Bán phần

sangtao.org

Posted: 05/05/2012

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Người đàn bà bước vào bồn nước, từ tốn ngồi xuống. Nước dâng mấp mé bề cao của thành bồn, những bong bóng xà phòng tụ tập lại với nhau, chen lấn trong gợn sóng. Khăn lông quấn lại dùng để kê đầu, người đàn bà duỗi chân nằm buông xuôi. Sức đẩy của nước làm người bềnh bồng, vừa khó chịu vừa thích thú. Nước ấm nhấp nhô ve vuốt ở bờ ngực, nơi mà không lâu trước đó nó cũng được vuốt ve bởi đôi bàn tay, bởi môi hôn cuồng nhiệt.

Trò chơi chấm dứt trong rã rời, giờ này nó được đền bồi bằng một ngơi nghỉ thực thụ. Nó cần phải tẩy xóa, kỳ cọ đi dấu tích. Những lỗ chân lông sẽ giãn nở để da thịt thôi bám lấy mùi mồ hôi, thôi dính nhờn những tinh dịch vung vãi. Người đàn bà nhắm mắt, cố quên những gì hai đứa đã làm cho chiếu chăn nhàu nát trên cái giường luôn phát tiếng thôi thúc. Bà thử nhớ lại những điều đã nói với hắn. Nói nhiều, kể cả than van và rên rỉ, nhưng câu quan trọng nhất, rắp tâm sẽ thốt ra đã không có “thời gian” mở miệng. “Thôi, chấm dứt là vừa. Chúng ta chẳng nên kéo dài sự liên hệ này nữa”. Giản dị chỉ có thế, nhưng muôn vàn khó khăn. Ở hắn luôn tỏa ra điều gì đó làm người đàn bà yếu đuối. Sự tự chủ như một đập chắn quá thấp so với lượng thủy triều mà hắn biết cách tạo ra. Lòng cảnh tỉnh bị ướt nghe ngói, chút mặc cảm phạm tội bị sặc nước và người đàn bà đánh mất mọi thứ sau đó, chìm trong cái cảm giác đê mê không cưỡng chống lại được. Hắn là thủy tinh và sơn tinh hết bùa chú, bỏ người đàn bà nằm chịu trận, mặc cho ngập lụt cuốn trôi. Dẫu sao đó là sự đầu hàng thật dễ chịu, như mưa cuồng trút xuống cánh đồng hạn hán và nông dân chẳng kêu ca nếu đất bị úng thủy. Mùa gặt sẽ tới, chạy trời không khỏi nắng. Sự thật sẽ phô bày, chóng hay muộn tùy thuộc vô tài diễn xuất, và người đàn bà rất sợ một vai trò diễn viên. “Đã quá đủ. Chấm dứt đi thôi. Không nên gặp gỡ lại nhau.” Người đàn bà sẽ viết hàng chữ đó lên một tờ giấy, như lá cờ trắng dong lên từ phiá kẻ thua cuộc. Bà nhét vào thùng thư ở cái chung cư có 16 căn hộ. Bà không nhấn nút nhựa số 15 như mỗi bận hụt hẫng lao vào. Bà quyết tâm quay gót mặc dù không hiểu được tâm hồn mình có được thảnh thơi sau đó? Người ta luôn được tha thứ nếu họ ý thức việc mình làm là trái khuấy, dù muộn trễ. Buông đao xuống cũng có thể thành Phật huống hồ…

Người đàn bà tháo nút cho nước thoát đi, đứng dậy với chiếc khăn lớn, lau nhẹ nhàng mỗi một vuông da. Hắn từng hôn lên vùng lụa là ấy và tuồng như chưa hề xao lãng bỏ sót một chỗ nào. Nếu hắn tỉnh trí trong động tác âu yếm kia, hắn có thể đếm được bao nhiêu nốt ruồi nằm lẫn khuất trên mình mẩy đang co rúm lại. Người đàn bà có cảm tưởng như cơ thể đã mỗi ngày một hao mòn đi bởi sự tham lam chẳng mỏi mệt của hắn. Hao vì miệng mồm, và mòn vì ánh mắt. Hắn có một cặp mắt gần như của kẻ biết về ma thuật thôi miên. Trân tráo, mê muội và cuốn hút. Hắn nhìn, người bất động tựa hình ảnh một danh thủ dương cầm cúi đầu ngó xuống những phím ngà trước khi hòa nhập vào dòng nhạc cuồng cuộn chảy ra từ mười ngón tài hoa. Phút gửi hồn vào hư không ấy khiến người đàn bà an tâm. Không phải đùa, hắn dường như đang định thần trước khi bắt tay vào việc tạo hình. Hắn có vẻ là một kẻ biết tôn trọng cái đẹp, mất thì giờ để dọn đường cho nghệ thuật đăng quang. Người đàn bà ngồi ở vị trí mà hắn vừa định đoạt. Đèn tắt, tấm màn cửa được kéo giạt sang phân nửa. Tuyết bay nhẹ ngoài trời, sắc trắng của tuyết đập mạnh vào ô kính, hắt thành vũng rạng ngời trên da thịt người đàn bà. “Hãy nghĩ tới một điều gì đó”. Hắn nói. “Như vậy sẽ giúp cho dáng ngồi được tự nhiên hơn”. Người đàn bà nghe lời. Bà nghĩ tới việc đầu tiên khi mở cửa vào nhà, bà sẽ bước vào bồn tắm. Sẽ đổ dung dịch dầu thơm có mùi hoa hồng vào nước ấm, sẽ ngâm toàn thân trong đó khoảng hai mươi phút. Sự tỉnh táo sẽ tìm tới, đầu óc thôi mụ mị và mình sẽ gọi điện thoại cho một nhà hàng Pháp, hoặc Ý, đặt hai phần thức ăn, mang tận nhà vào lúc sáu giờ chiều. Người đàn bà tập trung suy nghĩ phần nối tiếp nhưng phát hiện ra mình chưa bắt gặp sự thoải mái nơi dáng ngồi. Có lẽ nó cứng ngắt, có lẽ nó đang tê dại đi. Suốt đời, chưa bao giờ bà phải ngồi trần truồng lâu như thế này cả. Bên bệ cửa có sưởi, hơi ấm lan man bò chậm rãi trên da, xua đuổi dần những tái tê nổi hột ở đấy. Mũi người đàn bà ngửi ra mùi sơn dầu khi hắn nặn từng ống màu ra palette. Tịch lặng dâng đầy trong căn phòng nhỏ, tiếng đập của trái tim vọng dội vào đôi tai. Màu sắc được pha trộn, tấm bố ngửa mình đón nhận những nét cọ khởi đầu. Tấm bố rung lên như một mặt trống đang có tay vỗ. Không, rõ ràng đó chỉ là âm thanh mơ hồ đầy tưởng tượng. Hồi hộp đập. Hoang mang đập. Hiếu kỳ đập. Trắc ẩn đập. Và trong tất cả chuỗi tiếng động đang luân phiên thao diễn trong màn nhĩ, tai người đàn bà như nghe ra tiếng chuyển động của kim đồng hồ. Tích tắc, tích tắc… Gì thì gì, ta phải trở về trước bốn giờ. Mùa đông chốn này, màu tái tê của giá băng thường biết cách dối gạt một lượng định của mắt nhìn. Sớm, muộn; chuyện ấy phải cần ngó chính xác vào mặt đồng hồ. Ba giờ, người đàn bà mặc lại áo quần trong khi hắn vẫn nheo mắt đối mặt với tấm tranh. Hắn đốt thắp một điếu thuốc với những ngón vấy bẩn màu, như bị chảy máu bầm dập. Hắn lùi ra xa. Đầu điếu thuốc rực cháy như một hòn than. Khói thuốc không loãng tan, quần tụ trước mặt hắn như một đám mây nhỏ. “Bao giờ trở lại? Mai hay mốt? Mười giờ hay mười một giờ?” Sau đám mây vọng ra tiếng hỏi. Người đàn bà làm thinh, thấy mỏi ở hai vai, đau ở lưng và thốn ở bụng. “Ngày mai nhé. Chỉ có gương mặt cần sửa lại chút đỉnh. Tranh không thể xấu hơn người. Đời vẫn thường gọi đẹp như tranh…” Người đàn bà cột chiếc khăn quàng vào cổ, thoa lại chút son môi và trong tấm gương đang soi đã bắt giữ một nhân dáng nào thật lạ lẫm. Nó giống như người thiếu nữ khỏa thân trong tấm tranh chưa hoàn thành kia. Một người không có linh hồn…

Hơi nóng làm căn phòng mờ ẩm. Người đàn bà dùng tay xoa chùi tấm kính, ngó mặt mình như kẻ song sinh này nhìn đứa chào đời cùng lần với mình, cùng thoát ra từ một bào thai, một cửa mình. Này chị kia, chị hư lắm nhé. Chị liệu mà giữ mình đấy. Xứ sở này tuy mênh mông nhưng người Việt mình luôn là ma xó, chuyện gì họ cũng tường tận cả và thêm mắm thêm muối là đức tính không đổi của họ; như thế chị có mà chạy đàng trời cho khỏi sự đàm tiếu. Người đàn bà nhăn mặt, sự tàn phai chưa đến với số tuổi bốn mươi nhưng vẻ tươi trẻ đã chẳng còn dấu vết trên ấy. Nó ra đi biền biệt và nó vất lại một vầng trán nhiều nếp nhăn. Như thể đứa con trưởng thành bỏ nhà đi làm ăn xa và người mẹ choáng váng trước những vung vãi nó để lại trong căn phòng đầy bụi. Người đàn bà kéo tấm gương sang bên, phiá sau là một hộc tủ có ba ngăn đầy chật những chai lọ mỹ phẩm. Shiseido, Lancôme, Clinique… Chúng phô trương vai kề vai để án che một ống kem nhỏ, vặn vẹo nép mình như muốn lẫn trốn. Người đàn bà thò hai ngón tay nhặt nó lên, mở nắp rồi bôi chất thuốc Vagisil vào chỗ kín đáo nằm giữa hai chân. Bà thoáng rùng mình. Nghĩ tới hình ảnh một ông bác sĩ tay đeo găng cao su mỏng, những ngón thăm dò đi dần vào đường khe với đôi mắt chăm chú nhìn sâu vào chỗ ấy. “Mọi thứ bình thường”. Ông ta nói. “Bà có thai lần đầu phải không?” Bà khép lại đôi chân mãi mở rộng. Căn cứ vào đâu để người ta biết được chuyện đẻ con so con rạ? Bà có đọc đâu đó, ở số tuổi bốn mươi thật không tốt cho việc sinh nở, lần đầu. Đứa bé sẽ gánh chịu thiệt thòi nhiều hơn người mẹ. Trí tưởng đã dắt ta đi quá xa. Người đàn bà than lên, mặc lại áo quần trong đôi chân run rẩy. Bà bước hẳn ra khỏi phòng tắm, nghĩ tới một thứ nước giải khát sẽ đổ vào cổ họng khô khát. Phân vân giây lát cuối cùng trà là thứ đánh thắng mọi nhãn hiệu. Không Coke, chẳng cà phê. Không nước cam, chẳng sữa đậu nành. Bà bắt ấm nước lên lò ga, vòng tay chờ sự sùng sục sôi réo bằng tiếng hú không đứt đoạn phát ra ở vòi. Tiếng kêu ấy muôn đời vẫn mang theo nó cái hối thúc khó chịu. Như con tàu sẽ chuyển bánh ở một sân ga vắng lặng, tiếng trầm thiết của hồi còi làm người nghe bần thần, và sau đó nó dồn vào lòng người đưa tiễn sự hụt hẫng. Người đàn bà đã từng hứng chịu qua nỗi mất mát ấy, ở tuổi thanh xuân. Và khi bốn mươi, gặp mặt hắn lần đầu người đàn bà đã phải dằn lòng để khỏi bật lên một tiếng la. Giống quá. Giống không tưởng được. Như hai giọt nước. Vô tình, hắn đã mang quá khứ của người đàn bà dựng lại nguyên vẹn trước mắt…

Ngoài ô cửa kính là một màu trời nhạt nhòa, màu của bóng tối đang lấn chiếm, phủ lấp dần hình dáng những chiếc xích đu phơi thân lạnh cóng ngoài công viên. Bên kia công viên sẽ là con đường uốn cong, đằng sau căn nhà có mái ngói đỏ ấy là một trạm đợi cuả chuyến buýt mang số 100. Chiếc xe cồng kềnh sẽ tấp vào đấy mỗi một hai mươi phút để đổ người xuống hoặc mang ta lên, hục hặc chạy không được suông sẻ vì những trạm dừng; và cuối cùng, ba mươi lăm phút sau nó sẽ vất ta đứng bên lề với trái tim đập mệt. Căn chung cư có 16 căn hộ. Ngón tay nhấn nút chuông ở số 15. Cửa mở. Một thế giới kỳ lạ được bày ra. Trong đó chẳng có lề luật nào được quy định, tuyệt đối không treo bảng Stop. Lý trí được ngơi nghỉ, thân xác nắm tay nhau dắt đến một cõi miền tịch lặng, cổ sơ và rất hoang đường… Như tất cả những gì hắn bày biện ở trong từng tấm tranh. Một người đàn ông của hai mươi năm về trước chẳng biết gì về hội họa, nhưng những trang viết của anh ta cũng có hấp lực khác thường. Nghệ thuật là gì? Người đàn bà không hiểu ra, nhưng có lẽ, trước tiên nó phải biết chối bỏ thực tại. Nó hoán đổi cuộc sống đơn điệu của mình, phút chốc làm mình trở thành “trẻ dại”. Mình đi trong một khu rừng nhiều kỳ hoa dị thảo mà không cần thắc mắc đâu là lối ra. Tiếng nước sôi réo kêu cùng lần với những ngọn đèn đường thắp sáng bên ngoài cửa kính. Người đàn bà chế nước vào bình trà, nhìn những số điện thoại dán đầy trên cánh cửa tủ lạnh. “Pizza Domino”. “Cho tôi một cái trung bình kèm với khoai tây chiên”. “Địa chỉ của bà?” “666 đường Lucifer”. “Tất cả là mười lăm đồng. Cám ơn bà. Khoảng mười phút chúng tôi sẽ mang đến “. Tách trà uống chưa vơi đã nghe tiếng xe thắng đứng trước khoảng sân hẹp. Người đàn bà ngó đồng hồ, hai tay vẫn ôm giữ thứ dung dịch luôn tỏa mùi thơm nhẹ của sen, của lài. Những ngón lạnh cần được sưởi ấm. Cửa mở, người đàn ông lách mình vào kèm theo chút heo may. Ông ta cởi áo khoác treo lên cái giá gỗ đặt ở lối ra vào. Dáng người hơi mập, mọi cử động đều chậm rãi. Kể cả khi cười, những cơ bắp quanh miệng thao tác có hơi lâu mới kéo được hai bờ môi nhếch lên. Ông ta than công việc ở chỗ làm rất nản. Ông ta từng thở dài, đời sống ở đây nhàm chán, vô vị. Và có những canh khuya ông thò tay qua, vật người vợ nằm ngửa ra rồi trút xuống hết những nỗi niềm câm lặng khác. Tựu trung, ông là một người chồng tốt dù có những thứ công việc ông làm dở dang, qua quýt. Làm lưng chừng.

– Hôm nay là một ngày đặc biệt?

Người đàn ông lên tiếng. Đặt câu hỏi mà như loan báo một nguồn tin.

– Tại sao?

– Bếp núc củi lửa thảy đều lạnh tanh.

– Em thấy không được khỏe khi đối mặt với ông Táo. Cơ thể đòi đình công nghỉ xả hơi một bữa.

Người đàn ông cởi giày. Đôi vớ trắng không ôm lấy bàn chân khi ông vào bếp. Những bước đi trông như trẻ con.

– Em sẽ cho anh ăn thứ gì?

– Pizza. Anh còn chung tình với nó không?

– Chung tình. Nhưng nên gặp gỡ mỗi tháng một lần thôi.

Người đàn bà nhìn vào mặt chồng. Ở đó chẳng có nét gì nổi bật, tướng số gọi là một khuôn mặt phúc hậu. Bạn bè gọi là cục vắt thành hòn, thật thà như đếm. Hiện tại, nó không buồn không vui. Khó mà hiểu được nó che đậy điều gì ở bên trong. Tiếng chuông kêu vang làm hai người ngó về cánh cửa cùng lần.

– Anh mở cửa giùm, em đi lấy tiền.

– Khỏi, anh có sẵn đây.

Người đàn ông thò tay vào túi quần trong khi tiến lại mở cửa. Ông đón nhận cái hộp giấy vuông, nóng ấm và thơm ngát. Nó sẽ ngon miệng, bụng đói của ông xác quyết điều ấy. Ông là người dễ tính, chẳng hề biết kén cá chọn canh. Món ăn gì, khi nhai nuốt, ông cũng tự tìm ra cái hương vị quyến rũ nằm ở trong đó. Không dễ đâu, khi một sớm một chiều bọn Tây đều cắm cúi húp sạch tô phở lớn với một bộ mặt mãn nguyện. Ông ta giải thích. Phải thơm ngon mới thuyết phục nổi cái đám đông nhiều thành kiến ấy. Nó là văn hoá thu gọn của một dân tộc. Chớ nên chê bai Miên Lào Ấn Thái Mỹ Mễ Hàn Tàu… Triết lý của ông làm cho cái dáng dấp ấy ngày mỗi nặng nề. Người đàn bà nhìn thấy một vuông giấy xanh rơi xuống sàn gỗ khi ông chồng đóng cửa. Bước lại, nhặt lên và bà mang nó đặt xuống bàn ăn. Một tờ giấy bạc chỉ còn phân nửa.

– Của anh phải không?

– Ừ. Lấy hộ anh dao dĩa. Em uống bia không?

– Soát lại trong túi thử xem.

– Cái gì?

– Một nửa kia. Mang ra để em dán cho tờ bạc được lành lặn.

– Quên nó đi. Chỉ là trò đùa rất con trẻ.

– Trò đùa?

– Trong bữa tiệc uống quá chén thành ra hơi bốc đồng. Anh tính đợi phút chót mới nói cho em nghe, như một món quà gây ngạc nhiên.

– Em không thích đón nhận sự ngạc nhiên. Bất ngờ mà làm gì khi trái tim mình luôn không được khỏe? Còn anh, anh thích đối đầu với nó không?

– Mấy hôm nay, em có mang một triệu chứng nào đó. Em có vẻ thay đổi. Anh chẳng rành về đàn bà, hình như khi tắt kinh người ta đâm bẳn gắt?

– Em sẽ bẳn gắt hơn khi anh cứ lấp liếm nói vòng vo.

– Ôi dào. Bữa ăn coi bộ chẳng ngon miệng được rồi!

Người đàn ông than. Ông mở cửa tủ lạnh, khui lon bia và đổ nó khá lâu vào miệng. Cần cổ ông lên xuống cái vật nghẹn riêng biệt của giống đực. Một trái táo suốt đời không thể tiêu hóa, theo cổ tích.

– Như thế này nhé…

– Nói đi. Em đang chú tâm nghe.

– Đám cưới con anh Nguyện. Bắt đầu là vậy. Hôm đó em kêu đau lưng, ở nhà không tham dự. Nhớ không?

– Nhớ. Hai tháng trước. Em đau thật chứ không phải ngụy tạo.

– Vì đi lẻ loi, tụi nó sắp anh ngồi chung bàn với những tên độc thân. Những thằng trẻ tuổi ấy rất sung, chúng uống rượu như thể em uống nước cam. Có một tay tóc dài, râu ria tướng tá ngó nghệ sĩ được bọn ấy gọi là Renoir. Quảng cáo rằng chàng ta “siêu” đến nỗi chỉ cần ngó qua người đẹp trong phút giây, đêm về có thể họa lại không sai trật một mảy may. Nói tóm chúng nổ điếc cả con ráy. Anh mở ví và chỉ cho thằng Renoir ấy xem tấm ảnh của em. Ba mươi giây. Nó nói thế. Mắt long lanh, miệng cười đểu. Một khuôn mặt đáng ghét. Cao ngạo. Hắn bảo: Ba mươi giây chỉ là một cách nói. Tôi nghĩ, hai tháng sau thì bức tranh sẽ hoàn thành. Không đẹp không lấy tiền. Và cuối cùng tờ bạc này được xé làm đôi như một cam kết. Nửa kia, dĩ nhiên là nằm trong tay thằng Renoir dỏm nọ.

Miếng Pizza nghẹn trong cần cổ người đàn bà. Không riêng giống đực, giống cái cũng biết ăn trái cấm vậy. Người đàn bà đè tay lên ngực và cúi đầu đi như chạy vào phòng vệ sinh. Ngồi ở bàn ăn, người đàn ông có thể nghe tiếng nôn thốc tháo từ sau cánh cửa vọng ra. Ông ngó vào miếng Pizza đang cầm ở tay. Mỏng manh mọi thứ có ở đó. Ớt, nấm, thịt thà… Cái gì đã khiến vợ mình phải dợn mữa? Ông kiểm soát phần còn lại nằm trên bàn. Đó là một cái Pizza bình thường như tất cả những cái Pizza có trên trái đất này. Một thức ăn rất dễ phát phì và lâu tiêu. Ông đi lại chỗ phát ra tiếng nước chảy. Cánh cửa khóa chốt ở bên trong. Ông gõ tay lên lớp gỗ sơn màu hồng nhạt. Thấy ngón trỏ dính sốt cà chua đỏ, ông mút nó chùn chụt.

– Em sao rồi?

Yên lặng trả lời.

– Có sao không? Hello… Ông kéo dài chữ cuối, lên xuống trầm bổng.

– Anh thích đón nghe một ngạc nhiên không?

– Thích. Con tim anh luôn khỏe. Ngạc nhiên làm đời sống mình thi vị hơn.

– Em đã mang thai.

Người đàn ông áp nửa khuôn mặt vào cánh cửa, dính sát. Như muốn nghe rõ hơn. Như người cha áp tai vào bụng bầu vợ hiền cố đón nhận sự chuyển động của thai nhi đang cuộn tròn bên trong vọng dội ra. Tim ông đập hụt nhịp nhiều bận. Bất ngờ làm mặt ông tái đi. Tái như một kẻ bắt gặp vợ mình đang ngoại tình. Ông lắp bắp:

– Trời đất ơi. Phải nói cho bà già nghe mới được. Bả đợi tin này ròng rã đã bốn năm. Mẹ bọn bây, tao đâu có phải hạng người bất lực. Ông đi tới phiá có bắt điện thoại, nửa tờ giấy bạc còn nằm trên bàn. Giờ này có thể nó đã hoàn tất bức tranh. Căn nhà này thực sự đã thiếu quá nhiều thứ. Một tấm tranh sơn dầu treo lên tường. Một tiếng khóc của trẻ thơ. Ông bấm bảy con số.

– Má hả má. Khoẻ không? Má ưa đón nghe một ngạc nhiên không? Một tin vui… Đổi nhà đổi xe gì đâu má… Không, cực như chó thăng quan tiến chức gì má… Má nói vợ con há, chưa, chưa kiếm ra việc… Nhưng mà… Má nói sao? Con không tin đâu à nghen… Xe buýt số 100 à? Biết, con biết đường đó. Thằng tóc dài nào? Hổng có đâu… Trời, bọn ác khẩu bao giờ cũng nhiều… Má nói sao? Má nghe khi đi chùa à, coi chừng mà oan Thị-kính đó má. Vợ con con biết chớ… Gì mà kinh khiếp thế! Má nói vậy không sợ con nửa hồn thương đau hay sao?..

Cột đèn! Cột điện?

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

August 16th, 2024
Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Cách nay khoảng 2000 năm, chỉ những nhà giàu thành Rome, mới có nô lệ đốt đèn bằng dầu thực vật để chiếu sáng lúc đêm về. Coi phim La Mã cổ đại chúng ta đều biết. Năm 1417, thị trưởng thành phố London lệnh tất cả các nhà phải treo đèn lồng ở trước cửa khi đêm xuống trong những tháng mùa Đông. Mãi tới năm 1807, thành phố London; năm 1816, Baltimore của nước Mỹ lắp đèn đường phố bằng khí đốt. Rồi tới năm 1879, đèn chân không do Thomas Alva Edison (1847–1931) phát minh mới chiếu sáng đường phố.

Còn nước ta, thời Pháp thuộc, ngày 27.9.1865, Giám đốc Nha Nội vụ (Directeur de l’Intérieur) Paulin Vial cho thắp sáng 24 con đường (đặt tên theo số), tại Sài Gòn bằng loại đèn sử dụng dầu dừa. (Paulin Vial từng đóng lon trung úy, Trưởng đồn kiêm Giám đốc bản xứ sự vụ Gò Công. Tờ mờ sáng ngày 22 tháng 6 năm 1861 (Tân Dậu), Huyện Toại, Đỗ Trình Thoại, tấn công đồn Gò Công dùng gươm đâm Paulin Vial tưởng chết)

Phủ Thống đốc Nam kỳ ra nghị định yêu cầu dân địa phương phải tự thắp sáng ngõ ra vào cửa nhà của mình. Về việc thắp sáng công cộng, ngày 12.11.1867, Hội đồng thành phố Sài Gòn giao thầu cho Andrieu. Giờ thắp sáng bắt đầu từ 6 giờ đến 6 giờ 30 chiều, tùy theo mùa, và chỉ tắt đèn vào 5 giờ sáng hôm sau, không được sớm hơn, vì từ 4 đến 5 giờ sáng là giờ làm ăn của bọn đạo chích. Hội đồng quyết định dùng dầu lửa để thắp sáng đèn công cộng kể từ ngày 1.4.1870. Chính quyền Pháp cho lắp 17 cụm đèn chùm tại bến Cầu Ông Lãnh, đường Catinat (VNCH Tự Do; CS là Đồng Khởi), đường Isabelle II (sau là Espagne, nay là Lê Thánh Tôn), bắt đầu từ đường Hôpital (nay là đường Pasteur) và đường Impériale nối dài (sau là Paul Blanchy, nay là Hai Bà Trưng)

1807, thành phố London lắp đèn đường phố bằng khí đốt 

Chớ xưa có đèn dầu là em mừng húm rồi: “Đèn treo ngang quán. Tỏ rạng bờ kinh”. Rồi “Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ. Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu”. Tới những năm đầu thế kỷ XX, thành phố Sài Gòn mới bắt đầu có đèn điện sáng choang. Trong phong tục nhơn vật diễn ca –Sài Gòn 1906- ông Nguyễn Liên Phong ghi lại: “Phong lưu cách điệu ai bằng, Đường đi trơn láng, đèn giăng sáng lòa.” “Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ. Chớ đèn Mỹ Tho vẫn còn ngọn tỏ, ngọn lu.”

Tui nhớ thời thơ ấu, năm 1965, trời sập tối, má dắt một đám con, 7 đứa, ra trước cửa Bưu Điện Tân Định chờ ba đi làm về. Ba về có mua bánh mì Tám Cẩu đường Cao Thắng. Đường Hai Bà Trưng mới lắp cột đèn cao áp sáng trưng. Ngồi nhìn xe qua lại, có má, có anh, có em. Giờ tha hương đã bao năm, sầu cố xứ; vì con không thể nào gặp lại những ngày vui đó nữa. Đèn cao áp ngày nầy đã nằm yên trong ký ức, vì ngày nay đã có đèn LED hiện đại hơn nhiều.

Tui nhớ nhà đèn Chợ Quán của cái đất Sài Gòn. Tui nhớ nhà đèn Mỹ Tho đường Học Lạc. Một ngày thứ Bảy năm 1967, sáng nghỉ học, tui chạy Honda SS 67 qua nhà thằng Võ Thành Điệu, bạn cùng lớp, nhà ở đường Đốc Binh Kiều, bên kia Cầu Quay Mỹ Tho chơi; vì nó có đứa em gái dẫu quê phèn Tân Thới, Gò Công nhưng da mặt em như mận Hồng Đào của cái xứ Trung Lương. Tui đâu biết tối qua, VC ném lựu đạn vô nhà đèn. Nên lúc 9 giờ sáng, lính đại đội 11 Trinh Sát, Sư đoàn 7, xét giấy tờ, bắt tui về sân đại đội để giải giao cho Cảnh sát của Đỗ Kiến Mười. Chú cảnh sát gác ở Bưu Điện thấy mặt tui ngồi chong ngóc trong khoảng sân có rào kẽm gai ‘concertina’ báo cho ba tui lúc đó làm Trưởng ty Bưu Điện hay. Đến lãnh tui về, ba không rầy rà gì tui hết ráo. Ba chỉ nói: “Xét tờ khai gia đình thuộc thẩm quyền của Cảnh sát và chỉ được làm trong giờ giới nghiêm. Trung úy Linh, đại đội trưởng nầy lạm quyền!” Nãy giờ đang ấm ức vì bị bắt vô cớ, tui khiếu nại mà nó còn hăm bắn tui nữa chớ; giờ nghe ba tui nói vậy, tui mát lòng mát dạ hết sức. Chuyện 60 năm rồi, con vẫn nhớ ba!

Lễ khánh thành Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn năm 1880, Sài Gòn đã có đèn đường – nguồn antoursvietnam.com

Thưa tui nhớ bến Ninh Kiều, Cần Thơ. Nhà biên khảo Sơn Nam viết: “Khoảng năm 1937, đôi ba ngày một lần, tàu Nam Vang chạy ngang ghé lại Bến Hàng Dương mang tên là Quai de Commerce (Bến Thương Mại) khá lâu, hành khách, hàng hóa lên xuống rộn rịp, thêm người trên bờ xuống tàu rao thức ăn uống…” Trong đó, có hãng tàu Compagnie de Messageries Fluviales, mỗi tuần ghé qua 2 lần.”

Tui nhớ đèn ba ngọn, trước Pharmacie du Mekong giữa ngã ba Ngô Quyền, Hai Bà Trưng, Bến Ninh Kiều, Bến Hàng Dương ngày cũ. Tui nhớ Trần Thị Minh Chi, nhớ Trần Thị Nhãn, học trò trường Đoàn Thị Điểm. Tui nhớ em Nguyễn Văn Mừng, học trò tiếng Anh buổi tối của tui, làm thợ trại đóng ghe Xóm Chài bên kia sông.

Tui nhớ bài báo của một nhà báo quốc doanh CS khoe là dân Ông Tạ Sài Gòn nhưng đặt dóc hổng có căn! Ông nói: bà Lý Sói gần nhà ông là người đã nói câu: “Cây cột điện đi được nó cũng đi…” Nhiều năm sau, Nguyễn Xuân Phúc, cựu thủ tướng CS cải biên: “Nếu cột điện ở Mỹ biết đi thì sẽ về Việt Nam”

Bến Ninh Kiều, Cần Thơ xưa – nguồn achuyện xưa

Nói thiệt hay giỡn chơi vậy cha? Cột đèn về Việt Nam hết ráo, tối ra Footscray nhậu, xa lộ không đèn, làm sao tui thấy đường về nhà? Bỏ em yêu ngủ một mình tối hù; em đâu có chịu em sợ ma lắm đó! Hu hu! Cây cột điện ở Mỹ chưa về thì “Bảy niểng’ đã bị đá đít “về làm người tử tế!”Cột đèn chớ cột điện cái giống gì? Dùng chữ cột điện là dốt; là không có ý nghĩa gì ráo? Cột điện hồi xưa thời Pháp dùng để đánh đây thép, đánh morse khi Mỹ chưa qua, chưa có đài viba! Chính vì vậy Bưu điện hồi xưa bà con mình còn gọi là Nhà Dây Thép. Cột đèn để chiếu sáng những con đường trong thành phố. Ý câu nói rất thâm trầm: cột đèn nó đi, nó mang theo ánh sáng. Con đường CS chỉ còn lại bóng tối mà thôi. Không phân biệt cột điện, cột đèn mà làm tới Chủ tịch nước thì lạ quá?!

DXT

Bửa một ly!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 14th, 2020

Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Tranh Bảo Huân

Ca dao quê mình có câu: “Ðốt than nướng cá cho vàng. Ðem tiền mua rượu cho chàng uống chơi!”. “Hai tay bưng chén rượu đào. Xin mời quân tử uống vào cho say!”.

Nói nào ngay hồi còn thanh niên tui nhát gái lắm. Hổng có em nào bật đèn xanh là tui hổng dám tới luôn đâu. Nhưng khi được em liếc mắt đưa tình, làm một mình vài chung là tui gan hè. Gan là mở đài phát thanh mà tán phét. “Khi anh rượu đã khề khà. Tán đâu ra đấy đậm đà có duyên! Rượu hồng đào trút nhào vô nhạo. Ðố em biết được thằng nào (ba) xạo hơn anh?”.

Rồi chuyện nọ xọ chuyện kia cuối cùng thì “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường. Lại tìm những chỗ đoạn trường mà đi.”

Ma đây là Ma men đã theo tui từ thuở mới quen em cho tới ngày tui với em vầy duyên can lệ. Cưới em về, lệ ướt cả đường đi vì khi tui hơi quá chén bắt đầu phát ngôn bừa bãi, đâm xuồng bể; nên em không được vui; không cho tui nhậu nữa vì: “Ở đời chẳng biết sợ ai. Sợ thằng say rượu nói dai cả ngày!”

Ðời mà, rượu vô lời ra. Mà lời ra rồi con vợ hổng thèm nghe thì tui đi nói với em hàng xóm. Bởi chữ có câu rằng: “Rượu nào là rượu chẳng nồng. Trai nào chẳng khoái Lan, Hồng, Cúc, Mai?”.

Nghe phong phanh như vậy em yêu bèn phạng thẳng là: “Rượu men tẩn mẩn tê mê! Mảng theo con ‘đĩ’ bỏ bê việc nhà!”

Tui bèn chống chế cho cái nhậu nhẹt gái gú của mình là: “Anh xỉn, anh say ngày mai anh tỉnh. Chỉ sợ anh mê gái rồi là không tỉnh đâu em”.

Nhưng em yêu của tui thừa biết cái thói tật của mấy ông nhậu là: “Thế gian ba sự khôn chừa: “Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ!” Mà không cần phải gái tơ, em sồn sồn cũng quơ luôn vì: “Rượu ngon cái cặn cũng ngon. Thương em bất luận chồng con mấy đời!”.

Thấy tui cứ mải chơi từ thuở độc thân cho tới khi cưới vợ, nên em yêu của tui bèn lên lớp một bài về Ðức Dục: “Ai ơi uống rượu thì say. Bỏ ruộng ai cày; bỏ giống ai gieo?”

Vốn là người chồng dễ dạy, vợ dạy là tui nghe liền hè; nên tui hồi chánh, tung cánh chim tìm về tổ ấm; nơi sống bao ngày giờ đằm thắm; về cày ruộng nhà mình, gieo giống của mình; chớ cứ theo ma men đưa lối, đòi cày ruộng và gieo giống giùm thằng hàng xóm là nó vác súng rượt mình chạy sút quần luôn đó.

Nước Úc là một nước đa chủng tộc, đa văn hóa; nên cách sống, cách ăn, cách chơi, cách ăn nhậu cũng rất khác nhau; vì mỗi nước đều có thức uống quốc hồn quốc túy mang theo khi đến nước Úc định cư!

Như Whisky cho Scotland, Jameson’s cho Ái Nhĩ Lan, Grappa cho Ý Ðại Lợi, Ouzo cho Hy Lạp, Sake cho Nhựt, Tequila cho Mễ Tây Cơ, Vodka cho Nga và Rượu đế cho Việt Nam của mình!

Còn đàn ông Úc, bản xứ thì lại khoái uống ‘beer’ hơn, uống ‘beer’ thay nước lã khi khát, còn đàn bà Úc khoái uống rượu vang Penfolds.

Tính từ 15 tuổi trở lên, dân Úc uống mỗi đứa một năm khoảng 10 lít rượu nguyên chất, tốn 32 đô 35 xu một tuần.

Úc xếp dân nhậu vô bốn bậc. Một là uống xã giao; chớ không phải uống rồi xách dao ra mà xả. Hai là uống cho thấy đời vui trở lại. Ba là uống cho xỉn, không say không về. Và bốn là hổng uống hổng được.

Bậc một, bậc hai thì còn chấp nhận được đi; còn lỡ dính tới bậc ba, bậc bốn thì bậc năm trước sau gì cũng phải tới là leo lên bàn thờ để nhìn thiên hạ nhậu.

Trung tâm Nghiên cứu ma túy và rượu thuộc Ðại học New South Wales (Australia) vừa chỉ rõ ra rằng: Nam giới sinh từ năm 1891 đến 1910 uống rượu gấp đôi phụ nữ cùng lứa!

Một trăm năm sau, người chào đời trong khoảng năm 1991 tới 2000 thì gần như không có sự khác biệt nào giữa đàn ông và đàn bà trong cái khoản nhậu nhẹt li bì nầy hết ráo!

Riêng cái nước Việt Nam mình còn chìm trong ách cai trị của độc tài CS thì cả nước gồm đàn ông nhậu, đàn bà nhậu khoảng 3 tỷ lít beer một năm thôi. Kinh chưa?

Vậy mà VC đành đứt từng đoạn ruột, buộc phải bán 2 công ty ‘beer’ quốc doanh, con bò đang cho sữa nầy để lấy 2. 2 tỉ đô la mà nuôi cái Ðảng báo cô ăn hại… vì ngân khố đã hết tiền.

Mà hết tiền, đảng viên không có cái ăn, cái nhậu thì tụi nó theo Ðảng để làm gì? Tụi nó sẽ bắt chước ông Tám Khoẻ trong tuồng cải lương Người Ven Ðô: ‘Tui xin ly khai với VC’. 

Ly khai hết ráo thì Ðảng CS phải rã bành tô. Vì có câu thơ rằng “Còn bạc còn tiền còn đệ tử. Hết cơm hết gạo hết ông tôi!

Nói tới ăn nhậu là phải nói tới ăn, tức là mồi trước. Úc ghiền rượu tui thấy nó uống khan hè, ít khi có mồi. ‘Mít’ mình thì ngược lại, phải có mồi đưa cay mới đặng. Mùa nào thức nấy. Có gì chơi nấy! Khách đến nhà hổng gà thì vịt, hổng có gà vịt thì còn cá dưới ao!

Lòng, mề gà xào chua trước một dĩa sương sương; sau đó nồi cháo gà và một thau gỏi trộn bắp chuối hột bự xộn được dọn lên! Hay mấy dĩa thịt vịt xiêm luộc, chấm nước mắm gừng và vài chục con tôm nướng.

Mồi ‘bén’ là kiểu nói bây giờ; còn hồi xưa mình gọi là mồi rất ‘bắt’ như là khô cá lóc chấm nước mắm me; khô cá sặc trộn xoài thanh ca; sang chảnh hơn một chút là gà hầm sả, ếch om rau ngổ; là tụi mình cạn ly đầy rồi đầy ly cạn.

Người ta quý mình nên mới mời đi dự; hổng đi lỗi tình bà con chòm xóm lắm! Ðâu có được nè. Tháng ít thôi, chỉ có 20 ngày ăn nhậu, có khi thâu đêm suốt sáng.

Có người đã vượt thoát được gông cùm CS chạy qua được cái nước Úc nầy đây đã quá lâu mà hổng hiểu chữ nhậu tự do là gì hết ráo. Tự do là tôn trọng sự tự do của người khác; đừng có bắt bạn nhậu phải uống đúng theo lịnh của mình.

Dẹp quách cái vụ: “Vào cửa bửa một ly”; (chú mầy không bửa thì tao bửa chú mầy). Rồi “Ngồi xuống uống một ly” hoặc “Cầm đũa giũa một ly”, (không được kê táng, không được chừa lại giọt nào.) “Một, hai, ba ‘dzô, dzô’; một trăm em ơi chiều nay một trăm phần trăm!”

Xin bỏ cái luật độc tài trên bàn nhậu cho CS nó xài. Vì trong thiên hạ, người có người mập người ốm; có người uống rượu như thằn lằn uống nước cúng; có kẻ uống rượu như trâu ầm, như sắp chết khát; vì lạc trong sa mạc Úc suốt cả tuần.

Quyền tự do trong bàn nhậu, uống nhiều hay ít là quyền thiêng liêng tối thượng không ai được quyền áp đặt lên bạn nhậu của mình! Uống nhiều ít không thành vấn đề! Nhậu sao cho vui thì thôi!

Cái tư tưởng phong kiến: “Vợ tui thuộc về cái bếp và phòng ngủ” xưa rồi nhe Tám! Chồng đi đám xưa giờ vợ cũng đi. Xưa thì mấy bà lui cui dưới bếp nấu nướng mồi màng; thì mấy ông ngồi trên bàn khề khà chung rượu để nói chuyện tào lao mà không làm động ngón tay ngón chưn gì ráo đã lui vào dĩ vãng mù khơi.

Giờ thì vợ chồng đồng lòng không phải để tát cạn Biển Ðông đâu mà đồng lòng nhậu.

Có em chồng bỏ, chồng chê uống vô một xị chồng về với em? Làm gì có cái chuyện Trâu về chuồng cũ bao giờ; nên em uống để cho vơi nỗi buồn nhưng nỗi buồn càng bám theo nên sau vài ba ly vào là em ca vọng cổ! Em hát toàn bài vợ chồng chia ly, tình yêu tan vỡ nghe rất lâm ly! Tàn cuộc nhậu, mắt em lờ đờ vẻ mặt buồn rười rượi, chân nam đá chân chiêu, em cao hứng, cởi phăng áo bà ba vắt lên vai, chỉ còn áo lót, vừa đi vừa hát nghêu ngao; khiến đám con nít trong xóm rủ nhau chạy bu theo vỗ tay rần rần như đi coi hát bội.

Uống như hũ chìm rồi chìm luôn, xin thưa với mấy em rằng quả không nên! Vì ghiền rượu nó cũng di truyền từ đời ông tới đời cha, tới đời con rồi đời cháu đó nhe?

Thú thiệt là lúc rảnh rỗi, tui rất khoái tụ bè tụ đảng, tùng tam tụ ngũ để lai rai ba sợi; để đấu láo cho vui thôi. Chớ bạn bè chí cốt gặp nhau hổng lẽ uống nước trà?

“Mời anh, ta cạn chén này. Trăng vàng ở cuối non Tây ngậm buồn!”.

Nhưng nhớ đừng bỏ quên em yêu vò võ một mình, chiếc bóng canh thâu! Thỉnh thoảng cũng nhậu với em chớ!

“Thưa Tướng công! Xong ly nầy đôi ta đàn lại bản tình xưa nhe!”  

Nhậu vừa vừa phải phải cho đời vui; thì tại sao không?

DXT – Melbourne

Cho Người nằm xuống

baotreonline.com

Nguyễn Sinh

Post on April 27th, 2023

Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Ông Lý Văn Lang xưa cũng là lính Biệt động quân trong quân đội VNCH (KBC 4822). Khoảng chục năm trở lại đây, ông tìm đến Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa xin làm công việc tạp vụ, nhổ cỏ, quét dọn, hương khói…cho mộ phần các tử sĩ VNCH…

Photo edit by Sơn râu

Căn nhà cuối cùng

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa (cũ) thành lập ngày 17-6-1968 theo sáng kiến của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với dự trù chứa 30 nghìn mộ phần. Mộ phần đầu tiên tại nghĩa trang được ghi nhận là của một người lính vô danh ở Gò Vấp. Tiếp theo, các trận Mậu Thân 1968, mùa Hè đỏ lửa 1972 đưa về thêm trên 10 nghìn tử sĩ. Tới hết tháng 3/1975 tổng cộng có trên 16 nghìn tử sĩ chôn cất tại đây và tồn tại đến giờ. Ðược biết nghĩa trang này xưa không chỉ dành chôn cất các chiến binh, sĩ quan, tướng lãnh mà còn làm nơi yên nghỉ cho các thành viên chính phủ VNCH. Trước năm 1970, nghĩa trang đã hoàn tất một số đường nội bộ, tượng đài Thương Tiếc, cổng Tam Quan, đài Tử sĩ… Sau sự kiện “tháng 4 đen”, nghĩa trang được Cộng sản tiếp quản rồi bàn giao cho Quân khu 7. Tháng 11/2006, chính quyền Cộng sản quyết định chuyển khu nghĩa trang này sang sử dụng dân sự. Hiện nay Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa đổi tên là Nghĩa trang Nhân dân Bình An (Công ty công trình công cộng tỉnh Bình Dương quản lý). Qua hơn 47 năm “thi gan cùng tuế nguyệt”, nhiều khu mộ các tử sĩ VNCH tại đây (nhất là những ngôi mộ vô thừa nhận) đang xuống cấp trầm trọng. Nếu không được chăm sóc, tu bồi, chẳng bao lâu nữa những nấm mộ này sẽ thành đất bằng, không còn vết tích. Rất may có một người đàn ông đã tự nguyện tìm đến làm những công việc này. Ðó là ông Lý Văn Lang, năm nay 72 tuổi, hiện sống tại đường Hậu Giang (quận 6, Sài Gòn)

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa xưa đã đổi tên

Từ một căn duyên

Ông Lý Văn Lang xưa cũng là lính Biệt động quân trong quân đội VNCH (KBC 4822). Khoảng chục năm trở lại đây, ông tìm đến Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa xin làm công việc tạp vụ, nhổ cỏ, quét dọn, hương khói…cho mộ phần các tử sĩ VNCH (dĩ nhiên không có lương!). Ông Lang tâm sự kể nguyên do: “Một lần tôi thấy người ta đưa cỗ quan tài trên đường mà không có thân nhân đi theo. Hỏi mới biết anh này vừa chết trận mà cũng không ai rõ tên tuổi là gì. Nên tôi “xung phong” làm người tiễn anh về nơi an nghỉ sau cùng. Mấy chục năm sau, tôi vẫn luôn trăn trở, băn khoăn về các mộ phần tử sĩ VNCH ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, nơi ngày càng xuống cấp, chẳng ai quan tâm. Tôi biết có những ngôi mộ được xây lúc đầu còn có bia ghi tên tuổi rõ ràng, song càng gần thời điểm tháng 4/1975 đa số là dựng vội, đôi khi chỉ đắp một nấm đất tạm bợ…”.

Ông Lang chào kính trước những mộ phần tử sĩ ở Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa

Từ năm 2013, hàng tuần ông Lang dành ít nhất 1-2 ngày tìm tới nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, xin Ban quản trị cho làm công việc tạp dịch, chăm sóc các ngôi mộ tử sĩ VNCH và được cho phép. Bằng số tiền túi khiêm tốn của mình, ông mua nhang, những phẩm vật mang đến cúng tế các mộ phần nhất là trong những dịp tháng 7 âm lịch, ngày Chiến sĩ trận vong, ngày Giáng sinh, Tết nhất…Ông cảm thấy đau lòng khi chứng kiến những phần mộ bị cây rễ mọc xâm lấn, bị rong rêu, lá mục che phủ, những tấm mộ bia nứt vỡ, những gương mặt chiến hữu năm xưa cứ rạn vỡ, phai mờ theo năm tháng…Một lần nữa ông xin Ban quản trị nghĩa trang cho ông được phục hồi những tấm bia mộ bị hư hại, bằng tiền riêng “có nhiêu làm bấy nhiêu”.

Rất nhiều mộ bia tử sĩ VNCH bị hư hỏng, nứt vỡ, cây cối mọc um tùm xâm lấn

Đồng đội không lìa

Mãi đầu năm 2022, người ta mới đồng ý “phê duyệt” công việc của ông. Ông nói thêm: “Họ cho phép mình phục hồi lại những tấm bia bị gãy vỡ. Bởi tôi nghĩ chỉ vậy tên tuổi các anh sẽ rõ ràng và gìn giữ được lâu. Ban quản trị cũng đề nghị nếu muốn phục hồi lại bia mộ nào thì chụp hình lại để họ làm theo mẫu có sẵn. Bên cạnh dựng bia mới, những tấm bia cũ vẫn giữ lại để sau này thuận tiện cho thân nhân, chiến hữu tử sĩ (nếu có) về đây tìm kiếm dễ dàng nhận diện. Ðến tháng 5/2022, Ban quản trị nghĩa trang báo thêm tin vui sẽ cho đào bỏ, cưa cắt những gốc cây to có rễ ăn sâu xuống lòng đất, xuyên qua các mộ phần cũng như sửa chữa, xây lại những mộ phần bị sập lún cũng như cho phép dán gạch men các ngôi mộ này để bảo quản lâu dài…”.

Ông Lang hàng ngày không quản công chăm sóc, hương khói cho các mộ phần

Ðược biết, nghĩa trang hiện có khoảng 8,000/16,050 ngôi mộ mất bia do nhiều nguyên nhân. Ông Lang cho biết để phục hồi những tấm bia, dán gạch các mộ phần này khá tốn kém. Cụ thể 1 tấm bia đá ghi tên tử sĩ đặt trước mộ giá 100 – 500 nghìn VNÐ (tùy loại,  dán gạch men toàn phần giá đến 2 triệu VNÐ/ngôi mộ. Trước mắt, ông Lang hợp đồng cùng Ban quản trị tiến hành phục dựng 1,000 tấm bia, dán gạch men toàn phần cho 400 ngôi mộ hư hại nặng cũng như đặt nhà thầu đào bỏ những gốc cây xâm lấn các mộ phần. Tới cuối tháng 10/2022, khoảng 75% công việc này được ông phối hợp cùng Ban quản trị đã hoàn thành xong.

Làm lễ cúng và an vị cho các mộ phần đã được sửa chữa

 Món nợ nghĩa tình

Ông Lang tâm sự: “Bản thân tôi luôn hoài niệm về một thời mà bản thân mình từng dự phần trong cuộc chiến năm xưa dù đã qua gần nửa thế kỷ. Với món nợ nghĩa tình ấy, tôi nguyện đem hết sức mình làm được gì thì làm, để vong linh các tử sĩ cảm thấy ấm áp và ước sao khoảng 10% số mộ phần trong nghĩa trang được tu sửa như đang làm hiện nay là tôi quá mãn nguyện. Tôi nghĩ đây cũng là một món “quà” Xuân dành cho các anh em tử sĩ đã nằm xuống nhất là dịp Tết Quý Mão sắp đến. Tới nay tôi cũng nhận được khoảng 100 nghìn USD của các vị, phần lớn ở hải ngoại gửi về với tấm lòng nhân ái tưởng nhớ đến những người cùng thời đã nằm xuống cho một vùng miền đất nước, nay phải chịu cảnh mồ hoang mả lạnh. Thay mặt vong linh anh em tử sĩ VNCH tôi vô cùng cảm ơn.

…hương khói cho các mộ phần

Nếu quý vị quan tâm thêm về công việc của tôi,

có thể vào trang:

http://facebook.com/vanlang.ly.585

hoặc

email: lyvanlang2019gmail.com.

Về phần đóng góp (nếu được) xin gửi vào tài khoản báo Trẻ Weekly

Tre Magazine

3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044

Check xin ghi:

Tre Magazine

Memo: Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

hoặc gởi trực tiếp cho:

Huỳnh Thị Thùy Dung

Số tài khoản: 037 100 390 2522, Ngân hàng Vietcombank, chi nhánh Tân Định, Sài Gòn.

Swift Code: BFTVVNVX.

Đây là số tài khoản cháu gái tôi, vì tôi lớn tuổi không sử dụng tài khoản ngân hàng riêng

“Loạn taxi” ở Tân Sơn Nhất

baotreonline.com

Nguyễn Sinh

July 6th, 2024

Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Tân Sơn Nhất từng mệnh danh là phi trường lớn thứ 2 khu vực Đông Nam Á, với thiết kế ban đầu 25 triệu hành khách/năm nhưng hiện đang đón khoảng 42 triệu hành khách/năm. Những dịp lễ, Tết, lúc đỉnh điểm có hơn 150,000 hành khách/ngày qua lại phi trường này. Hành khách đến/đi Tân Sơn Nhất bằng các phương tiện như xe cá nhân, xe công nghệ, taxi và xe buýt. Riêng taxi là phương tiện di chuyển nhanh và tiện lợi được nhiều người lựa chọn.

Tân Sơn Nhất luôn quá tải số lượt hành khách những ngày Lễ Tết   

Cũng tại Tân Sơn Nhất, ngay cửa ra của sảnh lớn phi trường có thể tìm thấy taxi của các hãng Mai Linh, Airport Taxi, Sài Gòn Taxi, Be, VinaSun… Hầu hết xe taxi này đều có đồng hồ hiển thị số km và số tiền. Tuy nhiên chúng chỉ hoạt động đến 22 giờ hàng ngày và cũng không bảo đảm luôn có xe và đây là kẽ hở để các loại taxi tự phát, tự gắn logo, không giấy phép kinh doanh, đồng hồ tính tiền thường bị tháo kẹp chì kể cả xe taxi “thật” nhưng cố tình chạy “dù”… mặc sức chen chân.

Giá cả tính theo … mặt khách hàng

Theo Cục Hàng Không Việt Nam, tình trạng xe taxi hoạt động loạn xạ đang diễn ra khá phức tạp tại Tân Sơn Nhất, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng đến phẩm chất phục vụ tại phi trường cũng như quyền lợi hành khách nhưng nhiều năm qua vẫn tồn tại. Ông Nhân (ngụ Bình Tân) cho biết ông đáp chuyến bay từ Hà Nội vào Sài Gòn mất gần 2 giờ, nhưng để đón được taxi từ phi trường về nhà ông buộc phải chờ đợi với khoảng thời gian tương đương. Ông kể: “Ban đầu tôi đặt taxi Mai Linh, chờ lâu quá, tôi bèn chuyển qua đặt trên Be và VinaSun nhưng cũng không tài xế nào chịu nhận cuốc xe hoặc họ chủ động hủy bỏ với lý do kẹt xe. Thường, từ phi trường về nhà tôi khoảng 220 nghìn VNĐ tiền taxi, vậy mà hàng chục tài xế taxi đứng sẵn trong sảnh chờ của phi trường cứ hét giá 500 nghìn VNĐ sẽ có xe đi liền. Tôi không chịu, đành mang vác hành lý ra ngoài đường Trường Sơn đón taxi công cộng thì kết quả phải đợi thêm hơn tiếng đồng hồ mới có xe về nhà!”.

Một ngày giữa tháng 6/2024, trong vai một hành khách vừa xuống chuyến bay tại làn C đón taxi ở ga quốc nội Tân Sơn Nhất, tôi gặp một người tự xưng là nhân viên điều phối của hãng Cheap Taxi mời đi xe. Tôi giả vờ là người mới đến Sài Gòn lần đầu, không rành đường và nhìn thấy anh tài xế đã tắt đồng hồ tính tiền. Căn cứ theo Google Maps, quãng đường từ điểm đón taxi ga quốc nội về đến nhà một người quen ở Bình Thạnh là 13.2 Km. Theo bảng giá niêm yết của Cheap Taxi, giá mở cửa xe là 11 nghìn VNĐ, từ kilomet tiếp theo đến kilomet thứ 25 là 16.5 nghìn VNĐ. Như vậy với quãng đường di chuyển liên tục 13.2 km số tiền phải trả khoảng 220 nghìn VNĐ. Trong khi tài xế taxi đòi lấy theo giá cao hơn giá niêm yết 130 nghìn VNĐ

Hôm khác, vẫn trong vai một hành khách, tôi đặt xe taxi mang nhãn hiệu hãng SaigonTourist từ phi trường Tân Sơn Nhất về đường Hoàng Diệu, Thủ Đức. Trên đường đi đồng hồ tính tiền nhảy số loạn xạ, không nhìn rõ số kilomet và số tiền. Với quãng đường khoảng 23 kilomet, tài xế yêu cầu trả 490 nghìn VNĐ dù đồng hồ không nhìn rõ chữ số. Theo giá niêm yết dán trên xe là 16.5 nghìn VNĐ/km thì số tiền tôi phải trả khoảng 380 nghìn VNĐ nhưng tài xế nhất định đòi tính giá theo…đồng hồ. Tôi bèn dọa gọi điện thoại cho công an phường ở gần đó anh ta mới đồng ý nhận 390 nghìn VNĐ.

Hành khách luôn trong tình trạng căng thẳng khi có nhu cầu chờ đón taxi

Đủ chiêu trò… thổi giá!

Cũng ở Tân Sơn Nhất, không khó để mọi người nhìn thấy hình ảnh mỗi lần hành khách vừa “hạ cánh” và di chuyển ra sảnh đến cửa phi trường lại có rất nhiều tài xế taxi cứ xúm lại chèo kéo. Tiếp đó sẽ khá đen đủi cho những ai mang vác quá nhiều vali, hành lý bởi các tài xế taxi luôn hét giá gấp đôi với dạng khách này. Tìm hiểu cách thức chung để các tài xế bắt khách với giá đắt là họ thường lợi dụng việc nhiều người chưa cài App taxi công nghệ vào điện thoại cá nhân hoặc không rành đường Sài Gòn… Rồi hàng loạt lý do khác như lệ phí phi trường, lệ phí bãi đậu, lệ phí ra vào cổng, lệ phí cầu đường, lệ phí chiết khấu, quãng đường nhiều ổ gà, ổ trâu, thường xuyên ngập lụt là cách để họ bao biện khi khách hàng thắc mắc giá cả. Không chỉ vậy, một số tài xế taxi còn cố ý lắp thêm công tắc phụ ở phía dưới cần số để “can thiệp” đồng hồ tính tiền, làm tăng giá cước đi xe của khách hoặc không chịu bật App lái xe trong suốt cuộc hành trình. Lý giải việc này, một tài xế taxi tôi có quen của hãng Xanh SM cho biết sau khi khách đồng ý lên xe, một số tài xế tự tắt App để đỡ tốn chi phí chiết khấu cho hãng rồi lấy số tiền ấy bù vào tiền xăng (?).

Trong khi đó, theo thông tin báo chí, nhằm đáp ứng nhu cầu lưu thông của người dân và góp phần bảo đảm trật tự an toàn giao thông, Sở Giao thông Vận tải (Sài Gòn) có nhiều lần đề nghị Cảng vụ Hàng không miền Nam, cảng Hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất kịp thời sắp xếp linh hoạt các loại chuyên chở hành khách, yêu cầu các hãng phải cung cấp đầy đủ số lượng taxi để tránh tình trạng khách phải chờ đợi quá lâu. Tuy “chỉ đạo” là vậy nhưng suốt nhiều năm qua tình trạng hành khách mòn mỏi chờ xe, taxi hoạt động bát nháo ở Tân Sơn Nhất vẫn diễn ra. Thật khó tưởng tượng tại cửa ngõ Sài Gòn vẫn còn cảnh nhiều hành khách khệ nệ kéo, mang vác hành lý vì không thể đón xe bên trong phi trường mà phải cuốc bộ một quãng đường khá xa đến đường Trường Sơn cách đó 700-800 mét với hy vọng tìm xe taxi khác với mức giá phù hợp. Tuy vậy ở bên ngoài hành khách cũng chưa chắc dễ dàng tìm được một xe taxi nào có giá cả minh bạch!

Nhiều hành khách phải cuốc bộ ra khỏi phi trường mong đón được taxi “giá mềm”

Bài và hình NS

Đồi 30 Hạ Lào

baotreonline.com

Trương Duy Hy

Trần Vũ post 30th November, 2020

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Photo edit by Sơn râu

Kỳ 4

Tác Xạ — Thiết Lập Căn Cứ Hỏa Lực 31 Và A–Lưới.

Trong lúc vừa làm vị trí, Pháo Đội lại phải thi hành tác xạ ngay. Ngoài việc yểm trợ cho Tiểu Đoàn 2 Dù đưa hai Đại Đội tiến chiếm ngọn đồi hướng Đông Nam cách căn cứ Hỏa Lực 30 khoảng 1500 thước, chúng tôi còn tác xạ 100 quả đạn nổ vào tọa độ XD 526-470 để dọn sạch cho BCH Lữ Đoàn 3 Dù thiết lập căn cứ Hỏa Lực 31.

…Bấy giờ vào khoảng 19g00, Đại Đội 321 trên đường tiến lên hướng Đông Nam, gặp ngay một toán nhỏ Việt Cộng án ngữ. Bọn chúng đánh rời rạc rồi bỏ chạy. Trời tối dần, vị Đại Đội trưởng của Đại Đội này gọi máy về xin BCH/TĐ2 Dù cho tạm dừng nghỉ mệt để sáng hôm sau sẽ tiến lên đồi. Nhưng Trung Tá Thạch hạ lệnh phải chiếm cho bằng được đỉnh đồi ngay trong đêm ấy. Thế là cả Đại Đội hì hà hì hục tiến lên.

Bị đột kích bất ngờ, Cộng quân trên đồi bỏ chạy. Đại Đội 321 lượm được một ít vũ khí không đáng kể. Nhưng khi lục soát hết ngọn đồi mới cảm thấy ê người! Ngay giữa cây cao cành lá rậm rạp, Cộng quân đang thiết lập một đài quan sát vững chắc, chằng bằng những dây cáp sắt to như ngón tay cái! Địa thế ở đây rất thuận lợi cho việc quan sát cả một vùng rộng lớn, nhứt là đỉnh đồi cao hơn căn cứ Hỏa Lực 30. Với viễn vọng kính tốt, chúng có thể đếm được từng người tại căn cứ Hỏa Lực 30, quan sát được cả căn cứ Hỏa Lực 31 và A Lưới!

Sự kiện này làm cho tôi thán phục Trung Tá Thạch về việc ước lượng địch tình nhanh chóng, giàu kinh nghiệm, thể hiện bằng quyết định khẩn cấp tối hậu khi ra lệnh cho Đại Đội thi hành lúc sẩm tối…

Suốt ngày 9-2-1971, 6 khẩu đại bác đều thi hành tác xạ. Các Tiền sát viên gọi máy xin bắn ơi ới! Nhất là Tiền sát viên 331, 332 của Tiểu Đoàn 3 Dù. Đôi khi mục tiêu chỉ cách vị trí chúng tôi không quá 5, 6 cây số, nhưng các Tiền sát viên cứ đòi cho bằng được chúng tôi bắn. Tôi phải đích thân vào máy liên lạc và giải thích: Tôi không tiếc đạn, cũng không tiếc công, nhưng với những mục tiêu ấy có tầm bắn gần, các bạn hãy xin PĐC3 Dù 105 ly bắn. Vì lẽ đạn của chúng tôi khá nặng, mỗi quả cỡ đến 45 ký. Nay phải bắn quá nhiều những mục tiêu gần như thế, thì mai đây, khi các bạn đi xa hơn, các Pháo thủ thấm mệt làm sao thỏa mãn hoàn toàn cho các bạn được. Tôi yêu cầu các bạn nghĩ cho điều đó mà xử dụng khả năng 105 ly.

Mặc dù tôi giải thích trên máy PCR-25 – hẳn nhiều nơi sẽ nghe – nhưng các Sĩ quan Tiền sát vẫn khư khư đòi hỏi:

– Chúng tôi biết các anh vất vả, nhưng tiếng nổ 155 ly cùng sức tàn phá của nó mới làm cho Việt Cộng khiếp sợ. Các anh bắn chính xác 100%, bọn tôi đở điều chỉnh. Các anh hãy giúp chúng tôi đi…

Thật là vinh dự cho Pháo Đội tôi! Tin rằng những lời đối đáp giữa chúng tôi qua máy vô tuyến chắc là không giấu được ai!

Khoảng 10g00 hơn, một toán nhỏ thuộc Tiểu Đòan 2 Dù lục soát ven căn cứ, tịch thu được một ba lô tài liệu, báo hiệu cho chúng tôi biết rằng địch đang theo dõi sát chúng tôi, dầu chúng tôi mới đến chưa quá 30 tiếng đồng hồ. Hoặc cũng có thể chúng tôi đã đóng vị trí ngay vùng địch đang tập trung.

Tôi ra lệnh cho binh sĩ phải cố gắng làm hầm vững chắc khi rỗi rảnh và bắt buộc phải mặc áo giáp, đội nón sắt suốt cả ngày.

Đến 17g00, Tiền sát viên 331 báo về, kết quả yểm trợ của chúng tôi lúc 16g45, anh em đã tiến vào mục tiêu ở Tây Bắc căn cứ 31 lục soát và thu được:

Photo edit by Sơn râu

– 12 súng cối 82 ly

– 3 mặt nạ chống hơi độc

– 2 bản đồ

– 5 tên chết tại chỗ.

Cả hai ngày qua, nước chưa được tiếp tế, số nước dự trữ ở mấy ống nạp buộc theo càng súng, giờ đây đã cạn ráo! Một số binh sĩ xuống đồi tìm nước, nhưng nước quá hiếm, vài vũng nhỏ cạn như lòng nón sắt phủ đầy lá mục, múc hết ca nước phải ngồi chờ cho nước rỉ ra. Mùi nước hôi hám khó chịu, lại đục ngầu! Chỉ trông qua đủ ngán! Suối thì quá xa, nếu muốn đến ít ra phải tốn 1 buổi.

Tôi khẩn cấp đánh điện về BCH/TĐ xin ưu tiên tiếp tế nước. Riêng lương khô 4 ngày mọi người đã nhận rồi, kèm theo đấy lúc ra đi, chúng tôi có mang theo 6 ngày thực phẩm tươi. Do đó việc ăn được điều hòa không có gì trở ngại. Duy có vấn đề nước uống – phải nói là một vấn đề đã làm cho tôi lo lắng nhất.

Với quân số 75 người kể cả tôi, mỗi ngày tiêu thụ tối thiểu một móc hậu nước! Chưa hết, còn phải tu bổ đại bác hàng buổi sáng và sau mỗi lần tác xạ, đòi hỏi một lượng nước không phải là ít, làm tôi điên cả đầu.

Tối lại, tôi đi quanh ven rào xem cách bố phòng của binh sĩ Tiểu Đoàn 2 Dù. Một lần nữa, tôi thầm thán phục cách tổ chức chiến đấu vô cùng chu đáo của binh chủng này. Hầu hết các hầm cá nhân, các công sự đều có mái che, dùng cây rừng có đường kính từ 20 phân tây hoặc lớn hơn làm đòn tay, bên trên phủ vài lớp bao đất và đổ đất dày hơn 50 phân.

Hỏi ra tôi mới biết, Tiểu Đoàn 2 Dù cũng như bất cứ Tiểu Đoàn Dù nào, họ đều có mang theo máy cưa, ít ra là 2 cái. Riêng cá nhân có người đem theo lưỡi cưa, đến nơi họ dùng cây căng ra, biến chế thành một cái cưa thật tốt để xử dụng hạ cây.

Bên ngoài công sự, hàng rào kẽm gai và concertina được trải dày. Mìn claymore tự động đặt xa bên ngoài concertina và sát nhau. Mìn định hướng claymore điều khiển đặt cách các công sự không quá 20 thước, ngụy trang rất khéo.

Với cách bố phòng như thế, tôi chắc mẫm Việt Cộng có là mình đồng da sắt tưởng cũng không thể nào đột kích được.

…Theo yêu cầu của Sĩ quan liên lạc Lữ Đoàn 3 Dù với danh hiệu 330, chúng tôi chia thời gian bắn quấy rối suốt đêm, tạo một vòng đai an ninh, an toàn cho hai Đại Đội 331 và 332 hoạt động bên ngoài căn cứ Hỏa Lực 31.

6g00 sáng ngày 10-2-71, tôi thức dậy xét lại việc làm của Đài Tác xạ. Một vài điều bất như ý đến với tôi, trong cơn nóng giận tôi đã đánh TS C… một tát tai, TS mà tôi thương yêu nhất Pháo Đội, đã có lần tôi phê điểm: “Hạ Sĩ quan có khả năng ngoại hạng rất tốt…”. Với tôi, dầu có giỏi mấy đi nữa, nhưng thiếu thiện chí làm việc trong lúc cần thiết cấp bách, hoặc làm chưa xong đã nghỉ, để dành giờ sau mới làm tiếp thì tôi không bao giờ tha thứ. Mọi nỗ lực của Pháo Đội lúc bấy giờ, tôi thường nhắc đi nhắc lại là chỉ dành cho tác xạ và tu bổ công sự chiến đấu cũng như hầm ngủ khẩu đội, nhân viên. Tôi chỉ đòi hỏi ở quân nhân thuộc quyền tôi có từng ấy điều, nếu ai vô tình hoặc hữu ý không thi hành đứng đắn, tôi trừng phạt tức khắc.

Với tôi, đời sống tinh thần binh sĩ cũng như vật chất, tôi lo liệu từng ly từng tí. Tôi đã hai lần thề trước Pháo Đội: một lần tại đồi 37 Đại Lộc, một lần tại vị trí chiếm đóng tạm thời gần Cam Lộ rằng: Nếu tôi có tham nhũng của lính một tơ hào, một hột gạo, tôi sẽ bị chết vì quả đạn pháo kích đầu tiên của địch bắn vào vị trí. Bởi vậy, tôi cương quyết không tha thứ cho bất cứ nhân viên nào trong Pháo Đội làm việc lơ là tắc trách. Nhất là đối với vấn đề gia đình binh sĩ, tôi đã luôn luôn đặt tâm lưu ý giúp đỡ, lúc thì tiền bạc, lúc thì phép tắc, lúc thì bàn ghế… đó là chưa kể đến tổ chức tại Pháo Đội mà chén bát, đũa dĩa, ly tách của tôi và sĩ quan dùng thế nào thì binh sĩ dùng thế ấy.

Tôi tự tin, rất tự tin vào việc làm trong sạch của tôi để đổi lấy hiệu năng đáng kể của binh sĩ trong công tác do Pháo Đội giao phó. Đôi lúc tôi tự hãnh diện về việc làm của tôi, cho dù một số sĩ quan Tiểu Đoàn chế diễu tôi là “quân tử Tàu”…

Chỉ nội cái việc nóng tính của tôi sáng nay mà sau đó tôi hối hận cả buổi, tính tôi lại lắm mâu thuẩn đến thế!

Photo edit by Sơn râu

Để tránh bực bội, tôi bước ra khỏi Đài Tác Xạ đi quanh các khẩu, nhắc nhủ anh em tu bổ và thực hiện gấp nắp các hầm đạn, hầm nạp ven bìa súng.

Nhìn về phía BCH/TĐ2 Dù, chiếc xe ủi đất đã đào xong các hầm chỉ huy, hầm thuyết trình, bệnh xá… Tôi đến gặp Trung Tá Thạch xin xử dụng xe ủi đất làm ụ súng đào vài cái hầm đựng nạp và đạn cho Pháo Đội. Trung Tá Thạch thuận cho mượn, nhưng phải chờ sau khi công binh làm xong hầm cho Pháo Đội C/3 Dù của Trung Úy Trí. Tôi ra về với ý nghĩ “con nuôi” đành chịu vậy.

14g30, hơn 10 chiếc Chinook tiếp tế cho Pháo Đội 1000 quả đạn 155 ly, một móc hậu nước. Cùng lúc một mặt nhân viên phải tác xạ yểm trợ, một mặt lo tiếp đạn và nước, vất vã không thể tưởng tượng được.

Tại hậu cứ Khe Sanh, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng vào máy bắt tôi phải thu xếp với bất cứ giá nào để tất cả lưới và móc hậu nước cùng 6 dây câu súng gởi trả lại Khe Sanh trong chuyến tiếp tế cuối cùng trước 17g00. Nếu không, Trung Tá Phi (ở Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù) sẽ đề nghị cho tôi ở lại Lào 6 tháng chiến đấu, không phép tắc gì ráo! Tôi bực mình hết sức! Tôi thầm nghĩ: Hóa ra ở BCH hành quân chẳng có ai hiểu nỗi khó khăn, vất vã của kẻ đang chiến đấu ngoài tiền tuyến. Đối với Pháo Đội 105 ly Dù, nếu họ có tiếp nhận 20 kiện hàng, chỉ trong vòng 1, 2 tiếng đồng hồ sau, họ có thể dọn sạch bãi đáp. Chứ với Pháo Đội 155 ly của tôi, mỗi quả đạn nặng không dưới 43 ký, lại được kết 8 quả trên cùng một palette, niền bằng thép! Không có xe Wrecker bốc hàng thì làm sao có thể rở hết với một thời gian ngắn thế được.

Tôi ngao ngán nhìn đống đạn, nạp, lắc đầu! Thiếu Úy Thiện, Toại cùng TSI Lục được đặc trách về vấn đề này hì hục đốc thúc anh em công tác.

Lại thêm một khó khăn nữa là đạn, nạp, đầu nổ, hỏa tiêu chẳng bao giờ được tương ứng. Phải mất một thời gian kiểm kê mới có được con số chính xác để báo cáo. Ấy vậy mà Chinook chưa kịp thả đạn xuống bãi đáp đã nghe BCH/TĐ3 PB Dù đóng tại căn cứ Hỏa Lực 31 và BCH/TĐ gọi tôi đi báo cáo số lượng tiếp nhận ngay.

Nhờ nỗ lực tối đa, từ 14g30 đến 17g00, nhân viên Pháo Đội lặn ngụp trong bụi mù do Chinook khuấy lên, chúng tôi hoàn tất thu góp từng đống lưới, buộc chặt lại để nhờ chuyến Chinook cuối cùng câu về. Nhưng phi công trên chuyến Chinook thích thì làm, không thích thì thôi. Họ chỉ câu móc hậu nước còn lưới đạn lại lơ đi! — Dù lúc bấy giờ Thiếu Úy Thiện dang tay ra thủ hiệu cho chúng móc lên, song không được chúng đáp lại, vù vù bay về hướng Đông Nam!

Photo edit by Sơn râu

Trở lại BCH/TĐ2 Dù than phiền với Trung Tá Thạch, Trung Tá cũng tỏ ý bất bình vì hậu cứ không có “Quan sát viên” tại chỗ để thông cảm nỗi khó khăn của chúng tôi!

…Nghe chúng tôi vừa nhận thêm đạn, thôi thì các Tiền sát viên xin tác xạ! Đã mệt vì công việc vừa làm, bây giờ lại phải bắn, chẳng rảnh được tí nào. Tôi khích lệ anh em bằng những lời giải thích chân thành và phân phối thêm trái cây, lương khô cho anh em ăn “khuya”. Thật tình tất cả chúng tôi, mọi người như một đều chấp nhận những nỗi gian khổ đó, tích cực tác xạ trong niềm vui hãnh diện vì những lời khen ngợi của Tiền sát viên về hiệu quả chính xác của đại bác, đạn Pháo Binh.

Rạng ngày 11-02-1971, từ 6g00 chúng tôi đã nhận được điện văn của Sĩ quan liên lạc 330 gởi về, trong đó yêu cầu chúng tôi sẵn sàng yếu tố tác xạ T.O.T. (1) vào tọa độ XD 510-500 khi có lệnh. [(1) T.O.T. viết tắt chữ “Time On Target” – Tác xạ này được các Pháo đội, các Trung đội Pháo binh tính kỹ về thời đạo, thời cổ (nếu có) để đưa quả đạn đến nổ tại mục tiêu cùng một lúc].

Thiếu Úy Ngân đặc trách yếu tố, khẩn cấp bắt tay vào việc cùng TS Toại, Lương, Chất, HSI Bách, Vinh. Sở dĩ tôi chỉ thị Thiếu Úy Ngân chuyên trách về các điểm tập trung đã bắn, vì hàng trăm điểm tiên liệu thay đổi hàng buổi rất khó khăn dễ nhầm lẫn.

Đúng 8g30 Pháo Đội bắt đầu khai hỏa. Hàng loạt đạn bay vào mục tiêu, tiếng nổ rền cả một vùng, bụi đất tung lên quyện theo các cột khói cao, lan rộng ra dần… Từ vị trí Pháo Đội có thể nhìn thấy bằng mắt trần, vì khoảng cách không quá 9 cây số. Sau khi bắn hết 50 quả đạn nổ, chúng tôi được lệnh ngưng tác xạ; tức khắc 2 Đại Đội Dù cùng với Tiền sát viên 331-332 nhào vào mục tiêu lục soát, và thu được một số quân dụng đáng kể: 1 B40, 1 dàn hỏa tiễn 122 ly, 14 súng cối 82 ly, 6 xe Molotova đầy nhóc tiếp liệu phẩm, 30 bao gạo.

10g30 chúng tôi quay 2 khẩu về hướng Đông Nam, yểm trợ cho Đại Đội 321 của Tiểu Đoàn 2 Dù nhích dần… nhích dần… sâu về hướng Nam lục soát. Kết quả thu được 2 súng phòng không của Cộng quân tại đây.

Chiều lại, chúng tôi tiếp tục nhận thêm 600 quả đạn, nạp và móc hậu nước. Số lưới, dây câu súng gởi trả về Khe Sanh ngay khi tiếp nhận móc hậu nước đầu tiên. Thật nhẹ cả người! Dầu vậy, cả 10 lưới đạn còn tại bãi đáp đã đặt chúng tôi trước một “vấn đề” mới!

May là hôm nay BCH/TĐ2 Dù chọn làm bãi đáp trực thăng về hướng Đông, cách vị trí Pháo Đội tôi khoảng 50-100 thước, chúng tôi tránh được nạn gió lốc do chong chóng của Chinook tạo ra.

Bãi đáp có chiều rộng 50 thước đó thật lý tưởng, chúng tôi không còn bị uy hiếp bởi bụi mù, đất, sỏi tràn ngập khắp vị trí nữa.

Sau bữa cơm tối, tôi đích thân thảo một công điện “lịch sử” — Tôi dùng chữ “lịch sử” với sự đồng ý của các Sĩ quan hiện diện tại hầm — gởi về BCH/TĐ44 PB với nội dung:

Trân trọng kính trình Quý BCH:

Thứ I: Việc yểm trợ cho các đơn vị bạn thu đạt nhiều kết quả tốt. Có nhiều uy tín với các đơn vị Dù. Sự chính xác đạt 100%. Tiền sát viên Dù không cần điều chỉnh tác xạ.

Thứ II: Vì kết quả đó nhiều mục tiêu không quá 5 cây số đối với Pháo Đội Tiền sát viên Dù không chịu xin 105 ly tác xạ mà đòi Pháo Đội (155 ly) tác xạ cho bằng được, Pháo Đội rất vất vả.

Thứ III: Pháo Đội thành thật cám ơn Thiếu Tá TĐT và các Sĩ quan Tham Mưu  đã lo cung cấp đầy đủ nhu cầu thiết yếu.

Thứ IV: Khẩn xin BCH đặc biệt lưu ý cung cấp thường xuyên mỗi ngày một móc hậu nước như đã thực hiện trong mấy ngày qua.

Hết.

 Theo nội dung công điện này, anh em Sĩ quan chúng tôi ngồi đấu láo mỗi người một ý:

Lân: Chắc Thiếu Tá và các Sĩ quan tham mưu không khỏi cười lời văn trong công điện!

Thiện: Đúng là công điện “lịch sử” tự “ca” mình rồi cuối cùng chỉ xin có mỗi một đặc ân “nước uống”! Khôi hài là ở chỗ đó.

Ngân: Đại bàng có làm thế ở nhà mới biết mình cần nước như thế nào!

Toại cười mỉm chi, ít nói nên cũng không buồn phát biểu ý kiến.

Ngày 12-2-71 nhân xe ủi đất “thất nghiệp”, tôi xin dùng công tác cho Pháo Đội. Sự thật, với một vị trí Pháo Binh, ngay từ lúc chưa đặt súng, nếu đã không dùng xe ủi đất làm ụ súng thì sau khi đặt súng, việc làm ụ súng bị cấn cái, khó khăn, nhất là vị trí quá hẹp như vị trí căn cứ Hỏa Lực 30 này. Lại nữa, thời gian 4 ngày qua vì sinh mạng của pháo thủ, tôi không thể chờ xe ủi đất để thực hiện các hầm ngủ cho anh em. Do đó, dầu cho bận rộn, mệt nhọc mà pháo thủ phải quần quật làm việc suốt ngày đêm, tôi đã bắt thực hiện bằng tay hầu hết các hầm ngủ, hầm đạn, hầm nạp, hầm chỉ huy, đài tác xạ, truyền tin…

Bây giờ có xe ủi đất, tôi chỉ xử dụng ủi quanh những chỗ nào có thể ủi được để bảo vệ súng. Khẩu 6 và khẩu 1 chung một ụ! Trường hợp hy hữu có một không hai trong “nghề pháo thủ” mà chính tôi chứng kiến, thực hiện! Sau đấy, tôi đào thêm được 4 hầm chứa nạp và đạn ven bãi đáp trực thăng. Nhờ đó mà sau này Pháo Đội tránh được tai nạn khủng khiếp, cơ hồ có thể hủy diệt trọn vẹn Pháo Đội tôi.

Thật ra, Cộng quân chưa hề pháo kích vào Căn cứ 30 – kể đến phút này – nhưng tiên liệu đến những nguy hiểm có thể xảy ra đối với một vị trí quá chật hẹp nên tôi quyết định cho đào hầm đạn và hầm nạp đạn xa như thế. Hẳn nhiên, trong tương lai pháo thủ phải vác đạn dài đường, vất vả, nhưng tôi không thể nào có một quyết định khác. Nhờ có 4 hầm này, chúng tôi có thể tồn trữ tại mỗi hầm ít nhất 600 quả đạn hoặc 800 ống nạp.

Hoàn tất công tác, Trung Tá Thạch tỏ ý hài lòng lắm. Ông gọi tôi qua cho bao cát, PSP để tu bổ thêm các hầm ngủ.

Khoảng 10g00, Trung Tướng Dư-Quốc-Đống Tư Lệnh Nhảy Dù, đến viếng thăm Tiểu Đoàn 2 Dù. Tướng Đống không vào hầm chỉ huy, ngồi xổm ở bãi đáp trực thăng, trải bản đồ trên đất, nghe Trung Tá Thạch trình bày diễn tiến về chiến đấu của các Đại Đội tiền đồn.

Tình cờ tôi đi ngang chỗ ngồi của Trung Tướng. Tôi đứng nghiêm chào. Trung Tướng nhìn tôi:

– Anh làm gì ở đây?

Có lẽ vì tôi mặc bộ quân phục Thủy Quân Lục Chiến. Tôi trả lời:

– Thưa Trung Tướng, tôi làm Pháo Đội Trưởng Pháo Đội C thuộc Tiểu Đoàn 44 Pháo Binh.

Nhân tiện, tôi chụp được một “pose” khi Trung Tướng nhìn vào ống kính. Xong, tôi đến đứng cạnh Trung Tá Thạch nhìn xuống tấm bản đồ có nhiều sắc xanh đỏ ghi chú bằng bút chì mỡ do Sĩ quan Ban 3 Tiểu Đoàn 2 Dù thực hiện.

Trung Tá Thạch tường trình diễn tiến các hoạt động thường nhật một cách tỉ mỉ. Bỗng tôi thấy Trung Tướng hơi cau mặt hỏi:

– Việt Cộng đâu mà nhiều thế? Tại sao anh không cho con cái lục soát rộng ra? Cứ dậm chân một chỗ thì còn làm ăn gì được? …đã 4 hôm rồi mà!…

– Trình Trung Tướng, chiều hôm qua tôi có cho một thằng con nhích xuống phía Nam (Vừa nói, Trung Tá Thạch vừa đưa tay trỏ về hướng tiền đồn)… nhưng mới xuống lưng chừng triền núi, bị chúng ám ngữ thụt B40 và 57 ngay. Còn phía Tây tiền đồn Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn địch đóng. Nếu dốc hết con cái xuống đồi, tôi e bọn chúng bọc lên chiếm tiền đồn, mình khó đẩy lui. Vả lại tiền đồn bên kia cao, có lợi thế… Chính chúng tôi đã khám phá ở đó một đài quan sát kiên cố, hôm đặt chân xuống căn cứ này…

Những điều trình bày của Trung Tá Thạch tuy đúng sự thật, song xem ý Trung Tướng Đống vẫn không bằng lòng. Tôi thưa tiếp:

– Trình Trung Tướng, không biết lực lượng chúng bao nhiêu, nhưng lúc tôi cho trực xạ qua bên triền núi kia thì thấy xác Việt Cộng tung lên, đứng phía BCH/TĐ quan sát rõ lắm…

Lời giải thích của tôi, không biết có đáp ứng sự cần thiết để biết rõ địch tình quanh căn cứ Hỏa Lực 30 cho Trung Tướng hay không, nhưng sau đó, Trung Tướng không đề cập đến nữa.

Trước khi ra về, Trung Tướng bắt tay tôi và khích lệ:

– Ông pháo binh cố gắng mà bắn nghe! Kết quả tốt lắm đó…

Chiều, chúng tôi tiếp nhận cả 1000 quả đạn nữa. Thấy đạn thả xuống bãi đáp mà hết muốn ăn uống gì cả, vì quá mệt trong các cuộc tác xạ liên tục. Đạn nhận nhiều bao nhiêu bắt buộc chúng tôi phải tác xạ nhiều bấy nhiêu. Trong lúc đó, nước tiếp tế cho chúng tôi lại có hạn: mỗi ngày một móc hậu!

Việc phân phối nước cũng khó khăn không kém. Hễ mỗi lần móc hậu nước được thả xuống bãi đáp, lập tức Thiếu Úy Thiện và Thiếu Úy Toại phải túc trực tại chỗ với “lon lá” đầy đủ để giữ nó. Nếu chậm chân anh em Dù sẽ đến xin ngay! Mặc dù Pháo Đội C3 của Tiểu Đoàn 2 Dù cũng được tiếp tế nước bằng móc hậu như Pháo Đội tôi. Nhưng việc tiếp tế không đều đặn, bữa có bữa không. Riêng Pháo Đội tôi nhờ có sự tận tâm giúp đỡ trực tiếp của Thiếu Tá Nguyễn Văn Tự Tiểu Đoàn Trưởng, Đại Úy Phan Quang Thông Trưởng Ban 3, Đại Úy Phạm Ngọc Diệm và toàn thể Sĩ quan Tham mưu đóng ở Khe Sanh lo cho hàng ngày, nên có chuyến tiếp tế là Pháo Đội tôi có nước.

Trong lúc khan hiếm nước như thế, BCH/TĐ 2 Dù còn phải lo cho Đại Đội đóng tiền đồn hướng Đông Nam! Mỗi ngày, tôi phải cung cấp 40 ống nạp không để Trung Tá Thạch chứa nước tiếp tế. Do số lượng nước của Tiểu Đoàn 2 Dù không còn đủ dùng cho BCH, đa số binh sĩ Nhảy Dù phải tự túc đi tìm nước, tìm rất xa và nước rất bẩn, độc, phải nhờ vào thuốc lọc mới dám dùng.

Bắt đầu từ đây, cá nhân tôi mang theo tất cả những hình ảnh vị tha đẹp đẽ nhất của anh em binh sĩ Dù…

Đúng là chiều nay, khi móc hậu nước được kéo ra từ bãi đáp vào vị trí, tôi mặc áo giáp, đội nón sắt ra “giữ” nước! Tuyệt đối không cho bất cứ một ai xin, dù là pháo thủ của tôi. Tôi ra lệnh tất cả các khẩu đội, nhân viên Truyền tin, Tác xạ, linh tinh… vác đến bên tôi mỗi toán 5 ống nạp. Lần lượt tôi phân phối với lời “rao”:

– Mỗi toán xử dụng 5 ống nước trong một ngày. Riêng mỗi khẩu thì 3 ống dùng để thong nòng đại bác, lau buồng đạn, 2 ống để nấu nước uống và nấu nước đổ vào gạo sấy làm cơm. Khẩu nào, toán nào dùng nước để tắm rửa, giặt giũ, tôi sẽ phạt nặng và cúp phần nước vào ngày mai…

Tôi chua xót nhìn Pháo thủ tôi với đôi mắt sáng rực lên vì thấy nước! Sự thèm thuồng hiện rõ trên nét mặt! Nhưng làm sao bây giờ? Tôi không thể cấp phát cho mỗi người một ống nước!

Loay hoay phân phối nước, một binh sĩ của Tiểu Đoàn 2 Dù khệ nệ vác một ống nạp đến, nhẹ nhàng đẩy vào vòi nước. Tôi khóa vòi lại và hỏi:

– Sao bên anh có tiếp tế mà anh lại không xin?

– Xin không được, nước còn để dành tiếp tế tiền đồn.

– Thì xin Pháo Binh Dù?

– Sức mấy họ cho! Ở đây mà Đại Úy quý nước hơn người!…

Tôi lại phải giải thích dài dòng:

– Đấy, các anh thấy, mỗi buổi sáng, mỗi khẩu đại bác phải có 6 người mới thông nòng nổi. Và mỗi lần thông sạch một cái nòng, tốn ít nhất 2, 3 ống nước. Đó là chưa kể sau mỗi lần bắn phải đổ nước lau buồng đạn. Súng bắn có tốt cho các anh hay không còn do sự tu bổ. Hiện tại thì nước rất cần thiết để tu bổ. Anh phải thông cảm thế…

Cuối cùng, tôi vẫn nhất quyết không cho, mặc dầu anh ta lãi nhãi trách oán tôi. Tôi nghĩ, nếu cho anh ta được, tất tôi phải cho hết 3 Đại Đội Dù thì còn nước đâu mà tu bổ đại bác. Anh ấy hằn học lắm, song tôi đành cắn răng nhận những lời hờn trách đó. Không phải tôi so sánh, cùng binh chủng với anh ta còn không cho nước thay huống hồ là tôi! Nhưng sự thật vì tác xạ quá nhiều, bụi đất do tác xạ, do phi cơ tiếp tế đáp xuống bãi đáp hàng ngày đã làm cho các Khẩu Đội tốn rất nhiều nước. Điều đó hiển nhiên xảy ra trước mắt mọi người. Vả lại, việc tu bổ súng cũng chỉ có mục đích để giữ gìn súng tốt hầu tác xạ yểm trợ cho chính các đơn vị Dù của anh ấy…

Khoảng xế chiều, Đại Đội 321, 322 chạm địch tại tiền đồn, chúng tôi ra sức bắn yểm trợ tối đa với nạp 3. Chỉ trong chốc lát, chúng tôi được báo kết quả:

– Tịch thu: 9 trung liên, 2 CKC, 7 B40, 33 AK, 1 bản đồ, 30 Cộng quân chết tại chỗ.

Tối lại, Đại Tác xạ nhận nhiều điểm bắn quấy rối, các khẩu chia nhau thay phiên tác xạ, từng đầu giờ một… (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: CÁNH THƯ NHÀ.

Trần Vũ đánh máy lại tháng 10-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

(*) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).

(**) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf. 

Photo edit by Sơn râu

Đồi 30 Hạ Lào

baotreonline.com

Trương Duy Hy

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Kỳ 3

Khái niệm Căn Cứ Hỏa Lực, Fire Suppport Base do Lục quân Đức phát minh trên chiến trường Nga, được quân đội Pháp áp dụng lần đầu tiên tại Hòa Bình, sau đó ở Nà Sản. Nhiều căn cứ gộp lại thì thành một Tập đoàn Cứ điểm, như ở Điện Biên Phủ. Hoa Kỳ vẫn áp dụng tại A-Phú-Hãn.

Tuy nhiên, cách thực thi có khác: Quân Đức yểm trợ Căn Cứ Hỏa Lực bằng các Xa đoàn Thiết giáp. Quân Pháp trông cậy vào chính hỏa lực pháo binh của căn cứ giúp phòng thủ. Riêng Hoa Kỳ chủ yếu oanh kích. Nhưng nếu Khe Sanh là một chiến thắng, thì ngược lại, Hạ Lào là một thất bại.

Nhiều nguyên nhân. Với mục đích tiêu hủy kho tàng Bắc-Việt trên đất Lào, Lam Sơn 719 được thiết kế như một Raid. Nhưng là một Raid cấp quân đoàn, khác với mô thức thông thường của Raid là small format. Raid, trên mặt hành quân phải là một Operational Warfare Mission, tức phải bất ngờ, ngắn hạn và thần tốc. Cả 3 yếu tố trên không hội tụ ở Hạ Lào. 

  • Phía Bắc-Việt biết trước kế hoạch.
  • Việc thiết lập nhiều Căn cứ Hỏa lực dọc trục tiến quân khiến cuộc hành binh kéo dài quá lâu trên một tháng (từ 8 tháng 2 đến 23-3-1971), khiến Lê Trọng Tấn đủ thời gian tập trung 5 sư đoàn chính quy 2, 304, 308, 320, 324 phản công.
  • VNCH dùng duy nhất 1 Liên đoàn Biệt Động Quân với vỏn vẹn 2 tiểu đoàn để bảo vệ cạnh sườn phía Bắc. Một lá chắn quá mỏng. Ngay cả nếu Lam Sơn 719 đã diễn ra thật nhanh, tấn công vũ bão rồi rút về tức khắc bằng trực thăng, lá chắn này vẫn mong manh. Trong thực tế tiến quân khá chậm đã khiến mạn Bắc trở nên vùng nguy hiểm, nơi phát xuất các đợt tấn công biển người của Lê Trọng Tấn nhắm vào sư đoàn Dù.

Sau hết, chính áp lực Hoa Kỳ muốn mua thời gian rút quân khỏi Nam-Việt đã khiến Quân lực VNCH, thay vì phòng ngự với tất cả ưu thế, phải phiêu lưu sang đất Lào, trên một trận địa rừng rậm bất lợi, phụ thuộc hoàn toàn vào không trợ của Hoa Kỳ. Lam Sơn 719, ngay từ đầu, đã mang mầm của thất bại.

Hồi ký “Tôi Tham Chiến Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30” của Đại úy Trương Duy Hy ghi lại những ngày này, với ưu điểm: Giúp nhìn thấy hoạt động hàng ngày, thậm chí từng giờ của một đơn vị VNCH vào sâu trong đất Lào, trên một cao điểm 727 thước, với tất cả hiểm nguy của nhiệm vụ. Tuy không đề cập đến khía cạnh chiến lược như đã tự xác định trong Thay Lời Tựa, Đại úy Hy vẫn cho cái nhìn toàn cảnh chung quanh Đồi 30. Với chương thứ nhì Vượt Biên Giới, người đọc bắt gặp những ưu tư của Đại úy Hy buổi sáng đầu tiên nhận vị trí và tuy vô cùng khó khăn, Pháo đội C của Tiểu đoàn 44 Pháo binh chỉ mất 2 tiếng rưỡi từ lúc trực thăng Skycrane thả đại bác cho đến khi sẵn sàng khai hỏa. Nói lên khả năng, kỷ luật, cùng nhiệt tâm của binh sĩ.

Trận chiến sẽ diễn ra trong các chương sau, những tuần lễ kế tiếp.

[Trần Vũ]

—oOo—

Trương Duy Hy

VƯỢT BIÊN GIỚI

Rạng ngày 8-2-1971, ngày Lịch sử của cuộc vượt biên Lào-Việt.

6g00 sáng, tôi ra lệnh thu xếp hành trang gọn gàng, 6 khẩu đại bác xếp hàng cẩn thận và phân phát mỗi quân nhân 4 ngày lương khô. Giao Trung Úy Lân cùng các Sĩ quan Trung Đội Trưởng ở lại cắt đặt việc móc súng, móc hàng.

Đúng 8g00, tôi nghe đài phát thanh Sài Gòn lên tiếng về cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu hạ lệnh tấn công sang Hạ Lào. Đồng thời Tổng Thống long trọng xác nhận: “…đây là cuộc hành quân có giới hạn trong thời gian lẫn không gian với mục tiêu duy nhất và rõ rệt là phá vỡ hệ thống tiếp liệu và xâm nhập của Cộng Sản Bắc Việt trên phần đất Ai-Lao mà chúng đã chiếm đóng và xử dụng từ nhiều năm nay để tấn công vào VNCH chúng ta. Ngoài ra, VNCH không có một tham vọng đất đai nào tại Ai-Lao và không khi nào xen vào nội bộ chính trị của vương quốc Ai-Lao vì VNCH luôn luôn tôn trọng nền Độc Lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của Vương quốc Ai-Lao…”

Một tiếng đồng hồ sau đấy, tôi và 4 nhân viên gồm có Trung sĩ (TS) Lương, Hạ sĩ Nhất (HSI) Bách, TS Ngân, TS Quá ra phi trường trực thăng cùng với Toán Tiền Thám của Pháo đội C của Tiểu đoàn 3 Pháo binh Dù (PĐC/3 Dù) và Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn 2 Nhảy dù (BCH/TĐ2 Dù).

9g00, trực thăng bốc chúng tôi vượt biên giới.

Ngồi trên trực thăng nhìn xuống, Quốc lộ số 9 thu nhỏ dần, nhỏ dần… thành một đường ngoằn ngoèo khuất lấp, ẩn hiện kéo dài về hướng Tchépone, mất hút ở cuối tầm mắt… Núi rừng trùng điệp, không một thôn xóm, làng mạc… Sau 25 phút bay, chúng tôi được thả xuống một ngọn đồi toàn lau lách, chứ không có cây cao rậm rạp. Nhìn vào bản đồ, đối chiếu địa thế chung quanh và phối hợp với sự quan sát của phi công, chúng tôi xác định được điểm đứng trên tọa độ XD 599-465 với cao độ 727 thước, cách biên giới Lào-Việt cũng như cách Quốc lộ 9 khoảng hơn 8 cây số đường chim bay. Nơi này được đặt tên là: “CĂN CỨ HỎA LỰC 30”.

Trong lúc vạch cỏ lau quan sát địa thế, về mé Nam, có một cái hầm ai đã đào sẵn, vết đất từ hầm vứt lên trên có vẻ mới khoảng không quá 1 tháng trở lại. Hầm vuông, mỗi bề 5 tấc, sâu vừa đứng đến ngực. Tôi thầm nghĩ có lẽ là Tổ báo động phi cơ của Cộng quân đặt tại đây.

Loay hoay trên đồi, tôi, Trung Úy Trí và Trung Úy Thạch phân chia vị trí. Trí chiếm từ đỉnh đồi thẳng xuống triền phía Tây. Pháo Đội chúng tôi từ đỉnh đồi dọc xuống hướng Đông. Giữa vị trí của tôi và Trí, theo mé triền hướng Nam, Trung Tá Thạch chọn đặt BCH/TĐ2 Dù.

10g30, Sky-Crane lần lượt câu súng lên. Tôi đốc thúc và cố gắng hết mình, mong đốt giai đoạn thực hiện khẩn cấp việc gióng hướng cho khẩu đại bác 155 ly đầu tiên đặt xuống đồi. Nhưng vô hiệu! Lần đầu tiên trong đời binh nghiệp, đây quả là một lần cho tôi kinh nghiệm.

Thật vậy, trước lúc di chuyển, tôi ra lệnh nhân viên đài Tác xạ phải thiết lập trước xạ bản, cụ bị đầy đủ vật dụng dùng trong việc thuyết trình, đến nơi đặt giác bàn gióng hướng ngay… Nghĩa là tôi cẩn thận xếp đặt công việc không để xảy ra một sơ sót mảy may nào cho công tác chiếm đóng vị trí mới, hầu có thể tác xạ khẩn cấp – ấy vậy mà rồi ra, công sắp đặt trước hóa thành công cóc! Máy bay Sky-Crane với sức quạt quá mạnh của chong chóng, hết chiếc này đổ vật dụng đến chiếc khác đổ đại bác… kèm theo, các trực thăng tải quân hạ cánh liên tục chuyển đến đồi toàn bộ Tiểu Đoàn 2 Dù (xem hình phần cuối sách)… Đất, sỏi tung lên mù mịt. Một vài đám lau cháy dở do pháo binh, phi cơ oanh kích dọn bãi đáp, nay được Sky-Crane quạt cho, thôi thì tha hồ bốc thành ngọn lửa cháy lan cả đồi. Phần lo tiếp nhận súng, phần lo chữa lửa, chẳng còn ai rảnh tay để thu xếp vật dụng. Nhờ quân nhân trong Pháo Đội trực thăng vận tiếp theo sau tới khoảng 30 phút, nhào đến kịp thời dập tắt lửa. Nếu không, không biết làm sao chu toàn công việc.

Cho dù lúc bấy giờ không có lửa cháy lan, chúng tôi cũng không thể thực hiện việc gióng hướng súng trước sức mạnh của gió do Sky-Crane tạo ra. Đất núi tại chỗ đáp mà còn bị gió cào, bốc lên, thì làm sao ngồi ở càng súng để nhìn vào máy gióng hướng! Tôi lo ngại! Riêng Trung Úy Lân vẫn bình tĩnh góp ý rằng: Hãy đợi đến lúc tiếp nhận đủ súng rồi gióng hướng luôn một lần.

Mãi đến 13g00, 6 đại bác 155 ly của tôi mới “an tọa” tại vị trí quá hẹp, tôi phải sắp xếp vất vả lắm mới có chỗ mở càng.

Tôi hết sức bực mình ngay từ phút đầu. Vì trên nguyên tắc, toán tiền thám của tôi có nhiệm vụ chọn vị trí thuận lợi cho việc thiết lập vị trí Pháo Binh. Nhưng chúng tôi lại được thả ngay trên một ngọn đồi do Thượng Cấp định sẵn – dù muốn, dù không tôi cũng không thể xin đổi dời chỗ khác được. Phương chi, lúc thả toán tiền thám của tôi, lại thả luôn BCH/TĐ2 Dù… Chỉ một việc lo cắt đặt các Đại Đội này, đã làm cho Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Dù không còn thì giờ hội ý kỹ với chúng tôi về vị trí đại bác nữa.

Trung Úy Trí thích cao địa, nhất là mặt phía Tây dốc rất đứng, địch khó đột kích. Tôi an phận của kẻ tăng phái vậy.

Hướng bán chính thức của Pháo Đội, sẽ theo sự phối trí hỏa lực pháo của Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù và PĐC/3 Dù khi có lời yêu cầu. Song trên thực tế, Trung Úy Trí bàn với tôi, dành cho tôi tác xạ hướng Tây và Nam, còn Trí tác xạ hướng Tây và Bắc. (Hướng Bắc là hướng hai căn cứ Ranger North và Ranger South của Biệt Động Quân, hướng Tây về Tchépone và Nam là hướng A-Lưới).

6 khẩu đại bác 155 ly của tôi đặt thành hình cung nửa vòng tròn từ Nam lên Bắc theo thứ tự khẩu 5 do TS Ngân Khẩu Trưởng, Khẩu 6 TS Đợi, Khẩu 1 TS Nhơn, Khẩu 3 TS Hóa, Khẩu 2 TS Thìn và Khẩu 4 HSI Cũ.

Riêng Khẩu 6 và Khẩu 1 hai móng càng chỉ cách nhau 50 phân! Tóm lại, vị trí pháo tại căn cứ hỏa lực 30 thật là bất lợi vì quá chật hẹp. Hầm ngủ của nhân viên khẩu và các hầm đạn khẩu không thể nào làm xa nhau được.

Về phần cán bộ, tôi cắt đặt nhiệm vụ rõ ràng cho từng người:

– Trung Úy Lân phụ tá tôi và kiểm soát tác xạ.

– Thiếu Úy Ngân đặc trách đài tác xạ, theo dõi và làm yếu tố tác xạ cho từng mục tiêu, ghi chú điểm đứng Tiền sát viên từng phút một.

– Thiếu Úy Thiện phụ trách về đại bác, Sĩ quan an ninh tác xạ kiêm đạn dược.

– Thiếu Úy Toại đặc trách thu dọn tiếp liệu phẩm của các loại 1 đến 4.

– TSI Bình nuôi ăn và chu toàn nhiệm vụ của một Thường Vụ Pháo Đội.

(Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: TÁC XẠ, THIẾT LẬP CĂN CỨ HỎA LỰC 31 VÀ A LƯỚI.

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 10-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.  

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf. 

Đèn Cần Giờ

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc
Xới Đất xuất bản 1968

Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Black Orchid photo edit by Sơn râu

Phần 3.

Lan rừng

Ông Xương Ký không bớt tốc lực, quanh gấp để chạy vào sân nhà và nơi đó, ông thắng xe một cái két rít dài lên.
Nhưng ông thất vọng lắm. Nơi thềm nhà, chỉ có vợ chồng ông Trần đứng đợi ông thôi. Ông chạy xe một cách thể thao như vậy cốt để cho một người kia thấy, nhưng người đó lại vắng mặt.
Ông hơi lo trong bụng và tự hỏi: “Hay là nàng bịnh thình lình?”. Ấy, vào phút chót, con người hay bị hụt giò như thế. Ông lại bàn thầm: “Hay nàng giả đau để có cớ thối thác? Nhưng không, xem ra, nàng đã nhẫn nại chịu số phận rồi kia mà!”.
Người khách đi xe hơi, tươi nét mặt ra và chào chủ nhà rất lễ phép. Vợ chồng ông Trần cũng đủ lễ trả lại, nhưng nét vui tươi của hai ông bà rất là gượng gạo.
Ông Trần hỏi cho có chuyện mà nói, để khách đỡ bỡ ngỡ:
– Xe không có mui à?
– Thưa có chớ. Nhưng chiếc xe nầy kiểu tối tân, mui xe bí mật và ngộ nghĩnh lắm. Xe mới qua tới là tôi lấy ra liền.
Đó là một chiếc xe hình dáng vừa vạm vỡ lại vừa nhanh nhẹn, sơn màu lam lợt. Đuôi xe hơi dài quá. Xe lại giống hệt xe trần, không thấy dấu vết sườn mui đâu cả.
Ông Xương Ký chỉ giải thích mập mờ như thế mà không chỉ coi mui ấy giấu ở đâu. Ông lại hỏi một câu cốt dang ra xa đầu đề:
– Thưa bà, cô Thu sửa soạn chưa xong, hở bà?
– Xong rồi, nó sắp ra đây. Cả nhà tôi ai cũng đúng hẹn cả.
Bây giờ khách đã xuống xe, đã đến gần chủ nhà. Hai người đàn ông bắt tay nhau. Khách có vẻ sốt ruột. Bà chủ nhà kêu với vào trong:
– Thu à! Ông Xương Ký đợi con đây!
Không nghe đáp, nhưng tiếng giày báo có người đi ra, rồi quả nhiên cô Thu đã hiện nơi khung cửa, tay xách va ly.
Người con gái ấy mặc toàn đen và gương mặt u buồn cùng với màu sắc tang tóc kia gợi ra một tuyệt vọng vô biên. Nhưng quả cô ta đẹp tuyệt trần. Không kể chi tiết nhỏ mọn là nước da trắng mịn nổi bật lên bên cạnh y phục và màu tóc, màu mắt đen huyền, toàn thân cô là một bài thơ ca ngợi đường nét huyền hoặc của những pho tượng cẩm thạch cổ điển Âu Châu.
Ông Xương Ký mỉm cười rất vô duyên, nghiêng mình rất vụng về để thi lễ. Cô Thu chỉ hơi ngả đầu. Bà mẹ giục:
– Thôi con đi kẻo trưa, nắng lên rồi mệt đa!
Nói xong bà đưa tay giành valy với con. Bà biết con sẽ không buông, nhưng như thế bà sẽ có dịp kéo valy và cả nó ra xe.
Ông Trần chỉ đứng lặng nhìn, vẻ mặt bất nhẫn.
Người khách chạy vội trở ra xe và làm một việc mà hồi nãy ông cố ý quên. Ông bấm vào một cải nút tức thì mui xe từ từ mọc lên. Mui xe là những tấm kim khí sáng trắng, tấm nầy đè lên tấm kia, xếp lại, kéo ra được, tất cả chôn giấu giữa lưng nệm sau và đuôi xe. Mui vừa mọc vừa bò ra, tới phía trước rồi cúi xuống níu lấy tấm kính cản gió. Ông Xương Ký lại quay kính cửa, kính nầy lại mọc lên đến đụng mui xe, hai thứ ấy ôm lấy nhau, khít rịt, một hột bụi vào cũng không lọt.
– Kiểu tối tân, ông Xương Ký mỉm cười mà nói thế, mắt nhìn giai nhân để rình một vẻ thán phục nơi gương mặt nàng. Nhưng cô Thu vẫn thản nhiên như tượng đá.
Ông Xương Ký không mở cửa xe cho người đẹp lên, lại mở đuôi xe. Một bồn rửa tay bằng sứ tráng men trắng nằm sẵn trong ấy. Chủ xe vặn một cái nút, tức thì có nước chảy ra.
– Kiểu tối tân, ông ta lại khen.
Nhưng thấy không ai xúc động cả, ông ta đành thôi và mời cô Thu lên băng trước.
Bà Trần giọng van lơn nói:
– Em nó còn dại lắm, xin ông thật tình sửa dắt nó. Bề gì rồi ông cũng cưới nó nay mai, ông hãy nương nó, chớ nên có gì đáng tiếc.
– Thưa bà, tôi hiểu.
Hai người trên xe chào hai người dưới đất, rồi chiếc xe tháo lộn ra đường một cách kiếm hiệp như khi vào.
Phụ nữ đẹp ngồi trên chiếc xe đẹp bên cạnh một thanh niên đẹp thì đó là cảnh đẹp. Phụ nữ đẹp ngồi trên chiếc xe đẹp bên cạnh một người đàn ông đứng tuổi, tóc nhuốm hoa râm, cũng vẫn là cảnh đẹp.
Nhưng trong trường hợp trước, người ta nghĩ nay đến sự xứng đôi vừa lứa. Trong trường hợp sau, người ta đoán đó là một ông cha góa vợ đưa con đi đâu đó. Cũng chẳng hề gì. Ngặt ông Xương Ký lại muốn người ta nghĩ khác, nghĩ theo trường hợp trước, và biết chắc là muốn thế không được, nên ông ngượng nghịu lắm. Cô Thu cũng một tâm trạng với ông. Cả hai cùng khó chịu.
Ông Xương Ký muốn nói cái gì để bớt ngượng, nhưng vừa tìm ra được một câu hỏi xoàng là ông lại phải do dự ngay từ tiếng đầu. Ông muốn kêu cô Thu bằng em nhưng không đủ can đảm. Mà kêu bằng cô thì cũng tức. Ông là vị hôn phu của Thu kia mà!
Ông Xương Ký góa vợ đã lâu. Ông Trần là bạn ông, lớn hơn ông bốn tuổi. Ông Trần là giáo viên về hưu. Không cam với hưu bổng, ông ta mở trường tư. Lỗ lã, nợ nần. Ông Xương Ký giúp cho để ông ta chịu đựng. Nhưng giúp mãi mà ông Trần cứ lụn bại, thành ra số nợ, sau khi đổi chủ, cứ to lần lên. Năm nay thì ông Trần kiệt quệ. Chỉ là bạn thường thôi chớ không thân thiết ơn nghĩa lắm, ông Xương Ký rất sốt ruột vì số tiền kẹt chết của minh. Tịch thâu bất động sản của nhà trường, chỉ vớt vát được mớ nào mà thôi, mà lại tội nghiệp ông Trần nữa. Nhưng một hôm ông Xương Ký lại nảy ra ý muốn tục huyền. Ông soát lại những phụ nữ mà ông quen biết và rốt cuộc chấm cô Thu.
Quyết định đó là sự dở chứng của cái tuổi quá thì của người đàn ông. Ông năm nay bốn mươi hai, tuổi khó khăn mà người đàn ông lắm khi ngỡ trẻ như hai mươi. Nhưng ông xét kỹ, không thấy phạm luân lý. Cô Thu trẻ hơn ông những hai mươi tuổi. Phải. Nhưng ông không vợ, và cưới xin thật sự kia mà!
Cái ngày mà ông tỏ ý muốn cho vợ chồng ông Trần nghe, ông bà nầy bỗng như lảo đảo say rượu. Một tuần lễ sau, sau khi nghiền ngẫm điều kiện của ông Xương Ký đưa ra là hủy hết số nợ, lại viện trợ thêm hai mươi vạn để tiêm thuốc khỏe cho trường, ông bà Trần thấy rằng hôn nhơn nầy, nghĩ kỹ ra cũng không có gì xấu hổ cho lắm.
Còn một điểm khó khăn nhứt là cô Thu. Thu là nữ giáo viên nơi trường của cha. Nàng trẻ đẹp, rất trẻ, rất đẹp, không lẽ lại ưng ông già tóc bắt đầu điểm trắng.
Bà Trần thạo tiếng ngoại quốc, có đọc truyện cổ tích Tích Tân và Ỷ Sơ của Pháp. Bà cứ mơ hão có được thứ tiên được yêu đương mà bà Hoàng hậu ấy đã trao cho con gái là công chúa tóc vàng Ỷ Sơ để nàng nầy uống lúc đi về nhà chồng, hầu yêu được người chồng già là ông vua hiếu sắc kia.
Không có thuốc tiên, bà đành sử dụng những phương tiện thiết thực hơn: thuyết lý cho con thấy rõ nỗi nguy của nhà và hôn nhơn ấy là cơ hội may để cứu vớt những ngày cùng của ông bà: khi Thu đã nuốt nghẹn nhận lời, ông bà lại cho hai “trẻ” gặp gỡ nhau thường để Thu bớt xúc tâm lần lần.
Ông Xương Ký thì tham lam hơn, mong Thu yêu mình. Ông đã nịnh đầm, đã biếu quà, đã lịch sự, đã thơ mộng, đã ăn tiệc, nhưng vô hiệu quả.
Nay ông xin đưa vị hôn thê đi Ban Mê Thuật cốt để khoe những mặt khác của ông: ông còn khỏe và rất thể thao; lái xe hơi chạy đường xa như không không, leo đồi, trèo cây, lội rừng, băng suối tắm nước hồ lạnh, thảy thảy không thua ai. Và biết đâu, trong một phút kia, giữa cảnh hùng vĩ của cao nguyên, trên bờ các suối mơ khảm toàn rêu nõn, nàng lại không cảm bài thơ man rợ của rừng sâu, và khi cảm xúc, lại không yêu được người dìu dắt ở bên cạnh nàng?
Ông bà Trần, vốn biết ông Xương Ký đứng đắn và thành thật nên ưng thuận. Cô Thu thì một liều, ba bảy cũng liều. Và cuộc quảng cáo rầm rộ xui cô cũng muốn biết đất mới Ban mê thật ra sao, biết những Sơn nữ hồn nhiên mà cô rất thích qua các tiểu thuyết đường rừng lãng mạn. Với lại chính cô cũng cố gắng để yêu cho được người chồng già, cho đỡ khổ tảnh lấy chồng so le của cô.
– E… m… cô có đem theo đủ các thứ cần dùng chớ?
– Có.
Một câu hỏi hơi dài, một câu đáp quá ngắn. Rồi thôi. Những cặp vợ chồng son trẻ trên những chiếc xe mà họ gặp dọc các phố lại càng khiến họ khó chịu hơn. Có những đôi trai gái rất xấu xí trên những chiếc xe khổ, có những đôi trai gái chênh chông với nhau về sắc đẹp trên những chiếc xe tầm thường. Nhưng họ lại ước nếu được như vậy còn đỡ hơn.
Khi qua khỏi cầu Băng Ky, ông Xương Ký cho phóng xe mau để qua mặt những chiếc xe trên đó có người cứ ngó ngoái lại mà dòm. Ông ghét nhứt là vếtpa có đèo phụ nữ,vì luôn luôn đó là những cặp rất xứng lứa, và người ham mặc sơ mi ngắn tay để khoe bắp thịt của mình.
Khỏi ngã ba Bình Triệu, họ qua một cánh đồng minh mông mà người địa phương gọi là đồng Chó Ngáp. Gió thổi vù vù lại thêm năm nay, cái lạnh của tháng chạp còn chần chờ ở nán lại lâu quá, nên Thu rùng mình rồi khoanh tay lại trước ngực.
Ông Xương Ký vuốt lại tóc mình. Tóc nầy ông nhuộm đen mấy tháng nay: Nước thuốc nhuộm cho tóc một màu đen kỳ dị và giả tạo, lại làm tóc cứng ra, không thể chải bằng gôm, bằng gì được nữa. Nó rối bởi trước gió ngược chiều nên ông thấy cần phải sửa sang lại cho nó có trật tự một chút và nhứt là để lấy cánh tay đưa lên đó mà che, hầu liếc nhìn người bạn đang làm một cử chỉ khả ái.
Bỗng ông Xương Ký ngây người, suýt lạc tay lái. Không, đừng ai nghĩ quấy gì hết. Đành là ông đang nhìn hai cánh tay khoanh lại trên ngực của Thu, và đành là ông đang nhìn cái ngực ấy. Nhưng quả không phải hình ảnh tuyệt mỹ kia làm ông say sưa.
Chính hai bàn tay trắng như bông của nàng nằm trên nền áo đen đã gây xúc cảm dữ dội ấy vì nó nhắc ông đột ngột nhớ đến một điều mà ông xao lãng mấy hôm nay, vì bận chuẩn bị đi với người vợ chưa cưới.
Một năm nay, ở Sài gòn có phong trào chơi lan rừng. Từ Đà lạt, Gia linh, Blao, Ban Mê Thuật người ta gỡ trăm ngàn loại lan đem về bán tràn ngập đô thành. Ông Xương Ký không thua ai hết về mặt ăn chơi, hưởng thụ. Quanh nhà ông, toàn những lan là lan. Một hôm ông thấy một người đàn bà Âu cầm một khóm lan kỳ lạ: lan cành trắng như tuyết, không có lấy một chiếc lá, dáng khô khan như nhánh chết, mà hoa lại đen huyền. Màu đen của bông lan ấy láng mướt như nhung, lại lóng lánh sáng như bạc, nếu nhìn cánh hoa ngang mắt, ngỡ lan nầy cũng nhiều như các thứ khác, ông không hỏi thăm người cầm, chỉ đi tìm mua, nhưng tìm mãi không ra.
Suốt mấy tháng, ông Xương Ký mơ thứ lan đen kia. Ông chiêm bao thấy mình lên rừng và gặp cả một khu toàn lan đó. Ông săm soi huyền lan, vuốt ve nó và lạ sao, trong hoa hiện ra mọt sơn nữ da trắng, y phục đen, chạy trốn trong khói lá xanh rậm của rừng già. Người sơn nữ ấy mặt hao hao giồng Thu và như Thu, cũng mơ buồn không dứt.
Đêm nào ông cũng thấy sơn nữ, khi nhập vào hoa, khi từ trong hoa mà ra. Vốn thuở nhỏ thích xem truyện Tàu và truyện đường rừng của ta, ông Xương Ký tin có hồn hoa, có yêu tinh lan rừng và sự tích huyền lan của ông, như thế, càng tăng thêm.
Đã bảo, tuổi quá thì rất khó khăn. Ông Xương Ký mơ mộng như một thiếu niên. Trong trí ông, các thứ đó bị xáo trộn lại: ông chạy tìm lan đen; hồn lan đen từ trên rừng sâu, cảm động trước tâm thành của ông, nên hiện ra để kêu gọi ông lên đó rước nàng về. Hay hồn ấy lại nhập vào xác của Thu cũng nên?
Ông Xương Ký định bụng thế nào cũng đi tìm hoa, tìm hồn hoa. Nhưng tứ hôm mời Thu đi Ban Mê Thuật với ông được rồi, ông mừng quá, quên mất người sơn nữ trong mộng.
Hai bàn tay no và non và tráng mịn ló ra khỏi hai tay áo đen mướt, nằm trên gò ngực huyền bổng xua mơ cũ tới. Người yêu ngồi bên cạnh đây rồi, gần gũi quá, nên không còn sức quyến rũ mạnh của người trong mơ nó hão huyền như bọt xà bông mà trẻ nhỏ thổi lên không trung, lóng lánh nhiều màu. Phải chăng là như vậy? Nếu không, sao ông vẫn mơ sơn nữ, mặc dầu ngồi gần Thu? Không, thật ra, gần Thu mà vẫn xa Thu như từ thuở giờ. Sự gần gũi về thể chất không thỏa mãn được tâm hồn ông Xương Ký, nó lãng mạn, nó mộng hão như một chàng trai trẻ. Thành ra gần Thu, ông không say sưa được mà vẫn ước mong chưa toại, và cứ mộng đến Thu qua hình ảnh hão huyền của hồn lan trong giấc chiêm bao.
Xe lướt gió vùn vụt. Sợ Thu lạnh, Xương Ký vói tay mặt quay kính lên, rồi càng phóng mau thêm nữa. Qua những cầu gỗ hẹp, ông không thèm bớt tốc lực, chiếc xe nhảy lồng lên trên những đầu cầu bên kia. Ông Xương Ký mỉm cười, biết rằng Thu đương thót ruột. Chắc Thu sợ hãi và giận ông lắm. Nhưng qua những cơn giận áy, thấy không việc gì, chắc chắn Thu sẽ nghĩ đến hai cánh tay của ông mà nàng sẽ đoán là còn rắn chắc, bắp thịt còn đủ sức dẻo dai, tinh thần còn đủ lanh lẹn, mắt còn đủ sáng tỏ. Rồi sau nhiều trận như thế, nàng sẽ quen đi, say tốc lực như say rượu bia nhẹ, trí nàng sẽ triền miên với cái động, lòng nàng sẽ mê man bối rối vì hai thứ tình trái ngược: kinh sợ và ham nhanh. Một khi tâm trạng ấy xâm chiếm lòng nàng thì nàng sẽ có cảm giác nhỏ bé, cảm thấy cần được bảo vệ và cố nhiên nghĩ đến người bên cạnh và sức khỏe của y.
Đành rằng tình yêu không đến sớm được liền sau cuộc say sưa đó. Nhưng quả những giây phút nầy là những hột cát phù sa bồi đắp xây dựng lần lần mối tình mong ước.
“Còn nhiều dịp nữa mà! Ông Xương Ký tự bảo thầm. Rồi nàng sẽ thấy mình trèo cây, mình tắm suối lạnh”.

Ông Xương Ký gởi Thu nơi nhà một người chị, chủ hiệu uốn tóc độc nhứt tại thành phố Ban Mê Thuộc, còn ông thì tạm nghỉ nơi trại của một người bạn, chủ đồn điền.
Cả hai người, không ai có ý xem hội chợ, nhưng ông Xương Ký cũng đưa Thu đến đó. Ông nghĩ trong một hội chợ nhà quê người đi xem chắc là cục mịch và sẽ không có những cặp vợ chồng xứng đẹp nó làm cho ông và Thu bị tự ti mặc cảm. Nhờ thế ông sẽ dạn ra, bảnh thêm được với vị hôn thê quá trẻ, và riêng Thu nàng cũng sẽ bớt ngờ ngợ vì ông chồng quá già. Ông Xương Ký nhớ rõ là hôm qua, khi ra khỏi thành phố Sàigòn là ông nghe dễ chịu ngay và lén dòm Thu thì nhận thấy mặt nàng cũng giãn ra như trút được một gánh nặng. Vì ra khỏi đô thành là thôi gặp những chàng và nàng tốt đôi, là khỏi bị ám ảnh vì sự so sánh thường xuyên giữa họ và mình.
Nhưng ông ta đã lầm. Người Sàigòn ở đâu cũng có mặt cả, giữa cao nguyên họ vẫn lên để mà trẻ đẹp.
Người đàn ông đứng tuổi nào khác có thể hãnh diện được khi đi với một cô gái trẻ. Nhưng vị hôn phu nầy khác hơn họ. Ông không cần dư luận bên ngoài trầm trồ ông tốt phước, mà chỉ cần sự cảm thông giữa người yêu và ông thôi. Sự cảm thông nầy không có là ông tủi thân, là ông xấu hổ như nghe rõ chính Thu đang nói lớn lên để chê ông là già.
Ông Xương Ký đành phải trốn bằng cách chúi mũi vào các gian hàng. May quá, Thu bỗng vui lên và nói:
– Đẹp quá, đẹp quá!
Đẹp thật, ông Ký cũng nhận thế. Những tấm vải do người cao nguyên dệt, mới xem ngỡ hàng ngoại quốc. Chỉ có ba màu thôi: đen, trắng, và đỏ mà họ kết hợp lại thành những kiểu mẫu trang hoàng rất là mỹ thuật, màu sắc dùng rất tiết độ. Chỉ tiếc là sợi quá thô và mặt vải quá thưa.
Vải dệt thành những tấm dài từ hai thước đến trên ba thước. Ông Ký cầm lên một tấm rồi nhìn Thu hỏi trống:
– Cỡ may mặc được không?
– Thưa quá! Thu cũng đáp trổng lại nhưng ông Ký nghe êm ái như ai vuốt lên tim mình. Đây là lần thứ nhì mà giai nhân thốt lời, và lần thứ nhứt mà người đẹp trao lời với ông.
Đâm bạo, ông xổ tấm vải, hai tay cầm vải dang ra rồi phủ vải ấy lên mình Thu và nói:
– Đẹp lắm. Nhưng có vẻ cổ sơ. Nếu… em mặc đầm thì may cũng được.
Nói được tiếng em, ông Ký thấy là dễ dàng quá. Chỉ khó lúc tiếng đó còn nơi cổ họng, chực vọt ra mấy mươi lần mà vẫn lấp ló như con dế hang. Bây giờ nó ra xong mà nghe sao mà không có gì khó khăn hết. Vậy mà từ lâu ông không dám nói, nghĩ cũng lạ.
Thu cúi xuống dòm vải nằm trên mình nàng, chống đầu gối ra để xem nó có dịu, có nặng mình hay không và hai ngón tay mân mó sớ vải.
Vụt có sáng kiến mới, ông Ký nói, giọng reo vui:
– Hay là em may một bộ y phục trá hình mặc chơi. Phải, em choàng vải nầy lên mình, xem giống như một cô sơn nữ.
Nói tới đây, bỗng ông nhớ lại cô gái trong chiêm bao. Nhưng lần nầy sao người con gái ấy bớt quyến rũ nữa. Có lẽ nhờ gần được với người đẹp trước mặt. Dầu sao, ông cũng nghĩ đến lan đen mà ông tha thiết muốn có một kiểu mẫu trong vườn.
Thu ngước lên mỉm cười:
– May áo ghế bành thì được.
Ông Xương Ký mua năm tấm vải nền đen, và năm tấm nền mỡ gà, cả thảy đều để tặng Thu: Ông lại mua nào gạc nai, gùi, mác để biếu bạn hữu, ôm vác kè kè như hai vợ chồng mới, đi mua sắm để dọn nhà lần đầu.

Cuộc đua voi, và đua ngựa không yên cương là một trận hửi bụi không tiền khoáng hậu. Nhưng đó là trò mà Thu thích nhứt.
Ông Xương Ký nghe mình hứng dử lắm trước nỗi vui của ngươi yêu. Ông còn chưa biết làm cái gì hơi động, hơi ồn cho nó có vẻ trẻ ra để xứng với vẻ hân hoan của bạn thì may quá, đoàn ngựa đua giải tán, lướt chậm tới chỗ hai người đứng.
– Anh ơi, cho tôi cỡi thử một chút chơi.
Ông xin liều như vậy mà một người kỵ mã trai trẻ kia nghe hiểu, xuống ngựa liền và mời ông.
Ngựa tuy nhỏ thó nhưng không có yên cương gì cả. Nó lại có vẻ hăng lắm khiến ông Xương Ký đâm sợ. Biểu diễn trước người yêu mà thành công được thì tuyệt nhưng nếu rủi bị ngựa quăng xuống đất thì đi đời kết quả ít ỏi của cuộc chinh phục trong mấy ngày nay.
Nhưng không thể lùi được nữa, ông Xương Ký bậm môi, vói tay níu gáy ngược rồi thót lên lưng nó. Không việc gì đáng tiếc xảy ra cả.
Con ngựa vưng theo cái thúc chơn của ông, bắt đầu nhảy. Nhưng mới chạy được một quãng, nó lồng lên, nhảy dựng lên như con chó đi hai chơn trong rạp xiếc. Muốn còn ngồi ngay được, nghĩa là thân mình khỏi nằm ngã nằm, vì lưng ngựa đã đứng sững lên như tấm vách, ông Ký níu chặt gáy ngựa và áp sát mình vào lưng con thú. Ngựa khó chịu, thôi lồng nữa, nhưng lại vục vặc đầu lia lịa để thoát gáy ra khỏi người cỡi. Tuy nó đã đứng lại bốn chơn như thường, nhưng người kỵ mã không dám rời lông cổ nó ra. Thoát không được, ngựa sải tán loạn, làm đủ trò chứng để quăng gánh nặng trên lưng.
May quá, nhờ ngựa nhỏ thó, nhờ ông Ký cố bám níu như đó là vấn đề sống chết, nên sau một hồi nổi loạn, con vật chịu thua. Nhưng ông Ký không dám trổ tài lâu nữa. Bấy nhiêu đó hơi vữa đủ rồi, tiếp thêm, rủi không xong, sẽ khổ thân lại mang nhục trước giai nữ.
Bấy giờ áo ông Xương Ký ướt mồ hôi như vừa mắc mưa: Ông thở không kịp và ở hai bên màng tang, ông nghe mạch máu nhảy như muốn bứt ra.
Ông trở về chỗ Thu đứng đợi ông, cố đi thật chậm để khi đến nơi, bớt thở cho dễ coi một chút. Khi đang đi, trong một giây, ông nghe choáng váng muốn té xỉu. Qua cơn đó, ông cảm thấy thân già mà cố làm trẻ thì thật là khổ. Tủi thân quá, ông bỗng nảy ra cái ý bỏ vãi tất cả. Hạnh phúc đâu chưa thấy mà đã khổ thân như tội đồ bị bắt buộc làm những công việc quá sức mình.
Nhưng dòm lại người ngọc đàng xa, ông nghe được kích thích như người leo cột mỡ vào những ngày hội, mệt nhoài ra, trèo lên tuột xuống hoài, mà vẫn cố gắng vì bị giải thương treo ở đầu cột lôi hút mãi.
Đêm ấy ông Xương Ký trằn trọc đến khuya không chợp mắt được, Ông bận trí về sự dùng thì giờ ngày sau đó. Đưa Thu đi đâu cho nàng vui, mà ông lại trổ tài được?
Người chủ nhà có mời đi săn. Đi săn bằng khí giới cổ sơ do người Thượng tổ chức. Nhưng ông sẽ làm gì được trong cuộc săn ấy.
Có lúc ông Ký nghe chán lạ. Ông cảm thấy mệt mỏi vì sự chinh phục thường xuyên nầy. Không phải chỉ mệt mỏi về thân thể mà về cả tâm thần. Cái gì mà không giờ phút nào khỏi nghĩ đến việc làm vui lòng người vợ chưa cưới?
Chẳng những thế, cuộc chinh phục sẽ bị tiếp tục một khi cưới xong người đẹp. Chồng già, vợ trẻ, không thể buông trôi như những cặp mà anh chồng không so le với vợ. Mệt ôi là mệt!
Ông Ký nhớ lại thuở trai trẻ, ông đã o mèo như bất kỳ ai. Ông đã chịu khó, đã bền chí một cách gian khổ, nhưng sao không thấy chán nản như bây giờ. Phải chăng vì thuở ấy, tình yêu, đối với ông thiêng liêng lắm. Ngày nay thì ái tình đã mất vẻ huyền ảo của nó, bao nhiêu ý đẹp đã tan, đã lắng xuống, chỉ còn nổi lều bều lên như bọt dơ, những cái gì chỉ dính líu đến vật chất mà thôi. Mà về vật chất, cố công như xưa là uổng công.
Tuy suy luận như thế, ông Ký vẫn không bỏ cuộc được vì ông đang ở vào tuổi quá thì như đã thấy trên kia. Không say đậm với tình yêu như hồi trẻ nữa, nhưng vẫn hơi điên dại như trai tơ. Rốt cuộc ông nhắm mắt với quyết định ngày mai đưa Thu theo đoàn săn bắn của chủ đồn điền.

Cuộc đất dợn sóng như mặt đại dương. Mà đây toàn là sóng thần cả. Không phải thần về sự cao, mà chỉ về sự rộng lớn thôi. Mỗi trái đồi to độ bảy tám mẫu, liên tiếp nhau trùng trùng điệp điệp như một bầy thú lưng gù đang ăn cỏ giũa trời.
Ở những khu đất không có rừng, bầy thú nầy hiện ra đông đúc như kiến.
Đoàn săn gần hai mươi người Thượng, toàn là phu ở đồn điền của bạn ông Xương Ký, người chủ đồn điền ấy, Thu và ông Ký.
Để cho gọn, dễ day trở, người Thượng hôm đó không thèm mặc y phục, chỉ đóng khố. Mười tám người không võ trang mà chỉ mang tù và. Còn hai người kia thì cầm mỗi người hai cây ná và mang mỗi người hai gùi tên thuốc.
Khi qua khỏi một cánh rừng, cả đoàn đổ ra một khoảng trống rộng bảy quả đồi.
Sau một lịnh của hai người Thượng đứng tuổi có võ trang ná, mười tám người kia túa ra, chạy lùi vào rừng trước mặt và hai bên.
Bọn người ở lại ngồi trên chóp trái đồi cao hơn hết ở giữa khu đất.
Đồi trọc lóc, cỏ đế cũng không cao. Họ như đang tắm lội giũa một hồ tắm mà bờ hồ là rừng xanh bao quanh đó.
Độ nửa tiếng đồng hồ sau, tù và khắp bốn phương tám hướng túa tên một lượt.
Hai người Thượng đứng lên giương ná, đặt tên vào, rồi trao cho chủ đồn điền và ông Xương Ký mỗi người một cây.
Giây lâu, nhím, trút, chồn, thỏ từ trong rừng rậm chạy tán loạn ra ngoài. Đây là một cuộc săn nhỏ, tổ chức mua vui, người đuổi thú đã ít oi lại không đi xa, nên không có thú lớn chạy ra.
Hai người Thượng bắn trước. Dây ná kêu lên một cái xạch, tên bay véo một cái là hai con vật ngã quay ra.
Ông chủ đồn điền bắn một phát, trật lất, rồi cười ha hả mà hỏi Thu:
– Chị xem tôi bắn có tài không. Nhứt phát là nhứt trúng…đất.
Thu thở không khí lành từ sớm đến giờ nên cũng trở nên vui tánh cười theo rồi vừa chỉ vừa khen:
– Mấy ông Thượng kia bắn sao mà y như là con vật bị cột gần sát họ.
Ông Xương Ký cũng bắn một phát. Trúng ngay đích, thật là may kỳ lạ. Nhưng con mồi lại là một con trút vảy dày và cứng nên mũi tên trợt lớt rơi xuống đất. Con vật tiếp tục chạy như không có gì xảy ra, khiến Thu nheo mắt cười giòn rụm mà chế nhạo:
– Coi con trút kìa, nó lêu lêu mắc cỡ kia!
Ông Xương Ký sung sướng đến muốn rơi cây ná. Ông sung sướng vì bắn trúng mồi thì ít mà vi được Thu chế giễu thì nhiều. Sự chế giễu ấy không ác ý, trái lại chứng tỏ cảm tình, muốn thân mật và hàm kín đáo sự khâm phục tài bắn của ông.
Lần cỡi ngựa tuy không suông sẻ, và lần bắn nầy tuy cũng trục trặc nhưng quả đã khiến Thu. có cảm tình đôi chút với vị hôn phu già. Chắc cô ta đã bảo thầm trong bụng: “Tuy không xong xại gì chớ cũng đỡ hơn các thanh niên ôm măng- đô- lin, ôm ghi- ta nhiều lắm!”
Bắn được một phát, ông Xương Ký rất toại chí vì đã gần đạt mục đích. Chỉ gần đạt thôi mà toại nguyện được là ông biết không thể nào đạt hẳn. Tệ hơn hết, bắn lần sau, sẽ trật lất như ông chủ đồn điền kia.
Nhưng cái tánh muốn làm tàng, tới già con người bỏ cũng chẳng được. Nên ông ta lại toan bắn nữa.
Nãy giò ông ta đã quan sát cách lên ná của người Thượng. Họ làm công việc ấy như chơi chơi: đuôi ná chống vào bụng, tay trái giữ ná, tay mặt vói lên vai để rút tên ở chiếc gùi mang sau lưng. Tay rút tên ấy lại hạ xuống và cùi chỏ của tay đó kéo dây ná. Cùi chỏ kéo dây vào bụng và cùng một lượt bàn tay đặt tên lên mình ná.
Cứ nhìn họ làm, ông Ký nghe dây ná rất mềm, cung ná rất dẻo và trò lên ná là trò trẻ con. Nên chi ông cũng lập y lại những cử chỉ đã quan sát được. Nhưng khi ông hạ tay rút tên xuống thì cùi chỏ của ông chỉ kéo dây ná vào bụng ông được vài phân thôi. Cung ná xem ra cứng rắn nhường sắt, không chịu cong thêm một chút xíu nào cho dây dễ kéo. Cùi chỏ đè lên dây bây giờ lại đau như bị thanh sắt quất vào và càng cố sức kéo, đuôi ná càng chống mạnh vào bụng đau như bị ai thọc gậy mạnh.
Rõ cuộc săn bắn nầy là một buổi chơi thể thao của những ông bụng bự, chỉ ngồi trên dàn mà xem người ta đá banh. Ông Ký và bạn ông cũng thế, đợi người ta lên ná sẵn mà bắn thì được, còn chính mình thì không cử động bao nhiêu. Cho đến con mồi cũng phải có người đuổi ra trước mặt chớ họ không chịu cực được mà lội rừng để tìm mồi.
Ông Ký nói gượng:
– Trời, đau nơi bụng chết đi thôi, làm sao mà tiếp tục chống để lên dây!
– Đâu anh chống dưới đất rồi lên thử coi.
Bạn ông Ký biết ông cố che lấp sức yếu của ông, nên đùa như thế.
– Không, như vậy lại càng không được. Khi mà nắm trái tay ai có sức trời kéo cũng chẳng nổi.
Tuy lỡ một dịp biểu diễn thể thao, ông Xương Ký cũng rất bằng lòng mà chưa mang nhục. “Ná mọi” kia mà! Nó nổi danh là cứng như thép, thì giương không nổi cũng chẳng xấu hổ bao nhiêu. Vả lại, ông chỉ vì chịu đuôi ná vào bụng không quen thôi, chớ ná thì ông bảo kéo được kia mà. Thích một cái là Thu đi bộ thì thở hổn hển, còn ông thì không. Ông đã già đâu, bằng cớ là lội rừng, ông tỏ ra khỏe hơn cô gái hai mươi nhiều.
Người Sàigòn lần lượt về và ngày hội chợ bế mạc, cảnh có vẻ như một đám hát đình nhà quê ngày đưa sắc thần.
Tỉnh ly nhỏ ấy thâu hồi lại sự sống bình thường của nó với toàn là những gia đình tận lực làm ăn để gây sự nghiệp. Đi rong phố, rất ít người, mà họ cũng đi đâu đó có việc gì chớ cũng chẳng phải đi khoe áo như ở Sàigòn. Những cặp vợ chồng công chức đi dạo mát cũng rất là khiêm tốn, đến những người vợ tây sở cũng tỏ ra con nhà.
Cặp Thu – Ký nghe dễ thở bội phần. Lần nầy đôi bạn so le được người ta nhìn để trầm trồ vì ông Ký dầu sao cũng “đẹp già”, và nhờ biết ăn diện nên xem cũng khá trẻ ra, nhứt là khi xen lẫn với toàn những người bận làm ăn, ai cũng không tươi lắm. Họ hết bị nhìn bằng những vẻ mặt kinh ngạc như khi ở Sàigòn hoặc khi đang giữa hội chợ.
Ông Ký nghĩ nếu ở đây luôn, sống với đồn điền, có lẽ hạnh phúc được nhưng ông biết chắc không thể chôn vùi tuổi hai mươi của người vợ trẻ nơi chốn thâm sơn nầy mà không bị phản đối. Tuổi hai mươi ham sống biết bao nhiêu! Nhưng họ ham sống với xã hội loài người, cái xã hội phù hoa, chớ dễ gì ham sống gần thiên nhiên hoặc gần xã hội cần cù ở đây.
Cô Thu cũng thấy là không khổ lắm nếu theo chồng sống trên các đồn điền nầy. Nhưng rồi nỗi nhớ ánh sáng và tuổi trẻ ở đô thành luôn luôn ngùi ngùi như là nỗi sầu xứ của một kẻ lìa quê.
Tạm trong vài ngày nầy, cô thấy cũng dễ chịu và gần vị hôn phu già, cô lần lần tìm được thêm nhiều đức tánh của người nầy và cả nhiều chi tiết về sự trẻ đẹp muộn màng của hắn.
Thu có đọc một quyển sách ngoại quốc, trong đó có tác giả đề cao người chồng già. Người nầy giàu kinh nghiệm về mọi mặt, biết đoán ý muốn của vợ, biết xử thế với những bạn bè của vợ, sành đời hơn người tình nhân trẻ tuổi nhiều. Thu nhận là sách nói đúng khi gần gũi ông Ký, nên cảm tình đối với vị hôn phu cũng bắt đầu nứt mộng đâm chồi.
Người con gái đang thì nào cũng đói yêu đương. Nếu gặp người lý tưởng được thì tuyệt. Bằng không, lắm khi tình yêu đi lạc nên cũng đến lắm cô lầm lỡ với người già. Trong trường hợp Thu – Ký, lòng cô gái đang muốn phiêu lưu. Nề nếp nhà chắc chắn sẽ giúp cô khỏi ngả với ai hết. Nhưng người bạn già nầy, cô đang đói lại cối và cố sức yêu, nên cố nhiên tình yêu của cô bắt đầu lấp ló.
Ông Xương Ký đoán hiểu tâm trạng của Thu. Ông rất sành về lòng người nên mới có cuộc đưa Thu đi chơi nầy, thì sao bây giờ lại không hiểu được.
Nhưng quả là chán phèo, cái trái cấm ấy một khi đã gần hái được. Chán vì mệt mỏi quá rồi. Trên sân khấu, người Ký trẻ chỉ dán râu vào mép, bôi mặt sơ sịa và thêm vào đó một chút tài nghệ là làm lão già được, mà chỉ trong vài giờ thôi. Anh kép già nầy, trái lại, không thể hóa trang được mà phải trổ tài nghệ tuyệt luân ròng rã ngày nầy qua ngày khác để làm kép nhứt trẻ trung thì còn khổ nào bằng. Cái khổ nghĩ chắc sẽ không bù lại được với cái hạnh phúc mong muốn, nên chán là phải.
Hồn lan rừng thế mà ít đòi hỏi hơn. Nó lại quyến rũ như một mội nước xa đối với người bộ hành trên sa mạc. Sức nóng của nắng trưa đủ làm sai lạc thị giác của người nầy, nên mội nước càng được trang trí bằng muôn ngàn màu sắc rực rỡ ma quái khác.
Ừ, lan rừng! Từ hôm lên rừng đến nay, ông Ký quên mất nó. Phải tìm nó mới được. Ông đã đưa Thu vào những thôn xa, đã thấy hằng vạn nhánh cây có lan bám vào, nhưng chưa hề gặp lan đen lần nào cả.
Có một buổi vào thăm một cái nhà dài của người Thượng, ông nhìn dưới bộ ván dài thấy một cành lan đó, mà đã héo khô. Người Thượng ở trong những ngôi nhà dài hai mươi thước. Ván cũng dài gần bằng nhà. Hôm đó, trên ván có mấy mươi người đang lên cơn sốt rét ngã nước nằm la liệt nên ông không hỏi gì được. Từ đó, không hề thấy dáng lan đen nữa.
Hôm nay ông Ký đưa Thu đến một con suối ít người biết đến. Ông thích những nơi hẻo lánh, ông lại cố ý đi xa để tìm hoa lạ.
Riêng Cao Nguyên không dày mịt như rừng dưới ta. Giữa những thân cổ thụ mọc rất hiếm những dây leo, những kè gai, những mật cật lá rè, nên ông Ký dắt bạn xâm nhập đại vào khối cây xanh, không theo những lối mòn mà ai cũng biết. Ông biết hướng con suối đâu, và đi liều lĩnh như thế mới đổ ra được những bến lạ chưa hề thấy dấu chơn người.
Suối báo hiệu bằng một vùng đất hơi ẩm, phủ rêu nõn. Nó lại lên tiếng trước bằng lời chim như tụ về đó để uống nước. Đến gần sát bờ mới nghe thủ thỉ dưới lá.
Nếu một chiếc xuồng thả trôi theo dòng xuôi thì người ngồi xuồng có cảm giác là đi xe lửa và đang chun vào hang núi. Cây giao nhánh giấu mất dòng nước dưới mắt kẻ tò mò; suối sống âm thầm trong rừng sâu nên được một người ham sống âm thầm như thế tìm đến. Đây đó vài giọt ánh sáng nhểu xuống từ trên vòm lá. Có giọt to như giọt nước máng xối lúc trời mưa lớn, soi sáng nếp sống thân mật bên trong. Hai người dòm xuống thì thấy dưới đáy một màu lục sậm, có nơi đen ngòm khiến Thu rùng mình tưởng tượng đến những con thủy quái hung dữ ẩn nấp đâu dưới đó trong một hang hiểm hóc nào. Nàng thò tay xuống nước rồi toàn thân mọc ốc. Nước lạnh như nước trong một ly nước đá bào. Cái lạnh lại theo đi mà chạy mau như điện đến lưng người. Đây là một thứ lạnh, khó chịu như cái lạnh dún mình lúc sắp đến cơn sốt rét rừng.
– Tắm em nhé, ông Ký nói.
Thu lắc đầu. Nàng có đem y phục tắm theo, nhưng vì ớn màu lục đen dưới đáy nước, ngại sức lạnh của suối và nhứt là e dè trước ông Ký nên nàng bỏ dự định tắm đó.
– Công trình đi đến đây mà không tắm cũng uổng. Ông Ký vừa nói vừa cởi ra y phục một cách tự nhiên. Cũng không nài nỉ thêm gì người yêu cả. Khi chỉ còn đồ tắm trên thân mình, ông ngó quanh quất và mừng rỡ mà thấy một cây quỳ. Cây như mọc lên được một thước thì bị ai nuốn ngã nằm. Nó tiếp tục lớn lên bằng cách bò dài ra, và vô tình bây giờ dùng làm ghế được.
Ông Ký cầm tay Thu mà dắt đi, nàng không chống cự. Ông đưa nàng đến gốc cây quỳ ấy rồi bước lên trước mà nói.
– Thôi, em ngồi đây, đợi anh tắm mát vài phút rồi ta đi tìm lan.
Cây quỳ bò ra mặt nước nên ông Ký khỏi phải xuống, đợi Thu ngồi xong ông theo cây mà ra giữa suối như đi cầu khỉ.
Sách khoa học quả quyết rằng con người không già nơi tuổi tác mà già nơi sự suy mòn của thớ thịt. Có người sáu mươi mà thớ thịt còn tươi, trái lại có người ba mươi mà thịt đã bắt đầu lão.
Nếu sách nói đúng thì ông Ký còn trẻ. Thân mình ông quả còn đều đặn, các bắp thịt quả còn sơn sở.
Không biết suối sâu hay cạn, ông cũng chắp tay phóng xuống vì thân cây mà ông đứng, không cao cho lắm.
Nước suối văng tóe lên rồi mặt suối khép lại sau gót chân người nhảy. Vài giây sau, ông Ký trồi đầu lên cách đó gần mười thước. Vì ông phóng xuôi dòng nên bây giờ phải lội ngược về chỗ cũ. Nước chảy thấy thì rất mạnh, thế nên ông Ký lội cũng vượt tới mau lẹ như lội rạch đất bưng. Khi về ngay cây quỳ ông nhắm nhía rồi lướt qua khỏi đó vài thước. Đoạn thả trôi xuôi trở lại. Trôi tới thân cây, ông từ dưới nước phóng lên, níu lấy cây quỳ, đánh đu lộn ngược nơi đó.
Ông đang say với sự khoe bắp thịt như một nhà điền kinh mê tập luyện vào buổi sáng, bỗng một tiếng kêu thất thanh của Thu trên bờ làm ông rụng rời. Ông Ký rơi xuống nước rồi không kịp nhìn, bơi sải vào bờ sau vài ba cử động mạnh của tay chơn.
Khi ông trườn lên bờ thì thấy Thu đang té ngửa xuống và cũng lẹ như chớp, ông nhảy lại đống quần áo, chụp lấy cây mác cán dài rồi day lại chặt chụp xuống một cái, sát đầu Thu.
Máu phun có vòi…
Đó là một con trăn con, vụng về tập sự quất mồi, hay giỡn chơi cũng nên, hệt như con chó con lạ gì cũng cắn rồi tha đi cho đỡ ngứa răng. Thấy cô Thu ngon quá, nó quấn chơi, chớ con mồi to như vậy, làm gì nó ăn được. Đuôi trăn đang quấn cổ vội tháo lẹ ra trong lúc đầu lăn lóc muốn bò thoát đi. Nó sẽ không bò được xa nhưng ông Ký cũng chẳng thèm biết tương lai đích xác của nó. Ông bận đỡ Thu lên, Thu mà giờ đây đang nằm trên tay ông, Thu ấy mặt cắt không còn một hột máu và nhăn lại như nhờn gớm cái gì.
– Em có làm sao không?
Thu mở mắt ra, rồi rùng mình:
– Chỉ nghẹt thở trong một giây. Nhưng nhờn quá, nó lang láng, nhơn nhớt ghê muốn chết.
– Chết là nó, chớ không phải em. Em xem kìa…
– Thôi, ai dám ngó nó… Anh…
Giọng Thu nhõng nhẽo như trẻ con sợ ma, và tiếng “Anh” thốt ra để toan nói một câu còn ngập ngừng nơi cổ họng, tiếng ấy hàm trách móc rất đáng yêu, có lẽ trách ông bỏ nàng một mình nên mới gặp nạn.
Người đẹp ở trong tay đây rồi! Người yêu lại không phải ở đó vì bị bắt buộc mà vì muốn ở để được bảo vệ. Người ấy đang nĩu nịu, đang trách móc… Ôi, thần tiên là sự đụng chạm lần đầu trong đời niên thiếu với một người bạn lòng. Ông Ký quả nghe ngây ngất gần được y như thế, nên như một chàng niên thiếu, ông bỗng đâm bối rối, vụng về, không biết phải làm sao nữa.
Ông hồi hộp nhìn Thu, tiếc sao nàng không bất tỉnh như người cung nữ trong phim Địa ngục môn, và xấu hổ thấy mình như chàng tướng trẻ trong phim đó, hớp nước suối để làm bộ cho nước, mà lại sợ sệt nhìn quanh dáo dác rất buồn cười.
Không, ông không hèn như chàng tướng trẻ ấy. Ông phải yêu đường hoàng chớ không được lợi dụng sự bất tỉnh của người đẹp để cho nước. Nhưng ông phải yêu lễ độ chớ không hỗn hào như một chàng trai hai mươi được.
Quyết định được thái độ, ông Ký tay nưng vị hôn thê lên, mặt cúi lần xuống rồi chỉ đặt môi lên tóc nàng, hun thật nhẹ một cái ngắn rồi thôi. Trong khi Thu rùng mình rồi ngây ngất dưới hơi thở ấm của người chồng chưa cưới thì ông Ký bỗng nghe một cảm giác thật kỳ lạ. Đó là một sự nhờm gớm, không phải nhờm gớm hương trời trong tay, mà giựt mình đánh thót lên và vẳng nghe đâu đây lời trách móc, hơn nữa, lời hăm dọa tội tù.
Tám tháng trời đeo đuổi, nửa tháng chinh phục không ngừng, hai phút lồi hộp đến tim như muốn nhảy thoát ra khỏi lồng ngực, bao nhiêu ngày tháng công lao ấy dầm trong một giấc mơ hạnh phúc vô biên. Nhưng giờ đây, ê chề hối hận như lỡ tay đánh phải một đứa bé dại, săn phải một con khỉ non và lòng quặn thắt, đau trước tuyệt vọng, căm hờn, khi ẩn trách của khỉ mẹ.
Ông Ký đặt Thu nằm xuống cỏ, nhưng nàng không chịu nữa.Người con gái họ giữ gìn nết hạnh rất chín chắn. Nhưng khi đến lúc thấy không cần giữ gìn nữa, với một người nào, là họ suông sẻ một cách rất lương thiện. Đường họ đi, không đi thì thôi nhưng hễ đi thì suông như đi trên một đại lộ, không quanh co, không ngập ngừng một cách ích kỷ như ta. Hơn thế, nàng vừa mới yêu trong một phút, lần đầu tiên trong đời nàng. Tình yêu chỉ có thế thôi a? Không, nàng không chịu bị thất vọng. Ông Ký đành phải tiếp tục nâng đỡ người vợ chưa cưới, mà lòng khổ như phải nâng một người vợ già, ốm đau liên miên mấy tháng trời.
Thu nằm đó, lòng băn khoăn chờ đợi cái gì nàng không rõ, nhưng tin chắc không phải như thế rồi thôi.
Bỗng một tiếng soạt trong lá khiến cả hai giựt mình ngó lại.
Lá xanh như một tấm màn giấy bỗng bị xé rách một lỗ và nơi lỗ rách ấy một mặt người ló ra. Đó là một Sơn nữ không giống người trong mộng chút xíu nào cả. Nàng không trắng, không đẹp, mắt nàng không mơ huyền mảy may nào; nàng cũng chẳng ngây thơ nhìn người đàn ông đất Kinh như ông Ký đã mộng thấy. Ông đang vừa ra khỏi một thất vọng lại đâm đầu vào thất vọng khác nữa! Người sơn nữ vạch lá bước tới, không ngại ngùng như ta, trước cảnh thân mật của người khác.Hồn hoa ơi, không lẫn trốn nữa à? Ảo mộng ơi! Bây hùa nhau mà ra mặt một lượt, bổ tới như những đợt sóng mạnh xô ngã người đang đứng nơi bãi cát nhìn xa ra khơi mà mơ hão những chân trời lạ, những nước non huyền diệu ở đâu đâu!
Để đỡ khó chịu, ông Ký hỏi bậy một câu, không mong người kia hiểu:
– Ở đây có lan đen không chị ? Sơn nữ nhìn ông giây lát rồi đáp:
– Có, thầy hỏi làm chi?
Tiếng Việt đúng giọng của người nầy khiến đôi bạn ngạc nhiên. Ông Ký nói:
– Tôi muốn tìm lan đen, chị làm ơn chỉ giùm.
– Đi theo tôi.
Đôi bạn uể oải đứng lên sau lời mời xẵng lè nầy. Lá rừng khép lại sau lưng họ như muổn lấp nẻo vào quê hương của lan lạ.
Đến một khu rừng kia, thiếu nữ dừng lại và làm thinh, lấy tay chỉ lên cây:
– Ôi! Lan đen sao mà nhiều như dế sau trận mưa đầu mùa. Ông Ký choa mắt không biết chọn chùm nào. Ông lại nghe hết thích hoa đó nữa. Không có thì ham, có rồi thấy cũng chẳng thích mấy. Có nhiều quá lại phát ngấy lên.
Ông Ký hỏi:
– Làm sao mà mang về cho chắc sống chị? Về rồi trồng đâu?
– Không, không trồng ở đâu được cả. Không đem về mà sống được.
– Tôi thấy họ chặt luôn nhánh cây mà nơi đó nó bám, nhưng rồi nhánh cây khô, hết nhựa, nó chết đi.
Cô sơn nữ cười ngất:
– Nó có ăn nhựa cây như chùm gởi bao giờ đâu. Nó chết không phải vì nhánh hết nhựa, trái lại nữa.
– Chớ nó ăn gì?
– Nó ăn vỏ cây chết nên… Ông Ký bỗng nhớ lại một câu của nhà văn Michelet: “Giống lan uống sự chết, sự chết ấy tạo sự sống cho nó”. Ông chận sơn nữ mà nói:- Nếu nó ăn cây chết thì chặt nhành cây về là đúng lắm rồi.
Sơn nữ mỉm cười:
– Chùm gởi ăn nhựa cây sống nên sống bám vào cây đó là phải. Nhưng lan ăn vỏ cây chết rồi còn phải tạo lấy sự sống cho mình, nên không phải chỉ sống gởi là đủ. Còn phải có khí hậu nào, hơi gió nào và một vạn thứ bí mật khác nữa mà ta không biết. Ông Ký bỗng giựt nảy mình, nhìn lại Thu đang trố mắt soi mói người thiếu nữ Thượng.
Một cô gái ăn chơi son trẻ, sẽ vui lòng thỏa chí bám vào ông như chùm gởi bám vào cây sống. Ông sẽ chết trước chùm gởi và khỏi đau khổ mà thấy người đẹp héo sầu. Nhưng Thu, một khi bám vào vỏ cây già cỗi của ông, chưa chắc đã đủ điều kiện để tạo sự sống cho Thu. Ông lặp lại trong trí lời sơn nữ: “Còn phải có khí hậu nào, hơi gió nào và một vạn thứ bí mật khác nữa mà ta không biết”. Không, vô ích, cuộc hôn nhơn kỳ lạ của ông và Thu! Ông vừa thất vọng sau cái hun trên tóc, ông không nên mò đến một thất vọng lớn lao nữa.
– Thôi, cám ơn chị nhé, tôi thôi không mang lan về nữa. Nói rồi ông ra hiệu cho Thu theo, không nắm lấy tay nàng mà dắt đi như ông đã sung sướng làm mấy bữa rày.
Khí hậu Khí hậu! Ông lặp lại mãi hai tiếng ấy trên đường về. Khí hậu nhà ta là những cuộc chạy áp phe quay cuồng. Rồi vài năm nữa đây, nó sẽ là khí hậu tu viện của một ông già lùi về quê. Cả hai lối sống đều không hợp với Thu, nàng cần không khí vui tươi hơn là những con số, những kiện hàng, và cần không khí trẻ trung hơn là một khu vườn ở nhà quê trong đó chủ nhà dưỡng lão. Ra đến lối mòn, ông nhìn Thu rồi ngập ngừng giây lát, ông đánh bạo nói:
_Thu, cháu ơi, chú thấy chú đi sai đường lạc nẻo sâu lắm rồi. Nhưng trở lại còn hơn liều tiến đến miệng hố. Cháu nghĩ sao? Thu kinh ngạc đến tột độ. Sau một phút nhìn ông Ký nàng bỗng chợt hiểu. Nàng ngồi phệt xuống cỏ ôm đầu khóc mùi mẫn. Người con gái đi đường suông. Và nếu phải trở bước thì khó khăn thay.

Đèn Cần Giờ

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc
Xới Đất xuất bản 1968

Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Photo edit by Sơn râu

2. Bao bố nhìn mặt

Hạnh tuy còn ít tuổi mà lo xa như một ông cụ. Anh sửa soạn nào bông gòn, dây hăng tanh-ti-dót đủ cả rồi cho mọi thứ vào cái hộp cứu cấp bằng da của anh.
Từ Sài-gòn lên đó mười ba cây sô. Biết đâu dọc đường lại không té trầy chơn hoặc tới nơi leo cây, lội rạch lại không bị gai quào, nọc đâm.
Hộp cứu cấp ấy anh dùng mang thuốc, mang ống tiêm để đi chích dạo trong xóm Hòa-Hưng.
Để thuốc, gòn vào đó xong, anh mới nhận ra rằng anh đã chuẩn bị như là đi làm nghề, chỉ trừ thuốc và ống tiêm không có bỏ vào đó mà thôi
– Hay là bỏ đủ vào đó? Biết đâu…
Thế rồi anh thêm vào hộp một ống chích, ba cây kim, vài mũi thuốc khỏe, vài mũi thuốc cầm máu.
Vừa lúc ấy thì Thế tới ngoài ngõ, bóp chuông xe máy leng keng và kêu với vô:
– Rồi chưa ta? Đi nè, kẻo trưa, nắng lắm!
Họ lên Vĩnh-Phú để uống nước chè tại lò đường của dì của Thế.
Vĩnh-Phú là một làng vườn, đất ẩm nên hợp với sự trồng mía.
Từ quốc lộ Sài-gòn-Bình-dương ra đến sông Sài-gòn, địa phận của làng, mía trương cờ lên, trùng trùng điệp điệp trắng xóa như một biển lau sậy.
Đây đó những hòn đảo xanh rì: đó là nhà dân, với vườn tược bao bọc chung quanh.
Xa, thật xa ngoài bờ sông, những trại ngói dài với ống khói cao, nhả khói lên đen ngòm cả bầu trời trong trẻo của thôn dã. Đó là những lò đường trong làng.
Nhờ có công nghệ nên làng trù mật lắm. Nhưng tuy dân có của thế mà không ai ở không cả. Cả làng làm việc như cái ổ ong.
Đây, vài mươi phu cuốc đất. Đất đen như than, mà mềm như bùn. Lưỡi cuốc rất to, xắn xuống rồi lấy lên từng cục trông ngon như nhưn bánh trung-thu chai bằng đậu đen.
Kia, một nhóm phụ nữ phát mía, những đám mía đã tới tuổi nấu đường.
Trong lò lửa cháy rần rần, trông vui và ấm lạ.
Tiếng ông che nghiến răng kèn kẹt như câm giận sao dân làng bắt các ổng làm việc nhiều thế để hưởng lợi.
Ông che là những khúc gỗ tròn, đứng kề sát nhau, lăn quay như con vụ. Mía đút vào đó, ổng nghiến dẹp lép, nước chảy ra không sót một giọt. Bàn ép của các xe mía là những ông che tí hon nằm ngang.
Dì của Thế là một chủ lò đường, nhà làm ăn rần rần nhưng không con.
Bà thấy Thế lên thì mừng rối rít, hối trẻ ví gà để đãi cháu một bữa gà luộc nước chè.
Hai anh em hỏi thăm sức khỏe bà dì xong là thoát ra ngoài. Uống nước chè là chuyện phụ. Họ lên đây chỉ để hưởng thú quê một ngày chúa nhựt, sau cả tuần lễ ngộp thở ở Đô-thành.
Cặp Mạnh, Thế đi xuống bến, mở xuồng của dì cột nơi đó, rồi bơi ra giữa dòng.
Nước sông Sài-gòn ở nơi đây xanh lơ như nước sông trong tranh, nên hai anh em muốn ở mãi dưới ấy cho đến bữa cơm trưa.
Nhưng mới bơi được một đỗi là bà dì đã cho người gọi giựt ngược lên. Bà ta nhận được lịnh khai thuế gì đó mà đọc không hiểu mấy bữa rày, nên nóng được đứa cháu thông thái cắt nghĩa cho nghe.
Không được chơi nước thì chơi lửa vậy, đôi bạn tự an ủi thế. Và giải thích xong giấy tờ cho chủ lò nghe là họ ra liền, không ngồi nóng ghế chút nào.
– Nước chè là nước làm sao vậy? Mạnh hỏi.
– Là nước mía nấu sôi để làm đường, mà chỉ mới sôi đến độ nào đó thôi.
– Vậy hả? Thành ra thịt gà luộc trong đó ăn ngọt?
– Ừ.
Người thợ nấu đường đứng xem chảo nước mía sôi một hồi, dường như thăm hỏi từ bong bóng mật đang sùng sục trồi lên hụp xuống, đánh hơi cái mùi ngon ngọt thơm thơm từ chảo bốc ra, rồi nói: “được rồi”.
Đoạn anh ta thọc gáo vào chảo múc đầy một gáo nước chè, đổ ra hai cái tô đặt cạnh đó, trong tô có sẵn vài lát gừng.
– Mời hai cậu uống nước!
– Nước chè đây à? Mạnh hỏi bạn.
– Ừ, uống cho biết kẻo chết thành ma nhà quê.
– Ma chợ chớ. Nếu ma nhà quê thì đã sành uống nước chè.
Mạnh thổi vào tô nước nóng, rồi uống từng hớp kêu soạt soạt cái thứ nước ngọt một vị ngọt tươi và cay cay hơi gừng ấy.
Người thợ nấu đường khác đi lại, tay cầm hai cùi thơm phủ một thứ nước sơn vàng láng mà trong.
– Hai cậu mút cái nầy rồi uống nước mới ngon.
– Gì đây?
– Đường gần tới. Nhúng cái gì vào đó, rồi mút cũng ngon cả, cùi thơm, cùi bắp, vỏ bưởi, đu đủ sống, v. v…
– Như con nít mút kẹo vậy. Thế ơi, ngộ quá!
Mạnh mút một cái, hớp một hớp nước chè nóng, vừa lắng nghe mùi nước mía ngập ngừng muốn biến ra mùi đường mà chưa thành hẳn, vừa nhìn người ngồi che cho che ăn.
Anh ta ngồi ngay dưới đất, rút mía nơi đống mía sau lưng rồi đút vào hai con che trước mặt.
Che nuốt lần lần những cây mía cứng ấy như một con quái vật đang đói một cơn đói khổng lồ, ăn mãi, không bao giờ no cả.
Hai con trâu kéo một cây trục đóng dính vào đầu một con che, đi vòng quanh bất tận. Đó là động cơ sống hai… ngưu lực, dùng để quay cái bàn ép to tướng kia.
Con che kêu rít lên, nghe rợn cả người, khiến Mạnh có cảm giác đó là một vật sống có linh hồn, mà đây là một linh hồn hiểm ác.
Như đang cùng một ý nghĩ với bạn, Thế nói:
– Họ sợ hãi kêu con che bằng ông che nghĩ cũng phải. Họ hay cúng kiến nó lắm, và con che nào cũng có “cô hồn” cả.
Cho che ăn về đêm là một công việc cảm tử. Hễ ngủ quên trong nháy mắt, đút luôn tay mình vào đó là chỉ có trời cứu. Ở đấy vài năm lại xảy ra thảm kịch ấy một lần.
Bỗng ai nấy đều giựt mình kêu thét lên một tiếng khủng khiếp. Họ dòm lại thì, trùng phùng kỳ lạ thay, tay người thợ ngồi che vừa bị “ông” che ngoạm phải.
Tiếng kêu la của nạn nhơn nghe kinh sợ lạ kỳ như tiếng một người thoạt thấy ma, rồi lại tuyệt vọng quá sức như người vừa rơi xuống miệng hố sâu, không mong ai cứu được cả.
Trong khi ấy thì cặp trâu cứ bình thản kéo cây trục, cho con che lăn quay đi.
Lẹ như chớp, anh thợ nấu đường nhảy tới nắm mũi trâu mà chận nó lại.
Nhưng tay anh thợ ngồi che đã bị nuốt đến cườm.
Cả xóm bu lại tháo che ra. Bàn tay anh nầy dẹp lại như con khô hố. Huyết quản và hồi huyết quản bị bể máu ra có vọt, còn nạn nhân thì đã bất tỉnh nhơn sự vì mất máu và vì sự đau đớn.
Mạnh lật đật chạy vào nhà lấy đồ nghề ra băng bó cho nạn nhơn, tiêm cho hắn một mũi thuốc khoẻ và một mũi thuốc cầm máu, rồi hối thúc:
– Mau mau đưa anh đó đi nhà thương, không thôi anh ta chết mất.
– Liệu cứu đuợc không cậu? Bà chủ hỏi.
– Chắc chắn được, nếu đi kịp. Xuống nhà thương, ngưòi ta biết cách và đủ phương tiện thì hy vọng lắm.
Khi người ta đưa kẻ rủi ro đi rồi thì vừa tới bữa ăn.
Bà chủ lo âu cần mời khách, và cố nhiên nhấn mạnh về công của anh bạn trẻ nầy.
– Thuở giờ, bà nói, chúng tôi chỉ để vậy mà chịu chết. Nay nghe theo lời cậu thử một chuyến xem sao. Nhưng dầu sao cũng cám ơn cậu lắm. Trong làng mà có một người biết thuốc như cậu thì đỡ biết bao!
– Hay là mầy ở luôn đây mà tàm thầy lụi vườn, Thế nói cà rỡn. Bà chủ cũng cười mà rằng:
– Thiệt chớ! Ở đây không thiếu mối đâu. Giàu thì không giàu, nhưng cậu kìếm tiền sống dư dả. Muốn tìm đôi bạn, cũng chẳng thiếu gì nơi.
Thế thúc cùi chõ vào hông Thịnh một cái rồi nói:
– Mê chưa? Cái vụ tìm đôi bạn đó mới là hấp dẫn đa!
Mạnh làm thinh, nhưng không và cơm nữa. Anh ta đang bi lời đề nghị chơi chơi nầy quyến rủ.
Thầy chích dạo ở Sài-gòn đã nhiều lắm rồi. Lóng nầy anh ta phải đạp xe máy rả cả giò để đi từ mối nầy tới mối khác, họ càng ngày càng hiếm hoi ra.
Giây lâu, anh ngước lên hỏi bà chủ:
– Nhưng ở đây tìm nhà ở, khó hay dễ thưa dì?
– Cũng khó lắm. Mà tôi có một cái trại ngoài kia, cậu ở đó vài tháng, chừng có tiền, tôi sẽ cho đất mà cất nhà.

Dân ở đây chỉ mắc phải có ba bịnh thôi: rét rừng, kiết lị, và bón uất. Bịnh sau đó, giây ra muôn ngàn biến chứng, nào là nhức đầu chóng mặt, tức ngực, vân vân…
Mạnh biết rõ thế nên anh ta “làm thuốc” rất mát tay, chữa đâu lành đó. Dân làng phục lăn anh ta và kêu anh là thầy thuốc. Có người lại tôn Mạnh là đốc-tơ.
Ở Sài-gòn, sao anh ta lèn xèn, thế mà lên đây cũng bộ y phục ấy, nhưng trông anh ta lại sang trọng ra.
Mạnh thấy là mình đã tìm được đất dụng võ, và quyết yên phận sống nơi xó nầy đến già với cái mộng mua vườn mua đất và có vợ.
Vì ảnh hưởng kinh tế, ở những làng trù phú lâu đời, con gái thường dễ coi và nhiều khi đẹp.
Mới ở có một tuần mà Mạnh đã chú ý đến năm cô, cả năm đều cùng xóm với anh, đó là chưa nói đến nhiều xóm khác mà anh đi chưa tới.
Thật ra năm cô gái ấy không đẹp đẽ gì bao nhiêu. Một cô được nước đa trắng trẻo như gái chợ. Hai cô đen mà đen duyên, trông rất đễ yêu. Cô thứ tư hơi to lớn, nhưng thân thể nở nang đều đặn tuyệt mỹ. Cô chót nói chuyện nghe mê lắm, thông minh và khôn ngoan như một cô gái có học nhiều.
Yêu họ mà qua đường thì thú lắm. Mà cỡ cưới họ làm vợ cũng chẳng hại. Nhưng Mạnh còn tham lam. Biết đâu xóm khác lại không có người lý tưởng. Hấp tấp rủi còn nữa thì có phải là tiếc lắm hay không?
Anh ta nghiễm nhiên là nhà tai mắt ở đây rồi, uy tín có thừa, bóng sắc như bóng sắc của anh, đối với gái quê cũng là có đường lắm, thì tội gì không chọn hoa khôi trong vùng để mà yêu hoặc để mà lập tổ ấm.
Hôm ấy anh đi chữa bịnh cho một ông lão ở xóm Lò mứt chuối.
Anh đạp xe đạp trên bờ các con đê, qua hết đám mía nầy đến đám mía khác, thì bỗng trước mặt anh một chiếc cầu ván đón đường.
Cầu ván làm bằng ba tấm ván nối dài lại, thành hình thang trong khoa hình học; bề ngang cầu chỉ vỏn vẹn rộng có bốn tấc thôi.
Anh Mạnh xuống xe, rồi người và ngựa (ngựa hai chân) cặp song song nhau mà qua cầu.
Cầu ván đóng đinh lắc lẻo, gập ghình, rung rinh thấy mà bắt ngán. Thỉnh thoảng cái bàn đạp bất nhơn đập vào ống qnyển anh ta một cái đau điếng người.
Tấm ván giữa cầu cao hơn tấm ở đầu cầu. Đẩy xe tới đó, ông thầy lụi bị đập một cái nữa, đau quá, ông ta toan cúi xống mà xoa chân thì bánh xe trước đã trật ván 1ọt xuống mương.
Cố níu xe lại, thầy lụi ta lại bị xe trì rồi cả hai rơi xuống nước một cái tùm.
Trong khoảng thời gian ngắn ngủi mà anh ta mới ngã mình ra khỏi cầu ván, Mạnh thoáng thấy một cô gái đứng ở bờ mương đối diện, cách đó độ hai mươi thước.
Cô gái xinh đẹp lắm. Trong lúc hốt hoảng mà Mạnh nhận được điều đó, chứng tỏ sắc đẹp của cô ta quả sáng rực lên.
Hình như cô ta đang cười rũ rượi, tuy không ra tiếng.
Mương sâu cỡ hai thước; gặp lúc nước ròng, các mương trong đều đánh tháo ra ngoài sông nên nước chảy siết. Mạnh lại không biết lội.
Hồi té, anh không sợ bao nhiêu, đoán nước dưới ấy giỏi lắm tới ngực là cùng. Anh không bông xe nên vì nặng, rơi tới đáy rất lẹ. Bấy giờ anh mới thả tay ra để đứng dậy.
Lần đầu tiên trong đời anh, Mạnh mới hay rằng hoạt hoạt động dưới nước khó vô cùng. mà lại lại dưới dòng nưóc đang chảy mạnh.
Anh đứng lên, nghe nằng nặng ở trên đè xuống, và gì mà như ai xô anh tới trước. Đã nghe ngộp, anh ráng hết sức bình sanh chống lại áp lực ở tứ hướng và đứng dậy thật mạnh. Anh đã đứng được, nhưng mặt anh vẫn còn ở dưới nước.
Tất cả những sự việc trên đây xảy ra mau hơn là thì giờ dùng để kể nó lại nơi đây, sự việc chỉ xảy ra trong nháy mắt thôi.
Mạnh hoảng hốt đến cực độ, chợt biết rằng mương sâu hơn thân người cao. Trên anh, khối nước còn đè nặng lên đầu anh.
Mạnh vừa quýnh lên thì thấy một bóng đen lù lù tiến đến làm anh khủng khiếp vô cùng, nghĩ tới những con thủy quái ghê gớm đọc thấy trong tiểu thuyết.
Nhưng một cánh tay thò tới, thoạt tiên làm anh khiếp vía, ngỡ vòi con mực trong phim chiếu bóng kia. Nhưng anh chợt hiểu.
Người cứu cấp nhảy lên bờ mương trước rồi nắm tay anh mà kéo. Manh níu cỏ thoát lên cho đỡ nặng người kia.
Anh mắc cở đến muốn nhảy xuống mương vì người đó là một cô gái, cái cô gái gặp mình mà cười hồi nãy.
Cô ta nhảy trở xuống nước để lôi xe máy lên, lần nầy khó khăn hơn nhiều, vì tuy xe nhẹ hơn người mà nó lắc lẻo khó kéo lắm.
Mạnh, tuy thế, vẫn cố dẹp tự ái lại, đứng lên để cám ơn người nghĩa. Người nầy chỉ mỉm cười, có lẽ quê mùa, ngây thơ, không tìm được lời khiêm nhượng nào để xóa lấp câu cám ơn của nạn nhân chăng?
Mạnh lại hỏi thêm:
– Thưa cô, nhà cô ở đâu?
Cô gái chỉ mỉm cười như trước, rồi không hiểu sao đâm đầu chạỵ đi một nước, trước sự kinh ngạc của Mạnh.
Anh ta ngó theo cho đến lúc cô ấy khuất dạng, sau một đám mía, ngó theo để biết hướng nhà cô ta, mà cũng là ngó theo cái thân hình tròn trịa lộ rõ ra vì y phục ướt dán sát vào da thịt cô.
Thầy lụi chích xong, hỏi người nhà ông lão:
– Ở xóm nầy, cái cô gái có nút ruồi trên môi trên là gì và nhà gần hay xa?
Bà lão ngơ ngác, còn dâu bà thì mỉm cười nói:- Chắc thầy hỏi con Bánh?
– Con Bánh? Tên ngộ quá! Nhưng tôi không biết tên cô ấy, cô ta đẹp lắm, nhờ nút ruồi trên môi.
– Chắc chắc là con Bánh rồi. Nhà nó ở trong kia, nhà ngói cũ nhỏ, có hòn non bộ ngoài sân.
Rồi chị ta cười bí mật, hỏi gì cũng không chịu nói thêm nửa lời.
Bận về, Mạnh ra đường cái mà đi, không dám theo bờ đê nữa. Anh thay y phục, ăn cơm mà một chị hàng xóm làm giùm cho rồi đi nghỉ.
Ngủ trưa thức dậy, Mạnh diện bộ đồ bảnh nhứt của anh như chiều thứ bảy đi xem chiếu bóng ở Sài-gòn, rồi đẩy xe ra lộ lớn để xuống xóm cô Bánh.
“Cô Bánh, tên xấu quá, mà người lại đẹp. Mạnh vừa đi vừa nghĩ vừa buồn cười. Nhưng bánh nầy là bánh bò bông, nên trắng nõn, lại là bánh đám cưới, làm hoa hòe ra, trông ngon lắm. Nhưng biết có phải là cô Bánh hay không?”
Anh ta đạp xe như đua nước rút, không mấy chốc là đã đến nơi. Đẩy xe đi dài theo bờ mương, anh nhớ lại tai nạn hôm qua mà tức cười.
– Cô ta cười là phải. Bộ mình qua cầu không quen, trông thấy lọm khọm ai mà nín cười cho được. Lại té xuống nước nữa! Mà chết hụt trong một cái mương hẹp mới ác chớ!
Mạnh đi riết vô trong thì quả gặp cái nhà mà chị nọ đã tả. Trước sân có hòn non bộ hẳn hòi.
Chó sủa vang mà không thấy dạng người ta. Mạnh bẻ một cành tre ngoài hàng rào cầm quất chó rồi bước vào sân.
Không thấy bóng người, mặc dầu cửa mở. Có lẽ cả nhà đều ở ngoài đồng. Đứa bé coi nhà đã trốn đi chơi chăng?
Mạnh đứng ngoài sân tằng hắng hai ba tiếng. Cũng không nghe động tịnh. Đánh bạo, anh đi vòng ra sau bếp thì mừng thay, cô gái nút ruồi, cô Bánh, đang nấu nướng gì đó.
Cô gái đưa lưng ra ngoài, chắc là điếc hay sao mà Mạnh lên tiếng cô ra vẫn chẳng day ra. Tức quá anh thầy lụi bước đại vào nhà bếp.
Bấy giờ cô Bánh mới day lại, thoạt tiên chưng hửng rồi vui mừng lộ rõ ra trên mặt cô. Cô cúi đầu chào khách rồì đứng đó làm thinh.
Thấy cô ta quá ngây thơ quê mùa, Mạnh thích lắm. Chàng nói:
– Thưa cô, ơn cô tôi không sao qnên được, nên nay quyết đến để…
Cô gái mở miệng ra, ú ớ cái gì không biết nữa và Mạnh bỗng chợt hiểu tất cả: đó là một cô gái câm.
Chàng buồn cười hết sức, không cầm giữ được, nên bật tiếng cười dài.
Cô gái mắc cỡ, bỏ chạy ra đám mía trước nhà rồi lủi vào đó mất dạng.
Mạnh biết đợi thế nào cô ta cũng chẳng vô, nên ra về, tự hẹn sẽ đến.
Ngày mai chàng trở lại nơi đó, vì dầu sao cô gái ấy cũng đẹp mà chàng còn trẻ với tình yêu chan chứa, với dục tình muốn thoát cương.
Cô Bánh thấy khách toan chạy đi, nhưng nghĩ sao không rõ, lại thôi.
Mặt cô vừa bẽn lẽn vừa có vẻ giận dỗi. Mạnh hiểu ngay những phản động trong lòng cô ta, nên anh vào chào cô rất lễ phép và nghiêm mặt lại như trọng nể cô lắm.
Quả nhiên cô Bánh hết giận ngay.
Quên bịnh tật của cô, Mạnh hỏi Bánh một câu. Bánh u ớ lu bù những giọng líu lo gì đó, khiến thầy lụi sực nhớ lại thực trạng về cô.
Mạnh cố suy tính coi phải ra dấu thế nào cho cô ấy hiểu câu hỏi của chàng. Câu ấy là như vầy:
– Còn ba má cô đâu?
Rốt cuộc chàng vuốt cằm như vuốt râu, muốn nói người có râu, tức ông già, tức cha cô gái. Rồi chỉ vào nhà, lại chỉ ra đồng.
May quá, cô gái hiểu và chỉ về đằng xa dưới kia, rồi lấy cây chổi giả bộ như cuốc đất.
– Ba tôi cuốc đất dưới kia.
Chàng muốn hỏi nữa, nhưng không biết ra dấu làm sao nên đành cụt hứng. Đôi bạn đứng đó mà làm thinh, miệng tuy ngậm câm, mà lòng nói với nhau nhiều lắm.
Đối diện đàm tâm mãi cũng chán, Mạnh lấy ra một gói nhỏ trao tặng Bánh. Đó là ve dầu thơm thứ lô-canh rẻ tiền mà chàng đã mua chiều hôm trước trên chợ Lái-Thiêu.
Cô gái không nhận, xua tay lia lịa. Mạnh làm ra vẻ khẩn khoản lắm, ra dấu nói nếu cô ta không nhận thì chàng sẽ đập lọ vào gốc cây rồi về và không trở lại thăm cô ta nữa.
Cô Bánh rốt cộc nhận quà, rồi ra dấu bảo Mạnh đứng đó. Cô chạy vô nhà một lát thì trở ra với một chiếc khăn mu-xoa thêu rìa xanh đỏ trông rất quê.
Nhưng Mạnh tỏ vẻ vui mừng như được bảo vật. Rồi họ chia tay nhau, cả hai đều bằng lòng.
Sáng hôm sau, Mạnh vừa tiêm xong thuốc cho bốn năm người khách không bịnh nhiều, lại ngay nhà chàng được, thì cô Bánh đã đến.
Cô Bánh vừa bước tới sân là Mạnh nghe nực nồng mùi dầu thơm rẻ tiền. Cô ta làm dáng ghê lắm: nón bài thơ bọc áo ni-lông; áo bà ba bô-bơ-lin thêu trôn; đồ trong màu hường dạ ra ngoài rõ bông, quần lãnh tây thêu lai; guốc quai tréo.
Chiều hôm qua, Mạnh đã điều tra kỹ và biết cô Bánh là con một của một gia đình trung nông, ông cha là hương chức trong làng, chủ ba bốn mẫu mía.
Cô có học trường câm ở Lái-Thiêu mấy năm nên biết viết, biết đọc sách thầm, biết thêu thùa, làm hoa giấy, v. v…
Mạnh tiễn khách tới sân rồi luôn tiện mừng bạn vừa đến. Chàng mời Bánh vào nhà, trà nước đàng hoàng, rồi ra dấu để đàm đạo.
– Cô đi chợ phải không?
– Không, em lại đây.
– Cô có xức nước hoa, tôi tặng hay không?
– Có, không nghe mùi đó sao.
Lại làm thinh, vì những câu muốn hỏi khó ra dấu quá.
Cô Bánh làm bộ như viết chữ. Mạnh chợt hiểu, chạy vào lấy giấy và một cây viết chì ra trao cho bạn.
Cô Bánh viết ngay mấy câu sau đây. Chữ rất xấu, chánh tả lại sai be bét:
“Anh Thầy Chít ơi”
Đọc xong lời kêu gọi, Mạnh cố nén cười đến tức muốn bể ngực. Thì ra cô gái đã điều tra, và có lẽ ai đã viết cho cô đọc để biết anh ta là thầy chích. Nhưng cô ta lại lầm tưởng thầy chích là tên của anh, nên mới viết hoa hai chữ T và C.
“Anh Thầy Chít ơi!
“Em tới thăm anh. Hỏi xao (sao) anh hổng tập lội, kẻo té nữa rồi ai dớt (vớt) cho. Anh có vợ con chưa ? Ai nấu cơm anh ăn?”
Lần nầy Mạnh dám cười, cười thẳng thắn, anh đáp:
“Cô Bánh ơi!
“Tôi có té thì kêu cô vớt liền. Tôi chưa vợ. Tôi ăn cơm tháng với chị gần bên.
“Phải chi tôi ở gần cô, tôi mượn cô nấu tôi ăn. Cái khăn cô tặng tôi đẹp quá. Tôi cất kỹ để dành, lâu lâu, tôi lấy ra nhìn, cũng như là thấy mặt cô.”
Đôi bạn bút đàm với nhau tốn đến năm tờ giấy mà nói toàn những chuyện vớ vẩn không mà thôi.
Rồi Bánh ra về, hẹn sẽ đến nữa. Họ thỏa thuận với nhau là lặp nhau nơi đây tiện hơn ở đâu cả, và Mạnh sẽ không đến nhà Bánh cho cha mẹ Bánh khỏi nghi nan.
Cưới Bánh làm vợ thì Mạnh không tính tới, cố nhiên rồi, mặc dầu nàng là con nhà khá giả trong làng.
Nhưng con trai thì tánh hay tham, nên Mạnh thấy bỏ đi cũngr uổng. Vả lại làm bạn với một con câm cũng vui trong cảnh buồn tẻ ở xó quê nầy. Tỏ tình với nó cũng thú lắm.
Đôi bạn qua lại với nhau đâu được mười lăm hôm thì bữa đó Mạnh viết:
“Cô Bánh ơi,
“Tôi thương cô lắm mà không biết cô có thương tôi hay không ?”
Cô Bánh đáp:
“Anh Thầy Chít ơi,
“Sao lại không thương, em thương anh từ lúc vớt anh lên bờ. Không thương còn lại đây làm chi.”
Mạnh lại viết:
“Cô Bánh ơi,
“Từ đây tôi kêu cô bằng em. Tôi mừng quá, tôi sung sướng quá. Tôi muốn nói chuyện với cô thật nhiều, thật lâu mà bây giờ sắp có khách khứa lu bu. Vậy tối cô lại có được hay không?
Bánh lại đáp:
“Thầy Chít ơi.
“Ngày thường thì không được. Mà tối nay được. Ba em đi dọn đám ma nhà bà con dưới Bình-Phước. Má em thì quáng gà. Tối nay em lên lối tám giờ.”
Mạnh bôn chôn trông cho mau tối. Tối đến, anh lại hồi hộp đợi bạn.
Bánh lên, anh nhắc chõng tre ra sân, ngồi cho mát. Cả hai đều biết cuộc gặp mặt đêm nay có mục đích gì, chớ nói chuyện bằng chữ sao cho tiện bằng ban ngày.
Sự gần gũi lần đầu trong đời người giữa đôi bạn trai gái, quá thần tiên và đẹp như mộng, đẹp hơn cả mộng nữa, bởi vì sự ấy đã là mộng rồi trong đó đôi bạn không còn ý thức rõ ràng về thực tế chung quanh.
Mạnh cầm lấy tay bạn thì nghe Bánh thở như ống bễ lò rèn. Chàng chợt nhận ra mình cũng thở như…

Cuộc sống ở thôn quê cứ lặng lẽ trôi qua như mây bạc trên trời, hay như nước dưới dòng sông.
Thỉnh thoảng có một con cá, trồi lên mặt nước vùng vẫy một cái mạnh làm xao xuyến sông lặng rồi đâu trở lại đó như cũ.
Con cá trong làng là vụ cô Bánh. Cô Bánh có thaì. Với ai, nào ai biết đâu.
Tới chừng bụng cô ta lớn bà con mới tóa hỏa ra.
Hai ông bà bắt con mà đánh một trận như trời giáng. Đoạn ông hương bà hương mới tra gạn Bánh để biết nó đã tư tình với ai.
Bánh cứ một mực lằc đầu.
Cùng thế ông hương phải viết giấy.
“Đứa nào ở với mầy cho mầy có thai, mầy nói ra đặng tao bắt nó cưới mầy. Nếu không thì xấu hổ tao, tao giết mầy chết.”
Cô Bánh viết đáp cụt ngủn:
“Con không biết.”
Nổi giận, ông hương đạp con một cái lăn cù rồi đánh bồi thêm túi bụi, đánh đấm, đánh đá như người đập nệm phơi ngoài nắng.
Bà hương nóng ruột con, nhưng không dám nói gì. Bà suy nghĩ dữ lắm trong trận đòn đó và bỗng tìm được kế để cứu đứa con gái thân yêu.
– Ông à! Hay là nó không biết thật. Nó câm lại điếc, làm sao biết hết trai trong làng được.
Đánh con đã mỏi tay, nên ông hương mới chú ý đến lời bà.
Ông hơi nao núng, nhưng chỉ làm thinh. Bà đề nghị:
– Tôi nghĩ nên giao vụ nầy cho cậu hương quản của nó tra xét. Là hương chức đương quyền, cậu nó được phép tra hỏi cả làng. Mình cũng chẳng còn sợ tiếng tăm gì nữa, vì vụ nầy đã tùm lum ra rồi, ai lại không thấy cái bụng của con Bánh.
– Bà làm sao xong thì làm. Con của bà, dạy dỗ nó là phần của bà, tôi giao cho bà hết đó.
Hương qnản Nhãn là một hương chức không bận trí về pháp luật cho lắm. Ông thấy phương tiện nào mà ông ngỡ hay thì cứ dùng. Và ông cũng sốt ruột cho con cháu nên không ngần ngạì mà thi hành đến một biện pháp mà thôn quê đã bỏ hẳn ba bốn mươi năm nay rồi là tựu dân phái nam lại cho cô Bánh nhìn mặt.
Có lẽ thấy quân đội Pháp cho bao bố nhìn mặt nên ông phát hứng làm theo, chớ chắc không phải nhớ tục xưa đâu.
Sáng hôm ấy tất cả trai tráng trong làng đều bị lùa vô xóm trong. Đàn ông còn trẻ cũng không thoát được khổ dịch đó, vì biết đâu cô ta lại không bị một anh có vợ nào dụ dỗ.
Nhưng vì hương quản không đủ phương tiện bố ráp, nên các cậu trai chuồn đi rất nhiều. Đó là những cậu có chọc ghẹo cô Bánh (có tịt hay nhúc nhích ấy mà!) và những cậu đã bị bao bố của Tây nhìn mặt một lần, biết rõ những cái gặt đầu ẩu xị của lao bố, nên quyết dĩ đào vi thượng.
Đàn ông con trai đứng giàn hầu hai hàng như lính giàn mặt trong một cuộc duyệt binh. Hương quản Nhãn dắt cháu đi giữa hai hàng rào người đó
Đằng kia, dưới gốc sao, trên gò đất, nhiều vị hương chức, cha mẹ Bánh, vài bậc kỳ lão, và con trẻ cả làng đều tựu để chứng kiến cuộc truy tầm thủ phạm bí mật, vô hình này.
Cô Bánh hơi bối rối, như là cô đang đứng trước một vấn đề nan giải. Bước vào giữa hai hàng rào người, mặt cô ra vẻ miễn cưỡng nhẫn nại chịu đựng sự phanh phui nầy.
Qua mặt ai là người đó tái xanh đi, và chừng cô bước khỏi đó, họ mới thở ra, nghe nhẹ hẳn cả người.
Người câm là một kẻ lòng dạ khó lường, nên ai nấy đều sợ hãi, nghĩ cũng phải lắm.
Lạ quá, cô Bánh ngập ngừng, do dự trước bốn người con trai, nhưng mỗi lần như thế, cô lại đi qua luôn.
Mạnh đứng cuối hàng. Cô Báuh dường như không dè có mặt chàng ta nơi đó. Đến chừng đi trờ tới, thấy ông thầy chích, cô ta như sực tỉnh, áp tới mà níu áo thầy.
– À…
Cả làng đều à lên một tiếng dài, trong khi Mạnh ngạc nhiên thật tình và phản đối bắng tiếng “ủa” to.
Hương quản Nhãn cười ha hả:
– Ngỡ ai, té ra thầy ba. Thôi cũng được. Thầy chưa vợ, dễ tính lắm mà.
Mạnh hất tay Bánh rồi nói lớn lên, giọng giận dữ:
– Các ông làm như vậy oan tôi lắm. Phải có bằng cớ gì đích xác kia, chớ còn một lời quả qnyết cảm của một người á khẩu đứng làm sao cho vững!
Hương quản Nhãn ra lịnh giải tán dân làng, họ mừng quýnh, đổ túa vô trong các đám mía.
Còn lại vài ông hội tề và cha mẹ cô Bánh. Hương quản Nhãn dịu giọng dỗ ngọt Mạnh:
– Thầy ba à, nếu ra tòa, tôi chắc là tòa cũng sẽ phải tin cháu tôi. Vả lại khi không nó vu oan cho thầy làm chi? Thôi, ta thỏa thuận với nhau là hơn, cháu tôi nó xinh đẹp lại giỏi dắn; anh chị tôi cũng nhân từ, anh chị tôi sẽ gánh hết tổn phí đám cưới đám hỏi cho thầy, thầy đừng lo. Con một của nguời ta đó mà.
Mạnh sầu đến muốn cắn lưỡi mà chết. Thật là một nỗi oan Thị-Kính!
Đêm ấy anh quả có gặp Bánh tại nhà, quả có cầm tay nó, vuốt lên tóc nó và quả đã có nhiều tà ý.
Nhưng kỳ lạ quá, và mãi đến ngày nay Mạnh vẫn không hiểu sao mà đêm đó chàng có thái độ như vậy. Không phải chàng ân hận đã dại dột bỏ qua dịp may, mà chàng ngạc nhiên sao mình đã đứng đắn được như vậy.
Cầm lấy tay Bánh, Mạnh bỗng nghe ghê tởm mình quá. Dụ dỗ gái thường tuy không tốt gì, nhưng còn nghe ít tội một chút. Đàng nầy cô gái câm thật là một con mồi thật thà quá. Lòng chàng nghe khó chịu vô cùng như kẻ anh hùng ái ngại khi xuống tay hạ sát một người không được bảo vệ.
Bị cầm tay, cô Bánh giựt nẩy mình, rồi trong giây phút đê mê, cô ta ngã vào lòng Mạnh. Mạnh xô cô ta ra mấy lần mới được.
Bánh ngạc nhiên hết sức và chưa kịp hỏi nguyên do của sự thay đổi thái độ của bạn nàng thì Mạnh đã đưa tay biểu cô ta đi.
Bánh vẫn không chịu hiểu, ngồi lì đó mãi. Mạnh phải kéo cô ta dậy và đẩy đi như đuổi tà, cô ta mới chịu cúi trở xuống giường lấy khăn.
Cô gái ban đầu khóc vài tiếng rồi như nén sầu và đâm giận, vùng bỏ đi một nước.
Ngày hôm sau, Bánh lại đến, mặt hầm hầm. Mạnh xua tay bảo cô ta đi ngay cho.Câm tức cực độ, cô ta viết:
“Em có làm gì mà anh ở ác dữ vậy. Em giận anh lắm đó! Em buồn muốn chết đi. Bộ anh thương người nào khác phải không? Coi chừng.”
Mạnh có ác đâu, anh tốt lắm đó chớ. Anh chỉ vụng về thôi, không biết cách khước từ làm sao cho cô gái hiểu là không nên lén lút như vậy.
Từ đêm đó đến nay, anh không hề hội kiến với Bánh lần nào nữa cả. Thì làm sao mà nó có nghén được vói anh!
Trời hỡi nè, oan nầy ai thấu cho mình? Mà tại sao con Bánh nó vu oan giá họa một cách thất đức như vậy không rõ. Nó trả thù vì đã căm giận mình à?
Không sành pháp luật lắm, Mạnh nghe những lý lẽ của hương quản mà đâm lo. Ừ, ra tòa, tòa nào lại không nghe lời con Bánh? Sao cả trăm đàn ông con trai, nó không chỉ ai, lại nhè mình mà níu. Nó oán mình, ai biết cho? Vả nếu nó khai ra vụ đêm đó, càng chết thêm, vì có ma nào tin được rằng một cậu trai gặp bạn gái ban đêm, cô bạn sắp hiến thân cho mình, mình lại khước từ?
Thôi thì đành chịu số phận, rồi hãy hay. Anh định bụng, sau tiệc cưới anh sẽ trốn đi. Bỏ vợ không ai làm gì đuợc, còn bây giờ mà họ đưa ra tòa là dính ngay cái tội dụ dỗ gái thơ.
Đám hỏi.
Người trong làng thấy đám nầy cũng xứng đôi vừa lứa, nên họ quên chuyện tồi tệ mà chỉ khen hai trẻ tốt đôi.
Bánh là cô gái câm đấy. Nhưng tật nguyền của cô được của cải bù lại. Cô là con một của một gia đình khá giả kia mà!
Nhưng Mạnh không nghĩ thế. Anh kiếm tiền để sống, kiếm dư tiền nữa để làm cho một cô gái lý tưởng được hạnh phúc.
Cô Bánh quả có xinh đẹp thật, nhưng mà cưới một người câm thì hạnh phúc anh sẽ giảm đi bao nhiêu ? Tệ hơn thế, người câm ấy bây giờ đã bị hoen ố rồi!
Anh định trốn, nhưng tính lại thì cũng không phải là chuyện dễ. Ra đi là muôn mắt dòm mình, trốn đâu cho thoát. Không lẽ giả đò dạo mát rồi lủi đại vào rừng. Vào đó, đi lạc đường sẽ khổ đến đâu.
Còn cái chỗ làm ăn nữa! Không phải mỗi lúc mà tìm ra được một chén cơm trắng, cơm thơm như thế nầy, trốn về Sài-gòn, biết còn kiếm được khách hàng như trước nữa hay không?
Khổ ơi là khổ! Mạnh lẩn thẩn đâm ra ăn năn. Phải dè lúc đó mình cứ việc… thì ngày nay dầu bị cảnh nào cũng mát bụng đi.
Đạo đức làm chi, thương người làm chi mà phải quà quạ nuôi tu hú như bây giờ ? Ai ăn mắm ở đâu, mình lại chịu khát nước!
Trong thời gian ấy, Thế có lên hai lần. Nó hay tự sự, đã không tìm được mưu kế gì cứu bạn, lại cười ngã nghiêng ngã ngửa cho tình cảnh oái oăm của thằng bạn rủi ro nầy.

Chú rể Mạnh không thèm đi làm rể làm con gì cả. Trái lại, cha mẹ vợ anh mỗi ngày mỗi đến thăm anh. Mạnh biết họ đi thăm bẫy thử xem con vật vào cạm có sảy hay không, hoặc có thử vùng vẫy, để thoát hay không.
Nói cái nào cho ngay, ông hương rất quí rể. Không ngày nào là ông bà không mang quà đến: không một con gà quay thì cũng mươi con tôm luộc, hoặc vài cặp dừa xiêm.
Người trong làng ai cũng buồn cười cho cảnh làm rể ngược đời nầy. Ông già vợ gì mà đi làm cỏ trước sân chú rể?
Hôm ấy bà Hương đem biếu một rổ bòn-bon và đưa cho Mạnh một bức thơ. Thơ rằng:
“Anh Thầy Chít ơi!
“Em thương anh Thầy Chít lắm, mà cũng giận anh Thầy Chít lắm, nên mới làm như vậy. Mà nghĩ cũng không hại gì cho anh. Em sẽ nhỏ nhoi hết sức, anh Thầy Chít muốn sai em làm gì cũng được, muốn đánh em, em cũng chịu. Tiền của em nhiều, em cho hết anh Thầy Chít đó. Tội nghiệp em lắm mà!”
Đọc xong Mạnh giận tím mặt, xé nát thơ mà vụt xuống đất. Bà già vợ anh kinh hãi vội rút lui ngay.
Trong cơn điên tiết, Mạnh muốn chạy đi tìm Bánh mà bẻ cổ cho lợi gan anh. Nhưng rồi anh dằn được.
Nghĩ cũng tôi nghiệp, Mạnh tự nhủ. Nếu mình không bày chuyện yêu đương, không rờ rẫm nó, chắc nó sẽ không bị động tình và giữ mình được. Xác thịt giống như thùng thuốc pháo. Không ai rớ đến thì thôi, mà hễ khơi ngòi nó, nó nổ lung tung, ông trời mà dập tắt được.
Bên đàng gái coi ngày gấp đặng làm đám cưới trước ngày Bánh khai hoa.
Còn hai tháng nữa!
Còn một tháng nữa!
Còn mười lăm ngày nữa!
Mạnh ra vào thơ thẩn như kẻ mất hồn.
Thấy con Ngọ bán đậu phọng rang đi ngang qua nhà, anh kêu mua một gói ăn cho đỡ buồn miệng.
Mạnh ngạc nhiên hết sức mà thấy trên giấy gói đậu có tuồng chữ viết của Bánh. Nhưng khi nhớ ra con Ngọ là chị em bạn dì với Bánh, anh không còn lấy làm lạ nữa.
Nhưng tánh tò mò, anh banh tấm giấy ra mà đọc.
“Anh Thìn ơi,
Thìn là anh ruột của Ngọ, người con trai sáng sủa nhứt trong đám nông dân ở đây.
“Anh Thìn ơi,
“Tôi vu oan cho anh Thầy Chít là để cứu anh đó. Bà con mà anh bậy quá, dụ dỗ tôi cho đến nỗi nầy.
“Từ rày tôi cấm anh léo hánh đến nhà tôi. Tôi quyết làm vợ anh Thầy Chít. Còn con anh, tôi đẻ ra, tôi sẽ lén cho nhà phước thiện. Liệu hồn, anh mà còn bén mảng đến, tôi khai tạch hoạch ra cho mà mang xấu cả lũ.”
Hai tay Mạnh run bây bẩy. Mồ hôi trán anh nhỏ giọt. Anh mừng, mừng như dò giấy số thấy mình trúng độc đắc, mừng như kẻ tử tù hay tin được ân xá.
– Thôi, sướng rồi, bắt đước bằng cớ rồi! Bằng cớ nầy, mình dùng để thoát thân, rồi sẽ hủy. Nếu mình mà ác, mình sẽ làm tiền cả họ nhà nó. Chúng nó sợ xấu, mình đòi bao nhiêu họ cũng phải lòi ra.
May cho cả họ nhà nó lắm đa!

Chữ co quắp

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted on 5/06/2014 

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

16 chữ vàng trung quốc trao:
sơn thuỷ tương liên
lý tưởng tương thông
văn hoá tương đồng
vận mệnh tương quan

15 chữ trong diễn văn:
xưa mang tội:
phản bội tổ quốc
nay thành khúc ruột
ngàn dặm thân thương

14 chữ đoạn trường tân thanh:
trải qua một cuộc bể dâu
những điều trông thấy mà đau đớn lòng

10 chữ của thuyền nhân:
một là chết nuôi cá
hai là sống nuôi má

9 chữ trên miệng dân gian:
khi đã máu
đừng hỏi bố cháu
là ai?

8 chữ học sinh đương đại ưa triết lý:
quay đầu là bờ
ngờ đâu là biển

7 chữ trong thơ bác:
không gì khổ bằng mất tự do

5 chữ của an ninh toà án:
tự do cái con C…

4 chữ bùa chú:
phong bì bôi trơn

3 chữ của dân ngu:
biết chết liền

2 chữ bình dân (khu) đen:
đù mẹ

1 chữ ám số:
tử.

Hồ Đình Nghiêm