Miền đất dữ

vietmessneger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 29 

Sau khi bị bắt, Michael Corleone và Peter Clemenza được đưa tới nhà tù ở Palermo. Từ đó, họ được dẫn tới văn phòng của ngài thanh tra Velardi để hỏi cung.
Cùng có mặt trong phòng thẩm vấn, có sáu sĩ quan cảnh sát có võ trang cùng mình. Ngài thanh tra chào Michael và Clemenza với một vẻ lịch sự lạnh lùng. Và, ngài quay ra nói với Clemenza:
– Ông là công dân Hoa Kỳ. Ông mang giấy thông hành, nói là đến đây để thăm người anh, già Domenic Clemenza ở Trapani. Cứ như người ta nói với tôi thì ông Domenic là người rất đàng hoàng, đáng trọng nể. – Ngài thanh tra nói năng thì cũng vẫn như lời xã giao thông thường, nhưng trong giọng nói có cái vẻ mỉa mai, châm chọc. – Ấy vậy mà chúng tôi lại bắt gặp ông đi với cái anh Michael Corleone này. Ông lại còn mang vũ khí giết người ở một cái nơi mà chỉ trước đó vài giờ, tên cướp Guiliano bị sát hại. Ông trả lời sao?
– Tôi đang đi săn, – Clemenza trả lời, – tôi đang săn chồn và thỏ. Thế rồi tôi thấy có sự ồn ào, lộn xộn ở Castelvetrano, trong lúc tôi ngừng xe ở quán để uống cà – phê buổi sáng. Thế là tôi tò mò xem xét cái gì xảy ra. Có thế thôi.
Thanh tra Velardi cười gằn, mỉa mai:
– Ngộ nhỉ! Ở bên Mỹ, các ông thường quen đi săn thỏ bằng súng lục à?
Rồi, quay sang phía Michael Corleone, ngài thanh tra nói tiếp:
– Tôi và anh bạn, may mắn thay, ta có dịp gặp nhau rồi. Và cũng may mắn thay, tôi biết anh bạn có mặt ở đây để làm gì rồi. Và ông bạn mập, – ngài day đầu ra dấu về phía Clemenza, – cũng biết nữa. Nhưng cho mấy người hay, kể từ bữa ăn trưa thịnh soạn tại nhà Ông Trùm đến nay thì mọi sự đã đổi thay. Đổi thay nhiều lắm rồi. Thằng Guiliano đã bị hạ sát rồi. Mấy người là đồng mưu tổ chức cho nó tẩu thoát. Tao không còn bị đòi hỏi phải xử nhân đạo với lũ cặn bã như tụi bay. Hãy ký vào bản khẩu cung mà tao đã chuẩn bị đó
Đúng lúc đó, một sĩ quan cảnh sát đi vào. Ghé vào tai ngài thanh tra và nhỏ to cái gì đó. Velardi xẵng giọng, bực tức đáp:
– Cho nó vào.
Thì ra Ông Trùm. Lão ăn mặc cũng xập xệ chẳng thua kém gì bữa ăn trưa hôm nào đó. Cái bản mặt bì bì của lão nom càng lầm lì. Lão lạch bạch đi về phía Michael, ôm hôn hắn, bắt tay già Clemenza, rồi quay vào nhìn thẳng vào mặt người thanh tra, chẳng nói chẳng rằng. Cái sức mạnh thô bạo toát ra từ thân xác dềnh dàng của lão. Uy lực lồ lộ trên khuôn mặt và đôi mắt.
– Hai người này là bạn của tôi, – Lão nói, – Vì lý do gì mà ông lại đối xử với họ tệ như vậy?
Trong giọng nói không có vẻ gì giận dữ, không có một chút cảm xúc. Cứ như thể chỉ là một câu hỏi bình thường về một sự việc tầm thường. Nhưng cũng trong giọng nói đó có cái ý nghĩa khiển trách: “Trong vụ này chẳng có lý do gì để bắt giữ người ta”.
Ngài thanh tra nhún vai:
– Có gì hay không có gì, thì cứ ra tòa rồi biết.
Ông Trùm ngồi xuống chiếc ghế đặt bên cạnh bàn giấy của ngài thanh tra. Cặp lông mày gã nhíu lại. Lão nói, cố gắng để giữ cho giọng không có vẻ đe dọa:
– Thật vuốt mặt mà không nể mũi. Xin ông thanh tra vui lòng giúp tôi, gọi điện thoại cho ngài bộ trưởng xem ý kiến của ngài về vụ này ra sao?
Ngài thanh tra lắc đầu. Đôi mắt xanh của ngài không lạnh lùng, lãnh đạm, mà lộ vẻ khinh ghét.
– Giữa ông và tôi, – Ngài thanh tra giọng kiêu kì, khinh khỉnh, – Ta chưa bao giờ là bạn với nhau cả. Tôi phải đối đãi với ông theo cái cung cách mà từ trước đến giờ chẳng qua là do lệnh buộc phải như vậy. Nhưng, khi đã giết được thằng Guiliano rồi, thì lệnh đó cũng hết hiệu lực. Hai tên kia sẽ ra tòa. Và nếu tôi có quyền, thì chính ông cũng sẽ bị đưa ra tòa cùng với chúng nó nữa.
Đúng lúc đó, chuông điện thoại trên bàn giấy ngài thanh tra reo. Ngài thanh tra làm như không biết đến cú điện thoại ấy và ngài chờ câu trả lời của Ông Trùm. Nhưng Ông Trùm nói:
– Ngài cứ trả lời điện thoại đi. Có lẽ là ngài bộ trưởng Trezza gọi cho ngài đó.
Ngài thanh tra từ từ nhấc ống nói. Hai mắt nhìn trừng trừng vào Ông Trùm. Ngài nghe, và sau đó nói vào máy:
– Dạ vâng, thưa ngài bộ trưởng.
Và cúp máy. Ngài ngồi phịch xuống ghế và nói với Michael và Clemenza:
– Hai người được trả tự do.
Ông Trùm đứng dậy, dẫn Michael và Clemenza ra khỏi phòng. Vừa như có vẻ đuổi ra khỏi phòng, vừa như có vẻ của con gà mái bao tre lũ gà con tán loạn, hoảng sợ, lão quay lại, nói với ngài thanh tra, giọng bình tĩnh, nhỏ nhẹ:
– Suốt năm qua, tôi đã đối đãi với ngài thanh tra một cách hết sức lịch sự, trọng thể, mặc dù ngài chỉ là người “ngoại quốc” trên xứ Sicily của tôi. Ấy vậy, mà trước mặt bè bạn tôi, trước mặt các sĩ quan thuộc cấp, đồng sự của ngài, ngài lại tỏ ra khinh khi tôi. Nhưng, tôi không phải là người ưa chấp nê. Tôi mong trong một tương lai gần đây, ta lại được ngồi ăn với nhau một bữa, để đối lại cái chỗ bạn bè xưa và hiểu lòng nhau hơn.
Năm ngày sau, giữa ban ngày, ban mặt ngay tại một đại lộ đông đúc của thủ phủ Palermo, ngài thanh tra đã bị ám sát. Chết.
Hai ngày sau, Michael về tới nhà, bên Mỹ. Trong bữa tiệc gia đình, có đủ mặt mọi người, ông anh Fredo bay từ Las Vegas về. Có cả vợ chồng Conie – Carlo, vợ chồng Clemenza, vợ chồng Tom Hagen. Michael nhừ người ra vì bị ôm, hôn, chuốc rượu. Họ tíu tít, ríu rít bình luận nom Michael lúc này ra sao. Không ai đả động gì đến hai năm lưu vong của nó, dù là bóng gió, xa xôi. Không ai đả động gì đến cái mặt nhăn nhúm méo mó của nó. Không ai dám đả động đến cái chết của Somny. Đó là buổi sum họp gia đình. Cứ như thể sau thời gian ở ký túc xá đại học hay là đi nghỉ hè xa và dài hạn trở về thôi. Michael được xếp chỗ ngồi ngay bên cạnh ông bố.
Thế là sau bao nhiêu khó khăn, nguy hiểm, hắn đã về đến nhà. Bình yên, Mạnh khỏe.
Sáng hôm sau, Michael ngủ dậy trễ. Đó là lần đầu tiên, sau hai năm xa nhà, giấc ngủ của hắn mới là ngủ thực sự. Bà mẹ đã dọn ăn sáng. Và chờ. Bà hôn hắn, khi hắn ngồi vào bàn. Một dấu hiệu bất thường để tỏ lộ lòng âu yếm của bà. Trước đó, cũng chỉ có một lần bà làm như vậy, ấy là sau thời chiến tranh, khi hắn giải ngũ trở về.
Ăn sáng xong, Michael đến thư phòng và đã thấy ông bố ngồi chờ ở đó. Hắn ngạc nhiên khi không thấy Tom Hagen luẩn quẩn ở đó. Hắn cho là chắc ông bố muốn nói chuyện riêng với hắn.
Bố Già Corleone trịnh trọng rót hai ly rượu hồi, trao cho y và nói:
– Uống mừng cho cái sự cùng hội cùng thuyền của cha con mình!
Michael nâng ly rượu lên môi:
– Cám ơn bố, con có nhiều điều phải học hỏi bố.
– Mà mình cũng còn chán thì giờ. Và bố ở đây để dạy con đó!
Bố Già Corleone trịnh trọng ngồi xuống và làm một hớp rượu đầy.
– Câu chuyện thật cũng đáng buồn. Lúc đó bố cũng hy vọng là nó trốn thoát được. Ông bà già nó đã là bạn tốt của bố.
– Con không sao hiểu được câu chuyện quái quỷ ấy. Con không sao hiểu được bên nào đúng, bên nào sai. Bố nói cho con biết cái bộ mặt thật của lão Croce, nó ra làm sao, mà Guiliano lại ghét lão thậm tệ đến vậy. Con nghĩ là bản chúc thư của nó đã nằm trong tay bố thì tụi nó không còn dám giết Guiliano nữa. Vậy mà tụi nó vẫn cứ thịt. Nếu bây giờ mình tung cái chúc thư ấy ra cho báo chí thì có phải đúng là tụi nó tự cắt họng tụi nó không?
Michael thấy ông bố nhìn nó, lạnh lùng.
– Đúng típ Sicily, – Bố Già nói, – lừa lọc kẻ lừa lọc, bội phản kẻ bội phản!
– Lão Croce và chính quyền phải trả giá đậm cho Pisciotta à?
Chắc chắn là thế.
Michael vẫn còn thắc mắc:
– Tại sao họ lại làm như vậy. Mình đã có bản chúc thư với đầy đủ tài liệu chứng minh chính quyền đã “đi đêm” với Guiliano. Khi mình tung cái này ra cho báo chí, báo chí không sướng rên lên ấy chứ. Nó không tranh nhau mà vồ lấy tin này ấy chứ. Tin bạc triệu chứ đâu ít. Và, chính quyền của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo đứng sao nổi với cái tin động trời này? Tại sao tụi nó lại không nghĩ như thế nhỉ. Bộ chánh quyền Ý không cảm thấy gì sao.
Bố Già mỉm cười:
– Tài liệu ấy vẫn sẽ được giữ kín. Mình sẽ không tung ra cho báo chí.
Phải mất cả mấy phút Michael mới nắm được cái ý nghĩa của điều mà “Bố Già” vừa nói đó. Và, lần đầu tiên trong đời, hắn cảm thấy tức giận ông bố của mình. Mặt hắn trắng bạch ra.
– Vậy là bố và lão Croce đã thông đồng với nhau rồi, hả? Thế có nghĩa là con đã phản bội thằng Guiliano, chứ không phải là đã giúp đỡ nó, hả? Nghĩa là con đã nói dối ông bà già nó, hả? Vậy là chính bố cũng đã phản bội bè bạn của mình, đẩy con họ vào chỗ chết hả? Vậy là bố đã xài con như một thằng khùng, một thằng Judas, một con dê tế thần, hả? Trời đất ơi, Chúa ơi! Guiliano là một con người hiền lương, đôn hậu. Một anh hùng thứ thiệt của đám dân nghèo Sicilian, không, ta phải trả thù cho nó. Ta phải tung cái bản chúc thư ấy cho báo chí.
Bố Già cứ ngồi lặng thinh để hắn xổ một thôi một hồi. Rồi lão từ từ đứng lên và đặt tay lên vai hắn:
– Nghe bố nói đây. Thật ra, mọi sự đã được chuẩn bị để cứu thoát Guiliano đấy chứ. Bố không hề thương lượng điều gì với lão Croce để phản bội Guiliano hết. Máy bay đã chờ sẵn. Clemenza được chỉ thị phải giúp đỡ con hết mình. Chính lão Croce cũng muốn Guiliano trốn thoát. Vì đó là cách dễ nhất. Nhưng chính Guiliano thề là sẽ trả hận. Nó có sang đây thì cũng chỉ là nấn ná đợi dịp thuận tiện là làm. Quyết làm cho bằng được. Nó có thể gặp con sớm hơn vài ngày, thế mà nó vẫn nấn ná để chơi vố trót. Ấy, chính vì thế mà chính nó hại nó.
Michael rời ông bố, đến ngồi trên một chiếc ghế bành bọc da.
– Thế còn lý do tại sao bố lại không chịu tung bản chúc thư kia ra. Vậy, đã rõ là có sự thông đồng, thương lượng, chứ còn gì nữa?
– Phải, cái đó thì có. Con nên nhớ rằng khi con bị đặt bom – may mắn con không bị mà chỉ có vợ con của con bị – bố và bạn bè của bố đã tưởng không sao có thể bảo vệ cho con ở Sicily nữa kia. Càng ngày chúng càng nhằm kỹ vào con, để mưu hại. Bố phải làm mọi cách để đảm bảo cho con được an toàn mà về đến nhà. Bởi vậy, bố đã phải thương lượng với lão Croce. Lão sẽ bảo vệ con. Phần bố, bố sẽ phải khuyến dụ Guiliano để sao cho nó đừng tung tài liệu ấy cho báo chí, một khi nó ở bên Mỹ này.
Michael thấy muốn phát ốm, khi nhớ lại mình là người độc nhất đã cho Pisciotta biết bản chúc thư đã nằm an toàn bên Mỹ. Lúc đó hắn đinh ninh thế là Guiliano sẽ được an toàn. Nhưng éo le thay đó lại là dấu ấn tử thần đóng lên số mệnh Guiliano. Michael thở dài:
– Con đã thề với ông bà già nó là sẽ bảo vệ nó. Và cả Justina nữa. À, lúc này cô ta ra sao?
– Ờ, cô ta vẫn được chăm sóc cẩn thận, chắc vài tháng nữa là đến ngày sanh nở. – Ông ngừng lại một chút, rồi tiếp. – Con bé ấy cũng đảm đang lắm. Ở đây, nhỏ đó sẽ được việc đấy. Làm ăn ngon lành lắm!
– Nhưng, ta sẽ phản bội ông bà già của Guiliano nếu ta không tung tài liệu ấy ra!
– Không, trong những năm tháng sống trên cái đất Hoa Kỳ này, bố đã học hỏi được vài điều. Con phải biết điều mới được. Nghĩa là phải biết thương thảo. Phải biết thỏa hiệp. Phải biết tới, biết lui. Tung cái tài liệu ấy ra thì mình được cái gì kia chứ? Có thể chính quyền của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo bị lật nhào. Mà cũng có thể không chứ. Lão bộ trưởng Trezza có thể bị cho về vườn. Nhưng bộ con tưởng họ sẽ trừng phạt lão ra sao chứ?

Photo edit by Sơn râu

Michael nói một cách giận dữ:
– Nhưng lão ta là một đại diện cho một chính quyền đã âm mưu ám hại người dân của mình.
Bố Già nhún vai:
– Thì đã sao? Nhưng để bố nói tiếp. Tung cái tài liệu ấy ra thì có ích gì cho ông bà già và bè bạn của nó nào? Chính quyền sẽ trù ếm họ, tống họ vô tù, hành hạ, làm khó dễ họ đủ cách. Tệ hơn nữa, lão Croce có thể còn ghi họ vào sổ bài đen của lão nữa. Chi bằng cứ để họ an vui trong lúc cuộc đời họ xế bóng. Bố sẽ thương lượng để chính quyền và lão Croce bảo trợ họ. Và cứ như vậy thì việc mình giữ kín cái bản chúc thư ấy còn có ích cho họ hơn.
Michael, giọng chì chiết, cay đắng:
– Có ích cho họ? Có chăng là có ích cho mình. Vì một ngày nào đó, biết đâu, mình lại chẳng cần đến Sicily?
– Bố không thể loại trừ điều ấy. – Bố Già nói với nụ cười mỉm tinh quái.
Sau một phút im lặng, Michael lại lên tiếng:
– Con không biết. Nhưng, đó thật là một điều nhục nhã. Guiliano nó đúng là một anh hùng. Nó đã trở thành một huyền thoại. Ta sẽ làm thế nào để người đời phải nhớ đến nó. Không được để nó chìm vào quên lãng bội bạc.
Lần đầu tiên Bố Già tỏ ra bực bội. Ông tự tay rót một ly rượu khác. Và làm một hơi. Ông giơ ngón tay chỉ vào mặt Michael:
– Con muốn học. Thì đây, bài học thứ nhất bố dạy con. Lắng nghe cho kỹ. Cái bổn phận đầu tiên của một con người là làm sao để mình còn sống. Sau đó, mới đến cái gì khác. Cái mà thiên hạ gọi là danh dự, là vinh quang gì gì đó thì cũng phải là sau. Sống đã. Không sống, thì khỏi có cái gì hết. Này, cái mà con gọi là nhục nhã ấy hả? Bố lại rất muốn được người ta đối xử như vậy. Trong hoàn cảnh như vậy, bố đã làm điều đó để cứu mạng con, cũng như con đã làm điều tương tự để cứu mạng bố. Nếu không có sự che chở của Ông Trùm Croce, con chẳng có ngày rời khỏi cái đất Sicily rừng rú tàn bạo ấy. Phải biết thế. Con lại muốn là một anh hùng như Guiliano hả? Con lại muốn trở thành một huyền thoại hả? nghĩa là, muốn chết, hả? Bố thương nó, thương thằng Guiliano ấy, như là con một người bạn của bố. Nhưng cái tiếng tăm của nó, cái danh tiếng của nó, khỏi! Bố xin miễn. Bố không ham. Con còn sống! Còn nó thì đã chết! Con phải luôn luôn nhớ điều này và áp dụng nó trong suốt cuộc đời con. Đó là: sống là để khỏi chết, chứ không phải là để trở thành anh hùng. Với thời gian, anh hùng nào thì cũng có vẻ điên điên, khùng khùng cả.
Michael thở dài:
– Guiliano không còn cách nào khác.
– Nhưng, cha con ta thì may mắn hơn.
Đó là bài học đầu tiên của Michael học được nơi ông bố mình. Và hiện đã học rất kỹ. Đó chính là cái nét độc đáo của cuộc đời hắn. Về sau, bài học đó đã khiến hắn đưa ra những quyết định khủng khiếp mà trước đó hắn chưa bao giờ nghĩ tới. Bài học đó đã làm thay đổi hẳn quan niệm của hắn về danh dự. Và hắn kinh sợ chủ nghĩa anh hùng. Bài học ấy làm cho hắn sống sót. Nhưng không làm cho hắn cảm thấy hạnh phúc. Bởi vì, khác với ông bố, Michael rất muốn cái danh tiếng của Guiliano.


Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

9. Tín đồ ở An Định liên kết với phong trào chống Pháp bên Cao Miên

Vương quốc Cao Miên lọt vào vòng thống trị của thực dân Pháp bắt đầu với hiệp ước 11-8-1863, rồi đến thỏa ước bổ túc ngày 17-6-1884, vì nhà vua tỏ ra quá nhu nhược. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên do ông hoàng Achar Soa cầm đầu kéo dài suốt ba năm, quấy nhiễu vùng Téang, chiếm vùng Cần Vọt (Kampot). Nhiêu trận giao phong với qui mô nhỏ diễn ra thường xuyên ở khu vực giữa Nam Vang và vinh Xiêm La. Rồi về sau lại tan rã khi ông hoàng này thử kéo quân về chiếm kinh đô Nam Vang (tháng 8-1866). Cũng năm ấy, để tiếp sức với phong trào đánh đổ thực dân Pháp, ông hoàng Pucombo nổi lên, vì ông đã từng xuất gia ở chùa nên nhiều vị sư sãi và nông dân hưởng ứng theo, suốt hai năm liên tiếp gây khó khăn cho thực dân, nhiều phen quân khởi nghĩa tiến sát thành Oudong và kinh đô Nam Vang. Một điểm đáng lưu ý là ông hoàng và cũng là tu sĩ Pucombo này đã liên kết với Trương Huệ (cậu hai quyền, con trai của Trương Định) để cùng chống Pháp ở phía biên giới Tây Ninh. 
Một cuộc khởi nghĩa quan trọng khác dấy lên do ông hoàng Si-Vatha (có nơi âm là Si-Vothia) gây rối ở tỉnh Thbeng, bị đàn áp như ông hoàng này lại tiếp tục, non một năm sau khi có thỏa ước 1884. 
Thoạt tiên, vào đầu 1885 phong trào kháng Pháp dấy lên ở tỉnh Kratíe và tỉnh Kompong Cham, vì Si-Vatha có uy tín và có linh nghiệm nên cuộc kháng chiến bùng nổ với qui mô rộng rãi, quy tụ đến 5.000 người với khi giới thô sơ, dùng chiến thuật du kích khi tụ khi tán, tập hợp và bổ sung lại kịp thời. Hai năm sau, thực dân Pháp dẹp không tận gốc được, binh sĩ Pháp bị hao mòn sức khỏe khi xông pha vào nơi rừng rậm (bịnh rét rừng, bịnh kiết). cuộc khởi nghĩa kéo dài mãi tới năm 1887, đến sau nhờ sự trung gian của nhà vua mới dẹp xong. 
Thực dân ở Châu Đốc đoán trước là ông hoàng si-Vatha sẽ gây được ảnh hưởng mạnh và lôi cuốn mấy tổng gồm đa số người Miên ở biên giới; nếu quân sĩ của ông hoàng tràn qua Nam Kỳ thì khó ngăn chống; theo kinh Vĩnh Tế, đồn bót của Pháp quá yếu kèm, người Miên ở Thất Sơn là lực lượng đáng kể, có đến 4.000 dân đinh. Bấy giờ thành kiến giữa người Việt và người Miên hãy còn, đó là dư âm của những cuộc giao tranh Việt – Miên. Đặc biệt là vào đời minh Mạng và Thiệu Trị, ở Thất Sơn người Miên đã nổi loạn chống triều đình Huế, tướng Nguyễn Tri phương từng đến dẹp loạn mang theo lực lượng hùng hậu là 5.000 người. 
Người Việt và người Miên bên này bên kia biên giới đã xóa bỏ tị hiềm nhỏ nhen. Và đồng bào đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa với sự lãnh đạo của ông Năm Thiếp lại cương quyết nổi lên kháng Pháp, liên kết với phong trào của ông hoàng Si-Vatha. Tình hình ở ngoài Huế lại là yếu tố quan trọng khiến cho đồng bào ở An Định xúc động. Thực dân đang làm áp lực mạnh tại kinh đô, để rồi vua Ham Nghi phải xuất bôn. 
Tháng 4-1885, quân của ông hoàng Si-Vatha khuấy động tỉnh Tréang, tập trung tại Tà Keo. 
Khoảng cuối tháng 5 -1885, người Miên ở Thất Sơn, đồng bào ở làng An Định và người Miên từ bên kia đất Cao Miên nổi lên. Họ chiếm nhanh chóng một đồng Pháp ở biên giới: đồn Phú Thạnh. Bọn Pháp ở Châu Đốc cho toán quân của đại úy Ferussec đi thám sát nhưng không dám tới nơi, rồi đàn hrút lui. Chủ tỉnh Châu Đốc hối tiếc và lo ngại: trước kia vì đánh giá loạn quân quá thấp nên cho cánh quân quá yếu đi thám sát. Phải chi đem chừng 200 quân với thiếu tá Goulias cầm đầu thì tái chiếm đồn Phú thạnh quá dễ dàng, trấn an được dân chúng. Ngoài vùng núi Tượng và đồng bào Tứ Ân Hiếu Nghĩa còn vài làng khác với người Việt cũng tham gia, đặc biệt là vùng sát biên giới (Tịnh Biên) bờ kinh Vĩnh Tế. tuy không tái chiếm được đồn Phú Thanh nhưng toán quân thám sát của đại úy Ferusccec bắn giết và đốt nhà của người Việt lẫn người Miên, đặc biệt là làng An Định. 
Vài ngày sau, qua tháng 6-1885, chủ tỉnh Châu Đốc đi thanh sát vùng Thất Sơn, xác nậhn rằng đồng bào đang hoang mang lo sợ. Đây là vùng gồm tất cả bốn tổng đa số người Miên và tất cả bốn viên cai tổng người Miên đều ủng hộ trực tiếp quân khởi nghĩa từ bên kia biên giới (của ông hoàng Si-Vatha). Về phía dân chúng, phỏng định chừng 2 hoặc 300 người Miên làm loạn, trong số ấy có đứa con trai của viên cai tổng Miên ở Thành Ý bị thương, rể của viên cai tổng này cũng tử trận, ngoài ra còn 2 người Miên bị giết trong cuộc tảo thanh vừa qua ở làng Thuyết Nạp, 1 ở Xuân Tề, 2 ở Tú Tế, 1 ở Vĩnh Trung, 1 ở Yên Cư, 2 ở Bích Tri, 1 ở làng Trác Quan. 
Phía Hà Tiên, dọc theo biên giới ảnh hưởng cuộc khởi nghĩa Si-Vatha cũng làm cho nhà cầm quyền lo ngại. Từ tháng 4-1885, ở biên giới có ba làng (mỗi làng tỷ lệ đồng bào Miên đến 9/20) đã theo lãnh tụ của họ là Phủ Nghét và phần đông người Việt ở tại chợ Hà Tiên cũng có cảm tình với vị lãnh tụ người Miên này. Một cựu phó tổng ở Hà tiên ó uy tín tên là Nguyễn Văn Thừa cùng 80 người thân tín đã mưu toan chở chừng 300 người Miên qua bên kia biên giới tiếp tay khởi nghĩa nhưng bị phát giác kịp thời: theo kế hoạch thì cuộc tấn công Hà tiên sẽ xảy ra từ ngày 2-6 đến 12-6-1885 với cao điểm là đốt chợ tỉnh lỵ. Phong trào ở Hà Tiên gặp thuận lợi là một khi vượt biên giới gia nhập vào quân khởi nghĩa Miên thì nhà cầm quyền ở tỉnh không đủ lực lượng truy nã. Năm sáu vị hương chức hội tề ở nhiều làng khác nhau đã vượt biên giới, sau này bị bắt. Lãnh tụ Nghét ở Cao Miên tuy làm tri phủ của nhà nước Pháp nhưng lại làm loạn, ngoài ra trong vụ này có sự tham gia đắc lực của lãnh tụ Thiên Địa Hội người Trung Hoa là quản Khiếm bấy lâu hùng cứ vùng Cần Vọt (Kampot). 
Phía Thất Sơn, quân của thiếu tá Goulias cứ tảo thanh, một số đồng bào Việt theo quân khởi nghĩa bên Cao Miên chịu hồi cư và trình diện, trước tiên là đồng bào ở hai bờ kinh Vĩnh Tế. Riêng về làng an Định do tín đồ Tứ Ân dày công khai khẩn thì có 120 dân đinh hồi cư. Chủ tỉnh Châu Đốc thử điều tra lý lịch của 22 người thì thấy mỗi người đều có quê quán khác nhau ở các tỉnh Nam Kỳ, chẳng một ai là người của tỉnh Châu Đốc. Ý kiến của chủ tỉnh là không nên cho họ trở về sào huyệt cũ là làng An Định; lần sau nếu họ còn làm loạn, nhà nước nên tỏ thái độ cứng rắn hơn vì sự khoan hồng sẽ đem lại nhiều hậu quả tai hại. 
Tháng sau (8-1885), dân hai bờ vĩnh Tế trở về khá đông , tu bổ nhà cửa lại (đã bị quân Pháp đột cháy), dân làng Vĩnh Lạc thì gom về gần chợ Châu Đốc. Riêng làng An Định, tổng cộng dân đinh trình diện trước sau lên đến con số 204 người, tính luôn viên xã trưởng. Nhưng một thảm trạng lại xảy ra. Vì giặc Pháp , dân làng không canh tác được, lúa thóc dự trữ lại bị đốt sạch, bốn tổng người Miên ở Thất Sơn và mấy làng ở bờ kinh Vĩnh Tế bị nạn đói, gạo bán với giá cao, nhiều người phải vô rừng lên núi đào củ nừng mà ăn lấy lất qua ngày (lúc bấy giờ 1 đồng bạc mua được 2 giạ lúa). Chủ tỉnh Châu Đốc tháng sau lại thắc mắc về làng An Định: hồi cư thêm tất cả 258 dân đinh, “toàn là dân bất hảo, chống đối sự khai hóa của người Pháp, họ ở tứ xứ gom về và tất cả đều theo đạo Phật, nhưng là Phật tử có nhiệt tâm đến múc cuồng tín (ám chỉ đạo Tứ Ân của ông Năm Thiếp) Họ ra vẻ chí thú làm ăn về hình thức mà thôi, gặp cơ hội là họ khởi loạn nữa” 
Bọn Pháp cho đóng một đồn lính ở Vĩnh Lạc để sẵn sàng ngăn chận những cộc đột nhập từ bên Cao Miên. Tháng sau, khi đồn vừa cất xong là bọn Pháp hay tin xã đông (xã trưởng làng An Định) và một người nữa cũng ở An Định (tên là Năm Trước) nhận được lịnh của Hai Phép (một nhân viên do thám của Phủ Lộc, đã quy thuận theo ông Năm thiếp) toan tấn công. Năm 1996, vào đầu năm, phong trào bên Cao Miên như phát khởi, dân chúng từ bên này qua Cao Miên mua gạo lại gặp nhiều toán “loạn quân” bắt họ làm xâu. 
Theo sự điều tra, đó là cánh quân thuộc ông hoàng Si-Vatha, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Pus-nou-Luc-Chluc gồm chừng vài trăm người đi lưu động. Rồi thỉnh thoảng bọn Pháp ở Châu đốc lại phát giác vài toán quân khởi loạn người Miên đột nhập thình lình qua lãnh thổ Nam kỳ với súng ống, gươm dáo, có khi họ cưỡi ngựa. 
Tháng 4-1885, một toán người Miên và vài người dân làng An Định (theo loạn quân hồi năm ngoài) có võ trang đến trú đóng tại xóm Chroui Sleng sát bờ kinh Vĩnh Tế, đối diện với làng An Nông (Tịnh Biên, thuộc lãnh thổ Nam Kỳ). Cầm đầu là phó nguyên soái Bùi Văn thuận, xuất thân thợ rèn. Họ tiến sát bờ kinh, gọi hương chức làng An Nông để báo rằng sẽ chiếm làng này. Dân ở An Nông và mấy làng kế cận hoảng sợ, kéo nhau về gần núi Sam mà lánh nạn, cạnh chợ Châu Đốc. 
Tháng 4-1885, một toán người Miên và vài người dân làng An Định (theo loạn quân hồi năm ngoài) có võ trang đến trú đóng tại xóm Chroui Sleng sát bờ kinh Vĩnh Tế, đối diện với làng An Nông (Tịnh Biên, thuộc lãnh thổ Nam Kỳ). Cầm đầu là phó nguyên soái Bùi Văn thuận, xuất thân thợ rèn. Họ tiến sát bờ kinh, gọi hương chức làng An Nông để báo rằng sẽ chiếm làng này. Dân ở An Nông và mấy làng kế cận hoảng sợ, kéo nhau về gần núi Sam mà lánh nạn, cạnh chợ Châu Đốc. 
Cuối tháng 5-1886, phó nguyên soái Thuận chỉ huy một toán quân gồm 30 người người Việt mặc sắc phục như lính mã tà, với súng ổng đầy đủ và 20 nghĩa quân người Miên cũng có súng đầy đủ, đột nhập làng An Nông, đúng theo lời cảnh cáo trước. Họ bắt ba người hương chức ội tề ở An Nông; giết một, một trốn thoát, còn người thứ ba đem về lãnh thổ Cao Miên, giao cho một ông hoàng nổi loạn Cao Miên (không rõ tên), sau nhờ lo hối lộ mà được tha thội trở về. Bọn Pháp tin chắc đây là cuộc thanh trừng chính trị vì bọn người làm loạn không cướp phá tài sản của dân. Những người hương chức này năm ngoái đã bắt thân nhân của Bùi Văn Thuận rồi áp giải cho viên Công sứ Pháp ở Nam Vang, nhằm mục đích áp đảo tinh thần của người khởi nghĩa, theo sách lược của phủ Lộc. 
Sau biến cố trên, bọn Pháp cho xây cất thêm một đồn ở An Nông (Tịnh Biên) sát bờ Vĩnh Tế. Ngày 2-6-1886, viên chỉ huy tiểu khu Châu Đốc với lực lượng chừng 40 lính hiệp với toán quân trú đóng tại Vĩnh Lạc (do thiếu uý Grimaud chỉ huy) tiến qua lãnh thổ Cao Miên để truy nã. Lực lượng Việt – Miên do phó nguyên soái Thuận chỉ huy rút về phía Bantay Méas. Ngoài cuộc đánh phá từ bên kia biên giới, lãnh tụ Miên là Pos Luc Nop tái xuất đánh phá vùng sóc Som, bọn Pháp ở Châu Đốc phải gởi cánh quân 60 lính đến giải tán. 
Hơn hai tháng sau, phó nguyên soái Thuận lại xuất hiện từ vùng Tra Lop, chừng 6 cây số bên kia biên giới. bọn Pháp truy nã đốt phá sào huyệt và giết tại trận được hai thuộc hạ, một người nữa là đề đốc Danh bị bắn gãy chân, giải về Chợ Quán (Sài Gòn) để điều trị rồi lấy khẩu cung. 
Thống đốc Nam Kỳ yêu cầu chủ tỉnh Châu Đốc dán yết thị, khuyên bọn người làm loạn ra đầu hàng nhưng chỉ có 5,6 người Việt chịu trở về. bọn Pháp hơi lạc quan khi hay tin đồn đãi là phó nguyên soái Thuận đã bị ông hoàng người Miên là Keo Menobo bắt, ông hoàng này là thuộc hạ của ông hoàng khởi nghĩa Si-vatha. Phải chăng lúc bấy giờ ông hoàng Si-Vatha đã sắp sửa giải binh, sau khi thương nghị xong xuôi với vua Cao Miên đương thời (Vua theo Pháp, ông hoàng Norodom). 
Nhưng đó là nguồn tin thất thiệt vì phó nguyên soái Thuận hãy còn hoạt động. 
Làng An Định bị giải tán. 
Tín đồ Tứ Ân cứ tập hợp rộn rịp bất thường, thực dân được báo cáo là cuộc dấy loạn lại sắp diễn ra ngay trên địa phận tỉnh Châu Đốc, Chủ tỉnh Châu Đốc muốn tỏ thái độ dứt khóat nên đánh điện tín về Sài Gòn yêu cầu được gặp viên giám đốc Nội vụ để bàn về một kế hoạch hết sức quan trọng; đối phó với tín đồ Tứ Ân ở núi Tượng, nơi có ngôi chùa nổi danh toàn cõi Nam Kỳ mà ông Năm Thiếp đang cư ngụ “uy tín tinh thần của ông hãy còn mạnh, ông là giáo chủ của tôi giáo mới” và “theo lời đồn đãi của một số nho sĩ già chống đối sự khai hóa của Pháp thì chùa nói trên là trung tâm điểm để phát khởi một phong trào phục hưng cho dân An Nam. 
Thực dân còn nghe tin có toán quân gồm người Miên và người Việt do một ông hoàng Cao Miên cầm đầu đang xuất hiện trên lãnh thổ tỉnh Châu Đốc, giữa núi Trà Sư và núi Dài. Thiếu tá Peignaux cầm đầu toán quân gồm linh Pháp (thuộc thủy quân lục chiến) và lính tập bổn xứ đến tảo thanh, giết vài người và bắt một số cầm tù. Sau khi hạch hỏi, bọn Pháp thấy rõ là không thấy ông hoàng Cao Miên nào cả, loạn quân gồm đại đa số là người Việt cư ngụ ở làng An Định. 
Cuộc hành binh qui mô nói trên diễn ra từ ngày 13 đến ngày 29 tháng 5-1887, cứ tiến vào An Định. Tên Việt gian lợi hại là cai tổng Trương Văn Keo thừa dịp này trổ tài điểm chỉ và trả thù cá nhân. Bọn Pháp muốn một số người điềm chỉ và dẫn đường, chọn đem theo vài người biết chữ Nho, biết tiếng Miên: viên chỉ huy Pháp thừa dịp thử cỡi voi. 
Chùa chiền ở An Địn h bị đốt sạch một lần chót, đồng bào Tứ Ân bị tập trung để kiểm soát từng người về tên họ và lý lịch để rồi bị tống xuất trở về quê quán. 
Bảng ke khái chính thức nêu ra 407 gia đình ở An Định gồm tất cả nam, phụ, lão ,ấu là 1.990 người của 13 tỉnh khác nhau ở toàn cõi Nam Kỳ; Sa đéc 16 gia trưởng, Bến Tre 26, Sài Gòn (nên hiểu là tỉnh Gia Định ngày nay) 16, Tân An 24, Vĩnh Long 30, Mỹ Tho 55, Chợ Lớn (tỉnh Chợ Lớn ngày xưa) 76, Gò Công 14, Long xuyên 35, Cần Thơ 14, Sóc Trăng 1, Hà Tiên 2, Châu Đốc 98. 
Làng An Định là thành quả tinh thần của những người yêu nước toàn cõi Nam Kỳ, tuy là xa xôi hẻo lánh nhưng người ở Chợ Lớn, Gia Định vẫn đến, với tỷ lệ khá cao. 
Thống đốc Nam kỳ chỉ thị cho các chủ tỉnh theo dõi những người vừa được đưa về quê cũ, nhưng đồng bào Tứ Ân lúc bấy giờ tìm cách trốn ở lại để cùng tranh đấu bên cạnh đức Bổn Sư. Thí dụ như trường hợp tỉnh Bến Tre, trong danh sách ghi là 24 gia đình, nhưng chỉ 11 gia trưởng về trình diện tại nhà mà thôi. 
Về mặt hành chánh, làng An Định bị chánh thức giải tán, lãnh thổ của làng nhập qua làng kế cận là Ba Chúc. 
Từ đó, đức Bổn Sư (ông Năm Thiếp) và các tín đồ phải ẩn lánh. Bọn Việt gian như cai tổng Keo tha hồ bắt bớ, đắc lực nhứt là viên huyện Cuey Kiên (người Miên). Bọn này cứ dẫn lính mã tà đi lục soát trên núi, bắt trâu bò của dân mà làm tiệc. Bọn Pháp không thấy gì lạ bên này biên giới, nhưng hai nhân vật ở trong đất Miên xa chừng 20 cây số ngàn tại vùng núi Phnom Ba Giông vẫn htường liên lạc về núi tượng. Nhân vật thứ nhứt là Hai Phép, tay dọ thám mà phủ Lộc đưa vào hàng ngũ đạo tứ Ân từ năm 1880 nhưng về sau lại hối cải, theo phe đức Bổn Sư. Nhân vật thứ nhì là ông Từ Phong, già trên 60 tuổi, học hành giỏi, từ năm 1866-1867 tham gia những cuộc khởi nghĩa ở Vĩnh Long, Sa Đéc, Gò Công. Năm 1868, ông bị bắt tại Vũng Liêm, lãnh án lưu đày chung thân qua Nam Mỹ Châu (Cayenne), được ân xá, sau đó về cư ngụ tại tỉnh Chợ Lớn rồi đến núi Tượng liên lạc với đức Bổn Sư. 
Năm 1889, đề đốc Bùi Văn Thuận bị bắt tại giồng Ba Tha, thực dân kết án 30 năm lưu đày ra Công Đảo. Nhờ lời khai mà ta biết thêm là Bùi Văn Thuận được phong chức bởi viên chỉ huy khởi nghĩa tên là Pus nou-Luc Chluc (dưới quyền ông hoàng Si-Vatha) lãnh trách nhiệm hoạt động ở tỉnh Tréang. Bấy giờ, người Việt Nam lãnh “bằng cấp” của người Miên để khởi nghĩa với danh chánh ngôn thuận, Bùi Văn Thuận lãnh chức Phó nguyên soái có lẽ vì chức Chánh nguyên soái trên nguyên tắc thuộc về người chỉ hư Miên, vì ở lãnh thổ Miên. Lãnh tụ thứ nhì là Lê Văn Quý bị bắt rồi chết tại khám đường Châu Đốc. Thực dân ra lịnh tập nã những người quan trọng còn sót lại. riêng về ông Năm thiếp thì ẩn lánh khéo léo, cai tổng Keo nhiều lần theo dõi tận núi Két nhưng không gặp. 
Ngài viên tịch năm 1890, từ thuở thiếu niên đến ngày sau cùng luôn luôn tích cực chống Pháp. Tương truyền rằng sau khi phong trào Cần Vương ở miền Trung thất bại, một chiến sĩ từ miền Trung len lỏi vào để mưu đồ tiếp tục nghiệp lớn. Ngài cố ý lánh mặt vì thấy tình hình không còn thuận lợi. Chiến sĩ vô danh ấy vốn là cần thần của vua Hàm Nghi, vì không gặp nên đành ngậm ngùi ra đi, để lại bài thơ như sau: 
Cửa thiền rày đã bặt hơi bon, 
Quê hạc hương bay kiểng vẫn còn 
Tiếng trống quân canh đâu lặng lẽ? 
Kèn chiêu muôn dặm hãy còn non. 
Dưới hố mưa lấp sen tơi tả, 
Trên đỉnh sương sa đá mỏi mòn. 
Ngàn thuở điểm đã ghi dạ ngọc, 
Chín trùng non nước biệt tôi con. 
Giáo thuyết Bửu Sơn Kỳ Hương được Bổn Sư áp dụng sát với hoàn cảnh miền Nam với phong trào Cần Vương, liên kết với người Cao Miên. Đây là thái độ sáng tạo nhập thế, gần như vô điều kiện; đừng nghĩ tới chuyện xa xôi, hãy cố gắng tu tập. Hội long Hoa tức là ngày đất nứơc độc lập, không còn bóng quân ngoại xâm. Hình bóng đức Phật Di Lặc và hình bóng của Tổ quốc đã hòa hợp như là một. Cõi tiên, cõi cực lạc không phải là ở bên Tây Tạng, ở Ấn Độ nhưng là ở ngay làng mạc mà ta đang sinh sống, một cõi thiên đường tại thế. 
Làng An Định ngày nay là một viện Bảo tàng sống. Những nét mà thực dân ghi chép trên công văn, trong báo cáo chỉ là thiếu sót nghèo nàn so với nền chùa, những hốc đá, những con đường mòn và nụ cười hồn nhiên của đồng bào địa phương. Đồng bào ở đây ít chịu khoe khoang, ghi chép. Còn nhiều pho kinh, đặc biệt là những bài văn có giá trị về văn chương ,về sử liệu, điển hình nhứt là Văn Vườn Dâu ghi lại những ngày tị nạn lận đận của đồng bào đã vượt biên giới , qua Cao Miên với đức Bổn Sư. So sánh sự kệin trong bài văn với tài liệu, công văn thời Pháp thuộc, rồi phối hợp với trí nhớ của ông già bà cả địa phương, lần hồi chúng ta thấy rõ rệt hơn những nét đẹp, yêu đời, yêu Tổ quốc của đồng bào hồi cuối thế kỷ qua. 
Cụ Phan Bội châu đã am hiểu tình thế và đánh giá đúng mức phong trào Cần Vương của miền Nam nên vào năm 1903 đã vào tận Thất Sơn để gặp tại ngôi chùa nọ một người nặng lòng non nước, họ Trần. 
Thực dân Pháp cố ý đánh giá thấp những việc vừa kể trên. Đại khái, chúng nhìn nhận đã đốt một ngôi chùa ở làng An Định. 
Các vị thức giả đa số ở miền Bắc, miền Trung hoặc ở Sài Gòn thì đòi hỏi những tài liệu đáng tin cậy khi nghe những giai thoại về Thất Sơn huyền bí. 
Chúng tôi đã cố gắng giải đáp. Phong trào nói trên tuy không có chiều rộng những quả thật có chiều cao và chiều sâu. Và dư âm hãy còn mạnh ở Hậu giang. 
(sách thiếu . .?) không phải từ dưới Sóc Trăng. Và nếu không đề phòng thì trong hai năm tới ở Nam Kỳ sẽ có một chánh phủ bí mật, có thể gây nhiều rắc rối nghiêm trọng cho nhà nước. 
Một ông hội đồng quản hạt quả quyết rằng mục đích của Thiên Địa Hội không phải là để tương tế, vì nếu tương tế thì tại sao người Hoa Kiều không rũ người Hoa Kiều mà lại rủ người Việt gia nhập theo? Luật lệ hiện hành quá nhẹ nên hội viên không sợ. đến mức chót, Thống đốc Nam kỳ báo cáo tình hình cho Tổng Trưởng Hải quân và Thuộc địa bên Pháp: “Trước kia đã có Thiên Địa Hội, nhưng giờ đây lan tràn, kết nạp người Việt lẫn người Cao Miên. Họ dùng thủ đoạn mua chuộc bằng tiền bạc, tương trợ người nghèo, ai không gia nhập thì bị hăm doạ. Luật lệ quá dễ dãi với họ, trước kia thời đàng cựu, mỗi năm ở Nam Kỳ nhà vua xử trảm trung bình từ 200 đến 300 người, từ năm rồi ,chánh phủ thuộc địa không xử tử người nào hết!” Thống đốc nam Kỳ tỏ ra bi quan: “không nên nghĩ đến chuyện tận diệt Thiên địa Hội vì ở bên Trung Hoa mặc dầu áp dụng những hình phạt cực kỳ ác độc, hội ấy vẫn còn hoạt động. tốt hơn hết là chú trọng tới khu vực xa xôi khó kiểm soát mà Thiên địa Hội dựa vào để hoạt động, đó là vùng Sóc Trăng, Cà Mau rộng cỡ 12.000 cây số vuông.

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

8. Làng An Định căn cứ của đạo Tứ Ân và của Phong trào Cần Vương toàn Nam Kỳ

Núi Tượng là ngọn đồi nhỏ thuộc hệ thống Thất Sơn giáp ranh tỉnh Hà Tiên, gần bờ kinh Vĩnh Tế, có thể liên lạc qua Cao Miên dễ dàng. Núi cao 145 mét, dài 600 mét, bề ngang phỏng chừng 400 mét, so với núi Cấm hoặc núi Dài thì nhỏ bé. Ở thung lũng núi Tượng và núi Dài, đất hẹp trồn tỉa được. Qua phía Hà Tiên là vùng đất mênh mông nhiều phèn và ngập lụt với rừng tràm từng lõm to và những khu vực đầy bàng. 
Có thể nói trước khi ông Năm Thiếp đến thì núi Tượng còn hoang vu mặc dù dân Việt đã khẩn hoang, làm rẫy ở các đồi núi lân cận. Ngoài lý do khí hậu (bệnh rét rừng) còn rắn rít, vài con cọp, con beo. Nước uống là vấn đề gần như nan giải. Mùa nắng, trong vòng đôi ba tháng phải gánh nước từ xa đến. Sườn núi thì thâu được huê lợi, nhưng chỉ làm rẩy vào mùa mưa mà thôi, mùa nắng không có nước tưới. 
Ông Năm Thiếp dò xét núi Tượng từ khi chưa có cuộc khởi nghĩa do ông chủ trương năm 1878 ở Mỹ Tho. Trước sự khủng bố mỗi lúc một gắt gao, nhiều tín đồ theo ông tới núi Tượng mà lập nghiệp, chờ cơ hội thuận lợi. đây là chiến lược cố thủ, che giấu và bổ sung lực lượng Bấy giờ thực dân chưa hoàn thành hệ thống đường sá quanh chân núi vùng Thất Sơn, chỉ có đường mòn dùng cho xe bò chuyển lúa gạo và hoai bắp mà thôi. Thực dân Pháp đã tạm nhẹ lo: nhóm Tứ Ân đang rút lui vào một địa phương nhỏ bé xa xôi, muốn kéo lên Sài Gòn hoặc đến các tỉnh lỵ miền Tiền Giang, quân khởi nghĩa gần như là không có phương tiện. Về phía ông Năm Thiếp thì vùng núi tượng khó sống, thiếu nước uống nhưng dễ bố trí phòng gian, giữ bí mật, lại dựa lưng vào biên giới với vùng đất bao là, núi non hiểm trở, thực dân chưa củng cố được bộ máy cai trị ở thôn ấp bên Miên. Và ngay ở vùng Thất Sơn, nơi người Miên tập trung thành sóc đông đảo gần như thuần nhứt, bọn Pháp ở Châu Đốc vẫn chưa kiểm soát được dân số và nhân tâm. Thôn xóm Miên gần như tự trị, mấy viên cai tổng Miên tha hồ tung hoành như thời trước với hủ tục phong kiến; ngoài chợ Châu Đốc, thực dân có mua chuộc được một người Miên biết chữ Quốc ngữ, ham tiền bạc, đó là viên huyện Cuey Kiên. 
Vào tháng 12-1879, hơn một năm sau khi cuộc khởi nghĩa bất thành, tại chân núi Tượng đã thành hình một vùng “xinh đẹp” mà chủ tỉnh Châu Đốc thấy cần đặt vấn đề hợp thức hoá. Làng này thành lập không có xin phép trước, ruộng rẫy không trưng khẩn theo luật định. Dân chúng muốn xin ghi vô bộ điền, đóng thuế và lập làng gọi là An định. Viên giám đốc Nội vụ đưa ý kiến: nên cho người địa phương thỏa mãn nguyện vọng, nhưng đề phòng trường hợp họ lập một khu vực tự trị như tình trạng của những làng Cao Miên ở Thất sơn. Đến cuối tháng ấy, chủ tỉnh Châu Đốc được tin là ông Năm Thiếp có mặt tại núi Tượng với vài trăm đệ tử trung thành đang tuyên truyền sách động và bố trí canh phòng; việc nạp đơn xin hợp thức hóa chỉ là thủ đoạn để che giấu tung tích mà thôi. Chủ tỉnh đích thân đến thám sát vùng núi Tượng vào ban đêm, rình rập rồi đến gần với chiếc xuồng nhỏ. Khi mặt trời mọc, ông ta ngạc nhiên khi nhận ra làng tân lập này quá xinh đẹp, với khoảng 150 nóc gia vừa cất xong ở chân núi Tượng, chung quanh mỗi nhà là mấy đám rẫy ươi tốt, trồng khoai lang, thuốc hút. Theo sự nhận xét của chủtỉnh thì dân ở đây như bận rộn việc tu bổ nhà cửa, chí thú làm ăn. Ông ta đi chung quanh núi Tượng dò xét thật kỹ đểrồi kết luận: dân chúng không bộc lộ điều gì chứng tỏ họ đang ngấm ngầm vận động chống nhà nước và không có bằng cớ nào để hồ nghi rằng Năm Thiếp đang hiện diện tại núi Tượng. Bấy lâu “chỉ là sợ sệt và lo xa quá đáng mà thôi”. Nên cho phép dân lập làng ấy. 
Tháng 11 năm sau, chủ tỉnh Châu Đốc báo cao: Nghe đồn có một người “An Nam” đang biểu diễn những phép lạ ở vùng thất Sơn, dân chúng thường tụ họp với ông này” 
Vào khoảng tháng 8-1881, chủ tỉnh Châu Đố tìm 10 người dân đang cư ngụ tại núi Tượng theo lời yêu cầu của chủ tỉnh Tây An. Họ bị truy nã về tội khởi loạn hồi năm 1878, cuộc hành binh diễn ra, bắt được đủ 10 người theo danh sách nhưng tuyệt nhiên chẳng tìm được tung tích ông Năm Thiếp. 
Tháng sau, họ lại mở ra cuộc hành binh tương tự để bắt thêm vài người, theo lời yêu cầu của chủ tỉnh Mỹ tho về tội cũ hồi năm 1878. Thừa dịp này, chủ tỉnh Châu Đốc đi sâu hơn để tìm hiểu những người dân “bất hảo” ở núi Tượng. Bọn do thám len lỏi vào làng An Định, báo cáo rằng ông Năm Thiếp biết thuật tàng hình, đang ở chỗ này nhưng lát sau lại thấy xuất hiện ở chỗ khác, xa hơn. Ai gặp thì ông vui vẻ đón tiếp và sẳn sàng cho biết nơi cư trú, một ngôi nhà tuyệt nhiên không có tàng trữ dáo mác hoặc bất cứ khí giới nào. Hỏi thì ông trả lời là không cần dáo mác nhưng trong một tương lai chưa biết chắc ngày nào, ông sẽ đánh đuổi thực dân Pháp khỏi Nam Kỳ với phép mầu nhiệm của ông. 
Cũng theo báo cáo này, chủ tỉnh Châu Đốc đề nghị là nên để nguyên tình trạng: không nên quá sợ sệt những cũng không nên chế giễu, đánh giá quá thấp khả năng của ông Năm Thiếp. Nếu cứ lục soát hành quân bắt bớ thì nhân tâm xao xuyến, chẳng yên, làm như không biết, để rồi thình lình bắt sống nếu quả thật ông là người có thật bằng xương bằng thịt chớ không là một nhân vật siêu phàm mà tín đồ bịa đặt để lạc hướng nhà cầm quyền. 
Viên giám đốc Nội vụ đã phê: đồng ý là không nên sợ hãi cũng như không nên chế giễu. Nhưng nếu để y nguyên tình trạng mà không hành động thì có hại. Tâm lý người “An Nam” là ưa tinh những chuyện vô lý và huyền bí. Muốn cho dân chúng thức tỉnh, tốt hơn hết là tìm cách bắt sống Năm Thiếp, để đánh tan những lời đồn đãi về ông ta. 
Tháng sau, chủ tỉnh Châu Đốc vẫn lạc quan khi viếng làng An Định; dân chúng nơi đây làm lụng cần cù, tiếp tục khẩn đất hoang, đáng được khích lệ nên hợp thức hoá để họ trở thành sở hữu chủ. Đó là nhà nước xây dựng thêm về an ninh cho làng này theo nghĩa: có làm chủ sở đất thì họ thoả mãn, không nghĩ tới chuyện làm loạn nữa). 
Nhưng đồng bào lúc bấy giờ như chờ đợi một biến cố lớn. Ở Bắc Kỳ, quân Pháp công hãm thành hà Nội lân thứ nhì, tổng đốc Hoàng Diệu tự vẫn. Việc chờ đợi quân sĩ triều đình vào Nam có thể là tuyệt vọng, tuy nhiên một số quân từ Trung Kỳ, trước kia là người Nam Kỳ tỵ nạn sẽ trở vào! Dân chúng thêm háo hức vì điềm trời như liên tiếp báo hiệu một sự thay đổi, phải chăng là ngày Hạ ngươn gần chấm dứt? 
Thời đàng cựu, bịnh thời khí là tai hoạ thường xuyên, lại thêm bệnh trái giống. Mỗi năn, dân chết khá nhiều, nhưng với mức độ vừa phải. Năm 1882, cùng với việc thành Hà Nội mất, vài tháng sau là xảy ra dịch thổ tả. Mọi khi, bịnh dịch xảy ra khi nắng gắt sắp chấm dứt qua mùa mưa. Lần này torng hai tháng 8 và 9 năm 1882, giữa mùa mưa dầm dề, bịnh ngặt lại đột nhiên hoành hành. Riêng ở tỉnh cần Thơ trong hai tháng nói trên, tại tổng An Trường số người chết là 1.243, ở tổng Định Bảo, 721 và ở tổng Định Thời là 512. Ở tỉnh Châu Đốc tháng 1-1883 (nhằm tháng chạp ta), bịnh thổ tả làm 223 người chết. Tháng 11-1882, lúc bịnh đang hoành hành trong toàn cõi Nam Kỳ, sao chổi lại mọc. Chủ tỉnh cần Thơ nhận xét : năm 1877, cũng vì nạn thiên thời hoành hành mà ông Năm Thiếp phát bùa ngừa bệnh cho dân rồi khởi xướng cuộc dấy loạn ở Mỹ Tho. Nếu giờ đây chánh phủ phát thuốc cho dân ngừa bịnh thì sẽ có tác dụng về mặt chính trị. Bịnh không phát triển , dân không còn lý do để xúc động. 
Cuộc khởi loạn bất thành của Lê Văn Viên, của ông đạo Tư Nguyễn Văn Vi khiến thực dân để phòng gắt gao. Tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở làng An Định chỉ biết hoạt động ngấm ngầm và chờ thời cơ. 
Tạm yên được chừng một năm thì vào đầu 1885, đốc phủ Lộc lại báo cáo với chủ tỉnh Mỹ Tho là có thể xảy ra những cuộc rối loạn ở các tỉnh miền Tây, loạn quân phá chợ, ngăn chận các chuyến ghe buôn, người cầm đầu vẫn là ông Năm Thiếp hiện đang ở núi Tượng. Nguồn tin ấy tương đối xác thực.

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

7. Sự thành hình của hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa, thuộc Bửu Sơn Kỳ Hương

Sau Thủ Khoa huân, phong trào chống Pháp đáng kể là cuộc khởi nghĩa của Ông và Khả ở tỉnh Mỹ Tho vào tháng 5 dương Lịch 1878, bao gồm vùng thuộc Nhiêu, Cai Lậy và Tân Hiệp. người điều khiển tối cao là ông Năm Thiếp, đản sanh tại làng Trà Tần đối diện với cù lao Năm Thôn (Mỹ Tho) vào khoảng 1831, tên thật của ngài là Ngô lợi, còn có tên là Ngô Viện. Người trong đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa gọi tôn là đức Bổn sư. Trong dân gian gọi là Năm Thiếp, vì trước ngày khai đạo, ông đã “bỏ cõi trần bảy ngày đên, còn chúth ơi ấm nơi chớn thủy rồi tỉnh lại”. Và sau này “khi ngài đên núi Tượng (Thất Sơn) cũng thường xãy ra cảnh đi thiếp nhưng thời gian ngắn hơn. Mỗi lần đi thiếp, khi ngài tỉnh dậy là có những bí pháp truyền dạy tín đồ. Ông phát triển chủ thuyết của đức Phật Thầy Tây An trong hoàn cảnh đặc biệt; kháng pháp để đền ơn Tổ quốc (gọi là ơn quốc vương thủy thổ). Nghi thức tu hàn hcó vài nét khác với nghi thức của Bửu Sơn Kỳ Hương hồi thời Phật Thầy Tây an hoặc thời ông Trần Văn Thành ở Bảy Thưa. Lúc ở Mỹ Tho, ông đã liên lạc với vị lãnh tụ này và có đi núi tượng (Thất Sơn) nhiều lần. 
Cũng như Đức Phật Thầy Tây An trước kia, tứ Ân Hiếu Nghĩa chú trọng phát triển phật giáo theo hình thức cư sĩ để cho nhiều người gia nhập được, không phân biệt quá rõ rệt giữa giáo phẩm và giáo dân (gọi là Bá Gia). Hình thức truyền giãng vẫn là dùng thể thơ lục bát: 
Một trung thờ phật kính thầy, 
Hai trung thờ Chúa mình gầy chớ quên 
Ba trung phụ mẫu lưỡng toàn 
Ấy là ba chữ rõ ràng chẳng sai . . 
Ơn đồng bào được giải thích cặn kẽ và nhấn mạnh: 
Xin đừng ỷ phú hiếp bần 
ỷ mình sang trọng hiếp phần cô đơn. 
Thiên sánh thiên số, bớ dân, Sang giàu thì trọng, cơ bần thì khinh. . . 
“Ngoài việc tu thân theo đạo Nho để trở nên người quân tử, đức bổn Sư còn khuyên tu Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Nhưng trong bốn ân: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo và ân đồng bào nhân loại, đức Bổn sư đặc biểu dương và xiển minh ân tổ tiên và ân quốc vương thủy thổ mà ngài lập thành một mối đạo mang danh là Hiếu Nghĩa. 
Tín đồ của ông Năm Thiếp lúc bầy giờ torng dân gian ẫn được gọi là người theo đạo Lành. Các phần tử tích cực thường thay đổi chỗ ở, nay đây mai đó, danh xưng của họ là thầy vãi. Trước khi có phong trào Thủ Khoa Huân, ở Gò Công, Mỹ tho đã xuất hiện đạo Lành ; năm 1874, thầy thập hoạt động ở vùng Lương Phú, bến Tranh. Đáng chú ý là thầy Thập chịu vô Thiên Chúa giáo nhưng đó là hình thức để che mắt nhà cầm quyền. 
Năm 1877, ở vùng Trường đua cũ (Sài gòn) thực dân theo dõi một nhân vật tên là Đặng Văn Hợi, ông này tìm ra mạch nước thiêng, truyền rao cho dân tới múc về mà uống trị bịnh. 
Ông Năm Thiếp và các cao đồ của ông giảng truyền rằng thời Mạt Phápđến từ lâu rồi và đã tới lúc chuẩn bị lập đời Thượng ngươn. Người theo Tứ Ân dùng mật hiệu để nhận nhau, đại khái, họ cứ đưa ngón cái của tay mặt lên ngang mặt mà niệm hai tiếng “Mô Phật”. Năm 1877, bịnh thời khí hoành hành, tính đồ tứ Ân phát bùa ngăn bịnh cho dân chúng. Ngày 16-2-1878 dương lịch (nhằm rhằm tháng giêng) ông Năm Thiếp họp những thầy vãi lãnh đạo phong trào ở các tỉnh Nam Kỳ về làng Hòa Khánh (Trà Lọt, Mỹ Tho). Để che mắt nhà cầm quyền, ông gọi đó là cuộc “làm chay”. Số người tham dự có hơn 200. Ông rao là đời Minh Hoàng được thành lập, ai không theo thì bị thú dữ, cọp beo trong rừng ăn thịt. Trong cuộc ọp thứ nhì ngày 28 tháng 3 âm lịch tức là ngày 30-4-1878, ông phong cho Khả làm chánh tưởng, ông là phó tướng để điều khiển cuộc khởi nghĩa nhằm chiếm vùng Mỹ Tho, luôn cả tỉnh lỵ. 
Bọn Pháp biết là đã xảy ra nhiều cuộc tụ họp dân chúng với khí giới thô sơ ở vùng Thuộc Nhiêu – Cai Lậy. Đồn Cai Lậy 9d7ợc tăng thêm 30 lính mã tà, 10 lính Pháp và một sĩ quan Pháp. Ngày 2 tháng 5 dương lịch 1878, một cánh quân khởi nghĩa thứ nhì xuất hiện ở làng Cửu Viễn, không xa chợ Mỹ tho. Hai cánh quân này bị giải tán và hai lãnh tụ là Ong và Khả lần lược bị Trần Bá Lộc bắt, thủ đoạn cố hữu của tên Việt gian này là bắt thân nhân của người trong cuộc, hăm dọa hương chức hội tề địa phương để họ điềm chỉ nơi ẩn náo của quân khởi nghĩa. 
Viên giám đốc Nội vụ ở Sài Gòn ra lịnh cho các tham biện chủ tỉnh toàn Nam Kỳ truy nã ông Năm Thiếp (công văn ngày 29-5-1878), chánh quyền sẳn sàng xuất tiền đài thọ thêm cho các tỉnh để mướn bọn do thám, đồng thời cũng dành 1.000 quan tiền thưởng cho ai bắt được. Trong công văn này, ghi rõ tướng mạo ông Năm Thiếp: vóc người cao ráo ốm yếu, có ba chòm râu dài. 
Bọn tham biện chủ tỉnh tha hồ bắt tín đồ để giam giữ vô điều kiện. Qua tháng 2 dương lịch 1889, tình hình Mỹ tho không được khả quan, tín đồ của ông Năm Thiếp cứ tụ tập bí mật, dân chúng không tin rằng người Pháp tiếp tục cai trị được cõi Nam Kỳ, những người cầm đầu đạo mối thường vắng mặt vào tháng 11 âm lịch để về núi Tượng mà “lãnh phép”. Nhiều người trước kia theo phong trào đã được tha tội vì thiếu bằng cớ những khi xét nhà của họ thì gặp những bằng cấp, nhiều nhất là “lòng phái” của đạo Tứ Ân. 
Chủ tỉnh Tân an cho rằng ông Năm Thiếp đang ở Châu Đốc nhưng chủ tỉnh Châu Đốc sai người len lỏi đến núi Tượng tìm mãi mà chẳng thấy gì cả. đến tháng 9 năm 1879 thì chủ tỉnh này bảo là Năm Thiếp đang ở núi Tượng những vừa vắng mặt đi qua địa phận Cao Miên, có lẽ sẽ về. 
Màn lưới do thám được siết lại, rốt cộc không thâu được kết quả gì ráo. Chẳng qua là ông Năm thiếp được tín đồ và đồng bào mến mộ, khi đang ở núi Tượng, Châu Đốc thì tín đồ loan tin rằng ông đang ở Mỹ Tho; khi ông ở Tân An thì có tin đồn ông đang ở núi Tượng oặc Sa Đéc, vì vậy bọn Pháp bị đánh lạc hướng. Cuối năm 1879, chủ tỉnh Mỹ Tho lại bão rằng đạo Lành tuyên truyền mạnh trong tỉnh. Ông Năm Thiếp vừa đến phú Kiết là trở lại núi Tượng, tới cuối năm sẽ về, ông thường di chuyển bằng ghe lồng như người buôn bán, ghe có ba người chèo và có hai vệ sĩ. Buồn cười nhứt là hai tên Việt gian từng lập thành tích trong việc đàn áp bà bắt bở Thủ Khoa Huân, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, đã tốn người, tốn của mà không thu nhập được kết quả gì. Nhơn viên do thám đắc lực của đốc phủ Lộc là Hai Phép lãnh trách nhiệm theo dõi ông Năm Thiếp đã đến núi Tượng, nhưng bị cảm hóa rồi theo phe kháng Pháp luôn, không trở về. Đốc phủ Đỗ Hữu Phương cho I Minh hương tên Bửu mua 3.000 xâu chuỗi bồ đề từ Chợ Lớn len lỏi xuống núi Tượng giả vờ như sùng đạo rồi cúng cho bổn đạo những vẫn không biết tung tích ông Năm Thiếp ra sao. 
Đến mức chót, các viên chủ tỉnh Tân An, Mỹ tho chỉ còn biết thù vặt, bắt bớ những người trước kia theo Tứ Ân, viên giám đốc Nội vụ phải bực mình, không cho bắt bớ vu vơ nữa vì đó là thủ đoạn tống tiền của những viên chức ở thôn quê hoặc bọn mật thám.

Tưởng nhớ Học giả Vương Hồng Sển

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

October 23rd, 2020

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Vương Hồng Sển là học giả kính yêu gốc ở Miền Nam.

Ông sinh ngày 27 tháng 9 năm 1902, tại Sóc Trăng. Thời học sinh, ông học tại trường Collège Chasseloup Laubat (nay là Lê Quý Ðôn). Sau khi đậu bằng Brevet Elémentaire, ông làm công chức ngạch thư ký và phục vụ nhiều nơi từ năm 1923 đến năm 1943, trong đó có dinh Thống đốc Nam Kỳ (1939 – 1943). Từ năm 1948, ông làm Quyền quản thủ Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn cho đến khi về hưu vào năm 1964.

Vương Hồng Sển là người mê sách, mê đồ cổ và đã để lại một sự nghiệp đồ sộ.

Ông rất ham mê đọc sách và thích ghi chép tất cả những điều tai nghe, mắt thấy. Phần lớn những tác phẩm của ông rút tỉa từ những tài liệu dưới dạng hồi ký mà ông còn giữ gìn được. Các nhà phê bình nhận xét về văn của ông Vương Hồng Sển như sau: “Giọng tuy nói cà rỡn nửa đùa nửa thật, nửa giấm chua, nửa tiêu ớt thỉnh thoảng có đôi chỗ chọc cười, cho bớt buồn ngủ. Văn ấy các học giả có tánh lập nghiêm và chưa quen tai, lấy làm khó chịu, nhưng thét rồi cũng phải nhìn nhận, biết nói pha lửng như dọn cơm trong cảnh nghèo, lấy trái ớt tép hành để dễ nuốt cơm và chọc cười cho dễ nhớ, thêm nhớ được lâu.”

Hay như nhà văn Sơn Nam đã nhận xét về ông “Những gì ông viết ra như trăng trối, có khi chỉ là chuyện lụn vụn “tào lao”, “loạn xà ngầu”, nhưng với những người đến sau, nó mang một giá trị to lớn, nó chất chứa những niềm say mê và quyến rũ”.

Ngay từ thuở nhỏ ông đã sớm biểu lộ sự ưa thích đồ cổ. Sau khi về hưu, ông chuyên sưu tập các loại sứ gốm cổ, khảo cổ về hát bội, cải lương. Ngoài ra, ông còn khảo cứu về các trò chơi cổ truyền: đá dế, chọi gà, chọi cá, chơi chim, trồng kiểng, nghệ thuật chơi cổ ngoạn, nghiên cứu về chuyện tiếu lâm xưa và nay, rất sành về đồ cổ. Có thể nói ông là kho tàng sống về các lãnh vực kể trên.  Những ai muốn nghiên cứu về lịch sử miền Nam sẽ tìm thấy trong các tác phẩm của ông một nguồn tài liệu bổ ích qua nhãn quan một chứng nhân thời cuộc nước Việt của thế kỷ 20.

Nói như học giả Nguyễn Hiến Lê, (1912 – 1984) thì: … Quả như lời Vương quan viết trong bài tựa “Coi vậy mà xài được”. Kẻ ít học như tôi (Nguyễn Hiến Lê) còn thấy là xài được gần trọn kia đấy. Chúng ta nên cảm ơn ông đã ghi lại – mặc dầu là hấp tấp trong sự trình bày – vô số tài liệu mà trong mấy chục năm, ông đã tốn công đạp xe máy đi sưu tầm khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và các vùng lân cận. Về nhà cân nhắc chọn lựa với tinh thần thận trọng đáng khen: chỗ nào chưa đủ chứng cớ thì tồn nghi…

Ông mất ngày 9 tháng 12 năm 1996 tại Sài Gòn, thọ 94 tuổi.

Ở đây để tưởng nhớ một nhân tài của đất nước, kỳ này chúng tôi chỉ xin giới thiệu Hơn Nửa Ðời Hư của Vương Hồng Sển

Hơn nửa đời hư là cách nói lộng ngữ mang tính tự trào, tự mỉa của tác giả: Vương Hồng Sển; mà theo ông cho đến cuối đời, vẫn chưa làm nên sự nghiệp, dù chỉ với ý nghĩ khiêm nhường.

Ðây là một thiên hồi ức của một nhà văn hóa, một lão học giả học cao, hiểu rộng, có vốn sống vô cùng phong phú và một phương pháp làm việc khoa học – nói có sách, mách có chứng – vì ông nhiều năm làm Viện trưởng Viện Bảo tàng, tinh thông nghề sưu tầm cổ ngoạn, ghi chép những sự việc, những điều chính ông nghe, thấy, làm và biết được. Ðó là những bước thăng trầm, “những nỗi buồn, vui, đau khổ” ăn năn, tự vấn, “những tâm sự rải rác phân tán manh mún, vụn vặt về cuộc đời và con người” quanh ông hơn nửa thế kỷ, ở một thời mà ông gọi là “ kinh cụ, khóc, cười lẫn lộn”, nào “Tây cuốn gói, Nhật chạy càng, đến ông Ngô băng lẹ như diều đứt dây” . Trong đó, chính ông dù “địa vị thua, chức phận thua duy về chua tân khổ há dám thua ai”.

Bạn đọc sẽ tìm được trong sách những chuỗi ngày xưa tuy xa mà gần của vùng đất phương Nam này, từ Sóc Trăng, Sa Ðéc, lên Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Ðịnh… những phong tục, tập quán xã hội, phong cách sống, nét ứng xử, tình bạn thủy chung, tình thầy và trò cung kính, tình gia đình, cha mẹ, xóm làng ấm áp, đầy tình thương và trách nhiệm. Bên cạnh đó, tuy phác họa đơn sơ nhưng người đọc chúng ta cũng hình dung khá rõ chân tướng của hạng người sâu mọt, lọc lừa, nịnh trên nạt dưới, các thói kịch cỡm, rởm đời  mà bọn họ cũng điển hình trong các cách đe nẹt, hù dọa, miệt thị lẫn nhau, ăn hối lộ, hà lạm, hiếp dân để vinh thân phì gia.

Ở tuổi của ông, việc dùng từ pha cổ, xen nhiều tiếng địa phương, cách viết cách tả đôi lúc rề rà, cà kê nhưng bạn đọc chắc chắn dễ thông cảm và thể theo sở nguyện của ông, những nét tốt, đức lành cùng những tật xấu, thói hư, tiếng thơm, tiếng thảo tôi cố giữ y như đã nghe thấy, được biết, chép lại đúng sự thật, ghi dấu một thời đã qua để làm gương cho hậu thế. (theo Vikipedia)

Tên tuổi và sự nghiệp Vương Hồng Sển chắc chắn sẽ tồn tại lâu dài.

Vương Hồng Sển (1902 – 1996)

NGUYỄN & BẠN HỮU

Tuyển tập sách

Vương Hồng Sển

– Thú chơi sách (1960)

– Sài Gòn năm xưa (tập I, II 1960, III 1992)

– Hồi ký 50 năm mê hát (1968)

– Phong lưu cũ mới (1970)

– Thú xem chuyện Tàu (1970)

– Thú chơi cổ ngoạn (1971)

– Chuyện cười cố nhân (1971)

– Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa (1972)

– Cảnh Đức trấn đào lục (1972)

– Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn (1972)

– Hơn nửa đời hư (1992)

– Tạp bút năm Nhâm Thân (1992)

– Khảo về đồ sứ từ hậu Lê đến sơ Nguyễn (1993)

– Những đồ sứ do đi sứ mang về (1993)

– Những đồ sứ khác Quốc dụng, Ngự dụng v.v.. (1993)

– Tạp bút năm Quý Dậu (1993)

– Tự vị tiếng Việt miền Nam (1994)

– Nửa đời còn lại (1995)

– Thú ăn chơi

– Khảo về hát bội

– Sài Gòn Tạp Pí Lù

Vương Hồng Sển và Sài Gòn Năm Xưa

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

Post on July 8th, 2022

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Vương Hồng Sển là học giả kính yêu gốc ở Miền Nam.

Ông sinh ngày 27 tháng 9 năm 1902, tại Sóc Trăng. Thời học sinh, ông học tại trường Collège Chasseloup Laubat (nay là Lê Quý Đôn). Sau khi đậu bằng Brevet Elémentaire, ông làm công chức ngạch thư ký và phục vụ nhiều nơi từ năm 1923 đến năm 1943, trong đó có dinh Thống đốc Nam Kỳ (1939 – 1943). Từ năm 1948, ông làm Quyền quản thủ Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn cho đến khi về hưu vào năm 1964. Ông mất ngày 9 tháng 12 năm 1996 tại Sài Gòn, thọ 94 tuổi.

Vương Hồng Sển là người mê sách, mê đồ cổ và đã để lại một sự nghiệp đồ sộ.

Ông rất ham mê đọc sách và thích ghi chép tất cả những điều tai nghe, mắt thấy. Phần lớn những tác phẩm của ông rút tỉa từ những tài liệu dưới dạng hồi ký mà ông còn giữ gìn được. Sài Gòn Năm Xưa là một trong những tác phẩm loại đó. Sau đây Trang Văn Học xin giới thiệu bài viết của Thu Giang Nguyễn Duy Cần về cuốn sách. NGUYỄN & BẠN HỮU

Thu-Giang Nguyễn-Duy-Cần

Tôi không dám nói đây là bài phê bình vì tôi chưa có đủ tài liệu để phê bình sử liệu như anh bạn của tôi đấy, mặc dù tôi cũng là người miền Nam và sống ở Sài Gòn từ thuở cắp sách cho đến ngày nay. Ðây chỉ là những cảm tưởng đầu tiên sau khi đọc xong quyển sách. Những ý tưởng còn đang hỗn độn, tôi cứ để tự nhiên tùy hứng mà viết ra, không trật tự gì cả. Ðây cũng là lần thứ nhứt mà tôi bàn đến một quyển sách.

Soát qua đại lược về hình thức, tôi nhận thấy cách ấn loát chưa hoàn bị, như chữ in quá nhỏ khó đọc; chính tả có chỗ không đúng, đáng tiếc. Nhưng theo chỗ tôi được biết thì “lỗi” đây không phải nơi ông bạn Vương, mà nơi ấn công, và những người có phận sự lo về phần ấn loát! Ðể an ủi bạn già của tôi (vì ông bạn bứt đầu bứt tóc) tôi kể trường hợp của ông Lê Ngọc Trụ của chúng tôi, ngay trong quyển Tự Vị Chánh Tả của ông mà phải đến bốn trang dầy đặc đính chánh. Nhưng Vương-quân bảo: “Người ta đây rồi có ai chịu hiểu cho cái khổ tâm của chúng mình… mà họ sẽ “chưởi”rằng mình “bừa bãi” như trường hợp của anh vừa rồi… trong một quyển sách nói về thuật viết văn. Dĩ nhiên là mình phải chịu trách nhiệm mới chết một nửa cửa chứ!”

Tôi và ông bạn chỉ nhìn nhau và thông cảm. Thiết nghĩ đây cũng là một vấn đề mà các Nhà xuất bản nên lưu ý. Trước đây chúng tôi được biết có nhà in Maurice. Giám đốc là ông Lê Thọ Xuân. Ông Lê Thọ Xuân có công phu huấn luyện một toán ấn công rất sành chánh tả. Sách vở in tại nhà in nầy lại được bổn thân ông Giám đốc săn sóc và bắt buộc các ấn công phải triệt để tuân theo mệnh lệnh các tác giả. Có khi một trang sách được lên khuôn rồi, thế mà phải chiều theo tác giả mà xuống khuôn sửa lại. Chính tôi đã nhờ nhà in nầy in cho 4 quyển sách, quyển nào cũng đàng hoàng quyển nấy, không chỗ khiển trách. Chúng tôi vẫn biết các ấn công phần đông lãnh việc ăn tiền theo lối “bao biện” mà ta thường gọi là “mão sát”. Vì vậy, sự chữa đi sửa lại làm mất thời gian của họ nhiều, họ gấp làm xong để lãnh tiền sớm. Gặp phải các nhà văn quá “thiết tha” đến tác phẩm của mình, họ “càu nhàu” ghê lắm. Chủ nhân xuất bản cũng phải “bực  mình” với họ. Nhưng dù sao, vấn đề nầy cần phải có sự chấn chỉnh lại vì tiền đồ của văn học. Không nên xem thường nhất là đối với ngành xuất bản của Cơ sở Báo chí và Xuất bản Tự Do mà như chúng tôi biết rõ.

Vương Hồng Sển – tranh Tạ Tỵ

Sự cố gắng và hy sinh của Nhà xuất bản nầy không thể có chỗ nghi ngờ được.

Giờ đây tôi xin đi thẳng vào nội dung.

Về tài liệu thì thật dồi dào, thật là công phu…Tác giả đã tỏ ra là người rất thận trọng, lại là người có óc tò mò quan sát đáo để. Ðây không chỉ là những tài liệu cóp nhặt nơi sách báo hay lời thuật lại các bậc cố lão mà một phần khá quan trọng là do kinh nghiệm sống của bản thân.

Thú thật, tôi đã đọc quyển sách một cách say mê như một quyển tiểu thuyết hay và hấp dẫn. Lời văn của tác giả rất duyên dáng, nhưng trong tiếng cười đùa, ta cảm thấy một cái gì buồn man mác, đau đớn và chua cay. Quả là tiếng cười trong nước mắt. Phải chăng họ Vương đang sống trong “mặc cảm tội lỗi” vì đã bị sống một phần lớn trong đời mình “nô lệ” trong chế độ “nô lệ” của thời thực thuộc? Nhiều đoạn văn thật là cay độc! Ðối với những kẻ tàn bạo buôn dân bán nước lưu manh bịp bợm, kể ra ta phải nghiêng mình trước sự vô cùng can đảm của tác giả – không biết sợ hậu quả của tư thù.

Tuy vậy có điều mà tôi không mấy vừa lòng là tác giả một đôi chỗ không nỡ kê tên thật một vài nhân vật “nẩy lửa”. Úp mở như vậy, thiết nghĩ không lợi cho người đọc, nhất là các bạn không phải là người miền Nam họ rất thắc mắc. Nhưng biết đâu, đó lại không phải là dụng ý sâu sắc của tác giả mà là cố ý úp mở để bắt độc giả tò mò và “bươi móc” ra cho thêm quan trọng.

Ðặc sắc thứ hai là trong lối hành văn, ông bạn họ Vương dùng toàn tiếng nói của địa phương, nhất là tiếng nói của người Sài Gòn trăm phần trăm. Có nhiều từ ngữ địa phương mà nay đã mất dấu, như “ông Hoành, ông Trấm”, “mêm xối xiên” v.v. đã được giãi bày nguồn cội cặn kẽ. Riêng cá nhân tôi, tôi đã học được rất nhiều ở Vương-quân những điều mà một người dân Việt cần phải biết ở nơi “chôn nhau cắt rún” của mình. Bốn chữ “thành tâm thỉnh giáo” mà Vương-quân đã biên ở trang nhứt trong quyển sách tặng tôi, làm cho tôi vô cùng bối rối và hổ thẹn.

Ðặc sắc thứ ba là cách hành văn trong tác phẩm họ Vương pha lẫn tâm hồn của một học giả trang nghiêm đứng đắn với tâm hồn chất phác thật thà, với những tín ngưỡng thông thường của người dân bản xứ. Nếu bạn là nhà trí thức bạn sẽ nhìn thấy hình thức bác học của câu văn, nhưng nếu bạn là người dân quê, một dân thầy hay dân thợ, thì bạn cũng nhìn ra trong cái giọng nửa thầy nửa thợ, nửa nông dân tay lấm chân bùn một cái gì rất quen thuộc của giới mình ngay… Ðó là chỗ đặc biệt nhất của lối hành văn của tiên sinh vậy. Nói thế, không phải bảo một cách giản lược rằng văn của họ Vương là văn bình dân: thật ra chỉ bình dân tùy theo giới nào mà tiên sinh bàn đến thôi. Nói đến giới “ăn chơi” ông dùng tiếng “lóng” của giới ăn chơi, nói đến giới công chức, ông dùng tiếng nói thông dụng và đặc biệt của giới công chức… Nghĩa là ý tưởng của một học giả xuất thân Trường Bác Cổ Viễn Ðông với những lề lối nghiên cứu, suy nghĩ cân nhắc của một nhà nghiên cứu hết sức khoa học, nhưng câu văn thì uốn khúc thiên hình vạn trạng tùy phong tục của từng giới, của từng địa phương, của từng giai cấp. Một loại văn mà tôi chưa nhận thấy có từ trước đến giờ, từ Nam chí Bắc. Một loại văn thật là công phu lắm mới viết được như thế.

Bàn về những tài liệu tác giả họ Vương, nơi bài tựa đã nói: “Ôm mớ tài liệu thu thập bấy lâu dù hay dù dở, dù chưa bằng bụng, mình biết lấy mình – bày hết, trích hết ra đây – mặc tình các vị xa gần tùy thích lựa chọn… dù chẳng làm nên cái bánh ngon, cũng được tiếng là không xấu bụng”, (…) “Bắt tay vào việc, cốt ý là muốn cống hiến ra đây mớ hiểu biết lụn vụn và mớ nghe thấy vặt vãnh về Sài Gòn (…) Ở đây tôi chú trọng nhiều nhất là những đoạn sử vụn vặt buổi giao thời: Pháp – Nam – Cha – Chệc chung đụng,  những chuyện “Tây đến Tây đi”, những việc chưa ai nói rõ ràng, may tôi được nghe tận tai, hoặc thấy tận mắt, nhiều đoạn do hiểu biết riêng, lắm đoạn nhờ các cố lão thuật lại. Tôi không dám chắc đúng cả…”

Như thế, ta không nên đòi hỏi nơi tác giả những tài liệu phải xác thực, hoàn toàn xác thực, và dĩ nhiên còn nhiều thiếu sót. Công việc này đâu phải của một người mà được chu đáo. Thường lại là những câu chuyện truyền khẩu, cho nên chỉ có những giá trị truyền khẩu mà thôi. Ðại để những gì bạn họ Vương thuật lại, chính tôi cũng được các bậc cố lão thuật lại như thế.

Về sự nhận xét, hay nói cao lên, về nhân sinh quan nhà chép sử có một phần quan niệm về đời giống như René Grousset thường nhận thấy sự thăng trầm vinh nhục như là một định luật bất di bất dịch của Tạo hóa

Nhưng ông bạn lại đôi khi cũng thắc mắc đến quan niệm “ác lai ác báo” của dân gian. Bàn về từ đường của Tổng đốc Ðỗ Hữu Phương, họ Vương nói: Ngôi nhà nầy, đất thì bán cho khách Tàu xây nhà chọc trời làm tửu quán, cao lầu, rạp ciné. Chỉ chừa một khuỷnh để làm nơi thờ phượng. Mấy chục năm về trước, cờ bạc thạnh hành, vua đổ bác “Thầy Sáu Ngọ” nhiều tiền mướn đấy làm chỗ hốt me ăn thua ức vạn. Nghĩ cho con cháu ran rát, đỗ đạt thành danh mà từ đường chứa đầy tiếng thô tục, nước bọt và đàm xanh, có phải chăng là căn quả?”

Trong khi đó ông bạn họ Vương cũng nhận thấy rằng tang thương là định luật của Tạo hóa: “Một phú gia giàu sang bậc ấy (nói về ông Quách Ðàm) mà nay còn gì? Gần chùa Giác Lâm trong Chợ Lớn, thuộc ranh tỉnh Gia Ðịnh, một ngày mới đây, tôi thấy một bầy bò sữa đứng ăn cỏ trên một ngôi mộ có vẻ hùng tráng nhưng trơ trọi điêu tàn. Cạnh bên là đám ruộng khô chứa một đống rác to bằng đồng lúa chưa vô bồ, ruồi muỗi lằng xanh bay vù vù như một đám nhạc hỗn độn. Ðịa thế “hữu bạch hổ” không còn; “tả thanh long” ao ruộng nọ đang lấp, còn chăng là bầy bò nhơi cỏ gần đống rác và mớ ruồi lằng, ấy là hiện trạng ngày nay của mộ phần “phong thủy: ông Thông Hiệp”. Những tư tưởng như thế chung đụng hòa lẫn nhau hợp thành một tâm hồn sóng gió linh động vô cùng. Ðừng chê đó là mâu thuẫn. Mâu thuẫn đó mới là tâm hồn chất phác thành thật của họ Vương và đó là nguồn hứng bất tận tạo ra một con người và một lối văn đặc biệt như thế. Văn là người thực không sai chạy vậy.

TG-NDC

Báo TỰ DO ngày 07/4/1961

*Nguồn: Đại Việt Tàng Thư

Kịch tác gia Trần Lê Nguyễn

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

August 10th, 2024

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Kịch tác gia Trần Lê Nguyễn

Trần Lê Nguyễn, thuộc lớp nhà văn, nhà thơ, kịch tác gia thời trước 1975. Ông rời quê rất sớm, mới mười mấy tuổi đã xuôi Nam đi làm cho hãng Dai Nam Koisi của Nhật, rồi viết văn, viết báo, viết kịch…

Năm 1956, Trần Lê Nguyễn viết vở kịch Bão Thời Đại, vở này đoạt Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc.

Năm1957 Trần Lê Nguyễn tham gia nhóm Sáng Tạo của Mai Thảo và trở lại với thơ. Thời kỳ này Trần Lê Nguyễn nổi đình đám với vở kịch nói Quán Nửa Khuya. Là người sống hết mình trên các đường phố của Sài Gòn xưa, Trần Lê Nguyễn đã nhận định về bản thân như sau:

Nửa đêm những người yêu nhau nhảy slow

Kẻ hút “pip’’ đi một mình bờ đại lộ

Vì không ai yêu mình

Hay mình không yêu ai

Với Nguyễn này, Trần Lên Nguyễn có mối liên hệ thời trẻ. Khoảng năm 1955, lúc Nguyễn còn học trung học và bắt đầu làm thơ, nghe tin Trần Lê Nguyễn làm chủ bút báo Mùa Lúa Mới của Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn đến gặp và đưa đăng một bài thơ. Đó là bài Người Em Cách Một Nhịp Cầu, nay chỉ còn nhớ một hai đoạn:

Em về bên kia nhịp cầu

Không hẹn ngày mai gặp lại

Vì dòng sông ấy còn sâu

Vì máu dân mình còn chảy

Chắc gì những chuyện mai sau

Biên thùy xây bằng non ải.

Qua lần gặp ấy, ấn tượng còn lại với Nguyễn là hình ảnh một gã đàn ông hốc hác, gầy ốm. Sau này, qua bao đổi dời -CS chiếm Miền Nam, học tập cải tạo, ra tù lang thang kiếm sống trên đường phố Sài Gòn- Nguyễn gặp lại Trần Lê Nguyễn ở hẻm cà phê Hồ Hoàng Đài trên đường Tự Đức. Đây là nơi dừng chân của các họa sĩ, nhà văn lỡ thời: Đinh Cường, Trịnh Cung, Hồ Thành Đức… Trần Lê Nguyễn cũng ghé tới quán cà phê này. Anh đi chiếc xe đạp cũ, trong cái giỏ trước xe có để một số tờ báo, tạp chí… Lúc này anh đi bán báo qua ngày. Ngoài ra nghe đâu anh còn môi giới bán tranh.

Theo TRẦN ÁNG SƠN trên Văn Chương Việt:

Trần Lê Nguyễn được Hội Văn Nghệ Thành Phố giao một phần kiosque 36, anh hý hoáy đóng kệ đem một ít tranh của Nguyên Khai, Mai Chửng, Nghiêu Đề, những sách hội họa xuất bản ở Pháp bày bán, chưa kể những món thuộc loại “chà đồ nhôm” cũng được bày biện một cách trang trọng. Hàng ngày anh ra kiosque đóng vai ông chủ, phì phèo chiếc ống vố, có khi Tây đến hỏi mua một món gì đó, anh xổ nho Tây thật oách. Vắng khách, anh lôi chai rượu thuốc tự thưởng cho mình một chung cũng đủ qua ngày. Không đi nhậu nhẹt bê tha, anh sống mẫu mực hơn bọn chớm già như chúng tôi. Một hôm Hồ Thành Đức rủ tôi đến nhà anh chơi.

Nhà Trần Lê Nguyễn ở khu cư xá cổ Bến Chương Dương, sau khi len lỏi leo mấy lượt cầu thang hẹp chúng tôi tìm ra nhà anh, cảm giác đầu tiên của tôi là hơi ngạc nhiên vì từ nhà anh phát ra những tiếng kêu chim chẳng ra chim, gà chẳng ra gà, khi cửa mở những gì nhìn thấy làm tôi thích thú. Cả một căn phòng 4 bề toàn chuồng là chuồng, trong đó lúc nhúc những chú chim cút, độ chừng không dưới 500 con, mùi chim và mùi chất thải bốc ra một cách rất là… “đời thường”. Chẳng cần dài dòng anh kéo chúng tôi sang phòng kế bên, trong phòng treo khá nhiều tranh, có cả tranh Thái Tuấn, Tạ Ty. Chuyện sau đó diễn ra giữa anh với Hồ Thành Đức, tôi đi quanh phòng ngắm tranh nhưng lòng mênh mang: có thật đây là cuộc sống của chúng tôi?

Nhà văn Trần Lê Nguyễn bị tai biến mạch máu não, từ trần đêm 7 Tháng Bảy, 1999, thọ 76 tuổi.

Để hiểu rõ con người và tác phẩm của Trần Lê Nguyễn, mời độc giả đọc trích đoạn bài viết của VIÊN LINH nhan đề:

Trần Lê Nguyễn.

thơ kịch và phim

Trần Lê Nguyễn là một kịch tác gia nổi tiếng không thua gì Vũ Khắc Khoan, Vi Huyền Đắc, ngay thập niên ’50 những vở kịch của ông như Bão Thời Đại, Quán Nửa Khuya hay Đêm Ba Mươi đã được nhắc nhở, được trao Giải Văn Chương Toàn Quốc bộ môn kịch, tuy rằng những vở này chỉ mới đăng trên các tạp chí, hay trình diễn trên làn sóng điện các đài phát thanh, mà chưa từng được dựng trên sân khấu.

Thính giả nghe thoại kịch dù nghe ngang ở khúc giữa cũng có thể đoán đó là kịch Trần Lê Nguyễn bởi đối thoạt rất chọn lọc, lúc nào cũng đầy xung đột, mâu thuẫn, giọng nữ phải là gái Hà Nội, giọng nam phải là một trí thức nghệ sĩ, vai chính thường là đạo diễn hay họa sĩ, và âm thanh bố trí tới hai ba tầng, tiếng ly tách lanh canh va chạm cùng tiếng cười, hay hơi thở, và một điệu nhạc hòa âm xen vào đúng lúc, chúng tôi nghe và biết đó là kịch của “anh ba họ.” [Trần Lê Nguyễn]. Ngoài đời đạo diễn không là ai khác, chính tác giả Trần Lê Nguyễn, và họa sĩ không là ai khác, chính là Ngọc Dũng người bạn thân của anh.

Song song với kịch ông còn có thơ, thơ mới hay thơ tự do, đặc biệt thơ ông có địa vị trên các tạp chí văn học lớn như Sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi, Văn Nghệ.

Saigon mưa

Đế giày tôi lủng hai bên

Những chiều Saigon mùa mưa như chiều nay

tôi đi bằng gót qua nhiều lề đường đọng nước

Đĩa nhạc quay tròn quay tròn

âm thanh nổi

Tờ báo buổi chiều loan tin chiến sự xứ Lào

Mưa lại rơi

như tháng bảy mưa rơi ngoài Bắc

Hà Nội không còn

Sáng qua tôi gặp cô gái phố Hàng Ngang

Ngoài kia đâu còn Hà Nội

Có những người chết đi mất xác bên Cầu Kiệu

Con đường hành quân thủa trước vắt qua Dốc Mơ gặp mộ người nữ cứu thương Thái

– mortier Tây bắn ở Tuy Hòa chết không hay đâu còn Hà Nội

Tôi trú mưa đầu phố

Giày tôi vào nước từ lâu

Gió tạt quán rượu góc đường Charner thủa trước

Ly rượu anh thủy thủ trên đất liền

Người đàn bà Pháp chờ taxi cô độc

Đây không là Paris

Sao tin chiến sự Vientiane làm nhớ thương Hà Nội

Sao Hà Nội nhắc những người chết đi

Tôi đi nhận lá thư không đến chiều nay

Sao lại gặp Sàigòn mưa như trời mưa xứ Bắc.

(Trần Lê Nguyễn,

Thế Kỷ Hai Mươi, 1960) (1)

Khoảng 1955 người viết bài này đã được đọc tạp chí Mùa Lúa Mới xuất bản tại miền Trung, tờ báo dầy dặn, bài vở chọn lọc đậm màu sắc kháng chiến, bởi các tác giả góp mặt phần lớn là những người cựu kháng chiến: Nguyễn Văn Xuân, Trần Lê Nguyễn, Võ Thu Tịnh … sau này cũng đã được gặp hay nói chuyện với họ, và đọc họ nhiều hơn. Hôm 18 tháng 4, 2015, tình cờ tôi lại nhìn thấy tên một trong những tay cựu kháng chiến này – Trần Lê Nguyễn – trong phim Đất Khổ do Hà Thúc Cần đạo diễn dựa trên phân cảnh truyện phim cùng nhan đề của Hà Thúc Như Hỷ, trình chiếu lúc 3 giờ tại rạp Ultraluxe thuộc thành phố Garden Grove, trong khuôn khổ Viet Film Fest. Thấy lại mấy khuôn mặt bạn bè khác trong phim: nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, nhà văn Sơn Nam và chiếc xích lô máy. Trần Lê Nguyễn chỉ góp phần trong sở trường của nhà viết kịch. …

Những kẻ vô tâm hay có tâm địa riêng viết ra rằng Trần Lê Nguyễn ham sống, ham ăn chơi… bằng nghề cờ bạc; đành rằng thơ anh có nói đến Đại Thế Giới, và thế giới ban đêm của Hòn Ngọc Viễn Đông trước 1954 (anh vào Nam khoảng 1953); đành rằng thơ anh ra vào những tay anh chị thuở Bình Xuyên, tay búa tay rìu, đành rằng bạn hữu tìm anh khắp nơi không thấy, mà tới sòng bài Kim Chung có nhiều hy vọng gặp anh hơn cả, song rêu rao một đạo diễn không thành công bao nhiêu vì cây thẻ cỗ bài là đem chuyện đời tư viết thành chuyện văn sử.

Trần Lê Nguyễn sống trong một ngõ hẻm ngoằn ngoèo ở Bến Chương Dương. Có cố nhớ cũng không nhớ nổi căn nhà ấy. Cầu thang nhỏ hẹp, ọp ẹp, nhưng vào lọt bên trong rồi thì thật thích: một căn phòng dài nhiều cửa, cửa nào nhìn ra cũng thấy những mái nhà. Cả chục mái nhà phía trước. Trên tường treo một hai tấm tranh thật đẹp, của Ngọc Dũng, kể cả tranh lõa thể của Modigliani.

Giao duyên

Từng kiếp sống bồng bềnh

Bước chân lầy lối ngõ

Tiếng gọi đò hối hả

Giữa khuya

Ngọn đèn ai còn đỏ lửa

Mười năm trời không làm thơ

Đêm nay bút cầy luống chữ.

…

Ngoại ô trời đen khói bụi

Mái nghèo

Đồng ruộng mông mênh

Lạc lõng vào đây vài ổ đĩ

Đèn khuya cửa ngõ

– Đêm qua Sáu Nhỏ không về!

Trôi dạt vào đây vài anh chị

Búa rìu bằm nát tay trai

Có tiếng la trời ơi ới.

(Trần Lê Nguyễn, Sáng Tạo, 1958)

Khung cảnh của bài thơ là khung cảnh con ngõ của anh. Sau này tôi được biết, đó là khu nhà của ông tỷ phú Nguyễn Đình Quát cho anh ở nhờ, hay thuê với giá rẻ. (Ông Quát này sau có ra tranh cử tổng thống Việt Nam Cộng Hòa). Đám cưới của anh, tôi vô tình trở thành người “mừng cúng” nhiều nhất. Anh báo tin lấy vợ tuần tới, người khác giúp thế nào cũng được, riêng tôi chỉ cần cho anh mượn vài vở kịch. Nguyên là những năm làm trong bộ biên tập Đài Tự Do, một đài đen do người Mỹ tài trợ, anh Phan Tùng Mai (con trai nhà cách mạng Phan Văn Hùm) và tôi thay nhau cung cấp cho đài những vở kịch 30 phút, khoảng 5 nhân vật, cứ hai tuần đến lượt phải cung cấp một vở mới. Trước sau trong mấy năm tôi viết được 27 vở. (4) Anh nói tôi có mừng đám cưới anh thì viết cái giấy cho anh quyền bán lại vài vở kịch tôi đã bán cho VOF để anh lấy bán lại cho một đài nào đó, không còn nhớ đài nào. Nhuận bút tùy theo đài, riêng Đài Tự Do (thời Đại Úy Vũ Quang Ninh làm trưởng ban chương trình) trả 5 nghìn một vở. Sau tôi nghe nói làm sao không biết, anh bán được tới 7 vở của tôi cho một đài khác. Tôi có hỏi anh, anh chỉ cười hề hề, nói rằng quà cưới của tôi lớn nhất, nhưng chỉ anh bán lại được thôi, chính tôi có bán cũng không chắc được, đừng tiếc.

Tôi có nhiều dịp đăng bài của Trần Lê Nguyễn. Anh tên thật Nguyễn Huy Tạo, người Sơn Tây, sinh năm 1923 (có nơi viết 1924). Các nhà văn miền Nam có năm bảy người viết kịch, như Nghiêm Xuân Hồng, Nhật Tiến, Dương Kiền, Phan Tùng Mai, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh, song sống kịch chỉ nên kể Vũ Khắc Khoan và Trần Lê Nguyễn.

Tháng 10, 1974, Trần Lê Nguyễn ghé tạp chí Thời Tập do tôi làm chủ nhiệm, trao cho tôi vở kịch mới nhất của anh: “Ngôi Nhà Trên Đồi Thông.” Vở kịch ghi rõ: Thời gian: một năm gần hết cuộc chiến này.

Hãy thưởng thức đoạn kết của vở kịch, xảy ra tại một đô thị trên vùng cao nguyên [nên hiểu là Đà Lạt, địa danh thường thấy trong thơ Trần Lê Nguyễn].

Ngôi nhà trên đồi thông

– Bường (người con gái ngoài 30 tuổi): Sao lại nhà hoang? Nhà này là nhà riêng của ba tôi để lại cho tôi mà?

– Liên (người nữ diễn viên độ 25, 26 tuổi): Nhưng cô không chịu nhận lấy mà bỏ đi hoang nên mọi người coi đấy là nhà chung. Cô phải đuổi hết những người chiếm ngụ vô quyền đi về đây mà ở thì nó mới hết là nhà hoang được.

– Bường: Cô này nói nghe cũng được đấy. Mà cô là ai mà biết rõ về ngôi nhà này quá vậy? Là nữ diễn viên phải không?

– Liên (giận dỗi): Không là nữ diễn viên gì hết. Tôi là vợ của anh Điềm.

– Điềm (hơn 40 tuổi, viết kịch – bàng hoàng): Sao Liên lại nói vậy?

– Liên (xúc động): Anh quên là đã có lần anh hỏi Liên làm vợ rồi ư? (xa, chậm). Đấy là buổi sáng mùa Thu đúng ngày anh vào Nam. Anh đến thăm lần cuối cùng ngôi nhà đường Quan Thánh ở chỗ tầu điện tránh nhau. (5) (Vui sướng): Em đưa anh đi chơi ngoài vườn hoa, và nhớ rõ buổi sáng ấy em đẹp tuyệt vời. Không hiểu vì đâu ở tuổi 11 em bỗng nói với anh ý nghĩ ngộ nghĩnh muốn lấy chồng. Nghe thế, anh cười nhấc bổng em lên cao: Thật không? Vậy anh hỏi em làm vợ. Anh sắp đi xa. Ngày về anh sẽ cưới em. (Dịu nhẹ): Có phải đúng như thế không anh?

– Điềm (thấp): Anh không ngờ là Liên còn nhớ.

– Liên (hân hoan): Làm sao mà em quên được… Khi được sang du học Đông Đức, em đã trốn sang Tây Đức tìm về miền Nam (buồn). Em hỏi tên những người về hồi chánh không thấy tên anh Hạo em… Cho nên lúc này, ở đây, em không có ai là thân thích.

…Màn hạ….

(Trần Lê Nguyễn, Thời Tập số 14, tháng 11.1974)

VIÊN LINH

Chia tay ‘người khâu di sản’

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

August 3rd, 2024

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Hơn ai hết, Trần Hoài Thư đã sống một cuộc đời xứng đáng. Thời trẻ làm lính chiến xông pha trận mạc. Khi CS chiếm Miền Nam, anh làm người bán xe kem ẩn nhẫn qua ngày. Sang Mỹ, Trần Hoài Thư với chị Yến, cùng nhau rong ruổi, sưu tầm sách báo xưa, làm sống lại văn học Miền Nam. Gia tài anh để lại phải nói là đồ sộ.

Tưởng niệm Trần Hoài Thư vừa mới ra đi

Xin mời đọc sau đây: thơ Hoàng Xuân Sơn và văn Nguyễn Quang Chơn, Tô Thẩm Huy

THƠ HOÀNG XUÂN SƠN

Lúc thực hiện TQBT số 100, tôi gởi bạn Thư 2 bài thơ, trong đó có bài mang tựa Đến (Sau Cùng). Trần Hoài Thư chọn đăng bài kia, có lẽ vì mọi chuyện với bạn lúc bấy giờ vẫn còn tiếp tục, chưa phải là sau cùng. Giờ đây xin ghi lại bài thơ còn trống chỗ như một nén tâm nhang tiễn đưa bạn hiền về nơi hội ngộ với chị Yến, người vợ, người tình muôn thuở!

Đến (sau cùng)

Cuối cùng cũng đến huyền trang

ngôi nhà của gió

đạo tràng của mây

ta như chiếc gậy an bài

lên non chống mỏi

xuống ngày khua mê

gậy

ta, cùng mỗi

đi

về

thênh thang chiếc bóng

não nề chiếc thân

dặm mòn thơm thảo vết chân

ừ . chim bay

bay xa gần cũng lưu

linh vang giữ một tiếng cười

giấc vui cùng bạn

giấc lười lĩnh, đi

giấc trầm kha vô hạn kỳ

chu lưu là nợ của vi vân tình

ai . người, không yêu phương sinh

trăm năm cuộc lữ thơm hình bóng nhau

Cước trắng chiều

giữa sậy.  lau

rồi cũng nghèo nắng

trôi mau về ngàn

giọt lung linh giọt úa

tàn

phương chi biết được nỗi hàn mai sau

lạnh từ đâu

lạnh ngất.          đâu

thân cũng chỉ một chiếc màu nhược ban

theo nhau kỳ trận vô vàn

cảm ân vì chút lầm than ở cùng

từ diệu huyền

tới mông lung

từ neo bến lạ đời lưng lửng còn

gậy cùn

vui bước cỏn con

về chưa tứ diệu vuông tròn tử sinh

huyền trang ngồi lại với mình

là đây. cổ lũy

lung linh điệu chào

HXS 27 tháng mười, năm hai mươi mốt

VĂN NGUYỄN QUANG CHƠN

Anh TRẦN HOÀI THƯ…

Tôi viết tên anh bằng chữ hoa để tỏ lòng kính trọng anh. Kính trọng hay là tôn kính? Có lẽ tôn kính thì đúng hơn, bởi những điều bình dị anh đã làm trong cuộc đời của anh thật đáng được tôn vinh và kính trọng!…

Tên thật của anh là Trần Quí Sách, tên cha mẹ đặt vận vào người anh, nên một đại uý thám báo, một nhà văn, nhà thơ ở miền Nam trước 1975, một kỹ sư điện toán tại New Jersey từ sau 1980 luôn là một người vô cùng “Quí Sách”, và quí theo cách của anh khi giữa vận nước nổi trôi, giữa những con người muốn xoá sạch nền văn minh, tiên tiến, một văn hoá khai phóng lừng lẫy của kẻ bại trận bên kia chiến tuyến khiến anh miệt mài, lục lọi, tìm tòi, sưu tập … cặm cụi ngày đêm sắp xếp những “văn tàn” thời thế, dựng lên một “bảo tàng THƯ QUÁN BẢN THẢO” trên đất Mỹ xa xôi, lưu giữ nền văn học rực rỡ hẩm hiu của miền Nam Việt Nam, một di sản văn học nước nhà …

Anh, chứ không ai khác, cùng chị Yến hiền thê, căm cụi lái xe trong sương tuyết, trong giá lạnh miền Đông Bắc Mỹ để đến thư viện đại học Cornell, Yale… nơi lưu giữ rất nhiều tài liệu văn học quí miền Nam VN, copy, ghi chép, lặng lẽ đêm đêm nơi tầng hầm căn nhà nhỏ với máy in “second hand”, tự sửa chữa phục hồi, để cho ra từng ấn phẩm tặng không cho những người yêu văn nghệ, những nhà nghiên cứu văn học tại hải ngoại, để, họ biết rằng “VIỆT NAM ĐÃ CÓ MỘT NỀN NGHỆ THUẬT, VĂN CHƯƠNG” như thế đó, và, chúng tôi gọi anh là “NGƯỜI KHÂU DI SẢN VĂN HỌC MIỀN NAM”…

…

Chị bị bệnh nặng trước anh, căn nhà nhỏ vốn vắng vẻ càng thêm hiu quạnh. Ngày ngày anh lái xe mang thức ăn vào bệnh viện, đút cho chị từng đũa cơm, muỗng cháo dẫu mưa hay nắng, dẫu tuyết rơi hay gió lộng, bên chị, anh đọc thơ, hát những bài hát cũ, để nhiều khi tiềm thức chị đang ngủ quên sực tỉnh, nhắc anh đọc lại câu thơ, để anh cười vui mà nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo…

10 năm chăm vợ. Trí chị chìm sâu vào quên lãng và chị nhắm mắt bay vào hư không tháng tư 2024…Hôm nay, 27 tháng năm 2024, Trần Hoài Thư cũng buông tay bay theo chị, êm đềm bình dị như những lần cùng nhau miệt mài trên chiếc xe cũ đến các trường đại học, bên nhau dưới căn hầm in ấn, bên nhau trong căn phòng nursing home …

Bầu trời mênh mông, quê người lạnh lẽo, anh chị Thư Yến trên bầu trời cao đang toả ánh nắng hồng tươi trên văn đàn nước Việt. Những viên trân châu văn học miền Nam còn nguyên kiêu hãnh vì nhờ đã có anh, anh Trần Quí Sách, Trần Hoài Thư, râu tóc bạc phơ, cặm cụi từng ngày khâu từng gáy sách!…

Yêu anh, tôi đã một lần vẽ anh cầu mong một lần hội ngộ, mà chẳng bao giờ nữa, đã mãi mãi xa vời!….

NQC – 28.5.24

Trần Hoài Thư

VĂN TÔ THẨM HUY

Một cách ra đi

Trần Hoài Thư

Thường thì cứ là ‘Sống Gửi Thác Về’.

Về đâu? Nào ai biết.

‘Về’ hàm cái nghĩa là đi đến cái nơi ta đã từng ở, cái chỗ ta đã quen thuộc.

Có thực là quen thuộc không? Cái chốn ấy có ai đã từng đến chưa?

Ta hỏi han hề Hiu Quạnh Lớn.

Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ. (TTY)

Có chăng thì là đoàn lữ hành trên cái sa mạc trần gian đang từ đâu đến không ai biết, òa nối đuôi nhau tiến vào cái cõi bể dâu vạn vật chi nghịch lữ, bách đại chi quá khách này, rồi lại lũ lượt theo nhau bước ra khỏi cái cõi ấy mà đi vào cái chỗ vô định không hề biết. Cuộc trăm năm phiên gác bước âm u. Từ cõi mộng mịt mù về cõi mị. … Life is a watch or a vision / between a sleep and a sleep (ACS).

Lại còn hàm cái ý là chấm dứt, là ngừng lại, quy khứ lai hề, ‘về’ thôi, không đi nữa.

Nhưng không phải thế. Với Kim Mao Trần Hoài Thư thì ‘sinh’ có thể là ký gửi, nhưng ‘tử’ không phải là trở về. Mà là đi. Là khởi đầu một cuộc lữ khác. Là ra đi.

Đi đâu?

Tôi ngờ là thám báo Trần Quí Sách đang đi tiền phong thám thính, đang cùng người bạn thiết Nguyễn Ngọc Yến rủ nhau đằng vân khắp 6 cõi trời Đâu Suất, Đao Lợi, sục sạo đi tìm các bí lục, các ‘yến sách’ đầy giòng hư tự.

Trời gọi Trần Hoài Thư đã lâu. Nhưng anh bảo Trời khoan đã. Chờ anh ít lâu. Đã nhiều năm gan phổi anh vá chằng vá đụp, lục phủ ngũ tạng đã rã rượi, khí độc không thải ra được, khiến lắm phen hôn mê bất tỉnh. Thế mà anh lại cứ sinh tồn, cứ vẫn tiếp thủ săn sóc cái chùm tóc đuôi gà bồ kết của anh.  Gan phổi cũng phải cung kính tuân mệnh. Chờ đó, ta chưa chết được. Thật bái phục cái năng lực lạ thường. Nay chị đã đi. Hẹn nhau một tháng ở lại lo hậu sự. Xong xuôi rồi thì cái nhục thể này chẳng có lý cớ gì nấn ná thêm nữa. Thế là ra đi. Một cách ra đi. Ra đi như một bình minh lạ. Trên kỷ nguyên chưa kịp hiện hình (TTY)

Con người ấy có bao giờ chịu ngồi yên. Lái xe đi đến Cornell ở trên trời thì đã có Ngọc Yến đồng hành. Đã có cái nguồn năng lực phi phàm đang chờ sẵn, thì hẳn là phải hào hứng ra đi.

Anh Thư ơi, tôi đang ngồi đây nhớ đến anh, và nhớ đến chị Yến. Vừa buồn, lại vừa vui.

Chúc anh thượng lộ. Hẹn gặp nhau tuần tới. Thắp cho nhau nén hương.

TTH

Dặm trường

vanviet.info/van

Văn 16 Tháng Tư, 2019

Trần Doãn Nho
Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Kỳ 15- Kỳ cuối

Chương 41

Dặn dò đôi ba điều với phạm nhân như thường lệ, tay cán bộ dẫn giải vác súng lửng thửng đi về phía nhà dân ven bờ suối. Toán đi mây bắt đầu tản mác mỗi người một ngả vào khu núi đồi phía trước. Lục theo Song, người bạn tù mới quen vài tuần nay. Song rất rành chuyện đi rừng. Anh giúp Lục rất nhiều trong công việc làm được gọi là tự giác này: tìm ra nguồn mây, hoàn thành nhanh chóng chỉ tiêu số lượng được giao. Nhờ thế, họ có nhiều thời gian nghỉ ngơi để cải thiện linh tinh như bắt cá, bắt cua, nấu nướng.

       Rẽ qua lối mòn dẫn vào khu rừng già, Lục thấy lòng phơi phới bất chợt. Khung cảnh hoang dã, cây cỏ rậm rì, triền núi cao, rừng nối rừng bất tận khiến anh có cái cảm giác hứng thú như ngày nào đọc chuyện đường rừng. Anh hát nhỏ. Song nhìn anh, cười:

–     Có gì vui mà hôm này hát hò thế, bạn?

Lục xoay cái đòn xóc ngang trước mặt:

–     Tôi khoái cái hoang dã của núi rừng. Nơi ít dấu chân người vẫn tạo cho mình cái cảm giác hư hư thật thật khó tả hết.

–     Mới đầu thế đấy. Ði hoài phát ngán. Ði đâu thì cũng là thằng tù thôi.

–     Thì tù. Ấy thế mà không hiểu sao mấy tuần nay, tôi lại có cái cảm giác được tháo củi sổ lồng.

Song cười lớn:

–     Ông khéo tưởng tượng. Tù lớn tù nhỏ đều là tù cả.

Lục im lặng. Song không ở trong hoàn cảnh của anh, nên không có những cảm giác như anh. Từ ngày bị đưa đi cải tạo với tội danh “nghe đài địch và nhen nhóm tổ chức chống cách mạng”, anh đã trải qua cảm giác được tháo củi sổ lồng nhiều lần.

Lần đầu tiên là khi anh được chuyển từ nhà lao lên trại lao động. Ở nhà lao, khỏi lao động, nhưng vừa buồn vừa đói. Tại trại lao động, được làm việc ngoài trời, tuy nhọc nhằn vất vả, nhưng đỡ nhàm chán, lại được ăn khá hơn và được cải thiện linh tinh. Đó là lúc đầu. Chỉ một tuần sau, anh bắt đầu thấy ớn. Số là anh bị nhốt chung với những người có án trong nhà kiên giam. Ở đó, anh chung đụng với đủ hạng người: tù hình sự, tù kinh tế, tù vượt biên, tù phản động mới. Thì cũng là tù, nhưng thành phần hỗn tạp. Lý lịch mù mờ. Một chủ tiệm bún bò được phong làm thiếu tướng. Một anh cựu trung sĩ  trở thành chủ tịch mặt trận giải phóng quốc gia. Một tay bụi đời được cất nhắc làm bộ trưởng. Anh vừa ngột ngạt với thứ kỷ luật khắc khe của chế độ kiên giam, lại vừa ngột ngạt với không khí luôn luôn bất thường ở đây. Một tù nhân chung thân nhiều lần tự tử hụt. Một âm mưu đào thoát bị bại lộ. Một vài cuộc nổi loạn của những tù nhân trẻ. Nhất là chứng kiến thái độ bất khuất của một sinh viên, không có ngày nào là không hâm nóng nhà kiên giam bằng những hành động quyết liệt như hô khẩu hiệu, tự soạn và đọc những bài diễn văn tố cáo chế độ nhà tù, vân vân và vân vân.

Bởi thế, khi được ra khỏi nhà kiên giam, nhập vào khu láng trại của “ngụy quân ngụy quyền”, cảm giác đầu tiên của anh là được phóng thích. Dù vẫn là tù nhưng anh cảm thấy “tự do” hơn. Ðiều làm anh phấn chấn nhất là được gặp lại vô số bạn bè cũ: bạn học, bạn lính, bạn đồng nghiệp. Ở đây, anh được sống cái không khí tù cải tạo chính cống sau ngày miền Nam thất thủ. Nói không quá, anh cảm thấy bớt đi cái mặc cảm của một kẻ ngoài cuộc, nếu không muốn nói là có đôi chút “hạnh phúc” vì được chia sẻ số phận của anh em bầu bạn.

Song hỏi:

–     Ông cũng là trung úy, sao không bị đi cải tạo như tụi này nhỉ? Ở đây thiếu gì trung úy biệt phái như ông. Cũng bị quy tội nặng lắm vì họ cho là thuộc thành phần tâm lý chiến, đặc trách kềm kẹp học sinh..

–     Hên xui thôi ông. Cả hàng ngàn sĩ quan biệt phái, nếu đi cải tạo hết thì ai dạy học. Họ chẳng thương gì đâu, nhưng dùng tạm để rồi loại bỏ, như trường hợp tôi chẳng hạn. Ông xem, cho ở ngoài một thời gian rồi tìm cách bắt vào đây à.  Nói tội, tôi thực sự chẳng biết mình tội gì.

Hai người đi lọt hẳn vào trong rừng. Cây cối đan thành vòm trên cao. Cành lá chằng chịt khiến ánh nắng không lọt xuống được. Hai người để đòn xóc xuống đất. Song soạn một số vật dụng mang theo để “cải thiện linh tinh” như lon gô, lưỡi câu, mồi trùn, bật lửa, nói:

–     Ông giữ lưỡi câu, chỉ rồi kiếm một cành cây nào đó làm cần. Chặt mây đủ chỉ tiêu xong, ông cứ xuống con suối dưới đó câu, đợi tôi. Tôi còn phải đi kiếm một ít măng lồ ô về dầm chua, chuẩn bị cho đợt thăm nuôi lần sau. Lần này hy vọng bà xã sẽ lên.  Còn ông thế nào? Bà ấy vẫn lên thăm thường chứ?

Lục cất lưỡi câu, chỉ, mồi vào bịch ni lông, ậm ừ:

–     Ờ…thì …cũng có.

Song chỉ về phía con suối gần đó, dặn thêm:

–     Anh theo dọc con suối này, leo lên hai bên triền núi để tìm mây. Nhớ đừng đi quá xa suối. Tìm được bụi nào, chặt cho đủ hai gánh.  Nếu tôi tìm ra nhiều, tôi sẽ hú gọi ông.  Nhớ để ý lấy măng. Thăm nuôi, sẵn mỡ, ruốt, vị tinh mà hầm măng thì đã lắm.

      Nghe hai chữ “thăm nuôi”, Lục chợt nghe ngực mình đau nhói lên như bị kim châm. Thăm nuôi! Dù đã chai lì với cảm giác không ai thăm nuôi, dù cố làm lơ, nhưng cứ đến ngày gần thăm nuôi, anh cũng không thể xóa bỏ được cảm giác cay đắng của một kẻ bị ruồng bỏ, hoàn toàn bị ruồng bỏ. Từ ngày bị đi tù, mẹ anh có thăm hai lần. Lần cuối cùng ở lao xá, mẹ anh dẫn hai đứa con theo. Từ đó đến nay, đã hơn một năm rưởi qua, anh hoàn toàn bặt tin tức gia đình. Nghe nói mẹ anh đau yếu, túng thiếu, không cách gì đi được. Con anh thế nào, anh không rõ. Hạnh bây giờ ở đâu, thế nào, có về thăm con không hay vẫn biền biệt trên các chuyến tàu như ngày nào?

      Anh bần thần vác đòn xóc bước đi. Song đã biến mất sau lùm cây bên kia suối. Anh tiếp tục leo lên con dốc. Ðủ loại cây mọc ngang dọc. Chim rừng ríu rít. Tiếng nước đổ dốc nghe vang động ở phía trên. Rừng hoang vắng lạ lùng. Anh chợt thấy lòng dịu lại. Anh đi ngược con suối. Trời ở đây tối hẳn.  Họa hoằn lắm, anh mới thấy một khoảng trời lấp ló sau các chòm lá rậm. Càng đi sâu, không khí càng vắng lặng, tịch mịch, thâm u. Mải thưởng thức khung cảnh hoang dã của thiên nhiên, anh quên khuấy mất nhiệm vụ của mình. Sực tĩnh, anh bươn người trèo lên sườn núi, lục lọi tìm mây. Mây thì nhiều, nhưng bụi nào cũng còn non. Anh sợ lạc, nên cố đi men theo bờ suối. Chẳng có. Anh lấn sâu vào trong rừng. Mất khá lâu, anh mới tìm ra được một cụm mây rục. Mừng quá, anh bất kể gai góc, phang ngang bửa dọc, tìm cho ra gốc. Gai mây đâm tùm lum vào người. Mồ hôi đổ dầm dề. Chất muối mặn thấm vào những vết xước, rát buốt. Trưa, mặt trời lên khỏi đỉnh cây, chiếu xuống nóng bỏng. 

      Chỉ trong một thời gian ngắn, anh thu hoạch được một đống mây, hy vọng đủ cho hai gánh chỉ tiêu trong ngày. Anh sắp mây, bó lại. Chợt nghe đâu đây tiếng cười nói văng vẳng. Anh dừng tay, nhìn quanh. Chỉ toàn cây và cây. Hay là tiếng suối?  Ở đây, ngoài toán anh ra, đâu còn ai. Anh cúi xuống tiếp tục bó. Chỉ tiêu một ngày tạm đủ. Chỉ còn thiếu một ít cho buổi chiều. Mệt quá, nghỉ ngơi cái đã. Anh vươn vai nhìn nắng lấp lóa dưới con suối vắng. Bỗng tiếng nói cười lại vang lên, lần này nghe rất rõ. Tiếng người. Giọng đàn bà. Anh bất giác rùng mình, nghĩ đến những động yêu trong Tây Du Ký. Anh đưa mắt nhìn về hướng phát ra tiếng nói. Hóa ra là có người thật. Không phải là yêu quái. Từ khúc rẽ của đoạn suối trên cao, những bóng người xuất hiện. Anh ngạc nhiên khi thấy toàn là đàn bà. Họ đang giúp nhau chuyền những thanh gỗ qua các tảng đá nhọn. Qua kẽ lá, anh bồi hồi nhìn nhân dáng những người đàn bà. Họ cười, nói, uốn éo thân hình, xắn quần lội qua suối. Những bắp chân trắng nõn, những khuôn ngực nhô cao, phập phồng. Ðàn bà, ôi đàn bà! Thứ sinh vật kỳ diệu! Mấy năm rồi, thế giới anh vắng bóng đàn bà. Anh chỉ gặp họ trong những giấc mơ với những cơn ác mộng và đôi khi kèm theo những hoan lạc dầm dề.

Khoảng bảy, tám người đang di chuyển gần về phía anh. Hóa ra đó cũng là những tù nhân như anh. Trong những bộ đồ tù bạc màu, thân hình mảnh mai của họ như bị cong hẳn xuống dưới những thanh gỗ nặng. Thế mà sao họ vẫn cười nói trong veo như thế nhi, anh tự hỏi. Cả toán đã ở bên kia suối. Một ai đó nhìn thấy anh, reo lên:

–     Một phạm đàn ông các bà ơi! Này anh kia, ngụy quân phải không?

Anh sợ hãi, cúi xuống, vờ làm ra vẻ đang chăm chú bó mây. Một giọng khác vang lên dòn tan:

–     Một mình đấy hay còn ai nữa không, anh yêu dấu?

Im lặng.

–     Nếu như một mình thì em qua nhé. Em qua nhé, đợi em.

Anh không nhìn, nhưng đoán là người đàn bà đang bước xuống suối. Có ai đó lên tiếng cản:

–     Coi chừng! Ðừng có làm người ta sợ hãi. Ngụy quân ngụy quyền họ sợ cán bộ lắm, không phải như bọn mình đâu.  Lỡ có chuyện gì, bị cán bộ kiểm điểm lên kiểm điểm xuống, tội người ta.

–     Kiểm điểm thì kiểm điểm. Ðã tù rồi còn sợ cái con mẹ gì nữa.

–     Mình khác, họ khác.

Giọng một cô khác, nghe trẻ hơn:

–     Thế này mà không xáp tới cũng uổng, phải không anh chiến sĩ của lòng em?

Một giọng khác khúc khích:

–     Ðúng. Kẻ thì lâu năm, người thì lạ miệng. Anh cũng thèm mà em thì cũng rứa…

–     Người ta bảo, thứ nhất rượu đã ngà ngà, thứ hai đi ở đường xa mới về. Lâu ngày mà xấn lại, thì phải biết, hết ý!

Nhiều người cùng reo lên tán thưởng. Im lặng một lát. Một người tiếp:

–     Anh có nhớ chị nhà không anh? Chị có bới xách cho anh thường không? Anh có nhớ cái…

Giọng nói tắt đột ngột vì có ai đó bịt miệng lại. Rồi lại vang lên:

–     Gì vậy con quỷ cái. Ðể tau nói cho đã, giữa rừng núi này mà sợ ai.

–     Dù sao anh ta cũng là đàn ông. Về trại tha hồ nói gì thì nói.

–     Có đàn ông nói nghe mới vui. Ðàn bà không nói làm gì, này anh ơi, anh có nhớ…

Giọng nói bị tắt.

–     Thôi bà ơi, để cho người ta yên tâm học tập cải tạo, người ta về. Nhắc chi cho người ta nhớ, người ta thèm, phải không anh…

–     Bà thèm chứ ai thèm! Ðừng có mà làm bộ.

Cứ thế, đám nữ tù nhân đua nhau nói qua nói về, chọc ghẹo anh.  Hơi hám họ lan tỏa ra qua đây hòa cùng mùi cây lá, mùi núi rừng hoang dã làm dịu lại cái nóng rát người. Thỉnh thoảng, anh liếc nhìn qua bên kia suối, thưởng thức dáng nét đàn bà. Họ vẫy tay, vuốt tóc, nghiêng vai, xắn quần, vuốt ngực…Anh bừng bừng khao khát. Rồi dịu xuống. Như lửa rơm. Những ngày thiếu thốn vắt kiệt sức người. Lắm khi, sự thèm khát chỉ còn là ý niệm, không hơn không kém. Anh thú vị với những lời trêu chọc. Chúng tinh nghịch, hồn nhiên. Chính bọn anh, trên nương rẫy, cũng tìm quên nhọc nhằn và bao nhiêu bức bách khác bằng cách nói chuyện tiếu lâm. Nó giải tỏa phần nào những bức xúc bản năng. Chỉ có chuyện tục là được nói thả giàn, không sợ đám “ăn ten” báo cáo. Ðó là thứ ngôn ngữ phi chính trị, phi giai cấp.

Ðám đàn bà vẫn tiếp tục trêu chọc. Một chị giả giọng nhỏng nhẻo:

–     Anh ơi, em qua nhé. Ở đây vắng lắm, không có ai đâu mà sợ.

–     Này, bà trông được đấy. Tạng bà hợp với ông ấy.  Mà có qua thì coi chừng, anh ta ngã lăn ra chết bất tử thì mày ở tù đến mãn đời luôn đó. Khoan, để ta xem chàng ra sao đã, thiếu úy, đại úy hay đại tá. Cỡ bà, đại uý dầy dầy là vừa. Thiếu úy thì quá trẻ, còn để người ta về lấy vợ. Tá thì để dành cho bà phạm mới này này. Sao, chị có bằng lòng không chị, chị gì nhỉ?  Mẫn hay Mạnh?

Một giọng rất trẻ phụ họa:

–     Ðúng rồi, chị Mẫn. Chị lội qua ngay đi. Chàng đợi bên kia kìa. Nói với chàng là đi vào sâu một chút, đừng có ở gần đây, tuị em, tụi em…thèm. Ông đại úy ơi, đừng bỏ lỡ cơ hội.

Mọi người cười phá lên. Tiếng cười nghe dòn tan, dội vào vách đá, thành cây, khua động khu rừng vắng.

–     Ồ, giả sử như đại uý đi. Cỡ dầy dầy như thế này thì tệ nhất cũng là đại úy rồi. Chị cũng dầy dầy, trông xứng ác.  Nào, đại diện chị em, lội qua đi.

Có tiếng xô đẩy, cười cợt rồi bỗng nghe ùm một tiếng. Cả nhóm reo hò. Lục giật mình, bỏ sợi mây xuống, ngẩng đầu nhìn sang. Một người đàn bà đang lóp ngóp vùng vẫy trong vũng nước suối, la oai oái. Mấy người khác nắm tay chị ta kéo lên. Bộ đồ tù tả tơi dính sát vào người. Anh liếc nhìn, tóc tai dựng ngược. Ngực này, mông này, bờ vai này, tóc xỏa, chân trần.  Ðàn bà, ôi đàn bà yêu dấu! Một chị nói:

–     Coi kìa, sao không mặc gì bên trong cả vậy? Này, ông đại úy ơi, đừng ngắm trộm nhé. Chúng em cấm đấy. Ờ, cũng được thôi. Mất mát gì đâu, phải không bà chị? Cứ ngắm đi, ngắm cho thỏa thích, kẻo nhớ.  

Anh thẹn. Làm bộ quay lưng. Nhưng len lén nhìn qua kẽ lá, run rẩy, bần thần. Bên kia, đám đàn bà ngừng đùa cợt, bắt đầu vác gỗ đi. Một chị nói vói theo:

–     Tụi em về nhé. Trưa rồi. Chiều tụi em đi ngang đây.  Có thích thì đợi, ông đại úy.

Anh mỉm cười. Bỗng không, anh được mấy bà thăng lên đại uý.

      Buổi chiều, ra khỏi trại, Song hỏi Lục:

–     Tiêu chuẩn buổi chiều ông đủ rồi chứ gì? Mới tập tễnh, thế mà khá đấy. Bó lại xong xuôi, nhớ tranh thủ kiếm măng nhé. Rồi về chỗ tôi câu cá.

      Lục hỏi Song về đám đàn bà anh gặp hồi sáng. Song cho hay:

–     Có cái trại nữ mới lập ở mé đường lộ, chỗ rẽ về bến đò ấy. Ôi thôi đủ hạng, đủ loại. Ðiếm có, tú bà có, ăn xin có, vượt biên có. Có cả một tội phạm giết người. Thật là hỗ lốn. Gặp giữa đường, trong bộ đồ tù, mình chẳng phân biệt nổi ai là ra ai. Cá mè một lứa. Nhưng họ tự do hơn tụi mình, vì họ chẳng chính trị chính em gì. Họ bạo mồm bạo miệng. Thích gì là nói đó. Tôi kể ông nghe một chuyện, ông để bụng. Hôm đó, tôi đi bứt tranh. Lủi sâu vô trong rừng, tôi gặp được một vạt tranh, phải nói là hết ý, đủ cho tôi dùng cả một tuần lễ. Bứt xong, đang lúi húi cột, thì một cô xuất hiện. Cô ta cũng đi bứt tranh như tôi, tôi đoán thế.  Cô ta không nói gì, đứng nhìn tôi chằm chằm rồi vẫy tôi đi. Chưa hiểu gì rõ ràng, nhưng nhìn nét mặt, tôi đoán có một điều thú vị chi đây, nên tôi đi ngay, dù nói thật, là vừa đi vừa run. Ðến một khoảng rừng vắng thật vắng, cô ta và tôi đồng dừng lại. Ông cứ tưởng tượng, giữa rừng sâu, hai người, một nam một nữ, nam thì xa vợ bảy tám năm, nữ thì cũng ở tù lâu, thế mà, ông có tin không, không có gì xảy ra cả.

      Lục cười:

–     Không thể tin được. Gặp tôi thì phải biết.

–     Ðúng. Tôi cũng không tin ở tôi nữa. Ông biết không, chẳng nói chẳng rằng, hai đứa tôi ôm nhau như thể đã quen nhau tự thuở nào. Từ đầu chí cuối, ông biết không, chẳng ai nói với ai một lời. Kỳ thật. Hình như  không nói mà còn hơn nói nữa. Nói bằng gì ông biết không? Hít! Ừ, bọn tôi chỉ biết hít nhau. Biết gì mà nói bây giờ. Ðúng là hít, chứ không phải hôn đâu. Ðứa này hít đứa kia một cách phải nói là tận cùng chi mạng. Mùi mồ hôi, mùi khét nắng, mùi người, mùi gì đủ thứ.  Thơm ơi là thơm. Lạ lắm ông ạ, lâu ngày, không nghe mùi đàn bà, giờ được nghe, được ngửi, chao ôi là kỳ diệu. Sướng chi lạ là sướng. Thế mà lạ chưa, tôi bỗng đẩy cô ta ra và bỏ chạy…

–     Ông sợ?

–     Không biết vì sao. Tôi chạy một mạch, đứng lại, nhìn lui, thấy cô ta vẫn còn đó, bất động.

      Song ngừng lại, thở dài:

–     Sau này, nhiều lần mong có dịp như thế, nhưng đâu có.  Trời chỉ cho mình một lần, không hưởng được thì thôi…Thôi nhé, về nhà kể tiếp, đi lo tiêu chuẩn chiều cho xong đã. Nhớ nhé, gặp tôi ở bờ suối.

      Chia tay Song, Lục đi về hướng của anh, lòng nôn nao vô cớ. 

      Bó xong bó mây dành cho buổi chiều, anh hoàn toàn thoải mái. Phần thời gian còn lại là của anh. Không phải để nghỉ ngơi mà là để cải thiện. Ðây là giờ phút tự do. Trong một khoảng thời gian và không gian tuy hạn hẹp, nhưng anh có thể bay, nhảy, làm một số việc mình thích. Anh lủi tiếp vô rừng trước mặt để kiếm măng. Vác theo chiếc rựa, anh xoay lui nhắm hướng về, rồi chui bờ đục bụi tiến tới. Ðây là một khu rừng khá già. Càng đi sâu, càng dễ bước vì nhiều cây cao, tàn lá rậm rạp khiến đám cây lặt vặt không thể sống vì thiếu ánh nắng mặt trời. Không khí mát lạnh. Anh đi mãi, không tìm thấy một mụt măng nào, bèn đổi hướng, tìm đường men theo bờ suối, đi ngược lên ngả khác. Suối chảy rỉ rả qua những chòm đá, cái thì phẳng phiu, cái thì lởm chởm với nhiều đường cạnh sắt như lưỡi dao. Bắt gặp một ít mụt măng trong các khóm lồ ô, giang, anh sung sướng bẻ lấy, bỏ vào bịch với cảm giác êm ấm của một ngày no đủ. Trong khi bươn bả tiến tới một lùm lồ ô khác, thì anh thấy một người. Một đàn bà. Tim đập mạnh. Người đàn bà để cả áo quần ngâm mình dưới nước. Ðây là một cách tắm phổ biến của các tù nhân, vừa để tiết kiệm thời giờ, vừa để giặt áo quần luôn thể. Có thể chị ta là một trong những nữ phạm nhân đi gỗ hồi sáng, anh tự nhủ. Nhưng sao chị ta lại ở đây một mình? Anh nhìn quanh, quan sát. Chỉ toàn cây với lá. Rừng yên tĩnh. Tiếng suối chảy nghe mơ hồ, chợt có chợt không. Anh phân vân vịn cành cây nhìn xuống. Một sinh vật giống đực đang nhìn ngắm một sinh vật giống cái giữa núi rừng hoang dã. Anh say đắm, ngột thở, khao khát. Sinh vật giống cái hồn nhiên kỳ cọ, vẫy vùng. Bộ đồ tù mỏng manh chỉ khiến nàng càng thêm trần trụi. Và hấp dẫn. Nàng hụp, lặn. Nàng cởi áo ra vò. Trời, đàn bà! Anh thảng thốt kêu lên:

      –     Này!

      Anh hụt hơi, lảo đảo muốn ngã. Chừng như người đàn bà giật mình. Nàng khoát vội chiếc áo vào người, lấy hai tay túm lại trước ngực, nhìn lên. Nàng đã thấy anh, một đàn ông. Anh run rẩy gọi tiếp:

–     Này!

      Anh lao xuống. Nàng lưỡng lự. Nhưng kìa, nàng bước lên bờ. Tóc ướt nước phủ trùm khuôn mặt. Bộ đồ tù sũng nước dán chặt vào thân thể. Một pho tượng biết đi. Anh xuống dốc.  Nàng leo dốc. Anh đưa tay làm dấu, chỉ vào một lối mòn bằng phẳng dẫn vào trong khóm rừng xa, nhanh nhẹn tiến về phía trước. Rừng chợt vắng. Mọi âm thanh đều ngừng. Anh không nghe gì hết ngoài tiếng bước chân lao xao sau anh. Hai sinh vật đi trong hỗn mang tiền sử. Không có ai. Không còn ai. Họ đi như thể là những kẻ tái tạo thế giới sau cơn hồng thủy. Không vướng bận. Không suy nghĩ. Không cá thể. Và họ dừng lại.  Không cần nhìn nhau và tuyệt đối không nói một lời nào, họ quấn vào nhau. Chân thành. Cuồng bạo. Rừng xoáy đổ. Suối xiêu dòng.

      ra khỏi cơn mơ, đúng lúc hai người rời nhau như hai kẻ xa lạ, thì lục bỗng cảm nhận một cái gì rất đỗi thân thuộc từ người đàn bà. từ hơi thở, cái bíu tay, nụ hôn cho đến tiếng nấc hoan lạc, ai? anh ôm người đàn bà xoay lại, đưa cả mười ngón tay vuốt tóc nàng lên. anh há hốc, mắt trợn tròn. người đàn bà bước lùi lại, lắp bắp:

–     trời… anh lục… phải anh … là lục… không…k hông…

      giọng anh run bần bật:

–     Hạnh!

      thế giới bỗng mở ra toang hoác, tan nát. Cả hai người bay từ cõi tiền sử về trần gian khốn khổ. người này là một phần của người kia. người này là nỗi đau đớn của người kia. hai người nhìn sững nhau chốc lát rồi lao vào nhau, gục vào nhau, khóc. khóc hội ngộ. khóc tan vỡ. khóc cay đắng. Lục đẩy nhẹ Hạnh ra, hỏi:

–     vào tù khi nào?

–     à… mấy năm rồi nhỉ… em không nhớ…

–    sao lại ở tù?

–     chắc… là tại vì… vượt biên…

–     ở đâu?

–     không nhớ… in thử như là… Quảng Ninh.

–     sao lại về đây?

–     họ… họ… chuyển về… ai mà biết…

–     có án không? mấy năm?

–     có… à mà… mấy năm… quên mất rồi…

–     vì sao?

–     buôn bán tem phiếu… bị truy nã… cướp tàu vượt biên… rồi…

–     con đâu?

–     không biết… à phải rồi, con ngân và thằng phụng… đi với em, bị bắt… nhưng thả về rồi thì phải…hay ở đâu…

–     còn thằng Đồng?

–     không rõ… anh… anh… mấy năm?

–     sáu.

–     tội… tội… gì?

–     phản động.

      một tiếng động bỗng vang lên lảnh lót, vang động cả rừng cây. chim bay xao xác. bóng nắng run rẩy. tiếng suối chảy chùng lại. hơi thở hụt. ời nghẹn tắt. chút thanh bình hiếm hoi tan tác. Họ bàng hoàng nhìn nhau. sâu thẳm và lạc loài. mỗi người tìm thấy trong người kia những giọt nước mắt tròn, lăn, lăn mãi xuống. trong một thoáng, toàn thế giới chỉ là những giọt nước tròn lăn hoài. bất tận. 

      Hạnh cầm tay anh run run, bóp nhẹ rồi chạy xuống triền núi. lục ẩn mình sau thân cây, nhìn theo. thoáng chốc, hạnh biến mất sau rừng cây. như một ảo ảnh. lục gào lên Hạnh Hạnh Hạnh Hạnh đợi anh, anh chạy, băng rừng chạy, tiếng gào thoảng trong rừng xào xạc.

Tỉnh dậy, Lục nhìn quanh, chỉ thấy mênh mông tối. Trong tiếng xào xạc cây lá và tiếng côn trùng vang vang trong đêm rừng hoang vắng, hình như có tiếng ai gọi tên anh từ đâu rất xa, vẳng lại.

10/1993-1/2001 tại Hoa Kỳ

nhuận sắc 5/2018

Trần Doãn Nho

____________________________________________________________________

lời kết

Viết xong, đọc lại, muốn viết lại từ đầu. Nhưng quá muộn. Nó đã ra đời mất rồi!

Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 19 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

7. Sa Huỳnh biển lửa

Người ta nói Gio Linh Bến Hải là hỏa đầu chiến tuyến. Sự ví von ấy đúng với tiềm thức người dân Việt từ khi đất nước chia đôi 1954 bởi một con sông ngăn cách, ghi dấu sự thù hận, hai bờ Nam Bắc dưới hai chế độ khác nhau. Nhưng trên thực tế thật đau thương và ác nghiệt. Vì muốn thôn tính miền Nam, không phải nhằm mục đích tái thống hợp, trả lại những gì hồn thiêng sông núi đã thiếu mất, mà chỉ để áp đặt sự độc tài toàn trị, sắt máu, nên bất cứ nơi nào đánh phá mà gây hoang mang, áp đảo được tinh thần dân chúng, làm xáo trộn nền kinh tế lẫn chính trị Việt Nam Cộng Hòa, thì Cộng Sản Bắc Việt không bao giờ từ nan.

Sa Huỳnh tuy nhỏ bé, dân thưa và nghèo khó, chỉ có Quốc lộ 1, con đường độc nhất xuyên qua, nhưng phần đất lại được mô tả như cái cuống họng, nếu bị bóp nghẹt, năm tỉnh địa đầu phải ngất ngư, thân mình vùng II cũng bủn rủn.

Vì vị trí then chốt chiến lược này, còn thêm sự phòng thủ quá lỏng lẻo, dù địa thế hiểm trở khó tấn công, Cộng quân đã không ngần ngại tung một lực lượng hùng hậu tiến chiếm Sa Huỳnh, biến nơi đây thành điểm nóng nhất, khiến dân chúng điêu linh, sống trong cảnh dầu sôi lửa bỏng đầu năm 1973.

Do áp lực của đối phương quá nặng nề, tạo sức ép về phía nam, đe dọa luôn bắc Bình Định, nên ngoài các đơn vị cơ hữu địa phương, như Trung đoàn 40 của Sư đoàn 22 Bộ Binh cùng Chi đoàn 1 Chiến Xa thuộc Thiết đoàn 14 Kỵ Binh đặt trong tình trạng khẩn trương, còn có Liên đoàn 6 Biệt Động Quân Sài Gòn ra tiếp ứng. Các đại đơn vị này khống chế được tham vọng của kẻ thù bành trướng từ Đức Phổ và nhất là từ mật khu An Lão ở hướng tây.

Nhìn qua các lực lượng nêu trên, người ta rất tin tưởng Chi đoàn 1/14, có danh hiệu “Chi Đoàn Chiến Xa Voi Điên”, của Đại úy Hà Mai Khuê, một sĩ quan trẻ dưới 30 tuổi. Dân chúng Bình Định làm sao quên được những tháng năm kiêu hùng của đất nước mà Chi Đoàn Voi Điên đã từng nghiến nát địch quân khắp chiến trường đẫm máu, từ mật khu An Lão chí đến Trị Thiên, Hạ Lào. Nơi nào Kỵ binh Hà Mai Khuê không hằn sâu dấu xích phanh thây xác thù? Trên 10 huy chương Anh Dũng Bội Tinh Việt Nam và một Ngôi Sao Đồng (The Bronze Star Medal For Heroism In Ground Combat) do quân đội Hoa Kỳ trao tặng, chứng tỏ Khuê một cấp chỉ huy tuyệt vời. Chưa đủ, con Voi Điên đầu đàn này đã 3 lần bị thương vẫn tình nguyện ở lại chiến trường, để tiếp tục gây kinh hoàng cho Cộng quân khắp Bình Định.

Rồi đầu năm nay, 1973, không thể để mặt trận Sa Huỳnh lan rộng, Chi đoàn 1/14 Chiến Xa với anh hùng Hà Mai Khuê đã sẵn sàng dương oai nơi quê hương đầy huyền thoại, vang bóng một thời Đại Đế Quang Trung Nguyễn Huệ.

Tại mạn bắc Sa Huỳnh, quận lỵ Đức Phổ thuộc tỉnh Quảng Ngãi, các thành phần tham chiến có Liên đoàn 1 Biệt Động Quân, hai Trung đoàn 5 và 6 Sư đoàn 2 Bộ Binh, dưới sự yểm trợ của Hải quân, Không quân, Thiết giáp, nhất là Pháo binh, đang góp phần làm bạt vía quân thù, như các trận đánh vang danh khắp nẻo đường quê mẹ.

Nỗ lực chính là Liên đoàn 1 Biệt Động, có mặt nửa đêm hôm qua, về từ Mộ Đức. Sáng nay, lực lượng Mũ Nâu này bắt đầu dàn trận ngay cạnh nam khu phố Đức Phổ, lấy Quốc lộ 1 làm chuẩn, Tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân phía tây, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân hướng đông, cả hai cùng áp sát Sa Huỳnh.

Trước đoàn quân rực màu áo hoa rừng như thiên thần xuất hiện, hiên ngang tiến vào mặt trận, bom đạn sắp nổ tung, dân chúng đã bao phen chạy loạn, lại vội vã tìm nơi trú ẩn.

Nếu ai không xuôi ngược hay lui tới nhiều lần, trí nhớ cũng dễ phai mờ hình ảnh một quận lỵ khô cằn và đìu hiu phía nam Quảng Ngãi. Đó là Đức Phổ, con phố buồn muôn thuở, xa lạ, trước biển sau kề núi, dài không quá năm trăm mét, nằm cặp theo Quốc lộ 1, con đường duy nhất có tráng nhựa xuyên qua. Hầu hết các cửa tiệm trên tôn dưới ván, lá dừa xơ xác, xen kẽ năm ba căn nhà gạch mái ngói âm dương cổ kính từ thời Pháp thuộc, mà nay nóc đã đổ tường xiêu đầy vết đạn. Quê hương này vốn đã nghèo khó, còn xảy ra hằng năm các trận cuồng phong dữ dội, không bão biển cũng gió núi dông nguồn, cùng giặc về quấy nhiễu đêm đêm.

Rồi cả tháng nay giặc Hồ xâm chiếm bắn phá chung quanh khiến toàn quận tiêu điều, người lẫn súc vật ngổn ngang dưới những tàng cây, góc phố. Họ bỏ nhà cửa dồn về từ các xã ấp xa xôi, hẻo lánh, nhất là từ Sa Huỳnh, nơi hai ngày trước mất đứt nửa Tiểu đoàn 39 Biệt Động Quân khi vừa trực thăng vận xuống, làm tình hình thêm căng thẳng.

Lần này sự xung trận của hai tiểu đoàn Mũ Nâu khét danh, 21 và 37, đem lại niềm tin cho dân chúng, không riêng Quảng Ngãi, mà cả năm tỉnh địa đầu vùng 1. Cộng quân từng truyền khẩu “Gặp Đỏ thì tránh, Xanh lừa, gặp Vàng đánh líp”. Câu đó ám chỉ ba tiểu đoàn của Liên đoàn 1 Biệt Động. Mấy năm trước quân nhân các cấp có đính trên nắp túi áo trái một băng vải nhỏ, cùng màu khăn choàng cổ, đỏ là 21, xanh 37 và vàng 39. Địch nói nếu gặp vàng đánh líp, tức chưa ngán Tiểu đoàn 39, còn có thể hơn được một, chứ lẽ nào thua hết ba, mất mặt bác Hồ quá! Còn chúng bảo gặp “Xanh”, tức Tiểu đoàn 37, thì lừa cũng phải. Vì đơn vị anh hùng này đã khét tiếng từ trận tử thủ Khe Sanh, thuộc quận Hương Hóa Quảng Trị, 1968, chấn động cả thế giới, thời Đại úy Hoàng Phổ, Tiểu đoàn trưởng.

Vì sợ, Việt Cộng luôn luôn tránh né Đỏ, nên Tiểu đoàn 21 mỗi lần vào hành quân các tỉnh phía nam Đà Nẵng đều “thất nghiệp” dài dài, trừ phi tao ngộ chiến. Lúc còn phục vụ ở Đại đội 2/21, có lần tại vùng Hương An Bình Giang, Quảng Nam, tôi mới dàn ngang trung đội để xung phong thì địch trong mục tiêu, dưới các chòm cây dương liễu, vụt trồi lên khỏi hầm, vừa cắm đầu chạy tán loạn như bầy vịt vừa la to:

– 21!… 21!…

Nhưng Biệt Động Quân tắp vô quá lẹ, địch vọt không kịp, bị bắn chúi nhủi nằm la liệt. Hôm đó lính bắt sống một tên và hỏi một câu cắc cớ:

– Tại sao bỏ chạy?

Hắn đáp:

– Chúng em có lệnh rút lui khi gặp các anh đeo băng “Đỏ” là Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân.

Đi hành quân, mà Việt Cộng cứ lẩn tránh, những chàng trai diệt giặc đành thất nghiệp. Bây giờ kẻ thù hết đường trốn, hay lừa ai được nữa, trước các mũi tiến thần tốc của hai Tiểu đoàn Xanh và Đỏ vào khai tử, chắc chúng sẽ chết không kịp ngáp.

Với phòng tuyến trải dài trên các dãy đồi đá nhấp nhô, vắt ngang từ chân núi Trường Sơn ra tới biển, Trung đoàn 141 Sư đoàn 2 Cộng Sản Bắc Việt tự cho đó là bức tường thép bảo veä được mạn bắc đầm Nước Mặn, ắt chúng đang lo sợ. Hai Tiểu đoàn BĐQ mỗi lúc một áp sát. Các cỗ trọng pháo của ta trên các cao điểm phía đông phố Đức Phổ bắt đầu nhả đạn xuống mục tiêu rộng lớn trải dài về hướng nam. Để nghênh đón cuộc tái chiếm Sa Huỳnh đẫm máu, địch cũng tới tấp bắn chặn Biệt Động bằng các đầu đạn nổ lại rất ác liệt, như phòng không 12 ly 8 và hỏa tiễn AT3, chúng gọi là D7. Toàn vùng rực lửa.

Đồng bào sinh sống nơi khu phố Đức Phổ đã vội nhốn nháo rời khỏi nhà, nhập vào đám người “vô gia cư” đang màn trời chiếu đất hai bên vỉa hè cả tháng nay, như một dòng thác lũ, họ ùn ùn kéo chạy dạt ra hướng bắc tránh đạn phản pháo của Cộng quân.

Mở màn sự thiệt hại của đôi bên, một chiếc M113 có trang bị cây 106ly và khoảng 300 viên đạn bị trúng hỏa tiễn nổ tung một lượt, tan tành từng mảnh văng xa hàng trăm mét, chỉ còn lại vạt đất nám đen. May mắn, bốn người lính Thiết giáp kịp nhảy khỏi xe khi vừa thấy quả AT3 lao tới từ ngọn đồi cao 25 thước mé biển. Sự thoát hiểm này là nhờ đã được huấn luyện. AT3 vô cùng lợi hại, có vài đặc điểm giống TOW Hoa Kỳ, sức công phá chiến xa của nó như kim đâm bong bóng. Lúc bay đi phía sau đuôi đạn kéo theo một sợi kim loại, tựa dây đàn số 6 Guitare, nối liền với ống phóng (launcher). Dù công phá hữu hiệu nhưng nó cũng có yếu điểm là bay chậm, kêu xè xè, và sáng rực, dễ phát hiện. Khi nghe tiếng départ, thấy quả đạn lao tới lính thiết giáp phải rời khỏi xe, cách xa vài chục thước, bộ binh thì tản thưa, nằm xuống, nếu không, dù sắt thép cũng thành nước.

Vì một con cua đã bị nướng, Chi đoàn trưởng của Chi đoàn M113 xin BCH Liên đoàn 1 BĐQ cho lệnh số còn lại bò vòng vòng gần khu phố Đức Phổ. Ông viện lẽ loại hỏa tiễn đó, cho dù có gắn mắt thần hay không, vẫn khắc tinh với gia đình ông. AT3 ra đời để tìm ăn cua nướng thôi, nó đớp gọn không chừa một cái que. Nghe nói khiếp vậy, Trung tá Mũ Nâu Trần Kim Đại đâm ớn lạnh, vội thúc Tiểu đoàn 21 BĐQ chuyển hướng, tiến thẳng ra ngọn đồi cao 25 thước, bên bờ biển, tóm cổ cho bằng được con quỷ sứ khắc tinh đang gáy ở đó.

Qua speaker PRC25 tôi nghe Thiếu tá Quách Thưởng ban lệnh xuống các đại đội mà từ sáng giờ như là một bầy hổ đói cứ nhe răng chờ mồi:

– Tất cả, phương giác 1800, Đại đội 2 bên trái, 3 bên phải, dàn ngang đi trước, Đại đội 4 một hàng dọc giữ hông phải của BCH Tiểu đoàn, Đại đội 1 bảo vệ phía sau.

Các đại đội Biệt Động vội khai triển đội hình. Một lát sau súng đủ loại nổ vang, hai đơn vị đầu tràn vào con xóm xơ xác dưới những hàng dừa ven biển. Địch quân không có phản ứng nào đáng kể, các tổ báo động của chúng bắn lách tách chỉ để chém vè. Thiếu tá Quách Thưởng cho tất cả dừng bố trí, riêng Đại đội 2 BĐQ của Trung úy Dương Xuân chuẩn bị tiến đánh ngọn đồi 25, có giàn AT3, như đã ấn định. Mục tiêu này cây cối xanh um, lốc chốc nhiều tảng đá to, nằm đơn độc nơi chớn nước biển và cách ly bìa xóm một bãi cát rộng vài trăm thước.

Vừa dứt loạt pháo binh 105ly phủ đầu xuống 25, Trung úy Dương Xuân dàn quân xông ra. Địch còn thừa sức, phản ứng dữ dội, AK, B40, cả Thượng liên Đông Đức, tác xạ chống trả liên tục, lính Đại đội 2 khựng lại, không thể tắp vào được.

Nghe tiếng súng tôi đoán đối phương không nhiều, chỉ vài chục tên là cùng, nhưng hầm hố chiến đấu của chúng ắt phải kiên cố và nhiều tảng đá to che chắn, nên đại bác dập không xuể. Lại nữa, đạn rót xuống triền đồi tây bắc, là mặt đối diện nòng súng, địch chạy qua phía đông nam núp an toàn. Địa thế như vậy Cộng quân mới sử dụng làm chốt, đặt ống phóng hỏa tiễn AT3 hầu chế ngự quanh đất liền lẫn ngoài biển, ngừa tàu chiến đổ bộ. Tuy nhiên, địch đã không ngờ chính Biệt Động lại tạt ngang từ hướng tây sang đông đến vây đánh chúng, để trừ khử giàn phóng AT3. Sớm muộn gì cứ điểm này cũng sẽ bị diệt thôi.

Trung úy Dương Xuân tấn công đợt hai, cũng thất bại như lần trước, không chiếm được, mà thương vong càng cao thêm. Thiếu tá Thưởng cự nhoi, Xuân im lặng, cố xoay trở tìm thế đánh khác.

Buổi trưa nắng chang chang, đoạn đường xung phong phải băng qua bãi cát trống, chỉ lơ thơ đôi ba vạt cây loại bò sát, lá giống lá trầu, người miền Trung gọi là cây trường sinh. Mảnh đất lại bằng phẳng, như tấm gương phản chiếu trắng xóa, nhìn hoa cả mắt. Tôi lo ngại cho đơn vị của Xuân, khó bề tiến sát. Nếu không xin ném bom Napalm đốt cháy hoặc chờ màn đêm xuống rồi đột kích mục tiêu, mà cứ tiếp tục húc càng kiểu đó thì Đại đội 2 chỉ từ chết tới bị thương thôi.

Qua buổi chiều trời vẫn còn nóng bỏng, Đại đội tôi lủi thủi theo sau yểm trợ, tải hàng chục xác chết và bị thương cùng ba lô, súng đạn dư thừa của đơn vị lâm trận, ra quốc lộ để xe chở về hậu cứ. Làm cái công việc chẳng mấy thú vị, còn cực nhọc, phần chưa ăn trưa đói mệt, bọn lính than như bộng:

– Khổ quá, Đại Bàng ơi!…

Tôi an ủi:

– Ráng lên rồi tà tà nghỉ!

Một tốp khác vừa đi vừa dùng dằng:

– Đại Bàng, sao mấy đại đội kia không làm gì hết?

Tôi cầm thanh tre nhấp nhấp trong không khí và hầm hừ:

– Này, tao bảo cố gắng, nghe chưa? Chọc điên tao xin tình nguyện kéo vô đánh mục tiêu cho tụi bay chết luôn!

Tất cả im lặng, biết phận mình “bồng em khỏi xay lúa”, lật đật kẻ khiêng người cõng các thân xác máu me nhầy nhụa đi một mạch, trông tội nghiệp. Trong lúc đó Thiếu tá Thưởng cứ cằn nhằn Trung úy Xuân chẳng làm ăn gì được. Tôi mở sang tần số Bộ Chỉ Huy Liên đoàn 1 BĐQ, cũng nghe giọng Trung tá Trần Kim Đại trách móc Tiểu đoàn 21. Ông trách nhẹ chứ không la hét bừa bãi, cao ngạo, như Lê Phú Đào, tiền nhiệm, đại loại đơn vị mới xuất quân đầu năm đã bị một cái chốt nhỏ cầm chân mà chẳng gỡ được. Sau cùng ông hỏi:

– Trùng Dương tính sao?

Giọng Thiếu tá Thưởng hơi bực tức:

– Giờ đã xế chiều rồi, tôi đóng quân ở đây, chờ tối tôi cho đứa con khác đột kích.

Nghe qua cuộc vô tuyến điện đàm không mấy vui, tôi chán nản tắt máy, lên BCH lớn họp theo lệnh Đại úy Nguyễn văn Do Tiểu đoàn phó. Vừa thấy đủ bốn đại đội trưởng, Vân, Nai, Xuân, Giảng, Quách Thưởng nói:

– Tiểu đoàn bao quanh con xóm này. Mỗi đại đội đặt phía trước 3 tiền đồn. Đại úy Do sẽ chỉ định vị trí. Đại đội của Nai thì chuẩn bị thành phần đột kích mục tiêu 12 giờ đêm nay.

Trời đã tối, các phòng tuyến đào hố cá nhân như thường lệ. Tất cả nằm đất, bị cấm căng poncho treo võng, đốt lửa. Pháo binh lai rai rót từng quả xuống mục tiêu 25 để giàn phóng hỏa tiễn AT3 khỏi ngóc đầu và cứ khoảng vài mươi phút, một loạt đạn 105ly của ta từ núi Dâu bắn quấy rối các điểm ngoài vị trí Biệt Động Quân. Mọi người chờ đợi Đại đội 4 hành sự.

Rồi một trái signal trắng thụt lên, báo hiệu 2 trung đội đột kích đã sát mục tiêu. Tiếp theo, lựu đạn M26 và M72 nổ liên tục ngay sườn tây bắc cụm núi 25. Các khẩu đại liên từ BCH Đại đội 4 bắn rẻ quạt ngang triền tới đỉnh. Mấy cái chốt địch trong các xóm phía tây nam vội tỉa AK, Thượng liên đến chân đồi cứu bồ của chúng. Dưới ánh hỏa châu rực sáng, tôi thấy rõ lính tràn lên thanh toán từng hốc đá, khu đồi 25 tóe lửa. Một lát, tiếng súng ngưng, chỉ còn có tiếng kêu ơi ới của quân Biệt Động gọi nhau lục soát. Đại đội 4 báo sơ khởi giết 10 tên, thu 8 súng cá nhân cùng cộng đồng và nhiều chất nổ. Riêng giàn launcher AT3 không tìm thấy, địch đã vác chạy hay đã bể nát. Phía bạn bị thương hai người.

Mới đầu năm Đại đội 4 “khai trương” làm ăn khá. Thiếu tá Quách Thưởng đắc ý cười luôn miệng. Đại úy Đỗ văn Nai là một trong các sĩ quan trẻ của Tiểu đoàn, đẹp trai, tính tình dễ thương, chỉ huy rất vững chắc. Vừa tốt nghiệp khóa 24 Thủ Đức, Nai về đơn vị gặp biến cố Tết Mậu Thân, là giai đoạn đầu thử thách chức năng trung đội trưởng của vị sĩ quan mặt búng ra sữa này. Làm đại đội phó Nai cũng xuất sắc, đoạt khá nhiều huy chương, đa số ngôi sao vàng và nhành dương liễu. Năm 1971, Nai mới lên làm đại đội trưởng thì Tiểu đoàn lại tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào, trực thăng vận đổ ào xuống một thung lũng kế thượng lưu sông Sésamou, cực bắc Tchépone, Savannakhet. Từ đó, lại chính Đỗ văn Nai tiên phong tiến chiếm ngọn núi cao 300 thước phía tây, để toàn bộ Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân lên trấn thủ, làm nhiệm vụ án ngữ, cũng là căn cứ đầu tiên của Quân Lực VNCH trên lãnh thổ Vương Quốc Ai Lao. Nai còn bung rộng Đại đội ra xa, dọc theo một đoạn đường mòn Hồ Chí Minh, nơi cộc số DC16, đốt cháy nhiều kho đạn phòng không 37ly và đại bác 75ly không giật của Cộng quân Bắc Việt dự trữ hầu xâm lược miền Nam.

Kế tiếp, những tháng năm quê hương đổ lửa, người hùng Đỗ văn Nai, dù đã hai lần bị thương, vẫn luôn luôn sát cánh với đơn vị, trải qua bao gian khổ, khi vui cũng như lúc buồn…

Sáng nay tôi dậy sớm hơn thường lệ, đang đứng trò chuyện với Trung đội 2 ngoài tuyến, thì Hạ sĩ Nguyễn Hiệp truyền tin tay xách cái máy PRC25 từ trong lều BCH hơ hải chạy ra:

– Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng cần gặp Đại Bàng.

Tôi nắm ống liên hợp:

– Nghe Trùng Dương!

Giọng Thưởng muốn khóc:

– Mi làm cái chi tao chờ máy lâu vậy? Hộ tống tao ra Đức Phổ gấp! Thằng Ẩn chết rồi!

Vì thói quen bạn bè, từ thuở hai đứa còn đi học chung lớp, chung trường, nên Thưởng hay xưng hô thân mật với tôi: “tao, mi”. Ngược lại, tôi vẫn giữ khoảng cách, trước mắt Thưởng là cấp chỉ huy của tôi trong đơn vị oai hùng này.

Nghe Thưởng nói, tôi bàng hoàng:

– Đáp nhận! Đại đội sẽ mở đường và an ninh lộ trình, còn tôi sẽ đích thân vào đón Trùng Dương.

Tôi bảo Trung sĩ Hơn và Thuận:

– Đại đội nhổ lều, mang ba lô, súng đạn di chuyển gấp về hướng quốc lộ. Trung đội 2 hàng ngang đi trước, Trung đội 1 hàng dọc sau, bên trái, vọt lẹ! Riêng toán Thám Báo theo tôi!

Thưởng và hai người cận vệ phía biển tới. Gặp tôi mặt ông nhăn nhó, đôi mắt đỏ hoe:

– Mở đường chưa, Vân?

– Dạ rồi! Ẩn chết lúc nào, Thiếu tá?

– Hậu cứ báo sáng nay.

Tôi quay qua lấy cái ống liên hợp máy PRC25 nơi tay Binh nhất Nguyễn văn Văn truyền tin đứng bên cạnh, để gọi dặn thêm các trung đội:

– Anh Hơn, khi gần tới dừng lại, cùng Trung đội của Thuận rải dài theo lộ trình vừa mới qua, giữ an ninh.

– Đáp nhận! Trình Đại Bàng có chiếc thiết vận xa chạy về phía Đại Bàng.

– Ừ, tôi có nghe tiếng máy nó.

Thiếu tá Thưởng nói:

– Thiết giáp vô đón tao đó, cho Thám Báo chặn lại.

Chiếc M113 dừng trước mặt một trăm thước, các khẩu đại liên trên xe chĩa thẳng ba hướng.

Thưởng lướt tới, trèo lên rồi nói:

– Vân và hai đứa làm máy lên đây đi thêm một khúc.

Viên Thiếu úy Mũ Đen đưa tay chào Thưởng:

– Nghe Tiểu đoàn 21 BĐQ đập nát được giàn phóng AT3, tụi này mừng quá, Thiếu tá!

– Ừ, hồi sáng lính lục soát thấy nó hư , đạn thì cháy nổ hết tối hôm qua.

Tôi xen vào:

– Giờ đang có chuyện buồn, xin Thiếu úy cho quay đầu xe chạy mau!

Chiếc M113 giật trườn tới xoáy đất. Thưởng than thở:

– Lạ quá, Vân! Mấy bữa Ẩn đã khỏe, nó lấy bộ bài ra binh xập xám một mình chơi đây…

– Tôi chẳng biết sao, xin chia buồn cùng anh. Điều tôi lấy làm lạ, lần trước khi nghe Ẩn bị thương, tôi cùng anh vội lên một chiếc M113 đi cứu. Nay nhận tin Ẩn chết, hai đứa lại ngồi chung thiết giáp cũng loại này, tôi tiễn anh về. Hẳn có cái gì tương quan đến sự việc, khó hiểu!…

Chắc Thưởng không nghe mấy lời tôi nói, âm thanh bị lấn át bởi tiếng xe gầm gừ mỗi lần hai sợi xích bươn qua từng thế đất gồ ghề gợn sóng. Vị Tiểu đoàn trưởng tài hoa mãi im lặng với nỗi buồn riêng, đôi mắt nhìn tận nơi đâu, xa lắm, không phải dải Trường Sơn trước mặt đang đảo lộn…

Tôi nhớ ngày Trung úy Ẩn bị thương trong cuộc hành quân phía tây Ba Gia, tỉnh Quảng Ngãi. Tiểu đoàn 21 lội dưới đồng bằng, riêng Đại đội 2 của Ẩn thì đi trên cao, hết ngọn đồi này sang đỉnh núi khác cả tháng. Rồi một hôm, trung đội đầu bỗng bị địch quân chặn đánh, theo thói quen và tính can đảm, Đại đội trưởng Quách Ẩn phóng tới để trực tiếp điều động, thì đạp phải một trái mìn, loại biến chế bằng quả đại bác 105ly.

Nghe tiếng nổ long trời, các đơn vị dưới thấp đều thấy một cột khói đen từ thế yên ngựa cuồn cuộn tuôn lên. Kế đó, các speaker PRC25 phát ra những lời báo cáo sự việc vừa xảy tới.

Biết ngay Đại đội 2 như rắn mất đầu, không người chỉ huy, phần tê điếng trước tin người em ruột ngộ nạn, Thưởng hoảng hốt, giọng dồn dập, kêu tôi đến nỗi không kịp trả lời:

– Việt Quốc! Việt Quốc! Lên cứu Ẩn mau đi, nó bị thương rồi! Việt Quốc!…

Lúc ấy Đại đội tôi đang băng ngang một cánh đồng ruộng nước, nhằm mục đích vào lục soát một con xóm đìu hiu ở phía nam núi Tròn. Lệnh xuống, lại được biết người bị thương là vị cựu Đại đội trưởng của tôi đã một thời chung lưng chiến đấu, tức tốc tôi cho đơn vị đổi hướng, đâm thẳng vào phía núi, nơi cột khói còn mù mịt trên cao. Nhưng vì chân đồi chập chùng, cây cối rậm rạp, lính di chuyển quá chậm. Thấy vậy, Thưởng nóng lòng lấy một chiếc thiết vận xa M113 của chi đoàn đang tùng thiết, rượt theo:

– Vân, lên đây!… Lên đây!…

Tôi và hai người làm máy leo lên. Rồi vẫn trở ngại bởi các tảng đá lớn chằng chịt, xe chạy còn thua đi bộ. Thưởng và tôi lại nhảy xuống, dẫn Đại đội luồn lách trèo theo khe núi. Đến nơi thấy Ẩn bị thương nặng. Trực thăng được gọi kịp thời đưa Ẩn về bệnh viện.

Nay Trung úy Ẩn đã chết, cả Tiểu đoàn thương tiếc. Ẩn có đức tính đáng qúy, người đời e khó bắt chước. Phục vụ trong cùng đơn vị, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của anh ruột là Tiểu đoàn trưởng Quách Thưởng mà Ẩn không bao giờ dựa hơi làm càn. Vì công vụ anh ra lệnh, gian nguy mấy người em vẫn thi hành như mọi thuộc cấp, không thắc mắc, hay về “mét” mẹ để được bao che. Ẩn luôn trọng sự công bằng và quá yêu đời lính cho đến ngày hy sinh.

Một lần, vào mấy ngày tỉnh Quảng Trị sắp thất thủ mùa heø 1972, mặt trận tây nam La Vang trở nên ác liệt, Tiểu đoàn 21 BĐQ bị Sư đoàn 304 CSBV vây đánh te tua. Biết phòng tuyến Đại đội 2 mình thế nào cũng vỡ, Trung úy Ẩn chạy vào BCH Tiểu đoàn kêu lớn:

– Anh Thưởng! Lính chết nhiều rồi, cho rút lui ngay! Việt Cộng đông lắm!…

Nghe tiếng Ẩn nói như muốn chủ bại, Thiếu tá Thưởng tức giận, từ dưới hố cá nhân nhảy vội lên rồi vừa đưa tay chỉ ngay mặt người em vừa quát to:

– Mi rút mi chết với tao! Ra chỉ huy, mau!

Ẩn lật đật quay lui, có vẻ khiếp sợ ông anh hơn địch. Sau đó, Cộng quân lăn xả vào như kiến, dù chúng đã chết hết lớp này sang lớp khác. Đại đội tôi kế bên trái Ẩn, cả hai tiếp tục chống trả. Lúc ấy đang cận chiến, không thể dùng máy truyền tin để điều động kịp nữa, tôi cũng như Ẩn chỉ còn hét lên và cùng lính vừa bắn vừa đốc lựu đạn kháng cự một cách tuyệt vọng. Địch liền phối hợp hỏa lực, từ phía tây trút xuống một trận pháo phủ đầu, bất kể quân của chúng vẫn còn nằm sát vị trí Biệt Động, rồi với chiến thuật biển người cố hữu, địch xung phong, tràn ngập như nước vỡ bờ.

BCH Liên đoàn hay tin vội cho lệnh Tiểu đoàn rút ngay về đồi 34, gần nhà thờ La Vang, nằm thủ để bảo toàn lực lượng.

Trong khi đó, các phòng tuyến chiến đấu ở mạn bắc Quảng Trị đều tan vỡ. Các binh lính rã ngũ quá hỗn độn, chạy ào vào hướng Huế, lôi cuốn toàn quân, toàn dân địa phương bỏ nhà, bỏ đơn vị triệt thoái khỏi tỉnh địa đầu một cách rối loạn tạo ra lắm cảnh chết chóc không thể nào kể xiết, như lá rụng mùa thu. Nơi khủng khiếp nhất, biết bao kẻ mất đầu người lòi ruột nằm ngổn ngang, chồng chất lên nhau trên xe dưới đất, là một đoạn đường ngắn vài cây số của Quốc lộ 1, trước căn cứ BCH Chi Khu Mai Lĩnh, phía nam thành phố tang thương ấy, mà về sau người ta gọi là “Đại Lộ Kinh Hoàng”.

Đại Lộ Kinh Hoàng! Một cụm từ nghe rất kêu của một nhà báo ngoại quốc viết theo quán tính. Nhưng mấy ai hiểu tại sao kinh hoàng. Chắc họ thấy chết nhiều? Thôi, cứ hiểu đơn giản đó là một cõi chết, cõi chết đặc biệt không có thú vật dự phần vì chung quanh đều đồng trống, chỉ dành riêng cho người, từ thường dân, nam lẫn nữ, trẻ sơ sinh với kẻ già cả, đến đủ mặt các quân binh chủng hùng mạnh nhất lúc bấy giờ…

Khi triệt thoái, người và xe chen chúc nhau vào Huế. Địch thâm hiểm đẩy Đại đội C7 thuộc Sư đoàn 304 Cộng Sản BV, chiếm cầu Bến Đá ở mạn nam thành phố Quảng Trị để chặn đường. Lúc ấy, quân số Tiểu đoàn 21 tuy sút giảm, nhưng khả năng chiến đấu và hệ thống chỉ huy còn vững chắc, vừa từ La Vang về nằm thủ trong căn cứ Chi Khu Mai Lĩnh. Thấy đồng bào bị dồn đống ngoài quốc lộ, Thiếu tá Thưởng vội kéo đơn vị ra, một mặt bảo tôi tức tốc dẫn Đại đội tới đánh C7 để mở đường. Sau vài tiếng đồng hồ quần thảo địch quân tan rã, chết còn 9 tên. Trước khi tháo chạy, Đại đội trưởng C7, Thiếu úy Nguyễn văn Đường, cho giật mìn sập cây cầu định mệnh Bến Đá. Tiếp theo, các khẩu đại bác, 82 đến 130ly của Cộng quân đã áp sát tứ bề đua nhau rót đạn vào như mưa bấc. Một rừng người đủ thành phần đang đụn lại dài hai cây số, họ gào thét, giẫy giụa giữa biển lửa, lớp nát thây vì đạn pháo kẻ thù, lớp xẹp lép do các xe GMC, Jeep, cùng các sợi xích thiết giáp của Quân Lực VNCH quay cuồng nghiền lên để giành đường thoát thân. Bi thảm nhất, hàng ngàn thương bệnh nhân, từ các bệnh viện trong thành phố Quảng Trị di tản, đang nằm ngất ngưởng trên các xe. Họ không chết hết ngay tại chỗ thì cũng tắt thở dần mòn sau khi bị bỏ lại bên kia cây cầu đã gãy.

Dưới cơn mưa pháo dữ dội của địch quân, biết đồng bào và đoàn quân bại trận thê thảm ấy không thể nào vượt qua được khúc sông sâu đầy xác giặc, để ra khỏi “Đại Lộ Kinh Hoàng”, tôi cố xin lệnh Thiếu tá Quách Thưởng mở đường mới dẫn tất cả đâm thẳng ra hướng đông. Lúc băng qua cánh đồng ruộng nước, Việt Cộng pháo theo, thây người rơi lả tả dưới sình lầy. Khi tới mé biển tôi cho quẹo phải về nam. Vẫn chưa yên thân, lộ trình này lại bị đại bác Hải Quân của ta ngoài khơi nã vào làm chết thêm một số nữa. Các quả đạn cực mạnh nổ tung lên nhiều đám người, quân với dân như cát với bụi. Thì ra ông hạm trưởng nào đó đã không nắm vững tình hình ở đất liền, hay vì “tàu lắc lư làm sao viết thư tình” nên buồn bắn sảng để mai mốt về “cặp bến” kể em nghe anh vừa chơi một trận hải chiến quá…sai lầm trên sóng nước Trị Thiên.

Để tránh đạn của các ông hạm, Đại đội ép vô trong, đi dọc theo quốc lộ số 1 cũ, xuyên qua trung tâm quận Hải Lăng, rồi dừng lại bên bờ sông Mỹ Chánh. Lúc bấy giờ đêm đã khuya. Sáng sớm hôm sau, đoàn người thất điên bát đảo, dài lê thê mới được một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến trấn giữ ở đây lần lượt cho qua cầu, rồi mạnh ai nấy “tan hàng cố gắng”. Riêng Đại đội 1 BĐQ khi về tới cửa Thượng Tứ Huế thì có khác nào Đại đội C7 của Thiếu úy Nguyễn văn Đường Cộng Sản Bắc Việt bị tôi đánh tan tác hôm qua tại cầu Bến Đá, Quảng Trị, cũng chỉ còn có chín người bơ phờ, nhìn nhau mãi mới nhận ra thầy trò.

Những sự thật ấy chẳng nghe ai kể, ngay cả chuyện Quách Ẩn, Quách Thưởng nào ai biết! Ai là ai? Là phường giá áo túi cơm, vinh thân phì gia, sống trên xương máu của các chiến sĩ, còn đối xử tệ với binh chủng anh hùng Biệt Động Quân.

Đa số các phóng viên, nhà báo quân đội cứ đi mây về gió. Mỗi lần viết phóng sự chiến trường, họ hay đến các đại đơn vị hào nháng, và chỉ tường thuật cặn kẽ các trận nào thuộc binh chủng gà nhà thôi. Họ tả nghe cũng khiếp, cơ mưu chiến thuật cùng tài điều quân khiển tướng thần sầu quỉ khóc, còn hơn cả Khổng Minh Gia Cát Lượng…

Chiếc M113 dừng lại bên lề đường còn mịt mùng bom đạn, tôi và hai người lính mang máy vội vã rời khỏi xe, Thưởng tiếp tục vào “con phố buồn muôn thuở” ấy, để lên trực thăng về Đà Nẵng. Trước khi xe chạy, Thưởng nói vói xuống:

– Vân à, Thiếu tá Hoàng Phổ Liên đoàn phó sẽ xuống thay tao ít hôm, cố gắng giúp ổng. Mai táng Ẩn xong tao lên ngay!

Tôi im lặng, đưa tay chào từ giã vị Tiểu đoàn trưởng đang đứt từng đoạn ruột…