This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Mình không hiểu hết ý câu nói của hoạ sĩ Đinh Cường: “Với tôi, ai yêu mẹ cũng đều là anh hùng”. Không thẩm thấu toàn vẹn nhưng có được sự liên tưởng: Mình là chiến binh được đời gắn cho hai huân chương cao quý trên ngực áo phai màu, phía trái tim. Lủng lẳng hai nụ hoa bạc rung lên theo mỗi một cất bước. Nó cúi đầu thổn thức hay nó hãnh tiến hất mặt lên? Hai nụ hoa bạc thay cho một thứ “Chiến thương bội tinh”?
Vì sao bạc mà chẳng là vàng? Vì nhớ hoa trắng cài áo của Nhất Hạnh ngày cũ. Hình ảnh cầu chứng những ai mất mẹ. Trắng, màu ấy muôn đời tượng trưng cho trinh bạch, cho lạnh lẽo, cho hư không, cho sạch sành sanh. Nó trong ngần tựa thuỷ tinh có trong giọt lệ rơi xuống khi bạn khóc. Có nên gán thêm chữ tủi hổ, chữ cô đơn sắp hàng bên dưới TRẮNG?
Có người góp ý: Trắng là thứ vô sắc. Bạn chẳng thể gọi nó là màu trắng. Ừ, mình không nên tranh cãi. Một bảng màu, cứ thế mà gọi chết tên: Trắng, vàng, cam, đỏ, nâu, xanh lục, xanh da trời, xanh nước biển, xám, đen. Đừng đụng tới chữ màu có khi lại giống như họ tên một người con gái bị cướp đi chữ “thị” nằm giữa. Trần trụi cô đọng lắm lúc khiến lạnh lòng. Hàn Mặc Tử nói: “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Có ai trông chẳng rõ màu bông trắng rung động trước ngực đứa vừa mất mẹ?
Ngực cài tới hai hoa trắng? Ừ, chưa đủ sao? Chẳng lẽ ham hố đeo nhiều huy chương để phải còng lưng bởi cái nặng nề. Ai năm thê bảy thiếp không nói, chứ mình chỉ duy một vợ. Má vợ mất cọng thêm mạ ruột, vị chi là hai. Hai thôi đã khiến quặn ruột, ngần ấy đa đoan cũng xúi đoạn trường.
“Một hôm đếm một ra hai… đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm”. Bùi Giáng khuyên nhủ.
Nhiều người cho rằng, cái cột mốc 1975 đã là bảng đường chia lìa ra muôn hướng. Cũng phải, sông trôi lặng lờ tới bể dâu nọ đành phải bày ra một phụ lưu xao xác. Người ta hãi sợ khi sực nhớ tới một ngạn ngữ Trung hoa: “Nếu bạn ngồi lâu bên bờ sông, thế nào cũng trông thấy xác kẻ thù trôi ngang”. Tâm bất an để sanh lòng nghi hoặc, người ta sống, tự động co rúm xác thân, váng vất câu danh ngôn của bọn đế quốc phản động hiện về: “Niềm tin giống như một cục tẩy, nó sẽ nhỏ dần nhỏ dần sau mỗi một nhầm lẫn”.
Trong tiều tuỵ cùn mằn, giữa bải hoải chân tay mình leo lên được một bến bờ mới. Hoàng Xuân Sơn nói: “Em lên côi bợt em ngồi, tới bờ em đứng khóc mùi mẩn em”. Khóc, nước mắt hoan lạc đổ ra vì bến bờ kia dường như chực sẵn ở đó dáng dấp một người đàn bà mang trong lòng thứ tâm lượng hải hà để sau này tự nguyện đóng vai Mạ. Dù không mang hoa trắng trên ngực áo, bà biết mình mồ côi giữa trần gian ghẻ lạnh thiếu mặt đấng sinh thành. Bà nói, tựa tia chớp xẻ rách bầu trời nặng trĩu mây đen: “Mạ cho không đứa con gái duy nhất của mạ mà chẳng đòi hỏi điều gì cả”. Cho người năm trước, năm sau cho 10 lượng vàng để hai đứa vượt biên. Cho, nhận. Cho, nhận mà không biết cách đền đáp. Ngậm hột thị cho tới lúc nghe hung tin từ cố quận tải sang: Mạ chết rồi!
Một cái chết mà phận làm con chẳng tài nào tìm cách quy cố hương. Xa mặt cách lòng và cách triệu dặm nhiêu khê. Không như cách ra đi của Mạ mình trước đó, mình còn được sờ nắm đôi bàn tay buốt lạnh của người trước khi tẩm liệm, khuôn mặt hiền hậu của người còn hứng đọng giọt nước mắt của đứa con út vụng dại rơi để thấm rút vào da nhăn. Khi ấy, mình đã ngồi câm tiếng ba hôm bên quan tài sơn màu đỏ của Mạ, mình cắt giấy bạc thành những cánh hoa sen dán quanh “căn nhà” sẽ trở thành cát bụi nay mai. Một đứa con mất mẹ, nỗi đau của nó nói sao cho cùng tận?
Cả ngàn trang giấy thấm mực của bá tánh luôn tuôn đổ xuống để tụng ca về mẹ. Cả thế giới với đủ mọi ngôn ngữ ta bà đã không ngớt xiển dương tới hình ảnh cao quý kia. Và ai kia đã viết: Mẹ là người tình đầu, người bạn đầu, kể cả người thù đầu tiên mà bạn có. Nhưng trên trái đất này sẽ chẳng có thứ gì để chia lìa được sự liên hệ kia. Không thời gian, không gian… và ngay cả cái chết!
Mẹ, vĩnh hằng là hình bóng duy nhất nằm lắng đọng thật sâu trong hồn bạn. Trái tim mình vẫn cất giữ hai đoá hoa sen thơm mùi từ bi. Hoa sẽ tàn lụi chừng nào trái tim ấy thôi đập. Người ta có đáng sống thở không khi họ chưa từng một lần đề cao mẹ hiền?
Mình luôn mơ tưởng viết được một cuốn truyện với chủ đề MẠ. Đã hai thứ tóc trên đầu, sự mơ tưởng đi liền với niềm ăn năn. Ừ, hãy bảo vệ giấc mơ kia cho tới kỳ cùng. Nói như nhà văn Haruki Murakami: “Tôi mơ mộng. Đôi khi tôi nghĩ, duy đó là việc làm chính đáng”.
Mẹ ơi chớ đánh con đau Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ.
Ôi, đã muộn mất rồi. Tìm đâu ra cơ hội để van nài? Mạ ơi xin đánh con đau, để con hiểu thấu vết thương dại khờ.
Buổi ban sơ, tôi có lời bàn ra tán vào. Nghĩ không thuyết phục tôi mang cả mấy câu thơ cũ của Nguyễn Đức Sơn ngâm nga ca kệ cho May nghe: “…làm chi ở thế gian ni, triệu năm đừng có lo đi lấy chồng, rủi ro tay bế tay bồng, sao bằng ôm cả trời hồng đi chơi”.
Nước đổ đầu vịt, ngày đi tháng lại, sông trôi chân cầu, bèo giạt mây xa, tôi về phố cũ, dụi mắt ngó May, bụng không dưng lớn. Lúng ta lúng túng, con vịt bầu xác xơ giao hẹn, chú tuyệt đối chớ hoài nghi đặt dấu hỏi tra vấn, đợi lòng bớt giao động May sẽ nói rõ sự tình. May gọi tôi bằng chú bởi bố May là bạn tù chung nơi cải tạo. Bạn vắn số ra đi trước ngày tại ngoại, tôi dài số xuất dương ôm cả trời rách nát cù bơ cù bất chẳng biết đi đâu. Lời cuối bạn thì thào như gió nhẹ thổi lạnh lưng: Quan tâm giùm đứa con gái tao trơ trọi dại khờ.
Một đời làm lụng đầu tắt mặt tối của cha mẹ để gia tài lại cho tôi chiếc xe gắn máy chính chủ. Tôi căn dặn May rán sức ôm chặt lấy chú, trước để dằn cơn đau sau để khỏi té. Tôi rú ga chạy u tới nhà thương xớn xác chỉ thiếu còi ụ dẫn đường. Hai giờ trưa nhập viện, tới năm giờ May chuyển bụng vỡ nước ối. Khu hộ sản lắm bà mẹ non tuổi nhấp nha thấp thỏm nhăn nhó chờ vượt cạn. Tôi ngồi ở phòng cách ly đợi nghe một vuông tròn. Tiếng khóc của con người mang đầy những hệ luỵ, nhưng một vài trường hợp đôi tai kẻ liên hệ lại nuôi dưỡng một mong cầu lắng nghe. Khóc thì hẳn phải thảm sầu bàng hoàng cho cái chết, nhưng khi hài nhi mở mắt chào đời, tiếng khóc nọ hẳn sẽ khiến ai kia dấu vụng một nụ cười, một thở phào chẳng phấn khởi chút nao.
May vừa đủ tuổi trưởng thành, có quyền trưởng thành đúng theo luật pháp quy định nên không bị hoạnh hoẹ khi cán bộ y tế ngó tới cô gái nhỏ thó ngỡ chừng mười sáu nằm lã người chẳng hay biết trời cao đất dày. Ông là bố của hài nhi đấy nhỉ? Không, nó chỉ là cháu tôi. Ai là cháu? Ồ, người vừa đẻ đái xong. Vậy chồng cô ta đâu? Tôi nào biết, tôi không có quyền được biết. Hay nhỉ! Vậy ông là kẻ đứng ra lo mọi thủ tục? Sao cơ ạ? Tiền viện phí là hai triệu tám, ông chi trả cho cô ấy hay một người khác sẽ đến thanh toán? Thời hạn là bao lâu ạ? Hai mươi bốn giờ, càng sớm càng tốt để người ta liệu sắp xếp cho cô ấy một chỗ nằm dưỡng nghỉ. Hai ngày thì xuất viện, đấy là theo lẽ thường tình của quy định, cơ bản là thế.
Trán tôi tươm mồ hôi. Tôi không có thời gian để vào tóm tém đầu tóc rối bung cũng như cầm tay May vỗ về lời an ủi chia vui. Tôi phải chạy nước rút toan tính xoay trở đâu ra số tiền to đùng cỡ đấy? Vừa dợm quay bước thì có cô y tá mở cửa phòng gọi giật giọng. Đi đâu thế, bà nhà vừa đề đạt yêu cầu mong gặp ông đấy. Cô y tá mang ngộ nhận với hảo tâm dẫn tôi vào đứng sát bên giường May nằm. Chiếc giường sắt hoen rỉ chất sơn đôi ba chỗ in vệt máu khô và chiếc chiếu lát vừa kích trải cong queo với tất cả sự tàn phai úa nhàu. Một khuôn mặt tuyệt không còn hồng huyết cầu nhô lên đôi môi khô nức nẻ. Giọng nói nhỏ hụt hơi, muốn lắng nghe tôi phải cúi mặt xuống áp tai kề cận. Dưới giường tre của May, chú lật ngửa nó ra, thu dấu trong chân giường phía đầu nằm là gói ny-lông cuộn tròn. Mang tiền đó mà trang trải, đổ xăng hoặc chú bồi dưỡng chút thức ăn. Nếu mệt quá, ngủ một giấc hẳn vào với cháu sau, nhé. Tôi tính hỏi là con trai hay con gái, ai tha nó đi đâu mà không thấy nhưng May khoát tay kiểu xua đuổi. Sau tấm màn xanh bẩn có người đàn bà mãi rên la, lôi tên một vài nhân vật nam ra chửi. Lời lẽ thô tục, khó nghe và tôi chợt phát hiện chỉ mình tôi là giống đực duy nhất lạc vào cái thế giới lầy lội này.
Tôi về căn hộ tồi tàn May ngụ, đun xe vào và đóng cửa nẻo. Bóng tối chứa đọng khiến bần thần, buộc tôi phải mở sáng bóng điện nhỏ treo lơ lửng như đoạn dây thòng lọng được chế biến. Tôi ngó những đồ vật được bày biện, nhìn tấm ảnh người bạn lùi vào chỗ đứng trên cái bàn thờ chỏng chơ một đoá sen nở bung trong bình cắm khô nước. Tôi đi quanh, tẳn mẳn rờ soạn vật vạ mà không nhìn ra một đầu mối hoài nghi thủ phạm, kẻ khiến May chịu nuôi trong thân một hòn máu xa lạ. Hòn máu đã tượng hình, mai này lớn khôn nó sẽ bù trất về căn nguyên cớ sự. Van mẹ chớ đánh con mà, để con dọ hỏi ai là bố con!
Tôi lật úp chiếc giường èo uột nhẹ hẫng, moi ra được toàn bộ tài sản mà May dấu thu. Tôi run tay đếm số bạc hơn năm triệu. Hôm trước cả khu phố bên quận hai xôn xao hiếu kỳ người dân bu nhộn nhạo tin choáng, thằng con đầu tuổi mười chín với sự trợ giúp của đứa em mười bảy tuổi đã đầu độc người cha làm thợ hồ để chiếm đoạt một triệu mốt. Đồng tiền như có tẩm bùa chú vào, làm mê muội kẻ nhìn trông, xúi dục hiện tới, không cưỡng được, biến đổi thành thú tánh, giết người chẳng gớm tay. Nghĩ sao, tôi lại tìm nhang đốt thắp một cây cho bạn đỡ lạnh lẽo. Tôi nói với tấm ảnh trầy trụa đen trắng được lộng kiếng. Đừng nghi ngờ tôi điều gì. May nó đáng thương. Chẳng quen biết sâu đậm mà nó an tâm, tin vào một kẻ cùng bần như tôi. Tấm lòng nhân hậu như thế, tôi tin mai này May sẽ đón nhận những tốt lành. Tôi lận gói ny-lông đựng tiền vào trong thắt lưng, nhắm hướng bệnh viện chạy vụt dưới trời chiều nhá nhem.
Hai chú cháu đã đi tới nhà từ thiện chăm sóc trẻ mồ côi và tật nguyền. Theo lời chỉ bày đã chạy tới hướng núi, băng qua một cánh đồng lúa bỏ hoang, thôi khai khẩn và độc đạo quanh co dẫn vào một ngôi chùa quạnh quẽ vây bọc bằng những loài cây thâm niên sum suê bóng mát. Sau chùa có cất một căn nhà hình chữ nhật còn mới màu vôi, đó là nơi đón nhận, nuôi dưỡng những sơ sinh xấu số bị cha mẹ dứt tình lén lút mang đặt trước cổng chùa nhờ nương thân cửa Phật. Một sư nữ vận áo lam dắt May đi khuất sau cây đa to một cách khó hiểu. Tôi ngồi trông xe sát bên cái giếng nước bé một cách chẳng thể bé hơn. Một chú tiểu đang lấy nước để rửa rau và cái gàu nhôm luôn va vào thành giếng khi chú ấy kéo dây lên. Nếu lòng giếng rộng hơn hẳn nó không than van khi bị cọ quẹt kiểu đó. Không gian trầm lắng, buồn lặng. Có thể nhạt mồm, chú tiểu nhìn tôi, khơi chuyện. Chú ấy muốn biết, có phải là thăm con cháu đang nương náu trong chùa. Tôi nói không, một bà mẹ sinh con trong bệnh viện, ngày một ngày hai mở mắt ra thì con mình chẳng còn hiện diện nữa, một bà mẹ mìn nào đó đã bắt cóc đứa bé hai ngày tuổi thoát khỏi cổng nhà thương một cách êm thắm. Đã dọ tìm hai ba địa chỉ, chùa là niềm trông mong cuối cùng của cô gái xấu số ấy. Chú tiểu mặt không đổi sắc, chú chẳng lầm bầm A di đà Phật, chú thọc cả hai bàn tay vào thau nước khi rửa rau và chú loan tin động trời. Nếu tìm không thấy thì có nghĩa là đứa nhỏ kia đã rơi vào tay tổ chức chuyên môi giới mua bán trẻ nít. Địa bàn bọn đó rất rộng, có giao dịch làm ăn với phía Trung quốc nữa cơ. Tôi ngắm cái giếng kỳ lạ, vòng kính của nó nhỏ tới độ muốn quẳng xuống một hài nhi chưa chắc đã trót lọt êm xuôi. Hình như khi xây dựng người ta cố công làm ra vậy để ngăn ngừa nhũng vụ gieo mình tự tử hoặc muốn phi tang một chứng cớ, huỷ diệt nó chôn lấp nó. Khó khai quật đào bới.
Tôi chở May về. Cả hai không nói năng. Tôi biết kết quả kiếm tìm đã cuối đường tuyệt vọng. Xe ngang cánh đồng hoang phế, May biểu tôi dừng lại, ngồi nghỉ chân. Thấy làm phiền người ta cũng chướng nên May có mua ít thức ăn chay do chùa nấu, tiền cúng dường bỏ vào thùng phước sương tuỳ hỉ thiện tâm. Ngồi bệt xuống bờ cỏ, May bày thức ăn chứa trong hộp nhựa ra. Chú có hiểu tên May là gì không? Cái đám cỏ rậm hoang dại ngứa ngáy này có tên gọi cỏ may. Mẹ của May là một con buôn bị bọn thuế vụ truy đuổi, khi tàu Thống Nhất dừng, nhảy xuống từ một toa tàu, băng qua quốc lộ, thất thểu đi trên cánh đồng cỏ thì May từ bụng mẹ đổ nhào ra, đẻ rớt. Người con khi đó có nhiều vết xước do bị cỏ cứa đường ngang nét dọc. Mẹ đặt tên cho con để nhớ về thương tật đầu đời của mẹ lẫn con. Chú không nghĩ vậy, tôi nói. Chú vẫn tin là nghĩa ngữ kia sẽ mang lại cho May chút an lành của sự may mắn. May trao cho tôi phần ăn đã được sẻ chia. Chú thấy đời May có đáng để hưởng cái hồng phước ấy không? Cục cơm chận ngang trong cần cổ, khó nuốt xuống. Bụi xoắn theo sau một hai chiếc ô tô chạy bên kia con đê xẻ rách nỗi bình yên đọng vũng giữa cánh đồng. Và rồi tất cả sự chộn rộn kia bị dồn cục lại sát chỗ chúng tôi ngồi.
Họ bắt giữ May lôi lên một chiếc xe. Họ kéo tôi vào một chiếc xe bít bùng khác. Tôi bảo hãy để cho tôi đi trên xe máy của tôi, tới bất cứ chốn nào tôi cũng sẽ có mặt. Một người mặc sắc phục có đeo súng ngắn nói. Hãy an tâm, chúng tôi cho người xử lý bảo quản chiếc xe ấy. Hãy sáng suốt thành khẩn hợp tác cùng chúng tôi để chóng phá án.
Tôi ngồi, nằm vật vờ hoang mang trong đồn công an hai hôm, viết đúng ba bản tự khai và khoảng triệu con muỗi tha hồ dự tiệc đình đám trên da thịt tôi bất kể đêm ngày. Họ thả tôi ra, bảo ba hôm sau hãy tới mang chiếc xe về. Tại sao? Tại địa phương kia chưa có ai rỗi việc để chuyển lên đây, đừng nghi ngại, bổn phận của chúng tôi là bảo vệ tài sản của nhân dân. Tôi bước ra ngoài bức tường luôn kín cổng mà không biết được số phận của May. Tôi vào một quán nước gần đó gọi ly cà phê đá tay bưng lấy đầu trì nặng. Người thiếu nữ làm tiếp viên mang thức uống ra, cô đặt xuống bàn và tựa một bạn tâm giao, cô kéo ghế ngồi đối diện tôi, ngó tôi thương hại. Anh vừa trở ra từ chốn đó, phải không? Thấy tôi chẳng cục cựa tựa phỗng đá vô tri cô không nản lòng. Cô quen rồi, làm như khách khứa tới đây thảy đều có bộ dạng dở điên dở tỉnh kiểu ấy. Ba hồn bảy vía chưa kịp lộn lui.
Sau cùng, mức chịu đựng có giới hạn, cô xuống giọng. Đây là một thương vụ mà tôi sẽ là kẻ đối tác uy tín. Anh nghe tôi nói không? Tôi tu một hơi gần cạn dung dịch cà phê chứa trong ly. Có lẽ tôi sẽ phải gọi thêm ly nước mía, thứ ly cối. Cô nói nữa đi, tôi cần nghe thêm những lời đề nghị của cô. Người tiếp viên đứng dậy, cô lại quầy vớ lấy bao thuốc lá và đưa tay mở chiếc quạt máy. Gió làm tóc cô rối lên. Tôi nhìn dáng vẻ cô và tám phần đoan quyết cô hành nghề cà phê ôm hoặc một thứ gì tựa thế, nhận tiền rồi ỏng ẹo cởi áo xống che thân. Cô mời tôi một điếu thuốc ba số năm. Những ngón cắt cụt móng và chẳng bôi sơn màu mè. Cô sở hữu hai bàn tay của một người thư ký văn phòng giỏi việc đánh máy chữ. Bàn tay ấy có thể thích hợp với nhân viên làm ở ngân hàng đếm tiền cực nhanh, cực chính xác mà không cần lè lưỡi ra thấm ướt nước bọt trên đầu ngón tay.
Năm trăm ngàn anh phải trả sau khi mua một thông tin. Anh bằng lòng không? Tôi nhai cục nước đá rồi hít sâu hơi khói. Thuốc này có thể sản xuất ở Thái lan hoặc Singapore, từ lâu tôi chẳng rớ tới hàng xịn nên khói thuốc thơm làm chóng mệt. Thêm thay, hai ngày qua bụng tôi chưa có một hột cơm. Năm trăm? Số tiền đó đâu phải nhỏ. Tin gì mà cắt cổ thế? Cô làm nghề phục vụ viên thổi khói vào mặt tôi. Vì sao cô con gái đó bị bắt? Cô mang tội gì vào thân?
Tôi dụi điếu thuốc trong cái gạt tàn móp méo. Tôi trả tiền cho cô sau, đồng ý nhé. Được thôi. Anh uống gì thêm? Khỏi, người tôi chỉ khát khô lượng thông tin. Cần nghe mà không cần uống. Trước khi sinh, cô ta đi khám bác sĩ và làm siêu âm. Lúc đó thai đã lớn và đó là đứa bé trai. Cô sao lại kết quả siêu âm rồi ký vào bảng hợp đồng thoả thuận mua bán với đôi vợ chồng nhiều tiền của nào đấy. Giá năm triệu với điều kiện đứa bé chẳng bị dị tật ngoại hình. Cô hết nhiệm vụ sau đó, đôi vợ chồng kia sẽ có cách vào ẳm đứa bé đi. Nếu xem là nhiệm vụ thì việc cô cần làm là tri hô lên rồi khóc than vật vã các thứ. Sao nữa? Hết. Những thứ cắc cớ khác là phần việc của công an, ban chuyên án phụ trách chống tội phạm. Cha đứa bé? Cô biết chuyện đó không? Đồn công an quận một còn giữ đơn khai một cô gái tên May, 18 tuổi bị cướp đoạt tài sản và cưỡng hiếp vào năm ngoái. Cô có mô tả nhân dạng ngoại hình khuôn mặt tên cướp, công an nhập cuộc nhưng chẳng có kết quả.
Năm trăm ngàn, tôi sẽ mang lại cho cô vào chiều mai, ngay chỗ ngồi này. Người bán tin tức nhoẻn miệng cười. Không gấp, thực ra thì số tiền anh cần phải đóng lên tới một triệu. Và để anh có thời gian, tôi hẹn gặp anh vào ba hôm sau. Cái gì? Anh không tính lấy lại chiếc xe gắn máy ấy sao? Nhà cửa bé tẻo teo mà hy sinh chăm giữ hộ anh khối tài sản ấy bộ chẳng đáng công sao?
Tôi trôi tuột chân đi chẳng cưỡng chống về lại chỗ May ngụ. Tôi lật chiếc giường tre chỏng chơ lên lần nữa, tôi thử kiểm kê tài sản của May tới đổ mồ hôi sôi nước mắt mà chả thu hoạch được gì. Tôi đốt lò nấu nước trụng gói mì tôm, trước khi ăn tôi thắp cho người bạn cây nhang chẳng có mùi thơm. Và tâm sự. May hoàn toàn không là may mắn. May chỉ là giống cỏ hèn mọn mọc hoang thôi ông ạ. May đã chống đối cuộc sống này bằng những phương cách tôi thực sự không hiểu. Dẫu sao thì tôi cũng cố sức xoay xở để dọ hỏi chỗ người ta nhốt May, nhìn mặt May cầm tay May hỏi han May cốt để chứng minh, vào hoàn cảnh nào thì tôi cũng sẽ là người đứng ngay sau lưng May. Thầm lặng, kín tiếng. Giúp được gì không? Tôi chẳng rõ, bởi tôi cũng tựa một loài cỏ không tên lỡ mọc trên cánh đồng hoang dại bát ngát này.
Engineering Duty Officer, EDO, Qualification, Pin, Pinning, Ceremony, NAVSEA, Naval Sea Systems Command, Vice Admiral Tom Moore, COMNAVSEA Source: COMNAVSEA
Vào ngày 1/10/2019 tại Washongton DC ông Nguyễn Từ Huấn chính thức được phong chức Phó Đề Đốc (Rear Admiral) lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ, và là sĩ quan hải quân gốc Việt đầu tiên nhận chức vụ này. Ông Nguyễn Từ Huấn chính là đứa con trai duy nhât sống sót trong vụ cả gia đình bảy người của Đại Tá Nguyễn Tuấn bị chiến binh Cộng Sản Bảy Lốp sát hại vào Tết Mậu Thân năm 1968 dẫn đến Tướng Nguyễn Ngọc Loan tử hình Bảy Lốp trên đường phố Sài Gòn. Từ sự kiện này đã kéo theo một chuỗi những đau thương bi hùng nhiều năm sau đó. Nguyễn Từ Huấn – chú chim nhỏ bị thương năm nào đã bay qua bờ sinh tử sãi cánh đại bàng. Và đây là câu chuyện của ông…
Câu chuyện bi thương của ông bắt đầu vào một ngày bình yên đầu năm 1968. Ngày Tết Mậu thân trong cuộc chiến tranh Việt nam mà hai bên giao tranh đã thỏa thuận ngưng bắn để nhân dân ăn tết.
Truyền đơn ngưng bắn được phía Việt Cộng cho rải ra càng khiến nhiều người tin tưởng.
Thế nhưng thỏa thuận này chỉ là một chiêu trò của Cộng sản trong một chuỗi những sự bội tín và man trá của họ, và họ đã phát lệnh tổng tấn công.
Vào ngày thứ hai của cuộc chiến Tết Mậu Thân. Lực lượng Bắc Việt và quân du kích Việt Cộng đã tấn công các thị trấn và thành phố của miền Nam, bao gồm cả thủ đô, Sài Gòn, Gia Định.
Tết Mậu Thân 1968, Nguyễn Văn Lém tự Bảy Lốp chỉ huy tấn công trại Phù Ðổng của binh chủng Thiết Giáp VNCH nơi có gia đình của cố Đại tá Nguyễn Tuấn vào lúc đó ông chỉ mang hàm Trung Tá hàm đại tá là ông được truy thăng sau đó.
Trung tá Nguyễn Tuấn giữ chức vụ là Chỉ Huy Trưởng Trường Thiết Giáp từ 4/1965 – 2/1968.
Trong bài viết của Vũ Văn Lộc đăng một chia sẻ của ông Nguyễn Từ Huấn cho biết gia đình ông đã di chuyển từ Quảng Trị về đến Sài gòn vào thời gian cuối năm 67 đầu năm 68.
Bảy Lốp bắt giữ gia đình Trung Tá Nguyễn Tuấn, dùng vợ con của Trung Tá Tuấn để áp lực bắt Ông chỉ dẫn cách sử dụng xe tăng còn lại trong trại.
Trung Tá Tuấn từ chối, Bảy Lốp đã giết chết toàn thể gia đình Ông, gồm cả bà mẹ già của Ông đã 80 tuổi.
Chỉ có một bé trai bị thương nặng và sau đó đã được cứu sống. Và đó chính là Phó Đề Đốc Hải Quân Mỹ (Rear Admiral) Nguyễn Từ Huấn một chức vụ tương đương với Chuẩn Tướng.
“Bố tôi đã vì không chịu đầu hàng cộng sản và đã bị tụi nó giết ông và cả gia đình vào biến cố Mậu Thân 1968. Tôi là người duy nhất sống sót.
Bảy Lốp sau đó bị bắt và bị Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan tử hình ngay trên đường phố Lý Thái Tổ ở Quận 10.
Phóng viên Eddie Adams của hãng AP đã ghi lại cảnh này và bức ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan đang kề súng vào đầu của một tù binh cộng sản và bóp cò đã gây phẫn nộ dư luận toàn thế giới mở màng cho sự bùng nổ về phản chiến tại Mỹ và khắp nơi.
Lúc đó là ngày đầu tháng Hai, năm 1968.
Trước đó chưa bao giờ người Mỹ nhìn thấy sự tàn khốc của chiến tranh gần đến mức như vậy.
South Vietnamese National Police Chief General Nguyễn Ngọc Loan executing Viet Cong officer Nguyễn Văn Lém in Saigon. Source: Eddie Adams.
Bức ảnh đã làm nên tên tuổi của Eddie Adams bằng giải Pulitzer danh giá, nhưng đồng thời nó cũng là điều ám ảnh ông ta suốt về sau. Chúng ta sẽ nói về Eddie Adams đằng sau bức ảnh định mệnh này.
Quay lại với cậu bé Nguyễn Tử Huấn lúc đó 9 tuổi nạn nhân sống sót của vụ thảm sát kinh hoàng gia đình Đại tá Nguyễn Tuấn lúc bị giết ông mang hàm Trung Tá.
Chia sẻ của ông Nguyễn Từ Huấn được đăng tải trong bài viết của Vũ Văn Lộc đăng tên trang blog của Hoàng Sa Paracel cũng có nói:
“Vụ Tướng Loan bắn giết Bảy Lém, không ít thì nhiều cũng liên quan đến vụ thảm sát của gia đình tôi. Gia đình tôi có quen với gia đình ông Loan. Sau vụ thảm sát, tôi có đến ở nhà gia đình vợ của Tướng Loan để tránh pháo kích trong lúc chiến trường Mậu Thân vẫn đang tiếp diễn. Ông Loan cũng là bạn đồng khóa với bố tôi ở Thủ Đức Khóa 1 theo tôi được biết.”
Ông Nguyễn Từ Huấn sau đó được gia đình người chú thím nuôi dưỡng và họ rời Việt nam tới đảo Guam năm 1975.
Nhà báo Mạnh Kim, người có cơ hội gặp gỡ trực tiếp ông Nguyễn Từ Huấn mới đây nhân dịp ông được thăng cấp Phó Đề đốc có bài viết chia sẻ những thông tin rất thú vị về ông Nguyễn Từ Huấn.
Ông Nguyễn Từ Huấn tốt nghiệp Đại học Oklahoma State với bằng cử nhân điện cơ Năm 1981, sáu năm sau khi đến Mỹ.
Ông lấy tiếp các bằng thạc sĩ tại ba đại học: Đại học Southern Methodist, Đại học Purdue và Đại học Carnegie Mellon (hạng tối ưu) chuyên ngành kỹ thuật thông tin.
Sau đó, ông làm việc cho một cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng, thuộc bộ phận thiết kế các hệ thống điều khiển điện tử trên chiến đấu cơ.
Năm 1991, cuộc chiến Vùng Vịnh nổ ra. Ông Huấn đăng ký vào quân ngũ. Năm 1993, ông trở thành sĩ quan Hải quân trừ bị mà như ông nói là “Tôi nhập ngũ năm 1993 như một cách trả ơn nước Mỹ và nối bước Bố tôi.
Trong bài viết của mình nhà báo Mạnh Kim cho biết:
“Trong thời gian từ năm 199 1-1993, ông làm việc thêm ở Bộ Năng lượng. Với vị trí kỹ sư phụ trách dự án đặc biệt chuyên nghiên cứu kỹ thuật dẫn hai tia proton phóng với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng sao cho chúng có thể chạm nhau (superconducting super collider), từ đó cung cấp các dữ liệu nhằm giúp hiểu thêm về hiện tượng Big Bang cũng như các hiện tượng khác trong vũ trụ, ông Huấn là một trong số rất ít người Việt có mặt trong nhóm nghiên cứu này. Từ Bộ Năng lượng, ông chuyển sang làm việc cho General Motors (GM), phụ trách thiết kế các hệ thống điện tử cho xe hơi. Tại đây, ông phát minh một số sáng chế mà hiện GM vẫn sử dụng. Năm 1993, internet chưa phát triển, cả nước Mỹ chỉ có khoảng 20 website,ông Huấn đã nghĩ đến việc làm thế nào có thể sử dụng network để phục vụ quân đội và hỗ trợ tác chiến. Ý tưởng của ông được một đề đốc ủng hộ và ông được mời vào Ngũ Giác Đài tường trình cho giới lãnh đạo Hải quân. Tiếng nói của anh thiếu úy Huấn trở nên lạc lõng giữa những hoài nghi. Cho đến thời điểm đó, rất ít người có thể hình dung cái gọi là “network warfare”.
Vào năm 2003, nước Mỹ bước vào cuộc chiến Vùng Vịnh lần hai và cuộc chiến Vùng Vịnh lần hai cũng là thời điểm để ông Nguyễn Từ Huấn lúc đó là thiếu tá với vai trò sĩ quan chỉ huy đơn vị kỹ thuật ông được cử sang Afghanistan và Iraq để giúp phá hủy các thiết bị kích nổ bom từ xa của khủng bố.
Ông Nguyễn Từ Huấn (thứ nhì từ phải qua) trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh Source: Image of Courtesy
Thượng cấp cũ của ông cựu Đại Tá David Harrison, trong lần trả lời phỏng vấn vào hồi tháng 7 năm nay với Vietface TV Hoa Kỳ nói “ông là người thông minh nhât mà tôi từng gặp”, và ông Đại tá Hirrison gọi ông Nguyễn Từ Huấn là “renaissance guy” để nói về ông như là một người có nhiều tài năng và hiểu biết sâu rộng trong nhiều lãnh vực.
Nguyễn Từ Huấn nói “Một trong những thử thách khó nhất đối với tôi là phải đi một bước trước kẻ thù”.
Như ông Huấn trả lời phóng viên Eric Schmitt trên New York Times số ra ngày 6-2-2006.
Đại tá David Harrison cũng có nói không bao lâu sau khi họ làm việc cùng nhau thì ông Nguyễn Từ Huấn cùng ông Harrison cùng phác thảo một đề án qua đó lên kế hoạch làm cách nào để lực lượng Hải quân có thể vào các căn cứ quân sự để hỗ trợ cho các lực lượng bộ binh và Thuỷ quân lục chiến.
Trong lúc đó thì ông Huấn và ông Harrison cùng nhóm của mình cũng hỗ trợ công việc của các binh chủng khác tại chiến trường Iraq và Afganistan.
Và Iraq là chiến trường cần nhiều sự hỗ trợ dụng cụ dò bom mìn lề đường IED nhất do bởi số người thiệt mạng vì bom mìn gài trên đường tại Iraq cao hơn tại Afrganistan.
“Ông Huấn là kỹ sư trưởng của tôi. Là người thông minh xuất chúng, ông ấy đóng một vai trò vô giá trong việc tập hợp các ý tưởng lại với nhau tạo thành một kế hoạch để vô hiệu hoá sự tác hại của bom tự chế IED gài bên vệ đường. Ông ấy đã làm việc tuyệt vời,” Đại tá Harrison nói.
Ông Harrison chia sẻ, mỗi khi tôi nghĩ về ông Huấn thì đó là một người sáng suốt, là người thông minh nhât mà tôi từng gặp. Ông ấy là người khiêm nhường nhất mà bạn từng gặp. Nếu bạn hỏi ông ấy đã làm được gì thì ông ấy nói thì chắc chắn ông ấy sẽ nói để giảm nhẹ sự quan trọng của công việc đó cũng như đóng góp của ông, bởi lẽ ông ấy là một người rât là khiêm nhường.
Về phần mình trong những lần trả lời phỏng vấn của báo đài về việc ông được phong hàm cấp tướng Phó Đề Đốc Hải Quân, ông Nguyễn Từ Huấn nói ông là người may mắn được chọn.
Cựu đại tá Harrison cũng nói xác suât để sỹ quan Hải quân được phong cấp tướng rât mong manh ít ỏi chưa tới 1% sỹ quan Hải quân đạt được cấp Phó Đề Đốc.
“Trong nhiều năm phục vụ tôi biết nhiều sỹ quan được đồng đội cho rằng đủ điều kiện và xứng đáng được phong cấp tướng nhưng con số các tướng lãnh Hải quân chiếm một tỷ lệ rât nhỏ, như tôi có lần đọc được câu nói so sánh việc trở thành tướng Hải quân cũng hiếm hoi như việc một cục than có ngày trở thành một viên kim cương vậy.”
Bản thân ông Nguyễn Từ Huấn cũng nói vậy, sự chọn lựa đề bạt càng lên cao càng khó, và khi đi vào quân ngũ ông không dám nghĩ tới có ngày sẽ lên chức đại tá chứ đừng nói chi đến chức tướng.
Ông Nguyễn Từ Huấn cũng là người vận động để xây dựng bức tượng Lone Sailor- Tượng Lính Thủy Cô đơn tại đảo Guam trong chuỗi tượng kỷ niệm của Hải quân Hoa Kỳ – US Navy Memorial là nơi đã đón nhận hơn 100 ngàn người Việt tị nạn vào năm 1975 trong đó có ông.
Ông Nguyễn Từ Huấn nói ông không quên tấm lòng và sự tử tế của những người lính thủy trên đảo đối với những người tị nạn Việt nam.
“Những hình ảnh tôi còn nhớ rõ mồn một khi đặt chân đến Trại Asan ở đảo Guam này, giờ là công viên Asan Beach, là những thủy thủ và thủy quân lục chiến Mỹ phơi mình dưới cái nắng cháy da, dựng lều và lán thức ăn, phát nước uống và đồ ăn nóng, giúp đỡ và chăm sóc mọi người với thái độ tử tế và kính trọng… Những người lính đó đã mang lại cảm hứng cho tôi cống hiến cho Hải quân Mỹ đến tận hôm nay”.
Câu chuyện gia đình ông được đăng tải được kể đi kể lại rât nhiều lần.
Chuyện gia đình đã ông trở thành một phần của cuộc chiến tranh Việt Nam một phần của lịch sử.
Trong bài viết về ông Nguyễn Từ Huấn của mình nhà báo Manh Kim ghi lại những chia sẻ từ chính ông Nguyễn Từ Huấn về cái ngày định mệnh đó. “Hơn 50 năm trôi qua, ông Huấn chưa bao giờ quên những gì ông chứng kiến. Ông không thể quên tràng súng liên thanh điên cuồng nã vào bảy người trong gia đình mình – vào bố, vào mẹ, vào các người anh và cả đứa em út mà mẹ bế trên tay, khi họ đang bị bắt làm con tin, ngay trong những ngày mà hai bên đã thỏa thuận ngưng chiến. Ông không thể quên cảnh người anh thở hắt ra làn hơi cuối cùng và cảnh người em bị bắn thủng bụng ruột đổ ra ngoài. Ông không bao giờ có thể quên được cảnh mẹ ông, bị bỏ nằm đó đau đớn, chảy máu và rên xiết nhiều giờ cho đến chết. Ông cũng không thể quên cảnh toán đặc công cầm lưỡi lê đâm vào lon bia để uống, dọn đồ ra ăn, giữa những nạn nhân bị thương đang rên xiết và giữa những thi thể mà chúng vừa thảm sát man rợ.
Có một đặc công chĩa súng vào đầu Huấn khi phát hiện đứa trẻ 9 tuổi duy nhất còn sót lại. Dưới ánh sáng hỏa châu từ bên ngoài, tay đặc công cộng sản đối diện ánh mắt không hề lộ chút sợ hãi của cậu bé Huấn. Một vết đạn, từ vụ thảm sát trước đó, trúng vào đầu khiến mặt mày Huấn bê bết máu. Có lẽ đó là lý do khiến toán đặc công không buồn bận tâm ban cho Huấn “một phát đạn ân huệ”, bởi nghĩ rằng ông sẽ không thể nào sống nổi. Tuy nhiên, ông đã không chết.” Câu chuyện gia đình ông vào thời điểm năm 1968 đã không được ghi lại.
Gia đình Đại tá Nguyễn Tuấn, cậu bé Huấn hàng đầu ở giữa anh trai và em trai mình Source: Image of Courtesy
Cả thế giới chỉ thấy tấm ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan tử hình Bảy Lém trên đường phố Sài Gòn mà đã không nhìn thấy gia đình bảy người từ lớn chí nhỏ bị Bảy Lém sát hại.
Bức ảnh ngay sau đó, đã được tờ Times bình chọn bức ảnh của Eddie Adams là một trong 100 bức ảnh gây ảnh hưởng nhất của thời đại.
Tác giả của nó Eddie Adams được tặng giải báo chí Pulitzer danh giá.
Bức ảnh được tung ra và hoàn toàn là một cú sốc trên mọi mặt báo, truyền hình. Cuộc chiến Mậu Thân mặc dù chứng minh sự thất bại hoàn toàn của phe cộng sản nhưng lại là mồi lửa cho phía những người bi quan và thiên tả, và là lợi thế của miền Bắc cho đến khi họ thắng cuộc năm 1975.
Vào năm 2018, đánh dấu 50 năm trận Tết Mậu Thân, trang nbcnews.com đăng tải lại tấm ảnh này với những lời trần tình của Eddie Adams nói rằng ông đã không có cơ hội để giải thích tại sao tướng Loan phải làm như vậy.
“Bức ảnh đã không nói hết câu chuyện, nó không giải thích là tại sao lại có chuyện đó. Tôi không nói những gì ông ấy làm là đúng, nhưng ông ấy đã chiến đấu trong một cuộc chiến, và ông phải chống kẻ xấu. Đã có 2 con người bị hủy diệt ngày hôm đó – Lốp và Loan – tôi thì không muốn hủy hoại cuộc đời của ai. Đó không phải là việc của tôi”.
Sau này, Eddie Adams nhớ lại hình ảnh của tướng Loan, nói xong và bỏ đi “Họ đã giết nhiều người của tôi và cả người của anh”, như ông kể trong một cuộc phỏng vấn được thực hiện vào năm 1998 cho chương trình phỏng vấn về lịch sử của hãng AP.
Đó cũng là lúc mà Eddie Adams cảm thấy rằng tướng Loan đã bị làm nhục một cách không công bằng bởi đám đông công chúng – những người không được nhìn thấy sự thật đằng sau bức ảnh: Bảy Lốp, nhân vật bị hành quyết, đã tham gia sát hại cả gia đình người giúp việc của tướng Loan trước đó.
Tướng Loan qua đời năm 1998 tại Virginia, còn Eddie Adams mất năm 2004. Trước khi mât, Adams đã kịp tìm gặp tướng Loan để nói một lời tạ lỗi.
Niềm tự hào nghề nghiệp mà ông có thể giới thiệu với mọi người là những bức ảnh năm 1977, về những người Việt đào thoát khỏi đất nước sau khi chiến tranh kết thúc. Những bức ảnh này của ông đã giúp thuyết phục Hoa Kỳ nhận hơn 200.000 người Việt đến tị nạn. Một trong những bức ảnh về đề tài đó cũng nằm trong danh sách 100 bức ảnh gây ảnh hưởng nhất, do Time bình chọn. Có một chi tiết ít thú vị về NguyễnTừ Huấn được nhà báo mạnh Kim chia sẻ trong bài viết rằng vào những ngày đầu bước chân tới Mỹ, hình ảnh cậu thiếu niên Huấn đã được đăng lên trên trang nhất của tờ The Daily Oklahoman của tác giả Tom McCarthy như một người có khả năng trở thành nghệ sĩ violin tương lai.
Tuy nhiên, như chúng ta đã biết ông đã trở thành người Việt đầu tiên được thăng chức Phó Đề đốc Hải quân Hoa Kỳ.
Vào ngày 1/10/2019 lễ thăng chức Phó Đề đốc cho ông Nguyễn Từ Huấn được tổ chức tại Washington DC.
Ông là sĩ quan hải quân gốc Việt đầu tiên mang cấp Phó đề đốc hải quân Hoa Kỳ, và là người Việt thứ tư mang cấp tướng trong quân lực Hoa Kỳ. Trước ông có Thiếu tướng Lương Xuân Việt ( Lục quân ), Chuẩn tướng Lapthe C. Flora, vệ binh quốc gia ( lục quân ) và Chuẩn tướng William H. Seely III ( Thủy quân lục chiến ).
Tân Phó Đề đốc Huấn còn sẽ đảm nhận một chức vụ mới: Tham mưu phó Bộ tư lệnh hải dương hệ thống Hải quân (Naval Sea Systems Command-NAVSEA), đặc trách an ninh mạng.
Rear Amiral US Navy Nguyen Tu Huan Source: Images of courtesy
Vào ngày 21 tháng 09 năm 2019 tại buổi lễ Huý Kỵ Đức Thánh Trần Hưng Đạo tại San Jose do Hội Hải Quân Bạch Đằng tổ chức trong bài phát biểu của mình ông Nguyễn Từ Huấn trích dẫn lời của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn người mà ông gọi là vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam cách nay 700 năm
“Ta cùng các ngươi sinh ra thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Trông thấy tàu chiến Trung Cộng thản nhiên xâm phạm ranh giới Việt Nam, chính phủ Tàu không tôn trọng chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, ngang nhiên coi Việt Nam như nước của nó, thương gia Tàu đầu độc môi trường của nước VN, đầu độc thực phẩm đem vào Việt Nam. Nếu không chống lại thì chẳng khác nào như cõng rắn cắn gà nhà, giữ sao cho khỏi tai vạ về sau.
Nay thấy nước nhục không biết thẹn; phải hầu kẻ thù mà không biết tức. Vì lợi ích cá nhân mà quên bổn phận giữ gìn đất nước. Đến khi phải học tiếng nước người, sẽ đau xót biết chừng nào.”
Ông nói:
“Ngày nay, cái hoạ của Trung Cộng đối với VN thì ai cũng rõ. Lời nhắn nhủ của Hưng Đạo Đại Vương 700 năm trước là tiếng trống hùng hồn, ngài như muốn thúc giục, muốn đánh thức con cháu Việt Nam ngày nay phải sẵn sàng đứng lên giữ gìn sông núi. Cuộc chiến này sẽ kéo rất dài. Có thể sẽ 10 năm, có thể sẽ là 100 năm. Con đường đi sẽ nhiều chông gai trắc trở. Bởi vậy chúng ta phải cần kiên trì, giữ vững lòng tin, giữ vững chủ nghĩa dân tộc và văn hoá Việt Nam.
Chúng ta, nhất là người Việt hải ngoại, phải tìm một mẫu số chung để chúng ta có thể làm việc với nhau, và nhất là không nên quan tâm đến ai sẽ là người được vinh danh. Mỗi một chúng ta phải có sự khiêm nhường và trung thành với đất nước như Đức Thánh Trần với vua Trần. Vì nếu mục tiêu cuối cùng là giữ được lãnh thổ VN thì ai cũng sẽ là kẻ thắng trận.
Chúng ta phải biết dùng đến sở trường của mình để chống lại. Chúng ta không thể nào đánh bại Trung Cộng ngày hôm nay ngoài chiến trường. Mỗi một chúng ta sẽ là một dũng sĩ, với sở trường riêng biệt khác nhau và sẽ dùng nó để đánh lại quân xâm lăng. Nếu là luật sư, quý vị phải dùng lý lẽ luật pháp để vạch mặt chúng ra ngoải với Toà Án Quốc Tế. Nếu là Đạo diễn, quý vị sẽ làm phim nói đến các chiến thắng của dân Việt chống giặc Tàu, nếu là nhạc sĩ, những bài hát nói đến lòng yêu nước, đến tự ái dân tộc.
Mỗi email của chúng ta sẽ là một mũi tên bắn đến quân thù, mỗi một tweet là một lời hô hào chống Tàu cộng. Facebook sẽ là giòng sông Bạch Đằng của chúng ta, ngòi bút của chúng ta là cọc nhọn để đâm thủng mộng bá chủ của chúng nó. Mỗi một chúng ta phải có nhiệm vụ nhắc nhở con cháu chúng ta truyền thống Việt Nam. Mỗi một chúng ta tại đây phải có cái tự trọng và tự hào chúng ta là người gốc Việt. Chúng ta phải giữ vững chủ nghĩa dân tộc Việt và văn hoá Việt.
Tất cả chúng ta phải đồng lòng, không thể đi một mình trên con đường này. Giữ gìn quê hương, đất nước là bổn phận và trách nhiệm của tất cả người Việt chúng ta. Chúng ta phải bảo tồn dân tộc Việt và văn hoá Việt, vì nếu không, chúng ta sẽ để lại cho con cháu chúng ta một cái bản án nô lệ Tàu thêm nhiều ngàn năm đen tối.”
Không một lời thù hận trong bài phát biểu này và trong tất cả những lần trả lời truyền thông trước đó.
Hơn ai hêt ông là phải người mang mối thù hận với những kẻ đã gây nên thảm cảnh cho gia đình ông.
Thế nhưng không.
Việc ông sống sót sau cuộc thảm sát đã là một điều kỳ diệu. Việc ông vượt đau thương chấn động tâm lý để học hành trở thành một người tài giỏi và thăng tiến thành một Phó Đề Đốc Hải Quân Hoa kỳ đã là một điều hết sức đáng khâm phcụ và tự hào cho người Việt.
Thế nhưng việc ông vượt qua được sự thù hận thoát ra được tấm lưới tâm tối của ghét bỏ thù hằn để nhìn Việt Nam như là một quốc gia của tât cả mọi người Việt cùng nhau chống giặc Tàu mới là điều khiến ông trở nên lớn lao đáng kính trọng.
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Post by Sơn râu 16 Sep 2024
Photo edit by Sơn râu
Nhận lệnh lên đường
Đang chỉ huy một pháo đội (–), Pháo đội C thuộc Tiểu Đoàn 44 Pháo Binh, đồn trú tại Đồi 37, ngay sau Quận đường Đại Lộc. Pháo đội tôi có nhiệm vụ yểm trợ trực tiếp cho Liên Đoàn Biệt Động Quân do Đại Tá Hiệp, Liên Đoàn Trưởng chỉ huy, quần thảo với Cộng quân suốt dọc sông Thu Bồn, bên phần đất Duy Xuyên. Tôi được lệnh chuyển nhiệm vụ sang yểm trợ trực tiếp cho Trung Đoàn 51 Bộ Binh do Đại tá Thục làm Trung Đoàn Trưởng vào khoảng thượng tuần tháng 1-1971.
Rạng ngày 25-1-1971, Bộ Chỉ huy Tiểu Đoàn gởi công điện gọi tôi về dự buổi họp quan trọng.
10g30, bước vào phòng họp, tôi thấy hầu hết các Sĩ quan tham mưu, các vị Pháo Đội Trưởng chỉ huy, Pháo Đội Trưởng Tác Xạ A, B đã tề tựu đông đủ chung quanh chiếc bàn hình “Oval” phủ khăn đỏ.
Bắt đầu buổi họp, Thiếu tá Nguyễn-Văn-Tự Tiểu đoàn trưởng với vẻ mặt tươi tỉnh hơn mọi ngày, trịnh trọng tuyên bố: Tiểu Đoàn sắp tham dự một cuộc hành quân đại quy mô, điều động toàn bộ Tiểu Đoàn 44 Pháo Binh tham chiến. Mục tiêu cuộc hành quân là phá hủy hậu cần địch tại Hạ Lào…
Sau cuộc họp, trở về đồi 37, tôi cùng Trung Úy Lê-Văn-Lân Sĩ quan tác xạ pháo đội đặt kế hoạch di chuyển. Tôi không quên đặc ân cho một số quân nhân tốt trong Pháo đội được đi phép ít hôm về ăn Tết với gia đình. Số còn lại, tiếp tục vui Xuân trọn vẹn từ mồng 1 đến cuối ngày 2 Tân Hợi.
Chúng tôi đã ngã 1 bò và 2 heo nhân dịp Tất niên và mừng Xuân mới. Riêng đồng bào, các vị thân-hào nhân-sĩ, các viên chức xã Lộc Hưng, các sĩ quan Hoa-Kỳ mang quà cáp đến chúc “thọ” chúng tôi. Quý vị Hiệu Trưởng, Nam Nữ Giáo Sư, Nam Nữ Sinh trường Trung Học Đệ Nhất, Đệ Nhị cấp Đại Lộc đến tận pháo đội trao cho mỗi pháo thủ một chiếc khăn tay có thêu tên trường, tên lớp, thân tặng, để kỷ niệm những ngày pháo đội công tác tại địa phương này.Sáng mồng 3 Tết, nhằm ngày 29-1-1971, cả Pháo đội thức dậy thật sớm, dọn dẹp những gì còn sót, chất đầy trên 4 xe cargo 2,5 tấn, 4 xe 5 tấn, 2 xe dodge, 3 xe Jeep và 3 móc hậu 1 tấn, đầy nhóc đạn 155 ly.
11g30 chúng tôi di chuyển xuống hướng Phong Thử, rẻ về đồi 55 Đất Sơn đón Trung Đội 1 rồi cùng về Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn.
Tại Tiểu đoàn, tất cả 6 đại bác 155 ly của Pháo Đội được xếp hàng sắp ngay trong sân cờ đối diện với văn phòng.
Hôm sau, đúng 17g00 chúng tôi tháp tùng Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đi đoạn hậu, nối tiếp Pháo Đội A di chuyển ra Đông Hà. Đoàn xe chúng tôi vượt qua đèo Hải Vân khoảng 21g00 đêm. Theo chúng tôi, có 1 Chi Đoàn xe bọc sắt giữ nhiệm vụ hộ tống.
Trên lộ trình, tất cả quân xa đều xử dụng đèn pha, vẽ thành những vệt sáng quét ngang dọc sườn núi, chọc thủng màn đêm, tạt ánh sáng xuống các vực thẳm sâu hun hút. Vài trục trặc nhỏ xảy ra do mấy chiếc cargo cũ kỹ khập khà khập khựng rên siết trườn mình trên đường nhựa, làm giảm tốc độ cho cả đoàn xe.
Sau khi đổ đèo cách tỉnh Hải Vân vài cây số, một cargo 5 tấn của Pháo Đội A làm lật khẩu đại bác 155 ly ngay giữa đường, vì qua khúc quẹo quá ngặt. Tấm lá chắn xẻ mặt đường một đoạn ngắn làm bong cả nhựa đá. Bắt buộc tôi phải dừng lại xin toán hộ tống đợi chúng tôi bẫy súng lên để cùng đi – song không được vị Toán Trưởng chấp thuận – tôi đành gọi vô tuyến báo cho Ban 3 Tiểu Đoàn, lúc bấy giờ cách tôi trên 4 cây số. Lật đật, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng quay xe lại giải quyết vấn đề hộ tống. Đồng thời, Thiếu Úy Bá Sĩ quan Quân Xa Tiểu Đoàn cùng với Ban Đệ II cấp cho wrecker tiến lên câu súng trả về vị thế cũ.
Khoảng quá khuya, trời bắt đầu mưa lâm râm. Dưới ánh đèn pha, mặt đường trở nên láng bóng như có ai thoa mỡ. Các tài xế dốc hết tâm trí vào tay lái, cố trấn tỉnh cơn mê ngủ đang rình rập tấn công vào đôi mắt… Càng đi, chúng ta càng vào sâu trong khí hậu lành lạnh, khác hẳn với khí hậu tại Đà Nẳng. Đến 6g00 sáng 31-1-71, đoàn xe dừng lại cách thị trấn Đông Hà 2 cây số.
Tại đây, chúng tôi được tạm trú trên một quảng đồi rộng ở hướng Tây Tiểu Đoàn 48 Pháo Binh.
Trưa ngày 1-2-1971, toàn Tiểu Đoàn di chuyển từ Đông Hà đến Cam Lộ. Khi cách Cam Lộ 4 cây số, lại được lệnh tạm dừng quân ở bên trái đường, trên ngọn đồi thấp. Cùng đồn trú với chúng tôi có một đơn vị thiết giáp thuộc Thiết Đoàn 17. Trong suốt thời gian từ 1-2 đến 6-2-1971, sáng và chiều, Thiếu Tá Tự, Đại Úy Thông luân phiên đi họp để nhận lệnh mới. Nhờ những buổi họp này, chúng tôi được biết: Công binh làm đường, sửa cầu cống trên Quốc lộ 9 nối liền Đông Hà – Khe Sanh chưa xong, nên phải đồn quân mà đợi.
Lợi dụng thời gian nghỉ “xả hơi”, Pháo Đội kiểm kê vật dụng, nhận thêm băng cá nhân phát đầy đủ cho mỗi binh sĩ một cái. Đồng thời tôi cho lệnh Trung Sĩ I Bình mua sắm thêm chén kiểu, đũa, ly phát bổ sung cho tất cả binh sĩ mỗi người một bộ, thay thế những chén bể hoặc do anh em làm mất mát trong lúc di chuyển.
Hạ Sĩ quan Hỏa Thực vẫn hàng ngày đi chợ Đông Hà mua thức ăn cho Pháo Đội. Thỉnh thoảng chúng tôi trẩy về Quảng Trị ngồi cạnh cốc cà phê nóng hổi suy tư một chuyến đi với hy vọng chiến thắng rực rở.
Ngày 4-2-1971, tôi và Trung Úy Lân vào Huế mua thêm những vật dụng cần thiết mang theo.
Chiều 5-2-1971, Đại Úy Công và Đại Úy Thương tìm đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn gặp tôi. Đại Úy Công làm việc tại Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn Dù, còn Thương làm Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù. Mục đích cuộc gặp gỡ này không ngoài việc liên lạc với chúng tôi về nhiệm vụ tăng phái Tiểu Đoàn 44 Pháo Binh cho Sư Đoàn Dù, và Pháo Đội C tôi được tăng phái chính thức cho Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù. Đại Úy Thương có tầm vóc mảnh mai, thấp, ăn nói hoạt bát, hiền hậu, rất xứng đáng với cái tên của Đại Úy đã mang. Thương trẻ hơn tôi về tuổi tác và cũng trẻ hơn tôi về khóa học tại trường Võ Khoa Thủ Đức.
Thương trình bày tất cả những gì Pháo Đội tôi phải làm trong những ngày sắp tới, đồng thời Thương giải thích mọi thắc mắc về phương diện tiếp liệu, hành chánh mà Pháo Đội tăng phái thường vấp phải. Thương nói rành rẻ với giọng nhỏ nhẹ dễ mến.
Sau khi Thương ra về, tối đến, một cuộc họp cuối cùng tại BCH/TĐ với mục đích để Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng chỉ thị những điều cần thiết hầu các Pháo Đội căn cứ vào đó thi hành trong suốt cuộc hành quân. Cũng do cuộc họp này, tôi được biết Pháo Đội chúng tôi tăng phái cho Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù do Trung Tá Bùi-Văn-Châu làm Tiểu Đoàn Trưởng.
Sáng ngày 6-2-1971. Từ 1g00 sáng mọi người đều thức dậy, móc súng sắp thành hàng dài, nối đuôi Pháo Đội A…
6g30 đoàn xe bắt đầu lăn bánh.
Chúng tôi di chuyển rất chậm. Trời lại lất phất mưa, đường trơn như láng mỡ. Tài xế vất vả và khó nhọc lắm mới đưa được mấy khẩu đại bác 155 ly qua các dốc, các co nguy hiểm. Ngồi trên xe Jeep, tôi cứ phập phồng lo sợ lật xe, lật súng, rơi nhân viên xuống hố! Có nhiều đoạn phải xử dụng cần phụ, cài số 1, đi như đưa đám tang, vậy mà xe vẫn chạy theo “ý” xe, chứ không chạy theo chiều lái của tài xế.
16g30 chúng tôi đến Khe Sanh. Kẹt xe, Pháo Đội của chúng tôi phải đợi mất 1 giờ chờ Quân Cảnh Dù dẹp đường. Sau đó, chúng tôi rẽ vào vị trí trú đóng của Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù, còn Pháo Đội A, Pháo Đội B cùng BHC/TĐ tiếp tục di chuyển đến Lao Bảo cách Khe Sanh 15 cây số.
Bắt đầu từ đây, Pháo Đội C tôi hoàn toàn tùy thuộc vào sự điều động và xử dụng của Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù.
21g00 Trung Tá Châu mời tôi sang họp tại BCH/TĐ3 Dù. Cuộc họp do Đại Úy Thương thuyết trình.
Trên bản đồ hành quân đã được thiết kế bằng đủ màu sắc, ghi chú đầy đủ các vị trí quân bạn sẽ chiếm đóng, các trục tiến quân sẽ thực hiện kể từ ngày N+8, N+9, N+10…
Tôi rất hoan hỉ và vô cùng phấn khởi khi Đại Úy Thương trình bày về tầm quan trọng của các CĂN CỨ HỎA LỰC. Những nơi này chắc chắn sẽ được dành mọi phương tiện, mọi ưu tiên của không yểm cùng pháo yểm bảo vệ khi gặp nguy hiểm. Thương nhấn mạnh: “Đại Úy đi với chúng tôi – là lực lượng Dù, lực lượng thiện chiến, có quy cũ lắm. Đại Úy yên trí lớn! Tất cả đều có chúng tôi lo cho Đại Úy…”. Thương thao thao bất tuyệt dẫn chứng những sự kiện thật đã xảy ra tại mặt trận Kompong-Cham về phương diện tiếp vận và không yểm quy mô, tối đa, bất chấp mọi thời tiết dành cho đoàn quân viễn chinh của ta.
Cuối cùng, Thương kết luận: “Chúng tôi sẽ giúp đỡ Đại Úy và Pháo Đội của Đại Úy tất cả những gì giúp đỡ được…”.
Niềm tin và lòng phấn khởi ấy được tôi mang về công bố cho các sĩ quan thuộc quyền biết. Trên nét mặt, mọi người đều vui vẻ tin tưởng.
Tôi đưa lệnh hành quân cho Thiếu Úy Huỳnh Công Thiện kẹp vào bản đồ. Giao cho Trung Úy Lân thu xếp mọi vật dụng cần thiết để có thể tách đôi Pháo Đội khi tình hình chiến thuật đòi hỏi. Thiếu Úy Toại kiểm kê đạn dược, Thiếu Úy Ngân cụ bị đầy đủ vật liệu cho Đài Tác Xạ và Trung sĩ nhất (TSI) Bình Thường Vụ Pháo Đội lo liệu vấn đề ẩm thực.
Tại hậu cứ Khe Sanh, TSI Đa lo đạn dược, Trung sĩ (TS) Thế lo tiếp tế, hành chánh và thực phẩm tiếp tế. TS Ngô lo quân xa cùng một số các tài xế. TS Kế, Hạ sĩ (HS) Thiện, Lượt, Sở, Xuân, Cẩn, Ngọ, Bảy, Hứa, Mười, Đạt, Cho, Thục ở lại Khe Sanh giữ nhiệm vụ tu bổ quân xa, tạp dịch trong mọi công tác cần thiết để yểm trợ cho Pháo Đội.
Trong lúc chờ lệnh mới, tôi có dịp đi quan sát quanh vùng trong khoảng không quá vài cây số. TS Thế cho biết trước đây, chính những chỗ này đồng bào sinh sống khá đông, nguồn lợi chính của họ là cà phê, trà. Hồi còn Cậu Cẩn, Khe Sanh là yết hầu của những tay buôn lậu thuốc phiện và vàng từ Lào sang, nên lúc bấy giờ con đường nối dài từ Đông Hà đến Khe Sanh tấp nập người lên xuống. Một vài ngôi vườn hoang có tường, rào vững chắc, bên trong nhà được xây bằng gạch hoặc aglo bị sụp đổ vì bom đạn cày xới, rải rác trong vườn còn một vài xác xe hơi lủng nát của các tay tài phiệt Pháp, chứng tỏ Khe Sanh quả đã có một thời vàng son! Bây giờ, trước mắt tôi khắp đó đây dẫy đầy hố bom. Có nhiều hố nối tiếp, sát nhau, chứng tích của những trận oanh tạc khủng khiếp của Pháo đài bay B52.
Khoảng 16g00 chiều ngày 7-2-71, buổi họp kế tiếp được tổ chức tại BCH/TĐ3 Dù với sự tham dự của tất cả Pháo Đội Trưởng Dù và tôi.
Trong phần trình bày kế hoạch yểm trợ, Thương xác định Pháo Đội C/3 Dù do Trung Úy Trí làm Pháo Đội Trưởng. Nhiệm vụ chúng tôi yểm trợ trực tiếp cho Tiểu Đoàn 2 Dù của Trung Tá Thạch (Tiểu Đoàn này bảo vệ vị trí chúng tôi) và tăng cường hỏa lực cho Pháo Đội C/3 Dù.
Ở điểm này, Trung Tá Châu rất tế nhị. Ông ta tỏ vẻ khó xử trí, vì ngày mai đây, sau khi chiếm đóng tại cùng một vị trí, tôi có cấp bậc cao và thâm niên, trong lúc Trí đang là Trung Úy. Dĩ nhiên về phương diện chỉ huy ở đấy phải là tôi. Nhưng Pháo Đội tôi là một Pháo Đội tăng phái, nếu tôi chỉ huy thì e rằng không quen sự phối hợp hỏa lực, còn nếu để Trí chỉ huy thì kẹt tôi.
Tôi hiểu ý và thâm tâm tôi, tôi thiển nghĩ, cứu cánh của cuộc hành quân phải là sát hại tối đa địch, phá hủy tối đa các kho tàng trử quân trang dụng, bảo vệ hổ tương hiệu quả… còn vấn đề chỉ huy, tưởng cũng không nên đặt nặng làm gì trong lúc này. Nghĩ sao tôi trình bày vậy. Trung Tá Châu hài lòng lối xử sự của tôi. Ấy thế là tôi và Trí bắt tay nhau trong niềm cảm thông chân thành khơi lên bởi tình đồng đội khả ái.
Trong buổi họp, tôi gặp Đại Úy Nguyễn Văn Đương, Pháo Đội Trưởng Pháo Đội B/3 Dù. Dạo này Đương béo phệ, chững chạc như một nhà thầu khoán khác hẳn với thân hình gầy gầy của những năm trước. Đương đi Thủ Đức khóa trước tôi và quen nhau tại Plateau Gi khi Đương còn là một Sĩ quan Délo tại đấy năm 1964.
Lúc bấy giờ tôi được biết, vì Đương cương trực nên vất vả với nghiệp Délo năm canh! Đương chơi cờ tướng khá cao, nhưng tôi chưa được hân hạnh đấu cờ với Đương.
Sau 7, 8 năm xa cách, giờ gặp lại Đương, cả hai chúng tôi bở ngỡ nhìn nhau. Tuy không hề thư từ cho nhau, nhưng chúng tôi không quên nhau, vì mỗi đứa có một nét đặc biệt dễ nhận ra, nhất là những kỷ niệm sau 14 ngày hành quân, đoàn tụ về tại một địa điểm cách xa Konbrai 8 cây số ở hướng Tây Nam, cả hai chúng tôi vất vả xác định điểm đứng giữa rừng le để tìm đường ra lộ lớn về Konbrai!
Đương rất dạn, đã có lần anh gọi pháo binh 155 ly từ Konbrai tác xạ cận phòng cho Đại Đội của anh và Đại Đội tôi quy tụ trên đồi le, với khoảng cách không quá 100 thước và hướng bắn qua đầu. Sau đấy, bọn tôi đi lạc về hướng Nam Konbrai hằng 4, 5 cây số.
– Sao? Dạo này anh còn bị Rhumatisme hành nữa không?
– Tôi chạy chữa tốn không biết bao nhiêu tiền nhưng bệnh vẫn không hết. Có điều bây giờ đã cởi bỏ được nghiệp Délo, không còn lội bộ nữa nên cũng đở hơn trước nhiều.
…Rời phòng họp, tôi siết chặt tay Đương, tiếc rẻ không được đóng chung một vị trí. Chúng tôi hứa sẽ yểm trợ hổ tương tối đa khi cần.
TDH, 1971
Kỳ sau: VƯỢT BIÊN GIỚI
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 10-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Phóng đồ hành quân in trong hồi ký của Đại úy Trương Duy Hy.
(***) Là Đại úy Nguyễn Văn Đương mà Trần Thiện Thanh viết trong ca khúc Anh Không Chết Đâu Em.
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 10-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
Post by Sơn râu 16 Sep 2024
Ngay sau Tết Tân Hợi 1971 Quân đội Quốc gia hành quân ngoại biên sang Lào. Lam Sơn 719 sẽ là một thất trận ngay cả khi phía Bắc-Việt phải trả giá đắt. Một tháng sau trận đánh, Đại úy Trương Duy Hy, Pháo đội trưởng của Tiểu đoàn 44 Pháo binh ghi lại những gì tận mắt chứng kiến, từ 8 tháng 2 đến 3 tháng 3-1971.
Những trang viết tay của Đại úy Hy cực sống động. Người đọc nhìn thấy các căn cứ Ranger North, Ranger South của Biệt Động Quân lần lượt thất thủ, rồi đến phiên Đồi 31 bị tràn ngập khiến Đại úy Nguyễn Văn Đương phải tự sát. Tiếp đến là những tấn công biển người với thiết giáp PT76 của Bắc quân mà Đại úy Hy đã phải dùng đại bác 155 ly bắn trực xạ để ngăn chận; xen kẽ các pha cận chiến của Nhảy dù.
Tập hồi ký cho người đọc nhìn thấy thêm sự vận hành bên trong của một đơn vị pháo binh VNCH. Cách tổ chức, thiết lập vị trí, cách gọi pháo, check fire và phối hợp giữa nhiều pháo đội cùng một lúc, song song với không yểm Hoa Kỳ. Đặc biệt Đại úy Hy đã không tránh né mà ghi lại sự kiện đã từng bị thổi phồng: vài binh sĩ ôm càng trực thăng rời khỏi Đồi 30 và việc Trung tá Trần Kim Thạch, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Nhảy dù, bỏ đơn vị về Khe Sanh. Tính trung thực không bao gộp duy nhất những điều tồi tệ. Đã có những tấm gương can trường: như Thiếu tá Lê Văn Mạnh, Tiểu đoàn phó, chống trả cho đến phút cuối cùng rồi cùng binh sĩ mở đường máu về được Lao Bảo bằng đường bộ. Chính bản thân Đại úy Hy cũng đã đứng thẳng trên bãi đáp trực thăng, đang hỗn loạn, đễ giữ đội hình và quyết định tháo vải ngụy trang để lộ ba mai vàng giúp phi công nhìn thấy có sĩ quan chỉ huy bên dưới mà đáp xuống. Chỉ là một chi tiết nhỏ, nhưng nói lên phẩm cách của Đại úy Hy. Một giáo chức bị động viên.
Ít tập hồi ký nào sôi động với những khắc khoải lo âu từng giờ như Đồi 30 Hạ Lào. Tôi đọc hồi ký này năm 1973 khi vừa lên trung học mà nhớ mãi những bực tức cùng lo lắng của Đại úy Hy, cả những phản công bằng phóng lựu M79 của binh sĩ quốc gia đẩy bật Cộng quân xuống rào kẽm gai và Đại úy Nguyễn Văn Đương là người bạn thiết mà Đại úy Hy nhắc đến những phút cuối cùng. Khi ấy, phim kịch Người Chết Trở Về của Nhật Trường với ca khúc Anh Không Chết Đâu Em đang phát hằng ngày trên Radio và Tivi. Tôi cố gắng tìm chân dung Đại úy Hy trên Net, nhưng không một tấm hình nào hay văn bản nào cho biết ông còn sống hay mất. Xin phép đại úy Hy cho đánh máy lại, vì giá trị lịch sử của hồi ký và cũng vì sách đã tuyệt bản, không còn tìm thấy ở các nhà sách, cũng không thấy trên mạng.
“Tôi Tham Chiến Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30 Tại Hạ Lào” nhận Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Phủ Tổng Thống VNCH năm 1972, các chương sẽ được tuần tự đánh máy lại trên tuần san Trẻ từ tuần này. [Trần Vũ]
—oOo—
Trương Duy Hy
THAY LỜI TỰA
Đà-Nẳng, ngày 10 tháng 06 năm 1971
Thân gởi,
Đại Úy Trương Duy Hy, Pháo đội trưởng Pháo đội C/44 PB, tham dự cuộc hành quân Lam-Sơn 719 tại căn cứ hỏa lực 30, Hạ Lào.
Anh Hy thân mến,
Tôi vừa nhận được bản thảo Hồi Ký Chiến Tranh của Anh, nhan đề “Tôi Tham Chiến Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30 tại Hạ Lào”. Anh có nhờ tôi đề tựa. Đáng lẽ Anh phải nhờ một nhà văn nổi tiếng hay một sĩ quan cao cấp làm việc đó, nhưng anh đã nghĩ đến tôi, chắc vì mối tình tri-ngộ giữa chúng ta kể từ hơn 20 năm nay. Do đó tôi viết bức thư không niêm này, thay vì đề tựa chính thức để giải bày cùng anh những cảm nghĩ của riêng tôi sau khi đọc tác phẩm này. Năm, tháng trôi qua thật nhanh, bao nhiêu biến cố dồn dập đến trên dải đất thân yêu của chúng ta, kể từ một phần tư thế kỷ này đã đảo lộn nhiều chế-độ chánh trị, xáo trộn cả bộ mặt xã-hội và nếp sống hàng ngày, cơ hồ có lúc làm đảo lộn tất cả những tình cảm tốt đẹp nhất trong lòng người giữa cơn lốc vật chất quay cuồng dữ dội. Nhưng kỳ diệu thay, mối dây giao hảo giữa chúng ta vẫn không hề bị gián đoạn vì thời cuộc nghiêng ngửa, cũng không hề bị hoen ố vì ảnh hưởng của cuộc nhân-sinh. Giữa Anh và tôi vẫn còn trọn vẹn tình thầy trò thiêng liêng, tình anh em thắm thiết, tình bằng hữu đậm đà. Tôi biết Anh, từ khi Anh hãy còn là một cậu bé 15 tuổi, sớm mồ côi cha, nhưng nhờ ý chí cương quyết, nghị lực vững vàng, anh đã can đảm vượt qua hết mọi trở ngại lớn lao, để tiếp tục việc học đến ngày thành công. Anh đã thi đậu vào lớp Đệ-Thất trường Trung học Phan-Châu-Trinh Đà-Nẳng, năm 1952. Tôi còn nhớ rõ hình ảnh một cậu học sinh nhỏ bé, ngơ ngác giữa đám bạn bè tinh nghịch. Nhưng Anh đã làm chúng bạn cảm phục ngay vì học lực và tính tình của Anh. Việc học nửa chừng bị gián đoạn vì Anh phải tham dự cuộc Hành quân Atlante vào khoảng 1-1954. Chiến tranh chấm dứt, Anh phải học băng vào lớp Đệ Ngũ, thế mà tháng nào Anh cũng đứng đầu lớp, năm nào Anh cũng nhận phần thưởng danh dự, suốt trong mấy năm Trung học Đệ I và Đệ II cấp, cuối cùng Anh thi đậu Tú Tài Toàn Phần. Hồi đó, các giáo sư ai cũng đều ngợi khen Anh. Nếu Anh được cái may mắn sinh trưởng trong một gia đình giàu có thì chắc sự học còn tiến xa hơn nữa. Trong khoảng từ năm 1958 đến năm 1962, Anh phải đi dạy các trường Trung-Học Công Tư ở Quảng Nam để giúp đỡ gia đình, rồi sau đó phải nhập ngũ. Trong thời gian này, thỉnh thoảng tôi mới gặp Anh, nhưng tôi có nghe đồng bào quận Đại Lộc rất ca tụng Anh trong vụ cứu trợ nạn lụt mùa Đông 1970. Con người Anh thật là tiêu biểu cho dân Quảng Nam: trực tính, ưa tranh luận (Quảng Nam hay cãi…) thích chỉ huy, rất hăng say trong mọi công tác và sẵn sàng phẫn nộ trước cảnh bất công. Xứ Ngũ Phụng Tề Phi với núi sông hùng vĩ, kỳ tú là một vùng đất tượng trưng cho tinh thần quật khởi của một người dân xứ Quảng. Sở dĩ tôi phải nhận xét về con người Anh dông dài – chẳng biết có phạm đến lòng khiêm tốn của Anh không? – thật không phải là để ca tụng Anh đâu, mà chính là để tìm hiểu những cảm nghĩ và hành động của Anh trong những ngày Anh hành quân tại mặt trận Hạ Lào. Bản chất của Anh đã được phô bày khá đầy đủ trong tác phẩm này. Ở đây, tôi không muốn làm công việc phê bình, cũng không dám lạm bàn đến chiến lược, chiến thuật vì điều đó vượt khả năng và sự hiểu biết của tôi. Tôi chỉ muốn trình bày sau đây một vài khía cạnh mang ít nhiều tính chất chính trị và xã hội trong tác phẩm này:
– Anh đừng e ngại Cái Tôi đáng ghét. Cái Tôi trong tập hồi ký này chỉ là Cái Tôi điển hình cho tất cả những chiến sĩ dũng cảm tại Hạ Lào. Cái Tôi của Lân, của Thiện, của những chiến sĩ pháo binh, của Tiểu Đoàn Dù, của Biệt Động Quân… đã chạm mặt Tử-Thần tại mặt trận Hạ Lào nhưng không hề run sợ.
– Trước sự đe dọa của Tử Thần, tình đồng đội thật là thắm thiết hơn bao giờ hết. Bao nhiêu hiềm khích nhỏ nhen trong cuộc sống bình thản thường nhật đã bị tiêu tan trong chiến trận. Trước mặt, chỉ còn có địch quân cần phải tiêu diệt để bảo vệ sự sống của chính mình và của đồng đội.
– Lòng nhân đạo đã được thể hiện, khi chiến trận chấm dứt, trông thấy xác chết ngổn ngang, các thương binh, dù là địch quân, rên xiết trong nỗi đau đớn, khổ sở đều cần được chăm sóc, được an ủi như nhau. Vì nghĩa vụ, con người phải chém giết nhau, thì cũng vì nghĩa vụ, con người phải cứu giúp nhau để xoa dịu những nỗi khổ trong kiếp sống bi thảm này. Anh đã áp dụng đúng đắn lời dạy của triết gia Bersot, mà ngày xưa tôi đã bắt anh dịch ra Việt-văn. Thật ra, những người lính Cộng-Sản Bắc-Việt chỉ là những con tốt thí cho một chủ nghĩa, một mưu đồ. Họ phải chịu chết, chịu khổ sở từ 25 năm nay để phục vụ cho quyền lợi của tầng lớp cán bộ lãnh đạo ở Bắc-Việt, mà họ cứ vẫn tưởng là phục-vụ cho dân-tộc Việt-Nam.
– Đối với quảng đại quần chúng, ai cũng nghe nói đến chiến trận Hạ Lào vô cùng ác liệt, hơn cả những trận Pleime, Benhet, Dakto… hơn cả trận Điện-Biên-Phủ năm xưa. Nhưng không mấy ai ở ngoài cuộc có thể hình dung nổi trận chiến ác liệt như thế nào, nỗi gian-khổ của binh sĩ ta lớn lao đến chừng nào. Tác phẩm này đã vẽ ra một phần không nhỏ cả khung cảnh dữ dội, kinh hoàng của chiến tranh, nhờ đó quần chúng mới hiểu thấu hết tinh thần chiến đấu can trường, sức chịu đựng gian khổ của binh sĩ ta tại Hạ Lào, để biết cảm phục và thương yêu binh sĩ nhiều hơn.
– Tôi không đặt vấn đề thắng hay bại của cuộc hành quân Lam Sơn 719, nhưng quả thật nhờ có cuộc hành quân này mà sự tiếp liệu khổng lồ của Bắc-Việt vào Kampuchia và Nam Việt-Nam đã bị ngưng trệ trong một thời gian, các kho tàng trử vũ khí, thực phẩm, thuốc men, vật liệu của địch quân đã bị hủy diệt một phần lớn, điều này không một ai có thể chối cãi được, và sự hy sinh của binh sĩ ta thật không phải là vô ích. Về mặt chính trị, nhờ có cuộc hành quân này mà cả thế giới đều thấy rõ Bắc Việt đã xâm lăng không chính thức Miền Nam Việt-Nam, bằng đường mòn Hồ-Chí-Minh, một điều mà Bắc-Việt luôn luôn cải chính, đó là một thắng lợi về chính trị thật rõ ràng.
– Tác phẩm này còn được xem như một lằn roi quất mạnh vào mặt những hạng chính khách salon, bơ sữa, những hạng người thối nát trong guồng máy Quốc-gia, những hạng tham nhũng, đầu cơ trục lợi, những dân biểu buôn lậu phản nước, hại dân, những tên tài phiệt đã nhờ chiến tranh mà làm giàu trên xương máu của binh sĩ và đám cùng dân khố rách áo ôm. Các anh em binh sĩ có hô hào phải hy sinh, phải làm cách mạng, phải yêu nước bao giờ đâu? Binh sĩ chỉ biết chiến đấu trong im lặng và chết trong im lặng, không một lời than thở, tiếc nuối. Các binh sĩ chiến đấu tại Hạ Lào là những thiên thần sẽ giẫm nát lũ sâu bọ lên làm người đầy rẫy nơi đây.
– Tác phẩm còn được xem như một liều thuốc hồi sinh đối với bọn thanh niên sống cuộc đời vô lý tưởng, luôn luôn sợ gian khổ, sợ chiến đấu, cố tìm quên lãng và xóa bỏ thực tại bằng một nếp sống sa đọa, trụy lạc. Cố nhiên là nếu họ chịu uống liều thuốc đắng mà bổ ích này.
Anh đã làm tròn nhiệm vụ đối với Tổ-Quốc. Đó là niềm hãnh diện nhất trong đời.
Thân ái chào Anh,
TRẦN-NGỌC-QUẾ.
XÁC ĐỊNH MỘT TỌA ĐỘ
“CÁI TÔI” bao giờ cũng là “CÁI ĐÁNG GHÉT”. Từ xưa đến nay, vì nghĩ đến “CÁI TÔI”, nói đến “CÁI TÔI” mà có nhiều người mang họa – nếu không, cũng là đầu đề cho bạn bè đem ra chế giễu.
Lại nữa, “CÁI TÔI” lúc nào cũng chủ quan. Đã chủ quan thì khó trung thực. BÙI GIÁNG hơn một lần nhận xét “…mắt ta thấy, chưa chắc đã là không lầm, tai ta nghe chưa chắc đã là không lộn…!”. Nhưng khổ nỗi, ở một vài trường hợp “CÁI TÔI” vì điều kiện và ngoại cảnh nào đó an bài cho nó có “MỘT TỌA ĐỘ” – Từ “TỌA ĐỘ” này, nó có một thị trường thích nghi, tuy không nói lên những nhận xét trung thực bởi “chủ quan tính” gắn liền với nó – nhưng ít ra, nó có thể nói lên những gì nó thấy tận mắt, nghe tận tai, ngửi tận mũi.
Vả lại, “CÁI TÔI” trong Hồi ký này còn là điểm tựa, bằng vào đó để có thể trung thực trình bày các điều đã thấy, nghe và ngửi – hẳn độc giả sẽ không hẹp hòi gì mà không tha thứ.
Với ý thức khơi nguồn bởi lòng độ lượng của độc giả “CÁI TÔI” trong Hồi ký tự nhận có bổn phận chân thành thể hiện cảm quan đã thâu thập trong suốt 23 ngày đối diện với Tử-thần ở Hạ Lào. Ngoài ra, CĂN CỨ HỎA LỰC 30, tiền đồn cuối cùng ở phía Bắc Quốc lộ 6, nằm sâu trong nội địa Lào Quốc -kể từ sau ngày 25-2-1971- không phải chỉ có vài người trách nhiệm tử thủ, thì đương nhiên những gì “CÁI TÔI” đã ghi chép tại đây, chắc chắn không thể lọt ra ngoài những cặp mắt phán xét nghiêm khắc của hàng trăm chứng nhân – nếu không là sự thật 100%.
Hơn thế nữa, tôi nghĩ – bây giờ tôi bắt đầu xin dùng chữ “TÔI” – đã là Hồi ký chiến tranh, kẻ cầm bút nếu không trung thực với chính mình, lại cố ý ru cho mọi người chung quanh vào “MÊ HỒN TRẬN NGỤY TẠO”, thiết tưởng đáng hổ thẹn biết bao!
Vì lẽ đó, hôm nay “CÁI TÔI” của tôi chỉ có mỗi một ước vọng, và tất cả cố gắng dồn vào ước vọng này : thật rõ những gì đã xảy ra mà chính mình chứng kiến, chính mình am hiểu từ lúc nhận lệnh tham chiến đến ngày Đại lễ “KHAO QUÂN MỪNG CHIẾN THẮNG LAM SƠN 719” cử hành trọng thể tại cố đô Huế dưới sự chủ tọa của Tổng Thống VNCH NGUYỄN-VĂN-THIỆU.
Phần nhận xét liên hệ đến chiến thuật, chiến lược, tôi xin được miễn phổ cập.
Cầu Ô Thanh niên hoạt động và chịu khó, đang học lóp đệ tam chuyên khoa, muốn dạy học thêm ở các tư gia. Hỏi cậu Hồng, 233/20 đường Phát Diệm. Chàng mỉm cười. Cái cậu Hồng nầy sao mà giống chàng quá cũng hoạt động, cũng chịu khó, cũng học đệ tam chuyên khoa, mà nhứt là cũng muốn dạy học ở các tư gia. Chỉ có khác là chàng không đăng báo để tìm việc thôi. Có hằng trăm thanh niên võ trang bằng những đức tính, giống hệt cậu Hồng nầy, và cùng một mong mỏi với cậu. Thái biết rõ thế. Như vậy, chàng thấy đăng báo không hiệu quả bao nhiêu: mình đăng báo này, họ đăng báo khác, khó hy vọng được người ta mời. Thái lại đọc tiếp: Thanh niên đẹp trai, học lực trung học đệ nhứt cấp giỏi âm nhạc, thể thao, biết lái mọi thứ xe có động cơ, sành chụp ảnh, cỡi ngựa giỏi, rất tháo vát, sẵn lòng làm bất cứ công việc gì, với bất kỳ lương bổng nào, đi xa bao nhiêu cũng được. Hỏi cậu Tân 469/ 178F Phan Đình Phùng. Thái để từ báo xuống rồi thở dài. Một thanh niên giỏi chừng ấy công việc, lại phải thất nghiệp đến cam kết nhận bất kỳ đồng lương nào và nhận đi bất kỳ nơi nào, thì xã hội Việt Nam quả đang ở vào giai đoạn tranh sống quyết liệt rồi đây.Nhưng sau một lúc nghiệm kỹ, chàng giựt mình. Có bao nhiêu tài giỏi như anh bạn trên đây, cũng bằng không. Đó là những tài ba ăn trợt, khó lòng sử dụng được. Người ta cần một bác thợ hồ giỏi để đưa đi Ban mê thuột, người ta cần một anh thợ điện giỏi để coi điện cho một xưởng nào đó ở Sàigòn, nhưng chắc chắn không ai biết dùng vào công việc nào một thanh niên cỡi ngựa tài, hoặc sành âm nhạc. Xét bản thân mình, chàng thấy chàng còn nghèo tài vặt hơn anh bạn ấy nhiều lắm. Mà tài lớn, chàng cũng chưa có, hoặc có, cũng không thể bán hoặc cho thuê được. Như bất kỳ cậu học sinh nào, Thái đã viết văn và làm thơ. Chàng hơn bạn hữu một tí là thơ chàng được đăng lên vài tờ báo. Chàng lại hơn những mầm non văn nghệ được đăng báo là giới phê bình đã bắt đầu nói sơ đến chàng. Một người bà con của chàng, vốn là ký giả, một hôm xui dại chàng gởi thơ cho những báo nào đăng thơ chàng để đòi tiền nhuận bút. Đợi mãi không thấy báo nào trả lời cả, mà lạ lùng hơn nữa là thơ chàng bỗng dưng vắng bóng trên mấy báo ấy, mặc dầu chàng cứ tiếp tục gởi đến họ. Và cũng như bất kỳ mầm non nào, Thái nghĩ ngay là họ muốn dìm một tài ba chớm nở: trong các tòa soạn ấy có những biên tập viên cũng là thi sĩ, sợ chàng lên quá rồi lấn mất họ, nên họ dìm chàng chăng ? Chớ làm gì bỗng dưng tài của chàng lại thình lình triệt thối ở khắp các mặt trận như vậy được. Chàng băn khoăn cậy người bà con nói trên điều tra giùm, và kết quả của cuộc điều tra ấy đã đánh tan mất trong trí chàng cái ảo mộng đổi ra sách vở và xi-nê những vần thơ của chàng. Người bà con ấy nói: “Chỉ có một ông chủ báo là chịu cho biết vì sao không có tiền nhuận bút cho thơ của anh, còn mấy tòa soạn khác, nhứt định không trả lời tôi. Ông ấy bảo rằng lệ của nhà báo, bất kỳ báo nào, hay phần lớn các báo ở đây, không có tiền nhuận bút chữ thơ. Một bài thơ chỉ choán có một phần tư cột báo thôi, thì không lẽ đưa mười đồng hay hai mươi đồng. Mà đưa nhiều hơn, một trăm chẳng hạn, để xem cho được con mắt, thì hóa ra mỗi cột báo chi phí biên tập phải lên đến bốn năm trăm, và một trang tám cột phải mất đi bốn ngàn bạc à? Ông ấy nói làm thơ là làm cái gì cao quý, là phục vụ nghệ thuật, thì không nên làm hoen ố công việc đẹp đẽ ấy bằng cách đòi tiền công. Thế là rõ ! Và đã lâu rồi, Thái chỉ trông cậy vào tiền mà gia quyến anh gởi lên cho mỗi tháng một ít thôi. Chàng đọc tiếp quảng cáo, và lầm thầm nghĩ rằng chỉ có bọn người thất nghiệp và bọn người túng thiếu như chàng mới đọc quảng cáo thôi.
Cần Dùng Một học sinh bục trung học đệ nhứt cấp để kèm hai trẻ lớp nhứt tại nhà. Hỏi ông phạm Văn Mìn, thầu khoán 758 đường Cao Thắng. À, đây rồi? Thái reo thầm lên. Nhưng chàng thấy cái mỉa mai trong hai bài quảng cáo trên và dưới, nên buồn cười lắm: trên thì tìm việc, dưới lại tìm người, đúng là cái người tìm việc trên: mà 2 quảng cáo cứ đăng mãi mấy ngày rồi. Hai người chưa gặp nhau à? Hay đã gặp nhau mà không thích nhau? Thái nhứt quyết đi đến nơi cần dùng thầy giáo nầy, và không để trễ, chàng đứng dậy đi thay đồ.° Thái có cảm giác rằng ông Mìn không phải là một ông nhà giàu mới, mặc dầu biệt thự ông đang ở, chưa sơn đến lần thứ nhì từ lúc dựng lên đến bây giờ. Ông Mìn có lễ độ. Vâng, nhưng những ông nhà giàu mới cũng có thể có lễ độ như ông. Không, không thể cắt nghĩa được cảm giác của chàng bằng một hay hai chi tiết. Nơi ông nhà giàu mới, tất cả cái gì cũng kêu ầm lên rằng ta đây vừa có tiền đây nè! Nơi ông Mìn, thì tuyệt nhiên không. Nhờ cảm giác đó mà Thái có ngay cảm tình đối với gia đình nầy. Cảm tình của chàng quả đặt không lầm chỗ. Hai đứa bé, mười và mười một tuổi, ngoan ngoãn lắm. Chúng ham chơi, hay lo ra, nhưng có người kềm là chúng chăm chỉ được ngay. Ngày đầu, Thái được ông Mìn tiếp rồi đưa qua buồng học để giới thiệu cho thầy trò tiếp xúc với nhau. Mới đi dạy lần đầu, Thái chưa biết phải làm sao cho ra vẻ. Chàng suy nghĩ kỹ thì thấy cứ cư xử tự nhiên như một người anh lớn đối với em nhỏ, không cần làm oai, mà trái lại nên gây cảm tình. Cuộc tiếp xúc được thân mật, và tín nhiệm phát sanh ngay nơi lòng hai đứa bé. Ông Mìn coi bộ mừng lắm. Những ngày sau đó, chàng đi ngay vào buồng học, và luôn luôn học trò có mặt sẵn nơi đó để đợi chàng. Buồng lọc là một buồng trông ra đường và ở giữa nhà. Buồng bìa bên trái là buồng tiếp khách, còn buồng bên mặt có lẽ là buồng chơi của trẻ con, vì chàng thường nghe tiếng bóng bàn bên ấy. Thái dạy vào buổi xế trưa. Trời nóng bức lạ, mặc dầu có quạt máy, thầy trò vẫn nghe khó chịu. Thỉnh thoảng một chị người nhà bưng ra ba ly nước cam vắt cho ba thầy trò giải khát và buổi dạy nào chàng cũng uống ít lắm là hai bận nước cam như vậy. Thái giảng thêm bài trường và nói chuyện nhiều hơn là dạy, vì chàng tin rằng phương pháp đó hay hơn. Học trò xem ra cũng rất thích lối học như vậy. Hai tuần lễ sau, không xảy ra chuyện đáng tiếc nào cả. Thái có gởi thơ xin phép ông Mìn dẫn Long và Hưng đi xem “Nàng tiên khác thường!” và đưa hai cậu bé về tận nhà, rồi thôi, sự thân mật giữa thầy trò không vượt ra ngoài những câu chuyện bên lề sự học và những câu chuyện cổ tích ta và ngoại quốc. Nói rõ là chàng gởi thơ xin phép, vì chàng không gặp mặt được ông Mìn lần nào cả từ lần mới đến xin việc và lần giới thiệu thầy trò. Hai đứa bé không tò mò hỏi về đời tư chàng, còn chàng thì tuy hơi tò mò thật đó, nhưng ngại thất lễ với gia đình ấy nên cũng không tìm biết gì. Thái chỉ mong học trò tiến bộ để được tín nhiệm của gia đình, và mong cho tới tháng để lãnh tiền, hầu mua sắm thêm những vật cần thiết. Bốn giờ chiều ngày thứ mười sáu, ông Mìn qua buồng học chào thầy giáo rồi khen ngợi:- Tôi bằng lòng ối dạy của thầy lắm. Tôi có xem tập cháu, không thấy thầy cho bài nhiều, nhưng cứ nghe chúng nói chuyện thì nhận thấy chúng nó mở trí thêm nhiều lắm: suy luận đúng, tò mò hữu lý và biết sự tìm hiểu nhiều bài, nhiều việc xảy ra chung quanh chúng nó. Tôi mong thầy cứ tiếp tục phương pháp ấy mãi. À, thầy có giỏi Việt văn hay không? – Thưa ông, đó là sở đoản của tôi. – May lắm. Nhưng có thể làm cho học sanh khá Việt văn được hay không thầy? Tôi cứ nghe họ nói phải có khiếu mới giỏi được. – Thưa ông, họ nói đúng phần nào. Nhưng đó là khi nào muốn xuất sắc muốn thành văn sĩ kia. Chớ còn muốn giỏi để đủ làm một bài luận văn cho sáng sủa, muốn hiểu và cắt nghĩa một bài văn cho thông thì chỉ nhờ được chỉ dẫn đúng cách và tự mình cố gắng là được rồi. – Vậy hả! Tôi có một đứa con gái, con thứ ba. Năm nay nó học đệ tứ mà Việt văn nó kém lắm. Chính nó cũng tự biết thế và rất lo sợ hỏng thi vì môn ấy. Thầy có thế nào giúp thêm giờ để dẫn cháu đến ngày thi cho đủ sức với người ta không? – Thưa ông, hiện giờ tôi dạy từ ba đến năm giờ. Nếu chỉ thêm cho cô Ba, thì tôi ở lại đến sáu giờ, không gì trỡ ngại cả. – Tốt lắm. Tôi sẽ có chỗ tạ công thầy riêng về giờ thêm đó. Ông Mín vừa nói vừa xây lưng đi. Ra tới cửa, ông nói vói vào: – Đúng năm giờ, tôi sẽ đưa cháu đến đây để giới thiệu thầy trò với nhau, rồi chiều mai khởi sự học. Thích chưa! Sẽ có tiền thêm đây, mà một tiếng đồng hồ dạy thêm nầy, lương bổng ít ra cũng tương đương với hai tiếng đồng hồ dạy trẻ. Trung học mà, chớ nào phải tiểu học đâu. Nhưng Thái hơi ngạc nhiên không hiểu vì sao ông thầu khoán này lại không mướn giáo sư Việt ngữ thật thụ để dạy con gái, lại nhờ mình. Trung học mà dạy Trung học thì thầy với trò có khác hơn bao nhiêu đâu? Đệ tứ là lớp chàng vừa bước khỏi chỉ mới mấy tháng nay thôi kia mà, ông cụ lẽ nào lại quên điều đó? Hay là ông ta hà tiện, định lợi dụng mình? Ừ mướn giáo sư tốn tiền lắm. Còn nhờ mình thì bất quá đưa thêm vài trăm mỗi tháng là cùng? Nghĩ tới đó Thái hơi lo. Nếu bị lợi dụng mà tranh đấu để tự vệ e mất chỗ làm. Còn nín thinh mà chịu thì tức biết bao! Nhưng dầu sao cũng được chỗ an ủi này là người học trò mới là một cô gái mười tám, như ông Mìn đã nói. Là thanh niên, Thái hay mơ mộng hão như bất kỳ học sanh nào. Thanh niên Thái lại là thi sĩ thì giấc mơ tình ái của cậu còn to biết bao nhiêu. Đây là một cuộc phiêu lưu ngộ nghĩnh, tốn tiền cũng còn dám tốn nữa kia chớ nói chi là được trả công rẻ. Vậy đêm nay phải uống thuốc ngủ mới được, kẻu mơ quá rồi không nhắm mắt được đa nhé, vì ông Mìn đã quên đưa con lại, chàng nóng biết cô ấy ra sao. Ngày giờ trôi sao mà chậm chạp đến phát giận lên. Nhưng mà sợ lắm thay! Có ai chận cho nó đi chậm thêm nữa thì Thái đây cám ơn lắm lắm. Mà giờ long trọng đã đến, không làm sao bước lui được nữa. Suốt hai tiếng đồng hồ dạy Long và Hưng, Thái chỉ giảng được mỗi một bài cách trí thôi, còn thì kể những chuyện đầu Ngô mình Sở cả. Chiếc đồng hồ Carillon bên buồng bên đổ nhạc rồi thong thả buông từng tiếng như kẻ sát nhơn đếm một, rồi hai, rồi… Cánh cứa buồng mở, và nơi khung cứa nàng tiên áo trắng hiện ra, không biết có đẹp hay không, vì Thái bối rối không dám ngước lên, làm bộ như câu chuyện đang nói với trẻ còn dài lắm mà chàng thì đang kể chuyện mê mệt, quên cả bên ngoài. Nàng tiên bước lại trước bàn, nghiêng mình chào thầy giáo rồi nói với hai em: – Tới phiên chị học đây!
Google photo
Hai đứa bé cười rồi đứng lên nói: – Xin phép thầy. Chúng không đợi thầy cho phép, chạy ùa ra ngoài, vừa chạy vừa la. – Đổi phiên gác rồi, sướng quá, đi chơi né. Thái nghe mình bình tĩnh hẳn lại. Cô bé xinh quá nhưng chàng thấy cô ấy còn trẻ con lắm. Cô ta không gây được tiếng sét nơi lòng chàng. Thế là hơn, chàng nghĩ. Mình sẽ làm tròn phận sự một cách dễ dàng. Cô bé ngồi xuống ghế rồi thưa: – Thưa… thầy – cô ta do dự giây lát không biết kêu Thái là gì – em là Huệ. Em học đệ tứ trường “Cô Bắc”. Chiều hôm qua, ba em định đưa em lại đây để trình diện với thầy, nhưng lại có khách thình lình, rồi cuộc thăm viếng của khách kéo dài hơn tiếng đồng hồ. Khách đi rồi, thầy cũng đã về mất, Nên ba em biểu em xin lỗi thầy… – Không cần gì. Thái chận nói. Ông cụ có nói qua là đủ lắm rồi. Thái nhận thấy cô học trò ăn nói dễ dàng quá, lưu loát quá, và có bộ tịch dạn dĩ lắm. Thái thấy cần thành thật ngay với cô học trò để cô khỏi thất vọng, hoặc khỏi bị cô ta “côn” để phá chàng chơi. – Tôi chỉ mới rời khỏi đệ tứ chưa đầy một năm, không hiểu sao ông cụ lại nhờ tôi dạy cô. Tôi cần cho cô biết điều ấy để… – Thưa thầy, thầy khỏi ngại. Huệ chận nói. Chính em đã năn nỉ ba em mướn thầy đó. Em biết thầy sành Việt ngữ lắm, có lẽ còn rành hơn cả ông giáo sư của em nữa kia. Em biết về thầy nhiều lắm… Thái hốt hoảng hỏi: – Cô biết gì về tôi? – Em biết thầy là thi sĩ Phong Điền… – Làm sao cô biết được? – Em có thấy ảnh của thầy đăng báo một lần. – Vậy à! Nhưng tôi lại không sành nghề dạy học. Biết là một đàng, dạy được là một đàng. – Mà thầy đà thành công với hai em Long và Hưng, lẽ nào lại không thành công với em. Thái làm thinh giây lâu rồi nói: – Té ra cô cũng đã để tâm đến bọn thi sĩ chúng tôi. Vậy chắc là cô thích văn thơ? – Thưa, thích lắm. – Thì sao cô kém Việt văn? – Thưa thầy, bởi vì đi thi, người ta cho luận văn: Làm bài luận rắc rối hơn đọc một bài sáng tác nhiều. – À! Lời cô bé nhắc Thái thớ đến chính một quan sát của chàng: là bên trung học Pháp người ta ra đề tả cảnh, còn bên Việt lại ra đề luận. Thiếu niên mười lăm mười sáu tuổi, chưa vững trí thì luận là một việc quá khó khăn đối với họ. Nhưng đó chỉ là mối hại nhỏ thôi. Cái nguy to là bao nhiêu cố gắng đều đưa vào luận nên nhiều học sinh chểnh mảng mọi khía cạnh khác đến đỗi tới đệ tứ mà còn viết sai văn phạm. Cuộc tiếp xúc tới đó là chấm dứt. Thái lấy sách ra giảng cho Huệ nghe một đoạn “Thu dạ” không có ghi trong chương trình. Thật ra thì Huệ có khiếu về văn chương. Nàng hiểu rất mau, viết văn sáng rỡ, nhưng vì thiếu chỉ dẫn nên hóa lu mờ đó thôi. Ngày nào hai thầy trò cũng nói chuyện độ hai mươi phút rồi mới học. Chuyện bên lề học vấn, nhưng không xa học vấn bao nhiêu. Huệ vô trách nhiệm nên không cần giữ gìn, nói đến cả chuyện nhà chuyện cửa. Nhờ vậy mà Thái biết cô Lan, cô gái lớn của ông Mìn là một góa phụ trẻ. Cô ấy lấy chồng năm hăm hai. Được một năm thì chồng chết, và cô còn ở vậy cho đến năm nay cô đã hăm tám tuổi rồi. Huệ rất mến thầy, hay biếu quà thầy lắm. Mà nàng khéo làm sao. Trong câu chuyện, nàng hỏi bâng quơ vài chi tiết về lối sống của ông thầy, thế mà bằng vào đó, nàng đoán đúng được những gì thầy cần mà sắm không nổi, những món thật là bất ngờ như cái tourne- disque chẳng hạn. Thú thật là thầy, từ khi gặp trò, không có ý quấy nào cả, không phải vì thầy là một nhà đạo đức, trái lại nữa. Nhưng mà cô bé thật là bé, bé người mà bé cả tâm hồn nữa. Huệ chỉ mới bắt đầu trổ mã. Tuy thân thể nàng hứa hẹn một sắc đẹp có hạng, nó vẫn còn cao lỏng khỏng, cổ nàng còn ốm nhom, mắt nàng nhìn mọi vật còn ngạc nhiên một cách đáng thương hại. Huệ ăn điện như một cô gái lớn, nhưng sự ăn diện ấy không hòa hợp được với cái trẻ con nơi người nàng nên trông càng buồn cười thêm. Thái rất thương em bé Huệ vì những câu suy nghĩ ngộ nghĩnh và hồn nhiên của em bé ấy, vì những mộng mười lăm của em về cuộc đời. Chỉ có thế thôi. Huệ là con nhà có giáo dục, nên lời lẽ cử chỉ của nàng không có gì quá đáng cả. Nhưng không hiểu sao, Thái tế nhận thấy rằng lòng mến thầy của nàng không phải vô tội đâu. Riêng trong bụng Thái, chàng cũng không dám nói đến tình yêu. Em bé còn thơ dại quá, bảo rằng nàng yêu mình, hóa ra vu cáo cho nàng sao. Nhưng mặc dầu không dám nghĩ như vậy, Thái cứ thấy sự trìu mến thầy của cô Huệ không chỉ là sự mến suông. Không có bằng cớ nào đích xác cả để cho là như thế. Nhưng chính sự thiếu bằng cớ ấy khiến chàng len lén nghĩ đến ái tình. Khi người ta yêu, người ta chỉ làm thinh thôi. Nhưng cái gì miệng không nói ra được, thì mắt nói lên hết cả, và tay chân, thân thể cũng đều bập bẹ được để phụ lời. Huệ có hỏi nhà chàng lần nào đâu, và chàng cũng chưa bao giừ tự khai chỗ ở trọ ra, thế mà hôm ấy, sáng chúa nhựt, chàng ngạc nhiên hết sức mà thấy Huệ đi ngang qua trước cửa, vừa đi vừa ngó vào nhà. Căn nhà chàng ở trọ, trông ngay ra một ngõ hẻm dùng làm địa dịch qua lại cho cả xóm. Nhà không sân, không hàng hiên thành ra ai đi ngoài ngõ là y như là đã bước vào nhà nửa chừng. Sáng hôm ấy, Thái đang ngồi ở bàn ngoài, đọc một chương trình chiếu bóng. Nghe tiếng giày, chàng ngẩng mặt lên thì hai người như là gặp nhau trong một căn phòng: họ cách nhau chỉ có hai thước thôi. Huệ reo lên: – Chào thầy. Thầy ở đây à? Thái bối rối, không phải vì gặp con gái, mà vì sự chạm mặt đột ngột quá nơi một căn nhà tồi tàn mà chàng thấy cô ta không biết là hơn. – Ừ, tôi ở đây. Cô ba đi đâu đó? – Thưa, em đi tìm người bạn, nhưng chắc địa chỉ sai nên tìm mãi không ra. – Người bạn cô tên chi? Xóm nầy tôi biết tên cả mọi người, từ già đến trẻ. Huệ ấp úng, rồi không đáp, khiến Thái thấy là nàng quyết đến thăm anh, sau khi đã biết địa chỉ anh nhờ cách nào không rõ, có lẽ nhờ lục lạo trong quyển sổ tay của ông Mìn chăng? Huệ đứng đó mà làm thinh, chắc khó chịu lắm, nên Thái mời: – Mời cô vào chơi. Huệ mỉm cười, bước vào nhà liền. – Anh ở trọ, hay là nhà của anh. Nàng xưng hô như vậy một cách rất tự nhiên, như là đã xưng hô từ lâu rồi. – Thưa tôi ở trọ. Nhưng nhà bà con, không nhận ai khác cả, ngoài tôi ra. – Thì cũng như nhà anh. Sáng chúa nhựt anh không đi chơi sao? – Tôi ít đi lắm. – Cả chúa nhựt nữa? Trời ơi buồn chết! À, mà chắc anh không buồn. Anh ở nhà để làm thơ. Làm thơ vui lắm không anh? – Nhọc lắm thì có. Nhưng mình thích nhọc, thành ra cũng hơi vui được. – Người ta ra đề sẵn, anh gieo vần có được không? – Tôi chưa thử lần nào: Nhưng chắc phải có hứng mới làm hay được. – Đâu anh làm thử bài thơ nầy xem. “Sáng chúa nhựt gặp khách bất ngờ”. Thái mỉm cười: – Nếu cô bắt tôi làm ngay, không cho tôi đợi hứng thì thơ có dở cô ráng chịu nghe không? – Đợi hứng? Thành ra hiện giờ anh chưa có hứng. Thái nghe cả sự thất vọng chua cay trong giọng nói của Huệ. Mặc dầu lòng chàng dửng dưng, chàng cũng không muốn làm phiền cô bé dễ thương nầy, nên vội cứu vãn: – Có nhưng mà hứng chưa chín muồi. Nhưng Huệ đã hiểu. Nàng thông minh lắm, việc gì tỉ mỉ nữa kia mà nàng còn tế nhận được thay, huống hồ chi cái hớ hênh to tát nầy của Thái. Huệ nói vài câu chuyện không đâu rồi xin phép ra về. Thái tiễn học trò ra đến đầu ngõ, nàng lên xe rồi anh mới trở vô nhà. Cuộc tiễn đưa “đến tận thuyền” ấy không phải chỉ vì lịch sự không mà thôi, mà là để an ủi một đứa bé vừa bị bể vở một bong bóng xà bông, đang buồn cho những màu sắc xanh đỏ bỗng nhiên tan biến mất. “Tình trẻ con chưa rõ rệt bao nhiêu, rồi nàng sẽ quên mất và về sau còn thấy đó là buồn cười”. Thái lẩm bẩm như vậy, rồi an lòng được, sau trót một tiếng đồng hồ băn khoăn. Hôm sau, người học trò vẫn ngoan ngoãn, nhưng ít nói, bảo là không nói gì hết thì đúng hơn. Nhưng tuyệt nhiên không thấy nàng lộ vẻ giận hờn, oán trách gì cả. Năm hôm sau là trở lại bình thường. Huệ vui vẻ y như lúc trước, nói líu lo như chim. “Đúng như mình đã đoán, Thái nghĩ thầm. Nàng sẽ quên đi chớ gái thơ thì lòng dại hay đi phiêu lưu, nhưng khi thấy các nẻo đương phiêu lưu ấy không có gì huyền diệu lắm, thì họ trở bước được ngay. Hôm ấy đúng vào ngày cuối tháng – tháng dạy học – nghĩa là mười hai tháng chạp. Huệ trao cho Thái một phong thơ của ông Mìn và yêu cầu Thái đọc ngay. Thơ cám ơn công khó của ông thầy, kèm theo một số tiền. Tiền xúp dạy cô ba, tính phải chăng chớ không lường công. Và mời chiều hôm đó thầy giáo ở lại ăn cơm. Đoán chừng ông thầy đọc vừa xong, Huệ nói: – Sáng kiến của em đó. Ba, má em cũng mến anh lắm, nhưng bận quá nên quên mất. Em nhắc, ổng bả mới nhớ ra và biểu em nài nỉ cho anh nhận lời. Thái hơi ngại, vì hôm đó chàng ăn mặc không được sạch lắm. Về nhà thay y phục thì không kịp nữa, bởi ông Mìn mời chàng hễ hết dạy là qua ngay để trò chuyện chơi trước khi dùng bửa. Nhưng không thể không nhận lời. Nhà có sân trong mà Thái không dè. Trông từ đằng xa, Thái thấy cả gia đình đều có mặt. – Người mặc áo vàng nghệ, có phải là cô hai đó hay không cô ba? Thái hỏi Huệ đang dắt nẻo cho chàng. – Dạ, chị hai em đó a. Sân trồng hoa kiểng rất xinh, nhứt là rất ấm cúng và kín đáo, mắt người đi đường không dòm vào được. Thái đã đến nơi. Chàng bận nhìn bà Mìn cao lớn đẫy đà nên chưa thấy ai cho rõ. Chàng nghiêng mình chào từng người, bắt đầu chào ông Mìn trước. Khi mắt chàng dừng lại trước người thiếu phụ góa chồng thì chàng ngây người ra. Thiếu phụ đẹp, đẹp quá sức tưởng tượng của chàng. Chàng đã hình dung thử người đờn bà ấy thấy trong trí là cô ta hiện hơi đẹp hơn Huệ một chút, nhưng rồi sẽ thua Huệ khi Huệ được trổ mã đều. Nhưng quả thật chàng đoán sai rất xa. Sắc của Huệ mà đi mút con đường tiến triển, cũng còn kém hơn Lan vào độ Lan vừa trổ mã xong. Huống chi Lan đã là đờn bà rồi. Người đờn bà trẻ, đẹp hơn con gái đương thì nhiều lắm, vì cái chớm nở không sâu sắc bằng cái bừng nở, vì buổi mai tuy tươi mát dễ ưa mà không say sưa bằng buổi trưa uy vệ hơn. Trong tình sử của loài người, thật không nghe nói bực vĩ nhơn nào mà mê con gái đến đổ vỡ cơ nghiệp, mà chỉ thấy toàn đờn bà làm tan nhà nát cửa người ta thôi. Thái bối rối như cậu học sanh mười bảy mới giao thiệp với bạn gái lần đâu, mặc dầu chàng đã hăm hai rồi. Để che lấp sự lúng túng của mình, chàng đưa tay bắt lấy hai tay đứa bé trai, lồi nắm lấy tay chúng mãi, hỏi lăng xăng như là hồi nãy chưa gặp nhau. Ông Mìn mời chàng ngồi, rồi nói bằng tiếng Pháp: – Mettez- vous à l’aise, jeune homme 1. Bà Mìn thạo đời lắm, đưa đầu đề ra ngay: – Tôi biết thầy ăn cơm tháng, bỏ bữa mà không báo trước cũng chẳng sao, nên mới đám mời thình lình như vầy. Số là vợ chồng tôi bận việc nên quên mất. Con Huệ nó nhắc mới sực nhớ ra. Để lại ngày hôm sau, e có điều gì trở ngại chăng, nên mới mời thầy ngay hôm nay. Bà ta tỏ ra là một bà chủ có bản lĩnh. Chỉ có một mình bà là nuôi nấng buổi chuyện trò cho nó khỏi tắt ngọn. Nhờ thế mà Thái dễ chịu được và lần lần tỉnh lại. – Ông giáo uống gì? Cô Lan vừa hỏi vừa day ra sau lưng lấy hai chai rượu để trên chiếc bàn con có bánh xe. Thái ấp úng: – Thưa cô, tôi uống gì… mà… không có chất rượu ấy. Lan cười giòn lên: – Như đờn bà ấy à? Như vậy làm sao được? Ít lắm cũng phải uống bia chớ. – Thôi, cho ông giáo uống nước cam vắt, chị hai à, Huệ can thiệp để cứu ông thầy. Lan đứng lên, thay cho mẹ mà đãi thức ăn uống cho cả bàn. Đây là nàng tiên đã gợi hứng cho chàng làm thơ từ bao lâu nay, một người đờn bà có cái lưng ong như lưng gái nước Sở ấy, có những ngón tay riêng tự nó có linh hồn như những con vật sống, có đôi mắt mơ buồn một nỗi buồn khôn nguôi. Suốt bữa ăn, Thái tế nhận được vẻ ngạc nhiên trên gương mặt cô Huệ. Ái tình luôn luôn im lặng. Nhưng người ngoài lại nghe ồn ào lên rõ bông bông. Huệ có nói lòng mình ra bao giờ đâu, thế mà Thái đã biết rõ tâm tính nàng. Thì nay cũng vậy, Thái chỉ hầu chuyện ông Mìn bà Mìn, thỉnh thoảng mới day qua đáp một câu hỏi thường của Lan, mà đáp một cách thờ ơ, lạnh lạt. Thế mà Huệ như trông thấy suốt tim. chàng đang máy động vì việc gì. Huệ nó ngạc nhiên lắm. Mà chính chàng, chàng cũng ngạc nhiên. Lẽ nào chàng từ chối tình yêu của một cô gái trong trắng để bâng khuâng trước một người đờn bà đã hăm tám tuổi rồi? Trước khi kiếu từ ra về, chàng nghe bà Mìn nói: – Ông giáo sư tự nhiên qua lại nhà chơi. Chúng tôi xem ông giáo như người nhà, nếu ông không cho thế là mích lòng. – Dạ, tôi đâu dám… – Con Huệ nó nói đến ông luôn thành ra ông không qua đây mà chúng tôi đã quen nhiều với ông rồi. Bà cười đến rung rinh cả thân thể. Vâng, Thái sang nhà thường lắm. Chàng chỉ lo không có lý do để sang. Nhưng mà người ta cho phép, dại gì không nhận. Nhưng càng qua lại nhiều, càng tủi thêm. Cô Lan chỉ xem chàng là một ông giáo đến dạy ở tư gia, không hơn, không kém. Hôm nào vui tánh, nàng bước thêm một bước, đối xử với chàng như một người chị đối với một người em trai họ. Thật là trời trả báo cho chàng. Chàng đã xem Huệ như em thì bị Lan xem lại như em, quả đáng kiếp. Nhưng nghĩ oái oăm thay, ái tình. Nó giống như là trò chơi bi-da của người Nga: viên đạn này chạy đi tìm viên đạn kia, nhưng viên đạn kia không đứng lại với bạn, mà chạy tìm viên nọ. Thái đau một niềm đau khó chịu. Thà là bị tình phụ rẫy cho cái đau nó rõ rệt ra, kêu khóc lên được cho hả hơi, và tự an ủi được khi nghĩ rằng người ngoại cuộc cũng sẽ tội nghiệp cho mình. Đằng nầy niềm đau âm thầm của mình chính mình cũng không than trách được, thì cái đau ấy mới lắng xuống tới đâu để mà biết mà rứt để mà mài cho mòn lần mòn hồi cả tâm hồn chàng. Lan có khinh rẻ, hất hủi chàng lần nào đâu? Nàng có yêu chàng rồi phụ rẫy chàng lần nào đâu? Nàng chỉ thờ ơ thôi, xem như là chàng không có. Hỡi vì sao trên trời, lấp lánh về nửa đêm! Có biết chăng một con dế kia mỗi tối mỗi nằm ở miệng hang mà dòm lên trời, bị thôi miên vì vẻ rực rỡ của nàng, mà vẻ rực rỡ ấykhông bao giờ soi thấu miệng hang cả. May thay là Thái có nơi lùi về ẩn náu. Đó là thế giới thơ của chàng. Thế giới ấy lần nầy được thủy triều đưa phù sa tình ái đến, nên nó bỗng trở nên phì nhiêu kỳ lạ. Người ta nói chỉ có đau khổ và ái tình mới làm nảy tài thi nhơn được. Thái đã yêu mà yêu đau đớn, thành ra chàng đủ cả hai điều kiện để thành công. Thơ chàng bỗng nhiên già giặn và sâu sắc ra. Người ta đoán được rằng chàng đã rút bao nhiêu tình cảm ấy nơi trường đau khổ, đã đi sâu trong thất vọng, trong chua cay mới tìm thấy được những giọng thơ nó làm bối rối người đọc.
Lần nầy, Thái nổi danh thật sự. Người ta phổ nhạc thơ chàng, người ta ngâm thơ chàng trên các đài phát thanh, người ta in thơ chàng dưới đủ hình thức, hình thức phổ thông cho mọi túi tiền, hình thức xa xí để đưa thơ chàng vào các gia đình vốn không thưởng thức văn nghệ bao giờ cả. Tập thơ đầu in xong, Thái ân hận không đề kịp tất cả vào đó. Tiếng kêu đau thấm thía hơn hết chỉ mới phát ra đây, ngày chàng được tin Lan sắp đi lấy chồng do Huệ thỏ thẻ kể. Chàng làm xong bài “Mừng cuới” ngay chiều hôm đó, giữa lúc cô học trò Huệ đang làm bài theo lời chỉ dẫn của chàng. Bép xép tin ấy, Huệ rình phản ứng trên mặt Thái để đọc tình cảm của chàng. Nét đau câm lặng mà nàng bắt chợt được trên đó như biến thành tiếng động rồi vang dội vào lãnh vực sâu thẳm của lòng nàng. “Trời ơi! Anh ấy đau đớn như thế à? Nghĩa là anh ấy quả yêu chị mình quá lắm, và nghĩa là mình vẫn là một kẻ ngoài vòng tình cảm của anh thôi”. Một tháng sau, Thái được thiệp mời dự tiệc cưới. Nhà giàu thì đờn bà năm con bảy cháu vẫn còn làm đám cưới rình rang như con gái được. Cầm tấm thiệp, Thái không nghĩ đến mối tình của chàng nữa mà chỉ lật qua lật lại vấn đề nên đi hay không nên đi. Không nên đi, không phải vì xấu hổ với ai, hay vì hờn ai. Không, nếu mà Lan biết, chàng cũng không có gì để mắc cỡ với nàng. Chàng đã yêu mà không nói ra, không phải vì chàng nhút nhát mà chỉ vì chàng thấy có nói cũng vô ích. Người mà chàng yêu trộm không bị xúc động lần nào cả mỗi khi tiếp chàng. Người thờ ơ như vậy thì còn hy vọng gì. Chàng cũng không hờn mát Lan được, vì lan đã có dịp khước từ sự tỏ tình của chàng lần nào đâu? Không nên đi vì công phẫn tình đời. Gia đình nầy chỉ xem chàng là một ông giáo vào dạy tư gia, trừ Huệ thì khác thôi. Một ông giáo vào hạng đó không thế nào có ghế ngồi trong những cuộc tiếp tân sang trọng của họ được. Họ mời chàng chỉ vì chàng vừa nổi danh. Giới nào, họ cũng muốn có vài đại diện lỗi lạc, cả giới văn nghệ sĩ là giới thật ít dính líu đến xã hội của họ. Họ mời chàng ngồi đó để làm cây cảnh cho rôm bữa tiệc thôi. “Các ngài thấy hay không, sự phong phú của các mối giao thiệp của tôi: bác học có, nhạc sĩ có, thi sĩ có, chớ không phải chỉ mời được nhà giàu không mà thôi như các ngài đâu”. Thái đã bị người ta dùng làm món đồ trang trí như vậy vài lần rồi. Lần đầu chàng thích lắm, nhưng sau nhận được ẩn ý của họ, chàng vỡ mộng ngay. Đáng buồn hơn nữa là cái thứ cây cảnh lạ là chàng, lại lắm khi không được ai buồn ngó đến. Văn nghệ sĩ à? Là cái quái gì ấy, nhiều người tự hỏi thế rồi tò mò dòm một cái. Đoạn thấy những con người không oai vệ chút nào, không sang trọng tí nào, họ lơ đi ngay. Tủi thân lắm! Thái có một người bà con nhà giàu. Lâu lắm chàng mới đến thăm người ấy một lần. Một hôm, thấy trên bàn hắn có một quyển truyện kiếm hiệp, Thái hỏi: – Anh thích đọc sách lắm không? – Buồn ngủ lắm. Tôi mua cuốn truyện này chỉ cốt đọc mỗi bữa độ nửa trang cho dễ ngủ đó thôi. Tủi ôi là tủi cho sản phẩm của tinh thần khi chúng lạc vào thế giới tiền bạc. Thái đắn đo rất lâu. Rốt cuộc chàng quyết định phải đi. Gia đình nầy vẫn lịch sự đối với chàng, chàng không thể vô lễ là nằm nhà được. Vả lại, biết đâu họ mời chàng không vì lẽ khác hơn là lẽ chàng nghi ngờ. Biết đâu đây lại không là sáng kiến của Huệ. Nàng luôn luôn can thiệp để cho Thái được tham dự vào mọi hoạt động xã giao của gia đình: Dạ yến tại nhà, rong chơi cuối tuần nơ các bờ biển v.v…
°
Chồng của Lan quả xứng đáng một ông chồng mà Lan mong ước: một người giao thiệp rộng (bằng vào số tân khách đàng trai trong bữa tiệc), có dáng điệu oai vệ của một chủ nhơn ông, đủ bản lĩnh sống đời sống mà người Pháp gọi là “Mông đen”. Hai vợ chồng đi hết bàn nầy qua bàn khác. Ở mỗi bàn họ đều bị thưởng mỗi người một ly rượu mạnh. Ông ấy không hề trốn ân huệ của tân khách, lại còn bao sân giùm cho vợ. Năm căn phố lầu của tửu lâu “Hà Đình” hôm đó được gỡ tất cả vách gỗ ngăn. Mỗi căn chứa năm bàn, vị chi là hai mươi lăm bàn tất cả. Tính ra ông ta uống đến năm mươi ly rượu mạnh mà không hề thấy sắc mặt ông ta thay đổi màu chút nào. Hai vợ chồng mới xứng đôi làm sao! Ông chồng hơi đen da nhưng vẫn đẹp trai một cách kim thời, nghĩa là đẹp như một lực sĩ điền kinh. Còn bà vợ thì khỏi nói. Bà ta ăn đứt tất cả gái tân đang có mặt, ăn đứt luôn những thiếu phụ mà nếu không có bà, họ sẽ là những nàng tiên trong dạ hội nầy. Nghe đâu như là Lan đã từ chối lời xin cưới của một vị bác sĩ để tái giá với ông Công, nhà xuất nhập cảng nầy. Xã hội Việt Nam bắt đầu thay đổi để biến lần giông giống như xã hội Âu Châu về giá của con người. Ngày nay, người ta thấy những ông giáo sư, những ông bác sĩ đi xe đạp. Giá trị họ vẫn y nguyên như ngày xưa, nhưng giá của họ sụt đi trước cái bước vươn lên của những nhà tư bản. Một nhà trí thức, một kỹ thuật gia tốt nghiệp như một kỹ sư chẳng hạn, thật phải lép vế trước một con nhà thầu. Lan đã chọn chồng theo lý tưởng của giới nàng. Nàng có tội gì đâu? Hai suôi gia chiếm một bàn riêng đặt trong một phòng vắng. Cặp vợ chồng mới bận đưa nhau đi trình diện với từng tân khách, nên chưa ăn được, chỉ có cha mẹ em út đôi bên là đã ăn một lướt với khách. Ăn xong, họ ra ngoài, thay thế cho hai vợ chồng vào mà dùng bữa. Trong phòng bấy giờ chỉ có ông Công, Lan và Huệ. Lan sai Huệ chạy mời Thái vào. Thái ngạc nhiên, không hiểu Lan mời mình vào làm gì. Khi chàng đến nơi, Lan tươi cười đon đả mời chàng ngồi để dùng thêm rượu bánh. – Anh nè, nàng giới thiệu Thái với chồng. Đây là ông Thái, một thi sĩ hữu danh, bạn của gia đình em. Hình như là thơ của ông ấy hay lắm. – Hân hạnh. Công đứng lên bắt tay Thái. Đoạn ông day qua nói với vợ: – Ừ anh cũng nghe danh ông Thái. Hình như là thơ của ông hay lắm. – Hân hạnh về phần tôi. Thái đáp mà lòng đau xót cho hai tiếng “hình như” mà hai vợ chồng mới ấy vừa dùng. Họ cóc cần nghệ thuật, cóc cần thơ, chỉ cho thi nhân lọt vào vòng giao thiệp của họ để tỏ ra họ cũng thân được với trí thức thôi. Đôi tân hôn bấy giờ cũng đã dùng xong bữa ăn. Phổ ky bưng đến một thố tàu hủ đặc biệt làm bằng hạnh nhơn. Lan chính tay múc tàu hủ ra chén rồi mời Thái: – Trong thực đơn, tráng miệng bằng cam, đu đủ, bánh sữa. Nhưng anh Công ảnh thích tàu hủ nầy nên chúng tôi kêu riêng. Mời ông dùng thêm với vợ chồng tôi một chén chơi. Tàu hủ hạnh nhơn của Hà Đình thì ngon đặc biệt. Cả ba cùng thưởng thức biệt phẩm của tửu lầu, xong họ uống trà, cũng chính của tửu lầu ướp lấy. Lan châm trà cho Thái rồi nói: – Ông Thái nè, tôi có câu chuyện riêng, cần nói với ông hôm nay. Thái giựt mình, nhưng cố bình tĩnh đáp: – Thưa bà, tôi sẵn sàng nghe bà chỉ dạy. Nàng lại cười, lịch sự hơn bao giờ cả rồi tiếp. – Số là ở ngoài họ nói nhiều về bài thơ Mừng cưới gì đó của ông. Họ nói đến nó nhiều quá, và dám xuyên tạc nầy kia nữa là khác. Tôi chỉ mới nghe đây thôi, và tôi lo chồng tôi cũng nghe như vậy rồi ngộ nhận gì hay chăng? Nên tôi cần cả ba đều gặp mặt hôm nay để phá hết mọi hiểu lầm. Nàng lại cười, mời thuốc người khách đang run sợ và tiếp: – Nếu ông đã thầm yêu tôi, thì đó là quyền của ông, không ai nói vào đâu được cả. Ông bắt tôi mà làm đề thơ, cũng chẳng can gì, còn danh dự cho tôi nữa là khác. Nhưng quả tôi không phải là nhơn vật là ông đã tả trong bài thơ đó. Tôi không phải con người ham giàu rồi lơ là với một người bạn xưa. Tôi chỉ là một người đờn bà tầm thường thôi. Tôi mộng lấy một người chồng thích hoạt động, rồi tôi sẽ an phận mà nuôi con. Văn nghệ sĩ là một bực mà tôi không hiểu, nên không hề yêu được. Chỉ có thế thôi. Có phải như vậy hay không, thưa ông? Rồi nàng lại cười giòn, như là nói một câu chuyện rất tầm thường mà hơi ngộ nghĩnh một chút. Thái lúng túng đáp: – Thưa bà, họ chỉ bịa ra đó thôi, chớ… – Không có gì mà ông phải thắc mắc như vậy: Văn thơ chỉ là chuyện bịa thôi. Ông đây có quyền bịa bất kỳ thứ gì. Không, ông khỏi ngại, chúng tôi hiểu biết lắm. Mời ông dùng thêm trà. Trà ngon quá. Bỗng có người gọi hai vợ chồng ra. – Anh đi một mình, Lan nói, em ở đây với ông Thái. Nhưng ngoài ấy người ta đòi hỏi cô dâu ráo riết lên. Thái phải nói: – Xin bà cứ ra, kẻo người ta đợi. Đã có cô Huệ ở đây với tôi. – Thôi, như vậy thì xin phép ông. Nãy giờ Huệ lùi lại, giấu mình trên một chiếc trường kỷ kiểu Tàu, đặt trong góc phòng. Bấy giờ nàng mới đứng lên để đi lại bàn, nhưng Thái mau chân hơn, đã tới gần bên nàng rồi. Hai người đứng nhìn ra cửa sổ. Những nóc nhà bẩn thỉu làm cho khung cảnh bỗng khác hẳn khiến người xem cảnh bở ngỡ vô cùng: trong là một căn phòng lịch sự tuy trang hoàng theo kiểu Tàu xưa; rồi đột ngột là những mái ngói đen buồn vì nắng mưa của năm tháng. – Anh đã nghe rõ, Huệ nói sau một hồi im lặng, chị em sẽ an phận nuôi con, và không bao giờ hiểu văn nghệ sĩ cả. Em nói câu nầy không phải vì ganh mà làm hoen ố mối tình của anh: là em ngạc nhiên lắm. Làm sao mà nhà thơ cao đẹp nầy lại yêu đến dại một người đờn bà tự thú là tầm thường, không mơ một mộng đẹp nào cả, không rung động vì một tình cảm nào cả. Chị của em đẹp thật đó. Nhưng không lẽ ra thi sĩ mà chỉ yêu vì sắc đẹp của thân thể mà không kể đến cái đẹp của tâm hồn? Thái đã ngà ngà say. Chàng nhìn Huệ giây lâu rồi mỉm cười. Chàng đưa tay xoa đầu cô gái bé rồi nói. – Không, em không thể hiểu được đâu. Cử chỉ và lối xưng hô mới của Thái chỉ do lòng thương mà có thôi. Chàng thương cô bé như một em nhỏ dại, mà hôm nay, nhờ thân mật, nhờ rượu nên chàng mới dám bộc lộ tình thương ấy ra. Nhưng Huệ nghe tê tái cả người, bước đến một bước nữa, đứng gần sát Thái rồi hỏi: – Sao anh biết em không hiểu được lòng anh? Lần nầy Thái cười to lên, cười như một anh chàng mới say, men rượu còn kích thích dữ. – Em không hiểu, vì như thế nầy. Em sẽ lớn lên bằng chị của em. Em sẽ đẹp lắm, có thể đẹp hơn chị của em nữa. Nhưng ngày ấy, nếu anh còn sống, anh cũng sẽ không yêu em được, mà chỉ thương em như bây giờ thôi em à! Em nên biết rằng một văn nghệ sĩ bao giờ cũng sống trước người trang lứa đến năm bảy năm là ít. Tâm hồn anh già hơn tuổi anh nhiều. Như vậy anh chỉ có thể tìm một tâm hồn bầu bạn nơi một người lớn tuổi hơn anh thôi. Chị em không hiểu thơ anh, đành vậy nhưng bà ấy lại hiểu những cảm nghĩ thường của anh, vì bà ấy già hơn anh nên mới có được tâm hồn ngang mức với tâm hồn anh. Còn em, em chỉ hiểu thơ, mà không hiểu anh được, em nghe chưa. Khổ lắm là em càng già, anh cũng già luôn, tâm hồn anh không thể đợi tâm hồn em được để cho đôi ta cảm thông nhau. Giữa đôi trai gái, nếu một bên là văn nghệ sĩ, thì không thể nào tránh được sự so le để có thể yêu nhau được. Muốn xứng tuổi phải so le tâm hồn. Muốn xứng tâm hồn, phải một bên già một bên trẻ. Anh cũng muốn yêu em lắm đó, mà tạo hóa có cho phép tâm hồn anh ngưng lại để đợi tâm hồn em đâu. Huệ rưng rưng nước mắt: – Hay là em cố cho già lòng thêm để theo kịp anh. Thái cười ha hả: – Cũng không được nốt. Em ơi, thôi vậy nhá! Số kiếp của anh là phải chịu đau khổ, còn số kiếp cua em là phải chịu vạ lây. Thế mà còn hơn là gượng yêu nhau để rồi thất vọng. Huệ nức nở mà rằng: – Em chỉ thương anh thôi, còn cái đau của em, em cần gì. – Vậy à? Thái ngạc nhiên hỏi. Có lẽ em già hơn tuổi em đó. Thôi em thôi đi, để anh xét lại coi có quả em già hay không mà có được lòng vị tha ấy. Mắt Huệ reo cười lên, nhưng vẫn còn long lanh ngấn lệ.
Em hẹn tôi về thăm quê cũ Sau mấy năm lây lất xứ người Tôi cũng muốn (một lần thôi cũng đủ) Về gặp em nhắc lại chuyện lâu rồi.
Chuyện lâu rồi mà như mới hôm qua Tôi còn nhớ bàn tay em run nhẹ Trong tay tôi lạnh buốt. Không ngờ Em lí nhí nói câu gì rất nhỏ Như nói thầm với cái rét se da Của một chiều cuối đông năm ấy.
Rồi tôi đi. Sáu năm trời chưa trở lại Dòng sông xưa vẫn chảy trong hồn Bông mía trắng cả một vùng thương nhớ Gió nồm Nam thổi suốt dọc quê mình Nhà em ở cheo leo cuối xóm Hàng rào thưa cây trái rợp sau vườn Che bóng mát cho em ngày nắng.
Tôi ở đây những mùa đông trắng Lấy gì che đời vắng em xa Em đâu biết bao lần tôi muốn hỏi Ngày chia tay em nói nhỏ câu gì Trong cái rét một chiều đông năm ấy?
Khi về đây, tôi dự định sẽ tìm một việc gì kiếm sống qua ngày. Nhưng mọi chuyện không dễ. Cái xã nghèo đến thê lương, thế mà lại mang tên Phú Thạnh. Nghèo đến mức con chó đói nằm dài mõm ngoài hiên cũng biếng sủa khi có người đi quạ Đàn ông trai tráng không có việc, lêu bêu đầu thôn cuối xóm. Thì giờ thừa mứa, tụ năm tụ ba tán gẫu. Cuối cùng vét túi chung tiền mua vài xị rượu, nhâm nhi cho quên đời là bể khổ. Tôi lận lưng một số tiền nhỏ làm kế sinh nhai. Số tiền sứt mẻ dần qua những cuộc rượu, mà việc làm chẳng thấy đâu. Bù lại, tôi có thêm nhiều người bạn mới. Nhà Tám Nưa có giỗ. Trước mấy ngày, ông đã mời những người có mặt trên chiếu rượu. Tôi cũng được mời. Anh em bảo, Tám Nưa khỏi lo phần rượu. Mọi người sẽ đóng góp, bảo đảm uống mệt nghỉ. Về phần thức ăn, Tám Nưa cho vật con heo còi làm thịt, cắt cổ thêm vài con vịt đẹt. Xã nghèo, có người dám chơi thế là chơi ngon. Bữa giỗ xem ra rất linh đình. Khách được mời ăn giỗ cũng rất phấn khởi. Thời buổi khó khăn, người ta thường trông vào miếng ăn. Có rượu thịt là có ruồi nhặng vo vẹ Tôi là một trong những con ruồi bay lượn trên những dĩa thức ăn. Nhà chật, Tám Nưa che cái chái ngoài sân, đặt thêm bàn. Cánh đàn bà ngồi trong nhà. Cánh đàn ông ngồi ngoài sân. Mọi người hỉ hả ăn uống. Hai bàn ngoài cùng, dành đãi công an, và nhân viên chính quyền xã. Tám Nưa nói, đó là thủ tục không thể thiếu. Quy tụ đông người, phải có thần chứng giám mới yên. Tôi nghĩ, thời đốn mạt, người ta sống bằng mặt, không bằng lòng. Kẻ có quyền thì tập thói lưu manh, bóc lột. Người yếu thế thì học chước dối trá. Con người sống với nhau mà như chơi trò cút bắt. Ở đâu cũng có tiếng reo hò mừng rỡ, lẫn tiếng kêu la thảng thốt. Xã hội vừa là phường tuồng, vừa là địa ngục. Đang ăn, bí thư xã nói: “Nghe báo cáo có người lạ mới vào xã ta, tôi chưa biết mặt.” Mọi người ngó vào tôi. Tám Nưa kéo tôi qua bàn bí thư, giới thiệu: “Chú em đây tên là Lâm, đã trình diện bên phòng công an khi mới về xã.” Bí thư nói: “Mời ngồi.” Tôi nói: “Tôi đang ngồi bàn bên kiạ” “Thì ngồi xuống đây nói chuyện đã. Anh vẫn khỏe chứ?” “Vâng, tôi vẫn khỏe.” “Nhiều người cải tạo về gầy rộc đi. Anh thế là còn khá.” “Vâng, tôi còn khá.” “Anh đang làm gì?” “Tôi chưa kiếm được việc.” “Nghề nghiệp chuyên môn là gì?” “Thợ đụng.” “Thợ đụng là thợ gì?” “Đụng đâu làm đó. Việc gì cũng làm được.” “Tốt!” Bí thư bưng cốc rượu cười khà khà dễ dãi. Công an bàn kế bên, nói vói qua: “Ngụy các ông nhiều ma mãnh. Gớm bỏ mẹ. Sang không ra sang, hèn không ra hèn.” Tôi nói: “Vô sản dứt khoát là hèn.” “Anh nói gì thế?” “Tôi nói tôi hèn.” “Vô sản ám chỉ vào ai?” “Vào tôi. Tôi trắng taỵ Tôi là vô sản.” “Lý luận quàng xiên hay nhỉ? Khi có đủ vây cánh thì làm con ngáo ộp. Bị chặt hết tay chân thì biến thành con lươn.” Lời công an như một dằn mặt cảnh cáo. Tôi ngồi im. Tám Nưa cứu nguy: “Thôi, chào hỏi thế đủ rồi. Vị trí của chú ở đâu thì về đó.”
TƯ BẢN BÓC LỘT Bữa giỗ nhà Tám Nưa cũng có cái hay cho tôi. Có người lầm tưởng tôi là kẻ sĩ. Mới đầu, người ấy nói kẻ sĩ thời nay lắm nhục nhằn hơn người xưa. Tôi quay nhìn người vừa nói câu đó, và uống cốc rượu làm quen. Người ấy nói tiếp, lấy cái thước vô hình mà đo cái nhẫn. Nhẫn càng giỏi, giá trị càng cao. Một người nhừa nhựa hơi men, hỏi sao thế? Người ấy nói, gặp sài lang hổ báo, chạy là thượng sách. Đem cái lý của con người mà tranh biện với thú dữ là rước họa vào thân. Thực khách ồn ào như giữa chợ. Những người ngồi nơi hai cái bàn ngoài cùng, không nghe những gì người ấy nói. Thế là trước khi ra về, tôi quen với người ấy. Người ấy tên Trần Xuân Hạnh. Trước kia, ông làm thầy giáo. Sau cuộc đổi đời, ông xoay qua nghề đào giếng. Những đứa học trò dốt nát của ông thời cũ, nhiều thằng bỏ học vô bưng làm cách mạng. Bây giờ, chúng trở về, ngồi trên đầu thiên hạ mà chăn dân. Cũng may, chúng còn nhớ bài đức dục mà ông đă dạy, nên đối với ông, chúng còn chút e dè lễ độ. Chúng cho ông làm công tác dạy văn hóa bổ túc cho cán bộ, để có tiêu chuẩn gạo. Đời sống ông, vì thế, cũng dễ thở hơn nhiều người khác. Tôi phụ việc với ông Hạnh, năm ngày thì thạo việc. Qúa nửa trưa, ông Hạnh bảo tôi xuống giếng thay ông. Đáy giếng sâu tối u ụ Tôi nghe tiếng rền trong lòng đất như tiếng gầm núi lửa. Ngó lên thấy một khoảng trời tròn lồng khuôn mặt ông Hạnh ngó xuống. Tôi sợ hãi: “Cho tôi lên.” “Chưa làm được gì, sao đi lên?” Tiếng ông Hạnh như từ trời cao vọng xuống hang sâu. “Tôi ngộp thở.” Ông Hạnh nhằn: “Thế mà bảo việc gì cũng làm được.” Tôi choàng dây buộc ngang nách, hai chân chỏi vào thành giếng theo thế bích hổ du tường. Ông Hạnh nắm đầu dây kéo lên. Khi lên mặt đất, mới biết trời vần vũ chuyển mưa, rền vang sấm sét. Tôi nói: “Tim tôi yếu . Xuống sâu sợ gần địa ngục. Lên cao sợ đụng trời.” Ông Hạnh hỏi: “Chỗ nào thích hợp với mày?” “Lưng chừng ở cõi người.” “Cõi người là địa ngục trần gian đấy.” Nói xong, ông Hạnh chuẩn bị xuống giếng. Tôi nói: “Thôi đi ông ơi, trời sắp mưa. Về nghỉ.” Ông Hạnh nói: “Làm như mày, cám heo cũng không có mà ăn.” Nói thế, nhưng ông Hạnh cũng thu dọn đồ nghề. Trên đường về ngang qua những rẫy mía. Mía mới đặt hom, chưa kịp lên mầm. Đất cày chưa ải mặt, cỏ đă lún phún ngoi lên. Ông Hạnh chỉ những cái giếng ông đă đào lúc trước. Ông nói: “Vùng đất thấp, đào năm bảy thước là có nước. Vùng cao, phải đào đến mươi thước. Giếng sâu hun hút thấy mà ghệ Người chết dưới giếng, linh hồn không thoát lên được.” Tôi nói: “Tôi nhạy cảm lắm. Xuống giếng cứ rờn rợn sợ mình bị chết luôn ở dưới.” “Nếu chết, tao mời thầy pháp trục vớt linh hồn mày lên.” “Ông tin thế à?” “Tao không tin, nhưng nhiều người tin. Cũng như người ta tin rằng kẻ chết trong tù, linh hồn không ra khỏi cổng. Vì thế phải làm giấy phóng thích để giải thoát linh hồn. Tao còn nghe một chuyện động trời. Có người đi tham quan nước ngoài về kể, tư bản nó bóc lột đến cả người đă chết .” “Chết rồi, còn bị bóc lột gì nữa?” “Ấy vậy mà vẫn nói được. Người ấy bảo, tư bản Mỹ bóc lột khiếp hơn hết. Nó bắt linh hồn người chết đứng giữ cửa. Linh hồn thì vô hình nên không ai nhìn thấy, cứ thấy cánh cửa tự động mở khép khi có người ra vô” “Chuyện khôi hài. Ai ngu muội gì mà tin là chuyện thật.” “Nói mãi, cũng có người tin. Như chuyện Tăng Sâm đời xưa ở bên Tàu đấy. Lần đầu có người đến nói với mẹ Tăng Sâm rằng, Tăng Sâm giết người. Bà không tin. Lần thứ hai, cũng có người nói Tăng Sâm giết người. Bà hồ nghị Lần thứ ba, lại cũng có người nói, Tăng Sâm giết người. Bà sợ hãi, và bỏ chạy.” Tôi chép miệng: “Khổ thật! không biết bao giờ mới thoát được cái họa tuyên truyền ngu dân.” Ông Hạnh hỏi: “Mày nói cái gì?” Tôi lắc đầu: “Không. Chẳng nói gì.” Ông Hạnh nói: “Từ này về sau, mày ở trên kéo đất. Tao xuống giếng. Hồi mới gặp mày, tao tưởng mày là kẻ sĩ. Gần gũi nhau, thấy mày là thằng lừng khừng.”
CẢI TẠO XONG RỒI
Ngày nào cũng phải ăn, nhưng đào giếng không phải lúc nào cũng có việc. Đời sống đi dần vào thế bí. Ông Hạnh dẫn tôi đến ban giám hiệu phụ trách chương trình lớp đêm, nơi ông dạy bổ túc văn hóa cho cán bộ. Ông giới thiệu tôi là thi sĩ, và xin dạy học để có tiêu chuẩn gạo. Những khi rỗi việc, tôi hay nói chuyện thơ văn với ông Hạnh. Ông cho tôi là người có kiến thức văn chương. Nhưng, thật bất ngờ khi tôi được giới thiệu là thi sĩ. Tâng bốc lắm, chỉ tổ làm hư việc. Người đàn ông ngồi sau chiếc bàn, môi thâm, mặt sắt, tóc hớt cua, trông không có vẻ ggì là mô phạm. Ông Hạnh cho biết trước, đây là cán bộ chỉ đạo. Ông ta kéo trễ gọng kính, giương mắt nhìn tôi như quan sát một hiện tượng lạ. “Thi sĩ à?” Tôi nói: “Ông Hạnh nói quá lời. Tôi chỉ có chút chữ nghĩa đọc sách thánh hiền.” Ông Hạnh nói: “Không nên khiêm tốn quá. Thành thật với nhau là hơn.” Cán bộ nói chậm rãi rõ ràng, nhấn mạnh từng tiếng: “Cán bộ học bổ túc văn hóa, không cần học làm thợ Chỉ cần biết bốn phép tính cộng trừ nhân chia, đọc thông công văn chỉ thị, và biết ký tên là đủ làm việc. Trong quá trình làm việc sẽ bật ra thợ Anh đồng ý không nào?” “Vâng, tôi đồng ý. Nhưng tôi không xin dạy làm thợ” “Chứ dạy về gì?” “Về gì cũng được, ngoài chuyện dạy làm thợ” Cán bộ chìa bao thuốc mời ông Hạnh và tôi. Trầm ngâm một lúc, ông nói: “Chúng tôi đang cần giáo viên, nhưng muốn nhận anh vào phải xét qua lý lịch. Anh về làm bản tự khai kèm theo hai người chứng, rồi mang tới đây. Chúng tôi sẽ họp ủy ban cứu xét. Một mình tôi không quyết định được.” “Vâng, tôi sẽ viết bản tự khai.” Tiêu chuẩn mười ba ký gạo hàng tháng, lấp ló ở một tương lai gần. Tình hình có vẻ lạc quan. Tôi mỉm cười ngó ông Hạnh, lòng đầy phấn khởi. Cán bộ hỏi, sau khi phà một hơi thuốc: “Trước kia, anh làm gì nhỉ?” Tôi nói: “Làm lính.” “Bộ đội hả? Đơn vị nào? Tôi cũng là bộ đội phục viên đây.” “Tôi lính Việt Nam Cộng Hòa.” Cán bộ chồm tới, sửng sốt: “Thế à? Sao không đi cải tạo?” “Tôi cải tạo xong rồi.” Cán bộ thật vọng ngửa người ra lưng ghế: “Anh khỏi cần đến đây nạp bản tự khai. Chúng tôi không nhận đâu.” Tôi cố vớt vát: “Tôi nghĩ cải tạo xong là tẩy não xong, có thể góp phần xây dựng xã hội mới.” Cán bộ lắc đầu: “Cải tạo là hình thức trừng phạt thôi. Đầu các anh đóng băng, tẩy não thế nào được!”
QUỐC TẶC Thấy tôi cũng là thằng ăn tục nói phét, ông Hạnh không còn cho tôi là kẻ sĩ nữa. Ông nói tôi là người có tài, nhưng tài năng lớn quá, không có chỗ dùng. Ông nói với mọi người như thế. Nói tới nói lui măi, tôi cũng tin mình có tài thật, dù lúc nhỏ thầy giáo xếp tôi vào loại học trò đần. Một lần trên chiếu rượu, ông Hạnh thắc mắc: “Chưa bao giờ xã hội ta có nhiều người uống rượu như bây giờ . Không biết tại sao?” Anh em ngó vào người có tài năng lớn không có chỗ dùng. Tôi lên gân giải thích: “Xã hội rối rắm lung tung xèng. Tương lai mờ mịt. Con người hoang mang mất hướng đi tới, nên lấy rượu trấn an tinh thần. Các ông ngày ngày cuốc đất, ngó tới ngó lui cũng không ra khỏi mấy cái bờ ruộng. Đời như thế thì bao giờ ngóc đầu lên được? Đó là nói người có ruộng. Người không ruộng, đất đâu mà cuốc? Như ông Hạnh với tôi chuyên nghề đào giếng, năm thì mười họa mới có việc. Xuống đáy giếng mà tìm tương lai, có ngày cũng gặp Hà Bá. Mặt đất đã đầy những giếng sâu hố thẳm, đi loạng quạng dễ bị sa chân xuống âm phủ. Chi bằng cứ ẩn nhẫn chờ thời. Thời cơ chưa tới, lấy rượu giải khuây.” Một người nói: “Tôi chịu lối giải thích này. Nhưng, bao giờ thời cơ tới??” Tôi lại lên gân: “Khương Thượng ngồi câu sông Vị, là chờ thời. Hàn Tín lòn trôn giữa chợ, cũng là chờ thời. C̣n chúng ta ư? Có khi phải chờ hết đời. Con cháu lại tiếp tục chờ nữa. Lịch sử biến thiên lúc nhanh lúc chậm. Nhanh thì năm trước năm sau đã thấy khác. Chậm thì đời này qua đời kia vẫn còn khốn khổ.” “Thời này cũng có nhiều người phất cờ giàu to đấy chứ?” “Vâng. Phất cờ giàu to thời này là tư bản đỏ. Nhưng cách dùng từ sai. Tư bản là bỏ vốn kinh doanh, để từ đó sinh ra lợi nhuận. Mấy ông kẹ nhà mình có kinh doanh gì đâu? Họ ăn tiền đút lót hối lộ, và dùng quyền lực chiếm đoạt tài sản thiên hạ thì không thể gọi là tư bản, dù xanh hay đỏ.” “Như thế phải gọi là gì cho đúng nghĩa?” “Gọi nôm na là ăn cướp. Cướp giựt lẻ tẻ đầu đường xó chợ, là cướp vặt. Cướp có hệ thống đường lối chính sách, là quốc tặc. Người dân biết mình bị cướp, mà không cưỡng vào đâu được. Thế mới kinh!” Cuộc rượu đêm đó, xoay quanh đề tài quốc tặc. Tôi hừng chí nói năng tự do, mất sự đề cao cảnh giác. Tàn cuộc, tôi say bí tỉ.
ĐÈN NHÀ AI NẤY RẠNG Cưới vợ ba năm. Vợ chồng không rõ lòng nhau. Tôi đến tuổi cần có vợ, vợ cũng đến tuổi cần có chồng. Thế là lấy nhau. Chẳng tình yêu quái gì. Tôi là lính hành quân. Ba năm, những lần về phép đếm trên đầu ngón taỵ Gặp nhau là quấn lấy nhau. Vội vã vài ngày, để rồi còn chia taỵ Thì giờ đâu mà để ý những điều vớ vẩn? Năm đầu, vợ gọi tôi bằng anh, xưng em. Tôi gọi vợ bằng em, xưng anh. Qua năm sau, vợ gọi tôi bằng anh, xưng tôi. Tôi gọi vợ bằng em, xưng tôi. Năm sau nữa, vợ gọi tôi bằng ông, xưng tôi. Tôi gọi vợ bằng bà, xưng tôi. Theo thời gian, cách gọi vợ chồng cứ thay đổi dần như thế. Và giữ nguyên hai tiếng xưng hô “ông bà” cho đến bây giờ. Ba năm. Một hôm, tình cờ vợ khám phá ra tôi làm thơ. Vợ nói: “Có tờ báo đăng bài thơ của thằng cha nào trùng tên với ông.” Vợ mở trang báo, chỉ vào bài Tình Cho Em. Lời thơ sướt mướt nhớ thương. Đó là bài thơ tôi làm cho một con nhỏ người yêu, nhưng không chịu lấy tôi làm chồng. Tôi nói: “Bài thơ này của tôi làm cho bà, nói lên nỗi nhớ thương trong những ngày đi xạ” Mới đầu, vợ sung sướng ra mặt. Nhưng sau đó, vợ phá ra cười. “Mạo nhận. Tôi không tin!” “Không tin hả?” Tôi không nhìn trang báo, đọc thuộc lòng vanh vách bài thơ, “Bà tin tôi là tác giả chưa?” Vợ ngẩn ra một lúc: “Người lỗ mãng như ông cũng làm được thợ Lạ thật!” “Có gì lạ đâu. Tài làm thơ của tôi giống như chiếc mũi nhọn giấu trong túi áo. Lâu ngày, nó ló ra cho bà thấy.” “Chẳng bao giờ nghe ông nói tiếng yêu tôi. Vậy mà làm thơ thì nước mắt chứa chan tình cảm. Thơ là giả dối!” Vợ không hãnh diện về người chồng biết làm thơ, dù đã có lúc gần đạt được danh hiệu thi sĩ. Cuộc thế bể dâu. Đời tôi cũng bầm giập đau thương khốn nạn. Mũi nhọn thụt vào trong túi áo. Thơ tịt ngòi. Ra hải ngoại, muốn học hành cho đỡ nhọc tấm thân, nhưng cái đầu không chịu. Nhồi nhét thứ gì vô, vài ngày sau nó đẩy ra khỏi trí nhớ. Thế là đi làm cu lị Cực tay chân, khỏe đầu óc. Việc làm bấp bênh. Nay có, mai không. Thất nghiệp ở nhà. Còng lưng viết chuyện cà kê dê ngỗng, viết chuyện đời mình. Vợ đi chợ, đem về tờ báo quảng cáo địa phương, có đăng bài văn của tôi. Vợ nói: “Ông bỏ làm thơ, tôi đă mừng. Bây giờ, lại thấy hí hoáy cả ngày. Không ngờ ông viết văn. Làm thơ, chắp tay sau đít, đi qua đi lại. Còn đỡ. Viết văn, bò càng ra mà viết. Khổ ôi là khổ.” Tôi nói: “Trong cái khổ, có cái sướng.” “Thất nghiệp. Đói tới nơi, không biết lọ Ở đó mà viết chuyện bá láp. Kiếp nào mới được thành danh?” “Từ từ, sẽ có tiếng vang.” “Người ta viết chuyện ma quỷ. Rùng rợn, hấp dẫn. Viết về hoàn cảnh xă hội gay cấn, tâm lý tình cảm éo lẹ Đọc mê luôn. Sách in ra, bán chạy ào ào. Lại còn thu băng đọc truyện, tiền vô như nước. Truyện của ông, tôi vừa đọc vừa ngáp. Cố gắng lắm, cũng chỉ theo dõi được vài trang thì ngủ. Bữa trước, nghe ông nói điện thoại với người bạn nào đó, rằng ông đang gom tiền in sách. Đừng làm chuyện phá sản nghen. Sách ông bán cho ma!” Tôi rên: “Bà ơi, tôi bất hạnh đớn đau nhiều rồi. Hãy để tôi làm theo ý thích.” Vợ nói: “Ý thích trong trách nhiệm gia đình. Tự do trong khuôn khổ luật pháp.” Tôi giơ hai tay lên trời: “Than ôi! Trên mặt đất, ai người tri kỷ?” Đoản văn này, dành trả lời câu hỏi của một bạn đọc: “Theo kinh nghiệm bản thân anh, đời có tí văn nghệ văn gừng làm cho gia đ́nh dễ lục đục, hay hưng phấn hơn?”
Sau tháng 4/1975, cả miền Nam lâm vào hoàn cảnh hết sức nghiệt ngã. Nhiều gia đình phân ly tan vỡ. Tôi, sau 10 năm tù rạc, trở về gặp người bạn cũ và kể lại chuyện này. Phần cuối của chuyện, tôi mượn triết lý “Câu Chuyện Dòng Sông” – Hermann Hesse – Phùng Thăng dịch, để nói lên cái quan niệm sống của bạn tôi.
Lâm Chương
1.
Phạm Văn Gầm nhìn đời bằng một con mắt. Từ ngày anh nhìn theo cái kiểu này thì đời cũng liên tiếp quất cho anh những đòn chí tử. Đau nhất là đòn của vợ anh. Ngón đòn ê ẩm thấu tim gan. Có lúc uất quá, anh muốn giết người. Cũng may, anh kịp dằn lòng. Nếu không, chắc đời đã nghiền nát anh rồi.
Muốn rõ ngọn ngành, phải kể dông dài đầu đuôi câu chuyện.
Gầm là tay có học, nhưng trong thời bát nháo, kẻ không dựa vào thế lực người khác ắt khó được đời trọng dụng. Chán mớ đời, lại đang tuổi động viên không chạy đàng trời nào cho khỏi. Anh vào lính Nghĩa Quân lẩn quẩn ở quê nhà. Những ngày gần cuối tháng Tư, năm 1975, tình hình quân sự rất bi đát. Những đơn vị bạn đã thoái binh từ hai ngày trước. Đồn Nghĩa Quân không còn ai yểm trợ. Bị cô thế, thằng cha trung đội trưởng Nghĩa Quân dẫn anh em chạy bỏ đồn, tìm nơi kháng cự. Trên mặt đất có nhiều đường chạy. Trời xui đất khiến thế nào lại chạy vào ngõ cụt, phía bờ sông Vàm Cỏ Đông. Chui vô khu rừng tràm. Cố thủ trong một nơi sình lầy nước đọng. Địa thế tác chiến bất lợi trăm bề. Trước mặt là đồng ruộng, sau lưng là con sông lớn. Nếu bị tấn công, rút lui ngả nào?
Nói cố thủ cho oai, chứ thật ra chả đánh đấm mẹ gì. Quân chính quy Bắc Việt đang dồn nỗ lực về thủ đô. Ở đây, chỉ còn le hoe một số du kích địa phương. Du kích đứng từ bìa làng, phóng loa kêu gọi Nghĩa Quân đầu hàng.
Trung đội trưởng nói với anh em: “Cố thủ, chờ quân mình phản công. Tên dép râu nào xông vô, bắn bể đầu cho tao.”
Kêu gọi không được, du kích dùng súng cối 60 bắn vào khu rừng tràm. Súng mới lấy được của một đơn vị thoái binh nào đó bỏ lại. Du kích chưa quen sử dụng nên trái rớt bên đông, trái rớt bên tây. Cũng có trái lọt vào rừng tràm. Chính trái đạn quái ác này văng miểng làm bị thương con mắt trái của Gầm. Vết thương không trầm trọng, nhưng do điều kiện thiếu vệ sinh nên nhiễm trùng, gây đau nhức khó chịu.
Sau mấy ngày cố thủ, hết lương thực mà viện binh không thấy, cũng không liên lạc vô tuyến được với đơn vị bạn. Túng thế, anh em Nghĩa Quân cho Gầm đi một mình ra đầu hàng, mục đích để được chữa thương. Lúc đó, anh mới biết lệnh đầu hàng đã tuyên bố từ ba hôm trước. Du kích bảo anh quay trở lại rừng tràm, báo tin này cho anh em Nghĩa Quân. Khi tất cả Nghĩa Quân chịu buông súng trở ra thì con mắt của Gầm đã vô phương cứu chữa. Một y tá địa phương giúp anh múc tròng mắt hư bỏ đi. Từ đó, Gầm nhìn đời bằng một con mắt.
Cuộc đời chung, vốn nhiều xấu xa bỉ ổi. Nhìn rõ mặt đời quá, nhiều khi lại đâm ra chán đời. Thà nhìn bằng một con mắt, may ra còn thấy đời mờ mờ hư ảo dễ thương. Gầm tự an ủi như thế, và quyết tâm làm lại cuộc đời riêng của mình. Xây dựng một mái ấm gia đình, vợ con hạnh phúc. Chẳng phải Gầm vẫn mong một ngày đất nước bình yên, vất cây súng, nắm lấy tay cày bừa sinh sống hay sao? Đêm đêm, không còn nghe tiếng súng, ngủ khỏi giật mình là sướng rồi.
Việt Cộng vào, tự xưng cách mạng. Gầm là lính trơn, chỉ phải học tập chính sách mới một tuần, được cách mạng cho về làm ăn. Xóa bỏ hận thù, xóa bỏ những tàn tích cũ, cùng nhau xây dựng lại một xã hội yên bình tốt đẹp hơn. Tổ chức ngăn nắp, quy củ rõ ràng. Có nhóm, có tổ, có khóm, có phường. Người ta bảo tổ chức như thế để giúp đỡ nhau khi tối lửa tắt đèn. Cách giải thích nghe có lý có tình, nhưng thật ra là để dòm ngó kiểm soát lẫn nhau. Vợ Gầm cũng tích cực tham gia hoạt động xã hội mới. Bây giờ, chị là hội viên Hội Phụ Nữ của xã. Cứ vài hôm, lại đi họp một lần. Chẳng biết khi họp, họ nói với nhau những gì. Về nhà, trông chị phấn khởi yêu đời thấy rõ. Gầm mừng. Vợ vui là anh vui. Người đàn ông nào cũng muốn đem lại hạnh phúc cho vợ. Gầm cũng thế. Càng thương hơn nữa, chị không hề chê anh khuyết tật. Mọi người bình đẳng, theo cách nói “con người vốn quý” của cách mạng.
Niềm vui trong gia đình kéo dài không lâu. Sau này, vợ Gầm đi họp thường xuyên hơn. Lắm khi, chị đi đến khuya lắc mới về. Và chị về không phải với gương mặt tươi tắn yêu đời như anh hằng mong đợi. Chị hay kiếm cớ gây sự, mắng mỏ anh nhiều câu hỗn láo, cho rằng kết duyên với anh là một lầm lỗi lớn trong đời chị. Chuyện gối chăn, cũng không còn đậm tình chồng vợ. Chị tỏ ra thờ ơ lạnh nhạt, khước từ lảng tránh ái ân.
Sau chiến tranh, đất nước lâm vào nỗi nghèo nàn cơ cực. Muốn nâng cao phúc lợi toàn dân, phải có kế hoạch lâu dài. Cách mạng phát động phong trào thi đua lao động. Làm thủy lợi, đắp đập đào mương, dẫn thủy nhập điền. Là lính Nghĩa Quân của chế độ cũ, dĩ nhiên Gầm được chọn làm đối tượng “lao động là vinh quang” của chế độ mới. Cái khẩu hiệu mới nghe có vẻ sáng ngời, nhưng đủ sức vắt cạn tinh lực con người đến chết. Ngoài việc thủy lợi như bao nhiêu người dân khác, những kẻ được liệt vào thành phần ngụy quân ngụy quyền còn được cách mạng tận tình chiếu cố, làm thêm công tác tháo gỡ mìn bẫy nơi các đồn bót cũ. Mìn chôn dưới mặt đất, ló lên cái ngòi kích hỏa như sợi râu con dế lẫn trong cỏ, khó nhìn thấy. Phương tiện dò mìn là chiếc gậy nhọn đầu, chọt chĩa khều móc theo những hàng rào kẽm gai. Trái mìn nào nổ, coi như xong. Trái nào chưa nổ, phải tìm cách moi lên và vô hiệu hóa. Đã có nhiều người bỏ mạng, hoặc sút tay gãy gọng vì công tác này rồi. Gầm may mắn, không bị hề hấn gì. Trước sự việc này, cách mạng lý luận, các anh gài mìn thì các anh phải tháo gỡ thôi. Hết chiến tranh, còn duy trì những thứ chết người đó làm chi? Cũng đúng thôi! Lý của cách mạng, bao giờ mà chả đúng? Mỗi chuyến công tác chừng mươi bữa nửa tháng. Về nhà chưa nóng đít, Gầm lại có lệnh đi công tác nữa.
Thời gian này, Gầm nghe lời đồn đãi bóng gió về chuyện lén lút lăng nhăng của vợ anh với viên xã ủy. Anh hỏi vợ. Chị lồng lên, xỉa xói vào mặt anh bằng đủ thứ ngôn từ chanh chua của mấy mụ chuyên môn ăn cắp vặt ở những khu chợ đông người. Mồm miệng nào mà đấu khẩu cho lại con vợ điêu ngoa? Gầm nhịn. Càng về sau, chị càng lộng hành công khai đi lại với viên xã ủy, coi chồng chẳng ra chi. Gầm tức, toan giết kẻ gian dâm với vợ anh, nhưng con gà thất thế, muốn vói lên mổ con chó sói là điều không dễ. Kiện thưa ư? Luật lệ địa phương nằm trong tay của viên xã ủy. Nó chưa triệt tiêu Gầm, đã là điều may. Đòi hỏi công lý là điều không tưởng. Chẳng làm gì được kẻ có quyền, Gầm quay ra chửi vợ. Chị cũng không vừa, rủa lại anh là thứ “voi một ngà, người ta một mắt”, ám chỉ tính hung dữ thể hiện qua sự dị hình. Bị chạm vào khuyết tật, Gầm đau như ngực bị đâm dao nhọn. Manh nha trong đầu Gầm ý tưởng tùng xẻo con vợ, rồi thắt cổ tự vận luôn. Cái lưỡi lê từ thời còn đi lính, chưa bén máu người. Lần này, nó sẽ được dùng để trừng trị một con đàn bà trắc nết. Gầm tưởng tượng vợ anh sẽ đau đớn rên la và quằn quại trên vũng máu. Một hình ảnh ghê khiếp quá, chưa thi hành mà anh đã rợn. Ngay vào thời chiến tranh, anh cũng không nhẫn tâm làm điều đó với đối phương, huống chi bây giờ hành sử với người đã từng cùng chung chăn gối? Nhiều đêm trăn trở, Gầm tự hỏi, con đàn bà lăng loàn hư đốn này có đáng để anh đánh đổi luôn mạng sống của mình? Câu hỏi, làm anh tỉnh thức. Lòng anh chùng lại. Sau cùng, anh quyết định bỏ đi. Có kẻ chê anh hèn nhát. Cũng có người thấu lẽ đời, cho thế là khôn. Anh ở lại, chẳng những không làm sứt mẻ được ai, nhiều khi còn nguy đến tính mạng. Viên xã ủy đâu muốn thấy một cái gai trước mắt? Gầm tự hiểu, và lánh mặt trước khi trở thành con sâu cái kiến bị chà đạp.
2.
Tôi trở lại quê nhà sau 10 năm tù rạc, nghe tin bằng hữu mỗi ngày một thêm tan tác. Người lẩn vào rừng sâu, sống đời hoang dã. Người uất khí hộc máu tươi, vì cường quyền áp bức. Người xiêu tán phương xa, biệt tăm không biết sống chết lẽ nào. Và người ở lại như Phạm Văn Gầm, nghe nói cũng thay đổi lạ lùng. Anh nhìn đời bằng một con mắt, và lui về nơi khuất lánh bên dòng sông, rũ hết sự đời, sống theo con nước.
Tôi mua bịch thuốc rê, chai rượu đế, lần dò đi thăm bạn. Tôi đến vào buổi xế chiều. Chòi trống. Tôi đứng ngóng ra sông, chờ Gầm. Gió thổi hiu hiu. Ánh tà dương đỏ rực mặt sông. Những cụm lục bình lờ lững trôi xuôi. Vài cánh cò chấp chới xa xa. Bên kia sông, rừng tràm bát ngát. Gầm về theo nước thủy triều lên. Trong cái lốt ngư ông áo vải nón mê, anh hoàn toàn lột xác khỏi con người ngày cũ. Dáng anh gầy gò, phong thái thong dong.
Thấy tôi, anh cười rộ theo kiểu ẩn sĩ đời xưa: “Gió lớn bốn phương, còn quay về quê cũ được sao?”
Tôi cũng cười vang trên bờ sông, như một giang hồ hiệp khách: “Thiên hạ đại loạn, còn an nhiên tự tại được sao?”
Chúng tôi dắt tay nhau vào trong chòi lá. Sau những thăm hỏi thông thường, tôi nói với Gầm về những ngày tù rạc của tôi. Anh bảo, còn sống trở về là may, thời thế không là dầu sôi lửa bỏng, nhưng hiểm nguy lúc nào cũng đang rình rập bên mình.
Tôi nói: “Để chữa lành một vết thương, mà chịu hãm mình cô quạnh bên một dòng sông là điều uổng phí.
Gầm bảo: ”Ở vào cái thế thúc thủ, còn vọng động tranh chấp hơn thua là chuốc họa vào thân.”
Anh cho rằng, ý nghĩa của đời sống tùy quan niệm mỗi người. Có kẻ tìm sự vui thú trong tiền tài. Có người tìm sự thỏa mãn trong quyền lực. Nhưng những thứ đó không đem lại sự bình yên trong tâm hồn. Còn anh, anh theo cái triết lý sống Ông Chài, một bài học thuộc lòng thuở nhỏ, và đọc:
Nước trong rửa ruột sạch trơn
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.
Sớm doi tối vịnh vui vầy
Ngày dài đón gió, đêm chầy chơi trăng.
Tháng ngày thong thả làm ăn
Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm
Nghêu ngao nay trích mai đầm
Một bầu trời rộng, vui thầm ai hay!*
Đọc xong, Gầm cười sảng khoái, nói “Phúc tại tâm không lý đến đời”.**.
Tôi hỏi điều gì đã làm anh thay đổi quan niệm sống đến tận ngọn nguồn gốc rễ?
Anh nói, hoàn cảnh và dòng sông. Hoàn cảnh đã xô anh vào đường cùng, để từ đó, anh thấy đời là bể khổ. Dòng sông đã dạy cho anh biết thế nào là sự im lặng.
Tôi hỏi: “Im lặng mà cũng phải dạy nữa sao?”
Gầm ngó ra sông nói: “Trong im lặng mình nhìn lại được chính mình”.
Trăng đã lên cao. Ngồi trong chòi, nghe tiếng sóng vỗ ngoài bờ sông.
Tôi nói: “Dòng sông đâu chỉ im lặng, còn có tiếng sóng nữa”.
“Vâng”. Gầm nói: “Tiếng sóng như tiếng vỗ về của mẹ thiên nhiên. Đi tìm an ủi ở đâu cho xa? Ngay ở đây, bên bờ sông này đã cho ta điều đó”.
Chai rượu đế chắt đến giọt cuối cùng. Đêm đã khuya lắm. Con trăng đã xế về bên kia rừng tràm. Mọi vật chìm trong tịch mịch lặng im. Chỉ còn nghe tiếng sóng triền miên như niềm an ủi bất tận của bạn tôi trong nỗi đời hiu quạnh.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.