Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 17 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

5. Quán Hồng Cà-Phê Máu

Phút chốc, Đại đội đã rời khỏi khu vườn và lúc ẩn lúc hiện băng qua từng con xóm đìu hiu quá lạnh lùng. Tiếng súng đâu phía trước nghe càng rõ và dồn dập hơn. Tôi nhớ khi cho lệnh di chuyển, Thiếu tá Quách Thưởng có dặn cẩn thận tại Quán Hồng mà vì bực mình tôi quên hỏi Quán Hồng là địa danh hay quán cà phê. Nếu địa danh, sao không thấy ghi trên bản đồ? Chắc quán, nên tên đẹp, như Diễm, Thủy Tiên, Thạch Thảo… nổi tiếng Đà Nẵng. Họa hoằn mới có kẻ lập dị, đặt tên hiệu tệ mạt, Nghèo, Rách, trong xóm Chuối, nghe ớn, chẳng ham chút nào. Nhưng dù nơi đâu, mỹ miều hay xấu xí, các chốn ăn chơi ấy có các cô chiêu đãi viên càng đẹp càng xảy ra lắm chuyện tranh giành, bắn phá lẫn nhau. Hẳn Thưởng ngại Đại đội Biệt Động Quân này gặp dịp đi ngang qua, ghé quậy chơi. Ông đã ghép tôi vào thành phần ngũ quỉ, gồm Trần văn Quy, Nguyễn Hiếm, Trần Thương Quảng và Dương Xuân, là một bọn đánh giặc khỏi chê mà phá phách lung tung, mãi chọc thiên hạ chửi cũng hết sẩy. Năm ông quan cô hồn này thường xúi lính đánh bậy Quân Cảnh hống hách, bắt du đãng ném xuống cầu Trịnh Minh Thế cho dòng sông Hàn cuốn đi. Nhưng đó là ba chuyện ngày xưa, vừa ra trường, còn mang lon thiếu úy, thích gắn cái bông mai vàng bằng đồng trên nắp túi áo, lốc chốc, chứ ngày nay ai cũng lớn rồi, nghiêm túc để chỉ huy.

Quán Hồng! Nghe êm và đẹp!

Tôi đang miên man suy nghĩ, cố tìm hiểu Quán Hồng là cái giống gì, thì Thanh lướt tới đưa ống liên hợp máy PRC25 liên lạc nội bộ để tôi nghe Thiếu úy Cường báo cáo:

– Trình Đại Bàng, cho lệnh Trung đội tôi hàng ngang chạy băng nghĩa địa dài 200 thước. Có tiếng súng trung liên và B40 nổ gần.

– Việc gì phải chạy! Chỉ đi thưa và nhanh thôi, nương theo các gò mả. Nếu trong lũy tre bắn ra, hãy tắp ngay.

Dứt lời tôi vọt lên điều động đơn vị vượt qua khoảng trống. Tất cả vào an toàn, bao quanh một con xóm. Tôi quan sát phía trước, còn một cánh đồng ruộng nữa khá dài và rộng. Kế quốc lộ, cách tôi độ 300 thước có cái đồn lớn, xây bằng bao cát, hệ thống phòng thủ coi bộ kiên cố. Tôi xem ống dòm thấy ngoài giao thông hào rào nhiều lớp kẽm gai chằng chịt. Bên hướng đông, sau lưng nó không xa, có tiếng máy thiết giáp gầm gừ, chốc chốc nổi lên bắn Đại liên 50, M79 vào đồn, nhưng trong đó im lìm, không ai phản ứng, như đã chết hết đâu rồi. Thấy sự kiện lạ lùng, lại ngại bị chơi lầm, bọn lính mũ đen tạt nòng súng qua phải quạt luôn Biệt Động Quân không chừng, nên tôi vội gọi máy hỏi Thiếu tá Quách Thưởng:

– Trùng Dương! Cho biết gấp bầy cua sắt nào lại đang tấn công đồn Địa Phương Quân tại tọa độ XY… trước mặt tôi?

Thưởng hét to:

– Cẩn thận, Việt Quốc! Hãy cẩn thận tại đồn Quán Hồng, Việt Cộng đã chiếm đêm hôm qua. Bọn cua sắt là Chi đoàn 17 M113 tên Thiên Mã, mở tần số 25.25 liên lạc Đại úy Việt, Chi đoàn trưởng, để tránh ngộ nhận!

– Sao lúc sáng Trùng Dương không nói?

– Cố gắng đi lẹ đi! Hẹn gặp tại Đức Phổ tối nay.

Nghe Quách Thưởng nói tôi bật ngửa. Thì ra Quán Hồng là tên một đồn lính, chẳng phải quán cà phê cà pháo gì hết. Tôi chửi thầm:

– Mẹ, đồn bót mà đặt tên cho đẹp! Hèn gì mấy thằng Vẹm nhào vào mần sạch “cà phê” cũng đáng. Nghĩ nhột dạ tôi nổi cười to khiến thằng Hiệp truyền tin ngồi kế nhướng mắt hỏi:

– Tin vui, hả Trung úy?

– Đâu có! Tao cười cái thằng cha nào đặt tên đồn lính này là Quán Hồng. Vậy mà hồi sáng giờ tao lẩm cẩm tưởng quán cà phê, nên định bụng lát nữa cho tụi mày ghé uống đứa vài ly chơi, rồi đi, ai dè thứ dữ ở trổng, Việt Cộng không hà! Mày lấy máy xơ cua mở tần số 25.25 để tao liên lạc ông bạn Thiết giáp gấp.

Trong lúc chờ Hiệp, tôi gọi các trung đội:

– Mười, Hai Mươi, Ba Mươi, đây Thiên Nga!

Các thẩm quyền vừa lên tiếng tôi dặn:

– Tất cả đề phòng địch đã chiếm đồn lính trước mặt và bọn cua sắt có thể kẹp nhầm.

Các thẩm quyền đã đáp nhận. Hiệp bắt được tần số nội bộ Thiết giáp, giọng Đại úy Việt đang điều quân phát nghe oang oang. Tôi bóp ống liên hợp xen vô:

– Thiên Mã, Thiên Mã, đây Việt Quốc!

– Thiên Mã nghe… Việt Quốc nào?

– Việt Quốc Thiên Nga Mũ Nâu!

Người hùng Tchépone mừng reo lên:

– Thiên Nga! Tao đã nhận ra mày. Bonjour, Sésamou! Tao tưởng mày đã chết ngoài La Vang Quảng Trị rồi! Hay mày là ma, hiện về ở đâu đó?

Tính Việt vui vẻ, thường gọi tôi Sésamou tên con sông bên Lào. Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971, Chi đoàn Thiết giáp của Việt tăng phái Sư đoàn 1 BB đánh Tchépone. Tôi Đại đội phó Đại đội 2 Tiểu đoàn 21 Biệt Động, cùng đơn vị nhảy xuống đường mòn Hồ Chí Minh, tại mốc số DC16, đầu sông Sésamou, cực bắc Tchépone, Lào. Mỗi lần gặp, tụi này gọi nhau bằng hai địa danh ấy, kỷ niệm cuộc hành quân bão lửa mới năm nào.

Tôi trả lời Việt:

– Sức mấy chết, mậy! Tao đang ở phía bắc Quán Hồng 300 thước, coi chừng tác xạ nhầm Thiên Thần Mũ Nâu!

– Việt Quốc lưu ý Quán Hồng, tụi bê bối trong đó. Tao vừa bị B40 nướng một con, hãy giúp tao một tay!…

– Giúp cái gì? Tao phải vọt gấp Đức Phổ! Sao không dộng 106ly vào họng nó?

Việt rống lên:

– Rất tiếc tao không đem 106 theo. Bây giờ Biệt Động tấn công mặt bắc, còn tao chụm các cây Đại liên 50 xoáy vào hai tuyến đông, nam để yểm trợ lại mày…

Tôi cười:

– Đánh giặc mà mày nói như binh xập xám. Tìm cách khác chứ chơi đường đó, “đua xe đạp”, ba đôi ba nơi ăn ai? Mình ở thế công đồn, đâu phải kiểu đánh chốt mục tiêu thông thường. Để tao hỏi Thiếu tá Thưởng coi!

Tôi chuyển sang gọi Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn 21:

– Trùng Dương, Trùng Dương!…

Tiếng Đại úy Trần văn Quy, Sĩ quan Ban 3:

– Quang Trung nghe, Việt Quốc!

– Còn kẹt tại Quán Hồng, chưa move được. Tôi muốn giúp thằng Thiên Mã một tay, hỏi Trùng Dương nghĩ sao?

– Đừng, không phải nhiệm vụ mình! Hãy dưỡng quân!

Trước khi cúp máy tôi nói thêm:

– Anh cứ trình ý kiến ấy lên Trùng Dương.

Google photo

Tôi trả ống liên hợp lại Hiệp, rồi ngồi nhìn mấy con ngựa trời câu M79 lẫn khạc đại liên cầm hơi vô phòng tuyến Quán Hồng. Trong đồn dù địch bí đường, nằm chờ chết, nhưng năm chiếc thiết vận xa mong manh cũng khó chơi trước các họng B40, nên Đại úy Việt vẫn còn dây dưa. Trường hợp này làm tôi thoáng buồn. Nếu Đại đội có nhiệm vụ tùng thiết thì khỏi nói dông dài, mục tiêu sẽ nát bấy trong khả năng. Mấy lúc hai bên, tôi và Việt, từng phối hợp nhau đánh xả láng khiến địch kinh hồn ở các cuộc hành quân Hương An Bình Giang, Quảng Nam, và Ba Gia Đồng Ké, Quảng Ngãi. Nhớ kỷ niệm tại Đức Quang, cách đây bốn năm cây số phía bắc, tôi cùng ngồi với Việt trên một chiếc M113, khi đến bìa một con xóm thì xe cán phải mìn. Sức ép của trái mìn biến chế cả một thùng thiết chất TNT nổ tung, làm Hạ sĩ Nguyễn Hoàng Biệt Động Quân với hai người lính Thiết giáp chết, Việt thì bị thương trên đầu, còn tôi may mắn, văng xuống đất vô sự.

Giờ đây tôi lại ngồi ngó như khách bàng quan khó coi thật, còn xăn tay áo lại ngại cho lính mình. Nếu không nhằm mùng 1 Tết hay Quán Hồng là mục tiêu chung, tôi nhập cuộc ngay. Tôi thử phác họa kế hoạch tấn công. Trước hết Việt cứ nã đại liên dọc hai tuyến đông, nam, phần tôi dàn hai trung đội nhấp nhá phía bắc này, và theo chiều gió tôi cho đốc vào nhiều trái khói cay, rồi cả hai ngưng bắn để toán Thám Báo Biệt Động Quân đang nằm sẵn ở mé tây quốc lộ, liền mang mặt nạ, xung phong tấn công bằng lựu đạn M26 ngay cổng trước của Quán Hồng, là mặt ít mìn bẫy nhất.

Nhờ biết cách sử dụng khói cay, “độc chưởng”, đúng lúc, với thế đánh tàn bạo, tôi đã thắng dễ dàng ở một mục tiêu lớn gấp bội nơi đây. Đó là Jackson, một căn cứ của quân đội Hoa Kỳ bỏ lại, hệ thống phòng thủ còn nguyên vẹn, trên ngọn núi cao gần 1.000 mét, hướng tây Mỹ Chánh Huế khoảng 25 cây số, mà anh em Biệt Động gọi là “Đỉnh Mùa Đông”, dù giữa mùa hè rực lửa. Địch quân thì gồm một đại đội, thuộc Sư đoàn 304 Cộng Sản Bắc Việt, chiếm Jackson làm chốt để chế ngự đồng bằng phía đông là hai quận Hải Lăng và Hương Điền.

Cuối tháng 6/1972, để dọn đường cho các đơn vị Quân Lực VNCH ra tái chiếm Quảng Trị, các mục tiêu hai bên Quốc lộ 1, giữa Huế-Quảng Trị, phải được dẹp sạch, trong đó có căn cứ Jackson. Đầu tiên, Trung đoàn 6/2 BB Quảng Ngãi ra tăng phái, đưa một tiểu đoàn lên đánh Jackson thất bại. Kế đến là một trung đội TQLC trực thăng vận vào, chiếc Chinook Hoa Kỳ chưa kịp đổ xuống đã bị bắn rơi dưới chân đồi mục tiêu, cả phi hành đoàn cùng bỏ xác tại chỗ, mà sau đó chính đơn vị tôi đi tìm. Nửa tháng sau, Trung úy Nguyễn văn Hòe dù dũng cảm dẫn Đại đội 4/39 BĐQ lội bộ lên, cũng chỉ mon men đến một mỏm đồi phía bắc mục tiêu, rồi lại rút ngay. Thế mà Hòe được Liên đoàn cử dự Đại Hội Chiến Sĩ Xuất Sắc ở Sài Gòn do Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu khoản đãi, vinh thăng đại úy và cho đi du lịch Đài Loan. Nhưng Jackson vẫn là Jackson nằm trong tay địch. Nay tới lượt Tiểu đoàn 21 BĐQ nhận lệnh thanh toán. Thiếu tá Quách Thưởng đích thân chỉ huy Đại đội 2 của Trung úy Quách Ẩn, em ông, cùng Đại đội 4 của Đại úy Đỗ văn Nai tiến vào, rồi cũng chẳng làm nên tích sự, còn ăn pháo liểng xiểng, bị thương cả mớ.

Thất bại vì khi tới sát được mục tiêu các đơn vị đều bị địch dùng chiến thuật “Chốt Kiềng”. Chúng kiềng ác liệt nhất bằng trận pháo hỗn hợp đủ cỡ đạn, cả đại bác 130ly từ Bastogne rót tới. Jackson vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, chưa ai chiếm nổi.

Tháng 7/1972, Tiểu đoàn 21 BĐQ nằm dọc theo Quốc lộ 1, phía nam sông Mỹ Chánh, con sông giữa Quảng Trị và Huế, Thiếu tá Quách Thưởng mời bốn đại đội trưởng lên BCH họp. Sau một hồi vòng vo tam quốc, diễn giải về cái mục tiêu cam go, khó gặm ấy, ông quay qua nói với tôi:

– Lệnh tướng Ngô Quang Trưởng chúng ta phải chiếm cho bằng được căn cứ Jackson. Sáng mai 6 giờ, Đại đội 1 của Thy Vân dẫn đầu lên đánh.

Tôi hỏi Thưởng:

– Đại đội ai theo sau?

Thưởng vờ làm nghiêm sắc mặt:

– Ai đâu nữa, chỉ Đại đội Vân thôi!

Tôi càu nhàu:

– Một mình tôi sao Thiếu tá bảo tôi dẫn đầu? Đầu thì phải có đuôi chứ?

Đại úy Nguyễn văn Do Tiểu đoàn phó ngồi cạnh Thưởng, vừa trừng mắt vừa bủa một câu:

– Vân giỏi, nhưng tật hay cãi. Đúng là dân Quảng Nam…

Đã biết bốn năm đơn vị luân phiên vẫn không chiếm nổi mục tiêu khó gặm đó, nay trút gian nguy cho tôi, nên Thưởng chơi chữ, ý chừng làm giảm bớt căng thẳng để ra lệnh. Đại úy Do khóa 19 Đà Lạt, tức khóa đàn anh Thưởng, nắm quyền lực đen sau lưng. Đó là cái “đen” hắc ám, bè phái trong quân đội. Tính Do hiền. Tuy nhiên, khi đã ghét ai rồi thì ông đì người đó sát nút. Hiểu thâm ý của quân sư này, tôi ăn miếng trả miếng, chẳng ngán thằng Tây nào:

– Hỏi vậy mà bảo cãi, hả Đại úy? Cái gì vô lý tôi hỏi, chứ không hèn nhát bỏ chạy đâu.

Câu nói khiến Nguyễn văn Do bị shock. Ông đã sẵn thành kiến tôi từ lúc tôi thay Trung úy Hà Tự Tánh, bạn đồng hương với ông, mất chức đại đội trưởng vì chỉ huy Đại đội 1 này thất trận ở tây nam La Vang Quảng Trị, tháng 3/1972. Lại nữa, tôi người đầu tiên không theo cấp số quy định, phá tiền lệ Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân, là còn mang lon thiếu úy lại được Trung tá Liên đoàn trưởng Liên đoàn I BĐQ trực tiếp bổ nhậm làm đại đội trưởng chính thức, thay thế Tánh. Chẳng hiểu điều này tôi có nghĩ oan cho Do, người tôi cũng quý mến? Nếu vì lẽ đó mà ông ghét tôi thì ông quên rằng một thiếu úy trẻ như tôi lúc bấy giờ đã đạt quá nhiều công trạng, tất cả 14 cái huy chương lận! Thảy đều anh dũng bội tinh, đa số ngôi sao vàng và ba nhành dương liễu là hạng tuyên dương cấp quân đội, tôi chưa kể cái Chiến Thương với ngôi sao đỏ, chứng minh tôi đã một lần đổ máu lòi xương tại trận Phong Thử, Quảng Nam.

Dù xuất thân Đà Lạt hay Thủ Đức, người sĩ quan nào cũng đều ý thức trách nhiệm, danh dự, và trung thành với Tổ Quốc. Khi chiến đấu phải dũng cảm, là điều căn bản. Đừng bày đặt tự tôn, xưng hùng, phân chia con ruột với con ghẻ, trường mẹ, trường cha trong quân đội một cách ngu xuẩn, như đã diễn ra từ lâu. Tôi chỉ cái tội ngang tàng khí phách, đếch xu nịnh, còn nực gà ba thứ hèn nhát từng tháo chạy.

Một lần trước mặt Do đang họp bốn đại đội trưởng, bàn kế hoạch hành quân ở Quảng Ngãi, tôi rút súng chĩa vào đầu đòi bắn một sĩ quan, xuất thân trường “Mẹ”, vì phát ngôn bừa bãi nếu gặp địch mạnh thì “cải cách Lê Lai” tức “chạy làng”.

Do quát tôi:

– Người ta nói giỡn, mày làm dữ vậy?

Tôi văng tục:

– Mẹ, giỡn hả? Tư tưởng đẻ ra hành động!

Lần khác, sau cả tháng lặn lội trên núi cao, Tiểu đoàn vừa hạ sơn xuống đồng bằng, lính tôi quá khát nước, gặp một vũng sình, vội chúi đầu vào uống. Đại úy Do đứng gần hét:

– Vân! Cho lính đi lẹ đi!

Thấy anh em tội nghiệp, khô cứng cuống họng mấy ngày nay, bây giờ chỉ kéo quân ra lên xe về, nên tôi làm lơ. Nhưng Do hối, lối hối chứng tỏ ông không thương xót lính tráng chút nào, tôi nổi dóa:

– Để tụi nó uống, không đi đâu hết!

– Mày cãi tao, phải không?

– Cãi đúng, lính của tôi!

Biết đụng tôi bất lợi, ông hằm hằm bỏ đi. Sau, tôi ân hận, làm mất tình đồng đội. Hôm đó, nếu vị Đại úy Tiểu đoàn phó không nhịn nhục, chắc có chuyện lớn, tôi rút súng còn lẹ hơn cao bồi miền Tây Hoa Kỳ.

Họp nhận lệnh Thưởng xong, tôi về đặt kế hoạch tiến đánh Jackson. Suốt buổi chiều tôi không hé môi, sợ lính chuồn, chỉ nói riêng Đại đội phó Nguyễn Thuận Cát kín đáo chuẩn bị. Vì còn bực tức, tôi kể cho Cát nghe sự lập lờ, chơi chữ, chèn ép của hai ông quan trường “Mẹ”, Quách Thưởng và Nguyễn văn Do. Tôi không một chút gì sợ sệt, ngao ngán, khi nghĩ đến cái mục tiêu cao chót vót và xa vời vợi, đầy ma quái ấy đang chờ đón. Tôi chỉ ngại, gian khổ đã đành, lính còn phải hy sinh, kẻ sẽ bỏ xác đầu non, người vùi thây góc suối.

Sáng sớm hôm sau, Đại đội đi một mạch, vừa qua khỏi eo núi của dãy đồi đầu tiên ở Cổ Bi thì gặp một con đường cũ đã tróc nhựa, đá lởm chởm, do quân đội Mỹ thiết lập trước đây cho xe nhà binh lên xuống Jackson. Tôi ra lệnh tất cả dừng lại bố trí để nấu cơm, tích trữ nước. Tuy còn xa, hơn hai mươi cây số, mục tiêu vẫn được nhìn thấy lờ mờ trên mây. Lúc bấy giờ tôi mới nói rõ việc anh em phải làm, không giữ bí mật nữa, kể hết mọi cam go, mà các đơn vị trước len lỏi vào đã chuốc lấy thảm bại…

Xong, tôi bảo Thám Báo đi đầu. Gọi là Thám Báo chứ thật ra toán này gồm 11 tay súng khá thiện chiến, can trường, được dùng như cảm tử quân, do tôi tổ chức, huấn luyện từ ngày làm Đại đội trưởng. Rồi, các trung đội nối tiếp một hàng dọc, âm thầm gườm súng theo “vân lộ” mà lên “thiên thai”. Trục tiến heo hút, trùng điệp và quanh co hơn cả đường đèo Ải Vân hay Sông Pha-Đà Lạt. Địa thế nguy hiểm thật, chỗ nào cũng dễ bị phục kích. Đại đội tự biết thân là con chốt thí, cô đơn, nên khỉ rung cây cũng sợ. Mọi người đều dè dặt từng bước, như những bóng ma lạnh lùng.

Lên được ba cây số thì Thám Báo lọt vào giữa hai cụm núi dốc đứng, địch liền từ trên hai đỉnh bắn AK, B40 xuống, Biệt Động Quân chết một, bị thương hai tại chỗ. Số còn lại kéo lui cùng Đại đội bố trí dọc theo các tảng đá ven đồi. Tôi xin pháo binh dập trực tiếp ngay bằng đạn nổ, không phải khói trước. Nhưng họ từ chối, vì điểm đứng Đại đội lại quá gần mục tiêu, dưới 200 thước, trong tầm sát hại. Thiếu tá Thưởng cự nự lắm họ mới chịu yểm trợ. Dù gieo từng trái, tôi điều chỉnh, đạn rớt cách toán Thám Báo không xa. Lối kêu đại bác sái nguyên tắc đó do tôi yêu cầu, cũng để tạo thói quen liều lĩnh mỗi lần đơn vị rơi vào trường hợp này.

Cứ thế, đôi bên choảng nhau hằng ngày, Đại đội róc dần lên, khi cặp con lộ, lúc trèo qua các ngọn đồi đánh bọc xuống sau lưng, nhổ từng cái chốt. Thương binh cùng chiến lợi phẩm tịch thu được chuyển lui để trực thăng tải về nhiều đợt.

Sau nửa tháng gian nguy, Đại đội tới sát mé đông Jackson và tìm cách vồ mồi. Chung quanh, rừng núi âm u, mục tiêu đã hiện ra giữa lừng trời rất rõ rệt, đầy hầm hố ghê rợn. Qua ống dòm tôi quan sát ngọn đồi thấp hơn nằm về phía bắc, nối liền với Jackson như yên ngựa dài khoảng 100 mét, có nhiều chòm đá đen thui, không một bụi cây, mà trên bản đồ trông giống cái mỏ chim. Cả hai đỉnh, núi mẹ lẫn núi con, cơ hồ như trôi nổi trên mây.

Tôi quyết định đẩy Thám Báo đột kích ngay “Mỏ Chim” để làm bàn đạp. Kết quả anh em bắn chết 5 tên, thu 5 súng cá nhân dễ dàng. Thừa thắng Đại đội vội tràn qua chiếm thủ. Tại “Mỏ Chim” này lính nhặt được tấm bản đồ của Trung úy Hòe, chứng tỏ ĐĐ4/39 BĐQ chỉ tới đây. Rồi, như các đơn vị trước, chưa kịp đào hầm, tổ chức phòng tuyến chiến đấu, Biệt Động Quân bị ngay một trận pháo, tứ bề rót tới dữ dội và lâu chừng mười phút. Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn 21 BĐQ kêu đại bác phản pháo tới tấp cũng không xuể, nhờ các chòm đá che đạn nên ít thiệt hại.

Dứt pháo, trời nắng gắt, phần lửa cháy, khu đồi nóng rực. Ác nghiệt, các bình đông chả còn hột nước lính phải đái uống. Nước đái mà có ông khen ngon như Whisky nêm muối, rồi lại đâm “ghiền”, cố tè thêm chẳng được giọt nào, khô ráo! Nhưng chuyện nhoû, không quan trọng bằng điều tôi chớm nghĩ lúc đó là tư thế Đại đội đang cỡi lưng cọp, nếu không chiếm gấp mục tiêu chính Jackson rộng lớn trước mặt, để sử dụng ngay toàn bộ hệ thống phòng thủ vững chắc, thì sẽ nguy to khi màn đêm xuống. Đại đội phải bị địch phản công nơi mỏm đồi nhỏ này. Chúng sẽ “bề hội đồng” chứ không tha. Chúng không trả đòn, không phải Việt Cộng tha phương cầu thực!

Dù khô cứng cổ họng tôi vẫn đốt thuốc hút liên miên. Khói thuốc che giấu được bao nỗi lo âu hiện trên nét mặt. Sự bình tĩnh của người chỉ huy là một yếu tố đem lại niềm tin, không những giúp binh sĩ bớt run sợ, mà còn dũng cảm lúc trực diện với kẻ thù.

Căn cứ Jackson hình vuông, bằng nửa sân banh, có nhiều căn hầm nổi ở giữa, và mỗi góc một bunker lớn, xây bằng bao cát. Địch đang nằm quanh phòng tuyến, ngoài rào chằng chịt mấy lớp kẽm gai Concertina. Chúng lô nhô lúc nhúc nhìn ra, chờ giựt dây, hay bấm nút các trái mìn Claymore, xen kẽ bộc phá bó thành chùm ba quả đạn cối 61ly kẹp giữa một quả lựu đạn M26. Loại này nổ chẳng khác nào bom, do mình biến chế địch bắt chước. Hẳn nhiên Cộng quân cũng lo sợ, vì gặp phải bọn Biệt Động lì lợm này, đã không tháo lui sau trận pháo thử phổi vừa rồi.

Photo edit by Sơn râu

Suốt thời gian hai bên gườm nhau, Thiếu tá Quách Thưởng, Trung tá Trần Kim Đại gọi máy gặng hỏi hoài về tình trạng ở “cõi trên” này. Lối hỏi có vẻ không ai tin chúng tôi đang ở sát mục tiêu, nghe rõ từng nhịp thở của đối phương. Mà thật, làm sao tin nổi? Chưa bao giờ trong cách dụng binh, đẩy một đơn vị dù cấp đại đội đi xa, giữa núi rừng đơn thương độc mã, vậy đó. Hổm rày Đại đội đã bị thương, chết hàng chục người, quân số lúc bấy giờ tụt xuống dưới 100. Rất tiếc, 11 tay súng Thám Báo hết 4 đi thăm bác Hồ dài hạn rồi. Nay nghe tin BCH Liên đoàn và Tiểu đoàn 21 BĐQ kéo vô đóng trên dải đồi thứ nhất, nơi đầu đường lên “Thiên Thai”, tôi thấy chút ấm cúng. Giọng Thưởng nói trong máy lần này nghe cũng êm tai, không “chơi chữ” nữa:

– Bây giờ Việt Quốc tính sao? Cố gắng thanh toán nó lẹ đi, rồi trực thăng sẽ bốc Việt Quốc về Đà Nẵng chơi ít hôm. Sơn Linh sốt ruột, mong có kết quả sớm.

– Trùng Dương yên tâm, tôi sẽ chơi khói cay, đánh hết tay phen này mới được. Như Trùng Dương nghe đó, tiếng nổ trong máy là súng mình bắn phá bớt mìn bẫy ngoài phòng tuyến của Jackson, và chờ gió đông thổi mạnh, tôi tung “độc chưởng”. Giờ hết nước, anh em phải tè ra uống rồi…

Thưởng cười khà khà:

– Ừ, ráng đi! Nhắm dùng khói cay được thì mần. Còn nước, Đại đội 4 sẽ đem lên. Đường sá sao?

Thưởng bảo “ráng”, tôi chẳng hiểu ráng cái gì, ráng chiếm mục tiêu cho bằng được hay ráng đái uống?

Tôi đáp:

– Đường lởm chởm, cần rà mìn xe mới chạy được. Khi tôi khởi sự, xin bắn 105ly xuống triền đồi tây nam, vì cái dốc đó thoai thoải, địch quân dễ bò lên tiếp viện. Theo ý định, tôi sẽ đẩy toán Thám Báo chiếm cổng chính trước, cho toàn bộ Đại đội tràn vào một lối đó, rồi đánh chẻ ba mũi: hai từ trong tạt ra hai bờ tuyến trái phải, còn một thọc sâu trung tâm Bộ Chỉ Huy địch. Xong, tôi mới đập thẳng tới các mặt tây, nam. OK, gió đông đã bắt đầu thổi mạnh, tôi đánh thật, không phải kể chuyện Xuân Thu, Tam Quốc Diễn Nghĩa bên Tàu đâu! Bắn pháo binh ngay, Trùng Dương!

Nghe tôi vui vẻ trình bày rành mạch, với giọng quả quyết, không thắc mắc, cãi, kiểu dân “Quảng Nam”, Quách Thưởng chịu lắm:

– OK Việt Quốc, tao cho bắn liền!

Dứt lời, tôi mời các sĩ quan, cả Trưởng toán Thám Báo tới nhận lệnh, đồng thời bảo lính đeo mặt nạ hết, sẵn sàng chiến đấu một mất một còn.

Thiếu úy Nguyễn Thuận Cát dàn ngang khoảng mười tay súng các loại, cả cây cối 60ly, vừa đủ nằm dọc theo các tảng đá và mô đất, đồng loạt bắn rạt cùng lúc 20 trái khói cay được ném tới. Ngọn gió đông lùa gọn độc chưởng vào phòng tuyến địch. Bất ngờ bị ám khí, hai tên Việt Cộng đầu tiên dưới giao thông hào vụt trồi lên chạy lạng quạng, y như gà mắc đẻ, Biệt Động Quân gặp dịp lấy làm thích thú, kẻ cười người la hét inh ỏi và bắn túi bụi làm náo động cả núi rừng, còn hai “con gà” trúng gió ngã chúi chết tốt. Vài phút sau tôi cho tung thêm 20 quả “hồ lô” nữa, đoạn gióng tiếng tất cả cùng hô xung phong, nhưng lại nằm y tại chỗ tác xạ, chỉ chừa ra hướng cổng chính để Thám Báo tắp lẹ vào. Bảy tay súng bạt mạng này vừa bắn vừa đốc lựu đạn M26 xuống các hầm, địch quân không chống trả kịp, thảy đều nát thây. Hạ sĩ Vĩnh Bộ Chỉ Huy nhanh như chớp và bạo gan kê khẩu đại liên trên nóc bunker Thám Báo mới chiếm, nhả đạn cơ hồ như rải bụi mịt mùng giữa ruột căn cứ Jackson. Kế tiếp là các trung đội tràn vào, theo kế hoạch, Trung đội 1 đánh bọc từ sau lưng bờ tuyến bên trái, phía đông, Trung đội 2 cũng vậy, rẽ phải áp đảo mặt bắc. Đặc sắc nhất Trung đội 3, lưỡi gươm đâm ngay tới trái tim bộ chỉ huy địch. Một tên, có lẽ sĩ quan, tay cầm khẩu K54 hơ hải bỏ chạy, liền bị Binh nhì Lê văn Tính phóng trực xạ một quả M79 banh cái đầu tựa xác pháo. Rồi mỗi người lính, cứ thói quen trong giờ phút thập tử nhất sinh, tự chỉ huy mình mà chiến đấu, họ hăng lên quạt ngã quân thù hàng loạt không gớm tay.

Tôi bám sát anh em với khẩu M16 trong tay, sẵn sàng dùng quyền lực lúc hiểm nguy. Tứ bề, âm thanh cũng có sự sống, đua nhau nổ chát chúa, xé tung một góc trời hùng vĩ, giữa núi rừng. Các tiếng lựu đạn phá hầm lẫn tiếng hô “Sát! Sát!” của Biệt Động Quân khiến tôi, người chỉ huy, còn lính quýnh lọ là những kẻ sinh Bắc tử Nam.

Đám lỉnh kỉnh của BCH Đại đội ngoài đồi “mỏ chim” được lệnh ập vào phòng thủ khu vực cổng, để toán Thám Báo băng ngang trung tâm tấn công gấp mặt nam, là hoàn toàn từ trong phạt ra. Đây với đó, nhiều người lính bị thương kêu y tá ơi ới. Mặc kệ, chưa phải lúc cấp cứu khi đang cận chiến đánh trả rối ren từng giây. Tôi thúc hai Trung đội 1 và 2 tấn tới thụt 72 nổ tung mấy bunker các góc kế. Hai trung đội bỗng la bải hoải vì cây trung liên của đối phương phía tây nam bắn chéo qua. Tôi hét Vĩnh quạt M60 trả đũa. Trung và Xá cao bồi vội vứt ba lô xuống đất chạy gom đạn tiếp Vĩnh. Bất ngờ Binh nhất Nguyễn Nhân tổ súng cối bị quả B40 ngã lăn ra giãy đành đạch trước mặt, tôi phóng tới và vừa kéo nó vào căn hầm giữa mục tiêu thì cơn pháo ào ào tưới xuống như mưa. Đạn nổ liên tục tôi có cảm tưởng tôi đang ở trong cái trống. Căn hầm nhỏ, tôi, Nhân và hai người truyền tin phải nằm chồng lên mấy xác chết Việt Cộng đầy máu lẫn óc nhầy nhụa tanh ói. Tình hình muốn rối loạn, đôi bên ta và địch đều bị bao trùm đủ cỡ đạn.

Biết đơn vị đang lâm nguy, Thưởng gọi lia, speaker phát ra tiếng mất tiếng còn. Không cần nghe vị Tiểu đoàn trưởng nói gì dù lệnh lạc, tôi vội bóp ống liên hợp hét to:

– Xin phản pháo gấp xuống các tọa độ cũ, Đại đội đã vào trong thanh toán từng căn hầm. Hãy bắn chung quanh phòng tuyến Jackson, chặn địch tiếp viện…

Thưởng nói như quát:

– Bắn rồi, bắn rồi! Đạn rải sát tuyến phía nam!

– Trùng Dương, dập 105ly luôn cái “mỏ chim” hướng bắc!

– …

Trận pháo kiềng càng dữ dội. Bên ngoài, cả bầu trời như sa sầm đen nghịt, sấm sét lửa đạn. Âm thanh lấn át tiếng Quách Thưởng. Máy nội bộ cũng dồn dập xin cứu thương khẩn cấp từ ba trung đội. Tôi đang quây cuồng, chưa tiện đáp ứng các lời yêu cầu. Phần lính tráng như gà lạc mẹ, nằm rải rác khắp nơi, làm tôi thêm lo. Có thể sau cơn pháo chẳng khác TOT (Time On Target) này sẽ là một cuộc phản công bằng bộ binh cuồng bạo của địch, mà nhiều đơn vị bạn bị thảm bại khi vừa chiếm mục tiêu, chưa kịp tổ chức phòng thủ. Việt Cộng rất quỷ quái, tinh khôn, với chiến thuật “Chốt Kiềng” hiểm độc, luôn chập chờn trong đầu để nhắc nhở tôi. Tuy đã giẵm lên bao xác chết của một đơn vị thuộc Sư đoàn 304CSBV, được mệnh danh Sư đoàn “Thép”, tôi vẫn chưa tin mình đã thực sự khống chế toàn bộ căn cứ Jackson.

Nghĩ mà ớn lạnh, tôi vội gọi máy bày tỏ mối lo với các vị thẩm quyền hầu đôn đốc lính quan sát ngoài bờ rào. Rồi, đạn pháo chỉ còn nổ lác đác, trận kiềng đơn sắp chấm dứt. Tôi vội tuôn lên khỏi hầm thúc đánh tiếp vài điểm chưa thanh toán. Tôi lặp lại nhiều lần lệnh miễn bắt sống, kể cả những tên đầu hàng, bắn bỏ hết, vì Đại đội không đủ khả năng cầm giữ.

Các trung đội báo cáo chiếm xong các tuyến và trung tâm căn cứ, riêng bunker góc tây nam, nơi có cái mỏm chúi xuống thung lũng, chưa kiểm soát. Tôi bảo xạ thủ Vĩnh, Đại liên 60, có Xá và Trung xách các thùng đạn chạy theo, yểm trợ Trung đội 3, dưới sự điều động trực tiếp của Thiếu úy Nguyễn Thuận Cát, Đại đội phó, bóp họng gấp điểm cuối cùng.

Đang lúc bận rộn, đột nhiên Binh nhì Ninh từ ngoài xa vừa hơ hải chạy vô vừa kêu thất thanh làm tôi giựt mình:

– Đại Bàng! Đại Bàng!…

– Cái gì?

– Đại đội bình an không?

Tôi gườm nó:

– Sao mày hỏi vậy? Trung sĩ Nhật đâu?

Chú tân binh như người mất hồn, lắc đầu:

– Em không biết, chắc ảnh ngoài kia!

Tội nghiệp, chú tân binh mới ra trường Dục Mỹ, vừa chiếm được cái hố thì bị pháo, nó nằm im chờ chết. Đây là trận đầu tiên, kẻ thù chẳng nương tay với người lính trẻ còn bạch diện thư sinh.

Thanh truyền tin mang máy nội bộ tới cho hay đã thịt xong cái bunker chót, giết nốt ba tên, nhưng lấy hụt cây Trung liên Đông Đức. Thằng Trân, biệt danh “Đại Ma Đầu”, cùng “Sơn Râu” đi lục quanh căn cứ, tìm bắn ráo mấy tên địch bị thương đang ngất ngư chờ chết. Hành động trông quá tàn nhẫn, mà lại thường xảy ra tại chiến trường. Điều đó đôi khi cũng áp dụng cho chính đồng đội của mình. Bởi lẽ, nếu không đủ điều kiện cứu sống nên kết liễu họ sớm, khỏi kéo dài nỗi đớn đau, quằn quại. Trường hợp này nằm trong tình huống đơn vị bị thí quân, tứ bề thọ địch, còn xa cách quân bạn hàng chục cây số đường rừng, mọi sinh vật đối kháng phải bị tiêu diệt.

Jackson rộng thênh thang dù khó kiểm soát, trung đội ai đã chiếm tuyến nào cố thủ tuyến đó. Thám Báo và BCH giữ mặt nam. Đại đội gần hết đạn, sẵn sàng dùng chiến lợi phẩm tịch thu. Các thẩm quyền báo cáo các con số tổn thất đôi bên nghe khiếp. Thương binh và anh em tử trận được tập trung vào giữa căn cứ, chờ trực thăng tải về.

Trung sĩ Nguyễn Nhật, Thám Báo, trình:

– Lai và Dũng của toán chết rồi, Đại Bàng!

Tôi xúc động, đặc biệt Dũng, thằng em quê Tân Bình, Sài Gòn, rất gan dạ. Sinh thời nó thường kể ba chuyện giang hồ, như “Luật Hè Phố” tôi nghe còn hay hơn là đọc truyện Duyên Anh. Tuy xót xa tôi vẫn làm tỉnh.

Hạ sĩ Hiệp truyền tin xen vô:

– Em mới báo cáo sơ khởi tình trạng Đại đội, nhưng Trùng Dương muốn gặp Đại Bàng.

Hiệp vừa nói vừa đưa máy, tôi bóp ống liên hợp:

– Việt Quốc nghe!

– Tôi và Sơn Linh theo dõi, khen anh rất xuất sắc. Giờ cho biết kết quả, rồi treo cao một lá quốc kỳ để Sơn Linh bay vào thăm, tiếp tế và tải thương luôn!

Tôi đáp:

– Kết quả như Hiệp đã trình, giờ xin ưu tiên tải thương, tiếp tế nước. Còn cờ xí không có. Biệt Động đâu phải Địa Phương Quân có sẵn cờ. Tôi sẽ treo tấm vải vàng.

Tôi nhớ ai đây có cái võng màu cam, mua chợ trời, tôi cấm dùng, vì không phải loại nhà binh. Quả thật, tôi vừa hỏi thì Hạ sĩ Đợi đại liên, đem nó tới “trương” cao trên nóc một bunker. Lá cờ “võng” bay phần phật trong gió đông ra hồn lắm, mà tụi này cũng dễ ăn pháo lần nữa.

– Việt Quốc!… Việt Quốc!… Đây Sơn Linh!

– Nghe Sơn Linh!

Trên trực thăng giọng nói của Trung tá Trần Kim Đại, Liên đoàn trưởng, run run theo tiếng động cơ:

– Tôi đang đến… Anh treo tấm vải vàng, đúng không?

– Đúng, Sơn Linh!

– Chuẩn bị khói, khi tôi bảo màu gì thì ném ngay màu đó, nghe rõ trả lời?

– Đáp rõ!

Thiếu úy Nguyễn Thuận Cát tập trung mấy trái khói. Một lát, Trung tá Đại bảo thả quả màu vàng, rồi kế tiếp trái đỏ… Nhưng, bắt làm cho cố chẳng thấy ông đáp, cứ bay vòng vòng trên đầu, dễ bị địch bắn rớt, mắc công đi lượm xác. Thấy trên không gian có người với tiếng động thân thương, dưới đất bọn lính vụt reo lên, như đàn con thấy mẹ đi chợ về. Chắc họ chợt nhớ ra họ còn sống. Chiếc trực thăng bỗng lượn thật thấp, viên cố vấn Mỹ chĩa hai ngón tay trỏ và giữa như chữ “V”, để bày tỏ hoan hô chiến thắng. Tôi cũng làm dáng giơ cao tấm bản đồ lên vẫy vẫy đáp lễ. Và, không hiểu của ai, chính ông hay vị Liên đoàn trưởng, ném xuống một cây thuốc Lucky, rồi vụt bay tuốt vào đám mây mất dạng. Sao mấy ổng không cho vài kết nước ngọt, chứ thuốc lá thì nước miếng nước bọt còn đâu nữa mà hút?

Tôi ôm ngang khẩu M16 ngồi xuống nắp hầm mà hậm hực. Giống như năm xưa, 1971, hành quân Lào về, mỗi người lính được vợ chồng Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu tặng một chai dầu Cù Là Ông Tiên để trị cảm cúm lam sơn chướng khí.

Google photo edit by Sơn râu

Kế đó là ba chiếc UH1B ào ào đáp bỏ xuống hằng chục voû đạn đại bác 106ly chứa đầy nước uống và các loại đạn, rồi tải thương binh về bệnh viện Nguyễn Tri Phương Huế.

Kết quả: Địch bỏ xác tại chỗ 31 tên và 39 súng, có một cây cối 82ly. Biệt Động chết 8, bị thương 16. Tính chung 17 ngày, từ khi xuất phát dưới đồng bằng Cổ Bi, Đại đội 14 chết, 24 bị thương. Loại khỏi vòng chiến 42 Cộng quân, vũ khí tịch thu 46 các thứ.

Lúc bấy giờ tôi mới thực sự chiếm được mục tiêu mà nhiều đơn vị bạn đã không kham nổi. Hèn gì Thưởng và cả Trung tá Đại chẳng tin tôi, dù chỉ tới gần vài trăm thước, chứ đừng nói chuyện hốt gọn Jackson. Việc Trung tá Liên đoàn trưởng bảo nào treo cờ và nào thả đủ màu khói đã nói lên điều đó. Phần địch dĩ nhiên nhục nhã, tưởng hùng cứ được một phương vững chắc, không ngờ bị đánh tan tác, Biệt Động Quân lại chịu nổi một đòn pháo với chủ đích tận diệt đôi bên, như chúng thường áp dụng tại mặt trận Lào năm 1971, và khi bắt đầu tấn chiếm Quảng Trị vừa qua…

Hôm nay trước sự kiện Quán Hồng Mộ Đức, tôi ngao ngán thật! Tình thế cũng không cho phép, ngoài nhiệm vụ Đại đội, lại nhằm ngày đầu xuân và cũng không là trường hợp tao ngộ chiến, nên tôi chẳng dại gì đẩy lính vào một trận đánh đổ máu không cần thiết. Tôi phải tránh né. Cái nữa, trong quá khứ đã bao lần hành quân chung, Đại úy Việt thiết giáp rất ma nớp, chờ tôi làm sẵn cướp công.

Mấy năm qua, mỗi khi vào hành quân ở các vùng phía nam Quảng Nam, thì rất nhiều lần Đại đội 1 này tùng thiết với Chi đoàn 17 M113, đến nỗi Đại úy Nguyễn văn Do thường hay ví tôi và Việt là Bá Nha-Tử Kỳ, vì hợp “rơ” nhau.

Thông thường, lúc cách mục tiêu vài trăm thước, thiết giáp dừng lại, dàn ngang, dồn hỏa lực tối đa yểm trợ bộ binh xung phong thanh toán địch, và bố trí sơ khởi xong mới đi lục soát, thu nhặt chiến lợi phẩm. Nhưng, Việt lại thừa cơ lính tôi đang lo ngăn ngừa địch có thể phản công, liền cho sáu chiếc M113 chạy xông vào, thiếu điều cán Biệt Động, rồi họ nhảy xuống tỉnh bơ lượm hết chiến lợi phẩm vứt lên xe. Viên sĩ quan Thiết giáp cô hồn này cũng thuộc loại bạt mạng, huy chương mang đầy ngực, từ cuộc hành quân đẫm máu Tchépone, Lào, cứ giưõ cái tật “mánh mung” anh em!

Nhớ lại chuyện cũ vẫn còn muốn nổi điên, nên tôi lơ. Thấy vậy, Đại úy Việt tự quyết định đơn phương đánh Quán Hồng, cù cưa mãi chưa dứt điểm sớm.

– Thiên Nga, đây Thiên Mã!

– Nghe Tchépone!

Việt hạ giọng:

– Mày từ chối giúp tao phải không?

Tôi đáp:

– Mình mày chơi lấy! Tao không có lệnh, cần dưỡng quân vào Sa Huỳnh.

– OK, bận thì dzọt đi, Sésamou!

– Mày hãy clear gấp, tao mới qua khỏi đây được!

Việt dùng dằng:

– Mày chờ! Các Chi đội 1, 2, 3 có nghe không? Tụi Mũ Nâu không đánh! Tất cả thứ tự trái sang phải hàng ngang tắp!

Chi đoàn còn năm chiếc từ bên kia lũy tre nghiến xích gầm lên như bầy thú dữ, quạt đại liên xối xả vào Quán Hồng. Ưu thế của Thiên Mã là đã dồn địch về một hướng…

Đột nhiên có tiếng Thưởng gọi:

– Đống Đa Một, đây Trùng Dương!

– Việt Quốc nghe!

– Thế nào, di chuyển chưa?

– Còn chờ thằng Thiên Mã thanh toán Quán Hồng. Tôi có nhờ Quang Trung trình Trùng Dương tôi muốn giúp Việt đánh mục tiêu này…

– Không được, Việt Quốc còn đi xa…

Đang nói chuyện với Thưởng bỗng có tiếng nổ lớn, tôi nhìn ra thấy một chiếc M113 bốc cháy giữa hai làn đạn giao nhau như mạng lưới. Địch trong đồn bắt đầu chống trả dữ dội. Qua speaker tôi nghe Việt rống cái họng, giọng chẳng còn rõ nữa, nó xô máu la chí chóe. Tiện thể, tôi báo ngay Thưởng:

– Trùng Dương, thêm một con cua đã bị nướng, không thấy ai nhảy xuống, chắc bị thiêu hết rồi!…

Bất chợt hai Cộng quân phóng ra cổng trước Quán Hồng, định băng qua Quốc lộ 1 chạy về hướng tây. Tôi vứt ống liên hợp lại Hiệp và chưa kịp cho lệnh Thám Báo đang thủ cặp lề đường làm thịt ngay hai con vịt đẹt, thì tụi nó đã nhanh tay rỉa tới, một cái đầu tung lên, còn tên kia nằm bất động, toàn thân bị đạn xoáy tơi tả như con gà xù lông.

– Thiên Nga, đây Trùng Dương!

– Trình Trùng Dương, Đại Bàng em đã vọt lên!

– Thế nào?

– Biệt Động Quân mình mới bắn “dùm” chết hai tên.

Dứt máy Hiệp chạy tới ngồi kế tôi cùng quan sát mục tiêu. Thiết giáp còn bốn chiếc vừa bắn vừa thụt lui tránh B40. Thấy ngứa mắt và tội nghiệp Việt gặp khó khăn, tôi bảo Trung đội 1 cho người bò ra bờ ruộng dộng M72 vào mé sau đồn.

Nghe tiếng nổ tại góc tuyến phía bắc, Đại úy Việt liền gọi thất thanh trong máy:

– Thiên Nga! Thiên Nga!…

Tôi bóp ông liên hợp:

– Nói đi, Thiên Mã!

– Diệt giúp tao cái hầm góc đông bắc trước mặt mày.

– OK! Tao vừa đốn ngã hai thằng trên đường.

Tôi ra lệnh hai trung đội dốc mạnh hỏa lực vào điểm Thiết giáp yêu cầu, phút chốc cái góc bốc lửa.

– Thiên Mã, đây Thiên Nga!

– Nghe! Nghe!…

– Mày khoang vô, gió đông đã thổi, tao chơi khói cay.

Việt reo lên:

– Tốt lắm, tốt lắm, cứu tao, Sésamou!

Khoảng cách tuy xa 300 thước nhưng với sức gió thổi xuôi chiều, độc chưởng ắt sẽ làm địch quân bấn loạn, như mục tiêu Jackson. Tôi bảo lính gom vài chục trái lựu đạn cay để khinh binh Thành ôm bò gần tới ném rải về hướng Quán Hồng, đồng thời Trung đội 1 nổ súng tối đa đạn lướt sát đầu bảo vệ Thành. Quả thật, địch trong đồn thấm “thuốc” liền nhốn nháo lên, và thêm mấy tên nữa lủi ra, cũng bị Thám Báo canh sẵn đốn ngã. Tôi chưa kịp mô tả cho Việt biết cái cảnh đẹp mắt ấy thì bốn chiếc M113 đã nổi điên, vừa bắn vừa tống ga lao thẳng vào Quán Hồng. Sợ lạc đạn Thiết giáp, Thiếu úy Cường vội kêu Thành trở lui.

Việt hét to:

– Việt Quốc, Việt Quốc, hãy ngưng khói cay, ngưng tác xạ, con cái tao đang nhào vô!

– Đáp nhận! Hướng súng tao chỉ đớp ngoài quốc lộ thôi!

Tôi đứng dậy:

– Ngưng bắn, tất cả Đại đội nằm xuống hết, quan sát chung quanh. Toán Thám Báo của Nhật coi chừng mặt tây, đề phòng địch tấn công!

Thanh, máy nội bộ, cũng gọi nhắc các trung đội:

– Mười, Hai Mươi, Ba Mươi… lệnh ngưng tác xạ!

Mấy phút sau bốn con cua sắt song song đã ập vào đồn, hai chiếc giữa vụt trồi lên đè bẹp bờ rào, chúi các nòng Đại liên 50, M16 quét túi bụi xuống các hầm từ sau tới trước. Kế tiếp, hai chiếc kia, một bên trái, một bên phải, nghiến hai góc, tác xạ loạn xà ngầu dọc phòng tuyến phía bắc cả nam. Việt Cộng hoàn toàn tê liệt, tiếng súng im bặt. Speaker máy liên lạc với Thiết giáp còn phát ra âm thanh hỗn độn, tiếng la hét của Đại úy Việt:

– Lệnh của tao, thằng nào chống cự, giết hết!…

Tôi thích ông bạn Chi đoàn trưởng M113 này ở điểm cuồng bạo không kém. Khi cận chiến, lính đã đổ máu, dứt khoát tôi cho lệnh bắn sạch những ai chống cự, khỏi nhọc công đem về trại Tù Binh Non Nước nuôi tốn cơm. Chiến tranh lắm lúc bên nào cũng phải tàn nhẫn. Dĩ nhiên, không thể dã man như quân Bắc Việt, đã từng chôn sống hàng vạn đồng bào Huế Tết Mậu Thân, một trường hợp điển hình. Trừng trị bọn vô nhân Cộng Sản chẳng phải chúng có ân oán với bản thân, gia đình mình, mà vì sự tồn vong của dân tộc. Người chiến sĩ giống như thợ săn, biết phân biệt thú dữ với nai hiền. Nhân đạo không đúng lúc, đúng chỗ chỉ hại đồng đội ngoài mặt trận.

Bây giờ Thiết giáp đã làm chủ đồn Quán Hồng.

– Thiên Nga!… Thiên Nga!…

Nghe tiếng Đại úy Việt vừa gọi vừa thở hổn hển trong máy tôi cười vào ống liên hợp:

– Cái gì nữa, Thiên Mã?

– Cám ơn Sésamou! Tao đã giết 17 tên, thu 20 cây súng…

– Chúc mừng Tchépone! Để tao báo ngay kết quả lên BCH Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân. Tạm biệt!…

Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân
Post by Sơn râu 17 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

4. Mùng 1 Tết Xuất Quân

5 giờ rưỡi sáng mùng 1 Tết, năm Quý Sữu 1973, Đại đội 1 Biệt Động Quân gồm Bộ Chỉ Huy, toán Thám Báo, và 3 trung đội với ba lô, súng đạn, đã lần lượt tề tựu nơi mảnh đất trống phía trước sân nhà của Nhị, dưới chân đồi Mộ Đức. Thượng sĩ Nguyễn Thiệp, Thường vụ, luôn miệng hối thúc mấy chú lính còn đi tà tà, chạy lẹ vào vị trí tập họp. Vừa thấy đông đủ, thứ tự, Thiếu úy Đặng văn Thiều vội gióng hàng nghiêm chỉnh. Ông bắt lặp lại các động tác thao diễn đến lần thứ ba là lúc tất cả hoàn toàn im phăng phắc, không ai nhúc nhích, hay một tiếng động. Trước khi trình diện vị sĩ quan tân Đại đội phó còn cẩn thận liếc mắt từ trái sang phải, để biết chắc đội hình đã thật sự ngay thẳng, rồi ông mới quay qua tôi, đưa tay chào và báo cáo:

– Đại đội tập họp xong! Tổng số 107, bất khiển dụng 17, công tác hậu cứ 8, hiện diện hành quân 82, trình Trung úy Đại đội trưởng, đủ!

Mặc dầu đã quen với quân số thiếu hụt, khi lên lúc xuống, nhưng lần này nghe báo chỉ có 82 người, tự nhiên tôi cảm thấy hơi buồn. Số lượng mới bằng nửa đại đội Dù hay Thủy Quân Lục Chiến. Thậm chí còn thua xa một đơn vị cấp tương tự của Bộ Binh. Tuy vậy tôi vẫn lấy khó làm nên, tin tưởng vào khả năng chỉ huy của mình cùng tinh thần chiến đấu dũng cảm, sự năng động tuyệt vời của 82 tay súng bạt mạng, đánh chết bỏ, chưa một lần biết sợ là gì!

Tôi chào tổng quát và cố nén cơn giận vu vơ vừa chợt đến, để nói đôi lời an ủi anh em đang đứng lặng thinh, có vẻ buồn sâu kín, lạnh lùng trên từng khuôn mặt:

– Nhân dịp đầu xuân, tôi thân ái kính chào các sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ Đại đội. Cầu chúc tất cả và gia đình một năm mới an khang, hạnh phúc!

Anh em quý mến! Điều tôi muốn nói trước hết, đây không phải là lần đầu tiên Đại đội hành quân mùng 1 Tết. Quá khứ chúng ta cũng đã từng ra đi nhằm những ngày thiêng liêng thế này, như biến cố Mậu Thân, Kỷ Dậu, đặc biệt đầu năm Tân Hợi lâm chiến Hạ Lào. Chưa kể mấy cuộc khai quang lập ấp, bình định thôn làng những nơi xa xôi hẻo lánh mà khi xuân veà bằng chông mìn, đạn pháo, máu và cả nước mắt. Hôm nay tôi biết các anh chẳng lấy gì vui gì. Vì nhiệm vụ chúng ta không còn cách nào hơn. Cầu mong anh em gặp nhiều may mắn!

Tiện đây, tôi xin thông báo, kể từ ngày này Thiếu úy Đặng văn Thiều thay thế Thiếu úy Nguyễn Thuận Cát giữ chức Đại đội phó. Bây giờ có mười phút, tất cả tự kiểm soát vũ khí, đạn dược, máy móc lẫn thuốc men lần chót. Và những cái gì mượn của đồng bào hãy trả lại.

Mời cấp trưởng các trung đội, Thám Báo, Truyền tin, Quân y lên gặp tôi. Giao quyền Thường vụ. Thi hành!

Dứt lời, tôi và các thẩm quyền vô nhà phân chia nhiệm vụ theo kế hoạch di chuyển. Trước hết tôi cho đổi tần số mới các máy PRC25 nội bộ. Danh hiệu của Bộ Chỉ Huy Đại đội vẫn laø Thiên Nga. Tôi không muốn đổi, dù có vẻ yếu đuối, giống tên con gái, nhưng Cộng quân đã bao lần khiếp đởm khi nghe đến danh xưng “Vịt Trời” này.

Tôi ra lệnh Thiếu úy Thiều:

– Anh dẫn 2 Trung đội 1 và 2 move trước. Khi ra khỏi khu phố Mộ Đức thì tạt trái đi song song, cách quốc lộ khoảng 20 thước, đội hình hàng ngang hay dọc tùy địa thế. Sau đó, BCH và Trung đội 3 sẽ tiếp theo. Tất cả súng cầm tay sẵn sàng tác chiến. Đầu năm nhớ niềm nở với dân chúng. Thiếu úy Thiều cho lên đường, còn Trung đội 3 tạm thời bố trí về hướng tây con xóm này chờ lệnh.

Google photo

Các thẩm quyền đưa tay chào từ giã rồi bước nhanh ra cửa. Tôi tới đứng bên Nhị đang ngồi buồn xo nơi bộ phản. Anh em cao bồi hiểu ý hai đứa cần chút riêng tư, cũng vội đùm túm ba lô, súng đạn rời khỏi nhà. Trung không quên tắt ngọn đèn, vì trời đã sáng trợt, và nói:

– Đại Bàng! Tụi em chờ trước ngõ, có toán Thám Báo của Trung sĩ Nhật rải dọc theo hương lộ.

Tôi gật đầu và quay nói nhỏ bên tai Nhị:

– Anh đi, nghen!

Nàng im lặng, choàng tay ôm tôi. Bên ngoài các Trung đội bắt đầu di chuyển, tiếng giày nặng trịch, rồi nhỏ dần làm não lòng người trong cuộc. Đôi mắt Nhị đỏ hoe, chẳng giống đêm qua, lúc giao thừa. Tình cũng đẹp, cái đẹp tựa như hào quang của pháo bông, rực lên trong giây phút mà thôi. Dù sắt đá tôi vẫn cảm thấy lòng mình yếu mềm như thuở học trò, không đủ can đảm nói cho Nhị biết nàng đã yêu lầm người trai chỉ mải mê trận mạc.

Tôi ghì chặt Nhị:

– Mùng 1 Tết hãy vui vẻ. Vợ tương lai của Biệt Động phải đủ nghị lực. Anh sẽ về thăm.

– Anh yêu em không?

Tôi khẽ hôn vào trán Nhị:

– Sao không?

Nàng nhăn lại:

– Sao anh nói yếu xìu vậy? Em ghét anh lắm!

– Ghét thì khổ thôi! Chúc cưng ở nhà mạnh giỏi, siêng học. Để anh từ giã mẹ.

Tôi đến cửa buồng:

– Thưa bác, tụi con xin phép đi!

Bà bước ra ngồi xuống giường nhỏ:

– Chúc Vân thượng lộ bình an! Nhớ thư về bác.

– Cám ơn bác lần nữa đã giúp đơn vị ở đây hổm rày, có gì phiền, bác bỏ qua cho.

– Bác cám ơn Vân mới đúng. Nhị gom hết các đồ dùng của Vân chưa?

Như chợt nhớ điều gì, Nhị chạy vào buồng rồi sau một phút quay ra nói:

– Cái mũ rừng nè, em tìm muốn chết luôn!

– Ở đâu vậy?

– Dưới giường chớ đâu! Đêm qua, lúc anh nằm ngang, ôm bụng cười…

Kịp biết nói hớ, nàng vội đưa tay bụm miệng.

– Vậy mà nói anh để bên nhà Lý.

– Bộ muốn nhắc hả?

Dứt lời, Nhị âu yếm đội cái mũ lên đầu tôi:

– Em chúc anh đi bình an, vui vẻ…

Nhị lại khóc, mít ướt thật! Bất kể bà cụ ngồi trước mặt, tôi ôm nàng lần nữa:

– Anh đi… Kính chào bác!

Tôi bước nhanh ra cửa. Thanh mang máy chạy tới:

– Trình Đại Bàng, Thiếu úy Đại đội phó vừa gọi cho hay 2 trung đội đã ra khỏi khu phố Mộ Đức, đang di chuyển bên trái quốc lộ…

– Nói Thiếu uý Thiều, khi cách xa bìa khu phố khoảng vài cây số, xem có con xóm nào đó thì dừng lại bố trí. OK, chúng ta dzọt, bảo toán Thám Báo dẫn đầu, Trung đội 3 sau cùng.

Tất cả một hàng dọc, lặng lẽ theo con đường mòn ra thẳng Quốc lộ 1. Phía đông, mặt trời đã lên cao, đỏ ối trên các chòm cây dương liễu xa tít ở Đức Lương. Tôi quay lui nhìn căn nhà yêu dấu, không thấy Nhị đâu, chỉ mẹ nàng, tội nghiệp bà cụ đứng tựa cửa nhìn theo.

Tôi thúc Trung sĩ Nhật cho toán Thám Báo đi nhanh. Sau lưng, Trung đội 3 đang lầm lì nện từng bước nặng trĩu trên lối mòn còn ẩm ướt sương mai. Ngay cả đám lính thân cận cũng vậy, mỗi người một ba lô đầy nhóc lương thực, súng đạn cồng kềnh, trông uể oải, chẳng thấy ai vui vẻ chút nào. Tôi đã hiểu thì tôi không thể để bại trận vì nguyên do này.

Lúc tập họp, lính tráng đã chán nản, lo buồn cho chuyến đi nhằm ngày đầu năm. Phần lệnh lạc quân đội hay bất thường, lại thêm cái thói quen cố hữu của Quách Thưởng sử dụng liên miên Đại đội tôi làm anh em gian khổ. Chắc Thưởng vin vào tôi có nhiều mặt xuất sắc, đứng đầu 12 đại đội trưởng thuộc Liên đoàn 1 BĐQ, như chỉ huy giỏi, chiến công nhiều, đơn vị kỷ luật, ít người đào ngũ. Khi lâm trận, khả năng của đơn vị tấn công rất tàn bạo, tốc chiến, phủ đầu địch trên mọi địa thế, từ thành phố đến miền rừng núi, ngay cả đột kích đêm. Lắm lúc quân bạn bị cầm chân hay không nuốt nổi mục tiêu, tôi lại tình nguyện thanh toán chớp nhoáng. Do đó, mỗi lần gặp khó khăn nào, Quách Thưởng giao tôi là xong. Sự năng nổ do tấm lòng nhiệt tình, yêu thích, coi chuyện đánh giặc như việc nhà mà tôi phải chuốc lấy nhiều tai hại vào thân. Quách Thưởng, bạn từ thuở học trò, đã hiểu được, nên chẳng ngần ngại tống xuất mình đơn vị tôi ra đi sáng sớm mùng 1 Tết thế này.

Đi thì đi, nơi nào cũng là đất dụng võ của anh hùng!

Người ta nói “dụng nhân như dụng mộc”. Hẳn Thưởng biết cách dùng người nhưng phí phạm. Đôi lúc bực tức vì thấy lính quá khổ, tôi phàn nàn. Nhiều lần thong thả, hai đứa ngồi uống nước trà, nhắc nhớ những ngày còn đi học, tôi khéo lấy tình bạn cũ cùng lớp cùng trường Phan Thanh Giản Đà Nẵng, ngót bốn năm trung học đệ nhất cấp đầy kỷ niệm, lúc Thưởng chưa qua trường Phan Châu Trinh, để trách nhẹ Thưởng về sự thiếu công bằng trong Tiểu đoàn. Nhưng rồi đâu cũng vào đó. Ông hay nói xa vời:

– Tao mới làm Tiểu đoàn trưởng, ăn nhờ có mi, ráng giúp tao, mi cứ phàn nàn hoài.

“…Ăn nhờ có mi, ráng giúp tao”, gãy gọn. Thưởng biết mà, ngoài bổn phận chiến đấu, tôi còn sống có tình, bao phen cứu Thưởng khi bao phen Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn bị địch vây đánh suýt tan rã. Thế mà tôi chưa hề cầu cạnh người bạn ấy một ân huệ nào. Cũng như Quách Ẩn, em ruột Thưởng, tôi càng thân thiết bao nhiêu thì thiệt thòi vô lý bấy nhiêu. Nhiều lần tôi lại bằng lòng để Quách Thưởng lấy chiến công của tôi áp đặt cho sĩ quan khác nhận huy chương, nên người khóa sau sớm thừa điều kiện được thăng cấp trước, trong đó có Trung úy Dương Xuân, Đại đội trưởng Đại đội 2. Mặc dù thuộc loại khá, nhưng Xuân từng bị phạt hàng trăm ngày trọng cấm, vì tội bắn chết tên đầu đãng, vua xa lộ Hòa Khánh, bay lượn Honda qua mặt xe Jeep của Xuân. Chừng ấy tội đủ khiến thằng “điếc không sợ súng” khỏi lên lon lên lá, dù thâm niên công vụ, nếu không có công trạng ngoài chiến trường. Tôi khoái cái tính quân tử của tôi chỗ đó.

Dẫu sao tôi cũng mến vị sĩ quan tài hoa Quách Thưởng bởi cùng mộng ước, sống có lý tưởng, chịu vào sinh ra tử. Thưởng xuất thân trường Võ Bị Đà Lạt, tôi Thủ Đức, hai thanh niên ưu tú đều tình nguyện nhập ngũ, vì yêu đời binh nghiệp, chết lấy da ngựa bọc thây. Một điều, không hiểu Thưởng thế nào, chứ tôi, ai nói gì thì nói, dứt khoát rất hiếu chiến.

Một hôm, vì nghe thiên hạ hay bàn tán về hai tiếng “hòa bình” cho Việt Nam, Thưởng hỏi tôi:

– Vân, tao hỏi thật, mày muốn hòa bình không?

Tôi đáp ngay:

– Không!

– Tại sao?

– Tôi sinh ra để chiến đấu, hòa bình mà vẫn còn bọn Việt Cộng thì hòa làm gì?

Thưởng vỗ vai tôi:

– Mày giống tao.

Google photo

Nói xong, hai đứa đắc ý cười rồi lấy bộ bài ra binh xập xám tay đôi chơi như con nít, vào một chiều dừng quân trên đồi 55, phía tây nam thành phố Đà Nẵng.

Vì những lý do đó việc nào khó Đại đội tôi lãnh đủ. Nhưng lính đâu biết, tưởng tôi bị Thưởng đì nên mỗi khi đụng chuyện anh em hầm hầm sắc mặt.

Trục di quân sắp xuyên qua con phố Mộ Đức. Trên đường đi, nếu gặp bất kỳ ai bị hiểu lầm có thái độ khiêu khích, bọn lính ngang bướng nổ súng ngay. Chuyện bắn nhau thường xảy ra vì gian khổ hay bị ngược đãi. Người ta nói Biệt Động Quân là thứ trời đánh trật búa, chiến đấu giỏi, mà phá phách thì chỉ thua quỉ sứ thôi…

– Đại Bàng!

Nghe Hiệp truyền tin đi bên cạnh khẽ gọi, tôi quay qua:

– Cái gì?

– Hồi nãy, em thấy chị Nhị nhìn theo khóc…

– Thôi, nhắc tới thêm buồn. Bảo thằng Thanh hỏi Thiếu úy Thiều dừng lại chưa?

Thanh lướt tới:

– Thiếu úy Thiều xin được gặp Đại Bàng đầu máy.

Tôi cầm ống liên hợp:

– Nghe Thiều!

Vị Đại đội phó báo:

– Trình Đại Bàng, tôi cho hai trung đội bố trí ở tọa độ XY… chờ Đại Bàng. Trước mặt tôi, phía nam khoảng 500 thước, có nhiều tiếng súng đủ loại. Chắc đơn vị nào đó chạm địch, đang đánh nhau.

– Cẩn thận! Tôi đang đi về hướng anh.

Đại đội bắt đầu xuyên qua trung tâm quận lỵ Mộ Đức. Con đường lớn giữa khu phố hôm nay trông khác lạ, khác hẳn với những lúc bình thường đã đành, nó cũng chẳng như ngày đầu xuân năm trước, mà tôi đã có dịp đi qua. Vào cái thời điểm sự sinh hoạt náo nhiệt nhất của buổi ban mai lại im lìm vắng vẻ, nhà nhà cửa đóng then gài. Hẳn dân chúng còn sợ, chưa dám ra ngoài, chỉ năm ba cụ già khăn đóng áo dài đen, người xuôi kẻ ngược, vội vã xuất hành. Nơi cổng chợ mấy em bé bụi đời đứng lấp ló, nhìn đoàn quân Biệt Động đang di chuyển ngoài đường. Một chiếc Jeep mui trần từ đằng xa chạy tới. Trên xe có trang bị một khẩu đại liên nòng chĩa phía trước, ba người lính Địa Phương Quân nai nịt gọn gàng, mặt nghiêm nghị, cầm loa đọc đi đọc lại nghe văng vẳng lệnh cấm đốt pháo hay tụ tập đánh bạc…

Mộ Đức, nếu không có màu sắc rực rỡ hòa hợp giữa những lá cờ vàng ba sọc đỏ hai bên dãy phố với chiến phục hoa rừng Biệt Động, thì chẳng khác nào Quảng Trị tiêu điều, hoang vu trong những ngày tháng thất thủ vừa qua.

Trên ngọn đồi hướng tây, sau lưng con phố, nơi đặt tạm Boä Chỉ Huy Liên đoàn 1 Mũ Nâu, một pháo đội đại bác thình lình bắn dồn dập về phía nam. Sáng mùng Một Tết thật mỉa mai, súng nổ đạn reo thay tiếng pháo. Dĩ nhiên Sa Huỳnh không có rượu hồng, không mai vàng nở rộ, cả những nụ cười vui chào đón xuân về, chỉ máu đỏ xương trắng tung lên. Mặc dù cái gọi là “Hiệp Định Ba Lê” và “Lệnh Ngưng Bắn” tái lập hòa bình Việt Nam đã hiệu lực ngày 27 tháng Giêng 1973, nhưng mùi tử khí chiến tranh vẫn còn bao trùm nghẹt thở.

Tôi ra dấu cho toán Thám Báo của Trung sĩ Nhật dẫn đầu đi chậm lại trước tiệm tạp hóa chị Hiển mới hé cửa. Thấy tôi chị nhận ra ngay người khách hôm nào cùng Nhị ghé đây mua hàng. Chị vồn vã:

– Kính chào Trung úy Vân năm mới! Nhị đâu?

Tôi mỉm cười:

– Nhị trong nhà, thưa chị!

– Sao không dẫn cô nàng theo? Mời các anh vô chơi…

Chị vừa nói tới đó vừa nhìn ra hàng quân dài lê thê với vũ khí cầm tay đang đi ngoài đường, như chợt hiểu chị nheo mắt:

– Ủa… bộ hành quân, hả Trung úy?

– Dạ, nhân dịp năm mới, kính chúc chị và gia đình làm ăn phát đạt. Xin lỗi, bây giờ đơn vị phải vào Đức Phổ gấp.

Tôi vừa quay lưng, tiếng chị vọng theo:

– Khi nào Vân Nhị làm đám cưới, tin tôi hay!…

Tôi vờ không nghe, cắm đầu đi thẳng. Lời mong muốn của chị khiến tôi thêm bối rối. Buồn ơi là buồn. Tự nhiên, tôi đâm ghét và mỉa mai chính tôi quá lăng nhăng, rước khổ vào thân.

Tôi gặp lại hai trung đội đầu trong một con xóm. Thiếu úy Thiều đang đứng đợi trước hiên căn nhà ngói đỏ, đưa tay chào tôi rồi ông chỉ về hướng nam:

– Trung úy nghe đó, hai bên đã choảng nhau cả tiếng!

Tôi trấn an người sĩ quan trẻ:

– Đừng ngại! Nếu cần, mình sẽ róc chúng dễ dàng để clear lộ trình. Bây giờ Đại đội tạm dừng và bố trí quanh đây, Thám Báo thì rải cặp quốc lộ phòng thủ.

Thiều chạy lo công việc, tôi ngồi bệt xuống thềm nhà, giở bản đồ đo từ điểm đứng đến phố Đức Phổ. Theo lằn chỉ đỏ, tỷ lệ khoảng cách tương ứng với ngoài địa thế hơn mười cây số, tôi ngao ngán cho lính. Bình thường thì chẳng ăn nhằm gì. Kỹ thuật đi bộ, trèo núi vượt sông của anh em rất chuyên nghiệp, đã được đào tạo tại Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân, nơi mà ai đã trải qua rồi thì thà chết chứ không dám trở lại lần thứ hai. Cái quân trường độc đáo, hắc ám ấy còn có ác danh laø “Lò Luyện Thép”, khét tiếng Đông Nam Á Châu, nằm giữa vùng rừng núi lam sơn chướng khí Dục Mỹ, Khánh Hòa. Nơi đó dùng để “trui” thêm một nước cho thành đồng đen các sinh viên sĩ quan bao năm hóng mát Đà Lạt trước khi mãn khóa. Dĩ nhiên, chốn ấy cũng là địa ngục kinh hồn đối với các đấng cấp úy hạng bựa từ các quân binh chủng bốn vùng chiến thuật gởi về nằm gai nếm mật.

Thế nhưng, chuyến đi này tôi linh tính có nhiều điều đáng ngại. Không hiểu sao chính tôi có sự mâu thuẫn, lúc hăng hái, khi thì chồn chân trên đường ra trận.

Tất cả anh em hy vọng dừng quân thêm một ngày nữa để ăn Tết cùng các đại đội kia. Tối hôm qua hậu cứ cho hay một số vợ con lính từ Phú Lộc sẽ vào thăm chồng. Tôi chẳng ngạc nhiên vì chuyện thường xảy ra trong các quân binh chủng tác chiến. Dù nơi đâu, chân trời hay góc biển, trừ khi đơn vị đang di chuyển, các bà vẫn mon men tìm đến, nhất là ở các đồn bót Địa Phương Quân, Biệt Động Quân Biên Phòng, họ đều hiện diện. Lắm lúc bị pháo kích các bà cũng chết thê thảm. Nhiều trường hợp vợ con lính trở thành anh hùng bất đắc dĩ, hy sinh mạng sống cứu chồng, cứu cha. Khi bị địch tấn công, đám thê nhi can đảm lâm trận, người bắn súng kẻ tải thương, tiếp đạn, rồi cũng hào hùng cùng chung số phận thịt nát xương tan…

Tin họ vô thăm tôi không cản, vì chưa nhận lệnh xuất phát. Bây giờ lính bực tức, mất cơ hội gặp mặt vợ con dù ngắn ngủi sau một năm xa cách, từ những ngày đầu Quảng Trị đẫm máu đến nay. Hôm về hậu cứ một đêm thì bị cấm trại. Từ hối tiếc, cụt hứng đưa đến bất mãn không xa, làm họ mất hết nhuệ khí chiến đấu.

Qua bảy năm chỉ huy các cấp trung đội, đại đội, kể cả hai năm Trung đội trưởng Trung đội Viễn Thám Biệt Động Quân, nhảy toán cho Tiểu đoàn 1 Thám Báo, Sư đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến, Hoa Kỳ, khắp vùng rừng núi địa đầu và biên giới Lào Việt, là các chức vụ tôi từng trực tiếp sống chết với lính. Ngần đó đã đủ để tôi kinh nghiệm khi lính bất mãn thì thường hay làm điều xằng bậy. Cấp chỉ huy phải có trách nhiệm can ngăn, tìm cách giải tỏa kịp thời những ấm ức tiềm tàng trong hàng ngũ chiến đấu.

Một trường hợp điển hình, tháng 5/72, sau ngày Quảng Trị mất, vì thiệt hại nặng Tiểu đoàn 21 BĐQ vào Văn Thánh, kế chùa Linh Mụ Huế, tái huấn luyện và bổ sung quân số. Lúc ấy có khóa học truyền tin cấp C2 sáu tháng tại Vũng Tàu, tôi cử một người lính xuất sắc tên Nguyễn văn Châu về tham dự. Trước khi lên đường, Châu được phát thêm hai bộ đồ hoa, một đôi giày da, tấm poncho, nhưng Châu trở chứng đem bán sạch ngoài chợ Đông Ba lấy tiền mua rượu nhậu chơi, bỏ khóa học. Trung đội trưởng rầy thì Châu sừng sộ, hỗn láo chửi thề. Nghe báo, tôi gọi Châu lên phạt đòn, đánh thẳng tay năm chục cây thanh ngang giường bố, gục tại chỗ. Đến mười giờ tối, tôi vẫn còn tức giận về cái xấc xược, vô kỷ luật ấy, sai lính xốc Châu dậy định đập thêm một trận nữa, thì hắn ta phều phào lạy dài xin tha.

Tôi chỉ mặt:

– Tao biết mày đã bất mãn, muốn bắn tao thì súng đây cứ bắn, khỏi cần bắn lén…

Dứt lời, tôi lấy cây M16, lên đạn rồi ném vào ngực hắn:

– Bắn đi!

Châu ôm ngang khẩu súng, đứng khóc:

– Em không dám, Đại Bàng! Em không dám!…

– Nếu mày không dám chơi thì phải làm việc đàng hoàng, còn muốn đào ngũ cứ việc tùy tiện. Ngày mai, 7 giờ sáng, lên đây trình diện và nói thật cần đào ngũ, tao hứa trước mặt Đại đội là cho 500 đồng và đích thân tao lái xe Jeep đưa mày qua khỏi trạm kiểm soát Phú Bài Huế để được an toàn mà về Đà Nẵng, nghe rõ chưa?

Hôm sau, tôi không thấy Châu hó hé gì hết, nó vui vẻ ra đi với đơn vị vào sân bay dã chiến Thành Nội Huế để trực thăng vận đổ xuống Hương Điền, mở đầu cuộc tái chiếm Quảng Trị. Ngày đó, Trung cao bồi trao lại tôi một lá thư của Châu viết, mà tôi còn nhớ mãi một câu: “…Em thề sẽ không bao giờ rời bỏ Đại đội Biệt Động Quân này, Đại Bàng đâu em đó cho tới khi một trong hai thầy trò mình chết”. Đọc mấy dòng chữ tôi muốn bật khóc.

Ở quân đội, nhất là các binh chủng tác chiến, luôn luôn có một số lính ba gai thuộc cỡ nặng do hoàn cảnh tạo ra, chưa kể thành phần xuất thân từ các băng đãng dân sự, coi trời như lá mạ. Dù loại nào đi nữa cũng đều sợ chết. Chắc chắn vậy, nên khi đụng trận, tôi thí chốt mấy tay anh chị đó trước. Nếu may mắn thoát chết, chúng sẽ trở nên hiền khô. Lối giáo dục của tôi là cưỡng bách hạng người đâm cha giết chú phải biết đổ máu ngoài chiến trường, để đời được cao quý hơn chết nhục ở đầu đường xó chợ. Biện pháp này có vẻ bất nhân nhưng tránh nhiều hiểm họa.

Chung chung, lính chỉ kính nể, phục tùng người chỉ huy gan dạ, thưởng phạt công minh, khi hung dữ, nhưng lắm lúc lại dịu hiền tình nghĩa. Nếu cấp trên yếu kém, chứa chấp tham ô, bất công, lạm quyền bắt nạt hà hiếp kẻ dưới, thì sớm muộn gì đơn vị cũng bệ rạc. Gặp giặc lính sẵn sàng bỏ chạy, đôi khi họ còn trở súng bắn lại nữa. Chuyện đã xảy ra ở Đại đội 4 BĐQ vào mấy ngày cuối cùng Quảng Trị thất thủ mùa hè 72. Một hạ sĩ quan lúc sinh thời như một hung thần, rồi bị thương nặng trong trận đánh tại tây nam La Vang nằm kêu cứu ơi ới, lính nhận ra tên và cấp bực, nhưng ai cũng nhớ lại sự tàn nhẫn của hắn khi còn làm việc ở hậu cứ, nên chẳng màng thương xót, tình đồng đội, đã đạp nghiến lên thân xác hắn trên đường rút lui.

Tôi suy nghĩ lung tung, chắc phải có phần bất ổn trong đơn vị, nên mời Thiếu úy Thiều đến hỏi:

– Với tư cách Đại đội phó, Sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị, anh thấy tình trạng lính thế nào?

Thiều đáp:

– Thưa Đại Bàng, anh em uể oải lắm!

Tôi nhăn mặt:

– Uể oải nói làm gì! Anh không biết thật à? Mình hãy tâm sự với tụi nó một chút.

– Nếu Đại Bàng muốn tôi tập họp hết sau vườn, chỉ cử bốn người gác quanh.

Tôi gật đầu. Một lát Thượng sĩ Nguyễn văn Thiệp vào mời tôi ra. Tôi mở lời rất nhanh:

– Tất cả ôm súng ngồi xuống, như hình chữ “U”, được phép hút thuốc thoải mái…

Sau vài phút Đại đội đã làm theo lệnh. Nhiều người, nhất là các hạ sĩ quan, tỏ vẻ ngạc nhiên về cuộc họp thình lình này, rất hiếm xảy ra trong lúc di chuyển, lại có tiếng súng lác đác phía trước. Anh em mau chóng im lặng, chăm chú nghe:

– Hỏi thật các anh, ai buồn phiền gì không?

Chuẩn úy Hạnh giơ tay:

– Thưa Trung úy, Binh nhất Nguyễn Mẫn Trung đội 2 cần trình xin bốn ngày phép đặc biệt vợ sanh.

Tôi nhìn Mẫn ngồi giữa hàng quân:

– Điện tín nhận hồi nào, Mẫn?

– Dạ, Trung sĩ Nguyễn Đựng báo vợ em sanh ba ngày rồi.

Google photo

Trước nhu cầu khẩn cấp của người lính khinh binh hai năm phục vụ đơn vị, tôi áy náy vô cùng:

– Tôi hứa cho, Mẫn ráng ít hôm nữa xem sao, chứ bây giờ mình đang di chuyển. Ngồi xuống, Mẫn!

Tôi muốn trình bày các anh một điều mà lúc sáng tập họp không tiện nói. Hôm nay đầu năm, đơn vị tiến vào Sa Huỳnh lắm gian nguy. Chuyến đi khiến chúng ta mất vui mà tôi lại là người bất mãn nhất. Mới bảy năm quân đội, từ tháng 3/1966, tôi đã bị cháy hết năm cái tết ngoài chiến trường. Đầu tiên tôi phục vụ Tiểu đoàn 11 Biệt Động Quân, Vùng 2. Vào giờ giao thừa Tết Mậu Thân 1968, Việt Cộng xâm nhập sâu giữa thành phố Pleiku, cả hậu cứ Tiểu đoàn ở Biển Hồ. Lúc ấy lính tráng đang rong chơi trong trại gia binh gần đó, vội ùn ùn xách súng vào đánh đuổi địch, xong rồi tức tốc lên xe đi giải tỏa ty Cảnh Sát Quốc Gia, Bưu Điện, Quân Cụ…suốt hai ngày Một và Hai Tết. Mùng Ba thì đơn vị lại đáp máy bay vận tải C130 qua Đà Lạt, để phản công, tái chiếm một vùng rộng lớn, mà tâm điểm là khu số 4, từ tu viện Domaine De Marie đến nhà thờ Chúa Cứu Thế trên một ngọn núi cao hướng tây.

Năm sau, Xuân Kỷ Dậu 1969, tôi đổi về Tiểu đoàn 21 này thì gặp ngay các cuộc giải tỏa địch chiếm hãng dệt Sicovina ở Cẩm Lệ, rồi Hòa Cầm, và thôn Quang Châu, thuộc quận Hòa Vang, phía nam thành phố Đà Nẵng. Kế tiếp, năm Canh Tuất, tôi dự các chiến dịch hắc ám nhất, như Dương Sơn 3, Vũ Ninh 8, 9 tại Phong Thử, Quảng Nam. Đến năm Hợi, cái gì Hợi đó, cũng heo thôi, bị chuyến đi Lam Sơn 719 Hạ Lào, lên đường đúng ngày đầu năm. Đời lính tôi muốn banh ra luôn!

Đặc biệt cuộc hành quân Lam Sơn 719 quá gian nguy. Đầu năm, Liên đoàn 1 BĐQ di chuyển ra Quảng Trị, vào tận Khe Sanh, Cà Lu biên giới. Nơi đó, Tiểu đoàn 21 BĐQ tiên phong trực thăng vận qua Hạ Lào và chạm địch ngay khi nhảy xuống kế đầu sông Sésamou, cực bắc Tchépone, tỉnh Savannakhet. Nên biết, trước khi Tiểu đoàn ta đổ quân đã có trung đội viễn thám mà tôi từng làm trung đội trưởng, rồi giao Thiếu úy Trần văn Thanh chỉ huy nhảy xuống, dùng mìn khai quang làm bãi đáp. Tôi nhớ rõ Tiểu đoàn 21 lúc ấy đơn thương độc mã ở một cõi xa lạ, hy sinh nhiều sinh mạng mới chiếm được ngọn đồi cao 300 mét, cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh tại cộc số DC16, làm nhiệm vụ án ngữ, là căn cứ đầu tiên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trên lãnh thổ Vương Quốc Ai Lao.

Ba hôm sau, Tiểu đoàn 39 Biệt Động Quân nhảy vào, phía đông bắc, cách Tiểu đoàn 21 hai cây số đường chim bay, cũng lâm trận tơi bời. Sau một tuần tang thương, chống trả địch vây hãm, Tiểu đoàn 39 BĐQ thất thế phải di tản trước chiến thuật tràn ngập biển người của Trung đoàn 18 Biệt Khu Thủ Đô Hà Nội, đơn vị cuối cùng Cộng Sản Bắc Việt đẩy qua Lào. Tất cả anh em thương binh 39 Biệt Động đều bị bỏ lại. Tôi nói rõ, ai chết đã đành, hàng chục thương binh phải bị bỏ lại để rồi thịt nát xương tan hết dưới trận mưa bom B52 ngay sau đó!

Tôi không quên vụ Đại úy Đỗ Đức Chiến, Tiểu đoàn phó 39 BĐQ, cùng vị sĩ quan Ban 3, lên một chiếc UH1B Hoa Kỳ di tản, lại bị phòng không 37ly địch quân bắn cháy sau đuôi, xoay tròn trên bầu trời, rồi rơi xuống khu đồi căn cứ của Tiểu đoàn 21 chúng ta. Chiếc trực thăng trước khi nổ tung, viên xạ thủ Mỹ đã kịp thời lôi Chiến ra ngoài. Thấy sự việc diễn tiến như vậy và nghĩ tình ông là cựu Đại đội trưởng lúc tôi mới về đáo nhậm đơn vị, tôi vội kéo hai Biệt Động Quân nữa, cùng lao tới trong cơn mưa đại pháo 130ly của đối phương để cứu Chiến đang nằm giẫy giụa giữa vũng máu bên sườn đồi. May, người sĩ quan khóa 20 Võ Bị Đà Lạt ấy chỉ gãy một tay, được khiêng vào hầm BCH Đại đội 2 BĐQ của tôi. Căn hầm vừa đủ ba người trú ẩn, gồm Thiếu úy Trần Quang Giảng, xử lý Đại đội trưởng, tôi Đại đội phó và một Hạ sĩ quan truyền tin. Lúc bấy giờ có thêm Chiến nên quá chật, phần máu me nhầy nhụa chảy ướt cả tấm poncho trải dưới, với tiếng rên la vì đau đớn, làm Thiếu úy Giảng mất ngủ đâm quạu. Qua đêm thứ ba, trực thăng vẫn chưa đến tải thương Đại úy Chiến, vì căn cứ bị địch vây đánh lẫn pháo kích liên miên, Trần Quang Giảng chịu hết nổi tiếng la hét và máu me tanh ói, liền rút khẩu Colt 45 dí vô đầu toan bắn Đỗ Đức Chiến. Cũng may, nhờ không ngủ được, ngồi dựa vách hầm, mắt hé mở, tôi mới thấy thái độ kỳ lạ đó, nên vội chụp cây M16 bên lưng chĩa ngay mặt Giảng, quát to:

– Bỏ súng xuống, nếu không tao bắn nát óc!

Vị sĩ quan khóa đàn em, 23 Thủ Đức, ngoan ngoãn vừa đút súng vô bao vừa lằm bằm:

– Tình trạng này kéo dài làm sao tôi chỉ huy?

Tôi hạ nòng súng, nhưng vẫn còn trong cơn thịnh nộ:

– Mình mày khổ hả? Mày không có quyền hành động như vậy, nghe chưa? Dù gì tao và mày đã đụng chạm nhau rồi, tao sẽ xin đổi đi đơn vị khác.

Tôi không rõ giờ phút ấy, Đại úy Đỗ Đức Chiến có biết sự cố đang xảy ra không. Vì đau nhức ông vẫn “tỉnh bơ” rên rỉ, la hét như sấm. Mãi hôm sau, khó khăn lắm lính mới đưa người hùng lên trực thăng về bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Huế.

Hiện Đỗ Đức Chiến, như anh em biết, đã đeo lon thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng 37 BĐQ. Vì một cánh tay ông bại xuội, “kỷ niệm” Lào, mỗi lần gặp tôi hay gọi đùa: “Tân Độc Thủ Đại Hiệp”, nhại theo tên một film Nhật. Khi Chiến mới làm Tiểu đoàn trưởng, mấy thằng lính ba gai chẳng ngán ông chút nào. Tụi nó nghĩ cái tay gãy đó đánh đau ai, nên nhiều đứa suýt bỏ mạng. Lúc bị kêu lên trình diện, thấy ông cứ nhá nhá cánh tay “bất khiển dụng”, thằng nào cũng phớt tỉnh, còn kênh mặt, ý chừng để cho ông tát hay loi tùy. Nhưng Chiến khôn thấy mẹ, “tiền trá hậu triệt”, bất thần ông trở bộ rồi dùng cái tay cuồng bạo kia dộng một cú direct, khiến con người ta thiếu điều trẹo cổ, ngã ngửa ra sau. Từ đó, ai cũng ớn lạnh ông thầy chơi thế ăn gian, dương đông mà kích tây, kiểu Việt Cộng, đánh knock out hết bọn “đệ nhất giang hồ” của Tiểu đoàn 37 BĐQ…

Tôi ngừng đôi phút cho Đại đội cười và lấy bánh kẹo ra ăn tự do, để nghe kể thêm vài câu chuyện. Nhìn chung, thấy anh em vui. Đây cũng là dịp tôi trút tâm sự, chứ lâu nay đa số tân binh chẳng rõ ông Đại đội trưởng này thuộc cái giống gì.

Các anh biết không, qua năm cuộc “du xuân”, chỉ cái Tết Kỷ Dậu 1969 là tôi nhớ suốt đời. Lúc đó tôi Trung đội trưởng Trung 3/2 BĐQ do Trung úy Đỗ Đức Chiến Đại đội trưởng. Dĩ nhiên thời ấy ông chưa là Tân Độc Thủ, cánh tay chưa xuội.

Vừa thanh toán bọn Việt Cộng chiếm cứ hãng dệt Sicovina Cẩm Lệ xong, tôi lại nhận lệnh chỉ huy luôn Trung đội 2 của Thiếu úy Nguyễn Hiếm vào giải tỏa Quang Châu, một thôn ở phía tây, thuộc xã Hòa Châu, nối liền với Miếu Bông, xã Hòa Phước quận Hòa Vang, Quảng Nam, cũng bị địch chiếm.

Chẳng hiểu sao Trung úy Đại đội trưởng Đỗ Đức Chiến lại giao tôi và Nguyễn Hiếm đánh Quang Châu? Chắc ông, cũng như Thiếu taù Võ Vàng Tiểu đoàn trưởng 21, vô tình! Dầu vậy, tôi và Hiếm vẫn đau lòng. Các anh biết không, Quang Châu laø chánh quán quê nội tôi, quê ngoại Nguyễn Hiếm. Lại nữa, cái tâm điểm cần phải tấn công trước là ngôi nhà xưa bằng gạch, tọa lạc giữa vườn cây ăn trái. Chính nơi đó tôi được sinh ra và hiện đang thờ phượng ông bà, ba mẹ và các anh chị ruột tôi…

Quang Châu nghèo, một dải đất hẹp bao bọc bởi những lũy tre già im bóng, ruộng nương không đủ rộng để cò bay thẳng cánh, nhưng quanh năm tươi mát, êm ả, với tiếng sáo diều vi vu, không một vết thù bom đạn chiến tranh. Quang Châu, một thôn riêng của tộc Trần Bá, gồm bốn phái, gia đình tôi thuộc phái nhất, nổi tiếng ngày xưa môn Vạn Pháp Quy Tôn. Cố tôi luyện được nhiều phép, như sang sông bằng nón lá, dấm đậu thành binh…đánh nhau với làng Quá Giáng kế bên, do vụ đổi chùa. Vì tài đó Cố bị vua Nguyễn giết, buộc thắt cổ, nhưng Cố điểm nhãn, biến khúc lụa đào thành rồng cỡi bay đi mất dạng. Tương truyền Cố xuôi nam ẩn lánh, cứu giúp người đời khắp xứ. Sau, Cố chết hiển thần, được lập miếu thờ tại Hòn Khói, tỉnh Khánh Hòa…

Khi vào sát Quang Châu, tôi cho hai trung đội nằm cặp bờ ruộng phía bắc, dọc theo con hương lộ, đối diện nơi chôn nhau cắt rún của tôi bên kia lũy tre già trước mặt. Tôi cứ phân vân lưỡng tính, đánh hay bất tuân lệnh thượng cấp. Nếu đánh phải dùng đến phóng tiễn M72, M79, cả lựu đạn M26, thì mục tiêu nát ngay, ngôi nhà sụp đổ, vườn tược cũng hoang tàn. Sư thiệt hại vật chất còn có thể xây dựng lại, chứ phần tinh thần thì sẽ không bao giờ đền đắp được.

Chị tôi, Trần thị Miên, lấy chồng Miếu Bông, cách Quang Châu một khoảnh ruộng nhỏ, sợ run lên vì chưa biết đơn vị nào vô giải tỏa, mà không làm hư hại ngôi làng yêu dấu của chị. Bất ngờ buổi sáng hôm ấy, tiếng pháo đầu xuân còn đì đùng, thấy tôi dẫn hai trung đội Biệt Động, xuất phát từ thôn Phong Lệ, đằng đằng sát khí tiến vào, xuyên qua Miếu Bông, lúc đi ngang trước ngõ, trong nhà chị vụt chạy ra, kêu thật to cái tên thuở bé của tôi:

– Cậu Trí!

Vì khẩn cấp, trên đường tới mục tiêu, không tiện ghé thăm, dù chỉ để nói đôi lời chúc tết, mừng tuổi, nhưng khi nghe tiếng chị gọi tôi phải dừng chân, quay lui:

– Chào chị và các cháu năm mới!

Miên, gương mặt thất thần, nói dồn dập:

– Này, nói cậu biết gia đình chị Hai (chị dâu vợ anh cả tôi), anh Phó Thừa đã di tản ra đây hết rồi. Những ai còn kẹt trong làng đều là bà con. Nhớ cẩn thận, bảo vệ nhà cửa, vườn tược và dân mình, nghe chưa! Việt Cộng không có nhiều đâu!

Việc quân đội mà chị dặn đủ thứ. Tôi nói như nạt chị:

– Vào nhà đi! Để em tùy cơ ứng biến!…

Nhìn khu vườn đầy hoa dại, đã một thời thơ ấu cùng hai chị Thông, Miên chơi đùa, chạy nhảy tung tăng, tôi ngậm ngùi. Dĩ nhiên, tôi không thể để mảnh đất thiêng liêng ấy bị xao động, phai mờ hình ảnh, dư âm dịu hiền của mẹ tôi còn phảng phất đâu đây, từng hằn sâu trong tâm khảm dù 25 năm trước mẹ đã ra đi không bao giờ trở lại.

Anh em Biệt Động tham chiến hiểu chuyện cũng cảm thấy mỉa mai chua xót, không nỡ chĩa súng vào nơi sinh thành của người đang trực tiếp chỉ huy mình. Chỉ riêng tôi nhận biết khu vườn bỗng hiện ra bao hình ảnh thân yêu lạ lùng, khiến bất cứ ai đối diện cũng phải run sợ. Địch quân thì đang thúc thủ bên những gốc mít, bờ tre…

Lần đầu tiên trong chiến đấu, tôi lại cố chần chờ, ngầm thamạng sống, để kẻ thù còn có cơ hội rút lui.Thật tình tôi không muốn giết chúng nơi đây. Sá gì năm ba tên giặc cỏ, một luõ đói phương Bắc vào kiếm ăn, mà Quang Châu, một cô thôn đầy huyền sử phải hoang tàn. Tôi rất e ngại khi nổ súng tấn tới, vũ lực ít ra cũng làm trầy trụa những thảm cỏ non xanh nhiều hoa với bướm muôn đời của chị tôi, Trần thị Thông, chết năm 16.

Tôi bảo hai trung đội lúc tấn công hãy tác xạ cao khỏi nóc nhà, trừ phi thấy địch, và cấm đụng chạm tới tài sản dân làng. Ai bất tuân sẽ bị bắn bỏ tại chỗ. Thiếu úy Hiếm luôn nhắc lại lệnh đó nhiều lần để mọi người tuyệt đối thi hành. Cuối cùng còn hai Cộng quân không chịu chạy, vẫn bám sát sau hè nhà, buộc lòng chính tôi phải thanh toán chúng bằng một quả M72, làm lủng vách tường, sức ép thổi rơi tấm ảnh thân phụ tôi trên bàn thờ. Chỉ có vậy nhưng Miên không hài lòng, trách mãi tôi làm xơ xác khu vườn vốn rất yên tịnh từ lâu…

Nay tết nữa là sáu cái trong bảy tuổi lính của tôi đang cùng các anh trên đường lao vào trận chiến Sa Huỳnh. Giờ phút này chúng ta chưa rõ tình hình địch nơi đó ra sao, nhưng chắc chắn không hơn ở Quảng Trị. Trước mặt tôi lớp người cũ chẳng còn bao nhiêu, đa số mới và có thể là những anh hùng trong tương lai dù chưa gian khổ lắm. Với tư cách người chỉ huy đơn vị, tôi thông cảm các anh đã mất một cơ hội gặp mặt vợ con và thân bằng quyến thuộc sau một năm bốn ngày xa cách. Nhưng, chớ quên, chỉ tôi thông cảm, chứ kẻ thù thì lúc nào cũng muốn tận diệt chúng ta. Một vấn đề nữa, hẳn ai cũng biết là vì tình hình khẩn trương, áp lực địch từ Sa Huỳnh, Liên đoàn 1 Biệt Động Quân phải đến, chẳng ai trù yểm Đại đội này.

Thôi, chuyện còn dài. Đầu Xuân chúng ta tâm sự ngần đó để hiểu nhau. Quân đội không đủ ngôn ngữ, chỉ lấy hành động diễn đạt, giải quyết mọi vấn đề. Hãy vui vẻ mà chiến đấu, là tự cứu mình trước hết. Tất cả lên đường!

Anh em vừa đứng dậy tôi ra lệnh dàn đội hình:

– Đại đội tiếp tục di chuyển bên trái quốc lộ, nhắm hướng nam, Đức Phổ. Để tránh phục kích, Trung đội 1 hàng ngang đi đầu, Trung đội 2 và 3 hàng dọc, giữ mặt đông, cả ba như chữ “L”, đáy trước. Toán Thám Báo bên phải BCH, quan sát phía tây. Có thể chạm địch, sẵn sàng nổ súng!

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 17 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Chương 27 

Michael, Peter Clemenza và Domenic dùng cơm tối sớm hơn thường lệ. Nếu cuộc gặp mặt Guiliano diễn ra vào lúc sáng tinh mơ thì mọi sự phải được sắp đặt ngay từ lúc chập tối. Kế hoạch được họ xem đi xét lại rất tỉ mỉ. Và được Domenic đồng ý sau khi bổ sung một chi tiết: Michael không được mang vũ khí. Sự trở về Mỹ một cách an toàn của Michael quan trọng đến nỗi họ phải nghĩ tôi ngay cả trường hợp tệ nhất, Michael vẫn về được Bởi vậy, Michael không được mang vũ khí, để, trong trường hợp có trục trặc bất ngờ, bị cớm vồ, cớm cũng không thể vin vào chỗ Michael có vũ khí để bắt giữ hắn. Do đó, cớm phải thả hắn ra. Nhờ đó hắn vẫn có thể rời khỏi Sicily như không có gì xảy ra.
Họ ngồi bên một gốc chanh trong vườn của toà biệt thự, quây quần bên vò rượu cho tới lúc đến giờ khởi hành. Sếp Domenic hôn giã từ ông em và quay qua ôm hôn phớt nhẹ Michael.
– Cho qua gửi tới ông bà già em những lời chúc tốt đẹp nhất, – lão nói nhỏ với Michael. – Và cầu nguyện cho tương lai của em. Chúc em may mắn. Những năm sắp tới nếu em cần qua giúp đỡ gì thì cứ nói, qua sẽ hết lòng.
Ba người đi xuống cầu tàu, Peter Clemenza và Michael bước lên chiếc khinh tốc đỉnh đã nổ máy chờ. Trên tàu đã có sẵn một số người, vũ khí đàng hoàng. Chiếc tàu lướt đi. Domenic đưa tay vẫy chào giã từ. Michael và Peter Clemenza đi vào ca-bin. Clemenza cần phải ngủ. Suốt ngày hôm đó, lão bận bù đầu. Chiếc khinh tốc đỉnh sẽ chạy lòng vòng trong vùng biển cho đến lúc mờ sáng.
Họ đã thay đổi kế hoạch. Chiếc máy bay hạng nhẹ sẽ bí mật hạ cánh ở Mazara dệt Vallo. Trước đó, theo dự kiến, máy bay này sẽ được dùng để đưa Michael và Guiliano ra khỏi Sicily. Nay, máy bay này chỉ được dùng để nghi trang đặng đánh lạc hướng theo dõi. Thay vì đáp máy bay, họ sẽ đáp chiếc khinh tốc đỉnh đi Châu Phi. Chính Clemenza đã phải tốn nhiều công lắm mới thuyết phục được họ theo giải pháp này. Theo lão, kiểm soát và bảo vệ được con đường từ chỗ Guiliano đến chỗ con tàu và bảo vệ được con tàu thì dễ hơn là kiểm soát “phi trường” – thực chất chỉ là bãi đất trống – dù chỉ là “phi trường” nhỏ. Vả lại, quanh vùng gần đó có nhiều đồi, máy bay hạng nhẹ lại mong manh. Hơn nữa, nó có thể là cái bẫy chết người lúc đậu ở phi trường. Tốc độ trong trường hợp này không quan trọng bằng mưu mẹo.
Ngoài ra, trên biển thì dù sao cũng dễ lẩn tránh hơn là trên trời. Giả sử như nếu cần thời gian dài, người ta có thể chuyển thực phẩm từ tàu khác qua. Chớ máy bay thì… thua!
Suốt ngày hôm đó, lão Clemmenza đã bận phái người và xe đến các điểm chót trên đường đi Castelvetrano. Đồng thời, phái người đi bảo vệ và tiếp cứu – nếu cần – thị trấn Mazara dệt Vallo, nơi có “phi trường”. Lão đã cho mỗi toán đi cách nhau một giờ chứ không xuất phát cùng một lúc. Một đoàn xe rần rần chạy qua cổng biệt thự thì dù có đui đi nữa, gián điệp nó cũng biết. Và các xe tuy cùng đến địa điểm đã định nhưng theo những hướng khác nhau, cốt đánh lạc hướng sự chú ý và theo dõi của bọn chỉ điểm. Trong khi đó, xuồng máy đánh một vòng xuống phía nam Sicily, thả neo đâu đó cho đến giờ hẹn thì chạy một mạch vào cảng Mazara del Vallo. Từ đó Michael sẽ lên xe. Chỉ cần nửa giờ xe là hắn có thể tới Castelvetrano mặc dù phải vòng lên phía bắc để rẽ vào con đường đi từ Trapani đến Castelvetrano. Pisciotta có thể chặn đón ở chỗ nào đó trên khoảng đường này.
Michael nằm trên chiếc giường hẹp dưới tàu. Nghe thấy lão Clemenza đã ngủ, ngáy khò khò, Michael rất phục vì trong tình thế như thế này mà lão vẫn có thể ngủ dễ dàng. Hắn nghĩ vẩn vơ, miên man. Chỉ vài tiếng đồng hồ nhà hắn sẽ có mặt ở Tunis. Và mười hai tiếng đồng hồ sau đó là có mặt tại nhà hắn ở bên Mỹ. Sau hai năm sống lưu vong, cho đến lúc đó hắn mới được sống thong dong. Không còn phải hễ thấy bóng mấy anh cớm là né. Không còn phải tuỳ thuộc vào người bảo trợ. Lúc đó mới được quyền muốn gì thì làm. Nhưng, tất cả những cái đó chỉ thực hiện được với điều kiện hắn còn sống sót sau mấy chục tiếng đồng hồ này. Trong khi mơ màng tưởng tượng đến những ngày sắp tới được vung vít ở đất Mỹ, tiếng máy tàu nổ đều đều, trầm trầm đã ru hắn vào giấc ngủ không mộng mị.
Thầy dòng quỉ sứ ngủ một đêm thật ngon lành!
Buổi sáng hôm đó, trước khi đến đón giáo sư Hector Adonis, Stefan Andolini đã ghé Palermo. Gã có hẹn với cớm chúa của đảo Sicily, tức là thanh tra Velardi. Buổi gặp gỡ thường lệ thôi. Qua các buổi gặp này, ngài thanh tra sẽ cung cấp cho gã những tin tức về hoạt động trong ngày hoặc sắp tới của đại tá Luca. Andolini sẽ chuyển lại tin đó cho Pisciotta và sau đó đến Guiliano.
Sáng hôm sau, trời đẹp. Cánh đồng dọc theo con lộ hoa đại nở rực rỡ. Gã khởi hành sớm trước giờ hẹn, nên dọc đường ghé lại một miếu thờ, kẻo vài hơi khói, rồi đến quì trước tượng thánh Rosalie. Lời cầu nguyện của gã đơn giản và thực tế: gã cầu xin đáng thánh che chở gã khỏi tay kẻ thù. Gã dự tính, chủ nhật kế đó, gã sẽ đến gặp cha Benjamino đặng xin xưng tội và rước Thánh Thể. Mặt trời chói lọi làm cho cái đầu trần của gã cảm thấy nóng. Mùi hương ngào ngạt của hoa đồng nội đã làm át cả mùi khói thuốc. Gã cảm thấy bụng đói như cào. Gã tự hứa sau khi gặp ngài thanh tra xong, sẽ đến nhà hàng thật sang ở Palermo làm một bữa đích đáng.
Ngài thanh tra Frederico Velardi, cớm chúa ngành “lính kín” Ở Sicily, cảm thấy khấp khởi mừng vì một chiến thắng “lương thiện”. Niềm vui của một người kiên nhẫn chờ đợi và hằng tin rằng, sau cùng. Chúa sẽ lập lại trật tự trên thế gian này, rằng Chúa sẽ ban phần thưởng cho. Từ gần một năm nay theo lệnh trực tiếp và bí mật của ngài bộ trưởng Trezza, ngài thanh tra đã giúp Guiliano tránh được các cuộc hành quân tiễu phạt của ngài đại tá và các cuộc săn lùng của ngay đám cớm đàn em của ngài. Trên thực tế, từ gần một năm nay, ngài thanh tra “bị đặt dưới quyền sử dụng” của ông Trùm. Thế mới đau cho ngài.
Velardi sinh quán ở miền Bắc nước ý, nơi mà nhờ học thức người ta có thể làm được một cái gì đó, kiếm được một địa vị nào đó trong xã hội chẳng hạn. Và, ở đó, người ta còn tin vào luật pháp và chính quyền. Trong những năm phục vụ tại Sicily, ngài thanh tra nhiễm nặng cái thói khinh bỉ và ghê tởm bọn Sicilian, bất cứ thằng Sicilian nào, dù là thượng lưu hay hạ tiện. Thằng có của thì không hề có lấy một ly ý thức xã hội. Chúng thông đồng, âm mưu với bọn Mafia để kìm giữ dân lành trong vòng đói khổ. Bọn Mafia, miệng cứ huênh hoang là bảo vệ dân nghèo, thực ra chỉ là tôi tớ bọn có của. Còn bọn khố rách thì cũng chẳng đáng thương. Đã nghèo kiết xác ra mà vẫn cứ kiêu hãnh, coi cái thói giết người, hung bạo, như một thứ hào quang, mặc dù có phải tù chung thân cũng cứ “ôkê”.
Nhưng, bây giờ mọi sự thay đổi. Ngài thanh tra đã được cởi trói và các toán cớm tay em của ngài đã được rảnh tay hành động. Để rồi coi xem đám cớm chìm của ngài làm ăn có khác với lũ hề cảnh vệ không thì biết.
Ngài thanh tra ngạc nhiên khi thấy đích thân bộ trưởng ra lệnh bắt giữ và biệt giam tất cả những người đã được chính ông ta phát cho tấm thông hành đặc biệt có sọc đỏ. Với tấm thông hành quyền uy đó, kẻ mang nó được quyền có võ khí, đi qua bất cứ nơi nào, giờ nào. Đặc biệt phải thu hồi cho được cái thông hành đã cấp cho Stefan Andolini và Aspanu Pisciotta.

Google photo edit by Sơn râu

Ngài thanh tra sửa soạn và bắt tay vào việc. Andolini đang ở phòng chờ để được ngài chuyển thư như thường lệ. Hôm nay thì thằng chó đẻ này biết tay. Ngài thanh tra nhấc ống điện thoại lên gọi một đại uý và bốn thầy đội cớm – thứ “gồ ghề” nhất của ngài – và nói họ chuẩn bị có thể có những bất trắc sắp xảy ra. Bản thân ngài cũng lận một khẩu súng lục vào thắt lưng, một điều rất ít khi ngài làm, khi ngồi ở văn phòng. Rồi, Andolini được mời vào.
Mái tóc màu râu bắp của Andolini được chải chuốt cẩn thận. Gã bận quần sọc đậm, áo sơ-mi trắng và cà vạt màu đậm. Dù chỉ là cuộc gặp gỡ “thường lệ”, nhưng là gặp một vị thanh tra, nên ăn vận cũng cần đàng hoàng, chứ đâu có thể xập xệ như đi gặp đồng đảng được. Gã không mang vũ khí. Theo kinh nghiệm, gã biết bất cứ ai trước khi vào Bộ tư lệnh cũng đều bị kiểm soát vũ khí. Gã đứng ở trước bàn giấy của Velardi để đợi được mời ngồi xuống như thường lệ. Nhưng, lần này ngài thanh tra đã không mời gã ngồi. Do đó, gã vẫn cứ đứng, gã bỗng cảm tưởng phải cảnh giác.
– Đưa tôi coi giấy thông hành đặc biệt của anh.
Andolini không nhúc nhích. Gã cố đoán xem sao lại có cái sự đòi hỏi bất thường này. Trên nguyên tắc, gã chối. – Tôi không mang theo, – gã nói, – vả lại, tôi đến gặp một người bạn, chớ có phải là… – Gã nhấn mạnh vào chữ “bạn”.
Chính cái chữ “bạn” đó đã làm cho Velardi điên tiết. Ngài thanh tra bèn đứng lên đi vòng ra khỏi bàn giấy, đứng trước mặt Andolini, nhìn trừng trừng vào gã.
– Ai là bạn với thứ hạng mày. Nếu đã có lần tao ngồi ăn nhậu với mày thì chẳng qua đó là làm theo lệnh. Chớ cái đồ chó đẻ như mày mà đòi. Bây giờ thì nghe đây: mày bị bắt. Mày bị tống vào xà lim cho đến khi có lệnh mới. Và cho mày hay tao đã sắm sẵn cho mày cái “thùng tắm nắng” rồi. Nhưng thôi, ngày mai, nếu mày tỏ ra biết điều, tao sẽ nói chuyện đàng hoàng tử tế với mày. Bây giờ hãy chịu khó nằm xà lim đã.
Sáng hôm sau, ngài thanh tra nhận được điện thoại của ngài bộ trưởng và những “chỉ thị” rõ ràng hơn của ông Trùm. Một lát sau, Andolini được đưa từ xà lim đến bàn giấy ngài thanh tra.
Một đêm nằm trong xà lim suy nghĩ về sự bắt giữ khác thường này, Andolini hiểu rằng gã đang gặp nguy hiểm chết người. Velardi sải bước, đi đi, lại lại trong phòng, mắt long lên sòng sọc, có vẻ tức giận. Stefan Andolini mặt lạnh như tiền. Gã đã cẩn thận quan sát: ông quan ba và bốn anh đội cớm đã sẵn sàng. Khẩu súng lục lận ở thắt lưng ngài thanh tra. Gã biết là gã bị ngài thanh tra ghét cay ghét đắng và thù đến tận xương. Và gã cũng ghét ngài thanh tra không kém. Nếu đừng có mấy con khỉ đột kia gã sẽ thịt được thằng cớm chúa dễ như trở bàn tay. “Đằng nào cũng chết, nhưng phải cho thằng cớm chúa này chết theo, nếu không chẳng hoá ra mạng mình rẻ lắm sao”. Bởi vậy, gã nói:
– Bảo mấy thằng cớm chìm khỉ đột kia ra đi, rồi mày muốn biết gì, tao sẽ nói cho nghe, nếu tao biết.
Velardi ra lệnh cho bơn đội cớm ra ngoài, nhưng nháy anh quan ba cớm ở lại. Ngài cũng làm bộ lấy súng ra khỏi người và đặt lên bàn. Rồi ngài nhìn trừng trừng vào Andolini:
– Tao muốn biết tất cả những tin tức giúp bắt được thằng Guiliano. Lần chót mày gặp nó và thằng Pisciotta ở đâu?
Stefan Andolini cười thành tiếng. Khuôn mặt cô hồn hắc ám của gã nhăn lại coi hiểm ác lạ thường. Làn da nổi hột với bộ rau màu râu bắp đỏ rực như đám lửa. Thảo nào, người ta gọi gã là thầy dòng quỉ sứ là phải. Velardi ngẫm nghĩ: “Gã đúng là một tay nguy hiểm. Phải làm thế nào để gã không ngờ được những gì sắp xảy ra”.
Velardi điềm tĩnh nói với gã:
– Trả lời đi, hay là để đợi tao phải cho đi tắm nắng?
– Mày chỉ là cái đồ chó đẻ phản bội mạt hạng. Tao được ngài bộ trưởng Trezza và ông Trùm Croce che chở. Khi họ thả tao ra, tao sẽ cho mày thấy con đĩ mẹ mày.
Velardi bước tới, giáng cho Andolini hai cái tát nảy lửa Andolini hộc máu mồm ra. Đôi mắt gã toé lửa tức giận. Ngài thanh tra bình thản quay vào ghế bàn giấy.
Trong lúc đó, cơn giận làm cho Andolini hết còn nghĩ đến chuyện sống chết. Gã chộp ngay lấy khẩu súng trong bao trên thắt lưng ngài thanh tra lấy cò. Và cũng ngay lúc đó, anh đại úy cớm hờn sẵn đã nổ liền bốn phát vào Andolini. Thân thể gã bị hất mạnh vào tường ở cách đó khá xa, rồi nằm vật xuống sàn. Cái áo sơ-mi trắng của gã bây giờ máu nhuộm đỏ lòm. Velardi nhìn vào cái áo đẫm máu ấy và nghĩ thật nó chẳng khác gì mái tóc của gã. Ngài thanh tra bước tới và nhặt khẩu súng lục trong tay Andolini, khi mấy anh cớm khỉ đột kia nghe tiếng nổ, chạy ùa vào phòng. Ngài thanh tra khen ngợi anh đại uý cớm kia về sự nhanh nhẹn đúng lúc và chính xác. Và, trước sự ngạc nhiên của anh đại uý, ngài đã nạp đạn vào khẩu súng lục mà trước khi gặp Andolini ngài đã tháo đạn ra. Ngài cớm chúa này không chịu để cho anh đại uý có ảo tưởng về cái công ơn vĩ đại đã cứu cớm chúa thoát chết.
Ngài ra lệnh cho mấy anh cớm lục soát xác Andolini. Vì ngài nghĩ rằng tấm thông hành đầy quyền uy kia chắc chắn nằm chung trong ví của Andolini với tấm thẻ căn cướp mà người Sicilian lúc nào cũng bắt buộc phải mang theo trong người. Ngài thanh tra chớp lấy tấm thông hành ấy và cất kỹ. Đích thân ngài sẽ giao nó tận tay ngài bộ trưởng. Và biết đâu ngài lại chẳng gặp may để vớ nốt tấm thông hành đã cấp cho Pisciotta.
Michael và Clemeza ngồi tựa lưng trên thành song chắn trên boong tàu, nhâm nhi ly cà-phê. Mũi tàu chĩa thẳng vào đất liền, con tàu từ từ tiến. Tiếng máy khua nhẹ. Họ đã nhìn thấy ánh đèn trên cầu tàu. Đèn hiệu nhấp nháy.
Clemeza đi lòng vòng trên boong ra lệnh cho các tay súng và hoa tiêu. Michael chăm chú nhìn đèn hiệu nhấp nháy dường như đang tiến về phía hắn. Con tàu tăng tốc độ. Mặt biển bị rẽ ra, tuy bọt trắng xoá như muốn xua đuổi bóng đêm. Chân trời phía đông hé rạng. Michael nhìn thấy cầu tàu Mazara del Valllo, những cây dù màu sắc sặc sỡ lốm đốn nổi bật trên nền bãi biển.
Khi tàu cập bến thì đã có ba chiếc xe và sáu người chờ sẵn. Già Clemeza đưa Michael lên một chiếc xe mui trần dẫn đầu. Trên xe đã có sẵn tài xế. Clemeza ngồi băng trước với tài xế, Michael ngồi băng sau. Lão nói với Michael:
– Nếu xe mình bị toán tuần tiễu ách lại thì em cứ núp sát xuống sàn xe. Ai ngu mà lại đi lằng nhằng mất thì giờ. Cứ phơ tới đi, rồi dông cho lẹ.
Ba chiếc xe kiểu du lịch, nhưng cũng dềnh dàng, chạy lao vút đi trong ánh sáng ban mai còn mờ nhạt. Vẫn là buổi rạng đông như ngàn vạn buổi rạng đông khác trên đất Sicily từ trước đến nay, hầu như chẳng thay đổi gì mấy kể từ ngày Chúa Jesus Christ giáng trần. Vẫn những con kênh xây từ thời La Mã cổ dẫn nước tưới trên những cánh đồng. Không khí nóng ẩm và đượm mùi hăng hắc nồng nồng toả ra từ các bông hoa dại đang thối rữa dưới sức nóng thiêu đốt của mặt trời mùa hè xứ Sicily. Họ đi ngang phế tích Selimunte, một phế tích của đô thị Hy Lạp cổ khác. Michael đã từng thấy rải rải khắp Sicily nhưng hàng cột cẩm thạch tua tủa từ các đền đài cổ của các đô thị Hy Lạp xây dựng từ hơn hai ngàn năm trước. Đất đen màu mỡ leo bám lên tận vách đá trên núi. Suốt dọc đường không thấy một ngôi nhà, một con vật hay một bóng người.
Họ rẽ về hướng Bắc để đi về phía con đường dẫn tới Trapani – Castelvetrano. Trên quãng đường này, Michael và Clemeza lại càng cảnh giác hơn. Bởi vì, rất có thể ở một chỗ nào đó trên quãng đường này, Pisciotta sẽ chặn họ lại để đưa Guiliano lên xe. Michael cảm thấy rất hồi hộp. Ba chiếc xe du lịch chạy chầm chậm. Clemeza tay lăm lăm khẩu súng và trong tư thế sẵn sàng lao ra khỏi xe. Mặt trời đã lên cao, toả ánh sáng rực rỡ, chiếc xe chạy chậm hơn nữa. Họ đã đi gần tới thị trấn Castelvetrano.
Clemeza ra lệnh cho tài xế đi chậm hơn nữa. Lão và Michael chăm chú nhìn xem có dấu hiệu nào của Pisciotta không. Họ đã đi tới sát ngoại vi thị trấn Castelvetrano và bắt đầu đi xuống dốc. Xe ngừng lại để từ đó họ quan sát thị trấn nằm phía dưới. Từ trên cao điểm nhìn xuống, con đường đi từ Palermo tới lổm ngầm đầy những xe nhà binh. Dưới thị trấn lúc nhúc đám lính cảnh vệ mặc đồng phục đen viền trắng. Những tiếng còi hú của xe cảnh sát, nhưng dường như không phải để giải tán đám đông đang tụ tập trên phố chính của thị trấn. Trên trời có hai máy bay nhỏ đang lượn lờ.
Người tài xế chửi thề, đạp thắng và cho xe ép vào lề đường. Gã quay sang hỏi Clemeza:
– Ông muốn đi tới nữa không?
Michael cảm thấy buồn nôn. Hắn hỏi Clemeza:
– Trong thị trấn, chú có bao nhiêu người của mình?
– Không đủ, – Clemeza đáp, giọng hơi có vẻ gắt. – Mặt lão thoáng nét sợ hãi, hốt hoảng. – Mike, mình phải rút khỏi đây liền. Phải quay về tàu gấp thôi.
– Chờ chút đã.
Michael nhìn thấy chiếc xe lừa đang ì ạch lên dốc đi về phía họ. Người đánh xe là một ông già. Chiếc mũ rơm chụp xuống sát gần mí mắt. Vẫn chiếc mũ rơm màu loè loẹt sặc sỡ với tranh tích kiểu độc đáo Sicilian. Chiếc xe lừa dừng lại bên xe của Michael. Khuôn mặt lão đánh xe nhăn nheo và không lộ một chút cảm xúc gì. Khác với khuôn mặt, cánh tay phơi trần đến tận nách để lộ bắp thịt cuồn cuộn. Lão dừng lại trước mũi xe của Michael:
– Phải xe của ông Clemeza không đấy?
Trong giọng nói của Clemeza thấy có vẻ mừng khấp khởi:
– Zu Peppino, có cái quỉ gì dưới kia vậy. Tại sao mấy người của tôi lại không đến báo cho tôi vậy?
Khuôn mặt nhăn nheo vô cảm nói, lạnh tanh:
– Mấy ông về Mỹ đi được rồi đấy. Tụi nó làm thịt Turi Guiliano rồi.
Michael cảm thấy choáng váng và thấy như trời sập. Hắn nghĩ tới ông bà già của Guiliano, tới Justina hiện đang chờ đợi Guiliano ở bên Mỹ, tới Pisciotta, tới Stefan Andolini và tới Hector Adonis. Guiliano là ánh sáng soi đường cho họ. Họ sẽ ra sao nếu giờ đây ánh sáng ấy tắt đi?
– Lão có chắc chắn đúng là không? – Clemeza gằn giọng hỏi.
Lão già kia nhún vai.
– Thì vẫn là một trong những mẹo cũ của Guiliano, phơi một cái xác nào đó chình ình ra, rồi phao tin là Guiliano bị ám sát để dụ mấy anh cớm, mấy anh xăng đá đến là quất. Nhưng, đã hai giờ đồng hồ rồi, mà vẫn chưa thấy xảy ra gì ráo. Cái xác vẫn nằm phơi trên sân chỗ nó bị giết ấy. Có cả mấy ông nhà báo từ Palermo tới, máy ảnh bấm lia lịa, chụp loạn cả lên, chụp luôn cả con lừa của tôi nữa. Vậy đó, ông muốn tin sao thì tin.
Michael thấy muốn phát ốm, nhưng ráng nói:
– Mình cứ đi vô trong thị trấn coi. Tôi muốn biết chắc thực hư ra sao?
Lão Clemeza nổi cáu:
– Sống hay chết thì bây giờ mình cũng chẳng giúp gì được nó nữa rồi. Mike, qua có bổn phận phải đưa em về bên ấy an toàn.
– Không, – Michael dịu dàng đáp. – Mình phải vào trong kia. Rất có thể Pisciotta đang chờ mình. Hoặc có thể Andolini không chừng. Để cho mình biết phải làm sao chớ. Rất có thể cái xác ấy không phải của Guiliano. Tôi không tin như vậy. Hắn không thể chết, nhất là khi hắn sắp sửa đi như thế này, nhất là khi bản chúc thư đã nằm an toàn bên Mỹ.
Lão Clemeza thở dài. Lão nhìn vẻ đau khổ trên khuôn mặt Michael. Có lẽ không phải là Guiliano. Có lẽ Pisciotta đang chờ để cho một điểm hẹn khác. Có lẽ đây chỉ là một phần trong âm mưu nhằm đánh lạc hướng vì bọn cớm bám sát quá.
Lúc này mặt trời đã lên cao. Clemeza ra lệnh cho bộ hạ của lão đậu xe lại, rồi lội bộ theo lão. Cả bọn đi tới đường phố có người xúm đen xúm đỏ, tò mò, dáo dác. Họ rẽ đám đông đi vào một đường phố đậu đầy xe nhà binh và cớm làm hàng rào chặn. Phía bên kia đường là những căn nhà, phía dưới có sân. Clemeza và Michael cũng đứng xớ rớ bên đám đông, nhìn. Một sĩ quan cảnh sát đang tiếp các nhà báo và các quan chức được cho đi qua hàng rào cảnh sát sau khi đã xem xét cẩn thận. Michael nói với Clemeza:
– Làm thế nào để đến chỗ thằng cha sĩ quan kia, được không?
Clemeza nắm cánh tay Michael và ra khỏi đám đông.
Họ đi vào một căn nhà nhỏ phía bên kia dường. Căn nhà này cũng có một sân nhỏ và chỉ cách chỗ đám đông khoảng hai chục căn. Clemeza để Michael ở đó cùng với bốn người của lão. Còn lão và hai người nữa quay ra đi đâu đó. Cả tiếng đồng hồ sau, lão quay trở lại, mặt buồn thiu.
– Hỏng rồi, Mike. Bà già của Guihano được đem từ Montelepre đến để nhận diện cái xác. Đại tá tư lệnh lực lượng đặc biệt tiễu phỉ cũng đang ở đấy. Báo chí quốc tế kể cả báo bên Mỹ nhà mình – cũng đang ùn ùn kẻo đến đây. Cả thị trấn sắp thành cái nhà thương điên đến nơi. Mẹ kiếp, mình phải vọt gấp khỏi đây mau.
– Mai, – Michael nói. – Mai mình mới đi. Bây giờ phải tìm cách vượt qua hàng rào cảnh vệ kia đã. Bộ chú mà cũng không xoay xở được cách nào để qua sao?
– Chẳng có cách nào hết.
– Thì bây giờ mình cứ đi ra, đến nơi rồi xem xem, biết đâu lại chẳng có cách. Cứ ngồi đây thì làm sao có cách được.
Phản đối, nhưng Clemeza cũng đành phải đi theo Michael ra đường. Thị trấn chỗ nào cũng lúc nhúc cớm chìm, cớm nổi, cảnh vệ, “xăng-đá”. Có đến trên ngàn người. Súng ống lăm lăm. Và cả một đạo quân nhà báo, phóng viên chụp hình. Đường phố san sát xe nhà binh, xe cớm, xe báo chí. Và đúng là không thể nào lại đằng chỗ sân có cái xác kia. Họ thấy một nhóm sĩ quan cao cấp đang đi vô một nhà hàng. Người ta thì thào bàn tán với nhau: “Ngài đại tá và bộ tham mưu đi ăn mừng chiến thắng đấy”. Michael liếc nhìn thoáng thấy ngài đại tá. Ông ta nhỏ con, nhưng coi bộ rắn rỏi, chớ không có loắt choắt. Nét mặt nom buồn. Có lẽ do trời nóng nên quan ngài cũng lột mũ ra. Và lấy khăn che cái đầu hói trụi của ngài. Đám phóng viên chụp hình bấm lia lịa. Và đám phóng viên khác hỏi tới tấp. Ngài đại tá xua tay, không trả lời và đi vào nhà hàng.
Cả thị xã đông nghẹt người. Đến nỗi Michael và Clemeza muốn tới, lui cũng khó. Clemeza quyết định quay về căn nhà lúc nãy và ngồi đó chờ tin. Mãi đến xế trưa mới có tin về nói là bà Maria Lombardo đã nhận diện đúng là con của mình.
Họ ăn trưa tại một nhà hàng. Tiếng ra-đi-ô om sòm loan tin về cái chết của Guiliano. Theo tường thuật của đài phát thanh thì Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ và cảnh sát bao vây căn nhà mà họ tin rằng Guiliano đang lẩn trốn trong đó. Khi hắn chạy ra, cảnh sát và Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ của đại tá ra lệnh đầu hàng. Hắn liền đáp lại lệnh đầu hàng bằng cách nổ súng lung tung. Đại uý Perenze, sĩ quan tham mưu trưởng của đại tá Luca trả lời các phóng viên của đài phát thanh. Ông ta cho biết, Guiliano đâm đầu chạy. Nhưng ông ta – đại uý Perenze – đã dồn hắn vào trong sân. Guiliano lồng lộn như một con sư tử trong chuồng. Và ông đại uý đành phải bắn hạ hắn. Mọi người trong nhà hàng ăn đều ngừng để lắng nghe ra-đi-ô. Bồi cũng ngưng chạy bàn để nghe.
Clemeza quay lại nói với Michael:
– Đ.m., chuyện bá láp, cóc tin được. Thôi, tối nay bọn mình dông.
Nhưng, ngay lúc đó, đường phố có nhà hàng trong đó Clemeza và Michael đăng ăn đều nghẹt cớm và xăng- đá. Một chiếc xe – thứ xe của các cớm gộc – dừng lại trước cửa nhà hàng. Từ trên xe, cớm chúa Velardi bước ra. Ngài thanh tra đi thẳng đến bàn Michael và Clemeza đang ngồi. Ngài đặt tay lên vai Michael nói:
– Anh bị bắt. – Quay sang Clemeza, đôi mắt xanh, lạnh như băng của ngài chĩa thẳng vào lão: – Và cũng tiện quá, ông cũng bị bắt cùng với hắn. Cảnh cáo trước: tôi có một trăm người bao vây nhà hàng này rồi. Chớ có dại dột, làm hoảng, kẻo lại theo thằng Guiliano xuống địa ngục sớm.
Chiếc xe bít bùng trờ tới. Michael và Clemeza bị lính kín nắm kỹ và đẩy lên xe. Vài phóng viên nhiếp ảnh đang ăn trong nhà hàng cũng nhảy vội ra bấm lia liền bị lính kín và cớm chìm lập tức chặn lại. Ngài thanh tra đứng mủm mỉm cười nhìn quang cảnh ấy. Trong bụng thoả mãn vì suốt một năm qua phải ngậm đắng nuốt cay giả lả với bọn người như tụi này.
Sáng hôm sau, ông già của Turi Guiliano đứng trên ban-công nhà mình nói xuống với những người đang đứng dưới phố. Theo đúng tục lệ truyền thống Sicìly, ông ta lên tiếng đòi nợ máu những kẻ đã phản bội con ông. Đặc biệt, ông ta tuyên bố mối huyết thù với kẻ đã hạ sát con ông. Kẻ đó – theo lời ông – không phải là thằng cha đại uý Perenza hay một thằng cớm, thằng xăng-đá nào. Mà chính là… Aspanu Pisciotta.


Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 17 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

3. Phát cỏ thay cho cày bừa

Chúng tôi không so sánh cái cày, cái bừa hoặc bao nhiêu dụng cụ linh tinh khác của nhà nông, nói chung là đại đồng tiểu dị so với miền Bắc, miền Trung. Hoặc là dụng cụ bắt cá, những kiểu ghe xuống cùng kỹ thuật làm ruộng sạ (khỏi phải cấy). Nét độc đáo đáng kể trong cách làm ruộng ở vài nơi trong miền Nam có lẽ là phát cỏ rồi cấy, khỏi cày bừa. Trong Phủ Biên Tạp Lục do Lê Quý Đôn biên sọan, ghi lại chi tiết như sau hồi cuối thế kỷ XVIII. 
Nguyễn Khoan Thuyên nói: có những khỏanh ruộng tại các xứ thuộc huyện Tân Bình, huyện Phước Long, huyện Qui Nhân, người ta phải cày rồi mới trồng cấy lúa. Trông một hộc lúa giống thì người ta thu hoặc được một trăm hộc lúa màu. Còn như tại Trường Bả Canh, thuộc Tam Lịch và châu Định viễn có những khỏanh ruộng không cày, người ta chỉ cần bứt cỏ đi rồi trồng lúa. Trồng một hộc lúa giống thì người ta thu họach được 300 hộc lúa mùa. Như vậy chúng ta đủ biết ruộng ở đây thật là phì nhiêu. Sách Gia Định thành Thông Chí của Trịnh Hòai Đức sọan trễ hơn, gọi lọai ruộng khỏi cày bừa này là “trạch điền” và dùng chữ nho là “trảm phạt” trong khi Phú Biên Tạp Lục ghi là “trảm thảo” để nói đến kỹ thuật làm ruộng bứt cỏ, chém cỏ ấy. 
Người địa phương gọi là phát cỏ (phát, do chữ nho là phạt, nói trại ra, đọan kim phạt mộc). Theo tài liệu trên, ở Gia Định, Biên Hòa phải cày; ở vài nơi thuộc Mỹ Tho, Cao Lãnh hoặc phía Vĩnh Long ngày nay thuộc hữu ngạn sông Tiền, nhờ phì nhiêu nên khỏi cày, cứ phát cỏ xong rồi cấy mạ xuống. 
Kỹ thuật ấy xuất hiện vào khỏang hai trăm năm nay, từ hồi Chúa Nguyễn. Mãi đến năm 1945 thì phát cỏ khỏi cày bừa để làm ruộng hãy còn, khá tinh vi. 
Dọn đất theo kiểu cày bừa, trục . . chỉ có hiệu năng đối với vùng đã khai khẩn từ lâu, đất đã thuần thục (gọi nôm na là đất thuộc). 
Ở đất phù sa cù lao sông cái hoặc ven biển, ven rừng tràm mới khai thác chừng đôi mươi năm, việc cày bừa nhất định gây hậu quả xấu: 
– Lòng đất chứa nhiều phèn, cày xới thì chất phèn hiện trên mặt đất, làm hại cho rễ lúa. 
– Nếu trên mặt đất đã dư pâhn để nuôi cây lúa (cỏ mục, lá cây khô từ lâu đời) thì xới lên là đem thêm phân. Phân quá nhiều, cây lúa nẩy nở nhanh chóng, gốc to, lá rậm nhưng gié ít hột. 
Cày bừa thì cần tới trâu bò. Bò giá rẻ, nhưng chịu đựng mưa dầm hoặc sình lầy rất dở. Trâu dai sức hơn, nhưng mua từ bên Cao Miên, giá trung bình một con đúng lứa là 80 hoặc 100 giạ: “Lúa tới đâu trâu tới đó”; lúa lên giá, trâu cũng lên giá theo. Người chủ đất nhỏ (tiểu điền chủ, gọi là chủ điền manh) ít khi dám vay nợ mua trâu, gặp năm bị dịch trâu chết, hai ba năm sau chưa chắc trả xong nợ. 
Không cày bừa thì con một cách là dọn cỏ cho sạch rồi cấy. Vì không cày bừa cho đất mềm nát nên phải dùng cây nọc khá to để xoi đất, sau đó mới cấy mạ xuống. 
Cầm cây dao mà chém cỏ thì không ổn, mỗi lát dao chỉ sát phạt được vài chục ngọn cỏ là nhiều. Nơi độc canh mỗi năm gặt một mùa, muốn nuôi gia đình thì cần canh tác tối thiểu là ba mẫu rưỡi, bốn mẫu. Như vậy làm sao dọn đất sạch để cấy cho kịp thời tiết. Dùng cuốc cũng bất lợi và chậm chạp. Nơi đất hoang, nhiều đám cỏ nằm ngã la liệt theo chiều gió, vun lên, cao ngang ngực của người lớn, rắn và chuột tha hồ nẩy nở. 
Người làm ruộng nghĩ đến một kiểu dao để chém cỏ nhiều hơn. Ngồi mà chặt thì thất sách, vì mỏi lưng. Đứng mà chặt thì không sát gốc, cỏ mọc trở lại. Muốn cho cỏ chết, phải chặt ngay gốc, dưới mí nước để gốc cỏ bị thối luôn. Do đó cần đến một lọai dao dài; muốn chém cỏ trong tư thế đứng mà chém thì cán dao phải bẻ cong lại. Đó là cây phảng. Phảng là một loại dao. Trong ngôn ngữ của dân phát cỏ ói là cần cây phảng, nhưng lại nói dùng phảng ấy mà “chém một dao”; chém nhanh, gọi là chém cho mau dao. 
Tùy công dung, tùy địa phương mà cán của cây dao dài ấy bẻ cong lại nhiều hay ít. Nói cho cụ thể, cán dáo và lưỡi vốn là nằm theo đường thẳng (180o) , nếu uốn lại lần hồi ta có loại phảng náp, phảng mõ cộ lôi, phảng mõ cộ vấp, đến mức cán và lưỡi phẳng tạo ra một góc đứng 90o thì gọi là phảng cổ cò (như hình dáng cổ con cò). 
Loại phảng mà cổ cong lại không đúng 90o chỉ xài vào công việc thứ yếu như phát cỏ ở bờ mương, phát cỏ vườn, chế đất (phát những cọng cỏ còn sống sót sau khi cày, trục, trước khi cấy), hoặc phát nơi nước sâu. Muốn làm ruộng trên diện tích to thì nhứt định là dùng loại phảng cổ cò. 
Đơn vị để đo diện tích làm ruộng là một công, mười công là một mẫu ta. Công là diện tích của khoảng đất hình uvông, mỗi cạnh dài 12 tầm, mỗi dài 2m60 đến 2m80, tính cho gọn để được htống nhất với mẫu tây (hectare) thì mỗi tầm dài đúng 2m63 để công là hình vuông, mỗi cạnh hơn 33m. 
Cầm cây phảng trên tay (trong tay mặt thôi), nghiêng mình uxống phát rồi đưa phảng lên, bước tới mà chém thêm nữa là việc nặng nhọc còn hơn là lực sĩ cầm cây mã tấu. Nếu lấy trung bình một lát chém là 36 tấc vuông (hình vuông mỗi cạnh 6 tấc) thì muốn dọn cho sạch cỏ trong một công đất, cần đến non 2.000 lát chém. Cây phảng trung bình nặng hơn 3 kí lô, dài 85 phân. Tính theo vật lý, muốn dở cây phảng nặng 3 kí lô ấy lên khỏi đầu, phải tung ra một sứcl ực ba lần nhiều hơn. Phát một công đất, mệt như một lực sĩ cầm quả 10 kí lô trong một tay, cử động 2.000 lần. 
Vì nặng nhọc như thế nên phát cỏ trên diện tích lớn là độc quyền của bọn đàn ông trai tráng. Tay mặt quơ cây phảng, tay trại cầm cây cù nèo (còn gọi là kèo nèo) để kèo (vạch cỏ) cũng 2.000 lần cho trống chân cỏ, không thể chém bừa vãi trên ngọn vì như thế thì cỏ sẽ mọc lại. Người phát phải khom lưng cho lưỡi phảng nằm ngang song song mặt nước và dưới mặt nước. 
Việc phát cỏ không thể kéo dài ngày này qua ngày kia suốt năm. Mùa phát bắt đầu từ tháng năm âm lịch đến khoảng rằm tháng sáu âm lịch là chấm dứt. Phát quá sớm khi đất ruộng còn khô thì cỏ sẽ mọc trở lại như cũ. Phát quá trễ khi nước mưa lên cao trong ruộng thì khó chém sát gốc cỏ. Trong 45 ngày do yếu tố thời tiết qui định chặt chẽ, thật ra chỉ phát được có 40 ngày; khi đang mưa mà bỗng dưng trở nắng đôi ba ngày, phát cỏ là vô ích; đôi ngày sua, gốc cỏ sẽ nhô lên vì nước cạn, cỏ mọc lại như cũ. 
Buổi phát tính từ khoảng 6 giờ sáng đến 11 giờ trưa, người giỏi thì rồi một công, trước khi ra ruộng thường là ăn cơm rang cho no dai. Buổi trưa và buổi chiều, cần dưỡng sức cho ngày mai, phát xong thì người mạnh khỏe cũng “bể nghể” trong mình, lờ 9dờ vì thấm mệt. Một số trai tráng thiếu sức khoẻ hoặc vì chưa nắm được kỹ thuật nên phát không rồi một công, đành để ngày sau mà phát tiếp. Đã ra ruộng, muốn rồi công thì tuyệt nhiên không được nghỉ để nói chuyện khoào hoặc hoảng chạy vô nhà khi trời đô mưa quá to, có sấm chớp sáng lòe, nổ ầm ầm trước mặt. 
Phát song, chờ năm bảy ngày cho thúi gốc rồi dùng loại bừa cào to (gọi là bừa cào rẽ) mà kéo cỏ gom lại thành vồng (mỗi công đất thường có năm sáu vồng), sau đó dọn cỏ qua loa (để phòng trường hợp hôm trước phát không sạch) rồi cấy ở khoảng trống giữa hai vồng cỏ (gọi là láng cấy). 
Ở nơi đất rộng người thưa, tìm đâu cho đủ nhân công phát cỏ? Chỉ còn một cáhc là trau dồi kỹ thuật để mỗi người đàn ông phát trung bình một ngày được một công, hoặc hơn càng tốt; ai phát không rồi một công thường bị chê là quá dở, lười biếng, chẳng ai dám mướn tốn cơm. 
Kỹ thuật lần hồi trau dồi đến mức tinh vi, kinh ngiệm được tổng kết kỹ lưỡng, gọi là phát thể hoặc phát thiếp. Theo lời truyền khẩu thì tổ sư của bộ môn này là ông Cai Thoại, làm chức cai đồn điền hồi đời Tự Đức. Vào cuối thế kỷ thứ XIX, khi Nam Kỳ Lục Tỉnh lọt vào tay thực dân Pháp, ông rảo chân khắp miền Rạch Giá, Cà Mau; gặp ông thì cọp chạy cong đuôi hoặc tới chầu chực bên cạnh khi ông ngủ giữa rừng! Ai đang làm chuyện nặng nhọc thì ông sẳn sàng tiếp tay. Sức ông bằng năm bảy người, trên vai luôn luôn có cây phảng to tướng nặng gấp đôi cây phảng thường dùng, cở 6 kí lô, dài trên một mét. Muốn phát cỏ nhanh, kịp thời tiết thì cứ mời. Ông phát suốt ngày đêm, nhịn đói ròng rã đôi ba ngày để rồi sau đó ăn lại một nồi cơm to, ngủ suốt một ngày. 
Nhiều người đi phát cỏ dạo, làng này qua làng kia, xưng là đệ tử hai đời của ông Cai Thoại. Quả thật, họ phát nhanh gấp đôi người thường, từ hai đến năm công mỗi ngày. Họ tự nhận là được tổ sư truyền đạo, nhờ thần thánh phù hộ nên sức lực mạnh khỏe, lúc ra ruộng phát cỏthì cứ quơ tay như người lên đồng bóng, như người đi thiếp, thông cảm trực tiếp với thần linh khuất mặt. ai muốn thọ giáo, họ đòi số tiền tổ khá cao, lúc dạy thì lựa ban đêm, không cho ai lại gần. Vài thầy giựt tiền của học trò trước khi dạy, và đa số đều là nói láo, mượn tiền để xài, sau đó phát vài công rồi trốn hoặc nằm ngủ, viện lý do là chưa đi thiếp được, thoần thánh chưa nhập vào xác. Lẽ dĩ nhiên ,các thầy phải nắm được vài bí quyết nào đó thì mới lường gạt được người trong xóm vốn chuộng thực tế. Các thầy có thể biểu diễn trong mộtvài giờ hoặc một buổi, nhưng phát từ sáng đến chiều thì không tài nào đủ sức. 
Muốn phát cỏ cho nhanh, phải kỹ lưỡng từ cách chọn thợ rèn phảng rồi chọn thứ thép thích hợp, và nên chọn loại cây làm cán phảng để khi phát da bàn tay được mát, không phồng. Và học kỹ thuật mài phảng như thế nào cho bén lâu, khỏi tốn thời giờ mài tới mài lui. Khi quá lụt, lưỡi phảng không chạy nhanh dưới nước. Lại còn tư thế đứng và bước của người phát, đúng chữ bộ chữ đinh như võ sĩ: 
– Chân trái phía trước, chân mặt phía sau, chém dao thứ nhứt. 
– Bỏ chân sau qua bên trái đồng thời vung cây phảng lên cao để chuẩn bị. 
– Bỏ chân trước qua bên trái, chém lát dao thứ nhì ngay khi ngón chân cái vừa đặt xuống đất. 
Việc hợp lý hóa từng động tác này, nếu thực hiện đúng thì với hai dao chém xuống liền ranh nhau, có thể thanh toán một vùng cỏ rộng 9 tấc (bề dài của cây phảng) và dài đến 4m20, tức 3 mét vuông 78; khi chém, cây phảng chạy theo hình vòng tròn, được nửa vòng trước mặt người phát. 
Nhiều người phát cỏ giỏi giữ mức trung dung, tập luyện kỹ thuật “dao vuông” , tức là mỗi lát chém phải thanh toán một vùng cỏ vuông bề ngang 9 tấc bề dài 9 tấc. Như vậy, thay vì dùng 2.000 lần chém như các tay thông thường, người nhà nghề chỉ dùng 1.400 dao để giải quyết một công đất. 
Cây phảng góp phần quan trọng vào việc khẩn hoang; ở một xóm nhỏ với vài mươi nóc gia, số ruộng canh tác có thể lên hơn trăm mẫu, trong hoàn cảnh thiếu hoặc không cần trâu bò. 
Mãi đến năm 1945, phát cỏ vẫn còn là công việc cần thiết và nặng nhọc nhứt của nông phu trong nhiều vùng ở Hậu Giang. Để khích lệ, vài người bày ra sáng kiến thi đua phát cỏ (gọi là phát kình, theo nghĩa kình địch, ăn thua, có kẻ thắng người bại), mỗi thầy chọn một đệ tử giỏi nhứt của mình và một ông kỳ lão đứng làm trọng tài. Trên hai công đất giáp ranh nhau, khi lịnh ban hành, hia người cứ hươi phảng, nhịp nhàng, không dám bỏ một giây, trong khi thầy khom lưng đi bên cạnh “con gà” nhà của mình mà khoác nước lên đầu, lên vai cho người lao lực kia được mát, ít mệt. Lẽ dĩ nhiên là ăn thua bằng tiền. 
Chi tiết “đất phì nhiêu”, bứt cỏ” để trồng lúa, không cần cày bừa mà Lê Quí Đôn và Trình Hoài Đức chép lại là như thế. Người phát giỏi thường ỷ tài nên lắm khi cờ bạc quá mức, thua thiếu rồi lãnh tiền trứơc, tới mùa mưa chỉ làm để trả nợ hồi Tết. Và đời sống của họ không hơn gì những nông phu khác: tình trạng thất nghiệp, khiếm dụng của xứ mỗi năm làm một mùa ruộng. 
Kinh nghiệm của người già cả đã tổng kết là cứ hai năm làm ăn khá giả được mùa thì bất cứ 9dịa phương nào cũng phải gặp một năm thất mùa. Trong sáu tháng ở không, chờ lúa chín hoặc sau Tết chờ khi trời đổ mừa, người dân sống bằng nợ, vay với tiền lời quá cao. Gặp khi trong gia đình có tang chế, thân nhân đau ốm thì số nơ gác lại năm sau. Những năm thu hoạch ở mức trung bình; người làm ruộng chỉ đủ ăn cho tới tháng ba; tháng tư âm lịch là vay lúa, vay tiền. 
Mấy tháng rãnh rỗi ấy, người dân ở thôn quê vì thiếu tiểu công nghệ nên chỉ còn một con đường là sống lê thê, trước sau gì cũng nghèo, không chơi thì chẳng làm gì sanh lợi cả. Vào mùa mưa, nhiều gia đình không có đủ mắm mà ăn, vì hồi mùa cá họ không rảnh rang mà bắt, nếu làm mắm được chút ít là đã bán rồi.Vào tháng bảy tháng tám, nhiều người lâm vào cảnh thiếu gạo, chủ điền chỉ cho vay ở mức vừa phải, ruộng canh tác tới đâu thì được vay tới đó. Nhiều người đã bán bớt số lúa vay ấy, lấy tiền mặt mà chi dụng trong gia đình, đó là chưa nói tới trường hợp người gia trưởng bịnh hoạn, ai dám cho vay khi chắc chắn là không bao giờ trả nổi? 
Thói ăn chơi lan tràn, từ hcợ làng chợ tổng đến xóm nhỏ. Xin trích vài nhận xét, viết từ năm 1908. Một cậu nọ ở Vĩnh Kim (Định Tường, xứ cóvườn) “tánh rất ham chơi, người đã không dư ấm, nhà lại chẳng nghiệp làm, xách ba-ton dạo cùng làng, hút Bastos đi giáp xứ” Tình trạng người tá điền lại thảm thương hơn: “Một năm 12 tháng, làm ruộng thiệt sự có bốn năm tháng, còn bảy tám tháng dư linh làm nghề chi? Vì không có nghề trong tay nên mới rủ nhau đánh cờ chó, hoặc đi coi đánh cờ bạc, chà lết mòn quần rách áo”. Và đây cũng là sự nhàn rỗi, trong thôn xóm vào thời ấy: “Vả lại tôi thấy người lối xóm tôi, hoặc có người sớm mai thì dậy, thay quần đổi áo. Hễ có ai hỏi đi đâu thì đáp rằng: đi xóm. Té ra không phải đi đâu hết, cứ tới trà đình tửu điếm, dụm năm dụm bảy mà ăn uống say sưa, bàn chuyện đề cổ nhơn, hết sức rồi bàn tới chuyện đàn bà con gái, đứa này xinh đẹp, đứa khác xấu xa. Nói cho tới giờ ăn cơm thì trở về mà ăn, hoặc có đứa ra đánh đáo tường ăn công cho tiêu cơm, có đứa kiếm năm bá cắc bạc ra mướn xe máy mà chạy một hai vòng, đến nỗi đổ mồ hôi mồ hám mà cũng chưa chịu về, người ta có hỏi thì lại nói chạy cho tiêu ơcm” Vì tin rằng trước sau gì cũng cực khổ mang nợ mà không bao giờ trả nổi, nên nhiều người dám ăn xài to trong dịp Tết, mua nào là rượu cô-nhắc, thuốc xì gà và rất nhiều pháp để vui ba ngày, sau đó đi làm mướn suốt năm tháng cho mấy chủ tiệm Huê kiều, khiêng vác đồ đạc, hoặc chèo ghe lúa. 
Lập luận khôi hài của người lâm vào cảnh khiếm dụng, bán thất nghiệp ở miền Nam là “trời sanh thì trời dưỡng”, “thiên sanh nhơn hà nhơn vô lộc, địa sanh thảo hà thảo vô căn”. 
Trách nhiệm ấy về ai? Ngoài trách nhiệm của thực dân Pháp, ta nên nhớ là giới thương gia Hoa liều bấy giờ vốn lợn, việc làm ăn của họ dính dấp tới những tay mua bán lúa gạo thuuộc vào hàng quốc tế ở Tân Gia Ba, ở Hương Cảng. Ai làm ăn vốn nhỏ là thất bại. Giới đại điền chủ ở Nam Kỳ lúc bấy giờ chọn lực con đường chắc ăn hơn: dư tiền thì mua thêm đất ruộng, thâu thêm địa tô, đất không bị mất mát. Hơn nữa, nếp sống điền chủ được sung sướng, thảnh htơi như ông hoàng nhỏ nhỏ. Nếu coi sóc một công ty thương mãi, một hãng xưởng họ phải bận rộn hàng ngày quá nhiều thời giờ, lại thêm mệt óc tính toán.

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 17 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

2. Đào mương lên liếp

Trên khỏang đất khá rộng, muốn cho gốc cây không ngập nước và rễ được thám nhuần mãn năm, muốn đón nhận và dự trữ phù sa để làm thứ phân bón thiên nhiên khỏi tốn tiền thì cách hay nhứt là đào mương, lên liếp. 
Liếp còn gọi là bờ. đất trên liếp phải cho cao để khỏi ngập lụt vào mùa mưa hoặc mùa nước nổi hàng năm. Nhiều bờ nằm song song, giữa hai bờ là mương. Theo kỹ thuật lập vườn đến nay hãy còn áp dụng, bề ngang mỗi bờ (thí dụ như để trồng quít) thường lã 4 mét, bề dài tối đa là 40 mét, hình chữ nhựt. 
Mương ở bên cạnh (giữa hai bờ) rộng từ 1 mét rưỡi đến 2 mét, sâu chừng 1 mét rưởi. Mấy mương này ăn thông nhau ở đầu bờ và cuối bờ. Nhờ vậy mà khi nước ngòai sông ngòai rạch dâng lên, nước trong mương cũng lên cao. Nước trong mương vì chảy quanh co nên để lại đất phù sa rồi đứng lại, trở ra sông rạch khi nước ròng. Chuyến vào mang phù sa, chuyến ra chỉ là nước trong, phần lớn phù sa lắng xuống mương. 
Để quá lâu thì mương cạn, vì phù sa đóng một lớp dày ở dưới đáy. Theo nguyên tắc, cứ một năm móc mương, một năm nghỉ, đất bùn dưới mương được quăng lên cho bờ cao thêm (vì mưa làm cho bờ bị lở và mòn). Thường là quăng ngay gốc cây cho rể cây khỏi lòi ra mặt đất, bùn dưới mương là thứ phân tốt. 
Muốn cho trong mương luôn luôn có nước, phải đắp đê để ngăn chận không cho nước trong mương tràn lên ruộng phía sau vườn. và từ mương ra rạch hoặc sông cái, mạch nước phải lưu thông: đặt ống bọng. Ống bọng thường là cây dừa lão khóet bọng phía trong ruột. 
Giữa mấy bờ liếp có cầu để khi săn sóc cây trái chủ vườn qua lại dễ dàng. Mương vườn lại là nơi cá tôm bị lùa vào theo con nước lớn, nếu lấy đăng chặn lại, chủ nhà có thức ăn đầy đủ khi nước ròng. 
Thông thường, tháng 9 tháng 10 âm lịch là có nước son, nước đỏ chở đầy phù sa. Dưới mương nhiều người thích bỏ vài giề lục bình, nhờ đó mà đất phù sa dễ bám vào, nhưng lục bình sanh sản quá nhanh, rốt cuộc lại trở thành tai họa. Ném lục bình lên gốc cây thì dương như là không ích lợi cho lắm để làm phân bón. 
Nơi thuận lợi để làm vườn, thường là có người đến lập nghiệp từ quá lâu, đất vươn bị chia manh mún. Người chủ vườn nhỏ thường khai htác phần đất chừng nửa mẫu mà thôi, chủ vườn lớn năm mẫu, trung bình là ba mẫu. Ở Cái mơn, nhiều liếp vườn đã xưa hơn trăm năm. Trở lại đời Tự Đức, ta biết vùng này qui tụ nhiều tín đồ Thiên Chúa Giáo, mấy ông cố đạo tùy tình hình an ninh mà ở Cái Mơn, lên Nam ang hoặc rút về Mã Lai (Pénang) để rồi khi trở lại không quên mang theo nhiều giống cây ăn trái từ Miền Dưới: sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon. Cái Mơn là vùng gần biển nhưng nước mặn không lên tới. Từ thế kỷ trước, dân Cái Mơn giỏi về trồng cây ăn trái, nhứt là về kỹ thuật chiết và tháp cây, cung cấp cho tòan Nam Kỳ lục Tỉnh. 
Vét mương vườn, “làm đất”, đào mương lên liếp là công việc khó nhọc đòi hỏi niều kiên nhẫn và sức người. Dụng cụ là cây xuổng, hoặc cây len (còn gọi là cây vá) để xắn đất có cán khá dài. Từ trên nhìn xuống lưỡi xuổng là một đường thẳng, trong khí lưỡi vá là đường cong. 
Xuổng dùng nơi đất cứng: một người xắn đất, một người khom lưng móc cục đất ấy mà ném để đắp bờ. Cây vá thì dùng nơi đất mềm: xắn từng cục đất nhỏ (giống như người bán tàu hủ nấu đường dùng muỗng mà múc từng lát nhỏ) rồi quăng lên, cục đất dính theo lưỡi và phải tách rời ra. Khởi đầu, người đào đứng trên mặt đất, quăng đất không đòi hỏi sức lực quá nhiều nhưng mươn càng sâu, đứng dươi mương mà quăng lên cao và hơi xa để đắp bờ thì quá tốn sức. Ta thử tưởng tượng một lực sĩ ném từng cục đất nặng non hai ký, không ngừng tay, mỗi buổi hàng ngàn động tác như vậy. Và sức dùng để ném mỗi lúc một gia tăng. Khi đào khá sâu, thường là gặp mạch nước, xúc từng cục đất nhỏ khi nước ngập đến ngang bụng không phải dễ. 
Hai năm một lần, lại vét bùn đem lên liếp (bờ) cho mương được sâu, cho bờ thêm cao. Dùng lọai thùng hình tròn có cán dài tra theo bề dọc mà xúc, gọi là cái gàu vét mương (hoặc là cái len thùng). 
Những năm gần đây, nghề trồng cây ăn trái đem lợi tức đáng kể, dân ở thành thị mỗi lúc thêm đông, việc chở chuyên dễ dàng hơn trước nhờ xe hàng, nhờ xe gắn máy. Ở những nơi mà đất phù sa có điều kiện lưu lại như bờ sông, bãi bùn hoặc chung quanh cù lao sông cái, nhiều người đã mạnh dạn làm kế họach lấn đất ra sông. Thay vì chờ đợi năm bảy năm sau cho đất phù sa bồi lan ra năm bảy chục thước thì dùng sức người mà đắp bờ bao ngạn (gọi tắt là bờ bao) ở một góc cồn (cù lao nhỏ trên sông) nào thích hợp. bờ bao đắp lấn ngòai sông, cao chừng 3 mét, trên mặt rộng chừng 2 mét, chân bờ khá rộng để có thể đứng vững khỏi bị nước sông hoặc sòng gió làm bể hoặc phá lủng. Bên phía trong bờ, cứ trồng tỉa, đổ đất bùn. Công trình này thực hiện theo qui mô nhỏ bé do sáng kiến cá nhân, có thể so sánh với việc đắp để lấn ra biển để tăng diện tích đất ở Hòa Lan, ở Nhựt. 
Trên vùng đất tântạo lấn ra bãi ra sông này, người và đất đều can đảm đóng vai người lính tiên phong. Lúc giông tố hoặc khi nước lớn, rõ ràng là nước bên ngòai bờ bao ngạn dâng cao, chảy cuồn cuộn khỏi đầu người đang làm rẩy làm vườn. Và cây tơ mới trồng vì chịu đựng triền miên những trận gió nơi sông rộng, thường bị “cháy lá”; lá không nảy nở nhanh chóng như trường hợp những cây trồng trên liếp ơ nơi thông thường. 
Không phải ở nơi đất tốt, nhiều phù sa này mà mỗi người đều làm chủ một khu vườn nhỏ. Đất đã có chủ. Đất lại bán vớii giá cao. Có đất lại còn phải ra công đào mương oặc mượn vốn mà mướn đào lên liếp, chờ vai năm mới thâu huê lợi đất vườn chia lần hồi cho số con cháu quá đông. Bởi vậy, mmột số khá đông người địa phường phải sống bằng nghề làm mướn cho chủ vườn. Dầu muốn hay không, người của thế hệ sau cùng đành rời quê quán, tìm nơi đất rộng người thưa. Không nên đánh giá quá cáo sản lương tổng quát về cây ăn trái. Trước năm 1945, họ là họ có cam Cái Bè, dâu và măng cụt Cái Mơn những ở miền Nam mấy ai thưởng thức được. Mức sản xuất không đủ cung ứng cho nhu cầu nội địa, nhiều người trung lưu ở miền quê Long Xuyên, Rạch Giá không biết trái vú sữa, sầu riêng hoặc măng cụt như thế nào, nó chỉ dành riêng cho người khá giả ở thành thị. 
Ở miệt Vườn, tức là vùng trồng cây ăn trái nói trên, huê lợi quan trọng nhứt vẫn là ruộng. Đời Tự Đức, ruộng làm mỗi năm chỉ một mùa, khi người Pháp đến, vài địa phương làm hai mùa với phân bón. Tuy là vào tháng hạn người dân có thêm chút ít công ăn việc làm (làm đất vét mương, lêin tiếp cho chủ vườn) những làm sao xem đó như một ngành tiểu công nghệ hoặc công nghệ? Việc đào đất xúc đất khá nặng nhọc chỉ dành co một số ít người chịu cực, số nhơn công thâu dụng chỉ có giới hạn. Người làm đất đến mùa mưa lại làm ruộng như bao nhiều người khác, từ khi cấy xong đén khi chờ gặt, họ lại ở không, sống thiếu kém, vay nợ mà chờ thời trời.

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 17 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

1. Đồng bằng sông Cửu Long và miền Hậu Giang với nếp sống cực khổ nhưng nhàn rỗi

Tập sách này viết ra từ trước 1975 không lâu,riêng về nhan đề “Cá tính miền Nam” tôi và vài bạn thấy như chưa ổn, đáng lý ra phải gọi Phong cách, Nét đặc trưng hoặc gì gì đó, nhưng rồi đành chọn hai tiếng Cá tính. Điều quan trọng là quyển sách nói được những điều gì. 
Đến nay, xem lại, thấy những nét lớn vẫn đúng, mặc dầu sự việc đã thay đổi , thí dụ như ngày nay người làm vười đã thay đổi giống cây ăn trái, dùng xáng cỡ nhỏ để đào đất phù sa đưa lên bờ cù lao. Cây phảng ít thấy, đã cày máy, lúa xạ, không phải lom khón cấy vất vả như trước. Đáng lưu y chăng là nét tồn tại về tín ngưởng dân giang của người vùng biên giới an giang. Và nét đặc trưng của kẻ sĩ thời xưa, sống sát với quần chúng, có tính quần chúng thì hợp với vơi đã mặc nhiên theo “kinh tế thị trường” từ khi mở nước. Vả lại, ta nhờ miền Nam là đồng bằng, với sông rạch và biển, “văn minh sông nước” là chủ yếu. Lại còn tiếp cận sớm và trực tiếp với các nước mà nay ta gọi là EASEAN. Tác động của tư bản Tây phương đã có, ngay từ buổi đầu. 
Lòng yêu nước, yêu quê hương được thể hiện rõ nét, mẫu số chung của cả nước vẫn là vậy. Các tín ngưởng, thậm chí các tổ chức Hội kín vẫn là nhằm đánh đổ thực dân. Miền Nam bị thực dân xâm chiếm 25 năm, xem như một thế hệ trước miền Bắc, miền Trung, sông Cửu Long, sông Đồng Nai khác với sông Hương, sông Hồng về địa lý, cách khai thác mặc nhiên là khác. Ở đâu dân ta cũng sảng xuất, xây dựng gia đình, cần cù, chịu sự áp bức của thực dân, phong kiến nhưng mức độ khác nhau. 
Riêng tôi, nay thấy ngậm ngùi khi đọc lại những trang viết công phu về đạo tứ Ân ở Bảy Núi (An giang). Hồi chiến tranh biên giới Tây Nam vừa bùng nổ, gần như 70 phần trăm đồng bào ở đây bị thảm sát. Xã Ba chúc anh hùng, nay còn đài tưởng niệm, còn nơi trưng bày tội ác của Khơ – me đỏ là nơi mà đồng bào nên cố gắng đến tham quan , tuy xa xôi. 
Tư liệu trích dẫn ở đây phần lớn chưa ai đọc và phát hiện, tạm dẫn chứng để làm cơ sở, ngõ hầu các bạn trẻ nghiên cứu kỹ hơn. Tái bản “Cá tính miền Nam” đợt kỷ niệm 300 năm lịch sử mở đất của Sài Gòn – Nam Bộ cũng nhằm khẳng định cái riêng, sự đa dạng phong phú được bắt nguồn từ cái chung cội nguồn của tính cách con người Việt Nam cao quí được thử thách trong tiến trình lịch sử 4.000 năm dựng và giữ nước của dân tộc 
Tháng 11 – 1997. 
Sơn Nam

So với Bắc và Trung phần thì Nam phần là nơi dễ sinh sống, đất rộng người thưa. Người dân thảnh thơi : vừa làm vừa chơi cũng đủ ăn”. Chúng ta thử nhìn kỹ hơn để tìm hiểu nhờ đâu có sự thảnh thơi ấy. Sông Cửu Long chảy dài từ Tây Tạng uxống Nam Hải (nay ta gọi là Biển Đông – BTV), mỗi năm một mùa lụt (gọi làm ùa nước lên, mùa nước nổi), hai bên bờ sông tuyệt nhiên không có bờ đê, từ hồi Vương quốc phù Nam đến vương quốc Chân Lạp vẫn thế. Đất rộng người thưa, không đủ nhân công, vả lại vào mùa nước lụt hãy còn nhiều giồng đất cao ráo không bị ngập, đủ chỗ cho dân cư ngụ. Phù sa tràn vào ruộng, làm cho đất thêm màu mở. Cá tôm cũng theo nước mà vào rạch, xuống địa, hoặc vào mấy khu rừng cầm thủy, thường là rừng tràm, tha hồ sanh sôi nẩy nở. 
Không có để thì cứ canh tác theo thời tiết và phỏng đóan mực nước tối đa vào mùa nước nổi, có xê dịch vài tất cũng không đủ gây tai hại đói kém; ngày đêm khỏi phải làm công tác dắp đê hoặc gìn giữ để hco khỏi vở, như trường hợp ở Bắc phần. 
Mực nước lụt đôi khi thay đổi, gây thiệt hại những chỉ là từng địa phương nỏ. rủi như mùa màng bị tiêu hủy thì dân ở địa phương này có thể tìm lúa ăn do các vùng phụ cận cung cấp. Nạn lụt gây cảnh cết chóc hàng trăm người dương như mỗi thế kỷ chỉ xảy ra một đôi lần mà thôi. Bão tố ở Nam phần tuy có những quá nhẹ, so với miền Trung. Đại khái, khi cân nhắc lại những thiên tai hạn hán, đồng bào ở Nam phần chỉ biết dẫn chứng trận bão lụt năm Giáp thìn (1904) gây thiệt hại cho tỉnh Gò Công. Hoặc nạn cào cào chỉ xảy ra một lần ở Gò Công vào năm Ất tỵ (1905). Năm sau, cũng ở Gò công xảy ra nạn “bạch đồng”, trời cứ nắng suốt mùa mưa, lúa không cấy được, nước dưới sông không lớn không ròng. 
Đã khỏi gìn giữ tu bổ bờ đê, người dân lại được nhẹ công việc canh tuần. Làng ở Nam phần không có lũy tre bao bọc. Hình thế của làng thường là chạy dài theo hai bờ sông bờ rạch, với một lớp nhà: mé rạch, đường mòn rồi đến nhà, phía sau là vườn rồi ruộng. chỉ ở nơi ngã ba sông hoặc ngã tư thì nhà cửa mới đông đúc hơn, trở thành những cợ nhỏ. Ranh giới của làng thường thay đổi, trồng tre chỉ là để tạo bóng mát chung quanh nhà, có thêm vật liệu dùng vào việc lặt vặt, thế thôi. Vả lại, không tài nào canh phòng nổi một làng dài bảy tám cây số ngàn hoặc dài hơn nữa, với số dân ít ỏi. Bọn cướp trộm cứ chạy ra ngòai ruộng hoặc bơi xuồng qua làng khác bên kia bờ rạch, bên kia cánh đồng. 
Nói chung thì khí hậu ở miền Nam không được tốt cho lắm. Ở Bắc phần, nếu miền Thượng du nhiều sơm lam chướng khí thì vùng hạ lưu lại trong lành, với hoa bướm của bốn mùa khá rõ rệt. 
“Miền Nam với mưa nắng hai mùa đã người bức, ẩm thấp lại còn là nơi mà muỗi mòng, kiến ,mọt mối, rắn rít, đỉa vắt tha hồ sanh sôi nẩy nở. Khi mùa nắng sắp chấm dứt, bịnh dịch thường xảy ra, lại còn bịnh kiết, bịnh rét rừng với những biến chứng như đau ruột, đau gan. Ngày qua ngày, với sự khia thác đất đai, bụi rậm và nước đọng bớt dần. Ta không nên phỏng định quá thẩy về tỷ lệ người chết vì bịnh, hàng năm, trước khi có chích thuốc ngừa, trồng trái. Khi mới chiếm Nam Kỳ, người Pháp rất bi quan và nhận định rằng không thể nào định cư được, chỉ là ở tạm rồi về. Họ sơ muỗi mòng, sợ nắng chói, sợ rắn, sợ những buổi chiều vào đầu mùa mưa, nắng người bức rồi mưa rơi và sấm sét liên hồi. 
Về đất phù sa, chúng ta nên nhìn kỹ và tránh những ảo tưởng cho rằng đồng bằng sông Cửu Long quá phì nhiêu. Ở vùng đất rộng này có nhiều “tiểu hình thể” khác nhau: nơi nước mặn, nước phèn, nơi nước ngọt; nơi ngập lụt gần như sình lầy mãn năm, nơi cao ráo; nơi làm ruộng làm vườn được, nơi thì hoang vu, cỏ lác, dưng, cỏ năn mọc lưa thưa. 
Phù sa được gọi nôm na là đất mở gà, bãi sinh. Nước có phù sa gọi nôm na là nước đỏ, nước son. Nhiều vùng đất ở sát bờ Tiền Giang hoặc Hậu Giang tuy quanh năm nước ngọt nhưng đất quá xấu, lần hồi trở nên cằn cổi vì nước son, nước đỏ chở đầy phù sa cư trôi đi tuốt, không tích tụ lại được. không cứ ở bờ sông cái là sống thong dong, tha hồ trồng cam trồng quít. Chúng ta thử xem khung cảnh vài nơi ở Long Xuyên – Châu Đốc hoặc Đồng Tháp Mười buồn bả. Tuy là ở gần sông Tiền và sông Hậu những cánh đồng giữa Sa Đéc, Long Xuyên quá nhàm, thua xa vùng Tân An, Cần Giuộc là nơi có con sông kém quan trọng hơn chảy qua. 
Muốn cho phù sa kết tụ (trầm tích) lại, cần rất nhiều điều kiện. 
– Nước ngọt và nước mặn gặp nhau. 
– Trên đất giồng ở bờ sông có lùm bụi nhiều, như lác, sậy, cỏ tim bấc, lục bình. 
– Sông già, không chảy thẳng, cón hiều nơi uốn khúc, có doi có vịnh. 
“tiền Giang sông già, nên trầm tích, trái lại Hậu Giang còn sức vận chuyển mạnh nên không trầm tích nhiều. 
“Mặt khác, các giồng ven sông Tiền Giang quan trọng ở Mỹ Tho, có lẽ là do sự xâm thực triền lỏm của các nếp uốn, và vì sức vận chuyển của sông yếu nên có sự bồi đắp của khối vật liệu liền theo đó” 
Tiền giang đón nhận nhiều phù sa hơn Hậu giang, và trên Tiền Giang, vùng mỹ Tho là nơi được ưu đãi nhứt, với những con rạch đón nhận phù sa và cù lao phì nhiêu giữa sông cái. 
Suốt hai bên bờ Hậu giang thuộc Việt Nam, chỉ riêng con rạch Bình Thủy, rạch Cần Thơ là trù phú, có thể so sánh với Miệt Vườn bên tiền Giang. 
Vùng Mỹ tho quả thật là địa đàng với những con rạch nhiều nhánh nhóc như Cái thia, Cái Bè, Rạch Gầm, cù lao Năm Thôn. 
Đáng chú ý là phía bên kia Cái Bè, còn vùng Chợ Lách, Cái mơn lừng danh. Rạch Sa Đéc ở hữu ngạn Tiền Giang cũng được ưu đãi. Phù sa trôi vào rạch, vào mương vườn, vào ao; khi nước ròng, trên cầu ao hệin ra một lớp bùn non, gọi là đất mỡ gà (màu giống như mỡ gà) dày đến mức hễ vô ý bước xuống là có thể trượt té. Người làm vườn móc đất dưới mương, hai năm một lần, bằng không thì mương cạn. 
Ruộng vườn tốt, rau cải cũng tôt, cá tôm dư ăn trong gia đình, quanh năm nước ngọt, mùa nước nổi nhà không bị ngập, muốn đi xóm hoặc chở chuyên hàng hóa thì dùng đường htủy, ngòai huê lợi ruộng còn huê lợi vườn. 
Quãng đường từ Sầm Giang, Mỹ Đức Tây, Cái Cối , Trà Lọt, An Hữu đến bến đò Mỹ Thuận: xòai xum xuê hai bên bờ rạch, vườn tược xanh um, với một mẫu đất là dư sống. Bến đò Mỹ Thuận phô bày tất cả tặng phẩm của sông Cửu Long: nào trái ngon, cơm trắng, tôm, ổi, mứt chuối. 
Nhờ khả năng thích ứng với hòan cảnh và biết tổng kết kinh nghiệm về trồng tỉa ngay ở những vùng hẻo lánh bất lợi, nên nếp sống con người lần hồi trở nên thuần thục. Nhà cửa chú trọng vào cách bố trí những bộ cán để nghỉ ngơi trong mùa nực. Về trồng tỉa, tuyển chọn lọai cây thích hợp với chất đất ở địa phương để rồi trở thành sản phẩm độc đáo: cam Cái Bè, chôm chôm Cái mơn, vú sữa Lò rèn Vĩnh Kim, quít Sa Đéc, quít và cam ở Bình Thủy, Phong điền (Cần Thơ). Về thức ăn: chọn những món” cây nhà lá vườn” tuy là tầm thường nhưng nếu ăn đúng lúc thì quả làp hong lưu. Trồng bầu vào tháng 9 âm lịch để rồi khi trái vừa lớn là tới lúc có cá trê, nấu cá trê canh bầu. vùng ruộng sạ, gạo không ngon nhưng gạo lúa sạ vừa mới gặt nấu cháo trắng ăn với khô cá lóc thì hương vị khó quên được. Nắng hạn, rủ vài người bạn ra giữa đồng đem theo cái hộp quệt, một gói muối hộ, vài trái ớt rồi đền vũng nước khô cạn nào đó mà bắt cá lóc thứ to con, đốt gốc rạ và rơm mà nướng trui, chấm muối ớt, nhai thêm vài ngọn lá nghễ bên ao. Lươn, rùa, ếch, rắn được chế biến thành ra nhiều thức ăn ngon. 
Mùa nắng, ăn chanh chua vừa khỏe vừa đỡ khát, hoặc là khổ qua hầm thịt. Bí rợ hầm nước dừa, ăn với mắm chưng vào buổi trưa, dưới cơn mưa lất phất khi cấy lúa gần rồi công. Mắm sống ăn với gừng non. Măng trẻ Mạnh Tông hầm thịt là cao lương mỹ vị. 
Ngòai cây từng trồng làm cảnh hoặc cây trẻ để nhắc nhở tiết tháo của bực trượng phu, ngày tết có mai vàng, đất xấu tốt đều trồng được. Cây mai chiếu thủy (còn gọi là mai hoằng), cây cần thăng, cây kim quít, thậm chí tới cây gừa được chọn lực vì lá đẹp, vóc dáng xinh. 
Rước thợ Bắc về để chạm trổ nhà cửa làp hong lưu tột bực, thợ ở luôn tại nhà, làm lai rai hết công chuyện này qua công chuyện kia, chủ nhà nuôi cơm đôi ba năm. Lại còn thói ganh đua mua sắm đồ sành đồ sứ, “chơi đồ xưa” hoặc thi tài tuyển chọn giống gà nòi, cá thia thia.


Bão và Mất Điện

vvnm.vietbao.com

26/07/2024

Chính Vũ

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Hình do tác giả cung cấp

Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 9, 2018. Ông tên thật Trần Vĩnh, thầy giáo hưu trí, định cư tại Hoa Kỳ từ năm 2015, hiện là cư dân Springfield, MA. Sau đây là bài viết mới nhất của ông kể về những ngày mất điện vừa qua ở tiểu bang Texas.

Chuyện bão tố hay cúp điện, mất điện đối với người Việt, hay nói chính xác hơn là “người Mỹ gốc Việt” khi còn ở quê nhà thì chỉ là điều… bình thường, quen thuộc, “nói hoài, nói mãi”, xưa rồi Diễm, ít quan tâm. Hay có quan tâm, thì chỉ là những cơn giông bão lớn, với số người phải chịu cảnh thiên tai này là quá lớn, cần sự quan tâm và cứu trợ của cả nước, hay thậm chí là những nước khác giúp đỡ! Riêng việc bị mất điện, cúp điện thì chẳng chết “thằng Tây” nào, và cũng có nhiều nơi, nhiều địa phương là chuyện như “cơm bữa”, là chuyện “thường ngày ở huyện”. Bởi cũng đã từng có nhiều người, nhiều gia đình, cả đời chưa hề… biết “xài điện” là gì, cho nên, có người vui miệng, từng xổ “tiếng Tây, tiếng u” là… “No table” hay “No star where”, dịch diễn nôm na là “miễn bàn”, “không sao đâu” đó thôi! 

Nhưng ở xứ sở Huê Kỳ, nơi được mệnh danh là nước Mỹ hùng mạnh, “number one” của thế giới, mà thiên tai, bão tố cuồng phong, làm người dân phải mất mạng, điêu đứng, sống trong cảnh “màn trời chiếu đất” thì quả là điều… hiếm và ít xảy ra, đặc biệt là vụ mất điện hay cúp điện đem lại sự thống khổ cho nhiều người, chắc cũng là điều… khó tưởng tượng? Song sơ sơ qua vài cơn bão và lốc xoáy gần đây ở tiểu bang Texas, như vụ năm 2021, một cơn bão tuyết ( trăm năm có một), đã khiến đường xá đóng băng, hơn 4,5 triệu ngôi nhà không có điện gây ra tình trạng thiếu nguồn cung cấp nước, lương thực, thực phẩm và nhiều nguồn cung cấp khác…Năm 2023, một trận lốc xoáy… nhẹ ghé vào, cũng gây ra cảnh, cây cối gãy đổ, nhà sập và mất điện vài ngày.

Mới đây nhất, là cơn bão Beryl đã đổ bộ vào khu vực phía đông nam Texas vào khuya ngày 7 tháng 7 năm 2024 mà theo USA Today miêu tả là: “Bão Beryl đã mạnh lên từ cơn bão nhiệt đới, trở lại thành một cơn bão cuồng phong với cường độ bão cấp I, đổ bộ vào bờ biển Texas…” gây cảnh bão lũ trên nhiều khu vực, nhà cửa, cây cối gãy đổ, hư hại và cuốn trôi nhiểu xe cộ, tài sản của người dân. Ít nhất đã có 3 người dân thiệt mạng. Bão tố, cuồng phong là hiện tượng khắc nghiệt của thiên nhiên, là thiên tai mà con người chỉ mới có thể dự đoán để phòng chống, nhưng không thể xóa bỏ hay dẹp tắt được. 

Trong phạm vi bài viết, người viết xin được đề cập đến chuyện “mất điện”, “cúp điện”, liên quan đến hoạt động của hầu hết mọi người trong xã hội “hiện đại” ngày nay, và gây nên những chuyện “dở khóc, dở cười” khi việc cúp điện bị kéo dài đến vài ba ngày, hoặc lên đến cả tuần lễ như trong cơn bão Beryl ở Texas vừa qua. 

Mất điện, cúp điện ở Mỹ, không như ở quê nhà của người Việt, bình thường chỉ mươi, mười lăm phút là nguồn điện được giải quyết, lại có ngay, vì tất tần tật, mọi thứ liên quan đến cuộc sống và sinh hoạt của người dân Mỹ đều liên quan đến nguồn năng lượng của điện, từ nguồn gas, nguồn nước, ăn uống, sinh hoạt, tắm giặt đều gắn liền với điện. Điện là phương tiện duy nhất trong cuộc sống sinh hoạt của từng gia đình. Mất điện, có thể kéo theo cúp nước, mà ở Mỹ, 100 phần trăm người dân đều xài nước máy, mà người Việt trước đây hay gọi là nước “phông-tên”, không có chuyện dùng nước ao, nước giếng hay nước sông hoặc dùng giếng khoan như ở quê nhà, vậy nên, thiếu nước một vài giờ, thậm chí một ngày, còn khả dĩ chịu đựng được, chứ vài ba ngày là coi như chỉ có… kêu trời, do đó, rút kinh nghiệm, hai nguồn điện nước, phần lớn, nhiều nơi đã tách riêng ra để dễ xử lý, phòng khi mất “một mà thành hai” như đã kể. 

Hầu hết bếp núc ở Hoa Kỳ, phần lớn sử dụng bếp điện, bếp điện từ. Một số nơi còn sử dụng bếp gas, bằng khí đốt, do đó cúp điện, kéo theo là… treo nồi, niêu. Không có ai xài bếp đun củi xưa như trái đất, hay bếp dùng than như còn thấy ở Việt Nam. Kể cả bếp bắng hơi gas, thì khi bật bếp, hay cụ thể là “khởi động bếp” cũng cần có điện… giúp sức, tạo thành tia lửa, để bếp bật cháy. (Riêng chuyện này, quý ông có sáng kiến dùng hộp quẹt để mồi, còn hầu hết quý bà thì không dám, thà là… treo niêu, nhịn đói, lỡ khóc, lỡ cười là vậy!). Bếp núc lạnh ngắt, vì anh điên… nặng, thì cái tủ lạnh kế bên cũng đã bắt đầu mè nheo, khóc… ròng. Nước chảy lênh láng, vì không có điện, ngăn lạnh, ngăn đá rỉ nước. Đồ ăn, tích trữ cho cả tuần, thậm chí cả tháng không đi chợ, bắt đầu lên nấm mốc, ôi thiu. Báo hiệu cái đói đã bắt đầu trầm trọng. Các bà vợ, nội trợ, lôi hết đồ ăn, thức uống dự trữ trong tủ lạnh ra mà than vắn thở dài, hỏi thăm anh điện chừng nào mới có và… trở về? 

Qua ba ngày, với cái bụng lưng lững, óc ách vì mì gói, lương khô. Muốn oder thức ăn, cơm cháo. Thậm chí cái bánh Pizza, cũng gian nan, khó khăn, vì chợ búa, quán tiệm, cũng hạ màn, đóng cửa vì không có điện… Đúng là tức điên… nặng, trong khi “nhà đèn”, các công ty điện thì cũng án binh bất động, im lặng là vàng. Dân tình bắt đầu xôn xao, ngóng tìm những nơi có ánh sáng đèn điện để di tản, lánh nạn. 

Thời tiết lúc này đang là hè, hanh khô, nên nhiệt độ sau mấy ngày mưa rả rích, cũng bắt đầu tăng lên, 8, 9 mươi độ F. Ngoài trời, trong nhà, nhất là ở Texas, cái nóng hầm hập, kinh hồn, lại cần đến quạt máy, máy lạnh, mà ông điện thì vẫn còn thọ thương, loay hoay, cứu chữa, cũng đành mà cầu… kinh, niệm Chúa, Phật cho con trẻ, người già nhanh chóng bước qua kiếp nạn này, bằng những cái quạt nan, quạt giấy tự chế, luôn tay quạt suốt ngày. 

Mất điện, cúp điện tất nhiên cái món Wifi, Internet cũng cúp mất tiêu trong bộ nhớ của cellphone, laptop. Kể cả điện thoại bình thường cũng chập chờn lúc có, lúc không. Thói quen chơi game của trẻ em, cũng bị cúp. Quý ông, quý bà thích lướt Web xem chuyện ta bà thế giới hay tám chuyện trên Facebook, Ticktok cũng phải ngậm ngùi mà cho qua. Ở không, hưỡn lúc này, thì chỉ có việc… đọc sách báo giấy, món ăn tinh thần, từ lâu lắm bị bỏ quên, hay đọc truyện chưởng, truyện ngôn tình mới có dịp được ghé mắt, nhâm nhi cho quên… bụng đói, thậm chí mùi hôi thân thể vì đã gần một tuần thiếu… tắm! 

Cúp điện, mất điện, lẽ dĩ nhiên là nhiều hãng, xưởng cũng nhốn nháo đóng cửa. Các cơ quan hành chính của chính phủ cũng khó khăn trong việc làm việc, giải quyết bức xúc của người dân bởi điều quan trọng nhất là nguồn năng lượng để hàng loạt máy tính và mạng lưới internet hoạt động, nơi chứa hàng triệu dữ liệu cần thiết cho hoạt động của các cơ quan chính phủ. Tất nhiên, những cơ quan chính phủ, hay các tổ chức, bệnh viện đều có trang bị hệ thống máy phát điện riêng, nhưng vẫn không thể sử dụng lâu dài, với hoạt động và sự cần thiết của hàng ngàn, hàng triệu người dân đang nóng lòng, chờ giải quyết những việc liên quan đến an sinh xã hội. 

Nhắc đến máy phát điện, trong cuộc sống hiện nay, nhiều nhà riêng của dân, khá giả, có điều kiện, đều có thể sắm và trang bị cho gia đình mình một máy phát điện riêng, chí ít là một máy phát điện mi-ni, cỡ nhỏ. Song máy phát điện cũng chỉ sử dụng cho một thời gian ngắn, hay những dụng cụ có công suất điện năng nhỏ. Điều tệ hại, là khí thải do máy phát điện thải ra ngoài không khí rất nguy hiểm và độc hại. Bởi thế, mà trong suốt thời gian mất điện, thỉnh thoảng điện thoại lại reo lên inh ỏi, báo tin nhắn “khẩn cấp” của Sở cảnh sát, cảnh báo người dân không sử dụng máy phát điện để trong nhà! Phải đặt xa cửa ra vào, cửa sổ, và đặt xa nhà ít nhất là 20 feet! Người già, trẻ em, phải tránh xa, luồng khí thải của máy phát điện, vì đó là loại khí rất độc hại, có thể làm chết người như chơi. Và nếu thực tế, trong một khu dân cư, giả sử có vài chục căn nhà, nhà nào cũng “chơi” cái máy phát điện, thì chắc… nguyên “xóm” không chóng thì chày cũng “ngõm củ tỏi” vì ô nhiễm và…điện hại! 

Ai đã từng mong ngóng, chờ đợi, khi nhà bị cúp điện, mất điện mới hiểu và thông cảm cho những “nạn nhân” bất đắc dĩ của điện. Trông ngóng, mong chờ còn hơn thuở “mong mẹ đi chợ về”, ra, vô, bật công tắc… đèn, rồi ngồi đặt ra hàng lô, hàng lốc câu hỏi, tại sao thế này, tại sao thế nọ. Một nước Mỹ hùng cường, giàu mạnh mà… “dở ẹt” vì cúp điện, mất điện. Tại sao còn “cổ lổ sĩ” đi dây điện trên mặt đất, trên đường, để gió giật, cây gãy đổ làm ảnh hưởng? Tại sao không đi âm dưới lòng đất cho đỡ bị… thiên tai? Kiểu than thân, trách phận rồi oán… giận luôn mấy công ty điện lực của Huê Kỳ. Bụng dạ lầu bầu: “Qua cái đận này, dứt khoát sẽ bái bai, công ty…a, b, c này để nhảy qua công ty a, b, c… phẩy cho sướng”. Rồi bấm điện thoại, hỏi thăm chỗ này, chỗ nọ, xem người thân, bạn bè đã có điện chưa mà… thèm và ao ước! 

Trong khi hàng triệu người dân bị mất điện mà như ngồi trên đống… bùng nhùng của dây điện, trách cứ ông nhà đèn, thì một anh bạn làm nhân viên ở một công ty điện lực lớn của tiểu bang cũng như ngồi trên… lò lửa. Anh bạn than vãn, điện thoại anh liên tục bị… khủng bố bởi hằng hà lô lốc người quen, thân nhân, bạn bè, gọi đến “hỏi thăm” chừng nào có điện, đến nỗi anh phải tắt luôn điện thoại để khỏi bị quấy rầy! Anh còn cho biết, cả chục cái điện thoại của công ty, ngày nào cũng bị “cháy máy” vì hàng ngàn cuộc gọi của người dân gọi đến chất vấn, than vãn thậm chí… chửi rủa một cách thậm tệ, trong khi công ty đã điều hết lực lượng công nhân, xe cộ trực tiếp xuống từng khu vực mất điện để kiểm tra và sửa chữa. Chưa kể còn liên kết với các tiểu bang lân cận nhờ đưa người đến giúp sửa chữa các lưới điện.

Trên đường đi, người viết đã tận mắt chứng kiến hàng ngày, từng đoàn xe cẩu, xe nâng, xe chuyên dụng của ngành điện lực, sơn màu trắng, nối đuôi nhau chạy đến các khu vực bị mất điện, hay bị cúp điện vì giông bão. Họ tất bật từ sáng sớm đến chiều tối, sửa chữa các trạm biến thế, hệ thống dây trên cao, kể cả hệ thống dây ngầm dưới mặt đất. Vừa sửa chữa hệ thống điện, vừa dọn dẹp, cưa, chặt những hàng cây gãy đổ, cuốn theo hệ thống lưới điện, vô cùng vất vả. Mới hiểu và thông cảm với ngành điện. Họ mới chính là những người ngồi trên… chảo lửa. “Tứ bề thọ… dây điện và cả những trách móc, giận dữ” của người dân. Quả thực, càng lắm “hiện đại” càng dễ bị… “ điện hại” là những lúc như thế này đây.

Có người muốn chuyển sang xài điện năng lượng mặt trời, đỡ bớt dây nhợ. Nghe đồn, tiểu bang cũng khuyến khích và hổ trợ người dân lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời. Nhưng, bão giông, lốc xoáy, cuồng phong hay băng tuyết cũng đâu có tha những tấm pin năng lượng, hay đè sập, thổi bay mái nhà, cuốn luôn cả hệ thống kính lắp đặt? Thiên tai thì chỉ biết… “Trời kêu ai nấy dạ” thôi.

Bỗng toàn bộ căn nhà… sáng rực lên, quạt trần, máy lạnh cùng đồng loạt lên tiếng. Đám trẻ hò reo: “There’s electricity!” (Có điện rồi), như khi còn ở quê nhà. Hạnh phúc bỗng vỡ òa, choáng ngợp…

Chính Vũ

Canh bạc của Tập Cận Bình!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 7th, 2020

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Vũ Hán là thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc với 11 triệu dân nằm ở ngã ba sông Dương Tử và sông Hán.

Xưa giờ bà con mình, đôi khi chỉ biết địa danh Vũ Hán qua bài thơ thất ngôn bát cú ‘Hoàng Hạc Lâu’ của Thôi Hiệu (704–754) thời nhà Ðường.

Nếu là dân lưu lạc tha hương như chúng ta, ai cũng biết hai câu kết là:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu!’

Nhà thơ Tản Ðà đã dịch lại, một cách trác tuyệt, bằng hai câu lục bát là:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn.

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.”

Tuy nhiên từ cuối tháng Chạp, năm 2019 tới nay, Vũ Hán, (tiếng Anh là Wuhan) được dân toàn thế giới biết đến không phải do bài ‘Hoàng Hạc Lâu’ của nhà thơ Thôi Hiệu, mà do con ‘2019 novel coronavirus’ (2019-nCoV), thường gọi là ‘Coronavirus Wuhan’; mà Hoàng đế Tàu muôn đời Tập Cận Bình gọi nó là con ác quỷ.

Vài loại virus được đặt tên theo chỗ hay nơi đầu tiên phát hiện ra nó

Như MERS, viết tắt của Middle East Respiratory Syndrome (Hội chứng bệnh hô hấp Trung Ðông hay).  Hoặc ‘Virus Ebola’, tên một con sông ở nước Cộng hòa Dân chủ Congo bên Phi Châu.

Còn “Coronavirus Wuhan”, hình dạng giống như vương miện (corona), vẫn chưa được chánh thức có tên.

Con ‘Coronavirus Wuhan’ nầy đã làm 6,000 người mắc bệnh và 132 người đã chết. Người dân Trung Quốc đang hoảng loạn; vì một người nhiễm bệnh có thể lây cho tới 2.6 người khác; số ca nhiễm bệnh mỗi ngày tăng lên tới 30%.

Vũ Hán là đầu mối giao thông về đường sắt cao tốc Bắc Kinh-Quảng Châu (Bắc xuống Nam) và Thượng Hải-Thành Ðô (từ Ðông sang Tây). Rồi phi trường quốc tế Vũ Hán có tới 29 triệu lượt hành khách bay đi tới 109 điểm thuộc 20 nước khắp năm châu như London, Moscow, Paris, Rome, New York, San Francisco, Bangkok, Tokyo and Seoul.

Thời điểm xảy ra cơn đại dịch nầy lại trúng vào ngày Tết Âm lịch. Cả trăm triệu người dân Tàu về quê ăn Tết hay ra nước ngoài du lịch mang theo ‘Coronavirus’ nầy đi gieo rắc khắp nơi.

Tòa Lãnh sự Mỹ ở thành phố Vũ Hán đã đóng cửa. Bộ Ngoại giao Mỹ đã cảnh báo cấp 4 với công dân của nước mình là: “Ðừng đi tới tỉnh Hồ Bắc!”

Còn ai lỡ tới Vũ Hán rồi thì Mỹ cho máy bay Boeing 767 với 240 chỗ qua chở dân mình về California, USA.

Ðàn anh Mỹ làm vậy; đàn em Úc bắt chước làm theo, chuẩn bị cho máy bay qua rước công dân Úc về trong đó có ít nhứt khoảng 100 trẻ em.

Tranh Bảo Huân

Hiện tại không có loại thuốc nào hiệu nghiệm để tiêu diệt được loại virus này. Còn thuốc chủng ngừa, theo các chuyên gia về Y tế của trường Ðại học Queensland Úc Châu, phải mất ít nhứt 4 tháng nữa mới có. Trong khi đó các chuyên gia Y tế của nước Mỹ tiên liệu cần phải tới một năm.

Thế nên trẻ con, người già, những người bị bạo bệnh trong quá trình hồi phục, có hệ miễn dịch yếu phải tự bảo vệ mình bằng cách tránh tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm bệnh; tránh đến những chỗ đông người.

Rồi vệ sinh thường thức như: rửa tay, che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi, và khử trùng các bề mặt khi bạn chạm vào. Nếu cần thiết thì phải đeo khẩu trang. (Chính vì vậy mà các nhà thuốc Tây ở Footscray nầy đây khẩu trang đã bán sạch bách rồi; phải đặt hàng tới tuần sau mới có).

Bộ Y tế Úc muốn người dân tỉnh táo nhận thức được vấn đề, nhưng họ cũng muốn ngăn chặn sự hoảng loạn không cần thiết.

Tuy vậy có một số trường tư ở Sydney và Melbourne buộc học sinh đứa nào mới về Trung Quốc ăn Tết trở qua, trước khi nhập học vào đầu niên khóa thì đừng đến trường trong 14 ngày; rồi phải có giấy chứng nhận của bác sĩ mới được vào lớp học.

Hành động nầy bị các chuyên gia về Y tế Úc cho rằng làm hơi quá!

Nhưng trường tư thường dành cho con em nhà giàu nên thủ cẳng và thủ kỹ như vậy cho chắc ăn!

Trong khi đó thì Tàu Cộng cố che giấu dịch viêm phổi Vũ Hán. Nhân Dân nhựt báo cố tình đăng ‘video’ bệnh nhân khỏi bệnh vui mừng ra dấu hiệu chiến thắng giữa 4 nhân viên y tế mặc đồ bảo hộ.

Chuyện trớ trêu là Vương Nghiễm Phát, người đứng đầu nhóm các nhà nghiên cứu được Bắc Kinh cử đi điều tra tình hình, ngày 11, tháng Giêng, năm 2020 nói rằng: “Dịch bệnh đã được kiểm soát!” Nhưng chính ông ta sau đó bị chẩn đoán là đã nhiễm virus.

Rồi ngay giữa khủng hoảng, một cuộc họp đảng lớn của tỉnh Hồ Bắc vẫn được tổ chức ở Vũ Hán và hơn 40,000 gia đình được mời tham dự một bữa tiệc trong nỗ lực lập kỷ lục thế giới.

Thiệt là quái đản!

Các quan chức CS luôn nói dóc, che giấu nhằm hạ thấp mức nghiêm trọng của vấn đề vì không muốn gây tổn hại đến kinh tế và ổn định xã hội để họ được thăng quan tiến chức. Ðể khi nghe về nó, và khi vấn đề đã đến chính quyền trung ương, thì nó đã là một vấn đề lớn rồi.

Chủ tịch thành phố Vũ Hán, Chu Tiên Vượng, lên truyền hình mếu máo, biện minh là: “Luật pháp Trung Quốc về các bệnh truyền nhiễm, trước tiên chính quyền địa phương cần báo cáo ổ dịch cho Bộ Y tế, sau đó được sự chấp thuận của Trung Ương trước khi có thể đưa ra thông báo.

Tên tuổi của chúng tôi sẽ bị gắn liền với vết nhơ, nhưng miễn là việc kiểm soát dịch và bảo đảm an toàn cho người dân có hiệu quả hơn, tôi và đồng chí Mã Quốc Cường (Bí thư Thành ủy Vũ Hán) sẵn sàng chịu mọi trách nhiệm”.

Nghĩa là hai tên đầu têu ở Vũ Hán nầy xin nằm cúi xuống cho Tập Cận Bình đét đít, rồi đuổi về chăn gà cho vợ.

Ðiều tức cười là hai đứa ra lịnh cho dân khi ra chỗ công cộng là phải mang khẩu trang; nhưng tay Bí thư cứ để mặt trần, trụi lủi; còn tay Chủ tịch mang khẩu trang ngược.

Chú, Thiếm Ba chửi um sùm. Ngu dốt như vậy mà Ðảng lãnh đạo cái giống gì hè?

Dân không tin quan nói; khi thấy trên các trang mạng xã hội người bệnh tay gắn ống truyền dịch, ngồi cạnh những bình oxy gần ba thi thể phủ vải trắng. Các bệnh nhân đeo khẩu trang gục ngã ngoài đường.

Nên hàng trăm người dân rồng rắn chen chúc trong các hành lang bệnh viện để chờ tới lượt điều trị làm nguy cơ lây nhiễm lẫn nhau lại cao hơn.

Nghiêm trọng tới chừng đó, quan chức CS mới quắn ‘đít’ lên, cấm tất cả các chuyến bay và xe lửa ra khỏi thành phố Vũ Hán.

Trung Quốc đã đặt gần 60 triệu người, nhiều hơn cả dân số Hàn quốc vào tình trạng cách ly một phần hay toàn phần. Công nhân về quê ăn Tết bị cấm trở lại thành phố làm việc.

Các thành phố trực thuộc tỉnh Hồ Bắc, và hơn 15 thành phố lớn thuộc tỉnh khác đã trở  nên thành phố ma. Ðường phố vắng tanh, thưa thớt bóng người qua lại.

Thị trường chứng khoán Mỹ, Âu Châu, Tokyo Hong Kong giảm mạnh

gần 2%, mức lao dốc tồi tệ nhất trong năm.

Chưa có bằng chứng nào cho thấy con virus nầy truyền qua hàng Trung quốc xuất cảng; nhưng nền kinh tế nước Tàu đã bị thiệt hại rất nặng nề!

Mùa Cúm bên Trung quốc năm nay tệ hại rất nhiều vì con Coronavirus Wuhan lây lan với tốc độ chóng mặt, gây ra rất nhiều hậu quả xấu về văn hóa, kinh tế, chính trị cho Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo rất lôm côm và lu bu của đảng CS.

Phải thân chinh nắm quyền chỉ huy các hoạt động chống dịch bệnh là Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình đang đánh một canh bạc rất lớn, ít may nhiều rủi cho sanh mạng chánh trị của mình. Ðược ăn cả, ngã về không!

Nếu thắng, dập tắt được dịch bệnh ‘Coronavirus Wuhan’, thì ghế Chủ tịch của Tập vững như bàn thạch… cho tới cơn dịch tới.

Bằng thua, thì Tập Cận Bình ắt phải về đuổi gà cho vợ thế thôi!

Ðuổi gà chớ không phải chăn heo. Vì heo Trung Quốc năm nay đã bị Dịch tả Lợn Châu Phi làm chết hết ráo rồi thì còn đâu nữa mà chăn?

ĐXT

Melbourne

Sumaco!

baotreonline.com
Đoàn Xuân Thu

August 3rd, 2024

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Nằm ở Bắc Phi (North Africa), giáp với Đại Tây Dương (Atlantic Ocean) và Địa Trung Hải (Mediterranean Sea), tiếng Anh: The Kingdom of Morocco. Tiếng Pháp: Maroc. Tiếng Việt là Ma Rốc.

Ma Rốc từng là một thuộc địa của Pháp suốt 44 năm dài, từ năm 1912 đến năm 1956. Nhưng Lục tỉnh Nam Kỳ chìm trong vòng nô lệ tới hơn cả trăm năm.

Cùng thân phận nhược tiểu, thuộc địa của thực dân Pháp, cùng thời gian; nên Lục tỉnh Nam Kỳ cũng không xa lạ gì với Ma Rốc.

Bằng cớ: nói không ai hiểu là nói tiếng Ma Rốc. Ma Rốc nói lái là ‘móc ra’. Cữ nhậu nầy tới phiên mình trả. Nhậu chực hoài ai chơi với mình?

Người Việt, trong đó có tui, nhớ tới Ma Rốc vì Ma Rốc sản xuất hộp cá mòi Sumaco tui ăn hồi còn chút éc.

Cá mòi, tiếng Anh ‘sardine’, loài cá dầu nhỏ thuộc họ cá trích. Tên Sardine được đặt theo một hòn đảo Sardina trong Địa Trung Hải (Mediterranean Sea), vùng biển có rất nhiều cá sardine, cá mòi.

Là nước xuất cảng cá mòi đóng hộp nhiều nhứt thế giới, 600,000 tấn/năm, hơn 62% sản lượng đủ loại cá, Ma Rốc đánh bắt được.

Cá mòi Sumaco được sản xuất tại tỉnh Agadir, ven Địa Trung Hải. Agadir cách thủ đô Rabat của Morocco khoảng 466 km về phía tây nam.

Trong một hộp cá mòi (sardine in tomato sauce) của Ma Rốc, có cá mòi (Sardines) loại cá nhỏ, thịt trắng và sốt cà chua (tomato sauce) làm từ cà chua tươi, bóc vỏ, bỏ hạt, nghiền nhỏ được nấu chung với tỏi, dầu ô liu, húng quế, ngò và gia vị Maroc như tiêu và ớt paprika.

Bản đồ Ma Rốc 

Vào thế kỷ 19, Pháp xua quân chiếm nhiều nước trên thế giới làm thuộc địa để bóc lột tài nguyên, trong đó có Việt Nam và Ma Rốc. Pháp đã xây dựng các công ty sản xuất cá mòi tại Ma Rốc. Rồi cá mòi của Maroc được vận chuyển đi phát cho lính Pháp ở Việt Nam. Tuy nhiên, ăn hoài cũng ngán, lính Lê Dương Legionnaire (Légion étrangère) đem bán cho dân địa phương. Thế là, người Việt mua Sumaco một món xa xỉ mà ai cũng muốn được ăn thử một lần.

(Rồi sau tháng Tư, 1975, thuyền nhân Việt Nam tị nạn CS vượt biển đến được Đảo Galang, trong quần đảo Batam, Indonesia. Hay Pulau Bidong ở Kuala Terengganu, Malaysia.

Trong khẩu phần lương thực được Cao Ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc phát mỗi ngày: có cả cá mòi đóng hộp. Ăn hoài tất ngán, bà con mình đem hộp cá mòi đi đổi lấy cá tươi của ngư phủ địa phương.)

Lâu lâu, bữa nào siêng siêng, tui đẩy ‘trolley’ cho em yêu đi Coles supermarket Footscray. Tui hay thấy mấy bà Úc đen, ú nu như con hà mã, mua Tuna trong dầu Olive hộp 185g giá $2.20. Còn em yêu mua về một hộp cá mòi Sumaco của Morocco nặng 125 gr giá $1.75 với hai ổ bánh mì. Tui nịnh em: “Đi chợ giỏi ghê; biết lựa mua cá mòi của Ma Rốc vừa ngon, vừa rẻ!”

Bấy lâu nay, tui nghe mấy nhà tâm lý dạy tui là đàn bà, con gái, nhứt là người Việt mình, khoái nịnh lắm. Nghe nịnh là mấy em sướng tỉ tê, nhắm mắt để mật rót vào tai đến nỗi không thấy đường đi. Chính vì vậy trong kho ngữ vựng tiếng Việt mới có chữ ‘nịnh đầm’. Tụi Tây có chữ ‘galant’.

Nhưng anh giáo dạy trường Việt ngữ thứ bảy chê tui ngu. Ảnh giảng: nịnh là khen dóc; đầm là phụ nữ. Nịnh đầm, tiếng động từ, khen, ca ngợi, tâng bốc phụ nữ một cách quá mức, không chân thành để lấy lòng em đem về xào khóm nhậu chơi. Nịnh đầm là nói dóc, không chân thật mà là chân giả (dối).

Còn ga lăng (galant), mượn từ tiếng Pháp, có nghĩa là lịch duyệt, là vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa. Anh nào biết ga lăng tất sẽ đào hoa. Lúc đó được mấy em mê tít thò lò thì mặc tình mà đào mỏ, làm Casanova cho ấm cái tấm thân ‘ròm’.

Giacomo Casanova người Ý, sinh ra tại Venice đào hoa, tưng bừng gái gú bu như ruồi nhưng em nào cũng tin như bắp nướng là ảnh yêu chỉ một mình em. Còn mấy con ngựa bà khác ảnh chỉ qua đường ghé lại mà thôi.

Bánh mì cá sumaco

Tui hỏi email của Casanova để xin làm đệ tử. Anh giáo bĩu môi nói: Chừa chỗ cho người ta dốt với. Trình độ lèng èng cỡ anh thì sức mấy? Dẻo miệng cỡ tui thì may ra. Nhưng ổng chết mấy mươi đời vương rồi. (1725-1798).

Em yêu của tui dĩ nhiên rất khoái nịnh. Ngày nào không nghe nịnh là em ăn cơm nuốt không trôi. Em nói và biểu tui không được cãi: “Sumaco của mấy thằng hải tặc Thái Lan mắc gấp đôi của người ta. Cho em, em đem đi vụt thùng rác.

Vậy là em mua một hộp cá mòi Sumaco của Ma Rốc về làm điểm tâm. Lửa vừa, em yêu đổ dầu ăn, tỏi vào chảo. Thêm hành tây, chút muối xào trong vài phút cho thơm. Thêm cá mòi với nước sốt cà chua, đường, nửa muỗng cà phê tiêu và 3 muỗng canh nước. Đun sôi và để nhỏ lửa trong 2 phút rồi tắt bếp. Em phết bơ bánh mì, trút cá mòi vào với ngò rí và một nhúm tiêu đen.

Món cá mòi bánh mì của em yêu ngon hết xẩy. Bữa điểm tâm, sáng, nhưng về hưu rồi, đâu có đi cày, cuốc gì, bịnh gì mà cữ? Tui uống beer, ăn cá mòi, hành tây ngâm giấm. Ngà ngà say, tui chui vô phòng để ngáy pho pho mơ về quê cũ.

Nước Úc với nền văn hoá đồ hộp dành cho dân “low income”, dân thu nhập thấp, dân nghèo như tui. Trái lại, quê mình hồi xưa, dân có tiền mới được ăn đồ hộp nhập cảng từ bên Tây.

Tui thời thơ ấu, ba tui làm Bưu Điện, hôm nào phải trực về trễ ba hay mua đồ ăn về cho vợ, cho con. Bữa ba mua bánh gan, bánh da lợn của em Thuý bán trên lề đường Trưng Trắc Mỹ Tho. Bữa ba mua một hộp cá mòi Sumaco với mấy ổ bánh mì về cho con. Má vẫn chờ ba về để ba má ăn cơm chung.

Hộp cá mòi Sumaco của Ma Rốc đối với người xa xứ, già như tui, gợi lại những hồi ức sâu đậm về thời thơ ấu. Tui nhớ cá mòi Sumaco rắc tiêu ăn với củ hành xắt lát mỏng ngâm giấm và bánh mì mới nướng.

Thương thằng em, chia cho mầy một miếng. Để ba mất, anh em mình đều khóc. CS vào thôi đã hết những ngày vui.

ĐXT

Hệ lụy cháy rừng

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 1st, 2020

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Cobargo, tên do thổ dân đặt, là một ngôi làng nhỏ, chỉ có 776 người dân, nằm trong thung lũng Bega, cách thủ phủ Sydney, tiểu bang New South Wales, Úc Châu, 386km về phía Nam, trên quốc lộ Princes, cách bờ Thái Bình Dương tại Wapagui 19.4km.

Nhờ một cây cầu mới cất bắc qua suối Narira, con đường đâm ra biển vào những năm 1880, Cobargo phát triển.

Tuy nhiên thị trấn nầy đã bị suy tàn trong phần lớn thế kỷ XX. Nhưng hơn 20 năm trở lại đây, Cobargo đã hồi sinh trong lụi tàn; từ một làng quê sơn dã buồn thiu, buồn hiu hắt, thành một điểm du lịch nổi tiếng.

Xui xẻo thay thảm họa cháy rừng lại ập đến, tràn vào thung lũng vào đêm Giao thừa năm 2019 đã làm nhiều nhà cháy rụi, 3 người chết. Thị trấn lại điêu tàn trong trong khói lửa.

Hôm Mùng Hai, tháng Giêng, năm 2020,  khi tới thăm Cobargo, ông Thủ tướng Úc Scott Morrison tới gần một phụ nữ 20 tuổi, đang mang thai, chìa tay ra rồi hỏi: “Cô có khỏe không?”

Cô này không mấy mặn mà và nói: “Tôi chỉ chịu bắt tay nếu ông cấp thêm tiền cho RFS (Dịch vụ chữa cháy miền quê) của chúng tôi. Quá nhiều người đã mất nhà cửa. Chúng tôi cần giúp đỡ nhiều hơn”.

Rồi có một bà, tay dắt theo một con dê, hét vào mặt ông Thủ tướng: “Thật là bất công! Chúng tôi hoàn toàn bị lãng quên. Lần nào xảy ra cháy rừng hay lũ lụt, chúng tôi cũng không nhận được gì cả! Nếu chúng tôi sống ở Sydney thì đồ cứu trợ đã ùa tới tràn ngập rồi!”

Và một ông, tay dắt theo một con chó, miệng xài giấy năm trăm, khi đài Truyền hình phát đi cái ‘video clip’ nầy, phải cắt đi tiếng chửi thề ỏm tỏi của ông nhắm vào Thủ tướng Úc

“Ông tới đây làm gì? Không ai bỏ phiếu cho ông cả! Ông đúng là một thằng ngốc!”

Ông Thủ tướng Morrison quê quá bỏ đi một nước, tới hỏi thăm một ông lính cứu hỏa tình nguyện đã già, đang ngồi nghỉ trên ghế. Ông nầy chẳng thèm đứng dậy, còn từ chối bắt tay và cũng không buồn tiếp chuyện ông Thủ tướng.

Ông Morrison lúng túng cầm lấy tay ông nầy vỗ vai rồi lại bước đi! Ra ngoài, Thủ tướng Úc hỏi giới chức địa phương tháp tùng: “Thằng cha đó làm sao vậy? Bộ thằng chả mệt hả?”

Thì ông Hội tề nầy trả lời: “Không phải tại mệt đâu! Nhà ổng bị cháy rụi trong khi ông ấy lo cứu nhà của người khác đó!”

Khi ông Morrison đi thị sát quanh thị trấn, người dân lại tiếp tục la ó phản đối ông. Trước làn sóng tẩy chay, xua đuổi của người dân địa phương, Thủ tướng Scott Morrison và Bộ trưởng phụ trách Thiên tai David Littleproud phải lên xe BMW vọt mất trong tiếng vỗ tay chọc quê  của người dân đuổi theo sau!”

Ông Littleproud ngay sau đó phải đưa ra các khoản cứu trợ khẩn cấp sẽ được gửi tới những người sống sót sau vụ cháy rừng tại thung lũng Bega. Người lớn sẽ nhận được 1,000 USD; trẻ em nhận được 400 USD. Những lính cứu hỏa tình nguyện, người đã bỏ công ăn việc làm đi chữa cháy, sẽ được cấp 300 đô mỗi ngày.

Hành động xuất ngân quỹ tức thời nầy nhằm xoa dịu cơn thịnh nộ của người dân đang đương đầu trong thảm họa!

Tại sao người dân Úc bùng lên cơn giận dữ? Chẳng qua là khi nạn cháy rừng năm nay bùng phát dữ dội hơn so với nhiều năm trước, sớm hơn cả tháng, giới truyền thông Úc, báo chí và truyền hình la bài hải, bố cáo thất tung: “Nhà đang cháy, lính cứu hỏa từ nơi rất xa như Canada, từ láng giềng New Zealand, xa nhà ngay cả trong mùa Lễ Giáng Sinh đoàn tụ gia đình để đến Úc giúp chữa cháy thì Thủ tướng của chúng ta đã biến đi đâu mất tiêu?”

Google photo

Sau qua trang mạng xã hội, dân Úc mới biết ông Thủ tướng nhà ta đang dắt vợ con đi Hawaii, Hoa Kỳ, tắm biển! Bị chỉ trích dữ dội, ông Thủ tướng phải xin lỗi dân Úc và vội vã bay về.

Cách đây chỉ mới vài tháng thôi, đêm Thứ Bảy, ngày 18, tháng Năm, 2019, Scott Morrison đã dẫn dắt Liên đảng Tự do và Quốc gia hạ đo ván đảng Lao động của Bill Shorten để thắng cuộc bầu cử Liên Bang mà giới truyền thông Úc bói trật lất rằng ông thua là cái chắc.

Ðêm đó, Morrison cười hí hí trước ống kính truyền hình, trước những cử tri ủng hộ là: “Tôi tin vào phép lạ!”

Nhưng phép lạ không đến hai lần mà họa thì tới tấp. Ðúng là phước bất trùng lai họa vô đơn chí.

Ông Morrison bị dân Úc cự nự tơi bời khi từ dinh Kirribilli, ngồi tréo ngoảy nhìn ra Cảng Sydney xem bắn pháo bông mừng năm mới trong khi lửa rừng đang khốc liệt tàn phá phía Ðông Nam, kéo dài từ tiểu bang Queensland, NSW, Victoria đến tiểu bang Nam Úc trong đêm Giao thừa vừa qua.

Diện tích vùng đang cháy và vùng bị ảnh hưởng lớn hơn bất cứ diện tích nước nào ở Tây Âu. Người dân buộc phải di tản, trong thời bình, lớn nhất trong lịch sử  nước Úc của chúng ta.

Họ mất niềm tin vào khả năng đánh giá và đáp ứng thỏa đáng với thảm họa nầy của chính phủ Morrison, khi mùa cháy rừng chỉ mới bắt đầu thôi mà mùa Hè nóng ác liệt còn kéo dài tới hai tháng nữa!

Chẳng ai ‘quởn’ để quan tâm đến Thủ tướng Úc đang gặp rắc rối riêng tư gì, khi ngôi nhà của họ đang bị đe dọa, cuộc sống của họ đang gặp nguy hiểm. Dân Úc chỉ muốn biết những gì mà chánh phủ đang được thực hiện để giúp họ?

Ngay cả một chính trị gia thuộc cùng đảng Tự do ở tiểu bang NSW, cũng chỉ trích ông Thủ tướng phe ta: “Nói thật, dân Cobargo đã đón ông ấy bằng thái độ như vậy cũng đáng đời cho ông ấy! ”

Cái khác nhau giữa chế độ dân chủ và độc tài ở cái chỗ: Dân chửi là chánh phủ (người đầy tớ của nhân dân đúng nghĩa) phải làm.

Bị dân Cobargo chửi tối tăm mặt mũi, Thủ tướng Scott Morrison đã ra lịnh cho Bộ Quốc Phòng, quân chủng Không quân điều phi cơ đến xịt nước vào những đám cháy đang đe dọa khu dân cư.

Quân chủng Hải quân Úc điều hải vận hạm di tản hơn 5,000 người bị bão lửa lùa ra bờ biển ở East Gippsland tiểu bang Victoria.

Quân chủng Lục quân điều 3,000 quân nhân Úc để tham gia vào việc cứu trợ đồng bào đang cơn hoạn nạn.

Sau thảm họa cháy rừng gây chết người năm nay, chắc chắn Quốc hội Liên bang Úc, sẽ theo yêu cầu của người dân, mà thành lập Ủy hội Hoàng gia độc lập để điều tra tận tường cái thảm họa cháy rừng nầy?

“Tại sao cháy? Cháy như thế nào? Chánh phủ đã đáp ứng ra sao? Cái nào làm đúng, cái nào làm sai? Ai chịu trách nhiệm để làm bài học cho tương lai. Chắc chắn sẽ có vài tai to mặt lớn phải về nhà đuổi gà cho vợ!

Năm 2018, tiểu bang California, Hoa Kỳ cháy 2 triệu mẫu Anh. Năm 2019, rừng Amazon nước Brazil, lá phổi của địa cầu, cháy 2.2 triệu mẫu Anh.  Năm 2019, vùng rừng thông vốn băng giá Siberia của Nga cũng cháy tới 6.7 triệu mẫu Anh.

Nước Úc năm nay rừng cháy nhiều nhứt lên tới 12 triệu mẫu Anh. “Nhà chúng ta đang cháy! Hãy hành động ngay bây giờ” là khẩu hiệu của những người dân Úc, cũng như nhân dân toàn thế giới, nhứt là những người tuổi trẻ, đang rầm rộ biểu tình chống biến đổi khí hậu.

Những chánh trị gia ích kỷ, chỉ bo bo nghĩ đến quyền lợi chánh trị của cá nhân mình, của đảng phái mình, của quyền lợi kinh tế nhứt thời mà phớt lờ cái thực trạng hành tinh xanh duy nhất của chúng ta đang bốc cháy; chắc chắn họ sẽ xét lại về chánh sách nếu không muốn cử tri cho về chăn trâu như ngày cũ.

Chống biến đổi khí hậu sẽ là động từ phải chia ở thì hiện tại để cho thế hệ tương lai!

Lại nhớ tới lời nhà hoạt động cho môi trường, một cô gái mới 16 tuổi, người Thụy Ðiển, Greta Thunberg thách thức các chánh trị gia thiển cận và ngoan cố! “How dare you?”

Hệ lụy cháy rừng ở nước Úc năm nay sẽ còn là cơn ác mộng dài dài đối với những kẻ vô tâm!

DXT

Melbourne