This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Vào giữa niên học 1962-63, tôi được đổi từ Vĩnh Long về Mỹ Tho. Vì đổi vào giữa năm như vậy, nhà trường không thể xếp đủ giờ cho tôi… hành nghề. Ông giám học phải cắt xén bớt một số giờ của các giáo sư khác để tôi không phải “ngồi chơi xơi nước” mà cuối tháng vẫn cứ được nhà nước trả lương. Vì tôi là một giáo sư mới, nhà trường chưa biết khả năng của tôi nên không thể cho tôi phụ trách những lớp đi thi. Tôi ăn lương giáo sư đệ nhị cấp, không thể cho tôi dạy những lớp nhỏ. Sau khi tính toán, đắn đo, ông giám học cho tôi vào mấy lớp đệ Tam. Cách giải quyết đó vừa là một biện pháp ưu đãi (vì ông là bạn đồng môn của tôi ở sư phạm) vừa là một cách thử tay nghề. Ai cũng biết học sinh lớp đệ Tam quậy nhất trong bảy lớp trung học. Các em mới ra khỏi bậc đệ nhất cấp nên vẫn thuộc loại “ăn chưa no, lo chưa tới”, lại chưa phải lo thi. Nhiều em nghịch ngầm và thường che chở lẫn nhau nên giáo sư khó tìm ra thủ phạm. Năm ấy, trong những lớp đệ Tam do tôi phụ trách, có một lớp văn chương. Học văn chương thì cũng quậy theo văn chương. Nói cho ngay, dùng chữ “quậy” không đúng với các em trong lớp này. Các em có những câu hỏi về văn chương làm giáo sư cũng khó trả lời.
Một hôm, tôi giảng Kiều, đoạn Kim Trọng lấy được chiếc thoa cài tóc của Thúy Kiều, một học sinh có ý kiến: – Thưa thầy, theo em, Kim Trọng là một tên ăn cắp, đã với tay sang nhà hàng xóm lấy đồ. Cả lớp, kể cả tôi, đều ngạc nhiên về ý kiến mới lạ này. Tôi hỏi tại sao em lại nói như vậy, em bình tĩnh đáp: – Thưa thầy, em xin đọc lại đoạn văn này để cả lớp cùng nhận định. Nhẫn từ quán khách lân la, Tuần trăng thấm thoắt nay đà thêm hai. Cách tường phải buổi êm trời, Dưới đào dường có bóng người thướt tha. Buông cầm, xốc áo, vội ra, Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh. Lần theo tường gấm dạo quanh, Trên đào nhác thấy một cành kim thoa. Giơ tay, với lấy về nhà: “Này trong khuê các đâu mà đến đây?…” Như vậy, rõ ràng là Kim Trọng thò tay sang nhà hàng xóm lấy trộm kim thoa. Cả lớp im lặng như tờ, chính tôi cũng chưa biết nói sao. Ngưng một chút, em tiếp: – Thưa thầy, phải giơ tay, với mới tới thì chắc chắn chiếc thoa phải ở sâu trong vườn nhà Kiều, chớ không ở sát bờ rào. Hàng xóm nhà em có một cây mận gần bờ rào. Nếu cành mận xòa hẳn sang vườn nhà em, em mới có quyền hái trái mà không bị tiếng là ăn trộm. Em mà bắt chước Kim Trọng với tay sang nhà hàng xóm lấy đồ, chắc chắn sẽ bị đánh què tay. Ngay lúc đó, tôi không biết nói sao, vì lý lẽ của em học sinh đúng quá. Ðưa tay sâu vào vườn nhà người khác để lấy đồ vật không phải của mình chắc chắn là một kẻ ăn trộm. Nếu, vì một lý do nào đó, đồ của mình rớt vào vườn nhà người ta, muốn lấy lại, mình cũng phải xin phép chủ nhà đàng hoàng, không thể tự tiện thò tay vào lấy. Học sinh trong lớp bắt đầu xôn xao bàn tán. Ai cũng khen ý kiến của bạn là đúng, là độc đáo. Một em học sinh khác bỗng nói lớn: – Vậy mà cứ khen là “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”. Hào hoa mà đi ăn trộm đồ nhà hàng xóm. Thế là cả lớp cười ồ lên. Tôi cũng đành cười theo. Em học sinh vừa có ý kiến độc đáo lại nói thêm: – Thưa thầy, đã không biết mắc cở, sáng hôm sau Kim Trọng còn bắt bí Thúy Kiều phải thề thốt nữa. Như vậy là tống tình chớ không phải tỏ tình.
Cả lớp lại cười. Tối hôm đó, tôi tìm trong bản Kiều dịch sang tiếng Pháp xem những chữ “giơ tay với lấy” đã được dịch như thế nào. Theo bản dịch của giáo sư Nguyễn Cửu Chấn thì bốn chữ đó được dịch như sau: “Etendant le bras, il prit l’objet et le ramenant chez lui.” Ðã hơn bốn chục năm qua, tôi không dám chắc câu dịch vừa kể hoàn toàn đúng 100%, nhưng nếu sai cũng không sai bao nhiêu. Như vậy là rõ ràng Kim Trọng đã đưa tay sâu vào vườn nhà người khác, không phải như chàng nói với Kiều vào sáng hôm sau: “Thoa này bắt được hư không, Biết đâu Hợp phố mà mong châu về.” (Bắt được hư không nghĩa là vô tình mà nhặt được). Sau này, khi đã sang Mỹ, nhớ lại chuyện cũ, tôi xem bản tiếng Anh của giáo sư Huỳnh Sanh Thông: “He reached for it and took it home.”. Em học sinh có ý kiến độc đáo này sau khi đậu tú tài, lên Saigon học Triết ở đại học Văn khoa. Vì bận học, em ít liên lạc với tôi, rồi dần dần biến luôn. Nhưng tôi tin em đã trở thành một giáo sư Triết xuất sắc.
Cơn đằng tây Trong một lớp học, thầy giảng về ca dao, tục ngữ, nói tới kinh nghiệm của người nông dân trong việc theo dõi thời tiết để canh tác… Nào là “Mống đông, vồng tây, chẳng mưa dây cũng gió giật”, nào là “cơn đằng Ðông vừa trông vừa chạy, cơn đằng Nam vừa làm vừa chơi”… Một nữ sinh ngồi bàn đầu hỏi: “Thế còn cơn đằng Bắc và đằng Tây thì sao ?” Thầy chưa kịp trả lời vì trong ca dao, tục ngữ không nói tới cơn mưa ở hai phương đó, một nam sinh ngồi ở cuối lớp, tục gọi là “xóm nhà lá” vì nơi đây quy tụ phần lớn các học sinh nghịch ngợm, phá phách, bỗng nói lớn: “Thì vác chầy mà lộn chớ còn sao nữa.” Thoạt mới nghe, cả lớp không có phản ứng gì, thầy giáo cũng ngơ ngác không hiểu sao phải vác chày mà lộn. Nhưng chỉ nửa phút sau, một nữ sinh khác mắng nho nhỏ: “Ðồ quỷ! Chỉ ăn nói bậy bạ.” Thế là cả lớp hiểu ra, liền cười phá lên như một cái chợ vỡ. Thầy giáo cũng cười theo dù đã cố nhịn. Thầy cũng thầm phục cậu học sinh “nhỏ tuổi mà tài cao”. Thầy cho rằng sự nghiệp văn chương trào phúng của cậu chắc phải chói lọi lắm, nếu cậu lao vào “trường văn trận bút”. Chỉ tiếc rằng sau đó thầy hỏi “quý danh phương tánh” của cậu mà không ai chịu tiết lộ.
Cây trúc xinh Cũng trong giờ giảng về ca dao, tục ngữ, thầy đề cập tới những lời tình tứ của con trai dành cho con gái, như: Trúc xinh, trúc mọc đầu đình, Em xinh, em đứng một mình cũng xinh hoặc: Trúc xinh trúc mọc bờ ao, Em xinh, em đứng chỗ nào cũng xinh. Một vài nam sinh xì xào bàn tán: “Các cụ nhà ta nịnh đầm cũng một cây xanh rờn. Ngày nay đố có ai theo kịp.” Sau tiếng xì xào liền có những tiếng cười khúc khích. Thầy không phản ứng gì vì cho là câu nói đùa vô hại. Thầy định đọc thêm mấy câu ca dao tình tứ nữa, bỗng ở cuối lớp, một nam sinh gọi tên một nữ sinh thật lớn: – Ngọc Hoa ơi! Trúc xinh trúc mọc trong vườn, Hoa xinh Hoa có cởi truồng cũng xinh. Tức thì cả lớp cười phá lên. Trò Ngọc Hoa ngồi ngay bàn đầu mặt đỏ ửng, nhưng cũng cười theo cả lớp. Thấy cũng không nhịn được cười và thầm phục tên học trò nhanh trí đã “phóng tác” cấp thời để cả lớp cùng vui..
Tình không đợi tuổi
Tôi đang tìm cách đổi giờ cho một giáo sư vì ông mới được một trường tư mời dạy mà thời khóa biểu của trường tư lại trùng với trường công mấy giờ thì cửa phòng bật mở. Một nữ giáo sư hầm hầm bước vào phòng mà không báo trước. Tôi vội ngửng lên, nhận ngay ra vẻ tức tôi của bà. Mặt đỏ ửng và hai mắt rưng rưng. Bà là một nữ giáo sư trẻ mới đổi về trường đầu niên khóa này. Bà thuộc loại xinh xắn, duyên dáng, lại mới có con đầu lòng. Nhiều nam giáo sư trong trường còn độc thân cứ tiếc ngẩn tiếc ngơ vì đã không được gặp bà khi bà chưa có chồng. Một ông dạy quốc văn mỗi khi được gặp cô trong phòng giáo sư lại ông ổng ngâm bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa…” Bà bước thẳng đến bàn giấy của tôi, ném lên mặt bàn một tờ giấy gấp tư, rồi nói:
“Ông giám học xem thế này có láo không?” Tôi thong thả mở ra đọc. Ðó là một bức thư tình ngắn ngủi. “Lệ Hương yêu mến, “Anh yêu em tha thiết. Hãy bỏ chồng để lấy anh.” Nguyễn Văn Thưởng.”
Lệ Hương là tên cô giáo, còn Nguyễn Văn Thưởng thì tôi không biết là ai. Chỉ đoán lờ mờ là một tên học trò nào đó vì tuồng chữ còn non nớt. Tôi hỏi bà Hương ai đã gửi cho bà thư tỏ tình này? Bà cho biết đó một học sinh lớp Tám (trước kia là đệ ngũ). Tôi ngạc nhiên vì học sinh lớp Tám chỉ mới 13, 14 tuổi. Tuổi này còn ham chơi, đâu đã biết yêu với thương. Không những thế, nó còn dám viết thư tỏ tình với cô giáo của mình. Tôi vội mở tủ tìm học bạ của nó để tìm hiểu. Nó thuộc loại học trò trung bình. Tôi ghi tên cha mẹ và địa chỉ của nó và quyết định phải giải quyết chuyện này nhanh chóng vì nếu còn tên học trò mất dạy này thì bà Lệ Hương không thể vào lớp đó được. Tôi tạm cho bà nghỉ dạy lớp này một tuần. Giờ của bà sẽ có giám thị vào giữ trật tự. Tôi viết thư mời bố mẹ nó đến gặp tôi gấp. Khi bố nó tới, tôi đưa lá thư của con ông ta viết cho bà Lệ Hương để ông hiểu rõ vấn đề mà không cần nói lôi thôi dài dòng. Đọc xong, ong tỏ vẻ ngượng ngùng, rồi ấp úng hỏi: “Thầy tính sao?” Tôi đáp: “Đó là lý do tôi mời ông đến đây.” Suy nghĩ một lúc, ông khẽ thở dài nói: “Tôi đành xin chuyển trường cho nó.” Tôi đồng ý ngay: “Đó là một biện pháp tốt đẹp.”
***
Cuộc đời dạy học của tôi nhiều vui hơn buồn dù tôi đã từng bị học sinh thân cộng sách động biểu tình, bãi khóa trên sân trường để phản đối tôi. Ngoài những tên học trò than cộng ấy, tôi được nhiều học sinh quý mến mà cho đến nay, sau 40 năm rời khỏi trường vẫn liên lạc thường xuyên với tôi qua điện thư hoặc thư gửi bưu điện. Tạ Quang Khôi
60 năm trước, ở Sài Gòn đã có một cuộc thi trẻ em ngộ nghĩnh rất đáng chú ý. Lúc đó, truyền hình chưa có, may mà có tờ báo Gia Đình đưa bài và ảnh khá rõ nét nên thể hiện được sự hấp dẫn của cuộc thi.
Cuộc thi này mang tên “Trẻ em lành mạnh và khéo nuôi”, được Bộ Y tế – Xã hội thời đó tổ chức tại Nhà bảo sanh Từ Dũ vào ngày 5/3/1957 nhân dịp lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng, và ngày Hội Phụ nữ VN khi đó.
Cuộc thi đã thu hút hơn 300 các bà, các cô bồng con em mình tới Nhà bảo sanh Từ Dũ để dự thi.
Tạp chí Gia Đình số 3 năm 1957 mô tả: Trong suốt 2 giờ rưỡi, cuộc thi được chia ra làm ba nhóm: Nhóm A gồm những trẻ em từ 6 đến 12 tháng. Nhóm B từ 13 đến 18 tháng và nhóm C từ 19 đến 24 tháng. Ban giám khảo cả ba nhóm đều là các bác sĩ, hầu hết là bác sĩ nữ. Tất cả hơn 300 em bé dự thi, bé nào cũng bụ bẫm, kháu khỉnh, dễ thương.
Các bé trong phòng thi thản nhiên cười toe toét, khóc vang trời và ngáp, trong tiếng cười của các bà mẹ, các bác sĩ và y tá.
Google photo
Hai căn phòng rộng ở Nhà bảo sanh Từ Dũ được dùng làm nơi diễn ra cuộc thi. Các em bé lần lượt được các nữ y tá đem lên bàn cân, và được đem ra trước mặt ban giám khảo để chấm điểm. Mỗi bác sĩ giám khảo chấm về một mặt khác nhau, bao gồm cân nặng, bụ bẫm, khéo nuôi (nuôi bằng sữa bò hay sữa mẹ). Tổng số các điểm cộng lại chia ba lấy số trung bình để định đoạt thứ hạng.
Sau vòng loại, còn 170 bé vào chung kết. Bé nào cũng mập mạp, dễ thương, nên ban giám khảo lại càng cân nhắc trong việc quyết định các giải thưởng. Trong số các em dự thi có hai, ba cặp trẻ sinh đôi được cử tọa nhiệt liệt hoan hô.
Cuộc tuyển lựa kéo dài cho đến 6 giờ 30 chiều. Cuối cùng, bé Nguyễn Văn Bách chiếm giải nhất. Bé Nguyễn Thị Thu Hiền giải nhì và các giải ba. Giải nhất được một huy chương vàng y năm chỉ và một lắc vàng y ba chỉ. Giải nhì, ba đều được tặng lắc vàng. Những bé khác đều được giải an ủi gồm có một hộp Ovaltine và hai hộp sữa.
Những giải chính thức đều được phát tại Tòa Đô sảnh Sài Gòn, còn những giải khuyến khích được phát ngay tại chỗ.
Cuộc thi xa xưa này lúc đó nhằm khuyến khích các bà mẹ quan tâm đến việc nuôi con khỏe mạnh theo đúng cách thức của khoa học dưỡng nhi. Có nhiều bà mẹ mang con đến tham gia, chứng tỏ phụ nữ Sài Gòn – Gia Định thời đó đã biết quan tâm đến việc chăm sóc con trẻ.
Những bé khỏe, bé ngoan thời đó, giờ đã bước qua tuổi 60, không biết có người Sài Gòn nào còn nhận ra mình khi xưa ta bé ấy không?
Những ngày cuối năm Tuấn rảnh rang hơn ai hết, ở xóm này. Anh ở gác trọ và không có quê để mà ăn Tết. Hai mươi năm chinh chiến đã biến thành Sài-gòn thành ra một thứ quê hương cho khá đông người. Họ cưới vợ, sanh con, trồng cây, xây mộ, mướn nhà, dầu bị đuổi cũng không thèm dời. Họ nhìn người miền quê mới tản cư lên sau, nhìn với cặp mắt từ tốn của đám thổ công am hiểu thời thế. Tuy nhiên, làm ông Thổ công bị mang tiếng oan.
Như chàng Tuấn là một.
Đất Sài-gòn với muôn màu hồng ngàn tía được so sánh với một cuộc tiệc lớn. Rủi thay, trong cuộc tiệc ấy, thì hơn mười năm qua, tuy ham phần “xôi thịt” nhưng Tuấn chưa chiếm được chỗ ngồi nào yên ổn cả. Nếu có thì trên manh chiếu chật hẹp ấy chàng chỉ đóng vai người chồm hỗm ăn hụt để rồi vừa đứng vừa đi mà ăn – Kiểu ăn lua láo, không no dai, gây bịnh đau bao tử. Thế là chàng Tuấn đành đóng vai bất đắc dĩ của một kiểu Thổ công dạo kiểng xem hoa, hưởng thụ bằng cách ngắm nghía quan sát trong phạm vi có thể. Chàng muốn so sánh Sài-gòn với vườn hoa. Khổ thay, sự so sánh ấy không hợp pháp, đôi khi gây rắc rối. Lần lần chàng hiểu rằng mỗi vườn hoa, mỗi bãi cỏ đều có chủ, có ranh giới và có cổng khóa.
Tết năm ngoái, ngày mùng bảy, chàng không chịu rời bước khi tình cờ gặp một cội mai to lớn, cánh vàng rộp đất, đầy cành. Mai nở và tiếp tục nở giữa tiếng nhạc du dương và đôi nàng kiều nữ. Đột nhiên, cánh cửa sắt rít lên, mở rộng thêm. Ông chủ nhà ló đầu ra, đuổi chàng bằng nụ cười khô khan:
– Xin lỗi, ông có chuyện chi?
Chàng đang phân vân, chưa hiểu trả lời sao cho gọn. Ông chủ nhà liền ban cho chàng phát súng ân huệ:
– Ông kiếm nhà số mấy? Nhà này số 307.
Chàng vội nêu ra một con số vu vơ, xin lỗi và chào lễ phép ông chủ nhà, tạm biệt sau khi liếc vào phòng khách, thưởng thức lần cuối cùng vẻ tươi đẹp của cội mai trong cái độc bình Khang Hi, kiểu độc bình vĩ đại, cao hơn một thước tây… Lề phố vắng tanh đối với chàng. Vài tháng sau, đến mùa mưa, chàng tình cờ được dịp ghé lại chỗ cũ. Nhà số 307 ấy đã đổi chủ và ông chủ chỉ còn là… linh hồn phảng phất bên bàn thờ. Chàng nhận ra mấy cô kiều nữ hồi Tết khi cội mai nở. Các cô lơ đãng, thả hồn theo bản tân nhạc du dương, không biết rằng ngoài lề đường này, chàng đang dừng bước và sẵn sàng thành thật chia buồn.
°
Còn 5 ngày nữa là Tết.
Trước lề đường, gia đình họ xúm xít tháo chân đèn, các bộ phận linh tinh của cái lư đồng. Họ lau chùi. Mấy trái đào nằm kề con kỳ lân vàng. Con kỳ lân hươi miệng, vênh hai cọng râu khá to.
– Tường đó hả? Xin lỗi.
Tường giựt mình, dừng lại. Tuấn đúng bên kia đường. Hai người quen nhau từ đôi ba năm nay nhưng không chơi thân. Thỉnh thoảng gặp nhau tại nhà hàng Thanh Thế, bắt tay, cúi đầu chào vậy thôi. Rồi thì mỗi người ăn riêng một bàn. Tại sao Tuấn lại sốt sắng chào hỏi trước? Cơn gió Tết vừa lạnh, vừa khô càng làm cho da mặt Tuấn thêm nhăn và mái tóc thêm cứng, dựng ngược. Tường sực nhớ: Tuấn làm việc ở nhà báo. Nếu gán cho Tuấn cái tin sốt dẻo xe lật ở Tân An thì Tuấn chắc vui lên, Tường nhớ rõ tai nạn xảy ra vào lúc 6 giờ sáng, chẳng ai đến săn tin hoặc chụp ảnh cả.
Tường bắt tay Tuấn. Tuấn hỏi:
– Rảnh chưa? Vào dịp gần Tết mình dạo chơi.
“Lạ thật. Tại sao Tuấn chưa nhận ra cái bắt tay ngượng ngập hơi run của mình. Cánh tay ấy suýt gãy, tróc da, màu thuốc đỏ loang ra, lốm đốm dính tay áo.
Tường từ Cần-Thơ về Sài-gòn để thăm vợ con và ở luôn cho đến ngày mùng 7 tháng giêng. May thay, dọc đường khi chạy ngang Trung Tâm Giáo Dục Căn Bản ở Long An, xe ủi vào trụ lề đường, xe lăn ba vòng xuống ruộng. Người trên xe, ai nấy đều sống nhăn. Tường xuống bến Sài-gòn báo tin cho vợ con biết rồi lang thang dạo phố. Trong thời chiến, Tường cho rằng mình có diễm phúc lớn hơn ai hết. Chàng muốn khoe khoang với tất cả mọi người đã quen hay chưa quen. Mấy người hàng xóm hỏi chàng, hỏi sơ qua. Chàng chưa vừa ý. Chàng ra sạp báo. Mục “tin tức đó đây” của ba bốn tờ báo đều đăng toàn chuyện của Đô Thành và các tỉnh khác. Vô duyên quá. Rõ chuyện quan trọng, liên can đến sinh mạng ba bốn chục người lại trở thành bé bỏng, không đáng kể.
Tường xăn áo lên, sờ vào cái băng keo, nhuộm màu thuốc đỏ. Miếng da cùi chỏ đã rách nát và tróc mất. Mấy chiếc xích lô máy lướt qua. Chẳng ai chú ý đến chàng hơn, cả những người đi bộ. Chàng tự an ủi:
– Họ lo sắm Tết, chuyện mình mình biết, chuyện người người hay. Thí dụ như ngày hôm qua tại Sài-gòn mấy người đó gặp xui xẻo, mình đâu hay biết. Hòa cả làng.
Bắt đầu Tường dạo phố với một lập trường mới. Kéo cái tay áo xuống, dạo khoan thai, hai tay đung đưa ra rất hồn nhiên như người khỏe mạnh, kẻo thiên hạ họ nghỉ rằng anh mang tật từ khi lọt lòng.
Quả thật Tuấn là người… làm báo mà vẫn vô tình đối với thế sự.
Tường chưa muốn thất vọng!
– Cỡ này có tin tức gì lạ không?
– Họ in báo Tết rồi. Nghỉ vài ngày.
– Hồi tối, có xe đò lật.
– Xui xẻo quá vậy. Có ai chết không? Nếu chết một đôi người thì… chẳng bao giờ đăng báo.
Câu nói ấy như gáo nước lạnh xối lên đầu Tường. Chàng thở dài. Tuấn hỏi thêm:
– Sao?
– Xe lật nhưng chẳng ai chết cả.
– Vậy thì hơi đầu mình thắc mắc. Ngày Tết chẳng ai muốn nhắc tới chuyện xui xẻo. Thôi, anh muốn rảnh rang thì đi với tôi. Vui lắm. Xem nhạc sĩ… cổ điển đang tập dượt các mầm non văn nghệ.
– Tốn tiền không?
– Đâu có tốn… Sự có mặt của chúng ta sẽ làm hân hạnh cho chủ nhà. Dạy ca nhạc tại nhà. Các mầm non tốn tiền và tốn chút ít rượu trà để Tết thầy. Anh có xem lần nào chưa? Anh nhạc sĩ này là bạn thân của tôi.
Sáu bảy em bé – toàn là con gái – ngồi dựa lưng vào vách đối diện với nhạc sĩ Văn Ky. Đứa mặc áo rằn ri, đứa mặc áo đầm, đứa mặc áo sơ mi ngắn tay quần túm ống. Nhạc sĩ mặc bi-gia-ma, mang dép Nhật Bổn.
Buổi dạy nhạc diễn ra, trong gian phòng ấm áp, thân mật, chật chội, trên lầu. Cách nhạc sĩ chừng bốn bước là cái giường nệm khá to. Trên ấy, một bà lão nằm mỏi mệt – Dì ruột của nhạc sĩ từ Bến Tre tản cư lên Sài-gòn từ vài ngày rày.
Nhạc sĩ Văn Ky nâng cây lục huyền cầm, so dây rồi nói to:
– Đâu, tụi bây dượt lại cho tao nghe. Tệ qua, tao khổ vì tụi bây.
Các mầm non dở quyển sách mỏng ra, chăm chú; lối xưng hô “tụi bây, tao” chẳng có gì là thô lỗ. Người trong gia đình với nhau cả, mấy mầm non còn quá trẻ, trẻ tuổi hơn đứa con gái đầu lòng của nhạc sĩ.
– Lệ Hoa đâu! Mầy nói lối trở lại cho tao nghe!
Cô bé Lệ Hoa, trạc mười hai tuổi đứng dậy, bước tới hai bước. Đột nhiên, nó day mặt, liếc phía thang lầu.
Nhạc sĩ Văn Ky lắc đầu:
– Không được… Lúc tao đang dạy, lúc mà bắt đầu lắng giọng thì bất cứ tiếng động gì cũng không đáng kể. Tao biết có khách tới, họ bước lên thang lầu. Nhưng đó là những bạn quí của tao. Họ tới đây vì… điệu nghệ. Đừng sợ sệt, đừng lãng trí. Nay mai mầy vô dĩa, mầy lên sân khấu thì làm sao?
Cô bé Lệ Hoa lè lưỡi. Mấy đứa bạn cúi đầu lật quyển bài ca. Giọng Lệ Hoa cất lên:
Lần thứ hai, về thăm quê ngoại,
Ngắm vườn cau năm cũ xác xơ.
Hai tay ôm lấy nấm mồ,
Khói hương nghi ngút quyện mờ vườn cau…
Lần thứ hai trở lại…
Nhạc sĩ Văn Ky ngưng tay buông phím:
– Khổ lắm. Tại sao “trở lại” mà mầy nói lối ra “trớ lại”. Chưa rõ tiếng. Nói lối cho tao nghe kỹ, năm ba lần. Trở lại… Trợ ở… ở… lại.
Cô bé Lệ Hoa lấy hơi:
– Trở… ở… lại… ớ.
– Tại sao có tiếng “ớ” vô duyên đó! Mầy chặt bỏ tiếng “ớ” dùm tao… Ủa chào anh Ký giả, chào anh bạn.
Tuấn dõng dạc xuất hiện, theo sau là Tường. Cô bé Lệ Hoa vẫn đứng im. Nó hơi thắc mắc. Tại sao thầy có hơi… lãng trí. Nhưng nhờ được vào hậu trường sân khấu vài lần, nó chợt hiểu. Thầy nó giống như người đạo diễn đào kép diễn ngoài sâu khấu, người đạo diễn ở hậu trường được trọn quyền đi tới đi lui hoặc ra ngoài ngã tư đường cái mà uống cà phê. Để khỏi bị rầy, nó vẫn đứng im, như trên sân khấu thật, không cần cúi đầu chào hai vị thượng khách của thầy nó.
Tuấn giới thiệu:
– Đây là nhạc sĩ Văn Ky, đây là bạn Tường.
– Cám ơn. – Vừa nói, Văn Ky vừa chỉ hai cái ghế.
Tuấn nói:
– Anh cứ dạy học. Tụi tôi đi phiêu lưu ngày Tất niên. Lâu quá mới tới đây.
Văn Ky ngồi xuống ghế, so dây đàn.
– Hai anh có thể ra trước bao lơn, ngắm cảnh. Chừng hai chục phút nữa, mình đi Chợ-Lớn kiếm cái gì nhậu.
Rồi nói với đứa học trò lớn tuổi nhất:
– Bé! Xuống nói với cô, lấy tiền mua năm đồng bạc cà phê đen, pha trà thật đậm.
Nhạc trổi lên. Tường hơi buồn đến bao lơn, nhìn qua nhà kế cận. Chủ nhân mua hàng chục chậu bông vạn thọ, hường, cúc. Tuấn đứng chống nạnh, nói với Tường:
– Thay đổi không khí như vầy, được chưa?
Tường mơ màng hút thuốc, chống hai tay lên thành bao lơn. Vài chiếc xe vận tải khá to, khá năng chạy qua. Anh sờ ngay cùi chỏ. Vết thương còn đó, hơi rêm nhức. Anh nhớ rõ, gió đâu thổi lạnh lẽo, xe chạy trăm cây số một giờ. Vì ngồi ở phía ngoài nên gió tạt vào lỗ tai, lùng bùng. Đột nhiên, thiên hạ kêu rú, chiếc xe lao đầu trong bóng tối quay tròn, đầu anh dộng xuống mui rồi mông anh quay trở lên. Anh ôm mặt, ngất xỉu, mất thở vì người hành khách kế bên đè lên anh.
– Nghe kìa!
Tuấn vỗ mạnh vào vai Tường, nói tiếp:
– Ngộ quá, nhiều người ao ước thấy tận mắt khung cảnh đào tạo mầm non ca nhạc cổ điển. Anh không ưa vọng cổ sao?
Tường lưỡng lự. Thật ra, anh rất thích vọng cổ. Mười năm về trước, anh thử học đàn và ca, nhưng việc tập dượt phải dở dang vì anh thiếu hơi ca trung bình, vì anh thuận tay trái.
– Anh Tuấn. Tôi muốn về, thăm người bà con.
– Bậy nè! Chỗ anh em với nhau. Chờ lát nữa, tụi mình cùng đi. Hổm rày, tôi tới đây vài lần nhưng chưa bao giờ theo dõi phương pháp đào tạo của anh nhạc sĩ Văn Ky. Anh này thuộc vào hàng xuất sắc. Cô đào Vân Tuyết, huy chương vàng 62 là học trò của anh. Giới kịch trường gọi đây là “lò Văn Ky”.
Tiếng đàn của Văn Ky trổi lên. Nãy giờ, anh rao chậm chậm, cố ý tranh thủ thời giờ để chờ cô bé – đứa học trò lớn tuổi nhứt, đi mua cà phê về đãi khách. Cô bé đã về, kính cẩn đặt hai ly cà phê đen trên bàn, cúi đầu mời Tuấn và Tường.
Tuấn nói một câu khiến Tường hơi hối hận, trở lại thực tế:
– Anh thấy nhạc sĩ Văn Ky nhã nhặn và khiêm tốn chưa? Phục vụ bạn bè hết mình. Vừa mưu cầu sanh kế, vừa hành nghề vừa giữ phép xã giao. Và cô bé này hy sinh thời giờ, xem bọn mình như thượng khách. Tại sao anh từ chối tấm thạnh tình của người chung quanh?
Cô bé Lệ Hoa lên giọng nói thơ Vân Tiên rồi qua nói lối thăm:
Lần thứ hai, về thăm quê ngoại,
Ngắm vườn cau năm cũ xác xơ.
Hai tay ôm lấy nấm mồ,
Khói hương nghi ngút quyện mờ vườn cau…
Lần thứ hai trở lại…
Nghe tiếng trẻ ngọt ngào, phát âm thật rõ, nhạc sĩ Văn Ky gật đầu, đắc ý. Cô bé Lệ Hoa liếc nhìn thấy, sung sướng. Tuấn cười tủm tỉm như tán thưởng cô bé. Tường vẫn ngơ ngác:
– Giọng cô bé này tốt hả? Nó còn nhỏ tuổi quá.
Tuấn gắt giọng nhưng nói cặn kẽ:
– Im đi. Anh không rành nghệ thuật gì ráo. Phải thông cảm cố gắng thông cảm. Anh Văn Ky và cô bé này đang vui mừng…
Nhạc sĩ Văn Ky nhắc lại:
– Một lần nữa. Mấy đứa kia chuẩn bị, nhớ đo nhịp trong cuốn bài ca để vô một lượt với người ta. Có đứa nào ngủ gục không?
– Lần thứ hai trở lại mẹ khóc quê ngoại đìu hiu như vườn cau xơ xác tiêu… ơ… ơ… điều!
Bé Lệ Hoa vừa dứt tiếng “điều” là Tường nhảy dựng. Sáu bảy đứa học trò cổ nhạc hát rộ lên một lượt, mỗi đứa một lời ca khác nhau, tuy cùng một bản vọng cổ, một nhịp điệu. Tuấn gật đầu, đắc ý. Nghe như bầy ong vỡ ổ:
– Nếu vắng – thấy mẹ ngồi khóc – đôi mắt – Điệp ơi – quê ngoại thăm lại vườn cau – rồi duyên hương lửa, Lan có tiếc – tỳ bà long phím vẫn u hoài – để cùng ôn kỷ niệm – thân bọt bèo vạn kiếp mông mênh – xạc xào lá vàng – riêng mình mái tóc thề để bạn tình chung – mẹ quá khổ đau – chiếc lá vàng bay…
Thật là một bản hòa tấu hỗn loạn. Tường quên hẳn vết thương nơi cùi chỏ, quên hình bóng chiếc xe nặng 5 tấn chạy trăm cây số một giờ đang lao mình, lật ngược, lăn ba vòng trước khi nằm im… Ba bốn thứ lời ca vọng cổ trộn lộn, như mớ miểng chén để trong thúng xóc mạnh, như hàng trăm cánh hoa rơi rụng. Tuấn khều Tường.
– Vui chưa? Trăm hoa đua nở là vậy đó. “Khúc đâu Hán Sở chiến trường, nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau” là vậy đó.
Tường cười gượng:
– Như vậy, hơi tủi cho vong hồn cụ Nguyễn Du!
– Anh hơi bi quan.
– Không nhịp điệu gì hết.
Tuấn nheo mắt, đưa bàn tay mặt lên rồi chờ đợi, nhịp chân, búng nhẹ ngón tay cái vào ngón tay trỏ, nghe một tiếng “chóc”. Tất cả mầm non đều lên giọng để chấm câu thứ nhứt.
Lấy chồng trừ nợ cũ, hoa tàn trong chuông sớm trên đường về biên ải. Ba tiếng chốt: cũ, sớm, ải đều lên cao vút một lượt hòa hợp với tiếng đàn của nhạc sĩ Văn Ky.
Nhạc sĩ đắc ý:
– Được lắm. Tụi bây tiến bộ.
Tuấn day qua Tường:
– Kỹ thuật khá lắm rồi đó. Hồi nãy tôi búng ngón tay trúng ngay nhịp. Bốn tiếng chót rơi vào nhịp thứ 32 của câu đầu, theo hơi trắc, bay vút lên. Thời xưa, con hạc ở chốn Thiên Thai cũng vậy thôi. Tản Đà bảo: “Cái hạc bay lên vút tận trời“.
Tường chán nản luận điệu ngông nghênh, xa thực tế của Tuấn. Tường muốn ra khỏi gian phòng. Nhưng làm vậy, anh sợ nhạc sĩ Văn Ky và các mầm non phật ý. Anh ra bao lơn. Gió Tết thổi lành lạnh. Anh nghĩ đến vết thương nơi cùi chỏ. Đêm nay, nó sưng lên, làm độc. Có lẽ sáng mai, anh phải đi bác sĩ, rọi kiếng cho biết có sứt mẻ khớp xương không? Buồn quá. Cây cỏ, gỗ đá là giống vô tình, đã đành. Chớ như chàng Tuấn, một ký giả có tâm hồn, được liệt vào phái “lành mạnh”, thế mà vẫn xa thực tế đau khổ của cuộc đời, tại thành phố, nói chi đến tình trạng chiến tranh ở đồng quê không xa xôi.
Tuấn đến bao lơn:
– Coi cái gì vậy? Chán cái vụ mầm non này rồi hả?
Tường nói:
– Coi người ta tưới kiểng, tưới bông ở căn nhà bên kia cho đỡ buồn.
– Tại sao anh không biết mê… buổi tập hót của bầy chim con, lúc chờ đón gió xuân? Mấy em bé đó là bầy chim non của đất nước.
– Anh đừng đại ngôn.
– Tôi nói đúng sự thật. Giờ phút này, ít ai được gần gũi cuộc đời như chúng mình.
– Mấy em đó ca hát nghe lộn xộn quá.
– Làm sao lộn xộn? Khổ lắm. Nhạc sĩ Văn Ky vừa trả lời mấy câu phỏng vấn của tôi. Anh cho biết mấy em tập tành đã sáu tháng rồi, nay tiến lên đến trình độ đáng khích lệ đó. Vọng cổ là cuộc sống, có kỷ luật nghiêm khắc, như con người giàu nghèo sang hèn sanh lão bệnh tử, chẳng ai thoát khỏi luật của tạo hóa.
– Thôi đi anh! Giỡn hoài.
Tường nói xong, quay mặt.
Tuấn trả thuộc lòng mớ lý luận mà anh vừa học lóm được của nhạc sĩ Văn Ky ban nãy:
– Mỗi câu 32 nhịp, mỗi nhịp đúng hai giây đồng hồ, nếu ca vô dĩa thì mỗi câu đúng 64 giây, không xê xích. Coi như giỡn chớ khó lắm. Mấy cô ca như ong vỡ ổ nhưng tuân theo kỷ luật nghiêm khắc ấy.
Tường lắc đầu:
– Lời ra hỗn độn, toàn là chữ sáo, theo kiểu văn chương 3 xu không ý nghĩa.
– Người ta cần hơi mùi. Và cần ý nghĩa, cần luân thường đạo lý. Anh lầm rồi…
Bầu không khí trở nên khó thở. Nhạc sĩ Văn Ky buông đàn sau khi tập dượt đến lần thứ ba cho các mầm non. Nhạc sĩ mở tủ kiếng, đem ra sáu tập sách bài ca vọng cổ:
– Các bạn thông cảm giùm. Nãy giờ nghe lộn xộn bởi vì mỗi em ca vọng cổ theo nhịp chung nhưng lời riêng. Bài ca thứ nhứt là “Hương Cau Quê Ngoại” của thi sĩ Kiên Sơn, bài thứ nhì là “Thoại Khanh Châu Tuấn” của soạn giả Viễn Châu, bài thứ ba là “Tình Lan và Điệp”, cũng do Viễn Châu soạn. Ba bài đó hợp đạo lý… Tôi chú ý chọn lựa để các em sau này đừng nhiễm thói xấu… ngoại lai. Mấy anh coi thử. Đây là bổn thứ nhứt, ở mỗi nhịp tôi có ghi dấu viết chì. Đây là bổn thứ hai, không có ghi nhịp. Các em “mầm non” đã tới trình độ không có ghi nhịp nhưng vẫn ca đúng nhịp, 32 nhịp vô một câu, đúng 64 giây đồng hồ. Khổ lắm. Bây giờ mình đi nhậu, được chưa.
Nghe đến tiếng đi nhậu, Tường giựt mình. Vết thương chưa lành mà nhậu rượu thêm thì e nó làm độc, rủi ro bề gì thì cưa cánh tay. Bỗng dưng mà cùi chỏ Tường cử động khe khẽ.
Nhạc sĩ Văn Ky trố mắt:
– Ủa! Sao vậy? Như có máu.
Tường nói rõ từng tiếng để trút bao nhiêu cơn uất hận từ khi gặp Tuấn:
– Tôi đi xe từ Long An về, lật xe 3 vòng, trầy sơ sơ… Chắc nhậu không được, xin kiếu, hẹn dịp khác.
Tuấn nói giọng đàn anh kể cả:
– Không nhậu thì cũng đi chơi, ngồi chung một bàn cho vui. Cữ rượu thì uống nước ngọt. Cha này khó tánh quá. Hay là anh muốn tôi đăng… cáo phó vào dịp Tết? Dịp Tết, chẳng báo nào đăng cáo phó cả…
– Thôi. Tôi buồn, để tôi về.
– Buồn nỗi gì, ngày Tết?
– Tôi buồn, tôi nghĩ đến bao nhiêu người khác, họ bị lật xe một lượt với tôi, không ai chết…
Tuấn nắm tay Tường:
– Thôi, xuống đất, cha nội ơi. Vậy là vui rồi. Thương người vu vơ chỉ là tật ích kỷ. Vì ích kỷ nên nãy giờ anh có thưởng thức gì đâu? Tết đến, chim non đua hót…
Tường sờ vào cùi chỏ rồi buông tay xuống khi cô bé, đứa mầm non lớn tuổi nhứt, đâu cũng 17, 18 tuổi đến gần chàng, mái tóc thoảng mùi trầm hương, đôi mắt đen nên sáng lạnh. Trong đáy biển đen huyền ấy, ngời lên hai vì sao nhỏ.
Cô bé nói:
– Thưa chú, cháu về… Thỉnh thoảng mời chú trở lại khuyến khích mấy cháu đây. Cùi chỏ của chú… dường như…
Thời thực dân, làng Sóc Sơn dài trên ba mươi cây số. Hương chức hội tề ở rải rác khắp xóm, xa nhau, ít khi tụ họp. Mỗi ông nắm trọn quyền hành chánh, kinh tế, an ninh trong xóm như một vị tiểu vương. Vì vậy hễ có chân trong ban hội tề tức là làm giàu. Sóc Xoài là xóm quan trọng nhất của làng Sóc Sơn. Xoài đâu chẳng thấy chỉ thấy rặng tre xanh rì và hai nóc nhà đỏ chói nhô lên. Một là nóc chùa Miên. Hai là nhà của ông Xã trưởng Thạch Ngọc Tư.
Vốn là một người Miên giàu có, ông xã cố gắng vận động với ông Cai Tổng, với chủ quận để làm xã trưởng. Đâu đó xong xuôi, ông đâm đơn vô tòa án, xin phép làm lại khai sanh đổi tên họ cho có vẻ văn minh. Tên Kha văn Mau trong khai sanh cũ được sửa lại là Thạch Ngọc Tư.
Xã trưởng Thạch Ngọc Tư tìm cách gây uy tín đối với dân trong xóm, toàn là người Miên. Việc làm đầu tiên của ông sau khi nhậm chức là rước một thầy địa lý người Tàu về để xem các mạch đất “tiểu quốc” Sóc Xoài. Năm mươi ngày liên tiếp, dân trong Sóc vô cũng sợ sệt, ngơ ngác khi thấy ông thầy Tàu tóc bạc râu dài nọ đi tới đi lui dạo khắp hang cùng ngõ hẻm, gốc tre, bờ giếng. Thỉnh thoảng ông hái một nhánh tre cắm xuống đất. Đôi ba ngày sau ông nhổ lên hoặc cắm nhánh mới theo hình tam giác, lục giác.
Ngày chót, ông ta nhổ tất cả nhánh tre đem về nhà ông xã trưởng để báo cáo việc điều tra, sưu tầm, nghiên cứu dưới mặt đất.
Hôm sau, Xã trưởng Thạch Ngọc Tư đội nón cối, tay xách ba ton đi “kinh lý” trong sóc. Theo sau, có ba bốn ông Hương ấp mặc áo bành tô vàng, cũng người Miên.
Đến xóm thứ nhất, Thạch Ngọc Tư cười uống rượu rồi nói huyên thiên:
– Bà con mình ở đây có phước. Giống đất này thuộc về đất con Rồng, ai nấy đều dư dả, sức khỏe đầy đủ. Nhà tôi ở ngay đầu Rồng nên khá hơn. Anh em nhờ cất nhà ngay trên lưng Rồng nên chẳng lo nghèo! Ông thầy Tàu dặn tôi coi chừng… Đừng cho nhà nước Tây đào kinh ngay xóm mà con Rồng phải đứt làm hai…
Đến xóm phía Nam, ông xã trưởng nói trầm tĩnh lại:
– Ở đây nhằm mạch đất con Chó. Chó có khi cực khổ, thiếu ăn thiếu sống nhưng gặp thời thì được chủ nhà cưng, sung sướng, Bà con nên tự an ủi…
Đến xóm phía Tây, xã trưởng họ Thạch ra vẻ ưu tư, buồn bã. Đây là một xóm nhỏ gần rừng, giáp mé biển. Dân làng nghèo đến đổi mặc quần bao áo bố. Ông bảo:
– Ở đây, thầy Tàu nói là mạch đất con Mèo. Xứ mình ít chuột nên mèo thiếu ăn, ốm o gầy mòn. Mèo có thể sung sướng nếu gặp ông chủ giàu có. Ngặt xóm này là con mèo có xác mà thiếu hồn. Ông thầy cắm nhánh tre sâu xuống đất mà nhánh tre cứ héo hoài.
Có người hỏi:
– Chừng nào hồn mèo về nhập xác cho chúng tôi được nhờ?
Ông xã trưởng đáp:
– Thầy Tàu nói không đoán được. Có khi sớm có khi muộn. Hồn con mèo sẽ về theo đường biển. Bởi vậy khi nào có dông gió, anh em nên coi chừng.
Sau cuộc tiếp xúc ấy, dân xóm Mèo vô cùng thất vọng. Có người đâm ra lo sợ. Phải chăng ông xã muốn cảnh cáo họ về vụ đốn củi lậu thuế. Vì mèo đói nên thường sanh tật ăn vụng.
Thế rồi ngày tháng trôi qua đều đều, theo điệu nhịp thanh bình giả hiệu của thời thực dân… Câu chuyện thầy địa lý không ai còn nhớ. Người Miên đủ hiểu rằng: Ông thầy nọ nhắm chừng mà đoán.
Xóm con Rồng thì đất cao ráo, trồng dâu nuôi tằm được nên dân sống dễ dàng.
Xóm con Chó sống về nghề nhổ bàng đương đệm, đương bao cà ròn (bao bàng), nên khi thăng khi trầm tùy theo giá thị trường. Xóm con Mèo sống về nghề rừng nghề biển không có tương lai. Người Miên cực chẳng đã, cùng phương sanh kế, phải ra đây mà ở. Họ không dám ra ngoài khơi đánh lưới làm nò như người Việt Nam. Họ ở trong bờ, bắt ba khía, câu cua về đủ nhậu bữa nào hay bữa nấy.
Thỉnh thoảng họ vớt được một vài thùng dầu lửa tấp lên mé bãi. Có khi được một vài cái phao lưới của người Nhật đánh cá ngoài biển bỏ rơi. Lần nọ con cá ông nhỏ “luy” trôi lên bãi. Họ cấp tốc qua làng kế bên cho người Việt Nam hay để chôn giùm họ.
Bỗng một buổi sáng mưa gió Nam, cả xóm gọi nhau ơi ới kinh hoảng, khiến già trẻ đều thức dậy. Có người về báo:
– Ngoài biển không biết bao nhiêu là thùng cây vuông, lớn bằng thùng đựng sữa bò trôi vô hoài hoài…
Phép tiên chăng? Ai đem những thùng ấy đến? Đem tự hồi nào. Biết đâu trong những thùng ấy chẳng có súng đạn mà mang họa cả xóm? Hay cường quốc nào toan đổ bộ đánh chiếm nước này lần thứ hai? Bãi biển tuyệt nhiên không có một bóng người nào. Chỉ có dân trong xóm. Họ ra bãi lập tức chở vài thùng về nhà khui ra cẩn thận: Toàn là hộp thiếc màu đỏ có nhãn hiệu là con mèo đen.
Hò mừng quýnh la lên:
– Mèo về kìa! Hồn con mèo! Bởi vì hồn ma cho nên có hình con mèo màu đen.
Người khác bàn tán:
– Về theo đường biển, đúng như lời thầy Tàu. Chắc xóm này làm ăn khá. Mua một lít rượu về ăn mừng, anh em ơi!
Lúc khui ra, họ thấy rõ ràng là thuốc vấn sẵn. Hút thử thì lạt hơn thuốc rê, lại có mùi “cà-ốp cà-ốp” (tiếng Miên) nghĩa là… thơm thơm.
Phải là thuốc rê, thuốc gò thì họ hái đem hết những chiến lợi phẩm về, cất giấu để sử dụng cho qua cơn nghèo. Ngặt là thứ thuốc lạt, họ không thích mấy nên một mặt họ chở về nhà một mặt cho người đến nhà xã trưởng Thạch Ngọc Tư để khai báo. Rủi thay đó là lúc xã trưởng bận việc. Ông ta đi Nam Vang mua dĩa hát “dù kê”, thỉnh tượng Phật và dọ giá mua con voi sống đem về cúng chùa. Ở nhà còn lại chú Biện Xủng, người Tàu lai, trọn quyền… xử lý thuờng vụ trong phạm vi có thể.
Biện Xủng biết: Nếu báo cáo việc này về thầy cai tổng thì chỉ có lợi cho Tây. Động lòng tham, y bỏ túi vài hộp thuốc suy nghĩ cách thu lợi riêng, chú đi quan sát từng nhà, hỏi kỹ:
– Mấy người thấy trong thùng còn món gì lạ nữa không?
– Dạ thưa chỉ có thuốc hút.
Đằng xóm, một ông lão chạy đến cầm một tấm hình:
– Dạ thùng đằng nhà tôi khui ra có hình con đầm này.
Biện Xủng nhìn tấm hình: đúng là một mỹ nhân nhạn sa… cá lặn. Lật phía sau có một hàng chữ Tây, hay chữ Ăng Lê. Vì không rành, y đọc không nổi.
Biện Xủng đoán chừng đó là thuốc lậu thuế, chiếc tàu chở thuốc chìm, chưa kịp vào bờ đóng thuế. Hoặc là chủ tàu gặp tàu của sở thương chánh sợ bị phạt nặng nên quăng bỏ xuống biển.
Duy chỉ có tấm hình mỹ nữ làm chú Biện thắc mắc, liên tưởng đến một vụ xổ số. Biết đâu tấm hình này sẽ là số độc đắc, nhờ đó mà y làm giàu.
Nghĩ vậy y muốn hốt của một mình nên nói riêng với dân trong xóm:
– Chuyện đổ bể rồi. Bà con phải giữ kín. Tây hay được bắt bỏ tù cả đám. Tôi sẵn sàng che chở bà con. Cứ tháo điếu thuốc ra, như thuốc rời. Lon hộp phải quăng bỏ… Chỉ cần một điều là ai gặp bất cứ tấm hình đầm nào thì phải đem nạp cho tôi.
Thế là bao nhiêu thuốc Craven “A” phải tháo hộp ra, xé vấn hút, vấn điếu nào điếu nấy bằng ngón tay cái hút mãi mà không đã cơn ghiền! Các bà ăn trầu thì rút một cục lớn mà xỉa rồi chê là lạt nhách. Tuy vậy, có còn hơn không! Ngày mưa tháng gió, thuốc này cũng an ủi cơn nghèo túng.
Họ khôi hài lẫn nhau:
– Hồn con mèo ở biển về! Thầy Tàu nói vậy mà đúng… Hồn về rồi mà sao mình còn khổ quá… Chắc là tại con mèo đen đứt đầu, như trong hình vẽ ngoài gói thuốc.
Phần Biện Xủng thì muốn trốn tránh trách nhiệm. Y thảo hai bản công văn giống nhau, một bản gởi lên Cai Tổng để tường trình, một bản dán tại nhà xã trưởng cho có lệ (không cần dán trong xóm vì xóm người Miên nào ai biết chữ Tây chữ quốc ngữ đâu mà đọc). Đại khái như sau:
Province de Rach Giá, Délégation du chef lieu, Canton de Kiên Hảo: Village de Sóc Sơn.
Trát cho hương ấp tuân cứ.
Hương chức làng nghe nói ở ấp Biến có lượm được thuốc hút. Nay truyền rao cho Hương ấp phải đến mỗi nhà lập thông qui để làng chạy tờ phúc bẩm về quan chánh Cai Tổng.
Ngược dòng Thác Bà, lên tận thượng nguồn dựng trại. Trại nằm trong thung lũng, sát chân núi. Núi không có tên. Núi chập chùng trùng điệp, đếm không hết. Cả một vùng bao la núi non hiểm trở trải dài lên tận biên giới, mang chung một tên Hoàng Liên Sơn.
Một thời kỳ nô lệ xa xôi, người da đen Phi Châu bị lùa xuống tàu đi biệt xứ. Tôi cũng bị lùa xuống tàu, nhưng chưa ra khỏi lằn ranh xứ sở. Thời gian không lâu mà tưởng chừng qua một kiếp. Bỏ đời cũ. Quên những buộc ràng quá khứ. Trong nghiệt ngã, suy tư nhiều sẽ không sống nổi. Dằn vặt với thương đau, sẽ không còn mạng trở về. Tinh thần đi xuống, thân xác không thể đi lên. Hãy xem mọi sự hành xác là bình thường. Tôi nghĩ thế, và thản nhiên “chém tre đẵn gỗ trên ngàn”, dựng trại.
Lán trại lợp bằng nứa, chung quanh có rào. Hàng rào cũng làm bằng nứa bắt chéo vào nhau, đầu chông nhọn hoắt. Trưởng trại nói rào để cản thú dữ, nhưng ai cũng biết rào để ngăn người từ trong thoát ra ngoài. Cổng trại là lối ra vào độc nhất, có chòi canh kiểm soát. Bên hông trại, còn một chòi canh nữa, cao bằng ngọn cây để quan sát toàn trại. Trên đó, đặt một họng súng đại liên chỉa mũi vào trại. Nơi miền cao thôn bản, súng đạn là thứ duy nhất tượng trưng văn minh của người miền xuôi.
Ở đây, không đo thời gian bằng kim đồng hồ. Trưa nghe chim bắt-cô-trói-cột kêu trên đầu núi, biết đang mùa hạ. Đêm nằm nghe cú rúc ngoài đầu hồi, biết đang mùa đông. Thung lũng ít chịu mặt trời. Âm khí núi rừng pha trong sương đục, nhòa nhòa lán trại. Cái lạnh rờn rợn nhiễm vào người, lâu dần thành quen. Thiên nhiên tập cho con người biết chịu đựng. Về với thiên nhiên, thở cùng cỏ cây. Đi trên đất ẩm, nghe mùi rong rêu lá mục. Làm quen với muỗi đói vắt rừng. Coi thường độc trùng rắn rít. Ngồi lặng hàng giờ, ngắm những bông hoa dại âm thầm ngoi lên từ kẽ đá. Thưởng thức tinh hoa của đất trời, cũng là một cách dưỡng sinh. Dựa lưng gốc đại thụ, thấu lẽ câm nín ngàn đời. Quên chuyện ngày trước. Bỏ chuyện ngày sau. Sống đời hoang dã. Thú rừng vô tâm không biết buồn. Ai nặng thất tình lục dục dễ bỏ mình giữa chốn thâm sơn.
Gió lớn bốn phương về ngang thung lũng, bỗng trở mình cuộn thành cơn lốc. Lá khô bị hốt lên cao, rồi tung ra như bướm tan đàn bay tứ tán. Cái nóng mùa khô gió Lào không đủ ấm lòng thung lũng. Gió rừng không sát đất. Gió rì rào trên đọt cây. Dường xa xôi vọng lại. Dường gần gũi bên mình. Đời đang khốn khó mà nghe như có tiếng thì thầm của một quê nhà cách trở.
Ở đây, thường nghe gió hú. Các cụ già người Dao ngồi hơ tay bên bếp lửa chiều đông, kể bao nhiêu là chuyện âm hồn nương theo gió, về đậu trên ngọn rừng tru thảm khốc. Thầy Mo thương những hồn cô quạnh, không nỡ đuổi đi. Tôi, người mạt khách phương xa. Nghe chuyện thần linh ma quỷ. Nghe truyền thuyết bao đời cha ông của người Tày người Dao. Nghe bài ca gắn bó núi rừng. Thấm thía muốn trở thành người của thượng du để đêm đêm nằm dưới mái nhà sàn, thấy cây cỏ mọc đầy trong giấc chiêm bao. Tôi, kẻ trí cùn, không thuộc hết bài trường ca thôn bản, viết lại bằng mường tượng nhớ nhớ quên quên:
Bản ta có bếp lửa bằng tuổi ngôi nhà
Có người già bằng cây cổ thụ
Sống trăm năm bóng đè ngọn núi
Sinh con đẻ cái
Ở cùng cây rừng
Ở cùng đá núi
Đất cho cái ăn lấy từ nương rẫy
Nước cho cái uống lấy từ khe xanh
Thịt da thấm sương mù
Bàn tay rắn rỏi
Vỡ đất cho hạt lên mầm
Buổi sáng giắt con dao quắm
Vác cái xà gạc trên vai
Đội lá rẻ gai vào rừng
Bắt con mang con mển
Bắt con nhím con trăn
Chặt cây giang cây nứa cây vầu
Đốn cây trắc cây lim cây gụ
Đẽo gỗ làm nhà sàn
Nuôi bếp lửa trừ tà xâm nhập
Bản ta có thầy Mo
Quen với Thần Rừng Thần Núi
Biết vẽ bùa làm phép
Gọi âm binh che chở bản làng
Không sợ con cú mèo trù rủa
Không sợ con beo con báo
Về rình trong đêm tối
Thầy Mo gọi ông Trời
Cho cái mưa cái nắng
Nuôi cây lớn lên nuôi người lớn lên
Giống dòng đời đời nối tiếp …
Tôi không hiểu ngôn ngữ người sắc tộc. Nhưng khi cụ già người Dao cất giọng, nghe như tiếng kêu trầm thống và một nỗi gì như nỗi tàn phai đang đổ xuống núi rừng lồng lộng hoàng hôn. Không như ngâm thơ. Không như hát tân cổ nhạc. Không như tụng kinh. Cái âm lên không bổng, xuống không trầm. Ê a lê lết kéo dài áo nảo. Từa tựa như pháp sư đọc thần chú. Một sắc thái hoàn toàn riêng biệt. Lẩn khuất trong lời ca, có niềm bi tráng. Cụ già chuyển ngữ bằng lời Việt. Tôi rắp tâm ghi nhớ trong lòng, mà lòng tôi thì nhòa dần theo ngày tháng nắng mưa.
Những chiều thu yên ả, ngồi trên lưng chừng núi nhìn xuống rừng. Khói nghi ngút bốc lên từ những mái nhà sàn, núp sau vòm cây. Nhớ cái bếp người thượng du. Đóm lửa đầu tiên thỉnh từ thầy Mo đem về gầy nên bếp lửa. Và đóm lửa ấy, âm ỉ ngún hoài theo thời gian, tồn tại cùng với ngôi nhà. Người Dao tin rằng lửa xua đi bóng tối ma quỷ. Muốn cho nhà cửa bình yên, phải giữ lửa hoài trong bếp. Tôi cũng muốn tin như thế, tin bất cứ điều gì huyền bí để trong tuyệt vọng, tinh thần còn có thiêng liêng làm chỗ dựa.
Những người khách bất đắc dĩ từ phương Nam xa xôi đến đây, đều ghê mùa đông Việt Bắc. Mùa đông. Ngày chưa chiều, trời đã chạng vạng từ lúc mới ra đi.
Mùa đông đến mưa phùn gió bấc
Suốt mùa đông không thấy mặt trời
Ngày xám âm u. Mưa phùn nhẹ như sương muối, thấm ẩm áo quần. Gió bấc hiu hiu, thổi cái buốt luồn vào tận xương. Vác bó nứa dài lê thê xuống núi. Đất nhão. Dốc trơn. Trượt té. Vấp ngã. Tay chân xây xước, chảy máu mà không đau. Da thịt lạnh tê, mất cảm giác.
Đường đi khó
Không khó vì ngăn sông cách núi
Mà khó vì lòng người ngại núi e sông
Có thật vậy không? Câu nói của Nguyễn Bá Học một thời lấy làm kim chỉ nam, dù hàm chỉ nghĩa bóng, giờ đây, bỗng thấy sáo rỗng. Những ai đang trên dốc đời khổ sở mới biết được cây thập tự giá trên vai Chúa Giê-Su nặng dường nào. Có vào địa ngục mới cảm thông kẻ chịu cảnh A Tỳ. Ngồi một chỗ lý thuyết suông, nói những câu triết lý để đời dễ hơn là đối mặt với thực tại gian truân. Những hình nhân tiều tụy rách rưới, vượt qua được một mùa đông là đi thêm một chặng đường vô vọng. Sự vô vọng giết người. Càng lấn sâu vào con đường vô vọng, càng gần sự chết. Chết đủ mọi cách. Đói làm suy dinh dưỡng, thân xác không còn sức đề kháng với bệnh tật. Thậm chí, cảm xoàng cũng chết. Chung quy, cũng vì không thấy được ánh sáng phía cuối con đường vô vọng. Tôi có người bạn cùng cảnh ngộ, khi đi tiêu thấy phân có lẩn chút đàm, ứa nước mắt. Tao tới số rồi. Nếu mày còn có ngày về, cho vợ con tao biết ngày cúng giỗ. Anh bị kiết lỵ. Bị kiết lỵ coi như Ngọc Hoàng giũ sổ. Tất cả thuốc men đã bị tịch thu từ lúc mới đặt chân ra đất Bắc. Ở đây, rau sam đâm dập, vắt lấy nước uống được coi là thuốc trị bệnh kiết lỵ. Ban đầu, anh còn đi ra nhà cầu. Ngày thứ hai, tôi đào cái hố nhỏ ngoài vách lán cho anh ngồi đó. Tôi phải đi rừng. Không ai săn sóc, anh bò ra hố giữa cái lạnh mùa đông dao cắt. Sau, anh nằm luôn trong lán sạp. Ỉa ra máu. Không cần mặc quần nữa. Một kẻ có quyền từ trên khung xuống, đứng nhìn anh. Mặt lạnh. Không biểu hiện căm thù hay thương xót. Không ai có thể đoán được trong cái đầu ấy đang nghĩ gì. Hỏi có cần gì không? Bạn tôi thều thào, xin một cục đường và gói mì ăn liền. Câu trả lời dứt khoát. Đường, có ngay. Mì, xứ này không đào đâu ra được. Yêu cầu đã thỏa mãn một nửa như ân huệ cuối cùng. Tôi đưa bạn về đất, an nghỉ dưới chân đồi. Nước mắt tôi chảy ngược, không có giọt nào nhỏ xuống cho anh.
Thời mạt vận quỷ thần quay mặt
Nghiến chặc răng kình với tai ương
Người bỏ cuộc đi về với đất
Chiếu bó thây nằm lại rẫy nương
Bốn mùa đều có người đi không trở lại. Nhưng mùa đông khắc nghiệt là thời điểm dễ nhất để vĩnh biệt thế gian. Tử Thần lãng vãng đâu đây, làm sao lánh mặt? Tôi nhớ loáng thoáng trong Thiền Luận: “Tất cả đều là phương tiện tu hành”. Trước nghịch cảnh, tôi áp dụng ngay câu này để hóa giải mọi thương đau, biến nhọc nhằn thành phương tiện. Bàng Uẩn xem bửa củi gánh nước là thần thông diệu dụng. Sao tôi không xem đốn cây cuốc đất là một cách tập dưỡng sinh? Và, tôi đã đi qua mùa đông, đi qua nhiều mùa đông rét mướt bằng sự thư thái riêng tôi. Một kẻ có quyền sau nhiều ngày nhận xét, đã phê bình cách làm việc của tôi: “Giơ cuốc lên, cò ỉa. Hạ cuốc xuống, mối xông”. Câu nói làm tôi sửng sốt. Diễn tả động tác chậm, không có cái chậm nào bằng. Từ từ giơ cuốc lên, chậm như ngừng lại. Thời gian lâu đủ để con cò đậu trên cái cuốc và ỉa. Hạ xuống cũng chậm, đến nỗi trước khi nhấc cuốc lên thì mối đã xông thành tổ. Một lối diễn tả độc đáo. Rất bình dân mà cũng rất tuyệt vời. Tôi mãi lấy làm lý thú vì câu nói ngộ nghĩnh, quên cái hậu quả tai hại sau khi bị phê bình. Cứ thế, thân bị kềm chế mà ý thì phất phơ như chuyện đùa. Tưởng như hồn và xác chẳng dính dấp gì nhau.
Nhiều đêm. Tôi nghe tiếng chắc lưỡi của những người chung quanh. Những con Thạch Sùng không ngủ, nằm trằn trọc nuối tiếc hoài một thời quyền uy son vàng đã mất. Cánh cửa quá khứ đã khép lại. Nhưng cái dư âm vi vu còn đủ sức ném bao người qua cửa tử. Nuối tiếc và thống hận là chất cường toan bào mòn tâm phế. Người xưa uất khí mà trào máu họng. Đời nay, không thấy có ai. Lác đác có dăm anh hùng sĩ khí thì đã cầm súng tự bắn vào đầu, chết hết rồi. Kể chi những kẻ bợ đít mà nên danh phận. Ngồi trên đầu thiên hạ mà chăn dân. Nằm trên bụng đàn bà mà xua quân vào trận mạc. Gặp thế biến, phóng nước đại tháo thân nhanh hơn ngựa chạy trường đua. Bao giờ thấy những phường cẩu trệ bất nhân chiếm giữ những ngôi vị trọng yếu quốc gia là điềm báo trước một chế độ suy tàn. Đó là quy luật của mỗi lần lịch sử sắp sang trang. Và cái hậu quả tất yếu của nó, một số người sẽ bị xô xuống hầm tai họa. Trách ai thì chuyện cũng đã rồi. Chắc lưỡi là buông thêm một dấu chấm than (!), tượng hình cho giọt nước mắt rớt xuống đời mình. Đời mình vốn đã ướt đẫm từ khi lầm lỡ đem thân giao cho kẻ ác. Thôi thì lo “bảo tinh, dưỡng khí, tồn thần”, giữ cái bổn mạng được ngày nào hay ngày ấy. Sầu bi là tự nghiến đứt sợi dây đang treo mình trên vực thẳm.
Nếu không mặc cảm lưu đày thì sống với núi rừng là một kỳ thú. Người Tày người Dao sinh ra, lớn lên ở đây. Một nơi mà ánh sáng văn minh chưa hề chiếu rọi. Trong nhà họ, ngoài những cái cuốc con dao cái rìu làm bằng kim khí, tất cả những vật dụng còn lại đều bằng gỗ hoặc đất nung: ống bương đựng nước, nồi đất nấu cơm…
Những ngôi nhà sàn thường được dựng gần nguồn nước. Trên thế núi cao, mây ngấm hơi nước vào đất, chảy ra từ trong khe đá. Người ta dùng cây bương, đục bỏ những cái mắc làm máng dẫn nước. Nhiều cây bương nối nhau thành cái máng dài, đưa nước về tận chân nhà sàn. Nguồn nước vô tận ấy, chảy hoài không dứt. Người thượng du lợi dụng nguồn nước thiên nhiên để làm cối nước giã gạo theo nguyên tắc đánh đu, đòn bẫy. Buổi sáng, trước khi “giắt con dao quắm, vác cái xà gạc” lên rừng, họ cho một lượng thóc vừa đủ ăn trong ngày vào cối. Cứ vài phút, cái chày giã xuống một lần đều đặn. Chiều về, họ trút thóc ra nia, sàng sãy lấy gạo nấu cơm. Và, trên nóc nhà sàn, khói chiều nghi ngút bốc lên. Đời sống đơn giản, êm đềm biết bao. Tôi mơ ước một đời sống như thế, không xuống tóc đi tu mà lòng cũng tịnh yên thoát tục.
Những năm tháng làm người khách bất đắc dĩ của miền thượng du, có một dạo tôi được chỉ định chăn bò. Hai người chăn đàn bò bốn mươi con. Một trong hai người ấy, chết vì bệnh sốt rừng. Tôi là người được điền vào khoảng trống. Không phải ngẫu nhiên. Tôi vốn có bệnh bao tử, lại không được điều trị bằng thuốc men. Ở đây, bất cứ bệnh gì cũng được điều trị bằng một phương pháp rất ư là quái đản. Lao động trị liệu, như chặt cây, đốn củi, vác nứa, cuốc đất, trồng khoai v.v… Trong tình huống ấy, tôi luôn luôn tạo cho mình bộ mặt nhăn nhó trường kỳ để mỗi lần, kẻ có quyền nhìn thấy tôi như thấy một hiện tượng khó chịu. Họ chỉ muốn đẩy tôi đi cho khuất mắt. Nhưng tôi cứ hiện diện, cứ èo uột sống hoài. Cuối cùng, họ cũng tìm được cách để ít phải nhìn mặt tôi. Đó là lý do tôi được chỉ định chăn bò. Sáng ra trại, mãi đến chiều mới vác mặt trở về. Yên thân.
Buổi sáng, mở cửa chuồng. Con bò bô đầu đàn sẽ ra đầu tiên, tự động đi theo người dẫn đường. Đàn bò còn lại, lần lượt kéo theo sau. Và, một người đi sau cùng, cầm roi đét vào đít những con đi chậm, hoặc đưa mỏ ngấm nghé cỏ lá dọc đường. Đến một khoảng đất trống nào đó, người dẫn đường dừng lại. Đàn bò sẽ phân tán đi ăn chung quanh, trên những núi đồi bát ngát màu xanh. Trưa trời đứng bóng, tôi che tay lên miệng làm loa, gọi: “Bò…ơi… Bò… ơi…”. Âm thanh vang vọng núi rừng. Đàn bò lục tục về điểm tập trung, nằm nhơi cỏ. Lúc trời xế bóng, tôi đá đít con bò đầu đàn đứng dậy, nói lớn: “Bò… đi… ăn…” Đàn bò lại phân tán. Buổi chiều, tôi che tay làm loa lần nữa, gọi: “Bò… về… Bò… về…” Tại điểm tập trung, sau khi đếm đủ số bò, con bò đầu đàn lại theo người dẫn đường về chuồng trại.
Bò rất hiền và khôn, có thể hiểu được một số tiếng người thường dùng với nó. Những con bò chửa, nếu sinh con ngoài rừng, bò con đi chưa vững, khi nghe tiếng gọi: “Bò… về…”, bò mẹ sẽ giấu con trong lùm bụi để trở lại điểm tập trung. Nhưng nó sẽ lẩn quẩn không chịu về. Người chăn không biết nó mới sinh con nên đánh đuổi, bắt phải về. Bò con ở lại, im lặng một mình suốt đêm trong rừng. Sáng ra, vừa mở cửa chuồng, bò mẹ chạy trước, qua mặt người dẫn đường, đến chỗ cũ đón con. Gần tới nơi, bò mẹ liên tiếp kêu ọ… ọ… ọ… Và, bò con đang trốn trong lùm, lảo đảo đi ra. Nó mừng rỡ, quyến luyến, làm nũng cọ dựa vào mẹ. Bò mẹ âu yếm bằng cách liếm khắp mình bò con. Nghĩ đến sự vô tình làm chia cách mẹ con suốt đêm qua, tôi vỗ nhẹ lên đầu bò mẹ, vuốt ve bò con như một cách tỏ lòng cảm thông, ân hận.
Tôi nhớ trước đây, cũng đã có lần chứng kiến một cảnh não lòng. Ngoài bốn mươi con bò, trại có nuôi ba con trâu: hai con trâu già và một con nghé. Một ngày gần Tết, người ta lùa trâu cha và con nghé đi ăn. Riêng trâu mẹ bị lùa vào trại, giao cho nhà bếp làm thịt. Chiều về không thấy mẹ, con nghé đứng rống thảm thiết. Sáng hôm sau, vừa được mở cửa chuồng, hai con trâu chạy xăm xăm vào trại, đến trước nhà bếp. Trâu cha đứng ngóc mỏ lên trời, hả họng như kêu một tiếng vô thanh dài xé ruột. Con nghé cúi gầm xuống, đi chung quanh nhà bếp, kêu é… ọ… é… ọ… gọi mẹ và ngửi đất. Cái hơi hướm của mẹ nó còn phảng phất đâu đây, sau khi bị phanh thây xẻ thịt. Cuối cùng, một điều hết sức đau lòng, trâu cha và con nghé đứng ngơ ngẩn nhìn nhau chảy nước mắt. Trời ơi, loài vật mà biết chảy nước mắt thì loài người cầm lòng sao đang! Liên tiếp cả mười ngày sau đó, buổi sáng nào trước khi đi ăn, trâu cha cũng dẫn con nghé đến trước nhà bếp đứng khóc. Cảnh tượng ấy, không bao giờ tôi quên. Không bao giờ quên.
Có lẽ, những ngày đi chăn bò là thời gian nhàn du thoải mái nhất của đời tôi. Lang thang giữa núi rừng. Đứng trên cao, ngắm mây đùn lên từ những lũng sâu, lướt thướt kéo qua chân núi. Trong phút chốc, tôi bỗng thấy mình như kẻ tu tiên lánh đời, tìm thuốc trường sinh trong hoa ngàn cỏ nội. Tôi cũng thường ngang qua nương rẫy. Ghé lại ngồi chơi với cụ già người Dao. Cụ dạy tôi hút thuốc lào mà không cần cái điếu cày. Bằng cách miệng ngậm nước, quấn thuốc trong chiếc lá, châm lửa, rít một hơi dài, ém khói và nhổ nước ra. Tôi tập nhiều lần, nhưng không làm được. Cụ kể tôi nghe về phong tục tập quán người dân thôn bản. Kể tôi nghe về đời cụ. Một điều làm tôi ngạc nhiên, cụ chưa bao giờ đi đâu xa quá một ngày đường. Tôi ước lượng khoảng cách ấy, không hơn năm mươi cây số. Cụ hỏi tôi từ đâu đến đây, và tại sao tôi nói được tiếng Việt? Qua câu hỏi, tôi biết trong thâm tâm cụ, miền Nam là một nước khác. Cụ có vẻ buồn khi nhắc đến những người con trai của núi rừng, bỏ thôn bản đi làm giải phóng miền Nam. Phần đông đi biệt không về. Một số rất ít trở về, kể chuyện Sài Gòn có cái nhà lầu cao bảy tầng và thành vua rất tráng lệ. Cụ không tin con người có thể cất được cái nhà bảy tầng. Nhưng tin rằng, nếu vua Sài Gòn không chịu đầu hàng thì quân Cách Mạng sẽ bắn nát thành vua. Nhân chuyện cụ già, tôi nhớ trên chuyến xe lửa chở tù lên Yên Bái. Một người bộ đội hỏi tôi, thằng Pho có đi học tập chuyến này không? Tôi hỏi lại, thằng Pho nào? Thằng Pho (Ford), tổng thống Mỹ đấy. Tôi đáp gọn, nó đang ở bên Mỹ. Anh ta tiếc rẻ, thế à? Nó cũng chạy thoát? Uổng thật! Dân trí như thế, mà người ta tuyên truyền rằng ánh sáng văn minh đèn điện đã soi rọi khắp các vùng nông thôn, rừng núi.
Tâm hồn người thượng du mộc mạc như đời sống của họ. Sáng sớm, rời mái nhà sàn, họ lên rẫy hoặc đi săn bẫy thú rừng. Bước chân không có tiếng động. Âm thầm hoang dã. Thỉnh thoảng, nghe tiếng đốn cây vọng lại. Cái âm thanh khô khốc lẻ loi như từ thinh không rớt xuống núi rừng u tịch. Buổi tối, những người trẻ đi ngủ rất sớm. Người già ngồi trầm ngâm trong ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu chai. Đời họ, không có gì vui, cũng chẳng có gì buồn. Thời gian lặng lẽ trôi qua, họ tưởng như thiên nhiên muôn đời vẫn thế. Làm sao họ nhìn thấy được sự biến đổi chậm chạp của núi rừng, khi cuộc đời quá ngắn.
Mấy mươi năm về trước, có một số người miền xuôi, đi lính Tây, bị đày lên đây. Bây giờ, họ đã già lắm. Và con cháu họ cũng đã trở thành người của thượng du, nhưng họ không ở nhà sàn. Cái sân trước nhà không mọc cỏ. Chung quanh có trồng vài loại cây ăn trái. Ở mãi một nơi nào rồi cũng nhận nơi đó làm quê hương. Nếu đời cha không nhận, đời con cũng nhận. Thiên địa vô nhân. Núi rừng không vì một ai hết. Trời đất lặng thinh. Bốn mùa vẫn luân chuyển nắng mưa. Hoa lá trên ngàn vẫn xanh thắm. Không vì mặc cảm đọa đày mà con người ghét cả thiên nhiên.
Một ngày mưa dầm, tôi được lệnh chuyển trại. Thời thế đã đến hồi gay cấn. Quân của hai bên đã dàn ra, đối mặt trên biên giới. Rồi đây, núi rừng lại ầm vang tiếng súng. Người dân hiền hoà vô tội của thôn bản là nạn nhân trực tiếp hứng chịu những sấm sét do chính con người gây ra.
Con đường phía trước tôi, không biết sẽ về đâu. Trí tôi bỗng hiện ra những dốc đèo uốn khúc sơn khê. Những con suối mùa chảy xiết ngày mưa. Những thôn bản im vắng trưa hè. Tôi như nghe tiếng chim bắt-cô-trói-cột gọi buồn thê thiết. Nghe con áo-dà, con nai đêm đêm “béc” ngoài đồi tranh hiu quạnh. Nhìn lại, lán trại đìu hiu. Cái sạp, nơi tôi nằm trống hoang lạnh lẽo. Mới đây mà cơ hồ đóng bụi. Cái ống bương đựng nước rửa mặt mỗi sáng, nghiêng đổ dưới sàn. Cái giò phong lan, tôi đem về từ ngoài rừng treo trên vách nứa, như cũng có hồn biết rầu rĩ chia xa. Hàng rào trại không còn cần thiết nữa, bị phá một khoảng để lấy lối đi tắt, cũng làm tôi nao lòng. Chẳng phải tôi đã từng khó chịu vì cái hàng rào này, và mong được ở ngoài vòng kiềm toả của nó hay sao? Rời khỏi nơi đây, một chốn đã trở thành thân quen, tất cả những gì bỏ lại đều làm tôi thương nhớ. Ra đi, tôi ngó lại trong mưa, những dãy núi Hoàng Liên Sơn mù mù, đẹp như tranh và hùng vĩ biết bao.
Xin chào từ biệt những người cùng chung cảnh ngộ, đã đến đây và vĩnh viễn nằm lại núi rừng thượng du.
Tôi thường nghĩ về thế giới siêu hình, và luôn đặt câu hỏi: có hay không? Câu hỏi ấy lớn dần lên theo số tuổi đời. Con người càng ngày càng đi gần về phía hố huyệt bi thảm sau cùng, cho nên vấn đề “có” hay “không” thế giới bên kia là mối bận tâm của nhiều người. Và vấn đề này, không sao giải quyết dứt khoát giữa khoa học và tâm linh. Các tôn giáo đều cho rằng ngoài thân xác, con người còn có linh hồn. Chỉ có tin, hay không tin mà thôi. Đem khoa học thực nghiêm ra chứng minh, cũng khó.
Bản thân tôi đã chứng kiến nhiều sự việc không thể giải thích. Xin kể lại một cách bình thường, không có ý biện luận hay bài bác. Giữa thời đại khoa học cực thịnh, nói về cõi giới siêu hình thần linh ma quỷ, dễ làm nhiều người dè bỉu chê cười. Nhưng thâm tâm tôi, ngờ rằng còn có một điều gì đó không ổn khi ta hoàn toàn phủ nhận một cõi giới mơ hồ, với những hiện tượng mà khoa học cố tình làm ngơ.
Sao Nhót là người bà con bên họ ngoại của tôi. Năm mười bảy tuổi, nó bỏ nhà theo du kích, hoạt động lén lút ở địa phương và các vùng lân cận Tây Ninh. Thỉnh thoảng, có người gặp nó ở những nơi hẻo lánh. Vài năm sau, không còn ai thấy nó nữa. Một số người quen, tiết lộ rằng nó đã rời khỏi nơi đây, gia nhập vào Quân Chủ Lực Miền Việt Cộng. Thời gian trôi qua, chiến cuộc càng khốc liệt hơn, gia đình cũng bặt tin nó luôn. Má nó bí mật liên lạc với người trong mật khu, người ta nói nó đã chết trong một trận bom B52. Và tin này, cũng chẳng lấy gì làm xác tín. Có người bày vẽ, nên nhờ thầy “bắt hồn”. Nếu nó còn sống, thần linh sẽ cho biết. Nếu nó chết, thần sẽ dẫn hồn về nhập cốt để nói chuyện với thân nhân.
Má Sao Nhót nghe lời, tìm đến một bà cốt, nói rõ mục đích của mình. Bà cốt này tu trong một cái am, chuyên nghề đồng cốt, được sự tin tưởng của nhiều người. Không khí trong am có vẻ u trầm nhang khói. Ánh sáng bên ngoài chiếu rọi một cách yếu ớt qua những cửa sổ luôn luôn có màn che. Chính giữa có một bàn thờ lớn. Hai bên có hai bàn thờ nhỏ hơn. Tất cả đều che lại bằng những tấm màn màu đỏ. Khi bà cốt vén tấm màn lên, trên bàn thờ hiện ra những bức tượng sơn đỏ. Có tượng mặt mày dữ tợn. Có tượng mặt mày hiền lành. Khách đến am, tự nhiên cảm thấy có một vẻ gì linh thiêng huyền bí, và tỏ lòng kính ngưỡng bằng những cử chỉ hết sực nhẹ nhàng, tránh gây tiếng động. Nói chuyện với nhau cũng bằng những lời thầm thì. Không ai dám nói lớn tiếng trong am. Khi nhang đèn được thắp lên, ánh sáng từ những ngọn đèn cầy, và những cây đèn dầu nhỏ hắt ra, làm bớt đi vẻ âm u lúc đầu, nhưng cũng làm tăng thêm lòng tin vào sự linh thiêng của thần thánh. Bà cốt đứng chắp tay khấn vái lầm thầm trước bàn thờ. Thỉnh thoảng bà đưa tay cầm dùi gõ ba tiếng vào cái chuông nhỏ trên bàn thờ. Rồi bà bảo má Sao Nhót cũng khấn và xin với thần linh giúp đỡ. Sau đó, bà cốt ngồi xếp bằng giữa tấm chiếu trải trước bàn thờ, đầu và mặt che phủ bằng miếng vải đỏ. Những người thân của má Sao Nhót, ngồi chung quanh. Khoảng mười lăm phút sau, đầu bà cốt lắc lư, đồng thời hơi thở cũng dồn dập khác thường. Mọi người im lặng hồi hộp chờ đợi.
Bỗng, bà cốt nói: “Má ơi, con là Sao. Con về đây thăm má.” Giọng nữ của bà cốt bỗng chuyển thành giọng nam. Rõ ràng đây là giọng nói của Sao Nhót. Mọi người nửa tin nửa ngờ. Má Sao Nhót trong lúc bất chợt, không biết phản ứng ra sao, chỉ ngồi im. Có người giục: “Hỏi đi.” “Con có khoẻ không?” Má Sao Nhót luýnh quýnh hỏi. Mọi người bật cười vì câu hỏi ngớ ngẩn. Sao Nhót, qua xác của bà cốt, nói: “Con đâu còn xác người nữa, mà má hỏi khoẻ hay không.” Dì của Sao Nhót tiếp lời: “Con có phải là Sao thật không?” “Con không biết nói thế nào để dì tin. Má con có thể đặt câu hỏi để kiểm chứng.” “Hồi trước con biết tuổi của ba má, bây giờ con nói đi?”
“Ba tuổi Sửu 61. Má nhỏ hơn bốn tuổi, má tuổi Tỵ 57.” “Con hãy nói chuyện về con ngày trước và chuyện gia đình, để má tin chắc là hồn của con.” “Lúc nhỏ con bị tai nạn suýt chết. Một lần con bị té giếng, may nhờ có người hàng xóm trông thấy, vớt lên, cứu tỉnh bằng cách trút ngược đầu xuống đất cho nước tháo ra. Một lần con đi coi diễn kịch ngoài trời, bị người ta đặt mìn phá hoại, có nhiều người chết, nhưng con chỉ bị thương ở chân. Vết thương này làm con thành tật, đi cà nhắc.” Nói đến đây, bà cốt đứng dậy, đi qua đi lại trong am bằng những bước khập khểnh, chân thấp chân cao, kiểu đi của Sao Nhót. Má Sao Nhót kêu lên: “Trời ơi, đúng là con tôi.” Và bà khóc, muốn chồm lên ôm bà cốt. Những người chung quanh kéo bà lại. Bà cốt ngồi xuống chỗ cũ, nói tiếp: “Những năm trộm cướp nhiều, ba má thường giấu tiền trong áo gối, vàng thì chôn dưới giường ngủ của má…” Má Sao Nhót vừa khóc vừa đưa tay chặn lời bà cốt: “Thôi, con ơi, bấy nhiêu đủ rồi.” Hình như bà sợ hồn của đứa con còn tiết lộ thêm những điều bí mật khác của gia đình. “Má tin chắc đây là hồn của con. Con hãy cho má biết tại sao con chết?” Hồn Sao Nhót nghẹn ngào bi thiết: “Những năm trong mật khu, con khổ lắm, thiếu thốn mọi thứ. Phải di chuyển luôn để tránh bom đạn và Mỹ Nguỵ càn quét, không thể liên lạc với gia đình.”
Dì Sao Nhót nói: “Làm cách mạng phải hi sinh gian khổ. Chuyện ấy, gia đình hiểu rồi. Con hãy cho má của con biết tại sao con chết?” “Con bị sốt rét. Thuốc men không đủ điều trị, lại không được nằm yên nghỉ ngơi. Người ta khiêng con trong chiếc võng, chạy từ nơi này đến nơi khác. Sau cùng người ta bỏ con lại giữa rừng, trong một cuộc chạy tránh càn quét. Người ta nói sẽ trở lại đón con, nhưng không có ai trở lại cả.” “Rồi con thế nào?” “Rồi con chết một mình trên chiếc võng treo giữa rừng.” Má Sao Nhót khóc than vật vã: “Trời đất quỷ thần ơi, người ta nở lòng nào bỏ con tôi chết thảm. Bao nhiêu năm nay má thương nhớ đau khổ vì con…” Mọi người chung quanh vỗ về an ủi: “Thôi, dù sao nó cũng chết rồi. Chị nên bình tĩnh, dành thì giờ nói chuyện với con.” “Trước đây, má được tin con chết vì bom B52. Bây giờ, con nói con chết vì bệnh sốt rét. Tại sao lại có chuyện khác nhau?” “Người cho tin không biết rõ trường hợp của con. Người ta chỉ trả lời cho qua chuyện, để gia đình đừng tới lui tìm hiểu, làm lộ tung tích bí mật của những người khác.” “Má tin là con đã mất vì sốt rét. Bây giờ, con có muốn nhắn lại với ai điều gì, hoặc yêu cầu má làm điều gì cho con hay không?” Hồn Sao Nhót nói giọng sầu thảm: “Thôi, má ơi, chết là hết. Con không muốn gửi gấm cho ai lời gì làm bận lòng người còn sống. Con chỉ yêu cầu má một điều. Hồn con lang thang vất vưỡng đói khát, má lập cho con một cái bàn thờ, và hằng bữa, xin má cúng cho con một chén cơm.” “Má sẽ làm theo lời con. Và con cũng nên phù hộ cho gia đình mình được bình yên.” “Âm dương cách biệt. Con nhìn thấy mọi chuyện xảy ra trong gia đình, nhưng không có cách nào con làm thay đổi được những việc trên thế gian. Tất cả những tốt xấu, may rủi đều do âm đức của con người, xin má hiểu như thế. Con mượn xác để nói chuyện với má cũng lâu rồi. Xác đã mệt, con phải trả xác lại. Xin từ giả má và mọi người. Con đi!”
Má Sao Nhót đưa tay lên, chới với: “Hãy khoan! Má còn muốn hỏi thêm. Con chết ngày tháng nào, xác bỏ tại đâu? Con cho má biết, để má lấy về chôn cất, và hàng năm làm giỗ kỵ cho con”
Bà cốt không còn trả lời. Hồn Sao Nhót đã thăng.
Trước khi ra về, ngoài mâm hoa qua cúng trên bàn thờ, má Sao Nhót gởi lại một số tiền công cho bà cốt, nhưng bà không nhận tiền. Bà nói bà chỉ làm phước, và giúp đỡ mọi người theo ý của đấng thiêng liêng.
Cuối tháng Tư, năm 1975. Những kẻ từ rừng núi tràn về làng mạc, thành phố. Họ hân hoan rộn rã. Cờ đỏ bay phất phới khắp nơi. Bao người ra đi ngày nào, bây giờ trở lại đoàn tụ với gia đình. Tiệc lớn tiệc nhỏ bày ra, đón mừng thân nhân. Trong khi người ta say sưa kể lại những thành tích anh hùng và những thắng lợi thần kỳ của kháng chiến, má của Sao Nhót ngồi rầu rĩ trước cửa nhà. Bà nhớ con, nếu nó còn sống, thì gia đình bà cũng vang rộn tiếng cười trên bàn tiệc. Và nhất là những người láng giềng sẽ tới lui tấp nập chúc mừng, bà cũng hưởng lây được chút hãnh diện của con sau cuộc đổi đời. Mất con, bà đã buồn, nỗi buồn ấy tưởng đã nguôi ngoai theo ngày tháng. Giờ đây, nhìn thấy những đứa bạn cùng ra đi với con bà ngày trước, trở về trong vinh quang, bà càng tủi thân, càng buồn nhiều hơn nữa…
Hai tháng sau. Một người bộ đội, mang quân hàm thượng úy, bước khập khểnh chân thấp chân cao, đi về đứng trước hiên nhà má Sao Nhót. Anh ta cởi bỏ chiếc ba lô xuống thềm, tay che lửa, bật quẹt, khum đầu đốt điếu thuốc.
Má Sao Nhót ra trước nhà, thấy người bộ đội. Bà đứng ngó sửng. Khi anh ta vừa ngẩng đầu lên, bà dội ngược lại, hoảng hốt: “Trời đất! Nam Mô A Di Đà Phật. Sao ơi, con sống khôn thác thiêng, đừng hiện hồn về nhát má tội nghiệp.”
Người bộ đội cười: “Má không nhận ra con sao?”
Nghe thế, bà lấy lại bình tĩnh: “Má nhận ra con, nhưng con đã chết rồi. Má đã lập bàn thờ.”
“Ai nói với má là con chết?”
“Người trong mật khu nói con đã chết. Má tới am nhờ đồng cốt gọi hồn, và hồn con đã về nói chuyện với má.”
Người bộ đội ấy chính là Sao Nhót, anh ta cười lớn: “Ối, cái loại đồng bóng bày trò mê tín dị đoan, lừa gạt người ta. Má tin làm gì!”
Sao Nhót vừa nói dứt lời, bà nhào đến ôm người con bằng xương bằng thịt. Và bà khóc còn nhiều hơn ngày nghe tin con chết.
Tôi kể lại chuyện này cho thầy tôi nghe, đồng thời cũng nêu lên những thắc mắc:
– Tại sao bà cốt từ giọng nói của người đàn bà, có thể chuyển thành giọng của đàn ông, mà lại giả đúng giọng của Sao Nhót?
– Bà cốt xa lạ với gia đình của Sao Nhót. Tại sao bà biết được những tai nạn lúc ấu thời của Sao Nhót?
– Có những bí mật của gia đình, chỉ người trong nhà mới biết. Tại sao bà cốt biết được chỗ giấu tiền và vàng của má Sao Nhót?
Thầy tôi nói, thầy tin rằng có hai thế giới hữu hình và vô hình, sống đồng thời trong một không gian mà không hề ngăn ngại lẫn nhau. Trong thế giới vô hình có những chúng sinh, người đời thường gọi là thần linh, ma quỷ.
Sách nhà Phật có nói, chúng sinh ở cõi giới này, đương nhiên có được:
– Thần túc thông (nghĩ đến nơi nào, thì đến được nơi ấy ngay, không cần phải di chuyển để vượt qua không gian và thời gian).
– Tha tâm thông (biết được ý nghĩ của người khác).
Đồng cốt, cũng có người lợi dụng sự mê tín để lừa mị người khác, kiếm ăn. Cũng có người là đồng cốt thật. Trường hợp của Sao Nhót, bà cốt “lên” thật, nhưng không phải hồn của Sao Nhót. Theo lời thầy tôi giải thích, tại địa phương của gia đình Sao Nhót, có con ma, nó biết ý định của má Sao Nhót. Nó đi theo đến am của bà cốt, và giả hồn của Sao Nhót, nhập cốt để đánh lừa hưởng chút hương hoa dâng cúng, hoặc dối gạt người đời, lấy sự đùa giỡn làm vui. Nó giả đúng giọng của Sao Nhót và kể những tai nạn, vì nó biết rõ Sao Nhót từ lúc ấu thơ cho đến lúc trưởng thành. Nó biết những bí mật gia đình Sao Nhót, vì nó nhìn thấy được những hành vi, đọc được ý nghĩ của người đời. Có lẽ, ngoài cách lý giải của thầy tôi, không có câu trả lời nào đáp ứng thoả đáng được những câu hỏi nêu trên.
Từ nhà tôi, ngó qua bên kia đường là nhà bà Jaguar. Thật ra, bà có một cái tên na ná như thế, nhưng do tôi phát âm sai thành Jaguar, và bà tự nhận luôn.
Tôi mới sang Mỹ, còn ăn tiền trợ cấp của chính phủ. Ngoài vài giờ học Anh văn ở trường, thì giờ còn lại tôi chẳng biết làm gì cho hết một ngày trống trải. Đi dạo phất phơ qua mấy khu phố gần nhà mãi cũng chán. Tôi thường ngồi trước thềm hiên, trông sang nhà một bà già đầu tóc bạc phơ. Không biết bà vốn đã có màu tóc bạch kim trắng xoá như thế, hay vì tuổi già mà bạc tóc? Ngôi nhà của bà kiến trúc rườm rà theo kiểu xưa như một lâu đài cổ nho nhỏ. Chung quanh có nhiều cây cối rậm rạp âm u. Bà đi ra đi vào âm thầm như chiếc bóng, làm tôi liên tưởng đến những nhân vật kỳ bí trong các truyện cổ tích dành cho nhi đồng. Ngoài cô y tá đến chăm sóc bà mỗi sáng, tôi ít thấy bà giao tiếp với ai. Những buổi chiều oi bức, bà cũng thường ngồi trên chiếc ghế dựa, trông sang nhà tôi. Nhiều khi bà giơ tay vẫy vẫy chào tôi. Tôi cũng vẫy vẫy chào lại. Mấy tháng trời vẫy chào nhau mà chưa hề nói chuyện.
Một hôm, tôi thấy bà chống gậy băng qua đường, đi về phía tôi. Với sức khỏe còn khá tốt như bà, đâu cần phải chống gậy? Hay bà cầm gậy phòng thân như một loại “đả cẩu bổng” của những người già?
Tôi vội chạy ra, xổ ngay một câu tiếng Anh đã học trong những ngày đầu ở trường: “Hi! How are you?”
Bà nói: “Fine. And you?”
Và tôi đáp lại: “Fine.”
Sau cái thủ tục tục chào hỏi thông thường của người Mỹ, tôi hỏi bà có cần tôi giúp gì không? Bà trả lời líu lo cả tràng dài. Tôi lắc đầu, bảo bà nói chậm hơn. Bà lập lại rõ ràng từng tiếng một. Có tiếng tôi hiểu nghĩa, có tiếng không. Nhưng tôi cũng đoán mò ra rằng, bà hỏi tôi có thấy hai đứa con nhỏ của bà chạy sang đây không? Già như bà cũng có con nhỏ sao? Tôi nói không thấy, và cũng chưa từng biết mặt người con nào của bà. Sau một hồi nói qua nói lại, tôi hiểu được vấn đề.
Bà sống một mình trong ngôi nhà cổ. Để bớt cô đơn, bà nuôi năm con mèo làm bạn, và coi chúng như con. Trong giờ ăn trưa nay, bà phát giác hai con vắng mặt. Tôi nói, nó đi tìm tình nhân quanh quẩn đâu đó. Khi nào đói, nó sẽ tự động quay về. Sẵn dịp, tôi mời bà vào nhà chơi. Bà đồng ý, nhưng chỉ đi đến thềm hiên và ngồi xuống chỗ tôi thường ngồi mỗi buổi chiều. Tôi cũng ngồi cạnh bà. Hai bên bắt đầu nói chuyện bằng một thứ ngôn ngữ trật vuột của tôi. Tôi nói: “Mèo ở xứ tôi, người ta chỉ cho ăn những cơm thừa canh cặn, và xương xẩu vất đi. Nhà nào nghèo, không còn cơm thừa canh cặn thì mèo phải tự mưu sinh bằng cách bắt chuột. Bất tài không bắt được chuột thì ráng nhịn đói.”
Bà hỏi: “Người ta không thương mèo?”
Tôi nói: “Con người thương nhau còn chưa đủ, nói chi tới chó mèo.”
“Thế, nuôi mèo làm gì?”
“Để bắt chuột.”
“Chỉ với mục đích bắt chuột thôi sao?”
“Còn nữa. Để ăn thịt.”
Bà trợn mắt: “Ồ! Ăn thịt mèo? Tàn nhẫn!”
Tôi vận dụng tất cả vốn liếng sinh ngữ kém cỏi của mình, phụ họa thêm đôi tay làm dấu hiệu để nói với bà rằng thịt mèo cũng giống như thịt thỏ. Tại sao không thể ăn? Mỗi ngày, ở Mỹ có hàng triệu bò heo gà được đưa vào lò sát sinh. Như thế có tàn nhẫn hay không? Bà nói: “Ông có những thắc mắc kỳ cục. Người Mỹ không ai thắc mắc như thế cả. Dù tôi có giải thích, thì qua một thứ ngôn ngữ còn quá mới mẽ đối với ông, ông cũng không thể nào hiểu hết ý nghĩa.”
Bà còn khuyên tôi, đừng nên nghi ngờ về tình thương của người Mỹ. Tôi được đến xứ này là một bằng chứng về lòng tốt đó.
Tôi cám ơn, và nói: “Người Mỹ thường rêu rao về lòng nhân đạo. Bất cứ nơi nào trên thế giới gặp thiên tai, đều được người Mỹ cứu trợ. Nhưng bất cứ nơi nào trên thế giới xảy ra chiến tranh chết chóc, cũng đều có bàn tay của người Mỹ nhúng vào.”
“Để làm cho vấn đề trở nên tốt đẹp hơn.”
Tôi tiếp theo: “Vâng. Tốt đẹp hơn cho quyền lợi của Mỹ.”
Bà già cười lớn cởi mở, cho rằng trong quá khứ có những vấn đề làm tôi hiểu lầm người Mỹ nên mất niềm tin. Nhưng dù sao, những ý nghĩ của tôi cũng làm bà thú vị. Bà tỏ ý muốn làm bạn với tôi để nói chuyện cho đỡ buồn. Bà gọi tôi là bạn, rồi tự giới thiệu tên là Jackwar, Jacquewar, hay gì gì đó. Và bảo tôi lập lại.
Tôi phát âm: “Jaguar.”
Bà cười lớn: “Jaguar là cái hiệu xe hơi, và cũng là tên của một con vật có sức chạy rất nhanh. Năm nay tôi tám mươi ba tuổi, nhận thêm cái tên mới do bạn đặt như một kỷ niệm. Tôi rất thích tên này. Và, bạn tên gì?
Tôi nói: “Tôi tên Lâm.”
Bà phát âm tên tôi thành Lamb: “Lamb cũng là con vật. Như thế, bạn và tôi đều là hai con vật. Tôi là con Jaguar. Bạn là con Lamb.”
Không ngờ một bà già cô đơn, âm thầm trong ngôi nhà buồn hiu phía bên kia đường, lại vui tính đến thế. Bà đặt ra nhiều câu hỏi.
Tôi trả lời: “Tôi từ Việt Nam sang đây, được tám tháng.”
Bà kêu lên: “Việt Nam hả? Thế mà tôi cứ tưởng bạn là người Tàu.” Bà còn cho biết, người chồng đầu tiên của bà bỏ mạng ở Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh vừa qua.
Tôi chia buồn với bà. Và tiếp rằng: “Bà thấy chưa? Ở đâu có chiến tranh là có mặt người Mỹ.”
Bà nói: “Nếu ở Mỹ một thời gian lâu hơn, bạn sẽ biết tại sao người Mỹ làm như thế.”
Trước khi ra về, bà hẹn gặp lại tôi trong một lần khác, và đưa tay vỗ vai tôi, nói “Good boy.”
Tôi ngạc nhiên về lời nói, và cử chỉ này. Năm nay, tôi đã ngoài bốn mươi, sao bà nói good boy và coi tôi như đứa trẻ nít? Không biết đó là cách biểu lộ thân tình theo kiểu Mỹ, hay dưới con mắt của bà, tôi chỉ là thằng bé con?
Mấy ngày sau.
Bà Jaguar đứng bên nhà, ngoắc tôi sang. Bà đón tôi ở cửa, sắc diện tươi vui rạng rỡ, nói líu lo. Tôi đứng nhìn bà, chỉ mỉm cười và lắc đầu. Bà chợt hiểu tôi không bắt kịp lời nói nên nắm tay tôi, dẫn vào phòng khách. Sao lại nắm tay? Sự thân mật nào cũng phải có giới hạn chứ? Bà Jaguar đã già quá rồi, còn muốn gì nữa đây? Tôi còn đang e dè, bà chỉ chiếc sofa, bảo ngồi đó.
Bà lại vỗ vai tôi, nói: “Thằng con đầu của tôi năm mươi tuổi, nhưng trông nó to xác hơn bạn nhiều.”
Thì ra bà nắm tay, vỗ vai vì coi tôi ngang hàng đứa con của bà. Mỗi dân tộc có những đặc tính riêng, tôi chưa quen thân mật kiểu Mỹ nên thấy ngượng. Rồi bà đi lại phía cửa sổ, nơi có chiếc dương cầm đóng bụi, đem đến một cái gói bọc giấy hoa sặc sỡ trông như chiếc hộp.
Bà nói: “Đây là quà tặng cho bạn, hãy mở ra coi.”
Gói quà khá nặng. Khi tôi mở, bà ngồi quan sát một cách thích thú. Tôi mở thật chậm, ra vẻ trịnh trọng. Thật ra là để để suy nghĩ một thái độ sao cho vừa phải. Nếu tỏ vẻ vui mừng quá lố, bà sẽ tưởng tôi là người ham của. Nếu không vồn vã mà chỉ cám ơn suông, bà sẽ nghĩ tôi thờ ơ với quà tặng. Quà của bà là hai quyển tự điển, Anh Việt – Việt Anh.
Tôi cầm giơ lên: “Cám ơn. Đây là hai thứ mà tôi rất cần, dự định đi mua thì được tặng.”
Nói thế cho bà vui, chứ tôi cũng đã có hai quyển tự điển loại này rồi.
Và bà đã vui thật: “Tôi đã đoán đúng những gì bạn đang cần thiết.” Bà nói thêm, “Nếu bạn muốn, mỗi ngày tôi sẽ luyện giọng cho bạn vài giờ.”
“Tôi ngại chuyện này sẽ làm bà bận rộn.”
Bà khoát tay: “Không đâu, thì giờ của tôi quá dư thừa, không biết làm gì cho hết. Luyện giọng cho bạn cũng là một cách để tôi cảm thấy thời gian bớt trống trải.”
Từ đó, tôi trở thành học trò của bà Jaguar. Mỗi buổi chiều, tôi ôm hai quyển tự điển sang ngôi nhà cổ. Bà và tôi nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Tiếng nào bà nói mà tôi không hiểu thì mở tự điển Anh Việt. Tiếng nào tôi muốn nói mà không tìm ra chữ tương đồng thì mở tự điển Việt Anh. Lớp học cứ thế, diễn ra với người học trò duy nhất, và cô giáo cũng chẳng cần soạn trước đề tài.
Vài tháng sau, bà Jaguar khen tôi có tiến bộ. Bây giờ, tôi nghe khá hơn, và thuộc nhiều từ ngữ hơn.
Một hôm, bà Jaguar nhìn chiếc đàn, nói: “Lâu rồi tôi không lái xe, cũng như không sử dụng ngón đàn. Bạn biết đàn dương cầm không?”
Tôi lắc đầu: “Tôi chẳng biết chi về âm nhạc. Đặc biệt ở xứ tôi, chỉ có giới thượng lưu, hoặc những kẻ nhà giàu muốn làm ra vẻ thượng lưu mới sử dụng dương cầm. Còn tôi là dân nghèo, chỉ lo làm sao sống mà khỏi bị đói.
“Thế ở Việt Nam bạn làm nghề gì?” Bà hỏi.
“Đi lính.” Tôi trả lời.
“Chỉ đi lính mà không làm nghề gì khác?”
“Sau khi đi lính, tôi đi tù. Ra khỏi tù là gần hết cuộc đời. Có thể coi lính và tù là cái nghề không?”
“Không. Trong tù, bạn làm những gì?”
Tôi kể cho bà nghe một lô những việc phải làm: “Cuốc đất, trồng khoai, cày bừa, cấy gặt, nhổ cỏ, đốn cây, vác gỗ, làm nhà, đắp đê, đào giếng, nung đá vôi… Tóm lại, tất cả những việc làm trong tù, không đòi hỏi điều kiện phải biết chữ. Vì vậy, ở xứ tôi, ai cũng có đủ điều kiện để vào tù.”
Bà Jaguar bảo: “Đừng đem sự bất hạnh ra làm điều khôi hài.”
Tôi nói tiếp: “Trong tù người ta còn tập cho chúng tôi cái khả năng chịu đói trường kỳ, cũng có cho ăn cầm hơi qua ngày, nhưng chỉ là những thứ rất ít dinh dưỡng như sắn khô và nước muối. Ai chịu đựng giỏi thì tiếp tục sống. Ai không chịu thì chết. Chúng tôi gầy rạc như những thầy Fakia Ấn Độ. Thầy Fakia chỉ nhịn đói tối đa trong thời hạn bốn mươi ngày. Chúng tôi đói từ năm này sang năm nọ, trong điều kiện phải làm việc hàng ngày.”
“Khắc nghiệt như thế mà vẫn sống được.” Bà Jaguar lắc đầu ngao ngán.
“Hiện tại phần lớn những người tù chúng tôi đã sang Mỹ hoặc các nước Tây Phương. Tôi thấy ở đây có một hiện tượng lạ là nhiều người quá mập. Người ta gọi mập là béo phì, là bệnh và loay hoay tìm cách để làm giảm cân, nhưng kết quả không mấy khả quan. Xứ tôi có một phương pháp chữa bệnh béo phì rất có kết quả.”
“Thật thế sao?” Bà hỏi, có vẻ quan tâm.
Tôi gật đầu:”Chỉ cần vào tù. Nhà cầm quyền xứ tôi gọi tù là cải tạo. Muốn đi cải tạo, chỉ cần truyên bố một câu gì khác với chính sách của chế độ, hoặc phê bình chỉ trích các nhà lãnh đạo là được đi cải tạo ngay. Khi đã vào trại cải tạo, người mập sẽ mỗi ngày một sụt cân nhanh chóng. Bảo đảm trong vòng vài tháng, người ấy sẽ chỉ còn da bọc xương.”
Bà Jaguar bảo: “Ở Mỹ, người ta nghiêm cẩn trước sự đau khổ của mình và của người khác. Còn bạn hay đem sự đau khổ ra làm chuyện khôi hài. Có phải đó là đặc tính của dân tộc Việt Nam?”
“Dân tộc tôi thường xuyên sống trên đau khổ, và lấy đó làm đề tài tạo nên nụ cười như một cách hóa giải bớt thương đau. Do đó, dù đi trong gian nan khổ ải, nhưng miệng vẫn mỉm cười. Người ngoại quốc làm sao thấy được phía sau nụ cười ấy là một nỗi niềm cay đắng?”
“Những người lãnh đạo bất tài chỉ làm cho dân đau khổ. Tại sao họ cứ tiếp tục nắm giữ chức vụ quyền hành chi cho mang tiếng xấu?”
“Ở Mỹ, kẻ giàu sang thích làm lãnh đạo vì muốn có danh. Người Cộng Sản Việt Nam thích làm lãnh đạo vì muốn có quyền lực và có tiền. Nếu rời bỏ quyền lực, họ hiện nguyên hình là tên dốt nát, và chỉ có thể làm đồ tể, hoặc đi chăn bò.”
Bà Jaguar ra vẻ suy nghĩ một lúc, rồi nói: “Vận mệnh đất nước mà đặt trong tay của những tên chăn bò thì nó sẽ nhốt người dân vào chuồng. Giao sinh mạng cho đồ tể thì trước sau gì cũng bị nó đưa vào lò thịt!
Một hôm khác.
Tôi hỏi: “Mấy con mèo của bà dạo này ra sao?”
Bà nói: “Có một con đã sinh tư, và một con sắp đẻ. Với cái đà sinh đẻ theo kiểu nhân giống này, chẳng mấy chốc nhà tôi sẽ đầy những mèo. Tôi ngại trong tương lai, nuôi mèo không còn là một thú vui nữa, mà là một gánh nặng.”
Nói xong, bà dẫn tôi xuống basemaent. Vừa mở cửa, tôi nghe mùi hôi xông lên tận óc. Mùi của nước đái và cứt mèo. Tôi dội ngược trở lên. Bà Jaguar kéo tôi lại, bảo hãy vào coi cho biết sự thể.
Khi chúng tôi vào, đàn mèo tưởng bà Jaguar mang đồ ăn nên bu lại ngóc mỏ kêu meo meo. Rải rác dưới nền, và trong các góc kẹt basement là những cứt mèo khô bẩn thỉu.
“Hiện tại, tôi có đến chín con mèo. Nay mai, một con đang chửa sẽ đẻ nữa.”
“Rồi đây nhà bà sẽ biến thành cái trại nuôi mèo hôi không chịu nổi.”
“Có cách nào giải quyết?”
“Bán chúng cho Pet Shop.”
“Đã có gạ bán nhưng người ta không mua. Tặng người ta cũng không lấy. Họ nói khách hàng vùng này không chuộng mèo, chỉ thích nuôi chó.”
Tôi đề nghị bà chọn con nào thích nhất, giữ lại một con. Còn bao nhiêu tống hết ra rừng. Rồi một ngày cuối tuần, tôi sẽ giúp bà tẩy uế basement.
Bà ái ngại: “Không ai cho ăn, chúng sẽ bị đói. Trời mưa gió, chúng sẽ trú ẩn nơi đâu? Đó là chưa kể chúng sẽ bị làm mồi cho những loài thú dữ khác.”
Tôi nói: “Chính sự nuông chìu và cung cấp thức ăn hàng ngày của bà, nên đàn mèo ỷ lại vào sự đùm bọc nuôi nấng của chủ. Và điều này, đã làm chúng mất hết bản năng tự mưu sinh. Nếu đem bỏ giữa rừng, chúng phải tự tranh đấu để giành sự sống. Lần hồi chúng sẽ phục hồi bản năng thiên nhiên của loài vật. Đói, chúng biết tự tìm mồi. Mưa gió, chúng biết tìm chỗ ẩn núp. Gặp thú dữ, chúng biết nhanh chân chạy trốn. Loài nào yếu đuối chậm chạp thì làm mồi cho loài mạnh hơn. Đó là luật rừng xanh. Thiên nhiên dù khắc nghiệt, nhưng muôn loài vẫn có cách riêng để tồn tại. Bà lo chi những con mèo của bà sẽ không sống được.”
Thế là hai hôm sau, bà Jaguar cho đàn mèo ăn một bữa thật no. Rồi nhờ một người láng giềng cùng tôi đưa chúng lên xe, chở đến một khu rừng cách nhà vài dặm, đẩy chúng xuống. Khi đàn mèo còn đang bỡ ngỡ kêu meo meo và đưa mũi ngửi những cây lá chung quanh, chúng tôi quay xe trở về.
Bà Jaguar đón chúng tôi trước cửa. Bà đang ôm con mèo còn lại, có vẻ buồn. Đôi mắt già đỏ hoe, ngấn lệ.
Bà hỏi: “Khi những con mèo xuống xe, chúng có buồn không?”
Tôi nói để bà yên tâm: “Được sống giữa rừng xanh, chẳng những chúng không buồn, mà còn vui nữa là khác.”
Sau đó, tôi bỏ ra một ngày để dọn dẹp, tẩy uế basement cho bà Jaguar. Bà cứ lẩn quẩn bên tôi, săm soi thương tiếc những dấu tích của đàn mèo. Khi tôi ném những chiếc nôi nhỏ vào thùng rác, những chiếc nôi mà bà đã mua để làm nôi cho mèo ngủ thì bà bật khóc thật sự. Nước mắt của bà không làm tôi xúc động. Cả đời bà Jaguar chưa từng gặp cảnh đau thương. Tâm hồn chưa bị ai dày xéo. Cái túi nước mắt đầy ứ lâu ngày, chực chờ một chút gì xao động là rò rỉ tuôn ra. Để bà khóc cho đã nư. Tôi lo làm sạch sẽ. Đã nhiều năm không ai quét dọn, basement đầy những bụi bặm, đồ đạc chất chứa ngổn ngang. Tôi quét dọn sạch sẽ, sắp xếp đồ đạc lại gọn gàng ngăn nắp. Vất đi một số lớn những thứ cũ kỹ dư thừa không cần thiết.
Lúc mọi việc đã hoàn tất, tôi lên ngồi trước thềm hiên, hóng gió. Bà Jaguar đem cho tôi ly nước lạnh, cùng ngồi đó với tôi. Bà lại nhắc đến những con mèo, không biết chúng lấy gì để ăn?
Tôi nói: “Trong rừng có chuột, cóc, nhái, thằn lắn, rắn mối… Đó là thức ăn của mèo.”
“Nhưng làm sao chúng bắt được, vì như bạn đã nói mỗi loài đều có bản năng chạy trốn khi gặp nguy hiểm?
“Dù có chạy trốn, nhưng không lẽ lần nào cũng thoát? Thiên nhiên đã bày sẵn thức ăn ra đó. Không nhanh nhẹn chụp bắt để đưa vào mồm, trách chi tạo hóa bất công?” Nói tới đây, tôi bỗng nhớ lại một chuyện cũ, và kể cho bà Jaguar nghe.
Có một ông luật sư người Việt Nam, đi du học và hành nghề lâu năm ở Pháp. Không biết tại sao ông lại léng phéng về xứ vào giai đoạn chót của chiến tranh. Dĩ nhiên ông trở thành đối tượng nghi ngờ của chế độ mới, bị đưa ra miền Bắc cải tạo. Một hôm, cán bộ trại tập họp anh em lại để nghe chuyện Bác Hồ. Nghe xong, ông luật sư cũng nổi hứng kể chuyện Bác Hồ. Tiêm nhiễm cái tinh thần tự do dân chủ kiểu Tây Phương quen rồi, ông nói năng không kiêng dè ai cả. Tiếng Việt của ông vụng về như tôi đang nói tiếng Anh.
“Ngày Bác Hồ còn lang thang ở Pháp. Bác có đến xin được gặp tôi, rủ tôi theo Bác về xứ tham gia cách mạng. Nhưng tôi từ chối.”
Cán bộ lấy làm tiếc: “Nếu hồi đó, anh chịu theo Bác thì bây giờ đã được quyền cao chức trọng rồi.”
Ông nói: “Hồi đó, tôi đâu biết Bác là ai mà theo? Tôi là một luật sư của luật sư đoàn Pháp Quốc. Bác không theo tôi thì thôi. Sao tôi lại theo Bác, một kẻ vô danh, không nghề nghiệp?”
Nghe xong, cán bộ sửng người. Chúng tôi không ai dám cười.
Ra Bắc, chúng tôi phải làm việc khổ sai cật lực. Ông luật sư già yếu quá rồi, lại không rành ngôn ngữ Việt Nam. Cán bộ chỉ định ông luật sư đi chăn trâu. Buổi sáng. Trước khi dẫn hai con trâu ra đồng, ông ta hỏi: “Tôi phải đem món gì theo cho lủy ăn?”
Cán bộ không biết “lủy” là gì. Một anh tù giải thích: “Lủy tiếng Tây có nghĩa là nó, chỉ ngôi thứ ba.”
Cán bộ hỏi: “Ngôi thứ ba là ngôi gì?”
“Ngôi thứ ba là con trâu.”
Cán bộ mỉa mai: “Con trâu thì bảo là con trâu. Ngôi thứ chỉ đặt ra cho con người. Các anh lắm chuyện rắc rối!”
Từ đó, cán bộ đinh ninh “lủy” là con trâu. Và nói: “Dẫn lủy ra đồng, cho lủy tự ăn cỏ. Không cần đem theo gì cả.”
Buổi trưa. Ông luật sư chạy về trại, báo cáo: “Lủy không ăn cỏ nữa, lủy lội ra nằm giữa hồ nước. Tôi gọi mãi, lủy không vào. Bây giờ, làm sao gọi lủy vào?”
Trước sự ngờ nghệch của ông luật sư, cán bộ nổi nóng: “Lủy nằm đó, kệ lủy!. Mắc mớ gì anh mà gọi vào?”
Ông luật sư quay qua hỏi người bạn tù: “Mắc mớ nghĩa là gì vậy?”
Lần này, chúng tôi cười thoải mái.
Sau khi nghe chuyện, bà Jaguar thắc mắc: “Tại sao ông luật sư không biết rằng con trâu phải tự gặm cỏ ngoài đồng mà ăn?”
Tôi nói: “Cũng như bà đấy. Tại sao bà không biết rằng con mèo phải tự bắt chuột trong rừng mà ăn?”
Bà cười lớn: “Không ngờ bạn kể một câu chuyện dông dài, mục đích gài bẫy cho tôi đặt câu hỏi để bạn trả lời con mèo phải tự mưu sinh.” Vào một ngày mùa hè. Bà Jaguar nói với tôi về một bà bạn tên Julie vẫn hay đến đây làm việc thiện nguyện như giúp bà đi chợ, nấu ăn, hoặc dọn dẹp lau chùi nhà cửa. Chung quanh nhà bà Julie là một khu vườn rộng, đang cần một người cắt xén, chăm sóc hoa cỏ.
Bà Jaguar hỏi: “Bạn thích làm công việc ấy không?”
Tôi nói: “Chỉ ngại người ta không chịu mướn tôi.”
“Tôi sẽ giới thiệu, và chắc chắn bà Julie bằng lòng.” Bà cười với vẻ khôi hài, “Bởi vì đây là công việc không cần điều kiện biết chữ, như bạn đã từng làm ở trong tù.”
Hôm sau. Tôi thấy một người đàn ông đến nhà bà Jaguar, lôi chiếc xe hơi bỏ phế lâu ngày từ trong garage, đem đi. Và hôm sau nữa. Chiếc xe được lái về đậu ngay trước cửa, sau khi đã lau chùi sạch sẽ.
Bà Jaguar gọi tôi sang, bảo: “Chiếc xe này đã được tu bổ sửa chữa hoàn hảo rồi. Tôi tặng bạn, để có phương tiện đi làm vườn nhà bà Julie.”
Tôi từ chối: “Tôi không muốn nhận một cái ơn quá lớn, khi tôi chẳng làm được điều gì đáp lại.”
Bà nài ép mãi, nói cái tuổi của bà không còn có thể tự lái xe. Nếu tôi không nhận thì bà cũng để đấy vô ích thôi. Cuối cùng, chúng tôi thỏa thuận bằng cách tôi mua lại với điều kiện trả góp. Bà dặn, khi nào chiếc xe bị hư hao trục trặc, hãy báo cho bà biết vì thời gian guarantee là… một năm. Tôi cũng ậm ờ cho qua chuyện, nhưng không bao giờ muốn làm phiền một kẻ có lòng.
Khi bà trao cái title để tôi đi sang tên, tôi thấy bà ghi giá bán một trăm đô la.
Tôi la lên: “Thế này thì thiệt thòi cho bà quá. Phải ghi thêm một con số không.”
Bà lắc đầu: “Đã quyết định rồi, không thay đổi. Trên đời sao lại có chuyện người mua đòi trả cao hơn giá bán.”
Từ khi làm vườn cho bà Julie, tôi ít sang nhà bà Jaguar. Những cuối tuần, thỉnh thoảng thấy bà đứng trước sân, tôi sang thăm hỏi bà có cần tôi giúp gì không? Bà bảo, mọi sự bình thường. Khi nào cần, bà sẽ gọi. Bà cũng nói thêm rằng mùa đông sắp tới rồi, bà Julie dự định sẽ đưa tôi vào làm cleaner trong cái hãng do chồng bà làm chủ. Bà Julie đánh giá quả không lầm. Tôi chẳng biết chi về máy móc kỹ thuật, nhưng nếu giao công việc lau chùi dọn dẹp, chắc chắn tôi sẽ tỏ ra vô cùng xuất sắc.
Hàng ngày, tôi vẫn đi làm bình thường nơi khu vườn của bà Julie. Một buổi sáng, khi tôi đang mở cửa nhà kho để lấy dụng cụ, bà Julie xuất hiện.
Bà hỏi: “Hôm nay ông không đi đưa tiễn người bạn già của ông hay sao?”
Tôi hỏi lại: “Bà muốn nói bạn già của tôi là ai?”
“Jaguar.” Bà Julie nói.
“Sao bà cũng biết người ấy có cái tên Jaguar?”
“Chính bà kể cho tôi nghe lai lịch về cái tên này.”
“Nhưng bà Jaguar đi đâu mà cần đưa tiễn?”
“Ông không biết gì sao? Bà ấy chết rồi!”
Tôi tưởng như nghe lầm: “Cái gì?”
“Jaguar chết rồi.” Bà Julie lập lại
Tôi thảng thốt: “Tại sao?”
“Tai biến mạch máu não. Chết trên bàn giải phẩu vì tuổi già không đủ sức chịu đựng. Tôi cũng đang chuẩn bị đưa tang đây.” Tôi sửng sờ trong giây lát. Nghe có một nỗi gì nghèn nghẹn dâng lên trong cổ. Rồi quên cả chào bà Julie, tôi lên xe phóng về cho kịp tiễn đưa người bạn già kính mến của tôi. Trên đường về, tôi tiếc đã quên hỏi địa chỉ nhà quàng để nhìn mặt bà Jaguar lần cuối. Không khéo, khi tìm được đến nơi thì người ta đã đưa bà ra nghĩa trang rồi.
Hắn ở nhà thuê. Đặc tính của người thuê nhà là không ở một chỗ nào quá lâu. Hơn 20 năm sống trên đất Mỹ, hắn dời chỗ 7 lần. Và lần nào cũng thuê đúng tầng 3, trên cao chót vót. Cái số hắn là vậy.
Lúc còn ở Việt Nam, có lần hắn đi coi bói. Lão thầy bói hỏi hắn về ngày tháng năm sinh. Hắn mù tịt. Bởi hắn được sinh ra trong thời giặc giã, má hắn hoảng hốt bồng con chạy loạn trối chết. Bà ngoại hắn nói nửa đùa nửa thật, rằng má hắn đẻ rớt ra hắn trên đường chạy loạn. Sao lạ vậy? Có ai vừa chạy vừa đẻ không? Người ta đau bụng quằn quại rên la gần chết mới đẻ được. Nhiều đứa bé bướng bĩnh nằm ì không chịu ra, bắt buộc phải dùng biện pháp mạnh, giải phẩu nắm đầu lôi ra. Còn hắn tạo điều kiện dễ dàng cho người đã cưu mang hắn. Ngay từ lúc sơ sinh, hắn đã thể hiện tính nhân bản, chẳng làm khó ai bao giờ. Có điều lầm lẫn là hắn đã ra đời không đúng lúc. Rồi khi ổn định nhà cửa, mãi lo tất bật với miếng ăn hàng ngày, chẳng ai nghĩ đến chuyện làm cái giấy khai sinh cho thằng nhỏ. Coi như sự có mặt của nó trên cõi đời này là một chứng minh hùng hồn rằng nó là một đơn vị hợp pháp trong xã hội loài người. Má hắn đâu biết con bò, con trâu hay chiếc xe gắn máy cũng cần phải có giấy chủ quyền. Hắn không có giấy tờ gì cả. Mãi đến năm 7 hay 8 tuổi gì đó, hắn mới bắt đầu đi học. Cho đi học là một cách giữ chân hắn trong trường để đừng chạy nhảy rong chơi phá làng phá xóm. Chữ nghĩa không cần thiết. Má hắn người đồng quê, sống bằng vào ruộng rẫy, mọi sự suy nghĩ hết sức đơn giản. Chữ nghĩa mà làm ông làm cha gì ai? Lúc đói cũng phải xăn quần lội xuống ruộng cày cấy mới có miếng ăn. Hắn chưa đủ lớn để có thể xăn quần lội xuống ruộng. Phải cho hắn đi học để hắn đừng đi chơi. Đơn giản chỉ có thế. Nhưng nhà trường lại rắc rối, đòi phải có giấy khai sinh. Má hắn dẫn hắn ra hội đồng xã. Ông hộ tịch trợn trừng nạt nộ lớn tiếng, gạn hỏi đủ điều làm như má hắn lượm một thằng nhỏ ở đâu, hoặc ăn cắp con ai rồi mạo nhận là con mình. Trước thái độ dữ dằn của ông hộ tịch, má hắn khiếp vía, không sao nhớ được hắn sinh ra vào ngày tháng năm nào. Cuối cùng rồi cũng làm được cái giấy khai sinh, căn cứ vào thời điểm đất nước có những sự kiện như thế, và lấy đó làm dấu mốc năm sinh của hắn. Còn ngày tháng sinh không xác định được nên để trống. Đó là một thiệt thòi lớn cho hắn sau này. Hắn không lấy được lá số tử vi về vận mệnh của mình. Tương lai cuộc đời coi như mù mịt.
Hắn không biết ngày sinh tháng đẻ, lão thầy bói nhìn mặt xem tướng và xem chỉ tay cho hắn.
Lão nói: “Con người thọ khí âm dương của Trời Đất và khí huyết của cha mẹ mà sinh ra. Từ bậc vua quan cho đến hàng dân dã cũng đều như nhau cả. Nhưng trong đó, máy tạo hoá có phân biệt khác nhau là cái tướng. Bởi vậy, người tuy đông mà không ai giống ai hết. Tướng ấy thể hiện người sang hèn, giàu nghèo, yểu thọ, ngay gian, kể ra không cùng. Hễ hình hài mang lốt tướng nào thì vận mệnh cũng theo hình tướng ấy, không khi nào sai.”
Nếu theo lý luận của lão thầy bói thì hình tướng của hắn coi như hỏng bét. Hắn không đẹp trai. Phụ nữ không yêu hắn. Họ chỉ thương hại. Nhiều người nhận xét mặt hắn có vẻ cù lần, lương thiện một cách đần độn. Cũng vì lương thiện một cách đần độn nên ở đời hắn thường chịu nhiều thua thiệt. Nhìn mặt xem tướng, mặt hắn toàn thể hiện những nét phá tướng. Còn chỉ tay hắn, những chỉ ngang lằn dọc xiên qua xẹo lại nát bấy, chẳng ra làm sao cả. Điều này chứng tỏ hắn gặp nhiều khó khăn, trắc trở trên đường đời. Nhưng hãy để thầy bói đoán xem sao. May ra lão tìm được đường chỉ nào khả dĩ hoá giải bớt những hắc ám trong đời hắn. Quả thật, lão nói rất nhiều. Toàn những điều bất hạnh. Hắn tự an ủi, rằng lão chỉ đoán mò và nói bá láp. Coi như trật lất hết. Duy chỉ một điều làm hắn nhớ mãi, bây giờ nghiệm lại thấy đúng.
Lão bảo: “Cậu cao số lắm.” Hắn hỏi: “Cao số là nghĩa làm sao?” Lão giải thích: “Đời cậu ba chìm bảy nổi, lắm lúc gian nan nguy hiểm, nhưng cậu yên tâm đi. Tất cả đều tai qua nạn khỏi.”
Hắn thở phào, thầm khen lão thầy bói nói đúng như thần. Nhà hắn nghèo, lại không có thân thế nhờ cậy ai nên khi đi lính, hắn được ưu tiên đưa ra chiến trường. Đời nào cái bọn con ông cháu cha mà ra trận mạc? Hắn khơi khơi xách súng ra chiến trường như đi bắn chim vậy. Không anh hùng mà cũng lắm phen vào sinh ra tử. Chẳng biết hắn có bắn chết thằng nào hay không. Khi lâm trận, đạn bắn như mưa, nhiều người ngã xuống. Chưa chắc đó là do viên đạn của hắn. Ngược lại, đồng đội hắn cũng nhiều người ngã xuống. Nhưng hắn thì 10 năm trận địa chưa mất một sợi lông chân, dù vất vả gian nan có thừa. Có người hỏi, sao hắn đi chinh chiến lâu thế mà không trầy trụa sứt mẻ gì? Hắn bảo vì hắn chạy giỏi và có biệt tài né đạn. Nói chơi cho vui vậy thôi. Thật ra, có lẽ vì cao số nên đạn tránh hắn.
Hắn hỏi thêm: “Ngoài cái chuyện tai qua nạn khỏi, cao số còn có nghĩa gì khác nữa không?”
Lão thầy bói nhíu mày: “Tương lai vận mệnh con người đâu thể nói rõ ràng như 2 với 2 là 4. Tuỳ cậu suy nghiệm từng sự việc xảy ra.”
Hắn cố gạn hỏi về cái chuyện cao số, mong lão thầy bói bật mí thêm về tương lai của hắn: “Thầy đã coi cho tôi thì xin nói hết những gì thầy biết.”
Lão có vẻ nổi cáu, xẵng giọng: “Cao số là cái số sống trên đầu trên cổ thiên hạ. Thôi, đủ rồi. Tiền quẻ bao nhiêu thì nói bấy nhiêu. Xin đừng hỏi nữa.”
Sống trên đầu trên cổ thiên hạ ư? Hắn nào dám mơ như thế. Hắn vốn người chậm lụt, trí năng thấp kém. Chỉ mong thiên hạ đừng bắt nạt đè đầu bóp cổ là may lắm rồi.
Sau những năm dài chinh chiến, tình thế bắt đầu đổi khác. Lúc những người mang dép râu, đội nón cối từ trong hang ổ rừng xanh xuất hiện trên các phố thị miền Nam, cũng là lúc hắn sa chân xuống hầm tai hoạ. Nói trắng ra là đi tù. Đi tù, nhân phẩm bị chà đạp, khổ nạn như con trâu bị bỏ đói mà bắt phải kéo cày. Vậy mà lão thầy bói bảo hắn sống trên đầu trên cổ thiên hạ. Ngược lại thì có.
Khi qua Mỹ, nhiều lần dời chỗ ở, và lần nào hắn cũng thuê đúng tầng 3. Thật tâm hắn không muốn thế, nhưng hai tầng dưới đã có người thuê rồi. Thôi, đành chịu vậy. Ở tầng 3, mỗi lần di chuyển đồ đạc vất vả vô cùng. Nhưng rồi hắn cũng tìm được lý do an ủi, lên xuống lầu cao là một cách tập thể dục. Người ta tốn tiền mua dụng cụ tập luyện thân thể. Hắn khỏi tốn khoản tiền ấy. Bạn hắn, phần đông đều cao tuổi, chân tay cò vạc yếu đuối. Có lần ông bạn già lẩy bẩy leo đến tầng 3 của hắn, há mồm thở dốc.
Ông nói như hụt hơi: “Ở trên đầu trên cổ thiên hạ càng mệt, chứ sướng ức chi?”
Câu nói vô tình làm hắn chợt nhớ lời lão thầy bói. “Cao số là cái số sống trên đầu trên cổ thiên hạ.” Trời! Chuyện tương lai xa hàng mấy chục năm mà lão nói trúng phóc. Hiện tại hắn đang sinh hoạt ăn uống, tắm rửa, ngủ nghê gì cũng trên đầu của 2 tầng nhà dưới. Trước kia, hắn lầm tưởng lão thầy bói muốn nói hắn ác ôn, chuyên môn đè đầu cưỡi cổ người khác. Hoá ra không phải thế. Lão ám chỉ cái số hắn ở trên cao. Ở Mỹ như vậy là số nghèo. Số mạt rệp! Số vất vả! Người giàu không xây nhà cao. Họ sợ đi lên đi xuống mỏi chân, lại dễ trượt té u đầu sứt trán như chơi. Họ chủ trương trải rộng mặt bằng, cơ ngơi chiếm nhiều diện tích khang trang mát mẻ. Khác với Việt Nam. Nhà nào lên lầu cao là giàu, dân có máu mặt. Người nghèo, nhà cửa chật chội, thấp lè tè. Ngước nhìn lên lầu cao, đôi khi mặc cảm thân phận mình nhỏ bé, thấp kém hơn thiên hạ.
20 năm hắn vẫn ở nhà thuê, chứng tỏ hắn nghèo thật. Khi mới qua Mỹ, hắn không có tiền sắm đồ đạc trong nhà. Hắn thường lang thang đi lượm những món đồ người ta vất đi, đem về dùng lại. Hắn nghĩ, nếu ở Việt Nam đem những món này ra chợ trời cũng bán được khối tiền. Thế thì ở đây người ta vất, tội gì mình phải mua? Mình chỉ lượm, chứ trộm cắp của ai mà xấu hổ? Nghĩ vậy, nhưng nhiều lúc thấy người ta dòm ngó, hắn cũng ngượng. Dù hắn đã tạo cái dáng như người nhàn rỗi dạo chơi để đừng ai chú ý.
Trong khi săn nhặt đồ cũ, hắn gặp một đồng nghiệp người Mễ. Anh này qua Mỹ trước hắn vài tháng, tiếng Anh cũng ấm ớ như hắn. Cả hai vừa nói chuyện vừa dùng đôi tay diễn tả. Tuy nhiên, anh ta có đầy kinh nghiệm trong nghề. Anh bảo phải có một chiếc xe đẩy khi đi lượm đồ cũ. Hắn nói không thể kiếm được. Tuần sau, anh ta cho hắn một chiếc shopping cart giống như chiếc của anh đang đẩy, và truyền đạt cho hắn những kinh nghiệm vô cùng quý giá: “Điều gì người Mỹ tính rồi thì khỏi tính lại, vì họ đã tính rất chính xác. Nơi nào người Tàu đã bỏ đi thì đừng đến ở, vì họ rất giỏi mưu sinh mà còn thất bại thì mình không thể thành công. Đồ đạc gì của người Việt Nam vất thì đừng lượm, vì người Việt vốn tính cần kiệm nên đồ họ bỏ ra thì không ai còn dùng được nữa.”
Sau một thời gian quen biết, anh bạn Mễ sắm được chiếc xe hơi cũ. Chiếc xe trông thảm, trầy trụa móp méo tùm lum, nhưng tiếng máy nghe êm. Mới đầu hắn tưởng anh ta lượm được ở đâu đó. Nhưng không, anh bảo mua rẻ của một thằng bạn Mễ. Từ khi có chiếc xe, anh giải nghệ đi lượm đồ cũ, chuyển hướng đi yard sale. Đây cũng là một cách săn lùng đồ cũ dưới hình thức khác. Mỗi cuối tuần, anh chở hắn đi. Đồ yard sale bán rẻ như cho. Đối với hắn, đi yard sale cũng là một cái thú. Đi hoài, đâm ra ghiền yard sale. Và hắn khám phá ra có nhiều người cũng ghiền như hắn. Những bộ mặt quen thuộc ấy, hắn gặp hoài ở các địa điểm yard sale. Cuối tuần, thay vì đi chơi, họ đi ngắm đồ yard sale may ra vớ được món bở với giá rất bèo. Hắn đọc báo, thấy nói có người mua khung hình cũ về tháo ra, bắt gặp những đồng tiền xưa hoặc giấy tờ tuỳ thân cũ từ cả trăm năm trước. Những thứ lâu đời đó bỗng trở thành vô giá đối với dân chơi đồ cổ. Dân chơi đồ cổ là dân nhiều tiền lắm của. Khi đã đam mê, họ có thể chơi ngông dám bỏ ra số tiền rất lớn để đổi lấy một món đồ cũ mèm, xem ra không còn chút giá trị thực dụng nào cả. Hắn mong một ngày mình cũng có được món đồ gì lọt vào mắt xanh của dân sưu tầm đồ cổ. Không mua vé số mà cũng trúng độc đắc. Nhưng dịp may ấy chẳng bao giờ đến với hắn. Bởi lão thầy bói đã nói rồi, số hắn ở trên cao, nghĩa la số nghèo.
Nói đến đồ cổ, không thể không nói đến những món không cần phải cổ, cũng có thể đem bán đấu giá. Đó là đồ dùng của các nhân vật nổi tiếng đã chết rồi. Cái đồng hồ, cây bút của cố tổng thống John F. Kennedy, hoặc cái quần lót của nữ tài tử Marilyn Monroe. Hắn thật không hiểu người ta tranh nhau đấu giá để mua cho được cái quần lót của Marilyn Monroe làm gì? Ngắm chăng? Nó cũng như trăm nghìn cái quần lót người khác, có gì lạ mà ngắm? Ngửi chăng? Trước khi mang ra đấu giá, người ta đã tẩy giặt sạch rồi. Còn hơi huớm gì mà ngửi? Từ cái quần lót của Marilyn Monroe, hắn nhớ lại chuyện ông vua Tự Đức cũng “xếp tàn y lại để dành hơi” sau khi nàng cung nữ yêu lìa đời. Hắn tưởng tượng, mỗi khi nhớ cái mùi của người đã từng chung chăn gối, nhà vua lấy cái quần lót của nàng đưa lên mũi ngửi một cách say mê với đôi mắt lờ đờ ngây dại. Hắn bật tiếng cười khan. Trăm họ thần dân mà biết nhà vua ngửi quần lót đàn bà thì còn ra cái thể thống gì?
Trở lại chuyện của hắn. Hiện tại, nhà hắn đầy đủ tiện nghi với những đồ đạc săn nhặt từ thùng rác và yard sale. Vợ hắn lắc đầu, cho rằng những thứ hắn tha về toàn là của người chết mà thân nhân của họ muốn tống khứ đi. Con hắn gớm ghiếc, bảo đấy là đồ dùng của người mắc bệnh Aids, cần phải vất bỏ tẩy uế. Hắn không đồng quan niệm với vợ con. Nhưng nhiều đêm nằm ngẫm nghĩ, săn nhặt đồ cũ cũng vì nghèo. Hơn thế nữa, nó thành thói quen. Tương tự như khi hắn ra khỏi tù, đi đường thấy cái bao nhựa nylon cũng lượm bỏ túi. Một thói quen bệnh hoạn đã thâm nhập vào tận xương tuỷ, do đời sống quá khó khăn thiếu thốn trong tù tạo nên. Cũng như khi mới qua Mỹ, liệng bỏ những cái bình đựng sữa, đựng nước bằng nhựa nylon thì tiếc, mà giữ lại thì không biết để làm gì. Không phải một mình hắn có triệu chứng bất thường như thế. Một trung tá Mỹ lái máy bay dội bom miền Bắc Việt Nam bị bắn rơi, rồi bị bắt làm tù binh 7 năm ở trại tù Hoả Lò, Hà Nội. Sau ngày trao trả tù binh giữa Mỹ và Cộng Sản Bắc Việt, ông được báo chí phỏng vấn. Ông nói về những nỗi đắng cay trong tù. Và điều đó đã ngấm sâu vào ông, trở thành thói quen vô thức trong sinh hoạt hàng ngày. Chẳng hạn, khi đi cầu ông dùng rất ít giấy vệ sinh để lau chùi, dù cuộn giấy vệ sinh chẳng đáng gì để ông phải bận tâm suy nghĩ về sự tiết kiệm. Hắn cũng nhớ lại thời gian hắn bị lưu đày ra đất Bắc, không có đến mảnh giấy vụn làm vệ sinh. Hắn phải dùng miếng giẻ rách xé ra từ quần áo cũ để lau chùi. Mỗi khi đi tiêu ngoài rừng, nếu dùng lá cây thi bất tiện lắm. Lá cây trơn láng, chùi không sạch. Lá cây nhám, có nhiều lông làm xót ngứa hậu môn. Dùng miếng giẻ là tiện nhất. Chùi xong, xếp miếng giẻ cho vào túi nhựa nylon, rồi cất vào túi quần. Buổi chiều về ngang con suối, vệ binh cho dừng lại tắm rửa, luôn tiện giặt miếng giẻ để lần sau dùng nữa. Hắn dùng hoài, cho đến khi nào có được miếng giẻ khác thay thế tốt hơn. Khi còn ở tù, lúc nào hắn cũng thủ sẵn miếng giẻ trong túi. Chỉ cần hai miếng giẻ là đủ dùng cho cả năm.
Khi nghĩ về số phận, hắn tự hỏi, hắn đâu làm nên tội gì, sao ông Trời bất công với hắn? Hắn không tự chọn sinh ra trong một gia đình nghèo nàn thiếu trước hụt sau. Hắn lại sở hữu một cái đầu kém thông minh, không có một năng khiếu đặc biệt gì để bon chen cùng thiên hạ. Vào quân đội thì làm con chốt thí trên chiến trường. May mà con quái vật chiến tranh chưa kịp nhai xương hắn thì cuộc chiến chấm dứt, nên còn được cái mạng trở về. Rồi hắn bị đẩy vô tù. Người ta trút lên đầu hắn bao nhiêu là tội lỗi tày trời, rằng phản bội tổ quốc, bán nước cầu vinh. Tự vệ chống lại thằng ăn cướp mà gọi là phản bội sao? Và cái thân cùng đinh của hắn thì quyền hành gì mà có thể bán cả giang sơn tổ quốc? Ra khỏi nhà tù, hắn tìm cách vượt biên ngay. Bởi quá tin người, hắn bị lừa đảo hết tiền và suýt bỏ mạng. Phải đến chuyến thứ 13, hắn mới đi trót lọt. Người ta kỵ con số 13, nhưng vận mệnh của hắn lại hợp với con số xui xẻo này.
Bây giờ, hắn đang ở Mỹ. Phần đông người Việt ở đây đều có đời sống thoải mái. Tiền bạc, xe hơi, nhà cửa đàng hoàng. Sao hắn vẫn ở nhà thuê? Có phải tại hắn lười biếng? Hay mệnh Trời đã định? Hắn phản đối ông Trời, và quyết tâm cải lại số Trời. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết, “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Hắn sẽ thắng thiên. Hắn sẽ làm giàu. Hắn sẽ thí mạng cùi làm việc để có nhiều tiền. Đang làm tà tà ngày 8 tiếng trong nhà in, hắn xin làm thêm giờ phụ trội. Đầu tắt mặt tối, mệt nhoài thở chẳng ra hơi. Muốn có nhiều tiền, thật khổ lắm thay! Một ông bạn thấy hắn quá vất vả để trở mình làm giàu, bèn nói một câu chí lý: “Ở Mỹ, người ta cho con ngựa ăn no, nhưng bắt phải chạy đua.” Hắn đang làm con ngựa chạy đua. Máu hắn đã bị vắt cạn trong các trại tù Việt Nam, khi sang đây thì đã sức cùng lực tận, còn đua với ai được nữa?
Một năm trời làm con ngựa chạy đua, hắn bã người. Hắn ra tiệm thuốc Bắc, mua sữa mật ong chúa về uống mỗi ngày. Theo quảng cáo, đây là loại thần dược làm tráng dương cho người già, tăng sức cho người trẻ. Càng uống, hắn càng kiệt sức. Khốn nạn! Lúc nào tay chân hắn cũng rã rời, mệt mỏi và buồn ngủ. Hắn nổi giận, ném mấy lọ thuốc còn lại vào sọt rác. Hắn nghi mình có bệnh tiềm ẩn gì đó đang rúc rỉa dần xương thịt. Hắn đi bác sĩ. Sau khi thử nghiệm, bác sĩ cho toa mua multi vitamin, khuyên hắn cần nghỉ ngơi và ăn uống điều độ. Bệnh tiềm ẩn mà cách điều trị đơn giản vậy sao? Thôi thì hãy tin nơi bác sĩ. Dù sao ông ta cũng đã khổ công mài mòn bao nhiêu cái đít quần trong các giảng đường y khoa. Chứ không phải như mấy cha nội mới biết đọc i tờ, theo Việt Cộng vào rừng khiêng xác chết và rửa ghẻ một thời gian, khi ra thành phố bỗng trở thành bác sĩ ngang xương. Do kiến thức y khoa giới hạn, thay gì cứu người, họ trở thành kẻ sát nhân. Đã có nhiều người bỏ mạng vì loại bác sĩ xuất thân từ rừng xanh rồi. Thằng con trai của hắn là một trong những nạn nhân ấy. Hắn căm hận gọi loại bác sĩ này là bác sĩ tử thần. Căm hận thì nói thế thôi, chứ hắn làm gì được ai?
Bắc sĩ dặn mỗi ngày uống 1 viên multi vitamin, hắn chơi luôn 2 viên một ngày cho chắc ăn. Đồng thời, hắn nghỉ làm thêm giờ phụ trội. Không còn đầu tắt mặt tối nữa. Sức khoẻ hắn phục hồi nhanh chóng.
Những lúc rỗi việc, hắn hay lôi Truyện Kiều ra đọc mua vui như lời cụ Nguyễn Du nói. Gần cuối truyện, hắn chú ý đến đoạn thơ: Ngẫm hay muôn sự tại trời/ Trời kia đã bắt làm người có thân/ Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao. Thì ra qua thân phận nàng Kiều, cụ Nguyễn Du muốn nhắn lại người đời sau rằng cụ đã từng muốn cải mệnh trời, nhưng cuối cùng đành chịu thua. Một thi nhân bậc nhất của Việt Nam còn phải chấp nhận ngậm đắng nuốt cay, hắn là cái thá gì mà cưỡng được số trời đã định? Nói theo kiểu Mạc Ngôn, nhà văn Trung Quốc, kiếp này hắn như gạch đã ra lò, định hình rồi không thay đổi được nữa.
Không còn sự lựa chọn nào khác, tôi đành chấp nhận nơi này dựng một căn nhà nhỏ giữa ba sào đất gồ ghề, lởm chởm đá ong, nằm đìu hiu một mình ở cuối xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng. Đúng theo dự tính của tôi và Thành phác hoạ trước đây.
Chung quanh, phía nam bốn trăm thước, hai làng Thượng R’Chai và Jirong Tambor, dân tình không mấy thiện cảm với người kinh. Đi đâu họ cũng mang sau lưng cái gùi, đàn ông thì cầm xà gạc sắc bén, loại dao cán dài. Hướng bắc, gần nhà là một khu nghĩa trang khá rộng, được dùng làm pháp trường để “toà án nhân dân” đem vào xử bắn dài dài những kẻ đối kháng. Trước mặt, bên kia Quốc lộ 20 cũ, con sông Đa Nhim, khởi nguồn từ quận Đơn Dương, chảy xiết về tỉnh Đồng Nai, khi ngang đây thì đổ xuống một trũng sâu tạo thành thác Gu-ga, quanh năm ầm ĩ, bụi nước tung cao như sương mù bao phủ một góc núi.
Tháng đầu tôi đến ở, ông Đắc có ghé thăm đôi lần mà lần nào ôgn cũng nhắc câu nói của lũ gian tà theo chủ nghĩa rách bươm miền Bắc: “Lao động là vinh quang, lao động làm nên của cải”. Ông Đắc chưa mở mắt thấy sự thâm độc của quân cướp nước, đẩy dân chúng miền Nam vào rừng khai sơn phá thạch, dĩ nhiên phải ráng sức lao động, đầu tắt mặt tối, mới có ăn, trong khi bỏ hết nhà cửa, đất đai ở thành phố, cho bọn đói rách từ sào huyệt đảng của chúng đến chiếm cứ.
Miền Nam vốn giàu có, bản chất con người không đố kỵ, không ganh ghét những ai khá hơn, nên dễ mắc mưu bọn thủ đoạn, phản phúc, khi yếu thì cúi mình tự xưng “em, em”, lúc mạnh, trở mặt ngay: “chúng tao, chúng mày”.
Ông Đắc chưa mở mắt nên chưa thấy cái nham hiểm của Cộng Sản Bắc Việt, đưa nhiều đoàn thanh niên nam nữ vào Nam “trồng cây gây rừng”, là hình thức dò tìm những vùng đất mầu mở cho thân nhân chúng vào cắm dùi. Không riêng miền quê mà các phố phường cũng vậy, đều có sự hiện diện của lũ xâm lược ngự trị chỗ tốt.
Thừa biết ý đồ bất nhân ấy tôi không nản chí với đời sống gian khổ nơi thâm sơn cùng cốc này.
Rồi hằng ngày, sau khi đã mướn người cuốc, tôi lết quanh nhà xới đất trồng khoai tỉa bắp, những công việc từ thuở cha sinh mẹ đẻ tôi chưa bao giờ đụng tới. Đôi khi, nhờ dầm mưa dãi nắng, qua bao tiến trình rừng rú do cái đảng của “Thây Ma Ba Đình” chủ trương “biến sỏi đá thành cơm”, tôi được đền bù. Các bác nông dân hàng xóm thương tình giúp đỡ, mà cũng ngao ngán cho tôi, hoa màu le te không lớn nổi, cỏ dại chằng chịt, và hạn hán kéo dài, ruộng vườn nứt nẻ.
Trong lúc nạn đói đe dọa thì đêm Noël đầu tiên năm mất nước, một bọn Thượng, thuộc nhóm K’Tin ở R’Chai, vào chĩa súng lấy hết tiền bạc, quần áo, khiến gia đình tôi khốn đốn.
Vụ cướp, tuy không đáng kể, nhưng nạn nhân là người tàn tật nên làng trên xóm dưới bàn tán xôn xao, có cả tiếng bấc tiếng chì, cho rằng tôi đem của cải tiếp tế Fulro, “tàn quân” chế độ cũ đang hoạt động trong rừng, phía đông thác Gu-ga. Đã mất của còn rắc rối. Công an huyện Đức Trọng, nhân lúc tới lập biên bản, gặng hỏi lung tung lai lịch tôi ngày xưa, làm như chính tôi là thủ phạm. Cứ đôi ba hôm họ tới. Lần này tôi biết tên và cấp bậc của tên công an là Trung úy Cẩn.
Hắn khai thác:
– Anh có thật mất đồ không?
Tôi tỏ vẻ thân thiện và xen lẫn thái độ ngang ngạnh, hầu đánh tan sự nghi ngờ tôi ở nơi vắng vẻ này có mục đích liên lạc, cung cấp tin tức cho thành phần đối kháng, tôi đáp:
– Tự nhiên tôi dựng chuyện à?
Cẩn nói:
– Chúng tôi đang tiến hành việc tìm thủ phạm, anh chớ đi đâu xa. Anh vừa vô sở cà phê Phi Vàng Finom chi vậy?
– Vì có người nói thằng thượng K’Tin làm mướn trong đó. Mất của, tôi nóng lòng đi kiếm phụ với quý anh chứ?
Công An Cẩn bỗng gác ngang chuyện mất cướp qua một bên, không chất vấn điều tra gì nữa, anh nhét vội tập giấy vô túi xách da bò, rồi ngước lên nhìn tôi:
– Anh quen ông Út xay lúa trên R’chai, phải không?
Cẩn đề cập tới Út làm tôi giật mình và nhớ vụ Út cũng bị Thượng đột nhập nhà sau tháo lấy cặp bánh xe Honda. Chắc công an huyện nghi Út cung cấp phương tiện di chuyển cho tàn quân hay Fulro.
Tôi nói:
– Quen, vì thường xay lúa và mua cám ở đó.
– Nhờ anh chút. Anh xin Út giúp tôi ít ký gạo. Gặp Út tôi ngại quá !
Tôi thở phào nhưng lấy làm lạ khi nghe anh đang hành sự quay qua xin gạo ăn. Hay anh giở chiêu chước gì đây, chứ lẽ nào bi đát dữ vậy? Mới “giải phóng”, vơ vét biết bao của cải ở miền Nam đây mà. Trung úy Cẩn người Trung, bị mất nỡm mấy thằng Cộng Sản đầu xỏ Bắc kỳ rồi.
Tôi hỏi nhỏ:
– Bộ thiếu gạo thật hả?
– Vâng!
Tiếng “vâng” nghe rất nhỏ, khuôn mặt Cẩn thì như dài ra, vằn vện những đường gân xanh hai bên vầng trán, động lòng thương hại, tôi vội phóng lên chiếc Honda và nổ máy. Trước khi rời khỏi nhà tôi bảo Cẩn:
– Mấy thằng nhóc đi học về, anh nói giúp tôi đến chú Út.
Gặp Út tôi thuật chuyện, Út liền đong luôn mười lon gạo, khoảng ba ký, vào bao cát. Xong, tôi chạy u về đưa Cẩn, anh mừng hết lớn, tôi cũng vui lây. Nhân tiện tôi hỏi:
– Tháng này nhà nước không phát gạo à?
– Có, nhưng hết rồi?
– Ăn lẹ vậy?
– Anh biết cấp bao nhiêu ký mỗi tháng không, bảo ăn lẹ? Ăn “từ từ ‘ vậy mà mới mươi hôm đã hết. Anh Vân quê Quảng Nam hả ?
– Sao anh xoay đề tài hay dữ vậy? Đang nói chuyện gạo cơm, tự nhiên chuyển qua hỏi quê quán?
Thấy tôi nói tàng tàng kiểu Tôn Tẩn, bọn con cháu Bàng Quyên muốn phát khùng:
– Tại giọng răng ri mô rứa của anh.
– Ừ, quận Hòa Vang. Còn anh, dân củ mì Quảng Ngãi?
– Tôi huyện Sơn Tịnh.
Tôi giả vờ lấy làm vui, reo lên:
– Chà, anh bà con với tướng Trần văn Trà!
Cẩn nheo mắt:
– Bà con cái con khỉ!
– Nếu không, sao anh lại được theo “Mặt trận giải phóng dân tộc miền Nam” ngon vậy?
– Anh nói ngược rồi, “Mặt trận dân tộc…”. Còn vụ đi theo thì… hồi nhỏ có biết giải phóng giải lao con mẹ gì! Tôi đang giữ trâu mấy ông lôi đi.
Nghe Cẩn nói, tôi không dám cười to, chỉ ực ực ở cổ họng mà muốn văng trái khế ra ngoài. Thấy lôi thôi anh đứng dậy kiếu từ:
– Cám ơn anh Vân xin dùm mấy ký gạo.
Tiễn Cẩn ra cửa, tôi vừa cười vừa lè nhè:
– Có gì đâu, kẻ sa cơ giúp người thất thế…
Không biết Cẩn có hiểu câu nói không, anh lặng lẽ ra xe.
Hết công an tới bộ đội. Chắc vì vụ tôi bị cướp có võ trang nên một đơn vị nhỏ của Sư đoàn 304 từ Đại Ninh, cách đây 5 cây số phía nam, chuyển đến đóng tại xóm Thượng R’Chai.
Đêm đêm một trung đội đi tuần, hay phục kích vài địa điểm trong vùng. Nhiều lần họ nằm sau nhà, theo dõi gia đình tôi, chứ chẳng nhằm mục đích bắt cướp.
Đêm nào nghe tiếng chó sủa nhoi, dai dẳng là có vấn đề. Tôi vẫn tỉnh bơ, chong đèn làm việc lặt vặt, hay dạy con cái học hành tới khuya. Đôi khi tụi nhỏ tưởng ma, vội phóng lên giường trùm kín mền. Chúng nó đâu biết trong đêm đen trên quê hương ngày nay, ma quỉ chẳng nhằm nhò gì hết, có một thứ còn hung tợn, ác độc hơn nhiều. Nếu không có tiếng chó thì mấy đưa con rất hồn nhiên, cao hứng hát chơi. Hai thằng lớn, Phương và Trang, chín mười tuổi, cứ tụng hoài bài: “Quê em miền trung châu giặc về thôn xóm…”, buồn não nuột. Bé gái Thảo sáu tuổi, cũng lúc trầm lúc bổng với bản ruột: “Cô gái lái xe trên cạn, xe em nhanh tóc em bay nhanh… bên sóng biển…”, tôi muốn điên luôn.
Rình mãi chán, có lẽ nghe tiếng hát của tụi nhỏ gợi lòng trắc ẩn, nhớ cố hương và nhằm trời tháng chạp lạnh lẽo, họ gõ cửa xin vào nhà, để trò chuyện làm quen, hoặc tìm hiểu đời sống của người chiến sĩ Biệt Động chế độ cũ không chừng. Làm sao hiểu được?
Sáng hôm sau, tôi đang di chuyển trên hai cái đòn ngồi, để giẫy cỏ, vun gốc bắp, thì toán bộ đội đêm qua ghé vào:
– Anh thương binh làm gì đấy?
Tôi vừa xắn cái lưỡi xà bách xuống một bụi gai vừa đáp:
– Không thấy sao? Cỏ dại um tùm, xâm lấn cả hoa màu.
Nghe câu trả lời nhát gừng, còn ẩn dụ châm biếm, họ im lặng, đứng nhìn quanh một lát rồi hầm hầm bỏ đi. Tôi đâm lo ngại, vì lời nói ấy có thể khiến họ rắp tâm trả đũa, như một giai thoại lịch sử cuối đời nhà Lý, 1226.
Vì ngao ngán việc triều chính, Lý Huệ Tôn nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng, để vào chùa Chân Giáo tu. Trần Thủ Độ, một đại gian thần, lập mưu đưa người cháu tên Trần Cảnh vào hầu hạ, sau thành chồng Lý Chiêu Hoàng, rồi soán đoạt ngôi vua dựng lên nhà Trần. Một hôm, gặp Lý Huệ Tôn ngồi nhổ cỏ nơi sân chùa, Độ bèn nói: “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”. Biết thế nào cũng bị giết, Huệ Tôn liền tự vận…
Đến chiều có ba người khác tới, vào thẳng trong nhà. Tốp này trông vui vẻ, không bặm trợn. Sau vài câu xã giao họ lần lượt giới thiệu tên, đơn vị phục vụ. Phần tôi, rút kinh nghiệm, sẽ dè dặt hơn, tránh đụng chạm.
Một người tên Tuất, nói nhiều nhất, chắc là cấp chỉ huy, nhỏ nhẹ:
– Địa phương cho hay, anh là sĩ quan của chế độ cũ trước 75, chúng tôi cần cảnh giác, nhưng nhận thấy anh thương tật, lo làm ăn, không phải người xấu. Có điều không hiểu sao gia đình ở chỗ vắng vẻ thế này, xa cách xóm làng, nhỡ đêm hôm bệnh hoạn ai giúp?
Những khuôn mặt đối diện còn trẻ, mà phong trần, thuộc đại đơn vị 304, mệnh danh Sư Đoàn Thép, từng tốc chiến tốc thắng trên các mặt trận nội địa cũng như ngoại biên, đã bao phen chạm súng với Liên đoàn Biệt Động Quân chúng tôi ở vùng I. Nay trước mặt tôi người chiến bại, họ nói năng từ tốn, dùng cụm từ “chế độ cũ’, không gọi “ngụy”. Tự nhiên, tôi có sự khoan dung. Bên hàng ngũ đối phương đâu phải thảy đều một phường gian ác.
Tôi nói:
– Cám ơn các anh. Ở đây tuy buồn thật, vẫn còn khá hơn trong các vùng kinh tế. Sự nhận xét của các anh, những người từng vào sanh ra tử, khác hẳn công an, họ hay thiên kiến về chính trị với những ai làm việc dưới chính thể miền Nam. Vụ tôi mất cướp đêm Giáng Sinh vừa qua, trên huyện nghi ngờ tôi đem tiền bạc tiếp tế cho tàn quân.
– Chúng tôi có nghe thế…
– Họ căn cứ vào đâu và “tàn quân” gì nữa?
Sau một giây ngần ngừ Tuất buột miệng:
– Còn bọn thằng Phong! Chúng vẫn ẩn trốn hoạt động, ra vào các khu rừng chung quanh đây. Phong nguyên Tiểu đoàn trưởng 304 Địa Phương Quân Tuyên Đức. Con vợ bé nó xinh lắm, giữ khâu cung cấp thực phẩm, thuốc men, đặc biệt móc nối người Nùng ở Tùng Nghĩa và nhiều nơi khác theo Phong, nhưng bà đã bị Đại đội C7 bắt giải ra huyện rồi. C7 cũng bắn chết nhiều tên phản động đấy.
Tuất cho biết tin này vì bốc đồng hay có chủ ý xem phản ứng của dân? Tôi im lặng. Những câu chuyện về Phong 304, và các nhóm “tàn quân, phục quốc”, tôi nghe nói nhiều. Tôi đã một lần tình cờ thấy tờ giấy “Sự Vụ Lệnh” viết bằng tiếng Pháp, dưới mỗi câu được dịch qua Việt ngữ, giấu trong đường viền vạt áo của một người Nùng làm công cho tôi, có bí danh là “Đa Đa”, do Fulro cấp hoạt động vùng Đức Trọng.
Riêng nhân vật thứ hai anh ta đề cập, liên hệ tình cảm với ông Phong, quý danh là gì thì tôi không rõ, chỉ thấy cô gái ấy có mái tóc ngắn, tuổi dưới 30, còn hiên ngang chống lại bạo quyền Cộng Sản vào những tháng đầu đất nước đen tối nhất, khi cả triệu quân miền Nam vừa rã ngũ. Cao quý là vậy. Tuy vô danh nhưng có nhân dáng uy hùng của cô trong lịch sử. Cô bị bắt tại R’Chai, một xóm Thượng phía nam thác Gu-ga nửa cây số. Quân thù trói chặt hai tay người nữ chiến sĩ bằng dây điện thoại, với các nòng súng dí sau lưng, khi giải giao ngang trước nhà tôi. Buổi mai hôm ấy sao trời buồn ảm đạm, may mà có vừng hào quang của nữ kiệt rực lên.
Sáng nay tôi cảm thấy mình quá hèn nhát, nỗi ưu tư cũng không để lộ trên khuôn mặt. Họ đi rồi tôi thờ người suy nghĩ về “cô gái tóc ngắn”. Ngày bị bắt, cô mặc áo xanh màu nước biển, quần dài đen. Chắc cô phải chịu đựng bao cực hình dã man, từ lao tù này đến ngục thất khác, hay cô đã chết đâu rồi không chừng.
Còn Phong, người lãnh đạo một tổ chức kháng Cộng, tôi chưa một lần gặp, chỉ nghe danh từ trước 75, khi anh làm Đại đội trưởng Đại đội 302, rồi Tiểu đoàn trưởng 304 Địa Phương Quân tỉnh Tuyên Đức. Phong nổi tiếng đánh giặc giỏi và bài trừ du đãng tận gốc.
Người dân khó quên tấm lòng trung dũng của anh, điều đó không những anh đã biểu lộ nơi trận mạc thời binh lửa, mà còn thể hiện khi đất nước bị cưỡng bách rơi vào một nền hòa bình bất chính, bạo ngược của giặc Bắc.
Theo Thành kể, Tiểu đoàn 304 ĐPQ đang hành quân phía nam thị xã Đà Lạt, bỗng mất liên lạc với cấp trên. Tìm hiểu Phong mới biết toàn bộ Quân đoàn II đã triệt thoái về Khánh Hòa. Họ âm thầm rút, không lệnh lạc gì cho anh. Đó là một cuộc lui quân thảm hại nhất, dẫn đến sự sụp đổ miền Nam.
Phong đưa đơn vị vào đồn điền cà phê Phi Vàng ở ngã ba Finom, quận Đức Trọng, rồi rưng rưng nước mắt nói với các binh sĩ thuộc quyền:
– Báo các anh biết, toàn thể cấp trên và quân binh chủng thuộc Quân Đoàn II đã rút khỏi cao nguyên, bỏ đồng bào, bỏ tất cả những gì từ lâu ta tốn biết bao xương máu để bảo vệ…
Phong vừa nói vừa nghẹn ngào, dưới hàng quân cũng bật lên nhiều tiếng khóc tức tưởi. Anh cố nén xúc động:
– Nay, trước giờ phút lâm nguy, các anh có bỏ tôi thì bỏ, tôi không bỏ các anh, tôi vẫn tiếp tục chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Ai còn cha mẹ già, vợ con, cần chăm sóc, hãy để súng đạn lại, về lo gia đình…
Một ngày thật đau thương. Một số các chiến sĩ can trường Địa Phương Quân quyết không quay mặt, trút bỏ danh dự lẫn trách nhiệm đối với tổ quốc. Họ vội vã rời khỏi đồn điền cà phê Phi Vàng giữa đêm đen, biệt dạng vào khu rùng cũng mờ mịt phía đông, mà không hề biết mai này đoàn quân cô độc của mình sẽ ra sao, chiến thắng hay chết ở đầu non góc suối, không bao giờ trở lại…
Mấy ngày cuối tháng Chạp lẽ ra nhộn nhịp như năm trước chuẩn bị ăn Tết, nay im vắng đến rợn người. Chỉ có bọn cầm quyền, “cách mạng 30”, hớn hở vui đón cái xuân đầu 1976, dưới gót giày xâm chiếm của Bắc quân. Hầu hết các cư dân ở đây nghèo xơ xác sau vụ đổi tiền, dè dặt trước tin đồn các lực tượng phục quốc sẽ về phản công tập đoàn cướp nước và để trừng trị những kẻ tiếp tay giặc hại đồng bào.
Sau ba ngày xuân buồn tẻ, mặc dù còn bận rộn việc canh phòng khu vực, đám bộ đội Tuất cũng đến thăm và biếu tôi mấy cái bánh chưng, vài gói thuốc Tam Đảo. Tôi không nghĩ đây là đòn chính trị hạ cấp nơi những người lính cấp nhỏ, chỉ chuyên về trận mạc. Lần này họ tự nhiên hơn, nói năng cởi mở, cũng chửi thề luôn miệng. Tuất không ngần ngại kể tôi nghe chuyện “tàn quân” đã đột kích đánh nát một số cơ quan hành chánh trong khu vực Liên Khương-Tùng Nghĩa đêm 30 tết vừa qua, mà tôi có nghe đồn vậy. Sự thiệt hại nhân mạng đôi bên thì không ai nói.
Tôi vờ thắc mắc:
– Đã gọi là “tàn quân” còn đấm đá gì nữa?
Ý tôi muốn nhắc đến một danh xưng nào khác, như kháng chiến hay phục quốc chẳng hạn, có tính cách lâu dài. Nhưng anh ta im lặng, hoặc giấu không cho dân biết hoặc chưa nắm vững tình hình vì còn mới. Riêng bộ đội Nguyễn Bình thì hay thày lay cái miệng, thường bị chê trách “phát ngôn bừa bãi” nhất trong đơn vị C7. Hôm nọ anh có thú nhận anh đã một lần đào ngũ, chuồn về Bắc, nửa đường bị bắt lại, nhốt tại Vinh, nên vắng mặt những ngày Sư đoàn 304 Cộng Sản tiến chiếm thủ đô Sài Gòn.
Bình trề môi:
– Úi giời, nói tàn quân chứ chúng vẫn còn khả năng đánh dữ lắm. Nhưng đánh được một lát rồi bỏ chạy thôi.
Một anh khác xen vô:
– Fulro cũng thế, thường lẻn về các buôn Thượng thu thực phẩm. Vừa rồi có một người giả dạng mục sư, ông cha gì đấy, trong núi ra nói chuyện phản động ở nhà thờ tin lành R’Chai. Công an huyện xuống không kịp, nó vọt mất.
Anh vừa nói vừa chỉ về hướng xóm Thượng, tôi nhìn thấy trên cánh tay anh có xăm một cái hình trái tim màu xanh lục, nhưng thiếu mũi tên đâm xuyên qua để biểu tượng tình tuyệt vọng, của kẻ yêu mà không được yêu. Tò mò tôi phát giác ra mọi người đều vậy. Đặc biệt hơn nữa, là giữa trái tim có một hàng số ai cũng giống nhau: 13- 12-1972. Lấy làm lạ tôi hỏi:
– Này, tay các anh đều mang cái hình trái tim và đề cùng ngà y 13 -12- 1972 là sao?
Bộ đội Tuất vội đưa cánh tay lên nhìn:
– Kỷ niệm ngày bị Biệt Động miền Nam pháo!
– Vùng nào?
– Tây bắc Huế.
Tôi giật mình:
– Vậy sao? Choảng nhau ác liệt không?
Nguyễn Bình hít một hơi thuốc, rồi vừa nheo mắt vừa xen ngang vô trả lời thay Tuất:
– Ác liệt lắm! Lúc ấy C7 nằm trên đồi, nửa đêm bọn lính Biệt Động mon men đến toan đột kích bị phát hiện, trung đội chúng tôi xuống diệt tiêu luôn, nhưng chưa kịp kéo lên thì bị đạn chùm cối 811y…
Hồng, người Nùng Lạng Sơn, tướng vạm vỡ da trắng trẻo, nãy giờ mải ngồi đùa giỡn với tụi con tôi bên cái giường lớn, chợt quay qua nói:
– Cũng tại các bố, cứ lo tìm hộp quẹt máy Zippo trong túi xác chết của ngụy, làm rút lui trễ nên lãnh xẹo ăn pháo…
Không còn nghi ngờ gì nữa, những kẻ thù nay gặp nhau.
Tôi phân vân nên hay không tiết lộ tông tích mình từ lâu đã giấu kín. Rốt cục ham vui, thấy không đến nỗi nguy hiểm, tôi nói toạc:
– Có phải đêm đó giữa mùa mưa, các anh áp đảo họ bên bờ suối, kết quả thu hai khẩu M16 và một Colt 45?…
Cả đám bộ đội trố mắt nhìn tôi:
– Đúng rồi? Thế anh có tham dự à?
Tôi cười:
– Không những vậy… tôi còn là kẻ chỉ huy trận đánh…
Tuất, người được giới thiệu như một dũng sĩ diệt Mỹ của Sư đoàn 304 Bắc Việt, tuy ngạc nhiên, anh cũng tỏ ra cởi mở thích thú :
– Anh Vân cấp gì?
– Đại đội trưởng Đại đội 1/21 Biệt Động, đơn vị trực tiếp tấn công. Nay tôi mới biết Sư 304 từng chạm súng với chúng tôi Khu đồi mà C7 các anh chiếm đóng, có độ cao 100 mét, phía tây bắc Huế, gần căn cứ Bastogne. Trước đó, nó do một đơn vị của Sư đoàn 1 Bộ Binh miền Nam trấn giữ, bị C7 hốt gọn, còn nguyên lều võng, hầm hố…
Tôi ngưng, móc gói thuốc quấn hút. Tuất tướng tôi không nói nữa nên thúc:
– Hay lắm, kể tiếp chứ!
– Sau ngày dự cuộc tái chiếm cổ thành Đinh Công Tráng Quảng Trị thành công, 15/9/1972, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân của chúng tôi trở lui nằm cặp theo Quốc lộ 1, ở mạn nam sông Mỹ Chánh. Được mấy hôm thì trực thăng bốc đơn vị vô núi, Đại đội 1/21 do tôi chỉ huy nhận lệnh nhảy xuống phía bắc ngọn đồi C7 các anh đang chiếm khoảng một cây số đường chim bay. Nhìn bản đồ, trục tiến sát rất cam go, vì mục tiêu C7 trên thế cao, tôi nhắm không thể cho Đại đội tấn công ngay buổi chiều đó kịp, chỉ mon men tới gần 500 thước. Đã vậy, giữa các anh và Biệt Động Quân chúng tôi là thế đất trũng sâu, với con suối ngăn đôi, nước dâng cao chảy xiết vì mùa mưa. Tối, tôi đặt một trung đội phục sát dưới chân đồi, chuẩn bị đột kích đêm C7 thì bất ngờ các anh đổ xuống đánh trước. Thật ra, thâm tâm tôi cố tình trì hoãn, chờ sáng hôm sau để vừa thấy rõ mục tiêu vừa dễ xoay trở, mới tấn công bằng cấp đại đội, với sự yểm trợ của Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn 21 chúng tôi đang ở sau lưng.
Khi thay đổi dự tính, bỏ cuộc đột kích đêm, tôi đã nhận ra sai lầm là tôi vẫn để trung đội ấy nằm dưới thấp, không giựt lên cao, nơi mỏm đồi phía Biệt Động.
Lúc các anh vây đánh, trung đội gọi máy báo có 2 người lính chết, còn vị Thiếu úy Trung đội trưởng thì gãy một tay, tôi vội ra lệnh tất cả anh em đùm túm các thứ rút lui ngay, chạy lên mỏm đồi, khi rời xa vị trí khoảng 200 mét, gọi báo. Quả đúng. Tôi cho rót dồn dập đạn cối 60 ly cơ hữu của Đại đội 1 lẫn 81ly từ Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn 21 BĐQ xuống ngay địa điểm các anh đang tràn ngập…
Bộ đội Bình há hốc mồm:
– Thế, bọn này ăn mảnh cả ? May, không bố nào chết, còn có ngày về lại Bắc…
– Chưa yên. Đơn vị lớn của các anh lại nã đại bác 130 ly từ Bastogne tới tấp vào chúng tôi, gây thiệt hại thêm hàng chục người. Chính tôi cũng suýt tí nữa toi mạng, may nhờ anh lính kéo ra khỏi một thân cây gãy ngã đè cứng bên hầm đạn cối, lửa cháy chung quanh.
Tuất nhếch miệng cười:
– Vì pháo chùm chúng tôi rút.
– Các anh ở thế cao, quân số đông, nhắm mình đại đội tôi khó dứt điểm, vị tiểu đoàn trưởng điều thêm một đại đội nữa và đích thân ông chỉ huy, C7 mới chịu rời khỏi ngọn đồi cao 100 mét ấy mà chúng tôi, qua các cuộc điện đàm, thường gọi nó là “Đồi Trần Hưng Đạo”. Ở miền Nam có tờ giấy bạc 100 đồng in hình Đức Trần Hưng Đạo…
Tôi vừa nói tới đây, Tuất đứng dậy vỗ vai:
– Nghe chuyện anh kể rất trung thực, chúng tôi không tự ái còn lấy làm vui. Đó là kỷ niệm của chúng mình thời binh lửa gian nguy, không bao giờ thấy lại nữa. Nay đã chấm dứt chiến tranh, mọi hận thù phải thuộc về quá khứ. Nhưng mỗi bên đều có những lý do chính đáng để không hài lòng. Riêng tôi cũng có điều khó quên. Chắc anh biết, chúng ta có chung kẻ thù là bọn đưa đẩy đất nước đến tan nát, đổ vỡ tận gốc, từ cá nhân đến xã hội cả hai miền Nam Bắc…
Trước khi cáo biệt, xin kể một trường hợp về bản thân tôi:
Trong một trận đánh không mấy ác liệt, C7 này bắt sống được một thiếu tá. Ngày giải giao lên trên, vì ông bệnh phải khiêng bằng võng, đi khoảng nửa đường, chúng tôi dừng để ông tiểu, thì bất ngờ ông giật súng, đánh vào đầu hai anh bộ đội, rồi tẩu thoát. Tôi bị kỷ luật, giáng cấp, chuẩn úy xuống thượng sĩ đến hôm nay.
Chúng tôi thấy quân đội các anh chiến đấu rất giỏi, chỉ vì chủ trương đường lối thế nào ấy, mà các ông lãnh đạo ngoài Bắc bảo không đáp ứng được ý nguyện của nhân dân. Nhưng khi vào đây tôi mới biết nhiều điều… Đúng như lời bố tôi nói ngày tôi lên đường đi B.
Dứt lời, Tuất và các đồng đội lần lượt bắt tay tôi rồi bước ra ngoài. Tôi nhìn theo bóng dáng những kẻ đã hơn một lần can trường chạm súng chúng tôi, những anh hùng trận mạc, bỗng nhòa nhạt trước đôi mắt cay cay của người chiến bại.
Sau mấy hôm tá túc, tôi rời khỏi khu số 4 Đà Lạt. Thành được phép bác Sáu, tháp tùng theo giúp tôi xuống lập nghiệp tại Phú Hội như dự định, và gởi tôi ở tạm nhà một người bạn tốt bụng của anh.
Những ngày đầu, cứ mỗi buổi chiều, khi mặt trời sắp lặn, tôi đến làm vài công việc cho ông bà Đắc, một gia đình khá thân quen, do chị Nhung giới thiệu từ năm 1971, trước lúc tôi lên đường hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào, nên đỡ khổ cho thân phận lạc loài còn chân ướt chân ráo nơi xứ lạ này.
Ngôi nhà ông bà Đắc khá rộng, hai ba căn, cái ngang tường gạch lợp ngói, cái dọc vách ván che tôn, nằm âm u giữa vườn cây đủ loại hoa màu. Phần hành tôi rất nhẹ, thích hợp với cơ thể tàn tật, lại được hậu đãi, là chỉ lo đóng kín các cánh cửa chung quanh khi màn đêm buông xuống, và chờ bầy gà về chuồng để đếm từng con, thiếu thì đi tìm.
Hồi xưa từng là cấp chỉ huy, nhờ cái uy tôi điểm danh đơn vị dễ dàng. Bây giờ hết lửa, gặp đàn gà hàng trăm con trống lẫn mái, ghét nhất đám vừa nở liu chiu lít chít, vô “kỷ luật”, chạy tán loạn và ỉa vãi tùm lum. Vất vả lắm tôi mới trấn áp được chúng.
Xong, bà Đắc cho tôi một lon gạo với mớ khoai khô.
Vì sa cơ thất thế tôi làm kiếm gạo nuôi gia đình, chứ ngao ngán thật. Ngao ngán không đâu, tôi còn chịu nhiều tủi nhục, hằng ngày thấy đủ hạng người. Bọn cán bộ thì thường xuyên lui tới, buông những lời bóng gió, mỉa mai. Lắm lúc họ nói thẳng tôi là tàn dư Mỹ Ngụy, có quá khứ tội ác, đầy nợ máu nhân dân. Mấy cụm từ này tuy nghe quen thuộc, tôi vẫn thấy nhức nhối, cay đắng cổ họng.
Phần đông lũ ngốc nghếch đó mới tập kết về, đã từng là đồng chí thân cận với ông Đắc và Hồ Nghênh, hiện Chủ tịch ủy Ban Quân Quản Đà Nẵng, hồi còn hoạt động kháng chiến chống Pháp ở Hội An Quảng Nam. Mặt mũi ai cũng bặm trợn, đầy sát khí. Lối ăn nói thì rập khuôn theo một thứ ngôn ngữ ngược ngạo, man trá, hay khoe khoang khoác lác, như lục súc tranh công “đánh Mỹ cứu nước”.
Trước sự khinh bạc ấy ông bà Đắc vẫn làm lơ, không một lời biện bạch. Ngay mấy người con trai trong nhà, HL, HP và HT mới ngày nào còn gọi tôi bằng anh rất thâm tình ngọt lịm nay cũng trở mặt lạnh nhạt. Ngoảnh mặt vì họ đã thoát ly gia đình theo “cách mạng”. Tội nghiệp, dù chỉ là một thứ “cách mạng 30”, đợt chạy theo sau ngày 30-04-1975, nhưng họ học thói gian xảo rất lẹ không kém bọn Cộng Sản chánh thống.
HL làm tới chức thanh tra của bộ phận giáo dục tỉnh Lâm Đồng, HP Chủ Nhiệm Hợp Tác Xã Phân Bón Đà Lạt, HT thì cầm đầu đoàn thanh niên Hồ Chí Minh ở huyện Đơn Dương. Chưa kể bà Đắc là Tổ Trưởng cái Tổ Mẹ Chiến Sĩ Giải Phóng Quân xã Phú Hội. Độc nhất đám cách mạng 30 này chỉ có cô em HTT không thoát ly, còn kịp thoát thân chạy theo chồng, cựu Trung tá Ph., một viên chức Phủ Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu qua Canada tỵ nạn. Tất cả đều hăng hái tham dự mọi sinh hoạt, hội họp liên miên những tháng năm đầu dưới gót giày quân Bắc Việt.
Đời sống hằng ngày của tôi quá bất ổn bởi khác biệt chính kiến. Rồi gia đình nhỏ bé ấy tự nó chia ra hai khuynh hướng rõ rệt, để kèn cựa nhau, từ khi miền Nam sụp đổ.
Trong cuộc “đấu tranh” mới, hai bên lâm trận không phải dùng tới các loại vũ khí hiện đại tấn kích đối thủ cho thịt nát xương tan, mà họ chỉ tiến công bằng một thứ “đạn lòng”, nó vô hình mà độc, đốt cháy cả tâm can con người. Họ cũng áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, cài chốt phỉnh dụ. Lực lượng đôi bên lại chênh lệch, mình tôi chống năm, những kẻ a tòng với lũ vô nhân, biến gia đình thân yêu thành bãi chiến trường tàn bạo hơn bao giờ hết.
Tội nghiệp ông Đắc, không phải do bản chất, chỉ vì trào lưu lôi cuốn, đành tiếp tay kẻ thù. Để được tin dùng, lý lịch cá nhân trong sạch chưa đủ, còn có quá trình hoạt động là nhúng tay vào phá rối sự trị an của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, nên ông viết đi sửa lại từng chi tiết các chiến công ma “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”. Hằng ngày, ông sốt sắng tham gia các công tác, mà công tác nào cũng nhằm mục đích là bần cùng hóa nhân dân, tận diệt tư sản, tịch thu nhà cửa, máy móc, xe cộ, rồi đày đọa họ vào rừng sâu nước độc khai sơn phá thạch làm vùng “kinh tế mới”, để biến sỏi đá thành cơm. Chúng còn thường xuyên phát động các chiến dịch bươi móc, tố khổ gắt gao, làm tan gia bại sản những ai đã phục vụ chế độ cũ, hầu đoạt vợ lấy con của nạn nhân.
Đó là công tác “cách mạng” của mấy cha con ông Đắc.
Cộng Sản miền Bắc áp dụng chính sách trá thù bỉ ổi đồng bào miền Nam, tàn bạo hơn Thái Thú Tô Định giặc Tàu ngày xưa, bắt dân Việt mò châu đáy biển.
Tôi đã chứng kiến nhiều buổi họp cấp xã, từ dựng chuyện phê bình kiểm thảo, lôi đời tư những người không tuân theo chủ trương đường lối nhà cầm quyền ra hạ nhục, chí đến các tòa án áp chế nhân dân được tổ chức lưu động tại huyện Đức Trọng.
Luật lệ tùy hứng của “cách mạng” cũng có một điều khoản rất tình người, hơn cầm thú nhiều, là “hậu đãi” tử tội bữa ăn cuối cùng ngay bên miệng huyệt trước khi nổ súng kết liễu đời họ. Tôi đã thấy bao lần ở pháp trường được thiết lập nơi nghĩa địa, đối diện thác Gu-ga, kế nhà tôi. Nước mắt kẻ sắp bị hành quyết rơi lã chã như mưa, bên cạnh một dĩa cơm với miếng thịt gà nuốt không nổi, đang lúc đó những người đứng chung quanh bị xúi giục đồng thanh la hét có nhịp điệu cho tới khi những tia máu phọt ra từ các lỗ đạn trên ngực, trên đầu nạn nhân.
Thời buổi thượng cám hạ vàng, HL mới lên chức thanh tra ngành giáo dục tỉnh Lâm Đồng, sau một khóa tu nghiệp chính trị tại Tùng Nghĩa. Mỗi cuối tuần HL về một lần, trước thanh tra, sau “thanh toán” bất cứ ai trong nhà ăn nói phản động, và giở giọng ca ngợi chủ nghĩa xã hội như những con người văn minh, sáng tạo…
Một hôm, gặp dịp có chị Dương Thùy Nhung từ Sài Gòn lên chơi, HL bốc hứng kể một câu chuyện đọc trong sách xuất bản ngoài Bắc: “… Sau trận đánh, một anh bộ đội bị lạc trong rừng. Khi tới một ngã ba đường mòn, anh phân vân chưa biết rẽ hướng nào khỏi lọt tay địch. Chợt nhớ bài học Đảng dạy, anh liền cúi xuống ngửi dưới đất, từng cọng cây chiếc lá, thì nghe mùi dép râu lẫn mồ hôi của các đồng chí trên lối phải, còn bên trái, hoa lá cành xơ xác gãy đổ, chứng tỏ do bọn lính ngụy đi càn. Anh quyết định quẹo phải, quả thật, anh gặp lại đơn vị an toàn”.
Kể xong, HL đắc ý khen: “Anh bộ đội thông minh ghê !”. Chị Nhung buột miệng: “ứ, thông minh quá đi chứ! Chú bộ đội ngoan của Bác Hồ đánh hơi tài thật! Nếu có ở đây, chắc chú ngửi cái ghế này là biết ngay mùi đàn ông hay mùi đàn bà vừa mới ngồi”.
Nghe vậy ai cũng cười rầm lên, riêng ông thanh tra ngành giáo dục thì muốn độn thổ.
Nhung, con bà dì Hai của tôi, có sáu anh chị em ruột, hai trai bốn gái. Ông anh cả chết từ lâu, anh kế chị là Dương văn Phi tập kết ra Bắc, được qua Nga học, tốt nghiệp phó tiến sĩ, về dạy tại Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Số còn lại, các em rể chị: Trần Ngọc Xuân, Phan Quang Ân… đều là sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Thời con gái, nhờ cha mẹ giàu sang, Dương Thùy Nhung, Dương Thùy Hương, Dương Thùy Nguyệt và Dương thị Tuấn như các tiểu thư thành phố Đà Nẵng. Các chị quen sống trên nhung lụa, chưa biết gian khổ là gì cho tới ngày lấy chồng rồi mất nước. Khi giặc về, quê hương tan tác, nhà cửa bị tịch thu, chồng tù đày, mấy chị bắt đầu tơi tả, lạc lõng, kẻ địu con lên núi, người trôi dạt biển đông cùng con cái chết mất tích trên đường tìm tự do, như Dương Thùy Nguyệt, vợ Trung tá Phan Quang Ân, Tiểu đoàn trường TĐ Tiếp Vận, Sư Đoàn 2 BB.
Trong ba người, tôi mến nhất chị Dương Thùy Nhung.
Năm 1971 , tôi tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào. Chiến trường rất ác liệt, ngày nào cũng có người chết, bị thương, đưa về nằm đầy các bệnh viện Duy Tân Đà Nẵng và Nguyễn Tri Phương Huế. Vì lo sợ cho tôi, Nhung mong tôi thà sớm gãy chân hay gãy tay để còn được sống. Đọc thư, tôi không buồn trách, bởi lẽ hai miền, như đã nói, đều có người thân cật ruột của chị. Cuộc chiến Việt Nam, đối với chị Thùy Nhung, là một cuộc chiến phi lý, cốt nhục tương tàn, nồi da xáo thít. Chị cứ khư khư bảo thủ cái quan niệm yếm thế ấy, như muốn chủ bại. Một lần, cũng năm 1971, TT Nguyễn văn Thiệu tái ứng cử, nhưng vì độc cử, nên Phật giáo Đà Nẵng tổ chức biểu tình phản đối. Bắt gặp một tên Việt Cộng giả thầy chùa, mặc áo nâu trà trộn, sẵn có lệnh, tôi dẫn hai trung đội Biệt Động Quân chặn bắt. Thấy tôi ngang qua trước cửa cây xăng Trinh, chị vội bước ra chỉ tay vào tôi, hét to: “Cậu Vân? Đừng có đụng chạm Phật giáo của mình?”.
Thế mà ngay mấy tháng đầu chiếm miền Nam, Cộng Sản Bắc Việt cũng chẳng buông tha gia đình chị, chúng liền cướp cây xăng Trinh, cả ngôi nhà lầu ở Chợ Mới và đuổi hết chồng con chị ra đường. Đến lúc đó không riêng chị, biết bao người khi hiểu bản chất gian manh, thủ đoạn của những kẻ Marxist thì đã muộn.
Nay lại trôi dạt lên xứ núi này, gian khổ đang chờ đón gia đình chị. Gian khổ không những thiếu ăn, thiếu mặc, mà còn thiếu cả tình thương gia tộc, bởi lập trường nghiêng ngả theo chủ nghĩa vô thần của ông Đắc, gây nên cảnh hiềm khích, đố kỵ, đánh mất tình ruột cật.
Vừa dừng bước, chị Nhung đã nghe những lời quàng xiên, ngạo mạn. Bữa cơm dọn lên bàn, thấy HT quơ tay đuổi ruồi, ông Đắc đang ngồi, vụt đứng dậy bước tới vừa mở toang hai cánh cửa sổ vừa nói lớn để mọi người nghe: “Đuổi, đuổi cho bọn Biệt Động Quân rớt phăng xuống biển”. Xong, hai cha con khoái chí cười ha hả. Hành động ấy gián tiếp xỉa xói tôi. Biệt Động Quân là một binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tôi đã phục vụ một thời trai trẻ.
Chị Dương Thùy Nhung chỉ biết nhìn tôi, mà “ngậm một mối căm hờn trong cũi sắt”.
(4) Chương 6, trang 80- “Giặc Ngoài Loạn Trong”. Cuối năm 2000, tôi gởi biếu quyển Tiếng Hờn Chân Mây đến hai vị cựu Thượng nghị sĩ VNCH, Luật sư Nguyễn văn Chức và Bác sĩ Tôn Thất Niệm. Bất ngờ được đọc, như nghe lại những lời phát biểu của chính mình cách đây 26 năm về trước, trong một phiên họp khoáng đại thượng viện 1974.
Bs Niệm, có phòng mạch trên đường Bolsa, Nam Califomia, nói với Tác giả: “Lâu quá tôi quên, không nhớ những lời phát biểu của tôi”. Còn Luật sư Nguyễn văn Chức, từ Texas điện thoại qua, thì tỏ nỗi ngạc nhiên và xúc động: “Đúng là bài tham luận của tôi đã thất lạc. Ở đâu mà Vân có vậy?” Bỗng giọng ông như muốn khóc: “Tôi bị oan, Vân ơi? Tôi bị oan?”. Lời kêu oan ấy cũng làm tôi nao núng dù tôi không hiểu “bị oan” chuyện gì. Tôi nghĩ, ngày xưa ông là một vị thẩm phán nổi tiếng cương trực, sao lại bị buộc vào một tội nào đó. Hay ông cựu nghị sĩ buồn vì đọc thấy câu nói của ông Sáu: “Đấy, NS Tâm còn nương tay, đến lượt NS Nguyễn văn Chức thì ông đem hết những lời lẽ rất nặng ký, như những cú đấm thôi sơn nhắm thẳng vào Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, làm lung lay luôn cả chế độ. Do đó, bọn Cộng Sản chỉ đạp nhẹ thôi, miền Nam đã nhào trái. Đây, Vân xem tài hùng biện của một luật sư’ (Tr. 73).
Tôi nhớ năm ấy ông gọi tôi vào một chiều mùa đông, khác với quê nhà, nơi xứ lưu vong này trời lạnh căm căm, tôi càng thêm bùi ngùi sau khi ông vừa dứt lời.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.