Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

6. Máy Bay Bắn Lầm

Vừa chấm dứt cuộc vô tuyến điện đàm với vị chỉ huy Thiết giáp, tôi định quay qua bảo Hạ sĩ Nguyễn Hiệp đưa cái máy liên lạc BCH Tiểu đoàn, để trình Thiếu tá Quách Thưởng đồn Quán Hồng đã thanh toán, thì thình lình một tràng đại liên từ trên cao bắn xối xả xuống Đại đội. Hàng trăm viên đạn xuyên phá trong nháy mắt đã làm gãy đổ mọi vật, anh em lính kẻ la hét người rên rỉ quanh phòng tuyến. Tôi nhìn lên thấy hai trực thăng UH-1B được biến cải trang bị vũ khí như gunship, mang dấu hiệu Không Quân Việt Nam, một chiếc bị tuôn khói sau đuôi lảo đảo sà đầu về hướng khu phố Mộ Đức, còn một đang chúi mũi hạ thấp phóng rocket. Trước sự lầm lẫn tai hại của bọn trực thăng, mà không có tần số liên lạc, tôi chỉ kịp kéo lê Hạ sĩ Hiệp lao nhanh vào một cây rơm gần đó tránh đạn.

– Tàu bay bắn, Đại Bàng!

– Tàu bay bắn lầm!…

Tứ bề, những tiếng gào thét một cách hỗn độn. Trong lúc Hiệp dồn dập gọi BCH Tiểu đoàn báo nguy, tôi giựt trái khói đỏ trên dây ba chạc của Hiệp, rút chốt ném ngay giữa vườn. Khốn nạn, cây rơm bị trúng một quả rocket nổ tung làm Hiệu thính viên Trần văn Thanh mang máy nội bộ bật ngửa, nó cố lết ra khỏi đám cháy rồi nằm chết. Tôi và Hiệp thấy mình còn sống, lật đật rúc dưới chiếc xe bò đang chỏng gọng kế bên.

Bỗng Hiệp kêu to:

– Ninh! Đem máy xơ-cua tới, cái này hư rồi!

Ở góc vườn đông nam, Thiếu úy Thiều cũng hô lớn:

– Máy bay vòng lại, cho lệnh bắn nó, Đại Bàng!

Tôi chưa kịp trả lời thì hai xạ thủ Vĩnh và Đợi, mỗi người sẵn kẹp hông một khẩu Đại liên 60, đã tức tốc chạy phăng tới giữa khoảnh đất trống, chĩa nòng lên chiếc gunship đang lượn tròn trong tầm đạn:

– Bắn, nghe Đại Bàng?

– Không được, Vĩnh! Vào bờ tre núp ngay!…

Hiệp với Ninh lom khom thay đổi cái máy PRC25, vừa mở lại được tần số Tiểu đoàn, speaker vụt phát ra tiếng Thưởng gọi. Không cần nghe ông nói, tôi hét vào ống liên hợp:

– Trực thăng Việt Namxạ kích nhầm Đại đội, bị thương rất nhiều. Trùng Dương bảo nó stop!

Thưởng líu lưỡi:

– Đáp nhận! Cho lính nằm tản thưa!…

Bực tức tôi nghiến răng:

– Tản chỗ nào? Cho bắn hạ nó!

– Đừng, Việt Quốc!…

Hạ sĩ Hiệp quýnh quáng vội thả thêm hai trái khói xanh và vàng để hy vọng chiếc gunship hiểu đây là đơn vị bạn. Nhưng không, chúng vẫn ngu xuẩn xịt tiếp mấy quả rocket nữa mới bay đi. Cả khu vườn rực lửa, điêu tàn. Tôi thúc anh em tuôn ra băng bó thương binh và kiểm kê tổn thất.

Hiệp trao máy qua tôi lần nữa:

– Tiếp chuyện Trùng Dương, Đại Bàng!

Tiếng Thưởng oang oang:

– Cả phi hành đoàn trực thăng đã bị bắt lúc đáp xuống đồi Chi khu Mộ Đức. Họ nói bay từ Quảng Ngãi vào Đức Phổ, khi ngang Quán Hồng thì một chiếc bị Việt Cộng phía tây Quốc lộ 1 bắn lên trúng đuôi, chiếc kia không rõ tình hình dưới đất nên xạ kích lầm Đại đội anh hướng đông…

Tôi rống to:

– Bắn bỏ tụi nó đi!

– Đại úy Quang Trung Trần văn Quy toan đập chúng, Sơn Linh không cho, để giao An Ninh Quân Đội điều tra. Thiệt hại thế nào?

Trung sĩ Thuận đưa mảnh giấy ghi tổng quát các con số, tôi đọc nhanh:

– Chết 4, bị thương 27, có 3 sĩ quan là Thiều, Cường, Hạnh, tổng cộng 31 người. Vũ khí, quân trang quân dụng hư: 14 súng cá nhân, 2 máy PRC25 và trên 30 ba lô rách nát…

Nghe báo tổn thất, Quách Thưởng thốt lên, tôi hình dung ông đang nhíu cặp lông mày:

– Sao dữ vậy, hả? Thật không ngờ! Tôi và xe Ambulance seõ đến, chuẩn bị đón…

Dứt máy. Tôi khát nước kêu Trung và Xá, mới biết cả hai đều bị thương. Mặc dù Trung sĩ Thuận nói chúng chỉ bị nhẹ, tôi vẫn giật mình, cay đắng cổ họng. Tôi nhớ ơn hai người rất thân thương ấy, từng gian khổ chăm lo, che chở tôi qua nhiều trận mạc thập tử nhất sinh, từ ngày đầu bão lửa chiến trường Trị Thiên. Lại thêm một nỗi buồn nữa, Trần văn Thanh, mang máy, 21 tuổi đời, 2 tuổi lính, nằm bất động trong tấm poncho cuộn tròn, mà trước đó không lâu đã dồn dập gọi: “Mười, Hai Mươi, nằm xuống!…” còn văng vẳng bên tai. Làm sao quên hình ảnh Thanh máu me nhầy nhụa, ướt đỏ cả áo, cố trườn ra khỏi đám cháy, miệng thì phều phào kêu tôi: “Trung úy ơi, cứu em!…”. Nhưng tôi đã bất lực, để người lính trẻ co rút, rồi gục xuống khi mùa xuân vừa bắt đầu.

Trung sĩ Thuận điều động khiêng các thương binh tập trung ra ngoài lề đường. Tôi đến chào tạm biệt họ.

– Đại Bàng!

Nghe Trung gọi, tôi ngồi xuống bên cạnh:

– Vết thương ở đùi nặng không?

Người lính cận vệ rưng rưng nước mắt:

– Nhẹ, may không chạm xương… Em phải nhập viện. Bây giờ ai giúp Đại Bàng đây, hay là Ninh? Nó cũng khỏe mạnh và đàng hoàng. Nếu được, em giao mật mã, tiền bạc nó giữ. Vài tuần vết thương lành, em lên hành quân ngay, khỏi nghỉ phép xuất viện 15 ngày.

– Ừ, để tao kêu Ninh. Trung lấy hai ngàn đồng về tiêu với Xá. Nhớ thường xuyên qua lại thăm anh em ở bệnh viện, nhất là Thiếu úy Đặng văn Thiều độc thân.

Vĩnh nằm kế, mặt nhăn nhó, tay trái bị gãy bởi quả rocket sau cùng. Quay nhìn tôi, người xạ thủ đại liên bệu bạo:

– Phải chi lúc nãy Đại Bàng cho bắn, như mình đã hạ chiếc Cobra ngoài Hương Điền, Huế, thì đâu có nông nỗi này?

Tôi dằn lòng và nói:

– Ừ, nếu họ không phải là Pilot Việt Nam thì xong rồi. Dù sao cũng đã lỡ. Thôi, đừng buồn, Vĩnh ạ!…

Thiếu tá Quách Thưởng, Tiểu đoàn trưởng, và Đại úy Trần văn Quy, Ban 3 Hành Quân, chạy xe Jeep tới, theo sau là hai chiếc Ambulance, một GMC chở tốp lính Biệt Động hộ tống. Thưởng bước xuống, tôi đưa tay chào, ông đáp lễ với vẻ mặt lạnh lùng, rồi đứng lặng người nhìn anh em đang dìu dắt các thương binh lên xe. Giây lát Thưởng lằm bằm, giọng gay gắt:

– Tao mà nghe báo sớm và rõ ràng tình trạng thế này, chắc đã cho lính đập chết mấy thằng đó.

Quy cũng nghiến răng:

– Bọn phi hành đoàn giải giao đi rồi mới hay sự thể. Nếu còn, mười Trung tá Sơn Linh cản tôi cũng không nổi. Lại nữa, chắc Trung úy Vân bố trí Đại đội quá dày! Không rải thưa ra quanh con xóm…

– Dày mỏng gì? Mẹ, bất ngờ trên trời nó khạc xuống, chỉ độn thổ mới tránh được rocket. Xin bắn Trùng Dương không cho. Nhớ vụ quận Hương Điền Huế không? Tôi quạt rớt chiếc Cobra bắn lầm tụi mình đang tấn công mục tiêu, gần nhà thờ Nhất Đông, phía bắc Tam Giang. Lần này chẳng hiểu sao tôi lại cù lần vậy. Sau gặp trường hợp tương tự khỏi nói. Dễ giận thật!

Thưởng nheo mắt:

– Cù lần lửa chớ gì nữa. Thôi, lo củng cố Đại đội, tiếp tục di chuyển. Ngày mai, có thể ngay đêm nay không chừng, ba thằng 2, 3, 4 lớn cùng Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn vào Đức Phổ…

Thấy Thưởng vui, tôi trình:

– Thiếu tá, Đại đội 1 bây giờ đã mất khả năng tham chiến, chỉ còn 51 mạng, xin bổ sung…

Vị Tiểu đoàn trưởng lắc đầu quây quẩy:

– Còn bao nhiêu chơi bấy nhiêu, lính đâu nữa bổ sung?

Dứt lời, ông vội lên chiếc Jeep, các tài xế Ambulance cũng đóng sầm các cánh cửa, nổ máy quay đầu. Tất cả đi rồi, tôi bơ phờ ngồi bệt xuống bên lề đường, nhìn khu vườn xơ xác đầy vết đạn, cùng những khuôn mặt buồn thiu, chán chường, chưa từng thấy. Lẽ nào điều mà lúc sáng tôi suy đoán và lo ngại lại xảy ra thực sự. Còn bất trắc, rủi ro nào hơn không, hay chỉ như vậy là cùng?

Qua sự việc, dầu trực thăng lầm lẫn, tôi vẫn có cảm tưởng Biệt Động Quân phải chịu chết, không được quyền bắn trả để tự vệ. Một đơn vị Dù vừa vào chiếm được cổ thành Đinh Công Tráng Quảng Trị mùa Hè 1972 cũng bị máy bay Hoa Kỳ đốc bom Smart ngay đầu. Đó chỉ là phần nhỏ mặt trái chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến nhiều mâu thuẫn. Người lính miền Nam không những chết bởi bọn Cộng Sản Bắc Việt, mà còn bị giết một cách khéo léo do các bàn tay phù thủy chính trị nhân danh tình bạn sau lưng?

Bây giờ thiếu lính bổ sung, Thưởng bảo còn bao nhiêu chơi bấy nhiêu. Câu nói như sấm Trạng Trình, hay ẩn dụ kiểu mấy thầy bói cho số đề, nghe mơ hồ quá! Điều chắc chắn Thưởng sẽ không để yên tôi liệu cơm gắp mắm. Mỗi lần đụng chuyện, khi giao nhiệm vụ, ông chỉ nghĩ tới khả năng hơn quân số Đại đội, khiến những ai sống sót gánh thêm gian khổ, công tác vặt vãnh liên miên, và cái chết cô đơn, âm thầm chờ đợi họ.

Cuộc hành quân ngoại biên, Lam Sơn 719 Hạ Lào 1971, vaø sự thất thủ Quảng Trị 1972 làm các binh chủng thiệt hại nặng, lính tráng đào ngũ cũng khá đông. Các trung tâm huấn luyện không đào tạo kịp tân binh đáp ứng quân số thiếu hụt ngoài mặt trận, nhất là các vùng I và II Chiến Thuật. Mặc dầu đã coù lệnh tổng động viên, thiếu điều tổng động “lùa”, ngay cả việc tảo thanh liên tục bắt các phần tử tại đào, bất phục tùng, vậy mà đâu cũng vào đó, lính ma lính kiểng càng nhiều. Trái lại mỗi lần bố ráp là dịp tốt cho bọn thế lực an ninh, quân cảnh hợp nhau nhận hối lộ. Giặc đến thì thành phần này co giò vọt trước, ai chết kệ. Rốt cuộc con số chiến đấu thực sự chẳng bao nhiêu, chỉ một phần tư trong một triệu rưỡi quân ăn lương và thăng quan tiến chức đều đều, chí đến tận ngày mất nước…

Để xua đuổi bao ý nghĩ nặng nề đầy ắp trong đầu, tôi gọi Thuận, Hơn, Nhật, Đợi, là bốn vị hạ sĩ quan gạo cội còn sống sót, tới gặp tôi nhận lệnh củng cố đơn vị. Bộ Chỉ Huy thu hẹp và chỉ còn hai trung đội mà thôi. Tổng số 51 chia 3, mỗi phần 17 người. Trung đội 1 Trung sĩ Thuận làm Trung đội trưởng, Trung đội 2 giao Trung sĩ Hơn. BCH gồm hai toán: Thám Báo Trung sĩ Nhật, Đại liên 60 vẫn Hạ sĩ Đợi. Đại khái mỗi thành phần có hai tiểu đội, mà cũng không đủ cho cấp số tiểu đội 11 người. Quả thật, đơn vị què quặt, nhìn tổng quát một cấp đại đội như thế này chẳng giống ai, cách tổ chức gượng gạo thua xa Việt Cộng!

Tất cả áo giáp tôi đã bảo cởi vứt hết lên xe lúc tải thương, đem về hậu cứ với mớ vũ khí, ba lô hư hỏng, để lính nhẹ mình mang đạn dược tối đa. Áo giáp chỉ đỡ phần nào, cản được các mảnh đạn nhỏ, gặp thứ lớn thì te tua như cái mền rách. Mặc nó vào thêm trở ngại, nặng nề, cồng kềnh, và di chuyển chậm hơn rùa. Từ khi Trung tướng Ngô Quang Trưởng làm Tư lệnh Quân đoàn I, không riêng gì hàng binh, ngay các quan lớn tác chiến cũng buộc phải mang áo giáp, dây ba chạc, đội nón sắt, còn đeo lủng lẳng cái xẻng bên hông, trông chẳng giống con giáp nào hết. Nhưng lâu ngày quen đi, trở thành cái mode ăn khách, nên nhiều ông làm việc văn phòng, mặt trắng như vôi, cũng bày đặt diện áo giáp oai ra phết, lại móc thêm cái xẻng nữa để đào… mỏ.

Phần tôi, ngoài cây Colt 45, phải dùng thêm khẩu M16 với ba băng cong nạp đầy 90 viên đạn, và lận lưng vài quả M26. Quân số ít, Đại đội trưởng chịu khó, chứ súng “con” nhằm nhò gì. Nhớ hồi làm Đại đội phó Đại đội 2 cho Quách Ẩn, tôi tình nguyện dẫn hai trung đội đánh lên một ngọn đồi ở tây nam La Vang, Quảng Trị, để cứu Đại đội 1 Biệt Động này bị địch bao vây, lúc đó do Trung úy Hà Tự Tánh chỉ huy. Vừa thành công, chưa kịp rút, hai trung đội của tôi liền bị Việt Cộng bao lại tứ bề. Tôi rút khẩu Colt 45 ra bắn bốp bốp, mà chẳng thấy thằng ma nào của bác Hồ ngã, vội thúc lính ôm chiến lợi phẩm, mở đường máu vọt. Tôi chạy sau chót, vì vướng phải mấy bụi sim, ba bốn tên địch rượt theo. May nhờ Trung sĩ Nguyễn Hương trông thấy, liền hét to: “Thẩm quyền chạy đi!”, rồi viên Hạ sĩ quan vừa tốt nghiệp khóa đai đen Thái Cực Đạo tại trường Bộ Binh Thủ Đức 1971, can đảm xoay người lại, đứng ria M16 túi bụi từ trái sang phải, chúng ngã lăn chiêng trên đồi hoa sim. Colt 45 chỉ dùng làm oai thôi.

Qua kinh nghiệm, thà khổ mang nặng chút để yên tâm, với hỏa lực phân phối đều, ai cũng thi hành được nhiều nhiệm vụ. Bây giờ Đại đội chẳng khác nào hổ ba chân, biết đâu chừng sẽ giống như Tiểu đoàn 42 Biệt Động Quân, được mệnh danh là “Cọp Ba Đầu Rằn”, một thời oanh liệt, làm khiếp đởm quân thù ở chiến trường miền tây.

Để đủ sức đi một mạch tới luôn khu phố Đức Phổ, tôi đồng ý lời đề nghị của Trung sĩ Nguyễn văn Thuận cho Đại đội nấu cơm chiều sớm hơn thường lệ. Phút chốc, các tiểu đội đã đỏ lửa, anh em quây quần chung quanh, kẻ nói người cười vui vẻ, tưởng chừng như không có chuyện gì xảy ra. Chưa bao giờ tôi lại thầm mong họ cười giỡn một cách hồn nhiên, để phá tan thành sầu đang vây hãm, như trẻ thơ không biết buồn đau là gì. Nếu thiếu vắng những tiếng cười ấy, không gian sẽ thêm cô tịch, sự cô tịch lạ thường, mà cách đây vài tiếng đồng hồ còn long trời lở đất, xác người ngổn ngang…

Tôi đến ngồi kế bên một bếp lửa để sưởi ấm, tiện thể nhờ Ninh pha ly cà phê. Buồn quá tôi chẳng muốn ăn cơm, cũng không biết làm sao che giấu bao nỗi khổ tâm đang dằn vặt, để anh em khỏi buồn lây, xuống tinh thần…

– Trình Đại Bàng, có ai đi xe đạp từ phố Mộ Đức tới!

Nghe Hùng gác trên đường báo, tôi đứng dậy nhìn thì thấy dáng dấp một thiếu nữ mặc áo trắng quần đen, đạp nhanh về hướng Đại đội. Dù còn xa lắc, Hùng đã chĩa súng và hô to:

­– Dừng lại!…

Dường như người ấy không nghe, cứ phăng phăng chạy tới, Binh nhì Hùng liền nổ mấy phát súng chỉ thiên. Trung sĩ Nhật, Trưởng toán Thám Báo, đang nằm bố trí bên kia lộ, kịp nhận diện ra được, liền hét lên:

– Đừng bắn, Hùng! Chị Nhị!… chị Nhị!…

Chợt nghe cái tên thân thương, tôi hoảng hốt, vội phóng ra. Quả thật, Nhị vừa trờ tới, vội vã xuống xe, mặt tái xanh, đứng không vững, rồi nàng òa khóc:

– Em đến thăm anh…

Tôi cảm động, nhưng vẫn trách yêu Nhị:

– Thăm cái gì mà nguy hiểm thế này, hả?

Tôi để chiếc xe đạp nằm bên lề. Nhị còn rướm nước mắt:

– Nghe tin máy bay bắn lầm lính chết và bị thương nhiều… em sợ anh…

Tôi kéo Nhị cùng ngồi bệt xuống vệ đường:

– Ai nói em vậy?

– Anh ơi, ở Mộ Đức người ta đồn rùm beng hà! Nóng lòng em chạy vô… Còn chú Trung, chú Xá… đâu?

Nhị vừa hỏi vừa đưa mắt nhìn quanh, cố ý tìm những khuôn mặt quen thuộc, làm tôi thêm buồn. Tôi đặt tay lên vai nàng:

– Chuyện nhỏ họ phóng đại cho to. Trung và Xá chỉ bị nhẹ nơi chân. Chỉ vài tuần mấy chú sẽ xuất viện và ghé thăm em.

Nhị cúi xuống, lấy ngón tay vẽ vẽ trên mặt đất một đường ngoằn ngoèo, vô nghĩa. Chắc nàng đang suy nghĩ như tôi, mới đó mà mọi chuyện đã đổi thay rất nhiều. Đời lính chiến chẳng ai biết mình sẽ chết lúc nào.

Tôi vuốt tóc nàng, mái tóc rối bù, xoắn xuýt bao nỗi lo sợ của người con gái:

– Thôi, em về kẻo trời tối, nguy hiểm!

Nhị ngả đầu vào vai tôi:

– Không! Đường này em quen thuộc…

– Em quen đường chứ quen Việt Cộng à? Nhớ cẩn thận khi giao thiệp với kẻ lạ trong làng. Bọn nằm vùng đã biết chuyện chúng mình. Anh thì rày đây mai đó…

Hiệp từ xa đi tới nhoẻn miệng cười:

– Chào chị! Bác khỏe chứ chị?

– Cám ơn Hiệp. Bà già khỏe, có điều buồn lắm!

Ninh đem cà phê đến, tôi và Nhị uống chung một ly, cùng ăn bánh ngọt. Chắc đói bụng nàng ăn hết nửa hộp.

Từ phía Đức Phổ xuất hiện một chiếc thiết giáp, loại cargo, chạy tới. Tôi nói Nhị:

– May quá! Anh đón xe này em về.

Tôi quay sang bảo Binh nhì Hùng đang cầm súng gác, chặn nó lại. Tôi nắm tay kéo Nhị đứng dậy. Nàng nhăn mặt:

– Em đạp xe được mà!…

Tiếng một người lính trên chiếc thiết vận xa vọng xuống:

– Kính chào Trung úy Vân!

– Chào các anh!

– Đại Bàng em thấy trực thăng xạ kích Biệt Động, nhưng vì mất liên lạc, chẳng biết tình trạng Trung úy thế nào…

Nhận ra kẻ nói là tài xế Mộng, tôi đáp:

– Tụi nó bắn lính bị thương tùm lum, máy móc bể cả hai cái làm không gọi Thiên Mã được. Bây giờ chạy đâu đó Mộng?

– Chi đoàn đã vào Đức Phổ, em chở chiến lợi phẩm về hậu cứ Quảng Ngãi và nhận supply. Sao Trung úy không phơ cho nó rớt? Trời ơi, ông hiền quá, gặp Đại Bàng Thiên Mã của em là xong ngay!

Tôi cười:

– Thôi bỏ qua đi Mộng. Giờ mày chở dùm bà xã tao về, bỏ trước cổng Bộ Chỉ Huy Chi khu Mộ Đức, nghe?

– Dạ! Nhờ các anh Biệt Động Quân để chiếc xe đạp ở phía sau, còn chị ngồi đây!

Người lính mũ đen tháp tùng theo Mộng, vội mở cửa nhảy xuống. Tôi đỡ Nhị lên, nàng dùng dằng:

– Còn sớm mà cứ biểu em về.

– Về kẻo mẹ trông…

Mộng đạp ga, chiếc cargo gầm lên, hai sợi xích cuộn mạnh tới. Vật vô tri cũng biết giận dữ. Hai đứa không kịp nói thêm một lời từ giã, tôi chỉ thấy nàng ôm mặt khóc.

Nhìn đồng hồ tay kim chỉ 4 giờ rưỡi chiều, tôi cho lệnh Đại đội di chuyển, tiếp tục về hướng quận lỵ Đức Phổ trên lộ trình buồn thảm. Trung đội 2 dẫn đầu, tiếp theo là toán Thám Báo, Bộ Chỉ Huy, Trung đội 1 bao chót. Tất cả đi một hàng dọc rất thưa bên lề trái Quốc lộ 1. Lính của Trung sĩ Hơn phía trước vừa mới đi được vài trăm thước thì ào ào từ Mộ Đức bốn chiếc Lambretta ba bánh chở đầy khách chạy tới. Trung sĩ Thuận ở đằng sau khoa tay chặn lại. Trên xe hầu hết phụ nữ, có cả trẻ em, lao nhao bước xuống, rồi ngang tàng đứng gọi to, như các bà chúa:

– Trung úy Vân ơi, vợ con Đại đội 1 Biệt Động Quân đây!

Một người khác xen vô:

– Kính chào quý anh năm mới. Cho tụi em gặp…

Tôi sửng sốt trước đám đông vợ con lính ở hậu cứ Phú Lộc Đà Nẵng bất ngờ xuất hiện. Chắc các bà mới đến Mộ Đức thì nghe tin. Nhìn họ ăn mặc sặc sỡ, không ai có thể tin rằng mùa xuân này đã chết theo những lời chúc lành ngày đầu năm.

Tôi nghiêm sắc mặt và nói lớn:

– Này, sao lẹ vậy, hãy quay lui hết, nghe chưa?

– Năm mới, Trung úy! Cho gặp ông xã em chút…

Bỗng dưng một bà bật khóc:

– Trực thăng bắn lầm, chồng em thế nào?

Thì ra, các bà nội tướng biết hết. Hẳn ở Phú Lộc cũng đang chấn động, thiên hạ bàn tán xôn xao về vụ máy bay oanh kích lầm. Tin tức loan nhanh thật, bất cứ chuyện gì từ đâu, trại gia binh Liên đoàn 1 Biệt Động Quân đều nghe. Dù vậy, câu hỏi làm tôi lúng túng, khó trả lời. Nếu không khéo, có thể xảy ra lộn xộn rối ren thêm nên tôi bình tĩnh đáp một cách tổng quát:

– Đại đội chết bốn anh độc thân, dân Nam, còn đa số may mắn bị thương nhẹ, đã nhập viện Dã Chiến Quảng Ngãi. Bây giờ đơn vị phải di chuyển gấp. Trời sắp tối rồi, nguy hiểm vô cùng! Hãy lên xe trở lui ngay, họ đang chờ các chị vào thăm.

– Trời ơi, Đà Nẵng vô hổm rày, không gặp được ảnh sao?

– Nếu chồng con có mệnh hệ gì, tụi này kéo tới phi trường xé xác mấy ông Không Quân cho coi! Thà chết vì Việt Cộng!

Tôi cười gượng:

– Chị nói vậy, vô tình để kẻ thù khai thác, hại thêm quân đội thôi. Tôi biết các chị cùng chồng con yêu mến binh chủng Mũ Nâu, nên cẩn thận, giữ uy tín chung. Các chị về kẻo trễ. Chúc tất cả và gia đình năm mới nhiều may mắn, hạnh phúc. Hẹn gặp nhau tại Phú Lộc.

– Thôi được, tụi em về, chào Trung úy!

– Chào anh Thuận, Hiệp, Đợi… Gởi lời thăm anh Hơn.

– Chúc bình yên Đại đội 1 Biệt Động Quân!…

Xong, các bà vội vã lên xe, cũng ồn ào như lúc tới. Tôi hối Trung đội của Hơn phía trước dẫn đầu vọt nhanh ra khỏi vùng hắc ám này vừa lúc mặt trời như trái cam, vàng khè, sắp rụng xuống bên kia dãy núi đen sì.

Tôi kẹp hông khẩu M16, bám sát sau lưng toán Thám Báo, và miên man suy nghĩ về những cái chết thật phi lý, dễ dàng, trong khi cuộc chiến còn mù mịt, tàn khốc, chưa thấy chút ánh sáng ở cuối đường hầm. Ngay chuyện các bà vợ lính không nệ gian nguy, ngăn sông cách núi, lặn lội tới vùng hành quân xa xôi hẻo lánh thăm chồng, cũng đủ làm đầu óc tôi quay cuồng. Họ là lớp người thứ hai bị lôi cuốn theo cơn lốc xoáy mòn đất nước, lo sợ từng giây từng phút cho chồng, cho con. Nhớ năm 1971, Liên đoàn 1 BĐQ mới từ Hạ Lào về đến quận Cam Lộ, Quảng Trị, đã thấy họ cùng con cái chờ sẵn dọc theo Quốc lộ 9 rồi. Nhiều kẻ còn mạo hiểm vào tận Cà Lu, Khe Sanh trước cả tháng, cùng dân địa phương mua bán đổi chác thuốc men, đồ kỷ niệm với lính Mỹ, sống qua ngày để nghe ngóng tin tức chồng con. Làm sao nói hết bao cảnh thương tâm. Rất nhiều trường hợp khi vừa tìm ra nơi đơn vị tạm dừng quân, họ mới biết thân nhân đã chết, hoặc bị thương đang nằm ở bệnh viện ngược lại sau lưng họ hàng trăm cây số. Có người chồng chết từ lâu rồi, mà vẫn còn lân la, lui tới thăm viếng đơn vị cũ của chồng. Và, mỗi lần thấy đoàn xe Biệt Động chạy qua, họ òa khóc nức nỡ.

Tình nghĩa ấy cũng là mối chân tình thiêng liêng của người phụ nữ Việt Nam, mà cổ kim nào có khác, “đập vỡ gương xưa tìm bóng cũ”.

Một hình ảnh yêu kiều, suốt đời tôi không bao giờ quên, là nàng sương phụ tên Cẩm, cựu xướng ngôn viên đài phát thanh Cần Thơ, vợ cố Đại úy Phạm Minh Hòa.

Sau khi đem xác chồng về quê hương Cần Thơ chôn cất tử tế, Cẩm còn mặc đồ tang bay ra Văn Thánh, Huế, thăm Đại đội và tìm tôi…nắm áo khóc. Nàng dằn vặt, đay nghiến, cử chỉ của nàng, có thể nói, như đòi nợ tôi không bằng:

– Anh Vân, bạn bè thân nhau sao anh không cứu Hòa? Hòa đâu rồi, anh?…

Tôi bùi ngùi:

– Cẩm bình tĩnh đi! Tôi cũng buồn lắm, cố cứu Hòa nhưng vết thương quá nặng!…

– Trời, Hòa là Đại đội phó của anh, lại chết dễ dàng vậy hà? Lúc ấy anh ở đâu? Lính tráng ở đâu? Anh bất trung, bất nghĩa quá, anh Vân à!…

Cẩm trách, tôi im lặng, biết nói gì trước những nỗi đớn đau đang đầy ắp trong lòng người cô phụ. Rồi một khung trời lửa đạn hiện ra. Tôi nhớ rõ Trung úy Phạm Minh Hòa nằm sát bên tôi, cạnh một cái mả vôi, giữa lúc đơn vị tiến chiếm mục tiêu. Trận đánh rất ác liệt trên bờ biển Hương Điền Huế, phía đông nam nhà thờ Nhất Đông 300 thước.

Buổi sáng đó, trong mấy ngày đầu mở màn cuộc tái chiếm Quảng Trị, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân từ nơi xã Kim Long kéo vào sân bay Thành Nội, Huế, để lên trực thăng đổ xuống quận Hương Điền. Vị trí mà Đại đội tôi tiên phong nhảy trước là một bãi biển phía bắc phá Tam Giang bốn năm cây số. Tôi và Trung úy Hòa, Đại đội phó, điều động đơn vị tắp vào nổng cát được bao phủ bởi những cây duối rậm rạp. Việt Cộng phản ứng bắn ra như mưa, Biệt Động Quân vẫn lăn xả tới cố chiếm ngay phòng tuyến đầu. Sau mới biết, lúc ấy có đến một trung đoàn địch với hàng chục chiến xa T54 đang phục sẵn quanh nhà thờ Nhất Đông của quận Hương Điền. Chúng có cầm giữ tại chỗ một vị linh mục người ngoại quốc, làm con tin để máy bay khỏi ném bom. Kế tiếp, Đại đội 2/21 Biệt Động, do Đại úy Trần văn Quy, thay thế Trung úy Quách Ẩn còn nằm bệnh viện, chỉ huy nhảy xuống. Quy dàn quân sát bên trái và cùng tôi hàng ngang mở đợt tấn công sâu vào, giết chết 15 tên, thu 10 cây súng dễ dàng. Phía Mũ Nâu thiệt hại không đáng kể.

Trong khi hai đơn vị vừa gọi máy báo kết quả sơ khởi lên BCH Tiểu đoàn 21, còn ở Thành Nội, vừa chuẩn bị đánh tiếp, thì bất ngờ có chiếc L20 của Mỹ bay vòng vòng quan sát lại bị Cộng quân bắn cháy, rồi lảo đảo rơi ngoài biển, pilot nhảy dù được. Vì chuyện trên trời đó, mà một trực thăng, chiến đấu cơ Cobra, từ đâu hướng tây lướt tới nã rocket lẫn đại liên, loại 6 nòng, xuống làm lính tráng hai đại đội chết và bị thương tùm lum, thiếu điều rối loạn. Thấy vậy, địch trong các chòm duối thừa cơ xông ra vây đánh ba mặt. Đang thế công, Biệt Động Quân thành thụ động, chống trả cùng lúc bốn mũi hỏa lực dữ dội của kẻ thù dưới đất và bạn trên không. Mặc dù Đại đội 2 ném liên tục mấy trái khói màu, đồng thời gọi xin Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn can thiệp gấp, nhưng bọn trực thăng vẫn chưa nhận hiểu sự lầm lẫn này, còn quành lại thật thấp toan xạ kích đợt hai. Lập tức, không để nó ra tay lần nữa, tôi hạ lệnh cho các xạ thủ Đại liên 60 cơ hữu cùng toán Thám Báo đang gờm sẵn các phóng tiễn M72 đồng loạt bắn lên. Trong nháy mắt chiếc Cobra hung thần ấy nổ tung trên bầu trời, rồi rơi lả tả đầu một nơi, đuôi một nẻo quanh vùng.

Trận đánh càng đẫm máu hơn. Cộng quân ngoài hướng Hải Lăng bắt đầu pháo đủ cỡ đạn, và từ trong mục tiêu trước mặt cũng bắn xối xả xuống Biệt Động. Lúc bấy giờ anh em lính đã thương vong khá bộn. Các máy truyền tin PRC25 liên lạc nội bộ của Đại đội 2 bể nát cả, Đại úy Trần văn Quy phải chỉ huy bằng miệng, nên cuộc tiến quân song hành với tôi quá chậm chạp, làm thiệt hại thêm.

Giữa lúc tình thế bi đát, hiểm nghèo một cách lạ lùng, tôi lại chợt nhớ Quy có bàn tay sát quân, đánh đâu lính chết đó, trận lớn chết lớn, nhỏ chẳng ra gì cũng lai rai chết cho bằng được. Đã từ lâu, Thiếu tá Quách Thưởng, Tiểu đoàn trưởng 21 này, không muốn Quy giữ chức đại đội trưởng chính thức, chỉ cho làm Ban 3 Tiểu đoàn, hoặc tạm thay thế ai vắng mặt đôi hôm. Ban 3, tức Ban Hành Quân, khô khan, thuộc cấp chỉ vài người và một chiếc Jeep. Nơi đó ví như cái cũi sắt để nhốt con cọp dữ dằn Trần văn Quy. Rồi chuyến này xui khiến làm sao, vì Trung úy Quách Ẩn bị thương trong cuộc hành quân trước ơû Quảng Ngãi, đang còn nằm bệnh viện, nên ông thần sát quân mới có dịp tả xung hữu đột, bất kể trời đất quây cuồng.

Quy không đẹp trai nếu không chịu sử dụng cái nụ cười dễ mến trời cho để tán gái, thì khuôn mặt ấy lúc nào cũng ngầu ngầu, lại thêm tính khí ngang tàng, miệng nói tay bộp, chẳng ai dám đụng. Do đó, ông sĩ quan khóa 23 Thủ Đức này rất nổi tiếng chuyên trị các băng đãng đến cùng và đục dài dài mấy ông Quân Cảnh hống hách ở Đà Nẵng, chứ đánh giặc thì Quy làm như trò chơi u-mọi lúc nhỏ, nín thở bay qua húc đại, nếu hụt hơi “chết”, ra ngoài ngồi một lát “sống” lại vào u tiếp.

Bây giờ trước súng ống thiệt, không phải đạn nước hay đất sét nữa, nên sau tiếng hô “xung phong”, khẩu lệnh của Quy, quan với lính đều rụng như sung, lên bàn thờ ráo! Tôi đã mục kích tại trận Hương Điền này, lính Đại đội 2 bị địch đốn ngã lia chia xuống một cái mương sâu và rộng cả mấy thước muốn đầy luôn. Lần đó, thấy anh em chết lẫn bị thương nằm ngổn ngang như vậy, nóng mặt tôi chửi thề:

– Đánh giặc con c…gì vậy, hả Quy? Tìm thế khác chớ?

Quy sừng sộ lại:

– Mày giỏi lên đi, cự tao hoài!

Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn văn Do thường ví hai đứa tôi y như hai gái lấy một chồng. Rồi chẳng có gì, sau mỗi lần hành quân xong về phố, tụi tôi vẫn rủ nhau đi chơi. Bây giờ tức trong bụng tôi nói:

– OK, tao kéo hết Đại đội 1 tao qua tuốt bên phải, cho mày chết luôn…

Rồi thình lình, speaker máy PRC25 phát ra tiếng gọi khẩn cấp của Chuẩn úy Cường Trung đội trưởng Trung đội 1:

– Trình Đại Bàng, trên mục tiêu có thiết giáp địch!

Tôi vội lủi tới quan sát. Quả thật, một chiếc T54 được ngụy trang bằng những cành duối đang chĩa nòng súng 100ly xuống ngay họng đơn vị Biệt Động Quân của tôi. Gặp thứ dữ, tôi báo Bộ Chỉ Huy lớn, Thiếu tá Quách Thưởng bảo hãy mần thịt nó gấp, Liên đoàn trưởng sẽ thưởng tôi bảy ngày phép. Tôi ừ hử lấy lệ chứ dễ gì chơi nổi con “cua đá” đó. Lúc ấy tôi thắc mắc không hiểu tại sao tụi tôi ở trong tầm tay rồi mà cái “Nỏ Thần Kim Quy” 100ly kia chưa chịu nẻ ra, hay nó chờ con mồi này tới gần thêm để đớp gọn? Ớn chớ!

Tôi ra lệnh Trung úy Phạm Minh Hòa dàn 2 trung đội, đội hình “L” đáy trước, bọc phải ngay. Một lát, Hòa báo gặp một nghĩa địa khoảng 50 cái mả vôi, làm bàn đạp tốt lắm. Tôi bò tới, ngồi dựa vào một ngôi kim tĩnh bằng gạch tráng men lộng lẫy, để quan sát tình hình. Bất ngờ, một quả B40 của địch rơi trúng nổ tung ngọn tháp kim tĩnh, tiếp theo AK lẫn Trung liên Đông Đức đua nhau xoáy nát cả nghĩa địa. Thoát chết trước nhiều làn đạn, tôi vội phóng qua cái mả kế, thì gặp Hòa đang nằm thủ. Dù chưa tới mức xung phong theo ý muốn, tôi vẫn ra lệnh thụt mấy quả M72, đồng thời yêu cầu Đại úy Trần văn Quy, Đại đội 2, ngưng tác xạ, để hai trung đội đầu tôi áp đảo mục tiêu. Sơ khởi, toán Thám Báo bắn cháy chiếc tăng T54, lửa bốc lên đen nghịt. Tôi định gọi Quách Thưởng khoe thành tích, mà chưa kịp nắm máy, và giữa lúc đạn đôi bên còn chéo nhau như mạng lưới, thì Hòa hét to:

– Vân ơi, Vân! Tao bị thương rồi!…

Tôi nhìn lui thấy vị Đại đội phó co rút, hai tay ôm bắp đùi trái lăn lộn, máu me ướt đẫm cả thân người, nhuộm đỏ luôn một bên hông ngôi mộ trắng. Tôi kêu y tá đến. Và vì quá đau đớn Hòa la inh ỏi, tôi ôm cứng Hòa:

– Mày im đi! Địch đang ở gần, nó nhào vô thấy mẹ!

Xong, tôi bảo lính khiêng gấp Hòa về phía sau cho an toàn, chờ máy bay vô tải về. Vừa cáng đi, Hòa ngoái cổ lại gọi tôi lần nữa, cũng là tiếng nói cuối cùng trong đời đôi bạn:

– Vân ơi, cứu tao, Vân ơi!…

Nghe Hòa kêu tôi muốn bật khóc. Giá như không kẹt trong thế cận chiến này, hẳn tôi đã cho lệnh rút lui.

Rồi Đại đội tràn lên được mục tiêu trong khói lửa hận thù. Nhìn chiếc T54 cháy đen, với mươi cây súng, và xác giặc bầy nhầy nằm rải rác trên mặt nổng, tôi nghĩ không đáng phải đổi cái giá quá đắt, bằng xương máu số bạn bè vừa gục ngã. Nơi đây, nơi nhấp nhô những đụn cát khô cằn, đầy rẫy xương rồng xen lẫn những lùm cây duối hoang dại, người đời sau hẳn chả ai buồn lui tới làm gì.

BCH Tiểu đoàn cho lệnh chuyển qua nhà thờ Nhất Đông ở phía bắc ba trăm thước, tôi chưa kịp thi hành, Chuẩn úy Hạnh Trung đội 3 gọi cho hay:

– Trình Đại Bàng, Trung úy Đại đội phó đã chết…

Nhận tin buồn, tôi vội bảo Đại đội rút hết ra phía biển, bố trí dọc theo chân nổng. Hòa chết thật. Y tá nói viên đạn Trung liên Đông Đức luồn từ háng lên bọng đái. Tôi vuốt mắt Hòa, khuôn mặt người bạn hiền thản nhiên, không chút hận thù, chỉ những kẻ còn sống mới đủ lý lẽ tiếp tục cuộc chiến đấu. Tôi chưa bao giờ chảy nước mắt như hôm ấy, khi nhìn Hòa được gói poncho, nằm im lìm trên bờ biển, cạnh những ngọn sóng bạc đầu cuồn cuộn, âm ba gào thét dấy động cả lòng tôi.

Người lính cận vệ Huỳnh văn Trung đến nói:

– Cái nhẫn cưới và đôi kiếng mát Rayban, cặp lon nữa, em đang giữ. Trước khi chết, Trung úy bảo tháo đưa Đại Bàng để về trao lại cho vợ Trung úy…

Cầm cặp lon bằng đồng của Hòa chỉ có hai bông mai, còn một cặp nữa mới đủ bộ, bỗng nhiên tôi nhớ rất rõ cái nguyên nhân tại sao nó thiếu. Ba tháng trước, Tiểu đoàn 21 hành quân ở tây nam La Vang, những ngày thành phố Quảng Trị sắp thất thủ, tôi cùng Hòa vừa tròn hai năm, tự động mang lon trung úy (Chiến công nhiều mà vẫn tự động, vì cái khốn nạn của Hồ Dơn, Hiệp lùn, kể cả Quách Thưởng lẫn Trần Kim Đại). Nhân dịp tôi được Trung tá Liên đoàn trưởng trực tiếp bổ nhậm làm Đại đội trưởng chính thức Đại đội 1 Biệt Động Quân này ngay tại mặt trận, Thưởng điện về hậu cứ ở Đà Nẵng bảo mua bốn cặp lon trung úy, tức hai bộ, để gắn tôi và Hòa. Hôm đó, trời chiều đã nhá nhem, Thưởng gọi hai đứa lên BCH Tiểu đoàn, đang dừng quân trong một xóm nhỏ gần nhà thờ La Vang. Giờ phút ấy, trước sự hiện diện của Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn văn Do cùng ba Trung úy Trần Thương Quãng, Trần văn Quy và Hà Tự Tánh là người chỉ huy thất trận bàn giao Đại đội bệ rạc này qua tôi. Quách Thưởng gắn lon tôi trước, ông cầm một hộp bia tưới lên ướt cả hai bên cổ áo, nước bia tuôn ra kêu ộc ộc, chảy dài xuống tới háng tôi:

– Tao rửa lon cho mày. Chúc mừng! Chúc mừng!

Từ hồi nào giờ, đã hai lần cứ đủ năm đủ tháng tự động lên cấp, chứ chưa vinh hạnh được ai đề nghị thăng với thưởng, mà biết cách rửa lon, nên tôi chửi thầm trong bụng:

– Đm, rửa kiểu gì như tắm bia, thằng nhỏ cũng rít rịt, làm sao ngủ?

Đến lượt Hòa, lạ quá, lại thiếu hai bông mai, tức một cặp, không đủ bộ để Hòa đeo hai bên cổ áo. Những người chứng kiến lấy làm sửng sốt, biết đó là điềm gở. Trời tối thui rồi, tìm đâu ra hai bông mai giữa trận địa! Quả thật, đời thằng lính gì cũng thiếu, thiếu cơm ăn áo mặc cũng đành, còn thiếu cả tình lẫn nghĩa, chỉ có súng đạn đi kèm với lòng thù hận, hèn nhát, đê tiện thì dư thừa, tràn lan khắp quê hương đất nước. Lẽ nào nhỉ? Lẽ nào họ bè phái, liên kết có hệ thống ăn chận dữ vậy?

Rốt cuộc tân Trung úy Phạm Minh Hòa mặt tiu nghỉu buồn xo với cặp mai vàng chỉ gắn được một bên trên nắp túi áo cho đến ngày chết một cách đau thương nơi bãi biển Hương Điền.

Hòa sinh trưởng ở Cần Thơ, hiền hậu, can đảm, chiến công nhiều, được anh em quý mến. Thế mà Hòa bị Trung úy Hà Tự Tánh, lúc làm Đại đội trưởng Đại đội 1 này, trù dập mãi, khi thua trận mất chức mới thôi. Dưới quyền tôi, Hòa sống thoải mái, bộc phát khả năng chỉ huy xuất sắc.

Tôi Hòa thân nhau từ lúc còn tò te, mang lon chuẩn úy, mặt búng ra sữa. Đám bạn bè chí thiết sau vài năm chẳng còn bao nhiêu. Vừa tốt nghiệp sĩ quan Thủ Đức, mặc bộ hoa rừng đầu đời Biệt Động chưa kịp giặt nước nào, còn nghe mùi vải, đã có đứa chết ngay ở chiến trường Phong Thử, Quảng Nam, thằng thì bỏ xác tại Hạ Lào, Cồn Thiên, Mai Lĩnh. Giặc giã gì mà ghê quá, như cần người chết hơn là sống để chiến đấu lâu dài, nên có kẻ chết ba lần bảy lượt mới ra người thiên cổ.

Ngày đó, đột nhiên Cẩm vợ của Hòa vào Văn Thánh, nơi đơn vị dừng quân tái huấn luyện, cứ khóc mãi. Cả mấy đêm, tôi phải qua bên căn lều của Trung, nhường cái giường bố cho nàng nằm. Khi có lệnh, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân chuẩn bị cùng với các binh chủng ra tái chiếm Quảng Trị đợt hai, tôi đưa Cẩm và cậu em nàng đến bến Taxi, kế chợ Đông Ba, để trở về Cần Thơ. Trước khi lên xe, Cẩm trao tôi đôi kiếng mát Rayban Hòa đeo lúc sinh thời.

Nàng bảo:

– Anh hãy giữ nó kỷ niệm…

Tôi không thể từ chối, tôi nhận với tấm lòng chân thật chia sẻ cùng nàng những nỗi đớn đau của cuộc đời. Và lâu lắm rồi, từ sau buổi chia tay, tôi chưa một lần hân hạnh gặp lại người sương phụ ấy. Còn Hòa -Cố Đại úy Phạm Minh Hòa- dĩ nhiên không cần tôi phải nói đến lần thứ hai: “Mày im đi! Địch đang ở gần…” cũng đã ngàn năm im lặng rồi!…

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 28 

Từ một năm qua, Pisciotta cảm thấy mầm phản bội lớn dần trong lòng mình.
Từ lúc nó cùng với Guiliano “khởi nghiệp” cho đến lúc đó y vẫn luôn luôn trung thành với Guiliano. Mà ngay từ lúc còn bé, y đã chấp nhận sự lãnh đạo của Guiliano mà chẳng cảm thấy ghen tị gì. Khi lập “băng”, Guliano vẫn luôn tuyên bố hắn và Pisciotta “đồng lãnh đạo”, chứ Pisciotta không phải là tuỳ tướng, tiểu tướng như cỡ Passatempo, Terranova, Andolini và Canio Sylvestro. Nhưng, cái nhân cách trội vượt của Guiliano đã làm cho cái danh hiệu đồng lãnh đạo của Pisciotta ta trở thành hão huyền. Guiliano chỉ huy. Và chính Pisciotta cũng chấp nhận mà không phàn nàn gì.
Guiliano đảm lược hơn người. Chiến thuật du kích của hắn chưa có tay nào qua mặt được. Kể từ thời Garibaldi đến lúc đó, chưa có ai có tài thu hút được đám nông dân khố rách bằng hắn. Vừa lý tưởng lại vừa lãng mạn. Vừa quỉ quyệt lại vừa chơi bạo, là những cái mà dân Sicilian rất mê. Nhưng hắn có một sơ hở mà Pisciotta nhìn thấy và cố gắng để sửa chữa.
Khi Guiliano nhấn mạnh là sẽ trích một nửa số tiền cướp được cho đám dân khố rách, Pisciotta đã nói:
– Mày chỉ có thể: hoặc là giàu có hoặc là được thiên hạ yêu mến. Mày tưởng là đám dân khố rách Sicilian kia sẽ bừng bừng đứng dậy đi theo ngọn cờ cách mạng của mày để chống lại bọn Rome ấy hả? Đ.m. còn khuya! Đếch bao giờ chúng dám. Mày còn tiền để cho chúng nó thì chúng nó còn yêu mày, che giấu cho mày và không phản bội mày. Nhưng, cách mạng thì khỏi. Chúng sẽ xin hai chữ bình an. Đó, Sicilian là thế đó.
Pisciotta đã phản đối khi Guiliano theo đuổi thằng già dịch Croce và bọn chính khách của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo. Y cũng phản đối sự áp đảo bọn hồng, bọn đỏ. Khi Guiliano hy vọng chính quyền của bọn Dân chủ Thiên chúa giáo miễn xá, Pisciotta nói ngay:
– Ngây thơ! Không đời nào bọn nó lại chịu miễn xá cho mày. Không đời nào thằng già “lựu đạn” Croce lại chịu để cho mày có ít quyền lực nào. Số phận của mình là: hoặc dùng tiền để thoát khỏi cuộc đời thằng ăn cướp, hoặc chết như một thằng ăn cướp. Và, nếu có chết như vậy đi chăng nữa thì cũng đếch có gì là xấu, nhất là đối với tao.
Nhưng Guiliano đâu có thèm nghe. Thế là sự phản bội bắt đầu ngấm ngầm nảy nở trong lòng Pisciotta.
Guiliano vẫn cứ lý tưởng, vẫn cứ ngây thơ, Pisciotta nhìn thấy hết, biết hết. Khi có sự kiện Luca và lực lượng đặc biệt tiễu phỉ thì Pisciotta biết ngay: ngày tàn đã tới. Chúng có thể thắng trăm trận, nhưng chỉ cần bại một trận thôi là đủ tiêu tùng rồi. Cũng như trong chuyện cổ tích hai chàng hiệp sĩ Roland và Olivier của Charlamagne đại đế. Đã ba lần Olivier hối thúc Roland nổi tù và để gọi cứu viện. Nhưng Roland cứ muốn làm anh hùng. Cuối cùng cả hai cùng chết. Guiliano cũng như Roland – cứ muốn theo đuổi giấc mộng lớn, cứ muốn đường đường chính chính, được miễn xá… Pisciotta thấy mình như Olivier, yêu cầu Guiliano “nổi tù và”. Chỉ khác Olivier ở chỗ Pisciotta không muốn chết như Olivier, mà theo Pisciotta “chết vô nghĩa, đếch ăn cái giải gì”.
Khi Guiliano mê và cưới Justina nữa, thì Pisciotta thấy rõ giữa y và Guiliano là phải “anh đường anh, tôi đường tôi”. Guiliano có thể vù sang Mỹ hú hí với vợ, con. Còn nó, Pisciotta trơ thân cụ. Cứ mãi mãi lẩn tránh, trốn chui trốn nhủi. Y biết là đời y không thọ. Không viên đạn thì cũng con vi trùng lao. Định mệnh của y là thế. Y không tài nào sống ở Mỹ được.
Điều làm cho Pisciotta buồn phiền và lo lắng hơn cả là từ khi yêu và cưới Justina, Guiliano bỗng trở nên một tên cướp tàn bạo dễ sợ. Ra lệnh giết tất cả những cảnh vệ mà hắn bắt được trước kia. Xử tử Passatempo ngay trong tuần trăng mật. Tỏ ra tàn bạo với bất cứ ai hắn nghi làm chỉ điểm. Pisciotta sợ rằng con người mà bao năm qua y đã yêu quí, bảo vệ sẽ có ngày quay ra hỏi tội chính y. Nhất là khi Guiliano biết một vài điều mà mới đây y đã làm, thì cái án tử hình của Guiliano dành cho y không sao tránh khỏi.
Trong ba năm trở lại đây. Ông Trùm Croce theo dõi thật sát và nghiên cứu kỹ mối liên hệ giữa Guiliano và Pisciotta. Chúng là mối đe dọa độc nhất trong “đế quốc” của lão, chúng là con kỳ đà cản mũi cho bước đường thống ngự của lão trên tòan cõi Sicily. Lúc đầu lão nghĩ có thể biến Guiliano thành quả đấm sắt trong tổ chức “Người anh em” của lão. Giáo sư Hector Adonis đã được phái đi làm thuyết khách. Nhưng sự không thành. Mà đề nghị đâu có gì là mập mờ, không hấp dẫn. Thì Turi nắm ngành võ, Ông Trùm nắm ngành văn. Nhưng ngành võ thì phải dưới “cờ” ngành văn. Turi phải nhún, chịu lép vế với Ông Trùm một chút. Chỉ có vậy thôi mà hắn không chịu mới ngu chứ. Cứ đường hắn, hắn đi. Toàn là giấc mộng lớn cả. Nào là giúp đỡ người nghèo. Nào là giải phóng Sicily ra khỏi ách áp bức, bóc lột của bọn nhà giàu? Nào là bẻ gãy xiềng xích của bọn chính khách ở Rome. “Để được cái gì? Cái danh hão ấy có nuôi nổi ai?”. Ông Trùm ngẫm nghĩ, và ngán ngẩm vừa tiếc cho cái tài của hắn. “Ngu ơi là ngu. Cơm không muốn ăn, mà cứ đòi ăn cứt. Làm cha thiên hạ không muốn, cứ muốn trốn chui trốn nhủi. Ăn đời ở kiếp trên núi ấy được à? Thành đạt được giấc mộng lớn à? Xóa bỏ áp bức bất công à? Thì chính Đức Chúa Jesua cũng bị đóng đinh chỉ vì các ước vọng ngông cuồng đó. Thằng Turi là cái gì mà đòi làm hơn?”. Ông Trùm càng nghĩ càng không sao hiểu được. Và càng tiếc. Giá có nó làm nắm đấm sắt thì đỡ cho lão biết mấy. Chẳng có nó, đôi lúc nói năng với bọn Rome cũng dễ dàng hơn. Và nhất là công việc làm ăn không bị ai thọc gậy bánh xe. Lão cũng tiếc cho cái cơ nghiệp của lão. Bộ lột da sống đời để ôm cái cơ nghiệp ấy? Có độc một thằng con, thì lại là một thằng bị cái bả “cứu nhân độ thế” làm mê muội đi. Lão càng nghĩ, càng tiếc. Càng tiếc lại càng tức. “Đ.m. đơm cỗ cho nó ăn, nó không ăn, nó còn chửi mình. Mà chịu lép một chút thì có gì là nhục mà nó không nghe”.
Từ năm 1943 đến năm 1947, Guiliano là ngôi sao đang lên. Trong lúc đó Ông Trùm đang mắc bận ổn định lại tổ chức, xây dựng lại lực lượng. Sau trận chu diệt của Mussolini, tổ chức “Người anh em” của lão ngắc ngư, tưởng tiêu luôn. Mấy năm trời vẫn chưa gượng lại, lấy lại sức được. Với kinh nghiệm, lão thừa biết rằng một tổ chức sống ngoài vòng pháp luật mà “đi” với chính quyền thì chỉ có hai con đường: hoặc tiêu vong, hoặc làm tôi tớ cho chính quyền. Cả hai lão đều không muốn. Mà làm tôi tớ cho chính quyền thì sớm muộn gì cũng tiêu vong. Vì bọn chính khách nào cũng chó đẻ như nhau, đểu cáng như nhau. Để có thì giờ tổ chức, xây dựng lại lực lượng riêng của mình, lão đã bấm bụng chịu “đi đêm” với bọn Dân chủ Thiên chúa giáo, mặt khác, ráng tranh thủ Guiliano. Nhưng khi thấy Guiliano quyết không đi vào quỹ đạo lão vạch ra, cái đầu óc thâm hiểm của lão đã tìm ra được một đòn, đòn này chắc chắn đưa Guiliano đến chỗ mất mạng đã đành, mà danh dự cũng tiêu ma luôn. Nghĩa là – “cơm không muốn ăn, cứ đòi ăn cứt. Dễ thôi” – dành cho Guiliano một cái chết toàn diện, cả về thể xác lẫn tinh thần. Trước hết, lão gài Guiliano vào cái thế liên minh với bọn Dân chủ Thiên chúa giáo. “Hễ đi với chính quyền thì sớm muộn gì cũng chết”. Đòn thứ hai nhằm thẳng vào danh dự của Guiliano là vụ Portella del Ginestra. Trong vụ này chính Guiliano tự tay dìm danh dự của mình xuống đất đen. Chẳng những thế, Guiliano cũng tự bít luôn con đường “miễn xá”. Vì bọn chính khách ở Rome có thừa đểu cáng để dùng vụ này làm cái cớ “phủi nợ” với Guiliano. Lão sẽ trở thành “bất chiến tự nhiên thành”. Lão mượn tay bọn Rome để diệt Guiliano – tức là bọn Rome dọn đường, làm không công cho lão – mà bọn Dân chủ Thiên chúa giáo còn phải mang ơn lão. Đồng thời, bôi tro trát trấu vào danh dự của Guiliano, được coi như một tay cự phách trong vai trò bảo vệ dân khố rách. Cho đến khi Guiliano ra tay “hóa kiếp” cho sáu sếp sòng Mafia của lão, thì giữa “băng” của Guiliano và tổ chức “Người anh em” chỉ là một mất một còn.
Bởi vậy, thằng cha già “lựu đạn” có đầu óc hiểm độc và con mắt rốt lõi đời đã chiếu cố đến Pisciotta. Theo lão, Pisciotta khôn lỏi hơn. Nhưng cho dù có lọc lõi thì – vì còn trẻ – hắn cũng không đủ bản lĩnh để đánh giá đúng mức được lòng dạ người khác, nhất là những tay tinh ma lão luyện như lão. Mà Pisciotta cũng là một tay ham hố. Mùi vị và những cám dỗ cuộc đời, Pisciotta không hề chê. Trong khi Guiliano rất coi nhẹ tiền bạc thì Pisciotta lại rất khoái. Trong khi cướp bóc, bắt cóc tống tiền, Guiliano kiếm ra hàng tỉ đồng “lire”, nhưng hắn đã không giữ lấy cho riêng mình một xu. Hắn chia cho bọn khố rách hết. Và cũng chỉ giúp đỡ gia đình gọi là.
Trong khi đó – lão Croce nhận xét – Pisciotta rất ăn diện, áo quần toàn bằng hàng thứ “de luxe”, đặt may tại Palermo, Và chơi điếm thì chọn toàn là điếm hạng sang. Gia đình của Pisciotta sống cũng thoải mái hơn gia đình Guiliano. Lão cũng biết Pisciotta gởi tiền ở nhà băng dưới những cái tên giả, có nhà riêng ở Trapani. Nghĩa là Pisciotta có những toan tính, lo xa cẩn thận, kín đáo, khôn ranh như bất cứ một tay lõi đời nào. Và lão Croce còn biết Pisciotta làm tất cả những cái đó, nhưng giấu không cho Guiliano.
Lão biết như vậy thì thế nào cũng có ngày Pisciotta tìm đến lão. Lão chờ. Pisciotta cũng biết, thằng già dịch sẵn lòng lúc nào cũng mở rộng cửa đón chờ y. Và Ông Trùm có thiếu gì khôn ngoan và kinh nghiệm để lo xa, dự phòng. Lúc nào lão cũng có cận vệ vũ trang cùng mình để bảo vệ hắn. Lão cũng cẩn thận không báo trước cho ngài đại tá Luca và ngài thanh tra Velardi để sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ này, nếu mọi chuyện suôn sẻ. Nếu mọi sự không xong, nếu lão đánh giá sai Pisciotta để đến nỗi chính Pisciotta là người được Guiliano phải đến để làm thịt lão… thì nơi đó cũng phải là nơi kết thúc cuộc đời của chính Aspanu Pisciotta.
Pisciotta đã để cho các tay em của Ông Trùm tước vũ khí trước khi dẫn nó đến gặp lão. Nó không có vẻ gì là sợ hãi. Vì mới chỉ mấy ngày trước đó, nó đã ra tay cứu tử cho lão bằng cách báo trước cho lão kế hoạch tấn công của Guiliano vào khách sạn lão đang ở.
Chỉ có hai người đối mặt. Bồi của Ông Trùm đã dọn sẵn các món ăn và bày sẵn rượu. Theo cung cách tiếp khách nhà quê, Ông Trùm rót rượu và gắp thức ăn mời khách.
– Cái thời vàng son, huy hoàng, vung vít là hết rồi, nghen, – lão già dịch khai báo – Bây giờ đã đến lúc tao với chú mày phải đàng hoàng, cẩn thận. Thời gian sắp tới có tính chất quyết định cho sinh mạng của anh em mình. Tao mong chú mày sẵn sàng để tâm đến những gì tao sắp nói đây.
– Tôi không cần biết đến nỗi lo lắng, quan tâm của ông. Có điều tôi biết là sắp tới, tôi phải hết sức cẩn thận may ra mới toàn mạng.
– Bộ chú mày không muốn di cư sang Mỹ? Chú mày có thể đi cùng Guiliano. Tất nhiên, rượu nho ở đó thì bằng thế đếch nào của mình ở đây. Dầu ôliu ở đấy ấy hả? Cứ gọi là nhạt như nước lã. Rồi, ở đấy nó có ghế điện. Và trên hết, chính quyền ở đấy nó đếch có văn minh, điệu nghệ như chính quyền của mình ở đây. Chú mày không có làm liều, làm ẩu được đâu. Tuy nhiên, sống ở đó cũng không phải là tệ lắm đâu.
Pisciotta cười:
– Tôi cần đếch gì cái nước Mỹ ấy? Mẹ kiếp, thời vận của tôi là ở đây này, ở cái xứ Sicily cùn mằn này. Một khi thằng Guiliano phớt đi rồi ấy hả, tụi nó cũng chẳng thèm mà rượt tôi lắm làm chi. Vả lại núi non coi vậy chứ cũng hiểm trở, đâu phải ít?
Ông Trùm nói giọng có vẻ ái ngại:
– Thế còn cái bệnh phổi của chú mày lúc này ra sao? Vẫn dùng thuốc dài dài đấy chứ?
– Ừ, – Pisciotta nhe răng ra cười nói với Ông Trùm, – Nhưng cái đó nhằm nhò mẹ gì. Cái đó không thành vấn đề đối với tôi. Cái may của tôi là con vi trùng lao chưa đủ sức để vật ngã tôi được.
– Thôi, anh em mình cứ nói với nhau như người Siciclian, sống chết trên cái đất Sicily này đi, – Ông Trùm nói, giọng trang nghiêm. – Khi ta còn nhỏ, khi ta còn trẻ, thì cái chuyện ta yêu quí bạn bè, ta rộng lượng, ta tha thứ lỗi lầm của bạn… là điều tự nhiên. Lúc đó, mỗi ngày là mỗi tươi mát. Ta đón nhìn tương lai với niềm hy vọng chứa chan. Với sự thú vị. Và đếch có sợ hãi. Lúc đó, thế giới này chẳng có gì là nguy hiểm cho ta. Đó là thời kỳ hạnh phúc. Nhưng, một khi ta lớn lên, phải đổ mồ hôi ra kiếm miếng ăn, thì lúc đó, tình bè bạn không có ngon ngọt như lúc còn nhỏ, còn trẻ đâu. Lúc nào mình cũng phải mắt trước mắt sau, đề phòng. Các bậc cha, anh công sức đâu mà chăm lo, săn sóc, nuôi báo cô mình hoài. Ta cũng đâu còn hứng thú để chơi mấy cái trò chơi trẻ con nữa. Ta trở nên kiêu hãnh, tự hào hơn. Ta muốn trở thành một nhân vật, có quyền thế, có tiền của, hay tệ ra thì cũng giữ gìn làm sao cho đời mình khỏi mạt. Tao biết là chú mày thương thằng Guiliano lắm. Nhưng chú mày cứ nhìn lại chú mày coi, được cái gì nào? Sau những năm tháng yêu thương như vậy, thì còn lại cái gì nào? Hay chỉ là những kỷ niệm suông?
Lão ngưng nói như thẻ chờ câu trả lời của Pisciotta. Nhưng mặt cái thằng khốn kiếp ấy trơ như đá, trắng bệch như vôi. Khuôn mặt ấy lạnh tanh, nhìn chằm chằm vào lão.
– Riêng tao, – Ông Trùm nói tiếp, – Tao không thể để cho thằng khốn kiếp Guiliano sống hoặc trốn thoát. Nếu chú mày cứ trung thành với thằng khốn ấy thì đương nhiên, chú mày là kẻ thù của tao. Cứ biết thế đi. Và khi thằng khốn kia “đi tong” rồi, thì một mình – ở cái đất Sicily – chú mày không thể sống nổi, nếu không có sự bảo trợ của tao.
– Bản chúc thư của Guiliano nằm an toàn trong tay mấy thằng bồ của nó bên Mỹ rồi, nghe cha. Cha láng cháng đụng đến nó, nó tung bản chúc thư ấy ra công luận là chính quyền đảng Dân chủ Thiên chúa giáo thân bại danh liệt với nó, chớ không phải chuyện chơi. Và, chính quyền khác lên – xin lỗi ông anh – tôi sợ đến cái mức ông anh xin đuổi gà cho vợ ở Vilaba nhà ông anh, nó cũng đếch cho.
Lúc đầu lão còn cười tủm tỉm. Sau lão cười hô hố, cười bò ra. Lão nói, giọng khinh khỉnh, giễu cợt:
– Chú mày đã được đọc cái bản chúc thư quỉ khốc thần sầu ấy chưa?
Kinh ngạc trước phản ứng của Ông Trùm, Pisciotta đáp gọn lỏn:
– Rồi.
– Tao thì chưa, – Ông Trùm nói, – Nhưng cứ việc tao, tao làm. Như tao muốn. Đếch thèm coi cái chúc thư ấy ra cái giống gì. Hoặc giả, tao cứ coi như không cóc cái chúc thư ấy, đã sao chưa?
– Ông anh bảo thằng này phản Guiliano hả? – Pisciotta nói. – Dựa vào đâu mà ông anh lại dám ăn chắc như vậy?
Ông Trùm mỉm cười:
– Chú mày đã báo trước cho ông anh mày đây cuộc tấn công của hắn vào khách sạn này. Cái đó chưa đủ để ăn chắc sao? Hành động như chú em bộ là hành động thân hữu chắc?
– Cho ông anh hay: thằng này hành động như vậy là vì lợi ích của Guiliano chớ đếch phải vì cái mạng cùi của ông anh đâu mà ham. Là vì lúc này thằng Turi nó điên rồi. Hắn định giết ông anh. Đúng. Nhưng một khi ông anh “tịch” rồi, thì tụi này đếch còn hy vọng gì, tôi biết. Vì cái tổ chức “Người anh em” cũng vẫn cứ tồn tại. Có chúc thư hay không có chúc thư, cũng vậy thôi. Hắn – thằng Turi – trong lúc này có thể trốn ra nước ngoài nấn ná ẩn thân chờ đợi ít lâu quay về để trả thù, để “đòi nợ”. Và món nợ của nó chính là cái mạng cùi của ông anh đấy, chứ chẳng phải ai xa lạ. Bởi vậy, hôm nay tôi đến đây để thu xếp với ông anh. Điều kiện trao đổi là thế này: ngày một ngày hai, Guiliano sẽ rời khỏi xứ Sicily. Hắn sẽ coi như xí xóa món nợ. Vậy hãy để cho nó ra đi êm đẹp.
Đang cúi đầu xuống đĩa thức ăn trên bàn, Ông Trùm ngửa mặt lên trời cười. Rồi, lão nhấm nháp ly rượu:
– Chú mày vậy mà trẻ con cóc chịu được. Tao với thằng Guiliano đã đến cái chỗ hết chuyện để nói rồi. Nó nguy hiểm quá, không thể để cho nó sống được. Nhưng, tao cũng không thể giết nó, vì tao còn sống mà phải sống chỉ ở Sicily này được thôi. Bởi vậy, tao không thể giết người hùng vĩ đại nhất của Sicily, mà vẫn còn sống để mà làm những điều tao muốn làm. Nhiều người thương thằng Guiliano quá. Và do đó sẽ có nhiều đứa lặn lội, tìm tòi để trả thù cho nó. Vậy thì chỉ có bọn cớm giết chết nó là ổn. Và chính là điều mà tao và chú mày có thể xếp đặt, chú mày là thằng duy nhất có thể đưa Guiliano vào cái bẫy sập đó.

Photo edit by Sơn râu

Lão ngưng nói một chút. Trầm ngâm. Rồi lại tuôn ào ào:
– Ngày tàn của mấy chú mày đã tới rồi. Riêng chú mày còn được chọn lựa. Hoặc chú mày còn ở lại trong cái thế giới điêu tàn đổ nát của chú mày, hoặc chú mày bước qua cái cổng đổ nát ấy để sang thế giới bên kia. Cái đó là tùy chú mày.
– Thằng tôi có thể được Chúa che chở. Nhưng Chúa cũng chịu, nếu người ta biết là thằng này đã phản bội Guiliano.
– Chuyện đáng lo thì chú mày đếch lo, đi lo chuyện trời sập. Tao hỏi chú mày: người ta ở đây là ai mới được chứ. Chú mày chỉ cần một mình tao biết là sắp tới, chú mày sẽ gặp thằng khốn kiếp kia ở đâu. Rồi, thế là xong phần chú mày. Sẽ không có một ai khác biết. Mọi sự sau đó, tao sẽ thu xếp với lão đại tá Luca và thằng cha thanh tra Velardi. Bọn này sẽ tính gọn. Nghề của tụi nó mà.
Lão ngưng một chút, rồi chơi cú đòn chót:
– Thằng Guiliano đã thay đổi rồi. Hắn không còn là bạn chí thiết với chú mày như hồi nhỏ nữa rồi. Lúc này hắn chỉ lo cho thân hắn. Và, chú mày còn chờ gì nữa, mà không bắt chước hắn, lo cho mình?
Chiều ngày 5 tháng 7 năm 1950, khi trở về Castelvetrano, Pisciotta đã tự nạp mình cho con hồ ly tinh Croce. Y đã nói với lão nơi y sẽ gặp Guiliano. Và y cũng biết sau đó, con hồ ly tinh này sẽ báo cho mấy con sói Luca và Velardi. Y không nói rõ tại nhà Zu Peppino mà chỉ nói là ở thị trấn Castelvetrano. Và còn báo trước cho Croce biết phải cẩn thận vì cái giác quan thứ sáu của Guiliano.
Nhưng khi Pisciotta tới nhà Zu Peppino, lão già đánh xe này đã chào hỏi nó một cách lạnh nhạt khác thường, đến nỗi, Pisciotta phải tự hỏi không hiểu có phải là lão già này đã đánh hơi được cái gì, hoặc nghi ngờ gì nó chăng. Y cũng không thể không lưu ý tới những hoạt động tấp nập một cách bất thường của bọn cớm tại thị trấn này. Với cái óc hoang tưởng chính xác rất “Sicilian”, y đã chắp nối những chi tiết ấy lại.
Trong giây lát, Pisciotta cảm thấy đau nhói trong tâm can. Tiếp theo đó là những ý nghĩ giày vò, dằn vặt. Bà già của Guiliano sẽ như thế nào khi biết chính thằng cháu cưng của bà đã ám hại con bà? Bà sẽ nói gì, làm gì nếu chẳng phải là một ngày nào đó, đứng trước mặt y, bà sẽ nguyền rủa, phỉ nhổ và gọi y là đồ phản bội, quân giết người? Y và bà đã ôm nhau và khóc, và y đã thề với bà sẽ bảo vệ con bà. Thế mà y đã hôn bà theo kiểu Judas (1).
Trong giây lát, Pisciotta như điên cuồng. Y muốn giết chết lão già đánh xe, rồi tự tử.
– Nếu chú em đi tìm Turi, – Già Peppino nói, – Thì nó đã đi rồi.
Nhìn cái mặt trắng bệch – có lẽ vì nó ngộp thở – già Peppino bỗng thấy tội nghiệp cho nó:
– Em uống chút rượu cho nó ấm bụng không? – Già Peppino hỏi.
Pisciotta lắc đầu, quay ra đi. Già đánh xe nói với theo:
– Cẩn thận đấy, nghe em. Thị trấn lúc nhúc những cớm là cớm.
Pisciotta bỗng thoáng cảm thấy sợ. Và thấy mình thật điên khùng, không nghĩ đến trường hợp Guiliano đánh hơi được cạm bẫy. Nếu Guiliano cảm thấy ai là kẻ bội phản thì…
Pisciotta chạy nhanh ra khỏi nhà lão đánh xe, lần theo đường mòn đến điểm hẹn dự phòng, tức là phế tích vệ thành Selinus, đô thị Selinunte cổ xưa là đô thị ma quái.
Phế tích đô thị cổ Hy Lạp nằm chập chờn dưới ánh trăng mùa hạ. Trong đống đổ nát ấy, Guiliano đang ngồi trên bậc thềm của một trong những ngôi đền và mơ về nước Mỹ xa xôi. Hắn cảm thấy nỗi buồn mênh mang. Giấc mộng cũ nay đã tàn. Hắn đã chứa chan hy vọng về một tương lai tươi sáng cho mình, cho cả Sicily. Hắn đã hoàn toàn tin vào sự bất tử của mình. Có biết bao nhiêu người đã thương mến ngưỡng mộ, sùng bái hắn. Thế mà giờ đây, dường như Guiliano đã trở thành cái đích cho biết bao nhiêu người nguyền rủa. Dù có đưa ra những lý lẽ gì đi nữa, thì cũng rõ ràng là hiện giờ hắn đang bị bỏ rơi. Nhưng, hắn hãy còn một người. Đó là Aspanu Pisciotta. Và rất có thể sẽ có một ngày nào đó, cả hai sẽ lại làm cho cái lòng thương mến, ngưỡng mộ, sùng bái kia sống lại, cái giấc mộng, cái lý tưởng cao cả kia thành hiện thực. Nghĩa là cả hai, và chỉ có hai đứa là có thể bắt đầu lại từ đầu. Trăng khuất trong đám mây. Phế tích chìm trong bóng tối. Các phế tích bây giờ nom như những bộ xương in hình lờ mờ trên nền trời. Từ trong bóng tối mênh mông, Guiliano nghe thấy tiếng huýt gió từ đống đá phía dưới. Hắn vội nép mình vào giữa hai cây cột dá, súng cầm tay sẵn sàng. Mặt trăng lại chui ra khỏi đám mây. Guiliano thấy Aspanu Pisciotta đang đứng giữa con đường ngổn ngang mảnh đổ nát dẫn tới vệ thành.
Pisciotta từ từ bước lên theo con đường đầy gạch đá. Con mắt loang loáng tìm tòi, miệng khẽ gọi tên Turi. Guiliano ẩn mình sau cây cột đợi cho Pisciotta đi qua, mới bước ra, đứng sau lưng Pisciotta, rồi mới lên tiếng. Như khi xưa chúng chơi trốn tìm với nhau. “Xí, Aspanu, mày thua rồi”. Hắn ngạc nhiên khi thấy Pisciotta la lên, sợ hãi.
Guiliano ngồi xuống bậc thềm, để súng bên cạnh.
– Ngồi xuống bên cạnh tao nè, nghỉ chút đi, – Guiliano nói. – Chắc là mày mệt dữ lắm. Đây có lẽ là lần cuối cùng tao với mày được ngồi nói chuyện riêng với nhau.
Pisciotta nói:
– Mình sẽ nói chuyện ở Mazara del Vallo, ở đó an toàn hơn.
– Ôi, mình có chán thì giờ. Mày không nghỉ một chút đi, mệt quá lại thổ huyết bây giờ đấy. Lại đây, ngồi cạnh tao nè, nghỉ chút đi đã.
Hắn thấy Pisciotta tháo súng đang đeo ra. Hắn nghĩ là Pisciotta làm thế là để ngồi cho thoải mái, đỡ vướng. Hắn đứng lên, bước tới, đưa tay tính kéo Pisciotta lên. Đến lúc đó hắn mới thấy ông bạn nối khố đang chĩa súng vào hắn. Hắn sợ điếng người. Cả người bỗng thấy lạnh toát. Từ bảy năm nay, đây là lần đầu tiên nó bị chộp trong lúc hoàn toàn bất ngờ.
Đầu óc Pisciotta rối tinh rối mù và tràn ngập nỗi sợ, khi phải nghe Guiliano hỏi, nếu chúng nói với nhau. Chẳng hạn Guiliano có thể hỏi:
– Aspanu, trong băng của mình đứa nào là Judas phản bội? Aspanu, ai đã đi báo cho thằng già dịch Croce biết cuộc đột kích của tụi mình? Aspanu, tại sao bọn cớm đang vây trùng trùng điệp điệp tại cái thị trấn Castelvetrano tí xíu này? Aspanu tại sao mày đi gặp thằng già “lựu đạn” Croce, để làm chi vậy? – Nhưng câu Aspanu sợ nhất, nếu Guiliano không hỏi nữa, mà nói: – “Aspanu, mày là thằng em tao”. – Chính nỗi sợ hãi khủng khiếp đó đã khiến Pisciotta nhấn cò súng.
Một lằn đạn thổi bay bàn tay và xé nát thân thể Guiliano.
Kinh sợ vì chính hành động của mình. Pisciotta đã đợi cho Guiliano té vật xuống. Thay vì chính Guiliano từ từ bước xuống bậc thềm, thì máu tuôn có vòi tưới trên bậc thềm đó. Lòng đầy dị đoan về những ám ảnh chết chóc, Pisciotta quay ngoắt và chạy như bay. Y tưởng Guiliano đuổi theo y và rồi thấy Guiliano té xuống.
Nhưng Guiliano đang chết mà vẫn nghĩ mình còn đang chạy. Óc hắn bắn tung tóe thế mà hắn vẫn nghĩ hắn đang cùng với Aspanu chạy nhảy trên rặng núi suốt bảy năm qua. Những dòng nước trong vắt từ trong các hồ chứa xây từ thời người La Mã cổ. Hương hoa rừng ngào ngạt, màu sắc hoa rừng rực rỡ. Hắn còn nghĩ hai đứa cứ chạy, chay qua những miếu thờ bên lề đường, hắn la lên, lớn tiếng như đêm hôm nào năm xưa, hắn đã la lên “Aspanu, tao đã tin, tao đã tin”. Hắn tin vào vận mệnh may mắn, hạnh phúc, tin vào tình bạn chân thật. Thần chết – vậy ra thần chết – cũng có từ tâm – đã giải thoát hắn, để hắn kịp nhận ra sự phản bội và thất bại sau cùng. Guiliano chết trong lúc đang mơ.
Aspanu chạy như bay. Y chạy qua cánh đồng, y chạy trên những con lộ và dùng giấy thông hành đặc biệt để xin gặp đại tá Luca và thanh tra Velardi ngay lập tức, chính họ sẽ thêu dệt và tung ra cái tin Guiliano bị sa vào ổ phục kích và bị đại úy Perenze bắn chết.
Buổi sáng hôm 5 tháng 7 năm 1950, bà Maria Lombardo dậy sớm. Bà thức giấc vì tiếng gõ cửa. Ông chồng đã đi ra để trả lời. Ông quay lại, vào phòng ngủ và nói với bà ông phải đi và có lẽ phải vắng mặt cả ngày. Nhìn qua cửa sổ, bà thấy ông lên một chiếc xe lừa kéo sơn phết lòe loẹt tranh vẽ theo sự tích. Xe của già Zu Peppino. Chắc là ông nhận được tin của Turi. Chắc là nó đã trốn thoát sang Mỹ. Hay là có cái gì trục trặc? Bà cảm thấy nỗi lo lắng quen thuộc từ bảy năm nay. Lo lắng đến mức sợ hãi. Nó làm cho bà bồn chồn, không ăn nghỉ được. Sau khi quét dọn nhà cửa và sửa soạn bữa ăn trong ngày, bà mở cửa nhìn ra ngoài phố.
Suốt con đường Via Bella không có lấy bóng của một người hàng xóm. Trẻ nít cũng không dám chơi ngòai đường. Nhiều đàn ông trong thị xã đã bị tống giam vì bị tình nghi là đồng đảng của con bà. Các bà vợ thì quá sợ đến nỗi cho con ra đường chơi cũng không dám. Đầu phố, cuối phố chỗ nào cũng lúc nhúc cớm, cảnh vệ và lính. Súng máy đeo lủng lẳng trên vai, chúng đi từng toán hoặc từng cặp. Đi bộ. Cứ thế đi tới, đi lui như mắc cửi. Suốt ngày đêm. Lính trên mái nhà. Xe nhà binh đậu dăng dăng. Xe thiết giáp trang bị đại liên trấn ngay lối rẽ vào đường Via Bella, ngay phía trước trại Bellamp. Thị trấn Montelepre nhỏ bằng cái khăn tay mà có đến hai ngàn lính của đại tá Luca quần ngày đêm. Chịu gì thấu. Và bọn lính ấy, đã biến tất cả dân thị trấn này thành kẻ thù của chúng. Chọc ghẹo đàn bà con gái, hù dọa con nít, hành hạ đánh đập đàn ông rồi tống vô tù… Và tất cả bọn lính này ở đây chỉ để săn lùng đặng giết con bà. “Nhưng, – bà nghĩ bụng, – cho bay hay, con bà ấy hả? Tụi bay đừng hòng. Liếm cái gót giầy nó bây giờ cũng không được. Nó đã bay sang Mỹ rồi. Nó được tự do thảnh thơi rồi. Khi thời gian chín muồi thì bà và bố nó cũng sang theo sum họp với nó. Tụi bay ở đây mà làm hùm làm hổ. Nó cũng đếch sợ tụi bay”.
Bà quay trở vào trong nhà, định bắt tay vào làm việc. Bà đi lên lầu, ra ban – công, nhìn lên rặng núi trước mặt. Trước kia, từ trên những ngọn núi kia, con bà vẫn chiếu ống nhòm, nhìn xuống ngôi nhà của nó. Xa cách và không nhìn thấy nó, nhưng bà vẫn cảm thấy sự hiện diện của nó. Nhưng, giờ này bà không cảm thấy. Như vậy, đúng là lúc này nó đã ở bên Mỹ rồi.
Tiếng dập cửa rầm rầm làm bà lạnh toát. Vì sợ. Từ từ, bà đi xuống và mở cửa. Cái đầu tiên bà nhìn thấy là ông giáo sư Adonis. Thật lạ, chưa bao giờ bà nhìn thấy ông ăn mặc xập xệ như vậy. Đầu óc rối bung, bù xù. Không thắt cà – vạt. Chiếc áo sơ – mi mặc dưới chiếc jaket thì nhàu nát, dơ bẩn, cổ áo thì xốc xếch, nhăn nhúm. Nhưng cái mà bà thấy lạ nhất là trên khuôn mặt ông, không còn chút gì gọi là trang trọng, đàng hoàng. Vẻ mặt phờ phạc ảm đạm. Đôi mắt rơm rớm nước mắt, khi ông ta nhìn bà. Bà la lên, thất thanh.
Giáo sư Adonis bước vào nhà nói với bà:
– Đừng, Maria, tôi xin bà!
Một gã trung úy cảnh sát còn trẻ măng, cũng bước vào cùng với ông giáo sư. Nhìn qua hai người, bà Maria Lombardo thấy ngòai đường có ba chiếc xe đen sì đậu trước cửa nhà bà. Và có cả một toán người võ trang đứng đó nữa.
Gã trung úy cớm, trẻ măng, hai má còn đỏ au. Gã ngả mũ cầm tay, trang trọng hỏi bà:
– Thưa, có phải đây là bà Maria Lombardo không?
Âm điệu đặc giọng miền Bắc Ý, dân Tuscany.
Bà Maria Lombardo đáp:
– Phải.
Giọng nói của bà lạc đi vì tuyệt vọng. Miệng bà khô, không còn chút nước miếng.
– Tôi xin mời bà theo tôi đến Castelvetrano, – Gã trung úy nói, – Xe đang đợi. Có ông bạn chúng ta đây sẽ cùng đi theo. Dĩ nhiên, nếu bà muốn vậy.
Bà Maria Lombardo mở to mắt, nhìn. Ngạc nhiên. Rồi, giọng bà rắn đanh lại:
– Để làm gì vậy? Tôi có biết gì, có quen ai ở Castelvetrano đâu!
Giọng gã trung úy có vẻ dịu dàng, trầm ngâm:
– Có một người đàn ông ở đó mà chúng tôi muốn nhờ bà nhận diện giùm. Chúng tôi nghĩ đó là con trai bà.
– Không phải con tôi. Nó chẳng bao giờ đến Castelvetrano làm gì, – bà Maria Lombardo nói. – Bộ chết rồi hả?
– Phải.
Bà Maria Lombardo la lên một tiếng dài, rền rĩ, thảm thiết. Hai đầu gối quỵ xuống.
– Con tôi không bao giờ đến Castelvetrano.
Giáo sư Adonis bước lại gần, đặt tay lên vai bà:
– Bà nên đi, – Ông nói, – Có thể đây cũng chỉ là một mánh để đánh lừa, như trước kia nó đã từng làm
– Không! Tôi không có đi đâu hết! Tôi không có đi đâu hết!
– Vậy thì ông nhà có nhà không? – Gã trung úy hỏi. – Bà không chịu, thì để ông nhà đi thay cũng được.
Bà Maria Lombardo nhớ lại là, sáng nay lão Zu Peppino đã đến tìm ông lão. Bà nhớ lại linh cảm của bà khi nhìn thấy chiếc xe.
– Chờ chút, – Bà nói.
Bà quay vòa phòng, thay quần áo. Khi trở ra, bà mặc bộ đồ đen. Đội khăn san cũng đen. Gã trung úy mở cửa xe cho bà. Trên đường phố, chỗ nào bà cũng thấy lính, thấy cớm, thấy cảnh vệ. Lúc nhúc. Trong ánh nắng rực rỡ tháng bảy, bà nhìn thấy rõ mồn một hình ảnh hai đứa – thằng Aspanu, cháu bà và thằng Turi, con bà – đang dắt con lừa để cho “thả nọc” như bảy năm trước kia, cái ngày mà nó trở thành tên sát nhân và phải sống ngoài vòng pháp luật. Bà bắt đầu khóc rấm rứt. Ông Adonis ngồi bên cạnh bà. Chiếc xe chạy qua giữa đám ồn ào giỡn cợt của bọn lính. Bà úp mặt vào vai ông Adonis. Không khóc nữa, nhưng sợ đến chết khiếp. Vì đến lúc cuối đời, bà lại phải chứng kiến cái cảnh mà bà sắp phải chứng kiến.
Xác của Guiliano được đặt nằm ở đây đã ba tiếng đồng hồ rồi. Nom hắn như đang ngủ. Mặt nằm nghiêng về phái tay trái, chân co, chân duỗi. Thân thể soải dài ra. Cái áo sơ – mi bêt bết máu. Gần cánh tay bị gãy là khẩu súng lục của hắn. Phóng viên nhiếp ảnh và các ký giả từ Palermo, từ Rome đã có mặt. Phóng viên nhiếp ảnh của tờ Life đang chụp hình đại úy Perenza. Tấm hình sẽ xuất hiện trên báo với lời chú thích “Người hùng đã bắn hạ tên cướp khét tiếng”. Khuôn mặt ông quan ba trên tấm hình nom cũng dễ coi. Hơi buồn. Và có vẻ hơi ngỡ ngàng. Trên đầu, cái mũ làm cho ông ta có dáng một chút tiệm tạp hóa hơn là một anh cớm gộc.
Hình ảnh của Guiliano lại được in đầy trên các báo khắp thế giới. Ngón tay – vẫn còn chiếc cà rá đã cướp được của bà công tước năm xưa. Trên bụng vẫn còn sợi dây thắt lưng có khóa bằng vàng chạm nổi hình con phượng hoàng và con sư tử. Cạnh chỗ hắn nằm là một vũng máu.
Trước khi bà Maria Lombardo tới, xác của hắn đã được chở đến nhà xác thị trấn và được đặt trên một phiến đá cẩm thạch lớn, hình bầu dục. Nhà xác là một phần của nghĩa địa có những hàng cây bách đen, cao vút. Bà Maria Lombardo được đưa đến đây và ngồi chờ trên một tảng đá. Họ chờ ngài đại tá và các sĩ quan tham mưu của ngài ăn mừng chiến thắng tại nhà hàng khách sạn Selinus. Bà Maria Lombardo bắt đầu khóc khi nhìn thấy đạo binh ký giả và đám đông tò mò. Đám cảnh vệ phải vất vả để giữ cho họ có trật tự. Giáo sư Adonis cố gắng an ủi bà.
Sau cùng họ dẫn bà tới nhà xác. Các quan chức đứng quanh phiến đá cẩm thạch đang đặt các câu hỏi. Bà ngẩng lên và nhìn mặt Turi.
Chưa bao giờ nom nó lại trẻ thế. Nom y như nó mệt nhọc sau một ngày đi chơi với Aspanu, khi chúng nó còn nhỏ. Trên mặt nó, không có dấu tích gì, ngoại trừ vết bùn dính vào lúc đặt nó nằm trên sàn. Thực tế đã làm cho bà tỉnh người. Bà lặng thinh. Bà chỉ trả lời vắn tắt:
– Phải, đó là thằng Turi con tôi, tôi đứt ruột đẻ ra nó cách nay 27 năm. Phải, tôi xác nhận là nó!
Các quan chức còn cố nói này nọ với bà, đưa giấy tờ gì đó cho bà ký. Nhưng bà không nghe, không nhìn họ. Không nghe, cũng không nhìn đám đông đang xúm xít quanh bà. Các ký giả la hét, các phóng viên nhiếp ảnh phải gây lộn với cảnh vệ để chụp hình bà. Bà hôn trên trán nó. Cái trán và cả khuôn mặt trắng bệch như tờ giấy. Bà hôn trên đôi môi hơi thẫm của nó, trên bàn tay bị đạn bắn tét ra, tâm hồn bà tan ra trong nỗi đau đớn khôn cùng. “Ới con ơi, ơi giọt máu của mẹ ơi, con đã làm gì tàn ác đâu mà đến nỗi phải chết thê thảm thế này! Con ơi là con!”.
Rồi bà ngất đi. Bất tỉnh. Khi y sĩ chích thuốc cho bà tỉnh lại, bà đòi được đưa đến chỗ cái sân, nơi con bà bị bắn chết. Bà quì xuống và hôn trên vũng máu còn đọng ở đó.
Khi được xe chở về Montelepre, bà thấy ông chồng ngồi chờ ở nhà. Tại đây, bà được biết kẻ đã sát hại con bà không phải ai khác xa lạ. Mà chính là đứa cháu cưng của bà. Thằng Aspanu Pisciotta.
………..
(1) Judas: Judas là một trong mười hai môn đệ của Đức Chúa Jesus. Tên đồ đệ này đã “bán” thầy cho kẻ thù. Hắn đã giao ước với kẻ thù khi bắt Chúa (vì bọn này không biết mặt) “Tôi hôn ai, thì đó chính là người mà các ông muốn bắt” – ND.


Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Google photo

6. Khi việc đời đã đến

Nếu Bửu sơn Kỳ Hương đã qui tụ được một số đông tín đồ trung kiên để báo đáp ơn Tổ quốc thì dân gian lúc bấy giờ cũng chờ cơ hội để nổi lên đánh bọn Pháp và bọn Việt gian. Trong phong trào kháng Pháp hồi cuối thế kỷ thứ XIX ở Nam Kỳ, chúng ta chú ý vài chi tiết: người tham gia khởi nghĩa theo danh từ đương thời là ứng ngãi (ứng nghĩa) hoặc quân một nghĩa. Kháng Pháp là làm ngãi (làm nghĩa) tức là chiến đấu cho nghĩa lớn. 
Qua những khẩu cung của người tham gia kháng Pháp, thời ấy thì đi mộ quân ứng nghĩa là :rủ anh em lo việc đời”, thời cơ đến thì gọi là “việc đời đã đến” hoặc “việc đời gần lắm” đây không phải là mật hiệu nhưng là quan niệm yêu nước rõ rệt: phải xả thân lo cho đời, quên việc riêng tư. 
“Việc đời đã đến” vì hoàn cảnh trở nên thuận lợi; năm 1882, binh Pháp đánh vào thành hà Nội, tổng đốc Hoàng Diệu tự vẫn nhưng năm sau công việc bình định ở Bắc Kỳ vẫn chưa thành, quân nhà Thanh còn khá mạnh mẽ ở vùng biên giới Việt _ Hoa. Thừa lúc Pháp bận việc binh ở Bắc Kỳ, người yêu nước ở Nam Kỳ Lục tỉnh tin rằng họ có dịp tốt để quấy rối và khôi phục đất nước. Bấy lâu, từ 1867, một số sĩ phu Nam Kỳ không đành sống trong vùng do giặc kiểm soát nên tị địa ra tỉnh Bình Thuận để lo kế lâu dài; liên lạc về tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa với chủ trương sẽ phát động khởi nghĩa khi thời cơ thuận lợi, đồng thời bày ra việc khẩn hoang để tự túc về lúa gạo. Kế hoạch ấy được ông Nguyễn Thông (người quê ở Tân An, đậu cử nhân năm 1849), từng là huấn đạo ở An Giang, làm đốc học ở Vĩnh Long đảm trách. ở Bình Thuận, ông Nguyễn Thông được vua Tự Đức phong chức Dinh điền sứ, triều đình chuẩn y một kế hoạch lớn theo đó ông đề nghị “lập đồn điền khai khẩn miền Tây Nguyên, từ biên giới Cao Miên đến Quảng Trị, thâu nạp những dân lưu ngụ, nhứt là dân từ Nam kỳ ra. Nhưng kế hoạch này không thực hiện được vì triểu đình Huế bị Thống đốc Nam Kỳ phản đối, vả lại ông Nguyễn Thông lâm bịnh nặng. 
Cuối năm 1882, một viên chỉ huy quân sự trở về Nam Kỳ nhằm mục đích khuấy động phong trào. Đó là Lê Văn Viên năm ấy tuổi cỡ 60, quê ở vùng Cái Bè (Định Tường), trước kia đã thông thạo vùng Đồng Tháp Mười, từng là thống binh vào năm 1866 dưới quyền của Thiên Hộ Dương; trong vụ khởi loạn ở Vĩnh Long năm 1869, ông từng là phó đề đốc. Khi Pháp khủng bố gắt gao, ông trồn về miền Trung. 
Thừa lúc có rắc rối ở Bắc Kỳ, ông vào Nam với chức An Hà hộ đốc, đến Sa Đéc, gặp nghĩa quân cũ, đồng thời cũng tìm cách liên lạc với những bạn ở Vĩnh Long. Vài phong trào nhỏ nổi lên, trong vòng chuẩn bị; một thanh niên nhiều tâm huyết là Nguyễn Văn Nở (năm ấy mới 27 tuổi) từng đến Vĩnh Long để gia nhập Thiên Địa Hội, lo gây cơ sở ở vùng Cái Thia, tỉnh Định Tường. Nguyễn Văn nở nghĩ ra kế hoạch ám sát đốc phủ Lộc vào dịp hắn đi dự lễ lạc thành một công sở làng. Một phong trào khác thành hình; Nguyễn văn Tường trước kia đã tham gia kháng Pháp, sau đầu hàng, dạy chữ nho. Tường bèn liên lạc với Trần Văn Cương (Cương còn bí danh là Nguyễn Hữu Hùng). Cương là người khí phách, trước kia làm tổng binh, bị Pháp bắt đày qua Cayenne ở Nam Mỹ châu năm 1872, sau mươi năm bị lưu đày (vền ăm 1882) ông hoạt động trở lại ở vùng Long Hưng, Rạch Gầm. 
Nhóm thứ tư là của Nguyễn Văn Vi, còn có tên là Nguyễn Văn Hay và Nguyễn Kế Trung, ngoài đời gọi là ông đạo Tư, hoạt động cho phái Bửu Sơn Kỳ Hương rất đắc lực, đã từng làm đội cố vấn cho Trần Văn Thành. Khi thất trận, Nguyễn Văn Vi trở về quê quán ở vùng Cái Bè, Nguyễn Văn Vi liên lạc với Lê Văn Vang, tục danh là Tám Vang (năm 1883, khoảng 60 tuổi) từng làm chức đội nhứt. Khi thất trận Bảy Thưa, ông Lê Văn Vang lần hồi lưu lạc tới Nam Vang (kinh đô Cao Miên) trú ngụ tại Bưng đồng, làng Long Hội. Nguyễn Văn vị đến Nam Vang gặp Lê Văn Vang mà hỏi ý kiến và cho biết thêm là phong trào đang lên, Lê Văn Vang tán thành, hứa sẽ trở về Cái Dầu (Châu Đốc) mà điều khiển. Theo khẩu cung của Lê Văn Vang thì khi được hỏi có phải là đạo Lành không, ông trả lời: “Tôi thật người đạo Lành, nguyên trước tôi lãnh bùa Bửu Sơn Kỳ Hương là bùa của Quản Thành đã phát cho tôi” 
Đạo binh do ông Trần Văn Thành tổ chức ở Bảy Thưa gồm tín đồ Bửu Sơn kỳ Hương, mang danh là Binh Gia Nghi (chữ nho là Gia Nghị Cơ). Khi Nguyễn Văn Vi hỏi ý kiến về danh xưng của đạo binh sắp thành lập để hưởng ứng cuộc khởi nghĩa chung ở Mỹ Tho, ông Lê Văn Vang khuyên Nguyễn Văn Vi nên gọi là Giang Nghị, chớ không dùng chữ Gia Nghị lúc trước. 
Tại sao có sự đề nghị thay đổi danh xưng này? Chúng tôi phỏng đoán là vì giữ bí mật, nhưng lý do chánh vẫn là muốn hòa mình vào phong trào chung. Giang có nghĩa là tỉnh An Giang, cơ bình thời đàng cựu thường lấy một chữ trong tên của tỉnh, ghép vào một chữ khác. Tuy nhiên trong một số văn kiện vẫn dùng danh xưng là Gia Nghị hoặc Gia Nghị cơ, trụ sở trung ương của cơ này là Thiên Sơn Trung Tự (chùa Thiên Sơn Trung), thỉnh thoảng có văn kiện ghi rõ là “Thiên Sơn Trung Gia Nghị tam quan hiệp đồng” ngụ ý là lịnh được ba vị chỉ huy tối cao bàn bạc kỹ lưỡng rồi mới ban ra. Tên của ông quản Thành được nêu lên, nhưng ghi là Trần Vạn Thành. Theo lời truyền khẩu của tín đồ, ông này chỉ mất tích sau trận Bảy Thưa chớ không chết. 
Đáng chú ý là Nguyễn Văn Vi tuy thuộc hàng giáo phẩm của Bửu Sơn Kỳ Hương những vẫn liên lạc mật thiết với các phong trào ngoài tôn giáo của mình, trong một tờ trình mà thực dân bắt gặp, không ghi rõ năm, ông đề nghị với cấp trên của mình là nên liên kết với Thiên địa Hội vì đó là tổ chức có thực lực. 
Bốn nhóm nói trên gây được ảnh hưởng tâm lý sâu rộng trong tỉnh Mỹ Tho, Sa Đéc, Vĩnh Long và trung tâm vẫn là vùng Cái Bè, một vị trí chiến lược. đốc phủ Trần Bá Lộc báo cáo với chủ tỉnh Mỹ tho: 
-“Dân gian đồn đãi là nhà nước (Pháp) đánh Bắc Kỳ thì chắc có lẽ vua An Nam cho phép kẻ cừ nghịch trấn ở Bình Thuận thuộc về ông Điền Nông quản thúc bấy lâu nay trở về khuấy rối. . ” 
– “chừng ba bốn tháng nay quân hoang dã đã thông với quân hoang Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên toan lấy Vĩnh Long khi quan trên rút lính Lang Sa và lính tập . . ” 
– “Dân chúng đợi quan trào vào mà dấy loạn . . ” 
– “Trường bố Mỹ Tho ít người đến làm việc là quân nghịch đồn ngoài Huế tràn vào. . ” 
Cuộc khởi nghĩa không thành tựu nhưng về nội dung rõ ràng là có sự đoàn kết nhất trí của đồng bào miền Nam. Hòa hợp nhau, không câu nệ về lý thuyết, tín ngưỡng: bài Mãn phục Minh, hoặc phò Thanh diệt Tây dương, hoặc đón chờ hội Long Hoa thời Mạt pháp, hoặc gìn giữ xã tắc đều là một . Đạo và Đời gắn liền nhau. Đốc phủ Trần Bá Lộc bắt trong các nhóm trên tất cả là 135 người: 103 người mà hắn cho là nghịch, 16 người thuộc vào hạn tri gian nhi bất tố (tức là biết kẻ gian mà không chịu tố cáo), 16 người là thân nhân của những người cầm đầu phong trào. Vì thiếu bằng cớ cụ thể về mặt pháp lý vã cũng vì không muốn làm cho nhân tâm náo loạn. Thống đốc Nam kỳ ra quyết định ngày 26-11-1883 chỉ lưu đày 14 người ra Côn Đảo; mấy người kia được thảra ngay. Trong số bị đày có ông đạo Tư tức Nguyễn Văn Vi. 
Trên giấy tờ là như thế; trong thực tế, nhiều người bị đốc phủ Lộc bắt giam ở dinh quận, tra tấn tàn nhẫn rồi thả ra. Riêng một làng Thạnh hưng, tổng Phong Phú (Cái Bè) số người bị bắt lên đến 73 người, một người nọ bị bắt, cổ mang gông, tay bị trói đã nhảy xuống sông mà tự tử. 
Được hỏi về trường hợp bị quyến rũ tham gia phong trào, vài bị can cùng khai như sau: 
– Thầy Vi nói rằng: “Việc đã gần lắm, chú phải kiếm chút giấy chi mà giữ mình ngày sau. Tôi trả lời: thầy sao tôi cũng vậy”. 
– Trùm Tập kêu tôi tới nhà mà nói với tôi rằng: “Việc đời đã đến, em út có tình theo tao mà làm việc nghĩa không? Tôi trả lời rằng: “tôi không việc việc ra thế nào mà phóng theo. Để thủng thẳng sau sẽ hay, hễ anh làm sao thì tôi cũng vậy.” 
– Đến nhà tôi, danh (tên) nớ hỏi tôi rằng: “Việc đã đến, anh có tính ra với người ta hay không? Tôi nói rằng không dám thì danh Nở nói: Nếu mà anh không dám làm, anh phải kiếm cho tôi ít người . . ” 
Có người trên 70 tuổi đã bỏ nhà để tham gia phong trào, không bắt được ông lão này thì đốc phủ Lộc bắt người con, tuổi đã 52. Người con khai: “cha tôi nói với tôi: thôi bây giờ thiên hạ người ta đi làm nghĩa, tao đi với người ta, còn nhà của mày, tao giao cho mày giữ lấy mà làm ăn.

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Google photo

5. Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa 1873

Giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương nêu những nguyên tắc thiết thực gắn liền đời và đạo, cá nhân và gia đình, gia đình với đồng bào nhân loại và đặc biệt là với Tổ quốc (ân đất nước). Người tu hành tham gia sản xuất, cày cấy như bao nhiêu người khác. Khi người sáng lập viên tịch, Bửu Sơn Kỳ Hương đã có sinh lực mạnh, lý thuyết và thực hành đi đôi nhau. Thực dân Pháp đến, chiếm trọn Nam Kỳ Lục Tỉnh. Những sự xáo trộn về chánh trị, kinh tế, xã hội diễn ra. Dưới mắt người nông dân miền Nam thuở ấy, rõ ràng là thực trạng nhân tâm ly tán của thời Mạt pháp: “Hạ ngươn giáp Tý đầu tiên. Gẫm trong thiên hạ không yên chỗ nào:. Giáp Tý tức là 1864, hai năm sau khi miền Đông Nam Kỳ chánh thức nhương cho Pháp. Theo truyền thuyết của giáo hệ, Bửu sơn tức là núi quí báu, tức là Thất Sơn mà đỉnh linh thiêng nhứt là núi Cấm; Kỳ Hương tức là mùi thơm lạ. Hội Long Hoa sau thời Mạt pháp sẽ thành lập tại đó. 
Người tín đồ tin tưởng rằng; cõi Tiên ,cõi Thiên đường sẽ hiện ra tại thế gian này, trong thời rất gần trên lãnh thổ của tỉnh An Giang gần biên giới. Một đệ tử của Phật Thầy Tây an là Trần Văn Thành (về sau được tôn xưng là đức Cố Quản) tích cực vận động tín đồ và đồng bào khởi nghĩa với qui mô khá lớn và liên tục. Ông là quản cơ đời Tự Đức, từng đóng vai trò tích cực trong cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá năm 1868. Thoạt tiên, ông chiếm cứ, đóng đồn ở chung quanh đồng Láng Linh. Năm 1871, lần đầu tiên thực dân cho tên đốc phủ Trần Bá Lộc truy nã. Sau đó, ông bố trí những cơ sở phòng thủ hiểm trở hơn. Bọn do thám cho biết hình dáng ông Trần Văn Thành: “Vóc to lớn, mạnh khỏ, gương mặt nghiêm nghị, nhìn thấy làp hải kính trọng và ngưỡng mộ, hăng hoạt động, rất thông minh. Ông lập ra một đạo gọi là đạo Lành. Trong hầu hết các tỉnh ở đất Gia định đều có tín đồ. Tín đồ từ các nơi vì tôn kính ông nên tới mật khu, mang theo nào lúa gạo, sắt (để rèn khí giới). . . 
. . .Dân ở làng lân cận bảo vệ ông bằng cách giữ bí mật và không ai đi lọt vào vùng cấm địa” Tháng 2 dương lịch 1872, một môn đệ của ông đi trong tỉnh (Long Xuyên) để phát bùa và một thêm tín đồ. Tháng 4 năm 1872, chủ tỉnh Long Xuyên ra lịnh cho cai tổng Lý Mul (người Miên, làm việc cho Pháp) theo dõi những người tới lui câu cá hoặc đặt lờ đặt lọp ở ngọn Mạc Cần Dung, rồi chín tên chủ tỉnh này phối kiểm các tin tức, ra lịnh bí mật, tránh những hành động quá non có thể làm cho đối phương đề phòng trước. Nhưng cai tổng Lý Mul không được yên tâm, hắn sợ tình thế trở nên rối rắm vì ở mật khu xảy ra quá nhiều cuộc tụ họp đông đảo mà bọn do thám của hắn không tài nào len lỏi vào được. Ở Bảy Thưa, ngày như đêm, để đối phó, lo rèn khí giới, ây đặp đồn lũy, dự trữ thêm nào gạo muối, lương thực. Tri huyện Trần Bá Tường nóng lòng muốn lập công, nên đích thân len lỏi đến gần mật khu rồi báo cáo là đồn lũy đã xây đắp khá kiên cố, tuy nhiên chỉ cần vài người lính mã tà đi với ông ta là có thể dẹp được. Nhưng cai tổng Lý Mul lại can gián. 
Chủ tỉnh Long Xuyên là Emile Puech lo bố trí cuộc tảo thanh. Hắn xin quân tiếp viện thêm 40 người từ Cần Thơ, dưới tay hắn đã có chừng 60 lính mã tà. Ngày 19-3-1873, bọn lính mã tà lên đường, mỗi đưa mang theo bốn ngày lương thực và 40 viên đạn. Tên chủ tỉnh chia lính ra từng toán nhỏ, tiếp tay với hắn có đại uý Guyon. Trần Bá Tường lãnh một cánh quân, phó quản Hiếm (phó quản lính mã tà) cũng lãnh một cánh. Hiếm trước kia từng chiến đấu bên cạnh ông Trần Văn Thành thời đàng cựu, rồi đầu thú bọn Pháp. 
Khoảng 6 giờ sáng ngày 20-3-1973, bọn Pháp đến cách đồn chánh của mật khu Bảy Thưa chừng hai cây số ngàn, lính mã tà nạp đạn sẵn và được lịnh không nổ súng vô cớ, trừ khi nào đối phương chống cự. Trong đồn, nghĩa quân đã sẵn sàng chờ đợi, tiếng tù và vang lên và nghĩa quân bắn trước. Đến sát đồn, tên chủ tịch tỉnh Puech mới giựt mình vì đối phương quá đông và chiến đấu với phong độ cao. Để đề phòng sự thất bại, chủ tỉn hra lịnh cho hai cánh quân nhỏ (trong đó có huyện Trần Bá Tường) phải tập trung lại. Trần Bá Tường thú nhận là đối phương có khí giới tương đối đầy đủ. Theo lịnh của chủ tỉnh, phải tiết kiệm đạn dược, chờ dịp tốt hãy xung phong. 
Ông Trần Văn Thàn vẫn bình tĩnh đối phó, tuy đang bị vây. Ông đứng sau phòng tuyến làm bằng ván với những bao gạo chồng chất. Ông thách thức bọn Pháp, dùng ống loa mà chửi rủa thậm tệ. Đồng thời ông day về phía quân sĩ của mình mà khích động tinh thần; quân sĩ hò reo vang rân, chửi rủa bọn Pháp, trống đánh liên hồi. Ông Trần Văn Thành cắt từng lọn tóc nhỏ của mình mà phân phát cho các tín đồ. 
Bọn Pháp được lịnh đánh tràn vào. Ông Trần Văn Thành mặc áo màu đo sậm, đốc thúc chiến sĩ, ra hiệu lịnh, bên ạnh ông là đứa con ruột đang tiếp tay và đích thân ông bắn súng. 
Chừng hai giờ sau (9 giờ sáng), cuộc chiến như kết thúc, quân Pháp chiếm đồn. Viên cai tổng Lý Mul, huyện Trần Bá Tường bấy lậu đã từng ra trận vẫn kinh ngạc trước sự gan lì của đối phương và giải thích: đó là ảnh hưởng tinh thần của ông Trần Văn Thành đối với tín đồ. 
Bọn Pháp thấy tại trận 10 xác chết của nghĩa quân , 5 người bị thương và bắt sống được 2 người, tịch thâu khá nhiều súng, gươm giáo, lúa gạo, ghe xuồng. 
Chúng ước lượng lực lượng nghĩa quân chừng 400 hoặc 500 và than phiền là không thắng trận hoàn toàn. Nghĩa quân chạy thoát quá nhiều vì cánh quân tiếp viện của tỉnh Châu Đốc không chịu tới kịp thời. 
Một chi tiết đáng chú ý là phó quản Hiếm và bọn mã tà của y bắt thêm được 13 nghĩa quân: tất cả những người này đều là dân từ Bến Trẻ, từ Trà Vinh đến hưởng ứng chánh nghĩa của ông Trần Văn Thành. 
Bọn pháp còn tịch thâu một số giấy tờ, xác phận rằng ông có liên lạc với nhiều tỉnh ở Nam Kỳ để khởi nghĩa, ông đã từng ở Rạch Giá (vụ Nguyễn Trung Trực) và ở Vũng Liêm (có lẽ vụ giết chết tên chủ tỉnh Salicetti). 
Rõ ràng là khi người Pháp đến, giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương đã gây được sự tin cậy của đồng bào và trở thành nơi nương tựa tinh thần cho nghĩa quân từ các nơi muốn tiếp tục chiến đấu chống ngoại xâm. 
Tháng sau, ngày 22-4-1873, một nghị định được ban hành do đô đốc Dupré nghiêm cấm không cho dân chúng được theo đạo Lành vì đạo này xúi giục dân đi lạc khỏi đường ngay nẻo chánh. Nghị định nói trên cũng cho biết còn nhiều người đi truyền giảng đạo này ở toàn Nam Kỳ, hàng giáo phẩm của đạo cũng như tín đồ sẽ bị phạt theo luật đàng cựu, xem như là gian đạo sĩ, phiến loạn. 
Tại sao gọi Bửu Sơn Kỳ Hương là đạo Lành? 
Vài tài liệu của Pháp dịch là đạo dạy việc làm lành (làm lành lánh dữ). Có người cho là đạo của ông Trần Văn Thành nhưng người Pháp nói trại ra đọc theo giọng Pháp? Nhưng chúng tôi đã thấy nhiều công văn của Pháp lúc sau cũng ghi là đạo Lành. Nên nhớ lúc bấy giờ người Pháp đã mua chuộc được một số nho sĩ thân hào để làm cố vấn cho họ trong việc nội trị, lẽ nào người Việt lại lầm lẫn? Theo thiển ý chúng tôi, đương thời ông Trần Văn Thành được gọi là ông quản Thảnh. Có lẽ đồng bào lúc bấy giờ gọi trại ra, vì cử tên ông nên Thành đổi ra Lành. Hoặc đó là danh xưng riêng mà người trong đạo cố ý đặt ra để che mắt nhà cầm quyền, khiến chúng khó có lý do đàn áp hoặc ngăn cấm; vô đạo chỉ là để làm điều lành thôi, chớ không phải để chống Pháp như ông Trần Văn Thành của phải Bửu Sơn Kỳ Hương.

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Google photo

4. Thất Sơn huyền bí, “Cảnh tiên” tại thế của các chiến sĩ Cần Vương

Khi xã hội nông nghiệp tổ chức theo lối cổ truyền bị lung lay trước sự xâm nhập của một hệ thống kinh tế có thể lực hơn như hệ thống tư bản thì xảy ra khủng hoảng, chẳng những về kinh tế mà còn cả về tâm lý. Kẻ sĩ (trong đó có tu sĩ) và nông dân, điền chủ lần lần bị mất vai trò quan trọng; giới thương gia, kỹ nghệ gia, giới cho vay, những người đảm trách dịch vụ, chuyển chỡ giao thông chi phối nhanh chóng và nắm guồng máy chánh trị. Phản ứng của xã hội nông nghiệp cổ truyền là tự vệ, hoặc là cải cách, hoặc là cách mạng. Những tín ngưỡng của xã hội phong kiến cổ truyền là không còn hợp thời. Vài vị Hoạt phật (Phật sống) xuất hiện để cứu thế, phổ độ chúng sanh, mong cứu vãn cơ cấu nông nghiệp cổ truyền với vài sự cải cách. 
Bên Âu Châu, bên Mỹ Châu, những phong trào “cứu thê” này thường xảy ra, các nhà nghiên cứu xã hội xem đó là đề tài hấp dẫn. Vị cứu thế xuất hiện (Messie) được dân chúng địa phương rầm rộ tham gia và tích cực ủng hộ, ngài rao giảng những lời tiên tri thường mà Thượng đế sắp đặt (sao chổi mọc, bệnh dịch hoành hành, núi lở . . ). Ở Nam Kỳ Lục Tỉnh từ đời Tự Đức và đến khi người Pháp chiếm cứ bằng võ lực, một phong trào khá mạnh bùng nổ ra, mang tánh chất độc đáo trong hoàn cảnh địa phương khá phức tạp. Chúng ta nghe đến những danh từ Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật sống, Phật thầy, Đức Bổn sư hoặc ông đạo này ông đại kia rao giảng, gây nhiều thắc mắc cho chánh quyền hồi cuối đời Tự Đức và người Pháp. 
Người quá thiên về khoa học thì cho là chuyện khó tin. Người trong cuộc thì tự tôn cho rằng sự thật lần hồi phải thắng, vì vũ trụ càn khôn biến chuyển theo qui luật riêng không ai cưỡng lại được; hết xuân hạ thu đông thì mùa xuân trở lại, theo vòng tròn. Thượng ngươn, Trung ngươn đến Hạ ngươn để rồi có hội Long Hoa, tại lập đời Thượng ngươn. 
Bà Maria Isaura Pereira De Queiroz đã dày công nghiên cứu và tổng kết các phong trào Cứu thế phổ độ của toàn thế giới. Chúng tôi xin tóm lược để gợi ý qua vài phong trào tiêu biểu, một ở Ý Đại Lợi, một ở Nam Mỹ, rất tiếc là tác giả ấy không nói đến trường hợp ở nước Việt Nam ta. 
Khoảng năm 1870, vùng phía Nam xứ Toscane (Ý) còn sống trong tình trạng nông nghiệp lạc hậu, thất học, đạo Thiên Chúa ở đây chưa được thuần thục, trong dân gian hãy còn nhiều thần thoại mê tín cố hữu. Nhiều “ông đạo” đi giảng trong xóm, hoặc tu luyện riêng biệt trong rừng; dân ở địa phương sống nghèo nàn, ít giao thiệp với các vùng phụ cận. 
Nhưng lúc bấy giờ nhà vua bắt đầu thi hành những chủ trương nhằm thống nhứt các địa phương. Các cơ sở kỹ nghệ và thương mãi lớn bắt đầu phát triển, đời sống dân chúng ở nơi xa xôi hẻo lánh bị xáo trộn; phải đóng nhiều sắc thuế mới, góp phần vào việc xây đắp và tu bổ những đường giao thông, trong khi mùa màng thất bát liên tiếp. David Lazzaretti xuất hiện tự xưng là đấng Cứu thể, loan truyền rằng nay mai một nước Cộng hòa của Thượng đế thành hình. Giáo chủ Lazzaretti đã có vợ con nên không được chấp nhận vào hàng giáo phẩm. Ông ta thất vọng rồi công kích nếp sống không vợ con của các linh mục đương thời. Thoạt tiên, ông đến các vùng phụ cận La Mã, sống cô độc như một tu sĩ chịu khổ hạnh rồi trở về quê, lập ra ba nhóm tín đồ. 
– Nhóm thứ nhứt gồm những người tự nguyện sống tập trung như các dòng đạo thời Trung cổ. Non 100 tiểu điền chủ tự nguyện hiến tất cả các đất đại cho đạo, sau những ngày làm việc đồng áng, họ tụ họp để đọc kinh. Việc đời và việc đạo xen kẽ nhau theo thời khóa biểu nhứt định. 
– nhóm thứ nhì theo qui chế khá dễ dãi, tập hợp để thành một kiểu hợp tác xã, cứu trợ nhau khi cần. người trong đạo phải đóng nguyệt liễm, hết thức ăn thì đến kho của nhà đạo mà lãnh, khi đau yếu thì được trợ cấp. Mỗi năm, họ đến Thánh địa vài lần mà đọc kinh, lo việc đạo hạnh. 
– Nhóm thứ ba quan trọng hơn, cũng do giáo chủ Lazzaretti điều khiển gồm những tín đồ hăng hái tình nguyện tập trung đất đai, nông cụ, gia súc, cũng làm việc và chia nhau huê lợi, đồng thời tuân theo một thời khoá biểu thống nhứt về tu học. Tài sản được coi là công cộng, họ ra sức cày bừa một lượt, nhờ vậy mà năng suất cao, mùa màng thu hoạch khá hơn khi canh tác riêng rẽ. Vì tự xem là một tiểu uqốc riêng biệt nên họ không chịu đóng thuế cho chánh phủ trung ương ở La Mã và họ cũng không chịu đi xem lễ ở nhà thờ thuộc Ki tô giáo. Họ đọc kinh và tu học với các chức sắc ở địa phương do Lazzaretti đặt ra, dưới quyền tối cao của ông òn có 12 vị sứ đồ trung kiện. Và họ chế biến ra một loại sắc phục khác với những người nông dân “ngoại đạo” 
Ba nhóm nói trên cùng một giáo chủ nương dựa nhau về mặt tinh thần và kinh tế mà sống. Lần hồi, dường như họ đã đạt được mục đích là cứu vớt cho cơ cấu xã hội cổ truyền không bị tan rã trước cao trào thống nhứt lãnh thổ, thống nhứt thuế má, phát triển giao thông mà chính phủ trung ương đã đặt ra. Họ duy trì quyền tự trị địa phương. 
Uy thế của giáo chủ David Lazzaretti càng tăng, nhiều nhân sĩ và người giàu có sẵn sàng ủng hộ tiền bạc và phương tiện để ông đi du lịch và in ra các tác phẩm hoàng dương đạo pháp. Từ năm 1876 về sau, Lazzaretti trở nên tích cực và hung hãn hơn, ông công khai công kích chánh quyền trung ương, cho rằng chánh quyền này đi sai đường lối của chúa Kitô, đồng thời ông tuyên bố thành lập một quốc gia riêng, mang danh nước Công hòa của Thượng đế (République de Dieu). Ông tự xưng là người lãnh trách nhiệm vì thiên hạ trong thời Mạt Pháp. Lời tiên tri này ứng nghiệm với tình thế: mùa màng trong nước gặp những phen thất bát liên tiếp, đức Giáo hoàng Pie IX và vua nước Ý là Victor Emmanuel lần lượt băng hà. Thừa thắng xông lên, Lazzaretti cùng với 3.000 tín đồ trung kiên bèn diễu hành đến thành phố kế cận để cướp chính quyền, số tín đồ này không mang khí giới mà chỉ trương lên những cờ xí và hình ảnh. Họ bị lực lượng cảnh sát chận lại, giáo chủ Lazzaretti tử trận. Nhưng cái chết lại gây thêm uy thế cho giáo chủ Lazzaretti vì hồi sanh tiền, ông đã tiên đoán cái chết của mình để rồi ông sẽ phục sinh, tạo lập một thiên đường ở cõi thế. 
Các nhóm giáo dân tự trị do ông lập ra lần lượt bị giải tán, không làm chánh trị nữa nhưng về mặt tốn giáo họ vẫn tiếp tục sanh hoạt riêng biệt, do người cam niên nhứt trong họ đạo lần lượt kế vị nhau , và người lãnh đạo cuối cùng đã mất vào năm 1943. 
Ở Nam Mỹ châu, huyện thoại về sự phục sinh của vua D.Sebasstiao tiêu biểu cho tinh thần dân tộc Bồ Đào Nha cùng những lời sấm truyền được phát động thành phong trào mạnh mẽ, đặc biệt là ở Brésil, nơi người Bồ Đào Nha di cư lập nghiệp khá đông và mang theo những tín ngưỡng từ chánh quốc. Nhiều “ông đạo” rao giảng sự phục sinh của vua d.Sebastiao, cho rằng vua này sẽ ban bố hạnh phúc và tiền bạc cho tín đồ. Năm 1817, ông đạo Sylvestre José dos Santos đi tới vùng Pernambuco rao giảng rằng khi nào ông gom đủ 1.000 tín đồ thì vua D.sebastiao sẽ xuất hiện để lập bộ đội nhằm giải phóng thành Jérusalem, lúc ấy địa cầu này sẽ trở thành một Thiên đàng; người nghèo khó trở thành giàu, kẻ nào đang giàu thì sẽ giàu thêm lên. Hàng giáo phẩm của ông 12 ông “hiền”, số tín đồ thoạt tiên lên đến 400, ông tuyên bố thành lập trước tiên một thành phố nồng cốt mang danh là ‘thành phố của Thiên đàng ở hạ giới”. Lúc đầu, tín đồ của ông tu hành theo nghi thức do chính ông bày ra. Cuộc tập họp của tôn giáo mới này khiến chánh quyền địa phương lo ngại, quân đội được phái tới để giải tán, tín đồ chống cự mãnh liệt để rồi gần như bị tàn sát trọn vẹn. 
Năm 1834, có phong trào ủca ông đạo Joao Ferreira nhằm mục đích tạo lập Thiên đường ở tại thế. Lại còn phong trào của Joao Maria (năm 1844), của Antonio conselheiro (năm 1873) với nội dung tương tự nhưng thâu hút nhiều tín đồ, hoạt động chánh trị hăng hái hơn. 
Việc xuất hiện những đấng Cứu thế là hiện tượng thường có qua lịch sử nhân loại từ Âu sang Á. Ở Trung Hoa, ta hẳn nghe đến Thiên quốc của Hồng Tú Toàn, và ở Việt Nam thì miên Nam là vùng mang vài nét đặc thù. Đất mới khẩn hoang; đời Minh Mạng, đời Thiệu Trị, đời Tự Đức vùng biên giới Việt – Miên gặp nhiều tai hoạ chiến tranh co cuộc tranh chấp với Cao Miên, chiến trường là vùng An Giang; Phật giáo đời nhà Nguyễn nói chung đã suy đồi, một tôn giáo mới là Thiên Chúa giáo đã gây được cơ sở ở cù lao Giêng, Năng Gù, Bò Ót bên sông Tiền và sông Hậu. 
Thuyết “hội Long Hoa” được phổ biến và trở thành động lực thực tế để chấn hưng Phật giáo, khởi đầu từ An Giang. 
– “Nói đến Hội Long Hoa tức là nói đến đức Phật Di Lặc, vì theo đức Phật Thích Ca cho biết torng kinh Di Lặc thì thời kỳ Mạt pháp có đức Phật Di Lặc ra đời, là vị Phật thứ năm trong tiền kiếp, lập nên hội Long Hoa, mở ra truyền thuyết pháp hóa độ chúng sanh. 
“Trong kinh chỉ nói đức PHật Di Lặc ra đời vào thời kỳ Mạt pháp nhưng không nói rõ là vào khoảng nào, cho nên về ngày giờ lập hội Long Hoa có nhiều giải thuyết khác nhau, mỗi người hiểu một cách . . Vả chăng trong kinh điển còn chia từ lúc Phật ra đời về sau làm ba thời kỳ: Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp và phỏng định thời kỳ Chánh pháp là 500 năm, thời kỳ tượng pháp là 1.000 năm và thời kỳ Mạt pháp là 10.000 năm. . Cứ theo Phật lịch mà tính thì hẳn chúng ta ở vào thời Mạt pháp, nhưng thời kỳ này lại kéo dài đến một muôn năm, thế nên phái Thiền gia chưa tin đức Di Lặc hạ sanh trước khi thời kỳ Mạt Pháp chấm dứt. 
“Tin tưởng hội Long Hoa lập ra trong một ngày gần đây chăng, chỉ có giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương và Cao Đài giáo. 
“có thể nói đức Phật Thầy Tây An, vị sáng lập ra giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương là người thứ nhứt đã báo hiệu và đánh thức người đời rằng thời kỳ Hạ ngươn sắp mãn để bước sang thời kỳ Thượng ngươn, tức là thời kỳ Đức Di Lặc hạ sanh lập nên hội Long Hoa, như ngài (đức Phật Thầy Tây An) cho biết: 
– Hạ ngươn đã cận người ôi, 
Nay cho giáng bút để thôi coi đời” 
Đức phật Thầy Tây An là nhân vật có thật, đản sanh năm 1807, tịnh diệt năm Bính Thìn (1856), ngài gây được ảnh hưởng ở vùng khá rộng theo biên giới Việt – Miên (SaĐéc, Long Xuyên, Châu Đốc). Lúc còn tại thế, ngài hướng dẫn tín đồ đi khẩn hoang lập nghiệp nhiều trại ruộng phía núi Két, Láng Linh, Đồng Tháp Mười, Cái Dầu. 
“Chủ trương của Phật Thầy là lấy đạo Phật làm căn, nhưng không thờ cốt Phật, không gõ mõ tụng kinh, không đầu tròn áo vuông, không hành nghề thầy đám, không cúng kiến chè xôi và tu đâu cũng được. Theo giáo lý của ngài thì người tu cốt tránh ác làm lành, rửa lòng trong sạch, giữ tâm tịnh và hằng thực thi bốn ân lớn: 
– Ân tổ tiên cha mẹ. 
– Ân đất nước 
– Ân Tam bảo 
– Ân đồng bào nhân loại”

Xuân Mới

hopluu.net

Lê Chiều Giang

13 Tháng Hai 2024

Post by Sơn râu 18 Aug 2024

Từ California khi trở lại thăm Saigon trong một dịp tết, điều thú vị nhất là tôi được một mình rong ruổi trên những chuyến xe bus, tôi đi khắp Saigon, Chợ Lớn, Phú Lâm. Chẳng cần biết trạm sẽ dừng nơi đâu, tôi đi hết đường hết sá, ngắm nhìn mọi thứ xe lớn xe nhỏ, phố bé xíu hay đường rộng thênh thang. Và để tôi thấy hết mọi người, cùng nhìn luôn mọi thứ…

Hôm nay tôi cũng bước đại xuống một trạm dừng, chẳng cần biết tên gọi. Loanh quanh rồi tôi định ngồi ăn trưa ở lề đường nào đó. Nắng và bụi sẽ là gia vị cho những dĩa cơm đường chợ, ly nước mía sẽ làm dịu bớt ồn ào của những tiếng còi xe không bao giờ dứt, khiến thiên hạ chỉ muốn điên đầu. Saigon, những ngày giáp tết, mọi sự vội vàng như đã được nhân lên qua đủ  thứ màu trang trí nóng nảy, kiểu xanh vàng và tím đỏ. 

Em mời tôi mua vé số, tôi mời em ngồi cùng với bữa ăn trưa. Khi chủ quán đặt lên chiếc bàn nhựa bữa ăn lề đường thịnh soạn, tôi đã chẳng nhìn thấy chút hân hoan nào trên gương mặt em. Chắc em còn bận tâm, sốt ruột với tập vé số chưa kịp bán hết.

Nắng chiều gió sớm đã làm tóc em cháy khô với da mặt sần sượng. Tôi chưa hỏi tên, nhưng trên cánh tay trần tôi thấy khắc chữ Hoang, còn có vẽ thêm cả một lưỡi dao vụng về xấu xí. Hoang hay Hoàng? Em thích xăm nhưng chắc không tiền nên tự vẽ, viết ra bằng mực thường, rất đậm. Giang hồ, bụi đời hay chỉ xăm mình nhằm dọa hù thiên hạ và tiện thể, để em tự vệ trước những hung dữ ghê gớm của đời? Tôi lặng lẽ nhìn em ăn uống vội vàng, có vẻ gì như em chỉ rình rình tẩu thoát khỏi nơi đây.

Sự im lặng của em với nét mặt rất ngầu, như mời gọi trí tò mò của tôi về đời sống chẳng biết gọi là gì của những gương mặt chợt già trước tuổi, những đứa trẻ bị quăng ra đời một cách ngang xương, đầy bất nhẫn. 

Còn nguyên buổi chiều dài không biết đi đâu, tôi đề nghị theo em đi bán vé số. Tôi muốn mình hiểu ra thế nào là lang thang, là vất vả nhọc nhằn mà rất nhiều người như em đã từng bươn chải. Ngay lập tức em từ chối, vì sợ đi với tôi thì sẽ chẳng ai mua. “Sự thảm thương”. Món trang sức thời thượng không thể thiếu của đời sống trẻ thơ, em cần phải đeo mang nó một mình, và phải chỉ một mình em thôi.

Em đã chào tôi và bỏ đi rồi, nhưng chợt quay lại hẹn 5 giờ chiều em sẽ gặp lại tôi nơi đây.

Thú vị với lời hẹn của em, nhưng tôi tự hỏi, gặp lại em rồi tôi và em sẽ đi đâu, làm gì? Mời thêm bữa ăn tối thì chắc cũng lại chán và nhàn nhạt như trưa nay thôi.

Mới 2 giờ chiều, chẳng biết đi đâu, tôi ngồi luôn tại chỗ, đợi em mà tôi uống hết những ly cafe, nước mía, sữa đậu nành, nước dừa và thêm cả rau má… 

Em trễ khi trở lại, cười cười với vẻ mặt ít gượng gạo hơn. Em hỏi tôi có muốn theo về nhà Ngoại không?

Chẳng cần biết em mời tôi về đâu, nhưng nghe chữ “Ngoại”, tôi tưởng tượng ngay ra sự hiền lành, những chân chất dịu dàng của một tình thương yêu, đằm thắm. Từ nơi xa xôi, tôi một mình trở lại quê nhà, “Ngoại” biết đâu sẽ là người cho tôi tìm ra chút thú vị, những ngọt ngào của đôi ba ngày tết mà đã lâu lắm rồi tôi như đã lãng quên. 

Bến xe miền Tây chiều 29 tết. Tôi và em đã vô cùng vất vả, phải mua chợ đen mới có trên tay 2 tấm vé đi chuyến xe đò cuối cùng về Bến Tre.

Em rủ tôi về nhà em chơi tết mà đơn giản như em mời tôi mua mấy tấm vé số. Tôi theo em đi Bến Tre cũng dễ dàng như hăng hái chạy theo những chuyến xe bus khắp Saigon, Chợ Lớn, Phú Lâm.

Nhà Ngoại cách con lộ có bến xe chừng cây số. Đã 10 giờ đêm, dưới bóng mờ tối tăm mà em bước nhanh, bước rành rẽ qua từng bờ đê, thước đất.

 “Ngoại” nói vọng ra sân, khi em múc nước vã lên mặt: “Dzìa với ai đó bây?”

Tôi khom lưng theo em lần mò bước vô nhà, mái lá rũ xuống vách đất như một che chắn an toàn, tôi hít hà mùi ngai ngái ẩm của lá ướt. Tôi tự giới thiệu mình vì thiệt ra em có biết tôi là ai đâu? Chẳng nhìn rõ mặt nhau, nhưng qua giọng nói tôi đoán chắc bà là người nhân hậu, dễ mến.

Tôi tự nhiên, Ngoại đơn sơ và em hiếu khách. Chúng tôi ngồi quanh mâm cơm trễ tràng dưới ngọn đèn điện chỉ sáng hơn bóng tối một chút. 

Sáng 30 tết, tôi theo Ngoại ra vườn sau nhà cắt hết những buồng chuối ươm ươm chín, mấy trái đu đủ bóng vàng và cột chân con gà duy nhất bỏ vô chiếc giỏ lát cũ.

Chúng tôi cùng với mươi người quanh khu xóm của Ngoại bày hàng ra bán trong buổi chợ cuối năm.

Chợ không có mái che. Mọi thứ đều được đặt trên những chiếc sạp siêu vẹo, chỏng chơ, ngang dọc không hàng lối. Những rau xanh, ớt tỏi hành ngò, rổ cà chua thắm đỏ hay những trái thơm mập mạp chưa kịp chín. Còn có cả nến và nhang đèn làm cho chợ thoáng một chút hương thơm. Chỉ có hàng thịt là lúc nào cũng có khách hàng vây quanh. Ồn ào nhất chắc là con heo bị trói, nằm bất mãn khi ủn ỉn, lúc la làng bên bầy vịt gà trong lồng đang chen lấn, đập vẫy xôn xao.

Chợ còn được góp thêm một giàn dây chằng chéo, vắt treo những bộ quần áo mới, xanh, đỏ, trắng, vàng. Màu sắc trông đẹp như cờ quạt reo vui, đang phất phơ bay đùa trong gió.

Tôi thấy yêu mến những lời gọi vói hỏi han, những câu nói khơi khơi bông đùa quanh chợ. Những kỳ kèo mắc rẻ, đôi khi còn ráng lườm nguýt, với chê bai…Vài em nhỏ sốt ruột đứng chờ Mẹ mau bán hết hàng, nũng nịu vòi vĩnh đòi mua quần áo mới. Những líu lo chân sáo, thêm đôi mắt sáng ngời với ướm ướm đo đo, khen đẹp hoặc chê rộng chật, không vừa…

Cái óng ả của buổi chợ cuối năm như lấn át hết những âu lo, những vội vã, dù ai cũng chỉ mong bán hàng xong còn chạy vội về nhà, sửa soạn mâm cơm đón Ông Bà.

Ngoại vui mừng vì chuối cúng, đu đủ và cả con gà đẹp mịn màng đã bán xong. Tôi không theo Ngoại về, tôi nấn ná trong khu chợ chẳng còn lại một ai, ngó nhìn cái hoang sơ, cái hắt hiu của buổi chợ tàn.

Không xa khu chợ nhỏ là bến đò lưa thưa. Băng qua con đường đất với những dấu chân in, nhưng không còn đò và cũng chẳng thấy bóng ai. Duy nhất trong chòi lá, một người đang loay hoay dọn dẹp ghế bàn bên bếp lửa còn nghi ngút khói. Ông chào mời tôi với giọng Tàu lơ lớ “Xây chừng?” và cũng chẳng cần đợi tôi nói câu gì, chiếc vợt đã được Ông nhanh nhẹn bỏ thêm cafe, nhúng, nấu trong chiếc bình đen màu khói bếp. “Xây chừng?”. Ôi, cách gọi của Cafe năm cũ, những quán xá đã mất tăm theo cùng với Sài Gòn mưa nắng, ngày xưa.

Tôi nhớ khi còn nhỏ, lúc vừa biết cột tóc đuôi gà, những buổi sáng tinh sương ngày Chủ nhật, tôi được Ba chở trên chiếc xe đạp có chiếc chuông leng keng mà tôi vui tay hay bấm cho điếc tai, cho inh ỏi. Ba cho tôi theo ra Cafe Năm Dưỡng, quán gần khu chợ Bàn Cờ. Tôi chỉ được đứng chầu rìa, dựa lưng bên chiếc xe đạp, giữ xe và đợi Ba ngồi quán. Đứng chờ Ba mà mắt tôi lim dim hít hà hương cafe thơm ngát, có khi hết chỗ, Ba và nhiều khách phải ngồi chồm hổm, ngồi tràn lan ra cả lề đường. Khói thuốc bay mờ mịt, làm mắt tôi cay, nhưng lòng tôi reo vui với hoạt cảnh hay hay của những gương mặt quen thuộc tôi thấy hàng tuần… 

Chiều nay, tôi đang nghẹn ngào với ly cafe bí tất đầu tiên trong đời tại một bến sông xa lạ. Ly xây chừng mà tôi nghe thơm suốt cả tuổi ấu thơ. Tôi nhâm nhi như để dành từng giọt cafe nhỏ, lặng lẽ nhìn dòng nước đưa đẩy những cánh lục bình trôi, xô dạt dưới ánh nắng vàng vọt của buổi chiều 30 tết. Nắng bay bay vật vờ theo gió xuân, quạt trên những lá dừa cao vút, lao xao như một lời chào chia tay năm cũ.

Ngoại mặc áo bà ba vẫn còn nguyên nếp xếp, chiếc áo mà chắc chỉ để dành cho những ngày lễ lộc. Tôi hít hà mùi thơm băng phiến, theo Ngoại đi Chùa trong nắng sớm ngày mới của một đầu năm. Tôi và em khi rón rén, lúc vội vàng băng qua những đường nhỏ dọc theo con lộ chính hướng về nơi có ngôi chùa hoang liêu, cũ kỹ. Nhìn nền đất đen bóng tôi cảm nhận ngay ra cái mát lạnh của đôi bàn chân không, chẳng ngại ngùng, tôi đi chân trần theo Ngoại bước vô Chánh điện. Nhang khói như làm ấm lại khung cảnh âm u, chỉ có chúng tôi, vị Sư, mấy chú Tiểu, và thêm vài ba thiên hạ.

Tiếng mõ và lời kinh…Tôi đứng lặng lẽ nghe và dù không hiểu, câu kinh vẫn thoát ra sự thư thái an bình. Chúng tôi quỳ rất lâu khấn bái chờ cho đến giờ Ngọ, chờ khi tiếng chuông ngân. Chuông chùa, tiếng chuông dù âm u hay thẩm sâu hun hút, vẫn luôn là âm vang của sự an nhiên và niềm hy vọng. 

Em hỏi tôi đã nguyện cầu gì? Tôi nói đùa: mong sang năm về lại Bến Tre thăm em và thăm Ngoại.

Thoáng chút ngại ngần ấp úng, nhưng rất thong thả, em nói với tôi về điều mơ ước. Về những gì em đã chăm chú nguyện cầu khi nghe tiếng chuông chùa đầu năm. Em kể với tôi, suốt mấy năm nay, lang thang bờ bụi trên Saigon, bán vé số chỉ là chuyện phụ. Chuyện chính yếu là vì “Mẹ”.

Em nhất quyết phải tìm cho ra Mẹ, tìm để được thở với hơi ấm trong vòng tay Mẹ, người bỗng dưng bỏ em ra đi, đã 4 năm rồi.

Tôi ngạc nhiên, tôi giật mình, nhưng không dám nói thêm điều gì, dù sáng qua tôi đã suýt tò mò hỏi thăm Ngoại về Ba Mẹ em… Suốt hai ngày dài bên em, giờ tôi mới hiểu em hơn một chút. Chỉ một chút thôi, nhưng đã cho tôi cái nhìn về em rất khác.

Hôm nay đi lễ chùa, em phải mặc chiếc áo dài tay. Em muốn che giấu đi những nét vẽ rằn ri, bặm trợn của một đứa trẻ ráng làm cho ra vẻ bụi đời. 

Nhưng này em nhỏ.

Dù lát nữa đây em có nhờ tôi vẽ lên cánh tay xanh xao ốm yếu của em, bên cạnh lưỡi dao xấu xí đó thêm một “Bàn tay máu”, thì tôi cũng vẫn ôm em, khóc cùng em, hôn lên mái tóc khét mùi nắng mưa và sẽ đi với em khắp Sài Gòn, Phú Lâm, Chợ Lớn.

Tôi và em sẽ đi theo tiếng vọng của chuông ngân, tiếng chuông vang xa như một lời cầu khẩn. Tiếng gọi réo rắt của em và tôi sẽ vang vọng, sẽ bay cao theo với gió xa vời tìm tới bên Mẹ, dù Mẹ em bây giờ có ở mãi tận nơi đâu…

Lê Chiều Giang

Người Về Khuất Chân Trời

hopluu.net

Lê Chiều Giang

Post on 15 Jun 2024

Post by Sơn râu 18 Aug 2024

TrầnQ.Lộc-LêChiềuGiang-2018

Nghĩ với Trần Quang Lộc  

Những đổi thay khốc liệt sau cuộc chiến 75 đã đưa đẩy một nhóm bạn bè chúng tôi gần gũi, siêng năng gặp gỡ nhau hơn những ngày tháng trước đó.

Một ngày của mùa hè 1978, đi với anh Nguyễn Đình Toàn đến nhà chúng tôi ở cư xá Thanh Đa là Trần Quang Lộc trạc tuổi hai mươi tám, ba mươi, với cây guitar trên vai.

Nghiêu Đề và tôi luôn vồn vã, thân thiện rất nhanh với bạn mới gặp, nhất là lại có thêm cây đàn. Ham vui như chúng tôi, sự thân thiện sau đó đã tăng lên gấp bội.

Trần Quang Lộc sáng tác chưa nhiều nhưng nhạc rất đặc biệt, anh hát nhạc mình với chất giọng bàng bạc của miền Trung. Tiếng hát mà Duy Trác thường nói: “không ai hát nhạc Trần Quang Lộc hay và đau bằng chính TQ Lộc”

“Em ơi cho tôi ngủ đậu

Tôi không có nhà

Tôi đây không quen ngủ vội

Xin em thức

Với tình tôi…”

[Nhạc TQLộc]
Sau 75, TrầnQLộc lang thang từ một miền Trung xa xôi vô Saigon sống lang bạt không cửa nhà, hộ khẩu… Nhạc đã như vẽ ra một đời sống rất thật của anh. Anh viết ra những cay đắng, những đổi thay cam go, của một quê hương hoàn toàn mất trắng…

Thanh Đa, chúng tôi sống trên một chung cư lầu ba, nơi mà mỗi sáng nhìn dòng sông với mặt trời soi rọi rất đẹp của bình minh, tôi vẫn cảm nhận ra chút dịu dàng, cho dù đời sống  lúc nào cũng như một chảo lửa đốt cháy hết sự sống của cả một quê hương.

Sông Thanh Đa có chiếc ghe của bà Mười đưa khách từ làng báo chí qua lại. Với chiếc ghe nhỏ xíu đó, chị Nguyễn Thị Thụy Vũ và Anh Nguyễn Đình Toàn đến chơi Thanh Đa thường hơn. Mỗi lần chị đứng bên kia sông réo gọi, anh Toàn đưa tay vẫy…

Chúng tôi luôn có với nhau những bữa cơm rất tội nghiệp, với một tô canh thôi, và tôi thường phải giải thích với chị Thụy Vũ: “Thấy chị qua em đã thêm nước vô cho nó nhiều”. Anh Toàn hỏi thêm trước khi cầm muỗng: “thêm nước thì hiểu được, nhưng rồi chúng ta có cần nấu lại không?” Vậy đó thôi mà cười tung toé.

Những đêm trăng, chúng tôi xuống hết chiếc ghe nhỏ với cây guitar của Trần Quang Lộc hát hò tới nửa đêm. Nhạc Nguyễn Đình Toàn được hát bởi Khoa, bạn của Trần Quang Lộc. Duy Trác không bao giờ hát… dưới ghe, nên anh Toàn, Khoa, Lộc và tôi thay nhau hát. Hát say mê dưới trăng sáng mơ màng trên sông, hiu hiu chút gió và tiếng khua nước của ghe chèo…
Bóng trăng có khi bị che khuất bởi những tàn cây ven sông, và bóng tối như đã ôm ấp tiếng hát nghìn trùng của chúng tôi, trải dài những âm vang dặt dìu xuôi theo dòng nước.

Không phải chỉ có đêm trăng, chúng tôi ngồi với nhau bất cứ ngày nào có thể. Sau 1975, chúng tôi đã sống vội sống vàng, sống cứ như ngày mai trái đất này sẽ vỡ đôi, sẽ sắp sửa biến mất…

Có những đêm Thanh Đa cúp điện, sự tối tăm được lập loè sáng bởi những đốm thuốc trên môi bằng hữu. Ngồi nghe TQLộc hát trong những đêm không đèn đóm, mà tâm can ai cũng như lửa như than (Đào Trường Phúc cường điệu goi là “Đêm Lửa”).

“Trông dáng em ngồi

Tôi chợt hiểu rằng

Chung quanh ta, còn nhiều khốn khó

Em cũng như tôi

Gắng chờ và ráng đợi

Một ngày thật bình yên

Bước vào thành phố mới…”

[TQLộc]

Sau những ngày lang bạt khắp Saigon, cuối cùng TQLộc đã thuê được  một căn nhà sàn. Nơi đây nhiều tuyệt tác của anh đã ra đời, một số cũng được phổ từ thơ của anh A. Khuê.

Khởi sắc hơn, anh được một fan hâm mộ, giúp anh có một quán cà phê trong con hẻm đường PhanThanh Giản. Vậy là bạn bè có một chỗ để uống cà phê và vui chơi. Nguyễn Trọng Khôi ôm đàn hát thường xuyên vì TQLộc còn rộn ràng với châm rót cafe cho bằng hữu . Lâu lâu Khánh Trường cũng tới “quậy” cho vui với bạn bè…

Nhưng chỉ sau vài tháng TQLộc phải tuyên bố dẹp tiệm vì quán xá bị lỗ vốn nặng nề.

 Mất nơi tụ họp, bạn bè kéo hết ra Thanh Đa. Thời gian này Nghiêu Đề đang cùng Nguyễn Lâm và Hồ Hữu Thủ vẽ sơn mài cho một Dealer bán tranh ra ngoại quốc. Cuộc sống đã có chút dư giả, tôi đã bỏ đi thói quen phải “thêm nước vô nồi canh” trong những bữa cơm cùng bè bạn.

Buổi tiệc “sang trọng” đầu tiên là Noel năm 1980. Anh Nghiêu Đề mua về một con ngỗng. Nhìn thấy nó bự quá chừng mà tôi sợ hãi và lúng túng. Thêm vào đó tôi nấu nướng chẳng ra làm sao, nên chị Thụy Vũ được cầu cứu tới giúp. Chị nấu nó suốt ba tiếng sửa soạn cho buổi trưa nhưng không ai ăn được vì chưa mềm. Tôi tiếp tục bếp núc thêm hai giờ nữa, bây giờ phải gọi là bữa tối. Vậy mà thiên hạ vẫn phải đói meo vì con ngỗng một trăm tuổi này không sao nhai nổi.

Đến mười giờ thì nhóm bạn nữa tới, thôi cứ coi như tiệc nửa đêm, đúng nghĩa của Noel. Và sau chín tiếng nấu đi nấu lại với mười tám người chúng tôi, Mr. “Con Ngỗng trăm năm” đã rất ngon miệng…

TQLộc nằm trong nhóm bạn đến sau cùng. Có thêm anh, Noel đã được kéo dài cho tới sáng.

“Lạy mẹ tàn phai

Mảnh trăng mẹ cài

Ru con kỳ diệu

Hồn mẹ chia hai…”

[TQLộc]

                                                      ***********                  

Loay hoay mà giấy tờ ODP của gia đình cũng đã hoàn tất, chúng tôi sẽ rời VN trong sáu tháng tới. Đó là những ngày của 1984.

Chia tay sẽ rất buồn, lại còn biết trước tới sáu tháng. Nên trong những lúc quây quần mà đã nghe thấm đẫm nhiều vấn vương.
NĐToàn cay đắng: “Nghiêu Đề và tôi ra đi đã mang theo luôn cái “Sân khấu”  của bạn bè”.

“…Còn bao giờ nữa tôi về
Vui trên sông trăng
Đêm hè, những khuya
Có ai về
Bến sông buồn
Nhắn hỏi dùm ta dòng sông vắng
Còn nhớ những người đã bỏ đi hay không
Trăng ơi,
Trăng đi rồi có về không?

Cho hồn ta theo với…”
[Nhạc NĐToàn 1984]

                                                      *************

Năm 1999 tôi trở lại Saigon
Chị Vũ với tôi và TQLộc lang thang cà phê khắp mọi vỉa hè thành phố. Chúng tôi ngậm ngùi nhắc lại những kỷ niệm và sự mất tăm của nhiều gương mặt cũ.

 Nhớ nhất vẫn là Nghiêu Đề, người vừa mới bỏ cuộc chơi.      
Tôi thua chi Thuỵ Vũ nhiều tuổi, là một “bạn nhỏ xíu” của chị. Không hiểu sao tôi là người chị chọn để kể hết về những trầm luân lê thê, mãi vẫn chưa hết của đời chị. Qua những lần tôi từ CA về thăm chị ở Lộc Ninh, hay chị lên gặp tôi ở Saigon
Lần cuối cùng tôi trở lại VN năm 2018. TQLộc nhiệt tình ra đón tại ngã ba Bà Rịa – Vũng Tàu.
Ngôi nhà anh chị ở bên một khu vườn nhiều cây xanh, đẹp và êm đềm. Chút điều không vui vì anh đang đau yếu.
Đây là lần duy nhất sau bốn mươi năm bè bạn, tôi và TQLộc không ngồi bên một cây guitar. Lần đầu tiên anh đã không hát khi ngồi với tôi, và cũng sẽ chẳng còn bao giờ nữa…
Nhà anh chị đang ở cũng là một Studio thu âm, nhỏ thôi, nhưng cũng vừa vặn để anh xoay sở giúp gia đình.
Chợt anh nghĩ ra một ý rất ngộ nghĩnh: Anh muốn thâu vài bài ngày xưa tôi hay hát với bạn bè.
Serenade, Sombre Dimanche…
Với ý kiến đó, chúng tôi ngồi để “Thâu Lại Ký Ức”
Khi hát, tôi mơ màng thấy lại dòng sông xưa, chiếc thuyền nhỏ vào những đêm trăng sáng. Những đốm thuốc không lụi tàn trong đêm tối, và tiếng hát bạt ngàn của chúng tôi mới thuở nào đây đã mất hút, xa xăm, đã bay đi mất, tan theo những mưa những gió của cuộc đời.

———–

Đọc lại văn mình chắc không khó bằng nghe lại tiếng mình hát. Tôi đã chẳng bao giờ nghe CD Trần Quang Lộc đã thâu và đề tặng.

 Hôm qua nghe tin anh ra đi, tôi ngồi café ở một quán nhỏ. Nhìn xa tắp là ngọn núi có chút nắng chiều sắp tàn.

Tôi đang ngồi nghe tôi hát, kỷ niệm vật vờ, trôi nổi… Serenade.  Chút  nắng sắp tàn mà sao tôi thấy như tôi đang bị nung nấu cho tan chảy. Hãy tan thành nước lũ, trôi dạt về lại dòng sông xưa nơi chúng tôi đùa vui cùng  những mùa  trăng cũ…
Tôi nghe mình hát mà tưởng như ai đang nói những lời chia xa, những ngậm ngùi cách biệt 

“…Dù một ngày đời sẽ vỡ tan rồi 

Người về cuối chân trời…”

(Schubert, Phạm Duy)

CD anh tặng sau ba năm mới trở thành kỷ vật. Buổi chiều cuối cùng chúng tôi ngồi trước hiên nhà. Cũng với một chút nắng, gió lao xao và tiếng Violin vút cao của Sombre Dimanche.
Tôi biết mình vẫn cứ  lẽo đẽo tìm theo những rêu phong của ngày tháng cũ. Mà cũng chẳng phải riêng mình tôi. Khi anh NĐToàn báo tin về TQLộc, thơ thẩn nhiều điều rồi anh lại nói với  tôi một câu cũ kỹ, một thông điệp  mà  anh đã nhắc đi nhắc lại suốt ba mươi năm “Tưởng tượng  những ngày tháng nghiệt ngã đó, chúng ta không có một đám để rong chơi như thế, thì chắc là đã chết hết lâu rồi”
Viết một chút về những đẹp ngời của bốn mươi năm dài. Hình ảnh hay nhất mà bạn bè khó quên về TQLộc là dáng anh ngồi nghiêng, có chút gì đó rất cô liêu, ôm đàn hát ra những bất trắc, khốn khó và bi thảm của chính mình.

“… Đêm không trăng

Mổ ngực chơi, giữa tuyệt cùng

Đau thân thể

Thiên đường, thiên đường ơi

Mỏi bước chân vui

Bóng ta đi lặng lẽ,

Trong những đêm dài…”

[Thơ Nguyễn Hữu Định, nhạc TQLộc]
Lê Chiều Giang

2020

Trở Về Từ Tầng … 14

hopluu.net

Triệu Vũ

Post on 1 Nov 2022

Post by Sơn râu 18 Aug 2024

Tác giả Triệu Vũ

Trở Về Từ Tầng … 14 
& Cuộc Chiến Tranh Của Phước Đức.   

I – Tháng tư lại về

Sáng sớm, ông bác sĩ quản lý vào phòng báo tin: sau khi hội ý với các bác sĩ chuyên khoa, tất cả đồng thuận để tôi xuất viện vào trưa hôm nay và một tháng sau trở lại tái khám. Thú thực, tôi mừng lắm, nghĩ mình đã được sinh ra lần thứ ba! Niềm vui lớn dâng trào, bay bổng! Tôi muốn la thật to, hét thật lớn – nhưng rất tiếc không thể làm được – cho mọi người, cho cả “thế giới” biết là tôi vừa sinh ra đời lần thứ ba! Lần đầu, vào lúc khởi diễn cuộc Thế Chiến Thứ Hai, Mẹ sinh tôi tại một làng quê thuộc Tỉnh Hải-Dương, miền Bắc Việt-Nam; lần thứ hai cách đây bốn mươi năm, là lúc tôi được phóng thích khỏi trại tù Vĩnh-Quang, một trong những nơi giam giữ các sĩ quan miền Nam, dưới chân núi Tam-Đảo thuộc tỉnh Vĩnh-Phú, cũng tại miền Bắc Việt-Nam. Và lần này, lần thứ ba được sinh ra, là ngày tôi xuất viện, sau một thời gian trị liệu nhiều “gian khổ”, “cam go” tại một bệnh viện nổi tiếng ở Houston, Texas. Thật tuyệt vời và kỳ diệu! Nhưng trong lịch sử loài người, từ cổ chí kim, có ai mới sinh ra mà đã 83 tuổi không nhỉ? Thế nào cũng có người cho rằng tôi đã giầu trí tưởng tượng và có một chút trào lộng chăng?  Chắc chắn không phải tưởng tượng hoặc nói cho vui; mà thực tế, như đã được thông báo, chỉ vài tiếng đồng hồ nữa là tôi được rời bệnh viện, về nhà tự chăm sóc, từ từ hồi phục…

Trên đường từ bệnh viện về nhà, xe chạy ngang khu thương mại của người Việt. Bây giờ là tháng Tư, thời tiết mới vào Xuân, bầu trời xanh cao, gió nhẹ; một vài cụm mây trắng mỏng lang thang. Những chùm lá xanh non trên hàng cây thấp bên đường, đang vươn lên đón nắng ấm. Rất nhiều cờ Mỹ và cờ Vàng ba sọc đỏ của Việt-Nam-Cộng-Hòa, cắm hai bên đại lộ, phất phơ theo làn gió như vẫy tay đón chào, khiến lòng tôi thấy nôn nao, man mác nhớ về những kỷ niệm khó quên năm nào. Thành phố Houston, nơi gia đình tôi định cư từ hơn ba chục năm qua, cách Saigon nửa vòng trái đất, có thời tiết và khí hậu dễ chịu nhất trong năm là tháng tư và tháng mười. Houston lại có hơn hai trăm ngàn người Việt sinh sống, khá đông, nên cứ mỗi độ tháng Tư về, Cộng Đồng lại tổ chức Lễ Tưởng-Niệm Ngày 30 tháng 4. Tháng Tư buồn năm ấy! Đã bốn mươi bẩy năm trôi qua, thời khoảng không phải là ngắn, gần nửa thế kỷ mà tưởng như mới hôm nào. Tháng Tư năm ấy, chính xác là Tháng 4 năm 1975, bạn ở đâu, bạn là một vị cao niên, trung niên, chủ gia đình, một tráng niên hay một học sinh, hay còn là một em bé nằm trong lòng Mẹ? Và bạn đã thấy gì, nghĩ gì? Cả chục triệu người, gia đình ly tán, nhà tan cửa nát, đau buồn, uất nghẹn, oán hờn và nguyền rủa. Người ta đưa hàng trăm ngàn người biệt xứ, lao động khổ sai, nơi rừng thiêng nước độc. Ngày tháng sau đó, biết bao người Việt đói ăn thiếu mặc; đau ốm không thuốc men, lại còn bị hành hạ tinh thần với chính sách hà khắc, bất công, phân biệt kỳ thị; nên  có hàng trăm ngàn người khác, mang nặng niềm đau đứt ruột, trốn chạy, rời bỏ quê hương yêu dấu, dù phải hy sinh mạng sống nơi biển cả, rừng sâu. Thảm cảnh này đã lay động, nhói buốt trái tim, tấm lòng nhân đạo của cả thế giới! … Cho nên gọi ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày Quốc Hận và tháng 4-1975 là Tháng Tư Đen, thực hợp với lòng người và không có gì quá đáng. Nhưng cũng có người lại vỗ tay reo mừng ngày tháng này đấy bạn ạ!! Riêng tôi cũng như trong tâm khảm của bao người khác: Niềm đau vẫn còn đó, vẫn quặn thắt, vẫn xé nát tâm can. Người ta có thể tha thứ, nhưng không thể nào quên! …

– “Tới nhà rồi Ba!”

Đang suy nghĩ miên man, lời nhắc nhở của con gái, kéo tôi về thực tại. Thực vất vả cho con gái! Gần một năm trời đưa đi, đón về, ra vào bệnh viện, lui tới tiệm thuốc, di chuyển từ phòng khám này tới khu xét nghiệm kia, từ tòa nhà này sang tòa nhà khác trong khu trung tâm y tế rộng lớn, nổi tiếng khắp thế giới. Hầu như suốt cuộc hành trình chữa căn bệnh nan y, quái ác, chỉ nghe tên cũng thấy “không vui”, con gái tôi lúc nào cũng có mặt, và thường trở về nhà riêng lo cho chồng con vào quá nửa khuya … Xe dừng lại trước đèn đỏ rồi rẽ vào khu “Rừng Thông”, có khoảng hơn ba trăm căn nhà xây dựng từ lâu, ẩn mình dưới những cây thông già cao vút. Nhà tôi trong khu đó, cũng có những cây thông già bao bọc, che chắn … Chiếc xe từ từ vào ga-ra. Vợ tôi, người bạn đời, người tôi thương quý từ hơn sáu mươi năm qua, nay gần tám chục tuổi, gầy ốm đi nhiều,  không chịu nhuộm tóc,  đứng chờ đón tôi ngay trước lối vào …

Vừa qua khỏi cửa, vào trong nhà, tôi ngạc nhiên hết sức. Tất cả bàn ghế, kệ tủ, vật dụng, sô-pha, máy móc điện tử, sách báo, tranh ảnh treo tường v.v đều xếp gọn về một bên. Những thùng giấy, túi nhựa loại lớn, chồng lên nhau … giống như một nhà kho tạm bợ, sắp xếp vội vàng, không thứ tự ngăn nắp cho lắm. Như nhìn thấu được suy nghĩ của tôi trước việc dọn dẹp trong nhà, vợ tôi nói nhỏ: “Các con tạm thu gọn lại mọi thứ để ông an toàn khi di chuyển.” Đúng thế, từ giường tôi nằm ra hành lang, ra cửa trước, cửa sau, không có một đồ vật gì trên lối đi. Căn nhà này, chúng tôi mua đã trên một phần tư thế kỷ, rất nhỏ, xây dựng cách đây hơn năm mươi năm, gồm ba phòng ngủ nhỏ, phòng sinh hoạt nhỏ, phòng ăn nhỏ.., chỉ có sân vườn khá rộng. Nhưng nơi đây đã thực sự là tổ ấm của vợ chồng tôi và năm đứa con. Những ngày các con còn ở chung, chưa học xong, chưa lập gia đình, như những chú chim non còn nương náu trong tổ ấm của mẹ. Thế rồi, thời gian qua mau, vào những ngày đẹp trời, các chú chim non đủ lông, đủ cánh, lần lượt rời xa, bay vào vùng trời bao la, xây đắp cho mình một cuộc sống đáng sống trên vùng đất của “cơ hội”, hay còn có thể gọi là quê hương thứ hai … Nhưng khi rời nhà Bố Mẹ ra ở riêng, các con tôi, không biết vô tình hay cố ý đã “quên” không mang theo những vật dụng cá nhân, quần áo, giầy dép, va li, túi xách v.v  đặc biệt không mang theo những chiếc máy điện toán cũ kỹ, thô kệch, những cuốn sách giáo khoa bìa cứng và dầy, những tập giấy làm bài, có ghi tên họ; nhiều và nặng lắm, tích lũy từ những năm học trước khi tốt nghiêp… Bảo rằng đây là một “nhà kho” cũng không sai. Lại có hai ông bà thủ kho, tuổi già sức yếu, không đủ sức xếp dọn cho ngăn nắp; không biết vứt bỏ thứ nào, giữ lại những gì, nên căn nhà trở thành chật chội, lộn xộn, ngổn ngang. Đôi lúc cảm thấy hơi “lúng túng, ngượng ngùng” mỗi khi có khách đến thăm …

Đã gần một năm ra vào bệnh viện, nay được thực sự nằm trong căn phòng ở nhà mình, tôi đã phần nào tìm lại cảm giác yên bình, thư giãn; lòng nhủ thầm mình thực có phước và may mắn quá, được xuất viện về nhà, đặc biệt hơn nữa đã về nhà trước cuối tháng “Tư”; không như bốn mươi bẩy năm trước, trong lúc Saigon tháng Tư hoang mang, trông chờ, sôi sục, hỗn loạn, tôi lại chậm chân, không kịp về nên tới ngày nay còn ân hận… Niềm đau “Tháng Tư không kịp về” theo tôi mãi, có lẽ theo tôi suốt đời, sang tận bên kia thế giới!

Thấm thoắt về nhà đã hai tuần lễ. Bây giờ, khi di chuyển, tôi dùng cây gậy (cane) không cần ngồi xe đẩy, xe lăn và vẫn phải đeo kính đen chống nắng, loại kính đặc biệt do bệnh viện cung cấp. Chắc phải vài tháng nữa tôi mới dám lái xe. Những lời dặn dò và khuyến cáo của bác sĩ trước khi xuất viện, vẫn còn trong trí nhớ. Ví dụ như nên sinh hoạt bình thường, không nên nằm nhiều trong phòng; an toàn tối đa trong di chuyển, không để bị té ngã; khi tiếp xúc với bên ngoài phải cẩn thận vì hệ miễn dịch còn rất yếu; dinh dưỡng đầy đủ để tăng hồng huyết cầu v.v, tôi hầu như thực hành nghiêm chỉnh! Ngoài ra một lời khuyên tôi thấy có ý nghĩa và hữu dụng nhất, là sống vui và đừng nghĩ mình đã bị bệnh!!

Trong thời gian điều trị, tôi đã không thể trả lời điện thoại của người thân và bè bạn xa gần. Liên lạc với sinh hoạt bên ngoài hoàn toàn gián đoạn. Hơn nữa, tôi không muốn mọi người “suy nghĩ” về bệnh tình của tôi, một căn bệnh mà hiện nay các nhà khoa học đang nghiên cứu, tìm thêm phương thuốc trị liệu khác, ngoài xạ trị và hóa trị …

Đôi khi suy nghĩ lẩn thẩn rằng cả chục năm tôi chưa hề bị bệnh tật gì, ngoài việc cứ sáu tháng đi “kiểm tra” đôi mắt hoặc đến văn phòng bác sĩ gia đình khám theo định kỳ; cân đo đong đếm, thử máu, thử nước tiểu, đo nhịp tim và đã gửi đi chụp hình phổi, soi ruột v.v Tất cả tốt, không có dấu hiệu gì cần lưu ý. Với tuổi đời khá cao, tình trạng sức khỏe tổng quát tạm ổn, tưởng rằng sẽ an vui trong tuổi già …Nào ngờ…tôi mắc một căn bệnh, nó không phải chợt đến chợt đi, mà từ xa xưa, dân gian thường xếp vào loại “Trời kêu ai người nấy dạ” và sự thật, tôi đã trải qua một cuộc “hành trình” dài ngày, nhiều cam go, gian khổ để chữa căn bệnh nan y, hiểm nghèo, quái ác này…

II – Hành trình chữa bệnh

 Nhớ lại buổi chiều đầu hè hôm ấy, trời vẫn còn nắng nóng, trên đường lái xe về nhà, tôi cảm thấy đôi mắt có vẻ mệt mỏi, tầm nhìn như bị hạn chế, cứ phải chớp mắt liên tục. Những ngày tiếp theo, tôi vẫn lái xe nhưng thỉnh thoảng có nhiều gợn mây rất mỏng, tựa như những con muỗi, con ruồi nhỏ, bay lượn qua lại trước mắt. Sau đó, tôi liên lạc văn phòng bác sĩ đã từng mổ cườm mắt cho tôi cách đây hơn mười năm và cứ sáu tháng trở lại tái khám; tôi đã gọi xin một cuộc hẹn, nhưng thực không vui và một chút lo lắng, khi văn phòng cho biết ngày hẹn của tôi là một tháng sau. Thấy mình vẫn còn lái xe được nên hoàn toàn không nghĩ tới việc đến một bác sĩ mắt khác… Nhưng chỉ vài ngày sau, lúc điều khiển xe, theo thói quen, trước khi đổi làn đường, tôi phải nhìn sang trái hoặc phải. Nay lạ quá! Nghiêng đầu sang bên nào, tôi cũng không thấy được gì và phải cố gắng, khó khăn nhìn kính chiếu hậu. Tôi không lái xe lúc tối trời hoặc ban đêm nữa và gọi ngay đến văn phòng bác sĩ, trình bầy là mắt của tôi có “vấn đề lớn”, xin được khám sớm hơn. Vậy mà phải hai tuần sau mới có cuộc hẹn …

Kể từ đây, gia đình không muốn tôi lái xe. Và ngày hẹn đã đến, con gái tôi xin công ty cho nghỉ để đưa tôi đến phòng khám. Sau khi qua những thủ tục cần thiết, tôi theo một nhân viên vào phòng chụp hình mắt. Như mọi khi, người ta nhỏ hai, ba loại thuốc nước vào mắt trước khi chụp. Hôm nay không hiểu sao, việc chụp hình không xuông xẻ, thuận lợi, khác với những lần trước. Nhân viên đi ra đi vào, thay nhau chụp đi chụp lại. Họ nhìn nhau, trao đổi những câu nói rất nhỏ. Vài phút sau, tôi được đưa đến một phòng khác để chờ bác sĩ tới khám.

Cánh cửa phòng vừa mở, bác sĩ Ec. nhanh nhẹn bước vào, theo sau là một nữ nhân viên với máy điện toán nhỏ – Ipad – trên tay. Ông bác sĩ yêu cầu tôi để cằm và tựa trán vào chiếc máy khám mắt quen thuộc, Ông ngồi đối diện, quan sát mắt tôi qua một hệ thống quang điện học tối tân và ra hiệu tôi nhìn lên, nhìn xuống, rồi nhìn phải, nhìn trái; hết mắt này tới mắt kia. Thỉnh thoảng ông nhìn vào màn ảnh lớn máy vi tính, đặt trên bàn, ngay bên cạnh. Chừng vài phút sau, đẩy máy khám qua một bên, ông đứng dậy, hỏi tôi:

– “Sao Bác không đến khám sớm hơn?”

Một thoáng ngạc nhiên và linh tính cho tôi biết có điều gì không bình thường, vội trả lời:

– “Tôi gọi cách đây một tháng, nhưng văn phòng của bác sĩ không cho tôi cuộc hẹn sớm, như tôi đã yêu cầu!”

– “Cháu sẽ gửi Bác đến một Bác sĩ chuyên khoa võng mạc. Ngày mai Bác đến gặp bác sĩ La. Văn phòng đây sẽ lấy hẹn cho Bác…”

            Ngồi trong phòng chờ đợi lấy giấy hẹn, lòng tôi hoang mang, mơ hồ… Qua khung cửa sổ, những hàng cây xanh ngoài bãi đậu xe chìm trong màn sương trắng mỏng, tạo nên một bức tranh mùa thu man mác, dù rằng trời đang vào hạ, chưa sang thu. Nghe tôi khen cảnh đẹp ngoài trời, một chút lo lắng, con gái hỏi:

– “Bên ngoài đang mưa nhẹ mà Ba! Ba không nhìn thấy trời mưa sao?”

Ngay lúc ấy, người ta gọi tên tôi, đến lấy giấy hẹn…

Sáng hôm sau, trên đường chở đến bác sĩ La, con gái cho biết đã liên lạc với cô em út tôi ở miền nam bang Ca-li. Cô là một bác sĩ, có nhiều kinh nghiệm trị bệnh cho người già và thực may mắn, phước đức, hai cô cháu đã lo cho tôi suốt cuộc hành trình chữa mắt này! Phòng khám của bác sĩ La nằm trong khuôn viên một bệnh viện lớn, cách trung tâm thành phố khoảng hai chục dặm, lại có những phòng xét nghiệm máu, phòng quang tuyến v.v ở cùng một tòa nhà, rất thuận tiện. Tôi có mặt trước giờ hẹn khoảng một tiếng đồng hồ. Hôm nay bác sĩ La cũng khám mắt giống như bác sĩ Ec làm hôm qua nhưng đặc biệt có thêm siêu âm. Ông yêu cầu tôi nhắm mắt, rồi thoa một chất lỏng xung quanh hai mắt, xong ông dùng hệ thống rà soát, đưa vòng theo hốc mắt, mí mắt nhiều lần. Ông chăm chú quan sát trên màn ảnh của máy điện toán, rồi chậm rãi và tự tin cho biết:

– “Phía sau hai bên mắt của Bác, giáp với võng mạc, bị sưng! Cháu tiêm thuốc và sẽ viết toa mua thuốc nhỏ mắt”.

 Bác sĩ La cũng trao đổi với cô em tôi qua điện thoại, về bệnh tình mắt của tôi. Sau đó, ông dùng loại dụng cụ đặc biệt, kẹp vào hai mí, để mở lớn tối đa tròng mắt. Ông đã bôi thuốc tê trước khi chích vào phần cơ vòng xung quanh mắt, mỗi bên hai mũi; tôi thấy hơi bị xót, mặt nhăn nhó, nhưng không đau. Con gái tôi có mặt trong phòng, không dám trực tiếp nhìn những động tác của bác sĩ. Tiêm xong, gỡ dụng cụ kẹp mí mắt, trước khi rời phòng ông yêu cầu:

– “Lát nữa Bác chụp hình phổi và thử máu ở lầu một, tuần sau cháu gặp lại Bác.”

Tôi đã làm theo lời dặn và một tuần sau trở lại. Bác sĩ nói mới nhận được kết quả thử máu. Kiểm tra mắt của tôi xong, ông bảo hãy tiếp tục nhỏ thuốc và hẹn hai tuần sau tái khám. Đúng hẹn, tôi trở lại, bác sĩ La khám xong, ông cho biết diễn tiến tốt nhưng vẫn chưa có kết quả chụp hình phổi (?), thuốc tiêm trước đây vẫn còn trong mắt, về tiếp tục nhỏ thuốc nước, bốn tuần sau trở lại. Con gái tôi phân vân, không hiểu sao chụp hình phổi đã lâu, chưa có kết quả và muốn biết tại sao mắt đau lại liên hệ đến phổi? Bác sĩ La giải thích lao phổi có thể ảnh hưởng đến mắt và ông hứa yêu cầu văn phòng liên lạc lấy kết quả chụp phổi! Ngay hôm sau, bác sĩ La đích thân gọi điện thoại cho biết, kết quả chụp hình phổi không có gì ảnh hưởng đến mắt của tôi. Trong khi ấy, mỗi ngày tôi đã có thể nhìn cảnh vật rõ hơn. Vui hơn nữa là khoảng tuần lễ sau, lái được xe!  Được biết bác sĩ La đã chích loại thuốc chống sưng, lại cho toa mua thuốc nước nhỏ mắt, kể cả nước mắt nhân tạo. Lòng mừng thầm, tôi nghĩ biết đâu chừng đã gặp đúng thầy đúng thuốc và hy vọng mọi chuyện sẽ êm xuôi.

Trong khi chờ ngày tái khám, tôi có chút thời giờ lái xe đó đây gặp gỡ người thân, họp mặt bạn bè, lui tới cà phê, hoặc đưa vợ đi chợ hay ghé thăm các con các cháu. Và thực bất ngờ, dịp này có anh bạn tù Phạm-Đức-Vượng, từ San Jose, bang Cali bay sang; Vượng là người đã chứng kiến ngày đầu tiên tôi vào tù và chứng kiến ngày tôi được phóng thích, mà tôi gọi là ngày sinh ra đời lần thứ hai…Tôi vẫn nhớ, mùa hè bốn mươi sáu năm trước, 1976, cả trăm ngàn tù nhân phải khổ sai biệt xứ, đưa từ miền Nam ra vùng thượng du Bắc-Việt. Vượng và tôi nằm trong số gần năm trăm tù nhân, cựu sĩ quan miền Nam chuyển tới trại 5, dưới chân núi Hoàng-Liên-Sơn trưa ngày 2 tháng 7. Gọi là “trại” nhưng thực ra chỉ gồm ít túp lều thấp lè tè, bốn phía không vách che chắn, dựng tạm trên một bãi đất trống… Hôm sau, ngày lao động đầu tiên, lên rừng đốn cây về dựng trại; một nguời tù vác cây gỗ dài, vô ý quay ngang, cây quẹt vào mắt tôi, mí mắt rách, chảy máu và sưng húp. Vượng đã ân cần săn sóc cho tôi chu đáo. Chưa hết, ít năm sau, khi chuyển về trại giam Vĩnh-Quang, dưới chân núi Tam-Đảo; vì thiếu ăn, sức yếu, lại lao động cực khổ, tôi bị cây đè lên bàn chân. Vết thương không nặng nhưng kết quả, một nửa bàn chân của tôi đã bị cắt “oan uổng” và để lại dưới chân núi Tam-Đảo thuộc tỉnh Vĩnh-Phú xa xôi ấy.. Một điều khá đặc biệt là trong hoàn cảnh tù đầy, khó khăn lúc đó, không biết cách nào mà Vượng kiếm được cho tôi ít viên thuốc kháng sinh “tê tơ-ra” và làm cho tôi một cây nạng gỗ rất đặc biệt; chúng tôi đặt tên “chiếc nạng ân tình”, “nó” theo tôi sang đất Mỹ, đến bây giờ vẫn giữ làm kỷ niệm …Thực tiếc quá, Vượng sang Houston lần này, không có thuốc men, không có băng gạc để băng bó bảo vệ mắt tôi; anh sang đây với danh xưng “diễn giả” trong một buổi hội thảo. Tôi không kể anh nghe chi tiết việc đi chữa mắt trong gần hai tháng vừa qua, chỉ vui đùa: Mắt của tôi dạo này không được tốt, có vấn đề, hình như “hỏa nó bốc”! …

Tính ra, bác sĩ La đã trị liệu cho tôi được gần hai tháng. Mỗi lần tái khám, bác sĩ La đều trao đổi với cô em tôi qua điện thoại. Hôm nay đến hẹn tái khám lần thứ tư. Tôi vui vẻ trình bầy là mắt của tôi có phần khá hơn. Tuy rằng vẫn còn lờ mờ bay lượn mấy đốm đen như con ruồi con muỗi, tôi nhìn mọi vật đã rõ hơn; ban ngày tôi có thể lái xe được, dĩ nhiên không đi trên xa lộ cao tốc. Ánh mắt bác sĩ La như hiểu được và chia sẻ niềm vui của tôi; ông ngồi vào trước máy khám mắt như thường lệ. Nhưng lần này ông khám khá lâu, cứ rọi những ánh đèn cực sáng vào mắt và yêu cầu tôi đưa mắt sang trái, sang phải, lên xuống nhiều lần. Rồi với vẻ nghiêm trọng trên nét mặt, ông cho biết:

– “Cháu thấy tệ hơn, không phải khá hơn!”

Tôi hơi ngạc nhiên và bối rối, bác sĩ La nói tiếp:

– “Có những cục u nhỏ đang phát triển phía sau mắt phải! Trước khi lấy mẫu gửi xét nghiệm (biopsy), cháu muốn có một ý kiến thứ hai.” Ông tiếp:

– “Văn phòng sẽ lấy hẹn, ngày mai Bác đến gặp bác sĩ Sta. Việc lấy mẫu gửi đi xét nghiệm, cháu có thể làm ở bệnh viện.”

Một chút hoang mang, lo âu và tôi cảm thấy việc chữa trị có lẽ chuyển sang hướng mới, nhiều phức tạp, không đơn giản! Cô em tôi cũng đã được thông báo việc này. Nghĩ tới đoạn đường sắp tới của cuộc hành trình chữa bệnh mắt, lòng tôi buồn vui lẫn lộn và càng bối rối hơn khi bác sĩ La cho biết “Gửi mẫu xét nghiệm cũng chưa chắc tìm ra nguyên nhân”…

Bác sĩ Sta cũng là bác sĩ chuyên về võng mạc. Hầu hết những động tác, khám nghiệm, hướng dẫn, yêu cầu đều giống bác sĩ La đã làm. Cũng là việc đo thị lực, đo áp xuất, nhỏ thuốc giãn nở đồng tử, rồi chụp hình ở nhiều phía của tròng mắt và làm siêu âm. Sau cùng, bác sĩ Sta có chung nhận định với bác sĩ La, lấy mẫu khối u và chất dịch trong mắt, gửi viện ung thư để xét nghiệm.

Biết rằng đây là những dấu hiệu, triệu chứng căn bệnh nguy hiểm đến đôi mắt, cô em tôi đề nghị nếu muốn khám, chữa trị mắt ở một bác sĩ khác và tiện việc em tôi theo dõi, hỗ trợ, tôi nên sang bang Cali. Tôi đang phân vân, chưa biết quyết định thế nào; đúng  lúc ấy, người em trai của con rể tôi là một bác sĩ giải phẫu đã giới thiệu một nhóm bác sĩ nổi tiếng tại Houston, chuyên trị bệnh về mắt từ A tới Z, mà trưởng nhóm điều hành là nữ bác sĩ tên A.Sh. Đặc biệt đây là một trong số rất ít vị bác sĩ chuyên trị ung thư mắt. Lòng tôi lo lắng hoang mang và tự hỏi không lẽ bệnh tình mắt tôi nghiêm trọng vậy sao? Chỉ là nhiễm trùng và sưng tấy đã biến thành “ung thư” sao? Tôi đã thực sự cảm nhận được cuộc hành trình chữa trị sắp rẽ sang một cung đường khác…

Hồ sơ hành chánh cho việc trị liệu còn có công việc phụ như xác định việc chi trả của bảo hiểm. Thông thường, bác sĩ gia đình “đề nghị” bệnh nhân nên ghi tên vào chương trình bảo hiểm y tế mà văn phòng bác sĩ cộng tác. Nhưng trường hợp của tôi, Trung Tâm Ung Thư – cũng như văn phòng bác sĩ Sta – không nhận bảo hiểm hiện có! Do vậy tôi phải trở lại bác sĩ gia đình, “năn nỉ” cho tôi ra khỏi chương trình bảo hiểm hiện tại. Đây cũng là một kinh nghiệm, một điều nên lưu ý, khi ghi tên gia nhập một công ty bảo hiểm sức khỏe.. Ngoài ra tôi còn làm một giấy ủy quyền cho cô em, được quyết định những vấn đề chăm sóc y tế của tôi, khi cần thiết. Thực may mắn, moi việc cũng qua, không trở ngại gì…

Thế là kể từ nay, việc chữa mắt của tôi, coi như khởi đầu từ văn phòng bác sĩ A.Sh. Tôi lại phải trải qua những kiểm nghiệm từ đầu. Từ kiểm tra tim mạch đến thử máu v .v Ngoài ra bác sĩ cho biết vì mắt rất gần não bộ nên gửi đi chụp hình cắt lớp (MRI) não bộ và chụp rà soát toàn thân, trước khi lấy mẫu khối u và chất dịch trong mắt gửi đến Trung tâm xét nghiệm ung thư. Và cũng kể từ thời điểm này, cô em út, ngoài việc liên lạc với bác sĩ qua điện thoại, hàng tuần còn bay về Houston để trực tiếp trao đổi với nhóm bác sĩ chuyên khoa trong suốt hành trình chữa trị.

Nhớ lại lúc chụp MRI não, hoặc rà soát toàn thân; tôi cứ tưởng giống như lúc đến phòng quang tuyến X để chụp hình phổi, chỉ đứng áp sát ngực hoặc tựa lưng vào một tấm bảng rồi hít vào và nín thở. Thời gian khoảng vài chục giây là chụp xong. Hôm nay, người ta yêu cầu tôi nằm trên một cái bàn, nhắm mắt lại. Một chiếc mền trắng phủ từ chân lên đến cổ; Người ta dùng miếng nhựa che kín cả hai mắt và để vật cản âm thanh áp sát hai bên tai. Tôi chưa chụp MRI lần nào, cũng chưa nhìn thấy hình dáng máy chụp ấy ra sao. Tuy vậy, khi máy làm việc, những tiếng kêu cành cạch kình kịch liên tục âm vang trong đầu; tôi tưởng như mình nằm trên một toa xe lửa chạy bằng than đá ở thế kỷ trước. Có khi những tiếng động ròn rã, vang vang trong đầu, như những tràng đạn từ họng súng liên thanh ngoài trận địa, hoặc giống những tiếng búa đập chát chúa trên đe của bác thợ rèn, tựa như một cảnh tra tấn trong phim ảnh. Tôi không biết phải mất bao nhiêu phút mới chụp xong. Nhưng với tôi, một phút trong lúc này cũng là lâu lắm rồi… Sau đó, tôi lại được gửi đi thử máu, đo nhịp tim, chuẩn bị giải phẫu mắt để lấy mẫu. Tinh thần tôi lúc này có phần thụ động, làm theo mọi hướng dẫn, yêu cầu và nghĩ rằng may mắn đã có cô em út và con gái lo liệu mọi việc…Tôi đã đặt tất cả niềm tin vào cô em bác sĩ có nhiều năm kinh nghiệm chữa trị toàn khoa, đặc biệt về người cao niên…

III – Lấy mẫu xét nghiệm

Rồi việc gì đến, đã đến. Hôm nay là ngày giải phẫu mắt, lấy mẫu. Dù đã được giải thích, rằng không nên lo lắng quá, đây là công việc bình thường thôi, không đau đớn gì cả; nhưng sao tôi vẫn không yên lòng. Ngồi trên ghế của bệnh nhân chờ bác sĩ đến khám, lòng nghĩ thầm không may mà mắt của tôi …Tôi chỉ nghĩ không may thôi, vì có gì để bảo đảm an toàn trăm phần trăm đâu. Từ lâu rồi, vẫn thoáng bên tai, có người ví von “đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”. Tôi không biết nó là cửa sổ hay cửa ra vào, chỉ đơn giản nghĩ rằng mắt là một giác quan rất nhạy cảm, hệ trọng và rất tuyệt vời! Chỉ một hạt bụi nhỏ, chỉ một sợi lông mi rơi rụng vào mắt hoặc một tia nắng gắt, một làn gió trái chiều cũng làm mắt khó chịu, không bình thường …Nếu chẳng may, bây giờ mắt nhìn thấy tất cả phía trước toàn là mầu đen, chỉ một màu đen thôi, thế là bao nhiêu cảnh đẹp của tạo vật như biển trời bao la, núi rừng hùng vĩ, ruộng đồng bát ngát, bình minh hoàng hôn, con người muông thú, thời gian không gian v.v  đã bị cuốn hút vào “hố sâu” đen tối, thăm thẳm đó sao? Thực không còn gì buồn hơn!..

Có tiếng gõ cửa; Bác sĩ A.Sh.vào phòng, theo sau là hai nữ nhân viên. Con gái và cô em tôi cũng có mặt, họ trao đổi với nhau rồi cho biết hôm nay gây mê để giải phẫu lấy mẫu mắt phải, còn mắt trái nhẹ hơn, để tuần tới. Tôi được đưa sang phòng giải phẫu ở kế bên. Người nhà bệnh nhân không được vào theo…Chiếc ghế tôi ngồi được ngả ra sau, mặt hướng lên trần nhà. Tôi chỉ còn nhìn được bên phải là bác sĩ đeo khẩu trang, đội mũ vải trắng, ôm sát da đầu để che tóc; bên trái có túi nhựa nhỏ đựng một dung dịch, treo trên cây giá bằng kim loại…Rồi tôi thiếp đi, chìm vào giấc ngủ. Khi tỉnh lại mắt phải của tôi không nhìn thấy gì và được che kín lại. Phản xạ tự nhiên, tôi đưa tay lên mắt, chạm phải một miếng nhựa lớn, đặt ngoài lớp băng gạc dầy, áp sát che kín hốc mắt; phía ngoài cùng, có băng keo dính vào da mặt nên không sút ra được. Đúng là không đau đớn và cũng bình thường như đã được nhắc nhở .. Trước khi ra khỏi phòng, bác sĩ A.Sh yêu cầu ngày mai trở lại để kiểm tra. Bà đặc biệt lưu ý: tuyệt đối không nằm ngửa, chỉ nằm nghiêng, mắt giải phẫu hướng lên trên. Dĩ nhiên vì bảo vệ tối đa cho mắt nên khi ngủ trên giường, tôi có đủ cả gối chặn phía sau lưng, gối ôm trước bụng để lúc nào cũng giữ thế nằm nghiêng. Đôi lúc tôi cười thầm tự chế nhạo, 83 tuổi mà nằm ngủ giống một em bé. Tư thế này khiến tôi nhớ lại lúc các con tôi còn nhỏ, nằm ngủ là phải có một gối ôm phía trước, mốt gối chặn sau lưng và một chiếc khăn lông dầy đắp ngang người…

 Đúng hẹn, hôm sau tôi đến tái khám; sau khi lấy miếng nhựa và băng che mắt bên phải của tôi ra, bác sĩ A,Sh mở đèn cực sáng đã gắn sẵn trên trán, rọi vào mắt tôi, quan sát rất kỹ. Sau khi tắt đèn, bà lấy một miếng nhựa che mắt trái tôi và đưa bàn tay lên rồi hỏi “mấy ngón tay”? Trước mắt tôi, may mắn làm sao, không phải là hố đen sâu thẳm, không phải là năm ngón tay trên một bàn tay, rõ ràng là có hai ngón, đúng là hai ngón tay.Tôi đã nhìn được rồi!  Vui mừng quá, thực nhanh, tôi la lớn: “HAI”. Có những tiếng cười vui thích thú quanh đây. Tôi còn ngơ ngác, bác sĩ bảo “Tốt”. Hóa ra mọi người cười vui vì bác sĩ đưa lên một ngón tay, nhưng tôi lại tự tin và “hùng dũng” trả lời…sai! Bà bác sĩ cho biết đây là trạng thái bình thường, 24 giờ sau khi giải phẫu. Bà nói thêm mắt tiến triển tốt đồng thời nhắc nhở giữ tư thế ngủ nghiêng, mắt đau hướng lên trên và hẹn ba ngày sau trở lại. Bà còn nhắc nhở ghé văn phòng lấy giấy hẹn và toa mua thuốc nhỏ mắt … Hôm nay, văn phòng còn đặc biệt tặng tôi một kính đeo mắt, to và thô; gọng và mắt kính bằng nhựa màu đen xậm, giống kính của thám tử, điệp viên hoặc nhân viên mật vụ. Thế là từ giờ, mắt phải của tôi đã bị che kín, tôi chỉ nhìn cảnh vật bằng con mắt trái; di chuyển phải cần cây gậy giúp sức và có lẽ còn lâu lắm mới lái xe. Tôi nhớ đến những lúc lái xe xuống phố, lái xe ra chợ, lái xe đến thăm các con các cháu…

 Rồi ngày hẹn đã tới, tôi đến văn phòng bác sĩ, lòng hoang mang khó tả. Nhiều khi tôi nghĩ mình đã ở thế bị động, không khác một toa tàu của chuyến xe lửa, chuyển động hay dừng nghỉ là do đầu máy kéo điều khiển. Sau khi kiểm tra mắt phải của tôi, lần này bà bác sĩ không đưa ngón tay lên để hỏi mấy ngón; bà hỏi tôi nhìn thấy gì không? Tôi tả lại rất trung thực: “Trước mắt tôi là màn trắng đục, che kín mắt; đặc biệt có một giải băng màu đen vắt ngang, chạy từ đầu tới đuôi mắt, giống như một xa lộ băng ngang cánh đồng tuyết vào giữa mùa đông.” Bà bác sĩ cho biết mọi việc tốt, tiếp tục nhỏ thuốc, tuần sau có thể lấy mẫu mắt trái và không quên nhắc nhở giữ đúng tư thế nằm nghiêng. Trên đường về tôi suy nghĩ miên man, không biết hành trình chữa trị còn bao nhiêu thác ghềnh và kéo dài tới đâu?….

Một tuần sau, trong tâm trạng lo lắng ưu tư và cơ thể phần nào mỏi mệt, tôi trở lại tái khám và giải phẫu lấy mẫu bên mắt trái. Không mệt mỏi sao được khi suốt một tuần lễ chỉ nằm nghiêng, không được trở mình hoặc thay đổi thế nằm. Cơ thể của một người cao tuổi như tôi đã có những biến đổi tâm sinh lý khác thường, từ giấc ngủ không sâu, chỉ chợp mắt khoảng vài chục phút đã thức giấc, đến tư thế nằm nghiêng khi ngủ, không trở mình, không nằm ngửa. Khớp xương tay chân đau nhức, hơi thở dồn dập v.v Nhưng tôi vẫn chịu đựng và nghĩ rằng đây chỉ là bước chuẩn bị, thu thập các dữ liệu cần thiết. Chuẩn bị tốt mới hy vọng đạt thành quả tốt …Thế rồi hôm nay, sau khi tháo miếng nhựa và băng che mắt phải của tôi, bác sĩ hỏi có nhìn thấy gì không? Oh My God! Trời ơi! Cái giải băng màu đen chạy từ đầu tới đuôi con mắt, giống một xa lộ, nay biến thành dòng sông lớn tựa một tấm kính, một chút mờ mờ đục, nhưng qua tấm kính ấy, tôi có thể nhìn thấy khá rõ những gì phía trước và đã trả lời chính xác khi bà bác sĩ đưa 1 hay 2 ngón tay lên…Bác sĩ cho biết: “Mọi việc rất tốt” rồi bà nói với y tá đưa tôi qua phòng giải phẫu. Một chút vui vui trong lòng! Vì mắt trái không nặng bằng mắt phải, nên hôm nay không gây mê, chỉ chích thuốc tê. Khi ghế tôi ngồi ngả ra phía sau, tôi chỉ nhìn được hình ảnh cũ: chiếc khẩu trang và cái mũ vải nhỏ trùm trên đầu bà bác sĩ…Sau khoảng thời gian không lâu, việc giải phẫu lấy mẫu ở mắt trái hoàn tất, rồi băng kín lại. Tôi không cảm thấy đau đớn, chỉ thấy hơi bị ê và không nhìn thấy gì vì đã bị che kín giống lần giải phẫu mắt phải. Trước khi ra khỏi phòng, bác sĩ lại nhắc nhở là nằm nghiêng và ngày mai trở lại tái khám. Cô em út và con gái tôi chờ đón bên ngoài, rất vui vì biết tôi sắp sửa vượt qua được giai đoạn “chuẩn bị” của cuộc hành trình chữa trị …Tuy là vui trong lòng nhưng tôi vẫn không biết bác sĩ đã làm gì trong lúc gọi là “giải phẫu mắt” để lấy mẫu? Con gái tôi cho biết: Hôm trước bác sĩ đã nói sơ qua và cho xem tiến trình trên màn hình của máy điện toán. Người ta dùng loại kim đặc biệt, xuyên thẳng vào khối u phía sau mắt, cắt một chút làm mẫu và một kim khác lấy chất dịch trong lòng mắt gửi đi làm biopsy. Hình như tiếng Việt gọi biopsy là “sinh thiết”? Tôi chưa nghe từ ngữ này bao giờ!..

Một ngày qua mau, sáng nay tôi đến để bác sĩ kiểm tra cả hai mắt. Cứ mỗi lần nghe bác sĩ nói “tốt” là niềm hy vọng trong tôi lại dâng cao. Hôm nay, sau khi khám xong, bà bác sĩ không hỏi gì, không đưa ngón tay trước mắt tôi, bà nói “tốt” và thêm “rất tốt”. Bà còn trao đổi với cô em và con gái, tôi chỉ loáng thoáng nghe được “mọi việc diễn tiến rất thuận lợi”, ba ngày sau trở lại. Thế là việc lấy mẫu gửi xét nghiệm đã xong … Đúng hẹn, ba ngày sau, tôi trở lại. Lần này, bà bác sĩ tháo băng che mắt và khám lâu hơn, đặc biệt chụp hình toàn diện cả hai mắt, từ nhiều phía. Bà còn giải thích để tôi yên lòng là mắt bị ngứa hoặc thấy chẩy nước mắt, cứ yên tâm, nguyên nhân do những vết mổ chưa lành. Bà còn cho biết hồ sơ đã hoàn tất, sẽ chuyển đến văn phòng bác sĩ Pi tại Trung Tâm Ung Thư và đã lấy hẹn cho tôi, một tuần sau đến đó. Bà không quên nhắc nhở nhỏ thuốc đều đặn và khi ngủ  hãy nằm nghiêng …

Tôi có một tuần lễ nghỉ ngơi và có thời gian chuẩn bị cho đoạn đường mới của cuộc hành trình. Suốt ngày quanh quẩn trong nhà, đi ra đi vào; tôi thèm và nhớ không gian bên ngoài. Tôi nhớ con phố đông người và xe cộ. Tôi nhớ quán cà phê mà thứ bẩy nào cũng gặp gỡ thân tình với những người cùng trang lứa. Tôi nhớ những ngôi nhà, mái ấm của các em và các con cháu …Tiếc thay, bây giờ nơi xa nhất mà tôi tới được chỉ là sân vườn phía sau; lại nữa, dù trong nhà hay ngoài sân, cảnh vật  toàn là một màu xám xanh! Không phải ai đó đã nhuộm màu cho tạo vật mà chính vì cặp kính “thám tử, điệp viên” màu đen, thô kệch, bác sĩ tặng hôm nào và yêu cầu tôi phải mang thường trực để bảo vệ đôi mắt. Tuần lễ trước nằm ngủ nghiêng, mắt phải hướng lên trên; tuần này ngược lại. Dù cơ thể mệt mỏi nhưng tôi vẫn cố gắng vượt qua…

Thời gian trôi nhanh quá! Bây giờ trời đã chớm đông. Những ngọn gió mùa đông bắc mang theo khí lạnh tràn về. Hàng cây lớn hai bên đường vươn những cánh tay khẳng khiu gầy, lên bầu trời nhiều mây xám đục. Người dân thành phố giăng đèn, kết hoa đón mừng Giáng Sinh và Năm Mới. Riêng tôi thầm nghĩ rằng không biết các ông bà bác sĩ sẽ đưa tôi về đâu? Cuộc hành trình chắc còn nhiều bất ngờ, bất ngờ còn tạm được, xin đừng có bất trị!.. Hôm nay, đến hẹn, con gái đưa tôi đến văn phòng bác sĩ Pi nằm trong Trung tâm ung thư, ở tầng 14 của một bệnh viện lớn, nổi tiếng trên thế giới. Bác sĩ Pi vào phòng khám, đội ngũ theo sau hùng hậu; ngoài một bác sĩ y khoa đang thực tập, có thêm hai y tá mặc đồng phục xanh dương. Ông cho biết đã duyệt toàn bộ hồ sơ bệnh lý và đã có kết quả xét nghiệm mẫu lấy từ hai mắt là “dương tính” (+). Không nghi ngờ gì nữa! Tôi đã bị ung thư hai bên mắt! Lòng tôi trùng xuống, hoang mang và hoàn toàn thụ động. Qua điện thoại, bác sĩ Pi trao đổi với cô em tôi khá lâu. Được biết việc chữa trị ung thư hiện nay chưa có phương cách nào hữu hiệu hơn là xạ trị và hóa trị. Tùy theo tình trạng sức khỏe, có những bệnh nhân xạ trị và hóa trị song hành, có nghĩa là hóa trị và xạ trị xen kẽ nhau; riêng tôi là một bệnh nhân lớn tuổi, bác sĩ Pi đề nghị tôi làm xạ trị xong, nghỉ một vài tuần, nếu tình trạng sức khỏe cho phép, sẽ hóa trị. Ông cho biết thêm ung thư mắt của tôi rất hiếm gặp, bệnh này có dạng của loại ung thư hạch và đặc biệt hơn nữa, nó được chính thức chữa trị hiệu quả mới được 50 năm!..Tôi chỉ là một người bình thường, vốn liếng y học là con số không to lớn, tôi nghĩ đơn giản: bệnh nhân hãy theo lời khuyên của bác sĩ, hơn nữa phía sau tôi còn cô em và con gái. Nhưng bác sĩ Pi chưa chịu để tôi ra về nghỉ ngơi. Để tránh việc di chuyển nhiều, ông yêu cầu hôm nay lấy mẫu xương và tủy trước khi tiến hành xạ trị. Tôi theo ông bác sĩ thực tập và hai y tá sang một phòng khác, không cần thay quần áo của bệnh viện, nằm sấp trên một cái bàn dài; người ta chích thuốc tê vào mông bên phải. Tôi nghe có tiếng khoan vào xương hông, khô khan, ê ẩm, không cảm giác. Tôi không ngờ lấy mẫu xương và tủy lại ở vị trí này. Bỗng tôi thấy đau, nhói buốt và kêu lên hơi lớn, nhưng đó cũng là lúc mẫu đã lấy xong. Nó chỉ là một miếng xương rất nhỏ, bằng một hạt gạo, đựng trong ống nghiệm mà ông bác sĩ thực tập cầm trong tay …

IV – Xạ trị & quái vật “Tuốc-Bin”

Theo đề nghị của bác sĩ Pi và đã lấy được ngày hẹn, hai tuần sau, con gái đưa tôi đến trung tâm lo về xạ trị. Những gì tôi trải qua trước đây như thử máu, chụp MRI não bộ, chụp PET rà soát toàn thân, chụp mắt, giải phẫu lấy mẫu cục bướu trong mắt, lấy mẫu xương và tủy v.v mới chỉ là giai đoạn nghiên cứu, bước đầu chuẩn bị cho việc chữa trị. Lại một chút “méo mó nghề nghiệp”, hoặc là nói theo kiểu “quân sự hóa”, bác sĩ A.Sh hoàn tất việc ghi nhận, định vị những mục tiêu và cung cấp không ảnh, phóng đồ cho phụ bản của “lệnh hành quân”. Nó rất quan trọng vì đây là phần nghiên cứu “tình hình địch”, một ưu tiên hàng đầu … Và hôm nay mới chính thức mở cuộc “hành quân”, dùng phóng xạ oanh kích tiêu diệt địch, đồng thời triệt hạ căn cứ, địa đạo, giao thông hào, hầm trú ẩn của địch. Ngày N đã tới! Cuộc chiến khởi diễn! Sống tức là chiến đấu, hay nói khác đi: đời là một cuộc chiến mà! Ngoài việc chiến đấu chống địch quân, ta còn chiến đấu với bản thân, chống cái xấu, cái ác, sự ngu dốt, chiến đấu chống bệnh tật v.v và nhiều thứ khác nữa …

Tòa nhà lớn màu trắng với hàng chữ “Radiation Center” màu xám phía trên cao, hiện ra   trước mặt. Xe đậu nơi dành cho người khuyết tật, gần lối vào; tôi chống gậy theo con gái. Vì đang mùa dịch covid-19 nên phải qua những nơi kiểm tra nhiệt độ cơ thể và giữ khoảng cách cần thiết. Trong khi con gái lo thủ tục, tôi ngồi tại phòng chờ đợi. Dưới ánh sáng mờ mờ, không gian tĩnh lặng, nơi đây có khoảng hơn hai chục người, bao gồm bệnh nhân và người thân đi theo; có người phải ngồi xe đẩy hoặc xe lăn. Đặc biệt ai nấy đều gục mặt cúi đầu. Bệnh nhân cúi đầu vì cơn đau hành hạ, buồn lo bệnh tình; người thân đi theo cúi đầu, vì chăm chú nhìn vào chiếc máy điện thoại nhỏ trên tay, có thể họ tranh thủ làm việc hoặc giải trí trong khi chờ đợi. Tất cả giống như những pho tượng xám xịt, ngồi trên ghế đá, co ro trong gió rét. Toàn cảnh này làm tôi liên tưởng đến những vần thơ của thi sĩ Nguyên Sa ở thế kỷ trước:

“Không có anh nhỡ ngày mai em chết

Thượng- Đế hỏi anh sao tóc em buồn

Sao tay gầy sao đôi mắt héo hon

Anh sẽ phải cúi đầu đi về địa ngục” 

Tôi không biết làm thơ, không phải là nhà thơ; tôi hôm nay đến đây để bắt đầu cuộc hành quân đặc biệt đánh đuổi và tiêu diệt “địch quân”. Tôi là một chiến sĩ trên đường ra mặt trận, tôi phải ngẩng cao đầu tiến lên phía trước và trở về trong chiến thắng vinh quang. Tôi sẽ trở về mái ấm thân thương, bên người vợ hiền gầy ốm hao mòn vì ngóng trông, tóc ngả màu sương theo ngày tháng lo buồn, và tôi, nhất định không “cúi đầu đi về…”

Những thủ tục hành chánh cần thiết đã xong, một nhân viên từ phía trong ra gọi tên tôi và hướng dẫn đến phòng chờ bác sĩ khám. Ít phút sau, bác sĩ vào, tự giới thiệu ông là bác sĩ Te, chuyên khoa xạ trị cấp cao, theo sau là một bác sĩ đang thực tập và một nhân viên. Toàn bộ hồ sơ bệnh lý nằm trong máy điện toán, trước mặt bác sĩ Te. Cô em tôi, từ Cali trao đổi với bác sĩ Te qua điện thoại. Ông cho biết rất may phát hiện sớm nên chỉ làm xạ trị 20 lần, mỗi lần hơn mười phút. Xạ trị xong ra về bình thường. Việc xạ trị phải mất bốn tuần, mỗi tuần năm ngày, thứ hai đến thứ sáu, cuối tuần không làm. Nhưng trước hết ông yêu cầu làm mặt nạ ngay hôm nay và thứ hai tuần sau đến làm xạ trị lần đầu. Trước khi ra khỏi phòng, bác sĩ Te hỏi tôi có cần hỏi gì không? Dĩ nhiên câu trả lời là không vì có biết gì về xạ trị đâu mà đặt câu hỏi, tuy thế tôi không quên hai tiếng cám ơn ông.

 Hai nhân viên mặc đồng phục màu xanh dương đưa tôi đến một phòng, ngay cửa vào có những chỉ dấu “nơi nguy hiểm”; bên trong, sừng sững giữa phòng là một ống tuôc-bin lớn màu vàng nhạt, đường kính khoảng một mét, dài khoảng hai mét, miệng ống hướng ra phía cửa phòng. Thoáng nhìn, nó có dáng dấp của một động cơ phản lực gắn dưới cánh máy bay của các hãng hàng không. Nhìn vào trong lòng ống, một vòng kim loại màu xám có xẻ răng cưa. Ngay trước tuôc-bin là một chiếc bàn dài khoảng 2 mét rộng khoảng 70 phân, một đầu bàn  kê sát vào miệng ống tuôc-bin . Mặt bàn trải khăn trắng tinh, đặt trên khung có thể di động trên hai thanh sắt song song, giống đường xe lửa, như sẵn sàng hút vô, hoặc đẩy ra từ lòng ống.. Tôi được yêu cầu nằm trên bàn đó, không cần tháo giầy, chỉ cởi áo lạnh khoác ngoài. Tôi nghĩ hôm nay làm mặt nạ, chưa chính thức xạ trị nên không phải thay quần áo riêng của bệnh viện.

Theo trí tưởng tượng, tôi đoán người ta sẽ làm cho tôi một cái mặt nạ, bằng nhựa hay bằng một nguyên liệu đặc biệt nào đó, che kín hết, chỉ chừa hai con mắt, giống hiệp sĩ thời trung cổ, cưỡi ngựa cầm thương xông về phía trước, trong tiếng reo hò cổ vũ cuồng nhiệt. Nhưng không, sau khi yêu cầu tôi không được mở mắt, người ta dùng miếng vải dầy che mắt tôi rồi lấy một miếng nhựa mềm, đục sẵn nhiều lỗ như một tấm lưới dầy và hơi nặng, phủ trùm kín mặt tôi, che cả hai bên tai, che từ mái tóc xuống qua cằm. Cái bàn tôi nằm không di động; máy tuốc bin “hiền hòa” đứng im, không cuốn hút tôi vào trong bụng. Một vật lạ, không biết xuất phát từ đâu, như một cái khuôn, không hiểu bằng kim loại hay hợp chất gì, từ từ và nhẹ nhàng chụp trên mặt. Rồi có những tiếng lách cách hai bên tai như khóa chặt và giữ đầu của tôi ở nguyên vị trí, đồng thời một luồng hơi nóng chậm rãi phà ra qua miếng lưới bằng nhựa, lan tỏa trên da mặt. Độ nóng tăng dần, nóng đến mức tôi tưởng như mình đưa mặt lại gần một lò lửa hoặc lúc không đội mũ nón, đi dưới trời nắng gắt, mà thường gọi là nắng rát mặt. Cùng lúc ấy, một mùi thực khó ngửi tỏa ra, giống như có ai đốt một chất nhựa dẻo quanh đây, vừa hôi vừa hắc; một mùi mà tôi chưa từng ngửi thấy trong đời. Tôi đoán có lẽ do phản ứng hoá học khi làm khuôn nhựa và chợt nghĩ tới những cảnh tra tấn thời trung cổ hay dưới những chế độ độc tài phát xít…Cuối cùng mọi chuyện cũng qua! Mặt nạ làm xong, trung tâm cất giữ; tôi không kịp nán lại trong phòng để nhìn xem hình dạng nó thế nào và ra về với giấy hẹn thứ hai tuần sau, trở lại bắt đầu giai đoạn …“xạ trị”.

Trở lại đúng hẹn để làm xạ trị lần đầu, tôi theo nhân viên vào phòng hôm trước đã làm mặt nạ. Người ta yêu cầu tôi xác nhận hình ảnh, tên họ, ngày sanh trên một màn ảnh nhỏ ngay cửa vào. Tên họ và ngày sanh thì hoàn toàn đúng nhưng hình của tôi ở trên màn ảnh này, bằng cỡ hình trên thẻ thông-hành hay bằng lái xe, không biết ai chụp ở đâu, lúc nào, trông đúng là một cụ già bệnh hoạn mà thoạt nhìn tôi không nhận ra… Cái ống tuốc-bin màu vàng nhạt vẫn còn ở giữa phòng. Hôm nay nó không hiền hòa vô cảm như một động-cơ phản lực. Tôi có cảm tưởng nó là con quái vật hung dữ, sẵn sàng nuốt tôi vào bụng. Hình ảnh gục mặt, cúi đầu như những pho tượng đá, tôi đã gặp ngoài phòng đợi, bám theo tôi vào tận phòng xạ trị này. Tôi tự nhủ, phải chiến đấu, chiến đấu để sinh tồn, hoặc hãy kiên trì, vững tâm hơn, oai hùng hơn, và quyết chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, để không hổ danh là chiến sĩ. Làm gì có Diêm-Vương ở đây! Đó là máy phóng tia bức-xạ để chữa bệnh mà! Các khối u giáp võng mạc xung quanh hai mắt sẽ bị đốt cháy hết. Hãy nghĩ nó là những phi pháo nã đạn triệt hạ nơi trú ẩn và tiêu diệt địch quân…

Tôi được yêu cầu nằm trên bàn, đầu hướng vào phía trước tuốc- bin, gối trên một miếng nhựa; hai bàn tay áp trên bụng; hai chân duỗi thẳng. Sau khi đắp tấm chăn dầy từ cổ xuống chân, nhân viên để mặt nạ lên mặt và úp một khuôn khá nặng lên trên rồi có tiếng lách cách bên tai như khóa chặt lại. Toàn bộ phần đầu của tôi ghìm chặt xuống bàn, không nhúc nhích, hai hàm răng cắn chặt vào nhau, bất động.Tôi vẫn thở được nhưng không nhìn thấy khuôn chụp và mặt nạ. Cô em và con gái luôn đề nghị cũng như nhắc nhở tôi hãy sử dụng “vũ khí” tập trung hít thở và niệm chú, hình dung Đức Phật hiện về độ trì; tất cả hướng tới mục tiêu là không nghĩ đến và quên đi gần mười lăm phút xạ trị. Tôi đã ở thế bị động nên rất vô tư tuân theo những lời khuyên. Mấy ngày đầu, hít vào thở ra tương đối bình thường. Khi mặt nạ và khuôn chụp lên mặt, mọi người ra khỏi phòng, ống tuốc-bin hút tôi vào là tôi bắt đầu “thở”. Tôi hít vào từ phía chân trời, xa thật xa, một luồng khí tưởng tượng chạy chầm chậm tới trán, theo đường cong qua buồng phổi, xuống bụng, nén lại đó chừng mươi giây đồng hồ, rồi thở ra; luồng khí thở ra này đi ngược chiều đường cong cũ, khi vừa ra tới trán, phải tăng tốc nhanh hơn và mạnh hơn, rồi cuồn cuộn như giông bão, làm ngả nghiêng, gẫy đổ cây cối, hoặc chướng ngại vật phía trước. Hít thở như vậy khoảng vài ba chục lần là đúng lúc tuôc- bin đẩy tôi ra, động tác này tương đối đơn giản. Trong lúc hít thở, có khi tôi dùng trí tưởng tượng, hình dung Đức Phật hiện về, nhưng không thấy được đầy đủ, chỉ thấy hiện ra ánh hào quang phía sau, rồi tới phần tóc trên đầu, phần trán tới ngang chấm đen lớn giữa hai chân mày; không thấy được phần dưới khuôn mặt. Nhưng khi ống tuốc-bin vừa đẩy tôi ra, nhắm mắt lại, hình ảnh Đức Phật hiện về rất dễ dàng, trong ánh hào quang rực rỡ. Có lẽ vì lo lắng, hồi hộp nên tôi bị phân tâm, không tập trung tư tưởng được. Phải trải qua ba, bốn lần xạ trị, tôi mới hình dung được trọn vẹn hình ảnh đức Phật hiện về, độ trì tôi vượt qua giai đoạn xạ trị này … Tôi vẫn nhớ trước khi tuốc bin đẩy tôi ra, có những luồng ánh sáng xanh cực mạnh, loé lên, chạy vòng theo hốc mắt hai lần; không biết đây có phải là lúc hỏa lực bức xạ đang triệt hạ căn cứ, địa đạo, giao thông hào và tiêu diệt địch quân không? Rồi sau đó vang bên tai, những tiếng động lách cách “êm ái dễ thương” như khi mở khóa và chiếc bàn được đẩy ra, báo hiệu xong một lần xạ trị. Chỉ có mười mấy phút trong lòng tuốc-bin quái vật, nhưng tôi cảm thấy lâu quá chừng!

 Thực không ngờ xạ trị lại đơn giản, khác với trí tưởng của tôi rất nhiều. Nó chỉ làm tôi hoang mang, bối rối, mà không hề hành hạ đau đớn thể xác. Ở đây không cân đo, không kiểm tra áp huyết, không đo thị lực và không ghi toa mua thuốc. Nhiều khi tôi tự hỏi trong lúc đang xạ trị, nếu tôi muốn ho hay là ngứa mũi hắt hơi thì chuyện gì xảy ra? Nhưng thực may mắn, mọi việc trôi qua bình thường, không xảy ra điều gì đáng tiếc. Tuy nhiên, có một lần, sau khi mọi người đã ra khỏi phòng, tuốc bin hút tôi vào, rồi ít phút sau lại đẩy tôi ra. Ngay lúc ấy hai nhân viên đến điều chỉnh lại vị trí mặt nạ, rồi ra khỏi phòng. Tuốc bin lại hút tôi vào và hoạt động bình thường như những lần trước. Tuy vậy, tôi vẫn thắc mắc liệu hôm nay tôi có làm xạ trị hai lần không? Những nghi vấn của tôi đã được bác sĩ Te làm sáng tỏ: Tất cả các chi tiết của bệnh nhân đã cài đặt và tự động điều khiển qua điện toán. Chỉ sai hoặc thiếu một chi tiết rất nhỏ, máy không hoạt động. Không có bệnh nhân nào xạ trị 2 lần trong ngày. Trường hợp của tôi có thể là đầu nằm chưa đúng vị trí nên máy không làm việc và đẩy ra để điều chỉnh…

Hai mươi lần xạ trị cũng qua; vũ khí “hít thở và niệm chú” để đức Phật hiện về cứu độ quả nhiên hiệu nghiệm, giúp tôi quên vẻ hung dữ của con quái vật tuốc- bin, giúp tôi gạt bỏ ngoài tai những tiếng ì ầm của bom đạn bức xạ, trút xuống triệt hạ căn cứ, địa đạo, giao thông hào v.v và tiêu diệt quân địch.…Còn gì vui sướng hơn khi nghe bác sĩ Te, chuyên viên đặc biệt về xạ trị, trước khi rời phòng khám, nói với tôi “Chúc Mừng Ông!” Tôi không biết nói gì hơn ngoài tiếng cám ơn bác sĩ và theo con gái ra ngoài phòng đợi…Nhân viên văn phòng đưa giấy chứng nhận đã “tốt nghiệp” xạ trị kèm theo giấy hẹn trở lại gặp bác sĩ A.Sh và đề nghị tôi đến chiếc chuông đồng có màu vàng bóng loáng, nơi góc phòng, để tự tay tôi rung chuông báo hiệu niềm vui xạ trị thành công tốt đẹp. Những tiếng “chúc mừng”, “chúc mừng” vang vang theo tôi suốt dọc đường về nhà … Sau hai mươi lần các con tôi thay phiên nhau đưa đi xạ trị, nay giai đoạn chữa trị này đã hoàn tất.

Tính ra hành trình chữa mắt, từ đầu mùa hè tới nay đã được nửa năm, đã vượt qua một chặng đường dài, nhiều thử thách cam go, nhưng cũng có nhiều trải nghiệm thú vị. Đôi mắt của tôi đã khác trước rất nhiều. Tuy đôi lúc còn bị nước mắt “lưng tròng” hoặc bị “ngứa mắt”, do phản ứng phụ của xạ trị, nhưng các đốm đen, các giải mây mỏng giống những con ruồi con muỗi đã biến hết, không còn lảng vảng trước mắt như xưa nữa. Hiệu quả của xạ trị thật là tuyệt vời! Càng ngày mắt tôi càng nhìn cảnh vật bên ngoài rõ hơn; đường phố thẳng tắp, nhà cửa khang trang, cỏ cây hoa lá rõ nét tươi màu; người người tung tăng dập dìu trên các con phố; cánh bướm cánh chim chao lượn trên không …Tôi đã lái xe rong ruổi trên xa lộ thênh thang, đã mượt mà tay lái lụa trên các con đường ngang dọc trong thành phố. Niềm vui trong lòng làm sao nói hết … Một minh chứng hùng hồn là hôm nay trở lại văn phòng bác sĩ A.Sh để kiểm tra, bác sĩ chỉ vào màn ảnh máy điện toán, hai tấm hình màu chụp mắt của tôi: một tấm trước khi xạ trị, phía sau con mắt giáp võng mạc, hiện ra một đường cong có nhiều răng cưa, giống những vây trên lưng con khủng long thời tiền sử; trong khi tấm hình sau khi xạ trị, đường cong ấy trơn láng, không một nếp nhăn …

V – Tầng 14 & chén “cháo đắng Chemo”

Như thế là sau giai đoạn xạ trị, mắt của tôi nay đã gần như trở lại bình thường. Tuy vậy, các bác sĩ cho biết: Trước đây, địch tập trung và tấn công vào mắt, gần não bộ, rất nguy hiểm; nay tuy chúng đã bị đánh bật ra khỏi căn cứ địa, nhưng tình hình chưa phải tuyệt đối an toàn. Để đề phòng, ngăn ngừa địch có thể tái phối trí lực lượng, trở lại tấn công, các bác sĩ khuyên tôi nên mở cuộc “hành quân”, tảo thanh, truy quét tàn quân địch, không cho chúng có cơ hội phản công. Đó là hóa trị, nói một cách dễ hiểu, là đưa một loại hóa chất vào cơ thể, để hóa chất này luân lưu khắp toàn thân, đi đến tận hang cùng ngõ hẻm, tìm và diệt tàn quân địch còn sống sót, đang lẩn trốn. Câu nói “lấy độc trị đôc” mà tôi đã nghe từ thưở nào, xa xưa lắm, nay thật có ý nghĩa và hy vọng mọi người được yên vui khi cuộc hành quân “ truy quét” này kết thúc. Riêng tôi, vẫn cảm thấy có điều gì không ổn. Lòng hoang mang: Đưa hóa chất hay là truyền “chất độc” vào cơ thể một bệnh nhân 83 tuổi như tôi, biết đâu có nguy cơ cao, hủy hoại các bộ phận lành mạnh khác thì sao? Đã có nhiều năm kinh nghiệm trị bệnh cho người lớn tuổi, cô em út khuyến khích và trấn an tôi: hãy yên tâm! Bác sĩ luôn cân nhắc, chú ý đến tình trạng cơ thể bệnh nhân để ấn định liều lượng hóa chất truyền vào. Ngoài ra có các bác sĩ chuyên môn khác hỗ trợ, theo dõi mọi diễn biến trong cơ thể người bệnh …Hãy thử sức! Cố lên!..

Nhưng thực bất ngờ, gần tới ngày hẹn đi làm hóa trị, con “cúm Tàu” cô vít 19 thâm độc đã lén lút xâm nhập cơ thể, hành hạ tôi. Cuộc hẹn làm hóa trị phải hoãn lại. Đúng là “bệnh” vô đơn chí, bệnh này chưa khỏi, bệnh khác lại đến. Cổ họng khô cứng và đau buốt như có hàng ngàn cây kim đâm vào! Khí quản tắc nghẹn, rất khó thở, khạc ra đờm liên tục và hình như buồng phổi không tiếp nhận đủ oxy, thân nhiệt cao và thiếu ngủ…Nhưng may sao, cô em tôi đã ghi toa để mua thuốc kịp thời chữa trị và khoảng ba tuần lễ sau, xét nghiệm nhanh, kết quả âm tính (-) mới gọi lấy hẹn đi hóa trị.

Rồi ngày hẹn đã tới. Cuộc hành quân truy lùng và diệt địch đang lẩn trốn khởi sự. Nghĩ đến hành quân, lòng tôi vui lắm! Là chiến sĩ phải lập chiến công! Do vậy tôi vui vẻ đi vào cuộc hành quân mới, rất hăng say và khí thế. Hôm nay, từ mờ sáng, cô em và con gái đưa tôi đi làm hóa trị. Khu hóa học trị liệu nằm trong trung tâm ung thư (Cancer Center) ở tầng 14 của bệnh viện, khác hẳn khu xạ trị. Phòng đợi không có một bóng dáng tượng đá gục đầu nào. Tôi thầm nghĩ những bệnh nhân đến đây không phải là trên đường xuống địa ngục, cũng không phải là chuẩn bị vào trình diện Diêm Vương. Hành lang rất rộng, hướng vào phía trong, chạy theo hình bầu dục. Các thủ tục hành chánh đã xong, nhân viên của trung tâm hướng dẫn chúng tôi đến phòng 1414 – con số dễ thương – và chỉ dẫn cũng như dặn dò một vài điều bệnh nhân cần biết. Phòng tôi nằm khá lớn, lớn hơn phòng một khách sạn trung bình. Tôi đưa mắt dò tìm thật nhanh, không có ống tuốc-bin hoặc một máy móc nào giống động cơ máy bay phản lực. Không có bóng dáng “quái vật” nuốt người ta vào bụng rồi lại đẩy ra! Từ ngoài vào, phía tay trái là một chậu rửa tay bằng kim loại xinh xinh; kế đó, dọc theo tường là bàn ghế để bác sĩ làm việc, máy móc vật dụng y tế rồi tới giường bệnh nhân, một loại giường rất thông dụng trong bệnh viện. Phòng có nơi nghỉ cho người thân, đặc biệt buồng tắm và vệ sinh khá lớn, thiết kế rất an toàn cho người bệnh; không gian rất thoáng, xe lăn, xe đẩy di chuyển dễ dàng. Trên tường có treo một truyền hình mỏng và chiếc đồng hồ chạy bằng điện. Sát vách tường có những tủ bằng gỗ đựng chăn gối, tấm trải, khăn v.v. Ở đây tôi phải mang vớ (tất) chống trơn trượt và mặc áo choàng dành cho bệnh nhân. Quần áo mang theo và tư trang để trong ngăn tủ có khóa…Theo quy định của bệnh viện, tối đa hai người thân được ở lại trong phòng với bệnh nhân. Con gái tôi thì hầu như thường xuyên có mặt. Các cậu con trai ở gần nhất hơn hai chục dặm, xa hơn nữa là hơn hai trăm dặm và hơn hai ngàn dặm, cũng lo lắng, thay phiên nhau lui tới chăm sóc tôi…

Bác sĩ Pi vào phòng, theo sau vẫn là bác sĩ thực tập và hai nhân viên đồng phục xanh dương mà tôi đã gặp trước đây. Sau những lời thăm hỏi xã giao thông thường, ông bác sĩ trao đổi với cô em tôi khá lâu về tiến trình hóa trị, về lượng thuốc truyền vào cơ thể, về thời gian phải ở lại bệnh viện sau mỗi lần hóa trị .v.v Hôm nay người ta sẽ lấy mẫu dịch não tủy (CSF- cerebrospinal fluid) và sẽ bơm một lượng hóa chất ngược lên não; đồng thời đặt một ống nhỏ vào mạch máu nằm dưới lớp da bên ngực phải. Đây là nơi có thể lấy máu thử nghiệm, cũng là nơi đưa hóa chất vào cơ thể; thuật ngữ y học gọi là (port). Ít phút sau có hai nhân viên khác đẩy một chiếc giường đến, yêu cầu tôi nằm lên rồi đưa tới phòng đặc biệt để lấy mẫu, thân nhân không được đi theo. Họ chuyển tôi nằm sấp trên một cái bàn, vén áo lên để lộ khoảng lưng trần từ ngang ngực xuống thắt lưng. Bỗng có một dụng cụ lạ chụp xuống, ôm thật chặt vùng lưng và bụng, ngang những đốt xương sống dưới cùng.Thế nằm sấp khiến tôi khó thở, mệt mỏi; thỉnh thoảng lại kêu la, rên rỉ từng hồi vì nhói buốt phía sau lưng, như có những cây kim đâm sâu vào các đốt xương sống. Tôi liên tưởng đến những cảnh tra tấn trong các bộ phim! Nằm trong phòng lạnh nhiệt độ thấp mà toát mồ hôi. Một lúc sau, màn “tra tấn” xong, các nhân viên y tá lật tôi nằm ngửa;  hình như họ gây mê cho tôi trong một thời gian ngắn để đặt cái “port” phía trên ngực phải. Cơ thể trong trạng thái vô cảm giác, tôi nửa mơ nửa tỉnh rồi thiếp đi! Chợt thức giấc, nhận ra mình đang ở trong phòng 1414 và thấy nhức đầu, chóng mặt. Trên người tôi bây giờ có nhiều ống dây nhựa chằng chịt; ống dẫn vào mũi, ống dẫn vào port, ống ép sát trên ngực, ống vào mạch máu ở cánh tay v.v Tôi nhớ lại hình như tôi đã ói mửa nhiều lần trên đường về phòng này. Nhìn sang bên, treo trên giá cạnh giường, một túi plastic mờ đục, đựng khoảng 2 lít dung dịch hỗn hợp – thường được gọi là nước biển – đang nhỏ từng giọt qua ống nhựa, đưa vào cơ thể tôi. Thế cũng chưa yên, cứ khoảng mười lăm hoặc hai mươi phút, nhân viên, y tá lại vào đánh thức để đo áp huyết, đo nồng độ oxy và nhiều thứ khác. Thực phiền phức, lúc này tôi chỉ muốn ngủ thôi! Hình như y tá đã cho tôi uống thuốc giảm đau và an thần … Đồng hồ điện trên tường chỉ 7 giờ tối. Thời gian và không gian với tôi lúc này không ý nghĩa gì cả và cũng không phân định rõ ràng! Nhưng rồi y tá lại vào phòng, treo một túi nhỏ khoảng 200ml chất lỏng cạnh bịch lớn nước biển và trao đổi với cô em tôi. Được biết đây là hóa chất để truyền thật chậm, 24 giờ mới chẩy hết, đi đến từng hang cùng ngõ hẻm, lục phủ ngũ tạng trong người tôi. Những giọt nước biển, những giọt hóa chất cứ chầm chậm, đều đều nhỏ xuống ống nhựa, đi qua cái “cửa khẩu” (port) bên ngực phải. Tim tôi đập nhanh hơn; hai bên thái dương lùng bùng, hơi thở dồn dập, tôi thấy nóng nực và khó thở. May sao cô em tôi đã kịp thời bấm nút gọi y tá đến điều chỉnh lượng hóa chất truyền vào …và tôi thiếp đi. Hình như trong lúc mơ mơ tỉnh tỉnh đó, tôi có nhận ra gương mặt quen thuộc của vợ tôi trong phòng. Suốt đêm qua, tôi phải thức giấc nhiều lần, vẫn là những kiểm tra quen thuộc: áp huyết, nhịp tim, oxy v.v. Đặc biệt, gần sáng, y tá đánh thức, lấy mẫu máu, nước tiểu đem xét nghiệm để kịp có kết quả trước khi các bác sĩ hội ý vào đầu giờ hành chánh.

Có những tiếng ồn ào khiến tôi thức giấc. Trong phòng, cạnh giường tôi nằm, một nhóm bốn, năm người mặc áo choàng trắng, ngực bên trái có tên và chữ MD. Họ lần lượt thăm hỏi tôi và tự giới thiệu là những bác sĩ chuyên khoa về tim, thận, gan, phổi v.v. Thực sự lúc đó vì quá mệt mỏi, rã rời nên tôi không chú tâm nhiều, nhưng một suy nghĩ thoáng hiện về trong trí: chỉ một bênh nhân là tôi mà cần nhiều bác sĩ vậy sao?…

Thế rồi 24 giờ qua đi, túi nhỏ đựng hóa chất đã cạn, đồng thời những tiếng “pip pip pip” vang lên liên tục như réo gọi y tá vào làm việc. Trên giá treo chỉ còn túi nước biển. Rồi sau đó, y tá kiểm tra, kiểm tra rồi lại xét nghiệm, xét nghiệm … Nhiều lúc tôi nghĩ không biết mình có phải là một cơ thể để các nhà khoa học thí nghiệm nghiên cứu lâm sàng hay không? Bác sĩ bảo đây là những điều cần thiết và bắt buộc, để theo dõi những phản ứng của cơ thể bệnh nhân trong tiến trình điều trị. Tôi đã hoàn toàn thụ động. Nhớ lại khi hóa chất truyền vào người, dù từng giọt nhỏ rất chậm, tôi có cảm giác như có hàng đoàn con sâu, con kiến, hàng đoàn côn trùng nhỏ li ti, nối đuôi nhau di chuyển trong các mạch máu luân lưu toàn thân …Tôi đã ở trong trạng thái mơ mơ màng màng, bay bổng, lơ lửng trong không trung; tưởng như đã ra khỏi hấp lực của trái đất, chẳng khác gì các phi hành gia đang bay lượn trong khoang phi thuyền và chỉ chợt tỉnh ít giây đồng hồ mỗi khi có y tá đến để kiểm tra, xét nghiệm… Rồi một ngày nữa qua, một ngày nữa qua. Tôi cảm thấy hơi lạnh, muốn đắp thêm mền, thân nhiệt thấp nhưng lại tỉnh táo hơn và nhận biết ra rằng trong mấy ngày qua, mọi sinh hoạt của cá nhân tôi, chỉ ở trên giường bệnh. Hình như từ hôm đầu tiên làm hóa trị, tôi không ăn gì. Một phần vì không thấy đói bụng, một phần vì thực phẩm không hợp với khẩu vị; may thay, những túi nước biển liên tục đưa vào cơ thể, giúp tôi có tạm đủ năng lượng và dinh dưỡng… Tính ra tôi nằm viện đã năm ngày, cảm thấy người rất yếu, chân tay run rẩy, đi đứng không vững. Nhưng y tá khuyến khích và giúp đỡ tôi rời khỏi giường, di chuyển bằng xe đẩy một vòng quanh hành lang của tầng lầu. Sáng hôm sau, một lần nữa nhân viên bệnh viện đưa tôi đi, nhưng không dùng xe đẩy, mà yêu cầu tôi nắm hai tay trên hai thành khung kim loại của walker – dụng cụ hỗ trợ tập đi bộ – có bốn bánh xe nhỏ lăn trên sàn; từ từ đi bộ một vòng quanh hành lang. Về tới phòng, được biết kết quả xét nghiệm sáng nay, cái chỉ số nồng độ gì đó đã xuống ở mức 0.05. Tuy không hiểu nhưng tôi đoán, đó là một tín hiệu đáng mừng. Thực vậy, cô em tôi sau khi trao đổi với bác sĩ, cho biết nồng độ hóa chất trong máu ở mức an toàn, rồi từ từ thải hết ra ngoài. Sau đó, cô cùng con gái tôi lo thủ tục giấy tờ, kiểm tra  thuốc men, chuẩn bị mọi thứ để đưa tôi về nhà. Một nhân viên bệnh viện đem xe đẩy tới, đưa tôi xuống lầu một, đẩy ra tận chỗ xe đậu và cho biết bệnh nhân giữ luôn xe đẩy này để sử dụng …

Thực rất khó kể lại cảm giác được về nhà sau hơn một tuần nằm bệnh viện để hóa trị. Đầu óc trống rỗng, không nhớ hết những diễn biến đã qua; cơ thể mệt mỏi rã rời; di chuyển phải ngồi xe đẩy; bù lại tôi không “bị” chăm sóc hết sức nhiệt tình của y tá và nhân viên bệnh viện. Nhiều khi muốn ngủ lại bị đánh thức để kiểm tra, kiểm tra; xét nghiệm, xét nghiệm. Nhưng hôm nay, tôi thấy yên bình thoải mái, lại được nghe tâm sự của vợ tôi. Vẫn còn đâu đó, tràn đầy cảm xúc rưng rưng:

“Hôm ấy, tưởng Ông không qua khỏi con trăng này!” Rất tự tin, tôi trấn an:

“Bà yên tâm, không chỉ qua khỏi con trăng này, còn qua khỏi nhiều con trăng nữa! Mình nhờ phước đức cao dầy mà!”…

Theo kế hoạch của các bác sĩ, lần hóa trị tiếp theo, cách lần trước 21 ngày (ba tuần lễ). Thời gian này là một chu kỳ đủ để các tế bào lành mạnh và cơ thể người bệnh phục hồi, cũng là thời điểm tiếp tục hành quân truy lùng và diệt gọn địch trong chiến dịch “phòng ngừa”. Thế là tôi có hơn hai tuần lễ dưỡng bệnh tại nhà. Ưu tiên hàng đầu là dinh dưỡng đầy đủ để tăng lượng hồng huyết cầu, tăng khả năng hệ miễn dịch, tăng sức đề kháng của cơ thể vốn đã bị hao mòn, sút giảm sau lần hóa trị vừa qua. Rồi thời gian qua đi, qua đi. Được bồi dưỡng đúng cách, theo khuyến cáo và hướng dẫn của bác sĩ, sức khỏe của tôi đã khá nhiều, không cần xe đẩy khi di chuyển, nhưng cũng chính là lúc phải trở lại bệnh viện để tiếp tục  hóa học trị liệu…

 Hôm nay con gái đưa tôi đến bệnh viện. Cô em tôi vì công việc nên hôm sau mới bay qua. Những thủ tục cần thiết đã xong; các y tá với đồng phục mầu xanh dương vào phòng, nhịp nhàng, nhanh nhẹn trong thao tác quen thuộc. Cạnh giường nằm, vẫn những dụng cụ y tế như máy theo dõi nhịp tim, áp huyết và giá treo túi nước biển, túi hóa chất với dây nhựa lòng thòng. Những giọt nước biển, những giọt hóa chất lại chậm chậm nhỏ xuống ống nhựa, chảy qua cái port (cửa khẩu) đã gắn bên ngực phải ba tuần lễ trước, từ từ chảy vào cơ thể tôi. Lần này, rất khác lạ, không phải là đoàn côn trùng nhỏ như con sâu con kiến di chuyển; tôi cảm thấy như có đoàn thú rượt đuổi nhau trong rừng hoang, lòng vòng từ đầu xuống chân, từ chân lên đầu. Tim đập nhanh, hơi thở dồn dập. Rồi tôi chợt nhận ra thân thể mình rất nhẹ, bay bổng lên cao, nhưng bên tai lại văng vẳng tiếng “pip pip pip” liên hồi như tín hiệu báo động. Tôi không dừng, tiếp tục lơ lửng như những gợn mây mỏng lang thang trên bầu trời. Tôi tự biết mình không phải là cánh thiên thần, chỉ đơn thuần là một cái gì đó, không tên tuổi, không hình thể, không trọng lượng, không có quá khứ và tương lai, không biết từ đâu đến và đi về đâu. Tôi không nghĩ đến ai và không có ai để nghĩ đến; không hề ưu tư hoặc dự tính điều gì và không có cả niềm vui lẫn nỗi buồn; Tôi không biết cách nào diễn tả lại cho đúng những lúc thoát xác và bay bổng như thế. Có người bảo rằng trạng thái này là lúc hồn lìa khỏi xác (?) May sao, khi y tá vào lấy máu, lúc gần sáng, làm tôi tỉnh lại, nhận ra mình còn hiện hữu và đang trải qua thời kỳ hóa trị ở tầng 14 của bệnh viện. Thực hú hồn và thực may mắn!..

Tính ra, trở lại để tiếp tục hóa trị lần này, đã sang ngày thứ tư. Bác sĩ không muốn tôi nằm nhiều trên giường, nên y tá giúp tôi vịn vào xe đẩy, đi bộ một vòng quanh hành lang. Đồng hành với tôi những ngày trong viện làm hóa trị, cô em tôi luôn nhắc nhở, nhiệt tình khuyến khích tôi hãy cố lên, hãy thử sức và có thể ngừng hóa trị bất cứ lúc nào. Hôm bay về Houston, cô đã đi thẳng từ phi trường tới bệnh viện. Tôi đoán có lẽ cô e rằng nếu chậm trễ, chẳng may lúc không có sự hiện diện của cô, tôi thay vì chỉ ăn chén “cháo đắng chemo”, lại ăn lầm chén “cháo lú”, rồi quên đường về thì ối thôi! Quá muộn rồi!                    

Bác sĩ Pi vào phòng, nụ cười tươi, tiến lại gần giường: “Hôm nay Ông khỏe không?”, rồi ông trao đổi với cô em và con gái tôi. Được biết cái chỉ số gì đó vẫn còn hơi cao một chút nhưng sức chịu đựng của cơ thể tôi suy giảm rất nhiều. Hình như em tôi có bàn bạc và đề nghị điều gì đó; bác sĩ Pi cho biết, sau buổi họp với các bác sĩ chuyên môn vào sáng mai, sẽ có quyết định cuối cùng. Ông cho biết nhân viên sẽ đưa tôi đi chụp MRI và làm một vài xét nghiệm khác …Thế rồi, sáng sớm hôm nay, ông bác sĩ quản lý vào phòng báo tin: sau khi hội ý với các bác sĩ chuyên khoa, tất cả đồng thuận để tôi xuất viện …

Vi – Cuộc Chiến Tranh Của Phước Đức.

Rời tầng 14 của một bệnh viện lớn với nhiều dấu ấn khó quên, nay tôi đã thực sự về nhà   mình; tinh thần bớt căng thẳng, sinh hoạt dễ chịu hơn, sức khỏe cũng từ từ hồi phục. Vui hơn nữa, sau vài lần tái khám và chụp MRI, kết quả không có dấu hiệu gì nguy hiểm hoặc cần quan tâm lưu ý. Với riêng tôi, cuộc chiến chống căn bệnh nguy hiểm, quái ác đã yên. Niềm vui lớn không sao tả hết, nhưng đôi lúc hình ảnh nằm viện trong quá khứ lại hiện về. Nhát chém để lại vết sẹo hằn sâu nhất trong đầu, từ bốn mươi năm trước, đó là trong thời gian bị giam cầm, tôi gặp tai nạn khi đang lao động! Lúc ấy, đã thiếu ăn lại làm việc cực khổ, tôi bị cây đè lên chân, không còn sức để tiếp tục lao động, phải đưa đi bệnh viện. Tôi còn nhớ, ngày ấy, tại khoa chấn thương của Bệnh Viện Nhân Dân Vĩnh-Yên, câu đầu tiên bác sĩ hỏi tôi: “Anh cấp bậc gì”? Tiếp theo là: “đơn vị nào, chức vụ gì”? Tôi hơi ngạc nhiên và một nghi vấn hiện ra: Lạ nhỉ, người này là viên công an thẩm vấn hay là thầy thuốc?… Đúng ra, không nên và không thể so sánh được! Khác hẳn với nằm viện nơi đây, câu đầu tiên bác sĩ hỏi: “Hôm nay ông khỏe không?” Rồi: “Ông thấy trong người ra sao?” hoặc là: “Ông cần gì không?” Và trước khi ra khỏi phòng: “Ông có muốn hỏi gì không?”… Dạo đó, người ta lấy thù hận chứ không lấy tình người để chữa trị. Kết quả, tôi đã để lại nửa bàn chân dưới chân núi Tam-Đảo. Không cách nào khác, tôi tự an ủi: mạng sống còn lấy đi được, huống chi bàn chân. Có còn ý nghĩa chăng khi đó đây, trên hành lang, trên bờ tường bệnh viện, ở vùng đất đáng thương, xa xôi tít mù kia, người ta vẽ những hàng chữ “lương y như từ mẫu”? Đã bao lần tôi nhủ lòng hãy cố quên đi và chỉ nghĩ mình thực nhờ phước đức, may mắn, được phóng thích khỏi nhà tù nhỏ, trở về nhà, như đã được sinh ra lần thứ hai; cho dù phải sống trong xã hội bên ngoài, không khác chi một “nhà tù lớn”. Bốn mươi năm trước là thế. Và hiện tại, kết thúc cuộc hành trình gần một năm để chữa bệnh ung thư mắt, mà theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh rất thấp, cả chục triệu người, mới có một người; chữa khỏi được thực là một phép lạ và nhờ ơn đức cao dầy. Chính những vị bác sĩ ở đây, là những bậc “Từ Mẫu” đã giúp tôi sống lại. Cho nên tôi nghĩ đã được sinh ra đời lần thứ ba, đó không phải, một trăm phần trăm không phải là giàu trí tưởng tượng hay trào lộng, hoặc văn từ cường điệu…

Nếu ai hỏi tôi: “Địa ngục có bao nhiêu tầng?” Tôi không ngại ngùng, xấu hổ, thản nhiên   trả lời: tôi không biết! Mà tôi không biết thực; nếu ai đó biết được, vui lòng mách bảo, rất cám ơn! Trên đường rong ruổi vào đời, lúc thênh thang ngập ánh hào quang trên đại lộ, hoặc lúc âm thầm câm nín trong ngõ hẹp tối tăm, suốt tám mươi ba năm qua, chỉ thỉnh thoảng nghe người ta nhắc đến cụm từ “mười tám tầng địa ngục”. Nhưng một điều chắc chắn tôi biết, là tôi đã điều trị bệnh ung thư mắt ở một bệnh viện lớn, nổi tiếng thế giới, có gần ba chục tầng lầu. Sau hai mươi lần xạ trị, nghỉ ngơi ít tuần lễ, gia đình và người thân khuyến khích, cổ vũ tôi tiếp tục trị liệu bằng hóa chất. Khu hóa trị thuộc Trung tâm ung thư lại nằm ở tầng 14. Đôi khi, có lẽ vì thần kinh căng thẳng và khủng hoảng; năng lượng bốc hơi và tuột dốc gần như triệt tiêu, nên tôi, như một chiến sĩ bị trọng thương lúc đang điều binh xông pha nơi trận địa, chỉ còn đủ sức rên rỉ nhè nhẹ: mình đã xuống tới tầng 14 địa ngục rồi sao? Không được, không thể được! Dù chỉ còn chút hơi tàn, tôi quyết chiến đấu để vượt thắng, thoát khỏi nơi đây ngược dòng trở về dương thế, nơi ấy có biết bao người đang cầu nguyện, đang trông ngóng tôi từng phút, từng giây!…

Tôi đã sống sót sau cuộc chiến 30 năm (1945-1975) mà người ta khoác cho nhiều tên gọi nào là chiến tranh chống thực dân đế quốc, nào là cuộc chiến chống bành trướng của làn sóng đỏ, nào là chiến tranh quốc cộng, chiến tranh bảo vệ miền Nam, chiến tranh giải phóng, cuộc chiến ủy thác v.v Và ngay tại thời điểm này, tôi lại sống sót sau cuộc chiến chống lại bệnh quái ác nan y, chỉ nghe tên cũng rùng mình run sợ. Thôi thì đủ loại tên gọi. Nhưng dù tên gọi gì gì đi nữa, với riêng tôi, đó là “Cuộc Chiến Tranh của Phước Đức”! Tám mươi ba năm cuốn hút theo dòng đời dâu bể, biết bao lần vượt qua phong ba bão tố, bao lần chế ngự thác ghềnh chướng ngại, tôi đã luôn được bàn tay của đấng vô hình linh thiêng, che chở, phù hộ. Và gần đây nhất, lúc tôi đang trôi nổi, vật vờ, bồng bềnh trong thảm cảnh, tưởng chừng khó thoát khỏi lưỡi hái Tử Thần, lại một lần nữa, dang rộng đôi tay cứu vớt và đưa tôi trở về từ “tầng địa ngục thứ 14”… Ôi! Lòng biết ơn ghi nhớ mãi trong óc trong tim. Tôi không thể và không biết làm sao nói hết; nói bao nhiêu cho cạn, cho vơi. Ngoài kia, không khí rộn ràng mừng vui mùa lễ hội đã về nơi góc phố. Chỉ ít ngày nữa, gia đình tôi đón mừng Lễ Tạ Ơn; năm nay chắc có nhiều ý nghĩa lớn, niềm vui lớn và thật tuyệt vời. Mong sao những lời Tạ Ơn xuất phát tự đáy lòng tôi, cuốn theo làn gió bay đi, bay đi mãi, đến những phương trời xa xăm, tận chốn hư vô….

Triệu – Vũ,

Houston, TX. Mùa Tạ Ơn 2022.

Gặp Tướng Lê-Nguyên-Vỹ… Lần Cuối

hopluu.net

Post on 8 Tháng Tư 2024

Triệu Vũ

Post by Sơn râu 18 Aug 2024

Lê Nguyên Vỹ (1933 – 1975)

Photo edit by Sơn râu
T
ừ phòng ngủ của Tư-Lệnh bước ra, Y-Sĩ Thiếu-Tá Đàm-Quang-Hiển xúc động, nghẹn ngào: “Thiếu-Tướng… đi rồi!” … Các Sĩ-Quan hiện diện, không cầm được nước mắt, kính cẩn nghiêng mình tiễn biệt chủ tướng. Bác-sĩ Đàm-Quang-Hiển, hiện định cư tại Mỹ, bang Minesota, nguyên là y sĩ trưởng Sư-Đoàn 5 Bộ Binh, kiêm Tiểu-Đoàn-Trưởng Tiểu-Đoàn 5 Quân-Y. Vào trưa ngày 30 tháng 4 năm ấy, ông được gọi lên, với hy vọng cấp cứu Chuẩn-Tướng Tư-Lệnh vừa dùng súng tự sát… Bác sĩ Hiển khám nghiệm, bắt mạch….Nhưng không kịp! Người đã “đi” rồi! Ôi! Thực buồn làm sao!

Lại sắp tới ngày 30 tháng 4! Đã 49 năm trôi qua, nơi tâm tư riêng, từ vùng sâu thẳm ký ức của mỗi người, của nhiều người; tưởng rằng đã quên hoặc đã phai mờ phần nào. Có khi cái ngày “quái ác” ấy, không biến mất, mà còn âm ỷ gậm nhấm, nhói buốt trong tim; nhắc nhở, nghĩ về xa xưa. Như những rỉ sét bám vào thanh kim loại, cứ ôm chặt, bào mòn, khiến bao người bàng hoàng, ngơ ngác, tưởng như mới xảy ra hôm nào, gần đây thôi. Có nhiều người cho rằng đó là một nhát chém, một vết thương.Vết thương ấy có thể đã thành sẹo, hoặc đã theo ai đó, chôn sâu dưới ba thước đất, hoặc có khi vẫn chưa lành, còn nhức nhối, còn rỉ máu. Là một quân nhân và cũng là chứng nhân, nên bao nhiêu kỷ niệm về ngày 30 tháng 4 đau buồn này, trong tâm trí tôi, theo chu kỳ một năm, lại hiện về. Trên toàn thế giới, nơi nào có Cộng đồng người Việt cư ngụ, nơi ấy chắc chắn sẽ tổ chức một lễ tưởng niệm; có thể đơn giản, thu hẹp, hoặc trọng thể, với nhiều tên gọi Ngày Quốc Hận, Ngày Mất Nước, nhớ về Tháng Tư Đen v.v . Tham dự lễ tưởng niệm, mọi người dâng hương tri ân, tưởng nhớ các quân, dân, cán chính đã hy sinh vì tổ quốc, hoặc thiệt mạng trên đường tìm tự do; đồng thời đặc biệt vinh danh 5 vị tướng đã anh dũng tuẫn tiết vào thời khắc không thể quên. “Sinh Vi Tướng, Tử Vi Thần”! Thực hãnh diện biết bao, trong trang sử Việt, có thêm 5 vị “Thần”: Nguyễn-Khoa-Nam, Phạm-Văn-Phú, Trần-Văn-Hai, Lê-Văn-Hưng và Lê-Nguyên-Vỹ.

            Tôi chưa có hân hạnh được làm việc, hay phục vụ trong đơn vị của các Tướng Nam, Phú, Hai.  Riêng với Tướng Hưng, nhất là với Tướng Vỹ là hai vị  Cựu Tư-lệnh Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh (SĐ5BB), một đại đơn vị, tôi đã phục vụ 8 năm rưỡi; trong đó, với trên 4 năm giữ chức vụ chỉ huy đơn vị yểm trợ tiếp liệu và hành chánh cho Bộ Tư-Lệnh Sư-Đoàn, nên tôi đã nhiều lần làm việc trực tiếp với hai vị Tướng này.

            Nhớ lại, gần 60 năm trước, tháng11-1964, tôi nhận lệnh động viên để theo học khóa19 Sĩ-Quan Trừ-Bị Thủ-Đức (khóa19/TĐ). Đầu tháng 9 năm 1965, tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn-Úy, được điều về phục vụ tại Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh (SĐ5BB). Thế rồi, thời gian trôi mau, trải qua 5 đời Tư lệnh:

            -Đại-Tá Phạm-Quốc-Thuần,Tư-Lệnh (TL); Đại-Tá Dương-Phún-Sáng: Tư-Lệnh-Phó(TLP)

            -Thiếu-Tướng Nguyễn-Văn-Hiếu, TL; Đại-Tá Ngô-Lê-Tuệ, TLP.

            -Đại-Tá Lê-Văn-Hưng, TL; Đại-Tá Lê-Nguyên-Vỹ, TLP.

            -Đại-Tá Trần-Quốc-Lịch, TL; Đại-Tá Nguyễn-Bá-Long, TLP.

`           -Đại-Tá Lê-Nguyên-Vỹ, TL; Đại-Tá  Trần-Văn-Thoàn, TLP.

            Đời quân ngũ của tôi, không có gì là oai hùng; tôi được chỉ định phục vụ tại đơn vị kỹ thuật của Sư-Đoàn, yểm trợ các đơn vị chiến đấu ngoài trận tuyến.Tuy vậy, dù ở cương vị nào, chức vụ gì, tôi chỉ biết chu toàn trách nhiệm. Nhớ ngày ấy, trong doanh trại các đơn vị thuộc Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh (SĐ5BB), đó đây có những tấm bảng, sơn đậm màu hàng chữ:“Không nhiệm vụ nào khó; không hy sinh nào lớn; bổn phận trên hết”. Chiến binh SĐ5BB, không ai quên được lời tâm nguyện này. Chỉ 14 chữ đơn giản, nhưng đã nhắc nhở, thấm sâu vào tim óc tôi lúc đó, một thanh niên, một sĩ-quan trẻ tràn đầy nhiệt huyết…

            Thời gian cứ trôi, về đơn vị đã vài tháng; tuy được chỉ định đúng theo bảng cấp số: Sĩ quan Tiếp-liệu kiêm Thanh-tra; nhưng có thể nói, tôi thi hành bất cứ nhiệm vụ gì thượng cấp giao. Tôi còn nhớ, vào cuối tháng 11-1965, ông đơn vị trưởng giao tôi nhiệm vụ Trưởng toán (trên 30 người) đi thu lượm thi hài quân nhân tử trận, tại khu vực làng 13 bis, đồn điền cao su Michelin, thuộc quận Dầu-Tiếng, tỉnh Bình-Dương. Chuyến công tác này, tôi ghi lại trong một bài viết, vào dịp Lễ Tạ Ơn 2017, với tựa đề “Phía Sau Mặt Trận”, đăng trong Tạp Chí Hợp-Lưu, do nhà thơ Đặnh-Hiền chủ biên, ở miền Nam California. Cũng cuối năm 1965 ấy, Bộ-Tư-Lệnh sư đoàn hướng dẫn các tân sĩ-quan mới tốt nghiệp khóa 20 Võ-Bị Đà-Lạt, được điều về SĐ5BB, đến thăm đơn vị tôi, trước khi phân phối đi các Trung-Đoàn. Ông Đơn-Vị-Trưởng, ông phụ tá “ e ngại” điều gì đó, lánh mặt và yêu cầu tôi, một Chuẩn-Úy mới ra trường, đại diện đơn vị, thuyết trình cho phái đoàn. Sau cùng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Có thể nói, vài ba năm đầu, hầu như tôi công tác ngoài đơn vị. Khi thì huấn luyện, khi thì hội thảo, hoặc tham dự các khóa học ngắn hạn; thường xuyên đến các đơn vị thuộc Sư-Đoàn để thanh tra, nhiều  khi xuống tận trung đội bộ binh để nhận xét tại chỗ, nhu cầu tiếp liệu của quân nhân. Thời gian này, tôi đã có nhiều dịp gặp gỡ Tướng Vỹ và được biết thêm nhiều về Ông. Lúc ấy Ông còn mang cấp Thiếu-Tá, giữ chức Trung-Đoàn-Trưởng Trung-Đoàn 9 Bộ-Binh, rồi được thăng cấpTrung-Tá. Sau đó Ông giữ chức Trung-Đoàn-Trưởng Trung-Đoàn 8, thăng cấp Đại-Tá; và năm 1970, Ông đi thụ huấn  khóa Chỉ-Huy-Tham-Mưu Cao-Cấp tại Hoa-Kỳ …

            Nhớ lại, khoảng giữa năm 1968, theo tổ chức mới, mỗi Sư-Đoàn thành lập một Tiểu-Đoàn Tiếp-Vận; SĐ5BB được chỉ định thành lập Tiểu-Đoàn Tiếp-Vận đầu tiên để trắc nghiệm.Và Đại-Đội 5 Quân-Nhu được cải danh thành Đại-Đội Tiếp-Liệu (ĐĐTL) trực thuộc Tiểu-Đoàn 5 Tiếp-Vận (TĐ5TV). Đại-Đội Tiếp-Liệu, ngoài Đại-Đội-Trưởng, có 12 Sĩ-Quan và trên hai trăm quân nhân thuộc quyền. Thời gian trôi mau, phục vụ tại SĐ5BB đã 5 năm, và tháng 10-1970, tôi được chỉ định giữ chức Đại-Đội-Trưởng Đại-Đội Tiếp-Liệu, thay Đại-Úy Lý-Văn-Trọng (khóa7-Thủ Đức) đi thụ huấn tại Hoa-Kỳ. Ít tháng sau, Đại-Tá Lê-Văn-Hưng thay Tướng Hiếu làm Tư-Lệnh SĐ5BB, Đại-Tá Hưng được thăng cấp Chuẩn-Tướng đầu năm 1972.

            Vào giữa năm 1971, mãn khóa học Chỉ-Huy-Tham-Mưu Cao-Cấp, Đại-Tá Lê-Nguyên-Vỹ được chỉ định về làm Tư-Lệnh-Phó/SĐ5BB. Thời gian ngắn sau, Ông được thông báo chuẩn bị nhận chức Tư Lệnh Sư-Đoàn 22 Bộ-Binh thuộc Vùng II Chiến Thuật. Nhưng, tin tình báo ghi nhận: Có nhiều khả năng, Việt-Công sắp sửa mở cuộc tấn công lớn vào dịp Xuân Hè 1972; không giống tổng tấn công và nổi dậy trên toàn miền Nam, như dịp Tết Mậu Thân (1968), mà nhắm ba mục tiêu chính là Quảng-Trị, Kon-Tum và Bình-Long. Với trên mười năm hành quân trong vùng trách nhiệm của SĐ5BB và Khu 32 Chiến Thuật (gồm 3 tỉnh Bình-Dương, Bình-Long, Phước-Long). Đại-Tá Vỹ thuộc lòng địa hình, địa danh…những chi tiết, từ gốc đa cổ thụ kế bên ngôi miếu cổ; từ con suối nhỏ dưới chân ngọn đồi dốc; từ con đường mòn, giao lộ đến cây cầu kiên cố hoặc đơn sơ… Đặc biệt, biết bao lần, đơn vị do ông chỉ huy đã phục kích, chạm trán, đương đầu, truy lùng và diệt gọn địch quân …cho nên cấp trên giữ ông tạm thời ở lại phụ lực với Tướng Hưng. Và đầu tháng 4-1972, trận chiến Bình-Long An-Lộc khởi diễn; Tư-lệnh chiến trường là Chuẩn-Tướng Hưng, Tư-Lệnh Phó là Đại-Tá Vỹ ( Đại-Tá Lê-Đức-Đạt được chỉ định làm TL/SĐ22BB). Viết đến đây, tôi chợt nhận ra không biết có chăng, một sự kết hợp nhiệm mầu, kỳ diệu, hay là một sắp xếp định mệnh huyền bí giữa hai vị Thần có tộc nguồn họ Lê. Năm 1933, vùng đất phương Nam, nơi Gia-Định thành, ngôi sao Lê-Văn-Hưng chào đời. Cũng năm 1933 ấy, tại miền Bắc nước ta, nơi có thành Sơn-Tây, một vì sao khác Lê-Nguyên-Vỹ cũng xuất hiện, lấp lánh trên không trung. Rồi do vận nước, duyên trời, gần bốn mươi năm sau, 1972, hai vì sao ấy kết hợp, lung linh, chói rạng trên vùng trời An-Lộc (tỉnh Bình-Long). Người sau còn nhắc mãi, không quên, và mặt trận tử thủ An-Lộc ghi lại đậm nét trong quân sử.

            Rời chiến trường Bình-Long An-Lộc, vùng rừng núi miền Đông Nam Phần, thuộc Quân-Đoàn III,Vùng 3 Chiến Thuật; Đại-Tá Vỹ về làm Tư-Lệnh-Phó Sư-đoàn 21 Bộ-Binh, vùng sình lầy miền Tây, thuộc Quân-Đoàn IV, vùng 4 Chiến-Thuật. Không ngờ ít tháng sau, tướng Hưng lại về làm Tư-Lệnh Sư-Đoàn 21 Bộ-Binh. Đã từng cùng chung sức, dẫn dắt một đại đơn vị oai danh, từng chung lòng tử thủ An-Lộc, gần một trăm ngày “nghẹt thở”trong hỏa ngục; nay lại sát cánh bên nhau, chỉ huy sư đoàn trấn giữ vùng cực nam đất nước. Đầu tháng 11-1973, Đại-Tá Vỹ được chỉ định trở lại chiến trường xưa, vùng rừng núi miền đông, giữ chức Tư-Lệnh Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh rồi được thăng Chuẩn Tướng. Và thật trùng hợp, đúng vào ngày tang thương của đất nước, (30-4-1975), hai cựu Tư-Lệnh của Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh oai hùng, được hấp thu linh khí kết tụ, cùng vượt tầng không gian, chắp cánh bay lên cao, tỏa sáng để hậu thế vọng tưởng, kính cẩn bái phục. Phải chăng đây là một kết hợp định mệnh giữa hai vị “Thần”!…

Riêng tôi, sau khi giữ chức vụ Đại-Đội-Trưởng Đại-Đội Tiếp-Liệu trên hai năm; ngày 31 tháng 12-1972, tôi bàn giao Đại-Đội cho Đại-úy Đặng-Đình-Quế (khóa16/TĐ), rồi được chỉ định thay thế Đại-úy Trần-Văn-Nhàn (khóa17/TĐ), trong chức vụ Chỉ-Huy-Trưởng Trung-Tâm 3 Sản-Xuất Đồ-Gỗ (TT3SXĐG), trực thuộc Bộ-Chỉ-Huy 3 Tiếp-Vận. Trung-Tâm đồ gỗ nằm giữa Căn-cứ 30 Nhiên-liệu và “Xưởng Cưa Quân Đội”, trên đường Phan-Văn-Trị, quận Gò-Vấp, tỉnh Gia-Định. Lúc đó Bộ-Chỉ-Huy 3 Tiếp-Vận, do Đại-Tá Trần-Quốc-Khang làm Chỉ-Huy-Trưởng, đã dời lên Căn-Cứ Long-Bình, gần Biên-Hòa…

Về phục vụ tại đơn vị mới chưa đầy một tháng, Hiệp-Định Paris 27-1-73 được ký kết; các chuyên gia nhận định, bất lợi cho Việt-Nam Cộng-Hòa. Lực lượng đồng minh lần lượt rút hết, khỏi Nam Việt-Nam nhưng quân Cộng-Sản Bắc-Việt lại không rút về Bắc (?)Tình hình chính  trị và quân sự đổi thay. Viện trợ Mỹ bị cắt giảm. Quân đội đánh giặc theo kiểu con nhà nghèo. Thả một trái bom, bắn một phát đại bác đều phải quy ra tiền …Khi Đại-Tá Vỹ nhận chức vụ Tư-Lệnh SĐ5BB ngày 7 tháng 11 năm 1973, thay chuẩn Tướng Trần-Quốc-Lịch, với trọng trách chấn chỉnh, lấy lại uy danh của Sư-Đoàn; Ông đã nỗ lực tổ chức, sắp xếp, bổ sung nhân sự; hầu như đổi mới toàn diện đội ngũ cấp chỉ huy, từ Bộ Tư-Lệnh, đến 3 Trung-Đoàn. Và ông gửi văn thư chính thức, xin đích danh tôi về giữ chức vụ Đại-Đội-Trưởng Đại-Đội Tổng-Hành-Dinh kiêm Chỉ-Huy-Trưởng Tổng-Hành-Dinh/SĐ5BB (ThayThiếu-Tá Sơn). Thế là, rời SĐ5 chưa bao lâu, nay “vì nhu cầu công vụ” như trong Lệnh Thuyên Chuyển ghi rõ, tôi trở lại, nhưng ở cương vị khác và nhiệm vụ khác. Mười bốn chữ “Không nhiệm vụ nào khó. Không hy sinh nào lớn. Bổn phận trên hết” vẫn chưa hề phai mờ trong trí. Với chức vụ mới này, tôi, ngoài việc chỉ huy, điều hành công việc của Đại-Đội Tổnh-Hành-Dinh, phụ trách yểm trợ tài chánh, tiếp liệu cho những đơn vị thống thuộc Bộ-Tư-Lệnh/SĐ như Trung-Tâm Huấn-Luyện, Đại-Đội Trinh-Sát, Biệt-Đội Quân-Báo, Biệt-Đội Tác-Chiến Điện-Tử..v.v, đồng thời trách nhiệm an ninh phòng thủ căn cứ và bản doanh Bộ-Tư-Lệnh. Do vậy, tôi hầu như nhận lệnh và trách nhiệm trực tiếp với vị Tư-Lệnh Sư-Đoàn…Những ai từng phục vụ trong quân ngũ trước năm 1975, hẳn đã biết, tổ chức Quân lực VNCH cấp Sư-Đoàn trở lên mới có đơn vị Tổng-Hành-Dinh, chắc sẽ hiểu và thông cảm cho nhiệm vụ của tôi. Mười bốn chữ “Không……hết”,tâm niệm của quân nhân SĐ5BB vần còn đó!

Một năm sau ngày Đại-Tá Vỹ về làm Tư-Lệnh, SĐ5BB đã lấy lại uy danh xưa; tổ chức  những cuộc hành quân để giáng trả giành dân lấn đất của địch; những trận đánh bẻ gẫy vi phạm hiệp định đình chiến, trong vùng trách nhiệm. Nổi tiếng nhất là chiếm lại đồn Rạch Bắp, một trọng điểm, trên hành lang di chuyển của địch và ngày 1-11-1974, Đại-Tá Vỹ được thăng cấp Chuẩn-Tướng.

             Từ khi viện trợ Mỹ bị cắt giảm, ngân sách quốc phòng không đủ bảo vệ toàn lãnh thổ, cấp trên lập kế hoạch tái phối trí …Nhưng sau ngày Ban-Mê-Thuột thất thủ, 10-3-1975, rồi cuộc triệt thoái, di tản chiến thuật khỏi vùng II ngày 16-3-1975, gây bao thảm cảnh; tiếp theo là những cuộc lui binh từ vùng hỏa tuyến, dọc theo duyên hải miền Trung trở vào; tình hình chính trị, quân sự tại miền Nam thực bất ổn. Bộ-Tư-Lệnh SĐ5 được lệnh dời về Bình-Dương và để một Bộ-Chỉ-Huy trung đoàn ở Lai-Khê. Sư-Đoàn đã lên kế hoạch di chuyển. Đại-Tá Thoàn, Tư-Lệnh-Phó đã có mặt tại Bình-Dương, các bộ phận khác sẽ dần dần di chuyển về địa điểm mới. Thủ đô Saigon, không khí ngộp thở, người ta bàn tán về những thay đổi trong chính phủ và có thể thành lập chính phủ liên hiệp v.v.  Rồi lại có những nguồn tin Nam Việt-Nam đã bị bán đứng cho Bắc-Việt. Lại thêm tin không vui từ mặt trận đưa về: Ngày 28 tháng 3-1975, Đà-Nẵng và Quân-Đoàn I bỏ ngỏ. Các đài phát thanh ngoại quốc, không biết vô tình hay cố ý loan những tin bất lợi cho Miền Nam. Dân Sai gon xôn xao tìm đường chạy ra nước ngoài. Tháng Tư: đón nhận các quân nhân và gia đình di tản từ miền Trung, từ Cao Nguyên. Tháng Tư: tái phối trí, tái định cư; tháng Tư: Bộ Tư-Lệnh Tiền-Phương Quân-Đoàn III ở Phan-Rang thất thủ; lập phòng tuyến mới bảo vệ Saigon. Tháng Tư : tìm nhau, thất lạc, thương vong khi di tản v.v..Tháng Tư hoảng loạn, tinh thần quân sĩ giao động, sa sút. Người dân thực hoang mang, ngơ ngác…Những gia đình có liên hệ đến Mỹ, gia đình viên chức cấp cao, Tướng lãnh, v.v tìm đường ra đi lánh nạn. Rồi bàn giao chức vụ Tổng-Thống để…ra đi khi trời tối; Rồi lại bàn giao chức vụ Tổng-Thống để …tìm giải pháp…đầu hàng v.v.

             Ngày 28-4-1975, lúc 7 giờ sáng, tôi đưa gia đình Tướng Vỹ (gồm Bà Vỹ và 4 con: 3 trai, 1 gái) đến điểm hẹn gần phi trường Tân-Sơn-Nhứt để làm thủ tục di tản ra nước ngoài. Hôm đó, tôi đã thấy có gia đình của Tướng Toàn, Tướng Thi, Đại-Tá Thoàn và một vài Sĩ-quan ở Bộ Tổng-Tham-Mưu. Mỗi gia đình riêng một danh sách. Một sơ suất nhỏ không ngờ : danh sách lên tàu họ trao cho tôi, thiếu tên một con trai của Tướng Vỹ. Dĩ nhiên nhân viên phụ trách đã điều chỉnh và mọi việc cũng êm xuôi. Một chiếc xe buýt lớn màu ô liu đậm, của quân đội Mỹ, có nhân viên bảo vệ, chở những người di tản vào trong khu vực hạn chế, để lên máy bay. Có ai ngờ, chuyến bay đã mang đi nụ cười héo hắt, ánh mắt ngây thơ vô tội….từ đây, không thấy chồng, không thấy cha… Xong việc, tôi lập tức trở về đơn vị.

            10 giờ sáng 28 tháng 4-1975, lên tới Lai-Khê, tôi gặp Tướng Vỹ tại văn phòng Tư-Lệnh. Tôi đưa Ông bức thư dán kín, do phu nhân của Ông nhờ trao. Bức thư khá dầy, cầm hơi nặng tay. Ông mở thư, đọc ngay rồi hỏi tôi: “Bà xã “moi” khóc nhiều lắm hả” (1)? Không đợi tôi trả lời, Ông tiếp: “Bà ấy đủ sức lo cho mấy đứa nhỏ”! Nét mặt Ông lúc ấy rất bình thản; đôi mắt Ông  ánh lên một niềm tin, đồng thời bàn tay phải đưa lên chiếc kệ gỗ kế bên, nơi để ít vật kỷ niệm, và đặc biệt, Ông đặt tay lên một khẩu súng lục nòng ngắn p.38, để trên kệ. Ông chầm chậm gật đầu, như  cảm thấy yên tâm về gia đình; nay dành toàn tâm toàn ý cùng quân sĩ chống giặc. Bàn tay Ông vỗ nhẹ lên khẩu súng ngắn. Rồi Ông chỉ thị tôi về Bình Dương, ghé kiểm soát doanh trại mới, để chuẩn bị di chuyển Bộ-Tư-Lệnh vào những ngày sắp tới. Ông còn dặn dò tôi về lo cho gia đình, xong trở lên đơn vị, cùng Ông “Sống chết có nhau”! 

            Trưa ngày 28-4-1975, rời Lai Khê đi Bình-Dương, ghé kiểm tra doanh trại mới; bốn giờ chiều, tôi về Saigon. Gia đình cho biết chú em tôi, Nguyên-Vũ, đã lo được phương tiện di tản, có ý chờ tôi về. Nhưng tôi về không kịp. Nguyên-Vũ cho gia đình biết là vào Dinh Độc-Lập thực hiện cuộc phỏng vấn. Chiều hôm ấy, 28 tháng 4 năm 1975, diễn ra một sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt, thời khắc mà Tổng Thống Trần-văn-Hương bàn giao chức Tổng-Thống cho Đại-Tướng Dương-văn-Minh. Tôi liền đi đến dinh Độc-Lập, không phải để chứng kiến lễ bàn giao, mà muốn tìm em tôi. Đến góc đường Hồng-Thập-Tự và Hai-Bà-Trưng, súng nổ rất nhiều, nguy hiểm quá, đành quay về. Càng lo lắng hơn, khi có phi cơ lạ ném bom phi trường Tân-Sơn-Nhứt… Đêm hôm ấy sao dài quá! Nghĩ về đơn vị; trông tin tức của chú em. Thức chờ sáng mới thấm: đêm sao qua chậm thế!

Sáng sớm hôm sau, 29/4/75, quay lại  những con đường quanh Dinh Độc-Lập, xác một số quân nhân  nằm dọc lề đường. Nhưng không “xác nào là em tôi”.Lòng chất nặng ưu tư, tôi trở lên đơn vị. Dọc đường, gặp đoàn xe di chuyển Quân Đoàn III, từ Biên-Hòa về Gò-Vấp. Xe tôi vừa qua quận Lái-Thiêu, đường bị đóng vì địch quân đặt chốt chặn hướng lên Bình-Dương, Lai-Khê. Quân cảnh, cảnh sát dã chiến, lực lượng quân sự địa phương đặt những chướng ngại vật, chăng kẽm gai không cho lưu thông. Tôi quay lại Saigon. Tâm trí rối bời, không yên lòng, buồn và lo. Tình hình thay đổi từng giờ. Chính phủ mới yêu cầu Mỹ đóng cửa Văn Phòng Tùy-Viên Quân-Sự.Tối 29-4 trực thăng Mỹ quần thảo trên bầu trời. Máy vô tuyến liên lạc tầm xa, gắn trên xe tôi, bị nhiễu sóng, không sử dụng được…Cả thành phố náo loạn…

 Sáng 30-4-1975, Tổng-Thống Dương-Văn-Minh tuyên bố đầu hàng; trời Saigon mưa nhẹ; không biết đây có phải là những giọt lệ xót thương số phận của một đất nước nhược tiểu. Thế là Miền Nam sụp đổ. Rồi trả thù, nợ máu, tù đầy. Nước mất nhà tan. Không còn tiếng bom đạn, nhưng lại vang lên tiếng oán than, nguyền rủa, kêu cứu. Tình người và nghĩa đồng bào ở đâu? Nói đến bao giờ và nói sao cho hết những nỗi đau. Nếu ghi lại thì nước biển, trúc rừng liệu có đủ chăng?… Tôi vẫn thầm nghĩ : Đúng là ý Trời! Thực không ngờ trưa 28 tháng 4-1975, tôi gặp Tướng Vỹ lần cuối. Lời nói sau cùng của Ông và đặc biệt, hình ảnh bàn tay Ông vỗ nhẹ vào khẩu súng ngắn hôm ấy, là dấu ấn, khó phai mờ trong trí tôi …

Những ngày còn trong nước, cũng như khi định cư tại Hoa-Kỳ, cựu Chánh văn phòng của Tướng Vỹ, Đại-Úy Tiêu-Nguyên, đã gặp tôi và xác nhận : Ngay sau khi biết Tướng Vỹ dùng súng tự sát, Đại-Úy Nguyên trình ngay với Đại-Tá Tham-Mưu-Trưởng. Thiếu-Tá Đàm-Quang-Hiển, Y-Sĩ-Trưởng kiêm Tiểu-Đoàn-Trưởng Tiểu-Đoàn 5 Quân-Y được gọi lên gấp, với một chút hy vọng mong manh cấp cứu chủ tướng …Nhưng từ phòng ngủ của Tư-Lệnh bước ra, y sĩ Thiếu-Tá Đàm-Quang-Hiển mắt rưng lệ, nghẹn ngào : “ Thiếu-Tướng…. đi rồi !”…

Định cư tại Liên bang Mỹ vào mùa Xuân 1990; tuy phải bận rộn lao động mưu sinh, tôi đã tìm đọc một số ít tài liệu lịch sử, viết về giai đoạn chiến tranh Việt-Nam và đọc những bài viết nhắc đến các vị Tướng tuẫn tiết ngày 30 tháng 4–1975. Riêng với Tướng Vỹ, có những tác giả ghi lại qua lời kể của ai đó; có những tác giả chỉ ghi lại nội dung một vài lần gặp gỡ, hoặc có tác giả, nhớ lại một thời gian, đã từng phục vụ dưới quyền Tướng Vỹ v. v. Mỗi người kể lại theo một góc nhìn của riêng mình. Theo tôi, đây là những tư liệu rất quý. Tuy nhiên có những bài viết, đôi chỗ hơi “cường điệu”, khiến người đọc nhận ra ngay, là tác giả dựa vào những thông tin chưa được kiểm chứng …Gần đây nhất, một tuần trước, người bạn tù Phạm-Đức-Vượng, từ San Jose, bang Cali chuyển cho tôi vài bài viết, của… ai đó, được thu âm và phổ biến rộng rãi tại Hoa-Kỳ; tiếc thay, nội dung đề cập đến Tướng Lê-Nguyên-Vỹ và Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh, chưa được chính xác lắm…

 Nhớ lại, mười bẩy năm trước, 2007, vào một ngày đẹp trời, tại thành phố Houston nắng ấm tình nồng thuộc Bang Texas; nhân đến dự buổi họp mặt toàn quốc của một hội đoàn quân đội; mọi người đề nghị tôi nói đôi điều về Tướng Lê-Nguyên-Vỹ và Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh. Khi tôi phát biểu xong; một người bạn mới quen,Vũ-Văn-Vượng (lại tên Vượng), là cựu Sĩ-quan Sư-đoàn 25 Bộ-Binh, đã đề nghị tôi phải viết lại những gì tôi biết về Tướng Vỹ. Anh đặc biệt nhấn mạnh sẽ “có tội” nếu không nói lên sự thực. Tôi tự hỏi :Tôi có tội sao? Hai chữ “có tội”khiến tôi như bừng tỉnh sau cơn mê dài và tự thấy cần phải nói lên, phải ghi lại những sự thực mà tôi biết. Như thêm giọt nước làm tràn ly; và cảm thấy có mũi nhọn của một lưỡi lê, đâm vào lưng, nhói buốt, thôi thúc tôi. Và bài viết “Vài cảm nghĩ về Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh & Tướng Lê-Nguyên-Vỹ” ra đời, đăng trong  tạp chí Hợp-Lưu. Bài viết này đã được trân trọng đón nhận và là một tư liệu lịch sử. Bởi thế, có nhiều cơ quan truyền thông khác, cùng những mạng truyền thông xã hội đã tiếp tay phổ biến. Lần này, anh bạn tù Phạm-Đức-Vượng, người biết nhiều về gia đình tôi, lại dùng “chiêu khích tướng”, gửi cho tôi những tài liệu cần được “bổ sung” để, một lần nữa tôi phải nói thêm những sự thực mà tôi biết về Tướng Vỹ. Tuy nhiên, tôi nghĩ đây cũng là trách vụ, nên đã mạnh dạn ghi lại những gì tôi biết, dù có một chút riêng tư, nhưng là sự thật. Nói đến sự thật, chắc mọi người đều đồng ý, có những sự thật nói ra, thực đau lòng. Thân làm Tướng, đánh đông dẹp bắc, vào sinh ra tử, oai hùng nơi trận địa; trấn giữ thành, thành mất, phải tính sao đây? Gương sáng tiền nhân Hoàng-Diệu, Nguyễn-Tri-Phương…còn đó. Chẳng lẽ để quân địch vào trói tay đưa đi tù sao? Chắc không ai quên câu nói của người xưa : thà chết chứ không chịu nhục; hay nói khác đi là chết vinh hơn sống nhục …

Chết vinh hơn sống nhục. Có những cái chết lưu danh thiên cổ. Có những cái chết để lại tiếng xấu muôn đời. Người ta không thể chọn nơi mình sinh ra nhưng có thể chọn cho mình một cái chết oai hùng, để lại tiếng thơm, sử sách lưu truyền mãi mãi, như 5 vị Tướng đã làm…

Di cốt Tướng Lê-Nguyên-Vỹ đã đưa về an táng tại quê nhà ở Sơn-Tây, miền Bắc nước ta. Suốt chiều dài cuộc chiến “Quốc Cộng” vừa qua, riêng dòng họ Lê, tỉnh Sơn-Tây, theo tôi biết, đã cống hiến nhiều thành viên phục vụ trong quân lực VNCH. Một số đã hy sinh vì tổ quốc; trong quân chủng Lục quân có: Lê-Nguyên-Vỹ, Lê-Quốc-Anh; Hải quân có: Lê–Anh-Tuấn; Không quân có: Lê-Nguyên-Hải. Cùng với bao anh hùng khác, đã góp công sức, máu xương, mạng sống; những chiến binh họ Lê hiên ngang, đáp đền ơn nước, trả nợ núi sông, rạng ngời trong quân sử.

            Những lần về thăm quê hương, có dịp đi lại trên quốc lộ 13, ngang khu vực có tên gọi Lai-Khê thuộc quận Bến-Cát, tỉnh Bình-Dương; nơi đã từng đặt bản doanh Bộ Tư-Lệnh Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh; hình như có điều gì huyền bí, không diễn tả được. Phải chăng anh hồn của vị “thần” Lê-Nguyên-Vỹ như ẩn như hiện quanh đây. Vẫn những lô cao su trồng làm mẫu, vẫn còn vài ba tòa nhà gạch khuất sau những tàn lá xanh tươi. Tôi cảm thấy có điều gì bí ẩn, linh thiêng, rợn người, khiến tôi không dám ghé vào, chỉ ngước lên trời cao và thầm khấn nguyện …

   TRIỆU – VŨ  
(Houston, TX) 

 “moi”: tiếng Pháp, có nghĩa là: tôi

Dặm trường

vanviet.info/van

Văn 14 Tháng Tư, 2019

Trần Doãn Nho
Post by Sơn râu 17 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Kỳ 14

Chương 40

Hạnh đánh răng rửa mặt xong thì cũng đúng lúc thông báo đặc biệt về việc đổi tiền được truyền đi qua loa phóng thanh đặt trên các toa tàu. Nhân viên của một đội công tác gọi là “Ðội đặc nhiệm đổi tiền cho khách vãng lai” đi các toa phân phối tờ đơn đổi tiền, hướng dẫn, giải thích cách thức đổi tiền.  Quất nói:

      –     Bọn họ đã bí mật lên tàu từ ga Mường Mán hồi nửa khuya.

      Cả tàu nhốn nháo. Nhiều người hoảng hốt chạy quanh.  Một số khác mếu máo, khóc lóc. Dù cơn sốt đổi tiền đã diễn ra suốt mấy tuần nay, nhưng nhiều người không tin, vẫn giữ nhiều tiền mặt. Bây giờ mang tiền ngồi trên tàu thì thật là vô kế khả thi. Những con buôn như Hạnh, chẳng mấy ai giữ tiền mặt, nên chỉ có xôn xao đôi chút lúc đầu, rồi bình thản trở lại. 

      Công tác đổi tiền diễn ra chậm chạp. Khách trên tàu đã đông, lại đủ thành phần. Chỗ chèn làm việc chật chội, không thuận tiện, khách di chuyển khó khăn. Lúc đầu, chỉ có nhân viên đội công tác làm việc, nhưng đến trưa, thấy tình hình không mấy khả quan, nên họ yêu cầu sự tiếp tay của nhân viên tàu và cả công an cơ động. Hạnh còn hơn bảy ngàn, đưa cho Quất đổi ngay trong những giờ đầu. Cảm giác đầu tiên của nàng khi cầm những tờ giấy bạc mới tinh là vui. Cả một cọc tiền cất nặng túi được thay thế bằng mười mấy tờ 50 đồng gọn bưng, xếp vừa vặn trong chiếc ví nhỏ. Nàng nhủ thầm: thế cũng hay, bán cả cây vàng mang đi quá dễ, có thể cất gọn gàng trong người.

      Nhưng cảm giác vui vẻ đó không tồn tại lâu. Khi tàu dừng lại ở Nha Trang, nàng xuống ga tìm gánh bún. Sân ga vắng tanh, tuyệt không có một bóng người. Không bún, không cà phê, không hàng rong.  Chỉ có nắng và rác. Hóa ra mọi người bận ở nhà đổi tiền. Ðành phải vào cửa hàng. Cửa hàng cũng vắng hoe. Chỉ có một nhân viên ngồi ngáp vắng ngáp dài. Ðưa tờ năm chục đồng ra, cô ta lắc đầu. Lấy cái gì mà thối đây?   Tờ bạc hốt nhiên trở nên nặng nề khác thường. Năm chục mà là năm trăm. Tiền chục, tiền năm và tiền một đồng quá ít. Mà ngay cả cầm tờ một đồng cũng không dễ mua được gì, vì trị giá nó vẫn là mười đồng. Nhưng dù sao, nó cũng dễ lưu hành nhất.  Trên tàu, người ta chỉ tiêu những thứ lặt vặt, trị giá một đến hai đồng tiền mới: vài quả trứng gà luộc, một phần cơm, chai nước ngọt, gói thuốc chẳng hạn. Tình hình hoàn toàn bế tắc, vì có tiền mà không mua được, có hàng mà không bán được. Toa cung ứng trên tàu, ngoài việc phục vụ cho nhân viên, đành phải ngồi chơi, chịu trận.

      Ðến quá trưa, trong giới con buôn, đột nhiên truyền miệng nhau một “đường dây” đổi tiền lẻ: 50 đồng lấy 49 đồng tiền lẻ. Nghĩa là để có tiền lẻ, phải chịu mất đứt một đồng.  Hạnh chấp nhận ngay, đang hỏi dò chỗ đổi, thì Quất cản:

      –     Ðể đó anh lo. Dại gì mất toi một đồng.

      –     Nhưng làm sao mình ăn cơm và tiêu vặt đây?

      Quất kéo tay nàng:

      –     Ði với anh!

      Hạnh theo Quất, lòng phân vân không biết anh ta tính toán cách nào. Anh ghé tai Hạnh:

      –     Tới toa cung ứng, em thích gì cứ kêu, cứ ăn. Anh sẽ ký sổ mắc nợ giùm em. Ðâu có sao. Tụi mình làm ăn chung mà, sợ gì. Phải không nào?

      Nghe cũng có lý, Hạnh đồng ý ngay. Tuy thế, khi ăn xong, nàng nghĩ ra một giải pháp có vẻ “ổn thỏa” hơn: nàng đưa hẳn cho nhân viên toa cung ứng tờ 50 đồng, ăn ghi sổ, rồi trừ dần đến khi nào hết thì thôi. Quất cười:

      –     Em chu đáo quá! Bộ anh không bao em được sao?  Thôi, cô Tuyết à, đừng nhận 50 đồng của Hạnh. Tiền đó coi như tôi nợ.

      Hạnh lắc đầu:

      –     Ðâu có được. Tính mình ưa sòng phẳng. Chuyện này Quất nên đứng ngoài. Chị Tuyết giữ giùm mình tờ 50 đồng này đi. Mình còn đi tàu này nhiều lần mà.

      –     Không, để anh bao!

      Hạnh hỏi thắng:

      –     Liệu có bao mãi được không?

      –     Sao không. Bao em luôn cả đời đấy. Chỉ sợ…

      Hạnh cười duyên:

      –     Sợ gì?  Sợ chị ấy hả?

      Quất nói lãng:

      –     Thôi, coi như xong đi. Nào ta về toa đi.

      Hạnh cất tờ 50 đồng vào túi. Quất nói:

      –     Sau chuyến này, anh nghỉ phép năm đấy. Em liệu có đi tiếp thì đi, mà không thì về nhà nghỉ một thời gian.

      –     Thế à? Ở nhà hú hí với vợ con, thích nhỉ?

      –     Hú hí thì lúc nào chả hú hí, cần gì phải đợi đến phép năm. Anh định đi Ðồ Sơn chơi.

      –     Ðồ Sơn là chỗ nào vậy Quất?

      –     Ðồ Sơn là bãi biển Ðồ Sơn ấy mà, em không biết sao?

      –     Ở đâu?

      –     Ở Hải Phòng.

      –     Ồ, Hải Phòng. Mình nghe nói đến Hải Phòng nhiều.  Mình biết bài hát “Hải Phòng hoa phượng đỏ”, mình thích lắm.  Gì mà “Tháng năm rợp trời hoa phượng đỏ, ôi Hải Phòng thành phố thân yên..”., phải không? Té ra Hải Phòng cũng có hoa phượng đỏ như Huế mình. Nhưng chẳng biết nó có đẹp như Huế mùa hè không. Trời, Quất chưa vào Huế chơi mùa hè đó.  Hoa phượng nở rợp trời, đẹp hết ý. Quất có biết bài hát của Trịnh Công Sơn “Mưa hồng” không?

      –     Anh có biết bài gì gọi là “xưa” đó, cái gì xưa nhỉ?

      –     Diễm xưa.

      –     Ðúng, “Diễm xưa”.

      –     Mà “diễm xưa” là cái gì nhỉ?

      –     Quất tệ thì thôi. Diễm xưa mà không biết là gì.

      –     Ai mà biết. Bộ Hạnh biết à?

      –     Sao không? Thì “diễm xưa” là…là là…ờ mà là cái gì nhỉ? Hình như mình có biết mà giờ quên rồi.

      Quất vuốt má Hạnh:

      –     Thấy chưa! Tưởng giỏi!

      Hạnh ngượng nghịu nói lảng:

      –     Bài “Diễm xưa” cũng hay mà bài “Mưa hồng” cũng hay.  Quất có biết vì sao gọi là mưa hồng không?

      –     Làm sao biết được. 

      –     Mưa hồng là hoa phượng rơi ngập trời như một trận mưa màu đỏ vậy. Chỉ có chứng kiến cảnh phượng rơi ngập trời như vậy mới hiểu được ý của bài hát.

      –     À, thì ra thế. Cái bọn nhà thơ lắm tưởng tượng. Mưa hồng với chả mưa hồng. Anh thì chỉ thích mưa tiền. 

      Hạnh chép miệng, gật gù:

      –     Có lẽ thế. Mưa hồng là chuyện của ngày xưa rồi. Giờ mình cũng chẳng thấy mưa hồng hay mưa xanh gì nữa cả.  Mình cũng quên bẵng là Huế bữa này có còn hoa phượng không nữa. Mà này, Quất về đó dẫn bà ấy đi tắm biển, thích nhỉ?

      –     Không đâu. Thực chất là anh về tìm đường làm ăn dưới ấy.  Nói về Ðồ Sơn là nói cho nó… nó cao cấp thế, chứ về Ðồ Sơn làm quái gì. Về cảng. Cảng Hải Phòng lớn lắm, đồ ngoại tùm lum. Có cả công ty xuất khẩu. Anh về dưới ấy liên lạc với bà Lý xem thử có thể chen vào một khâu làm ăn nào không.  Làm ăn với ngoại thương, không trúng quả thì thôi, chứ trúng thì đậm lắm. Em có thích về dưới đó  thử cho biết không?

      Hạnh nói:

      –     Mô được. Chuyến này trở vào, mình phải ghé nhà.

      Quất nhìn thẳng vào mặt Hạnh, đùa:

      –     Lại nhớ ông xã rồi, phải không?

      –     Ừ, thì nhớ chứ sao không. Nhớ mấy đứa nhỏ. Cả tháng rồi chứ có ít đâu, để xem, mình đi từ hôm mồng mười tháng rồi, bây giờ mà mồng mấy nhỉ, mồng 5 hay sáu, mồng sáu.  Ngót một tháng rồi. Quất về dưới đó bao lâu?

      –     Xuống đó có vài hôm à. Ðâu có ở lâu làm gì. Từ Hà Nội về Hải Phòng có mấy tiếng đồng hồ.

      Hạnh im lặng, nhìn ra ngoài. Tàu đang chạy qua những cánh đồng trơ cuống rạ, ngập nước lúp xúp. Mặt nước phản chiếu ánh mặt trời xế trưa hắt vào mắt, ran rát. Nàng đưa tay dụi mắt, quay vào, thấy Quất đang nhìn chăm, mỉm cười.

*

      Tàu đến ga Vinh xế chiều ngày hôm sau. Quất bảo:

      –     Tàu dừng lâu vì có nhân viên bảo trì kiểm tra lại máy móc.  Em muốn đi đâu thì đi.

      Tàu vừa dừng bánh, Hành xuống ngay. Nàng mua một xô nước rửa ráy mặt mày tay chân xong, rồi đi lửng thửng về cổng ga. Mới đi được một đoạn, thì Quất từ trong văn phòng ga, hớt hải chạy tới. Anh thở hổn hển, nói:

      –     Trở lại tàu mau. Tụi nó sắp “tuôn” hàng.

      Nàng sửng sốt:

      –     Sao lại tuôn hàng? Không phải sửa chữa máy móc à?

      –     Thôi, về đi. Giải thích sau.

      Quất chạy đi ngay. Hạnh hối hả chạy theo, vấp té mấy lần trên sân ga lổn chổn những đá, gỗ, cọc sắt nằm rải rác. Quất đứng đầu toa, lên giọng loan báo:

      –     Yêu cầu các đồng chí và các bạn, ai ở chỗ nào ngồi yên chỗ đó. Ðồ đạc, hàng hóa, ai nấy giữ. Ðội kiểm tra cơ động trung ương sắp lên tàu làm việc. 

      Qua cửa sổ tàu, Hạnh nhìn thấy một đoàn công an – thuế vụ dàn hàng ngang tiến về tàu. Ðoàn người từ tốn bước đều, nghiêm nghị, ung dung. Khi cách tàu chừng vài mét, đoàn người tách thành từng nhóm. Một tiếng còi đột ngột ré lên. Họ đồng loạt ào ạt nhảy lên tàu. Chỉ trong nháy mắt, cả đoàn tàu bị khống chế. Tàu chết sững. Mọi người kinh hoàng, nín thở.  Hạnh đứng lùi lại, nép sát người vào thành toa. Có đến tám người trong toa. Bằng một thái độ hung bạo và dứt khoát, họ lần lượt lôi ra những xách hàng, bao hàng, những gói đồ, đưa tay nắn bóp chung quanh hoặc mở ra xem qua loa rồi hỏi: “của ai?” hoặc “đã đóng thuế, đóng cước chưa?”.  Không đợi câu trả lời, họ tức tốc ném ngay hàng qua cửa sổ. Người ở dưới đỡ bịch hàng rồi ném ra khoảng đất trống phía sau. Tám người mặt mày đằng đằng sát khi, trông như những hung thần, bước lui, bước tới, nhảy lên ghế, lôi hàng, giựt hàng, ném ào ạt qua cửa sổ. Khóc lóc, mặc! Năn nỉ, ỉ ôi, mặc! Hàng đổ tung toé trên sàn tàu, dưới đất. Các đống hàng cao dần thành những hòn núi nhỏ dọc theo đường ray. Nhiều bà tiếc của, cố níu theo xách hàng, không buông. Mấy tay công an phải xúm lại, người đè, người kéo xách hàng, giựt ra, ném xuống. Có bà nhảy luôn qua cửa sổ theo hàng rơi xuống đất, ôm luôn bao hàng lăn tròn không chịu buông. Các nhân viên an ninh ga phải tiếp tay đến kéo bà ta đi chỗ khác. Bà ta vùng vẫy dãy dụa, vừa vùng vừa la, khóc, chưởi mắng tùm lum.

      Làm sạch trên tàu, dưới gầm xong, họ lục soát phòng kiểm soát viên. Một tay công an lật giường nằm lôi ra hai xách thuốc lá, mở tủ áo quần, lấy thêm một xách nữa. Anh ta dùng thanh sắt, nạy trần tàu, tìm thấy hơn chục tút thuốc dấu bên trên. 

      Ðội tuôn hàng làm việc y như tiến hành một cuộc tập kích quân sự vào đồn địch. Nhanh chóng, tàn khốc, quyết liệt. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, họ hoàn thành công tác. Các toa trống hẳn. Hàng hóa chất thành từng núi cao nằm dọc theo đường ray. Một tiếng còi vang dài. Các công an, thuế vụ rút xuống đất, sắp thành những vòng cung bao quanh các núi hàng trong lúc những toán công nhân đường sắt lần lượt chuyển hết hàng vào kho.

      Hạnh đứng nhìn cảnh tuôn hàng y như trong mơ. Lúc đầu, nàng đau xót, bần thần, điên tiết. Nhưng cuối cùng mất hết cảm giác. Ðôi mắt lạc thần. Nàng đứng bất động như tượng đá.  Toán tuôn hàng đã xuống rồi, nàng vẫn còn đứng đó. Một lúc sau, tỉnh lại, nàng run rẩy bước tới đầu toa, gục mặt, khóc ngất.  Thế là hết!  Hết hẳn.

      Một ai đó đập nhẹ vào vai nàng. Nàng thẫn thờ quay lui.  Quất buồn rầu nói:

      –     Anh có gửi một ít ở toa cung ứng. Không biết sự thể ở đó ra sao.

      Hạnh hỏi:

      –     Xong rồi sao?

      Quất gật đầu, quay đi. Nàng đờ đẫn bước vào toa. Hành khách đang thu dọn lại hành lý, bàn tán sôi nổi. Một số người không ngớt chưởi thề. Một số khác khóc. Khung cảnh tan tác, mệt mỏi và chán chường như chiến trường sau một trận chiến ác liệt. 

      Quất trở lại, nhìn Hạnh, thở dài:

      –     Mất sạch. Bọn chúng lục lạo mọi nơi, không để sót một chỗ nào.

      Hạnh ngơ ngác:

      –     Thế à!

*

      Một thông báo đặc biệt được lập đi lập lại qua hệ thống loa phóng thanh của ga cho biết: đợt kiểm tra hàng hóa đột xuất trên tàu Thống Nhất 4 được thực hiện bởi toán công tác hỗn hợp công an – thuế vụ-giao thông đường sắt nhằm bảo đảm cho các quy định của nhà nước về việc lưu thông hàng hóa bằng tuyến đường sắt. Tất cả các hàng hóa được tạm lưu giữ tại ga Vinh sẽ được trả lại cho chủ hàng. Ai muốn nhận lại hàng hóa của mình, tiếp xúc với trạm thuế Công Thương Nghiệp ga, mang theo đầy đủ giấy tờ chứng minh gồm có: giấy đóng thuế, cước chuyên chở và các hóa đơn mua hàng liên hệ.

      Nghe xong, Hạnh mừng.  Rồi thất vọng.  Mừng vì hàng vẫn còn đó. Thất vọng vì nàng chẳng có giấy tờ gì chứng minh cả.  Làm sao mà có giấy tờ cho được! Hàng hóa lậu thuế, lậu cước. Vả lại, hàng của nàng, thuốc lá, là hàng ngoại, thuộc diện “quốc cấm”, thành thử có muốn đóng thuế cũng không được.  Chẳng hy vọng gì lấy hàng ra một cách hợp pháp. Gặp Quất ở cửa toa, nàng buồn bã nói:

      –     Mình ở lại.

      –     Ðể làm gì?

      –     Không lẽ bỏ đi. Mà đi đâu? Còn gì nữa mà đi.

      Quất cắn môi, suy nghĩ rồi bảo:

      –     Em định làm gì?

      –     Mình tìm đường để chạy hàng ra.

      –     Không dễ đâu. Theo anh biết, chuyến này họ muốn lấy hết.

      Hạnh cương quyết:

      –     Mình không thể bỏ được. Còn nước còn tát.

      Quất thở dài:

      –     Em muốn thì cứ ở lại. Nhưng em định ở đâu?

      –     Mình chưa biết. Quất có quen ai đây không?

      –     Có, nhưng hắn chẳng có nhà cửa gì ở đây cả.

      –     Không sao, cứ giới thiệu cho mình. Mình sẽ tìm cách.  Ðây có nhà trọ không?

      –     Có. Nhưng phức tạp lắm.

      –     Không sao.

      Quất tần ngần nhìn nàng, lắc đầu. Tàu hú còi. Hạnh dứt khoát:

      –     Quất đi đi. Mình tự lo được.

      Quất không nói gì, vội vàng quay bước. Ði được một đoạn, anh quay lại, nói:

      –     Ðến Hà Nội giao ca xong, anh sẽ trở vào.

      Hạnh bước đi như người mất hồn, chẳng buồn nghe Quất nói những gì.

*

      Tàu chạy rồi, Hạnh mới hốt hoảng. Nàng quên hỏi tên của người quen của Quất. Cũng quên cả hỏi mượn thêm tiền để phòng khi cần. Chỉ còn bảy ngàn trong túi, làm sao dủ để chuộc ra một lô hàng ba cây. Ði giữa sân ga mênh mông, xa lạ, nàng cảm thấy mình lạc loài, chẳng còn một chỗ tựa nào.  Nàng rảo bước đi quanh. Những người ở lại lơ ngơ láo ngáo nhìn nhau, mặt mày bần thần. Họ tụ lại từng cụm năm, ba người, nhỏ to than thở. Ai cũng chưa ra khỏi trạng thái bàng hoàng. Có lẽ không ai biết phải làm gì.

      Nàng tiến lại gần một chị có dáng dấp của một “con phe” Hà Nội, hỏi:

      –     Hàng chị cũng bị tuôn?

      –     Vâng. Cô cũng thế à!

      Hạnh đoán đúng, giọng chị ta “rặt” Hà Nội. Chị ta tiếp:

      –     Mẹ kiếp!  Bọn chúng hỏi giấy tờ, tôi lục bóp, chưa kịp tìm ra thì bọn chúng đã ném hàng xuống.

      Một người đàn bà khác đứng gần đó, nói chen vào:

      –     Cái bọn khốn nạn. Chúng làm như giời đất này là của chúng. Chúng tuôn hàng lậu không nói làm gì. Ðàng này, hàng có đóng thuế cước chúng cũng tuôn. Phen này, ra Hà Nội, tôi phải kiện cho chúng nó biết tay. Chúng nó bảo là làm theo chính sách. Chính sách cái con mẹ gì. Nhà nước ta đâu có cái chính sách kiểu đó. Chính sách một, chúng nó làm thành mười.

      Hạnh hỏi:

      –     Vậy bác có giấy tờ gì chứng minh không?

      Người đàn lục bóp, lấy ra mấy tấm giấy:

      –     Sao lại không.  Nhưng chúng nó có xem đâu.

      –     Có giấy tờ thì vào trạm nhận lại được mà.

      –     Nhưng mà chúng chất từng đống như thế kia, biết đâu mà tìm?

      Hạnh hỏi:

      –     Bác đi hàng gì?

      –     Linh tinh.

      –     Bác đóng thuế hết tất cả à?

      –     Ai mà dại thế. Ðóng thuế hết thì thà mang tiền cho chúng nó ăn cho khỏe, đi buôn làm gì?

      –     Vậy hàng không đóng thuế, làm sao lấy ra?

      Người đàn bà thở dài:

      –     Ấy, ấy. Thế mới phiền. Phải đút cho chúng nó ăn, không thì gay đấy!

      Thấy người ta lục tục đi về trạm thuế, nàng cũng bước theo. Tại đây, đã có hàng chục người đứng ngồi, chầu chực.  Nàng xin một mẫu giấy khai báo hàng hóa, xem thử. Mẫu đơn đòi  hỏi phải cung cấp đủ thứ chi tiết về lý lịch, số lượng hàng hóa, loại hàng, trị giá, nơi mua, nơi đóng thuế gốc, nơi cung cấp, ghi chú các chi tiết về bao bì. Ðọc xong, nàng chán nản, ngồi phịch xuống chiếc ghế dài đặt phía ngoài trạm, sát bức tường thành cao, loang lổ. Một số người được kêu vào văn phòng. Họ trở ra với nét thất vọng tràn trề trên khuôn mặt.  Thấy một người đàn ông trong áo quần bộ đội bước ra, nàng đứng dậy, hỏi khẽ:

      –     Tình hình thế nào, chú?

      –     Tôi mua một ít hàng cung cấp cho đơn vị, có giấy tờ đầy đủ, nhưng họ buộc đơn vị phải làm văn thư chuyển vào mới giải quyết.

      Người đàn bà mới nói chuyện khi nãy với nàng, bước vào.  Không đầy ít phút sau, bà ta bước ra, mặt mày giận dữ. Nàng hỏi:

      –     Thế nào bác?

      –     Mẹ kiếp! Nó bảo cứ điền đơn để đó, cứu xét sau.  Hàng hóa đã bỏ vào kho niêm hết rồi.

      Cứ thế, người này ra, người kia vào. Một hồi lâu, người ta chua chát nhận ra một điều: trạm không muốn giải quyết một trường hợp nào cả. Cho dù có muốn giải quyết cũng không thể được, vì cả mấy núi hàng lẫn lộn nhau, làm sao có thể nhất thời xác định được hàng nào là hàng nào, của ai. Mọi người tuyệt vọng nhìn nhau, im lặng. Hạnh ngồi xuống, ôm đầu.  Một âm vang sâu thẳm lập đi lập lại trong đầu nàng: hết rồi, hết sạch rồi. Không còn gì nữa. Vàng. Xe. Tài sản, vốn liếng.  Tiền mượn, tiền vay, tiền để dành. Hình ảnh chồng con chập chờn nhảy múa, hư huyễn.  Làm sao đây, hỡi trời!        

       Trời tối. Sân ga vắng vẻ. Ánh đèn vàng nhạt, chỗ có chỗ không, để lại những mảng sáng tối không đều trên khoảng đất rộng lổn chổn đủ thứ vật liệu bừa bãi. Sau khi nuốt vội vài miếng đồ ăn và ráng uống hết cốc bia vại Trúc Bạch ở cửa hàng ăn, nàng trở lại trạm, kiên nhẫn ngồi đợi. Chờ cho đến khi người khách cuối cùng bước ra, nàng rón rén bước vào. Phòng nhỏ, nhưng khá tươm tất. Bàn có lót kính. Ghế ngồi là một cái ghế xoay, tuy cũ nhưng trông còn chắc chắn. Có lẽ là loại ghế Mỹ mang từ miền Nam ra. Người đàn ông ngồi đó, đứng tuổi, mặt mày thoạt trông không mấy thiện cảm. Da đen, lấm tấm mụn đỏ. Một cái sẹo cỡ chừng hơn đốt ngón tay chạy từ giữa cằm sang một bên môi dưới, nên miệng trông hơi méo. Nàng nản. Nàng chìa gói thuốc samit mở sẵn trước mặt người đàn ông. Ðợi ông ta lấy xong một điếu, nàng để trên bàn, đưa tay đẩy nhẹ về phía ông ta. Nàng nhìn ông ta cười, giữ giọng cho thật duyên dáng, nói:

      –     Dạ, chào anh. Em tên Hạnh, từ miền Nam ra. Em xin phép hỏi anh, anh là trưởng trạm ở đây, phải không ạ?

      Hình như ông ta đã quá quen với giọng điệu của nhiều người đến đây năn nỉ, xin xỏ, nên ném ra một câu khô khốc:

      –     Chị cần gì?

      Nàng khựng lại, nhưng vẫn giữ nụ cười. Giọng nàng nghe ngọt lịm:

      –     Công tác ở đây cũng bận bịu lắm, anh nhỉ?

      Người đàn ông không nói gì, châm thuốc hút. Ông ta phà ra một cụm khói bay vòng vèo trong phòng. Khuôn mặt ông ta hơi giãn ra. Nàng hỏi:

      –     Anh công tác ở đây chắc cũng lâu rồi?

      Ông ta để điếu thuốc trên cái gạt tàn bằng gỗ, ngẩng nhìn:

      –     Ðiều đó thì quan hệ gì đến chị?

      Hạnh nhoẻn miệng cười, mắt long lanh:

      –     Ðâu có. Em hỏi cho biết vậy mà. Em có một người anh bà con cỡ tuổi anh hiện công tác ở Ngân Hàng Trung Ương Hà Nội. Anh em mà đến mấy chục năm mới gặp nhau đó anh.  Anh ấy đi tập kết từ hồi 1954. Anh chắc cũng ở vùng này?

      –     Sao chị biết?

      –     Em đoán thôi, nhờ giọng nói. Thành phố Vinh này lớn thật. Em muốn đi nhiều nơi cho biết, nhưng chưa có thì giờ.  Khi nào có dịp, anh giúp em đi chơi được không?

      Người đàn ông chợt bật cười:

      –     Chị này đến lạ! Làm sao tôi lại có thể đưa chị đi chơi được. Mà lại, thành phố Vinh này buồn lắm, có gì đâu mà đi.

      –   Mỗi thành phố có một nét đẹp riêng. Nghe nói chợ Vinh cũng lớn lắm phải không anh?

      –     Thì cũng có lớn thật đấy, nhưng chả bằng trong miền Nam đâu.

      –     Anh nói thế chứ, đâu cũng có chỗ lớn chỗ nhỏ. Như chợ Ðông Ba trong vùng em chẳng hạn, ai nói đến Huế cũng nhắc đến chợ Ðông Ba, chứ nó mô có lớn. Nhỏ chút xíu hà.

      Giọng người đàn ông bây giờ có hơi vui:

      –     Chợ Ðông Ba là ở Huế, phải không?

      –     Dạ, chợ Ðông Ba là chợ lớn nhất ở Huế. Anh có bao giờ vô trong đó chưa?

      –     Chưa. Tôi mới vào có Sài Gòn.

      Hạnh reo nhỏ:

      –     Thế là anh có đi ngang Huế của em rồi. Lần sau, anh có đi công tác trong Nam, ghé em chơi. Nhà em ở Thành Nội.  Em sẽ chở anh, à không, em cho anh mượn xe đi thăm lăng tẩm, chùa chiền, thăm Ðại Nội. Anh biết không, Huế có nhiều nơi đẹp và thơ mộng lắm.

      Cửa bỗng mở. Một nhân viên bước vào:

      –     Báo cáo đồng chí thủ trưởng, có đồng chí bên Ðường Sắt cần gặp.

      –     Nói đồng chí đợi một lát. Chị, bây giờ tôi có nhiều việc cần phải giải quyết. Tôi thích nghe chuyện Huế lắm, nhưng ta để dịp khác. Bây giờ thì chị cần gì?

      Giọng Hạnh đột nhiên trở nên sướt mướt:

      –     Anh, anh giúp em, anh làm ơn giúp em. Hàng hóa em bị tuôn hết trơn hồi chiều. Tất cả vốn liếng em để vào đó hết.  Toàn gia đình em hoàn toàn dựa vào đó. Anh ráng giúp em, rồi sau đó, anh muốn…muốn gì ở em, em cũng chịu hết. Anh, giúp em đi anh.

      Hạnh đứng dậy, đi vòng phía bên bàn, tiến đến gần người đàn ông, mắt nhìn ông ta tha thiết. Chưa bao giờ nàng cảm thấy mình bạo dạn và tình tứ đến như thế. Ông ta dùng chân đẩy chiếc ghế thụt lùi một khoảng, sửng sốt nhìn người thiếu phụ lạ đang bước tới. Ông ta đưa tay kéo hộc bàn, tay kia đưa lên, ra dấu ngăn lại, miệng lắp bắp:

      –     Chị…cô dừng lại.

      Hạnh giật mình, dừng lại, miệng vẫn mỉm cười. Người đàn ông chỉ chiếc ghế, giọng rắn lại:

      –     Chị ngồi xuống kia đi. Ðây là cơ quan nhà nước.

      Hạnh nghe lời bước lui lại ghế của mình, nói:

      –     Em xin lỗi anh về tội đường đột. Nhưng xin anh thông cảm cho hoàn cảnh của em.

      Người đàn ông hỏi:

      –     Sao, chị đi hàng gì?

      –     Dạ, thuốc lá.

      –     Ngoại?

      –     Dạ.

      –     Bao nhiêu?

      –     Dạ, khá nhiều.

      –     Thì nhiều là bao nhiêu?

      –     Dạ, 50 cây Ba số, Jet, Craven A.

      –     Có giấy tờ gì không?

      –     Dạ, dạ không.

      –     Bao bì thế nào?

      –     Chỉ có hai xách. Số còn lại không có bao bì gì hết.

      –     Xách màu gì?

      –     Màu xanh đậm.

      –     Chị đi xe nào?

      –     Xe 8, Thống Nhất 4.

Người đàn ông ngẫm nghĩ, rồi vỗ trán nói:

      –     Gay đấy. Ðang mùa chiến dịch.

      –     Dạ, anh nói gì? Chiến dịch gì vậy anh?

      –     Không, tôi nhầm. Chuyện nội bộ mà. Còn vụ này là…là…hàng khi chở vào kho để lẫn vào nhau, không phân biệt được thứ nào ra thứ nào.

      –     Bởi vậy em mới nhờ anh.

      –     Tất cả vừa mới nhập kho chiều nay. Hiện đang chờ “trên” cho kế hoạch. Bây giờ chị về đi, có gì ta sẽ bàn ngày mai.

      Hạnh nhìn ông ta van vỉ:

      –     Anh hứa với em một lời đi. Rồi cái gì…cái gì…em cũng chịu hết.

      Người đàn ông cười, nụ cười thoải mái nhất mà nàng nhìn thấy từ khi bước vào đây. 

      –     Cái gì…là cái gì?

      –     Dạ, bất cứ cái gì anh thích. Em nói thiệt.

      Nàng lại cười duyên, mắt nhìn càng tình tứ hơn:

      –     Anh hứa với em đi anh.

      –     Chị cứ về đi, mai hãy tính.

      –     Hay là anh cho em địa chỉ đi, em ghé nhà anh.

      Nguời đàn ông xua tay:

      –     Ðâu có được. Gay lắm.

      –     Hay là mình…mình hẹn một chỗ nào khác đi. Bất cứ chỗ…chỗ nào…em cũng đến được.

      Người đàn ông im lặng, vẻ suy tính. Hạnh nhìn chăm ông ta và bắt gặp trong đôi mắt đục một tia sáng bất chợt loé lên.  Một sự kích động? Một niềm vui? Một ao ước? Ðôi mắt chuyển động qua lại, chợt nhìn nàng rồi chợt quay đi.

      –     Hay là…hay là…như thế này. Nhưng không, không được đâu.

      Hạnh chồm người lên bàn. Thấy bàn tay người đàn ông đang úp giữa bàn, kế bao thuốc, ngón tay trỏ gõ gõ trên mặt kính, nàng đặt nhẹ bàn tay mình lên. Thật dịu dàng. Nàng chạm phải một cái gì thô nhám. Dường như ông ta giật mình.  Nàng nghĩ ông ta sẽ rút bàn tay lại. Không, ông ta vẫn để yên.  Hạnh tiếp:

      –     Anh, anh giúp em. Em biết anh giúp là được mà. 

      –    Gay lắm, chị. Ðang mùa chiến…à không đang lúc có khó khăn.

      Hạnh vuốt ve bàn tay người đàn ông:

      –     Anh. Hứa với em đi. Em biết anh làm được mà.

      Người đàn ông rút nhẹ bàn tay, cố tránh nhìn Hạnh:

      –     Thôi được, chị à…cô…em cứ về đi, để anh…anh…anh …tính. Ở đây lâu không hay. Ngày mai, để xem, ngày mai, anh có hội buổi sáng. Có gì, chiều mai…Mà em ở đâu?

      Hạnh khổ sở:

      –     Em cũng chẳng biết em phải ở đâu nữa. Em hiện giờ tứ cố vô thân. Khổ thật! Hay anh giúp em luôn đi. Anh ở mô… em… ở nấy, có được không anh?

      Người đàn ông lúng túng:

      –     Chịu thôi. Hay là đêm nay em tạm về nhà trọ bến xe Vinh đi. Ở đó, có chỗ nghỉ qua đêm.

      –     Làm sao em về đó được?

      –     Em ra lộ, đón xe ngựa đi. Có gì, chiều mai, em trở lại.

      Nhân viên khi nãy lại trở vào nhắc nhở.  Biết không làm gì hơn được, Hạnh đứng dậy. Nàng rút cái bì giấy đặt lên bàn:

      –     Em về. Chúc anh ngủ ngon, công tác tốt.

      Nàng bước ra cửa. Chợt nghe giọng người đàn ông hấp tấp gọi lại:

      –     Này em, này chị kia…

      Nàng làm bộ không nghe, đi thẳng.

      Nghe lời khuyên của người đàn ông, Hạnh ra đường, đón xe ngựa. Phải đợi cả tiếng đồng hồ sau, nàng mới thấy chiếc xe ngựa xuất hiện. Trên con đường trải nhựa khá lớn của thành phố Vinh, hình ảnh chiếc xe ngựa chạy lọc cọc trông khá lạ lùng, cả đời nàng chưa bao giờ thấy. Xe chạy dọc theo đường, dừng lại nhiều nơi trước khi đến bến xe.

      Bến xe lớn. Nhà trọ nằm khiêm nhường ở một góc. Nói là nhà trọ, nhưng khi vào quan sát thử, nàng thấy đó là một nhà ngủ tập thể. Không có từng giường riêng. Chỗ ngủ là mấy dãy giường lớn ghép bằng những tấm gỗ. Khách trọ nằm kế nhau, mỗi người nằm một khoảng hẹp vừa đủ chỗ để đặt lưng.  Chiếu, mùng, chăn trông đen đúa, bẩn. Mới bước vào, nàng đã nghe cái mùi ngai ngái khó chịu, nên vội bước ra ngay. Tới phòng quản lý mua vé, thì không còn nữa. Nàng vừa thất vọng lại vừa mừng, vì kiểu này, nếu có chỗ, chưa chắc nàng đã có thể nằm ngủ được, dù chỉ một thời gian ngắn, nói gì đến cả đêm.

      Ðành phải về ga lại thôi. Khuya, xe ngựa chẳng còn.  Nàng phải đứng đón xe bộ đội. Mới có chín giờ tối

mà đường sá vắng teo. Dọc đường lại chẳng có quán xá, tiệm hàng gì. Toàn là những cơ quan nhà nước và các khoảng đất trống bỏ hoang.  Thấy xe nào chạy ngang, nàng cũng đưa tay vẫy. Chẳng xe nào chịu ngừng. Có một vài chiếc ngừng, thì những người đàn ông trên xe lại buông lời chọc ghẹo nham nhở y như nàng là gái làng chơi, rồi chạy vụt đi. Một chiếc ngừng hẳn, tay tài xế mở cửa vẫy nàng lên xe. Nhưng khi nghe nàng chỉ muốn về ga, anh ta từ chối phắt, đóng sầm cửa lại, dọt đi. Nàng chẳng hiểu vì sao.

      Không biết cách nào hơn, nàng đành đi bộ về ga. Nàng tìm một chỗ bên ngoài cửa hàng ăn uống ga, trải tờ báo, ngồi dựa vào tường, cố gắng ngủ. Suốt đêm, vừa sợ, vừa lo, vừa chán nản, lại bị đám muỗi háu đói vây quanh, nàng không cách gì ngủ được, chập chập chờn chờn mong trời sáng.

*

      Hạnh quanh quẩn suốt ngày trong khuôn viên ga. Khi thì đi uống nước, khi thì đi ăn, đi tắm hay tò mò đứng nhìn hành khách lên xuống tàu. Thỉnh thoảng, nàng lại tạt về trạm thuế, xem thử ông trưởng trạm về chưa. Văn phòng trạm vắng vẻ, chỉ có một, hai nhân viên ra vào. Một vài người lân la, hỏi dò tin tức, họ chỉ lắc đầu, nói là không biết gì hết.

      Ðến chiều, nàng ngồi trực trước trạm. Ăn chẳng muốn ăn, khát chẳng muốn uống. Cổ khô đắng như vừa bệnh nặng dậy.  Nàng chẳng dám đi đâu, vì sợ rằng tay trưởng trạm trở về bất ngờ, nàng không gặp được. Nhưng trái với lòng mong đợi, bóng dáng tay trạm trưởng vẫn bặt tăm. Ðến tối, nàng gần như kiệt sức, lơ láo nhìn quanh như kẻ mất hồn. Tám giờ tối. Chín giờ tối. Mười giờ tối. Tay trạm trưởng vẫn mịt mờ. Nàng tuyệt vọng úp mặt vào hai bàn tay, khóc. Ðột nhiên có tiếng gọi:

      –     Hạnh!

      Nàng giật mình vùng đứng lên. Quất. Quất trở lại. Trong một thoáng, nàng có cảm tưởng như anh ta là một vị thiên thần hiện xuống cứu giúp nàng. Nàng mừng rỡ, chạy lại phía Quất, dang hai tay ra như sẵn sàng ôm lấy cả thân hình anh ta.  Nhưng khi Quất đến gần, nàng rụt tay lại. Quất ôm lấy hai vai nàng, bóp chặt:

      –     Cứ tưởng em không còn đây nữa. Trời, cô em Huế của tôi nhếch nhác như thế này đây hả?

      Hạnh gỡ tay Quất ra, nhìn anh, cố dấu nét vui mừng lộ liễu:

      –     Sao anh vào nhanh thế?

      Quất hào hứng nói:

      –     Sao mà có thể để em đây một mình cho đành, phải không nào?  Giao ban xong, chưa về nhà là anh bắt ngay xe bộ đội đi công tác miền Nam, vào đây tìm em.

      –     Trời, tốt thế đấy!

      –     Em loanh quanh ở đây làm gì?

      Nàng hạ giọng:

      –     Thì còn làm gì nữa mà anh hỏi. Em đang đợi tay trạm trưởng.  Ông ta hứa…

      –     Vô ích thôi, em.

      –     Sao vậy?

      Quất kéo nàng ra khỏi trạm, nói nhỏ:

      –     Báo cho em hay, việc tuôn hàng vừa rồi nằm trong một chiến dịch định sẵn sau khi đổi tiền, nhằm mục đích đánh vào việc buôn bán ngoài luồng, làm hại nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Hàng tuôn vừa rồi không thuộc trạm thuế quản lý đâu, mà nằm ở tỉnh và bộ ngoài Hà Nội.

      Hạnh run rẩy, thất thần:

      –     Có thật không? Ai nói với anh?

      –     Ðám bạn anh ngoài Tổng Cục cho biết. Chắc chắn trăm phần trăm. Bọn anh sẽ bị kiểm điểm. Có thể bị xử lý kỷ luật, mất việc luôn chưa biết chừng.

      Hạnh buông mình ngồi rủ xuống đất, khóc nấc lên. Quất im lặng đứng nhìn. Một hồi lâu sau, nàng nhìn Quất, nói qua màn nước mắt:

      –     Chắc em chết mất, Quất ơi. Lấy gì mà nuôi con đây trời!

      Nhưng rồi nàng đứng dậy, giọng nghe ráo hoảnh:

      –     Em phải gặp tay trạm trưởng mới được.

      –     Ðể làm gì?

      –     Ðể…để…

      Nàng im bặt. Quất tiếp, giọng dứt khoát:

      –     Anh làm việc bao nhiêu năm ngoài này, anh biết. Em gặp tay trưởng trạm cũng vô ích tôi. Hắn chẳng có quyền hành gì trong vụ này cả.

      Nàng uất ức nói:

      –     Thế mà…thế mà…

      –     Gì? Hắn hứa với em những gì?

      –     Không.

      Quất hỏi:

      –     Bây giờ em tính sao?

      Hạnh lắc đầu, tuyệt vọng:

      –     Không biết tính sao cả.

      Quất nhìn nàng ngập ngừng:

      –     Hay là…hay là…ra Hà Nội rồi đi Ðồ Sơn với anh. Ta xem thử con đường làm ăn dưới đó thế nào? Biết đâu?

      Hạnh nhìn Quất, không nói gì. Nàng ôm mặt trong lòng bàn tay, cảm thấy thấm thía cái vô nghĩa của cuộc sống. Quất đặt hai bàn tay lên vai nàng, vuốt nhẹ. Nàng im lặng, để yên.

Chương 40

Nghe tiếng đài hiệu báo giờ phát thanh sáng bắt đầu, Hồng tỉnh ngủ ngay, nhảy phóc xuống giường, bước ra sân sau. Mùa hè, nên mới có 5 giờ, mà trời đã sáng hẳn. Nàng lên lửa nấu cơm ngay. Trong lúc chờ đợi, nàng vươn vai, làm một số động tác thể dục theo tiếng đếm nhịp và âm nhạc phụ họa cho bài tập thể dục buổi sáng vang vang qua loa phóng thanh.  Sửa soạn cơm nước cho hai đứa con xong, nàng sắp đồ ăn bỏ vào xách, không quên bỏ thêm mấy củ sắn, phòng khi cần ăn bữa lỡ. Ðịnh đắt xe ra, chợt cảm thấy có cái gì thiêu thiếu, Hồng dừng lại nghĩ ngợi. Mãi một lúc mới nhớ ra: cuốn sách.  Tới trước tủ sách, lại phân vân không biết hôm nay đọc cái gì.  Cuốn nào cũng đọc đi đọc lại nhiều lần rồi. Cuối cùng nàng lấy đại một cuốn. Chữ nghĩa quý giá, có nhai đi nhai lại cũng chẳng sao!

      Nàng đạp thoải mái đến chỗ bán. Ðịa điểm bán của nàng bây giờ nằm ở góc đường Trương Ðịnh – Hoàng Hoa Thám, ngay trên lề đường thuộc trường đại học tổng hợp. Lúc đầu, ngay sau khi trở về “nghề” bán thuốc lẻ lề đường như cũ, nàng không mấy ưa địa điểm này, vì quá vắng khách. Nhưng được cái là che mưa tránh nắng dễ. Trước mặt là một cơ quan văn hóa của thành đoàn sinh viên học sinh. Giới sinh viên học sinh và văn nghệ sĩ thường lui tới, nên trông cũng vui. Ðầu góc đường là một quán cà phê con cóc. Khách uống cà phê thỉnh thoảng ghé nàng mua vé số hoặc kẹo bánh lặt vặt. Dần dà, số khách quen đông. Nàng không muốn dời đi đâu nữa.

      Nàng bày bàn. Ðộ này, chơi vé số đang trở thành một phong trào phát triển mạnh mẽ trong các tầng lớp dân chúng.  Vé số do tỉnh đứng ra phát hành, mỗi tuần có đến ba lần xổ. Hấp dẫn nhất là “số tự chọn”. Ðây là một hình thức chơi số đề hợp pháp, do chính quyền địa phương bảo trợ. Lợi dụng chính sách này, đường dây số đề bất hợp pháp phát triển mạnh mẽ hơn. Người ta công khai mua bán và chơi số đề, không phải giấu giếm như trước. Ngoài phần ghi số tự chọn, nàng có tịch để ghi số đề ăn huê hồng từ một tay thầu số đề giấu mặt nào đó. Suốt ngày, nàng đâm ra bận rộn với việc bán số đề và vé số hơn là thuốc lá. Hơn một nửa diện tích bàn dùng để bày vé số. Phần còn lại của bàn là các thứ lỉnh kỉnh khác: kẹo cao su, hộp quẹt ga, đậu phụng da cá, bao cao su tránh thai Trung Quốc, bút bi, thuốc lá…

      Hồng lục xách, lấy cái “ca” cơm chan nước mắm ớt để sẵn, lùi vào trong bậc thềm. Nàng ăn chậm rãi, nhìn người qua lại.  Trời còn sớm, nên đường vắng. Cơ quan văn hóa bên kia đường vẫn chưa mở cửa. Gần Bưu Ðiện, một chị công nhân đang quét đường. Trên đường, vài chiếc xích lô và xe thồ chở bạn hàng ra chợ sớm. Một ngày mới bắt đầu. Như mọi ngày.  Chợ nhớ bài “Một ngày như mọi ngày”. Khúc hát mệt mỏi cũ thỉnh thoảng trở lại trong trí nàng như một nhắc nhở về cuộc sống không mấy vui. Ngày trước, khi lần đầu tiên nghe khúc nhạc này, nàng thích ngay, nhưng chỉ thích trong ý niệm, chứ không có cảm giác mệt mỏi của một đời sống lập đi lập lại nhàm chán.  Có lẽ vì hồi đó, nàng còn trẻ, còn hăm hở lao vào đời sống, còn mơ mộng viễn vông. Bây giờ, sau những đảo lộn khủng khiếp trong đời sống, sau những tuyệt vọng, đắng cay, sau những ước mơ lụi tàn, nàng thấm thía cái điệp khúc “một ngày như mọi ngày”. Một giờ như mọi giờ. Cũng chừng ấy việc. Cũng những người đi tới đi lui, vội vã, hấp tấp. Thế thôi! Không có gì thêm vào, không có gì bớt đi. Rien ne se perd, rien ne se crée. Nàng nhớ câu nhận xét của Lavoisier mà ông thầy dạy hóa nhắc đi nhắc lại hoài khi học một bài hóa học nào đó thời trung học.  Hóa học và đời sống nào có gì khác nhau! 

      Bỗng nàng buông đũa xuống, nhìn theo một chiếc xe thồ vừa từ đường Trương Ðịnh chạy ra. Anh chàng xe thồ gò lưng đạp, chở một thiếu phụ với xách, giỏ lỉnh kỉnh. Nàng giựt mình thảng thốt. Lục! Ðúng là Lục. Dáng dấp đó, khuôn mặt xương xương đó là Lục chứ không ai khác. Nàng đứng vụt dậy, bươn bả chạy theo. Nàng gọi lớn: “Lục, Lục”. Không ai nghe tiếng nàng.  Anh xe thồ đạp nhanh, quành xuống đường Lê Lợi. Nàng chạy tới góc đường, nhìn theo.  Chiếc xe thồ đã qua cầu Trường Tiền, biến mất trong giòng xe cộ ngược xuôi. Nàng thẫn thờ về lại chỗ, bàng hoàng như vừa ra khỏi một cơn huyễn mộng. Có phải Lục đó không, nàng ngẩn ngơ tự hỏi.

      Thế là một ngày bỗng không như mọi ngày.

*

      Một người đàn bà từ phía Bưu Ðiện đạp xe đạp cặp lề, dừng lại ngay trước bàn của Hồng:

–     Cô lấy cho tôi năm điếu, à thôi, bốn điếu con mèo đi.

Hồng lấy gói Craven A, rút ra bốn điếu, đưa cho người phụ nữ.  Chị ta nói:

–     Cô xem còn cái bao “không” nào, cho tôi một cái đi.  Chỉ có bao Jet thôi sao, thuốc con mèo ai lại bỏ bao Jet, kỳ vậy. Cô ráng kiếm cho tôi bao con mèo “không” đi. Ông xã tôi phải lên phường lo giấy phép cho thằng con.

      Hồng bực mình, nhưng cũng ráng tìm xem trong xách còn có bao con mèo nào hết thuốc không. Chẳng còn. Nàng đành phải trút hết thuốc trong bao con mèo còn lại vào trong bao Jet, bỏ bốn điếu con mèo vào bao Craven A đưa cho khách. Người đàn bà mừng rỡ, cười:

–     Cám ơn cô. Có cái bao mở ra mời trông lịch sự. Ơ, này cô, hình như cô là…cô là…đúng rồi, cô là…

Hồng ngạc nhiên nhìn lên, bây giờ mới thấy người đàn bà trông quen quen:

–     Cái gì vậy chị?

–     Ðúng rồi, cô là vợ cái anh gì buôn trầm, anh Thuận, phải không?

Hồng cải chính:

–     Ðúng là Thuận. Nhưng bọn tôi chỉ là bạn thôi, mô có vợ chồng gì. Giờ thì “xê-pa-rê” rồi!

–     Xê-pa-rê là sao vậy cô?

–     Là chia tay nhau, không còn ở với nhau nữa.

–    Sao vậy? Thấy hai người cũng xứng đôi vừa lứa. Mới hôm nào đây, hàng “ăn”, thấy anh Thuận với cô chạy qua chạy về bên chỗ tôi xem hàng hoài. Cô còn nhớ chỗ tôi không? An Lăng ấy mà.

      Hồng nhìn một thanh niên từ bên trụ sở hội văn hóa băng qua đường đến chỗ nàng trả lời:

–     Nhớ, nhớ chứ. Qua đó nhiều lần rồi mà. À, Hải, em cần gì? Ði mô mà đồ đạc lỉnh kỉnh vậy? Sao, chị có còn mua gì nữa không? Có ghi số tự chọn không?

–     Không, em không thích cái trò đỏ đen. Em ngán lắm, vì ông già em hồi trước, vì đỏ đen cờ bạc mà tụi em khổ. Này, độ này hàng “ăn “trở lại, sao chị không chạy hàng mà ngồi làm cái nghề…cái nghề…à không, em nói là, sao chị không chạy hàng cho vui. Hàng đang “ăn” mà nhập công ty cũng có lời lắm.

–     Nói, thật mình không rành hàng. Hải, em đi mô mà đồ đạc lỉnh kỉnh vậy? Nào, em cần gì nào?

      Hải đáp:

–     Cho em gói Ðà Lạt đi.

      Hồng lấy gói Ðà Lạt đưa cho Hải:

–     Em hôm nay trông bảnh trai dữ. Ði công tác xa hả? Gì mà tay xách nách mang vậy?

–     Gì đâu mà tay xách nách mang, chị nói em như đàn bà có con vậy? Cái này là máy ảnh, cái này là máy ghi âm. Còn lại là sách báo không hà.

–     Ði công tác đâu?

–     Huyện Hương Trà, chị ạ.

–     Lại đại hội thi đua gì nữa đây?

–     Không, hôm nay đặc biệt. Em đi làm phóng sự phiên tòa.

–     Thế à!

      Người đàn bà vẫn còn đứng đó, có vẻ muốn hỏi gì Hồng thêm, nhưng thấy Hồng không để ý, nên buồn lòng bỏ đi.  Hồng định hỏi xin Hải tờ báo thì có hai người khác ghé mua số, mua thuốc và ghi số tự chọn. Loay hoay ghi số cho hai người khách xong, nhìn ra thấy Hải vẫn còn đó, Hồng cười:

–     Tưởng em đi rồi. Sao, có cần gì nữa không?

      Hải nhìn sang phía trụ sở Hội, thấy không có ai, bèn rút từ trong sắc-cốt ra gói ba số, đưa vội cho Hồng:

–     Chị “thanh toán” giùm em.

      Vốn đã quen với kiểu “làm ăn” của mấy đồng chí trong Hội, nên nàng ném gói thuốc vào trong xách, hỏi:

–     Cần tiền ngay hay để trừ dần?

–     Cho em tiền đi. Em có chút việc. Nhớ trừ gói Ðà Lạt vừa lấy khi nãy.

      Hồng đếm tiền đưa cho Hải. Hải không đếm, cầm nguyên  mấy tờ bạc đút vào túi, giải thích:

–     Hôm qua, đi dự hội nghị tổng kết hàng năm nghành Thủy Sản địa phương. Ðồng chí giám đốc đưa gói thuốc, em không lấy, ông cứ chạy theo nhét vào cặp. Em không biết làm sao đành phải lấy. Số là em đang viết bài đề cao vai trò của ngành Thủy Sản trong nền kinh tế tỉnh ta đó mà.

–     Vậy là phải thôi. Có qua có lại mới toại lòng nhau, phải không em.

Hải gật gù:

–     Có lẽ thế. Nhưng hôm nay chắc là không có gì. Tòa án mà, lại vụ việc chính trị nữa. Em ít thích đi mấy chỗ này, nhưng mấy anh phân công, nên em phải đi thôi.

–     Vụ gì mà dính đến chính trị vậy em?

–     Cái đám phản động ấy mà.

–     Lại phản động à? Ôi, cái thành phố này sao lắm phản động thế không biết! Có được cái giải gì đâu mà người ta cứ lăn vào. Chỉ tổ khổ vợ con, gia đình. Có gì hay về cho chị biết với nghe.

–     Hay thì chắc chẳng có gì hay. Nhưng vụ này có hơi đặc biệt, chỉ dính đến đám trí thức ngụy không hà.

      Hồng ngạc nhiên:

–     Trí thức à? Ai vậy, em có biết không?

–     Em chưa rõ, vì danh sách chưa tiết lộ. Nhưng tên cầm đầu nghe nói là Nguyễn Hữu Vấn thì phải. Hắn trước cũng là thầy giáo gì đó.

–     Vấn, Nguyễn Hữu Vấn? Trước dạy ở đâu mà chị chưa hề nghe tên.

      Có người vào mua vé số. Bán xong, Hồng hỏi tiếp:

–     Em còn biết tên ai nữa không?

–     Không. Lúc về, em kể cho chị nghe.

      Nói xong, Hải bước đi. Hồng hấp tấp hỏi:

–     Lúc nào xử và ở đâu vậy em? Dân có vào xem được không?

–     Trụ sở xã Hương Sơ, lúc 10 giờ. Thôi, em phải đi cả trễ mất.

*

       Lúc Hồng đến thì phiên xử đã bắt đầu. Nơi xử là hội trường Hội Ðồng Nhân Dân xã.

       Chỉ trừ những người có trách nhiệm và thân nhân của các bị cáo, còn không ai được vào phòng xử. Ai muốn theo dõi phiên xử phải đứng ngoài đường, cách xa địa điểm xử, nghe qua loa phóng thanh đặt trên đọt một ngọn cây cao. Trên con đường nhỏ dẫn tới nơi xử, rải rác từng nhóm người đứng, ngồi yên lặng, chăm chú lắng nghe. Phần đông là dân xe thồ đạp và xích lô. Hồng dựng xe đạp bên cạnh một gốc cây lớn nằm sát  bờ con sông đào. Chiếc loa phóng thanh ngay trên đầu nàng phát ra âm thanh khô và trầm trọng của một ai đó làm công tố viên, đọc bản cáo trạng về hoạt động phản cách mạng của các bị cáo. Quả như Hồng đã nghĩ, Lục nằm trong danh sách bị cáo của phiên xử. Dù linh tính đã báo cho Hồng biết trước, nhưng khi nghe công tố viên nhắc đến tên anh, nàng cũng giật thót mình, lòng nhức nhối y như ai vừa lấy một mũi dao nhọn chích sâu vào, đau buốt. Trời, anh ấy đã làm gì mà ra nông nỗi này. Nàng có bao giờ nghe anh nói xa nói gần gì về chính trị đâu.

      Bản cáo trạng dài kể lại chi tiết về hoạt động của tổ chức phản cách mạng do Nguyễn Hữu Vấn cầm đầu. Ông này trước đây là giáo sư trung học, dạy tại một số trường tư thục ở Huế.  Số còn lại, người thì đi dạy, kẻ thì là sĩ quan chế độ cũ. Người trẻ nhất là một sinh viên đại học tổng hợp. Theo bản cáo trạng, họ đã họp nhiều lần qua các cuộc nhậu, uống trà hoặc cà phê trá hình.  Họ trao đổi tin tức thời sự  thâu thập được qua các đài phát thanh nước ngoài như BBC, VOA, Chân Trời Mới, NHK… nói xấu chế độ và nhen nhúm một tổ chức chống lại nhà nước.  Ðặc biệt nhất là anh chàng sinh viên còn làm một bài thơ chống thuế, đang âm thầm lưu truyền trong sinh viên học sinh.

Bản cáo trạng kết luận rằng tất cả bị cáo kể trên đều có những hành vi, lời nói và việc làm phản cách mạng và yêu cầu tòa án dành cho họ bản án nghiêm khắc, xứng đáng với tội trạng của họ để làm gương cho những người khác. Hồng rùng mình, mồ hôi tươm ra ướt cả người. Từ ngày giải phóng, Hồng đã nghe nhiều bản án, kể cả hàng chục bản án tử hình tại thành phố này. Mỗi lần như vậy, nàng chỉ cảm thấy hơi chột dạ, cọng thêm đôi chút thương cảm, rồi thôi. Nhưng lần này, bản án chưa có, nhưng những từ như “phản cách mạng”, “phản động”, “ngoan cố”, “trừng trị” vân vân vang lên nghe thật khủng khiếp.  Chúng như những mũi nhọn tua tủa đâm xoáy vào người. Nàng có cảm tưởng nội những cụm từ này không thôi cũng đủ để nghiền nát Lục hiền lành của nàng.

      Sau phần cáo trạng là phần hỏi cung của chánh án. Mười một bị cáo lần lượt lên trả lời những câu hỏi của chánh án. Trước tiên là Nguyễn Hữu Vấn, người được quy cho tội cầm đầu tổ chức. Kế đó là hai người nguyên là sĩ quan chế độ cũ, “cánh tay mặt” của Nguyễn Hữu Vấn. Cả ba người, lúc đầu tìm cách chối quanh, nhưng bị hỏi liên tiếp nhiều câu hỏi khác nhau, trả lời lúng ta lúng túng, lại bị cái giọng khô khan nghiêm trọng của viên chánh án trấn áp, cuối cùng đành phải nhận tội.

Sau đó là phần thẩm vấn người sinh viên. Hồng chăm chú lắng nghe.

Chánh án (CA): Anh tên gì?

            Sinh viên (SV): Tôi tên Nguyễn Tất Ðống.

            CA: Học ở đâu?

            SV: Ðại học tổng hợp.

            CA: Anh quen với Nguyễn Hữu Vấn trong trường hợp nào?

            SV: Ông là thầy cũ của tôi.

            CA: Anh đã tiếp xúc với Vấn bao nhiêu lần?

            SV: Nhiều lần, tôi không nhớ rõ.

            CA: Anh và Vấn đã bàn bạc với nhau những gì?

            SV:  Không bàn bạc gì hết. Chúng tôi chỉ nói chuyện học hành.

            CA: Anh láo. Chúng tôi có đủ bằng chứng là hai người đã bàn bạc chuyện thành lập một tổ chức trong sinh viên học sinh chống phá cách mạng, đúng không?

            SV: Không đúng. Chúng tôi không hề bàn về một chuyện như thế.

            CA: Anh có phải là tác giả bài thơ “chống sưu cao thuế nặng” không?

            SV: Vâng.

            CA: Tại sao anh làm bài thơ chống thuế?

            SV: Tôi thấy thuế nhà nước đánh cao quá, dân sống không nổi, tôi làm.

            CA: Anh nhờ ai phổ biến?

            SV: Không nhờ ai cả.

            CA: Vậy tại sao bài thơ lại được lưu truyền trong sinh viên học sinh?

            SV: Tôi không biết. Tôi chỉ viết ra một bản để trên bàn học.

            CA: Anh có biết làm như vậy là vi phạm pháp luật, là chống lại nhà nước, chống lại nhân dân không?

            SV: Tôi không hề chống nhà nước, cũng không hề chống nhân dân. Tôi chỉ có một nguyện vọng là nhà nước bớt thuế cho dân nhờ.

            CA: Anh láo! Thuế má là chính sách của nhà nước quy định, được nhân dân đồng tình. Chống thuế tức là chống nhà nước, chống nhân dân, anh hiểu chưa?

            SV: Tôi không chống thuế. Tôi chỉ than phiền thuế quá cao.

            CA: Anh ngoan cố. Than phiền thuế cao, tức là chống thuế.  Thuế nhà nước quy định bao giờ cũng phù hợp với thực tế, với yêu cầu của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Anh hiểu chưa?

            SV:  Tôi xin được phép không đồng ý. Tôi…

            CA: Anh im đi! Anh chỉ được phép trả lời những câu hỏi.  Muốn phát biểu điều gì, phải xin phép. Ai cho phép anh nói?

            SV: Tôi không…không… đồng…

Tiếng loa phóng thanh chợt im bặt. Hồng cảm thấy ngột ngạt, khó thở. Không khí chung quanh nàng cũng ngột ngạt. Mọi người im lặng. Hai người xe thồ lặng lẽ đạp xe đi. Một người đàn ông thở dài, nói nhỏ với một ai đó đứng gần bên:

–     Tay này quá dại! Làm sao mà lấy nạng chống trời cho được.           

Sau chừng mười phút, loa phóng thanh hoạt động trở lại.  Bị cáo kế tiếp là Lục. Hồng căng thẳng đến tột độ. Giọng Lục run run. Nàng nghe cả tiếng thở chừng như hụt hơi của anh khi trả lời những câu hỏi gay gắt của chánh án.

CA (Chánh Án): Anh là Tống Viết Lục?

            Lục: Vâng.

            CA: Anh là giáo viên lưu dung?

            Lục: Vâng.

            CA: Anh là sĩ quan biệt phái của chế độ cũ, phải không?

            Lục: Vâng.

            CA: Là sĩ quan, tại sao anh không đi học tập cải tạo?

            Lục: Tôi có đi cải tạo tại địa phương. Sau đó, nhà trường cho phép đi dạy lại.

            CA: Cách mạng đã khoan hồng nhân đạo như vậy, tại sao anh lại bỏ dạy?

            Lục: Không, tôi không bỏ dạy. Tôi được cho nghỉ việc.

CA: Điều này làm cho anh bất mãn lắm, phải không?

Lục: Dạ thưa, không.

(…) 

            CA: Anh vẫn thường xuyên nghe đài địch?

            Lục: Ðài địch? Dạ không. Thỉnh thoảng tôi có nghe đài BBC, đài VOA.

            CA: BBC, VOA không là đài địch thì là gì? Anh đừng có giả bộ ngây thơ. Vậy anh nhận là anh có nghe đài địch, phải không? Anh nghe hàng đêm rồi sáng hôm sau thông tin lại cho bạn bè anh, phải không?

            Lục: Dạ, không. Tôi chỉ kể lại một vài tin tức về khoa học, đời sống…

            CA: Tin tức nào chúng loan ra cũng đều là tin tức bịa đặt cả. Chúng bịa đặt ra để làm hại uy tín của nhà nước ta và khích động những người như anh.

           (…)  

            CA: Tại sao trong đợt truy quét văn hóa đồi trụy, phản động, anh không chịu mang sách báo đi nộp.

            Lục: Dạ, tôi nộp hết.

            CA: Vậy tại sao trong nhà anh chứa toàn sách báo ngụy?

            Lục: Dạ, tôi mới mua lại sau này.

            CA: Mua ở đâu?

            Lục: Dạ, trên lề đường, ngoài chợ, nơi mấy người bán “lạc-xon”.

            CA: Anh nói láo. Nhiều cuốn tịch thu được trong nhà anh là thứ anh mua từ trước vì có chữ ký của anh trên đó, thậm chí có cuốn còn có bài thơ anh chép lại trên đó. Ðúng không?

            Lục: Dạ, dạ…

            CA: Sách báo anh giữ toàn là sách báo sặc mùi chống Cộng như Bách Khoa, Văn, truyện của Nhã Ca, Thế Uyên, Võ Phiến.

            Lục: Dạ, tôi đâu có sách truyện của Thế Uyên, Võ Phiến.

            CA: Anh cãi lại tôi sao. Tôi có đủ bằng chứng.

            Lục: Dạ… tôi… tôi…

            CA: Anh không được phép nói. Anh phải biết rằng sách thằng nào cũng như thằng nào. Cái thằng Võ Phiến hay cái thằng Nhã Ca, con mụ Thế Uyên đều phản động tuốt. Còn mấy câu thơ này là của ai: Con còn nhớ những ngày thư viện đói, học thuộc lòng kinh kệ Mã Khắc Tư?

            Lục: Tôi… không nhớ, không biết ạ.

            CA: Chính anh viết trên trang bìa tờ Bách Khoa của anh mua mà anh không nhớ sao?Chính anh viết, chính chữ của anh, sao anh còn chối?

            Lục: Dạ, lâu quá tôi không nhớ là tôi có viết hay không.  Nhưng câu thơ này là của một người theo cách mạng mà?

            CA: Tôi biết. Nhưng tại sao lại là Mã Khắc Tư. Mã Khắc Tư là ai?

            Lục: Mã Khắc Tư là ông Các Mác ạ.

            CA: Ðấy, anh thấy chưa, tên Các Mác mà anh xuyên tạc thành Mã Khăc Tư. Mã Khắc Tư là cái quái gì?

            Lục:  Tôi nhớ chính tác giả viết như vậy.

            CA: Tầm bậy tầm bạ.  Bài thơ đăng ở đâu, anh biết không?

            Lục: Tôi không nhớ. Nhưng hình như trên tờ Bách Khoa.

            CA: Ðấy, đấy. Bách Khoa là tờ đại phản động. Chính bọn phản động đã sửa thơ của tác giả, anh biết không. Không có cái gì là Mã Khắc Tư hết. Anh rõ chưa? Các Mác là Các Mác, Lê Nin là Lê Nin.

           (…)  

            CA: Tại sao trong những lần nhậu, anh hay hát bài “Hoa rụng ven sông”?

            Lục: Tôi không biết hát. Tôi nhớ tôi chỉ hát bài đó có một lần, vì bị anh em ép. Tôi không thuộc, chỉ hát có mấy câu.

            CA: Anh đã hát ba lần cả thảy. Một hai câu hay toàn bài không có gì quan trọng. Cái đáng nói là anh cứ hát mãi những là “giờ đây hoa rụng tơi bời”, rồi “cơn mộng tan rồi”. Hoa rụng muốn nói cái gì, có phải là ám chỉ bọn Mỹ Ngụy trốn chạy không. Mộng là mộng gì, có phải là mộng đàn áp nhân dân không? Bản nhạc này là của thằng Phạm Duy. Anh có biết thằng Phạm Duy là một thằng chống Cộng đầu sỏ, được Mỹ Ngụy nuôi dưỡng không?

            Lục: Dạ, dạ… tôi thấy…

            CA: Anh im đi. Ai cho anh phát biểu. Bây giờ mà anh còn ngoan cố, không chịu nhận tội phải không?

           (…)

            CA: Anh đi hỏi bạn bè tìm bản Cương Lĩnh Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam làm gì?

            Lục: Dạ, chính anh Thắng và anh công an khu vực nhờ tôi hỏi giùm. Mấy anh ấy nói là cách mạng cần tìm tài liệu sống.

            CA: Anh lại láo khoét, dám lừa dối cả cách mạng. Chúng tôi đâu có thiếu người, mà phải đi nhờ một thằng sĩ quan ngụy như anh tìm giùm.

            (…)

            CA: Tại sao anh đi xe thồ?

            Lục: Tôi kiếm tiền nuôi con.

            CA: Láo khoét! Vợ anh là dân buôn chuyến, tiền bạc không thiếu. Rõ ràng là anh ngụy trang hoạt động bằng cách đi xe thồ để liên lạc với đồng bọn, móc nối người vô tổ chức, đúng không?

            Lục: Không. Tôi nói thật, tôi không…

            CA: Anh im đi!

            (…)

            CA: Anh hội họp với Nguyễn Hữu Vấn bao nhiêu lần và bàn bạc những gì?

            Lục: Dạ, tôi không hội họp gì hết. Tôi chỉ ghé thăm ông ấy hai lần. Ông ấy trước là thầy cũ, sau là đồng nghiệp.

            CA: Anh đừng có ngoan cố. Anh ngụy trang nhiều lần gặp khác tại quán cà phê, bến xe đò, trong chợ, phải không nào?

            Lục: Dạ, những lần đó là gặp tình cờ…

            CA:(đập bàn quát) Trước sau, anh vẫn ngoan cố, không chịu nhận tội, phải không?

*

       Hồng trở về ngôi nhà trên núi, với cảm giác của một người vừa trượt xuống con dốc dài, không cách gì dừng lại được. Chẳng còn gì để bám víu. Cuộc đời rỗng không. Hoàn toàn rỗng không. Mọi thứ đã lần lượt vượt khỏi tầm tay. Cả Thiết.  Cả Thuận. Cả Lục. Và cả nàng.

       Nàng tha thẩn đi vào đi ra. Vú già gọi:

–     Miu, miu!

Nàng không trả lời. Vú già lại gọi nữa. Nàng bực mình gắt:

–     Vú làm ơn để cho con yên.

Nàng tìm thấy chai rượu uống dở ngày nào với Lục đang năm yên lặng ở góc phòng. Nàng cầm chai rượu lắc lên lắc xuống. Tăm sủi lăn tăn. Lục ơi, rượu còn đây mà Lục đâu rồi! Nàng bỏ chai rượu vào trong chiếc túi xách nhỏ, quàng lên vai, leo dốc, níu cây, vào rừng. Trời mây hiu hắt.  Rừng âm u lạnh.  Gió thì thào trên đầu ngọn cây. Nàng đi loanh quanh, đi mãi. Nàng đi tìm. Không có ai. Không có gì. Nàng gọi Lục ơi Lục ơi Lục ơi. Rừng quạnh vắng ngút ngàn. Không có dấu vết gì của một cuộc tình mong manh, tạm bợ. Chỉ có cây và lá.  Chẳng còn thấy gì. Tất cả chỉ là những bóng đen âm thầm. Nàng ngồi xuống trên lá úa, ngửa cổ, cẩn thận để cổ chai vào ngay miệng, đón một ngụm rượu. Rượu nồng chảy vào cơ thể, rạo rực. Ðợi một lát cho rượu thấm hết, nàng lại ngửa cổ, uống tiếp. Rồi uống tiếp. Uống tiếp. Nhưng rượu ngụm cuối cùng không rơi vào miệng mà chảy xuống đất. Nàng chới với buông chai, gục xuống trên đống lá. Rừng vẫn yên lặng, không nói gì. Mãi mãi không nói gì.

T.D.N.