Tiểu Đoàn Trừng Giới

Heinz G. Konsalik

Nguyên tác: Straf-battalion 999

Tâm Vũ dịch

Nhà xuất bản: Thùy Dương 1973

Post by Sơn râu 22 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 1.

Sáng hôm đó, Julia Deutschmann n ông rất dễ chấp thuận sự giúp đỡ nếu người khẩn cầu là một phụ nữ xinh đẹp. Nàng cũng chẳng phải cố gắng nhiều lắm vì nàng đã đẹp sẵn dù cặp mắt có bị quầng đen vì thức đêm và đôi môi hơi nhợt nhạt. Một chút son, một chút phấn, vài nhát bàn chải trên mái tóc đen, cuộn thành lọn, buông lơi. Nàng mặc bộ quần áo thật giản dị, rất vừa vặn và chợt nhớ ra là Ernst đã chọn vải này. Một thoáng mơ mộng về kỷ niệm, nàng xỏ chân vào đôi giày gót cao, màu sắc cân xứng, liếc mắt kiểm điểm lần chốt trong gương rồi đi ra.

Tới cổng tòa nhà đồ sộ, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội Quốc Xã Đức (Wehrmachl nàng đưa tờ giấy cho anh lính gác. Anh ta đọc thật lâu và thật cẩn thận mặc dầu tờ giấy rất ngắn: vỏn vẹn có 3 giòng mời nàng tới trình diện Tướng von Frankenstein.

Trong căn phòng phía trước, một Thiếu-úy trẻ đập gót chân chào nàng và nhanh nhẩu xin dẫn nàng lên lầu hai. Anh ta ngừng ở đầu hành lang trước một chiếc cửa lớn bằng gỗ sồi, chiếc cửa có vẻ như mở sang một thế giới khác, thế giới mà số phận Ernst sẽ được định đoạt, một thế giới xa lạ thù nghịch,và bí ẩn. Một tấm bảng bên cạnh cửa ghi: Bodo v. Frankenstein.

Viên Thiếu-úy nói.

– Đại-Tướng chắc sẽ tiếp bà ngay. Tôi sẽ xin báo cho bà biết. Thưa bà, bà vui lòng đưa cho tôi tờ giấy mời.

Julia đưa cho anh ta. Một lát sau, anh trở lại, rõ ràng là có vẻ cứng cỏi hơn, dè dặt hơn.

– Chờ một phút. Người ta sẽ gọi tên bà.

Chẳng còn “Thưa bà”, chẳng còn chào hỏi. Anh ta bỏ đi thật nhanh. Đôi bốt nện ròn trên hành lang. Julia tự nghĩ với nỗi chua chát: “Vậy đó, chỉ riêng cái tên Deutschmann cũug đủ làm hắn ta thay đổi lạnh lùng như băng đá !”

Nàng ngồi trên chiếc ghế gỗ tồi tàn ở hành lang. Nửa giờ sau chiếc cửa nặng nề mới mở. Đầu người Thư ký trẻ hiện ra ;

-“Bà Deutschmann?”

-“Dạ tôi đây”.

-“Đại-Tướng mời bà vào”.

Tướng von Frankenstein tiến lên ba bước trước mặt nàng khi nàng bước vào phòng thứ hai, rồi ông đột nhiên đứng sững lại như một thứ đồ chơi bằng máy mà bị đứt lò so. Ông ta khẽ nghiêng mình:

-“Thưa có phải bà Deutschmann?”

-“Dạ đúng, Thưa Đại-Tướng”.

-“Bà có nộp một lá đơn xin ân xá cho chồng bà?

-“Dạ đúng như vậy.”

-“Tại sao”?

Julia nghĩ rằng, tiếng nói của ông này cũng răng rắc như đôi bốt của anh Thiếu úy. Nàng ấp úng :

-“Vì…. vì nhà tôi bị bắt lầm và bị tuyên xử phục vụ trong một Tiểu-đoàn Trừng Giới…. Tôi không biết bây giờ nhà tôi ở đâu”…

-“Chẳng có truyện sai lầm nào cả.”

-“Nhưng….”

Viên Tướng nghiêng mình một lần nữa và nói:

-“Xin lỗi ngắt lời bà”.

Hiển nhiên, đây là một Sĩ-quan thuộc lớp cũ mà chỉ gần đây người ta dạy cho Sĩ-quan trong mọi trường hợp phải tỏ ra lịch sự với các bà. Julia rõ ràng là một bà hẳn hoi, dù là một bà có chồng mang tên Bác sĩ Ernst Deutschmann. Điều đó ai chẳng thấy ngay.

Nhưng rồi ông Tưởng cũng mỉm cười và tiếp :

-“Thưa bà, chính bà cũng là một bác sĩ và tôi khỏi cần phải giải-thích để bà rõ. Không có chuyện sai lầm. Đó không phải là ý kiến riêng của tôi khi tôi nói như vậy, mà là kết quả của một điều tra do các nhà chuyên môn nổi tiếng thực biện. Chúng tôi không hành động nông nổi bao giờ. Quân đội Đức không có tính cách như vậy. Trường hợp của chồng bà đã được xem xét một cách khoa học và kết thúc minh bạch : tự hủy hoại thân thể bằng cách chích vi khuẩn Sta… Sta…………”

-“Staphylocoques”

-“Đúng thế”.

Giọng nói thực dõng dạc. Viên Tướng trở lại chiếc bàn giấy uy nghi. Một vệt nắng chiếu qua bức màn làm sáng rực những nẹp đỏ trên quần ông. Tới đằng sau chiếc bàn ông ngừng lại tay nắm để trước mặt, đầu hơi cúi. Ánh mắt Julia từ từ ngước nhìn lần lượt đôi bàn tay nổi gân của ông ta dọc theo chiếc áo màu xám, nhấp nhánh, ngưng lại một chút trên chiếc Bội tinh anh dũng hạng nhất của thế chiến I, màu đỏ với nhành lá sồi vàng. Ánh mắt của Julia tiếp tục nhìn sang chiếc huy chương khác, rồi đến chiếc cà-vạt Phần-Lan, chiếc cổ xếp nếp, bộ mặt xương xương, lạnh lùng, cho tới cặp mắt xanh lợt, mi đỏ duới chiếc trán

nhăn và bộ tóc cắt ngắn dựng dứng. Julia nhìn thẳng vào cặp mắt:

-“Chính vì tôi là một bác sĩ và tôi đã giúp đỡ công việc cho nhà tôi nên tôi mới càng chắc chắn về sự lầm lẫn của Đại-Tướng. Chưa có ai đã dám làm như nhà tôi. Để có thể cứu giúp cho nhiều người khác, nhà tôi đã thực hiện một cuộc thí nghiệm ngay trên thân thể mình. Đó sự thật là thế. Nhưng người ta đã bắt giữ anh ấy như một tội nhân và xử phạt. Vì vậy tôi đã nộp đơn xin ân xá cho nhà tôi, “

Vị Tướng trả lời với vẻ bồn chồn:

– “Sự việc còn có thể trở nên tai hại hơn cho ông ấy. Thưa bà, bà nghe tôi đây: Chồng bà là một nhà bác học nổi tiếng. Vì vậy, đầu tiên chứng tôi đã miễn nghĩa vụ quân sự cho ông ấy. Nhưng có thể chúng tôi phải gọi ông ấy. Thế là ông ấy tự chích cho mình cái… cái bệnh đó. Như vậy là một hành động hủy hoại, khỏi cần bàn cãi gì nữa. Và ông ấy bị xử phạt phải phục vụ tại Tiểu đoàn Trừng Giới, một đơn vị của quân đội Đức cũng như những đơn vị khác. Cho tới khi nào mà ông ấy chứng tỏ được lòng dũng cảm, ông ấy sẽ được thuyên chuyển. Như vậy người ta có thể chắc chắn ông ấy sẽ thoát khỏi nơi đó tới chỗ tốt đẹp hơn.”

Julia hỏi lại, biết rằng những lời nói của minh với con người này sẽ nẩy ngược lại như những viên đạn gặp bức tường:

– “Tôi nghe nói… nghe nói rằng Tiểu đoàn Trừng Giới 999… “

– ” Bà nghe nói như thế nào? “

– ” Những người ở Tiểu đoàn này bị ngược đãi hết sức, coi như những tội nhân… “

Vị tướng giơ tay một cách oai vệ và nói bằng giọng lạnh lùng:

– ” Ông ấy là một quân nhân. Bà đừng có nghe những lời đồn như vậy. Trong quân đội người ta phải chiến đấu. Hàng triệu người khác từng chiến đấu từ nhiều năm nay. Đó, tôi chỉ có thể nói với bà tất cả như vậy “.

Julia nói yếu ớt:

– ” Dạ…”

– “Bà thấy không, việc bà tới đây thực hoàn toàn vô ích. Tiểu đoàn 999 cũng là một đơn vị như những đơn vị khác. Tôi xin nhắc lại điều đó. Ông bà phục vụ ở đó hoặc ở nơi nào khác…”

– ” Dạ “.

– ” Vậy thì chẳng có gì cần phải nói nữa “.

Vị Tướng gập hồ sơ lại, ngước mắt lên và lại mỉm cười…..

Julia đã ra qua khỏi chiếc cửa lớn bằng gỗ sồi…

Julia đứng tựa vào chiếc cửa sổ bên cạnh. Nàng nghĩ: “Anh ấy phục vụ ở Tiểu đoàn 999 hay nơi nào khác.. Anh ấy là quân nhân như hàng triệu người khác. Anh ấy phải chứng tỏ được lòng dũng cảm, rồi thì… Ernst ! Ernst yêu dấu…”

Tất cả diễn lại trong đầu óc nàng : những tuần lễ phấn đấu tuyệt vọng và vô ích dài lê thê, những đêm thức trắng, rồi hồ sơ, phán quyết, rồi toan tính xin tái thẩm, cuộc tranh đấu dài với những người đã kết tội anh ấy, người nào cũng ngoan cố như viên Tướng vừa rồi, những nỗi lo ngại hoảng hốt, sự từ chối ít hay nhiều phũ phàng và tới hôm nay là sự tiêu tan của mối hy vọng chót! Nàng cảm thấy như bị cuốn trôi trong cơn tuyết đổ. Mắt trừng trừng nhìn vào quãng không, nàng không hiểu gì nữa, tâm thức nhạt nhòa dần dần….

Viên Thiếu-úy,trẻ tuổi với đối bốt kêu lách cách huýt sáo tiến lên thang lầu. Bước tới bậc chót, anh thốt nhiên ngừng lại, ngừng huýt sáo, môi mấp máy, kinh hãi nhìn hình thù nằm sóng sượt trước cửa phòng vị Tướng. Thế rồi, anh ta chạy, mới đầu còn ngập ngừng sau phóng thẳng.

Julia nằm yên, bất động. Những mẫu khăn mùi soa rách còn lắt lay trên cặp môi hé mở.

Trại Fridrichlust, căn cứ chính của Tiểu đoàn 999 ở ngay đầu tỉnh Posen, trên đường đi Kostzyn. Không biết ai đã đặt tên đó cho những căn trại bằng đá, đồ sộ, buồn nẫu này. Một cái tên nhắc nhớ đến những khu rừng trong sáng, những tiếng kèn săn, những tiếng sủa của bầy chó săn và những kỵ sĩ lãng mạn. Tên đó được ghi trên một tấm bảng đã hư mòn vì thời tiết, đặt cạnh điểm gác và chiếc rào cản di động ngăn cách quân trại với thế giới bên ngoài.

Đang mùa thu. Mưa bụi bay dưới nền trời xám nặng.

Cùng lúc này khi mà ở Bá-Linh, cách xa bao nhiêu cây số, viên Thiếu-úy đang cúi xuống hình thù bất động của Julia, thì ở đây, Thượng Sĩ Nhất Kruil, thuộc đại-đội 2, Tiểu đoàn 999, đứng ngay trước cổng ra vào, chờ đợi những tên lính mới tới để dành cho họ một sự đãi ngộ mà ông gọi là “cuộc tiếp đón xứng đáng”.

Trước hết, ông đáp lại những người quân cảnh bằng một cái chào hờ hững như muốn bảo họ:”Các anh đừng ngại gì cả. Kế từ giờ, tôi sẽ liệu cho bọn nó, những thằng cha này sẽ được đối xử xứng đáng với chúng”.

Bốn người được lệnh xếp hàng theo thứ tự lớn nhỏ cạnh đội lính gác. Ông Thượng-Sĩ lông mày nhíu lại dưới chiếc mũ kết hơi lật về phía sau, khoan thai ngắm nghía họ từ trái sang phải, từ người lớn nhất đến người nhỏ nhất, từ trên xuống dưới rồi từ dưới lên trên. Ông ta có vẻ bực bội, bộ mặt tròn, núng nính, lộ vẻ khỉnh thị.

Ông gục gặc đầu như đã tìm thấy một sự khẳng định nào đó, ông quay sang hỏi người cao lớn nhất ở bên trái;

– Tên?

– Gottfried von Bartlitz.

Người vừa trả lời có mái tóc hoa râm, cặp mắt lõm hẳn trong lòng mắt, hai nếp nhăn hẳn sâu hai bên cánh mũi bao quanh chiếc miệng nhỏ với cặp môi lợt lạt. Nước mưa chảy xối xả trên mặt anh ta. Chiếc áo khoác ngắn thành quá rộng so với anh, đã ướt sũng nước mưa.

Thượng sĩ Krull cất tiếng:

– Chà! Họ von! Tướng lãnh hả?

– Dạ! Binh sĩ.

– Còn tao, tao cũng là binh sĩ, hả?

– Không. Ông là Thượng-sĩ nhất

– Rất đúng. Tao là Thượng-sĩ nhất. Và tao vừa trở thành má mày đó! Nào, bây giờ mày là ai? Tên mày là gì?

Ông Thượng-sĩ rống lên, tay chống nạnh. Người vừa bị la, trả lời mặt tỉnh khô:

– Binh nhì Gottfried Von Barllitz, trình diện Thượng sĩ.

Krull ra lệnh như muốn khạc ra tiếng nói:

– Nằm xuống!

Ông ta im lặng đi vòng quanh anh lính, lấy chân đẩy anh ta vào vũng nước, ngắm một lúc rồi trở lại đứng thẳng trước mặt mấy người khác. Ông hỏi người thứ hai;

– “Còn mày?”

– “Binh nhì Ernst Deutschmann, trình diện Thượng-sĩ,”

– “Nghề nghiệp?”

Deutschmann ngập ngừng

– “Y-sĩ, thưa Thượng-sĩ.”

– “Bác-sĩ hả?”

– “Dạ đúng, thưa Thượng-sĩ.”

Thượng-sĩ Krull ngắm nghía con người gầy ốm trán rất cao, mặt vàng vọt xanh xao, cặp mắt đầy lo sợ. Ông ta nhún vai, nhổ bãi nước bọt sang bên cạnh và lại thét:

– “Bác-sĩ với chẳng Bác-sĩ, mày là thằng lính, Nghề nghiệp của mày đó! Nằm xuống!”

Binh nhì Ernst Deutschmann, Y-khoa bác sĩ, nhà sinh hóa học, giáo sư diễn giảng tại Đại- học Bá-Linh, nhà bác-học nổi tiếng, tác-giả nhiều bài khảo luận được chú ý trong tập san y-học, theo lệnh nằm xuống và khép hai gót chân lại.

Viên Thượng sĩ gật gù nói thêm: “Ông binh nhì bác sĩ!” rồi quay hỏi người thứ ba.

– “Binh nhì Erich Wieđeck, trình diện Thượng sĩ”.

Viên Thượng sĩ vẫn tiếp tục la hét, nhưng Deutschmann không hiểu ông ta nói gì. Anh nằm yên, mặt gục trên cánh tay, mưa xối xả trên gáy anh, gõ nhịp trên lưng anh. Anh đang nóng lạnh. Ngay trước mắt anh một con kiến lạc lõng đang trèo lên viên đá cuội ẩm ướt. Anh nghĩ: “Phải còn lâu mình mới khỏi hẳn được”, rồi anh nghe thấy tiếng người thứ ba đến nằm bên cạnh.

Thượng sĩ Krull đang đứng trước người thứ tư. Anh này người tầm thước nhưng cũng vạm vỡ như ông Thượng sĩ. Tuy nhiên, Thượng sĩ thì béo mỡ, còn anh ta thì bắp thịt dầy và nổi phồng, tràn trề sinh lực trong mỗi cử động dưới chiếc áo khoác ngắn chật chội. Chiếc ngực nở nang căng phồng trên chiếc bụng dẹp. Trông anh ta như một khối đá được đẽo gọt thô sơ và khuôn mặt giống như chiếc mặt nạ bằng đất sét vừa được nắn sơ qua: chiếc trán thấp dưới mái tóc đen cắt ngắn, cái mũi tẹt và chiếc cằm bạnh của những tay anh chị quen giết chóc. Hắn mỉm cười bằng cặp môi, riêng đôi mắt hình như vẫn u tối, không hồn, giống như hai hòn bi ve.

Viên Thượng sĩ nói;

– “Được lắm… Mày có bộ mặt cô hồn đó”.

– “Thế mà, tôi đã đoạt giải thi sắc đẹp… chỉ thua có Thượng-sĩ. Tên tôi là Karl Schwaneeke. Còn ông, ông là thứ Thượng sĩ đồ bỏ, thôi bây giờ tôi đi nằm.” Hắn phát ra một cử chỉ như muốn đến nằm cạnh mấy người kia, nhưng Krull sững sờ, chết điếng, bảo hắn đứng thẳng. Karl Schwaneeke nghe theo, đứng ngay ngắn, mỉm cười nhìn viên Thượng sĩ trong khi ông ta không nói không rằng một lúc lâu.

Có trời biết ông ta đang nghĩ gì. Có lẽ ông chẳng nghĩ gì, vì đầu óc ông như bị tê liệt. Suốt cả đời, chưa bao giờ ông ta nghe thấy những lời như vậy, Tuy rằng chẳng thiếu những tên “lì” trong cái Tiểu đoàn khốn kiếp này, gồm cả những người thuộc thành phần trí thức ưu tú lẫn những tội nhân thường phạm mà người ta muốn trừ khử đi bằng cách đưa đến đây, nhưng chưa hề ai dám nói với ông, Thượng sĩ nhất Krult, một cách như thế. Ông ta chưa biết phải làm thế nào. Thế là ông văng tục. Đó là giải pháp tốt nhất và chỉ cần văng tục một hồi là sẽ nảy ra ý kiến hay. Mục lục về các câu chửi thề của ông rất phong phú. Trong cuộc đời binh nghiệp, ông đã được nghe rất nhiều câu chửi và ông lại có trí nhớ xuất sắc. Vả lại, với vấn đề này ông có một thứ tưởng tượng sáng tạo và một giọng nói chát chúa lắm tăng thêm mãnh lực cho những câu chửi thề mà ông tìm ra. Đức tính đó kèm theo với sự tận tụy, sự khắc nghiệt khó lay chuyển của ông làm cho ông nổi tiếng, và nhờ đó ông như bắt rễ vào Tiểu đoàn trừng- giới này. Một người như ông, hơn ai hết, phải thành công đối với những phần tử kẻ thù của dân tộc và những bọn ác ôn côn đồ đủ loại như vậy. Ông đã đáp ứng một cách thiết thực tất cả những hy vọng đặt ở nơi ông.

Tuy nhiên, trong lúc này, trí tưởng tượng của ông lại bị kẹt mà ông thì chẳng mấy khi tập điều hành khối óc. Chiến cuộc đã đến lúc toàn diện mới phải để cho những loại người như Schwanecke mặc quân phục. Trước kia, người ta nhốt bọn này vào ngục tối hay đem thủ tiêu đi tùy theo trường hợp. Thượng sĩ Krull tuy rằng không thiếu kinh nghiệm vẫn cảm thấy vô phương và ông ta đành che đậy bằng những tiếng la hét vô nghĩa, miệng mở lớn, mặt đỏ gay, mắt nhắm lưng chừng. Tiếng nói chát chúa vang dậy khắp chiếc sân rộng làm im lặng cả một dẫy nhà xám của doanh trại. Duy chỉ có Karl Schwanecke vẫn giữ nụ cười. Cuối cùng rồi Thượng sĩ Krull cũng ngưng và lẫn với tiếng nước xối của ống máng, có tiếng hát của đoàn quân di hành.

Đây là dịp thoát nạn cho Krull. Với khả năng đặc biệt của những người lính già biết thích ứng với mọi trường hợp, ông ta ngưng hẳn những tràng tiếng văng tục, chửi thề, nhìn đồng hồ tay so với đồng hồ ngoài điểm canh, hất đầu về phía Schwanecke vẫn đang mỉm cười, cho phép anh ta nằm xuống và ông lại gần chỗ hàng rào.

Bốn anh lính mới nằm sóng soài trong bùn và dưới mưa.

Đó là buổi đầu của Bác sĩ Ernst Deutschmann tới Tiểu đoàn trừng giới 999. Mắt theo dõi con kiến lạc lõng, thân thể run lên bần bật, anh cố chống lại cơn buồn nôn và lắng nghe tiếng hát quân hành đang tiến gần tới….

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 22 Aug 2024

Google photo

18. Hí nghệ Cải Lương – Kết

Ông Lương Khắc Ninh diễn thuyết tại nhà hội khuyến học Sài Gòn. Ngày thứ tư 28 tháng ba 1917 đúng 8 giờ tối có khai trương diễn thuyết tại nhà hội Khuyến học Sài Gòn. Có quan bác vật Bùi Quang Chiêu là Đổng lý hội, quan phủ Nguyễn Văn Hải phó Đổng lý, quan huyện Lê Bá Trang tư văn hội, quan huyện Đinh Trường Cửu, quan huyện Lê Thành Long, quan huyện Nguyễn Văn Của và nhiều hội viên chứng dám. 
Trước hết quan Đổng lý hội đứng dậy tỏ ít điều cùng hội viên rằng hội Khuyến học vẫn là hội lập để mà hóa dân để làm cho trong nước được mở mang hầu có dõi bước văn minh một ít. Ấy vậy, hội chẳng phải để mà khuyến khích văn chương mà thôi, hội cũng dốc sức cho nhân dân nong mả theo nông thương kỹ nghệ nữa. Vậy hí nghệ là một nghề nền cải lương, lại ông Lương đại Nhơn là người rành nghề sẵn lòng giải nghĩa cho rõ ràng xin các hội viên hãy hết lòng nghe ngài trần thuyết. 
Rồi đó ông Lương đại Nhơn lên diễn đàn trứơc xin lỗi viên quan chức sắc mấy ông, mấy thầy rằng chẳng phải tự xưng thông thạo mà dám làm nhọc lòng mấy ông mấy thầy, song xét vì ngài tuổi quá năm mươi lại làm bầu gánh nên từng trải một ít trong nhà nghề xin dẫn ra cặn kẽ, sau ngài khởi ra nói về nghề hát. 
Ngài nói rằng hát xướng thuở xưa tại trong cung cấm bày ra. Trước hết thì là đờn ca nghe cho êm tai, sau lần lần chế biến, sắp ra có đào kép múa men chơi, chỉ muốn giúp vui cho người coi mà thôi. Sau nữa các đấng tiên hiền đặt tuồng ra, có đủ tam cang ngũ thường, sắp đặt lớp lang rành rẽ, ban đầu để cho kẻ vạy hành hung người ngay mắc nạn, rốt lại thì người ngay được hưởng, đứa nịnh bị trù. Chủ ý cổ nhơn là muốn răn đời. Thử xem điều này thì biết: các ông có thấy như hát lối người ngay phải lắm lúc tai bay họa gởi, chạy đầu này bị dèm siểm, qua bên kia bị hiếp đáp, kiếm đường đi lánh thân mà kẻ nịnh còn rượt theo mà muốn giết. Thấy như vậy, ao ước trông cho có người đến mà giải cứu kẻ phải lâm nạn, dầu cho đứa hung hăng đãng tử ở nhà ăn cướp giựt đồ người, đến đó rồi thì nó cũng có chút đỉnh lương tâm mà thương hại cho người lâm cơ thất thế. Rất đỗi là kẻ vô lương vô khái còn vậy thay huống chi là bực lương thiện? Thấy được như vậy rồi, chắc sao người coi về cũng suy nghĩ mà tu lành lánh dữ. Ấy là cuộc hát của cổ nhân. 
Đương thời đây gánh hát thiếu chi, một tổng có chỗ có tới hai ba gánh, người lập gánh hát bầu thì lo kiếm lợi, bạn hát thì làm có chừng đó đặng lãnh tiền mà ăn hút thôi. Lại như vầy nữa: bạn hát hay mượn tiền của bầu khi năm ba đồng, khi năm bảy chục lần lần thành ra đôi ba trăm, lấy chi mà trả. Chừng ấy chỉ có hát mà trừ nợ làm sơ sịa đó thôi, có ráng đâu mà trả nợ. Dường ấy biểu sao không hư không tệ. Người An Nam ta thuở nay vẫn cho nghề hát là nghề hạ tiện, nên người có học thức một ít thì không làm, để cho kẻ ngu dốt nó hát. Vì cái dốt ấy nó làm cho mấy chú kép làm một một ông quan cũng không ngồi cho vững, bộ tịch lất khất, đọc một cái thơ phùng mang, trợn mặt, phun râu và làm nhiều chuyện dễ cho trang thức giả đến coi rất hổ. Đã vậy, chúng nó lại tưởng mình hay, mình giỏi vẽ cái mặt vằn vện cho nhiều là tốt, ngồi giữa rạp nói cho lâu là hay, không chịu sửa, có dạy cách lịch sự cho cũng trơ trơ. Ấy vậy là cuộc hát kim thời, ngài tưởng rằng nếu muốn cải lương, chẳng phải bắt bọn đó mà cải lương được. 
Muốn cải lương phải làm sao? 
Theo ý ngài, người An Nam ta chẳng phải thông minh hơn các nước, song có đủ lực mà hành sự. Như văn chương Lang sa là khó, mình học được, bác vật có người học rồi, có lý nào các môn học thức ấy ta theo được mà nghề hát ta chẳng theo được sao? Vậy thì làm vầy: Phải có người biết học ra đi hát. Chẳng phải hát tuồng xưa, khơng vẽ mặt vẽ mày, cũng không ăn mặc loè loẹt đỏ đen như kép hát bây giờ đó. Người đi hát ấy là ai? Ban đầu chẳng phải lập ra một lần cho rành rẽ, cho đủ điệu được. Vậy tôi (mất một vài chữ trong bản chính) nhiều thầy trai trẻ có sở ăn sở làm (mất hai chữ trong bản chánh ) đóng tiền còn hẹp đến mấy nhà buôn xin làm đêm làm giờ. Chớ chi một ít thầy hiệp lại, nhơn công một tuần chừng ít giờ tập hát theo tân thời trước là chơi, hai là có tiền mà xài, ba nữa là cải lương cái điệu hát. Chuyện nói đây không phải khó, đó học trò trường Taberd đến lúc phát phần thưởng nó ra hát theo Lang sa, bộ tịch như Lang sa. Rất đỗi là hát theo ngoại quốc,trẻ em còn làm được huống người An Nam mà hát An Nam không được sao? Chừng lập được một gánh hát như vậy rồi, ắt người Lang sa, Chà Chệt, khi nào rảnh việc sao cũng đến mà coi hơi, bỏ sự đến rạp hát phải mắc cỡ mà xem trên nóc nhà chớ khơng dám ngó hát bội. 
Lúc ấy có ông Diệp Văn Kỳ là trưởng tử quan hàn lâm trực học sĩ Diệp Văn Cương đứng dậy xin lỗi mà hỏi ông đại nhơn rằng: 
– Ngài nói nghề hát có ích, nên sửa mà theo ý tôi thì lúc này chưa nhằm thời. Lúc này nghề nông ta còn trễ bước, kìa Đồng Tháp Mười hãy còn đất hoang nhiều không ai khai phá, kỹ nghệ lại không, may nhờ có quan bác vật Bùi Quang Chiêu thiết lập hội dệt tơ tại Tân Châu đó mới có một hội kỹ nghệ. Nông thương kỹ nghệ là đồ cần nhứt mà khơng lo hóa, để cải lương cuộc hát là đồ chơi không ích lợi không cần cho lắm, để lại về sau tưởng không hại chi. Huống chế sửa nghề hát theo ý ngài muốn đó, có nhiều chỗ khó. 
Một là trong cuộc hát phải có nhạc, mà nhạc An Nam còn phải sửa, vậy ai là ông nhạc sư ra sửa nhạc? 
Hai là tuồng đặt xưa nay thì ta dùng văn chương, dùng quốc tự. Vậy nay muốn sửa lại, ai là ông văn nhân đặt tuồng, ai là ông Corneille, ai là ông Moilìere? (Hai ông này là hiền sĩ đại danh bên Pháp đặt tuồng rất hay, sanh nhằm thế kỷ thứ XVII. Ông Moilìere lại là kép hát danh tiếng). 
Ba là hát phải có đào có kép. Như ngài diễn thuyết cho anh em chúng tôi ra làm kép, vậy ai ra mà diễn thuyết cho bọn nữ lưu làm đào. 
Nếu ngài làm được thì mấy anh em đây và tôi rất vui lòng mà theo hát. 
Ông Lương đại Nhơn đáp: Nghề nông ta phát triển rồi chớ. Còn như Đồng Tháp Mười mà chưa khia phá, ấy là tại trời, chớ nào phải người muốn đâu? Bởi nước trời xuống nhiều ứ lại tại Đồng Tháp Mười nên không thể khai phá một lần cho hết, một ngày một ít, rồi đây cũng sẽ rồi chớ nào không. Mà muốn khai phá phải dẫn nước ra, muốn dẫn nước phải có xáng múc kinh cho nước chảy. Nhà nước mỗi năm có xuất tiền ra làm việc ấy, có phải là không làm đâu, nhưng phải lâu ngày mới rồi được. 
Nói qua nhạc thì xin bãi nhạc đi. Đây tôi tính hát tiếng thường, không Nam Khách gì nên không kể đến nhạc. Hát tuồng diễn mà răn đời (comédies) thôi. 
Luận câu hỏi ai là Corneille, ai là Molìere thì không ai cả. Xét cho kỹ, hai ông ấy là danh sĩ theo đời ấy mà thôi. Nam Kỳ ta cũng có người, tuy chẳng được như Corneille, Molìere chớ cũng đặt để cho bực trung hiểu được. Chẳng phải đặt cao kỳ, mắc mỏ chỉ cho người tạm thường không hiểu thấu mà gọi rằng khó. Đặt tiếng thường dùng như vậy, có khó gì đâu. 
Hỏi: anh đi đâu? Đáp: tôi qua anh. Hỏi ai là đào? Tôi xin đáp không có đào. Trước hết dạy đờn ông, sau đờn ông rành rồi mới sang đàn bà. Như lúc người Pháp mới sang Nam đó, có tính dạy đàn bà chăng? Sau cũng dạy đàn ông cho thành thục, rồi mới khai trường con gái chớ. Tính một lần sao cho thành tựu được. 
Ông Diệp Văn Kỳ nói: Ngài nói vậy phải rồi, song việc ấy còn nhiều chỗ. Giả như đức Thành Thái là người có học thức đủ, có quyền thế, có bộ hạ, có đủ tiền bạc, người có lập cuộc hát trong cung, làm theo như ngài nói đó, không biết chừng còn rành hơn nữa, mà người làm còn chẳng nên thay. Tại Nam Kỳ đây, tôi nghe ngài ra làm bầu đặng tôn chế nghề hát mà ngài đã làm được điều chi rồi đâu? Nên chỉ tôi tưởng việc ấy làm chưa được. Ngài lại khuyến khích mấy ông mấy thầy theo hát bội, nếu mấy ông mấy thầy đi hát bội tất cả, lấy ai mà lo về nông thương kỹ nghệ là các mối ích lợi cần hơn hết. Nên nghề hát mà thiệt hại là đại ích cho nước, ắt đã có người sang Pháp mà du học việc ấy. Nhưng bởi nghề ấy không phải cần nên người sang Pháp chỉ học văn chương, bác vật, lương y, luật khoa chớ không tưởng đến ca xướng. Lấy theo nghĩa hát bộ thì tôi thiết tưởng người tử tế không dám dự đâu. Ngài muốn sửa nghề, xin ngài sửa cái tên trước đã. 
Ông Lương Khắc Ninh đáp: Việc làm thành bại; ấy sự thường, nhưng có làm thử rồi mới biết. Theo đây tôi có ý nói về mấy thầy trai ban đêm rảnh việc làm thêm chút đỉnh vậy htôi, chớ tôi không khuyến dụ học trò đi hát mà bỏ nông thương kỹ nghệ. 
Còn như tiếng hát bộ, người xưa đặt vậy là vì kép hát nhảy nhót, ra bộ ra tịch. Sau lần lần ta nói trại ta là hát bội. Quốc dân đã quen dùng thuở nay, nên rất khó mà đặt tiếng mới. 
Bây giờ đây muốn đặt tuồng hát thì tôi chịu lãnh àm đặt, chẳng phải là dùng văn chương, dùng tiếng cao xa, dùng điệu nói lối thường cho mấy con mẹ bán cá nghe cũng hiểu được nữa. Mấy bổn tuồng của quan tổng đốc Cao Hữu Dực ở An Giang thiệt rất hay mà đời này chẳng còn mấy ông nhiêu , mấy ông tú nữa, cho nên dùng bất tiện, đời nào là theo đời nấy thôi. 
Ông Diệp Văn Ký hỏi: Ngài đã có đặt bổn tuồng nào chữa? 
Ông Lương Khắc Ninh đáp: có, tôi có đặt hiếm, mà chưa dùng, nên chưa in ra bán. Nếu có hát thì tôi đặt chừng vài bửa rồi một bổn tuồng. Vậy tôi xin mấy thầy em hiệp lại tập chơi như người tập hát tây vậy, tập tại nàh hội khuyến học này, rồi trước hết cũng hát thử tại nhà thôi. Sau có nên sẽ tính thêm. 
Rốt lại, định ngày thứ tư Avril tựu lại nhà hội mà tính. Lương đại nhân sẽ đặt tuồng đem lại. Có nhiều thầy vui lòng vâng lời dạy của Lương đại nhân và ước ao cho Lương đại nhân đặt tuồng cho ăn vào thời thế, cho trùng điệu văn chương cho mỗi người đều nghe được, hiểu được, cho động lòng mỗi người hầu cho mỗi người lấy đó mà răn mình được. 
Nhiều người trông mong cho cuộc này mau thành tựu, đặng cho người Nam Kỳ theo kịp người Bắc Kỳ, có nghe rằng rạp hát tại Hà Nội thiệt là kinh dinh, người Lang sa cũng cho là phải điệu. 


Trần Phát Văn 

(Trích trọn bài trong Nông Cổ Mín Đàm số 12, năm thứ 16, ngày 19-4-1917)

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 22 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

17. Cao vọng của thanh niên trong bối cảnh đặc thù của miền Nam

Thiên địa Hội và cuộc Minh Tân đã qua, nhưng hơn mười năm sau vẫn còn để lại nhiều ảnh hưởng rõ rệt: ở nông thôn, các tỉnh lỵ và chợ quận chợ làng nảy sanh ra hai giới hiếu động nhất. 
– Bọn du côn trong từng lớp bình dân, nóng nảy khi thấy chuyện bất bình. 
– Những cậu công tử, con nhà khá giả, thích ăn chơi, ưa hòa mình với những người chung quanh không phân biệt giải cấp hoặc trình độ học vấn. 
Lần hồi, hai giới này gây ảnh hưởng qua lại. gọi là du côn, xuất thân nghèo túng gần như vô nghề nghiệp nhưng lại ham ăn chơi hưởng lạc theo kiểu nhà giàu . Và tuy là công tử, hào hoa, học chữ Pháp, con nhà gia giáo nhưng lắm khi mang vài tác phong có vẻ du côn, đặc biệt là ở lời ăn tiếng nói. Với sự phát triển kinh tế sau trận Âu châu đại chiến, giới đại điền chủ càng giàu thêm. Vài ngành kỹ nghệ hoặc tiểu công nghệ thành hình, và thực dân lại đầu tư, thâu dụng nhân công. Đường giao thông phát triển theo chiều hướng mới với những con lộ liên tỉnh hoặc lộ thuộc địa. Mức sản xuất lúa gạo gia tăng, đồng bạc Đông Dương vững giá; người tiểu điền chủ có thể cho con du học bên Pháp, nếu cố gắng. Nhiều cậu công tử ăn chơi mãi mà không hết tiền, khi phong trào cải lương phát triển, các cậu hùn vốn vào gánh hát để cầu vui và lấy danh. Mỗi làng thường lập hội đá banh do vác dậu đỡ đầu. Lại còn những sòng bạc gần như công khai, nhưng trường đá gà. Nhiều cậu qua Pháp du học vài năm, đỗ đạt, hoặc không đỗ đạt gì cả, về xứ cứ ở không mà chơi hoặc chỉ nhận một chức tượng trưng trong ban hương chức hội tề! 
Nguyễn An Ninh xuất hiện, đóng vai trò tích cực rồi trở thành người được ái mộ nhờ khả năng sáng tạo.về mặt lý thuyết cũng mặt thực hành. Nếu thân phụ của ông ao ước một cuộc Duy Tân hướng về nước Nhựt thì lần này, khi du học ông hấp thụ được những tinh túy về lý thuyết của Tây phương. Ông có sẵn một căn bản về triết học Đông phương vững chắc, am hiểu đạo Phật, đạo Lão, đạo Khổng. Nhưng quan trọng nhứt là am hiểu tình hình miền Nam. 
Lòng yêu nước nồng nhiệt, ông có thừa. Óc thực tế giúp ông thấy những điều có lợi và bất lợi ở miền Nam. Muốn làm cách mạng, phải tuỳ cơ duyên. Miền Nam là nơi mà đa số đồng bào tin vào tôn giáo, phụ nữ chưa tham gia vào các cuộc vận động lớn, vấn đề nông dân chưa được đặt đúng tầm quan trọng. Thiên Địa Hội thu hút được nông dân, nhờ những biến thể của đạo Lão, đạo Khổng, đạo Phật. Phong trào duy Tân được giới điền chủ hưởng ứng nhưng nông dân, tá điền gần như không được tham gia (làm sao có vốn để hùn vào công ty thương mãi hoặc cho con du học, nghèo dốt thì làm sao giao thiệp với các ông cải tổng, công chức). Thương vay khóc mướn, hướng về giới bình dân chưa đủ. Phải có lý thuyết xã hội. và phải nhìn vào cơ cấu của chính quyền Pháp ở xứ thuộc địa. Lý thuyết của ông đã cảnh tỉnh đám bọn “anh hùng hảo hán” và đem một nội dung yêu nước, yêu dân chủ, thay cho lý tưởng Cần Vương không còn hợp thời. 
Với chiến sĩ của phong trào Đông Du và Duy Tân đã thấm mệt, ông đặt nặng vấn đề tự cường, không ỷ lại vào ngoại bang, đả phá những kiểu cách phong kiến; tinh thần quốc tế không phải là chỉ liên kết với dân da vàng nhưng là với tất cả nhân loại tiến bộ. 
Ông chịu khó xem xét yếu tố tôn giáo đã một thời là căn bản cho phong trào Cần Vương và Thiên Địa Hội, để khơi nguồn sinh lực dân tộc. Yếu tố này bị các chiến sĩ của phong trào Duy Tân ở miền Nam đánh giá quá thấp hoặc công khai đả kích, căn cứ vào hình thức thờ phượng phức tạp, tốn kém. Ông đặt vấn đề nông dân, từng lớp mà phong trào Duy Tân miền Nam xem là thứ yếu. 
Du côn ở thành thị hay ở mềin quê phải thấy rằng ham đánh đấm thì không đủ gây hại hoặc làm sụp đổ chế độ thực dân, rốt cuộc chỉ làm tay sai đắc lực cho ông chủ xe đò hoặc một tay công tử hào hoa. 
Với từng lớp công tử hạng sang hay công tử vườn, ông vạch cho họ thấy rằng chia sẻ một vài tiện nghi và lạc thú cho đám em út, ăn xài rộng với dân nghèo vẫn chưa phải là bình dân, phóng khoáng; phải dám đối diện với thực dân Pháp. 
Về chiến thuật, ông khéo nắm những nhược điểm của chế độ thực dân ở Nam Kỳ. Dùng báo chí Pháp ngữ, dùng luật lệ hiện hành của thực dân để chống trả lại thực dân. 
Bởi vậy, nhiều người tuy không hiểu rành chánh kiến của ông, hoặc đang làm công chức, làm hương chức hội tề hoặc là đại điền chủ những vẫn mến mộ ông, xem như vị Thánh sống. Ông làm hài lòng mọi giới qua những tác phong độc đáo. Đạp xe đạp, thờ ông Quan Công, tụng kinh gõ mõ; hình ảnh của người trí thức trở về nguồn để tìm sinh lực. Ông ôm chồng báo đem đi rao bán trên đường phô Sài Gòn, ông đứng bán rao hàng chợ Tết, hình ảnh của lớp nghèo thành thị, người tiểu thương nặng lòng vì đại nghĩa. Ông xem việc làm của mình như là hành đạo: đạo ái quốc, đạo xã hội. 
Bài diễn thuyết “Cao vọng của bọn thanh niên An Nam” đêm 15-10-1923 nêu rõ nỗi khát khao của người thanh niên lúc ấy mới 24 tuổi. Diễn thuyết bằng tiếng Pháp. 
Đây là bản tuyên ngôn súc tích, mỗi câu mỗi chữ gợi ý nghĩa lớn. Nội dung là khơi dậy tinh thần dân tộc, văn hóa dân tộc. Phải tự xét mình để hiểu khả năng và hoàn cảnh của nước mình. Theo ý của ông, không nên quá chú trọng đến chuyện quốc sự: “Cái mối lo của dân ta không phải ở nơi quốc sự mà nó ở trong cài tinh thần của dân ta từ Nam chí Bắc. Có lẽ là ta chưa đến sự lo ấy nữa. Ta còn đang phải lo cho có ra một cái cao vọng cho thời bây giờ, đặng sanh hạt giống của cái cây “ngày mai” của dân ta. 
..”chúng ta phải lo tạo lập ra mới, chúng phải là người tạo lập ra mới mãi. Mà người sanh tạo phải là người muồi như trái cây chín mới có hột đủ sức mà sanh cây được. Ta không phải là cần bắt chước in như kẻ khác, như kẻ ngu tối bắt chước người khôn vậy, còn bắt chước người như vậy là còn nhờ người, còn nương tực theo sự khốn khéo của người, thì không trông mong giải thoát được. Điều của ta sanh tạo phải là của ta, phải là ở trong máu mủ của ta mà ta, hay là ở nơi học thức Âu Tấy với Á đông hòa hợp nhau trong ta mà sanh ra. “Các bực Thánh nhơn thường giục các đệ tử mình phải bỏ nhà cha mẹ đi. Bọn thanh niên ta ngày nay cũng phải vượt ra khỏi nhà cha mẹ, vượt khỏi cái xã hội hẹp hòi, xa bỏ non sông của ta một lúc. Ta cần phải sống trong một nơi tranh cạnh đặng trau dồi, tu lập lại chút tinh thần còn hoi hóp đây. Ta cần phải biết cái giá trị của ta. Ta cần phải sống trong một chỗ nào nó giúp cho trí thức và tinh thần của ta được cao thanh thêm nữa. Ta cần phải lên một chỗ non cao, ở một nơi yên tịnh mà tra mình cho biết cái thân của mình thế nào rồi lấy con mắt hoà hảo, tương ái mà ngó cả vũ trụ, xã hội chung quanh mình. Chừng ấy tam ơi bỏ chỗ non cao là chỗ đày ta một lúc, mà trở về với xã hội, trở về với xã hội mà trong ấy ta có thể dùng trọn cái tinh thần tạo lập của ta được nghĩa là ta đây là người An Nam, ta phải trở về xứ Nam Việt nàyvì ta là người sanh trong xứ này, ta quen biết với non sông, nòi giống của ta thì ta làm việc làm của ta, ta khỏi mất công lần mò vô ích. 
Nguyễn An Ninh hiến trọn cuộc đời để hành động thực hiện chí hướng ấy. Nhiều thanh niên giàu tâm huyết đã ái mộ ông, cùng theo đuổi chí hướng. Về tác phong của ông, Phan Văn Hùm đã viết như sau: “Ông người thể chất yếu, nhờ thể thao, nhờ đi xe đạp, nhờ chịu cực mà mới khỏe được. Ông thân ông hiện có bệnh bại, đang ngồi rũ ở nhà dịch tự điển Khang Hi. Ông Ninh có chịu cái bịnh di truyền ấy nhiều ít. Người ông như vậy, cho nên về sau này ở trong ngực hễ thời tiết thay đổi là ông bị cảm ngay. Thế mà ông ghét đám thanh niên ăn sung mặc sướng, đi ra nửa bước đã ngồi xe, ông muốn bày ra một cảnh sinh hoạt tự do, mà “cần lao” như dân đi làm rừng làm rẩy, quần áo vải bô, chiếc nóp, đây cơm, bầu nước, rồi là mênh mông đâu cũng là nhà. Ông nói, ở trong nhà, ông thấy kèo cột nó đè ông, ông không chịu được. Ông lại cũng hay hát câu “La terre entìete appartient aux vagabonds” Dịch rằng “Một bầu thế giới mênh mông, dành riêng cho kẻ bềnh bồng phiêu lưu”. Tội nghiệp thay cho những người ru rú trong nhà. 
Tác phong bình dân ấy có sức thu hút mạnh. Khi vào tù cửa vừa đóng lại, thiên hạ vây chung quanh ông, khám bên kia có mấy người chun song sắt qua chào. 
“Người năm xưa viết báo La Cloche Fêlée, làm cho một góc trời Nam chấn động, bạn thanh niên đột khởi như sóng điện (ondes électriques) nổi trong lòng, phồn gian nịnh ghê hồn như búa trời sa trứơc mặt, mà cả nước bước một bước dài trên con đường cải cách, người ấy là người “quyết sống đặng làm cho điều phải nó thắng điều quấy”, hôm nay vì binh vực một đứa ngu không đáng binh vực là tội, mà phải chịu nhẫn nhục, chịu cho điều quấy nó đè ép, mới đáng thương, đáng thảm là dường nào. 
“Hỏi ra thời ông không để cho bị bắt, mà chính là ông thân đến nạp mình, sau khi thấy tờ tập nã của chánh phủ (thuộc địa) nói rằng ông đã đào thoát đi rồi. Ông thuật lại lúc đi nạp mìnhh, ông mặc đồ dài toàn sắc trắng tinh khiết, mà nói rằng: khi đem mình cho người ta làm lấm, tôi muốn cho tôi trong sạch.” 
“Đến năm 1928, anh Ninh tạo được một phong trào nông dân. Phong trào ấy âm thầm và thiếu huấn luyện chính trị.
Có người nhận xét rằng Nguyễn An Ninh mang tâm hồn nghệ sĩ. Ít nghĩ tới việc tổ chức lực lượng cách mạng. nhưng ta không nên đòi hỏi quá nhiều ở một kẻ sỉ. Ở một nhà hiền triết nồng nhiệt yêu nước. Cách mạng không phải là độc quyền của kẻ sĩ những là sự đóng góp của toàn dân từ thế hệ này qua thế hệ khác, nhiều miền, nhiều giới. 
Ông làm tròn sứ mạng của kẻ sĩ: sáng tạo, đi tiên phong, đốt lên ánh đuốc sáng rực trong buổi bình minh đầy giông tố.

Sài Gòn, ngày 25-7-1974 (SƠN NAM)

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com    

Sơn Nam

Post by Sơn râu 22 Aug 2024

Google photo

16. Thơ-Tuồng-Truyện-Tích

Người Pháp đến, chữ quốc ngữ được phổ biến, ngành ấn loát hoạt động khá sớm so với Bắc Kỳ hoặc Trung Kỳ. Thoạt tiên là nhà in của chánh phủ thuộc địa kế đến là nhà in của tư nhân người Pháp, người Việt. Nhà in của người Pháp chú trọng việc đấu thầu những dịch vụ công sở, nhưng khi rảnh rang cũng cho ra các ấn phẩm bằng chữ Quốc ngữ: Imprimerie commerciate Rey, Curiol ot Cie, Claude et Cie, Imprimerie Saigonaise, Imprimerie de l’Union. Phát Toàn, J. Viết. Bấy giờ, theo luật lệ thì ấn phẩm khỏi phải kiểm duyệt nhưng phần trách nhiệm đặt vào chủ nhà in và sở Mật thám! Chánh phủ thuộc địa khinh thường những tác phẩm viết bằng chữ Việt. Nha Văn khố hoặc Thư viện Sài Gòn chú trọng vào sách và tài liệu bằng Pháp ngữ, nhằm phục vụ những người Pháp hoặc những người Việt viết Pháp văn. Vì vậy, nhiều ấn phẩm hồi cuối thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ XX ở Nam kỳ bị thất lạc, may ra một đôi vị hiếu cổ có lòng tưởng vào chữ Quốc ngữ còn sưu tầm được. Những ấn phẩm Quốc ngữ ấy về giá trị nội dung thì không đồng đều, nhưng không phải là không có tác phẩm lớn. Lúc bấy giờ, ở Nam Kỳ lúa gạo xuất cảng nhiều, nhà nước khuyến khích khẩn đất, lại còn phát triển giao thông, đặc biệt là đường thủy. Giới tiểu điền chủ, hương chức hội tề ở làng hoặc công chức đều dư khả năng tài chính để mua sách. 
Nói theo ngôn ngữ bình dân, đây là giai đoạn của “Thơ, Tuồng, Truyện, Tích”. Để phục vụ số thân chủ đông đảo này, các nhà in đã tung ra hàng loạt ấn phẩm. Nói thơ là thú giải trí bình và thông dụng. Đây là những chuyện viết theo lối lục bát, người nói cứ trình bày theo giọng “nói thơ Vân tiên” người không biết chữ có thể lại gần nghe được. Vì câu chuyện bằng thơ kéo dài hàng mấy trăm câu nên người nói và luôn ả người nghe cần có tiện nghi tối thiểu hoặc nằm võng, hoặc ngồi trên bộ ván, hoặc ngồi dựa cột. Ai muốn phong lưu thì giăng võng bên vườn cây ăn trái, được hưởng bóng mát và cơn gió nhẹ giữa buổi trưa người bức, bên cạnh là mương vườn với sông nước lăn tăn. Nói thơ lai là hình thức trình diễn để xin tiền ở chợ, người mù lòa cứ học thuộc lòng, nói theo tiếng đàn độc huyền. 
Truyện tức là truyện Tàu, dịch lại, in từng cuốn mỏng, “Nói” là đọc lại nhanh, nhưng không quá nhanh đến mức người nghe không theo dõi kịp câu chuyện. Khi hết một hồi, người nói thường tạm nghỉ lấy hơi, uống trà, ăn bánh. Giọng “nói truyện” lần hồi trở thành một thứ nhạc (như trường hợp trẻ con đọc bài thuộc lòng hoặc người lớn đọc kinh). Nói với giọng hấp dẫn, dừng hơi đúng lúc, xuống giọng đúng hơi thì người nghe thêm phần thích thú. Truyện Tàu thường là quá dài, cuộc nói truyện cứ kéo ngày này qua ngày kia. Ai không tiền mua thì mượn đem về mà nói cho bà con trong nhà trong xóm nghe. Quyển sách lần hồi bị bóp mềm, muốn cho khỏi bị gãy lưng phải cập thêm hai thanh tre nhỏ cho sách được cứng. Nhiều cuốn được chuyền tay đến mức đen đúa vì bụi bậm, giấy lần hồi trở nên mềm như giấy bản. 
Trước tiên, xin lược kê một số quyển thơ xuất bản từ năm 1909 và trước đó độ ba năm. 
– Bạch Viên Tôn Các, Chiêu Quân Cống Hồ, Dương Ngọc, Đào Trinh-Luông Sanh, Lâm Sanh Xuân Nương, Lâm Sanh – Lâm thoại, Lang Châu, Mụ Đội, Nam Kinh Bắc Kinh, Nam Kỳ, Mục Liên Thanh Đề, Ngọc Cam Ngọc Khổ, Nữ Trung báo oán, Phạm Công Cúc Hoa, Quan Âm diễn ca, Tam Nương, Thạch Sanh Lý Thông, Thoại Khanh Châu Tuấn, Tống Tử Vưu, Trần minh khố chuối, Cha mẹ dạy con . . 
Ngoài ra còn những quyển thơ lấy thời sự làm đề tài như. Thành Thái ngự du Gia Định, Nam Kỳ phong tục nhân vật diễn ca, Đường lên núi Điện Bà. 
Lại còn những sách viết theo văn xuôi về Sử ký hoặc dạy chữ Nho như Huấn tử cách ngôn. Hoặc sách dạy đờn kìm, những bản đờn tranh và bài ca hoặc câu hát đối, sách dạy xem tướng gà nòi (Kê Kinh). Hoặc là vè, là phú. 
Năm 1914, đã thấy xuất hiện trên thị trường Gò Công Phong vịnh, thơ sáu Nhỏ, Văn Thánh Gẫm tử đạo, Hoàng Trừu, thơ Thập Điện, thơ Vân Tiên ghiền, thơ Vợ lớn bé đánh ghen, thơ Năm Tỵ . . 
Lục Vân Tiên tái bản nhiều lần, Sải Vãi in bằng chữ Quốc ngữ. Hát đối thì vừa sưu tầm vừa sáng tác thâm. Một số thơ nói trên do Đặng Lễ Nghi biên soạn, Kiều Phú, Kiều án là hình thức phổ biến nhứt của truyện Kiều. 
Truyện Tàu dịch ra quốc ngữ lần đầu tiên có lẽ là truyện Tam Quốc, khởi đăng trong Nông Cổ Mín Đàm (trước năm 1904). 
Bộ Đông Châu liệt Quốc ra mắt lai rai suốt 23 năm mới đủ bộ, từ 1906 đến 1929 (ba cuốn 8, 9, 10 ra nhằm lúc Âu châu đại chiến, những năm 1914, 1915, 1917). Dịch giả của bộ này gồm nhiều nho sĩ: Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn An Khương, Nguyễn Công Kiều, Trần đình Nghi, Nguyễn Kỳ Sắt; nhà xuất bản cũng thay đổi, thí dụ như quyển thứ nhất do Imprimerie Saigonnaise (1906), quyển thứ ba do Huỳnh Kim Danh xuất bản tại nhà in Phát Toàn, quyển thứ 7 tại nhà in Schneider, quyển thứ 14 tại nhà in Xưa nay của Nguyễn Háo Vĩnh. 
Bộ Tái Sanh duyên ra mắt, quyển 1 do Nguyễn Văn Đẩu dịch (nhà in Saigonnaise năm 1906) rồi lần lượt Nguyễn An Khương và Nguyễn chánh Sắt tiếp tục dịch đến quyển chót số 11 (năm 1919 do nhà Phát Toàn xuất bản). Đại Minh Hồng Võ do Trần phong Sắc dịch, ra mắt năm 1907. Anh Hùng Náo Tam Môn Giai cũng Trần phong Sắc dịch, Hừnh Khắc Thuận xuất bản năm 1907 do nhà in Marcellin Rey. Nhạc Phi, thuyết Đường năm 1910, Phong Kiếm Xuân Thu diễn nghĩa do Trần Công HIển dịch gồm 11 cuốn, bắt đầu cuốn 1 năm 1907; chung Vô Diệm do Nguyễn Chánh Sắt, năm 1909-1910; Sự tích Bàng Quyên Tôn Tẩn do Ba Kè Bùi Thế Tích dịch, nhà in Saigonnaise in năm 1909. 
Năm 1909, trong thư mục của nhà Phát Toàn ghi thêm: Bắc Tống, Bạch Xà, Chinh Đong, Dương Văn Quảng bình Nam, đông Hớn, La thông tảo Bắc, Ngủ Hổ bình Nam – bình Tây, Phong Thần, Quần Anh Kiệt, Tam Hạ Nam Đường, Tây Du, Tây HỚn, Tam Quốc (tới thứ 25), Thủy hử, Thuyết Đường . . 
Tuồng, tức là tuồng hát bội, năm 1909 đã thấy: Đinh Lưu Tú, Gia Trường, Kim Thạch Kỳ Duyên, Từ Linh Thi Ân Báo Nghĩa, tuồng Cờ Bạc, Sơn Hậu (đủ ba thứ), Trần Trá Hôn, tuồng ô Thước, Trần Bồ. Năm 1914, thấy rao các tuồng đã in như Kim Long Xích Phụng tuồng, tuồng Phong Thần, Nhạc Phi, tuồng Tam Quốc (đương Dương Trường Bản, Phó hội Giang Đông, Phục Huê Dung đạo, Cầu hôn Giang Tả). 
Ngoài ra, còn vẽ “Bá hoa bá quả” sách thuốc gia truyền ngoại khoa cứu cấp, bản đờn kìm, hoặc Truyện đời xưa, Tiếu lâm, Tiếu đàm. Truyện đời xưa mới. Truyện đời xưa Arabe, Sử ký Đại Nam Việt, Sử ký Để thiên, Huấn tử cách ngôn. 
Từ 1906 đến 1914, mục lục thơ tuồng truyện thêm phong phú hơn. Các vị nho sĩ, thức giả biết đánh vào nhu cầu bình dân và đã thành công lớn. Người trung lưu dốt chữ Nho, dốt chữ Quốc ngữ ở thôn quê có thể thưởng thức được tinh hoa Á Đông và chút ít hương vị Tây phương. 
Đây không hẳn là theo đuôi quần chúng, nhưng là gợi thêm những thị hiếu mới, nâng cao trình độ. 
Nội dung của thơ, tuồng, truyện, tích trong giai đoạn này dều theo nguyên tắc căn bản là phải “có hậu” tức là ân thì đền, oán thì trả, người nịnh về sau bị bại lộ chân tướng, người trung mắc hàm oan được thắng thế ở hồi kết cuộc. Vài cuốn thơ khiến nhà cầm quyền Pháp lưu ý và cấm lưu hành: thơ Văn Đoan chàng Lía, kể chuyện chàng Lía làm lọan thời Minh Vương (chúa Nguyễn) tuy có hiếu, có chí nhưng lại chết, cuộc nổi loạn bất thành. Hoặc chuyện thầy Thông Chánh giết tên Biện lý Pháp Jaboin ở Trà Vinh rồi bị hành quyết, hoặc thơ Năm Ty, thơ Sáu nhỏ kể lại thành tích của hai tay anh chị, ăn ở thuỷ chung với bạn bè, rốt cuộc bị hại. Nếu theo công thức “có hậu” thì những chuyện trên không có hậu cho lắm, nhưng đồng bào lúc bấy giờ hiểu ngầm rằng những nhân vật trong thơ đều có “gan ruột”, có “nghĩa khí”; nếu trong kiếp này chưa được mãn nguyện thì kiếp sau họ cũng được đền bù, bao nhiêu người đang hoan nghinh, không dám chê bai họ. người đặt thơ thường là rào đón, nhưng người đọc vẫn nghĩ tới cốt truyện. tinh thần trung cang nghĩa khí của Thiên Địa Hội được khơi dậy mạnh. Chưa kể đến thơ Cậu Hai Miêng (không rõ năm ấn hành đầu tiên) ca ngợi thành tích ngang tàng của cậu Hai con Lãnh binh Tấn ra tay dẹp cường hào ác bá, theo Tây nhưng dám ăn thua với những tay sai của Tây, lấy độc trị độc. Người bình dân luôn cả người trí thức đã quan niệm vấn đề “có hậu” một cách sâu xa. Ngày xưa muốn có hậu thì nhân vật phải được tiên ông, tiên bà dứu hoặc nhà vua, ông phú hộ bổng dưng hối cải mà xét lại sự tình. Trong một nước bị thực dân Pháp cai trị, những cốt truyện mang tính cách thời sự thì phần kết cuộc chỉ có thể “có hậu” trong ý chí vương lên của từng độc giả, và chỉ “có hậu” thật sự khi thực dân vắng bóng, bằng hành động cụ thể của đồng bào. 
Nếu năm 1906 tạm được xem là khởi điểm của phong trào nói thơ, nói truyện lần hồi lan rộng trong giới bình dân, thì đó cũng là năm khởi điểm cho phong trào đờn ca tài tử. Trước kia, cầm kỳ thi hoạ là thú vui của kẻ sĩ để “di dưỡng tính tình”. Nhờ chữ Quốc ngữ (phổ biến bài ca, với lời ca mới) nhưng đặc biệt nhờ mức sống khá giả của giới trung lưu ở thôn quê mà việc đờn ca trở thành phổ thông. Những bản nhạc cổ đểin điệu Huế – mà ông Tấn sĩ Phan Hiền Đạo nổi danh là người biểu diễn khá tài hoa – lần hồi được giới mộ điệu ưa thích. Lại có những thầy đờn giỏi như Nguyễn Liên phong và con là Nguyễn Tòng Bá tiếp tục chế biến. Thầy đờn tha hồ đi dây, giới mộ điệu đón rước ân cần, chẳng riêng gì ở Mỹ Tho là đất văn vật mà luôn cả ở Vĩnh Long, tận Sóc Trăng. 
Phong trào Đông Du nổi lên rồi cuộc Minh Tân rầm rộ đòi “di phong dịch tục” thay đổi nếp sống cho hợp với trào lưu mới, tranh thương, mở mang công nghệ, học tập điều khiển xí nghiệp nhỏ. Trước kia, những buổi trình diễn bài bản cổ điển được ưa thích như Tứ Đại cảnh, Tứ Đại oán, Văn Thiên Tường, Tây Thi . . chỉ thu hẹp trong phạm vi bạn bè, trong nhà lúc uống rượu hoặc dưới thuyền lúc thưởng trăng trên sông dài. Nhưng người cổ suý cho phong trào Minh Tân bấy giờ đem đờn ca tài tử trình diễn cho bạn bè và thân chủ ở khách sạn (cơ quan kinh tài, tập họp của phong trào) vào cuối năm 1908; buổi chiều lại còn tiết mục hát thuật (ảo thuật) xen kẽ. Phong trào tan rã nhưng thú đờn ca vẫn phát triển mạnh, lời ca lấy đề tài ở điển tích Tô Huệ chức cẩm hồi văn, Bá Lý Hề, lục Vân Tiên, truyện Thúy Kiều. 
Điệu ca ra bộ (vừa ca vừa diễn xuất) rồi hình thức “hát chặp” ra đời (ca ra bộ với đôi ba người trình diễn một hoạt cảnh ngắn thâu hút cảm tình của từng nhóm nhỏ. Bấy giờ sự du nhập của văn chương Pháp, vài hài kịch được phổ biến trong trường học, những tuồng cổ điển với màn, cảnh bố trí rõ rệt, đồng thời có cảnh “sơn thủy” thích hợp. Một số người am hiểu Tây học hợp tác với các nhân sĩ đã cho ra mắt sân khấu cải lương. Cải lương là sửa đổi, canh tân hình thức sân khấu cũ của ta là Hát bội. Tuồng tích đặt ra giữa khoảng Âu châu đại chiến thứ nhất – với sự tham gia của người theo Tây học, thân Pháp. Và của những người tham gia phong trào Duy Tân. Tung tích bại lộ tuy được trả tự do nhưng thấm mệt – không tranh đấu về mặt chính trị, bèn làm công tác văn hóa. Hát bội lần lần bớt thu hút dân chúng, tuồng cải lương tỏ ra phong phú và có khả năng thích ứng với mọi từng lớp đồng bào. “tuồng Tàu” cho những người thích truyện Tàu. “tuồng Tây” với nghĩa là tuồng nặng về tả chân, đem con người của thời hiện tại ra phô bày, với áo lớn ,cà vạt, tuy dùng những bản cổ điển nhưng xem vào có những lớp đối thoại như thoại kịch. Người viết tuồng cải lương bắt đầu chú trọng vào việc bố trí nhân vật, phân phối màn, lớp, cách kéo màn, hạ màn hoặc chậm hoặc lẹ, cũng là ánh sáng sân khấu, đặc biệt là tranh cảnh (bấy giờ gọi là sơn thủy). So với hát bội, những động tác của diễn viên được phần tự nhiên, gần thực tế, câu văn dễ hiểu hơn. Gánh hát cải lương thi nhau trình diễn lưu động từ Sài Gòn tới các tỉnh lớn và một vài chợ quận giàu có. Ở làng ở tỉnh, lại còn gánh hát nhỏ. Phương tiện di chuyển thoạt tiên là đường thủy, sắm ghe lớn để chở đồ đạc, có tàu kéo vì vậy mà gọi là ghe hát. Cùng với tuồng cải lương, bài ca Vọng cổ cũng phát triển, tiết tấu thêm phong phú, trữ tình. 
Với Vọng cổ, lần hồi ở thôn quê những điệu hò đối đáp, hò giã gạo giảm uy thế. Cũng như từ khi cải lương ra đời, các hình thức nói thơ, nói truyện cùng là hát bội dường như đứng lại. Hai hình thức văn nghệ mới quả là sự biến chuyển đáng kể theo chiều hướng tốt. 
Số nhà in dồi dào lại cung cấp kịp thời những bổn tuồng cải lương ngắn vàn hững bài ca vọng cổ giúp cho dân ở nơi hẻo lánh có thể tổ chức đờn ca vui vẻ, khi rảnh rang hoặc lúc đám ma, đám giỗ, đám cưới. đĩa hát, máy hát phổ biến khá mạnh; mỗi làng quê ít ra cũng có năm bảy người đủ sức mua sắm. thoạt tiên tiếng hát thâu ở Sài Gòn, gởi về Pháp ép ra đĩa nhựa. 
Một trong những người ủng hộ việc sáng lập ngành sân khấu cải lương là Hồ Biểu Chánh. Năm 1910, ông cho ra tập thơ đầu tiên: U tình Lục những không thành công; từ 1910 đến 1920 làm báo rồi viết tiểu thuyết. Nói chung, ông giỏi tài phóng tác tiểu thuyết Pháp đến mức đọc qua ai cũng tưởng là chuyện xảy ra ở miền Nam. Tiểu thuyết của ông một thời được mọi giới ái mộ, đọc là hiểu ngay; ông tả tâm lý, tả cảnh rất linh động. Ở những gia đình trước kia thích nói truyện Tàu, tiểu thuyết của ông được tiếp đón, xem như là những truyện hiện đại hóa, vẫn là “có hậu”. 
Nếu yêu nước nồng nhiệt, thiết thực, chuộng tiến bộ, hướng về đại chúng là bản sắc của kẻ sĩ khi hành động về văn hóa thì về mặt chánh trị, vẫn là như thế. 
Thiên Địa Hội tạo ra được Phan Xích Long dám yêu cầu tòa xử tử hình ngay, và nhiều nhân vật khác điển hình là hương hào Hầu bị can vào tôi chống Pháp (vụ phá khám Biên Hoà 1916) đã nói khẳng khái trước giờ hành quyền: “ta sanh làm tướng, chết làm thần. Chào bà con ở lại mạnh giỏi.” Hai Sở cùng bị xử một lượt, thách thức trước mũi súng của thực dân khi thọ án tử hình: “Cứ bắn ta đi, Sở này không sợ đâu! Cái chết, ta thị như qui tân gia” (coi như về nhà mới vậy thôi.). Có thể kể thêm trường hợp anh hùng Thiên Địa Hội nhóm Nghĩa Hưng ở vùng Chợ Kiển (Cần Đước, tỉnh Chợ Lớn thời trước); cơ mưu bại lộ sắp bị bắt nhưng anh em thề sanh tử bất ly, trốn thì được nhưng lại lo vợ con bạn bè bị liên lụy, chi bằng khuyên bảo họ cứ đi nơi khác; anh em ở lại, tìm một căn chòi ở gần ngã ba chợ Trạm mà nghỉ ngơi. 
Năm anh em kết nghĩa này làm thịt con heo mà ăn uống no say, chỉ còn nồi cháo lòng là món ăn cuối cùng. Chờ hửng sáng, đoán chừng bọn tay sai của thực dân sắp lùng bắt, họ tự ray rắc thuộc độc vào nồi cháo, mỗi người ăn một vài tô rồi ngã lăn ra chết. 
Hồi xảy ra phong trào Duy Tân 1907, miền Nam nặng óc tôn quân. Về sau, phong trào tàn lụn, thực dân khủng bố gắt gao nhưng thân hoà nhân sĩ và đồng bào vẫn hăm hở đón rước ông Cường Để vào năm 1913, đến mức ông phải ngạc nhiên. Ông về Sài Gòn, lén lút đến Chợ Mới (chợ Gạo?) rồi qua Vĩnh Long bằng tàu thủy. Dưới tàu, ông nghe ba người nọ bàn tán với nhau về tin thực dân Pháp treo giải thưởng phong chức đốc phủ cho ai bắt được ông. Một trong ba người – vì không biết người ở cạnh nãy giờ ngồi lắng nghe chính là Cường Để – trả lời công khai với mấy người bạn kia: 
” – Có chuyện như thế ư? Tôi đây năm trước từng sang Nhựt có được biết đức Ông. Bây giờ nếu gặp vẫn còn nhớ mặt. Nhưng dù cho làm quan to mấy đi nữa, tôi cũng chẳng nỡ lòng nào “bán” đức Ông. Đức Ông là người vì nước vì dân, mình là người dân phải nên hết lòng ủng hộ. Đứa nào dám “bán” Đức Ông, ta đây quyết không tha.” 
Ông Cường Để bình luận: 
“Người này có từng sang Nhật thật không thì chẳng rõ, nhưng khi ấy thì bỉ nhân ở bên cạnh mà không nhận ra. Tuy vậy giọng nói và thái thì biểu hiện cái đặc tính trung thực và sốt sắng của người Nam Kỳ một cách đáng yêu” 
Đến Vĩnh Long, ông Cường Để được một chiến sĩ từng Đông Du đón rước bí mật đưa về làng. Tuy là bí mật nhưng ông Cường để vẫn phải đụng đầu với vài thanh niên đã từng qua Nhựt. Ông trú ngụ tại nhà của Huỳnh Quang Thành, tuyệt nhiên không cho ai đến ra mắt. Nhưng một việc buồn cười xảy ra: 
“Sáng hôm sau, bổng nghe tiếng trống rầm làng. Lệ làng ấy, hễ gặp khi có việc quan trọng thì đánh trống cái, triệu tập tất cả người làng ra đình để nghe báo cáo hoặc cùng bàn bạc. 
“Huỳnh quang Thành ra đình, người làng đã đông, mấy thanh niên kể trên đang diễn thuyết hô hào: 
“-Vua ta hiện đã về đây, ở nhà xã trưởng. Chúng ta là thần dân, người có của kẻ có công, phải đem cả ra mà hiến cho vua. 
“Huỳnh Quang Thành vội vàng chạy về nói cho bỉ nhân biết. Mấy người thanh niên kia có lòng tốt song chưa hiểu biết việc đời, cho nên có cái hành động ngộ nghĩnh như thế khác nào tuyên bố cho người Pháp biết chỗ bỉ nhân trú ngụ. Họ vốn có ý hoan nghinh bỉ nhân, mà thành ra hoan tống”. 
Cũng trong dịp này, một phú hộ (nên hiểu là đại điền chủ) ở Vĩnh Long tên là Lâm Bình – từng qua Nhựt đem theo hai đứa con trai nhờ ông Cường để cho đi học – đến nơi ông Cường Để đang ẩn trú để nói: 
“- Thưa ngài, tôi không giàu có chi song một năm có hoa lợi hơn vạn bạc. tôi định chỉ lưu một nửa ăn tiêu, còn một nửa xin hiến ngài dùng làm việc nước. gần đây tôi có làm được một tòa nhà kiểu Tây, tôi ở từng dưới, trên gác bỏ không. Xin rước ngài về đó ở, chớ ngài ở thuyền thế này thì khổ quá”. 
Một thân hào khác là cha của Lưu Do Hưng vì ái mộ ông Cường Để nên trước khi từ trần muốn hiến cho ông 30 vạn bạc, nhưng không biết giao cho ai đem đi. 
Đúng là tinh thần trọng nghĩa lớn, như trường hợp ông Trần Chánh Chiếu vì quá nồng nhiệt mà trên mặt báo vào thời Minh Tân cho đăng tải những bài lộ liễu, chửi mắng công khai tổng đốc Lộc “ăn cơm chúa phải múa tối ngày, ăn cây nào rào cây ấy, nếu quan Tổng đốc cực chẳng đã mới ra tay bắt đội quản, và các quan đàng cựu chém giết đày lưu, bắt vợ bắt con làm khổ khắc, thậm chí bắt không đặng quan cựu rồi lại bắc buộc đàn bà, hoặc bắt con nít còn hôi sửa mà tra cho nó khai ra, bởi vậy cho nên mang lấy tiếng thị phi, cũng vì thực lộc thì phải báo ân, nên làm cho đến thế .. ” Lại còn bài báo khen ngợi liệt sĩ Nguyễn Trung Trực cùng phó tương Lâm Văn Ky, ám chỉ rằng nếu còn sống thì hai ông ấy ắt sẽ tham gia phong trào Duy Tân. Mặc dầu là đại điền chủ, công chức hoặc hương chức hội tề, chiến sĩ Duy Tân trong Nam vẫn nhắc nhở đến đời sống thiết thực của đa số đồng bào nghèo kém: phô bày cái khổ của giới tá điền, một năm 12 tháng mà phải chịu cảnh thất nghiệp đến bảy tám tháng. Hoặc kêu gọi cải cách tận gốc rễ nếp sống vật chất và tinh thần do thời phong kiến lưu lại, được thực dân dung túng: bỏ tục ăn trầu, bỏ tục đạo tì khiên quan tài với nghi thức rườm rà, chống nạn tảo hôn, chế độ hà khác mẹ chồng hành hạ nàng dâu, chống việc cúng đình, để nghị đúc tượng những người có công với đất nước để chưng bày nơi công cộng. Thậm chí đến mức đề nghị bỏ những nghi thức tốn kém khi thờ Phật hoặc thờ cúng ông Quan Công …

Nồng nhiệt yêu nước, quá sốt sắng trước việc nghĩa là thái độ tốt nhưng có thể đem lại vài hậu quả xấu: nguội lạnh khi việc lớn không thành, lửa rơm, làm không xong thì không muốn tiếp tục. 
Và quá chú trọng vào chuyện thực tế thì thường bỏ quên những kế hoạch có tánh cách chiến lược, không vạch chương trình dài hạn, đụng đâu làm đó, không phân biệt chi tiết và đại cuộc. 
Có tác phong bình dân , hòa mình vào đại chúng vẫn chưa đủ. Phải biết tổ chức, biết huấn luyện đại chúng: lý thuyết mặc dầu là trừu tượng nhưng muốn đi đường dài thì phải nắm chắc định hướng cho bằng được. 
Về mặt văn chương, lý luận, người miền Nam ít chú trọng xây dựng tác phẩm lớn khả dĩ thoả mãn giới trí thức. Cải lương, hát đối với thơ bình dân vẫn là chưa đủ. Truyện Tàu tuy hay, bố cục hấp dẫn – với những nhân vật đầy đủ nét điển hình và cá tính – nhưng làm sao thay thế được những truyện lấy đề tài trong thực tế mà hàng ngày ta đang sống? Thoại kịch, tiểu thuyết viết theo kỹ thuật Tây phương là những bộ môn cần thiết không kèm, tuy nó ít hấp dẫn giới bình dân và số người thưởng ngoạn chỉ có hạn lúc bấy giờ.

Khe nước khô

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Bún mắm cô Ba ngon nhức nách, đặc biệt cuối tuần có cháo lòng húp nhức răng. Quán Cây Khế chẳng mấy đông khách, bị con cô Ba đường đột bồng bột nông nỗi dại ngỗ bỏ má đi theo trai. Cô Ba tâm sự với đôi mắt như đang xắt hành, ươn ướt lộ ruột để ngoài da.Cô làm như thực khách tới quán chỉ để nghía con Tưng. Sáo sổ lồng sang sông thì tình hình eo xèo đâm ế chảy bởi thanh niên trai tráng chẳng thiết vãng lai. Để mần chi, khi lưỡng mục không ngó ra mục tiêu đặng ký gửi một tia nhìn man dại. Ai kia có si tình thì chỉ hát được mỗi điệu “Lý quạ kêu”. Sáo bay mà quạ theo đó cũng tìm cách thăng. Nghe xao xác dật dờ quãng lặng.
Cô Ba không mắng đứa con hư sớm nhấm nháp mùi vị của hoan lạc đèo bồng chuyện chăn gối mà cứ than van cho bọn phàm phu tục tử “thực bất tri kỳ vị”. Cô Ba cũng dấu nhẹm tình trạng sức khoẻ khi đứa phụ bếp tài cán nọ trở chứng xé rào, giao bao công chuyện cho mình má nó tả xung hữu đột. Khách ăn thì nhức nách nhức răng, còn chủ quán đêm trường có nghe ra nhức mình nhức mẩy? Ơn trời là Cây Khế cũng biết đóng cửa vào ngày thứ hai hằng tuần, lao động quá thì ngay cả máy móc cũng sẽ lột dên đứt cu-roa cháy bu-gi tắt quạt huống hồ phận chân yếu tay mềm mình hạc xương mai!Ông Tư làm nhân viên cho tiệm tạp hoá Vạn Thắng chung khu vực vẫn thuỷ chung kéo ghế, trừ thứ Hai, vẫn tâm đắc một mực thực phẩm ấy lành. Ai chứ cô Ba thì tui tin tưởng, tui ngó vô ngực thấy cổ đeo cái tượng Phật bằng ngọc to đùng. Lâu ngày chầy tháng ngọc lên nước láng bóng, người tâm hiền như cô Ba nên ngọc cũng cho là hợp tạng để xởi lởi khoe da. Ai đó nói ngọc đẹp cũng do người mang, tui biết vật trang sức tuy vô tri giác nhưng có khi nó thui chột ở kẻ này lại phát quang khi vào tay người khác. Rất đều tay chuyện củi lửa hay cái miệng tui đã hợp vị với tài nêm nếm của cô Ba. Món cơm tấm bì ngó đơn sơ vậy chứ cả tuần quên ăn, nói tội trời, đâm ra nhớ thương. Cô Ba được tiếng hiền vì cho ông Tư ăn uống ghi sổ vô tư. Được cái, người đàn ông trên năm chục tuổi đầu kia chưa hề chạy làng, ngó trước trông sau rồi dõng dạc: Trên bước đường tha phương vô định vị mà tình cờ kỳ ngộ người đồng hương thì phải nên xem trời đãi kẻ khù khờ. Cứ giáp vòng hai tuần, đến thứ năm ra ngân hàng đổi tấm ngân phiếu là tui ba chân bốn cẳng tới Cây Khế thanh thoả những ân tình có với cô Ba. Tui với cô Ba liên hệ như kiểu cá với nước vậy. Cá mà không có nước, cá chết. Nước mà không có cá… Nước mà không có cá…Tóc ông Tư đã sâu sia nhiều sợi bạc. Thời gian ngoài chuyện làm con người già cỗi đi, nó còn tác hại sâu đậm vào trí óc cây sậy biết suy tư. Ông Tư cà lăm cà cặp không biết tìm ra mệnh đề nối tiếp. Hoặc giả sợ mình vô duyên. Nước mà không có cá thì… có sao đâu! Trăng vành vạnh sáng chỉ mỗi đêm rằm, đôi lúc bầu trời cao rộng thẳm đen thắp lẻ loi một vài vì sao mờ nhạt cũng nên hiểu là lẽ thường hằng của tạo hoá. Mọi thứ đều có chu kỳ để vận hành đi quanh. Quán Cây Khế là hình ảnh một bể nước cảnh giam đủ đầy bộ sậu: Máy lọc róc rách nổi bong bóng, rong đong đưa, giả sơn, sạn sỏi, hang động trầm mình mà chỉ gặp duy vấn nạn: Thiếu cá. Do đâu? Công tâm mà nói, do cái quán Fung Hinh án lối ngay đầu đường. Bề thế, hoành tráng, long hổ sum vầy, nhe nanh lộ móng, điệu võ dương oai, khách khứa rậm rật sáng chiều. Sáng thì dim sum mà chiều thì sơn hào hải vị tam thập lục thức bốc mùi xào xẹt. Bồi bàn đồng phục thắt nơ cột bím, gái trai tươi mươi đon đả chào mời vô ra nhanh lẹ tợ biết lăng ba vi bộ.

Nghe cô Ba chép miệng chắt lưỡi, ngồi trên ghế ông Tư nhấp nhổm phát lời bình luận: Ngó dậy mà hổng phải dậy. Hoặc ngó lùng tùng xèn như rứa đó mà tiền đồ là cả một tuột dốc đứt thắng không thể kềm hãm. Nói cô Ba nghe, trước hết là cái cây sồi hình thù kỳ dị án trước quán mà chính quyền sở tại bảo vệ môi trường không cho ai di dời chặt đốn. Thứ hai, cánh cửa sơn màu đỏ loét phản cảm. Thứ ba, nội thất trưng bày quá nhiều gương soi. Chỉ ba điều ấy thôi cũng đủ phạm tới những huý kị ở trong lãnh vực phong thuỷ. Fung Hinh sẽ điêu đứng và Cây Khế sẽ mọc lắm trái vàng. Cô Ba tin tui hông? Cô Ba mang ra cho ông Tư bình trà nóng, ngồi xuống ghế đối diện sơ hở cho Phật ngọc lung lay thoát khỏi khu vực bị cưỡng chế, lộ hàng dễ thắt tim ông Tư. Dậy hén? Ngộ quá ta, hơn ai cả người Tàu họ rành phong thuỷ hơn người mình sao họ chẳng hay chuyện chí tử nọ? Mà nói nào ngay người đồng hương ai cũng ngôn kiểu anh Tư thì tui mới có sức ngậm đắng nuốt cay để đi tiếp cuộc trầm luân này. Con Tưng đã chọn ra ngày lành và mai hậu bên đàng trai quyết dùng địa điểm cái dằm nằm trong con mắt ấy mà tổ chức hôn lễ rình rang. Lão chủ quán Fung Hinh vin vô tình lân bang láng giềng kỳ cựu nên có tính toán sổ sách gia giảm chút phí tổn bớt năm mươi phần trăm gọi là chúc mừng lứa đôi răng long đầu bạc. Chao ôi, mình lớn tuổi chậm lụt khù khờ chẳng tính được chuyện tựa bọn trẻ ngày nay. Sách hoạch, thậm tinh ranh, thậm mưu lược. Nói bỏ lỗi, chúng mà ra yêu sách, chúng mà đặt đâu là cha mẹ phải ngồi đó, cấp kỳ cấp lệnh. Yên vị, chớ nhúc nhích, không vị tình thái sơn suối nguồn gì ráo, buộc phải nghe theo nghiêm lệnh. Bắt trao đô phải hao tiền, cho mua xế khủng mới thôi ghiền ô tô! Nuôi con cho rạc rài thần trí hao mòn thể lực mà lớn lên con ho một tràng thời cha mẹ phải run theo. Qua tới đây cha mẹ phải bỏ quên roi vọt ở cố quận, đi mình ên thúc thủ mà trả món nợ đời. Đêm nằm tứ bề yên vắng, nghe gió vật vã vườn lạ mà tự dưng mắt cay tim lạnh co thắt dồn nén bao chuyện tủi thân. Cô Ba nói đi mình ên thì ông Tư phải tin, vì suốt tháng năm dài thọc mạch dòm chừng ổng chưa hề ngó ra một nhân dạng đờn ông nào chàng ràng chấu rấu quanh thân cô Ba chủ tiệm. Gà mái nuôi con đằng đẵng nhưng con gà trống đạp mái thuở xưa đã cứng cựa bỏ đi đâu biền biệt chẳng vọng gửi về tiếng gáy mê sảng. Bình minh không hiện mọc vậy cô Ba có thực bụng tơ tưởng một đánh thức đầu ngày? Eo ôi, phận công nhân viên quèn lương ba đồng ba cọc không thể giúp ông Tư tròng đôi hia bảy dặm tự tin vượt biên tới những bến bờ trần tục. Ông đã vỡ mộng lắm phen, đã bị tình phụ muối xát gừng thoa lắm bận… nhưng tình ngay, có khi buồn chân ngang qua cửa hàng La Vie En Rose chuyên bán nội y đờn bà, ông vẫn tưởng tới một thứ định mệnh nằm dấu mặt sau ngổn ngang gò đống kia. Thế mới là màu hồng chứ. Đóng đô thường trực vào quán Cây Khế, người ơi, không phải đó là nuôi dưỡng sắc son niềm hy vọng ư? Họ, cô Ba và ông Tư thường trò chuyện ngắn dài những thứ vô thưởng vô phạt lúc quán vắng. Cái ấy chưa thể gọi là tâm sự để dốc lòng sẻ chia đồng cam cộng khổ. Ngồi bên nhau, cảm nhận vu vơ thứ thời tiết sáng nắng chiều mưa và tối tuyết đổ câm nín chẳng phải là phương thuốc làm nguôi ngoai một nỗi niềm chưa tiện nói ra? Nhà trống lạnh thì gia chủ có thể bày biện thêm vật thể cho vui mắt. Treo lên vách bức hình tự sướng, đổ nước đầy bình để cắm vào đấy đôi ba cành hoa nụ hé ướt át ngậm giọt sương trong. Ngồi bên người nữ tợ cô Ba, ông Tư mường tượng là được buông xuôi thân xác, thả lỏng tứ chi để chăm mắt đọc từng hàng chữ đầu Ngô mình Sở có trên cuốn sách mà cô Ba không ngại giở lật. Đa phần là những trang đánh số mù mờ với nội dung chẳng mấy vui. Mà thực lòng, khi nghe ông Tư vạch áo chuyện mình, hẳn cô Ba cũng vấp phải điều gì thoạt nghe không ổn thoả. Phận di dân thường hiếm muộn niềm vui. Hoặc cái hạnh phúc họ muốn tích luỹ thảy đều bèo bọt. Ra ngồi bờ bãi hoang vu nghe sóng mãi gào ở xa, vốc một nắm cát thì chúng dần vơi hao hụt trong kẽ tay. Nhẹ đi, rơi mãi, luôn cạn kiệt.

Cô Ba than, con Tưng nó hại tui dàng trời. Khi khổng khi không bỏ quán làm tui hoa mắt tối lửa tắt đèn không biết đường mà rờ. Định bụng dìa Việt-nam một chuyến mà đành bù trất chết một cửa tử. Quán không ai trông coi, chẳng lẽ đóng cửa cả tháng nhìn đời hiu quạnh? Về bển làm gì? Đi thăm thú những ai? Hẳn anh Tư sẽ hồ nghi cật vấn. Số là con em tui ở dưới quê điện qua cho hay nhà nước sẽ san bằng mảnh đất nơi có mộ phần tía má tui an nghỉ. Họ chỉnh trang nâng cấp làm văn phòng du lịch, tụ điểm đưa đón chỉ bày cho khách đi tham quan thắng cảnh với di tích đổ vỡ hào hùng thời chiến tranh. Tui rảnh thì ngồi nói chuyện cùng anh, nhà nước mà quỡn thì họ bày ra khối chuyện để thêm rách việc. Phá cái này dẹp cái kia, chỉ thị thu mua thức này ra quyết định bán buôn hàng khác. Họ lu bu kiểu của riêng họ mà dân ngu khu đen không hiểu được. Ở chốn này mần ăn không khấm khá e do bởi chốn kia mồ mả gia tộc bị động chăng? Cô Ba sa sầm nét mặt khi nói xong. Một chút thất thần, một chút hụt hơi, một chút ngây dại, tựa diện mạo của kẻ vừa bị móc túi, chới với cái mạng không đang sứt mẻ trầy trụa. Con Tưng nó có vẻ đẹp tươi sáng của đứa con gái vừa đủ lông đủ cánh, nghĩa là sắc đẹp kia vừa hồn nhiên, vừa tự tin, vừa mơn mởn lụa là sung mãn. Một sự dấn thân rộn ràng đầy sức sống ít chạm trán nỗi buồn. Má nó thì khác, thứ hoa chỉ nở trong bóng tối, mang sầu muộn tới, dằn vặt để tượng hình ra một điều gì kề cận với mong manh. Khi về già người ta buộc phải sầu héo, và tàn phai không hẳn là điều nhằm trút bỏ hết những vàng son cũ. Phún xuất thạch đã trào dâng tự lòng núi lửa, nhưng nó sẽ để lại trên hoang mạc một chu vi màu mỡ ăn sâu vào đất. Ông Tư ước ao được làm nông dân chí thú việc cày bừa khai khẩn dẫu loay hoay trong tay lắm thứ phương tiện thô sơ ông đang sở hữu. Một lòng thành, chỉ có vậy thôi. Và lòng thành phải đi đôi với cam chịu những hy sinh tổn thất.

Không nói tới chuyện tiền trao cháo múc, khi xong việc đằng tiệm tạp hoá ông Tư tấp về quán Cây Khế, gắp thức ăn nóng sốt cô Ba vừa dọn ra, nhai, thưởng thức, ngó cô Ba mồ hôi mồ kê ướt áo xống, nuốt xuống và lòng ông ăm ắp chộn rộn hình ảnh người chồng đang được vợ hiền săn sóc hỏi han chu đáo, thiệt mát cả ruột gan, ngậm mà nghe. Sướng rêm mé đìu hiu. Con Tưng khiếm diện thường trực là điều kiện thuận lợi. Một kẻ thứ ba, sự hiện hữu của nó thường làm người trong cuộc rối trí, chao đảo lung lạc những trận đồ.  Khi có khách vào, ông Tư đã lắm phen tự động cầm tấm thực đơn lại mở rộng nụ cười chào mời, cơm dâng nước rót. Ngồi không cũng chướng, mấy lúc mà có dịp đi “xã giao” làm bộ làm tịch tợ người của Cây Khế, chua ngọt khoan nói tới, chưa đả động việc leo trèo hái bức. Cô Ba chỉ can ngăn cho có lệ, cho phải phép thế thôi chứ bản thân cô đâu phải hạng người có ba đầu sáu tay mà mần từ a tới z. Sao tới bến đặng? Cô oải và hơn ai cả ông Tư đã chứng nghiệm bộn lần cái hoạt cảnh một con vụ có tứ chi đầu bù tóc rối. Người ta mệt ngất ngư con tàu đi mà mình làm đứa vô cảm thì có đáng trách không? Càm ràm với háy, nguýt, giận cá chém thớt thì tình hình mất vui, môi hở thì răng sẽ lạnh, điều ấy ắt sẽ tới. Thằng Sáu đảm nhận chức vụ rửa chén, quét dọn vệ sinh kiêm luôn job của Thiên lôi sai đâu uýnh đó, thấy ông Tư lăng xăng làm việc thiện nguyện, ngứa cổ đưa ra lời bàn, vọng từ chốn lầy lội xó xỉnh khuất tất: Không ấy chú bỏ mẹ chỗ làm kia đi, trôi về đây sum vầy có ngày mà đạt đạo. Chốn ni âm thịnh mà dương suy, phải có chú vô ra mới cân bằng được hoàn cảnh. Đôi khi riêng mình tui con chim đa đa lẻ bạn cứ bị nạt nộ rầy rà nghĩ mà tủi thân cho phận đờn ông thất cơ lỡ vận. Ông Tư ném nguyên chồng chén bát đũa muỗng vào bồn nước đục lờ nghe thằng Sáu ca cải lương mùi, miễn cưỡng phải đằng hắng giọng, lên cung bậc giao duyên: Thôi đi mày ơi, chớ vẽ đường cho hươu chạy mà hư bột hư đường, tao hổng có kinh nghiệm gì ráo, ngộ nhỡ ưa gồng mình cũng sợ người ta chê bai. Tìm người phụ việc thì chí ít cũng ngon cơm sức lực như mày vậy, trọng tuổi như tao chỉ tổ làm họ thêm vướng tay vướng chân chứ được ích gì. Thằng Sáu cười, nghe như dê kêu, he he he: Chú nhiêu tuổi mà sớm nhụt chí? Ông bác tui hơn sáu bó mà còn chơi bảnh, dã về nước cưới con vợ có ba mí xuân xanh, đêm bảy ngày ba vào ra không kể. Lại khe khe khe, cười mà như bị mắc xương cá vào cần cổ.

Ông Tư lộn ra, ngó cô Ba đứng nơi quầy thu ngân. Tóc búi lên, cột một cục trên đầu nhỉnh hơn trái chanh, nhường cái cổ trắng cho ông Tư đặt mắt vô. Lưa thưa ở đó vài sợi lông măng in tuồng đang dựng đứng. Ông Tư thủ thỉ: E đi dìa quê một thời gian thay đổi không khí chẳng chừng là phương án tốt. Chớ nên bội bạc, phải quan hoài tới chuyện mồ mả ông bà cha mẹ đang bị người ta đào xới. Nhắm đi được không? Khoảng nửa tháng mươi ngày thôi. Thử kêu con Tưng một tiếng, có gì tui xin phép đặng tháp tùng theo chim trời mỏi cánh. Mấy chục năm rồi tui cũng chưa ngó lại mặt ngang mặt dọc cố hương. Đường xa vạn dặm có người đồng hành cho đỡ cực thân. Cô Ba nhìn sâu vào mặt đối tượng, mắt long lanh. Cái khăn vắt vai bị cô lôi xuống vày vò trong đôi bàn tay. Cô chùi dầu mỡ thịt thà hành ngò mắm muối tỏi ớt và cũng muốn chùi trơn một cảm xúc vừa vướng mắc. Khi hoang mang thường người ta có những động thái thừa thải đến vậy, biểu tỏ sự khó xử. Vày vò cũng là cách thức nhằm gỡ rối những ý tưởng dùng dằng tiến thối lưỡng nan. Chùi tới chùi lui, trải ra xếp lại, như khăn ấy có ai vừa trao vào tay ở một sân ga diễn đầy cảnh đưa tiễn, người lên tàu lìa ra, kẻ ở lại đứng lóng cóng dậm chân nghe hao hụt lùa tới khi tiếng còi hú lên riết róng, nẫu ruột. Trong vô thanh, giữa câm nín, mơ hồ một dự tưởng lần hồi được tượng hình, ngày mỗi nhích gần tới hiện thực. Giác quan của ông Tư đánh hơi ra bản hợp đồng tròn trịa mà cô Ba sẽ vui vẻ tác thành. Không chắc ông sẽ về quê nếu hay tin mồ mả bố mẹ đẻ bị cày xới, ông sẵn lòng đưa ra cả vạn lý do để thoái thác; nhưng giờ đây, một mãnh lực nào ập tới hối thúc, mụ mị mong chóng hoàn thiện cuộc lữ kia. Đường Tăng cùng Trư Bát Giới đi thỉnh kinh e cũng nghe ra sự khinh khoái lớn bằng ngần ấy thôi. Và cô Ba gọi điện thoại cho con Tưng. Gọi khó khăn, ba chừng bảy đỗi bữa nhiếp bữa kia để bây chừ nó mới lộ hình. Tưng đến, như trăm khi, tựa vũ bão ập vào quán với những tiếng động đặc biệt mà Tưng tự khuấy động. Áo xống chễnh mảng ưa khoe da thịt và người ngợm thì luôn thịnh vượng hương thơm, reo rắc thứ mùi khó phân giải làm dật dờ mọi vật, làm át và giết ngay lập tức mùi mắm mùi lòng mùi dồi mùi cật mùi tim gan phèo phổi heo gà bò. Sự có mặt của đứa con gái mười tám tuổi điện nước thừa mứa như làm bừng tỉnh những bóng đèn vàng ưa chiếu sắc ủ dột, khung cảnh trong quán bỗng sáng hẳn lên.

Tưng vọt vào bếp, động nồi động niêu để nấu riêng cho mình món hải sản cầu kỳ chẳng có niêm yết trong thực đơn. Khuôn mặt đỏ au khi mang tô xe lửa ra bàn ăn. Tóc nhuộm nâu chen cài với vàng, cắt tuỳ tiện sợi ngắn sợi dài. Ngực vun đầy núp sau chiếc áo thun có nhiều lỗ thủng. Thằng Sáu lui cui sau bếp mà không lé mắt cũng uổng! Vừa ăn Tưng vừa liếm môi, cau mày nhọn mỏ: Má đi, con không có ý kiến. Con có thể kêu đôi ba đứa bạn tới phụ, trông coi hàng quán bán buôn thế má dăm bữa nửa tháng… Nhưng kẹt một nỗi, con đang lánh mặt người ta. Con xù, con bỏ. Vất hết, thèm vô! Mẹ rượt, nôm na là con không lấy thằng mắc dịch đó nữa. Khốn kiếp, ba thằng Tàu thảy chơi không được. Má biết nó nói với con ra sao không? Địt mẹ em tưởng em ngon hả, chỉ là người Việt thôi mà, ưa làm tàng hả? Rồi thằng a Pạt đằng quán Fung Hinh đổ thêm dầu: Cái quán Cây Khế của má nị chết tới nơi chứ béo bổ gì mà lên mặt. Đâu có “hủ xực” như đồ ăn Tàu. Má mà đóng cửa quán thì chúng ngộ nhận thêm khinh khi. Má nghe con nói không? Về bển mà được nước nôi gì trong lúc này. Người ta tìm cách chạy ra má lại kiếm cớ lộn vô, muốn từ chết tới bị thương hả? Ông Tư ngồi rùn vai, thu nhỏ người lại. Vậy là hết. Chắc chẳng ra ngô khoai cơm cháo gì nữa. Nói trước bước không rời, tắt thở chuyến song hành cùng nhau đi về miền quá khứ xa xôi. Ta lại phải nhắm mắt cày bừa như số phận đã định. Tiệm tạp hoá đằng ấy cũng có phần hùn của người Trung quốc, hàng hoá đa phần đều dán nhãn Made in China, từ cây tăm tre xỉa răng cho chí những máy móc kềnh càng rắc rối. Áo nịt ngực cho phụ nữ có thể làm ung thư vú, giày da dành cho phái nam có thể gây tác hại lỡ móng sưng chân. Gối kê đầu có thể tạo biến chứng mất ngủ rụng tóc. Đồ chơi dành cho con nít thì baby đụng vào cơ thể không chịu tăng trưởng. Thiên hình vạn trạng các thứ nhuốm độc tố trên từng cây số, ông Tư chẳng tường, chỉ nghe báo đài cảnh giác vậy thôi. Ngực con Tưng “xịn” thế kia, bềnh bồng như hai hòn đảo mà để rơi vào tay thằng Tàu mân mê sờ soạn, nghĩ cũng phí. Xem ra con Tưng thuộc diện thức thời. Nó ăn nói bổ bã vậy chứ thực bụng thuộc tuýp ưa tắm ao nhà, chả ham thích của lạ, biết phân biệt chánh tà. Ông Tư tợp hết chén nước trà đắng sau khi nghe cô Ba khẻ khàng bên tai: Xin lỗi anh Tư nghen, anh giỏi chân dìa cho má con tui đóng cửa nói chuyện riêng tư đại sự. Nhờ trời sau này tình hình yên vui thuận lợi nhứt định tui gọi anh Tư tới bàn tiếp việc thăm quê cho bỏ những ngày cơ cực. Ông Tư nghĩ mình bị đuổi khéo, tuân thủ bỏ ra ngoài đường thấy lạt miệng nhạt mồm. Ông ngó xuôi dòm ngược chẳng biết đang muốn mong một điều gì. Thằng Sáu mang hai bao rác lớn đi vất dáo dác đến gần: Bặp điếu thuốc cho thơm râu, tía. Dù buộc kín, đồ cặn bã hầm bà lằng nằm trong bao cũng xông mùi chua lét khiến xây xẩm. Ừ, chơi một điếu cho lai tỉnh thần hồn. Mẹ, cái xứ này mênh mông buồn tới độ tìm không ra chỗ để đi! Thằng Sau nhổ nước miếng: Trời, nói chi như không vậy tía. Sợ hổng đủ sở hụi thôi, chứ đất này chán khối mục cám dỗ. Muốn yêu tinh có yêu tinh, muốn ma nữ có ngay ma nữ. Thích chay có chay, ham mặn có mặn. Hang ổ đồi truỵ mọc đầy như nấm sau mưa. Bị tía chí thú đi mần việc, tan tầm lại tới quán này ngồi đồng nên bù trất chuyện rậm rật bên ngoài cảnh giới. Ông Tư quăng điếu thuốc. Thôi mày, lúc nào cũng ưa ca cẩm lung tung, để tao về ngủ cho yên thân phận già. Ông quay lưng, chất nỗi sầu trong dáng đi cắm cúi. Ông tới đứng bên tấm bảng hiệu mà chốc lát nữa xe buýt sẽ dừng đổ để tha ông về, thả ngay trước phòng trọ quanh năm yên hàn quạnh quẽ, một mực lặng như tờ. Phố lên đèn, bóng lá cây phong đen đúa vờn trên thân ông. Tự dưng ông Tư nhớ ra câu ca dao coi mòi hợp tạng:

“Lên non đốn củi đụng chỗ đốn rồi,
Xuống sông lấy nước gặp chỗ cát bồi khe khô!”.

Hừ, bún mắm với cháo lòng. Nhức đầu với nhức xương. Quê hương và cây khế, từ nay xin vĩnh biệt, người ơi!

Hồ Đình Nghiêm

Thịt cầy!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Nghe nói thời Mao Trạch Đông, chiến dịch đại nhẩy vọt bị thọt cẳng, què giò, hơn 70 triệu dân Tàu gần chết đói! Hổng nhờ thịt cầy nầy thì dân Tàu chắc chết hết ráo rồi. Chó có công hy sinh xương, thịt, lòng, dồi của mình vì đại nghĩa; thì mình phải ghi công bằng cách tiếp tục ăn thịt chúng nữa vậy thôi.
Ăn rồi còn rủ rê người khác đến cùng ăn cho xôm, hằng năm phèng la quảng cáo ôm xồm: “Lễ hội thịt chó!” Thịt chó nguyên con, thui vàng rượm, được móc lủng lẳng móc trên các sạp hàng ở chợ Động Khẩu lớn nhất thành phố Ngọc Lâm, tỉnh Quảng Tây.
Mấy chú Ba cho rằng mùa hè nóng, ăn thịt chó mát, tăng cường sinh lý, chữa được bịnh trên bảo dưới hổng nghe thì ngu sao mà hổng hẩu xực ‘cẩu nhục’ (cẩu là chó; nhục là thịt đó bà con) chớ? Mấy người ăn heo, bò, gà thì tui ăn chó thì có khác gì nhau?
Rồi Đại Hàn, Việt Nam đó họ cũng ăn tới vài triệu con một năm đó thấy hông? Nói như vậy là vơ đũa cả nắm. Miền Nam mình, sau 75, đói rã họng nhưng đa số bà con mình cũng hổng ai ăn thịt người bạn thân nhứt, thông minh nhứt, tình nghĩa nhứt, trung thành nhứt và nhiều cái nhứt nhứt… là con chó bao giờ! Bà con mình trong Nam cho rằng thịt chó không có quốc hồn quốc túy gì ráo. Ăn thịt chó, mèo là ác. Mà làm ác, xui lắm, Trời sẽ bắt mình trả báo. Nếu có ăn là heo giả cầy tức thịt heo giả làm thịt chó vậy thôi.

***

Nhớ hồi xưa, tui đang dạy học ở một cái quận lỵ heo hút, miền đồng bằng sông Cửu Long. Sau 75, rán nấn ná vì thiệt ra tui hổng biết đi đâu, làm gì mà sống khi một cục đất chọi chim cũng không có.
Trường tui dạy là một trường tỉnh hạt ở quận, mỗi cấp chỉ có hai lớp, từ lớp 6 cho tới lớp 12. Học trò chừng 5, 6 trăm đứa; thầy cô được khoảng 20 là cùng. Bộ Giáo Dục ngoài Bắc bèn gởi vô một đứa ở Hà Tây tên ‘Vằn’, một đứa ở Ninh Bình tên ‘Vện’, thuộc tỉnh Hà Nam Ninh vào; gọi là A chi viện cho tỉnh Hậu Giang.
Một hôm có tay Thanh tra từ Ty Giáo dục về trường. Ba đứa nó hùn được 18 đồng (Lương tháng giáo chức, dứt cháo, chỉ 5, 6 chục đồng thôi) vô cái Sóc Miên mua con chó chừng chục ký về, định giết thịt, làm dồi chó, rựa mận, chả chìa xúm nhau nhậu cho đỡ nhớ cái ‘hĩm’ còn ở lại ngoài miền Bắc.
Nắm cổ con chó về, nhốt vào cái bội bằng tre đan, (bội hay dùng để nhốt mấy con gà nòi đá độ). Trên nóc bội, có dằn cục đá. Bố con nhà nó, đứa mài dao xèn xoẹt định cắt tiết, đứa đi kiếm rơm về thui; tay còn lại qua chùa Tịnh Độ (chuyên bốc thuốc Nam) xin lá mơ; nhưng sư cụ biết tụi nó ăn thịt chó nên nhứt định không cho. Thấy 3 đứa nó mài dao, con chó nó rét quá rán sức bình sinh, tung cái bội văng cục đá xuống nó lên đường bôn tẩu, chạy mất về nhà chủ cũ. Ai nói ‘ngu như chó’ là nói trật lất rồi!

*** Ở Úc cũng khá là lâu, tui thấy cách đối xử của dân Úc với chó, với mèo chắc học từ cái phong tục tập quán tốt đẹp của người dân miền Nam mình đó thôi?! Ăn thịt chó là man rợ, cổ hủ, không văn minh gì ráo trọi hè. Vì chó cũng biết, buồn vui, đau đớn như người! Đài Loan rồi Nam Hàn mới đây cũng đồng ý với Tây là sẽ không ăn thịt chó nữa. Đứa nào giết chó để ăn sẽ bị phạt tiền, hoặc đi ở tù.
Tây không những không ăn thịt chó mà còn thương yêu chó không thua kém gì những người thân thuộc. Cho chó lên truyền hình, đóng phim 101 con chó đốm, cho chó đi thi hoa hậu. Cơn bão mấy năm trước đổ bộ vào miền Đông nước Mỹ gây ngập lụt thì lại thấy cảnh nhân viên cứu nạn bế chó lội bì bỏm trong dòng nước lũ để quay phim.

Xã hội Tây Phương nầy tôn thờ vật chất, chỉ vì đồng tiền mà người ta bội phản nhau lắm lắm; nên nhiều anh mình chọn sống cô đơn. Bị vợ bỏ ư? Ắt phải có ngay một con chó để bầu bạn, kẻo không, mình sẽ bị khủng hoảng tâm thần vì chìm ngập trong nỗi cô đơn.
Thằng bạn Úc của tui cũng vậy! Vợ bỏ ngày trước, ngay hôm sau nó rước về một em chó để điền khuyết chỗ của em yêu! Nó nói: Với chó, mình cứ ra lịnh thoải mái không bao giờ bị cự cãi. Chó không bao giờ đem mình ra ‘phê bình kiểm điểm’ (cái nầy nghe quen quen)! “Sao chưa giặt quần áo, chưa cạo râu, tại sao nách lại hôi?” “Sao trên người lại có mùi lạ, vừa đi với ‘con chó’ nào khác về phải không?”
Chó đơn giản, dễ hiểu! Không rắc rối như tánh của em yêu. Vui là vẫy đuôi, buồn là cụp tai lại. Mình lỡ quên mất sinh nhật của chó thì chẳng sao cả vì nó có biết đâu? Chó giúp mình hạ huyết áp, trong khi chơi với mèo hai chân, coi chừng tối ngủ với vợ nhà, mớ xì bậy bạ ra là chết!
Thế nên chó được cưng chiều cũng là phải phải. Tuy nhiên cái gì cũng có cái mặt trái. Chuyện rằng: Thằng nhóc Johnny lên 8 tuổi có nuôi một con chó tên là Buddy (nghĩa là Bồ Tèo). Johnny cưng Buddy lắm. Coi Buddy như là một người bạn tri kỷ, tri âm.
Một hôm bố Johnny đưa Buddy đi bác sĩ thú y. Khi về, bố báo hung tin: “Bác sĩ nói Buddy chỉ còn có 3 tuần lễ nữa để sống.” Johnny nghe hung tin òa lên khóc nức nở. Bố Johnny ôm lấy con mình an ủi.
“Thôi phần số của Buddy như vậy là bố con mình phải chịu vậy thôi. Đâu cãi lại được ông Trời!”
Johnny gạt nước mắt nói: “Rồi bố có làm đám ma cho Buddy không?” “Dĩ nhiên là có rồi!” “Con có mời bạn cùng lớp đến được không?” “Dĩ nhiên là được rồi!” “Rồi tụi có bánh kẹo và cà rem không?” “Dĩ nhiên con và bạn sẽ có tất cả những gì tụi con muốn!” Nghe vậy, Johnny gạt nước mắt, đề nghị là: “Buddy trước sau gì cũng chết! Thôi bố cho Buddy chết ngay bữa nay đi nhe!”
Bài học rút ra là: Tây thấy vậy; chớ hổng phải vậy!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Cây da trốc gốc!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

August 9th, 2024

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Nhớ: “Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh. Có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam”. Khoảng năm 1950, ông Trần Viết Long, đoàn Kim Chung ở Hà Nội làm bộ phim Kiếp Hoa. Bài hát “Làng Tôi” của Chung Quân đã được chọn làm bản nhạc nền.

Người Bắc trồng cây đa ở đầu làng, chợ, giữa cánh đồng, ở sân đình, chùa, bến đò. Khi phải vượt Trường Sơn vào xâm lược Miền Nam, nhớ cây đa đầu làng cao vút trời xanh, là điểm chuẩn để ‘thằng cu’ tưởng ‘sinh Bắc; tử Nam’ may còn sống sót nhắm hướng để trở về nơi mẹ và bu nó đang mong ngóng.

Ngoài ra, còn có ‘cây đa, cây đề’ trong giới văn học thời CS. Các nhà văn lớp hậu sinh của Bắc Kỳ có ý xỏ xiên ‘lão ấy’ (như Tố Hữu, Huy Cận, Thanh Tịnh… là bọn ‘sống lâu lên lão làng’, sáng tác nhàn nhạt như nước sirop, cà lăm ý cũ. Chỉ làm Thượng sĩ già vậy thôi!

Ngoài ra còn có câu: “Cậy thần phải nể cây đa”. Muốn đút lót Huyện Trìa là phải qua Thầy Đề. Trong tuồng Nghêu, sò, ốc, hến, ta thấy cái hủ tục đó.

Sài Gòn không có cây đa; chỉ có cây da.

Cây da trong Vườn Ông Thượng (quan lớn). “Dinh quan Thượng” là Nha Nội Vụ (Le Directeur de l’intérieur). Gia Định Báo, tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên của nước ta: “Ai muốn mua thì tới dinh quan Thượng lại tại Sài Gòn cho người ta biên tên, mua trót năm thì giá 20 francs mua 6 tháng thì 10 francs, mà mua 3 tháng thì 5 francs”.

Cây da trong Vườn Bờ Rô (préau tiếng Pháp nghĩa là “sân lót gạch giữa vườn)

Cây đa đầu làng 

Vườn Bờ Rô, thời CS là Công viên Tao Đàn, khoảng 10 mẫu tây, rộng nhứt cái đất Sài Gòn. Chu vi của nó là đường: Chasseloup Laubat thời Pháp, đường Hồng Thập Tự thời VNCH, Nguyễn Thị Minh Khai, thời CS. Đường Miss Clavell, thời Pháp. Huyền Trân Công Chúa. Tabert thời Pháp Nguyễn Du. Đường Verdun thời Pháp, thời VNCH Lê Văn Duyệt và Cách Mạng Tháng Tám thời CS.

Cây da trong Thảo Cầm Viên Blanchard de la Brosse, còn gọi là Sở Thú, số 2 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sài Gòn còn có cây da nổi tiếng trước Dinh Gia Long (vì nó nằm trên đường Gia Long). Thời Pháp, nó được gọi là Palais de l’Inspection (Dinh Thanh tra) và sau đó là Palais de l’Indochine (Dinh Đông Dương). Giờ CS lấy Dinh Gia Long làm Bảo tàng Thành phố. Chúng bỏ tên đường Gia Long mà thay bằng đường Lý Tự Trọng. (Lý Tự Trọng (1914-1931) sinh tại Hà Tĩnh. Tháng 11 năm 1930, Lý Tự Trọng bắn chết một viên mật thám, Pháp xử tử hình Lý Tự Trọng khi mới 17 tuổi vào ngày 21 tháng 11 năm 1931)

Vì cây cao bóng cả, vẻ uy nghiêm, cây da thường trồng ở nơi thờ phượng. Vào năm 1744, Lý Thoại Long, người Minh Hương, đã xây một cái am trên gò vắng có trồng một cây da. Ngày nay là Chùa Giác Lâm hay Tổ Đình Giác Lâm của phái Thiền Lâm Tế Tông số 565 đường Lạc Long Quân thuộc Phường10, Quận Tân Bình.

Khuôn viên Nhà thờ Đức Bà (Cathédrale Notre-Dame de Saïgon) có nhiều cây da lớn. Thời Việt Nam Cộng Hòa, là Công trường Hòa Bình; rồi đổi thành Công trường John F. Kennedy tưởng niệm Tổng thống Hoa Kỳ bị bắn chết ngày 22 tháng 11 năm 1963. Sau tháng Tư, năm 1975, CS đổi lại là Quảng trường Công xã Paris. Trong tiếng Việt, công trường thường được dùng để chỉ những khu vực rộng lớn, tụ tập cho lễ lạt lớn. Công trường hồi chiến tranh, mật danh Công Trường 7, CS lại chỉ sư đoàn 7 quân CS. Nghĩa là chúng xài chữ ‘Công trường’ lung tung, bà con không biết đâu mà rờ?.

Tàn rộng che mưa đụt nắng, cây da trong sân rộng 1000 m2 của Đình Nam Chơn số 29 Trần Quang Khải, Tân Định, Quận Nhứt.

Cây da cổ thụ trước Dinh Gia Long – nguồn kienthuc.net

Với tàn rộng giúp che mưa, đụt nắng, cây da cũng là nơi họp chợ. Sách Gia Định thành thông chí (1820), Trịnh Hoài Đức ghi chép về Chợ Cây Da (Khung Dung thị): “Phía nam trấn, dưới chân thành về phía hữu có cây da nhánh rễ rằng ni, bóng lá xum xuê nửa mẫu, người buôn bán nhóm chợ dưới bóng cây. Lúc đầu canh tư người ta đã đi chợ đèn đuốc sáng trưng kẻ đội người gánh những đưa bí rau cải đến nhóm tại đầu chợ phía tây, có người mua sỉ ngồi bán lại; đến sáng đầu chợ phía đông cá thịt và vật hàng mới bày bán”

Tập Ký ức lịch sử về Sài Gòn và vùng phụ cận (Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs, ấn bản 1885): “Trên khoảng Khám đường (nay là Tòa án mới, xưa có ngôi chợ gọi là chợ Cây Da Còm (còm cõi). Gần ngã tư đường Bà Hom, quận Sáu có cây da rất lớn; vùng đất đó bà con mình gọi là Cây Da Sà (cây sà xuống). Chợ Cây Da Bà Bầu (Quận Mười) gần nhà nhạc sĩ Trường Kỳ (1946-2009). Chợ Cây Da Thằng Mọi thời Đức Tả quân Lê Văn Duyệt; giờ ở góc đường Nguyễn Trãi – Cống Quỳnh, Quận Nhứt. Chợ này có bán chưn đèn bằng đất nung, nặn hình thằng mọi, đội đèn trên đầu, trong đó đặt một cái tim bấc thấm ngập dầu phộng hay dầu dừa.

Xã An Mỹ, quận Kế Sách (nơi tui một thời dạy giáo) tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng) cũng có cây da ở ngã ba sông, là bến nước, đò Kế Sách ghé vô rước em ra chợ quận thăm anh ngày cũ

Quê người, tui nhớ: Vườn hoa Lạc Hồng, gần nhà hàng Cửu Long, cuối đại lộ Gia Long, tỉnh lỵ Mỹ Tho, một chiều giông gió năm 1969, cây da đà trốc gốc ngã làm chết người đụt mưa dưới tàn cây của nó.

Tui nhớ cái đất Sài Gòn, với câu hát ru: “Cây da Chợ Đũi nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàn. Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân” Rồi: “Cây da trước miễu? Ai biểu cây da tàn? Bao nhiêu lá rụng; em thương chàng bấy nhiêu! Cây da trốc gốc trôi rồi. Em xa người nghĩa đứng ngồi không yên.”

Ối em ơi! Anh giờ như cây da đà trốc gốc. Trôi rồi ra biển tuổi xuân anh. Cái thời tuổi trẻ anh yêu dấu, Đã chết lâu rồi bởi chiến tranh.”  “Đại mộc lưu giang, bất đắc hồi cố”. Cây lớn trôi sông, chẳng đặng về chỗ cũ. Xin em đừng đợi nữa em ơi!

ĐXT

Còn lại một mình giữa nhân gian

damau.org

Hoàng Chính

Post on 10 Jul 2024

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Sáng Chủ Nhật, tôi dậy muộn. Thằng bé đã thức nằm ngọ ngoạy một mình trong nôi. Tôi nhổm dậy, ngểnh cổ thì thầm, “Hello buddy!” Thằng bé múa tay, đạp chân, miệng ọ ẹ như muốn đáp lại câu chào của bố. Chợt có tiếng sụt sùi từ bên ngoài vọng vào. Nancy lại sao nữa rồi. Tôi vội vuốt má thằng bé rồi đẩy cửa, rảo bước ra hành lang, gõ nhẹ cánh cửa căn phòng đối diện.

“Nancy ơi, you okay?”

Tiếng khóc tức tưởi đáp lời tôi.

Tôi khẽ đẩy cửa bước vào. Căn phòng lờ mờ tối. Tôi đưa tay mở công tác điện. Ánh sáng bung ra từ ngọn đèn trần.

“Tắt đèn đi,” Nancy hét lên.

Tôi vội gạt công tác điện. Bóng tối ùa về.

“Em không muốn nhìn thấy mặt mình đâu,” Nancy tức tưởi.

Chiếc giường ở góc phòng khăn trải thẳng thớm. Chăn gối xếp gọn gàng. Nancy thức sớm hay cả đêm không ngủ được? Câu hỏi xớn xác trong óc tôi. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bàn, Nancy đang đứng trước tấm gương, xoay lưng ra ngoài. Tôi thấy đôi mắt ướt lờ mờ phản chiếu trong gương. Mành tóc rối lưa thưa che ngang khuôn mặt. Tôi bước tới sát bên Nancy. Vây phủ quanh Nancy là cả một không gian nồng mùi dầu nóng. Nancy xoay người lại, một tay cầm chiếc lược, một tay nắm một lọn tóc.

“Anh xem này, tóc em rụng hết rồi!” Nancy sụt sùi.

Tôi chợt nhớ Nancy làm hóa trị đã được gần ba tuần lễ.

Tôi bước tới, rụt rè đặt tay lên vai Nancy. Nàng giơ cao nắm tay với vụn tóc rối cho tôi xem. Những sợi tóc xám cong cuốn, và gẫy khúc. Cảm giác nhờm tởm khuấy lên trong tôi. Một vài sợi tóc con gái đang xuân đen mướt rụng rơi dễ là nguồn cảm hứng, là thứ người đàn ông bắt gặp sẽ nhặt lên, ép vào giữa những trang sách. Nhưng mớ tóc rối bệnh hoạn, xám ngoắt, khô héo, gẫy mục, gợi lên cảm giác ghê sợ, như những sợi tóc rối trên đầu mụ phù thủy gian manh.

“Tóc em rụng hết rồi!” Giọng Nancy ướt sũng.

Tôi gỡ nhúm tóc rối ra khỏi bàn tay Nancy, nhỏ nhẹ, “Cố gắng điều trị, Nancy à. Rồi sẽ hết bịnh.”

Tôi biết mình nói dối. Những người mắc ung thư mà tôi có dịp quen biết đều chết sớm, ngay cả khi xem ra đã ổn định sau một thời gian điều trị. Có thể là tôi sai. Có thể là tôi quen toàn những người xấu số. Cho dù là thế, tôi cũng không dám nghĩ thêm.

“Nancy sẽ hết bệnh,” tôi nói.

“Anh không cần phải gạt tôi!” Nancy gắt lên, giọng khàn đục. Nàng ngước nhìn tôi. Đôi mắt nhòe nhoẹt. Những sợi lông mi dính bết vào nhau. Ánh nhìn tung tóe lửa hận.

Tôi sững sờ. Mớ tóc chết trong lòng bàn tay. Cảm giác ngứa ngáy gờn gợn trên da. Nancy đang trong cơn tuyệt vọng. Khi tuyệt vọng người ta có thể buông xuôi tất cả. Người ta có thể cắt mạch máu cổ tay chính mình và siết cổ những sinh linh vướng víu chung quanh. Tôi đứng bất động. Khoảnh khắc này mọi cử chỉ đều là ngọn lửa châm vào thùng thuốc nổ.

Tiếng hắt hơi của thằng bé trong nôi ở phòng bên kia đánh thức hai chúng tôi. Trong một giây, Nancy bỗng dịu dàng, “Con nhảy mũi kìa.”

Chúng tôi dắt díu nhau bước ra ngoài. Từ hôm Nancy đi bệnh viện để cắt bỏ hai bên vú. Thằng bé không còn ngủ trong phòng Nancy nữa.

Đến trước cửa phòng tôi, Nancy níu áo tôi, “I’m sorry!”

Tôi vội vàng, “Không sao.”

Nancy tiếp, “Nghe em nói đây.”

Tôi đứng sựng, nghiêng tai, chăm chú. Nắm tóc vụn trong lòng bàn tay chưa biết bỏ đi đâu. Cảm giác ngứa ngáy làm tôi khó chịu, nhưng tôi cố không để ý đến nó. Tôi biết tôi chỉ tưởng tượng ra như thế.

“Em không sợ chết,” giọng Nancy đã ấm trở lại. “Nhưng em sợ xấu xí, tàn tạ.”

Tôi vội vã lắc đầu. Và tôi lại nói dối, “Không chết đâu.”

“Đã bảo em không sợ chết!” Nancy gằn giọng.

Tôi vội vã gật đầu.

Đẩy cái nôi thằng bé ra phòng ăn. Tôi nấu nướng thật nhanh. Bữa điểm tâm đơn sơ sáng Chủ Nhật. Trứng tráng. Những miếng bánh mì nướng. Vài quả chuối. Bình sữa cho thằng bé. Cà phê cho hai chúng tôi. Từ lúc Nancy nhận bản án ung thư, căn nhà nhỏ bé của chúng tôi âm u như nhà mồ. Và bữa ăn nào cũng sơ sài cho qua. Chúng tôi thường ngồi với nhau như thế. Không ai nói gì với ai. Buổi sáng kéo dài tưởng chừng như vô tận.

“Em không muốn ăn sáng,” Nancy nói.

“Điểm tâm thôi mà.”

“Miệng em nhạt thếch. Ăn thứ gì cũng thấy giống nhau.”

Tôi nhớ hôm đến đón Nancy ở bệnh viện, bác sĩ đã dặn tôi nhắc nàng uống thuốc đúng giờ, không được bỏ thứ nào, dù biết thuốc làm tê liệt vị giác. Người bệnh sẽ không còn nếm được vị của đồ ăn.

“Thôi, cố ăn để lấy sức,” tôi xuống giọng vỗ về. Và kéo ghế cho Nancy ngồi.

Nancy buông mình xuống ghế, ánh nhìn xa xăm. Có gì ở cuối tầm nhìn ấy? Một phép lạ. Một tin vui rằng một ngày nào đó bác sĩ bảo trong cơ thể nàng không còn tế bào ung thư? Tôi cũng bắt đầu mơ mộng xa vời. Hệt như Nancy. Tôi còn cầu nguyện nữa. Tôi kỳ kèo với Trời với Đất. Rằng Nancy thiệt thòi cũng đã nhiều. Rằng Nancy chỉ có một mình. Rằng công việc bắt buộc Nancy phải chuyển về cái thị trấn xa xôi hẻo lánh này. Rằng Nancy đã phải cắt bỏ cả hai bên vú. Nancy đã bị tước đoạt những báu vật của người nữ. Nancy không còn cho thằng bé bú được như vẫn thường cho bú. Nancy đã bị tước đi quyền làm mẹ. Nancy thương thằng bé hơn bất cứ thứ gì. Dù Nancy không sinh ra nó nhưng ngay buổi đầu khi mẹ nó đem nó đến đây rồi bỏ đi bặt tăm, chính Nancy đã cho nó bú dù nàng chưa bao giờ làm mẹ. Phép lạ đã xảy ra một lần giữa đời thường. Bị thằng bé bú hoài, đôi vú Nancy bắt đầu làm ra sữa. Phép lạ cũng có thể xảy ra một lần nữa. Rằng ung thư đã trị tuyệt. Tôi thèm khát một phép lạ giữa đời thường như thế. Và tôi âm thầm cầu nguyện. Bởi tôi chẳng biết xoay sở thế nào, khi còn lại một mình giữa nhân gian.

“Hồi nằm bệnh viện, em hay ngóng ra cửa sổ,” Nancy nói, mắt vẫn nhìn xa xăm. “Mấy hôm ấy trời mưa hoài. Em nhìn mưa. Em nghĩ mình còn cố sống để làm gì. Em nhìn ra cái lan can. Phòng em ở tận trên lầu sáu. Em thấy những thanh sắt lan can cong queo như những con rắn. Con rắn năm xưa dụ người đàn bà ăn trái cấm, những con rắn lan can hôm ấy rủ em thả mình xuống để không còn đau đớn, không còn khó thở, không còn phải nuốt những viên thuốc đắng, không còn bị kim đâm nát cánh tay. Buông mình xuống để giải thoát chính mình. Em thấy sự giải thoát ở trong tầm tay. Với tay ra là có ngay được. Anh biết không?”

Nancy ngừng nói, hai tay chặn lên ngực để thở. Tôi rùng mình. Tôi nhìn đôi mắt sâu. Hai quầng thâm dưới mi mắt. Đôi má hõm. Đôi môi xám nhạt. Chẳng còn là người đàn bà có nụ cười nửa miệng đầy quyến rũ, đến mức vừa đến hỏi thuê nhà là tôi đồng ý cho thuê ngay độ nào. Tôi hít một hơi dài để dồn nén cơn xúc động. Mùi dầu nóng căng đầy lồng ngực. Tôi nhìn cái cổ tay gầy guộc của Nancy. Tôi không thể ngờ Thần Chết đã từng rủ rê Nancy rời bỏ chốn này.

“Nhưng anh biết gì không?” Nancy xoay người đặt tay lên vành nôi thằng bé. “Em nghĩ đến thằng bé này.” Tôi khẽ gật đầu. Tôi cảm động. Tôi biết Nancy còn nói thêm nữa là tôi sẽ khóc.

“Nó đâu có tội gì,” Nancy tiếp.

“Nó đâu có tội gì,” tôi lặp lại câu nói của Nancy. Tôi đã toan nói Nancy cũng đâu có tội gì nhưng tôi ngừng lại kịp.

“Thay tã cho con chưa?” Nancy hỏi.

Tôi giật mình. Cả tháng trời Nancy săn sóc thằng bé. Nancy thay tã, tắm rửa, cho ăn uống. Nancy làm đủ thứ cho nó, cho đến khi nàng phải vào bệnh viện. Tôi lụp chụp đóng vai ông bố có con đầu lòng không quên thứ này thì cũng quên thứ kia.

Thấy tôi ú ớ, Nancy tiếp, “Lại quên nữa rồi.”

Tôi chạy đi lấy tã để Nancy thay cho thằng bé. Thay xong, nàng ôm thằng bé, hôn lên trán nó, thì thầm, “My baby!” Rồi quay sang tôi, “Mai mốt không còn em… Anh nhớ thay tã thường xuyên cho con.”

Bỗng dưng tôi hoảng sợ. Mai mốt còn lại một mình tôi. Tôi không dám nghĩ thêm. Tôi phải cố nghĩ sang chuyện khác. Tôi khẽ đẩy đĩa thức ăn lại trước mặt Nancy, “Nancy ăn đỡ miếng bánh mì cho khỏi đói.”

Nancy cầm quả chuối lên ngắm nghía. Những ngón tay Nancy run rẩy như những ngón tay người già. Nàng nghiêng đầu chăm chú nhìn cái nhãn hiệu dán trên vỏ chuối. Chùm tóc rối lòa xòa một bên vai. Nàng tỉ mỉ bóc cái nhãn ấy ra, dán xuống mặt bàn.

“Trái chuối này từ Guatemala nhập sang đây đó anh,” nàng chỉ vào hàng chữ trên nhãn hiệu.

Tôi cầm quả chuối của mình lên. Cái nhãn hình bầu dục dán ở giữa quả chuối. Cái nhãn đủ màu xanh, đỏ, tím, vàng và hàng chữ Guatemala. Ăn chuối biết bao lâu mà không bao giờ tôi để ý xem chúng từ đâu tới.

“Anh cứ tưởng tượng mà xem,” Nancy tiếp. “Nó từ một cánh đồng hay một nông trại. Người ta cắt buồng chuối ra khỏi thân cây. Người ta vác nó trên vai, đội nó trên đầu, cẩn thận để không bị gẫy hay giập. Rồi người ta chất nó cùng những buồng chuối khác lên chiếc xe bò lọc cọc trên đường đất gồ ghề, lầy lội. Đến xưởng thực phẩm trên thành phố, người ta dán cho mỗi quả chuối một nhãn hiệu, như tấm thẻ quốc tịch, như mẩu giấy thông hành. Rồi người ta chất nó lên xe tải chở ra phi trường.”

Một cơn ho cắt ngang câu nói. Nancy ôm khung ngực lép kẹp để ém cơn ho. Nàng thở hì hạch như vừa chạy nước rút. Nước mắt dàn dụa hai mi. Rồi nàng tiếp, giọng đứt quãng, “Người ta chất nó vào khoang hành lý máy bay. Nó lẩn vào giữa những đám mây. Nó đáp xuống phi trường nào đó ở xứ sở này. Người ta lại gỡ nó ra. Chở tới siêu thị, cho vào bọc, đặt lên quầy. Anh mua về. Và hôm nay mình dùng nó cho bữa điểm tâm buổi sáng.” Nancy cầm quả chuối lên ngắm nghía. “Nó đến từ Trung Mỹ, tận Guatemala. Có khi trái chuối này mọc trong cái vườn nhà nghèo kia, có đứa bé thèm ăn chuối nhưng mẹ nó bắt nhịn để bán lấy tiền mua gạo.”

Ngừng lại để thở, hai mắt đăm đắm nhìn quả chuối, một lát Nancy thì thào, “Em không muốn ăn trái chuối này đâu. Em muốn giữ nó lại để chuyện trò với nó. Em muốn hỏi thăm nó về đời sống ở xứ sở Trung Mỹ ấy. Em muốn được đi đó đi đây như nó. Anh biết không?”

Tôi nhai miếng bánh mì nướng khô khốc và cố nuốt xuống cùng với cái mặc cảm tội lỗi sần sượng. Cả tháng trời nay, tôi bị ám bởi cái ý nghĩ đầy ngu ngốc rằng nếu đừng có cái đêm bão tuyết, và tôi đừng mò vào phòng Nancy, đừng tuột vội chiếc áo thun Nancy mặc trên người và đừng mân mê khuôn ngực tròn đầy, thì tôi đã không phát hiện ra khối u ở ngực bên trái của Nancy và như vậy Nancy đã không bị chứng bệnh mang cái tên độc địa: ung thư vú.

Tôi cứ nghĩ là tôi làm Nancy bị ung thư. Và tôi có lỗi một phần. Ý nghĩ ấy gắn cứng vào óc tôi. Tôi biết mình vô lý nhưng làm sao xua nó đi cho được. Trong người tôi, nó đã di căn khắp châu thân, như những tế bào ung thư quỷ quái.

Tôi rót thêm sữa vào ly cà phê đã nguội ngắt của Nancy.

Nancy lắc đầu, nhỏ nhẹ, “Em không muốn ăn uống gì hết.” Nàng buông quả chuối xuống bàn, áp hai bàn tay lên hai bên thái dương, nhắm nghiền hai mắt, “Em chóng mặt. Với lại em bị lở miệng, ăn không được.”

Tôi ngồi yên như tượng đá. Tôi không biết phải làm gì. Nhưng Nancy đã vội trấn an tôi, “Anh ăn đi, em ngồi nhìn anh ăn cũng được rồi.”

Có những thứ cần phải đốt đi

damau.org

Hoàng Chính

Post on 20 Mar 2024

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Chờ cô ngồi yên trên chiếc ghế có lưng dựa, ông bác sĩ tự giới thiệu rồi nhìn thẳng vào mắt cô, “Cô có ý định tự tử từ lúc nào?”

Sững sờ. Miệng cô há hốc. Gần một phút trôi qua. Những con mắt xoáy vào nhau. Rồi như chợt hiểu ra, cô chồm ra trước, trừng mắt, nắm chặt hai bàn tay, gằn từng chữ, “Tôi không có ý định gì hết.”

Không quan tâm đến cử chỉ của cô, ông bác sĩ hỏi tiếp, “Thế có bao giờ cô toan tính tự tử chưa?”

“Trời ơi! Tôi không tự tử,” cô nói như hét. “Ai nói với mấy người là tôi tự tử chứ?”

“Cô là gì của anh…” ông bác sĩ xoay qua cô y tá đứng bên cạnh, nhướng mắt hỏi, “Anh ta tên gì nhỉ?” Cô y tá đọc cái tên đàn ông lạ hoắc. Ông bác sĩ gật gù, “Ừ, anh Jack; cô là người yêu của Jack phải không?”

“Jack nào? Tôi không phải là người yêu của ai hết,” cô gầm gừ trong cổ họng. Khi không lại được làm người yêu của một người không quen biết.

“Jack nói với cảnh sát cô là người yêu của anh ta.”

Đang hí hoáy ghi chép vào xấp hồ sơ, cô y tá ngưng tay, xen vào, “Người yêu mới dám liều mạng như thế.”

Thì ra tên hắn là Jack. Tên trộm ấy tên là Jack. Cô không quen biết hắn. Cô chỉ biết hắn là tên ăn trộm, một tên trộm kỳ quái.

Cô xoay qua người nữ y tá, “Tôi không quen biết gì anh ta hết.”

“Jack nói là cô đòi chia tay với anh ấy,” cô y tá nói.

Cô nghiến răng, “Trời ơi! Tôi không hiểu mấy người nói gì.”

“Thôi được, cô cứ ngồi đó nghỉ ngơi và định thần trở lại, lát nữa mình sẽ tiếp tục câu chuyện.”

Ông bác sĩ đứng dậy, đẩy chiếc ghế qua một bên, bước ra cửa. Cô y tá nhanh chân bước theo. Cánh cửa đóng sập. Chốt cửa khóa lại ở bên ngoài.

Cô ngả người ra lưng ghế, ngước nhìn trần nhà. Trần nhà sơn màu trắng. Cái màu chói lòa con mắt. Cô nhắm mắt, cố hình dung lại từng chi tiết của buổi chiều kỳ dị. Buổi chiều lạ lẫm như một giấc mơ, như một cơn ác mộng.

Bắt đầu là tiệm sách cũ ở cuối phố. Nơi cô vẫn thường ghé vào những khi rảnh rỗi, không biết phải làm gì cho qua thời gian. Tiệm sách thoang thoảng mùi mốc của giấy cũ. Những cuốn sách chồng chất lên nhau trên những kệ gỗ không sơn phết. Từ cửa vào, lối đi nhỏ dần rồi chia nhánh thành những khu sách riêng biệt, như những mê lộ. Cô thích đi lướt qua từng khu, chạm đầu ngón tay lên lưng những cuốn sách. Lâu lâu rút ra một cuốn, lật vu vơ vài trang, đọc lướt vài dòng, rồi để lại chỗ cũ. Cô ghé nhà sách như người phụ nữ có tấm lòng, ghé thăm những đứa trẻ trong viện mồ côi. Cô rảo hết những lối đi quanh co, chật hẹp. Vỗ về cuốn này, xoa đầu cuốn kia. Cô mỉm cười trước những cái tựa sách lạ lùng như nhìn đứa trẻ nghịch ngợm làm trò méo mặt, nhe răng, cười để mong được người lạ nhận về nuôi. Cô đi vòng qua hết những ngăn, những kệ. Hư cấu, phi hư cấu, thi ca, âm nhạc, sách dạy đàn, sách dạy cách làm tình, sách dạy nghề sửa ống nước và cô sựng lại trước khu sách triết học. Một người đàn ông ngồi xếp bằng ngay lối đi, lưng dựa vách tường, tay mân mê một cuốn sách bìa màu nâu cũ. Một cái ba lô màu đen căng phồng nằm bên cạnh. Hắn ngước lên nhìn cô rồi lại cắm cúi vào cuốn sách. Cô bước lui bởi lối đi hẹp không vừa cho cô lách qua, và lối vào khu sách triết học ngừng lại trước vách tường xi măng lở lói. Một tiếng chửi thề khô khốc. Cô quay lại nhìn. Gã vẫn chăm chú vào những trang sách. Cặp lông mày cau lại. Miệng lẩm bẩm bằng tiếng Anh, “Phải đốt, phải đốt thôi!”
Sách nằm ở khu này chắc là sách triết học. Không mấy quan tâm đến triết học nên cô lùi ra, lặng lẽ bước về phía cửa ra vào.

Gã đàn ông ấy thảnh thơi bước qua trước mặt cô, ba lô trên vai, cuốn sách bìa nâu trong tay. Gã đi thẳng ra ngoài, tan vào vũng nắng trên đường phố. Cô tròn mắt ngạc nhiên. Cô gái ngồi ở quầy tính tiền đang chăm chú nhìn vào cái điện thoại cầm tay. Có một kẻ vừa ăn trộm sách mà cô ta không hề hay biết.

Thì ra tên hắn là Jack, và hắn khoe với thiên hạ cô là người yêu của hắn. Và cô là kẻ phụ bạc.

Cô xuống phố. Con phố đông người và nhiều cửa tiệm thời trang đầy những món đại hạ giá mùa hè. Chiều rơi nhè nhẹ. Gió lả lơi với nắng trên những ngọn cây. Cô lơ đãng đếm những ngọn đèn chớp, tắt ở ngã tư. Cô ngừng bước trước khung kính một tiệm thời trang. Những chiếc áo đầm điểm trên mình sắc màu mùa hạ. Những đốm hoa vàng vướng đầu cành nâu và lá xanh điểm những nụ tím. “Cô sẽ đẹp rực rỡ trong chiếc áo đó.” Giọng đàn ông sau lưng cô. Cô còn nhớ thật rõ cái giọng trầm và ấm áp. Lúc ấy cô đã quay lại nhìn. Một người đàn ông không quan biết. Gã trung niên. Áo thun trắng và quần Jean xanh đặm. Gã nháy mắt với cô rồi rảo bước. Gã đi một khúc xa cô mới mỉm cười. Cô quay lại khung kính cửa tiệm. Bóng cô in trên đó. Mỏng mảnh. Và dịu dàng.

Những người đi đường lướt qua sau lưng cô. Hình ảnh họ nhập nhòe khung kính. Lờ mờ phía bên kia đường thấp thoáng bóng một người đàn ông đang đi bỗng dừng hẳn lại trên lề đường. Cô giật mình. Đúng là tên ăn trộm sách. Bây giờ thì cô biết tên hắn. Cô y tá vừa bảo tên hắn là Jack. Và hắn đã khai với cảnh sát là cô đòi chia tay với hắn nên hắn tự tử. Thật không hiểu nổi. Đúng là tên trộm sách. Cái bóng cao lêu nghêu và màu áo vàng- sắc úa của lá mùa thu- của hắn không lẫn vào đâu được.

Cô nheo mắt nhìn cho rõ. Hắn đứng bất động. Ba lô nặng trĩu sau vai. Người đi đường dạt qua một bên để tránh hắn. Một người tất tả bước, mắt ngó ngang ngó dọc và đâm sầm vào hắn. Cô xoay hẳn người nhìn xem hắn phản ứng như thế nào. Gã đàn ông vừa đâm sầm vào hắn lùi lại, vung vẩy hai tay. Miệng lắp bắp ném ra những mảnh âm thanh vỡ vụn. Hắn vẫn đứng yên, đầu ngẩng cao, mắt dõi xa xăm.

Rồi hắn đặt cái ba lô xuống bên chân. Lom khom mở móc khóa. Người đi đường ném cho hắn những cái nhìn vụn vặt rồi nhanh chóng rảo bước. Bên này đường, cô tròn mắt nhìn. Hắn moi trong ba lô ra vật gì đó vuông vức. Một cuốn sách. Cuốn sách bìa nâu. Đúng là cuốn sách lấy trộm trong tiệm sách cũ. Hắn thận trọng đặt cuốn sách xuống bên chân phải, sửa lại cho ngay ngắn. Rồi ngập ngừng một giây, lại cúi xuống, cầm cuốn sách lên đặt sang bên chân trái. Bây giờ cô mới nhìn thấy đôi giầy vải hắn mang. Một bên có giây buộc, bên kia không giây. Cô ngạc nhiên. Chiếc giầy không giây mà sao hắn đi không tuột.

Đặt cuốn sách ngay ngắn bên chân trái xong, hắn ngẩng đầu lên, chùm tóc dài rũ xuống trán. Hắn nhìn vào khoảng không trước mặt, vẻ mãn nguyện mơ hồ trên nét mặt. Rồi hắn cúi xuống, loay hoay với cái ba lô căng phồng. Cô thấy hắn lôi ra một cái thùng, từ xa, nhìn như một can nhựa đựng nước. Vài người đi đường bước chậm lại, tò mò nhìn hắn.
Hắn thong thả mở nắp thùng nhựa. Rồi hắn nắm quai thùng, xách nó lên, nghiêng miệng thùng lên phía trên cuốn sách. Chất lỏng lấp lánh đổ thành dòng lên bìa sách, tràn xuống mặt đường, rồi hắn nâng cái thùng lên, nghiêng miệng thùng ngay đỉnh đầu. Chất lỏng óng ánh tuôn ra, tràn trề trên tóc, trên cổ, trên mặt, dán vải áo vào ngực hắn, tuôn xuống hai chân, thấm đôi giầy vải. Và loang thành vũng trên lề đường.

Những bước chân sựng lại quanh hắn. Những con mắt trợn tròn, những cái miệng há hốc ngạc nhiên. Bên này đường tim cô đập vỡ tung lồng ngực. Tiếng hét của người nào đó khuấy động lòng con phố. Vài người tuông chạy. Vài người vây quanh hắn. Hắn đứng thẳng người. Chiếc áo sơ mi thấm chất lỏng ngả sang màu nâu nhạt.

Chôn chân trên lề đường cô cố kiễng chân lên nhìn cho rõ. Bên kia đường, hắn co ro. Tả tơi như vừa lầm lũi bước đi dưới cơn mưa trút nước. Cái bình nhựa màu trắng nằm ngay ngắn bên chân hắn. Đám đông vây quanh, lao xao, nôn nóng. Những cái điện thoại đi động săm soi chĩa vào hắn.

Hắn thọc tay vào túi quần bên phải, sựng lại, khẽ lắc đầu rồi luồn tay vào túi trái, moi ra vật gì đó nhỏ, gọn trong lòng bàn tay. Ánh nắng chiều lọt qua khe hở giữa hai dãy chung cư lấp lánh trên cái bật lửa màu bạc.

Chợt cái bật lửa tuột khỏi tay hắn, rơi xuống mặt đường. Hắn cúi xuống nhặt lên. Cô thoáng thấy hắn rùng mình. Hắn lại loay hoay mở nắp. Loại bật lửa này bây giờ ít người dùng. Bởi mắc tiền và không tiện dụng. Cô nhận ra bởi ngày trước bạn trai cũ của cô luôn miệng ca ngợi cái bật lửa Zippo mà anh ta mua được.

Hắn vừa mở được nắp cái bật lửa. Đám đông lại lao xao. Bên này đường cô thấy rõ ngón tay cái của hắn run rẩy đặt lên vòng bánh xe bật lửa. Và cô tuông chạy qua đường, bất chấp tiếng còi xe chát chúa bên tai. Cô nhào về phía hắn. Cô xô đẩy hung hăng. Cô ôm chẩm lấy hắn. Mùi xăng xốc vào cổ họng. Cô cảm nhận được những đốt xương sườn thô cứng cấn lên thân thể cô. Hắn sững sờ buông xuôi hai cánh tay. Cái bật lửa rơi xuống mặt xi măng vang lên một tiếng cạch khô khan. Hắn cao hơn cô. Cô phải ngước lên để gào vào mặt hắn, “Don’t do it! please, don’t do it!” Cô lặp đi lặp lại câu nài van ấy cho đến khi giọng cô khản đặc. Cho đến khi tiếng xì xào thất vọng của lũ người vây quanh dâng cao, cao mãi như thủy triều. Trong mớ âm thanh hỗn độn ấy cô nghe ra cả những lời nguyền rủa của đám đông dành cho “đứa con gái ngu xuẩn.”

Hắn đứng chết lặng trong vòng tay siết chặt của cô. Cô kiễng chân nhìn sâu vào mắt hắn, trong khi hắn vẫn rõi mắt về một không gian mơ hồ xa xăm nào đó. Vùng trời phía sau lưng cô, nơi những toà cao ốc xén bầu trời thành khung tranh xanh biếc. Hắn lẩm bẩm, “Có những thứ cần phải đốt đi…” Rồi im bặt.

Cô muốn buông hắn ra nhưng hai cánh tay cô như hai thanh sắt siết vòng ra tới sau lưng hắn. Cô lại cố kiễng chân nhìn vào mắt hắn. Mắt hắn màu nâu. Chắc cũng như màu mắt cô. Đám đông vây quanh họ dãn ra. Những tiếng cằn nhằn dấy lên chung quanh, mạt sát hành vi liều lĩnh của cô. Kẻ nào đó lại buột miệng rủa, “Stupid girl!”

Cô chợt hiểu. Cô đã lấy mất của đám đông cơ hội quay phim để nổi tiếng trên mạng xã hội. Cô không dám nhìn bất cứ khuôn mặt nào chung quanh. Và cánh tay cô vẫn siết cứng quanh thân thể người thanh niên áo vàng. Cho đến khi có ai đó gỡ hai cánh tay cô ra.

Hai người cảnh sát. Người cảnh sát nữ kéo cô qua một bên, người cảnh sát nam nhặt cái bật lửa và kéo cái ba lô qua một bên. Sau khi lục soát kỹ lưỡng túi áo, túi quần hắn, họ đẩy cả cô lẫn hắn vào xe cảnh sát.

Họ chuyển hai người vào bệnh viện. Cho cô thay áo quần của bệnh nhân và đưa cô lên phòng bác sĩ trực. Một người cảnh sát đi sát sau lưng cô. Cô xớn xác tìm người thanh niên áo vàng nhưng hắn đã biệt dạng.

Và bây giờ cô ở đây. Bệnh viện thành phố, trong căn phòng dành cho những bệnh nhân bạo động, có cửa khóa trái bên ngoài. Cô ngọ ngoạy trong chiếc áo rộng thùng thình. Mùi xăng đeo dính lấy cô dù cô đang khoác trên người áo choàng bệnh viện. Tiếng gõ cửa nhẹ, và cánh cửa bật mở. Ông bác sĩ trực và cô y tá ban nãy. Thêm một người nữ cảnh sát.

“Tôi có làm gì đâu.” Cô lặp đi lặp lại câu ấy, nhưng chẳng ai thèm nghe cô nói. Họ quả quyết cô cần gặp bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

Ông bác sĩ kéo cái ghế ở góc phòng, ngồi đối diện với cô, chậm rãi, “Cô có ý định kết liễu đời mình tự bao giờ?”

“Tôi không có ý định gì hết,” cô nhỏ nhẹ. Ngồi ôn lại khúc phim của buổi chiều giúp cô lắng xuống, giọng cô ngọt ngào, “Tôi thấy người toan tự tử thì tôi cứu, vậy thôi.”

Ông bác sĩ gật gù, “Nhiều trường hợp người muốn tự tử nhưng không đủ can đảm thực hiện. Tuy nhiên người ta dễ dàng thực hiện ý định của mình khi có người chuẩn bị sẵn cách chết cho mình… Cô biết điều đó chứ?”

“Tôi không muốn tự tử,” cô nói cùng với cái lắc đầu.

Ông bác sĩ vẫn thong thả, “Hơn nữa, hành vi tự tử cũng như hành vi phạm tội, có kẻ đồng phạm người ta sẽ yên tâm phạm tội hơn.”

Cô mím môi, lặng thinh.

“Cô thấy bao nhiêu người chung quanh, không có ai ôm chầm lấy kẻ tẩm đầy xăng trên người như thế, họ tránh xa ra, và họ gọi cảnh sát.”

Nỗi bực bội lại dạt về, cô gằn giọng, “Họ tránh xa ra để quay phim, mấy người hiểu không?”

Ông bác sĩ chuyển hướng câu chuyện, “Cô là gì của hắn ta?”

“Ai?”

“Jack, anh chàng tẩm xăng lên người ấy.”

“Không là gì hết.”

Ông bác sĩ gật gù, nét nghi hoặc hiện rõ trong ánh mắt.

Im lặng một lúc, cô buột miệng, “Anh ta đâu rồi?”

“Nhập viện, chờ khám tâm thần.”

Cô nhắm mắt. Hình ảnh buổi chiều tắt nắng trong lòng phố lại hiện ra trước mắt cô. Gã thanh niên áo vàng. Tóc rũ trên vầng trán cao. Đôi con mắt màu nâu. Hai chiếc giầy vải và một bên giầy không có dây buộc. Chiếc ba lô màu đen. Thùng nhựa màu trắng. Chất lỏng lấp lánh trong nắng chiều. Cái bật lửa kiểu xưa có nắp đậy. Và cuốn sách bìa màu nâu lấy trộm trong tiệm sách cũ. Dòng chất lỏng chảy lênh láng trên cuốn sách tràn xuống nền xi măng lề phố.

Bỗng dưng cô muốn biết cuốn sách ấy là sách gì mà bị hắn tẩm xăng trước tiên. Cô quay sang người cảnh sát đứng cạnh đó, “Cuốn sách đâu rồi?”

Người nữ cảnh sát nhướng cặp lông mày, “Cuốn sách nào?”

Hành lang toà Milton 230512

Có gì mà phải vội vã nữa đâu!

damau.org

Post 21 May 2024

Hoàng Chính

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

“Em phải đi bác sĩ,” tôi buột miệng nói.

Đang ngồi cạnh chiếc nôi, đỡ bình sữa vào miệng thằng bé, Nancy ngẩng đầu lên, “Tại sao?”

Tôi lúng túng, “Em phải làm… mammogram.”

Nancy tròn mắt ngạc nhiên, “Tại sao?”

“Để định bệnh.”

“Bệnh gì?”

Tôi hít một hơi dài, gom góp hết dũng khí, và thở ra đứt quãng, “Có cục gì trong ngực trái của Nancy.”

Nancy trợn mắt, “Làm sao anh biết?”

“Bữa… hôm bão tuyết,” tôi lúng búng trong miệng.

Hai má ửng đỏ, Nancy úp vội bàn tay lên ngực. Hai con mắt mở lớn, bối rối và kinh ngạc. Nàng rút bình sữa từ miệng thằng bé, đưa cho tôi, bước vội vào nhà tắm.

“Bên trái,” tôi nói với theo.

Chuyện như thế này, nhà có hai phòng ngủ. Là chủ nhà nên tôi nhường phòng ngủ chính rộng rãi, có nhà vệ sinh riêng, cho Nancy. Bữa hôm bão tuyết, bận công việc và loay hoay với thằng bé sơ sinh chưa đầy sáu tháng, tôi không kịp vào rừng chặt cây hoặc ra khu ngoại ô mua củi đốt lò sưởi nên nhà lạnh cóng. Nhà chỉ có một máy sưởi điện xách tay, để trong phòng Nancy bởi cái nôi của thằng bé đặt trong ấy. Đêm lạnh, tôi đã phải liều mạng mò vào phòng Nancy. Vậy đó!

Nancy lủi thủi bước ra từ nhà tắm. Hai con mắt đờ đẫn, “Bây giờ làm sao đây?”

“Để anh gọi bác sĩ lấy hẹn cho Nancy.”

Tôi ôm điện thoại. Một loạt những thông tin từ máy ghi âm, chỉ dẫn bấm số này nếu muốn thế này, bấm số kia nếu muốn thế kia. Quay vòng vòng chóng mặt. Sau mười phút chờ, tôi gặp được nhân viên bệnh viện. Bệnh viện thành phố này nhỏ, không đủ phương tiện. Người ta giới thiệu Nancy lên thành phố lớn kế bên. Tám chục cây số. Nancy phải lên đấy để chụp hình quang tuyến vú. Chúng tôi lặn lội đường dài. Tới, lui, và chờ đợi. Cũng may thằng bé con ngủ suốt quãng đường.

Rồi cả hai chúng tôi nôn nóng chờ kết quả mammogram. Bác sĩ gọi Nancy, bảo chưa thể kết luận trên hình quang tuyến, nhưng cho cái hẹn, đòi nàng tới bệnh viện để làm sinh thiết.

Thời gian trôi. Thời gian ngừng. Thời gian đan chéo vào nhau. Buổi sáng lẫn vào buổi chiều. Ban trưa rối tung với những mảnh đêm u uẩn. Chúng tôi đã hiểu thế nào là chờ đợi. Đó là khoảng thời gian chúng tôi quay cuồng, khốn khổ.

Rồi gió dông cũng đến. Người ta tìm ra tế bào ung thư. Và không phải chỉ có ở bên trái, nơi tôi tình cờ nắn trúng cục gì đó cứng như viên sỏi. Trong phòng chờ đợi của Khu Ung Thư bệnh viện đa khoa, nghe cái tin khốn khó, Nancy bật khóc. Tôi đứng nhìn. Rồi tôi ngồi xuống cạnh Nancy. Ngồi chán tôi lại đứng. Tôi không biết phải làm gì khi Nancy khóc. Tôi hoàn toàn tan biến khi phải đối diện với một người đàn bà đau khổ. Tôi sợ những giọt nước mắt.

Rồi tôi nghĩ ra. Tôi vòng cánh tay ôm lấy hai bờ vai gầy guộc. Những tế bào ung thư khốn nạn đã làm Nancy gầy ốm từ lúc nào mà – ở chung nhà biết bao lâu – bây giờ tôi mới nhận ra. Những cái rung nhẹ của cơn khóc truyền sang tôi nỗi xót xa, niềm tuyệt vọng.

Mãi lâu sau Nancy mới sụt sùi, kể lể, “Em mới chỉ được ảo tưởng làm mẹ mỗi một lần. Thằng bé con của anh cho em cảm giác tuyệt vời ấy. Nó cho em làm mẹ. Anh là đàn ông, anh không hiểu được nỗi khao khát làm mẹ của đàn bà.”

Nancy ngưng nói, hai vai rung nhẹ theo từng tiếng nấc. Tôi chạy đi xin cô y tá miếng khăn giấy, cô ta đưa cho tôi nguyên hộp. Tôi gỡ một miếng, vùi vào lòng bàn tay Nancy.

“Em nhớ cảm giác ấy,” Nancy nói rì rầm, như cho một mình nàng nghe. “Cảm giác của người đàn bà khi đứa bé – dù không phải là con em – mút chùn chụt núm vú của em. Ban đầu em ngượng chín người. Nhưng rồi em thấy ấm áp. Em thấy gần gũi với thằng bé. Dù nó không từng nối liền với em bằng cuống rốn sơ sinh nhưng nó nối với em bằng cái núm màu hồng trên ngực em. Cảm giác đó giúp em bay bổng. Lúc nó bú, em nhìn vào mắt nó, em thấy chút gì đó như sự biết ơn. Nó cứ bú hoài, làm em khao khát được truyền cho nó sự sống, để nó lớn lên. Để nó không còn là đứa trẻ sơ sinh. Nó thành con em. Em thèm thấy nó lớn lên.” Nancy ngưng nói, đưa khăn giấy lên lau nước mắt. “Em thèm nghe nó gọi em bằng ‘mẹ’, dẫu chỉ một lần thôi. Chưa bao giờ em thấy thèm có con như bây giờ. Nó nhìn em bằng con mắt biết ơn. Em nhìn ra như thế chẳng biết có đúng không. Nhưng rồi chính em mới là kẻ mang ơn. Nó đem lại cho em niềm vui làm mẹ.”
Nancy ngưng nói, quay qua tôi, “Anh hiểu không?”

Tôi cuống quýt gật đầu. Đầu óc tôi quay cuồng. Tôi nhớ đã từng đọc đâu đó về chuyện những người đàn bà không mang nặng đẻ đau, không phải cho con bú, cơ thể vẫn có thể làm ra sữa. Nancy đã từng sống cảm giác của người sản phụ mới sinh con từ khi Tiểu Quyên đem thằng bé – con của Tiểu Quyên và tôi – về cho chúng tôi nuôi. Và do biến chuyển sinh lý cơ thể, đứa bé bú hoài, kích thích cơ thể Nancy làm ra sữa. Điều đó đã xảy ra. Điều đó có thật. Chính tôi đã nếm vị sữa ấy một đêm kia. Tôi là người phát hiện ra điều đó khi chúng tôi quấn quyện vào nhau mà đo, đếm hạnh phúc.

Khi nhận ra hạnh phúc là thứ vô cùng hiếm hoi, tôi mất ngủ mấy đêm liền. Hai chữ “mất ngủ” nghe buồn cười nhưng thật chính xác. Tôi vẫn có những giấc ngủ tròn đầy, bỗng dưng dạo này những giấc ngủ ngon ấy biến đi như thể chúng bị kẻ nào lấy mất.

Lúc cô y tá gọi Nancy vào gặp bác sĩ chuyên khoa. Nancy đặt thằng bé vào tay tôi và thất thểu dò từng bước như can phạm bị điệu lên pháp trường. Tôi ngồi với thằng bé trong phòng chờ đợi. Gần nửa tiếng sau, Nancy bước ra. Nancy không còn là người đàn bà trẻ trung, linh hoạt mà chỉ là chiếc bóng của người đàn bà ấy, chiếc bóng mà một cơn gió nhẹ cũng có thể cuốn bay đi. Chiếc bóng ngồi thụp xuống trong chiếc ghế phòng chờ đợi. Tôi nhận ngay ra cái tin buồn. Kết quả mammogram vốn đã u ám, kết quả sinh thiết còn đen tối hơn cả ngàn lần. Những khối tế bào ung thư đã rải đều hai bên vú. Tôi đặt thằng bé vào xe đẩy, quỳ xuống trước mặt Nancy, choàng tay ôm lấy cái bóng chập chờn ấy. Tôi sững sờ. Nancy mỏng manh như chiếc bóng của chính nàng. Chúng tôi lặng câm như hai pho tượng. Đôi vai mỏng mảnh run rẩy trong vòng tay tôi. Người thư ký áo trắng nhìn chúng tôi. Ánh mắt nồng nặc mùi ái ngại. Những bệnh nhân khác nghiêng đầu, chớp mắt, trộm nhìn.

“Chừng nào?” Tôi thì thầm trong tóc Nancy.

Nancy sụt sùi, “Càng sớm càng tốt. Bác sĩ bảo vậy.”

Trên đường về, cơn xúc động nguôi dần, Nancy mím môi, “Em sẽ phải cắt bỏ cả hai bên.”

Tôi không biết nói gì nên tôi lặng thinh. Những con đường chợt dài ra trước mặt. Những ngọn đèn giao thông chớp nháy loạn cuồng. Tôi đặt tay lên cánh tay Nancy. Tôi muốn nói gì đó nhưng không nghĩ ra.

“Em không sợ xấu, em không sợ khuyết tật,” Nancy nói, rồi xoay người ra sau nhìn thằng bé đang ngủ trong chiếc ghế trẻ em. “Em chỉ buồn là sẽ không cho con bú được nữa.”

“Anh biết,” tôi cố tìm lời an ủi Nancy. “Nhưng con mình cũng sắp cai sữa rồi.”

Tôi nhấn mạnh hai chữ “con mình”, tôi biết mỗi lần tôi nói hai chữ ấy, đôi mắt Nancy lại thắp sáng niềm biết ơn.

“Sau khi làm mastectomy, bác sĩ sẽ cho em làm implant.” Nancy nói. Có chút gì đó như niềm hy vọng thấp thoáng trong giọng nói của Nancy. Nàng dùng tiếng Anh để nói về cái phẫu thuật ngặt nghèo ấy, bởi khi dùng tiếng Việt, sẽ nghe ra cái sự tàn bạo của dao kéo, thuốc mê. Tôi hiểu lờ mờ rằng người ta sẽ phải cắt bỏ hai bên vú của Nancy. Rồi độn cho nàng hai miếng silicone để giữ cái hơi hướm đàn bà.

“Có phải chờ lâu không?” tôi buột miệng hỏi. Rồi chợt nhận ra câu hỏi của mình có thể làm Nancy hiểu lầm. Đàn ông vẫn mê muội với những đôi vú mây mẩy của đàn bà. Không có đôi vú, đàn bà không hiện hữu trong thế giới trần tục của đàn ông. Vì vậy tôi vội sửa, “Bây giờ hẹn cái gì cũng lâu.”

“Bác sĩ bảo chờ vài tháng cho vết mổ lành hẳn.”

Tôi hình dung Nancy trần truồng trước tấm gương phòng tắm, hai tay nâng hai bầu vú tưởng tượng trên khoảng ngực lép kẹp hằn những đường chỉ khâu, và nước mắt hai dòng tuôn như suối.

“Trong khi chờ đợi, em phải làm hóa trị,” Nancy nói nhỏ như thể sợ tôi nghe được.

Tại sao lại là Nancy! Tôi muốn gào lên như thế suốt tám mươi cây số đường về. Tôi lái xe như tên điên trên xa lộ. Tôi quên bẵng đi rằng trong xe ngoài hai chúng tôi còn thằng bé con chưa đầy sáu tháng.

Chợt Nancy níu lấy tay áo tôi, “Chạy chậm lại đi anh. Có gì mà phải vội vã nữa đâu!”