cơm áo tối thiểu để chờ đợi phút giao cảm, ngàn năm một thuở. Hơn nữa, tôi tin tưởng nơi bản chất hiền hòa và sự ân cần của bà Henri. Khách yêu thơ chẳng lẽ nhẫn tâm giết thi sĩ! Trên con đường tranh danh đoạt lợi, bà ta chẳng cần đạp lên trên xác chết của tôi và xác chết của lão Tư Hiếm mà làm gì.
Mặt trời mọc cao hơn một sào khi tôi giựt mình thức dậy.
Đằng kia lão Tư Hiếm đi tới lui trong ngõ hẻm như ngóng chờ tôi. Thay quần áo xong, tôi hối hả lên đường, sợ trễ mặc dầu hồi sáng hôm qua bà Henri Nhan chưa nói rõ giờ khắc làm việc. Lão Tư Hiếm tằng hắng rồi ho lớn. Tôi đến bên lão để trấn an:
– Tôi hứa chắc mà, bác vững bụng đi. Bác cũng đừng cho chòm xóm biết tôi có công việc làm tại nhà ông ấy. Ngày hôm qua, tôi nói dối chủ nhà rằng tôi mới lãnh chút ít tiền của nhà báo từ Sài Gòn gởi xuống. Chưa chắc ông Henri mướn tôi làm việc lâu ngày đâu! Không chừng lát nữa ông ta đuổi tôi. Sáng nay, tôi như người đi dạo mát để giết thì giờ.
Lão gật đầu, mỉm cười:
– Đâu phải vậy. Thầy gặp cơ hội tiến thân, tôi mừng, cầu chúc thầy gặp may mắn, tiền bạc khá giả chớ! Tôi nào dám ngăn cản thầy.
Lại một sự hiểu lầm nữa. Hết sợ ông cò Tây, lão sợ ông Henri Nhan rồi giờ đây lão sợ đến tôi. Chẳng lẽ đứng lì ở đây để thanh minh một trường hợp chưa rõ rệt? Tôi lại kiếu từ, đi phăng phăng đến đường Mé Sông.
Lần này chị ở nhanh nhẹn mở cổng, dẫn tôi đi thẳng vào dãy hành lang khá rộng nối liền biệt thự xuống nhà bếp.
Bà Henri Nhan ngồi dựa lưng trên chiếc ghế mây, nhìn tôi nhưng tay vẫn nâng tờ báo.
– À, chào ông, ông làm việc tại chỗ này cho mát mẻ. Chị ở châm cà phê đem lên bây giờ. Nè ông, kỳ này báo Paris Match hay quá.
– Dạ, tin tức mới mẻ về chiến sự Việt Nam, thưa bà.
– Tôi ghét giặc giã lắm. Dầu là phim hát bóng nói về giặc giã. Tôi chú ý điều khác vui vẻ hơn… Vợ chồng quận chúa Anh Quốc rủ nhau hưởng tuần trăng mật tận giữa rừng già Nam Phi Châu, nơi loài người chưa đặt chân đến lần nào. Một vị tù trưởng nọ huy động dân bổn xứ xây cất một cái “thum” khá to cheo leo trên ngọn cây. Trong “thum” sắp đặt một cái giường nệm, bàn uống rượu, máy thâu thanh, máy hát và tư bề có giăng lưới mành mành để ngăn cản lũ muỗi sốt rét tsé-tsé… Thổ dân đem vài con ngựa rằn, buộc vào chân cây để làm mồi. Tối đến dưới ánh trăng rằm, vợ chồng quận chúa uống rượu, vặn máy hát nghe hòa âm Beethoven, thỉnh thoảng liếc mắt xuống chân cây ngắm từng cặp sư tử đang gào thét để tranh nhau ăn thịt ngựa rằn. Đêm về khuya, bọn sư tử vẫn còn nằm đó mơ màng. Có lẽ chúng nó say mê âm hưởng nhạc cổ điển hồi thế kỷ mười tám của Beethoven. Phóng viên nhà báo đã săn được những bức ảnh ly kỳ ấy, ghi chú là “Beethoven giữa rừng Nam Phi Châu”.
Ly cà phê đã mang đến. Bà mời tôi rồi nói tiếp:
– Bà quận chúa năm nay bốn mươi tuổi mà trẻ măng như minh tinh màn bạc. Bà có tật thích ăn nho tươi, thứ nho đen trồng tại Tây Ban Nha. Bà quận chúa cười, lộ hai núm đồng tiền… rõ ràng.
Tôi vừa nghiêng đầu tới phía trước cho gần trang báo hơn, chợt nghe chị ở nói:
– Thưa ông, ông tôi mời ông nói chuyện riêng.
Bị giựt mình vì lối xưng hô bất lợi ấy, tôi nghiêm mặt, nói với chị ở:
– Chị cứ gọi tôi bằng “thầy” cho tiện. Tôi làm công như chị chớ đâu phải làm chủ mà kêu tôi bằng ông.
Bà Henri Nhan thấm ý, cười mủm mỉm:
– Ông thi sĩ ưa thắc mắc quá. Ừ, ông vào trong phòng xem nhà tôi nói gì.
Bấy giờ tôi mới hiểu cái tật mang vớ kinh niên của ông Henri Nhan. Ông ta thú nhận mắc bệnh tê thấp từ hơn mười năm, rồi than phiền thời vận nước nhà, nhân tình thế thái, người Pháp chưa hiểu rõ hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, ông cố gắng tranh đấu tới cùng để giữ… “thể diện dân tộc”.
– Ông thi sĩ hãy noi theo khuôn mẫu quyển sách này, đọc kỹ dàn bài. Còn đây, miếng giấy nhỏ tôi ghi chú ngày sanh tháng đẻ, bước đường lập thân tiến thủ của tôi lúc nhỏ. Ông ra ngoài bàn, thảo vài trương, lát nữa trình cho tôi xem.
Thật là mệt trí, khó xử. Suy nghĩ hơn mười phút rồi mà trí óc của tôi ngày càng tối om. Quyển tiểu sử làm mẫu nọ nhan đề “Từ Dũ Hoàng Thái Hậu truyện” của Nguyễn Liên Phong, phụng lược dịch, do nhà F.H. Schneider in từ năm 1913. Bìa sách trình bày lối xưa có hai con rồng chầu; hai câu đối được ấn công sắp từng chữ, từ trên xuống dưới theo kiểu viết liễn:
Cội nền vững chắc, nước Nam Việt trường xuân
Tánh nết hiền lành. Phật Quan Âm tái thế.
Trước khi vào bài, người biên soạn đã sắp xếp một loạt năm sáu bài tựa, viết theo lối biền ngẫu.
Bà Henri nói nhanh:
– Để ông làm việc. Ông nhái theo sách xưa cho êm chuyện. Đừng suy nghĩ nhiều mất công. Cứ viết đại cho vừa lòng ổng. Ông thấy thế nào?
– Dạ, làm sao so sánh công đức của ông nhà với bà Từ Dũ được? Bà Từ Dũ, mẹ của vua Thiệu Trị, đã dạy vua Tự Đức trở thành đấng minh quân. Vả lại, tiểu sử của đàn bà khác với tiểu sử của đàn ông, thời xưa khác với thời nay.
– Ông cứ liệu chừng vậy; theo ý kiến riêng của tôi, đàn ông đàn bà đều như nhau, bất luận xưa hay nay. Đàn bà lần lần giống như đàn ông, đàn ông lại giống như đàn bà về thói ăn nết ở, công danh sự nghiệp. Xã hội ngày một tiến mà. Ông tùy ý.
Nói xong, bà Henri lên phòng khách. Tôi ngồi trơ trẽn một mình, nhìn lơ đãng ra ngoài vòng rào bên kia. Vẫn hai cái họng súng đen ngòm; vài tên lính Lê dương tới lui. Nhưng tiếng ho sù sụ trong phòng nhắc nhở tôi trở lại nhiệm vụ. Chắc chắn ông Henri Nhan đang nóng lòng chờ đợi. Tôi căn cứ vào mớ tài liệu của ông, cúi đầu viết thao thao lấy lệ.
– Xong rồi chớ?
Tôi day lại:
– Thưa ông, chưa xong hẳn. Mới viết tạm vài trang để chờ ông sửa lại.
Ông Henri ngồi xuống chiếc ghế bành bằng mây, châm điếu thuốc:
– Cứ đọc nghe thử.
Tôi lần lượt trình bày:
– Quyển sách sẽ lấy nhan đề “Mỹ Lâm nhân vật: Ông Henri Nguyễn văn Nhan” mở ngoặc: 1897 đến năm… chấm, chấm, chấm… đóng ngoặc lại (1897…) Vì ông vẫn còn sống.
Ông Henri hé nụ cười:
– Đắc co!
– Mở đầu ở trang 5, tôi dẫn hai câu châm ngôn: Muốn là được (Vouloir c’est pouvoir) và “Người đời muôn sự của chung. Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi”.
– Hay lắm. Một câu Pháp, một câu Việt Nam. Tây Phương và Đông Phương hòa hợp với nhau. Ông ghi rõ câu trên của Victor Hugo, câu dưới là ca dao thuần túy Việt Nam.
– Phía trước hai câu này, thưa ông, tôi muốn để hai trang trắng dành cho người đề tựa.
– Được quá, danh dự đề tựa ấy tôi xin trao cho quan tư Ca Rê.
– Và đây, phần tiểu sử: Ông Henri Nguyễn văn Nhan sanh vào ngày… tháng… âm lịch Ất Dậu… tính dương lịch nhằm mười sáu Avril năm một ngàn tám trăm chín mươi bảy. Thân phụ của ông là Nguyễn văn Mổ ở làng Đức Mỹ, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam vào lập nghiệp ở Bình Dương (Gia Định) kết hôn cùng bà Vương thị X., rồi hạ sanh ông tại Tân Lộc Thôn, nay đường X, Sài Gòn.
Vì cha mẹ đều qua đời quá sớm, năm chín tuổi ông được người cô đem về làm dưỡng tử cho học chữ nho. Năm ông mười hai tuổi cô đến Cần Thơ mua bán, ông vào tiếp tục học trường bổn quốc Cần Thơ đến năm thứ hai ban Trung học…
Bàn tay ông Henri Nhan khoát nhẹ, ra dấu bảo cho tôi ngưng lời. Thật ra trang giấy cũng chẳng còn chữ nào mà đọc; ông lắc đầu, cau có:
– Chưa được! Về quê quán và trường hợp vào đất Gia Định của cha mẹ tôi, ông thi sĩ hãy tự ý tô điểm thêm, rồi nói rõ: vì lý do yêu nước, chống Pháp hồi thế kỷ vừa qua. Người Pháp bây giờ muốn làm bạn và nâng đỡ những người Việt Nam thuộc dòng máu khẳng khái đã dám chống đối họ trong quá khứ… Hơn nữa, lúc đi học, tôi phải tỏ ra thông minh hơn các bạn đồng môn. Và tôi phải bỏ học nửa chừng vì lý do làm quốc sự, cho “ngon” một chút!
Tôi lộ vẻ ngạc nhiên:
– Thưa ông, như vậy e phật ý nhà cầm quyền Pháp. Rủi bề gì ông còn có người che chở; riêng tôi thì mang vạ lây. Ông hồi đó theo gương chí sĩ nào?
– Thi sĩ này ngớ ngẩn quá! Cứ viết rằng tôi chống Pháp hồi năm một ngàn chín trăm hai mươi sáu gì đó theo tài liệu lịch sử cách mạng Việt Nam.. để ông quan tư Ca Rê hãnh diện. Còn bây giờ, đối với quân đội Pháp, sau Đệ nhị Thế chiến…
Có người bấm chuông ngoài cửa. Chị ở mang vào tấm danh thiếp. Ông Henri lập tức đứng dậy, nói vói lại:
– Tôi qua ông quan tư Ca Rê có việc cần. Cái “áp phe” ở điền Mỹ Lâm của tôi sẽ thành công trong vài ngày. Để nhà tôi đến chỉ dạy ông thêm. Nhớ viết gấp lên. Phần thứ nhì của đời tôi mới là quan trọng, quyết định. Nãy giờ, chỉ mới là cái phần giáo đầu tuồng… Ông phải cố gắng, tranh thủ thời giờ.
Từ nhà trên, bà Henri trở xuống mân mê tờ báo Pháp:
– Công việc tiến hành như vậy được chớ! Ông thi sĩ đừng cãi với nhà tôi làm gì. Ban nãy, dường như ông thi sĩ cãi một đôi lần. Nguy lắm. Nhà tôi chẳng bao giờ chịu nhìn nhận rằng mình kém thông minh hơn một kẻ khác. Ông thi sĩ chớ nên nói câu nào đá động tới vấn đề chánh trị, rủi nhà tôi vui miệng rồi tên tuổi của ông lại thấu tai nhà binh Tây. À, trưa rồi, ông cứ về nhà viết tô đậm thêm, khen ngợi… cho ổng xong cái “áp phe”. Tôi nhức đầu lắm.
Gương mặt khổ sở, dằn vặt của lão Tư Hiếm đột nhiên hiện ra. Tôi linh cảm mơ hồ rằng cái “áp phe” này khá rắc rối. Các ông đại điền chủ thường núp oai của nhà binh Pháp để bảo vệ cái tài sản “cò bay thẳng kiếng” của họ. Tuy không sống bằng nghề nông, tôi vẫn cảm thông mơ màng với nguyện vọng “có đất cặm dùi” chánh đáng của nông dân. Biết đâu tôi sẽ tìm thêm nhiều thi tứ mới: những cô thôn nữ tươi vui hơn, những con trâu tơ mập mạp hơn… Nhưng khó hiểu quá! Đứng về quyền lợi thực tế mà xét, nếu tá điền ở Mỹ Lâm đều tản lạc, còn chừng mười lăm gia đình – theo lời lão Tư Hiếm – thì ông Henri Nguyễn văn Nhan vận động với nhà binh Pháp để hưởng huê lợi gì. Thừa lúc bà Henri Nhan lơ đãng, tôi giả vờ hỏi, vô tình:
– Thưa bà, ở Mỹ Lâm bây giờ chắc sung túc lắm?
Bà cười giòn:
– “Khỉ ho cò gáy” chớ sung túc! Còn một cái miễu thờ một pho tượng đá, ông chúa bà chúa gì đó. Ruộng bỏ hoang đâu hồi năm ngoái năm kia. Ông quan tư Ca Rê muốn khảo cứu cái pho tượng đá xưa đó tại chỗ, luôn dịp sưu tầm phong tục dân chúng cũng tại chỗ cho xác thực, khoa học. Nhà tôi muốn nương cơ hội ấy xây dựng thanh thế, nhờ Tây đóng bót… cho tá điền biết mặt! Tôi can ổng hết lời. Thà đi Sài Gòn mua bán xuất nhập cảng gì đó làm giàu mau hơn, ít nguy hiểm hơn… Một đồng bạc Đông Dương ăn tới mười tám quan. Thôi ông về, viết theo ý của nhà tôi, nếu chiều nay trời mưa ông cứ viết tiếp phần sau. Đại khái, rời nhà trường, nhà tôi thấy vùng đất Mỹ Lâm, xóm Mốp Giăng còn âm u hoang dại, đầy chuột, đầy bưng sen, bưng bông súng… vân vân. Ông cứ tự do làm thơ ở phần đó.
Bà đứng dậy, trao cho tôi năm tấm giấy một trăm đồng rồi gọi chị ở mở cổng. Tôi lưỡng lự muốn trả bớt lại hai trăm, nghĩ thầm rằng lãnh tiền càng nhiều, lương tâm càng bức rức. Tôi liên tưởng đến những câu hỏi thăm dò của lão Tư Hiếm khi gặp mặt vào trưa nay. Gương mặt lão chắc chắn trở nên lo âu, bí hiểm với nụ cười gượng gạo, gợn chút gì mỉa mai rõ rệt.
– Ông muốn xem số báo này à? Báo bên Pháp gởi riêng cho ông quan tư. Tôi sẵn sàng cho mượn, ngặt bất tiện cho ông. Người lối xóm, họ dòm ngó. Cái xóm Biển, lô A của ông hẻo lánh quá, từ đây tới đó hơn một ngàn thước mà chẳng bao giờ tôi dám tới, bởi vậy hôm trước tôi phải gởi thơ cho ông theo đường bưu điện. Báo kỳ này hay lạ: “Nhạc Beethoven giữa rừng Nam Phi Châu”. Lá tử vi của ông bà quận chúa Ăng Lê tốt thật. Không hiểu họ sanh nhằm giờ nào, ngày nào, năm nào, cung nào? Phần tôi, hồi nhỏ đã có lần đem dĩa nhạc Beethoven hát inh ỏi ở Miệt Thứ, ở Mốp Giăng, giữa rừng tràm, muỗi mòng, khỉ, rắn, cá lóc… Tạm gọi là “Nhạc Beethoven ở U Minh, ở Mốp Giăng” được không ông thi sĩ?
… Hăm ba tháng Mười, mưa dại gió may
Ngoài khơi Hòn Tre, chiếc tàu tuần chạy tới lui qua lớp mưa thưa, màu cờ tam tài lu mờ chỉ còn hiện lên một đốm đỏ lợt lạt. Đoàn ghe lưới nằm lúc lắc trên bãi bùn, con mắt sơn trước mũi ghe trông phờ phạc như con mắt cá chết. Sóng đánh từng hàng dài trên mặt biển dâng cao, gợi hình ảnh những luống cày quanh sườn đồi… Trước khi tan vỡ trên bãi bùn, bọt sóng vung ra, rơi lấm tấm trên ngọn mấy cây bần đã bị ngập mất gốc mất cành.
Nhà của lão Tư Hiếm day mặt theo hướng gió xuôi, cửa cái vẫn mở; lão bắc ghế ngồi sát hàng ba, làn khói thuốc tuôn thoăn thoắt vươn mạnh lên bầu trời quá thấp.
Nhà của tôi bên này đâm ngang lưng gió, mưa hắt thỉnh thoảng đưa từng luồng ướt át. Tôi vói tay khép cửa lại. Chắc chắn lão thừa hiểu rằng tôi đã về nhà. Đúng ra, tôi phải đích thân đến gặp lão từ hồi trưa, liền sau khi rời khỏi nhà ông Henri Nhan. Nhưng gặp để nói chuyện gì? Kế hoạch trở về Mỹ Lâm của ông Henri Nhan chưa có gì rõ rệt, quan tư Ca Rê sẽ áp dụng chiến thuật nào? Vào ngày giờ nào? Tất cả thuộc về phạm vi bí mật quân sự. Biết chừng đâu quan tư Ca Rê hứa ẩu để làm vừa lòng một “nhân vật bổn xứ”; lực lượng Lê dương cần được sử dụng ở những trường hợp thiết yếu; “đại sự” hơn. Vả lại, lão Tư Hiếm chẳng còn tài sản nào ở Mỹ Lâm cả. Một mình lão tài nào chống nổi, nếu muốn chống lại.
Trận mưa dai dẳng bên ngoài đem tới cho tôi một duyên cớ để trì huỡn việc gặp mặt lão Tư Hiếm. Lật qua lật lại mấy trang giấy hồi sáng, tôi hút nối đuôi một lượt ba điếu thuốc rồi viết sạch sẽ cho xứng đáng với số tiền nhận trước năm trăm đồng.
“Ông Henri Nguyễn văn Nhan sanh ngày… năm… Thân phụ là cụ Nguyễn văn Mổ, người làng Đức Mỹ, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, đậu Cử nhân kỳ thi Ất Mão tại trường Tứ Quảng, sung Cẩm Y Vệ Thị Lang, sau thuyên chuyển vào đất Gia Định nhận chức Vệ úy trong cơ binh của quan Tổng đốc Nguyễn văn Mỗ. Nhơn thành Gia Định thất thủ, ngài Vệ úy treo ấn từ quan, ẩn sĩ qui điền không chịu hợp tác với tân trào, về mở trường dạy học tại Phú Cường, Bình Dương. Dịp này cụ sánh duyên cùng bà Vương Thị… hạ sanh được một đứa con trai duy nhất đặt tên là Nguyễn văn Nhan, tự Nhàn Vân, biệt hiệu Nhật Luân.
Lúc còn nhỏ, ông Nguyễn văn Nhan tỏ ra thông minh dĩnh ngộ hơn người, mới tám tuổi đã thuộc làu Tam Tự Kinh, Minh Tâm Bửu Giám. Trong hoàn cảnh mồ côi cha mẹ quá sớm, ông luôn luôn phấn đấu lập thân, tiết kiệm tiền ăn quà để mua sách vở cố theo chương trình sơ học tại tỉnh nhà (Bình Dương). Ông Đốc phủ sứ Trần văn M. bạn đồng môn của ông hồi xưa còn nhớ lại một giai thoại kỳ thú: Phen đó, thầy giáo bày cuộc thi thủ công, đầu đề: chiếc tàu thủy. Các học sinh được dịp trổ tài. Đứa này đóng tàu bằng giấy bồi, dùng keo dán mấy kẽ hở, cắt ống trúc làm ống khói. Đứa kia – con nhà khá giả – được cha dẫn ra tiệm bán sắt tây, bày kiểu cho thợ đóng tàu nhỏ bằng thiếc, trong tàu có bố trí cái nồi “sốt de” tí hon, khi đốt ngọn đèn cầy lên, nước sôi thổi hơi ra đẩy chiếc tàu tiến tới.
Ngày chấm thi, thầy giáo đặt một chậu nước khá rộng giữa sân. Chiếc tàu bằng giấy bồi lần lần chìm vì keo rã. Riêng chiếc tàu chạy bằng hơi nước đáng chú ý hơn hết nhưng các học sinh nhao nhao phản đối vì nó do người lớn tuổi chế tạo. Đến lượt ông Nguyễn văn Nhan trình bày chiếc tàu của mình. Thân tàu chỉ là một khúc cây mốp (gỗ nhẹ) tiện sơ sài. Thầy giáo phê phán: “Nó không chìm, nó được chính tay học sinh tạo nên nhưng nó không xê dịch được”. Tức thì ông Nguyễn văn Nhan móc trong cái lon thiếc đem ra một con tôm còn sống nhăn. Ông cắm cái gai to lớn ở đầu con tôm vào phía sau lái tàu. Ai nấy trố mắt; chiếc tàu vừa thả xuống, tức thời con tôm nọ búng mình… mũi tàu phóng tới rẽ sóng, xắn vào vành cái thau, dội trở lại, chuyển qua hướng khác rồi vẫn xắn tới. Các học sinh vỗ tay, hò reo tán thưởng kiểu “tàu… con tôm”, chạy máy tự động ấy. Thầy giáo phải mệt nhọc lắm mà không kéo các học sinh trở về vòng kỷ luật được. Quan đốc học hoảng hốt chạy tới, thay vì rầy la các học sinh, ông tìm cậu Nguyễn văn Nhan, khen ngợi nức nở: “Trò đây quả thật là ông trạng Lương Thế Vinh tái sanh. Ngày xưa Lương Thế Vinh lúc còn bé đã biết đổ nước xuống lỗ để đem trái bưởi lên. Ngày nay, trò sáng chế ra kiểu tàu… tự động này, tài trí đâu kém?”.
Khi theo học năm thứ ba ban Cao tiểu, ông Nguyễn văn Nhan tuy thường được ghi tên vào bảng danh dự của toàn trường về đạo đức, về năng lực nhưng ông lại tỏ vẻ tư lự, đăm chiêu. Ông bắt đầu làm thơ, gởi đăng các báo ở Sài Gòn với nội dung thán phục các vị anh hùng cứu quốc kim cổ, từ Đông sang Tây: Gởi chiến sĩ mười bốn Juillet phá ngục Bách Ti, Vịnh ông Tôn Văn, Tâm sự Thủ khoa Huân… Nhơn phong trào lạc quyên ủng hộ các học sinh Đông Du do quan phủ Gilbert Trần Chánh Chiếu đề xướng, ông Nguyễn văn Nhan đã nhịn ăn quà sáng, gởi giúp được một đồng bạc trong thời kỳ giá lúa mười lăm xu một giạ.
Nhà cầm quyền thực dân đâu để yên cho chàng thanh niên giàu nhiệt huyết ấy. Sở Mật thám Pháp gây áp lực, khiến quan giám đốc ra lịnh đuổi ông Nguyễn văn Nhan khỏi trường. Chán nản, ông đi ngao du sơn thủy, lê gót lãng du khắp Hà Tiên, Bạch Mã, đảo Phú Quốc… tìm cơ hội khác hầu gióng hồi chuông cảnh tỉnh bé nhỏ, khiêm tốn nhưng hữu hiệu cho quốc dân…”.
Mưa chưa tạnh. Ăn xong cơm chiều, tôi nằm im nghe sóng biển vỗ ầm ầm lên bãi. Ngọn đèn dầu leo lét bỗng phựt lên cao hơn ống khói, gió biển tạt mạnh qua khe cửa hé mở.
Lão Tư Hiếm bước nhanh vào, vuốt mấy giọt nước trên mặt:
– Ở nhà một mình buồn quá, tôi qua đây thăm thầy. Mưa gì mà mưa hoài. Ở miền biển, thầy thấy điều gì đặc biệt không? Nước mưa trên mặt mình, nó mặn đắng như nước biển.
Tôi đáp:
– Có lẽ chất mặn của mồ hôi thấm lâu đời trên trán mình, thưa bác.
Lão gật đầu, cúi mặt xuống tránh ánh đèn, hồi lâu mới nói:
– Bữa nay, thầy làm việc rồi chớ? Ông chủ Nhan mướn thầy viết chuyện đời xưa ở Mốp Giăng, ở Mỹ Lâm thiệt sao?
Tôi ái ngại, che giấu một tiếng thở dài rồi cố ra vẻ hồn nhiên:
– Dạ, thiệt chớ. Chiều nay tôi ở nhà viết. Ổng căn dặn tôi tả lại vùng đất hoang ở Mốp Giăng ngày xưa, nào chuột, nào bưng sen, cảnh nê địa trước khi ổng tới khai khẩn. Nếu còn nhớ rõ cảnh xưa, nhờ ông giúp tài liệu. Tôi viết nhắm chừng, hồi nào tới giờ chưa từng tới Mốp Giăng.
Đột nhiên, lão day mặt lại:
– Vùng Mốp Giăng đã trở thành “đất thuộc” từ lâu rồi. Ổng tới làm chủ lúc sau này. Ổng chẳng bao giờ thấy chuột bầy, thấy bưng sen gì ráo! Miệt Mốp Giăng xưa kia do nhiều người tứ xứ tới mạnh ai nấy khai phá, cắm ranh, khai diện tích sơ sài rồi đóng thuế cho làng… Dè đâu… Thôi… tôi nói ít, thầy ăn học nhiều, chắc hiểu rộng hơn. Nếu tôi nói lỡ lời, thầy bỏ qua cho.
Lại chuyện cường hào ỷ thế thực dân Pháp, cưỡng chiếm đất đai! Thời xưa, lắm tay mưu sĩ lên Sài Gòn xin khẩn những “lô” đất chưa có ai đứng tên trong địa bộ quản hạt rồi họ mướn người chuyên về trắc địa đến quy định ranh giới. Lô đất ấy nghiễm nhiên thuộc về quyền sở hữu của họ. Đứng về mặt pháp lý thực dân phong kiến, mảnh vườn đất nhỏ của người nông dân “tiền phong khai hoang” mặc nhiên bị sáp nhập vào đồn điền của kẻ đến sau nhưng hiểu rành về quy chế điền địa hơn.
Tôi đánh tan bầu không khí oi bức nọ, đưa câu chuyện trở lại địa hạt khác, êm dịu hơn:
– Thưa bác, chuột ở Mốp Giăng hồi xửa hồi xưa chắc nhiều lắm? Mấy bưng sen còn không? Mỗi bưng rộng bao lớn? Nhiệm vụ tôi là viết chuyện đó cho ổng.
– Thầy cho tôi điếu thuốc. Hồi tôi còn nhỏ, tôi thấy dân chúng Mốp Giăng sống nhờ chuột. Mùa nước nổi, chuột cắn đuôi nhau nối liền thành một sợi dây dài, chẳng biết nó từ xứ nào tới để đi về đâu. Tụi nó lội chập chững, con này nương sức của con kia… Mỗi tháng, mình gặp năm sáu bầy như vậy. Nước giựt xuống, chuột làm ổ, trời sa mưa, cỏ non mọc nhú lên, tha hồ xây rọ mà bắt. Cứ dùng đăng sậy bao chung quanh một vùng cỏ lớn rồi lần lần mình siết vòng vây… bắt hàng trăm con. Mình ăn thịt chuột trừ cơm. Chuột bị chặt đuôi, lột da nằm dài trông thật giống con heo con… Thôi thì chuột rô ti, chuột bằm nhỏ xào lá cách lá lốt, chuột kho tiêu. Ăn không hết, mình bày ra khô chuột, treo lủng lẳng hàng trăm con từ trên kèo nhà. Lại còn mắm chuột nhận đầy lu, mỡ chuột thắng đầy hũ. Đèn thắp bằng mỡ chuột, sáng lắm… Nghe nói lâu lâu có người gặp con chuột bạch ngậm trong miệng “hột ngọc chuột” sáng ngời… Ôi thôi! Chuyện con chuột kể tới sáng thầy nghe không hết.
– Còn cái bưng sen ngày xưa?
– Nó còn hiển hiện đó. Rải rác đôi ba mẫu đất, đầy loại sen bạch, sen hồng. Cuối mùa mưa, gương sen cằn cỗi, hột sen khô nổi lình bình đen mặt nước; mình cứ đem thúng mà xúc, mỗi người xúc một buổi sáng hằng năm sáu chục lít đem bán cho Huê kiều… Nhưng dân mình ưa làm ruộng hơn là xúc hột sen.
– Dạ thưa bác, tại sao bây giờ hết chuột?
– Mấy năm sau thiên hạ làm ruộng nhiều nơi, chuột chia nhau tứ tán kiếm ăn, mỗi bầy đi một chỗ. Hồi xưa chuột đói vì ít ai làm ruộng. Đám ruộng nào bị tụi nó bu lại, kể như còn rơm trơ cọng.
– Còn sen? Tôi tưởng mình nên để vài lõm xem chơi. Sen mọc nhiều, hao đất quá.
– Nó là thứ xa xí. Muốn trừ sen, thêm đất làm ruộng, mình phải đào kinh cho nước rút bớt… Nói chí miệng, ông chủ Nhan hồi đó muốn mở mang đất đai lắm, ngặt ổng ít vốn. Ổng hứa với tá điền: nếu ai nấy đều góp lúa đầy đủ cho ổng, ổng mua thêm vài chục ngàn mẫu đất nữa cho bằng điền Tây của ông Kho… Ngặt vì… vợ lớn của ổng chết, ổng buồn. Hai vợ chồng không con. Rồi cưới bà sau này, cũng không con…
Lão chép miệng, hút điếu thuốc nữa:
– Thôi tôi về, khuya rồi. Lát nữa sợ mưa lớn.
Thấy câu chuyện còn hấp dẫn, tôi mời lão ở nán. Lão từ khước:
– Hút thuốc vấn không quen, để tôi về bển hút ống điếu cây ớt núi. Tháng rộng ngày dài, mai chiều tôi nói thêm. Chỉ sợ thầy không muốn nghe. Còn nhiều chuyện ở Mốp Giăng, ngậm ngùi lắm!
– Bác cứ nói. Tôi đi lấy cái ống điếu qua đây cho bác. Hay là tôi qua nhà bác cho tiện.
– Phải à! Thầy qua bên tôi đi. Hồi chiều tới giờ mảng lo nói chuyện, tôi quên thắp nhang.
Mưa cứ rơi đều đều. Đèn đường phía chợ ửng sáng một vầng quá rộng. Biển đen ngòm, bãi bùn, sóng nước và Hòn Tre lẫn lộn dưới vòm trời thiếu trăng. Lão Tư Hiếm vào nhà trước. Tôi bước vào chậm hơn, đưa tay đóng cánh cửa lại cho bớt lạnh. Lão nói nhanh:
– Ban đêm đóng cửa nói chuyện rì rào trong nhà, thiên hạ hồ nghi. Cứ để vậy.
– Tôi còn câu chuyện cổ tích này, liên quan tới cái ngôi đình làng không bao giờ xây cất ở làng Mỹ Lâm, trong điền ông chủ Nhan.
Tôi gật đầu, lộ vẻ nóng nảy:
– Tại sao chẳng bao giờ xây cất? Làng Mỹ Lâm quá nghèo à? Lạ vậy!
– Số là năm đó, lâu lắm rồi… Hồi còn bà chủ trước lận kia, hồi ông chủ Nhan… chưa làm điền chủ, ổng còn là hương quản, ngày hai bữa đạp xe máy lại nhà việc. Ruộng trúng ba bốn mùa liên tiếp, dân làng ai nấy mừng vui ăn tết tưng bừng, cờ bạc suốt tháng Giêng qua tháng Hai. Ngày rằm tháng Giêng, mấy ông kỳ lão đành bơi xuồng ra chợ Rạch Giá, thuộc làng Vĩnh Thanh Vân để dự lễ kỳ yên lạy tạ Thành hoàng bổn cảnh, thay mặt giùm cho dân làng Mỹ Lâm. Thật là mất thể diện. Tại sao làng Mỹ Lâm lại chẳng cất được một ngôi đình riêng biệt? Nghĩ vậy, ai nấy hùn tiền kẻ ít người nhiều. Ông chủ Nhan – hồi đó là hương quản Nhan – được cử làm thủ quỹ vì trong tổng số năm ngàn đồng lạc quyên, phần ông góp tới hai trăm đồng, nhiều hơn mọi người khác. Người lãnh thầu mua về một mớ gạch đá, rồi xin lãnh thêm tiền để mướn nhân công, mua thêm vôi cát, xi măng. Rủi thay, đêm nọ người thầu bị bọn cướp giết chết trên đường về Rạch Giá. Hương quản Nhan đến nơi làm “ăn kết” chạy tờ về quan trên để cho biết: xác người thầu nọ chẳng có một đồng xu dính túi! Mặt khác, nhơn danh thủ quỹ, hương quản Nhan trưng ra hai cái biên nhận tổng cộng bốn ngàn chín trăm năm mươi đồng do người thầu ký tên, lãnh trước rồi… Dân làng nhìn nhau, lắc đầu, bàn tán thì thầm.
Tôi hỏi nhanh:
– Họ hồ nghi ông chủ Nhan sắp đặt giết người thầu để giựt tiền lại?
– À, thầy đoán chừng như vậy thì tôi nghe vậy. Tôi đâu dám nói gì hơn. Ai đã mắt thấy tai nghe… mà đề quyết thủ phạm là ai! Chỉ biết vài tháng sau, hương quản Nhan xin từ chức, đi Sài Gòn rồi trở về làm chủ của “lô” đất đã có sẵn huê lợi ở Mốp Giăng. Ổng thề chẳng bao giờ đứng ra góp tiền cất ngôi đình khác. Ổng muốn tránh tiếng dị nghị của người đời khi có cuộc lạc quyên thứ nhì. Ổng nói “Thà cất riêng một cái miễu trong điền để tạ ơn đất nước, do tiền túi của một mình tôi xuất ra thôi”.
– Cái miễu đó còn không?
– Còn chớ. Linh hiển lắm. Tôi nói cho thầy nghe hồi bữa hổm rồi mà. Thờ Chúa Ngung Ma Nương. Mai mốt nhứt định ông chủ Nhan nhắc tới tích đó. Tôi nhớ mờ ớ vậy thôi. Nói nhiều quá, mình mang tội với người sống và người chết… Thầy đừng chép vô sách vở, nguy lắm.
Trở về bàn viết, tôi thao thức mãi. Đêm ấy, qua khe cửa, tôi thấy ngọn đèn chong bên nhà lão Tư Hiếm còn leo lét đến nửa đêm. Phải chăng lão cố tình đánh một đòn ly gián giữa tôi và ông bà Henri Nhan? Nhưng, đứng về phía của tôi mà xét, tôi cần tiền ăn cơm, tôi đã lãnh tiền trước của bà Henri Nhan rồi. Tôi tin rằng quyển tiểu sử mà tôi đang soạn thảo chẳng bao giờ in ra. Mà dầu có in thì cũng chẳng ai thèm đọc! Tôi thầm cám ơn lão Tư Hiếm đã nhắc nhở khéo léo cho tôi về ý thức tôn trọng sự thật, bất cứ về vấn đề gì. Câu chuyện ông Henri Nhan giết người rồi kiếm tiền đút lót cho quan Tây để khẩn đất tuy đáng chú ý nhưng tôi chưa vội tin, vì chính lão cũng bảo là còn trong vòng giả thuyết.
Đã quá một giờ đêm.
Viết gì bây giờ? Chuyện mắm chuột, chuyện hột sen. Và đừng đi xa hơn. Tôi ngáp dài, nhướng đôi mắt hơi cay, viết lia lịa, tùy hứng… nhưng trong khuôn khổ, tránh những chi tiết quá lộ liễu khiến ông Henri Nhan có thể hồ nghi rằng tôi đã liên lạc với người tá điền xưa nào của ông để tìm tài liệu.
Đúng như dự đoán của tôi, ông bà Henri Nhan rất hài lòng. Bà yêu cầu tôi ngưng đọc từng chập. Bà đập mạnh vào vai chồng:
– Ông trạng Lương Thế Vinh của tôi! Bấy lâu tôi làm bà Trạng mà không hay biết.
Ông cúi đầu nói lảng:
– Về khung cảnh chuột cắn đuôi nhau lội dài hàng mấy trăm thước, ông thi sĩ suy luận hay quá. Nhớ thêm thắt vài câu, nói lên vẻ đẹp hùng vĩ của miền núi Ba Thê. Xưa kia, thương cảng quốc tế; bây giờ, đất bồi… cả thời xưa huy hoàng vàng son đã chìm lĩm chẳng khác nào thành phố Pompéi ở Ý Đại Lợi bị lấp dưới lớp tro của núi lửa Vésuve.
Ông vuốt râu thò tay kéo đôi vớ lên sát đầu gối:
– Thời lai phong tống… Tôi tin rằng kỳ này mấy ổng dám giới thiệu tôi vô Hội đồng Liên hiệp Pháp, đi du lịch chơi lai rai. Hằng năm chánh phủ Pháp sẽ đài thọ cho tôi hai chuyến du lịch để tìm hiểu các nước trong Liên hiệp Pháp, khắp vòng quanh thế giới: nào Algérie, nào Guyane ở Nam Mỹ, nào Nouvelle Calédonie ở Thái Bình Dương…
Bà Henri mỉm cười:
– Tôi mơ ước đi vòng quanh thế giới. Như vậy vui hơn chớ về đồn điền ở Mốp Giăng làm gì. Huê lợi không có, suốt ngày quanh quẩn.
Ông nghiêm giọng, chỉ ngón tay thẳng vào mặt tôi:
– Thời giờ cấp bách lắm. Tôi hứa trưa mai nạp đoạn thứ nhứt của cái monographie vùng Mỹ Lâm cho ông quan tư Ca Rê. Ông thi sĩ chần chừ gì nữa? Ông nghe lời của nhà tôi à?
Day qua bà vợ, ông lẩm bẩm:
– Ngạn ngữ Tây có câu: Đàn bà tuy tóc dài nhưng tư tưởng của họ rất ngắn! Cái “áp phe” đất Mỹ Lâm với cái tương lai của Hội đồng Liên hiệp Pháp đi đôi. Hiện nay các nhà khảo cổ Tây phương đang chú ý về vùng núi Ba Thê. Ai tìm được điều gì mới lạ thời sẽ nổi danh, được thế giới chú ý. Nhưng muốn tìm được điều mới lạ, họ phải lạy lục tôi!
Ông Henri Nhan đứng dậy thở phều phào, gương mặt đỏ ửng với cái vẻ mệt mỏi của con ngựa già cố chạy đường khuya nước rút. Bỗng dưng, tôi quả quyết rằng: chính ông ta đã bố trí giết người thầu khoán năm xưa, theo lời thuật lại của lão Tư Hiếm! Bỉ ổi quá! Bà Henri cười hồn nhiên, chắc bà chẳng lạ lùng gì cái bản chất háo thắng của ông chồng. Thừa lúc ông đi thẳng lên nhà trên, bà nói khẽ với tôi:
– Cứ viết nhanh cho vừa ý ổng. Ông hãy xem như chuyện viết chơi chơi… kiếm tiền xài.
Tôi lẩm bẩm:
– Dạ rầu quá, tôi lỡ lãnh tiền rồi, bằng không thì…
– Ông cứ nghe tôi. Nếu ông rút lui, nhà tôi tìm cách gièm xiểm… ổng ưa thù vặt vô cớ… Ông đừng bực mình. Cái “áp phe” nọ chẳng đi tới kết quả gì đâu. Tôi nói, ông chờ xem… Chuyện “vọc nước giỡn trăng” tôi biết trước rồi. Tụi Tây đâu dễ gạt như nhà tôi tưởng…
Ngòi bút của tôi bắt đầu bay nhảy trên mặt giấy:
“Trước khi ông Nguyễn văn Nhan đến khai khẩn thì vùng thương cảng Ba Thê đã hoang tàn; đất phù sa hằng năm bồi lên, chôn vùi bao di tích của nền văn hóa xa xưa cổ kính của Đông Nam Á. Mùa nước nổi, từng đàn chuột cắn đuôi nhau mở cuộc ‘vạn lý trường chinh’ từ chân trời vô tận đến chân trời vô tận…
Nhưng khi ông đến, mấy đàn chuột ấy bỗng nhiên biến mất, chẳng bao giờ xuất hiện. Các bô lão địa phương bảo nhau: Ấy là điềm lành. Đất Ba Thê Mỹ Lâm đã đến thời hưng thịnh…”
– Ông tôi cũng kêu ông bằng ông. “Thầy” sao khó tánh quá!
Tôi đi thẳng vào phòng ông Henri. Chắc rằng phía sau lưng tôi, bà Henri và chị bếp nhìn nhau mỉm cười. Nhưng thái độ tiểu nhân của tôi phát sanh do động cơ khác.
– Ông thi sĩ hãy ngồi chờ tôi tìm chuyện cổ tích Lộc Giác Chân Nhân trong quyển sách Tây do ông quan tư Ca Rê cho tôi mượn nghiên cứu. Đàn ông bọn mình ưa làm những việc mà đàn bà không ưa, tuy rằng chung qui mình chỉ lo lắng cho họ để rồi mình hưởng rất ít. Tôi muốn ông vào đây để tránh những câu nói đâm họng, làm “thối chí anh hùng” của nhà tôi. Và cũng để đứa ở khỏi tò mò. Ông ráng giữ bí mật. Ông quan tư Ca Rê lợi dụng, muốn nhờ tôi giúp cho vài món cổ ngoạn của thị trấn Óc Eo ở chân núi Ba Thê. Tụi Tây khảo cổ xưa kia chỉ mới đào bới sơ sài. Hồi năm một ngàn chín trăm bốn mươi mốt, gặp giặc Nhựt Bổn, tụi nó bỏ luôn không dám trở lại. Mấy món đó xưa trên một ngàn năm trăm năm, ông Ca Rê định kiếm vài kiểu đem về Tây, tặng cho người tình nhân là bà bá tước De L… Đồng thời ông ta muốn ghi chép vài phong tục địa phương mà giới khảo cổ chưa từng nói tới. Hiện giờ ở Mốp Giăng, tại điền của tôi còn miễu thờ Chúa Ngung, Ma Nương với pho tượng đá xưa và những người chuyên môn “lên xác”. Nếu mình trình bày rõ rệt, đủ sức hấp dẫn tức nhiên ông Ca Rê sẽ cao hứng mở cuộc hành quân cấp tốc tới Mốp Giăng để đóng đồn… Nhơn dịp đó, uy thế của tôi đối với các tá điền nhứt định tăng lên… Và ông Ca Rê sẽ đền ơn tôi xứng đáng, trong mức quyền hạn của ổng. Chuyện Lộc Giác Chân Nhân đây này. Đọc đi. Trong khi đó, tôi sắp xếp thứ tự. Bộ óc tôi cỡ này nôn nao, lộn xộn quá.
Chuyện Lộc Giác Chân Nhân rất ngắn, chiếm vỏn vẹn bốn trang sách khổ nhỏ, trong quyển tập Cổ tích An Nam, in bên Pháp hồi năm 1926… Tay tôi hơi run run. Cái “áp phe” Mỹ Lâm này rõ ràng là vấn đề máu lửa mà tôi và bọn lính Lê dương đều đứng trong cuộc, họ bắt buộc đóng hẳn hòi những vai trò quan trọng. Tôi nhớ tới cái lon sữa bò đầy gạo để cắm nhang trên trang thờ Thái Thượng Lão Quân. Lão Tư Hiếm – con người vừa hiền hòa vừa bí hiểm – với vầng trán mặn mồ hôi sẽ nghĩ gì? Rồi đây quân đội viễn chinh Pháp dùng xe, dùng tàu sắt tiến vào Mốp Giăng giữa cảnh thiếu người, chỉ còn chuột, bưng sen với hơn mười gia đình, trong ấy có người cùi người mù – nếu lão Tư Hiếm không nói dối.
– “Ông cứ kéo ghế qua ngồi sát bên tôi! Câu chuyện như vầy. Khi tôi mới khẩn đất hoang thì ở Mốp Giăng đã có sẵn, một cái miễu xiêu vẹo, cất trên gò đất cao bên gốc cây bàng cổ thụ. Miễu thờ bốn năm cục đá phủ vải đỏ bạc màu. Vì ít tin đồng bóng phù phép, tôi khuyên dân chúng nếu ốm đau thì cứ uống thuốc, đừng cúng kiến vô ích. Năm đó, một thiếu nữ bỗng nhiên nổi cơn điên xé quần áo, nói xàm, đi lang thang. Vài ngày sau thi thể cô ta bỗng nhiên nổi lên, trôi tấp vào chiếc cầu ván trước nhà tôi, một buổi sáng đại khái vào tháng Giêng năm 1937… Tôi xuất tiền mua hòm giúp việc ma chay. Sáng hôm sau, đến lượt một người trong xóm nổi cơn điên chạy tới trước miễu nọ múa men tay chân, tự xưng là Chúa Ngung, Ma Nương, vị thần đến khai khẩn vùng đất Mốp Giăng từ ngàn năm về trước đã chết rồi hóa đá. Thấy chuyện lạ tôi cầu xin Chúa Ngung, Ma Nương trình bày mọi thắc mắc. Người ‘xác’ vào miễu dở tấm vải, chỉ ngay một tượng đá, bảo rằng đó là tiền kiếp của mình. Pho tượng quá cũ, tạc hình một vũ nữ đang uốn mình, đầu đội mão vuông, chân mang vòng, tay cầm thếp đèn chong kiểu vũ nữ Chiêm Thành, Ấn Độ. ‘Xác’ lại ra lịnh cho tôi hằng năm phải cúng kiến, mướn lại đất của Chúa Ngung, Ma Nương trong vòng một năm. Thế là đứng về mặt tinh thần, tôi phải nhận mình là tá điền của kẻ khuất mặt, mặc dầu tôi nghiễm nhiên là chủ điền. Tôi đồng ý. Xác đòi ăn mắm sống, ăn xong ‘xác’ bảo tôi đem một tờ giấy trắng để trước miễu rồi ‘xác’ hái bốn nhánh cây, chạy băng ngang đồng ruộng suốt mấy chục cây số từ sáng tới xế chiều để cắm bốn nhánh cây xuống ở bốn góc. Lạ thay, ‘xác’ cắm ngay ranh đất đúng như trong tờ bằng khoán mà sở Quan thủ địa bộ đã cấp cho tôi.
Xác về miễu nhúng tay xuống bùn, áp vào tờ giấy rồi dạy tôi hằng năm phải làm lễ như hôm ấy, gọi là lễ ‘tá thổ’. Bằng không dân làng lần lượt phải bị Chúa Ngung, Ma Nương bắt chết như trường hợp người thiếu nữ điên nọ”.
Khổ tâm quá! Tôi đã đoán phần kết luận ngay từ khi ông Henri Nhan mới kể đến phân nửa câu chuyện. Tôi tin nơi trực giác của mình. Nhơn phong tục cúng Chúa Ngung, Ma Nương, ông Henri Nhan đã hành động khéo léo – khéo gấp bội phần kế hoạch giết người thầu khoán. Chúa Ngung, Ma Nương là vị thần gì… Sự thật ra sao? Tôi nóng nảy, đứng dậy định kiếu từ về tìm lão Tư Hiếm để nghe thêm một tiếng chuông khác.
Ông Henri như bực dọc:
– Ông viết liền được chưa mà im lìm như vậy? Nếu chưa hiểu, cứ hỏi lại tôi.
– Dạ hiểu phần nào. Xin phép ông, để về nhà sắp xếp đầu đuôi viết kỹ lưỡng rồi tôi trở lại đây nhờ ông dạy thêm.
Ông Henri liếc lên vách:
– Để coi… mười giờ rồi. Ông ráng viết, ba giờ chiều trở lại liền, kịp không? Tôi muốn ông ăn cơm trưa tại đây rồi viết luôn, đừng về mất thời giờ quý báu.
– Dạ, ở đây không khí hơi lạ. Về nhà ăn cơm xong tôi đóng cửa lại, viết một mạch là tạm xong. Tôi trở lại cỡ hai giờ rưỡi chiều.
Chắc hẳn ông Henri vừa ý khi nghe tôi nói “đóng cửa lại”, “hai giờ rưỡi”.
– Ông ra nói nhà tôi đưa chút ít tiền… Hổm rày tôi vô tình, quên phứt.
Đến cổng, bà Henri với nụ cười lúm đồng tiền, trao cho tôi năm trăm đồng.
– Nhớ kỹ nghe, nhà tôi bắt đầu khó tánh rồi đó. Ông nên viết như kỳ rồi vậy thôi. Theo quẻ tử vi, nhà tôi năm nay tuổi Mẹo, ngôi sao… ác liệt lắm! Vái trời cho nhà tôi được vô… Liên hiệp Pháp để tôi đi du lịch Phi Châu coi sư tử, ngựa rằn chơi. Ông thi sĩ nhớ “Beethoven giữa rừng Nam Phi Châu” chớ? Đó mới thật là thơ.
Tôi cười, nụ cười khô héo:
– Thơ của rừng thiên nhiên Phi Châu… sang trọng hơn thơ đồng quê của tôi một bực.
Bà Henri nói vói theo:
– Nhà tôi cũng ưa đồng quê vậy. Nhưng sao khác với đồng quê của ông… Coi bộ hai thi sĩ đồng quê kỵ tuổi, kỵ ngôi sao… Chiều, ông nhớ trở lại sớm nghen!
Tôi ăn lua láo mới vừa được nửa chén cơm, chợt lão Tư Hiếm bước vào:
– Ủa! Bữa nay thầy ăn hơi sớm đó. Mời thầy qua ăn với tôi. Hồi sáng tới giờ, tôi chờ… Thầy về hồi nào mà tôi không thấy kìa?
Tôi hiểu rằng mình nên chiều theo ý muốn của lão, đừng từ chối bất cứ vì một lẽ gì. Lão dọn ra một con cá lóc nướng, một dĩa muối ớt. Chắc lão vừa cúng xong: trên lớp vảy cá cháy khét, mớ tàn nhang rắc lốm đốm. Từng khúc nhang cong queo tuy đã hóa ra tro nhưng còn giữ nguyên hình dáng cũ. Lão nói nhanh:
– Thôi mình ăn.
– Còn ai nữa không bác?
– Đâu còn ai. Dịp này chỉ có thầy với tôi. Món ăn ít quá. Rượu đây, tiên vi chủ – lão uống một hớp rồi trao cho tôi – hậu vi khách.
Rồi lão nhướng mắt, dò hỏi ngay:
– Thầy uống cạn đi. Say sưa gì mà sợ… Công việc của thầy tới đâu rồi?
Tôi hiểu đó là nỗi thắc mắc thầm kín nhứt của lão. Vì thời giờ còn lại quá ngắn, tôi đi thẳng vào đề:
– Dạ, ổng nhắc tới sự tích cái miễu Chúa Ngung, Ma Nương. Trong điền đất của ổng, năm đó, một thiếu nữ mang bịnh điên té xuống sống chết trôi tấp trước bến nhà ổng, rồi “đạp đồng” lên… Là kẻ sanh sau đẻ muộn, chưa từng sống ở Mốp Giăng, tôi thắc mắc quá định về đây hỏi bác.
– Thầy tin tôi hay tin ông chủ Nhan? – Lão trừng mắt hỏi.
– Tôi tin ông chủ Nhan nhưng cũng tin nơi bác. Ổng là người trong cuộc, thưa bác.
Lão cười nhếch mép:
– Đúng như thầy nói. Ông chủ Nhan mới thật là… người trong cuộc! Nhưng còn người khác nữa, cũng trong cuộc. Đó là người lên “xác” Chúa Ngung, Ma Nương…
Lão nhìn trân trân vào bộ mặt vừa ngơ ngác vừa “thông minh vặt” của tôi mà nói gằn:
– Bộ thầy tưởng tôi là kẻ “lên xác” hồi đó hả?
– Dạ, tôi đâu có nghĩ như vậy. Nếu người đó là bác thì chủ Nhan đâu để bác sống kham khổ như vầy. Chẳng hay người đó là ai, ở đâu? Chắc chắn ông ta rành sự tích Chúa Ngung, Ma Nương hơn ông chủ Nhan.
– Người đó… còn ở lại giữ cái miễu đó. Anh ruột của tôi. Anh ấy còn sống cũng như đã chết… Chết mà chưa chôn.
Rồi lão Tư Hiếm hạ thấp giọng:
– Theo lời anh tôi thì người con gái năm xưa bị đâm bằng dao phay vì cô ta dám cả gan chống báng luật lệ của Tây, lúc quan kinh lý tới đo đất lập địa bộ cho ông chủ Nhan.
– Nhưng ông anh đó “lên” thiệt hay “lên” giả?
– Làm sao lên thiệt được? Anh tôi thua cờ bạc, trở về nhà gặp lúc dân chúng đang xôn xao, bất mãn. Họ hồ nghi kẻ giết cô gái chính là… ông chủ Nhan. Anh tôi tới gặp ông chủ, hai người bàn mưu bàn kế. Ngày sau, anh tôi “đạp đồng” trước miễu rồi cả gan dở miếng vải phủ từ bao nhiêu đời trên pho tượng “ông tà”. Ở Mốp Giăng, dân chúng ưa thờ những viên đá rơi rớt, tìm được khi cày ruộng. Anh tôi tự xưng là Chúa Ngung, Ma Nương… tức là vị thần đã bắt cô thiếu nữ nọ cho chết để đem về âm phủ làm vợ. Rồi Chúa Ngung, Ma Nương nói huyên thuyên, xưng rằng Chúa Ngung là người khai khẩn đầu tiên từ ngàn năm xưa tại đất Mốp Giăng… Chủ Nhan phải làm tờ mướn đất của Chúa Ngung, mỗi năm ký giao kèo trở lại một lần… Nói dứt lời, Chúa Ngung chạy khắp tứ phía để cắm ranh đất cho ông chủ Nhan mướn. Dân chúng hoảng sợ, phục Chúa Ngung, Ma Nương sát đất vì xác cắm trúng ngay ranh trong… địa bộ, xê xích chừng vài tấc.
Tôi lắc đầu:
– Mưu kế của chủ Nhan cao cường thiệt, chắc hẳn ông anh nọ đã xem kỹ trên bản đồ, trước khi lên xác.
Lạo Tư Hiếm thở dài:
– Nhưng ông chủ Nhan còn nhiều ẩn ý khác. Ổng muốn nhờ oai quyền của thần thánh để chứng minh cái quyền làm đại điền chủ của mình, để đám tá điền hiểu rằng họ chỉ là người giựt đất của thánh thần. Đã đành rằng họ ra công phá đất trước ông chủ Nhan nhưng Chúa Ngung, Ma Nương đã khai phá trước họ hàng ngàn năm… Nếu họ bất tuân ông chủ Nhan, tức nhiên là họ bất tuân luôn cả thánh thần, mỗi năm họ phải chịu chết oan ức, phát điên phát khùng như cô con gái nọ. Tôi nhớ rõ. Cô ta tên Thừa… Bây giờ theo ý thầy, người lên xác nọ đáng trách không?
– Đáng lắm chớ, mặc dầu chủ chốt là người khác.
– Nhưng anh xác thua cờ bạc, túng tiền. Lãnh của chủ Nhan năm mươi đồng tiền thưởng, để rồi ngày hôm sau thua lại ráo trọi… Của hoạnh tài bất phú.
Tôi cúi mặt nghĩ tới cảnh ngộ không khác, của mình.
– Thưa bác, mình nên thương hại anh xác nọ.
– Nếu gặp mặt anh xác nọ, thầy xử trí ra sao?
– Dạ, làm sao gặp được! Với lại tôi đâu phải là người tá điền bị chủ Nhan giựt đất.
– Xin lỗi thầy, tôi thí dụ như vậy kìa.
Trước câu hỏi đầy ác ý đó, tôi bị va chạm tự ái nên nói gắt:
– Ờ, nếu gặp mặt người xác ấy, nếu tôi là tá điền của chủ Nhan… thì tôi đãi anh ta một tiệc, đại khái như tiệc cá lóc hôm nay.
Lão Tư Hiếm bèn hươi bàn tay, chụp lấy cái ống điếu dài bằng cây ớt hiểm. Lần này tôi thấy rõ: đầu cái ống điếu nọ bịt khoen sắt, thứ khoen khá dày, tuy đã sét nhưng còn cứng.
Tôi biết lão đang bối rối, sự bối rối của kẻ yếu thế. Chắc rằng lão chưa dám và không nỡ hăm dọa tôi!
Tôi dịu giọng:
– Cái người xác bày chuyện đồng bóng đó, coi vậy mà hữu ích. Nhờ vậy hằng năm chắc ở điền ông chủ Nhan cúng miễu lớn lắm. Cờ bạc, ăn nhậu “trong thì trống đánh rập rình, ngoài thì trai gái tự tình cùng nhau” như lễ kỳ yên ở đình.
Lão cười sặc sụa:
– Đúng vậy, làng Mỹ Lâm từ khi ông thầu khoán bị giết, chẳng còn ai muốn cất đình, sợ oan hồn ông thầu khoán cũ vặn họng. Cái miễu của Chúa Ngung, Ma Nương thay thế cho cái đình; dân ở vùng lân cận tuy không phải là tá điền của chủ Nhan cũng rủ nhau nườm nượp tới chung vui. Phen đó, hồi trào thống chế Bê Te, quan Chánh tham biện chủ tỉnh “Gia La” tới dự lễ, dẫn theo bà vợ còn trẻ măng. Ông Tây bà đầm bắt tay “bủa xua” với Chúa Ngung, Ma Nương… Chúa Ngung, Ma Nương trả lời bằng tiếng Tây “com-xi com-xa” khiến ai nấy nín cười không nổi. Rồi ông Tham biện “Gia La” chụp hình buổi lễ, bà đầm vỗ vai xác, cúng cho xác năm đồng… Bả hứa khi về Tây sẽ thuật lại cho bà con cô bác bên đó nghe chơi. Bà đầm đó vui lắm, cười tủm tỉm hoài.
Tôi muốn thêm vào câu nói của lão: “Cười tủm tỉm hoài với hai lúm đồng tiền”. Nhưng tôi nghĩ: “Mình với lão Tư Hiếm hành hạ nhau bằng lời nói làm gì? Như hai kẻ khốn cùng đang đói bụng, chạy bươi đống rác cấu xé nhau để giành một cây tăm xỉa răng”. Sực nhớ tới thời giờ quá ngắn, tôi muốn ra về:
– Thì ông bà Chánh tham biện cũng thị oai với dân bổn xứ, tỏ rằng ta đây là “anh hai” của Chúa Ngung, Ma Nương. Và Chúa Ngung, Ma Nương có tiền của Tây thì mới vui vẻ được. Phen này, Tây biểu ông chủ Nhan viết lại tích xưa, chắc cũng vì mục đích muốn làm “anh hai” đó.
Bộ mặt lão trông khác hẳn! Dè đâu tôi nói êm thắm nhỏ nhẹ mà lão lại giựt mình:
– Mục đích gì? Tây muốn đi Mốp Giăng à?
Tôi nói khẽ:
– Ông quan tư muốn coi tận mặt pho tượng đá trong miễu Chúa Ngung, Ma Nương, luôn dịp sưu tầm tại chỗ những pho tượng khác, hỏi thêm tục lệ cúng kiến, hoặc tìm người “xác” cũ để hỏi lại.
– Tại sao Tây không mướn ai đi ăn cắp pho tượng hoặc mời người tại Mốp Giăng ra chợ cho gọn? – Lão hỏi.
– Vì… ông chủ Nhan nằng nặc mời Tây vô Mốp Giăng rồi đóng đồn luôn. Vả lại ai dám đi Mốp Giăng một mình để ăn cắp tượng thờ trong miễu? Người ở Mốp Giăng đâu dám ra chợ, liên lạc với Tây để lãnh tiền rồi về nhà. – Tôi đáp.
– Thời buổi giặc giã, khó quá. Nghĩ mà tủi thân cho vong hồn con nhỏ chết hồi đó. Chết rồi mà thiên hạ nói vầy, nói khác, bán đứng nó. Thầy biết chừng nào Tây vô trỏng không?
– Trời ơi! Bí mật quân sự. Nhưng tôi đoán: ông quan tư đi liền để kiếm pho tượng đem về tặng bà bá tước bên Tây. Ông quan tư chờ câu chuyện Chúa Ngung, Ma Nương của tôi viết. Chiều nay, tôi nạp chuyện đó cho chủ Nhan dịch ra chữ Tây. Thôi kiếu ông, tôi về giây lát để viết gấp cho đúng hạn.
Lão chép miệng, nhìn lên trời:
– Thầy làm công chuyện của thầy, mai mốt thầy còn đường tiến thân nơi chợ búa. Phần tôi, trước sau gì cũng về quê xưa. Thầy năm nay bao nhiêu tuổi rồi?
– Dạ, hai mươi bốn. Khi nãy, tôi lỡ thốt nhiều lời vô lễ. Bác tha thứ giùm em cháu.
– Người gần chết như tôi còn dám bắt bẻ lời nói của ai. Nếu tôi giận thầy một, thì phải giận tôi tới mười mới công bình. Thôi, thầy đi đi.
Tôi khép cửa, chán nản hơn bao giờ hết. Mưa lất phất. Tôi viết đại khái về trường hợp ông Henri Nhan phát giác pho tượng Chúa Ngung, Ma Nương, đúng theo lời lẽ ông ta thuật lại. Viết xong, đã hơn hai giờ hai mươi phút. Tôi lướt dưới cơn mưa, liếc nhìn thấy cánh cửa nhà lão Tư Hiếm đã khép kín.
Dường như ông chủ Nhan đã thức suốt buổi trưa để chờ đợi mớ giấy nháp của tôi. Ông ta gật đầu từng chập, sau cùng đưa ra ý kiến:
– Thế là xong, nhưng phần nhập đề còn yếu. Ông thi sĩ quên chuyện Lộc Giác Chân Nhân rồi à? Từ Lộc Giác Chân Nhân mình bắc cầu qua Chúa Ngung, Ma Nương nghe mới xuôi tai.
Tôi viết nhanh:
– “Trên đường lập quốc, dân tộc Việt Nam lập nhiều kỳ công rạng rỡ, chém tre đẵn gỗ để cày cấy giữa rừng ma. Giai thoại Lộc Giác Chân Nhân tiêu biểu cho miền cực Bắc: Tục truyền rằng ở vùng sơn cước tỉnh Cao Bằng, xưa kia có người tiều phu sống dai hơn trăm tuổi. Một hôm, ông ta gọi đứa con trai đến mà bảo: ‘Lát nữa đây cha chết, hóa thành con nai. Kiếp trước của cha là con nai, nhờ tu luyện nhiều kiếp nên mang xác người. Con hãy gỡ cái gạc trên đầu cha, dùng dây mà kéo như kéo cày. Khi nào cái gạc vướng vào cây cỏ, còn dừng lại, cày cuốc tại đó ắt sẽ phát đạt’.
Nơi miền Tây Nam Việt Nam, có chuyện Chúa Ngung, Ma Nương nhắc nhở cho người đi khai hoang về đức tính khiêm tốn, sùng bái tiền nhân. Khắp vùng Rạch Giá, Cà Mau, tục lệ ‘tá thổ’ mướn đất của ma, của Chúa Ngung, Ma Nương chẳng nơi nào rõ rệt bằng ở xóm Mốp Giăng, gần Óc Eo, núi Ba Thê – vị trí quan trọng đánh dấu sự ‘dung hòa’ giữa văn hóa các nước Đông Nam Á, đặt nền móng cho ‘dân tộc tính’ Việt Nam. Ông Nguyễn văn Nhan với tấm lòng nồng nhiệt yêu mến quê hương đất nước đã khôi phục và bảo tồn tục lệ cổ truyền giàu ý nghĩa ấy…”.
Xem xong, ông Henri Nhan đứng dậy, đem tất cả xấp giấy qua đồn Lê dương.
– Tôi sẽ trình bày tỉ mỉ. Nhứt định ông quan tư Ca Rê hài lòng. À, ông thi sĩ ở nán chờ tôi. Biết đâu vào giờ phút chót mình cần thêm bớt vài chi tiết cho câu chuyện suôn sẻ hơn. Nó thuộc vào hàng chuyện cổ tích “có thể diện” trên quốc tế đó.
Tôi ngồi chờ. Bà chủ thức giấc, mắng khéo chị ở:
– Nãy giờ sao chị chưa pha cà phê cho ông thi sĩ?
– Thưa, pha luôn…
– Ờ, tôi một ly, nhà tôi một ly.
Dường như bà chủ chẳng chú ý nhiều đến công việc “chạy chọt” của chồng. Rửa mặt chải tóc xong, bà đến hành lang nói khẽ:
– Ở xứ người, cái gì cũng ngộ. Từ việc quảng cáo kiểu áo kiểu quần, quảng cáo dầu thơm đến mục chiêm tinh học! Tôi cắt một cái “bông” trong báo gởi qua giáo sư F.N. nhờ đoán vận mạng giùm, cả tuần rày sao chưa thấy trả lời. Bên mình… mấy ông thầy Tàu mù đôi khi đoán khá quá. Như hồi năm kia, hai ba ông mù đều đoán tôi gặp người chồng giàu có, nhưng chồng tôi sẽ suy sụp vì thời cuộc. Trong khi đó, ngôi sao của tôi sáng lên!
Cánh cửa sắt ngoài cổng từ từ mở. Ông Henri Nhan chạy nhanh vào, gương mặt tươi rói:
– Ông quan tư chịu quá. Ngày mai hoặc đêm nay, ổng đi Mốp Giăng, mình à.
Bà Henri hơi giựt mình:
– Chuyện gì? Tối nay ông ăn tiệc trước với ổng?
– Mình hãy chuẩn bị đi theo ổng để chỉ rõ thêm đường đất. Rồi về mặc sức mà ăn tiệc.
– Tại sao ông không đi? Nhà binh thiếu gì bản đồ. Đàn bà như tôi đi theo làm gì thêm nguy hiểm… cho tôi.
Ông Henri gãi đầu lia lịa:
– Khổ quá! Tôi nói mà mình chậm hiểu. Mình chỉ cần mặc áo bà ba, quần lãnh đen được rồi. Đầu đuôi cuộc hành quân diễn ra chớp nhoáng trong vòng bốn tiếng đồng hồ. Xa hai mươi cây số chớ mấy? Gặp mặt tôi, dân tá điền họ thắc mắc. Chẳng lẽ tôi đem cái tượng đá trong miễu mà nạp cho Tây, còn gì thể diện tôi? Thế nào ông quan tư cũng nhơn dịp đó đóng bót rải rác dọc đường… Mai chiều yên tĩnh, tôi vô sau.
Bà Henri cau mày:
– Ừ! Tôi đi cho, đi vài tiếng đồng hồ chớ gì! Mà phải có ông quan tư, tôi mới đi. Tụi lính Lê dương ăn nói xô bồ xô bộn lắm. Tối nay đi hả?
– Bí mật quân sự, chừng đi thì họ kêu mình!
Linh tính như báo trước một sự trục trặc sắp xảy ra trong đời tôi. Đành rằng nếu không có tôi tiếp tay vào việc viết chuyện Chúa Ngung, Ma Nương, trước sau gì ông Henri Nhan cũng tìm cách đạt mục đích riêng. Nhưng lương tâm của tôi bứt rứt lạ thường: Tiếng súng sẽ nổ hai bên đường, tiếng máy tàu ầm ầm, chuột phải chạy toán loạn, bưng sen dồi dập, những nông dân ngơ ngác sẽ cúi mình núp sau bờ cỏ hoặc lặn trầm xuống nước, miệng ngậm cọng bông súng để thở… Mệt quá, tôi đứng dậy nói khẽ:
– Thưa ông, chuyện tạm xong. Xin ông cho tôi về nhà, sáng mai tôi trở lại.
Ông Henri trợn mắt:
– Bộ ông… giỡn sao chớ? Tối nay, ông phải ở đây luôn. Chẳng đặng đi đâu cả! Lịnh của ông quan tư Ca Rê đó! Ổng muốn giữ bí mật quân sự, dầu đối với lính của ổng. Cả nhà tôi, từ giờ phút này đến khi có lịnh mới của ổng, chẳng ai được đi chợ. Rủi cuộc hành quân tiết lộ bị đánh úp dọc đường ai chịu trách nhiệm đây?
Rồi ông trỏ vào ngực mình:
– Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn trước quân đội Pháp. Tôi cúi đầu thở dài, trở lại ghế ngồi day vào trong nhà, đưa lưng ra phía hai cái họng súng ô buýt đen ngòm.
Ông Henri lên nhà trên, nói vọng xuống:
– Chiều nay tôi uống rượu trừ cơm. Bà nhớ: khi nào nghe ngoài cửa nhận ba hồi chuông tức là năm phút sau bà đi với ông quan tư. Đêm nay, dặn chị ở nhớ ngủ sẽ thức, đừng để họ kêu réo nhiều lần.
Chiều hôm ấy, tôi ăn lua láo một chén cơm, ăn chung mâm với chị ở… Tôi tủi thân trong cảnh giam lỏng bất thình lình này… Trong phút giây, tôi thử tưởng tượng đến kế hoạch tẩu thoát. Hàng rào ngôi biệt thự quá thấp, trèo ra dễ dàng, Nhưng trèo để làm gì? Về Xóm Biển gặp lão Tư Hiếm, tôi sẽ ăn nói ra sao? Nói thật về cuộc hành quân của Pháp chăng? Rủi bề gì, tai vách mạch rừng. Nhưng quân đội Pháp sẽ lên đường vào giờ nào? Đêm nay hay là sáng mai? Vắng mặt tôi, ông Henri sẽ báo động… Còn về nhà để nằm yên một chỗ, tự giam hãm giữa khói thuốc và tiếng sóng biển, thức đêm với nỗi tâm tư đen tối thì về làm gì? Tôi tự an ủi:
– Mình nên ở đây để bảo vệ sanh mạng cho mình và cho lão Tư Hiếm.
Trên nhà, vợ chồng ông Henri nói chuyện thì thào, cãi to tiếng vài câu. Máy thâu thanh bỗng vang lên vài điệu nhạc. Lính Lê dương bên đồn tập họp điểm số. Trời lại mưa.
Tiếng động cơ xe hơi, tiếng giày đinh, tiếng kêu réo của bọn lính Lê dương đã đánh thức tôi, đâu hồi bốn giờ khuya.
Xe chạy ầm ầm ngang qua cổng biệt thự. Bà Henri đã ra khỏi nhà hồi nào… Ngọn đèn ở hành lang vẫn để sáng, suốt đêm. Một đóm lửa từ từ rề lại trên chiếc ghế bố, nơi tôi đang nằm. Tôi giả bộ nhắm mắt. Đóm lửa nọ đáp xuống sát mí mùng rồi từ từ rời ra: ông Henri Nhan dò chừng xem tôi còn nằm tại đây hay đã lẻn trốn!
Sau buổi lót lòng, ông Henri bảo tôi đem giấy mực tiếp tục viết nốt phần tiểu sử cận đại nhứt của đời ông, giai đoạn từ 1944 đến nay. Ông dẫn giải sơ sài vài nét chánh rồi ngồi trầm ngâm, lẩm bẩm từng chập:
– Chừng này, đoàn xe tới cầu số Một, lính sắp hàng xuống tàu… Con kinh cạn lắm, “tụi nó” chẳng có cắm chướng ngại vật, tàu của Tây hay lắm, chạy nơi nước cạn dễ dàng. Tàu tiến về Mốp Giăng theo lòng con kinh do tôi đào hồi năm 1936. Nếu chú ý, ông quan tư sẽ thấy rõ núi Ba Thê, núi Tượng, cái Sân Tiên trên núi… Chẳng hiểu nhà tôi biết cách giải thích không nữa? Đàn bà hời hợt lắm. Chắc thế nào đoàn tàu cũng ghé ngay bến, lên sân nhà tôi. Nhà bị phá hết rồi nhưng còn nền sân lót gạch phía trước…
Những điều ấy, ông chủ Nhan nói cho riêng ông ta nghe… Tôi giữ thái độ im lặng, cắm đầu viết. Ngòi viết chạy nhanh trên giấy nhưng tâm trí của tôi vẩn vơ tận đâu đâu. Rủi ông quan tư bị phục kích dọc đường, tình thế sẽ ra sao? Tánh mạng của tôi thật mỏng manh như… lông hồng, chỉ cần một ngọn gió nhẹ cũng đủ bay mất đất.
– “Năm 1945, vào tháng Ba, quân đội Nhựt đảo chánh Pháp. Bấy giờ ông Henri Nhan giữ thái độ bàng quan. Sở tình báo Đông Nam Á của Nhựt hoàng phái người đến dụ dỗ, mua chuộc, dọa nạt nhưng ông chẳng sờn lòng. Ông tin tưởng nơi sự biến chuyển của tình hình quốc tế: kháng chiến quân Pháp, dưới sự lãnh đạo của tướng De Gaulle nhứt định thành công, người Việt Nam nhờ đó sẽ được hưởng qui chế tự trị để tiến lần lần tới nền độc lập thật sự. Thống chế Bê Te là nhân vật lỗi thời.
Năm ấy, vào tháng Tám, ông lãnh chức cố vấn Thanh niên Tiền phong tỉnh Rạch Giá. Sau ngày Việt Minh cướp chánh quyền, ông bị chúng cưỡng bách, lạc quyên tất cả bốn kí lô vàng y. Đầu năm 1946, trung thành với tôn chỉ ‘minh triết bảo thân’ ông tản cư về vùng ‘giải phóng’ Minh Lương, chẳng thèm trở về đồn điền Mỹ Lâm. Ông dư hiểu rằng các tá điền thừa cơ hội ấy đập phá nhà cửa, bắt giết trâu bò của ông nhưng ông mỉm cười: Tình thế loạn lạc, ‘khôn cũng chết, dại cũng chết, biết là sống’, ‘mình đừng khiêu khích ai nhưng cũng đừng để ai khiêu khích mình’. Lúc tản cư, ông thấy bọn Việt Minh đã chủ trương nhiều điều sái quấy khiến ông không phục. Nghe tin ở Sài Gòn nhóm ‘Nam Kỳ tự trị’ phát triển ồ ạt, ông vui mừng, vượt vòng vây trở về chợ Rạch Giá, quy thuận với nhà binh Pháp và ông gặp những người bạn Pháp cũ… Ông mạnh dạn đánh điện về Sài Gòn, hưởng ứng thuyết phân ly, triệt để ủng hộ Thủ tướng Nguyễn văn Thinh nhưng đồng thời chỉ trích vài điểm quá nhu nhược của chính phủ Nam Kỳ tự trị.
Tôn chỉ của ông Nguyễn văn Nhan, tóm lại trước sau vẫn là: ‘Tranh đấu cho xứ sở. Nước Nam Kỳ của người Nam Kỳ. Tự do, Hạnh phúc, Sung túc’. Nhiều người vì chưa am hiểu bầu nhiệt huyết của ông, vội trách ông là phần tử cách mạng quá khích”.
Từ trong phòng, ông Henri Nhan lại trở ra, một tay cầm tấm bản đồ, một tay cầm ly rượu… Vừa ngồi xuống ghế, ông nhăn nhó:
– Chị ở đâu? Đem thêm một đôi vớ nữa cho tôi. Bữa nay sao tôi nhức bắp chân hơn mọi khi?
Trải tấm bản đồ lên bàn, ông gọi:
– Ông thơ ký… Ủa ông thi sĩ.
Nghe gọi đích danh, tôi ngẩng đầu lên:
– Thưa ông?
– Ông xem bản đồ… Điền đất của tôi, rõ ràng bao la bát ngát nào kém Domaine Agricole của Tây. Thật hãnh diện cho người Việt Nam. Mặc dầu cái “ê xen” rút lại, nó vẫn to hơn lòng bàn tay, trong khi đồn điền Tây Bẹt Te cũng chẳng lớn hơn bao nhiêu… Lẫm lúa tôi ở ngay “bon” này… Chuyến về, chắc chắn ông quan tư Ca Rê và nhà tôi đi con đường này, quẹo ra kinh này…
Tiếng phi cơ rền vang, càng rõ rệt. Hai chiếc săn giặc sơn đen ngòm tiến về phía đồn, ngay biệt thự, hạ xuống thấp để lộ màu cờ tam sắc dưới cánh rồi trở về hướng Đông bắc.
Ông Henri Nhan reo to:
– Đó, ổng đang trên đường về. Tụi máy bay đánh điện cho đồn hay. Hành quân quan trọng, đích thân quan tư Ca Rê chỉ huy, hèn gì! Dè đâu ổng lo châu đáo đến chừng đó. Chắc chắn ổng bình yên, thắng trận. Bằng không, quân tiếp viện kéo vô Mốp Giăng ầm ầm rồi. Nãy giờ, tôi mới hiểu thấu đáo câu nói của ông quan tư hồi trưa hôm qua. Khi tôi dịch câu chuyện Chúa Ngung, Ma Nương cho ổng nghe, ổng nói: “Năm 1914 – 1918 và 1940 – 1945 người Việt Nam giúp nước Pháp chống Đức. Đã đến lúc người Pháp hy sinh đổ máu giúp trở lại người Việt Nam”. Ổng còn hứa đem quyển tiểu sử của tôi về Pháp để xuất bản làm tài liệu lịch sử Đông Nam Á. Tiền bản quyền khá to. Tôi sẽ tặng ông thi sĩ sáu mươi phần trăm. Nhiều điều may mắn đang đến cho tôi và cho ông thi sĩ.
Đoàn “công voa” lính Lê dương đã tới. Trên chiếc xe đi giữa, bà Henri và ông quan tư Ca Rê ngồi bên nhau, họ đưa tay ngoắt trong khi ông Henri chạy ùa đến cổng, quên xỏ chân vào dép. Hai tay ông ta dang ra như hai cánh cửa sổ mở tung đón tất cả ánh mặt trời và không khí.
Bọn Lê dương hát inh ỏi, quơ tay làm dấu hiệu với bọn trong đồn.
Ông Henri Nhan đích thân mở cổng.
Bà đi nhanh vào nhà, dáng điệu nhảy nhót, miệng nói huyên thiên:
– Bình yên, vạn sự may mắn! Ông Ca Rê giữ bo bo cái tượng đá nữ thần Ba Tư, khen ngợi rằng cái ngôi sao của tôi quá tốt. Cuộc hành quân sở dĩ được toàn thắng… nhờ nụ cười hộ trợ của nữ thần… Ba Tư tái sanh là tôi đây! Tụi Tây nịnh đầm giỏi quá.
Ông Henri cau có:
– Mình cứ nói bá láp. Tới Mốp Giăng hả?
– Ông này hỏi lạ! Phải tới đó mới về đây chớ. Nhà cửa lưa thưa như… chòm mả. Dân tá điền chạy trốn ráo trọi. Cảnh cũ mà mình nhìn không ra. Phải có mình đi theo, chắc mình khóc quá. Ông Ca Rê lại miễu để “cuổm” cái pho tượng đá, bắt một người tá điền của mình, cái ông già lên xác mọi lần đó. Ông già đó cũng bướng quá! Ông Ca Rê muốn hỏi han sự tích, ông già nhè lên xác, múa tay múa chân, đòi vặn họng Tây, vặn họng luôn cả vợ chồng nhà mình! Ông già lên xác nói rằng Chúa Ngung, Ma Nương đã tặng tất cả đất đai cho cô gái năm xưa bị chủ… Nhan ám sát… Chúa Ngung, Ma Nương nói từ bốn năm nay vợ chồng mình không cúng miễu nên bị mất quyền hạn.
Gương mặt ông Henri biến sắc, môi tái lợt:
– Cái gì? Thằng xác đó nói xấu tôi à? Nó lên xác giả, để vu cáo tôi! Nó đâu rồi! Tôi phải giết nó. Tôi phải thanh minh với ông Ca Rê. Tại sao ông Ca Rê không đóng đồn luôn để gìn giữ cái miễu như ổng đã hứa với tôi?
– Thì mình cứ qua bên đồn mà hỏi. Ông Ca Rê bắt sống lão xác đó, còng tay còng chân đem luôn về đây. Ông Ca Rê nói đất của mình vô dụng chỉ để dành trồng cỏ, nuôi rắn… chẳng nhằm địa thế quan trọng, đóng bót uổng lính.
Ông Henri Nhan chạy tất tả ra cổng:
– Điệu này chắc tôi chết mà không nhắm mắt. Để tôi qua bên đồn mắng ông Ca Rê một trận!
Nhưng “người chết không nhắm mắt” giờ phút này chính là tôi.
Chờ ông Henri khuất dạng, bà nói khẽ:
– Ông thi sĩ về đi, hết công chuyện rồi! Vọc nước giỡn trăng, tôi biết trước mà. Ông cứ lãnh thêm trăm đồng. Đừng ở đây, đừng lẩn quẩn ở Xóm Biển lâu ngày không nên. Ông già bị bắt dường như mang giấy “lách xê” địa chỉ cư trú Xóm Biển như ông.
Tôi thừ người, như đứng giữa tư bề lửa đỏ. Bà vịn vào vai tôi, nói nhanh:
– Tôi mến ông lắm, rất tiếc chưa giúp ông được gì. Bấy lâu, tôi xem ông như người em đáng thương. Ông về đi, nhớ coi chừng coi đỗi. Đừng buồn. Sự việc trước sau gì cũng chỉ xảy ra như vậy thôi!
Nhà lão Tư Hiếm đóng cửa chặt, đóng từ trưa hôm qua. Người lân cận nói thêm:
– Sau khi thầy ra khỏi nhà, chập sau ổng cũng đi, mang theo cái ống điếu cây ớt hiểm. Chắc là đi chơi xa.
Tôi nằm im trên giường, chẳng màng việc ăn uống. Tôi đóng chặt cửa, chẳng cần hé ra xem thử. Tôi biết rằng nhà lão Tư Hiếm chẳng bao giờ mở cửa để đón tôi nữa. Ngay chiều hôm đó, dường như có hai người lạ mặt đi ngang qua nhà lão, nhìn số nhà rồi nhìn qua nhà tôi đang ở trọ. Tôi hút thuốc, tay chân mãi lạnh ngắt. Tôi không sợ những người còn sống, tôi chỉ sợ người khuất mặt… Họ có thể gặp tôi bất cứ giờ phút nào, bất chấp cả những bức tường ngăn cách. “Đừng buồn… Trước sau gì cũng chỉ xảy ra như vậy thôi!”. Câu nói chân thành ấy có lẽ chỉ an ủi đắc lực kiểu người ưa đùa giỡn như bà chủ Nhan. Đối với tôi, nói vẫn là ngụy biện. Ngoài biển đen ngòm, vài đốm sáng leo lét của loại đèn bão treo tòn ten tận chót cột buồm ghe lưới. Ghe neo lại nhưng ánh đèn rung rinh, trở thành những vì sao trong đêm tối om. Lâu lâu, vượn hú, khỉ kêu nghe thảm thiết bên rặng cây bần. Mưa lạnh lâu ngày, vin mãi trên cành, khỉ vượn vừa sợ đói vừa sợ té, rốt cuộc vẫn té vì đói vì lạnh để rơi vào miệng cọp. Đó là chuyện rừng núi. Ở Xóm Biển này, khỉ vượn chỉ bị trầy trụa, lem lấm chút ít để rồi từ bãi bùn chúng trèo trở lên cành mà vin mãi.
Sáng hôm sau, người lối xóm tri hô: Một cái xác vừa trôi vào bãi bùn, xác của lão Tư Hiếm! Cá tôm rỉa xác lão gần hết nên – ngoại trừ tôi ra – người trong xóm chẳng ai rõ lão từ đâu trôi đến và chết… vì chứng gì. Vài giờ sau, nước ròng, cái xác đó trôi ra Hòn Tre mất dạng.
Tôi chẳng dám chạy ra biển để xem. Mênh mông quá! Từ trong lỗ tai tôi, vọng ra lùng bùng nhiều câu nói khàn khàn mơ hồ. Trước mắt tôi, chập chờn vài mảnh chiêm bao. Hôm sau, tôi lìa bỏ Xóm Biển – cái quê hương tạm bợ – để đi tìm sanh kế ở thành phố khác.
Bây giờ đây, chế độ điền địa đã thay đổi hẳn, những đồn điền “cò bay thẳng kiếng” đều bị truất hữu, nông dân lần lần trở thành tiểu điền chủ. Qua bao năm chiến tranh Việt – Pháp, hàng vạn người chịu hy sinh, nào phải riêng ai. Bóng của lão Tư Hiếm phai dần trong tâm tư của tôi. Từ buổi lên Sài Gòn, tôi tập nghề viết báo, thỉnh thoảng viết bài nhận định về kịch trường; sinh kế đã tạm ổn định. Chuyện viết tiểu sử cho ông Henri ngày xưa không còn đáng nói nữa. Nhưng quả đất vốn tròn! – Xin phiền các bạn hãy ráng đọc thêm vài trương nữa, tuy nó hơi nhàm, kém hấp dẫn. Truyện Hậu Vân Tiên làm sao lý thú bằng truyện Vân Tiên hồi đầu.
Số là buổi ấy, tôi về gác trọ chợt thấy ai để sẵn trên bàn một bó hoa huệ! Từ thuở bé đến từng tuổi này, tôi chưa được người nào tặng hoa tươi cả. Hay là thiên hạ lầm địa chỉ? Dáng điệu ngạc nhiên của tôi càng khiến bà chủ nhà thắc mắc:
– Ủa! Thầy không quen với bà đó sao? Bả hỏi trúng tên thầy, dường như gởi lại phong thơ đâu đó. Bả đi xe Huê Kỳ mới tinh. Chào hỏi tử tế lắm.
Phong thơ nằm khép nép sát mặt bàn, che lấp dưới bó hoa. Bên trong, một tấm danh thiếp: Đoàn Thi Ca Vũ Nhạc Kịch “Hương Sắc 65” Giám đốc: bà Nguyễn thị Quỳnh Hương, biệt xá 3000/1 đường Trương Minh Ký Sài Gòn.
Gánh Hương Sắc thuộc vào hạng nhỏ lưu diễn miền lục tỉnh, năm ngoái về Sài Gòn hát ba đêm nhưng chẳng gặt hái kết quả tài chánh khả quan nào. Nghe đâu sau chuyến Trung du, đoàn lên Kontum, rã tại đấy từ hồi tháng sáu. Bà Nguyễn thị Quỳnh Hương là ai? Gánh hát nào mới lập đây? Bức thơ kèm theo tấm danh thiếp giúp tôi hiểu rõ.
Thân gởi ông Hoài Hương
Ký giả Kịch Trường,
Nhận được thơ này chắc ông hơi ngạc nhiên nhưng xin phép ông cho tôi tự giới thiệu; tôi là bà Henri Nguyễn văn Nhan ngày xưa ở Rạch Giá. Trong thời gian gần đây, tôi hân hạnh thấy ông tiến nhanh với những bài phê bình sắc bén. Đoàn “Hương Sắc 65” đang trên đà thành hình và hy vọng rất nhiều nơi thiện chí của ông để góp phần xây dựng sân khấu nước nhà. Nhà tôi vẫn thường nhắc nhở, gặp ông nhà tôi mừng lắm. Trưa mai, xin ông vui lòng đến nhà tôi dùng buổi cơm thân mặt để ôn lại những thời gian qua…
Giai thoại Chúa Ngung, Ma Nương, cái chết của Tư Hiếm, chuyện chuột, bưng sen bỗng nhiên bừng sống dậy. Tôi hút thuốc liền miệng, nhớ tới những trang giấy nháp do tôi viết hồi xưa. Bữa cơm trưa mai nhứt định gây chút ít hiểu lầm. Vài bạn ký giả sẽ hồ nghi rằng tôi sắp bẻ cong ngòi bút, chuẩn bị nâng đỡ đoàn hát của bà Quỳnh Hương một cách thiếu vô tư. Nhưng tôi bất chấp dư luận ấy. Tôi muốn gặp ông Henri Nhan để hiểu rõ về cái chết của lão Tư Hiếm, về cái miễu ở Mốp Giăng. Bao nhiêu nước chảy qua cầu… chắc ông ta sẵn sàng nói riêng với tôi tất cả sự thật.
Ngôi biệt của vợ chồng ông Henri Nhan chiếm khu đất hơi rộng – tuy bé hơn cái bất động sản ngày xưa ở Rạch Giá. Mười giờ sáng, tôi đã rón rén tới cổng, đứng ép mình, thử quan sát bên trong. Vóc dáng của ông Henri làm sao tôi quên hoặc lầm lẫn với kẻ khác! Dưới dàn hoa thiên lý mát rượi, ông ngồi hút thuốc, chân mang vớ tận gối, đội chiếc bê rê đen (chắc là để che cái đỉnh đầu sói sọi). Giữa sân, hai hòn non bộ đối diện, “hai hải đảo thần tiên” thì đúng hơn vì có nước bao xung quanh. Dưới đáy hải đảo, ông đã xây một chốn thủy cung dành riêng cho loại cá vàng, cá sọc… Bỗng dưng, ông búng hai ngón tay nghe “tróc, tróc”. Từ bên kia nhà, một con chó caniche chạy tung tăng ra sân. Nó kéo khệnh khạng một kiểu xe mà các tướng La Mã thời xưa thường dùng khi ra chiến trận. Trên chiếc xe hai bánh ấy, một con búp bê tí hon nằm ngửa, kê trên gối gòn. Ông Henri nói lẩm bẩm vài câu tiếng Pháp. Con chó dừng bước, quay bên phải, bên trái… Tôi thương xót cho tuổi già của ông: trò chơi ấy ngụ nhiều ý nghĩa! Ông ao ước sẽ có một đứa con trai để nối dõi – nỗi ao ước gần như tuyệt vọng. Lúc điều khiển con chó, hàm râu ông nhếch lên, khoái trá như người hát xiếc đang chế ngự một con sư tử hung hăng nhứt thế giới!
– Chào ông chủ! – Tôi mạnh dạn lên tiếng, chẳng bợn chút tự ti mặc cảm. Thời nay khác thời xưa. Nếu ông chủ Nhan “đã” là một nhân vật thì tôi đây “đang”… là một nhân vật đến viếng theo lời yêu cầu của chủ gia chớ nào phải vì muốn xin công việc làm.
Qua vài câu hỏi thăm, ông nói:
– Nhà tôi đi kêu đào kép, mướn họa sĩ, giao thiệp với ký giả. Tôi đau yếu hoài, ngồi nhà đóng vai tuồng của… một cây nêu!
Ông nói tiếp:
– Thời buổi tân tiến này không cần dựng cây nêu trước sân, thiên hạ vẫn cứ ăn tết vui vẻ rộn rịp như thường. Ở thành thị, thôn quê gì cũng vậy, phải không ông thi sĩ. Tôi là cây nêu trong nhà!
Tôi đỡ lời ông, liếc mắt qua bàn giấy:
– Ông vẫn là người hữu dụng cho xã hội, nếu ông muốn. Dường như ông đang viết…
Ông thở dài:
– Tôi dự định viết hồi ký, theo kiểu Thủ tướng Churchill nhưng còn trong vòng chuẩn bị, nghiên cứu thêm về triết học Đông Tây, rút vài kinh nghiệm lưu cho hậu thế. Đâu như cái “tiểu sử” hồi xưa, ông quên giùm tôi, đừng nhắc lại.
Tôi chụp lấy cơ hội tốt ấy:
– Trong thiên hồi ký bây giờ, tôi tin rằng ông còn dành ra mươi hàng để nói về chuyện Chúa Ngung, Ma Nương, quan tư Ca Rê và… tôi.
– Từ sáu bảy năm nay, tôi ao ước gặp ông để thanh minh, kẻo ông hiểu lầm. Người trẻ tuổi như ông đôi khi hẹp lượng! Thật ra, giới đại điền chủ ở Hậu Giang rất hiền hậu, so với các “anh hùng hảo hán” đi chinh phục… đất hoang ở Mỹ hoặc Nam Mỹ Châu hồi thế kỷ thứ mười tám.
– Tôi hiểu rồi, nhưng còn cái tích Chúa Ngung, Ma Nương đầu đuôi ra sao? Trong miễu thờ pho tượng gì?
– Chuyện dài lắm, ông hãy nằm trên chiếc ghế “phô tơi” nghỉ lưng. À, vài tháng sau cuộc hành quân Mốp Giăng hồi xưa, ông Ca Rê đổi ra Trung Kỳ, tử trận ngoài ấy. Pho tượng đã được gởi về Pháp trước đó một tháng. Ông Ca Rê bảo là tượng người nữ tỳ cầm thếp đèn nhưng đã gãy tay, thuộc mỹ nghệ Ba Tư, sản xuất tại Óc Eo, chân núi Ba Thê từ thế kỷ thứ ba, thứ tư sau Tây lịch…
° ° °
Bấy giờ, tôi mới hiểu tục lệ cúng Chúa Ngung, Ma Nương gọi một cách văn chương là lễ “tá thổ”. Theo lời ông Henri Nhan kể thì bốn chữ ấy chỉ tạm ghi lại bốn âm thanh khó đọc: “Chu Ngun, Me Nang”, tên đôi vợ chồng ma quái. Chẳng ai rõ tục lệ đó đã có từ thuở nào. Họ là hai vợ chồng nên phải chọn hai người lên xác. Xác “lên” nói thứ tiếng khó hiểu, đòi ăn mắm sống và rau răm. Chủ điền phải xin phép mướn đất với hai vợ chồng Chúa Ngung, Ma Nương vì mảnh đất hiện tại, mặc dầu còn bỏ hoang ít nhiều, vẫn thuộc quyền sở hữu của vợ chồng họ từ ngàn năm trước. Năm đó, sau khi khẩn đất, ông chủ Nhan đến Mốp Giăng công bố cho ai nấy biết quyền hạn của ông. Nông dân nhôn nháo lên phảm đối. Để hợp thức hóa về mặt địa bộ đối với nhà cầm quyền Pháp, ông chủ Nhan mướn lập tức một viên kinh lý để ông này đến tận Mốp Giăng thi hành việc đạc điền, với sự yểm trợ của bốn người lính mã tà. Cuộc tranh chấp diễn ra nhưng ông chủ Nhan viện cớ, đi vắng mặt. Trong khi ấy, viên kinh lý cứ ung dung bố trí “bông tiêu” đặt ống kính để nhắm, đo đất.
Số nông dân bèn giết heo ăn thề, uống rượu giữa trời. Bỗng nhiên một cô gái tên là Thừa chạy tới đứng sát vào ống kính để che lại. Viên kinh lý nói khẽ:
– Con nhà ai kỳ quá vậy. Đi dang ra xa để người ta làm việc… Mấy chú lính mã tà đâu rồi? Chúng ta cứ thừa hành phận sự do ông Henri Nhan giao phó, được quan Thống đốc Nam Kỳ chuẩn y.
Một chú lính mã tà nói giọng khiêu khích:
– Cô này mần cái gì ngộ quá ta… Để quan kinh lý nhắm máy. Đi dang ra. Muốn chồng hả? Chịu làm bé tôi không?
Cô gái quát to:
– Tôi đứng đây hoài, tôi không chịu thua mấy người đâu!
– Cô ăn thua với Tây hả? Thử ăn thua coi?
Anh lính mã tà nói chưa dứt lời, cô gái đột nhiên cởi toạt tất cả mớ y phục lem lấm của mình.
Đôi mắt quan kinh lý rời khỏi ống nhắm trắc địa, ông giận run lên:
– Làm cái gì kỳ vậy? Trần truồng như nhộng, giữa đám đông cô chẳng biết mắc cỡ à?
Cô gái đáp:
– Mắc cỡ cái gì? Hễ cái miệng đói thì cái “mông” cũng chết! Xưa nay, chưa có người nào chết đói mà cái “mông” còn sống được. Tôi làm vậy đó. Không mắc cỡ gì hết.
Tuy nhiên, hai hôm sau, việc đạc điền vẫn hoàn tất. Tên mã tà bèn giết lén cô gái vô lễ nọ rồi hắn đến gặp ông Henri để xin chút ít tiền thưởng.
… Nghe câu chuyện thương tâm ấy, tôi thầm phục tinh thần của phái yếu. Lắm khi, họ gan dạ hơn phái mạnh, bất chấp gươm súng của thực dân Pháp – như cô gái nọ là một thí dụ.
Tôi hỏi nhanh:
– Mồ mả cô gái còn không? Tên sát nhơn ấy bây giờ ở đâu?
Ông Henri Nhan mỉm cười:
– Xin lỗi, hay là… ông thi sĩ nghi ngờ chánh phạm là tôi?
Tôi cau mày:
– Ông hơi nóng. Tôi xin lỗi ông đó. Hồi xưa, ông đâu cần đích thân xách dao, đâm lén một thiếu nữ tay không… Tôi nghi ông để làm gì?
Ông Henri Nhan gật đầu:
– Ông thi sĩ tin tôi, lẽ đâu tôi chẳng nói tiếp. À, sau khi lãnh tiền thưởng, tên mã tà sát nhân đó về chợ Rạch Giá. Hai ngày sau, cái thây cô gái nổi sình trôi tấp trước nhà tôi. Bấy giờ lão Tư Hiếm mới xuất hiện. Hồi ở Xóm Biển chợ Rạch Giá, Tư Hiếm là người tri kỷ của ông! Điều ấy rất tiếc… tôi và ông quan tư Ca Rê biết hơi muộn!
– Nhờ mấy ông xem lại địa chỉ cư trú ghi trong giấy “lách xê” của lão ta chớ gì?
– Lão Tư Hiếm thua cờ bạc, tới gặp tôi để bày kế lên xác Chúa Ngung, Ma Nương, “dựng đứng” cái pho tượng đá trong miễu. Nhờ vậy đân tá điền lần hồi sống an cư lạc nghiệp… Liên tiếp mấy năm liền, lão ta trở thành nhân vật chuyên nghề lên xác Chúa Ngung, Ma Nương, coi quẻ tử vi cho dân trong điền. Năm 1946, lão ta tản cư ra chợ Rạch Giá, chẳng hề gặp mặt tôi. Lão còn sống dai hơn, nếu lão không gặp mặt ông.
Tôi giựt mình:
– Ông nói gì?
– Tôi nói: Chính ông thi sĩ đã giết lão ta mà không cần gươm súng!
Cố nén cơn tức giận, tôi suy nghĩ hồi lâu rồi nói to:
– Tôi nhớ rõ lắm. Khi đoàn “công voa” từ Mỹ Lâm rút về đem sự thất vọng cho ông, ông chạy lập tức qua đồn Lê dương, vừa chạy vừa tuyên án xử tử lão ta. Bà ở nhà có thể làm chứng điều ấy… nếu bà còn nhớ. Đành rằng tôi vô tình tiết lộ cuộc hành quân cho lão biết trước. Nhưng giữa tôi và lão, nào ai thù oán ai mà ông lý luận như vậy?
– Xin lỗi ông thi sĩ, chuyện xưa rồi. Nói lại mà nghe vậy thôi. Trong thực tế, nếu ông không đến bàn luận với lão thì chắc chắn lão vẫn sống ở Xóm Biển chợ Rạch Giá hoài hoài. Ông nên nhớ rằng trước khi đem bắn, tụi Tây tra tấn lão, lão có nhắc tới tên ông! Bằng không, ông đã bị bắt ngay rồi bị bắn thả trôi sông một lượt với lão… Kể từ đó, ông Ca Rê sanh nghi, luôn luôn theo dõi mọi hành động của tôi. Một phần vì ông ta đã “giữ” pho tượng trong tay rồi. Phần khác, vì tôi đã “ngụy biện” để cứu sinh mạng cho một thi sĩ…
Tôi đứng dậy, đi tới đi lui:
– Thà tôi chết hồi đó một lượt với lão Tư Hiếm còn sướng hơn… sống mà nghe ông kể ơn. Té ra bấy lâu nay tôi vô ơn bạc nghĩa quá. Nếu… trúng số độc đắc, tôi đúc ngay một pho tượng kỷ niệm để chưng trong phòng… Tượng một người bé nhỏ – là tôi – đang đứng khom lưng cõng đội ơn một người to lớn – là ông.
Ông Henri Nhan cười giòn:
– Ông thi sĩ nói vậy quá đáng, tội nghiệp tôi quá. Tôi nào xứng đáng.
Tôi gắt gọng:
– Vậy thì tôi đúc ngược lại một người lớn tuổi – là ông – khòm lưng nâng đỡ trên vai một người bé nhỏ – là tôi – Chúng ta đạp trên cái xác bằng đồng của lão Tư Hiếm đang nằm úp mặt xuống đáy biển. Lão mới là chánh phạm của cuộc cãi vã hôm nay!
Ông Henri Nhan nổi giận lên, từ từ rút khăn chậm mấy giọt mồ hôi trên trán và chùi mớ nước miếng sùi hai bên mép. Tôi ngỡ rằng ông định mở loạt đả kích khác, nhưng tôi lầm to. Nụ cười bỗng dưng nở trên môi ông ta, hiền hòa hơn bao giờ hết.
Có tiếng dép lẹp xẹp. Mặt tôi chưa kịp quay lại, hai bàn tay mềm mại nào đã nhanh nhẹn bịt mắt tôi, tuy thân ái nhưng bịt quá chặt.
Tôi nói nhanh:
– Trời! Bà chủ chớ ai. Buông hai bàn tay ra.
Bà cười với hai núm đồng tiền thuở nào:
– Tôi biết ông chờ tôi! Giận tôi không? Giận lắm chớ gì? Tôi mời cô đào Thiên Thai để chuộc cổ về làm đào chánh. Tôi về nãy giờ nghe hai người… đàn ông “đấu lý” chuyện đời xưa… Ông đừng phiền nhà tôi. Tánh ổng lẩm cẩm lắm. Hồi sáng, tôi nhắc chừng ổng nên đón rước… nhà cố vấn tương lai để bàn bạc về cốt tuồng chủ lực của đoàn “Hương Sắc 65”. Dè đâu, ổng gợi chuyện đâu đâu, lạc đề ráo trọi.
– Thưa bà, cũng chẳng lạc đề cho lắm, ổng với tôi…
– Tôi hiểu, thôi mời ông thi sĩ đến phòng ăn, cô Thiên Thai chờ nãy giờ.
Thiên Thai thuộc vào hạng đào cải lương trẻ tuổi, tuy mới vào làng độ ba năm nay nhưng – theo nguồn tin của các thông tín viên kịch trường – cô được tổ đãi, “sáng sân khấu”. Cô cúi đầu chào… Trông gương mặt trái xoan ấy, tôi nhớ mang máng đã có lần mình viết tiểu sử cho cô, kèm theo những câu phỏng vấn và trả lời theo tưởng tượng… Hồi đó lúc đoàn “Phim Nhạc” lưu diễn tại Bà Rịa, cô gởi thơ về tòa soạn, than phiền sự “nâng đỡ” của “quý báo”, kèm theo bức ảnh ngây thơ chụp nghiêng với mái tóc thề trôi chảy trên vai. Giờ đây trông cô hơi khác, áo dài nylon cổ đứng, mí mắt tô đậm gần giáp chân mày, tóc cắt đều phủ ngang trán theo kiểu Ai Cập.
Bà Henri nói luôn mồm:
– Công chúa Ba Tư đó! Đẹp hơn pho tượng đá… Thôi, hai ông uống rượu, thông cảm, xây dựng phải không cô Thiên Thai? Hồi ở nhà quê, mỗi năm mình chỉ uống một lần rượu vào hồi đầu xuân để quên hờn giận quá khứ, bắt tay nhau làm ăn bước qua năm mới. Bây giờ, suốt ngày hiểu lầm lu bù, thông cảm lu bù. Bà bầu đoàn “Phim Nhạc” thắc mắc tôi về chuyện “bắt đào bắt kép”. Tôi phải rủ bà đi ăn Chợ Lớn chiều mai. Rồi mấy anh ký giả phiền tôi về việc vận động lập gánh mà không kèn không trống… Tôi phải giải thích hồi lâu, muốn về nhà hồi 11 giờ mà lóng nhóng tới bây giờ…
Uống xong ly nước ngọt, cô Thiên Thai kiếu từ; bà Henri đưa cô ta ra sân, nói nhỏ to. Tôi thấy họ cúi đầu chào nhau đến bốn chập rồi bổ túc lai rai câu chuyện để từ giã lần chót tại cổng.
Bà Henri trở vào, nhìn chồng:
– Sao? Ông xúc tiến kẻo trễ. Tôi đã nhờ báo chí loan tin thành phần đào kép, chuyên viên ánh sáng, soạn giả… rồi đó.
Ông Henri thở dài:
– Tôi muốn ra mắt tuồng “Sự tích lầu ông Hoàng ở Phan Thiết”.
Bà Henri nguýt dài, nói với tôi:
– Ông ký giả thử nghĩ. Nội cái tựa của ổng nghe đủ lỗ vốn rồi. Phải sửa cái tựa lại. Còn về hình thức thì… khó thực hiện. Toàn là nhân vật Tây với đầm thuộc địa thời gian gần đây. Phải Tây với đầm hồi thế kỷ 17, 18 họa chăng! Nhà tôi ưa… thực dân “một cây” nhưng cũng khoái kể công đánh thực dân của mình!
Vẻ mặt ông Henri vẫn lạnh lùng:
– Cần cái nội dung hơn, vả lại chuyện lầu ông Hoàng ở Phan Thiết gây cho tôi nguồn cảm hứng… mặc dầu tôi bất tài. Mời bà con cầm đũa, tôi uống rượu kể chuyện cũng no.
Trước khi vào chuyện, ông Henri trình bày sơ qua phần triết lý của vở tuồng, thứ triết lý mà ông đã phát minh sau khi lê gót phiêu lưu khắp các thắng cảnh miền Nam. Dưới mắt ông, vùng Cao Nguyên tuy hùng vĩ nhưng gió núi mưa ngàn đem sự lạnh lẽo cho tâm hồn. Bãi biển Vũng Tàu quá sang trọng, ngoài khơi thiếu vài hòn đảo nên du khách ngỡ mình rơi vào cái hố dục vọng mênh mang đại hải! Nhưng bãi Phan Thiết với lầu ông Hoàng hoang phế đã đem lại cho ông Henri một giấc mơ hoa, vì vậy vở tuồng cải lương của ông đang dự trù soạn thảo sẽ lấy tựa “Một giấc mơ hoa” hay là “Lầu ông Hoàng ở Phan Thiết”. Ông Hoàng tức là Công tước De Montpensier, thuộc dòng hoàng tộc bên Pháp. Ông ta đi ngao du khắp thế giới, trên chiếc du thuyền đặc biệt; đến mỗi nơi, ông mướn vài người dân bổn xứ: da đen, da vàng, da đỏ… Những công dân này đi theo du thuyền, ăn lương tháng. Nhiệm vụ của họ rất đơn giản: mỗi buổi sáng, khi ông Hoàng thức dậy, ban nhạc hoàng gia thổi kèn… Họ đến chào mừng cung kính, chúc ông vui vẻ… vậy thôi! Cứ đến một thắng cảnh, ông Hoàng cất một nhà nghỉ mát cực kỳ sang trọng; cất sẵn để đó chờ đôi ba năm sau viếng trở lại một lần. Năm nọ, ông Hoàng viếng bãi biển Phan Thiết. Quan Công sứ Phan Thiết lúc bấy giờ là người thuộc phái Bảo Hoàng đã tổ chức đón rước trọng thể rồi quỳ xuống hôn tay ông Hoàng, gọi ông là Hoàng thượng… Vì mến cảnh mến người, ông Hoàng thích ý xuất tiền xây cất một biệt thự trên đồi để sống với người tình nhân từ Paris sang. Ngày ăn lễ lạc thành, ông Hoàng bày cuộc đốt pháo bông, đâu từ chín giờ đến hai giờ đêm. Dân chúng đứng xem mỏi mắt rồi nằm ngửa, nhìn mãi đêm thiên đường bất tận… Thế rồi người tình nhân ở lại biệt thự, ông Hoàng tiếp tục cuộc viễn du, cất thêm biệt thự mới, tìm thêm tình nhân mới. Lúc ông vắng mặt, hàng ngày bồi bếp vẫn tiếp tục trải nệm, rót nước, dọn thức ăn rồi giũ nệm, rửa chén bát như khi ông vẫn còn sống ăn uống tại đấy!
Nhưng cô tình nhân nọ lén tư thông với một người Pháp. Ông Hoàng hay tin ấy bèn phái một thủ hạ từ Paris qua Phan Thiết. Tên thủ hạ rình giết tại trận cả đôi gian phu lẫn dâm phụ rồi lên máy bay về Pháp. Báo hại ông Công sứ Phan Thiết phải lo việc tống táng…
Bà Henri Nhan lắc đầu:
– Chuyện nực mùi thực dân, khó ăn khách… Tôi nói nhiều lần rồi.
Ông cãi lại:
– Bà không chịu thời thôi. Tôi có quyền thích chuyện đó!
– Bởi vì ổng tưởng mình là ông Hoàng! Phải không ông thi sĩ. Ông tính sao mà nãy giờ cứ ngồi êm ru cười mím chi hoài vậy?
Tôi trả lời, tránh mọi hiểu lầm:
– Bà làm bầu gánh, quyền ấy của bà. Tuy nhiên, ý kiến của ông cũng đúng. Muốn viết, cần phải cảm hứng, dùng nhân vật để giải tỏa nỗi thắc mắc thầm kín của mình.
Bà nói:
– Vậy thì dễ quá. Ổng thắc mắc về cái vụ bị nghi oan giết người, ngày xưa. Tại sao chẳng đem sự tích đó soạn thành tuồng cải lương, xóa bỏ thù oán! Đôi trai tài gái sắc ở hai nước Ba Tư, Hy Lạp gì đó hiểu lầm nhau, họ xua quân ra trận, rốt cuộc chàng và nàng bị thương tích nhưng đôi trai gái gặp nhau, ăn năn hối hận. Rồi cả hai từ bỏ ngai vàng điện ngọc, ra đi với mối tình cao thượng. Sẵn đây, tôi dám nhờ ông thi sĩ soạn tuồng đó cho đoàn “Hương Sắc 65” của tôi… Nội dung như vậy, vừa hư vừa thực, vừa vô lý nhưng vừa hữu lý, khán giả chịu lắm. Chớ tuồng “Lầu ông Hoàng” của nhà tôi thật khó diễn quá. Chẳng lẽ ông Công sứ thực dân với ông Hoàng đều là người thiện? Khán giả bực mình.
Tôi lưỡng lự, hẹn về suy nghĩ rồi trả lời sau.
Bà Henri đưa tôi ra sân:
– Gấp lắm! Ông cứ hứa cho tôi mừng. Đừng nghe lời ổng. Gánh hát này quyền hạn hoàn toàn do tay tôi nắm. Tôi định nhờ ông, từ cả tháng nay.
– Bà nên tìm soạn giả khác, chắc ăn hơn.
– Nói gì chuyện đó. Vài soạn giả đã tới thương lượng rồi. Nhưng ông à, ông tin tôi không? Bao giờ tôi cũng muốn giúp ông, xem ông như em ruột trong nhà, cùng một quê quán.
Sực nhớ chuyện xưa, tôi bồi hồi cảm động:
– Tôi tin bà lắm chớ. Nếu hồi đó bà quên chú ý mở cổng thúc giục tôi về gấp thì…
Bà cười giòn:
– Ông gợi lại chuyện “quốc sự”. Thôi đi. Tôi chẳng hân hạnh gì khi nhớ tới quan tư Ca Rê. Phải nhà tôi đừng ghen bóng ghen gió, có lẽ tôi giàu hơn bây giờ nhiều. Tôi đâu dám thi ơn với ông, buổi xưa đó.
– Đành vậy, nhưng nếu bà vô ý thì ngày nay…
– Ngày nay, thiên hạ cũng như vậy, ông à!
– Nhưng tôi đã chết lãng nhách. Tôi mang ơn bà nhiều hơn là… mang ơn ông. Thú thật với bà, hồi nãy giận quá chẳng lẽ…
– Hơi đâu chấp nhứt ổng. Ổng dồn ép trái “bôm” từ chục năm nay để “nổ” ra “lấy le” với ông. Ngôi sao của ổng lu rồi. May là ổng nghe lời tôi, bán đất cho tá điền trước khi bị truất hữu. Ông nghĩ coi, thường bữa ổng ra sân bới từng cọng rác… để làm vệ sinh, giành công việc với người ở. Đi ngoài đường phố, gặp miểng ve chai, ổng cúi xuống lượm lên, giành sở làm của phu lục lộ. Lẩm cẩm quá. Một cái tai nạn cho tôi. Ổng lại giỡn, nuôi chó kéo xe… La Mã.
Tôi cúi đầu chào bà Henri. Bà giả bộ trợn tròn đôi mắt rồi cười:
– Nhớ viết sơ cái cốt chuyện nghe. Trùm chăn tối ngày như ông, làm ăn khó tấn lắm. Tung chăn, tìm không khí mới một lần xem sao. Đời mà, mình cần tìm sự hồi hộp để sống. Ông ráng viết sao cho ổng vui.
Tôi đáp:
– Dạ, viết chớ. Về nhà viết liền rồi đem lại cho bà.
– Chiều mốt tôi tới nhà ông, dễ hơn. Đúng hẹn nghe!
“Hồi thế kỷ thứ mười sáu, Ba Tư là một cường quốc thâu gồm cả địa phận Trung Đông. Nhơn buổi lễ Du Xuân, nam thanh nữ tú rủ nhau múa hát, mừng tiết hoa hồng nở và tế thần Mặt Trời. Chàng Mai Kha tình cờ gặp nàng Y Liên. Quá cảm mến cô bạn gái, chàng trao tặng cho nàng một sợi dây chuyền có nửa mảnh tim vàng. Nàng Y Liên thẹn thùng, mắng chàng. Nhưng người quản gia hối thúc, Mai Kha lên ngựa về để nàng Y Liên ở lại với sợi dây chuyền kỷ niệm.
Thời gian trôi qua. Đế quốc Ba Tư tan rã. Cha của Mai Kha thừa cơ loạn lạc, soán ngôi, xưng hoàng đế. Cha của Y Liên đến vùng sơn cước xưng vương, chống lại chánh quyền trung ương. Mai Kha trở thành hoàng tử, thống lãnh hai vạn tinh binh đến bình định miền sơn cước.
Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt. Hoàng tử Mai Kha chiếm căn cứ địch quân, thắng trận nhưng bị gãy cánh tay. Chàng hạ lệnh bắt tất cả gia quyến của đối phương, đem về kinh đô làm nô lệ. Trong lúc kiểm điểm hàng ngũ quân thù, đột nhiên Mai Kha nhận ra Y Liên nhờ sợi dây chuyền nửa mảnh tim vàng thuở nọ. Nàng ném sợi dây chuyền trả lại. Nhưng quá đau xót, hoàng từ Mai Kha giao quyền cho viên phó tướng, bảo ông ta cứ đem binh về. Chàng nguyện ở lại miền sơn cước này, chắp nối cuộc yêu đương dang dở với Y Liên. Lúc vua cha dự lễ khải hoàn, khao quân tại kinh đô thì ở miền xa xuôi Mai Kha và Y Liên âu yếm trong tuần trăng mật. Tuy chàng bị gãy tay, nàng bị tan nát gia đình nhưng đôi lứa tha thứ cho nhau, thề sống cuộc đời thường dân. Năm sau, mùa tế thần mặt Trời vua cha băng hà. Thần Mặt Trời bỗng nổi giận, khiến núi lửa dậy lên! Trào thần hoảng sợ đến tận miền biên cương nài nỉ rước đôi uyên ương về. Mai Kha lên ngai vàng. Y Liên nghiễm nhiên làm hoàng hậu. Từ đấy, xứ Ba Tư chẳng còn cuộc loạn lạc nào cả. Vì dân chúng ở kinh đô và ở miền sơn cước đều toại nguyện với đức vua và hoàng hậu”.
Thảo xong hai trang giấy, tôi đặt lưng xuống ghế bố, vừa mới lim dim đôi mắt chợt nghe tiếng chân bà chủ nhà đi lên gác.
– Tôi muốn viếng cái gác trọ này lần thứ hai. Hôm trước, tôi đường đột tới tặng hoa. Hôm nay chắc hết đường đột rồi, phải không ông soạn giả? Tôi không tặng hoa nhưng tặng món khác thiết thực gấp trăm lần bó hoa. Viết xong chưa ông?
Tôi đáp:
– Mời bà ngồi. Bà xem thử, trên bàn… Nét mực vừa mới khô.
Bà liếc xem nhanh. Tôi hỏi dồn tới:
– Được không bà? Đại khái như vậy. Nhờ bà giúp ý kiến. Chắc ổng chịu lắm.
– Quá xá hay rồi. Bây giờ ông cho tôi mượn đem về cho nhà tôi coi chơi. Rồi ông cầm giùm cái bao thơ này.
Tôi nói nhanh:
– Bà đưa chi gấp quá vậy? Đoàn hát mới trong vòng vận động thành lập… Hay là để tôi viết biên nhận.
Mở bao thơ ra, tôi đếm những mười tấm giấy năm trăm. Bà Henri cười giòn:
– Biên nhận làm gì? Chỗ bà con.
Suy nghĩ một giây, tôi nói:
– Bà lấy lại bớt hai ngàn. Tôi mượn tạm ba ngàn đủ rồi.
Bà tiến tới vỗ vai tôi:
– Trời! Ông này thiệt lạ đời… Xưa nay người ta cứ muốn mượn thêm, còn ông thì đòi trả bớt! Tôi không chịu đâu. Nếu vui vẻ, ông cho tôi mượn lại tất cả, rồi ông móc tiền túi cho tôi mượn thêm năm ngàn nữa… Nói cho vui, ông đừng giận nhé! Lát nữa tôi dùng cái bản thảo này để ăn nói với người bỏ vốn hùn lập gánh hát. Tôi mua xác gánh hát cũ và lo ngoại giao. Phần của họ, chuẩn bị tiền bạc ăn tập để khai trương… Ông có thể đi với tôi lại… nhà bà chủ nợ đó cho vui. Cô Thiên Thai chiều nay ở đó. Cổ nhắc tên ông hoài.
– Dạ để dịp khác, chiều nay tôi bận việc.
– Việc gì quan trọng dữ vậy? Ông nằm trùm chăn ở đây để tìm cảm hứng à? Tôi biểu ông ra đi… cho sát thực tế!
– Thôi, cám ơn bà.
– Hay là ông ngại nói chuyện khào với “bầu bì”, chủ nợ và nghệ sĩ cải lương đợt sống mới… Tâm lý chung, người cày ruộng ở nhà quê ghét Huê kiều mua bán lúa! Hồi đó, nhà tôi cũng như ông! Nhà tôi bây giờ cũng ngồi chơi hòn non để mà ghét cay ghét đắng những người bạn đang làm xuất nhập cảng…
Ngoài đường hai tiếng “tin, tin” vọng tới, thúc hối. Bà Henri vội chào:
– Để tôi đi rồi mai chiều tôi tới đây. Ông ở nhà vào khoảng nào? Tôi đi xe của người bạn, họ chờ đó.
Gác trọ thay đổi không khí. Tôi vừa mừng vừa ngại. Dường như tâm trí hơi bứt rứt. Lúc tôi túng thiếu, số tiền năm ngàn đồng hơi bất ngờ này chưa hẳn… quá to tát. Tôi bỏ nó vào bốp, nhứt định chiều nay đem xài cho sạch túi vì nó giống như của hoạnh tài! Bỗng nhiên tôi vặn ngược câu hỏi: “Biết đâu mình đã bán cái cốt truyện và nhứt là cái sĩ diện của mình với một giá quá rẻ mạt”. Tôi hơi chủ quan chăng? Sĩ diện của tôi bán với giá đó là được rồi đấy, ai dại khờ gì mua nó với giá cao hơn! Nhưng câu trả lời vẫn chưa ổn. Có lẽ tôi hối tiếc bao nhiêu kỷ niệm, những kỷ niệm vô giá. Xóm Biển chợ Rạch Giá, thời chiến tranh Việt – Pháp. Những người đàn ông đánh đáo lạc, ăn thua bằng cách cõng nhau. Những chiếc ghe biển nằm nghiêng trên bãi bùn, giương đôi mắt bịnh hoạn. Hòn Tre ngoài xa xa, cái lon sữa bò đầy gạo để cắm nhang trong nhà lão Tư Hiếm. Xác lão Tư Hiếm bập bềnh trôi… Ban nãy, bà Henri vui vẻ, chiều chuộng tôi với thái độ “đàn chị”, rồi “cả gan” nhưng thành thật liệt tôi vào hạng “trùm chăn”, giống như người cày ruộng ở nhà quê và ác hại hơn giống như ông Henri, con người lạc hậu về mọi mặt…
Tôi vỗ trán rồi gọi xe, đến tiệm kem. Ngồi đó, đầu óc tôi vẫn mơ màng. Mọi khi, tôi ưa sống kiểu “quê mùa, trùm chăn”, như bà Henri nói. Bà Henri vốn có nhiều kinh nghiệm trường đời, hơi lớn tuổi hơn tôi, chẳng lẽ bà nói bậy hoặc dùng sai danh từ? Bây giờ tôi thử tung chăn ra, thử bỏ thái độ quê mùa (mặc dầu tôi chưa bao giờ cày ruộng), bỏ thói suy nghĩ vẩn vơ – nghĩa là mình chỉ nên chú ý tới đời sống của mình và những vui sướng mà mình có thể vói tới, ngay trong buổi trưa nay. À! Cô ngồi giữ tủ tiền trông đáng yêu với mái tóc xõa, rối rắm một cách công phu. Bức tranh vẽ cây dừa và mấy chòm sao trên vách tường đưa tôi tới đảo Hạ Uy Di, đêm trăng. Người qua lại dập dìu trên hè phố, tôi chỉ nên ngắm họ như ngắm một bức tranh lọng kiếng, đừng đặt những giả thuyết quá phức tạp về đời tư của họ! Cô bạn học năm xưa giờ đây ở tận Biên Hòa, chưa chồng; tôi viết thơ mời cô ta về Sài Gòn gấp chúa nhựt này để cùng nhau tìm hiểu tâm sự. Mượn thêm tiền của bà Henri kẻo bỏ lỡ cơ hội! Mua một căn nhà đủ tiện nghi hơn. Thỉnh thoảng lật báo xem tử vi, mua đủ thứ sách thuộc loại bách khoa xem chơi, để hiểu sơ qua mọi vấn đề. Mua một bức tranh in lại của Van Gogh, bức tranh vẽ hoa quỳ vàng rực ánh mặt trời, treo trong phòng để tâm hồn mình luôn luôn được sưởi nóng trong… cô độc.
Tôi mỉm cười, bẽn lẽn, tự nhận rằng mình còn gượng gạo! Bỗng nhiên, kèn trống nổi lên, đờn cò trổi điệu Xuân Nữ. Bên kia đường, chiếc xe tang đi chầm chậm, tấm triệu cao nghệu dẫn đầu. Mọi hôm hễ gặp bất cứ đám ma nào, tôi đi nhanh tới, bùi ngùi xem tên tuổi người chết, suy nghĩ vấn đề sanh lão bịnh tử. Trưa nay, tôi cố gắng ngồi im từ bên này đường mà ngó qua, đại khái.
Tôi gọi một ly cà phê đen… rồi nhìn mấy giọt nước đen nhểu xuống… Hơi nước sôi đọng vào thành ly. giống như giọt nước mưa trên cửa kiếng (chớ không giống như giọt nước mắt ngoài kia). Gợi được sự so sánh ấy, tôi thấy mình đã tiến bộ khá khá. Một em bé đánh giày lết tới gầm bàn. Nó nài nỉ khẩn khoản, gõ bàn chải cộp cộp lên hộp để gây áp lực với tôi. Tôi cau mày:
– Thôi đi mày!
Nó đi. Em bé bán báo dừng lại ngoài cửa, xớ rớ:
– Báo thầy! Báo thầy!
Tôi lắc đầu:
– Đọc rồi. Mời hoài vậy?
Nó nói tiếp:
– Báo mới ra. Bữa nay báo Tương Lai có “Kịch trường đặc biệt”.
Tôi giựt mình bừng tỉnh giấc mộng giữa ban ngày, mua ngay một số, lật ra trang hai, liếc qua các “tít” lớn. Các bạn ở báo Tương Lai cứ viết dông dài về cái tuồng “Gió chiều Thu”. Chán quá. Nơi mục Loa hậu trường, vài hàng chữ tóe lên:
“A lô! A lô! ‘Đoàn Hương Sắc sáu mươi lăm’ đương thành hình, do bà Quỳnh Hương làm giám đốc sẽ ra mắt vào đầu tháng Tư. Danh sách đào kép chưa chánh thức công bố, nghe đồn nữ nghệ sĩ Thiên Thai đã xé giao kèo bên đoàn Nhạn Bạch để về đoàn này.
A lô! A lô! Bà Quỳnh Hương cho biết thêm: Ký giả kiêm thi sĩ Hoài Hương đã nhận lời đưa vở tuồng đắc ý nhứt của mình cho ‘đoàn Hương Sắc sáu mươi lăm’. Khán giả đang nóng lòng chờ đợi để thưởng thức tài nghệ của nhà thi sĩ khả ái ấy. Bước đầu tiên của thi sĩ trong nghề soạn tuồng biết đâu chẳng đánh dấu ngay một sự thành công? Nhan đề vở tuồng còn trong vòng bí mật, nhưng thi sĩ đã bảo đảm với bà bầu Quỳnh Hương: ‘Tuồng này đầy đủ dân tộc tính’.”
Tôi nhẩy nhổm, đứng phắt dậy. Máu nóng “nhà quê” của tôi bỗng bừng sôi. Té ra bà Henri đã loan tin ẩu về sự hợp tác của tôi, từ hai ngày rày, liền từ sau khi tặng bó hoa hồng trên gác trọ! Chẳng vậy thì sao các thông tín viên kịch trường lượm lặt được tin sốt dẻo này, cho in lên báo kịp trưa nay? Buổi sáng ấy, mặc dầu chưa gặp mặt tôi sau năm sáu năm xa cách nhưng bà dám đề cao tuồng của tôi sẽ đủ “dân tộc tính”! Cùng với những hàng chữ in ấy, bà Henri sẽ kèm một bằng chứng khác – mấy trang giấy nháp sơ lược cốt tuồng Ba Tư – để yêu cầu người hùn vốn cứ bỏ thêm tiền ra cho bà xài! Trong khi khuyên nhủ tôi nên từ bỏ cái thói “trùm chăn quê mùa”, bà lại lợi dụng cái tật xấu của tôi. Giải quyết cách nào bây giờ? Tìm bà Henri, đòi lãnh thêm vài ngàn đồng cho hả giận, cho đáng với sự thiệt thòi của tôi? Yêu cầu bà ta đính chánh trên báo? Không được. Bà ta sẽ ngơ ngác, cho rằng tôi hiểu lầm thiện chí của bà ta đối với người em đáng thương hại. Đi tìm các ký giả quen biết, nhờ họ cho tôi thanh minh vài hàng chăng? Anh em trong làng sẽ khó xử vì chuyện ấy có gì đâu mà thanh minh cho mệt độc giả! Và thanh minh trong trường hợp này chẳng khác nào tôi trù rủa đoàn hát “Hương Sắc sáu mươi lăm” ngay từ khi còn nằm trong bào thai, gián tiếp làm cản trở sự phát triển của làng ca kịch, đập bể chén cơm “hụt” của khá nhiều công nhân sân khấu? Hơn nữa bà Henri vẫn được quyền thanh minh trở lại rằng: Nhà thi sĩ kiêm soạn giả ấy đã nhận được bó hoa hồng, đã lãnh số “tiền nước” đáng kể, đã dự bữa cơm thân mật, đã trao bản thảo vở tuồng. Đứng về phương diện độc giả, họ nghĩ thế nào trước những bằng cớ hiển nhiên ấy.
Rầu rĩ quá! Tôi gọi chiếc xích lô máy, bảo anh tài xế cứ chạy thẳng tới. Ác hại làm sao, mấy chữ hàm hồ trên mặt báo: “dân tộc tính”! Phải chăng bà Henri muốn ám chỉ câu chuyện của Chúa Ngung, Ma Nương mà bà yêu cầu tôi soạn lại? Nghi ngờ gì nữa! Bà đã bắn tin ấy ra từ bữa trước rồi mới bàn bạc với tôi về sau này, lúc ăn cơm. Theo ý của bà, hoàng tử Mai Kha ở Ba Tư là thối thân của lão Tư Hiếm, của ông Henri hay của chính tôi? Cô gái bị giết ngày xưa là thối thân của pho tượng đá? Hay kẻ thối thân là bà Henri hoặc cô đào trẻ đợt sóng mới Thiên Thai? Đâu là sự thật về Chúa Ngung, Ma Nương ở Mốp Giăng? Tôi liên tưởng đến mấy tiếng “sứ mạng của người cầm bút” mà các bực đàn anh thường nhắc nhở. Người như tôi có xứng đáng lãnh cái sứ mạng đó không? Tôi trả lời một mình: “Xứng đáng chớ”. Mãi tới ngày nay, câu chuyện ở Mốp Giăng chỉ được truyền khẩu, người ở địa phương đã già nua, hoặc bận rộn sanh kế, hoặc ít muốn nói. Hoặc họ đã chết. Đã hai lần, tôi đã “ghi chép” nó lên giấy, qua tiểu sử của ông Henri Nhan và qua… cốt tuồng cải lương Ba Tư. Còn chờ ai nữa bây giờ, nếu tôi không chịu viết ngay tất cả những điều tôi được biết – trong muôn một – dầu rằng lối viết vụng kém của tôi chỉ được có một vài người đọc thưởng thức.
Chiếc xích lô nổ máy tiến tới, đi ngang qua rạp hát cải lương. Những biểu ngữ, tranh quảng cáo lòe loẹt nào hình công chúa Nhựt xách đèn lồng, hiệp sĩ La Mã đấu gươm… Hoàng tử Mai Kha, nàng Y Liên, chuyện ở Mốp Giăng rồi cũng được vẽ đại khái như thế. Cái bốp chứa đựng nhiều tiền nhảy cồm cộm trong túi sau, giữa cái nệm xe và da thịt tôi. Số tiền năm ngàn còn quá đầy đủ nhưng tâm tư của tôi trống rỗng hơn bao giờ hết – trống rỗng như một chai nước múc đầy treo lơ lửng trên mặt đại dương bao la. Việc đầu tiên mà tôi cần giải quyết: Nhờ các bạn đính chánh: soạn giả Hoài Hương đang soạn cho đoàn “Hương Sắc” một vở tuồng đầy đủ… “Đông Phương tính” thay vì “dân tộc tính”. Liệu các bạn ký giả và bà Henri sẽ phiền tôi không? Thật là… sinh kế mới! Khó khăn mới! Tâm trí của tôi bừng sáng lên, bất chợt một ý kiến quan trọng: ” Sanh kế mới, khó khăn mới cho người sống và cho oan hồn kẻ chết nữa”. Lão Tư Hiếm đã chết thật rồi! Lần trước, qua tay ông Henri và quan tư Ca Rê lão còn thoi thóp; lần này với sự kinh doanh của bà Henri và sự yếu đuối của tôi, lão tắt thở luôn. Nay mai có thể người chết uất ức hiện hồn về, đòi xem hát.
Tôi đưa tay ra dấu hiệu để xe ngừng tại cửa. Vừa lên gác trọ, tôi vừa nói với bà chủ nhà:
– Mệt quá. Ai kiếm tôi bà cứ bảo rằng tôi ngủ, đừng đánh thức.
Rồi nằm lên ghế bố nhìn bó hoa héo, tôi thử hình dung khung cảnh người chết đi xem hát. Đêm ấy, lão Tư Hiếm và cô gái nọ cỡi mây cỡi gió đến rạp khi hay tin trên trần gian có người muốn nhắc nhở tới sự tích của họ. Sân khấu quá sáng. Hai bóng ma của họ sợ hãi, nép mình vào mái ngói như hai kẻ trộm. Cô gái lẩm bẩm: “Ta nên về. Đêm nay họ diễn tuồng Ba Tư chớ nào phải chuyện ở Mốp Giăng”. Lão Tư Hiếm đáp: “Tôi không lầm đâu. Chính đêm nay, tại rạp này mà. Nhưng cớ sao tôi chưa hiểu mấy về cốt chuyện. Dường như thần Mặt Trời Ba Tư là Chúa Ngung, Ma Nương ở Mốp Giăng!”. Cô gái cười: “Ở cõi dương, tiếng nói và màu sắc đều khác hẳn với cõi âm”. Lão Tư Hiếm lắc đầu: “Số đào kép cải lương này ngủ ban ngày rồi thức suốt đêm như chúng ta. Có gì khác biệt đâu”… “Có chớ, họ uống nước lạnh mà bảo rằng dự yến ẩm, dùng gươm bằng cây mà bảo rằng thanh kiếm thép. Hái hoa bằng giấy mà bảo rằng… hoa hồng thiên nhiên. Thôi ta đi về”. Lão Tư Hiếm nói: “Cứ ở lại, chờ xem khi vãn hát. Nghe đâu sau khi rửa lớp phấn son, cởi áo mão ra cất, các đào kép tiếp tục diễn… trò đời hay lắm”. Bức màn nhung hạ xuống, bài tạm biệt trổi lên rồi tắt hẳn. Bấy giờ, cô gái bảo: “Tôi theo chân cô đào Thiên Thai, dường như ban nãy cô ta đóng vai tôi; còn bác cứ theo bà Henri…”
Lão cãi lại: “Tôi đi theo soạn giả Hoài Hương, bạn của tôi ngày xưa, ổng đang đóng vai tôi đó”. Thế rồi họ đi, người một ngả. Lão Tư Hiếm ghé quán nước kế bên rạp, chứng kiến cảnh bà Henri và tôi đang tranh đấu thân mật. Bà ta than phiền: “Tuồng này thâu khá tiền nhưng bà chủ nợ bỏ túi hơn phân nửa rồi. Tiền bản quyền soạn giả, xin dành lại vài đêm”. Trong khi đó, cô con gái phi thân lẻn trốn vào phòng the, tại tư thất của cô đào Thiên Thai. Cô đào khép cửa, soi gương uốn éo cười với bóng dáng mình, lật tờ tuần báo xem ngay số tử vi rồi mơ màng hôn nhẹ vào cái hình màu của chàng minh tinh màn ảnh bên trời Âu nào đó, in ngoài bìa. Cô đào liền thay quần áo mát, ngồi ăn một cái đùi gà luộc với vẻ mặt không mấy đói! Bấy giờ cô gái ma mới hiểu cái tội lỗi tày trời của mình: Nhu cầu về ăn uống, nhu cầu về xác thịt vốn là hai điều cấm kỵ. Tại sao xưa kia mình lại dại dột xúc phạm sự cấm kỵ ấy trước mặt quan kinh lý và lính mã tà để mang lụy vào thân? Phô trương cụ thể những nhu cầu ấy để làm gì, trong khi thế nhân đã nâng nó lên hàng ngôn ngữ ác hại, dùng để nguyền rủa “Đồ chết đói!” “Đồ đĩ thõa” cũng như “Đồ mắc dịch!”. Cô gái ma thở dài, buồn bã trở thành kẻ mất hồn, bay về, khuất bóng lần lần trong lớp sương giá lạnh – hơi thở của hàng trăm pho tượng đá khác còn bị chôn lấp dưới lớp đất bùn của xứ Mốp Giăng vừa cổ kính, vừa đìu hiu! Trong khi ấy, lão Tư Hiếm đi vẩn vơ theo lề phố vắng, với cái túi rỗng và cái ống điếu bằng cây ớt hiểm, dáng điệu trông như vị tù trưởng bại trận hồi thời Thái Cổ. Tiếng gà gáy chợt vẳng lên, từ chuyến xe nào chở hàng tới chợ Cầu Ông Lãnh. Lão giựt mình, chạy trở về cho kịp lúc hoàng hôn nơi địa phủ, để trầm mình nhanh xuống đáy biển – như một hạt bụi bé bỏng nối tiếp bãi bùn ra Hòn Tre xa khơi.
Ngoài cửa, tiếng bà Henri nói nhanh, giọng lảnh lót hỏi thăm tôi. Bà chủ nhà ngập ngừng:
– Ông Hoài Hương ngủ, ổng dặn đừng cho ai kêu ổng. Nếu bà có điều gì quan trọng thì…
Nhưng bà Henri nói chận trước:
– Thôi, tôi hiểu quá nhiều từ hồi ổng còn làm mấy bài thơ đồng quê lận! Ổng giận tôi rồi trùm chăn trở lại. Chắc chắn bà Henri đang nở một nụ cười hồn nhiên đầy vẻ yêu đời với đôi má lúm đồng tiền. Bây giờ tôi chợt nhận ra một điều: Giữa ông và bà Henri tánh tình tuy hơi xung khắc, nhưng bao nhiêu thói xấu, nết tốt của họ đã bồi bổ qua lại từ lâu, tạo thành một kiểu hạnh phúc lứa đôi khá bền vững, “nồi nào úp vung nấy!”.
Họ đã có thiện chí giúp tôi về sinh kế, tại sao tôi chưa chịu cảm thông?
Điệu mới đến ngọn rạch này từ sau ngày rày. Anh chưa có nghề gì sanh sống, không ai quen thuộc để dạy bảo những bước đầu tiên trên đường đời. Cha mẹ anh nghe đâu mất sớm. Ông Năm Lượng nghĩ vậy mà thương, gọi về ở chung nhà, cho ngủ trên cái vạc tre, phía trước.
Gặp những công việc lặt vặt như nấu cơm, rửa chén, bửa củi thì anh khỏi mó tay vì đã có cô Hậu – con gái ông Năm Lượng đảm đương giùm.
Tháng Giêng, buổi chiều thật là êm ả, nếu quên đi chuyện muỗi mòng. Mùi lúa chín từ đồng khơi đưa về nồng ấm. Nước giựt xuống thấp, cây rừng bày gốc rễ trông cao lớn hơn mọi lần. Mớ lá khô nằm đó, vàng sẫm như lót đường cho chim cò, rùa rắn. Ngọn rau muống từ giã bờ rạch, bò lên mé rừng, dây ốm tong teo nhưng dẻo dai, lá nhỏ cuốn tròn bên mấy chùm bông tím đang rũ xuống, kết trái, thứ trái nhỏ tròn như cái nút áo. Bươm bướm bay tung tăng, đậu trên đó. Rồi bươm bướm lại bay, màu cánh vàng chan hòa trong nắng hoàng hôn. Lát nữa, khi đêm về tràn ngập, bươm bướm sẽ về đâu? Bươm bướm có ngủ không? Hay là cứ bay như vậy mãi? Điệu bâng khuâng, tự hỏi.
Ông Năm Lượng cất tiếng:
– Sao ngồi đây cú rũ hoài vậy cháu? Tháng tốt mà! Nói chuyện này chuyện nọ cho vui. Suy nghĩ gì đó?
Điệu trả lời:
– Dạ, ở không hoài sinh buồn bực, phải có công chuyện gì làm ăn như thiên hạ thì mới vui.
Ông Năm Lượng thấy cậu trai nọ là người tốt.
“Ở không hoài sanh buồn bực. – Phải có công chuyện làm ăn như thiên hạ thì mới vui”. Thánh hiền ngày xưa dạy “nhàn cư vi bất thiện”, gẫm lại cũng chẳng hay ho gì hơn câu nói nôm na ấy.
– Thằng này coi bộ được.
Ông Năm nghĩ như vậy, khoái chí:
– Cháu siêng năng lắm. Bác khen cháu. Ngặt xứ này làm lúa muộn. Ngoài đồng lúa chín vàng mơ, trong nhà mờ con mắt là cảnh này đó. Cứ ở không mà chờ. Chịu túng thiếu.
Điệu trả lời:
– Cháu muốn làm nghề gì cho hợp với xứ này. Nhờ bác chỉ dạy giùm.
– Xứ này có cả trăm nghề: đốn củi, bắt rùa, bắt rắn, ăn ong, gặt lúa. Nghề gì cũng học tại trận mới nên; ngồi nói tầm phào đâu được. Biết nghề gì bây giờ? Nằm một chỗ, tháng Giêng, bác dạy cháu một nghề này hay lắm. Cái nghề hát huê tình!
Điệu nửa mừng nửa lo. Mừng vì anh được dịp tiêu khiển. Lo vì khó bề ăn nói. Trong nhà, còn có cô Hậu, con gái ông Năm, chưa chồng cũng như anh chưa vợ. Hát huê tình, mắc cỡ miệng quá, sợ bị hiểu lầm.
Anh hỏi:
– Hát huê tình dễ không bác. Đó là một nghề sao? Lạ quá.
– Gì mà lạ. Học ăn, học nói, học gói, học mở. Ăn nói là điều trời phú cho, ai cũng nói ra tiếng, vậy mà còn phải học, hà huống chuyện hát huê tình đối đáp. Tóm lại, nó như nghề hát bội. Mà có lẽ nó khó hơn vì không có sách, không có bổn tuồng.
Điệu tò mò, đi sâu vào vấn đề:
– Sao vậy bác? Mình đâu cần múa men tay chân, hoặc hát theo nhịp kèn nhịp trống.
– Chưa ắt. Làm sao học thuộc lòng như hát bội được? Người hát huê tình không theo bài bản nhất định. Lúc lom khom gặt lúa, mình làm cho thiên hạ hiểu rằng mình đang chèo ghe hoặc ở lầu cao gác tía hay là hóa phép như Tề Thiên Đại Thánh.
– Khó như vậy, làm sao cháu học được?
– Đừng ngại. Phàm người Việt Nam ai cũng có tài về môn đó. Mới lọt lòng ra đã nghe hò hát rồi.
Điệu nói:
– Đó là hát đưa em.
– Hát đưa em với hát huê tình không khác nhau. Đưa em ở trong nhà. Hò hát ở ngoài đồng ruộng. Nhưng guồn gốc của nó là ở ngoài đồng. Tỷ như người thất tình nọ than thở với mớ dây rau muống ngoài đồng.
Chờ em cho mãn kiếp chờ.
Chờ cho rau muống vượt lên bờ trổ bông.
Câu đó được đưa vô nhà để đưa em ngủ. Nhưng người ta đem nó trở ra đồng ruộng để… hát huê tình. Có người trả lời:
Rau muống trổ bông, lên bờ nó trổ.
Ai biểu anh chờ, anh kể công ơn!
Rồi thì nó trở vô nhà, dùng để đưa em, từ một câu sanh ra hai câu.
Chợt thâu nhận một bài học ngồ ngộ. Điệu cười tươi. Ông Năm Lượng cao hứng vì gặp người biết nghe, chịu nghe.
– Nè! Bớ chiếc ghe sau, chèo mau anh đợi.
Kẻo giông gió đến, rồi bờ bụi tối tăm…
Bên gái trả lời:
– Bờ bụi tối tăm, anh quơ nhằm cái tộ bể.
Cưới vợ có chửa về, thổi lửa queo râu.
Rốt cuộc, mấy câu hát huê tình trở thành câu hát đưa em. Câu hát đưa em trở thành câu hát huê tình. Nhà lạc nghiệp, tha hồ bỏ ngỏ, trăng gió ra vào không có trăng gió nào là của riêng ai. Cháu thấy rõ chưa? Nhờ hát huê tình mà lòng dạ con người thơ thới, khỏe khoắn. Ngồi trong chòi chớ mà đầu óc bao trùm trời đất. Đứng giữa trời đất đầy nắng mưa giông tố mà thấy ấm áp như trong chòi hẹp.
Điệu muốn học sớm chừng nào hay chừng ấy để kịp thi thố tài năng, vào cuối tháng Giêng.
– Tập tành bao lâu là xong, thưa bác?
– Học mau lắm. Như đứa con nít mới đẻ nhờ bà mụ dộng đầu xuống đất, đánh một cái bốp thì là nó khóc ré lên. Đó là nói sơ qua chớ nói kỹ lưỡng thì không cùng. Cái chuyện thở của con người, tới ngày nay mấy ông thầy thuốc cũng chưa rành nữa kia. Bằng cớ là còn lắm thứ bịnh ho mà thuốc bổ phế, dưỡng lao trị không xuể. Chờ lát nữa, con Hậu rảnh tay, dạy cho cháu mấy lối hát huê tình. Nó hát khá lắm đó…
Cô Hậu dẫn giải rằng hát huê tình gồm ba loại. Loại thứ nhất là “truyện”, dùng sự tích trong truyện Tàu để so sánh với tình cảm người đời nay.
Kế là loại “văn”, dùng cách ngôn thánh hiền, trích trong sách Minh Tâm Bửu Giám.
Thông thường hơn hết – và khó hơn hết – là loại “mép” tức là nói mép, chuyện con chó, con gà, bụi chuối, trận mưa…
Cô đưa ra vài thí dụ:
Bên trai hát:
Văng vẳng bên tai, tiếng ai như tiếng con Điêu Thuyền?
Anh đây là chàng Lữ Bố kết nguyền thuở xưa.
Bên gái đáp:
Thiện xử ngã, chẳng qua duyên gió. Lòng tương tư nhớ đến bạn vàng. Thôi thôi, anh đừng có nói lôi thôi. Từ đây, tôi với đó kẻ một nơi, người một nhà…
Hoặc bên trai mở lời:
Phòng loan trải chiếu rộng thinh.
Anh lăn đụng gối, tưởng bạn mình, anh hun.
Bên gái trả lời:
Phải chi em được ở chung.
Thì đâu có ra nông nỗi anh phải hun gối gòn.
Điệu giựt mình, bẽn lẽn, không dè cô Hậu ngỗ nghịch bạo ăn nói đến nước đó. Anh liếc ra sau nhà, trông chừng ông Năm Lượng. Ông ngồi chẻ củi, lại nói lớn:
– Con nhỏ này kỳ cục. Đã dạy thì phải dạy kỹ lưỡng, cho hết lời. Tại sao ngập ngừng?
Cô Hậu thưa:
– Con sợ dạy chưa đúng, nghe kỳ quá.
Ông Năm nói ôn tồn:
– Không kỳ gì hết. Thằng Điệu mới học, con nên dạy nó hát mép như câu hồi nãy. Đừng đem tích Lữ Bố, Điêu Thuyền ra làm chi cho cầu kỳ. Dùng tích xưa, khó mà đúng, lắm khi nghe nhức xương nhức cốt. Ghét nhứt là mấy người hát chạy tới chạy lui: Tiết Nhơn Quí thành ra Tiết Ung Quí, Võ Văn Thành Đô thành ra Võ Văn Ùng Đô! Cứ lựa mấy câu hát mép mà “môi” ra thêm, hoặc “bẻ” cho đúng với tình cảnh. Đó mới là cái hay cái dở của nghề.
Cô Hậu mũi phập phồng. Điệu ngồi bên người đẹp thẹn chưa dám nhìn tự nhiên vào đôi mắt cô. Mấy tiếng “ở chung”, “hun gối gòn” còn văng vẳng, ngọt ngào bên tai.
Như hiểu tâm trạng của chàng trai, cô Hậu tìm những câu hát ít sỗ sàng hơn:
– Anh à! Hát huê tình cần nhất là tùy cơ ứng biến lanh trí, sắp sẵn trong bụng nhiều chữ bắt vần với nhau. Như nàng, gươm vàng, phụng hoàng, viễn tẩu khá nan tàng…
– Chi vậy cô?
– Để khi bí lối, mình hát rao lên vài phút. Miệng mình hát láp dáp câu này để cho đầu óc rảnh rang tìm ra câu kia:
– Tin ve chai năm nay sụt giá. Tôi bán không khá. Tôi trở về Rạch Giá chở một chuyến khoai lang. Tôi xuống chợ Trà Bang… để tìm con bạn ngọc, tôi thở than đôi lời. Phải chi tôi đặng lên trời. Hỏi thăm duyên nợ đời đời về đâu?
Điệu hỏi bối rối:
– Cô bắt nhiều vần lung tung, làm sao tôi nhớ kịp?
Cô Hậu mỉm cười:
– Chỉ cần nhớ hai câu chót mà thôi. Khúc đầu: khoai lang, Trà Bang… không quan trọng. Nói mà nghe chớ tiếng nào mà không quan trọng. Mấy câu đầu giống như tranh sơn thủy. Câu chót là tình ý của riêng mình. Giống như con chim đậu trên nhánh cây. Nhánh cây tốt, có trổ bông thì con chim càng đẹp.
– Còn “môi” là làm sao?
– Là như vậy đó!
– Như vậy đó là làm sao chớ?
– Để tôi nói rõ cho anh nghe thêm… Câu hát này cộc lốc quá:
Chim kêu nhiều tiếng lạ lùng. Kêu cho quân tử nghe cùng, phải duyên thì đẹp, phải lòng thì ưng…
Người hát phái “môi” nó trở lại, cho lảnh lót như tiếng chim kêu:
Con chim (nho nhỏ, mỏ đỏ xanh lông, đỏ mồng xanh kiếng, nó) kêu (xao xuyến) nhiều tiếng lạ lùng. Kêu (sao? Kêu lại) cho quân tử nghe cùng. Phải duyên, quân tử kết: phải lòng quân tử ưng…
Điệu nói:
– Tôi hiểu rồi. Đó là “môi”. Còn “bẻ” câu hả! Nghĩa là sao?
– Là sửa lại mấy câu hát cũ, sẵn có. Thí dụ như ở Sài Gòn người ta khoe khoang:
Xứ đâu thị tứ bằng xứ Sài Gòn.
Dưới sông tàu chạy, trên đường ngựa đua.
Thì ở miệt rừng U Minh, mình bẻ lại là:
U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường.
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.
Như đắc ý, cô Hậu bèn hát khe khẽ một câu quá dài:
Anh thấy em bịnh chắc, anh chạy lại ông thầy thuốc bắc, anh hốt một thang thuốc về sắc hai chén còn lại bảy phân. Tay bưng chén thuốc, anh vuốt ngực chung tình. Chung tình ơi! Chén thuốc kia nóng mà có khi còn nguội, huống chi hai đứa mình giận nhau.
Điệu há miệng ngạc nhiên. Cô Hậu vội nói tiếp:
– Còn nữa. Câu hát buồn bã ấy có thể trở thành khôi hài, vô cùng tận như sau:
Em thấy anh tương tư bịnh chắc, em rước ông thầy thuốc bắc, em sắc hai chục chén còn lại một phân. Bỏ thêm một lát gừng sống, một đống gừng lùi, một nùi chuối hột, một hộp đơn qui, một ky trái táo, năm sáu chục trái cà na, thần sa một lượng, khoai sượng một chục, măng cụt một trăm, rau răm một đám, cám một bao, con gái rao rao mười hai đứa, sứa lửa vài trăm…
Huỳnh liên huỳnh bá huỳnh cầm…
Uống ba thang mà anh không mạnh thì em đào hầm chôn luôn!
Nghe qua Điệu cười như nắc nẻ. Ông Năm Lượng và cô Hậu cũng cười theo.
Điệu nói:
– Câu hát đó “bẻ” thiệt hay mà “môi” thêm cũng tài!
Ông Năm Lượng thích chí:
– Vậy là cháu hiểu cách hát huê tình rồi đó. Vô nghề đi. Dễ lắm. Nhưng thủng thỉnh rồi cháu thấy nó khó vô cùng tận. Còn nhiều câu “ế tử” không ai đáp nổi. Phải là tay đầy đủ khí phách mới mong qua khỏi cơn gió độc hiểm nghèo. Ờ. Câu gì năm ngoái đó Hậu?
Cô Hậu ngập ngừng, cười rồi cúi mặt:
– Dạ cái câu: Lỡ chân em té xuống bùn. Áo quần lem lấm, anh hun chỗ nào?
Ông Năm Lượng hỏi:
– Đâu! Thằng Điệu mày trả lời thử coi. Nghe qua mà phát nóng lạnh. Chẳng lẽ bọn con trai thua trí một cô gái?
Điệu ấp úng:
– Dạ không biết… mà cháu cũng không dám lên tiếng.
Ông Năm cười giòn:
– Người con gái kiêu hãnh, khinh khi bọn đàn ông. Đàn ông nên tỏ ra rộng lượng khoan hồng cho cô gái ngán. Mình gỡ lại như vầy: Cô ơi! Đừng nói thấp cao, thân cô lem lấm chỗ nào tôi cũng hun!
Điệu buộc miệng:
– Hay quá. Nhưng mà ghê quá!
– Cái gì mà ghê? Hát huê tình phải vậy đó cháu. Ở ngoài ruộng, trời mây bao la gió thổi mạnh, trong sạch lắm. Người ta xúm nhau thách đố, cười thật lớn, châm chọc thật đau, cho qua cơn mệt nhọc. Để rồi quên tất cả. Như diễn tuồng hát bội: người trẻ đóng tuồng làm cha của người già tuổi hơn. Huê tình là chuyện ngàn xưa ai ai cũng có, cũng ưa. Nó như ao bùn có bông sen. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Chỉ ngại là: khi về nhà, ngồi một mình trong phòng the cửa kín mà nghĩ chuyện xằng bậy. Để bác nhớ thử. Dường như ông vua Thành Thái đã răn phạt một bà cung phi chỉ vì bà ta vô ý hoặc cố tình hát câu này “ngồi buồn vọc nước giỡn trăng… Nước xao trăng dợn biết rằng về đâu?” Hai đứa bây hiểu chưa, thằng Điệu con Hậu?
Đôi trai tơ gái lứa nghiêm mặt, lẳng lặng nghe ông Năm Lượng nói tiếp:
– Vua Thành Thái có lý lắm. Bà cung phi có ý mơ ước tình ái viển vông với một người khác, phụ bạc nhà vua. Câu đó gồm những chữ tao nhã trong sạch. Nhưng hát không đúng lúc thì nó chứng tỏ người hát mang tâm địa xấu xa. Thanh hay tục là do lòng người chớ nào vì câu hát. Bùn không có tội. Bông sen không có tội. Câu hát huê tình cao siêu lắm. Bởi vậy thiên hạ gìn giữ nó hoài hoài…
Hai Cần vào bếp chụm lửa nấu cơm, chợt nghe giọng quen thuộc của lão Ngượt:
– Ráng chịu cực vài ngày nữa, rồi thì có vợ có con như thiên hạ.
Hai Cần đáp:
– Cháu chán cái cảnh sống một mình, một nhà như vầy. Ngặt vì xứ lạ quê người, tứ cố vô thân, thiên hạ chê cháu nghèo, chẳng ai thèm gả con.
Câu nói của Hai Cần ngụ ý hờn mát. Trước đó vài tháng, người bạn già của lão Ngượt từ rạch Tràm Trốc tới thăm, mua mắm ruốc và ba khía, đem về xứ bán lại. Bạn già ấy tên là Khâm, đi với đứa con quá tuổi cập kê tên là Hiếm. Hai Cần thương mến cô gái miền “gạo trắng nước trong”, khen ngợi nết na của cô Hiếm với lão Ngượt rồi nói e dè:
– Phải chi cô Hiếm xuống đây mỗi tháng vài lần thì vui lắm. Xứ mình nào rừng tràm, nước mặn, muỗi mòng ai cũng chê.
– Được rồi, thủng thẳng, bác lo liệu thử. Bác nói với lão Khâm, họ chưa trả lời ngay được, nhưng thế nào cũng nhắn tin, để bác cháu mình đi Tràm Trốc, thăm nhà đàng gái.
Giờ đây, lão Ngượt muốn dành cho Hai Cần sự ngạc nhiên thích thú. Chờ khi Hai Cần vo gạo xong, lão nói:
– Dừng tay lại. Cháu chịu khó “rinh” cái cà ràng, cái nồi cơm đó xuống xuồng để đi du lịch đường xa.
Hai Cần chưa hiểu:
– Vô rừng ăn ong hả? Mùa này, đâu còn ong mật.
Lão Ngượt vấn điếu thuốc rồi cười:
– Không trúng. Cho cháu nói thêm một lần nữa.
– Hay là bác cháu mình vô rừng đốn củi lậu thuế.
– Càng trật. Hôm nay, bác rủ cháu đi một việc hiên ngang, đầu đội trời, chân đạp đất, đúng theo lễ giáo ông bà truyền lại. Mình tới Tràm Trốc thăm bác Khâm, sẵn dịp ra mắt cô Hiếm. Người ta mời mình. Cháu nên đi một chuyến để biết sự đời.
Quá mừng rỡ. Hai Cần lại lúng túng:
– Đi như vậy, coi kỳ quá. Mua cái gì cho người ta chớ?
– Đi chơi, như là tình cờ. Thôi, mau bưng nồi, cà ràng xuống xuồng.
– Xuồng của ai. Xuồng bác hay xuồng cháu?
Lão Ngượt như suy nghĩ, đắn đo:
– Đi xuồng của cháu tốt hơn, dọc đường khỏi tát nước, từ đây tới Tràm Trốc bảy tám giờ đồng hồ, gay go lắm.
Tuân lịnh, anh bưng cà ràng, nồi, củi xuống xuồng của mình nhưng lão Ngượt lại thay đổi ý kiến:
– Như vầy… đi với chiếc xuồng của bác. Xuồng bác xấu xí mục rồi, mặc kệ nó.
Hai Cần thắc mắc. Phận mình nghèo, ra mắt đàng gái, lần đầu thì nên phô trương, không khéo gia đình cô Hiếm chê anh nghèo chí tử. Chiếc xuồng quá cũ giống như chiếc áo rách dễ gây dư luận không hay cho chòm xóm.
Lão Ngượt trông theo ngọn nước lớn đang chảy hăng rồi quyết định:
– Cháu cưới vợ chớ đâu phải chiếc xuồng cưới vợ. Dọn cà ràng qua xuồng của bác, cho kịp con nước, ăn cơm dọc đường. Vừa mở sợi dây phía mũi xuồng của lão Ngượt, Hai Cần vừa phân vân: điềm dị đoan, mê tín gì đây? Chắc lão Ngượt chọn chiếc xuồng là mạng Mộc, xuống sông là mạng Thủy, xuất hành đúng giờ Thìn, giờ Tỵ gì đó, nào đại kiết, sát chủ, lung tung khó hiểu quá.
Nước chảy xoáy cuồn cuộn ở đầu doi. Lão nói:
– Bác điều khiển một mình, cháu nấu cơm.
– Dạ để cháu chèo lái, còn trẻ, sức lực dẻo dai mà.
Từ đây tới Tràm Trốc, xa dữ không bác?
– Xa chớ. Muốn thử sức, chèo lái.
Gió thổi mỗi lúc càng mạnh, nước chảy xuôi nhưng gió ngược. Trên sông Cái Lớn, sóng dấy lên, bỏ vòi, bọt trắng xóa, như ngoài biển khơi. Hai Cần hơi thối chí. Từ bé đến giờ, anh quen bơi hoặc chống xuồng nơi lau sậy mịt mùng, cạn nước, hoặc trên bãi bùn giữa ruộng, có con đường làng cong queo. Thỉnh thoảng anh “quá giang” ghe lưới ra Hòn Tre, làm quen với biển và mấy con nhạn. Anh nghĩ thầm:
– Cọp sấu trên rừng, cá mập ngoài biển mình không nao núng, lẽ đâu lại ngán sóng gió ở con sông nhỏ này. Nhưng gió vẫn làm chúa tể cả bầu trời. Mỗi mái chèo có thể đưa chiếc xuồng lướt tới năm bảy thước, nhờ nước xuôi, nhưng sức gió cản lại quá mạnh, mặt nước gồ ghề, đôi khi sóng đập mạnh vào mũi xuồng, nước văng lên ướt mặt mày lão Ngượt. Nhìn lên cây cối bên bờ, Hai Cần thấy rõ là chiếc xuồng như dừng một chỗ.
Lão Ngượt cười:
– Theo cái điệu này, ngàn năm nữa bác cháu mình vẫn chưa tới nơi tới chốn. Cháu ghé vô bờ, ngay gốc bần bên kia sông.
– Cháu đủ sức chèo nữa mà.
– Ậy, ghé giây lát thôi.
Xuồng vừa tới bờ, lão Ngượt xách cây búa nhảy lên bãi, lựa cây bần khá to, đốn nghe “cum, cum” vào gốc. Dưới mắt Hai Cần, dường như lão ta đang làm chuyện ngược đời. Gốc bần bị đốn phía trong bờ, lát sau nghiêng nghiêng rồi đổ xuống, răng rắc, rớt nguyên xác xuống sông.
– Làm gì vậy? Để cháu vớt nó lên. Coi bộ nặng nề, nhánh nhóc lung tung.
– Đừng nóng. Cháu lấy sợi dây ở mũi xuồng buộc vô gốc cây bần này cho thiệt chắc. Nó trôi theo dòng nước rồi nó kéo chiếc xuồng mình đi tới, khỏi chèo cho mệt.
Chiếc xuồng trở mũi ra giữa sông, lão Ngượt ra lịnh:
– Cháu ngồi xuống mà cầm lái, đứng làm gì cho cản gió. Thấy chưa, gặp nước xuôi mà gió ngược thì ta “chạy buồm dưới nước”. Cây bần này trôi, kéo chiếc xuồng, nó là một cánh buồm.
Hai Cần thích chí, khen ngợi sáng kiến của lão Ngượt, nhưng đưa ra lời phê phán:
– Ngộ quá, như có con trâu nước hoặc con sấu, con thuồng luồng lội tới, kéo xuồng. Gốc bần càng to, nhánh nhóc càng nhiều thì xuồng đi càng lẹ. Ngặt xuồng khẳm, phía trước mũi.
– Ừ, lại thường xảy ra nguy hiểm. Rủi “con trâu nước” đụng vô cột hàng đáy, đụng ghe xuồng của người khác thì thiên hạ bồi thường. Mũi xuồng ghịt tới, khó cầm lái cho vững.
Lâu lâu, lão Ngượt quát to:
– Coi chừng đụng. Đừng ai lại gần…
Vài chiếc ghe từ miệt trên chạy buồm phăng phăng, ngược chiều, họ nhìn, chỉ trỏ ngón tay, như thán phục kẻ có sáng kiến lúc nước xuôi gió ngược.
Đến xế, tới vàm rạch Nước Trong, quẹo qua nhánh nhỏ, bên trái. Trên chặng đường này, tình thế đảo ngược lại: gió thổi xuôi nhưng nước chảy ngược. Anh ta hỏi:
– Để cháu ra sức chèo. Nãy giờ, nhờ trời. Bây giờ, nếu chiếc ghe to, có buồm, khỏe biết mấy.
Lão nói:
– Để coi. Bày cách khác, miễn là con rạch đừng quá hẹp. Lời tục thường ví “Một nắm gió bằng ba bó chèo”. Bắt đầu từ đằng kia, cháu lãnh công việc nặng nhọc một chút.
Lão cho xuồng ghé lại bãi, tìm một tàu lá dừa nước khá to, vừa ý:
– Hai Cần. Ngồi trước mũi, dựng tàu lá này lên cao, cho nó bọc gió. Tháo dây, bỏ cây bần cho Hà Bá đi. Nãy giờ nó kềm chiếc xuồng mình, làm mất trớn.
Sáng kiến thứ nhì này đem cho Hai Cần niềm vui mới. Anh ta ngồi xếp bằng ở giữa xuồng, ôm phần gốc của tàu lá, dựng thẳng lên cao. Gió thổi mát mẻ, phía sau lưng, từng luồng mát lạnh, sức cầm giữ của anh có hạn, đôi khi tàu lá đảo qua đảo lại, chiếc xuồng chao đảo, nước tạt vào.
Lão ra lịnh:
– Coi chừng nó nghiêng rồi chìm luôn. Mắt nên nhìn phía chót tàu lá, coi hướng gió.
Chiếc xuồng lướt nhanh chóng hơn khi nãy được kéo với gốc cây bần, cứ phóng tới, mũi xuồng như sôi bọt khi rẽ nước. Mây trắng trôi trên nền trời xanh thẳm. Lão lẩm bẩm:
– Ráng chịu cho quen tay. Nhiều người lanh tay, vừa giữ tàu lá, vừa cầm lái, tùy làn gió mà quơ qua quơ lại như ông tướng phất cờ ra trận.
Khoảng bốn giờ chiều, tới Xẻo Nước, nước ngưng chảy, gió im bặt, lâu lâu, vài luồng hiu hiu. Tàu lá dừa nước chẳng còn vai trò gì cả. Lão hút thuốc, loan tin:
– Giỏi thì nửa giờ thôi, mình tới Tràm Trốc, khỏi ăn cơm dọc đường.
Hai Cần mừng ra mặt, lát nữa, gặp cô Hiếm, hai người chào nhau chắc bẽn lẽn, thẹn thùa. Lão Khâm đang chờ đợi, biết đâu cô Hiếm đang nhổ lông vịt, mời vài bạn gái tới tiếp cơm nước.
– Mình bỏ tàu lá, nghe bác.
– Quăng đi, để làm gì cho nặng chiếc xuồng.
– Hồi nãy gió thổi mạnh, tàu lá này đong đưa, mấy lá nhỏ tua túa ra, như răng cây lược thưa. Người ta hát ví: Gió đẩy đưa, lược thưa uốn éo.
– Cháu nhớ dai quá. Nay mai sanh con đầu lòng, hát câu đó cho con nít nghe, êm tai, nhưng hát như vầy mới đúng: Gió đẩy đưa, đọt dưa uốn éo, không phải lược thưa. Đọt dưa hấu, lúc mới trồng, bò lan ra, ngóng lên trời, gặp gió tết nhè nhẹ. Cảnh đó coi hay lắm. Bây giờ, nghỉ lâu rồi, để bác chèo cho giãn gân cốt. Cháu ngồi dưỡng sức, lát nữa làm công việc khác, khá nặng nhọc.
Trong phút giây, Hai Cần nhớ tới những việc mà chàng rể nào cũng đảm nhận, khi thăm viếng bên vợ, lúc chưa làm lễ cưới. Gặp gì làm nấy. Nào bửa củi, gánh nước, làm cỏ vườn, xay lúa, hoặc gặt hái, tùy mùa. Phía sau lái, lão Ngượt ra sức chèo, rõ ràng là lòng tốt của bực cha chú, đối với một thanh niên đơn chiếc, không họ hàng.
– Chừng bao lâu nữa tới Tràm Trốc? Lo cơm chớ, sợ bác đói bụng. Đủ gạo, củi, nước mắm, mấy con khô lóc và rượu.
– Sách có chữ “nhập giang tùy khúc” tùy doi vịnh, gió nước.
– Hết gió nước xuôi ngược, còn gì mà lo nữa đâu?
– Còn chớ. Trước mặt mình, đằng kia, không còn là con sông trời xanh. Nó thẳng băng. Cái kinh xáng của Tây hồi xưa, dùng xáng múc. Ngặt nghèo lắm. Lát nữa, tới đó coi thử. Ở đây nước lình bình, lớn cũng như ròng.
– Để cháu chèo thay bác.
Lão nhìn mấy giề lục bình khá to, như bèo trong ao tù đọng.
Bởi vì lình bình, nên lục bình mới là báo hại. Thò tay xuống nước, anh nắm giề lục bình, đem lên xuồng. Lão nói:
– Xứ mình, gần biển, gặp nước mặn, lục bình chết, ở đây nước ngọt. Nhiều người kêu nó là sen Nhựt Bổn. Nghe đâu nó tràn qua xứ mình hồi bão lụt năm Thìn, người thì nói Tây đem qua để trồng làm cây cảnh cho đẹp mắt. Lần hồi, nó sanh sôi nảy nở tràn đồng, tràn mương. Trước mặt mình, trên kinh xáng, nó gom lại dày bịt. Nhà ông già Khâm với con Hiếm ở phía trên đó, chẳng xa xôi gì.
Hai Cần đứng dậy, quan sát. Đằng kia, lục bình chận ngang con kinh, bề dài cỡ bảy tám trăm thước, hoặc ngàn thước. Anh ta ước lượng: mỗi giề nặng hơn kí lô, quỳ xuống trước mũi xuồng để lấy thế, mỗi lượt hai bàn tay vẹt (vạch) ra được hai gié, quăng ra gần đó, miễn là trước mũi không gì ngăn cản, chiếc xuồng vượt lên được một thước, đầu đuôi, vẹt chừng một ngàn lần, khom lưng một ngàn lần, đủ sức chịu đựng.
Lão Ngượt hỏi:
– Bày thử mưu kế gì lạ coi. Tới đây, bác hết biết cách… chạy buồm rồi.
Lão Ngượt như chịu thua, ắt là khó. Anh tỏ ra dè dặt:
– Ở xóm mình mùa hạn, kiếm một nhánh không ra, nó tàn lụi hết.
– Xứ này nước ngọt quanh năm, bốn mùa xuân hạ thu đông; nó sống lưu niên. Một giề tách ra hai giề con.
Hai Cần nhạy miệng:
– Ba giề đẻ ra sáu giề.
– Trật rồi, cháu ơi. Đẻ ra cỡ chín giề, phải cộng thêm ba giề mẹ, nghĩa là một ngàn giề, trong nửa tháng, ra mười ngàn giề có dư. Như chuột, như con dòi.
– Nhưng tại sao nó không cuốn ra biển khi nước ròng? Dông dài lắm. Chỗ này kêu là “giáp nước”, do Tây đào kinh xáng gây ra. Nước lớn phía Cần Thơ dồn qua, nước lớn phía Rạch Giá dồn lại. Hai ngọn nước gặp nhau tại đây. Suốt ngày đêm, nước đứng tại chỗ. Xa biển, ngoài biển vừa ròng, thỏm nỏm, chưa rút hết thì đứng lại, rồi nước lớn. Bởi vậy, từ mấy chục năm rồi, nó sanh đẻ tại chỗ, dày bịt, qui tụ nào xác chó, rắn nước, cá tôm. Giống như cái trấp ở U Minh, trên mặt cứng, phía dưới nước lõng bõng, coi như bơi xuồng được, nhưng rốt cuộc là chịu thua, sa lầy.
– Rồi thiên hạ làm sao qua khỏi cái giáp nước này?
– Ghe xuồng thứ lớn thì đi vòng ngả trên, đường xa hơn, nhưng chắc ăn. Còn xuồng nhỏ, họ khiêng lên bờ kinh xáng, đi bộ, hơi nặng vai, tới đầu kia thả xuồng xuống nước, tiếp tục. Thôi, hai bác cháu mình, người mũi, kẻ lái như thiên hạ.
Khó định đoạt quá. Lão Ngượt chịu cực khổ để làm mai mối cho anh. Đường dài vượt chín phần mười rồi, chẳng lẽ phần chót, nỡ lòng nào để lão khiêng vác. Xuồng này, thêm nồi chén, dao, củi lung tung, đâu nhẹ.
Hai người nhìn nhau. Lão lên tiếng trước:
– Cháu tính sao?
Hai Cần hỏi ngược lại:
– Bác thấy sao?
– Bác muốn khiêng lên bờ.
– Bác ngồi sau lái, nghỉ ngơi, cháu ra trước mũi, quỳ gối khom xuống, lấy tay mà vẹt.
Lão Ngượt mỉm cười, bí mật:
– Bác ngồi, thêm nặng. Chi bằng bác đi bộ lại nhà… đàng gái, báo tin trước cho họ yên tâm, gặp cháu, họ khỏi ngỡ ngàng, ban đêm, họ thắp đèn đuốc, vài người gần nhà, qua chơi cho ấm áp.
Hai Cần mừng thầm. Là người mang dòng máu “lên rừng xỉa răng cọp, xuống biển hốt trứng sấu”, anh nhứt quyết trổ tài cho nhà gái biết mặt. Chưa ai dám lập kỳ công ở khu vực giáp nước ác hại này. Cây trên rừng, thiên hạ còn lần hồi đốn sạch, cỏ ở U Minh có thể lần hồi nhổ hết, huống gì mớ lục bình nhẹ cân, lêu bêu không căn cội gì trên mặt nước. Ta nắm chóp từng giề mà quăng bỏ, như con nít đùa giỡn.
Trước khi lên bờ. Lão Ngượt căn dặn:
– Nhà ông Khâm khỏi đám lục bình này, bên kia chừng mười công đất, phía tay trái. Một căn hai chái, trước sân trồng bốn cây dừa lùn. Cả nhà chờ cháu tới ăn cơm chiều, nghe không. Đêm nay có trăng sáng.
Cởi áo ra, Hai Cần tới mũi xuồng, khom lưng, vẹt lục bình, ném từng giề, quăng lên cao và thật xa. Xuồng nhích tới nhanh chóng. Mặt trời còn khá cao. Sức anh còn thừa. Hồi lâu, xuồng đến một phần ba vùng giáp nước. Anh lau mồ hôi trán, bụm hai tay, múc nước uống. Bóng dáng lão Ngượt khuất dần, khuất dần trên bờ kinh, năm sáu chiếc xuồng được vác đường bộ, kẻ mũi người lái, thêm trẻ con phía sau, xách nóp, bưng thúng. Vài người trông xuống kinh, với thái độ ngạc nhiên, bàn tán qua lại. Trước mặt chừng năm chục thước, có chiếc xuồng đang… vẹt lục bình như anh, họ day lại, đưa tay ngoắc, như khích lệ. Hoặc họ chờ anh tới tiếp sức, với mưu mẹo gì đó. Anh khom lưng, cố sức nhưng mỗi lúc dường như mỗi giề lục bình nặng gấp ba, gấp bốn, dính chùm với nhau. Vừa kéo lên một chùm là hàng chục chùm ở chung quanh tràn tới, che kín hẳn mặt nước.
Anh bực tức: Tại sao mình không nhảy xuống, nương vào chiếc xuồng mà kéo. Mặt nước hơi cứng cứng, mềm mềm như mặt đất. Lại thất vọng, bị lún ngang gối, anh vội trèo lên, e chìm lỉm, khó trồi đầu, vẹt lục bình để thở. Nhìn trở lại, mới vượt chừng một phần ba đoạn đường, phía trước, muốn vượt một thước, mệt gấp mười lần.
Lão Ngượt ngồi nhậu với lão Khâm, nói chuyện thời tiết, khá tương đắc. Ở nhà bếp, cô Hiếm nửa mừng nửa lo. Bước qua canh hai rồi, sao chàng trai trẻ chưa tới. Cơm cá trên bếp lạnh tanh, rau sống sắp sửa héo. Lão Khâm khuyên chờ, để lát nữa ăn cơm một lượt cho vui.
Lão Ngượt hỏi:
– Mấy giờ rồi?
Lão Khâm đáp:
– Ai biết, nhắm chừng khoảng 10 giờ. Con nít người lớn trong xóm ngủ hết rồi. Tại sao…
– Chắc nó lạc đường. Tôi dặn kỹ rồi mà: nhà một căn hai chái với bốn cây dừa lùn… Từ đây tới chỗ giáp nước chẳng xa gì. Mình đốt đuốc, đi trở lại kiếm thử, hay là…
Vừa ra tới hàng rào trước sân, lão Ngượt trố mắt, nhận ra một bóng dáng đứng lóm thóm bên cây dừa:
– Ủa, Hai Cần tới hồi nào. Sao chưa chịu vô. Chờ nãy giờ… gần chết. Tới đây bằng cách nào?
Vào nhà, chắp tay chào hỏi, anh thấy mệt lả người, chẳng còn che giấu gì nữa:
– Dạ thưa hai bác, cháu bỏ chiếc xuồng trong đám lục bình rồi lên bờ đi bộ. Một mình, vác xuồng không nổi. Sợ hai bác chờ đợi thành ra cháu mang tiếng thất lễ.
Cô Hiếm dọn cơm ra. Chưa chi Hai Cần cúi đầu ăn lua láo, quá đói. Lão Ngượt nói lai rai:
– Thôi đừng buồn. Vậy là giỏi. Năm xưa, nhớ coi, ông Lơ Pheo khẩn đất gần đây đâm đơn kiện hãng Xáng, con kinh ác hại gây ra cái giáp nước, nước ngọt vô ruộng, làm ăn khá, nhưng tá điền khó đem lúa đong cho ông.
Lão Khâm nói xen vào:
– Nói chi cho xa, mới đây hai năm thôi, nghe đồn võ sĩ vô địch là Sáu Cường từ Trà Vinh tới, thử chạy như bay qua chỗ lục bình, bị sụp, tưởng chết luôn, hồi lâu mới trồi đầu lên để thở.
Ăn xong hai chén, Hai Cần đã tỉnh táo, vuốt mái tóc:
– Cháu xin hỏi, lục bình nhiều quá, tại sao mình chưa xài nó vô việc này việc nọ, thưa bác.
Lão Khâm mừng rỡ, vì chàng rể tương lai rõ ràng chí thú làm ăn, muốn khai thác kinh tế, bất cứ nơi nào. Ông đáp:
– Có ông bác vật tới giáp nước, đem vài giề lục bình về chợ Cần Thơ thử làm giấy hút thuốc. Ổng đi mất dạng luôn, nhờ vậy mà Nhà nước chưa cấm… ăn cắp lục bình. Lại có ông “đốc tưa” khuyên dân xứ này ăn thử lục bình, hái đọt, luộc chấm mắm, vì đầy đủ chất tươi. Có thầy nọ rỉ tai với dân: Đừng nghe dại, lục bình độc lắm, ăn nhiều bị… mục xương, thà rằng ăn bông súng, cỏ lá hẹ, rau dừa. Thêm một điền chủ ở Xà No muốn lập trại nuôi heo, tới đây, đem con heo Ma-ni, heo ăn thử một vài giề, vài ngày sau, kêu la ỏm tỏi, heo đòi ăn… cháo heo.
Hai Cần tự an ủi, dầu cho thất bại trong vụ vẹt lục bình anh đã được “ông già vợ tương lai” và lão Ngượt ca ngợi, xem ngang hàng với chủ hãng Xáng, bác vật, “đốc tưa”, điền chủ. Bỗng dưng, anh thấy lo lắng nghĩ tới chuyện về. Chiếc xuồng nọ giờ này ra sao?
Lão Ngượt nói:
– Cháu ngủ mà dưỡng sức, qua bộ ván bên kia, lát nữa, con Hiếm giăng mùng cho.
– Sáng mai, nhớ kêu thức sớm, cháu trở lại, kiếm thử chiếc xuồng của bác.
– Thôi bỏ luôn đi. Ai tới đó mà lấy, lấy rồi làm sao đem chiếc xuồng ra khỏi vòng vây. Hồi ra đi, bác đoán trước cái tánh hăng hái của cháu. Nó hư rồi, đem về mất công. Sáng mai mình mượn chiếc xuồng của bác Khâm mà về. Bác Khâm hứa tới xóm mình một lần nữa và cháu còn trở lại đây một lần nữa cho xong xuôi…
Lão Khâm nói khẽ:
– Mai mốt, nên nhà nên cửa, còn khó bằng mười lần cái vụ qua chỗ giáp nước này. Rốt cuộc qua được nhưng… nhập giang tùy khúc, chuyện vợ chồng tát biển Đông cũng cạn là vậy đó cháu.
Cuối tháng Chạp năm ấy, Thiệp mặc nhiên trở thành người nghèo túng nhất của làng Đông Yên. Anh trồng ba công dưa hấu, một sáng kiến táo bạo, liều mạng, với số vốn 300 đồng: 50 ngày sau, bán được 3 ngàn đồng. Sau khi trang trải vài món nợ lặt vặt, anh sắm ngay cái nón nỉ rồi ra chợ Rạch Giá để mua cái đồng hồ đeo tay. Rủi thay, trước khi đến tiệm để mua, gặp sòng bài cào, anh tin vào thời vận đang đỏ, ngồi xuống chơi khoảng nửa giờ là… không còn đủ tiền đi tàu đò về quê.
Đến xóm, bẽn lẽn như kẻ trộm, buổi trưa nóng nực, anh ra giữa ruộng, nằm vắt chân chữ ngũ trong căn chòi giữ dưa dạo trước.
Có tiếng kêu réo:
– Anh hùng mạt lộ đang tính chuyện lấp biển vá trời hả?
Thiệp tức giận: Mình đã biết thân phận, lánh mặt bà con cô bác, cớ sao họ chẳng buông tha cho mình. Anh nói to:
– Thằng này què quặt rồi. Không có lấp, không có vá cái quần cái áo gì hết.
– Em cháu bữa nay nói chuyện hơi khó nghe. Bộ thua me rồi gỡ bài cào hả? Bác đây mà Thiệp.
Thiệp sửng sốt, ngồi dậy, vuốt mái tóc cho ra vẻ đứng đắn. Nguy quá rồi, anh vừa phạm tội vô phép với ông hương thân Chỉ. Ông này hiền lành, vui vẻ lắm. Đứa con gái độc nhất của ông lại càng hiền hậu, vui vẻ hơn.
– Nói chuyện đi chợ Rạch Giá cho bác nghe chơi. Ở ngoài đó, đầy đủ hàng hóa. Cam tàu, chà là năm nay bao nhiêu một ký mà chú Kịp đem về đây, “đập” tới bảy cắc rưỡi.
Với cử chỉ thân mật, ông hương đưa gói thuốc rê cho Thiệp:
– Rứt một cục, vấn vài điếu để dành. Đừng buồn. Thua cờ bạc, thế gian sự thường, chẳng có gì xấu hổ hết, nhứt là trường hợp của cháu.
Đôi mắt Thiệp vụt sáng lên. Rõ ràng ông hương thông cảm hoàn cảnh của anh, rất rộng lượng.
Vậy mà hai ngày rày họ cười chê, gặp mặt cháu, họ nói “hoạnh tài bất phú”. Độc hại hơn, họ xầm xì: Thiệp là thằng ăn trộm gặp ăn trộm. Thú thiệt với bác, cháu buồn, chảy nước mắt thầm.
Để an ủi chàng trẻ tuổi dễ thương, tháo vát, siêng năng ấy, ông hương giải thích:
– Cháu là đứa có tài trồng tỉa. Tụi nó không dám trồng, hoặc trồng thất bại, thiếu kinh nghiệm rồi ganh tị với cháu. Cháu là đứa ăn trộm, nhưng là… ăn trộm lộc nước ơn trời. Thật đáng khen ngợi. Nếu suy luận kiểu đó thì bác đây làm ruộng từ đời ông, đời cha lại là hạng ăn trộm chúa, thuộc dòng họ ông Thần Nông, gặp lúc lúa đầy bồ.
Sau vài câu tâm sự, khuyên nhủ, ông hương đưa Thiệp về nhà. Trước sân, cá lóc, cá sặt đã muối phơi nắng, xông mùi nồng nực, ruồi bu từng cụm xanh lè, mặc dù Huệ con gái ông hương ra sức un khói. Huệ mừng rỡ khi thấy Thiệp đến chơi với cha của cô. Mọi khi, anh ta đi thầm lén, phía sau vườn, hoặc đón đường khi cô ra chợ làng mua thức ăn.
Ông hương nói:
– Quạ kìa. Con Huệ này thiệt là vô ý vô tứ. Quạ ham ăn cá…
Thiệp cố binh vực cho người yêu:
– Đàn bà con gái đuổi, quạ đâu sợ. Để lát nữa cháu đem cái giàn thun tới, bắn tỉa vài con, rồi bêu xác tòn teng. Mấy con khác lấy đó… làm gương.
Ông hương cau mày:
– Làm vậy, tội chết. Gần tết, mùa cá, quạ bu lại kiếm cá khô mà ăn cho đã thèm. Cũng là một kiểu ăn trộm gặp ăn trộm.
– Bác nói hơi lạ, cháu chưa hiểu.
– Thì cũng như cháu vậy thôi. Bác tát đìa, ăn trộm cá của trời đất, vì cá chẳng ai nuôi, trời sanh. Rồi quạ rình mò, ăn trộm trở lại. Sẵn đây, bác chỉ bảo điều bất lợi nhân cái ý kiến bắn quạ, lấy xác quạ mà bẹo. Vô ích. Bác làm thử rồi. Quạ bu lại càng nhiều hơn, kêu la nhức đầu nhức óc.
Thiệp hơi ngạc nhiên:
– Tụi nó thương tiếc…
– Đâu phải. Tụi nó giành nhau cái xác con quạ chết để ăn thịt, có lẽ ngon hơn cá khô. Rốt cuộc, con quạ chết còn treo lủng lẳng, quạ sống thì cấu xé, lãnh thương tích.
Vào ngưỡng cửa, Thiệp lại ngạc nhiên khi ông hương đối xử như bực thượng khách:
– Cháu kéo ghế ngồi tự nhiên.
Rồi nhìn ra sân:
– Huệ ơi. Rót hai tách nước. Khách quý tới nhà mình. Cạm bẫy gì đây? Ông hương thân mật, đến mức khó hiểu. Hay là Huệ hơi lớn tuổi, ông muốn gã nhanh cho anh, trong năm nay. Hoặc là ông muốn gây cảm tình, để hỏi vài bí mật về nghề trồng dưa hấu, làm thế nào cho dưa lớn trái, ít tốn tiền mua phân. Anh tưởng tượng lát nữa Huệ sẽ rón rén, bước ra cúi đầu chào, anh đáp lễ, trước sự hiện diện của ông Hương. Nhưng thời khắc trôi qua im lặng, ông hương hơi bực dọc:
– Con nhỏ này kỳ lạ. Hay là mắc cỡ. Huệ đâu rồi?
Từ phía ngoài sân, ông hương hào Ngọc bước vô:
– Con Huệ hả? Nó xuống xuồng của tôi để xách mấy con rùa cha tôi tặng ăn tết cho sống dai như rùa. Mùa này, rùa còn ít.
Biết vai trò của mình bắt đầu lu mờ, Thiệp đứng dậy, qua bộ ván sát vách mà ngồi. Hương hào Ngọc vội nắm tay anh, kéo lại:
– Ngồi chơi cho vui. Bác tới đây đâu phải để đuổi cháu về nhà. Gần tết, mình nói chuyện… tự do, bình đẳng, bác ác với nhau như nhà nước Pháp đã dạy. Nghe đồn rằng cháu… bị ăn trộm hả?
Khổ tâm biết bao nhiêu. Thiệp ghét cay ghét đắng tất cả mọi người ở cái làng nghèo nàn, xa xôi này. Lòng ganh tỵ còn hơn miệng hùm nọc rắn. Tại sao người lớn tuổi, nhiều kinh nghiệm trường đời mà lại tin vào lời đồn đại ấy? Anh mong ông hương thân giải thích giùm cho ông hương hào rõ.
Nhưng kìa, Huệ bước ra, bưng cái khay, có ba tách nước. Huệ chào từng người khách, đặt tách nước dành cho Thiệp thật xa, ở góc bàn.
Ông hương thân nói:
– Con nhỏ này không khéo lại làm bể tách. Bộ tay của thằng Thiệp dài như tay con vượn thì nó mới với tới.
Huệ bẽn lẽn, chạy nhanh xuống nhà bếp. Bấy giờ, hương hào mới vỗ vai Thiệp:
– Cháu có tài quá, bực nhứt xóm này. Bác biết rồi. Cháu trúng dưa hấu, làm giàu hơn thiên hạ.
Thiệp hứng chí, nói dõng dạc:
– Dạ, suốt năm cháu ở không, đi chơi. Tới tháng Mười, cháu ra sức một đôi tháng, thức luôn ban đêm để thâu huê lợi bằng kẻ khác cày sâu cuốc bẫm lai rai trong một năm. Họ ghen tức.
Hương hào gật đầu, day qua chủ nhà là ông hương thân:
– Hơi đâu mà giận. Theo cổ lệ ông bà, bắt đầu từ ngày này trở về sau, ăn trộm không còn là tội, nhiều khi lại là danh dự.
Một người có quyền lực trong hương chức hội tề lại ngang nhiên xúi giục ăn trộm. Thiệp há miệng, chập sau, hương hào mới chịu giải thích. Tuy sống vào thời buổi văn minh Âu Tây nhưng người Việt Nam còn giữ thói ăn nết ở thời đàng cựu. Thời xưa, hàng năm, đúng ngày 25 tháng Chạp, nhà vua ra lịnh cho tất cả quan lại, từ trên xuống dưới, phải ngưng mọi công việc nước, để ăn chơi suốt một tháng, tới ngày 25 tháng Giêng. Quan phủ, quan huyện phải chùi ấn cho sạch, bỏ trong cái hộp, chờ tháng sau mới xài.
Thiệp thắc mắc:
– Thưa bác, gặp trường hợp sát nhân, cướp của thì sao?
– Thì quan trên tạm thời giữ nó lại. Nếu liệu bề nó không trốn đi đâu xa thì cắt đầu tóc, cạo đầu nó để làm dấu hiệu riêng, đợi tới cuối tháng Giêng sẽ tính. Bởi vậy, những ngày gần cuối năm ăn trộm nổi lên lung tung. Ăn trộm ghe xuồng, lu hũ, ăn trộm nồi thịt kho, cái nồi bánh tét trên bếp sôi sùng sục. Năm hết tết tới, kẻ lỡ vận đâu còn cách nào chạy ra tiền, ai dám cho họ mượn. Họ lợi dụng tình trạng không luật lệ, không ai cai trị để làm “lung”, múa gậy vườn hoang.
Ông hương thôn phục thầm trí nhớ và sự hiểu biết khá rộng của ông hương hào. Ông moi trí óc, đưa ra vài ý kiến, chứng tỏ “ta đây nào kém tri thức”.
– Nước đục thả câu. Ngày đầu năm, người trong xóm tránh gây gổ, kiện tụng. Nếu bắt được thủ phạm, nhiều khi họ bỏ qua, vì lòng nhân đạo. Ăn trộm trong dịp quan trên treo ấn là điều vạn bất đắc dĩ. Mình nên thương họ. Họ là người Việt Nam như mình. Biết đâu ông bà họ xưa kia sống nghề ăn trộm, bây giờ họ báo hiếu ông bà bằng cách đó.
Đến lượt ông hương hào sửng sốt:
– Anh hương thân nói gì? Cái kiểu báo hiếu đó khó coi quá. Nghe nói hồi xưa có “ăn mày lề”, con cháu phải đi ăn mày vài bữa nếu ông bà thời trước sống với nghề đó. Lề là thói quen, lệ cũ, phải noi theo.
– Tôi kể cho anh nghe, chuyện nhãn tiền. Hồi năm tôi làm ruộng sạ ở Mốp Giăng, đến 29 tháng Chạp, làng xóm la ỏm tỏi vì có kẻ trộm đi ngao du từng nhà. Lạ thay tên “đạo chích” ăn cắp sơ sơ vài món kỳ cục, nào chổi cùn, guốc đứt quai, quần rách. Kẻ trộm đó quần áo lành lẽ, túi đầy tiền, mặt mày trắng trẻo, xưng làm chức “cựu cai tổng” ở tỉnh lân cận. Bị thiên hạ mắng chửi, ổng thú thật: “Hồi xưa, ông cố tôi làm nghề ăn trộm, bị nhà vua lưu đày vô Nam, làm lính đồn điền. Bây giờ giàu rồi, nhưng hằng năm tôi muốn ghi ơn cốt nhục sanh thành của tổ tiên bằng cách đi ăn trộm, theo lệ. Bà con tha thứ cho tôi, tôi không rớ tới những món quý giá, tôi là đứa dư ăn mà. Bằng không, bà con cứ chửi rủa thậm tệ, chửi nhiều chừng nào tôi được tiếng hiếu thảo chừng nấy”.
Ai nấy cười vang, Thiệp gãi đầu, nheo mắt, chợt nghĩ đến sáng kiến táo bạo. Mấy ông hội tề này vừa nói rằng suốt một tháng trước sau tết, ăn trộm là vô tội, là hiếu thảo. Nếu vậy mình nên thừa dịp này, ăn trộm một món, món đó quý giá đối với cuộc đời mình còn hơn tiền bạc dịp năm hết tết đến.
Ông hương thân nói:
– Thiệp à, cháu thấy chưa, đi quãng đàng, học sàng khôn, tội tình gì mà nằm chèo queo ngoài chòi giữ dưa. Đừng buồn tủi vì tiếng thị phi “ăn trộm”. Kẻ thất phu chưa hiểu cổ lệ ông bà. Lát nữa, ở đây ăn cơm nghe, có gì ăn nấy. Bây giờ thì… (hương thân nói nhỏ với hương hào) anh em mình đánh cờ tướng vài bàn.
Thiệp cúi đầu, ra sân rồi len lén trở xuống nhà bếp.
Huệ đang lui cui luộc mấy con rùa. Anh đến bên cạnh:
– Em nhớ anh không?
Huệ giựt mình, bước lui:
– Kỳ quá hè. Thiệt là “ba sớn ba sác”. Ổng xuống bây giờ. Cỡ này, ổng hay quạu bất tử lắm. Chờ mai mốt, hẹn chỗ khác, bộ chết sao mà nóng nảy dữ vậy.
Thiệp đắc ý:
– Cỡ này, ba của em “xả cản”. Chờ cuối tháng giêng, ổng mới làm khó dễ thằng con rể này.
– Nói dóc hoài. Đứng dang xa ra, bằng không em chạy lên nhà méc ba bây giờ.
Thiệp mạnh dạn nắm tay Huệ:
– Vô ích. Ổng mê đánh cờ tướng với ông hương hào. Mấy ổng cho phép anh làm nghề ăn trộm, vì gần tết rồi.
– Nói giỡn hoài. Anh giỡn nhây rồi đó.
Thiệp đến sát bên Huệ. Huệ xô anh ra. Anh cười hề hề:
– Ông già có câu truyền lại rằng: Thương thì hót cổ, choàng lưng. Việc ấy xin đừng, phải có mẹ cha. Anh luôn luôn giữ lẽ phải, chớ chưa dám đá động tới “việc ấy”.
Bỗng dưng căn nhà bếp này như có sấm nổ, rung chuyển:
– Việc ấy là việc gì? Nói mau. Đi ra khỏi nhà tao lập tức. Cái thằng Thiệp này. Còn con Huệ nữa, lớn rồi mà không nên nết.
Ông hương thân hươi cây ba-ton, môi run run như sắp tuôn ra loạt sỉ vả thứ nhì. May sao, ông hương hào đã chạy đến, giựt cây ba-ton rồi cười:
– Bớt nóng giận, ông anh ơi. Thằng Thiệp chưa có phạm tội gì hết.
– Nó mang tiếng… ăn trộm. Thiên hạ đàm tiếu, chê bai nó. Tôi tội nghiệp cho nó, dè đâu…
Ông hương hào cười:
– Dè đâu nó tới nhà tôi, dở thói ăn trộm. Nhưng ăn trộm như nó, tội tình gì trong mấy ngày cận tết này, nhứt là… ăn trộm hái hoa tươi.
Chợt thấy thằng Thiệp đang co chân chạy ra sau vườn, ông hương thân nói khẽ:
– Phải dằn mặt nó như vậy mới được. Tôi đâu ghét nó. Mình tiếp tục ván cờ, chờ rượu, chờ mấy con rùa luộc.
Đến nhà trên, hương hào đắc ý:
– Tôi là người khách, cho tôi nói thêm cho đủ lời. Theo ý tôi, bông hoa là món đẹp của tạo hóa ban cho mọi người. Ăn trộm hoa cũng như ăn trộm dưa hấu, lúa gạo, cá tôm của trời đất. Nghề nào cũng có công phu, vinh nhục. Thằng Thiệp đáng được tha tội. Vả lại, chính ông anh là chủ nhà… xúi giục nó bẻ hoa.
– Tôi cho phép nó xuống bếp để ve vãn con Huệ hồi nào? Gia phong ở đâu?
– Ông anh nói đó là cổ lệ ông bà, có kiểu ăn trộm để báo hiếu. Hồi nhỏ, tụi mình cũng ngỗ nghịch như nó. Thói ăn trộm bẻ hoa đã có từ thời thiên địa sơ khai. Mai chiều đây, nếu xuôi chèo mát mái, thằng Thiệp báo hiếu cho cha nó một đứa cháu nội, con Huệ thì báo cho anh một đứa cháu ngoại.
– Thôi nín đi. – Ông hương thân nói gọn.
Ông hương hào chưa chịu buông tha:
– Thằng Thiệp giỏi, dám làm ăn, không như gà què ăn quẩn cối xay. Nhỏ mà khí phách như người lớn. Nếu sợ dư luận, tôi mời chánh lục bộ với xã trưởng làm tờ hôn thú cho tụi nó. Con mộc ở hội tề làng mình còn giữ, theo luật của Tây, đâu cất giấu như hồi đàng cựu. Vui vẻ mà.
Mười Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Thanh Toán Xong Chu-Pao
Chúng tôi ngồi bên bờ đường 14, con đường đã chôn xác hàng ngàn chiến sĩ miền Nam, hàng ngàn lính Bắc Việt. Hai chai rượu Martell của những thân hữu, những nhà phát hành sách báo bị “bẻ cổ” rồi được chuyển từ tay này sang tay khác. Hai chai rượu này tôi tự ý trích ra trong số một thùng 12 chai được gởi đến Kontum, tặng những chiến sĩ tử thủ. Tôi nghĩ đã làm đúng ý những người bạn ở Sàigòn: đem một phút ấm lòng đến cho những người ngoài chiến tuyến dù họ đang ở Chu Pao hay Kontum.
40 người lính ngồi thành một vòng tròn đường kính khoảng 15 thước. Chai rượu được rót vào cái nắp đậy, mỗi người một nắp. Câu chuyện cởi mở, thoải mái. Mọi người đều có cảm giác đã làm xong nhiệm vụ, xứng đáng hưởng thụ những phút nghỉ ngơi.
Ngoài đường, những chiếc xe hàng, xe đò ì ạch vượt quãng đường xấu, xấu vì bom đạn tàn phá, xấu vì trời đang mùa mưa. Những hành khách ngồi trên xe vẫy chúng tôi tíu tít, miệng la lớn “Cám ơn, cám ơn lắm”. Có người ném vào giữa “tiệc rượu” của chúng tôi một gói thuốc. Những người đầu tiên tái sử dụng đường 14 đều vui ra mặt, thương lính ra mặt. Những chiếc thiết giáp cháy đen, những quân xa lật chổng bánh rải rác hai bên đường đã là những chiến tích hùng biện nói lên với họ cái giá trị mà các đơn vị anh hùng đã phải trả để mở cho họ đường trở về tìm lại mái nhà ấm, tìm thửa vườn, khoảng sân mà hai tháng trước họ đã phải bỏ tất cả để chỉ chạy lấy thân.
Anh Thiếu úy Tám, Ðại đội trưởng Ðại đội 2, Tiểu đoàn 62 Biệt Ðộng Quân khẽ nói:
– Có triệu bạc thưởng nào lớn hơn những phút này! Nhìn đồng bào trở về Kontum, mình thấy kết quả những việc làm của mình, những hy sinh của mình như được cụ thể hóa.
Ðại tá Ðương, Chỉ Huy trưởng BÐQ Quân khu II gật gù:
– Chu Pao quả là một khúc xương khó nuốt. Hai tháng trước, đọc Diều Hâu, các anh nêu lên tính chất quan trọng của Chu Pao mình cũng chỉ biết vậy. Bây giờ mới thấy thấm thía đúng: Không giữ Chu Pao không giữ được Kontum.
Sương mù và những trận đánh lựu đạn
Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa, Tiểu Ðoàn trưởng 71 BÐQ lắc đầu, rùng mình khi nhắc lại hình ảnh hãi hùng của những trận cận chiến:
– Chúng tôi thanh toán mục tiêu bằng lựu đạn, đánh từng hầm, từng hầm một. Không có cách nào khác hơn để làm im tiếng súng của những đám xạ thủ đã bị xiềng chân vào hầm.
– Sao các anh không chụp hình? Tổng cục Chiến tranh Chính trị đang treo giải thưởng cho những người chụp hình lính Bắc Việt xiềng chân.
Anh Jean, một Hạ sĩ quan lai Pháp 75% lắc đầu:
– Nội việc chặt chân cái xác chết ra để kéo súng xuống núi cũng đã khó khăn lắm rồi. Ðịch quân phối trí hầm của chúng thành hình chữ V, hầm này yểm trợ cho hầm kia. Tử thần hẹn gặp chúng tôi ở khắp bốn phía và bất cứ lúc nào. Thì giờ đâu chúng tôi nghĩ đến chuyện chụp hình nữa?
Tôi nhìn lên những đỉnh Chu Pao, Chu Thoi ngán ngẩm:
– Leo được lên đó và leo dưới hỏa lực của địch quân thật không phải là chuyện đi dạo.
Ðại úy Lê Thiên Phong, Tiểu Ðoàn trưởng 62 BÐQ gật đầu xác nhận:
– Cam go lắm anh à. Nhưng cũng may lúc này có sương mù buổi sáng. Sương dày đặc đến mức cách nhau khoảng 10 thước là không thấy gì nữa rồi. Anh có để ý tất cả xe đang chạy ngoài đường đều mở đèn không? Cũng nhờ sương mù mà chúng tôi bò lên đánh được những vị trí súng của địch.
Tôi nghĩ đến những buổi thuyết trình mà chúng tôi nghe được tại một vài bộ chỉ huy lớn: Yếu tố thường được người ta nhắc nhở đến là B52, là bom CBU, là tia sáng laser, v.v… Nhưng rồi rốt cuộc bên những chiến cụ tối tân đó, lòng can đảm và tài thiện chiến của người lính đánh bộ vẫn là yếu tố quyết định.
Tôi hỏi: “Giá trị tác chiến của quân lính Bắc Việt thế nào?”.
Biệt Động Quân, Saigon tháng 6/1968
Ðại Úy Phan Thới Bình, anh hùng của những trận Lệ Khánh, Chu Pao lắc đầu:
– Ðại khái cũng thường thôi. Ðiều này tưởng cũng dễ hiểu, lính Bắc Việt đã đánh trận nào chưa mà thiện chiến. Trong khi đó thì lính mình đánh năm này sang năm khác. Tôi nghĩ nếu không bị cầm chân trong những vị trí cố định, bất lợi, quân đội mình đã giải quyết xong trận Tổng tấn công này từ lâu rồi.
Ðại úy Bình là một trong những sĩ quan thăng cấp nhanh nhất trong quân đội. Từ Thiếu Úy anh lên Ðại Úy chỉ trong vòng 24 tháng và tất cả những cấp bậc này anh đều thăng đặc cách tại mặt trận.
Anh tiếp:
– Núi non trùng điệp như thế kia, nếu lính Bắc Việt chỉ khá thôi chứ đừng nói giỏi thì những đơn vị BÐQ chúng tôi cũng không lên được rồi.
Tôi đã chứng kiến những lần đánh Chu Pao trước và đã có lần tôi tường thuật lại những trận đánh đó. Hàng trung đoàn bộ binh có chiến xa yểm trợ, từ phi tuần này đến phi tuần khác tiếp tục đánh và cả B52 nữa, nhưng cuối cùng mọi người đành nhìn nhận rằng Chu Pao quả là khúc xương khó nuốt.
Ðại tá Ðương chỉ cho tôi thấy một vết mẻ trên phiến đá lớn gần đấy rồi nói:
– B52 mà chỉ làm “trầy” sơ sịa hòn đá như vậy thì mong gì dùng bom trục chúng nó ra khỏi hầm được. Chúng tôi đánh bằng lựu đạn từng hầm một.
Anh Thiếu úy Sơn, tiền sát viên pháo binh cho biết thêm một chi tiết:
– Hầm hố ở đây, địch quân đều đào theo kiểu hầm Triều Tiên. Bom hay đại bác có đánh trúng ngay trên hầm mới có kết quả. Ðánh bên cạnh thì kể như huề.
Một người sĩ quan anh hùng trong quân đội Bắc Việt
Trong lúc anh Sơn đang loay hoay vẽ bằng dao găm hầm Triều Tiên trên mặt đất cho tôi xem thì anh Thiếu úy Tám vẻ mặt trầm tư bảo tôi:
– Khi nãy Ðại úy Bình nói rằng giá trị chiến đấu của lính Bắc Việt rất tầm thường, tôi hoàn toàn đồng ý, có thể nói rằng họ nhát nữa. Nếu không bị khống chế chặt chẽ, bị xiềng chân, v.v… chắc họ đã bỏ chạy từ lâu. Tuy nhiên, theo tôi thấy thì đó chỉ là nhận xét chung. Trong cái quân đội tầm thường đó cũng vẫn có người khá.
Ðại úy Bình cười chúm chím (khá có duyên):
– Chắc mày muốn nói trường hợp của anh Thiếu úy Phạm Văn Ðôi?
Tám gật đầu. Anh tiếp tục nói với tôi, người độc nhất không biết những chuyện mà quanh “bàn tiệc” này ai cũng biết rất rõ:
Chân dung người vợ lính VNCH
– Anh Ðôi là một Thiếu úy trẻ, tốt nghiệp trường Võ bị Lục quân Hà Nội năm 1968. Anh ta chỉ huy một trung đội trấn giữ ngọn đồi trọc mà anh thấy cao chót vót kia cà (vừa nói Tám vừa chỉ cho tôi thấy ngọn đồi). Sương mù ôm kín ngọn núi nên lúc chúng tôi bò lên đến tận nơi đánh rồi, lựu đạn nổ rồi anh mới tìm cách kháng cự. Dĩ nhiên là đối với những người lính BÐQ quen tốc chiến để giải quyết chớp nhoáng chiến trường thì cái phút hạ phong đầu tiên của đơn vị Bắc Việt đã đặt họ vào tình trạng không gỡ được nữa. Trên mỗi miệng hầm đều có một người lính Biệt động. Tất cả lựu đạn nổ gần như cùng một lượt. Sau loạt tiếng nổ này, sức chiến đấu của trung đội Bắc Việt chỉ còn bằng một phần mười so với giá trị tác chiến của chính đơn vị họ một phút trước. Những tiếng rên xiết, cả những tiếng van lơn nữa nổi lên khắp nơi, nhưng theo lệnh tôi, Ðại đội 2/ Tiểu đoàn 62 BÐQ vẫn núp kín vào những ghềnh đá. Kinh nghiệm chiến trường làm chúng tôi hiểu rằng dù có đánh tàn nhẫn cách nào, có đánh bất ngờ cách nào, chúng tôi cũng không thể tiêu diệt 100% quân số địch ngay trong đòn đầu. Thể nào cũng có những chú bận đau bụng, bận xuống suối múc nước, v.v… và nhờ vậy mà sống sót. Người sống sót trong trận đánh lựu đạn này lại chính là Thiếu úy Ðôi, Trung đội trưởng. Trong lúc sơ ý, chúng tôi không thấy hầm của anh, đào hơi xa những hầm khác.
Chúng tôi núp chừng 1 phút thì nghe tiếng đại liên “quạt” ào ào trên đầu. Nhưng, như anh thấy quanh anh đó, trong những ghềnh đá này bom đạn không giết người. Ðiều đó là sự thật đối với những người lính Bắc Việt cũng như đối với chúng tôi. Ngồi an toàn dưới một tảng đá lớn, tôi lấy tất cả thì giờ cần thiết để quan sát hầm đại liên của địch và những lối di chuyển có thể đưa chúng tôi đến miệng hầm. Một phút sau, chúng tôi đã đứng trên đầu anh Ðôi (dĩ nhiên khi đó chúng tôi không biết người xạ thủ đại liên phía dưới là một sĩ quan Bắc Việt). Chúng tôi chờ một quãng ngừng của tràng đạn để lên tiếng gọi anh đầu hàng. Binh sĩ đã hành động như thường lệ cho địch quân một giới hạn thời gian và báo cho họ biết trước là sau khoảng thời gian đó nếu họ không ném vũ khí ra, đưa cao tay lên đầu và bước ra khỏi hầm, lựu đạn sẽ ném xuống.
Chúng tôi chờ đợi. Một người lính BÐQ đếm những giây chót trong cuộc sống của anh sĩ quan Bắc Việt.
– …Bảy, tám, chín, …
Miệng đếm, tay người lính mũ nâu đã cầm sẵn một quả lựu đạn rút chốt nhưng anh chưa kịp sử dụng thì một tiếng nổ rung chuyển đã vang lên. Căn hầm dưới chân chúng tôi bốc khói mù mịt. Trên miệng hầm, một anh lính BÐQ khác bị miểng văng trúng bị thương nhẹ.
Tôi nhìn kỹ vào hầm quan sát. Nhất định sau một tiếng nổ như vậy bên trong hầm kín không thể còn một sinh vật nào nữa cả. Tuy vậy, khi tiến vào hầm, chúng tôi vẫn dè dặt. Trước mắt tôi, anh quân nhân Bắc Việt với quân hàm Thiếu úy trên cổ áo nằm sóng soài, ngực vỡ ra vì bị phá bởi sức nổ của quả lựu đạn mà chính anh đã sử dụng, anh tự tử để không bị bắt.
Nghe xong câu chuyện khá dài, tôi nhắp một nắp Martell, kết luận:
– Ít nhất, đó cũng là một người có liêm sỉ.
Ðại úy Phong:
– Một thi sĩ nữa. Trong túi anh, ngoài những tài liệu quân sự, chúng tôi còn tìm thấy một tấm ảnh chụp chung với một người đàn bà (có lẽ là vợ anh). Mặt sau có 2 câu thơ:
Ngày nào trái đất còn quay,
Trái tim còn đập, tình này còn yêu.
Sau khi Ðại úy Phong đọc xong hai câu thơ nói lên tâm sự của một người lính xa vợ, tôi chợt nghe không khí quanh “bàn tiệc” như nặng hơn. Chai rượu cạn cũng được chuyền tay với nhịp độ mau hơn. Mọi người đều như muốn quên thật nhanh việc mà chính mắt họ đã chứng kiến 48 giờ trước.
Tôi hiểu. Những người lính mũ nâu, mũ đỏ, mũ xanh v.v… là những người lính có giá trị chiến đấu cao nhất của quân đội miền Nam. Họ có thể lăn vào thanh toán khẩu đại liên đang khạc đạn ngăn cản bước tiến của họ. Họ có thể, họ đã và hiện nay họ vẫn còn đang chịu đựng hàng trăm ngày dài chiến đấu gian khổ, thiếu thốn, nguy hiểm, cam go mà không hề hé răng than phiền nửa lời. Nhưng họ cần một điều: đối tượng trước mặt họ phải là một khuôn mặt độc ác gian manh, ghê tởm, v.v… chứ đừng là một người lính cũng biết yêu, biết nhớ vợ như họ.
Nhìn 40 khuôn mặt đen sạm vì mưa nắng cao nguyên bỗng nhiên tôi không còn thấy cái góc anh hùng gan lì của họ nữa. Tôi thử hình dung những người đàn bà sau lưng họ, những đứa trẻ quấn quýt bên chân họ. Cái việc vận dụng trí tưởng tượng này không đòi hỏi tôi phải cố gắng một chút nào cả. Tôi biết họ quá nhiều, tôi biết những trại gia binh bẩn thỉu không ngân khoản bảo trì, tôi biết những đám tang lạnh lẽo, những vành khăn sô đơn côi. Qua tất cả những cái biết đó, đang thấm thía hiểu phút khó chịu của những thiên thần mũ nâu trước cái chết của một người lính địch.
Tôi nhớ lại một câu nói của người lính già tên tuổi, Thống tướng Mac Arthur. Nguyên văn câu nói như thế nào tôi không thể lặp lại thật đúng, tôi chỉ xin viết đại ý của vị danh tướng này: “Trọn đời sống trong quân ngũ vậy mà vẫn có một việc tôi không thể nào hiểu được, đó là sức chịu đựng của những người lính bộ binh. Anh ta di chuyển, mang theo trên lưng tất cả tài sản: nhà bếp, nhà thương, phòng ngủ, tâm tư, v.v… Anh tiến lên mặt trận hay từ mặt trận trở về thì mỗi ngày 24 giờ, giờ nào cũng có thể là giờ hẹn gặp của anh với tử thần. Nếu anh chưa gẫy gập xuống quả là một phép lạ”.
Người lính bộ binh mà Thống tướng Mac Arthur mô tả là người lính Bộ binh Hoa Kỳ. Trên lưng người lính miền Nam còn biết bao gánh nặng nữa: Sự bất tài của những cấp chỉ huy, thăng thưởng thuyên chuyển qua ngã mua quan bán tước, sự trống vắng của một đơn vị vì nạn lính kiểng, lính ma, sự thiếu thốn của một hậu phương thật tình thương yêu, cảm thông với tiền tuyến.
Với tất cả những sức nặng đó trên lưng, người lính miền Nam vẫn đang làm được cái công việc mà 2 tháng trước đây không ai tin rằng họ làm nổi: đập vụn thành từng manh mún nhỏ đạo quân viễn chinh Bắc Việt được trang bị mạnh hơn họ, được chiến đấu trong những điều kiện lợi hơn họ.
Trước sự chịu đựng anh hùng đó, người ta chỉ còn một việc để làm: Ngả nón bái phục.
SBĐ 1972
Trần Vũ đánh máy lại tháng 5-2018 từ “Tuyển tập Bút ký Phóng sự Chiến trường 1972”, Nxb Văn Nghệ Dân Tộc in 1973.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.