Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

13. Sau trận thánh chiến -Kết

Cũng như ngay sau khi tái chiếm Quảng Trị ở phía bắc, lần này với chiến thắng lớn lao tại mạn nam Vùng 1 Chiến Thuật, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu cùng các tướng lãnh Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ra thăm Đức Phổ, Quảng Ngãi. Tháp tùng phái đoàn còn có các cơ quan truyền thông. Tất cả sẽ ghé Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 6, thuộc Sư đoàn 2 Bộ Binh, để duyệt xem triển lãm chiến lợi phẩm mà hết 80 phần trăm là do Liên đoàn 1 Biệt Động Quân tịch thu tại mặt trận Sa Huỳnh.

Để bảo vệ các yếu nhân, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân và các lực lượng tham chiến khác đều bung rộng, làm nhiều vòng đai an ninh chung quanh. Đại đội tôi thì từ khu đồi 94 bên cửa khẩu, mục tiêu cuối cùng vừa dứt điểm, quành lại ven theo bờ đầm Nước Mặn lên trấn thủ một ngọn núi phía tây, dưới chân có con Quốc lộ 1 song song với đường xe lửa, nơi mà trước đó một tuần địch đã không ngờ tôi tấn công, phá vỡ phòng tuyến thép của chúng.

Từ đỉnh cao này nhìn xuống tôi thấy toàn vùng Sa Huỳnh Đức Phổ, một phần đất quê hương miền Trung tươi đẹp, những dãy đồi nhấp nhô như sóng lượn, nay đã sạch bóng quân thù. Trên các nẻo đường ngang dọc người người qua lại, dưới đầm Nước Mặn mênh mông cũng lao xao ghe thuyền đỗ bến.

Thiếu tá Quách Thưởng bảo bốn đại đội Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân lập báo cáo thành tích của mình từ khi khởi sự tái chiếm Sa Huỳnh. Kết quả chung, đơn vị loại khỏi vòng chiến khoảng 500 Việt Cộng, bắt sống 19, tịch thu 256 súng đủ loại. Trong đó, riêng Đại đội 1 Biệt Động Quân của tôi chiếm một số lượng như sau:

Giết hơn 200, bắt sống 19 tên nêu trên làm tù binh, thu 106 súng, đặc biệt có một Phòng Không 12ly8 là khẩu lớn nhất tại mặt trận. Chưa kể đạn dược, chất nổ, cũng như không thể đếm được các đống thịt người bầy nhầy trong đồn lính, cùng hàng trăm xác giặc chìm sâu dưới đầm nước là riêng hai trận “Hỏa Thiêu”, “Thủy Táng” do tôi kêu pháo binh dập. Phần Đại đội chết hai, bị thương bốn binh sĩ.

Nhìn thành quả trên ai không sửng sốt? Nếu đem trưng các con số đó ra toàn quốc thì xưa nay QLVNCH có bao nhiêu cỡ đại đội trong một trận đánh, mà vừa giết lẫn bắt sống kẻ thù vừa tịch thu vũ khí nhiều đến thế?

Lúc đầu tham chiến, đơn vị chỉ 51 người, sau gần chấm dứt mới bổ sung thêm thành 70, cũng chỉ bằng phân nửa cấp số, nhưng lại đạt được một kỳ công rất hiếm. Trước hết, các chiến sĩ Đại đội 1 Biệt Động Quân chọc thủng phòng tuyến mặt tây Trung đoàn 141/2 Sao Vàng, kế tiếp là rượt bắn dài dài, địch chết cơ man vạn kể, nhất là tại bờ phía bắc đầm Nước Mặn vaø trên đồi 94 kết thúc cuộc đao binh tàn khốc Sa Huỳnh.

Thành thật mà nói, giặc chết thây phơi không sao kể xiết, và nếu đó không phải là một trận đánh thần thánh để đời của Đại đội 1/21 Biệt Động Quân thì là gì?

Sau chiến thắng anh em rất vui mừng, hy vọng sẽ được ban thưởng công lao xương máu mình đã đổ. Đó là chuyện đương nhiên dù ở quân đội nào, cả bộ lạc man rợ nhất. Nhưng khốn nạn thay! Rốt cuộc các chiến sĩ anh hùng này lại tủi nhục cho phận mình và bao kẻ đã hy sinh, gục ngã ở đầu non góc biển, những người con yêu của Tổ Quốc, cũng chỉ vì bọn lưu manh Trần văn Nhựt cướp công.

Theo lời Thiếu tá Quách Thưởng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân, trước lúc Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đến Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 6 Bộ Binh xem thành quả tái chiếm Sa Huỳnh, các khối vũ khí được trình bày riêng rẽ với tấm bảng đề tên đơn vị tịch thu. Dĩ nhiên, chiến lợi phẩm của Liên đoàn 1 Biệt Động Quân cũng có ghi rõ, đặc biệt một tấm tương tự treo trên nòng súng Phòng Không 12ly8. Nhưng khi phái đoàn Tổng Thống Thiệu sắp đáp trực thăng xuống, các sĩ quan Mũ Nâu bận ra sân bay đón rước, thì Chuẩn tướng Trần văn Nhựt Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh liền lợi dụng sơ hở cho bộ hạ trong phòng triển lãm lẹ tay hoán đổi hết các bảng ghi phần chiến lợi phẩm. Nghĩa là một dãy dài ngót 300 khẩu súng đủ loại do Biệt Động Quân tịch thu phút chốc biến thành “Chiến lợi phẩm của Sư đoàn 2”. Ông còn trắng trợn rất bỉ ổi không tả được là độc nhất có khẩu súng Phòng Không nổi bật của Đại đội 1 tôi tịch thu cũng bị đánh tráo luôn không chút nương tay. Rõ ràng tướng Nhựt treo đầu dê bán thịt chó. Tội nghiệp các tướng sĩ tượng, cả xe pháo mã chỉ biết đứng xem, tấm tắc khen tài Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh, chứ đâu ngờ ông bình vôi đó, nửa người nửa ngợm, hô phong hoán vũ, chơi trò xảo thuật cướp công xương máu của các chiến sĩ Mũ Nâu.

Hèn gì, tôi vừa thanh toán xong mục tiêu cuối cùng ở cửa khẩu, Trần văn Nhựt sai Trung tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5/2 Bộ Binh gọi máy xin Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân cho một đơn vị của ông dàn trận giả bơi ghe qua tấn công đồi 94, để xảo trá quây phim, hô hoán chính chúng chiến thắng Sa Huỳnh. Đánh giặc, dù là giả, cũng phải có tiếng súng của địch chống lại, nên lũ hèn mới dám cả gan bảo Đại đội 1 tôi đang còn ở đó vờ làm Việt Cộng kháng cự dỏm, chỉ nã đạn lên trời, chứ đừng chúi xuống đầm Nước Mặn trúng âm binh của Nhựt. Nhưng tôi đã khẳng khái từ chối, không thi hành cái lệnh quái đản, trò hề của bọn côn đồ mà trời sẽ tru đất sẽ diệt một ngày không xa.

Còn gì nữa không? Con xin bái phục ông tướng đã một thời nổi tiếng anh hùng tử thủ… ở đâu đó!

Nghe Tiểu đoàn trưởng Quách Thưởng kể lại chuyện đánh tráo chiến lợi phẩm, cướp công Biệt Động Quân, tôi oán trách thì ông chửi thề:

– Mẹ, từ ngoài sân bay đi vô tao đã thấy vậy!

– Còn Trung tá Liên đoàn trưởng đâu, câm họng luôn sao?

– Thôi bỏ qua! Nếu mày không lên được đại úy, tao sẽ đề nghị cấp trên thưởng mày một Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liễu.

Tôi định trả lời Thưởng, dù tấm huy chương đó thuộc loại lón, tuyên dương công trạng cấp quân đội, nhưng tôi cũng đã có thừa ba cái, từ khi tôi còn mang lon thiếu úy dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào 1971, và vì để lâu năm quá nên cả ba dương liễu đã hóa thành dương mai hết ráo rồi! Tôi không tiện nói, vì Thưởng là người bạn lâu năm và không chủ động được vấn đề.

Chán nản, tôi sai hai người lính thân cận Huỳnh văn Trung và Hoàng Anh toán Thám Báo, đem theo cái máy PRC25 để liên lạc, xuống núi vào khu phố Đức Phổ, cùng với tài xế Phó Trọng lấy chiếc xe Jeep chạy về Mộ Đức gặp Nhị. Nàng đang nóng lòng mong đợi tin tức nơi tôi.

Vài tiếng sau thì có tiếng Nhị gọi:

– Việt Quốc, em đây!

Tôi cầm ống liên hợp:

– Em và mẹ khỏe không?

– Dạ khỏe! Sao giọng anh khàn khàn vậy? Hoàng Anh nói anh có chuyện gì buồn lắm phải hôn? À này, sao em lại nghe đài phát thanh Quảng Ngãi loan tin Sư đoàn 2 Bộ Binh chiến thắng Sa Huỳnh chứ không phải Biệt Động Quân?

Nghe Nhị hỏi tôi càng tức thêm:

– Đó là lý do khiến Đại đội anh buồn. Buồn vì bị bọn Trần văn Nhựt cướp công. Anh sẽ viết sách về sự kiện lịch sử này, nêu đích danh tướng cướp. Chắc chú Trung đã kể em nghe hết mọi chuyện rồi!

Giọng Nhị như muốn khóc:

– Thôi, em không muốn anh buồn. Họ là tướng cướp, đừng sánh mình anh hùng với tiểu nhơn.

– Bị ma giáo, nên anh mất thành tích chứng minh để được thăng cấp mặt trận. Tội nghiệp, như em biết, lính lớp chết lớp bị thương, và gian khổ quá nhiều. Thế nào anh cũng cầm bút vạch mặt quân cướp cạn…

– Anh vừa tạo thời thế, chính cái thời thế đó nắn ra chúng. Thà cấp bậc nhỏ anh còn giữ được cho quê hương từng tấc đất hơn kẻ lon lớn, cổ đầy sao mà hèn hạ bán nước. Tổ quốc đang cần những dũng sĩ như anh. Hãy tiếp tục chiến đấu, chứ đừng bỏ cuộc, nghe anh!

Tôi thật sự tối mắt, trả lời Nhị, người con gái vừa mới quen đã hơn một lần can đảm ra tận chiến trường thăm tôi:

– Em nói chí lý. Thôi, trời đã xế chiều rồi, cho Hoàng Anh và Trung trở lại Đại đội. Nhớ đừng đi theo nữa, anh ở tuốt trên núi cao lận. Gởi em ngàn cái hôn.

Nàng thỏ thẻ rất nhỏ, để tụi lính khỏi nghe:

– Em muốn hôn anh thiệt, không hôn gió đâu!

Tôi cười:

– Mai mốt anh về.

Chấm dứt cuộc vô tuyến điện đàm, tôi trả máy lại cho viên Hạ sĩ quan Truyền Tin Nguyễn Hiệp, rồi bước ra khỏi căn lều chênh vênh trên đỉnh núi đầy mây. Tai tôi vẫn còn nghe văng vẳng những lời Nhị nói, nhất là hai tiếng “thời thế”. Mỉa mai thật! Lẽ nào thời thế cứ nắn mãi phường sâu dân mọt nước ấy, một lũ hèn nguy hiểm hơn kẻ thù?

Tôi nhìn xuống đồng bằng phía đông trải rộng qua đến khu đồi 94 cửa khẩu Sa Huỳnh đang rực lên như tấm lụa. Xa hơn, về hướng bắc, sau dãy phố Đức Phổ dưới nắng chiều chói lọi, vài vật gì phản chiếu ánh sáng tia tỉa, như những ngôi sao bạc không đều cạnh, có chỗ nhòe nhoẹt giống miệng ông bình vôi trắng phếu. Dưới mắt tôi cơ hồ còn vang động tiếng thét hãi hùng của bầy giặc cỏ bị các Anh Hùng Bạt Mạng đánh tan xác hôm qua.

California 1996
Trần Thy Vân

NHẬN XÉT
Tác giả và tác phẩm
ANH HÙNG BẠT MẠNG

ĐÀI VNCR

-Đinh Quang Anh Thái: Quyển sách ANH HÙNG BẠT MẠNG này nếu người nào có dịp đọc sẽ thấy nội dung cuốn hút ngay từ đầu chí cuối với những đức tính ngang Oklahoma tàng của những những chiến sĩ mà tác giả đề cập trong truyện, cũng như những cái bạt mạng được nói tới không kém các hình ảnh cảm động. Tỉ dụ: đoàn người thân nhân của các binh sĩ đi theo đơn vị hành quân, nó nói lên một tấm lòng của tất cả những người chiến đấu bảo vệ cho miền Nam tự do.

ĐÀI LITTLE SAIGON

Trần Thy Vân, một sĩ quan chỉ huy thuộc binh chủng Biệt Động Quân trước 1975. Cuộc đời quân ngũ của ông là những tháng năm dài dưới lửa đạn, hai chân ông đã để lại nơi chiến trường trong lúc ông cố gắng bảo vệ tự do cho từng phần đất miền Nam VN. Trong tác phẩm đầu tay ANH HÙNG BẠT MẠNG ông đã kể lại phần lớn các cuộc hành quân thời gian chiến trường sôi động nhất vào những năm đầu thập niên 1970. Đọc cuốn hồi ký này chúng ta cảm thông sâu sắc với tâm tình tuổi trẻ đã một thời phục vụ cho đất nước, bao nhiêu đóng góp hy sinh để rồi dân tộc chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi nghèo đói, khổ ải, áp bức chỉ vì, theo tác giả, một số người lãnh đạo chỉ huy, như những đoạn văn mà chương trình “Anh Vẫn Sống” xin trích lại diễn đọc sau đây: “Sau Trận Thánh Chiến”, trang 203.

ĐÀI VOV

– Giáo sư Lưu Trung Khảo: Trần Thy Vân mới xuất bản cuốn truyện nhan đề ANH HÙNG BẠT MẠNG nghe cái tên có vẻ bạt mạng, mà đọc thì thấy đúng bạt mạng. Độc giả nào muốn tìm trong sách này hình thức tiểu thuyết ly kỳ, thì sẽ thất vọng. Đây là truyện dài không có cốt truyện, nhưng lại có nhiều chuyện do nhiều nhân vật đóng góp lại mà thành, không có nhân vật nào chính theo truyện dài truyền thống, nhân vật chính ở đây phải nói là những người anh hùng bạt mạng của Đại đội 1 BĐQ do Trung úy Trần Thy Vân chỉ huy.

Về văn học, cái xe lăn với ngòi bút của Trần Thy Vân, tôi nghĩ đó là khí giới mà Trần Thy Vân sau khi buông súng lại sử dụng để tấn công Cộng Sản. Cuốn AHBM là một phần đóng góp vào công cuộc chiến đấu. Sau khi tác giả đã hiến một phần thân xác mình cho đất nước vẫn không chịu buông súng, tiếp tục công việc lý tưởng…

– Giáo sư Trần Đức Thanh Phong: Đọc AHBM tôi thích nhất là tác giả đưa ra hình ảnh những người lính hạ tầng cơ sở thấp nhất quân đội, vì chưa có ai diễn tả từng tí như Trần Thy Vân. Cuốn sách nếu ai đọc mà không thấy xúc động, không biết cả triệu người lính chúng ta trong bao nhiêu năm khổ sở như thế nào là một việc thiếu sót…

BÁO THẾ KỶ 21

-Nhà văn Phạm Xuân Đài: Gọi đây là hồi ký đúng hơn truyện, vì tác giả viết chuyện thật hoàn toàn về cuộc đời chinh chiến của mình, một sĩ quan đại đội trưởng binh chủng Biệt Động Quân. Chuyện kể trận nổi tiếng đánh chiếm lại Sa Huỳnh đầu năm 1973, mà đơn vị của tác giả đóng vai trò chủ chốt. Chuyện chinh chiến thì đã qua lâu nhưng bộ mặt thật của nó, những gian nguy và nỗ lực cùng cực của con người, những nét hào sảng những anh hùng trận mạc cũng như cái đê hèn của kẻ áp phe xương máu cần được ghi lại. Trần Thy Vân đã ghi lại. Tác giả không cường điệu hay hư cấu, tác giả chỉ kể chuyện chiến đấu của mình với sự tự trọng của một người có lý tưởng, trọng danh dự, với cái duyên dáng nghệ sĩ của kẻ “bạt mạng” đã nhiều phen vào sinh ra tử.

Người đọc hào hứng theo dõi cho đến màn chót của cuộc tái chiếm Sa Huỳnh đầy mưu trí, máu xương do đơn vị Biệt Động Quân của tác giả thực hiện, những bỗng buồn thấm thía khi đọc ở mấy trang chót. Tuy nhiên, trận chiến Sa Huỳnh dù chỉ xảy ra nơi một vùng nhỏ bé, nhưng liên hệ đến nhiều cá nhân, nhiều đơn vị nên có lẽ cũng còn nhiều mảnh sự thực khác nữa sẽ được đưa ra.

Lịch sử đang làm công việc của nó. Các mảnh sự thực đang được phục hồi lại, trong đó có những nhân dáng và nhân cách.

BÁO SAIGON TODAY và TÌNH THƯƠNG

– Ký giả Phạm Minh: Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG, tác phẩm đầu tay của Trần Thy Vân, tôi đã khóc lúc nào không hay. Rất may tôi đọc lúc đêm khuya, nếu không, các con tôi không hiểu vì sao cha mình lại nhỏ lệ. Quả thật cảm động lắm! Đó là hình ảnh một đời người, nhưng hơn thế nữa, đó chính là hình ảnh một dân tộc trong một thời kỳ đen tối của lịch sử, hình ảnh một quê hương quằn quại đau khổ… Tôi đã khóc với tác phẩm ANH HÙNG BẠT MẠNG, vì tôi thấy trong đó hình ảnh quê hương, của cả một thế hệ. Anh kể lại quãng đời niên thiếu của anh trong bối cảnh quê hương chiến tranh, anh có lý tưởng.

Hãy đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG để thấy cái phải thấy để mà biết đau khổ và điêu tàn tới đâu. Tôi đã đọc Phan Nhật Nam, Nhữ văn Úy, Nguyên Vũ, nay đọc thêm Trần Thy Vân quả là nhà văn tôi mến mộ và khâm phục.

VIỆT BÁO KINH TẾ

-Nhà thơ Viên Linh: Là một cựu sĩ quan Biệt Động Quân anh đã được gắn 18 huy chương anh dũng bội tinh với 4 nhành dương liễu, loại tuyên dương công trạng cấp quân đội và hai chiến thương bội tinh. Anh đã tham dự nhiều cuộc hành quân, kể cả trận Hạ Lào. ANH HÙNG BẠT MẠNG là chuyện đời anh, sống thật, nhưng không viết với giọng kể, mà dựng lại chuyện như đang xảy ra trước mặt. Cuốn truyện thực sự sống động, bởi Trần Thy Vân không làm văn chương, không hoa hòe hoa sói, chỉ trực thuật những đoạn đời, những cảnh sống, ngặt nghèo, gian nan đời lính.

Không phải ai cũng viết được như anh.

BÁO CON CÒ

– Giáo sư Trần Đức Thanh Phong: Thấy được một cuốn tài liệu giúp cho người đọc có thể sống lại những giờ phút ở tiền tuyến diễn tả như một bức tranh, một cuốn phim về người lính và sự đóng góp trọng đại của những anh hùng vô danh này, là một khám phá đầy ngạc nhiên.

AHBM là cuốn sách hiếm có, viết về lính, về các binh sĩ hạ tầng cơ sở của QLVNCH, những người cầm súng trực diện với địch, gần như hằng ngày tác giả chứng kiến các đồng đội gục ngã bên cạnh mình. Một câu chuyện về một đại đội Biệt Động Quân với những nhân vật trong đơn vị được nhắc nhở diễn tả bởi tác giả, một người hơn hai mươi năm trước là Trung úy chỉ huy đại đội này.

Với lời văn nhẹ nhàng, bình dân, hợp với những câu nói rất giản dị nhưng giàu tình đồng đội, người đọc được đưa vào một thế giới sống động của những người lính vào sinh ra tử, đồng thời cũng nhận thấy những người lính này bản chất con người, dù “bạt mạng” mà không quên gia đình, dù dứt khoát đối với địch vẫn còn tình thương đối với con người. Họ cũng biết yêu biết ghét, biết liều biết sợ, và đặc biệt biết “bạt mạng”.

Qua cuốn AHBM ông đã đóng góp thêm nhiều cho sự hiểu biết đời sống và tâm trạng của những người binh sĩ hạ tầng cơ sở gồm số đông của quân lực VNCH, nhất là về tình đồng ngũ đồng đội. Chọn từ anh hùng ghép với từ bạt mạng để đặt tên cho cuốn sách thật đúng với những nhân vật được nêu ra trong đó, phải chăng vì bạt mạng mà anh hùng, hay là vì anh hùng nên mới bạt mạng.

Người đọc còn khám phá thêm bên cạnh những “anh hùng bạt mạng” cũng có các phần tử hèn hạ, tuy thiểu số nhưng lại là cấp chỉ huy cao cấp, cho nên quân đội VNCH bị tai tiếng thật phi lý.

ĐÔNG PHƯƠNG THỜI BÁO và LẬP TRƯỜNG

– Ký giả Hồng Phúc: ANH HÙNG BẠT MẠNG tác phẩm đầu tay, là cốt chuyện của chàng Đại đội trưởng BĐQ Trần Thy Vân đánh nhau bạt mạng với quân đội Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam. Trong thời gian giữa lúc xáp trận tơi bời và nghỉ ngơi dưỡng quân, nhiều chuyện đã xảy ra, có khác nào trong quyển “Chiến Tranh và Hòa Bình” của đại văn hào Leo Tolstoi.

Trần Thy Vân, khuôn mặt quen thuộc của cộng đồng Nam California hằng chục năm nay, là cựu Trung úy BĐQ đã hiến một phần thân thể trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam. 1983 vượt biên qua Mỹ trên chiếc xe lăn anh vẫn tiếp tục đấu tranh chống Cộng như lúc còn quân phục. Trần Thy Vân từng làm chủ nhiệm báo, viết văn.

Buổi ra mắt sách AHBM có đủ thành phần cộng đồng, văn giới, báo giới, cựu tù nhân chính trị, đảng phái, hội đoàn, các nhà hoạt động đấu tranh, con số đếm được 221 người dự, chỉ kém chút đỉnh so với buổi nói chuyện của Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã tổ chức tại đây ít lâu, nhưng hơn xa nhiều vụ ra mắt sách khác. Các diễn giả được mời lên phát biểu gồm có:

– Nhạc sĩ Nguyễn Hiền đề cập đến sử quan. Lịch sử thường bỏ quên các anh hùng nhỏ nbé như Trần Thy Vân và vô số Trần Thy Vân khác, chỉ nói đến tướng với tá, nên mới có câu “Nhất tướng công thành vạn cốt khô” hay lịch sử bị bóp méo, Quốc Sử Giám triều Nguyễn gọi triều đại Quang Trung Đại Đế là ngụy triều.

– Giáo sư Nguyễn sĩ Tế đề cập đến tiểu thuyết chiến tranh. Ông cho rằng Trần Thy Vân rời trường học, vào quân trường ra đánh giặc, kể chuyện giặc giã với tâm hồn trong sáng, nên vài nhân vật như cô Lý, cô Nhị không xung đột nhau. Tác giả hâm nóng chiến tranh, theo ông, với nhiệt độ vừa phải. Ông đã rung động nhẹ nhàng với tác phẩm AHBM. Ông tin tưởng kiểu viết như chương “Quán Hồng Cà Phê Máu, Máy Bay Bắn Lầm”, Trần Thy Vân nếu tiến sâu vào lãnh vực của tiểu thuyết chiến tranh anh sẽ có thừa cơ hội thành công.

– Nhà văn nữ Bùi Bích Hà cho rằng bà không bao giờ tưởng mình có thể đến đây trình bày cảm nghĩ về một tác phẩm nói đến chiến cuộc vì tuổi đời còn nhỏ. Thuở thiếu thời chỉ nghe chương trình Dạ Lan, đã khóc với Kỷ Vật Cho Em và Người Ở Lại Charlie. Nay đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG mới thấy sử tự hào về những đóng góp của bậc đàn anh nơi chiến trường.

BÁO DÂN QUYỀN Oklahoma.

– Nhà báo Quách Y Lành: Các độc giả bên Cali ngỡ Hoạt và Quách Y Lành chưa nhận được sách nên mới gọi qua báo Dân Quyền Oklahoma cho biết về tác phẩm ANH HÙNG BẠT MẠNG, trong đó tg Trần Thy Vân viết rất nhiều về hai ông anh của QYL.

Thú thật với anh, Y Lành viết bằng đầu óc tưởng tượng đôi khi một mình ngồi đọc lại cũng giọt ngắn giọt dài, huống chi đọc sách anh thấy chính tên tuổi của hai ông anh mình được trang trải trên từng trang giấy. Mặc dù đã hai mươi bốn năm qua, nhưng bao nỗi xúc động trong lòng đã không ngăn được những giòng nước mắt tuôn chảy, QYL đã khóc ròng khi đọc và nhớ lại người anh thứ (Quách Ẩn) kính thương đã hy sinh cho đất nước lúc tuổi đời còn non trẻ.

QYL chân thành cám ơn anh đã viết lên những sự thật…

Nữ độc giả MG Charlottesville, Virginia.

Tác phẩm ANH HÙNG BẠT MẠNG làm tôi vô cùng xúc động. Tôi cố tình đọc quyển này thật chậm rãi để cảm nhận từng ý văn của tác giả. Tôi cũng đã đọc nhiều sách báo đủ các loại nhưng chưa thấy cuốn sách nào lại làm tôi xúc động mãnh liệt như cuốn này.

Đặc biệt anh có một lối viết vô cùng độc đáo, hấp dẫn, lôi cuốn hẳn được mọi độc giả vào trong cuộc. Lắm lúc tôi không dám thở mạnh vì sợ…địch nghe thấy làm lộ quân mình, có khi trái tim tôi đập loạn xà ngầu lúc máy bay đang bắn lầm lính nhà hoặc tôi cảm thấy nóng mặt khi đọc qua chương tên tướng cướp thủ đoạn tiếm công xương máu các anh hùng Biệt Động Quân. Thêm vào đó bố cục mạch lạc, lời văn chân thành trong sáng, không chải chuốt, không khách sáo độc giả thấy dễ hiểu, dễ cảm nhận được tâm tình của tác giả. Sau khi đọc AHBM tôi biết anh có trí nhớ phi thường. Mọi việc đã xảy ra trên 20 năm anh còn nhớ vanh vách tên từng người, từng chi tiết. Tôi rất khâm phục anh người quân tử không luồn cúi nịnh bợ. Tôi cũng công nhận anh một là sĩ quan can đảm, cấp chỉ huy công bằng, biết hòa đồng thông cảm lính.

Tác phẩm AHBM tạo được một sự thu hút đặc biệt làm tôi đã phải “lờ” luôn vụ Olympics, không muốn bị gián đoạn giữa câu chuyện này.

Sinh viên NGUYỄN HIẾU Phoenix, Arizona.

Cháu sanh ra sau cuộc chiến, không biết về thời đó, nhưng chân thành cám ơn bác đã dùng ngòi bút kể lại thật là cặn kẽ làm cháu hiểu nhiều các anh hùng dân tộc. Cháu nghĩ, lúc ấy đất nước xuất hiện thêm anh hùng như bác, thì đâu có ngày nay hàng triệu đồng bào đâu có cảnh lưu lạc người trong nước nhớ thương người ngoài nước và có biết bao nhiêu mạng sống làm mồi cho cá chỉ vì chạy trốn Cộng Sản. Hy vọng tương lai có nhiều bậc anh hùng như bác để thay đổi số phận đất nước.

Trung tướng NGUYỄN CHÁNH THI Lancaster, Philadelphia.

ANH HÙNG BẠT MẠNG quả là quyển sách của một chiến sĩ, chiến đấu cho quê hương dân tộc. Tôi thành thật khen anh, con yêu của Trần Cao Vân, Thái Phiên xứ Quảng. Tôi rất thích chương “Sau Trận Thánh Chiến”. Tôi biết tên tướng bỏ sư đoàn chạy ra cù lao Ré, vào Phan Rang xin một máy bay nói là đi thám thính lại để chuồn.

Đại tá TRẦN KIM ĐẠI Nam California.
Liên đoàn trưởng LĐ1 BĐQ – danh hiệu Sơn Linh trong AHBM.

“Sách được lắm nhưng viết còn thiếu hai điều trí trá của ông tướng đó” Trang 9.

Trung tá HỒNG PHỔ Tyler, Texas.
Liên đoàn phó LĐ1 BĐQ – danh hiệu Sơn Linh Phó trong AHBM.

“Tiếp tục vạch mặt, đất nước mất do bọn vô tài, xôi thịt đó”.

(………Tôi chưa trình bày hết ý, Hoàng Phổ đã nổi cười khà khà, nghe dễ nóng: “Hay ha, phe ta bắn phe mình”. Tức giận người hùng Khe Sanh khen kiểu móc họng, tôi cúp máy, trả ống liên hợp, rồi buồn buồn ngồi chửi đổng: “Đời mà! ĐM… Tình nhà binh như tình nhà thổ”) Trang 136.

Trung tá QUÁCH THƯỞNG Nam California.
Tiểu đoàn trưởng 21 BĐQ – danh hiệu Trùng Dương trong AHBM.
Cấp chỉ huy trực tiếp, cũng là người bạn học cũ của tác giả vào những năm giữa thập niên 1950:

“Tao đọc tao buồn quá!”. Vẫn như ngày nào trong trận chiến Sa Huỳnh

(Giọng Thưởng muốn khóc: “Hộ tống tao ra Đức Phổ gấp! Thằng Ẩn chết rồi!”) Trang 114.

Đại uý Bác sĩ NGUYỄN TRUNG TÍN Canada.
Y sĩ trưởng BCH Liên Đoàn 1 BĐQ.

“Cuốn AHBM lại đầy kỷ niệm của tôi. Bao xúc động, thương tiếc những người lính đã bỏ xương máu nằm xuống cho dân tộc sống còn, để rồi phải buông súng đầu hàng tức tưởi. Thật cảm động với bao hình ảnh hào hùng của anh em như đang hiện ra trước mắt tôi”.

(Tác giả khó quên ngày tác giả bị mìn, gãy hai chân, Bác sĩ Nguyễn Trung Tín tới săn sóc ngay tại mặt trận. Bối cảnh này được nhắc lại trong Tiếng Hờn Chân Mây đã phát hành).

Đại uý DƯƠNG XUÂN Michigan.
Đại đội trưởng 2/21 BĐQ – danh hiệu Xích Bích trong AHBM.
Cùng với tác giả giáng xuống đầu địch nhiều đòn chí tử.

“Sách viết hay, bạn bè đọc đều nói vậy. Nếu còn chỗ nào anh quên thì hỏi tôi”.

(Tao đoán địch chừng một trung đội đang làm nút chặn để quân nó tháo chạy qua đầm. Xuân than: “Hầm hố chằng chịt, lính không thấy đường, đã chết hai rồi còn nằm dưới. Anh đánh giúp tôi bên phải, từ chớn nước vô…”) Trang 160.

Trung uý TRẦN THƯƠNG QUẢNG Norway, Âu châu.
Chỉ huy hậu cứ Tiểu đoàn 21 BĐQ.

“ Nhận được ANH HÙNG BẠT MẠNG, chưa đọc chữ nào, cái tựa đề đã làm tôi thích thú, nó làm sống lại hình ảnh BĐQ Trần Thy Vân trong trí tôi, nước da đen đen, gương mặt khắc khổ, ngang tàng đếch sợ thằng tây nào. Nhưng đó chỉ là bề ngoài của một sĩ quan chiến đấu cao, lúc nào cũng tình cảm với anh em”.

Khánh (phu nhân của Trần Thương Quảng):

“Tôi đã thức gần trọn hai đêm để đọc, hôm sau đi làm uể oải mà vui. Ngày xưa, tôi là con của lính, sau làm vợ lính nên ít nhiều cũng biết được thế nào là lo sợ, vui mừng của đời lính. Đọc đến đâu tôi cũng thấy cảm động, không thể ngưng được”. Đại uý PHẠM XẾP Brooklyn Park, Minnesota. Pháo đội trưởng PB SĐ2BB -yểm trợ hỏa lực mặt trận Sa Huỳnh.

“Trên 42 năm mới được tin tức bạn bè, mình vừa mừng vừa xót xa đau buồn vì sự mất mát của Vân, do các bạn cùng khóa phone cho biết. Đâu có ngờ những năm 1970-75, hai đứa cùng chung vùng trách nhiệm, Vân bên Biệt Động Quân, đơn vị mà Pháo đội mình đã từng bắn yểm trợ nhiều lần vùng I…

Đọc 2 cuốn sách mình cũng không ngờ bạn mình “bạt mạng” đến thế. Rõ đây là hồi ký đúng hơn tập truyện. Cảm ơn Vân đã cho mình, bạn bè, độc giả, những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời quân ngũ, nhất là một cấp chỉ huy có trách nhiệm. Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG, có cái ấn tượng sâu đậm nhất là vì không những mình là bạn Vân, mà các nơi xảy ra những cuộc đụng độ khốc liệt, rủi ro cho cá nhân cũng như đơn vị Vân lại chính ngay tại địa phương mình. Quê mình ở Đức Thuận, tức Đức Phong sau này. “Quán Hồng” Vân đề cập trong truyện, Quán Hồng Cà Phê Máu, là một địa danh của xã nhà-Đức Phong! Còn Đức Lương quê vợ mình. Cho nên Trần Thy Vân viết đến những địa danh đó, mình có cảm giác đang lâm trận với Vân…”. (PX)

Nhà thơ NGUYỄN ĐÔNG GIANG San Jose, California.
Tác giả thi phẩm “Vô Lượng Tình Sầu”, xuất thân khóa 19 Võ Bị Đà Lạt, với Thiếu tá Nguyễn văn Do Tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân.

“Tôi và Trần Thy Vân bạn thân thiết từ quê hương An Hải: “Bên ni sông Hàn nước xanh như tàu lá, bên kia Đà Nẵng phố xá nghênh ngang”. Thời niên thiếu đọng lại trong lòng nhau những kỷ niệm buồn vui như rủ nhau đi tắm biển Mỹ Khê, bơi ra Cồn Khoai đá bóng. Những ngày mưa nắng đứng đợi bến phà, chờ đò đi học lo xa đường về. Lớn lên lưu lạc… rồi chiến tranh bùng nổ khắp miền Tổ Quốc. Tôi vào Võ Bị Đà Lạt năm 1962. Trần Thy Vân thì tình nguyện K22 SQ Thủ Đức 1966.

Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG như sống lại một thời kỳ lịch sử chiến tranh VN với chiến thuật tấn công vũ bão, thần tốc…vang danh lừng lẫy làm địch quân kinh hồn bởi những chiến sĩ QLVNCH trong đó có Đại đội 1/21 BĐQ do Trung úy Trần Thy Vân Đại đội trưởng. Từ khi cha sinh mẹ đẻ đã có màu da đồng đen rất thuận lợi cho chiến tranh, lúc cận chiến, anh lì lợm, một dạng Lý Tiểu Long ăn đòn, chịu đòn, và tung những đòn chết bỏ… dứt điểm triệt hạ kẻ thù. Như những trận “Sa Huỳnh Biển Lửa” và “Chọc Thủng Bức Tường Thép” anh với 50 tay súng BĐQ coøn lại đã đánh tan một trung đoàn Cộng quân Bắc Việt. Anh và đồng đội là những tay sát thủ lành nghề.

ANH HÙNG BẠT MẠNG là một trong những thiên anh hùng ca của những nhà văn quân đội VNCH trước 1975. Những trận đánh được anh kể lại như phơi bày trước mắt ta, những chiến sĩ Biệt Động Quân mũ nâu Đại đội 1 Tiểu đoàn 21 gan dạ, anh hùng, dẫn dắt người đọc theo dõi, say mê như truyện trinh thám, hồi hộp, như: “Đại đội kỳ dị, ma quái…”, “cảnh vật chung quanh bỗng dưng im lặng, nghẹt thở, sự sống như muốn ngưng hẳn nơi một góc Trường Sơn hùng vĩ” (trang 130).

Đời lính dường như ngắn hơn đời người, nên tình yêu của anh cũng rất bạo, như trong “Tình Yêu Lãng Tử”…

ANH HÙNG BẠT MẠNG là một tác phẩm hồi ký chiến tranh không hư cấu, không cường điệu. Ngôn ngữ anh dùng mộc mạc, dễ hiểu. Anh viết văn như kể chuyện, bộc trực, thật lòng, không quan trọng hóa vấn đề. Văn phong gọn gàng, dứt điểm, không dài dòng, cũng không phóng bút lộng ngôn, vung vãi…

Hai tác phẩm ANH HÙNG BẠT MẠNG-TIẾNG HỜN CHÂN MÂY của Trần Thy Vân đã thành công từ nội dung lẫn hình thức. (NĐG)

Nữ độc giả PT KIM LIÊN Maryland.

“Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG mà như được người anh kể chuyện chiến trường cho các em nghe, vừa hồi hộp, lo sợ cho phe ta, vừa tức mình vì đồng minh hay “phe ta bắn phe mình”, và sĩ quan cao cấp lại cướp công lao xương máu của các cấp dưới. Anh cho người đọc thấy sự gian truân, can đảm, tài giỏi của các chiến sĩ QLVNCH. Tình thương của người chỉ huy đối với các binh sĩ như anh em một nhà, anh quả là người thông minh nhạy bén. Đánh giặc thì thần tốc, chính xác, còn khéo léo đối xử với người dân để có sự chân tình giúp đỡ lẫn nhau như gia đình chị Nhị…

Sách anh cô đọng, không những có lúc làm rơi nước mắt mà còn có khi bật cười…”. (PTKL)

TRẦN VĂN ĐÁ San Diego, California.
Đồng khóa 22 Sĩ Quan Thủ Đức với tác giả.

“Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG rất xúc động, càng đọc tôi càng thấy thấm thía. Mặc dù khác binh chủng, nhưng tôi cùng khóa 22, nên biết tính tình anh từ lúc còn học ở quân trường Võ Khoa Thủ Đức. Đủ điều kiện được về làm việc nơi quê nhà an nhàn mà không chịu, anh lại quyết tâm xông pha chiến trường, chỉ vì cái máu bạt mạng của Biệt Động Quân Trần Thy Vân. Tiếc một điều, đánh giặc như vậy, nào Hạ Lào, Quảng Trị, nhất là Sa Huỳnh Quảng Ngãi 1973 anh thắng vinh quang mà không được đặc ân thăng cấp. Cuối cùng, tháng 3/1974, anh lãnh hậu quả đau thương, bỏ lại chiến trường đôi chân. Dù gì anh cũng đem lại vinh dự cho QLVNCH là Đại đội anh đánh tan Trung đoàn 141 CS, mà các đơn vị khác không vào Sa Huỳnh được.

Vì cảm khái cái dũng của anh, đặc biệt chị Nhị đã can đảm sang đầm Nước Mặn dưới trời “Mây” đang còn xác thù, để vào thăm anh, Tình Cũng Bạt Mạng, tôi tặng bốn câu thơ:

Mây trắng ngang trời, mây trắng bay
Sông buồn nhẹ lướt bóng thuyền ai
Bâng khuâng có kẻ nhìn mây nước
Rồi mấy tơ vương vạn dặm dài.
 (TVĐ)

Đại tá NGUYỄN QUANG Moreno Valley, California.
Sĩ quan Truyền Tin Phủ Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Đ/tá Nguyễn Quang có tháp tùng Tổng Thống ra thăm Sa Huỳnh sau khi đã tái chiếm.

Ngày 12-6-2007, tác giả có tiếp chuyện qua điện thoại với một vị cao niên, quý danh là Nguyễn Quang, cựu đại tá truyền tin ở Phủ Đầu Rồng, thời Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Sau vài giây thăm hỏi xã giao, giọng của ông Đại tá chuyển qua, tuy không gắt gỏng, nhưng không mấy dịu dàng, khi nhắc đến chuyện tướng Trần văn Nhựt được đề cập tới trong cuốn sách này, với tác giả: “Tôi nghe nói anh viết sách chửi tướng Nhựt cướp công anh ở trận tái chiếm Sa Huỳnh, Quảng Ngãi. Nhựt bạn tôi, tư lệnh mặt trận lúc đó, còn anh, một trung úy đại đội trưởng, tướng Nhựt cho anh huy chương, cho lên lon bao nhiêu cấp cũng được hà tất ông Nhựt lại cướp công anh?…” Ông diễn giải rất nhiều, lời nói có lúc nhấn mạnh như tát nước vào mặt, khiến vết thương lòng, cả thể chất xưa cũ của tác giả đau nhói lên. Tác giả mãi im lặng, lắng nghe xong, rồi cung kính thưa: “Niên trưởng vui lòng đọc 2 tác phẩm của tôi thì sẽ rõ chi tiết hơn là nghe nói”. Ông đáp: “Được, gởi tôi luôn 2 cuốn ANH HÙNG BẠT MẠNG và TIẾNG HỜN CHÂN MÂY, đọc xong tôi ý kiến”.

Sau hai tháng, ngày 8-8-2007, tác giả nhận được lá thư của Đại tá Nguyễn Quang với nội dung làm cho kẻ phế nhân này, một người mới ngày nào đây, lúc “sinh thời”, từng chỉ huy một đại đội anh hùng bắn gục địch quân như lá rụng mùa thu, phải chảy nước mắt:

“Tôi đã đọc 2 lần quyển ANH HÙNG BẠT MẠNG, tôi rất mến phục anh và thương cho những anh em bé cổ thấp họng như trường hợp của anh đã xảy ra rất nhiều, hình như đơn vị nào cũng có. Nếu có dịp tôi sẽ kể một câu chuyện… tương tự như anh.

Nhưng không hiểu sao khi tôi theo Tổng thống Nguyễn văn Thiệu ra thăm mặt trận Sa Huỳnh trong mấy tiếng đồng hồ, tự nhiên lòng tôi chùng xuống, nghĩ đến sự hy sinh của các chiến sĩ ta trong cuộc chiến cuối cùng nhưng vẫn anh hùng đạt thắng lợi huy hoàng. Tôi rất mến phục họ. Tôi có đến xem một căn hầm còn bốc khói, bên trong thì có mấy xác Việt Cộng, chung quanh có mấy cây dừa trốc gốc đổ ngả nghiêng. Theo báo cáo là do B52 oanh tạc, không biết đây là đầm Nước Mặn mà các anh đã chiến đấu ở đó không? Sa Huỳnh đối với tôi như cô gái còn trinh đang sống yên bình ở một nơi phong cảnh hữu tình dưới sự che chở của Tổ Quốc chúng ta hằng mấy thế kỷ, mà nay gần đến hòa bình, cô gái ngây thơ đó đã bị quân thù hãm hiếp một cách dã man, nên tôi động lòng trắc ẩn. Nay tôi lại đọc một tài liệu do anh Thy Vân cung cấp thật tuyệt vời. Đối với tôi đây là món quà tuyệt vời, không biết TT Thiệu có đọc quyển sách nhỏ bé này không. Nếu Tổng Thống còn tại thế thì tôi gởi tặng ông ngay ANH HÙNG BẠT MẠNG…

Tôi có linh tính khi nghe ông tướng Trần văn Nhựt thuyết trình tôi không tin Sư đoàn 2 Bộ Binh lại đơn phương gây được chiến thắng nên đầu óc tôi có nhiều thắc mắc…

Nếu anh có đọc: Những Sự Thật Chiến Tranh Việt Nam của Trung tướng Nguyễn văn Toàn thì anh sẽ không buồn mà còn hãnh diện đã hy sinh một phần thân thể cho tổ quốc Việt Nam mà biết bao người yêu nước muốn hiến dâng cho tổ quốc họ mà không làm được. Ở đời hơn nhau một tiếng Anh Hùng mà thôi! Đời là thế, thế thời phải thế, nay tuy là một thương binh Tổ Quốc luôn luôn ghi công các anh, đồng bào đời đời biết ơn các anh trong đó có gia đình, con cháu chúng tôi…”. (NQ)

– Đôi lời của tác giả ANH HÙNG BẠT MẠNG/TIẾNG HỜN CHÂN MÂY:

Tôi xin lỗi tự ý trích dẫn vài đoạn trong thư, những lời công đạo, của Đại tá Nguyễn Quang, và thay mặt các chiến sĩ Đại đội 1/21 Biệt Động Quân, lớp chết lớp đã trở thành phế nhân đang sống vất vưởng ở quê nhà, tôi cảm ơn mấy lời chân tình khen ngợi của Đại tá Nguyễn Quang, người đã có mặt ngay từ những tháng năm đầu tiên thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi không buồn đâu, tôi chỉ tức giận, và hãnh diện thì có. Người bạn gái của tôi sau khi Sa Huỳnh đã được tái chiếm, có khuyên: “Thôi, em không muốn anh buồn! Họ là tướng cướp, đừng sánh mình anh hùng với tiểu nhân… Anh vừa tạo ra thời thế, chính cái thời thế đó nắn ra chúng. Thà cấp bực nhỏ như anh còn giữ được cho quê hương từng tấc đất hơn kẻ lon lớn cổ đầy sao mà hèn hạ bán nước…”(Sau Trận Thánh Chiến).

Làm gì có, thưa Đại tá! Mặt trận Sa Huỳnh đầu năm 1973 không có chuyện B52 thả bom. Họ báo cáo láo! Vùng đất đầy dân cư sinh sống, làng Sa Huỳnh ven bờ đầm Nước Mặn giữa mục tiêu, rải bom B52 sao được. Vâng, Đại tá đã tới đó, theo TT Thiệu ra xem triễn lãm chiến lợi phẩm tại BCH của Trung đoàn 6 BB đóng ở Đức Phổ, Sa Huỳnh, nơi có cái vịnh mênh mông với cửa khẩu rộng lớn, mà Cộng Sản Bắc Việt rất ham muốn chiếm cứ. Đại tá ví von rất hay, romantique! Sa Huỳnh như một cô gái còn trinh! Nên bọn tướng soái Chu Huy Mân Việt Cộng hãm hiếp dã man. Chưa, chúng mới đè thôi, thì đã bị tay hảo hớn Việt Quốc Đại đội 1/21 BĐQ đập cho một trận nát thây khắp Sa Huỳnh (Chọc Thủng Bức Tường Thép).

Tổng Thống Thiệu chưa đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG và TIẾNG HỜN CHÂN MÂY vì hai quyển sách chưa được viết. Tuy nhiên tôi có kể đại khái ông nghe rồi. Chiều ngày 25-3-1990, sau 15 năm mất nước, lần đầu tiên cựu TT Nguyễn văn Thiệu xuất hiện ở San Jose, California. Ông có nhờ tướng Đỗ Kiến Nhiễu mời tôi về dự, ngồi kế ông trong buổi nói chuyện trước 1200 quan khách. Buổi sáng hôm đó, tại một khách sạn, tôi kể tóm lược vụ gian lận chiến lợi phẩm ở Sa Huỳnh 1973 cho ông Thiệu nghe, với vài vấn đề của gia đình. Dĩ nhiên, trước khi trình bày, tôi yêu cầu tướng Nguyễn Khắc Bình và Đại tá Điền lui ra ngoài, cả ông bạn tôi là Võ Cư Long cũng không được đứng quay phim. Ông Thiệu đồng ý. Đang lúc tôi nói, ông cứ ừ với hử chiếu lệ, mắt thì nhìn theo bàn tay chữ nhất của tôi. Rồi ông cũng trút “tâm sự”, về chín năm cầm quyền, dưới “trướng” ông có quá nhiều người kèn cựa với ông…

Phải chi nhân lúc đó tôi kể câu chuyện có tính cách huyễn hoặc, huyền thoại, cho ông cựu tổng thống nghe.

Năm 1964, khi tôi còn học trường TH Duy Tân Phan Rang. Gia đình anh Lê văn Phước, chủ nhà tôi ở trọ, có bà chị cả là một ni cô về rủ đi thăm Linh Sơn Tự. Tôi tháp tùng. Chiếc xe Lam ba bánh đến đậu trước sân chùa nằm bên sườn phía đông núi Cà Đú. Mọi người vào bái Phật, còn tôi thì trèo thẳng lên đỉnh ngắm cảnh. Dân Ninh Thuận và những ai hay qua lại xứ này đều thấy cái dãy núi toàn đá khô khan, nóng bỏng, chẳng một tàng cây râm mát, có gì đẹp đâu mà ngắm! Núi nằm dài bên phải Quốc lộ 1, cách thành phố Phan Rang khoảng 20 cây số, trên đường ra Nha Trang. Nếu ta đứng nhìn từ đỉnh Cà Đú về hướng mặt trời mọc, thì ngay ở sườn đồi có chùa Linh Sơn, dưới đồng bằng là làng Tri Thủy, nơi sanh quán của cựu Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, ven đầm Nại, rồi xa hơn bên kia bờ là Ninh Chữ giáp với biển đông.

Cảnh không đẹp, thế ai xui khiến tôi lên đỉnh Cà Đú, để đi lang thang giữa lúc trời nắng cháy. Tôi vào núp mát dưới một tảng đá khá lớn, chênh vênh và nghiêng vẹo như mái nhà. Tôi thấy trong hốc chân tảng đá có cái lỗ hang bằng trái banh, sâu hút, đen ngòm, bèn khom lưng xuống nhìn vào, bụng thì nghĩ biết đâu có vàng Hời (Chàm) cất giấu ở trổng. Tò mò mà ngu, tôi quên rằng những chỗ ẩm thấp, yên tịnh như vậy thường có rắn, không loài xanh lục, vằn vện, thì cũng hổ mang đang le lưỡi chờ sẵn, tôi thò tay vô quơ quào lại nhặt được một cái thẻ bài bằng đồng bị ten mốc đen thui. Hình dạng nó giống chiếc đũa bếp trong nước mình dùng xới cơm, phía trên đầu có khắc bốn năm chữ, Hán không ra Hán, Chàm chẳng Chàm, nên tôi không hiểu nghĩa gì. Thấy lạ, tôi đem tấm thẻ xuống núi, đưa thầy trụ trì chùa Linh Sơn xem. Ông thầy cầm ngắm nghía nó, đầu gật gật, không giải thích vật gì. Một hồi lâu thầy mới nói: “Được, để thầy, để thầy!”, rồi thầy bỏ nó vào tủ khóa trái lại. Còn tôi ra về, không dám đòi cái thẻ huyền bí ấy. Nếu nó có khắc bốn hay năm con số 9 thì sức mấy tôi chịu rời xa thầy.

Sau, có tin đồn Ninh Thuận sẽ có một vị “vua” ra đời. Quả nhiên, Trung tướng Nguyễn văn Thiệu lên “ngôi” 1965 và năm sau là tống thống nhiệm kỳ đầu nền Đệ II Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam.

Trước khi tình nguyện vào khóa 22 Sĩ Quan Thủ Đức 1966, tôi có kể lại chuyện nhặt được tấm thẻ cho một số các vị cao niên Kinh, Chàm ở Hữu Đức, Công Thành, Cà Na Phan Rang, ai nghe cũng ngạc nhiên, suy đoán đó là lá bùa yểm, do người Chiêm Thành hoặc Tàu ngày xưa biết vùng Cà Đú, Tri Thủy là một long mạch, nên ếm. Không ngờ đời sau, lại có một cậu học trò tinh nghịch đã vô tình tháo gỡ giải trừ…

Tiến sĩ NGUYỄN ĐỨC PHƯƠNG Anh quốc.
Soạn giả cuốn quân sử CHIẾN TRANH VIỆT NAM TOÀN TẬP.
Từ trận đầu Ấp Bắc 1963 đến trận cuối Sài Gòn 1975.

“… Quyển sách (ANH HÙNG BẠT MẠNG) rất hay, tiếc rằng sách không được quảng bá rộng rãi để người ngoài nước Mỹ biết. Nếu không nhờ N/t Quách Thưởng giới thiệu chắc tôi đã không có dịp đọc được quyển sách này. Hai chi tiết đã làm tôi cảm động là việc người lính BĐQ quyết không bỏ đơn vị và điều kia là sự hy sinh của gia đình người lính tác chiến.

Cám ơn anh đã cho tôi thấy những sự kiện thật đã xảy ra tại Sa Huỳnh. Suýt chút nữa tôi đã phạm phải sai lầm lớn. Cũng sẵn dịp xin phép được in tên anh vào lời cảm tạ mà tôi xin gửi một bản sao kèm theo đây. Có ba lý do để in những dòng cảm ơn này: “Nói lên mức độ chính xác về sử liệu ở một chừng mực nào đó…”. (NĐP)

Nhà văn TƯỜNG LAM Kansas City, Missouri.

“… Tháng 3/66, anh và tôi gặp nhau ở đồi Tăng Nhơn Phú, học khóa 22 Sĩ Quan Thủ Đức, và cùng chung Đại đội 16. Anh, nước da bánh mật, đi đứng nhanh nhẹn và tánh nóng.

Tháng 12/66 ra trường, tôi về vùng IV, anh chọn Biệt Động Quân. Tám năm, tính đến 1974 – 3/3/1974, ngày anh để lại đôi chân ở mặt trận Quảng Ngãi, anh đã giẫm nát các chiến trường từ vùng II ra vùng I, cả Hạ Lào. Hai lần bị thương, lần cuối cùng, không những mất hết đôi chân, thân thể anh còn mang nhiều mảnh đạn để rồi 33 năm sau, 2001, bệnh viện Garden Grove, California, mới giải phẫu và cũng chỉ gắp ra được một.

Đời lính anh trải qua nhiều trận đánh lẫy lừng, nhất là cuộc tái chiếm Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, đầu năm 1973. Với quân số còn nửa đại đội (trước khi xung trận, đơn vị đã bị máy bay bắn lầm, thiệt hại 31 người), anh cùng 50 tay súng Biệt Động còn lại đánh tan một trung đoàn của Cộng quân Bắc Việt. Quả là một chiến tích thần kỳ mà trong quân sử QLVNCH chưa có đơn vị cấp đại đội hoặc tiểu đoàn nào làm được.

Gian khổ tột cùng. Có lần lính anh phải đái ra uống, vì hết nước, trước lúc đơn vị của anh đơn độc mở đợt tấn công chiếm một mục tiêu trên đỉnh núi cao gần 1000 mét mà anh gọi đó laø “Đỉnh Mùa Đông”, trong dãy Trường Sơn, phía tây Mỹ Chánh Huế. Chúng ta hãy nghe anh Trần Thy Vân bày tỏ thắc mắc: “Thưởng (Tiểu đoàn trưởng) bảo ‘ráng’ đi, tôi chả hiểu ráng cái gì, ráng chiếm mục tiêu cho bằng được hay ráng đái ra uống?” (Trg.75 Quán Hồng Cà Phê Máu).

Với 18 huy chương, đa số là vàng và nhành dương liễu với hai Chiến Thương Bội Tinh trên ngực áo, Trần Thy Vân, bạn tôi đã đóng góp quá nhiều xương máu cho quê hương tổ quốc.

Tôi hãnh diện thưa với mọi người, bạn tôi là Trần Thy Vân, một sĩ quan ưu tú của QLVNCH, một nhà văn, một con người kiệt xuất, lẫy lừng. (TL)

ĐINH BẮC HỢP San Diego, California

Hợp đã nhận được ANH HÙNG BẠT MẠNG cách đây vài hôm. Sách viết rất hay, lời văn giản di, phù hợp với bản chất của những người lính. Cùng là sách viết về chiến trường, nhưng có nhiều tác giả viết quá cầu kỳ, bóng bẩy. Đặc biệt anh có tính tếu và bất cần đời. Lối viết của anh rất gợi sắc, gợi hình, làm người đọc có cảm giác như đang tham chiến, cũng nằm gai nếm mật cùng các binh sĩ.Nếu sách của anh được dịch sang English thì hay lắm, ít ra cũng giúp những thế hệ sau hiểu rõ thêm về những anh hùng bạt mạng Quân Lực VNCH. Đọc sách của ông Cao Văn Viên, rồi đến lượt ông Nguyễn Cao Kỳ, khiến cho những thế hệ trẻ cảm thấy ngán ngẫm mấy ông tướng quá. (ĐBH)

Đại uý LÊ ĐĂNG ÂN Dorchester, Massachusetts.
Đại úy Pháo đội trưởng Pháo Đội Chỉ Huy CV-BCH Tiểu đoàn 1 Phòng Không Quân Đoàn I.
Đồng môn K22PB với tác giả.

“Hai cuốn sách anh gởi tặng, như một chứng tích của người chiến binh đã trọn gởi tâm hồn và thể xác cho quê hương dân tộc. Thật vô giá! Để góp vào kho tàng của binh sử, anh đã ghi được những dấu chân người chiến sĩ QLVNCH như là món quà để lại cho thế hệ mai sau”. (LĐA)

NGUYỄN BÁ Edmonton, Canada.

Tác giả xin trích đoạn trong bài nói chuyện của anh NB ngày ra mắt 2 tác phẩm AHBM và THCM tại Edmonton, Canada, 2000.

“…Nếu ai trong chúng ta đã đọc Thuỷ Hử chắc còn nhớ 108 anh hùng Lương Sơn Bạc. Họ cũng được kể là những anh hùng, cũng bạt mạng, để chống bọn tham ô, cường hào ác bá, và để giúp đỡ những người dân thấp cổ bé miệng…

– Thuỷ Hử có nghĩa là “bến nước”, nơi xuất phát của 108 anh hùng bạt mạng trong truyện Tàu. Trong ANH HÙNG BẠT MẠNG thì cái khung chính là Đại đội 1/21 Biệt Động Quân, với 107 chiến sĩ và cả Trần Thy Vân nữa là đủ 108 người. 108 AHBM của ĐĐ1 BĐQ cũng xuất phát từ một “bến nước”: Bến nước là bờ biển Nam Ô, nơi đặt hậu cứ Phú Lộc của ĐĐ1/21BĐQ, để chơi tay đôi với Trung đoàn 141 thuộc Sư đoàn 2 Sao Vàng CSBV tại bến nước Sa Huỳnh (đầm Nước Mặn). Cái khác là họ không phải như các tay thảo khấu trong Thuỷ Hử, mà Đại đội 1 BĐQ là một đơn vị thiện chiến của QLVNHCH. Họ chỉ đánh trả quân Bắc Việt xâm lăng miền Nam.

– Trong Thuỷ Hử, từng cá nhân biểu lộ cái dũng khí ngang tàng của họ. Như Võ Tòng đả hổ, Lỗ Trí Thâm mang rượu thịt vào vào chùa nhậu nhẹt rồi đại náo cửa thiền. Đó là những cái dũng quá trớn. Trong ANH HÙNG BẠT MẠNG thì, cả Đại đội 1 cùng đồng tâm hiệp lực, và ngoài cái DŨNG còn phải có TRÍ của người chỉ huy. Phải biết lừa địch, nhắm vào tử huyệt của địch mà đánh, “xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị”. Nếu không thế, thì làm sao khi quân số của Đại đội 1 chỉ còn 50 người mà có thể bạt mạng Chọc Thủng Bức Tường Thép? Có Sa Huỳnh Biển Lửa? Có Thuỷ Táng cả trăm tên xâm lăng phải “sinh Bắc tử Nam”?

– Một điều nữa tôi muốn nói, cuộc chiến tranh vừa qua đối với những người lính là một cuộc chiến đầy khốc liệt, nhưng cũng đầy lãng mạn. Nếu không phải cái tính lãng mạn đó thì làm sao ở một xóm đèo heo hút gió thuộc quận Mộ Đức giữa không khí chiến tranh, người lính Biệt Động đi mua đồ cúng tết, trang hoàng nhà cửa cho gia đình nơi họ tạm trú vào ngày cận tết Quý Sửu? Chúng ta hãy tưởng tượng cảnh những người lính quân phục hoa rừng đội mũ nâu vo gạo, đãi đậu gói bánh tét… Ngược lại, cũng ngày đầu năm Mậu Thân, bộ đội miền Bắc lợi dụng ngày truyền thống của dân tộc, đánh phá khắp nơi, gây tang tóc biết bao người dân lành.

… Chắc hẳn quý vị thường nghe bài hát “Kỷ vật cho em” của PD: “Em hỏi anh bao giờ trở lại? Xin trả lời mai mốt anh về… Anh trở về bại tướng cụt chân…”. Hôm nay, chiến sĩ Trần Thy Vân đến với cộng đồng Edmonton chúng ta, anh đã để lại một phần thân thể vì quê hương. Như tướng De Gaulle đã nói, khi lưu vong vì sự xâm lăng của phát xít Đức: “Nous avons perdu la bataille, mais nous n’avons pas perdu la guerre” (Chúng ta đã thua một trận đánh, chứ không thua trận chiến)…”. (NB)

RANGERS CSM MICHAEL MARTIN & LTC McDONALD VALENTINE
Tác giả The Black Tigers Rangers of the Second Indochina War.

“Ranger Warrior”

First Lieutenant Tran Thy Van Commander First Company, 21St Ranger BN., First Ranger Group. Hero of I & II Corps: led assaults and commando raid; received 18 Cross of Gallantry medals -four with Palms and two Purple Hearts. Tran Thy Van lost both legs on 3-3-1974, fighting with the 21st Ranger BN., thus ending nine years of Ranger exploits. He is the author of THE AUDACIOUS HEROES.

Ranger Tran Thy Van,

You are a brave warrior; the people of South Vietnam, and the Biệt Động Quân, are proud of you… (MM)

Trân trọng đa tạ quý độc giả đã bình phẩm, khen ngợi tác phẩm này, thật quý hóa đối với tác giả ANH HÙNG BẠT MẠNG. ttv

NHỮNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN
ĐÃ HY SINH VÀO MẤY NĂM CUỐI CÙNG CỦA CUỘC CHIẾN

– Cố Đại úy Phạm Minh Hồ: Đại đội phó ĐĐ1/21BĐQ. Tử trận tại quận Hương Điền, Thừa Thiên, 1972.

– Cố Đại úy Quách Ẩn: Đại đội trưởng ĐĐ2/21BĐQ. Bị trọng thương ở Quảng Ngãi, qua đời tại BV Duy Tân Đà Nẵng, 1973.

– Cố Đại úy Trần Quang Giảng: Đại đội trưởng ĐĐ3/21BĐQ. Tử trận tại Mỏ Cày, quận Mộ Đức, Quảng Ngãi, 1974.

– Cố Trung úy Đặng Văn Thiều: Đại đội phó ĐĐ1/21BĐQ. Hy sinh tại quận Tiên Phước, Quảng Nam, 1974.

– Cố Đại úy Nguyễn Thuận Cát: Đại đội trưởng ĐĐ3/39BĐQ. Qua đời tại trại tù Bình Điền, Thừa Thiên, 1975.

– Cố Trung tá Võ Vàng: Tiểu đoàn trưởng TĐ21BĐQ, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5/2BB. Chết trong tù CS sau 1975.

– Đại úy Việt Tchépone: Chi đoàn trưởng Chi đoàn 17 Thiết Vận Xa M113. Chết tại Quảng Ngãi, 1974.

– Cố Hạ sĩ I Trần Văn Thanh: Truyền Tin BCH ĐĐ1/21BĐQ. Hy sinh tại quận Mộ Đức, Quảng Ngãi, mùng 1 Tết 1973.

– Cố Hạ sĩ Nguyễn Văn Châu: Khinh binh ĐĐ1/21BĐQ. Chết tại quận Quế Sơn, Quảng Nam, mùng 1 Tết 1974.

Các nhân vật khác trong ANH HÙNG BẠT MẠNG định cư tại hải ngoại và một số ở quê nhà, trong đó có bà Trần Thị Miên, chị kế của Tác giả.

TIỂU SỬ
TRẦN THY VÂN

Sinh ngày: 31-12-1944 tại Phan Rang, Ninh Thuận. Chánh quán: Quang Châu, Hòa Vang, Quảng Nam. Vượt biển tháng 7/1983. Định cư tại Nam California.

Tú tài 2 ban toán 1966. Cựu học sinh Phan Thanh Giản Đà Nẵng Bồ Đề, Quốc Học Huế, Duy Tân Phan Rang. Trước 75: Thơ đăng báo Phụ Nữ NM, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiếng Vang.

Tình nguyện nhập ngũ khóa 22 Sĩ Quan TĐ, tháng 03 năm 1966.
Đỗ thủ khoa (Honorman) khóa 2 Reconnaissance, do Sư Đoàn 1 TQLC Hoa Kỳ đào tạo tại Phước Tường Đà Nẵng 1970. Kế tiếp làm huấn luyện viên K.3 Recon, gồm các khóa sinh Việt-Mỹ và Đại Hàn. Trung đội trưởng Trung đội Viễn Thám, nhảy toán cho SĐ1TQLC Hoa Kỳ khắp rừng núi Trường Sơn vùng I.

Google photo

Chín năm Biệt Động, dự nhiều cuộc hành quân vùng I, II và Lam Sơn 719 Hạ Lào. 18 huy chương. Anh Dũng Bội Tinh gồm 1 Đồng, 1 Bạc, 10 ngôi sao Vàng, 4 nhành Dương Liễu là loại tuyên dương cấp quân đội, và 2 Chiến Thương BT ngôi sao Đỏ.

Chức vụ sau cùng: Trung úy Đại đội trưởng ĐĐ1/21BĐQ. 2 lần bị thương, lần hai cụt hai chân tại Quảng Ngãi, 3-3-74.

Thành viên sáng lập hội Thương Phế Binh, Biệt Động Quân, Tù Nhân Chính Trị là các đoàn thể đầu tiên tại Nam California, hiện phát triển nhiều nơi trên thế giới. Quyên góp 70 xe lăn gởi tặng các thương phế binh VNCH trong nước từ năm 1984.

Chủ Nhiệm & Chủ Bút BNS Thương Binh. Hội viên International P.E.N. Đệ nhị Phó chủ tịch VBVNHN, NK 2001-2003. Dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế tại London England, 2001. Chủ tịch TTVB Nam California ba nhiệm kỳ: 2000-02, 2002-04, 2007-2010.

Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân
Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

12. Việt quốc chẻ tre

Đêm qua, vì ham vui tôi kể chuyện ma Nguyễn văn Khanh làm đám lính BCH Đại đội bị ám ảnh khó ngủ. Tôi cũng chập chờn, lại thêm suy nghĩ về cuộc tấn công điểm cuối cùng, khu đồi 94 trước mặt, mà tôi tin chắc Đại đội sẽ được tham dự để kết thúc trận chiến Sa Huỳnh.

Hiệp đánh thức tôi dậy quá sớm, sáng nay uể oải, có thể vật vờ cả ngày. Chung quanh nghĩa địa anh em nhúm lửa nấu cơm ăn, đơm luôn bữa trưa bỏ ba lô đem theo như thường lệ.

Trong lúc chờ cà phê, tôi rủ Thiếu úy Thiều chạy một tua xuống bãi cát, rồi đứng vặn vẹo, hít thở thật mạnh thải khỏi buồng phổi bầu tử khí dưới ngôi mộ bốc lên khi nằm ngủ. Các động tác Thiều tập, như vươn vai, ưỡn ngực rất nhuần nhuyễn, giống con mãnh hổ uốn mình cho giãn gân, giãn cốt để giành tôi chồm ra nuốt trửng khối mặt trời đang đỏ ối vừa ngoi lên khỏi biển.

Phía nam, ngọn đồi 94 sừng sững bên cửa khẩu, rực rỡ như bức tranh sơn thủy, cũng non xanh nước biếc dưới ánh hồng. Tôi nghĩ trong bụng nơi cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ đó lẽ nào không hẹn mà gặp, bất tương xứng, một bên gồm các chiến sĩ can trường làm nên lịch sử, còn bên là một bầy giặc cỏ, phá nước hại dân. Khu đồi của César ắt phải trả lại César, ba mặt giáp biển với đầm Nước Mặn mênh mông, kẻ thù đang trong rọ. Tôi sẽ ra tay lần nữa, đập chết một cách thê thảm bọn tàn quân Sao Vàng Bắc Việt còn lẩn trốn sau mấy mươi ngày xâm chiếm Sa Huỳnh Đức Phổ, Quảng Ngãi.

Tôi ngồi dựa lưng vào ngôi mộ, uống cà phê với Thiếu úy Thiều, mà lòng nôn nao mong đợi một điều gì.

Tiếng súng của các Đại đội 2, 3 và 4 BĐQ đã bắt đầu nổ. Hiệp đưa máy tôi tiếp chuyện Thiếu tá Thưởng gọi:

– Việt Quốc có thấy cụm núi nằm một mình sát bờ đầm?

Tôi lên một mô đất đứng nhìn:

– Nó nằm phía tây, dưới chân đồi 94, phải không?

– Đúng vậy! Việt Cộng đang chạy dồn xuống đó, hãy dàn Đại đội băng qua cánh đồng đánh gấp, kẻo chúng vọt hết!

Thưởng muốn tôi từ đây đâm thẳng tới chặn đầu. Dù chúng là vịt trời đi nữa cũng không thể lặn sâu dưới đầm nước được. Cụm núi ấy tuy thấp so với vị trí của Thưởng trên ngọn đồi 94, nhưng cao hơn thế đất nơi tôi nhiều, khó chơi. Tôi đề nghị:

– Để tôi đưa Đại đội lên sườn phía bắc 94 róc xuống…

Vừa nghe Thiếu tá Quách Thưởng đáp bằng lòng, tôi liền thúc Đại đội một hàng dọc phóng nhanh, và sau hai mươi phút đã ở trên cao. Nhìn tổng quát xuống lưng đồi, triền núi hướng tây, thế đất thoai thoải, tương đối quang đãng, chỉ có các lùm cây nhỏ, sần sùi như da cóc, cùng vài ba tảng đá lớn bằng cái nhà. Cách tôi mấy trăm mét, dưới chân đồi, một cụm núi nhô lên xanh um, trông giống cái đầu con ngựa đang thò mõm vào đầm uống nước. Đó là mục tiêu Thưởng nói, tôi sẽ hốt gọn kẻ thù phương Bắc.

Dù ở thế thượng phong, trên đạp xuống dễ như chẻ tre, tôi vẫn dè dặt, phòng ngừa phục kích hay các chốt liên hoàn yểm trợ của địch. Tôi dàn ngang hai trung đội đầu, kế là BCH cùng toán Thám Báo một hàng dọc phía sau, đội hình chữ “T”. Quả đúng như tôi dự đoán, toán khinh binh vừa nhớm chân, địch từ chòm đá to trước mặt đồng loạt bắn AK, B40 và Thượng liên Đông Đức làm hai Biệt Động trúng đạn gục tại chỗ. Nhờ địa thế lốc chốc lính tự động nằm xuống thủ. Tôi nghĩ bọn tàn dư Bắc Việt khoảng nửa đại đội còn kẹt, rời rạc, chưa kịp tổ chức tuyến chiến đấu, tôi điều động ngay hai trung đội đầu tách ra như hai gọng kìm siết chặt hai bên hông, khống chế luôn sau lưng chúng, rồi đẩy toán Thám Báo tắp vào đánh thẳng chánh diện. Tôi bảo anh em hãy nới lỏng mặt sau đễ địch tuôn chạy bớt xuống cụm núi xanh bờ đầm là cái túi cho dễ túm cổ làm thịt. Trường hợp này, Đại đội chủ động, tấn công quá đã, nắm phần thắng trong tay. Các vũ khí có sức phá dữ dội, giết người hàng loạt, gồm M72, M79, nhất là M26 được sử dụng tối đa, tiêu diệt kẻ thù nhanh chóng hơn.

Trận đánh tôi mong đợi bắt đầu nảy lửa lúc 8 giờ sáng…

Thám Báo là thành phần xung kích vừa được bổ sung thêm ba tay súng cự phách, như một bầy hổ dữ trở lại rừng, áp đảo mục tiêu bằng lựu đạn. Với ngón sở trường đó, anh em từng nâng đơn vị lên hàng anh hùng trong các trận vang danh ở Trị Thiên, Quảng Nam, và cách đây mấy hôm đã can trường bọc hậu đánh thủng bức tường thép mạn bắc Sa Huỳnh, để rồi hết hỏa thiêu chí đến trấn nước hàng trăm tên giặc. Giờ đây mèo đang vờn chuột, Đại đội lại vây cứng, dốc hết hỏa lực tàn bạo không chút nhân nhượng xuống đầu địch đến đá núi cũng tung cao, nướng đỏ khu đồi, mà trong Đức Phổ, dân chúng còn nhìn thấy khói mờ chân mây.

Đột nhiên nghe súng nổ dữ dội Thiếu tá Thưởng gọi hỏi:

– Đụng nặng, phải không Việt Quốc?

– Phải Trùng Dương, Việt Cộng rất đông!

– Sao không báo ngay? Cần gunship không?

– Cần, nhưng bảo nó quần ngoài xa, lưu ý bọn bê bối dưới cụm núi xanh vừa thụt B40, thượng liên…

Tôi bỏ máy chạy tới. Nhật, Trưởng Thám Báo, nhìn lui:

– Em cho thằng Xuân Bệt lục soát cái hầm.

Đại đội có hai người lính tên Xuân, cũng trùng họ. Một rỗ mặt, được gọi là Xuân Rô, đã bị thương trong vụ máy bay bắn lầm mùng 1 Tết tại Quán Hồng, còn một thì mỗi lần về phố chuyên gạ gẫm mánh mung chôm chĩa mấy thằng Gi Mỹ la cà ở các Bar, nên có biệt danh Xuân Bệt.

Nhật vừa dứt lời thì Bệt lôi lên một tên Bắc Việt trẻ măng, hai tay vòng trên đầu, và nói to:

– Thằng này giả chết nằm giữa hai xác. Trung sĩ Nhật trói nó để tôi vào lấy hai cây AK và thượng liên…

Nhật rút sợi dây dù cột võng trói chặt tên bộ đội. Thấy Bệt kéo hai khẩu súng ra khỏi hầm, tôi khen:

– Hay lắm, Xuân!

– Còn dài dài, Đại Bàng ơi!

Văn đưa máy:

– Trung sĩ Thuận xin báo cáo.

– Nghe!

– Lính đốc lựu đạn xuống hầm, địch chụp ném lên hết…

– Rồi sao?

– Mình bị thương nhẹ hai đứa…

Nổi xung tôi quát:

– Nặng nhẹ gì hả con bò? Sao không liệng xuống trước trái khói màu cho mù mắt rồi tiếp theo lựu đạn thì chúng thấy đâu mà chụp với giựt?

– Đáp nhận Đại Bàng!

– Lính nghề bây giờ mới nói “đáp nhận”?! Thanh toán gấp phía đó, coi chừng đạn lọt qua Trung đội 2. Còn Hai Mươi bên kia, nghe không?

– Nghe!… Đại Bàng, Đại Bàng, Việt Cộng đầu hàng!

Thấy hai tên độ 16, 17 tuổi tôi không nỡ ra lệnh bắn:

– Trói lại!

Trung đội Thuận bỗng nổ súng xối xả xuống tốp Việt Cộng đang chạy loạn xạ dưới triền đồi mé bắc. Trên các tảng đá to, ba khẩu Đại liên M60 đồng loạt quạt theo tới tấp, đạn lướt sát đầu làm Thuận la inh ỏi, vì sợ trúng lính Trung đội 1.

Tôi hét lớn trong máy:

– Lo trước mặt đi, đừng sợ lạc đạn!

– Việt Cộng chết rất nhiều, súng ngổn ngang không người nhặt, Đại Bàng!

– Hãy lượm bỏ hết lên các tảng đá để dễ thấy!

Hai chiếc trực thăng vừa xuất hiện, không biết của Mỹ hay Việt Nam, đang phóng rocket dọc chân đồi, cặp bờ đầm Nước Mặn, từ cụm núi xanh đến ngọn hải đăng ở cửa khẩu. Tuy xa nhưng vì đã bao lần Đại đội bị xạ kích lầm, tôi gọi Thưởng:

– Trùng Dương báo gunship biết vị trí tôi chưa? Nếu nó bay trên đầu tôi bắn ngay. Tốt hơn, bảo nó de đi!

– Việt Quốc không thấy tụi bê bối dưới cụm núi xanh quạt thượng liên, B40 lên sao?

Tôi bỏ máy không trả lời, nói to với Thiếu úy Thiều:

– Đề phòng trực thăng bắn lầm. Bảo lính sẵn sàng đại liên và M72, khi có lệnh tôi thì phơ ngay. Mặt khác, hãy coi giữ kỹ đám tù binh với chiến lợi phẩm…

Thiều lủi về sau lo công việc. Tôi cũng dặn các trung đội vậy rồi lao tới sát lưng toán Thám Báo. Chợt thấy tôi bọn Độc Nhãn Hoàng Anh, Sơn Râu, Xuân Bệt, ba tay tứ chiếng mới tái xuất giang hồ càng dữ dằn hơn, vừa nhảy lom xom qua các chướng ngại vật vừa bắn càn xuống kẻ thù đang bỏ chạy tán loạn. Các tiếng súng đủ loại của ta, cả địch, nổ ran tứ bề, đất đá tung tóe, nhiều đám cháy khói mù mịt. Tôi nghe bên trái, tiếng lính Trung đội 2 hét:

– Giơ tay lên! Giơ tay lên!…

Một giọng thịnh nộ như của Trung sĩ Nguyễn Hơn:

– Bắn, bắn mẹ nó đi!…

Tôi vội bảo Hiệu thính viên Nguyễn văn Văn gọi nhắc nhở anh em phải thi hành lệnh bắt sống, chỉ đốn ngã thằng nào bỏ chạy thôi.

Dưới cụm núi xanh, hai chiếc gunship diệt chẳng hết, địch quân vẫn tỉa các thứ đạn nổ tùm lum giữa đội hình Biệt Động. Đại đội đã tiến nhanh qua khỏi khu vực đá, và vì anh em bung ngang quá rộng, so với thế đất càng gần mỏm đồi càng hẹp và chập chùng, khó kiểm soát nhau, tôi nắm ống liên hợp:

– Mười, Hai Mươi, co lại. Nhắm hướng cụm núi xanh. Các đại liên hãy kê trên các tảng đá quạt thẳng xuống.

– Mười bắn chết 20 tên, bắt sống 5, thu 15 khẩu súng, Đại Bàng!

– Hay lắm, giao cho BCH. Còn Hai Mươi?

– Chưa đếm. Ước chừng giết chết 10 thằng, bắt sống 3, thu 10 súng đủ loại.

Nghe báo cáo các con số thêm một lần nữa, tôi lùng bùng lỗ tai. Tôi có cảm tưởng đây không phải là một trận chiến, dù với vũ khí tối tân, mà vì một thiên thạch trời giáng nên cả một bầy giặc Bắc trong tích tắc đã nát thây, súng ống lềnh khềnh như củi khúc. Tôi bảo hai người mang máy, Hiệp và Văn, ghi nhớ những con số lớn lao nhất trong đời lính chỉ huy của tôi.

Thiếu úy Đặng văn Thiều, Đại đội phó, cũng quýnh quáng, lăng xăng điều động băng bó thương binh, gom góp tập trung các chiến lợi phẩm và canh chừng đám tù binh mới bị bắt.

Hiệp trao liên hợp tôi tiếp chuyện Thiếu tá Thưởng:

– Sao, Việt Quốc?

Gặp người để chia sẻ niềm vui, tôi rống to:

– Việt Cộng bỏ chạy như bầy vịt, bắn không xuể!

– Cho biết sơ kết quả?

– Chưa chính xác lắm, Trùng Dương! Tối thiểu đã bắn chết 40 tên, bắt sống 10, thu 35 súng cá nhân lẫn cộng đồng, không kể các thứ linh tinh chất nổ, đạn dược…

Thưởng nghe cũng nghẹt thở, giọng khàn khàn, ông hét lên muốn bể cái máy:

– Thắng lớn vậy, bây giờ hỏi mới báo?

– Đang lúc loạn xà ngầu, phần thiếu dây trói tù nên lính đaõ phơ bớt rồi, chắc tôi phải cho lệnh bắn gãy chân hết để chúng khỏi vọt.

Nghe tôi dọa, Thưởng vội la to:

– Đừng làm bậy, Sơn Linh rầy! Trực thăng sẽ vào bốc, nhớ 10 người, giải giao đủ!

– Bộ tôi giấu bớt để ăn sao, Trùng Dương?

Vị Tiểu đoàn trưởng cười:

– OK. Cần pháo binh yểm trợ thêm không?

– Thôi, hai bên đã quá gần nhau, lính lại đang truy kích ra ba hướng khắp khu đồi. Dứt máy!

Hỏa lực địch yếu dần, tiếng súng thưa thớt, nhiều tên sống sót hết đường chạy, cứ cắm đầu lủi thẳng cuối mỏm, sát đầm Nước Mặn. Cái mỏm đó cũng là cái đáy lưới, cá bắt đầu dồn xuống, tôi sẽ túm sau.

Cả triền núi lởm chởm, mỗi bề rộng ba bốn trăm thước, lửa cháy nghi ngút. Thiều đốc thúc lính BCH tiếp tục lục soát các hang hốc, hấm hố, và gói poncho mấy anh lính Biệt Động vừa hy sinh.

Nhật kêu khoe:

– Em nhặt được xấp tài liệu, có băng đạn K54, không thấy súng đâu.

– Đưa coi!

Nhật trao bọc nylon gồm một quyển sổ ghi chằng chịt danh sách bộ đội và loại vũ khí mang. Chủ vật này tên Huỳnh văn Cao, chắc sĩ quan quân số. Khẩu K54 rất quan trọng, chẳng rõ người chủ cây súng đang ở đâu. Nhân lúc đơn vị dừng lục soát quanh, tôi cho dẫn Nguyễn Thành Công tới chỗ kín, không để các tù binh khác thấy rồi sau này ám hại nó. Tôi nói:

– Trung đoàn anh đã thất trận nặng, chết nhiều. Dưới mỏm đồi kia nữa, sẽ tiêu luôn.

Công nhìn tôi:

– Các anh đánh hay quá!

– Nè, trong 10 người đó, ai tên Huỳnh văn Cao?

Công lắc đầu:

– Không có Cao!

– Giờ phút này anh còn dối tôi?

– Em biết mặt Cao mà! Dối anh làm gì? Chắc anh ấy trốn đâu đấy, bảo lính “con mèo” đi tìm…

Nghe Công trả lời, tôi ngạc nhiên, trố mắt nhìn mặt nó:

– Anh nói lính “con mèo” nào?

Người tù binh không một chút ngần ngại, vừa lấy ngón trỏ chỉ vào cái phù hiệu có thêu đầu cọp trên cánh tay áo bên trái tôi vừa đáp:

– Lính các anh đây này.

Tôi vụt cười to:

– Ai bảo anh tụi tôi lính con mèo? Con mắt anh nhìn “nàm thao” mà cọp hóa ra mèo, hả? Xem cho kỹ ông nội. Biệt Động Quân cọp 13 răng người ta! Trời ơi, thằng Việt Cộng này chưa thuộc bài, dễ bị bắn bỏ quá à!

Bọn Hoàng Anh, Sơn Sư Tử và Xuân Bệt kéo tới:

– Gì vậy, Đại Bàng?

Tôi còn ôm bụng:

– Thằng Công nó dám cả gan gọi tụi mình là lính con mèo! Cọp mà nó nói mèo, dễ điên không?

Anh em hiểu chuyện nổi cười rần lên. Tôi gác qua vụ khẩu súng K54, cho lệnh Đại đội tiến gấp xuống đồi.

Dưới mắt tôi cụm núi có đường kính khoảng bốn năm mươi thước, chằng chịt bụi rậm, nhiều cây to xanh um, nằm sát bên cạnh đầm, cách ly mỏm đồi một vạt đất bằng phẳng. Quả thật, đây là “cây đa bến đò”, nơi đêm trước đã xuất phát hằng chục chiếc ghe đưa hàng trăm “khách sang sông” để chuồn vô núi, nhưng vừa mới giữa vời thì bị tôi kêu pháo bắn chìm ráo.

Nhìn kỹ cụm núi có nhiều vết trầy trụa, xơ xác, là các hầm hố cá nhân chiến đấu được ngụy trang bằng các cành lá. Để ước lượng quân số địch bao nhiêu, tôi bảo Trung sĩ Thuận:

– Bây giờ mình quậy lên. Thuận khạc đại liên và câu M79 lai rai xuống. Làm đi!

Lính dàn hàng ngang, từ trên chĩa súng tác xạ loạn xị, cây Đại liên M60 Hạ sĩ Nguyễn Đợi cũng xoáy tròn chung quanh mục tiêu. Trong lúc đạn rải mù mịt thì có một tên Việt Cộng nhanh như sóc, vọt ra giơ hai tay đầu hàng. Sợ lính phơ ẩu, tôi nói lớn:

– Đừng bắn! Đừng bắn nó!…

Nhưng, tiếng la của tôi vừa dứt, tên địch đã ngã chúi dưới chân đồi, máu me phọt đỏ cả lưng. Tưởng đâu Binh nhì Trần văn Liên Trung đội 1 bắn, tức giận tôi lao tới toan đánh Liên một bá súng, thì Trung sĩ Thuận kịp can ngăn:

– Không phải Liên, Đại Bàng! Cấp chỉ huy Việt Cộng bắn thằng đó!

Quả đúng, người kế tiếp cũng vậy, đạn xâu từ sau ót, gục ngay tại bìa cụm núi.

Tôi nghĩ bụng: “Thấy mẹ, ai đầu hàng đều bị cán bộ giết, chứng tỏ chúng cương quyết tử thủ, mình sẽ gặp khó khăn”. Trừ phi bất đắc dĩ chứ tôi không muốn tàn sát hết số địch còn trong mục tiêu, nên đổi chiến thuật. Tôi bảo Thiếu úy Đại đội phó đưa thằng Công tù binh tới đứng kế bên một tảng đá to ở mép đồi, gọi đồng đội buông súng. Công, tỏ vẻ sợ sệt, trù trừ, cuối cùng rống to cái họng, giọng như muốn khóc:

– Các đồng chí! Tôi là Nguyễn Thành Công, Phòng Không! Các đồng chí hãy ra hàng đi! Ra hàng đi, các đồng chí!…

Người tù binh dễ thương ấy, cựu sinh viên năm thứ hai Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, mới kêu có mấy tiếng và chưa dứt, thì một tràng thượng liên từ dưới cụm núi xanh bắn nhào lên, đạn tua tủa xẹt ngang tai của Công, chạm đá nẻ lửa. Thấy bất ổn, lại ngại người bộ đội trẻ này chết một cách oan nghiệt, tôi cho lui ra sau để đích thân Trung sĩ Thuận gọi và hẹn chúng mười phút, nếu không giơ tay thì sẽ bị diệt. Đúng là dân chịu chơi, chẳng mống nào nhúc nhích.

Thời gian ân huệ đã qua, Thuận đâm quạu:

– Mần thịt phứt cho rồi, Đại Bàng!

Tôi cười:

– Mần thì dễ thôi! Hãy xịt thêm ít quả M72 nữa coi.

Các đầu phóng tiễn tuy nhỏ “con” đã đủ bung đất đá. Ngay lập tức, bốn tên ùa ra một lượt, lại gục hai, còn hai lao nhanh lên khu đồi Biệt Động. Thuận lại nhảy tới thộp cổ áo một tên làm thằng nhóc xanh mặt:

– Tại sao chờ nổ súng rồi mới đầu hàng, hả?

Hai ranh con bộ đội run rẩy:

– Dạ… dạ… chúng em sợ cán bộ b.ắ.n…

– Còn bao nhiêu thằng dưới đó?

– Dạ, khoảng mười t.h.ằ.n.g…

Tôi nghĩ, địch còn ít, dù chúng đang quyết thủ tại một mục tiêu cô lập, chung quanh là đồng trống và bờ đầm Nước Mặn thế này thì cũng dễ bị diệt. Nhưng nếu tôi dùng số đông phang ngang từ đây có thể mình thiệt hại nhiều, nên chơi cách khác, chỉ cần ba tay súng cừ khôi. Tôi chợt nhớ bọn Sơn, Xuân Bệt và Hoàng Anh toán Thám Báo, thằng nào cũng gan dạ. Đặc biệt Nguyễn Sơn, hỗn danh Sơn Sư Tử hay Sơn Râu, vì bộ râu quai nón với cặp lông mày rậm tạo thành khuôn mặt của nó giống đầu con sư tử dữ dằn. Lại nữa, tính Sơn khi bị khích bác, trời cũng không thoát khỏi tay nó. Sơn Râu khét danh du đãng từ vùng 3 ra vùng 1, thuộc loại đâm thuê giết mướn, dĩ nhiên ăn giựt đ… chạy số một. Trong binh chủng Biệt Động Quân đố ai cầm cương nó nổi. Sau lần bị nhốt vào nhà lao trở lại do tội vượt ngục Côn Đảo, mãn tù Sơn về phục vụ Đại đội 4/21 Biệt Động, rồi chứng nào tật đó, Đại đội trưởng Đỗ văn Nai không trị được. Tháng 3/1972, nhân Đại đội 1 BĐQ này thiếu quân số trầm trọng, lúc còn Trung úy Hà Tự Tánh chỉ huy thất trận ở tây nam Quảng Trị, Đỗ văn Nai tống Sơn Sư Tử qua bổ sung cho khuất mắt. Khi Hà Tự Tánh mất chức, tôi lên thay thế làm Đại đội trưởng. Ngày đầu tiên vừa thấy mặt và biết rõ lai lịch hung thần ấy, tôi phải quậy lại cái máu chuyên diệt du đãng thời niên thiếu đã lắng đọng, để thách thức nó chơi bạo, mà tôi không cần dùng đến quyền hạn của cấp chỉ huy trực tiếp. Kết quả tôi đã khắc phục được Sơn Sư Tử, từ một tay đâm cha giết chú thành người hiền, biết yêu gia đình, quý mến đồng đội và tuân hành thượng cấp để chung lưng chiến đấu. Đôi khi Sơn lại bốc hứng ba gai, lối ba gai bình thường của người lính sống nay chết mai, mà vẫn giữ tình anh em cùng đơn vị. Sơn từng nói với đồng đội: “Giờ đây tôi mới gặp được một cấp chỉ huy thực sự là Đại Bàng Việt Quốc”.

Dụng nhân như dụng mộc. Nghĩ tới ngón nghề của mấy tay bạt mạng Thám Báo, tôi mừng, liền cắt đặt Sơn làm trưởng tổ chỉ huy Xuân Bệt, Hoàng Anh. Hai thằng này cũng thuộc loại voi lung, thường giở chứng, chỉ có thằng nài Sơn trị được thôi. Tôi mời luôn các thẩm quyền Trung đội đến nghe kế hoạch:

– Bộ ba Sơn Râu, Hoàng Anh, Xuân Bệt kín đáo đi về phía nam vài trăm thước, chỗ bụi rậm đầu kia rồi tụt dốc, bò ngược lại đột kích cụm núi xanh này. Toán Thám Báo của Nhật còn bảy người ứng chiến, sẵn sàng tiếp tay. Trung đội 1 Thuận cứ bắn lai rai, khi tốp thằng Sơn Râu bắt đầu xung phong thì cho làm tối đa, chuyển dần làn đạn về phải mục tiêu. Trung đội 2 Hơn kéo qua triền đồi mé bắc, dàn ngang nhấp nhá như muốn tấn công, để địch khỏi chú ý đến tổ Sơn đột kích. Tôi sẽ đích thân hướng dẫn yểm trợ. Sơn Râu đừng sợ lạc đạn. Nếu rủi bị một đứa thôi thì Trung sĩ Hơn cho lính tắp xuống tấn công mặt bắc mục tiêu ngay. Nhớ lệnh tôi, không còn thời giờ nhắc lại nữa. OK, Sơn Râu cố gắng mở màn cuộc đột kích ngoạn mục này. Đây là điểm cuối cùng Cộng quân tại trận địa Sa Huỳnh đang chờ chết. Tất cả thi hành!

Sơn Râu, Hoàng Anh, Xuân Bệt, ba người không một chút nao núng, liền cởi bỏ ba lô xuống tại chỗ, chỉ mang súng đạn, lủi nhanh về phía nam. Hai trung đội cũng bắt đầu làm nhiệm vụ giao phó. Hạ sĩ Đợi quạt Đại liên M60 từng tràng. Một lát, tốp Sơn xuất hiện, lom khom giữa các lùm cây hoang dại dọc theo bờ đầm Nước Mặn ngược về hướng bắc, Trung đội 2 bên phải vội đánh nhá. Các tiếng súng nổ vang, cụm núi xanh bị đạn xoáy, cây cối ngã đổ tung tóe. Địch đoán lầm nên chỉ lưu ý Biệt Động Quân trên đồi cao phía đông này tấn xuống.

Rồi thình lình ba anh hùng Thám Báo dựng đứng người lên hàng ngang hô xung phong, lao thẳng vào bờ tuyến địch, dồn dập ném lựu đạn. Các căn hầm địch đối diện lần lượt nổ bung, trong lúc các mũi hỏa lực của hai Trung đội xé banh nửa phần mục tiêu phía bắc. Những kẻ tử thủ vội dốc hết tàn lực bắn ra, đạn đôi bên mù mịt. Tôi phải nói, Cộng quân cũng can trường không kém, họ chiến đấu chống trả, giành sự sống, một cách mãnh liệt. Nhưng than ôi! Các dũng sĩ phương Bắc như ngọn đèn dầu chợt sáng lên rồi tắt ngấm trước sức tấn công vũ bão, hiểm hóc của các anh hùng Biệt Động Quân.

– Việt Cộng chạy ra…

– Tụi nó đầu hàng, Đại Bàng!

Chung quanh, lính gọi nhau ơi ới, ý muốn thi hành lệnh bắt sống hơn bắn chết. Nhưng mọi sự đã muộn, giờ phút cận chiến của bọn cảm tử Mũ Nâu Đại đội đang xung thiên thịnh nộ, tôi không thể ra lịnh ngưng bắn kịp nữa. Những kẻ xâm lăng chạy ra bao nhiêu gục ngã bấy nhiêu. Tôi đứng dậy nhìn trận địa, tuy nhỏ nhưng có tính cách quyết định chiến trường của người mang chí lớn.

Tôi cố hét lên dù biết vô hiệu quả giữa vùng trời òa vỡ âm thanh ghê rợn:

– Sơn! Nhào vô, nhào vô!…

Đột nhiên bọn Sơn Sư Tử mất dạng trong chòm cây. Tưởng đâu cả ba đã bị nuốt trửng, tôi vội tống hết bảy tay súng toán Thám Báo còn lại nhảy tiếp vào “cụm núi xanh”. Một số địch sống sót, quýnh quáng tuôn vội xuống bờ đầm toan chạy sảng về hướng bắc, cũng bị Trung đội 2 bắn chúi nhủi…

Thấy Xuân xuất hiện đang dí súng sau lưng hai tên, tôi cho lệnh cả Trung đội 2 tràn ngập mục tiêu ngừa bất trắc.

Sơn Râu rống to:

– Trình Đại Bàng, địch chết dưới hầm 9, ngoài tuyến 8, bắt sống 2, thu 15 súng cá nhân và một thượng liên…

Tôi vui vô cùng:

– Hay lắm, Sơn! Coi đề phòng mìn bẫy của chúng.

Tôi báo gấp BCH Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân trên đỉnh 94 cửa khẩu, đang theo dõi:

– Trùng Dương! Trùng Dương! Việt Quốc đã chẻ tre!

Thiếu tá Quách Thưởng:

– Kết quả sao?

– Ít thôi, giết 17, bắt sống thêm 2, súng chưa đếm hết, chắc khoảng 15 khẩu, kể cả một thượng liên…

Thưởng dường như đang nhảy đổng:

– Chiến thắng, đại chiến thắng! Xong xuôi Việt Quốc giựt lui lên cao phòng thủ. Đồng thời tập trung các thứ lại, báo cáo các con số thu đạt được trong ngày, để trình Sơn Linh gấp!

– Trùng Dương chờ!

Đại đội kéo lui, bao quanh khu vực đá, nơi khởi đầu chạm súng. Buổi trưa trời nắng gắt tôi bảo lính châm lửa đốt các vạt tranh săng cho quang đãng. Bất ngờ thêm 9 tên Việt Cộng còn ẩn núp, bị nóng vụt trồi dậy chạy dạt qua mỏm đồi hải đăng kế cửa khẩu, hướng nam. Biệt Động Quân rượt theo bắn chết 5, túm cổ được mấy tên nữa. Không hiểu anh em lính tra khảo bằng cách nào mà biết trong bốn người sống sót lại có Huỳnh văn Cao. Tụi nó nói “gặng hỏi” lắm tên Cao mới chịu nhận là chủ cây K54, và nhặt 7 AK49 giữa lớp tro tàn của tranh săng.

Thiếu úy Thiều tổng kết mọi thứ xong, tôi báo Thưởng:

– Vừa bắn chết thêm 5, bắt sống 4, thu 7 súng. Cộng chung ngày nay giết tất cả 70, tù binh 18, nếu kể luôn thằng Nguyễn Thành Công là 19 tên. Súng: 2 thượng liên, 16 B40, 46 AK, cả thảy 64 khẩu, chưa kể đồ lỉnh kỉnh. Riêng 2 khẩu K54 để tặng Trùng Dương và Dông Tố.

Thưởng nghiêm giọng:

– Việt Quốc, từ lúc ra trường tôi chưa thấy đơn vị nào xuất sắc, thắng lớn như Đại đội 1 Việt Quốc. Tôi sẽ trình mọi diễn tiến với kết quả tuyệt vời này lên Sơn Linh.

– Cảm ơn Trùng Dương. Bây giờ điều khẩn cấp nhất là tải thương, giải giao tù binh và chiến lợi phẩm…

– Lo rồi, Việt Quốc!…

Chung quanh súng chỉ còn nổ lẹt đẹt, nhưng đột nhiên có nhiều tiếng quát tháo, chửi thề. Tôi nghe rõ các lời văng tục, cả tiếng bình bịch như tiếng bá súng, gót giày dộng vào lưng hay bụng tù binh rất dữ dằn, để tra hỏi vũ khí cất giấu. Dường như anh em trút hết nỗi căm hờn xuống đầu kẻ thù đang điêu tàn, thảm bại. Điều này làm tôi nhớ cuộc hành quân vào mùa Xuân Kỷ Dậu 1969 ở Cẩm Lệ, Hòa Vang Quảng Nam. Đơn vị bắt được một du kích, đích thân vị Đại đội trưởng Đại đội 2/21 BĐQ tra khảo. Tên Việt Cộng khai trước hắn làm thợ máy tại hãng sửa xe Bảo Vân ở Đà Nẵng, theo địch dịp Tết Mậu Thân 1968. Nghe vậy, vốn ghét những kẻ ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản, nối giáo cho giặc, vị Đại đội trưởng 2/21 tức giận, đánh thằng nọ đến hộc máu.

Chuyện đập trào cơm lòi cuống họng mấy tên ngu xuẩn đó không nói làm gì, nhưng hình ảnh mà tôi nhớ mãi đến bây giờ là một cú đá dơ, dirty kick, của người chiến thắng. Đánh nhừ tử xong vị sĩ quan giả vờ quay lưng đi, kẻ chiến bại trong giây phút đau đớn ấy hẳn lóe lên một tia hy vọng là được tha thứ, chấm dứt trận đòn thù. Nhưng không, bỗng nhiên ông dừng lại rồi vụt nhảy nhổm lên đá quặt lui một cái thật mạnh, như trời giáng, vào mặt tên du kích đang ngồi với hai tay trói chặt phía sau. Hãy tưởng tượng cái gót giày sắc cạnh của botte de saut chắn ngay nhân trung, chỗ giữa môi trên và mũi, kẻ trúng đòn bật ngửa, toàn thân phát co giật như điện chạm.

Lần khác, một Biệt Động Quân vung cao nón sắt đập thẳng xuống sống lưng một tên địch nghe cái ự, hắn liền le lưỡi giẫy đành đạch, thở không ra hơi…

Hình ảnh ấy, tôi chỉ thấy thôi, mà ruột gan còn chết điếng lọ là nạn nhân. Trong cuộc chiến ngăn chặn họa Cộng Sản, cá nhân tôi cũng chẳng tốt lành gì, từng bắn địch rụng như lá đổ mùa thu, nhưng đánh lén, đánh hiểm, đánh kiểu mật thám Tây thì tôi không chơi. Thà đem họ ra giết, bắn bỏ chẳng hạn, viên đạn xuyên qua ngọt xớt, chết không đau, không nhục nhã, mà kẻ thắng trận vẫn giữ được sĩ khí của mình, của một dân tộc vốn rất hiếu hòa.

Khi lên làm Đại đội trưởng 1/21 Biệt Động Quân này tôi tuyệt đối cấm sử dụng những đòn thế dơ bẩn không cần thiết ấy để biểu lộ mối căm hờn với kẻ thù.

Để đề phòng chuyện khuất lấp, tôi ra lệnh tập trung 19 tù binh lại, ngồi bên tảng đá lớn. Trung đội 2 báo cáo tìm thấy cái địa bàn trong túi quần một xác chết, còn khẩu K59 thì nằm dưới đất chưa biết ai chủ. Các đơn vị tác chiến cấp nhỏ thường thiếu phương tiện và kém hiểu biết về chuyên môn, khó khai thác tù binh tại chỗ. Bộ đội trơn thì dễ, dọa sơ đã vội thú nhận mọi điều, chứ đa số sĩ quan rất cứng đầu, có đánh te tua cũng vô ích, ít khi khai ngay ở chiến trường. Tôi chẳng bao giờ cho dùng biện pháp đấm đá lôi thôi.

Các khuôn mặt tù binh hiện rõ những nét khiếp đởm, mỗi người một cách run khác nhau nơi từng thớ thịt. Thế mà họ đã mệnh danh là Sư Đoàn Sao Vàng. Tướng Chu Huy Mân Cộng Sản Bắc Việt chỉ huy trận chiến cướp đất Sa Huỳnh giờ mới thấy hổ thẹn, các đại đơn vị thuộc quyền của mình quá dở.

Họ sợ cũng phải. Lần đầu tiên trong sự nghiệp đi làm cách mạng… xâm lược, đoàn quân phương Bắc bị một đơn vị nhỏ Biệt Động miền Nam đánh tơi tả, bắt sống hàng loạt. Hẳn họ tự vấn rồi đây thân phận họ, dù đã biết sinh Bắc tử Nam, các Thiên Thần Mũ Nâu lừng danh này có đem ra ngoài kia bắn bỏ không. Khi vô Nam các cán binh cũng được “Bác và Đảng” dạy một cách thiếu giáo dục “Thà giết sạch địch chớ để địch giết”. Hôm qua Nguyễn Thành Công nói vậy. Anh ta tâm tình nhiều điều. Thấy một máy bay hàng không dân sự cất cánh từ Quảng Ngãi bay vòng ra biển vô Sài Gòn, Công tưởng họ chở các tù binh đem liệng ngoài khơi.

Tất cả ngồi im thin thít, mặt xanh như lá chuối, chẳng khác nào cá trên thớt, mà trước đó đã cố vùng vẫy không thoát. Họ nhìn người thắng trận, cấp bực nhỏ, chỉ huy lính chẳng là bao, lại nắm quyền sinh sát trong tay giữa giờ phút tiếng súng còn thịnh nộ, chưa nguôi, xác thù và bạn còn nằm la liệt trên lưng đồi cửa khẩu Sa Huỳnh. Giết hay tha đám giặc Hồ trước mặt là tùy tôi, Việt Quốc này. Vì bản chất người miền Nam phong phú, khác hẳn với bọn theo Marxist xuất thân từ bần cố nông xấu tính, hèn hạ, do miếng ăn manh áo mà lập đảng cộng sản đấu tranh giai cấp bằng bạo lực, ganh ghét kẻ giàu sang, diệt địa chủ, chỉ để cướp của, tôi nhã nhặn nói:

– Các anh yên tâm sẽ được trở về đất Bắc với vợ con, cha mẹ. Tôi biết trong hàng ngũ các anh có lắm tên gian ác, đáng khinh, nhưng cũng nhiều anh hùng, coi nhẹ cái chết. Lúc đối đầu hỗn chiến, dĩ nhiên hai bên phải tàn nhẫn lẫn nhau. Bây giờ các anh chớ toan tính gì khác, hãy ngồi chờ giải giao.

Nghe nói vậy đám tù binh đổi màu da, bớt sợ. Mấy bộ đội còn trẻ, giống Nguyễn Thành Công hôm nào, cảm động rưng rưng nước mắt.

Tôi báo Thiếu tá Quách Thưởng vài chi tiết:

– Trong số 19 tên bị bắt người có làm dấu trên cổ bằng tua compress trắng, chắc là sĩ quan cao cấp.

Thưởng cho hay:

– Sơn Linh nói có một tướng Việt Cộng kẹt trong này, nhớ giữ kỹ, đừng “thịt” sảng tên nào.

– Nguyễn Thành Công bị bắt mấy bữa khai nó là sinh viên năm thứ hai Đại Học Tổng Hợp. Công có học, lại dân Hà Nội, ăn nói dễ thương, nên được tôi đối xử tử tế, còn cho hút thuốc Capstan, uống bia…

Thưởng cười xòa:

– Tù mà mày làm như bạn không bằng.

– Thì ông cho tôi “nghệ sĩ” chút chứ!

– Rồi, Đại đội 1 hãy sẵn sàng. Quang Trung bắt đầu xuống lo việc chuyển giao chiến lợi phẩm và tù binh. Trực thăng sắp tới, cho lính bung rộng giữ an ninh bãi đáp.

Chấm dứt cuộc nói chuyện với Thiếu tá Quách Thưởng, tôi rải thưa Đại đội ra bố trí và sẵn sàng mọi thứ.

Vừa dẫn tốp lính lẫn Lao Công Đào Binh trên đỉnh 94 đem chiến lợi phẩm của các đại đội xuống, chưa kịp ngồi nghỉ xả hơi, Đại úy Trần văn Quy, Trưởng ban 3 Tiểu đoàn, đã nhận lệnh ném một quả khói vàng. Sau mấy phút bốn chiếc UH1B từ hướng bắc ào ào đáp giữa vòng đai Đại đội an toàn. Thiếu úy Đặng văn Thiều vội giao nạp số tù binh và một đống chiến lợi phẩm của đơn vị tôi tịch thu cùng các anh Biệt Động Quân bị thương và chết lên máy bay. Mọi công việc chu đáo, nhịp nhàng. Vùng đất bao la Sa Huỳnh đã trở lại yên bình, không một tiếng súng quanh bờ đầm Nước Mặn.

Tất cả vừa rời khỏi bãi, Đại úy Quy đến tâm tình với tôi:

– Anh biết không, ông Trung đoàn trưởng 5/2 Bộ Binh mới gọi máy yêu cầu Thiếu tá Quách Thưởng cho họ dàn trận giả là chèo ghe qua tấn công khu đồi này. Đại đội 1 BĐQ anh thì làm Việt Cộng nhưng chỉ bắn chổng lên trời. Mục đích để các ổng hô hoán lên Trung đoàn 5 Bộ Binh chiếm được mục tiêu, chiến thắng, hầu gỡ gạc thất bại vừa rồi. Tùy anh chứ tôi và Thiếu tá Thưởng thấy chó má lắm!

Nghe Trần văn Quy chuyển lại những lời “yêu cầu” nhầm mục đích để họ cướp công một cách ngu xuẩn, phản phúc, xúc phạm nặng nề đến các chiến sĩ anh hùng, nhất là những người vừa nằm xuống, máu đổ còn đỏ thắm trên mặt đất quanh đây, tôi nổi nóng quát to:

– Không! Tôi không làm trò hề đó! Chắc có âm mưu cướp công. Chuẩn tướng Trần văn Nhựt Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh xúi bậy. Anh nói lại mấy ổng dùm tôi, lạng quạng tôi bắn thấy mẹ chúng!…

Biết tôi không bằng lòng nhưng vì nhiệm vụ với tính thẳng thắn, Quy nói ra. Thấy tôi sừng sộ bọn táng tận lương tâm, tội nghiệp Quy, người bạn cũng từng gian khổ như tôi, đã bao lần bị thương ở các chiến trường Trị Thiên, Hạ Lào, buồn buồn bỏ đi một mạch lên lưng đồi còn vàng hoe lửa đạn trận cuối cùng Sa Huỳnh.

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Đặng Thiền Mẫn
Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Chương 31-Kết

Ở Sicily, nếu không có tiền thì cũng đừng hy vọng chôn người thân của mình trong lòng đất. Đó là sự thua thiệt cuối cùng của những thằng khố rách. Và, ngay cả ở đất Sicily mà cũng còn phải chịu trách nhiệm về quá nhiều nỗi tủi nhục. Vậy mà ở nghĩa địa lại đầy những phiến đá xinh xinh hay những nhà mồ có cổng vào bằng sắt uốn éo hoa mỹ. Có những ngôi còn để ngỏ, có ngôi đã gắn xi – măng. Có ngôi dành chung cho cả gia đình.
Giáo sư Hector Adonis đã chọn một ngày chủ nhật đẹp trời sau khi Aspanu chết để viếng nghĩa địa thị xã Montelepre. Ông Trùm Croce cũng sẽ đến đó gặp ông, để cùng với ông cầu nguyện bên mồ của Guiliano. Vì họ có việc phải bàn với nhau. Và có nơi nào tốt hơn để làm nơi gặp gỡ của những con người không còn kiêu căng khoe khoang, để tha thứ cho những nguyền rủa đã qua, để đào sâu những suy tính khôn ngoan?
Và có nơi nào tốt hơn để chúc tụng, khen ngợi người bạn đồng sự đã làm được một điều tốt? Nhiệm vụ của Ông Trùm là phải loại bỏ được thằng Pisciotta. Nó quá bép xép và có trí nhớ quá tốt. Ông Trùm đã chọn giáo sư Adonis làm đạo diễn. Tờ giấy luồn vào ngực thằng Pisciotta – là một trong những cử chỉ tế nhị nhất của Ông Trùm. Điều ấy làm cho giáo sư Adonis rất mãn nguyện. Và, một vụ mưu sát chính trị được ngụy trang dưới hình thức một cuộc trả thù rất lãng mạn, thì còn gì hay bằng. Đứng trước cửa nghĩa địa, ông giáo sư nhìn người tài xế và vệ sĩ đỡ Ông Trùm xuống xe. Những năm gần đây – thân xác Ông Trùm vốn đã phát phì – đã lại tăng trọng thêm nữa. Cứ như thể thân xác lão phát triển theo nhịp với sự phát triển quyền lực của lão.
Cả hai bước qua cổng nghĩa địa. Vòng cung phía trên cổng có hàng chữ uốn bằng sắt: “Trước kia chúng tôi cũng giống như quý vị – sắp tới, quí vị cũng giống như chúng tôi”. Ông Adonis mỉm cười vì cái câu vừa bi thương vừa chua chát giễu cợt đó. Nhưng, ở dưới mồ, chắc là Pisciotta đang gào thét, la lớn câu đó.
Ông Adonis không còn cảm thấy ghét cay ghét đắng cái thằng Pisciotta khốn kiếp đã sát hại thằng con đỡ đầu cưng của ông. Ông đã báo thù được cho nó. Ông nghĩ, có lẽ giờ này hai đứa lại đang chơi với nhau cái trò kẻ cướp như hồi còn nhỏ.
Ông Trùm nhìn tấm hình Guiliano:
– Thằng nhỏ thiệt ngon, chúng ta ai nấy đều yêu thương nó. Nhưng làm sao chúng ta có thể sống được với nó. Nó cứ muốn thay đổi cả thế giới này. Nó yêu con người. Nhưng thử hỏi, có mấy ai giết người nhiều hơn nó? Nó tin Chúa, nhưng lại bắt cóc đức Hồng y giáo chủ.
Giáo sư Adonis đăm đăm nhìn vào hình Guiliano. Tấm hình chụp năm hắn mười bảy tuổi. Ôi, cái vẻ đẹp tột cùng của Địa Trung Hải. Sự dịu dàng trên khuôn mặt khiến ta phải yêu thương hắn. Nhìn khuôn mặt ấy, ta không thể nào ngờ rằng hắn đã ra lệnh giết hàng ngàn người và đẩy hàng ngàn người xuống địa ngục.
Ơi Sicily! Hỡi ơi Sicily! Người đã hủy hoại những đứa con tuấn tú nhất của Người và đã biến chúng thành tro bụi. Những đứa con đẹp hơn cả thiên thần, đã lớn lên trên đất người và đã trở thành quỷ dữ. Quỷ dữ tràn lan trên đất Người, nhiều như cỏ, như cây! Vậy mà, tại sao một người như Croce lại đến đặt vòng hoa trên mộ Guiliano?
– Chúa ơi! – Ông Trùm than – Ước gì con có được một đứa con, chỉ một thôi cũng được, như Turi Guiliano! Và như vậy thì không hiểu con sẽ để lại cho nó một đế quốc như thế nào. Ai biết được nó sẽ đoạt được vinh quang đến mức nào!
Giáo sư Adonis mỉm cười. Đúng, Ông Trùm là một con người vĩ đại. Nhưng lão ta không có khái niệm gì về lịch sử. Thật ra lão có hàng ngàn đứa con sẽ kế tục sự cai trị của lão, sẽ thừa kế sự quỷ quyệt của lão, sẽ cướp phá Sicily cho đến tan hoang ra, sẽ làm cho Rome ung thối ra và chính ông, giáo sư sử học và văn học Palermo cũng là một trong những đứa con ấy.
Ông giáo sư và Ông Trùm quay ra về. Một dãy dài xe lừa kéo đang chờ trước nghĩa địa. Trên mỗi phân vuông của mỗi xe đều sơn màu lòe loẹt, vẽ lại các sự tích của Guiliano và Pisciotta. Nào là cướp tư trang của bà công tước, nào là cuộc hạ sát tập thể tất cả các sếp Mafia. Nào là cuộc sát hại Guiliano do chính tay Aspanu thực hiện. Ông giáo sư dường như đã biết tất cả những sự tích đó. Ông cũng biết rằng, mặc dù là một con người vĩ đại, Ông Trùm chắc chắn sẽ bị chìm sâu trong lãng quên. Rằng, vậy mà Guiliano sẽ sống mãi. Huyền thoại về Guiliano ngày càng lớn lên, càng thêm đậm đà, càng thêm sức lôi cuốn. Đã có vài người tin rằng Guiliano không chết. Hắn còn đang thét vang trên rặng núi Cammarata. Có người tin rằng vào một ngày vĩ đại nào đó hắn sẽ phục sinh để bẻ gãy xiềng xích và đưa Sicily ra khỏi cảnh nghèo đói, áp bức, bóc lột, bất công. Trong hàng ngàn thôn xóm có những ngôi nhà xây bằng đá thô sơ và dơ bẩn, trong những ngôi nhà đó, những đứa trẻ chưa ra đời mà đã biết cầu nguyện cho hương hồn Guiliano và cầu mong hắn phục sinh.
Và, Pisciotta – với cái tâm hồn tinh quái của y – như người ta nói, vì đã không chịu nghe ông Hector Adonis kể chuyện hiệp sĩ Roland và Oliveier, nên đã quyết định đi theo con đường khác? Công bằng mà nói thì lẽ ra Pisciotta cũng phải chìm trong lãng quên. Nhưng vì y đã phạm nhiều tôi ác quá lớn, nên y cũng được đứng bên cạnh Turi yêu quý mãi mãi.

Google photo edit by Sơn râu

Pisciotta cũng được chôn trong nghĩa địa này. Hai đứa chúng nó sẽ được mãi mãi nhìn ngắm dãy núi thân thiết của chúng. Và cũng chính trên dãy núi ấy có bộ xương con voi của Hanibal. Cũng trên rặng núi ấy còn văng vẳng tiếng tù và của Roland khi hiệp sĩ chiến đấu chống lại quân Hồi. Turi Guiliano và Aspanu Pisciotta chết trẻ. Nhưng chúng còn sống lâu, – nếu không phải là mãi mãi – thì ít ra cũng sống lâu hơn Ông Trùm Croce và lâu hơn cả chính ông, giáo sư Adonis.
Hai người – một cao lớn sồ sề, một thấp nhỏ – đã cùng rời khỏi nghĩa địa. Những thửa ruộng, mảnh vườn bậc thang bám quanh sườn núi như những dải băng xanh. Những tảng đá vôi trắng xóa lung linh dưới ánh mặt trời. Những con ó màu nâu đỏ đang bay lao về phía họ như mũi tên.
…..
Sicily! Ơi hỡi Sicily! Dung nhan của người!
Sicily! Ơi hỡi Sicily! Tâm hồn của người!
Mê hoặc và Huyền bí!
Đạo hạnh và Bạo tàn!


Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

15. Những kẻ sĩ hoà mình và đứng về phía bình dân

Nói về văn chương Miền Nam, nhiều người nhắc đến Mạc Thiên Tứ, nhóm Chiêu Anh Các hoặc những bài thơ của Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Võ Trường Toản. Những tác phẩm nói trên không được phồ biến trong giới bình dân; chẳng qua là lúc đầu, việc làm văn chương thi phú chỉ thịnh hành trong giới trí thức. người ta chỉ nhớ tên của Mạc Thiên Tứ và nhan đề của mấy bài Hà Tiên thập vinh mà thôi; gần như chẳng ai thưởng thức, ngâm ngợi vì lời thơ còn thô, chưa thuần thục. Phải đợi đến ông Đồ Chiểu thì thi phú mềin Nam mới gây tiếng vang xa và thật sự được dân chúng thưởng thức, xem là món ăn tinh thần. 
Bàn về ông Đồ Chiểu và Lục Vân Tiên thì đã có nhiều bài khảo luận, nhiều tài liệu rồi. Lời lẽ của Lục Vân Tiên dễ hiểu tuy chứa nhiều điển tích, nhưng lả điển tích phổ thông mà một ông đồ vô danh trong làng có thể giải thích được. Bài văn tế Vong hồn dân mộ nghĩa, văn tế Nam Kỳ sĩ dân với lời lẽ nôm na bổng dưng trở thành trang trọng và xúc động được mọi giới. dùng văn chương để “chở đạo”. Nhiều kẻ sĩ tiếp tục truyền thống “chở đạo” ấy. Lúc Nam Kỳ gặp nạn ngoại xâm, hầu hết kẻ sĩ đều dấn thân, đến kẻ đầu hàng giặc như Tôn Thọ Tường cũng thú nhận tội lỗi công khai vì không thể nào chối quanh chối co. Nho sĩ đương thời bắt buộc họ Tôn phải tỏ thái độ, một là bạn hai là thù. Họ Tôn cố gắng thanh minh bằng vài hành động cụ thể: làm bài thơ vịnh chùa Cây Mai “Lặng lẽ chuông quen con bóng xế, tò le kèn lạ mặt trời chiều”, hoặc bảo lãnh một vài bạn nho sĩ theo nghĩa quân bị bắt. 
Đến những nho sĩ ở ẩn cũng tỏ thái độ, điển hình là ông Thủ khoa Nghĩa, tác giả Kim Thạch Kỳ Duyên (có Huỳnh Mẫn Đạt góp phần sáng tác, nhưng không hiểu tới mức nào); bổn tuồng này khó phổ biến vì qua nhiều chữ nho và điển tích. Nhưng khi thực dân đến, ông lên tiếng: 
Ai khiến thằng Tây tới vậy à? 
Đất bằng bỗng chốc nối phong ba. 
Hẳn hòi ít mặt đền ơn nước 
Nháo nhác nhiều tay bận nỗi nhà. 
Đá sắt ôm lòng cam với trẻ 
Nước non có mắt thấy cho già 
Nam kỳ chi thiếu người trung nghĩa, 
Báo quốc Cần Vương há một ta?
 
Ông Huỳnh Mẫn Đạt mượn lời người kỹ nữ đi tu để gởi gấm tâm tự. Về mặt xử thế ông tỏ ra minh bạch, biết vinh biết nhục. 
“Lúc nhà nước lại thâu thủ Nam Kỳ, ngài (Huỳnh Mẫn Đạt) an phận dưỡng nhàn, không mang tiếng chi cả, hình trạng khô ngô ốm yếu, tánh nết hiền lành, hay làm thi quốc âm, tao nhã thiệp liệp lắm, ông Tôn Thọ Tường kính ngài là bực phụ chấp. có một ngày kia ngài lên Sài Gòn chơi, gặp lúc trời chiều, ngài đội cái nón ngựa, đứng coi Lang Sa thổi kèn tại Bồn kèn, gặp xe ông Tường đi, ngài lánh mặt bên gốc cây, không cho ông Tường thấy, ông Tường liếc mắt thấy ngài. Liền ngừng xe nhảy xuống mừa rỡ nghinh tiếp, trách ngài sao không ghé chơi; ngài tánh hay ngâm thơ nôm, liền ngâm một bài hát cú rằng: 
Cừu mã năm ba dạo cặp kè 
Duyên sao giải cấu khéo đè ne. 
Đã cam bít mặt cùng trời đất, 
Đâu dám nghiêng mày với ngựa xe. 
Hớn hở trẻ dong đường dặm liễu. 
Lơ thơ già núp cội cây hoè. 
Sự đời thấy vậy thời hay vậy. 
Thà ẩn non cao chẳng biết nghe.
 
“Ông Tường biết ý ngài rồi, liền ngâm trả lại một bài thi rằng: 
Tình cờ xảy gặp bạn tiền liêu 
Thơ phú ngâm nga hứng gió chiều. 
Thế cuộc đổi đời càng lắm lắm. 
Thiên cơ mầu nhiệm hãy nhiều nhiều 
Nước non dường ấy, tình chứng ấy, 
Xe ngựa bao nhiêu, bụi bấy nhiêu. 
Hăm hở nhạc Tây hơi trổi mạnh 
Nghe qua ngùi nhớ giọng tiêu thiều.
 
“Rồi ông Tường rước ngài về chơi vài bữa” Tỉnh Vĩnh Long mất, ông Cử Trị làm bài thơ: 
Tò le kèn thổi tiếng năm ba, 
Nghe lọt vào tai dạ xót xa 
Uốn khúc sông Rồng mù mịt khói, 
Vắng hoe thành Phụng ủ sầu hoa, 
Tan nhà cảm nỗi câu ly hận, 
Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa. 
Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ, 
Ngậm cười hết nói nỗi quan ta.
 
Là kẻ thù về lập trường chánh trị với Tôn Thọ Tường, ông Cử Trị cứ hiên ngang thách thức khi gặp đốc phủ sứ họ Tôn: 
“Cử Trị ăn ở lạ lùng, 
Áo quần xịt xạ điên khùng quá tay, 
Gặp Tường thời Trị mắng ngay. 
Bởi vì tà tửu ít hay kiêng dè. 
Hoạ thơ chống đối chê dè, 
Tai ngơ danh lợi chẳng nghe chẳng cầu . . 
Mặc dầu kêu ngựa, kêu trâu thích tình . . .

Một kẻ sĩ ở ẩn khi thực dân Pháp đến là ông Nguyễn Lạc, gọi nôm na là ông Học Lạc. Học Lạc giỏi làm thơ hài hước, luận theo sức văn học tài bộ thì sầm sì với ông Đồ Chiểu và ông Cử Trị. Ngài sau tị nạn binh hỏa đời lên ở tại chợ Thuộc Nhiêu, cất ba căn nhà lá dạy trẻ học trò chữ nho và chuyên y đạp, tế nhơn độ thế rất nhiều, tánh lại ruột gan khí khái, trượng nghĩa sơ tài, tôi gặp ngài tại chợ Thuộc Nhiêu, giao du với nhau lấy làm tương đắc, ngài thương tôi như con, bất kỳ là bài thuốc chi hay hay thì ngài đều chỉ cho tôi cả, ngài hơi thi quốc âm tao nhã lắm, lúc ấy ngoài chợ vàm Rạch Gầm rước tôi ra dạy chữ nho, tôi từ tạ ngài ra đi, ngài có tiễn hành một bài thi rằng: 
Le the một cụm Thuộc Nhiêu giồng 
Chân bước ra đi mắt lại trông, 
Chỉ nhện lăng nhăng, cò vướng cánh, 
Bãi lau lẩn bẩn, cá quên sông. 
Tấm lòng qua lại cầu Bà Bếp 
Khúc ruột quanh co rạch Lão Tòng. 
Hai chữ tương tư đây nặng gánh, 
Nước non thăm thẳm biết hay không?
 
Ngay trong bài thơ cùng một vận, ca ngợi thú dưỡng nhàn ở giồng Thuộc Nhiêu (Mỹ Tho) được xem là một trong Ba Giồng, Học Lạc cũng gởi gấm ít nhiều tình cảm tha thiết. 
Đất linh bồi đắp cuộc Ba Giồng, 
Cánh Thuộc Nhiêu nhều khách ngợp trông, 
Đường cũ, ngựa biêu chơn ngán bước, 
Rạch cùng, cá lội mến quên sông 
Trướng văn lắm kẻ thêu rồng cọp, 
Miếu võ nhiều tay trí bá tòng. 

Cứng cáp thú quê vui tục cũ, 
Thềm dâu ruộng mía dễ cho không?
 
Trường hợp ông phan Thanh Giản được nhiều người biên luận, khen chê. Nhưng thiết tưởng không ai hiểu ông bằng người đương thời. Ông Đồ Chiểu và ông Cử Trị đều nổi danh là cứng rắn, lập trường chống Pháp rất dứt khoát. Nếu ông Phan Thanh giản quá hèn yếu hoặc phản quốc thì tại sao ông Đồ Chiểu lại làm đến hai bài thơ một chữ Hán, một chữ Nôm để điếu, so sánh ông với Phú Bật, Trường Tuần , hoặc “minh sanh chín chữ lòng son tạc, trời đất từ rày mịt gió thâu” Riêng về ông Cử Trị, qua bài thơ vừa dẫn, đã than thở “ngậm cười hết nỗi quan ta”. Quan tức là quan Phan chịu trách nhiệm lớn khi thành Vĩnh Long mất. 
Ông Trương Vĩnh Ký từ khi đỗ đạt cho đến khi mất vẫn tỏ ra thân Pháp. Tuy nhiên, người ở miền Nam không bao giờ khinh rẻ ông. Ông không gia nhập Pháp tịch; trước khi mất, ông biết thân phận của người học giả sống trong thời kỳ khó khăn. 
Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai, 
Xô đẩy người vô giữa cuộc đời. 
Học thức gửi tên con sách nát 
Công danh rốt cuộc cái quan tài. 
Dạo hòn, lũ kiến mau chân bước. 
Bò xối, con sừng chắc lưỡi hoài. 
Cuốn sổ bình sanh công với tội. 
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.
 
Khi phong trào Duy Tân hoạt động công khai rầm rộ, ông Trần Chánh Chiếu cổ động lạc quyên đức tượng kỷ niệm ông Trương Vĩnh Ký với bài trong báo Lục Tỉnh Tân Văn nhan đề “ông Đốc Ký”. 
– “Ông này khi sanh tiền tuy là nhà nứơc tin cậy mặc dầu chớ chẳng hề ỷ thế mà hại quê hương, chỉ vẻ cho các quan Lang sa biết phong tục lễ nghĩa của con nhà An Nam, cho khỏi chỗ mích lòng nhau, làm cho mẹ gà phải thương con vịt. Đêm ngày lo đặt sách này dịch sách kia cho kẻ hậu sinh dễ học. Thiệt là quan thầy của cả và Nam Kỳ.. ! 
– Ngoài những tác phẩm biên khảo mang tính cách bác học, ông Trương vĩnh Ký còn chú ý đến độc giả bình dân, lời văn theo lời ăn tiếng nói thông dụng lúc bây giờ. Chuyện đời xưa của ông cũng là Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của hãy còn được nhắc nhở.

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

14. Vụ Phan Xích Long năm 1913 và 1916

“Năm quý Sửu có vụ Phan Xích Long làm “cách mạng”. Phan Phát Sanh tự Lạc năm ấy (1913) vừa hai mươi tuổi, con của Phan Núi làm cảnh sát trong Chợ Lớn. Lúc nhỏ không ham học, lớn ở bồi với Tây, bổng xưng Phan Xích Long, tự cho mình là Đông cung, con vua Hàm Nghi, sắm mão và dây đai vàng, tự tôn làm hoàng đế, lập đảng kín, chế tạo lựu đạn trái phá, in trát dán khắp chợ Sài Gòn, Chợ Lớn, Bình Tây kêu gọi dân nổi dậy chống Pháp. Việc làm như giả ngộ, chưa chi mà lậu sự bắt bớ lung tung. Phan Xích Long bị cò Tây bắt tại Phan Thiết, còng giải về Sài Gòn. Đồng đảng cả thảy bị bắt 111 người, đem ra Tòa Áo đỏ xử tử mùng 5 đến 12 tháng 11 dương lịch 1913, tha bổng 57 người, năng hơn hết là án chung thân khổ sai 6 người, Phan Xích Long, Nguyễn Tri và Nguyễn Hiệp, án hiện diện; còn Nguyễn Màng, Trương Phước và Nguyễn Ngọ trốn thoát không bắt được, bị án khiếm diện. Ba người này bị giam Khám lớn Sài Gòn, làm chống động giới giang hồ mã thượng”. 
Qua lời bạch hỏi của tòa án, vụ Phan Xích Long chứa nhiều chi tiết quan trọng. 
– Trong 57 người bị kêu án, chỉ có 1 người Hoa kiều mà thôi, kỳ dư là người Việt Nam, đa số là dân ở tỉnh Chợ Lớn và tỉnh Tân An. 
– Phan Xích long, Nguyễn Tri và Nguyễn HIệp là nhân vật hành động có ý thức. Trước tòa, Phan Xích Long dám bảo: ông chống đối chính sách thuế khóa nặng nề của người Tây và đặt những trái bom trong thành phố là để hăm dọa người Tây, để mong người Tây giảm thuế cho dân. Và cách chế tạo mấy quả bom thì ông học ở bên Xiêm La. 
– Cùng với Nguyễn Tri và Nguyễn Hiệp, Phan Xích Long đặt cơ sở đầu tiên ở đất Cao Miên tại Cần Vọt, cất ngôi chùa do tiền bạc quyên để làm nơi tụ họp. Nên nhớ là vùng Cần Vọt (Kam pot) được xem là nơi trú ngụ lý tưởng của những chiến sĩ Cần Vương, sau khi phong trào ở làng An Định (núi Tượng) thất bại, dân làng bị tống xuất về quê cũ. Phan Xích Long vẫn giữ được tinh thần vững chắc, trả lời với tòa rằng ông xem thường cái chết, sẳn sàng chết vì nước và muốn được xử tử. 
– Nguyễn Hiệp cung khai rằng chống nhà nước Tây là có dụng ý nhắc nhở nhà nứoc phải thương dân, làm mấy quả bom chỉ là để dọa người Tây chớ không có ý giết người Việt. Năm ấy, Nguyễn Hiệp 27 tuổi. 
Ba năm sau, phong trào lại phát khởi: 
– ” Qua năm Bính Thìn (1916), giữa trận Âu Châu Đại chiến bên trời Tây, Tây thua xiểng niểng thì đêm 12 tháng giêng âm lịch, đảng kín “Thiên Địa HỘi” tổ chức cuộc phá khám định cứu đại ca ra khỏi vòng Dủ lý. Ban đầu rất nhiều thuyền nhỏ tứ xứ đến đậu chen nhau dưới gầm cầu móng Khánh Hội, đấn ba giờ khuya là khởi sự. Dưới khẩu hiệu “Cứu đại ca”, các đồng đảng thảy đều uống bùa, cổ mang phù chú, tay cầm gươm mác, kéo lên Khám lớn Sài Gòn. Dao nói chuyện với súng làm sao lại, bùa chú chống đạn chỉ có hiệu lực trong trí óc người mê tín. Sự thực thì hai người bị bắn chết tại cửa Khám lớn, bốn người bị rượt theo, bắn ngã tại Xóm Dầu torng Chợ Lớn. đồng đảng bất cứ đàn ông đàn bà ai mặc quần đen áo trắng buổi sáng ấy cứ lẩn quẩn trong xóm, tình nghị là bị bắt nhốt khám, đem ra xử tòa đại hình. Kết cộc: 38 người bị xử tại Đồng tập trận và bắn ngày 22 tháng 2 năm 1916, kể luôn 2 người đêm phá khám bị tử chiến tại trận tiền và 4 người bị hạ sát tại Xóm Dầu thì cuộc phá khám năm 1914 đã khiến 57 vị anh hùng, tên ghi vào sử nhưng thây thì bị chôn vùi “đất thánh Chà” đường Hiền Vương, cho đến mới đây nghĩa địa này bị ban phá ra thành bình địa, xây xóm nhà anh em lao động tài xế đô thành, mồ mả xiêu lạc mất tích luôn nhưng danh thơm còn mãi trong trí óc người yêu nước. 
Vụ hành quyết 51 người yêu nước trên đây đã khiến cho vài người Pháp bất mãn, trong đó có viên Chưởng lý Tricon. Sau này, chính ông Tricon làm luật sự biện hộ hùng hồn cho những nông dân bị Tòa án quân sự xử tử nhưng nhà nước phải để cho can nhân chống án qua Pháp. Đành rằng nước Pháp trong tình trạng chiến tranh, tình thế khẩn cấp, nhưng ở thuộc địa Nam Kỳ là nơi cách xa chánh quốc đến 16.000 cây số thì làm sao có việc khẩn cấp như ở chánh quốc được. Và viên Chưởng lý Tricon công khai phản đối hành động của Thống đốc Nam kỳ, khi tên này cho hành quyết ngay các can phạm. 
Phong trào Thiên Địa Hội từ các tỉnh Nam Kỳ đã phối hợp với Sài Gòn – Chợ Lớn tại Mỹ Tho, vùng Long Hưng, vùng Thuộc Nhiêu, vùng cù lao Thới Sơn, nhóm Nghĩa Hòa tham gia tích cực. Vào cuối tháng 1-1916, phong trào nổi lên ở vài làng tỉnh Trà Vinh, đạt thành công nhất định ở tỉnh phải ghi công đầu của Thiên Địa Hội tại chợ Biên Hòa. Cuốc đánh phá diễn ra nhanh chóng, phối hợp với bọn tù nhân nổi loạn bên trong ,17 tù nhân thoát nạn được. Ở Bến Trẻ, tại Mỏ Cày phong trào lên cao nhằm đánh phá công sở, hăm doạ hương chức hội tề. Ở Thủ Dầu Một, Bà Rịa, tỉnh Gia Định, tỉnh Tân An cũng xảy ra nhiều cuộc tụ họp, phía Cần Giuộc có báo động. 
Người trong hội kín gồm đa số là người Việt Nam, người Hoa Kiều đóng vai phụ, thường là giữ chức vụ coi sóc nghi lễ trong hội mà thôi. 
Thiên Địa Hội không còn hoạt động sau khi bị khủng bố những dư âm vẫn còn mạnh. Rải rác từ thành thị tới thôn quê, nhềiu anh hùng còn tới lui với nếp ngang tàng, giang hồ quen thói. Họ là người trước kia gia nhập hội. Hoặc chỉ là cảm tình viên bị sa thải. Trường hợp tiêu biểu nhứt là đại ca Tư Mắt, một nhân vật bấy giờ ở Sài Gòn – Chợ Lớn không ai không nghe danh. 
“Tư Mắt tên thiệt là Nguyễn Văn Tước, sanh tiền có lập một tiệm hớt tóc, số nhà 200 đường Thủy Bình cũ (rue des Marins, nay là đường Đồng Khánh) lấy hiệu tiệm là Nam Hữu Mai. Ngày 14-5-1915, tòa đem Tư Mắt ra xử, kể lai lịch Tư Mắt có đến ba vợ, đều phục sự “Anh Tư” hết lòng và vô số anh em. Tòa khép tư Mắt vào tội “gia nhập hội kín ám trợ Cường Để”, kếu án lấy chừng, kỳ trung Tư Mắt bắt chước theo gương Đơn Hùng Tín trong truyện Thiết Đường: phàm trong đám du côn có đứa nào đã chịu làm em nuôi của “đại ca Tư Mắt” thì đại ca không khi nào bỏ, hoạn nạn tương ứng, sanh tử bất ly. Không tiền đại ca cho tiền, không áo đại ca cho áo, thậm chí khi bị tù rạc thì có người nuôi ăn và cung cấp thuốc bánh. Nhưng khi nào đại ca cần dùng thì ra lịnh phải tuân hành, chết sống không kể thân, sai biểu chém ai, giết ai là chém giết bất luận là bà con thân thích. Tư Mắt đi đến tỉnh nào, xứ nào là em út rần rần đứa theo ủng hộ, đứa đến trình diện bái nghinh đại ca. Tư Mắt bước vào quán nước nào thì người khác hội nên lui chân, hàng em út tha hồ gọi bánh, gọi mì vì đã có đại ca bao trả. Nhưng phải nhớ “ăn của anh Tư thì sau này có việc chớ khá so đo cùng anh Tư”. Lính trang kiêng dè nể mặt, bót cò miệng ngậm sáp cũng làm lơ. Linh sai nã tróc đã ra, mà tìm không có ai dám sanh cầm Tư Mắt; không khéo có ngày mang thẹo ăn dao của hàng em út anh Tư. Tuy vậy, hết hồi vinh đến hồi xuống dốc. Về sua Tư Mắt ăn năn, vào chùa Giác Lâm (Chợ lớn) lần chuỗi bồ đề tụng kinh sám hối.

Vài nhà khảo cứu chê bai phong trào Thiên Địa Hội là manh động, gần như du đãng, thất nhơn tâm. Có người cho rằng anh hùng Thiên Địa Hội chọn một lý tưởng quá lạc hậu là tôn vương, bảo hoàng, vào lúc trong nước đã có phong trào Duy Tân tiến bộ hơn ra đời từ năm năm về trước- nhưng phong trào Duy Tân ở Nam Kỳ lúc bấy giờ nặng tánh chất bảo hoàng, hướng về chế độ quân chủ lập hiến dành cho kẻ giàu sang. 
Âm vang của Thiên Địa Hội khá mạnh mẽ. Nhiều người bảo là dân chúng ở Nam Kỳ hiếu khách, ăn nói sổ sàng, không quanh co giấu giếm, dám ăn xài hết túi là do máu nóng của dân đi khẩn hoang: vì nhiều tiền, nhiều tương lai nên không sợ đói. Nhưng thiết tưởng đó là lý do phụ. Thiên Địa Hội tạo ra một nếp sanh hoạt sâu đậm khá hấp dẫn, thực tế: ăn cơm nhà lo chuyện ngoài đường, sống chết nhờ anh em, tận tình giúp đỡ bạn. Trút tất cả tâm sự với bạn kết nghĩa thì không có gì đáng ngại, đã là bạn với nhau rồi thì làm sao có chuyện phản bội.! Ưa gặp gỡ nhau, nói chuyện làm ăn và chuyện đời ngoài quán nước, quán rượu. Gặp chuyện bất bình, hoặc như bạn nào bị kẻ khác ăn hiếp thì nổi nóng, trả thù cho bạn vô điều kiện, lập tức. 
Đó là đạo nghĩa giang hồ, là điệu nghệ giữa anh em kết nghĩa, tứ hải giai huynh đệ. Người bạn lớn tuổi hơn mình thường được gọi nửa đùa nửa thật là “đại ca” (theo tổ chức bí mật của hội kín, đại ca là người giữ chức vụ lớn nhứt, không khác nào người chỉ huy trưởng về quân sự). 
Nói tới Thiên Địa Hội, không thể quên là đạo Minh Sư đã từng làm cho thực dân lo ngại hồi cuối thế kỷ vừa qua. Đây là tôn giáo hơi khác thường, tu học có vẻ bí mật. Về lý thuyết, đạo Minh Sư thờ Tam giáo nhưng nặng về Lão giáo với phép luyện trường sinh, với nghi thức cúng kiến phức tạp. Về mặt chính trị, thiực dân theo dõi khi đã thâu thập bằng chứng xác nhận một vài lãnh tụ của đạo này vận động chống Pháp, như cuộc khởi loạn 18 thôn vườn Trầu của ông Quản hơn năm 1885 (Tài liệu của thực dân ghi hồ đồ là đạo “Phật Đường”, chùa của đạo này không xưng là tự, nhưng là phật Đường. 
Năm 1882, vào tháng 6 dương lịch, ở Long Xuyên có phú thương Hoa kiều là Dư Tú (A Xious) mời đại lão tên Hứa Mỹ ở bên Trung Hoa tới để làm lễ, lạc quyên cất chùa. Đại lão sự Hứa Mỹ đi qua Châu Đốc, đã từng ở Nam Vang. Ở Gò công, tại chợ Thậun Tắc, làng Tân Duân Trung, Nguyễn Văn Hiền bị bắt với nhiều tài liệu Ở Sài Gòn, thực dân phát giác vị lão sư của đạo Minh Sư ở vùng Cầu Kho là Ba Hý, ngoài ra còn một số người torng đạo cùng bị bắt ở Cần Thơ (8-1882). Dưới mắt thực dân thời bây giờ, trung tâm của đạo Minh Sư ở Trà Ngoa (giáp ranh với Cần Thơ). Người hoạt động hăng hái nhứt là Nguyễn Văn Di còn mang tên là Khoa, tục danh lão Báu, 70 tuổi vào năm 1896. Quê của thầy Di ở Chợ lớn, vùng Cần Giuộc. Thầy tới lui vùng Cầu Kho (Sài Gòn), vùng Trảng Bàng (Tây Ninh), vùng Ba Kè (Tam Bình, Vĩnh long) và liên lạc với đồng đạo ở Hương Cảng, ở Bình Thuận. Lục soát trong nhà thầy di, gặp kinh sách, địa bàn, mặt kiếng, chuỗi, đặc biệt là bức ảnh của vị Tổ sư (ông này đã qua Sài Gòn năm 1894 được đón rước long trọng, mất ở bên Tàu năm 1895). Nhà cầm quyền theo dõi nhóm Minh Sư ở Trà Ngoa, khám phá ra một ngôi chùa về danh nghĩa công khai thì thờ ông Quan Đế nhưng bên trong là chùa của đạo Minh Sư. Hương chức làm báo cáo rằng khi cúng chùa thì chùa không đánh trống hoặc nhạc lễ gì cả, người torng chùa cứ khấn vái lầm thầm; họ mặc áo dài may bằng vải trắng, tay rộng, có người nhuộm áo màu xanh lợt; khi lạy, không cúi đầu xuống. Cúng xong người trong đạo dọn lễ vật đến nơi khác, sau đó dân địa phương mới được phép đem heo hoặc vịt tới cúng ông Quan đế. Nhà của người theo đạo không thờ món gì rõ rệt, trước tấm trần bằng đệm buồn, đôi khi bày một tượng Phật nhỏ nỏ, trên bàn thờ ngày như đêm đốt ngọn đèn nhỏ không bao giờ để tắt. Trong đạo nếu có ai chết thì người ngoại đạo chẳng được lại gần, chỉ riêng bổn đạo đến khấn vái; khi tẩn liệm, đặt trong quan tài thì người chết day đầu vào vách nhà. 
Ở Cần Thơ, còn một chùa Minh Sư nổi danh thời bấy giờ tại Bình Thủy: Minh Sư Thảo Phật đường, gọi nôm na là chùa Nam Nhã. Ông lão sư chùa này là Nguyễn Giác Nguyên, học trò của thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa. Khi phong trào Duy Tân nổi lên ở miền Nam, ông lão sư Nguyễn Giác Nguyên đã tích cực hoạt động ủng hộ ông Cường Để, và chùa đã bị lục soát.

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

13. Thiên Địa Hội của người Việt Nam và những biến tướng phúc tạp

Trong thời gian gia nhập Thiên Địa Hộivới người Trung Hoa, người Việt học được kinh nghiệm về tổ chức và tác phong mới. Sự sụp đổ về chánh trị khiến cho anh hùng Thiên Địa Hộihoang mang. Trước kia là chí hướng cao cả (liên kết với giặc Cờ Đen), trong hiện tại chỉ còn là sanh kế và bầu máu nóng nhưng nếp sống cũ vẫn còn đó. Ta thử xem qua những lời thề: 
” Khi vô hội có hai tuần lạy, trước lạy bốn, sau lạy tám. Bốn lạy trước mang ý nghĩa: 
– Lạy trời đất làm cha mẹ 
– Lạy mặt nhựt mặt nguyệt làm chứng. 
– Lạy Đào viên kết nghĩa làm anh em . 
– Lạy để giáo kết: người nào bụng xấu thì trời đánh chết. 
Tám lạy sau gợi ý: 
– Lạy lòng trời làm chứng. 
– Lạy thể giữa trời 
– Lay noi theo ông Quan Công 
– Lạy giao kết anh em chung, lấy chữ Hồng làm họ 
– Lạy để hứa rủ anh hùng làm anh em. 
– Lạy thề đồng lòng đánh vua nhà Thanh, giúp vua nhà Minh. 
– Lạy xưng vương về nhà Minh. 
Vể kỷ luật, người trong hội phải thông suốt các điều khoản: 
– Coi việc trong làng cũng tỏ rõ như mặt kiếng. 
– Việc trung ngãi rất công, không tư vị, cứ luận công lao mà thưởng. 
– Không phân biệt bà con và người dưng, cứ lấy lẽ ngay mà xét đoán. 
– Chớ tham của người mà làm lợi cho mình, cũng không lấy thế mạnh mà khinh rẻ người yếu. 
– Như có sự bất bình thì đem tới hội, lấy lẽ ngay mà ph án đoán, người nào có công trận thì gia cao quyền tước, chẳng khá nói dối mà bỏ trốn công việc, muốn làm việc gì thì đồng bàn bạc với nhau. 
Sau đây là lời thề: 
– Khi rút cây gươm ra, thề với nhau rằng: cây gươm nó cũng bén như nước, như ta ngó thấy cây gươm này thì ta phải sợ, đừng dối trá mà bỏ cái niềm ngay lành. Ta theo Thiên Địa Hội, lấy họ Hồng để sau này ta giết vua nhà Thanh. 
– Khi rút cây gươm đưa lên thì coi nó sáng cũng như mặt trời mặt trăng, như đưa cây gươm lên thì đưa cho ngang đầu, lấy lời thề làm trọng. Đã là anh em với nhau thì lấy sự ngay thẳng làm chắc, nếu ai không ăn ở ngay thẳng với anh em thì cây gươm này sẽ chém chết. 
– Khi đốt hương thì khói lên thơm tho lắm, ta nguyện cùng năm ông tổ, quyết lòng giết vua nhà Thanh. 
– Thuở trước có Đào viên kết nghĩa làm ba anh em là ông Lưu, Quan, Trương. Anh em ta có bùa, đem bùa ấy vô rừng thì cọp thấy cũng sợ. 
– Làm người phải có trung nghĩa, người trong hội của chúng ta gặp nhau làm dấu hiệu là biết ngay. Ta là bọn trung nghĩa, không ai giết ta cho đặng. 
– Anh em ta đầu đội trời chân đạp đất, anh phải có lòng ngay, em phải có sự can đảm. 
– Tay ta cầm cây hương mà vái cho đặng tám lần, đi khắp ngũ hồ tứ hải thì xứ nào ta cũng là anh em. 
– Nhân dịp cúng quảy (vào buổi kết nạp), uống rượu thì ta uống hai chén mà thôi. Ngày bữa nay ta gặp anh em, biết ngày mai ta còn gặp không? 
– Cúng quảy rồi ăn uống xong, từ giã anh em mà ra đi, bây giờ còn thấy mặt anh em thì ta bịn rịn, hể khuất mặt anh em rồi thì ta cứ đi xa. Ta đi qua xứ khác rồi thì anh em phải nhớ với nhau. Bởi vậy, ta uống ba chén trước khi ra đi. 
– Ta đút gươm trở lại trong vỏ thì xem cây gươm trong như nước, ta phải giữ chí cho bền mà đánh vua nhà thanh. 
Ở Sài gòn, nhiều cuộc xáo trộn diễn ra với qui mô nhỏ, anh hùng của hội kín nhờ học được phương thức hoạt động bí mật, dùng ám hệiu nhứt là dám liều chết nên khuấy rối trong những xóm lao động , bày ra cướp bóc, thanh trừng giữa ban ngày tại Phú Nhuận, chợ Cầu Ông Lãnh trên sông Sài Gòn, ở Đất Hộ . . Thanh danh Thiên Địa Hộibị sứt mẻ không ít; bọn làm bồi cho Tây, bọn cầm đầu nài ngựa thao túng ở Trường đua tha hồ khoát nạt. Lại còn những nhóm hội kín sống bằng nghề chứa bạc, gìn giữ sòng bạc cho chủ hoặc bảo vệ mấy ổ mại dâm. Người nào có tiền mà không biết điệu nghệ với anh em trong hội thì bị họ mượn tiền không bao giờ trả. 
Vào năm 1888, hội Van Xe phát triển, lộng hành từ bình Đông, Phú Lâm, minh Phụng trở ra An Bình (Chợ lớn) khiến tám ông Hộ trưởng ở các vùng nói trên cầu cưú với nhà đương cuộc Chợ Lớn – Sài Gòn. Vạn tức là hình thức “nghiệp đoàn” theo kiểu vạn lưới vạn chài, vạn cấy. Vạn này thâu nạp những người đánh xe ngựa, loại xe thông dụng nhất ở Sài Gòn – Chợ lớn lúc bấy giờ. Người trong Vạn thề sống chết có nhau, một người bị hà hiếp là cả bọn kéo tới binh vực vô điều kiện, khi thấy lính cảnh sát, họ chạy trốn rất nhanh. Chủ xe phải dùng những người của Vạn đưa vào, không được dùng người ngoài. Ngoài những người sống bằng nghề đánh xe, vạn còn kết nạp bọn bồi bếp, người làm công ở hiệu buôn, cứ đóng tiền thì được che chở không ai hiếp đáp. Nơi nào có gánh hát hội trình diễn là họ kéo tới khuấy rối, nếu chủ gánh biết phải quấy đưa cho một chút tiền thì yên. Họ kiểm soát luôn những ổ mãi dâm và tống tiền những người ra vào. Ai nói xâu họ, họ đánh. Vì chiếm độc quyền phương tiện chuyên chở, họ tự ý đập đồ, dọc đường dừng lại để xin thêm tiền, không cho thì làm nhục, chửi mắng. Đặc biệt nhứt là người trong xóm lao động, bạn hàng chợ nếu gây gỗ nhau thì phải nhờ họ phân xử, đóng tiền cho họ. Ai đến nhờ cảnh sát hoặc cò bót phân xử, họ lại đánh đập bằng củ chì, bằng roi cá đuối hoặc họ giết. Trụ sở của Vạn gọi là Tân Hưng hội quán, đóng ở ngôi miếu vùng Tân Hưng. Khi cần ăn nhậu và kiếm thêm tiền xài, họ bày ra lệ cúng miễu để đi lạc quyên bừa bãi khắp đô thành, ai không cho là họ trả thù: họ gop tiền trong giới bạn hàng, giới chủ tiệm Sài Gòn (tức là khu chợ Cũ ngày nay) , chợ Cầu Ông Lãnh, vùng Khánh Hội, những người sống trên ghe thuyền và đặc biệt là những chủ chứa gái điếm. Thực dân ra tay bắt cả bọn, được biết người cầm đầu là bếp Tốt, Sáu Còn. Hai tên này lợi dụng hình thức cúng tế ở miễu để hợp thức hoá những chức vụ: chủ hội, hương nhứt, hương nhị, hương ba, hương tư rồi bày thâm chánh hội, phó hội, tri khách, trị sự, hương hội và phó tổng lý biện . . . 
Ngoài hội Vạn Xe khá tiêu biểu cho sanh hoạt của bọn anh hùng bị lưu manh hoá, còn nhiều nhóm du đảng tổ chức khéo léo với kỷ luật chặt chẽ (gọi là luật giang hồ, điệu nghệ). Họ tụ tập đông đảo, che mắt nhà cầm quyền bằng cách tổ chức đám giỗ, cúng miễu Ngũ hành hoặc giả vờ bày chuyện mời thầy pháp đến chữa bệnh. Tình hình ở các tỉnh ra sao? Chúng tôi không sưu tầm được tài liệu nào cụ thể trong khoảng thời gian sau năm 1882. Thực dân ra lệnh cho các tỉnh kê khai và theo dõi thật kỹ những hội cúng miễu, cúng đình. Từ lâu, những hội này mặc nhiên là hợp pháp vì mang tánh chất thuần tuý về tín ngưỡng, mỗi đình có hương chức đình với chức vụ chánh bái, bồi bái v.v. . . Chủ tỉnh Bến Tre là Sandret (người am hiểu khá rành rẽ tình hìnhdân chúng Mỹ Tho, qua cuộc khởi loạn của ông Năm Thiếp) đưa ý kiến: sự liên kết giữa người Việt và người Hoa Kiều nhất định là có hại cho nhà nước, chưa thành vấn đề lớn nhưng trong tương lai sự liên kết ấy sẽ thành tựu. Trong hiện tại, hoạ chăng là có sự thông đồng ngấm ngầm giữa người Hoa Kiều chủ chứa sòng bạc và công chức Việt Nam ăn hối lộ. 
Viên chủ tỉnh nói trên lại ngạc nhiên và cương quyết áp dụng kỷ luật, thuyên chuyển một vài viên chức Việt và lính mã tà về tội chơi hụi với người Hoa Kiều, những uyển sổ của người chơi hụi lại bị tình nghi là hình thức góp tiền cho Thiên Địa Hội. 
Về người Hoa Kiều ở tỉnh, chỉ riêng chợ Bạc Liêu là xảy ra náo loạn: người Hoa kiều ở tỉnh lỵ này đồng loạt bãi thị, đóng cửa tiệm để phản đối việc phạt vạ của chủ tỉnh, khi ra lệnh mỗi nhà phải giữ vệ sinh trước cửa, để phòng bệnh thời khí đang lan tràn. 
Nhưng ở thôn quê và chợ nhỏ, Thiên Địa Hội do người Việt cầm đầu lại phát triển ngấm ngầm theo mức nhà nước thực dân lâm vào trận hỏa mù, không phân biệt đâu là mục đích, đâu là phương tiện. Một số hương chức hội tề tham gia vào hội để được yên thân hoặc chính họ đóng vai quan trọng. 
Hội viên gặp nhau nhanh chóng, dùng mật hiệu, khi tụ khi tán, hoặc ở ngoài ruộng, hoặc ở quán rượu rồi lại đi. Họ gần như không dùng giấy tờ, ngoại trừ một số sổ sách ghi tiền bạc thâu xuất, nhưng lại che giấu, giả như là đóng tiền hụi hoặc thâu xuất lúc mua bán. Thư từ qua lại nếu có thì vắn tắt và dùng lời lẽ bóng gió, con dấu của hội lại khắc những chữ khó hiểu hoặc là ám hiệu, thoạt xem qua tưởng là con dấu tiệm buôn. 
Hội bị đặt ra ngoài vòng phát luật nhưng nhiều người dám theo và hương chức làng yểm trợ vì lý do: khi bị bắt trong lúc ấu đả, thanh toán bằng võ lực thì họ tự nhận là ra tay vì thù oán cá nhân, theo lối du đãng để rồi bị buộc tội nhỏ với lý do làm náo động làng xóm, đánh nhau vì nợ nần, cờ bạc. 
Nhờ đó bộ tham mưu chánh trị cầm đầu bên trên ít khi bị bắt quả tang. Thực dân nhìn nhận có hội kín những chỉ trong phạm vị tương tế hoặc chỉ là nhóm du đãng hoành hành tạm thời tại địa phương. Hơn nữa, vào đầu thế kỷ thứ XX, từ Bắc chí Nam đang phát khởi một phong trào nhiều thực lực hơn Thiên Địa Hội, đó là phong trào Duy Tân đang lôi cuốn được nho sĩ và điền chủ, công chức, khiến thực dân bận tâm đối phó. 
Không giấy tờ sổ sách hoặc biên bản thì khó mà tổng kết cụ thể. Hơn nữa , người torng hội nếu bị bắt, thật tình cung khai thì chỉ cung cấp được những chi tiết phiến diện cục bộ. Những tài liệu mà thực dân tịch thâu được từ các tỉnh, các làng ở mềin Tây hoặc ở Chợ Lớn đều giống nhau, không đem thêm gì mới mẻ, đại khái một cây gươm, một vài bộ truyện tàu, năm bảy cái bằng cấp in theo công thức giống nhau hoặc vài tờ giấy ghi chép lời thề, mật hiệu, ghi việc xuất tiền hoặc những con dấu giống như của hiệu buôn. 
Thực dân tìm cách vu cáo rằng Thiên Địa Hộiđáng giải tán, hội viên đáng ở tù nhiều năm chỉ vì thành phần của họ gồm đa số là du đãng, có tiền án về trộm cắp, xâm phạm tài sản của người khác. Chúng không dám phủ nhận rằng đầu não của Thiên Địa Hộilắm khi gồm những người yêu nước; người dân thích vô hội chỉ vì muốn sống trong bầu không khí riêng, với luật lệ riêng tách ra khỏi bộ máy chính quyền mà thực dân đã áp đặt. 
Chúng tôi xin trích dẫn một số tài liệu mà Henri Dusson, tên chánh án nặng óc thực dân đã chịu khó tổng kết về tình hình trong tỉnh Long Xuyên năm 1909 để rồi báo nguy về Thiên Địa Hôi. 
Theo ý kiến của hắn thì Thiên Địa Hộiphát triển mạnh vì nhà nước thuộc địa đã kêu án quá nhẹ những người theo phong trào Minh Tân (Duy Tân) của Trần Chánh Chiếu vào tháng 4-1909 Trần Chánh Chiếu được miễn tố cùng với bao nhiêu bạn bè khác do bản án của tòa án Mỹ Tho. Dân chúng nô nức, được trớn, tin rằng vào hội kín để chống đối nhà nước thì không bao giờ bị ở tù nhiều năm, nếu hoạt động kín đáo. So với tội trạng của Trần Chánh Chiếu, họ chỉ là người hiền lành và ít nguy hại. 
Về danh xưng, có hai nhóm quan trọng ỏ Long Xuyên: 
1. Nhóm Nghĩa Hưng thường dùng con dấu khắc bốn chữ Nghĩa Hưng công ty, người Việt gọi là Kèo Xanh. Kèo (theo nghĩa cột kèo) cà cái vành của mui ghe, làm sườn để lợp lá hoặc đóng ván phía trên. Người thuộc Nghĩa Hưng dùng màu xanh sơn vào cây kèo thức nhất của mui ghe. 
Từ nhóm Nghĩa Hưng này tách ra một chi nhánh là Hoà Xuân gọi là Kèo Đỏ, kèo của mui ghe dùng để di chuyển hoặc mua bán luôn luôn sơn màu xanh ở vành thức nhứt (màu chánh của Nghĩa Hưng) nhưng lại có thêm cây kèo thứ nhì sơn màu đỏ. Nhóm Nghĩa Hưng gồm đa số người Hoa Kiều gốc Phước Kiến. Đôi khi họ có những chi nhánh gọi là Nhơn Hưng hoặc Đồng Hưng. 
2. Nhóm Nghĩa Hòa, với cây kèo sơn màu vàng (Kèo Vàng) đa số là người Triều Châu. 
Nhóm Nghĩa quân của người Hẹ (Akas) thực lực không không đáng kể. 
Về chánh trị, hội kín ở Long Xuyên theo đường lối phò vua. Trong số tài liệu bắt được, có bài hịch kêu gọi các lớp sĩ nông đánh đổ thực dân Pháp “xứ Nam Kỳ giống như nước Trung Hoa đời Hán, đời Đường. Thực dân là bọn Hung Nô, bọn rợ Đột Quyết. Vua Tự đức là thông minh tuyệt vời, 13 tỉnh đã liên kết lại. Từ năm 1905, trong hội đã loan tin rằng người Nhật sẽ tràn qua Nam Kỳ; người Nhật theo Thiên Địa Hội, ai theo thì sau này được sống, được phong làm quan để rồi được Nhật trợ giúp đánh đuổi thực dân Pháp! 
Về sự phát triển của hội, tài liệu trên cho biết: tỉnh Long Xuyên gồm tất cả 60 làng, chỉ 5 làng là có thể có hội kính, 42 làng kia chia làm hai loại, loại thứ nhất là 35 làng bị ảnh hưởng nặng, thứ nhì là 17 làng bị ảnh hưởng ở mức vừa phải.
Trong cấp lãnh đạo ,người Hoa kiều hoặc Hoa Kiều lai là thiểu số, người Việt chiếm đa số, thường là hương chức hội tề đương nhiên hoặc hương chức cựu, Tại làng thời Thuận, (tổng định Mỹ) niều tín đồ Thiên chúa đã theo hội kín hoặc nhóm Nghĩa Hưng. 
Trong làng, lúc đầu cần vài người hoạt động tích cực, sau đó cứ thuyết phục và hăm dọa để rồi những kẻ cầu an hoặc chống đối cũng lần lượt theo hội để khỏi bị hiếp đáp, vì thấy mình là thiểu số. Hương chức làng, người có uy tín, có đạo đức được chọn trước. Ai không theo thì bị phá rối liên miên: đốt nhà, đánh đập công khai hoặc lén lút, đốn cây ăn trái, phá đám mạ, đập lu hũ trong nhà. . .

Rượu thủ công

baotreonline.com

Ian Bùi

Post on May 26th, 2022

Post by Sơn râu 20 Aug 2024

Hai lò rượu của người Việt vừa đoạt Huy chương Vàng trong một cuộc tranh tài quốc tế thường niên do hiệp hội American Distilling Institute tổ chức. Đó là lò Vena từ Quảng Trị và lò SuTi từ Texas. Đây quả là một sự kiện lịch sử và một niềm hãnh diện cho ngành rượu thủ công của dân ta.

Nguồn: SuTi Craft Distillery    

American Distilling Institute (ADI) là hiệp hội lớn nhất và lâu đời nhất dành cho các nhà nấu rượu thủ công — craft distillery, trên thế giới.Năm 2003, Bill Owens nảy ra ý tưởng thành lập một hiệp hội quy tụ các nhà nấu rượu nhỏ trên nước Mỹ. Lúc bấy giờ phong trào nấu rượu riêng lẻ chỉ mới nhen nhúm, giống như kỹ nghệ nấu bia thủ công — craft brewery, bùng phát trước đó chừng hai mươi năm.

Thật ra thì nghề nấu rượu ở Mỹ, bắt đầu từ những thế kỷ 18-19, đa phần là thủ công nghệ. Thời đó chỉ có một số ít các hãng rượu công nghiệp, trong số đó kỳ cựu và thuộc hàng lớn nhất là hãng whisky của George Washington ở Mount Vernon, Virginia. Sử liệu cho biết năm 1799 lò rượu của vị cựu Tổng thống Mỹ đầu tiên đã sản xuất hơn 11,000 gallon whisky, chỉ để bán sỉ trong các thùng gỗ 200 lít (53 gallon).

Sang thế kỷ 19, tiểu bang Kentucky trở thành cái nôi của công nghệ bourbon whiskey. Ðồng thời ngành rượu thủ công tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Nhưng sang thập niên 1920 thì đạo luật cấm uống rượu (Prohibition) ra đời; hầu hết các lò rượu phải dẹp tiệm, song một số chuyển sang nấu rượu lậu. Trường hợp này không khác mấy sự ra đời của ngành rượu đế lậu ở Việt Nam sau khi người Pháp cấm dân ta nấu rượu vì họ muốn thống lĩnh thị trường.

Suý Đinh (trái) và Tiến Ngô lắp ráp máy móc. Nguồn: SuTi

Sau khi luật Prohibition ở Mỹ bị bãi bỏ năm 1933, ngành nấu rượu thủ công không phục hồi được vì bị đủ thứ luật lệ khó khăn, phần lớn các cản trở này do các hãng rượu lớn vẽ ra để bóp nghẹt cạnh tranh. Mãi đến gần đây rượu thủ công mới được hồi sinh, và ADI là tổ chức đã đóng góp rất nhiều cho sự lớn mạnh của nó. Mục đích chính của ADI là làm tiếng nói đại diện cho giới nấu rượu thủ công, đồng thời là nơi để các nhà nấu rượu có thể đến để chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau.

Hàng năm ADI tổ chức một cuộc đấu xảo triển lãm hàng hoá rất lớn chuyên về ngành nấu rượu. Tại đây, các nhà làm rượu thủ công có cơ hội giao tiếp với những công ty sản xuất dụng cụ và nguyên liệu nấu rượu, cũng như tiếp cận những kỹ thuật tân tiến nhất cho ngành nghề của mình. Trên mạng, ADI có một diễn đàn công cộng nơi mọi người có thể đến để trao đổi thông tin, chia sẻ kiến thức về bất cứ đề tài nào liên quan đến việc nấu rượu hay mở một lò rượu thủ công.

Theo lời kể của anh Suý Ðinh, nhà nấu rượu đế Ông Già, thì trước khi mở lò rượu SuTi, anh đã bỏ rất nhiều thì giờ trên diễn đàn của ADI để học hỏi từ những người đi trước. Chẳng hạn như loại lò nào tốt nhất để làm rượu từ gạo, những loại men nào thích hợp nhất, luật lệ của liên bang và tiểu bang về việc làm và bán rượu ra sao, đo nồng độ bằng dụng cụ gì chính xác nhất v.v. Ngoài ra Suý cũng đã đích thân tham dự một cuộc triển lãm tại Maryland để, như anh nói, “nhìn tận mắt các thiết bị máy móc” và được nghe các nhà chuyên môn giải thích thật cặn kẽ mọi thắc mắc của mình.

“Ông Già” bốc khói. Ảnh: Tiến Ngô

Nói cách khác ADI là một nguồn thông tin vô cùng hữu ích và đã đóng một vai trò quan trọng cho sự ra đời của lò rượu đế của người Việt đầu tiên trên nước Mỹ (và cả thế giới ngoài Việt Nam). Hiện nay chính phủ Mỹ chưa có một định nghĩa chính thức nào về mặt pháp lý cho cụm từ “craft distillery.” Cho nên mỗi tiểu bang phải có luật lệ riêng để kiểm soát các nhà nấu rượu thủ công, và để … đánh thuế. Theo lời kể của chủ nhân SuTi, một khi rượu cất xong, trước khi vô chai là anh đã phải làm biên bản để đóng thuế liên bang. Sau đó, mỗi chai rượu bán được phải đóng thêm thuế tiểu bang.

Như đã nói ở trên, luật lệ cho các nhà nấu rượu ở Mỹ vô cùng khắt khe. Ngoài việc phải nộp thuế đầy đủ và đúng kỳ, họ còn phải tuân theo quy định về nồng độ rượu ghi trên nhãn. Trước đây, mức sai biệt được đặt ra là +/- 0.05%, nhưng nhờ sự vận động của các hiệp hội những nhà nấu rượu như ADI, quy định này đã được nới rộng lên +/- 0.15%. Mức thuế liên bang gần đây cũng được hạ thấp, từ $13/gallon xuống còn khoảng $3/gallon, nhằm khuyến khích kỹ nghệ đang lên này.

Thêm vào đó, hàng năm ADI còn tổ chức một cuộc thi dành cho các nhà nấu rượu thủ công trên khắp thế giới. ADI định nghĩa craft distillery là các hãng rượu nhỏ, sản xuất không quá 100,000 gallon một năm. Ra lò được hơn một năm thì SuTi cũng đánh bạo, gởi hai chai Ông Già cho ADI để xem họ đánh giá ra sao. Trong bụng ai cũng hy vọng nếu được huy chương bạc là cũng mừng lắm rồi. Nào ngờ các nhà chuyên môn của ADI đã chấm điểm Ông Già khá cao — 91 điểm, và trao cho SuTi chiếc Huy Chương Vàng, tức phần thưởng cao quý thứ nhì sau Double Gold. Ðây cũng là lần đầu tiên chữ Rượu Ðế trở thành một thể loại chính thức trong hạng mục Rượu Á Ðông của ADI.

SuTi nhận bằng tri ân tại đêm gây quỹ. Từ trái: Nancy Bùi, Cha Nguyễn Thái Hợp, Tiến Ngô, Suý Đinh. Ảnh: ianbui/Trẻ

Trong phần thẩm định, một nhà chuyên môn ghi: “Tôi khoái rượu này quá! Nó mang hương thơm của những cánh đồng lúa, có mùi cỏ non, rất sạch.” Tuy nhiên, họ cũng chua thêm trong phần “Phải làm sao cho ngon hơn” như vầy: “Khi mới nhắp, mũi tôi bị tấn công khá mạnh bởi mùi cồn làm át đi một phần những mùi hương mà tôi đang kiếm tìm.” Một vị khác nói thêm: “Rượu có một mùi đất thoang thoảng làm tôi khó nhận ra mùi hương của gạo, tuy nhiên điều này không khó để khắc phục. Bạn đã đến rất gần mức Double Gold.”

Hôm Chủ Nhật cuối tuần rồi, nhân dịp gây quỹ cho tổ chức Công Lý cho Nạn nhân Formosa tại Dallas, SuTi đã là một trong những nhà bảo trợ chính. Ðêm hôm ấy, Ðức Cha Nguyễn Thái Hợp đến từ Hà Tĩnh cũng có mặt và được nếm rượu đế Ông Già. Tôi quên hỏi xem ông thấy nó ngon dở ra sao, nhưng nhìn nét mặt Ðức Cha sau khi ông thử ly rượu từ tay anh Tiến Ngô (đồng chủ nhân của SuTi), tôi có thể đoán là ông rất ngạc nhiên và thích thú. Ðêm ấy SuTi có mang đến mấy chục chai rượu để giúp cho cuộc đấu giá, và đã được quân ta ủng hộ nồng nhiệt. Thậm chí anh Tiến phải chạy về nhà để lấy thêm, làm quà tặng cho Ðức Cha và các anh chị em trong ban tổ chức.

Mẻ rượu đêm ấy là mẻ rượu mới nhất, đã được “chỉnh trang” lại sau khi nhận được những lời khuyên chân thành từ ADI. Tuy không phải là dân nếm rượu chuyên nghiệp, nhưng tôi phải công nhận nó nhẹ và êm hơn mẻ #55 được gởi dự thi. Tôi tin rằng với đà này, rượu đế Ông Già sẽ ngày càng ngon hơn, và chiếc huy chương Double Gold là điều hoàn toàn trong tầm tay với. Thành thật chúc mừng cho hai lò rượu Vena và SuTi, và hy vọng chúng ta sẽ còn được thưởng thức nhiều chai rượu ngon nữa từ tay các nhà thủ công người Việt.

Sản phẩm mới nhất: “Whisky Phượng Hoàng”, làm từ gạo, vừa mới ra lò. Nguồn: SuTi

IB

Phụ nữ phi thường

baotreonline.com

Ian Bùi

August 9th, 2024

Post by Sơn râu 20 Aug 2024

Paris 2024 đánh dấu một mùa Thế Vận Hội đầy kỳ tích cho các nữ lực sĩ đến từ khắp nơi trên thế giới. Từ nước giàu nhất đến nước nghèo nhất, nhìn đâu cũng thấy các kỷ lục mới được liên tục lập nên và phá vỡ. Simone Biles (trái) trở thành nữ lực sĩ gymnastics với nhiều huy chương nhất trong lịch sử (9), và Sunisa Lee (phải) là người H’Mong duy nhất sở hữu hai HC Vàng, một HC Bạc, một HC Đồng.

Ảnh: AP       

Trong cuộc chạy đua 100m, mệnh danh người nhanh nhất hành tinh, Sha’Carri Richardson (trái) và Melissa Jefferson (phải) của Mỹ đã bị qua mặt dễ dàng bởi Julien Alfred của Saint Lucia, một đảo quốc trong vùng Caribe gần Nam Mỹ. Saint Lucia chưa bao giờ thắng bất cứ huy chương Olympics nào. Đây là lần đầu tiên quốc kỳ và quốc ca của Saint Lucia được trổi lên tại Thế Vận Hội, thật là một niềm hãnh diện cho 180,000 cư dân trên hòn đảo nhỏ bé này!

Ảnh: David Phillip/AP

Cuộc thư hùng trong hồ bơi giữa hai đội kình ngư Mỹ/Úc đã không gây thất vọng, với kết quả nghiêng ngửa 8/7 HC Vàng cho Mỹ. Mỹ cũng thắng tổng cộng 28/18 huy chương cả thảy. Tuy nhiên lần này đội Nam chỉ giành được 1 HC Vàng, trong khi đội Nữ thắng đến 4. Riêng Katie Ledecky của Mỹ còn là nữ lực sĩ bơi lội đoạt nhiều huy chương nhất trong lịch sử Olympics (14), với 9 chiếc HC Vàng.

Ảnh: Tsvangirayi Mukwazhi/AP

Trong mục bắn cung, Nam Hàn chứng tỏ họ vẫn là nhà vô địch không có đối thủ, với chiếc HC Vàng Nữ đồng đội thứ mười trong 10 giải Olympic liên tiếp! Riêng tại Paris, Nam Hàn thắng 5 HC Vàng, 1 HC Bạc, 1 HC Đồng trong tất cả các nội dung, kể cả Nam Nữ hỗn hợp. Có thể nói bắn cung là một trong những môn thi cổ xưa nhất của con người, với nguồn gốc đến từ săn bắn và chiến tranh. Đáng lý đây phải là môn thể thao được người Việt đầu tư vào nhiều hơn, vì nó không đòi hỏi phải có thể lực hay cao to như nhiều môn khác. Bằng chứng là các nữ lực sĩ Hàn tuy nhỏ nhắn, gọn xinh nhưng bắn rất chính xác.

Ảnh: Yonhap News

Đáng kinh ngạc nhất, và cũng vẻ vang nhất, phải kể đến chiến thắng ngựa về ngược của đội Rugby Sevens của Mỹ trong trận HC Đồng trước đối thủ nặng ký Úc. Bị gác 12-7 với chỉ còn 10 giây, Alex Sedrick của Mỹ đã liều mạng ôm banh chạy gần hết chiều dài sân banh trong sự ngỡ ngàng của đội tuyển và huấn luyện viên Úc. Rugby là môn thể thao khá xa lạ với khán giả Mỹ, và các lực sĩ nữ này phần lớn không được trả tiền để chơi. Thậm chí cách đây không lâu đa số còn phải *đóng tiền* để được chơi trong đội tuyển quốc gia. Sau chiến thắng, hiệp hội Rugby của Mỹ đã nhận được 4 triệu Mỹ kim từ nữ doanh nhân Michele Kang để giúp đào tạo nhân tài và chuẩn bị cho TVH 2028 tại Los Angeles.

Ảnh: Carl De Souza/AFP

Bắn súng cũng là một môn thi không đòi hỏi thể lực mà người Việt có thể dư sức cạnh tranh ngang hàng với thế giới. Song từ trước tới nay vẫn chưa có tay súng người Việt nào thắng Olympic. Trong khi đó tại Paris 2024 Adriana Ruano Oliva (trong ảnh) đã làm nên lịch sử khi cô trở thành nhà quán quân TVH đầu tiên đến từ Guatemala – một quốc gia vùng Trung Mỹ dân số chưa đầy 20 triệu và thu nhập bình quân chỉ khoảng $5,800 mỗi đầu người. Oliva đoạt HC Vàng trong nội dung Trap Shooting, tức bắn dĩa — một môn chơi cực kỳ vui mắt vì xạ thủ phải nhắm bắn một chiếc dĩa bằng đất nung được phóng lên không trung!

Ảnh: Photosport

Đánh kiếm cũng là một môn thể thao có nguồn gốc chiến tranh. Và như ta biết, Olympics 2024 diễn ra trong lúc Âu Châu đang sôi sục bởi cuộc chiến xâm lược của Nga tại Ukraine. Vì vậy mà tại TVH năm nay các lực sĩ Ukraine đều thi đấu trong tâm trạng căng thẳng hơn hầu hết những lực sĩ khác. Mọi nỗ lực của họ, dù nhỏ cách mấy, cũng được khán giả trên thế giới ghi nhận và ủng hộ nhiệt tình. Khi đội kiếm nữ của Ukraine đoạt HC Vàng và hát quốc ca trên bục, những giọt nước mắt của họ chắc chắn không chỉ đến từ niềm vui chiến thắng mà còn đại diện cho bao mất mát và đau thương của người dân Ukraine.

Ảnh: Getty Image

Trong tất cả các lực sĩ Ukraine tham dự TVH năm nay, người được chú ý nhiều nhất có lẽ là Yaroslava Mahuchikh, chuyên gia môn nhảy cao đang giữ kỷ lục thế giới sau giải điền kinh quốc tế hồi đầu năm. Mahuchikh nói mỗi khi cô phải đụng độ các lực sĩ Nga, cô luôn nghĩ đến bao nhiêu người Ukraine đã bỏ mình trong cuộc chiến phi nghĩa của Putin. Điều này không những làm tăng áp lực mà còn khiến cô tập trung nhiều hơn nữa. Tại Paris 2024 Mahuchikh đã đạt được mục đích với chiếc HC Vàng, trước sự ngưỡng mộ của cộng đồng thể thao nói riêng và của cả thế giới nói chung.

Ảnh: Kirby Lee/USA Today

Từ Texas đến Paris

baotreonline.com

Ian Bùi

August 16th, 2024

Post by Sơn râu 20 Aug 2024

Ảnh: Patrick Smith

Thế Vận Hội Mùa Hè Paris 2024 đã kết thúc. Hoa Kỳ một lần nữa đứng đầu bảng với tổng cộng 126 chiếc huy chương (40 Vàng, 44 Bạc, 42 Đồng). Nhưng nếu Texas là một quốc gia riêng biệt, số huy chương của các lực sĩ đến từ đây cũng không phải ít – 44 huy chương (18 Vàng, 15 Bạc, 11 Đồng), tức hạng 7 sau Nhật (45 HC) và trên Ý (40HC). Hai người trong đội Gymnastics Nữ là Hezly Rivera (Plano, TX) và Simone Biles (Spring, TX) thắng HCV.

Từ trái: Jordan Chiles, Hezly Rivera, Jade Carey, Simone Biles và Sunisa Lee (Charlie Riedell/AP)       

Riêng điền kinh đã có đến 11 lực sĩ từ Texas với 18 huy chương các loại, trong đó hết 10 chiếc là HCV. Nổi bật nhất là các gương mặt như Sha’Carri Richardson từ Dallas (1 Vàng, 1 Bạc), Tara David-Woodhall từ Frisco (1 Vàng), và Ryan Crouser (1 Vàng) từng chơi cho đại học UT Austin… Nhưng đáng nể hơn hết chắc phải là Gabrielle Thomas, hiện đang sống và làm việc tại Austin. Gabby tốt nghiệp Harvard ngành sinh học thần kinh, sau đó lấy thêm bằng thạc sĩ dịch tễ học tại UT Austin. Ban ngày luyện tập chạy đua, ban đêm cô làm việc thiện nguyện ở một trạm y tế dành cho người nghèo không có bảo hiểm. Tại Paris 2024, người đẹp văn võ song toàn này đã ẵm 3 chiếc HCV!

Trong bơi lội, các lực sĩ có mối liên hệ với Texas cũng kiếm được 13 huy chương cả thảy (2 Vàng, 8 Bạc, 3 Đồng). Cần nói thêm rằng không phải tất cả các huy chương này đều vào tay Hoa Kỳ. Hubert Kos chuyển trường từ Arizona sang UT Austin để tập với HLV lừng danh Bob Bowman, nhưng lại thi đấu cho đội Hung Gia Lợi và thắng 1 HCV. Bob Bowman từng là HLV cho nhà vô địch Michael Phelps, và tại Paris ông còn có một tay học trò rất giỏi bơi cho đội Pháp tên là Leon Marchand với kỳ tích 4 chiếc HCV. Trong ảnh là Nic Fink trong trận bơi ếch 100m mà anh đoạt huy chương Bạc. Năm nay đã 31 tuổi và hiện đang làm kỹ sư điện tử tại Dallas, Fink còn là lực sĩ lớn tuổi nhất thắng huy chương bơi lội trong lịch sử thế vận hội.

Ảnh: Martin Meissner / AP

Tại giải bóng tròn World Cup Nữ hồi năm ngoái, Mỹ đã bị loại ê chề sau khi chỉ thắng một trận duy nhất nhờ đánh bại Việt Nam trong vòng bảng. Lần này, với huấn luyện viên mới và dàn cầu thủ trẻ trung hơn, Mỹ đã lấy lại được phong độ và phục hồi danh dự với chiếc huy chương Vàng sau khi hạ thủ Brazil 1-0 trong trận chung kết cực kỳ gay cấn. Đặc biệt hơn cả, đội Mỹ năm nay có một nữ cầu thủ mẹ Việt cha Mỹ tên Jaedyn Shaw, đến từ Frisco, Texas (hàng đầu, thứ tư từ phải). Jaedyn là cầu thủ gốc Việt đầu tiên chơi cho đội tuyển bóng tròn Hoa Kỳ tại Olympics, và cũng là người Mỹ gốc Việt đầu tiên đoạt huy chương Vàng.

Ảnh: Isabel Infantes /Reuters

Trong một sự kiện gây chấn động khắp thế giới, một cặp vợt của Mỹ đã đánh bại hai tên tuổi lớn trong giới quần vợt là Rafael Nadal (phải) và Carlos Alcaraz của Tây Ban Nha trong trận tứ kết Đôi Nam. Rajeev Ram (trái) và Austin Krajicek đã làm nên lịch sử khi loại Spain khỏi vòng chiến và kết thúc sự nghiệp vẻ vang của Nadal. Krajicek là cư dân Plano, Texas, và từng chơi cho đại học Texas A&M. Tuy không nổi tiếng lắm, nhưng Krajicek là một chuyên gia đánh đôi rất khá, từng được xếp hạng #1 trên thế giới. Rất tiếc anh và Ram không tiến vào được trận chung kết, song cặp bài trùng này vẫn mang về được cho Team USA một chiếc huy chương Đồng.

Ảnh: Kirby Lee / USA Today Sports

Paris 2024 cho thấy vùng Bắc Texas quả là một cái nôi đào tạo rất nhiều lực sĩ Olympics, không thua gì Cali. Đặc biệt các trường đại học như UT hay A&M thu hút được khá nhiều lực sĩ sinh viên. Nhiều người về sau trở thành thể tháo gia chuyên nghiệp, như danh tài bóng rổ Kevin Durant (HCV TVH 2012, 2016, 2020, 2024). Tuy nhiên so với thế giới thì Mỹ nói chung không mạnh về môn thể dục dụng cụ Nam. Cho nên kỳ này dân Mỹ rất vui mừng khi đội tuyển Nam của Mỹ đoạt được một chiếc huy chương lần đầu (Đồng) kể từ năm 2008. Và người có đóng góp đáng kể trong chiến thắng bất ngờ ấy là một cư dân Plano tên Asher Hong, năm nay mới 20 tuổi.

Ảnh: Naomi Baker

Thế Vận Hội luôn thay đổi theo thời gian với nhiều môn thi mới như kayak cross hoặc break dancing. Nhiều môn khác đã không còn nữa như baseball, softball… Đầu thế kỷ 20, Olympics còn có những môn thi lạ lùng như chữa cháy (firefighting), kéo dây (tug-of war). Leo nhanh (speed climbing) cũng là một bộ môn tương đối mới trong Olympics. Sam Watson, một học sinh 18 tuổi đến từ Westlake, một thành phố phụ cận trong vùng Dallas-Fort Worth, đã lập nên kỳ tích khi anh tự phá vỡ kỷ lục quốc tế của chính mình hai lần, mặc dù cuối cùng cũng chỉ đoạt được chiếc HCĐ. Thế Vận Hội quả là nơi xảy ra vô số chuyện khó tin nhưng có thật.

Ảnh: Jack Gruber/USA TODAY Sports

Paris 2024 là lần thứ ba golf có mặt tại Olympics. Lydia Ko của New Zealand trở thành người duy nhất thắng huy chương môn này 3 lần liên tiếp – Bạc và Đồng 2 lần trước, và Vàng năm nay. Thật là một thành tích khó thể qua mặt. Trong khi đó Lilia Vũ của Mỹ (từ Nam Cali) đã về tay không. Bên Nam, tay golfer số một thế giới Scottie Scheffler đã khiến mọi người sửng sốt khi anh chuyển thua thành thắng với 6 trái birdies trong 9 lỗ cuối cùng của hiệp 4 để mang về cho Uncle Sam thêm một chiếc HCV. Trên bục nhận giải, chàng cư dân Dallas này đã không cầm được nước mắt khi nghe bản quốc ca.

Ảnh: NBC Sports

Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 20 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

11. Tình cũng bạt mạng

Sau vài tiếng gió xì xì, một giọng nói khàn khàn phát ra từ speaker máy PRC25 liên lạc nội bộ:

– Thiên Nga, Thiên Nga, đây Tango!

– Thiên Nga nghe Tango nào?

– Tango, Trưởng Ban Tiếp Tế, xin gặp Đại Bàng 1.

– Tango chờ…

Hạ sĩ Nguyễn Hiệp truyền tin quay qua tôi:

– Trung sĩ Tam muốn thưa chuyện với Đại Bàng.

– Tao nghe rồi, đưa đây!

Tôi nắm ống liên hợp:

– Nghe Tango!…

– Trình Việt Quốc, cho ghe vô đường chỉ đỏ nhận hàng và lính bổ sung.

– OK! Tango nói Hạ sĩ Tuy của Đống Đa 1 chia lương thực trước cho những ai có mặt tại chỗ để họ giữ an ninh bến. Dứt!

Trung sĩ Hơn nhận nhiệm vụ chỉ huy năm Biệt Động Quân, phân công hộ tống năm ghe do các bác ngư phủ chèo, chở hai binh sĩ chết và một bị thương, với mấy cây súng của Đại đội 2 qua bên kia đầm. Trung sĩ Thuận thì lo hướng dẫn các cư dân đào huyệt chôn 27 xác Việt Cộng. Có nhiều thây không còn nguyên vẹn, tôi bảo họ tìm ghép lại các phần tứ chi đã đứt lìa và chôn riêng mỗi người một mộ, nằm quay đầu vào chân đồi, cũng là hướng về phương bắc, nơi quê hương của những người vừa nằm xuống. Tôi tới góc đầm đứng quan sát các công việc đang diễn tiến. Dù đơn giản và vội vàng giữa lúc tiếng súng còn nổ vang trên triền núi có độ cao 94 mét bên cửa khẩu Sa Huỳnh, 27 tử thi vẫn lần lượt hạ huyệt chu đáo.

Nhớ hồi còn đi học, tôi có đọc, hình như trong “Tâm Hồn Cao Thượng” của Hà Mai Anh, một câu chuyện về những anh hùng trận mạc. Hai người lính khác chiến tuyến, khi xáp lá cà cả hai đều bị thương nặng nằm gục kế bên, họ gác bỏ hận thù để cứu giúp nhau… Bài học ấy nhắc nhở, tôi nghĩ bụng:

“Đây, những kẻ sinh Bắc tử Nam, vì sai lầm hoặc bị cưỡng bách theo chế độ Cộng Sản Hà Nội, phá nước hại dân, đắc tội với Tổ Quốc. Tôi, Trần Thy Vân, một cấp chỉ huy trận đánh tái chiếm Sa Huỳnh, nhơn danh các chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân, xóa bỏ hận thù 27 cán binh này đã đền tội được chôn cất tử tế, an giấc nghìn thu”.

Xong, việc ai nấy tiếp tục, tôi mang súng ra phía biển bắn dừa tươi lấy nước uống. Nhật Thám Báo đi theo. Thầy trò dở quá, nhắm chẳng trúng cái cuống, viên đạn lệch làm bể mấy trái vung vãi nước hết. Tôi định bảo Nhật trèo hái cho chắc ăn thì Hiệp truyền tin vừa xách cái máy chạy ra vừa reo lên:

– Đại Bàng, Đại Bàng!…

– Cái gì?

Hiệp nhảy tưng tưng:

– Anh Trung, anh Xá trong quốc lộ gọi Đại Bàng.

Nghe hai đệ tử xuất viện tôi mừng, vội nắm ống liên hợp:

– Nghe Trung!

– Đại Bàng khỏe không?

– Nếu không, tao đã gặp mày tại bệnh viện rồi. Các sĩ quan thế nào?

– Chỉ một mình Thiếu úy Đặng văn Thiều, ông đang giúp phân phát lương thực đây, còn mấy vị kia chưa xuất viện. Đại Bàng có tin vui…

– Tin gì nói coi.

Trung ngập ngừng:

– Lát nữa… Đại Bàng gặp mà, vui lắm!…

Nóng lòng, tôi làm bộ dọa:

– Để lát nữa thì mày ăn đòn…

Trung cười:

– Dạ, Chị Nhị! Chị Nhị vô thăm Đại Bàng, rồi chiều về với Trung sĩ Nguyễn Đựng.

Tôi giựt mình:

– Ai dẫn cô ấy đi vậy? Mày biết ở đây thế nào không?

– Nghe rầy, chị khóc đó. Thôi, cho vô nghe Đại Bàng?

– Ừ, lẹ đi! Xuống ghe ngồi cẩn thận!

Sẵn bọn lính đứng chơi trước mặt, tôi bảo:

– Anh em lên nói toán tiền đồn hãy mang súng đi cặp bìa đồi giữ an ninh trên cao gấp, cho ghe tiếp tế bơi ra.

Mới nghe lệnh, Trung sĩ Nhật Thám Báo đã tự nguyện cắm đầu chạy như tên bay. Đoàn ghe đã rời bến. Qua ống dòm tôi quan sát từng chiếc chở đầy khẳm lính cùng đồ tiếp tế, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng một phụ nữ nào. Ngoài các ngư phủ chèo lái mặc đồ đen dân sự, còn thì quần áo màu hoa rừng hết, cả mấy người cầm giầm trước mũi cũng Biệt Động Quân luôn. Lạ! Hay Nhị nghe rầy rồi ở lại trên bờ? Nếu thật, vùng đất này vô nghĩa.

Rất tiếc việc quan trọng như vậy mà tôi không bảo anh em đem theo cái máy PRC25 để liên lạc. Tôi than thở cùng Hiệp truyền tin:

– Sao tao chẳng thấy Nhị, mày Hiệp!

Hiệp trố mắt nhìn đăm đăm các chiếc ghe đang bềnh bồng trên sóng nước, rồi cũng chép miệng:

– Không thiệt, Đại Bàng ơi!

Viên truyền tin vừa nói vừa lắc đầu lia khiến tôi càng buồn như mới đánh mất một vật gì quý giá lắm. Thà nàng đừng đến bên kia để tôi bên này khỏi ngẩn ngơ mong đợi và tuyệt vọng. Buồn tình tôi trở vào nhà và định nhờ Vinh treo cái võng để ngủ một giấc, thì nghe dưới bến nước có tiếng ồn ào, rồi người đầu tiên vội vàng chạy lên, đứng nghiêm đưa tay chào:

– Em, Hạ sĩ Huỳnh văn Trung, trình diện Đại Bàng!

Tôi vỗ vai Trung:

– Gặp lại mày và Xá tao rất vui. Còn Nhị sao không qua?

Người đệ tử trung thành giương to đôi mắt:

– Dạ có! Cô “nữ quân nhân” yếu quá, mới xuống ghe ngồi một chút đã say sóng…

Tôi vội quay ra. Nhị, trong bộ quân phục hoa rừng của Biệt Động mới toanh, vừa vặn, chân mang đôi bata, đang mỉm cười đi giữa Trung sĩ Nguyễn Đựng, hậu cứ, và Thiếu úy Đặng văn Thiều về hướng tôi. Vì trước mặt 20 người lính bổ sung, tôi cố giữ thái độ bình thản nắm tay Nhị:

– Lúc nào em cũng gan đầy mình.

Nàng nhìn tôi trân trân:

– Nhớ anh quá à! Nghe tái chiếm được Sa Huỳnh đồng bào ngoài đó họ bàn tán xôn xao và mừng lắm!

– Ừ, nhớ quá nên em quên nguy hiểm, có ngày chết. Thôi, em vô trong nói chuyện với chú Hiệp. Anh còn giải quyết vài công việc.

Tôi quay qua hỏi thăm Thiều và Đựng:

– Hai anh khỏe chứ? Riêng Thiều chóng bình phục tôi vui. Ủa, không nghỉ phép xuất viện 15 ngày sao?

Vị Đại đội phó mỉm cười:

– Biết quân số Đại đội thiếu hụt, tôi lên hành quân tốt hơn về Sài Gòn chơi vô ích. Có 19 người lính cũ và tân binh đang chờ trình diện Đại Bàng.

Trước khi theo Thiều ra ngoài, tôi nói Hiệp:

– Đưa chị Nhị dạo một vòng quanh Bộ Chỉ Huy chơi. Tiện thể nói Vinh chuẩn bị cơm nước tiếp khách.

Dứt lời tôi đi thẳng tới đám lính bổ sung đứng sắp hàng nơi khoảnh đất trống. Vì đa số khuôn mặt lạ, vừa xuất thân trường Biệt Động Quân Dục Mỹ, tôi vồn vã hỏi thăm như tình anh em để họ bớt lo sợ ngày đầu đáo nhậm đơn vị ngay tại mặt trận thế này. Tôi cũng không quên cười đùa một chút với mấy chú lính vừa xuất viện, sau vụ bị thương do trực thăng bắn nhầm, mà mỗi lần nhớ tôi còn tức giận. Rồi tôi cho các thẩm quyền nhận lại số người cũ của Trung đội họ, và có thêm mới để các thành phần tương đương nhau. Đại đội vẫn giữ nguyên trạng, BCH và hai trung đội, dù khả năng tham chiến đã tăng lên 70 tay súng. Đồ tiếp tế kỳ này cũng chỉ thực phẩm, đạn dược căn bản, được phân phát ngay.

Trung và Xá khiêng bộ phản ra kê bên gốc dừa, ngồi dùng cơm. Các món ăn tuy đơn sơ nhưng rất “tươi” như ở thành phố, vì mới tiếp tế. Tôi, Thúy úy Thiều, Trung sĩ Đựng, và đặc biệt có cô “nữ quân nhân” bất đắc dĩ nữa, quây quần chung quanh. Tôi cũng không quên nhắc nhở Xá lo phần cơm nước đầy đủ cho ông bạn tù Nguyễn Thành Công, một cán binh Bắc Việt, lại được may mắn “sa cơ thất thế” rơi vào tay đơn vị “nghệ sĩ” Biệt Động Quân này.

Mọi người vừa ăn vừa nói huyên thiên, làm rộn rã con xóm chài vốn yên tịnh dưới những hàng dừa xanh mượt, và chỉ có sóng biển lao xao ngoài bãi cát.

Tôi nhìn Nhị với mái tóc rối phủ xuống nửa khuôn mặt:

– Ai rủ em đi?

Nhị liếc mắt qua Trung ngồi ăn bên cạnh:

– Mấy chú lính chạy xe Jeep vô thăm mẹ, gặp dịp em quá giang. Trung sợ anh rầy, nói khi đến Đức Phổ rồi hãy gọi máy xin phép anh.

Tôi cười:

– Sao không để vào tận nơi xin luôn? Bộ tưởng đây an toàn lắm hả? Lát nữa anh đưa em ra coi 27 thây ma Việt Cộng, bị bắn chết hôm qua, mới chôn một dãy dài tòn ngoài kia kìa!

Nhị lắc đầu:

– Thôi, em sợ…

– Còn bộ quần áo lính ở đâu em diện đẹp vậy?

Với cử chỉ ngây thơ nàng vừa cúi nhìn chiếc áo hoa rừng đang mặc vừa đáp:

– Của chú Trung, nhờ nó mà em đi lọt. Anh biết hôn, Biệt Động Quân ở các trạm kiểm soát nhìn em chòng chọc, còn hỏi kỹ nữa. Trung nói họ em là dzợ Trung úy Vân, họ mới chịu…

– Họ chịu em là dzợ anh, hay chịu cho đi?

Nhị vừa cúi xuống vừa lấy tay che miệng cười:

– Chịu cả hai…

Tôi vuốt tóc Nhị như buổi đầu tiên gặp nàng:

– Em quá trời rồi đó! Bây giờ, mặc đồ Biệt Động nên uống chút bia, một ngụm thôi!

Nhị ngoan ngoãn cầm lon bia của tôi đưa lên môi, đôi mắt nheo lại như ăn đồ chua. Dễ thương! Cơm nước xong Thiều và Đựng lấy cớ tới hỏi chuyện người tù Nguyễn Thành Công, để tôi và Nhị tự nhiên tâm tình. Nhưng đã trót mang nghiệp lính, một đời giong ruổi khi quê hương chiến tranh còn tàn khốc thì chẳng có gì riêng tư, hứa hẹn. Nhị thông minh thừa hiểu điều đó nên cũng đồng lõa yêu cuồng sống vội.

Tôi đưa nàng ra sau bãi biển, hai đứa ngồi nhìn sóng nước mênh mông, trải rộng một màu xanh thẳm đến chân trời.

Trung cao bồi chẳng tâm lý chút nào, cứ giữ thói quen bảo vệ, lại dẫn theo ba người, cầm súng đi tới phá rầy:

– Tụi em bắn dừa Đại Bàng và chị Nhị ăn, nghen?

Tôi lắc đầu:

– Bắn bể hết, mày chịu khó trèo lên bẻ.

Trong lúc chờ Trung hái dừa, tôi nảy ra ý kiến tập Nhị bắn M16. Nàng vui vẻ bằng lòng, không chút do dự. Với thế đứng, Nhị giương súng nhắm một vỏ ốc vôi dưới chớn nước rồi thản nhiên bóp cò. Tiếng nổ làm nàng ngã lui vô tôi đang đứng sau lưng, viên đạn thì bay vèo đâu không biết. Nhị khoái chí cười ngất nghểu. Tôi bắt tập lại. Lần này nàng kẹp hông khẩu súng có vẻ thiện nghệ, chơi “ra phanh” luôn hằng chục viên…

Bỗng Nhị ngưng bắn, quay qua nhìn tôi, làm nũng:

– Anh ở sau ôm em mới được.

– Trời! Bắn súng mà còn có người ôm, chắc bọn Việt Cộng chết sớm hết quá! Rồi, chuẩn bị…

Nàng giẫy giụa:

– Ôm vậy nhột sao em bắn, anh nghịch quá à!

Tôi cười khật khật và cúi hôn vào cổ nàng:

– Thôi, không giỡn nữa, bắn đi!

Thấy Nhị bặm chặt môi dữ quá, tôi vội nắm cứng cây M16, nhưng chưa gì nàng đã siết cò, một tràng liên thanh chát chúa, đạn phun ra tá lả tới chớn nước, sủi tung cát bụi mịt mù. Con ốc vôi trước mặt làm mục tiêu vẫn còn nguyên, trắng phếu.

– Em bắn hay thiệt, con ốc nó cười kìa!

Nhị, một tay áp khẩu súng vào lồng ngực, tay kia vén mấy sợi tóc quyện trên môi, đôi mắt tròn xoe, lóng lánh:

– Nếu có thằng Việt Cộng đứng đó thử, chết liền chớ bộ!

Tôi trả cây súng lại cho Trung, rồi ôm Nhị vào lòng:

– Đã chưa?

– Thôi đi vô, anh!

– Nhưng mà đã chưa?

Nàng vòng hai tay ghì cổ tôi xuống hôn:

– Đã, hỏi hoài!

Hai đứa thấm ý cười và vừa uống hết ca nước dừa thì Hiệp chạy đến đưa máy:

– Đại Bàng tiếp chuyện Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng.

Tôi cầm ống liên hợp:

– Nghe Trùng Dương!

Giọng Thưởng có vẻ khẩn cấp:

– Đêm nay hai Đại đội 3, 4 tấn công ngọn 94 cửa khẩu. Bí đường Việt Cộng đã chạy lên đó. Lát nữa gia đình Việt Quốc move về hướng tôi, khi gặp cái nghĩa địa gần chân đồi, dừng lại đóng quân.

– Đáp nhận!

Nghe sắp di chuyển, Trung sĩ Đựng nói:

– Trình Trung úy ký các hồ sơ và cho phép tôi về sớm.

Tôi hạ bút ký một hơi, chẳng buồn xem kỹ mớ giấy tờ như thường lệ. Xong, tôi bảo toán Thám Báo lấy ghe và đem theo cái máy PRC25, đưa Nhị cùng Trung sĩ Nguyễn Đựng qua bên kia bờ đầm. Chợt nhớ lời hứa với chú lính khinh binh Nguyễn Mẫn hôm mùng Một Tết, tôi kêu cho anh ta 4 ngày phép đặc biệt vợ sinh. Mặc dù tôi nghĩ vì cuộc hành quân này còn kéo dài, đầy gian nguy, nay có dịp về thăm gia đình ở Tùng Nghĩa Lâm Đồng, Nguyễn Mẫn có thể đào ngũ luôn không chừng. Nhưng Mẫn cũng là một chiến sĩ xuất sắc phải được ân thưởng công bằng. Ngoài số lương hậu cứ sẽ ứng trước, Mẫn còn may mắn được chia thêm một ngàn đồng nữa, tiền của toán Thám Báo tịch thu Việt Cộng lúc sáng. Mẫn mừng quýnh, như vừa thoát chết, vội đùm túm ba lô súng đạn chạy thẳng xuống bến quên cả việc trình diện tôi để nói một lời từ giã.

Tôi quay qua Nhị, trông nàng có vẻ buồn như lúc chia tay lần trước ở Quán Hồng:

– Đơn vị sắp đi, em về, nghen! Anh gởi lời thăm mẹ.

Nhị nắm tay tôi:

– Em theo anh không được sao?

– Không được đâu, nguy hiểm lắm!

Mặt nàng phụng phịu:

– Lần nào cũng biểu về sớm. Đi cẩn thận, nghe hôn!

Tôi đưa Nhị vừa tới bến, nàng lại dùng dằng muốn đổi ý. Tôi vờ làm nghiêm, nói nhỏ vào tai nàng:

– OK, kỳ sau anh cho em ở chơi hai ba ngày luôn. Kìa, em thấy không, tụi lính đang dòm, anh hôn em không được.

Nhị cười. Tôi ẵm Nhị ra ghe để ngồi vào khoang giữa. Hai đứa miễn cưỡng vẫy tay chào tạm biệt trong lúc bác ngư phủ chống sào xuống bờ quay mũi hướng tây. Tôi đứng trông theo, bỗng nhiên lòng tôi xao động, không muốn ở đây thêm chút nào, để khỏi nhìn lại những gì không phải của ngày đầu xuân yêu dấu với những nụ hoa vàng, ánh mắt long lanh. Phút chốc, khuôn mặt dễ thương của nàng đã mất dạng, chiếc ghe cũng nhỏ dần, chỉ còn một chấm đen nhấp nhô trên sóng nước màu trời, bàng bạc bóng mây muôn hình vân cẩu.

Đại đội cũng bắt đầu rời khỏi con xóm tiến về hướng nam. Lâu lắm, từ ngày triệt thoái khỏi Quảng Trị, nay đơn vị mới có dịp di hành dọc theo bờ biển đêm thanh bạch. Những hàng dương yểu điệu, tưởng chừng như bao chiếc lược chải gió vi vu, những ngọn sóng bạc đầu nhịp nhàng vỗ vào bãi cát đầy trăng lung linh và huyền ảo…

Tôi đang hồi tưởng, thả hồn về lại buổi chiều êm đềm, thì một tràng súng nổ vang phía trước, làm tan biến bao hình ảnh đẹp. Lính tự động dạt ra hai bên.

Trung đội trưởng Trung đội 1 gọi báo lui:

– Trình Đại Bàng, vừa bắn ngã hai tên Việt Cộng.

– Có súng không?

– Chưa biết, xác nằm dưới chớn nước.

Tôi bảo Trung sĩ Thuận:

– Cho anh em tới thêm trăm mét bố trí rồi ra lục soát.

Ba người lính lom khom đi xuống bãi:

– Có hai AK, Thẩm quyền!

– Cầm vô, lẹ đi!

Hiệp trình:

– Nghe tiếng súng, Bộ Chỉ Huy lớn hỏi, em đã báo kết quả. Trùng Dương nói Việt Cộng đang cố tìm cách thoát khỏi vùng này, mình nên lưu ý mặt sau.

– Ừ, bảo Trung đội đầu tiếp tục di chuyển. Còn Trung canh chừng tù binh Nguyễn Thành Công.

Một lát, Thuận gọi:

– Trình Đại Bàng, đã đến nghĩa địa.

Tôi ra lệnh:

– Anh rải lính bố trí mặt tây, Trung đội 2 của Hơn nối tiếp bên phải, bao ngược phía mặt bắc, phần tuyến còn lại thì toán Thám Báo. Tất cả ôm vòng quanh nghĩa địa, khỏi cần đào hố cá nhân, để tránh đụng chạm mả mồ. Mỗi Trung đội đặt một tiền đồn ngay trước.

Hôm nay có thêm hai đệ tử Trung và Xá, thầy trò cùng ban truyền tin vào trải poncho nằm cạnh một cái mả giữa bốn bức tường cao một thước. Tuy không tráng đá li tô hoa hòe rực rỡ như kim tĩnh, nhưng ngôi mộ sạch sẽ, nước vôi chưa tróc, sáng trưng dưới trăng thanh gió mát. Vì đêm tối tôi không đọc được trên tấm bia của người chết khắc tên gì, già hay trẻ. Biết đâu kẻ bạc mệnh là một trinh nữ, sinh thời cũng dịu hiền, yêu đời lính quá gian truân, yêu cả những đóm mắt hỏa châu thế này.

Chiến tranh đã dạy cho người lính nhiều cái quái đản, phải chọn điều mà đời thường không thể lấy đó làm vui.

Ước chi đêm nay có bàn cầu cơ, để hỏi “người ấy” chuyện hão huyền, nơi thế giới vô hình, như Thiếu úy Nguyễn Sang thường chơi. Tôi nhớ ngày Đại đội 2/21 Biệt Động dừng quân ở thôn Cẩm Văn, gần đồi Bồ Bồ Đà Nẵng, Sang sai lính kiếm một miếng nhỏ của gỗ hòm về gọt thành hình quả tim và một tờ giấy ghi 24 chữ cái, với sáu chữ: Tiên, Phật, Thánh, Thần, Ma, Quỉ. Đến khuya ông thắp nhang, rồi bảo Thiếu úy Phước, Trung úy Ẩn và tôi, mỗi người đặt một ngón trỏ lên quả tim, gọi là cơ. Sang khấn lâm râm, đọc “thần chú”, nhưng vái hoài mà chẳng thấy động tĩnh gì hết. Nghĩ tại mấy thằng lính ngồi xem lại cười khúc khích làm mất linh nên Sang bực mình đuổi tụi nó ra ngoài, thì cơ rục rịch, có “ai” về. Chắc hồn ma bóng quế này bị bệnh hoạn, đi chậm rì. Riêng tôi không xạo rồi, đặt ngón tay nhẹ nhàng. Còn Ẩn, miệng cứ mủm mỉm, mấp máy, muốn phì cười to. Một lát cơ trườn tới, chạy quanh chữ “Quỉ” mãi, như gà mắc đẻ. Thiếu úy Phước lắc đầu lia lịa, tỏ ý chê thằng “quỉ” nào nhập ẩu. Tôi nói: “Kệ cha nó, Phước! Quỉ sứ hay cô hồn gì cũng được, miễn nhập vào là vui rồi. Sang tiếp tục vái cầu đi!”. Quách Ẩn nín hết nổi, thình lình ngã ngửa ra sau ôm bụng cười khật khật, chân thì đạp tung bàn cơ, nhang đèn văng tuốt ngoài trại, khiến tụi lính xúm xem quá trời…

Nằm nhớ chuyện vui và nghĩ bậy bạ trong đầu, tôi nổi cười như Quách Ẩn trong đêm vắng. Tưởng đâu tôi bị ma ám, cao bồi Trung mất hồn, vội hỏi:

– Cái gì Đại Bàng cười ghê vậy?

Tôi ngồi phắt dậy, vờ nhún vai:

– Cho tao nằm giữa đi, khiếp lắm!

– Trời, Đại Bàng sợ ma hả?

– Ừ, mày lấy C4 nấu cà phê gấp, kẻo tao run lập cập đây nè. Hỏi Thiếu úy Thiều còn thức, muốn uống không, làm luôn hai ly!

Trung biết tôi đùa, vừa nhe răng cười vừa lòm khòm ngồi dậy đúng lúc các đại đội bắt đầu nổ súng đột kích lên đỉnh 94, nơi cửa khẩu, như Thiếu tá Thưởng nói hồi chiều. Hạ sĩ Hiệp chụp ống liên hợp áp vào tai.

Tôi bảo Văn nội bộ:

– Gọi máy dặn chừng các trung đội, Thám Báo luôn cả tiền đồn canh gác cẩn thận.

Xong, tôi nói mấy người lính chung quanh:

– Ở đây tao không ngán nữa. Bây giờ đứa nào gồng mình kể chuyện ma nghe chơi…

Mấy thầy trò tôi đang đùa giỡn cho bớt căng thẳng thì bỗng đâu Thiếu úy Thiều từ ngoài bức tường nhảy vọt vô cái bịch, làm ba thằng lính giật mình, tưởng âm hồn Ninja dưới mả trồi lên. Thiều ngồi xuống poncho:

– Nghe sắp kể chuyện ma tôi nằm không yên.

Tôi cười:

– Chứ không phải đánh được mùi cà phê sao?

– Cả hai luôn. Hôm trước Đại Bàng kể dở dang vụ Nguyễn văn Khanh, vì bị pháo kích, bữa nay xin tiếp tục…

Thằng Văn truyền tin cũng xúi:

– Đúng đó, kể tụi em nghe đi!

– Chờ có cà phê đã mày. Xong chưa Trung?

– Dạ xong!

Trung để hai ly cà phê nóng hổi trên thùng đạn đại liên, tôi vừa mời Thiều vừa bưng hớp một ngụm, rồi bắt đầu kể lại câu chuyện có thật đã xảy ra tại trại gia binh hậu cứ Liên Đoàn I Biệt Động Quân 1970:

– Đến bây giờ cũng chẳng ai rõ tên thật của người lính trẻ ấy đã một thời làm chấn động khu gia binh Phú Lộc Đà Nẵng. Đồng đội chỉ quen gọi nó là Khanh, Nguyễn văn Khanh, như được khắc trên tấm bia mộ ở Nghĩa Trang Hòa Khánh, Quảng Nam. Sinh thời, lúc 16, 17, nó đã có ý thích đi lính Biệt Động, nhưng chưa đến tuổi, nên nó lấy đại tờ giấy khai sinh của tên Khanh nào đó để tình nguyện nhập ngũ.

Khi Khanh tử thương, hậu cứ Đại đội 2 BĐQ đánh điện về nguyên quán theo giấy tờ thì không tìm ra được thân nhân nó. Chẳng lẽ tất cả đều là ma?

Tôi nhớ năm 1970, tôi làm Đại đội phó Đại đội 2, Trung úy Hồ Dơn Đại đội trưởng. Ngày nọ, một tốp tân binh bổ sung có Nguyễn văn Khanh, 20 tuổi, quê Sài Gòn. Thấy tướng cao ráo, lại đẹp trai, tôi cho vác khẩu đại liên M60 Trung đội 3. Khanh siêng năng, gan lì, không đam mê cờ bạc, gặp môn xóc dĩa thì chơi đôi chút, và nó chỉ thích giở chén nếu cái hô chẵn hay lẻ thừa. Dù ăn dù thua Khanh cũng bỏ đi.

Thấy Khanh cô đơn, thuộc loại con bà sơ, chả bao giờ nghe nó tâm sự buồn “xa quê hương nhớ mẹ hiền”, vợ chồng Trung sĩ Huỳnh Sinh, gia đình đạo Thiên Chúa, thương như em ruột, cho ở chung trong nhà. Mỗi lần đơn vị hành quân về hậu cứ, thú vui của Khanh là ra quán thụt bi da chơi tới khuya, khi về nhà thì bưng đèn xuống bếp đốt lò xô, chiên bánh bột mì ăn, đêm nào cũng vậy. Sinh có đứa con gái cưng, 12 tuổi, rất mến chú Khanh. Nhiều buổi tối cô bé cứ đeo theo coi chú đánh bi da quên cả học hành. Một hôm, đang lúc Khanh lục đục chiên bánh như thường lệ, cô bé cũng đói bụng ngồi chống cằm chờ ăn. Vợ Trung sĩ Sinh tức giận, vì việc này, và đêm nào cũng tái diễn, bà liền chụp cái lò ném tuốt ngoài sân, Khanh lặng lẽ ra lượm vào lấy búa kèm gõ sửa rồi bắt chảo lên bếp chiên bánh tiếp.

Sáng hôm sau, Đại đội hành quân, tảo thanh Việt Cộng tại các xã Hòa Lân, Hòa Hải, Hòa Phụng… là một vùng khá rộng cặp theo bờ biển với núi Ngũ Hành Sơn, Non Nước, do huyện Hòa Vang yêu cầu. Chẳng may Khanh đạp một trái mìn nội hóa, có mảnh trúng ngay háng, không nặng lắm. Đang lúc chờ trực thăng tải Khanh về nhập viện tôi tới ngồi kế bên, vừa đốt cho nó điếu thuốc Capstan vừa nói đùa:

– Khanh nhập viện tao buồn lắm, thiếu một tay xóc dĩa!

Với nét mặt tỉnh táo, nó hít một hơi thuốc:

– Em đau muốn chết, Thẩm quyền còn giỡn.

Rồi một lát, trực thăng đáp bốc Khanh, và mới bay lên cao mấy phút, pilot gọi ngược xuống báo Đại đội biết Khanh đã tắt thở, khiến ai cũng sửng sốt, chảy nước mắt.

Ở Quân y viện Duy Tân Đà Nẵng, dĩ nhiên bác sĩ biết chắc Khanh chết rồi mới đưa vào nhà xác. Sau đó hậu cứ Đại đội 2 BĐQ đánh điện hai ba lần về gia đình Khanh đều được trả lời “không có thân nhân”. Vì vô thừa nhận, đơn vị phải đứng ra mai táng Khanh theo nghi thức quân đội.

Nếu câu chuyện như vậy thì đâu có gì đáng nói, đơn vị tác chiến nào cũng có trương hợp tương tự, lính độc thân, vô gia đình, khi qua đời đơn vị chôn cất. Khanh lại khác, ghê hồn…

Ngày hậu cứ vào bệnh viện nhận xác có vợ Sinh cùng đi. Điều lạ lùng là lúc bà đến gần thì thình lình Khanh nằm trong bao nylon vụt quay mặt qua đưa đôi mắt mở to, trao tráo trắng dã nhìn bà. Hoảng hốt vợ Sinh cắm đầu tuôn chạy. Đó là lần đầu Khanh ma “chào tái ngộ” bà.

Đã chôn Khanh một tháng rồi, vợ Sinh còn liên tục chứng kiến nhiều đêm khủng khiếp. Nó hiện nguyên hình. Cứ 10 giờ tối là có tiếng chân người giậm ba cái trên nóc tôn, rồi Khanh với bộ đồ hoa rừng, đầu đội mũ nâu, nhảy xuống giữa nhà như đi đánh bi da về. Thấy vậy, hai mẹ con nằm trên giường phát run lập cập. Kế tiếp, Khanh bưng cây đèn dầu nơi bàn xuống bếp, lấy dao búa gõ lốc cốc, giống lúc còn sống sửa cái lò xô vậy. Xong, nó mồi lửa chiên bánh. Khi sống siêng năng bao nhiêu, nay chết Khanh lười bấy nhiêu. Nó bày ra nấu nướng, ăn xong chẳng dọn dẹp chén bát, cây đèn không đem lại bàn, cái lò xô cũng để lửa cháy xanh lè, Khanh vội phóng lên nóc nhà “thăng thiên”. Anh chàng Ninja Mũ Nâu này chỉ chơi độc có ngón đó…

Kể tới đây thấy hai thằng Trung và Văn ngồi co rúm, mồm thì há hốc, tôi vụt hù to: “í à!” một tiếng rồi ụi lẹ vào giữa hai đứa nằm chùm hum. Cả đám giựt mình.

– Đại Bàng làm hết hồn!

Tôi cười ha hả:

– Biệt Động Quân gì yếu vậy?

Trung lắp bắp:

– Biệt là Biệt với ai chớ Động tới ma, Quân nào chả ngán? Đại Bàng kể tiếp đi mà!

– Thì cứ vậy, Khanh đêm nào cũng biểu diễn các động tác đó. Mấy tiếng kêu lốc cốc là Khanh lụi hụi sửa cái lò hư như khi còn sống. Bữa đầu bất ngờ thấy nó xuất hiện cầm cây đèn xuống bếp, lúc đi ngang qua giường hai mẹ con, tội nghiệp cô bé đang nằm lại mừng, quên mất Khanh đã chết khá lâu, buột miệng kêu to:

– Mẹ!… Mẹ!… Chú Khanh kìa!

Vợ Sinh vội bụm miệng nó:

– M…a!…

Hoảng hồn bà vội mò tìm xâu chuỗi dưới gối để niệm kinh. Niệm kinh là chuyện đạo của bà, Khanh vẫn chiên bánh ăn no thôi. Sáng sớm hôm sau, vợ Sinh lật đật dắt con “di tản chiến thuật” qua hàng xóm, tối về chịu trận, chứ rủ ai cũng không dám tới nhà ngủ.

Thế rồi tin đồn lan ra, Sinh đang ngoài hành quân, viết thư khuyên vợ: “Em chớ tin ba chuyện vớ vẩn. Chắc mình thương Khanh quá bị ám ảnh, chứ ma quỉ gì? Nếu em để đồn đãi rùm beng, ông chú biết được vào đập chết đó”. Gia đình công giáo dòng, lâu đời, gốc La Vang Quảng Trị, lại chưa bao giờ thấy ma lần nào, nên Huỳnh Sinh cho nhảm nhí. Nhưng Khanh vẫn về nhát hai mẹ con hoài. Có đêm sợ quá bà run lập cập thành tiếng to “hừ hừ”, làm ma Khanh đi sát cạnh giường nghe, liền đưa cây đèn vào soi sát mặt, bà thêm chết điếng. Bà viết thư hối chồng: “Nếu anh không về gấp, mẹ con em sẽ điên mất. Khanh dòm sát mặt em luôn”. Đọc thư khẩn báo, Sinh đâm rối trí, bán tín bán nghi, đến tôi tâm sự, và nhờ xin Đại đội trưởng cho Sinh đi phép. Tôi giúp ngay. Nhưng gặp ông Trung úy Hồ Dơn khó tính thấy mẹ, chẳng màng chơi hoặc tìm hiểu thuộc cấp, ông lại cự tôi:

– Anh nữa, cứ mắc lừa ba thằng lính xạo. Chúng luôn luôn phịa chuyện mà vẫn tin.

Bất đắc dĩ tôi phải thêm mắm thêm muối:

– Vợ con Trung sĩ Sinh đã thật sự bị khủng hoảng tinh thần. Đại đội còn đây lâu, Trung úy vui lòng cho ông ấy về nhà vài hôm giải quyết chuyện gia đình, sau này mình khỏi ân hận…

Trung úy Dơn trợn mắt:

– Gì ân hận? OK, đi đi, lên trễ chớ trách tôi!

Được chấp thuận Sinh vội nhảy lên chiếc trực thăng vừa đoå hàng tiếp tế xuống. Đến nhà Sinh tỏ vẻ bình thản ngồi ăn cơm chiều, tới tối lại làm oai nằm ngoài bìa giường lý giải chuyện khoa học cho vợ con nghe. Rồi mới mười giờ tối, đang lúc mọi người còn thức, khu gia binh Phú Lộc còn sinh hoạt ồn ào, thì có tiếng đùng đùng trên nóc tôn báo hiệu Khanh “giáng trần”. Là một tay Ninja thứ thiệt chăng, vẫn bộ chiến phục rằn ri oai phong của Biệt Động, như lúc đột kích đêm ở Phong Thử mấy tháng trước, chỉ thiếu cây Đại liên M60 thôi, Khanh biểu diễn ngay một đường lả lướt là cầm đèn xuống bếp đốt lò xô cháy sáng. Lúc bấy giờ Huỳnh Sinh mới thấy rõ thằng em tinh thần, vội ôm cứng vợ con co rúm nơi góc giường, miệng thì lập cập cầu nguyện. Hình như đã ăn bánh rồi và trước khi thăng thiên, Khanh cũng ba gai, chẳng thu dọn “chiến trường” gì cả, để nồi niêu xoong chảo lung tung.

Trung sĩ Sinh còn dạn dĩ, nửa đêm dám ra quán mua nhang đèn vàng bạc. Bà chủ quán đã biết câu chuyện ma Khanh vẫn hỏi móc:

– Uïa, chú công giáo, mua đồ cúng ai vậy?

– Đâu có! Tôi bắt chước thiên hạ tối nên thắp nhang để ấm nhà ấm cửa.

– Chớ không phải vái thằng Khanh sao?

Sinh im lặng quay về, đốt nhang đứng quay mặt ra đường, lâm râm: “Khanh ơi, sống khôn thác thiêng, hồn còn lẩn quất đâu đây, đừng về nhát chị và cháu nữa, cũng đừng lấy dao lấy búa… sửa hoài cái lò xô méo mó ấy, ghê quá! Vợ chồng anh hứa đến ngày kỵ cơm em đàng hoàng, Khanh ạ!”.

Quả thật, Nguyễn văn Khanh bỏ nghề Ninja. Gia đình Sinh không phải tối nào cũng run lẩy bẩy, sáng nào cũng dọn dẹp, tắt lửa, rửa chảo… cho chú ma dễ thương!

Hai hôm sau lên hành quân Sinh trình diện, tôi hỏi:

– Chuyện thế nào?

Thấy có người đứng gần, Sinh đáp:

– Họ đồn nhảm thôi!

Chưa kịp hiểu ý, tôi tức giận:

– Này, đừng bao giờ xin đi phép nữa, nghe chưa?

Sinh nháy mắt tôi ra ngoài phân bua:

– Xin lỗi Thiếu úy, sợ tụi lính nó nghe nên tôi nói vậy, chứ Khanh hiện ma thật. Tôi kể để Thiếu úy biết thôi, đừng nói ai. Ông chú ở La Vang hay được là chết, dù lớn đầu, có vợ con mặc kệ, ổng cũng đập như trâu.

Trung sĩ Huỳnh Sinh thuật lại đầu đuôi câu chuyện rồi kết luận bằng một hơi than thở:

– Thằng Khanh chắc nó điên, quậy vợ con tôi dữ quá! Lúc Khanh còn sống, tôi có làm khó dễ gì nó đâu. Bên Phật giáo cũng vậy chớ, Thẩm Quyền?

Tôi làm bộ nghiêm nghị:

– Trời, ma mà kể chi ai, bộ nó ớn đạo à?…

Đột nhiên, một trái hỏa châu 105ly nổ bùng sáng chói trên bầu trời, tôi chợt nhớ ông bạn tù Nguyễn Thành Công, vội đập vào vai thằng đệ tử Huỳnh văn Trung:

– Thấy mẹ, mày chạy coi con ma Việt Cộng ấy còn không, hay đã thăng thiên theo thằng Khanh rồi?

Trung coi bộ lạnh cẳng, thò thụt cả đỗi mới ra khỏi lều. Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn cũng gọi máy nhắc 4 đại đội canh gác cẩn thận. Câu chuyện ma Nguyễn văn Khanh, từng làm chấn động khu gia binh Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân Phú Lộc, phía bắc thành phố Đà Nẵng, phải được chấm dứt để anh em ngủ, mai tiếp tục đi “cày” sớm.