This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ 2018. Ông tên thật là Chu Văn Huy, cựu tù, vượt biển, hiện là cư dân San Jose, đã nghỉ hưu sau 37 năm làm việc cho các hãng điện tử tại Silicon Valley – Thung lũng Hoa Vàng, California. Đây là bài mới nhất của Ông.
Những ngày nắng Hạ oi ả đã qua, mùa Thu Cali đến với những làn gió se se lạnh mỗi buổi chiều. Nhà tôi đang làm ca chiều, con trai đi dạy học chưa về và khu vực Evergreen vừa bị cúp điện bất thường khi tôi đang đọc những bản tin liên quan đến thời sự thế giới và nước Mỹ trên trang mạng – những tin tức đã làm tôi nghĩ đến những nổi trôi của đời người.
Tiếng điện thoại reo, kéo tôi ra khỏi những giây phút hồi tưởng về những ngày tháng trong đời.
– Về hưu mà cứ loanh quanh tối ngày ở nhà vậy, mấy tháng hè gia đình ông có đi chơi đâu không? Sửa soạn cơm tối hay đang làm gì vậy? Sáng mai qua tôi uống cà phê, ăn sáng nhé, có ông bạn cùng đơn vị ngày xưa mới từ Nam Cali lên chơi – tiếng người bạn học cũ gọi tôi.
– Tôi vừa ăn cơm chiều xong, đang ngồi chơi thôi. Có gì lạ không… ờ, ờ…sáng mai tôi sẽ qua ông, cám ơn nhiều.
Tôi nói chuyện vắn tắt người bạn học cùng lớp ở San Jose City College năm xưa, rồi để cái điện thoại lại chỗ cũ, bên phải cái bàn phím. Lời người bạn nhắc khéo tôi về hưu đã lâu mà không chịu đi chơi đây đó khiến tôi có ý nghĩ là thời gian hình như trôi qua qúa nhanh. Tôi nhớ đến mới ngày nào đây, vừa bước qua tuổi hai mươi bốn thì nhập ngũ theo luật tổng động viên năm Mậu Thân 68, rồi sau sáu năm qua năm trại tù, và ba lần xuống Rạch Giá vượt biên, trôi dạt đến Thái Lan và định cư tại Hoa Kỳ, vừa đi học vừa đi làm, rồi miệt mài trong các hãng điện tử ở miền Bắc California cho tới tuổi về hưu. Những năm tháng sống ở Hoa Kỳ nhiều hơn ở Việt Nam. Tôi nhủ thầm, đã ba mươi tám năm trôi giạt, tha hương…….
Tôi đứng dậy, đi đến bàn ăn lấy bình nước nóng pha ly trà green tea, rồi trở lại máy điện toán đọc tiếp những tin mà tôi đang đọc nửa chừng thì khu vực nhà tôi bị cúp điện. Bản tin viết về những ý kiến khác nhau, có liên hệ đến các sắc dân thiểu số của chương trình Thống kê dân số, và nhắc lại những tin tức về đoàn người dân các nước Nam Mỹ bồng bế tay sách nách mang, băng rừng, lội sông, lội suối vượt biên hàng ngày, đã và đang tiến đến biên giới Mexico và Hoa Kỳ – những tin tức mà tôi cũng lưu tâm lâu nay. Hình ảnh những người bị tạm giam, hình ảnh một em bé chết đuối trôi giạt vào bờ, hình ảnh người thiếu phụ Nam Mỹ bế con thơ bị chồng bỏ rơi, đứng cạnh người con trai năm sáu tuổi đang khóc lóc van xin người lính Mexico mở cổng cho đi. Và bản tin cũng đối chiếu với thảm cảnh những người châu Phi đã và đang vượt biển, đi chui vào các nước châu Âu cùng những tin tức về việc xây dựng các bức tường biên giới, những phong trào chống và bênh vực chính sách di dân đã và đang làm xôn xao dư luận.
Khi nhìn những hình ảnh và đọc các bản tin kể lại những câu chuyện thương tâm. Tôi cảm thấy những hạnh phúc và đau khổ của con người như thấm nhập, như đan kẽ vào nhau. Những ước mơ đi tìm hạnh phúc giữa những khó khăn, đau khổ chập chùng của những người di dân hôm nay, phần nào có những tương đồng với những đau khổ và ước mơ của tôi cũng như đồng bào của tôi trong các tháng năm chạy loạn trước đây ở quê nhà, và các chuyến vượt biên bằng đường bộ hay đường biển năm xưa. Dù chạy loạn, tỵ nạn hay di dân có những nguyên nhân và ý nghĩa khác nhau.
Những hình ảnh và những bản tin về những đoàn di dân lam lũ, khốn khổ, chạy trốn khỏi làng thôn, bỏ lại quê hương, làm sống lại trong tâm trí tôi hình ảnh những ngày chạy loạn khắp ba miền Bắc Trung Nam của gia đình và đồng bào tôi, cùng làn sóng vượt biên, vượt biển chạy trốn Việt Cộng bất chấp đường rừng, hay biển cả với chiếc thuyền gỗ mỏng manh. Người tỵ nạn từ châu Á như Việt Nam hay là di dân từ các nước chậm tiến châu Phi hay Nam Mỹ – tất cả đều là những nạn nhân đã gặp rất nhiều khó khăn về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội của những giai cấp thống trị, độc tài, tham nhũng, tạo lên một xã hội nghèo đói, đe dọa, tước đoạt phẩm giá và đời sống con người. Bình thường, không một ai đành đoạn bỏ quê hương, mồ mả tổ tiên để đánh đổi cuộc đời mình giữa một cái sống chín cái chết. Hiển nhiên, những người tỵ nạn hay di dân là những kẻ gặp khốn cùng ngay trên quê hương họ, những người không còn gì để mất.
Tôi chào đời sau khi cả nước vừa trải qua trận đói năm Ất Dậu, phát xít Nhật và thực dân Pháp đang tranh giành quyền hành thống trị. Những năm tháng thanh bình xa xưa của dân làng tôi đã đi vào dĩ vãng từ ngày mặt trận Việt Minh nổi lên, tìm cách tiêu diệt các đảng phái quốc gia có đường lối và lý tưởng khác biệt. Kế thừa ruộng đất từ tổ tiên qua nhiều thế hệ và cho đến thập niên bốn mươi, năm mươi, gia đình thày mẹ tôi và dân làng Phượng Giáo là những nông dân chất phác thuộc vùng châu thổ sông Hồng Hà. Tôi sinh ra trong thời loạn ly và lớn lên trong chiến tranh ngày một khốc liệt. Huyện Lương Tài, huyện Gia Lương nằm trong địa hạt tỉnh Bắc Ninh, nơi đó có quê nội, quê ngoại của tôi đã trở thành vùng xôi đậu, một cổ hai tròng – ngày Quốc gia, đêm Việt Minh. Chính quyền Quốc gia thì yếu kém, bị thực dân Pháp kiềm chế, thao túng, bọn lính Lê dương (Legion) là đoàn quân viễn chinh nhiều sắc dân và màu da khác nhau, thường cướp bóc, hãm hiếp phụ nữ trong những ngày đi càn. Chính quyền quốc gia thì bất lực trước các thảm họa do thực dân Pháp gây ra. Còn Việt Minh thì sinh họat như bọn thảo khấu, thổ phỉ – với dã tâm giết lầm hơn bỏ sót, khi xuống tay giết một người nào thì Việt Minh dán cho bản án Việt Gian. Mạng sống con người như chỉ treo mành, dân làng cũng như gia đình thày mẹ tôi chạy loạn bất thường, bất cứ lúc nào – không kể ngày đêm. Mỗi khi nghe tin lính Lê dương Pháp (Legeon) đang càn gần tới làng Kim Đào cách làng tôi một cách đồng rộng lớn, hay nghe tin Việt Minh sẽ đánh đồn Thứa hoặc Việt Minh sẽ về làng tổ chức đêm văn công, thu thuế là mọi người lại bỏ làng, chỉ còn các người già ở lại giữ nhà, mọi người hối hả băng qua những cánh đồng đến những làng kế cận, tương đối xa vùng giao tranh để được an toàn hơn. Nơi trú thân gần nhất của gia đình tôi khi phải chạy loạn ban đêm là làng Thọ Ninh – sinh quán của bà nội tôi. Hối hả đi rảo bước chân như người chạy bộ qua cánh đồng nhỏ, băng ngang làng Bích Khê, Lạng Dương tan hoang vì chiến tranh, không thấy bóng người, rồi qua một cánh đồng nữa là chúng tôi tới làng Thọ Ninh. Còn những ngày tháng cha mẹ tôi được tin Việt Minh đang tìm cơ hội thuận lợi bắt cha tôi, thì mẹ và các anh em tôi lại chạy xuống tá túc lâu dài ở làng Lai Tê – quê ngoại, xa hơn quê bà nội tôi. Là Lý trưởng, đại diện dân làng từ thời trai trẻ, là Chánh tổng đương thời khi huyện đã rơi vào vùng xôi đậu, cha tôi ít khi ngủ đêm ở nhà, ẩn trốn nay đây mai đó, đôi khi về rồi lại đi, cha tôi nhất quyết không hợp tác với Việt minh, dù ông đã bị Việt Minh bắt, bị thương nặng khi xuống quê ngoại chúc tết. Theo lời cha tôi kể lại, trong đêm đầu năm mới Mậu Tý 1948, đồn Lai Tê nằm trong khuôn viên thánh đường xứ Lai Tê thuộc huyện Gia Lương bị tấn công và tràn ngập, cha tôi bị bắt. Nhưng khi thấy tên Việt Minh vai đeo súng, tay cầm cây mã tấu thì cha tôi đã vụt chạy trốn, bị tên cán binh dùng dao mã tấu chém với theo, vết chém sâu, dài từ dái tai xuống cuối cần cổ, may mà vết chém không cắt ngang cần cổ. Nhờ đêm tối, cha tôi đã cố chạy trốn xuống kênh đào bao quanh làng như một nhánh sông nhỏ, nấp dưới những mảng bèo tây được che khuất bởi những rặng tre già, và thoát được trên đường Việt Minh dẫn các tù binh đi giải giao.
Vì dân làng chạy loạn thường xuyên, nên quần áo của mỗi người trong gia đình luôn luôn được xếp trong các tay nải riêng, để khi chạy loạn, những đứa trẻ như tôi tự khoác tay nải của mình trên vai mà chạy theo, còn người lớn thì vai khoác tay nải, đầu đội thúng gạo hay gánh những thực phẩm cần cho gia đình sinh sống trong những ngày đi tản cư. Do đó, tôi không có tuổi thơ, tuổi thơ của tôi chìm ngập trong những ngày đêm chạy loạn với những câu chuyện tai nghe mắt thấy những người chết trên đường, chuyện những người bị lính Pháp hãm hiếp, bị bắt vào đồn tra tấn đến chết, chuyện những người bị Việt Minh thủ tiêu. Trên đường chạy tắt, băng qua các làng xóm đã bỏ hoang, tôi đã nhìn thấy những căn nhà tan hoang vì bom đạn, những cây cột nhà và những bụi tre cháy đen loang lổ, những thân cây bị mảnh đạn chém gãy gục, sơ sác. Đa số thanh nữ, thanh niên trong các làng xã đã chạy xuống huyện Cẩm Giàng hoặc tỉnh Hải Dương, Hải phòng kiếm việc sống qua ngày, hoặc đi lính để trả thù cho cha mẹ đã bị Việt Minh sát hại, trong làng còn lại, thưa thớt là những người già yếu, đàn bà đã luống tuổi và trẻ em. Có những đêm cả nhà tôi chạy vội xuống hầm “Tăng xê” vài ba lần để tránh đạn Pháo binh Pháp bắn yểm trợ cho đồn hay bắn quấy rối, nhưng đôi khi lại lạc vào nhà dân. Sống trong vùng bom đạn, mọi người như đã qúa quen thuộc với tiếng súng nổ đạn rơi. Nên người dân quê thường đoán được tiếng kích hỏa (depart) và tầm đạn đi, để gọi nhau chạy xuống “tăng xê”, hoặc bảo nhau nằm sát xuống mặt đất, chờ trái đạn nổ rồi chạy nhanh xuống hầm “tăng xê”. Những đợt bắn phá hoặc yểm trợ thường xảy ra nhiều hơn sau ngày thực dân Pháp chiếm làng, đuổi dân làng tôi ra phố Thứa – đây là tên khu phố rộng lớn của thị trấn Thứa thuộc tỉnh Bắc Ninh, khu vực này bị bắt buộc bỏ hoang từ ngày Việt Minh phát động chiến dịch “Tiêu thổ kháng chiến”, không có người sinh sống, chỉ có một cái đồn của quân Pháp do viên Thiếu Úy chỉ huy, đóng cạnh giao lộ. Cái đồn cũ nằm cạnh phố Thứa đã bỏ hoang sau đêm bị Việt Minh công đồn đả viện năm 1951. Và thực dân Pháp đã lấy nhà thờ và làng tôi làm đồn bót thay cho cái đồn cũ.
Tất cả hệ lụy của chiến tranh theo năm tháng thành những vết hằn in sâu vào tâm trí một đứa trẻ 9 tuổi, làm cho tôi dày dạn như một người thanh thiếu niên từng trải thế sự, cho dù trải qua bao năm tháng trong đời, tôi vẫn không quên.
Làn sóng người từ quê chạy ra tỉnh để di cư từ Bắc vào Nam như một trận cuồng phong nổi lên khắp nơi tại miền Bắc kể từ trung tuần tháng 5 năm 1954, nhất là sau ngày thực dân Pháp và đảng Cộng Sản Việt Nam núp dưới danh nghĩa Việt Minh ký hiệp định Genever ngày 20 tháng 7 năm 1954 chia đôi đất nước. Hàng triệu người trốn chạy Việt Minh Cộng Sản để di cư vào miền Nam với hai bàn tay trắng, đã gây dựng lại đời sống bất hạnh của họ từ con số không, trong số đó có gia đình thày mẹ tôi.
Sau những năm tháng định cư ở vùng ngoại ô Sài Gòn, khi tôi chập chững bước vào giảng đường đại học lại phải bước ra vì chiến trận ngày thêm khốc liệt, lệnh tổng động viên được ban hành, và cũng là những năm tháng các thế lực siêu cường đang thăm dò, bớt một thêm hai trên sinh mạng của một dân tộc nhược tiểu. Kết cục, không một gia đình nào không có người đi tù, và khi thoát được tù đày lại bị quản chế đêm ngày bởi hệ thống công an, phường đội dầy đặc. Với một hệ thống luật rừng cùng với đời sống bất định đã tạo lên những làn sóng tỵ nạn khắp nơi – một sinh lộ cận kề với cái chết và những đắng cay ê chề trên thân phận con người.
Chiều thứ bảy vừa qua, khi tôi vừa mở cửa bước ra định mở nước tưới mấy chậu bông thì người đàn ông trung niên, gốc Nam Mỹ – ông hàng xóm mới dọn tới thuê căn nhà kế cạnh nhà tôi đang đứng cạnh chiếc truck cũ trên garage lane, ông giơ cánh tay quyệt lớp mồ hôi trên trán, rồi vẫy tay chào tôi. Tuy mới dọn đến cách đây mấy tháng, nhưng Garcia rất dễ mến, trên môi ông luôn nở nụ cười thân thiện, vồn vã chào hỏi khi gặp mặt, ngay cả khi ông vừa bước ra khỏi cái xe truck cũ, áo quần còn lấm lem bụi đất của một con đường nào đó – ông là công nhân thuộc lãnh vực Công chánh của một hãng chuyên về cầu đường.
– Hi, how are you? Garcia chào tôi.
– Thank you. I am fine. What are you doing? Tôi cám ơn và hỏi Garcia.
– I was tuning up my friend, my car is too old but it is still good. I just finished. Now, it is time relax for Monday working – Garcia nói vừa tu bổ xong cái xe cũ, đang nghỉ xả hơi, mỉm cười, rồi quay qua hỏi thăm tôi về những tin tức liên quan đến những người thiểu số và di dân.
– You retired. You read news, watching TV and you had acknowledged about refugee, about immigrant. How about the problems are going now? Garcia hỏi tôi về vấn đề tỵ nạn và di dân vì nghĩ rằng tôi đã nghỉ hưu, có thời giờ theo dõi và hiểu biết hơn ông.
Rồi như chỗ thân tình hàng xóm láng giềng, Garcia kể cho tôi biết hoàn cảnh của ông và ông nói rất thương cảm hoàn cảnh những người di dân. Ông qua Mỹ đã hơn mười hai mười ba năm để đoàn tụ với cha mẹ, và cha mẹ ông đã qua đời vài năm nay. Khi qua Mỹ, ông biết ông không có nghề chuyên môn và biết mình cần hội nhập vào xã hội Mỹ, nên ngay những năm tháng đầu tiên đến Mỹ, ông đã đi làm bồi bàn cho một nhà hàng Mexico ban ngày, đi học ESL và học việc về ngành cầu đường ở Training Jobs Center do một hội đoàn Mexico giới thiệu. Rồi vài năm sau ông có liên hệ tình cảm với một người con gái xứ Honduras, em họ anh bạn cùng hãng và do anh ta giới thiệu. Garcia bảo lãnh vợ qua Mỹ, dẫn vào làm phụ việc cho nhà hàng, và đi học tiếng Mỹ buổi tối. Hiện nay vợ ông đang làm nửa buổi cho một nhà hàng ban ngày để có thời giờ đưa đón hai con đi học và làm phụ bếp cho khách sạn, ca đêm.
Thấy tôi lắng nghe, Garcia tiếp tục kể lại chuyện ông phải dọn đến đây vì chủ cũ bán nhà, nếu không thì ông vẫn ở khu Senter Road – ở đó ông bà quen nhiều hàng xóm Việt Nam. Ông thấy những gia đình Việt Nam chăm lo cho con cái đi học và làm việc không ngưng nghỉ, dù là ngày cuối tuần, đời sống họ rất sung túc và hạnh phúc. Ông cho biết ông đã đi hội chợ Tết và đi ăn phở với bạn Việt Nam của ông nhiều lần. Các bạn ông đã cho ông xem những bản báo cáo về kết qủa học tập của con họ, đa số các môn học trong năm đều đạt được điểm A+, B+. Nên vợ chồng ông cũng ráng bắt chước chăm lo và hướng dẫn con cái, hy vọng tương lai con cái ông sẽ tốt hơn, chứ bây giờ vất vả mấy ông bà cũng chịu được. Ông cũng nói lúc này sinh hoạt hơi mắc mỏ, nhưng ông vẫn cảm thấy rất hạnh phúc, vì sau một ngày đi làm, gia đình ông được sống bình yên, không bị ai đe dọa, bắt bớ bất thường, nhất là về ban đêm.
Nghe Garcia kể chuyện liên quan đến người Việt, tôi đã chia sẻ niềm tự hào với ông hàng xóm người gốc Nam Mỹ – tôi nói với garcia, người Việt Nam chúng tôi có truyền thống hiếu học cũng như làm việc cần cù, không quản ngại gian khổ, cầu tiến nhưng luôn luôn duy trì bản sắc, Hoa kỳ lại là đất nước tạo ra những cơ hội bình đẳng để mọi người có thể thăng tiến. Do đó, đa số các gia đình tỵ nạn Việt Nam đến Mỹ với hai bàn tay trắng, nhưng theo năm tháng đã có một đời sống sung túc và các con cháu đều thành đạt trên đường học vấn. Và tôi hỏi ông có đến Little Sài Gòn ở miền Nam California chưa – nơi có những sinh hoạt văn hóa, xã hội, chính trị tiêu biểu của một Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa thu nhỏ. Ngoài ra, nhiều tiểu bang khác cũng có những sinh hoạt tương tự như Little Sài Gòn ở miền Nam California.
– Yes, I did, my cousin is living close there. I agree with you – Garcia nói ông có em họ ở gần khu Little Sài Gòn, nên ông có đến thăm và mua sắm nhiều lần. Lâu nay vợ ông muốn bảo lãnh bố mẹ qua Mỹ để được vui sống như thế. Nhưng bây giờ chương trình đoàn tụ cũng như di dân đang bị xiết chặt, lại có chống đối nữa nên bị kẹt rồi, vợ ông lo lắng và buồn lắm. Garcia cũng nhắc tới những đóng góp và thành công của các sắc dân thiểu số trong đó có sự cố gắng của gia đình ông mà sao vấn đề di dân vẫn gặp khó khăn. Thấy ông bạn hàng xóm hiền hòa có tâm tư giống như nhiều người. Tôi nói như để thông cảm với Garcia: Vì nạn khủng bố xảy ra lâu nay tại một số quốc gia có ít nhiều liên quan đến một vài sắc dân, nên vấn đề di dân trở thành một vấn nạn cho nhiều quốc gia, và kinh tế thế giới lại thăng trầm đã đưa đến những quan điểm chính trị khác biệt giữa các đảng phái cũng như cử tri về vấn đề di dân. Trong một xã hội tự do, dân chủ, thì những ý kiến khác biệt, những tư tưởng mang chủ nghĩa dân tộc, bảo thủ hay cấp tiến của một số người nào đó cũng là chuyện tự nhiên. Hy vọng, trong tương lai sẽ có một dự luật di dân hợp lý hợp tình được cả hành pháp và lập pháp Hoa Kỳ thông qua, để không xảy ra tình trạng như hiện nay. Vì đất nước Hoa Kỳ được thành lập và trở thành một cường quốc bởi những thế hệ di dân đầu tiên mà. Ngay cả những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ thời cận đại như ông Donald Trump, Obama, Bill Clinton cũng đều là con cháu di dân cả. Có thể những khác biệt về vấn đề nhập cư hiện nay chỉ là vấn đề thời sự nhất thời mà thôi.
Thấy Garcia gật gù, lắng nghe. Hy vọng giúp gia đình Garcia an tâm – tôi nói: Ai cũng công nhận Hoa Kỳ ngoài những tiến bộ, đứng đầu thế giới về mọi lãnh vực, xưa nay vẫn nổi tiếng là một quốc gia tự do và tôn trọng nhân quyền nhất. Lòng bao dung của dân chúng Hoa Kỳ đã được thể hiện qua biết bao nhiêu các cơ quan thiện nguyện, cũng như lòng bác ái của các cá nhân người Hoa Kỳ cũng luôn luôn được đề cao khi đã bảo trợ cho nhiều gia đình tỵ nạn, giúp những người di dân, mặc dù khác biệt chủng tộc và màu da. Lòng hào hiệp của người dân Hoa Kỳ thường thấy hàng ngày khi tình nguyện đóng góp, giúp đỡ những người kém may mắn, gặp hoạn nạn bất thường như thiên tai, động đất, hỏa hoạn nơi này nơi kia – lòng trắc ẩn không phân biệt sắc dân đối của người dân Hoa Kỳ thật cao qúy xưa nay. Không có quốc gia nào có nhiều sắc dân thiểu số, và đôi khi có những cách biệt về trình độ văn hóa, giáo dục qúa xa, lại được nhập cư nhiều như ở Hoa kỳ. Giống như những cánh bèo, những đóa hoa trôi giạt trong những cơn phong ba bão táp đã cập đến bến bờ một vùng đất trù phù, an bình với sông dài biển rộng – Garcia, ông hãy hy vọng, nơi có những tâm hồn cao thượng.
Tôi ngưng nói khi nghĩ rằng Garcia chắc đã hiểu và đồng ý với những sự hiểu biết khái quát của tôi về câu chuyện liên quan tới tỵ nạn và di dân, khi thấy cái đầu Garcia gật gù, lắng nghe.
– Thank you for your good opinions, you are right – Garcia cám ơn về nhận xét của tôi.
Bầu trời chiều cuối tuần mùa Thu đã nhá nhem tối. Garcia vừa thu dọn đồ nghề sửa xe vừa trao đổi với tôi về những ý kiến đã được các cộng đồng thiểu số lưu tâm lâu nay, và theo năm tháng có thể làm thay đổi quan điểm của những người bất đồng ý về chuyện nhập cư, khi những sắc dân chứng tỏ cho người bản xứ thấy nếp sống văn minh, cầu tiến và những đóng góp tích cực về mọi phương diện, làm cho xã hội thăng tiến trong các lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị. Tham gia các sinh hoạt địa phương, tôn trọng luật pháp cũng như các phong tục tập quán lành mạnh. Bỏ đi những tập quán xấu có thể có trong mỗi sắc dân, để không quốc gia nào cảm thấy các sắc dân thiểu số là gánh nặng của xã hội, là những nguyên tố của tội phạm và làm gia tăng nạn thất nghiệp, làm cho đời sống ngày một thêm khó khăn. Mỉm cười như hài lòng với câu chuyện, ông nói good night, God bless you, rồi thay vì bắt tay, Garcia đưa cổ tay của ông cho tôi bắt, vì bàn tay ông còn dính dầu nhớt và lấm lem khi ông thay nhớt chiếc xe truck cũ mà ông thường gọi là người bạn tốt.
Second Life Bikes được ví như là một cái “garage cộng đồng” trong thị trấn ven biển Asbury Park hơn là một cửa tiệm xe đạp. Ở đây có thể tìm thấy hàng nghìn những chiếc xe đạp cũ, xe đạp tân trang với giá vừa phải từ $75. Chủ nhân của cái shop này là bà Kerri Martin có niềm đam mê với những chiếc xe đạp cũ đầy lịch sử mà mỗi chiếc xe đạp đều có câu chuyện riêng. Cái thú sưu tập xe đạp cũ này bắt đầu khi Kerri làm việc ở New York, nơi mà phương tiện xe đạp khá phổ biến.
Second Life Bikes bắt đầu từ một cái garage nhà thờ, một hoạt động ngoại khóa hàng tuần của lũ trẻ trong vùng. Học ngành xã hội học, Kerri còn ấp ủ một ý tưởng khác biệt hơn thế nữa. Kerri đã phát động chương trình “Youth earn-a-bike”, Second Life Bikes sẽ cho mỗi bạn nhỏ một chiếc xe đạp hoàn toàn miễn phí.
Ðiểm độc đáo của Second Life Bikes, không giống như GoodWill hay Salvation Army, là đó không phải là sự từ thiện cho đi không đòi hỏi. Tụi nhóc tới đây bắt buộc phải làm việc 15 tiếng thì sẽ được lựa chọn bất kỳ chiếc xe đạp hư hỏng mà chúng muốn. Với những kỹ năng học được, chúng sẽ tự sửa và phục hồi chiếc xe đạp của chính mình.
Bằng sự trải nghiệm trực tiếp với những chiếc xe đạp cũ, chúng học được cách sử dụng dụng cụ từ cờ lê tới mỏ lết, từ biết cách ráp nan hoa cho tới việc thay lốp. Không chỉ là thực hành những kỹ năng lắp ráp, sửa chữa, chúng còn học cách nhìn ra vấn đề của chiếc xe đạp hư khách mang đến hay còn biết cách giao tiếp với khách hàng, và hiểu tốt hơn về môi trường làm việc.
Kerri không ngờ hiệu ứng lan truyền nhanh chóng từ tụi trẻ mà vài trăm chiếc xe đạp được cho đi mỗi năm. Ðiều đáng quan trọng là các em đã chứng tỏ tinh thần trách nhiệm dù mới ở lứa tuổi 12, 13; em nào cũng cảm thấy tự hào với thành quả của mình. Ðáng ngạc nhiên hơn nữa là nhiều em tham gia không chỉ vì muốn được sở hữu chiếc xe đạp cho riêng mình, một số tiếp tục tình nguyện làm việc miễn phí cho garage để giúp những bạn trẻ khó khăn khác có được chiếc xe đạp yêu thích.
Hoạt động thiện nguyện của Kerri Martin rất khác biệt, bởi việc thông qua nỗ lực, tự hào nhìn thấy thành quả của chính bản thân đã khích lệ tinh thần trách nhiệm của lũ nhỏ ngay từ lúc bé – điều rất hiếm thấy ở xã hội Việt Nam. Cô bé 11 tuổi, America Rice, đã từng là phát ngôn viên của Second Life Bikes trên kênh truyền hình NBC, ABC và tạp chí Family Circle; cậu nhỏ Sylvester hào hứng nói về cảm giác đã là một thợ sửa xe thuần thục ở tuổi 13…
Giờ thì bất kỳ ai ghé qua Asbury Park, New Jersey, cũng check-in ở Second Life Bikes, nó trở thành một điểm nhấn có ý nghĩa của thị trấn nhỏ này. Từ khi Second Life Bikes ra đời, thì cư dân thị trấn biển Asbury Park dù là đi café, ra biển hay picnic cũng tà tà đạp xe nhiều hơn.
Ít ai ngờ các tập tục bán vợ lại có thể tồn tại ở xứ sở sương mù, quốc đảo của các quý ông lịch thiệp xứ Ăng-lê. Tài liệu sớm nhất ghi nhận việc này ở Anh là vào năm 1302, nhưng thực sự phổ biến vào thế kỷ 17 khi mà ly dị là bất khả thi, do nhà thờ và chi phí pháp lý đắt đỏ khiến việc ly dị chỉ dành cho những ai giàu có nhất. Người chồng muốn rao bán vợ chỉ cần buộc dây vào cổ, tay, hay bụng của cô vợ đem ra những khu chợ tấp nập như Smithfield hay Cranbrook để đấu giá và gả cho tay chồng mới nào ra giá cao nhất. Tục lệ này như một thủ tục ly dị và tái hôn, sắp xếp này có lợi cho cả đôi bên. Một phần vì phụ nữ thời đó được học hành ít ỏi, nếu mà gã chồng tệ bạc bỏ rơi thì họ sẽ dễ dàng rơi vào cảnh túng bấn, cùng khổ.
Ðến thế kỷ 19, các vụ mua bán vợ được giải quyết một cách văn minh hơn, với cái giá thường chỉ mang tính ước lệ và cam kết trong quán rượu. Tại quán rượu ở Tonbridge, một người đàn ông John Savage đã trả một đồng shilling và một vại bia để mua bà vợ tên Mary. Còn bà Wells đã được ông chồng bán cho ông Clayton với giá 4 cốc bia, khi mà ban đầu ông Wells còn sẵn sàng biếu không bà vợ hay ngoại tình này. Dẫu vậy ông Clayton đã nài nỉ phải có một mức giá chứ không thể quá “bèo bọt”. Thời điểm này các vụ bán vợ được các “quý ông” cam kết thông qua cách nâng ly nốc cạn, và giá cả dĩ nhiên tính bằng rượu bia cũng khá tiện. Người vợ có thể thoát khỏi cuộc hôn nhân khốn khổ, ông chồng mới có bạn đời, còn ông chồng cũ thì phấn khích ăn mừng khi thoát khỏi “ngục tù.”
Thực tế khi mà chi phí ly hôn hợp pháp vào thế kỷ 19 có giá cắt cổ từ 40 đến 60 bảng (một người điều dưỡng chỉ kiếm được 17 bảng/năm) thì giai cấp lao động chẳng có nhiều lựa chọn. Họ có thể là những nông dân, tá điền, công nhân… khi tiền của không kiếm được bao nhiêu mà có thể chán ngấy một bà vợ đanh đá hay cằn nhằn. Một anh phu vận chuyển cát bán vợ mình ở chợ Cranbrook khu Kent chỉ với giá một ly rượu gin, một vại bia, kèm thêm là nuôi nốt thằng nhỏ 8 tuổi. Giá “bán vợ” thực không cao, mà chỉ là hình thức tống khứ các bà vợ chứ không phải kinh doanh kiếm lời. Bia là tiền tệ giao dịch chủ yếu, nhưng cũng có thể là rượu gin, cognac, whiskey, rượu táo, một bữa ăn hay là một con chó giống Newfoundland.
Tập tục này ở Anh đã bị chính anh hàng xóm xứ Gaulois hay chọc ghẹo và tuồng như trọng nam khinh nữ. Nhưng trên thực tế, thường chính các bà vợ cũng tham gia vào việc này. Một thẩm phán ở Anh đầu thế kỷ 19 đã thừa nhận trên văn bản rằng ông cũng không thể ngăn cản các vụ mua bán vợ khi có sự đồng thuận của đôi bên. Nhiều ghi nhận đã chỉ ra rằng các giao dịch bán vợ đã đem lại lợi ích tốt hơn cho các bà, khi mà ông chồng mới thường có vị trí xã hội và tiền của nhiều hơn kẻ bán.
Nghe xứ Ăng-lê làm vậy, hẳn không ít các bà tức sôi máu cũng muốn tống khứ lão chồng vô tích sự ra khỏi nhà. “Ai mua chồng đaaây!”
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Post by Sơn râu 18 Sep 2024
15 tháng 2-1971, đúng một tuần sau khi vượt biên giới, các đơn vị VNCH bắt đầu hứng pháo. Tuy chưa dồn dập nhưng xác nhận pháo binh Bắc-Việt đã vào vị trí và bắt đầu điều chỉnh yếu tố tác xạ. Qua hồi ký của Đại Úy Hy người đọc nhìn thấy việc thay thế các cơ phận hỏng của đại bác 155 ly là cả một thủ tục hành chánh. Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, trách nhiệm Lam Sơn 719, cũng phạm phải sai lầm là đã sử dụng Sư đoàn Dù cho việc thiết lập các căn cứ rồi đóng quân bảo vệ, thay vì đánh chiếm Tchépone, là mục tiêu chính. Liên quân Anh, Pháp, Mỹ và Lục quân Đức không khi nào dùng Nhảy dù để giữ pháo vì binh chủng này được cấu tạo cho những cuộc tấn công chớp nhoáng. Các Raids của quân đội Pháp tái chiếm Lạng Sơn, Phú Thọ, Phủ Đoan, Đoan Hùng đều thần tốc với quân Dù rồi rút về tức khắc. Hồi ký của Đại Úy Hy cho thấy tiến quân rất chậm và các cấp chỉ huy, ngay ngoài mặt trận vẫn nhiều nghi thức. [Trần Vũ]
Trung tướng Dư Quốc Đống tại Hạ Lào, 2-1971
—oOo—
Trương Duy Hy
NHỮNG LỜI NGỢI KHENCỦA THƯỢNG CẤP VIẾNG PHÁO ĐỘI
Ngày 15-2-71, cũng như thường lệ, từ 7g00 chúng tôi đã bắt đầu khai hỏa. Hết yểm trợ cho căn cứ Hỏa Lực 31 lại tác xạ cho Tiểu Đoàn 2 Dù.
10g30, Trung Tá Vũ-Đình-Chung Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn 1, Thiếu Tá Nguyễn-Văn-Tự Tiểu Đoàn Trưởng của tôi, Thiếu Tá Hằng Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 64 Pháo Binh cùng Đại Úy Hoàng đến căn cứ Hỏa Lực 30 thăm chúng tôi.
Rước từ bãi đáp, hướng dẫn quý vị vào Đài Tác Xạ thuyết trình.
Trung Tá Chỉ Huy Trưởng không muốn tôi trình bày dông dài, do đó tôi được phép trả lời câu hỏi của Trung Tá về sức khỏe của binh sĩ, tinh thần chiến đấu, tình trạng đại bác, đạn dược và về vấn đề ẩm thực của Pháo Đội. Cuối cùng tôi trình bày khả năng hữu hiệu của Pháo Binh 155 ly đối với các đơn vị bạn, lòng cảm mến sâu xa của các Tiền Sát Viên Dù và thành tích đã thu hoạch được từ lúc đặt chân lên đất Lào đến bây giờ.
Trung Tá Chung tỏ vẻ hài lòng lắm. Bỗng có một Sĩ quan của BCH Tiểu Đoàn 2 Dù chạy vào Đài Tác Xạ yêu cầu tôi ra trình diện Trung Tướng Dư-Quốc-Đống tại BCH/TĐ 2 Dù.
Tôi xin lỗi quý vị có mặt tại Đài Tác Xạ chạy vội về BCH/TĐ 2 Dù. Nhưng Trung Tướng cùng Thiếu Tá tùy viên và Trung Tá Thạch đã bước qua vị trí Pháo Đội tôi rồi. Tôi đứng nghiêm chào. Không đợi tôi trình diện hết câu, Trung Tướng Đống đưa tay bắt tay tôi. Nhìn thẳng vào mặt tôi, Trung Tướng bảo:
– Tôi rất hài lòng về việc làm của anh. Anh yểm trợ rất tốt. Anh em đã thu nhiều kết quả. Tôi khen anh và Pháo Đội anh. Anh chuyển lời đến các binh sĩ… Hãy cố gắng mãi như thế này thì sớm về…
– Cám ơn Trung Tướng, Pháo Đội tôi xin thi hành.
Có lẽ lúc bấy giờ ở Đài Tác Xạ quá chật chội, quý vị chỉ huy của tôi di chuyển ra ngoài — đúng vào lúc Trung Tướng đang nói chuyện với tôi. Tôi trịnh trọng giới thiệu Trung Tướng về việc thăm viếng của Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân đoàn 1 (CHT/PB/QĐ1), Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng (TĐT)… Trung Tướng lần lượt bắt tay từng người… Một lần nữa, Trung Tướng vỗ vai tôi, vừa cười vừa nói với Trung Tá Chung:
– Ông ơi, anh này làm việc giỏi lắm đó, tôi thành thật khen ngợi anh ta.
– Dạ, cám ơn Trung Tướng. Trung Tá Chung đã đỡ lời cám ơn ấy trước mặt mọi người. Bỗng tôi cảm thấy hãnh diện trong niềm hãnh diện chung của toàn thể PĐC/44 PB chúng tôi. Tôi liếc nhìn Thiếu Tá TĐT, bắt gặp ông ta đang gật đầu cười mỉm chi! Chắc hẳn Thiếu Tá tôi cũng vui niềm vui ấy.
Trung tướng Dư Quốc Đống, khóa 5 Võ Bị, Tư lệnh sư đoàn Dù, hình chụp 1967.
Thế rồi Trung Tướng cùng mọi người tiến ra bãi đáp trực thăng. Trong lúc chờ đợi, Trung Tướng, Trung Tá CHT/PB/QĐ1, Thiếu Tá TĐT tôi đàm đạo một số vấn đề quanh việc yểm trợ pháo binh cho các đơn vị Dù, thành quả đã gặt hái được.
Sau khi Trung Tướng rời khỏi bãi đáp bằng trực thăng riêng, tôi hướng dẫn Trung Tá CHT/PB/QĐ1 quan sát phía Bắc bãi đáp trực thăng. Ý Trung Tá muốn chuyển đến căn cứ này thêm một Pháo Đội 105 ly của Tiểu Đoàn 64 PB hầu đáp ứng nhu cầu yểm trợ kịp thời cho Tiểu Đoàn 39 và Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân. Trung Tá cũng muốn thiết lập một I.O.D (Integrated Observation Device) giao cho Pháo Đội C chúng tôi phụ trách. Tôi trình bày rằng: chúng tôi có thể đảm nhận vì Thiếu Úy Thiện xử dụng được, nếu có thêm một số vật liệu để thiết lập đài quan sát cao và bảo đảm.
Trong thâm tâm, tôi nghe Trung Tá nói đến hệ thống quan sát I.O.D, tôi quá mừng! Vì với hệ thống quan sát tân kỳ này, chúng tôi có được một cặp mắt thần nhìn rõ mọi vật chung quanh cách xa chúng tôi hàng chục cây số ngàn. Hơn thế nữa, đây là loại máy quý giá mà người Hoa Kỳ chưa giao cho bất cứ một đơn vị nào của chúng ta xử dụng…
Chờ đến 12g00 trực thăng vẫn chưa trở lại đón Trung Tá, tôi mời quý vị vào dùng cơm trưa tại hầm riêng của tôi. Thiếu Tá Hằng và Đại Úy Hoàng đi qua Pháo Đội C3 Dù dùng cơm với Trung Úy Trí, người anh em bà con của Thiếu Tá.
Trong lúc dùng cơm, Trung Tá và Thiếu Tá đàm đạo với tôi nhiều vấn đề cần thiết.
Trung Tá bảo:
– Trường hợp Biệt Động Quân bị chạm nặng, anh nên cố gắng giúp đỡ cho nó, dù sao nó cũng là người nhà.
– Thưa Trung Tá, lúc nào tôi cũng sẵn sàng tác xạ, muốn tác xạ ngay để giúp đỡ cho anh em. Song ngặt một điều là tôi ở trong trường hợp tăng phái cho Dù, vì thế nhất cử nhất động phải tùy thuộc Dù… Như hôm qua, Biệt Động Quân (BĐQ) xin tác xạ, tôi hỏi lại Bạch Phú và biết được ý của Bạch Phú không bằng lòng.
– Nhưng anh có tác xạ mà?
– Vâng, thì nói quá Bạch Phú cũng thuận. Song sau khi tác xạ chấm dứt (Bạch Phú có theo dõi và ngay cả PĐC3 Dù sát tôi cũng lưu ý không kém) bắt buộc tôi phải quay trả lại hướng súng tác xạ cũ… Vì vậy, tôi xin Trung Tá can thiệp cách nào để tôi có thể dùng riêng 2 khẩu đặt theo hướng BĐQ, có lẽ như vậy thuận tiện hơn cả.
Im lặng một tí, Trung Tá bảo:
– Thôi được, để tôi cho một sĩ quan liên lạc đến đây với anh và tôi sẽ dàn xếp. Theo ý anh, nếu có một pháo đội 105 ly lên vị trí này có trở ngại gì không?
– Thưa Trung Tá, trở ngại thì không, song địa thế quá hẹp, mặt bãi đáp trực thăng khi nãy Trung Tá quan sát đấy, được xem là ngoài vòng đai an ninh, nếu có một Pháo đội nữa, tất phải có quân bảo vệ bên ngoài, không biết BĐQ có người không?
Trung Tá gật đầu suy nghĩ. Không hiểu lúc đó Trung Tá đang chọn một giải pháp nào thích nghi.
Thiếu Tá Tự, Tiểu Đoàn Trưởng tôi tiếp lời:
– Phần anh, ngay bây giờ anh chuẩn bị sẵn sàng Pháo Đội để có thể tách đôi, mỗi Trung đội 3 khẩu… Có lẽ 2, 3 hôm nữa phải di chuyển một nửa đến căn cứ mới (tức Căn cứ 32, phía Tây Bắc căn cứ Hỏa lực 31).
Tôi liếc mắt nhìn Lân và đáp ngay:
– Thưa Thiếu Tá, tôi đã chuẩn bị sẵn sàng từ lúc ở Cam Lộ. Nay tách đôi cũng không có gì trở ngại, lúng túng – Xin Thiếu Tá cứ yên trí. Lúc nào có chỉ thị của Thiếu Tá, chúng tôi thi hành ngay.
Nhân dịp này, tôi có thuật lại cho Thiếu Tá hiểu nỗi khổ sở, vất vả của Pháo Đội liên tiếp trong những ngày vừa chiếm đóng xong vị trí, vừa tác xạ, vừa nhận lãnh đạn dược do Chinook mang đến và vụ bị la rầy vì mấy dây câu súng triệt thoái không kịp… như là một thanh minh thành thật, để có dịp Thiếu Tá trình bày cho Trung Tá Huỳnh Long Phi ở Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn Dù… Dĩ nhiên tôi cởi bỏ được một ấm ách trong lòng trước mặt vị Chỉ Huy trực tiếp tôi, đồng thời cũng là cơ hội tốt để tôi nêu lên một kinh nghiệm thực tiễn cho những lần trực thăng vận kế tiếp.
Trung tá Huỳnh Long Phi tốt nghiệp Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị.
18/06/54 – Mãn Khóa Nhảy Dù tại B.A.P.S. (Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù tại Bà Quẹo).
-Thuyên chuyển về Đệ Tam Đại Đội Súng Cối/Nhảy Dù tại Trường Bưởi (Hà Nội).
30/08/54 – Toàn bộ Đại Đội Súng Cối/Nhảy Dù được Hải Quân Pháp hải vận vào Nam trú đóng tại Đồng Đế (Nha Trang).
1956 Đại Đội Trưởng Đại Đội Súng Cối Nhẩy Dù.
1958 Tu nghiệp Hoa Kỳ khóa BOC-Survey tại Fort Sill.
12/1965 Thành lập Tiểu Đoàn Pháo Binh Nhẩy Dù và giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng.
6/1968 Chỉ Huy Trưởng Pháo binh Sư Đoàn Nhẩy Dù.
4/1971 Tham dự khóa Chỉ Huy Tham Mưu tại Ft Leavenworth Kansas City Hoa Kỳ.
14/7/1972 Tử nạn trực thăng tại Mặt trận Hải Lăng và Quảng Trị. Truy thăng Đại tá.
Thiếu Tá Tự tiếp:
– Còn một việc nữa, tin anh biết, theo tin tức khí tượng từ 17 đến 22-2-71 trời rất xấu, sẽ không có trực thăng tiếp tế đâu. Anh hãy cho binh sĩ tồn trữ nước mà dùng. Nghe anh kêu nước quá đâm xót ruột cả BCH/TĐ.
– Thưa Thiếu Tá, như Thiếu Tá thấy đó, nước đối với chúng tôi còn cần hơn là thực phẩm. Chắc Thiếu Tá và Đại Úy Thông…
Ông vội ngắt lời:
– Ông Thông nay đã mang lon Thiếu Tá rồi.
– Ô hay, sao ông không gởi bia rửa lon cho bọn tôi với, Thiếu Tá?
Rồi tôi tiếp:
– Chắc Thiếu Tá và Thiếu Tá Thông cùng các sĩ quan không khỏi cười về cái công điện ngớ ngẩn xin nước của chúng tôi, thưa Thiếu Tá?
Thiếu Tá Tự ngừng nhai, vừa cười vừa đáp:
– Ông Thông đọc trước rồi trình tôi. Ông cười anh khéo khôi hài đến thế là cùng! Sự thật, dù cho anh không làm công điện xin nước, tôi và Thiếu Tá Thông, Đại Úy Diệm cũng lo ngay cho anh. Nhìn lên bản đồ, với cao độ 727 thước mà đồi trọc, tôi đã đoán biết các anh cần nước lắm.
Bỗng Trung Tá Chung quay lại vấn đề vừa xảy ra:
– Anh Hy, tôi mừng cho anh đó. Nói thật với các anh, Tướng Đống ít khen sĩ quan lắm. Vậy mà với anh, Trung Tướng đã khen như thế thì thật là vinh dự cho anh.
– Cám ơn Trung Tá, đối với tôi, tôi không bao giờ chểnh mảng nhiệm vụ, tôi hy vọng sẽ giữ được cảm tình lâu bền với đơn vị Dù ở đây…
Ăn cơm xong, khoảng nửa giờ sau trực thăng đến, tôi tiễn Trung Tá và quý vị ra bãi đáp sau khi chụp vài tấm hình kỷ niệm.
NHỮNG QUẢ ĐẠN PHÁO KÍCH ĐẦU TIÊN CỦA ĐỊCH
Bấy giờ gần như là thói quen, cứ khoảng 14g00 hoặc 15g00 thế nào Chinook cũng ùn ùn tiếp tế đạn cho Pháo Đội. Đồng thời 6 khẩu đại bác 155 ly bắt đầu “đòi” quân cụ! Hết hỏng cơ phận này lại hỏng cơ phận khác, mặc dù chúng tôi đã bảo trì tối đa. Kể ra nó hỏng cũng phải, vì chúng tôi tác xạ quá nhiều. Hai ngày sau này, chúng tôi xử dụng toàn nạp 7! Hầu hết các cần bịt nòng tân trang đều bị rộng lỗ dẫn hỏa, kim hỏa bị gãy.
Lúc ra đi, tôi cẩn thận mang theo dự phòng 2 cần bịt nòng mới và 3 khối kích hỏa ngoài bản cấp số do tôi xin được của đơn vị Pháo Binh Hoa Kỳ đóng ở đồi 65 Đại Lộc để dự trữ thay thế. Nhưng không kịp mà thay. Tôi khẩn cấp đánh điện về BCH/TĐ xin can thiệp toán chuyên viên đến giám định để thay thế cho khẩu 5, khẩu 2 là hai khẩu bị chảy dầu hệ đàn hồi và thay thế 3 cần bịt nòng, 3 khối kích hỏa cùng vài kim hỏa… trong chuyến tiếp tế gần nhất.
Kế đó, tôi được BCH/TĐ trả lời:
– Phải tập trung cơ phận hư gởi về trước để làm phiếu một đổi một rồi sẽ gởi cơ phận mới lên. Còn nhân viên giám định sẽ có một phi vụ trực thăng đặc biệt đưa đến vào ngày mai.
Tôi bực mình và nghĩ rằng: chúng tôi đang quần quật suốt ngày lo tác xạ yểm trợ các cánh quân không kịp thở, tuy súng không còn bắn được với nạp 7 chớ dùng tạm cũng có thể xử dụng với nạp 5 trở lại. Nếu tháo ra gởi về trước để đổi thì tỷ số đại bác bất khiển dụng quá cao, không đủ súng yểm trợ… tai đâu mà nghe các đơn vị bạn trách móc!
Tôi trả lời ngay:
– Yêu cầu BCH/TĐ xin Bộ Tư Lệnh hành quân can thiệp cho tôi được nhận cơ phận mới trước, rồi sẽ trả cơ phận cũ để cố gắng và có thể tác xạ được chừng nào hay chừng ấy, chứ không thể gởi cơ phận cũ về trước.
Phát cáu và không thiết gì nữa, tôi rời Đài Tác Xạ, tiến ra bãi đáp xem anh em làm việc… bỗng… vèo… vèo… hai quả đạn 105 ly bay từ hướng Bắc xuống hướng Nam, nổ cách chân vị trí chúng tôi khoảng 100 thước!
– Việt cộng pháo kích… Việt cộng pháo kích… — Tiếng la của một binh sĩ ở bãi đáp vọng vào.
Tôi vội tụt xuống một hầm tròn bên cạnh quan sát.
Đó là những quả pháo kích đầu tiên của Việt cộng bắn vào căn cứ Hỏa Lực 30 — Lúc ấy đúng 16g10. Sau 8 ngày chiếm đóng, căn cứ 30 hoàn toàn yên tĩnh, giờ đây, Việt cộng mới bắt đầu điều chỉnh tác xạ vào căn cứ tôi.
Tuy nhiên, đạn pháo kích của Việt cộng còn rời rạc, quả dài, quả ngắn, không quả nào trúng vị trí. Sau 6 quả công kích, bỗng dưng chúng im bặt.
Pháo thủ lại tiếp tục chuyển đạn vào hầm chính, hầm khẩu…
Đồng thời, tôi và Trung Úy Trí liên lạc với cánh Biệt Động Quân hướng Bắc căn cứ để xét một tọa độ phản pháo. Xong cả hai pháo đội chúng tôi tập trung hỏa lực tác xạ vào mục tiêu có đến 15 phút.
Trong lúc phản pháo, một trực thăng bị nạn, cố gắng lao đến bãi đáp… Thật may, nếu đáp sớm một, hai giây, trực thăng sẽ rơi vào hầm đạn — và nếu trực thăng bốc cháy, hậu quả sẽ kinh khủng không lường nổi.
Bốn nhân viên phi hành Hoa Kỳ vội vàng nhảy xuống, chạy tản mát trên bãi đáp. Sau đó, một trực thăng từ Khe Sanh đến đưa phi hành đoàn rời căn cứ. Xác trực thăng vẫn để tại chỗ.
Ngày 16-2-71, Cộng quân bắt đầu dùng chiến xa tấn công các đại đội bảo vệ căn cứ Hỏa Lực 31. Được điện văn xin tác xạ khẩn cấp của Sĩ quan liên lạc 330, chúng tôi hướng tất cả 4 đại bác vào mục tiêu (2 khẩu còn lại hoàn toàn bị tê liệt, phải chờ thay thế cơ phận mới xử dụng được).
Thế rồi hàng trăm quả đạn liên tục rơi vào một vùng rộng khoảng 600 thước mỗi cạnh ô vuông…
Tiếng nói của Sĩ quan Tiền Sát Viên 331, 332 báo cáo rõ ràng từng chi tiết di chuyển của chiến xa địch để xin chuyển xạ oang oang trong máy.
Kết quả, địch phải rút lui, bỏ lại chiến trường hàng trăm xác với đủ loại súng, trong đó có 1 thiết giáp, 2 molotova cháy tại chỗ.
Thanh toán mục tiêu này xong, 330 yêu cầu chúng tôi tiếp tục tác xạ vào mục tiêu mới theo lời xin của Tiền Sát Viên 331.
Sau 4 quả đạn đầu, một tiếng nổ dữ dội từ mục tiêu vọng lại. Một cột khói đen cao vút bốc lên, tiếp theo là hàng tràng tiếng nổ nối tiếp… Tiền Sát Viên 331 báo cáo ngay:
– Các bạn bắn trúng kho đạn Việt cộng rồi! Trúng rồi!
– …Tiếp tục cho 10 tràng nữa rồi chấm dứt.
Chúng tôi hân hoan không tả xiết. Nhìn lên xạ bảng, khoảng cách kho đạn của địch đến căn cứ Hỏa Lực 31 không quá 3 cây số và đến căn cứ Hỏa Lực 30 của chúng tôi không quá 9 cây số!
Tiếng nổ vọng lại từ mục tiêu bắt đầu lúc 8g30 đến 13g00 mới dứt. Thỉnh thoảng, những cột khói đen phụt lên cao, đứng xa hàng chục cây số vẫn thấy rõ bằng mắt trần.
Có điều đặc biệt suốt ngày nay chúng lại không pháo kích vào vị trí chúng tôi.
Tối đến, tôi qua Đài Tác Xạ PĐC3 Dù mừng Trí vinh thăng Đại Úy. Đại Úy Trí mời tôi nhậu rượu trắng và ít đồ nhấm do hậu cứ của Trí ở Khe Sanh vừa gởi lên.
Qua ngày 17-2-71, tôi lại được tin từ BCH/TĐ chỉ thị cho tôi vẫn phải chuẩn bị tách đôi Pháo Đội và có thể ngày 18-2 hoặc 19-2-71 thi hành.
Tôi và Lân bàn định công việc tại hầm ngủ. Hai chúng tôi không muốn rời nhau tí nào. Lân mến và kính trọng tôi lắm. Tôi biết điều đó nên tôi thương Lân như người em cùng một núm ruột. Lân lo ngại sức khỏe không quá ’40 ký’ của tôi với bệnh ghẻ đang kỳ bột phát. Lân tình nguyện xin tôi – nếu tách đôi Pháo Đội để di chuyển đến vị trí mới – Lân sẽ lãnh trách nhiệm đưa 3 khẩu đi. Lân chọn các khẩu 1, 5, 3 do TS Nhơn, TS Ngân, TS Quá làm Khẩu trưởng. Phần sĩ quan, Lân xin Thiếu Úy Thiện và Thường Vụ TSI Lục.
Suốt ngày, tôi và Lân bỗng dưng ít nói, trong óc mỗi đứa dường như theo đuổi và suy tư về một biến cố sắp xảy ra…
Tôi gọi Thiện vào nói ý định đó. Thiện vui vẻ và không có ý kiến.
Đối với Thiện, tôi cũng có rất nhiều tình cảm. Trước kia tôi nghe Thiện ương ngạnh, hay cãi lý. Vậy mà từ khi tôi nhận chức Pháo Đội Trưởng của Pháo Đội C đến nay, đã 5 tháng qua, tôi nhận xét Thiện xứng đáng là một Sĩ quan gương mẫu, tinh thần phục vụ rất cao, chưa bao giờ Thiện nề hà hay cãi lại tôi bất cứ một công tác nào tôi giao phó cho Thiện — Và chưa bao giờ kết quả của Thiện làm bị trì trễ. Thiện lại thích khoa học, hay tằn mằn sửa những vật liệu về điện, máy móc như radio, xe hơi… Nên lúc còn ở đồi 37 Đại Lộc, Thiện ít khi rỗi rảnh, hết sửa máy này đến sửa máy khác cho anh em binh sĩ, cho Pháo Đội. Được dịp may hiếm có, anh em lại thường đi xin mấy chiếc radio hư của lính Mỹ mang về nhờ Thiện sửa hộ. Những lúc ấy Thiện rất vui vẻ, trên mặt như hiện rõ niềm hân hoan giúp được cho lính một công việc…
Với tính tình ấy, Thiện đã hợp với tôi khá nhiều quan điểm. Tôi xem Thiện là một người em đáng mến nhất trong Pháo Đội.
Khoảng 8g00 hôm sau, Việt cộng bắt đầu pháo kích lại, cũng bằng loại đạn pháo binh 105 ly. Chúng lồng khung căn cứ Hỏa Lực 30 với một số đạn quả dài quả ngắn. Có quả rơi gần và lọt hẳn vào phía trong rào hướng Nam hướng Bắc. Mảnh văng tung tóe vào khẩu 5 của TS Ngân, khẩu của TS Thìn. Nhưng may mắn, anh em chúng tôi đều vô sự.
Lập tức 4 khẩu phản pháo ngay. Trong chốc lát chúng im pháo kích. Pháo đội lại tiếp tục tác xạ yểm trợ cho các Tiền Sát Viên quanh vùng.
Khoảng 11g00 trưa, sau khi toán Quân Cụ giám định súng và thuận cho Pháo Đội tôi triệt thoái khẩu 5, khẩu 2 về Đông Hà thay hệ đàn hồi, thì 12g00, thêm một toán Quân Cụ khác mang đến 5 cần bịt nòng và 5 khối kích hỏa mới cùng một vài kim châm hỏa, thay thế cho những cơ phận bị hỏng.
Nhân tiện tôi có viết một lá thư tỏ lòng biết ơn Trung Tá Tiềm, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Quân Cụ trong việc giúp đỡ Pháo Đội tu bổ và thay thế những hư hỏng đại bác. Tôi cũng đề cập đến kết quả thu đoạt được từ ngày đầu hành quân cho đến hôm nay — với mục đích chứng minh cho Trung Tá thấy hiệu quả tác xạ, đương nhiên tùy thuộc vào đại bác xấu hay tốt…
…Theo kế hoạch của Trung Tá Chung, tôi tiếp nhận Trung Úy Kim, Sĩ quan liên lạc của Biệt Động Quân. Kim thuộc Tiểu Đoàn 64 PB, trước kia là học trò lớp Đệ Ngũ và Đệ Tứ của tôi tại Hội An.
Kim đến với tôi không ngoài mục đích xin tác xạ tăng cường cho 64 PB yểm trợ hai Tiểu Đoàn Biệt Động Quân đang hoạt động phía Bắc. Đi theo Kim, có hai “đệ tử” mang máy và thức ăn.
15g00 Chinook mang đạn tiếp tế cho căn cứ. Tôi phải đích thân ra chỉ huy và cùng anh em khẩn cấp dọn sạch sẽ bãi đáp tức khắc. Vì sợ Việt cộng pháo kích lại, nhở có quả nào rơi vào bãi đáp, chắc chắn sẽ không tài nào tránh được nguy hiểm.
Cũng trong cuộc tái tiếp tế này, Lân nhận thêm đồ ăn của vợ từ Đà Nẵng gởi đến. Cả một thùng lớn, cơ hồ có thể nuôi 5 sĩ quan chúng tôi trong một tuần lễ.
Móc hậu nước mới gởi đến, tôi ra lệnh tất cả các khẩu đội phải tiết kiệm tối đa, dự trù cho mỗi binh sĩ 3 ống. Khẩu đội chỉ xử dụng 2 ống dùng để thông nòng đại bác và rửa buồng đạn.
Trên mặt mọi người đều tỏ vẻ bất bình cách tiết giảm nước như thế. Nhưng tôi cương quyết, bắt buộc phải thi hành. Vì trong vài ngày nữa, số nước dự trữ mới hy vọng đủ cung ứng cho công tác và ẩm thực nếu việc tiếp tế bị đình chỉ như đã dự liệu.
Từ đây, trời bắt đầu không còn trăng về đêm. Việc canh gác của Tiểu Đoàn 2 Dù và Pháo Đội được tăng cường tối đa… (Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: KỶ LUẬT CỦA TIỂU ĐOÀN 2 DÙ
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 10-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).
(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Post by Sơn râu 18 Sep 2024
Đối thoại khá lạc quan của Đại Úy Hy trong chương Tâm Sự Tù Binh phản ảnh tinh thần của Quân lực VNCH vào Tết Tân Hợi 1971: Tự tin sau Mậu Thân 1968 và sau Hành quân Toàn Thắng 42 tháng 3-1970 sang đất Miên của Trung Tướng Đỗ Cao Trí. Tuy nhiên, vì không là sĩ quan tác chiến nên có lẽ Đại Úy Hy không nhận ra việc Bắc quân ném một đại đội trừ tấn công một căn cứ hỏa lực, với các hạ sĩ quan thiếu kinh nghiệm chỉ nhằm ước lượng sức đề kháng, hỏa lực cùng cách bố phòng của phía Nam-Việt. Thí 50 cán binh, với Lê Trọng Tấn, Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 Nam Lào, là một giọt nước. Cách đánh dứ này, Lê Trọng Tấn đã thực hiện tại Ao Trạch, Tu Vũ, Xóm Pheo, Hòa Bình 1951. HopaHòa Bình [Trần Vũ]
—oOo—
Trương Duy Hy
CÁNH THƯ NHÀ
Rạng ngày 13-2-71, trong bữa điểm tâm với Trung Úy Lân, bất giác tôi cảm thấy lo ngại. Tình hình chạm địch ngày càng gia tăng. Sau khi hội ý, chúng tôi đốc thúc nhân viên các khẩu làm nắp các hầm đạn và nạp quanh ụ súng, đổ đất dày, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài. Riêng các hầm đạn chính, vì quá rộng đành phải để lộ thiên.
Ngay trưa hôm nay, chúng tôi hoàn tất Đài Tác Xạ, hầm ngủ sĩ quan, hầm ngủ binh sĩ… tất cả trông có vẻ kiên cố lắm. Mỗi hầm có hai cửa ra vào.
Chúng tôi được BCH/TĐ can thiệp với Pháo Binh Dù, chỉ thị cho Pháo Đội C3 của Trí cung cấp cho chúng tôi một số thùng gỗ, song trên thực tế, vị trí PĐC3 Dù cần rất nhiều để thực hiện hầm, nên chúng tôi xin cũng không được bao nhiêu. Âu đó cũng là cái may sau này… Chúng tôi xử dụng tối đa dữ liệu tác xạ cơ hữu, nhất là ống sắt và palette nạp cùng cây rừng làm nóc, bên trên chất bao đất và đổ đất thật dày.
Cơm chưa xong, chúng tôi tác xạ cho Đại Đội 321 và 322 của Tiểu Đoàn 2 Dù tung ra xa hoạt động suốt 30 phút. Kết quả được báo về cho chúng tôi ngay: tịch thu 1 B40, 5 AK, 19 xác Cộng quân đếm tại chỗ, 1 tù binh.
Vào lúc 14g00 chúng tôi tiếp nhận thêm 14 “sortie” đạn, nạp và thực phẩm tươi. Trong một thùng carton sữa, vợ tôi gởi cho tôi 3 cây thuốc Ruby, 1 ký lạp xưởng, 1 gói trà và 5 lá thư của vợ tôi cùng 4 đứa con niêm trong một phong bì.
Thằng áp út Trương-Bách-Chiến của tôi, tự ý nó viết “…Ba đi hành quân ở Lào, Ba phải giết thật nhiều Việt cộng, để lúc về con được thấy Ba mang huy chương đầy ngực, nếu Ba không chiến thắng con buồn lắm…”
Vợ tôi, cuối thư lại có câu “…Hàng đêm em cầu nguyện xin Trời Phật phò hộ chồng tôi là Trương-Duy-Hy cùng các bạn đồng đội của Anh gặp nhiều điều may mắn trong nhiệm vụ…”
Vợ tôi nhắc rằng, câu đó cũng là câu cầu nguyện hàng đêm mà mỗi con tôi phải tĩnh tọa đọc lên nhiều lần, tối thiểu là 20 lần trước khi đi ngủ.
Đặc biệt chỉ có Bách-Chiến cầu nguyện khác hơn anh chị em nó. Trong lời cầu nguyện thế nào cũng có câu “…Cầu Trời Phật phò hộ cho Ba con chiến thắng giết nhiều Việt cộng…”
Vợ tôi bảo nó:
– Sao con lại mong cho Ba con giết người! Họ bị thương họ đau đớn lắm! Họ bị giết thì con cái họ mất cha, mất tình thương của bố. Con đã buồn và nhớ Ba khi Ba đi hành quân lâu về, huống gì Ba con không về nữa thì con, anh Thắng, chị Bi, chi Na, em Hảo con khổ biết chừng nào? Họ cũng thế! Sao con lại nghĩ đến giết chóc ghê tởm vậy.
Nó gân cổ cãi:
– Đánh giặc thì phải giết nhiều giặc, phải thắng chứ bộ. Con không muốn Ba thua…
Đôi khi nó lý luận với anh chị em nó về cuộc hành quân sang Lào, tưởng tượng cảnh giao tranh quyết liệt, trong đó Ba nó phải thắng và sẽ trở về lãnh nhiều huy chương…
Trong lúc, ở góc Đài Tác Xạ, Trung Úy Lân đang loay hoay mở một thùng carton, lôi ra, nào là thư vợ, bắp su, lọ cà phê, táo cam và những hộp guigoz đựng đầy đùi gà rôti. Cứ mỗi món nhấc lên là mỗi lần anh ta đọc “món hàng” in như người đang giới thiệu các sản phẩm. Rồi không kịp thu xếp lại, anh ta mở vội lá thư của bà xã mà đọc ngấu nghiến…
Nhìn ra ngoài khẩu, các anh em pháo thủ được thư nhà cũng hí ha hí hửng lẩm nhẩm vừa đọc vừa gật gù trông đến khoái! Nhưng có lẽ đây là chuyến tiếp tế đầu tiên nên đa số gia đình anh em pháo thủ chưa kịp gởi gì lên cho anh em. Tôi cho gọi tất cả anh em Khẩu Trưởng và các Trưởng Ban vào hầm cắt đặt công tác. Nhân dịp tôi đọc đoạn cuối bức thư vợ tôi cầu nguyện cho anh em, đồng thời tôi biếu mỗi người một gói Ruby Quân tiếp vụ. Bấy giờ thuốc hút thật là quý. Nhất là Ruby. Hầu hết anh em đã hút sạch số thuốc mang theo. “Câu lạc bộ di động” của Tiểu Đoàn 2 Dù chỉ có xì dầu, hột vịt lộn, mì rame. Thuốc rất ít, không đủ bán cho anh em Dù nên chúng tôi có tiền cũng đành chịu!
Nghe có món hàng như trên, Lân vội vàng qua “nài” được 20 trứng vịt lộn. Khuya, 5 anh em chúng tôi: Hy, Lân, Ngân, Thiện, Toại, mỗi người 4 quả. Chưa bao giờ tôi ăn ngon miệng đến thế! Lúc ở nhà không khi nào tôi ăn hết 2 quả. Vậy mà khuya nay, tôi ăn hết 4 quả, trông còn thèm! Thiện gặp xui, chàng bị 1 quả ung, chép miệng “than thở”!
Lúc mọi người đã ngủ, chỉ còn ai có phận sự trong phiên gác là đăm đăm mắt quan sát từng lùm cây bụi cỏ ven vị trí… Tôi cài bóng đèn nhỏ vào viên pile phế thải từ chiếc máy PRC-25 đọc lại thư nhà! Tôi đọc thật kỹ! Hình ảnh gia đình đầm ấm hiện dần trong trí tôi với bao nhiêu kỷ niệm êm đềm hạnh phúc… Giờ đây, tất cả đã xa tôi và không biết rồi đây những gì sẽ xảy đến. Bao nhiêu ý tưởng, bao nhiêu câu hỏi bỗng dưng nổi lên buộc tôi phải suy tư về cuộc đời của một lính chiến. Từ lâu, những ngày phép ít ỏi đã giới hạn những gì mà tôi hằng mong mõi có thể giúp đỡ cho gia đình nhiều hơn, bày vẽ cho con cái học hành tiến bộ hơn… tất cả những điều đó thật là dễ dàng thực hiện, vậy mà tôi chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ thực hiện được! Dâng cuộc sống cho Tổ quốc, cho Đại Gia Đình Quân Đội, tôi đã chấp nhận và mặc nhiên chấp nhận hy sinh một phần không nhỏ tình cảm đối với gia đình. Giờ đây, trước địch thủ, trước những thiếu thốn, những vất vả liên tục mà tôi là đầu tàu của các pháo thủ, nhiệm vụ và bổn phận đã vo tròn vào một cái thế gương mẫu chẳng còn đầu óc nào nghĩ đến gia đình. Vì lẽ đó, giữa cái tình của gia đình và bổn phận đã làm cho tôi cũng như các bạn tôi tại đây có những lý lẽ riêng trong suy tư. Nhưng chắc chắn những suy tư ấy sẽ không khác nhau…
…Khí hậu Hạ Lào lạ và độc, khắp người tôi ghẻ bắt đầu tác oai tác quái. Dù vậy, tôi cũng không dám xử dụng nước để tắm! Hàng đêm, múc khoảng một nón sắt nước, dùng khăn lau qua loa… Ban ngày nắng lên, bụi đất bám đầy người càng làm cho da thịt xót xa khó chịu. Các pháo thủ có vài người không chịu nổi khí hậu đã bắt đầu rên rét trong những cơn rét rừng viễn xứ.
TÂM SỰ TÙ BINH
Tảng sáng ngày 14, khi mặt trời vừa ló trên đỉnh núi phía Đông, Đại Đội 321 và 322 của Tiểu Đoàn 2 Dù lại chạm súng mạnh với địch. Tiếng súng cối hòa lẫn với tiếng nổ của AK, M79, lựu đạn dòn dã vọng lại từ hai tiền đồn Đông Nam… Chúng tôi thi hành tức khắc yểm trợ cho hai đại đội này.
Mãi đến 10g00 trưa tiếng súng mới im bặt. Tôi qua BCH/TĐ 2 Dù gặp Đại Úy Hạnh, Trưởng Ban 3, đang liên lạc máy. Đại Úy Hạnh cho biết kết quả sơ khởi do hai Đại Đội trên vừa tịch thu được: 4 AK, 16 Việt cộng chết tại chỗ, 1 Thượng liên, 1 Thượng sĩ Việt cộng bị bắt làm tù binh.
Tôi ngồi tại đấy đấu láo với Đại Úy Hạnh trọn một tiếng đồng hồ chờ trực thăng đến vận chuyển chiến lợi phẩm và tù binh từ tiền đồn về.
…Tôi xin phép ra gặp Thượng sĩ tù binh — Cùng lúc, Trung Úy Trưởng Ban 2 đang lấy lời khai. Được biết Thượng sĩ ấy tên là Thanh, khoảng 25, 26 tuổi, tuy bị thương nhưng Thanh vẫn còn tỉnh táo, nói giọng Bắc nhỏ nhẹ.
Tôi chờ cho Trung Úy Ban 2 làm xong nhiệm vụ, tôi ghé hỏi vài câu… Đồng thời, chiến lợi phẩm được tiếp nhận đưa vào BCH/TĐ. Tôi liếc nhìn thấy có nhiều bi-đông và các binh sĩ Dù cho biết trên mỗi xác chết đều có 2 bi-đông: 1 đựng rượu, 1 đựng chất nước đắng và 1 mặt nạ phòng hơi độc, hơi cay.
Tôi hỏi Thanh:
– Anh lên Thượng sĩ bao lâu? Do công trạng gì?
– Tôi mới mang cấp bậc Thượng sĩ vài tháng nay vì có công chuyển vận các tiếp liệu phẩm vào Nam Việt Nam và Campuchia.
– Tết vừa qua anh ăn Tết ở đâu? Có được về với gia đình không?
– Đã sáu năm nay đi công tác, chúng tôi nhớ gia đình lắm nhưng không được về thăm nhà vì công tác của nhân dân giao phó nặng nhọc và liên tục.
Tôi sực nhớ mấy cái bi-đông lúc nãy, nên nhân tiện tôi hỏi tiếp:
– À, còn hai bi-đông mà binh sĩ các anh dùng, sao lại một cái đựng rượu, một cái đựng chất đắng?
– Bi-đông đựng rượu kẻ có người không, ai thích rượu thì được cấp thêm cho, còn không thích rượu thì có thể dùng đựng nước suối uống. Riêng bi-đông đựng chất nước đắng, mỗi chúng tôi đều có, khi lâm chiến. Chúng tôi dùng nó để khỏe người và tăng thêm can đảm khi tấn công các anh.
– Anh có biết đơn vị chúng tôi đang hoạt động ở đây là đơn vị Nhảy Dù thiện chiến không? Và các anh đã dùng bao nhiêu quân tấn công vào tiền đồn của chúng tôi?
– Chúng tôi biết lực lượng của các anh là lực lượng Dù do các vị chỉ huy tôi bảo thế. Vừa rồi, trước khi đi đánh các anh, cấp chỉ huy của chúng tôi cho biết các anh bị chúng tôi pháo kích bằng súng cối 82 ly, 57 ly (đại bác trực xạ của bộ binh) mấy hôm nay đã chết gần hết. Bây giờ, chỉ còn 5, 6 người trong đồn, nên lực lượng tấn công vào các anh sáng nay, chúng tôi chỉ dùng 1 K (bằng 1 đại đội).
– Quân số 1 K của anh bao nhiêu?
– Khoảng 50 người, 47 hoặc 48.
– Anh nghĩ thế nào trước và trong khi chiến đấu?
– Khi nhận lệnh, chúng tôi đều tin tưởng chiếm đồn các anh dễ dàng, nhất là được cấp chỉ huy cho biết số quân giữ đồn 5, 6 người đã mất hết tinh thần. Chúng tôi ra đi hăng hái lắm, cứ tính làm sao bê cho hết các chiến lợi phẩm về nạp cho Bộ Chỉ Huy. Nhưng khi lâm chiến, chúng tôi vô cùng kinh ngạc! Các anh đông và chiến đấu ác liệt quá!
Thoạt tiên, sau loạt đạn khai hỏa của bọn tôi, các anh vứt quả gì tròn tròn nổ chát tai, mảnh văng tung tóe, xong các anh bồi thêm cối vào chúng tôi – Cối quá nhiều! Chúng tôi chỉ nghe tiếng nổ khủng khiếp của hai loại vũ khí này chứ không nghe tiếng súng nhỏ tiểu liên. Vì vậy, chúng tôi không biết các anh nấp ở hầm nào đánh chúng tôi, nên chúng tôi không còn kịp dùng B40 và 57 chống trả.
– Lúc đó các anh có sợ lắm không?
– Dạ sợ! Các anh cối liên tục, chúng tôi không ngóc đầu được. Lại cấn thế đất, vì chúng tôi dự định sau khi khai hỏa sẽ ào lên đồn, nhưng triền núi quanh đồn dốc quá, đành phải nằm lại chịu trận. Tôi nhìn quanh thấy các bạn đồng đội bị thương và chết gần hết. Kế đó, tôi cũng bị thương, không chạy lui được nữa. Tôi lết đến bụi cây nằm sát vào bục đất nghỉ đỡ. Quanh tôi vẫn không dứt tiếng nổ ầm ầm, lửa chớp, đất bụi tung khắp nơi… Sau đấy, chờ cho tiếng súng im hẳn, tôi lắng tai nghe động tĩnh… Chỉ có tiếng rên rỉ, hấp hối của binh sĩ bên chúng tôi làm cho tôi thêm sợ. Tôi không tin tôi có thể sống, nếu phải đợi đến tối bò về Bộ Chỉ Huy vì máu ở vết thương ra nhiều.
– Sao anh không lên tiếng đầu hàng khi bị thương?
Anh ta nhếch mép cười:
– Đánh nhau làm sao xin đầu hàng được. Vả lại, dù có xin đầu hàng cũng không thể sống được với đồng đội, họ sẽ xử tôi ngay. Nhưng may, sau đó các anh lục soát gần đến chỗ tôi nấp. Trong tích tắc, ý nghĩ đầu hàng hiện trong trí tôi. Tôi đánh liều lên tiếng xin các anh đừng giết tôi. Tôi được các anh vội vàng đến khiêng vào đồn, băng bó vết thương ngay. Tôi thật tình cảm động như chính các anh sinh ra tôi một lần nữa!
– Thế anh có hận gì cấp chỉ huy của anh không?
Đăm chiêu và im lặng trong giây lát, anh chậm rãi trả lời:
– Chúng tôi đã bị lừa dối trước khi xuất quân. Bây giờ biết thì đã muộn rồi!
– Hỏa lực cá nhân của các anh mang theo nhiều không?
– Chúng tôi mang theo đủ loại B40, 57, AK, thượng liên…
– Đạn dược dồi dào không?
– Mỗi khẩu AK được phát 3 băng đạn. Chúng tôi cận chiến trang bị nhẹ vừa đủ xử dụng tấn công chớp nhoáng vào các anh thôi.
Tôi lắc đầu tiếp:
– Tội cho các anh thật, chắc các anh không biết là các anh đã lầm lẫn một cách tai hại. Mỗi vị trí đóng quân của chúng tôi, chung quanh biết bao nhiêu mìn chống biển người. Còn đạn dược đối với các đồn cố định, có thể xử dụng suốt cả tháng cũng không hết, thì với vài băng AK làm sao các anh tấn công nổi.
Anh ta gân cổ lên cãi:
– Vì Bộ Chỉ Huy của chúng tôi nhận báo cáo sai về tình hình trong đồn các anh, do đó kế hoạch tấn công không sát với thực tế. Chứ từ trước đến nay chúng tôi thường xử dụng bằng ấy đạn để chiến đấu.
Một ý nghĩ thoáng nhanh trong trí tôi: Thật đáng thương cho số phận của các chiến binh Cộng sản. Họ bị lợi dụng xương máu một cách trắng trợn. Ngay cả việc trang bị hỏa lực cho binh sĩ cũng thiếu sót quá đáng. Ấy vậy mà người lính chiến vẫn cảm thấy đầy đủ quá rồi!
Tôi giải thích cho anh ta:
– Khi nãy anh có bảo chúng tôi sử dụng cục tròn tròn và nhiều cối… đó là lựu đạn và đạn của súng phóng lựu M79 bắn thẳng, chứ ở tiền đồn chúng tôi không mang theo súng cối nhiều như anh tưởng đâu!
Tội nghiệp cho anh ta! Thật tình anh ta không biết các vũ khí đó chứ không phải anh ta giả ngộ. Nhìn trên nét mặt ngơ ngẩn của anh lúc tôi giải thích các “cục tròn tròn” và “cối”, tôi mới hiểu rằng — có lẽ trước đây anh ta chỉ công tác tại các đơn vị tiếp liệu, các trục giao liên, chứ chưa chiến đấu trực tiếp bao giờ (?) Đây quả là lần đầu anh ta tham chiến công đồn! Đồi với anh, những quả “na” vỏ sắt, bên trên có cần làm bằng gỗ mới là lựu đạn. Ngoài ra, lúc tấn công anh đã vào gần sát rào của tiền đồn thì súng cối với đạn đạo vòng cát làm sao sát hại được hiệu quả như thế? Vậy mà anh vẫn nghĩ rằng các bạn anh bị thương và chết vì đạn súng cối! Chả trách các anh em Dù nhận xét “Cộng quân ở Hạ Lào không kinh nghiệm bằng Cộng quân ở Tây Ninh hoặc bất cứ nơi nào tại Nam Việt Nam mà chính anh em đã đụng độ”. Phải chăng miền Bắc đã vơ vét sạch các đơn vị yểm trợ như các ngành Tiếp liệu, Quân nhu,… bổ sung cho đơn vị chiến đấu vì đã hao hụt quá nhiều quân số?
Trước khi rời anh, tôi bảo:
– Thế là may cho anh lắm rồi. Giờ đây đương nhiên anh được săn sóc đầy đủ như một thương binh của chúng tôi. Trực thăng sẽ đưa anh về Quân Y Viện để các bác sĩ tận tâm cứu chữa. Tôi hy vọng vết thương của anh chóng lành…
Các binh sĩ Dù quây quần lại hỏi han, kẻ cho thuốc hút, người cho thức ăn, nước uống. Có anh mời cả cà phê, nhưng vì không quen dùng cà phê, Thanh nhấm một tí rồi xin lỗi từ chối.
Nhìn vào cử chỉ hào hiệp đó của binh sĩ Tiểu Đoàn 2 Dù, tôi cảm động hơn bao giờ hết. Bài học lúc còn ngồi ghế trường Trung Học Phan-Châu-Trinh Đà Nẵng hiện lên rõ trong óc tôi:
…Con ơi! Một ngày kia con sẽ đi lính. Nếu phải đi đánh giặc, thì con phải đánh thật hăng say. Vì đó là nhiệm vụ của con, nhưng khi chiến trận chấm dứt, nếu kẻ thù của con bị thương, con nên coi họ chỉ là một người anh em khốn khổ… Con hãy thương xót họ, săn sóc họ, an ủi họ. Có lẽ con sẽ xứng đáng nếu một ngày kia, con cũng bị thương mà được một kẻ thù săn sóc và an ủi con. Con ơi! Đó là tình nhân loại vậy. (BERSOT)
Chính Giáo sư Trần-Ngọc-Quế bắt tôi dịch ra Việt Văn trong bài:
…Enfant, tu seras soldat un jour. S’il t’arrive de te battre, tu te battras en conscience, parce que c’est ton devoir, mais une fois le combat fini, si ton ennemi est blessé, ne vois plus en lui qu’un frère malheureux… Aie pitié de lui, soigne-le, console-le. Tu mériteras peut-être que, si toi aussi, tu tombes un jour blessé, il vienne un ennemi qui te soigne et te console. Cela, mon enfant, c’est l’humanité. (BERSOT)
Hẳn Giáo sư Trần-Ngọc-Quế không ngờ rằng – ngày nay, đứa học trò 18 năm về trước của Giáo sư đang chứng kiến “Tình Nhân Loại” ấy ngay trận địa quyết liệt ở Hạ Lào, trong khung cảnh ngập đầy máu lửa, giữa rừng thiên nước độc, đèo heo hút gió này! Mà hào hùng và đẹp đẽ thay, “Tình Nhân Loại” đó lại được nảy nở trong lòng các chiến binh Thiên Thần Mũ Đỏ.
Tôi tin rằng những lời an ủi của tôi và những hành động vô cùng nhân đạo của binh sĩ Dù — ít ra cũng xoa dịu được phần nào vết thương trên cơ thể của Thanh — một cừu địch của chúng tôi trước đây vài tiếng đồng hồ!
Rời Thanh, tôi tìm gặp Trung Tá Thạch bày tỏ lòng hân hoan của Pháo Đội tôi qua các chiến thắng liên tiếp vừa xảy ra. Tôi ao ước có một khẩu AK để làm kỷ niệm, Trung Tá hứa cho!
Cùng ngày này, Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân hoạt động ở Đông Bắc, cách chúng tôi khoảng trên 4 cây số, chạm địch lẻ tẻ. Tuy chúng tôi không có nhiệm vụ yểm trợ cho Biệt Động Quân nhưng vẫn biết tin tức là nhờ hệ thống liên lạc của BCH/TĐ2 Dù. Việc yểm trợ trực tiếp cho Biệt Động Quân do Tiểu Đoàn 64 Pháo Binh và vài pháo đội khác tăng cường đóng ở Phú Lộc (nằm sát ranh giới Lào-Việt, trên lãnh thổ Việt Nam) phụ trách mà tôi không được rõ.
Khoảng 15g00, 16g00 Tiền Sát viên cánh BĐQ lại vào máy xin tôi tác xạ (qua Sĩ quan Liên lạc Phú Lộc). Tôi phải gọi Bạch Phú (Danh hiệu của Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù) ở căn cứ Hỏa Lực 31 trình bày trường hợp này. Đồng thời tôi yêu cầu cho tôi được phép giúp đỡ cho BĐQ. Ngỏ lời cùng tôi, Bạch Phú không bằng lòng, vì việc yểm trợ đã được quy định rõ trong lệnh hành quân rồi. Tuy nhiên, cuối cùng Bạch Phú cũng thuận cho tôi hướng 2 khẩu yểm trợ và bắt buộc tôi, sau khi chấm dứt tác xạ phải lập tức quay súng về hướng chính, sẵn sàng tác xạ cho các cánh quân đang bảo vệ căn cứ Hỏa Lực 31.
Đồng thời với những tác xạ này, pháo đội tôi còn phải tiếp nhận đạn do Chinook mang đến khoảng 1000 quả.
Thấy pháo thủ mệt mỏi quá, tôi lại phát thêm trái cây, gạo sấy! Nhờ đó anh em cũng đở dạ phần nào, ngoài những bữa ăn chính sau các công tác nặng nhọc.
(Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: NHỮNG LỜI NGỢI KHEN CỦA THƯỢNG CẤP VIẾNG PHÁO ĐỘI
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 10-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).
(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Tình hình huyện Đức Trọng bỗng trở nên căng thẳng, đặc biệt khu vực từ Tùng Nghĩa vô Đại Ninh. Sau khi Sư đoàn 304 rời khỏi, nói là về Bắc, lại chuyển qua lấn chiếm Cam Bốt, một trung đoàn của Công Trường 10 Cộng Sản đến thay thế, rải quân khắp các thôn xã, và thêm một đơn vị công an biên phòng đồn trú tại hai buôn Thượng Jirong Tambor và R’chai.
Ban đêm bắt đầu 9 giờ tối, lệnh cấm rất ngặt, nội bất xuất ngoại bất nhập, khiến mọi sinh hoạt của người Thượng phải thu hẹp, đời sống khó khăn. Đã vậy, hai nhà thờ Tin Lành và Thiên Chúa đều bị đóng cửa, không một ai được lui tới hành lễ hay cầu nguyện, để cơ quan hợp tác xã Phú Hội dùng làm kho chứa ngũ cốc, hình thức cấm đạo.
Dĩ nhiên cư dân chống đối, lối chống ngấm ngầm, khi thì ù lì bất hợp tác, lúc công khai nhưng không xuống đường biểu tình như các giáo dân bên Đơn Dương. Thượng R’chai chẳng hề sợ cắt hộ khẩu hay thu hồi sổ mua thực phẩm hằng tháng, nên bọn cầm quyền địa phương càng áp bức họ không nương tay. Cô thôn này quyết tự chủ, trước mọi đe dọa, chấp nhận một trận chiến giữa xà gạc cán tre với súng đạn AK…
Rồi việc gì đến đã đến. Một sáng sớm, đột nhiên tôi nghe mấy phát súng nổ ở R’chai, kế đó, tiếng mõ, thùng thiết lẫn tiếng người kêu la inh ỏi. Tôi nhìn lên thấy một đám Thượng cầm xà gạc tràn xuống quốc lộ, rượt theo một người mặc đồ bộ đội về hướng trụ sở xã. Thì ra, người co giò chạy trối chết là Nguyễn Lệ, Trưởng Công An Phú Hội. Khi tới góc sân Lệ nhảy phóc qua hàng rào lủi vào nhà tôi. Hắn thở hổn hển như muốn đứt hơi, để khẩu K-54 trên bàn, rồi cột chặt lại sợi dây giày đã bung. Thấy miệng Lệ há hốc, tôi chưa tiện hỏi, hắn đã ngước cái mặt tái mét lên lắp bắp:
– Cho tôi miếng nước lạnh và anh dòm coi bọn Thượng có thằng nào tới không?
Tôi bảo đứa con pha cho Lệ một ly, còn tôi ra ngoài nghe ngóng động tĩnh. R’chai đã yên lặng. Tôi quay vô hỏi:
– Anh mới bắn ai, phải không?
Lệ đáp gọn lỏn:
– Thằng Thượng!
– Bị thương hay chết?
– Chắc chết.
– Sao bắn dân?
Tên công an giương đôi mắt đỏ ngầu:
– Tôi đang công tác kiểm tra nhân khẩu, thình lình nó bóp họng tôi. Coi nè, tôi không bắn sao được?
Lệ ưỡn cổ trước mặt tôi vi bằng. Tôi vừa lắc đầu vừa nghĩ thầm tự tay hắn cào thôi, không phải dấu bóp. Lệ nhát, luôn bị ám ảnh, nhìn ai ở R’chai hay Jirong Tambor, Gia Bá cũng tưởng là Fulro, hoặc tàn quân, nên khi thấy cử chỉ nạn nhân có vẻ khác thường là rút súng bắn ngay, bắn vô tội vạ.
– Vậy anh có bị phạt không?
– Bất quá mấy ổng đổi tôi về Quảng Ngãi. Tôi đi nghe!
Nguyễn Lệ đứng dậy, bước nhanh ra cửa, mắt láo liêng, chốc chốc ngó lui như sợ ai túm cổ. Một lát sau các cán bộ xã huyện, du kích hộ tống, rần rần kéo lên R’chai, và chẳng bao lâu họ quay về. Tôi vẫy tay gọi thằng nhóc Tú du kích, con bà Sáu nhà đầu xóm, đi lẽo đẽo sau cùng, lại hỏi cớ sự.
Tú cho hay:
– Anh Lệ bắn người Thượng khùng toét óc luôn. Dân chửi quá trời! Họ định làm to chuyện, huyện phải năn nỉ, hứa cho tiền chôn cất.
– Vậy sao? À, tôi nhớ rồi, cái thằng tàng tàng đó! Lý do gì ổng bắn nó, biết không?
– Anh Trưởng ban khai là nó bóp cổ ảnh. Hồi sáng nó tải bắp mướn. Khi mang một gùi nặng cả trăm ký, luôn luôn họ cầm cây gậy để khi đứng nghỉ, chống dưới đáy gùi cho nhẹ. Thằng Thượng đang trong tư thế đó thì tình cờ anh Nguyễn Lệ đi ngang trước mặt, đúng lúc nó nhớm người lên lấy cây gậy phía sau để di chuyển. Anh Lệ hoảng hốt, tưởng đâu nó vung xà gạc chém, liền rút súng bắn nguyên một băng K-54 nó nhào trái.
Đó là lời tường thuật của ông Ha Dú, chứng kiến sự cố từ đầu, công an huyện Đức Trọng lập biên bản. Cháu thấy xác nằm úp, chúi xuống vũng máu chết, bắp văng tung tóe, cái gùi thì đè trên lưng, không có dấu hiệu chứng tỏ nó bóp họng anh Lệ. Tội thiệt!
Tôi lắc đầu:
– Ông Trưởng Ban Công An Xã thế nào cũng tù.
Tú nhún vai:
– Mấy ông giải phóng trong rừng ra, tù gì? Bị kiểm điểm thôi. Năm ngoái, anh Cường xã đồn trưởng du kích, phơ một người nơm cá dưới thác Gu-ga rồi cũng huề. Dân R’chai giờ thù người kinh lắm! Chú chớ lên mua lúa mua gạo nữa.
Tôi cười và vỗ vai tên du kích dễ thương:
– Kinh là gọi chung người miền xuôi chúng ta, Thượng chỉ thù “cách mạng” thôi. Dân R’chai, như vợ chồng Ha Dú hay làm mướn cho tôi. À này Tú, mấy lúc tại sao du kích rình rập nhà tôi hoài vậy?
– Không nhớ rõ ai, bảo tụi cháu cứ vài đêm lên đây theo dõi coi, “ông cụt chân có hoạt động chống phá cách mạng không”. Rình mãi, thấy bình thường, nghe chú dạy mấy đứa nhỏ làm toán. Có hôm tự nhiên chú quát to: “Bị cướp hết rồi, tao còn con ‘kẹt’ gì nữa mà rình”. Tụi cháu lật đật xách súng chạy xuống cầu ôm bụng cười. Về cơ quan kể, các ông cũng cười lăn luôn.
Chú gan thiệt. Đợt chiến dịch hớt tóc tháng trước. Anh Bí thư bảo toán du kích đứng canh ngoài đường, gặp thanh niên nào tóc dài quá cỡ thì xỡn cụt. Chú từ Tùng Nghĩa về bị chặn vì tóc phủ xuống cổ áo, nhớ không? Đội trưởng Tiêm có giải thích việc phải thi hành, chú lại sừng sộ: “Nè, cắt cái đầu tao rồi tụi mày hớt”. Cự xong chú tống ga chạy tỉnh bơ. Sau, mỗi lần gặp chuyện cần, anh Lệ sai đi mời chú là Tiêm hay Thái đều lắc đầu Người ta đồn chú có gốc lớn, nhà bác Ba, mẹ chú, lúc nào cũng có cán bộ tỉnh chạy xe con xuống thăm…
Nghe Tú du kích xổ ra tôi khoái chí. Tôi làm bộ vênh cái mặt và nói úp úp mở mở, gián tiếp hù nó chơi:
– Ứ, gốc tôi lớn lắm, đằng sau trối gì! Nhưng mà phép vua thua lệ làng, Tú à!
– Giỡn chú, khi mưa lúc nắng có dù che, đỡ khổ chứ?
Tôi vừa cười vừa nói như thật:
– Tôi không cần ai che hết, chấp nhận khổ để tự lập.
– Thôi, trưa rồi, cháu xin phép về.
Dứt lời, thằng nhóc Tú vác khẩu AK47 muốn xệ một bên vai, đi thẳng xuống cây cầu đúc, nơi năm ngoái nó cùng đám du kích xã Phú Hội đứng ôm bụng cười khi nghe tôi văng tục, trỏ “kẹt” chúng nó.
Tú vừa đi, thì HT con ông bà Đắc, đột ngột đến. Không rõ đến với tin lành hay dữ, mà mặt chú em, người cùng HL từng mở các trận chiến bằng “đạn lòng” tấn công tôi tới tấp lúc ở chung, ra vẻ nghiêm nghị. HT bước vào, để cái xách tay dày cộm hồ sơ trên đầu phản, rồi nói:
– Em đi công tác Tùng Nghĩa về thẳng đây thăm anh.
– Công tác gì?
– Lập danh sách các tư nhân có xe bốn bánh, máy cày để nhà nước thu mua quản lý…
Gặp cơ hội tôi giũa ngay:
– Quản lý tức hình thức tịch thu, chuyển tên nhà nước làm chủ, có trả tiền đâu mà gọi là mua với bán? Kìa, ủy ban nhân dân xã lấy của người ta hàng trăm chiếc máy cày về bỏ phế ngoài trời cho mưa nắng. Đất đai, nhà to cửa rộng sung công chưa đủ, sắp tới các đại gia súc trâu bò cũng sẽ dắt nết…
Chợt nhớ hôm đầu năm tôi vẫn khẳng định vấn đề đó, và bọn cầm quyền có chủ trương bần cùng hóa nhân dân, thì HT vặn vẹo rằng tôi nói vô bằng cớ, nay gặp dịp tôi nhắc:
– Chú lập danh sách bao nhiêu nhà rồi?
– Phần em xưa rày trên vài chục. Chờ kiểm kê xong mới định ngày gom góp các thứ.
– Cách đây không lâu tôi nói chính sách của chủ nghĩa xã hội này dần dần sẽ tịch thu hết các tài sản lớn của nhân dân, chú phản đối, bảo tôi chứng minh điều đó là sự thật, thì bây giờ đã rõ, chú vừa xác nhận bằng giấy trắng mực đen nơi cái cặp hồ sơ của chú đây…
Tôi lấy điếu thuốc đốt hút rồi lên lớp hắn tiếp:
– Chú đâu biết, theo Cộng Sản mà không hiểu Cộng Sản là một cái tội đối với chúng! Stalin đã bắn vỡ sọ một tùy viên của hắn chỉ vì nạn nhân chưa quán triệt, kinh qua chủ trương, đường lối Marxist. Đó là lý thuyết, tư tưởng xa vời, thực tế thì, tội nghiệp chú, vì hư danh, tư lợi nhất thời khiến chú mù quáng tiếp tay cho một lũ hèn từ phương Bắc xâm lăng miền Nam với mục đích duy nhất là cướp tài sản của dân mà thôi?
Cậu Tú, đậu tú tài phổ thông IBM (A, B, C khoanh) niên học 1973-1974, mặt xanh dờn, đâm ra ấm ớ:
– Em không thể làm khác khi muôn người như một.
– Tôi không bảo chú làm khác chủ trương của Đảng, chú phải thi hành, nhưng có cái vô nhân đạo không nên đồng lõa. Tôi muốn nói đến tình gia đình. Ví dụ năm ngoái, lúc tôi còn ở chung nhà, ba chú vừa đuổi ruồi vừa quát: “Đuổi, đuổi cho bọn Biệt Động Quân rớt phăng xuống biển”. Nghe vậy, chú cũng khoái chí cười ha hả trên sự đau khổ người khác. Xách mé quá hạ cấp. Chi vậy? Nhiều lắm tôi không nhớ hết.
Chú đừng nghĩ tôi phản động, chống đối tư tưởng chú, tôi chỉ nhắc đạo làm người, ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây, đừng phản tặc. Còn chú nói muôn người như một? Nhìn chung thì tất cả đồng dạng, cùng màu da giống máu, nhưng chưa chắc đồng tâm đâu. Xin lỗi, tôi không bao giờ nằm trong số muôn người theo lối chú nói. Dứt khoát, không những tôi dị mộng, mà còn chẳng đồng sàng với ai trong cõi ta bà này…
Đang lúc hai anh em hục hặc nhau thì Út R’chai bước vô. Thấy HT mang khẩu K54 bên hông, bản mặt chăm vằm, ngồi một đống nơi giường, Út không dè dặt, nhếch miệng cười nói tỉnh bơ:
– Vân lên coi kìa!
– Coi gì?
– Cô chủ quán ở Định An, gần R’chai, vừa bị bộ đội Sư 10 hiếp xong giết luôn.
Tôi trố mắt:
– Hồi nào?
– Đêm qua. Sáng nay mới phát giác.
– Sao biết thủ phạm là bộ đội Sư 10 Cộng Sản Bắc Việt? “Cách mạng” mà cũng dữ vậy à!
Út đưa tay chỉ về hướng nam:
– Đây vô Đại Ninh, qua khỏi R’chai, cái quán nằm trong dãy nhà bên trái đường, cô vừa bán hàng vừa may vá. Chỉ có bộ đội thường xuyên tới rồi xảy ra chuyện “bề hội đồng”. Ác độc nhất, tập thể hãm xong, chúng lấy cây nọc dí vào âm hộ nạn nhân cho chết. Sáng nay một số đã bị bắt. Đồng bào làm reo, đòi trừng phạt ngay tại chỗ, nhưng các sĩ quan họ nói bộ đội phạm pháp phải đem về Bắc xử. Chắc để tránh tiếng…
– Chứ. gì nữa, chuyện xấu của những bộ mặt giả nhân giả nghĩa chẳng lẽ phô ra tại vùng đất mà họ vào để giải phóng hay “phỗng gái” mọi áp bức, nô lệ, phải không HT? Đi, mình đi coi, Út!
HT đứng dậy:
– Coi gì ba chuyện bậy bạ. Thôi, em về.
Tôi cười:
– Chuyện “nhất trí, muôn người như một” sao bậy?
HT vội xách cặp vừa bước ra khỏi cửa vừa lằm bằm trong miệng: “Nói móc hoài”.
Út nhìn tôi:
– Bộ muốn đi xem thiệt hả?
– Tôi nói vậy để đuổi khéo cái thằng cách mạng 30, chứ xem gì. Hồi nãy Út chưa đến, tôi đã dạy nó một bài học.
– Kỳ trước anh kể bốn cha con chú này luôn luôn sinh sự với anh chứ gì?
– Ừ! Trở lại vấn đề. Thường thì quán đó bán tới mười giờ tối cô ta đóng cửa vô nhà cha mẹ phía sau ngủ mà?
– Đêm đại nạn, ông bà già đâu biết, tưởng cô ta bận may đồ gấp nên thức khuya. Sáng ra mới hay sự thể. Sư đoàn 10 tới thay Sư 304 tháng trước, chưa gì đã lòi đuôi chồn. Còn vụ công an Lệ bắn chết thằng em Ha Dú R’chai nữa.
– Còn bắn dài dài. Như Út biết, nghĩa địa sau lưng nhà tôi đây chúng lôi người vào bắn khá bộn rồi…
Bỗng Út làm mặt nghiêm:
– Hôm qua Trung úy Cẩn công an ghé tôi chơi có đề cập đến Vân. Hơi bất ổn.
Nghe Út nói, tôi hiểu ngay một phần những điều tôi nghĩ từ lâu Tuy nhiên, để rõ thêm tôi hỏi Út:
– Bất ổn chuyện gì mà ông Cẩn lại nói với Út?
– Nghe sao tôi nói vậy, đừng buồn. Trong lúc ăn trưa Cẩn có nhậu vài ly rượu chanh. Anh ta nói Vân có lắm vấn đề, cơ quan Cẩn đang theo dõi. Ví dụ, anh cho hai đứa con, Phương và Trang, thôi học, vì ngại tụi nhỏ sẽ ảnh hưởng văn hóa mị dân, đầu độc trẻ thơ. Anh công khai nêu dẫn điều đó với ông Hiệu trường trường Tiểu Học Phú Hội. Lần khác, anh đang ngồi trên chiếc Honda ba bánh của anh đậu trước trụ sở xã, có một nhóm thanh niên đi làm thủy lợi đứng nhìn. Thấy anh tàn phế họ tỏ ý thương, anh lại nói to: “Đời lính tôi đã giết cả ngàn kẻ thù, nay cụt hai chân tôi vẫn còn lời chán”. Ông Cẩn còn kể, mới đây anh dám kêu đích danh Trưởng công an xã Lê Thanh Tùng, vừa lên thay Nguyễn Lệ, ra chửi thậm tệ trước mặt mọi người tại cửa hàng hợp tác xã mua bán…
– Rồi ông Cẩn kết luận sao?
Út tỏ vẻ lo lắng cho tôi:
– Qua cách nói, tôi biết ông Cẩn cảm tình anh, nhưng về quan điểm chính trị anh có thể bị ghép tội. Nặng nhất là anh sỉ vả tên cán bộ người Bắc Hiệu trưởng trường Tiểu Học Phú Hội..
– Tôi nhớ mọi chuyện. Tôi phản đối lối giáo dục, bắt học trò lao động, một tuần lễ hết ba ngày dầm mưa dãi nắng để cuốc đất trồng khoai, tỉa bắp; vô lớp thì cứ hát ca ngợi các ông lớn nhiều hơn học, những bài tập đọc thì chửi lại cha mẹ anh em. Ngày dắt hai con về, tôi nói thẳng với cô giáo đặc trách lớp và ông Hiệu trường: “Tôi không muốn con tôi ảnh hưởng một nền giáo dục u ám, như đám mây đen, che khuất những hình ảnh tươi đẹp của quê hương”. Nghe nói thẳng mặt vậy, dĩ nhiên chúng không hài lòng. Không sao. Cám ơn chú báo tôi biết tin tức đó. Tôi sẽ bán nhà dọn đi nơi khác, tôi chẳng muốn ở đây thêm chút nào nữa.
Trước khi ra về, người bạn lâu năm nắm tay tôi, nói bằng một giọng buồn buồn:
– Với chế độ này anh là cựu sĩ quan VNCH khó yên thân.
o O o
Vừa ra khỏi Bảo Lộc, con phố buồn quen thuộc, nơi ngày xưa tôi đã đôi lần dừng chân sau các trận đánh cao nguyên, khi còn phục vụ ở Tiểu đoàn 11 Biệt Động, tôi vặn thêm tay ga cho xe chạy nhanh hơn. Chung quanh, núi đồi trùng điệp, vắng lạnh. Bức tượng trắng Mẹ Maria trên vách đá, dấu đạn của kẻ vô thần bắn lỗ chỗ hai bên gò má, nhưng khuôn mặt Mẹ vẫn còn rõ nét hiền từ, nhìn thế gian đầy hiểm ác. Dù tôi ngoại đạo cũng cầu xin Đức Mẹ cho tôi qua khỏi chốn này bình an.
Đang chạy, rờ-mọt đằng sau bỗng chao đảo, khiến chiếc Honda ba bánh bị tròng trành lắc mạnh rồi nằm nghiêng vẹo, như được ai ghìm giữ ở vị thế chênh vênh sát miệng hố thẳm rất lâu. Tôi nghĩ chắc thần linh cứu độ. Khi hoàn hồn tôi mới nhớ đây là đèo “Ba Cô”, con dốc chúi nhủi giữa tuyến đường QL20, nơi ba cô gái bị xe trút chết bất đắc kỳ tử, linh thiêng.
Nhìn xuống chân đèo sâu hút mây phủ ngập, với hai chiếc xe chở nặng người và đồ đạc, thắng lại không ăn, tôi thấy rõ nguy cơ trước mắt. Nhưng trên bước đường cùng xuôi nam tôi phải lao đi, rồi bốn cha con ghì chặt nhau thả dốc mà như bay bổng, tưởng chừng không bao giờ hạ cánh.
Sau mấy tháng giận nhau, vì trong gia đình có sự bất đồng chính kiến, sáng nay bà mẹ nuôi tôi nhắn tôi xuống. Chắc có chuyện cần. Vừa tới ngõ tôi thấy nơi sân trước, dượng Hồ Cũ, đời chồng sau của mẹ tôi, đang ôm hôn ríu rít một người đàn ông lạ mặt. Mẹ tôi thì đứng bên cạnh, như chờ đến lượt mình, miệng cười cười nói nói huyên thiên.
Để họ khỏi bận tâm, tôi chạy lủi chiếc xe Honda ba bánh vào đậu ở góc vườn, dưới bóng râm của giàn mướp, rồi ngồi nhìn vu vơ.
Vị khách kia là ai, liên hệ thế nào, mà cử chỉ ba người rất hồ hởi, bày đặt ôm nhau nâng nựng theo kiểu cách chủ nghĩa xã hội miền Bắc?
– Lâu quá, mình nhớ Diệu hết sức!
Nhân vật tên Diệu, tuổi trạc 60, dáng thấp, hơi mập, trắng trẻo, choàng tay lên vai dượng Cũ:
– Diệu cũng nhớ Cũ lắm? Ông bà được mấy cháu?
Dượng Cũ cười hì hì:
– Chỉ hai trai thôi. Sao biết nhà ở đây?
– Diệu từ Hà Nội vào công tác, vừa ghé thăm đồng chí Hồ Nghênh, Chủ tịch ủy Ban Quân Quản Đà Nẵng, cũng để xin địa chỉ Cũ.
Mẹ tôi lấy miếng thuốc rê trong miệng ra và nhổ bãi nước trầu xuống gốc cây vạn thọ xong, bà quay nhìn vị khách:
– Mấy năm chiến tranh, tụi tôi nhiều lần tìm cách liên lạc ra Bắc hỏi thăm Diệu nhưng bọn địch trong này quá ác ôn…
Chợt nhớ tôi dưới giàn mướp, mẹ bỏ lửng câu nói xấu chế độ cũ miền Nam. Rồi cả ba dìu nhau vào nhà, khép kín cửa. Quả thật tôi là cái gai nhọn của gia đình.
Nghe cách xưng hô Diệu Diệu, Cũ Cũ, tôi có cảm tưởng họ đang sống lại thời son trẻ. Buồn tình tôi trở về, nằm duỗi dài trên giường, suy nghĩ lung tung.
Tức quá, sáng sớm hôm sau dù sương mù còn dày đặc, tôi vội chạy đến dừng xe ngay trước cửa. Tôi cung kính cúi đầu chào ba người đang trò chuyện nơi bàn giữa, và lết vào kéo ghế ngồi kế vị khách tên Diệu.
Mẹ tôi cười đưa:
– Hôm qua bận rộn me quên giới thiệu, đây là cậu Diệu ở Hà Nội về thăm.
Sẵn bực mình lẫn thành kiến từ lâu với những tên tập kết theo giặc, nay hồi kết, tôi cố tình giọng nhựa nhựa:
– Có gì quan trọng đâu me!
Biết tôi nổi quạu, không chú tâm tới ông “cậu” ngoài Bắc về, mà ai cũng muốn tôi phải tay bắt mặt mừng, nên dượng Cũ nói:
– Thi sĩ Xuân Diệu đó Vân! …
Tôi giật mình. Cụm từ vỏn vẹn có bốn tiếng nghe rất xa xăm, thuở học trò còn mơ mộng, nay bỗng dưng như có thần lực thúc đẩy, tôi xoay qua vừa nở nụ cười vừa nắm chặt tay ông một cách tự nhiên:
– Hân hạnh được gặp cậu. Thì ra… cậu là Xuân Diệu, Ngô Xuân Diệu. Vậy mà mẹ cháu chẳng hề nhắc tới.
Nhà thơ có tên tuổi trong văn học vỗ vai tôi:
– Vân là gì của Cũ và chị Ba nhỉ?
Dượng Cũ đáp:
– Con riêng đời chồng trước của nhà Cũ…
Mẹ tôi xen vào:
– Để khi nào tôi kể rõ Diệu nghe, chuyện dài dòng lắm? Đại khái tôi với ba nó thôi nhau, sau ảnh chết, còn Vân lưu lạc hồi nhỏ. Đến năm 1970, hai mẹ con gặp lại tại Đà Nẵng, thì Vân đã là lính “ngụy” rồi. Cứng đầu lắm, không ai nói nó nghe.
Cứng đầu, tôi cứng đầu việc gì chứ? Bà nói tắt ngang làm Xuân Diệu chau mày. Câu chuyện mẹ vừa kể quá “đại khái”, thoạt nghe như bản tóm lược từ một truyện tiểu thuyết ly kỳ. Chắc bà muốn lấy lòng người em theo Cộng Sản, mà em bà con ra sao tôi chẳng rõ. Mới mất nước một năm, mẹ đã tiêm nhiễm quá nhanh, bắt chước thiên hạ hay dùng tiếng “ngụy”, ngụy quân, ngụy quyền, nhàm chán!
Xuân Diệu nãy giờ ngồi dựa ngửa, tay khoanh trước ngực, đưa mắt nhìn quanh căn phòng, và nghe mẹ nói tôi cứng đầu, tác giả tập thơ tình bất hủ “Gởi Hương Cho Gió”, ấn nhẹ cặp kính trắng gọng vàng sát sống mũi rồi hỏi tôi bằng một giọng miền Trung nhài nhại tiếng Bắc:
– Vân sao cụt chân?
– Dạ, cháu là phế binh chế độ cũ…
– Quân hàm và lính gì?
Đã đoán trước sẽ có câu hỏi đó, thói quen của Cộng Sản, tôi đáp ngay:
– Trung úy Biệt Động Quân.
Xuân Diệu mủm mỉm:
– Biệt Động Quân, lính thế nào?
Tôi đang phân vân, chưa biết giải thích sao cho phải lẽ thì dượng Hồ Cũ, vốn dĩ ghét cay ghét đắng binh chủng này, vội cướp thời cơ nói hớt, buộc miệng xen vào lảng xẹt:
– Loại lính đội mũ nâu, áo quần rằn ri, mang cái đầu cọp nhe răng, dữ lắm!
Xuân Diệu le lưỡi:
– Thế à, chỉ mang cái đầu, còn thân mình đâu?
Bị nhà thơ lãng mạn hỏi móc họng, tôi ác cảm xỏ lại:
– Cậu không biết à? Một giống cọp miền Nam chỉ thích xé nát đối thủ, không thèm ăn, nên chẳng cần bụng.
Tôi vừa dứt lời mọi người cười rồ lên. Chú em tên Hồ Trí, cùng mẹ khác cha, đang ngồi trên giường nơi góc nhà, cũng hả họng. Họ cười phả lấp, cốt để tôi bớt giận, nhưng sẵn trớn tôi phang tiếp:
– Nhiều khi cọp còn ba chân vẫn rượt chạy trối chết hàng trăm thằng. Dượng mẹ cháu biết mà!
Dượng Cũ ngoảnh mặt ra sân, nhìn ngọn núi bên thác Gu-ga. Chắc không ai hiểu ý tôi mượn câu chuyện Tiểu đoàn 42 Biệt Động, chỉ còn ba đại đội đánh tan một tiểu đoàn Cộng quân, khi phá vỡ ổ phục kích của chúng. Vì chiến thắng lừng lẫy đó, đơn vị được tặng biệt danh “Cọp Ba Chân” hay “Cọp Ba Đầu Rằn”, mà về sau, kẻ thù nghe đến là khiếp đởm. Tôi muốn nhắc khéo thêm vụ tái chiếm Sa Huỳnh, Quảng Ngãi 1973. Dượng Cũ biết rõ. Liên đoàn 1 Biệt Động Quân chúng tôi đã đuổi chạy dài hai trung đoàn Cộng Sản Bắc Việt khỏi trận địa, bỏ lại hàng ngàn xác chết quanh bờ đầm Nước Mặn Sa Huỳnh…
Thấy tôi dễ nổi nóng khi bị nói xấc, Xuân Diệu nhẹ nhàng hỏi lảng sang vấn đề khác:
– Vân được mấy cháu nhỉ?
– Sáu đứa, cậu!
Xuân Diệu lắc đầu:
– Miền Nam sanh đẻ quá “tiêu chuẩn”. Tương lai kế hoạch gia đình sẽ được áp dụng triệt để. Đó là chính sách hàng đầu của Đảng và nhà nước đem lại hạnh phúc cho nhân dân, như ở Hungary, Bulgaria… mà Diệu đã đi thăm.
Xuân Diệu nói về cai đẻ một cách say mê, không ngượng miệng. Mẹ tôi nhà dưới xách ấm nước lên vừa châm trà vừa hỏi Xuân Diệu:
– Diệu bây giờ công tác ở bộ nào?
– Bên kế hoạch gia đình.
Tôi vờ ngạc nhiên:
– Thường thì đảng viên lâu năm được nắm chức vụ lớn, quan trọng. Cậu là một thi sĩ danh tiếng, theo Bác và Đảng từ đời nào tới giờ, sao lại làm bên ngành đó? Việc kế hoạch gia đình để giới phụ nữ họ lo chứ?
Bị tôi chê, ông khó chịu:
– Vân không biết. Đó cũng là một phần vụ quan trọng…
Xuân Diệu ngưng, đưa tách trà lên miệng hớp một ngụm xong, ông hạ giọng nói khe khẽ, như để mình tôi nghe:
– Cậu đi làm cách mạng, chứ không theo Cộng Sản. Tuổi Đảng đâu cậu giữ chức vụ lớn?
Tôi khẽ cười và nhủ thầm: “Vào đảng cướp đó cho đắc tội à?” Dượng Hồ Cũ nắm được ý người bạn cố tri, mặt dượng hơi nhăn, ra chiều suy nghĩ một giây lâu mới hỏi:
– Sao vậy, Diệu?
Nhà thơ lặng thinh, không một thoáng buồn.
Thật khó tin. Lý gì ông chối bỏ cái chủ nghĩa Marxist ông đã đeo đuổi phụng sự suốt 40 năm nay? Hay Xuân Diệu, thời trai trẻ, hẳn đã đem lòng nhiệt huyết tham gia các phong trào cách mạng dân tộc, thật sự bài phong đả thực, như bao nhà ái quốc khác Nhưng vì mẻ lưới trí trá của Cộng Sản bủa xuống cuộc đời người thi sĩ tài hoa từ khi rời bỏ xứ mẹ Vạn Gò Bồi, Bình Định, theo cha về quê nội Thanh Hóa, 1937. Tôi không rõ thật hư thế nào, chứ nơi đây có gì đáng ngại ông phải phủ nhận quá trình hoạt động suốt thời gian ông ngoài Bắc, đang lúc biết bao tay mơ, gió chiều nào xoay chiều đó.
Qua những lời tâm sự của Xuân Diệu tôi đổi hẳn thái độ, không những hết thành kiến, còn kính mến, thông cảm ông một thời sống dưới chế độ hà khắc, bất nhân. Tôi tiếp tục gợi lòng trắc ẩn nơi ông:
– Thường thì ai cũng muốn người thân có chức phận. Tài thơ cậu đâu thua kém Tố Hữu?…
– Tài là một việc, tư tưởng trong các tác phẩm mới đáng kể. Khác với Tố Hữu, thi ca chẳng giúp cậu có địa vị, vì cậu không chịu được gò bó. Người ta cho cậu là thi sĩ lãng mạn. Nếu thật, thì càng không thể đóng khung cậu ở bất cứ lãnh vực nào.
Thấy ông cởi mở tôi lạm bàn qua thơ:
– Một nhà thơ lớn từ tiền chiến như cậu, tới nay, chắc còn mãi mãi, được rất nhiều giới độc giả say mê những thi phẩm ngày xưa của cậu. Thế suốt thời gian ngoài Bắc, cậu Diệu có viết bài nào thuộc sở trường trữ tình nữa không?
Ông tháo đôi kiếng xuống, vừa lấy vạt áo lau bụi vừa đáp:
– Thỉnh thoảng thôi. Nếu giữ mãi cái “sở trường” như Vân nói thì tai hại lắm. Năm 1961, cậu làm bài “Biển”. Một lần đi bình bài thơ này, cậu được đãi ăn bữa cháo gà. Chiều cậu sẽ chép tặng Thy Vân.
Tôi lắc đầu:
– Sao buồn vậy cậu? Mười lăm năm chỉ làm được một bài thơ tình?
Mặt trời đã lên cao, chắc đói bụng nên Xuân Diệu muốn nhắc khéo cơm nước chăng? Hay ông thèm một bữa thịt gà thơm phức khi thấy một bầy gà trống lẫn mái ú nú đang nhởn nhơ rỉa cỏ ngoài sân? Sau 20 năm chia đôi đất nước, lần đầu tiên, từ nơi xơ xác về nhìn lại miền Nam trù phú, Xuân Diệu tuy không nói ra chứ trong lòng ngây ngất. Lúc sáng, mẹ tôi làm cho Xuân Diệu một tô mì cua, ông xuýt xoa bảo để dành trưa ăn với cơm. Là thi nhân, tâm tình có khác, đậm đà, chan chứa, nó cũng nhạy cảm làm sao! Hẳn Xuân Diệu đã rõ cuộc chiến vừa qua, ai giải phóng ai? Buồn ơi là buồn?
Vì sao bài thơ “Biển” Xuân Diệu được đãi ăn cháo gà để ông nhớ mãi? Tất cả văn nghệ sĩ ngoài Bắc đều học tập, sáng tác phải theo giáo điều là ca ngợi Đảng, khích động toàn dân hận thù “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, đánh tới độ ai cũng chán ngấy. Bài “Biển” chắc mang một sắc thái mới, mới trong cái cũ của Xuân Diệu, vẫn thứ tình yêu lãng mạn, như giữa thập niên 30, nên được bữa cháo gà, một tiểu gia súc rẻ rề trong Nam, nhưng quí như con bò ngoài Bắc.
Dượng Cũ bảo mẹ tôi đi chợ Phú Hội gần đó để mua thức ăn. Trước khi ra khỏi nhà, mẹ nhắc Xuân Diệu:
– Hôm qua Diệu nói muốn xem thác Gu-ga. Kìa, Vân đưa Diệu đi. Thác gần đây, rồi về ăn cơm trưa.
Xuân Diệu cười:
– Diệu vào Nam chỉ mục đích thăm gia đình và Gu-ga.
Bà quay qua tôi:
– Con lấy Honda ba bánh chở cậu. Coi cẩn thận!
Tôi ra trước nhà. Xuân Diệu bước theo, đứng ngắm nghía chiếc Honda Sport, 72 phân khối, thấp nhỏ, màu xanh nước biển bóng láng. Xe được biến cải ba bánh, cỡ niền Spring, có thể chở thêm hai người nặng tổng cộng 200 ký lô, và chạy 60 cây số một giờ. Do đó, dù cụt hai chân tôi vẫn bay vùn vụt, tỉnh này sang tỉnh nọ, từng phóng lên đèo Hải Vân ra Huế, từ Đà Lạt đổ dốc theo Quốc lộ 20 vào Sài Gòn, và ngược lại. Con “Rồng” của tôi cũng bao phen chọc tức tụi bộ đội ngồi chồm hỗm bên đường, nó thổi tung bụi bặm lẫn khói đen mù mịt, chúng gầm gừ: “Mẹ, bọn ngụy lắm kiểu xe!”.
Xuân Diệu dán mắt vào chiếc Honda đang rực rỡ:
– Chở cậu được chứ nhỉ?
– Dư sức qua cầu. Nhờ con “Rồng” xanh vĩ đại này, cháu hiên ngang đi khắp nơi…
– Chớ nói “vĩ đại”, hai chữ này đặc biệt chỉ được kèm sau tên Bác!
– Vậy sao, chỉ đi kèm theo tên Hồ Chí Minh?
Xuân Diệu rống to:
– Hai chữ nằm kế sau tên Bác! Nghe chưa? Không có nói trổng trổng Hồ Chí Minh. Coi chừng người ta ghép tội…
Tôi vờ nhún vai:
– Khó ghê nhỉ?
– Khó thì phải tập ! Tập ăn, tập nói cho thích hợp với chủ trương, đường lối.
– Ok, cậu ngồi “kèm” sau đây, hai chân bỏ một bên, lên vị trí này, tay nắm chặt khung sắt dựa lưng…
Tôi chỉ các chỗ cần thiết. Xuân Diệu se sẽ ngồi xuống như sợ chiếc xe nó cắn.
– Vân rành đường đến Gu-ga không?
– Cháu là ông Thổ Địa. Thác nằm phía trước nhà cháu.
Xong, tôi nổ máy. Ra khỏi ngõ tôi tà tà chạy trên Quốc lộ 20 cũ, đầy ổ gà. Nhiều người với mặt tư tự lũ lượt đi ngược chiều về hướng trụ sở xã Phú Hội. Hôm nay, nếu không có ông “cậu”, chắc tôi cũng đến hội trường nghe cán bộ huyện nói việc thành lập “hợp tác xã lao động”. Tôi đã dự một buổi họp khởi đầu. Rồi đây chúng sẽ sung công đất đai, trâu bò, cả máy móc sản xuất của tư nhân, và bắt dân làm ăn tập thể. Cứ mỗi buổi sáng một hồi kiểng thúc mọi người vác cuốc ra đồng, chiều một hồi kiểng tả tơi quay về, áp dụng giống các vùng “kinh tế mới”. Mặt ai nấy xanh dờn…
– Sao im lặng thế?
Xuân Diệu hỏi, tôi giật mình:
– À, cháu đang nghĩ thiên hạ sắp thành lập hợp tác xã lao động. Nghe đâu Đảng sẽ tái diễn vụ “Cải Cách Ruộng Đất” rất ác liệt như ở ngoài Bắc những năm 1953-1956. Lần này, không những tiếp tục triệt hạ địa chủ, họ còn bóp họng luôn giới “tư sản mại bản”. Nghĩa là làm cho dân chúng miền Nam phải tàn mạt mới thôi. Một bộ đội Sư 304 kể, ông nội chú bị giết vì tội nhà hơi khá, chứ của cải không bao nhiêu. Phải chi ruộng vườn cò bay thẳng cánh cho đành. Đó là vật chất, tinh thần cũng sẽ tắt tiếng. Bằng cớ sách báo quý giá thời chế độ trước họ đã tịch thu hết. Rồi cũng sẽ đến “Trăm hoa héo tàn” cho giới văn học như sự cố Nhân Văn Giai Phẩm 1956-57 đó, cậu Diệu? Ông dượng Cũ có đưa cháu một đống sách, quyển nào quyển nấy dày cộm, viết về Karl Marx, Lénine, Engel và có cả sách ca ngợi ông Bác nữa… Đọc chết luôn?
Xuân Diệu đập vai tôi:
– “Ông” Bác nào?
– Bác Hồ!
– Tầm bậy! Bác là Bác, chứ “ông” gì trong đó? Chị Ba nói đúng: Vân ngang bướng thật! . . .
Tôi lắc đầu:
– Không biết hoàn cảnh tàn phế như cháu sẽ ra sao. Chắc đói. Hoan hô chủ nghĩa xã hội, cậu Diệu hả?
– Đừng có hoan hô tầm bậy giữa đường họ cười và đề cập đến mấy chuyện cấm kỵ đó!
– Cấm cái gì, cậu?
– Vụ “Cải Cách Ruộng Đất” và “Nhân Văn Giai Phẩm”.
Quở xong, ông hạ giọng tâm sự:
– Vân biết không, 40 năm trước thân sinh cậu kể ông có đi thăm Gu-ga, cậu ao ước lắm…
– Sao mấy lúc cậu không thăm?
– Ở ngoài Bắc làm sao đi, hỏi ngớ ngẩn?
Tô cười hì hì:
– Kìa, cậu nhìn bên trái, dòng sông thơ mộng khởi nguồn từ một hồ nước thiên nhiên mênh mông, cao lừng trời tại Đa Nhim, quận Đơn Dương, phía đông thành phố Đà Lạt. Trước khi chảy nhập vào sông Đồng Nai, nó băng qua Liên Khương tạo thành thác Liên Khàng, không mấy hùng vĩ, nhưng khi tới ngang đây thì đổ quặp xuống một trũng sâu, dốc đứng là Gu-ga. Cậu nghe không? Tiếng thác đang ì ầm với bụi nước tung cao như màn sương trước mặt. Cậu Diệu sẽ tha hồ ngắm và làm thơ.
Ông cậu thi sĩ cười khật khật:
– Bảo làm thơ mà Vân tả cảnh dùng chữ “quặp”, làm mất hứng. Sao không nói “trúc” hoặc “trút” có hay hơn không?
Tôi cười:
– Hay lắm! Lát nữa cậu “trút”, nghen!
Tới ngã ba tôi rẽ trái, theo con đường đất đỏ ngoằn ngoèo vào đậu xe gần bờ dốc cuối mỏm. Xuân Diệu đi nhón người đến nhìn cây nước khổng lồ như điên cuồng nhào lộn xuống vực sâu, xoáy tròn, trắng xóa…
Ông reo lên:
– Đẹp quá Vân ơi! Coi chừng, đừng lết ra nữa, đất sụp!
Tôi ôm chặt một gốc cây bên mép đồi:
– Cậu Diệu tới chỗ tảng đá to kìa, xem rõ hơn!
Tuy phong cảnh tuyệt vời, đẹp nhất Lâm Đồng, nhưng dân địa phương quen gọi Gu-ga là “ổ gà”. Lời nói trại này ẩn ý không tốt. Trước 1975, nơi đây xảy ra nhiều án mạng rùng rợn. Các cặp trai gái đến làm tình xong, có mấy nàng bị đạp xuống thác, hoặc tự tử. Mới tháng trước, một anh bộ đội một đơn vị của Sư 304 Cộng Sản Bắc Việt, đóng ở Đại Ninh, siết cổ một thiếu nữ miền Nam ném vào kẹt đá. Một chú Thượng R’chai ngồi câu cá cũng bị bắn vì nghi Fulro. Đa số chết bất đắc kỳ tử, nên các am miếu thờ trong khu vực Gu-ga này rất linh thiêng…
Tôi chưa dám kể mấy chuyện thuộc cõi trên như vậy cho người thi sĩ dư tim mà thiếu gan này nghe, chờ ông làm xong bài thơ.
Xuân Diệu nhìn say mê bức tường nước mãi gầm gừ vang động một góc núi. Chiếc áo trắng ông mặc nổi bật giữa rừng xanh. Tôi chưa thấy Nhà thơ cầm bút. Ông đứng ngắm hoài, thế đứng kỳ lạ, như anh lính bị phạt phơi nắng, đôi bàn tay đan nhau để sau gáy, hai cánh tay thì cung ra thành hình tam giác. Thỉnh thoảng mắt ông nheo lại, đầu gật gật, như đắc ý một điều gì.
Trời nắng kinh khủng, cái sọ muốn nứt, tôi định thúc giục thì đúng lúc ông lấy giấy bút hí hoáy viết. Bây giờ ông mới bắt đầu sáng tác.
– Chiều cao cây nước bao nhiêu thước, Vân?
– Chà, có đo đâu mà biết?
– Thì ước khoảng thôi!
– Khoảng trên dưới 30 mét!
Trả lời xong tôi nhủ thầm: “Làm thơ chứ đâu phải làm thợ mộc mà hỏi thước tấc nhỉ?”.
– Xong rồi, về!
– Lẹ vậy cậu?
Xuân Diệu im lặng, vừa quay lui vừa liếc nhìn cái am thờ cô gái bị siết cổ chết, nhang khói lạnh tanh, bên mé đồi.
Thấy mặt trời chưa đứng bóng, tôi chạy ngược lên hướng xóm Thượng Jirong Tambor, vòng qua đoạn Quốc lộ 20 mới, gần thôn Lam Sơn người Nùng, đế Xuân Diệu xem rừng bắp xa tắp chân trời phía tây. Xuân Diệu bảo dừng xe. Lần này ông ghi ghi chép chép rất nhanh vào quyển sổ.
Cơm trưa xong, nhân lúc gia đình đầy đủ, ngồi trò chuyện quanh bàn nước, Xuân Diệu nói:
– Mời Cũ, chị Ba, các cháu Vân, Tâm, Trí nghe Diệu đọc hai bài thơ. Trước hết, bài BẮP:
Ba cây số chiều ngang hương bắp
Hương đồng pha hăng hắc hương rừng
Phấn bắp tỏa ngạt ngào sức lực
Cờ bắp lay ngọn gió trong thung
Vừa tới cao nguyên rạo rực lòng
Lại say hoa bắp nắng vàng ong
Một mùa bắp mới xưa chưa thấy
Làm má non sông cũng ửng hồng.
Xuân Diệu
Phú Hội 13/06/1976
Đọc xong, tác giả cùng mọi người đều im lặng, chẳng ai ý kiến, khen hay chê. Tôi cũng vậy, dù cảm thấy mình như vừa bị cú sốc. Thưởng thức thơ của thi sĩ tài danh mà tưởng đâu tôi nghe một bài phóng sự chiến trường. Tôi muốn hỏi vì sao thơ ông “xuống cấp” dữ vậy. Ý thơ không do sự rung động của con tim, chỉ là tiếng cào cuộn từ bao tử đói phát ra thành lời. Câu đầu của bài, ông phang ngang, câu 3 khập khễnh…
Xuân Diệu vừa thầm thì bên tai dượng Cũ điều gì, vừa lật qua lật lại mấy trang giấy chằng chịt chữ, rồi ông đằng hắng:
– Để Diệu đọc bài THÁC GU-GA:
Đổ ào ào đổ Gu-ga
Sông Đa-Nhim đến đây òa thành bông
Thành tơ trắng xóa một vùng
Bạc tuôn đổ xuống vô cùng thời gian
Cao ba chục thước nước tràn
Ào ào binh mã nghe vang tháng ngày
Cây xanh, thác trắng, xinh thay
Chạy trời trên suối đổ mây sau rừng
Thác Gu-ga đó, tiếng lừng
Trong ta bừng giậy khí hùng thiên nhiên
Xuân Diệu
Gu-ga 13/06/1976
Lần này dượng Cũ mới trầm trồ:
– Hay! Dữ dội!
Nghe người bạn tri kỷ khen, Xuân Diệu cười mủm mỉm, đặt quyển sổ xuống bàn và đưa tách trà lên miệng.
Quả thật, thi sĩ Xuân Diệu đã tỉnh ngộ, sau hơn 30 năm sống dưới chế độ gian trá Cộng Sản. Liếc thấy chữ “giậy” ở câu chót, tôi hỏi:
– Hình như cậu Diệu viết lộn “dậy” thành “giậy”?
Mẹ tôi càu nhàu:
– Mày dám sửa thơ cậu mày?
– Chữ “giậy” nghĩa là gì? Thôi tiện đây, cậu chép cho bài “Biển” kẻo quên.
Xuân Diệu cúi mở cái cặp dưới chân rút ra tờ giấy:
– Đã có sẵn.
Tôi đưa hai tay đón nhận bài thơ. Tuồng chữ không nắn nót mà rất đẹp, trên góc trái có ghi một hàng chữ bằng mực xanh:“Chép tặng cháu Trần Thy Vân”. Tôi hãnh diện. Lần đầu tiên được đề tặng thơ với thủ bút của thi hào. Tự nhiên tôi ân hận vì chê chữ “giậy” vô nghĩa, và âm điệu bài “Bắp” như tiếng bắp rang, tiếng xe bò lộc cộc trên đường lởm chởm đá. Tôi đọc thầm bài thơ Xuân Diệu tặng:
BIỂN
Chép tặng cháu Trần Thy Vân
Anh không xứng là biển xanh
Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng
Bờ cát dài phẳng lặng
Soi ánh nắng pha lê.
Bờ đẹp đẽ cát vàng
Thoai thoải hàng thông đứng
Như lặng lẽ mơ màng
Suốt ngàn năm bên sông.
Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi.
Đã hôn rồi hôn lại
Cho đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt.
Cũng có khi ào ạt
Như nghiến nát bờ em
Là lúc triều yêu mến
Ngập bến của ngày đêm.
Anh không xứng là biển xanh
Nhưng cũng xin làm bể biếc
Để hát mãi bên gành
Một tình chung không hết.
Để những khi bọt tung trắng xoá
Và gió về bay toả nơi nơi
Như hồn mãi ngàn năm không thoả
Bởi yêu bờ lắm lắm em ơi
Xuân Diệu
1961
Tôi toát mồ hôi. Hèn chi ông được ăn cháo gà.
Thấy đã quá trưa, Dượng Cũ bảo Xuân Diệu:
– Diệu vào trong nghỉ chút, để chiều sang ủy Ban Xã với Cũ thăm mấy ông bạn già từ thời kháng chiến chống Pháp.
Xuân Diệu đẩy ghế đứng dậy, hai chú em Tâm và Trí rủ nhau ra xe đi chơi, còn dượng Cũ thì tới ngồi cạnh mẹ tôi nơi thường gần đó.
Mẹ tôi lằm bằm:
– Ông lên nằm với Diệu như ngày nào đi. Đêm qua ông ngủ dưới này Diệu ghen tôi, không thấy sao? Ghen cả đời!
Dượng Cũ vừa gượng cười vừa ôm gối đứng lên. Nghe bà nói vậy với nét mặt hai người kém vui, tôi rất đỗi ngạc nhiên. Chắc có chuyện u ám gì đây, hay mẹ tôi xỉn? Trưa chiều nào bà cũng làm vài cốc rượu trước bữa ăn. Nhậu thì không bao nhiêu mà hay lèm nhèm, thỉnh thoảng bà mới say lúy túy rồi ngủ, chứ không nói sảng. Chẳng hiểu hôm nay mắc chứng gì, hay bà nói lóng, cũng chưa hẳn vì lóng kiểu đó để tôi nghĩ là cậu Diệu yêu bà, “ông lên nằm với Diệu như ngày nào đi… ông ngủ dưới này Diệu ghen tôi, không thấy sao?”. Bà còn nhấn mạnh: “Ghen cả đời?”. Rõ ràng một tràng lời bạch văn, không mã hóa, cũng chẳng sáo ngữ, ẩn dụ.
Tôi phải hỏi cho ra lẽ. Tôi gấp bài thơ “Biển” đút vào túi, rồi lăn xe tới cạnh giường:
– Me ngủ chưa?
Bà hé mắt:
– Chưa.
– Hồi nãy me nói gì ghen với tương vậy?
– À chuyện Xuân Diệu ghen tao với dượng mày…
Tôi sửng sốt:
– Me đã bảo cậu Diệu là em me mà?
Bà trợn mắt:
– Mày nghe lầm! Xuân Diệu yêu dượng mày, không phải yêu tao…
– Yêu dượng thì có sao, bạn bè…
– Mày không biết đâu! Hai ông kỳ cục lắm, lấy nhau như vợ chồng. Hồi xưa, khi bắt đầu quen dượng Hồ Cũ mày, Diệu đã ghen tao rồi.
Mẹ tôi nói toạc ra, tôi muốn độn thổ:
– Me làm như dượng với cậu đồng tính luyến ái…
– Chớ gì nữa? Chuyện này chỉ gia đình biết thôi.
Dượng Cũ nhà trên xuống, tỏ ý không vui:
– Mình nói cho Vân nghe làm chi?
– Nó lớn rồi…
Tính dượng Cũ hay nuông chiều mẹ tôi. Ông ngồi xuống bên cạnh bà:
– Vân muốn biết, để dịp khác dượng kể.
Không bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng, tôi thưa ngay:
– Bây giờ là dịp tốt, dượng? Kìa, có cậu Diệu nữa.
Xuân Diệu uể oải đi thẳng tới cái bàn giữa, ông vừa kéo ghế ngồi vừa hỏi:
– Gì đấy, Cũ?
– Nhà tôi nhắc chuyện xưa giữa Diệu và Cũ.
Xuân Diệu lấy hai tay chống cằm, ngồi nhìn ra ngoài sân. Tôi rót ông một tách trà và nói như đã rõ hết nguồn cội cuộc tình phản thiên nhiên ấy:
– Tập thơ “Gởi Hương Cho Gió” của cậu vẫn được các nhà phát hành ở miền Nam tái bản, trong đó có bài “Xuân Đầu’, phía trên đề “Tặng Hồ Cũ’, nên có độc giả nghĩ rằng cậu với dượng Cũ đã một thời “đồng tính luyến ái”. Chuyện thiệt hư thế nào, cậu?
Xuân Diệu còn ngập ngừng, đang phân vân chưa biết trả lời sao, đột nhiên mẹ tôi choàng ngồi dậy, nổi máu… nghệ sĩ ngâm bài Xuân Đầu tôi vừa đề cập:
Khi Phạm Thái gặp Quỳnh Như thuở ấy
Khi chàng Kim vừa thấy nàng Kiều
Hỡi năm tháng vội đi làm quá khứ
Trở về đây, và đem trở về đây
Thiêng liêng quá những chiều không dám nói
Những tay e, những đầu gượng cúi nhau
Chim giữa nắng sao mà yêu đến chói
Ôi vô cùng trong một phút nhìn nhau…
– Ô, mẹ hay quá!
Tôi trầm trồ khen, mẹ tôi khoái chí, bị kích động thì đúng hơn, lặp lại và kéo dài câu chót, như điệp khúc của một bản nhạc. “Điệp khúc” ở đây để bà tỏ ý còn ghen ngầm dượng Cũ với Xuân Diệu: “Ôi vô cùng trong một phút nhìn nhau”. Chuyện đã 40 năm trước vẫn tái diễn. Rồi bà mỉm cười, nụ cười uẩn khúc, mỉa mai. Thật ra bà đọc, không phải ngâm, tuy có lúc cũng lên bổng xuống trầm.
Bài thơ “Xuân Đầu” thật tuyệt vời đối với tôi từ thuở còn đi học, nay nghe lại những tiếng tơ lòng của Xuân Diệu, tôi vẫn thấy cảm động. Cảm động một phần do người đọc bằng giọng hờn dỗi, oán trách người em thi sĩ với kẻ được tặng thơ là chồng mình đang ngồi trước mặt -cuộc tình tay ba.
Mẹ tôi rầu rầu nói:
– Bài này chưa hay lắm đâu, còn một bài nữa… mới chết lòng người. Chết thật…
Tôi thích thú reo lên:
– Bài gì, me ngâm luôn!
Bà vờ làm nghiêm sắc mặt, liếc dượng Cũ:
– Bí mật? Thơ Diệu tặng riêng Hồ Cũ, tao không dám!
Chuyện xưa được gợi nhớ bất ngờ, Xuân Diệu thấm buồn, đôi mắt mơ màng nhìn qua cửa sổ. Dượng Cũ, vì câu nói mẹ tôi lôi cuốn cũng thả hồn về một khung trời dĩ vãng đầy ắp kỷ niệm. Môi ông run run:
– Lát nữa, dượng sẽ đọc bài thơ mà me của Vân bảo là bí mật, bây giờ dượng kể đại khái thế này…
Dượng liếc qua Xuân Diệu đang trầm ngâm:
– Hồi đó, 1936, dượng 24 tuổi, làm công chánh cho Pháp ở Quy Nhơn. Diệu thì 20, vừa hoàn tất ban thành chung, sắp ra Hà Nội học thi tú tài. Hai đứa gặp và quen nhau. Một đêm nọ, đến chơi thường lệ, nhưng lần này Diệu cao hứng hát hoài, hát suốt đêm. Sau một tuần Diệu hỏi: “Anh có biết vì sao hôm đó tôi hát dữ vậy không?”, rồi Diệu tự trả lời: “Vì anh đó?”. Dượng ngạc nhiên. Thú thật, lúc ấy dượng cũng khoái cái vẻ đẹp trai của Diệu. Vậy là cả hai mê mẩn, không rời nhau nửa bước…
Trước khi quen nhau Xuân Diệu chưa nổi tiếng lắm. Thật lòng mà nói, chính dượng là nguồn thi hứng cho Diệu đi vào văn học nước nhà. Diệu xin phép bố mẹ để Diệu cùng dượng về xây tổ “uyên ương” ở Vạn Gò Bồi, Bình Định, quê ngoại của Xuân Diệu…
Dượng Hồ Cũ ngưng một giây, day qua mẹ tôi, cười hì hì. Xong, ông kể tiếp:
– Thân sinh Xuân Diệu, cụ Ngô Xuân Hiếu, là thầy thuốc Bắc, thân mẫu buôn bán mắm ở Vạn Gò Bồi, Bình Định, đời sống hai ông bà cũng êm ấm lắm. Ăn ở với Diệu được một năm thì chia tay, vì dượng gặp mẹ của Lý, ngoài Quảng Nam vào, phải trở lại Quy Nhơn. Như Vân biết, trước khi chung sống với mẹ Vân tới bây giờ, dượng đã trải qua một đời vợ, sanh ba chị em thằng Lý. Năm 1937 dượng mua một căn nhà kế bờ biển Quy Nhơn. Một đêm hè, Xuân Diệu đột nhiên đến, nhằm lúc dượng và mẹ của Lý đang nằm trong phòng. Diệu biết nên không vào, cứ đi loanh quanh ngoài nhà. Vài hôm sau Xuân Diệu kể lại làm dượng cảm động muốn khóc, nhất là khi nhận được bài thơ, vẫn tuồng chữ đẹp, đầy hờn dỗi, Diệu viết tặng dượng. Đây dượng đọc cho nghe:
Có lúc tưởng chỉ để rơi tàn lửa
Tay vô tình gieo một đám cháy to . . .
Dượng Hồ Cũ vừa cất giọng lên hai câu đầu, Xuân Diệu đã vội đứng dậy bước ra ngoài, như muốn lẩn trốn khỏi căn phòng mà ông tướng chừng sắp tràn ngập một khung trời đau đớn xa xưa. Mẹ tôi thì trở mình nằm nghiêng, quay mặt vào vách, tôi không nghe mẹ thở đài riêng rẽ vì ngay cả tôi cũng bị cơn bão lay động, một cơn bão lòng từ những người trong cuộc tình lạ lùng ấy.
Sau giây phút gián đoạn, tiếng ngâm càng thê lương hơn khi dượng Hồ Cũ trở lại từ đầu:
Có lúc chỉ để rơi tàn lửa
Tay vô tình gieo một đám cháy to
Người tưởng buông chi tiếng hẹn hò
Tôi hưởng ứng bằng vạn lời say đắm
Đương rạo rực thì thầm rối rắm
Ngập lòng tôi nhưng ai để ý đâu
Tôi điên cuồng tất nhiên tôi phải khổ đau
Tôi biết lắm trời ơi tôi biết lắm
Tôi biết rằng chỉ cách một ngày sau
Cây bên đường sẽ trông thấy tôi sầu
Đi thất thểu, đi lang thang, đi quạnh quẽ.
Vì vội đến để tìm nhau tôi sẽ
Chỉ thấy người thương nhưng chẳng thấy tình thương
Và như màu, theo nắng nhạt như hương
Theo gió mất tình người đã tản mất
Tôi sẽ trốn thẫn thờ ngơ ngác
Trái tim buồn như một bãi tha ma…
Dứt lời, dượng im lặng, đôi mắt ươn ướt nhìn ra mái hiên, nơi Xuân Diệu đang “thẫn thờ ngơ ngác” đâu ngoài đó.
Hẳn dượng Cũ từng nghiền ngẫm, thuộc làu bài thơ bí ẩn ấy của Xuân Diệu viết năm 1937, nên tiếng ngâm trôi chảy, đúng chỗ dồn dập, nức nở… Câu cuối dượng buông thõng cốt làm rõ ý một nỗi tuyệt vọng.
Ôi, mối tình đồng tính luyến ái cũng thảm sầu, đầy máu lệ thật!
Tôi hỏi ông dượng:
– Cái đề bài thơ tuyệt diệu đó là gì?
– Lâu quá quên, lát nữa hỏi Diệu. Sau khi theo cha ra Hà Nội, Diệu gởi thư vô dượng tới tấp, lá nào tình cảm cũng dạt dào. Diệu còn gởi biếu các món quà quý. Như dượng đã nói, thân sinh Diệu làm thầy thuốc Bắc, mỗi lần bổ thuốc tễ, loại hảo hạng, để Diệu uống, Diệu đều chia dượng phân nửa. Cái gì Diệu có là dượng có…
Thơ Xuân Diệu nổi tiếng rất mau, những tháng cuối cùng ở Quy Nhơn. Báo chí đăng đi đăng lại nhiều bài thơ, khiến các cô mê mệt, mà chàng thi sĩ tài hoa có nghĩ đến ai ngoài dượng. Những bức thư bốn phương gởi Diệu đều bị vứt nơi góc bàn, dượng phải viết trả lời thay…
Đến năm 1939, chiến tranh bùng nổ, dượng sang Lào làm việc, hai đứa thực sự xa cách. Không gian xa cách mà dượng và Xuân Diệu vẫn mãi gần nhau trong tâm hồn…
Dượng Cũ thở dài:
– Bài thơ dượng vừa đọc, cứ gọi là bài “Không Thi Đề”, chưa từng phổ biến trên sách báo suốt 40 năm nay. Ngoài tác giả, dượng với me, mẹ của Lý đã chết không kể, Vân người thứ tư được nghe và chép bài thơ. Cuộc tình “đồng tính luyến ái này, có thể có kẻ biết, chỉ biết lờ mờ, dượng không cấm Vân tiết lộ ra ngoài, nhưng hiện nay chưa tiện, Diệu đang là cán bộ.
Hình như Vân có nói vì “tâm bệnh”, thơ Diệu mới trở nên bất hủ. Hẳn vậy, vì sự kiện Diệu và dượng yêu nhau, cái tình yêu tréo cẳng ngỗng, nhưng dượng không quen dùng hai chữ “tâm bệnh”…
Qua câu chuyện tôi được hiểu thêm một vấn đề mà từ lâu tôi tường những cuộc tình không thích hợp chỉ thỏa mãn xác thịt tạm thời trong giây phút rồi đường ai nấy đi, không thể thắm thiết, keo sơn, trăm năm vợ chồng, như giữa người nam và nữ. Chẳng rõ Xuân Diệu suốt thời gian ngoài Bắc có “lang chạ” hay không, chứ dượng Hồ Cũ trong Nam vẫn một lòng “đồng tính”, là một nguồn cảm hứng, cũng khá sinh động, lạ đời, để Xuân Diệu khoác áo thi sĩ lãng mạn nhất trong văn học Việt Nam.
Xuân Diệu từ ngoài sân “thất thểu” đi vô, mẹ tôi vội ngồi dậy xuống bếp soạn cơm chiều. Để thay đổi bầu không khí u ám, tôi đẩy trang giấy tới trước mặt Xuân Diệu:
– Đây nè, bài thơ cháu làm lúc sáng, cậu xem thử.
Xuân Diệu vừa ngồi xuống ghế vừa cười cười:
– Chà, lính chiến cũng thơ nữa.
Ông chăm chú nhìn những hàng chữ:
XUÂN DIỆU
VIẾNG THÁC GU-GA
Kính tặng Thi sĩ Xuân Diệu
Gu-Ga thác đổ xoáy vòng
Đục trong đã biết mà lòng còn trao
Người về như thể chiêm bao
Bọt tung réo bóng, nước ào gọi tên
Người về trăm nỗi hàn huyên
Bốn mươi năm hết ưu phiền từ đây
Rừng xanh, mây trắng bủa vây
Trong thung thác vẫn đổ dài ngàn năm
Tôi nhìn người đứng lặng câm
Đội trời nghe nước ầm ầm xướng danh.
Trần Thy Vân
(Gu-ga 13/06/1976)
Đọc xong, Xuân Diệu gục gặc cái đầu:
– Có hồn lắm! Nhưng câu thứ hai không ổn, họ nâng quan điểm thì nguy to. Vân cho chế độ này không tốt, cậu biết mà vẫn theo.
Tôi biện minh:
– Tại người ta nhìn qua lớp kính màu nên mọi vật mất vẻ trong sáng thiên nhiên…
Xuân Diệu bỗng ngoảnh mặt xuống nhà dưới:
– Chị Ba nghe không, Vân nó cãi bướng đây này?
Mẹ tôi vọng lên:
– Tôi đã bảo mà!
Ông cậu khật khù, vẻ nghiêm nghị:
– Nghe vụ nhà văn Khái Hưng chưa? Khi vịnh chân dung Bác, ông viết: “Hô hào trăm vạn thắng, dí đồn mây, thúc gió đấu tranh giành độc lập”. Thế là bị giết vì tội chơi chữ: “Hô hào” đọc trại: “hao Hồ”, “dí đồn” thì tục tĩu. Để sửa vài chỗ, rồi gởi đăng báo Nhân Dân. Sáng tác kiểu này có ngày chết (ông lằm bằm trong miệng).
Tôi làm như trẻ con, giãy nẩy:
– Thôi cậu, vợ con đói le lưỡi ếch, đăng thơ trên báo làm gì? Hồi nãy cháu tò mò đến chuyện “tréo cẳng ngỗng” giữa cậu và ông dượng, đừng buồn nghe? Giờ cháu xin phép về.
– Khoan, bây giờ hai anh em Vân qua nhờ ủy ban xã Phú Hội tổ chức buổi bình thơ của cậu cho nhân dân nghe tối nay.
– Bảo thằng Tâm đi. Thấy mặt cháu họ ghét thêm thôi!
– Việc gì ghét? Nói rõ cậu bình thơ Bác Hồ.
Tôi lết ra xe, vừa tới cửa tôi quay lui cười:
– Bác Hồ cũng thi sĩ nữa hả cậu?
Xuân Diệu trợn mắt gườm tôi.
Lúc chiều bên trụ sở xã về, Tâm kể rằng các ủy viên bàn thảo viết một tấm biểu ngữ sao cho thật hay treo trước cổng hội trường. Kẻ bảo “Đêm bình thơ thi sĩ Bác”, người đề nghị: “Thi sĩ Hồ Chí Minh”. Có một ông ngẫm nghĩ thế nào đó, vội chạy ra sau hè vừa đứng tiểu vừa cười khật khật một mình…Nghe chuyện, Xuân Diệu nhăn mặt: “Rõ khổ, mấy ông xã này dốt quá!”.
Mới 7 giờ tối, hội trường ấp 3, Phú Hội, đã đông nghẹt, đa số là thanh niên nam nữ. Thấm thoát giặc về xâm chiếm đã hơn một năm, dân chúng khắp nơi tả tơi, lớp chết lớp tù đày, còn có khuynh hướng tiếp tục bị cưỡng bách lao động, quần quật đầu tắt mặt tối vẫn không đủ ăn. Chế độ này dần dà sẽ biến con người thành cái máy không hồn, thờ thờ thẫn thẫn. Nay sức lực đâu nữa để nghe thơ với thẩn. Chỉ tụi trẻ gặp dịp tới tìm bạn bè cùng trang lứa chơi. Một số tò mò, muốn thấy tận mắt nhân vật nổi tiếng Xuân Diệu, hơn là nghe thơ, nghe phú, loại cõi trên của “thi sĩ” Hồ Chí Minh.
Nơi hàng ghế đầu, đối diện lá cờ đỏ sao vàng và tấm ảnh “thi sĩ Bác” treo trên vách, gia đình dượng mẹ tôi ngồi cùng một băng dài với các cán bộ huyện, xã. Phía sau thì lục lăng trái ấu lổn ngổn.
Lần đầu tiên, một cựu sĩ quan chế độ cũ như tôi lại được “an tọa” một chỗ rất gai con mắt là kế Xuân Diệu. Trước đó, lúc còn chập chờn ngoài hiên, tôi định lăn xe vào cuối phòng để yên thân và dễ ra ngoài hiên hút thuốc, nhưng Xuân Diệu lại sai Tâm cõng lên ngồi bên ông cho bằng được. Chắc ông có ý tốt, thương thằng cháu. Vì nể cái ông cậu bốc đồng, tùy hứng này mà tôi khổ tâm, thân xác thì muốn rã rệu, chẳng có chỗ dựa.
Giờ đầu buổi bình thơ không mấy hấp dẫn. Xuân Diệu nói nhiều về một mớ chữ nghĩa xấc xược của các tác giả con vẹt, đặc biệt “thi sĩ Hồ Chí Minh”, hô hào chống Tây chống Mỹ. Thấy hội trường tuy khá đông mà như không người, chỉ nghe tiếng thở phào phào, uể oải và chốc chốc từng cơn ho gà khô khan ở các dãy ghế phía dưới, Xuân Diệu vội đổi đề tài chọc cười. Không rõ vô tình hay cố ý xiên xỏ, ông lôi bài thơ “ghẻ” bẩn nhất của “cha già dân tộc” ra giễu. Xuân Diệu nói tỉnh bơ:
– Ai ở xa tưởng Bác là thánh. Sự thật Bác cũng con người, dơ dáy thì bị lở ghẻ. Những năm sống trong chiến khu, hang Pác Pó, trúng mùa ghẻ, thứ ghẻ càng gãi càng ngứa, ngứa thì gãi quá đã, nên Bác tả cảnh “hồ hởi” đó qua bài “Đàn”…
Xuân Diệu vừa nói vừa diễn hai tay như cầm cây đàn gảy gảy bên hông, thay vì cào cào, gãi gãi dưới háng, mới đúng vị trí “chiến khu” của Bác. Cử chỉ này khiến mọi người cười ầm, ngoại trừ các cán bộ ngồi thộn mặt. Bỗng nhiên giữa hội trường có tiếng gãi sột soạt thật. Nhằm lúc tháng 6/1976, sau một năm quân Bắc Việt chiếm cứ miền Nam, cũng khởi đầu một trận dịch ghẻ ngứa khắp nơi. Âm thanh tiếng gãi mỗi lúc một rân lên vô trật tự. Bài thơ “Đàn” của Bác đã kích thích đám nông dân, “Hô hào trăm vạn… gãi”, có hiệu quả.
Thấy ông cậu bốc hứng diễn cương, giải nghĩa quá kỹ, tôi lo sợ ông dễ bị cho mò tôm dưới thác Gu-ga quá chừng. Ông thất sủng cũng đúng.
Xuân Diệu chuyển qua bình bài thơ Biển xa xưa của ông, cũng như đến bài “Thác Gu-ga” làm sáng nay, thì được nhiệt liệt tán thưởng. Cả hội trường tán thưởng vì nội dung ca ngợi một địa danh của xã nhà, hơn về mặt văn chương. Để kết thúc một buổi tối chưa đến nỗi tệ, ông đọc nhanh bài “Nghe Nhạc Nam” viết trước đó gần một năm, 11-8-1975, tại Hà Nội, còn chút dấu vết lãng mạn:
Dâng bài vọng cổ giữa mưa đêm
“‘Con sáo sang sông” chứa vạn niềm
Tất cả nhớ thương về cặp bến
Hồn anh say đắm giữa vời em.
Dáng Điêu Trường tương tư nhạc Nam
Văn Thiên Tường ấy khúc ai làm
Mưa đang lác đác lưng chừng ngớt
Nhạc toả trong phòng ánh sương lam
Ngập cả hồn anh yêu mến thôi
Nhớ nhung như sóng tới đây dồi
Một làn không khí đưa hơi mát
Mưa đã tạnh rồi em thương ơi.
Em ở Sài gòn nghe thấy chăng
Hồn anh lưới nhạc tới giăng giăng
Đêm nay thức mãi cùng thương nhớ
Không có mà như có bóng trăng
Sáng nay, Xuân Diệu từ giã gia đình dượng mẹ tôi để lên Đà Lạt, ông sẽ vòng qua Buôn Mê Thuột thăm người chị, rồi về Hà Nội luôn. Tôi lấy Honda chở ông ra bến Tùng Nghĩa. Dọc đường hai cậu cháu chẳng trò chuyện được bao nhiêu, ngoài vài câu tôi hỏi đến tình hình đất nước hiện tại sao quá căng thẳng, bi đát, cậu cũng chỉ trả lời bao quát vô thưởng vô phạt.
Trước khi lên Taxi, với vẻ mặt buồn buồn, Nhà thơ Xuân Diệu siết tay tôi:
– Cậu hiểu những điều Vân ưu tư. Hãy gắng sống. Dượng Hồ Cũ của Vân có bảo cậu thu xếp về Nam sinh sống. Chắc là vậy.
Tôi im lặng. Xe lăn bánh, tôi vẫy tay chào Xuân Diệu mờ mờ bên kia tấm kiếng khung cửa bám đầy bụi đỏ. Đó là hình ảnh cuối cùng trong trí tôi.
Hôm nay Sơn buồn lắm. Trên đèn có tất cả sáu người giúp việc mà hết năm đã vào bờ rồi. Anh chàng yêu hụt, nghe cô đơn từ mấy tháng nay, và bây giờ thì thấy mình thật cô độc một trăm phần trăm, giữa cảnh trời nước bao la nầy.
Đèn Cần Giờ cất trên một cồn cát ngầm, gần giữa sông, trệch vào hữu ngạn một chút, Nhà đèn hình bát giác, rộng bằng hai căn nhà phố, nằm chinh chông trên những cẳng sắt mảnh mai, xa trông giống như một lồng bồ câu. Trên nóc nhà là ngọn đèn sông, nhỏ hơn hải đăng nhiều, nhưng cùng một công dụng với đèn rọi biển. Sáu người giúp việc trên đó có phận sự lau đèn, vô dầu và canh gác về đêm sao cho đèn cháy đều mãi mãi để giúp tàu bè qua lại khỏi rướn lên cồn cát.
Hôm nay ông xếp đèn có việc nhà cần kíp nên phải vào bờ, một người đi chợ, một ngươi đi nhà thương, hai người nữa lại phải chèo ghe đưa tất cả những người đó. Thành ra Sơn phải ở lại có một mình. Theo phép thì họ không được vắng mặt cả đám như vậy, nhưng đây là trường hợp đặc biệt, và cũng đang ban ngày, không có công việc gì. Miễn là chiều tối họ về thì thôi.
Sáng sớm, mặt trời đổ bạc xuống nước, chim bay cũng nhiều, ghe thuyền qua lại cũng bộn, thế mà Sơn thấy cảnh hiu quạnh lạ kỳ.
Người con trai nầy đã yêu mà không được yêu lại nên chàng thất tình, nhìn thấy cái gì cũng đen, cũng xám cả. Lúc mới bị hất hủi, chàng định tự tử, nhưng không dám. Chàng lại định đi tu, nhưng ngại phải ăn chay. Rốt cuộc chàng xin một chân phu lau đèn ở đây. Nguyên một người cậu bà con xa của chàng làm xếp đèn từ lâu rồi, từ thời Pháp thuộc lận. Chàng bỗng nhớ sực lại người đó trong một hôm bí lối, và nghĩ cây đèn Cần Giờ có thể là nơi ẩn náu tốt để mà quên. Lương bổng, chàng không cần vì chàng là con nhà khá giả, sắp vào thơ ký ngạch nhà nước kia mà.
Bên tả ngạn, từ trong bờ một hàng cột đáy chạy dài tới cửa sông, rung rinh dưới sức xô đẩy của sóng mạnh, ghe thuyền qua một cái lạch tương đối hẹp giữa nhà đèn và cây trụ đáy bìa, để mà qua lại. Thành ra người trên ghe nói gì, Sơn nghe rõ mồn một.
Họ nói thì ít mà hát điệu chèo ghe thì nhiều. Hát rằng:
Đèn treo cột đáy, nước chảy đèn rung,
Anh thương em tha thiết vô cùng.
Biết ba mới má có bằng lòng hay chăng?
Nghe hát, Sơn cứ muốn mình được như anh trai trong câu hát đó. Nếu chỉ có ba với má là chướng ngại vật thôi thì chàng đỡ khổ biết bao! Bất quá là hái đứa cùng trốn đi một lúc, rồi trở về xin tha thứ. Đằng nầy trong trường hợp của chàng, chính nàng lại không bằng lòng, thế mới chết cho.
Lại hát rằng:
Đèn Cần Giờ đêm đêm sáng tỏ,
Ghe lớn ghe nhỏ nhìn thấy rõ mà vào,
Biết ai lòng dạ thanh cao
Để cho phận gái má đào gởi thân?
Eo ơi, Sơn than thầm, con gái băn khoăn như vậy là chánh đáng. Nhưng lòng chàng không bừng sáng được mỗi đêm như cây đèn Cần Giờ để cho con gái nó thấy thanh cao mà chọn, nên chi Lệ nó đã chọn người khác cho chàng phải đau.
Chàng yêu Lệ và cũng được Lệ có cảm tình trở lại. Nhưng Nam, một người con trai khác, có bề ngoải hào hiệp hơn, lại đến và xáo trộn cả dự tính sắp thành công của chàng.
Lệ do dự rất lâu giữa hai người và rốt cuộc đính hôn với Nam.
Trốn trong sự bạo lực, Sơn nguôi được đôi phần rầu. Nhưng cảnh ở đây lại gợi tình, thành ra vết thương cứ “làm miệng” trở lại mãi. Nhứt là trong vòng tuần nầy, là tuần nghỉ hè Phục Sinh. Tàu đò chở người đi nghỉ mát qua lại dập dìu, nhắc nhở Sơn chốn cũ là nơi mà mối tình đầu của chàng đâm mộng, khiến Sơn nhớ Sàigòn vô chừng, nhớ người Sàigòn như là nhớ một điếu thuốc về đêm. Bị bỏ tù giữa sông lớn, chàng thường phải thèm thuốc, những ngày ghe của nhà đèn không đi chợ. Hai nỗi nhớ nầy sao mà minh mông và sâu thẳm như khúc sông Cần Giờ tử ngoài cửa vào tới đây!
Mỗi khi một chiếc tàu đò chạy qua, trên ấy lố nhố người ta, Sơn nhìn trân trối đám hành khách với ảo vọng tìm ra con người chàng giận nhưng chưa quên được. Áo xanh, áo trắng, áo tím, áo hường, tất cả những màu áo ấy lũ lượt đi qua, nhưng Sơn không hề thấy dáng Lệ lần nào cả.
“Chắc chồng cưới nguôi ta rồi, và người ta đang hưởng tần trăng mật ở đâu đó”. Sơn lẩm bẩm như vậy mỗi lần thất vọng.
Bạn ghe đã thôi hát. Ghe nào cũng vội vàng chèo mau để qua khỏi lạc hẹp, hầu tránh tàu, vì sóng lớn do chân vịt quậy lên sẽ xô đẩy ghe họ tròng trành khó chịu lắm. Ừ, đằng xa, hướng ngoài cửa, còi tàu hú vang rền.
Tàu đi, nên thơ lắm vì nó gợi hình ảnh những cuộc viễn du kỳ thú. Còn tàu về thì như là một cuộc đời sắp tàn. Nên chỉ riêng Sơn, chàng không bồn chồn lắm, mà chỉ vui ngắm cảnh rộn rịp tránh tàu.
Nhưng cái bận rộn của bạn ghe thật vô ích. Đó chỉ là một chiếc tàu đò nhỏ, chiếc Hát Giang, chở hành khách nghỉ mát trở về Sàigòn.
Hôm nay, ngày cuối cùng của hạn nghỉ Phục Sinh, nên tàu chở khẩm lừ. Tàu đen đúa lại tróc sơn xem rất xấu xí, nhưng hành khách vẫn nhiều màu rực rỡ trông rất đẹp và người ta có ấn tượng nhìn một hộp thiếc cũ đựng một mớ bướm mà cánh nhuốm đủ cả các màu.
Chiếc Hát Giang chạy sát hàng đáy quá, không hiểu vì sao. Người tài công quên rằng có hàng cột đáy ở đó chăng? Không rõ. Nhưng khi tàu qua lạch thì suýt rướn lên cây cột đáy ngoài bìa.
Đi sai đường như vậy, không hại ai cả, hay nói cho đúng, chỉ hại chủ đáy chút ít thôi: một trụ đáy sẽ ngã, lôi theo vài trục kế cận, thế là thôi.
Nhưng người tài công lại quýnh lên, lái mạnh để xuyên tạc đường tàu một cách đột ngột hết sức. Chiếc tàu bỗng day mũi mau lẹ rồi nghiêng triềng. Hành khách trên tàu, gồm rất đông đờn bà và con trẻ đâm hoảng, chạy đổ dồn qua bên be cao, một là họ sợ rơi xuống nước, hai là họ hy vọng làm thế để lật cho tàu được thăng bằng trở lại. Vì vậy tàu thình lình lại nghiêng về phía hành khách mới đổ dồn qua. Lần nầy nó nghiêng quá 45 độ, vì sức chạy của hành khách tăng thêm sức nặng của họ. Họ vẫn hoảng nhưng không kịp chạy trở lộn về nữa vì tàu đã kể như lật rồi. Vả sân tàu bây giừ gần đứng sững, còn chạy đi đâu được nữa.
Người nào bám níu kịp vào cột, vào lan can thì còn miễn cưỡng ở lại được trên tàu, còn thì rơi xuống nước cả. Tiếng kêu la inh ỏi của đàn bà, tiếng khóc của trẻ con, cộng với tiếng kêu gọi nhau trên các ghe kế cận làm vang dậy một khúc sông.
Nhìn những chiếc ghe vội vàng trở mũi về chỗ tàu lật để cứu vớt nạn nhân, Sơn cũng toan góp phần vào việc cứu cấp nầy. Nhưng chàng bỗng nhớ sực lại là ghe của nhà đèn đã đi chợ nên chàng cụt hứng.
Tàu lật thì mau chóng mà chìm thì chậm lắm. Sơn bất lực, đứng ngắm mặt nước nuốt lần khối sắt tầm phổng ấy, chơn bứt rứt khó chịu cỡ muốn chạy bay đến nơi ấy.
Khi hông tàu là là mặt nước, con tàu bỗng như do dự giây lát, rồi như đánh liều nhắm mắt, nó chìm mau xuống đáy sông.
Nước chỗ ấy hủng một lỗ to, và sức nặng của con tàu hút nước chung quanh, khiến ghe thuyền đang chèo về, bị thu mau lẹ lại nơi đó.
Sau khi lỗ hủng được lấp bằng như có ai vùi nông xác tàu lại, thì nhiều chấm đen bỗng nổi trở lên mặt nước. Đó là những chiếc thùng, những xe hơi, những đầu kẻ biết lội và cả đầu những kẻ tuy không biết lội mà may mắn bám được vào những vật nổi.
Ghe thuyền trên sông đã sốt sắng làm tròn phận sự. Nhưng số ghe thì ít, mà người chết đuối lại đông quá, nếu họ vớt kịp cũng không chắc đủ chỗ chứa. Mà nào có kịp đâu! Vớt một người biết lội, mất đến mười phút! Trong khi đó những người không biết lội đủ ngày giờ sút tay chìm lỉm, hay bị sóng lớn đẩy đi xa và sợ quá hóa dại, buông thùng.
Cuộc cứu cấp kéo dài lâu quá. Có người tự lực lội vào bờ, nhưng sông quá rộng, mà họ là dân thiếu tập luyện nên đuối sức giữa đường. Có người ôm cột đáy mãi, la hét om sòm mà không ai vớt cho.
Sơn nóng ruột quá và rất mừng mà nhớ thình lình rằng mình có một chiếc di-lê nổi.
Lúc định ra đây, chàng nghĩ tới sông lớn mà phát sợ lên, nên đã mua chiếc áo hộ thân đó. Lâu rồi, không có dịp dùng tới nên quên phứt nó đi.
Sơn lật đật mở rương lấy áo tròng vào mình rồi bỏ quần ngoài chỉ giữ quần đùi thôi, chàng đứng trên nhà đèn, chấp tay lại trên đầu rồi nhắm mặt nước mà phóng xuống.
Lúc đó nước ròng, thành ra cẳng nhà sàn cao nghệu như nhón lên để mà nhìn cảnh chìm tàu. Sơn lông rông một cái và giây lâu nổi lên cách nhà sàn tám thước. Chàng lội giỏi lại có áo nổi nên lượn trên mặt sông như rái.
Chẳng bao lâu, chàng đã đến nơi tai nạn xảy ra. Vừa tới là Sơn được chứng kiến cảnh tượng lạ kỳ: hai nạn nhơn đang giành nhau một cái thùng, vì thùng nhỏ, hai người đeo nó muốn chìm nên ai cũng cố chiếm cho được thùng ấy cho mình.
Một nạn nhơn, tóc rủ phủ mặt, xem ra là đờn bà. Người nầy không chắc kém sức hơn nạn nhơn đờn ông kia, nhưng lại buông cái thùng, như chán nản lắm.
Người ấy còn đủ sức lội, vừa lội thong thả, vừa đưa một bàn tay lên vén tóc và vuốt mặt.
Sơn kêu lên một tiếng kinh ngạc: “Lệ!”
Rồi chàng bươn bả lội riết lại người con gái mà trong giây phút nầy chàng quên mất rằng ả ta đã bỏ rơi chàng.
Lệ cũng nhận ra Sơn. Nhưng nàng bình thản nói lớn:
– Anh cứu giùm anh Nam, ảnh không biết lội.
Sơn nhìn theo hướng ngón tay của Lệ chỉ thì mới hay anh chàng giành thùng là Nam.
Vì không biết lội, nên mặc dầu được thùng, Nam vẫn trầm luân. Hai cánh tay chới với, hắn níu lấy cái thùng nhỏ, đầu trồi lên hụp xuống không ngớt.
Trong vài giây, trí Sơn bị nhiều ý nghĩ làm bận rộn. Chàng bỏ mặc cho chúng chèo kéo nhau trong đó, bơi riết đến Lệ.
Tới nơi, chàng đưa một cánh tay, rồi nói xẵng:
– Níu lấy, tôi đưa vô!
Lệ không kịp nói gì đành phải níu tay Sơn.
Sơn lội một tay, đưa người bạn cũ vài phút là tới nhà sàn. Chàng nói:
– Cô ôm chưn sắt nầy mà leo lên. Nếu không được, đợi tôi trở lại.
Rồi không thèm ngó Lệ, chàng lại trở ra ngoài khơi. Biết tâm lý hoảng sợ và hay níu bậy của những người không biết lội. Sơn lại gần phía Nam sau lưng, rồi thình lình choàng tay qua ôm trái người sắp chết đuối. Lưng Nam cạ vào hông của Sơn, mặt hắn đưa ra ngoài, thành thử hắn sợ bao nhiêu, cũng chẳng níu được.
Sơn như lôi xểnh hắn vào nhà đèn, và khi tới nơi, chàng nói: “Ôm cột mà leo lên”.
Bấy giờ, Lệ đã trên nảnh hường. Và bấy giờ hết sợ, nàng mới biết mắc cỡ vì áo quần dính sát vào da nàng.
Lệ ngồi co ro bó gối nhìn Sơn leo lên, và nhìn Nam lót tót bò lên theo.
Sơn nói:
– Nhà chỉ có một buồng, buồng của cậu mợ tôi làm trưởng đăng ở đây. Cô cứ vào đó, có quần áo tôi trong ấy. Nếu cô không ngại, cô thay đỡ kẻo cảm lạnh, bằng ngại thì cô vắt y phục cô cho thật ráo mà mặc lại.
Nói xong, và không thèm đếm xỉa đến Nam, Sơn lại lông rông đi nữa.
Tàu chìm hồi chín giờ sáng mà mãi đến gần mười một giờ trưa mới vớt hết nạn nhơn.
Chỉ có sáu chiếc ghe, trên mỗi chiếc có hai người bạn chèo. Một người giữ chèo một người vớt, nên họ hì hục lâu lắm.
Sơn phụ với họ và đưa người lên ghe họ thôi chớ không dám rủ khách về thêm nơi nhà giữa sông của chàng, vì gạo trên đó chỉ có hạn. Và lên đó rồi, còn phải đưa họ vào bờ nữa, lôi thôi lắm.
Khi chàng về đến nơi thì thấy Lệ đã nấu cơm xong. Nàng cười nói:
– Em vô phép làm như là nhà của em. Mà nếu em không nấu, chắc anh cũng phải nấu. Em lại vô phép nấu cho ba người ăn.
– Cô làm rất phải, cũng không vô phép gì hết. Cô giúp giùm tôi bữa nấu nầy, tôi cám ơn.
Lệ xụ mặt xuống mà rằng:
– Em chắc anh không mỉa mai, nhưng tiếng cám ơn của anh lịch sự quá, em nghe sao mà lạnh lẽo…
– Tôi quen miệng rồi…
Sơn nhìn lại thì thấy Nam mặt sượng ngắt: dễ thường hai người không trao đổi nhau lời nào lúc chàng vắng mặt.
Nhưng chàng không nghe lòng mình ghét Nam. Nhờ Nam giành thùng, nhờ nam không biết lội cho nên chàng mới cứu tình địch của chàng, chàng mới có thể tỏ ra mình thanh cao. Sơn bằng lòng mình lắm nên không ghét Nam được.
Lệ hỏi:
– Anh ở đây có một mình, lâu lâu có tàu ra tiếp tế gạo phải không? Buồn không anh?
– Không, ở đây đến sáu người. Họ có việc đi vô bờ hết, tối họ lại ra. Vài ngày thì chúng tôi đi chợ lấy một bữa. Chúng tôi có ghe riêng, của sở hàng hải phát cho.
– Mấy anh nấu nướng lấy mà ăn hả?
– Cậu tôi có vợ. Mợ tôi lo cơm nước giùm.
Gió sông lồng lộng thổi, đánh đưa những cánh cửa sổ kêu ken két và đằn ngọn lửa nấu cơn nằm dài xuống.
Họ đang ngồi giữa buồng chung to lớn và trống trơn. Đây vài thùng dầu, kia một đống dây đỏi. Bếp là 2 chiếc cà ràng nơi một xó nhà.
Sơn giở nắp một cái khạp nhỏ, lấy ra một con khô rồi nói:
– Nhà chỉ có cá khô để đãi quý khách, xin… cô tạm dùng đỡ.
Chàng do dự hơi lâu trước tiếng cô, ý muốn nói đến cả hai người khách, mà không biết phải kêu người kia bằng gì. Vả Sơn cũng hơi hờn hắn, muốn bỏ hắn ra rìa, không nói tới cho đáng kiếp, nên do dự rồi rốt cuộc chỉ trao đổi với Lệ mà thôi.
– Cả đời phải kham khổ một ngày có sao đâu. Em ngại cho anh kia chớ. Nhưng tại sao anh lại ở đây?
Sơn không đáp, ngồi bó gối trên sạp gỗ nhẵn và lên nước vì mấy mươi năm được người chà lết trên đó. Mặt chàng tuy buồn hiu mà nói lên rất nhiều về nỗi đau thầm của chàng.
Chắc Lệ đã hiểu nên không hỏi gì thêm. Nàng lui cui ghế cơm, đoạn nướng khô.
Sơn thì đi lấy chén đũa đặt lên chiếc đệm vừa được trải ra giữa nhà. Chàng nhìn cả hai người khách rồi hỏi, để đánh tan nỗi khó chịu:
– Cô đã thành hôn với… anh bạn đây chưa?
– Vẫn còn là vị hôn thê, vị hôn phu với nhau. Nhưng sao anh lại kêu em bằng cô? Cứ kêu như xưa xem có phải thân hơn không!
– Vâng, thưa chị, nếu chị cho phép như vậy. Thôi mời anh chị dùng cơm.
Ai cũng đói, nên không ai để mời hai lần. Trong bữa ăn, đã mấy lần Nam toan mở miệng nói, nhưng lại thôi. Anh chàng ấy vốn lắm lời, và cũng cần phải nói cái gì để đỡ trơ, nhưng anh ta lại xẻn lẻn quá, khó mà ra khỏi sự im lặng được. Thái độ anh lúc chìm tàu, anh ý thức rõ rệt là nó hèn, và không thể tha thứ được vì lẽ gì hết.
Lệ hỏi cho có chuyện:
– Nước uống anh lấy ở đâu?
– Lẽ cố nhiên là từ trên bờ đem ra, mỗi lần đi chợ về. Vì nặng nên chỉ đem được một khạp đường thẻ nầy thôi.
Vừa nói, Sơn vừa chỉ khạp nơi góc nhà, rồi tiếp:
– Nước ngọt ở đây quý lắm, hệt như trên một con thuyền ngoài khơi. Mặc dầu chúng tôi có ghe sẵn, không lẽ đi lấy nước ngày mấy mươi bận được.
– Nếu cả nhân viên ở đây đều có vợ con thì sao?
– Chưa xảy ra chuyện ấy bao giờ. Trừ người trưởng đăng, còn thì ai cũng trẻ tuổi cả, và vì thấy bất tiện nên họ không cưới vợ.
Không dám hỏi về chuyện âm tình riêng của bạn, sợ gợi buồn cho Sơn. Lệ cụt hứng. Thành ra bữa ăn buồn như là Sơn ở một mình.
Gần cuối bữa, Nam mới mở miệng được và hỏi:
– Rồi làm sao chúng tôi về?
– Đưa anh chị vào đây, tôi quên nghĩ đến chuyện về. Vả lại, nếu để họ đưa vào bờ, anh chị cũng đến khổ vì bơ vơ trong làng mạc, xa đường giao thông. Nhưng cũng dễ thôi. Ngày mai, tôi đón ghe cửa. Cậy họ chở anh chị trở ra Bến Đình hoặc Rạch Dứa. Ở đó rồi đi đâu cũng được.
Ăn cơm xong, Nam kêu mệt, xin một chiếc chiếu rồi lăn ra mà ngủ.
Anh chàng ngủ dễ dàng quá, mới đặt lưng xuống chừng mươi phút là ngáy pho pho, tiếng ngáy muốn át cả tiếng gió gào và tiếng sóng đánh vào chân sắt nhà sàn.
Sơn hạ gàu xuống sông kéo nước lên để rửa chén. Nhưng anh khỏi phải nhọc vì công việc sau, Lệ đã giành lấy mà làm! Sơn không cản.
Bấy giờ chàng mới để ý thấy Lệ không thay đổi y phục. Quần áo nàng nhàu nát cả và lấm dơ hết. Nhờ gió nhiều, mau khô, nên Sơn mới không nhớ đến vụ nàng ướt.
– Chị coi chưng, nếu ngày mai chị bắt đầu nhảy mũi là trúng cảm rồi đó.
– Thật ra em không lạnh… bên ngoài. Mà bên trong lòng cũng chỉ mới vừa lạnh đây. Anh… anh lạnh đã từ bao lâu còn không sao kia mà…
Lệ nghẹn ngào, nói đứt khúc từng đoạn. Sơn lơ đi và cứ tiếp tục kéo nước, mặc dầu nước rửa chén đã dư dùng. Kéo lên, rồi đổ xuống rửa mấy tấm sạp quanh đó mãi. Có lẽ chàng giấu xúc động của mình, hơn nữa dấu ngấn lệ nó không đẹp gì nơi con mắt của con trai.
Lệ sắp chén đũa rửa xong vào sóng, rồi hỏi lại câu hỏi ban sớm:
– Nhưng tại sao anh lại ở đây?
– Chắc chị cũng đoán biết rồi, còn hỏi làm chi.
– Em ngỡ anh can đảm hơn…
– Chị ít tình cảm lắm, mới ngỡ như vậy.
– Sao anh biết em ít tình cảm?
– Việc chọn lựa của chị có vẻ lý trí quá, y như thái độ của một người đàn ông có cá tính mạnh mẽ.
– Em lấy chồng, em chọn chồng, chớ có chọn nhơn tình đâu mà phải theo tình cảm.
– Ấy thế. Chị dám lấy chồng theo lý trí thì là ít tình cảm rồi đó.
Sơn nói câu nầy không phải nói lẫy. Chàng tin như thế, mặc dầu vừa thấy Lệ xúc cảm mạnh khi nãy. Chàng nghĩ rằng xúc cảm ấy chẳng qua là xúc cảm vì hối hận thôi, chớ không vì thương một người bạn không may mắn.
Lệ thở dài, làm thinh giây lâu rồi tự phê bình: và vì vậy mặc nhiên nhận Sơn nói đúng.
– Nghĩ ra theo lý trí cũng chưa chắc gặp đường tốt nẻo ngay anh à. Em chán nản đến muốn chết đi được.
– Vậy à? Từ bao lâu rồi?
– Chỉ mới từ khi sáng đến giờ.
Sơn nghe Lệ bảo chán nản thì hy vọng lắm. Nhưng ba tiếng “từ khi sáng” lại làm cho chàng khó chịu vô cùng.
“Thì ra nàng chỉ mới chán đây thôi. Còn thì mấy tháng nay nàng vẫn yêu vị hôn phu như thường và chắc không bao giờ nàng nhớ đến mình!” Ý nghĩ thầm đó xui chàng ghen tức lên. Chàng yêu Lệ quá nên ngỡ mình có quyền ghen tức ngay một phút sau khi Lệ chán người khác.
Lệ tiếp:
– Vụ giành thùng giữa sông làm em xấu hổ với anh quá. Lòng tự ái của em bây giờ nó không còn dám ló mặt ra mà nhìn ai nữa, nhứt là nhìn anh. Có một vị hôn phu hèn đến thế thì mình cũng đến bị nó lôi theo xuống bùn.
Nhưng nếu nó chỉ hèn vì tham tiền, vì sợ quyền thế thì cũng tạm quên được đi, và tạm che mặt lại mà sống. Đằng nầy nó lại có thái độ như trẻ con, tối ngủ giành hết mền một mình thì còn lòng nào mà thương yêu được.
Sơn thích lắm, nhưng vẫn làm bộ binh vực cho dịu bớt bực tức của Lệ. Chàng có ẩn ý làm cho Lệ phục chàng thêm trước thái độ thanh cao của chàng:
– Bản năng tự tồn mà… Trong trường hợp đó, ai cũng thế cả.
– Anh nói mới vô lý chớ. Em đã thấy nhiều cuộc hy sinh khiến em khiếp phục và nhớ mãi, mà kẻ hy sinh lại là những người kém Nam về học thức, về tiền của nhiều lắm. Em chắc anh cũng đã thấy như vậy ít lắm là một lần.
Sơn thở dài cho hợp với không khí nầy, trong khi Lệ phát lên cười dài:
– Cũng may cho em lăm. Nếu không có cuộc thử lửa nầy thì làm sao em biết…
– Thử nước chớ, Sơn sửa lời của bạn để đùa chơi.
– Ừ thì thử nước. Thì làm sao em biết được thâm tính của Nam!
Sơn rất muốn hỏi Lệ xem bây giàng tính sao, một khi chân tướng của Nam đã bị lộ tẩy. Nhưng chàng tìm mãi mà không ra một lối hỏi cho có vẻ không mong mỏi gì hết trong vụ đó.
Rốt cuộc, chàng tạm dùng phương pháp do đường sau đây, không được khéo lắm, không được kín đáo lắm:
– Nhưng sao anh chị chậm làm đám cưới dữ vậy. Anh gác đèn như tôi sẽ được mời uống rượu hay không?
Kể cả khi sửa lời hồi nãy, Sơn nói đùa lần nầy là hai lần. Nhưng Lệ không vui đáp lễ bận nào cả.
Nàng làm thinh ngó mông lên vuông trời xanh lơ ở ngoài cửa sổ. Một bầy quạ như viết chữ nhỏ đậm đen lên tờ giấy xanh ấy. Trong giây phút cả đôi bạn đều có ấn tượng như mình đang ngồi trong khoang thuyền và thuyền đang bình bồng giữa biển khơi.
Họ làm thinh như vậy lâu lắm rồi Lệ mới nói:
– Như ai thì sau vụ giành thùng nầy là đoạn tuyệt rồi. Trắng đen đã rõ, có gì phải do dự lâu. Nhưng em lại quyết định giữ nguyên tình trạng cũ. Xấu hổ với mình lắm rồi, nên cũng không buồn chọn lựa nữa làm chi. Vả lại biết ai “lòng dạ thanh cao” bây giờ. Em ngỡ đã chọn kỹ, lại trúng nhằm một cậu giành thùng thì còn biết sao nữa. Thôi thì phận gái mười hai bến nước, rủi mắc phải bến đục cũng đành cam anh ơi!
Thoáng thấy vẻ phản đối trên mặt Sơn, Lệ nói:
– Nhắm mắt đưa chơn như vậy cũng bậy lắm, em đồng ý với sự phản đối ngầm của anh. Nhưng xin anh biết cho rằng em chán nản lắm rồi… Anh ấy à? Phải, nếu cần chọn một người khác, em sẽ không phải bận tâm trí lâu. Người đó là anh, hẳn rồi. Nhưng em còn mặt mũi nào mà yêu anh cho khỏi xấu hổ với chính lòng em.
– Ai cũng có lúc lỡ lầm, có gì mà xấu hổ.
– Em biết anh thương em nhiều và vẫn còn thương như trước. Anh sẵn lòng đón em, chắc chắn như vậy. Nhưng em mắc cỡ với em quá!
Thôi anh à, việc thương yêu chỉ là việc nhỏ thôi. Đừng nên rắc rối với nó. Cứ suông sẻ mà đi thì tốt hơn.
– Chị thật là thiếu tình cảm.
– Có thế ấy nhiều lắm cũng chẳng làm gì. Nếu em tình cảm nhiều có phải là em đã nhào trở xuống sông rồi chăng? Anh muốn như vậy lắm à?
– Không, nào tôi có muốn như vậy đâu, nhưng…
– Để cho tình cảm anh nó thơ mộng thêm, em xin thú với anh là trước kia em đã yêu anh…
– Chị ơi, chị, trời ơi chị, tại sao đợi đến ngày nay tôi mới được nghe lời ấy!
Sơn nấc lên nơi mấy tiếng chót, và lần nầy chàng không thèm giấu mặt nữa, để cho lệ tự do ràn rụa ra.
– Không, không có gì anh phải hối tiếc. Trước kia em đã yêu anh, và bắt đầu từ hôm nay em lại yêu anh, và sẽ yêu anh mãi mãi.
– Thì như thế. Em cam chịu lấy chồng như vậy, nhưng em thấy không thể thương một người chồng như vậy được. Nhưng trong đời em nếu em có yêu ai, thì người đó là anh.
Sơn sung sướng cực điểm. Chàng đưa tay toan nắm lấy tay Lệ, nhưng bỗng nghe một tiếng của nàng, khiến chàng hoảng sợ lấy tay lại ngay. Lệ nói:
– Không, anh đừng hiểu lầm…
Nàng vừa nói thế, vừa thò tay ra cho Sơn nắm. Sơn kinh ngạc hết sức, chỉ nhìn bàn tay ấy trân trân mà không dám cử động gì.
-…thì anh cứ nắm lấy đi, và chỉ có thế thôi, lần đầu và lần chót. Đây là quà kỷ niệm muôn đời mà em yêu mến tặng anh đó.
Sơn ngập ngừng tay giây lâu mới dám cầm tay bạn, trong khi ấy Lệ tiếp lời:
-… Và anh đừng hiểu lầm. Em yêu anh tận đáy lòng em, nhưng điều đó không có nghĩa là em ngoại tình với anh. Chỉ có thái độ mới tỏ được sự to lớn của tấm tình em đối vớt anh, anh là người có quyền chiếm được em trước hết, hay là không bao giờ cả.
Sơn siết chặt lấy tay Lệ và khóc như trẻ con:
– Chị… em… ơi, thà là em đừng nói gì hết, chớ còn như thế nầy, làm sao mà anh quên được.
Rỗi bỗng chàng buông tay Lệ ra, ngồi thẳng lên mà nói lớn:
– Anh sẽ giết nó, con người không xứng đáng tấm tình của em, và cũng không đáng sống trên đời nầy nữa.
Sơn bấy giờ hối hận hết sức đã cứu Nam. Khi sáng, chàng cũng có nghĩ đến việc để Nam chết chìm luôn cho rồi, nhưng muốn làm bảnh cho Lệ phục và hối hận thôi, nên bây giờ chính chàng lại phải ăn năn.
Chàng thấy rõ Nam là chướng ngại vật độc nhứt. Lệ đã yêu chàng, đang yêu chàng, đang khinh vị hôn phu. Chỉ vì nàng chán nản không muốn phiêu lưu thêm trong tình ái, nên mới quyết lấy một người chồng như vậy thôi. Bây giờ thủ tiêu người đàn ông đó là xuôi chuyện ngay.
Lệ nhận rõ tình thế nguy hiểm nên hoảng sợ hết sức. Nàng nghiêm nét mặt lại, vịn tay Sơn mà rằng:
– Anh đừng có rối trí mà làm nhăng. Nếu anh giết anh ấy thì hóa ra anh cũng hèn nốt. Vậy thì làm sao em yêu anh được nữa mà mong. Vô ích lắm!
Hai người mải mê chuyện với nhau mà quên lửng người thứ ba đang ngủ cạnh đó.
Người ấy ngáy ầm nhà và đáng lý vì sự im lặng thình lình nơi chiếu ngủ khiến đôi bạn chú ý mới phải. Đằng nầy họ quên mất, mải cho đến khi Nam cựa mình họ mới hay.
Lệ vội buông tay Sơn ra. Cả hai tuy không làm gì nên tội, vẫn bẽn lẽn, sượng sùng. Thái độ ấy không lọt mắt Nam được.
Từ sáng đến giờ, Nam tưởng Sơn chỉ là người quen thường của Lệ thôi. Việc họ ngồi gần nhau trò chuyện trong lúc chàng ngủ cũng chẳng có gì khả nghi. Nhưng cái vẻ bẽn lẽn của hai người thật đáng ngờ.
Mặt hầm hầm, Nam đứng lên đi lại cửa sổ dòm ra ngoài.
Sơn cũng uể oải đứng dậy, xách thùng dầu rồi leo lên chiếc thang sắt để vô dầu cây đèn trên nóc nhà.
Lệ hỏi vị hôn phu:
– Anh ngủ có mệt lắm không? Ở đây bức quá!
Phải, cả nhà đều bằng kim khí: cột sắt, vách tôn, nóc cũng lợp tôn. Trong ấy nóng như trong lò lửa.
Nam làm thinh giây lâu rồi day lại nói, giọng quạu quọ:
– Bức lắm. Nhưng thằng gác đèn nói chuyện nghe êm như gió thoảng nên cũng đỡ phần nào.
Lệ khổ đến muốn cắn lưỡi mà chết. Nếu hắn chỉ ghen bóng ghen gió thì nàng có thể khinh hắn để an ủi lòng. Đằng nầy nàng lại có lỗi phần nào, thì không khinh hắn được. Mà lỗi đâu có nặng cho cam, nhưng ai biết cho mình; thành ra cũng chẳng gây được với hắn để tự bào chữa.
Nàng ôn tồn nói:
– Người ấy là người ơn của ta, anh cũng nên nhẹ lời mà đừng gọi thằng nầy thằng kia.
– Binh hả? Được, tôi sẽ để hai đứa ở đây mà gác đèn, rồi trả ơn cho nó.
Lê chỉ biết thở dài.
Thấy Sơn tuột xuống, Nam chấp tay sau mông, đi qua đi lại trên sàn, mặt hầm hầm. Anh ta nện mạnh gót trên ván, đi rất mau, đó là dấu hiêu tức giận và nhứt là đang nghĩ nhiều.
“Anh ta đang toan tính gì trong trí?” Lệ lo sợ và tự hỏi như vậy.
Một đàng quyết thủ tiêu tinh địch, một đàng ghen tức muốn đập chết người tình nghi. Thế nào họ cũng choảng nhau!
Lệ hối hận hết sức. Cũng vì nàng không khéo léo mới ra nông nỗi ấy. Nàng lại tức mình quá lẽ. Đã muốn suông sẻ đường đi, không rắc rối gì cả, mà lại chuốc lấy cái lo hôm nay và biết đâu không chuốc lấy bao phiền bực vì cái án mạng có thể xảy ra bất kỳ lúc nào!
Trời càng xế càng nóng lạ. Dưới là nước, trên là gió, nhưng ở khoảng giữa nầy lại như đống than hồng.
Sơn dẹp thùng dầu rồi cũng đi lại nữa để mà ngó mông như Nam hồi nãy.
Nam dừng chơn lại, nhìn lưng Sơn. Bấy giờ anh chàng gác đèn bất đắc dĩ, không biết thấy cái gì dưới nước mà nhón gót rồi chồm ra ngoài để nhìn xuống dưới ấy.
Một ý nghĩ thoáng qua làm Lệ kinh sợ hết sức: Nam sẽ nhảy đến nắm lấy hai cái chơn kia. Vì gót đang nhón, nên Sơn sẽ bị đỡ hổng lên dễ dàng. Rồi Nam sẽ đẩy mạnh chàng ra ngoài, không sức lực nào mà chống nổi với cái đẩy thình lình và rất đắc thế nầy.
Nàng liếc mắt ngó vị hôn phu của nàng và thấy Nam cũng đang nhìn trừng trừng vào hai cái cẳng của Sơn. Chắc chắn trong đầu anh chồng ghen nầy một cuộc toan tính cũng đang nổi lên.
Nhưng sao Nam lại xây lưng, bỏ dự định để đi đi lại lại như trước? Có lẽ hắn nhớ đến hai cánh tay cứng rắn của Sơn, và nghĩ rằng khó ăn nên thôi. Sơn mà cố níu bệ cửa được rồi, rồi co duỗi chơn một lúc là hắn sẽ đuối sức, và chừng đó tình thế bị thay đổi ngay.
Lệ thở ra nhẹ nhõm.
Nàng tức sao Sơn không đề phòng gì cả, làm như không biết là Nam đang ghen tức và có thể giết người.
Sơn cứ bình tĩnh đứng đó mà dòm ghe qua lại. Độ chừng tàn một điếu thuốc, Nam lại dừng chơn khiến Lệ phải một phen hồi hộp nữa.
Nàng nín thở xem Nam làm gì bận nầy. Anh chàng chết đuối hụt bước lại một góc nhà, cúi xuống cầm lên một thanh sắt đã han rỉ. Thanh sắt to bằng ngón chơn cái và dài độ một thước. Hắn ngắm nghía một hồi rồi quả quyết bước lại chỗ Sơn đứng.
Khủng khiếp, Lệ kêu lên một tiếng thất thanh.
Sơn giựt mình day lại thì thấy Nam đang vụt thanh sắt ra một cửa sổ gần đó, vừa vụt vừa nói:
– Mẹ! Bay gần quá, chọi thử coi có trúng không.
Sơn hỏi:
– Gì đó chị Lệ?
– Trời ơi, em thấy con chim lớn nó xớt con chim nhỏ.
Sơn dòm ra thì không thấy chim đâu cả. Nhưng chàng không ngờ gì hết, vì cả Nam và Lệ đều có lý, cả hai đều có thể thấy chim, một đàng toan chọi con chim bay gần, một đàng sợ con chim xa nào xớt con chim nhỏ nào đó.
Lệ thì bối rối trông thấy.
Nàng tìm công việc gì làm cho dịu bớt sự rộn óc, và sực nhớ lại đã gần chiều. Nàng nói với Sơn:
– Anh cho em mượn cái hộp quẹt coi.
Sơn không phản đối việc Lệ nấu cơn lần thứ nhì và trao hộp diêm cho nàng. Vừa quẹt lửa, Lệ vừa dòm chừng hai người con trai. Bấy giờ Sơn cũng chấp tay sau mông, đi đi lại lại như Nam.
“Hai đứa nó đang âm thầm toan tính đập nhau đây?” Lệ nghĩ thầm.
Thật là buồn cười. Hai người con trai, đi qua đi lại mãi trong một buồng hẹp, không nói với nhau một lời, bộ tịch bứt rứt như hai con khỉ bị nhốt chung chuồng.
Lệ mong chiều xuống, trời mát sẽ làm cho họ bớt hăng. Nhứt là bữa cơm sẽ khiến họ nặng nề ra, chỉ tính chuyện nghỉ ngơi mà quên dự định làm điều hung dữ.
Cơm đã chín, khô đã nướng xong mà hai gã nầy vẫn đi không biết mỏi. Lệ trải đệm dọn bữa xong xuôi, kêu họ, họ mới chịu dừng bước.
Khi cả ba đều ngồi lại, Lệ mở lời liền cho không khí bớt lạnh.
Nàng hỏi Sơn:
– Có một ngọn đèn nhỏ xíu mà tại sao phải đến sáu người phục dịch?
– Sáu người là còn ít đa. Là vì chúng tôi phải thay phiên nhau thức đêm để canh đèn, sáu người mà hết hai người khỏi thức, vị chi còn có bốn.
– Ai khỏi thức?
– Hai anh chèo ghe.
– Đèn sao lại phải canh?
– Sợ nó tắt thình lình.
– Nó hay tắt lắm à?
– Trên thực tế, đèn nầy chưa tắt bao giờ cả từ mấy mươi năm nay. Nhưng theo lý thuyết thì đèn nào cũng có thể tắt cả nên phải canh chừng.
Vả lại quanh đèn có lồng kính. Hơi ẩm phủ lồng kính ấy về đêm, khiến đèn hay mờ, cứ độ nửa tiếng đồng hồ là phải lau kính một lần.
– Khổ quá hớ! Nhưng có gì nguy hiểm không anh?
– Đèn nầy nhỏ nên không sao. Cây hải đăng ngoài Vũng Tàu sáng hơn gấp một trăm lần. Nên chi lão lau kính phải mù về sau, chỉ vì lão nhìn ánh sáng dữ dội mỗi đêm.
– Chiều tối rồi mà họ không về, rồi anh một mình làm sao cho kham?
Lệ hỏi điều đó và rất băn khoăn về nó. Từ hồi nấu cơm đến giờ, nàng trông đứng trông ngồi những người đi vắng. Cứ chốc chốc nàng liếc ra các cửa sổ xem coi có chiếc ghe nào xáp lại gần nhà đèn hay không.
Họ mà về thì thoát: Nam chắc chắn không dám dở trò gì bậy bạ, còn Sơn thì cũng không ra tay cược.
Sơn tuy cũng mong thế, nhưng biết bạn không dám ở đêm trên bờ nên ít hy vọng lắm. Chàng đáp:
– Thế nào rồi họ cũng về
– Có bao giờ họ không về chăng?
– Chưa bao giờ.
– Em cứ lo đêm nay là đêm đầu mà thủ tục nhà nầy bị sai chạy.
Ăn cơn xong, Sơn cũng kéo nước cho Lệ rửa chén như khi sáng. Nam thì ngồi nhăn mặt một lát rồi kêu đau bụng. Giây phút sau, hắn đi cầu tiêu liên tiếp.
Suốt mấy ngày nghỉ mát, Lệ và Nam ăn rất nhiều hải vị. Đó là thức ăn nhuận trường mạnh, lắm khi có tánh chất tẩy rửa, nên Nam bị như vậy không ai ngạc nhiên hết.
Bóng tối đã phủ lên lai bờ sông. Chỉ còn dòng nước là còn lóng lánh ánh sáng thừa của ngày hấp hối.
Sơn căn dặn Lệ:
– Đêm hôm tăm tối, nếu cô có sợ thì đóng kín cửa bên trong. Khóa kiên cổ lắm, cô có thể tin cậy nơi nó được. Có gì cô kêu lớn lên là có tôi.
– Anh ở đâu?
– Tôi ngồi trên đài suốt đêm nay… nếu họ không về.
Lệ rùng mình khi nghe Sơn nói đến sự có thể ấy: họ không về. Nhưng nàng yên lòng được đôi chút mà biết Sơn sẽ không ngủ chung với Nam ở buồng ngoài.
Nói xong, người gác đèn trẻ tuổi đi lại chiếc thang sắt, Lệ bước theo bạn, nói nho nhỏ:
– Anh coi chừng đêm nay!
Không, nàng không bất công, “lo cho chồng thì ít, lo cho trai thì nhiều”. Nhưng nàng tin rằng chỉ có Sơn là bị hăm dọa.
Sơn leo chậm rãi. Lệ ngước nhìn theo cho đến khi phân nửa thân trên của chàng chun vào lồng sắt trên ấy, nàng mới rời nơi đó.
Vừa lúc ấy Nam ở trong cầu tiêu bước ra. Cầu tiêu chiếm một xó nhà. Nó hẹp quá nên không ai thấy đó là một cái buồng.
Lệ hỏi:
– Anh làm sao vậy?
– Đau bụng lắm. Nam đáp xẳng lè.
– Khổ quá, không có thuốc men gì hết. Tuy vậy, có gì anh cũng kêu em.
Rồi nàng cũng vào buồng vệ sinh, cẩn thận thế cho xong đâu đấy, hầu tối khỏi ra ngoài, nơi mà nàng sợ sệt.
Bóng tối đã dày đặc khi Lệ trở ra và vào buồng riêng của mợ Sơn.
Sơn đã lên đèn trên kia. Nhưng đó là một cây đèn nhỏ và bất động, nên ánh sáng không đi xa.
Ngoài kia, ngọn hải đăng trên nổng bên tả của Vũng Tàu giống như cây chổi trong tay một đứa trẻ nghịch ngợm, cứ quay tròn và quét chân trời ở bốn phương tám hướng.
Phường đóng đáy đã treo trên đầu cây cột đáy bìa một lồng đèn cho ghe thuyền thấy mà tránh. “Chắc là đèn bão”, Lệ nghĩ thế, và lấy làm lạ không biết ngày xưa, ta chưa nhập cảng đèn bão thì treo bằng đèn gì để chịu nổi gió nầy.
Cây đèn lắc lư như có ai huơi để làm ám hiệu trong đêm tối, khiến Lệ nhớ tới câu hát, và ngâm nho nhỏ:
Đèn treo cột đáy, nuộc chảy đèn rung.
Càng về khuya gió càng thổi mạnh. Trong nhà tất cả cái gì kêu được đều kêu lên: mái tôn, cánh cửa, ngọn sóng đánh vào cẳng nhà sàn. Ngôi nhà đèn nhiều khi như bị lay chuyển và đứng không vững nữa.
Lệ nằm xuống chiếc chiếu trải ngay trên sàn gỗ, tai lắng nghe động tịnh bên ngoài. Nàng nhận thấy Nam thưa đi cầu lần lần.
Đến một khi kia, rình rất lâu mà không nghe tiếng bước của Nam, nàng đâm lo. Việc đi cầu của Nam như là một ngọn đèn hiệu, chỉ rõ hắn đang làm gì. Bây giờ im lìm, thì còn biết hắn ở đâu.
Ngồi lâu, Sơn chán và mỏi mệt quá, nên ngủ gục mấy lần. Lần chót chàng đang mơ thấy mình cưới được Lệ thì tiếng còi tàu vang rền đánh thức chàng dậy.
Sơn vội lau lia lau lịa lồng kính, và dòm ra ngoài. Một chiếc tàu lớn đen thui, lù lù tiến tới. Trong khối đen ấy trổ ra vài cái lỗ tròn và sáng.
Sơn tự hào là mình đang thủ một vai quan trọng, cứu mạng hàng ngàn người trên đó. Nếu đèn tắt, tàu sẽ rướn lên cồn, và sẽ có bao nhiêu người tử nạn?
Tàu qua khỏi đó rồi, chàng không dám ngồi nữa, sợ ngủ quên. Lồng sắt nhỏ quá, chàng phải thòng chơn xuống đứng trên một nấc thang.
Bỗng chàng nghe một tiếng kêu kinh hãi dưới kia, rồi gì như là một vật nặng rơi xuống nước. Giọng kêu là giọng phụ nữ, thì còn ai khác hơn là Lệ nữa.
Sơn nhảy một cái thì rớt xuống sàn gỗ một cái đụi. Chàng bấm đèn ló rọi quanh thì thấy Nam đang nằm ngủ. Nhảy một cái tới cửa buồng, Sơn vặn cửa thì thấy không khóa.
– Thôi chết rồi. Chàng kêu lên rồi không thèm rọi trong đó, Sơn nhảy lại cầu tiêu.
Chàng bước vào cầu, một tiếng rơi đánh đùng xuống nước!
Đêm dày mà mặt sông vẫn sáng. Sơn thấy Lệ đang lội lại chơn sắt, vội hỏi nâng:
– Em có sao không?
Lệ chỉ làm thinh mà lội. Sơn bắt kịp bạn nơi chơn nhà sàn và nói:
– Để anh cõng em lên.
Lệ hất tay chàng, và tự lực ôm chân sắt mà lên. Lên tới trên, Sơn lại nói:
– Em phải lấy quần áo anh mà thay mới được, đừng làm như khi sáng nữa.
Lệ vẫn ngậm tăm, ngoe nguẩy đi vào buồng và khóa chặt cửa lại.
Sơn tần ngần đứng nơi cửa rất lâu, đoạn thở ra rồi lững thững trở lại thang sắt.
Gió mạnh về khuya thổi vùn vụt vào quần áo ướt mèm của chàng mà Sơn không nghe lạnh. Chàng bận lo Lệ giận chàng và hy vọng mong manh của chàng khi xưa sẽ tan ra như bèo gặp bão.
Sơn ngồi đó lâu lắm, đâu có hơn một tiếng đồng hồ. Thèm một điếu thuốc, chàng lau sơ lồng kính rồi tuột thang mà xuống.
Anh sáng đèn trên soi mờ mờ gian buồng dưới. Nam vừa thức giấc nghe động dòm lên thì thấy hai ống quyển của Sơn thòng xuống. Một tia sáng xẹt ra trí hắn. Lẹ như chóp, hắn bước nhẹ lại góc buồng cầm lên một thanh sắt y hệt thanh sắt khi chiều, rồi nhắm nhíu kỹ lưỡng, hắn nhảy tới đập ngang vào nhượng của Sơn. Vố đập mạnh hết sức người, Sơn dầu xương thịt bằng sắt cũng phải sụm.
Nhưng lạ quá, tiếng động lại nghe như hai cây sắt chạm nhau chớ không phải tiếng sắt chạm vào thịt. Nam đau tức nơi tay đến điếng người và khủng khiếp hết sức mà thấy Sơn nhảy xuống một cái đụi như không có việc gì xảy ra.
Hắn có dè đâu bên ngoài và cạnh cái thang, còn một cột sắt nhỏ đứng lên để chống lồng sắt của cây đèn. Thanh sắt hắn đập vướng phải cột kia nên Sơn không bị thương như hắn tiên đoán.
Sơn lẹ làng nhảy đến chụp tay Nam và vặn mạnh. Đang bị đau tức, bây giờ bồi thêm cái vặn nầy, Nam la oái một tiếng rồi buông khí giới.
Nhưng hắn vẫn còn tỉnh táo. Hắn co giò tống cho Sơn một đạp thật mạnh. Bị đạp thình lình, Sơn té ngửa xuống sàn. Nam nhảy tới đứng đè lên bụng tình địch.
Trong giây phút đau điếng, Sơn thất thần. Nhưng sau một lúc ngắn chàng hoàn hồn lại. Chàng nắm lấy hai cườm chưn của Nam mà xô đi. Nam ngồi xuống thật mạnh cốt dùng sức nặng của tốc độ ngồi để làm ngất địch thủ. Những sức Sơn còn bền, bụng đau muốn chết mà vẫn chưa việc gì. Chàng ngóc dậy níu lấy Nam và lần nầy xô được.
Hai người con trai bây giờ nằm đè lên nhau, ôm nhau mà vật. Khi người nầy nam trên, khi kẻ kia lấn thế, nhưng không ai dám buông ai ra cả.
Sơn dang thân mình phía dưới ra được, rồi co đầu gối lên thúc mạnh vào đì của Nam một cái.
Anh chàng giựt thùng kêu lên một tiếng lớn rồi buông xụi tay chơn.
Biết Nam chỉ đau quá mà ngất đi trong giây phút thôi, Sơn lật đật ngồi dậy lấy thanh sắt mà Nam bỏ rơi hồi nãy.
Chàng giương oai đưa khí giới lên toan đập xuống một cái cho nát đầu người nằm đó thì bỗng nghe sau lưng Lệ kêu:
– Hãy khoan!
Sơn hạ tay xuống nhìn Lệ mà nói:
– Chắc em đã thấy cuộc đánh nhau nãy giờ. Anh chỉ tự vệ thôi.
– Tự vệ bấy nhiêu đó là đủ rồi.
Sơn không buông cây sắt, bước lại trước mặt bạn mà nói:
– Em Lệ, anh phải giết nó, vì nó là chướng ngại trong cuộc tình duyên của đôi ta. Em cứ nhắm mắt đi cho anh hạ thủ, em không có tội gì đâu cho dầu đối với lương tâm của em.
– Vô ích, đã trễ quá rồi!
– Sao lại trễ em. Em yêu anh mà chỉ vì còn nó. Một khi nó trôi lềnh bềnh trên sông Cần Giờ nầy rồi, thì ta sẽ xuôi chèo mát mái với nhau.
– Trễ quá rồi. Anh mà hạ sát Nam hồi chiều chắc tôi cũng chẳng cho. Nhưng nếu lỡ như thế thì tôi cũng còn có thể lấy anh được, còn bây giờ thì…
– Thì sao?
Sơn lo lắng vì thấy Lệ không xưng em nữa, mà chỉ xưng tôi thôi.
– … thì đã trễ như tôi đã nói. Anh đã lộ chơn tướng như Nam rồi.
– Lộ chơn tướng? Chơn tướng anh làm sao?
– Nó cũng hèn như chơn tướng của Nam vậy.
Sơn rụng rời thả rơi thanh sắt cầm tay.
– Hèn, anh hèn?
– Phải. Nếu anh giết Nam trong một chiến đấu oanh liệt như bây giờ thì đó là chuyện khác. Đằng nầy, trước đó, anh đã âm mưu ám hại, ám sát Nam một cách không đường hoàng như người quân tử.
– Tôi ám sát Nam?
Tới phiên Sơn cũng xưng tôi trả lại tiếng tôi của Lệ.
– Phải, anh ám sát Nam, nhưng ám sát hụt. Tôi hỏi anh tại làm sao mà ván lót trong cầu tiêu lại bị mở con vít? Tôi bước vào đó là bị sụp hầm, cả ba tấm ván đều di động như cái đu đòn bẩy.
Sơn tái mặt đi, thả rơi mình xuống sàn gỗ. Thì ra Lệ đã biết. Hèn chi nàng không hề trả lời lấy nuột tiếng khi Sơn nhảy theo vớt nàng, lúc nàng sụp cầu tiêu.
Quả Sơn có gài bẫy để cho anh chàng không biết lội té xuống nước mà chết luôn. Như thế ổn hơn, Lệ và pháp luật có thể tin rằng đó là tai nạn rủi ro.
Rủi quá là người chột bụng lại ngủ quên, còn người đáng lý không đám ra lại bị sụp hầm.
Số là Lệ lo lắng quá nên bị chứng buồn tiểu tiện láo nên mới lọt vào bẫy của Sơn.
Giây lâu Sơn mới nói được, giọng ngượng nghịu:
– Cho dẫu thế, tôi cũng không đến đỗi hèn như đứa giành thùng.
– Y như nhau. Nam còn tha thứ được hơn anh vì hắn bị bản năng tự tồn sai khiến. Còn anh, sao anh không đánh nhau đường hoàng với người ta mà lại làm chuyện mờ ám như vậy.
– Tốt! Cô sẽ làm vợ thằng giành thùng Tốt lắm!
– Tôi sẽ không làm vợ ai cả. Tôi chán bọn con trai các anh lắm rồi. Các anh giành thùng, giành ăn trong cơn nguy, y như con thú. Các anh chết vì một người đàn bà, các anh giết nhau vì một người đàn bà, trời ơi, vô lý và trẻ con hết sức! Lại giết nhau một cách ám muội nữa!
Ngày mai, tôi sẽ quá giang ghe thương hồ mà đi riêng một mình, và không bao giờ gặp các anh nữa.
Bấy giờ đã ba giờ khuya. Ghe ai qua đó, và để đỡ buồn ngủ, một anh bạn chèo ghe hát lên rằng:
Hò… ơ…
Đèn Cần Giờ đêm đêm sáng tỏ,
Ghe lớn, ghe nhỏ nhìn thấy rõ- mà vào,
Biết ai lòng dạ thanh cao…
Không bao giờ câu hò chèo ghe ấy lại thấm thía nơi lòng Lệ bằng đêm nay. Và ngọn đèn Cần Giờ soi sáng đêm trường từ mấy mươi năm rồi, hôm nay lại soi sáng cả lãnh vực sâu thẩm nhứt của lòng người.
vietmessenger.com Bình Nguyên Lộc Xới Đất xuất bản 1968
Post by Sơn râu 18 Sep 2024
Photo edit by Sơn râu
Phần 4 – Không kíp thì chầy
“Bây giờ mình thèm cái gì?”. Bích tự hỏi như vậy và hỏi xong là chàng thấy rõ là mình không thèm khát cái gì nhiều cả, nên mới hỏi lôi thôi. Người ta nói kẻ ghiền á phiện, một khi ra khỏi khám là đi tìm món ma túy ấy ngay, như có một sức mạnh ma quái xô sau lưng họ. Bản năng chàng không lôi kéo chàng chạy tìm thứ gì, tức là chàng không nghe thiếu thốn thứ gì cho lắm. Chế độ nhà tù ngày nay dễ thở hơn hồi Pháp thuộc, nên tuy không đầy đủ lúc ngồi lao, Bích cũng không tha thiết bao nhiêu với các món bên ngoài. Tuy nhiên, qua hàng nước đá, chàng ghé lại uống một ly yà nghe sung sướng lạ. “Bây giờ công việc đầu tiên là đi hớt tóc cái đã, rồi sẽ hay. Hớt cho khéo, cạo râu cho sát, gội đầu cho sạch, chải gôm cho mướt, rồi đì tìm thằng Quang mà xin một bộ đồ. Tóc tai như vầy, quần áo nhàu nát sau ba năm được cất giữ trong kho, còn mong gì ló mặt tới đâu cho chúng còn nể mình? Quang tử tế thật, nên chi chàng phải trễ nải trong việc khác của chàng. Nó mừng rỡ chàng, mất hết nửa giờ, hỏi chuyện đến một tiếng đồng hồ, bắt chàng đợi nó một tiếng đồng hồ nữa – có lẽ để đi chạy tiền – rồi dắt chàng đi ăn cơm chiều. Bữa cơn có rượu, kéo dây dưa đến bảy giờ tối. Ra khỏi tiệm ăn, nó hỏi: – Bây giờ anh đi đâu?Bích tức lắm. Nó hỏi vậy, tức là nó không muốn chàng về nhà nó. Nên chàng đáp: – Về nhà anh. Rồi để cho Quang hoảng sợ một lúc lâu, để cho bỏ ghét, chàng mới cười hà hà rồi đính chánh: – Nói chơi vậy chớ tôi còn phải đi đây có chút việc. Thấy Quang thở ra giải thoát. Bích hối hận đã hù bạn một cách ác độc, nên vội bắt tay từ giã rồi đi mau cho Quang yên lòng. Phải, chàng phải đi nơi khác. Chàng muốn đi sớm hơn nhiều. Ngặt phải đợi Quang nó hiến bộ đồ rồi mới đi được. Tắc xi ngừng tại đầu ngõ hẻm ấy. Bích bằng lòng lắm. Sàigòn ngày nay thay đổi ngày một. Nhiều xóm quen mắt trên mười năm, đi xa hai tháng về là không còn nhận ra được nữa. Thế mà con đường hẻm nầy vẫn y nguyên như cũ thì có thích hay không? Ba năm trước chàng tìm đến ngót tháng mới được con đường hẻm nầy. Nó không rộng, không đẹp, không mát, nhưng hai dãy phố đâu mặt nhau trong đó, rất hợp với ý muốn của chàng. Trong đó chỉ toàn người Tàu và người Ấn ở, tức là không có ai tò mò dòm ngó chàng. Chàng sang một căn, để Tuyết ở đó rồi không còn lo ai hỏi tới hỏi lui gì Tuyết về chồng con, không ai nhìn chàng bằng con mắt thám tử nữa, mỗi khi chàng đến và mỗi lần chàng ở đó ra đi. Cảnh cũ thì còn, mà người xưa nay đã ra sao? Bích bỗng thấy mình bây giờ rất là thi sĩ. Chàng ngậm ngùi khan khan một lúc cho sướng chớ, tưởng tượng người xưa nay đâm ra kẻ thiên cổ (nàng đã bịnh nặng kia mà! Trong khám chàng hay được tin nầy), và khi vào nhà, một ông cụ khóc òa, đưa ra cho chàng một món quà lưu vật và một bức tuyệt mạng thư. Rồi chàng sẽ làm thơ: Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Bùi ngùi chưa đủ, chàng rất hãnh diện mà tưởng thấy mình đóng một vai tuồng tình nhơn đau khổ, đang lang thang về cảnh cũ tìm dấu người xưa, như trong phim chiếu bóng. Hay biết bao! Cái câu chuyện lòng nầy, chàng sẽ kể cho Tuyết nghe, khi gặp lại nàng. Trẻ con nô đùa trên ngõ hẻm có hơi khác xưa. Chúng đã lớn lên, và những đưa trẻ ba năm trước còn bò, nay đã chạy nhảy được. Không ai nhận ra chàng cả, mặc dầu có người lớn hóng mát nơi đó. Hay họ nhận ra, nhưng vì tánh tốt không tọc mạch vặt nên họ làm lơ đi cũng nên. Bích đi mút hai dãy phố tám căn mỗi bên và vào tới trước căn nhà bên trái. Hồi trước có đến ba căn muốn sang. Chàng chọn căn chót, ở trong cùng. Nơi đó, ít người qua lại hơn bên ngoài. Rủi có xảy ra chuyện gì không tốt cũng ít ai thấy. Chàng đang hồi hộp lại càng hồi hộp thêm khi thấy dáng nhà vẫn như trước. Hồi hộp thêm vì hy vọng người xưa còn đó, mà cũng vì quá sợ nàng không còn. Hy vọng mong manh khiến ta lo lắng hơn là hy vọng lớn, hoặc hơn là không hy vọng gì cả. Cũng bộ bàn ghế tiếp khách bằng mây, cũng cái màu áo nệm trước, cũng cái tủ sách ấy. Trên tường, bức tranh bờ biển vẫn xanh một màu xanh mát rượi và hai người đờn bà Tàu bằng sứ vẫn ôm lấy hai dây trầu bà nó bò trên vách rồi giao nhánh lại với nhau. Qua khung cửa sổ che bằng màn tuyn màu lợt lợt, Bích thấy thiếu phụ ngồi đưa lưng ra ngoài, mặt cúi xuống, chừng như đọc báo. Xem thật kỹ thì người ấy không phải là Tuyết, tuy cùng một vóc, cùng cái cổ trắng và no, cùng lối uốn tóc với Tuyết. Người ấy mặc áo bi- da- ma lụa màu, thì là người trong nhà, chớ không phải là khách. Tuyết lại không có bà con dòng họ gì cả, thì người nầy phải chăng là chủ mới căn nhà? Bích đang lo sợ gặp nơi đây một người đàn ông, đang bị ám ảnh vì định ý ấy, nên bây giờ chàng thất vọng lắm. Phải, ở đời lắm khi ta thất vọng vì khỏi gặp cảnh khổ mà ta đinh ninh phải gặp. Thất vọng một giây, chàng lại đâm sầu. Thì ra, Tuyết đã đi rồi! Mà ở thành phố lớn, khó lòng người mới đến ở nhà nào, biết được người chủ cũ đi đâu để chàng hỏi thăm. Bích đâm ra hối hận đã nghi oan cho Tuyết. Chàng vào khám tháng đầu, cả vợ lớn chàng lẫn Tuyết đều có đi “nuôi”. Kế tòa xử vụ của chàng sao mà xử sớm thể? – và chàng bị kêu án ba năm. Vợ lớn chàng ẳm con vào thăm, khóc lóc nói hết cả tiền. Chàng khuyên mẹ con nó về quê. Vợ bé dư sức nuôi mà! Chàng thụt sáu trăm ngàn đồng của hãng xuất nhập cảng ấy, đưa gần hết cho Tuyết thì còn lo gì đói. Nhưng một tuần sau, Tuyết nhắn vào nói nàng đau nặng, rồi có tin nói nàng xụi cả hai chơn, không đi thăm được nữa. Bích tức giận lắm, nghi là Tuyết phụ mình để giựt, số tiền kia. Thì ra, chàng nghĩ, Tuyết chắc bịnh thật tình và có lẽ chết rồi cũng nên, vì Tuyết rất thích căn nhà nầy, dẫu có phụ chàng, cũng ở đây luôn, chớ đâu có sang lại cho người khác như vầy. Nghĩ tới đó chàng nghe yêu Tuyết hơn bao giờ cả. Chàng gặp Tuyết trong một tiệc cưới kia. Làm quen thì biết Tuyết góa chồng mà không con. Tuyết cũng biết rõ chàng có vợ có con. Người ta mách khéo cho chàng hay là Tuyết không tốt và “bảy da” lắm. Chàng không sợ, vì nghe mình khá khôn quỷ. Vả lại Tuyết đẹp quá, có sợ cũng phải dẹp cái sợ lại. Mà sợ làm gì. Bất quá chàng tốn với Tuyết năm ba ngàn rồi thôi, chết chóc gì đâu? Năm ba ngàn mà mua được trong nửa tháng người ngọc kia thì tưởng rằng không đắt giá lắm. Nhưng chàng đã tốn quá số tiền dự trù mà vẫn chưa gần được Tuyết. Chàng đã đưa Tuyết đì ăn, đi xem hát, xem chiếu bóng, đã biếu Tuyết chiếc cà rá hột xoàn, đã đưa Tuyết đi nghỉ mát ở Vũng Tàu, thế mà tình bạn suông vẫn được trong sạch một cách đáng giận. Con nhỏ bảy da thật, chàng nghĩ. Hên chi mà họ sợ và báo hiệu cho mình. Nhưng đã lỡ xuất vốn bỏ ngang cũng uổng nên chàng đã nhứt quyết chiếm lòng Tuyết cho kỷ được mới nghe, bất kỳ với giá nào. Phải chi Tuyết không khứng thì chàng đã cam lòng. Đằng nầy nó cứ úp mở mãi, mà mỗi lần úp mở như vậy, hóa ra là nó tăng giá món hàng bằng cách nuôi dưỡng hy vọng của chàng. Nó thân mật cho chàng cắn câu, rồi lại dè dặt, nết na cho chàng yêu nó. Nó bắt chàng mua tiếng xưng hô “anh” của nó bằng một chiếc cà rá ba hột bốn ly, rồi sau đó, chận đứng sự thân mật lại: Chận đứng sự thân mật, nhưng bắt đầu khiêu khích bằng y phục, bằng dáng điệu, bằng cử chỉ của nó. Thành ra rốt cuộc chàng phải bước cái bước cuối cùng là xin đem nó về làm vợ. Nó hỏi: Còn vợ anh? – Anh bỏ, anh cho nó về quê, Bích đáp liều mạng như vậy. – Trời ơi, người gì mà đoản hậu. Vợ anh là tình tấm mẳn mà anh còn bỏ được thì em sau nầy sẽ ra gì! Bích bối rối nói: – Thôi, anh không bỏ vợ, anh sang nhà riêng cho em. – Hứ, ai chịu làm bé. – Cũng ba bảy đường làm bé chớ. Vả làm bé mà toàn quyền về tiền bạc thì cũng bằng như là làm lớn. – Toàn quyền! Toàn quyền! Anh làm như bạc của anh là bạc kho. – Không là bạc kho, nhưng anh có thể chạy đủ cho em sung sướng, cho bù với cảnh làm bé mà em không thích. Thế là lá bài cuối cùng đã đánh xuống từ tay chàng. Đó là lá bài dâng của. Tuyết mở đường cho Bích hạ lá bài ấy, là nàng “tới” ngay. Mười bảy bốn chục đấy. Tuyết đã yêu chàng thật sự. Chàng cung phụng Tuyết đầy đủ về mọi mặt kia mà. Có hạng người chỉ “đi” đến mức nào đó thôi, mà làm bé là một lằn mức. Khi làm bé được, là họ cũng yêu chồng, cũng trung thành với chồng như bất kỳ bà vợ lớn nào. Vì thế Bích yêu lại nàng và tính chuyện ăn đời ở kiếp với nàng chớ không còn nghĩ chuyện qua đường như trước. Nay nhớ lại vụ Tuyết bịnh, đoán Tuyết chết, Bích càng yêu Tuyết hơn lên. Nàng chết thì số tiền kia về ai? Bích băn khoăn tự hỏi như vậy. Ban đầu, chỉ vì Tuyết xài lớn quá mà chàng phải thâm lạm chút ít của hãng. Nhưng cứ khẻ mòn lần lần, chàng thấy không thể lấp nổi chỗ trống. Viễn ảnh ngồi tù chỉ làm chàng hoảng vừa vừa thôi. Hơn thế nó xui chàng liều, để ở tù cho đáng với ở tù. Vì vậy chàng đã nghiên cứu làm một vố thật to. Gian lận của hãng không khó bao nhiêu. Khó là sau khi bị bắt, làm thế nào khỏi lòi tiền trả lại. Với nhà điều tra, Bích đã nhận hết tội lỗi. Chàng đã cắt nghĩa: “Tôi lỡ dại, cờ bạc và ăn xài lớn”. Người ta kiểm soát lời khai của chàng. Sòng bạc 1thì quả chàng có đến nhiều lần. Những người giúp việc trong đó nhớ mặt chàng. Mưu mẹo của chàng không khó thực hành bao nhiêu. Vô ra thường ở Kim Chung mà không thua đậm là việc cũng tương đối dễ. Làm cho một vài nhơn viên trong đó để ý và nhớ mặt mình cũng chẳng khó khăn gì. Còn biếu buộc boa hậu cho phục dịch viên ở mấy tiệm nhảy cho họ nhớ mà khai ra, nếu ai có hỏi, cũng là trò dễ làm. Nhờ thế, số tiền cướp cạn của hãng, chàng giao gần nguyên vẹn được cho Tuyết. Bây giờ số tiền ấy về tay ai, nếu Tuyết vắn số? Sự tiếc của bỗng khiến cho chàng thấy ba năm ngồi tù là dài, là mất thì giờ, là mất thể diện một cách oan uổng, đau đớn. Chàng đinh ninh ra khám là sống đế vương, nên tự an ủi bằng viễn ảnh giàu sang đó. Bây giờ nguồn an ủi kia đã mất thì… Bỗng người thiếu phụ đứng lên, xây ra ngoài. Nhưng nàng vẫn không ngó ra cửa sổ, mà chỉ nhìn vào vách, hình như xem lịch treo nơi đó. Bích ngạc nhiên hết sức. Người đó là Rỉ, vợ bé của Tất, một người quen của chàng. Ha ha, chàng reo thầm. Đi tìm vợ bé của mình, lại gặp vợ bé của thằng khác. Mà thằng Tất, nghĩ cũng bền sức. Tiền đâu mà nó cung phụng mãi cho cô Rỉ nầy? Chàng đoán sức nó kéo dài chỉ độ non một năm rồi đứt hơi. Mà ba năm rồi, Rỉ vẫn còn đây. Hay là Rỉ đã đổi chồng? Dầu sao, cùng một giới làm bé với nhau, chắc Rỉ biết rõ về Tuyết. May quá, nếu chủ nhà là người khác thì thật bít đường thăm hỏi. Bích toan bước lại gõ cửa ngoài thì chàng giựt mình, xúc động rất mạnh. Nơi khung cửa buồng, hiện ra một người đàn bà mà trong giây phút ngỡ là một bóng ma. Người đó là Tuyết. Không, Tuyết không thay đổi chút xíu nào, có phần đẹp hơn lên một tí thôi. Cũng cái lưng ong đó mà chiếc áo lỡ ôm sát vào, cũng dáng người dong dải trước mà đôi guốc cao gót giúp cho dong dải thêm. Nhưng đôi mắt xem ra sâu sắc hơn và vì thế quyến rũ hơn. Tuyết tươi cười chớ không sầu muộn như chàng thường hình dung ra, khi nằm khám. Nàng nói với bạn: – Mới hăm hai thôi ông ơi! Lão ấy hăm tám mới lãnh tiền. Bộ túng rồi sao? Rỉ cũng cười, nhưng vẫn tiếp tục xem lịch rồi đáp: – Không, tôi xem ngày ăn chay mà! Lần nầy Bích không tính chuyện gõ cửa nữa. Nhà nầy là nhà của chàng mặc dầu Tuyết đứng tên. Chàng đã làm vua nơi đó, vua với cả đến trong lòng bà chủ, thì còn phải xin phép ai. Vả chàng lại muốn vào bất thình lình, vào một cách kiếm hiệp chơi cho vui. Chắc là vui lắm. Nhưng tiếc một cái là nhà có khách, chàng sẽ không âu yếm được Tuyết, Tuyết sẽ không chạy a lại bá lấy cổ chàng để mà khóc lóc, rồi nũng nịu nầy kia. Cửa vào, một cánh khép, lột cánh mở, che bằng những dây chuỗi trúc. Bích thò bàn tay qua hai sợi chuỗi rồi huơi tay cho trúc kêu lắc rắc. Tiếng động ấy kéo mắt hai người đàn bà lại hướng đó. Nhìn thấy bàn tay đang huơi lên một cách kỳ dị, họ kinh khủng hết sức, trố mắt, há miệng mà nhìn, không nói gì được, không cử động được. Bích thích chí lắm. Đoạn chàng sấn bước tới, đội tấm màn chuỗi ấy. Hai người đàn bà đã rụng rời tay chơn và toan chạy đi thì thân mình chàng đã lòi ra. Những dây chuỗi trúc chảy trên người chàng như nước, rồi bị vẹt ra sau. Tuyết kêu lên một tiếng khủng khiếp rồi đứng đó như bị trời trồng. Rỉ không kêu la gì, nhưng cũng kinh ngạc cực độ. Bích thấy hay hay như trong một phim trinh thám. Chàng thích chí cười hà hà rỏi hỏi: – Tưởng ăn cướp hay tưởng ma? Không ai đáp lại cả và câu hỏi đùa của chàng cũng không giúp tươi lại không khí trong phòng. Chàng phải nói thêm, giọng kẻ cả: – May là hai người. Nếu một mình em thì chắc em kêu cứu rồi. Nhà không có đờn ông thì khổ quá. Rỉ trấn tĩnh lại được, tươi cười gượng rồi mời: – Anh ngồi đây. Bích ngạc nhiên lắm. Rỉ là chủ nhà? Sao nó lại mời mình ngồi ở một nơi mà mình ngự trị đã lâu? Tuy nghĩ vậy, chàng vẫn ngồi xuống theo lời Rỉ, vì chàng cảm nghe cái gì hơi khác lạ hơn khi xưa, ngồi để xem sao. Ngồi xong, chàng ngả người trên lưng ghế cho oai, vì lòng tự ái của chàng cấm đoán chàng có thái độ e dè trong cái nhà mà chàng đã tốn rất nhiều tiền để sang dọn. Chàng nói: – Lại đây em. Anh đây mà. Tôi giỡn bậy bạ quá, làm em cưng tôi hết hồn. Bấy giờ Tuyết cũng đã tỉnh hồn, nhưng vẻ lo lắng lại hiện ra rõ rệt trên mặt nàng. Thấy Tuyết vẫn làm thinh đứng đó. Bích lại hỏi: – Em hờn hả? Thôi anh xin lỗi em. Rồi anh sẽ tạ lỗi em. Em không có đọc báo à? Rỉ trả lời hớt: – Báo có nói gì đâu về sự anh mãn hạn. Họ làm sàm lúc anh bị bắt, rồi quên anh luôn. – Bà người thân yêu cũng quên luôn như các báo. Có phải như vậy không? Chàng hỏi câu đó rồi cười lớn nhưng giọng rất gượng gạo. Thấy rõ là chàng tủi, lại có ý sợ phải nghe người ta đáp rằng phải. – Anh về hồi nào? Rỉ hỏi. Lần nầy sự im lặng dâng lên từ nơi chàng. Nhưng nín lâu không được vì bồn chồn muốn biết sự thật, Bích đáp: – Tôi về hồi nào, chuyện ấy không quan trọng. Quan trọng là chuyện Tuyết đi hồi nào kia. Đi nghĩa là… tôi muốn nói lòng Tuyết rời tôi mà ra đi. Tuyết không muốn nói chuyện với tôi, xin cô đáp giùm. Rỉ nhìn bạn rồi giọng ra lịnh của nàng vang lên: – Thì Tuyết cứ ngồi xuống, rồi cả ba đều nói chuyện. Có gì mà bà chết sững ra vậy. Tuyết và Rỉ cùng ngồi xuống một lượt. Thấy Tuyết ngước lên nhìn đồng hồ treo lần nầy là lần thứ ba, Bích cười lớn. – Anh ấy gần về. Thôi, tôi đi nhé! Rồi chàng làm bộ đứng lên. Thấy không ai cầm cản gì, chàng tức mình nói: – Nói chơi vậy chớ khiêng tôi, tôi cũng chẳng đi. Nhà của tôi, muốn cho tôi đi, ít ra cũng phải nói cái gì cho dứt khoát chớ. Rỉ biết bạn khó mở lời, nên cứu Tuyết: – Xin anh bình tĩnh lại, rồi chị em tôi kể hết cho anh nghe. – Tôi chưa bao giờ mất bình tĩnh, chị biết cho chỗ đó. – Thì anh không mất bình tĩnh. Nhưng xin anh cứ giữ cái bình tĩnh đó. – Còn tùy. – Như thế nầy. Chị Tuyết đau bại xụi thình lình… – Có thật bại xụi hay không? Một người ăn uống đầy đủ khó mà bại xụi lắm. Một người dư cơm dư tiền để đi thầy thuốc mỗi khi có báo động trong người thì khó mà bại xụi thình lình. – Tin hay không là tùy anh, tôi chỉ… -… chỉ đọc lại cái giả thuyết mà Tuyết đã lập ra và cậy chị học thuộc lòng? – Cái anh nầy! Sao mà anh cộc cằn với tôi quá như vậy. – Tôi xin lỗi chị, tôi tức quá nên quên rằng người kể chuyện là chị. – Quanh chị Tuyết, không có ai bà con thân thích cả. Bịnh bại xụi mà không ai đỡ đần thì anh biết, có thể nằm đó mà chết đói. – Còn người ở? – Thì cũng phải có ai sai khiến chúng nó, hứa trả lương chúng nó, chúng nó mới chịu tiếp tục làm việc. – Vì vậy có kẻ ra… tay nghĩa hiệp? Ai đó vậy? – Anh Bổn. – À thằng Bổn khốn nạn! Bấy giờ Tuyết ôm mặt mà khóc nức nở, Bích nghe thấy day lại nhìn nàng một cái rồi nói với Rỉ: – Năm xưa cô ấy cũng đã khóc như vậy. Nào là: “Em không muốn xen vào để phá gia cang của anh, nhưng em yêu anh lắm, nên em mới khổ” nào là vân… vân… và vân… vân… Chắc cô ấy cũng đã khóc với thằng Bổn ngốc: Nào là “Anh ơi, cái ơn của anh nặng lắm, em vốn không muốn phá gia cang của anh, nhưng mà nếu không thì làm sao đáp nghĩa được!.” Có phải như vậy hay không nè? À mà chị, tôi quên hỏi, tại sao chị lại ở chung với cô ấy? – Anh Tất biểu tôi về ở chung với Tuyết cho đỡ tốn, căn buồng chúng tôi mướn trên đường Tự Do bây giờ lên đến hai ngàn rưỡi. – Còn Tuyết cho chị ở chung, cũng cho đỡ tốn, vì chị chia sớt tổn phí với cô ấy. Vậy ra Tuyết đã xuống giá rồi à? Hừ, thế mà trước kia Tuyết còn đòi tôi sang phố lầu. Mới có ba năm mà sụt giá đến phân nửa! – Anh tàn nhẫn lắm? – Tôi tàn nhẫn thật đó. Nhưng cô ấy lại có nhơn từ gì hơn. Chị coi kìa, cứ một lát là cô ấy xem chừng đồng hồ một cái. Nhắc nhở mãi cho tôi sôi gan lên. Không sao đâu. Tôi với Bổn là bồ mà! Cả hai đều đi một xuồng, chiếc xuồng dại dột ở bến mê, thì có gặp nhau, chỉ ôm nhau mà khóc là cùng. Tuyết tấm tức tấm tưởi nói: – Em đã yêu anh thật tình trong mấy năm, thì dầu sao anh cũng nên tha thứ cho em… Tuyết sao lại đẹp hơn trong lúc khóc? Đôi môi kia, thân thể kia lại khiêu khích hơn bao giừ hết khiến con người ba năm chay lạt là Bích bỗng thấy có thể tha thứ được dễ dàng. Tuyết duỗi hai chơn ra và Bích nhận thấy gót nàng vẫn còn đỏ như ngày nào, dầu bàn chơn nàng còn thon trong quai chéo của guốc mắc tiền như ngày nào. Bích nhìn khắp thân thể người cũ rồi thấy như đó là một giai nữ lạ còn lắm bí mật chàng thèm khám phá. Chàng mệt mỏi nói: – Tha thứ thì tôi sẵn sàng tha thứ. Nhưng cũng phải nói thiệt hơn cho em nghe chớ. Tuyết tiếp câu khi nãy: – Anh thường bảo chừng nào em hết yêu anh thư cứ nói ngay ra, anh sẽ phóng thích em. Ngày nay sao anh lại… – À ra vậy? Bích nghe như ai đánh mạnh vào đầu chàng bằng chày vồ, chát chúa, còn hơn lúc nghe Tuyết đã vào chủ khác. Thì ra cái tha thứ mà nàng xin không phải tha thứ để trở lại với nhau, mà tha thứ là đừng làm rầy rà, lôi thôi gì cả. Hy vọng chốc lát rồi tuyệt vọng ngay, khiến chàng tức giận vô cùng. Nhưng quả chàng có nói như vậy với Tuyết. Số là chàng sợ bị mọc sừng, nói hờ cho Tuyết khai thật nếu nàng có yêu ai. Thà khai ra như thế rồi xa nhau vẫn hơn là làm mọi cho chúng hưởng. – Tôi có nói như vậy thật, chàng đáp. Nhưng cô có bảo với tôi là hết yêu tôi, có bảo như vậy lần nào chưa? Cô làm thinh mà lấy chồng, tức là cô phản bội rồi đó. Nhưng thôi, vô ích, tôi cũng chẳng nài nỉ ở lại với cô. Tôi chỉ… Bấy giờ, Tuyết chân nói, nếu anh cần dùng tiền, anh lấy đỡ vài ngàn cho qua buổi khó khăn mới ra, rồi em sẽ liệu mà giúp anh thêm. Dầu sao, tình cũ, nghĩa xưa, em cũng không quên được. Bích cười dài một cái rất mai mỉa: – Hừ… hừ… hừ… tiền. Tôi sắp nói đến chuyện tiền đây. Mấy trăm ngàn tôi đưa cho cô, giờ xin cô trả lại tôi phân nửa. – Em ngỡ anh cho, nên em uống thuốc hết rồi. – Ý chà! Bộ tôi nhà quê sao mà? Bại xui thì tiêm nước mã tiền một đồng một ống, tiêm sinh tố B1 ba đồng một ống, làm gì đến hết mấy trăm ngàn. Mà tôi cho cô hồi nào? Tôi nói: “Em cất đi, rồi ta cùng hưởng về sau”. Cô nhớ hay không? Cô đã bá vào cổ tôi, hôn tôi rồi nhõng nhẽo xin: “Cho đứt em một phần ba đi”. Cô nhớ hay không? Cô nhõng nhẽo tài lắm. Bây giờ mà cô nhõng nhẽo một lát là tôi thua ngay. Nhưng cô dại gì, tôi còn đâu tiền! Tuyết cứ khóc như mưa. – Cô dại lắm, Bích. tiếp. Có tiền nhiều, lại không sang nhà lầu mà ở, lại còn cho bạn ở đậu cho chật chội. Hà tiện lắm rồi chết cũng hai tay không, lại bị tôi biết nhà tìm về cho rắc rối. Thôi, tiền đâu đưa đây, tôi ra ngay, không khuấy rầy cô nửa đâu. – Thật tình em uống thuốc hết rồi. – Hà, năm xưa, tôi phải trưng nhiều bằng cớ thật, nhà điều tra họ mới thôi hỏi tiền tôi. Nay cô chỉ đưa ra một con bù nhìn “uống thuốc” thì mong manh quá. Đồng tiến là huyết mạch, cô nghe ra chưa? Đồng tiền của tôi lại là ba năm lao tù. Mất nó, tôi thà vào tù nữa mới đành dạ cho. Ở ngoài có những con em nó tình tứ quá, khiêu khích quá mà mình lại không xu thì chịu làm sao nổi. Vậy cô đưa hay là không, nói mau đi. Giọng Bích trở nên câu máu, hăm dọa. Mắt chàng dữ tợn lạ lùng, đỏ ngầu và sâu hóm. Tuyết kinh hoảng vô cùng, nhưng còn nói gượng: – Bộ anh muốn tới đây ăn cướp hay sao? Bích đứng lên cười ha hả: – Phải, tôi đã ăn cướp cạn của người ta, bị họ ăn cướp cạn trở lại. Bây giờ tôi đòi lại cái gì tôi đã mất. Chánh đáng lắm. Nhưng muốn bảo thế là ăn cướp cũng được. Tuyết và Ri cũng đứng lên, toan chạy. Bích lại cười lớn: – Một con mèo đón ngoài miệng hang của hai con chuột. Chạy đi đâu cho thoát. Nhưng chị Rỉ không can gì. Chị cứ ngồi đó. Bích vừa nói vừa vói tay lấy con dao rọc giấy trên bàn. Con dao bằng kim khí bọc cơ-rôm bóng loáng, không bén bao nhiêu, nhưng nhọn hoắt. Chàng cầm dao theo lối cầm boa nha, đưa dao lên trước mắt Tuyết mà rằng: – Kêu la cũng vô ích. Cô sẽ chết trước khi có người tiếp cứu. Nầy, cái ngực của cô, trước kia tôi xem như vàng ngọc, tôi sẽ đâm phập con dao nầy vào đó, đâm tới cán. Rồi tôi trở vào khám. Rụng đầu liền, hay hai mươi năm khổ sai, điều đó không có gì quan trọng. Tình với tiền, hai món ấy chỉ mất một món còn sống tạm được. Mất cả hai, đời thật lạt như nước lã. Chị Rỉ ơi, chị còn sống nhớ đừng làm cho ai mất cả hai thứ ấy một lượt, chị nhớ cho nhé. Bích bước tới một bước, Tuyết lùi lại một bước. Nàng toan nhảy qua bên trái, Bích lườm lườm dợm bước sang phía đó. Nàng định thối qua bên mặt, Bích cũng tỏ vẻ đón rào toan tính mới của nàng. Cả hai dọn bộ như mèo vờn chuột, và như mèo giỡn chuột. Bích không ra tay liền, nói lôi thôi mãi cho Tuyết sợ chơi cho bỏ ghét. Cùng đường, Tuyết van lơn: – Em vui lòng chết dưới lưỡi dao của anh, nhưng anh cũng nên để cho em phân vài lời. – Hà có vẻ tuồng dữ lắm, có vẻ tống tửu Đơn hùng Tín dữ lắm! Được, cứ nói đi! Dáng đi của Tuyết uốn éo như con rắn. Mỗi lần nàng bước, nhìn phía sau thấy lưng nàng như dây tóc tiên quấn quít, bò lên. Bây giờ nàng lại uốn éo hơn bao giờ cả, từ từ bước lại gần Bích trong những bước rất mùi. Nếu sau lưng nàng có tranh sơn thủy và đâu đó vang lên vài tiếng dạo đờn thì cảnh nầy rõ là cảnh sân khấu cải lương, mà nàng sắp vô sáu câu áo não. Tuyết hơi nghoẽo đầu, ưỡn ngực và đưa cánh tay trắng như bằng bột định níu lấy tay Bích. Bích vừa lùi lại, vừa hất mạnh tay nàng. Không biết mất thăng bằng thật sự hay làm bộ mà Tuyết té xuống gạch rồi nằm nghiêng một cách sỗ sàng. Bích hét: – Vô ích, cái trò mơn trớn cổ điển của cô; trò khoe lưng cũng đã xưa lắm rồi. Tuyết xấu hổ lại lồm cồm ngồi dậy. Không thấy Bích làm gì, nàng lại đứng lên. – Có gì nói mau, Bích lại hét. Không rõ nghĩ sao, Tuyết vụt chạy đi. Bích nắm đầu nàng lại và đưa cao tay cầm con dao lên. Cả hai người đờn bà đều kêu thất thanh một tiếng. Liền khi đó, một tiếng kêu khác vang lên nơi cửa, tiếng kêu ăn rập của hai người đờn ông. Bích dừng tay, day lại, không phải vì sợ có người tiếp cứu mà vì giọng quen của tiếng kêu. Chàng buông đầu Tuyết ra, bỏ vẻ mặt hầm hầm, mỉm cười với kẻ mới đến. Hai người đờn ông ngoài cửa kinh ngạc quá, bước vào chưa được. Họ trố mắt nhìn cảnh tượng ấy rất lâu, đoạn Tất mới hỏi được: – Mầy làm gì mà kỳ vậy Bích? – Xử án Bàng Quý Phi, Bích đáp. – Bỏ dao xuống coi! Bổn ra lịnh. Bích bỏ dao xuống bàn rồi nói: – Đây là muốn lịch sự với bạn chơi vậy thôi, chớ không phải để vưng lịnh mầy đâu. Bấy giờ Bổn hoàn hồn, bước vào chống nạnh nhìn Bích mà hỏi: – Làm gì mà ngang ngược quá vậy? – Tính sổ gia đình. – Tính bằng dao? – Chỉ còn cách đó. – Món nợ to lắm hả? – Mầy muốn nói nợ tình chắc. Chớ còn nợ tiền thì mầy làm sao biết được. Ừ, món nợ lớn lắm. – Mầy không nuôi người ta được nữa, mà còn muốn cấm đoán nguời ta tìm nơi nương dựa sao? – Nương dựa? Vậy ra làm bé là một kỹ nghệ à? Thị trường nầy sụp, phải chạy đôn chạy đáo tìm thị trường khác thay thế? À, phải. Hèn chi lắm lúc họ tranh giành thị trường đến chém nhau túi bụi. Cũng hay! Nhưng bây giờ thị trường nầy đã trở lại, thì sao cái nhà sản xuất những nụ cười, những lời nũng nịu lại không…chịu tái lập “quan hệ bình thường”? – Là tại thị trường của mầy có tiêu thụ mà không có ngoại tệ để thanh toán món hàng. – Hà hà… mầy không biết gì ráo. Ngoại tệ tao đã dự trữ rất nhiều từ lâu. Nhưng thôi, mầy không biết việc riêng của tao thì đừng có can thiệp vào. Tao chỉ xin khuyên hai đứa bây điều nầy thôi là cái thứ đó độc như vi trùng. Cứ xem cái gương tao đây thì biết: ba năm tù, bây giờ, lát nữa đây, không rõ mấy năm nữa không biết. Mà có gì đâu? Những câu nỉ non giả dối, những trận cười giả tạo… – Là tại mầy dại, làm quá sức mầy. Chớ khôn như tụi tao đây thì có sao đâu. Mầy thấy không, tụi tao cho hai ển về ở chung, coi có phải bớt tổn phí không? Còn giả dối? Có cái gì thiệt ở đâu? Cứ quên cái giả dối đi, cố tình tưởng là thật – lắm khi khỏi cố mà cũng vẫn tưởng thật được – thì nó sung sướng y như là thật. Mầy tưởng mê gái là dại à? Có lẽ. Nhưng không gì thế bằng cái dại đó, thì lỗ lã gì đâu. – Thật là quân nói bướng. Tụi bây sẽ khôn hoài khôn hủy được chăng? Tao dám cá, không kíp thì chầy, hai đứa bây cũng theo gót tao. Hỏng cả một đời, hai em ơi. Đường anh đã đi qua, anh thuộc nẻo rồi. Hai em dại, chui đầu vào ngõ hiểm ấy làm chi. Mà bây giơ lỡ rồi, có lẽ dạy khôn cho, hai em cũng chẳng chịu nghe. – Đi ra lập tức, đừng làm bộ anh hai người ta. Có vợ bé trước chưa chắc đã khôn hơn ai. – Nếu tao không ra thì bây làm gì tao? – Thì tụi tao một đứa nắm chóp mầy, một đứa đá đít mầy. – Dở quá. Rồi thiên hạ, rồi nhựt trình sẽ nói sao? Họ nói mình giành vợ bé với nhau, coi có phải xấu hay không? – Muốn tốt, mầy nói ba điều bốn chuyện rồi đi. Mà nói cho lịch sự, đừng nắm đầu nắm cổ ai hết, đừng cầm dao cầm hèo gì cả. – Ấy, tao nói mầy không biết việc riêng của tao. Món nợ lớn lắm, mầy nghe ra chưa? Bổn kêu Tuyết mà nói: – Em à, nó nói gì mà dự trữ tiền nhiều lắm. Nó có gởi tiền em không. Thôi thí cho nó vài ngàn đi, cho êm chuyện. – Anh ấy không thèm tiền em biếu. – Thì thôi. – Thì thôi làm sao được. Nầy, coi nầy. Bích chụp con dao rọc giấy trở lại, rồi vói chụp đầu Tuyết. Bổn nhảy tới chụp tay cầm dao của bạn. Người tù mới ra khám không định gây sự với kẻ can thiệp, nên chỉ lấy chơn đạp cho hắn dang ra xa thôi. Người sau cũng không muốn đánh nhau với anh chàng làm dữ, ngặt thế nào cũng phải cứu Tuyết nên y bắt chơn Bích để vặn cho Bích té. Bích mạnh lắm rút chơn lại và kéo Bổn theo. Nhưng Bổn cứ bám riết vào chơn ấy, khiến Bích co vô, duỗi ra mấy bận mà không thoát được. Bổn bị kéo tới, kéo lui trông rất buồn cười. Tức giận tràn hông, Bích đưa dao lên toan đâm xuống. Tất hoảng sợ nhảy lại ôm lấy Bích đằng sau lưng. Bấy giờ Bổn trật tay để một cẳng của Bích ra, Bích sẵn con dao không chỗ đâm, đưa ngược dao ra sau để dọa cho Tất buông mình. Thấy nguy, Bổn xách cái ghế nhỏ dựa vách đập vào tay cầm dao của Bích. Anh nầy tránh không kịp, đau quá buông khí giới ra. Bấy giờ hai người chủ nhà ráp lại định ôm khách mà xô ra ngoài. Nhưng họ kém sức hơn Bích, nên cả ba ôm nhau mà vật xàng quây mãi. Bàn ghế ngã lổn rổn, Tuyết và Rỉ thì kêu khóc om sòm. Tuy yếu hơn, nhưng sợ nguy hiểm khác, nên Tất và Bổn cố sức tống khách trong lúc y tay không. Họ ôm chặt lấy Bích, đeo dính như sam. Để thoát, Bích thoi, đánh túi bụi. Đỡ gạt thì sợ sẩy Bích, mà cứ ôm hắn mãi, chịu sao cho thấu với những quả đấm của hắn, hai người chủ nhà nỗ lực lần cuối cùng và vật ngã được tên hung dữ xuống đất. Bích kêu lên: – Trời ơi, chết tôi rồi. Tiếng kêu ấy khiến cả nhà ngạc nhiên hết sức. Cái gì mà lớn sầm sầm như nó, mà mới té một cái là kêu chết om trời. Nhưng thấy Bích nằm ngay đơ như cán cuốc, họ sanh nghi a lại cúi xuống dòm. Gì mà như có máu. Tất lật ngủm Bích ra thì trời ơi! Quả thật máu phun có vòi, ướt cả sơ mi của hắn. Con dao rọc giấy rơi khi nãy, không hiểu do sự tình cờ nào lại nằm chỏng lên, gác trên chiếc guốc cao gót của Tuyết. Bích té xuống đó, ngực đè lên mũi dao, và bị nó đâm sâu vào thịt, ngay tim. Cả nhà chết đứng, không ai thốt được lời nào cả. Bổn, mặt tái xanh, mồ hôi nhỏ giọt, nhìn cảnh tượng ấy rất lâu rồi lẩm bẩm: – Không kíp thì chầy, thằng Bích nói đúng thật. Bây giờ họa đến nơi rồi, làm sao? – Mình tự vệ chánh đáng. Tất đáp gượng. – Phải, tự vệ, nhưng có cần gì tự vệ đến chết người ta không. Có khỏi vào tù không? Rồi họ rùm lên, mình mất sở làm, vợ con sẽ nói sao? – Thì ra, mình ngỡ mình khôn, cũng chẳng khỏi khổ. Ngoài kia, những người láng giềng Trung hoa rất ít tò mò, nghe la bu lại nói om trời như tàu sắp chìm.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.